PDA

View Full Version : Hỏi về các loại binh khí?


nhanvantu
09-07-2011, 09:44 AM
Khi nói về 18 môn binh khí của võ thuật Trung Hoa, thường có hai thuyết như sau:

Thuyết thứ nhất, cho rằng 18 môn binh khí bao gồm: Ðao- thương – kiếm – kích – đảng – côn – Xoa – ba – tiên – giản – chùy – búa – Câu – liêm – trảo – quài – cung tiễn – đằng bài.

Tuy vậy, có thuyết gọi 18 môn binh khí là :Đao – thương – kiếm – kích – đảng – côn – Xoa – ba – tiên – giản – chùy – phủ – Câu – liêm – trảo – đại – quyết – cung thỉ
1- Cung tên, Ná, Nỏ
2- Thương, Giáo, Mác
3- Đao (Đơn đao, Song đao, Siêu, Đại đao…)
4- Kiếm (Độc kiếm, Song kiếm, Trường xà kiếm, Gươm…)
5- Xà Mâu
6- Trủy thủ
7- Lăn Khiên, Thuẫn (Mộc đỡ tên, đỡ gươm, đỡ giáo…)
8- Phủ (Độc phủ, Song phủ, Việt…)
9- Chùy (Độc chùy, Song chùy, Đại chùy…)
10- Côn ( Đoản côn, Trung bình côn, Tề mi côn, Trường côn, Côn nhị khúc, Côn tam khúc, Thiết lĩnh…)
11- Kích
12- Giản (Độc giản, Song giản)
13- Ngãi (Song tô, Lưỡi hái, Câu liêm)
14- Soa (Chĩa hai trường, đoản. Đinh ba trường, đỏan)
15- Câu
16- Bừa cào ( đinh ba?)
17- Nhuyễn tiên (Thất tiết tiên, Cửu tiết tiên, Chuỗi tiền, Xích sắt, Xà vĩ tiên, Dây thắt lưng, Khăn quấn đầu…)
18- Bạch đả song thủ (hai bàn tay không)



tuy nhiên mỗi loại binh khí trên, kích thứoc dài ngắn khác nhau. Xin mọi người chỉ giáo cho ( nếu có hình ảnh càng tốt)

thanh bào quái khách
13-07-2011, 12:53 AM
cái này chỉ cần google là ra cả đống.
Lười thế !!!

Đức90
13-07-2011, 01:05 AM
nếu gúc gờ ra thì đã chẳng có thớt cho cả nhà bàn luận :">

nhanvantu
13-07-2011, 02:05 PM
cái này chỉ cần google là ra cả đống.
Lười thế !!!

mình muốn biết nó dài bao nhiêu, nặng bao nhiêu, sử dụng như thế nào....:015::015::015::015:

cjcmb
13-07-2011, 02:08 PM
Ta có mỗi súng thịt thôi:015::015:

cjcmb
13-07-2011, 02:09 PM
mình muốn biết nó dài bao nhiêu, nặng bao nhiêu, sử dụng như thế nào....:015::015::015::015:

Tùy ông thợ rèn ta biết dài ngắn và cân nặng. Tùy vào chủ nhân ta có cách dùng( VD: cho ta thanh kiếm ta cũng chỉ biết chẻ củi với gọt táo thôi):full::full:

ksminhthang
13-07-2011, 08:52 PM
http://vothuat.co/vo-quan/vokhi
http://www.vothuat.net.vn/Web/?jumpto=term&catid=49
http://vocotruyen.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=525&Itemid=1

nhanvantu
14-07-2011, 06:53 PM
Cảm ơn bạn , mình đã thấy một bài rất hay về câu và liêm
http://vothuat.co/binh-khi-xua-cau-va-cau-liem.html
Binh khí xưa: Câu và câu liêm
Người đăng giangle Ngày đăng: 03:05 - 27.06.2011
Câu là một loại binh khí nhiều lưỡi sắc được liệt vào loại binh khí cổ do diễn biến mà tạo thành. Thời Xuân Thu Chiến Quốc thì qua, câu, kích đều cùng dùng. Từ mộ cổ nức Vệ xưa người ta đào đươc một cây câu đồng thì thấy có hình dáng tựa kích, chỉ khác chỗ mé trên cây kích là lưỡi sắc còn mé trên cây câu là một đường có hình móc câu nên người xưa mới gọi là “câu”.



Liêm gồm có đao liêm và thương liêm đều có loại dài, ngắn khác nhau. Loại dài 6, 7 thước, loại ngắn 2 thước 4 tấc. Phàm những loại binh khí ngắn đều dùng 1 đôi như song kích, song kiếm… Lại có Hổ trảo liêm, còn gọi là Nhật nguyệt song bút. Đây là loại binh khí có một lưỡi quắm hình lưỡi liềm lắp vào cán dài, dùng để móc vào mà giật, cắt



Nhan Sư Cổ có chú rằng “Câu cũng là binh khí, tựa kiếm mà cong, vì thế câu cũng giết người được vậy”. Trên chiến trường xưa người sử dụng câu rất đông. Thời Lưỡng Tấn (tức Đông Tấn và Tây Tấn) có võ sĩ anh dũng thiện chiến “là Nhiễm Mẫn đã” tay trái cầm mâu hai lưỡi, tay phải cắp câu kích để đánh quân Yên, chém người hơn 300 thủ cấp.



