View Full Version : Tản mạn giang hồ
Nhiệm vụ:
Lo vụ sưu tập truyện ngắn, các phóng sự tin tức xung quanh các tác phẩm (đặc biệt là kiếm hiệp)
Nhân sự:
1. rờ mọt - khách khanh Cái Bang
romas
14-11-2007, 09:01 PM
Những hậu duệ của Kim Dung
Hai năm gần đây, có khá nhiều tiểu thuyết đề tài võ hiệp xuất bản tại Trung Quốc (TQ) mà phần lớn tác giả là những người trẻ và có trình độ văn hóa cao, có cả những người thuộc thế hệ 8X.
Nhà nghiên cứu văn học võ hiệp Hàn Vân Ba, GS Trường đại học sư phạm Tây Nam, cho biết: nhiều người yêu thích văn học võ hiệp ở TQ ban đầu sáng tác một cách tự phát, đăng tải truyện trên mạng, sau đó in thành sách và dần dần được công chúng biết đến.
Cho đến những năm 1990, tiểu thuyết võ hiệp đã trở thành một xu thế mạnh tại TQ. Hai năm trở lại đây, tiểu thuyết võ hiệp rất thịnh hành, có thể kể: Côn Luân của Phụng Ca, Tru Tiên của Tiêu Đỉnh, Kính của Thương Nguyệt, Mandala (Mạn Đà La) của Bộ Phi Yên, Phi Vân Kinh Lan của Vương Tình Xuyên và Loạn Trường An của Hàn Hàn....
Trong số những tác giả này, để lại ấn tượng sâu sắc cho ông là lối viết toàn diện của Phụng Ca, cảm xúc của Thương Nguyệt, trí tưởng tượng của Bộ Phi Yên và tư tưởng triết lý của Phương Bạch Vũ. Đây là những nhà văn có lối viết hoàn toàn khác các bậc tiền bối của văn học võ hiệp, phần lớn có học lực khá cao, chính điều này đã mang lại nhiều kiến thức mới lạ cho tác phẩm của họ. GS Hàn Vân Ba gọi hiện tượng này là “sự nổi trội của tiểu thuyết tân võ hiệp TQ”.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/ImageView.jpg
Kim Dung vẫn là “võ lâm minh chủ”
Thời đại hậu Kim Dung
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/ImageView1.jpg
Hai tác giả trẻ Phụng Ca (trái) và Bộ Phi Yên
Có thể nói thời đại của Kim Dung là huy hoàng nhất của tiểu thuyết võ hiệp. Chỉ cần mười mấy tác phẩm, ông đã tạo ra một thế giới của riêng mình - một thế giới của chốn giang hồ - để độc giả khắp thế giới khám phá.
Trong chốn giang hồ đấy có đao có kiếm, có yêu có hận, có sự hưng vong của nước nhà... Thế giới ấy vốn không tồn tại nhưng lại có thể đánh động lòng người. Đối với những tác giả viết tiểu thuyết võ hiệp hôm nay, thời đại Kim Dung giống như cái bóng đè, bất luận họ có viết hay và nỗ lực thế nào đi nữa cũng không thoát khỏi cái bóng ấy.
Các nhân vật hư cấu của Kim Dung đã không còn là chủ đề của những buổi bàn luận trà dư tửu hậu mà trở thành những nhân vật kinh điển trên văn đàn Hoa ngữ. Năm 1972, khi viết xong Lộc Đỉnh Ký, Kim Dung treo bút. Đỉnh cao của tiểu thuyết võ hiệp cũng dừng lại ở thời khắc đấy, dù sau này xuất hiện những tác phẩm của Cổ Long. Quãng trống “hậu Kim Dung” kéo dài hơn 30 năm, nhưng dòng sáng tác tiểu thuyết võ hiệp không dừng tại đó.
"Mùi võ hiệp" hiện đại
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/ImageView2.jpg
Bìa tiểu thuyết Tru Tiên của Tiêu Đỉnh
Chốn giang hồ được dựng lên trong những tác phẩm võ hiệp trước đây đều không thoát khỏi môtip “trả thù - hành hiệp - hạnh ngộ - kỳ ngộ - tình yêu”. Đây cũng chính là nguyên do khiến tiểu thuyết võ hiệp mất đi khá nhiều độc giả trẻ sau này.
Môtip này được GS Thang Triết Sinh của Trường đại học Tô Châu gọi là “mùi võ hiệp”. Theo ông, có một nghịch lý: “Tuân thủ môtip đấy, câu chuyện khó tránh khỏi cảm giác nhàm chán, nhưng một khi xa rời nó tiểu thuyết võ hiệp lại hoàn toàn mất đi mùi vị vốn có.”
Những nhà văn sáng tác tiểu thuyết võ hiệp sau này đã ý thức được điểm này. Trong tác phẩm của họ, “mùi võ hiệp” đấy được thay thế bằng những yếu tố mang tính hiện đại hơn. Những nhà văn này phần lớn là lớp người sinh sau cuộc “cách mạng văn hóa” của TQ, quan niệm sáng tác của họ thay đổi rất nhiều, cách viết của họ là của thời đại Internet và tác phẩm của họ mang nhiều màu sắc chịu tác động từ phía độc giả.
Theo GS Hàn Vân Ba: “Nếu những vấn đề mà Kim Dung phải đối mặt là áp bức dân tộc và ý thức phản kháng sự giam cầm nhân tính của thời đại hậu thực dân, nòng cốt của những tác phẩm Kim Dung là triết học, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa dân tộc; thì vấn đề mà những tác giả ngày nay đối mặt lại là yếu tố phát triển thế giới và hòa bình trong thời đại toàn cầu hóa, nên tinh thần của các tác phẩm này là chủ nghĩa khoa học, chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa hòa bình.”
Theo GS Khổng Khánh Đông, những nhà văn sáng tác tiểu thuyết võ hiệp ngày nay đang đứng trước cơ hội mà trước đây chưa từng có. Họ không những có không gian sáng tác tự do mà còn có thể tìm được chỗ thích hợp để thể hiện tài năng, điều này là không thể tưởng tượng đối với những nhà văn TQ sáng tác tiểu thuyết võ hiệp vào những năm 1980. Bởi: “Khi đấy sự khác biệt giữa văn học võ hiệp với các thể loại văn học khác rất rõ ràng, mãi cho đến khi ông Nghiêm Gia Viêm công nhận nó là “chính danh”, mới có người cho đấy là một môn học cần nghiên cứu.” Hiện nay, văn học võ hiệp đã được đưa vào giảng dạy ở trường học TQ.
Hiện nay tại TQ, con số các nhà văn viết tiểu thuyết võ hiệp đã vượt qua 1.000 người. Tác phẩm của họ không những được đăng tải trên mạng, trên một số tạp chí văn học võ hiệp chuyên nghiệp, mà còn được xuất bản thành sách.
Chốn giang hồ hiện đại đã phá vỡ hận thù
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/ImageView3.jpg
Bìa tiểu thuyết Côn Luân của Phụng Ca
Trong số những tác phẩm tân võ hiệp TQ, Côn Luân của Phụng Ca được GS Hàn Vân Ba đánh giá là một trong những đỉnh cao. Trong truyện, nhân vật chính Lương Tiêu, sống trong vào giai đoạn cuối Tống đầu Nguyên, là một nhà số học tài ba.
Anh đã vận dụng kiến thức khoa học giúp quân Nguyên công phá thành Tương Dương, nhưng cuối cùng để phản đối sự thảm sát của quân Nguyên nên Lương Tiêu đã bỏ đi Tây Vực, du hành qua các xứ Á, Phi, Âu.
Mặc dù tình tiết câu chuyện vẫn theo môtip huyết thù cá nhân, kỳ ngộ và tình yêu, nhưng Côn Luân lại ẩn chứa quan niệm mang tính hiện sinh. Trong quá trình giúp quân Nguyên tấn công quân Tống, Lương Tiêu nhìn thấy sự thương vong vô nghĩa của dân lành hai nước, khiến anh phát sinh ý tưởng phản chiến.
Từ đó, anh suy ngẫm lại về tác dụng của khoa học. Khi xử lý mâu thuẫn tình cảm, tác phẩm cũng đã thoát khỏi quan điểm đa thê thường thấy trong tiểu thuyết võ hiệp, để cho hai nhân vật nữ chính tự tạo dựng sự nghiệp cho riêng mình. “Tiểu thuyết có thể tiếp thu tố chất của truyền thống, nhưng nhất định phải phù hợp với xu hướng thẩm mỹ của thời đại” - Phụng Ca giải thích như thế.
Trong Tu La đạo của tác giả nữ Bộ Phi Yên, 12 nhân vật chính là 12 sát thủ tề tựu về thị trấn Tu La chém giết lẫn nhau mà mục đích là để dành lấy tự do. Bộ Phi Yên thuộc thế hệ 8X, hiển nhiên điều cô ấy nhấn mạnh hơn cả là cá tính nhân vật: “Nếu điều mà các hiệp khách trước đây phải tranh đấu là sự xâm lược của ngoại tộc và bất công của xã hội, thì các hiệp khách mà tôi dựng nên phải đấu tranh với ranh giới của lòng mình và thích tiêu dao khắp chốn”.
Chẳng ai thay thế được Kim Dung
Nhà nghiên cứu văn học đại chúng Thang Triết Sinh đã so sánh sự khác biệt giữa những tác giả viết tân tiểu thuyết võ hiệp với “sư tổ” Kim Dung. Theo ông, tuy về mặt sắp xếp tình tiết, tân tiểu thuyết võ hiệp có được rất nhiều bước đột phá nhưng về bản lĩnh nắm vững thế thái nhân tình và khắc họa nhân vật lại thua xa Kim tác gia. Điều này liên quan đến sự trải nghiệm và bản lĩnh văn hóa.
Chỉ riêng Phụng Ca đã thể hiện được điều này trong tác phẩm Côn Luân. Là người sinh sau những năm 1970, “môi trường phổ cập kiến thức võ hiệp” sớm nhất của anh là thông qua phim truyền hình, tiếp đấy là làm quen với những tác phẩm võ hiệp để tạo cho mình một nền tảng kiến thức võ hiệp hoàn chỉnh.
Sau khi xem hết những tác phẩm của Kim Dung, anh “cảm thấy không tìm ra được tác phẩm nào khác có thể xem được”. Khi lên mạng tìm đọc, Phụng Ca phát hiện ngoài Kim Dung, Cổ Long, Lương Vũ Sinh..., còn có nhiều tác giả sáng tác tiểu thuyết võ hiệp nhưng tất cả đều không khiến anh cảm thấy hài lòng, thế nên Phụng Ca đã nảy ý định sáng tác. Phải mất năm năm anh mới hoàn thành Côn Luân.
Bước chân vào con đường sáng tác, Phụng Ca mới nhận ra rằng những xáo động vào thời đại mà Kim Dung trải qua, như bất hạnh gia đình, trắc trở hôn nhân và nhọc nhằn sự nghiệp đều đi vào tác phẩm của ông, như một luồng gió mang lại sinh khí cho tác phẩm. Bởi thế, sự trải nghiệm là cơ hội mà thời đại ban cho mỗi người.
Tiểu thuyết tân võ hiệp có nhiều đề tài, phong cách thể hiện lại đa dạng thế, tác phẩm cũng đồ sộ, nhưng bên cạnh sự hưng thịnh ấy ẩn chứa nhiều điều đáng lo âu. Theo GS Hàn Vân Ba: do được sự ủng hộ của người đọc trên mạng, nhiều tác giả sớm đắm chìm trong cảm giác tự hào về chính mình, lao vào con đường thương mại hóa. Và vì thế sẽ khó mà có được những tiểu thuyết đủ khả năng thay thế tác phẩm của Kim Dung, dù chúng được quảng bá rộng rãi thế nào đi nữa trên mạng.
(Nguồn: Tuoitre Online)
LAN NHÃ (Theo wenxue.tom.com)
romas
14-11-2007, 09:09 PM
Không ca bài ca buồn - Cổ Long
Dịch giả: TleKhac (Lê Khắc Tường)
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/colong.jpg
Nhà văn Cổ Long (trái)
LÚC CÒN MƯỜI LĂM HAI MƯƠI TUỔI
Trên đời này có nhiều hạng người, có người thích nghĩ về quá khứ, có người thích hiểu chuyện vị lai, nhưng cũng có người cho là, hồi xưa chưa chắc đã là hay, chuyện tương lai cũng không phải là chuyện suy đoán được, chỉ có "hiện tại", là chân thực, vì vậy nhất định là dễ nắm lấy. Những hạng người ấy không phải là không có chuyện để nhớ lại, chỉ bất quá thông thường không nguyện ý đi nghĩ đến nó thế thôi.
Quá khứ như mây khói, mộng cũ khó tìm lại, cái gì mất rồi cũNg đã mất rồi, làm chuyện gì sai cũng đã làm xong rồi, một người đã học được một bài học từ đó rồi, thì cần gì phải nghĩ lại ? Nghĩ lại cũng có để làm gì ?
Có điều mỗi khi bạn bè thân thiết tụ nhau lại, lúc mấy bình rượu từ từ vơi đi, lúc hào tình thuở thiếu niên bắt đầu từ từ ở dưới bụng đưa lên, bọn họ không khỏi đề cập đến thời xa xưa, những chuyện chỉ cần nghĩ đến sẽ làm người ta muốn phát điên lên trong lòng, mỗi chuyện đều đáng cho bọn họ uống ba ly nghiêng ngửa.
Những chuyện làm người ta thương tâm thất vọng thống khổ, bọn họ nhất định sẽ không nghĩ đến. Vận khí của tôi cũng còn tốt lắm, hiện giờ tôi còn có thể thường thường được gặp mặt rất nhiều bạn bè hồi xưa. Trước cái lúc tôi còn chưa biết uống rượu còn xa lắc nữa, tôi đã quen biết bọn họ.
CÁI ĐÊM Ở ĐẠM THỦY
Uống rượu dĩ nhiên là một chuyện rất thích thú, nhưng uống say dậy lại hoàn toàn là một chuyện khác. Bạn mà say nhừ một trận, sáng hôm sau tỉnh dậy, thông thường không ở bên bờ dương liễu, cũng không có gió sớm, trăng tàn. Bạn mà say nhừ một trận, sáng hôm sau tỉnh dậy, thông thường chỉ cảm thấy cái đầu của bạn lớn hơn gấp năm gấp sáu bình thường, không những vậy còn nhức muốn chết đi được, nhất là lần đầu tiên uống say lại càng chết người. Tôi đã từng trải qua cái kinh nghiệm đó.
Lúc đó tôi đang học trường Đạm Giang, tại Đạm Thủy, mấy người học cùng lớp bỗng đề nghị uống rượu, do đó mọi người đều rủ nhau đi kiếm mấy hủ rượu đem về. Đại khái có năm sáu người, tìm về bảy tám bình rượu, rượu Trung Quốc, rượu ngoại quốc, Hồng Lộ tửu, Ô Mai tửu, rưỢu nếp, rượu tạp nhạp đâu đó để một đống, mua chút đầu vịt, chân gà, đậu phụng, đậu hủ khô, mặt mày hứng khởi lại một gian phòng rách rưới của một người cùng lớp mướn một trăm hai mươi đồng tiền một tháng uống, uống một hồi lại chuyển qua tới bờ đê nơi gần bờ biển Đạm Thủy. Không phải bờ dương liễu, mà là bờ đê. Hôm ấy cũng không có trăng, chỉ có sao ... sao đầy trời.
Mọi người cầm bình rượu, nằm soải ra trên bờ đê lạnh ngắt như đá, nằm dưới ánh sao lấp lánh đầy trời, nằm nghe gió biển thổi sóng đánh vào bờ đê, mi đưa bình rượu cho y, y uống một ngụm, y đưa bình rưỢu cho ta, ta uống một ngụm, lại chuyền qua người khác, mọi người bắt đầu thi đánh rắm, ai đánh không ra phải phạt uống một ngụm lớn.
Muốn tùy thời tùy lúc đánh rắm không phải là chuyện dễ, trong mình ôm được tuyệt kỹ ấy chỉ có một người, y nói đánh là đánh, nhất định không có tý gì là trì nê đái thủy lôi thôi cả. Vì vậy y cứ đánh rắm liên tục, còn bọn tôi thì cứ liều mạng uống rượu. Hôm ấy, mọi người thật uống một trận đả đời, vì vậy mà ngày hôm sau, khó chịu muốn chết luôn. Có điều bây giờ ngồi nghĩ lại, cảm giác khó chịu đã mất tiêu không còn một chút gì, còn cái thứ lạc thú của tình bạn, cái đêm có sóng biển có sao trời đó, hình như đã bị Phi Đao của Tiểu Lý khắc vào trong trái tim, khắc một cái dấu sâu thật sâu.
Chuyện không được như ý có tám chín phần, kiếp người cũng có quá đủ nhiều khổ đau, tại sao còn phải đi tìm thêm sầu não ? Tôi rất hiểu cái lối suy nghĩ và tâm tình của những hạng người đó, bởi vì tôi là ha/ng người đó. Những chuyện tôi đang nói đây, mỗi khi tôi nhớ đến, lại cảm thấy như mình đang ở trong cái đêm lạnh lẽo trừ tám độ đó, mạo bão tuyết về nhà, cởi áo quần ướt nhẹp lạnh băng băng ra, chui vào trong cái mền nóng hổi.
Bạn bè và rượu đều cũ mới ngon.
Tôi cũng hiểu cái câu đó, tôi thích bạn bè, thích uống rượu, bầu bạn với một người bạn thân bao nhiêu năm nay, uống một ly Bạch Lan Địa để tám chục năm trời, cái thứ cảm giác ấy làm sao còn hình dung ra cho nổi ? Chỉ tiếc là trong xả hội hiện đại này, cái cơ hội như thế này càng lúc càng ít đi.
Xả hội càng tiến bộ, giao thông càng phát đạt, chân trời xa nhau như mấy thước, tối nay còn ở trong nhà ông uống mấy ly nói chuyện xa xưa với bạn bè, hôm sau rất có thể đã đi mãi chân trời xa.
ĐÓNG VAI THÁI BẢO VÀ BẠCH SI
Dĩ nhiên tôi không phải là cái vị trong Lưu Tinh, Hồ Điệp, Kiếm, bỗng nhiên từ Kim Đồng đổi tên thành diễn viên Cổ Long. Nhưng tôi cũng đã từng diễn kịch.
Dĩ nhiên tôi không phải là diễn viên điện ảnh, tôi là kịch sĩ, tôi đã đóng được ba lần, đóng những vở kịch trong các đoàn kịch thời còn học sinh đấy, dĩ nhiên cũng chẳng có gì gọi là hay ho. Nhưng ba cái vị đạo diễn cho những vỡ kịch đó, mỗi vị đạo diễn đều thuộc hạng siêu đẵng. Lý Hàng, Đinh Y, Bạch Cảnh Thụy, bạn xem bọn họ có phải là hạng có thớ lắm không ?
Vì vậy tôi rất khoái khoe khoang, ba vị đạo diễn này, vỡ kịch đầu tiên của người nào cũng đều có tôi trong đó.
Trong hoàn cảnh đó, làm sao tôi còn không khoe khoang cho được ? Tôi có không muốn cũng không được mà.
Lần đóng kịch đầu tiên là ở Phù Trung, lúc đó tôi là học sinh ban thứ ba mươi sáu của trường trung học sơ trung bộ phụ thuộc trường sư phạm, Lý Hàng tiên sinh còn là tổ trưởng huấn dục của chúng tôi, tiên sinh còn đang mặn nồng tình ái với vị hiện giờ là phu nhân của tiên sinh, chúng tôi đã biết chắc lúc đó là hai vị sẽ bạc đầu giai lão, trăm năm hạnh phúc đấy thôi.
Lần đó tôi đóng làm Kim Oa, là một gã khờ, đóng xong rồi, mọi người đều cho là tôi quả thật rất giống một gã khờ.
Cho đến bây giờ bọn họ vẫn còn có cảm giác đó.
Chính tôi cũng vậy.
Lần đóng kịch thứ nhì tôi đóng vai cũng không hay ho gì hơn vai đầu tiên bao nhiêu, lần đó tôi đóng vai tiểu thái bảo, một đứa bé được cha mẹ nuông chìu đến hư đốn. Lúc đó tôi đang học trường Thành Công, đến gò Phục Hưng tập, lần đầu tiên do thanh niên cứu quốc đoàn chủ biện huấn luyện. Thầy chỉ huy chúng tôi là Đinh Y tiên sinh. Hiện tại tôi vẫn còn hay gặp Đinh Y tiên sinh. Mặt ông ta có hai thứ tôi vĩnh viễn không thể nào quên được.
... Một cặp kiếng cận dày dặc và một nụ cười ôn hoà.
Tôi cũng quên không nổi gò Phục Hưng.
Hoàng hôn trên gò Phục Hưng.
Gò Phục Hưng đẹp làm sao, hoàng hôn đẹp làm sao.
Gò Phục Hưng dĩ nhiên không phải chỉ vào hoàng hôn mới đẹp. Sáng sớm, buổi tối, buổi trưa, buổi chiều, mỗi ngày mỗi lúc đều đẹp như vậy.
Sáng sớm dậy, ăn hai cái bánh bao những người sợ mập không dám đụng vào xong, bèn bắt đầu chào cờ, thể thao buổi sáng và vào lớp.
Giữa trưa ăn cơm, ăn còn hơn bình thời ở nhà ăn ít nhất là gấp bội.
Chiều lại giải trí, ai ai cũng rất thật lòng, mỗi ngày mỗi giờ đều rất thật lòng thoải mái.
Nhưng cái tôi không bao giờ quên được là hoàng hôn, hoàng hôn trên gò Phục Hưng.
- Đến hoàng hôn, những lời anh nói sao hay quá, nghe như tiếng nhạc.
Có một cô gái hơn tuổi tôi một chút, cặp mắt nho nhỏ, cái mủi nho nhỏ, cái miệng nho nhỏ, đến hoàng hôn, là cứ thích hát cái bài đó.
Cô ta hát, tôi nghe.
Tan học, tắm rửa xong xuôi, thân hình bao nhiêu mồ hôi mồ hám mất sạch, cái nóng của ban ngày cũng vừa tiêu đi, ráng chiều cũng vừa hiện ra thật là tráng lệ, gió chiều mát mẻ cũng vừ từ dãy núi xa xa bên kia thôi lại, gió đem theo mùi thơm của cây cỏ.
Tôi đi với cô ấy trên con đường nhỏ đến gò Phục Hưng, tôi nghe cô ấy ca, tiếng ca nho nhỏ. Cô ca không phải chỉ là bài ca, mà là điều làm người ta không bao giờ quên nổi. Bây giờ nhớ lại, hình như là chuyện đã bảy tám chục thế kỷ về trước, mà lại như là chuyện hôm qua.
Cho đến bây giờ tôi còn không biết lúc đó tình cảm của tôi đối với cô ấy rốt cuộc ra sao, tôi chỉ biết lúc đó tôi rất sung sướng, chúng tôi cùng không có mục đích gì, cũng không có đòi hỏi gì, chúng tôi chẳng làm chuyện gì cả, thậm chí có lúc còn không nói gì cả.
Nhưng giữa chúng tôi, ai cũng biết người kia trong lòng đang rất sung sướng. Diễn kịch được ba ngày, ngày cuối cùng, hạ màn rồi, dưới đài ai ai cũng đã ra về, trên đài người ta cũng bắt đầu đi.
Chúng tôi đến từ các trường học khác nhau, đết từ các địa phương khác nhau, cùng cộng đồng sinh hoạt với nhau trong năm ngày, hiện giờ, kịch đã diễn xong, chúng tôi nằm dài một hàng trên đài, đối diện với những hàng ghế trống phía dưới.
Trong một khoảnh khắc trước đó, nơi đây còn là chỗ nhiệt náo biết bao nhiêu, nhưng bỗng dưng kịch tàn người tan, chúng tôi mỗi người cũng sẽ chia tay nhau mỗi người mỗi ngã.
... Những người bạn nằm trên đài bên cạnh tôi tối hôm đó ơi, trong lòng các bạn đã cảm thấy gì lúc đó ?
Hôm đó ngay cả chúng tôi không chừng cũng không biết trong lòng mình đang có cảm giác gì. Nhưng từ hôm chia tay nhau đó. mỗi người hình như đã trưởng thành đi rất nhiều lắm.
Lần diễn kịch thứ ba là ở trường Thành Công, người tổ trưởng huấn luyện chúng tôi là Triệu Cương tiên sinh, nhưng đạo diễn thì được mời từ trường khác lại, chính là vị "Tề công tử Tiểu Bạch" hiện giờ.
ĐỘC GIẢ LÝ TƯỞNG
Bạch Cảnh Thụy tiên sinh không những chỉ dẫn tôi đóng kịch mà còn chỉ tôi môn hội họa, vẽ trên bình bông và hoa quả, bình bông cuối cùng không biết về đâu, điều duy nhất xác định được là, hoa quả không thể nào bị người ta nuốc chửng vào bụng, bởi vì những thứ đó đều làm bằng sáp, ăn không được.
Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn gọi Bạch tiên sinh là thầy, có thể nói giữa chúng tôi không hề có chuyện gì đáng tiếc xảy ra. Lúc tôi viết bộ tiểu thuyết vũ hiệp đầu tiên, ông ta còn làm ký giả ở tờ báo Tự Lập, ở trọ trong nhà của Lý Kính Hồng tiên sinh, thường thu=ờng bởi vì về trễ nên về không được, lúc đó tôi ở trong phòng trên dãy lầu phía sau nhà ông ta ở, tôi viết bộ tiểu thuyết đầu tiên, vừa xong hai ba vạn chữ, ông ta bỗng đêm hôm khuya khoắt lại chơi, do đó, tự nhiên trở thành người dộc giả đầu tiên của tôi.
Hai năm trước, ông ta bỗng dưng lại đi đọc truyện của tôi, trước sau có tới mười tám năm dài, đối với một người viết tiểu thuyết vũ hiệp mà nói, độc giả như thế này, chỉ cần một người cũng đã đủ để mình cảm thấy quá sung sướng.
TỪ HỘI HỌA ĐẾN NGÀY HÔM NAY
Trước kia chưa viết tiểu thuyết vũ hiệp, tôi cũng như Nghê Khuông và các tác giả khác, đều rất ghiền tiểu thuyết vũ hiệp, không những vậy đều bắt đầu từ những cuốn chuyện tranh nhi đồng ("tiểu nhân" thư). Truyện tranh nhi đồng là chuyện kể bằng tranh liên hoàn, đại khái là tương đương như video recorder bây giờ, một cuốn chừng vài trăm tờ, một bộ chừng hai ba chục cuốn, nội dung bao la vạn tượng, đủ khắp thứ trên cỏi đời, trong đó có vài vị danh gia như Triệu Hùng Bản, Triệu Tam Đảo, Trần Quang Ích, Tiền Tiếu Phật, cho đến bây giờ tôi vẫn còn ấn tượng rất rõ.
Trần Quang Ích thích sẽ chuyện vui cười, bắt đầu từ con gà trong lồng bay ra, bay đi, trứng bể, chó sủa, người nhảy, chén bể, canh đổ, làm bọn con nít chúng tôi xem cười muốn vỡ cả bụng ra.
Tiền Tiếu Phật thì chuyên vẽ về chuyện dạy đời, nói đến nhân quả báo ứng, khuyên người ta làm điều thiện. Triệu Hùng Bản và Triệu Tam Đảo thì vẽ vũ hiệp chính tông, Triển Chiếu và Âu Dương Xuân trong Thất Hiệp Ngũ Nghĩa, Ưng Trảo Vương và Phi Đao Viêm Ngũ do Trịnh Chứng Nhân sáng tác, những chuyện đó đến tay bọn họ, đều biến thành như những người thật. Lúc đó trong cặp của bọn học sinh, nếu không có mấy cuốn tranh nhi đồng, mới là chuyện không thể tưởng tượng được.
Nhưng không biết rồi đến lúc nào đó, những đứa học sinh nhỏ bé đã lớn lên, chuyện nhi đồng không còn đủ sức hấp dẫn bọn chúng tôi, thần tượng của chúng tôi bèn từ Triệu Hùng Bản chuyển qua Trịnh Chứng Nhân, Châu Trinh Mộc, Bạch Vũ, Vương Độ Lư và Hoàn Châu Lâu Chủ, tác giả tiểu thuyết vũ hiệp lúc ấy được mọi người yêu chuộng nhất chính là năm vị đó. Sau đó thì là Kim Dung.
Tiểu thuyết của Kim Dung kết cấu rất tinh vi, văn chương gọn ghẽ điêu luyện, hỗn hợp từ văn pháp của Hồng Lâu Mộng và phương tây, thành ra một hình thức mới mẽ, phong cách tân thời. Nếu trong tay tôi có mười tám bộ tiểu thuyết của Kim Dung, chỉ xem mười bảy bộ rưỡi, tôi nhất định sẽ không ngủ được yên giấc.
Vì vậy tôi cũng bắt đầu viết. Động cơ đầu tiên thúc đẩy tôi viết tiểu thuyết vũ hiệp, không phải là lý do gì đường hoàng oai vệ cho lắm, mà chỉ là muốn kiếm tiền thế thôi.
Lúc ấy tôi mới có mười tám mười chín tuổi, bộ đầu tiên tên là Thương Cùng Thần Kiếm. Đó là bộ chuyện rách nát, nội dung rườm rà lôi thôi, viết thiếu này thiếu kia, bởi lúc ấy tôi không hề xem đó là chuyện đứng đắn.
Nếu ngay cả người viết chuyện còn không xem trọng tác phẩm của mình, thì còn ai coi trọng nó ?
Viết được mười năm, tôi mới từ từ bắt đầu có tý quan niệm nhận thức mới mẻ về tiểu thuyết vũ hiệp, bởi vì đến lúc đó, tôi mới có thể tiếp xúc được cái tinh thần hàm súc trong đó. Cái tinh thần "hữu sở tất vi" (Phải làm là làm) của bậc nam tử hán, cái ý chí phấn đấu không bao giờ chịu khuất phục, cái quyết tâm có bẻ mấy cũng không gãy.
Cái tinh thần chiến đấu "tuy thiên vạn nhân ngô vãng hỷ". (Tuy ngàn vạn người, xông vào tôi cũng xông)
Những cái tinh thần đó làm cho người ta phấn khởi vùng lên, làm cho người ta hứng khỏi quật cường, nhất định không làm người ta nản chí tiêu trầm, không làm cho người thấy xong muốn đâm đầu tự tử.
Do đó tôi cũng bắt đầu từ từ biến đổi, bắt đầu nhìn chính chắn lại hình thức tiểu thuyết tôi viết, hy vọng người khác cũng nhìn nó chính chắn như tôi vậy.
Tiểu thuyết vũ hiệp cũng là một loại tiểu thuyết, nó còn tồn tại được tới bây giờ, dĩ nhiên là có cái giá trị cho nó tồn tại. Mấy năm gần đây, học giả nước ngoài từ từ đã bắt đầu thừa nhận sự tồn tại của nó, từ từ đã bắt đầu có phê bình khách quan và công bằng về lối hành văn, kết cấu, tư tưởng cá tính xung đột của các nhân vật trong truyện.
Hai năm nay, độc giả ở Đài Loan đã từ từ thay đổi lối nhìn vào tiểu thuyết vũ hiệp, đấy dĩ nhiên là kết quả của các tác giả tiểu thuyết vũ hiệp cùng nhau nổ lực mà tạo nên. Nhưng tiểu thuyết vũ hiệp bị người ta phỉ báng, cũng không phải là hoàn toàn không có căn cứ, trong đó có những chuyện quá hoang liêu, quá cũ kỹ, nhân vật quá bị thần thoại hóa, bố cục quá lỏng lẻo, văn chương quá sơ sài, đều là những chỗ chúng ta nên phải sữa đổi.
Muốn cho tiểu thuyết vũ hiệp được cái địa vị xứng đáng của nó, điều cần nhất là mọi người đều phải cùng nhau nổ lực.
