PDA

View Full Version : [Lịch sử]Đông Phương Thần Thánh Đế Quốc -Tg :GiangHoàiNgọc(Chương 130) - Hoàn thành


gianghoaingoc
26-08-2010, 12:23 AM
Gần đây đọc mấy truyện Tàu, thấy họ tả người Việt tệ quá. Thường là lấy người Việt, nước Việt làm bàn đạp cho NV9 lập công. Có truyện tả NV9 xuyên việt về thời 1978 làm đặc công, rồi trong chiến tranh với Việt Nam, kéo bộ hạ chừng 1000 quân đánh sang tận Hà Nội, bắt sống toàn bộ lãnh đạo Việt Nam, bắt Việt Nam phải đầu hàng; nhiều truyện khác thì sát nhập Việt Nam thành 1 tỉnh của Trung Quốc, càng coi càng tức, và truyện này đã xuất hiện. Truyện này có chút YY theo kiểu của truyện Tàu loại này.


Giới thiệu :
Giang Phong, một người bình thường sống ở Việt Nam đầu thế kỷ 21, trong một biến cố, bị một lực lượng thần bí đưa về cuối thời Trần, một thời kỳ loạn lạc với đầy những biến cố.
Xem một người bình thường làm thế nào từng bước từng bước đi đến tột đỉnh vinh quang. Xem bánh xe lịch sử làm sao vì Giang Phong mà đổi hướng. Xem “Đế Quốc La Mã Thần Thánh” nổi tiếng ở châu Âu làm thế nào vì Giang Phong mà tan rã.
Truyện đề cao người Việt, đề cao sự hòa hảo, bình đẳng giữa các dân tộc. Những người không thích người Việt, ưa thích chủ nghĩa bá quyền, nô dịch dân tộc khác, đừng xem.

gianghoaingoc
26-08-2010, 12:27 AM
Chương 1 : SỰ CỐ


Hôm nay nắng đẹp trời trong.
Ta buồn chẳng biết vì sao ta buồn.

À không ! Hôm nay đúng là một ngày nắng đẹp trời trong, thời tiết mát mẻ, nhưng Giang Phong lại đang rất cao hứng. Vì sao cao hứng ư ? Mọi người không biết ? Có gì đâu. Giang Phong trúng số, à không, trúng thưởng. Tuy giải thưởng cũng nhỏ thôi, chỉ là một chiếc đồng hồ đeo tay, nhưng là sản phẩm của một thương hiệu nổi tiếng nha. Có đồng hồ hàng hiệu, lại không mất tiền, không cao hứng sao được.

Nói về Giang Phong, có lẽ nhiều người cũng không lạ gì. Giang Phong chỉ là một người bình thường như bao người bình thường khác. Sinh ra ở miền Tây, sống ở thành phố. Tốt nghiệp Đại học rồi hùn vốn với một người bạn cùng mở công ty. Công ty làm ăn cũng khá, nhưng vì bất đồng ý kiến với người bạn cùng hùn vốn, nên đã rút vốn ra, mua một ngôi nhà để cho thuê, hàng tháng lấy tiền thuê nhà sinh sống. Còn Giang Phong thì hàng ngày đọc sách, chơi game, hay đi đây đi đó. Đương nhiên đó chỉ là bề ngoài. Giang Phong vẫn còn một số khoản đầu tư bí mật khác, đủ để Giang Phong sống an nhàn đến hết đời.

Đặc biệt, Giang Phong có một đặc điểm quan trọng : đối tiền bạc cực kỳ mẫn cảm. Giang Phong không keo kiệt, nhưng rất tiết kiệm, khi không cần thiết thì tuyệt đối không phung phí. Đương nhiên, nếu cần thì Giang Phong cũng sẵn sàng chi mạnh tay. Có một vị tỷ phú nước ngoài đã từng tuyên bố rằng : nếu dưới chân ông ta có 5 đô la, ông ta sẽ không nhặt, bởi vì chỉ trong vài giây ông ta cúi xuống nhặt tiền thì đã có thể làm ra nhiều hơn số tiền 5 đô la đó (thật tế nếu 1 giây làm ra 5 đô la thì 1 năm bất quá kiếm được 157.680.000 đô la, thu nhập hàng năm của ông ta cao hơn nhiều). Giang Phong đối quan niệm đó không tán thành chút nào, 5 đô la tuy ít, nhưng người Việt có câu “tích tiểu thành đại”, 5 đô la cũng là tiền mà. Hơn nữa, có nhặt tiền thì cũng có thiệt hại gì đâu.

Do đó, khi trúng thưởng, Giang Phong rất cao hứng, đến giờ thì nhanh chóng đi nhận thưởng ngay. Địa điểm trao thưởng là Văn phòng đại điện của Tập đoàn trên một tòa cao ốc. Tập đoàn này trước giờ chỉ bán hàng ở Việt Nam thông qua đại lý là một doanh nghiệp trong nước, hiện giờ đang có ý định trực tiếp đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, nên mở Văn phòng đại diện, sau này sẽ phát triển thành phân công ty. Do chỉ mới trong giai đoạn khảo sát, Văn phòng đại diện này chưa có trụ sở riêng, mà thuê địa điểm trong một cao ốc văn phòng. Để phát triển thương hiệu, Tập đoàn đã tổ chức đợt khuyến mãi tặng quà. Và Giang Phong đã may mắn trúng thưởng.

Đi lên địa điểm trao thưởng ở tầng 13 trong cao ốc, Giang Phong khẽ lắc đầu. Người của Tập đoàn này không biết nghĩ sao nữa. Dù cho Văn phòng đại diện của bọn họ nằm ở tầng 13 thì chẳng lẽ không thể dời địa điểm trao thưởng đến chỗ khác được hay sao. Hơn nữa Giang Phong nhớ rằng địa chỉ Văn phòng đại diện của bọn họ in trong thư mời là tầng 12. Không biết có người nào vì vị trí của địa điểm trao thưởng mà không đến nhận hay không. Giang Phong lưỡng lự giây lát, rồi đi vào thang máy.

Trên tầng 13 có một phòng họp lớn, vốn là của một công ty khác được bọn họ mượn lại làm nơi trao thưởng. Số người trúng thưởng cũng không ít, đến hơn trăm người. Tất cả cùng vào trong phòng, tìm chỗ ngồi.

Cũng như mọi buổi lễ khác, đầu tiên bọn Giang Phong vẫn phải nghe phía doanh nghiệp phát biểu dài dòng, quảng cáo cho thương hiệu của mình. Hết người này xuống lại đến người khác lên, bọn họ tranh nhau nói suốt hơn 1 giờ làm bọn Giang Phong ai nấy đều thấy buồn ngủ. Giang Phong mơ mơ màng màng, không nhớ bọn họ đã nói những gì nữa.

Cuối cùng rồi cũng đến lúc trao thưởng. Sản phẩm được mang ra. Ánh mắt mọi người đều sáng lên.

Nhưng bọn Giang Phong chưa được nhận thưởng ngay mà lại phải nghe thêm một khoảng thời gian giới thiệu sản phẩm nữa. Có điều lúc này Giang Phong đã hết buồn ngủ, chú ý lắng nghe. Dù gì thì lát nữa Giang Phong cũng được sở hữu nó mà, cũng nên biết nó có những tính năng gì chứ. Tuy rằng nó có kèm theo quyển sổ tay Hướng dẫn sử dụng, nhưng nghe giải thích vẫn dễ hiểu hơn.

Theo lời giới thiệu, chiếc đồng hồ này là một sản phẩm mới của Tập đoàn, có rất nhiều tính năng ưu việt, như : không thấm nước (thời buổi này nếu thấm nước còn có thể gọi là đồng hồ được sao, chỉ có thể gọi là đồ chơi thôi); chịu được áp suất nước khi lặn sâu (cũng bình thường); vỏ làm bằng hợp kim không gỉ (rất bình thường); có đèn chiếu sáng để xem đồng hồ vào ban đêm (bình thường); có chuông báo giờ (bình thường); cốt làm bằng hợp kim đặc biệt nên chạy rất chính xác (khá, nhưng cần phải thử mới biết); trên mặt đồng hồ có nạm đá quý (có lẽ cũng không quý lắm, vì giá đồng hồ không cao); có bật lửa nhỏ để hút thuốc lá, dùng pin năng lượng mặt trời (cái này lạ, hay); có con dao nhỏ rất sắc bén để gọt trái cây (!?!), rất nhỏ, chỉ dài có 2 cm thôi; … Sau hàng lô các tính năng, Giang Phong chỉ chú ý một tính năng đặc biệt : ‘đồng hồ tự động’. Hồi những năm cuối thế kỷ 20, các loại đồng hồ tự động rất nhiều, nhưng đến giờ này đã trở nên cực kỳ hiếm. Lúc nhỏ Giang Phong cũng có một chiếc đồng hồ tự động, quà của mẹ cho, cực kỳ bền. Chiếc đồng hồ đó mẹ của Giang Phong đã từng đeo, khi Giang Phong đi học thì được tặng cho (lúc đó đồng hồ còn hiếm, đắt tiền và khó mua), và Giang Phong đã đeo nó cho đến tận khi lên Đại học. Hiện giờ nó vẫn chưa hư, chỉ vì đứt dây, cũ quá không có dây để thay, không thể đeo được nữa. Cũng vì vậy, Giang Phong có tình cảm đặc biệt với ‘đồng hồ tự động’.

Cuối cùng, sau một thời gian chờ đợi khá lâu, Giang Phong cũng được nhận chiếc đồng hồ của mình. Nó khá to so với các loại đồng hồ thời trang khác, nhưng lại rất cân đối, khi đeo không hề gây phản cảm. Xem ra hàng hiệu có khác nha.

Buổi lễ kết thúc, bọn Giang Phong ra về. Mọi người ùa cả ra hành lang, tràn đến thang máy. Khu vực này chỉ có hai chiếc thang máy, mà có đến cả trăm người cần đi. Mọi người chen lấn nhau, ồn ào hỗn loạn vô cùng. Có lẽ thích chen lấn xô đẩy cũng là một đặc tính khó bỏ được của người Việt chăng ? Giang Phong khẽ lắc đầu, ở lại chờ đợi. Thế là Giang Phong tránh ra một góc để khỏi chen lấn với người khác. Nhưng vì hành lang khá hẹp, cuối cùng Giang Phong chỉ đành quay vào trong phòng họp ngồi chờ.

Chờ một hồi lâu, Giang Phong mở cửa phòng ra ngoài thì thấy vẫn còn khá nhiều người trên hành lang. Mọi người bàn tán xôn xao. Nghe đâu thang máy gặp phải sự cố, bị kẹt lại. Giang Phong khẽ thở dài, quay lại trong phòng.

Ngồi chờ một lúc, Giang Phong chợt cảm thấy chấn động. Cả tòa nhà chấn động. Đồ đạc bàn ghế trong phòng đều rung chuyển, ngã nghiêng. Động đất chăng ? Giang Phong mở cửa phòng. Bên ngoài đầy khói. Vô số người chen lấn xô đẩy nhau. Tiếng hò hét kêu gào hỗn loạn. Có sự cố !

Giang Phong chỉ mới kịp nghĩ đến đó, chưa kịp có hành động gì thì chợt cảm thấy áp lực tăng nhanh, một lực hút rất mạnh kéo Giang Phong về phía sau, đó là hướng vách tường nha. Giang Phong cố gắng chống chọi, hai tay nắm chặt bàn ghế trong phòng, hai chân cũng móc chặt vào chân bàn, đồng thời quay lại nhìn.

Trước mắt Giang Phong, trên tường có một lỗ đen, cực đen. Lực hút là từ nơi đó phát ra. Lực hút cực mạnh, hút tất cả mọi thứ, cả Giang Phong và cả đồ đạc xung quanh. Cái gì vậy nhỉ ? Giang Phong chỉ mới kịp nghĩ thế thì trước mắt lại tối đen, áp lực trầm trọng khiến Giang Phong hôn mê bất tỉnh. Giang Phong đã bị hút vào trong cái lỗ đen đó. Tuy hai tay vẫn nắm chặt bàn ghế, nhưng lực hút của lỗ đen quá mạnh, hút cả Giang Phong lẫn bàn ghế vào bên trong nó.

Trưa hôm đó, đài đưa tin : “Sáng nay, tòa nhà XXX gặp phải sự cố cháy nổ, đến giờ vẫn chưa thể dập tắt. Cứu hộ đang tìm cách tiếp cận hiện trường. Theo tin chúng tôi nhận được, vẫn còn có hàng trăm người bị mắc kẹt trong đó, hy vọng sống sót không cao. Nguyên nhân sự cố đang được cơ quan điều tra khẩn trương xác minh.”



__________________________________________________ _______________
Truyện này mới có 6, 7 chương hà. Tui sẽ đăng từ từ cùng lúc với Vương Mệnh. Nhưng do Vương Mệnh là chính, khi rảnh mới viết cái này nên không đảm bảo tiến độ ngày 1 chương, chỉ đảm bảo ít nhất 1 tuần 2 chương.


Có bác bảo rằng họ Giang là gốc TQ, không phải nha. Các nhà ngôn ngữ học (Việt Nam và nước ngoài) đã chứng minh từ 'Giang' nghĩa là 'sông lớn' có nguồn gốc Việt cổ, là tên gọi chính thức của con sông có tên là Trường Giang ngày nay. Ít nhất là đến thời Hán vẫn chưa dùng chữ 'Giang' nghĩa là 'sông' này. Thời đó, Trường Giang có tên là 'Giang thủy', và các sách địa chí thời xưa cũng công nhận tên sông Giang đã có từ trước khi người Hán đến đó. Mọi người cũng nên nhớ rằng, cho đến thời Chu, người Tàu vẫn còn ở mạn Hoàng Hà.

gianghoaingoc
27-08-2010, 12:16 AM
Chương 2 : XUYÊN VIỆT – TA CŨNG XUYÊN VIỆT


Giang Phong chợt tỉnh thần, rồi có cảm giác như đang rơi từ trên cao xuống. Giang Phong mở mắt ra, và nhận ra mình đang rơi thật. Tiếp đó, Giang Phong chạm đất, không, không phải chạm đất, bởi nếu chạm đất thì Giang Phong không thể yên ổn thế này, ít nhiều cũng phải bị thương chứ. Và rồi Giang Phong cảm thấy bên dưới có vật gì đó mềm mềm. Khi nhìn kỹ, Giang Phong điếng người.

Người. Chính xác là một thi thể vừa tử vong. Có lẽ người này vừa bị Giang Phong đè chết. Xung quanh cũng còn hơn chục người nữa cũng bị đè chết bởi bàn ghế đồ đạc bị lỗ đen hút theo Giang Phong. Đang ở đâu đây ? Giang Phong đưa mắt nhìn quanh.

Đập vào mắt Giang Phong đầu tiên là cảnh núi rừng hùng vĩ. Tiếp đó, ở cách chỗ Giang Phong không xa có một toán hơn mười người đang tay cầm giáo mác, vẻ mặt trầm trọng, người đầy thương tích. Điều đặc biệt là bọn họ đều ăn mặc theo kiểu người dân tộc miền núi, và kể cả những người vừa bị đè chết cũng vậy. Những người kia nhìn Giang Phong với vẻ lo lắng bất an. Sự xuất hiện của Giang Phong cùng những thứ đồ đạc mà Giang Phong ‘mang theo’ hoàn toàn nằm ngoài tầm hiểu biết của bọn họ.

Làm gì đây ? Giang Phong suy nghĩ thật nhanh, rồi đứng lên, ngửa mặt nhìn trời, khẽ hừ một tiếng, nói :

- Các ngươi thật quá đáng. Tự nhiên đẩy ta xuống chỗ này.

Bọn người kia đưa mắt nhìn nhau. Một lão già trong bọn bạo gan bước tới, ngập ngừng hỏi :

- Đại nhân có phải đến từ kinh đô.

Nghe lão hỏi, Giang Phong bất giác giật mình. Kinh đô ? Chẳng lẽ xuyên việt rồi. Trước giờ chỉ thấy chuyện xuyên việt trong các tiểu thuyết. Không ngờ lúc này lại gặp phải. Giang Phong ngẫm nghĩ giây lát, đoạn hỏi :

- Đây là đâu ? Lúc này là thời nào thế ?

Lão già cung kính đáp :

- Hồi đại nhân. Nơi đây là ấp Nam Nhung, thuộc Kiềm Châu, trấn Nghệ An. Năm nay là năm Quang Thái thứ 10.

Giang Phong ngẫm nghĩ, cũng không nghĩ ra là thời nào, nhưng có thể chắc chắn một điều là không phải thời hiện đại, bởi thời hiện đại không có dùng từ kinh đô. Việc này từ từ tìm hiểu cũng được. Giang Phong đưa mắt nhìn quanh, rồi hỏi :

- Ở đây vừa xảy ra việc chi thế ?

Lão già thở dài nói :

- Hồi đại nhân. Bọn kia là người của nước Chiêm Thành, sang dụ các tộc trong vùng theo hàng. Tộc của chúng ta không chịu theo, nên bị bọn họ lập kế sát hại. Cũng may đại nhân xuất hiện kịp thời, giết bọn chúng đi, cứu mạng mọi người.

Giang Phong khẽ thở phào. Xem ra việc giết người này không những không sao mà còn là chuyện tốt, được những người kia mang ơn. Xem người Chiêm Thành dụ hàng không được, phải ‘lập kế’ sát hại cũng đủ thấy bọn họ thế lực không nhỏ. Dù rằng sẽ kết oán với người Chiêm Thành, nhưng Giang Phong không lo lắm. Giang Phong hỏi han một lúc, biết được bọn họ là đầu lĩnh của Đông Giang tộc, một trong những tộc lớn nhất vùng, tộc nhân lên đến hàng nghìn, sống tập trung trong các động Lễ Dương, Tiết La, Lục Lang, Hùng Yên. Nơi bọn Giang Phong đang đứng chính là thánh sơn, nơi tế thần của tộc. Các đầu lĩnh của tộc lúc đi lên núi tế thần thì bị đám người Chiêm Thành tập kích.

Sau khi nắm được phần nào hiện tình, Giang Phong bảo bọn họ lo chữa trị vết thương, còn bản thân Giang Phong thì kiểm tra toàn bộ những gì hiện có. Toàn bộ tài sản của Giang Phong lúc này gồm có : đồng hồ (vừa được nhận thưởng), ví tiền (tiền và giấy tờ chắc không còn sử dụng được), điện thoại (ở đây đương nhiên không có sóng, pin chắc chỉ còn xài được 1 ngày), lược nhỏ, kính cầm tay và con dấu cá nhân. Đó là những thứ Giang Phong luôn mang theo trên người. Ngoài ra thì chỉ còn bộ quần áo đang mặc. À, còn có hơn chục bộ bàn ghế bị hút theo Giang Phong nữa. Giang Phong khẽ lắc đầu. Lạ đất lạ người, giữa rừng sâu núi thẳm, xem ra không thể tự lập được rồi.

Sau khi nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, chúng đầu lĩnh của Đông Giang tộc trở về động. Giang Phong cũng đi theo bọn họ. Trước lúc lên đường, Giang Phong cùng bọn họ vận chuyển phần lớn tài sản của Giang Phong mà không mang theo được (bàn ghế) vào trong một hang động gần đấy cất giữ. Hang động đó là nơi thờ tự của bọn họ, khô ráo sạch sẽ, tạm cất giữ được. Những vật từ trên trời rơi xuống, bọn họ chưa từng thấy bao giờ, được cho là đồ vật của Thần linh, do đó có thể cất giữ cùng những đồ tế tự mà không gây ra ý kiến gì. Tiền bạc trong ví tiền của Giang Phong hiện không thể dùng được, nhưng số bàn ghế đó chắc chắn có giá trị lớn nha. Ít ra Giang Phong cũng phải tính toán cho tương lai của mình ở nơi xứ lạ quê người này chứ.

Đến chiều, mọi người về đến động Lễ Dương, chỉ cách thánh sơn khoảng 2 cây số, theo lời của Trưởng lão (lão già từng nói chuyện với Giang Phong) là 5 dặm, tức mỗi dặm khoảng 400 mét. Động Lễ Dương khá rộng rãi, cư dân ước hơn nghìn người, trừ y phục mặc trên người thì cách thức sinh hoạt không khác người Kinh là mấy. Theo lời Trường lão cho biết, nơi đây từng là chỗ đóng quân của vua Trần khi đi đánh Ai Lao năm xưa, trong núi vẫn còn bia ghi lại. Do đó mà người dân nơi này tiếp xúc nhiều với người Kinh, cách sống cũng tương đối tiếp cận.

Giang Phong theo Trưởng lão về nhà, và tạm thời sống lại đấy. Bọn họ đối Giang Phong rất cung kính. Khi được hỏi trước đây sống ở đâu, Giang Phong chỉ lên trời, và bọn họ không hề nghi ngờ, bởi Giang Phong nhìn trước nhìn sau đều không giống người của thời này (giống sao được mà giống), lại bị rơi từ trên trời xuống cùng với rất nhiều ‘thần vật’.

Sau một thời gian, Giang Phong đã tìm hiểu được hiện trạng đương thời. Lúc này là giai đoạn cuối của thời Trần. Niên hiệu Quang Thái là của vị vua gần cuối, dường như chỉ làm vua được khoảng 10 năm (chính xác là từ 1388 đến 1398), rồi bị Hồ Quý Ly bức phải nhường ngôi cho con lúc đó mới 3 tuổi mà vào núi tu tiên. Hai năm sau thì Hồ Quý Ly cướp ngôi. Tiếp đó thì nhà Minh bên Tàu sang đánh, và bắt đầu thời kỳ ‘Thuộc nhà Minh’. Thời này là giai đoạn biến loạn của Đại Việt. Giang Phong xuyên việt đến thời kỳ này, thật là không may.

Đến thời này được khoảng 1 tháng, Giang Phong đã học được một số Hán tự. Giang Phong không thể không học, bởi nếu không học Hán tự thì sẽ không thể đọc được sách vở thư từ. Người Việt từ xưa đến nay chỉ nói có một thứ tiếng, nhưng thời bấy giờ viết bằng chữ Hán, và chữ Nôm lúc này chưa được phổ biến, mà muốn học chữ Nôm thì lại phải học chữ Hán trước (thành ra còn khó hơn, chỉ có một số ít sĩ phu mới học).

Hôm đó, chúng đầu lĩnh của Đông Giang tộc lại nhóm họp ở nhà Trưởng lão. Giang Phong được thỉnh đến tham dự, và vị trí cao nhất vốn của Trưởng lão được nhường lại cho Giang Phong. Dù sao Giang Phong cũng là ‘thần linh’ mà. Theo quan niệm lúc bấy giờ, vũ trụ có 'tam giới’ : Thượng giới (tiên giới), Hạ giới (nhân gian giới) và U Minh giới (quỷ giới). Nếu không phải người phàm thì tất phải là thần linh hoặc yêu ma quỷ quái. Mà Giang Phong ‘bị đẩy’ từ trên trời xuống (theo lời Giang Phong nói và cũng theo những gì bọn họ trông thấy), nên tất phải là thần linh trên Thượng giới.

Khi nghe mọi người bàn bạc, Giang Phong mới biết người Chiêm Thành lại sang quấy rối. Từ khi Trần Khát Chân đánh bại quân Chiêm Thành năm canh ngọ (1390), Chiêm vương Chế Bồng Nga tử trận thì Chiêm Thành đã suy yếu, không còn thực lực sang đánh Đại Việt nữa. Thế nhưng, hàng năm bọn họ vẫn sang quấy nhiễu các vùng biên giới, chiêu hàng các tộc trong vùng. Và ở xứ Kiềm Châu này, cũng có một số tộc thiên hướng theo Chiêm Thành. Hiện thời các quan trong triều đang mải lo tranh quyền đoạt lợi, ở những nơi xa xôi này không ai quản tới, các tộc phải tự lo lấy. Đông Giang tộc đã từng giết hại sứ giả của Chiêm Thành (thật ra là bị Giang Phong đè chết), cho nên lần này bọn họ kéo sang có thể là nhắm vào Đông Giang tộc. Vì thế mà mọi người nhóm họp bàn cách đối phó.

Cũng cần phải giải thích thêm, ngày xưa nếu vua lên ngôi vào giữa năm thì năm đó vẫn dùng niên hiệu của vua trước, sang năm mới bắt đầu sử dụng niên hiệu của vua mới, gọi là nguyên niên. Trần Thuận Tông làm vua từ năm 1388 đến năm 1398 với niên hiệu Quang Thái thì năm Quang Thái nguyên niên là năm 1389, đến năm Quang Thái thứ 10 là năm 1398. Xem ra năm nay Thiếu Đế 3 tuổi lên ngôi, và còn 2 năm nữa thì Hồ Quý Ly sẽ cướp ngôi. Từ năm 1396, theo ý muốn của Hồ Quý Ly, triều đình đã dời đô vào Thanh Hóa, gọi là Tây Đô, tại động Yên Tôn, huyện Vĩnh Lộc, trấn Thanh Đô (tên của Thanh Hóa lúc bấy giờ). Lúc này tình hình triều đình cực kỳ khẩn trương.

Trước tin quân Chiêm Thành sắp sang đánh, mọi người bàn tán phân vân. Theo tin tức nhận được, quân Chiêm ước khoảng 2.000, phần lớn trang bị tinh lương. Còn Đông Giang tộc tối đa chỉ huy động được 1.500 tráng sĩ, trang bị chỉ tạm được. Hơn kém quá rõ. Nhiều người đề nghị mang hết tài sản tạm lánh vào rừng. Quân Chiêm kéo sang không cướp bóc được gì, rồi cũng phải rút đi. Nhưng cũng có người quyết chống giữ với giặc.

Bàn tán một hồi, mọi người không sao quyết định được, đều đưa mắt nhìn Giang Phong.

gianghoaingoc
28-08-2010, 01:23 AM
Chương 3 : CHIÊM QUÂN LAI PHẠM


Lại nói, trước tin quân Chiêm Thành sắp sang đánh, mọi người bàn tán phân vân. Do thực lực song phương hơn kém quá rõ. Nhiều người đề nghị mang hết tài sản tạm lánh vào rừng tránh giặc, thực hiện vườn không nhà trống. Nhưng cũng có người quyết chống giữ với giặc, bảo vệ đất đai của tổ tiên. Bàn tán một hồi, mọi người không sao quyết định được, đều đưa mắt nhìn Giang Phong.

Nãy giờ Giang Phong chỉ ngồi yên nghe mọi người tranh luận, giờ thấy mọi người đều nhìn mình chờ đợi, Giang Phong ngẫm nghĩ một lúc, rồi mới nói :

- Bỏ mặc cho giặc vào cướp thì không nên rồi. Nhưng nếu trực tiếp đánh nhau với giặc cũng không ổn. Dù thắng hay thua cũng sẽ thiệt hại nặng nề.

Trưởng lão Phạm Thế Hưng ánh mắt sáng lên hỏi :

- Phải chăng đại nhân muốn nói đến dùng kế ?

Giang Phong mỉm cười hỏi :

- Nếu như không phải đánh nhau với quân Chiêm Thành mà vào rừng săn bắn thì toàn tộc có thể động viên được bao nhiêu người ?

Mọi người không hiểu ý Giang Phong, ngơ ngác nhìn nhau. Trưởng lão đáp :

- Nếu chỉ là săn bắn, phần lớn người già và phụ nữ đều có thể tham gia, tính ra cũng khoảng 3.000 người.

