PDA

View Full Version : Việt Nam sử lược (st)


virus13
05-03-2008, 01:16 PM
Việt Nam sử lược

1. Quốc Hiệu.
Nước Việt Nam ta về đời Hồng Bàng (2897 - 258 trước
Tây lịch) gọi là Văn Lang, đời Thục An Dương Vương (257 - 207 trước Tây
lịch) thì gọi là Âu Lạc. Đến nhà Tần (246 - 206 trước Tây lịch) lược định phía
nam thì đặt làm Tượng Quận, sau nhà Hán (202 trước Tây lịch - 220 sau Tây
lịch) dứt nhà Triệu, chia đất Tượng Quận ra làm ba quận là Giao Chỉ, Cửu
Chân và Nhật Nam. Đến cuối đời nhà Đông Hán, vua Hiến Đế đổi Giao Chỉ
làm Giao Châu. Nhà Đường lại đặt là An Nam Đô Hộ Phủ.
Từ khi nhà Đinh (968 - 980) dẹp xong loạn Thập Nhị Sứ Quân, lập nên một
nước tự chủ, đổi quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Vua Lý Thánh Tông đổi là Đại
Việt, đến đời vua Anh Tông, nhà Tống bên Tàu mới công nhận là An Nam
Quốc.
Đến đời vua Gia Long, thống nhất được cả Nam Bắc (1802), lấy lẽ
rằng Nam là An Nam, Việt là Việt Thường, mới đặt quốc hiệu là Việt Nam.
Vua Minh Mệnh lại cải làm Đại Nam.
Quốc hiệu nước ta thay đổi đã nhiều lần, tuy rằng ngày nay ta vẫn
theo thói quen dùng hai chữ An Nam, nhưng vì hai chữ ấy có ngụ ý phải
thần phục nước Tàu, vậy thì ta nên nhất định lấy tên Việt Nam mà gọi nước
nhà

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 2 phút và 18 giây -----

CHƯƠNG I
Họ Hồng-Bàng
(2879-258 trước Tây Lịch)
1. Họ Hồng Bàng
2. Nước Văn Lang
3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng:
- Phù Đổng Thiên Vương
- Sơn Tinh Thủy Tinh

1. Họ Hồng Bàng. Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là
cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh
(thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con
tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm
vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh
Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ
Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục
(Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm nhâm tuất (2879
trước Tây Lịch ?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng
Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một
trăm người con trai3. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long
Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay
được trăm con thì nhà người đem 50 đứa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống
bể Nam Hải".
Gốc tích truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỷ chia ra
những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam,
tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt. Đấy cũng
là một điều nói phỏng, chứ không có lấy gì làm đích xác được.

2. Nước Văn Lang. Lạc Long Quân phong cho người con
trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.
Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn ( ? )
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện
Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc
Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các quan
nhỏ gọi là Bồ Chính4. Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối, gọi là Phụ
Đạo.
Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân mão (1109 trước Tây
lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường, ở phía nam xứ
Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người làm
thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam
để đem sứ Việt Thường về nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có
phải là đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?
Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý mão (158 trước
Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước.
Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20
ông vua, mà tính từ năm nhâm tuất (2879) đến năm quý mão (258 trước
Tây lịch) thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì
được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng cổ nữa, thì cũng khó lòng mà
có nhiều người sống lâu được như vậy. - Xem thế thì đủ biết truyện đời
Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực.

3. Truyện Cổ Tích Về Đời Hồng Bàng. Sử chép rằng
đời Hùng Vương thứ nhất, người nước Văn Lang làm nghề chài lưới, cứ hay
bị giống thuồng luồng làm hại, vua mới bắt dân lấy chàm vẽ mình để những
giống ấy tưởng là đồng loại không làm hại nữa5. Sử lại chép rằng thuyền
của ta ở đằng mũi thường hay làm hai con mắt, cũng có ý để cho các thứ
thủy quái ở sông ở bể không quấy nhiễu đến.
Trong đời Hùng Vương lại có hai truyện mà ngày nay người ta
thường hay nói đến, là truyện Phù Đổng Thiên Vương và truyện Sơn Tinh
Thủy Tinh.
Truyện Phù Đổng Thiên Vương: Đời vua Hùng Vương thứ 6 có đám
giặc gọi là giặc Ân, hung mạnh lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ đi
rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng
Phù Đỗng, bộ Võ Ninh (nay là huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh), có đứa trẻ xin
đi đánh giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu.
Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi
đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một
trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.
Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến đi mất. Vua nhớ
ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên
Vương6. Truyện này là truyện tục truyền như vậy, chứ không có lẽ tin làm
sự thực được. Họa chăng đời bấy giờ có người tướng giỏi, đánh được giặc,
về sau người ta nhớ ơn làm đền thờ thì hợp lẽ hơn. Hiện bây giờ có đền thờ
ở làng Gióng tức làng Phù Đổng. Năm nào đến mồng tám tháng tư cũng có
hội vui lắm, tục gọi là đức Thánh Gióng.
Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh: Tục truyền rằng vua Hùng Vương thứ
18 có người con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Sơn Tinh và
Thủy Tinh đều muốn hỏi làm vợ. Hùng Vương hẹn rằng ngày hôm sau ai
đem đồ lễ đến trước thì gả cho người ấy. Ngày hôm sau Sơn Tinh đến trước
lấy được Mỵ Nương đem về núi Tản Viên (tức là núi Ba Vì ở tỉnh Sơn Tây).
Thủy Tinh đến sau, thấy Sơn Tinh lấy mất Mỵ Nương, tức giận vô
cùng, mới làm ra mưa to gió lớn, rồi dâng nước lên đánh Sơn Tinh, Sơn Tinh
ở trên núi không việc gì: hễ nước lên cao bao nhiêu, thì Sơn Tinh làm núi
cao lên bấy nhiêu. Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh xuống, Thủy Tinh phải
rút nước chạy về. Từ đó Sơn Tinh và Thủy Tinh thù nhau, mỗi năm đánh
nhau một lần, dân gian thật là cực khổ.
Truyện này là nhân vì ở Bắc Việt năm nào đến tháng 6, tháng 7
cũng có nước lũ ở trên mạn ngược chảy xuống tràn vào trong đồng áng,
ngập mất cả ruộng đất. Người ta không hiểu là tại lẽ gì, mới tưởng tượng
mà đặt ra câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh đánh nhau vậy.
Tóm lại mà xét, nước ta khởi đầu có quốc sử từ cuối thập tam thế
kỷ: đến đời vua Thánh Tông nhà Trần, mới có quan Hàn Lâm Học Sĩ là Lê
Văn Hưu, soạn xong bộ Đại Việt Sử Ký, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý
Chiêu Hoàng. Hai trăm rưỡi năm về sau lại có ông Ngô Sĩ Liên, làm quan Lễ
Bộ Tả Thị Lang đời vua Thánh Tông nhà Lê, soạn lại bộ Đại Việt Sử Ký: chép
từ họ Hồng Bàng đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về
thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta mới chép truyện về đời thượng cổ. Xem thế
thì đủ biết những truyện về đời ấy khó lòng mà đích xác được. Chẳng qua
nhà làm sử cũng nhặt nhạnh những truyện hoang đường tục truyền lại, cho
nên những truyện ấy toàn là truyện có thần tiên quỷ quái, trái với lẽ tự nhiên
cả.
Nhưng ta phải hiểu rằng nước nào cũng vậy, lúc ban đầu mờ mịt, ai
cũng muốn tìm cái gốc tích của mình ở chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái
chủng loại của mình. Chắc cũng bởi lẽ ấy mà sử ta chép rằng họ Hồng Bàng
là con tiên cháu rồng, v.v....
Nay ta theo sử cũ mà chép mọi truyện, người xem sử nên phân biệt
truyện nào là truyện thực, truyện nào là truyện đặt ra, thì sự học mới có lợi
vậy.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 4 phút và 4 giây -----

CHƯƠNG II
Nhà Thục
(257 - 207 trước Tây lịch)
1. Gốc Tích Nhà Thục
2. Nước Âu Lạc
3. Nhà Tần Đánh Bách Việt
4. Nhà Thục Mất Nước

1. Gốc Tích Nhà Thục. Nhà Thục chép trong sử nước ta
không phải là nước Thục bên Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy
giờ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) đã thuộc về nhà Tần cai trị rồi, thì còn có vua
nào nữa. Vả, sử lại chép rằng khi Thục Vương Phán lấy lấy được nước Văn
Lang thì đổi quốc hiệu là Âu Lạc, tức là nước Âu Lạc gồm cả nước Thục và
nước Văn Lang. Song xét trong lịch sử không thấy đâu nói đất Ba Thục
thuộc về Âu Lạc. Huống chi lấy địa lý mà xét thì từ đất Ba Thục (Tứ Xuyên)
sang đến Văn Lang (Bắc Việt), cách bao nhiêu đường đất và có bao nhiêu
núi sông ngăn trở, làm thế nào mà quân nhà Thục sang lấy nước Văn Lang
dễ dàng như vậy ? Sử cũ lại có chỗ chép rằng An Dương Vương, họ là Thục
tên là Phán. Như vậy chắc hẳn Thục tức là một họ nào độc lập ở gần nước
Văn Lang, chứ không phải là Thục bên Tàu. Sách "Khâm Định Việt Sử" cũng
bàn như thế.

2. Nước Âu Lạc. Sử chép rằng Thục Vương hỏi con gái của
Hùng Vương thư 18, là Mỵ Nương không được, trong bụng lấy làm tức giận,
dặn con cháu ngày sau đánh báo thù lấy nước Văn Lang. Hùng Vương bấy
giờ cậy mình có binh cường tướng dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu chè
làm vui thú. Người cháu Thục Vương tên là Phán, biết tình thế ấy, mới đem
quân sang đánh lấy nước Văn Lang. Hùng Vương thua chạy, nhảy xuống
giếng mà tự tử.
Năm giáp thìn (275 trước Tây lịch), Thục Vương dẹp yên mọi nơi rồi,
xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê
(nay thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An). Hai năm sau là năm bính ngọ
(255 trước Tây Lịch), An Dương Vương xây Loa Thành. Thành ấy cao và từ
ngoài vào thì xoáy trôn ốc, cho nên mới gọi là Loa Thành. Hiện nay còn dấu
tích ở làng Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An.

3. Nhà Tần Đánh Bách Việt. Khi An Dương Vương làm
vua nước Âu Lạc ở bên này, thì ở bên Tàu vua Thủy Hoàng nhà Tần, đã nhất
thống thiên hạ. Đến năm đinh hợi (214 trước Tây lịch). Thủy Hoàng sai
tướng là Đồ Thư đem quân đi đánh lấy đất Bách Việt (vào quãng tỉnh Hồ
Nam, Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ). An Dương Vương cũng xin thần
phục nhà Tần. Nhà Tần mới chia đất Bách Việt và đất Âu Lạc ra làm ba
quận, gọi là: Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận
(Bách Việt).
Người bản xứ ở đất Bách Việt không chịu để người Tàu cai trị, trốn
vào rừng ở. Được ít lâu quân của Đồ Thư, vốn là người ở phương bắc,
không chịu được thủy thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ người Bách Việt
thừa thế nổi lên giết được Đồ Thư.

4. Nhà Thục Mất Nước. Chẳng được bao lâu thì nhà Tần
suy, nước Tàu có nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm Ngao
thấy có cơ hội, muốn mưu đánh lấy Âu Lạc để lập một nước tự chủ ở
phương nam. Nhưng công việc chưa thành, thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp
mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Đà để thay mình làm quan úy
quận Nam Hải.
Năm quý tị (208 trước Tây lịch) là năm thứ 50 đời vua An Dương
Vương. Triệu Đà đem quân sang đánh lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam
Việt7.
Tục truyền rằng khi An Dương Vương xây Loa Thành, có những yêu
quái quấy nhiễu, xây mãi không được. An Dương Vương mới lập đàn lên cầu
khấn, có thần Kim Qui hiện lên bày phép cho vua trừ những yêu quái đi, bấy
giờ mới xây được thành. Thần Kim Qui lại cho An Dương Vương một cái
móng chân, để làm cái lẫy nỏ. Lúc nào có giặc thì đem cái nỏ ấy ra bắn một
phát, giặc chết hàng vạn người.
Cũng nhờ có cái nỏ ấy cho nên Triệu Đà đánh không được An Dương
Vương. Triệu Đà dùng kế, cho con là Trọng Thủy sang lấy Mỵ Châu là con
gái An Dương Vương, giả kết nghĩa hòa thân để do thám tình thực.
Trọng Thủy lấy được Mỵ Châu rồi, hỏi dò vợ rằng: "Bên Âu Lạc có tài
gì mà không ai đánh được?" Mỵ Châu nói chuyện cái nỏ, và lấy cho chồng
xem. Trọng Thủy bèn lấy cái móng của Kim Qui đi, làm cái lẫy giả thay vào,
rồi định về báo tin cho cha biết. Khi sắp ra về, Trọng Thủy hỏi Mỵ Châu
rằng: "Tôi về, mà nhỡ có giặc giã đánh đuổi, thì rồi tôi biết đâu mà tìm?" -
Mỵ Châu nói rằng: "Thiếp có áo lông ngỗng, hễ khi thiếp có chạy về đâu,
thiếp sẽ lấy lông ấy mà rắc ra ở dọc đường thì rồi sẽ biết."
Trọng Thủy về kể lại với Triệu Đà tình đầu mọi sự, Triệu Đà bèn khởi
binh sang đánh Âu Lạc. An Dương Vương cậy có cái nỏ, không phòng bị gì
cả, đến khi quân giặc đến gần chân thành mới đem nỏ ra bắn, thì không
thấy hiệu nghiệm nữa. An Dương Vương mới đem Mỵ Châu lên ngựa mà
chạy về phía nam. Chạy đến núi Mộ Dạ (thuộc huyện Đông Thành, tỉnh
Nghệ An) gần bờ bể, vua thấy giặc đuổi kíp quá, mới khấn Kim Qui lên cứu,
Kim Qui lên nói rằng: "Giặc ngồi sau lưng nhà vua đấy!" An Dương Vương
tức giận quá, rút gươm ra chém Mỵ Châu đi, rồi nhảy xuống bể mà tự tận8.
Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng của vợ rắc, đem binh đuổi đến núi
Mộ Dạ, thấy xác vợ chết nằm đó, thương xót vô cùng, vội vàng đem về cấp
táng, xong rồi, nhảy xuống cái giếng ở trong Loa Thành mà tự tử.
Nay ở làng Cổ Loa trước đền thờ An Dương Vương có cái giếng tục
truyền là Trọng Thủy chết ở giếng ấy. Tục lại truyền rằng Mỵ Châu bị giết
đi, vì nỗi tình thực mà phải thác oan, cho nên máu nàng ấy chảy xuống bể,
những con trai ăn phải hóa ra có ngọc trân châu. Hễ ai lấy được ngọc ấy
đem về rửa vào nước cái giếng ở trong Loa Thành là chỗ Trọng Thủy đã tự
tử, thì ngọc ấy trong và đẹp thêm ra.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 7 phút và 22 giây -----

CHƯƠNG IV
Nhà Triệu
(207-111 tr. Tây-lịch)
1. Triệu Vũ-Vương
2. Vũ-Vương thụ-phong nhà Hán
3. Vũ-Vương xưng đế
4. Vũ-Vương thần phục nhà Hán
5. Triệu Văn-Vương
6. Triệu Minh-Vương
7. Triệu Ai-Vương
8. Triệu Dương-Vương

1. Triệu Vũ-Vương (207-137 tr. Tây-lịch). Năm quí-tị
(207) Triệu Đà đánh được An-dương-vương rồi, sáp-nhập nước Âu-lạc vào
quận Nam-hải, lập thành một nước gọi là Nam-Việt, tự xưng làm vua, tức là
Vũ-vương, đóng đô ở Phiên-ngung, gần thành Quảng-châu bây giờ.
2. Vũ-Vương thụ-phong nhà Hán. Trong khi Triệu Vũ-
Vương gây-dựng cơ-nghiệp ở Nam-Việt, thì ở bên Tàu, ông Lưu Bang triệt
được nhà Tần, diệt được nhà Sở, nhất-thống thiên hạ, rồi lên ngôi Hoàng-đế
tức là vua Cao Tổ nhà Hán. Vua Cao-tổ thấy Triệu Vũ-Vương độc-lập ở
phương nam, bèn sai Lục Giả sang phong cho Vũ-Vương. Bấy giờ là năm ấttị
(196 tr. Tây-lịch), năm thứ 12 đời vua Vũ-Vương nhà Triệu, và năm thứ 11
đời vua Cao-tổ nhà Hán.
Vũ-Vương vốn là người kiêu-căng, có ý không muốn phục nhà Hán,
đến khi Lục Giả sang đến nơi, vào yết-kiến Vũ-Vương, Vũ-Vương ngồi xếp
vành tròn, không đứng dậy tiếp. Lục Giả thấy vậy mới nói rằng: "Nhà vua là
người nước Tàu , mồ mả và thân thích ở cả châu Chân-định. Nay nhà Hán
đã làm vua thiên hạ, sai sứ sang phong vương cho nhà vua, nếu nhà vua
kháng-cự sứ-thần, không làm lễ thụ-phong, Hán-đế tất là tức giận, hủy-hoại
mồ mả và giết hại thân-thích của nhà vua, rồi đem quân ra đánh thì nhà vua
làm thế nào?" Vũ-vương nghe lời ấy vội-vàng đứng dậy làm lễ tạ, rồi cười
mà nói rằng: "Tiếc thay ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không
thì ta cũng chẳng kém gì Hán-đế!"
3. Vũ-Vương xưng đế. Năm mậu ngọ (183 tr. Tây-lịch) vua
Cao-tổ nhà Hán mất rồi, bà Lữ-hậu lâm triều tranh quyền Huệ-đế, rồi lại
nghe lời gièm pha, cấm không cho người Hán buôn bán những đồ vàng, đồ
sắt và những đồ điền-khí với người Nam-Việt. Vũ-vương lấy làm tức giận, lại
ngờ cho Trường-sa-vương xui Lữ-hậu làm như vậy, bèn tự-lập làm Nam-việt
Hoàng-đế, rồi cử binh-mã sang đánh quận Tràng-sa (tỉnh Hồ-nam bây giờ).
Năm Canh thân (181 tr. Tây-lịch) Hán-triều sai tướng đem quân
sang đánh Nam-việt. Quân nhà Hán chịu không được thủy-thổ phương nam,
nhiều người phải bệnh-tật, bởi vậy phải chạy thua về bắc. Từ đó thanh-thế
Triệu Vũ-đế lừng lẫy, đi đâu dùng xe ngựa theo nghi-vệ Hoàng-đế, như vua
nhà Hán vậy.
4. Vũ-Vương thần phục nhà Hán. Đến khi Lữ hậu mất,
Hán Văn-đế lên ngôi, lại sai Lục Giả đưa thư sang khuyên Vũ-đế thuần phục
nhà Hán. Thư rằng:
"Trẫm là con trắc-thất vua Cao-đế, phụng mệnh ra trị nước Đại , vì
non sông cách trở, thẹn mình phác-lậu, cho nên lâu nay chưa từng đưa thư
sang hỏi thăm nhà vua .
Từ khi đức Cao-đế xa bỏ quần-thần , đức Huệ-đế qua đời, bà Caohậu
làm triều, không may bị bệnh, để cho họ Lữ chuyên quyền, toan đem
con họ khác để nối-đức Huệ-đế. May nhờ nhà Tông-miếu linh-thiêng, các
công thần ra sức dẹp kẻ tiếm-nghịch.
Trẫm vì các vương-hầu cùng bách quan cố ép, cho nên phải lên ngôi
Hoàng-đế. Mới rồi trẫm nghe nhà vua có đưa thư cho Long-lư-hầu, nhắn tin
và xin anh em họ-hàng ở quận Chân-định, và xin bãi binh ở quận Trường-sa.
Trẫm cũng nghe lời thư của nhà vua, thì đã bảo tướng-quân Bácdương-
hầu bãi binh về, còn anh em họ hàng nhà vua ở Chân-định thì trẫm
đã cho người thăm nom, lại sai sửa sang phần-mộ nhà vua, thật tử-tế.
Thế vừa rồi trẫm nghe nhà vua còn đem binh quấy-nhiễu ngoài biên,
quận Trường-sa thật khổ, mà Nam-quận lại còn khổ hơn. Làm như thế, nước
nhà vua có chắc lợi được một mình không? Tất là tướng-tá quân-sĩ chết
nhiều, làm cho vợ người góa chồng, con người mồ-côi bố, cha mẹ mất con,
được một mất mười, trẫm không lòng nào nỡ làm như vậy.
Vả lại được đất nhà vua cũng không lấy làm to, được của nhà vua
cũng không đủ làm giàu. Vậy thì từ phía nam núi Lĩnh thì mặc ý nhà vua tự
trị lấy. Nhưng nhà vua cứ xưng đế hiệu, hai bên cùng là đế-quốc mà không
sai sứ giao-thông, thế chẳng hóa ra ganh nhau ư ? Ganh nhau mà không
nhường , thì người nhân không thèm làm.
Trẫm nay xin cùng nhà vua gác bỏ điều cũ, từ rày trở đi, thông sứ
như xưa. Vậy trẫm sai Lục Giả sang đem ý trẫm khuyên nhà vua nên nghe,
chứ làm chi nhiều sự cướp bóc tai-hại"
Xem thư của Hán-Văn-đế lời-lẽ tử-tế, thật là có nhân-từ, vì thế cho
nên Triệu Vũ-đế phải chịu phục, và đáp thư lại rằng:
"Nam di đại-trưởng lão-phu thần, Đà, muội tử tái bái, dâng thư lên
Hoàng-đế bệ-hạ. Lão-phu là kẻ cố-lại nước Việt, khi Hiếu Huệ Hoàng-đế lên
ngôi, tình-nghĩa không dứt, vẫn hậu đãi lão phu. Đến khi Cao-hậu lâm triều,
lại phân-biệt ra Trung-hoa, ngoại-di, hạ lệnh cấm không được bán cho Namviệt
những đồ vàng sắt và điền khí; còn ngựa, trâu dê thì chỉ bán cho giống
đực, chứ không bán cho giống cái.
Lão-phu lại phong văn rằng nhà Hán đem hủy-hoại cả phần mộ lãophu
cùng giết cả anh em tông-tộc lão phu, cho nên có bàn riêng với chúng
rằng: nay trong đã không vẻ-vang với nhà Hán, ngoài lại không có gì hơn
được nước Ngô, cậy có xưng đế-hiệu; mà chẳng qua tự đế nước mình,
không dám hại gì thiên-hạ.
Cao-hậu nghe thấy thế, lấy làm tức giận, đem tước bộ sổ Nam-Việt
đi, không cho thông sứ, lão phu trộm nghĩ rằng hẳn vì Trường-sa-vương
gièm pha, cho nên Lão-phu có đem binh đánh.
Lão-phu ở đất Việt đã bốn mươi chín năm nay , bây giờ đã có cháu
rồi, nhưng mà sớm khuya trằn-trọc, ăn không ngon, ngủ không yên, mắt
không dám trông sắc đẹp, tai không dám nghe đàn vui, là chỉ vì cớ không
được phụng thờ nhà Hán. Nay nhờ bệ -hạ đoái thương, cho phục lại hiệu cũ,
thông sứ như xưa, lão-phu nhờ ơn, dẫu chết xương cũng không nát.
Vậy xin cải hiệu từ đây, và xin có cống-phẩm phụng-hiến Hoàng-đế
bệ-hạ."
Từ khi Triệu Vũ-Vương chịu bỏ đế-hiệu, Nam Bắc lại giao thông hòa
hiếu không có điều gì nữa.
Năm giáp-thìn (137 trước Tây-lịch), Triệu Vũ-Vương mất. Sử chép
rằng ngài thọ được 121 tuổi và làm vua được hơn 70 năm.
5. Triệu Văn-Vương (137-125 trước Tây-lịch).
Triệu Vũ-vương truyền ngôi lại cho cháu đích tôn, tên là Hồ tức là Triệu Vănvương,
trị được 12 năm.
Triệu Văn-vương vốn là người tầm thường, tính khí nhu nhược,
không được như Triệu Vũ-vương. Khi mới lên làm vua được hai năm, thì vua
Mân-Việt (tỉnh Phúc-kiến bây giờ) đem quân sang đánh phá ở chỗ biên thùy
nước Nam-việt. Triệu Văn-vương không dám cử binh-mã ra chống cự, sai sứ
sang cầu cứu bên Hán-triều.
Vua nhà Hán sai Vương Khôi và Hàn-An-Quốc Hán đến nơi, bèn bắt
Quốc-vương giết đi, đưa đầu nộp cho quan nhà Hán, và xin hàng. Mân-việt
đã bình rồi vua nhà Hán sai Trang Trợ sang dụ Triệu Văn-Vương vào chầu,
nhưng mà đình-thần xin đừng đi, bèn cho thái tử là Anh Tề đi thay.
Anh Tề ở bên Hán-Triều mười năm, đến năm bính-thìn (125 tr. Tây
lịch) vua Văn-vương mất thì mới về nối ngôi.
6. Triệu Minh-Vương (125-113 tr. Tây lịch). Anh Tề
lên làm vua tức là Triệu Minh-Vương , trị vì được 12 năm.
Khi Anh Tề ở bên Hán có lấy vợ lẽ là Cù-thị, đẻ được một người con
tên là Hưng. Đến khi về làm vua Nam-việt, Minh Vương lập Cù-thị lên làm
hoàng-hậu và Hưng làm Thái-tử.
7. Triệu Ai-Vương. Mậu-thìn (113 tr. Tây lịch) Triệu Minh-
Vương mất, thái tử Hưng lên làm vua, tức là Triệu Ai-Vương, trị-vì được một
năm.
Bấy giờ vua nhà Hán cho An-quốc Thiếu Quí sang dụ Nam-Việt về
chầu. Thiếu Quí nguyên là tình-nhân của Cù-thị lúc trước, đến khi sang Nam-
Việt gặp nhau, lại tư thông với nhau rồi dỗ-dành Ai-vương đem nước Namviệt
về dâng nhà Hán.
Khi Cù-thị và Ai-vương đã định về Hán-triều, thì có quan Tể-tướng là
Lữ Gia, biết rõ tình-ý, đã can-ngăn mãi không được, mới truyền hịch đi mọi
nơi nói rằng vua và Cù-thái-hậu sắp đem nước dâng cho nhà Hán; rồi Lữ Gia
cùng với mấy người đại thần đem quân cấm-binh vào giết sứ nhà Hán, Cù-
Thị và Ai-Vương. Đoạn rồi tôn Kiến Đức lên làm vua. Kiến Đức là con trưởng
của Minh-Vương mẹ là người Nam-Việt làm vua.
8. Triệu Dương-Vương. Kiến Đức lên làm vua, tức là
Dương-Vương. Dương-Vương mới lên làm vua được độ một năm thì vua Vũđế
nhà Hán sai Phục-ba tướng-quân là Lộ- Bác-Đức và Dương Bộc đem 5
đạo quân sang đánh lấy Nam-Việt. Quan Thái-phó Lữ Gia ra chống cự không
nổi, phải đem Dương-Vương chạy. Quân nhà Hán đuổi theo bắt được, vua
tôi đều bị hại cả. Năm ấy là năm canh-ngọ (111 tr. Tây-lịch), nước Nam bị
người Tàu chiếm lấy, cải là Giao-chỉ-bộ, chia ra làm 9 quận, và đặt quan caitrị
như các châu quận bên Tàu vậy.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 8 phút và 49 giây -----

CHƯƠNG 1
Bắc-Thuộc Lần Thứ I
(111 tr. Tây-lịch - 39 sau Tây-lịch)
1. Chính-Trị nhà Tây-Hán
2. Tích Quang và Nhâm Diên
1. Chính-Trị nhà Tây-Hán. Năm canh ngọ (111 tr. Tâylịch)
vua Vũ-đế nhà Hán sai Lộ-Bác-Đức và Dương Bộc sang đánh nhà Triệu,
lấy nước Nam-việt rồi cải là Giao-chỉ-bộ, và chia ra làm 9 quận, là những
quận này:
1. Nam-hải: (Quảng-đông)
2. Thương-ngô: (Quảng-tây)
3. Uất-lâm: (Quảng-tây)
4. Hợp-phố: (Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
5. Giao-chỉ: (Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
6. Cửu-chân: (Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
7. Nhật-nam: (Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
8. Châu-nhai: (đảo Hải-nam)
9. Đạm-nhĩ: (đảo Hải-nam)
Mỗi quận có quan thái-thú coi việc cai-trị trong quận và lại có quan
thứ-sử để giám sát các quận. Ở trong quận Giao-chỉ thì có những lạc tướng
hay lạc hầu vẫn được thế tập giữ-quyền cai trị các bộ lạc tựa hồ như các
quan lang ở mạn thượng-du đất Bắc-Việt bây giờ.
Quan thứ-sử trước tiên là Thạch Đái , đóng phủ cai trị ở Long-uyên.
Có sách chép là phủ trị thủa ấy đóng ở Lũng-khê, thuộc phủ Thuận-thành
bây giờ.
Từ đời vua Vũ-đế cho đến hết đời nhà Tây-Hán không thấy sử nói gì
đến đất Giao-chỉ nữa. Mãi đến năm kỷ-sửu (năm 29 Tây lịch) là năm Kiến-Võ
thứ 5 đời vua Quang-vũ nhà Đông Hán thì mới thấy chép rằng thứ-sử Giaochỉ
là Đặng Nhượng sai sứ về cống nhà Hán. Bởi vì khi Vương Mãng cướp
ngôi nhà Hán, bọn Đặng-Nhượng, Tích Quang và Đỗ Mục ở Giao chỉ giữ châu
quận, không chịu phục Vương Mãn. Đến khi vua Quang-Vũ trung hưng lên,
bọn Đặng Nhượng mới sai sứ về triều cống.
2. Tích Quang và Nhâm Diên. Về đầu thế-kỷ đệ nhất có
hai người sang làm thái-thú trị dân có nhân-chính. Một người tên là TÍCH
QUANG làm thái-thú Giao-chỉ, một người tên là NHÂM DIÊN làm thái thú
quận Cửu-chân.
Tích Quang sang làm thái-thú quận Giao-chỉ từ đời vua Bình-đế nhà
Tây Hán, vào quãng năm thứ hai, thứ ba về thế kỷ đệ nhất. Người hết lòng
lo việc khai-hóa, dạy dân lấy điều lễ-nghĩa, cho nên dân trong quận có nhiều
người kính phục.
Nhâm Diên ở Cửu-chân được 4 năm thì được thăng chức về Tàu đi
làm quan chỗ khác. Dân-sự quận ấy ái-mộ Nhâm Diên, làm đền thờ. Cớ
người vì được nhờ quan thái-thú cho nên sau sinh con ra, lấy tên Nhâm mà
đặt tên cho con để tỏ lòng biết ơn.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 10 phút và 8 giây -----

CHƯƠNG II
TRƯNG-VƯƠNG
(40-43)
1. Trưng-Thị khởi binh
2. Mã Viện sang đánh Giao-chỉ
1. Trưng-Thị khởi binh. Năm giáp-ngọ (34) là năm Kiến-võ
thứ 10, vua Quang-vũ sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao-chỉ.
Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác, người Giao-chỉ đã có
lòng oán giận lắm. Năm canh-tí (40) người ấy lại giết Thi Sách người ở quận
Châu-Diên (phủ Vĩnh tường, trước thuộc về Sơn Tây, nay thuộc về tỉnh Vĩnhyên).
Vợ Thi Sách là Trưng-Trắc con gái quan lạc tướng ở huyện Mê-linh
(làng Hạ-lôi, huyện Yên-lãng, tỉnh Phúc-yên) cùng với em gái là Trưng-Nhị,
nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Bọn Tô Định phải chạy trốn về quận
Nam Hải.
Lúc bấy giờ những quận Cửu-chân, Nhật-nam và Hợp-phố cũng nổi
lên theo về với hai bà Trưng-Thị. Chẳng bao lâu quân hai bà hạ được 65
thành-trì. Hai bà bèn tự xưng làm vua, đóng đô ở Mê-linh, là chỗ quê nhà.
2. Mã-Viện sang đánh Giao-Chỉ. Năm tân-sửu (41) vua
Quan-vũ sai Mã Viện làm Phục-ba tướng-quân, Lưu Long làm phó tướng
cùng với quan Lâu-thuyền tướng quân là Đoàn Chí sang đánh Trưng-vương.
Mã Viện là một danh-tướng nhà Đông-Hán, lúc bấy giờ đã ngoài 70
tuổi, nhưng vẫn còn mạnh, đem quân đi men bờ để phá rừng đào núi làm
đường sang đến Lãng-bạc, gặp quân Trưng-Vương hai bên đánh nhau mấy
trận11. Quân Trưng-vưng là quân ô-hợp không đương nổi quân Mã Viện, đã
từng đánh giặc nhiều phen. Hai bà rút quân về đóng ở Cẩm-khê ( phủ Vĩnhtường,
tỉnh Vĩnh-yên). Mã Viện tiến quân lên đánh, quân hai bà vỡ tan cả.
Hai bà chạy về đến xã Hát-môn, thuộc huyện Phúc-lộc (nay là huyện Phúc
Thọ tỉnh Sơn-tây), thế bức quá, bèn gia mình xuống sông Hát-giang (chỗ
sông Đáy tiếp vào sông Hồng-hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng
2 năm quí -mão (43).
Những tướng của hai bà là bọn Đô Dương chạy vào giữ huyện Cưphong
thuộc quận Cửu-chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, bọn Đô
Dương đều phải ra hàng.
Hai bà họ Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài-trí người
đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo
sợ, ấy cũng đủ để cái tiếng thơm về muôn đời. Đến ngày nay có nhiều nơi
lập đền thờ hai bà để nghi-tạc cái danh-tiếng hai người nữ anh-hùng nước
Việt-nam ta12.
Sử-gia Lê văn Hưu nói rằng: "Trung Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi
tiếng đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như giở bàn tay.
Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm,
người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi-tớ người Tàu, mà không biết xấu-hổ
với hai người đàn-bà họ Trưng!"