Từ Thương Cùng Thần Kiếm tới Ly Biệt Câu, đã qua một quá trình dài dẳng gian khổ. Một cậu con trai mười tám mười chín tuổi, đã trải qua bao nhiêu kinh nghiệm gian khổ, học được bao nhiêu bài học quý giá.
Nhưng hiện tại mỗi lần nghĩ đến, những thứ đó đều có giá trị vô cùng của nó, bất kể bỏ ra bao nhiêu công sức cũng đều rất xứng đáng.
Bởi vì chúng ta ai ai cũng đều trưởng thành qua gian nan khốn khổ.
Một người chỉ cần còn sống đó, đã là một chuyện sung sướng rồi, huống gì còn được tiếp tục không ngừng những giây phút tiếp tục trưởng thành.
Vì vậy chúng ta được một bài học nào, bài học đó sẽ đáng cho chúng ta trân trọng giữ lấy. Bài học nào cũng làm cho người ta phấn khởi tinh thần, tự cường bất tức (*).
Nếu một người kúc nào cũng đều nghĩ như vậy, trong lòng y làm sao còn có thể có những kỹ niệm làm cho mình thương tâm thất vọng thống khổ hối hận cho được ?
---------------
Cổ Long 21/6/1967
--------
(*) Trong kinh Dịch quẻ Càn, tuợng nói rằng: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức, có lẽ là chủ đề bài này của Cổ Long
(nguồn:nhanmonquan.com)
romas
14-11-2007, 09:29 PM
Sơ lược về nhà văn Huỳnh Ngọc Chiến
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/huynhngocchien.jpgHuỳnh Ngọc Chiến (còn có các bút hiệu: Hoàng Ngọc, Hoàng Thập Di) sinh năm 1955, quê Quảng Nam, hiện sống tại TP Hồ Chí Minh. Ông là thạc sĩ công nghệ thông tin và sinh sống bằng các nghề dạy học, viết sách, dịch thuật.
Lai rai chén rượu giang hồ
Tác giả: Huỳnh Ngọc Chiến
....Núi hùng vĩ điệp trùng, cao phong tiếu bích vươn đến trời xanh, nhưng núi đẹp là nhờ mây. Sông mênh mông bát ngát, uốn khúc lượn lờ hay cuồng nộ thét gầm, nhưng sông linh là nhờ có giao long, thủy quái. Rừng bạt ngàn huyền bí nhưng rừng thâm u quyến rũ là nhờ có dị sĩ cao nhân. Khách hảo hán giang hồ phiêu bồng lang bạt mang bản chất hào sảng khoáng đạt một phần là nhờ rượu.
...Nền văn hoá phương Đông không có một vị tửu thần như thần Dionysos trong thần thoại Hi Lạp, nhưng có lẽ chỉ ở phương Đông mới có một tửu đồ cuồng sĩ đời Tây Tấn tên là Lưu Linh ngông đến mức làm bài thơ Tửu đức tụng ca ngợi cái Đức của rượu, được lưu truyền ở đời, gây ảnh hưởng nhất định. Theo Tấn thư thì Lưu Linh, tự Bá Luân, quá ham mê uống rượu. Một hôm, vợ đập vỡ vò rượu, khóc bảo :"Ông uống rượu quá nhiều, đó không phải là cái đạo nhiếp sinh, phải bỏ bớt đi". Lưu Linh nói "Ta không thể tự cấm được, phải cầu quỉ thần lên để khấn nguyện, vậy phải đủ rượu thịt để làm lễ chứ !" Vợ nghe lời làm theo. Lưu Linh bèn qùi xuống khấn rằng :“ Thiên sinh Lưu Linh, Dĩ tửu vi danh, Nhất ẩm nhất hộc, Ngũ đẩu giải tinh, Phu nhơn chi ngôn, Thận bất khả thính (Trời sinh ra Lưu Linh, do uống rượu mà nối danh. Mỗi lần uống một hộc. Uống năm đẩu mới giải tỉnh. Lời của đàn bà nói, Xin cẩn thận đừng nghe ! )
...Văn học Trung quốc qua bao thời đại không thiếu thơ văn ca ngợi rượu. Thậm chí rất nhiều. Thông thường người ta chia ra làm ba cách uông rượu : tục tửu, thường tửu và tiên tửu. Tục tửu là uống đến chỗ phóng đãng bừa bãi, không làm chủ được mình. Thường tửu là uống xong cho sảng khoái, uống chỉ vì thích uống mà thôi. Tiên tửu là uống rượu như một thứ trợ hứng để bàn về thi ca, nghệ thuật nhằm di dưỡng tinh thần. Đến Kim Dung thì chén rượu lại được điểm xuyến thêm một phần ý vị nữa : đó là chén rượu lãng mạn hào hùng giữa chốn giang hồ. Đối với cuộc sống rong ruỗi phiêu bạt của khách võ lâm, có thể trong buổi tiễn đưa hoặc buổi trùng lai thiếu tiếng đàn tiếng hát nhưng chắc chắn trong nỗi buồn li biệt hay trong niềm vui hội ngộ đó luôn luôn có rượu. Chung quanh chén rượu và ngay trong chén rượu có biết bao nhiêu tâm sự của muôn vạn mãnh đời. Khắp võ lâm, từ trà đình tửu quán cho đến chốn núi thẳm rừng sâu, hễ nơi đâu có mặt hảo hán giang hồ là y như nơi đó có rượu. Một điều đáng ghi nhận là trong tác phẩm Kim Dung, hầu như những nhân vật nào đam mê rượu cũng đều có tâm hồn hào sảng, phóng khoáng. Đó là một Tiêu Phong kiêu dũng, một Hồng Thất Công cương trực, một Lệnh Hồ Xung khoáng đạt, một Đan Thanh hào phóng v..v ... Bang chủ Hồng Thất Công do tính ham rượu và nhậu nhẹt nên bị Hoàng Dung dùng mẹo lừa để ông phải truyền tuyệt kĩ “Hàng long thập bát chưởng” cho Quách Tĩnh. Đoàn Dự khi lang bạt giang hồ tìm Vương Ngọc Yến, thấy Tiêu Phong ngồi uống rượu trên Tùng hạc lâu mà sinh cảm mến, cùng nhau uống rượu rồi kết làm huynh đệ. Đó là cách uống rượu hào sảng của khách anh hùng. Đoàn Dự dùng Thiếu trạch kiếm để tiết hết rượu ra khỏi người theo đầu ngón tay út mới có thể đối ẩm với “đại tửu ... lâm cao thủ “ là Tiêu Phong. Đó là cách uống rượu đầy tiểu xảo mà Đoàn Dự vô tình phát hiện. Và chỉ trong tác phẩm Kim Dung mới có được “pha” uống rượu thú vị thế kia.
...Nếu chén rượu đầy mưu trí của Lệnh Hồ Xung trên Trích Tiên tửu lâu khi lừa Điền Bá Quang để cứu Nghi Lâm làm người đọc vừa buồn cười vừa thán phục thì chén rượu thương đau của gã trên đỉnh Hoa Sơn lạnh buốt lại đắm chìm trong nỗi nhớ thương cô tiểu sư muội Nhạc Linh San, làm cho người đọc ngậm ngùi. Một tên dâm tặc vô hạnh như Điền Bá Quang lại biết lẻn vào hầm rượu của Trích Tiên tửu lâu đập vỡ hết gần hai trăm vò rượu quí hiếm trên thế gian, chỉ giữ lại hai vò để mang lên đỉnh Hoa Sơn cùng đối ẩm với Lệnh Hồ Xung, đã làm cho người đọc phát sinh hảo cảm, dù gã đã bị cả hai phe hắc bạch khinh bỉ là hạng “vô ác bất tác đích dâm tặc” ( tên dâm tặc không có điều ác nào mà không làm ). Thử hỏi trong đời có mấy ai được uống một chén rượu chí tình đáng cảm động thế kia ? Một chi tiết nhỏ đó thôi chắc cũng đủ khiến cho tửu đồ khắp thiên hạ cùng nhau nâng chén rượu tha thứ phần nào tội lỗi cho Điền Bá Quang ! Đâu phải chỉ trong tiếng đàn, tiếng tiêu cao nhã mới có thể tạo nên mối đồng cảm tri âm như Khúc Dương trưởng lão và Lưu Chính Phong, mà một chén rượu đục trong chốn giang hồ vẫn đủ sức để tạo nên mối tình tri ngộ giữa một người mang tiếng bại hoại và một môn đồ phe chính giáo. Cái chân tâm trong chỗ giao tình vẫn luôn luôn nằm bên kia âm thanh cũng như luôn luôn nằm đằng sau chén rượu ! Rượu hay âm nhạc lúc đó chỉ là phương tiện để con người tìm gặp nhau ở một điểm nào đó trong chổ ý hợp tâm đầu. Khi Lệnh Hồ Xung tung chén rượu lên trời thành muôn ngàn giọt để cùng chia xẻ với quần hùng hắc đạo trên đỉnh Ngũ Bá cương, Kim Dung đã cực tả tính hào sảng của một gã tửu đồ giữa niềm thống khoái chân tình với hào kiệt giang hồ. Hình ảnh kiêu hùng của Hướng Vấn Thiên khi bị trói đôi tay mà vẫn trầm tĩnh ngồi uống rượu trong lương đình giữa vòng vây của hai phe hắc bạch, đã khiến Lệnh Hồ Xung trổi dậy hào khí, liều lĩnh chen vào ngồi đối ẩm để cùng xẻ chia hoạn nạn. Người đọc không ngạc nhiên vì sao sau này, khi Giáo chủ Nhật nguyệt thần giáo Nhậm Ngã Hành thống lĩnh giáo chúng vây Hoa Sơn để tiêu diệt Ngũ nhạc kiếm phái, đẩy Lệnh Hồ Xung vào thế đối địch, thì Hướng Vấn Thiên là người đầu tiên bạo dạn cùng uống với Lệnh Hồ Xung một chén rượu cuối cùng ngay tại đương trường trước khi chuẩn bị cho một trận huyết chiến sắp tới, dù biết rõ Nhậm Ngã Hành đang ngấm ngầm phẫn nộ. Rồi lần lượt các tay hào kiệt khác trong Nhật nguyệt thần giáo cũng can đảm bước ra cạn chén với Lệnh Hồ Xung dù trong thâm tâm họ cũng hiểu rằng điều đó sẽ gây thịnh nộ cho Giáo chủ và cái giá phải trả đằng sau chén rượu kia có khi là cái chết. Biết bao nhiêu hào khí hùng tâm chứa chan trong một chén rượu nồng !. Lệnh Hồ Xung kết giao hào kiệt giang hồ chủ yếu bằng rượu. Gặp bất kì người nào sành rượu và thích uống rượu là giao tình nẩy nở. Đối với Lệnh Hồ Xung dường như không có chính hay tà mà chỉ có rượu ngon hay dỡ và nhất người nâng chén rượu cùng uống có đáng mặt hảo hán để giao kết hay không mà thôi. Lúc đó thì ân oán thị phi đều có thể hoà tan trong chén rượu chân tình.
...Nếu chén rượu của Lệnh Hồ Xung đầy tính lãng mạn thì chén rượu của Tiêu Phong lại rất mực hào hùng. Khi uống rượu vào những giây phút quyết định tư sinh thì chén rượu của Lệnh Hồ Xung vẫn mang chất khoái hoạt phiêu bồng còn chén rượu của Tiêu Phong lại tràn đầy hào khí ! Tại Tụ Hiền trang, trước khi cùng quần hùng quyết đấu, Tiêu Phong vẫn cùng họ uống rượu để tuyệt tình. Chén rượu ném đi, giao tình đứt đoạn và cuộc chơi sinh tử bắt đầu. Nhưng đến chén rượu trên chùa Thiếu Lâm mới thật chan chứa hùng tâm.
Khi tình cờ bị vây hã m trên đỉnh Thiếu Thất bởi vô số những cao thủ cự phách, Tiêu Phong trong cảnh lâm vào tuyêỷt địa vẫn hiên ngang uống rượu. Khi đánh lùi một lúc cả ba đại cao thủ Du Thản Chi, Đinh Xuân Thu, Mộ Dung Phục, khiến Tiêu Phong hào khí ngất trời, ông hô vệ sĩ mang mấy túi rượu uống cạn một lúc gần hai mươi cân, rồi ngõ lời cùng Đoàn Dự : ”Huynh đệ, ta và người hôm nay đồng sinh tử, thật không uổng phí một phen kết nghĩa, sống cũng tốt mà chết cũng tốt, chúng ta cùng nhau uống một trận cho thật thống khoái ! “. (Huynh đệ, nễ ngã sinh tư vi cộng, bất uổng liễu kết nghĩa nhất trường, tư dã bãi, hoạt dã bãi, đại gia thống thống khoái khoái đích hát tha nhất trường !)
Hào khí bức người của Tiêu Phong khiến nhà sư Hư Trúc cảm kích quên hết giới luật thanh qui, cùng nhau cạn chén. Cảnh tượng một tay đại hào kiệt là Tiêu Phong cùng anh chàng đồ gàn Đoàn Dự và nhà sư Hư Trúc làm lễ giao bái và uống rượu ngay trong vòng gươm đao trùng điệp để chuẩn bị mở một trường đại sát thật láng lai hào khí của võ lâm, khiến cho người đọc cảm thấy hùng tâm hứng khởi như đọc Sư kí Tư Mã Thiên đến đoạn Thái tử Đan tiễn Kinh Kha qua sông Dịch. Đó không phải chén rượu liều lĩnh của bọn dũng phu cùng đường, mà là chén rượu của những tay hào tuấn xem cái chết như là “một cõi đi về “ khi đã cảm nhận trọn vẹn được tấm chân tình của nghĩa đệ huynh ! Sống ở nhân gian mà có được một người tri kỉ thì có chết đi cũng không đến nỗi uổng phí bình sinh ! Uống rượu hào hùng đến trình hạn ấy mới là chỗ mà thơ Lý Hạ gọi là Chân thị Kinh Kha nhất phiến tâm (đó mới thực là tấm lòng của Kinh Kha).
Nhưng uống rượu như Tiêu Phong hay Lệnh Hồ Xung cũng chỉ là cách uống rượu hào hùng thống khoái của hảo hán giang hồ, mà cách uống rượu của Đan Thanh tiên sinh - đệ tứ trang chủ Cô sơn Mai trang - hay Tổ Thiên Thu mới đúng là hạng tửu đồ thượng thừa sành điệu. Người đọc ắt hẵn phải thâm tạ Kim Dung đã tặng cho đời những trang tuyêt bút về rượu. Uống nào phải dùng chén ấy. Chén ngọc hay chén lưu li làm rượu nổi thêm màu sắc [1], chén sừng tê làm rượu thêm hương vị. Uống rượu bồ đào phải dùng chén dạ quang [2], vì khi rót vào chén dạ quang thì rượu bồ đào sẽ có màu đỏ như máu, khiến cho quân sĩ ngoài biên tái uống vào thêm hùng khí chiến đấu. Uống rượu Thiệu hưng trạng nguyên hồng phải dùng chén cổ đời Bắc tống. Uống rượu Lê Hoa phải dùng chén Phỉ Thúy. Các quán rượu tại Hàng Châu thường treo cờ xanh trước tiệm rượu để ánh sáng chiếu màu xanh vào chén rượu Lê hoa như màu phỉ thuý [3 ]v.v... Thử hỏi mấy ai đọc Đường thi mà có thể cảm nhận ra chỗ tận diệu trong lời thơ thế kia, nếu như không có những “nhà tửu học ” như Tổ Thiên Thu ? Tổ Thiên Thu phân tích về rượu làm ta nhớ lại lão ăn mày trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân bình phẩm về trà. Họ đều là những nghệ sĩ tài hoa trong làng trà làng rượu. Với Đan Thanh và Tổ Thiên Thu thì uống rượu đã trở thành một loại nghệ thuật. Uống rượu đến mức đó là gần như nâng rượu lên thành Tửu đạo.
Đáng tiếc thay, ở phương Đông, cái tạm gọi là Tửu đạo đó lại không được lịch sử phát triển thành một trào lưu như Trà đạo. Có lẽ vì nó giống như con dao hai lưỡi. Kẻ non nớt dùng nó ắt sẽ bị đứt tay. Tiên tửu chưa chắc đã thấy đâu mà tục tửu có thể đã ngập tràn trong thiên hạ ! Chén rượu ngày nay đã mang quá nhiều tục sắc. Tửu vị cho dẫu đã được nâng lên thêm mấy bậc nhưng tửu đạo lại bị hạ xuống thấp mấy tầng ! Giá như Tổ Thiên Thu và Đan Thanh sống lại ắt hẵn sẽ mời tất cả các tửu đồ thượng thừa trong thiên hạ đời nay tụ tập lại để giảng cho nghe về tửu đạo và cùng nhau lai rai một chén rượu giang hồ !
-----------------------------
[1] Lưu li chung, hổ phách nùng ( chén đựng rượu bằng ngọc lưu li làm màu hổ phách của rượu thêm đậm đà - Thơ Lý Hạ ) hay Ngọc uyển thịnh lai hổ phách quang (chén ngọc làm sáng
thêm màu hổ phách của rượu - Thơ Lí Bạch )
[2] Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi ( Rượu Bồ đào rót chén dạ quang, Toan uống Tỳ bà dục lên đàng - Thơ Vương Hàn)
[3] Hồng tụ chức lăng khoa thị diêp, thanh kì cô tửu sấn Lê hoa ( Tay áo lụa hồng khoe lá thị, cờ xanh quán rượu ánh Lê hoa - Thơ Bạch Cư Dị)
(Tài liệu nhiều nguồn)
romas
14-11-2007, 09:50 PM
LỆNH HỒ XUNG : CHÂN DUNG GÃ TỬU ĐỒ LÃNG TỬ
Tác giả: Huỳnh Ngọc Chiến
... Dường như có một qui luật trong sáng tạo của các thiên tài là : các tác phẩm thường đi từ bi đến lạc hoặc đi từ lạc đến bi. Nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare, sau các hài kịch Much ado about nothing, The merchant of Vernice v.v... lại sáng tạo tiếp các bi kịch như King Lear, Othello, Macbeth v.v.... Còn Kim Dung thì ngược lại, sau các tác phẩm làm tan nát lòng người như Thiên long bát bộ, thì Tiếu ngạo giang hồ là tác phẩm tương đối ít bi thương. Khung trời máu lửa của võ lâm dường như đã bắt đầu tửơi sáng hơn khi mà các thành kiến chính tà và thị phi ân oán cũng như tham vọng thống nhất giang hồ đều tiêu dung, hoá giải trong khúc cầm tiêu hợp tấu Tiếu ngạo giang hồ của Nhậm Doanh Doanh và gã tửu đồ lã ng tử Lệnh Hồ Xung.
....Trước khi Lệnh Hồ Xung xuất hiện trong tác phẩm Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung đã chuẩn bị một bối cảnh khá chu đáo, dù chỉ toàn bằng lời kể. Chính sự có mặt trong vắng mặt càng làm tăng thêm vẽ hấp dẫn cho nhân vật cực kì đáng yêu này. Thoạt tiên ngưòi ta chỉ biết đến gã như tên “ bợm nhậu” khi lừa một ông lão ăn mày để uống hết vò rượu ngon bằng nội công thâm hậu của mình. Kế đó, gã lại hiện ra như là kẻ mất nết ưa gây hấn khi giao du với tên dâm tặc Điền Bá Quang và giết đệ tử phái Thanh Thành. Bao nhiêu ác cảm, ngộ nhận đều trút lên đầu gã. Chỉ từ lúc cô tiểu ni xinh đẹp Nghi Lâm xuất hiện thì mọi chuyện mới thay đổi, và qua lời kể của cô, chân dung tên tửu đồ bẻm mép, giảo hoạt đómới bắt đầu hiện rõ nét như là một người trượng nghĩa, thông minh và cực kì liều lĩnh.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/TNGH.jpg
Lệnh Hồ Xung do diễn viên Lý A Bằng thủ vai
....Đến khi gương mặt nhợt nhạt của gã, với đôi môi mỏng dính và đôi mày hình lưỡi kiếm hiện trên giường của một kỉ viện thành Hành sơn thì độc giả đã hình thành thêm được tính cách của gã : ngang tàng, đởm lược, ứng biến cực kì mau lẹ. Có gì lí thú hơn khi chưởng môn phái Thanh Thành là Dư Thương Hải bị gã, dù toàn thân bất lực do bị trọng thương, dùng mẹo khiêu khích, lừa không cho mở tấm mền giấu Khúc Phi Yến và Nghi Lâm đang run sợ bên cạnh gã. Một dạng biến tửớng thông minh của mưu kế kiểu “ Không thành” mà Khổng Minh dùng lừa Tử Mã ý, làm người đọc vô cùng khoan khoái !
Có lẽ tất cả các chi tiết trên chỉ là sự chuẩn bị của Kim Dung về tính cánh của Lệnh Hồ Xung để lí giải việc lí dó vì sao gã có cơ duyên được Phong Thanh Dương truyền cho môn kiếm pháp vô địch thiên hạ : Độc Cô cưu kiếm, môn học không chỉ đòi hỏi trí thông minh mà còn cần phải có một tâm hồn khoáng đạt, không câu nệ, cố chấp, và ứng biến linh hoạt. Người đọc làm sao quên được đoạn gã bị phạt trên đỉnh núi Hoa sơn và buộc phải đấu kiếm nhiều phen với Điền Bá Quang để khỏi bị họ Điền “mời” xuống núi. Cùng uống với họ Điền hai vò rượu quí hiếm duy nhất thế gian là để tạ tình tri kỉ, dù họ Điền là tên dâm tặc, đó là cái tình. Uống xong, tuốt kiếm đánh nhau, không chấp nhận xuống núi vì tuân theo sư mệnh, đó là cái lí. Khi gã dùng một mẹo vặt khá tồi bại, không xứng đáng với đệ tử danh môn chính phái, để gạt được Điền Bá Quang nhằm tranh thủ thêm thời gian học môn Độc Cô cưu kiếm, gã biện bạch với Phong Thanh Dương là : đối với bọn đê hèn vô liêm sỉ thì phải dùng thủ đoạn đê hèn vô liêm sỉ, người đọc hồi hộp biết ngần nào khi nghe vị tôn sư võ học kia nghiêm nghị hỏi lại : “Thế đối phó với bậc chính nhân quân tử thì sao ?”. Câu hỏi như một loại công án thách thức sự ứng biến chân thành. Gã đã thành thực lẫn bạo gan trả lời đúng với tính cách của mình, không một lớp sơn phù phiếm hoa hoè giả tạo của môn qui : “Cho dù bọn họ có là bậc chính nhân quân tử đi nữa, mà nếu như họ muốn giết đệ tử, thì đệ tử quyết không cam tâm để bị giết, cùng lắm đến lúc chẳng đặng đừng đó, thì thủ đoạn hèn hạ vô liêm sỉ cũng phải dùng tạm chớ biết làm sao !” ( Tựu toán tha chân thị chính nhân quân tử, thảng nhược tưởng yếu sát ngã, ngã dã bất năng cam tâm tựu lục, đáo liễu bất đắc dĩ đích thời hậu, ti bỉ vô sỉ đích thủ đoạn, dã chỉ hảo dụng thượng giá ma nhất điểm bán điểm liễu ). Người đọc lo ngại thay cho gã, sợ câu nói liều lĩnh làm phật ý vị Thái sư thúc tổ của môn phái. Ngờ đâu ta còn khoan khoái hơn khi nghe Phong Thanh Dương tươi cười rạng rỡ, nói : “ Hay lắm, hay lắm ! Câu nói của nhà ngươi đúng là khác với bọn ngụy quân tử giả mạo bịp đời. Bậc đại trượng phu hành sự thích việc gì ra việc nấy, linh hoạt như nước chảy mây bay, tuỳ ý thích mà làm. còn tất cả những thứ qui củ võ lâm, giáo điều môn phái gì gì đó đều chỉ là cái rắm chó thúi đáng vất đi mà thôi ! “ (Hảo, hảo! Nễ thuyết giá thoại, tiện bất thị giả mạo vi thiện đích ngụy quân tử. Đại trượng phu hành sự, ái chẩm dạng tiện chẩm dạng, hành vân lưu thủy, nhậm ý sở chí, thậm chẩm võ lâm qui củ, môn phái giáo điêu, toàn đô thị phóng tha ma đích cẩu xú tí !).
....Trong toàn bộ tác phẩm Kim Dung, tôi cho rằng không có đoạn nào làm người đọc cảm thấy thống khoái hơn đoạn đối thoại trên đây, khi nghe câu nói vô cùng khoái ý chân tình của một bậc cao nhân tiền bối của võ lâm, một vị đại tôn sư võ học, mà lại là của phe được xem là chính giáo ! ấy vậy mà người đọc vẫn kính mộ PhongThanh Dương như một con thần long phiêu hốt, ngẫu nhiên ghé về trần gian trao một tặng vật cho người hữu duyên rồi biến mất. Để rồi về sau, hình ảnh ông chỉ xuất hiện như một huyền thoại, qua hồi tưởng của hai vị đại tôn sư võ học khác là giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo[1] Nhậm Ngã Hành và phương trượng chùa Thiêú lâm Phương Chứng đại sư. Kim Thánh Thán khi phê bình Tây sương kí của Vương Thực Phủ, nhân đọc đoạn biện bạch của nhân vật nữ tì tên Hồng, ông quá thích thú bèn liên tửởng đến ba mươi ba điều thống khoái trên đời [2]; tôi cho rằng đoạn đối thoại lí thú này, giữa Phong Thanh Dương và Lệnh Hồ Xung, đáng được đưa thêm vào thành điều thống khoái thứ ba mươi bốn của họ Kim !
Đoạn đối thoại rất trung thực, phản ánh được những đặc điểm rất con người, không hoa hoè, cường điệu. Điểm quyến rũ của tác phẩm Kim Dung vẫn thường nằm ở các chi tiết rất nhỏ đó. Sẽ chán biết ngần nào khi mà các nhân vật ai ai cũng sống, cũng ăn nói, cũng hành động theo một khuôn khổ ước lệ như nhau, nhất là lúc “ lỡ “ được tiếng là thuộc danh môn chính phái ! Luôn phải cố tạo một cái gì đó khác người thường, khác với đám phàm phu tục tử, phải sống theo cái khuôn vàng thước ngọc của ngàn xưa, mà không bao giờ dám sống thực là mình !. Đó là điểm mà Trang tử chế nhạo là “ Chỉ thích cái thích của ngưòi mà không tự thích cái thích của mình“ [3]. Cái thực tại người vẫn luôn luôn tồn tại trong những điều bình dị và hết sức đời thường. Ta cũng hiểu lí do vì sao trong truyện Kiều, nhân vật đáng cảm thông nhất và gần gũi với con người nhất vẫn là Thúc Sinh. Không như Kim Trọng và Từ Hải, chỉ là những nhân vật mang tính ước lệ, quá lí tưởng đến mức hầu như không thực. Nhân vật Lệnh Hồ Xung hấp dẫn người đọc trước hết ở chổ sống rất thực và rất con người.
....Suốt cuộc đời hành sự của Lệnh Hồ Xung, từ lúc lừa Điền Bá Quang để cứu Nghi Lâm, bị hàm oan là giết sư đệ, lấy cắp kiếm phổ, tình cờ gặp Doanh Doanh, qua hình ảnh Bà Bà, ngoài ngõ trúc thành Lạc dương, được quần hào hắc đạo nghinh đón trên sông, bỡn cợt với giáo chủ Ngũ độc giáo Lam Phựơng Hoàng, uống rượu tại Ngũ bá cương, cho đến khi sống chung với Doanh Doanh bên suối vắng, rồi rời chùa Thiếu lâm, giúp Hướng Vấn Thiên đánh quần hùng hai phe hắc bạch, vô tình cứu Nhậm Ngã Hành, học Hấp tinh đại pháp, ám trợ phái Hằng sơn lột mặt nạ bọn Tung sơn, kéo quần hùng đại náo Thiếu lâm tự, từ chối gia nhập Nhật nguyệt thần giáo v.v... những việc làm của gã dù đúng hay sai đi nữa thì Lệnh Hồ Xung vẫn hiện chân dung là gã lã ng tư đa tình sống bạt mạng, sống say mê, sống rất chân thành và chân tình với cái Tâm hoàn toàn trong sáng. Các bậc chân nhân xưa nay đều quí trọng chữ thành [4] ! Chính vì lẽ đó mà sau này, dù mang tiếng bao tai tiếng hư đốn, bị trục xuất khỏi phái Hoa sơn thì Lệnh Hồ Xung vẫn lọt vào mắt xanh của hai bậc Thái sơn Bắc đẩu trong võ lâm là Phương Chứng đại sư và Xung Hư đạo trưởng. Và càng oái ăm hơn khi Định Nhàn sư thái trước lúc lâm chung lại chọn mặt gởi vàng, uỷ thác cho gã làm chưởng môn phái Hằng sơn toàn là các ni cô !.
....Chính nhờ bản tính hồn nhiên khoáng đạt, giỏi ứng biến mà môn Độc cô cửu kiếm trong tay Lệnh Hồ Xung còn đạt đến những thành tựu cao hơn cả vị Thái sư thúc tổ Phong Thanh Dương. Ngay cả Nhậm Ngã Hành khi ngồi trong đại lao dưới đáy Tây hồ, cũng
không tin nỗi điều đó khi nghe thuật lại việc một đại cao thủ là Nhị trang chúa Hắc Bạch tử bị gã đánh cho liểng xiểng, đến chiêu thứ bốn mươi cũng không phản kích nỗi !. Cái bản tính hồn nhiên khoáng đạt đó, một biểu hiện khác của trạng thái vô tâm, là yếu quyết để lĩnh hội kiếm ý trong Độc cô cửu kiếm, có thể có được không nếu gã không phải là một tưu đồ, đệ tử của Lưu Linh ? Vị sư mẫu gã cũng nhận định về gã : bừa bãi thành tánh, hời hợt rượu chè (hồ náo nhậm tánh, khinh phù háo tưu). Nhưng cũng chính vị sư mẫu đó lại cực kì thương yêu gã như con ruột vì bà hiểu tấm lòng của gã rất chân thành, cái tâm của gã rất trong sáng.
....Không phải ngẫu nhiên mà trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung để cho nhân vật Nhạc Bất Quần - với ngoại hiệu Quân tử kiếm - làm sư phụ Lệnh Hồ Xung. Kim Dung cố tình muốn làm nổi bật nét tương phản của chữ ngụy và chữ thành giữa hai thầy trò. Một bên che đậy tà tâm thâm độc dưới lớp vỏ cực kì khuôn thước qui củ, một bên cứ hồn nhiên theo ý thích mà hành sự, xét thấy không thẹn với lòng là được. Cuối cùng, khi cái mặt nạ giả dối của vị sư phụ mà gã hằng tôn kính đã rơi xuống để hiện nguyên hình là tên ngụy quân tử vô cùng gian xảo, thì hai thầy trò bị đẩy vào thế phải giao đấu với nhau bằng hai môn kiếm pháp tối cao. Rốt cuộc Độc cô cửu kiếm vẫn chiến thắng Tịch tà kiếm pháp, cũng như chữ Ngụy vẫn luôn luôn phải bị đánh bại bởi chữ Thành !.
....Trong Tiếu ngạo giang hồ, nói đến Lệnh Hồ Xung mà không nói đến nhóm Đào cốc lục tiên sẽ là điều thiếu sót lớn. Nhưng đó sẽ là nội dung của một bài viết khác. Đặt sáu nhân vật hồn nhiên ngây ngô bên cạnh Lệnh Hồ Xung, Kim Dung càng làm tăng thêm vẽ khoái hoạt, bỡn đời của gã. Một tay tưu đồ thuộc nòi lãng tử đa tình như Lệnh Hồ Xung thì có thiết tha gì với cái chức Giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo hay cái tham vọng thống trị giang hồ ? Có lẽ các thứ đó đối với gã cũng không lí thú bằng uống một vò rượu ngon, rồi cùng người yêu rong chơi bốn biển và thả hồn theo khúc Tiếu ngạo giang hồ trong tiếng hợp tấu của cầm tiêu !