Đông Giang tộc vốn là một nhánh của người Mường ở Thanh Hóa, sau theo vua Trần vào đánh Ai Lao, rồi định cư ở vùng Kiềm Châu này (nay thuộc huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An). Nơi đây là cửa ngõ chính thông sang đất Ai Lao lúc đó. Nhà Trần mấy lần cất quân đánh Ai Lao, đều theo đường này. Quân Ai Lao sang cướp phá Đại Việt, cũng đi qua đây. Minh Tông Thượng Hoàng từng dẫn đại quân đến đóng ở Kiềm Châu, khiến giặc sợ hãi không dám vào cướp phá. Thượng Hoàng bèn sai ông Nguyễn Trung Ngạn làm bài bia khắc trên núi để ghi công. Bài bia đó có chữ lớn bằng bàn tay, khắc vào đá sâu đến 1 tấc, đến nay vẫn còn, nội dung tạm dịch như sau :

“Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng là vua thứ sáu đời nhà Trần, nước Hoàng Việt chịu mệnh trời nhất thống cõi trung hạ, trong đất ngoài biển đâu cũng thần phục. Nước Ai Lao nhỏ mọn kia dám ngạnh vương hóa; cuối mùa thu năm ất hợi (1335) vua thân đem sáu quân (1) đi tuần cõi tây. Thế tử (2) nước Chiêm Thành, nước Chân Lạp, nước Tiêm La và tù trưởng các đạo mán là Quỳ, Cầm, Xa, Lạc, tù trưởng rợ Bồ Man mới phụ và các bộ Mán Thanh xa đều mang phương vật tranh nhau đến đón rước. Chỉ có tên nghịch Bổng cứ giữ mê tối, sợ phải tội chưa lại chầu ngay. Cuối mùa đông vua đóng quân ở cánh đồng Cự, thuộc châu Mật, sai các tướng và quân rợ mọi vào tận nước, nghịch Bổng theo gió chạy trốn. Vua mới xuống chiếu đem quân về. Lúc bấy giờ là ngày tháng chạp năm ất hợi, niên hiệu Khai Hữu thứ 7, khắc vào đá.”

(chú 1 : theo Chu Lễ, Thiên tử có 6 quân, chư hầu nước lớn có 3 quân, nước vừa có 2 quân, nước nhỏ có 1 quân; cho nên quân đội thường được gọi là ‘tam quân’, chỉ có thiên tử mới được dùng ‘lục quân’ – tiền, hậu, tả, hữu, trung, ngự lâm).

(chú 2 : Thế tử là con vua chư hầu, còn con Thiên tử mới được gọi là Thái tử).

Tuy quân Trần tạm thời đánh đuổi được giặc, nhưng cũng chỉ có thể giữ không cho quân giặc vào trong cõi cướp phá, chứ không diệt được hẳn, do đó mới phái tướng quân họ Phạm dẫn bản bộ trấn giữ. Họ Phạm người Mường, nên dân Mường ở mạn Thanh Hóa theo về rất đông, hình thành nên Đông Giang tộc hiện giờ, đời đời trấn giữ đất này. Trong những lần đánh Chiêm Thành gần đây, quân triều đình thường xuyên đại bại, các hào trưởng trong vùng cùng nhiều tôn thất nhà Trần đều theo hàng Chiêm, chỉ có Phạm Thế Căng và Phan Mãnh một lòng một dạ theo triều đình, nên sau khi dẹp giặc xong đều được trọng thưởng. Phạm Thế Căng chính là con của Trưởng lão Phạm Thế Hưng, hiện đang làm Thiêm phán đất Kiềm Châu (thật ra vẫn làm nhiệm vụ trấn thủ ở đây, không được tăng thêm chút quyền lực nào, có lẽ vì thế mà gây nên bất mãn, dẫn đến kết cục như trong sử sách (3) chăng ?).

(chú 3 : theo sử sách, khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần thì Phạm Thế Căng theo nhà Hồ; khi nhà Minh bên Tàu sang đánh nhà Hồ, họ Phạm lại theo nhà Minh; khi quân Hậu Trần nổi lên, họ Phạm chống lại, sau bị tướng nhà Hậu Trần là Đặng Tất bắt được giết đi, chết năm 1408).

Trong những người dự hội cũng có cả Phạm Thế Căng. Y là người từng dẫn quân chinh chiến, hiện lại đang là quan quân triều đình, nên nói thêm :

- Phía Kiềm Châu cũng có thể điều động 500 quân, nhưng chỉ là dân binh, không phải tinh nhuệ.

Giang Phong nói :

- Xem ra chúng ta có 2.000 dân binh chống nhau với 2.000 quân tinh nhuệ của Chiêm Thành. Số còn lại chỉ có thể phất cờ gióng trống mà làm nghi binh.

Phạm Thế Căng hỏi :

- Đại nhân. Chúng ta nên làm thế nào ?

Giang Phong mỉm cười nói :

- Dùng 4 chữ : nhiễu, dụ, phục, sát.

Mọi người đưa mắt nhìn nhau, rồi phân phân bàn tán. Sau đó, kế hoạch được định ra, và mọi người phân đầu hành sự. Phạm Thế Căng từng là tướng quân, được giao thống lĩnh 2.000 dân binh (1.500 của Đông Giang tộc và 500 của Kiềm Châu), có cháu là Phạm Đống Cao giúp sức; còn Trưởng lão Phạm Thế Hưng chỉ huy những người còn lại và phụ trách phòng vệ các động.

Vài ngày sau.

Quân Chiêm Thành từ phía nam kéo sang, lần theo bờ sông Tiết La kéo về đất Kiềm Châu. Mục tiêu của bọn họ rõ ràng là Đông Giang tộc. Lần này tuy quân Chiêm chỉ có 2.000, nhưng toàn là tinh nhuệ, phần lớn đã từng theo Chiêm vương Chế Bồng Nga 4 lần tiến vào cướp phá Thăng Long. Những người này đối lãnh thổ Đại Việt cũng khá quen thuộc, là chủ lực của những đạo quân quấy nhiễu Đại Việt bấy lâu nay.

Thế nhưng, khác với những lần trước, lần này quân Chiêm không thể nào yên ổn tiến quân. Liên tục có những toán dân binh Đông Giang tộc từ trong rừng dùng cung tên bắn lén, dùng đá ném, thậm chí chỉ hò hét thị uy giả vờ như phục binh. Tuy quân Chiêm không thiệt hại bao nhiêu, mấy ngày qua chỉ tổn thất gần trăm người, nhưng không thể nào yên tĩnh nghỉ ngơi được, cả đoàn quân mệt mỏi vô cùng. Chiêm tướng không phải không muốn đuổi theo tiêu diệt những kẻ địch đáng hận kia, nhưng bọn họ không sao thông thuộc địa hình bằng người của Đông Giang tộc, mỗi khi truy đuổi không những tốn công vô ích, mà đôi khi còn tổn thất không ít người. Cuối cùng, Chiêm tướng chỉ còn cách mắt nhắm mắt mở, không cho truy đuổi nữa mà truyền lệnh quân Chiêm tăng cường đề phòng bị tập kích.

Bắt đầu từ hôm qua, dụng cách ứng phó trên, quân Chiêm đã không còn tổn thất nhân mạng nữa. Dù vẫn còn chịu sự quấy nhiễu không ngừng, mệt mỏi vô cùng, nhưng đó cũng là một thành tích đáng mừng. Chiêm tướng thở phào nhẹ nhõm, định tăng gia tốc độ hành quân, khi nào đến gần lãnh địa của Đông Giang tộc sẽ cho quân nghỉ ngơi dưỡng sức trước khi chiến đấu.

Đột nhiên, giữa đoàn quân có nhiều tiếng quát tháo xen lẫn với những tiếng rên rỉ kêu la. Chiêm tướng cả kinh, quay lại nhìn, và bất giác thất sắc. Khủng bố ! Quang cảnh thật là khủng bố nha ! Hàng đàn ong độc bay đầy trời, xông vào châm chích quân Chiêm, khiến cả bọn trúng độc, kêu la rên rỉ inh ỏi. Ong không như người, thân hình quá nhỏ, lại bay khá nhanh, nên không sao tiêu diệt hết được. Làm thế nào mà xuất hiện vô số ong độc như thế này. Phải rồi ! Đông Giang tộc ! Chắc chắn là bọn người Đông Giang tộc đã làm. Chiêm tướng tức giận vô cùng, nhưng cũng đành phải lo đối phó với sự tình trước mắt, liền truyền lệnh quân Chiêm nổi lửa đuổi ong. Ngày xưa không có bật lửa như thời hiện đại, mỗi lần nổi lửa không phải dễ, do đó mà khi bầy ong độc bị xua đuổi hết thì quân Chiêm cũng tổn thất thảm trọng. Đến khi kiểm điểm lại, phát hiện thủ hạ tuy không có ai tử vong, nhưng thọ thương cũng gần 500, Chiêm tướng tức đến trào máu miệng. Chưa tiến đến chỗ địch nhân mà đã thiệt hại gần một phần ba quân số rồi. Tình thế có vẻ không may a.

Kế sách dùng ong đuổi giặc này, Giang Phong đã học theo cách làm của quân dân miền Tây sử dụng thời chống Mỹ, tuy không giết chết quân giặc, nhưng khiến số quân giặc không thể chiến đấu tăng gấp ba lần, bởi thương binh không thể bỏ mặc, mỗi thương binh cần phải có hai người khiêng. Cứ có một thương binh thì sẽ có ba người bị loại khỏi vòng chiến. Quân Chiêm thì không đến nỗi như vậy, nhưng ít ra cũng mỗi người cõng một người. Kết quả là có gần nghìn quân Chiêm bị loại khỏi vòng chiến.

Đêm đến, khi quân Chiêm cắm trại nghỉ ngơi thì đến nửa đêm, từ bên ngoài có những tiếng hò reo vang dội như muốn tập kích doanh trại. Mấy ngày qua, quân Chiêm đã quá quen với cảnh này rồi, nên ai canh gác tiếp tục canh gác, ai ngủ cứ tiếp tục ngủ. Đặc biệt là số thương binh và những người phải cõng thương binh, do cả ngày hành quân mệt nhọc nên đều kiệt sức, ngủ say như chết. Trước tình cảnh đó, Chiêm tướng cũng không quá lo lắng, bởi quân giặc mà đến tập kích thì đâu khi nào hò reo náo động đến như vậy.

gianghoaingoc
29-08-2010, 04:35 AM
Chương 4 : NỬA ĐÊM TẬP DOANH


Lại nói, khi bên ngoài doanh trại có những tiếng hò reo vang dội như muốn tập kích quân doanh, thì bên trong doanh trại, tướng sĩ quân Chiêm ai vẫn cứ làm việc nấy, ai canh gác tiếp tục canh gác, ai ngủ cứ tiếp tục ngủ. Đặc biệt là số thương binh và những người phải cõng thương binh, do cả ngày hành quân mệt nhọc nên đều kiệt sức, ngủ say như chết. Cả bọn đều lo dưỡng sức cho cuộc hành quân ngày mai. Lúc này đây, quân Chiêm sợ nhất là thời gian hành quân ban ngày, không biết rồi sẽ gặp phải chuyện khủng bố gì nữa. Thủ đoạn của Đông Giang tộc khiến cả bọn không lạnh mà run. Cả Chiêm tướng cũng vô kế khả thi, không biết đường nào mà đề phòng.

Lúc này, từng làn gió mát thổi tới, đám quân Chiêm canh gác còn rất cao hứng, thậm chí có người nói :

- Tối nay trời còn không tệ nha. Ăn no rồi, còn có gió mát, thật là sung sướng. Chả bù với tối qua, trời nóng không chịu được.

Bên cạnh lập tức có người tán đồng :

- Đúng thế ! Đúng thế ! Xem ra vận xui sắp rời khỏi chúng ta rồi. Ngày mai tình hình có thể khá hơn.

Giữa lúc đó chợt có người bảo :

- A ! Không đúng nha ! Sao bọn mọi cứ hò reo mãi không dứt vậy nha. Bọn chúng không mệt thì chúng ta cũng thấy mệt.

Những người còn lại đều lắng tai nghe, rồi gật gù nói :

- Phải đó nha. Mấy đêm trước bọn chúng chỉ kéo đến reo hò một lúc thôi hà.

Chính giữa lúc bọn quân Chiêm bàn tán phân phân thì từ xa có vô số mũi tên bắn tới như mưa. Vút. Vút. Vút … Những mũi tên vô tình bay tới, giết hại hay trọng thương hàng loạt quân Chiêm. Bọn quân Chiêm phụ trách canh gác này hoàn toàn không tận chức, địch nhân kéo đến sát bên cạnh rồi mà vẫn không hay biết, để đến nỗi ám tiễn thương thân. Nhưng thật ra chuyện này cũng không thể trách được bọn chúng. Giữa đêm tối chẳng nhìn rõ được gì, chỉ có thể phân biệt người qua lại bằng thanh âm. Nhưng thanh âm lúc này thì … Khắp bốn phía đều vang dội những tiếng hò reo. Ngoài những tiếng hò reo liên tục dội vào tai, đã liên tục mấy đêm liền khiến bọn họ gần như miễn dịch, thì bọn chúng không thể nghe được thanh âm nào khác. Dân binh của Đông Giang tộc lẳng lặng tiến đến gần mà bọn chúng không hề hay biết.

Những cảnh trạng tương tự cũng diễn ra ở những hướng khác. Tất cả số quân Chiêm canh gác ở vòng ngoài đều bị giải quyết gọn gẽ. Dân binh Đông Giang tộc lại lặng lẽ tiến sát vào trong. Và lại một đợt tập kích các toán quân Chiêm canh gác nữa. Nhưng lần này không hoàn toàn giữ được bí mật. Mục đích bạo lộ.

Chiêm tướng cũng là một người năng chinh thiện chiến, bố trí canh gác gồm cả hai bộ phận ‘minh’ và ‘ám’. ‘Minh’ là những toán quân Chiêm canh gác bên ngoài. Còn ‘ám’ là số quân Chiêm ẩn núp trong những lùm cây bụi cỏ. Dân binh Đông Giang tộc sát hại được những toán quân Chiêm canh gác ở bên ngoài thì bị nhóm ‘ám’ báo động. Toàn doanh trại quân Chiêm được lệnh báo động toàn quân.

Mục đích bạo lộ, không còn thế bất ngờ, Phạm Đống Cao chỉ huy dân binh dưới quyền chuyển sang thực hiện phương án hai, nghênh ngang xuất hiện, đường đường chính chính tiến công vào doanh trại. Chiêm tướng được tin báo, đã tập họp gần nghìn quân Chiêm còn đủ sức chiến đấu (những kẻ không phải thương binh hay ban ngày không phải cõng thương binh) kéo ra ngăn chống. Địch quân chưa đến 500, gã tin rằng với số quân đó cũng đủ sức giải quyết.

Phạm Đống Cao cùng chúng dân binh sau một phen xông sát, thấy đại đội quân Chiêm kéo ra, liền nhanh chóng rút lui. Bọn họ đều thông thạo địa hình rừng núi vùng này, di chuyển trong rừng nhanh như gió, quân Chiêm không sao đuổi kịp. Chiêm tướng rút kinh nghiệm những lần bị tập kích trước đây, cũng không cho quân đuổi theo. Kiểm điểm ba quân, thấy tổn thất hơn 200 người, Chiêm tướng giận quá, không chỗ phát tiết, chỉ có thể lớn tiếng mắng chửi Đông Giang tộc xảo quyệt đê hèn, không dám đường đường chính chính đối trận cùng gã ta. Gã không nghĩ rằng quân sĩ của gã đều là quân chính quy tinh nhuệ, còn phía Đông Giang tộc toàn là dân binh. Song phương đối trận thì đâu thể nào gọi là công bằng cho được. Kẻ mạnh dùng sức, kẻ yếu dùng mưu là thiên kinh địa nghĩa.

Thế nhưng, gã ta chỉ mắng chửi được mấy câu thì phải dừng lại, vì có binh sĩ đến báo nam dinh bị địch nhân tấn công. Gã ta cả kinh, vì nam dinh chính là nơi cất giữ lương thực, nếu có gì bất trắc thì toàn quân lâm nguy. Do đó gã lập tức suất lĩnh quân đội cứu viện nam dinh.

Kéo quân đến nam dinh, gã vội dàn quân phòng ngự, bảo vệ khu vực chứa lương thực. Vì giữa đêm tối, để đề phòng bất trắc, gã không dám phản công mà chỉ lo phòng ngự, chờ trời sáng sẽ hay. Dù sao thì cũng chỉ vài giờ nữa thôi thì trời sẽ sáng. Sau khi bố trí phòng ngự xong, gã mới rảnh rang quan sát tình hình. Đến lúc này gã chấn kinh không sao tưởng tượng được. Phía xa xa, cả hai hướng đông nam và tây nam có vô số bó đuốc chiếu sáng rực cả một vùng, và đối phương đang chỉnh quân, chuẩn bị tấn công về phía này. Tiếng hò reo vang trời dậy đất. Quan trọng hơn cả, nhìn thoáng qua cũng có thể xác định được ở mỗi phía ít nhất cũng có đến 1.000 người. Chẳng lẽ Đông Giang tộc kéo hết trai tráng trong tộc đến đây. Và gã ta càng thêm quyết tâm phòng ngự, chỉ cầu giữ cho được kho lương. Còn đánh nhau thì lúc nào đánh cũng được, chẳng cầu chi ngay lúc này.

Núi rừng Kiềm Châu.

Giờ đây quanh doanh trại của Chiêm quân khắp tứ bề đều nghe thấy những tiếng hò reo vang dội. Nhưng Chiêm tướng cho rằng tất cả đều là hư trương thanh thế, chỉ có hướng tấn công vào nam dinh là thật, bởi vì toàn doanh trại chỉ có nam dinh là quan trọng nhất, là nơi chứa lương thực, là mệnh mạch của toàn quân.

Nghe thấy quá nhiều tiếng hò reo từ cả bốn phía dồn đến, Chiêm quân ai nấy đều khẩn trương, nhưng dưới sự đốc thúc của Chiêm tướng, cả bọn không ai dám rời khỏi vị trí. Từ quân đến tướng, ai cũng mong cho trời mau sáng.

Đối phương hò reo, lại hò reo. Chiêm quân chờ đợi, lại chờ đợi.

Song phương đối trận đến gần sáng thì phía Đông Giang tộc rút lui. Đối phương không tấn công khiến Chiêm tướng rất bất ngờ. Thế nhưng, sau khi trời sáng, gã kiểm tra doanh trại, kiểm điểm ba quân thì trở nên lồng lộn điên cuống, bởi phương hướng mà gã đoán là thật thì chỉ là nghi binh, còn các hướng khác mà gã cho là nghi binh thì lại là thật công.

Cho đến khi gần sáng, các dinh khác trong doanh trại đều đã bị đối phương công phá, trừ số quân chưa đến nghìn người theo gã phòng thủ nam dinh, những người còn lại đều đã trận vong hoặc trọng thương mất sức chiến đấu. Những người này hầu như đều là thương binh bị ong chích hay những người đã cõng thương binh vào ban ngày, do mệt quá nên đêm đến là ngủ vùi, bị tấn công mà không kịp trở tay. Tình thế quân Chiêm lúc này vô cùng tồi tệ. Chỉ còn hơn 900 quân là còn sức chiến đấu, với điều kiện là bỏ mặc những kẻ thọ thương. Mà nếu làm thế thì sẽ khiến sĩ khí đại giảm, bởi sĩ binh không ai chắc rằng sắp tới mình không thọ thương, hay thọ thương rồi không bị bỏ mặc. Đường hành quân sắp tới chắc chắn rất là khủng bố. Thủ đoạn của đối phương bọn họ đều lần lượt nếm qua rồi. Rất đáng sợ a.

Ngày hôm đó, quân Chiêm ở lại doanh trại củng cố đội ngũ, chữa trị cho người bị thương chứ không tiếp tục hành quân. Hơn nữa, Chiêm tướng tiến thoái lưỡng nan, bởi với lực lượng còn lại lúc này, không đủ năng lực tấn công Đông Giang tộc nữa. Nhưng chẳng lẽ như thế này lại quay về.

Đến tối hôm sau, người của Đông Giang tộc lại kéo đến. Lần này bọn họ không bất thần tập kích nữa, mà đường đường chính chính kéo đến. Lực lượng Đông Giang tộc lúc này rất đông đảo, lên đến 3.000 người, gồm 2.000 dân binh và 1.000 ‘dự binh dân binh’. Có điều bọn họ không tấn công vào doanh trại, chỉ bao vây bên ngoài. Quân Chiêm cũng chỉ phòng ngự ở bên trong, chờ trời sáng. Lần này bọn chúng học khôn hơn, co cụm lại ở nam dinh, không phân tản ra như trước nữa. Cả bọn đều hiểu rằng truy đuổi nhau trong rừng, dù là ban ngày thì phần bất lợi cũng thuộc về bọn chúng, chứ đừng nói chi là giữa đêm hôm tăm tối thế này.

Phía bắc doanh trại quân Chiêm, hai cha con Trưởng lão Phạm Thế Hưng và Phạm Thế Căng quan sát vòng vây, thầm hài lòng. Phạm Thế Căng hỏi :

- Phụ thân. Chúng ta chỉ bao vây như thế thôi à ?

Trưởng lão Phạm Thế Hưng cười hắc hắc nói :

- Sao lại chỉ bao vây như thế. Đại nhân đã biết trước sẽ có chuyện này nên đã sắp đặt cả rồi. Hắc hắc. Ta đã chuẩn bị một bữa tiệc thịnh soạn cho bọn chúng rồi. Lát nữa sẽ thấy.

Phạm Thế Căng rất hiếu kỳ, nhưng dù có hỏi thế nào thì cũng vô ích, chỉ được bảo : chờ lát nữa sẽ biết.

gianghoaingoc
30-08-2010, 12:31 AM
Chương 5 : QUÂN CHIÊM ĐẠI BẠI


Lại nói, khi nghe phụ thân bảo đã chuẩn bị một bữa tiệc thịnh soạn cho quân Chiêm, Phạm Thế Căng rất hiếu kỳ, nhưng dù có dò hỏi thế nào thì cũng vô ích, chỉ đành chờ xem. Lát sau, Phạm Đống Cao cũng đến, hào hứng nói :

- Trưởng lão ơi. Chúng ta tấn công chứ ạ ? Người của chúng ta đông gấp ba chúng, thắng chắc.

Trưởng lão Phạm Thế Hưng trừng mắt nhìn gã, nói :

- Tấn công. Chỉ biết tấn công. Quân Chiêm toàn là tinh nhuệ thiện chiến. Chúng ta tấn công sẽ thương vong rất nặng đó.

Phạm Đống Cao tiu nghỉu hỏi :

- Vậy chúng ta phải làm sao ? Cứ bao vây mãi như thế thôi ư ?

Trưởng lão Phạm Thế Hưng nói :

- Chờ chút đi. Bọn nhỏ chuẩn bị cũng sắp xong rồi.

Không sao được, cả hai chỉ đành chờ đợi.

Lát sau …

Đột nhiên, giữa đêm tối, giữa cảnh khẩn trương, từ trong doanh trại quân Chiêm chợt vọng ra những tiếng rú nghe cực kỳ thê thảm. Rồi tiếp đó là những tiếng kêu gào thảm thiết. Chúng nhân liền kéo đến gần, xem thử tình hình.

Lúc này, trong doanh trại quân Chiêm đèn đuốc sáng rực, những tiếng kêu “Rắn độc”, “Rết kìa”, “Coi chừng”, “Giết nó” … vang lên không ngớt, xen lẫn với tiếng kêu gào rên rỉ, vô cùng hỗn loạn. Hóa ra người của Đông Giang tộc chỉ bao vây mà không tấn công, lại từ bên ngoài ném vào trong doanh trại đủ thứ độc vật : rắn, rết, bọ cạp, … Thậm chí còn có nơi bị ném vào nguyên cả một tổ ong lớn. Chính lũ ong và độc vật đã khiến cho doanh trại của quân Chiêm hỗn loạn. Rất nhiều quân Chiêm bị ong độc chích, bị rắn rết cắn và trở thành thương binh. ‘Vũ khí sinh học kiểu nguyên thủy’ này xem ra cũng rất lợi hại a.

Trong lúc Chiêm tướng định lệnh cho thủ hạ lo trừ diệt độc vật, xua đuổi ong độc, thì Phạm Thế Căng thừa cơ chỉ huy dân binh phát động tấn công. Chỉ có điều để giảm bớt thương vong, dân binh chỉ đứng từ xa dùng cung tên tấn công, khiến cho quân Chiêm phải chọn lựa giữa việc chống nhau với người hay với độc vật. Và vì lưỡng diện thọ địch, quân Chiêm thảm bại nhanh chóng, số thương binh càng lúc càng tăng lên, nếu không bị tên bắn trúng thì cũng bị ong chích hay rắn rết cắn.

Trước tình hình đó, Chiêm tướng đành gom góp tàn binh tổ chức phá vòng vây. Quân Chiêm chỉ còn lại hơn 500 người theo sau Chiêm tướng, mà phần lớn cũng đều không lành lặn, thương tích không ít thì nhiều. Thấy quân Chiêm khí thế hung hãn, liều mạng đột phá vòng vây, Phạm Thế Căng không cho dân binh trực tiếp ngăn chặn, mà cố ý nới lỏng vòng vây, để lộ ra một khoảng trống cho quân Chiêm thoát thân. Sau đó y mới xua quân truy đuổi, chém giết những kẻ chậm chân. Trong vùng rừng núi này, quân Chiêm không thể nào thông thạo địa hình bằng người Đông Giang tộc. Cơ hội chạy thoát của bọn chúng không cao.

Trong khi đó, Trưởng lão Phạm Thế Hưng ở lại thu thập chiến quả, xử lý tù binh. Sau trận này, quân Chiêm vẫn còn lại hơn nghìn người, dù đều thọ thương, nhưng chưa tử vong. Trưởng lão cho người xử lý thương thế bọn chúng, rồi áp giải về động.

Sau trận đại thắng quân Chiêm, toàn thể dân chúng các động đều hân hoan phấn khởi, tổ chức ca múa ăn mừng. Đây là lần đầu tiên dân binh Đông Giang tộc độc lập tác chiến với quân Chiêm Thành, và đã thắng lợi vẻ vang, nên rất đáng kỷ niệm.

Ở nhà Trưởng lão, Giang Phong nghe bọn Phạm Thế Hưng báo cáo chiến quả xong, khẽ gật đầu, bảo Phạm Đống Cao :

- Chỉnh bị dân binh, chờ khi hồi phục sức lực xong lập tức xuất chinh.

Phạm Đống Cao ngạc nhiên hỏi :

- Đại nhân. Giờ đánh ai nữa ạ ?

Giang Phong nói :

- Chẳng phải trong vùng vẫn có một số tộc có ý theo Chiêm Thành đó sao ? Nhân đà thắng lợi, nên giải quyết bọn họ luôn cho tuyệt hậu hoạn.

Trưởng lão Phạm Thế Hưng ánh mắt sáng lên, nói :

- Phải đó. Cần giải quyết luôn cho tuyệt hậu hoạn.

Giang Phong mỉm cười nói :

- Đống Cao lo chinh chiến, Thế Hưng lo xử lý chiến quả. Chủ yếu trị tội những kẻ cầm đầu mà thôi. Dân chúng không có tội. Hơn nữa, người của Đông Hưng tộc vẫn còn ít quá.

Trưởng lão Phạm Thế Hưng gật đầu lia lịa, nói :

- Phải đó. Người của bản tộc vẫn còn ít quá.