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 12 phút và 52 giây -----

CHƯƠNG III
Bắc-Thuộc Lần Thứ II
(43-544)
I . Nhà Đông Hán
1. Chính Trị nhà Đông Hán
2. Lý Tiến và Lý Cầm
3. Sỹ Nhiếp
II. Đời Tam Quốc
1. Nhà Đông Ngô
2. Bà Triệu (Triệu thị Chinh)
3. Nhà Ngô chia đất Giao-châu
III. Nhà Tấn
1. Chính-trị nhà Tấn
2. Nước Lâm-ấp quấy nhiễu Giao-châu
IV. Nam Bắc-triều
1. Tình thế nước Tàu
2. Việc đánh Lâm-ấp
3. Sự biến loạn ở đất Giao-châu
I. Nhà Đông-Hán (25-220)
1. Chính-Trị nhà Đông-Hán. Mã Viện đánh được Trưngvương
đem đất Giao-chỉ về thuộc nhà Hán như củ, rồi chỉnh đốn binh lương,
đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp lũy đến đấy và
biến cải mọi cách chính trị trong các châu quận. Đem phủ-trị về đóng Mêlinh13
và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: "Đồng trụ
chiết, Giao-chỉ diệt." Nghĩa là cây đồng trụ mà đổ thì người Giao-chỉ mất nòi.
Sử chép rằng người Giao-chỉ đi qua lại chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân
cột đồng-trụ một hòn đá, cho nên về sau chỗ ấy thành ra núi, phủ mất cả,
đến bây giờ không biết cột ấy ở chỗ nào.
Từ đó chính-trị nhà Đông Hán càng ngày càng ngặt thêm, mà những
quan-lại sang cai-trị Giao-chỉ thường có lắm người tàn-ác, tham nhũng, bắt
dân lên rừng xuống bể để tìm những châu-báu. Dân ở quận Hợp-phố cứ phải
xuống bể mò ngọc trai khổ quá, đến nổi phải bỏ xứ mà đi.
Triều đình thì xa, quan-lại ra cai-trị thì tha hồ mà tung-hoành, tiếng
oan-ức kêu không thấu vào đâu, cho nên thường hay có sự loạn-lạc, làm cho
dân-gian phải nhiều sự khổ-sở.
II. Đời Tam-Quốc (220-265)
1. Nhà Đông-Ngô (222-280). Nhà Đông-Hán mất ngôi thì
nước Tàu phân ra làm ba nước: Bắc-ngụy, Tây-thục, Đông-ngô. Đất Giaochâu
bấy giờ thuộc về Đông-ngô.
Sĩ Nhiếp ở Giao-châu được 40 năm, tuy thiệt có uy-quyền ở cõi Giaochâu,
nhưng vẫn theo lệ triều cống nhà Hán, và đến khi nhà Hán mất thì lại
triều cống nhà Ngô.
Năm bính-ngọ (226) là năm Hoàng-vũ thứ 5 nhà Ngô, Sĩ Nhiếp mất,
con Sĩ Huy tự xưng làm Thái-thú. Ngô-chủ là Tôn quyền bèn chia đất Giaochâu,
từ Hợp phố về bắc gọi là Quảng-châu. Sai Lữ Đại làm Quảng Châu thứ
sử, Đái Lương làm Giao-châu thứ sử, và sai Trần Thì sang thay Sĩ Nhiếp làm
thái-thú quận Giao-chỉ.
Bọn Đái Lương và Trần Thì sang đến Hợp-phố thì Sĩ Huy đem quân
ra chống giữ. Thứ Sử Quảng châu là Lữ Đại mới tiến quân sang đánh dẹp, và
cho người đến dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng, Lữ Đại sai
bắt Sĩ Huy đem chém đi, còn mấy anh em thì đem về Ngô-triều làm tội.
Ngô-chủ lại hợp Quảng-Châu và Giao-Châu lại làm một, và phong
cho Lữ Đại làm Thứ-sử. Lữ Đại đem quân đi đánh quận Cửu-chân có công
được phong làm Giao-châu-mục.
Bà Triệu (Triệu Thị Chinh)14. Năm mậu-thìn (248) là
năm xích-ô thứ 11 nhà Đông ngô, Ngô chủ sai Lục Dậu sang làm thứ-sử
Giao-châu.
Năm ấy ở quận Cửu-chân có người đàn bà tên là Triệu Thị Chinh
khởi binh đánh nhà Ngô.
Sử ta chép rằng bà Triệu là người huyện Nông-cống bấy giờ. Thủa
nhỏ cha mẹ mất cả, ở với anh là Triệu quốc Đạt, dến độ 20 tuổi gặp phải
người chị dâu ác nghiệt, bà ấy giết đi rồi vào ở trong núi. Bà ấy là một người
có sức mạnh, lại có chí-khí và lắm mưu-lược. Khi vào ở trong núi chiêu mộ
hơn 1,000 tráng sĩ để làm thủ hạ. Anh thấy thế mới can bà, thì bà bảo rằng:
"Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng-kình ở bể
đông chứ không thèm bắt-chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì-thiếp
người ta."
Năm mậu-thìn (248) vì quan-lại nhà Ngô tàn-ác, dân-gian khổ-sở,
Triệu quốc Đạt mới khởi binh đánh quận Cửu-chân. Bà đem quân ra đánh
giúp anh, quân sĩ của Triệu quốc Đạt thấy bà làm tướng có can đảm, bèn
tôn lên làm chủ. Khi bà ra trận thì cưỡi voi và mặc áo giáp vàng là Nhụy-kiều
tướng-quân.
Thứ sử Giao-châu là Lục Dận đem quân đi đánh, bà chống nhau với
nhà Ngô được năm sáu tháng . Nhưng vì quân ít thế cô, đánh mãi phải thua,
bà đem quân chạy đến xã Bồ-điền (nay là xã Phú-điền thuộc huyện Mỹ-hóa)
thì tự-tử. Bấy giờ mới 23 tuổi.
Về sau vua Nam Đế nhà Tiền-Lý, khen là người trung-dũng sai lập
miếu thờ, phong là: "Bất chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu-nhân". Nay ở
xã Phú-điền, tỉnh Thanh-hóa còn đền thờ.
III Nhà Tấn (256-420)
1. Chính-Trị Nhà Tấn. Nhà Tấn được thiên-hạ rồi, thấy nhà
Ngụy vì thế cô mà mất, bèn đại phong cho họ-hàng và sai ra trấn các nơi để
làm vây cánh cho nhà vua. Nhưng cũng vì lẽ ấy mà các thân vương thường
vì lòng tham danh-lợi cứ dấy binh đánh giết lẫn nhau, làm cho anh em trong
nhà, cốt nhục tương tàn, mà ngôi vua cũng thành ra suy nhược.
Thời bấy giờ ở phía tây-bắc có những người nhung-địch thấy nhà
Tấn có nội loạn, bèn lũ-lượt nổi lên chiếm giữ dần dần lấy cả vùng phía bắc
sông Trường-giang rồi xưng đế, xưng vương, như nước Triệu, nước Tần,
nước Yên, nước Lương, nước Hạ, nước Hán v. v... cả thảy trước sau đến 16
nước, gọi là loạn Ngũ-Hồ15.
Đất Giao-châu ta vẫn thuộc về nhà Tấn. Những quan lại sang cai-trị
cũng như quan lại đời nhà Hán, nhà Ngô, thỉnh thoảng mới gặp được một
vài người nhân từ tử tế, thì dân gian mới được yên ổn, còn thì là những
người tham lam, độc-ác, làm cho nhân dân phải lầm than khổ sở. Cũng lắm
khi bọn quan lại có những người phản nghịch đánh giết lẫn nhau, làm cho
trong nước cứ phải loạn lạc luôn.
IV. NAM BẮC-TRIỀU (420-588)
1. Tình-Thế Nước Tàu. Năm canh thân (420) Lưu Dụ cướp
ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà Tống ở phía Nam. Lúc bấy giờ ở phía Bắc thì
nhà Ngụy gồm được cả nước Lương, nước Yên, nước Hạ. Nước Tàu phân ra
làm Nam-Triều và Bắc Triều. Bắc Triều thì có nhà Ngụy, nhà Tề, nhà Chu nối
nhau làm vua; Nam-Triều thì có nhà Tống, nhà Tề, nhà Lương và nhà Trần
kế nghiệp trị-vì.
2. Việc đánh Lâm-Ấp. Trong đời nhà Tấn về năm Quí dậu
(433) đời vua Văn-đế, vua nước Lâm-ấp là Phạm Dương Mại thấy nước Tàu
loạn-lạc, bèn sai sứ sang cống nhà Tống và xin lĩnh đất Giao-châu để cai trị.
Nhưng vua nhà Tống không cho.
Từ đó nước Lâm-ấp lại sang cướp phá ở mạn Nhật-nam và Cửuchân.
Vua nhà Tống bèn sai quan thứ-sử là Đàn Hòa Chi và Tông Xác làm
phó tướng đem binh sang đánh Lâm-ấp. Phạm Dương Mại đem quân ra
chống cự.
Đàn Hòa Chi và Tông Xác tiến quân chém được tướng, phá được
thành, quân Lâm-ấp vỡ tan, Phạm Dương Mại cùng với con chạy thoát được.
Đàn Hòa Chi vào đất Lâm-ấp lấy được vàng bạc châu báu rất nhiều. Sử chép
rằng Đàn Hòa Chi lấy được một cái tượng bằng vàng mấy người ôm không
xuể, đem nấu-đúc được hơn 10 vạn cân. Từ đấy người Tàu biết Lâm-ấp có
nhiều của, cứ chực sang lấy. Đàn Hòa Chi cũng từ đấy bị gièm pha, phải
cách chức đuổi về.
3. Sự biến-loạn -- Đất Giao-Châu. Năm Kỷ-Mùi (479)
nhà Tống mất ngôi, nhà Tề kế nghiệp, trị vì được 22 năm thì nhà Lương lại
cướp ngôi nhà Tề.
Trong đời Nam Bắc Triều, đất Giao-châu không được mấy khi yên
ổn, vì quan Tàu sang cai-trị có nhiều người thấy bên Tàu loạn, cũng muốn
tìm cách để độc-lập, bởi vậy quan lại cứ giết lẫn nhau.
Đời nhà Lương lại sai Tiêu-Tư sang làm thứ sử Giao-châu. Tiêu Tư là
một người tàn bạo, làm cho lòng người ai cũng oán giận. Bởi vậy ông Lý
Bôn mới có cơ hội mà nổi lên, lập ra nhà Tiền Lý.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 15 phút và 4 giây -----

CHƯƠNG IV
Nhà Tiền Lý
(544 - 602)
1. Lý Nam Đế
2. Triệu Việt Vương
3. Hậu Lý Nam Đế
1. Lý Nam Đế (544-548). Năm Tân Dậu (541) là năm Đại
Đồng thứ 7 đời vua Vũ Đế nhà Lương, ở huyện Thái Bình16 có một người tên
là Lý Bôn, tài kiêm văn võ, thấy nước mình, trong thì quan lại Tàu làm khổ,
ngoài thì người Lâm Ấp cướp phá, bèn cùng với những người nghĩa dũng nổi
lên, đánh đuổi Tiêu Tư về Tàu, rồi chiếm giữ lấy thành Long Biên.
Lý Bôn, có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu. Tổ tiên ở đời
Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, đến lúc bấy giờ là bảy đời,
thành ra người bản xứ. Khi chiếm giữ được đất Giao Châu rồi, ông sửa sang
mọi việc, định lập nghiệp lâu dài. Qua năm Quí Hợi (543) quân Lâm Ấp lại
sang phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức
(Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.
Năm Giáp Tí (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng là
Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức, rồi phong
cho Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, và Phạm Tu là tướng
võ.
Năm Ất Sửu (545) vua nhà Lương sai Dương Phiêu sang làm thứ sử
Giao Châu, và sai Trần Bá Tiên đem quân sang đánh Nam Việt. Lý Nam Đế
thua phải bỏ thành Long Biên chạy về giữ thành Gia Ninh (huyện Yên Lãng,
tỉnh Phúc Yên). Trần Bá Tiên đem quân lên vây thành Gia Ninh, Lý Nam Đế
chạy về giữ thành Tân Xương, tức là đất Phong Châu cũ thuộc tĩnh Vĩnh Yên
bây giờ.
Nhà Lương lại tiến lên đuổi đánh, Lý Nam Đế thấy thế mình yếu,
chống không nổi, mới rút quân lên đóng ở động Khuất Liêu (thuộc đất Hưng
Hóa), để đợi thu xếp được quân sĩ lại ra đánh. Được non một năm, Lý Nam
Đế đem hai vạn quân ra đánh nhau với Trần Bá Tiên ở hồ Điển Triệt (?), lại
thua. Lý Nam Đế bèn giao binh quyền lại cho tả tướng quân Triệu Quang
Phục chống nhau với quân nhà Lương rồi trở về Khuất Liêu.
Triệu Quang Phục là con quan thái phó Triệu Túc người ở Châu Diên
(Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên) theo cha giúp Lý Nam Đế lập được nhiều công,
nay đem quân chống cự với nhà Lương được ít lâu, rồi sau thấy thế quân
Tàu còn mạnh, địch không nổi, bèn rút quân về Dạ Trạch17. Dạ Trạch là chỗ
đồng lầy, chung quanh cỏ mọc như rừng, ở giữa có bãi cát làm nhà ở được.
Triệu Quang Phục vào ở đấy, ngày nấp ẩn, tối thì cho lính chở thuyền độc
mộc ra đánh quân của Trần Bá Tiên, cướp lấy lương thực về nuôi quân sĩ.
Trần Bá Tiên đánh mãi không được. Người thời bấy giờ gọi Triệu Quang
Phục là Dạ Trạch Vương.
2. Triệu Việt Vương (549-571). Năm Mậu Thìn (548) Lý
Nam Đế ở trong Khuất Liêu phải bệnh mất, sang năm sau Triệu Quang Phục
ở Dạ Trạch được tin ấy bèn xưng là Việt Vương. Bấy giờ quân của Việt
Vương đã sắp hết lương, mà mãi không phá được quân Tàu. May nhờ gặp
lúc bên Tàu có loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương phải triệu Trần Bá Tiên về để
người tì tướng là Dương Sân ở lại chống cự với Triệu Quang Phục. Quang
Phục mới thừa thế đem quân ra đánh phá quân Tàu, rồi về lấy lại thành
Long Biên.
Khi Lý Nam Đế thất thế chạy về Khuất Liêu thì người anh họ là Lý
Thiên Bảo cùng với người họ là Lý Phật Tử đem quân chạy vào quận Cửu
Chân, rồi bị quân nhà Lương đuổi đánh chạy sang Lào, đến đóng ở động Dã
Năng, xưng là Đào Lang Vương, quốc hiệu là Dã Năng.
Năm Ất Hợi (555) là năm thứ 7 đời Triệu Việt Vương, Lý Thiên Bảo
mất, không có con, binh quyền về cả Lý Phật Tử. Đến năm Đinh Sửu (557)
Lý Phật Tử đem quân về chống với Triệu Việt Vương. Đánh nhau mấy trận
không được, Phật Tử mới xin chia đất giảng hòa. Triệu Việt Vương nghĩ tình
họ Lý, cũng thuận chia đất cho Lý Phật Tử.
Lý Phật Tử đóng ở Ô Diên (nay ở vào làng Đại Mỗ, thuộc huyện Từ
Liêm, tỉnh Hà Đông). Triệu Việt Vương đóng ở Long Biên, lấy bãi Quân Thần
làm giới hạn (bãi ấy thuộc làng Thượng Các, huyện Từ Liêm). Triệu Việt
Vương lại gả con gái cho Phật Tử để tỏ tình hòa hiếu với nhau. Nhưng Phật
Tử vẫn có ý muốn thôn tính, bởi vậy bề ngoài tuy hòa hiếu, nhưng bề trong
vẫn sửa soạn để đánh lấy Long Biên.
Năm Tân Mão (571), Phật Tử bất thình lình đem quân đánh Triệu
Việt Vương. Triệu Việt Vương thua chạy đến sông Đại Nha (nay ở huyện Đại
An, tỉnh Nam Định), nhảy xuống sông tự tận. Người ở đấy cảm nhớ Triệu
Việt Vương, mới lập đền thờ ở chỗ sông Đại Nha. Nay còn có đền thờ ở làng
Đại Bộ, gần huyện Đại An.
3. Hậu Lý Nam Đế (571-602). Lý Phật Tử lấy được
thành Long Biên rồi, xưng đế hiệu, đóng đô ở Phong Châu (thuộc huyện
Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), sai Lý Đại Quyền giữ Long Biên và Lý Phổ Đỉnh giữ
Ô Diên.
Trong khi Lý Phật Tử làm vua ở Nam Việt thì vua Văn Đế nhà Tùy đã
gôm cả Nam Bắc, nhất thống nước Tàu. Đến năm Nhâm Tuất (602) vua nhà
Tùy sai tướng là Lưu Phương đem quân 27 doanh sang đánh Nam Việt.
Lưu Phương sai người lấy lẽ họa phúc để dụ Lý Phật Tử về hàng.
Hậu Lý Nam Đế sợ thế không địch nổi bèn xin về hàng.
Từ đấy đất Giao Châu lại bị nước Tàu cai trị 336 năm nữa.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 18 phút và 48 giây -----

CHƯƠNG V
Bắc Thuộc Lần Thứ Ba
(603 - 939)
I. Nhà Tùy.
1. Việc đánh Lâm Ấp
II. Nhà Đường
1. Chính trị nhà Đường
2. An Nam đô hộ phủ
3. Mai Hắc Đế
4. Giặc bể
5. Bố Cái Đại Vương
6. Việc đánh nước Hoàn Vương
7. Nam Chiếu cướp phá Giao Châu
8. Cao Biền bình giặc Nam Chiếu
9. Công việc của Cao Biền
10. Sự trị loạn của nước Tàu
III. Đời Ngũ Quí
1. Tình thế nước Tàu
2. Họ Khúc dấy nghiệp: Khúc Thừa Dụ
3. Khúc Hạo
4. Khúc Thừa Mỹ
5. Dương Diên Nghệ và Kiểu Công Tiện
6. Ngô Quyền phá quân Nam Hán
I. Nhà Tùy (589 - 617)
1. Việc Đánh Lâm Ấp. Nhà Tùy làm vua bên Tàu được 28
năm thì mất. Trong bấy nhiêu năm thì sử không chép chuyện gì lạ, chỉ nói
rằng năm Ất Sửu (605), vua nhà Tùy nghe nói ở Lâm Ấp có nhiều của, bèn
sai tướng là Lưu Phương đem quân đi đánh. Vua Lâm Ấp lúc bấy giờ là Phạm
Phạm Chí đem quân ra giữ những chỗ hiểm yếu, ở bên này sông Đồ Lê (?)
để chống cự với quân Tàu. Nhưng chẳng bao lâu quân Lâm Ấp phải thua bỏ
chạy. Lưu Phương thừa kế tiến quân sang sông đuổi đánh, gặp đại binh
Lâm Ấp kéo đến, có nhiều voi thế rất mạnh. Lưu Phương bèn dùng mưu: sai
quân đào hố lấy cỏ phủ lên, rồi sai quân ra đánh nhử, giả tảng bại trận.
Quân Lâm Ấp đuổi theo được một quãng, voi sa xuống hố, quân sĩ loạn cả.
Khi bấy giờ quân Tàu mới quay trở lại lấy cung nỏ bắn, voi khiếp sợ xéo cả
lên quân Lâm Ấp mà chạy. Lưu Phương cũng phải bệnh về đến nửa đường
thì chết.
II. Nhà Đường (618 - 907)
1. Chính Trị Nhà Đường. Năm Mậu Dần (618) nhà Tùy mất
nước, nhà Đường kế nghiệp làm vua nước Tàu. Đến năm Tân Tị (621) vua
Cao Tổ nhà Đường sai Khâu Hòa làm Đại Tổng Quản sang cai trị Giao Châu.
Từ khi nước ta thuộc về nước Tàu, chỉ có nhà Đường cai trị là nghiệt
hơn cả. Nhưng sử chép lược quá: thường cách hai ba năm mới chép một
việc, chắc là những nhà làm sử nước ta sau cứ theo sử Tàu chép lại, cho nên
mới sơ lược như vậy.
2. An Nam Đô Hộ Phủ. Năm Kỹ Mão (678) vua Cao Tông
nhà Đường chia đất Giao Châu ra làm 12 châu, 59 huyện, và đặt An Nam đô
hộ phủ18.
Nước ta gọi là An Nam khởi đầu từ đấy.
Mười hai Châu đời nhà Đường là những châu này:
1. Giao Châu có 8 huyện (Hà Nội, Nam Định v. v.)
2. Lục Châu có 3 huyện (Quảng Yên, Lạng Sơn)
3. Phúc Lộc Châu có 3 huyện (Sơn Tây)
4. Phong Châu có 3 huyện (Sơn Tây)
5. Thang Châu có 3 huyện (?)
6. Trường Châu có 4 huyện (?)
7. Chí Châu có 7 huyện (?)
8. Võ Nga Châu có 7 huyện (?)
9. Võ An Châu có 2 huyện (?)
10. Ái Châu có 6 huyện (Thanh Hóa)
11. Hoan Châu có 4 huyện (Nghệ An)
12. Diên Châu có 7 huyện (Nghệ An)
Ở về phía Tây Bắc đất Giao Châu lại đặt một châu nữa, gọi là Man
Châu gồm cả những Mường ở mạn ấy, lệ cứ hằng năm phải triều cống vua
nhà Đường.
Ấy là đại để cách chính trị nhà Đường như vậy. Còn thường thì cũng
loạn lạc luôn: khi thì người trong nước nổi lên đánh phá như Mai Hắc Đế và
Bố Cái Đại Vương: khi thì những nước ở ngoài vào xâm phạm, như nước
Hoàn Vương và nước Nam Chiếu.
3. Mai Hắc Đế (722). Năm Nhâm Tuất (722) là năm Khai
Nguyên thứ 10 về đời vua Huyền Tông nhà Đường, ở Hoan Châu có một
người tên là Mai Thúc Loan nổi lên chống cự với quân nhà Đường.
Mai Thúc Loan là người huyện Thiên Lộc, tức là huyện Can Lộc, tỉnh
Hà Tĩnh bây giờ, mặt mũi đen sì, sức vóc khỏe mạnh, thấy quan nhà Đường
làm nhiều điều tàn bạo, dân gian khổ sở, lại nhân lúc bấy giờ lắm giặc giã,
ông ấy bèn chiêu mộ những người nghĩa dũng, rồi chiếm giữ lấy một chỗ ở
đất Hoan Châu (nay thuộc huyện Nam Đường tỉnh Nghệ An) rồi xây thành
đắp lũy, xưng hoàng đế, tục gọi là Hắc Đế.
Mai Hắc Đế lại kết hiếu với nước Lâm Ấp và nước Chân Lạp để làm
ngoại viện.
Vua nhà Đường sai quan nội thị là Dương Tư Húc đem quân sang
cùng với quan Đô Hộ là Quang Sở Khách đi đánh Mai Hắc Đế. Mai Hắc Đế
thế yếu chống không nổi phải thua chạy, được ít lâu thì mất. Nay ở núi Vệ
Sơn huyện Nam Đường, tỉnh Nghệ An, còn có di tích thành cũ của vua Hắc
Đế, và ở xã Hương Lãm, huyện Nam Đường còn có đền thờ.
4. Bố Cái Đại Vương (791). Năm Tân Vị (791) quan Đô Hộ
là Cao Chính Bình bắt dân đóng sưu thuế nặng quá, lòng dân oán hận. Khi
bấy giờ ở quận Đường Lâm (bây giờ là làng Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, tỉnh
Sơn Tây) có người tên là Phùng Hưng nổi lên đem quân về phá phủ Đô Hộ.
Cao Chính Bình lo sợ thành bệnh mà chết. Phùng Hưng mới chiếm giữ phủ
thành, được mấy tháng thì mất. Quân sĩ lập con Phùng Hưng là Phùng An
lên nối nghiệp. Dân ái mộ Phùng Hưng mới lập đền thờ và tôn lên làm Bố Cái
Đại Vương, bởi vì ta gọi cha là bố, mẹ là cái, nghĩa là tôn Phùng Hưng lên
làm cha mẹ.
Tháng 7 năm Tân Vị ấy, vua nhà Đường sai Triệu Xương sang làm
Đô Hộ. Phùng An liệu thế chống không nổi xin ra hàng.
III. Đời Ngũ Quí (907 - 959)
1. Tình Thế Nước Tàu. Năm Đinh Mão (907) nhà Đường mất ngôi,
nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu, tranh nhau làm
vua. Mỗi nhà được mấy năm, gồm tất cả là 52 năm, gọi là đời Ngũ Quí hay
là Ngũ Đại.
2. Họ Khúc Dấy Nghiệp. Khúc Thừa Dụ (906 - 907).
Trước khi nhà Đường sắp mất ngôi độ mấy năm, thì bên Tàu loạn, giặc cướp
nổi lên khắp cả mọi nơi. Uy quyền nhà vua không ra đến bên ngoài, thế lực
ai mạnh thì người ấy xưng đế, xưng vương. Ở Giao Châu, lúc bấy giờ có một
người họ Khúc tên là Thừa Dụ, quê ở Hồng Châu (thuộc địa hạt Bàng Giang
và Ninh Giang ở Hải Dương). Khúc Thừa Dụ vốn là một người hào phú trong
xứ, mà tính lại khoan hòa, hay thương người, cho nên có nhiều người kính
phục. Năm Bính Dần (906) đời vua Chiêu Tuyên nhà Đường, nhân khi trong
châu có loạn, chúng cử ông ấy lên làm Tiết Độ Sứ để cai trị Giao Châu. Nhà
Đường lúc bấy giờ suy nhược, thế không ngăn cấm được, cũng thuận cho
ông ấy làm Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ và gia phong Đồng Bình Chương Sự.
Năm sau nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương phong cho Lưu Ẩn
làm Nam Bình Vương, kiêm chức Tiết Độ Sứ Quảng Châu và Tĩnh Hải, có ý
để lấy lại Giao Châu.
Khúc Thừa Dụ làm Tiết Độ Sứ được non một năm thì mất, giao
quyền lại cho con là Khúc Hạo.
3. Khúc Hạo (907 - 917). Khúc Hạo lên thay cha làm Tiết
Độ Sứ, lập ra lộ, phủ, châu, xã ở các nơi, đặt quan lại, sửa sang việc thuế
má, việc sưu dịch và lại cho con là Khúc Thừa Mỹ sang sứ bên Quảng Châu,
tiếng là kết hiếu với nhau, nhưng cốt để dò thăm mọi việc hư thực.
Lưu Ẩn ở Quảng Châu đóng phủ trị ở Phiên Ngung được 4 năm thì
mất. Em là Lưu Cung (trước gọi là Lưu Nham) lên thay. Được ít lâu nhân có
việc bất bình với nhà Hậu Lương, Lưu Cung tự xưng đế, quốc hiệu là Đại
Việt. Đến năm Đinh Sửu (947) cải quốc hiệu là Nam Hán.
4. Khúc Thừa Mỹ (917 - 923). Năm Đinh Sửu (917) Khúc
Hạo mất, truyền nghiệp lại cho con là Khúc Thừa Mỹ. Khúc Thừa Mỹ nhận
chức Tiết Độ Sứ của nhà Lương, chứ không thần phục nhà Nam Hán. Vua
nước Nam hán lấy sự ấy làm hiềm, đến năm Quí Mùi (923) sai tướng là Lý
Khắc Chính đem quân sang đánh bắt được Khúc Thừa Mỹ, rồi sai Lý Tiến
sang làm thứ sử cùng với Lý Khắc Chính giữ Giao Châu.
5. Dương Diên Nghệ và Kiểu Công Tiện (931 -
938). Năm Tân Mão (931) Dương Diên Nghệ là tướng của Khúc Hạo ngày
trước mới nổi lên, mộ quân đánh đuổi bọn Lý Khắc Chính và Lý Tiến đi, rồi
tự xưng làm Tiết Độ Sứ. Được 6 năm, Dương Diên Nghệ bị người nha tướng
là Kiểu Công Tiện giết đi mà cướp lấy quyền.
6. Ngô Quyền Phá Quân Nam Hán. Khi ấy có người
tướng của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền cử binh đi đánh Kiểu Công Tiện
để báo thù cho chúa. Ngô Quyền là người làng Đường Lâm, cùng một làng
với Phùng Hưng ngày trước (huyện Phú Thọ, tỉnh Sơn Tây) làm quan với
Dương Diên Nghệ. Dương Diên Nghệ thấy người có tài trí mới gả con gái
cho, và phong cho vào giữ Ái Châu (Thanh Hóa). Khi được tin Kiểu Công
Tiện đã giết mất Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền liền đem quân ra đánh.
Kiểu Công Tiện cho sang cầu cứu ở bên Nam Hán, Hán Chủ nhân dịp
cho thái tử là Hoằng Tháo đưa quân đi trước, mình tự dẫn quân đi tiếp ứng.
Khi quân Hoằng Tháo vào gần đến sông Bạch Đằng, thì bên này Ngô
Quyền đã giết được Kiểu Công Tiện (938), rồi một mặt truyền lệnh cho quân
sĩ phải hết sức phòng bị, một mặt sai người lấy gỗ cặp sắt nhọn, cắm ngầm
ở dưới lòng sông Bạch Đằng, xong rồi chờ đến lúc nước thủy triều lên, cho
quân ra khiêu chiến; quân Nam Hán đuổi theo, đến lúc nước xuống, Ngô
Quyền hồi quân đánh ập lại, quân Nam Hán thua chạy, bao nhiêu thuyền
mắc vào cộc gỗ thủng nát mất cả, người chết quá nửa, Hoằng Tháo bị Ngô
Quyền bắt được, đem về giết đi.
Hán Chủ nghe tin ấy, khóc òa lên, rồi đem quân về Phiên Ngung,
không dám sang quấy nhiểu nữa.
Ngô Quyền trong thì giết được nghịch thần, báo thù cho chủ, ngoài
thì phá được cường địch, bảo toàn cho nước, thật là một người trung nghĩa
lưu danh thiên cổ, mà cũng nhờ có tay Ngô Quyền, nước Nam ta mới cởi
được ách Bắc thuộc hơn một nghìn năm, và mở đường cho Đinh, Lê, Lý,
Trần, về sau này được tự chủ ở cõi Nam vậy.

