Go Back   Tàng Thư Viện > Khoái Hoạt Viện > Truyện Dịch > Truyện đang dịch

Truyện đang dịch Tất cả các truyện dịch kiếm hiệp, tiên hiệp, huyền ảo... đang được tiếp tục

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Kiếm Trong Bài
  #1  
Old 17-07-2012, 02:18 PM
Dark_Blood's Avatar
Dark_Blood Dark_Blood is offline
Tiếu Ngạo Giang Hồ
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Đến từ: MT
Bài gởi: 6,571
Default [Trinh thám] Bí Mật Columbus - Steve Berry (New: Chương 06)

BÍ MẬT COLUMBUS

Nguyên tác
THE COLUMBUS AFFAIR
Tác giả Steve Berry


****

NHÓM DỊCH TIẾNG ANH TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU
Nguồn: www.tangthuvien.com




Trích:
Ông ta đã từng được gọi bằng những danh xưng như Columb, Colom, Colón, nhưng chúng ta lại biết đến ông qua cái tên Christopher Columbus. Rất nhiều câu hỏi xoay quanh thân phận của Columbus vẫn đang tồn tại: Ông ta được sinh ra và qua đời ở đâu? Lớn lên và trưởng thành như thế nào? Và quan trọng nhất, ông đã khám phá ra Tân Thế giới như thế nào?

Chưa ai có thể giải đáp được.

Đằng sau câu trả lời, tồn tại một bí mật ghê gớm.


Được sáng tác bởi Steve Berry, một trong những tác giả bán chạy nhất của tờ New York Times, "Bí Mật Columbus" hứa hẹn một cuộc phiêu lưu đầy kịch tính, một chuyến thảm hiểm sẽ thay đổi hoàn toàn những gì ta vốn biết về việc tìm ra Tân Thế giới.

Nhà báo Tom Sagan, người từng đạt được giải Pulitzer danh giá, đã viết nên những bản tin chấn động về các khu vực nóng bỏng trên toàn thế giới. Nhưng khi một bàì viết của Tom về một vùng chiến sự căng thẳnng bị phát hiện là một sự dối trá, toàn bộ uy tín nghề nghiệp của anh đã sụp đổ trong nháy mắt. Sau sự cố này, Tom bắt đầu xa lánh thực tại, tâm trí anh bị dày vò bởi một sự thật anh không thể chứng minh: rằng thất bại của anh là một hành động phá hoại có chủ ý từ một kẻ thù vô hình. Nhưng trước khi Tom có thể kết liễu nỗi khổ tâm của mình bằng một cú bóp cò, số phận đã can thiệp bằng một lời đề nghị từ một kẻ lạ mặt đầy bí ẩn mà Tom không cách nào từ chối được.

Zachariah Simon sở hữu bộ dạng của một nhà trí giả, tâm hồn của một gã vô lại, và lòng nhiệt huyết của một kẻ cuồng tín. Hắn cũng đang bắt giữ đứa con gái của Tom làm con tin. Zach đang hết sức thèm muốn một thứ chỉ mình Tom Sagan có thể lấy được: một chiếc chìa khóa mở cửa cho một bí ẩn đã tồn tại 500 năm, một kho tàng có tầm ảnh hưởng khủng khiếp lên thế giới hiện tại. Với cả hai, đây là một ván cược đầy rủi ro và sặc mùi tư thù cá nhân, khi sự giằng co giữa hai người có thể dẫn đến một thảm họa không lường được. Trên một chuyến hành trình đầy gian nan từ Florida đến Vienna, sang đến Tiệp Khắc và cuối cùng đến những chặng núi trên hòn đảo Jamaica, cả hai người tự dấn mình vào một cuộc đối đầu đầy hiểm nguy. Có những thứ sẽ bị thay đổi mãi mãi trong chuyến phiêu lưu này: số phận của hai nhân vật chính, và tất cả những gì đã từng được biết về Christopher Columbus.
Trích nguồn từ Amazon.com
Dịch giả: Dark_Blood
__________________
NHẤN THANKS NHÉ

thay đổi nội dung bởi: Dark_Blood, 18-07-2012 lúc 02:33 AM.
Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 23 Users Say Thank You to Dark_Blood For This Useful Post:
[Thu gọn/mở rộng danh sách cảm ơn]

  #2  
Old 17-07-2012, 02:28 PM
Dark_Blood's Avatar
Dark_Blood Dark_Blood is offline
Tiếu Ngạo Giang Hồ
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Đến từ: MT
Bài gởi: 6,571
Default

BÍ MẬT COLUMBUS

- THE COLUMBUS AFFAIR -
Nguyên tác bởi Steve Berry



Trích:
Trong suốt 500 năm qua, các sử gia lỗi lạc đều băn khoăn cùng một câu hỏi:

Christopher Columbus thật sự là ai?

Câu trả lời chỉ đơn giản là một câu hỏi ngắn gọn:

Vậy chính bạn nghĩ ông ta là ai?


DẪN TRUYỆN
NHÓM DỊCH TIẾNG ANH TTV


Dịch giả: nhongcon_pupa
Biên dịch: Dark_Blood
Biên tập: Dark_Blood
Hiệu đính: Dark_Blood
www.tangthuvien.com

Christopher Columbus nhận ra thời khắc quyết định đang đến gần. Suốt ba ngày qua, đội của ông đã phải lặn lội xuyên qua khu rừng rậm rạp của miền đất nhiệt đới này để tiến lên cao hơn. Đây là nơi đẹp nhất ông từng được thấy trong toàn bộ những hòn đảo ông đã phát hiện được kể từ lần cập bến đầu tiên vào tháng Mười năm 1492. Một dải đất bằng và hẹp bao bọc lấy bờ biển cằn cỗi. Các rặng núi nhấp nhô trong làn sương mờ, trải dài từ phía tây và hội tụ lại thành một dãy núi uốn khúc bao quanh nơi ông đang đứng, ở phía đông của hòn đảo. Mặt đất được cấu tạo hầu hết bởi những lớp đá vôi xốp được bao phủ dưới lớp đất đỏ màu mỡ. Hàng lớp cây non mọc chi chít bên dưới những tán lá dày đặc trong khu rừng già, được nuôi dưỡng bởi những luồng gió ẩm lưu chuyển quanh năm suốt tháng. Dân bản xứ gọi nơi này là Xaymaca, có nghĩa là “Hòn đảo của Suối Nguồn” – một tên gọi rất thích hợp, vì quanh đây khắp nơi đều có sông ngòi. Do ngôn ngữ miền Bắc Tây Ban Nha thay âm X thành âm J, ông quyết định gọi vùng này là Jamaica.

“Đô đốc.”

Ông dừng chân và quay lại nhìn một trong những thành viên trong đội.

“Không còn xa nữa đâu,” de Torres nói với ông, tay chỉ về phía trước. “Chỉ cần qua được đỉnh núi tới một khu đất phẳng rồi đi qua một khoảng rừng thưa nữa thôi."

Luis đã từng chung thuyền với ông trong cả ba chuyến du hành trước, tính cả lần vào năm 1492 khi họ đặt chân lên vùng đất này lần đầu tiên, đến mức cả hai đều đã hiểu và tin tưởng lẫn nhau.

Ông không dám chắc điều tương tự cho sáu người bản địa đang khiêng đống hàng hóa kia. Họ chỉ là một đám ăn lông ở lỗ. Ông ra hiệu cho hai người đang khuân những kiện hàng nhỏ hơn bảo họ nên cẩn thận hơn. Ông lấy làm ngạc nhiên vì sau hai năm các thùng gỗ vẫn còn khá tốt, chẳng có lấy một con mối nào kể từ khi thuyền cập bến vàonăm ngoái. Ông đã lưu lạc trên hòn đảo này đúng một năm ròng rã rồi.

Nhưng sự giam cầm này đã chấm dứt.

“Anh chọn nơi tốt đấy,” ông nói với de Torres bằng tiếng Tây Ban Nha.
Không một tên thổ dân nào có thể nói thứ tiếng này. Ba người Tây Ban Nha khác đi cùng ông và Torres, tất cả đều được tuyển chọn đặc biệt. Còn đám thổ dân kia đều bị dụ dỗ gia nhập với lời hứa hẹn sẽ được tặng cho những chiếc chuông đeo của chim ưng - một thứ trang sức rẻ tiền nhưng âm thanh của chúng có vẽ khiến bọn người thích thú - với điều kiện chúng phải thồ ba thùng hàng vượt núi như thế này.