--------------------------------------------------
[1] Theo nguyên bản Tiếu ngạo giang hồ mà tôi được đọc qua (gồm 4 tập 28-31 trong bộ Kim Dung toàn tập) thì Ma giáo còn gọi là Nhật Nguyệt thần giáo, không hiểu sao ông Hàn Giang Nhạn, một dịch giả Kim Dung cực kì tài hoa, lại dịch là Triêu Dương thần giáo
[2] Tây Sương Kí, bản dich Nhựơng Tống, chương Khảo hoa, nxb Tân việt, tr. 312-318
[3] Nam hoa kinh, Ngoại thiên. chương Biền mẫu
[4] Thành giả, vật chi chung thuỷ, bất thành vô vật (Thành thực là gốc ngọn của mọi sự. Không chân thành thì không thể có gì thành tựu được cả (Trung dung, chương XXV).
(Nguồn:vănhocdatviet.com)
romas
14-11-2007, 10:23 PM
Đối thoại với Kim Dung và Nhị Nguyệt Hà
Đây là buổi trò chuyện đầu tiên diễn ra trên đài truyền hình Thâm Quyến giữa Kim Dung - một tiểu thuyết gia võ hiệp chiếm nhiều độc giả nhất và Nhị Nguyệt Hà - người đã viết lại câu chuyện lịch sử của 130 năm vương triều nhà Thanh. TTO xin giới thiệu lại cuộc đối thoại thú vị này:
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/KD01.jpg
Kim Dung trong ngày nhận bằng TS danh dự tại ĐH Cambridge
* Khán giả: Thưa ông Nhị Nguyệt Hà, trong những bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, ông thích tác phẩm và nhân vật nào nhất?
- Nhị Nguyệt Hà: Tất cả tác phẩm của Kim Dung tôi đều thích nhưng thích nhất là “Thần điêu hiệp lữ”, còn nhân vật mà tôi yêu thích nhất ư? Chính là Hoàng Dược Sư.
* Khán giả: Thưa ông Kim Dung, xin hỏi ông thích nhất tác phẩm nào của Nhị Nguyệt Hà?
- Kim Dung: Trong ba bộ tiểu thuyết nhà Thanh, tôi thích nhất là Hoàng đế Ung Chính.
* Khán giả: Kim Dung từng nói tác phẩm ông ấy thích nhất là Lộc Đỉnh Ký nhưng trong lần phỏng vấn vào năm ngoái, ông Nhị Nguyệt Hà có nói Lộc Đỉnh Ký là tác phẩm ông không thích mấy, có phải như thế không thưa ông?
- Nhị Nguyệt Hà: Tôi cảm thấy Vi Tiểu Bảo là một tên chuyên giở thủ đoạn. Nhân vật quan trọng như Ung Chính sao có thể để Vi Tiểu Bảo làm rối tinh lên thế. Nhưng tôi không thích Lộc Đỉnh Ký không phải vì truyện này không hay, cũng giống như tôi không thích tác phẩm Chiến tranh và hòa bình vậy.
- Kim Dung: Thực ra tôi chưa bao giờ nói tôi thích Lộc Đỉnh Ký, Lộc Đỉnh Ký là tác phẩm khắc họa cái bất hảo trong xã hội Trung Quốc.
* Khán giả: Hai vị thấy tác phẩm nào của mình được chuyển thể thành phim xem là thành công nhất?
- Kim Dung: Tôi thích xem bộ phim truyền hình Vương triều Ung Chính được chuyển thể từ tác phẩm của Nhị Nguyệt Hà.
- Nhị Nguyệt Hà: Trong những bộ phim được chuyển thể từ những tác phẩm của Kim Dung, tôi xem Thiên Long Bát Bộ là nhiều nhất.
- Kim Dung: Là tác giả nên những gì của tôi mà bị người ta sửa đổi, tôi đều không thích, Thiên Long Bát Bộ xem ra ít bị thay đổi.
* Khán giả: Tác phẩm đã ra đời nhiều năm rồi sao ông vẫn muốn chỉnh sửa lại?
- Kim Dung: Tôi thấy một số tác phẩm vẫn còn sai sót nên muốn chỉnh sửa một chút. Tôi đã làm không rõ ràng mối quan hệ của rất nhiều nhân vật trong Thiên Long Bát Bộ. Hiện nay Thiên Long Bát Bộ bản mới được chỉnh sửa rất nhiều, những mối quan hệ đấy đã được làm rõ. Thật ra Lộc Đỉnh Ký là tác phẩm tôi muốn chỉnh sửa nhiều nhưng độc giả gởi thư tới phản đối quá nên bộ truyện này xem ra chỉ bổ sung chút ít cho những thiếu sót mà thôi.
* Khán giả: Đã qua 20 năm, giờ ông có nghĩ đến chuyện sẽ chỉnh sửa tác phẩm của chính mình không, thưa ông Nhị Nguyệt Hà?
- Nhị Nguyệt Hà: Những tác phẩm đã như bánh nướng đã ra lò, bạn đã bóp vụn nó rồi thì làm sao nướng lại được nữa.
* Khán giả: Tác phẩm của hai ông đều chọn bối cảnh nhà Thanh, tại sao hai vị có cảm hứng với lịch sử triều Thanh đến thế?
- Kim Dung: Các triều đại càng cách xa càng khó viết, người của thời Hán Đường như thế nào tôi cũng không rõ. Tập quán và sinh hoạt của người Thanh cách chúng ta khá gần nên dễ viết.
- Nhị Nguyệt Hà: Triều đại nhà Thanh cách chúng ta khá gần, những tư liệu còn lưu lại rất nhiều. Chỉ cần bỏ công nghiên cứu là có thể thâm nhập và đặt bút sáng tác. Với lại thời kỳ của ba vị hoàng đế Khang Hy, Ung Chính, Càn Long có nền văn hóa phong phú, phản ánh tư tưởng nhân văn khá nhiều, rất dễ lôi cuốn người đọc.
* Khán giả: Kim Dung tiên sinh đang theo học học vị tiến sĩ tại đại học Cambridge ở Anh, xin hỏi người thầy hướng dẫn của ông đã có nhận xét thế nào về ông?
- Kim Dung: Ông ấy nói tôi “Trình độ tiếng Trung của tôi cao hơn những người Anh bình thường còn tiếng Anh thì phải học thêm nữa”. (Mọi người bật cười khi nghe câu trả lời dí dỏm của Kim Dung).
* Khán giả: Tại sao ông lại từ chức viện trưởng học viện nhân văn của Đại học Triết Giang?
- Kim Dung: Tôi cảm thấy mình không đủ trình độ học vấn nên mới sang Đại học Cambridge học lấy bằng tiến sĩ. Họ có thể cho tôi một học vị tiến sĩ trên danh nghĩa nhưng tôi thấy tốt nhất nên có được một học vị chân chính. Trước tiên tôi học một năm lấy bằng thạc sĩ, sau đó sẽ học tiếp ba năm nữa để có được học vị tiến sĩ.
* Khán giả: Tại sao ông lại chọn đại học Cambridge để học lịch sử Trung Hoa mà không phải là một trường ở Trung Quốc?
- Kim Dung: Cách học của Trung Quốc và Anh quốc khác nhau, học giả Trung Quốc viết văn theo nhiều hướng, viết dẫn dắt theo lối đề cương, cách học người Anh hoàn toàn khác, đưa ra một vấn đề, nhất định phải có chứng cứ, có chứng cứ mới đưa ra phán đoán.
* Khán giả: Tác phẩm của hai vị đều nhấn mạnh tinh thần nghĩa hiệp, tinh thần nghĩa hiệp ấy được định nghĩa như thế nào?
- Kim Dung: Giúp người là một việc làm tốt, hại người lợi mình hay hại người không lợi mình đều là chuyện xấu, người có tinh thần nghĩa hiệp biết hi sinh giúp đỡ người khác và biết tương trợ cho nhau.
- Nhị Nguyệt Hà: Qua những tác phẩm của Kim Dung tôi lĩnh ngộ được câu “Hiệp chi đại giả, vi quốc vi dân” (Người có tinh thần nghĩa hiệp là người vì nước vì dân).
* Khán giả: Có người cho rằng, tinh thần nghĩa hiệp ngày một thu nhỏ lại theo sự đa nguyên hóa của xã hội bây giờ, hai vị nghĩ sao?
- Kim Dung: Chính vì thế mới càng nên đề xướng tinh thần nghĩa hiệp, ngay từ những chuyện nhỏ nhặt nhất như nhặt rác vào thùng rác và hướng dẫn cách sống biết giúp đỡ người khác, không nên hại người. Hãy bắt đầu tinh thần nghĩa hiệp từ đấy.
LAN NHÃ (Theo Xinhuanet)
(nguồn: Tuoitre Online)
romas
14-11-2007, 10:26 PM
Kim Dung nhận bằng tiến sĩ danh dự của ĐH Cambridge
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/Kd02.jpg
Nhà văn Kim Dung
Ở tuổi 81, Kim Dung hiện đang có mặt tại Anh với vai trò của một sinh viên theo học để lấy bằng Cử nhân và Tiến sĩ tại ĐH Camgridge. Ông hy vọng việc học của mình sẽ hoàn tất trong vòng 4 năm. Kim Dung còn cho biết thêm rằng ông sẽ nghiên cứu sâu hơn về khảo cổ học và lịch sử thế giới để chuẩn bị cho một quyển tiểu thuyết mới về lịch sử Trung Quốc.
Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh ngày 6-2-1924 tại Hàng Châu, Trung Quốc. So với các nhà văn võ hiệp khác, sự nghiệp của Kim Dung chỉ có vỏn vẹn 15 bộ tiểu thuyết và truyện ngắn được sáng tác từ năm 1955 đến năm 1972 nhưng ông được xem là nhà văn “anh cả” trong thể loại tiểu thuyết võ hiệp. Các tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng như Anh, Nhật, Hàn, Pháp, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam… và nhiều lần được đưa lên màn ảnh.
Kim Dung cũng từng được trao tặng danh hiệu cao quý Danh nhân văn hoá Trung Quốc để ghi nhận đóng góp nổi bật của ông cho nền văn học Trung Quốc.
THẾ MINH (Theo CRIEnglish)
(Nguồn:TuoiTre Online)
romas
14-11-2007, 10:29 PM
Kim Dung phản đối việc dựng tượng mình ở đảo Đào Hoa
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/images248901_KimDung.jpg
Nhà văn Kim Dung
Thư ký của nhà văn Kim Dung cho biết ông đã rất bất an khi nhận được lời đề nghị dựng tượng ông tại đảo Đào Hoa. Trả lời chính phủ nhân dân thị trấn Đào Hoa cùng ban quản lý du lịch ở đây, Kim Dung đã tỏ ý "khó mà đồng ý" nhưng giới truyền thông lại không ngừng đưa tin về việc dựng tượng ông.
Trong lá thư gởi ngày 11-4, tiểu thuyết gia Kim Dung bày tỏ lòng biết ơn đối với chính phủ và nhân dân đảo Đào Hoa đã yêu thích và quan tâm đến những bộ tiểu thuyết của ông, nhưng ông không tán đồng việc dựng tượng mình, vì theo ông, việc ấy chẳng khác nào tự mình tuyên truyền và tâng bốc mình. Ông hy vọng chính phủ và ban quản lý du lịch ở đây dành số tiền ấy để đầu tư thêm vào việc bảo vệ môi trường kiến thiết cảnh quan nhằm đưa đảo Đào Hoa trở thành địa danh du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.
Thư ký của ông còn cho biết thêm Kim Dung tiên sinh đang chuẩn bị mọi thủ tục để sang trường đại học Cambirdge ở Anh nghiên cứu vể lịch sử học. Người giúp Kim Dung trong đợt nghiên cứu này là giáo sư nổi tiếng David McMullen.
Tiểu thuyết gia võ hiệp nổi tiếng này cho biết trước đây vì chiến tranh mà ông không thể học chuyên sâu, tự thấy học vấn mình không đủ, ông muốn trong thời gian hai năm nữa, ông sẽ chuyên tâm hoàn thành khóa học để đạt được học vị tiến sĩ về lịch sử học tại Đại học Cambirdge.
LAN NHÃ (Theo wenxue.tom.com)
(nguồn: Tuoitre Online)
romas
14-11-2007, 10:36 PM
Kim Dung: "Người đại hiệp nên vì người khác"
Cuộc trả lời phỏng vấn mới nhất của nhà văn Kim Dung với phóng viên nhật báo Hạ Môn và báo Tuyền Châu, Trung Quốc
* Chúng tôi đã xem qua 36 quyển Kim Dung tác phẩm tập (Tác phẩm Kim Dung), được biết toàn bộ các tác phẩm đều được chỉnh sửa lại nhưng dường như phần lớn đều là các ấn bản cũ. Xin hỏi ông hiện tại công việc chỉnh sửa đang tiến triển ra sao?
- KIM DUNG: Hiện tại tôi đang chỉnh sửa bộ Thiên long bát bộ, đã qua bốn lần chỉnh sửa, đây là lần thứ năm và cũng là lần cuối cùng. Tôi đã bắt đầu công việc chỉnh sửa bộ truyện này từ năm ngoái, giờ cũng sắp kết thúc rồi. Ỷ Thiên đồ long ký đã được chỉnh sửa hoàn tất nhưng Tiếu ngạo giang hồ và Lộc đỉnh ký thì chưa.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/TLBB.jpg
Phim Thiên long bát bộ
* Trong số những tác phẩm của ông, tác phẩm nào khiến ông nghĩ phải chỉnh sửa nhiều nhất?
- Xem ra Thiên long bát bộ là được chỉnh sửa nhiều nhất, nhưng sau này có một người bạn đưa ra rất nhiều lý do cho rằng nguyên tác hay hơn, tôi cũng thấy thế nên xóa đi những chỗ tôi đã chỉnh sửa trước đây.
* Từ những truyện truyền kỳ từ đời nhà Đường cho đến nay người ta cho rằng chỉ đến thời kỳ ông thể loại võ hiệp mới đạt đến đỉnh cao. Nếu nói như thế, trong lĩnh vực sáng tác tiểu thuyết võ hiệp ông có hay không cảm giác “Độc cô cầu bại”?
Ồ không, thời đại về sau càng phát triển, tương lai sẽ có những bộ tiểu thuyết võ hiệp hay hơn, mới hơn về hình thức cũng như nội dung.
* Trước đây ông cho rằng tiểu thuyết võ hiệp hiện đại đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Vậy như thế nó có khả năng đột phá không? Nếu có thì nên đột phá từ phương diện nào?
- Khi có người đột phá, nó sẽ đột phá, còn khi không có người nào tiên phong đột phá thì cũng vậy thôi.
* Ông có nghĩ đến việc thành lập một hội gây quĩ nhằm khích lệ công việc sáng tác tiểu thuyết võ hiệp?
- Không, không, điều này tuyệt đối không. Bạn có tiền nên đem cho người nghèo hay xây trường học chứ lập những quĩ như thế thì không có nghĩa gì cả.
* Ông có từng nghĩ đến việc 100, 200 thậm chí 500 năm sau nữa những tác phẩm của ông có còn được truyền thế và độc giả có đón nhận những nhân vật của ông nữa hay không?
- Điều này quả là khó, hiện tại khoa học phát triển quá nhanh và đã không dùng thư pháp để viết chữ nữa, bây giờ vi tính có thể thay thế cách viết chữ truyền thống. 500 năm sau có còn người sử dụng Trung văn nữa hay không còn không biết được vì thế vấn đề hiện tại rất khó trả lời. Tôi thì rất thích đọc sách và cũng hi vọng có nhiều thanh niên thích đọc sách.
Thanh niên bây giờ thích trò chơi điện tử, show games hơn là đọc sách, vì thế tôi thấy có hơi bi quan cho thị hiếu của thanh thiếu niên tương lai. Hi vọng phong trào đọc sách ngày càng tốt hơn, nhưng tương lai người ta có còn thích đọc tiểu thuyết nữa hay không cũng không thể biết.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/AHXD.jpg
Phim Anh hùng xạ điêu
* Nói đến võ hiệp ông đã từng cho rằng “người vì dân vì nước là người đại hiệp”. Hiện tại trong tâm ông có người nào ông thấy xứng đáng với bốn chữ “Hiệp chi đại giả” ấy?
- Đặng Tiểu Bình là một trong những người đại hiệp, ông chủ trương cải cách mở cửa khiến cuộc sống của nhân dân sung túc hơn. Ông đã có những cống hiến rất lớn cho xã hội, quốc gia và nhân dân, ông là một hiệp khách lớn của mọi người dân.
* Dưới ngòi bút của ông có nhiều nhân vật lớn tuổi khá lý thú như Lão Ngoan Đồng, Hồng Thất Công, có phải ông đã ký thác lý tưởng của mình vào họ?
- Tôi hi vọng bản thân mình cũng có thể làm một Lão Ngoan Đồng, một Hồng Thất Công, nhưng đáng tiếc là võ công không được như họ. Lão Ngoan Đồng rất ham chơi, không ưu phiền lo nghĩ nhưng ông không phải là một hiệp khách lý tưởng. Người đại hiệp nên vì người khác.
Trong tiểu thuyết của tôi, tôi nhiều lần ký thác hi vọng như vầy: Thanh niên không nên quá lo nghĩ về việc kiếm tiền như thế nào, thành công ra sao, mà nên làm những việc vì sự tiến bộ chung của xã hội.
* Nghe nói trong đợt chỉnh sửa lần này, ông có thêm một ít lời giáo huấn cho nhân vật Vi Tiểu Bảo?
- Đây là một chuyện khiến tôi đau đầu. Vì nhân vật Vi Tiểu Bảo được viết khá thành công, là một nhân vật điển hình được nhiều độc giả thanh niên ưa thích. Nhân vật này không phải là người tốt, bản thân anh ta cũng có những ưu điểm, nhưng tôi thường đi ra ngoài và nghe những bạn trẻ nói với nhau học theo Vi Tiểu Bảo là được rồi. Vi Tiểu Bảo không đáng để học tập, mọi người đều như Vi Tiểu Bảo thì dân tộc Trung Hoa không có tiền đồ. Vì thế tôi muốn sửa đổi nhân vật này một chút để anh ta không quá tốt đẹp nhưng cũng có nhiều độc giả kháng cự việc làm này.
LAN NHÃ (Theo News.tom.com)
(nguồn: Tuoitre Online)
romas
14-11-2007, 10:40 PM
Nhân vật nữ yêu thích nhất của Kim Dung?
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/kd05.jpg
Ở tuổi 80, Kim Dung trông vẫn nhanh nhẹn, quắc thước với sắc mặt của một "lão Ngoan đồng"
TTO - Tại buổi gặp gỡ các nhân vật nổi tiếng của Tứ Xuyên hôm qua, 22-9, nhà văn nổi tiếng Kim Dung cho biết Hoàng Dung là cô gái đẹp nhất trong số những mỹ nữ trong tiểu thuyết của ông nhưng nhân vật nữ mà ông thích nhất lại là Quách Tường - người sáng lập ra phái Nga Mi.
Ông nói: "Tôi cảm thấy tiểu thuyết của tôi chỉ manh tính giải trí bình thường, dễ xem, thực ra không có giá trị văn học, chẳng qua mọi người thích xem truyện và ủng hộ tôi...Chủ yếu tôi muốn truyền bá những tinh hoa của dân tộc Trung Hoa, vì thế Hàn, Nhật và các nước Đông Nam Á đều bình phẩm truyện của tôi hay nhưng các nước Tây phuơng thì lại khác".
Ông cũng cho biết văn học cổ đại ông thích nhất là Tô Đông Pha, còn hiện đại là Ba Kim.
Mong đợi của nhà văn Kim Dung là đi đến những nơi mình đã từng hạ bút và những ngày qua, ông đã bắt đầu 10 ngày du hành của mình tại Tứ Xuyên - một trong những địa danh ông đã viết đến.
Ở tuổi 80, "Kim đại hiệp" vẫn luôn nhận được sự tôn trọng và lòng ngưỡng mộ của mọi người. Đi đến đâu, ông cũng bị bao vây bởi những người hâm mộ và những ký giả từ khắp nơi đổ xô về.
LAN NHÃ (Theo China.com)
(nguồn: Tuoitre Online)
romas
14-11-2007, 10:44 PM
Kim Dung được trao huân chương văn học của Pháp
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/kd04.jpg
Nhà văn Kim Dung
Tiểu thuyết gia võ hiệp Kim Dung và 11 nhân vật tài giỏi thuộc những lĩnh vực khác nhau của Hong Kong đã được bộ trưởng bộ văn hóa Pháp Renaud Donnedieu de Vabres trao tặng huân chương văn học và nghệ thuật[/B].
"Huân chương hiệp sĩ cấp cao thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật" được sáng lập vào năm 1957 để tôn vinh và ghi nhận sự cống hiến hết mình của các nghệ sĩ, nhà văn và các nhân vật xuất chúng khác trong việc thúc đẩy sự phát triển văn học và nghệ thuật của Pháp ở Hong Kong và trên khắp thế giới.
LAN NHÃ (Theo news.tom.com)
(nguồn: TuoiTre Online)
romas
14-11-2007, 10:55 PM
Tiểu thuyết gia Lương Vũ Sinh không ngừng sáng tác
TTO - Trong vòng 32 năm, tiểu thuyết gia nổi tiếng Lương Vũ Sinh đã sáng tác 35 bộ tiểu thuyết. Giờ đây tuổi 80, ông vẫn đang ra sức sáng tác và sắp cho xuất bản hai tập tản văn: Bút hoa lục chiếu và Minh liên quan chỉ.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/LVS1.jpg
Tiểu thuyết gia Lương Vũ Sinh
Vừa qua, gần 1000 độc giả yêu thích tiểu thuyết võ hiệp đã đến giao lưu gặp gỡ tiểu thuyết gia Lương Vũ Sinh tại trung tâm sách Quảng Châu. Sau 20 năm di cư sang Úc, đây là lần đều tiên ông đến Quảng Châu - nơi ông đã từng học ngành kinh tế tại đại học Lĩnh Nam. Dù ở tuổi 80 nhưng ông vẫn nói chuyện rất lưu loát, tỏ ra thân thiện và ôn hòa.
Trong giới sáng tác tiểu thuyết võ hiệp thuộc phái mới, Kim Dung và Lương Vũ Sinh là hai tiểu thuyết gia được mọi người biết đến nhiều nhất. Trên thực tế, Lương Vũ Sinh lại là nhà văn tiên phong trong phong trào viết tiểu thuyết võ hiệp.
Khi tiểu thuyết gia Kim Dung khẳng định tên tuổi mình với bộ Thần điêu anh hùng truyện thì Lương Vũ Sinh cũng đem đến cho độc giả một màu sắc mới cho tiểu thuyết võ hiệp qua bô Bình tung hiệp ảnh.
Khoảng thời gian nhà văn Kim Dung ngừng sáng tác, ông đã độc chiếm lĩnh vực này và không ngừng cho ra đời những tác phẩm mới tiêu biểu cho văn học tiểu thuyết võ hiệp phái mới của Trung Quốc hiện đại.
LAN NHÃ (Theo news.dayoo.com)
(Nguồn: TuoiTre Online)
romas
14-11-2007, 11:09 PM
Thương Nguyệt - "gương mặt nữ" nổi bật của tiểu thuyết võ hiệp
TTO - Tân tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc trong thế kỷ 21 đã có sự chuyển biến đặc biệt với sự xuất hiện các cây bút nữ. Sự hưởng ứng của đông đảo độc giả đã chứng tỏ tác phẩm của họ không thua kém gì nam giới. Thương Nguyệt là một trong số những nhà văn nữ tiên biểu ấy.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/ThuongNguyet.jpg
Thương Nguyệt
Cô gái tài mạo song toàn này còn được xem là nhân vật hăng hái đi đầu trong phong trào sáng tác truyện võ hiệp của phái nữ.
Những tác phẩm của cô được truyền bá rộng rãi trên mạng đồng thời cũng nhận được nhiều lời phê bình khen ngợi và sự yêu thích của đông đảo độc giả. Những tác phẩm tiêu biểu của cô gồmThính tuyết lâu, Kính, Thấu kính lồi, Mặc Hương ngoại truyện, v.v…
Tác giả truyện võ hiệp nổi tiếng Tiểu Đoạn nhận xét: Người ta thường nói phái nữ viết truyện võ hiệp chẳng ra tính võ hiệp, song tôi đã cảm nhận được chất "võ hiệp" trong tác phẩm của Thương Nguyệt. Các đồng nghiệp cũng cho rằng Thương Nguyệt là một tay viết đẹp - đẹp trong văn tự, đẹp trong cốt truyện và đẹp trong tình cảm…Văn phong của cô có lúc thật mạnh mẽ, có lúc lại nhẹ nhàng uyển chuyển, từng câu chữ có khả năng lôi cuốn sự tập trung của bạn đọc.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/MacHuong.jpg
Bìa sách tác phẩm Mặc Hương
Mới đây, một tập đoàn kinh doanh của Trung Quốc đã cùng hợp tác với Thương Nguyệt để cho ra đời một trò chơi trên mạng cùng tên với tác phẩm Mặc Hương của cô. Đây hứa hẹn là một trò chơi lớn trong lịch sự game võ hiệp.
LAN NHÃ (Theo wenxue.tom.com)
(nguồn: TuoiTre Online)
romas
14-12-2007, 12:04 AM
Vì sao phim võ hiệp Kim Dung được ưa chuộng hơn Cổ Long?
Thiên Trang
So sánh tác phẩm của Cổ Long và Kim Dung là một việc làm khó và có phần khập khiễng, vì mỗi người có phong cách sáng tác riêng, tiêu biểu cho từng thời kỳ khác nhau của tiểu thuyết võ hiệp. Nhưng nếu chỉ nói về sức ảnh hưởng của tiểu thuyết võ hiệp đối với xã hội, thì Kim Dung chiếm ưu thế hơn; ngược lại, xét về mặt nghệ thuật văn học thì tác phẩm Cổ Long lại được hậu thế đánh giá cao hơn.
Vào thập liên 70, tiểu thuyết võ hiệp của tác giả Cổ Long liện tục được công ty Shaw Brother (Thiệu Thị) dựng thành phim điện ảnh, danh tiếng của nhà văn Cổ Long cũng nổi đính đám khắp châu Á từ dạo đó. Nhưng từ thập niên 80 trở về sau, đài truyền hìnhTVB (công ty con của Shaw) chuyển sang khai thác và chuyển thể tiểu thuyết Kim Dung lên màn ảnh nhỏ. Cuối thập niên 90, nhà chế tác Trung Quốc – Trương Kỷ Trung cũng bắt tay vào việc chuyển thể tác phẩm của Kim Dung. Hiện nay, tên tuổi Kim Dung ăn khách hơn Cổ Long rất nhiều. Nhìn chung, Cổ Long và Kim Dung đều ngang tài ngang sức, nhưng vì sao phim truyền hình làm theo tiểu thuyết của Kim Dung lại được ưa chuộng hơn Cổ Long?
Tác phẩm của Cổ Long rất khó làm phim.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/LucTieuPhung.jpg
Trương Kỷ Trung là nhà chế tác đi đầu trong việc chuyển thể tiểu thuyết võ hiệp lên màn ảnh nhỏ Trung Quốc. Trong bốn năm qua, Trương Kỷ Trung chỉ nghiên cứu duy nhất tác phẩm của nhà văn Kim Dung, không để tâm bất kỳ trang tiểu thuyết nào của Cổ Long. Trương Kỷ Trung cho rằng, trước mắt thuyết nào của Cổ Long chưa được chuyển thể nhiều, là vì các nhà làm phim rất khó thể hiện được “cái thần” trong tác phẩm của ông: “Các nhân vật dưới ngòi bút của Cổ Long đều rất mâu thuẫn, phức tạp, luôn giằng xé và đấu tranh nội tâm. Trong tác phẩm của mình, Cổ Long mượn các thủ pháp của văn học hiện đại phương Tây, tạo nên sự phản kháng đối với triết học cố hữu của Trung Quốc như: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/LoanDaoPhucHan.jpg
Phim Loan Đao Phục Hận (Cổ Long)
Có thể nói, thông qua sự sáng tạo về văn phong và tiếp thu những tư tưởng mới, Cổ Long đã phá vỡ những công thức gò bó truyền thống của tiểu thuyết võ hiệp, mở ra một “kỷ nguyên mới” cho thế giới tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình. Truyện của Cổ Long giúp độc giả giải mã được cuộc sống con người, nhân tình thế thái, đó là giá trị nhân văn hiện đại, và cũng là thành tựu lớn nhất của ông trong những năm cầm bút sáng tác. Tuy nhiên, tác phẩm của Cổ Long khi được chuyển thành phim lại thường không diễn đạt được đặc điểm này”.
Hạn chế về mặt kết cấu
Đạo diễn Hồng Kông – Vương Tinh sau khi quay xong phim Tiểu Ngư Nhi và Hoa Vô Khuyết đã nêu nhận xét, điểm khó nhất trong việc chuyển thể tác phẩm của Cổ Long chính là không có một kết cấu nội dung chỉnh thể: “Tác phẩm của Kim Dung được viết theo từng chương, hồi rất thích hợp chuyển thể thành phim truyền hình, do đó không cần tốn quá nhiều thời gian cho việc biên kịch, phân cảnh. Hơn nữa, nội dung câu chuyện, lời thoại trong tác phẩm Kim Dung tương đối lưu loát, truyền cảm. Trong khi kết cấu câu chuyện trong tác phẩm Cổ Long có thể nói là tình tiết thì cao trào, cuốn hút, nhưng tổng thể lại rời rạc, nhân vật vờn qua vờn lại chỉ có vài ba tên tuổi giữ vai trò nòng cốt, trong khi phim ảnh phải khai thác nhân vật và câu chuyện. Rất nhiều phim dựng từ tác phẩm Cổ Long sở dĩ tạo cho người xem cảm giác khó hiểu cũng vì mỗi tập phim đều thiếu đại ý”.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/cacphimvohiep.jpg
Các phim kiếm hiệp được TVB chuyển thể từ tác phẩm của Kim Dung
Tiểu thuyết Cổ Long chỉ có thể cảm nhận, rất khó diễn đạt bằng lời.
Cúc Giác Lượng - đạo diễn nổi tiếng của điện ảnh Hồng Kông, từng tham gia thực hiện nhiều phim dựng từ tác phẩm Cổ Long và Kim Dung đã phát biểu: “Đọc tiểu thuyết võ hiệp của Cổ Long, bạn phải trải tâm hồn ra mà cảm nhận, chứ không thể diễn đạt bằng lời. Đây không phải nhận xét của cá nhân tôi, mà là ý kiến của rất nhiều người, bởi vì đọc tiểu thuyết của Cổ Long luôn hấp dẫn hơn là xem phim được chuyển thể. Cách thể hiện trừu tượng, bay bổng trong lời văn, ngôn từ của Cổ Long không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ truyền hình. Song, dù tiểu thuyết của Cổ Long và Kim Dung khó chuyển thể thế nào, người ta cũng sẽ có cách dàn dựng thành phim, vì tác phẩm của hai ông hiện nay đang có giá trị thương mại”.
Xem phim chuyển thể từ tiểu thuyết của Cổ Long, khán giả thất vọng
Một số khán giả cho rằng, tiểu thuyết của Cổ Long có tất nhiều chi tiết gay cấn, hấp dẫn, nhưng khi chuyển đổi thành phim lại thiếu logic, khiến mọi người thất vọng. Ngược lại, trong những bộ phim được dựng từ tác phẩm của Kim Dung, họ thường bắt gặp “bóng dáng” của mình qua nhân vật. Điều này có thể do nhà văn Cổ Long khắc hoạ nhân vật, tình tiết câu chuyện mang đậm tính truyền kỳ, mà người đọc chỉ có thể cảm thụ và ngưỡng mộ, chứ không tìm được sự gần gũi. Tiểu thuyết của Kim Dung cũng có nhiều nhân vật huyền thoại, nhưng rất cụ thể và “đời thường”.