virus13
05-03-2008, 01:41 PM
CHƯƠNG I
NHÀ NGÔ
(939-965)
1. Tiền Ngô-Vương
2. Dương Tam Kha
3. Hậu Ngô-Vương
4. Thập-Nhị Sứ-Quân
1. TIỀN NGÔ VƯƠNG (939-965). Năm kỹ-hợi (939) Ngô Quyền
xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (thuộc huyện Đông-anh, tỉnh Phúc-yên).
Ngô-vương đặt quan chức, chế triều-nghi, định phục-sắc và chỉnh đốn việc
chính-trị trong nước, chí muốn dựng nghiệp lâu dài, nhưng chỉ làm vua được
có 6 năm, đến năm Giáp Thìn (944) thì mất, thọ 47 tuổi.
2. DƯƠNG TAM KHA (945-950). Ngô-vương trước lấy con
Dương diên Nghệ là Dương-thị lập làm vương-hậu; đến lúc mất, vương uỷ-
thác con là Ngô xương Ngập cho Dương tam Kha là em Dương-hậu. Dương
tam Kha bèn cướp lấy quyền của cháu, tự xưng là Bình-vương.
Ngô xương Ngập thấy biến, chạy trốn sang Nam-sách (thuộc Hảidương)
vào ẩn ở nhà Phạm Lịnh-công ở Trà-hương (huyện Kim-thành). Tam
Kha sai quân đi đuổi bắt. Phạm Lịnh-công đem vào dấu trong núi. Dương
tam Kha bắt em Ngô xương Ngập là Ngô vương Văn nuôi làm con nuôi.
Năm Canh-Tuất (905) có dân ở tại thôn Thái-bình (thuộc Sơn-tây) làm
loạn. Dương tam Kha sai Ngô xương Văn cùng với tướng là Dương cát Lợi
và Đỗ cảnh Thạc đem quân đi đánh. Đi đến Từ-liêm, Ngô xương Văn mưu
với hai tướng đem quân trở về bắt Dương tam Kha.
Ngô xương Văn nghĩ tình cậu cháu không nỡ giết, chỉ giáng xuống làm
Trương Dương-công.
3. HẬU NGÔ VƯƠNG (950-965). Ngô vương Văn bỏ Dương tam
Kha đi rồi, xưng là Nam-tấn-vương và sai người đi đến làng Trà-hương rước
anh là Ngô xương Ngập về cùng coi việc nước. Ngô xương Ngập về xưng là
Thiên-sách-vương. Cả hai anh em làm vua, sử gọi là Hậu Ngô-vương.
Làm vua được ít lâu, Thiên-sách vương đã toan giữ lấy quyền một
mình, nhưng đến năm giáp-dần (965) thì mất.
Thế lực nhà Ngô lúc bấy giờ mỗi ngày một kém, giặc-giã nổi lên khắp
cả mọi nơi. Nam tấn-vương phải thân chinh đi đánh dẹp. Khi đi đánh giặc ở
hai thôn Thái-bình, không may bị tên bắn chết. Bấy giờ là năm Ất-Sửu
(965), Nam-tấn-vương làm vua được 15 năm.
4. THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967). Từ khi Dương tam Kha
tiếm-vị rồi, những người thổ-hào ở các nơi như bọn Trần Lãm, Kiểu công
Hãn v.v... đều xướng lên độc lập, xưng là Sứ-quân. Về sau Nam-tấn-vương
đã khôi phục được nghiệp cũ, nhưng mà các sứ-quân vẫn không chịu về
thần-phục. Bởi vậy nhà vua cứ phải đi đánh dẹp mãi, mà không yên được.
Đến khi Nam-tấn-vương bị giặc bắn chết, thì con Thiên-sách-vương là Ngô
xương Xí lên nối nghiệp, nhưng thế nhà vua lúc ấy suy-nhược lắm, không ai
phục-tùng nữa. Ngô xương Xí về đóng giữ đất Bình-kiều. Tướng nhà Ngô là
Đỗ cảnh-Thạc cũng giữ một chỗ xưng là Sứ-quân.
Lúc bấy giờ trong nước có cả thảy 12 Sứ-quân, gây ra cảnh nội loạn
kéo dài đến hơn 20 năm. Mười hai Sứ-quân là :
1. Ngô xương Xí giữ Bình-kiều (nay là làng Bình-kiều, phủ Khoái-châu,
Hưng-yên).
2. Đỗ cảnh Thạc giữ Đỗ-động -giang (thuộc huyện Thanh-oai).
3. Trần Lãm, xưng là Trần Minh-công giữ Bố-hải-khẩu (Kỳ-bố, tỉnh
Thái-bình).
4. Kiểu công Hãn, xưng là Kiểu Tam-chế giữ Phong-châu (huyện Bạchhạc).
5. Nguyễn Khoan, xưng là Nguyễn Thái-bình giữ Tam-đái (phủ Vĩnh
Tường).
6. Ngô nhật Khánh, xưng là Ngô Lãm-công giữ Đường-lâm (Phúc-thọ,
Sơn-tây).
7. Lý Khuê, xưng là Lý Lang-công giữ Siêu-loại (Thuận-thành).
8. Nguyễn thủ Tiệp, xưng là Nguyễn Lịnh-công giữ Tiên-du (Bắc-ninh).
9. Lữ Đường, xưng là Lữ Tá-công giữ Tế-giang (Văn-giang, Bắc-ninh).
10. Nguyễn Siêu, xưng là Nguyễn Hữu-công giữ Tây-phù-liệt (Thanh-trì,
Hà-đông).
11. Kiểu Thuận, xưng là Kiểu Lịnh-công giữ Hồi-hồ (Cẩm-khê, Sơn-tây).
12. Phạm bạch Hổ, xưng là Phạm Phòng át giữ Đằng-châu (Hưng-yên).
Những Sứ-quân ấy cứ đánh lẫn nhau, làm cho dân-gian khổ-sở. Sau
nhờ có ông Đinh bộ Lĩnh ở Hoa-lư đem quân đi đánh, mới dẹp xong cái loạn
sứ-quân, đem giang-sơn lại làm một mối,và lập nên cơ nghiệp nhà Đinh vậy.
CHƯƠNG II
NHÀ ĐINH
(968-980)
1. Đinh Tiên-hoàng
2. Đinh Phế-đế
1. ĐINH TIÊN-HOÀNG (968-979). Đinh bộ Lĩnh25 là người ở
Hoa-lư động (huyện Gia-viễn, tỉnh Ninh-bình), con ông Đinh công Trứ làm
thứ-sử ở Hoan-châu về đời Dương diên Nghệ và đời Ngô-vương Quyền.
Đinh công Trứ mất sớm, Bộ Lĩnh theo mẹ về quê ở, thường đi chơi với trẽ
chăn trâu-bò, bắt chúng khoanh tay làm kiệu để nghồi cho chúng rước, và
lại lấy bông lau làm cờ bày trận đánh nhau. Trẽ xứ ấy đứa nào cũng sợ, tôn
lên làm anh. Đến lúc khôn-lớn lên, dân làng ở đấy theo phục rất nhiều,
nhưng sau vì không hòa với chú, cho nên Bộ Lĩnh cùng với con là Liễn sang
ở với Sứ-quân Trần Minh-công ở Bố-hải khẩu (Phủ Kiến-xương, Thái-bình).
Trần Minh-công thấy người khôi-ngô có chí-khí, đem lòng yêu mến,
cho được giữ binh-quyền. Đến khi Trần Minh-công mất, Đinh bộ Lĩnh đem
quân về giữ Hoa-lư, chiêu mộ những người hào-kiệt, hùng cứ một phương.
Năm tân-hợi (951) đời Hậu Ngô-vương, Nam Tấn-vương và Thiên-sáchvương
đã đem quân vào đánh không được. Đến khi nhà Ngô mất rồi, Đinh
bộ Lĩnh hàng được Sứ-quân Phạm Phòng-át, phá được Đỗ-dộng của Đỗ cảnh
Thạc. Từ đó đánh đâu được đấy, cho nên chúng tôn là Vạn-thắng-vương.
Chỉ trong một năm mà vương binh được các Sứ-quân và lập thành nghiệp
đế.
Năm mậu-thìn (968) Vạn-thắng-vương lên ngôi Hoàng-đế, tức là Tiênhoàng-
đế, đặt quốc-hiệu là Đại-cồ-việt, đóng đô ở Hoa-lự Tiên-hoàng xây
cung-điện, chế triều-nghi, định phẩm-hàm quan văn quan võ, phong cho
Nguyễn Bặc làm Định quốc công, Lê Hoàn làm Thập-đạo tướng-quân, và
phong cho con là Đinh Liễn làm Nam-việt-vương.
Năm canh-ngọ (970) Tiên-hoàng đặt niên-hiệu là Thái-bình nguyên-niên,
và đặt năm ngôi Hoàng-hậu.
Trong khi vua Đinh Tiên-hoàng dẹp loạn Sứ-quân ở nước ta, thì ở bên
Tàu ông Triệu khuông Dẫn nối nghiệp nhà Hậu-Chu tức là vua Thái-tổ nhà
Tống. Đến năm canh-ngọ (970) vua Thái-tổ nhà Tống sai tướng là Phan Mỹ
sang đánh lấy Nam-Hán. Vua Tiên-hoàng sợ quân nhà Tống sang đánh, bèn
sai sứ sang thông hiếu với Tống-triều.
Năm nhâm-thân (972) Tiên-hoàng lại sai Nam-việt-vương là Liễn đem đồ
phương vật sang cống nhà Tống. Vua nhà Tống sai sứ sang phong cho
Tiên-hoàng làm Giao-chỉ quận vương và phong cho Nam-việt-vương Liễn
làm Tĩnh-hải-quân Tiết-độ-sứ, An-nam đô-hộ. Từ đó nước ta cứ giữ lệ sang
triều cống nước Tàu.
Việc chính trị trong nước thì lúc bấy giờ còn có nhiều người quen thói lúc
loạn, không chịu tuân theo luật-lệ. Tiên-hoàng phải dùng oai để trừng-trị
những bọn gian-ác: đặt vạc dầu ở trước điện, nuôi hổ báo ở trong vườn, rồi
hạ lệnh rằng hễ ai phạm tội thì bỏ vạc dầu hay là cho hổ báo ăn. Hình-luật
uy-nghiêm như thế, thì cũng quá lắm, nhưng nhờ có những hình-luật ấy thì
dân trong nước mới dần dần được yên.
Việc binh-lính thì Tiên-hoàng phân ra đạo, quân, lữ, tốt, ngũ. Mỗi một
đạo có 10 quân; 1 quân 10 lữ; 1 lữ 10 tốt; 1 tốt 10 ngũ; 1 ngũ 10 người.
Vậy một đạo là 100.000 người, và cứ số ấy mà tính thì nhà Đinh bấy giờ
có 10 đạo, là 1.000.000 người.
Thiết tưởng nước ta bấy giờ đất thì nhỏ, người thì ít, lấy đâu làm một
triệu quân được, và lấy cơm gạo đâu mà nuôi được bấy nhiêu người. Họa
chăng Tiên-hoàng có được độ 10 vạn người đã là nhiều.
Tiên-hoàng bỏ trưởng lập âú, cho đứa con út là Hạng Lang làm Thái-tử.
Con trưởng là Nam-việt-vương Liễn đã theo Tiên-hoàng đi trận-mạc từ thủa
hàn-vi, nay không được ngôi Thái-tử, lấy sự ấy làm tức-giận bèn khiến người
giết Hạng Lang đi. Ấy là gây nên mối loạn ở trong nhà.
Năm kỹ-mão (979) vua Tiên-hoàng và Nam-việt-vương Liễn bị tên Đỗ
Thích giết chết. Sử chép rằng tên Đỗ Thích trước làm lại, đêm nằm thấy sao
rơi vào mồm, tưởng là triệu mình được làm vua, bèn định bụng làm sự thíđoạt.
Một hôm Đỗ Thích thấy Tiên-hoàng say rượu nằm trong cung, bèn lẻn
vào giết Tiên-hoàng đi, rồi giết cả Nam-việt-vương Liễn.
Đình-thần tìm bắt được Đỗ Thích đem làm tội, và tôn Vệ-vương Đinh
Tuệ lên làm vua.
Tiên-hoàng làm vua được 12 năm, thọ được 56 tuổi.
2. PHẾ ĐẾ (979-980). Vệ-vương mới có 6 tuổi lên làm vua, quyềnchính
ở cả Thập-đạo tướng-quân là Lê Hoàn. Lê Hoàn lại cùng với Dương
Thái-hậu tư thông.
Các quan đại-thần bấy giờ là bọn Đinh Điền, Nguyễn Bặc thấy Lê Hoàn
nhiếp chính lộng quyền quá, mới cử binh-mã đến đánh, nhưng bị Lê Hoàn
giết cả.
Lúc bấy giờ nhà Tống nghe tin Tiên-hoàng đã mất, tự-quân còn dại,
muốn thừa thế sang lấy nước ta, mới hội đại binh ở gần biên-giới.
Bên ta được tin quân Tàu sắp sang, Lê Hoàn sai Phạm cự Lượng làm
đại-tướng đem binh đi chống giữ. Trước khi khởi hành, Phạm cự Lượng họp
cả quân-sĩ lại ở trong điện, rồi nói rằng: "Bây giờ quân nghịch sắp vào cõi,
mà vua thì còn bé, lấy ai mà thưởng phạt cho chúng mình. Dẫu chúng mình
có hết sức lập được chút công nào, thì rồi ai biết cho? Chi bằng nay ta tôn
Thập-đạo tướng-quân lên làm vua rồi ra đánh thì hơn"26.
Quân-sĩ nghe nói đều hô vạn-tuế. Thái-hậu thấy quân-sĩ thuận cả, mới
sai lấy áo long-cổn mặc vào cho Lê Hoàn.
Lê Hoàn lên làm vua , giáng Đinh Tuệ xuống làm Vệ-vương, sử gọi là
Phế-đế.
Nhà Đinh làm vua được 2 đời, cả thảy là 14 năm.
CHƯƠNG III
NHÀ TIỀN LÊ
(980-1009)
1. Lê Đại-Hành
2. Phá quân nhà Tống
3. Đánh Chiêm-thành
4. Việc đánh-dẹp và sửa sang trong nước
5. Lê Trung-Tông
6. Lê long Đĩnh
1. Lê Đại Hành (980-1005). Lê Hoàn là người làng Bảo-thái,
huyện Thanh-liêm, tỉnh Hà-nam bây giờ, làm quan Thập-đạo tướng-quân
nhà Đinh. Nhân khi vua nhà Đinh còn trẻ tuổi, và lại có quân nhà Tống sang
xâm, quân-sĩ tôn Lê Hoàn lên làm vua, tức là Đại-hành Hoàng-đế, niên-hiệu
là Thiên-phúc, Hưng-thống (989-993), và Ứng-thiên (994-1005).
Vua Đại-hành lên làm vua rồi sai sứ đưa thư sang nhà Tống nói dối là
thư của Đinh Tuệ (Phế-đế) xin phong, có ý để nhà Tống hoãn binh lại.
Nhưng vua nhà Tống không nghe, sai sứ sang trách Đại-hành rằng sao được
xưng đế, và lại nói rằng : "Nhà Đinh truyền tập đã ba đời rồi, vậy cho Đinh
Tuệ làm Thống-soái, Lê Hoàn làm phó. Nhược bằng Đinh Tuệ còn trẽ tuổi
không làm được, thì Lê Hoàn phải bắt mẹ con Đinh Tuệ sang chầu Bắc-triều,
rồi sẽ phong quan-tước cho Lê Hoàn". Vua Đại-hành biết mưu nhà Tống
bèn không chịu và sửa-sang sự phòng-bị .
2. Phá Quân Nhà Tống. Nhà Tống thấy vua Đại-hành không chịu
nghe lời, bèn sai tướng đem quân sang đánh. Tháng 3 năm tân-tị (981) thì
bọn Hầu nhơn Bảo và Tôn toàn Hưng tiến quân sang mặt Lạng-sơn, bọn
Lưu-trừng đem thủy-quân sang mặt Bạch-đằng-giang.
Vua Đại-hành đem binh-thuyền ra chống-giữ ở Bạch-đằng. Quân nhà
Tống tiến lên thế mạnh lắm, quan quân đánh không lại phải lùi. Bấy giờ lụcquân
của bọn Hầu nhân Bảo tiến sang đến Chi-lăng (thuộc Ôn-châu, Lạngsơn),
vua Đại-hành sai người sang trá hàng để dụ Hầu nhơn Bảo đến chổ
hiễm bắt chém đi, rồi đuổi đánh quân nhà Tống chém giết được quá nửa, và
bắt được hai người bộ-tướng.
Bọn Lưu Trừng thấy lục-quân đã tan vỡ, vội-vàng đem thủy-quân rút
về.
Quân ta tuy thắng trận, nhưng vua Đại-hành sợ thế-lực không chống
với Tàu được lâu, bèn sai sứ đem hai viên tướng bắt được sang trả nhà Tống
và xin theo lệ triều cống. Lúc ấy ở phiá bắc nước Tàu có quân Khiết-đan
(Hung-nô) đang đánh phá, cho nên vua nhà Tống cũng thuận lời, thôi việc
chiến-tranh với nước ta, và phong cho vua Đại-hành làm chức Tiết-độ-sứ.
Năm quí-tị (993) nhà Tống sách phong cho vua Đại-hành làm Giao-chỉ
quận-vương, rồi đến năm đinh-dậu (997) lại gia phong là Nam-bình-vương.
Bấy giờ sứ nhà Tống thường hay đi lại, có khi vua Đại-hành phụng
chiếu mà không lạy, nói dối rằng đi dánh giặc ngã ngựa đau chân. Nhà
Tống biết là nói dối, nhưng cũng làm ngơ đi.
3. Đánh Chiêm Thành. Vua Đại-hành phá được quân nhà Tống rồi,
định sang đánh Chiêm-thành, vì lúc vua Đại-hành lên ngôi, có sai sứ sang
Chiêm-thành, bị vua nước ấy bắt giam sứ lại. Đến khi việc phía bắc đã yên,
vua Đại-hành đem binh sang đánh báo thù. Quân vua Đại-hành sang chiếm
giữ dược kinh-thành nước Chiêm và bắt được người, lấy được của rất nhiều.
Từ đấy nước Chiêm-thành phải sang triều-cống nước ta.
4. Việc Đánh Dẹp Và Sửa Sang Trong Nước. Việc trong
nước thì có các quan đại thần là bọn Từ Mục, Phạm cự Lượng, Ngô tử An
giúp rập. Đặt luật-lệ, luyện quân lính và sửa-sang mọi việc.
Bấy giờ thường hay có các động Mường và những người các châu quận
làm phản, vua Đại-hành phải thân chinh đi đánh-dẹp, bình được 49 động
Hà-man (thuộc huyện Thạch-thành, tỉnh Thanh-hoá) và dẹp yên những
người phản-nghịch ở các nơi. Bởi vậy thanh-thế vua Đại-hành lúc bấy giờ
rất là lừng-lẫy.
Năm ất-tị (1005) là năm Ứng-thiên thứ 12, vua Đại-hành mất, thọ 65
tuổi, làm vua được 24 năm.
5. LÊ TRUNG TÔNG (1005). Vua Đại-hành đã định cho người con
thứ ba là Long Việt làm thái-tử, nhưng đến lúc vua Đại-hành mất, các
hoàng-tử tranh ngôi đánh nhau trong bảy tháng. Đến khi Long Việt vừa mới
lên ngôi được ba ngày thì bị em là Long Đĩnh sai người vào cung giết đi, thọ
23 tuổi. Sử gọi là Lê Trung-tông.
6. LÊ LONG ĐĨNH (1005-1009). Long Đĩnh là người bạo-ngược,
tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa. Khi đã giết anh rồi, lên làm
vua thường cứ lấy sự giết người làm trò chơi: có khi những tù phạm phải
hình, thì bắt lấy rơm tẩm dầu quấn vào người rồi đốt sống; có khi bắt tù
trèo lên cây rồi ở dưới sai người chặt gốc cho cây đổ ; có khi bỏ người vào
sọt rồi đem thả xuống sông. Làm những điều ác như thế thì lấy làm thích
chí. Một hôm lấy mía để lên đầu nhà sư mà róc vỏ, rồi thỉnh-thoảng giã
tảng nhỡ tay bổ dao vào đầu sư chảy máu ra, trông thấy thế làm vui cười.
Còn khi ra buổi chầu, có ai tấu sớ điều gì thì cho những thằng hề nói khôihài
hay là nhại tiếng làm trò.
Long Đĩnh làm vua được 2 năm đổi niên-hiệu là Cảnh-thụy (1008-1009).
Sang năm sau là năm kỹ-dậu (1009) thì mất, làm vua được 4 năm, thọ 24
tuổi.
Vì lúc sống dâm-dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì
cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Ngọa-triều.
Long Đĩnh mất rồi, con thì bé, đình-thần nhân dịp tôn Lý công Uẩn lên làm
vua, khai sáng nên cơ-nghiệp nhà Lý.
Nhà Tiền-Lê làm vua được 3 đời, cả thảy được 29 năm.
CHƯƠNG IV
NHÀ LÝ
(1010-1225)
I. LÝ THÁI-TỔ (1010-1028)
Niên-hiệu : Thuận-thiên
1. Thái-Tổ khởi nghiệp. Lý công Uẩn người ở làng Cổ-pháp, nay
thuộc về huyện Đông-ngạn, phủ Từ-sơn, tỉnh Bắc-ninh (ở làng Đình-bảng có
lăng và đền thờ nhà Lý).
Tục truyền rằng Công Uẩn không có cha, mẹ là Phạm-thị đi chơi chùa
Tiêu-sơn (làng Tiêu-sơn, phủ Từ-sơn), nằm mộng thấy đi lại với thần nhân
rồi về có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi đem cho người sư ở chùa Cổ-
pháp tên là Lý khánh Văn làm con nuôi, mới đặt tên là Lý công Uẩn.
Công Uẩn lớn lên vào Hoa-lư làm quan nhà Tiền-Lê, đến chức Tả-thânvệ
Điện-tiền Chỉ-huy-sứ. Khi Lê Long Đĩnh mất, thì Lý công Uẩn đã ngoài 35
tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán-giận nhà Tiền-Lê lắm, ở trong triều có bọn
Đào cam Mộc cùng với sư Vạn Hạnh mưu tôn Lý công Uẩn lên làm vua.
Lý công Uẩn bèn lên ngôi hoàng-đế, tức là vua Thái-tổ nhà Lý.
Niên hiệu : Thiên thành (1028-1033)
Thông-thụy (1034-1038)
Càn-phù-hữu-đạo (1039-1041)
Minh-đạo (1042-1043)
Thiên-cảm-thánh-võ (1044-1048)
Sùng-hưng-đại-bảo (1049-1054).
1. Lê Phụng Hiểu Định Loạn. Thái-tổ vừa mất chưa tế-táng xong,
thì các hoàng-tử là bọn Võ-đức-vương, Dực-thánh-vương và Đông-chinhvương
đã đem quân đến vây thành để tranh ngôi của Thái-tử.
Bấy giờ các quan là bọn Lý nhân Nghĩa xin Thái-tử cho đem quân ra
thành quyết được thua một trận. Khi quân của Thái-tử và quân các vương
đối trận, thì quan Võ-vệ tướng-quân là Lê phụng Hiểu rút gươm ra chỉ vào
Võ-đức-vương mà bảo rằng : "Các người dòm-ngó ngôi cao, khinh-dể tự-
quân, trên quên ơn Tiên-đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng
nhát gươm này !" Nói xong chạy xông vào chém Võ-đức-vương ở trận tiền.
Quân các vương trông thấy sợ-hãi bỏ chạy cả. Dực-thánh-vương và Đôngchinh-
vương cũng phải chạy trốn.
Thái-tử Phật Mã lên ngôi, tức là vua Thái-tông.
Dực-thánh-vương và Đông-chinh-vương xin về chịu tội. Thái-tông nghĩ
tình cốt-nhục bèn tha tội cho, và lại phục chức cũ cho cả hai ngừơi.
Cũng vì sự phản-nghịch ấy cho nên vua Thái-tông mới lập lệ: cứ hàng
năm, các quan phải đến đền Đồng-cổ (ở làng Yên-thái, Hà-nội) làm lễ đọc lời
thề rằng : "Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung, xin
quỉ thần làm tội". Các quan ai trốn không đến thề, phải phạt 50 trượng.
III LÝ THÁNH-TÔNG (1054-1072)
Niên-hiệu : Long-thụy thái-bình (1054-1058)
Chương-thánh gia-khánh (1059-1065)
Long-chương thiên-tự (1066-1067)
Thiên-huống bảo-tượng (1060)
Thần-võ (1069-1072).
1. Việc Chính Trị. Thái-tử là Nhật Tôn lên ngôi tức là vua Thánhtông,
ngài đổi quốc-hiệu là Đại-Việt28.
Thánh-tông là một ông vua nhân-từ, có lòng thương dân; một năm trời
làm rét lắm, Thánh-tông bảo những quan hầu gần rằng: "Trẫm ở trong cung
ăn-mặc như thế này còn rét, nghĩ những tù-phạm giam trong ngục, phải trói
buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi
chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm".
Nói rồi truyền lấy chăn chiếu cho tù nằm, và mỗi ngày cho hai bửa ăn. Lại
có một hôm Thánh-tông ra ngự ở điện Thiên-khánh xét án, có Động-thiên
công-chúa đứng hầu bên cạnh. Thánh-tông chỉ vào công-chúa mà bảo các
quan rằng : "Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm
họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau tội gì
cũng giãm nhẹ bớt đi" .
Vua Thánh-tông có nhân như thế, cho nên trăm họ mến-phục, trong đời
Ngài làm vua ít có giặc-giã. Ngài lại có ý muốn khai-hóa sự văn-học, lập
văn-miếu, làm tượng Chu-công Khổng-tử và 72 tiên-hiền để thờ. Nước ta có
văn-miếu thờ Khổng-tử và chư hiền khởi đầu từ đấy.
Việc binh-chính thì ngài đặt quân-hiệu và chia ra làm tả hữu tiền hậu 4
bộ, hợp lại là 100 đội có lính kỵ và lính bắn đá. Còn những phiên-binh thì
lập ra thành đội riêng không cho lẫn với nhau. Binh-pháp nhà Lý bấy giờ có
tiếng là giỏI, nhà Tống bên Tàu đã phải bắt chước. Ấy là một sự vẻ-vang
cho nước mình bao nhiêu?
IV. LÝ NHÂN-TÔNG (1072-1127)
Niên-hiệu : Thái-ninh (1072-1075)
Anh-võ chiêu-thắng (1076-1084)
Quảng-hữu (1085-1091)
Hội-phong (1092-1100)
Long-phù (1101-1109)
Hội-tường đại-khánh (1110-1119)
Thiên-phù duệ-võ (1120-1126)
Thiên-phù khánh-thọ (1127).
1. Ỹ Lan Thái-Phi. Vua Nhân-tông là con bà Ỹ-lan Thái-phi, người ở
Siêu-loại (Bắc-ninh). Khi trước vua Thánh-tông đã 40 tuổi mà không có
con, đi cầu tự qua làng Thổ-lội (sau đổi là Siêu-loại rồi lại đổi là Thuậnquang),
người đi xem đứng đầy đường, có một người con gái đi hái dâu,
thấy xe nhà vua đi cứ đứng tựa vào cây lan chứ không ra xem. Vua thấy thế
lấy làm lạ, truyền gọi đem vào cung, phong là Ỹ-lan phu-nhân. Được ít lâu
có thai đẻ ra hoàng-tử là Càn Đức, được phong là Nguyên-phi.
Càn Đức làm thái-tử rồi lên nối ngôi, tức là vua Nhân-tông, phong cho
mẹ làm Ỹ-lan thái phi.
Thái-phi tính hay ghen-ghét, thấy bà Dương-thái-hậu giữ quyền, trong
bụng không yên, bèn xui vua bắt Thái-hậu và 72 người thị-nữ bỏ ngục tối,
rồi đem giết cả.
2. Lý Đạo Thành. Lúc Nhân-tông lên làm vua mới có 7 tuổi, có quan
Thái-sư là Lý đạo Thành làm phụ-chính.
Ông Lý đạo Thành là người họ nhà vua, tính rất đoan-chính, hết lòng lo
việc nước. Thường những lúc sớ tấu cứ hay nói đến việc lợi hại của dân.
Những quan-thuộc thì chọn lấy người hiền-lương mà cất nhắc lên để làm mọi
việc. Bởi vậy thời bấy giờ trong thì sửa-sang được việc chính-trị, ngoài thì
đánh nhà Tống, phá quân Chiêm. Ấy cũng nhờ có tôi hiền tướng giỏi cho
nên mới thành được công-nghiệp như vậỵ

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 3 phút và 56 giây -----

VI. LÝ THẦN-TÔNG (1128-1138)
Niên-hiệu: Thiên Thuận (1128-1132)
Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137)
Nhân-tông không có con, lập con của hoàng-đệ là Sùng-hiền-hầu lên
làm thái-tử, nay lên nối ngôi, tức là vua Thần-Tông31.
Bấy giờ có các quan đại-thần là bọn ông Trương Bá Ngọc, Lưu
Khánh Đàm, Dương Anh Nhị giúp Thần-tông trị nước. Ngài vừa lên ngôi thì
đại xá cho các tù phạm, và trả lại những ruộng đất tịch thu của quan dân
ngày trước. Quân lính thì cho đổi phiên, cứ lần lượt 6 tháng một, được về
làm ruộng. Như thế việc binh không làm ngăn-trở việc canh-nông.
Giặc-giã thời bấy giờ cũng ít. Một hai khi có người Chân-lạp và
người Chiêm-thành sang quấy nhiễu ở mạn Nghệ-An, nhưng đó là những
đám cướp-phá vặt vãnh không mấy nỗi mà quan quân đánh đuổi đi được.
Thần Tông làm vua được 10 năm thì mất, thọ 23 tuổi.
VI. LÝ ANH-TÔNG (1138-1175)
Niên-hiệu: Thiệu Minh (1138-1139)
Đại-định (1140-1162)
Chính-long bảo-ứng 1163-1173)
Thiên-cảm chí bảo (1174-1175)
1. Đỗ Anh Vũ. Thần-tông mất, triều đình tôn Thái-tử là Thiên Tộ lên
làm vua, tức là vua Anh-tông.
Anh-tông bấy giờ mới có 3 tuổi, Thái-hậu là Lê-thị cầm quyền nhiếp
chính. Lê Thái-hậu lại tư thông với Đỗ anh Vũ, cho nên phàm việt gì bất cứ
lớn nhỏ đều ở tay Đỗ anh Vũ quyết đoán cả. Đỗ anh Vũ được thể ra vào chỗ
cung cấm, kiêu ngạo và khinh-dể đình-thần. Các quan như bọn Vũ Đái,
Nguyễn Dương, Nguyễn Quốc và Dương tự Minh thấy Đỗ anh Vũ lộng quyền
quá độ, đều lo mưu trừ đi, nhưng sự không thành lại bị giết-hại cả.
May nhờ thời bấy giờ có nhiều tôi giỏi như Tô hiến Thành, Hoàng
nghĩa Hiền, Lý công Tín làm quan đại triều cho nên Đỗ anh Vũ không dám có
ý khác.
2. Tô Hiến Thành. Ông Tô hiến Thành giúp vua Anh-tông đi đánh
dẹp, lập được nhiều công to, như là bắt được giặc Thân Lợi, phá được giặc
Ngưu Hống và dẹp yên giặc Lào, được phong làm chức Thái-úy coi giữ việc
binh. Ông luyện tập quân-lính, kén-chọn những người tài giỏi để làm tướng
hiệu. Bởi vậy binh-thế nhà Lý lúc bấy giờ lại phấn-chấn lên. Ông giỏi việc
võ và chăm việc văn. Ông xin vua khai-hóa việc học-hành, và làm đền thờ
đức Khổng-Tử ở cửa nam thành Thăng-Long, để tỏ lòng mộ nho học.
3. Giặc Thân Lợi. Vua Anh-tông vừa mới lên làm vua được 2 năm,
thì ở mạn Thái-nguyên có giặc Thân-Lợi làm loạn. Thân Lợi xưng là con
riêng vua Nhân-tông, trước đã xuất gia đi tu, rồi chiêu tập những đồ vong
mạng hơn 1,000 người, chiếm giử mạn Thái-nguyên, xưng vương phong
tước, đem quân đi đánh phá khắp nơi. Quan quân đánh mãi không được.
Năm tân-dậu (1141) Thân Lợi về vây phủ Phú-lương, Đỗ anh Vũ
đem quân lên đánh, Thân Lợi chạy lên Lạng-châu, tức là Lạng-sơn bị ông Tô
hiến Thành đuổi bắt được, đem về kinh làm tội.
LÝ CAO-TÔNG (1176-1210)
Niên-hiệu: Trinh-phù (1176-1185)
Thiên-gia bảo-hữu (1202-1204)
Trị-bình-long-ứng (1205-1210).
1. Tô Hiến Thành Làm Phụ Chánh. Khi vua Anh-tông mất,
Thái-tử Long Cán chưa đầy 3 tuổi, bà Chiêu-linh Thái-hậu muốn lập người
con trưởng là con mình tên là Long Xưởng33 lên làm vua, đem vàng bạc đút
lót cho vợ Tô hiến Thành, nhưng ông nhất thiết không chịu, bèn cứ theo dichiếu
mà lập Long Cán, tức là vua Cao-tông.
Tô hiến Thành giúp vua Cao-tông trị nước, đến năm kỷ hợi(1179) thì
mất. Sử chép rằng khi ông đau có quan Tham-tri chính sự là Vũ tán Đường,
ngày đêm hầu hạ. Đến khi bà Đỗ Thái-Hậu34 ra thăm hỏi ngày sau ai thay
được ông, ông tâu rằng: có quan Gián-nghị đại-phu Trần trung Tá. Thái-hậu
ngạc nhiên nói rằng tại sao không cử Vũ tán Đường? Ông đáp: "Nếu bệ-hạ
hỏi người hầu-hạ, thì xin cử người Tán Đường, hỏi người giúp nước thì tôi
xin cử người Trung-Tá".
Tô hiến Thành không những là một người có tài thao-lược, dẹp giặc
yên dân mà thôi, cách thờ vua thật là trung-thành cho nên người đời sau
thường ví ông với Gia cát Lượng đời Tam-quốc bên Tàu.
Tô hiến Thành mất rồi, Triều-đình không theo lời ông ấy dặn, cử Đỗ
yên Di làm phụ chính và Lý kính Tu làm đế-sư. Đình-thần bấy giờ có người
đứng đắn, cho nên bà Chiêu-linh Thái-hậu không dám mưu sự phế-lập.
Đến khi Cao-tông lớn lên cầm quyền trị nước, thì cứ đi săn bắn chơi
bời, làm cung xây điện, bắc trăm họ phải phục-dịch khổ-sở. Ngoài biên thì
quân mường thổ ở bên Tàu sang quấy nhiễu ở phía bắc, người Chiêm-thành
sang đánh ở phía nam; trong nước thì nổi lên như ong dấy. Vua tôi không ai
lo nghĩ gì về chính-trị, chỉ làm những việc nhũng-lạm, mua quan bán chức,
hà-hiếp nhân-dân, lấy tiền để làm những việc xa-xỉ.
VIII. Lý Huệ Tông (1211-1225)
Niên-hiệu: Kiến-gia (1211-1224)
1. Trần Thị. Thái-tử Sam lên ngôi, tức là vua Huệ-tông, rồi sai quan đi
rước Trần-thị về phong làm Nguyên-phi.
Bấy giờ Trần Lý đã bị quân cướp giết, chúng theo về người con thứ
là Trần tự Khánh. Huệ-tông bèn phong cho tự Khánh làm Chương-tín-hầu
và cho người cậu Trần-thị làm Thái-úy Thuận-lưu-bá.
Năm quí-dậu (1213) Thái-hậu làm khổ Trần-thị ở trong cung, anh
Trần-thị là Tự Khánh đem quân đến chốn kinh sư, nói rằng xin rước vua đi.
Huệ-tông không biết tình-ý gì, nghi Tự Khánh có ý phản-nghịch bèn giáng
Trần-thị xuống làm Ngự-nữ. Tự Khánh nghe tin ấy, thân đến quân môn xin
lỗi và rước vua đi. Huệ-tông càng nghi lắm, bèn cùng với Thái-hậu đi lên
Lạng-châu (Lạng-sơn).
Tự Khánh lại phát binh xin rước vua như trước, Huệ-tông sợ lại rước
Thái-hậu về huyện Bình-hợp (?).
Khi bấy giờ bà Thái-hậu cho Tự Khánh là phản-trắc, thường chỉ mặt
Trần-thị mà xỉ mắng và xui Huệ-tông bỏ đi. Huệ-tông không nghe. Tháihậu
định bỏ thuốc độc cho Trần-thị, nhưng Huệ-tông biết ý, đến bữa ăn thì
ăn một nửa, còn một nửa cho Trần-thị ăn và ngày đêm không cho đi đâu.
Sau vì Thái-hậu làm ngặt quá, Huệ-tông và Trần-thị đêm bèn lẻn ra đi đến
nhà tướng-quân Lê Mịch ở huyện Yên-duyên rồi lại đến Cửu-liên (?), cho đòi
Tự Khánh đến chầu.
2. QUYỀN VỀ HỌ TRẦN. Trần tự Khánh đem quân đến hộ giá.
Huệ-tông phong Trần-thị làm Hoàng-hậu, Tự Khánh làm Phụ-chính và người
anh Tự Khánh là Trần Thừa làm Nội-thị Phân-thủ. Trần tự Khánh cùng với
Thượng-tướng-quân là Phân Lân sửa-sang quân ngũ, làm đồ chiến-khí,
luyện-tập việc võ. Từ đấy quân-thế lại nổi dần dần lên.
Huệ-tông phải bệnh, thỉnh-thoaảng có cơn điên, rồi cứ uống rượu
say cả ngày, có việc chính-trị đều ở tay Tự Khánh quyết đoán cả.
Đến tháng chạp năm quí-mùi (1228) Tự Khánh mất, Huệ-tông cho
Trần Thừa làm Phụ-quốc Thái-úy, sang năm sau lại cho người em họ Hoànghậu
là Trần thủ Độ làm Điện-tiền chỉ-huy-sứ. Từ đó việc gì ở trong triều
cũng quyền ở Thủ Độ cả.
Huệ-tông có bệnh mãi không khỏi, mà Thái-tử thì chưa có, Trần-thị
thì chỉ sinh được hai người con gái, người chị là Thuận-thiên công-chúa thì
đã gả cho Trần Liễu là con trưởng của Trần Thừa; con người em là Chiêuthánh
công chúa tên là Phật-kim thì mới lên 7 tuổi, Huệ-tông yêu mến lắm,
cho nên mới lập làm Thái-tử. Tháng 10 năm giáp-thân (1224) Huệ-tông
truyền ngôi cho Chiêu-thánh công-chúa, rồi vào ở chùa Chân-giáo.
Huệ-tông trị vì được 14 năm.
IX. LÝ CHIÊU-HOÀNG (1225)
Niên-hiệu: Thiên-chương-hữu-đạo (1224-1225)
Chiêu-thánh công-chúa lên ngôi, tức là vua Chiêu-hoàng. Bấy giờ
quyền-chính ở cả Trần thủ Độ. Thủ Độ lại tư thông với Trần Thái hậu, đêm
ngày mưu lấy cơ-nghiệp nhà Lý, bèn đòi các con quan vào trong cung để
hầu Chiêu-hoàng, và lại cho cháu là Trần Cảnh vào làm chức Chính-thủ.
Đến tháng chạp thì Chiêu-hoàng lấy Trần Cảnh và truyền ngôi cho chồng.
Nhà Lý đến đấy là hết, cả thảy làm vua được 216 năm, truyền ngôi
được 9 đời.
Nhà Lý có công làm cho nước Nam ta nên được một nước cườngthịnh:
ngoài thì đánh nước Tàu, bình nước Chiêm, trong thì chỉnh-đốn việc
võ-bị, sửa-sang pháp-luật, xây vững cái nền tự-chủ. Vì vua Cao-tông hoang
chơi, làm mất lòng người, cho nên giặc-giã nổi lên, loạn thần nhiễu sự. Vua
Huệ-tông lại nhu-nhược bỏ việc chính-trị, đem giang-sơn phó-thác cho người
con gái còn đang thơ-dại, khiến cho kẻ gian-hùng được nhân dịp mà lấy
giang-sơn nhà Lý và lập ra cơ-nghiệp nhà Trần vậy.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 10 phút và 25 giây -----

