PDA

View Full Version : Bản đồ Việt Nam qua các thời kỳ!


Kream
29-08-2011, 04:50 PM
Hôm nay rảnh rỗi, thử tìm hiểu chút về lịch sử VN:64:
xem xong mà cảm khái ngàn lần :4:
nhất là thời kỳ Vua An Dương Vương :113:

http://cA5.upanh.com/10.451.14589675.XPH0/1.jpg

http://cA2.upanh.com/10.451.14589676.DOM0/2.gif

http://cA3.upanh.com/10.451.14589677.RTT0/3.gif

http://cA4.upanh.com/10.451.14589678.SBK0/4.jpg

Thế mới biết nước Việt ta vốn to lớn sau khi tên Triệu tặc xâm lăng thì bị thu nhỏ đi quả là nhiều !

http://cA5.upanh.com/10.451.14589679.BXX0/5.jpg
thời Tần

http://cA2.upanh.com/10.451.14589680.OSK0/6.jpg
thời thuộc Triệu

http://cA4.upanh.com/10.451.14589682.TZB0/7.jpg

http://cA3.upanh.com/10.451.14589689.MPM0/8.jpg

http://cA4.upanh.com/10.451.14589690.DFK0/9.jpg

http://cA5.upanh.com/10.451.14589691.YGB0/10.jpg
http://cA3.upanh.com/10.451.14589693.VBV0/11.jpg

http://cA5.upanh.com/10.451.14589695.XHU0/12.jpg

http://cA3.upanh.com/10.451.14589697.FHO0/13.jpg

http://cA5.upanh.com/10.451.14589699.HKA0/14.jpg

http://cA2.upanh.com/10.451.14589700.DYR0/15.jpg

http://cA3.upanh.com/10.451.14589701.VGT0/16.jpg

Kream
29-08-2011, 04:51 PM
http://cA5.upanh.com/10.451.14589703.RVT0/17.jpg

http://cA2.upanh.com/10.451.14589704.GRK0/18.jpg

http://cA4.upanh.com/10.451.14589706.VDD0/19.jpg

http://cA2.upanh.com/10.451.14589708.FUB0/20.jpg

http://cA3.upanh.com/10.451.14589709.NUD0/21.jpg

http://cA4.upanh.com/10.451.14589710.ETB0/22.jpg

http://cA2.upanh.com/10.451.14589712.SHO0/23.jpg

http://cA2.upanh.com/10.451.14589716.ZOH0/24.jpg

http://cA4.upanh.com/10.451.14589718.ULF0/25.jpg

http://cA5.upanh.com/10.451.14589719.ZEA0/26.jpg

http://cA4.upanh.com/10.451.14589722.ZZR0/27.jpg

http://cA2.upanh.com/10.451.14589724.DCH0/28.jpg

Wezneither
29-08-2011, 05:00 PM
ko có gì để nói :4::4::4:, nhờ lão ta có tài luyện cho truyện xuyên việt :045::045::045:

Đoancongtu
29-08-2011, 05:02 PM
rất có ý nghĩa :uong:

Niêu
29-08-2011, 05:07 PM
Mềnh cóc tin, nhìn vào cái bản đồ ảo vãi, đặc biệt miền Bắc ở thời trước Lê cực giống ngày nay, mà thời đó Lai Châu, Sơn La còn xa mới thuộc Đại Việt :113:

Cô Bé Bán Xôi
29-08-2011, 05:26 PM
Để bữa nào lục tập bản đồ chính thống rùi post lên:91:

Kream
29-08-2011, 05:38 PM
nhờ A Lắc để vào bàn viết làm tài liệu cho tác giả vậy :113:
mình ko ngờ có thời kỳ VN lại hùng mạnh thế đấy :91:

LordCaoCao
29-08-2011, 06:31 PM
Chém gió phần phật, mấy giờ rồi mà tin vào truyền thuyết Bách Việt :010:

askusa
29-08-2011, 06:43 PM
Nguồn từ đâu :eye_wide::eye_wide::eye_wide:

Wezneither
29-08-2011, 11:53 PM
Ai chứng minh được nó không có thực mà cấm người ta tin :010::010:

kamizake
30-08-2011, 12:00 AM
gió to quá :033::033::033::033: Ta thì vẫn tin cái thuyết nước ta là nước nhỏ , yếu , dù bị thằng Tàu nó đì thì cuối cùng vẫn vùng lên giành lại độc lập . Như thế ko hay bằng chán vạn lần cái kiểu nước to mà mất nước à :021:

Rangnarok
30-08-2011, 12:47 AM
thực ra mình cũng muốn biết nguồn mấy cái này ở đâu?

gianghoaingoc
30-08-2011, 01:22 AM
Mấy bản đồ này của Tây vẽ, được sử dụng ở Âu Mỹ :

https://lh6.googleusercontent.com/-hmCTbF7-wZ4/TlvX4w8zY5I/AAAAAAAAAek/O_BtLi6p2Uo/s576/Southeast_Asia_trade_route_map_XIIcentury.jpg

(Bản đồ Đông Nam Á cuối thế kỷ 12 đầu thế kỷ 13)

Bản đồ này cho thấy Đại Việt trọng nông khinh thương, nên chẳng có cảng thương mại nào, trong khi các nước khác có hoạt động thương mại rất sầm uất.


https://lh5.googleusercontent.com/-1RRpW--gHwg/TlvYpFr1pRI/AAAAAAAAAes/039twhSAoI8/s512/Map_of_Vietnam_1829.jpg

(Bản đồ Đế quốc Đại Nam được phát hành ở Paris năm 1829)

gianghoaingoc
30-08-2011, 02:35 AM
Một số người không biết hoặc cố ý không tin người Việt từng sống ở vùng Nam Trường Giang.

Nếu xét về nhân chủng học, người Việt và người miền nam Trung Hoa cùng giống da nâu (người Tàu gọi là "Tông chủng nhân", Tây gọi là "Australoid"), còn người ở miền bắc Trung Hoa thuộc giống da vàng (người Tàu gọi là "Hoàng chủng nhân", Tây gọi là "Mongoloid").

Nếu xét về văn hóa, người Việt và người miền nam Trung Hoa thuộc văn minh lúa nước, văn hóa tương tự nhau, ví dụ : Đình chùa mái cong uốn lượn (miền bắc Trung Hoa mái không cong), trồng lúa nước, giỏi chèo thuyền, ...

https://lh5.googleusercontent.com/-8nHq9AH_NaE/Tlvj0eU8S1I/AAAAAAAAAgU/uLUrE0wj2OI/Picture1.jpg
(Bản đồ các nền văn hóa)

1) Ancient Southeast Asian wet-rice agricultural cultural zone
2) Northeast Asian nomadic and dry agricultural zone (secularity-based – 2a) & Southwest Asian nomadic and dry agricultural zone (religion-based 2b),
3) Nomadic cultural zone of Europe and Siberia

Còn nếu muốn rõ hơn thì xem bản đồ các triều đại bên Tàu :

https://lh6.googleusercontent.com/-srMNO7B2WIY/TlvgLiQQDnI/AAAAAAAAAfE/zD9fRDt0_54/s576/H%2525E1%2525BA%2525A1.png
(Bản đồ nhà Hạ, 2205–1767 TCN)


https://lh3.googleusercontent.com/-pm9Y2y-f0lw/TlvgWuTFtiI/AAAAAAAAAf4/HdCxdM-WE3w/s512/Th%2525C6%2525B0%2525C6%2525A1ng.jpg
(Bản đồ nhà Thương, 1766–1122 TCN)


https://lh6.googleusercontent.com/-K_KdKYMmIPc/TlvgWOg-kxI/AAAAAAAAAfw/7U9KIENK-Mw/s512/T%2525C3%2525A2y%252520Chu.jpg
(Bản đồ nhà Tây Chu, 1122–723 TCN)


https://lh3.googleusercontent.com/-_R6MXlygV5s/TlvgLtmN4fI/AAAAAAAAAfA/hSzNLo6VYvU/s512/Chien%252520quoc%252520%252528350BCE%252529.jpg
(Bản đồ nhà Đông Chu, 722–256 TCN)


https://lh5.googleusercontent.com/-059kNsuzwJI/TlvgWl5XGEI/AAAAAAAAAf0/X0bcAXxXj-Y/s512/T%2525E1%2525BA%2525A7n%252520%252528210BCE%252529 .png
(Bản đồ nhà Tần, 221–206 TCN)
Trên bản đồ, DONG-YUE là Đông Việt, NAN-YUE là Nam Việt, YELANG là Dạ Lang, XI-OU là Tây Âu, ... là "non-Chinese people"


https://lh3.googleusercontent.com/-kemumb97XFM/TlvgM0VQ34I/AAAAAAAAAfM/9pgotU6jMI4/s720/Han_map.jpg
(Bản đồ nhà Hán, 206 TCN - 220 SCN)
Trên bản đồ, các nước YELANG (Dạ Lang), MINYUE (Mân Việt) vẫn còn. Nước Mân Việt tồn tại đến đầu thời Tống.


https://lh6.googleusercontent.com/-TdgNsWXv4Js/TlvgMT0h3sI/AAAAAAAAAfI/1qNNGkbdAF8/s512/Five_Dynasties_Ten_Kingdoms_923_CE.png
(Bản đồ Ngũ Đại, 907-960 SCN)
Nước An Nam có một phần lãnh thổ trên đất Quảng Tây. Đó là lý do mà vua Quang Trung đã từng đòi đất Quảng Tây (vua Càn Long của nhà Thanh đồng ý, nhưng vua Quang Trung chết sớm, nên thôi luôn).


Đây là các bản đồ của phương Tây, không phải người Việt mình tự vẽ. Tui viết truyện, tư liệu thường là Đông - Tây kết hợp.

clover9x
30-08-2011, 07:42 AM
Việt Nam thời Kinh Dương Vương @@

cua
30-08-2011, 08:04 AM
Người Việt đang sống cả đống ở Nam TQ đấy thôi, thậm chí nhiều hơn dân số VN bây giờ, nếu chúng ta cũng coi họ là người Việt [Nam]. :050: Khi xét như thế, thì An Dương Vương thuộc về Việt Nam. Nhưng vấn đề là bản thân những người TQ được chúng ta gọi là người Việt, cùng tổ tiên là An Dương Vương với chúng ta, đang sống ở miền Nam TQ hiện nay, lại coi họ là người TQ, vì họ coi tổ tiên của họ - như An Dương Vương - là người TQ (TQ coi An Dương Vương là hoàng tử nước Thục - một trong các nước thuộc thời Chiến Quốc của TQ, sau bị Tần Thủy Hoàng đánh bại chạy từ nước Thục xuống phía Nam lập nước Âu Lạc mà nước Thục ngày xưa của An Dương Vương hiện giờ nằm trong lãnh thổ TQ.) Vậy thì ai đúng ai sai đây?

Theo mình chẳng ai đúng cũng chẳng ai sai. Lợi ích thuộc về phe chiến thắng. Theo dòng thời gian, biên giới các nước trên thế giới này cũng thay đổi (mình tin chắc là còn thay đổi nhiều trong tương lai!). Cho nên, chúng ta chỉ có thể nói chắc chắn rằng chúng ta có cùng gốc với người Việt ở Nam TQ ngày nay, chứ không thể nói miền Nam TQ ngày nay đáng thuộc về Việt Nam chúng ta được.

Niêu
30-08-2011, 09:44 AM
Người Việt ấy là Bách Việt, đừng có đánh đồng tất cả các dân tộc Việt với người Việt ta, và cũng đừng nói rằng lãnh thổ do dân tộc Bách Việt cư trú thuộc về nước Việt, vớ vẩn. :113: Tự hào thì cứ tự hào, nhưng tự hào kiểu vậy xấu hổ lắm. Nếu vậy, chả lẽ khu Lai Châu nên cho về với Thái à? Thế kỉ thứ 10,11,12 người Thái cực thịnh ở phía Bắc với nước Nam Chiếu, nó có nên đòi cả một dải Lào, Miến, Xiêm, Việt có người Thái sống không? :113:

Nhìn cái bản đồ này đủ biết không đáng tin, cứ coi như bỏ qua mấy thời trước Hai Bà Trưng đi, nhìn bản đồ sau thời Hai Bà Trưng đủ hiểu trong nhiều giai đoạn người vẽ chả hiểu mấy về lịch sử, bê nguyên bản đồ thời nay phang vào, đến nản :113:

machienhuu_90
30-08-2011, 09:57 AM
cho em hỏi một câu công bằng nhá. tại sao bản đồ việt nam càng ngày càng rộng ra vậy?? do khai khẩn hay công thành chiếm đất, các bác trả lời thẳng thắn hộ em cái vì sgk né tránh vấn đề này. thậm chí thời nguyễn dưới thời nguyễn phúc chu thêm cả nưới campuchia vào trong đó, trong khi đó chúng ta luôn coi tung của nó là bọn phát xít thực dân xâm chiếm vậy....thôi khôg nói

Niêu
30-08-2011, 10:07 AM
Nghe đồn rằng khi vua Lê Thánh Tông nam chinh đã đem tất cả đàn ông con trai trên 15 tuổi của Chăm pa nuôi cây và cá, đó là một lý do lớn khiến văn minh Chăm pa tuyệt diệt :113:

Bản đồ Việt Nam vì vậy càng ngày càng mở rộng về phía Nam, các đời sau khi chinh phạt nhàn rỗi hơn nhiều, rễ được tiền nhân bứng rồi thì cây có sống cũng ngắc ngoải dặt dẹo, đẩy cái là sụp khỏi gượng :113:

Đồn thôi nhá, đừng đem ra cãi chính thống ăn bợp chết đấy :dead: nhưng dân ta đồn chuẩn lắm :dead:

Long Chấn
30-08-2011, 11:05 AM
Sao cái bản đồ cuối lại là " Nước đại ngu là sao ?"

Niêu
30-08-2011, 11:07 AM
Thời Hồ Đại Ngu là đúng rồi, tất cả các nghĩa đều chuẩn :113:

machienhuu_90
30-08-2011, 11:07 AM
Sao cái bản đồ cuối lại là " Nước đại ngu là sao ?"

đại ngu là quốc hiệu đời nhà hồ:dead::dead::dead::dead:

2concácắnđuôi
30-08-2011, 11:09 AM
Sao cái bản đồ cuối lại là " Nước đại ngu là sao ?"

là do Hồ Quý Ly, tên nước là Đại Ngu, ko phải Đại ngu.:05(1):

Long Chấn
30-08-2011, 11:10 AM
là do Hồ Quý Ly, tên nước là Đại Ngu, ko phải Đại ngu.:05(1):

:050::050::050::050: Thích cái tên này :050::050::050:

2concácắnđuôi
30-08-2011, 11:12 AM
:050::050::050::050: Thích cái tên này :050::050::050:

thích nhất thời kỳ này là Hồ Nguyên Trừng, con trai Hồ Quý LY, thần công a:055:

Long Chấn
30-08-2011, 11:13 AM
thích nhất thời kỳ này là Hồ Nguyên Trừng, con trai Hồ Quý LY, thần công a:055:

:050::050::050: Kể ra xem, mọi người tham khảo :050::050::050:

Niêu
30-08-2011, 11:16 AM
:050::050::050: Kể ra xem, mọi người tham khảo :050::050::050:

Pháo ông ấy vừa to vừa khỏe, bắn đâu thủng đó :dead:

machienhuu_90
30-08-2011, 11:18 AM
:050::050::050: Kể ra xem, mọi người tham khảo :050::050::050:

chuyên gia chế tạo pháo cái loại đặt trên đế giét cái đạn sắt như quả bi tạ ấy, sau này bị bắt sag tầu :4::4::4::4::4:

Wezneither
30-08-2011, 02:12 PM
Người Việt ấy là Bách Việt, đừng có đánh đồng tất cả các dân tộc Việt với người Việt ta, và cũng đừng nói rằng lãnh thổ do dân tộc Bách Việt cư trú thuộc về nước Việt, vớ vẩn. :113: Tự hào thì cứ tự hào, nhưng tự hào kiểu vậy xấu hổ lắm. Nếu vậy, chả lẽ khu Lai Châu nên cho về với Thái à? Thế kỉ thứ 10,11,12 người Thái cực thịnh ở phía Bắc với nước Nam Chiếu, nó có nên đòi cả một dải Lào, Miến, Xiêm, Việt có người Thái sống không? :113:

Nhìn cái bản đồ này đủ biết không đáng tin, cứ coi như bỏ qua mấy thời trước Hai Bà Trưng đi, nhìn bản đồ sau thời Hai Bà Trưng đủ hiểu trong nhiều giai đoạn người vẽ chả hiểu mấy về lịch sử, bê nguyên bản đồ thời nay phang vào, đến nản :113:

Đâu ai nói đó là bản đồ Việt nam bây giờ. Theo truyền thuyết thì tổ tiên của Việt Nam hiện đại cũng là một tộc trong Bách việt đấy, còn tổ tiên của Bách việt là KDV. Ai bảo mình nhảm nhí thì hãy chứng minh truyền thuyết này ko có thực.

2concácắnđuôi
30-08-2011, 02:16 PM
Đâu ai nói đó là bản đồ Việt nam bây giờ. Theo truyền thuyết thì tổ tiên của Việt Nam hiện đại cũng là một tộc trong Bách việt đấy, còn tổ tiên của Bách việt là KDV. Ai bảo mình nhảm nhí thì hãy chứng minh truyền thuyết này ko có thực.