Họ khởi hành từ lúc bình minh tại một khu rừng rậm rạp cạnh gần bờ biển phía bắc. Một dòng sông gần đó với dòng nước óng ánh, mát lạnh, chảy xuôi xuống những ghềnh đá trơn láng, tạo nên những hồ nước nối tiếp nhau rồi hóa thành một dải lụa bạc đổ ra biển lớn. Tiếng côn trùng râm ran và tiếng chim ríu rít càng lúc càng lớn, nghe như một bản hòa tấu trong một khán phòng vĩ đại.
Đoạn đường rừng cheo leo hiểm trở khiến họ mệt nhoài, quần áo họ đẫm mồ hôi và gương mặt lấm tấm bụi bẩn. Lúc này họ bắt đầu đọan xuống dốc, tiến vào một thung lũng xanh um.

Lần đầu tiên trong một quãng thời gian dài, ông cảm thấy như trẻ lại.

Ông yêu mảnh đất này.

Chuyến hải hành đầu tiên vào năm 1492 được tiến hành dưới sự chỉ huy của cá nhân ông, đi ngược lại lời khuyên từ những miệng những kẻ thuộc "tầng lớp trí thức." Tám mươi bảy người đã dám mạo hiểm dấn thân vào miền đất lạ, ý chí của họ được củng cố chỉ bởi giấc mơ vĩ đại của ông. Trong nhiều thập kỷ ông đã lăn lộn khắp chốn để gây quỹ cho chuyến đi, đầu tiên là từ bọn Bồ Đào Nha, sau đó đến Tây Ban Nha. Hiệp ước Santa Fe, ký giữa ông và hoàng gia Tây Ban Nha, đã hứa sẽ trao cho ông danh hiệu quý tộc cùng mười phần trăm lợi nhuận và toàn quyền kiểm soát vùng lãnh hải ông phát hiện được. Một sự thỏa thuận vô cùng béo bở trên giấy tờ, nhưng Ferdinand và Isabella (1) đã không giữ trọn lời hứa. Trong mười hai năm qua, sau khi ông công bố sự tồn tại của Tân Thế Giới, từng đoàn thuyền Tây Ban Nha lũ lượt nối đuôi nhau vượt biển về hướng Tây mà không hề có sự cho phép của ông dưới chức danh Đô đốc Đại Dương.

Lũ khốn nạn. Phường bốc phét.

Cả đám bọn chúng.

“Tới rồi,” de Torres gọi lớn.

Ông tạm dừng chuyến đổ dốc và nhìn xuyên qua rặng cây, vượt qua hàng nghìn đóa hoa đỏ được thổ dân gọi là Ngọn lửa của Rừng Già. Ông trông thấy một hồ nước trong vắt, phẳng như gương, và nghe được tiếng gầm thét của nhiều dòng thủy lưu chảy ra vào liên tục.

Lần đầu ông tới Jamaica là vào tháng Năm năm 1494, trong chuyến du hành lần thứ hai, và phát hiện ra rằng bờ biển phía Bắc cũng là nơi định cư của một bộ tộc sinh sống ở những hòn đảo lân cận, ngoại trừ việc họ ít thân thiện hơn hẳn. Tính hung hăng này có lẽ bị lây từ bộ tộc Caribs sống ở phía đông, trên vùng đảo Puerto Rico. Tộc Caribs là bộ tộc ăn thịt người dữ tơn chỉ biết đến mỗi bạo lực. Vốn đã có kinh nghiệm xương máu, ông bèn thả đám chó săn và đội cung thủ đi tiên phong để đối phó với bọn thổ dân, giết chết được vài tên và làm một số lớn khác bị thương nặng, khiến bọn chúng sợ hãi.
Ông cho đoàn xe tạm nghỉ bên bờ hồ.

De Torres đến gần và thì thầm, “Đến rồi. Địa điểm ấy.”

Ông biết đây sẽ là lần cuối cùng ông đặt chân lên Tân Thế Giới. Năm nay ông năm mươi mốt tuổi và đã gây thù chuốc oán khá nhiều. Bằng chứng là những gì ông đã phải trải qua, nhất là lần giong buồm lần thứ tư của ông đã bị nguyền rủa ngay từ lúc đầu. Ông là người đầu tiên khám phá ra dải bờ biển mà ông nghĩ thuộc về một lục địa. Bờ biển trải dài bất tận từ Nam chí Bắc dọc theo tòan bộ hải trình của ông. Sau khi hoàn tất chuyến thăm dò, ông đã mong rằng đoàn sẽ cập bến tại Cuba hoặc Hispaniola (2), nhưng đoàn thuyền bị mối gặm chỉ cho phép ông đến được Jamaica, nơi ông tống cả thuyền lẫn mọt lên bờ và chờ đợi sự cứu trợ.
Chẳng có ma nào đến.

Chính quyền đảo Hispaniola, kẻ thù không đội trời chung của ông, quyết định để ông và một trăm mười ba người khác chết rục.

Nhưng điều đó đã không xảy ra.

Một vài người dũng cảm đã dùng xuồng nhỏ chèo ngược về Hispaniola và mang về một chiếc thuyền.

Đúng, quả thật ông có rất nhiều kẻ thù.

Chúng đã thành công loại bỏ tất cả những quyền lợi mà ông có được từ bàn hiệp ước. Ông vẫn giữ được danh hiệu quý tộc và chức vụ Đô đốc, nhưng ngay cả chúng đã không còn ý nghĩa gì nữa. Những tên thực dân ở Santo Domingo còn trở mặt và ép ông phải ký tờ đơn cho phép bọn chúng được định cư trên đảo. Bốn năm trước đây, ông được trả về Tây Ban Nha trong cảnh xiềng xích với những lời đe dọa rằng ông sẽ phải ra tòa và bị tống vào ngục. Nhưng đức vua và hoàng hậu đã bất ngờ ban cho ông lệnh ân xá, rồi ban cho ông tài trợ và giấy phép thông hành cho lần ra biển thứ tư.

Ông tự hỏi không biết điều gì đã thúc đẩy họ làm thế.

Isabella trông chân thành nhất. Bà luôn có một tâm hồn ưa phiêu lưu mạo hiểm. Nhưng đức vua lại là cả một vấn đề khác. Ferdinand chưa bao giờ quan tâm đến ông, và còn thẳng thắn nói rằng bất cứ chuyến vượt Đại Tây Dương nào cũng là những hành động điên rồ

Tất nhiên, đó là chuyện trước khi ông thành công.

Giờ thì Ferdinand chỉ muốn vàng và bạc.

Lũ tham lam. Phường bốc phét.

Cả lũ bọn chúng.

Ông ra hiệu cho những thùng gỗ được hạ xuống. Ba người trong đội ông phải đến giúp do chúng khá nặng.

“Chúng ta tới rồi,” ông gọi lớn bằng tiếng Tây Ban Nha.

Người của ông liền biết phải làm gì.

Họ tuốt gươm ra và thẳng tay tàn sát bọn thổ dân. Hai tên vẫn còn rên rỉ trên mặt đất, nhưng sớm bị bịt miệng bằng cú đâm thẳng vào ngực. Cái chết của mấy tên này chẳng có nghĩa lý gì đối với ông, vốn bọn chúng không xứng đáng được thở cùng bầu không khí với người Châu Âu. Chúng là lũ tí hon, với nước da ngăm đen và ăn ở trần truồng như lúc chúng vừa được sinh ra, không hề biết đến chữ viết và chẳng có một đức tin nào. Chúng sống trong những ngôi làng ven biển và ông quan sát được rằng chúng chẳng làm nên tích sự gì ngoài việc trồng trọt sơ đẳng. Thủ lĩnh của bọn chúng là một tên gọi là cacique (3), kẻ mà ông đã kết bạn trong những ngày lưu lạc. Tên thủ lãnh này đã giao cho ông sáu người vào hôm trước khi ông thả neo lần cuối cùng dọc theo bờ biển phía bắc.

"Chỉ vài ngày đi xe mà thôi," ông nói với gã tù trưởng.