Thế là cả hai lại đi chỉnh bị dân binh, chuẩn bị xuất chinh. Phạm Đống Cao sẽ thống lĩnh 1.000 dân binh đi trước, Trưởng lão suất lĩnh 1.000 ‘dự bị dân binh’ đi sau tiếp ứng. Nhân đó, Giang Phong còn thảo một đạo hịch văn để giành lấy chính nghĩa. Hịch rằng :

“Nay Chiêm vương La Khải, là kẻ phản nghịch, nguyên vô tài đức, chiếm lấy vương vị, thật là ngụy triều. Trong tàn hại dân chúng, ngoài quấy nhiễu lân bang, thường viễn chinh làm dân khốn khổ. Yêu thanh tương kế, xuất quân phạm Việt. Các ngươi muốn hồn thủy mạc ngư, theo về Chiêm Thành, tội đáng muôn thác. Vì vinh hoa phú quý, dẫn giặc vào trong bờ cõi. Quân giặc quá xứ, dân bất liêu sinh. May nhờ thần thánh hiển linh, quân ta xuất chiến, Chiêm quân đại bại, Chiêm tướng thụ thủ. Các ngươi lại không biết tội mình, nhất tâm theo giặc, ngoan cố kháng cự, làm hại dân chúng, khổ cực trăm bề. Ô hô thương thay ! Đại Việt chúng dân, đau đớn muôn phần. Các ngươi xem tổ tiên như không có, giả danh yêu quái, ngộ đạo lê dân, làm nhơ đạo thánh, làm hại quốc thống. Đại Việt xã tắc, nếu mất về Chiêm, bốn phương hỗn loạn, yêu đồ hoành hành. Phàm là dân Đại Việt ta, cần nên hợp nhau đánh giặc, đồng sức đồng lòng, tiêu diệt nghịch tặc, chỉ trong lần này. Nay truyền hịch văn, chúng dân cẩn ký.”

Trưởng lão Phạm Thế Hưng lập tức cho người sao hịch văn thành nhiều bản, truyền đi các nơi. Thậm chí những nơi đông dân cư trong vùng lão còn phái người đến tuyên đọc cho nhiều người cùng biết (bởi phần lớn dân chúng không biết chữ), cố ý tạo ra thanh thế thật lớn. Đương nhiên đó là việc sau này. Khi hịch văn được truyền đi các nơi, thì có khi mọi việc đã được giải quyết xong hết rồi.

Hai ngày sau, Phạm Thế Căng dẫn quân trở về, ngoài hơn trăm hàng binh còn có thêm thủ cấp của gã Chiêm tướng. Y nghe nói đến hành động của bọn Phạm Đống Cao, lập tức dẫn quân đi tiếp ứng. Thật ra y chỉ muốn an toàn tuyệt đối, chứ thật ra một động có hơn nghìn dân như động Lễ Dương đã là một động lớn hiếm hoi trong vùng rồi. Quân của Đông Giang tộc sĩ khí cao ngang (mới chiến thắng quân Chiêm), nhân số đông đảo (2.000 người), trang bị tinh lương (cướp được của quân Chiêm), đối phó một động hơn nghìn dân không thành vấn đề. Nếu như đối phương hay tin, triệu tập tộc nhân từ các động khác về co cụm phòng thủ thì cũng có thể để lại đó, chờ giải quyết sau. Huống chi cũng có thể thượng báo triều đình về hành vi ‘tạo phản’ của đối phương – dù sao thì theo Chiêm Thành cũng đồng nghĩa với tạo phản rồi. Mà vua chúa nào cũng đều rất nhạy cảm với hành vi tạo phản.

Hơn mười ngày sau, bọn Phạm Thế Hưng, Phạm Thế Căng, Phạm Đống Cao lục tục trở về, mang theo rất nhiều tài vật cướp được. Trong lần xuất quân này, bọn họ chiếm được gần 10 động ‘phản nghịch’, có gần 20 động nhỏ phụ cận ‘xin’ được quy phục, mở rộng vùng kiểm soát ra hơn 30 động, dân cư ước hai vạn người, hiển nhiên trở thành một thế lực lớn mạnh nhất vùng, đứng trên cả các tộc Quỳ, Cầm, Xa, Lạc.

Trước chiến quả huy hoàng đó, các đạo quân chỉ tổn thất hơn trăm người không hề làm cho mọi người giảm đi sự hưng phấn. Chiến tranh bao giờ mà không có thương vong mất mát. Thật ra với các chiến dịch như vừa rồi, chỉ thương vong trăm người đã là một thành quả đáng tự hào rồi.

Không chỉ Đông Giang tộc có lợi, ngay cả Giang Phong cũng có được rất nhiều lợi ích. Trước tiên, Giang Phong đã chân chính trở thành Phúc thần của toàn tộc (Giang Phong chỉ mới đến một thời gian mà bọn họ đã phát triển nhanh chóng như thế rồi). Ngoài ra, không ít bảo vật chiến lợi phẩm được tuyển chọn ‘cung phụng’ cho Giang Phong. Thật ra Giang Phong cũng rất hài lòng với địa vị thần linh của mình, bởi vì như thế sẽ không xung đột với quyền lợi của nhà họ Phạm. Từ xưa đã có quan niệm : ‘Thần bất thực nhân gian yên hỏa’. Thần linh là để mọi người cung phụng, tôn thờ và cầu khấn mỗi khi gặp khó khăn. Phàm nhân chẳng ai lại lo thần linh sẽ giành quyền lực với mình. Tuy hiện tại nhà họ Phạm đối Giang Phong rất cung kính, nhưng nếu như Giang Phong trực tiếp can thiệp vào quyền lực của Đông Giang tộc, không thể đảm bảo đến một lúc nào đó, vì quyền lợi thế tục, bọn họ sẽ cùng Giang Phong trở mặt thành thù. Hiện tại Giang Phong sức yếu thế cô, chỉ muốn được yên ổn phát triển. Hơn nữa, thân phận thần linh có thể củng cố địa vị ‘lĩnh tụ đương nhiên’ của Giang Phong. Người xưa muốn làm đại sự, mượn chuyện thần linh cũng là thường sự. Ở bên Tàu có Lưu Bang chém rắn trắng khởi nghĩa; nhà Đường tuyên xưng Lão Tử là tổ tiên của mình, và tôn làm Thái Thượng Lão Quân (trước thời nhà Đường chưa có danh xưng Thái Thượng Lão Quân). Ở Việt Nam cũng có nhà Đinh, nhà Lý, nhà Trần đều được trời cho long mạch mà thành thiên tử.

gianghoaingoc
31-08-2010, 03:00 AM
Chương 6 : ĐỊNH SÁCH


Lại nói, sau khi ăn mừng thắng lợi và phân chia chiến lợi phẩm, chúng đầu lĩnh của Đông Giang tộc lại nhóm họp để tổng kết kinh nghiệm tác chiến. Mọi người bàn tán phân phân. Trưởng lão Phạm Thế Hưng cười tít mắt, nói :

- Lần này bọn nhỏ chiến đấu rất dũng cảm. Tộc ta không thiếu dũng sĩ nha.

Phạm Thế Căng nói :

- Tứ tự chân ngôn ‘nhiễu, dụ, phục, sát’ thật là hiệu quả. Phải chi năm trước có được tứ tự chân ngôn này thì quân ta đâu có thua quân Chiêm, để đến nỗi Thăng Long bốn lần thất thủ. Hừ. Bọn thư sinh ở kinh đô thật là phường bị thịt mà.

Phạm Đống Cao nói :

- Lần này đánh giết thật đã tay. Một mình con đã giết cả trăm tên giặc đó nha.

Quảng Tế Pháp sư, trước đây là thầy pháp của tộc, giờ là cân ban của Giang Phong (lão vốn thờ phụng thần linh, nay gặp ‘thần linh’ nên đương nhiên phải theo), kiêm quản tài chính sự vụ của tộc (bởi là người giỏi tính toán nhất, gần đây lại theo học ở Giang Phong khá nhiều toán pháp, năng lực đại tăng), chợt vuốt râu nói :

- Lợi hại nhất vẫn là đám ong với độc vật nha. Nếu chúng ta gặp phải cũng không biết làm sao mà đối phó.

Trưởng lão Phạm Thế Hưng giật mình :

- Thế thì cũng không ổn nha. Lỡ như kẻ địch dùng chúng để đối phó với chúng ta thì sao. Giờ đây chúng ta đã là thế lực lớn mạnh nhất vùng Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa này. Rất nhiều kẻ địch lúc nào cũng dòm ngó chúng ta nha.

Mọi người đều hướng về Giang Phong. Suy nghĩ giây lát, Giang Phong bảo :

- Ta nghe nói nhiều người dùng hùng hoàng để đuổi rắn độc, mọi người tìm hiểu thử xem. Còn muốn đuổi ong thì chỉ còn cách luôn luôn chuẩn bị sẵn lửa khói, nhất là những loại gỗ khi đốt cho nhiều khói.

Trưởng lão Phạm Thế Hưng nhìn Phạm Thế Căng bảo :

- Mau lo việc này nha. Hãy tận dụng cả lực lượng của quan binh.

Phạm Thế Căng vâng dạ. Mọi người tổng kết chiến quả xong (thật ra là đua nhau khoe khoang chiến tích của mình), Giang Phong mới nói :

- Giờ đây, có mấy việc cần làm ngay.

Chúng nhân yên lặng lắng nghe. Giang Phong nói :

- Trước tiên, cần tuyển ra bản tộc đệ nhất dũng sĩ, là người giết giặc nhiều nhất, cho nhiều ưu đãi, tưởng thưởng.

Quảng Tế Pháp sư gật gù nói :

- Có như vậy, sau này khi có chiến đấu mọi người sẽ càng hăng hái hơn.

Giang Phong nói :

- Việc này Thế Hưng phụ trách.

Giang Phong là ‘thần linh’, chỉ có mọi người tôn kính Giang Phong chứ Giang Phong không cần tôn kính ai cả, do đó đối với ai cũng đều gọi thẳng tên cả. Hơn nữa, nếu Giang Phong không làm thế, chúng nhân còn có những lo nghĩ không đâu, cho rằng ‘đại nhân phân biệt đối xử’. Trưởng lão Phạm Thế Hưng cung kính vâng dạ. Giang Phong lại nói :

- Tiếp đó, cần gửi công văn về triều đình báo cáo sự tình, báo rằng có hơn vạn quân Chiêm tiến công Nghệ An, trong vùng có nhiều hào tộc theo giặc. Tuy rằng chúng ta đã liên hợp các tộc đánh bại quân giặc, tiêu diệt hơn 5 nghìn, bắt sống hơn nghìn, nhưng nghe nói đó chỉ là đội tiên phong của quân Chiêm. Tình thế rất nguy ngập, mong triều đình tìm cách ứng phó. Đồng thời gửi thủ cấp Chiêm tướng về triều thỉnh công.

Trưởng lão Phạm Thế Hưng thắc mắc :

- Đại nhân. Báo cáo có hơn vạn quân Chiêm thì dễ hiểu rồi, nhưng mắc gì mà chúng ta lại phải nói là ‘liên hợp các tộc đánh bại quân giặc’ chứ ?

Phạm Đống Cao cũng nói :

- Phải đó. Thật sự chỉ có một mình tộc chúng ta đánh giặc thôi mà. Mắc gì phải chia bớt công lao cho các tộc khác.

Giang Phong mỉm cười hỏi :

- Theo mọi người, với công lao như thế, triều đình sẽ tưởng thưởng thế nào ?

Cả bọn ngẩn người nhìn nhau. Phạm Thế Căng chép miệng nói :

- Bất quá tưởng thưởng ít vàng bạc châu báu mà thôi. Người Mường chúng ta dù có lập đại công cũng không thể nào làm quan lớn được. Cứ xem khi đánh nhau với quân Chiêm lúc trước thì biết. Phan Mãnh thì được về triều làm tướng quân, còn tiểu tướng thì … ngoài ít vàng bạc ra thì có được tưởng thưởng gì đáng kể đâu. Cái chức Thiêm phán nghe thấy oai, thật ra cũng là công việc của chúng ta trước giờ.

Chúng nhân gật đầu đồng cảm, không còn hưng phấn như trước nữa. Giang Phong lại nói :

- Hơn nữa, báo là có hơn vạn quân Chiêm, nếu chỉ báo một mình Đông Giang tộc ứng chiến mà chiến thắng, triều đình có tin không ? Bọn họ cũng biết bản tộc đại khái có bao nhiêu người mà.

Quảng Tế Pháp sư gật gù nói :

- Phải đó. Bản tộc chỉ có chưa đến bốn nghìn người, đánh bại hơn vạn quân Chiêm thì khó tin quá.

Phạm Thế Căng lại thắc mắc :

- Triều đình chắc chắn sẽ chẳng ban thưởng gì đáng kể, chúng ta còn phải bày ra chuyện phiền phức như thế mà chi ?

Giang Phong mỉm cười hỏi :

- Theo ngươi, khi chúng ta gửi thủ cấp của Chiêm tướng và báo cáo tình hình như thế, triều đình sẽ ứng phó thế nào ?

Phạm Thế Căng ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói :

- Các quan trong triều hiện tại đều đang lo tranh quyền đoạt lợi. Nghe nói Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly trước khi xưng đế có họ Lê) làm phụ chính, có ý đồ thoán đoạt ngôi báu. Tình hình khẩn trương như thế, bọn họ còn tâm trí đâu mà lo việc ngoài biên ải.

Giang Phong nói :

- Khi đó, triều đình không lo thì người sẽ làm gì ?

Phạm Thế Căng ngơ ngác :

- Làm gì ư ? Thì trước giờ làm gì sẽ tiếp tục làm thế. Tiểu tướng nghĩ quân Chiêm khó mà kéo đại đội nhân mã sang lần nữa. Còn nếu chỉ là tiểu đội thì không sợ.

Giang Phong nói :

- Không nên như thế. Trong báo cáo gửi về triều, hãy vô hạn phóng đại mưu đồ của quân Chiêm, bảo rằng bọn chúng muốn sang đánh để trả thù lần thất bại trước. Nhưng chú ý là chỉ nên báo rằng bọn chúng chỉ định quấy nhiễu cướp phá vùng Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An mà thôi, không những không có ý định sang cướp phá kinh đô, mà còn cướp phá xong thì rút ngay về nước. Dù sao thì thực lực của chúng cũng không còn mạnh như trước nữa.

Tân Bình, Thuận Hóa chính là khu vực Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay. Còn Nghệ An xưa thì bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh (Hồ Quý Ly mới đổi thành Lâm An Trấn, nhưng quân dân vẫn quen gọi là Nghệ An). Phạm Thế Căng lắc đầu nói :

- Nếu báo cáo như thế, triều đình càng có lý do để bỏ mặc.

Giang Phong mỉm cười :

- Nếu trong triều không có ai chịu đứng ra ứng phó với quân Chiêm, ngươi hãy xin nhận quản lĩnh quân dân vùng Tân Bình, Thuận Hóa để chống giặc. Xứ đó xa xôi hẻo lánh, đất rộng người thưa, lại là đất Chiêm trước kia, trong mắt triều đình chẳng quan trọng gì mấy. Ngươi xin nhận thì triều đình sẽ đồng ý thôi. Còn chức Thiêm phán Kiềm Châu hãy giao lại cho Đống Cao.

Phạm Thế Căng nói :

- Nhận chức đó chỉ rước khổ về mình, có tiếng mà không có miếng. Vì thế mà trước giờ có ai chịu nhận đâu, toàn do quan lại Nghệ An kiêm quản. Mà quan lại Nghệ An cũng chẳng mấy khi ngó ngàng tới xứ đó.

Giang Phong nói :

- Thì cũng chính vì thế mà ngươi mới có cơ hội nhận được. Dù sao thì cũng là biên cương trọng thần nha. Hơn nữa, Kiềm Châu cũng chẳng khá hơn gì xứ đó. Quản một mình Kiềm Châu sao bằng quản cả Tân Bình, Thuận Hóa. Ngươi cứ nhận đi, rồi ta sẽ có an bài.

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Đại nhân. Nghe nói Đại tri châu Hóa Châu là Đặng Tất rất được Lê Quý Ly tin dùng. Mấy năm trước vì tố cáo Phan Mãnh bất mãn Lê Quý Lý chuyên quyền mà được trọng dụng.

Nghe nhắc đến Đặng Tất, Giang Phong giật mình. Đặng Tất là cha của Đặng Dung đây mà. Về cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Tất, có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng theo Giang Phong thì Đặng Tất là một người cơ hội và giỏi luồn lách. Nhà Trần còn thì theo nhà Trần, nhà Hồ lên thì theo nhà Hồ, nhà Minh sang thì theo nhà Minh, nhà Hậu Trần nổi lên thì lại theo nhà Hậu Trần, sau bị Giản Định Đế nhà Hậu Trần giết chết. Người xưa nói : Tôi trung không thờ hai chúa. Đặng Tất lại thờ đến bốn chúa, mà thờ chúa nào cũng đều được trọng dụng cả, không phải là người cơ hội và giỏi luồn lách thì là gì. Nếu không nhờ có Đặng Dung làm bài thơ Thuật Hoài, e rằng nhiều người còn chẳng biết đến Đặng Tất. Có một người như thế tồn tại ở xứ này, đối đại nghiệp của Giang Phong thật không có lợi. Sử dụng người như thế, Giang Phong cũng không yên tâm chút nào.

Ngẫm nghĩ giây lát, Giang Phong nói :

- Trước hết, hãy đại tứ tuyên dương Đặng Tất cầm quân bất lực, trấn giữ Hóa Châu mà để cho quân Chiêm đánh tới tận Nghệ An. Sau đó, cử người mật ước với Lê Quý Ly, bảo rằng chúng ta ủng hộ y, với điều kiện y phải ủng hộ chúng ta chống Chiêm Thành. Cứ nói rằng chúng ta có thù với Chiêm Thành, và bất mãn với bất kỳ kẻ nào phản đối chúng ta chống Chiêm Thành. Sau đó bảo Lê Quý Ly rằng Đặng Tất giỏi trị quân nhưng không giỏi cầm quân, làm tướng ở kinh thành thích hợp hơn trấn giữ biên cương. Tóm lại, vô hạn khoa trương rằng Đặng Tất không có khả năng ứng phó với quân Chiêm.

Quảng Tế Pháp sư hỏi :

- Sao chúng ta không vu cho Đặng Tất cấu kết với quân Chiêm, mưu đồ tạo phản ?

Giang Phong lắc đầu nói :

- Sự việc lần này tối đa có thể vu cho Đặng Tất thất chức mà thôi. Hơn nữa, gã ta rất được Lê Quý Ly tin dùng. Vu hãm gã, đối với chúng ta không hề có lợi.
Sự việc đã được quyết định, và chúng nhân phân nhau hành động. Riêng Giang Phong chỉ định quyết sách, không cần làm gì cả, chỉ ngồi yên chờ đợi kết quả.

gianghoaingoc
01-09-2010, 02:11 AM
Chương 7 : THÁNH SƠN


Thánh Sơn chỉ cách động Lễ Dương khoảng 5 dặm (2 kilômét), là nơi đầu tiên Giang Phong đặt chân đến xứ này. Và giờ đây, Thánh Sơn đã trở nên náo nhiệt hơn xưa, bởi nó không chỉ là nơi tế tự của Đông Giang tộc, mà đã trở thành đại bản doanh của Giang Phong. Sau khi giải quyết xong việc quân Chiêm, Giang Phong cảm thấy cần xây dựng lực lượng riêng cho mình, nên đã dời đến đây, đồng thời tuyển chọn hơn trăm thanh niên tài tuấn trong Đông Giang tộc theo hộ vệ. Lão Quảng Tế Pháp sư cũng dọn đến đây để làm Tổng quản cho Giang Phong. Lão này cho rằng đi theo Giang Phong sẽ có tương lai hơn ở lại Lễ Dương làm pháp sư. Hơn nữa, đi theo Giang Phong, lão có thể học được nhiều thứ.

Thánh Sơn đã được toàn thể tộc nhân Đông Giang tộc sửa sang lại. Hàng trăm gian đình viện, lầu các được dựng lên theo thiết kế của Giang Phong, chủ yếu dựa vào những hình ảnh mà Giang Phong đã từng xem trên phim ảnh. Giang Phong không xây dựng lâu đài tráng lệ (muốn xây dựng cũng không được, không có tiền a), mà chỉ dựng lên những tòa đình viện như những gian nhà lớn, nhưng thiết kế xinh xắn thanh nhã, và những tòa lâu các hai tầng không lớn lắm. Tất cả đều được dựng bằng gỗ có sẵn trong rừng. Những kiến trúc này, người Đông Giang tộc xây dựng rất dễ dàng nhanh chóng. Thêm vào đó là vô số hoa thơm cỏ lạ được trồng xung quanh. Thế là trên đỉnh Thánh Sơn đã xuất hiện một đại viên lâm tuyệt đẹp.

Trung tâm của đại viên lâm, khu vực lân cận thánh động, giờ đây là nơi ở của Giang Phong, được xem là cấm địa, chỉ những người thân cận với Giang Phong mới được vào. Những người còn lại chia nhau ở tại những khu vực quanh đó, phụ trách hộ vệ. Hộ vệ Giang Phong, hộ vệ thánh sơn, hộ vệ thánh động. Trong đó, hộ vệ Giang Phong là nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng nhất.

Mấy hôm nay, Giang Phong mải suy tính xem việc gì cần ưu tiên thực hiện trước. Muốn làm nên một phen sự nghiệp thì cần phải có thế lực của riêng mình. Mà muốn xây dựng thế lực, trước tiên và quan trọng hơn cả là phải có tiền. Không có tiền, muốn làm gì cũng không được. Binh sĩ không thể dùng tay không giết giặc, binh sĩ cũng không thể mang bụng đói ra chiến trường. Ít ra cũng phải đảm bảo được binh sĩ ăn no và có vũ khí tốt. Muốn thế thì phải có tiền. Mà Giang Phong lại không có tiền, à không, phải nói là không có nhiều tiền. Hiện tại Giang Phong cũng có được chút ít tài sản (từ chiến lợi phẩm), nhưng chỉ đủ Giang Phong sử dụng cho các hoạt động trên thánh sơn hiện tại, thành lập lực lượng quân sự thì không đủ sức.

Vậy, cần ưu tiên kiếm tiền, càng nhiều tiền càng tốt.

Nhưng làm sao để có thể kiếm được nhiều tiền. Giang Phong cố nhớ lại các nhân vật chính trong các truyện đã đọc làm gì sau khi xuyên việt. Chế tạo xi măng, cái này không khó lắm, nhưng với tình hình hiện tại, không có thị trường nha. Luyện thép, cái này … với điều kiện của xứ này, luyện ra thép, chế thành vũ khí chưa chắc đã ưu việt hơn vũ khí hiện tại của Đại Việt. Chế thuốc nổ, cái này chỉ cần biết ít nhiều về hóa học, tập trung một số thuật sĩ đương thời thì cũng có thể chế ra được; nhưng thuốc nổ thời này cũng không lạ gì, người Tàu đã sử dụng thuốc nổ hơn nghìn năm trước rồi. Chế súng ống đại bác, cái này … trừ người trong nghề, ngay cả các giáo sư còn chưa chắc chế được, đừng nói chi chỉ có ít kiến thức học được thời phổ thông như Giang Phong. Hơn nữa, trong số các con của Hồ Quý Ly có một vị vũ khí đại sư nha.

Làm gì đây ?

Giang Phong trong lúc đi dạo trên thánh sơn, vô tình nhớ đến lần đi nghỉ mát ở Đà Lạt, đi dạo trên phố núi, ngắm các cửa hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ. Phải nha. Đồ thủ công mỹ nghệ. Ở xứ rừng núi Kiềm Châu này, gỗ quý không hiếm, chỉ cần chút khéo tay cùng óc sáng tạo là có thể tạo ra những đồ mỹ nghệ đáng giá. Giang Phong không khéo tay, nhưng thủ hạ có người khéo tay. Còn óc sáng tạo, cho dù Giang Phong không sáng tạo được thứ gì đặc biệt thì chiếu phép mà làm, cứ làm theo những gì đã biết, vào thời này hẳn cũng sẽ là thứ mới lạ, và bán được giá cao, thu được nhiều tiền. Tóm lại, ở trên rừng, làm đồ mỹ nghệ cũng có thể kiếm được nhiều tiền.

Thế là, theo lệnh của Giang Phong, Quảng Tế Pháp sư chỉ huy thủ hạ tìm kiếm các loại gỗ quý, đặc biệt là gỗ đàn hương, một loại gỗ có thể tỏa ra hương thơm đến cả mấy thập kỷ, một số đặc biệt còn có hương thơm đến hàng thế kỷ sau. Với uy vọng của Giang Phong hiện tại, người Đông Giang tộc cũng tham gia giúp đỡ, và một số bộ tộc trong vùng nghe nói Giang Phong đang cần gỗ quý, cũng gửi ‘cống phẩm’ đến (lúc này, quà cho Giang Phong không gọi là ‘tặng phẩm’, mà gọi là ‘cống phẩm’, theo nghĩa cống hiến cho thần linh). Cả Cầm Công ở xứ Bồn Man cũng gửi đến một rương ‘thượng phẩm đàn hương mộc’.

Nhận lễ vật của Cầm Công, Giang Phong không khỏi ngạc nhiên, nhưng khi nghe Quảng Tế Pháp sư giải thích thì Giang Phong mới hiểu vị thế hiện tại của mình đối với các bộ tộc trong vùng.

Cầm Công là vua của xứ Bồn Man. Dân xứ này chủ yếu là người Thái, do nhà họ Cầm đời đời cai trị (giai đoạn các năm 1369 – 1478). Bồn Man là một xứ trải dài từ giáp giới xứ Nghệ, xứ Thanh ở phía đông, cho đến bờ sông Mé Khoảng (tên gọi của đoạn sông Mekong chảy qua Lào, giống như người Việt gọi đoạn sông Mekong chảy qua Việt Nam là Cửu Long Giang). Vị trí của Bồn Man xưa thuộc khu vực phía tây của tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa ngày nay, tức là tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Hủa Phăn (Lào). Xiêng Khoảng ở phía tây Nghệ An, Hủa Phăn ở tây bắc Nghệ An và phía tây Thanh Hóa. Sử gia thời phong kiến gọi đây là xứ Bồn Man nội thuộc (tức phụ thuộc Đại Việt). Ngày nay người ta xếp Bồn Man vào nhóm các vương quốc cổ của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cùng nhóm với Phù Nam, Chăm Pa. Phần lãnh thổ này chính thức thuộc về Đại Việt từ năm 1479 đến năm 1893. Khi người Pháp thành lập Liên bang Đông Dương đã dựa theo địa hình và cắt tỉnh Houaphan (Hủa Phăn), Xiêng Khoảng giao về lãnh thổ Lào (Ai Lao).

Vào khoảng năm 1369, sau khi nhà Nguyên mất quyền kiểm soát Vân Nam vào tay nhà Minh, các bộ tộc người Thái ở phía nam xứ Vân Nam nhân cơ hội giành lấy độc lập trong vùng lãnh thổ với phía tây và phía nam là vương quốc Lan Xang (Lào), phía đông và phía bắc là Đại Việt. Tiểu quốc này đóng đô ở Sầm Châu (ngày nay là thị xã Sầm Nưa), dân số ước 9 vạn hộ. Nhà họ Cầm tuy cai trị xứ này, nhưng đất rộng người thưa, thực lực yếu ớt, không đủ sức tự bảo vệ nên đã dâng đất cho Đại Việt để xin nội thuộc, giống như Mạc Cửu đã dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn (đất Hà Tiên thời Mạc Cửu bao gồm toàn bộ phần phía nam sông Tiền, phần quanh Hà Tiên do Mạc Cửu tự mở mang khai phá, vùng còn lại do vua Chân Lạp ‘nhượng’ cho, chúa Nguyễn đặt tên là Long Hồ dinh, sau này là 3 tỉnh miền Tây của Nam Kỳ lục tỉnh).