đề nghị ko dùng viết tắt được không, rất khó hiểu, vài chữ thôi mà:015::015:

Wezneither
30-08-2011, 02:21 PM
có 3 chữ mà bác cũng xoắn em là thế nào :029::029::029:

cua
30-08-2011, 04:05 PM
Giờ thử nghe các bạn Tàu nói gì về nguồn gốc của người Việt Nam chúng ta nhé. Chúng nó nói chúng ta xuất phát từ 2 tộc trong quần cư Bách Việt (100 Yuehs) ở miền Nam Trung Quốc và là dân kẻ trộm kẻ cướp nổi tiếng thời cổ. So, mời các bạn sang Tàu mà phang chúng nó nếu cảm thấy chúng nó nói xấu chúng ta, mình sẵn sàng đi cổ động. :050:

Tên nước Đại Ngu là do Hồ Quí Ly đặt. Nếu mình nhớ kô nhầm, có người đã viết bài báo giải thích "Ngu" ở đây có nghĩa là "sáng sủa", "thông minh" v.v. Nhưng tra nghĩa chữ Ngu (虞) trong từ điển thì toàn nghĩa xấu - như "lo lắng", "dối trá", "ngu dốt". :050:

Miền Nam Việt Nam ngày xưa thuộc dân Chăm-pa, bị chúa Nguyễn mở đất đánh chiếm, giết gần sạch rồi. Quang Trung sau cũng tiếp tục sự nghiệp xâm lược sang Lào, Campuchia, giết hiếp cả làng, bổ đầu người làm bô để đái cũng không phải chỉ là đồn đại. Về sau Nguyễn Ánh cũng làm thế với hài cốt Quang Trung, mình nghĩ là không chỉ để trả thù cho bản thân y mà có vẻ còn là muốn lấy lòng dân Nam gốc Chăm-pa vẫn thù hận Quang Trung. Trong Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần Trọng Kim hình như cũng có nói đến mấy việc này (mình bị mấy thằng bạn mượn sách chôm luôn rồi, giờ kô có để tra lại).

nhanvantu
30-08-2011, 04:17 PM
Người Việt đang sống cả đống ở Nam TQ đấy thôi, thậm chí nhiều hơn dân số VN bây giờ, nếu chúng ta cũng coi họ là người Việt [Nam]. :050: Khi xét như thế, thì An Dương Vương thuộc về Việt Nam. Nhưng vấn đề là bản thân những người TQ được chúng ta gọi là người Việt, cùng tổ tiên là An Dương Vương với chúng ta, đang sống ở miền Nam TQ hiện nay, lại coi họ là người TQ, vì họ coi tổ tiên của họ - như An Dương Vương - là người TQ (TQ coi An Dương Vương là hoàng tử nước Thục - một trong các nước thuộc thời Chiến Quốc của TQ, sau bị Tần Thủy Hoàng đánh bại chạy từ nước Thục xuống phía Nam lập nước Âu Lạc mà nước Thục ngày xưa của An Dương Vương hiện giờ nằm trong lãnh thổ TQ.) Vậy thì ai đúng ai sai đây?

Theo mình chẳng ai đúng cũng chẳng ai sai. Lợi ích thuộc về phe chiến thắng. Theo dòng thời gian, biên giới các nước trên thế giới này cũng thay đổi (mình tin chắc là còn thay đổi nhiều trong tương lai!). Cho nên, chúng ta chỉ có thể nói chắc chắn rằng chúng ta có cùng gốc với người Việt ở Nam TQ ngày nay, chứ không thể nói miền Nam TQ ngày nay đáng thuộc về Việt Nam chúng ta được.

Nếu như vua Quang Trung sống lâu thêm tí nữa thì có lẽ hai tỉnh biên giới Trung Quốc đã thuộc về Việt Nam:04(1)::04(1):

Càn Long từng có ý gả con gái cho Quang Trung và cắt 2 tỉnh biên giới để làm "của hồi môn". Tiếc rằng chuyện đó đã không xảy ra:06(1)::06(1):

phnguyen
30-08-2011, 04:25 PM
Tên nước Đại Ngu là do Hồ Quí Ly đặt. Nếu mình nhớ kô nhầm, có người đã viết bài báo giải thích "Ngu" ở đây có nghĩa là "sáng sủa", "thông minh" v.v. Nhưng tra nghĩa chữ Ngu (虞) trong từ điển thì toàn nghĩa xấu - như "lo lắng", "dối trá", "ngu dốt". :050:


Hình như đã có sự lầm lẫn trong chữ Ngu (虞) với ngu (愚). Đại Ngu (大虞) này giống như nhà Ngu của vua Thuấn, còn "ngu (愚)" này mới là ngu dốt, lừa dối :113:
:an xin:

champi0nlee
30-08-2011, 04:29 PM
dân tộc nào cũng có một thời hoàng kim
bao giờ đến đỉnh thì cũng là lúc bắt đầu suy yếu
trong lịch sử có bao nhiêu trường hợp như vậy
nhiều, quá nhiều:4:
tại sao giới trẻ vn thích ra nước ngoài làm việc?
bởi vì ở nước ngoài kiếm được nhiều tiền
khi nào họ về?
khi họ kiếm được nhiều tiền
họ về phát triển đất nước?
rất ít, đa số về là để hưởng thụ

cua
30-08-2011, 04:35 PM
Nếu Quang Trung lấy Quảng Đông Quảng Tây và con gái Càn Long thì e rằng giờ không còn nước Việt Nam nữa. :050:
Dân số Quảng Đông Quảng Tây thời nào cũng vượt xa VN. Nghe đồn, thời trước hình như cụ Hồ cũng đòi Tàu, chúng nó cũng đồng ý trả lại, cụ Hồ nghĩ ra bị hố, kô dám nhận. Bây giờ VN đòi Tàu 2 tỉnh đó, có khi chúng nó cũng đồng ý trả ngay. :grin:

cua
30-08-2011, 04:42 PM
Hình như đã có sự lầm lẫn trong chữ Ngu (虞) với ngu (愚). Đại Ngu (大虞) này giống như nhà Ngu của vua Thuấn, còn "ngu (愚)" này mới là ngu dốt, lừa dối :113:
:an xin:


Mình tra trên hanviet.org thấy cả hai chữ 虞 và 愚 đều có nghĩa ngu dốt, lừa dối. Tất nhiên tên Đại Ngu cũng trùng hợp với tên nước Đại Nhu của vua Thuấn hay nước Ngu ở Sơn Tây Trung Quốc. Kô biết ý Hồ Quý Ly là người gốc ở Sơn Tây TQ hay là muốn bắt chước vua Nghiêu vua Thuấn (cũng là các vua TQ cổ đại) nữa. Hồ Quý Ly vốn là người gốc TQ thì đúng rồi (xét gốc gác 3 đời trước đó thì là ở Chiết Giang TQ).

nhanvantu
30-08-2011, 04:47 PM
Nếu Quang Trung lấy Quảng Đông Quảng Tây và con gái Càn Long thì e rằng giờ không còn nước Việt Nam nữa. :050:
Dân số Quảng Đông Quảng Tây thời nào cũng vượt xa VN. Nghe đồn, thời trước hình như cụ Hồ cũng đòi Tàu, chúng nó cũng đồng ý trả lại, cụ Hồ nghĩ ra bị hố, kô dám nhận. Bây giờ VN đòi Tàu 2 tỉnh đó, có khi chúng nó cũng đồng ý trả ngay. :grin:

bên Tung Của dễ gì nhường đất:015::015:ở đây còn có cả vấn đề đồng hóa nữa

mình nghe thì ngược lại. Ngày trước Mao Trạch Đông có nói về việc nhường lại 2 tỉnh, nhưng Bác Hồ đã từ chối, nguyên nhân Bác từ chối chắc mọi người cũng hiểu:05(1):

phnguyen
30-08-2011, 04:48 PM
Mình tra trên hanviet.org thấy cả hai chữ 虞 và 愚 đều có nghĩa ngu dốt, lừa dối. Tất nhiên tên Đại Ngu cũng trùng hợp với tên nước Đại Nhu của vua Thuấn hay nước Ngu ở Sơn Tây Trung Quốc. Kô biết ý Hồ Quý Ly là người gốc ở Sơn Tây TQ hay là muốn bắt chước vua Nghiêu vua Thuấn (cũng là các vua TQ cổ đại) nữa. Hồ Quý Ly vốn là người gốc TQ thì đúng rồi (xét gốc gác 3 đời trước đó thì là ở Chiết Giang TQ).

mình tra trên hanviet.org thì được thế này :113:
虞 ngu


(Động) Dự liệu, ước đoán. ◇Tân Đường Thư 新唐書: Lỗ bất ngu quân chí, nhân đại hội 虜不虞軍至, 因大潰 (Lí Tự Nghiệp truyện 李嗣業傳) Lỗ không dự liệu quân đến, do đó bị thua vỡ lở.

(Động) Lo lắng, ưu lự. ◎Như: tại tại khả ngu 在在可虞 đâu đâu cũng đáng lo cả. ◇Tam quốc diễn nghĩa 三國演義: Thiên vận hợp hồi, thừa tướng thiên hồi Trường An, phương khả vô ngu 天運合回, 丞相遷回長安, 方可無虞 (Đệ lục hồi) Vận trời xoay vần, nay thừa tướng thiên đô về Trường An, mới khỏi lo được.

(Động) Nghi ngờ. ◇Thi Kinh 詩經: Vô nhị vô ngu 無貳無虞 (Lỗ tụng 魯頌, Bí cung 閟宮) Chớ hai lòng chớ nghi ngờ.

(Động) Lừa gạt. ◎Như: nhĩ ngu ngã trá 爾虞我詐 lừa phỉnh lẫn nhau. ◇Tả truyện 左傳: Ngã vô nhĩ trá, nhĩ vô ngã ngu 我無爾詐, 爾無我虞 (Tuyên Công thập ngũ niên 宣公十五年) Tôi không dối gạt ông, ông không lừa phỉnh tôi.

(Danh) Nhà Ngu 虞 (trong khoảng 2697-2033 trước Tây lịch). Vua Thuấn 舜, được vua Nghiêu 堯 trao ngôi vua, lập ra nhà Ngu.

(Danh) Nước Ngu, chỗ con cháu vua Thuấn ở. Nay thuộc tỉnh Sơn Tây 山西.

(Danh) Tế Ngu, tế yên vị.

(Danh) Quan lại coi việc núi chằm.

(Danh) Họ Ngu.

Và chữ Ngu này là danh từ chứ không phải động từ :113:
:an xin:

Saber
30-08-2011, 04:50 PM
dân tộc nào cũng có một thời hoàng kim
bao giờ đến đỉnh thì cũng là lúc bắt đầu suy yếu
trong lịch sử có bao nhiêu trường hợp như vậy
nhiều, quá nhiều:4:
tại sao giới trẻ vn thích ra nước ngoài làm việc?
bởi vì ở nước ngoài kiếm được nhiều tiền
khi nào họ về?
khi họ kiếm được nhiều tiền
họ về phát triển đất nước?
rất ít, đa số về là để hưởng thụ

nói đơn giản thế. bác nói thế hóa ra hầu hết ng VN ra nc ngoài đều là ko yêu nước?
quê hương là quê hương, cho dù ngoại quốc có giàu đẹp hưng thịnh đi nữa vãn là nước ngoài, dân abrn xứ bọn họ ko pahri đồng bào, cho dù họ có tốt họ cũng ko có phogn tục tập quán và cách nghĩ giống mình. bác nghĩ chung sống như vạy dễ chịu sao ?
chẳng qua là ở quốc nội sống hem nổi mới pahri đi thôi. vì sao sống hem nổi á? lấy vd đơn giản thôi, bác ko đái đường, nwhung mỗi sáng bác thức dậy ra cổng nahf đứng bác liền thấy 2 ông thiện ác đang dang chân đứng 2 bên cửa nahf mình tâm sự với bức tường. bác bỏ rác vào giỏ rác và vứt đsung nơi qui định nhwung trc nahf bác luôn có 1 ụ rác chắn đng ra vào nhà của các cô bác hàng xóm hoặc bán dạo, và ng qua đường thi thởng tiện thể vứt rác luôn vào đống ấy, lâu lâu ném trượt rác bắn tung tóe vào cửa nahf bác. bác lầm việc gương mẫu nhwung sếp bác ghét bác vì bác ko biếu xén luồn cúi, bác có tài nhưng bác ko có dây mơ rễ má nên bác vĩnh viễn làm tạp vụ. bác dạy dỗ con cái biết nghĩ, sống có ích nhưng trường lớp dạy con bác pahri gian lận, phải học thuộc lòng , phải học thêm, phải theo thành tích. bác đóng thuế đầy đủ đsung hạn nhưng các cơ quan công quyền tự cho họ là quan, bác là dân, và bác ko cúi đầu bợ đít họ họ đì bác. bác nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ GT nhwung những ng khác quanh bác đút tiền để vi phạm luật GT. và hàng nàgy bác đọc báo và thấy rằng nc ta càng nagfy càng nợ quốc tế nhiều cho các ông PMU đi đánh abfi triệu đo, và con cháu bác trả nợ.v.v..

gianghoaingoc
30-08-2011, 05:01 PM
Sao cái bản đồ cuối lại là " Nước đại ngu là sao ?"

Nước Đại Ngu là của Hồ Quý Ly, nhà Hồ, chính ông ta đã nộp phần đất nam Quảng Tây hiện giờ cho nhà Minh.

Nhà Lê và nhà Nguyễn là có tội nặng nề nhất đối với việc phá hủy nền văn hóa Việt Nam. Sau khi lên ngôi, để giảm ảnh hưởng của nhà Trần qua Phật giáo, Lê Lợi (và các vua sau) đã đàn áp Phật giáo, để đến nỗi phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử suy yếu dần và mất hẳn sau đó (chỉ mới được khôi phục mấy năm gần đây bởi Hòa Thượng Thích Thanh Từ). Ngoài ra, mấy ông vua nhà Lê còn ra sức du nhập Nho giáo, học theo văn hóa Hán, mà các nhà nghiên cứu phương tây gọi việc đó là Sinicization (汉化 - Hán hóa). Các chúa Nguyễn vì muốn cho Đàng Trong khác hẳn Đàng Ngoài, nên thay đổi cả văn hóa, thậm chí y phục, kết quả lại giống bên Tàu, sự Hán hóa càng mạnh hơn. Tiêu biểu cho sự việc này là con rồng Việt Nam mất đi, thay thế bằng con rồng Trung Hoa (http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_dragon), lễ nghi của Việt Nam cũng thay thế bằng lễ nghi của nước Tàu.

Thật đáng buồn, không ít người cứ nói "Tôi yêu Việt Nam", nhưng có biết tên nước Việt Nam ta có ý nghĩa gì đâu ?

Tên Việt Nam xuất hiện lần đầu tiên trong Sấm Trạng Trình của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, thời Nguyễn có một giai đoạn ngắn sử dụng, Bác Hồ đặt tên nước là "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa". Có lẽ thông qua tên nước, các bậc tiên hiền muốn nhắc nhở con cháu về cảnh ngộ của nước ta chăng ? Chỉ đáng tiếc, vì nhiều lý do mà ngày nay chuyện này hầu như không được nhắc nhở đến nữa, đến nỗi con cháu chẳng biết ý nghĩa tên nước là gì ? Tui đã thử hỏi 10 người thì cả 10 người đều không biết.

Saber
30-08-2011, 05:12 PM
Nước Đại Ngu là của Hồ Quý Ly, nhà Hồ, chính ông ta đã nộp phần đất nam Quảng Tây hiện giờ cho nhà Minh.

Nhà Lê và nhà Nguyễn là có tội nặng nề nhất đối với việc phá hủy nền văn hóa Việt Nam. Sau khi lên ngôi, để giảm ảnh hưởng của nhà Trần qua Phật giáo, Lê Lợi (và các vua sau) đã đàn áp Phật giáo, để đến nỗi phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử suy yếu dần và mất hẳn sau đó (chỉ mới được khôi phục mấy năm gần đây bởi Hòa Thượng Thích Thanh Từ). Ngoài ra, mấy ông vua nhà Lê còn ra sức du nhập Nho giáo, học theo văn hóa Hán, mà các nhà nghiên cứu phương tây gọi việc đó là Sinicization (汉化 - Hán hóa). Các chúa Nguyễn vì muốn cho Đàng Trong khác hẳn Đàng Ngoài, nên thay đổi cả văn hóa, thậm chí y phục, kết quả lại giống bên Tàu, sự Hán hóa càng mạnh hơn. Tiêu biểu cho sự việc này là con rồng Việt Nam mất đi, thay thế bằng con rồng Trung Hoa (http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_dragon), lễ nghi của Việt Nam cũng thay thế bằng lễ nghi của nước Tàu.

Thật đáng buồn, không ít người cứ nói "Tôi yêu Việt Nam", nhưng có biết tên nước Việt Nam ta có ý nghĩa gì đâu ?