Ông có đủ vốn hiểu biết về thứ ngôn ngữ Arawak của chúng để có thể đưa ra lời thỉnh cầu. Tên tộc trưởng đã bày tỏ sự chấp thuận, điều ra sáu tên thổ dân để khuân vác thùng hàng. Ông cúi chào để biểu thị lòng thành kính và đưa ra hàng tá chuông diều hâu làm quà biếu. Tạ ơn Chúa là ông đã mang theo nhiều chuông như vậy. Ở Châu Âu người ta buộc chúng vào vuốt để huấn luyện chim ưng. Một đồ vật vô giá trị, nhưng tại đây chúng lại đươc xem như một thứ tiền tệ có giá trị.

Tộc trưởng tiếp nhận quà biếu và cúi người để tỏ lòng biết ơn.

Ông đã giao dịch với tên đầu lĩnh này hai lần và đã tạo nên một tình hữu nghị giữa hai người. Và ông đã lợi dụng triệt để mối quan hệ bạn bè này.

Khi ông tạm dừng ở hòn đảo lần đầu vào năm 1494 để vá những lỗ thủng trên thuyền và bổ sung nước ngọt, người của ông phát hiện những miểng vàng nhỏ dưới đáy dòng nước trong. Sau một hồi hỏi han, tên tộc trưởng còn cho ông biết được một nơi mà những mảnh vàng còn lớn hơn vào cỡ một hạt đậu.

Tại chính nơi ông đang đứng bây giờ.

Nhưng không giống với bọn hoàng gia Tây Ban Nha nham hiểm, ông chẳng hề hứng thú với số vàng này.

Mục đích của ông thâm sâu hơn nhiều.

Ông dời ánh nhìn sang de Torres, và người bạn già của ông hiểu được phải làm gì tiếp theo. De Torres liền chĩa gươm vào một trong ba người Tây Ban Nha đồng hành, một gã đàn ông có vóc dáng nhỏ thó, mập mạp với mái tóc hoa râm.

“Quỳ xuống,” de Torres ra lệnh khi y tước vũ khí của gã đàn ông nọ.

Hai người còn lại cũng chĩa kiếm vào gã đó.

Hắn đành phải quỳ xuống.

Columbus nhìn thẳng vào mặt hắn, nói “Ngươi tưởng ta ngu lắm sao?”

“Đô đốc –”

Ông khoát tay chặn lời hắn. “Bốn năm trước chúng tống ta về Tây Ban Nha trong gông cùm và lột bỏ mọi quyền lợi của ta. Rồi đột nhiên mọi thứ đều được phục hồi.” Ông tạm ngưng. “Chỉ với vài tiếng, đức vua và hoàng hậu đã tha thứ cho mọi tội lỗi ta bị gán ghép cho. Chẳng lẽ họ nghĩ ta dốt nát lắm sao?” Ông lại ngập ngừng. “Họ dám nghĩ thế thật, và đó là sự lăng mạ ghê gớm nhất ta phải chịu đựng. Trong nhiều năm trời chẳng ai thèm cho ta lấy một cắc làm kinh phí. Vậy mà chỉ với một lá thư gửi đến Hoàng tộc, ta đã được ban cho đủ tiền cho lần hải hành thứ tư. Chỉ một lời đề nghị mà tất cả mọi thứ đều được cung cấp đầy đủ. Ta nghi chắc chuyện này có vấn đề.”
Gươm kề sát cổ hắn khiến hắn chẳng chạy đâu được.

“Chính ngươi là gián điệp,” Columbus nói. “Ngươi được phái đến đây để báo cáo mọi hành động của ta.”

Ánh mắt của tên khốn nạn này khiến ông ghê tởm. Tên này là đại diện cho toàn bộ sự phản bội và cảnh cùng cực mà ông phải gánh chịu dưới chính quyền của lũ Tây Ban Nha dối trá.

“Nói ta nghe những gì chủ nhân của ngươi muốn biết,” Columbus ra lệnh.
Gã đó im lặng.

“Nói!” Ông cất cao giọng. “Ta ra lệnh cho ngươi.”

“Ông có tư cách gì để ra lệnh?” tên gián điệp cất tiếng. “Ông không phải là một con chiên của Chúa.”

Ông tiếp nhận câu sỉ vả với sự kiên nhẫn đã được trui rèn tử một quãng đời khó nhọc. Nhưng ông nhận ra rằng những người anh em của ông không dễ tha thứ như thế.

Ông chỉ vào họ. “Bọn họ cũng chẳng phải con chiên của Chúa.”

Tên gián điệp nhổ tọet xuống đất.

“Nhiệm vụ của ngươi là báo cáo lại toàn bộ những gì diễn ra trong chuyến đi này? Có phải những thùng hàng này là đích nhắm của chúng? Hay chúng chỉ muốn vàng thôi?”

“Ngươi là một kẻ dối trá.”

Columbus cười khẩy. “Ta lại đi nói láo à?”

“Giáo hội sẽ chứng kiến sự trừng phạt của ngươi trong ngọn lửa địa ngục vĩnh hằng.”

Ông chợt nhận ra. Tên gián điệp này là người của Tòa án dị giáo.

Kẻ thù lớn nhất của ông.

Tính cảnh giác của ông chợt bùng lên. Ông nhận ra nét lo âu trong đôi mắt của de Torres. Ông đã biết rõ điều này từ hai năm trước, khi họ phải rời bỏ Tây Ban Nha chỉ vì mối đe dọa này. Nhưng liệu số lượng tai mắt theo dõi ông có tăng lên không? Số nạn nhân bị thiêu sống bởi Tòa án dị giáo tới giờ đã lên đến hàng ngàn, khiến ông căm ghét mọi thứ liên quan đến cái tòa án đó.

Những gì ông đang cố hoàn thành tại nơi đây đều nhằm mục đích cản trở chuỗi hành động tàn ác đó.

De Torres từng khuyên ông chớ nên bị phát giác bởi những tay thẩm tra người Tây Ban Nha, nếu không ông đừng mong trở về châu Âu. Ông định giong buồm đến Cuba, một hòn đảo lớn hơn ở phương Bắc. Hai người đang cầm gươm khác có niên kỷ trẻ hơn và sở hữu nhiều tham vọng hơn, đã tự ý quyết định ở lại. Có lẽ ông cũng nên thế, nhưng ông không thuộc về nơi đó; mặc dù ông ước rằng mọi việc có thể xảy ra theo chiều hướng khác.

Ông liếc xuống.

“Người Anh và Hà Lan gọi ta là Columbus, còn trong tiếng Pháp là Columb, và Colom trong tiếng Bồ Đào Nha. Những người Tây Ban Nha biết đến ta bằng cái tên Colón. Nhưng chúng đều không phải là tên gốc của ta. Tiếc rằng ngươi sẽ không bao giờ biết được sự thật và nhiệm vụ báo cáo cho đám chủ nhân đang hóng tin của ngươi tại Tây Ban Nha sẽ chấm dứt tại đây.”

Ông ra hiệu, và de Torres cắm ngập gươm vào ngực hắn.

Tên gián điệp chẳng kịp phản ứng.

Lưỡi gươm được rút ra, mang theo thứ âm thanh rợn người. Cái xác gục về phía trước trong tư thế quỳ, khuôn mặt đập mạnh xuống mặt đất.

Một vũng máu lan ra.

Columbus và những người khác nhổ nước bọt lên cái xác.

Ông mong rằng đây sẽ là cái chết cuối cùng ông phải chứng kiến. Ông đã mệt mỏi với việc giết chóc. Tên tù trưởng cũng sẽ chẳng làm gì được ông về cái chết của sáu tộc nhân của hắn vì ông sẽ sớm giong thuyền rời khỏi mảnh đất này mãi mãi. Những kẻ đến sau sẽ phải thay ông chịu trách nhiệm, nhưng ông cóc quan tâm. Trong mắt ông phe nào cũng là kẻ thù, và ông mong chúng phải gánh chịu những điều thảm khốc nhất.

Ông quay lại và giương mắt ngắm nhìn chỗ ông đang đứng, tìm kiếm từng chi tiết đã được miêu tả.

“Anh thấy đấy, Đô đốc,” de Torres nói. “Cứ như thể Chúa đã dẫn chúng ta tới đây.”