Trong “Thủy Hử” của Thi Nại Am, Tống Giang đã rèn rất nhiều câu liêm cho quân sĩ luyện tập “câu liêm trận pháp” để phá thế trận “liên hoàn mã” của quân triều đình do Hồ Duyên Chước chỉ huy. Tống Giang có võ tướng rất giỏi về câu liêm là Từ Ninh đã dạy cho quân sĩ cách sử dụng câu liêm như sau:

“Phàm ngồi trên mình ngựa đánh Câu Liêm sang thì phải lấy cở từ thắt lưng mà đánh, trên giữa bảy đường ba lần giật bốn lần lượn một lần đâm ba lần gạt cộng có chín phép biến. Bằng đánh Câu Liêm dưới bộ thì trước hết đi tám thước vung ra bốn mặt để lấy thế, rồi cở mười hai bước một lần biến, mười sáu thước một lần giở mình chia Câu Liêm vừa đâm vừa giật, hai mươi bốn bước hất lên đè xuống móc bên Đông đánh bên Tây, ba mươi sáu bước quay mình như lọng che cướp đánh lung tung không đâu không vỡ. Đó là phép chính đánh Câu Liêm sang có bốn câu thơ phải thuộc lòng để luyện :

Bốn vung ba móc thông bảy đường
Chín lần biến đổi khác tay sang
Hai mươi bốn bước vung sau trước
Mười sáu bước nay chuyển khác thường”

Câu cử dụng trong võ thuật có đơn câu, song câu, lộc giốc câu (câu sừng hươu), hổ đầu câu, hổ thủ câu… Kỹ pháp thì có đẩy câu, đè, giật, nâng, băm, xẻ, đỡ, lướt, hoa, dâng nguyệt… khi diễn luyện thì yêu cầu phải phối hợp với thân pháp, lên, xuống, nuốt, nhả. Chính vì vậy mới có cánh nói “câu tẩu lãng thế” – câu đi theo làn sóng.

Giang Lê

Minh Đức Long
14-07-2011, 06:59 PM
Thế quạt có gắn kim châm ở đầu gọi là gì nhỉ?

ksminhthang
14-07-2011, 07:30 PM
hình như là thiết phiến.................

Minh Đức Long
14-07-2011, 09:59 PM
hình như là thiết phiến.................

Có chắc chắn ko bác. Vì nhân vật em sắp ra sử dụng quạt :026::026:

nhanvantu
15-07-2011, 10:11 AM
theo mình , bạn cứ nên mô tả nó thôi. Như cái cân của Toàn KIm Phát trong Anh hùng xạ điêu đó. Nó là cái cân và " có 3 tính năng":foyourinfo:

Minh Đức Long
15-07-2011, 10:12 AM
theo mình , bạn cứ nên mô tả nó thôi. Như cái cân của Toàn KIm Phát trong Anh hùng xạ điêu đó. Nó là cái cân và " có 3 tính năng":foyourinfo:

Ờ cũng được tại thanh danh thằng này khá nổi buộc lòng phải lăng xê vũ khí cho nó thôi :barf::barf:

nhanvantu
15-07-2011, 10:23 AM
thế thì nghĩ ra một cái tên nào đó oách vào

VD: Đoạt mệnh ..kim châm phiến:tt1::tt1:

mình cũng có một nhân vật sử dụng quạt. Nhưng quạt của hắn là do 12 lưỡi dao ghép thành:foyourinfo:

Minh Đức Long
15-07-2011, 10:28 AM
thế thì nghĩ ra một cái tên nào đó oách vào

VD: Đoạt mệnh ..kim châm phiến:tt1::tt1:

mình cũng có một nhân vật sử dụng quạt. Nhưng quạt của hắn là do 12 lưỡi dao ghép thành:foyourinfo:


Oạch! Vừa mới đặt Đoạt mệnh xong.

Bác xem vũ khí của em trên vẽ hình mỹ nhân, khung bằng thép, vải là tơ tằm thượng hạng( rất bền), khi cấp bách có thể phóng chân độc bằng vàng thì gọi là gì ???

Em rất dốt tiếng Hán bác có nghĩ tên nào hay ko?:047::047::047:

Châm Bạc tiếng Hán Việt là gì ấy nhỉ :dead:

Long Phi Tứ Hải
15-07-2011, 10:33 AM
Oạch! Vừa mới đặt Đoạt mệnh xong.

Bác xem vũ khí của em trên vẽ hình mỹ nhân, khung bằng thép, vải là tơ tằm thượng hạng( rất bền), khi cấp bách có thể phóng chân độc bằng vàng thì gọi là gì ???

Em rất dốt tiếng Hán bác có nghĩ tên nào hay ko?:047::047::047:


mình cũng ...dốt tiếng Hán chả kém gì bạn:2::2:

l

[STFU]
15-07-2011, 10:37 AM
Châm bạc = ngân châm; châm vàng = kim châm

Long Phi Tứ Hải
15-07-2011, 10:44 AM
Trong “Thủy Hử” của Thi Nại Am, Tống Giang đã rèn rất nhiều câu liêm cho quân sĩ luyện tập “câu liêm trận pháp” để phá thế trận “liên hoàn mã” của quân triều đình do Hồ Duyên Chước chỉ huy. Tống Giang có võ tướng rất giỏi về câu liêm là Từ Ninh đã dạy cho quân sĩ cách sử dụng câu liêm như sau:

“Phàm ngồi trên mình ngựa đánh Câu Liêm sang thì phải lấy cở từ thắt lưng mà đánh, trên giữa bảy đường ba lần giật bốn lần lượn một lần đâm ba lần gạt cộng có chín phép biến. Bằng đánh Câu Liêm dưới bộ thì trước hết đi tám thước vung ra bốn mặt để lấy thế, rồi cở mười hai bước một lần biến, mười sáu thước một lần giở mình chia Câu Liêm vừa đâm vừa giật, hai mươi bốn bước hất lên đè xuống móc bên Đông đánh bên Tây, ba mươi sáu bước quay mình như lọng che cướp đánh lung tung không đâu không vỡ. Đó là phép chính đánh Câu Liêm sang có bốn câu thơ phải thuộc lòng để luyện :

Bốn vung ba móc thông bảy đường
Chín lần biến đổi khác tay sang
Hai mươi bốn bước vung sau trước
Mười sáu bước nay chuyển khác thường”

Câu cử dụng trong võ thuật có đơn câu, song câu, lộc giốc câu (câu sừng hươu), hổ đầu câu, hổ thủ câu… Kỹ pháp thì có đẩy câu, đè, giật, nâng, băm, xẻ, đỡ, lướt, hoa, dâng nguyệt… khi diễn luyện thì yêu cầu phải phối hợp với thân pháp, lên, xuống, nuốt, nhả. Chính vì vậy mới có cánh nói “câu tẩu lãng thế” – câu đi theo làn sóng
Một số hình ảnh về câu

http://img13.imageshack.us/img13/3807/t453538.jpg

http://img833.imageshack.us/img833/6095/unledjt.png

Long Phi Tứ Hải
15-07-2011, 10:49 AM
Kích
http://img718.imageshack.us/img718/3743/77065643.jpg
Nhân vật Lã Bố trong Tam Quốc diễn nghĩa tay cầm phương thiên họa kích, cưỡi ngựa Xích thố một mình địch muôn người. Chỉ cần nhắc đến phương thiên họa kích của Lã Bố là khiến địch thủ kinh sợ đến vỡ mật.

Kích là một loại vũ khí bắt đầu từ đời Thương, Chu, từ vũ khí cổ đại diễn biến mà thành. Kích có thuyết bảo đó là “tượng hình một con rồng” tức là có đầu rồng, miệng rồng, thần rồng, bốn vuốt rồng, đuôi rồng. Đầu có thể thọc tới miệng có thể lừa, thân có thể dựa ép, vuốt có thể vồ, đuôi có thể vẫy. Vì thế có các thức đặt tên dính đến rồng: thanh long thám trảo (rồng xanh thò vuốt), hắc long nhập động (rồng đen vào động), lãn long phiên thân (rồng lười lật mình), ô long bài vĩ (rồng đen vẫy đuôi)…

Kích chia làm kích đánh trên ngựa và kích dùng dưới đất. Có thể hai tay cầm kích, cũng có thể một tay cầm cán còn tay kia nắm lấy cái sống sắt trong vành cung. Kích cán dài bằng cán đại đao không thể (múa) hoa (tức múa tít thành một vầng). Ngạn ngữ có câu: “Kiếm chẳng quấn đầu, kích chẳng (múa) hoa”. Kích có thể đổi từ tay trái sang tay phải, trước sau để sử dụng, có thể tung theo thế như đâm côn, người xưa gọi là “thế kích đâm thọc”. Các phái kích pháp khác nhau rất nhiều, có sáu “đường” kích pháp là đẹp nhất. Phép dụng cơ bản nhất của kích là áp, dựa, đè, cứa, móc, ôm, lừa, nâng…

Kích chia ra làm kích một cán dài và kích cặp cán ngắn. Kích dài lại chia thành phương thiên kích (đầy có 2 vành trăng), trên cán kích có hình vẽ, viết chữ, sơn đỏ để trang điểm, xưa gọi là họa kích. Lại còn đeo ngù năm màu trên buộc đồng tiền vàng gọi là “kim tiền ngũ sắc phan” (tiền vàng phướng năm màu. Còn thanh long kích có một vành trăng (một bên) trên cán vẽ rồng cuốn, sơn đỏ cho đẹp, treo thêm đồng tiền vàng và ngù màu gọi là “kim tiền báo vĩ tử” (tiền vàng đuôi báo). Xà long kích mũi kích tạo hình rắn, còn ngoài ra giống thanh long kích. Nguyệt nha kích, đông phương kích, hộ thần kích và kích liềm, thường thắng kích… Kích đôi cán ngắn chia làm một vành trăng, hai vành trăng. Lại còn buộc ngù tròn màu, bây giờ toàn buộc ngù màu đỏ.


Trong Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung nhân vật Lã Bố được mô tả là một viên tướng dũng mãnh bậc nhất Tam quốc. Ông chuyên sử dụng phương thiên họa kích và cưỡi ngựa Xích thố. Người ta thường nói “Nhân trung Lã Bố, mã trung Xích Thố” (Người có Lã Bố, ngựa có Xích Thố).

Kích thoạt ban đầu là binh khí dùng để chiến đấu, về sau diễn biến thành vật làm nghi trượng (vật bày khi rước xách, tế lễ) và vật trang trí. Như trước xe vua có vệ sĩ ôm kích đứng.