Tên Việt Nam xuất hiện lần đầu tiên trong Sấm Trạng Trình của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, thời Nguyễn có một giai đoạn ngắn sử dụng, Bác Hồ đặt tên nước là "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa". Có lẽ thông qua tên nước, các bậc tiên hiền muốn nhắc nhở con cháu về cảnh ngộ của nước ta chăng ? Chỉ đáng tiếc, vì nhiều lý do mà ngày nay chuyện này hầu như không được nhắc nhở đến nữa, đến nỗi con cháu chẳng biết ý nghĩa tên nước là gì ? Tui đã thử hỏi 10 người thì cả 10 người đều không biết.
bài viết rất hay. xn cảm ơn.:grin::grin::grin:

nhanvantu
30-08-2011, 05:18 PM
Nước Đại Ngu là của Hồ Quý Ly, nhà Hồ, chính ông ta đã nộp phần đất nam Quảng Tây hiện giờ cho nhà Minh.

Nhà Lê và nhà Nguyễn là có tội nặng nề nhất đối với việc phá hủy nền văn hóa Việt Nam. Sau khi lên ngôi, để giảm ảnh hưởng của nhà Trần qua Phật giáo, Lê Lợi (và các vua sau) đã đàn áp Phật giáo, để đến nỗi phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử suy yếu dần và mất hẳn sau đó (chỉ mới được khôi phục mấy năm gần đây bởi Hòa Thượng Thích Thanh Từ). Ngoài ra, mấy ông vua nhà Lê còn ra sức du nhập Nho giáo, học theo văn hóa Hán, mà các nhà nghiên cứu phương tây gọi việc đó là Sinicization (汉化 - Hán hóa). Các chúa Nguyễn vì muốn cho Đàng Trong khác hẳn Đàng Ngoài, nên thay đổi cả văn hóa, thậm chí y phục, kết quả lại giống bên Tàu, sự Hán hóa càng mạnh hơn. Tiêu biểu cho sự việc này là con rồng Việt Nam mất đi, thay thế bằng con rồng Trung Hoa (http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_dragon), lễ nghi của Việt Nam cũng thay thế bằng lễ nghi của nước Tàu.

Thật đáng buồn, không ít người cứ nói "Tôi yêu Việt Nam", nhưng có biết tên nước Việt Nam ta có ý nghĩa gì đâu ?

Tên Việt Nam xuất hiện lần đầu tiên trong Sấm Trạng Trình của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, thời Nguyễn có một giai đoạn ngắn sử dụng, Bác Hồ đặt tên nước là "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa". Có lẽ thông qua tên nước, các bậc tiên hiền muốn nhắc nhở con cháu về cảnh ngộ của nước ta chăng ? Chỉ đáng tiếc, vì nhiều lý do mà ngày nay chuyện này hầu như không được nhắc nhở đến nữa, đến nỗi con cháu chẳng biết ý nghĩa tên nước là gì ? Tui đã thử hỏi 10 người thì cả 10 người đều không biết.

Các ông vua nhà Hậu Lê mà điển hình là Lê Thánh Tông phát huy Nho giáo tới cực độ là bởi Nho giáo lúc đó tỏ rõ được ưu điểm, Nho giáo ở đây chỉ là một phương tiện ,cách thứcthôi.

. Còn cái gọi là Hán hóa, thiết nghĩ việc đã xảy ra trong 1000 năm, hết cuộc khỏi nghĩa này đến khởi nghĩa khác xảy ra, nếu dùng Nho giáo làm công cụ để Hán hóa rõ là không có hiệu quả. Bản thân Nho giáo không thể bào chữa được cho những hành động dã man , tàn bạo trong 1000 năm đó.:05(1):

Saber
30-08-2011, 05:27 PM
Các ông vua nhà Hậu Lê mà điển hình là Lê Thánh Tông phát huy Nho giáo tới cực độ là bởi Nho giáo lúc đó tỏ rõ được ưu điểm, Nho giáo ở đây chỉ là một phương tiện ,cách thứcthôi.

. Còn cái gọi là Hán hóa, thiết nghĩ việc đã xảy ra trong 1000 năm, hết cuộc khỏi nghĩa này đến khởi nghĩa khác xảy ra, nếu dùng Nho giáo làm công cụ để Hán hóa rõ là không có hiệu quả. Bản thân Nho giáo không thể bào chữa được cho những hành động dã man , tàn bạo trong 1000 năm đó.:05(1):

học theo Nho giáo và dùng lễ nghi Tàu là thua rồi. ta nghĩ nếu VN mình ko du nhập mấy thứ đó thì có lẽ đã có rất nhiều nét văn hóa riêng và thậm chí phát triển mạnh theo 1 hướng khác để ko bị xảy ra các TH đáng tiếc thời Tk19,đầu 20 rồi.
NB nagfy xưa cũng khá hoang sơ và lạc hậu, họ học hỏi văn háo Trung Hoa nhwung ko copy mà tự phát triển những nét riêng, vd như bushido , còn các phong tục truyền thống đều đc bảo tồn và coi trọng. Phật giáo du nhập vào Nhật Bản cũng phải "hập gia tùy tục" khi cho tăng lữ kết hôn, thờ quỉ thần Nhật chung với Phật,v.v..
nếu Quang Trung ko mất sớm, Nguyễn ánh mang thực dân Pháp trở về rồi bế quan tỏa cảng, VN đã đi theo 1 cong đường khác...

Nguyệt Nha Nhi
30-08-2011, 05:41 PM
học theo Nho giáo và dùng lễ nghi Tàu là thua rồi. ta nghĩ nếu VN mình ko du nhập mấy thứ đó thì có lẽ đã có rất nhiều nét văn hóa riêng và thậm chí phát triển mạnh theo 1 hướng khác để ko bị xảy ra các TH đáng tiếc thời Tk19,đầu 20 rồi.
NB nagfy xưa cũng khá hoang sơ và lạc hậu, họ học hỏi văn háo Trung Hoa nhwung ko copy mà tự phát triển những nét riêng, vd như bushido , còn các phong tục truyền thống đều đc bảo tồn và coi trọng. Phật giáo du nhập vào Nhật Bản cũng phải "hập gia tùy tục" khi cho tăng lữ kết hôn, thờ quỉ thần Nhật chung với Phật,v.v..
nếu Quang Trung ko mất sớm, Nguyễn ánh mang thực dân Pháp trở về rồi bế quan tỏa cảng, VN đã đi theo 1 cong đường khác...

Nếu VN đi sang 1 con đường khác thì giờ đã không bạn, không có tôi, ko có tất cả mọi người ở đây. Đó là lịch sử........................................

p/s : Quang Trung chết, VN ko nhận 2 tỉnh Quảng Đông Quảng Tây, dân Pháp vào Việt............... chưa hẳn là xấu. Nếu VN nhận 2 tỉnh của TQ thì sau khi Quang Trung mất đi thì ai giữ ? Hay là lại bị tụi TQ sách động dân phản loạn từ 2 tỉnh đó từ đó dẫn tới mất nước ? Pháp thôn tính VN thì còn có 1 số lợi ích như thúc đẩy công thương nghiệp.... , chứ Tàu nó mà nuốt VN thì....................

nhanvantu
30-08-2011, 05:48 PM
học theo Nho giáo và dùng lễ nghi Tàu là thua rồi. ta nghĩ nếu VN mình ko du nhập mấy thứ đó thì có lẽ đã có rất nhiều nét văn hóa riêng và thậm chí phát triển mạnh theo 1 hướng khác để ko bị xảy ra các TH đáng tiếc thời Tk19,đầu 20 rồi.
NB nagfy xưa cũng khá hoang sơ và lạc hậu, họ học hỏi văn háo Trung Hoa nhwung ko copy mà tự phát triển những nét riêng, vd như bushido , còn các phong tục truyền thống đều đc bảo tồn và coi trọng. Phật giáo du nhập vào Nhật Bản cũng phải "hập gia tùy tục" khi cho tăng lữ kết hôn, thờ quỉ thần Nhật chung với Phật,v.v..
nếu Quang Trung ko mất sớm, Nguyễn ánh mang thực dân Pháp trở về rồi bế quan tỏa cảng, VN đã đi theo 1 cong đường khác...

xin đóng góp cho chủ toppic là Việt Nam đã có lúc xuất hiện trên bản đồ thế giới với tên gọi INDOCHINA

1- Cha ông chúng ta tiếp thu văn hóa Tung Của một cách có chọn lọc, tiếp thu cái hay để từ đó càng làm văn hóa dân tộc thêm đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Tiếp thu Nho giáo, dân tộc ta có những người con hiếu học và tài học thì thậm chí không thua kém gì các văn nhân tài tử nước Tàu.
2-Bạn nói Nhật không copy, cha ông ta cũng đầu có sao chép.

Phật giáo ở Việt Nam và Nho giáo ở Việt Nam có những nét riêng. Bằng chứng là bốn pho tượng Tứ Pháp này....kể ra thì nhiều. Nói chung Nho,Phật , Đạo khi du nhập vào nước ta vẫn phải nhập gia tùy tục :uong:

nhanvantu
30-08-2011, 05:54 PM
Tên Việt Nam xuất hiện lần đầu tiên trong Sấm Trạng Trình của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, thời Nguyễn có một giai đoạn ngắn sử dụng, Bác Hồ đặt tên nước là "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa". Có lẽ thông qua tên nước, các bậc tiên hiền muốn nhắc nhở con cháu về cảnh ngộ của nước ta chăng ? Chỉ đáng tiếc, vì nhiều lý do mà ngày nay chuyện này hầu như không được nhắc nhở đến nữa, đến nỗi con cháu chẳng biết ý nghĩa tên nước là gì ? Tui đã thử hỏi 10 người thì cả 10 người đều không biết.

theo như mình nhớ thì vua thời Nguyễn đã dâng tấu sang bên Tàu ( lúc đó thuần phục mà) xin lấy tên nước là Việt Nam. Nhưng Tàu nghĩ đến nước Nam Việt ngày trước cùng với Triệu Đà nên kiên quyết không phê duyệt

Saber
30-08-2011, 06:08 PM
xin đóng góp cho chủ toppic là Việt Nam đã có lúc xuất hiện trên bản đồ thế giới với tên gọi INDOCHINA

1- Cha ông chúng ta tiếp thu văn hóa Tung Của một cách có chọn lọc, tiếp thu cái hay để từ đó càng làm văn hóa dân tộc thêm đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Tiếp thu Nho giáo, dân tộc ta có những người con hiếu học và tài học thì thậm chí không thua kém gì các văn nhân tài tử nước Tàu.
2-Bạn nói Nhật không copy, cha ông ta cũng đầu có sao chép.

Phật giáo ở Việt Nam và Nho giáo ở Việt Nam có những nét riêng. Bằng chứng là bốn pho tượng Tứ Pháp này....kể ra thì nhiều. Nói chung Nho,Phật , Đạo khi du nhập vào nước ta vẫn phải nhập gia tùy tục :uong:

VN ta có đường bờ biển dài, tài nguyen phong phú, cxung như các giáo sĩ TBN, Pháp sớm sang VN , nói chung là tuy không bằng Nhật nhwung cũng ko kém mấy. Nhật chỉ bật dậy sau cải cách Meiji 1866-1869. nếu Vn ta độc lập hơn từ thời Nguyễn Huệ (đầu 1800) thì hoàn toàn có thể đi lên tư bản tương tự Nhật và trở nên hfung mạnh trc khi thế chiến nổ ra.
nói chung nếu viết tr xuyên việt yy, ta sẽ cho ta trở về thời trc vua Gia Long và đưa Vn thành 1 nc độc lập và han chế mọi ảnh huwrong từ Tàu. dù sao Đại Thanh về sau còn nhiều việc phải làm với các nc phương Tây và VN chỉ bị Pháp đô hộ do bế quan tỏa cảng. thậm chsi nếu VN không phát triển CN Cộng sản àm đi thẳng lên tư bản từ trc thì TQ cũng ko thể hùng mạnh như bây giờ.
tất nhiên đó là yy.
----------------------------
đc rồi, ta có 1 thắc mắc: có nét văn hóa nào của VN mà TQ không có hay ko ? ( trừ mấy cái văn vật như áo dài hay phở )
ta nhớ sau 1000 năm đồng hóa nc mình vãn còn nheiefu nét văn hóa và phogn tục đặc trưng, vd như thời kháng chiến chông Nguyên Mông, có câu " đánh cho đẻ dài tóc, đánh cho để đen răng"..., như ở Bắc Ninh có dân ca quan họ, có lễ chọi trâu. mấy nét phong tục ấy ta thấy chỉ mang tính địa phương...
còn về Phật giáo, tại sao trong đống Phật VN lại có Tam Tạng, Tam đa,quan thê âm bồ tát, v.v..? dó là thần phật đặc trưng của Tàu.

hoavanta
30-08-2011, 06:16 PM
sau ngàn năm đô hộ không thành dân nó là may rồi , chứ văn hóa minh nó đốt hết rồi , còn nữa đâu mà học, với lại người việt không có tham vọng quá lớn :H nói thật 1 câu các bác đừng giận em , người mình thích sống co cụm lại 1 chỗ không thích đi xa , trái ngược với dân tung của , không có lối sống thế đi đến đâu họ cũng không buồn , = chứng là thế giới có 1 câu : ở đâu có khói ở đó có trung hoa :H nó đi khắp thế giới bao lâu rồi người việt chỉ mới ra ngoài sau chiến tranh nam bắc thôi :

nhanvantu
30-08-2011, 06:19 PM
đc rồi, ta có 1 thắc mắc: có nét văn hóa nào của VN mà TQ không có hay ko ? ( trừ mấy cái văn vật như áo dài hay phở )
ta nhớ sau 1000 năm đồng hóa nc mình vãn còn nheiefu nét văn hóa và phogn tục đặc trưng, vd như thời kháng chiến chông Nguyên Mông, có câu " đánh cho đẻ dài tóc, đánh cho để đen răng"..., như ở Bắc Ninh có dân ca quan họ, có lễ chọi trâu. mấy nét phong tục ấy ta thấy chỉ mang tính địa phương...

câu "đánh cho đẻ dài tóc, đánh cho để đen răng..." là thời Quang Trung mà bạn:06(1)::06(1)::06(1):

Saber
30-08-2011, 06:24 PM
câu "đánh cho đẻ dài tóc, đánh cho để đen răng..." là thời Quang Trung mà bạn:06(1)::06(1)::06(1):

vậy à, bỏ mịa tẽn quá. cảm ơn đã nhắc nhở.:cute:

phnguyen
30-08-2011, 06:25 PM
Văn hóa nước ta và Trung Quốc có khá nhiều nét mặc dù nhìn ngoài tưởng như tương đồng nhưng vẫn có khác biệt lớn, đơn cử như tục thờ Táo quân, mặc dù truy nguyên là từ nguồn gốc Đạo giáo Trung Quốc nhưng truyền thuyết về Táo quân giữa Trung Quốc với nước ta khác nhau (ngay trong nước Trung Quốc cũng có những truyền thuyết khác nhau nhưng không có truyền thuyết nào giống như truyền thuyết hai ông một bà của nước ta), và không lầm là chỉ có nước ta khi đưa ông Táo về trời thì cúng cá chép :113:
:an xin:

Saber
30-08-2011, 06:29 PM
Văn hóa nước ta và Trung Quốc có khá nhiều nét mặc dù nhìn ngoài tưởng như tương đồng nhưng vẫn có khác biệt lớn, đơn cử như tục thờ Táo quân, mặc dù truy nguyên là từ nguồn gốc Đạo giáo Trung Quốc nhưng truyền thuyết về Táo quân giữa Trung Quốc với nước ta khác nhau (ngay trong nước Trung Quốc cũng có những truyền thuyết khác nhau nhưng không có truyền thuyết nào giống như truyền thuyết hai ông một bà của nước ta), và đặc biệt là chỉ có nước ta khi đưa ông Táo về trời thì cúng cá chép :113:
:an xin:

ta là ta thsich dc như bọn Nhật, có cả cái văn hóa Geisha, bondage và mấy cái lễ như Kanamara Festival...
học cái bọn Tàu tam tòng tứ đức rốt cục thành dở người hết, dặt da dặt dẹo.

hoavanta
30-08-2011, 06:31 PM
ông táo trung hoa có có đâu mà nói :H ông táo chỉ có ở vn

phnguyen
30-08-2011, 06:35 PM
ta là ta thsich dc như bọn Nhật, có cả cái văn hóa Geisha, bondage và mấy cái lễ như Kanamara Festival...
học cái bọn Tàu tam tòng tứ đức rốt cục thành dở người hết, dặt da dặt dẹo.
Vị trí nước ta thế này thì sao so được với bọn Nhật, hơn một ngàn năm đô hộ ta có được tự do học tập, giữ gìn và sáng tạo văn hóa đâu, không bị đồng hóa với Trung Quốc hoàn toàn là thể hiện sự kiên cường bất khuất của cha ông rồi :113:
ông táo trung hoa có có đâu mà nói :H ông táo chỉ có ở vn
Bạn search thử "灶君" xem coi Trung Quốc có Táo quân hay không nhá :113:
:an xin:

Lục Bình
30-08-2011, 06:38 PM
Anh mong các đệ trọng sinh hết đi, trở về quá khứ xây dựng lại :4:

nhanvantu
30-08-2011, 06:41 PM
Mình từng nói tới Tứ Pháp,

mọi người đọc kĩ nhé
http://www.phapluanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1142:tin-ngng-th-t-phap-ti-ng-bng-bc-b-&catid=53&Itemid=90

Câu chuyện này cho thấy bản chất của hệ thống Tứ Pháp Việt Nam, đó là sự dung hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian là thờ thần tự nhiên và thờ Mẫu. Đây có thể gọi là hiện tượng “tiếp biến văn hóa” (acculturation) từ Ấn Độ sang Việt Nam và mang một bản sắc riêng của một vùng văn minh nông nghiệp lúa nước. Hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại vùng châu thổ đồng bằng sông Hồng mang nặng yếu tố văn hóa bản địa trong quá trình tiếp xúc giao lưu với văn hóa ngoại lai, và cũng là minh chứng cho sự tác động ngược trở lại của văn hóa bản địa đối với văn hóa ngoại lai trong quá trình “Ấn Độ hóa”.


Hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp là hiện tượng tín ngưỡng bản địa của nước ta mang đậm màu sắc của nền văn minh lúa nước kết hợp với Phật giáo - tôn giáo du nhập từ Ấn Độ, tồn tại khá phổ biến ở đồng bằng Bắc bộ. Hình thái thờ thần Tứ Pháp là một trong những hình thái tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ sơ khi mà đời sống nông nghiệp lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Tứ Pháp bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện tượng trưng cho những thế lực thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp.

Đầu công nguyên, Phật giáo du nhập vào nước ta trong bối cảnh bị phong kiến Trung Quốc đô hộ (nước mất, văn hóa Đông Sơn bị tàn phá và phải cưỡng nhận văn hóa phương Bắc). Trong điều kiện đó, Phật giáo truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam đã có một sự dung hợp kỳ diệu với các vị thần nông nghiệp bản địa tạo nên một hệ thống tư tưởng giáo lý và thờ cúng mang yếu tố riêng biệt. Thời gian đầu Phật giáo du nhập vào nước ta, văn hóa bản địa đã thẩm thấu một cách nhanh chóng văn hóa Phật giáo, tiếp thu trọn vẹn tinh thần bao dung và nhân từ truyền trực tiếp từ Ấn Độ và biến sự dung hợp giữa hai nền văn hóa này lại thành một thứ vũ khí chống lại sự đồng hóa một cách áp đặt của văn hóa Trung Quốc phương Bắc. Phật giáo, lúc đó đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp cứu nước, giữ gìn văn hóa Đông Sơn và duy trì những tín ngưỡng bản địa.

Như vậy, người Việt đã tự tạo ra một vị Phật cho riêng mình, cũng như hoàn chỉnh được tín ngưỡng Phật pháp. Các yếu tố bản địa (nội sinh) và Ấn Độ (ngoại nhập) đã kết hợp tài tình với nhau để tạo nên một thể thống nhất qua câu chuyện về nàng Man Nương. Sự tích Man Nương và tục thờ Tứ Pháp được lưu truyền từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên, và đã được ghi chép trong rất nhiều truyện sách cổ xưa như: Lĩnh Nam Chích Quái, Kiến Văn Tiểu Lục, Văn Hiến Thông Khảo, An Nam Chí Lược... với những chi tiết khác biệt nhau. Tuy nhiên, nguồn gốc của Tứ Pháp được nhiều người biết đến nhất được ghi lại trong truyện Man Nương - sách “Lĩnh Nam Chích Quái” (Trần Thế Pháp, thế kỷ XIV, Vũ Quỳnh - Kiều Phú, 1492) và vào giữa thế kỷ XVII mới được in thành sách riêng. Hiện còn lưu lại qua bản “Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục” khắc gỗ tại chùa Dâu được khắc vào năm thứ 13 niên hiệu Cảnh Hưng (1752).

Chuyện kể rằng ở vùng Thuận Thành, Bắc Ninh, có cô gái 12 tuổi Man Nương đến chùa Phúc Nghiêm học đạo. Trụ trì chùa này là một nhà sư người Ấn Độ tên là Khâu-đà-la. Một hôm, nhà sư tình cờ bước qua người Man Nương lúc nàng nằm ngủ, và nàng thụ thai một cách thần kỳ. Sau 14 tháng, nàng Man Nương sinh hạ một bé gái, đứa bé được nhà sư Khâu-đà-la dùng phép chú đưa vào cây Dung Thụ già. Sau đó, nhà sư trao cho Man Nương một cây gậy thần có thể làm mưa cứu hạn hán cho dân làng. Khi Man Nương 80 tuổi, cây đổ trôi về bến sông Dâu thì không trôi nữa. Thái thú Sĩ Nhiếp nằm mộng phải tạc tượng Phật từ cây Dung Thụ đó nhưng bằng cách nào cũng không kéo được cây lên bờ, chỉ khi có dải yếm của Man Nương kéo vào bờ thì mới kéo cây lên được. Cây Dung Thụ được tạc thành 4 pho tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện mang vào chùa thờ tự. Trong thân cây, con của Man Nương đã hóa thành đá và được gọi là “Thạch Quang Phật”, hiện được thờ tại chùa Dâu. Man Nương mất vào ngày mồng tám tháng tư, cũng chính là ngày đản sinh của thái tử Tất-đạt-đa (theo truyền thống xưa của Phật giáo). Sau khi mất, bà được người đời xưng tụng là Phật Mẫu Man Nương.

Câu chuyện này cho thấy bản chất của hệ thống Tứ Pháp Việt Nam, đó là sự dung hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian là thờ thần tự nhiên và thờ Mẫu. Đây có thể gọi là hiện tượng “tiếp biến văn hóa” (acculturation) từ Ấn Độ sang Việt Nam và mang một bản sắc riêng của một vùng văn minh nông nghiệp lúa nước. Hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại vùng châu thổ đồng bằng sông Hồng mang nặng yếu tố văn hóa bản địa trong quá trình tiếp xúc giao lưu với văn hóa ngoại lai, và cũng là minh chứng cho sự tác động ngược trở lại của văn hóa bản địa đối với văn hóa ngoại lai trong quá trình “Ấn Độ hóa”.

- Trước khi câu chuyện này xảy ra cả ngàn năm lịch sử, các di vật tồn tại trong văn hóa Đông Sơn và nhà nước Văn Lang cho thấy nhân dân ta đã có một số tín ngưỡng bản địa hình thành từ việc chinh phục đồng bằng và phát triển nghề trồng lúa nước. Do quan niệm vạn vật hữu linh, những hiện tượng thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp đối với những con người sơ sử là những thế lực siêu nhiên cần được thờ cúng để mong mưa thuận gió hòa, hạn chế thiên tai. Khi Phật giáo được tiếp nhận vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã nhận thấy Phật giáo muốn bén rễ vào mảnh đất này thì phải có sự dung hòa với tín ngưỡng dân gian. Cuộc hôn phối tinh thần giữa một người con gái bản địa (tượng trưng cho tín ngưỡng dân gian, đại diện cho cư dân văn minh nông nghiệp lúa nước) với một nhà sư Ấn Độ là Khâu-đà-la (đại diện cho triết lý và văn hóa Phật giáo Ấn Độ) đã ra đời. Các vị Phật Ấn Độ đã hóa thân với các vị thần tự nhiên của Việt Nam, tạo nên một vị Phật Việt Nam hoàn toàn riêng biệt. Các vị thần Mây, Mưa, Sấm, Sét được Phật hóa để trở thành Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Ðiện. Đó là Tứ Pháp - Phật giáo dân gian Việt Nam.

- Thờ Mẫu là một hình thức thờ cúng tín ngưỡng đặc trưng của các cư dân nông nghiệp thể hiện sự kính trọng đối với quyền năng sinh sản và biết ơn tổ tiên. Trong nền nông nghiệp cổ sơ, giống cái giữ vai trò quan trọng trong sản xuất trực tiếp ra của cải, do đó các Thần - Phật Tứ Pháp cũng được tôn thờ dưới hình tượng của các nữ thần. Tôn thờ Mẫu Phật (Man Nương), người có công tái tạo ra một hình thức tôn giáo mới mang đậm tính bản địa, cũng đã đưa Phật giáo thiêng liêng và huyền bí gần gũi hơn với cuộc sống đời thường. Đây cũng là một triết lý sâu xa của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp trong đời sống tâm linh của người dân Việt.

Đầu tiên, Phật Tứ Pháp chỉ được thờ trong các chùa ở vùng Luy Lâu, Bắc Ninh. Nhưng ngày nay, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp phổ biến tại nhiều vùng miền thuộc đồng bằng Bắc bộ. Có thể kể đến một số chùa như sau:

- Tại vùng Bắc Ninh có chùa Dâu (còn gọi là chùa Cổ Châu, Diên Ứng, Thiên Định) thờ Pháp Vân, Pháp Vũ. Chùa Tướng (chùa Phi Tướng thờ Pháp Lôi), chùa Dàn (chùa Phương Quang) thờ Pháp Điện. Ngoài ra còn có chùa Tổ Phúc Nghiêm (Mãn Xá) thờ Phật Mẫu Man Nương, và các chùa Tứ Pháp Dâu, Đậu, Dàn, Tướng đều quay hướng Tây chầu về chùa Tổ. Chùa Tứ Pháp rải rác tại các thôn Ngọc Trì, Thuận An, Đức Nhân và Nghi An thuộc xã Trạm Lộ (Thuận Thành, Bắc Ninh).

- Tại Hà Nội có một số hệ thống chùa thờ Tứ Pháp thờ Pháp Vân như chùa Keo (Dâu), chùa Nành (Gia Lâm), chùa Pháp Vân, Pháp Vũ ở Thanh Trì.

- Hà Tây có chùa Đậu (chùa Thành Đạo, chùa Vua, chùa Bà, chùa Pháp Vũ) thờ Pháp Vũ, chùa Pháp Vân.

- Tại Hưng Yên có chùa Thái Lạc (thờ Pháp Vân), chùa Hồng Cầu thờ Pháp Vũ, chùa Hồng Thái thờ Pháp Điện, chùa Nhạc Miếu thờ Pháp Lôi (xã Lạc Hồng). Chùa Lạc Đạo (thờ Pháp Vân), chùa Hoằng (thờ Pháp Vũ), chùa Tân Nhuế (Pháp Điện), Hướng Đạo (Pháp Lôi) tại xã Lạc Đạo.

- Tại Nam Định chùa Quế Lâm, chùa Do Lễ, chùa Thôn Bốn (Kim Bảng) thờ Pháp Vân, chùa Bà Đanh (Kim Bảng), chùa Trinh Sơn (Thanh Liêm) thờ Pháp Vũ. Chùa Đặng Xá (Kim Bảng), chùa Nứa (Duy Tiên) thờ Pháp Lôi, chùa Bà Bầu thờ Pháp Điện (Phủ Lý).

Qua những kết quả khảo sát tại chùa Dâu và chùa Đậu cho thấy lớp kiến trúc khá độc đáo vào buổi đầu công nguyên. Đó là kiến trúc kiểu tu viện bao quanh một ngọn tháp ở trung tâm. Chùa thời Lý chưa thấy chùa nào có thờ hệ thống Tứ Pháp, mà phổ biến còn lại cho đến ngày nay là hệ thống chùa thời Trần (thờ Thánh thuộc dạng nhân thần) và thờ thần Tứ Pháp. Hiện nay, tại một số chùa Tứ Pháp vẫn còn các thành bậc cửa bằng đá chạm rồng và sấm mang đậm phong cách kiến trúc thời Trần. Một số bộ vì nóc và chạm khắc gỗ với các đề tài rồng, nhạc công, vũ nữ, phỗng, hoa lá, mây, sóng… phong cách thời Trần hiện còn tại chùa Dâu và chùa Thái Lạc. Nhìn chung, kiến trúc các chùa Tứ Pháp thường là chùa lớn kiểu chùa trăm gian, nội công ngoại quốc như chùa Dâu (Bắc Ninh), chùa Nành (Hà Nội), chùa Đậu (Hà Tây)...

Các ngôi chùa Tứ Pháp thường tọa lạc trên diện tích rộng, thoáng đãng, địa thế đẹp, tụ thủy. Kiến trúc mở để thu hút khách thập phương gần xa và tổ chức các lễ hội. Giữa các khối nhà bố trí vườn hoa, cây cảnh. Các khu vực nhà phụ làm nơi sinh hoạt của Tăng, Ni và thờ Tổ thường được bố trí xung quanh ẩn nấp vào cây xanh tạo nên cảnh sắc thiên nhiên giữa đạo với đời. Trong mặt bằng kiến trúc dàn trải như thế, có những công trình kiến trúc mang tính đột khởi tạo thành điểm nhấn, ví dụ như tháp Hòa Phong tại chùa Dâu (giờ còn lại là kiến trúc cao 3 tầng), gác chuông tại chùa Đậu, gác chuông gác khánh trên nóc nhà Tiền đường của chùa Nành…

Nếu như với các công trình kiến trúc Phật giáo thờ các nhân thần như Không Lộ thiền sư (Nguyễn Minh Không) thời Lý, Nguyễn Bình An thời Trần thì thường tồn tại kiểu thờ “Tiền Phật hậu Thánh”, Thánh được thờ sau điện thờ Phật… Thì ngược lại, trong các ngôi chùa thờ Tứ Pháp (những vị Thánh có nguồn gốc tự nhiên) thì hệ thống tượng thờ kiểu “Tiền Thánh hậu Phật”, đẩy hệ thống tượng Tứ Pháp lên trên hệ thống tượng Phật. Tuy nhiên, hiện nay, các công trình được trùng tu lại đều được bố trí theo kiểu “Tiền Phật hậu Thánh”. Vì vậy, ta gặp hầu hết các tòa cung cấm là nơi thờ Thánh, căn trước thượng điện mới là nơi thờ Phật

Tượng trong hệ thống Tứ Pháp đều rất cao lớn, (tư thế ngồi thiền cao khoảng 1,5m) thường tạc ở tư thế thân thẳng, tay phải giơ lên, tay trái để trên đùi cầm chuỗi ngọc. Các pho tượng có tóc xoăn màu đen, nhục khảo nổi cao, tai dài, tọa trên đài sen, gương mặt đẹp với những nét thuần Việt, đức độ. Những pho tượng tạc từ thế kỷ XVI đầu XVII mặc áo sát người (tượng Pháp Vân, chùa Dâu), còn muộn hơn thường để mình trần mặc váy (tượng Pháp Vân, chùa Nành). Thường các tượng Tứ Pháp sơn màu gụ bóng (tổng hợp màu đỏ của máu và màu đen của mây đen tượng trưng cho nguồn sống và sự huyền bí).

Những chùa Tứ Pháp trước kia thường được dân làng và dân trong vùng tổ chức các lễ cầu đảo mỗi khi hạn hán. Ở Tứ Pháp, tồn tại cả linh khí dân tộc và cả sức mạnh truyền thống, phù giúp cho xã hội hiện tại và góp phần làm nên bản sắc riêng biệt cho Phật giáo Việt Nam. Người dân tin rằng, những vùng miền nào rước chân nhang về thờ Tứ Pháp thì ở đó được mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Với đức Phật Tứ Pháp, hình ảnh đức Phật Ấn Độ đã mang một nội dung mới, mang nặng yếu tố bản địa, một đức Phật quyền năng, gần gũi với nhân dân và phò trợ cho dân tộc. Có thể nói, tín ngưỡng Tứ Pháp là một trong những chỗ dựa về tâm linh của người Việt qua nhiều thời đại, và tồn tại cho đến tận ngày naỵ

Tóm lại, đạo Phật là đạo của hòa bình và con người, một tôn giáo không giáo điều và không hề phủ nhận các hệ tư tưởng khác. Đạo Phật truyền bá đến đâu lập tức được tiếp nhận mà không gặp sự chống đối từ các nền văn hóa và con người bản địa, mà lại hòa đồng và cộng sinh, mang đến sự khởi sắc và sinh lực mới cho các nền văn hóa. Phật giáo trở thành một yếu tố bản địa, chống lại sự đồng hóa của hệ tư tưởng Nho giáo của văn hóa phương Bắc. Vậy, không một tôn giáo nào, một hệ tư tưởng ngoại lai nào tồn tại được tại Việt Nam mà không tôn trọng sức mạnh và dung hòa với văn hóa bản địa.

Thời gian qua, Phật giáo được khôi phục, sự giao lưu quốc tế đã đẩy mạnh hoằng dương Phật pháp. Phật giáo chính thống đã được đề cao, tuy nhiên, trong tâm thức của người Phật tử Việt Nam luôn hiện hữu hai đức Phật. Một đức Phật biểu tượng cho trí tuệ, cho sự giác ngộ và một đức Phật quyền năng mà gần gũi, phò trợ cho đời sống của nhân dân và dân tộc, tạo nên một bản sắc khác biệt cho văn hóa Phật giáo tại Việt Nam. Phật giáo hội nhập với văn hóa Việt Nam trong hai ngàn năm qua đã từng bước khẳng định vai trò to lớn trong lịch sử, đáp ứng đời sống tinh thần của người Việt, phục vụ lợi ích của dân tộc và đời sống tâm linh bức thiết của con người. ❑



(Nguồn: Tập san Pháp Luân số 09)

LordCaoCao
30-08-2011, 06:46 PM
Sặc nói đến văn hóa, đến di tích thì thánh tổ cha con Nguyễn Ánh mà nền văn hóa kiến trúc VN thụt lùi mất 400 năm :4:

hoavanta
30-08-2011, 06:56 PM
èo nói đến nhà nguyễn phát chán mặc dù ta họ nguyễn ko giây mỡ giấy mà gì với nhau :)) nhưng nhà nguyễn cõng rắn cắn gà nhà ta ghét , kêu xiêm la về đánh quang trung :H ta không thích

LordCaoCao
30-08-2011, 07:16 PM
èo nói đến nhà nguyễn phát chán mặc dù ta họ nguyễn ko giây mỡ giấy mà gì với nhau :)) nhưng nhà nguyễn cõng rắn cắn gà nhà ta ghét , kêu xiêm la về đánh quang trung :H ta không thích
Ta ghét mỗi việc mấy anh ý sổ toẹt bộ luật Hồng Đức, định quan chế, nền văn hóa riêng của VN mà học nguyên si theo thời Tống, Minh. Thêm nữa anh bố thì thu nhỏ tòa thành còn anh con thì dỡ thành Thăng Long để xây cái giờ được gọi là hoàng cung đại nội ở Huế, khiến cho giờ đây mấy thằng nặc nô chuyên híp dâm lịch sử bảo rằng cái gì to, cao thì không phải là kiến trúc VN :4::4:

champi0nlee
31-08-2011, 08:33 AM
Anh mong các đệ trọng sinh hết đi, trở về quá khứ xây dựng lại :4:

nếu được trọng sinh thì sẽ phát triển theo hướng văn minh
chứ độc tài quân sự thì đến đời con cháu sau này chắc chả có internet:tungtung:

hoavanta
31-08-2011, 10:58 AM
các bác coi phin tàu có nhớ lúc ông vua phát binh ban gi kô ?