Hầu như tác phẩm nào của Kim Dung cũng mô tả giai đoạn trưởng thành của nhân vật anh hùng, khiến cho người ta khi đọc có cảm giác như mình đang lớn lên cùng nhân vật. Điều này có thể lý giải vì sao phần lớn các bạn trẻ thích đọc và xem phim võ hiệp của Kim Dung, bởi thông qua tiểu thuyết và phim, người ta nuôi ước mơ mình cũng có thể viết nên một trang sử hào hùng, đó là điểm mà nhà văn Kim Dung vượt trội hơn Cổ Long.
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/thukiemancuuluc.jpg
Một số cảnh trong phim Thư Kiếm Ân Cừu Lục được chuyển thể từ tác phẩm của Kim Dung
Tác phẩm của Cổ Long thích hợp chuyển thể thành phim điện ảnh, tác phẩm của Kim Dung thích hợp dựng thành phim truyền hình.
Nhiều nhà chuyên môn nhận định, Cổ Long nổi tiếng nhờ phong trào chuyển thể tiểu thuyết võ hiệp thành phim điện ảnh, còn Kim Dung thì vang danh nhờ phim truyền hình. Điều này xuất phát từ việc họ có phong cách sáng tác, thể hiện khác nhau…
Tác phẩm của Cổ Long chủ yếu nhấn mạnh đến tư tưởng hiện đại, tình tiết câu chuyện diễn biến nhanh, tạo được sự gay cấn, cuốn hút, hồi hộp cho người đọc, do đó rất thích hợp chuyển thể lên màn ảnh rộng. Song song với quá trình sáng tác, Cổ Long còn tham gia công việc biên kịch, làm đạo diễn phim Tiêu Thập Nhất Lang rất được yêu thích. Tiêu Thập Nhất Lang được viết kịch bản trước, sau này mới chỉnh sửa thành tiểu thuyết.
Còn tác phẩm của Kim Dung lại nhấn mạnh đến bối cảnh lịch sử, văn hoá, nhân vật mang tính kế thừa, truyền từ đời này sang đời khác. Phim điện ảnh thời lượng ngắn, khó có thể diễn đạt hết những nét đặc sắc trong tiểu thuyết của Kim Dung, do đó tác phẩm của ông chỉ thích hợp để dựng phim truyền hình nhiều tập.
________________________________________
Tác phẩm KIM DUNG trên màn ảnh
So với các “đồng đạo”, tác phẩm của Kim Dung không nhiều, ông chỉ sáng tác 14 bộ trường thiên tiểu thuyết (nhiều tập) và một truyện ngắn “Việt nữ kiếm”, nhưng hầu hết đều ăn khách và được đưa lên màn ảnh nhỏ ít nhất một lần. Đó là theo thống kê của giới báo chí Hong Kong, tính từ thời điểm năm 1975 – giai đoạn hưng thịnh nhất của võ hiệp Kim Dung đến nay. Dưới đây là các tác phẩm của Kim Dung được Đài TH TVB HK tái dựng, chưa kể những phóng tác do Đài Loan sản xuất, cũng như phim điện ảnh:
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/xadieuanhhungtruyen.jpg
Thư kiếm ân cừu lục (7 lần)
Anh hùng xạ điêu (3 lần)
Thần điêu đại hiệp (6 lần)
Ỷ thiên đồ long ký (5 lần)
Tiếu ngạo giang hồ (5 lần)
Lộc đỉnh ký (4 lần)
Bích huyết kiếm (3 lần)
Tuyết sơn phi hồ (3 lần)
Thiên long bát bộ (3 lần)
Liên thành quyết (2 lần)
Hiệp khách hành (2 lần)
(Truyện ngắn “Việt nữ kiếm”, đã từng được đài TH ATV HK chuyển lên màn ảnh 1 lần vào những năm 80).
______________________________________
Tác phẩm CỔ LONG trên màn ảnh
http://i41.photobucket.com/albums/e258/minhaktr/Kiem%20Hiep/soluuhuongoi4.jpg
Sau khi khai thác triệt để các tác phẩm Kim Dung, giới làm phim truyền hình Đài Loan, Hong Kong bắt đầu nhắm đến tiểu thuyết võ hiệp của Cổ Long, chuyển thể thành công nhất là tác phẩm Sở Lưu Hương (do Trịnh Thiếu Thu và Triệu Nhã Chi đóng), bộ phim này đã dấy lên làn sóng làm phim từ tiểu thuyết Cổ Long. Sau Sở Lưu Hương là nhiều bộ phim ăn khách không kém, như Tiểu Lý Phi Đao, Hổ Phách Thanh Long (nguyên tác Bạch Ngọc Lão Hổ) do Ngũ Vệ Quốc, Khương Đại Vệ, Trần Tú Văn đóng; Lục Tiểu Phụng (do Vạn Tử Lương và Trần Tú Châu đóng), Tuyệt Đại Song Kiều (do Lương Triều Vỹ và Ngô Đại Dụng đóng), Thiên Nhai Minh Nguyệt Đao, Biên Thành Lãng Tử (Ngô Đại Dụng đóng)… Dưới đây là những tác phẩm Cổ Long đã được giới chế tác Đài Loan, Hong Kong chuyển thể nhiều nhất:
Đại kỳ anh hùng truyện (1 lần)
Võ lâm ngoại sử (2 lần)
Tuyệt đại song kiều (6 lần)
Sở Lưu Hương (11 lần)
Tiểu Lý phi đao (8 lần)
Tiêu Thập Nhất Lang (3 lần)
Vó ngựa Tây phong (1 lần)
Kiếm tiếu giang hồ (1 lần)
Đại nhân vật (1 lần)
Cửu nguyệt ưng phi (1 lần)
Thiên nhai minh nguyệt đao (2 lần)
Bảo kiếm của Tam Thiếu Gia (2 lần)
Lục Tiểu Phụng (4 lần)
Biên thành lãng tử (3 lần)
Hổ phách thanh long (1 lần)
Đại địa phi ưng (1 lần)
Viên nguyệt loan đao (1 lần)
Tiếng đao trong chuông gió (1 lần)
Đả tự romas
zeuspnt
20-12-2007, 03:31 AM
Tiểu thuyết của nhà văn Kim Dung (Trung Quốc) là tiểu thuyết võ hiệp, đáng lẽ chẳng liên hệ gì đến chó mèo cả. Ấy vậy mà trong tác phẩm của mình, ông lại dành cho con chó khá nhiều tình cảm mới là điều lạ.
Tác phẩm Hiệp khách hành nói về cuộc đời của cậu bé Cẩu Tạp Chủng. Cẩu tạp chủng có nghĩa là chó lộn giống. Nguyên là cậu cũng có cha mẹ đàng hoàng tử tế nhưng một người phụ nữ ghen với mẹ cậu, đã bắt cậu về nuôi từ khi mới 3 tháng tuổi. Bà đặt tên cho cậu là Cẩu Tạp Chủng để khi nhớ tới mẹ cậu, bà kêu tên cậu... chửi cho đỡ buồn.
Mãi đến khi lớn lên, cậu bé mới hiểu mình tên là Thạch Phá Thiên, con của Thạch Thanh và Mẫn Nhu ở Giang Nam. Tuy cái tên rất xấu, nhưng Cẩu Tạp Chủng đã thể hiện phong cách của một người anh hùng đúng nghĩa, khác xa với người anh ruột của cậu, vốn có tên Thạch Trung Ngọc cực đẹp nhưng hành vi lại rất xấu xa.
Cùng đi theo Cẩu Tạp Chủng là một con chó lông vàng thông minh, trung thành tên là A Hoàng. Hiệp khách hành là một tác phẩm vinh danh loài chó, chỉ tiếc loài chó không biết đọc chữ! Ở vài tác phẩm khác, hình ảnh con chó cũng hiện ra. Chàng trai Trương Vô Kỵ mới 14 tuổi, lên Thiên Sơn, đã bị bầy chó săn của Chu Cửu Chân rượt cắn.
Tác phẩm Ỷ thiên đồ long ký gọi đây là bầy ác cẩu (chó dữ). Trong tác phẩm Bích huyết kiếm, Kim Dung còn tả cảnh hàng vạn con chó... sói (lang), rượt đuổi các con mồi trên sa mạc Hoàng Thổ dưới núi Thiên Sơn. Chó sói... cũng là chó vậy, chẳng qua là chúng chưa được thuần hóa mà thôi.
Có chó, tất phải có chuyện ăn thịt chó. Tuy tiểu thuyết của Kim Dung chưa tập trung được nhiều thịt chó như ở chợ Ông Tạ, nhưng nhiều nhân vật của ông rất khoái món thịt chó. Trong Thiên long bát bộ, có nhà sư Tam Tĩnh vi phạm giới luật, ăn thịt chó uống rượu đế đàng hoàng. Nhân vật Hồng Thất Công trong Xạ điêu anh hùng truyện là một ông trùm ăn thịt chó.
Trong Ỷ thiên đồ long ký cũng có chuyện quân Mông Cổ canh gác Đại Đô (Bắc Kinh), nấu nồi thịt chó, hơi thơm bay ngất trời xanh. Nhân vật Phạm Dao - Quang minh hữu sứ của Minh giáo đã đến bốc một cục ăn trước, nhân đó đổ thuốc Thập hương nhuyễn cân tán vào nồi thịt chó để đầu độc cả bọn, rồi tìm thuốc giải cứu quần hùng Trung Quốc.
Trong Tiếu ngạo giang hồ, Điền Bá Quang bày đặt vu cáo Định Dật sư thái uống rượu ăn thịt chó khiến cô Nghi Lâm phải cãi lại: “Dù ngươi có rình mò thì cũng không bao giờ thấy sư phụ ta ăn thịt chó uống rượu đâu!”. Chiêu thức võ công cũng mang tên con chó đàng hoàng. Phong Ba Ác (trong Thiên long bát bộ) đấu võ với Trần trưởng lão của Cái Bang, đã há miệng... cắn họ Trần một miếng.
Bao Bất Đồng - cùng phe Phong Ba Ác - gọi đó là thế “Lã Đồng Tân giảo cẩu” (Lã Đồng Tân cắn chó). Làm gì có chiêu thức kỳ quái này, chỉ có chiêu thức “Cẩu giảo Lã Đồng Tân” (chó cắn Lã Đồng Tân). Thế nhưng vì không nỡ gọi đồng bọn mình là chó nên Bao Bất Đồng đã đảo ngược lại.
Cũng trong Thiên long bát bộ, Mộ Dung Phục đánh té sấp địch thủ của mình là Đoàn Dự. Hắn giễu cợt Đoàn Dự đang sử dụng chiêu “Ác cẩu ngật xí” (chó dữ táp phân). Đoàn Dự nổi nóng, đã dùng Lục mạch thần kiếm đánh cho hắn té đái vãi phân. Bọn hào sĩ giang hồ Cái Bang chuyên đi xin ăn, nên rất ghét con chó. Mỗi người phải cầm theo một cây gậy để xua chó.
Từ đó, Kim Dung đặt ra một pho võ công gọi là “Đả cẩu bổng pháp” (phép dùng gậy đánh chó). Theo ông, loại võ công này rất cao cường, gồm 72 đòn thế, chỉ sử dụng một cây gậy trúc mà chống được quyền, chưởng, đao, kiếm... Tất nhiên, “cẩu” ở đây không còn là con chó nữa mà nó là kẻ thù địch, kẻ tàn bạo, quân xâm lược.
Các bang chủ Cái Bang như Hồng Thất Công, Hoàng Dung, Lỗ Hữu Cước đều sử dụng nhuần nhuyễn “Đả cẩu bổng pháp” này. Từ con chó trong tiểu thuyết, tôi nghĩ đến chuyện... con người trong đời thường. Các cơ quan pháp luật, cơ quan thanh tra cũng đã dùng một loại “bổng pháp” để đánh mấy anh (chị) tham ô.
Tham ô ăn đủ thứ: quota, dầu khí, sắt thép, tiền dự án, tiền xây dựng cơ bản... Một năm qua, các vị đó “đánh” khá riết nhưng hình như càng đánh thì càng... hổng hết (?). Có lẽ, đòn thức, chiêu thế của chúng ta chưa linh hoạt, chưa biến hóa vi diệu như “Đả cẩu bổng pháp” của Cái Bang.
Tôi đề nghị như vầy: Trong năm con Chó này, ta hãy đọc... tiểu thuyết Kim Dung, nghiên cứu lại 72 đường “Đả cẩu bổng pháp”, đánh cho đúng và cho trúng. Chớ còn đánh dở dở ương ương kiểu ông gì gì đi thanh tra cái vụ gì gì đó, cuối cùng được tặng đất, lại thỏa hiệp luôn với tham ô thì dân họ cười chết!
Mà khi dân họ cười thì họ lại đi tin chuyện trong tiểu thuyết võ hiệp hơn là tin mình. Cái đó mới là vẽ cọp thành chó! Mình phải làm sao cho cái “Tân Đả cẩu bổng pháp” của mình cũng linh nghiệm ngang bằng hoặc hơn cái “Đả cẩu bổng pháp” của Kim Dung.
trích ViệtBáo
romas
31-12-2007, 06:40 PM
Nói Đến Vũ Hiệp - Cổ Long
Dịch giả: Lê Khắc Tường
Nghe nói Nghê Khuông sắp viết Trung Quốc Vũ Hiệp tiểu thuyết sử, đối với một người viết tiểu thuyết vũ hiệp, đó là một điều thật vô cùng đáng mừng đáng quý.
Tiểu thuyết vũ hiệp bắt đầu từ lâu lắm, mà không bao giờ được mọi người coi trọng, bây giờ có người xông pha ra, ký tải một cách có hệ thống loại tiểu thuyết này, để cho nó sau này được có chỗ đứng trong lịch sử, chính bản thân của công việc này đã là một chuyện thật đáng kể trong lịch sử; chỉ cần là người viết tiểu thuyết vũ hiệp, là đều phải cộng tác với nhau làm cho nên chuyện.
Vì vậy tôi cũng không khỏi “gặp chuyện lăng xăng”, chỉ tiếc là tôi không có cái mỵ lực của Nghê huynh, cũng chẳng có bản sự gì, tôi chỉ bất quá như một gã thô dã hiến trò, muốn lấy một vài điểm thích ý trong lòng cùng cảm tưởng của tôi về tiểu thuyết vũ hiệp viết xuống, chẳng thể coi được là chuyện ký lục gì, mà cũng chẳng thể coi là một bài bình luận nghiêm túc.
Nếu như nó đem tý gì hứng thú lại cho độc giả, làm được gì cho Nghê huynh, làm một thứ lót đường cho công việc của ông ta, tôi đã quá thỏa mãn.
1. Nói đến khởi nguyên của tiểu thuyết vũ hiệp, có rất nhiều ý kiến khác nhau … bắt đầu từ Du Hiệp liệt truyện của Thái Sử Công, là Trung quốc có tiểu thuyết vũ hiệp. Dĩ nhiên đó là ý kiến đàng hoàng nhất, nhưng không mấy ai chịu giả thuyết đó. Bởi vì tiểu thuyết vũ hiệp là truyền kỳ, nếu đem nó và thứ truyện nghiêm túc của Thái Sử Công cùng bình luận với nhau, không khỏi có chỗ tự khinh mình và khinh người.
Trong ký sự tiểu thuyết người thời Đường, mới thấy có thứ tiểu thuyết vũ hiệp so sánh tương đương với nhau.
Trong Đường Nhân Thuyết Cối quyển năm, Nhĩ Mục Ký của Trương Tái, có đoạn cố sự rất là “vũ hiệp”.
“Cuối đời Tùy, Gia Cát Hiên người Thâm Châu, tính hào sảng, Cao Tán người Bột Hải nghe tiếng lại phỏng, sai làm gà vịt đãi là xong. Tán chê hèn, hôm sau mở tiệc, mời Hiên và mấy chục người, làm heo dê linh đình, uống rượu vài tuần, đứng dậy múa Kim Cương Vũ tống tiễn.
Hôm sau Hiên mời Tán và mấy trăm người, mở tiệc lớn, hát Dạ Xoa Ca, Sư Tử Vũ.
Hôm sau nữa Tán lại nấu hai đứa nhỏ mười mấy tuổi, bày đầu lâu tay chân lên bàn mời, khách ngồi đều ôm miệng mửa tràn.
Hôm sau nữa Hiên lại mời tiệc, sai người thiếp xinh đẹp ra mời rượu, thiếp tự nhiên cười, Hiên thét ra sau nhà, một lát rồi nấu người thiếp dọn lên mâm bạc, vẫn trang điểm đầy đủ son phấn, mặc đồ xinh xắn. Hiên cắt thịt đùi ăn thử, Tán và mọi người đều che mặt cả, Hiên thản nhiên tiếp tục xắn thịt ăn xong bữa no nê. Tán xấu hổ, tối bỏ trốn luôn.”
Đoạn cố sự này miêu tả Gia Cát Hiên và Cao Tán dã man tàn bạo thế nào, làm cho người ta không thể nào tưởng tượng nổi, cách miêu tả như vậy so với tiểu thuyết vũ hiệp hiện đại tàn bạo cũng không sai là bao nhiêu. Nhưng cố sự này có vẻ lủng củng, hình thức không giống với tiểu thuyết cho lắm. Lúc ấy, tiểu thuyết, truyền kỳ, bình luận trong dân gian cũng có rất nhiều cố sự, rất là “vũ hiệp”, ví dụ như những nhân vật: Đạo Hợp Đích Hồng Tuyến, Côn Luân Nô, Diệu Thủ Không Không Nhi, Cù Nhiêm Khách, cơ hồ như những nhân vật tiểu thuyết vũ hiệp không hơn không kém.
Trong tiểu thuyết vũ hiệp, vũ khí chủ yếu nhất là kiếm, nói đến chuyện miêu tả kiếm thuật, từ đời Đường trở đi, có rất nhiều chuyện miêu tả kiếm thuật còn thần kỳ hơn cả tiểu thuyết hiện đại.
Kiếm thuật của Hồng Tuyến và Đại Lý tướng quân đã được biến thành chuyện thần thoại, nhưng liên quan đến truyền thuyết Công Tôn đại nương, chắc chắn là có căn cứ, không phải là chế tạo khơi khơi ra.
Bài thơ Quan Công Tôn Đại Nương đệ tử vũ kiếm khí hành của Đổ Phủ, trong đó đối với kiếm thuật của Công Tôn đại nương và đệ tử của bà ta là Lý thập nhị nương, miêu tả rất sinh động và truyền thần.
Tịch hữu giai nhân Công Tôn thị
Nhất vũ kiếm khí động tứ phương
Quan giả như sơn sắc tư táng
Thiên địa vị chi cửu đê hiên
...
Đổ Phủ là thi nhân, thi nhân miêu tả, tuy không khỏi khoa trương tý đỉnh, nhưng lấy tính cách của Đổ Phủ và cách ông ta làm thơ, dù ông ta có khoa trương chắc cũng không đến nổi xa sự thật lắm.
Huống gì, nhà đại thư pháp thời Đường nổi danh Thư Thánh, là Trương Húc, cũng đã từng nói: "Ban đầu tôi xem công chúa và tiều phu tranh giành đường xá với nhau, mà được cái ý trong thư pháp, sau này xem con nhà Công Tôn mu['a kiếm, mà được cái thần".
Do đó có thể thấy là Công Tôn đại nương không những là người có thật, kiếm thuật của bà ta, cũng nhất định là vô cùng tráng quan. Tuy không phải là kiếm thuật, chỉ là múa kiếm thế thôi, nhưng múa kiếm cũng xem như là một loại kiếm thuật, chỉ tiếc là người sau không còn được thấy.
Vậy thì, lấy chuyện đó mà suy diễn ra, những thứ vũ công được miêu tả trong tiểu thuyết vũ hiệp cũng không phải là không có căn cứ, ít ra nó cũng không phải như Vệ Đạo trong thế giới văn học, nói đến những chuyện hoang liêu không tưởng.
Những truyền thuyết từ xửa từ xưa chép lại, chỗ chỗ đều là nơi khởi nguyên của vũ hiệp tiểu thuyết, thêm vào đó những lời bình luận của dân gian, thuyết thư tiên sinh bổ cứu vào, mới từ từ diễn ra thành hình dạng như tiểu thuyết vũ hiệp ngày hôm nay.
Những chuyện như Bành Công Án, Thi Công Án, Thất Hiệp Ngũ Nghĩa, Tiểu Ngũ Nghĩa và Tam Hiệp Kiếm, đều là căn cứ vào "thuyết thư" mà làm ra, có thể nói là thời đại sớm nhất mà tiểu thuyết vũ hiệp đã tiếp xúc.
Thất Hiệp Ngũ Nghĩa vốn không có Thất Hiệp mà chỉ là Tứ Hiệp, say này được một vị văn sĩ Dư Khúc Viên tiên sinh hiệu đính cải sửa lại, tăng gia thêm Hắc Yêu Hồ Trí Hóa, Tiểu Gia Cát Trầm Trọng Nguyên, Tiểu Hiệp Ngãi Hỗ, mới biến thành tân bản, rồi tiếp tục thịnh hành cho tới bây giờ.
Vì vậy, nghiêm chỉnh mà nói, Dư Khúc Viên là tiền bối viết tiểu thuyết vũ hiệp của chúng ta. Chuyện Tam Hiệp Kiếm của Trương Kiệt Khâm là tác phẩm sau đó, vì vậy hình thức trông giống tiểu thuyết vũ hiệp hiện đại hơn. Bộ chuyện này nhân vật chủ yếu nhất vốn phải là Kim Tiêu Thắng Anh, y có Nghinh Môn Tam Bất Quá, Dũng Đầu Nhất Chích, Ngư Lân Tử Kim Đdao là ba thứ vũ khí "nổi danh thiên hạ", nhưng y không phải là một nhân vật anh hùng làm người ta cảm thấy máu nóng bốc lên hừng hực.
Y quá cẩn thận, rất sợ chuyện, không những vậy còn có tý gian manh giảo hoạt trong đó, đệ tử chưởng mông của y là Hoàng Tam Thái tính tình cũng vậy, so sánh với kẻ bị thua dưới cây tiêu của Hoàng Tam Thái là Độc Di Đôn ở sơn Đông còn hào khí hơn y nhiều, mà Độc Di Đôn về sau lại bị con của Hoàng Tam Thái là Hoàng Thiên Bá đánh bại.
Thắng Anh, Hoàng Tam Thái, Hoàng Thiên Bá vốn là một mạch anh hùng nối nhau, nhưng lại chẳng phải là kẻ anh hùng điển hình chân chính.
Thắng Anh là đồ đệ thứ bốn của kiếm khách Ngãi Liên Trì, nhưng vũ công so với sư huynh sư đệ của y, lại thua quá xa, không những không bằng đại sư huynh Trấn Tam Sơn Hạt Ngũ Nhạc Hãn Lãng Vô Ty Quỹ Kiến Sầu, Đại Đầu Quỹ Vương, Hạ Hầu Thương Nguyên, ngay cả so với ngũ sư đệ của y Phi Thiên Ngọc Hỗ Tương Bá Phương, lục sư đệ Hải Để Lạo Nguyệt Diệp Tiềm Long cũng còn xa lắc.
Vì vậy lúc trước tôi cứ nghĩ không ra, Trương Kiệt Khâm tại sao lại đem anh hùng trong chuyện của ông ta viết thành ra như vậy, cho đến bây giờ tôi mới hiểu ra, lúc đó ông ta làm như vậy, là có cái nổi khổ tâm. Dưới triều Thanh mạt, trong hoàn cảnh đó, không thể nào khuyến khích người ta đi làm anh hùng, kẻ quân tử lão thành trì trọng mới là hạng người nên được tuyên dương.
Tiểu thuyết vũ hiệp cũng giống như các loại tiểu thuyết khác, phải chịu ảnh hưởng của xả hội tập quán, vì vậy từ một cuốn tiểu thuyết vũ hiệp, ta có thể nhìn thấy bối cảnh thời đại lúc đó ra sao. Chuyện Tam Hiệp kiếm của Trương Kiệt Khâm, không những bố cục lỏng lẻo dong dài, nhân vật cũng rất nhiều, không thể nói là một cuốn tiểu thuyết thành công cho lắm, bởi vì cuốn tiểu thuyết này vốn không phải là có kế hoạch mà viết ra, mà là do người ta căn cứ vào "thuyết thư" viết ra, thuyết thư tiên sinh, phải nghe theo lời yêu cầu của thính giả, muốn ngừng cũng không xong, chỉ còn nước kéo vòng vo không giới hạn, cho đến cuối cùng dĩ nhiên không khỏi bị đuôi dài quá lố, thậm chí còn không biết phải kết cuộc ra sao.
Tôi phải đặc biệt đề cập đến cuốn chuyện này, bởi vì các cuốn tiểu thuyết vũ hiệp sau này cũng đều bị phạm phải lỗi lầm như vậy, nhân vật và chuyện phát triển một hồi xa lắc chủ đề, tiêu biểu nhất là Giang Hồ Kỳ Hiệp Truyện của Bình Giang Bất Tiếu Sinh và Thục Sơn Kiếm Hiệp Truyện của Hoàn Châu Lâu Chủ.
(còn tiếp)
----- Bài viết này được romas thêm vào sau 8 phút và 31 giây -----
2. Bình Giang Bất Tiếu Sinh và Hoàn Châu Lâu Chủ đều là những nhà viết chuyện thiên tài, tài hoa phong phú, kiến văn quảng bác, những tác phẩm của họ đều rộng rãi bao la, tùy ý làm ra, hùng kỳ khôi lệ, biến hóa vô chừng. Bình Giang Bất Tiếu Sinh Hướng Khởi Nhiên và Tam Tương Kỳ Hiệp Liễu Sâm Nghiêm là những người cùng thời đại, chuyện Giang Hồ Kỳ Hiệp truyện của ông ta, nghe nói là căn cứ vào truyền thuyết của Liễu Sâm Nghiêm rồi thêm thắt vào, nhân vật chủ chốt trong chuyện là đệ tử của Kim La Hán Lữ Tuyên Lương, Liễu Trì, chính là hóa thân của Liễu Sâm Nghiêm. Nhưng về sau câu chuyện phát triển thành hoàn toàn ra khỏi cái đường dây đó, phía trước tả là cao thủ tuyệt đỉnh, phía sau lại thành ra nhân vật không có tý gì hay ho, rất nhiều người xem cuốn chuyện này, xem tới nửa cuốn đã hết hứng thú, cũng như có người đọc Hồng Lâu, chỉ đọc tám chục hồi, đọc Tam Quốc chỉ đọc tới đoạn Gia Cát Lượng đã chết còn dọa được Tử Mã chạy có cờ, là không đọc nữa. Bởi vì đoạn phía sau, xem tiếp làm cho ngưỡi ta hơi ứa gan, nhưng phía trước thì vô cùng lộng lẫy màu sắc, thậm chí còn coi đi coi lại hoài không chán, vì vậy Giang Hồ Kỳ Hiệp Truyện không những làm oanh động đương thời, mà trong chuyện tiểu thuyết vũ hiệp còn được xem là cuốn truyện hay bất hủ.
Những thứ truyện hay có một nửa đó rất là nhiều, Cách Liệt Phật Du Ký và Kinh Hoa Lục cũng vậy ... Diệu nhất là chính hai cuốn chuyện đó cũng có chỗ rất giống nhau, nửa phía trước, đều mượn những thứ ảo tưởng trong vương quốc để xiên xỏ cái xấu xa, cái buồn cười hay bi thảm của tính người trong xả hội đương thời.
Trong Cách Liệt Phật Du Ký, có đại nhân quốc và tiểu nhân quốc, trong Kính Hoa Lục, cũng có quân tử quốc và nữ nhi quốc, cái thứ ngẫu hợp kỳ diệu đó, thật là vô cùng thích thú. do đó có thể thấy rằng, người đông phương và người tây phương, triết học tư tưởng tại cơ bản không có gì là khác nhau lắm, chỉ tiếc là độc giả về sau, thường thường chỉ chú ý tới cái hấp dẫn thú vị trong chuyện, mà quên mất cái ngụ ý trong đó.
Bố cục của Thục Sơn Kiếm Hiệp truyện tuy lỏng lẻo, nhưng chuyện cũng rất thú vị, mỗi nhân vật có mỗi cá tính trước sau như một, mỗi ngưỡi có một lai lịch và vũ công, đều được trình bày rất rõ ràng, nếu chỉ so sánh tiểu thuyết vũ hiệp thôi, thì cuốn chuyện này chắc chắn là thành công còn hơn cả Giang Hồ Kỳ Hiệp truyện.
Trừ chuyện tả nhân vật sinh động đột xuất ra, tả cảnh trong chuyện cũng rất tuyệt, tả cư thất thời xưa đẹp đẻ làm sao, y phục đồ sùng tinh trí làm sao, ăn uống giảng cứu làm sao, không có cuốn tiểu thuyết vũ hiệp nào tả được bằng. Xem xuốn chuyện này cũng như đang xe, một cuốn chuyện đồ ăn và du lịch rất thích thú.
Trước giờ tôi vốn chủ trương cái thú vị trong tiểu thuyết vũ hiệp có rất nhiều phương diện, và chỉ có tiểu thuyết vũ hiệp mới có được những thú vị cũng được tả trong một chuyện.
Trong truyện tiểu thuyết trinh thám không có vũ hiệp, nhưng tiểu thuyết vũ hiệp lại có trinh thám; tiểu thuyết tình cảm không có vũ hiệp, nhưng tiểu thuyết vũ hiệp có tình cảm. Đấy chính là cái dặc tính vô cùng kỳ quái của tiểu thuyết vũ hiệp, như lối viết trong Thục Sơn Kiếm Hiệp truyện, làm cho cái đặc tính ấy hiển lộ rõ ràng ra. Vì vậy cái lối viết ấy trước giờ vẫn có một chỗ đứng rất trọng yếu trong tiểu thuyết vũ hiệp, Hoàn Châu Lâu Chủ Lý Thọ Dân nhờ vậy mà trở nên một nhà tông sư nối nghiệp và khai sáng ra một trường phái mới.
Trừ Thục Sơn ra,Hoàn Châu Lâu Chủ còn có trước tác như Liễu Hồ Hiệp Ẩn, Trường Mi Chân Nhân Truyện. Nha Mi Thất Ủy, Vân Hải Tranh Kỳ Ký, Nhạc Thư Hiệp, Thanh Môn Thập Tứ Hiệp, Thanh Thành Thập Cửu Hiệp, Man Hoang Hiệp Ẩn, Hắc Sâm Lâm, Hắc Mã Nghị ... trong đó đa số đều rất có quan hệ mật thiết với bộ Thục Sơn.
Những cuốn chuyện đó, cơ hồ không có cuốn nào là kết thúc hoàn chỉnh, bởi vì cuộc diện ông ta tả ra trong đó quá lớn, vì vậy rất khó mà thu thập cả toàn cuộc, cho đến bây giờ, vẫn còn có rất nhiều cuốn tiểu thuyết vũ hiệp phạm đồng một lỗi. Nhưng những tác giả cùng thời với Hoàn Châu Lâu Chủ, chỉ có một người là không bị ảnh hưởng của ông ta, người này là Vương Độ Lư.
romas
01-01-2008, 01:27 PM
3. Tác phẩm của Vương Độ Lư, không những phong cách thanh tân, tự thành một phái, ông ta còn tả rất tế nhị, bố cục nghiêm mật, mỗi chuyện đều rất hoàn chỉnh. Những cuốn nổi danh của ông ta như Hạc Kinh Côn Luân, Bảo Kiếm Kim Thoa, Kiếm Khí Châu Quang, Ngọa Hổ Tàng Long, Thiết Kỵ Ngân Bình, tuy cùng là một chuyện có hệ thống, nhưng mỗi chuyện đều riêng biệt, đều kết thúc rất ảo diệu. Ông ta cũng là người đầu tiên đem lối viết tiểu thuyết vào chuyện vũ hiệp. Những người nổi tiếng đồng thời với ông ta, còn có Trịnh Chứng Nhân, Châu Trinh Mộc, Bạch Vũ, trừ những ngưỡi đó ra, còn có Hoàn Tố Lâu Chủ viết Thắng Tử Kỳ, Dư Xuân Vũ viết Bích Huyết Uyên Ương, tuy cũng có rất nhiều độc giả, nhưng so với họ, không khỏi thua kém một bực.