Đến năm 1478, Cầm Công của xứ Bồn Man đã liên kết với Lão Qua đem binh quấy nhiễu, cướp bóc ở khu vực phía tây Đại Việt. Lê Thánh Tông sai các tướng Lê Thọ Vực, Trịnh Công Lệ chia quân làm 5 đạo từ Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa (vùng Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái) đi đánh dẹp. Quân đội Đại Việt đã đánh bại liên quân Bồn Man – Lão Qua, đồng thời đánh đuổi đến tận lưu vực sông Mekong giáp với Miến Điện. Sau khi Cầm Công bị giết, Lê Thánh Tông chính thức sát nhập xứ Bồn Man nội thuộc vào Đại Việt, đặt tên là xứ Trấn Ninh, giao cho một người họ hàng của Cầm Công là Cầm Động làm Tuyên úy đại sứ, nhưng việc quản lý thực sự vẫn do các quan Đại Việt sang cai trị.

Lúc cuối thời Trần, xứ Bồn Man vẫn còn cường thịnh, các đời Cầm Công cai quản một phần đất đai rộng lớn, được triều đình trọng thị, ban cho cao quan lộc hậu. Tương truyền, con gái họ Cầm đều xinh đẹp và có thuật giữ được tuổi thanh xuân lâu dài, nên được các vị vua và thái hậu sủng ái. Nghe nói vua nhà Minh cũng từng phái người xuống phía nam tìm con gái họ Cầm về lập làm phi; thời Vĩnh Lạc (Minh Thành Tổ Chu Lệ), Hương Phi của họ Cầm có địa vị ngang hàng với Ngọc Phi của Cao Ly (người nổi tiếng trong lịch sử vì sở thích ăn ngọc Cao Ly, mỗi tháng tiêu phí hơn 60 vạn lượng bạc chỉ để tìm ngọc Cao Ly về nấu thành cao mà ăn).

Tuy họ Cầm cường thịnh, quản hạt đến mấy vạn hộ, nhưng dân chúng ở rải rác trong một lãnh thổ rộng mênh mông, khó lòng tập họp lại được. Lực lượng quân sự thường trực của cả xứ Bồn Man bất quá chỉ vài nghìn người, đương nhiên không thể nào địch nổi một vạn quân tinh nhuệ Chiêm Thành. Do đó mà sau trận chiến vừa rồi, uy thế của Đông Giang tộc đã cao hơn cả nhà họ Cầm, trở thành đệ nhất đại tộc trong vùng. Và Giang Phong với thân phận tinh thần lãnh tụ của Đông Giang tộc, cũng đã trở thành tinh thần lãnh tụ của các tộc trong vùng. Các đại tộc, tiểu tộc đều không đồng ý để một mình Đông Giang tộc ‘cung phụng’ Giang Phong. Thần linh thì phải để mọi người cùng thờ phụng chứ. Tình hình như thế không ngờ lại hợp ý Giang Phong. Vì lợi ích của mình, Giang Phong không thể để nhà họ Phạm nhất gia độc đại.

gianghoaingoc
02-09-2010, 12:16 AM
Mừng Lễ !

Chương 8 : KIẾM TIỀN ĐẠI KẾ


Lại nói, cống vật của nhà họ Cầm khiến Giang Phong bất ngờ nhận ra địa vị lãnh tụ của mình đối với các tộc trong vùng. Trận chiến giữa Đông Giang tộc và quân Chiêm được vô số người truyền tụng, mà càng truyền thì lại càng xa sự thật, sự việc đã được khoa trương lên rất nhiều.

Sự thật thì chỉ có 2.000 dân binh (trong đó có 500 dân binh của Kiềm Châu) cùng khoảng 1.500 ‘dự bị dân binh’ của Đông Giang tộc, gồm cả già trẻ trai gái, chỉ trừ những trẻ con quá nhỏ và người già quá yếu không đi đứng nổi, còn lại toàn thể tộc nhân đều được động viên tham chiến. Đông Giang tộc chỉ có gần 4.000 tộc nhân mà đã có 3.000 người ra trận, thật ra đã dốc hết toàn lực. Đối thủ của bọn họ là 2.000 quân tinh nhuệ Chiêm Thành. Thế nhưng, nhờ việc tổ chức cực kỳ cẩn mật, chỉ trừ một số đầu lĩnh trong tộc, những người khác cũng chỉ biết phần việc của mình. Do đó, ngay cả đối với những người Đông Giang tộc trực tiếp tham chiến cũng nghĩ rằng : quân Chiêm rất đông, rất mạnh; cuộc chiến rất ác liệt; chúng ta chiến đấu rất gian khổ; quân Chiêm thương vong rất nhiều; sau cùng quân Chiêm phá vòng vây chạy thoát, quân ta truy sát đến tận xứ Tân Bình mới giết được tướng Chiêm.

Và khi tin tức truyền đi qua nhiều người, cuối cùng đã thành : hơn vạn quân Chiêm tấn công, Đông Giang tộc động viên toàn dân chống giặc; song phương ác chiến ở cách động Lễ Dương không xa, trận chiến cực kỳ thảm liệt; Đông Giang tộc dân binh anh dũng thiện chiến, 1 địch 10, sát tử quân Chiêm vô số; hơn nghìn quân Chiêm thọ thương bị bắt, hơn năm nghìn quân Chiêm bị giết, số tàn quân còn lại dưới sự chỉ huy của Chiêm tướng phá vòng vây mà chạy; Phạm Thế Căng tướng quân truy sát quân Chiêm đến tận xứ Tân Bình, chém được đầu Chiêm tướng.

Quan niệm quân Chiêm đông đến hơn vạn được tất cả mọi người chấp nhận rộng rãi, bởi vì Đông Giang tộc bắt được hơn nghìn quân Chiêm cũng đủ thấy việc giết hơn năm nghìn quân Chiêm là rất đáng tin. Vì số quân Chiêm này từng theo Chế Bồng Nga tấn công Thăng Long, tức là quân tinh nhuệ thiện chiến, không dễ gì đầu hàng. Hơn nữa, trận chiến rất ác liệt, số bị bắt kia đều vì thọ thương mà bị bắt, chứ không phải hàng binh. Thêm vào đó, quân Chiêm bị bắt hơn nghìn, bị giết hơn năm nghìn mà vẫn còn đủ sức phá vòng vây chạy thoát đến tận xứ Tân Bình, cho thấy quân số hơn vạn là rất hợp lý. Thậm chí có người cho rằng quân Chiêm còn đông hơn thế nữa. Và như vậy, thực lực của Đông Giang tộc được thổi phồng lên. Mà Đông Giang tộc nhờ có Giang Phong xuất hiện rồi mới trở nên ‘hùng mạnh’ như thế. Thành ra, địa vị của Giang Phong được vô hạn đề cao.

Cống phẩm của họ Cầm là một rương ‘thượng phẩm đàn hương mộc’. Giang Phong hoan hỉ lệnh Quảng Tế Pháp sư cất giữ cẩn thận, sau này có việc quan trọng cần dùng. Vì thời gian đầu chỉ mới thử tay nghề thủ hạ, nên Giang Phong chưa muốn dùng đến thứ vật liệu quý giá như thế. Ngoài ra còn có sừng tê, ngà voi, cẩm thạch, mã não, … là những đặc sản của rừng núi do các bộ tộc gửi đến. Những thứ này ở vùng kinh kỳ thì quý giá, chứ còn ở rừng núi thì không hiếm lắm. Rừng núi Đại Việt vốn nổi danh với sừng tê và ngà voi kia mà. Và Giang Phong đều cho thu cất, chờ lúc cần dùng đến.

Sau đó, Giang Phong vắt óc thiết kế các vật phẩm, rồi đích thân truyền đạt ý tưởng của mình cho những người thợ khéo tay được tuyển chọn, để bọn họ làm ra sản phẩm. Giang Phong phải đích thân truyền đạt ý tưởng, bởi Giang Phong không có năng khiếu vẽ vời, bản thiết kế khó nhìn quá. Cũng may mọi người đều cố gắng, nên cuối cùng hàng loạt sản phẩm cũng được tạo ra theo như ý muốn của Giang Phong. Những tòa nhà bằng gỗ theo phong cách các dân tộc, những tòa cung điện theo phong cách của người Kinh, người Hán; nhỏ cỡ nắm tay cũng có, mà cao hơn thước (1 thước = 0,4 mét) cũng có, và đều được điêu khắc tinh xảo. Những bức tượng nhỏ bằng gỗ, tinh xảo nhưng dễ thương, hình phi cầm điểu thú, hình 12 con giáp, và có cả hình người. Đáng chú ý nhất là những con vật trong các bộ phim hoạt hình được tạo ra theo ý Giang Phong trông rất đáng yêu (dù sao thì hậu thế cũng có hàng triệu người yêu thích nó kia mà). Những bộ tranh tứ quý, khắc hình ‘Mai Lan Cúc Trúc’, ‘Lý Ngư Vọng Nguyệt’ theo kiểu truyền thống, hoặc những hình vẽ sự tích mà Giang Phong nghĩ ra được, tóm lại là muôn hình vạn trạng. Đặc biệt, Giang Phong còn tạo nên một số món đồ chơi bằng gỗ của thời sau này, bảo đảm vào lúc bấy giờ sẽ là hàng mới lạ, độc đáo.

Nhìn những món đồ vật được tạo ra, Quảng Tế Pháp sư không ngớt tán thán Giang Phong thật là thần, cả những ‘bảo bối’ như thế này cũng tạo ra được. Những thứ này đáng giá biết bao nhiêu tiền a. Theo ý lão, những thứ ‘bảo bối’ như thế này, cả những nhà quyền quý trong kinh đô cũng chưa chắc có được. Quả thật, những sản phẩm này Giang Phong nhận thấy còn tinh xảo hơn cả những thứ hàng mỹ nghệ mà Giang Phong đã từng thấy trước đây. Tay nghề của cổ nhân thật đáng khâm phục.

Sản phẩm đã có rồi, nhưng lại phát sinh vấn đề khác khiến Giang Phong đau đầu. Quảng Tế Pháp sư nói :

- Chúng ta không có người thạo việc buôn bán a. Những thứ này ở Kiềm Châu sẽ chẳng bán được bao nhiêu tiền. Người ở đây đều nghèo quá. Phải đưa về kinh đô mới bán được giá.

Vấn đề này quan trọng không kém việc tạo ra sản phẩm. Không có người thì đành phải tìm người vậy. Giang Phong bảo :

- Tìm thương nhân. Miễn thạo việc buôn bán, Hoa, Việt, Chiêm đều được.

Thế là Quảng Tế Pháp sư lại phái người đi lùng sục các nơi. Trong lúc chờ đợi, Giang Phong chỉ đành tranh thủ chế thêm một số sản phẩm mới. Nhóm thợ lúc này đã đông đến 50 người, được tập trung về một khu gần chỗ Giang Phong ở, khẩn trương làm việc. Nhiệm vụ của bọn họ là dựa vào những hàng mẫu mà làm ra nhiều sản phẩm hơn nữa. Chỉ có 10 người khéo tay nhất là theo Giang Phong nghiên cứu, làm ra những sản phẩm đặc thù, độc đáo và có giá trị cao. Hiện tại bọn họ đang ra sức hoàn thành bộ tranh bách thú đồ, rộng 10 trượng (40 mét), cao 1 trượng (4 mét), gồm 100 bức tranh nhỏ ghép lại, bên trên khắc đủ 100 loài thú, được Giang Phong đặt tên là “Sơn lâm bách thú đồ”.

Mấy ngày sau, Quảng Tế Pháp sư đưa một người đến gặp Giang Phong. Nhìn người này thân thể xanh xao như vừa mang trọng bệnh, Giang Phong khẽ cau mày. Quảng Tế Pháp sư nói :

- Đại nhân. Gã này là Cát Ti (Cakti), là một trong số những tù nhân Chiêm Thành mà chúng ta bắt được lúc trước. Gã là người Chiêm, nhưng không phải là quân binh mà là thương nhân. Trước đây gã ta đã từng theo chủ nhân đi buôn bán khắp vùng Chiêm Thành, Chân Lạp, Chà Và (Java), Đại Việt, thậm chí sang cả bên Tàu và bên Thiên Trúc (nam Ấn Độ).

Giang Phong ngạc nhiên hỏi :

- Không phải là quân binh thì đến đây làm gì để đến nỗi bị bắt ?

Gã kia cung kính nói :

- Hồi bẩm đại nhân. Chủ nhân phái tiểu nhân đi theo quân binh để có thể ưu tiên mua lại các chiến lợi phẩm, có ngờ đâu … Ai !

Thật sự trước đó cả song phương không ai tin rằng quân Chiêm sẽ thảm bại như thế. Giang Phong mỉm cười hỏi :

- Ngươi có đồng ý theo làm việc cho ta không ?

Gã kia vội nói :

- Nếu được đại nhân tin tưởng, tiểu nhân nguyện sẽ cống hiến hết sức mình.

Gã ta cũng bị ảnh hưởng bởi những lời truyền tụng gần đây, nên đối Giang Phong rất cung kính, tình tự không hề bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt Chiêm – Việt. Theo gã, cũng như theo những người khác, thần linh (miễn sao không phải là ác thần) thì luôn phải được sùng kính tôn thờ. Theo quan điểm của mọi người, Giang Phong không phải là người ở nhân gian, nên đương nhiên cũng chẳng phải là người Chiêm, người Mường, người Thái hay người Kinh. Thần linh không bị giới hạn bởi quốc gia dân tộc, hễ linh thì được người ta thờ thôi.

Nghe gã nói thế, Giang Phong mỉm cười bảo :

- Thế ngươi cần phải làm sao đấy để được ta tin tưởng.

Gã ta vội nói :

- Dạ dạ. Tiểu nhân trước đây đã từng đi nhiều nơi, thông thạo nhiều thứ tiếng, tuy chưa từng chủ trì những cuộc buôn bán lớn, nhưng ít nhiều cũng có kinh nghiệm. Đại nhân giao việc, tiểu nhân sẽ hết sức hoàn thành.

Giang Phong hài lòng hỏi :

- Ta muốn thành lập một thương đoàn để đến các nơi phồn hoa bán đặc sản của thánh sơn. Ngươi có làm được không ?

Gã ta cung kính nói :

- Dạ dạ. Tiểu nhân sẽ hết lòng phụng sự đại nhân.

Thế là Giang Phong giao cho Quảng Tế Pháp sư cùng gã tổ chức một đoàn thương nhân cùng đến kinh đô (lúc này là Tây Đô ở Thanh Hóa) buôn bán. Thấy gã cũng lanh lợi, Giang Phong giao hết việc buôn bán cho gã. Quảng Tế Pháp sư chỉ phái người theo giám sát, cũng như bảo vệ tài vật.

Sau khi thương đoàn đi được ít lâu thì bọn Phạm Thế Căng đến. Cùng đi với gã có Phạm Thế Hưng và Phạm Đống Cao.




Chương 9 : THẾ CĂNG PHÓ NHẬM, TỔNG LĨNH NAM TRẤN


Lại nói, sau khi thương đoàn của gã Cát Ti đi được ít lâu thì bọn Phạm Thế Căng đến. Cùng đi với gã có Phạm Thế Hưng và Phạm Đống Cao. Gã ta bái kiến Giang Phong, rồi hoan hỉ nói :

- Tiểu tướng đến từ biệt đại nhân để vào nam nhậm chức. Triều đình đã phong cho tiểu tướng làm Nam trấn An phủ sứ, tổng quản việc quân chính các châu ở Tân Bình và Thuận Hóa để chống nhau với quân Chiêm. Triều đình còn hứa sẽ cung cấp quân lương cho 1 vạn quân binh để trấn giữ các châu. Nhưng quân binh phải do chúng ta tự chiêu mộ. Quân triều đình hiện tại đều sẽ theo Đặng Tất về kinh.

Quảng Tế Pháp sư ngạc nhiên hỏi :

- Tổng quản cả việc quân chính ư ? Lại còn cho tự chiêu mộ quân binh nữa. Triều đình yên tâm phóng quyền như thế hay sao ?

Thật ra thì dùng 1 vạn quân binh để chống quân Chiêm Thành là không nhiều. Nhà Hồ 2 lần đánh Chiêm Thành thì 1 lần sử dụng 15 vạn, chiếm được đất Thăng Hoa; lần thứ 2 sử dụng 20 vạn, tiến được đến đất Đồ Bàn, nhưng không chiếm được, hao binh tổn tướng phải rút về mà không làm nên công trạng gì. Do đó, Lê Quý Ly cấp cho 1 vạn suất quân lương chỉ là để mộ binh phòng thủ và có cơ hội thì quấy nhiễu quân Chiêm mà thôi. Nghe Quảng Tế Pháp sư hỏi vậy, Phạm Thế Hưng cười nói :

- Chúng ta vô hạn khoa trương thực lực của quân Chiêm, lại vô hạn tuyên truyền sự bất lực của quân triều đình. Xứ đó lại toàn dân Chiêm, chẳng có mấy người Việt, mỗi năm chẳng thu được bao nhiêu phú thuế mà lắm sự phát sinh, hao tốn rất nhiều lương tiền. Phía nam lại có quân Chiêm lăm le dòm ngó. Bên trong thì dân Chiêm thường xuyên nổi loạn, dẹp mãi không hết. Trong triều lại đang có nhiều việc, Lê Quý Ly muốn Đặng Tất kéo quân về triều để tăng cường thế lực của mình, tiện cho việc thoán đoạt sau này. Vì thế mà các xứ Tân Bình và Thuận Hóa được hợp lại thành Nam trấn, giao cho Thế Căng làm An phủ sứ với nhiệm vụ duy nhất là chống quân Chiêm.

Việc Lê Quý Ly muốn thoán đoạt ngôi báu của nhà Trần lúc này không ai lạ gì. Mọi người đều biết chuyện đó chắc chắn sẽ xảy ra, vấn đề là sớm hay muộn mà thôi. Dù muốn hay không, mọi người đều phải chấp nhận sự thật đó. Những thế lực chống đối đều đã bị Lê Quý Ly tiêu diệt từ nhiều năm trước. Ngay cả tôn thất nhà Trần, nhiều người cũng tỏ ra thân thiện với Lê Quý Ly, như quan Tư Đồ Chương Túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán, người có uy vọng nhất trong các tôn thất lúc bấy giờ, lại cùng Lê Quý Ly làm thông gia. Thế cũng đủ biết nhà Trần hiện đã mất lòng dân lắm rồi, khó giữ được nữa. Đối với dân chúng lúc này, ai làm vua cũng vậy, miễn sao đừng ảnh hưởng đến cuộc sống của họ thì thôi. Phạm Thế Căng lại hứng khởi nói thêm :

- Sứ giả của chúng ta đến kinh đô, Lê Quý Ly có gọi vào hỏi riêng rằng chúng ta thấy họ Trần với họ Lê ai hơn. Sứ giả của chúng ta đáp rằng : chúng ta chỉ quan tâm việc đánh Chiêm Thành, hễ ai ủng hộ chúng ta chống quân Chiêm thì chúng ta không phản đối người đó. Kết quả tiểu tướng trở thành Nam trấn An phủ sứ, và có thêm 1 vạn suất quân lương.

Giang Phong khẽ mỉm cười. Bọn họ chỉ bảo là không phản đối chứ không nói ủng hộ, quả là lo nghĩ chu toàn, chưa gì đã tính đường lui rồi. Quảng Tế Pháp sư gật gù nói :

- Xem ra Lê Quý Ly không định chờ đợi lâu nữa rồi, do đó mới gọi Đặng Tất đem quân về kinh.

Đặng Tất về kinh chứ không làm Tri châu Hóa Châu nữa, xem ra bánh xe lịch sử đã chuyển hướng rồi. Giang Phong không ưa cái lối gió chiều nào ngả theo chiều đó của Đặng Tất, nên không muốn y ở lại Hóa Châu, vùng nội định thế lực của Giang Phong sau này. Giang Phong cần Hóa Châu (tức vùng Thừa Thiên - Huế ngày nay, một số nhà ngôn ngữ học cho rằng từ Huế là do từ Hóa đọc trại ra, cũng giống như Hoa và Huê) để làm bàn đạp kiểm soát đất Thăng Hoa (lúc ấy còn là đất Chiêm Động và Cổ Lụy của Chiêm Thành), mở mang thế lực của mình.

Đặng Tất là nhân vật gây nhiều tranh cãi. Dù nhiều người khen Đặng Tất là biết thẩm thời độ thế, nhưng cũng có người cho rằng họ Đặng ‘có hai nhân cách’, ‘có hai mặt’. Giang Phong không thích y, cũng không thấy y xứng đáng là tướng tài, bất quá chỉ là tướng giỏi mà thôi. Chỉ qua cách y cư xử với Giản Định Đế thì biết. Y giúp Giản Định Đế đánh chiếm được 4 châu, Giản Định Đế phong cho y thống lãnh 2 châu ở phía nam, tức là một nửa địa bàn của nhà Hậu Trần lúc bấy giờ rồi, lại còn gia phong Hạ Quốc Công, tước này cực lớn, chỉ ở dưới vua và Thượng Quốc Công, mà xưa nay chỉ có Hưng Đạo Đại Vương sau 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông mới được gia phong Thượng Quốc Công (Thượng, Hạ Quốc Công là một tước vị đặc biệt ở Đại Việt, chỉ ở dưới vua, trên cả tước vương; giống như tước Diễn Thánh Công bên Tàu thời nhà Thanh). Thế mà y bất mãn, cho rằng phong thưởng không hậu, giả ý đem quân về Hóa Châu, không giúp Giản Định Đế đánh quân Minh nữa. Tương truyền, y có nói với bộ hạ : “Cả 4 châu đều do ta chiếm được, thế có khác nào đất đai của ta đâu, vậy mà triều đình chỉ phong cho ta có 2 châu, thôi thì ta về giữ đất của ta”. Trước tình hình đó, Giản Định Đế buộc phải tăng thêm quyền lực cho (tước vị không thể tăng thêm nữa), được quyền điều quân không phải tâu vua. Cũng từ đó mà gây nên bất mãn dẫn đến họa sát thân sau này. Còn trước đó, năm 1391 (9 năm trước khi họ Hồ cướp ngôi nhà Trần), để lấy lòng Lê Quý Lý (sau khi xưng đế mới đổi sang họ Hồ), Đặng Tất đã tố cáo hai tướng trấn thủ Hóa Châu là Phan Mãnh và Chu Bỉnh Khuê có ý bất mãn về việc Quý Ly chuyên quyền và có ý thoán đoạt, nên được tin dùng và phong làm Đại tri châu Hóa Châu. Người như thế, tốt nhất là nên đưa đi khỏi Hóa Châu, để khỏi ảnh hưởng đến đại sự của Giang Phong.

Giang Phong hỏi :

- Đặng Tất được phong chức gì ?

Phạm Thế Căng nói :

- Gã được phong làm Đô tướng, coi quân Thần Vũ.

Giang Phong ngẫm nghĩ một lúc, hỏi :

- Hiện các châu ở Nam trấn do ai quản lĩnh ?

Phạm Thế Căng nói :

- Hóa Châu do Đặng Tất rời đi nên tạm khuyết, Thuận Châu do Nguyễn Phong làm trấn thủ, châu Minh Linh do Nguyễn Lỗ làm trấn thủ, châu Lâm Bình do Đào Duy Liêm làm Thiêm phán, châu Bố Chính do Dương Vũ làm tri châu, còn phủ Tân Bình thì do Lý Đức Tông làm trấn phủ sứ.

Giang Phong thoáng cau mày. Nghe nhắc đến Nguyễn Phong và Nguyễn Lỗ, Giang Phong lập tức có ấn tượng không tốt, nhưng lại không thể nhớ ra bọn họ là người thế nào. Nhưng nếu đã khiến Giang Phong có ấn tượng không tốt, chắc bọn họ cũng có vấn đề gì đó. Vì thế Giang Phong nói :

- Đề nghị Đặng Tất dẫn theo Nguyễn Phong và Nguyễn Lỗ về kinh, lấy lý do là hai người này có quan hệ thân cận với Nguyễn Đa Phương, để lại không tiện.

Nguyễn Đa Phương là đại tướng của nhà Trần, trước đây đã cùng Lê Quý Ly chống quân Chiêm. Quý Ly đánh thua, còn Đa Phương thì đánh thắng. Sau vì chê bai Quý Ly bất tài nên bị hại. Thật ra thì Nguyễn Phong và Nguyễn Lỗ bị các sử gia xem là kẻ phản trắc. Khi quân Chiêm tấn công Thăng Hoa, Đặng Tất chống cự không nổi, rút quân về Hóa Châu thì Nguyễn Phong đóng cửa thành không cho vào, còn Nguyễn Lỗ thì chặn đánh. Sau Nguyễn Phong bị Đặng Tất bắt giết đi, Nguyễn Lỗ bại trận chạy vào nam đầu hàng Chiêm Thành, được trọng dụng. Nhà Minh sang, sai người dụ hàng, hứa sẽ phong làm quan ở bên Tàu, Lỗ theo, bị giết đi. Giang Phong không nhớ rõ sự tích của hai người bọn họ, nhưng do có ấn tượng không tốt nên cũng không muốn dùng. Phạm Thế Căng không hiểu, hỏi :

- Cả hai đều là tướng giỏi. Sao lại gửi bọn họ về kinh ?

Giang Phong nói :

- Ta xem cả hai đều có phản tướng, dùng không có lợi.

Đó là lý do mà Khổng Minh Gia Cát Lượng trong Tam Quốc Chí ưa dùng. Giang Phong lần này học theo, và bọn Phạm Thế Căng không nghi ngờ gì. Cả bọn còn cùng nhau nghĩ ra thêm nhiều lý do để đẩy hai người họ đi. Không ai muốn trong số thủ hạ có người có phản tướng cả. Tiếp đó, Giang Phong lại hỏi :

- Việc chiêu mộ quân binh, các ngươi định lẽ nào ?

Phạm Thế Căng nhăn nhó than :

- Xứ này đất rộng người thưa, mộ quân không dễ a !

Phạm Thế Hưng gật đầu nói :

- Đừng nói là 1 vạn, ngay cả 4, 5 nghìn cũng không đơn giản.

Giang Phong mỉm cười nói :

- Ta không bảo các ngươi mộ 1 vạn quân binh. Xứ Tân Bình, Thuận Hóa đồng bằng nhỏ hẹp, toàn là đồi núi, nhiều nơi hiểm trở dễ thủ khó công, 3.000 quân là đủ rồi. Lấy 1.000 quân trấn giữ Hải Vân Quan, 500 quân trấn giữ đèo Ngang, số còn lại giữ trị an trong vùng.

Nếu chỉ lo phòng thủ thì như thế cũng tạm ổn. Thế là mọi người bàn bạc việc mộ quân, cuối cùng quyết định Phạm Thế Căng sẽ lấy 500 dân binh Kiềm Châu, 500 dân binh của Đông Giang tộc, 500 dân binh của các tộc trong vùng, ra Nghệ An mộ thêm 500 quân nữa. Số còn lại vào trong đó sẽ chiêu mộ dân bản địa. Có được quân lương, mộ hơn nghìn quân binh có lẽ cũng không khó lắm. Giang Phong còn dặn nếu có thể thì nên dùng cả người Chiêm, đừng nên kỳ thị.

gianghoaingoc
03-09-2010, 12:15 AM
Chương 10 : TƯ DUNG HÀNH DOANH (1)


Hóa Châu, cửa Tư Dung.

Ở vùng Thuận Hóa có một địa danh nổi tiếng : phá Tam Giang. Hệ thống phá Tam Giang gồm bốn đầm lớn nối nhau trải dài hơn 68 kilômét từ bắc xuống nam (tên gọi ngày nay lần lượt là : phá Tam Giang, đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung - Thủy Tú và đầm Cầu Hai). Một dải đất dài gồm những đụn cát cao ngăn đầm với biển, có nơi cồn cát cao đến 20 mét, có hai cửa Tư Dung (nay gọi là cửa Tư Hiền) và Nhật Lệ (cửa của sông Hương) thông với biển. Phá Tam Giang tuy là đầm, nhưng vì thường xuyên có sóng lớn nên từ xưa đã có câu :

“Thương em anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.”