Ta ban ngươi việt phủ cờ mao ?

quân nó xuất chinh nó ban việt phủ với cờ mao làm gì ?

văn hóa nó cũng nhiễm ta mà ta cũng nhiễm nó đó là điều bắt buộc 2 nước quá gần nhau

nhanvantu
31-08-2011, 11:01 AM
hình như Tàu học Việt Nam cách dùng đũa:D

Niêu
31-08-2011, 05:48 PM
các bác coi phin tàu có nhớ lúc ông vua phát binh ban gi kô ?

Ta ban ngươi việt phủ cờ mao ?

quân nó xuất chinh nó ban việt phủ với cờ mao làm gì ?

văn hóa nó cũng nhiễm ta mà ta cũng nhiễm nó đó là điều bắt buộc 2 nước quá gần nhau

Mẹ ơi, việt phủ cờ mao thì liên quan gì đến VN mình mà bảo nó nhiễm mình :dead:

Mấy cái thuyết Tàu Khựa học mềnh cầm đũa hay Kinh Dịch là của người Việt ấy mang nghĩa tự an ủi nhiều quá, toàn Bách Việt thôi :113:

lutexi
31-08-2011, 09:08 PM
Thấy Việt Nam bị ảnh hưởng của Tàu nhiều hơn chứ trước giờ bản thân mình chưa thấy thằng Tàu nó học mình cái gì cả .

artnet
06-09-2011, 12:54 PM
Thấy Việt Nam bị ảnh hưởng của Tàu nhiều hơn chứ trước giờ bản thân mình chưa thấy thằng Tàu nó học mình cái gì cả .

Học nhiều chứ bạn. Ví dụ: giấy (Thái Luân, một người con đất việt, xếp hạng thứ 7 trong 100 người quan trọng nhất lịch sử loài người), súng thần công (thời nhà Hồ bị bắt sang TQ để chế tạo cho chúng mà ở đầu topic có bạn nhắc tới)... và nhiều nữa mà bạn ko biết đó thôi...

Người đúc súng thần công nổi tiếng nhất là Hồ Nguyên Trừng - Con cả của Hồ Quý Ly, Tả tướng quốc quân đội nhà Hồ. Cuộc kháng chiến thất bại, Hồ Nguyên Trừng bị bắt đưa về Trung Quốc, được nhà Minh sử dụng để chế tạo súng thần công cho quân đội và sau này được người Minh coi là ông tổ súng thần công.

Chính Khổng Tử, trong Kinh Thi, đã trân trọng ghi lại rất nhiều ca dao Việt (trong cả hai thiên Chu Nam và Thiệu Nam) qua đó phản ảnh nền văn hiến rực rỡ của người Việt, biết coi trọng luân thường đạo lý, trái ngược với người du mục hung bạo phương Bắc, sống đời lang chạ...

“Ðộ lượng bao dung, ôn hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam. Người quân tử ở đấy.”

Thằng đô hộ, mạnh hơn và có 1 chút xíu thông minh thôi thì luôn học hỏi, vơ vét và có cơ hội thì chiếm đoạt văn minh của kẻ yếu thế cô luôn.

Tại sao lịch sử việt nam quá ít sách sử được lưu truyền lại (đếm ra trên đầu ngón tay) là do Tàu nó triệt tiêu hết, đồng hóa hóa hết nên đến giờ muốn tra lại tư liệu thì phần lớn là từ sách Tàu. Hồi đó, khi nhà Hán chiếm đất Việt bao gồm toàn vùng châu thổ sông Dương Tử (Trường Giang) đã chia cắt, thay đổi địa danh, vẽ lại bản đồ... cốt để xóa hết dấu vết của các dân tộc bị chiếm. Việt Nam còn độc lập đến ngày nay là cả một "thành công" rực rỡ rồi.

Trong tác phẩm “Bách Việt Tiên Hiền Chí – Lĩnh Nam Di Thư” của sử gia Âu Ðại Nhậm (đời nhà Minh bên Tầu) được giáo sư Trần Lam Giang dịch và chú thích, dịch giả đã nhận định bên dưới truyện Thái Luân, phần phụ chú:

“Nhân tài người Việt rèn kiếm quý, làm khí giới, làm giấy viết, hiệu đính kinh truyện cho nhà Hán. Ðiều này chứng tỏ Việt vượt trên Hán về văn minh kim loại và văn học.

Việt đem văn minh khai hóa cho người Hoa, trong khi người Hoa đem bạo lực đàn áp người Việt. Chung cuộc, Việt Nam vẫn đòi lại quyền tự chủ, sống với văn minh nhân bản. Người Hoa thực dân bị quét ra khỏi nước, tự chuốc lấy ô danh bạo ngược, xâm lược.

Chiến tranh thế giới xong, Mỹ vơ vét biết bao nhiêu nhà khoa học của Đức? Và trước đó, Đức đã hốt bao nhiêu nhà khoa học của Do Thái? Rất nhiều "phát minh" sau này của Mỹ biết đâu phần lớn là trong tài liệu của các nhà khoa học Đức và Do Thái.

Suốt quãng đường lịch sử 4000 năm văn hiến, chỉ cần 1 chữ "nếu" xen vào bất cứ đâu thì Việt Nam chúng ta "khác" lắm rồi... Lịch sử của kẻ mạnh... Nhắc lại chỉ là để "hoài niệm" về một quá khứ (huy hoàng có, bạc nhược có, tủi nhục có) của cha ông chúng ta mà thôi.

artnet
06-09-2011, 11:00 PM
Nhân tiện thấy các bạn thảo luận, mình cũng xin góp vài ý kiến cá nhân:

Nghe đồn rằng khi vua Lê Thánh Tông nam chinh đã đem tất cả đàn ông con trai trên 15 tuổi của Chăm pa nuôi cây và cá, đó là một lý do lớn khiến văn minh Chăm pa tuyệt diệt :113:

Bản đồ Việt Nam vì vậy càng ngày càng mở rộng về phía Nam, các đời sau khi chinh phạt nhàn rỗi hơn nhiều, rễ được tiền nhân bứng rồi thì cây có sống cũng ngắc ngoải dặt dẹo, đẩy cái là sụp khỏi gượng :113:

Đồn thôi nhá, đừng đem ra cãi chính thống ăn bợp chết đấy :dead: nhưng dân ta đồn chuẩn lắm :dead:

Vấn đề "tại sao Chiêm Thành vong quốc" có nhiều lý do, sau đây là một số ý kiến "chủ quan" của mình:

1. Chămpa thì đất đai khô cằn, hay lũ lụt, vùng núi và vùng biển phân chia khá rõ rệt, phần lớn đánh cá dọc bãi biển và kiêm thêm nghề "cướp biển", tính tình khá hiếu chiến, thường xuyên tấn công Đại Việt. Đã vài lần hỏa thiêu thành Thăng Long. Do bị kẹp giữa 2 nước Tàu (thằng này bự quá ko đánh nổi) và Chămpa (anh này nhỏ con) nên Đại Việt phải tranh thủ, có cơ hội là phải dập nước yếu trước.

2. Bị dính mấy vụ dâng đất nên cứ bị lấn tới... Cắt đất có giấy có tờ, đâu phải muốn lấy lại là lấy... Với lại Đại Việt ùa vào "quy hoạch" ngay... Tất đất tấc vàng mà...

3. Thời nhà Lê, rất nhiều đợt lưu đày "tù nhân" như cướp bóc, giết người... được tống sang ngay các vùng này và lấn dần vào. Đụng phải dân tứ xứ toàn "đầu gấu" không nên người Chămpa vốn sống theo quần thể cũng thu mình lùi dần...

4. Chămpa chia 2 sắc tộc "dừa" và "cau" không ưa nhau, dạng như tầng lớp quý tộc thượng lưu và dân đen. Lại sống theo chế độ mẫu hệ (phụ nữ quyết định, đàn ông lao động chính nhưng phải đứng sau lưng), nên khi Đại Việt (chế độ phụ hệ) chiếm đóng, gỡ bỏ tất cả quyền lực của phụ nữ, "giải thoát" đàn ông :tungtung: Mà đã là "giải thoát" thì tinh thần đâu mà quật khởi nữa (hix, với ý này thì Đại Việt giống thực dân quá)

5. Có thời điểm Chămpa thăng hoa với đỉnh cao là anh hùng dân tộc Chế Bồng Nga, đã càn quét Đại Việt khiến vua thì trốn chui trốn nhủi, tướng thì phát rét ko dám ra trận. Sau này quá may mắn khi Trần Khát Chân (cũng bị ép ra trận) được "gián điệp" chỉ điểm"vô tình kiếm" giết được Chế Bồng Nga... Nếu như anh hùng Chế Bồng Nga không chết, có thể giờ chúng ta ngồi học sử "Chămpa" cũng nên... Cũng là một chữ nếu...

Nếu như vua Quang Trung sống lâu thêm tí nữa thì có lẽ hai tỉnh biên giới Trung Quốc đã thuộc về Việt Nam:04(1)::04(1):

Nói về chiến tướng Việt Nam, phải nói đến Nguyễn Huệ - Ông Vua thời loạn. Võ công cũng phải tầm Lữ Bố :059:

Ông thường xách kiếm tiên phong lao lên chém giặc khi công thành (thường thường mấy ông tướng hay trốn phía sau lắm), dẹp loạn trận Rạch Gầm Xoài Mút rượt đổi quân Xiêm và nhà Nguyễn Ánh chạy suốt qua Thái Lan...

Quang Trung Nguyễn Huệ từng nói: "Đám giặc Pháp chỉ là đám thây ma trôi ngoài biển vào mà thôi"... Tiếc rằng khi Pháp mới tràn vào thì ông đã mất.

Nghe đồn là vua bên Tàu đã ban tặng ông 1 cái áo choàng có tẩm thuốc độc... thôi thì thế thời thời thế....

Tiếc là tiếc thay cho 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã không đồng tâm hiệp lực, có tí quyền lợi đã cấu xé lẫn nhau. Nếu Nguyễn Huệ là anh cả thì chắc là ok. Tranh thủ thống nhất Việt Nam, tạo căn cơ vững chắc thì ok rồi.

Các bác nghĩ sao khi cả khu vực miền trung, và phần lớn các làng mạc mà quân 3 anh em đi qua... hầu hết đều không còn thanh niên và đàn ông... vơ vét để bổ sung cho quân đội... đó là cái giá phải trả cho binh đoàn bách chiến bách thắng.

Có 2 loại vua giỏi dành cho thời bình và thời loạn, có lẽ anh hùng áo vải chỉ thích hợp với thời loạn mà thôi. Nội bộ anh em không giải quyết gọn gàng để ảnh hưởng đến thời cuộc thì không thể là một ông vua tốt thời bình được.

èo nói đến nhà nguyễn phát chán mặc dù ta họ nguyễn ko giây mỡ giấy mà gì với nhau :)) nhưng nhà nguyễn cõng rắn cắn gà nhà ta ghét , kêu xiêm la về đánh quang trung :H ta không thích

Bác này là bác "hàn lâm" và tin tuyệt đối vào sách lịch sử nhỉ? Đã từng có hội thảo về "Nguyễn Ánh có công hay có tội?" với rất nhiều tranh cãi.

Cũng khó nói, bác có thù bác có trả không? nói gì đến các anh hùng chiến sĩ trên sa trường. Người ta truy sát bác, giết anh em họ hàng gia đình bác, bác phải trốn chui trốn nhủi, xém chết mấy lần, nghe nói mồ mả cũng bị cào bằng... Vậy bác có phục hận không?

Bác đánh ko lại thì đi nhờ vả người khác là bình thường. Ai chà, "anh Pháp ơi, anh giúp tôi đánh thắng đi, tôi sẽ nhường cảng cho anh thông thương, mua bán thoải mái", lúc Nguyễn Ánh hứa thì đang trốn chui trốn nhủi, có quái gì đâu. "Cõng rắn cắn gà nhà" có vẻ hơi nặng đó. Việc này mình thấy khó trách Nguyễn Ánh lắm.

Đây đang là thời điểm các đế quốc đi săn lùng thuộc địa, Nguyễn Ánh không mời thì sau này họ cũng có cách khác để qua à.

Mà mình nói thật, triều đại nhà Nguyễn Ánh thê thảm lắm chứ chẳng tốt đẹp gì đâu, nếu Nguyễn Ánh có "xuyên việt" thì cũng phải khóc thét lên mà than rằng "biết vậy có cho tiền ta cũng không lên làm vua đâu".

Vậy thì "Nguyễn Ánh có công hay có tội?"... Thế các bác thấy thế nào? Theo mình thì ông ta có công đã thống nhất được Việt Nam.

P/S: Mình thành thật rất xin lỗi vì đã chê 1 số điểm của anh hùng dân tộc áo vải, và hơi hướng bênh Nguyễn Ánh, rất mong các bác phản bác để mình có thể "xóa" đi suy nghĩ "tiêu cực" của mình.

Niêu
07-09-2011, 09:47 AM
Chế Bồng Nga nổi lên chỉ là sự nhất thời, nhằm đúng lúc nhà Trần rệu rã đến không thể rệu rã hơn được nữ, và cái chữ "nếu" khi Chế chiếm được Thăng Long rồi người Việt học sử Chăm là không tưởng, vì nên nhớ đến thằng Tàu có hậu phương mạnh như vậy, văn minh rực rỡ như vậy còn không giữ nổi Đại Việt, nói gì đến dân tộc Chăm pa vừa yếu, vừa kém văn minh hơn:113:. Chế có tràn được vào Thăng Long thì cũng cướp phá 1 hồi rồi té thôi, cho thêm vàng cũng không dám ở lại đâu, nếu ông ta thông minh, còn cố đấm ăn xôi mơ tưởng làm vua cả dải đất Việt thì xin lỗi nhé, cái đầu của ngài đã được phán định sẽ đổi chỗ :113:

Nguyễn Ánh có công thống nhất Đại Việt, cái này không cần bàn cãi, đây là công lao cực lớn. Còn chuyện cõng rắn cắn gà nhà gì đó chẳng qua là thời nó thế thì làm thế, hơn nữa cũng nên đứng trên góc độ nhìn của người thời đó mà thông cảm cho ông, thời xưa chuyện một hoàng thân quốc thích chạy ra nước ngoài cầu viện để khôi phục "đại thống quốc gia" phổ biến lắm, quan niệm rồi, không nên trách, giống như một số nhà Nho khi Tây Sơn nổi lên nhất định không chịu hợp tác, khư khư đợi "chủ cũ" âu cũng là quan niệm thâm căn cố đế rồi :113:

Mềnh cóc tin cái thuyết láo toét bảo vua Quang Trung chết vì một thứ gì đó liên quan đến lũ Khựa, mẹ chúng nó giỏi yểm giỏi bùa thế thì những Đa Nhĩ Cổn, Thành Cát Tư Hãn, Hốt Tất Liệt, thậm chí đến Lý Thường Kiệt, Lê Lợi... chết ráo rồi, toàn đồn bậy, đúng là xúc phạm tiền nhân như vua Quang Trung. Vua Quang Trung là anh hùng thời loạn điển hình, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dù người ghét hay thì đều không thể phủ nhận tài năng quân sự của ông được, chuyện làng mạc tan nát khi quân của ông đi qua cũng không có gì lạ nếu đứng trên góc độ khách quan mà nhìn tỉ mỉ. Nên nhớ khởi đầu của nhà Tây Sơn rất, rất kém, họ không có căn cơ, nói rõ ra là không có nhiều tiền và lương thực, nên nếu cứ chơi trò "nhân nghĩa, quân đi qua không quấy nhiễu dân lành" thì quân đội của họ chết đói. Phía Nam thì ảnh hưởng của họ Nguyễn, phía Bắc họ Trịnh và nhà Lê vô cùng thâm căn cố đế, không ép người bắt lính thử hỏi mấy người chịu bỏ nhà theo họ chinh chiến? Không phá chùa phá đình, cướp bóc nhà giàu biết lấy đâu ra sắt, đồng đúc súng đúc gươm? Lấy đâu ra tiền mua trang bị? Nhưng càng như vậy, mình càng phải cúi đầu khâm phục trước vị Hoàng đế ấy, thử hỏi bao nhiêu người có thể bách chiến bách thắng với một đội quân như vậy? Một đội quân được xây dựng bằng bắt lính, quân nhu quân dụng cướp đoạt mà có, nói như đám hủ nho là "bầy thổ phỉ nhếch nhác" lại bình Nguyễn diệt Trinh, Nam phá Xiêm Bắc đuổi Thanh, đối thủ toàn là những đội quân được xây dựng chính qui, có căn cơ hẳn hoi. Không phải thiên tài quân sự, chắc chỉ lóp ngóp làm giặc cỏ là hết!