CHƯƠNG VI
NHÀ TRẦN
(1225-1400)
Thời kỳ thứ nhất (1225-1293)
I. TRẦN THÁI-TÔNG (1225-1258)
Niên-hiệu: Kiến-trung (1225-1237)
Thiên-ứng chính-bình (1238-1350)
Nguyên-phong (1251-1258)

I. Trần Thủ Độ. Tháng chạp năm ất-dậu (1225) Trần Cảnh lên làm
vua, tức là Trần Thái-Tông phong cho Trần thủ Độ làm Thái-sư Thống-quốc
hành-quân chinh-thảo-sự. Bấy giờ vua Thái-tông mới có 8 tuổi, việc gì cũng
do ở Trần thủ Độ cả. Thủ Độ tuy là một người không có học-vấn nhưng là
cho nên dẫu việc tàn-bạo đến đâu, cũng làm cho được. Lý Huệ-tông tuy đã
xuất gia đia ở chùa rồi nhưng Thủ Độ vẫn định bụng giết đi, cho khỏi sự lo
về sau.
Một hôm Huệ-tông ngồi nhổ cổ ở sân chùa Chân-giáo, Thủ-Độ đi
qua trông thấy, mới nói rằng: "Nhổ cỏ thì phải nhổ cả rể cái nó đi! " Huệ-
tông nghe thế, phủi tay đứng dậy nói rằng: "Nhà ngươi nói ta hiểu rồi ".
Được mấy hôm, Thủ Độ cho người đến mời Huệ-tông, Huệ-tông biết ý, vào
nhà sau thắt cổ tự-tận. Thủ Độ đưa bách quan đến tế khóc xong rồi hỏa
táng, chôn ở tháp Bảo-quang.
Còn Thái-hậu là Trần-thị giáng xuống làm Thiên-cực công-chúa để
gả cho Trần thủ Độ (Trần thủ Độ và Thiên-cực công-chúa là hai chị em họ).
Bao nhiêu những cung-nhân nhà Lý thì đưa gả cho những Tù-trưởng các
mường.
Thủ Độ đã hại Huệ-tông rồi, lại muốn trừ nốt các tôn-thất nhà Lý.
Đến năm nhăm-thìn (1232) nhân làm lễ Tiên-hậu nhà Lý ở thôn Thái-Đường,
làng Hoa-lâm (huyện Đông-ngạn, tỉnh Bắc-ninh), Thủ Độ sai đào hầm, làm
nhà lá ở trên, để đến khi các tôn-thất nhà Lý vào đấy tế-lễ, thì sụt cả xuống
hố rồi đổ đất chôn sống cả.
Thủ Độ chỉ lo làm cho thế nào cho ngôi nhà Trần được vững-bền,
cho nên không những là tàn ác với nhà Lý mà thôi, đến luân-thường ở trong
nhà, cũng làm loạn cả. Chiêu-thánh Hoàng-hậu lấy Thái-tông đã được 12
năm mà vẫn chưa có con35, Thủ Độ bắt Thái-tông bỏ đi và giáng xuống làm
công-chúa, rồi đem người chị bà Chiêu-thánh tức là vợ Trần Liễu vào làm
Hoàng-hậu, bởi vì người chị đã có thai được 3 tháng.
Làm loạn nhân-luân như thế, thì tự thượng-cổ mới có là một. Trần
Liễu tức giận, đem quân làm loạn. Vua Thái-tông bị Thủ Độ hiếp chế như
thế, trong bụng cũng không yên, đến hôm trốn ra, lên chùa Phù-vân, trên
núi Yên-tử (huyện Yên-hưng, tỉnh Quảng-yên). Trần thủ Độ biết tin ấy, đem
quân thần đi đón Thái-tông về. Thái-tông không chịu về, nói rằng: "Trẫm
còn nhỏ-dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên chọn người khác để
cho khỏi nhục xã-tắc". Thủ Độ nói mãi không nghe, ngảnh lại bảo bác quan
rằng: "Hoàng-thượng ở đâu là Triều-đình ở đấy!" Nói đoạn, truyền sắp sửa
xây cung điện ở chùa Phù-vân. Quốc-sư ở chùa ấy thấy thế, vào van lạy
Thái-tông về Triều, Thái-tông bất-đắc-dĩ truyền xa-giá về Kinh. Được ít lâu
Trần Liễu biết sức mình không làm gì nổi, bèn nhân lúc Thái-tông ngự
thuyền đi chơi, giả làm người đánh cá lẻn xuống thuyền ngự, xin hàng. Hai
anh em ôm nhau mà khóc. Thủ Độ nghe tin, đến rút gươm toan giết Trần
Liễu, Thái-tông can mãi mới thôi. Sau Thái-tông lấy đất Yên-phụ, Yênđường,
Yên-sinh và Yên-bang (ở huyện Đông-triều và phủ Kinh-môn, Hảidương)
cho Trần Liễu làm thái-ấp và phong cho làm An-sinh-vương. Thủ Độ
đã hại hết cả dòng dỏi họ Lý, lại muốn cho họ Lý không còn ai nhớ đến họ
Lý nửa, mới nhân vì tổ nhà Trần tên là Lý, bắt trong nước ai là họ Lý đều
phải cải là họ Nguyễn.
Thủ Độ là người rất gian-ác đối với nhà Lý, nhưng lại là một người
đại công-thần của nhà Trần. Một tay cáng-đán bao nhiêu trong-sự, giúp
Thái-công bình-phục được giặc-giã trong nước và chỉnh-đốn lại một việc, làm
cho nước Nam ta bấy giờ được cường thịnh, ngày sau có thể chống-cự với
Mông-cổ, khỏi phải làm nô-lệ những kẻ hùng-cường.
Mùa xuân năm mậu-ngọ (1258), Thái-tông nhường ngôi cho Thái-tử
là Trần Hoảng, để dạy-bảo mọi việc về cách trị nước, và đề phòng ngày sau
anh em không tranh nhau. Triều-đình tôn Thái-tông lên làm Thái-thượnghoàng
để cùng coi việc nước. Thái-tông trị-vì được 33 năm, làm Tháithượng-
hoàng được 19 năm thì mất, thọ 60 tuổi.
II. TRẦN THÁNH-TÔNG (1258-1278)
Niên-hiệu: Thiệu-long (1258-1272)
Bảo-phù (1273-1278)
1. Việc Chính Trị. Thái-tử Hoảng lên ngôi, tức là vua Thánh-tông,
đổi niên-hiệu là Thiệu-long.
Thánh-tông là ông vua nhân-từ trung-hậu ở với anh em họ hàng rất
là tử-tế. Thường hay nói rằng: "Thiên-hạ là của ông cha để lại, nên để cho
anh em cùng hưởng phú-quí chung". Rồi cho các hoàng-thân vào nội điện,
cùng ăn một mâm, nằm một giường, thật là thân-ái, chỉ có lúc nào ra việc
công, hoặc buổi chầu, thì mới phân thứ-tự theo lễ-phép mà thôi.
Còn việc nước thì thật ngài có lòng lo giữ cho dân được yên trị.
Trong 21 năm, ngài làm vua không có giặc-giã gì cả. Việc học-hành cũng
mở mang thêm: cho Hoàng-đệ Trần ích Tắc là một người hay chữ trong
nước lúc ấy, mở học-đường để những người văn-sĩ học-tập. Danh nho Mạc
đỉnh Chi cũng học ở trường ấy ra.
Đời bấy giờ Lê văn Hưu làm xong bộ Đại-Việt sử thành 30 quyển,
chép từ Triệu Võ-vương đến Lý Chiêu-hoàng. Bộ sử này khởi đầu làm từ
Trần Thái-tông đến năm nhâm-thân (1272) đời Thánh-tông mới xong. Nước
Nam ta có quốc-sử khởi đầu từ đấy.
Thánh-tông lại bắt các vương-hầu, phò-mã phải chiêu-tập những
người nghèo-đói lưu-lạc để khai-khẩn hoang điền làm trang hộ. Trang-điền
có từ đấy.
Năm đinh-sửu (1277) Thái-thượng-hoàng mất ở Thiên-trường-phủ
(tức là làng Tức-mạc). Năm sau (1278), Thánh-tông nhường ngôi cho Tháitử
Khâm, rồi về ở Thiên-trường làm Thái-thượng-hoàng.
Thánh-tông trị vì được 21 năm, làm Thái-thượng-hoàng được 13
năm, thọ 51 tuổi.
III. TRẦN NHÂN-TÔNG (1279-1293)
Niên-hiệu: Thiệu-bảo (1279-1284)
Trùng-hưng (1285-1293)
1. Việc Chính Trị. Thái-tử Trần Khâm lên làm vua, tức là vua
Nhân-tông.
Lúc bấy giờ sứ nhà Nguyên đi lại hạch điều này, trách điều nọ, triềuđình
cũng có lắm việc bối-rối. Nhưng nhờ có Thánh-tông thượng-hoàng còn
coi mọi việc và các quan triều-đình nhiều người có tài-trí, vua Nhân-tông lại
là ông vua thông-minh, quả-quyết, mà người trong nước thì từ vua quan cho
chí dân-sự đều một lòng cả, cho nên từ năm giáp-thân (!284) đến năm mậutí
(1288) hai lần quân Mông-cổ sang đánh rồi không làm gì được.
Trừ việc chiến-tranh với quân Mông-cổ ra, để sau sẽ nói, trong đời
vua Nhân-tông lại còn giặc Lào, thường hay sang quấy-nhiễu ở chỗ biênthùy,
bởi vậy năm canh-dần (1290) vua Nhân-tông lại phải ngự giá đi đánh
Lào.
2. Việc Văn Học. Đời vua Nhân-tông có nhiều giặc-giã, tuy vậy việc
văn-học cũng hưng-thịnh lắm. Xem bài hịch của Hưng-đạo-vương, thơ của
ông Trần quan Khải và của ông Phạm ngũ Lão thì biết là văn-chương đời bấy
giờ có khí-lực mạnh-mẽ lắm. Lại có quan Hình-bộ Thượng-thư là ông
Nguyễn Thuyên khởi đầu dùng chữ Nôm mà làm thơ-phú. Ông Nguyễn
Thuyên là người Thanh-lâm38, tỉnh Hải-dương, có tiếng tài làm văn như ông
Hàn Dũ bên Tàu ngày xưa, bởi vậy vua cho đổi họ là Hàn. Về sau người
mình theo lối ấy mà làm thơ, gọi là Hàn-luật.
Năm quí-tị (1293) Nhân-tông truyền ngôi cho Thái-tử tên là Thuyên,
rồi về Thiên-trường làm Thái-thượng-hoàng. Nhân-tông trị-vì được 14 năm,
nhường ngôi được 13 năm, thọ 51 tuổi.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 14 phút và 10 giây -----

CHƯƠNG VII
GIẶC NHÀ NGUYÊN I
(1284-1288)

1. Sài Thung Sang Sứ An Nam. Nhà Nguyên nghe tin Trần
Thái-tông mới mất và Thánh-tông nhượng-vị, liền sai Lễ-bộ thượng-thư là
Sài Thung sang sứ, đi tự Giang-lăng (Hồ-bắc), qua Ung-châu (Quảng-tây) rồi
sang nước Nam, chứ không đi qua tỉnh Vân-nam như các sứ-thần trước.
Sài Thung đến kinh-thành, lên mặt kiêu-ngạo,cưỡi ngựa đi thẳng
vào cửa Dương-minh, rồi cho người đưa thư vào trách Nhân-tông rằng:
"Sao không xin phép triều-đình nhà Nguyên, mà dám tự-lập, vậy phải sang
chầu Thiên-triều Hoàng-đế mới xong". Nhân-tông sai quan đại-thần ra tiếp.
Thung không thèm đáp lễ; vua bày yến mời, Thung không thèm đến. Đìnhthần
An-nam ai cũng lấy làm tức giận nhưng không dám nói ra.
Sau vua phải dọn yến ở điện Tập-hiền, mời mãi Sài Thung mới đến.
Đương khi uống rượu, Nhân-tông bảo Sài Thung rằng: "Quả-nhân xưa nay
sinh-trưởng ở trong cung không quen phong-thổ, không thể nào đi được".
Được mấy hôm Sài Thung về nước. Nhân-tông sai sứ mang thư
sang Tàu nói không thể sang chầu được. Nguyên-triều thấy vua An-nam
không chịu sang chầu, và cứ đưa thư sang nói thoái-thác ra việc nọ việc kia,
ý muốn cầm quân sang đánh, nhưng còn chưa quyết.
2. Trần Di Ái Theo Nhà Nguyên. Năm nhâm-ngọ (1282)
Nguyên-chủ lại cho sứ sang dụ rằng: "Nếu vua nước Nam không sang chầu
được thì phải đưa vàng ngọc sang thay, và phải nộp hiền-sĩ, thầy âm-dương
bói-toán, thợ khéo mỗi hạng 2 người ".
Nhân-tông sai người chú họ là Trần di Ái và Lê Tuân, Lê Mục sang
thay cho mình. Nhưng Nguyên-chủ không bằng lòng, quyết ý chiếm giữ
quyền cai-trị nước Nam, bèn xuống chỉ lập tòa Tuyên-phủ-ti, đặt quan liêuthuộc
để sang giám-trị các châu huyện. Quan nhà Nguyên sang đến nơi,
Nhân-tông không nhận, đuổi về Tàu.
Nguyên-chủ thấy vậy giận lắm, bèn lập Trần di Ái làm An-nam quốcvương,
phong cho Lê Mục làm Hàn-lâm học-sĩ, Lê Tuân làm Thượng-thưlệnh,
và sai Sài Thung dẫn 1.000 quân đưa bọn ấy về nước.
Trần di Ái thấy Nguyên-chủ phong cho cũng nhận, đưa về cũng về;
chắc trong bụng đồ là chuyến này nhờ sức Mông-cổ, may việc xong, thì được
làm vua, nhược bằng không xong, thì đổ cho là Nguyên-chủ bắt-ép; vì thế
mới theo Sài Thung về.
Sài Thung đưa bọn Trần di Ái đến gần ải Nam-quan, có tin phi-báo
về Kinh-đô. Nhân-tông liền sai tướng dẫn một đội quân lên đón đường đánh
lũ nghịch-thần. Sài Thung bị tên bắn mù mất một mắt, trốn chạy về Tàu,
còn lũ Trần di Ái bị bắt, phải tội đồ làm lính.
3. Thoát Hoan Sang Đánh Lần Thứ Nhất. Nguyên-chủ thấy
Sài Thung bị thương chạy về tức giận lắm, bèn sai con là Thoát Hoan làm
Trấn-nam-vương, cùng với bọn Toa-Đô, Ô mã Nhi dẫn 50 vạn quân, giả
tiếng mượn đường đi qua nước Nam sang đánh Chiêm-thành.
Quan trấn-thủ Lạng-sơn do-thám được tin ấy, sai người về Kinh-đô
phi báo. Nhân-tông ngự thuyền ra sông Bình-than39 chỗ sông Đuống nối với
sông Thái-bình, để hội các vương-hầu bách quan lại bàn kế chống giữ.
Các quan, người thì nói nên để cho quân Nguyên mượn đường,
người thì bảo nên đưa đồ sang cống để xin hoãn binh. Duy có Trần quốc
Tuấn và Trần khánh Dư quyết xin đem quân đi phòng-giữ các nơi hiểm-yếu,
không cho quân Mông-cổ sang nước Nam. Nhân-tông ưng nghe lời ấy. Đến
tháng mười năm quí-mùi (1283) phong cho Hưng-đạo-vương là Trần-quốc-
Tuấn làm Tiết-chế thống-lĩnh mọi quân đi chống giữ với quân nhà Nguyên.
Qua tháng tám năm giáp-thân (1284) ông Trần quốc Tuấn truyền
hịch cho các vương-hầu hội hết quân-sĩ tại bến Đông-bộ-đầu để điểm-duyệt.
Quân thủy và quân bộ hết cả thảy 20 vạn.
Ông Trần quốc Tuấn truyền cho các tướng-sĩ rằng: "Bản-chức
phụng-mệnh thống đốc quân-sĩ ra phá giặc. Các vương-hầu và các tướng-sĩ,
ai nấy phải cần giữ phép-tắc, đi đâu không được nhiễu dân và phải đồng
lòng hết sức đánh giặc, chớ thấy thua mà ngã lòng, chớ thấy được mà tự
kiêu, việc quân có luật, phép nước không thân, các ngươi phải giữ ". Xong
rồi sai Trần bình Trọng đem quân đi đóng đồn ở trên sông Bình-than, Trần
khánh Dư đem quân ra giữ mặt Vân-đồn (thuộc Vân-hải ở Quảng-yên), còn
các tướng thì chia ra đóng các nơi hiểm-yếu. Trần quốc Tuấn tự dẫn đại
quân đóng ở Vạn-kiếp (tức là làng Kiếp-bạc thuộc Hải-dương) để tiếp-ứng
cho các nơi.
Được ít lâu, Nhân-tông nghe tin về báo rằng nhà Nguyên hội tại Hồ-
quảng sắp sửa kéo sang mặt Lạng-sơn. Vua có ý lo quân ta không địch nổi,
bèn sai sứ mang đồ lể sang Tàu, xin vua nhà Nguyên hoãn binh, để thươngnghị
lại.
Vua nhà Nguyên không nghe, sai Thoát Hoan cứ việc tiến binh sang.
Nhân-tông thấy vậy, lập tức cho triệu các bô-lão dân-gian hội tại điện Diênhồng
để bàn xem nên hòa hay nên đánh. Các bô-lão đều đồng thanh xin
đánh. Vua thấy dân-gian một lòng như vậy, cũng quyết ý kháng cự.
Quân Nguyên chia ra làm hai đạo: một đạo do tướng Mông-cổ là
Toa Đô đem 10 vạn quân từ Quảng-châu đi hải-đạo sang đánh Chiêm-thành;
còn Thoát Hoan thì kéo đại binh đến ải-quan, sai người đưa thư sang nói cho
mượn đường đi đánh Chiêm-thành.
Nhân-tông tiếp được thư của Thoát Hoan, trả lời lại rằng: "Tự bảnquốc
sang Chiêm-thành, thủy lục không có đường nào tiện ". Sứ-giã về nói
với Thoát Hoan, Thoát Hoan nổi giận, thúc quân kéo sang mạn Lạng-sơn, rồi
sang quan Bả-tổng tên là A Lý đến dụ rằng: "Bản-súy chỉ nhờ đường Namquốc
sang đánh Chiêm-thành, chứ không có bụng gì đâu mà ngại. Nên mở
cửa ải cho quân bản-súy đi, và đi dến đâu, nhờ giúp ít nhiều lương-thảo, rồi
khi nào phá xong Chiêm-thành thì sẽ có trọng ta về sau. Nhược bằng
kháng-cự thiên binh, thì bản-súy sẽ không dong tình, phá tan bờ-cõi, bấy giờ
dù hối lại cũng không kịp ".
Hưng-đạo-vương Trần quốc Tuấn nổi giận, đuổi A Lý về, rồi phân
binh giữ ải Khả-li và Lộc-châu (thuộc Lạng-sơn) còn mình thì tự dẫn quân đi
đóng giữ núi Kì-cấp. Những chiến thuyền thì đóng ở Bái-tân40 giữ mặt thủy.
4. Trần Hưng Đạo Vương Quân Thua Về Vạn Kiếp.
Thoát Hoan thấy Hưng-đạo-vương giữ cả các nơi, liền tiến binh lên đánh núi
Kì-cấp, ải Khả-li và ải Lộc-châu. Quân hai bên đánh nhau ở núi Kì-cấp hai ba
trận không phân thắng bại. Nhưng sau vì Khả-li và Lộc-châu thất thủ, quân
An-nam phải rút về ải Chi-lăng41. Thoát Hoan dẫn đại binh đến đánh Chilăng,
Hưng-đạo-vương kém thế, thua chạy ra bến Bái-tân, xuống thuyền
cùng với bọn gia-tướng, là Dã Tượng và Yết Kiêu về Vạn-kiếp. Các tướng
thu nhặt tàn quân dần dần cũng kéo về đấy cả.
Nhân-tông nghe Hưng-đạo-vương thua chạy về Vạn-kiếp, liền ngự
một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải-đông (tức là Hải-dương) rồi cho vời Hưngđạo-
vương đến bàn việc, nhân thấy quân mình thua, trong bụng lo sợ, mới
bảo Hưng-đạo-vương rằng: "Thế giặc to như vậy, mà chống với nó thì dânsự
tàn-hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân".
Hưng-đạo-vương tâu rằng: "Bệ-hạ nói câu ấy thì thật là lời nhânđức,
nhưng mà Tôn-miếu Xã-tắc thì sao? Nếu bệ-hạ muốn hàng, xin trước
hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng!". Vua nghe lời nói trung-liệt như
vậy, trong bụng mới yên.