Ông bạn già của ông nói đúng.

Chuyến đi đã diễn ra hệt như thế.

Hãy gan dạ như báo, nhẹ nhàng như đại bàng, nhanh nhạy như hươu nai, và dũng mãnh như sư tử để thi hành sứ mệnh của Cha trên thiên đàng.

Những lời khôn ngoan.

“Nào,” ông nói với những người còn lại. “Hãy cùng cầu nguyện rằng bí mật ngày hôm nay sẽ được giữ kín lâu dài.”


Chú thích:

(1) Ferdinand (1452-1516) và Isabella (1451-1594) - Cặp vợ chồng hoàng gia nổi tiếng nhất trong lịch sử Tây Ban Nha, có công lao giúp đỡ cho những chuyến khám phá vượt đại dương và mở rộng đế quốc, đồng thời thống nhất phần lớn đất nước để trở thành nước Tây Ban Nha hiện đại sau này.

(2) Hispaniola - Hòn đảo lớn thứ nhì trong quần đảo Antilles giữa Cuba về hướng tây và Puerto Rico về hướng đông. Đây cũng là đảo đông dân nhất trong khu vực này (trích Wikipedia).

(3) Cacique - Tộc trưởng (theo ngôn ngữ địa phương vùng Ca-ri-bê hay tiếng Tây Ban Nha)


*****
***
*




Thảo luận về truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...51#post9284551
Góp ý cho truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...41#post9281241
Tham gia dịch truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...56#post9174756

thay đổi nội dung bởi: Dark_Blood, 09-08-2012 lúc 02:10 PM.
Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 22 Users Say Thank You to Dark_Blood For This Useful Post:
[Thu gọn/mở rộng danh sách cảm ơn]

  #3  
Old 17-07-2012, 02:34 PM
Dark_Blood's Avatar
Dark_Blood Dark_Blood is offline
Tiếu Ngạo Giang Hồ
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Đến từ: MT
Bài gởi: 6,571
Default

CHƯƠNG 1
NHÓM DỊCH TIẾNG ANH TTV

Dịch giả: Dark_Blood
Biên dịch: Dark_Blood
Biên tập: Dark_Blood
Hiệu đính: Dark_Blood
www.tangthuvien.com

Tom Sagan siết chặt khẩu súng ngắn trong tay. Suốt một năm qua, Tom đã suy nghĩ về khoảnh khắc này rất nhiều lần, tự cân nhắc mọi mặt lợi và hại, và cuối cùng quyết định rằng một lợi điểm duy nhất vượt trội hơn mọi điểm yểu của hành động này.

Đơn giản thôi, Tom chẳng còn thiết sống nữa.

Tom đã từng là một phóng viên điều tra cho tờ Los Angeles Times, hưởng một đầu lương lên tới sáu con số, bút danh của anh gắn liền với những tiêu đề nổi bật nhất trên trang nhất của tờ báo. Anh đã làm phóng sự ở rất nhiều nơi trên thế giới như Sarajevo, Bắc Kinh, Johannesburg, Belgrade, và Mát-xcơ-va. Nhưng chính Trung Đông đã trở thành chuyên môn của anh, một nơi anh hiểu biểt rất sâu sắc và tường tận, và Trung Đông đã góp phần rất lớn trong việc gầy dựng danh tiếng của anh. Tom cũng sở hữu một tập tin bí mật chứa tới hàng trăm những nguồn tin tự nguyện, những người tin rằng anh sẽ bảo vệ danh tính của họ bằng mọi giá. Và dẫn chứng của việc này là Tom đã chịu mười một ngày trong một nhà giam tại Washington DC chỉ vì anh nhất quyết từ chối khai báo nguồn tin của anh trong một bài viết về việc ăn hối lộ của một nghị sĩ ở Pennsylvania.

Rút cục, tên đó cũng phải thọ khám.

Tom được đề cử lần thứ ba cho giải Pulitzer.

Có tất cả hai mươi mốt hạng mục trao thưởng, một trong số đó là giải "Bài phóng sự điều tra xuất sắc nhất được viết chỉ trong một bài báo hay được viết thành một chuỗi phóng sự." Người thắng giải nhận được một tấm bằng chứng nhận, mười ngàn mỹ kim tiền thưởng, và vinh dự được thêm dòng chữ "Người đọat giải Pulitzer" vào cạnh bút danh của mình.

Tom đã thắng giải năm đó.

Nhưng ban tổ chức đã thu nó lại.

Dường như mọi thứ trong cuộc đời của Tom đã bị đọat mất.

Sự nghiệp, thanh danh, độ tin cậy và ngay cả lòng tự trọng của Tom đều bị tước đọat. Cuối cùng, anh chỉ là một người thất bại trong mọi lĩnh vực, từ làm cha cho đến làm con, từ một phóng viên cho đến một người bạn. Cách đây vài tuần Tom đã cố vẽ lại cái mớ bòng bong ấy trên giấy, và anh nhận ra rằng mọi thứ bắt đầu khi anh khoảng 25 tuổi, vừa tốt nghiệp Đại họcTiểu bang Florida với tấm bằng về ngành báo chí và được nằm trong tốp ba xuất sắc của khóa.

Nhưng cha của Tom đã khai từ anh.

Ông Abiram Sagan lúc nào cũng nghiêm khắc.

"Chúng ta ai cũng phải chọn lựa. Tốt, xấu, hay trung lập không thành vấn đề. Tom, con đã trưởng thành và đã chọn lựa cho riêng mình. Bây giờ ta cũng phải như thế."

Và ông ta làm thật.

Trên cùng tấm giấy đó Tom đánh dấu rất kỹ từng chuỗi thăng trầm trong cuộc đời. Một vài thứ xảy ra từ rất lâu rồi, như thuở anh còn làm biên tập cho một tờ báo trong trường cấp ba hay một phóng viên tập sự trên đại học. Nhưng đa phần mọi việc đều xảy ra sau này. Tom thăng cấp từ trợ lý tin tức lên phóng viên chính, sau đó trở thành một phóng viên quốc tế kỳ cựu. Và rồi những giải thưởng, những cái vỗ vai chúc mừng và lòng kính trọng của các đồng nghiệp cũng kéo đến.

Nếu đuợc hỏi, một cộng sự sẽ miêu tả phong cách làm việc của Tom như sau: "Các bài phóng sự ở mọi chủ đề và mang đầy tính dự đoán được thực hiện bất chấp nguy hiểm cho cá nhân mình."

Sau đó Tom ly dị vợ.

Anh phải xa lánh đứa con độc nhất của mình. Cộng thêm những quyết định đầu tư sai lầm. Và thậm chí những quyết định thiết thực cho đời sống của Tom còn lầm lạc hơn.

Và cuối cùng, anh bị đuổi việc.

Đó là tám năm về trước.

Cuộc đời của anh bế mạc từ đó.

Hầu hết những người bạn của anh đều đã rời bỏ anh, nhưng hầu hết đều do lỗi của Tom. Khi nỗi phiền muộn của anh ngày một trầm trọng, Tom tự khép mình lại với mọi người. Vẫn may anh chưa sa đọa vào rượu chè hay các chất gây nghiện, vì mấy thứ này chẳng hề khiến anh hứng thú chút nào.

Lòng tự thương hại khiến anh chìm sâu hơn nỗi buồn phiền.

Tom quét mắt nhìn lại tất cả những món nội thất trong nhà.

Anh đã quyết định sẽ tự kết liễu đời mình ngay tại đây, căn nhà của ba mẹ anh. Không biết thế nào, anh lại thấy đây là chỗ vô cùng thích hợp để tự tử. Các lớp bụi dày cộm và thứ mùi ẩm mốc nhắc nhở Tom rằng đã không có ai sống tại ngôi nhà này trong suốt ba năm trời. Anh đã bật hết đèn đóm trong nhà , trả những khoản thuế lẻ tẻ, và làm cỏ thường xuyên để đám hàng xóm không phàn nàn. Trước đó, anh cũng chú ý đến việc cây dâu tằm bò ngổn ngang trước nhà và cần phải được cắt tỉa lại, hay hàng rào gỗ cần phải sơn lại.

Tom rất ghét ở đây, đối với anh, nơi này có gì đó rất ma quái.