À, nhân tiện chém về trận đánh quân Thanh của vua Quang Trung. Rất nhiều người, do cố ý muốn đi ngược lại cái gọi là lịch-sử-chính-thống-do-chính-quyền-viết-ra, là một đống shi.t không hơn không kém nên luôn tin chắc như bắp rằng trận đó 10 vạn quân của vua Quang Trung đánh với 2,3 vạn quân Thanh, chả có gì đáng nổ như pháo. Ôi nhục, đệt, đọc rất nhiều tài liệu sử, mềnh nghĩ số quân chính quy của nhà Thanh sang Việt Nam khi đó chừng trên dưới 4,5 vạn gì đó, nhưng mỗi thằng Tàu Khựa lại có 2,3 thằng đàn em đi kèm xách đồ xách đạc, ngoài ra còn lũ vận tải lương thực, lều trại, nấu ăn... tùm lum, cộng lại đã sơ sơ trên 20 vạn Khựa rồi. À, khoảng 15 vạn thằng Khựa thêm ra này làm shi.t gì được tính là lính, phải phải, có lý quá, đệt, vậy tụi nó có được trang bị gươm giáo không? Không được mang mềnh đi đầu xuống đất, quân ta xông đến trước mặt không để ý bọn nó chém cho như chém chuối ấy chứ. Vậy đối thủ của chúng là ai? 10 vạn quân chính quy Việt Nam, ôi nhiều quá, áp đảo quá, không thắng nổi thì gà quá, đệt, 10 vạn đó đến 9 vạn là lính bắt vội trên đường vua Quang Trung cấp tốc từ Phú Xuân ra, chủ yếu là khu Nghệ An Hà Tĩnh, phải rồi, đội quân thành lập vội trong vài ngày từ những nông dân nửa chết đói nửa vật vờ do hậu quả của những thiên tai liên tiếp trong mấy năm này và chiến tranh liên miên tàn phá rõ ràng kỉ luật hơn, to khỏe trâu bò hơn, võ nghệ cao cường hơn, thi hành mệnh lệnh chỉ huy tốt hơn, giỏi chiến thuật chiến lược hơn, trang bị đầy đủ sắc bén hơn đám quân Thanh vớ vẩn kia nhỉ, các pro luôn ị vào sử chính thống? À, mà chấp làm gì với lũ mọi Tây Sơn chỉ biết chém giết, quân Thanh nhà ta là thượng triều có văn minh văn hóa, chén kiểu sao đập lộn với chén sành ngoài bụi được, nhỉ? Thôi rút về cho tụi Việt tự sướng, tụi nó thắng có vinh quang gì đâu? Hô hô hô!

:113:

nhanvantu
07-09-2011, 10:18 AM
Nguyễn Ánh có công thống nhất Đại Việt, cái này không cần bàn cãi, đây là công lao cực lớn. Còn chuyện cõng rắn cắn gà nhà gì đó chẳng qua là thời nó thế thì làm thế, hơn nữa cũng nên đứng trên góc độ nhìn của người thời đó mà thông cảm cho ông, thời xưa chuyện một hoàng thân quốc thích chạy ra nước ngoài cầu viện để khôi phục "đại thống quốc gia" phổ biến lắm, quan niệm rồi, không nên trách, giống như một số nhà Nho khi Tây Sơn nổi lên nhất định không chịu hợp tác, khư khư đợi "chủ cũ" âu cũng là quan niệm thâm căn cố đế rồi

Nguyễn Ánh dắt quân Xiêm vào chiếm Gia Định đó chẳng phải là "cõng rắn cắn gà nhà " là gì? Bên Xiêm chẳng lẽ không có dã tâm chiếm đất ? Nguyễn Ánh có ý thức được dã tâm của Xiêm không ?

Thêm vào đó là việc Nguyễn Ánh gửi hoàng tử Cảnh cho người Pháp, mong được Pháp viện trợ, để rồi sau này dưới triều Gia Long, giáo sĩ tha hồ truyền đạo. Sau đó thì sao? Con trai ông ta là Minh Mạng đã thấy việc làm "mờ ám " của những giáo sĩ này cuối cùng bài đạo , sát đạo. phương Tây lại có cớ để tấn công nước ta.

Nếu là một người có đủ tài , sao Nguyễn Ánh không tự mình xây dựng lực lượng mà phải dựa vào Xiêm, phương Tây. Mầm tai họa diệt triều Nguyễn lại được chính Nguyễn Ánh- Gia Long gieo lên

thời xưa chuyện một hoàng thân quốc thích chạy ra nước ngoài cầu viện để khôi phục "đại thống quốc gia" phổ biến lắm, quan niệm rồi, không nên trách

ở Việt Nam, có ông hoàng thân quốc thích nào chạy ra nước ngoài rồi cầu viện để khôi phục đại thống quốc gia ? Ngoài Ánh ra thì có Lê Chiêu Thống, nhưng Lê Chiêu Thống là tên vua đớn hèn, đáng trách.

Niêu
07-09-2011, 10:33 AM
Nguyễn Ánh dắt quân Xiêm vào chiếm Gia Định đó chẳng phải là "cõng rắn cắn gà nhà " là gì? Bên Xiêm chẳng lẽ không có dã tâm chiếm đất ? Nguyễn Ánh có ý thức được dã tâm của Xiêm không ?

Thêm vào đó là việc Nguyễn Ánh gửi hoàng tử Cảnh cho người Pháp, mong được Pháp viện trợ, để rồi sau này dưới triều Gia Long, giáo sĩ tha hồ truyền đạo. Sau đó thì sao? Con trai ông ta là Minh Mạng đã thấy việc làm "mờ ám " của những giáo sĩ này cuối cùng bài đạo , sát đạo. phương Tây lại có cớ để tấn công nước ta.

Nếu là một người có đủ tài , sao Nguyễn Ánh không tự mình xây dựng lực lượng mà phải dựa vào Xiêm, phương Tây. Mầm tai họa diệt triều Nguyễn lại được chính Nguyễn Ánh- Gia Long gieo lên


ở Việt Nam, có ông hoàng thân quốc thích nào chạy ra nước ngoài rồi cầu viện để khôi phục đại thống quốc gia ? Ngoài Ánh ra thì có Lê Chiêu Thống, nhưng Lê Chiêu Thống là tên vua đớn hèn, đáng trách.

Thời Lý, bạn tra GG để biết ai chạy sang Tàu nhằm xin quân về nhưng không thành, nửa đường gặp bão làm mồi cho cá, thời Mạc con cháu nhà Mạc sao tự nhiên được yên ổn mấy chục năm ở Cao Bằng, và Đại Việt mất thêm một ít đất? Bạn bình luận vè Nguyễn Ánh quá nặng, nói thật nhé, cả 2 nhà sử học Lê Văn Lan và Dương Trung Quốc tôi đều nói chuyện qua rồi, và không ai trong số những người hiểu biết nhiều về lịch sử như họ phán nặng nề về các nhân vật lịch sử như chúng ta đâu.

Hồi đi học, mình ghét Nguyễn Ánh lắm, nhưng sau này nói chuyện với nhiều người, tự nhiên thấy bình thường. Nguyễn Ánh thừa hiểu Xiêm muốn gì, và Xiêm cũng hiểu ông định làm gì, nên nhớ nhà Mạc còn cắt đất cho TQ nhưng không bị chửi nhiều như Nguyễn Ánh, bạn biết tại sao không? Đơn giản vì chính quyền ta lật đổ nhà Nguyễn chứ không phải nhà Mạc, đả thực bài phong đã khiến người ta bóp méo hình tượng nhiều người so với hình tượng thật của họ, Phan Thanh Giản, Trần Trọng Kim... không phải hiếm, họ được tranh luận minh oan chẳng qua họ nổi tiếng nhất mà thôi:113:

Nói lại chuyện Nguyễn Ánh, nếu bạn bị diệt tộc, cướp nước, bị cô lập thì bạn sẽ hiểu sao ông làm vậy. Chẳng ai nói hành động đưa Xiêm là đúng, nó sai lè ra, nhưng đứng trên lập trường của ông có thể thông cảm, vậy thôi. Ông cầu Pháp, cho giáo sĩ truyền đạo, rồi con ông cấm đạo thì ông có tội mịa gì? Việt Nam thời ấy không làm như Thái, như Nhật thì chẳng Pháp cũng Anh, chẳng Anh cũng Tây Ban Nha nhảy vào đập, cớ à, nó cần mịa gì cớ hả? Có mỗi cái cớ là nước Việt lạc hậu hơn nó, nhiều tài nguyên cho nó nhỏ dãi, nhiều dân đen cho nó nhân công giá mạt rệp, thế thôi, đừng lôi vụ tôn giáo vào kết tội cho ông, đến thời nay người ta còn không cấm đạo nổi nói gì đến xưa? :113:

Tôi không nói Nguyễn Anh đúng, ông có công nhưng có lỗi, nhưng công thống nhất của ông lớn hơn, tôi nghĩ vậy, dù sao ông cũng chấm dứt một giai đoạn tương tàn đau đớn vào bậc nhất của người Việt, đêm lại sự yên bình, còn đòi hỏi gì hơn đây? :113:

Cô Bé Bán Xôi
07-09-2011, 10:37 AM
Thực ra cũng có 1 người mời khựa vào nhưng vẫn dc khen đấy, đọc lịch sử thì đọc chứng cứ thôi, phần bình luận không phải là lịch sử:4:

artnet
07-09-2011, 02:21 PM
Thực ra cũng có 1 người mời khựa vào nhưng vẫn dc khen đấy, đọc lịch sử thì đọc chứng cứ thôi, phần bình luận không phải là lịch sử:4:

Vẫn biết là bình luận không phải là lịch sử.. thế nhưng bình luận sẽ nghiệm ra sự kiện xảy ra đó, ông vua quyết định đó... đúng hay sai. Mỗi người một ý kiến, sẽ giúp ta hiểu rằng tiền nhân chúng ta như thế nào, rút ra nhiều bài học cho cuộc sống.

Mong rằng mọi người tiếp tục cùng đưa ra những ý kiến khách quan lẫn chủ quan... cùng nhau học hỏi...

Cô Bé Bán Xôi
07-09-2011, 02:28 PM
Vẫn biết là bình luận không phải là lịch sử.. thế nhưng bình luận sẽ nghiệm ra sự kiện xảy ra đó, ông vua quyết định đó... đúng hay sai. Mỗi người một ý kiến, sẽ giúp ta hiểu rằng tiền nhân chúng ta như thế nào, rút ra nhiều bài học cho cuộc sống. Nói như bạn thì mấy cái diễn đàn dẹp quách đi cho rồi...

Mong rằng mọi người tiếp tục cùng đưa ra những ý kiến khách quan lẫn chủ quan... cùng nhau học hỏi...

Bạn có hiểu tôi nói jì kô mà nhận xét thế. Tôi có nói là không nên bình luận hay bình luận là kô đúng ah:10::10::10:

artnet
07-09-2011, 02:40 PM
Bạn có hiểu tôi nói jì kô mà nhận xét thế. Tôi có nói là không nên bình luận hay bình luận là kô đúng ah:10::10::10:

Có thể mình đã hiểu sai ý bạn. Thành thật xin lỗi. Mình đã sửa lại bài viết của mình cho phù hợp.

artnet
07-09-2011, 09:22 PM
Thời Lý, bạn tra GG để biết ai chạy sang Tàu nhằm xin quân về nhưng không thành, nửa đường gặp bão làm mồi cho cá, thời Mạc con cháu nhà Mạc sao tự nhiên được yên ổn mấy chục năm ở Cao Bằng, và Đại Việt mất thêm một ít đất? Bạn bình luận vè Nguyễn Ánh quá nặng, nói thật nhé, cả 2 nhà sử học Lê Văn Lan và Dương Trung Quốc tôi đều nói chuyện qua rồi, và không ai trong số những người hiểu biết nhiều về lịch sử như họ phán nặng nề về các nhân vật lịch sử như chúng ta đâu.

Hồi đi học, mình ghét Nguyễn Ánh lắm, nhưng sau này nói chuyện với nhiều người, tự nhiên thấy bình thường. Nguyễn Ánh thừa hiểu Xiêm muốn gì, và Xiêm cũng hiểu ông định làm gì, nên nhớ nhà Mạc còn cắt đất cho TQ nhưng không bị chửi nhiều như Nguyễn Ánh, bạn biết tại sao không? Đơn giản vì chính quyền ta lật đổ nhà Nguyễn chứ không phải nhà Mạc, đả thực bài phong đã khiến người ta bóp méo hình tượng nhiều người so với hình tượng thật của họ, Phan Thanh Giản, Trần Trọng Kim... không phải hiếm, họ được tranh luận minh oan chẳng qua họ nổi tiếng nhất mà thôi:113:

Nói lại chuyện Nguyễn Ánh, nếu bạn bị diệt tộc, cướp nước, bị cô lập thì bạn sẽ hiểu sao ông làm vậy. Chẳng ai nói hành động đưa Xiêm là đúng, nó sai lè ra, nhưng đứng trên lập trường của ông có thể thông cảm, vậy thôi. Ông cầu Pháp, cho giáo sĩ truyền đạo, rồi con ông cấm đạo thì ông có tội mịa gì? Việt Nam thời ấy không làm như Thái, như Nhật thì chẳng Pháp cũng Anh, chẳng Anh cũng Tây Ban Nha nhảy vào đập, cớ à, nó cần mịa gì cớ hả? Có mỗi cái cớ là nước Việt lạc hậu hơn nó, nhiều tài nguyên cho nó nhỏ dãi, nhiều dân đen cho nó nhân công giá mạt rệp, thế thôi, đừng lôi vụ tôn giáo vào kết tội cho ông, đến thời nay người ta còn không cấm đạo nổi nói gì đến xưa? :113:

Tôi không nói Nguyễn Anh đúng, ông có công nhưng có lỗi, nhưng công thống nhất của ông lớn hơn, tôi nghĩ vậy, dù sao ông cũng chấm dứt một giai đoạn tương tàn đau đớn vào bậc nhất của người Việt, đêm lại sự yên bình, còn đòi hỏi gì hơn đây? :113:

Hay quá Niêu ơi... lý luận chặt chẽ rất thuyết phục... ít nhất là đối với mình :D

Chợt nhớ vừa rồi mình mới đọc và xem lại rất nhiều hình ảnh vào giai đoạn 1900, chủ yếu là hình Pháp chụp đối với cuộc khởi nghĩa của Hùm Thiêng Yên Thế - Hoàng Hoa Thám...

1. Hình ảnh dân mình đúng chính hiệu "dân đen"... lam lũ, khắc khổ... nhà cửa thì tồi tàn... đến hình ảnh đời vua Khải Định cũng thế, lính đi chân đất, tuồng chèo cũng thế...

2. Chống chọi và tồn tại thành 1 khu biệt lập với Pháp không phải là đơn giản. Phải chăng Hoàng Hoa Thám không gặp thời? Không thể vùng vẫy cá nước như Nguyễn Huệ chăng? Mỗi lần nhắc đến ông, ta đều cảm khái, tiếc thương cho một anh hùng đất Việt... chỉ mới trăm năm nay thôi... gần với chúng ta lắm lắm...

Trích truyện Chân tướng quân của Phan Bội Châu:

Than ôi! Tội ác của kẻ thù thì ngút trời, thế lực kẻ thù thì gắp trăm ngàn lần, thế mà ông Hoàng (Hoàng Hoa Thám) một mình đã chống chọi được với chúng gần ba chục năm trời.Ông đã tập hợp và rèn luyện những con người tầm thường trở thành một đội ngũ mạnh mẽ và ông đã đường đường là một vị tướng quân tiếng tăm lừng lẫy. Ông thực xứng đáng là chân quốc nhân. Xứng đáng là chân tướng quân! Vì vậy tôi mới viết truyện Chân tướng quân này.