Như Vu Khiêm đời Minh trong bài thơ “Mạn đề ô bích” có câu:

“Trước cửa không bày kích,

Nhận nhầm nhà dân quê…”

“Bày kích” là tượng trưng cho chốn cung khuyết. Ở các nhà giàu sang thời xưa, trước án có lọ cổ cắm kích bạc, vì “kích” và “cho” là hài âm (hài âm là từ có âm giống nhau hay gần giống nhau, đây là lối chơi chữ của người Trung Quốc vì “kích” và “cho” phát âm tương tự – tượng trưng cho sự giàu sang, tự cấp tự túc! Trên tường vách có treo trang kích, vẽ kích trên vách ở giữa là thanh long kích hai vành trăng, hai bên cheo chếch hai thanh long kích thành một vành trăng.

Giang Lê

Long Phi Tứ Hải
15-07-2011, 10:57 AM
Binh khí Võ cổ truyền: Giản (鐧) & Ngạnh tiên (硬 鞭)

http://img228.imageshack.us/img228/6197/luc20lang20gianphucche2.jpg Lục-Lăng Giản (六 稜 鐧)


http://img809.imageshack.us/img809/1630/nganh20tien2001rl.jpg
Ngạnh tiên

http://img31.imageshack.us/img31/1193/bladebreaker2001rl.jpg
Giản tiếng Anh gọi là “Rod”, tiếng Pháp gọi là “Baguette. Giản có hình dáng như một chiếc roi cứng, nên mang tên gọi là “ngạnh tiên”. Nguyên thủy “chiếc roi cứng” này là công cụ được con người dùng sinh hoạt trong đời sống để đập, nện, chấn, đè, ép… sau trở thành một loại vũ khí tự vệ, chống chọi với muông thú và bảo vệ ấp, làng, gia đình, bộ tộc.

Khi có chiến tranh, giản trở thành một loại chiến khí lợi hại có khả năng chống lại các loại binh khí dài, ngắn khác, nhờ tính linh hoạt, hiệu quả, nhất là kỹ thuật chấn, nện, nên giản được xếp vào loại hình binh khí ngắn chấn, nện. Chấn là động từ, có nghĩa là chận lại, giữ lại; một nghĩa khác là dùng vật nặng đập mạnh vào người. Nện là động từ, có nghĩa là giáng mạnh xuống bằng một vật nặng, đánh cho thật đau (Đại từ điển tiếng Việt).

Giản (鐧).tuy dài như Kiếm, có chuôi và chắn như Kiếm, nhưng thân Giản cân lượng nặng hơn lưỡi kiếm vì Giản thuộc loại binh khí chấn nện như Chùy (鎚).

Giản pháp dạy về phép sử-dụng “Độc-Giản” (獨 鐧) và “Song Giản” (双 鐧).

Phương-pháp sử-dụng “Song Ngạnh-Tiên” ( 双 硬 鞭 ) thâm-sâu hơn “Song-Giản” (双 鐧), nhưng ít còn được lưu truyền, vì thế ngày nay hiếm người am tường.

Giản pháp được nổi tiếng từ thời Nhà Đường ( 618-907) qua nhân vật Tần Thúc Bảo, danh tướng chuyên sử dụng Song Giản.

Giản mang tên khác nhau tùy theo hình-dáng của thân Giản :

1.- Hoàng Kim Giản: Thân Giản có bốn cạnh

2.- Lục Lăng-Giản: Thân Giản có sáu cạnh

3.- Cữu Tiết Giản: Thân Giản có chín đốt

Thật ra, Cữu-Tiết-Giản (九 節 鐧) thuộc về loại Ngạnh-Tiên (硬 鞭).

Khi các đốt chỉ hơi lồi ra khiến cho thân Giản trông như có rằn giống đuôi cọp, thì được gọi là Hổ-Vỹ Tiên (虎 尾 鞭)


Về tinh chất, giản là binh khí thời xưa, hình dáng vuông dài, thân có cạnh, không có lưỡi, giống như gióng tre vì thế mà thành tên giản. Như tên gọi binh khí chấn, nện nên trọng lượng giản thường nặng, đằm tay người sử dụng.

Giản có nhiều loại, có loại hình tứ giác (bốn mặt, bốn cạnh), giản hình lục lăng (sáu mặt, sáu cạnh), giản hình bát giác (tám mặt, tám cạnh), có loại suông tròn và có loại có đốt (bảy đốt – thất tiết giản, hoặc chín đốt – cửu tiết giản), đầu giản không mũi nhọn. Giản có tay nắm, như đao, kiếm, đốc giản có gù nhô lên dùng trợ chiến. Độ dài ngắn, lớn nhỏ, nặng nhẹ của giản tùy theo sở thích, vóc dáng cân lượng ngưới sử dụng, thường thì toàn thể cây giản dài từ 2 – 3 thước ta (80cm – 120cm), chống đầu (ngọn) giản xuống đất mà chuôi (đốc) giản tới ngang thắt lưng là vừa. Dùng giản phải mạnh và nhanh mới hiệu quả. Giản là binh khí trong hệ thống thập bát ban võ nghệ.


Song Giản (双 鐧)

Giản có độc giản (dùng một chiếc), song giản (dùng một đôi), kỹ pháp giản có đập, bổ, phang, quất, chấn, nện, quét, đỡ, đè, thúc… Giản phối hợp với quyền thuật có khả năng khóa, khống chế, xiết cổ, bẻ tay, bẻ chân, điểm vào huyệt đạo… trong các tình huống tự vệ cũng như bắt giữ đối phương.