virus13
05-03-2008, 01:59 PM
Hưng-đạo-vương chiêu-tập quân các đạo, hội tại Vạn-kiếp được hơn
20 vạn quân, thế lại nổi to. Bấy giờ Hưng-đạo-vương có soạn ra một quyển
Bình-thư yếu-lược rồi truyền hịch khuyên-răn các tướng-sĩ. Tờ hịch ấy làm
bằng Hán-văn, nay dịch ra quốc âm như sau này:
"Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế;
Do Vu lấy mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vương; Dư Nhượng nuốt than
để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức là
một chức quan còn nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát vòng
vây; Kiểu Khanh là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn là quân
nghịch-tặc. Các bậc trung-thần nghĩa-sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào
không có? Giả-sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường tình, chết già
ở xo nhà thì sao cho lưu danh sử-sách đến nghìn muôn đời như thế được?
Nay các ngươi vốn dòng vũ-tướng, không hiểu văn-nghĩa, nghe những
chuyện cổ-tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nửa; ta hãy đem
chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói: Vương công Kiên là người thế
nào? Tỳ-tướng của Vương công Kiên là Nguyễn văn Lập lại là người thế nào,
mà giữ một thành Điếu-ngư42 nhỏ mọn, chống với quân Mông-kha43 kể
hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu. Đường
ngột Ngại là người như thế nào? Tỳ-tướng của Đường ngột Ngại là Xích tu
Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam-chướng xa xôi, đánh được
quân Nam-chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân-trướng đời Nguyên đến
nay còn lưu tiếng tốt. Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễunhương,
gặp phải buổi gian-nan này, trông thấy những ngụy-sứ đi lại rầmrập
ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ-mắng triều-đình, đem thân dê chó
mà bắt-nạt tổ-phụ, lại cậy thế Hốt tất Liệt mà đòi ngọc-lụa, ỷ thế Vân-namvương44
để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào
như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai-vạ về sau!
Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt
đầm-đìa, chỉ căm-tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân
này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các
ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta
cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương
có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc
hoạn-nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ thì cùng nhau vui cười,
những cách cư-xử so với Vương công Kiên, Đường ngột Ngại ngày xưa cũng
chẳng kém gì.
Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sĩ mà
không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe
nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vuiđùa,
hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng,
hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc
ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng
hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo-giáp;
mẹo cờ-bạc sao cho dùng nổi được quân mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn
nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm
sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch
sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết; tiếng
hát hay không làm được cho giặc điết tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp
của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là giaquyến
ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta
chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia
thanh của các ngươi cũng chẵng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các
ngươi dẫu muốn vui-vẻ, phỏng có được hay không?
Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn-thận như nơi củi lửa, nên giữ-gìn như
kẻ húp canh, dạy-bảo quân-sĩ, luyện-tập cung tên, khiến cho người nào cũng
có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân
giặc, mà lập nên được công-danh. Chẳng những là thái-ấp ta được vữngbền,
mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng-lộc; chẳng những là giaquyến
của ta được yên-ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con,
chẳng những là tiên-nhân ta được vẻ-vang, mà các ngươi cũng được phụngthờ
tổ-phụ, trăm năm vinh-hiển; chẳng những là một mình ta được sungsướng,
mà các ngươi cũng được lưu-truyền sử-sách, nghìn đời thơm-tho;
đến bấy giờ các ngươi dầu không vui-vẻ, cũng tự khắc được vui-vẻ.
Nay ta soạn hết các binh pháp của các nhà danh-gia hợp lại làm một quyển
gọi là "Binh-thư yếu-lược". Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách này, theo lời
dạy-bảo, thì mới phải đạo thần-tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời
dạy-bảo, thì tức là kẻ nghịch-thù.
Bởi cớ saỏ Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà
các ngươi cứ điềm-nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy
quân-sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà
chịu thu quân giặc, khiến cho sau trận Bình-lỗ45 mà ta phải chịu tiếng xấu
muôn đời, thì còn mặt-mũi nài đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm
ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta".
5. Thành Thăng Long Thất Thủ. Các tướng-sĩ được lời khuyênrăn
ấy, ai nấy hết lòng luyện-tập, quyết chí đánh giặc, cho nên người nào
cũng lấy mực thích vào cánh tay hai chữ "Sát Đát " nghĩa là giết quân
Mông-cổ. Khi Thoát Hoan lấy xong các ải ở Lạng-sơn rồi, thừa thắng đánh
xuống Vạn-kiếp, quân An-nam non thế, địch không nổi thua chạy, bao nhiêu
chuyến thuyền mất cả. Quân Mông-cổ bắt được quân An-nam thấy người
nào cũng có hai chử "Sát Đát" ở cánh tay, giận lắm, đem giết sạch cả, rồi
kéo tràn sang mặt Kinh-bắc. Thoát Hoan thả quân cho cướp phá vùng Võninh,
Gia-lâm, Đông-ngạn rồi kéo về đóng tại bến Đông-bộ-đầu, Hưng-đạovương
lập trại mé ngạn để phòng giữ.
Thoát Hoan thấy phía nam ngạn sông Hồng-hà46 có trại quân Annam
đóng giữ, mới sai quân lấy súng đại-bác bắn sang, phá tan cả các trại,
quân-sĩ khiếp-sợ bỏ chạy hết sạch. Quân Mông-cổ bấy giờ làm cầu phao qua
sông, kéo đến tận chân thành Thăng-long hạ trại.
Hưng-đạo-vương rước xa-gía Thượng-hoàng và vua ra ngoài Thănglong,
để các tướng ở lại giữ thành. Đến khi Thoát Hoan vây đánh, hạ được
thành, biết rằng Hưng-đạo-vương đã rước xa-giá xuống mặt nam rồi, liền sai
tướng dẫn quân đi đuổi đánh.
6. Toa Đô Đánh Nghệ An. Toa Đô là tướng đạo thứ hai quân
Nguyên, đi đường bể sang đánh Chiêm-thành, nhưng mà quân nước Chiêm
giữ được các đường hiểm-yếu, đánh mãi không được. Nguyên chúa hạ
chiếu sai Toa Đô theo đường bộ kéo ra mặt Nghệ-an, hợp với quân Thoát
Hoan để đánh An-nam.
Thoát Hoan được biết tin ấy, liền sai tương Ô mã Nhi dẫn quân đi
đường bể vào tiếp-ứng cho Toa Đô để đánh tự mặt trong đánh ra, còn ở
mặt ngoài thì chiến thuyền của nhà Nguyên chia ra giữ các bến đóng ở sông
Hồng-hà47 từ Thăng-long xuống đến khúc sông Đại-hoàng (thuộc huyện
Nam-xang, Hà-nam).
7. Hưng Đạo Vương Đem Vua Về Thanh Hóa. Bấy giờ
Hưng-đạo-vương dẫn các tương hộ-vệ xa-giá xuống Thiên-trường, nghe Toa
Đô từ vùng trong kéo ra, Hưng-đạo-vương tâu vua xin sai Thượng-tướng
Trần quang Khải đưa binh vào đóng mặt Nghệ-an, giữ chặn đường hẽm,
không cho Toa Đô ra, và sai Trần bình Trọng ở lại giữ Thiên-trường cự nhau
với quân Thoát Hoan, rồi rước xa-giá ra Hải-dương.
Trần quang Khải vào đến Nghệ-an, chia quân phòng giữ, nhưng mà quân
nhà Nguyên thế mạnh, đi đến đâu đánh tan đến đấy, lại có Ô mã Nhi ở mặt
bể đánh vào. Quang Khải đương không nổi, phải lui quân ra mặt ngoài.
Còn quan trấn-thủ Nghệ-an là Trần Kiện đem cả nhà ra hàng với Toa Đô.
Toa Đô cho đưa bọn Trần Kiện về Yên-kinh.
Hưng-đạo-vương nghe tin, sai tướng đem quân đi lẻn đường tắt
đuổi theo. Khi quân Nguyên đưa Trần Kiện đến địa-phận Lạng-sơn, qua trại
Ma-lục (?), thì có người thổ-hào ở đấy tên là Nguyễn thế Lộc và Nguyễn Lĩnh
đem dân binh ra đánh. Lại có quan quân đuổi đến nơi, quân Nguyên bỏ
chạy. Trần Kiện bị tên bắn chết, nhưng có người nhà là Lê Tắc cướp được
thây chạy thoát, đưa đến gò Ôn-khâu (Lạng-sơn) mai-táng xong rồi trốn
sang Tàu. Lê Tắc là dòng dõi Nguyễn Phu làm Thứ-sử Giao-châu về đời
Đông-Tấn (317-419) ngày trước. Tự lúc trốn sang Tàu rồi, Lê Tắc có làm bộ
sử "An-nam chí-lược". Bộ sử ấy hiện bây giờ còn có ở bên Tàu và bên Nhậtbản.
ở Thiên-trường, Trần bình Trọng thấy quân nhà Nguyên đã đến bãi
Đà-mạc (ở khúc sông Thiên-mạc, huyện Đông-an, Hưng-yên) liền đem binh
ra đánh, nhưng chẳng may bi vây, phảI bắt. Quân Nguyên đưa Bình Trọng
về nộp cho Thoát Hoan. Thoát Hoan biết Bình Trọng là tướng khỏe-mạnh,
muốn khuyên-dỗ về hàng, thết-đãi cho ăn-uống, nhưng Bình Trọng không
ăn, dỗ-dành hỏi dò việc nước, Bình Trọng cũng không nói. Sau Thoát Hoan
hỏi rằng: "Có muốn là vương đất Bắc không?" Bình Trọng quát lên rằng:
"Tà thà làm quỉ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị
bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi-thôi!" Thoát Hoan thấy
dỗ không được, sai quân đem chém.
Thánh-tông thượng-hoàng cùng Nhân-tông và Hưng-đạo-vương
nghe tin Trần bình Trọng tử-tiết, ai nấy động lòng thương-xót.
Hưng-đạo-vương thấy thế nguy-cấp lắm, bèn rước xa-giá ra Quảngyên.
Thuyền đi về đường sông Tam-chỉ (thuộc châu Tiên-yên), sai một
tướng dẫn chiếc thuyền rồng ra cửa bể Ngọc-sơn (thuộc châu Vạn-ninh, tỉnh
Quảng-yên) làm cho nghi tình quân giặc. Tướng nhà Nguyên là Lý Hằng và
Khoan Triệt sai người do-thám biết thuyền ra Ngọc-sơn là giả, mới dẫn quân
đuổi theo đến sông Tam-chỉ, Hưng-đạo-vương rước xa-giá lên bộ đi đến làng
Thủy-chú rồi lại xuống thuyền ra sông Nam-triều (tức Bạch-đằng-giang,
thuộc Hải-dương) rồi vaò tỉnh Thanh-hóa. Bấy giờ quân Nguyên thế lắm,
đóng khắp các nơi, từ vùng Bắc-ninh, Thăng-long, Thiên-trường, chỗ nào
cũng có quân đóng. Ở vùng Nghệ-an lại có Toa Đô, Đường ngột Ngải, Ô
mã Nhi đánh ra. Nhân-tông kinh-hãi, Thượng-hoàng đêm ngày lo sợ. Nhà
nước ngất-ngưởng nguy như trứng chồng. Bọn Hoàng-tộc là Trần ích Tắc,
Trần tú Viên đều ra hàng Thoát Hoan cả. Chỉ có Hưng-đạo-vương phụng xagiá
đi, trèo non vượt bể, trải gió dầm mưa, thế lực tuy cùng, nhưng vẫn bền
vững một lòng, tìm kế đánh giặc, lo liệu việc nước không rối sợ lúc nào.
Thật là một người có tài đại-tướng, có thể cứu dân giúp nước, tiếng để
muôn đời.
8. Trận Hàm Tử Quan - Trần Nhật Duật phá quân Toa
Đô: Đạo quân của Toa Đô ở Chiêm-thành kéo ra đánh lấy đất Nghệ-an.
Trần quang Khải đem quân lùi ra mặt ngoài giữ các đường hiểm-yếu. Toa
Đô đánh mãi không được, mà lương-thảo thì một ngày một cạn, bèn cùng
với Ô mã Nhi dẫn quân xuống thuyền vượt bể ra ngoài Bắc để hợp binh với
Thoát Hoan.
Trần quang Khải được tin ấy, cho người về Thanh-hóa phi báo. Nhân-tông
hội quân-thần lại hỏi kế, Hưng-đạo-vương tâu rằng: "Toa Đô tự Chiêmthành
trở ra, qua vùng Ô-lý (Thuận-hóa), Hoan (Nghệ-an), Ái (Thanh-hóa),
đường sá gập-ghềnh, quân-sĩ vất-vả, nay lại vượt bể ra Bắc, thì sức-lực cũng
đã mỏi-mệt. Vậy nay nên sai một tướng nên ra đón đường mà đánh thì
chắc phá được".
Nhân-tông nghe lời, sai Chiêu-văn-vương Trần nhật Duật làm tướng
và Trần quốc Toản48 làm phó-tướng cùng với tướng-quân là Nguyễn Khoái
đem 5 vạn quân ra đón đường đánh Toa Đô ở mặt Hải-dương. Tháng tư
năm ất-dậu (1285) Trần nhật Duật ra đến Hàm-tử (thuộc huyện Đông-an,
Hưng-yên) thì gặp chiến thuyền của Toa Đô, Nhật Duật liền phân binh ra
đánh. Quân Nhật Duật bấy giờ có bọn Triệu Trung là tướng nhà Tống sang
xin tùng chinh, mặc áo đeo cung như quân nhà Tống. Đến khi giáp trận,
quân Nguyên trông thấy bọn Triệu Trung, tưởng là nhà Tống đã khôi-phục
được nước Tàu, rồi cho quân sang cứu An-nam, đứa nào cũng sợ-hãi bỏ
chạy. Quân ta đuổi đánh, quân giặc thua to chết hại rất nhiều. Toa Đô phải
lùi ra ở bải Thiên-trường.
Trần nhật Duật thắng trận, cho Quốc Toản đưa tin về Thanh-hóa.
Hưng-đạo-vương được tin mừng ấy, vào tâu với vua rằng: "Quân ta mới
thắng, khí-lực đang hăng, mà quân Nguyên mới thua, tất cũng chột dạ. Vậy
nên nhân dịp này mà tiến quân đánh Thoát Hoan để khôi phục Kinh-thành".
Vua nghe lời truyền sắp sửa tiến binh. Sực có Thượng tướng Trần
quang Khải ở trong Nghệ-an ra, xin đi đánh Thoát Hoan. Vua liền sai Quang
Khải thu-xếp quân-sĩ để ra đánh Thăng-long và truyền hịch sai Trần nhật
Duật đóng quân giữ chặn đường không cho bọn Toa Đô kéo lên hợp với
Thoát Hoan.
9. Trận Chương-Dương-Độ - Trần Quang Khải khôi
phục Thăng Long: Khi bấy giờ đại binh của Thoát Hoan đóng tại
Thăng-long, còn chiến thuyền thì lại đóng ở bến Chương-dương, địa phận
huyện Thượng-phúc.
Trần quang Khải với Trần quốc Toản và Phạm ngũ Lảo đem quân từ
Thanh-hóa đi thuyền vòng đường bể ra đến bến Chương-dương, sấn vào
đánh chiến-thuyền của quân Nguyên. Quan quân đánh hăng quá, quân
Nguyên địch không nổi phải bỏ chạy. Quan quân lên bộ đuổi đánh về đến
chân thành Thăng-long hạ trại. Thoát Hoan đem đại quân ra cự địch, bị
phục binh của Trần quang Khải đánh úp lại, quân Nguyên phải bỏ thành
Thăng-long chạy qua sông Hồng-hà49 sang giữ mặt Kinh-bắc (Bắc-ninh).
Trần quang Khải đem quân vào thành mở tiệc khao quân. Đến khi
uống rượu vui-vẻ, Quang Khải ngâm bài thơ rằng:
Đoạt sáo Chương-dương-độ50
Cầm hồ Hàm-tử quan
Thái-bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thủ giang-san
Dịch nôm:
Chương-dương cướp giáo-giặc
Hàm-tử bắt quân thù
Thái-bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu
Trần quang Khải sai người về Thanh-hoá dâng biểu báo tin thắng
trận. Vua Nhân-tông thấy quân thế đã mạnh, trong hai tháng đánh được hai
trận, quân-sĩ ai nấy đều nức lòng đánh giặc, bèn rước Thượng-hoàng và cất
binh-mã ra đóng ở Tràng-an (Ninh-bình).
10. Trận Tây Kết - Tướng Nhà Trần Chép Được Toa
Đô: Toa Đô đóng quân ở Thiên-trường xa cách Thoát Hoan hơn 200 dặm,
cho nên chưa biết Thoát Hoan đã thua chạy về Bắc-giang rồi, bèn tiến bình
vào đóng ở sông Thiên-mạc51 định để hợp sức với Thoát Hoan làm thế ỷ-
giốc. Được mấy hôm Toa Đô biết đạo tiền quân của mình đã bại trận, mà
các bến thì chỗ nào cũng có quân nhà Trần án ngữ, mới lui về đóng ở Tâykết52
rồi cho người đi dò xem quân Thoát Hoan đóng ở đâu.
Quân An-nam từ khi đánh được trận Hàm-tử và trận Chương-dương
rồi, quân-thế phấn chấn lắm. Hưng-đạo-vương mừng rỡ, vào tâu với Nhântông
xin một mặt sai Chiêu-văn-vương Trần nhật Duật, hợp với Thượngtướng
Trần quang Khải dẫn quân chặn các đường, không cho Thoát Hoan,
Toa Đô đi lại thông tin với nhau, và một mặt xin tự tiến binh ra đánh Toa
Đô, rồi đánh Thoát Hoan.
Nhân-tông nghe lời ấy, cho Hưng-đạo-vương tùy ý mà sai khiến. Khi
quân ra đến Tây-kết, Hưng-đạo-vương chia quân ra đánh trại quân Nguyên,
và đặt phục binh để bắt Toa Đô.
Quân ta đánh hăng quá, quân Nguyên không địch nổi, Toa Đô và Ô
mã Nhi đem binh lên bộ chạy ra mặt bể, nhưng khi chạy đến mé sau một
dãy núi, thì bị quân An-nam vây đánh, Toa Đô trúng tên chết, còn Ô mã Nhi
thì tìm đường chạy vào Thanh-hóa, nhưng bị quân ta đánh đuổi ngặt quá,
phải một mình lẻn xuống chiếc thuyền con chạy ra bể, trốn về Tàu được.
Khi các tướng thắng trận, đưa đầu Toa Đô về nộp, Nhân-tông thấy
người dũng-kiện mà lại hết lòng với chúa, mới than rằng: "Làm bầy tôi nên
như người này!" rồi cởi áo ngự-hào đắp vào đầu Toa Đô, sai quan dùng lễ
mai-táng cho tử-tế.
Trận Tây-kết đánh vào tháng năm, năm ất-dậu (1285) quan quân
bắt được quân Nguyên hơn 3 vạn người, và chiến-thuyền khí-giới không biết
bao nhiêu mà kể. Hưng-đạo-vương được trận toàn thắng, mở tiệc khao
thưởng ba quân, rồi lên đánh mặt bắc, để tiểu-trừ Thoát Hoan.
11. Trận Vạn Kiếp - Thoát Hoan Trốn Chạy Về Tàu: Bấy
giờ Thoát Hoan đóng quân ở Bắc-giang, nghe tin đồn Toa Đô tử trận, Ô mã
Nhi đã trốn về Tàu, quân-binh tướng-sĩ ai nấy đều ngã lòng cả. Vả lại trời
đang mùa hè nóng-nực khó chịu, sơn-lam chướng-khí bốc lên, quân-sĩ bị
dịch-tễ chết hại cũng nhiều. Bởi thế có bụng muốn rút quân về Tàu.
Hưng-đạo-vương cũng biết cơ Thoát Hoan tất phải chạy, liền sai
Nguyễn Khoái, Phạm ngũ Lão dẫn 3 vạn quân đi lên đường núi, phục sẵn hai
bên rừng sậy ở bên sông Vạn-kiếp, để chờ lúc quân Nguyên chạy đến thì đổ ra đánh; sai hai con là Hưng-võ-vương Nghiễn và Hưng-hiếu-vương Úy dẫn 3
vạn quân đi đường Hải-dương ra mặt Quảng-yên, giữ chặn đường về châu
Tư-minh; Hưng-đạo-vương tự dẫn đại quân lên Bắc-giang đánh quân
Nguyên. Quân Nguyên thua chạy, Thoát Hoan dẫn đại binh chạy đến bến
Vạn-kiếp, gặp bọn Nguyễn Khoái ra đánh, quân Nguyên mười phần tổn-hại
mất năm. Tướng nhà Nguyên là Lý Hằng bị tên bắn chết. Còn Thoát Hoan,
Phàn Tiếp , A bát Xích, Lý Quán cố sức đánh lấy đường mà chạy. Sau thấy
quân An-nam đuổi kíp quá, Thoát Hoan phải chui vào cái ống đồng để lên xe
bắt quân kéo chạy. Về gần đến châu Tư-ninh lại gặp bọn Hưng-võ-vương
Nghiễn và Hưng-hiếu-vương Úy đánh đuổi một trận nửa. Lý Quán trúng tên
bắn chết. Thoát Hoan, A bát Xích và Phàn Tiếp chạy thoát về Tàu được.
Thế là Đại-quân của Thoát Hoan lúc đầu mới sang lừng-lẫy bao
nhiêu, bây giờ tan nát mất cả. Trong sáu tháng trời, từ tháng chạp năm
giáp thân (1284) đến tháng sáu năm ất dậu (1285), quân An-nam đuổi 50
vạn quân Mông-cổ ra ngoài bờ-cỏi, chỉnh-đốn giang-sơn lại như cũ. Ấy cũng
nhờ có tay Hưng-đạo-vương có tài đại-tướng, cầm quân vững-chãi, gan bền
tựa sắt, và lại khéo dùng lời khuyên-dỗ, khiến cho bụng người cảm-động,
sinh lòng trung-nghĩa, cho nên tướng-sĩ ai nấy đều hết lòng giúp nước.
Vả nước An-nam thời bấy giờ vua tôi hòa-hợp, lòng người như một,
nhân-tài lũ-lượt kéo ra; mà quân Nguyên sang An-nam thì đường xa muôn
dặm, núi sông cách trở, hùng mạnh được lúc đầu mà thôi, sau thành ra
bệnh-tật yếu-đau. Như thế mà lại gặp phải tay Hưng-đạo-vương Trần quốc
Tuấn dụng binh biết đợi thời, biết thừa thế tiến thoái, cho nên sự quân nhà
Nguyên thua tan-nát là sự tất-nhiên vậy.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 24 phút và 25 giây -----

CHƯƠNG IX
Nhà Trần
Thời Kỳ Thứ Hai ( 1293 - 1341 )
I. Trần Anh Tông (1293-1314)
Niên-hiệu: Hưng Long
1. Đức Độ Vua Anh Tông. Thái tử Trần Thuyên lên ngôi, tức là
vua Anh Tông.
Anh Tông trị vì được 21 năm, nhường ngôi được 6 năm, thọ 54 tuổi.
II. Trần Minh Tông (1314-1329)
Niên-hiệu: Đại Khánh (1314 - 1323)
Khai Thái (1324 - 1329)
Năm giáp dần (1314) Thái Tử Mạnh lên ngôi làm vua, tức là vua Minh Tông.
Minh Tông làm vua đến năm ất tị (1329), thì nhường ngôi cho thái
tử Vượng, rồi về làm Thái Thượng Hoàng.
III. Trần Hiến Tông (1329-1341)
Niên-hiệu: Khai Hữu
Thái Tử Vượng mới có 10 tuổi, lên làm vua tức là vua Hiến Tông.
Hiến Tông chỉ làm vua lấy vì mà thôi, quyền chính ở cả tay Minh Tông
Thượng Hoàng, cho nên tuy ngài có làm vua được non 13 năm, nhưng
không được tự chủ việc gì.
Hiến Tông làm vua đến năm tân tị (1341) thì mất, trị vì được 13
năm, thọ 23 tuổi.
CHƯƠNG X
Nhà Trần - Thời Kỳ Thứ Ba ( 1341 - 1400 )
I. Trần Dụ Tông (1341-1369)
Niên-hiệu: Thiệu Phong (1341 - 1357)
Đại Trị ( 1358-1369)
II. Trần Nghệ Tông (1370-1372)
Niên-hiệu: Thiệu Khánh
III. Trần Duệ Tông (1372-1377)
Niên-hiệu: Long Khánh
IV. Trần Phế Đế (1377-1388)
Niên-hiệu: Xương Phù
V. Trần Thuận Tông (1388-1398)
Niên-hiệu: Quang Thái

CHƯƠNG XI
Nhà Hồ
( 1400 - 1407 )
I. Hồ Quý Ly ( 1400 )
Niên-hiệu: Thánh Nguyên
Quý Ly bỏ Thiếu Đế, nhưng vị tình cháu ngoại cho nên không giết,
chỉ giáng xuống làm Bảo Ninh Đại Vương, rồi tự xưng làm đế, đổi họ là Hồ.
Nguyên họ Hồ là dòng dõi nhà Ngu bên Tàu, cho nên Quý Ly đặt quốc hiệu
là Đại Ngu.

CHƯƠNG XII
Nhà Hậu Trần
( 1407 - 1413 )

Giản Định Đế (1407 - 1409). Khi trước Trương Phụ treo bảng
gọi con cháu nhà Trần là ý giả dối để chực giết hại, cho nên không ai dám
ra. Bấy giờ có Giản Định Vương tên là Quĩ, con thứ vua Nghệ Tông chạy
đến Mô Độ (thuộc làng Yên Mô, huyện Yên Mô, Ninh Bình) gặp Trần Triệu
Cơ đem chúng đi theo, bèn xưng là Giản Định Hoàng Đế, để nối nghiệp nhà
Trần, đặt niên hiệu là Hưng Khánh.
Tháng chạp năm mậu tý (1408) Giản Định Đế hội tất
cả quân Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, rồi tiến ra
đánh Đông Đô. Quân ra đến Trường Sơn (Ninh Bình) thì các quan thuộc và
những kẻ hào kiệt ở các nơi ra theo nhiều lắm.
Quan nhà Minh đem tin ấy về báo cho Minh Đế biết. Minh Đế sai
Mộc Thạnh đem 4 vạn quân ở Vân Nam sang đánh dẹp. Mộc Thạnh cùng
với các quan đô chưởng là Lữ Nghị vào đến bến Bô Cô (thuộc xã Hiếu Cổ,
huyện Phong Doanh) thì gặp quân Trần. Hai bên giao chiến, vua Giản Định
tự cầm trống thúc quân, tướng sĩ ai nấy hết sức xung đột, phá tan được
quân nhà Minh, chém được Lữ Nghị ở trận tiền và đuổi Mộc Thạnh về đến
thành Cổ Lộng (thành nhà Minh xây, bấy giờ ở làng Bình Cách, huyện Ý
Yên).
Bấy giờ vua Giản Định muốn thừa thắng đánh tràn ra để lấy lại Đông
Quan (tức Đông Đô). Nhưng ông Đặng Tất ngăn lại muốn để đợi quân các
lộ về đã, rồi sẽ ra đánh. Từ đó vua tôi không được hòa thuận, vua Giản
Định lại nghe người nói gièm, bắt Đặng Tất và quan tham mưu là Nguyễn
Cảnh Chân đem giết đi, thành ra lòng người ai cũng chán ngán cả, không có
lòng giúp rập nữa.
4. Trần Quý Khoách (1403 -1413). Giặc nước hãy còn, mà vua
tôi đã nghi hoặc nhau, rồi đem giết hại những người có lòng vì nước, thật là
tự mình gây nên cái vạ cho mình.
Bấy giờ con ông Đặng Tất là Đặng Dung và con ông Nguyễn Cảnh
Chân là Nguyễn Cảnh Dị thấy thân phụ bị giết, đều bỏ vua Giản Định, đem
quân bản bộ về Thanh Hóa rước vua Quý Khoách vào huyện Chi La (tức là
huyện La Sơn, Hà Tĩnh) rồi tôn lên làm vua, đặt niên hiệu là Trùng Quang.
Lúc ấy vua Giản Định đương chống nhau với quân nhà Minh ở thành
Ngự Thiên (thuộc huyện Hưng Nhân). Quý Khoách sai tướng là Nguyễn Súy
ra đánh lẻn bắt đem về Nghệ An. Quý Khoách tôn Giản Định lên làm Thái
Thượng Hoàng để cùng lo việc khôi phục.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 25 phút và 37 giây -----

CHƯƠNG XIII
Thuộc Nhà Minh
( 1414 - 1427 )
Trương Phụ lấy được châu Thuận
Hóa và châu Tân Bình rồi, làm sổ biên số dân đinh ở hai châu ấy, đặt quan
cai trị và để quân binh ở lại phòng giữ chỗ giáp giới nước Chiêm Thành. Đến
htáng 8 năm giáp ngọ (1414) Trương Phụ và Mộc Thạnh về Tàu, đem những
đàn bà con gái về rất nhiều.
Bọn Hoàng Phúc ở lại sửa sang các việc trong nước để khiến cho
người An Nam đồng hóa với người Tàu. Lập ra đền miếu, bắt người mình
cúng tế theo tục bên Tàu, rồi từ cách ăn mặc cho chí sự học hành, việc gì
cũng bắt theo như người Tàu cả. Còn cái gì là di tích của nước mình như là
sách vở thì thu nhặt đem về Tàu hết sạch. Lại đặt ra thuế lệ, bổ thêm sưu
dịch để lấy tiền của, làm cho dân ta bấy giờ phải nhiều điều khổ nhục

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 27 phút và 24 giây -----

CHƯƠNG XIV
Mười Năm Đánh Quân Tàu
( 1418 - 1427 )

1. Lê Lợi Khởi Nghĩa ở Lam Sơn. Từ khi nhà Minh sang cai trị
An Nam, dân ta ph?i khổ nhục trăm đường, tiếng oan không kêu ra được,
lòng tức giận ngấm nghía ở trong tâm can, chỉ mong mỏi ra cho khỏi đống
than lửa. May lúc ấy có một đấng anh hùng nổi lên, kéo cờ nghĩa để chống
với giặc Minh, trong 10 năm ấy lại được giang sơn cũ, và xây đắp lại nền độc
lập cho nước Nam.
Đấng anh hùng ấy, người ở làng Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, phủ
Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, họ Lê, tên là Lợi. Đã mấy đời làm nghề canh
nông, nhà vẫn giàu có, lại hay giúp đỡ cho kẻ nghèo khó, cho nên mọi người
đều phục, và những tôi tớ ước có hàng nghìn người. Ông Lê Lợi khẳng khái,
có chí lớn, quan nhà Minh nghe tiếng, đã dỗ cho làm quan, nhưng ông
không chịu khuất, thường nói rằng: " Làm trai sinh ở trên đời, nên giúp nạn
lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chứ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ
người ta!" Bèn giấu tiếng ở chỗ sơn lâm, đón mời những kẻ hào kiệt, chiêu
tập những kẻ lưu vong.
Đến mùa xuân năm mậu tuất (1418) đời vua Thành Tổ nhà Minh,
niên hiệu Vĩnh Lạc thứ 16, ông Lê Lợi cùng với tướng là Lê Thạch, Lê Liễu
khởi binh ở núi Lam Sơn, tự xưng là Bình Định Vương, rồi truyền hịch đi gần
xa kể tội nhà Minh để rõ cái mục đính của mình khởi nghĩa đánh kẻ thù của
nước.
Việc đánh giặc Minh tuy là thuận lòng người và hợp lẽ công bằng,
nhưng mà thế lực của Bình Định Vương lúc đầu còn kém lắm, tướng sĩ thì ít,
lương thực không đủ. Dẫu có dùng kế đánh được đôi ba trận, nhưng vẫn
không có đủ sức mà chống giữ với quân nghịch, cho nên phải về núi Chí
Linh74 ba lần, và phải nguy cấp mấy phen, thật là gian truân vất vả. Sau
nhờ hồng phúc nước Nam, Bình Định Vương lấy được đất Nghệ An, rồi từ đó
mới có thể vẫy vùng, đánh ra mặt Bắc, lấy lại được giang sơn nước nhà.
2. Về Chí Linh Lần Thứ Nhất. Khi quan nhà Minh là Mã Kỳ ở Tây
Đô, nghe tin Bình Định Vương nổi lên ở núi Lam Sơn, liền đem quân đến
đánh. Vương sang đóng ở núi Lạc Thủy (Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa) để đợi
quân Minh. Đến khi quân Mã Kỳ đến, phục binh của Vương đổ ra đánh, đuổi
được quân nghịch, nhưng vì thế yếu lắm chống giữ không nổi, Vương phải
bỏ vợ con để giặc bắt được, đem bại binh chạy về đóng ở núi Chí Linh.
3. Về Chí Linh Lần Thứ Hai. Tháng tư năm kỷ hợi (1419) Bình
Định Vương lại ra đánh lấy đồn Nga Lạc (thuộc huyện Nga Sơn, Thanh Hóa)
giết được tướng nhà Minh là Nguyễn Sao, nhưng quân của Vương bấy giờ
hãy còn ít, đánh lâu không được, lại phải rút về Chí Linh.
Quan nhà Minh biết rằng Chí Linh là chỗ Bình Định Vương lui tới, bèn
đem binh đến vây đánh. Vương bị vây nguy cấp lắm, mới hỏi các tướng
rằng: Có ai làm được như người Kỷ Tín ngày trước chịu chết thay cho vua
Hán Cao không? Bấy giờ có ông Lê Lai liều mình vì nước, xin mặc thay áo
ngự bào cưỡi voi ra trận đánh nhau với giặc. Quân nhà Minh tưởng là Bình
Định Vương thật, xúm nhau lại vây đánh, bắt được giết đi rồi rút quân về
Tây Đô.
4. Bình Định Vương Về Đóng Lư Sơn. Vương nhờ có ông Lê
Lai chịu bỏ mình cứu chúa, mới trốn thoát được nạn lớn, rồi một mặt cho
người sang Ai Lao cầu cứu, một mặt thu nhặt những tàn quân về đóng ở Lư
Sơn (ở phía tây châu Quan Hóa).
Ngay năm ấy, ở Nghệ An có quan tri phủ là Phan Liêu làm phản nhà
Minh; ở Hạ Hồng có Trịnh Công Chứng, Lê Hành; ở Khoái Châu có Nguyễn
Đặc; ở Hoàng Giang có Nguyễn Đa Cấu, Trần Nhuế; ở Thủy Đường có Lê
Ngà, nổi lên làm loạn, quân nhà Minh phải đi đánh dẹp các nơi cho nên Bình
Định Vương ở vùng Thanh Hóa cũng được nhân dịp mà dưỡng uy súc nhuệ.
5. Bình Định Vương Về Đóng Lỗi Giang. Năm canh tí (1420)
Bình Định Vương đem quân ra đóng ở làng Thôi, định xuống đánh Tây Đô,
tướng nhà Minh là Lý Bân được tin ấy, đem quân đến đánh, đi đến chỗ Thi
Lang, bị phục binh của Vương đánh phá một trận, quân Minh bỏ chạy.
Vương lại đem quân lên đóng ở Lỗi Giang75 và ở đồn Ba Lậm. Quân Minh
phải lùi về đóng ở Nga Lạc và Quan Du để phòng giữ Tây Đô.
6. Nguyễn Trãi. Khi Bình Định Vương về đánh ở Lỗi Giang, thì có ông
Nguyễn Trãi, vào yết kiến, dâng bài sách bình Ngô, vua xem lấy làm hay,
dùng ông ấy làm tham mưu.