Nhắc đến chuyện tướng quân, không ai là không tiếc thương bậc anh hùng không gặp thời...Tuy vậy, nước tôi còn có được một người như tướng quân cũng là may lắm. Nhân đó mà tôi viết truyện này.

hungvodich9490
07-09-2011, 10:06 PM
Các bạn cứ tranh luận nhiều vào để mình có tài liệu viết Biệt Đội Lạc Hồng 5 tháng sau:034::034::034:

jojo11111
08-09-2011, 02:37 AM
đẩy mạnh việt hóa campuchia đi rồi mình có thêm đất :))

artnet
08-09-2011, 01:12 PM
đẩy mạnh việt hóa campuchia đi rồi mình có thêm đất :))

Thấy bác jojo11111 nói tới Campuchia nên tính viết thêm 1 ít về mối liên hệ "dao búa" giữa Campuchia và Chămpa thì gặp bác hungvodich9490 nên thôi vậy...:015: mắc công mai mốt truyện bác "đụng hàng" truyện của em làm sao...:059:

Các bạn cứ tranh luận nhiều vào để mình có tài liệu viết Biệt Đội Lạc Hồng 5 tháng sau:034::034::034:

Hấp Diêm Lão Quái
08-09-2011, 02:06 PM
Ta ghét mỗi việc mấy anh ý sổ toẹt bộ luật Hồng Đức, định quan chế, nền văn hóa riêng của VN mà học nguyên si theo thời Tống, Minh. Thêm nữa anh bố thì thu nhỏ tòa thành còn anh con thì dỡ thành Thăng Long để xây cái giờ được gọi là hoàng cung đại nội ở Huế, khiến cho giờ đây mấy thằng nặc nô chuyên híp dâm lịch sử bảo rằng cái gì to, cao thì không phải là kiến trúc VN :4::4:

Đâu cần phải dỡ, ta nhớ hồi lớp 9 có tìm đọc hoàng lê nhất thống chí thì lúc QT ra bắc, nhà Trịnh sợ chạy mất thế là dân Thăng long mỗi cụ một bó đuốc xử cái Hoàng Thành (đồ sộ ngang với tử cấm thành bên khựa thì phải) khiến đám cháy kéo dài 14 ngày 13 đêm hay 7 ngày 6 đêm gì đó :113::113:

ducnamnv
08-09-2011, 03:31 PM
Xưa nói làm gì, ngày nay quan trọng thế nào thôi, cứ cử 1 đàn hoa hậu, á hậu ra ngoài đảo thì các chú nhà mình xông ra cướp đảo liền chứ sợ bố gì thằng Tàu khựa

artnet
08-09-2011, 03:50 PM
...thời Mạc con cháu nhà Mạc sao tự nhiên được yên ổn mấy chục năm ở Cao Bằng, và Đại Việt mất thêm một ít đất?...

Nhắc một chút về nhà Mạc, cũng xảy ra rất nhiều tranh cãi....(lại tranh cãi)...

+ Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quý cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ.

Nhưng cũng có những ý kiến trái chiều

+ Người ta biết đến ông phần nhiều như là một người tiếm ngôi, mặc dù trong giai đoạn từ đời Lê Uy Mục đến đời Lê Cung Hoàng thì nhà Hậu Lê đã cực kỳ suy tàn, khởi nghĩa và nổi loạn nổi lên ở nhiều nơi, triều chính thối nát dẫn đến việc các ông vua này phải dựa vào thế lực ngày càng tăng của Mạc Đăng Dung nhằm duy trì quyền lực đã gần như không còn của mình và cuối cùng là việc phải nhường ngôi cho ông là đương nhiên.

+ Năm 1528, cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng và bạc cùng châu báu, của lạ, vật lạ. Vua Minh thu nhận. Cũng nên lưu ý rằng Toàn thư là do các quần thần nhà Hậu Lê viết ra nên có thể không chính xác. Các sử gia ngày nay xác định rõ rằng hai châu Quy Hoá và Thuận An đã mất sang tay nhà Tống từ thời nhà Lý, do hai thủ lĩnh Nùng Trí Hội và Nùng Trí Cao nộp cho Tống

+ Về sự việc cắt đất này, còn có nhiều ý kiến khác nhau. Việc cắt đất bị nhiều sử gia về sau lên án gay gắt, nhưng cũng có ý kiến cho rằng ông làm thế là khôn khéo nhất, vì cùng một lúc không thể chia sẻ lực lượng ra để chống lại hai thế lực: nhà Minh ở phía bắc, liên minh Lê - Nguyễn ở phía nam

+ Trong thế yếu, muốn tránh một cuộc chiến mà mình nắm chắc phần thất bại, đồng thời dân Việt sẽ một lần nữa bị đặt dưới ách thống trị trực tiếp của ngoại nhân như thời Mộc Thạnh, Trương Phụ, Mạc Thái Tổ, lúc đó đã lên làm thái thượng hoàng, đành chấp nhận đầu hàng và chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân, lên ải Nam Quan (Lạng Sơn) chịu nhục. Nhờ sự nhẫn nhục của Mạc Thái Tổ,... Đại Việt trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa, nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương, vua Mạc vẫn cai trị đất đai từ Lạng Sơn trở xuống, đâu có viên tướng Tàu nào bén mảng sang cai trị. Ai cũng bảo Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh vì quyền lợi gia đình họ Mạc, nhưng giả thiết, Mạc Đăng Dung chống cự quân Minh như họ Hồ, nước ta bị tái đô hộ, thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa. Đàng này, Mạc Đăng Dung một mình chịu nhục cho trăm họ bình yên. Người ta ưa ca tụng Hàn Tín khi nghèo khổ đã lòn trôn tên bán thịt chợ Hoài Âm (Trung Hoa) như là một gương nhẫn nhục đáng noi theo, nhưng chẳng một ai chịu chia sẻ với nỗi nhẫn nhục vĩ đại của Mạc Đăng Dung.

Mặc thế nào đi nữa, em vẫn ấn tượng nhất về cây Đại Long Đao (500 năm tuổi) của ông - Mạc Đăng Dung, để sử dụng nó dĩ nhiên phải là chiến tướng.

http://farm.vtc.vn/media/vtcnews/2011/01/31/DSC02620.jpg

http://farm.vtc.vn/media/vtcnews/2011/01/31/2_3.jpg

http://farm.vtc.vn/media/vtcnews/2011/01/31/1_1.jpg

nhanvantu
08-09-2011, 03:55 PM
nói đi cũng phải nói lại, trong lịch sử Việt nam, khi một vuỳong trièu sắp lụi tàn thì quyền lực thừong roi vào tay của những viên võ tướng trong triều,

Chẳng hạn Lí Công Uẩn trong triều Tiền Lê

Hồ Quý Ly ỉieefu Trần

Và Mạc Đăng Dung trong triều Hậu Lê này.

Đó đều là những người có nhãn quan chính trị sắc bén, biết năm bắt thời cơ. Mặc Đăng Dung khi nắm quyền thì chấn chỉnh bọ máy Nho quan

funnyguy
09-09-2011, 04:43 AM
Topic giá trị, cám ơn kem.
Nhìn bản đồ mấy cái cuối, Việt Nam cứ như rồng mọc đuôi vậy .

nhanvantu
12-09-2011, 06:37 PM
Thấy Việt Nam bị ảnh hưởng của Tàu nhiều hơn chứ trước giờ bản thân mình chưa thấy thằng Tàu nó học mình cái gì cả .


TÌM HIỂU NHỮNG CỐNG HIẾN CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM ĐỐI VỚI VĂN HOÁ HÁN QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM VÀ SỬ LIỆU
TRUNG QUỐC

http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/0401.htm
ĐÀM CHÍ TƯ

Như nhiều học giả đã công nhận, Trung Quốc và Việt Nam là hai nước có nền văn hóa rất gần nhau. Sự gần nhau về văn hóa đó là kết quả của sự giao lưu văn hóa đó lâu dài qua nhiều thế kỷ giữa hai nước. Mối giao lưu văn hóa này mang tính hai chiều, tuy không loại trừ trường hợp một chiều trong một khoảng thời gian nhất định. Bởi vậy, chúng ta phải nhìn thấy tính hai chiều của nó khi nghiên cứu mối giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung - Việt. Đáng tiếc là, lâu nay trong giới nghiên cứu khoa học tồn tại một tình trạng thiếu khoa học là cường điệu một chiều sự ảnh hưởng của nền văn hóa Hán đối với nền văn hóa Việt Nam (Hán sang Việt), còn chiều khác là sự ảnh hưởng (cống hiến) của văn hóa Việt Nam đối với văn hóa Hán (Việt sang Hán) thì rất ít được đề cập đến. Bài viết này xin đưa ra quan điểm của chúng tôi về những cống hiến của người Việt và văn hóa Việt Nam vào văn hóa Hán dựa trên tư liệu Hán Nôm và sử liệu Trung Quốc.

Trước hết, chúng tôi khẳng định rằng, song song với chiều văn hóa Hán truyền sang, góp phần hình thành và phát triển văn hóa Việt Nam, còn tồn tại chiều văn hóa Việt Nam truyền sang văn hóa Hán, góp phần làm phong phú thêm nội dung của văn hóa Hán. Điều đó được thể hiện trong những khía cạnh sau đây:

I. Một số loại sản vật Việt Nam hoặc từ Việt Nam truyền sang Trung Quốc, làm phong phú thêm kho tàng tài nguyên sản vật và đời sống của nhân dân Trung Quốc

Theo sử sách Trung Quốc, những loại sản vật đó gồm các cây nhãn, vải, giầu cau, dừa, khoai lang, thuốc lá, bông, ý dĩ (bo bo), hoàng tiết (黃 屑) và phong hương (楓 香) v.v...

Cây nhãn, vải: vốn xuất xứ vùng Giao Chỉ, Cửu Chân, sau đó được truyền sang miền Nam Trung Quốc. Vua Ngụy Văn Trung Quốc từng xuống chiếu rằng: “Những hoa quả lạ ở miền Nam có cây nhãn, vải... xuất xứ ở Giao Chỉ, Cửu Chân(1)”.

Cây trầu cau: cuốn Nam phương thảo mộc trạng của Kê Hàm chép: cây trầu cau “có nguồn gốc ở Lâm ấp (miền Trung Việt Nam ngày nay)”. Có học giả Trung Quốc nhận định rằng, thời gian cây trầu cau truyền sang Trung Quốc không muộn hơn đời Tấn(2).

Cây dừa: vốn xuất xứ ở vùng Mêlanixia (thuộc châu Đại Dương) và được truyền sang vùng Đông Nam Á trước công nguyên. Trước đời Hán, cây dừa được truyền từ Việt Nam sang Trung Quốc(3). Cuốn Tề dân yếu thuật, quyển 10 dẫn các sách Quảng chí, Giao Châu ký, Dị vật chí rằng: “Cây dừa xuất xứ từ Giao Chỉ, nhà nào nhà nấy đều trồng cây đó”.

Cây khoai lang: vốn xuất xứ ở châu Mỹ, được truyền sang vùng Đông Nam Á vào thế kỷ XVI. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573 - 1620) đời Minh, ông Trần ích, người Quảng Đông đem giống cây khoai lang từ Việt Nam tới và ông Trần Chấn Long, người Phúc Kiến đem giống khoai lang từ Phi-líp-pin về, sau đó cây khoai lang được trồng rộng rãi ở vùng Quảng Đông, Phúc Kiến(4).

Cây thuốc lá: vốn xuất xứ ở châu Mỹ. Năm 1492, nhà hàng hải Cô-lôm-bô phát hiện cây thuốc lá, từ đó cây thuốc lá được truyền đi khắp nơi trên thế giới. Lúc đầu cây thuốc lá được truyền qua con đường Phi-lip-pin sang Trung Quốc vào khoảng niên hiệu Vạn Lịch đời Minh. Đến niên hiệu Thiên Khởi (1621 - 1627) đời Minh, cây thuốc lá lại được truyền từ Việt Nam sang vùng Quảng Đông Trung Quốc. Cuốn Cao Yếu huyện chí ở Quảng Đông chép rằng: “Thuốc lá xuất xứ từ Giao Chỉ, nay nơi nào cũng có(5)”.

Cây bông: theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, cây bông ở Trung Quốc được nhập từ nước ngoài qua ba con đường. Một trong ba con đường đó là từ Việt Nam qua đường biển truyền sang đảo Hải Nam, Phúc Kiến và Quảng Tây v.v... Thứ vải được dệt bằng loại bông đó được gọi là Việt Bố (vải Việt)(6).

Cây ý dĩ (bo bo): là loại cây họ thảo sống lâu năm, quả ý dĩ có thể ăn hoặc làm thuốc, lá và thân cây ý dĩ có thể dùng làm nguyên liệu giấy. Ngày nay các tỉnh Hà Bắc, Sơn Đông và Quảng Tây đều trồng cây ý dĩ. Theo sử sách ghi chép, ngày xưa, loại ý dĩ Việt Nam có hạt to nhất. Vào đời Đông Hán, Mã Viện vào cai trị vùng Giao Chỉ, khi trở về, lần đầu tiên ông đem giống ý dĩ về Lạc Dương, kinh đô nhà Hán. Sau khi chết, ông mang “oan ý dĩ”(7). Hiện nay trong tiếng Hán còn có thành ngữ “ý dĩ minh châu” nói về chuyện đó.

Cây hoàng tiết (黃 屑), cây phong hương (楓 香): cuốn Nam phương thảo vật trạng của Từ Trung, người đời Tấn chép: “cây hoàng tiết Nhật Nam (nay là miền Trung Việt Nam) tốt nhất, thỉnh thoảng đem vào cống [cho Trung Quốc]”; “cây phong hương, quả to như trứng vịt... chỉ quận Cửu Chân mới có(8)”.

Còn có thể điểm ra nhiều ví dụ khác, song trong khuôn khổ của một bài viết không cho phép liệt kê hết mọi sản vật được truyền từ Việt Nam sang Trung Quốc được.

II. Một số người Việt Nam sang Trung Quốc góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa hai nước và giúp sức xây dựng, phát triển nền văn hóa Hán

Từ thời Tần Thủy Hoàng đã có người Việt Nam sang Trung Quốc. Sử sách chép rằng, vào đời Tần Thủy Hoàng, có Lý Ông Trọng, người Từ Liêm, Giao Chỉ, cao 3 trượng 2 thước, sang nước Tần làm quan đến chức Tự lệ hiệu úy. Ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao (nay thuộc tỉnh Cam Túc Trung Quốc), uy danh chấn động nước Hung Nô. Khi tuổi già, về làng rồi chết. Thủy Hoàng cho rằng ông là người kỳ lạ, đúc đồng làm tượng để ở cửa Tư Mã Hàm Dương. Bụng tượng chứa được mấy chục người, lắp máy bên trong, nên tượng có thể chuyển động được. Hung Nô tưởng đó là Hiệu úy còn sống, không dám đến xâm phạm(9). ở đời Đông Hán, có người Giao Châu là Lý Tiến, Lý Cầm và Trương Trọng sang học rồi làm quan ở Trung Quốc. Sử sách Trung Quốc chép rằng: “Nhân tài Giao Châu được cùng tuyển dụng với người Trung Châu có thể là bắt đầu từ Lý Tiến(10).

Đời Đường, có ba người Việt Nam là hai anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục, Liêu Hữu Phương đều đậu Tiến sĩ và làm quan ở Trung Quốc. Nhất là Khương Công Phụ, ông đã làm quan đến chức Tể tướng. Chẳng những thế, ông còn giỏi làm văn. Hai bài Bạch vân chiếu xuân hải phú và Đối trực ngôn cực gián sách của ông đều đã được thu chép vào bộ sách Toàn Đường văn. Ông Trương Tú Dân, một học giả Trung Quốc chuyên về lịch sử quan hệ Trung Việt đã tôn xưng ba ông Khương Công Phụ, Khương Công Phục và Liêu Hữu Phương là An Nam tam hiền đời Đường(11)”. Đời Đường, còn nhiều văn nhân Việt Nam (chủ yếu là Nho sĩ và tăng lữ) sang Trung Quốc, đã trao đổi nghệ thuật văn chương, tư tưởng với các văn nhân Trung Quốc. Sự kiện đó được phản ánh qua một số bài thơ của một số nhà thơ đời Đường trong tập thơ Toàn Đường thi, như các bài Sơn trung tặng Nhật Nam tăng, Tống Nam khách của nhà thơ Trương Tịch, bài Cung Phụng Định pháp sư quy An Nam của nhà thơ Dương Cự Nguyên, bài Tống An Nam Duy Giám pháp sư của nhà thơ Giả Đảo v.v...

Những người Việt Nam trên đây sang Trung Quốc, hoặc cố gắng làm việc trong phạm vi chức quyền của mình, hoặc trao đổi nghệ thuật văn chương, qua đó đã góp phần vào sự phát triển của văn hóa Hán.

Kể từ thời Nam Bắc triều đến đầu đời Tùy, nhạc và múa của Lâm ấp (nay là Trung bộ Việt Nam) đã được chọn làm cống phẩm cho Trung Quốc(12). Trong nhạc cung đình đời Thanh còn có nhạc An Nam(13).

Ở đời Lý - Trần, Lê Đức Toàn là một Bác sĩ Việt Nam nổi tiếng đã sang Trung Quốc chữa bệnh cho Hoàng hậu nhà Tống, rồi ông ở lại miền Nam Trung Quốc cho đến chết. Ông quê ở Nghĩa Lư, tự hiệu là Tuệ Tĩnh Thiền Sư. Sau khi ông chết, vua nhà Tống tổ chức lễ tang ông và cho khắc bia đá ghi lại sự tích của ông. Về sau, có sứ giả Việt Nam sang Trung Quốc đem bia đá đó về nước. Đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1853), Việt Nam bị dịch đậu mùa nghiêm trọng, tấm bia đá đó đã hiển linh để giúp dân. Do đó, dân lập đền thờ ông(14). Đời Minh, Nguyễn An, một kiến trúc sư tài ba Việt Nam theo lệnh triều đình nhà Minh trực tiếp phụ trách công trình thiết kế và xây dựng thành phố Bắc Kinh, trong đó chủ yếu là Tử Cấm Thành và Hoàng Thành. Nguyễn An đã hoàn thành sơ bộ công trình đồ sộ đó trong 4 năm. Ngày nay, khi đến tham quan Cố Cung của thành phố Bắc Kinh, người ta biết ơn kiến trúc sư tài ba Việt Nam Nguyễn An(15). Lê Trừng, tự Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông, con trưởng của Hồ Quý Ly, bị tướng nhà Minh Trương Phụ bắt giải sang Trung Quốc. Triều Minh thấy Trừng thông minh tính trời, văn võ kiêm toàn, bèn thả và trọng dụng ông. Trừng chuyên phụ trách quản lý chế tạo hỏa khí, nên được người ta ví là thần Hỏa khí. Người đời Minh phàm thờ hỏa khí, đều thờ luôn ông Trừng. Lê Trừng đã làm quan đến chức Công bộ thượng thư, góp phần to lớn vào nền quốc phòng triều Minh(16).