Anh đi thăm lại từng căn phòng, tưởng nhớ những ngày tháng hạnh phúc năm xưa. Anh vẫn còn hình dung được những hũ mứt mẹ anh sắp thẳng tắp trên thềm cửa sổ. Ý nghĩ về mẹ thoáng đem lại một niềm vui khó tả trong anh.

Ít ra anh cũng nên để lại một bức thư để biện minh cho mình, hoặc đổ lỗi cho một người hay một thứ nào đó. Nhưng đổ cho ai hay cái gì bây giờ? Chẳng còn ai thèm tin anh bất kể anh có nói thật đến mức nào. Và tiếc thay, cũng như tám năm trước, anh chẳng thể trách ai được ngoài chính mình.

Liệu có ai còn quan tâm đến chuyện anh sống chết thế nào hay không?

Chắc chắn không phải là đứa con gái của Tom. Anh vẫn chưa nói lấy một câu với nó trong nhiều năm qua.

Người đại diên của anh chăng? Bà ấy chắc hẳn sẽ kiếm được khối tiền từ quyển hồi ký nói về anh. So với chuyện viết báo, Tom đã rất ngạc nhiên khi biết được rất nhiều những tay tự xưng biết viết tiểu thuyết hư cấu thật ra chẳng viết được câu nào ra hồn. Và anh chắc mẩm rằng vào thời điểm anh sa cơ lỡ vận, có khối nhà phê bình đã phán rằng: "Phóng viên Tom Sagan sẽ có một tương lai xán lạn hơn nếu chuyển sang nghề viết tiểu thuyết."

Bọn khốn nạn.

Nhưng rất có thể anh sẽ tiếp nhận lời khuyên đó.

Tom tự hỏi rằng làm sao anh có thể giải thích việc tự kết liễu mạng sống của mình? Theo lý thuyết, đây là một chuyện điên rồ. Và dĩ nhiên, chuyện điên rồ thì chẳng thể giải thích được. Hi vọng là sẽ có ai đủ tốt để chôn cất anh. Anh có khá nhiều tiền trong tài khoản ngân hàng, dư sức để tổ chức một đám tang trang trọng và chỉnh tề.

Cảm giác khi chết sẽ thế nào nhỉ?

Anh có còn cảm thấy mọi thứ xung quanh được không? Nghe? Nhìn? Ngừi? Hay cái chết chỉ đơn giản là một màn đen vô tận. Không có cảm xúc, không có ý nghĩ.

Và chẳng có gì cả.

Tom bước ra ngoài căn nhà.

Bên ngoài là một buổi sáng tháng Ba rực rỡ, ánh nắng ban trưa chói chang. Florida thật may mắn khi được ban cho một khí hậu tuyệt vời. Giống như California, nhưng không có động đất, nơi anh đã từng sống trước khi bị đuổi việc. Anh rất nhớ cái ánh nắng ấm áp vào một buổi trưa hè êm dịu.

Anh dừng chân lại ở cánh cổng vòm và nhìn vào căn "phòng khách riêng." Đó là cái tên mà mẹ anh hay dùng để gọi căn phòng đó. Đây là nơi mà cha mẹ của anh thường tụ tập cho lễ Shabbat(1), chỗ ông Abiram thường đọc kinh Torah. Nơi đây cũng đã từng tổ chức các lễ Yom Kippur(2) và những ngày lễ khác. Anh vẫn còn nhớ như in bảy cây đèn cầy cháy sáng rực trên giá đỡ bằng thiếc ở góc bàn phía xa. Cha mẹ của Tom đều là những tín đồ trung thành của đạo Do Thái. Sau lễ mừng sự trưởng thành, hay gọi là Bar Mitzvah, anh cũng phải đứng học quyển kinh Torah trước cánh cửa sổ mười hai ô, được trang trí bởi những tấm rèm của mẹ anh mất nhiều tháng để may từ lụa Đa-mát. Bà được trời phú cho tính khéo tay và được yêu quý bởi mọi người. Tom rất nhớ bà ấy.

Bà mất sáu năm trước Abiram, người tính đến bây giờ cũng đã qua đời được ba năm rồi.

Phải chấm dứt dòng tư tưởng này.

Tom ngồi phịch xuống chiếc ghế bành. ngắm nghía khẩu súng ngắn mà anh đã mua một vài tháng trước ở một lễ hội vũ khi tại Orlando. Một làn bụi mỏng bốc lên rồi tản mác. Anh chợt nhớ về những lời giảng của Abiram về các loài chim hay lũ ong khi ông ngồi ở chính chiếc ghế này. Lúc đó Tom chỉ khoảng mười hai tuổi.

Đó là ba muơi tám năm về trước.

Nhưng chuyện dường như chỉ xảy ra cách đây một tuần.

Như thường lệ, lời giảng của cha rất ngắn gọn và súc tích.

"Con có hiểu không?" Abiram hỏi. "Điều đó rất quan trọng đấy."

"Nhưng con không thích lũ con gái."

"Rồi con sẽ thích, nên hãy nhớ kỹ lời ba dặn."


Đàn bà. Một thất bại khác của Tom. Thời còn trai trẻ, Tom đã có một vài mối tình ngắn ngủi. Sau đó anh cưới Michelle, người con gái đầu tiên biểu hiện một sự quan tâm nghiêm túc đến anh. Nhưng rồi cuộc hôn nhân tan vỡ ngay sau khi anh bị đuổi việc, và chẳng còn người phụ nữ nào chịu đến với anh sau sự cố đó. Việc ly hôn Michelle thực sự đã ảnh hưởng rất xấu đến anh.

"Có lẽ mình sẽ sớm gặp lại cô ta thôi," Tom lẩm bẩm.

Michelle đã mất hai năm về trước trong một vụ tai nạn xe hơi.

Đó là lần cuối cùng anh được nói chuyện với đứa con gái của mình. Năm đó, con bé đã nói rất to và rõ: "Cút đi! Mẹ không muốn ông ở đây đâu."

Anh bỏ đi ngay sau lễ tang.

Tom nhìn chằm chằm khẩu súng, ngón tay đặt sẵn trên cò. Anh tự khích lệ mình, hít một hơi dài, rồi hướng nòng súng về thái dương. Anh thuận tay trái, như bao người khác trong dòng họ Sagan vậy. Bác của Tom, một cựu vận động viên bóng chày chuyên nghiệp, đã từng nói rằng khi còn nhỏ, nếu anh luyện được cú ném xóay vòng thì anh chắc chắn sẽ được vào chơi trong các giải lớn. Những nguời ném banh giỏi bằng tay trái quả thật rất, rất hiếm.

Nhưng tiếc là anh cũng thất bại trong môn bóng chày.

Tom ấn nòng súng vào thái dương.

Thứ thép lạnh ngắt chạm vào da anh.

Tom nhắm mắt lại và siết chặt ngón tay lên cò súng hơn, tưởng tượng lời cáo phó của anh sẽ bắt đầu như thế nào. Thứ Ba, ngày năm tháng Ba, cựu phóng viên điều tra Tom Sagan đã tự sát tại nhà của cha mẹ tại Mount Dora, tiểu bang Florida.

Chỉ một chút lực nữa thôi, và...

Rầm rầm rầm.

Tom mở mắt ra.

Một gã đàn ông đứng sừng sững ngoài cửa sổ, đủ gần để Tom có thể nhìn rõ khuôn mặt của hắn ta - hắn già hơn anh một chút, mày râu nhẵn nhụi, trông rất dễ nhớ - và đặc biệt nhất là bàn tay phải của hắn.

Bàn tay đó đang nhấn một bức hình vào tấm cửa kiếng.

Tom cố sức tập trung nhìn vào tấm hình của một cô gái trẻ đang nằm, với tay chân đang dang rộng ra.

Như thế bị trói.

Anh chắc chắn nhận ra khuôn mặt này.

Đứa con gái của anh.

Alle.