Lúc này, đã hai năm kể từ khi Giang Phong xuyên việt. Năm nay có hai sự kiện trọng đại xảy ra. Ở ngoài bắc, Lê Quý Ly cuối cùng cũng bỏ cháu ngoại là Kiến Tân hoàng đế (sử gọi Thiếu Đế) lúc này mới 5 tuổi, tự xưng làm vua mà thay ngôi nhà Trần. Sau khi xưng đế thì đổi sang họ Hồ và xưng quốc hiệu là Đại Ngu, cải niên hiệu là Thánh Nguyên. Sự kiện này mọi người đều biết sớm muộn gì cũng xảy ra, nên khi nhà Hồ thành lập, trong nước cũng không có biến động gì lớn, sự việc diễn ra cũng êm ả như khi nhà Trần thay ngôi nhà Lý vậy.

Lê Quý Ly sở dĩ đổi sang họ Hồ vì nhận mình có thủy tổ là Hồ Công Mãn, dòng dõi vua Thuấn, nên đặt quốc hiệu Đại Ngu để kế tục Ngu Thuấn. Tuy nhiên, sử gia Trần Xuân Sinh cho rằng : Hồ Quý Ly đã nhận sai. Dòng dõi vua Thuấn chỉ có chi họ Diêu (tên thật của vua Thuấn là Diêu Trọng Hóa, làm vua nước Hữu Ngu, hiệu xưng Ngu Thuấn), và họ Quy chứ không có chi nào họ Hồ. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Hồ Công Mãn là thủy tổ họ Trần chứ không phải họ Hồ. Vua Chu Vũ Vương sau khi diệt nhà Thương, tìm được Quy Mãn là dòng dõi vua Thuấn và phong cho làm vua nước Trần. Sau khi mất, Mãn được đặt thụy hiệu là Trần Hồ Công. Hồ Công là tước hiệu, các vua thời xưa thường được gọi bằng họ (hoặc tên nước) cùng với tước hiệu, như : Tề Hoàn Công, Sở Bá Vương, Chu Vũ Vương, … Từ Trần Hồ Công truyền các đời, tới Trần Thân Công, Trần Tương Công... Các vua nước Trần từ thời Tây Chu trở đi đều là dòng dõi Trần Hồ Công chứ không phải mang họ Hồ. Hồ Công Mãn tức là vị Hồ Công tên Mãn, cũng là một cách gọi thời xưa, giống như Chu Công Đán (Cơ Đán, tổ của nước Lỗ), Thiệu Công Thích (Cơ Thích, tổ nước Yên). Do đó Lê Quý Ly đổi sang họ Hồ và nhận dòng dõi vua Thuấn chỉ là mượn danh dòng họ đế vương cổ xưa. Sau này nhà Minh sang đánh Đại Ngu cũng kể ra 1 trong 22 tội của Hồ Quý Ly là tự ý đổi từ họ Lê sang họ Hồ.

Còn sự kiện thứ hai xảy ra ở các xứ phía nam, và chỉ được các tộc xứ này chú ý đến mà thôi. Tuy vậy, về lâu dài, nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến đại cuộc. Giang Phong đã dời đại bản doanh từ Thánh sơn vào Hóa Châu, đóng ở bên cửa Tư Dung. Giang Phong chọn nơi này chứ không phải trị sở của Hóa Châu, vốn đặt ở khu vực phía nam sông Thạch Hãn cho đến phía bắc phá Tam Giang (thuộc huyện Hải Lăng, Quảng Trị và huyện Phong Điền, Thừa Thiên – Huế ngày nay), bởi vì nơi này nằm cạnh biển, không xa rừng núi, mà lại hẻo lánh, tiện giữ bí mật những gì mà Giang Phong không muốn nhiều người biết. Đặc biệt là nó cách vịnh Đà Nẵng không xa, chỉ hơn 20 kilômét. Là người thời hiện đại, Giang Phong thừa biết vị trí quan trọng của Đà Nẵng. Chỉ có điều, lúc này các xứ nằm ở phía nam đèo Hải Vân còn thuộc đất Chiêm Thành.

Đại bản doanh mới của Giang Phong, được gọi là Tư Dung hành doanh, có quy mô lớn hơn ở Thánh sơn nhiều, và nhân số cũng được vài nghìn người. Sau gần 2 năm tích góp, Giang Phong đã có được một lượng tài sản khá lớn, ước hơn 60 vạn lượng bạch ngân. Tuy rằng số này so với các phú hào phương bắc không thấm vào đâu, và chỉ bằng chi phí một tháng ăn ngọc Cao Ly của Ngọc phi trong cung nhà Minh. Nhưng so với tình hình Đại Việt lúc bấy giờ, đó đã là một con số cực lớn. Đương nhiên, hơn chín phần trong số đó là đến từ phương bắc. Các thương đoàn của Giang Phong, thông qua một số thương nhân người Hán đã đưa sản phẩm đến tận vùng Tô Hàng, và rất được quan lại phú hào ưa chuộng. Có điều, số bạc đó hiện không có ở Tư Dung hành doanh, mà đã được chuyển ra cất ở đảo Hải Tân (tên do Giang Phong đặt, tức đảo Cồn Cỏ ngày nay, giữa biển mà gọi là cồn thì hơi kỳ, nên Giang Phong không dùng tên thời hiện đại đặt cho nó). Đảo Hải Tân cách đất liền không quá xa, chỉ khoảng 30 kilômét, nhưng lại chẳng mấy người biết đến, và lúc này cũng chưa phải là lãnh thổ Đại Việt, do đó Giang Phong đã cho người ra chiếm lấy, kiến thiết thành căn cứ bí mật của mình. Ban đầu bọn Quảng Tế Pháp sư cũng chưa rõ bản ý của Giang Phong. Trong ý nghĩ của bọn họ đều cho rằng chiếm lấy nơi xa xôi ấy có ích lợi gì kia chứ. Nhưng kể từ năm ngoái, khi Hồ Quý Ly chế ra tiền giấy, cấm người Đại Việt sử dụng tiền đồng, ai vi phạm sẽ phải tội chém; thì Giang Phong đã cho chuyển toàn bộ tài sản của mình ra Hải Tân cất giữ. Đến lúc đó mọi người mới hiểu tác dụng của nơi đó. Các thương đoàn của Giang Phong thường xuyên giao dịch với người nước ngoài, trong đó chủ yếu vẫn là phương bắc, tiền giấy của Hồ Quý Ly không sử dụng được. Giang Phong cũng không thích tiền đồng, chỉ tích trữ hoàng kim và bạch ngân.

Lúc này đây, Giang Phong và các thủ hạ trọng yếu đều tập trung ở bến thuyền bên trong cửa Tư Dung, chờ đợi một sự kiện trọng đại. Mọi người đều chú ý nhìn ra cửa biển.

Sau một thời gian chờ đợi, trên mặt biển bắt đầu xuất hiện những bóng đen. Dần dần, ba chiếc hải thuyền khổng lồ xuất hiện trước mắt mọi người. Thấy bọn Quảng Tế Pháp sư đều lộ xuất vẻ chấn kinh, Giang Phong không khỏi mỉm cười. Trước giờ bọn họ nhìn thấy những thuyền lớn bất quá vài ba chục mét. Còn ba chiếc hải thuyền kia, chiếc nhỏ nhất cũng dài hơn 60 mét, còn chiếc lớn nhất dài đến gần 100 mét, rộng hơn 40 mét, hoàn toàn là một tòa lâu đài nổi trên mặt nước.

Để có được ba chiếc thuyền kia, Giang Phong đã phải đầu tư rất nhiều. Sau gần một năm cho người tiếp cận với các thủy sư đề đốc của Minh triều, dùng trọng kim hối lộ, cuối cùng cũng đã mua được vài chiếc thuyền ‘bị hư hỏng nặng, không thể sử dụng được nữa’. Thủy sư đề đốc ở Phúc Kiến lấy cớ nhiều năm giao chiến với Uy khấu làm cho một số chiến thuyền bị hư hỏng nặng, không thể sử dụng được nữa, phải thanh lý; và người của Giang Phong đã mua lại được với giá rẻ. Đương nhiên, đại lượng bạch ngân đã chảy vào túi của quan tướng thủy quân. Để hoàn thành vụ giao dịch, Giang Phong đã chi ra hơn 20 vạn lượng bạch ngân.

Chiếc thuyền lớn nhất được gọi là ‘lương thuyền’, chủ yếu dùng để chở vật tư, lương thực. Thuyền có 7 cột buồm, dài khoảng 95 mét (56 trượng Tàu), rộng khoảng 40 mét (24 trượng Tàu). Thuyền thứ hai gọi là ‘tọa thuyền’, là thuyền chở quân, có 6 cột buồm, dài khoảng 80 mét (48 trượng Tàu), rộng khoảng 32 mét (18 trượng 8 thước Tàu). Thuyền thứ ba gọi là ‘Phú Xuyên chiến thuyền’, là thuyền chiến, có 5 cột buồm, dài khoảng 60 mét (36 trượng Tàu), rộng khoảng 22 mét (13 trượng 2 thước Tàu).

(chú : trước thời Minh Gia Tĩnh, 1 trượng Tàu = 1,6666… mét; sau thời Minh Gia Tĩnh, chiều dài 1 trượng tăng đôi).

Ba chiếc thuyền cập bến, bắc phương thương đoàn quản sự Cát Ti cùng với thuyền trưởng và một số thành viên quan trọng của thương đoàn xuống thuyền, lên bến ra mắt Giang Phong. Vì bọn họ hoàn thành nhiệm vụ, Giang Phong khen ngợi và gia thưởng. Cát Ti được thăng làm Thương mại tổng quản, quản lý tất cả các thương đoàn dưới quyền Giang Phong. Y có năng lực, giao cho chức vụ đó cũng hợp lý.

Tiếp đó, Cát Ti báo cáo với Giang Phong những việc mắt thấy tai nghe trên đất bắc. Lúc này bên Tàu đang có loạn Tĩnh nạn. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương vừa qua đời hồi 2 năm trước (trùng với năm Giang Phong đến đây); Hoàng thái tôn Chu Sùng Văn kế vị, niên hiệu Kiến Văn, và tiến hành tước phiên, nhằm làm giảm quyền lực của các phiên vương. Các phiên phương nam sức yếu, có người thuận tòng, về kinh làm thái bình vương gia; có người chống lại nhưng bị đánh bại, giết chết; cũng có người tự sát. Còn các phiên phương bắc thế lực hùng mạnh, nên đều chống lại; trong đó liên minh Yên Vương – Ninh Vương cử binh nam chinh. Hiện tại song phương đang tranh chiến rất kịch liệt ở vùng Sơn Đông. Nam kinh triều đình lúc này có phần mạnh hơn, đã mấy lần đánh bại Yên Vương Chu Lệ, nhưng vẫn không tiêu diệt được.

Giang Phong suy nghĩ một lúc, rồi cho bọn Cát Ti nghỉ ngơi. Ba chiếc thuyền được sai đưa đi sửa chữa, cải trang lại. Ý Giang Phong là muốn hình dáng bên ngoài của nó phải khác đi, để không tiết lộ bí mật. Giang Phong muốn nhân cơ hội bắc phương loạn lạc, Minh triều không rảnh quản việc phương nam, tranh thủ ‘mua’ thêm càng nhiều thuyền càng tốt.

gianghoaingoc
04-09-2010, 12:55 AM
Chương 11 : TƯ DUNG HÀNH DOANH (2)


Tư Dung hành doanh.

Tuy nằm ở nơi hẻo lánh, nhưng giờ đây, Tư Dung hành doanh gần như trở thành một tòa thành trấn. Sau khi dời đại bản doanh đến đây, không những số thủ hạ ở Thánh sơn cũng chuyển đến theo, mà Giang Phong còn cho người ra các xứ Thanh Hóa, Nghệ An chiêu mộ lưu dân và những người nghèo khổ vào đây sinh sống. Vì lấy danh nghĩa mộ dân vào khai phá các xứ Thuận Hóa, để tăng tỷ lệ dân Việt so với dân Chiêm, hoàn toàn phù hợp với chủ trương của triều đình xuyên suốt từ thời Lý đến giờ, nên công việc hoàn toàn thuận lợi, không gặp khó khăn gì. Một số nơi quan lại triều đình còn tạo điều kiện cho việc mộ dân, thậm chí còn hỗ trợ thuyền bè chuyên chở dân vào nam. Thật ra thì các quan chẳng mấy người muốn lưu dân ở lại địa bàn của mình cả, sợ gây bất ổn trị an trong vùng, nên đều muốn đẩy bọn họ đi càng xa càng tốt.

Mỗi hộ gia đình đến định cư đều được Giang Phong cấp cho 1 lượng bạc, 10 đấu gạo, nếu có trẻ con thì được hỗ trợ thêm. Do đó giờ đây Tư Dung hành doanh đã có hơn một nghìn hộ dân, đã có diện mạo của một tòa Đại trấn. Những người này đều trải qua quá trình tuyển chọn rất kỹ lưỡng, ít nhất cũng đảm bảo đều là ‘thuận dân’, tức sẽ không chống lại uy quyền của Giang Phong. Giang Phong không thu nạp hãn dân, bạo dân, nghịch dân, … (trong số di dân vào nam luôn có một bộ phận là tù nhân, bị đi đày), những kẻ có thể phá hoại sự ổn định của hành doanh. Ngoài ra, còn có hơn trăm hộ dân cũng được đưa ra định cư ở đảo Hải Tân, tham gia vào xưởng thủ công đặc biệt mà Giang Phong đã mở ra ở đó. Nhiều thứ hàng hóa có giá trị cao đã được bọn họ làm ra ở đấy. Đương nhiên, những người này đều được hưởng đãi ngộ cao hơn những người khác, và lòng trung thành cũng được đảm bảo.

Đi dạo dọc theo con đường chính trong hành doanh, quan sát quang cảnh phố xá cùng sinh hoạt của cư dân, Giang Phong gật đầu hài lòng. Phố thị được Giang Phong đích thân quy hoạch, đường xá rộng rãi, các khu phố vuông vức, chỉnh tề trật tự. Giang Phong còn ra lệnh phải giữ phố xá thật sạch sẽ, ai vi phạm sẽ bị trọng phạt. Do đó mà đường phố không giống như các thành trấn khác đương thời, khắp nơi đều rất sạch sẽ. Giang Phong rất bực bội với việc xả rác trên phố, bôi bẩn trên tường, …

Ở các hoa viên nằm xen lẫn giữa các dãy phố, trẻ con cùng nhau chơi đùa, người già thì tụ họp thành từng nhóm, hoặc chơi cờ, hoặc nói chuyện, … Mọi người khi thấy Giang Phong đều cung kính vái lạy. Đối với bọn họ, Giang Phong thật sự là thần.

Tất cả cư dân trong hành doanh đều làm việc cho Giang Phong, và được trả công rất hậu. So với cuộc sống trước đây, bọn họ hiện giờ sung túc hơn nhiều, nên trông ai nấy cũng đều rất vui vẻ yêu đời. Trong hành doanh có nhiều xưởng thủ công, chuyên sản xuất các mặt hàng thông thường, cung cấp hàng hóa cho các thương đoàn. Các thương đoàn này buôn bán khắp từ nam chí bắc, nam đến tận Chà Và, bắc đến tận Kim Lăng, mang lại rất nhiều tiền của cho Giang Phong. Các thương nhân trong thương đoàn do được chia lợi nhuận của mỗi chuyến đi, nên bọn họ đều trở thành những người giàu có. Các trang viện của bọn họ đều tập trung ở một khu vực, nhà cao cửa rộng, được cư dân gọi là ‘phú thương khu’. Đối với Giang Phong, sĩ nông công thương đều bình đẳng, chỉ phân biệt họ giúp ích được cho Giang Phong hay không mà thôi. Do vậy, tầng lớp giàu có ở đây bao gồm : những thủ hạ thân tín của Giang Phong, như bọn Quảng Tế Pháp sư; các phú thương và một số đặc cấp thợ thủ công (những người chủ trì xưởng thủ công ở đảo Hải Tân). Quảng Tế Pháp sư giờ đây rất giàu có, lão rất cao hứng vì trước đây đã lựa chọn đi theo Giang Phong. Lão cũng là người được Giang Phong tin tưởng nhất.

Thợ thủ công bình thường thì không giàu như thương nhân, nhưng cuộc sống cũng rất thoải mái sung túc, và con em bọn họ đều được cho học hành đầy đủ. Giang Phong cho mở trường, bắt buộc mọi gia đình đều phải cho trẻ con đến học, đương nhiên miễn phí hoàn toàn. Giang Phong không tiếc chút tiền bạc chi cho giáo dục. Thật ra cũng chỉ tốn công dựng mấy gian nhà lớn, tuyển một số người biết chữ ra làm giáo sư, cũng chẳng tốn kém bao nhiêu. Tối đa mười năm sau, những đứa trẻ đang đi học này đều sẽ trở thành thủ hạ đắc lực của Giang Phong. Thời này học hành cũng không có gì nhiều, chủ yếu biết chữ, biết tính toán, nếu biết làm thơ làm văn thì càng tốt. Việc đó cũng do Quảng Tế Pháp sư phụ trách. Lão không ưa Nho học (pháp sư mà), nên không dạy Nho học và tôn sùng Khổng tử. Theo ý lão, có Giang Phong ở đây, còn đi tôn kính ‘lão người Tàu’ đó làm gì. Trước chủ trương của lão, Giang Phong không có ý kiến gì. Thật ra dạy mọi người trung thành với Giang Phong thì thật quá tốt, quá hợp ý Giang Phong.

Nói đến giáo dục, cũng cần phải nhắc đến việc Giang Phong ‘sáng tạo’ chữ viết. Thật ra thì sau khi đến đây khoảng một năm, Giang Phong học chữ Hán cũng không tiến bộ là mấy, cứ hay quên nét (thời xưa chưa có chữ Hán giản thể, chữ rất nhiều nét). Quá bực bội, Giang Phong liền dạy những người xung quanh sử dụng chữ quốc ngữ là thứ chữ mà Giang Phong rất quen thuộc, để có thể đọc báo cáo dễ dàng hơn. Thứ chữ này chỉ có vài chục chữ cái, theo âm ký tự, đọc làm sao viết như thế, nên rất dễ học dễ nhớ. Bọn Quảng Tế Pháp sư học vài tháng là đã có thể đọc viết dễ dàng. Mọi người gọi thứ chữ đó là ‘Thiên tự’, tức là thứ chữ ở trên trời, bởi Giang Phong vẫn được xem là người trên thượng giới kia mà. Có điều, thời này mọi người quen sử dụng chữ Hán, nên trong ‘Thiên tự’ do Giang Phong ‘sáng tạo’ ra, chỉ có một ít là chữ thuần Việt, còn lại đại bộ phận đều là chữ Hán Việt. Nhưng dù sao thì thứ chữ này dễ học hơn chữ Nôm nhiều, đặc biệt là mọi người dân ai cũng có thể học, và thời gian học cũng sẽ không quá lâu.

Để đào tạo thủ hạ tương lai, Giang Phong đã đích thân biên soạn giáo trình cho trường học. Giang Phong không cần thủ hạ chỉ biết ngâm thơ vịnh xướng ca công tụng đức. Các môn được dạy trong trường gồm : Từ ngữ, Ngữ pháp, Viết văn. Sau khi biết viết chữ, viết câu rồi viết văn, sẽ học đến Toán pháp (dạy phép tính toán). Còn môn Đạo đức, chủ yếu dạy tôn kính và trung thành với Giang Phong, thì được dạy xuyên suốt thời gian học. Khi đã học xong các môn đó thì kể như tốt nghiệp Sơ học. Những môn này thường chỉ cần học 1 năm là xong, tối đa cũng chỉ 2 năm.

Sau khi tốt nghiệp Sơ học, học sinh sẽ lên học Trung học, và tùy năng khiếu mà sẽ được phân vào các phân khoa khác nhau, học các môn khác nhau. Ví dụ sau này làm thương nhân sẽ học về Hùng biện, Địa lý, Cao cấp toán pháp, Ngoại ngữ (tiếng Hán, tiếng Chiêm, tiếng Chà Và, …); làm thợ thủ công sẽ học Hình họa (thiết kế các vật phẩm), Công nghệ (học tập kinh nghiệm làm việc), sau đó sẽ đến xưởng thực tập, làm học đồ; … Những môn này cũng mới được dạy, cũng chưa biết mất bao nhiêu thời gian mới có thể học xong. Giang Phong còn có ý định mở trường Thái học, để đào tạo chuyên gia, nhưng giờ chưa phải lúc. Trung học vẫn chưa có ai tốt nghiệp kia mà.

Tóm lại, Tư Dung hành doanh đối với cư dân ở đây là xứ sở của hạnh phúc. Đối với mọi người, tương lai tràn đầy hy vọng.

Giang Phong vừa đi dạo vừa quan sát cuộc sống của dân chúng, thầm hài lòng. Quảng Tế Pháp sư đi bên cạnh giới thiệu, dáng vẻ hãnh diện thấy rõ. Chính sự ở đây đều do lão quản lý. Lão là người thân cận Giang Phong nhất, rất hiểu ý tứ của Giang Phong, nên quản lý hành doanh đâu vào đó, không xảy ra sự gì.

Giữa lúc đó, có hộ vệ thân tín đến báo :

- Đại nhân. Đào Anh về đến rồi ạ.

Giang Phong ngạc nhiên. Cả Quảng Tế Pháp sư cũng rất ngạc nhiên, buộc miệng nói :

- Chẳng lẽ mới đó mà đánh nhau xong rồi ư ?

Đào Anh là một trong số những người đã đi theo Giang Phong sớm nhất. Cha của gã tử trận trong lần đánh Chiêm Thành lúc trước, gã cùng mẹ được Giang Phong chọn lựa đưa đến Thánh sơn làm việc, và dần dần đã trở thành thân tín của Giang Phong. Mấy hôm trước, gã được Giang Phong phái đi theo quân đội của triều đình chinh phạt Chiêm Thành, lấy danh nghĩa là người của Phạm Thế Căng đi theo làm hướng đạo. Sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi, chỉnh đốn triều đình xong, muốn giương uy với bách quan, nên nhân lúc vua Chiêm Thành là La Khải mới mất, con là Ba Đích Lại mới nối nghiệp, liền cử Đỗ Mãn làm Thủy quân Đô tướng, Trần Tùng làm Bộ quân Đô tướng, lĩnh 15 vạn đại quân đi đánh Chiêm Thành. Quân triều đình mới đi qua Hóa Châu chưa được 10 ngày, sao lại quay về rồi. Có việc gì chăng ?

gianghoaingoc
05-09-2010, 05:05 AM
Chương 12 : TƯ DUNG HÀNH DOANH (3)


Lại nói, khi nghe báo Đào Anh đã trở về, bọn Giang Phong liền vội trở về Thái An Đại Viện, nơi Giang Phong ở và làm việc, nằm ngay chính giữa hành doanh. Giang Phong sống ở đó, ngay bên cạnh là khu trang viện của chúng thủ hạ, là trung tâm của cả hành doanh, được cư dân gọi là ‘quan lại khu’. Bọn Quảng Tế Pháp sư tuy chỉ là thủ hạ của Giang Phong, không phải quan chức của triều đình, nhưng trong mắt dân chúng không có gì phân biệt cả. Có khác chăng là bọn họ đối xử với dân chúng tốt hơn mà thôi.

Vào trong đại sảnh, thấy Đào Anh mãn diện phong trần, Giang Phong nói :

- Ngươi cũng không cần vất vả quá như thế. Ta chỉ phái ngươi đi theo nắm bắt tình hình thôi, không cần quá khẩn trương. Tin tức biết sớm hay muộn thì cũng vậy cả mà.

Đào Anh vội nói :

- Làm việc cho đại nhân. Thuộc hạ phải tận tâm tận lực.

Giang Phong mỉm cười nói :

- Thôi được rồi. Chuyện thế nào ?

Đào Anh nói :

- Hồi bẩm đại nhân. Trần Đô tướng dẫn quân đi đường núi vào đất Chiêm, nhưng đi cách thủy quân quá xa, hai bên không tiếp ứng được nhau, thành ra bộ quân thiếu lương, phải rút về.

Quảng Tế Pháp sư lắc đầu nói :

- Cơ hội tốt như thế, bỏ qua thật đáng tiếc.

Giang Phong nói :

- Quý Ly muốn giương uy với thiên hạ, bị gã làm hỏng việc, thế nào cũng tức giận. Gã Trần Tùng khó tránh khỏi trọng phạt, nhưng có lẽ không đến nỗi chém đầu.

Quảng Tế Pháp sư ngạc nhiên hỏi :

- Tại sao vậy ạ ?

Giang Phong nói :

- Tội của gã so với Đỗ Tử Bình trước kia còn nhẹ hơn nhiều, ít ra chỉ lỡ việc quân, không đến nỗi hao binh tổn tướng. Hơn nữa đang lúc cần dùng người.

Nói đoạn, Giang Phong bảo Đào Anh về nghỉ ngơi. Gã thật sự đã mệt mỏi lắm rồi. Giang Phong tỏ ra quan tâm thủ hạ như thế, khiến cho chúng thủ hạ cảm động vô cùng. Giang Phong không có khí thế ‘quân lâm thiên hạ’, đứng trên cao ‘phủ thị chúng sinh’, mà thái độ lúc nào cũng hòa nhã, chỉ cần không mất phần oai nghiêm là được. Có thể cách biệt quần chúng, nhưng không thể cách biệt thủ hạ. Đào Anh cáo lui rồi, Quảng Tế Pháp sư hỏi :

- Đại nhân có chủ ý gì không ạ ?

Giang Phong nói :

- Lúc này không có chiến tranh với Chiêm Thành là tốt nhất. Lý Ngân thế nào rồi ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Hồi đại nhân. Gã vẫn trấn thủ ở Hải Vân Quan. Nơi đó địa thế hiểm yếu. Chỉ cần đóng giữ 1.000 quân ở đó, tin chắc quân Chiêm dù kéo đến 10 vạn cũng không qua được.

Lý Ngân là tướng của Hóa Châu, được cử vào trấn giữ Hải Vân Quan, đúng ra gã ở dưới quyền quản hạt của Phạm Thế Căng, nhưng do nơi đây rất gần Hải Vân Quan, nên cuối cùng gã biến thành thuộc tướng của Giang Phong, trực tiếp nhận lệnh từ Tư Dung hành doanh. Ngay cả Phạm Thế Căng còn phải nghe lệnh Giang Phong, nên gã nhận thấy việc đó cũng bình thường, vui vẻ nhận mệnh. Hải Vân Quan có thể mệnh danh ‘Thiên hạ đệ nhất hùng quan’ đủ thấy địa thế hiểm yếu vô cùng. Giang Phong chưa từng đến đó, nhưng cũng biết nơi đó đường núi nhỏ hẹp, xe đi chẳng lọt, ngựa bước khó khăn. Vì thế mà đại quân nam chinh cứ phải dùng thuyền tải lương. Và gã Bộ quân Đô tướng Trần Tùng mới vì đi xa thủy quân, thiếu lương thực mà phải rút về, làm lỡ chiến cơ.

Giang Phong ngẫm nghĩ một lúc, nói :

- Mặt bộ thì ổn rồi. Chỉ lo mặt biển. Nếu quân Chiêm đi thuyền ra tập kích, có thể gây phiền phức cho chúng ta.

Quảng Tế Pháp sư hỏi :

- Ý đại nhân là chúng ta nên tổ chức thủy quân ?

Giang Phong nói :

- Bảo Cát Ti tăng cường liên hệ với bắc phương, tranh thủ ‘mua’ lại càng nhiều chiến thuyền càng tốt. Tối thiểu phải có được 10 chiếc chiến thuyền, tổ chức thành hạm đội phòng thủ mặt biển.