Tài liệu diễn giải về tính chất, kỹ thuật và phương pháp dùng giản không nhiều vì giản là binh khí cổ, quý hiếm. Bài bản chân truyền ít thấy. Do hình dáng giản một phần nào gần giống kiếm, gần giống đoản côn nên không ít sự ngộ nhận về cách dùng giản. Võ cổ truyền vốn phong phú về cách dùng từng loại binh khí như côn có côn pháp, thương có thương pháp, đao có đao pháp, kiếm có kiếm pháp, quyền có quyền pháp…, mỗi loại hình có cách tấn công, phòng thủ, chế ngự, hóa giải, biến hóa riêng.


Không chỉ trong chiến tranh mới có binh khí giản; lịch sử Phật giáo 2.555 năm trước, có nhiều hình ảnh, tượng đúc, chuyện kể, dụ ngôn về các “Chiến binh Bồ Tát – Bodhisattva Warriors” dùng rất nhiều loại pháp khí (binh khí nhà Phật) như Hộ Pháp (có vị dùng giản), Tứ Đại Thiên Vương, Thiên Thủ Thiên Nhãn, Phật Chuẩn Đề (có nhiều tay, trong đó có tay cầm giản). Vì vậy mà vũ khí trong nhà Phật là vật tượng hình để phục hổ, hàng long, chế ngự tâm viên ý mã. Bồ Tát mang kiếm để tận diệt vô minh (Bodhisattva carrying the sword which destroys ignorance).

Tiếu thuyết lịch sử, văn học cổ điển Thủy Hử của tác giả Thi Nại Am mô tả nhân vật anh hùng cái thế, một trong 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc, là Thiên uy tinh: Song chiêu Hồ Diên Chước (có sách chép là Song tiên Hồ Duyên Chước) dùng song giản chiến đấu, khắc chế nhiều loại binh khí ngắn, dài khác của đối phương.

Võ sư Thanh Vân, Bắc phái Thăng Long, cựu võ sư Trường Vũ thuật Việt Nam tại Saigon (1943 – 1945) soạn bài Giản pháp (1958) có tên Hoàng Kim Giản (độc giản), gồm 22 câu thiệu:

1. Bình thân lập thế,
2. Lưỡng long tranh châu,
3. Khuynh thân bái tổ,
4. Thiềm thừ vọng nguyệt,
5. Kim giản bạt sơn,
6. Tiềm tàng long hổ,
7. Phương vũ xuyên lâm,
8. Phi giao đoạt ngọc,
9. Mãnh sư trấn động,
10. Cuồng phong tảo diệp,
11. Tiềm tàng long hổ,
12. Phương vũ xuyên lâm,
13. Phi giao đoạt ngọc,
14. Mãnh sư trấn động,
15. Cuồng phong tảo diệp,
16. Tiềm tàng long hổ,
17. Lão tiều quải sơn,
18. Thiềm thừ vọng nguyệt,
19. Lão tiều quải sơn,
20. Vân gia hồi giản,
21. Đoạt mệnh thiết giản,
22. Khuynh thân bái tổ.

Võ sư Phan Văn Quảng, sinh năm 1965, kế thừa số vốn võ học từ thân phụ là cố võ sư Phan Văn Vũ (1900 – 1984), Võ phái Hồng Phi Phụng – Tây Sơn Bình Định tại Nha Trang, Khánh Hòa với bài Hoàng Kiếm Độc Giản, 15 câu thiệu.

1. Bình thân lập thế,
2. Khuynh thân bái tổ,
3. Lưỡng long thủ châu ,
4. Thiềm thừ vọng nguyệt,
5. Kiếm giản bạt sơn,
6. Tiềm tàng long hổ,
7. Phượng vũ xuyên lâm,
8. Phi giao đoạt ngọc,
9. Mãnh sư chấn động,
10. Cuồng phong tảo diệp
11. Lão tiều quá sơn,
12. Vân gia hồi giản,
13. Đoạt mệnh thiết giản,
14. Khuynh thân bái tổ,
15. Lập bộ tiên phi.

Một võ phái mang tên nước Việt, tên gọi là dấu ấn một thời của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam: Võ Trận Đại Việt. Giữa đất trời xa xôi hải ngoại, thành phố Sanjose, tiểu bang California, Hoa Kỳ; võ sư Nguyễn Minh Tuấn, trẻ tuổi, là giáo viên dạy văn hóa, võ sư tâm huyết với Võ cổ truyền Việt Nam đang truyền dạy Võ cổ truyền, mang trong lòng hoài bão phục hưng, bảo tồn vốn quý võ học là di sản văn hóa của dân tộc. Gia đình võ sư Nguyễn Minh Tuấn có nguồn gốc từ Phủ Thiên Trường, nhiều đời làm quan võ triều đình nhà Nguyễn. Võ phái Võ trận Đại Việt thừa kế nhiều bài bản chân truyền, thuần Việt, trong đó có bài Song Giản, 17 câu thiệu:

1. Tiên ông truyền giáng,
2. Chắp giản đề song,
…….
10. Tấn đả tung hoành,
11. Tả hữu chiến tranh,

v …….

Để phát triển hiệu quả Võ cổ truyền Việt Nam cần hiểu đúng Võ cổ truyền Việt Nam. Ngay cả việc hiểu thế nào là Võ cổ truyền, thế nào là di sản văn hóa truyền thống dân tộc đồng hành cùng lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước mà cũng còn bị nhiều người hiểu sai lệch, cưỡng dụng danh từ, o ép lịch sử, thì việc có hướng đi đúng là điều khó có thể. Có môn võ không phải là truyền thống mà tự xưng truyền thống dân tộc, chưa từng đồng hành cùng lịch sử đấu tranh của đất nước một ngày nào mà tự xưng là đồng hành cùng lịch sử đấu tranh của đất nước mấy ngàn năm; như vậy là có tội với tiền đồ dân tộc.