Chú thích:

(1) Shabbat - Ngày thứ bảy trong một tuần lễ của người Do Thái, được xem là ngày dành cho việc nghỉ ngơi và nghiên cứu Kinh Sáng Thế

(2) Yom Kippur - Còn được gọi là "Ngày Đền tội," chính là ngày lễ thiêng liêng và quan trọng nhất trong năm của Do Thái giáo


*****
***
*



Thảo luận về truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...51#post9284551
Góp ý cho truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...41#post9281241
Tham gia dịch truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...56#post9174756

thay đổi nội dung bởi: Dark_Blood, 09-08-2012 lúc 10:29 AM.
Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 19 Users Say Thank You to Dark_Blood For This Useful Post:
  #4  
Old 28-07-2012, 06:37 PM
Dark_Blood's Avatar
Dark_Blood Dark_Blood is offline
Tiếu Ngạo Giang Hồ
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Đến từ: MT
Bài gởi: 6,571
Default

CHƯƠNG 2
NHÓM DỊCH TIẾNG ANH TTV

Dịch giả: mmmmmmm23
Biên dịch: tobano
Biên tập: Dark_Blood
Hiệu đính: Dark_Blood
www.tangthuvien.com


Alle Becket nằm trên giường, tay và chân đều bị trói vào hai bên thành. Mảnh băng keo dán kín miệng khiến cô thở nhanh bằng mũi. Căn phòng nhỏ tối tăm làm cô rất lo lắng.

Bình tĩnh, cô tự nhủ.

Cô tập trung nghĩ về người cha của mình.

Thomas Peter Sagan.

Họ của hai người khác nhau nhờ vào một cuộc hôn nhân ngắn ngủi mà cô đã vào ba năm trước, chỉ ngay sau khi ông nội của cô, Abiram, qua đời. Tóm lại đó là một ý tưởng tồi tệ, nhất là khi tên chồng mới cưới quyết định rằng chiếc nhẫn đang đeo trên ngón tay cho phép hắn toàn quyền sử dụng thẻ tín dụng của cô.

Cuộc hôn nhân chấm dứt sau ba tháng. Vụ ly dị tốn thêm một tháng nữa. Trả dứt nợ tín dụng cần tới hai năm.

Nhưng cô đã vượt qua được.

Mẹ cô đã từng dạy rằng nợ nần người khác chẳng phải là một điều tốt đẹp. Cô luôn nghĩ rằng chính mẹ đã hình thành cho cô tính cách này. Có trời mới biết cô có thừa hưởng cái tính này từ cha hay không. Những kỉ niệm của cô về ông cũng chẳng hay ho gì cho lắm. Cô hiện hai mươi lăm tuổi và không thể nhớ nổi một lần ông nói với cô một lời yêu thương.

Tại sao mẹ lại cưới ông ấy?

Alle, cha mẹ yêu nhau khi còn trẻ và đã có nhiều năm hạnh phúc bên nhau trước khi những điều tồi tệ xảy ra. Cuộc sống vốn bình an lắm.


Phải đợi cho đến cuộc hôn nhân của chính mình cô mới hiểu được giá trị của hai chữ "bình an" đó. "Một sự rối loạn tột cùng" là cụm từ chính xác nhất đề miêu tả cuộc hôn nhân ngắn ngủi đó. Tất cả những gì mà cô lấy được chỉ là một cái họ mới, dù gì bất cứ họ nào cũng đều tốt hơn họ Sagan. Nhắc lại chuyện này chỉ tổ làm cô bực bội trong lòng. Nếu phải nhớ lại điều gì từ lần thất bại đó, chí ít hãy để cho người chồng cũ có dịp tạo nên những kỷ niệm đáng nhớ giữa hai người, đặc biệt là trong khoản sáu ngày vỏn vẹn ở đảo Turks và Caicos.

Cô thử độ chắc của khúc dây đang trói tay cô. Cơ bắp của cô đau nhức. Cô cố vùng vẫy với nút thắt và tìm một tư thế thoải mái hơn. Không khí lùa vào phòng qua chiếc cửa sổ để mở, nhưng mồ hôi vẫn lấm tấm trên chân mày của cô và lưng áo của cô ướt đẫm khi phải tiếp xúc quá lâu với tấm nệm. Một số thứ mùi khó ngửi còn phảng phất khiến cô tự hỏi ai đã từng nằm ở đây trước cả cô.

Cô không thích cái cảm giác bất lực khi phải đối mặt với hiểm cảnh của chính mình.

Vì vậy cô cố ép tâm trí mình nghĩ đến bà, người mẹ thân thương đã hết mực thương yêu cô và giúp cô giành được số điểm cần thiết để đỗ vào và tốt nghiệp đại học Brown. Lịch sử luôn là niềm say mê của cô, đặc biệt là châu Mỹ thời hậu Columbus, giai đoạn từ năm 1492 đến 1800 khi Châu Âu dùng quyền lực quân sự để đổ bộ lên Tân Thế giới.

Mẹ cô cũng thuộc dạng người tài giỏi, bà đã vượt qua nỗi đau sau cuộc ly dị và tìm được một người chồng mới. Ông ta là một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình, một người đàn ông tốt luôn biết quan tâm chăm sóc cả hai người, khác biệt một trăm tám chục độ so với cha cô.

Đó thật là một cuộc hôn nhân hạnh phúc.

Nhưng hai năm trước một tay lái xe vô ý thức đang bị treo bằng đã vượt bảng dừng giao thông, tông chết mẹ của cô. Cô nhớ bà ấy lắm!

Ký ức về buổi đám tang hiện về rõ rệt trong tâm trí cô, nhờ vào sự xuất hiện đường đột của người cha ruột của cô.

"Cút ra ngoài! Mẹ tôi không muốn ông ở đây," cô hét đủ lớn cho tất cả mọi người đưa tang đều nghe thấy.

"Ba đến để nói lời tạm biệt."

"Ông đã làm điều đó khi ông vứt bỏ hai mẹ con tôi từ rất lâu rồi!"

"Con không hiểu được những gì ba đã làm đâu."

"Ông chỉ có một cơ hội duy nhất để nuôi dưỡng con cái. Làm một người chồng tốt. Một người cha mẫu mực. Ông đã phung phí nó. Giờ thì biến đi!"

Cô hồi tưởng lại khuôn mặt ông ta lúc đó. Nét mặt lãnh đạm vô cảm đó gần như che giấu mọi cảm xúc đằng sau nó. Khi còn bé cô luôn tự hỏi ông ta đang nghĩ gì.

Chẳng còn gì nữa. Vấn đề có gì đáng phải bận tâm đâu?

Cô lại cố thử kéo mạnh dây trói.

Nhưng thật ra, vấn đề đó lại rất đáng quan tâm đấy.





*****
***
*



Thảo luận về truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...51#post9284551
Góp ý cho truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...41#post9281241
Tham gia dịch truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...56#post9174756

thay đổi nội dung bởi: Dark_Blood, 09-08-2012 lúc 10:27 AM.
Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 6 Users Say Thank You to Dark_Blood For This Useful Post:
  #5  
Old 28-07-2012, 06:40 PM
Dark_Blood's Avatar
Dark_Blood Dark_Blood is offline
Tiếu Ngạo Giang Hồ
 
Tham gia ngày: Dec 2007
Đến từ: MT
Bài gởi: 6,571
Default

CHƯƠNG 3
NHÓM DỊCH TIẾNG ANH TTV

Dịch giả: mmmmmmm23
Biên dịch: tobano
Biên tập: blackcat132
Hiệu đính: Dark_Blood
www.tangthuvien.com


Béne Rowe đang ngóng tiểng sủa của đàn chó săn thuộc giống đắt tiền của hắn. Giống chó này được du nhập lần đầu tiên từ Jamaica đến Cuba, chúng là hậu duệ của những con chó săn mà Columbus đã mang theo trên chuyến tàu vượt Đại Tây Dương. Từng có một câu chuyện khá nổi tiếng đã đề cập đến việc, trong quãng thời gian Ferfinand và Isabella gây chiến tranh để giành lại Grenada từ người Moors, chính những con chó này đã ăn thịt những đứa trẻ người Ả Rập bị bỏ rơi trước cổng các đền thờ.

Chuyện này xảy ra chỉ cách một tháng trước khi tên khốn Columbus lần đầu đến Châu Mỹ.

Và hắn đã thay đổi mọi thứ.