Quảng Tế Pháp sư nhớ đến các chiến thuyền khổng lồ nhìn thấy hôm trước, gật đầu lia lịa, nói :

- Vâng ạ. Có được hạm đội như thế, chúng ta có thể khống chế được mặt biển, uy hiếp thủy quân của Chiêm Thành.

Giang Phong khẽ mỉm cười, ý đồ của Giang Phong không chỉ có thế, nhưng nói ra lúc này thì quá sớm. Có lẽ phải một, hai năm nữa mới có thể tiến hành. Thời cơ chưa đến. Ngẫm nghĩ một hồi, Giang Phong lại nói :

- Còn hai việc nữa. Thứ nhất, bằng mọi cách tận khả năng thu gom lương thực, càng nhiều càng tốt. Ta muốn đến sang năm có thể tích trữ được tối thiểu 10 vạn thạch lương. Việc này giao cho các thương đoàn lo liệu.

Quảng Tế Pháp sư giật mình, hỏi :

- Đại nhân. Cần nhiều lương thực như thế làm gì ạ ? Ngay cả đại quân chinh phạt Chiêm Thành cũng chỉ dùng đến tối đa 5 vạn thạch lương.

Giang Phong mỉm cười nói :

- Tạm trữ lại đấy, sau này có việc phải dùng. Còn việc thứ hai là chiêu mộ quân đội. Tối thiểu là 5.000 người. Nếu được 1 vạn thì càng tốt.

Quảng Tế Pháp sư cả kinh, nhưng thần sắc khôi phục rất nhanh, hưng phấn hỏi :

- Đại nhân định cử sự ?

Giang Phong mỉm cười nói :

- Cũng đã đến lúc rồi.

Quảng Tế Pháp sư lại hỏi :

- Nhưng 1 vạn có ít quá không ạ ?

Giang Phong nói :

- Không ít đâu, 1 vạn đủ rồi. Nhiều quá khó giữ bí mật. Còn sau này muốn tăng quân, chỉ cần có nhiều ngân lượng, muốn bao nhiêu cũng có.

Giang Phong không định đánh nhau với nhà Hồ, bởi Minh triều luôn lăm le dòm ngó phương nam, thay nhà Hồ rồi lại phải đứng giữa nơi nước sôi lửa bỏng hay sao. Ngay cả Hồ Quý Ly cũng biết sớm muộn gì Minh triều cũng đánh Đại Việt, nên vẫn đang khẩn trương tích trữ lương thảo, thu góp quân đội đấy thôi. Đánh Chiêm Thành chẳng qua là để luyện binh và lập uy mà thôi. Và Giang Phong cũng chưa định đánh Chiêm Thành, bởi lúc này có đánh được cũng khó giữ được. Quảng Tế Pháp sư hoan hỉ nói :

- Vâng ạ. Thuộc hạ sẽ bảo bọn nhỏ lo liệu ngay. Thuộc hạ chờ ngày này lâu lắm rồi.

Giang Phong cười nói :

- Vẫn còn sớm mà. Lúc này chỉ mới chuẩn bị.

Quảng Tế Pháp sư vâng dạ, cáo lui, đi thu xếp mọi chuyện. Giang Phong gọi lại bảo thêm :

- Gọi Cát Ti và Triệu Phong đến đây.

Quảng Tế Pháp sư vâng dạ, đi thu xếp mọi sự. Tất cả mệnh lệnh Giang Phong ban ra, lão đều chấp hành triệt để, xử lý rất nhanh. Mặc dù lão chỉ là người truyền lệnh, nhưng còn kiêm thêm giám sát việc thực hiện, bởi lão phụ trách quản lý lực lượng đặc biệt của Giang Phong, chuyên giám sát công việc, điều tra tin tức, do thám tình báo, … Lão là người theo Giang Phong sớm nhất, được Giang Phong tin tưởng nhất, nên ngoài việc quản lý chính sự còn kiêm quản thêm việc đó.

Hồi lâu sau, Quảng Tế Pháp sư dẫn theo Cát Ti và Triệu Phong đến nơi. Cát Ti là người Chiêm, từng theo chủ nhân là thương buôn đi buôn bán khắp nơi, sau bị bắt rồi theo Giang Phong, và trở thành đại thương nhân; giờ đây gã đã đem cả vợ con đến Tư Dung hành doanh sinh sống trong trang viện rộng lớn của mình. Còn Triệu Phong là hậu duệ của Triệu Trung, tướng nhà Tống sang Đại Việt xin tùng chinh khi nhà Tống bị nhà Nguyên diệt, đã từng theo Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đánh trận Hàm Tử, phá quân Toa Đô. Quảng Tế Pháp sư lại là người Mường. Trong số thủ hạ của Giang Phong, Việt Chiêm Hán Mường đều có cả, Giang Phong không kỳ thị ai.

Bảo mọi người an tọa, Giang Phong hỏi :

- Cát Ti, nếu muốn mua thêm chiến thuyền, có vấn đề gì không ?

Cát Ti ngẫm nghĩ một lúc, rồi đáp :

- Hồi bẩm đại nhân. Chiến thuyền thì muốn bao nhiêu cũng có. Nhưng lương thuyền và tọa thuyền không có nhiều, muốn có thêm thì phải liên hệ với thủy sư ở mạn Sơn Đông, Giang Tô, phải mất nhiều công sức và thời gian hơn.

Giang Phong hỏi :

- Không có nhiều là được bao nhiêu, chi phí thế nào ?

Cát Ti nói :

- Hồi bẩm đại nhân, mỗi loại chỉ khoảng chục chiếc trở lại thôi. Giá rất rẻ. Lúc trước chúng ta tốn nhiều tiền là vì phải liên hệ làm quen, tạo lập quan hệ. Ngày nay song phương đã hợp tác rồi, nên giá cả rất rõ ràng. Chiến thuyền 1 vạn lượng bạc, tọa thuyền 2 vạn lượng, lương thuyền 3 vạn lượng. Nghe nói sắp tới còn có thể thanh lý một chiếc mã thuyền, có 8 cột buồm, dài 74 trượng Tàu, rộng 30 trượng Tàu, giá 5 vạn lượng.

Giang Phong nói :

- Tốt lắm. Có thể mua được bao nhiêu thì mua hết. Chúng ta cần. À. Các ngươi có đến Đông Doanh lần nào chưa ?

Cát Ti đáp :

- Hồi bẩm đại nhân. Thuộc hạ chỉ mới nghe nói đến, nhưng chưa đến đó lần nào. Nghe nói xứ đó còn nghèo khổ lắm.

Giang Phong mỉm cười nói :

- Xứ đó vật chất còn thiếu thốn, nhưng đặc biệt đồng và vàng có rất nhiều. Ngươi có thể mang hương liệu, ngà voi, tơ lụa, trà sang đó đổi lấy vàng mang về.

Cát Ti ngập ngừng nói :

- Dạ. Bọn thuộc hạ không ai thông thạo tuyến đường đó, có lẽ cần phải tuyển thêm người.

Giang Phong đứng dậy, bảo :

- Các ngươi theo ta vào đây.

Nói đoạn đi vào trong hậu viện. Bọn Cát Ti, Quảng Tế Pháp sư, Triệu Phong tuy không hiểu có chuyện gì, nhưng cũng vội vã đi theo.

gianghoaingoc
06-09-2010, 12:10 AM
Chương 13 : ĐÔNG DƯƠNG HẢI ĐỒ


Lại nói, đi theo vào hậu viện, bọn Cát Ti, Quảng Tế Pháp sư, Triệu Phong đều không hiểu Giang Phong định cho bọn họ xem thứ gì, chứ nếu chỉ nói chuyện thì không nhất thiết phải vào hậu viện làm chi. Hậu viện, hay còn gọi là mật viện, là nơi Giang Phong làm việc, nơi sẽ đề ra những quyết sách trọng đại, cũng là nơi lưu giữ những tài liệu quan trọng nhất.

Vào trong hậu viện, cả ba đều nhìn bức địa đồ treo trên tường, chấn kinh không ít. Lần đầu tiên, bọn họ nhìn thấy một bức địa đồ rõ ràng đến thế. Trên địa đồ có đề : ‘Đông Dương Hải Đồ’.

Bức địa đồ này, Giang Phong đã dựa theo ký ức mà vẽ lại bản đồ khu vực Đông Á, trên từ Triều Tiên, Nhật Bản, dưới đến Mã Lai, Java, đông đến Phi Luật Tân, tây đến Xiêm La, Ai Lao. Mặc dù năng khiếu vẽ vời của Giang Phong không tốt lắm, nhưng so với năng lực vẽ bản đồ thời ấy cũng rõ ràng chi tiết hơn nhiều, chỉ có tỷ lệ là không được đảm bảo, chỉ có thể đại khái biểu thị phương hướng. Dù sao Giang Phong cũng chỉ vẽ lại theo ký ức kia mà.

Giang Phong chỉ bức địa đồ, nói :

- Đó là do ta vẽ lại theo ký ức, chỉ đại khái biểu thị phương hướng; còn khoảng cách, địa hình, phương vật cần các ngươi điều tra thêm.

Đoạn quay sang hỏi Cát Ti :

- Đảo Đài Loan ngoài khơi Phúc Kiến ngươi biết rõ chứ ?

Cát Ti cung kính nói :

- Hồi bẩm đại nhân. Thuộc hạ thường đi qua đó, cũng khá rõ.

Giang Phong chỉ vào vị trí đảo Đài Loan trên bản đồ, nói :

- Từ đảo Đài Loan đi về phía đông bắc có một dãy đảo nhỏ, gọi là Lưu Cầu, nơi đó có vương quốc Lưu Cầu cai trị. Tiếp tục men theo nhóm đảo nhỏ này là đến Đông Doanh. Còn từ Đài Loan xuôi về phía nam cũng có 1 nhóm đảo nhỏ, men theo nó sẽ đến Lã Tống. Trước mắt, ta cần các ngươi khảo sát địa hình và cư dân của Lã Tống. Nghe nói nơi đó hiện giờ chưa có quốc gia, chỉ có các bộ lạc độc lập nhau.

(chú 1 : Lưu Cầu xưa là 1 vương quốc độc lập; năm 1872, Nhật Bản chiếm Lưu Cầu, biến thành 1 phiên của mình, gọi là phiên Okinawa, đến năm 1879 thì trở thành 1 tỉnh; sau chiến tranh thế giới thứ 2 trở thành vùng ủy trị của Mỹ, người Nhật muốn sang đó phải có visa; đến năm 1972 mới được sát nhập trở lại Nhật Bản).

(chú 2 : Lã Tống là đảo Luzong của Philippin, Luzong là phiên âm ra latinh của tên gọi Lã Tống, giống như Hongkong – Hương Cảng, Shanghai – Thượng Hải ở bên Tàu, Singoa – Thuận Hóa ở Việt Nam).

Cát Ti mắt nhìn bản đồ, ánh mắt sáng lên, hỏi :

- Ý đại nhân là chúng ta sẽ mở mang khai phá nơi đó.

Giang Phong mỉm cười nói :

- Nơi đó tuy là đảo, nhưng trồng lương thực cũng rất tốt. Lại cách xa đất liền. Sắp tới chiến hỏa từ phương bắc sẽ lan đến phương nam, thiên hạ loạn lạc, đó sẽ là nơi phát triển tốt nhất.

Chỉ vào địa đồ, Giang Phong lại nói tiếp :

- Từ Lã Tống đi men theo các đảo về phía tây nam là Mã Lai, tiếp nữa là Chà Và. Giữa Mã Lai và Chà Và có một eo biển hẹp thông sang nam Thiên Trúc. Nếu có cơ hội, các ngươi điều tra khu vực này cho ta.

Cát Ti cung kính tuân mệnh, ánh mắt hướng về Giang Phong càng thêm sùng bái. Gã tin chắc rằng kể cả các thương nhân nhiều kinh nghiệm nhất cũng không thể biết rõ địa hình địa mạo như Giang Phong. Và rồi một ý niệm tự nhiên sản sinh : “đại nhân là thần linh, đại nhân không gì là không biết”. Từ đó, lòng sùng bái chuyển hóa thành sự trung thành.

Giang Phong bảo Cát Ti :

- Ngươi hãy lo tổ chức các thương đoàn, sớm tiến hành việc đó. Ta mong có kết quả thật sớm. Chúng ta chỉ có thể hành động khi công việc của ngươi hoàn thành.

Cát Ti thấy mình được giao nhiệm vụ quan trọng, lòng rất hứng khởi, vâng dạ lui ra. Còn lại Quảng Tế Pháp sư và Triệu Phong, Giang Phong mỉm cười hỏi :

- Nhìn địa đồ, hai ngươi có cảm tưởng gì ?

Quảng Tế Pháp sư hỏi :

- Đại nhân. Ở Lã Tống, ngoài việc có thể trồng lương thực, còn có gì khác nữa không ạ ?

Giang Phong mỉm cười nói :

- Nhiều khoáng sản, nhiều gỗ quý, nhiều người. Một mảnh đất rất tốt để phát triển.

Quảng Tế Pháp sư hỏi :

- Đại nhân. Nhiệm vụ của bọn thuộc hạ là gì ạ ?

Nhìn Triệu Phong chỉ đứng yên lặng một bên, thái độ nghiêm trang, Giang Phong thầm hài lòng. Gã này dòng dõi tướng gia, bản tính cẩn trọng, ít nói, hành sự trung quy trung củ, rất hợp ý Giang Phong, do đó mới được cất nhắc làm thống lĩnh lực lượng quân sự của Tư Dung hành doanh. Dưới trướng Giang Phong hiện tại có ba lực lượng quân sự chính : ngoại quân, nội quân và cấm vệ quân. Ngoại quân là những lực lượng bảo vệ bên ngoài, như quân đội của Lý Ngân ở Hải Vân Quan, quân đội của Phạm Thế Căng ở Hóa Châu, quân đội của Phạm Đống Cao ở Kiềm Châu, …; tổng quân số ước khoảng 5.000 người. Nội quân là lực lượng bảo vệ Tư Dung hành doanh, nhân số chỉ có 500 người, do Triệu Phong thống lĩnh. Cấm vệ quân là lực lượng bảo vệ Giang Phong, nhân số chỉ có 100 người, là lực lượng tinh nhuệ nhất, do Đinh An Bình thống lĩnh; họ Đinh cũng có thân thế giống như Đào Anh, cha tử trận trong lần đánh nhau với quân Chiêm lúc trước, mẹ con theo Giang Phong đến Thánh sơn làm việc. Những người như Đào Anh, Đinh An Bình rất được Giang Phong trọng dụng. Với lực lượng quân sự như vậy, chỉ cần kiến thiết xong hải quân, với phía bắc là đèo Ngang, phía nam là đèo Hải Vân, Giang Phong tin chắc rằng có thể giữ vững được vùng này nếu tương lai xảy ra chiến tranh. Đương nhiên, điều kiện tiên quyết là phải tích trữ đầy đủ lương thực, vũ khí.

Giang Phong hỏi Triệu Phong :

- Ngươi có ý kiến gì không ?

Triệu Phong suy nghĩ một lúc, rồi nói :

- Có phải đại nhân muốn tiểu tướng huấn luyện sĩ binh để ra chiếm lĩnh các vùng đó ?

Giang Phong mỉm cười nói :

- Đúng lắm. Sắp tới nội quân sẽ tăng quân số, lấy từ ngoại quân sung vào nội quân. Sau đó Quảng Tế sẽ mộ binh ở miền ngoài vào bổ sung cho ngoại quân. Quân đội của chúng ta huấn luyện thường xuyên, lại hay lên rừng săn bắn mãnh thú, khả năng chiến đấu có thể tin tưởng được. Chỉ cần huấn luyện thêm về thủy tính là có thể xuất chinh. Trước mắt, ngươi hãy huấn luyện lực lượng hiện tại, để sau này có thể đảm nhiệm các cương vị hạ cấp quân quan.

Về quân chế thì nhà Trần không có số nhất định. Có những đạo quân thì lấy 5 người làm 1 ngũ, 5 ngũ làm 1 đô, 30 đô làm 1 quân. Cũng có những đạo quân thì lấy 5 người làm 1 ngũ, 10 người làm 1 đô. Sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi thì cải quân chế, nam bắc phân ra làm 12 vệ, đông tây phân ra 8 vệ. Mỗi vệ có 18 đội, mỗi đội có 18 người. Đại quân thì có 30 đội, trung quân thì có 20 đội. Mỗi doanh có 15 đội, mỗi đoàn có 10 đội. Còn những cấm vệ, thì chỉ có 5 đội, có một người đại tướng thống lĩnh cả.

Giang Phong thấy cách tổ chức như thế phiền phức quá, nên cứ 10 người làm 1 đội, đặt đội trưởng; 10 đội làm 1 đoàn, đặt đoàn trưởng; 10 đoàn làm 1 vệ, đặt vệ úy; 10 vệ làm 1 sư, đặt hiệu úy. Từ vệ úy trở lên đều gọi là tướng quân. Tuy nhiên, hiện tại quân số ít, những đội quân 500 người cũng được xem là 1 vệ, đặt thiếu vệ úy. Tương tự, những đội quân 2, 3 nghìn người thì đặt thiếu hiệu úy thống lĩnh. Triệu Phong chính là thiếu vệ úy.

Quảng Tế Pháp sư thấy cả Triệu Phong cũng đã có việc để làm, vội hỏi :

- Đại nhân. Thế còn thuộc hạ sẽ làm gì ạ ?

Giang Phong mỉm cười nói :

- Ngươi có hai việc quan trọng để làm. Do đó mật ty cũng phải tăng nhân số. Thứ nhất, chú ý Hồ Nguyên Trừng, điều tra những kẻ thân cận với gã. Nghe nói gã này giỏi về hỏa dược và thiết kế các loại thần công đại pháo. Tiếp cận gã thì khó, nhưng tiếp cận đám thủ hạ của gã chắc sẽ dễ dàng hơn. Chủ yếu điều tra thân thế, gia đình của bọn họ. Thứ hai, cử người sang Tàu điều tra về những thợ đóng thuyền giỏi, đặc biệt là Thuyền trường ở Tuyền Châu. Cũng điều tra như đám thủ hạ của Hồ Nguyên Trừng. Nhân tiện chú ý động tĩnh ở những nơi đó.

Quảng Tế Pháp sư hỏi :

- Phải chăng đại nhân định chiêu mộ bọn họ về làm việc cho chúng ta ?

Giang Phong khẽ cười hỏi lại :

- Nếu như bọn họ không theo thì sao ?

Quảng Tế Pháp sư ngẫm nghĩ giây lát, rồi đáp :

- Vậy thì chúng ta phải chịu khó ‘thỉnh’ bọn họ vậy.

Giang Phong gật đầu nói :

- Bọn họ vẫn có thể vì nguyên do gì đó mà mất tích phải không nào ?

Quảng Tế Pháp sư gật đầu khen phải. Giang Phong lại nói :

- Bảo Thế Căng gửi thư về triều, lấy lý do thông thạo địa hình, xin lĩnh đạo Bộ quân nếu như triều đình định chinh phạt Chiêm Thành lần nữa.

Quảng Tế Pháp sư cau mày hỏi :

- Phạm tướng quân thế lực quá lớn rồi, lẽ nào triều đình chịu để cho cầm quân ?

Giang Phong mỉm cười nói :

- Không vấn đề gì đâu. Bởi ở vị trí đó không ai thích hợp hơn Thế Căng. Hơn nữa, đạo Bộ quân chỉ là phụ trợ, hoàn toàn phụ thuộc vào đạo thủy quân. Cứ xem tình hình của gã Trần Tùng thì biết.

Quảng Tế Pháp sư vâng dạ. Không còn việc gì nữa, lão cùng Triệu Phong cáo lui, đi lo việc của mình.

gianghoaingoc
07-09-2010, 07:58 AM
Chương 14 : THÁI HỌC VIỆN


Thiên Hải Hạm.

Đây là chiếc thuyền lớn nhất trong số các hải thuyền của Nam Dương Hạm đội, đồng thời cũng là chủ hạm. Thiên Hải Hạm nguyên bản là một chiếc ‘mã thuyền’ trong lực lượng Thủy sư của Minh triều đã được cải trang lại, có 8 cột buồm, 10 cánh buồm bằng mành vốn là đặc điểm của Thủy sư Minh triều đã được tháo xuống, thay bằng 10 cánh buồm vải. Hạm dài 74 trượng Tàu, rộng 30 trượng Tàu, tức dài khoảng 123 mét, rộng khoảng 50 mét, tải trọng ước gần vạn tấn. Để tăng cường oai lực, trên chiến hạm còn được trang bị 64 khẩu thần công, chiến đấu lực hơn hẳn Thủy sư đương thời, vì thế mới không dùng cách gọi Thủy sư mà gọi là Hạm đội.

Giang Phong cùng Quảng Tế Pháp sư đang ở trên Thiên Hải Hạm, nghe đô đốc Đinh An Bình báo cáo về Hạm đội. Đinh An Bình nguyên là thống lĩnh Cấm vệ quân, sau khi thành lập Nam Dương Hạm đội đã được phong làm đô đốc.

Nhờ sự nỗ lực của bọn Cát Ti, Nam Dương Hạm đội hiện tại đã có được 16 chiến hạm, gồm 1 mã thuyền, 2 lương thuyền, 4 tọa thuyền và 9 chiến thuyền, đủ năng lực bảo vệ vùng biển ngoài khơi Nam trấn, thậm chí còn có thể phái một phần Hạm đội đi xa, thực hiện một số nhiệm vụ đặc biệt mà Giang Phong giao cho.

Nghe báo cáo xong, Giang Phong hài lòng khen ngợi mấy câu, sau đó chú ý quan sát cảnh quan trên biển. Quảng Tế Pháp sư không phải lần đầu xuất hải, nên chỉ đặc biệt cao hứng chứ không hề bị say sóng. Do lão phải quản lý luôn các công việc ở đảo Hải Tân, nên vẫn phải thường xuyên xuất hải. Lão chỉ về phía trước, nói :

- Đại nhân, phía trước là đảo Hải Tân, gần đến nơi rồi.

Giang Phong cũng đã nhìn thấy phía trước có hình bóng mờ mờ của đất liền. Đảo Hải Tân lúc này rộng hơn 4 kilômét vuông, cũng là một hòn đảo lớn trong khu vực (đến nay chỉ còn lại khoảng 2,2 kilômét vuông). Sau một lúc nữa thì hòn đảo đã hiện ra trước mắt. Trên đảo địa hình tương đối bằng phẳng, có nhiều cây xanh mọc rậm rạp thành rừng. Cũng may trên đảo có suối, cũng có thể đào được giếng lấy nước ngọt, nên con người có thể ở được. Nơi này mấy trăm năm trước đã có người Chiêm đến sinh sống, nhưng từ khi các châu Ô, Lý được cắt cho Đại Việt, dân Chiêm bỏ vào nam nên hòn đảo đã bị bỏ hoang cho đến khi bọn Giang Phong khai thác.

Chiến hạm cập vào bến cảng, bọn Giang Phong lên bờ, đi sâu vào trong đảo. Các công trình nơi đây được Giang Phong tự tay quy hoạch, nên tuy chỉ mới đến lần đầu, nhưng Giang Phong cũng chẳng thấy lạ gì. Từ ngoài bến có một con đường rộng lát đá dẫn thẳng vào trung tâm đảo. Ngay đầu đường, bên cạnh bến cảng là vọng gác. Đi theo con đường lát đá, cách bến vài trăm mét là khu sản xuất, với một bên là các Công xưởng, phía bên kia là dãy nhà kho.

Trung tâm đảo là khu dân cư. Dân số của đảo hiện tại chỉ hơn 500 người, gồm những thợ giỏi làm việc ở Công xưởng và các thuật sĩ nghiên cứu ở Thái học viện phía bên kia, cùng với gia đình của họ. Tuy cách xa đất liền, nhưng các thương thuyền, chiến thuyền ghé vào thường xuyên, trên đảo lại có đầy đủ các phương tiện phục vụ sinh hoạt nên cuộc sống bọn họ không hề đơn điệu. Trên đảo còn có cả trường học, tửu lâu, một khu giải trí phục vụ cả trẻ con và người lớn.

Bọn Giang Phong dừng lại ở khu trung tâm một lúc, Giang Phong ghé thăm các hộ gia đình ở đây, sau đó mới theo con đường chính của đảo mà đến Thái học viện ở phía bên kia. Thái học viện nằm cách biệt với khu dân cư, ở vị trí yên tĩnh, giữa rừng cây râm mát. Cách đó không xa còn có một bãi biển đẹp.

Thái học viện là nơi dạy các kiến thức bậc cao, đồng thời cũng là viện nghiên cứu. Quảng Tế Pháp sư theo lệnh Giang Phong lùng tìm khắp nơi, cả ở Đại Việt lẫn Minh triều, Chiêm Thành, Chân Lạp, Chà Và, … tốn rất nhiều công sức mới ‘thỉnh’ được vài chục thuật sĩ đến đây nghiên cứu. Giang Phong biết rất rõ tầm quan trọng của kỹ thuật, nên không hề tiếc tiền cho việc này.

Thái học viện là một khu vực gồm hàng chục dãy nhà lớn nhỏ, gồm cả nhà ở, đình viện, lâu các, thậm chí có cả một tòa tiểu cung điện. Tuy không thể so sánh với Hoàng cung ở Thăng Long, nhưng Quảng Tế Pháp sư từng nói rằng, so với Hoàng cung ở Tây Đô (Thanh Hóa) cũng không kém mấy. Thái học viện chỉ mới được xây dựng, nên vẫn còn thơm mùi gỗ mới. Mấy chục thuật sĩ đang bận rộn thu xếp nơi làm việc của mình ở đây. Còn nơi ở của bọn họ và gia đình đều ở khu dân cư tại trung tâm đảo. Thời bấy giờ, việc nghiên cứu không hề được coi trọng, phần lớn nghiên cứu của các thuật sĩ được ngoại giới xem như là việc luyện đan của đạo sĩ, mà mục đích ban đầu của các thuật sĩ cũng là phục vụ cho việc luyện đan. Thuật sĩ là một danh từ thời xưa dùng để chỉ những người nghiên cứu về vật chất, vật liệu, cũng có thể xem là các nhà hóa học cổ đại của phương đông, giống như các nhà giả kim thuật của phương tây vậy. Công việc của thuật sĩ lại rất tốn kém, nếu không được tư trợ thì cuộc sống cực kỳ khó khăn. Do đó mà phần lớn những thuật sĩ đến đây đều cam tâm tình nguyện.

Thấy Giang Phong đến, bọn họ đều dừng tay, chạy ra nghênh đón. Tất cả đều đã được Quảng Tế Pháp sư ‘tẩy não’, nên đối Giang Phong tôn kính như thần. Trong số những kẻ được ‘thỉnh’ đến, chỉ có vài người kém khai minh (hay nói kém văn hoa là cứng đầu), Quảng Tế Pháp sư đã xử lý rồi. Giang Phong đã từng nhiều lần căn dặn lão, các nghiên cứu ở Thái học viện là tuyệt mật, do đó mà lão rất cẩn thận trong việc chọn người.

Hôm nay Giang Phong ra đây là để khai trương Thái học viện, đồng thời khai giảng khóa đầu tiên, do Giang Phong thân tự giảng dạy, học viên đương nhiên là chúng thuật sĩ. Giang Phong không thể giảng dạy những gì quá cao siêu, nhưng dạy lại những kiến thức lý, hóa thời phổ thông còn nhớ được cũng tạm đủ dùng, cũng đủ khiến chúng thuật sĩ hưng phấn vô cùng.