Hãy lấy gương Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Trương Công Định… mà giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ mai sau; lẽ nào lại lấy sự bội phản của Nguyễn Thân giáo dục lòng yêu nước (Nguyễn Thân dẫn quân Pháp đánh nghĩa quân của Phan Đình Phùng, cho quật mồ Phan Đình Phùng ở chân núi Quạt, đổ dầu đốt cho xương thịt ông cháy thành tro, rồi trộn vào thuốc súng bắn xuống sông La); và lẽ nào lại theo Huỳnh Công Tấn phản bội dẫn đường cho quân Pháp đánh úp bản doanh Trương Công Định, coi đó là lòng yêu nước (Trương Công Định bị trọng thương và ông đã rút gươm tự sát tại Ao Dinh, Gò Công để bảo toàn khí tiết).

Người đời xưa muốn tỏ đức sáng cho thiên hạ biết thì trước khi trị nước phải lo cho yên nhà. Muốn lo cho yên nhà, trước hết phải sửa mình. Muốn sửa mình thì tâm phải ngay thẳng, ý chí phải thành thật. Muốn cho tâm được ngay thẳng, ý chí được thành thật, thì trước hết phải thông suốt vấn đề, phải hiểu lẽ sự vật (Đại học).

Tâm không ngay thẳng, ý chí không thành thật mà muốn sửa trị thiên hạ là điều không có được.

Long Phi Tứ Hải
15-07-2011, 11:07 AM
Binh khí võ cổ truyền: Kiếm


http://img850.imageshack.us/img850/2286/kiemb.jpg

Kiếm là loại binh khí ngắn hai lưỡi, được tôn xưng là “Vua của trăm binh khí có lưỡi”, là " quân tử trong các loại võ khí". Sách sử chép rằng kiếm xuất hiện rất sớm từ thời xa xưa.

Trong thời kỳ cổ đại, trừ việc dùng kiếm để chiến đấu và luyện tập võ nghệ, kiếm còn là vật tượng trưng cho quyền lực, địa vị của vua chúa, phân định đẳng cấp lễ nghi trong xã hội. Kiếm được các vị đạo sư, đạo sĩ dùng làm “pháp khí” trong tôn giáo với quan niệm cho rằng kiếm là vật có thể “ẩn thân, hàng yêu, trừ quỷ”. Ngoài ra kiếm cũng còn được coi là một vật trang sức phong nhã, nên văn nhân, học sĩ đeo kiếm để tỏ ra mình là người cao nhã, không dung tục.

Kết cấu của kiếm chia ra làm hai bộ phận chính gồm thân kiếm và cán kiếm. Thân do lưỡi kiếm, sống kiếm, mũi kiếm cấu tạo thành. Cán do vành chắn để bảo vệ tay, tay nắm, đốc kiếm, ngoài ra còn có bao kiếm, tua kiếm. Đo dài của kiếm xưa nay khác nhau không thống nhất. So sánh các vật cổ, người ta thấy rằng kiếm thường khoảng 100 đến 105 cm, trường kiếm dài đến 140 cm. Phong trào võ thuật hiện đại, độ dài của kiếm theo “quy tắc thi đấu võ thuật” qui định khi thi vận động viên cắp ngược kiếm thõng hẳn tay xuống thì mũi kiếm chấm đến vành tai là chuẩn.

Kiếm đi thức đẹp, kiếm tựa gió bay, kiếm như rồng lượn. Tĩnh kiếm như trinh nữ, động kiếm tựa rồng bay, kiếm hoa như phụng vũ.


Kiếm pháp:Theo võ lý, yếu quyết của người dùng đao, dùng kiếm là “Đơn đao khán thủ, Bảo kiếm khán đàm”. Nghĩa là để đánh giá trình độ của người sử dụng đơn đao, người ta nhìn vào tay không cầm đao xem có phối hợp “ăn ý” với tay cầm đao không. Đối với kiếm, xem tay “kiếm chỉ” trong các kỹ thuật kiếm, tay “kiếm chỉ” có để đúng với đàm kiếm không. Đàm kiếm là phần từ vành chắn trở về sau đốc kiếm.

Sách viết và phân tích về binh khí Võ cổ truyền hiện nay không nhiều. Việc nghiên cứu, tìm hiểu, tập luyện kiếm phải tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu trong nước và nước ngoài. Kiếm pháp của các môn phái võ cổ truyền có thể tổng hợp theo thứ tự:

- Áp: Đè kiếm lên, ngăn giữ.

- Băng: Vạch kiếm.

- Cách: Gạt kiếm đứng qua trái hoặc phải.

- Đề: Nâng kiếm.

- Điểm: Đâm mũi kiếm.

- Đới: Đưa kiếm thẳng từ dưới lên, thanh kiếm nằm ngang.

- Kích: Đánh, phóng kiếm nhanh tới.

- Khuấy: Ngoáy kiếm, đâm lắc bằng cổ tay xoay tròn trên một điểm nhỏ.

- Loang: Múa hoa.

- Phách: Bổ, chém kiếm thẳng xuống.

- Sí: Giăng kiếm ngang tầm vai như cánh chim.

- Tiễn: Người và kiếm cùng lao tới.

- Tiệt: Khảm, chặt kiếm để chặn phá thế.