"Lũ chó đang đến gần," hắn nói với hai gã đàn em thân tín nhất của mình. "Gần lắm rồi, nghe thấy tiếng sủa không? Càng ngày càng to." Hắn mở một nụ cười lộ ra hàm răng trắng tinh, thứ từng ngốn của hắn một khoản kha khá. "Chúng hay thế khi cuộc đi săn gần chấm dứt."

Hắn sử dụng là sự pha trộn giữa tiếng Anh và một loại thổ ngữ địa phương, biết rằng đám người của mình sẽ cảm thấy thoải mái hơn với loại ngôn ngữ này - một sự kết hợp giữa tiếng Anh, tiếng Châu Phi và Arawak. Riêng hắn thì vẫn thích dùng loại tiếng Anh chuẩn hơn, một thói quen đã ăn sâu vào hắn từ thời còn đi học và nhờ sự ép buộc của mẹ hắn.

Một nét lạ lùng cùa hai mẹ con, khi cả hai thường có ý thích cổ hủ hơn.

Hai tên lính của hắn mang theo súng trường khi chúng trèo lên cao nguyên Jamaica tới chỗ những người Tây Ban Nha gọi là Sierras de Bastidas, tức những pháo đài núi. Tổ tiên của hắn, những nô lệ bỏ trốn, đã lợi dụng địa thế của những ngọn núi này như một pháo đài kiên cố để chống lại bọn chủ nô. Họ tự xưng là Katawud, Yenkunkun, Chankofi. Có người lại nói người Tây Ban Nha đã đặt tên cho họ là Cimarrons – những kẻ mọi rợ, hoang dã - hay Marrans cái danh từ chỉ những kẻ chuyên săn lợn nái hoặc lợn thiến. Một số khác lại sử dụng một từ tiếng Pháp là Marron, nghĩa là những nô lệ bỏ trốn. Bất kể nguồn gốc thế nào,trong tiếng Anh từ này được đọc chệch thành Maroons.

Từ đó ngày nay vẫn còn khá thông dụng.

Những thị trấn này được đặt theo tên của những người đã có công xây dựng và sáng lập ra chúng – chẳng hạn như Trelawny, Accompong, Scott’s Hall, Moore, và Chales. Những người này kết hôn với những phụ nữ Taino bản xứ, và chính họ đã khai phá, mở đường cho những nơi hoang vu chưa từng có người đặt chân đến, và thường xuyên chống trả lại những cuộc tập kích của bọn cướp biển vào Jamaica.

Với họ, đồi núi đã trở thành nhà, và những cánh rừng là đồng minh.

"Tao nghe thấy tiếng sủa của con Nanny Bự rồi," hắn nói với đồng bọn. "Tiếng sủa lớn nhất đó, đúng là nó rồi! Nó là thủ lãnh trong đám. Luôn luôn như thế."

Hắn đặt tên con chó theo tên một nữ tộc trưởng tên Grandy Nanny(1) của dân Maroon ở thế kỷ 18, một vị lãnh tụ vĩ đại về mặt tinh thần lẫn quân sự. Hình bà ta giờ còn xuất hiện trên tờ 500 đô la Jamaica, dẫu cho đó hoàn toàn là sự phác họa của trí tưởng tượng. Không có miêu tả chính xác về chân dung của bà ta còn sót lại cho đến ngày nay – tất cả chỉ là một huyền thoại.

Hắn thử hình dung cái khung cảnh cách đó khoảng nửa cây số. Lũ chó săn không kém cạnh giống chó lớn tai cụp về thân hình to lớn, sánh ngang với chó săn thuần chủng về sự nhanh nhẹn, và giống chó bun về sự dũng cảm. Bọn chúng có lớp lông cứng dày, màu hung đỏ. Cả nhóm chạy thành hàng dọc, có tất cả bốn con phía sau con chó cái Nanny Bự. Nó không bao giờ cho phép một con chó đực nào vượt lên trước. Cũng như người phụ nữ mà nó được đặt tên theo, uy quyền của nó là bất khả xâm phạm. Từng có một con chó đực dám thách thức điều đó và kết quả là nó đã dùng hàm răng đầy sức mạnh của mình để cắn nát cổ con chó kia.

Hắn dừng lại bên bờ một vực cao rồi dõi mắt quan sát những triền núi xa xa được bao phủ bởi cánh rừng. Màu xanh của cây bụt chiếm một phần lớn trong những khu rừng nơi đây, cùng với với các cây doi, cây dái ngựa, cây tếch, cây dừa dại, và những dải tre rậm rạp. Hắn nắm lấy một nhánh cây sung gần đó, cành cây thật dẻo dai và ngoan cường làm sao, khiến hắn nhớ lại lời mẹ dặn khi xưa.

"Cây sung vượt trội so với tất cả. Như thể muốn nói với những kẻ dám thử thách nó: 'Ngươi càng bẻ, ta càng dai.' "

Hắn ngưỡng mộ sức mạnh đó.

Hắn phát hiện một nhóm công nhân ở trên một triền núi khác. Họ đang xếp thành một hàng, cuốc sắt lấp lánh dưới ánh mặt trời được vung liên hồi. Hắn hình dung bản thân mình trong tình cảnh này vào ba trăm năm trước, một trong số những người da đỏ vô danh của Columbus, lao động khổ sai trong kiếp nô lệ cho bọn Tây Ban Nha. Hoặc một trăm năm sau, trong lốt một người Phi châu bán thân cho một tên chủ đồn điền người Anh.

Đó từng là số phận của những người Maroons, một tộc lai giữa người Taino thuần chủng và những người Phi châu nhập cư.

Giống hệt như hắn ta.

"Ngài sẽ tới gặp họ phải không ạ?" tên đứng đầu trong đám đàn em hỏi hắn.

Hắn biết người của hắn sợ lũ chó nhưng cũng rất ghét những tay bố già buôn ma túy. Jamaica đang bị nhấn chím trong những tội ác bẩn thỉu. Một tên bố già hiện cách đây nửa cây số đã từng nghĩ luật pháp đừng hòng chạm tới hắn, nhưng giờ đang bị rượt đuổi bởi một bầy chó săn Cuba thuần chủng và hung dữ. Đám tay sai của tên này đã biến thành phố Kingston trở thành một bãi chiến trường, lạm sát vô số người vô tội. Vụ nổ súng gần đây nhất khiến cả một bệnh viện và trường học công cộng nằm trong tuyến lửa đạn, các bệnh nhân buộc phải co mình dưới giường bệnh, còn bọn trẻ phải làm bài thi với tiếng đạn bay rít bên ngoài. Vì lý do này, Béne đã dụ gã bố già đến gặp mặt, không ai dám phớt lờ lệnh triệu hồi của Béne Rowe, rồi sau đó hắn bắt tên này vào vùng núi.

"A wa yu a say?" gã bố già xấc láo hỏi bằng tiếng patois.

"Nói tiếng Anh cho tao."

"Mày có cảm thấy xấu hổ vì mày là ai không Béne?"

"Tao xấu hổ vì mày đấy."

"Thế mày định làm gì? Săn lùng tao à?"


"A no mi." Không phải tao.

Hắn cố tình dùng thổ ngữ để cho tên đó biết hắn chưa quên mất gốc gác của mình. Rồi hắn chỉ vào lũ chó đang sủa om xòm trong chuồng của chúng ở trên thùng xe tải. "Chúng ló sẽ nàm điều đó thay tau!"

"Rồi mày sẽ làm gì? Giết tao sao?"

Hắn lắc đầu. "Nũ chó sẽ nàm điều đó nuôn."


Hắn cười trước đôi mắt mở to vì sợ hãi của tên khốn, và cảm thấy dễ chịu khi biết rằng tên đồ tể giết người vô tội vạ thật ra cũng biết sợ.

"Mày không phải một trong đám chúng tao," gã bố già gào lên. "Mày quên mày là ai rồi Béne."

Hắn bước đến rất gần, chỉ cách tấm áo sơ mi lụa hở cổ vài centimét của tên kia, chiếc quần được đặt may riêng và đôi giày đắt tiền. Hắn cho rằng bộ quần áo này chỉ để gây ấn tượng, nhưng tên khờ này cũng chẳng làm được tẹo nào. Hắn ốm nhom như một cây mía, với một mắt sáng như thủy tinh và cái mồm đầy răng sâu.

"Mày chẳng là cái thá gì cả," hắn nói với gã bố già.