III. Trong quá trình tiếp thu văn hóa Hán, văn hóa Việt Nam đã có những sáng tạo mới, góp phần phát triển và làm phong phú thêm nội dung của văn hóa Hán

Trong khi tiếp thu văn hóa ngoại lai, mọi dân tộc đều không rập khuôn máy móc, mà căn cứ theo tình hình cụ thể của mỗi dân tộc để tiếp thu có chọn lọc và cải tạo, đồng thời phát huy văn hóa ngoại lai để nâng văn hóa bản địa lên tầm cao mới. Nhưng vì bối cảnh và điều kiện lịch sử khác nhau, nên mức độ cải tạo và phát huy văn hóa ngoại lai của mỗi dân tộc cũng khác nhau. Về phần Việt Nam, xét tổng quan trên bình diện lịch sử, Việt Nam không xây dựng một nền văn hóa khác hẳn văn hóa Hán. Nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam không có sáng tạo gì trong quá trình tiếp thu văn hóa Hán. Trong một số lĩnh vực, dân tộc Việt Nam đã có sáng tạo mới. Xin đơn cử một số trường hợp sau đây:

Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du đã mượn cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân - một nhà văn cuối đời Minh đầu đời Thanh (Trung Quốc). Nhưng Nguyễn Du đã sử dụng một cách tài tình ngôn ngữ Việt Nam (tiếng Việt) và thể thơ Việt Nam (lục bát) để sáng tác lại Truyện Kiều. Kết quả là Truyện Kiều của Nguyễn Du không những được coi là tác phẩm văn học nổi tiếng nhất ở Việt Nam, mà còn có tiếng trên thế giới, từng được dịch và giới thiệu bằng tiếng Trung, Pháp, Anh, Nga, Đức, Nhật, Tiệp Khắc và Hung-ga-ri. Nguyễn Du cũng vì đó mà trở thành danh nhân văn hóa. Còn bản Kim Vân Kiều truyện Trung Quốc thì hầu như không có tiếng tăm gì, chỉ những học giả chuyên về văn học thời kỳ đó mới biết thôi. Trên một chừng mực nào đó, sở dĩ sau này bản Kim Vân Kiều truyện Trung Quốc được nhiều người biết đến là nhờ tiếng tăm của bản Truyện Kiều Việt Nam, tức họ biết Truyện Kiều của Nguyễn Du trước, biết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân sau.

Phú là một trong bốn thể loại văn cổ đại Trung Quốc. Trong quá trình tiếp thu phú Trung Quốc, phú Việt Nam đã có sáng tạo và phát triển mới. Chẳng hạn, phú Trung Quốc thì thường hay sử dụng những lời văn mỹ miều để ca ngợi công đức của bọn thống trị hoặc tác giả khoe tài. Còn phú Việt Nam thì có khi dùng để bàn luận sự việc hoặc thuyết minh đạo lý, thậm chí để luận chiến, giống như thể văn nghị luận, như bài Cần Chính lầu phú, Quan Chu nhạc phú của Nguyễn Pháp v.v... Đôi khi phú Việt Nam còn được dùng để thuyết trình đặc tính và hướng dẫn cách sử dụng dược phẩm, giống như thể văn thuyết minh ngày nay, như bài Trực giải chỉ nam dược tính phú, Nam dược Quốc ngữ phú của Nguyễn Bá Tĩnh v.v...

Chơi chữ bằng chữ Hán là bộ phận quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, cũng được nhân dân Việt Nam ưa thích. Người Việt Nam đã tiếp thu văn hóa chơi chữ Hán rồi kết hợp với văn hóa bản địa để tạo ra nhiều tác phẩm chơi chữ mang bản sắc dân tộc Việt Nam. Thực tế, cách chơi chữ bằng chữ Hán của Việt Nam đã góp phần làm phong phú thêm nội dung của văn hóa chơi chữ Trung Quốc, thí dụ:

Vua Duy Tân chơi chữ với cha cố Tây:

Cha cố: Rút ruột ông vua, tam phân thiên hạ.

Vua Duy Tân: Chặt đầu thằng Tây, tứ hải giai huynh.

Cha cố Tây đã chơi chữ bằng chữ vương (王) trong tiếng Hán, bởi chữ vương rút đi sổ giữa (〡), còn lại chữ tam (三), ngụ ý Việt Nam bị chia cắt làm ba Kỳ. Vua Duy Tân đã chọi lại ông cha cố bằng cách chơi chữ Tây (西, hồi ấy Việt Nam gọi người Pháp là Tây) trong tiếng Hán, bởi chữ Tây (西) cắt đi phần đầu còn lại chữ tứ (四).

Xem thêm câu đố sau đây:

Đầu cha lấy làm chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.

Đáp án của câu đố trên là hai chữ Hán “光 景” (Quang Cảnh). Vì phần đầu của chữ “光” là “小”, đúng là phần chân của chữ “景”, Quang chỉ vua Quang Trung, Cảnh chỉ năm Cảnh Thịnh, triều Quang Trung chỉ tồn tại 14 năm.

Xin xem thêm bài Chiết tự trong Nhật ký trong tù của Bác Hồ như sau:

折 字
囚 人 出 去 或 為 國
患 過 頭 時 始 見 忠
人 有 懮 愁 優 點 大
籠 開 竹 閂 出 真 龍
Phiên âm:

Chiết tự

Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thời thủy kiến trung.
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lũng khai trúc soàn xuất chân long.
Ở đây, với trình độ Hán học uyên thâm, Bác Hồ đã bày tỏ ý chí cách mạng của mình bằng hình thức chơi chữ Hán.

Tập Kiều là một hình thức chơi chữ trên cơ sở kết hợp văn hóa chơi chữ Hán với văn hóa bản địa Việt Nam, vừa là kết quả của mối giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung - Việt, lại vừa thể hiện tinh thần sáng tạo của dân tộc Việt Nam. Thí dụ:

Một hôm, học trò của cụ Phan Bội Châu bị bắt bởi sờ vào ngực của cô hàng hoa. Để cứu trò mình, cụ Phan Bội Châu chơi chữ bằng hình thức tập Kiều:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Những là âu yếm vành ngoài,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm.

Còn bao nhiêu tác phẩm chơi chữ nữa mà tác giả của chúng chính là người Việt Nam. Đó là sự phát triển mới của văn hóa Hán ở khu vực ngoài Trung Quốc. Những tác phẩm đó đã góp phần làm phong phú thêm nội dung của văn hóa chơi chữ Hán.

IV. Văn hóa Việt Nam đã bảo tồn được một số thành phần văn hóa mà ở Trung Quốc đã bị mất mát đi hoặc khó tìm được

Việc một số thành phần của văn hóa bị mất đi bởi nhiều nguyên nhân trên dòng sông lịch sử dài hơn mấy nghìn năm là hiện tượng khó tránh khỏi. Những thành phần văn hóa đó bao gồm cả văn hóa vật chất và tinh thần. Những thành phần đó có khi chúng ta có thể tìm lại được hoặc khám phá được ở khu vực ngoài Trung Quốc. Trung Quốc và Việt Nam có quan hệ chặt chẽ về lịch sử và văn hóa, nên Việt Nam đã bảo tồn những thành phần văn hóa Hán mà ở Trung Quốc đã bị mất đi hoặc khó tìm. Thí dụ:

Nhạc cổ Trung Quốc đời Tống bị biến mất, từng tìm lại được ở Việt Nam như Hoàng Đế Viêm, một thứ nhạc trượng cổ đã thất truyền ở Trung Quốc(17).

Hiện nay, Việt Nam lưu giữ được một kho tàng di sản Hán Nôm đồ sộ và vô giá, tập trung nhất và phong phú nhất tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với khoảng 26.000 quyển sách, khoảng 36.000 đơn vị thác bản văn khắc, 20.000 tấm ván gỗ khắc in sách Hán Nôm. Đó là một cống hiến vô cùng to lớn của nền văn hóa Việt Nam nói chung và ngành Hán Nôm học Việt Nam nói riêng đối với nền văn hóa Hán. Kho tàng Hán Nôm đó tiềm ẩn biết bao ẩn số về văn hóa Hán và văn hóa Việt Nam (không phải là đối tượng nghiên cứu của bài này) đang chờ đợi các nhà Hán học đi tìm tòi, khám phá mà những người đi trước đã đạt được thành quả đáng mừng. Xin nêu thí dụ:

Hệ thống chữ Nôm và âm Hán Việt đã giữ được nhiều dữ liệu về ngữ âm tiếng Hán thời trung cổ mà ở Trung Quốc khó tìm được. Năm 1948, ông Vương Lực, nhà Ngôn ngữ học nổi tiếng Trung Quốc khảo sát chữ Nôm và hệ thống âm Hán Việt một năm ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, ông viết bài Hán Việt ngữ nghiên cứu nổi tiếng, giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng về lịch sử ngữ âm tiếng Hán. Cho đến ngày nay, chữ Nôm và âm Hán Việt là tài liệu quan trọng được các học giả Trung Quốc quan tâm nghiên cứu về ngữ âm tiếng Hán thời trung đại.

Đôn Hoàng học là một nền học vấn hết sức sâu rộng và có lịch sử lâu dài ở Trung Quốc, đến nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa ngã ngũ. Một trong những vấn đề đó là thể loại văn học. Vương Tiểu Thuẫn, Giáo sư Khoa Trung văn trường Đại học Thanh Hoa Trung Quốc đã giải quyết được một số vấn đề hết sức quan trọng về thể loại văn học Trung Quốc nói chung và văn học Đôn Hoàng nói riêng qua một thời gian tìm hiểu và nghiên cứu về di sản Hán Nôm Việt Nam. Những thành quả nghiên cứu liên quan đến di sản Hán Nôm của ông được công bố trong hai quyển sách là Từ Đôn Hoàng học đến văn học chữ Hán nước ngoài và Việt Nam Hán Nôm văn hiến mục lục đề yếu. Ông đánh giá rất cao cống hiến của di sản Hán Nôm Việt Nam đối với văn hóa Hán. Ông cho rằng: “Văn hiến Hán Nôm được lưu giữ ở Việt Nam hiện nay đã cung cấp nhiều tư liệu mới cho nền học thuật Trung Quốc trong thế kỷ mới. Sự tác động tích cực của nó đối với nền học thuật Trung Quốc sẽ không chỉ giới hạn trong những ngành khoa học truyền thống như văn, sử, triết, v.v... mà nó còn tác động cụ thể đến nghiên cứu Đôn Hoàng. Cho nên, nó vừa là tấm gương phản chiếu nền văn hóa kinh điển Trung Quốc, vừa là tấm gương soi bóng nền văn hiến Đôn Hoàng(18).

Với sự không ngừng phát triển của ngành Hán Nôm học Việt Nam và mối quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác nghiên cứu di sản Hán Nôm, chắc chắn còn nhiều cống hiến cụ thể của văn hóa Việt Nam đối với văn hóa Hán.

Thay lời kết

Không nghi ngờ gì nữa, giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung - Việt trong lịch sử tồn tại hai chiều, không chỉ tồn tại ảnh hưởng và cống hiến của văn hóa Hán đối với văn hóa Việt Nam, mà còn ngược lại, tồn tại ảnh hưởng và cống hiến của văn hóa Việt Nam đối với văn hóa Hán. Điều đó đã được chứng tỏ qua di sản Hán Nôm Việt Nam và sử liệu Trung Quốc. Vấn đề này cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu không những đối với học giả Việt Nam mà còn đối với học giả Trung Quốc nữa. Di sản Hán Nôm Việt Nam với nội dung phong phú, hình thức đa dạng cần được tiếp tục khai thác để làm rõ hơn vấn đề này. Thiết nghĩ, trong quá trình khai thác di sản Hán Nôm, học giả Trung Quốc và Việt Nam tiến hành hợp tác là yếu tố cần được quan tâm.

Đ.C.T

CHÚ THÍCH

(1) Lý Phiên biên soạn: Lịch sử phát triển của thực vật trồng trọt Trung Quốc, (中 國 栽 培 植 物 發 展) KHXH,1984, tr.220

(2) Lâm Minh Hoa: Trầu cau và mối giao lưu văn hóa Trung Việt (檳 桹 與 中 越 文 化 交 流), tạp chí Đông Nam Á học san của Sở Châu Á - Thái Bình Dương, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, 1989, số thử san.

(3) Lý Phiên: Sđd., tr.223.

(4) Mẫn Tông Điện: Trung Quốc nông lịch sử hệ niên yếu lục (中 國 農 曆 史 系 年 要 錄)Nxb. Nông nghiệp 1989, tr.178

(5), (6)Vương Giới Nam: Trung Quốc dữ Đông Nam Á văn hóa giao lưu chí (中 國 與 東 南 亞 文 化 交 流 志), Nxb. Nhân dân Thượng Hải, 1998, tr.137, 132.

(7) Hậu Hán thư, quyển 24 (後 漢 書, 卷 24, 馬 援 傳) chép: “Xưa, Mã Viện ở Giao Chỉ, thường ăn hạt ý dĩ dể làm nhẹ nhàng mình mẩy và thắng chướng khí. Quả ý dĩ miền Nam rất to, Viện muốn lấy làm giống. Khi quân trở về nước, chở một xe ý dĩ về. Người bấy giờ cho đó là đồ quý lạ của miền Nam, những người quyền quý đều nhòm ngó. Bấy giờ Viện đang được triều đình nuông chiều, nên không việc gì. Sau khi Viện chết, có người dâng sớ vu khống ông, cho những gì ngày xưa Viện chở về đều là châu báu vật lạ, nên Viện bị can tội, không được táng vào mộ, vợ ông cũng bị liên lụy. Sử gọi chuyện đó là ‘oan ý dĩ’. Về sau được minh oan”.

“初, 援 在 交 趾, 常 餌 薏 苡, 用 能 輕 身 省 欲 以 勝 瘴 氣. 南 方 薏 苡 寔 大, 援 欲 以 為 種, 軍 還, 載 之 一 車. 時 人 以 為 南 土 珍 怪, 權 貴 皆 望 之 援 時 方 有 寵, 固 莫, 以 文 及 卒 後 有 上 書 之 者 以 為 前 所 載 還, 能 明 珠 文 犀 因 而 坐 罪, 死 不 歸 墓 妻 子 亦 株 連, 史 稱 薏 苡 之 謗, 後 詔 雪”

(8) Thạch Thanh Hán, Tập Từ Trung Nam phương thảo vật trạng (輯 徐 衷 南 方 草 物 狀). Nxb. Nông Nghiệp, Bắc Kinh, 1990, tr.23.

(9) Theo Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, quyển I và Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam.

(10) Gia Khánh trùng tu nhất thống chí (嘉 慶 重 修 一 統 志), quyển 553, Việt Nam, Nhân vật.

(11) Trương Tú Dân: Đường đại An Nam văn học sử tư liệu tập dật (唐 代 安 南 文 學 史 資 料 輯 佚), Tạp chí Nghiên cứu Đông Dương, số 1 - 1983.

(12) âm nhạc trên đường tơ lụa cổ đại (古 代 絲 綢 之 路 的 音 樂). Vương Diệu Hoa dịch. Nxb. Âm nhạc Nhân Dân, 1988, tr.60.

(13) Âm Pháp Lỗ: Mối giao lưu văn hóa âm nhạc giữa Trung Quốc và các nước phương Đông trong lịch sử (曆 史 上 中 國 和 東 方 各 國 音 樂 文 化 的 交 流), trong Đông phương văn hóa tri thức giảng tọa (東 方 文 化 知 識 講 座), Nxb. Hoàng Sơn, 1988, tr.89.

(14) Phan Thúc Trực tập, Quốc sử di biên, tập II, Quốc triều Đại Nam ký, điều năm Thiệu Trị thứ sáu (國 史 遺 編, 下 集, 國 朝 大 南 記 - 紹 治 六 年 條). Sở Nghiên cứu Tân Á Đại học Trung văn Hồng Kông, tháng 10/1965, tr.380.

(15), (16) Trương Tú Dân: Trung Việt quan hệ sử luận văn tập (中 越 關 系 史 論 文 集). Nxb. Văn Sử Triết, Đài Loan, 1991, tr.121, 57.

(17) Thẩm Quát: Mộng khê bút đàm, nhạc luật (夢 溪 筆 談 - 樂 律).

(18) Vương Côn Ngô: Từ Đôn Hoàng học đến văn học chữ Hán nước ngoài (從 敦 煌 學 到 域 外 漢 文 學). Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, năm 2003, tr.154.

Hấp Diêm Lão Tổ
19-10-2011, 08:28 PM
bác tìm được mấy bản đồ này đúng là bái phục! Rất có tâm huyết!