Đương nhiên, các kiến thức đó đều đã được Giang Phong sửa đổi lại cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Chẳng hạn như Giang Phong vẫn sử dụng phương pháp ghi công thức hóa học, nhưng ký hiệu hóa học phải thay đổi cho phù hợp, chứ gọi vàng là Au, sắt là Fe, … Giang Phong cũng không biết phải giải thích thế nào. Tiếng latinh vàng là aurit, sắt là ferit, nên mới có ký hiệu như vậy. Nhưng ở đây là phương đông, là Đại Việt. Giang Phong đã cải lại cho dễ hiểu hơn : Hoàng kim (vàng) là Hk, Thiết (sắt) là Thi, Bạch ngân (bạc) là Ba, Than (cacbon) là Tha, … Thời này người ta cũng chỉ mới biết được vài nguyên tố, nên cũng không phức tạp lắm.

Giang Phong cố công giảng dạy, chúng thuật sĩ hăng hái học hỏi, nên khóa học chỉ kéo dài hơn hai tháng là tốt nghiệp (Giang Phong không còn gì để dạy nữa, đành để cho bọn họ tốt nghiệp). Đến lúc này, bọn họ trong một số lĩnh vực còn thông thạo hơn cả Giang Phong, dù sao thì nghiên cứu cũng là chuyên môn của bọn họ mà. Giang Phong chia cả bọn thành ba nhóm nghiên cứu.

Một nhóm thử nghiệm quy trình sản xuất xi măng đơn giản mà Giang Phong còn nhớ được, dường như là nghiền đá vôi và đất sét, sau đó cho thêm ít quặng sắt, sấy khô rồi sử dụng. Giang Phong chỉ nhớ được như vậy, còn làm sao ra được sản phẩm thì cần bọn họ nghiên cứu. Cũng may vật liệu đều là thứ phổ biến, nên cũng không đến nỗi quá khó khăn. Thứ này người phương tây gọi là ciment, người Việt sau này phiên sang thành Xi măng, người Tàu gọi là thủy nê (tức bùn nước). Giang Phong sau một thời gian suy nghĩ lựa chọn, chợt liên tưởng đến một loại vật liệu cũng có nguồn gốc tương tự – thạch cao, nên đã đặt tên cho nó là thạch nê (tức bùn đá), tên này cũng phù hợp và được mọi người chấp nhận, bởi nguyên liệu chính của nó vốn là đá (đá vôi) và bùn (đất sét).

Nhóm thứ hai nghiên cứu luyện thép. Người xưa chế tạo ra thép bằng phương pháp bách luyện, tức là thợ rèn liên tục dùng búa đập vào thanh sắt được nung đỏ hàng trăm lần, cho đến khi nào cảm thấy đạt yêu cầu. Phương pháp này cực kỳ tốn công, lại rất khó, phải khống chế tốt cả tốc độ và lực độ, không phải ai cũng làm được. Muốn chế tạo một bộ Ngư Lân giáp, một người thợ giỏi cũng phải mất cả tháng, còn muốn làm ra được một thanh bảo kiếm, có khi phải mất hàng năm. Giang Phong chỉ nhớ được một phương pháp rất lạc hậu : nung chảy sắt thành chất lỏng, sau đó thổi luồng không khí nóng đi qua, nhiên liệu có thể dùng than đá, thứ này không hề hiếm (các phương pháp hiện đại sử dụng dầu hỏa làm nhiên liệu, thời này đành chịu không dùng được). Chúng thuật sĩ sẽ dựa vào quy trình đó, tìm ra phương pháp luyện thép tốt nhất.

Nhóm thứ ba nghiên cứu cải tiến thuốc nổ và súng thần công. Vấn đề này con trai của Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng vốn là đại sư, do đó trong nhóm thuật sĩ ở đây có một số vốn là thủ hạ đắc lực của Hồ Nguyên Trừng. Do quan niệm ‘sĩ nông công thương’, bọn họ chỉ là tam đẳng dân, chỉ được ‘dụng’ chứ không được ‘trọng’, hơn nữa họ Hồ vốn bị xem là ‘ngụy triều’, không đủ uy tín để người khác trung thành, vì thế bọn họ theo Giang Phong mà không bị chướng ngại tâm lý gì cả. Tin rằng bằng tay nghề của bọn họ cùng với các kiến thức hóa học của Giang Phong, bọn họ sẽ đạt được thành tựu khả quan.

Thái học viện, Giang Phong đặt vào đây rất nhiều hy vọng.

gianghoaingoc
08-09-2010, 08:58 AM
Chương 15 : BA NĂM SAU



Thánh Nguyên năm thứ nhất, tức năm canh thìn (1400), cuối năm, Quý Ly làm vua chưa được 1 năm thì bắt chước tục nhà Trần, nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, rồi làm Thái Thượng Hoàng. Quý Ly đã nhường ngôi rồi, nhưng việc gì cũng tự mình quyết đoán cả, Hán Thương chỉ làm vua lấy vì mà thôi.

Năm sau, cải nguyên, niên hiệu Thiệu Thành nguyên niên, tức năm tân tỵ (1401), chỉnh đốn võ bị, quân số tăng lên gấp mấy lần, lại đặt ra bốn kho chứa khí giới và bắt thợ giỏi trong dân gian vào làm việc. Sửa sang thủy quân, đóng thuyền lớn. Quân lực tăng, nhưng chi tiêu nhiều, thuế khóa nặng nề, lòng dân oán thán. Quý Ly còn nói với các quan : “Ta làm thế nào cho có 100 vạn quân để đánh giặc bắc”. Trong khi Đại Việt lúc đó chỉ có hơn 2 triệu dân, chẳng lẽ Quý Ly định lấy hết con trai Đại Việt, từ cả đứa trẻ mới sinh cho đến ông già sắp chết ra làm lính.

Cũng năm đó, Tư Dung hành doanh nội quân tăng lên 5.000 người, cấm vệ quân tăng lên 500.

Thiệu Thành năm thứ hai, tức năm nhâm ngọ (1402), Quý Ly sai Đỗ Mãn làm Thủy quân Đô tướng, Phạm Thế Căng làm Bộ quân Đô tướng, suất lĩnh 15 vạn đại quân đi đánh Chiêm Thành. Chiêm vương là Ba Đích Lại sai cậu là Bồ Điền sang dâng đất Chiêm Động (phủ trị ở vùng Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ngày nay) để xin bãi binh. Quý Ly lại bắt phải dâng đất Cổ Lụy (Quảng Ngãi), rồi phân đất ra làm châu Thăng, Châu Hoa, châu Tư, châu Nghĩa, và đặt quan An Phủ Sứ để cai trị bốn châu ấy, gọi chung là Thăng Hoa trấn. Lại bắt những dân có của mà không có ruộng ở các bộ khác đem vợ con vào ở để khai khẩn đất những châu ấy, bởi vì khi vua Chiêm nhường đất Chiêm Động và Cổ Lụy, người Chiêm đều bỏ đất mà đi cả.

Cùng năm, Tư Dung hành doanh nội quân tăng lên 1 vạn, cải thành Định Hải quân. Thủy quân thành lập, nhiệm vụ đầu tiên là vận chuyển 3 vạn thạch lương lên phương bắc.

Năm sau, cải nguyên, niên hiệu Khai Đại nguyên niên, tức năm quý mùi (1403), Quý Ly lại muốn lấy những đất Bạt Đạt Gia, Hắc Bạch, và Sa Ly Nha, tức là vùng phía nam những đất đã nhường năm trước, bèn sai Phạm Nguyên Khôi và Đỗ Mãn đem thủy bộ cả thảy 20 vạn quân sang đánh Chiêm Thành. Theo lệnh Giang Phong, Phạm Thế Căng trước đó đã cáo bệnh, nên không phải đi. Quân nhà Hồ vào vây thành Đồ Bàn hơn một tháng mà đánh không nổi, lương thực hết cả, đành phải rút quân về. Lần này hao binh tổn tướng mà không có công trạng gì. Hơn nữa, quân Chiêm phản kích, Thăng Hoa An phủ sứ tử trận. Thăng Hoa nguy cấp. Quý Ly không cam tâm để mất Thăng Hoa, lệnh cho Phạm Thế Căng dù đang bệnh cũng phải vào kinh lý đất Thăng Hoa. Từ đó, Thăng Hoa sát nhập vào Nam trấn.

Tư Dung hành doanh. Thái An Đại Viện.

Giang Phong đang nghe chúng thủ hạ báo cáo. Mọi người thần sắc nghiêm trang. Năm năm kể từ khi Giang Phong giáng lâm, sau năm năm chuẩn bị, giờ cũng đã đến lúc cử sự. Nam Dương Hạm đội đô đốc Đinh An Bình bẩm báo :

- Hồi bẩm đại nhân. Hạm đội đã sẵn sàng. Lần này xuất chinh có tổng cộng mã thuyền 2, lương thuyền 5, tọa thuyền 15 và chiến thuyền 20. Có thể vận chuyển được 1 vạn 5 nghìn người, lương thực đủ dùng 6 tháng, nước uống 1 tháng.

Định Hải tướng quân Triệu Phong bẩm báo :

- Hồi bẩm đại nhân. 1 vạn Định Hải quân đã sẵn sàng.

Quảng Tế Pháp sư bẩm báo :

- Hồi bẩm đại nhân. Lương thực đã tích trữ được 12 vạn thạch. Đủ cho Định Hải quân dùng trong hơn chục năm. Vũ khí cũng được tích trữ đầy 2 kho, đủ cung cấp cho 10 vạn quân. Năm nghìn dân phu cũng đã sẵn sàng.

Thương mại Tổng quản Cát Ti bẩm báo :

- Hồi bẩm đại nhân. Hướng đạo đã sẵn sàng.

Giang Phong hài lòng nói :

- Tốt. Tất cả chuẩn bị, đến giờ lập tức khởi trình.

Chúng nhân đồng cung thân nói :

- Dạ.

Rồi Đinh An Bình và Triệu Phong lập tức đi đến quân doanh, chuẩn bị cho quân sĩ xuống thuyền. Quảng Tế Pháp sư thì đi điều động dân phu. Cát Ti thì đi triệu tập số thương nhân đi theo làm hướng đạo. Mấy năm trước, Giang Phong đã bảo Cát Ti phái thương đoàn đến vùng Lã Tống thám thính tình hình, điều tra phong thổ nhân tình, vẽ lại địa đồ. Nay đã đến lúc dùng đến.

Lát sau, Quảng Tế Pháp sư quay vào, bẩm báo :

- Đại nhân. Phạm Thế Căng tướng quân xin bái kiến.

Giang Phong gật đầu bảo :

- Cho vào đi.

Quảng Tế Pháp sư vâng dạ, lui ra, lát sau dẫn Phạm Thế Căng vào. Sau khi hành lễ xong, Giang Phong hỏi :

- Ngươi đến đây có chuyện gì thế ?

Phạm Thế Căng cung kính nói :

- Hồi bẩm đại nhân. Triều đình cuối cùng cũng giao đất Thăng Hoa cho thuộc hạ rồi.

Giang Phong nói :

- Tất nhiên phải thế rồi. Có ai thích hợp hơn ngươi đâu. Ta nghĩ rằng các quan trong triều chẳng ai muốn đến Thăng Hoa cả.

Phạm Thế Căng nói :

- Đúng thế đấy ạ. Chỉ có Đặng Tất là chịu đi. Nhưng y đang luyện quân ở Đồn Sơn, không bỏ đi được. Triều đình nhất thời cũng không chuẩn bị đủ lương thảo cho đại quân, nên đành giao cho thuộc hạ tự lo lấy.

Hiện tại nhà Hồ chỉ có hai danh tướng là Đỗ Mãn và Phạm Thế Căng. Trong ba cuộc chiến tranh từ khi nhà Hồ thành lập đến giờ, Đỗ Mãn tham dự cả ba, Phạm Thế Căng chỉ tham dự một lần. Nhưng đó lại là lần duy nhất đại thắng, chiếm được đất Thăng Hoa. Còn hai lần kia đều hao quân tổn tướng, chẳng nên công trạng gì. Do đó Phạm Thế Căng tự nhiên trở thành đệ nhất danh tướng của triều đình, thanh vọng còn cao hơn cả Đỗ Mãn. Chỉ có điều, Phạm Thế Căng là người Mường, Quý Ly không tin tưởng, nên không thể về triều mà phải trấn giữ biên cương. Đương nhiên, đã là đệ nhất danh tướng thì cũng sẽ là phong cương đại lại. Vùng Nam trấn triều đình đã ủy thác cho Phạm Thế Căng toàn quyền liệu lý, lo việc phòng ngự quân Chiêm, giữ yên mặt nam cho triều đình rảnh tay phòng ngự mặt bắc. Thật ra thì nếu không giao cho Phạm Thế Căng, triều đình sẽ buộc phải phân binh (quân của Phạm Thế Căng là tư quân, lại chủ yếu là người Mường, quan tướng triều đình quản không được). Và nếu làm vậy thì phòng tuyến phía bắc sẽ yếu đi, đó là điều mà Quý Ly tối kỵ. Y vẫn luôn đề phòng Minh triều. Mối họa phương bắc lớn hơn mối họa phương nam nhiều.

Quảng Tế Pháp sư tán thán :

- Đại nhân liệu việc như thần. À quên, thuộc hạ thật hồ đồ, đại nhân vốn là thần rồi mà. Đại nhân liệu việc quả không sai. Chỉ cần Thăng Hoa An phủ sứ tử trận, quân Chiêm áp cảnh là triều đình phải giao đất Thăng Hoa cho Phạm tướng quân ngay.

Phạm Thế Căng cũng ca tụng :

- Pháp sư đại nhân cũng lợi hại thật đấy, ám sát được gã đó. Hừ, cái xứ Thăng Hoa hẻo lánh đầy nguy cơ đó mà gã vẫn nhất quyết giữ chặt không buông.

Thật ra thì do không thôn tính được Thăng Hoa, bọn Giang Phong mới lập kế hoạch bí mật phái người quấy nhiễu đất Chiêm, dẫn một số toán quân Chiêm áp sát Thăng Hoa, sau đó phái sát thủ ám sát Thăng Hoa An phủ sứ. Tạo nên giả tượng là Thăng Hoa nguy cấp. Nhiệm vụ của Phạm Thế Căng lúc này là vào đánh đuổi mấy toán quân Chiêm kia, kiểm soát hoàn toàn đất Thăng Hoa.

Giang Phong suy nghĩ giây lát, rồi nói :

- Tìm cơ hội bí mật hòa giải với Chiêm Thành, có thể tạm trao trả cho bọn họ hai châu ở Cổ Lụy.

Phạm Thế Căng ngạc nhiên hỏi :

- Đại nhân. Tại sao lại phải hòa giải với Chiêm Thành và trả đất cho bọn họ ?

Giang Phong nói :

- Tối đa 5 năm nữa, quân Minh sẽ sang đây. Hiện tại Quý Ly vẫn đang lo xây dựng tuyến phòng ngự phía bắc đó thôi. Chẳng lẽ ngươi muốn khi quân Minh sang rồi lưỡng diện thọ địch hay sao.

Phạm Thế Căng sắc diện trầm trọng, thở dài nói :

- Đại nhân nói phải. Để đối phó với quân Minh, chúng ta đành tạm thời hòa giải với Chiêm Thành thôi.

Quảng Tế Pháp sư nhắc nhở :

- Đại nhân đã bảo là phải bí mật hòa giải đó nha. Quý Ly tham đất Chiêm Thành, y không chịu nhường đất hòa giải đâu.

Các triều đại trước đây, mỗi khi muốn chống Bắc quân đều hòa hảo với Chiêm Thành. Nhà Lý đánh Chiêm Thành chỉ khi đã lo yên việc phương bắc rồi. Chỉ có Hồ Quý Ly trong khi chuẩn bị chống quân Minh thì lại đem quân đánh Chiêm Thành, quả là thất sách. Dù có chiếm được Thăng Hoa thì cũng chỉ là tạm chiếm, khi quân Minh kéo sang, quân Chiêm cũng bắc tiến, chiếm lại Thăng Hoa một cách dễ dàng, rồi kéo quân tấn công Hóa Châu. Thăng Hoa chẳng có mấy người Việt, làm sao giữ được. Giang Phong đương nhiên không muốn sự việc như thế diễn ra. Thà rằng học theo nhà Lý, nhà Trần tuần tự tiệm tiến, lấn dần dần. Trước mắt củng cố vùng Chiêm Động (Quảng Nam) trước đã, vùng Cổ Lụy (Quảng Ngãi) sẽ tính sau.

Phạm Thế Căng đi rồi, Giang Phong lại nhớ đến một việc quan trọng, bảo Quảng Tế Pháp sư :

- Phái người khẩn trương tìm kiếm các sách của tiền nhân, đặc biệt là các sách y học, toán pháp, binh thư, rồi đưa ra cất giữ ở Hải Tân. Không cần sợ hao tiền.

Đa số các sách cổ của người Việt thất truyền là do quân Minh mang về Tàu. Giang Phong không thể để chuyện đó diễn ra. Có điều, Giang Phong không quan tâm nhiều các sách thơ văn, pháp luật. Thu thập được thì tốt, không có cũng chẳng sao. Chủ yếu là giữ được binh thư, toán pháp, y học mà thôi. Quảng Tế Pháp sư cung kính vâng dạ, cẩn thận ghi nhớ. Mọi mệnh lệnh của Giang Phong, lão đều nguyên bản chấp hành.

gianghoaingoc
09-09-2010, 12:04 PM
Chương 16 : TIẾN QUÂN LÃ TỐNG


Lã Tống. Nguyên bản phải gọi là Lữ Tống, phiên âm sang Latinh là Luzong, người Việt quen gọi Lữ thành Lã, như Lữ Bố - Lã Bố.

Đó là một nhóm quần đảo, trong đó hòn đảo lớn nhất còn lớn hơn cả Đại Việt, nằm cách Đại Việt ước khoảng 1.400 kilômét (khoảng cách Đà Nẵng – Manila là 1.378 kilômét). Khoảng cách cũng không xa lắm. Các hải thuyền chỉ mất từ 7 đến 10 ngày là đến nơi, còn nếu thuận gió, thời gian sẽ có thể rút ngắn hơn.

Quần đảo Lã Tống chính là lãnh thổ của Philippine hiện nay. Philippine là một quốc gia không có lịch sử tiền thực dân. Trước khi Tây Ban Nha đến chiếm nơi này làm thuộc địa, Philippine chưa có một cơ cấu chính trị, kinh tế, xã hội thống nhất. Các đảo này có dân cư thưa thớt, với tổ chức chính trị lấy cơ sở là làng và họ hàng thân thuộc. Ngày nay người ta gọi kiểu tổ chức như thế là bộ lạc và thị tộc. Khi Tây Ban Nha đến, người bản địa tiếp cận với xã hội văn minh hơn, công việc của Tây Ban Nha ở Philippine tuy cũng là thực dân, nhưng có ý nghĩa khai hóa thực sự đối với dân bản địa. Sau khi Tây Ban Nha thất trận trước quân Mỹ vào năm 1898, thì Philippine trở thành thuộc địa, sau đó thành một Thịnh vương chung của Mỹ. Đến năm 1946 thì tách ra, tuyên bố độc lập.

(chú : mọi người vẫn hiểu lầm rằng Mỹ quốc có 50 bang, thật ra chỉ có 46 bang, còn lại Massachusetts, Virginia, Pennsylvania và Kentucky là Thịnh vượng chung; ngoài ra còn 2 Thịnh vượng chung ở hải ngoại nữa là Puerto Rico và Quần đảo Bắc Mariana. Trước đây Philippine cũng từng là 1 Thịnh vượng chung như thế. Quan hệ giữa Thịnh vượng chung với chính phủ Liên bang cũng giống như quan hệ giữa Anh và Úc. Thịnh vượng chung có thể tiến hành trưng cầu dân ý để lựa chọn 1 trong 3 tình trạng : trở thành 1 bang chính thức của Mỹ, duy trì tình trạng hiện tại, hoặc tuyên bố độc lập. Philippine trước đây đã lựa chọn độc lập. Puerto Rico đã nhiều lần trưng cầu dân ý nhưng kết quả vẫn là duy trì tình trạng hiện tại, và họ đang tiếp tục chuẩn bị trưng cầu dân ý để có thể trở thành 1 bang của Mỹ).

Nói tóm lại, Lã Tống lúc này đây vẫn còn là một vùng đất lạc hậu, dân chúng sống trong xã hội thị tộc và bộ lạc. Và Giang Phong quyết định đem văn minh đến với nơi này.

Dưới sự chỉ dẫn của hướng đạo đoàn, Hạm đội thuận lợi tiến đến bên bờ vịnh Mã Ni (tên Giang Phong đặt, tức vịnh Manila hiện nay). Vì quần đảo Lã Tống còn nổi danh là mỗi năm đều bị mấy cơn bão lớn đi qua, do đó Giang Phong đã chọn bờ vịnh Mã Ni để xây dựng thành thị, bởi nó là nơi an toàn nhất trên đảo. Suốt mấy trăm năm lịch sử, Manila chỉ bị tàn phá hồi Chiến tranh thế giới thứ hai, do bom đạn, đó là bằng chứng tốt nhất chứng minh vị trí ưu việt của nó.

Lúc này, Mã Ni có một khu dân cư nhỏ, do Vương quốc Chà Và (người Hán gọi là Trảo Oa, tiếng Latinh là Java) kiểm soát, dùng làm nơi tiếp tế cho các thương thuyền đến làm ăn buôn bán với Trung Hoa ở phía bắc. Nguyên Vương quốc Chà Và (Majapahit) lúc này đang nội chiến, giữa vua kiểm soát phía tây và anh rể kiểm soát phía đông (cuộc chiến kéo dài từ năm 1401 đến 1406, kết quả Tây Java thắng).

Khi thấy Hạm đội xuất hiện, thủ quân đều rất kinh hoàng, trên bờ hỗn loạn vô cùng, một số bắt đầu trở thành đào quân, lẩn trốn vào rừng. Toàn thể quân dân ở đây chỉ có vài nghìn, trong đó quân đội chưa đến 500, trong vịnh có một số chiến thuyền, là chiến thuyền chứ không phải chiến hạm, bởi chiếc lớn nhất cũng chỉ dài chưa đến 20 mét. Với lực lượng như thế, không thể nào chống cự nổi những đại chiến hạm của đối phương.

Giang Phong truyền lệnh các chiếm hạm cập vào bến, sau đó cho Định Hải quân đổ bộ lên bờ. Định Hải Tướng quân Triệu Phong cử 2.000 quân vào chiếm lấy khu dân cư, khống chế cư dân ở đó. Còn y đích thân chỉ huy đại đội sĩ binh truy sát thủ quân. Một vạn quân đội vũ khí tinh lương truy sát chưa đến 500 địch quân, hoàn toàn không có gì khó khăn. Giang Phong cũng không yêu cầu phải tiêu diệt tất cả, chỉ cần chiếm đất là được rồi. Do đó có một số trốn thoát vào rừng cũng không thành vấn đề.

Sau đó, 5.000 dân phu cũng đổ bộ, rồi vận chuyển vật tư từ chiến hạm lên bờ. Giang Phong chọn vị trí kiến thiết thành thị ở bên bờ vịnh, ngay cửa sông Mã Ni (tên Giang Phong đặt, tên thật là sông Pasig). Xây dựng thành thị gần sông sẽ không lo thiếu nước. Sinh sống trên đảo, nước là một tài nguyên cực kỳ quan trọng. Các vật tư mang theo trên chiến hạm, ngoài lương thực còn có một số lượng lớn sắt thép và thạch nê (tức xi măng). Đó là những thành tựu gần đây của Thái Học Viện. Quá trình luyện thép tuy tạo ra thép có chất lượng không tốt so với các phương pháp hiện đại, nhưng so với thời bấy giờ thì chất và lượng đều ưu việt. Còn thạch nê chất lượng lại cực tốt, còn tốt hơn cả xi măng thời hiện đại, có lẽ sử dụng nguyên liệu tốt và không bị thâu công giảm liệu chăng. Giang Phong đã từng cho xây dựng một tòa tiểu cung điện bốn tầng bằng bê tông cốt thép ở Thái Học Viện, kết quả rất tốt.

Quân đội kéo đến làm cư dân tại đấy kinh sợ vô cùng, không hề dám chống cự. Toàn khu dân cư chỉ có hơn 500 hộ với khoảng 3.000 nhân khẩu. Giang Phong cho tập trung toàn bộ những người khỏe mạnh đi làm dân phu, rồi xem thái độ bọn họ thế nào sẽ quyết định. Giang Phong chỉ cần thuận dân, không thể để lại những phần tử bất ổn định. Thế là có thêm được hơn 1.600 dân phu nữa.

Khi đã chuyển hết vật tư lên bờ và dựng xong các lều trại để ở tạm, Giang Phong cử 2.000 người đi khai thác đá. Lã Tống có nhiều núi, thậm chí có cả núi lửa, nên không thiếu đá. Thêm vào đó là 1.000 người khai thác cát và 1.000 người khai thác gỗ. Số còn lại lo việc sửa sang mặt bằng cho thành thị mới, vận chuyển vận tư và một số ít lo việc ăn uống cho tất cả mọi người. Ngoài ra còn có một toán thuật sĩ dưới sự hộ tống của quân đội đi các nơi tìm kiếm quặng mỏ. Trước mắt, Giang Phong cần có mỏ đất sét, núi đá vôi và mỏ sắt.

Triệu Phong dẫn quân đi đánh chiếm các nơi trong vùng, thường xuyên đưa về tù binh, và đều được Giang Phong cho chuyển thành dân phu. Chỉ sau 10 ngày, bọn Giang Phong đã kiểm soát hoàn toàn khu vực vịnh Mã Ni, cùng lưu vực Lâm Hải Hồ (tên thật là Laguna de Bay, là hồ nước ngọt lớn thứ ba tại Đông Nam Á, diện tích 911,36 kilômét vuông, cách vịnh Manila chỉ khoảng 20 kilômét). Trong khu vực đó không còn tồn tại một thị tộc hay bộ lạc nào, tất cả đều đã được sát nhập vào thế lực của Giang Phong.

Hạm đội chỉ lưu một phần ở lại vịnh Mã Ni, các thuyền vận chuyển cùng một số chiến hạm hộ tống đã quay về Đại Việt, tiếp tục vận chuyển vật tư sang Lã Tống. Do chuyến đầu tiên chở rất nhiều người, nên vật tư mang theo không nhiều lắm, đặc biệt là những thứ nặng như sắt thép.

Thành thị của Giang Phong không được xây dựng theo kiểu truyền thống, tức là có một bức tường thành bao quanh, phía ngoài còn có hộ thành hà. Trước mắt, Giang Phong không có ý định xây tường thành, bởi vì sau này sẽ còn mở rộng, mở rộng ra nhiều lần nữa. Hiện tại chỉ xây dựng một phần, đủ chỗ cho 1 vạn hộ sinh sống. Dân phu được lệnh san phẳng một khu vực vuông vức dài rộng mỗi bề 5 dặm (tức 2 kilômét). Tiếp đó là sử dụng cát, đá, thạch nê kiến tạo hai đại lộ rộng 10 trượng (tức 40 mét) nằm song song nhau dẫn thẳng ra bờ vịnh. Sử dụng thạch nê làm đường, mặt đường phẳng lì nhìn đẹp mắt hơn lát đá nhiều, xe ngựa chạy cũng rất êm. Sau đó, từ hai đại lộ mở ra các đường ngang và đường dọc, vuông góc nhau như bàn cờ. Hai bên đường được chia thành các lô nhỏ, sẽ là các khu nhà sau này. Giang Phong không có học quy hoạch đô thị, nhưng ít ra cũng từng nhìn thấy các khu dân cư thời hiện đại ra sao. Ngoài đại lộ và đường, Giang Phong còn chú trọng xây dựng hệ thống thoát nước cho thành thị. Giang Phong không muốn thành thị của mình lại rơi vào cảnh hễ mưa là ngập, đến nỗi cả thành thị chỉ còn có một điểm ngập duy nhất là ‘toàn thành phố’. Cũng may có thạch nê nên việc này cũng không khó khăn gì.