Trịnh Chứng Nhân là tác giả viết tiểu thuyết vũ hiệp được tôi sùng bái sớm nhất, lời văn của ông ta đơn giản, tả chuyện trong vũ lâm làm người ta có cảm tưởng như chính mình đang ở trong đó, tả kỹ thuật lại càng chuyên gia, cơ hồ có thể đem từng chiêu từng thức một kể ra sinh động như thật, vì vậy rất có nhiều người cho rằng chính bản thân ông ta đã có vũ nghệ trong mình. Ông ta viết rất nhiều, đa số chuyện thông thường rất ngắn, vì vậy càng lộ ra vẻ ngắn ngọn mau mắn, trong đó có một bộ dài nhất là Ưng Trảo Vương, mà cũng là bộ nổi danh nhất, đường lối viết văn của ông ta, tuy ít có người bắt chước theo, nhưng chiêu thức trong chuyện và bang hội quy mô ông ta tả, cho đến bây giờ còn được người ta lấy xài, vì vậy ông ta chắc chắn cũng có thân phận của tông chủ một phái.
Nếu đem tiểu thuyết đương thời ra phân làm năm môn phái lớn, thì Hoàn Châu Lâu Chủ, Vương Độ Lự Trịnh Chứng Nhân, Châu Trinh Mộc, Bạch Vũ chính là chưởng môn nhân của năm phái đó. Châu Trinh Mộc có Thất Sát Bài, La Sát phu nhân, Diễm Ma Đảo, Long Cương Ân Cừu Ký ... Bạch Vũ có Thập Nhị Kim Tiền Tiêu, Độc Sa Chưởng, Sư Lâm Tam Điểu ... mỗi một bộ đều đã từng làm oanh động một thời, đều từng làm tôi quên ăn quên ngủ, đọc một cái là suốt luôn cả đêm.
Trừ đó ra, còn có bộ tuy không được nhiều người biết đến, nhưng tôi lại rất thích. Đó là bộ Thần Đàn Càn Khôn Thủ và Tứ Kiếm Chấn Giang Hồ của Bạch Vũ và Vu Phương viết chung. Trước giờ tôi chưa bao giờ biết Vu Phương là người như thế nào, tại sao chỉ viết có hai bộ chuyện ngắn đó thôi, là chẳng còn gì thêm nữa. Thật ra, những tác phẩm của các danh gia ấy không nhiều, không những vậy, hai chục năm trước, hầu như không còn có bộ nào mới xuất hiện thêm, vì vậy trong một khoảng thời gian chừng bốn năm chục năm, có thể nói là thời kỳ thật tiêu trầm nhất của tiểu thuyết vũ hiệp.
Trong thời kỳ đó, chỉ có một vị sưu tập danh gia, đem sao lại hai bản Hắc Ma Cách và Nữ Hiệp Dạ Minh Châu của Hoàn Châu Lâu Chủ thành một bộ tiểu thuyết vũ hiệp thật hay tuyệt. Cho đến cuối đoạn thời gian đó, mới có một người xuất hiện phục hưng lại tiểu thuyết vũ hiệp, sáng lập ra một cuộc diện mới mẻ cho tiểu thuyết vũ hiệp, làm cho nó phát triển bỗng bột sôi nổi trong hai mươi năm nay.
Trong hai mươi năm đó, danh gia xuất hiện đầy dẩy, tác phẩm phong phú sáng tác biến hóa, đều đã đạt đến tột đỉnh, so với thời đại của Hoàn Châu Lâu Chủ, còn muốn vượt quá. Khai sáng nên cuộc diện ấy, chính là Kim Dung.
zeuspnt
03-01-2008, 12:02 AM
Đội hình 11 cầu thủ ngôi sao của Kim Dung
Quách Tĩnh
Hư Trúc - Âu Dương Phong - Nhậm Ngã Hành - Đoàn Dự
Tiêu Phong - Trương Vô Kỵ - Vi Tiểu Bảo
Vi Nhất Tiếu - Đông Phương
Lệnh Hồ Xung
THỦ MÔN:
Quách Tĩnh
Công phu Song thủ hỗ bác xuất quỷ nhập thần, bắt bóng 2 tay như 1. Dù ở trong tình huống đối mặt với 4-5 cầu thủ đối phương anh vẫn dư sức chống đỡ. Mấy chục năm thủ thành Tương Dương đã chứng tỏ khả năng là chốt chặn cuối cùng cực kỳ hiệu quả của anh.
CẶP HẬU VỆ BIÊN:
Do 2 huynh đệ Hư Trúc và Đoàn Dự đảm nhiệm. Nguồn công lực dồi dào bậc nhất thiên hạ sẽ giúp cho 2 anh quán xuyến 2 hành lang trái phải kô hề mệt mỏi súôt cả trận. Đặc biệt Đoàn Dự càng chạy càng khỏe. Tấn công giỏi, phòng thủ tốt, điểm yếu duy nhất của 2 chàng này là rất dễ bỏ vị trí nếu như Vương Ngữ Yên hay Mộng Cô xuất hiện. :))
CẶP TRUNG VỆ:
Trung vệ 1 giao cho Âu Dương Phong. Khả năng của anh thì khỏi bàn cãi. Chưa kể anh còn có tuyệt chiêu chổng ngược đầu. Bóng bổng cỡ nào mà đối phương nhìn thấy 2 cái giò của anh đạp tới thì có cho vàng cũng kô dám đội :)) . Ngoài ra với biệt hiệu Tây Độc, những hậu vệ khét tiếng nhất Serie A về tiểu xảo cỡ Materrazi cũng phải chịu thua anh!
Trung vệ 2 do Nhậm Ngã Hành đảm nhận. Già nhưng vẫn còn gân. Có tài chỉ huy, óc phán đoán tốt, nhận định tình huống nhạy bén sắc sảo. Anh chính là 1 bản sao của Paolo Maldini ngày nào.
TIỀN VỆ TRỤ:
Kô ai hơn Trương Vô Kỵ ở điểm này. Cửu Dương thần công xài hoài kô hết biến anh trở thành chiếc máy cày cày nát khu trung tuyến.
Điểm yếu: Tính tình hiền lương nên hầu như kô bao giờ dùng tiểu xảo chơi xấu. Rất dễ bị dụ nếu đối phương là gái đẹp. :034:
TIỀN VỆ CON THOI:
Vi Tiểu Bảo. Gã này chỉ có môn Thần hành bách biến bôi dầu lên chân chạy là giỏi, rất thích hợp làm chiếc cầu nối giữa tấn công và phòng thủ. Đặc biệt mánh khóe thủ đoạn của gã là bổ sung rất tốt cho tính trung hậu chất phác của Trương Vô Kỵ.
Điểm yếu: Rất dễ bị mua độ. :045:
TIỀN VỆ CÔNG:
Đệ nhất nam tử trong truyện Kim Dung: Tiêu Phong.
Ở anh hội tụ tất cả các điểm mạnh của 1 thủ lãnh: lối chơi đơn giản, khả năng phán đoán nhanh nhạy, ứng biến tốt, sức mạnh càn lướt, thể lực dồi dào, uy tín và tầm ảnh hưởng cao, khả năng bùng nổ lớn, sút tốt 2 chân và đánh đầu. Hơn nữa có anh bên cạnh, Vi Tiểu Bảo sẽ có ít nhiều kính phục, kô dám bán độ.
TIỀN ĐẠO CÁNH TRÁI:
Đông Phương Bất Bại. Biến ảo li kỳ, nhanh như điện xẹt, khả năng làm xiếc với trái bóng cực cao. "Anh" (trong ngoặc nha) thường xuyên dạt vào trung lộ, trở thành 1 tiền đạo lùi, cầm bóng đột phá, đồng thời làm bóng.
Điểm yếu: Vì vấn đề giới tính nên "anh" rất dễ bị thu hút với khí chất đàn ông của Tiêu Phong. Khả năng đồng đội bị "anh" quấy rối khá cao. :10:
TIỀN ĐẠO CÁNH PHẢI:
Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu. Khinh công xuất quỷ nhập thần. Anh thường hay đổi cánh với Đông Phương Bất Bại khiến cho hàng thủ đối phương rối loạn. Kô thể đuổi bắt.
TIỀN ĐẠO CẮM:
Lệnh Hồ Xung. Tuy anh kô có sức khỏe càn lướt như voi rừng Drogba nhưng lại có sự dẻo dai của báo đen Eto'o. Đồng thời khả năng chớp thời cơ ghi bàn bằng Độc cô cửu kiếm của anh kô thua kém gì những sát thủ cỡ Siêu Pippo hay Sheva.
Điểm yếu: Nổi hứng lên là kô tuân thủ sơ đồ chiến thuật gì cả :nosepick:
HUẤN LUYỆN VIÊN:
Cái này phải giao cho Đông Tà Hoàng Dược Sư. Khả năng bày binh bố trận của ông kỳ tuyệt thiên hạ.
Nguồn của NAD
romas
06-01-2008, 05:32 PM
4. Tôi vốn không muốn thảo luận các tác giả tiểu thuyết vũ hiệp đương thời, nhưng Kim Dung thì ngoại lệ. Bởi vì ảnh hưởng của ông trên cả một thời đại của tiểu thuyết vũ hiệp trong tám mươi năm nay, không ai có thể bì kịp, bất kỳ tác phẩm nào của ai, không ít thì nhiều cũng đều không khỏi chịu ảnh hưởng của ông.
Kim Dung dung hợp những thứ sở trường của mọi nơi, trong đó không những có tiểu thuyết vũ hiệp, mà còn có văn học cổ điển và văn học âu tây, sau đó mới hình thành một phong cách thật riêng tư đặc biệt, gọn ghẽ, đơn giản mà sinh động! Tiểu thuyết của ông bố cục rất chặt chẽ, cuộc diện tuy lớn, nhưng đầu đuôi liên lạc với nhau, nhân vật trong chuyện lại càng như thật, kêu là nhảy ra ngay, nhất là Dương Qua.
Dương Qua chắc chắn là một trong những nhân vật dễ thương nhất trong tất cả các bộ tiểu thuyết vũ hiệp trước giờ, chuyện tình giữa Dương Qua, Tiểu Long Nữ chắc chắn có thể xem là một trong những chuyện tình cảm động nhất trong tiểu thuyết vũ hiệp.
Quan trọng nhất là cái phong cách của cả một loại tiểu thuyết kiếm hiệp mà Kim Dung đã sáng tạo ra, hầu như ít có tác giả nào đột phá ra được khỏi cái phong cách đó. Nhưng trong thời kỳ khởi đầu, tác phẩm của ông cũng có bóng dáng của các tác giả khác. Trong Thư Kiếm Ân Cừu Lục, có miêu tả Bôn Lôi Thủ Văn Thái Lai chạy trốn tới nhà Chu Trọng Anh, núp trong cái giếng khô, bị đứa con nhỏ vô tri của Chu Trọng Anh, vì ham cái viễn vọng kính mà bán đứng đi. Chu Trọng Anh biết được chuyện đó, đành lòng phải giết đứa con trai độc nhất của mình.
Câu chuyện này cơ hồ là hóa thân của một chuyện tiểu thuyết nổi danh do tác giả người Pháp tên là "Mai Lý Mỹ" viết, chẳng qua lấy kim biểu đổi thành viễn vọng kính thế thôi. Nhưng điều đó không hề có ảnh hưởng gì đến chỗ sáng tạo của Kim Dung tiên sinh, bởi vì ông đã đem câu chuyện đó đưa hoàn toàn vào trong câu chuyện của mình thành một thể, xem rất là tự nhiên, đọc đến đoạn đó, cơ hồ so với nguyên tác của Mai Lý Mỹ còn làm người ta cảm động hơn là khác.
Xem đến Ỷ Thiên Đồ Long ký, viết chuyện cha mẹ của Trương Vô Kỵ và Kim Mao Sư Vương cùng ở trên băng đảo miền cực bắc, tôi cũng có thấy bóng dáng của một tác giả vĩ đại là "Kiệt Khắc Luân Đôn". Tính tình của Kim Mao Sư Vương cơ hồ như là của "Hải Lang". Nhưng mô phỏng lại không có chỗ nào chê được. Bởi vì ông đã đem Hải Lang hoàn toàn thu vào trong chuyện, làm người ta chỉ thấy có Kim Mao Sư Vương mà không còn thấy Hải Lan đâu.
Ưu điểm lớn nhất của tiểu thuyết vũ hiệp là có thể bao quát mọi điều, thu thập sưu la từ mọi nơi. Ta có thể tả chuyện tình trong tiểu thuyết vũ hiệp, nhưng lại không thể tả vũ hiệp trong tiểu thuyết tình cảm. Mọi người lúc viết chuyện, đều không khỏi chịu ảnh hưởng của người khác, "Thiên hạ văn chương nhất đại sao" (Văn chương trong thiên là đều là một bản sao lớn), câu đó tuy có hơi quá đáng, nhưng cũng không phải là hoàn toàn không có đạo lý.
Khả năng sáng tạo của một tác giả tuy rất đáng quý, nhưng khả năng liên tưởng, khả năng mô phỏng cũng quan trọng tương đương. Lúc tôi bắt đầu viết tiểu thuyết vũ hiệp, tôi hầu như ráng hết sức mô phỏng Kim Dung tiên sinh, viết được mười năm, lúc viết đến Danh Kiếm Phong Lưu và Tuyệt Đại Song Kiêu, tôi vẫn còn đang mô phỏng theo ông. Tôi tin là các tác giả viết tiểu thuyết vũ hiệp, tình trạng giống như tôi không phải là ít. Về điểm đó, Kim Dung tiên chắc chắn là xứng đáng kiêu ngạo lắm.
Cái phong cách tiểu thuyết vũ hiệp mà Kim Dung tiên sinh đã sáng tạo ra, tuy tới bây giờ vẫn còn đủ sức để hấp dẫn hàng ngàn hàng vạn độc giả, nhưng tiểu thuyết vũ hiệp cũng đã đến cái giai đọan cần canh tân, cần biến hóa. Bởi vì tiểu thuyết vũ hiệp đã được viết quá nhiều, độc giả cũng đã đọc quá nhiều. Có rất nhiều độc giả đọc đến hai cuốn đầu của một bộ chuyện đã có thể đoán ra được kết cuộc sẽ diệu tuyệt ra sao, cuốn chuyện càng kỳ lạ ngụy dị, độc giả càng đoán ra được kết cuộc dễ chừng đó. Bởi vì những chuyện kỳ dị như vậy đã được viết không biết bao nhiêu lần, dịch dung, độc dược, giả chết, con gái nhà lương thiện lại là nữ ma đầu ... Những chuyện như vậy rất khó làm cho độc giả bị mắc lừa. Vì vậy tình tiết ngụy dị biến hóa không còn có thể xem là những thứ hấp dẫn lớn trong tiểu thuyết vũ hiệp. Nhưng xung đột giữa tính cách các nhân vật trong chuyện mới là thứ hấp dẫn thu hút.
Tiểu thuyết vũ hiệp không còn có thể tả thần, tả ma đầu, mà phải tả những khuyết điểm con người, lại càng phải tả tình cảm nhân vật thật nhiều.
Đại văn hào "Phúc Lâu Bái" người viết cuốn Bao Pháp Lợi phu nhân, đã từng nói một câu: "Sau mười chín thế kỷ sẽ không còn tiểu thuyết nữa", bởi vì ông ta cảm thấy bao nhiêu tình tiết trên đời này, tình cảm biến hóa ra sao, đều đã được các tác giả vĩ đại trong mười chín thế kỷ ấy viết ra hết rồi.
Nhưng ông ta đã lầm, ông ta quên mất một điều.
Dù tình tiết câu chuyện có giống nhau đi chăng nữa, nếu nhìn từ một khía cạnh khác, tiểu thuyết viết ra sẽ có những quan niệm lối nhìn về nhân loại hoàn toàn khác nhau, cùng một chuyện sẽ vĩnh viễn không ngừng thay đổi, tùy theo thời đại thay đổi. Tiểu thuyết vũ hiệp tuy là viết về chuyện thời xưa, nhưng vẫn không phải là không có những quan niệm mới mẻ của các tác giả hiện đại. Bởi vì tiểu thuyết vốn là bịa đặt ra.
Viết tiểu thuyết không phải là kể chuyện lịch sử, viết tiểu thuyết mục đích lớn nhất là hấp dẫn độc giả, cảm động độc giả.
Tình tiết trong tiểu thuyết vũ hiệp nếu không còn cách nào biến hóa thêm nữa, tại sao không biến ra cách khác, miêu tả thử tình cảm con người, xung đột giữa các tính cách, từ cái xung đột đó, sẽ chế ra những cao trào, động tác.
romas
07-01-2008, 11:43 AM
5. Tiểu thuyết vũ hiệp dĩ nhiên là không thể không tả động tác, nhưng cách miêu tả động tác, có phải cũng cần được thay đổi thêm không ?
... Đạo nhân đưa kiếm lướt qua, chỉ thấy kiếm quang lấm chấm, kiếm hoa rơi xuống lả tả, trong chớp mắt đã đánh ra bảy chiêu, chính là tinh hoa trong Lương Nghi Kiếm Pháp của phái Vũ Đương, biến hóa kỳ ảo, thật không sao hình dung ra được.
... Gã đại hán gầm lên một tiếng giận dữ, bước tới nửa bước, xuất thủ như điện, đưa tay thò ra đoạt lấy thanh kiếm trong tay đối phương, bẻ nhẹ một cái, thanh trường kiếm làm bằng thép ròng đã bị y bẻ gãy ra làm hai khúc.
... Thiếu nữ nhẹ nhàng đánh kiếm ra, thân tùy theo kiếm, kiếm lượn bên thân, trong chớp mắt đối thủ bỗng thấy bốn phương tám hướng đâu đâu cũng có bóng kiếm, không biết nhát nào là thật, nhát nào là hư.
...Thư sinh ngâm dài:
Khuyến quân cánh tiến nhất bôi tửu
(Khuyên bạn uống thêm ly nữa)
Tây xuất Dương quan vô cố nhân
(Ra khỏi Dương quan là không còn bạn bè)
thanh kiếm trong tay tùy theo giọng ngâm tước xéo ra, cái ý thâm viễn tuyệt diệu, thê lương tiêu sơ trong câu thơ, hoàn toàn được dung hợp vào trong nhát kiếm đó.
...
Trịnh Chứng Nhân miêu tả nào là Bình sa lạc nhạn, Huyền Điểu Họa Sa, Hắc Hổ Thâu Tâm, Bạt Thảo Tầm Xà; Hoàn Châu Lâu chủ thì có những thứ như "ma lực kỳ lạ", "ma nữ lõa thể" ... hiển nhiên nghe có vẻ lạc đề, nhưng những động tác mà tôi đã tả phía trên, không phải độc giả cũng thấy lập đi lập lại bao nhiêu lần sao ? Phải tả động tác là một vấn đề nan giải trong tiểu thuyết vũ hiệp.
Trước giờ tôi vẫn cho rằng động tác không nhất định phải là "đánh ra". Động tác trong tiểu thuyết vũ hiệp không giống như trong điện ảnh. Động tác trong điện ảnh có thể cho người ta cái cảm giác kích thích mãnh liệt, còn động tác được miêu tả trong tiểu thuyết vũ hiệp lại không có được cái miêu tả đó của động tác, trước hết phải chế tạo ra xung đột trước, xung đột của tình cảm, xung đột trong câu chuyện, để cho những thứ xung đột đó chồng chất lên nhau thành tột điểm, rồi sau đó mới tạo ra khí thế, khí thế tiêu sát. tiểu thuyết vũ hiệp rốt cuộc không phải là thứ chỉ đạo vũ thuật.
Tiểu thuyết vũ hiệp cũng dạy cho mình đánh người ra làm sao, giết người ra làm sao. Máu me bạo lực, tuy vĩnh viễn có sức chấp dẫn của nó, nhưng máu me bạo lực nhiều quá cũng làm người ta có phản cảm.
Hầu như trong tất cả tiểu thuyết đều có chuyện tình yêu trong đó. Tình yêu vốn là thứ cơ bản trong tình cảm con người, cũng là thứ nguyên thủy nhất, so với cừu hận còn muốn đi trước hơn, thậm chí chúng ta có thể nói, không có tình yêu, không có loài người.
Hầu như trong tất cả câu chuyện tình yêu vĩ đại nào, cũng đều có đầy dẫy những trái ngang, hiểu lầm, khốn nạn và nguy hiểm, làm cho độc giả phải rơi nước mắt cho những người tình trong chuyện.
"La Mật Ân" và "Châu Lệ Diệp", Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài, Vĩ Sinh ôm chân cầu chết ... Cái khốn khổ của bọn họ tuy đã được giải quyết xong xuôi, nhưng cuối cũng chỉ vì hiểu lầm mà chết.
Trong chuyện tình yêu của "Tịch Cách Di", nhân vật chính nam và nữ đều được yêu nhau thuận lợi hoàn toàn, bất cứ chuyện khó khăn gì đến đâu cũng đều không cản trở được tình yêu giữa bọn họ với nhau, nhưng kết cuộc vẫn là bi kịch. Làm như rất nhiều người đều cho rằng chuyện tình yêu nhất định phải là bi kịch mới cảm động được người ta.
Trong tiểu thuyết vũ hiệp, tiểu thuyết của Vương Độ Lư chính là điển hình những loại đó, nhất là trong Bảo Kiếm Kim Thoa, Lý Mộ Bạch và Dư Tú Liên, giữa bọn họ tuy có một tình yêu rất sâu đậm, nhưng vĩnh viễn hai người không thể nào kết hợp với nhau, đến cuối cùng rồi cũng phải chia tay.
Bởi vì Lý Mộ Bạch trong lòng vẫn luôn luôn nghĩ rằng, vị hôn thê của Dư Tú Liên là Tiểu Mạnh vì mình mà chết, nếu y lấy Dư Tú Liên, y sẽ thành người không có nghĩa khí, sẽ đối không phải với bạn bè. Đấy là nguyên nhân duy nhất khiến cho bọn họ không được kết hợp với nhau.
Nhưng tôi lại cho là nguyên nhân này thật gượng ép.
Không những tôi cho là vậy, ngay cả người trong chuyện là Giang Nam Hạc, Sử Bạn Tử, Đức Khiếu Phong, ngay cả sư huynh của Dư Tú Liên là Dương Thiết Thương, cũng cho cái lý do đó không phải là một lý do, chỉ tiếc, Lý Mộ Bạch là một con người cố chấp phi thường, bất kể là ai cũng không khuyên được y, bất kể Dư Tú Liên đối với y lộ vẻ ái mộ ra sao, cuối cùng đến chỗ khẩn yếu nhất, y cũng cứ vung tuệ kiếm chém đứt tơ tình.
Có rất nhiều người vì vậy mà nghĩ rằng Lý Mộ Bạch là một người có huyết tính, có nghĩa khí, tôi thì lại cho đấy là cái chỗ không dễ thương nhất của y. Tôi cho là y nhấc không lên, đặt không xuống, không những phụ tấm chân tình của Dư Tú Liên mà còn phụ luôn cả lòng tốt của bạn bè.
Thậm chí y còn phụ luôn cả Tiểu Mạnh, bởi vì lúc Tiểu Mạnh lâm tử có yêu cầu y chiếu cố nhiều cho Dư Tú Liên, bởi vì Tiểu Mạnh biết tình cảm của Dư Tú Liên đối với Lý Mộ Bạch. Nhưng y lại đi làm khổ một đời của Dư Tú Liên.
Lấy quan điểm của tâm lý học hiện đại ra mà nói, Lý Mộ Bạch có thể nói là một người có vấn đề tâm lý, bởi vì gia đình y bất hạnh, cha mẹ chết sớm lúc y còn nhỏ, thúc phụ đối xử không tốt, từ nhỏ đã bị thiếu tình thương, vì vậy y sợ tình yêu, sợ phải gánh trách nhiệm gia đình.
Vì vậy nếu có cô nào yêu phải y, y sẽ bỏ trốn, không dám ưởn ngực ra nhận lấy. Y đối với Dư Tú Liên đã như vậy, đối với người đàn bà phong trần đáng thương là Tiết Nương cũng thế. Nếu nói cực đoan một chút, y là một gã ích kỹ không hơn không kém.
Cuốn chuyện này tuy rất thành công, không những làm cảm động độc giả, mà còn đi sâu vào lòng người, nhưng tôi thì không thích những chuyện như vậy.
Trước giờ tôi vẫn nghĩ rằng thế gian này chuyện bi thảm bất hạnh đã quá nhiều rồi, tại sao mình không thể cho độc giả cười chút xíu ? Tại sao còn bắt họ phải rơi lệ ?
6.Dương Qua và Tiểu Long Nữ thì lại khác, tình yêu của họ tuy đã trải qua bao nhiêu khảo nghiệm phong ba, vẫn thủy chung không thay đổi. Dương Qua yêu Tiểu Long Nữ bất kể ra sao, bất chấp điều kiện, đã không quan tâm đến Tiểu Long Nữ xuất thân, tuổi tác, cũng chẳng màng nàng đã bị người khác cưỡng hiếp, y yêu nàng, là cứ yêu, không lùi bước, không trốn chạy.
Tôi thấy như vậy mới là hành vi của một nam tử hán đại trượng phu chân chính.
Nếu như Tiểu Long Nữ vì thấy mình bị ô uế, cảm thấy mình lớn tuổi hơn Dương Qua, do đó sẽ không xứng đáng với y, do đó sẽ nhường Dương Qua cho Quách Phù, không những vậy còn nói với bọn họ: Các người mới xứng đôi với nhau, các người ở với nhau mới hạnh phúc. Nếu như câu chuyện kết cuộc sẽ như vậy thật, tôi nhất định sẽ tức hộc máu.
Có người không chừng cho rằng câu chuyện này có tính chất truyền kỳ quá, không được thực tế, nhưng tôi vẫn cứ cho rằng, chuyện tình yêu vốn đầy những ảo tưởng và lãng mạn. Bởi vì từ nhỏ tôi đã không thích những chuyện nào kết cuộc bi thảm quá, vì vậy đa số những chuyện tôi viết đều có kết cuộc rất tốt đẹp.
Có người nói: chuyện bi thảm mới hứng thú hơn chuyện vui vẻ.
Trước giờ tôi rất phản đối chuyện đó, lúc nào tôi cũng muốn tạo ra chuyện gì sung sướng cho người ta, lúc nào cũng hy vọng sẽ đề cao lòng tin tưởng và tình yêu thương của con người vào đời sống.
Nếu mỗi người ai ai cũng tràn đầy lòng tin tưởng và yêu thương vào đời sống, thế giới này không phải sẽ biến ra tươi đẹp hơn nhiều lắm sao ?
Có lần đến Hoa Liên, có người giới thiệu cho tôi một người bạn, y là một độc giả của tôi. Y là một người rất thành thực chất phác, những hạng người đó thông thường sẽ hay bị kẻ khác lừa gạt, chà đạp, y cũng không ngoại lệ. Có một hôm hơi ngà ngà, y thố lộ với tôi, có một dạo y rất chán đời, thậm chí còn muốn chết đi, nhưng xem tiểu thuyết của tôi rồi, y bỗng thấy cuộc đời cũng còn có nhiều thứ đáng sống lắm. Tôi nghe y nói vậy, trong lòng thật sung sướng như vừa lãnh một cái huân chương danh dự đệ nhất vậy.
Trong cuốn tiểu thuyết thời kỳ còn sớm của tôi là Cô Tinh Truyện, tôi có viết một câu chuyện hoang đường.
Một đứa con trai và một đứa con gái, lúc đang mãi mê bắt bươm bướm với nhau, thì gia đình bị kẻ thù giết sạch, đến khi bọn chúng đem bươm bướm xinh đẹp về nhà khoe, cha mẹ thân nhấn đều đã bị chết thảm, nhà chúng đã bị đốt thành tro bụi.
Bọn chúng còn nhỏ, nhưng trên đời này không còn ai để nương tựa vào được, vì vậy bọn chúng chỉ còn biết nương tựa vào chính mình.
Từ đó đứa con trai bèn đem tận lực chiếu cố cho đứa con gái, nó phải nếm không biết bao nhiêu là khổ cực, chịu đói chịu rét hành hạ, có đồ để ăn để mặc đều nhường cho đứa con gái trước. Trong hoàn cảnh đó, mức sinh trưởng của nó không được bình thường.
Sau này bọn chúng gặp được cứu tinh, có hai vị thế ngoại cao nhân chia ra thu lưu hai đứa. Đứa con trai thì theo lão già cô độc sống trên một cái tháp, còn đứa con gái thì theo một vị nữ hiệp danh tiếng lẫy lừng trong giang hồ.
Tuy bọn chúng tạm thời bị xa cách, nhưng bọn chúng biết mình sẽ có ngày còn được gặp lại nhau. Vì vậy cả hai đều ráng sức nổ lực, luyện thành một thân vũ công thật cao cường. Đứa con trai luyện vũ công theo đường âm nhu, không những vậy đa số thì giờ sống một mình trên tháp, lại thêm lúc mới lớn lên bị khổ cực quá vì vậy trưởng thành mà vẫn còn rất nhỏ người. Đứa con gái luyện vũ công theo đường dương cương, mức tăng trưởng rất bình thường.
Đợi đến lúc bọn họ phải trải qua bao nhiêu gian khổ mới gặp lại được nhau, chàng trai đứng trước cô con gái, như một đứa châu nhai đứng trước người thường. Một cái kết cuộc như vậy vốn mang tính cách đầy vẻ châm biếm của cuộc đời, vốn sẽ tạo nên một bi kịch thật chua cay.
Nhưng tôi không chịu vậy.
Tôi cứ cho hai người kết hợp với nhau, không những vậy, còn là cặp ái lữ được người trong giang hồ hâm mộ và tôn kính.
Bởi vì tình yêu của họ không hề bị chuyện gì làm thay đổi, vì vậy họ đáng được người tôn kính.
Bi kịch rốt cuộc đã trở thành hỷ kịch.
"Khưu Cát Di" là một người vĩ đại, và cũng rất lạc quan, ông ta nói một câu rất đáng được người ta nghĩ ngợi:
- Chuyện tào ngộ bất hạnh, thường thường có thể làm người ta tránh khỏi cái bất hạnh còn lớn hơn vậy.
Chỉ cần bạn nhìn theo lối đó, trong cuộc sống sẽ chẳng có gì đánh ngã bạn được.
Thất bại tuy không tốt, nhưng thành công thường thường đến từ thất bại.
(người dịch)
Cổ Long trích những chuyện ngoại quốc mà lại không dùng tiếng ngoại quốc, dùng tiếng Trung hoa phiên âm, thành ra tôi cũng mù mờ luôn, đành phải dùng nguyên chữ Trung hoa, các bạn có thể mò ra dùm, cám ơn. Ví dụ như Bạch Lan Đại, TD cô nương có cho biết là brandy.
----
Nhưng cuộc đời quả thật cũng có rất nhiều bi kịch, vì vậy tác giả nào cũng không tránh khỏi được viết chuyện bi thảm.
Tiêu Thập Nhất Lang là một chuyện bi thảm.