- Trừu: Kéo kiếm xuống, cứa, rọc.

Yếu chỉ kiếm thuật:

- Hư lãnh đỉnh khinh: đầu óc trống không, (tư tưởng an nhiên, tự tại).

- Hàm hung bạt bối: co lưng thóp bụng.

- Trầm khiên thuỳ chẩu: trầm vai buông chỏ.

- Tùng eo hoạt uyển: eo hông tự nhiên.

- Khí trầm đan điền: khí xuống đan điền.

- Khinh do tích phát: buông lỏng toàn thân.

Phép cầm kiếm:

Tay cầm kiếm phải thong thả linh hoạt, không nên nắm chặt lấy cán kiếm, vì như thế làm cản trở kỹ thuật của kiếm chiêu. Chỉ cần dùng ngón cái, ngón giữa cùng ngón áp út của bàn tay để nắm lấy cán kiếm, còn ngón trỏ và ngón út nên thong thả, buông lỏng, lòng chưởng cũng để trống không như cầm bút lông vậy.Kiếm thực là kiếm tập luyện, thi đấu, hay chiến đấu, tùy theo người tập luyện thuận tay nào mà kiếm thực được cầm ở tay phải hoặc tay trái. Kiếm chỉ hay còn gọi là kiếm pháp hay kiếm quyết, là tay không cầm kiếm, hình thức 2 ngón trỏ và ngón giữa áp sát nhau chỉ thẳng, ngón đeo nhẫn và ngón út gập xuống, ngón cái đè lên đầu ngón tay đeo nhẫn. Kiếm chỉ hoa theo đường nét, chiêu thức của kiếm thực, hỗ trợ sự cân bằng, linh động và nghệ thuật trong kiếm pháp.

Cũng có nhiều trường hợp, bài bản yêu cầu một tay cầm kiếm thực, tay còn lại thay vì là kiếm chỉ thì cầm bao kiếm, bao kiếm được làm bằng vật liệu gỗ hoặc kim loại có thể trợ chiến gạt đỡ, phòng thủ khi lâm trận.

Đạo dùng kiếm:

Kiếm là loại binh khí nghệ thuật, tài hoa, ngoài công dụng chiến đấu, còn có kiếm đạo mang tinh thần triết lý Đông phương cao cả, nhất là ý vị của Thiền tông. Đạo dùng kiếm là thiên biến vạn hóa, là bách kiếm hóa nhất, thiên kiếm hóa nhất, vạn kiếm hóa nhất. Nhất điểm phát vạn thù, vạn thù quy nhất điểm. Hiểu được bí quyết trong đó là có thể tự chủ, an nhiên nhàn hạ mà ứng biến.

Tuyệt nghệ trong kiếm pháp là vô chiêu thắng hữu chiêu, nhìn bề ngoài có vẻ như không có gì nhưng bên trong là tuyệt kỹ, bởi vì người và kiếm đã hòa cùng một thể. Đó cũng là điều mà Lão Tử đã dạy: “Thông minh duệ trí thủ chi dĩ ngu. Dũng lực chấn thế thủ chi dĩ khiếp”.

Kiếm có thần kiếm, người giác ngộ dụng kiếm hòa cùng thần kiếm, chiêu thức kiếm ở trong ý kiếm, lúc ấy đánh đông trúng đông, đánh tây trúng tây, mặt trời, mặt trăng cùng xuất kiếm, cùng hợp nhất thành một chiêu. Đất Trời cùng hợp lại với nhau thành Một. Đến lúc ấy cũng không còn có ta và cũng không còn có kiếm.

cjcmb
15-07-2011, 11:11 AM
Thế quạt có gắn kim châm ở đầu gọi là gì nhỉ?

Ám khí.:tt1::tt1::tt1::tt1::tt1::tt1::tt1:

Cô Bé Bán Lê
15-07-2011, 05:07 PM
Oạch! Vừa mới đặt Đoạt mệnh xong.

Bác xem vũ khí của em trên vẽ hình mỹ nhân, khung bằng thép, vải là tơ tằm thượng hạng( rất bền), khi cấp bách có thể phóng chân độc bằng vàng thì gọi là gì ???

Em rất dốt tiếng Hán bác có nghĩ tên nào hay ko?:047::047::047:

Châm Bạc tiếng Hán Việt là gì ấy nhỉ :dead:

Mỹ nhân đoạt hồn kim châm phiến, tên dài cho độc giả đọc xong chết luôn :tt1:

nhanvantu
16-07-2011, 11:18 AM
Mỹ nhân phiến- ngắn gọn, dễ nhớ.
Đẹp như mỹ nhân, sát địch vô tình:037::037::037::037:

Minh Đức Long
16-07-2011, 11:21 AM
Mỹ nhân phiến- ngắn gọn, dễ nhớ.
Đẹp như mỹ nhân, sát địch vô tình:037::037::037::037:

Đã đặt Mỹ nhân Ngân Châm Phiến :057::057::057:

nhanvantu
16-07-2011, 11:28 AM
Đao, gan mật của trăm binh khí
Trong loại đao gồm có đơn đao, song đao, đại đao, phác đao, trảm mã đao.
http://img339.imageshack.us/img339/2316/20090306tinhthanbienonl.jpg
http://img29.imageshack.us/img29/4593/zhanmadao.jpg
http://img339.imageshack.us/img339/2739/dao3s.jpg
http://img717.imageshack.us/img717/1940/tlynd.jpg