"Đủ quan trọng để mày muốn giết tao đấy chứ."

Béne cười khùng khục. "Nói cũng đúng đấy. Và nếu tao kính trọng mày chút nào, tao sẽ cho mày phát súng ân huệ. Nhưng mày là loại súc sinh mà bọn chó sẽ rất vui để vờn cuộc săn này."

"Bọn chính phủ trả tiền cho mày làm thế này hả Béne? Chúng nó không làm được nên chúng đã bắt mày làm sao?"

"Tự tao thấy thích thì làm thôi."


Cảnh sát đã cố bắt giữ tên khốn này hai lần, nhưng những cuộc biểu tình ở Kingston đã phá hỏng cả hai lần đó. Đáng buồn thay những kẻ ác lại trở thành anh hùng trong thành phố này. Những tay bố già rất không, trong khi chính phủ Jamaica tỏ ra bất lực trong việc chăm lo đời sống người dân, những bố già này đã đứng ra làm điều đó. Nào là phát chẩn lương thực, đến việc xây dựng những trung tâm cho cộng đồng, cung cấp thuốc men và dịch vụ y tế nhằm lấy lòng dân chúng.

Và điều đó đã thành công.

Dân chúng sẵn sàng nổi loạn để ngăn cản những người cứu họ khỏi cảnh tù tội.

"Mày có nửa tiếng trước khi tao thả chó ra."

Gã bố già chần chừ, và vắt giò chạy trối chết khi biết Béne không hề giỡn chơi.

Y hệt một người nô lệ chạy trốn tên chủ nô.

Hắn tận hưởng một luồng không khí trong lành của vùng sơn cước đang tràn ngập trong hai buồng phổi. Vòng sương mờ màu lam, dày đặc như một sữa, bao phủ những đỉnh núi xa xa. Có ba đỉnh đạt độ cao hai ngàn mét, một đỉnh khác cao gần hai ngàn mét rưỡi. Những đỉnh núi này trải dài từ đông sang tây, tách Kingston khỏi vùng bờ biển phía bắc. Nơi này còn có những quầng ánh dương mờ ảo, đẹp đến mức những người Anh đã đổi tên cho chúng thành Blue Mountains.

Hai gã lính đứng bên cạnh y, súng trường gác trên vai.

"Tới chuyện khác trong ngày hôm nay," hắn nói, mắt vẫn nhìn chăm chú về phương xa. "Hắn có đến không?"

"Đang trên đường tới. Họ sẽ đợi tại chỗ mấy chiếc xe tải cho đến khi chúng ta sẵn sàng."

Đất đai trong bán kính mấy trăm cây số ở đây đều thuộc về hắn. Đa phần những nguời Maroon chịu canh tác trên vài mét vuông đất của người khác đều phải trả tô đất. Giờ hắn có trăm ngàn mẫu đất cho họ làm miễn phí.

Những con chó tiếp tục sủa cách đó không xa.

Hắn kiểm tra đồng hồ.

"Nanny Bự đuổi rất gần rồi. Nó hiếm khi để con mồi chạy hơn một giờ."

Dũng mãnh, chân dài và được phú cho sự bền bỉ và sức mạnh đáng kinh ngạc, những con chó săn của Béne đã được huấn luyện vô cùng kỹ lưỡng. Chúng còn leo trèo rất lão luyện, có khả năng leo được cây cao. Mục tiêu hôm nay sẽ chẳng mấy chốc bị phát hiện nếu hắn ngu ngốc cho rằng nằm trên cành cây cao sẽ tránh được lũ chó.

Chủng chó săn Cuba này đã được gầy giống từ rất lâu chỉ cho một mục đích duy nhất.

Truy lùng những nô lệ da đen bỏ trốn.

Chó của hắn tiến bộ hơn. Săn được cả trắng lẫn đen.

Nhưng hệt như tổ tiên chúng, chúng chỉ giết khi con mồi chống cự. Nói cách khác chúng chỉ sủa to khiến con mổi sợ hãi và không bỏ chạy để chờ chủ của chúng tới.

"Chúng ta đến chỗ chúng thôi," hắn nói.

Hắn dẫn đầu nhóm quay lại khu rừng. Không hề có đường mòn, chỉ có cây cỏ mọc dày đặc khắp nơi. Một gã rút ra một con dao rựa dài để phạt cây mở đường. Với từ đó hắn luôn cố ý dùng thổ ngữ và bỏ mất chữ e ở cuối(1). Thật là buồn cười rằng đây là cái tật hắn mãi không bỏ được .

Một ngọn gió lào xào thổi qua những nhánh cây.

Thật là dễ dàng để trốn giữa đám dương xỉ và lan rừng này. Không ai có thể tìm thấy nếu một người trốn vào trong đây. Đó chính là lý do tại sao người Anh cuối cùng đã nhập giống chó săn này để truy lùng những nô lệ bỏ trốn.

Cấch truy tìm bằng mùi hương hiệu quả vô cùng.

Họ lao theo hướng lũ chó. Người của hắn vung mạnh những thanh rựa dài, liên tục chém vào tán lá để mở đường. Những tia nắng mỏng manh, len lỏi xuyên qua những tán lá phô mình trên mặt đất.

"Ngài Béne," một gã trong nhóm kêu lên.

Một thảm lá cây mềm mại đàn hồi theo mỗi bước chân, êm đến mức có thể nghe được tận tiếng chim hót xa xa. Đá to nhỏ ở dưới lớp cây mục rất dễ làm hư giày, nhưng hắn đã trang bị cho mình một đôi giày bốt chuyên dụng. Hắn vất vả tìm đường xuyên qua một hàng cây thấp và tìm thấy người của hắn tại một mảnh đất trống trải. Một con cò quăm màu hồng phóng ra từ một lùm cây phía xa, đôi cánh vỗ liên hồi để bay lên. Màu hoa lan trải khắp khoảng đất trống phía dưới những tán cây cao vút lợp trời.

Hắn nhận ra từng đám đá vụn rơi vãi giữa mặt đất đầy dương xỉ.

Lũ chó đã bắt đầu tru lên.

Báo hiệu thành công.

Chúng đã dồn con mồi vào thế bí.

Hắn bước lại gần và cúi xuống, khảo sát những mảnh đá, vài mảnh khá lớn và lẫn sâu trong đất, số khác chỉ là mảnh rời nhỏ hơn. Địa y và nấm mốc đã bám đầy trên bề mặt của những miếng đá, nhưng những đường nét ngoài mờ nhạt của một đoạn ký tự trên đó vẫn còn nhận ra được.

Hắn nhận ra dòng chữ này.

Tiếng Hebrew.

"Còn ở đây nhiều lắm," đám người của hắn nói trong lúc đang tản ra tìm kiếm.

Hắn biết được thứ bọn họ vừa tìm thấy.

Những bia mộ.

Một nghĩa trang bị chìm vào quên lãng.

Hắn cười khoái trá. "Ồ, một ngày tốt lành đây các đồng chí. Một ngày tốt lành. Chúng ta đã tìm được một kho báu."

Hắn liền nghĩ đến Zachriah Simon, và biết hẳn lão sẽ cảm thấy rất hài lòng.


Chú thích:

(1) Dao rựa trong tiếng Anh là "machete" còn trong thổ ngữ patois của truyện là "machet," tức thiếu mất chữ "e" ở cuối chữ.


*****
***
*



Thảo luận về truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...51#post9284551
Góp ý cho truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...41#post9281241
Tham gia dịch truyện: http://www.tangthuvien.com/forum/sho...56#post9174756

thay đổi nội dung bởi: Dark_Blood, 09-08-2012 lúc 10:30 AM.
Trả Lời Với Trích Dẫn
The Following 5 Users Say Thank You to Dark_Blood For This Useful Post:
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh Kiếm Trong Bài
Kiếm Trong Bài:

Kiếm Chi Tiết

Quyền Hạn Của Bạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt



Múi giờ GMT +7. Bây giờ là 04:12 AM.


Powered by: vBulletin v3.8.5 Copyright ©2000-2013, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBCredits v1.4 Copyright ©2007 - 2008, PixelFX Studios
Tàng Thư Viện Copyright © 2007–2013. All rights reserved.Ad Management plugin by RedTyger