Một cặp vợ chồng được người trong vũ lâm ái mộ vậy, bà vợ lại đi yêu một tên đại đạo nổi danh hung ác. Trong xã hội đương thời, đấy chắc chắn là một bi kịch. Có rất nhiều ông bạn lúc đàm luận đến chuyện này, đều nói rằng Tiêu Thập Nhất Lang cuối cùng phải nên vì Thẩm Bích Quân mà chết đi thôi. Như vậy mới làm cho độc giả có được chút cảm giác cay cay mà đẹp đẹp sau khi đọc truyện xong, như vậy mới là hay.
Tôi vẫn không chịu vậy.
Cuối cùng, tôi vẫn còn để lại một con đường cho cặp tình nhân đó, còn để lại cho họ một hy vọng.
Chuyện của A Phi cũng là một bi kịch.
Y yêu phải một người đàn bà không đáng cho y yêu đến thế, mà nàng ta lại không yêu y. Nhưng A Phi không vì thế mà ngã xuống, ngược lại, y còn nhờ đó mà giác ngộ ra ý nghĩa chân chính của cuộc đời và tình yêu. Y không hề bị bi ai làm cho ngã gục, ngược lại từ trong cái bi ai mà lấy ra được sức mạnh để phấn đấu.
Đây chính là chủ đề chân chính của Đa Tình Kiếm Khách Vô Tình kiếm và của Thiết Đảm đại hiệp hồn.
Nhưng khái niệm này không phải là do tôi sáng tạo ra, tôi từ trong "Nhân tính Già Tiêu" của "Mao Mẫu" trộm ra đấy.
Mô phỏng lại không phải là sao y bản chính.
Tôi tin là bất cứ tác giả nào viết chuyện cũng đều không khỏi bị ảnh hưởng của người khác.
"Mễ Lan phu nhân" tuy viết ra dưới bóng của "Đức Phân Mạc Lý Ai", nhưng không ai phủ nhận nó là một kiệt tác vĩ đại.
Trong thời kỳ tác phẩm của Quỳnh Dao, cơ hồ mọi nơi đều có thấy bóng dáng của Hồ Điệp Mộng và Bào Hao sơn trang.
"Lam Dữ Hắc" cái tên đó nhất định không phải là sao y lại "Hồng Dữ Hắc", bởi vì y có cái tư tưởng và ý nghĩ riêng của y.
Nếu bạn bị một tác phẩm của một người làm cho hấp dẫn và cảm động, lúc bạn viết chuyện thường thuờng không tự chủ được, sẽ mô phỏng theo y.
Lúc tôi viết cuốn "Lưu Tinh, Hồ Điệp, Kiếm", tôi chịu ảnh hưởng rất lớn của God Father. Bộ chuyện God Father do Maria Puzo viết được làm thành bộ phim nổi tiếng đương thời. Lão Bá trong "Lưu Tinh, Hồ Điệp, Kiếm" chính là hình bóng của God Father đấy thôi.
Y là thũ lãnh của đảng bàn tay đen, cường hoạnh như một cục đá cứng ngắc, mà cũng giảo hoạt như một con hồ ly.
Tuy y làm chuyện ác, nhưng tính người khẳng khái, hiếu nghĩa, chính trực vô tư. Y không oán trời oán người, bởi vì y yêu đời, yêu gia đình, yêu bạn bè.
Tôi gặp phải nhân vật đó, lúc viết chuyện không cách nào bỏ đi được bóng dáng của y ra ngoài.
Nhưng tôi không thừa nhận đó là sao y bản chính.
Nếu tôi có thể đem những nhân vật vĩ đại trong những kiệt tác của người khác vào trong tiểu thuyết kiếm hiệp, dù cho có bị người ta mắng chửi chê cười, tôi cũng chịu cam tâm tình nguyện.
Tiểu thuyết vũ hiệp hiện tại cần nhất là những nhân vật vĩ đại, những nhân vật khả ái, mà không cần những thần nhân bất cận nhân tình. Viết chuyện tiểu thuyết loại nào đi chăng nữa, cũng phải viết cho có thịt có máu, nhưng không phải là thứ máu bị kiếm đâm cho chảy ra, hay thịt bị đao cắt đứt đi, lại càng không phải là thứ máu thịt tung tóe, chảy cùng khắp cả.
Tôi đang nói máu thịt đây là người đang sống sờ sờ có máu có thịt. Tôi đang nói đây là, dù có phải chảy máu ra cũng phải chảy cho đáng giá.
Thiết Trung Đường, Lý Tầm Hoan, Quách Đại Lộ ... đều không phải là những ngưỡi thích đổ máu. Nhưng bọn họ thà đổ máu cũng không muốn thấy người khác vì họ mà rơi lệ. Trong lòng bọn họ đầy nhiệt huyết, tùy thời đều có thể đổ ra vì người khác, chỉ cần bọn họ cho rằng những điều mình làm là có giá trị. Bọn họ tùy thời đều có thể vì người bọn họ thật lòng yêu thương mà hy sinh đi chính mình, trong lòng bọn họ chỉ biết có thương yêu, không biết đến thù hận.
Đây là ba nhân vật mà tôi thích nhất trong những nhân vật tôi đã từng viết. Bọn họ đều là người, không phải thần thánh. Bởi vì bọn họ cũng có khuyết điểm của con người, cũng có lúc chịu không nổi bị dằn vặt, cũng đau khổ, bi ai, sợ hãi. Bọn họ đều là những nam tử hán đầu đội trời chân đạp đất, nhưng tính tình của bọn họ hoàn toàn không phải như vậy.
Thiết Trung Đường trầm mặc ít lời, nhẫn nhục chịu đựng, dù có bị người ta oan uổng hay ủy khúc cũng không than vãn, y vì người nào hy sinh, người đó sẽ không bao giờ biết. Hạng người đó nước mắt rơi ở trong bụng, hạng người đó dù có bị người ta đánh cho rớt răng ra cũng nuốc máu nuốc răng vào bụng.
Quách Đại Lộ thì không như vậy.
Quách Đại Lộ là người lớn mồm lớn miệng, la khóc om sòm. Y muốn khóc là khóc lớn lên, muốn cười là cưỡi ầm ỉ, bạn bè không phải với y, y sẽ chỉ vào mặt người ta mắng chửi, nhưng một phút sau, đã tuột quần ngồi đó uống rượu với họ.
Y thích khoa trương, thích hưởng thụ, thích tiêu tiền, y không bao giờ muốn chết, nhưng nếu bắt y bán đứng bạn bè, y thà cắt cổ mình đi cũng nhất định không chịu làm. Y có vẻ nhẹ dạ, hiếu sắc, nhưng nếu y yêu phải cô nào, bất kể ra sao, cũng sẽ không bao giờ thay lòng đổi dạ.
Tính tình của Lý Tầm Hoan giống Thiết Trung Đường hơn, nhưng y thành thạo hơn, y hiểu cuộc sống hơn, bởi vì y đã trải qua nhiều chuyện khổ đau, nổi thống khổ chất chứa trong lòng của y đã quá lâu. Y xem ra có vẻ tiêu cực lắm, yếm thế lắm, thật ra lòng y vẫn tràn đầy yêu thương vào nhân loại, đối với cả nhân loại tràn đầy yêu thương, không phải chỉ đối với mỗi tình nhân của y, bạn bè của y.
Vì vậy, y mới sống hoài. Người duy nhất dằn vặt được y, chính là y. Lý Tầm Hoan và Thiết Trung Đường, Quách Đại Lộ còn có điểm khác không giống nhau. Y không phải là người khỏe mạnh, lấy danh từ y học hiện đại ra mà nói, y là người bị bệnh lao phổi, lúc nào cũng bị ho, có lúc còn ho ra máu.
Trong các nhân vật chính trong tiểu thuyết kiếm hiệp, y là người không khỏe mạnh nhất. Nhưng tâm lý của y lại bình thường nhất, ý chí của y kiên cường như sắt thép, sức tự chủ của y ít có ai bì kịp. Y tỵ thế, trốn danh, làm chuyện gì cũng không cho người khác biết. Nhưng lúc y còn sống lại đã là một nhân vật truyền kỳ rồi. Người gặp qua y không nhiều, nhưng người chưa nghe qua y lại rất ít, nhất là cây đao của y.
Tiểu Lý Phi Đao:
Cây đao của y chưa bao giờ thoát ra khỏi tay một cách tùy tiện, nhưng chỉ cần ra khỏi tay là không bị trật bao giờ. Trước giờ rất ít khi tôi viết vũ công gì thần kỳ lắm, nhưng tiểu Lý phi đao nhất định là phải thần kỳ.
Trước giờ tôi chưa miêu tả cây đao ấy hình dạng dài ngắn ra thế nào, cũng chưa miêu tả làm sao phóng nó ra, làm sao luyện thành. Tôi chỉ tả là y thường thường dùng điêu khắc để làm cho bàn tay ổn định, chuyện khác tôi để cho độc giả tự tưởng tượng ra.
Vũ công trong tiểu thuyết vũ hiệp, đều toàn bộ là do tưởng tượng mà được sáng tạo ra.
Thật ra cây đao của y cũng chỉ có thể tưởng tượng ra được thôi, không thể nào miêu tả được. Bởi vì cây đao của y vốn là một tượng trưng, một lực lượng tượng trưng cho quang minh và chính nghĩa. Vì vậy tuy vũ công của Thượng Quan Kim Hồng có cao hơn y, cuối cùng cũng vẫn bị chết dưới lười phi đao.
Bởi vì chính nghĩa phải thắng tà ác.
Thời kỳ hắc ám có dài bao nhiêu, quang minh sớm muộn gì cũng sẽ đến.
Vì vậy cây đao của y không phải là một thứ binh khí, cũng không phải là ám khí, mà là một thứ lực lượng để phấn chấn tinh thần người ta.
Mọi người chỉ cần thấy Tiểu Lý phi đao xuất hiện, là biết ngay cường hoạnh sẽ sắp bị tiêu diệt, chính nghĩa sẽ được tôn vinh.
Đây là dụng ý chân chính của tôi lúc viết cuốn Tiểu Lý Phi Đao
romas
09-01-2008, 11:55 PM
7. Trong tiểu thuyết vũ hiệp có đủ các thức các dạng vũ khí. Đao, thương, kiếm, kích, phủ, việt, câu, xoa, tiên, trùy, trảo, luyện tử thương, lưu tinh trùy, phương tiện sạn, khóa hổ giám, bàn long côn, cô bình kiếm, tam tiết côn, hàng ma đao, phán quan bút, nga mi thích, đại bạch lạp can tử ...
Đao lại có đơn đao, song đao, quỹ đầu đao, cửu hoàn đao, giới đao, kim bội khảm sơn đao ...
Bao nhiêu đó vũ khí đã nhiều rồi, các tác giả còn có lúc sáng tạo ra cho vai chính trong câu chuyện thêm một thứ vũ khí kỳ dị độc đáo khác, có cái thậm chí còn có thể đem dùng cho bảy tám thứ vũ khí, thậm khí gặp lúc nguy cấp còn phát ra ám khí hoặc mê dược.
Nhưng vũ khí là vật chết, người mới là sống.
Một thứ vũ khí có làm cho độc giả cảm thấy bị kích thích, chủ yếu vẫn là ở người nào sử dụng nó. Trong ký ức của tôi, ấn tượng sâu xa nhất có mấy thứ.
Trương Tam Hiệp kiếm của Trương Kiệt Khâm, Phi Thiên Ngọc Hổ Tương Bá Phương sử dụng Lượng Ngân bàn long côn, cây côn đó chính nó cũng chẳng có gì là ly kỳ, tuyệt đối không thể sánh với vũ khí Kim Tiêu Thắng Anh sử dụng là Ngư Lân Tử Kim Đao, lại càng không sánh bằng Hải Để Lạo Nguyệt Diệp Tiềm Long sử dụng là thanh bảo kiếm chặt sắt như bùn, cũng không sánh bằng Hổn Hảo Kim Ngao Mạnh Kim Long sử dụng là cây Hàng long chử.
Bởi vì người dùng nó là Phi Thiên Ngọc Hổ Tương Bá Phương, vì vậy mới để lại ấn tượng rất sâu trong đầu tôi.
Hai mươi năm trước, lúc tôi xem bộ tiểu thuyết đó, chỉ cần đọc tới đoạn Tương Bá Phương rút cây bàn long côn của y ra là tim tôi đã đập thình thịch lên.
Bàn tay của Ưng Trảo Vương là một thứ vũ khí, nhưng vũ khí thưỡng thấy trong tiểu thuyết vũ hiệp, vẫn là đao và kiếm.
Nhất là kiếm.
Các đại hiệp chính phái hình như đều dùng kiếm, kiếm của Nhất Trần đạo trưởng, kiếm của Lý Mộ Bạch, kiếm của Hắc Ma Cách, kiếm của Thượng Quan Cẩn, kiếm của Triển Chiếu, kiếm của Kim Xà lang quân, kiếm của Vô Trần đạo trưởng Hồng Hoa hội, kiếm của Thục Sơn Tam anh Nhị Vân ...
Những thứ đó đều làm người ta khó mà quên cho được.
Nhưng vũ công đến mức đăng phong, thì chẳng còn phải cần vũ khí. Bởi vì Phi Hoa Trích Diệp của y cũng đã đủ để làm hại người, bất kỳ thứ gì lọt vào tay y cũng đều có thể biến được thành vũ khí. Bởi vì kiếm của y đã từ hữu hình biến ra vô hình.
Vì vậy các cao thủ tuyệt đỉnh trong tiểu thuyết vũ hiệp, thông thường đều mặc áo rông thùng thình, tay không tấc sắt. Đấy cũng là một hiện tượng thú vị, làm như trước giờ chưa có ai nghi ngờ rằng, tấm thân huyết nhục của một người có thể sánh được với các thứ lợi khí giết người.
Ám khí cũng là một lợi khí giết người.
Có rất nhiều người cho rằng, ám khí là thứ tiểu xảo, đã không đủ quang minh chính đại, cũng không được coi là một bản lãnh, vì vậy chân chính anh hùng hảo hán, không nên dùng ám khí.
Thật ra ám khí cũng chỉ là một thứ vũ khí. Nếu ta thử suy nghĩ một chút, vũ khí hiện đại thật ra chính là ám khí, súng lục và tụ tiễn có gì là phân biệt ? Súng máy không phải là liên châu nõ tiễn của thời xưa sao ?
Luyện ám khí cũng như luyện đao kiếm vậy, cũng phải mất công khổ luyện, luyện ám khí có lúc còn khổ sở hơn cả các thứ vũ khí khác, người luyện ám khí không những phải có cặp mắt tốt, mà còn phải có đôi bàn tay rất ổn định.
Nếu ta không đi ám toán người khác sau lưng,ám khí hoàn toàn không có chỗ nào có thể phỉ báng được.
Ám khí làm cho người ta khó quên trong tiểu thuyết vũ hiệp cũng rất nhiều, Thập Nhị Kim Tiền Tiêu của Dư Tam Tuyệt, Độc Sa của Đàn Chỉ thần thông, Thiết liên tử của cha con họ Liễu ...
Những thứ đó tuy không phải là ám khí do Bạch Vũ sáng chế ra, nhưng ông ta miêu tả nó rất là hay.
Trong tiểu thuyết của Vương Độ Lư, tiểu nõ tiễn của Ngọc Kiều Long được miêu tả như con người của cô ta, kiều túng, ác độc, không cho người ta có đường nào để chọn. Ông ta đã đem tính tình của Ngọc Kiều Long và ám khí của cô ta hợp thành một thể, lối miêu tả đó chắc chắn là thành công lắm.
Thiên Thủ như lai Triệu Bán Sơn trong Thư Kiếm Ân Cừu Lục là tay cao thủ bậc nhất về ám khí trong tiểu thuyết vũ hiệp, nhưng lòng dạ của y lại rất từ bi.
Bạch Phi Mao Từ Lương trong Thất Hiệp Ngũ Nghĩa cũng thế, toàn thân trên dưới của y đầy những ám khí, trong hoàn cảnh nào góc cạnh nào, y cũng đều có thể phát ra ám khí. Sủy Đầu Nhất Chích của Kim Tiêu Thắng Anh, Nghinh Môn tam bất quá Phi Trảo của Mạnh Kim Long, Thiết Đảm của Thượng Quan Cẩn, Trịnh Chứng Nhân miêu tả Tử Mẫu Kim Thoa, Xuất Thủ song tuyệt ... những thứ đó đều là những thứ ám khí được miêu tả thành công nhất.
Nhưng thứ ám khí được miêu tả nhiều nhất trong tiểu thuyết vũ hiệp vần là độc dược ám khí của họ Đường ở Tứ Xuyên.
Tứ Xuyên có hay không có nhà họ Đường, chẳng ai xác định được, nhưng tôi tin là rất nhiều người cũng như tôi, cơ hồ đều tin là có thật.
Bởi vì cái họ Đường cùng với độc dược ám khí của họ, cơ hồ xuất hiện trong khắp các chuyện tiểu thuyết vũ hiệp, cơ hồ có thật với các môn phái Thiếu Lâm và Vũ Đương.
Nếu đó chỉ bất quá là đồ sáng tạo khơi khơi ra, thì cái sáng tạo đó thật quá thành công.
Chỉ tiếc là hiện tại không còn ai nhớ ra người nào đã viết ra trước tiên. Trong Danh Kiếm Phong Lưu, tôi đã hiện đại hóa phương pháp chế tạo ám khí của nhà này, cũng như hiện tại tiểu thuyết gián điệp chế tạo vũ khí bí mật vậy.
Lúc tôi viết, tôi cũng thấy khoái trá đắc ý lắm, bởi vì tôi cho rằng họ Đường đã nổi tiếng về ám khí trong vũ lâm, thì thứ ám khí đó dĩ nhiên là phải có gì đó khác người, phương pháp chế tạo nó cũng sẽ rất bí mật.
Nhưng hiện tại quan niệm của tôi đã thay đổi.
Ám khí của họ Đường đáng sợ, không chừng không phải là ở ám khí, mà là ở cái thủ pháp phóng ám khí.
Ám khí là vật chết, người mới là sống.
Một cây cung bình thường, một mủi tên bình thường, đến tay Dưỡng Do Cơ lập tức biến thành thần kỳ. Vì vậy hiện tại tôi đặt trọng tâm vào con người.
Đủ các thức các dạng con người, đàn ông, đàn bà.
Bất cứ ai đều không thể phủ nhận được, trên đời này nhất định không thể không có đàn bà.
Nữ tính vĩnh hằng, đưa nhân loại lên cao.
Vì vậy trong tiểu thuyết vũ hiệp cũng không thể không có đàn bà. Đàn bà cũng như đàn ông, có tốt có xấu, có dễ thương, có đáng hận.
Dư Tú Liên là điển hình của một cô nương miền Bắc, hào sảng thẳng thắn, trong sáng nhưng cũng rất điển hình của thứ nữ tính thời xưa. Vì vậy tuy cô thương Lý Mộ Bạch vô cùng, nhưng không bao giờ dám chủ động bước ra nắm lấy cái hạnh phúc của mình.
Tuy cô rất cương cường, nhưng khi trong lòng có chuyện gì ủy khúc đau khổ, cũng chỉ đành lẳng lặng chịu đựng. Nếu tôi mà viết chuyện này, kết cuộc sẽ không chừng hoàn toàn không phải vậy. Tôi nhất định sẽ viết cho nàng theo dính Lý Mọ Bạch, Lý Mộ Bạch đi đến đâu, cô sẽ theo đến đó, bởi vì cô yêu y, yêu rất sâu đậm ...
Viết như vậy dĩ nhiên sẽ không cảm động người ta như Vương Độ Lư, chính tôi cũng biết. Nhưng tôi vẫn cứ muốn viết như vậy. Bởi vì thật tình tôi không nở để cho một cô nương dễ thương như vậy lại bị đau khổ cô độc cả một đời.
Vương Độ Lư viết Ngọc Kiều Long, tuy kiều túng, nhiệm tính, nhưng rốt cuộc vần còn không dám, không chịu quang minh chính đại lấy La Tiểu Hổ. Bởi vì cô vẫn cho rằng mình là thiên kim tiểu thơ, La Tiểu Mã là cường đạo, cô cho là La Tiểu Hổ không xứng đáng với mình, lễ giáo thế tục đã mọc rễ trong đầu cô.
Dư Tố Liên không lấy được Lý Mộ Bạch là bị động, Ngọc Kiều Long không lấy được La Tiểu Hổ là chủ động, vì vậy tôi không thích Ngọc Kiều Long.
Vì vậy tôi viết Thẩm Bích Quân, tuy nàng ôn nhu thuận tòng, nhưng đến chỗ khẩn yếu, nàng cũng bất chấp nhất thiết đi theo Tiêu Thập Nhất Lang.
Tôi cho là đàn bà cũng có quyền tự chọn cho mình cái hạnh phúc.
Cái quan niệm này dĩ nhiên trong thời đó sẽ đi ngược với đạo đức, dĩ nhiên là không làm được. Nhưng không ai phủ nhận được, trong thời đó, không có hạng người đàn bà nào như vậy!
Tôn Tiểu Hồng trong Thiết Đảm Đại Hiệp Hồn, Tô Anh trpng Tuyệt Đại song kiêu, Điền Tư Tư trong Đại Nhân vật ... đều là những nhân vật viết trong quan niệm đó.
Bọn họ dám yêu cũng dám hận, dám đi tranh giành hạnh phúc cho mình, nhưng bản tính của bọn họ, không hề mất đi cái nữ tính ôn nhu và thùy mị, bọn họ vẫn là đàn bà.
Đàn bà phải là đàn bà. Về phương diện đó, tôi và Trương Triệt tiên sinh giống quan điểm nhau. Tiểu thuyết của tôi hoàn toàn lấy đàn ông làm trung tâm. Lúc còn rất nhỏ tôi đã không thích xem tiểu thuyết vũ hiệp tả đàn bà còn lợi hại hơn cả đàn ông. Tôi không thích La Sát phu nhân, bởi vì Châu Trinh Mộc tả La Sát phu nhân quá lợi hại, Mộc Thiên Giản đứng trước mặt bà ta giống như một đứa bé chỉ biết mút ngón tay ...
Đấy không phải là vì tôi khinh thưỡng đàn bà ... Trước giờ tôi dám khinh thường đàn bà, anh hùng như Sở Bá vương Hạng Vũ, trước mặt Ngu Cơ cũng phục tòng ra phết. Nhưng nếu Ngu Cơ cũng giống Hạng Vũ, hò hét cưỡi ngựa cầm thương ra trước thiên quân vạn mã, cô ta sẽ không còn là người đàn bà khả ái nữa rồi.
Đàn bà có thể làm đàn ông hàng phục, là vì trí tuệ, ôn nhu và hiểu biết của cô ta, không phải là đao kiếm.
Tôi tôn kính đàn bà ôn nhu thông minh, cũng như tôi tôn kính đàn ông chính trực hiệp nghĩa vậy.
Hiệp và Nghĩa vốn không thể tách rời ra.
Chỉ tiếc là có nhiều người viết về "vũ" nhiều quá, "hiệp nghĩa" lại viết quá ít.
Cái can đảm tương chiếu, nghĩa khí sống chết co 'nhau của đàn ông, có lúc thậm chí còn vĩ đại cảm động hơn cả tình yêu.
Vương Độ Lư tả tình cảm giữa Dư Tú Liên và Lý Mộ Bạch tuy hay, tả nghĩa khí giữa Lý Mộ Bạch và Đức Khiếu Phong lại càng hay hơn. tình bạn của Đức Khiếu Phong đối với Lý Mộ Bạch hoàn toàn vô điều kiện, y xem Lý Mộ Bạch như huynh đệ tay chân của mình, y làm gì cho Lý Mộ Bạch không bao giờ mong báo đáp. Lúc y phạm tội bị đuổi ra khỏi nhà, y còn cao hứng ôm lấy vai Lý Mộ Bạch, nói rằng mình đã muốn ra ngoài quậy từ lâu, còn nói đi nói lại cho Lý Mộ Bạch đừng lấy đó làm buồn. Y bị người ta khinh bỉ, còn sợ không dám để Lý Mộ Bạch biết, sợ Lý Mộ Bạch sẽ đi giết người phạm tội.
Tình bạn như vậy cao thượng biết bao nhiêu, thuần khiết vĩ đại biết bao nhiêu.
Lý Tầm Hoan đối với A Phi cũng vậy, y đối A Phi chỉ có cho, không bao giờ nghĩ đến chuyện thu nhận lại.
Tình yêu thật mỹ lệ, mỹ lệ như mai khôi có gai. Trên đời này mai khôi duy nhất không có gai là tình bạn. Tình yêu tuy nồng nhiệt hơn tình bạn, nhưng tình bạn bền lâu, lại vô điều kiện, không màng đến giá trị.
Dũng khí cũng là thứ bền bỉ, chỉ trong khoảnh khắc vì máu nóng trong đầu bốc lên mà đi giết người, hay là bị giết, cái đó không thể xem là chân chính dũng khí.
Tô Thức có nói trong Lưu Hầu Luận:
Thất phu kiến nhục, bạt kiếm nhi khởi, đỉnh tha%n nhi đấu, thử bất túc vi dũng dã. Thiên hạ hữu đại dũng giả, thốt nhiên lâm chi bất kinh, vô cố gia chi bất nộ, thử kỳ sở hiệp trì giả thậm đại, nhi kỳ chí thậm viễn dã.
(Thất phu bị nhục, bạt kiếm đứng dậy, nhảy lại đánh, đấy không phải là dũng. Thiên hạ ngưòi có dũng khí, gặp chuyện mà không kinh hãi, vô cố bị mà không giận, vì sức lớn, chí cao)
Đoạn văn đó đã giải thích được cái dũng. Dũng khí là biết nhục và cũng biết nhẫn nại.
Một người bị lăng nhục bị hàm oan, còn đủ sức cắn chặt răng tiếp tục đi làm chuyện y phải làm, đấy mới là chân chính dũng khí.
Vì vậy Dương Qua là một người có dũng khí, Thiết Trung Đường cũng vậy, bọn họ không hề bị ảnh hưởng bên ngoài mà cải biến ý chí của mình. Dám thừa nhận lỗi lầm của mình cũng là một thứ dũng khí.
Nếu viết được những thứ dũng khí đó trong tiểu thuyết vũ hiệp, tác giả của tiểu thuyết vũ hiệp sẽ nhất định được người ta tôn kính còn hơn bây giờ nữa.
Hết
dịch giả:Tôi đã có ý muốn tìm hiểu tại sao Cổ Long xây dựng những nhân vật như ông ta đã xây dựng trong các cuốn chuyện, bây giờ đã đọc và dịch một số bài ông ta viết về mình, tôi nghĩ là tôi đã có một chút xíu khái niệm về con người Cổ Long và tiểu thuyết Cổ Long. Tôi xin bỏ những lời ca tụng phẩm bình chê bai ra ngoài, vì tôi nghĩ chính ông ta đã cho chúng ta một cơ hội nhìn thẳng vào tâm tư của một người viết những cuốn chuyện mà không biết bao nhiêu người đã bị mất ăn mất ngủ, trong đó có tôi.
Và mỗi người đọc những bài của ông ta viết đây đều có một khái niệm riêng về ông ta, như vậy cũng đã quá đủ rồi.
Trong website Trúc Đào cô nương đã chỉ cho tôi biết, theo tôi thấy thì ngoài những bài vừa rồi, hình như còn lại những bài tiểu luận của ông ta về "tình bạn", "nhân sinh", "tình cảm", "tình yêu", "đàn ông đàn bà" ... Vừa rồi tôi đã có dịch "Cổ Long luận về tình bạn". Tôi sẽ dịch hết những bài tiểu luận này, và có lẽ tới đó là chấm dứt những bài của Cổ Long về mình.
Hy vọng các bạn đọc những bài này và thấy có gì giúp được các bạn hiểu thêm về Cổ Long hơn.
romas
27-01-2008, 08:23 AM
CỔ LONG LUẬN VỀ TÌNH BẠN
Lê Khắc Tường
Cái thứ can đảm tương chiếu, sống chết một nơi, giữa đàn ông với nhau, có lúc còn vĩ đại, còn cảm động hơn cả ái tình!
Trên đời này có thứ gì còn làm người khác ấm áp hơn tình bạn sao ? Ham rượu khó kiếm, ham bạn bè càng khó hơn.
Bạn bè là bạn bè, nhất định không thể có thứ gì thay thế nổi, nhất định không thể có thứ gì hình dung nổi ... Dù cho hết cả mai khôi trên thế giới này, thêm vào đó tất cả bông hoa trên thế giới này, cũng không thể sánh được với tình bạn thơm tho và mỹ lệ.
Ông muốn kết bạn với ai, phải hiểu tính tình của y ra sao, nếu y có khuyết điểm, ông nên tha thứ cho y.
Một người đang lúc đau khổ, nếu không đem bạn bè ra hả cơn thì còn đem ai ra bây giờ ? Nếu bạn bè không thông cảm được cho y, còn ai thông cảm được cho y ?
Bạn bè là bạn bè, bạn bè không thể chia ra làm hai loại xấu tốt, bởi vì bạn bè chỉ có một loại. Nếu ông làm chuyện không phải với tôi, bán đứng tôi, ông chẳng phải là bạn bè của tôi, ông chẳng xứng nói đến hai chữ đó.
Trên đời này không những có bạn bè can đảm tương chiếu, mà còn có kẻ thù can đảm tương chiếu. Kẻ thù và bạn bè khác nhau, cũng giống như sự phân biệt giữa chết và sống.
Một người còn chịu đi kiếm rượu cho người bạn cũ uống, người đó đại khái vẫn còn thuốc chữa.
Nếu ông đã cho rằng người này là bạn của ông, thì người này vĩnh viễn là bạn của ông.
Chỉ cần mọi người chân chính hiểu được tình bạn tồn tại, thì chẳng cần phải nói gì thêm. Rượu ngon khó được, bạn hiền càng khó gặp.
Kết bạn không phải nhất định phải tìm người nào có thể hổ tương lợi dụng nhau.
Tình bạn tích lũy, tình yêu đột ngột. Tình bạn ắt phải qua một đoạn thời gian được khảo nghiệm, tình yêu thường thường phát sinh trong khoảnh khắc.
Tình nhân tuy thường thường mới mẻ thì tốt, nhưng bạn bè thì cũ mới tốt.
Con người, chỉ có trước mặt bạn bè thân nhất, mới làm những chuyện sai lầm. Bởi vì chỉ những lúc đó, tâm tình của y mới buông thả ra, không những quên đi đề phòng người khác, mà còn quên đi đề phòng chính mình.
Có những trường hợp giữa người với người, làm như là nam châm vậy, gặp nhau là khó mà phân khai ra, đại khái cũng như người ta nói duyên phận.
Sống có vui gì, chết có sợ gì, được một tri kỷ, chết cũng không uổng.
Bạn bè quý ở hiểu nhau, chỉ cần y thật lòng kết giao, mình còn thắc mắc gì đến việc y dùng tên thật hay tên giả.
Chết không chừng chẳng đau đớn gì, nhưng cái đau khổ bị bạn bè bán đứng, lại làm cho bất kỳ ai cũng không chịu nổi.
Chân chính là bạn cũng giống như chân chính là kẻ thù, bình thường không dễ gì nhận ra. Bọn họ đều là những người bình thời ông không ngờ tới.
Trên đời này chỉ có một chuyện không thay đổi, đó là tình bạn chân chính.
Bạn bè khó được, đối thủ can đảm tương chiếu lại càng khó tìm. Muốn tìm một người bạn làm mình tôn kính không phải là khó, muốn tìm một kẻ thù mình tôn kính mới là khó hết sức.
Giữa bạn bè với nhau hỗ tương tôn kính, dĩ nhiên là quý, nhưng giữa thù địch với nhau mà tôn kính, lại càng khó thấy, càng làm người ta cảm động.
Người có bạn bè quả thật giàu có hơn là người có tiền, và càng khoái lạc hơn.
Đụng vào tiền và đàn bà, rất nhiều bạn bè đều sẽ biến thành oan gia.