virus13
05-03-2008, 02:29 PM
Ông Nguyễn Trãi là con ông Bảng Nhãn Nguyễn Phi Khanh. Đời nhà
Hồ, ông đã thi đỗ tiến sĩ (1400). Khi ông Nguyễn Phi Khanh bị nhà Minh bắt
về Kim Lăng, ông theo khóc, lên đến cửa Nam Quan không chịu trở lại. Ông
Phi Khanh bảo rằng: " Con phải trở về mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho
nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì ? " Từ đó ông trở lại, ngày đêm lo việc
phục thù. Nay ra giúp Bình Định Vương, bày mưu định kế để lo sự bình
định.
7. Bình Định Vương Phá Quân Trần Trí. Đến tháng 11 năm
tân sửu (1421) tướng nhà Minh là Trần Trí đem mấy vạn quân đến đánh
Bình Định Vương ở đồn Ba Lậm, lại ước với người Lào sang cùng đánh hai
mặt. Vương mới hội các tướng lại bàn rằng: Quân kia tuy nhiều nhưng ở xa
đến, còn đang nhọc mệt, ta nên đưa quân ra đón đành tất là phải được.
Bàn xong, đến đêm đem quân vào cướp trại Minh, giết được hơn 1.000
người. Trần Trí thấy vậy giận lắm, sáng hôm sau truyền lệnh kéo toàn quân
đến đánh. Quân An Nam đã phục sẳn trước, thấy quân Minh đến, liền đổ ra
đánh hăng quá, quân Minh lại phải lui về.
Đang khi hai bên còn đối địch, có ba vạn người Lào giả xưng sang
làm viện binh cho Bình Đình Vương. Vương không biết là dối, quân Lào nửa
đêm kéo đến đánh, tướng của Vương là Lê Thạch bị tên bắn chết. Nhưng
mà quân ta giữ vững đồn trại, quân Lào phải lùi về.
8. Về Chí Linh Lần Thứ Ba. Sang năm sau là năm nhâm dần
(1422) Bình Định Vương tự đồn Ba Lậm tiến lên đánh đồn Quan Gia, bị quân
Minh và quân Lào hai mặt đánh lại, phải thua chạy về giữ đồn Khôi Sách.
Quân Minh và quân Lào thừa thế đổ đến vây kín bốn mặt. Vương thấy thế
nguy quá, mới bảo các tướng rằng: "Quân giặc vây kín rồi, nếu không liều
sống chết đánh tháo lấy đường chạy ra, thì chết cả !" Quân sĩ ai nấy đều cố
sức đánh phá, quân giặc phải lùi. Vương lại đem quân về núi Chí Linh.
Từ khi Bình Định Vương đem binh về Chí Linh, lương thực một ngày
một kém, trong hai tháng trời quân sĩ phải ăn rau ăn cỏ có bao nhiêu voi
ngựa làm thịt ăn hết cả. Tướng sĩ mỏi mệt, đều muốn nghỉ ngơi, xin Vương
hãy tạm hòa với giặc. Vương bất đắc dĩ sai Lê Trăn đi xin hòa. Quan nhà
Minh bấy giờ thấy đánh không lợi, cũng thuận cho hòa.
9. Bình Định Vương Hết Lương Phải Hòa Với Giặc. Năm
quý mão (1423) Bình Định Vương đem quân về Lam Sơn. Bấy giờ tướng
nhà Minh là bọn Trần Trí, Sơn Thọ thường hay cho Vương trâu, ngựa, cá
mắm và thóc lúa; Vương cũng cho Lê Trăn đưa vàng bạn ra tạ. Nhưng sau
bọn Trần Trí ngờ có bụng giả dối, bắt giữ Lê Trăn lại, không cho về, vì vậy
Vương mới tuyệt giao không đi lại nữa, rồi đem quân về đóng ở núi Lư Sơn.
10. Bình Định Vương Lấy Đất Nghệ An. Năm giáp thìn
(1424) Bình Định Vương hội các tướng bàn kế tiến thủ. Quan thiếu úy là Lê
Chích nói rằng: " Nghệ An là đất hiểm yếu, đất rộng người nhiều, nay ta hãy
vào lấy Trà Long (phủ Tương Dương) rồi hạ thành Nghệ An, để làm chỗ trú
chân đã, nhiên hậu sẽ quay trở ra đánh lấy Đông Đô, như thế thiên hạ có
thể bình được."
Vương cho kế ấy là phải, bèn đem quân về nam, đánh đồn Đa Căng,
tướng nhà Minh là Lương Nhữ Hốt bỏ chạy.
Lấy được đồn Đa Căng rồi, Vương tiến quân vào đánh Trà Long, đi
đến núi Bồ Liệp, ở phủ Quì Châu, gặp bọn Trần Trí, Phương Chính đem binh
đến đánh, Vương bèn tìm chỗ hiểm phục sẳn; khi quân Minh vừa đến, quân
ta đổ ra đánh, chém được tướng nhà Minh là Trần Trung, giết được sĩ tốt
hơn 2.000 người, bắt được hơn 100 con ngựa. Quân Minh bỏ chạy, Vương
đem binh đến vây đánh Trà Long. Quan tri phủ là Cầm Bành chờ cứu binh
mãi không được, phải mở cửa thành ra hàng.
Từ khi Bình Định Vương khởi nghĩa cho đến giờ, đánh với quân nhà
Minh đã nhiều phen, được thua đã trải qua mấy trận, nhưng quan nhà Minh
vẫn lấy làm khinh thường, cho nên không tâu về cho Minh Triều biết. Bấy
giờ Hoàng Phúc về Tàu rồi, vua nhà Minh sai Binh Bộ Thượng Thư là Trần
Hiệp sang thay.
Trần Hiệp thấy Bình Định Vương lấy được châu Trà Long, thanh thế
lừng lẫy, bèn vội vàng làm sớ tâu cho vua nhà Minh biết. Minh Đế mới
xuống chiếu trách mắng bọn Trần Trí, Phương Chí, bắt phải dẹp ngay cho
yên giặc ấy. Bọn Trần Trí sợ hãi đem cả thủy bô, cùng tiến lên đánh Bình
Định Vương.
Vương sai Đinh Liệt đem 1.000 quân đi đuờng tắt ra giữ Đỗ Gia77,
còn Vương thì đem cả tướng sĩ đến ở mạn thượng du đất Khả Lưu ở bắc
ngạn sông Lam Giang (thuộc huyện Lương Sơn), rồi tìm chỗ hiểm yếu phục
binh để đợi quân Minh.
Khi quân Minh đã đến Khả Lưu, Vương bèn sai người ban ngày thì
kéo cờ đánh trống, ban đêm thì bắt đốt lửa để làm nghi binh, rồi cho binh
sang bên kia sông phục sẵn. Sáng hôm sau quân Minh tiến lên bị phục binh
bốn mặt đổ ra đánh, tướng nhà Minh là Chu Kiệt phải bắt, Hoàng Thành phải
chém, còn quân sĩ bỏ chạy cả. Trần Trí phải thu quân về giữ thành Nghệ
An.
Tháng giêng năm ất tị (1425) Vương đem binh về đánh thành Nghệ
An, đi đến làng Đa Lôi ở huyện Thổ Du (bây giờ là huyện Thanh Chương)
dân sự đưa trâu đưa rượu ra đón rước, già trẻ đều nói rằng: không ngờ
ngày nay lại thấy uy nghi nước cũ. Bấy giờ lại có quan tri phủ Ngọc ma (phủ
Trấn Định) là Cầm Quý đem binh mã về giúp.
Vương bèn xuống lệnh rằng: "Dân ta lâu nay đã phải khổ sổ về
chính trị bạo ngược của người Tàu, quân ta đi đến đâu cấm không được xâm
phạm đến chút gì của ai. Những gạo thóc trâu bò mà không phải là của
người nhà Minh thì không được lấy". Đoạn rồi, phân binh đi đánh lấy các
nơi, đi đến đâu các quan châu huyện ra hàng cả, đều tình nguyện đi đánh
thành Nghệ An. Vương bèn đem quân về vây thành; quân Minh hết sức giữ
gìn không dám ra đánh.
Đương khi vây đánh ở Nghệ An, tướng nhà Minh là Lý An ở Đông
Quan đem quân đi dường bể vào cứu. Quân của Trần Trí ở trong thành
cũng đổ ra đánh, Vương nhử quân Minh đến cửa sông Độ Gia, rồi dùng
phục binh đánh tan quân giặc. Trần Trí bỏ chạy về Đông Quan, còn Lý An
vào giữ thành, Vương lại đem quân về vây thành.
11. Vây Thành Tây Đô. Đến tháng năm, Vương sai quan Tư Không
là Đinh Lễ đem binh đi đánh Diễn Châu, Đinh Lễ đi vừa đến nơi, thì gặp
tướng nhà Minh là Trương Hùng đem 300 chiếc thuyền lương ở Đông Quan
mới vào, quân ở trong thành ra tiếp, bị phục binh của Đinh Lễ đánh đuổi.
Bao nhiêu thuyền lương Đinh Lễ cướp lấy được cả, rồi đuổi Trương Hùng ra
đến Tây Đô. Bình Định Vương được tin ấy liền sai Lê Sát và Lưu Nhân Chú
đem binh ra tiếp ứng Đinh Lễ. Đinh Lễ nhân dịp tiến lên vây thành Tây Đô.
12. Lấy Tân Bình và Thuận Hóa. Qua tháng bảy, Vương sai
quan Tư Đồ Trần Nguyên Hãn78, Thượng Tướng Lê Nỗ đem hơn một nghìn
quân vào lấy châu Tân Bình và châu Thuận Hóa. Đi đến Bố Chính thì gặp
tướng nhà Minh là Nhâm Năng, hai bên đánh nhau, quân nhà Minh bị phục
binh đánh chạy tan cả. Bấy giờ lại có đạo thủy quân của Lê Ngân đem hơn
70 chiếc thuyền đi đường bể vào, Trần Nguyên Hãn liền đem cả thủy bộ tiến
lên đánh hạ được hai thành ấy, mộ thêm mấy vạn tinh binh đưa ra đánh mặt
bắc.
Từ đây binh thế của Bình Định Vương một ngaymột mạnh, các
tướng tôn ngài lên làm "Đại Thiên Hành Hóa", nghĩa là thay trời làm mọi
việc.
13. Quân Bình Định Vương Tiến Ra Đông Đô. Năm bính
ngọ (1426) Vương thấy tinh binh của nhà Minh ở cả Nghệ An, ở ngoài Đông
Đô không có bao nhiêu người, bèn sai Lý Triện, Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả,
Đỗ Bí ra đánh Quốc Oai, Quảng Oai, Gia Hưng, Quý Hóa, Đà Giang, Tam Đái
(Bạch Hạc), Tuyên Quang để chặn đường viện binh ở Vân Nam sang. Sau
Lưu Nhân Chú và Bùi Bị ra đánh Thiên Trường, Kiến Xương, Tân Hưng,
Thượng hồng (Bình Giang), Hạ Hồng (Ninh Giang), Bắc Giang, Lạng Giang
để chặn đường viện binh ở Lưỡng Quảng sang. Lại sai Đinh Lễ, Nguyễn Xí
đem binh đi thẳng ra đánh Đông Quan.
Quân của Bình Định Vương đi đến đâu giữ kỷ luật rất nghiêm, không
xâm phạm đến của ai chút gì, cho nên ai ai cũng vui lòng theo phục. Bọn Lý
Triện lấy được Quốc Oai và Tam Đái rồi đem quân về đánh Đông Quan.
Quan tham tướng nhà Minh là Trần Trí đem binh ra đóng ở Ninh
Kiều79 (phía tây phủ Giao Châu) và ở Ứng Thiên (?) để chống giữ; quân Lý
Triện đến đánh, Trần Trí thua chạy về đóng ở phía tây sông Ninh Giang
(khúc trên sông Đáy). Chợt có tin báo rằng có hơn một vạn quân Vân Nam
sang cứu. Lý Triện sợ để hai đạo quân của Minh hợp lại thì khó đánh, bèn
bảo Phạm Văn Xảo đem hơn một nghìn người đi đón chặn đường quân Vân
Nam; còn mình thì cùng với Đỗ Bí đem quân đến đánh Trần Trí. Trần Trí
thua chạy; bọn Lý Triện đuổi đến làng Nhân Mục bắt được tướng nhà Minh
là Vi Lạng, chém được hơn 1.000, rồi lại quay trở về Ninh Giang hợp binh với
Văn Xảo để đánh quân Vân Nam.
Phạm Văn Xảo đến cầu Xa Lộc (?) thì gặp quân Vân Nam sang, đánh
một trận, quân nghịc thua chạy về giữ thành tam giang.
Trần Trí thấy thế ở Đông Quan yếu lắm bèn viết thư vào Nghệ An
gọi Phương Chính đem binh ra cứu, để giữ lấy chỗ căn bản. Phương Chính
được thư bèn sai Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An, rồi đem quân xuống
thuyền đi đường bể ra Đông Quan.
Bình Định Vương nghe tin ấy, liền sai Lê Ngân, Lê Văn An, Lê Bôi, Lê
Thận, Lê Văn Linh ở lại vây thành Nghệ An; Vương tự đem đại quân cả thủy
bộ Phương Chính ra bắc. Ra đến Thanh Hóa, Vương đem binh vào đánh
thành Tây Đô, nhưng quân Minh giữ vững thành trì đánh không được,
Vương đem quân đến đóng ở Lỗi Giang.
14. Trận Tụy Động - Vương Thông Thất Thế. Từ khi Bình
Định Vương ở Lư Sơn vào đánh Nghệ An đến giờ, đánh đâu được đấy, thanh
thế lừng lẫy, quân Minh khiếp sợ, đem tin về cho Minh Triều biết, Minh Đế
liền sai Chinh Di Tướng Quân là Vương Thông và Tham Tướng là Mã Anh
đem 5 vạn quân sang cứu Đông Quan. Trần Trí và Phương Chính thì phải
cách hết cả quan tước bắt phải theo quân đi đánh giặc, còn Trần Hiệp thì cứ
giữ chức Tham Tán Quân Vụ.
Vương Thông sang đến đất Đông Quan hội tất cả quân sĩ lại được
mười vạn, cùng với bọn Trần Hiệp chia làm ba đạo đi đánh Bình Định Vương.
Vương Thông đem quân đến đóng ở bến Cổ Sở (thuộc huyện Thạch
Thất, phủ Quốc Oai, Sơn Tây). Phương Chính đóng ở Sa Thôi (thuộc huyện
Từ Liêm), Mã Kỳ đóng ở Thanh Oai, đồn lũy liên tiếp nhau một dãy dài hơn
mấy mươi dặm.
Bọn Lý Triện, Đỗ Bí ở Ninh Kiều đem quân và voi đến phục ở Cổ
Lãm, rồi cho quân đến đánh nhữ Mã Kỳ. Mã Kỳ đem tất cả quân đuổi đến
cầu Tam La (ở giáp giới huyện Thanh Oai và huyện Từ Liêm), quân phục
binh của Lý Triện đổ ra đánh, quân Minh thua chạy, nhiều người xuống đồng
lầy, chạy không được, bị chém hơn 1.000 người. Lý Triện đuổi quân Minh
đến Nhân Mục, bắt được hơn 500 người. Mã Kỳ một mình một ngựa chạy
thoát được.
Bọn Lý Triện thừa thắng tiến lên đánh đạo quân Phương Chính.
Nhưng Phương Chính thấy Mã Kỳ đã thua cũng rút quân lui, rồi cùng Mã Kỳ
về hội với Phương Thông ở bến Cổ Sở.
Vương Thông liệu tất thế nào quân An Nam cũng đến đánh, bèn
phục binh và phòng bị trước cả. Chợt có quân của Lý Triện đến. Quân Minh
giả ra đánh rồi bỏ chạy, nhử quân ta và chỗ hiểm có chông sắt. Đi đến đấy,
voi xéo phải chông đi không được, rồi lại có phục binh đổ ra đánh, Lý Triện
thua chạy về giữ Cao Bộ (ở vùng Chương Đức, Mỹ Lương) và cho người về
Thanh Đàm (tức là huyện Thanh Trì bây giờ) gọi bọn Đinh Lễ và Nguyễn Xí
đến cứu.
Đinh Lễ và Nguyễn Xí đem 3.000 quân và hai con voi lập tức đêm
hôm ấy đến Cao Bộ, rồi phân binh ra phục sẵn ở Tụy Động (thuộc huyện Mỹ
Lương) và ở Chúc Động (thuộc huyện Chương Đức)80. Chợt bắt được tên
thám tử của quân Minh, tra ra thì biết rằng quân Vương Thông đóng ở Ninh
Kiều, có một đạo quân đi lẻn ra đường sau quân Lý Triện để đánh tập hậu,
đại quân sang đò chỉ chờ lúc nào nghe súng thì hai mặt đổ lại cùng đánh.
Biết mưu ấy rồi, đến canh năm đêm hôm ấy, Đinh Lễ sai người bắn
súng làm hiệu để đánh lừa quân giặc. Quả nhiên quân giặc nghe tiếng súng
đều kéo ùa đến đánh. Bấy giờ phải độ trời mưa, đường lầy, quân Minh vừa
đến Tụy Động thì bị quân ta bốn mặt đổ ra đánh, chém được quan Thượng
Thư là Trần Hiệp, và Nội Quan là Lý Lượng. Còn những quân sĩ nhà Minh thì
chết hại nhiều lắm: phần thì giày xéo lẫn nhau mà chết, phần thì ngã xuống
sông chết đuối, cả thảy đến hơn năm vạn người; còn bị bắt sống hơn một
vạn người, các đồ đạc khí giới thì lấy được không biết bao nhiêu mà kể.
Trận Tụy Động đánh vào tháng mười năm bính ngọ (1426).
Phương Chính và Mã Kỳ chạy thoát được, rồi cùng với Vương Thông về giữ
thành Đông Quan.
Bọn Đinh Lễ thừa thắng đem binh về vây thành và cho người về Lỗi Giang
báo tin thắng trận cho Bình Định Vương biết.
Vương liền tiến binh ra Thanh Đàm, rồi một mặt sai Trần Nguyên Hãn đem
100 chiếc thuyền đi theo sông Lung Giang (?)81 ra cửa Hát Giang (cửa sông
Đáy thông với sông Cái) rồi thuận dòng sông Nhị Hà xuống đóng ở bến Đông
Bộ Đầu ; một mặt sai bọn Bùi Bị đem hơn 1 vạn quân đi lẻn ra đóng ở Tây
Dương Kiều (?), Vương tự dẫn đại quân đến hạ trại ở gần thành Đông Quan.
Quân Minh giữ ở trong thành không ra đánh, bao nhiêu chiến thuyền thì
Vương lấy được cả.
Kể từ ngày Bình Định Vương đem binh vào đánh Nghệ An đến giờ, tuy rằng
đánh đâu được đấy, nhưng chưa có trận nào quan hệ bằng trận Tụy Động
này. Bởi vì việc thắng bại trong 10 phần, đánh xong trận này, thì đã chắc
được 7, 8 phần rồi. Quân thế nhà Minh chỉ còn ở trong mấy thành bị vây
nữa mà thôi, mặt ngoài thì viện binh lại chưa có, mà dẫu cho có sang nữa,
thì thế của Bình Định Vương cũng đã vững lắm rồi.
Nhưng cứ trong Việt Sử thì quân của Lý Triện và Đinh Lễ chẳng qua chỉ có
mấy nghìn người mà thôi, làm thế nào mà phá được hơn 10 vạn quân tinh
binh của Vương Thông ? Vả lại sử chép rằng đánh trận Tụy Động quân An
Nam giết được hơn 5 vạn quân Minh, lại bắt được hơn 1 vạn người, như thế
chẳng hóa ra quân Minh hèn lắm ru! E rằng nhà làm sử có ý thiên vị, cho
nên sự thực không được rõ lắm. Nhưng dẫu thực hư thế nào mặc lòng, đại
khái trận Tụy Động là một trận đánh nhau to, mà Vương Thông thì thua,
phải rút quân về giữ thành Đông Quan rồi bị vây, còn Bình Định Vương thì ra
bắc thu phục các châu huyện. Việc ấy chắc là thật có.
15. Vây Thành Đông Đô. Từ khi Bình Định Vương ra Đông Đô,
những kẻ hào kiệt ở các nơi đều nô nức về theo, xin hết sức đi đánh giặc.
Vương dùng lời úy dụ và lấy cái nghĩa lui tới mà giảng giải cho mọi người
nghe, rồi cứ tùy tài mà thu dùng.
Vương chia đất Đông Đô ra làm bốn đạo, đặt quan văn võ để coi
việc chính trị.
Cứ theo sách "Lịch Triều Hiến Chương Địa Dư Chí" của ông Phan
Huy Chú thì những trấn Tam Giang, Tuyên Quan, Hưng Hóa, Gia Hưng thuộc
về Tây Đạo; những trấn Thượng Hồng, Hạ Hồng, Thượng Sách, Hạ Sách
cùng với lộ An Bang thuộc về Đông Đạo; những trấn Bắc Giang, Thái Nguyên
thuộc về Bắc Đạo; những lộ Khoái Châu, Lý Nhân, Tân Hưng, Kiến Xương,
Thiên Trường thuộc về Nam Đạo.
16. Vương Thông Xin Hòa Lần Thứ Nhất. Vương Thông ở
Đông Quan cứ bị thua mãi, liệu thế đánh không được nữa, muốn bãi binh về
Tàu, nhưng sợ mang tiếng, bèn lục tờ chiếu của vua nhà Minh, niên hiệu
Vĩnh Lạc (1407), nói về việc tìm con cháu họ Trần, rồi cho người ra nói với
Bình Định Vương tìm người dòng dõi họ Trần lập lên, để xin bãi binh.
Vương nghĩ đánh nhau mãi, trong nước tàn hại, dân tình khổ sở, bèn
y theo lời Vương Thông. Nhân lúc bấy giờ có người tên là Hồ Ông trốn ở
Ngọc Ma, xưng là cháu ba đời vua Nghệ Tông, vương bèn cho người đi đón
Hồ Ông về đổi tên là Trần Cao, lập nên làm vua, mà Vương thì xưng làm Vệ
Quốc Công để cầu phong với nhà Minh, cho chóng xong việc.
Vương Thông cho người đưa thư ra xin hòa, và xin cho đem toàn
quân về nước. Bình Định Vương thuận cho, định ngày để Vương Thông gọi
quân ở các nơi về hội tại Đông Đô, rồi về Tàu. Việc đã định như thế, nhưng
mà bấy giờ có mấy người An Nam theo nhà Minh, như những tên Trần
Phong, Lương Nhữ Hốt, sợ rằng quân Minh về thì mình phải giết, bèn lấy
chuyện Ô Mã Nhi ngày trước can Vương Thông đừng rút quân về. Vương
Thông nghe lời, bề ngoài tuy nói hòa, nhưng bề trong sai người đào hào, rắc
chông, rồi cho người đi lẻn đem thư về Tàu cầu cứu.
Bình Định Vương bắt được người đưa thư, giận lắm, không giao
thông với quân Minh nữa, rồi sai Lê Quốc Hưng đánh thành Điêu Diêu
(huyện Gia Lâm, Bắc Ninh) và thành Thị Kiều (tức là Thị Cầu thuộc huyện Võ
Giang, Bắc Ninh); Trịnh Khả và Lê Khuyển đánh thành Tam Giang (tức là
Tam Đái, nay là huyện Bạch Hạc); Lê Sát và Lê Thụ đánh thành Xương
Giang ( tức là Phủ Lạng Thương bây giờ); Trần Lựu, Lê Bôi đánh thành Kỳ
Ôn. Chẳng bao lâu những thành ấy đều lấy được cả.
17. Bình Định Vương Đóng Quân ở Bồ Đề. Tháng giêng
năm đinh mùi (1427), Bình Định Vương tiến quân lên đóng ở chỗ Bồ Đề, ở
phía bắc sông Nhị Hà, rồi sai tướng đánh thành Đông Quan: Trịnh Khả đánh
cửa Đông, Đinh Lễ đánh cửa Nam, Lê Cực đánh cửa Tây, Lý Triện đánh cửa
Bắc.
Quân nhà Minh một ngày một kém, tướng nhà Minh giữ thành Nghệ
An và thành Diễn Châu là bọn Thái Phúc và Tiết Tụ đều ra hàng cả. Bình
Định Vương lại sai Lại Bộ Thượng Thư là ông Nguyễn Trãi, làm hịch đi
khuyên tướng sĩ các nơi về hàng.
Nhưng cũng vì thấy quân Minh đã yếu thế, có ý khinh định cho nên
quân ta mất hai viên đại tướng. Trước thì Lý Triện đóng ở Từ Liêm, không
cẩn thận, bị quân của Phương Chính đến đánh lẻn giết mất; sau Vương
Thông ở Đông Quan đem binh ra đánh Lê Nguyễn ở Tây Phù Liệt (thuộc
huyện Thanh Trì), Vương sai Đinh Lễ và Nguyễn Xí đem 500 quân đi cứu. Đi
đến Mỹ Động (thuộc Hoàng Mai, huyện Thanh Trì) gặp quân Minh, hai bên
đánh nhau. Vương Thông thấy quân Đinh Lễ có ít, bèn vây lại đánh bắt
được Đinh Lễ và Nguyễn Xí. Nguyễn Xí trốn đi được, còn Đinh Lễ bị giết.
18. Bình Định Vương Đặt Pháp Luật Để Trị Quân Dân.
Bình Định Vương cứ một mặt vây đánh thành Đông Quan và các thành khác,
một mặt lo việc cai trị, đặt ra các điều lệ để cho việc binh có kỷ luật và cho
lòng dân được yên.
Trước hết Vương dụ cấm tà đạo: ai mà dùng những phép tà ma giả
dối để đánh lừa người ta thì phải tội. Còn những dân sự bị loạn phải lưu tán
đi chỗ khác cho về nguyên quán, cứ việc làm ăn như cũ.
Những vợ con gia quyến của những người ra làm quan với giặc, thì
được phép theo lệ, lấy tiền mà chuộc82; còn những quân lính nhà Minh đã
hàng thì đưa về Thiên Trường, Kiến Xương, Lý Nhân, Tân Hưng để nuôi
nấng tử tế.
Vương đặt ra ba điều để răn các quan:
1. Không được vô tình.
2. Không được khi mạn.
3. Không được gian dâm
Và lại dụ rằng những quân lính ngày thường có tội không được giết càn, trừ
lúc nào ra trận mà trái quân lệnh thì mới theo phép mà thi hành.
Vương lại đặt ra 10 điều để làm kỷ luật cho các tướng sĩ:
1. Trong quân ồn ào không nghiêm.
2. Không có việc gì mà đặt chuyện ra để làm cho mọi người sợ hãi.
3. Lúc lâm trận nghe trống đánh, thấy cờ phất, mà chùng chình
không tiến.
4. Thấy kéo cờ dừng quân mà không dừng.
5. Nghe tiếng chiêng lùi quân mà không lùi
6. Phòng giữ không cẩn thận, để mất thứ ngũ.
7. Lo riêng việc vợ con, mà bỏ việc quân.
8. Tha binh đinh về để lấy tiền, và làm sổ sách mập mờ.
9. Theo bụng yêu ghét của mình mà làm lòa mất công quả của
người ta.
10. Gian dâm, trộm cắp.
Hễ tướng sĩ ai mà phạm vào 10 điều ấy thì phải tội chém.
Còn quân lính, thì hễ nghe một tiếng súng mà không có tiếng chiêng, thì các
tướng hiệu phải đến dinh nghe lệnh; hễ nghe hai ba tiếng súng và hai ba
tiếng chiêng ấy là có việc cảnh cấp, quan chấp lệnh phải sắp hàng ngũ, còn
quan thiếu úy thì đến dinh mà nghe lệnh; hễ đến lúc lâm trận mà lùi hoặc là
bỏ những người sau không cứu, thì phải tội chém, nhưng gián hoặc đã có ai
không may chết trận mà mình hết sức mang được xác ra thì khỏi tội.
Đại khái kỷ luật ở trong quân của Bình Định Vương như thế, cho nên đi đâu,
dân gian kính phục lắm.
19. Trận Chi Lăng - Liễu Thăng Tử Trận. Từ khi quân Minh
thua trận Tụy Động, Trần Hiệp bị giết, Vương Thông cho người về tâu với
Minh Đế để xin thêm binh. Minh Đế thất kinh, liền sai Chinh Lỗ Phó Tướng
Quân An Viễn Hầu là Liễu Thăng, Tham Tướng Bảo Định Bá là Lương Minh,
Đô Đốc là Thôi Tụ, Binh Bộ Thượng Thư là Lý Khánh, Công Bộ Thượng Thư
là Hoàng Phúc, Hữu Bố Chính Sứ là Nguyễn Đức Huân, đem 10 vạn quân,
hai vạn ngựa, đi đường Quảng Tây sang đánh cửa Ba Lụy, bấy giờ là tháng
chạp năm bính ngọ (1427). Lại sai Chinh Nam Đại Tướng Quân Kiềm Quốc
Công là Mộc Thạnh, Tham Tướng Anh Hưng Bá là Từ Hanh, Tây Ninh Bá là
Đàm Trung đi đường vào Vân Nam sang đánh cửa Lê Hoa.
Khi các tướng nghe viện binh của quân Minh sắp đến, nhiều người
khuyên Vương đánh ngay lấy thành Đông Quan để tuyệt đường nội ứng,
nhưng Vương không nghe, bảo rằng: "Việc đánh thành là hạ sách, nay ta
hãy cứ dưỡng binh súc nhuệu để đợi quân địch đến thì ra đánh. Hễ viện
quân mà thua, thì quân trong thành tất phải ra hàng. Thế có phải làm một
việc mà thành được hai không?" Đoạn rồi bắt phải giữ gìn mọi nơi cho
nghiêm nhặt, lại bắt người ở Lạng Giang, Bắc Giang, Tam Đái, Tuyên Quan,
Quy Hóa đi chỗ khác, bỏ đồng không để tránh quân Minh.
Đến tháng mười (1427) Bình Định Vương nghe tin quân của bọn
Liễu Thăng đã sắp sang đất An Nam, liền hội các tướng lại bàn rằng: "Quân
kia cậy khoẻ khinh yếu, lấy nhiều bắt nạt ít, chỉ cốt đánh cho được, chứ
không tưởng đến điều khác. Nay đường xa nghìn dặm, mà đi có mấy ngày,
nếu ta nhân lúc người ngựa của chúng đang mỏi mệt, ta "dĩ dật đãi lao",
đánh là tất được". Bèn sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Linh, Đinh Liệt, Lê Thụ
đem 1 vạn quân và 5 con voi lên phục sẵn ở cửa Chi Lăng, để đợi quân
Minh. Lại sai Lê Lý, Lê Văn An, đem 3 vạn quân cứ lục tục kéo lên đánh
giặc.
Bấy giờ Trần Lựu đang giữ cửa Ba Lụy (Nam Quan) thấy quân Minh
đến, lui về giữ Ai Lưu; đến khi quân giặc đến đánh Ai Lưu, Trần Lựu lại lùi về
giữ Chi Lăng, cứ cách từng đoạn, chỗ nào cũng có đồn, quân Minh đi đến
đâu không ai dám chống giữ, phá luôn một lúc được những mấy cái đồn.
Liễu Thăng đắc ý đuổi tràn đi. Bình Định Vương lại làm ra bộ khiếp sợ, cho
người đưa thư sang nói với Liễu Thăng xin lập Trần Cao lên làm vua để xin
bãi binh. Liễu Thăng tiếp thư không mở ra xem cho người đưa về Bắc Kinh,
rồi cứ tiến lên đánh.
Ngày 18 tháng 9, quân Liễu Thăng đến gần cửa Chi Lăng. Lê Sát sai
Trần Lựu ra đánh rồi bỏ chạy. Liễu Thăng mừng lắm, chỉ đem 100 lính kị
đuổi theo, bỏ đại đội ở lại sau. Đuổi được một đoạn, phải chỗ bùn lầy đi
không được, phục binh ta đổ ra đánh, chém Liễu Thăng ở núi Đảo Mã Pha
(bây giờ là Mã Yên Sơn, ở làng Mai Sao, thuộc Ôn Châu). Việc ấy vào ngày
20 tháng 9 năm đinh mùi.
Bọn Lê Sát, Trần Lựu thừa thắng đuổi đánh quân Minh giết hơn 1
vạn người. Lúc bấy giờ đạo quân của Lê Lý cũng vừa đến, hội lại tiến lên
đánh quân Minh, chém được Lương Minh ở giữa trận (ngày 25). Lý Khánh
thì tự tử (ngày 28). Còn bọn Hoàng Phúc và Thôi Tụ đem bại binh chạy về
thành Xương Giang (thành của nhà Minh xây ở xã Thọ Xương, phủ Lạng
Giang), đi đến nữa đường bị quân của Lê Sát đuổi đến đánh phá một trận;
Thôi Tụ cố đánh lấy đường chạy về Xương Giang, không ngờ thành ấy đã bị
bọn Trần Nguyên Hãn lấy mất rồi, quân Minh sợ hãi quá bèn lập trại đắp lũy
ở giữa đồng để chống giữ.
Bình Định Vương sai quân thủy bộ vây đánh, sai Trần Nguyên Hãn
chặn đường tải lương của quân Minh, lại sai Phạm Vấn, Lê Khôi, Nguyễn Xí
đem quân thiết đội vào đánh chém quân Minh được hơn 5 vạn, bắt sống
được Hoàng Phúc, Thôi Tụ và 3 vạn quân. Thôi Tụ không chịu hàng phải
giết.
Bấy giờ Mộc Thạnh với bọn Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả đang giữ
nhau ở cửa Lê Hoa. Trước Vương cũng đã liệu rằng Mộc Thạnh là người lão
luyện tất chờ xem quân Liễu Thăng thắng bại thế nào rồi mới tiến, bèn sai
đưa thư dặn bọn Văn Xảo cứ giữ vững chứ đừng ra đánh. Đến khi quân Liễu
Thăng thua rồi, Vương cho những tên tì tướng đã bắt được, đem những giấy
má ấn tín lên cho Mộc Thạnh biết.
Mộc Thạnh được tin ấy, sợ quá, đem quân chạy, bị quân Trịnh Khả
đuổi theo chém được hơn 1 vạn người và bắt được cả người lẫn ngựa mỗi
thứ hơn một nghìn.
20. Vương Thông Xin Hòa Lần Thứ Hai. Bình Định Vương sai
đưa bọn Hoàng Phúc và hai cái hổ phù, hai dấu đài ngân của quan Chinh Lỗ
Phó Tướng Quân về Đông Quan cho Vương Thông biết.
Vương Thông biết rằng viện binh sang đã bị thua rồi, sợ hãi quá,
viết thư xin hòa. Vương thuận cho, rồi cùng với Vương Thông lập đàn thề ở
phía nam thành Đông Quan, hẹn đến tháng chạp thì đem quân về Tàu.
21. Trần Cao Dâng Biểu Xin Phong. Bình Định Vương đã hòa
với Vương Thông rồi, quân Minh ở Tây Đô và ở các nơi đều giải binh cả.
Vương sai Lê Thiếu Dĩnh, Lê Quang Cảnh và Lê Đức Huy đem tờ biểu và
phương vật sang sứ nhà Minh.
Những đồ phương vật là:
1. Hai người bằng vàng để thay mình.
2. Một lư hương bằng bạc.
3. Một đôi bình hoa bằng bạc
4. Ba mươi tấm lượt.
5. Mười bốn đôi ngà voi.
6. Mười hai bình hương trầm.
7. Hai vạn nén hương duyến.
8. Hai mươi bố cây hương trầm.
Và lại đem hai cái dấu đài ngân, đôi hổ phù của Chính Lỗ Phó Tướng Quân
cùng với sổ kê những người quan quân nhân mã đã bị bắt đem trả lại Minh
Triều.
Còn tờ biểu thì đứng tên Trần Cao, đại lược như sau này:
"Khi vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế mới lên ngôi, tổ tiên tôi là Nhật Khuê vào
triều cống trước nhất, bấy giờ ngài có ban thưởng, phong cho tước Vương.
Từ đó nhà tôi vẫn nối đời giữ bờ cõi, không bỏ thiếu lễ triều cống bao giờ.
Mới rồi nhân họ Hồ thoán nghịch, vua Thái Tông Văn Hoàng Đế quân sang
hỏi tội. Sau khi đã dẹp yên rồi, ngài có hạ chiếu tìm con cháu họ Trần để
giữ lấy dòng dõi cúng tế. Bấy giờ quan tổng binh Trương Phụ tìm chưa được
khắp, đã xin đặt làm quận huyện.
Nguyên tôi lúc trước vì trong nước có loạn, chạy trốn vào xứ Lão Qua, cũng
là muốn để tìm chốn yên thân mà thôi, không ngờ người trong nước, vẫn
quen thói mọi, nhớ đến ân trạch nhà tôi thuở trước, lại cố ý ép tôi phải về,
bất đắc dĩ tôi cũng phải theo.
Dẫu rằng trong khi vội vàng, bị người trong nước cố ép, nhưng cũng là cái
tội tôi không biết liệu xử. Mới đây tôi đã có xin lỗi trước hàng quân, nhưng
không ai chịu nghe, bấy giờ người nước tôi sợ phải tai vạ, liền đem nhau ra
phòng bị các cửa ải, cũng là một kế giữ mình.
Ngờ đâu quan quân xa xôi mới đến thấy voi sợ hãi, tức khắc vỡ tan. Việc đã
xảy ra như vậy, dẫu bởi sự bất đắc dĩ của người trong nước cũng là lỗi của
tôi. Nhưng bao nhiêu những quân và ngựa bắt được đều phải thu dưỡng tử
tế, không dám xâm phạm một tí gì.
Dám xin hoàng thượng ngày nay lại theo như lời chiếu của vua Thái Tông
Văn Hoàng Đế, tìm lấy con cháu họ Trần, nghĩ đến cái lòng thành vào triều
cống trước nhất của tổ tiên tôi ngày xưa, mà xá cái tội to như gò núi ấy,
không bắt phải cái phạt nặng bằng búa rìu, khiến cho tôi được nối nghiệp ở
xứ nam, để giữ chức triều cống.
Tôi đã sai người thân tín mang tờ biểu tạ và đưa trả những ấn tín nhân mã
tới chốn kinh sư, nay lại xin đệ tâu những danh số ấy"
Vua nhà Minh bấy giờ là Tuyên Tông xem biểu biết rằng giả dối,
nhưng cũng muốn nhân dịp ấy để thôi việc binh, bèn đưa tờ biểu cho quần
thần xem, mọi người đều xin hòa. Minh Đế sai quan Lễ Bộ Thị Lang là Lý Kỳ
đưa chiếu sang phong cho Trần Cao làm An Nam Quốc Vương, bỏ tòa Bố
Chính và triệt quân về Tàu.
Đến tháng chạp năm đinh mùi, Vương Thông theo lời ước với Bình
Định Vương, đem bộ binh qua sông Nhị Hà, còn thủy quân theo sau.
Bấy giờ có người xui Vương rằng: lúc trước người Minh tàn ác lắm,
nên đem giết cả đi. Vương nói rằng: " Phục thù báo oán là cái thường tình
của mọi người, nhưng cái bản tâm người có nhân không muốn giết người
bao giờ. Vả người ta đã hàng mà lại còn giết thì không hay. Nếu mình
muốn thỏa cơn giận một lúc, mà chịu cái tiếng muôn đời giết kẻ hàng, thì
sao bằng để cho muôn vạn con người sống mà khỏi được cái mối tranh chiến
về đời sau, lại để tiếng thơm lưu truyền thiên cổ trong sử xanh".
Vương không giết người Minh lại cấp cho thủy quân 500 chiếc
thuyền giao cho Phương Chính và Mã Kỳ quản lĩnh; cấp lương thảo cho lục
quân giao cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc quản lĩnh; còn 2 vạn người đã ra hàng
và đã bị bắt thì giao cho Mã Anh quản lĩnh đem về Tàu. Vương Thông thì
lĩnh bộ binh đi sau. Bình Định Vương tiễn biệt rất hậu.
Giặc Minh lục tục về bắc, bấy giờ mới thật là: Nam Quốc Sơn Hà,
Nam Đế Cư; nước Nam lại được tự chủ như cũ.
23. Tờ Bình Ngô Đại Cáo. Bình Định Vương dẹp xong giặc Minh
rồi, sai ông Nguyễn Trãi làm tờ bá cáo cho thiên hạ biết.
Tờ Bình Ngô Đại Cáo này làm bằng Hán Văn, là một bản văn chương
rất có giá trị trong đời Lê. Nay theo nguyên văn ở trong tập Hoàng Việt Văn
Tuyển mà chép ra như sau này:

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 1 phút và 39 giây -----

Bình Ngô Đại Cáo
Tượng mảng:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo. Như
nước Việt từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia,
phong tục bắc nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, gây nền độc lập; cùng
Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc
khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có.
Vậy nên:
Lưu Cung sợ uy mất vía, Triệu Tiết nghe tiếng giật mình. Cửa Hàm
Tử giết tươi Toa Đô, sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã. Xét xem cổ tích, đã có
minh trưng83.
Vừa rồi:
Vì họ Hồ chính sự phiền hà, để trong nước nhân dân oán bạn. Quân
cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược84, bọn gian tà còn bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Chước dối đủ muôn nghìn khóe, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân
nghĩa, nát cả càn khôn, nặng khoa liễm85 vét không sơn trạch. Nào lên rừng
đào mỏ, nào xuống bể mò châu, nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả.
Tàn hại cả côn trùng thảo mộc; nheo nhóc thay quan quả điên liên86. Kẻ há
miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp
đất, chân tay nào phục dịch cho vừa. Nặng nề về những nỗi phu phen, bắt
bớ mất cả nghề canh cửi. Độc ác thay ! trúc rừng không ghi hết tội; dơ bẩn
thay ! nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho, ai bảo thần
nhân nhịn được.
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa, chốn hoang dã nương mình. Ngắm non
sông căm nỗi thế thù, thề sống chết cùng quân nghịch tặc. Đau lòng nhức
óc, chốc là mười mấy nắng mưa; nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh; ngẫm trước đến nay, lẽ
hưng phế đắn đo càng kỹ. Những trằn trọc trong cơn mộng mị, chỉ băn
khoăn một nỗi đồ hồi. Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, chính lúc quân thù đang
mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu. Việc bôn tẩu
thiếu kẻ đỡ đần, nơi duy ác hiếm người bàn bạc. Đôi phen vùng vẫy, vẫn
đăm đăm con mắt dục đông87; mấy thủa đợi chờ, luống đằng đẵng cỗ xe hư
tả88. Thế mà trông người, người càng vắng ngắt, vẫn mịt mờ như kẻ vọng
dương89. thế mà tự ta, ta phải lo toan, thêm vội vã như khi chửng nịch90.
Phần thì giận hung đồ ngang dọc, phần thì lo quốc bộ khó khăn. Khi Linh
Sơn lương hết mấy tuần; khi Khôi huyện quân không một lữ. Có lẽ trời
muốn trao cho gánh nặng, bắt trải qua bách chiết thiên ma; cho nên ta cố
gắng gan bền, chấp hết cả nhất sinh thập tử. Múa đầu gậy, ngọn cờ phất
phới, ngóng vân nghê bốn cõi đan hồ. Mở tiệc quân, chén rượu ngọt ngào,
khắp tướng sĩ một lòng phụ tử. Thế giặc mạnh, ta yếu mà ta địch nổi; quân
giặc nhiều, ta ít mà ta được luôn.
Dọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang sét dậy, miền Trà Lân trúc phá tro baỵ Sĩ khí đã
hăng, quân thanh càng mạnh. Trần Trí, Sơn Thọ mất vía chạy tan; Phương
Chính, Lý An tìm đường trốn tránh. Đánh Tây Kinh phá tan thế giặc, lấy
Đông Đô thu lại cõi xưa. Dưới Ninh Kiều máu chảy thành sông; bến Tụy
Động xác đầy ngoại nội. Trần Hiệp đã thiệt mạng. Lý Lương lại phơi thây.
Vương Thông hết cấp lo lường, Mã Anh không đường cứu đỡ. Nó đã trí
cùng lực kiệt, bó tay không biết tính sao; ta đây mưu phạt tâm công, chẳng
đánh mà người chịu khuất. Tưởng nó phải thay lòng đổi dạ, hiểu lẽ tới lui;
ngờ đâu còn kiếm kế tìm phương, gây mầm tội nghiệt. Cậy mình là phải, chỉ
quen đổ vạ cho người; tham công một thời, chẳng bỏ bày trò dơ duốc. Đến
nỗi đứa trẻ ranh như Tuyên Đức91, nhàm võ không thôi; lại sai đồ nhút nhát
như Thạnh, Thăng, đem dầu chữa cháy. Năm đinh mùi tháng chín, Liễu
Thăng từ Khâu Ôn tiếng san; lại năm nay tháng mười, Mộc Thạnh tự Vân
Nam kéo đến. Ta đã điều binh giữ hiểm để ngăn lối Bắc quân; ta lại sai
tướng chẹn ngang để tuyệt đường lương đạo. Mười tám, Liễu Thăng thua ở
Chi Lăng, hai mươi, Liễu Thăng chết ở Mã Yên. Hai mươi lăm, Lương Minh
trận vong; hai mươi tám, Lý Khánh tự vẫn. Lưỡi dao ta đang sắc, ngọn giáo
giặc phải lùi. Lại thêm quân bốn mặt vây thành, hẹn đến rằm tháng mười
diệt tặc. Sĩ tốt ra oai tì hổ, thần thứ đủ mặt trảo nha. Gươm mài đá, đá núi
cũng mòn; voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận sạch không
kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông. Cơn gió to trút sạch lá khô, tổ
kiến hổng sụt toang đê cũ. Thôi Tụ phải quì mà xin lỗi, Hoàng Phúc tự trói
để ra hàng. Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường, Xương Giang, Bình
Than máu trôi đỏ nước. Gớm ghê thay ! sắc phong vân cũng đổi; thảm đạm
thay ! sáng nhật nguyệt phải mờ. Binh Vân Nam nghẽn ở Lê Hoa, sợ mà
mất mật; quân Mộc Thạnh tan chưn Cần Trạm, chạy để thoát thân. Suối
máu Lãnh Câu, nước sông rền rĩ; thành xương Đan Xá, cỏ nội đầm đìa. Hai
mặt cứu binh, cắm đầu trốn chạy; các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đầu.
Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tôi; thể lòng trời bất sát, ta
cũng mở đường hiếu sinh. Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc
thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực. Vương Thông, Mã Anh, phát cho
vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ
lòng thú phục; ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi.
Thế mới là mưu kế thật khôn, vả lại suốt xưa nay chưa có. Giang
san từ đây mở mặt, xã tắc từ đầy vững nền. Nhật nguyệt hối mà lại minh,
càn khôn bĩ mà lại thái. Nền vạn thế xây nên chăn chắn, thẹn nghìn thu rửa
sạch làu làu. Thế là nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng che chở, giúp đỡ cho
nước ta vậy.
Than ôi !
Vẫy vùng một mảng nhung y nên công đại định, phẳng lặng bốn bề
thái vũ mở hội vĩnh thanh. Bá cáo xa gần, ngỏ cùng cho biết

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 9 phút và 50 giây -----

CHƯƠNG XV
NHÀ LÊ
(1428-1788)
Thời-Kỳ Thống-Nhất (1428-1527)
I. Lê Thái Tổ ( 1428 - 1433 )
Niên-hiệu: Thuận Thiên
1. Bình Định Vương Lên Ngôi Tôn. Bình-định-vương là
Lê Lợi có công dẹp giặc Minh, đem lại giang-sơn cho nước nhà. Nhưng vì
trước phải lấy cớ lập con cháu nhà Trần để cầu hòa với nhà Minh, cho nên
phải tôn Trần Cao lên làm vua. Nay việc chiến-tranh đã xong, lòng người
theo về Bình-định-vương, mà Trần Cao cũng biết chừng không ai để cho
mình ở yên, bèn trốn vào châu Ngọc-Ma (thuộc phủ Trấn-ninh) nhưng bị
quan quân đuổi bắt được, đem về bắt phải uống thuốc độc mà chết.
Trần Cao chết rồi, Bình-định-vương lên ngôi tức là vua Thái-tổ nhà
Lê, đặt quốc-hiệu là Đại-Việt. Năm ấy là năm mậu-thân, lịch Tây là năm
1428.
Vua Thái-tổ sai sứ sang cầu phong bên Tàu, nhưng mà nhà Minh
không chịu, bắt phải tìm con cháu nhà Trần để lập lên làm vua. Sứ nhà
Minh đi về hai ba lần, sau vua Thái-tổ bắt các quan viên và phụ lão trong
nước làm tờ khai rằng con cháu nhà Trần thật không còn ai nữa, và xin
phong cho ngài là Lê Lợi làm vua nước Nam. Vua nhà Minh thấy vậy mới
thuận phong vương cho ngài.
Từ đấy lệ cứ 3 năm phải sang cống nhà Minh một lần, mà lần nào
cũng phải đúc hai người bằng vàng gọi là: "đại thân kim nhân". Có lẽ là lúc
đánh trận Chi-lăng có giết mất tướng nhà Minh là Liễu Thăng và Lương
Minh, cho nên phải đúc hai người bằng vàng thế mạng.
Việc cầu phong và việc chịu cống nước Tàu là việc thế bất-đắc-dĩ, vì
rằng nước ta đối với nước Tàu thì lớn nhỏ khác nhau nhiều lắm; vả lại nước
ta một mình lẻ-loi ở phía nam không có vây-cánh nào cả, như vậy, nếu mà
cứ kháng-cự, không chịu kém một tí, thì không bao giờ yên được. Mà dẫu
bề ngoài mình chịu kém nước Tàu, nhưng kỳ thực bề trong vẫn tự chủ, chứ
người Tàu không xâm-phạm gì đến việc nước mình. Thế cũng là một sự
giao-thiệp khôn-khéo, làm cho nước được yên-trị.
Vua Thái-tổ lên ngôi rồi, phong thưởng cho các công-thần: bên văn
thì ông Nguyễn Trãi đứng đầu, bên võ thì ông Lê Vấn đứng đầu, cả thảy là
227 người đều được quốc-tính cả. Ngài lại phong cho ông Nguyễn Trãi là
Quan-phục-hầu, ông Trần nguyên Hãn là Tả-tướng-quốc, ông Phạm văn Xảo
làm Thái-úy.
Những người công-thần vào bậc thứ nhất thì được thưởng tước là
Thượng-trí-tự, bậc thứ nhì thì được tước là Đại-trí-tự, bậc thứ ba thì được
tước là Trí-tự.
Vua Thái-tổ làm vua được 6 năm thì mất, thọ được 49 tuổi.
II. Lê Thái Tông ( 1434 - 1442 )
Niên-hiệu: Thiệu Bình ( 1434 - 1442 )
Đại Bảo ( 1440 - 1442 )
Khi vua Thái-tông lên làm vua thì ngài mới có 11 tuổi, cho nên côngviệc
gì cũng ở quan Phụ-chính là Lê Sát quyết định hết cả.
Lê Sát là một người ít học nhưng vì trước theo vua Thái-tổ lập được
công to, quan làm đến Đại-tư-đồ. Nay làm Phụ-chính, thường hay cậy
quyền, trái phép, làm nhiều điều kiêu-hãnh, hễ triều-thần ai là người không
tòng-phục thì tìm cách làm hại.
Vua Thái-tông tuy còn trẻ tuổi nhưng vốn có tính thông-minh, làm
vua được ít lâu thì ra thân chính lấy, rồi giết Lê Sát đi để thu lấy quyền.
Song cũng vì ít tuổi mà lại không có người phù-tá, cho nên sau thành sayđắm
tửu sắc làm lắm điều không được chính-đính.
Vua Thái-tông làm vua được 9 năm, thọ được 20 tuổi.
III. Lê Nhân Tông ( 1443 - 1459 )
Niên-hiệu: Đại Hòa ( 1443 - 1453)
Diên Ninh ( 1454 - 1459 )
Khi vua Thái-tông mất, thái-tử là Băng Cơ mới lên 2 tuổi. Các quan đại-thần
là bọn Lê Khả, Nguyễn Xí, lập thái-tử lên làm vua, tức là Nhân-tông, để bà
Hoàng-thái-hậu ra nhiếp chính.
Trong mấy năm bà thái-hậu cầm quyền, thì có mấy việc quan-trọng
như là đặt ra 14 điều hộ-luật về việc tư-điền; đổi cách thi để lấy người làm
lại, bỏ thi ám-tả và thi kinh-nghĩa, chỉ thi viết và thi tính mà thôi. Lại đào
sông Bình-lỗ94 ở tỉnh Thái-Nguyên để cho tiện đường vận-tải.
Nhân-tông trị-vì được 17 năm, thọ 19 tuổi.
IV. Lê Thánh Tông ( 1460 - 1497 )
Niên-hiệu: Quang Thuận ( 1460 - 1469)
Hồng Đức ( 1470 - 1497 )
Nghi Dân cướp ngôi vua được 8 tháng, nhưng vì tính hay nghe lời
dua-nịnh, chém giết kẻ cựu thần, cho nên lòng người không ai phục, đến
tháng sáu năm canh-thìn (1460) các quan đại-thần là bọn Nguyễn Xí, Đinh
Liệt mưu chém Phạm Đồn và Phan Ban ở giữa nghị-sự-đường, rồi đóng cữa
thành lại vào bắt Nghi Dân giết đi, rước con thứ tư vua Thái-tông là Bìnhnguyên-
vương Tư-Thành lên làm vua, tức là vua Thánh-tông.
Thánh-tông là một ông vua thông-minh, thờ mẹ rất có hiếu, ở với bề
tôi đãi lấy lòng thành. Ngài trị-vì được 38 năm, sửa-sang được nhiều việc
chính-trị, mở-mang sự học hành, chỉnh-đốn các việc vũ-bị, đánh dẹp nước
Chiêm, nước Lào, mở thêm bờ-cõi, khiến cho nước Nam ta bấy giờ đuợc vănminh
thêm ra và lại lừng-lẫy một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ
cường-thịnh như vậy.
Thánh-tông lên ngôi rồi phong tước và cấp ruộng quan điền cho các
công-thần. Ngài lại truy-tặng những người công-thần bị giết oan ngày trước,
và cho tìm con cháu ông Nguyễn Trãi về, cấp cho 100 mẫu ruộng để phụngthờ
tổ-tiên.
Những người mà được quốc-tính, nay ngài cho phục tính lại để cho
khỏi mất tên họ.
Thánh-tông làm vua được 38 năm thọ được 56 tuổi.
V. Lê Hiến Tông ( 1497 - 1504 )
Niên-hiệu: Cảnh Thống
Thái-tử là Tăng lên nối ngôi làm vua, tức là vua Hiến-tông.
Ngài là một ông vua thông-minh hòa-hậu. Thường khi bãi triều rồi,
ngài ra ngồi nói chuyện với các quan, hễ ai có điều gì trái phải, ngài lấy lời
êm-ái mà nhủ-bảo, chứ không gắt mắng bao giờ. Ngài vẫn hay nói rằng :
"Vua Thái-tổ đã gây-dựng cơ-đồ, vua Thánh-tông đã sửa-sang mọi việc, ta
nay chỉ nên lo gìn-giữ nếp cũ, và mở-mang sự nhân-chính ra cho sáng rõ
công-đức của ông cha trước."
Ngài theo cái chủ-ý ấy mà trị dân, cho nên trong mấy năm ngài làm
vua không có giặc-giã gì, mà những việc chính-trị đều theo như đời Hồngđức,
chứ không thay-đổi gì cả. Nhất là về việc cày ruộng trồng dâu, ngài lưu
tâm khuyên-nhủ quan dân, khiến mọi người phải hết sức giữ-gìn, bắt đào
sông, khai ngòi, đắp đường, làm xe nước, để cho tiện việc vệ nông. Việc
văn-học cũng vậy, không bao giờ ngài để trể-nải. Nhưng ngài trị-vì được có
7 năm thì mất, thọ được 44 tuổi.
VI. Lê Túc Tông ( 1504 ) và
Lê Uy Mục ( 1505 - 1509 )
Niên-hiệu: Thái Trinh và Đoan Khánh
Hiến-tông mất, truyền ngôi lại cho người con thứ ba tên là Thuần,
tức là vua Túc-tông.
Túc-tông làm vua được 6 tháng thì mất. Triều-đình tôn người anh
thứ hai của ngài là Tuấn lên làm vua, tức là vua Uy-mục.
Từ vua Uy-mục trở đi thì cơ-nghiệp nhà Lê mỗi ngày một suy dần, vì
rằng từ đó về sau không có ông vua nào làm được việc nhân-chính, và lại
thường hay say-đắm tửu sắc, làm những điều tàn-ác, cho nên thành ra sự
giặc-giã, thoán-doạt, đến nỗi về sau dẫu có trung-hưng lên được, nhưng
quyền chính-trị vẫn về tay kẻ cường-thần.
Vua Uy-mục mới lên làm vua thì giết tổ-mẫu là bà Thái-hoàng Tháihậu,
giết quan Lễ-bộ Thượng-thư là ông Đàm văn Lễ và quan Đô-ngự-sử là
ông Nguyễn quang Bật, vì lẽ rằng khi vua Hiến-tông mất, bà Thái-hậu và hai
ông ấy có ý không chịu lập ngài.
Đã làm điều bạo-ngược, lại say đắm tửu-sắc; đêm nào cũng cùng
với cung-nhân uống rượu, rồi đến khi say thì giết đi. Có khi bắt quân sĩ lấy
gậy đánh nhau để làm trò chơi. Tính đã hung-ác, mà lại hay phản-trắc. Cho
nên sứ Tàu sang làm thơ gọi Uy-mục là Quỉ-vương.
Bấy giờ Uy-mục lại hay tin dùng mấy kẻ ngoại-thích và tìm những
người có sức mạnh để làm túc-vệ. Bởi thế cho nên Mạc đăng Dung là người
đánh cá vào thi đỗ đô-lực-sĩ, được làm chức Đô-chỉ-huy-sứ. Còn những tônthất
và công-thần thì bị đánh-đuổi, dân sự thì bị hà-hiếp, lòng người ta-oán,
thiên-hạ mất cả trông-cậy, triều-thần có nhiều người bỏ quan trốn đi.
Tháng chạp năm kỷ-tị (1509) có Giản-tu-công tên là Oanh cháu vua
Thánh-tông, là anh em con chú con bác với ngài, bị bắt giam. Ông đút tiền
cho người canh ngục mới được ra, trốn về Tây-đô, rồi hội với các quan cựuthần
đem binh ra đánh bắt vua Uy-mục và Hoàng-hậu Trần-thị giết đi.
VII. Lê Tương Dực ( 1510 - 1516 )
Niên-hiệu: Hồng Thuận
Giản-tu-công giết vua Uy-mục rồi tự lập làm vua, tức là vua Tươngdực.
Vua Tương-dực tính hay chơi-bời và xa-xỉ, như là sai người thợ tên
là Vũ như Tô làm cái điện 100 nóc, xây cái Cửu-trùng-đài, bắt quân dân làm
trong mấy năm trời không xong, mà thật là hao-tổn tiền-của, chết hại nhiều
người. Rồi lại đóng chiến-thuyền bắt đàn-bà chèo chơi ở hồ Tây. Lại tưthông
cả với những cung-nhân đời tiền triều. Vì hoang dâm như thế cho nên
sứ nhà Minh sang trông thấy ngài, bảo rằng ngài là tướng lợn, sự loạn-vong
chắc là sắp tới vậy.
Ngài trị-vì được 8 năm, thọ được 24 tuổi.
VIII. Lê Chiêu Tông và
Lê Cung Hoàng ( 1516 - 1527 )
Niên-hiệu: Quang Thiệu ( 1516 - 1526 )
Thống Nguyên ( 1527 )
Bọn Trịnh duy Sản giết vua Tương-dực rồi, hội triều-đình lại định lập
con Mục-ý-vương là Quang Trị, mới có 8 tuổi, nhưng Võ-tá-hầu là Phùng Mại
bàn nên lập cháu ba đời vua Thánh-tông là con Cẩm-giang-vương tên là Y,
đã 14 tuổi. Đảng Trịnh duy Sản bắt Phùng Mại chém ngay ở chỗ nghị-sự, rồi
lập Quang Trị. Quang Trị mới làm vua được ba ngày, chưa kịp đổi niên-hiệu
thì bị Trịnh duy Đại là anh Trịnh duy Sản đem vào Tây-kinh. Quang Trị vào
đấy được mấy ngày lại bị giết.
Lúc trong triều còn đang rối loạn, chưa biết ai là vua thì Nguyễn
hoằng Dụ ở bến Bồ-đề được tin Trịnh duy Sản đã giết vua Tương-dực, bèn
đem quân về đốt phá Kinh-thành và bắt Vũ như Tô, là người đốc việc làm
đền-đài cho vua Tương-dực, đem chém ở ngoài thành.
Bọn Trịnh duy Sản lại lập con Cẩm-giang-vương là Y lên làm vua, tức
là vua Chiêu-tông.
Nhưng bây giờ Kinh-thành đã bị tàn-phá rồi, Trịnh duy Sản phải rước
vua vào Tây-kinh.
Nhà Lê, kể từ vua Thái-tổ cho đến vua Cung-hoàng vừa một trăm
năm (1428-1527), được 10 ông vua. Nhưng trong bấy nhiêu ông, trừ vua
Thái-tổ ra, thì chỉ có vua Thánh-tông và vua Hiến-tông là đã lớn tuổi mới lên
ngôi, còn thì ông nào lên làm vua cũng còn trẻ tuổi cả. Vì thế cho nên việc
triều-chính mỗi ngày một suy-kém, lại có những ông vua hoang-dâm, làm
lắm điều tàn-bạo để đến nổi trong nước xảy ra nhiều sự biến loạn.
Vậy vận nhà Lê phải lúc trung-suy, nhưng công-đức vua Thái-tổ và
vua Thánh-tông làm cho lòng người không quên nhà Lê, cho nên dầu nhà
Mạc có cướp ngôi cũng không được lâu bền, và về sau họ Trịnh tuy có
chuyên-quyền nhưng cũng chỉ giữ ngôi chúa, chứ không dám cướp ngôi vua.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 30 phút và 12 giây -----

PHẦN IV
Tự Chủ Thời-Đại
Thời Kỳ Nam Bắc Phân Tranh
( 1528 - 1802 )
NHÀ HẬU LÊ
Thời-kỳ phân tranh
(1533-1788)
CHƯƠNG I
Lịch Triều Lược Kỷ

Nước Nam ta từ khi Ngô Vương Quyền đánh đuổi được quân Nam-
Hán, vua Đinh Tiên-hoàng dẹp yên được loạn Thập-nhị Sứ-quân lập thành
một nước tự-chủ, đời nọ qua đời kia kế truyền được non 600 năm. Đến đầu
thập-lục thế-kỷ, bởi vì vua nhà Lê hoang dâm vô độ, bỏ việc chính-trị đổ-nát,
cho nên trong nước loạn-lạc, nhà Mạc nhân dịp mà làm sự thoán-đoạt. Nhà
Lê tuy đã mất ngôi, nhưng lòng người còn tưởng nhớ đến công-đức của vua
Thái-tổ và vua Thánh-tông, cho nên lại theo phò con cháu nhà Lê trunghưng
lên ở phía nam, lập ra một Triều-đình riêng ở vùng Thanh-hóa, nghệ-
an để chống nhau với nhà Mạc. Ấy là thành ra Nam-triều và Bắc-triều; hai
bên đánh nhau trong năm sáu mươi năm trời.
Đến khi nhà Lê nhờ có họ Trịnh giúp rập, dứt được nhà Mạc, tưởng
là giang-sơn lại thống-nhất như cũ, ai ngờ họ Trịnh và họ Nguyễn lại sinh ra
lòng ghen-ghét, gây nên mối thù-oán, rồi mỗi họ hùng-cứ một phương, chia
nước ra làm hai mảnh: họ Nguyễn giữ xứ Nam, họ Trịnh giữ xứ Bắc, mỗi họ
chiếm-giữ một Xứ để làm cơ-nghiệp riêng của mình. Từ đó giang-sơn chia
rẽ, Nam Bắc phân tranh, ấy là một thời-đại riêng trong lịch-sử nước ta vậy.
Nhà Hậu-Lê từ khi trung-hưng lên, con-cháu vẫn giữ ngôi làm vua,
nhưng quyền chính-trị ở cả họ Trịnh. Còn ở phía nam thì từ sông Linh-giang
trở vào là cơ-nghiệp của họ Nguyễn. Tuy vậy, hai họ chỉ xưng chúa, chứ
không xưng vua, và bề ngoài vẫn tôn-phù nhà Lê. Sau này ta hãy chép tóm
cả các đời vua và các đời chúa để cho rõ sự kế truyền. Còn những công-việc
về thời bấy giờ thì ta sẽ bàn riêng rẽ từng mục cho rõ-ràng.
CHƯƠNG II
NAM-TRIỀU BẮC-TRIỀU
(1527-1592)
1. Chính-Trị Nhà Mạc. Năm đinh-hợi (1527) Mạc đăng Dung cướp
ngôi nhà Lê lên làm vua, đặt niên-hiệu là Minh-đức.
Nhà Mạc tuy đã làm vua, nhưng còn sợ lòng người nhớ nhà Lê, cho
nên công-việc gì cũng theo phép nhà Lê cả, rồi lại tặng phong cho những
người vì nhà Lê mà tuẩn-tiết, và lục dụng những con-cháu các quan cựu
thần, phong cho quan-tước để dụ về với mình. Nhưng mà kẻ thì trốn-tránh
vào ở chỗ sơn-lâm, kẻ thì đi ra ngoại-quốc, kẻ thì đổi họ tên, không mấy
người chịu phục. Lại có kẻ tức-giận vì họ Mạc làm điều gian-ác, tụ họp
những người nghĩa-khí nổi lên đánh phá, như Lê công Uyên, Nguyễn Ngã,
Nguyễn thọ Trường, khởi-nghĩa ở đất Thanh-hóa, nhưng vì thế-lực không
đủ, cho nên phải thua. Sau lại có Lê Ý nổi lên đánh họ Mạc ở đất Mã-giang,
mấy phen đã được thắng trận, nhưng cũng vì khinh địch cho nên đến nỗi
phải bị bắt.
Mạc đăng Dung bắt chước lối nhà Trần, làm vua được ba năm thì
nhường ngôi cho con là Mạc đăng Doanh rồi về ở Cổ-trai, làm Thái-thượnghoàng.
Năm canh-dần (1530) Mạc đăng Doanh lên làm vua, đặt niên-hiệu là
Đại-chính. Đăng Doanh tuy làm vua nhưng công việc trong nước thường do
Đăng Dung quyết đoán cả.
Mạc đăng Doanh làm vua được 10 năm, đến năm canh-tí (1540) thì
mất, truyền ngôi lại cho con là Mạc phúc Hải.
Mạc phúc Hải lên nối ngôi, đổi niên-hiệu là Quảng-hòa.

virus13
05-03-2008, 03:09 PM
CHƯƠNG XI
Nhà Nguyễn Tây Sơn

1. Nhà Nguyễn Tây Sơn Dấy Nghiệp. Những người làm quốc
sử nước Tàu và nước ta thường chia những nhà làm vua ra chính thống và
ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai
là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân,
dựng nghiệp ở đất trung nguyên, thì cho là chính thống. Nhà nào, một là
làm tôi cướp ngôi vua, làm sự thoán đoạt không thành, hai là xưng đế, xưng
vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, bà là những người ngoại chủng
vào chiếm nước làm vua, thì cho là ngụy triều.
Vậy nay lấy những lẽ ấy mà xét xem nên cho nhà Nguyễn Tây Sơn
làm chính thống hay ngụy triều, để cho hợp lẽ công bằng và cho xứng cái
danh hiệu những người anh hùng đã qua.
Nguyên nước ta là nước quân chủ, lấy cái nghĩa vua tôi làm trọng
hơn cả, thế mà từ khi nhà Lê trung hưng lên trở về sau, họ Nguyễn hùng cứ
phương Nam, họ Trịnh xưng chúa miền Bắc; trên tuy còn tôn vua nhưng mà
quyền về cả nhà chúa. Trong nước ta đã có vua lại có chúa, làm thành ra
vua không phải là vua, tôi không phải là tôi, ấy là một thời loạn. Đến sau ở
trong Nam thì có Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy, ở ngoài Bắc thì
có kiêu binh làm loạn, giết hại quan đại thần, vua chúa phải nhún mình mà
chiều đãi, đình thần phải khoanh tay mà chịu một bề, ấy lại là một lúc đại
loạn vậy.
Lúc ấy anh em Nguyễn Nhạc là người dân mặc áo vải, dấy binh ở ấp
Tây Sơn, chống nhau với chúa Nguyễn để lập nghiệp ở đất Quy Nhơn. Tuy
rằng đối với họ Nguyễn là cừu địch, nhưng mà đối với nước Nam, thì chẳng
qua cũng là một người anh hùng lập thân trong lúc biến loạn đó mà thôi.
Còn như Nguyễn Huệ là vua Thái Tổ nhà Nguyễn Tây Sơn, thì trước
giúp anh bốn lần vào Gia Định đều được toàn thắng, phá hai vạn quân hùm
beo của Tiêm La, chỉ còn được mấy trăm người lủi thủi chạy về nước; sau lại
ra Bắc Hà, dứt họ Trịnh; tôn vua Lê, đem lại mối cương thường cho rõ ràng.
Ấy là đã có sức mạnh mà lại biết làm việc nghĩa vậy.
Nhưng vì vua nhà Lê nhu nhược, triều thần lúc bấy giờ không ai có
tài kinh luân, lại để cho Trịnh Bồng và Nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau mà
chuyên quyền, đến nỗi thành ra tán loạn. Dẫu thế mặc lòng, khi Nguyễn
Huệ giết Vũ Văn Nhậm rồi, không nỡ dứt nhà Lê, đặt Giám Quốc để giữ tông
miếu tiền triều; như thế thì cách ở với nhà Lê không lấy gì làm bạc.
Sau vua Chiêu Thống và bà Hoàng Thái Hậu đi sang kêu cầu bên
Tàu, vua nhà Thanh nhân lấy dịp ấy mượn tiến cứu nhà Lê, để lấy nước
Nam, bèn sai binh tướng sang giữ thành Thăng Long. Bấy giờ cứ theo như
tờ mật dụ của vua nhà Thanh thì nước Nam ta, bề ngoài tuy chưa mất hẳn,
nhưng kỳ thật đã vào tay người Tàu rồi.
Vậy nước đã mất, thì phải lấy nước lại, ông Nguyễn Huệ mới lên ngôi
Hoàng Đế, truyền hịch đi các nơi, đường đường chính chính, đem quân ra
đánh một trận phá 20 vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị phải
bỏ cả ấn tín mà chạy, làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng sĩ nhà
Thanh thất đảm. Tưởng từ xưa đến nay nước ta chưa có võ công nào lẫm
liệt như vậy.
Vả đánh đuổi người Tàu đi lấy nước lại mà làm vua thì có điều gì mà
trái đạo? Há lại chẳng hơn nhà Lý, nhà Trần nhân lúc ấu quân, nữ chúa, mà
làm sự thoán đoạt hay sao? Vậy thì lấy lẽ gì mà gọi là ngụy? Huống chi sau
vua nhà Thanh cũng công nhận cho ông Nguyễn Huệ làm vua nước Nam, và
lại sai sứ sang phong cho ông làm An Nam Quốc vương theo như lệ các triều
trước, như thế thì nhà Nguyễn Tây Sơn mở nước có khác gì nhà Đinh và nhà
Lê không?
Tuy rằng chẳng được bao lâu nhà Nguyễn Tây Sơn sinh ra nội loạn,
vua Thế Tổ Cao Hoàng nhà Nguyễn lại thu phục được cơ nghiệp cũ mà nhất
thống cả nam bắc lại làm một, nhưng việc thành bại hưng vong là mệnh trời,
vả lại khi hai người anh hùng đuổi một con hươu, tất là người nọ gọi người
kia là cừu địch. Vậy lấy lẽ tôn bản triều mà xét thì nhà Nguyễn Tây Sơn là
ngụy, mà lấy công lý mà suy thì vua Quang Trung Nguyễn Huệ là một ông
vua cùng đứng ngang vai với vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Thái Tổ, mà nhà
Nguyễn Tây Sơn cũng là một nhà chính thống như nhà Đinh và nhà Lê vậy.

2. Vua Quang Trung (1788-1792). Ông Nguyễn Huệ (sau đổi
tên là Nguyễn Quang Bình) là một người có sức khỏe tuyệt trần, lại có mưu
trí quyền biến, mẹo mực như thần, khởi binh ở đất Tây Sơn (thuộc huyện An
Khê, Bình Định) giúp anh là Nguyễn Nhạc lập nên nghiệp lớn, được phong
làm Bắc Bình Vương, đóng đô ở đất Phú Xuân.
Năm mậu thân (1788) quân nhà Thanh mượn tiếng sang cứu nhà
Lê, chiếm giữ thành Thăng Long, có ý muốn lấy đất An Nam, Bắc Bình
Vương lên ngôi Hoàng Đế đặt niên hiệu là Quang Trung, rồi đem binh đi
đánh giặc.