Đao chiến (đại đao) thời cận đại, dùng trong quân đội Trung Hoa thời chiến tranh Trung - Nhật những năm đầu 1930. Loại Chiến đao này có thể dùng 1 tay hoặc 2 tay, được sử dụng trong đánh cận chiến gần (đánh xa có súng, pháo,..). Có loại có rãnh thoát máu, có loại không. “Trảm Mã Đao” thời kỳ nhà Tống năm 1072. Loại đao pháp dài này dùng trong chiến trận cổ, để chặt chân ngựa, và thảo phạt tướng lĩnh mặc giáp trụ nặng. Chuôi đao dài 37cm, lưỡi đao dài 114cm. Trảm Mã Đao là loại đao dài nặng, là tiền đề cho “Miêu Đao” rất nổi tiếng của các môn phái võ thuật Bắc Trung Hoa sau này. Và cũng là tiền đề cho Đao Nhật Bản (Katana) về sau, thế kỷ 16 - 17.

Tập tục luyện đao phảimãnh liệt đã trải qua ngàn năm. Thời xưa, khi lính tráng đấu nhau bằng khí giới ngắn, người dùng đao rất đông. Múa đao lên, đao rít vù vù, hàn quang (ánh sáng lạnh) khiếp người, chỉ nghe gió đao rít không thấy bóng người, dũng mãnh oai võ, hùng mạnh có thừa. phong cách “hung mãnh như mãnh hổ” do cấu tạo và phép luyện tập của đao quyết định.

Đơn đao gồm mũi đao, thân đao, lưỡi đao, sống đao, vành che tay (“đao bàn”), cán đao.v.v.. cấu tạo nên. Mũi đao, lưỡi đao là bộ phận nhọn sắc nhất chủ về tấn công, sống đao rộng dày kiên cố chuyên về phòng thủ.

Xét về kỹ pháp, đơn đao dùng nhiều các động tác bổ, chặt, thọc, đập, đâm, khều.v.v.. (phách, khảm, thích, cách, trát, liêu…) với mức độ tương đối lớn. Thời cổ đao lại khá nặng, muốn khi chặt, bổ nhát nào nhát ấy đều khiến hiệu thì ra đao phải mau lẹ có lực. Để biểu hiện đặc điểm mạnh của đao thuật thì cần phải thành thạo, nắm vững các loại đao pháp và lực pháp, phối hợp chặt chẽ khi được thân pháp, bộ pháp, nhãn pháp, đao pháp. Khi luyện tập đao thì khí đầy lực mạnh, thân với đao hòa hợp, đao theo thân chuyển, từ thân thể đẩy kéo tứ chi để giúp đao phát lực; bộ pháp thì phải nhẹ nhàng, linh hoạt, mau lẹ, vọt nhảy, xoay chuyển, tiến lùi tự nhiên thoải mái, hai mắt mau lẹ, ánh mắt hừng hực, vung đao nhanh chậm, nặng nhẹ tương ứng, thu duỗi tự nhiên.

Các chủng loại đao rất nhiều, có đơn đao, đại đao Quan Công, Xuân Thu đại đao, cửu hoàn đại đao, Thanh Long đại đao, Nam Dương đại đao, cửu hoàn đại đao, Thanh Long yển nguyệt đao (rồng xanh ngửa hớp trăng), phác đao, đoản đao, yêu đao, miêu đao, song thủ đới (trăm mã đao – chém ngựa), tiểu song thủ ( còn gọi là chùy thủ), nguyên tên là Hắc Hổ đao – dao hổ đen).v.v..Về phương pháp và yêu cầu sử dụng từng loại có chổ khác nhau.
2603200908_quancong

Thanh Long đao của Quan Vũ

Đao pháp cơ bản của đơn đao có quấn đầu, ôm gáy, múa hoa, bổ, chặt, khều, thọc, cắt đỡ, quấy, , theo, chọc, thúc, đâm, chém, gác.v.v… Trong bài múa thực dụng có “xuyến đao” (xoắn liền đường đao), tam hợp đao và “dạ chiếc bát phương đao” (đêm đánh nhau tám phương).

Đại đao được gọi là “soái của trăm quân”, phần lớn dùng cả hai tay cầm chắc mà vũ động. Đao pháp chủ yếu có: chém, bổ, miết, xoay, khều, gác, đẩy, kéo v.v… Cái gọi là “Đại đao xem lưỡi” chính là các loại đao pháp đều có vận dụng rõ ràng ở lưỡi đao. Khi diễn luyện mỗi chiêu thức đều bổ mạnh chém rộng, một động một tĩnh đều uy vũ đường đường. Trong chiến tranh xưa, đại đao thường dùng cho chiến tướng làm vũ khí đánh ở trên ngựa, uy lực rất lớn. Hoàng kỳ đời Minh trong “ Tam tài quốc hội” đã nói : Yển nguyệt đao của Quan Công uy lực rất mạnh, trong 36 đường đao pháp, quân mai phục mà gặp không ai là không chịu khuất phục. Trong các loại đao, đây là hàng đầu”. Phác đao có trọng lượng nhẹ hơn so với các đao lớn nhất, có loại cán ngắn hơn, vũ động lên thì linh hoạt nhanh nhẹn, phần lớn dùng trong đánh bộ, nên gọi là “ song thủ đới” (kéo hai tay”. Cả cây đao do thân đao, cán đao, đĩa đao và vòng kêu, là bốn bộ phận lớn nhất cấu tạo nên.