Hiểu một người sâu xa nhất, thường thường là kẻ thù của y!
Tại sao người ta lại hay đi lừa gạt một người tín nhiệm vào họ nhất ?
Một người thường thưỡng sẽ vào một lúc thật kỳ quái, ở một chỗ thật kỳ quái, cùng một người mình không ngờ được, biến thành bạn bè với nhau, thậm chí là chính bọn họ cũng không biết cái thứ tình cảm đó ở đâu lại.
Nếu ông muốn người khác thật lòng với mình, ông cũng phải đem thật lòng lại đổi cho người ta.
Bất kể bạn của ông là tốt hay xấu, chỉ cần y là bạn của ông, ông không nên thụi cho y một dao ở đằng sau.
Một người mà bán đứng được mình thì dĩ nhiên cũng bán đứng được người khác.
Đối thủ cao quý, so với bạn bè cao quý lại càng khó có được.
Châu quang bảo khí thịnh cực cả một thời, đã thành hoàng hoa trong một đêm, vì vậy soi sáng cả thiên cổ, chỉ có hai chữ nghĩa khí thế thôi.
Bạn bè không nhất định đều là bạn thật tình, nhưng cừu địch thì vĩnh viễn tuyệt đối là cừu địch. Vì vậy nếu kẻ thù của ông đối với ông biểu lộ tình cảm gì, tình cảm đó là thứ chân thực, không chừng còn chân thực hơn cả giữa bạn bè. Giữa bạn bè với nhau, nhất là bạn thân nhất, rất có thể chỉ có thân mật mà không có tôn kính, nhưng giữa kẻ thù địch lắm với nhau, rất có thể chỉ có tôn kính, không hề có khinh thị.
Từ bạn bè biến thành kẻ thù, đó là chuyện đáng sợ nhất, bởi vì y hiểu ta rất nhiều, thậm chí ngay cả chuyện mình đi cầu dùng bao nhiêu giấy chùi, không chừng y còn biết.
Bạn bè ty bỉ, còn đáng sợ nhiều hơn cả kẻ thù chính trực.
Người không có bạn bè, sống không phải cũng không khác gì chết bao nhiêu.
Có những người và người với nhau, như ánh sao xẹt, dù chỉ gặp nhau trong khoảnh khắc, cũng phát xuất ra tia sáng làm ngưỡi ta chói mắt.
romas
04-03-2008, 04:11 PM
CỔ LONG LUẬN CỪU HẬN
Tlekhac
Nếu mình đã yêu một người nào rồi, lúc hận sẽ hận y càng sâu hơn.
Nếu trong lòng ta không có tình yêu, chỉ có cừu hận, địa ngục đang ở trong lòng ta đấy.
Nếu trong lòng mình không có tình yêu, chính mình cũng đang ở trong địa ngục.
Cừu hận cũng như mắc nợ vậy, mình hận người nào, cũng như chính mình đã mắc phải món nợ, trong lòng càng có nhiều cừu hận, thì mình sống trên đời này, vĩnh viễn không có ngày nào được sung sướng.
Cừu hận, vốn là thứ tình cảm nguyên thủy, đơn thuần.
Cừu hận là sau này, vì vậy mỗi người đều có thể hận sai, chỉ có tình yêu mới vĩnh viễn không bị sai.
Cừu hận đem đến cho con người, chỉ là thống khổ và hủy diệt, tình yêu mới vĩnh hằng.
Cừu hận! Có lúc thậm chí ngay cả lực lượng của tình yêu cũng không bì lại với cừu hận!
Cừu hận không như tình yêu, cừu hận không phải là trời sinh ra.
Cừu hận vốn không phải trời sinh, nhưng nếu cừu hận đã mọc rễ trong lòng mình rồi, trên đời này không có thứ lực lượng nào có thể nhổ nó ra khỏi.
Cừu hận không phải là một thứ tình cảm tuyệt đối, trong ý thức của cừu hận, có lúc cũng bao gồm cả thông cảm và tôn kính. Chỉ tiếc là kẻ thù khả ái không nhiều, kẻ thù đáng được tôn kính lại càng ít hơn.
Đố kỵ và hoài hận là thứ tình cảm cường liệt nhất trên đời, nhất là ở trong lòng đàn bà, còn cường liệt hơn cả tình yêu nhiều. Giữa đàn bà với nhau, đố kỵ và cừu hận vĩnh viễn không thể nào tiêu giải được. Đàn bà nếu hận một người đàn bà khác, nhất định sẽ hận cả đời.
Yêu và hận không giống nhau nhất ở chỗ, yêu có thể làm người ta nhìn được tương lai, làm cho người ta có đầy hy vọng vào tương lai. Hận chỉ làm người ta nghĩ về quá khứ những điều thống khổ đã xảy ra.
Người ta thường nói, yêu càng sâu hận càng dữ. Lúc yêu sâu đậm rồi, hận không thể vò nát hai người nhập vào một khối, lúc hận dữ rồi, lại hận không thể bầm nát thi thể xương cốt thành tro.
Khoảng cách giữa hận và yêu, vốn chỉ có một đường chỉ, yêu càng đậm, hận càng cường liệt.
Đối với một người hận mình càng làm ra vẻ không để ý gì cả, thường thường càng làm cho người đó thêm phẫn hận.
Siunhanxipdo
27-08-2009, 09:24 AM
Nữ nhân
Võ hiệp vốn dĩ xưa nay là thế giới của nam nhân. Nơi đó có kiếm có rượu, có bằng hữu có huynh đệ, có ân có oán. Thảy đều là những thứ có thể khiến đàn ông máu sôi sùng sục.
Dĩ nhiên, một góc thế giới ấy có mùi phấn son ôn nhu bảng lảng, lại càng khiến đàn ông sôi sùng sục nhiều thứ khác. Thế nhưng một góc hương sắc ấy hầu như chỉ là những nét điểm xuyết cho thêm phần hấp dẫn.
Cho đến khi Kim Dung viết về họ.
Từ một Hoàng Dung thông minh sắc sảo, Tiểu Long Nữ băng thanh ngọc khiết, A Tử độc ác gian ngoan cho đến Mai Siêu Phong điên cuồng hung dữ, Mã phu nhân thâm độc dâm đãng. Mỗi người một vẻ, đều có thể khiến nam nhân vì mình mà quay cuồng lảo đảo. Có lẽ Kim Dung là người duy nhất viết về nữ nhân rất nhiều trong các tác phẩm của mình. Mười mấy bộ tiểu thuyết là mấy mươi dáng hình khiến người ta say mê, khiến người ta cảm thán, khiến người ta động lòng.
Trình Linh Tố nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ
Tiểu sư phụ Nghi Lâm lãng đãng hồn bướm mơ tiên
Lý Mạt Sầu hỏi thế gian tình là vật gì
...
Và cho đến khi Kim Dung viết về cô gái mang bệnh khổ dâm Kiến Ninh công chúa của Lộc Đỉnh Ký, thì võ hiệp kỳ tình đã tiến rất gần đến văn học đời thường.
Nhưng nhân vật nữ nhân của Kim Dung chỉ khiến người ta thưởng thức, và một phần nào đó vẫn là quần tinh ủng nguyệt xung quanh những anh hùng đội trời đạp đất, thì nữ nhân của Cồ Long mới làm cho người ta phải day dứt.
Đa phần nữ nhân mà họ Cổ viết đều kỳ dị khôn lường, từ cung chủ Di Hoa Cung một đời oán hận cho đến Thiết Tâm Nam hoa tâm đa tình hay Lâm Thi Ân một đời lạc lõng, và có lẽ cũng chỉ có mình Cổ Long mới viết về kỹ nữ đạt tới mức bần cùng của cái nghề này.
Nữ nhân nổi tiếng của ông, hẳn nhiên là tàng kiếm giai nhân Lâm Tiên Nhi.
Bao nhiêu người đàn ông đã ngã gục dưới nụ cười của nàng ta ?
Và nàng đã khuất phục dưới chân bao nhiêu người ?
LÂm Tiên Nhi mãi mãi là biểu tượng của Cổ Long. Tham vọng hơn cả tham vọng nam nhân, nhưng lại đàn bà hơn bất cứ người đàn bà nào, điều đó làm nên một Lâm Tiên Nhi quyến rũ đến nao lòng, mà cũng xót xa đến ái ngại.
Cho đến một đại tông sư khác là Hùynh Dị.
Nữ nhân của Hùynh Dị vô số, nhiều hơn bất kỳ tác giả nào, nhưng họ cũng nhàn nhạt y chang nhau. Nếu có khác, chỉ là khác cái tên cái tuổi. Và đa phần họ đều nép bóng anh hùng, tựa như đóa hoa lan kiêu kỳ nở rộ bên gốc đại thụ sừng sững.
Nếu có một ai để lại đôi chút ấn tượng thì chính là Nhậm Thanh Thị. Chênh vênh giữa đôi bờ dằn xé, vừa khiến người ta thương xót, vừa khiến người ta bực bội căm ghét, đó phải chăng là số phận của người con gái cô khổ trong thời loạn. Kỷ Thiên thiên có thể bạch nhật phi thăng, còn Nhậm Thanh Thị, nàng sẽ đi về đâu ?
Thế giới của Hùynh Dị chính là tế giới tiêu biểu của nam nhân, chỉ có chiến trường, máu và tham vọng. Chỗ dành cho nữ nhân, hầu như quá ít, những bông hoa sắc hương rạng rỡ ấy đã khuất lấp dưới ánh binh đao sáng lòe, những lời ca bay bổng chìm dưới tiếng quân reo.
Nhưng Hùynh Di vẫn thuộc về lớp tác giả lớn tuổi. Cái tư vị nữ nhân của ông, của Kim Dung và Cổ Long hoàn toàn khác cái tư vị của những thiếu hiệp đang mang gươm vác kiếm qua lại chốn giang hồ ngày nay.
Và đặc biệt trong ánh kiếm sắc ấy, có chen lẫn dải lụa đào của nữ nhân.
Nữ nhân viết về nữ nhân, nữ nhân viết về anh hùng.
Nhưng có lẽ để kỳ sau...
Thiên Phong
08-09-2009, 08:04 PM
Mãi đến hôm nay tình cờ lang thang trên mạng gặp được bài này, xin quý bằng hữu gần xa cùng thảo luận.
Kim Dung trong mắt tôi
Nguồn:
http://dongtac.net/spip.php/squelettes/styles/local/cache-vignettes/L125xH150/local/cache-vignettes/L124xH150/spip.php?article1877
(Theo giới thiệu của dịch giả Vũ Công Hoan: Vương Sóc là một nhà văn Trung Quốc đương đại nổi tiếng; người Bắc Kinh, sinh 1958, học trung học rồi đi bộ đội, làm y tá. 1978 xuất bản tác phẩm đầu tay Chờ đợi. Từ 1980 làm việc ở tạp chí Văn nghệ Quân Giải phóng. Từ 1984 làm nhà văn tự do. 1992 xuất bản Văn tập Vương Sóc. Một số tiểu thuyết được dựng thành phim, như Khát vọng (đã chiếu ở VN). Sau đó nghỉ viết, làm kinh doanh. Từ 1999 lại viết. Một cuộc thăm dò dư luận ở Thượng Hải đầu thập kỷ 90 xếp Vương Sóc là nhà văn yêu thích thứ 3 sau Lỗ Tấn, Kim Dung. Đối thoại văn học của Vương Sóc và Lão Hiệp Người đẹp tặng ta thuốc bùa mê (Vũ Công Hoan dịch) được NXB Văn hoá Dân tộc xuất bản năm 2001. Văn Vương Sóc cực kỳ khó dịch, thuộc loại văn khẩu ngữ dân dã, không theo văn phạm, dài lê thê, dùng nhiều từ tác giả tự sáng tác không có trong từ điển, chỉ có thể hiểu theo phán đoán)
Trước đây tôi không đọc những thứ của Kim Dung, chỉ biết ông là người Triết Giang, ngụ tại Hồng Công, viết kiếm hiệp [1] Theo quan niệm kiêu ngạo ngu ngốc trước kia của tôi, những thứ của các tác gia Đài Loan, Hồng Công đều không thuộc dòng văn học chính thống. Tác phẩm của họ chỉ có 2 loại lớn: tình ái và kiếm hiệp. Một thì tình cảm ướt át tràn trề, một thì bịa đặt loạn xị ngậu. Nhất là kiếm hiệp, vốn là một loại tiểu thuyết cũ. Thập kỷ 80, khi trào lưu tư tưởng mới đang rầm rộ đua nở, ai cũng sợ mình lạc hậu, đọc sách báo nào có loại nhân vật kiểu như mặc quần ống bó, đội mũ quả dưa thì trước tiên tự mình cảm thấy kém tư cách. Hồi ấy tôi thấy thiên hạ nhìn người khác theo một thước đo: ai đọc Quỳnh Dao, Kim Dung thì bị bảo là mất phẩm chất, bị coi thường tuốt. Quỳnh Dao bị đóng đinh ở mức thấp và ấu trĩ của cái thước ấy, những người ủng hộ bà chưa hề vượt quá tuổi học sinh trung học, có nói là thích thì lời khen cũng lí nhí, cũng là một bọn mê ca nhạc bảo vệ thần tượng của mình mà thôi. Về sau bà ấy có những người tiếp nối, đông đảo các bà trẻ ở đại lục và Đài Loan, Hồng Công đã phát huy rực rỡ phong cách viết văn của bà. Hiện nay, những bà thích ướt át đều bĩu môi khi nghe người ta nói đến Quỳnh Dao; tất cả đã chuyển sang (mê) Trương Ái Linh rồi.
Kim Dung thì không thế, người đọc ông ngày một lắm, bình phẩm đánh giá về ông ngày càng nhiều. Có kẻ lắm chuyện còn định hạ bệ Mao Thuẫn, thay bằng họ Kim, xếp ông là một trong 7 đại sư; giữa hai bên ủng hộ và phản đối từng xảy ra một số tranh cãi. Như những kẻ cố chấp tự kiêu tự đại, tôi chẳng hề để mắt tới những lời bình luận trên báo chí mà chỉ coi trọng các phán đoán của một số ít bạn bè quanh mình, không quan tâm tới địa vị xã hội và thanh danh của họ trong công chúng. Trong số bạn tôi đã có những người mê Kim Dung. Một người bảo tôi: văn tiểu thuyết Kim Dung có một loại cảm giác tốc độ mà khi đọc tác phẩm của các nhà văn khác ta không cảm nhận thấy. Một người nói: cách tạo dựng nhân vật trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung khác với kiếm hiệp kiểu cũ, trong tiểu thuyết kiếm hiệp cũ căn bản không thể xuất hiện được những nhân vật như Vi Tiểu Bảo, Đoàn Dự, gần với phản anh hùng trong tiểu thuyết hiện đại. Ngày càng có nhiều người mỗi khi đi công tác xa đều mang theo một bộ Kim Dung, tối không ngủ được thì đem ra đọc, hôm sau phồng mang trợn má tán gẫu mãi không thôi với người cùng sở thích, trong khi trò chuyện cũng lôi ra một vài chiêu võ thuật, nghiễm nhiên thành hai đại cao thủ đàm luận võ nghệ. Khi gặp loại người mù Kim Dung như tôi, họ sượng sùng cười: xem cho vui, đổi đầu óc tý chút ấy mà. Sau đó thông thường họ đều khuyên đi khuyên lại tôi: ông cũng nên đọc, nên đọc đi, không xoàng như ông nghĩ đâu. Thấy nhiều người khuyên, tôi cũng do dự, thôi thì kiếm về đọc tý chút, nếu hay thì chớ bỏ lỡ dịp. Lần đầu tiên đọc sách của Kim Dung, tên sách quả thật bây giờ đã quên khuấy, một cuốn dày cộp đọc một ngày rồi thật sự không thể đọc tiếp, chưa được một nửa đã bỏ dở. Cốt truyện và nhân vật thế nào, bây giờ tôi cũng chẳng nhớ ra nữa, chỉ để lại một ấn tượng là tình tiết trùng lặp, hành văn lòng thòng, các nhân vật cứ gặp nhau là choảng nhau, lẽ ra một câu là đủ nói rõ thì lại cứ không nói cho rõ, hơn nữa choảng nhau mà chẳng ai diệt được ai, nhất định là cứ mỗi lần đến lúc sắp có án mạng thì từ trên trời rơi xuống một kẻ ngáng lại. Toàn bộ nhân vật đều có những mối thâm thù đại hận loạn xị ngậu, mọi tình tiết câu chuyện đều dựa trên cái đó mà triển khai. Như thế thì có gì mới lạ nhỉ ? Những thứ tiểu thuyết cũ của Trung Quốc đều theo con đường ấy cả, nói cho đến cùng là chuyện báo ứng nhân quả. Lần đầu đọc Kim Dung là một lần trải nghiệm tồi tệ, bắt đầu nghi ngờ con mắt nhận xét của bè bạn mà thoạt tiên tôi cảm thấy rất cao rất sắc sảo ấy, nếu bảo sách của Kim Dung là thứ tốt thì chỉ có thể nói các bạn tôi có mắt mà như không. Có lần tôi sơ suất để lộ sự hoài nghi đó, bạn bèn cự lại: ông mới xem có nửa cuốn, chưa có quyền phát ngôn.
Lần đọc Kim Dung tiếp theo là vào cái thời phim truyền hình nhiều tập Thiên long bát bộ đang chiếu tùm lum [2]. Có tối vô vị, tôi cũng liếc qua màn hình một chút, cho dù rất khó chịu nổi sự bịp bợm và bôi bác từ trang phục đến đạo cụ, đến cảnh quay, đến động tác đấm đá, song có vài hôm cũng vẫn bị chuyện phim cuốn hút. Những người mê Kim Dung cũng bất mãn bảo phim truyền hình kém xa tiểu thuyết. Phim truyền hình vẫn có truyền thống làm hỏng nguyên tác; câu nói ấy tôi cũng tin rồi, khi thấy hiệu sách có bầy bộ sách ấy bèn mua về, chuẩn bị nghiêm chỉnh học tập một phen để khỏi bị người khác cứ bảo là chưa đọc sách của người ta mà đã nói bừa.
Bộ sách ấy gồm 7 tập, bấm bụng đọc hết một tập, sang tập thứ hai dù cố gắng đến đâu cũng không thể đọc được nữa. Một món ăn ngon hay không, đâu cần ngốn hết mới có thể nhận xét được ? Tôi buộc phải nói: xét theo khẩu vị của mình thì các món ăn do sư phụ Kim Dung nấu đều chưa chín, mà nguyên liệu lại không chọn thứ tươi ngon, món nào cũng sặc một mùi ôi thiu do để lâu đã hỏng. Tôi chưa thấy ai, ngoài ông ra, dám làm như thế với bản thân : tập đầu viết thế nào, tập sau vẫn viết thế, có lẽ là cố tình; mọi thói xấu [3] có thể mắc phải khi viết tiểu thuyết thì đều mắc phải tuốt. Cái cảm giác tốc độ gì gì kia tức là chẳng câu nào không dùng sáo ngữ có sẵn, đôi câu ba dòng là choảng nhau, dùng những cảnh dầy dặc chi chít các động tác khiến cho bạn đọc bỏ quên câu chữ, hoặc giả nói tất cả câu chữ đều vứt đi, chỉ tạo tác dụng hình ảnh sao chép. Ông thật liều lĩnh [4] khi lấy nhân vật từ tác phẩm của người khác, cái tay Đoàn Dự kia sao không gọi là Giả Bảo Ngọc [5] ? Nếu nói ông già Kim có sáng tạo gì đó, thì tức là mối tình ấy [6] đã bị ông viết đến chán ngấy, thấy một phụ nữ thì gọi ngay người ấy đó là em gái [7], vừa mở miệng đã chuốc vạ vào thân. May sao trước ông còn có Thuỷ Hử, để ông có thể lấy tính cách của 108 vị tướng dán nhãn lên lũ yêu ma quỷ quái dưới ngòi bút của mình. Cái ông Kim này cũng dai hơi, một mạch tìm ngựa theo tranh, nhân vật khi mở màn có tính khí thế nào thì sau đấy mãi mãi đều như vậy tuốt, quanh đi quẩn lại đều thế cả, chính hay tà cuối cùng đều nhất tề quy y cửa Phật, nâng cao được nhận thức. Đây là nhân vật ư ? Đây là tranh minh hoạ.
Nói về Thiên long bát bộ, từ ngôn ngữ đến tạo ý, ông già Kim đều cơ bản chưa thoát khỏi lề thói của tiểu thuyết bạch thoại cũ. Chắc ông già cũng chẳng có cách nào, dù là tiếng Triết Giang hay tiếng Quảng Đông, ông đều không thể đưa nó vào văn chữ được, đành phải viết lách bằng thứ ngôn ngữ chết [8], điều đó đã hạn chế nguồn ngôn ngữ của ông; bảo là văn bạch thoại, kỳ thực lại ngang bằng với văn văn-ngôn. Thông thường, người Triết Giang toàn là người Hà Nam, tiếng Quảng Đông cũng thông với Hán ngữ cổ, chưa đến nỗi làm cho văn chữ chẳng có gì đáng giá.
Phần lớn tiểu thuyết cũ của Trung Quốc đều có một chủ đề rõ ràng, đó là lấy danh nghĩa đạo đức để giết người, dưới cái chiêu bài hoằng pháp dạy người ta làm bậy, điều này cũng thấy rất rõ trong tiểu thuyết của Kim Dung. Nói hiệp khách dưới ngòi bút Kim Dung là nhà võ thuật thì không bằng nói đấy là kẻ tội phạm, mỗi một môn phái là một băng cướp. Vì ân oán riêng tư mà họ chém giết nhau thì cũng cho qua được thôi, nhưng điều không thể chịu được là lại chụp lên hành vi hung bạo của họ một chiếc mũ to tổ bố, cứ như kiểu giết người theo hình phạt riêng cũng có phân biệt chính nghĩa và phi chính nghĩa ấy, đã vì chính nghĩa thì chẳng quản máu chảy thành sông. Có lẽ Kim tiên sinh viết những cuốn sách ấy thuần tuý để đông đảo mọi người tiêu khiển, chứ nếu đòi hỏi phải gánh lấy trách nhiệm lớn giáo hoá dân chúng thì nhất định ông chẳng dám đâu, thế thì hà tất lại cứ phải dày công dát vàng lên mặt một số vai diễn làm gì ? Với tấm lòng nhỏ nhen của những người ông vẽ nên, thì dù chẳng động chạm gì đến mối thù nhà hận nước đại nghĩa muôn đời, họ cũng có thể choảng nhau được. Có thể tôi chưa hiểu rằng khát vọng chính nghĩa cũng là một trong các mục đích giải trí của đại chúng, nhưng tôi cảm thấy, chuyện tầm phào là chuyện tầm phào thôi, chứ lại cứ nhất nhất phải tòi ra một cái nguyên tắc lớn thì chuyện ấy thật tởm lợm nhất. Tôi không tin rằng các nhân vật dưới ngòi bút Kim Dung kia từng thật sự tồn tại trong nhân loại, ý tôi muốn nói về cái phần nhân tính trên người các nhân vật đó. Tiểu thuyết gì đi nữa, thông tục hay tiểu thuyết thuần, đều là bức hoạ của tự thân nhân loại, phi lý cũng trước hết do sự phi lý của con người, bao giờ cũng phải bắt nguồn từ một phần chân thực của cơ thể con người, có thể là mê sảng, có thể là ảo tưởng, có thể là bệnh hoạn, có thể là khó hiểu, nhưng quyết chẳng phải là không có nguyên nhân. Chỉ có một loại tiểu thuyết không gần gũi với điều đó, đó là tiểu thuyết xấu, ngoài mặt xem ra chớ bảo là thật lắm, trong xương cốt thì hoàn toàn là thuật giật dây, chạy theo ý đồ chủ quan của tác giả, chỉ cần tình tiết đòi hỏi là dám làm cả những chuyện không hợp lý, nói ra thì nhân vật có họ tên cả đấy, nhưng chẳng có một chút mùi vị con người nào sất.
Tôi xưa nay sống giữa những người Trung Quốc, tôi cũng không cho rằng người Trung Quốc có khí chất nhân chủng gì đặc biệt và có yêu ghét thù hận vượt trên nhân dân các nước trên thế giới, mà đều là người cả, nhiều nhất là có chút kỹ tính về phong tục tập quán. Trong tiểu thuyết của Kim Dung, đúng là tôi nhìn thấy một số người khác với chúng ta, họ hẹp hòi thô lỗ thế, năng lực nghe nhìn và năng lực diễn đạt đều có trở ngại nghiêm trọng, gần như đều không thể hiểu lý lẽ, vô pháp vô thiên, thế giới tinh thần hầu như không có sức chứa, chỉ có thể nhận biết được một chút xíu người và sự việc trước mắt, mọi hành động hầu như là sự phản xạ có điều kiện một cách đơn giản. Tóm lại một câu, tôi không nhận ra được họ là ai. Đọc sách của ông, tôi không nảy sinh ra bất cứ sự liên tưởng nào về con người, về nhân quần, cứ như đang xem một đống rô-bôt đang thao tác, vừa đọc vừa tự hỏi: có thể như vậy chăng ? Ông anh này viết lách gì mà quá ư không chịu suy nghĩ thế ! Một người nhiều tuổi như vậy, sống cả cuộc đời, chưa ăn thịt lợn thì cũng từng nhìn thấy lợn chạy rồi, phải chăng viết truyện kiếm hiệp thì có thể bậy như thế ư ?
Tôi cho rằng Kim Dung rất không sáng suốt khi hư cấu ra hình ảnh của một nhóm người Trung Quốc. Qua việc chiếu rộng rãi các bộ phim nhựa và phim truyền hình của ông mà trên mức độ nào đó, nhóm người ấy đã thay thế hình ảnh chân thực của người Trung Quốc, làm cho thế giới hiểu nhầm rất lớn, tưởng rằng đây là bộ mặt vốn có của người Trung Quốc. Ai nấy đều nói phim của Trương Nghệ Mưu xuyên tạc hình ảnh của người Trung Quốc. Tôi cho rằng Kim Dung thực sự là người hư cấu ra những thứ không có trong thực tế; biết tý quyền cước, có ý kiến là đánh người ta đến chết; đây không phải là trang nam nhi có bầu máu nóng, cũng chẳng liên quan gì tới chính khí lớn lao, đây là động vật hoang dã.
Dù cố gắng với thiện chí lớn nhất để tìm hiểu việc này, tôi cũng chỉ có thể nghĩ đến mức: sở dĩ sách Kim Dung bán chạy hoàn toàn là do mọi người chúng ta sống quá mệt mỏi, rất nhiều người còn có chút buồn bực, cho nên bằng lòng tạm thời cho trí óc nghỉ một chút, làm một chầu mát xa đầu óc bằng văn học. Một điều nữa, đúng là lĩnh vực tiểu thuyết thông tục của tiểu thuyết TQ chưa phát triển mấy, ngoài kiếm hiệp của ông già Kim ra, các lĩnh vực khác như, khoa học viễn tưởng, ma quái, kinh dị, tình ái, đều không đáng nhắc tới. Nên nói rằng tiểu thuyết thông tục là món ăn chính của gia tộc tiểu thuyết, kiểu như cơm gạo hay bánh màn thầu [9] ấy, bữa nào cũng phải ăn. Có thể coi Kim Dung là Kim màn thầu được đấy, mỗi lần hấp một khay, 14 khay, bụng to đến đâu cũng có thể chén đẫy bụng.
Mấy năm nay, có thể nói Tứ đại thiên vương [10], phim Thành Long, phim truyền hình Quỳnh Dao và tiểu thuyết Kim Dung là 4 thành tựu lớn [[Nguyên văn “Tứ Đại Tục”: 4 hình thức lớn của văn nghệ bình dân, thông tục). Không phải là nói tôi không có thành tựu, chỉ có điều không phải cái kiểu thành tựu (thông tục) như thế. Chúng ta từng có những niềm phấn hứng của mình, cũng có 4 cột trụ lớn : văn học thời kỳ mới, nhạc rốc, mấy thế hệ thày trò Học viện Điện ảnh Bắc Kinh và 10 năm của Trung tâm Nghệ thuật truyền hình Bắc Kinh. Hiện nay các sáng tác đều co lại, có thể nói trên mặt hứng thú văn nghệ đại chúng thì toàn bộ chìm đắm. Vấn đề này do đâu, tôi chẳng biết nữa. Có thể là ở Trung Quốc, những thứ cũ kỹ, ngây thơ, thần thoại tự ngã lại có sức sống hơn các thứ khác.
Nền nghệ thuật mà giai cấp tư sản Trung Quốc có thể đẻ ra, về cơ bản đều mục ruỗng, họ có thể học tập thứ mới nhất, nhưng thế giới tinh thần thì mãi mãi chìm đắm say mê trong giấc mộng phồn hoa cũ rích ngày xưa. 4 thành tựu lớn (4 dạng văn nghệ bình dân) nói trên đang ngày ngày chứng minh điều đó. Còn những nghệ sĩ kia của chúng ta thì sao, phải chăng họ cũng đang cố gắng chứng minh họ đều đoản mệnh cả ? Có lúc tôi thật chẳng biết có nên tin vào thuyết Tiến hoá hay không nữa.
Nguyễn Hải Hoành dịch và chú giải.
Nguồn: Trung Quốc Thanh niên báo. Trích lại từ Duzhe (Hedingben)
[1] Nguyên văn: võ hiệp; ở ta còn gọi là chuyện chưởng
[2] Nguyên văn hùn tian hei di: tối trời tối đất, tối tăm mặt mũi
[3] Nguyên văn: cái thối.
[4] Nguyên văn zhen hao yi si: thật không biết ngượng
[5] Một nhân vật chính trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần.
[6] Ý nói mối tình giữa Giả Bảo Ngọc với Lâm Đại Ngọc.
[7] Nguyên văn: muội muội.
[8] Nguyên văn: tử văn tự.
[9] Loại bánh bao hấp không nhân.
[10] Tức 4 nghệ sĩ biểu diễn ăn khách nhất ở Trung Quốc.
Thiên Phong
08-09-2009, 08:05 PM
Vâng, xin lỗi nếu như tôi có hơi quá lời về bài viết này của ông Vương Sóc.
Tuy không dám ngạo mạn so sánh mình với Kim Dung Kim lão gia, nhưng tôi cũng đã từng tập tành viết vài dòng, và cũng đã từng nhận những góp ý với văn phong mang hơi hướng flame (chê tơi bời hoa lá, gọi tôi là lố bịch, truyện của tôi là thảm họa, vớ vẩn, blah blah,... Nhưng tôi lúc nào cũng cười xòa (cái này đôi lúc hơi ... không đúng một chút) mà tiếp nhận những ý kiến đóng góp đó. Không phải vì tôi thèm + thiếu sự đóng góp. Nhưng là bản thân tôi luôn tôn trọng những con người có tâm huyết với văn học, nhất là với dòng văn học đang bị người ta cho là "bạo lực" và cấm như võ hiệp ngày nay.
Những con người có TÂM HUYẾT với văn học như vậy, theo tôi, mới có QUYỀN phê bình về võ hiệp xưa và nay. Không dám nói cứ tâm huyết thì phải là một bài viết dài lẵng nhẵng, toàn khen với khen, hoặc khen bảy chê ba. Bởi tôi sẵn sàng tiếp nhận một bài phản hồi chỉ toàn vạch lỗi sai và bới móc đến tận góc rễ của truyện (xin không dùng từ "tác phẩm" cho mấy dòng rác của tôi), nhưng với điều kiện là bài viết phải nhắm vào truyện mà nói, nhằm vào những lỗi sai cụ thể của truyện mà đâm thọc. Chém làm sao để khi đọc xong, tôi mặc dù đôi lúc có nóng mặt mà đập bàn phím, nhưng mấy ngày sau bình tĩnh xem lại thì có thể vạch ra phuơng hướng và lấy được kinh nghiệm để lần tiếp theo viết tốt hơn nữa.