3. Tôn Sĩ Nghị Đem Quân Sang An Nam. Nguyên vua Chiêu
Thống đã mấy lần toan sự khôi phục, nhưng không được, phải nương náu ở
đất Lạng Giang; còn bà Hoàng Thái Hậu thì đem hoàng tử sang Long Châu
kêu van với quan Tàu, xin binh cứu viện. Bấy giờ quan tổng đốc Lưỡng
Quảng là Tôn Sĩ Nghị dâng biểu tâu với vua Càn Long nhà Thanh, đại lược
nói rằng: "Họ Lê là cống thần nước Tàu, nay bị giặc lấy mất nước, mẹ và vợ
Tự quân sang cầu cứu, tình cũng nên thương. Vả nước Nam vốn là đất cũ
của nước Tàu, nếu sau khi cứu được nhà Lê, và lại lấy được đất An Nam,
thực là lợi cả đôi đường."
Vua Càn Long nghe lời tâu ấy sai Tôn Sĩ Nghị khởi quân bốn tỉnh
Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam, đem sang đánh Tây Sơn.
Tôn Sĩ Nghị chia quân ra làm 3 đạo, sai quan tổng binh tỉnh Vân Nam và Quý
Châu đem một đạo sang mạn Tuyên Quang122, sai Sầm Nghi Đống là tri phủ
Điền Châu đem một đạo sang mạn Cao Bằng. Sĩ Nghị cùng với đề đốc là
Hứa Thế Hanh đem một đạo sang mạn Lạng Sơn, hẹn ngày tiến binh sang
đánh An Nam.
Tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở ở Thăng Long được tin quân Tàu đã
sang, sợ thế yếu đánh không nổi, bèn rút quân thủy bộ về đóng giữ từ núi
Tam Điệp123 ra đến bờ bể, rồi sai người về Phú Xuân cáo cấp.
Tôn Sĩ Nghị kéo quân đến Kinh Bắc (Bắc Ninh), vua Chiêu Thống ra
chào mừng rồi theo quân Tàu về Thăng Long. Sĩ Nghị đóng đồn ở giữa bãi,
về mé nam sông Nhị Ha, bắc cầu phao ở giữa sông để tiện đi lại, và chia
quân ra giữ các mặt.
Ngày hôm sau, Sĩ Nghị là lễ tuyên độc tờ sắc của vua nhà Thanh
phong cho vua Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.
Vua Chiêu Thống tuy đã thụ phong, nhưng các tờ văn thư đều phải
đề niên hiệu Càn Long. Mỗi khi buổi chầu xong rồi, lại đến dinh Sĩ Nghị để
chầu chực việc cơ mật quân quốc. Vua cưỡi ngựa đi với độ mười người lính
hầu mà thôi. Sĩ Nghị thì ngạo nghễ, tự đắc, ý tứ xử với vua rất là khinh bạc;
có khi vua Chiêu Thống lại hầu, không cho vào yết kiến, chỉ sai một người
đứng dưới gác chiêng truyền ra rằng: không có việc quân quốc gì, xin ngày
hãy về cung nghỉ.
Người bấy giờ bàn riêng với nhau rằng: "Nước Nam ta từ khi có đế
vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà
phải theo niên hiệu vua Tàu, việc gì cũng phải bẩm đến quan Tổng Đốc, thế
thì có khác gì đã là nội thuộc rồi không?"
Vua và triều thần bấy giờ việc gì cũng trông cậy vào Tôn Sĩ Nghị;
ngày đêm chỉ lo việc báo ân báo oán, giết hại những người trước đã đi theo
Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị thì càng ngày càng kiêu ngạo thêm, coi việc binh làm
thường, lại thả quân lính ra cướp phá dân gian, làm lắm sự nhũng nhiễu. Vì
thế cho nên lòng người mất cả trông cậy.

4. Vua Quang Trung Đại Phá Quân Thanh. Bắc Bình Vương
được tinh quân nhà Thanh đã sang đóng ở Thăng Long, lập tức hội các
tướng sĩ để bàn việc đem binh ra đánh, các tướng đều xin hãy chính ngôi
tôn, để yên lòng người rồi sẽ khởi binh.
Bắc Bình Vương bèn sai đắp đàn ở núi Bàn Sơn, ngày 25 tháng mười
một năm mậu thân (1788), Vương làm lễ lên ngôi Hoàng Đế, rồi tự mình
thống lĩnh thủy bộ đại binh ra đánh giặc Thanh. Ra đến Nghệ An nghỉ lại 10
ngày để kén lấy thêm binh, cả thảy được 10 vạn quân và hơn 100 con voi.
Vua Quang Trung điểm duyệt quân sĩ, truyền dụ nhủ bảo mọi người
phải cố gắng đánh giặc giúp nước. Đoạn rồi kéo quân ra Bắc, đến ngày 20
tháng chạp thì đến núi Tam Điệp. Bọn Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhiệm đều ra
tạ tội, kể chuyện quân Tàu thế mạnh, sợ đánh không nổi, cho nên phải lui về
giữ chỗ hiểm yếu.
Vua Quang Trung cười mà nói rằng: "Chúng nó sang phen này là
mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định
mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ
chúng là nước lớn gấp 10 nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất
chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không
thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ
Thì Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm
nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng
nữa."
Vua Quang Trung truyền cho tướng sĩ ăn tết Nguyên Đán trước, để
đến hôm trừ tịch thì cất quân đi, định ngày mồng 7 tháng giêng thì vào
thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Đoạn rồi, truyền lệnh cho ba quân đến
nghe lệnh điều khiển.
Đại tư mã Sở, Nội Hầu Lân đem tiền quân đi làm tiên phong. Hô hổ
Hầu đem hậu quân đi đốc chiến.
Đại đô đốc Lộc, Đô đốc Tuyết đem hữu quân cùng thủy quân, vượt
qua bể vào sông Lục Đầu. Rồi Tuyết thì kinh lược mặt Hải Dương, tiếp ứng
đường mé đông; Lộc thì kéo về vùng Lạng Giang, Phượng Nhỡn, Yên Thế để
chặn đường quân Tàu chạy về.
Đại đô đốc Bảo, đô đốc Mưu đem tả quân cùng quân tượng mã đi
đường núi ra đánh phía tây. Mưu thì xuyên ra huyện Chương Đức (nay là
Chương Mỹ), tiện đường kéo thẳng đến làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì,
đánh quân Điền Châu; Bảo thì thống suất quân tượng mã theo đường huyện
Sơn Lãng ra làng Đại Áng thuộc huyện Thanh Trì tiếp ứng cho mặt tả.
Năm quân được lệnh đều thu xếp đâu đấy, đến hôm 30 khua trống
kéo ra Bắc. Khi quân sang sông Giản Thủy124, cánh nghĩa quân của nhà Lê
tan vỡ chạy cả. Vua Quang Trung thân đốc các quân đuổi theo đến huyện
Phú Xuyên bắt sống hết được toán quân Tàu đóng ở đấy, không một người
nào chạy thoát được; vì thế cho nên không có tin báo về, những quân Tàu
đóng ở làng Hà Hồi và làng Ngọc Hồi không biết gì cả. Nửa đêm ngày mồng
3 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789) quân vua Quang Trung đến làng Hà hồi
vây kín đồn giặc, rồi bắc loa lên gọi, các quân dạ rầm cả lên, có hàng muôn
người. Quân canh đồn bấy giờ mới biết, sợ hãi thất thố, đều xin hàng, bởi
thế, lấy được hết cả quân lương và đồ khí giới. Sáng mờ mờ ngày mồng
năm, quân Tây Sơn tiến lên đến làng Ngọc Hồi, quân Tàu bắn súng ra như
mưa. Vua Quang Trung sai người lấy những mảnh ván, ghép ba mảnh lại
làm một, lấy rơm cỏ giấp nước quấn ở ngoài, rồi sai quân kiêu dũng cứ 20
người khiêng một mảnh, mỗi người dắt một con dao nhọn, lại có 20 người
cầm khí giới theo sau. Vua Quang Trung cưỡi voi đi sau đốc chiến, quân An
Nam vào đến gần cửa đồn, bỏ ván xuống đất, rút dao ra, xông vào chém,
quân đi sau cũng kéo ùa cả vào đánh. Quân Tàu địch không nổi, xôn xao
tán loạn, xéo lẫn nhau mà chạy. Quân Nam thừa thế đánh tràn đi, lấy được
các đồn, giết quân Thanh thây nằm ngổn ngang khắp đồng, máu chảy như
tháo nước. Quân các đạo khác cũng đều được toàn thắng. Quan nhà Thanh
là đề đốc Hứa Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long, tả dực Thượng Duy
Thăng đều tử trận cả; quan phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống đóng ở Đống
Đa125 bị quân An Nam vây đánh cũng thắt cổ mà chết126.
Tôn Sĩ Nghị nửa đêm được tin báo, hoảng hốt không kịp thắng yên
ngựa và mặc áo giáo, đem mấy tên lính kỵ chạy qua sông sang Bắc. Quân
các trại nghe tin như thế, xôn xao tan rã chạy trốn, tranh nhau sang cầu,
một lát cầu đổ, sa cả xuống sông chết đuối, sông Nhị Hà đầy những thây
người chết.
Vua Chiêu Thống cũng theo Tôn Sĩ Nghị sang sông cùng với bà
Hoàng Thái Hậu và mấy người cận thần chạy sang Tàu.
Đạo quân Vân Nam và Quý Châu đóng ở miền Sơn Tây127 nghe tin
Tôn Sĩ Nghị đã thua, cũng rút quân chạy về.
Ngày hôm ấy vua Quang Trung đốc quân đánh giặc, áo ngự bào bị
thuốc súng bắn vào đen như mực. Đến trưa thì vào thành Thăng Long, sai
tướng đem binh đuổi đánh quân nhà Thanh đến cửa Nam Quan. Những dân
Tàu ở gần Lạng Sơn sợ khiếp, đàn ông, đàn bà dắt díu nhau mà chạy, từ cửa
ải về mé bắc hơn mấy trăm dặm, tịnh không nghe thấy tiếng một người
nào?
Vua Quang Trung vào thành Thăng Long, hạ lệnh chiêu an, phàm
những người Tàu trốn tránh ở đâu ra thú tội, đều được cấp cho áo mặc,
lương ăn. Lại bắt được cả ấn tín của Tôn Sĩ Nghị bỏ lại, trong những giấy
má bắt được có tờ mật dụ của vua Càn Long nói rằng: " Việc quân nên từ
đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho
các quan nhà Lê về nước cũ hợp nghĩa binh, tìm tự quân nhà Lê đem ra
đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ, thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng
người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến, ai là chẳng gắng sức.
Nguyễn Huệ tất phải tháo lui; ta nhân lấy dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo,
rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy nỗi mà nên được
công to, đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước, nửa theo
đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy
đưa thư sang tỏ bảo đường họa phúc xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào
thủy quân ở Mân, Quảng đi đường bể sang đánh mặt Thuận Hóa và Quảng
Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau bị địch, thế tất phải
chịu thua. Bấy giờ ta sẽ nhân mà là ơn cho cả hai bên; tự đất Thuận Hóa
Quảng Nam trở vào Nam, thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra
Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai
bên, rồi sẽ có xử trí về sau".
Vua Quang Trung đem tờ mật dụ ấy bảo với Ngô Thì Nhiệm rằng: "
Ta xem tờ chiếu của vua nhà Thanh chẳng qua cũng muốn mượn tiếng để
lấy nước ta đó thôi. Nay đã bị ta đánh thua một trận, tất là lấy làm xấu hổ,
chắc không chịu ở yên. Hai nước mà đánh nhau thì chỉ khổ dân. Vậy nên
dùng lời nói khéo, để khiến cho khỏi sự binh đao; việc ấy nhờ nhà người chủ
trương cho mới được".
Ngô Thì Nhiệm vâng lệnh làm thư đại khái nói rằng: "Nước Nam vốn
không dám chống cự với đại quốc, nhưng chỉ vì Tôn Sĩ Nghị làm nhỡ việc
cho nên phải thua. Vậy nay xin tạ tội và xin giảng hòa."
Vua Quang Trung sai sứ đem thư sang Tàu, và lại sai đem những
quân nhà Thanh đã bắt được, để ở một nơi, cấp cho lương thực, đợi ngày
cho về nước. Xếp đặt mọi việc xong rồi, đem quân về Nam, lưu Ngô Văn Sở
và Phan văn Lân ở lại tổng thống các việc quân quốc; còn những việc từ lệnh
giao thiệp với nước Tàu thì ủy thác cho Ngô Thì Nhiệm và Phan Huy Ích cho
được tự tiện mà khu xử, hễ không có việc gì quan hệ thì bất tất phải đi tâu
báo mà làm gì.

5. Vua Quang Trung Cầu Phong. Vua nhà Thanh nghe tin Tôn
Sĩ Nghị bại binh, nổi giận đùng đùng, lập tức giáng chỉ sai quan nội các là
Phúc Khang An128 ra thay Sĩ Nghị làm tổng đốc Lưỡng Quảng, đem binh mã
chín tỉnh, sang kinh lý việc An Nam.
Phúc Khang An ra đến Quảng Tây nghe tiếng quân An Nam thế
mạnh trong bụng đã sợ, có ý muốn hòa, bèn sai người đưa thư sang nói việc
lợi hại và bảo phải làm biểu tạ tội để cho yên việc binh đao.
Vua Quang Trung bèn cho người đưa vàng bạc sang đút lót cho
Khang An, rồi sai người cháu là Nguyễn Quang Hiển và quan là Vũ Huy Tấn
đem đồ cống phẩm sang Yên Kinh vào chầu vua nhà Thanh và dâng biểu xin
phong.
Bấy giờ quan ngoài thì có Phúc Khang An đề đạt giúp đỡ, quan trong
thì có các thần là Hòa Thân129 làm chủ trương, cho nên vua nhà Thanh mới
thuận cho giảng hòa. Hòa Thân được tiền bạc của vua Quang Trung đút lót,
rồi dùng lời nói khéo, điều gì cũng hợp ý vua nhà Thanh. Vua nhà Thanh
bèn sai sứ sang phong cho vua Quang Trung làm An Nam Quốc Vương, và
lại giáng chỉ vời quốc vương vào chầu.
Vua Quang Trung bèn chọn một người hình dung giống mình, tên là
Phạm Công Trị trá làm quốc vương, rồi sai Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân,
Phan Huy Ích, Võ Huy Tấn đưa sang Yên Kinh, vào chầu Càn Long. Ngoài
những phẩm vật phải đem cống, vua Quang Trung lại đem cống thêm đôi
tượng đực, làm cho các cung trạm ở dọc đường bên Tàu phảI phục dịch đưa
đón thật là vất vả. Quan Tổng Đốc Lưỡng Quảng là Phúc Khang An và quan
Tuần phủ Quảng Tây là Tôn Vĩnh Thanh phải đưa Quốc Vương An Nam vào
Kinh.
Sang đến Yên Kinh, vua Càn Long nhà Thanh tưởng là Nguyễn
Quang Trung thật, vời đến chầu ở Nhiệt Hà, cho vào làm lễ ôm gối, như là
tình cha con một nhà, và cho ăn yến với các thân vương. Đến lúc về nước,
vua lại sai thợ vẽ làm một bức ảnh truyền thần để ban cho ân lễ thật là hậu.

6. Vua Chiêu Thống Nhà Lê bị nhục bên Tàu. Vua Chiêu
Thống theo Tôn Sĩ Nghị vào thành Nam Kinh ở Quảng Tây, được ít lâu thì
vua nhà Thanh sai các thần là Phúc Khang An ra thay Tôn Sĩ Nghị. Khang
An muốn giảng hòa với Tây Sơn, bèn mời vua Chiêu Thống về Quế Lâm.
Bấy giờ những quan cựu thần nhà Lê là: Hoàng thúc Lê Duy Án, Đinh Nhạ
Hành, Đinh Lịnh Dận, Trần Huy Lâm, Lê Doãn, Lê Dĩnh, Phan Khải Đức, Bế
Nguyễn Cung, Bế Nguyễn Doãn, đều lục tục sang theo vua Chiêu Thống, vào
ra mắt Khang An.
Khang An dùng Đinh Nhạ Hành làm chức thủ bị Toàn Châu, Phan
Khải Đức làm chức đô tư Liễu Châu, còn thì tùy tiện an trí mỗi người một
nơi. Duy chỉ có Lê Duy Án, Trần Huy Lâm, Lê Doãn, Lê Dĩnh về Quế Lâm
theo vua nhà Lê.
Đến tháng tư năm kỷ dậu (1789), vua tôi nhà Lê vào thành Quế
Lâm, Khang An nói thác ra bảo với vua Chiêu Thống rằng: Trời đang mùa hè
nắng nóng, sang đánh phương nam không tiện, nên để đến mùa thu mát mẻ
sẻ khởi binh. Vậy nhà vua nên gióng giả dần bọn tướng thuộc đi trước.
Nhưng nhà vua hãy nên gọt đầu thay áo, làm như dáng người Tàu, để khi
về nước, giặc không nhận được mặt. Việc hành binh phải nên biến trá, đợi
khi thành công rồi lại theo tục nước mà ăn mặc. Vua Chiêu Thống không
ngờ là Khang An đánh lừa mình, bèn cùng với các quan cạo đầu gióc tóc và
đổi y phục.
Phúc Khang An bèn làm một tờ biểu tâu với vua nhà Thanh rằng:
"Vua nước Nam là Lê Duy Kỳ không có ý xin viện binh nữa, vua tôi hiện đã
gióc tóc, thay áo, xin yên tâm ở lại nước Tàu. Vậy xin bãi binh đánh An
Nam". Ở trong lại có Hòa Thân tán thành, bởi vậy vua nhà Thanh mới
xuống chỉ bãi binh.
Vua nhà Thanh đã nghe lời bọn Phúc Khang An và Hòa Thân, và đã
phong vương cho vua Quang Trung rồi, lại giáng chỉ triệu vua tôi nhà Lê về
Yên Kinh130.
Mùa xuân năm canh tuất (1790), vua Chiêu Thống cùng với các
quan tòng vong vào kinh. Vua Càn Long để vua Chiêu Thống, bà Thái Hậu
và Hoàng Tử ở ngõ Hồ Đồng, Tòa Quốc Tử Giám, cửa Tây Định ở Yên Kinh,
ngoài cửa đề chữ "Tây An Nam Dinh". Còn các quan An Nam đi theo, thì
cho ở ngõ Hồ Đồng, cửa Đông Trực, ngoài cửa đề chữ: "Đông An Nam
Dinh".
Vua Chiêu Thống đến Yên Kinh được mấy hôm, thì thấy quan Đô
Thống Nhương Hoàng Kỳ là Kim Giản phụng chỉ vua nhà Thanh ra phong
cho chức Tá Lĩnh, và ban cho áo mão quan tam phẩm. Còn các quan đi theo
thì cấp cho mỗi người ba lạng bạc và một thạch gạo.
Vua Chiêu Thống giận vì bị người Tàu đánh lừa, bèn cùng với bề tôi
là bọn Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiển, Lễ Hân, Nguyễn Quốc Đống,
Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Lê Văn Trương, Lê
Tùng, Lê Thức uống máu ăn thề, định sống chết thế nào thì cũng dâng biểu
xin binh cứu viện. Nếu không cho thì xin đất hai tỉnh Tuyên Quang, Thái
Nguyên để phụng thờ tông tự; mà không nữa, thì xin cho về nước vào đất
Gia Định với chúa Nguyễn để đồ việc khôi phục.
Văn biểu làm xong, đến nói lót trước với Kim Giản, Kim Giản không
nghe, vua tôi nhà Lê phục xuống đất mà kêu khóc. Kim Giảng bất đắc dĩ
mời vào an ủi, rồi nói rằng: hãy xin về quán nghỉ ngơi, đợi để thương lượng
thế nào, sau sẽ cho biết.
Kim Giản bèn mưu với Hòa Thân phân trí vua tôi An Nam đi ở mỗi
người một nơi, để cho khỏi kêu ca khó chịu.
Đến tháng tư năm tân hợi (1791) Hoàng Ích HIểu phải đày sang I-lê
(thuộc Hồi-bộ ở Tây-vực, phía Tây nước Tàu); Lê Hân đày đi Phụng Thiên
(Mãn Châu); Phạm Như Tùng đày lên Hắc Long Giang (Mãn Châu); Nguyễn
Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Đàm Thận Xưởng, Lê Văn
Trương đày ra bến Trương-gia ở Nhiệt-hà (thuộc tỉnh Trực-lệ). Chỉ để Phạm
Đình Thiện, Đinh Nhạ Hành ở lại hầu hạ vua Lê.
Vua Chiêu Thống nghe chuyện ấy lo lắng chua xót, ruột nóng như
lửa đốt, sáng hôm sau cưỡi ngựa đế nhà Kim Giản, để kêu oan cho mấy
người phải đi đày, gặp Kim Giản vào chầu vua nhà Thanh ở vườn Viên Minh,
vua Chiêu Thống đi vào cửa vường, bị lính giữ vường ngăn cấm không cho
đi. Bấy giờ có Nguyễn Văn Quyên đi theo hầu vua, thấy lũ lính vô lễ, mới nổi
giận lên mà chửi mắng rằng: "Lũ chó Ngô kia sao chúng bay được làm nhục
đến vua tao!" Rồi lấy gạch ném vào chúng nó. Chúng nó xúm nhau lại
đánh Văn Quyên về thành bệnh mà chết.
Tự đó vua Chiêu Thống trong bụng buồn bã rầu rĩ, không dám nói
đến việc xin binh nữa. Qua tháng năm năm nhâm tí (1792) hoàng tử lên
đậu mất. Vua nhân dịp đó phải bệnh một ngày một nặng, đến tháng mười
năm quý sửu (1793) thì mất, thọ được 28 tuổi.
Vua nhà Thanh sai theo lễ tước công mà táng ở ngoài cửa Đông
Trực.
Tháng 11 năm kỷ mùi (1799) đời vua Gia Khánh thì bà Hoàng Thái
Hậu mất.
Đến năm nhâm tuất (1802) nhân khi bên Việt Nam ta vua Thế Tổ
nhà Nguyễn đã thống nhất cả nam bắc, và có sứ ta sang cầu phong, các
quan nhà Lê mới nhân dịp dâng biểu xin đem ma Thái Hậu và Cố Quân về
nước. Vua Gia Khánh cho tất cả những người Việt Nam theo vua Lê sang
Tàu về nước.
Sử chép rằng khi đào đất lên để cải táng mả Cố Quân, thì thấy da
thịt đã tiêu cả, chỉ còn có quả tim không nát, vẫn đỏ như thường. Ai trông
thấy cũng động lòng thương xót. Dẫu chuyện đó thực hư thế nào mặc lòng,
nhưng tưởng đến tình cảnh vua Chiêu Thống lúc bấy giờ, thì ai cũng ái ngại
thay cho ông vua một nước, phải đày đọa đến nỗi như thế, có thể làm được
một bài bi kịch thảm xót muôn đời. Tuy rằng tại vua tôi nhà Lê vụng tính
cho nên bị người ta đánh lừa, nhưng cũng nên tránh vua quan nhà Thanh xử
tệ, bạc đãi một ông vua vong quốc, đem thân đến nương nhờ nước mình.
Ấy cũng là một thời dã man về đời áp chế, khiến cho cái oan khổ của người
ta muôn đời về sau không tiêu thoát đi được.
Khi đem ma bà Thái Hậu và vua Chiêu Thống về đến Việt Nam thì bà
Hoàng Phi trước phải ẩn nấp ở đất Kinh Bắc, nay lên đến Ải quan đón rước,
rồi về đến Thăng Long cũng nhịn ăn mà tự tử.
Ngày 24 tháng 11, rước ma Cố quân, Thái Hậu, Hoàng Phi và Hoàng
tử về táng ở lăng Bàn Thạch ở Thanh Hóa.

7. Đức Độ Vua Quang Trung. Vua Quang Trung nhà Nguyễn
Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy võ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có
độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học.
Khi ngài ra lấy Bắc hà, những người như Ngô Thì Nhiệm, Phan Huy Ích đềuđược trọng dụng và nhất là đối với một người xử sĩ như Nguyễn Thiệp thì
thật là khác thường.
Ông Nguyễn Thiệp, tự là Khải Chuyên, hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu
là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên Thành, thuộc huyện La Sơn, tỉnh Hà
Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi là Lục Niên tiên sinh hay là La sơn phu tử.
Vua Quang Trung từ khi đem quân ra đánh Bắc hà, biết tiếng Nguyễn Thiệp,
đã mấy lần cho người đem lễ vật mời ông ra giúp, ông không nhận lễ và
cũng từ chối không ra. Đến khi ngài đã đăng cực, lại mấy lần cho người đến
mời ông, ông có đến bái yết và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị
nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy không dùng được ông, nhưng bao
giờ cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc chính trị trong nước thường
theo ý nghĩa của ông đã trình bày.
Đại Tính", chung quanh ghi tên họ quê quán, và phải điểm chỉ làm tin.
Người nào cũng phải đeo thẻ ấy gọi là tín bài. Ai không có thẻ là dân lậu,
bắt sung vào quân phòng, và bắt tội tổng trưởng, xã trưởng. Nhân có việc
ấy, những kẻ lại dịch hiệp với xã trưởng đi lại làm bậy: thường vào làng vây
bắt hỏi thẻ, làm cho dân gian nhiễu động, nhiều người phải trốn vào rừng
mà ở.
Sổ đinh làm xong rồi cứ ba tên đinh kén lấy một người lính.
Quân thì chia ra làm đạo, cơ, đội. Đạo thì thống các cơ, cơ thì thống
các đội. Cơ đội nào theo về cơ đội ấy, bắt phải diễn tập luôn luôn.
Bấy giờ ở bên Tàu có những giặc Tàu ô, quấy nhiễu ở miền bể bị
quân nhà Thanh đánh đuổi, chạy sang xin phụ thuộc nước ta, vua Quang
Trung cho người tướng Tàu-ô làm chức tổng binh, sai sang quấy nhiễu ở
mặt bể nước Tàu. Lại có người thuộc về đảng Thiên Địa Hội làm giặc ở Tứ
Xuyên, vua cũng thu dùng cho làm tướng.
Công việc xếp đặt đâu vào đấy rồi, đến năm nhâm tí (1792) vua
Quang Trung sai sứ sang Tàu, xin cầu hôn và xin trả lại cho Việt Nam đất
Lưỡng Quảng. Việc ấy tuy không phải là bản ý nhưng muốn mượn chuyện
để thử ý vua nhà Thanh. Không ngờ vua Quang Trung phải bệnh mất, các
quan dìm việc cầu hôn và việc xin trả đất đi, không cho Thanh triều biết.

14. Vua Quang Trung mất. Vua Quang Trung mất năm nhâm tí
(1792), làm vua được 4 năm, thọ được 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Võ
Hoàng Đế.
Triều thần bấy giờ là Bùi Đắc Tuyên, Trần Quang Diệu132, Vũ Văn
Dũng lập thái tử là Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi làm vua, rồi sai sứ sang
Tàu dâng biểu cáo tang và cầu phong. Trong biểu nói dối rằng khi vua
Quang Trung mất có dặn lại rằng phải đem chôn ở Tây Hồ gần Bắc Thành,
để tỏ cái bụng quyến luyến trông về Thiên triều. Vua nhà Thanh xem biểu
tưởng là thật, khen là trung, đặt tên thụy cho là Trung Thuần, lai ngự chế
một bài thơ sang viếng, sai quan án sát Quảng Tây là Thành Lâm sang tế, và
phongcho Quang Toản làm An Nam Quốc Vương. Trong bài văn tế có câu
rằng:
Chầu ngô Nam cực,
Lòng trung nghĩa hết đạo thờ vua
Chôn đất Tây hồ
Nghĩa thần tử vẫn còn mến chúa.

15. Vua Cảnh Thịnh (1782-1802). Khi vua Quang Trung mất
thì Thái Tử là Nguyễn Quang Toản mới lên 10 tuổi, triều đình tôn lên làm
vua, đặt niên hiệu là Cảnh Thịnh, sau thành Phú Xuân thất thủ, vua tôi nhà
Tây Sơn chạy ra Bắc hà lại đổi niên hiệu là Bảo Hưng.
Vua Cảnh Thịnh tuy đã lên ngôi nhưng mà việc gì cũng do ở thái sư
là Bùi Đắc Tuyên quyết đoán cả. Bùi Đắc Tuyên là anh ruột bà Thái Hậu,
cho nên uy quyền lại càng hống hách lắm. Các quan văn võ có nhiều người
không phục, bởi vậy cho nên về sau trong Triều phân ra bè đảng; các đại
thần giết hại lẫn nhau. Vả lại lúc bấy giờ có vua Thế Tổ Cao Hoàng nhà
Nguyễn là một bậc có tài trí, quyết chí phục thù, cho nên cơ nghiệp nhà Tây
Sơn không được bao lâu mà đổ nát vậy.

----- Bài viết này được virus13 thêm vào sau 40 phút và 40 giây -----

Nhà Nguyễn (1802-1945)

Thế Tổ (1802-1819)
Niên hiệu: Gia Long
Thế Tổ xưng đế hiệu. Thế tổ khởi binh chống nhau với Tây Sơn
ở đất Gia Định từ năm mậu tuất (1778), kể vừa 24 năm, mới dứt được nhà
Tây Sơn, thu phục được giang sơn cũ của chúa Nguyễn khi xưa và họp cả
nam bắc lại làm một mối. Khi việc đánh dẹp xong rồi, ngài xưng đế hiệu,
đặt quốc hiệu là Việt Nam, đóng Kinh đô ở Phú Xuân, tức là thành Huế bây
giờ.

Thánh Tổ(1820-1840)
Niên hiệu: Minh Mệnh
Đức Độ Vua Thánh Tổ. Tháng giêng năm canh thìn (1820),
Hoàng Thái Tử húy là Đảm lên ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mệnh.
Vua Thánh Tổ là một ông vua có tư chất minh mẫn, có tính hiếu học
và lại hay làm; phàm có việc gì, ngài cũng xem xét đến, và có châu phê rồi
mới được thi hành.
Ngài tinh thâm Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, cho nên không ưa
đạo mới, cho là một tả đạo lấy trời thánh ra mà làm mê hoặc lòng dân. Bởi
vậy, ngài mới nghiêm cấm và trừng trị những người theo đạo Gia Tô.

Hiến Tổ(1841-1847)
Niên hiệu: Thiệu Trị
Đức Độ Vua Hiến Tổ. Tháng giêng năm tân sửu (1841) Hoàng
Thái Tử húy là Miên Tông lên ngôi ở điện Thái Hòa đặt niên hiệu là Thiệu
Trị.
Tính vua Hiến Tổ thuần hòa, không hay bày ra nhiều việc và cũng
không được quả cảm như Thánh Tổ. Trong đời Ngài làm vua, học hiệu, chế
độ, thuế mà, điều gì cũng theo như triều vua Thánh Tổ cả. Bầy tôi lúc bấy
giờ có Trương Đăng Quế, Lê Văn Đức, Doãn Uẩn, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri
Phương, Lâm Duy Tiếp trong ngoài ra sức giúp rập. Nhưng mà đất Nam Kỳ
có giặc giã, dân Chân Lạp nổi loạn, quân Tiêm La sang đánh phá, nhà vua
phải dùng binh đánh dẹp mãi mới xong.

Dực Tông
(1847-1883)
Niên hiệu: Tự Đức
Đức độ vua Dực Tông. Vua Hiến Tổ mất, truyền ngôi lại cho
hoàng tử thứ hai húy là Hồng Nhậm. Bấy giờ hoàng tử mới có 19 tuổi,
nhưng học hành đã thông thái. Đến tháng 10 năm đinh mùi (1847), thì ngài
lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu là Tự Đức, lấy năm sau là
năm Mậu Thân làm Tự Đức nguyên niên.

Chế độ và tình thế nước
Việt Nam đến cuối đời Tự Đức

Cách Tổ Chức Chính Trị và Xã Hội. Nước Việt Nam tuy nói
là một nước quân chủ chuyên chế157, nhưng theo cái tinh thần và cách tổ
chức của xã hội thì có nhiều chỗ rất hợp với cái tinh thần dân chủ. Nguyên
Nho Giáo là cái học căn bản của nước ta khi xưa, mà về đường thực tế, thì
cái học ấy rất chú trọng ở sự trị nước. Trị nước thì phải lấy dân làm gốc,
nghĩa là phải lo cho dân được sung túc, phải dạy dỗ dân cho biết đạo lý và
mở mang trí tuệ của dân. Những việc quan trọng như thế không phải bất cứ
ai cũng làm được, tất là phải có những người có đủ đức hạnh, tài năng và uy
quyền mới có thể đảm đang được. Bởi vậy cho nên mới cần có vua có quan.

BackStab
11-03-2008, 05:58 PM
Xin cho hỏi từ năm 2897 - 258 trước công nguyên nước Văn Lang có 18 đời vua Hùng, vậy chẳng lẽ mỗi vua Hùng thọ hơn 100 tuổi à. Tôi thấy vô lí lắm :rofl:

virus13
27-03-2008, 08:42 AM
Họ Hồng-Bàng
(2879-258 trước Tây Lịch)
1. Họ Hồng Bàng
2. Nước Văn Lang
3. Truyện cổ tích về đời Hồng Bàng:
- Phù Đổng Thiên Vương
- Sơn Tinh Thủy Tinh
1. Họ Hồng Bàng. Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là
cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh
(thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con
tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm
vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh
Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ
Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục
(Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm nhâm tuất (2879
trước Tây Lịch ?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng
Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một
trăm người con trai3. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là dòng dõi Long
Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay
được trăm con thì nhà người đem 50 đứa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống
bể Nam Hải".
Gốc tích truyện này có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau, nước Xích Quỷ chia ra
những nước gọi là Bách Việt. Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (tỉnh Hồ Nam,
tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt. Đấy cũng
là một điều nói phỏng, chứ không có lấy gì làm đích xác được.
2. Nước Văn Lang. Lạc Long Quân phong cho người con
trưởng sang làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương.
Cứ theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ:
1. Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn)
8. Ninh Hải (Quảng Yên)
9. Dương Tuyền (Hải Dương)
10. Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình)
11. Cửu Chân (Thanh Hóa)
12. Hoài Hoan (Nghệ An)
13. Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14. Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15. Bình Văn ( ? )
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện
Bạch Hạc, tĩnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc
Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, các quan
nhỏ gọi là Bồ Chính4. Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối, gọi là Phụ
Đạo.
Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân mão (1109 trước Tây
lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường, ở phía nam xứ
Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người làm
thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam
để đem sứ Việt Thường về nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có
phải là đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?
Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý mão (158 trước
Tây lịch) thì bị nhà Thục lấy mất nước.
Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20
ông vua, mà tính từ năm nhâm tuất (2879) đến năm quý mão (258 trước
Tây lịch) thì vừa được 2622 năm. Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì
4 Bây giờ còn có nơi gọi Chánh Tổng là Bồ Đình, chắc là bởi Bồ Chính mà ra.
được non 150 năm! Dẫu là người đời thượng cổ nữa, thì cũng khó lòng mà
có nhiều người sống lâu được như vậy. - Xem thế thì đủ biết truyện đời
Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực.

đây là những tài liệu do tại hạ sưu tầm, tác giả cũng nói rằng không xác thực ở một vài điểm.
mình chỉ trích đọan cho mọi người biết thêm những anh hùng dân tộc Việt Nam thôi.
nếu có sai sót mong các hạ thứ lổi.