Đó gọi là GÓP Ý.
Quay lại với bài viết của ông Sóc.
Ngay từ đầu, ông đã tự nhận rằng: những năm 80, ông là một con người "kiêu ngạo" và có những suy nghĩ "ngu ngốc" theo kiểu
những thứ của các tác gia Đài Loan, Hồng Công đều không thuộc dòng văn học chính thống. Tác phẩm của họ chỉ có 2 loại lớn : tình ái và kiếm hiệp. Một thì tình cảm ướt át tràn trề, một thì bịa đặt loạn xị ngậu. Nhất là kiếm hiệp, vốn là một loại tiểu thuyết cũ
Tức là ta đã nhìn thấy rõ ràng: ngày trước, ông vốn là một con người có cái nhìn vô cùng cực đoan về mặt chính trị. Mà ai trong chúng ta cũng phải công nhận là CỰC ĐOAN vốn chẳng phải mọt chuyện tốt lành gì, ở bất cứ nơi đâu.
Không ngờ ông lại mang cả cái quan niệm cực đoan về chính trị đó vào VĂN HỌC, ở đây không nói về các đề tài chính trị, nhưng, một QUAN NIỆM cực đoan về bất cứ một lĩnh vực nào đó, cũng đã là 90% không mấy tốt đẹp, nhất là với một lĩnh vực vô cùng nhạy cảm như chính trị.
Quay lại với bài viết của ông.
Ta không rõ ông đã "trưởng thành" kiểu nào trong khoảng chục năm qua, nhưng tới cuối bài (ở một thời điểm không rõ, nhưng chắc chắn phải sau những năm 80), ông lại “phán” thêm một câu khiến ta phải cau mày mà tự hỏi: “Thế lão đã tự rút ra những gì trong khoảng mười mấy năm qua?” :
Nền nghệ thuật mà giai cấp tư sản TQ có thể đẻ ra về cơ bản đều mục ruỗng, họ có thể học tập thứ mới nhất, nhưng thế giới tinh thần thì mãi mãi chìm đắm say mê trong giấc mộng phồn hoa cũ rích ngày xưa
Điều này có nghĩa là sao? Thứ nhất, cái cơ bản cần nói tới, phải là sai về cấu trúc của toàn văn bản. Thường khi mở đầu một văn bản mà có câu “từ ...” “ngày đó,...” , thì như một định luật đã hình thành sau hàng vạn vạn bài viết khác nhau, cuối bài cũng phải có một nhận định khác so với đầu bài. Nhận định này có thể không hoàn toàn đối nghịch hay khác biệt với ý của đầu bài, nhưng nhất định phải khác, để chứng tỏ về sự thay đổi của sự vật, sự việc đang được nói tới, mà ở bài này là tư tưởng của chính ông Sóc.
Thế mà ngay từ đầu (tức khoảng thời gian những năm 80), ông đã mang một khái niệm nặng nề về VĂN HỌC VỚI CHÍNH TRỊ, sau một khoảng thời gian, ông tiếp tục bảo thủ cách suy nghĩ của mình. Ở những năm 80, ông cho rằng: “những thứ của các tác gia Đài Loan, Hồng Công đều không thuộc dòng văn học chính thống.”
Thì tới thời điểm của bài này, ông cũng không khá hơn được một chút nào khi nói: “Nền nghệ thuật mà giai cấp tư sản TQ có thể đẻ ra về cơ bản đều mục ruỗng”.
=> Xin hỏi chính ông, có sự thay đổi nào trong suy nghĩ của ông từ những năm 80s cho đến thời điểm của bài viết này? Hay chẳng qua đó vẫn chỉ là quan điểm cứng nhắc, cực đoan về mặt chính trị đem áp đặt vào văn học của ông? Mà nếu đã như vậy, thì tại sao khi viết bài này, ông lại không dùng mốc thời gian hiện tại, của cái suy nghĩ hiện tại để nói, mà lại dùng một cấu trúc kỳ ... quái như vậy?
Ông bà ta đã có câu: “Vơ đũa cả nắm”, với ý răn dạy con cháu không được “vơ đũa cả nắm”, bởi vì với kinh nghiệm đúc kết hàng ngàn năm của mình, tổ tiên đã hiểu: cứ hễ “vơ đũa cả nắm” là chắc chắn phải sai lầm. Vậy thì ta nghĩ sao khi từ những năm 80, với “khả năng văn học” tài tình của mình, ông Sóc đã đủ “trình” để quy kết toàn bộ nền văn học của các tác giả Đài Loan, Hồng Kông đều là những “thứ” này “thứ” nọ, đều không phải là “Văn học chính cống”. Có thể ông là Lord-of-the-Pure-Literature của toàn bộ văn học trên thế giới chăng? Vậy thì có thể hiểu “văn học chính cống” theo quan niệm của ông có nghĩa là “nền văn học non-Taiwan, non-HongKong”. => Tức là quan niệm của ông về văn học chính thống là dựa vào ... vị trí địa lý.
Một thời gian sau, ông lại tiếp tục thể hiện cái “trình” bao quát của mình qua câu kết: “Nền nghệ thuật mà giai cấp tư sản TQ có thể đẻ ra về cơ bản đều mục ruỗng”. Một câu nói sặc mùi chính trị, phân biệt giai cấp. Mà xin nói thẳng, nghệ thuật chú trọng đến phân biệt giai cấp, là thể loại nghệ thuật “cao cấp” như thế nào? “Nhân đạo”, “nhân văn” như thế nào?
Xin lỗi nếu tôi không kiềm chế được từ ngữ của mình, nhưng văn học thế quái nào mà lại được phân loại về mặt trình độ, chất lượng qua ... vị trí địa lý, qua lăng kính của chính trị?
Có thể nhìn thấy rõ ràng, cái sai của bài này không chỉ bắt nguồn từ tư tưởng lệch lạc của một bộ phận những người “kiêu ngạo”, “ngu ngốc” (nguyên văn của từ dùng trong bài), mà còn sai lệch ở chính thao tác lập luận phản biện của tác giả.
Đến một học sinh trung học cơ sở ngày nay, khi vừa bước chân vào lớp 6, đã được thầy cô giáo hướng dẫn rất kỹ càng về cách làm một bài văn phân tích, biện luận, nếu cao cấp hơn thì được học về phản biện. Nhưng tựu trung, cái mấu chốt ở những văn bản này, đó là phải đưa ra ít nhất là 1 dẫn chứng cho mỗi một luận điểm của mình, và dẫn chứng càng rõ ràng, thuyết phục bao nhiêu thì giá trị của bài viết càng tăng lên bấy nhiêu (theo những gì tôi được học ngày trước thì “giá trị cao” trong văn học nhà trường đồng nghĩa với “điểm cao”, nên xin phép thay đổi từ ngữ của giáo viên để hợp với ngữ cảnh trong bài này).
Vậy mà từ đầu tới cuối bài, (không rõ được là phân tích hay phản biện) của nhà-văn-thứ-3-sau-Lỗ-Tấn, Kim-Dung này, tôi chưa thấy được một ý nào có thể tạm gọi là “dẫn chứng cụ thể”, chưa dám bàn đến độ rõ ràng, thuyết phục của dẫn chứng ấy.
Ta tạm “lẩy” một ý ra khỏi bài của ông
“Một người nói : cách tạo dựng nhân vật trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung khác với kiếm hiệp kiểu cũ, trong tiểu thuyết kiếm hiệp cũ căn bản không thể xuất hiện được những nhân vật như Vi Tiểu Bảo, Đoàn Dự, gần với phản anh hùng trong tiểu thuyết hiện đại”
Ý này vốn nằm trong đoạn trưng ra những điểm cần phản biện của ông Sóc, tức là ông phản biện. Vậy thì tại sao ông lại không đưa ra dẫn chứng, lý lẽ xác đáng chứng minh câu đó là sai, hay là ông phủ nhận những nhân vật như Vi Tiểu Bảo, Đoàn Dự là anti-heroes, hay ông phủ nhận luôn cả những nhân vật anti-heroes?
Vậy xin hỏi ông, những hình tượng anti-heroes như Wolfverine, Hulk của Marvel có được thế giới công nhận và yêu thích không? Vậy thì một lão già những năm 50s của thế kỷ XX như Kim Dung lại có thể kiến tạo nên được nhân vật đến tận thế kỷ XXI, người ta vẫn còn, (và một số người) mới bắt đầu yêu thích. Như vậy thì Kim Gia há chẳng xứng với hai chữ “siêu việt” (đi trước thời đại) sao?
Ta thử xét đoạn này của ông:
“Cốt truyện và nhân vật thế nào, bây giờ tôi cũng chẳng nhớ ra nữa, chỉ để lại một ấn tượng là tình tiết trùng lặp, hành văn lòng thòng, các nhân vật cứ gặp nhau là choảng nhau, lẽ ra một câu là đủ nói rõ thì lại cứ không nói cho rõ, hơn nữa choảng nhau mà chẳng ai diệt được ai, nhất định là cứ mỗi lần đến lúc sắp có án mạng thì từ trên trời rơi xuống một kẻ ngáng lại. Toàn bộ nhân vật đều có những mối thâm thù đại hận loạn xị ngậu, mọi tình tiết câu chuyện đều dựa trên cái đó mà triển khai. Như thế thì có gì mới lạ nhỉ ? Những thứ tiểu thuyết cũ của Trung Quốc đều theo con đường ấy cả, nói cho đến cùng là chuyện báo ứng nhân quả..”
Đoạn trên, rõ ràng ông chỉ toàn là đưa ra những nhận xét phiến diện, xuôi chiều, mà nếu nói theo kiểu của tôi, tức là những nhận xét suông, xét trên giá trị của một đoạn văn phản biện, là hoàn toàn vô giá trị.
Không có dẫn chứng.
Ông không thể nói được, tại sao ông lại đi đến cái ý tưởng là “các nhân vật cứ gặp nhau là choảng nhau”, rồi “Lẽ ra một câu là đủ nói rõ thì lại cứ không nói cho rõ, hơn nữa choảng nhau mà chẳng ai diệt được ai, nhất định là cứ mỗi lần đến lúc sắp có án mạng thì từ trên trời rơi xuống một kẻ ngáng lại.” , cộng với “Toàn bộ nhân vật đều có những mối thâm thù đại hận loạn xị ngậu, mọi tình tiết câu chuyện đều dựa trên cái đó mà triển khai” mà lại không nói được, dẫn chứng được, dù chỉ là một ý cho cái lập luận suông ấy của ông. Vậy thì thử hỏi, ai tin ông? Ai có thể tin ông được đây, khi mà ông chỉ nói khơi khơi như thế, rồi đi đến cái kết luận “Như thế thì có gì mới lạ nhỉ ? Những thứ tiểu thuyết cũ của Trung Quốc đều theo con đường ấy cả, nói cho đến cùng là chuyện báo ứng nhân quả.”. Điểm nực cười nhất là kết luận của ông cũng chẳng có cơ sở vững chắc gì sất, vậy mà đọc lên nghe vẫn đao to búa lớn, vẫn với cái kiểu bao quát, quy kết toàn bộ thành tựu của một khoảng thời gian dài đằng đẵng trong quá khứ, giọng điệu bề trên, phán xét.
Vậy thì xin phép hỏi ông, ông không đưa được ra dẫn chứng, lý lẽ cụ thể, chắc chắn, thì làm sao có người nghe ông được, trừ những kẻ ba phải, những kẻ không ưa văn học Võ hiệp nói chung và Kim gia nói riêng?
Hay là ông ngang hàng với Phật Tổ, với toàn bộ hệ thống tư tưởng thuần Đông Phương của Nhà Phật, vốn coi trọng “chuyện báo ứng nhân quả”, theo như lời của ông, mà có thể thoải mái coi “chuyện báo ứng nhân quả” là thứ mau hủ nát, không thích hợp để đem vào cuối truyện như một mô típ chung giúp con người ta hướng thiện, hành thiện nhiều hơn?
Có lẽ bạn ông đã nói đúng: “ông mới xem nửa cuốn, chưa có quyền phát ngôn.” Cũng giống như tuổi làm con trong gia đình, chỉ mới 15,16, mới bắt đầu “trưởng thành” được một chút, đã đòi này đòi nọ, yêu sách này yêu sách kia với cha mẹ, trong khi đầu óc còn nông cạn kém suy nghĩ, chưa đi hết được phân nửa đường đời. Làm một công việc còn dang dở, chưa đi được đến đâu, đã chán nản mà bỏ cuộc, lại có quyền phê bình về công việc đó sao?
Hay như là ông nói: “Một món ăn ngon hay không, đâu cần ngốn hết mới có thể nhận xét được ?” Hai cái này vốn là hai phạm trù khác nhau, ông Sóc ạ. Món ngon mà “đâu cần ngốn hết mới có thể nhận xét được” như ông nói, theo tôi, chỉ có thể là những món hầm bà lằng, nấu trộn loạn xạ như kiểu cháo lòng, những món “mì ăn liền” đại loại như hamburger, hot dogs, pizza. Bởi vì những món ấy nấu theo kiểu công nghiệp, hoàn toàn không có tính thẩm mỹ, và chỉ “ngon” đối với một số người như ông, hoặc những kẻ béo phì quá độ do bạ gì cũng ngốn mà thôi. Những món như thế, toàn bộ đều như nhau cả. Nghĩa là đầu này của bát cháo lòng, của cái Hamburger, Hotdogs, Pizza cũng y chang đầu kia, xoay kiểu nào cũng có thể ăn được “ngon” theo như từ ngữ của ông. Cho nên mới không cần phải xác định đầu đuôi, bạ đâu cũng ngốn vào được cho đầy bụng rồi phán “ngon” như lời ông nói.
Ông thử xếp bánh pudding thành một cái tháp thật cao, rồi xắn toàn bộ phần bánh tầng cuối cùng mà ăn xem thử toà tháp có đổ hay không, rồi hẵng nói đến chuyện đầu đuôi, hay đúng hơn là “đâu cần ngốn hết mới có thể nhận xét được?” Hiển nhiên là trừ trường hợp ông là Thánh, là Thần, chỉ cần nhìn hay động chạm một chút cũng biết được toàn bộ món ngon, sách hay hoặc người tốt xấu.
(Xin được tạm dừng bài ở đây, vì đã hơi dài, và lý do cá nhân không cho phép, hy vọng sẽ được tiếp tục vào một ngày không xa)
Thiên Phong
10-09-2009, 08:08 PM
Giá mà ông Sóc đọc được bài dưới đây nhỉ...
Nguồn http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Van-Hoa/Cach_ngon_luan_cua_nguoi_A_Dong/
Cách ngôn luận của người Á Đông
Phan Khôi
Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1930, Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, NXB Hội Nhà văn & Trung tâm Văn hoá và Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2006
Phan Khôi sinh ngày 6/10/1887 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông qua đời tại Hà Nội ngày 16/1/1959 (8/12/ năm Mậu Tuất), thọ 73 tuổi. Các nhà nghiên cứu cho rằng: ông thuộc số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng khác với họ, ông thể hiện mình ở vai trò phản biện, và sự phản biện đó đem lại chiều sâu mới cho tri thức.
1.
Có người Tàu bẻ cái học thuyết Tôn Văn mà lại nhè kêu Tôn Văn là con heo, là ngu xuẩn. Người Á Đông ta, Tàu cũng vậy mà An Nam cũng vậy, không tinh thông luận lý học, cho nên trong khi ngôn luận, chẳng noi theo khuôn phép mà cứ nói già miệng để cầu hơn, nhiều khi lại nói hỗn ẩu vô lễ nữa. Sự đó, nói thiệt tình mà nghe, tỏ ra các dân tộc Á Đông ta còn chưa thoát hết cái tánh tình dã man, thật là một điều mà ta đáng lấy làm xấu hổ vậy.
Sự biện luận là để mà tìm cho ra chơn lý. Muốn biện luận mà cho đạt tới cái mục đích ấy thì phải thông hiểu luận lý học. Người nghe cũng vậy, nghe lời biện luận mà nếu chẳng biết dùng luận lý học để phán đoán thì nhiều khi bị họ phỉnh mình, họ làm cho mình cũng ngu đi như họ. Người biện luận mà lại dùng đến cái giọng hàng tôm hàng cá, vọt miệng mắng chửi người ta, tỏ ra người ấy chẳng có cái óc luận lý học chút nào hết. Vì không hiểu luận lý học, nên khi muốn phản đối kẻ khác mà chẳng có dự lẽ để phản đối, phải dùng đến cái khẩu khí của “nậu rỗi” [1] . Những người ấy, không đợi ai công kích hết, tự mình cung khai ra mình là vô giáo dục, dốt nát, ngu muội, tự nhiên bị đẩy ra ngoài làng học vấn, ngoài đám người trí thức, rốt lại, nhập làm một với bọn hạ lưu xã hội.
Vừa rồi tôi đọc một bài kêu là “Chỉ chánh những chỗ sai lầm của Tôn Văn học thuyết”, đăng trong Quần báo là một tờ báo chữ Tàu ở Chợ Lớn, ra ngày 5 Juin, mới phát ra những lời trên đó.
Cái học thuyết Tôn Văn, độc giả chắc có nhiều người biết, ấy là một cái thuyết phản đối lại cái thuyết “tri dị hành nan” (biết dễ làm khó) của người Tàu ngày xưa. Cái học thuyết ấy chưa biết có đúng với chơn lý hay không, song Tôn Văn đã làm ra thành sách, nói có đầu có đuôi, lý sự đầy đủ, là một cái thuyết đứng được. Dầu rằng năm ngoái đây Hồ Thích, một nhà đại học giả bên Tàu, có viết một bài dài, dùng phương pháp khoa học mà nghiên cứu lại cái thuyết của họ Tôn đó, thì thấy có chỗ không được đúng, vậy mà nó cũng vẫn chưa mất cái giá trị của nó, vì trong đó có nhiều phần hình như gần với chơn lý.
Cái bài đăng trong Quần báo mà tôi nói trên đây ký tên người viết là Mộng Điệp. Chẳng biết tên đó là của người nào, nhưng đọc qua cái bài thì thấy người ấy là một nhà biện luận chẳng theo khuôn phép chi cả, giống kiểu những người mà tôi vừa nói trên kia.
Cái bài ấy dưới có để chữ số II và sau có chữ “chưa hết” nghĩa là trước đó đã có một bài rồi và sau nầy cũng còn tiếp nữa. Tuy vậy coi nội một bài II nầy cũng đủ chứng rằng tác giả nói bậy.
Bất kỳ biện luận về vấn đề gì, cũng đều nên lấy lời lẽ mà nói, cho bình tâm tịnh khí thì mới thủng thẳng mà tìm thấy chơn lý được. Huống chi là biện luận về một vấn đề triết học của người ta, lại nên thận trọng là dường nào. Vậy mà người viết đó như là chẳng kể chi hết, nói như dùi đục chấm mắm, thiệt tôi đọc đến mà lấy làm khinh bỉ quá. Tôi trách ông chủ bút Quần báo sao lại đăng bài ấy làm chi! Vẫn biết Quần báo bây giờ phản đối họ Tưởng nên cũng phản đối luôn họ Tôn; nhưng sự phản đối thì tôi không trách chi; trách cái bài dùng giọng nậu rỗi kia mà được đăng lên thì là làm dơ tờ báo!
Tôi trách một ông chủ bút báo Tàu thì cũng như trách một ông chủ bút báo Tây, một là vì ngôn ngữ bất đồng, hai là vì làm phách, họ có thèm nghe đến hạng mình đâu. Nhưng mặc kệ họ. Tôi nói đây là cốt muốn cho bà con Việt Nam mình nghe với nhau. Mà nghe câu chuyện họ, là có bổ ích cho mình lắm.
Ai có đời cái ông Mộng Điệp nào đó, trong bài II của ổng bắt đầu kể một đoạn trong Tôn Văn học thuyết dẫn chứng về sự ăn uống, rồi tiếp đấy ổng viết rằng:
“Cái ngài độc giả, nếu các ngài cũng giống như Tôn Văn là con heo, cũng giống như Tôn Văn là ngu xuẩn, thì các ngài sẽ bị Tôn Văn phỉnh mình. Song tôi tưởng các ngài chắc không đến nỗi như va vậy nếu cái thuyết của Tôn Văn chỉ đủ sắm cho các ngài một trận cười mà thôi!” (Tôi dịch đúng nguyên văn).
Hỡi độc giả An Nam! Họ nói như vậy đó, mà liệu có nghe đặng không?
Xin độc giả An Nam trước phải hiểu ý tôi. Tôi không nói ông Mộng Điệp nói như vậy là vô phép. Đối với Tôn Văn là một nhà thủ xướng cách mạng Tàu, là một ông cựu tổng thống của Dân quốc, không nên nói như vậy. Tôi cũng không hề coi Tôn Văn là thần thánh mà chẳng cho ai đụng chạm tới. Tôi cũng không hề tinh quyết rằng trong người của Tôn Văn chẳng còn có một chút nào thú tánh như cái tánh của con heo, và là khôn ngoan tột bậc mà chẳng còn có một chút nào ngu xuẩn đâu. Những sự trên ta hãy để riêng ra. Tôi nói đây là nói cái “láo” “xỏ lá”, cái “hèn” của người viết bài ký tên là Mộng Điệp đó.
Người ấy không hiểu luận lý học, không đủ lẽ để biện bác cái học thuyết của Tôn Văn mà lại có cái dã tâm muốn đánh đổ cái thuyết ấy. Cho nên bắt đầu kêu Tôn Văn là con heo là ngu xuẩn rồi lại bợ độc giả của mình lên mà nói rằng: “Chắc các ngài không đến nỗi như Tôn Văn”. Như vậy là muốn cho độc giả trước có lòng khinh Tôn Văn đi và đắc ý vì Mộng Điệp khen mình, rồi sẵn đó tin luôn những lời của Mộng Điệp. Đó, cái láo, cái xỏ lá, cái hèn là ở đó.
Cách lập ngôn như vậy là một điều cấm kỵ lớn trong luận lý học. Lấy chứng cớ gì mà kêu người ta là con heo, là ngu xuẩn? Chẳng có chứng cớ gì hết. Chỉ có ỷ rằng tờ Quần báo ở ngoài phạm vi thế lực của chánh phủ Nam Kinh và Tôn Trung Sơn chết rồi, nên nói láo cũng không ai chém! Cái tâm lý hèn mạt thay mà chó má thay!
Bài sau tôi sẽ nói đến cái lý sự cùn của ông Mộng Điệp cho bà con nghe.
2.
Những lẽ mà tác giả trưng ra, chẳng đủ làm núng cái học thuyết Tôn Văn chút nào hết.
Như bài trước đã nói, chẳng dựng ra chứng cớ gì hết mà thình lình kêu người ta là con heo, là ngu xuẩn, sự vô lễ đành rồi, chẳng nói làm chi; chỉ nói về phương diện luận lý học, cũng là phạm vào sự cấm kỵ vậy.
Trong luận lý học kể các điều mậu vọng (les erreurs) trong sự nghị luận, có một điều kêu là “cái luận chứng hãm người”, nghĩa là nhè cái hạnh kiểm hoặc nghề nghiệp của người kia mà công kích, đặng nhơn đó công kích luôn cái lời nói của người ấy. Ví dụ: Tên Mít ghiền á phiện, một hôm làng nhóm, nó cũng ra nhà việc bàn bạc nọ kia. Ông cả Xoài nổi lên nạt nó rằng: “Thứ đồ hút xách, bàn đèn ống điếu thì hay việc bàn đèn ống điếu, nói nhằm gì mà nói!” Ấy đó là cái luận chứng hãm người, nghĩa là lấy sự hãm hiếp người ta mà làm luận chứng (argument) vậy.
Theo lẽ thì tên Mít ghiền gập mặc kệ nó, nếu nó có quyền ăn nói giữa làng thì làng nên để mà nghe thử nó nói quấy phải làm sao. Ví bằng nó nói phải thì dẫu nó có ghiền, làng nghe nó cũng vô hại. Cái nầy ông cả Xoài lấy cớ nó hút xách mà giày đạp cả lời nói của nó đi thì là trái lẽ.
Người viết bài trong Quần báo, ký tên Mộng Điệp, kêu Tôn Văn bằng con heo, ngu xuẩn, tức là cái lối ông cả Xoài nạt thằng cha Mít. Huống chi, tên Mít thiệt ghiền nên ông Xoài kêu là đã hút xách, dầu sai đằng nọ mà còn trúng đằng kia; chí như Tôn Văn, đã có cái gì tỏ ra là ngu xuẩn, giống con heo, mà tác giả lại dám kêu ngang như vậy, thật là vô lý quá.
Bài trước tôi đã nói, bởi không đủ lẽ cãi, nên mới dùng cái cách cả vú lấp miệng em. Dưới đây bà con sẽ thấy cái lý sự của Mộng Điệp thế nào.
Nguyên trong học thuyết Tôn Văn có trưng ra sự ăn uống để chứng rằng sự làm là dễ, sự biết là khó. Đại ý nói cách nấu ăn của Tàu đã khéo mà lại hiệp vệ sanh, có nhiều ông bác sĩ Tây phương đã chứng nhận điều ấy. Vậy mà người Tàu từ trước có biết đến đâu. Không biết mà vẫn làm. Bởi vậy nói làm là dễ.
Muốn đánh đổ cái thuyết ấy, chỉ có khi nào chứng minh ra được rằng người Tàu đời xưa đã có phát minh ra cái phương pháp nấu ăn hiệp vệ sanh ấy, tỏ ra sự biết ở trước sự làm, sự biết là dễ, thì mới đánh đổ được. Cái nầy, Mộng Điệp không tìm ra được cái chứng cớ ấy, nên kiếm đường nói quanh nói quất, nói sai cái nguyên ý họ Tôn đi, để tiện bề công kích cho mình. Thế là Mộng Điệp đã bắn chỉ thiên, đã công kích đâu đâu, chớ chẳng công kích chi cái học thuyết Tôn Văn vậy.
Nó vặn tắc vặn rì cái nguyên ý họ Tôn đi, nói họ Tôn bảo rằng người ta mới sanh ra không biết chi hết mà tự nhiên làm cái sự uống ăn được, ấy là biết khó làm dễ (!) Rồi nối tiếp rằng nếu nói như Tôn Văn thì nó nói mấy chả được, dẫn chứng mấy chả được: con mắt hay thấy, lỗ tai hay nghe, lỗi mũi hay ngửi, lỗ miệng hay nói, tay chơn hay cử động, đằng trước đằng sau hay đái ỉa (nguyên văn), đó chẳng phải là những cái chứng cớ sự làm là dễ hay sao? (!) Đó, lý sự của Mộng Điệp đó, thật chẳng những tỏ ra là dốt, mà lại tỏ ra là tiểu nhân, không có lòng ngay thật nữa.
Nó lại nói họ Tôn nhận cho sự uống ăn là sự “làm” ấy là bậy, không biết “tri” và “hành” là gì. Tự nó thì nó cho uống ăn là sự “tri”. Song le, họ Tôn có hề nói như vậy đâu ? Theo như trên kia, nấu ăn khéo, hiệp với vệ sanh, ấy là sự “tri” trong ý họ Tôn đó. Người Tàu từ xưa không có sự “tri” ấy mà tự nhiên “hành” được, cho nên nói “hành” là dễ. Nguyên ý họ Tôn như vậy, thế mà nó cố ý xây quanh cho sai đi hầu để bác bẻ, thiệt là quỷ quái không xiết kể.
Nguyên cái Tôn Văn học thuyết in trong sách Kiến quốc đại cương về phần đầu hết là phần “tâm lý kiến thiết”. Mộng Điệp mới lấy cớ ấy mà trách rằng sao họ Tôn lại đem việc uống ăn tầm thường nhỏ mọn mà sánh với việc dựng nước, là cái sự nghiệp to lớn khó khăn?
Nhưng mà có phải vậy đâu. Họ Tôn cử sự ăn uống ra để làm chứng cho sự thi hành, chớ chưa hề đem sự ấy mà sánh với việc kiến thiết quốc gia. Đem sự ẩm thực mà chứng minh cho sự tri hành, thì là thiết thiệt lắm, chẳng có chỗ nào đáng chỉ trích hết. Thế mà Mộng Điệp cũng vặn câu bẻ mấu đi để mà chỉ trích. Như vậy thôi thì hết chỗ nói!
Tóm lại, cái học thuyết Tôn Văn nếu có bị đánh đổ là bị cái tay nào kia; chớ cái tay ngu muội, dốt nát, xấc láo mà lại hèn mạt như Mộng Điệp đây thì dầu có dùng hết cái thủ đoạn chó má lung lay mấy đi nữa là nó cũng chẳng sờn một mảy. Mà con người đã mất lương tâm dám ngậm máu phun người như vậy, thì mình cũng chẳng nên nói làm chi cho uổng tiếng.
Tôi chỉ than cho cái thời đại nầy, cái thời đại tự do, lắm điều đáng mừng mà cũng lắm điều đáng ghét. Thứ đồ còn thua con bò cặp sừng [2], ỉa không biết đàng hướng gió, mà cũng dám đứng ra lên tay xuống ngón trên chốn diễn đàn, nhè cái người đáng làm thầy dạy cả ông già nó mà nó mắng, thì thật gai con mắt mình quá! May ra còn có người nghe mà phân biện phải quấy được, chẳng nói làm chi, muôn một mà cái người ấy cũng không có đi nữa, thì nói thiệt, tôi cũng chẳng lấy làm vui gì mà sống ở cái đời tự do nầy!
Chỉ mong một điều ở xã hội Việt Nam ta. Coi lấy đó, chúng ta nên coi lấy đó, cái sự dốt nát nó làm gương cho chúng ta là vậy đó. Bởi dốt nát không có học không có thức, muốn chê người mà không biết đường chê, nên mới đâm ra nói hỗn. Nói hỗn như vậy có được cái lợi ích gì? Chẳng lợi ích gì mà lại làm cho kẻ khác chướng tai gai mắt, sôi gan lên, ngồi đứng không yên.
Trung lập, Sài Gòn, s. 6168 (11.6.1930) ; s. 6170 (13.6.1930).
[1] nẫu rỗi: bọn buôn cá (theo H.T. Paulus Của, sđd)
[2] Người ta thường nói dốt như bò. Đây nói còn thua con bò cặp sừng nghĩa là còn dốt hơn bò nữa (nguyên chú của Phan Khôi).
TuyệtKiếm
18-05-2010, 10:03 AM
hello mọi người mình là thành viên mới :064:
mình có điều thắc mắc mong bà kon giúp nha, một truyện võ hiệp như thế nào là đạt chuẩn ! mình thấy có nhiều bạn viết cũng hay mà lại bị chê là nhân vật này giống nhân vật nọ mà họ không phán xét kĩ xem khi tác giả cho nhân vật mình " na ná" giống nhân vật kia vậy điểm nổi bật của nó ở chỗ nào ! phải chăng chúng ta quá áp đặt " khuôn mẫu" nhân vật cũ vào nhân vật mới:nod:
DANGCONGTU
20-07-2010, 11:42 PM
hình tượng nhân vật có thể hao hao giống nhau, nhưng chi tiết nội dung truyện thì hok thể na ná giống truyện khác đc. Nếy vậy, người đọc sẽ nhàm liền.
Ta đang đọc Bình Tung Hiệp ảnh lục của Lương Vũ Sinh, thấy rất thích nhân vật này, vừa thông mình vừa cuồng ngạo, võ công cao lại thông minh. Ta thấy nhân vật đẩng cấp như Lục Tiểu Phụng, Sở Lưu Hương hay một số nhân vật của bác Kim kém xa phong thái của anh này.
Theo ta một võ hiệp đạt chuẩn là một võ hiệp có nội dung chặt chẽ, các chi tiết phải thống nhất, hình tượng nhân vật phải độc đáo, giọng văn câu từ phải chuẩn mực,... cỡ như Tru Tiên đầu trâu đuôi chấu thì thấy out rồi.
vBulletin® v3.8.5, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.