Sau một thời gian khai thác, có đủ cát đá, đặc biệt là đã nung được một lượng lớn gạch ngói, các khu nhà đầu tiên bắt đầu được xây dựng. Theo quy hoạch của Giang Phong, nhà dân được xây dựng theo hình thức ‘nhà vườn’, tức vừa có nhà, vừa có vườn. Mỗi lô có diện tích 5 mét x 12 mét, trong đó phía trước là căn nhà hai tầng rộng 5 mét x 8 mét, phần còn lại phía sau là khoảng sân rộng 5 mét x 4 mét. Trong thành thị mà có một khoảng sân như thế là quá tốt rồi.

Sau một tháng, các khu khai thác đất sét, đá vôi được kiến thiết hoàn tất. Một xưởng sản xuất thạch nê cũng được xây dựng. Lúc này chỉ còn phải vận chuyển sắt thép từ Hải Tân sang mà thôi. Tuy đã tìm ra mỏ quặng sắt, nhưng muốn tiến hành khai thác không hề dễ dàng. Công việc vẫn đang khẩn trương tiến hành.

Sau hai tháng, 1 vạn căn nhà được xây dựng xong, toàn bộ đều là những căn nhà vườn hai tầng, nhà phía trước, vườn phía sau. Thành thị đã bắt đầu có hình có dáng. Giang Phong lại phải suy nghĩ đặt cho nó một cái tên. Dùng tên Mã Ni nghe không hay, kém văn hoa, bị toàn thể thuộc hạ nhất trí phản đối.




__________________________________________________ _____________
Bà con có thể coi bản đồ để biết tình hình khu vực Đông nam á lúc bấy giờ. Tui chỉ tìm được bản đồ thế kỷ 13, nhưng đại khái thế kỷ 14, 15 cũng như thế, chỉ có Chiêm Thành bị mất ít đất.

Nhìn vào bản đồ, nhìn thấy Đại Việt thật là thảm. Thời kỳ đó Đại Việt thật yếu. Đầu thời Trần, tuy đánh thắng quân Nguyên, nhưng sau 3 cuộc chiến tranh lớn, kinh tế đất nước tan hoang cả. Đến giữa thời Trần, Đại Việt yếu đi, thường xuyên bị Chiêm Thành và Ai Lao sang cướp phá, chỉ có thể bị động phòng ngự (đem quân đánh đuổi ra khỏi đất nước, nhưng quân đội không hề ra khỏi biên giới). Đến cuối thời Trần, Chiêm Thành vài năm lại sang cướp phá, 4 lần chiếm lĩnh Thăng Long, cũng may quân Chiêm chỉ sang cướp phá rồi rút về, nước Chiêm lại thường xuyên nội chiến vì tranh ngôi, nếu không có khi Đại Việt mất nước.

gianghoaingoc
10-09-2010, 06:58 AM
Chương 17 : KIẾN THIẾT AN PHÚ THÀNH


Sau khi thành thị thành hình, Giang Phong lại phải suy nghĩ đặt cho nó một cái tên. Chúng thuộc hạ nhất trí phản đối cái tên nguyên bản của nó : Mã Ni (tên Hán tự của Manila), cho rằng như thế kém văn hoa, giống như tên gọi của một xứ ‘man di’. Đành rằng trước đây nơi này đúng là một xứ ‘man di’. Nhưng giờ đây đã không phải nữa.

Sau một thời gian suy nghĩ, Giang Phong đặt tên cho thành thị là An Phú Thành, để tưởng nhớ quê hương, nơi Giang Phong đã sinh ra. Chúng thủ hạ đâu biết suy nghĩ của Giang Phong, nhưng đều chấp nhận tên mới này, vì nó mang theo hy vọng ‘an lành và phú túc’. Và như vậy thì tên vịnh, tên sông cũng sẽ đổi thành vịnh An Phú, và An Phú Giang.

An Phú Giang (tức sông Pasig) dài khoảng 27 kilômét, chảy từ Lâm Hải Hồ (tức hồ Laguna de Bay) đến vịnh An Phú (tức vịnh Manila), giờ đây đã trở thành một con sông quan trọng, vừa cung cấp nước ngọt cho An Phú Thành, vừa là tuyến đường chủ yếu vận chuyển nguyên liệu vật tư từ khu vực Lâm Hải Hồ đến An Phú Thành. Các lò nung gạch ngói, các mỏ đất sét, các xưởng thạch nê đều nằm bên bờ Lâm Hải Hồ. Một số khu khai thác gỗ cũng ở đấy. Do đã có thể sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ, việc xây dựng kiến thiết ở An Phú Thành giờ chỉ còn phụ thuộc vào lượng sắt thép vận chuyển từ Hải Tân sang.

Một vạn căn nhà mới xây dựng xong, Giang Phong cấp cho 5.000 dân phu từ Đại Việt sang mỗi người một căn, chờ đón gia đình bọn họ từ Đại Việt sang ở chung; 5.000 căn còn lại cấp cho dân bản địa quy thuận, giờ đều đã trở thành thần dân của Giang Phong. Chỉ có một số ít vốn là quân của Vương quốc Hồi giáo Văn Lai, hoặc thủ lĩnh các bộ lạc, thị tộc, ngoan cố không thuần phục, hoặc là phần tử bất ổn định, nên bị bắt đi làm khổ công, làm những công việc nặng nhọc. Thần dân của Giang Phong, khi làm việc sẽ được trả công, còn khổ công thì chỉ được nuôi ăn nuôi ở. Bọn họ tuy không đến nỗi bị ngược đãi (Giang Phong cho rằng ngược đãi sẽ khiến hiệu suất làm việc rất thấp, nên cấm ngược đãi dân phu), nhưng cũng không được tự do. Tù binh mà.

Triệu Phong vẫn tiếp tục chinh chiến, mở rộng phạm vi kiểm soát. Tù binh và dân các bộ lạc bị công chiếm liên tục được đưa về. Những người này đều được Giang Phong cho đưa đi ‘lao động cải tạo’ (thực ra là tận dụng sức lao động), trước khi quyết định cho trở thành thần dân hay khổ công.

Trong An Phú Thành, ngoài 1 vạn căn nhà ở các khu cư dân, đương nhiên còn có khu trang viên dành cho tầng lớp trên, trước mắt là Giang Phong và chúng thủ hạ, sau này còn có thêm những người giàu có. Khu vực này nằm về hướng bờ sông, thật ra phải gọi là khu tiểu cung điện, bởi mỗi gian tuy diện tích không rộng, chỉ 5 trượng x 10 trượng (tức 20 mét x 40 mét), nhưng đều xây dựng rất nguy nga quý phái. Những tòa nhà bốn tầng rộng lớn nằm giữa một khu vườn, nhìn qua cũng đủ thấy quý phái sang trọng. Muốn xây dựng được những tòa nhà cao như thế, công xưởng ở Hải Tân phải sản xuất một loạt thép đặc biệt, sau khi đúc thành dạng thanh xong phải rèn đập nhiều lần để tăng độ kiên cố vững chắc, tốn nhiều công sức hơn.

Ở trung tâm thành thị, trên một khu đất rộng dài 100 trượng đang được xây dựng một tòa cung điện. Đó là nơi ở của Giang Phong sau này. Do công trình quy mô lớn, dù sử dụng nhiều lao động, nhưng không thể hoàn thành trong thời gian ngắn được. Tạm thời Giang Phong vẫn phải ở tại một trang viên giống như chúng thủ hạ.

Ngoài ra, trong thành thị còn có một số kiến trúc được ưu tiên xây dựng như Y Viện, Học Viện. Thầy thuốc, thầy đồ đều được đưa từ Đại Việt sang. Giang Phong còn ra lệnh mọi thần dân chưa biết chữ, bất kể nam nữ trẻ già đều phải đi học cho đến khi biết chữ, học miễn phí. Đương nhiên trường học dạy thứ chữ do Giang Phong ‘sáng tạo’ ra. Giang Phong làm thế là để giảm ảnh hưởng của chữ Hán, đồng thời nếu mọi người cùng nói một thứ tiếng, cùng viết một thứ chữ thì đều sẽ là ‘người mình’ cả. Quan trọng nhất là học thứ chữ mới này không mất nhiều thời gian bằng học chữ Hán. Giang Phong không thể chờ đợi mấy chục năm rồi mới thấy hiệu quả được.

Mấy tháng trôi qua, mọi việc đã dần vào ổn định. Lúc này ở bờ Lâm Hải Hồ đã hình thành nên một thành thị thứ hai, cách An Phú Thành ước 80 dặm. Ban đầu nơi đó chỉ có một số lò nung gạch ngói, xưởng thạch nê xây dựng bên cạnh khu mỏ đất sét lớn. Dần dần có thêm xưởng gốm, xưởng mộc, xưởng thủ công mỹ nghệ, … và kèm theo là các khu nhà dành cho những người làm việc trong các công xưởng ở. Khi số lượng các công xưởng tăng lên, các khu dân cư cũng tăng theo, và hình thành nên thành thị. Giang Phong đặt tên cho nó là An Hòa trấn.

Khoảng cuối năm, sắp vào mùa đông, Giang Phong cho tập trung dân chúng khẩn hoang các khu đất trên lưu vực An Phú Giang và Lâm Hải Hồ, chuẩn bị cho vụ đông xuân. Do khí hậu nhiệt đới ấm áp quanh năm, mùa đông cũng không quá lạnh, dân Đại Việt làm lúa theo hai vụ đông xuân và hè thu. Dù đã tích trữ được một lượng lớn lương thực, nhưng dù sao nông vụ cũng không thể bỏ.

Vào mùa vụ, nhưng Giang Phong không thể học theo các vị vua Đại Việt, ra đồng cùng dân chúng, dù chỉ là làm ruộng tượng trưng. Chúng thủ hạ đều phản đối Giang Phong làm thế. Thiên tử làm thì được, nhưng thần linh thì không nên, nếu không sẽ hạ thấp thân phận thần linh, hoặc nếu nhiễm phải ô uế thì càng không hay (quan niệm xưa ô uế có hại đối với thần linh). Đến giờ bọn họ đều nhận thức được lợi ích của thân phận thần linh của Giang Phong. Các bộ lạc ở đây dễ dàng thuận phục, một phần cũng nhờ Giang Phong là ‘thần linh’. Thuận phục thần linh là chuyện đương nhiên, chỉ có chống lại thần linh mới là đại nghịch bất đạo. Việc bọn họ cần làm chỉ là tuyên truyền cho dân chúng tin rằng Giang Phong là thần linh, sau đó mọi việc sẽ trở nên rất đơn giản. Mọi vấn đề dân tộc, nhiều khi chỉ cần đứng trước tôn giáo, sẽ không còn là vấn đề nữa. Nhất là khi dân bản địa trước đây đều sống lạc hậu.

Hơn nữa, Giang Phong còn có nhiều việc phải lo. Các thuật sĩ sau một thời gian khảo sát đã tìm được rất nhiều quặng mỏ : sắt, đồng, vàng, lưu hoàng, thủy ngân, tiêu thạch (tên thời xưa của Nitrat kali, một thành phần của thuốc nổ). Lâm Hải Hồ nguyên bản là một miệng núi lửa, do đó xung quanh nó có nhiều quặng mỏ cũng không có gì là lạ. Khu núi non ở phía bắc đảo Lã Tống cũng có rất nhiều quặng mỏ. Giang Phong phải lo tính việc khai thác, chứ cứ chở sắt thép từ Hải Tân sang cũng không hay lắm. Giang Phong cần lên kế hoạch trước, để đến khi nông nhàn thì có thể thực hiện ngay. Và cũng còn một việc quan trọng khác nữa : di dời Thái Học Viện từ Hải Tân sang An Phú Thành.

Giữa lúc đó, một tin tức khẩn cấp được báo đến Giang Phong : Vương quốc Đông Đô (tiếng latinh là Tondo) hội đại quân ở phía bắc Lâm Hải Hồ, chuẩn bị tấn công An Phú Thành để trả thù bọn Giang Phong đã giết chết quốc vương của họ.

Nghe tin này, Giang Phong rất ngạc nhiên. Bọn Giang Phong có giết chết vị quốc vương nào đâu. Còn Vương quốc Đông Đô này nghe thật lạ tai. Giang Phong cau mày, hỏi viên hướng đạo :

- Vương quốc Đông Đô này là gì thế ?

Viên hướng đạo ngẩn người, suy nghĩ một lúc mới đáp :

- Hồi bẩm đại nhân. Có lẽ đó chính là liên minh của các bộ lạc ở xứ này. Trước đây có một vị tù trưởng ở xứ này đem bảo vật tiến cống nước Tàu, rồi được ban cho một chiếc ấn khắc tên Đông Đô quốc, nhờ đó mà được các bộ lạc tôn làm Đại tù trưởng.

Giang Phong rất ngạc nhiên, theo Giang Phong được biết, khi Magellan đến xứ này thì nhiều bộ lạc bản địa vẫn còn sống trong xã hội nguyên thủy. Vậy mà lại có ‘Đông Đô quốc’ tồn tại. Giang Phong hỏi :

- Thế cái Đông Đô quốc đó thực lực như thế nào ?

Viên hướng đạo lắc đầu nói :

- Hồi bẩm đại nhân. Không có Đông Đô quốc nào đâu. Chỉ có liên minh giữa các bộ lạc thôi. Mà thật ra thì Đại tù trưởng chỉ có danh nghĩa thôi, không chỉ huy được bộ lạc nào khác, trừ bộ lạc của ông ta.

Giang Phong liền cho người đi thám thính kỹ hơn. Đến hôm sau, khi tin tức báo về, Giang Phong không khỏi bật cười. ‘Đông Đô quốc’ đại quân chưa đến 1 vạn người, còn trang bị thì … đừng nói là khôi giáp, nhiều người còn cởi trần; vũ khí, đại đa số sử dụng một thanh gỗ vót nhọn làm vũ khí. Chỉ một số ít ‘tinh nhuệ’ thì sử dụng đao kiếm bằng sắt. Trong khi Triệu Phong dẫn quân chinh phạt vùng lưu vực Lâm Hải Hồ, một trong số các bộ lạc bị tiêu diệt có bộ lạc của Đại tù trưởng ‘Đông Đô quốc’. Do đó các bộ lạc hội quân, mục đích chủ yếu không phải là để trả thù cho Đại tù trưởng, mà để tranh giành chức Đại tù trưởng, bởi theo giao ước, ai đánh đuổi được địch quân sẽ trở thành tân Đại tù trưởng, hay nói văn hoa hơn là tân quốc vương của Đông Đô quốc.

gianghoaingoc
11-09-2010, 09:34 AM
Chương 18 : BÌNH ĐỊNH LÃ TỐNG


Nghe báo liên minh các bộ lạc hội quân tiến đánh, Giang Phong cho triệu Nam Dương Hạm đội Đô đốc Đinh An Bình đến, giao cho y việc chống giặc. Định Hải tướng quân Triệu Phong đã dẫn quân đi chinh phạt các nơi rồi. Ở An Phú Thành chỉ còn lại 2.000 Định Hải quân và hơn 1.000 thủy quân của Nam Dương Hạm đội. Nhưng chỉ với 3.000 quân xem ra cũng đủ chống giặc.

Chiều hôm đó, quân đội được tập trung ở phía bắc An Phú Thành. Giang Phong chỉ cho 2.500 quân xuất chinh. Số còn lại phải ở lại giữ gìn an ninh. An Phú Thành mới được xây dựng, và gần nửa cư dân của nó vốn là dân bản địa. Dù bọn họ đã thuận phục, nhưng cũng không thể không đề phòng. Hơn nữa, 300 quân giám sát số khổ công (tù binh) ở An Hòa trấn cũng không thể điều động.

Dù chỉ sử dụng có 2.500 quân để đối địch với gần vạn địch quân, nhưng Đinh An Bình vẫn hứa chắn rằng sẽ chiến thắng địch quân, thậm chí sẽ chiến thắng thật lẫy lừng. Giang Phong cũng căn dặn y nên dùng mưu kế chứ không nên chính diện chiến đấu. Dù có tiêu diệt được toàn bộ địch quân mà quân ta thiệt hại quá lớn thì cũng là thất bại.

Quân đội tiến đến gần vị trí đóng quân của liên minh các bộ lạc, Đinh An Bình bắt đầu cho bố trí các cạm bẫy. Quân đội của Giang Phong có một bộ phận không nhỏ là người Mường, từng sinh sống ở rừng núi nên việc bố trí cạm bẫy không lạ gì đối với bọn họ.

Sáng sớm hôm sau, quân đội tiếp tục tiến quân. Có lẽ phía liên minh các bộ lạc cũng đã được tin, nên cũng kéo quân ra ứng chiến. Song phương gặp nhau trên đường, lập tức dàn ra sẵn sàng chiến đấu. Phía quân đội của Giang Phong thì còn dàn thành trận hình, còn phía đối phương chỉ loạn thành một đoàn, chẳng ra hàng ngũ gì cả. Nhưng cũng có một điều đặc biệt là phía liên minh các bộ lạc cho những chiến sĩ (chiến sĩ chứ không phải binh sĩ, vì không hề có chút tố chất quân sự) già yếu ở phía trước, còn những người mạnh khỏe cường tráng ở phía sau. Đây là cách bố trí chiến đấu thường thấy của các dân tộc còn lạc hậu, bởi đối với bọn họ, những người già yếu là không cần thiết cho xã hội, là gánh nặng cho những người còn lại, vì thế khi chiến đấu sẽ được mang ra hy sinh đầu tiên.

Sau một tiếng quát xung phong và những tiếng trống trận tùng tùng tùng vang dội, song phương tràn lên, lao vào nhau chiến đấu. Trong số 1.500 quân đang ứng chiến có đến gần 1.000 quân là cung thủ (chủ yếu là quân của Nam Dương Hạm đội), sử dụng tên dài cung cứng bắn như mưa, khiến phía đối phương thiệt hại rất nặng nề, đương nhiên đại bộ phận chỉ là những người già yếu.

Chiến đấu khích liệt, nhưng hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của Đinh An Bình.

Song phương giao chiến quá nửa giờ. Phía liên minh các bộ lạc đã thiệt hại hơn nghìn, còn phía quân đội của Giang Phong chỉ có một số bị thương, chưa có ai tử trận. Biết làm sao được, quân của Giang Phong đều thân mang khôi giáp, khí giới sắc bén, còn đối phương đa số cởi trần, sử dụng vũ khí là những thanh gỗ vót nhọn, một số ít có vũ khí bằng sắt thì cũng là hàng thô chế lạm tạo mà các quốc gia xung quanh bỏ đi không dùng, bị thương nhân mang đến đây bán lại.

Quan sát chiến sự, thấy lực lượng cường tráng khỏe mạnh của đối phương đã thay thế dần số chiến sĩ già yếu, còn số chiến sĩ tinh nhuệ của các tù trưởng cũng dần dần áp sát chiến trường, Đinh An Bình liền ra lệnh cho quân đội tạm thời rút lui. Nhưng bọn họ không rút chạy ngay, mà chỉ vừa đánh vừa lùi.

Phía liên minh các bộ lạc nhìn thấy thắng lợi, lập tức tràn lên đuổi theo. Đến lúc này tố chất quân sự của bọn họ mới hiển lộ rất rõ ràng. Mạnh ai nấy truy đuổi, không ra hàng ngũ gì cả. Bọn họ có hơn tám nghìn chiến sĩ, cứ ùn ùn tràn lên như nước lũ vỡ bờ. Một số cạm bẫy do bọn Đinh An Bình tạo ra, không gây ảnh hưởng đáng kể nào. Chưa đến một nghìn chiến sĩ thọ thương, giữa cảnh hỗn loạn đó chẳng ai chú ý đến. Đặc biệt, một số vật phẩm sử dụng trong quân đội như nồi đồng (trong quân không sử dụng nồi gốm vì quá dễ vỡ, bất tiện), quân phục, cờ xí, … bị bọn họ tranh đoạt giành giật, khiến quang cảnh đã hỗn loạn lại càng thêm hỗn loạn, không ai có thể chỉnh đốn được. Chúng tù trưởng chỉ đuổi theo phía sau. Đã làm tù trưởng, đương nhiên không ai ngu ngốc, khi chiến đấu đều ở phía sau chỉ huy. Trước cảnh hỗn loạn, bọn họ cũng chỉ thấy như thường (các bộ lạc không có khái niệm quân đội kỷ luật nghiêm minh, hàng ngũ chỉnh tề). Một số vị tù trưởng còn phái hộ vệ xông lên phía trước tranh đoạt chiến lợi phẩm. Không ít người vì tranh giành chiến lợi phẩm mà đánh lẫn nhau.

Trước tình cảnh đó, Đinh An Bình không rút lui nữa, dẫn quân quay lại giao chiến. Đồng thời, một đạo phục binh khoảng nghìn người từ trong rừng đổ ra, thừa cơ đối phương trong lúc bất ngờ, xông thẳng đến chỗ chúng tù trưởng. Bên cạnh chúng tù trưởng cũng có khoảng nghìn hộ vệ. Nhưng trước đối phương hầu như chẳng tạo nên tác dụng gì, vừa xông ra ngăn chặn đã bị đánh tan. Không sao được, vũ khí của bọn họ đâm chém vào khôi giáp của đối phương, bất quá chỉ tạo thành mấy vết xước; còn đao kiếm của đối phương, chém một nhát, không chết cũng trọng thương. Theo lệnh của Đinh An Bình, đối với chúng tù trưởng và hộ vệ của bọn họ, đồng loạt trảm thủ, không bắt tù binh. Số này vốn đều bị liệt vào hàng ngũ những phần tử bất ổn định.

Giải quyết xong chúng tù trưởng, bọn Đinh An Bình liền chuyển sang xử lý đám chiến sĩ của đối phương. Thế là, chỉ dùng 2.500 quân, bọn họ vây bắt hơn bảy nghìn địch quân. Vây bắt chứ không phải chiến đấu, bởi vì sau khi chúng tù trưởng tử trận, chiến sĩ của các bộ tộc không còn sĩ khí gì nữa.

Đánh nhau được hơn nửa ngày, viện binh của bọn Đinh An Bình đến nơi. Định Hải Tướng quân Triệu Phong nghe tin liên minh các bộ lạc hội quân, nên vội vã dẫn quân trở về. Hai đạo quân liền hợp làm một, cùng nhau vây bắt tù binh. An Phú Thành đang trong lúc xây dựng, rất cần nhiều khổ công.

Sau một phen bao vây, chia cắt, đánh bại, bắt giữ, bọn Đinh An Bình và Triệu Phong cũng giải quyết được cuộc chiến. Hơn bảy nghìn tù binh, kể cả thương binh, được áp giải về An Hòa trấn. Tại đó có một trại khổ công rất lớn, dùng để khai thác quặng mỏ và làm những công việc nặng nhọc ở các công xưởng. Do số lượng tù binh quá lớn, bọn họ cũng không rảnh để truy đuổi một số ít địch quân trốn thoát. Số chiến sĩ của các bộ lạc trốn thoát được bất quá cũng chỉ vài trăm, không đáng kể đến.

Sau cuộc chiến, quân đội của Giang Phong chỉ có 4 người tử trận, hơn 500 người thọ thương, bắt được hơn bảy nghìn tù binh, phải nói là chiến quả rất huy hoàng. Đinh An Bình được ghi đại công. Quân đội cũng được phong thưởng.

Nhân lúc chúng tù trưởng đều tử trận, các bộ lạc mất đi cả tù trưởng và chiến sĩ, nhân tâm hoàng hoàng, Giang Phong liền chia Định Hải quân làm ba toán, do Triệu Phong cùng hai viên phó tướng chia nhau đi đánh chiếm các nơi. Sau cuộc chiến, các bộ lạc mất đi nòng cốt, mỗi toán quân dù chỉ có 2.500 người cũng đủ giải quyết. Giang Phong muốn nhân dịp này bình định hoàn toàn Lã Tống, để rảnh tay xử lý công việc ở phương nam. Theo tin hồi báo, tiểu vương Puni đang có vẻ muốn động binh. Dù gì thì An Phú Thành cũng là do bọn Giang Phong chiếm lĩnh từ bọn họ.

Thời kỳ này ở các quần đảo Nam Dương, tình hình gần giống với thời Xuân Thu - Chiến Quốc bên Tàu. Do có quá nhiều quần đảo, hải đảo lớn nhỏ, nên trong vùng không có một quốc gia thống nhất mà tồn tại vô số tiểu quốc. Tất cả các tiểu quốc này trên danh nghĩa là một bộ phận của Vương triều ở Java hay Malacca, nhưng vì quá xa xôi, triều đình không quản đến được, nên gần như là độc lập, chỉ cần đến kỳ triều cống đầy đủ thì triều đình cũng không quản đến bọn họ. Tình trạng này vẫn tồn tại cho đến tận thời kỳ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hà Lan đến chiếm vùng này làm thuộc địa.

Do tình hình như thế, Giang Phong nhìn thấy cơ hội mở rộng vùng kiểm soát của mình. Hơn nữa, lúc này Vương quốc Java đang nội chiến, quốc vương và anh rể tranh ngôi, nên cũng sẽ không rảnh rỗi quản đến việc của các tiểu quốc, đặc biệt là tiểu quốc Puni, một cảng thương mại lớn trong vùng.

Khác với các triều đình phong kiến lúc bấy giờ, bị ảnh hưởng của Nho học nên trọng nông khinh thương, Giang Phong tuy không khinh nông, nhưng lại rất trọng thương. ‘Phi thương bất phú’, dù mãi đến thời Lê câu này mới xuất hiện, nhưng Giang Phong đã đem ra dùng ngay lúc này. Ai chẳng muốn đất nước phú cường nhỉ. Do đó, việc ưu tiên hàng đầu của Giang Phong lúc này là kiểm soát cho được tuyến thương mại trên biển giữa Ấn Độ và Trung Hoa, rồi từ đó mới có thể tiến hành các kế hoạch lớn hơn được.

gianghoaingoc
12-09-2010, 12:06 AM
Coi chương này bà con có thể kết hợp với bản đồ.


Chương 19 : TÌNH THẾ NAM DƯƠNG


Năm 1292, đoàn quân Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt vượt biển tấn công vào đảo Java của vương quốc Kediri lúc này do quốc vương Jayakatwang trị vì. Trước đó Jayakatwang vốn là một tiểu vương của xứ Kediri, đã cướp ngôi vị vua cuối cùng của vương triều Singhasari trong một cuộc nội chiến.

Raden Vijaya, một hậu duệ của vương triều Sanghasari đã khởi binh chống lại kẻ cướp ngôi, tuy nhiên đã bị thất bại và phải tạm lùi về Majapahit, nơi mà sau này sẽ là kinh đô và tên gọi của vương quốc do ông ta sáng lập.

Khi đoàn quân viễn chinh của Hốt Tất Liệt đặt chân tới Java, Raden Vijaya đã lợi dụng một cách tài tình quân đội Nguyên Mông cho mục đích phục quốc của mình. Ông ta đã vờ thần phục quân đội Nguyên Mông và làm đạo quân tiên phong dẫn đường cho bọn họ. Quân Nguyên Mông đã đánh bại hạm đội của quốc vương Jayakatwang trong một trận chiến ở cửa sông Surabaya và tiến vào nội địa. Quốc vương Jayakatwang đã phải đầu hàng.

Mục tiêu sử dụng quân Nguyên Mông cho việc đánh bại quân đội của quốc vương Jayakatwang đã thành công, Raden Vijaya liền rút lui về Majapahit và bắt đầu tiến hành các cuộc tấn công vào quân đội Nguyên Mông. Sau khi đã thiệt hại khá nhiều lực lượng vì cuộc chiến với quân đội của quốc vương Jayakatwang, các cuộc tiến công của Raden Vijaya đã buộc quân Nguyên Mông phải rút lui, lên thuyền quay trở về Trung Hoa.

Raden Vijaya, người sáng lập ra vương quốc Majapahit, sau khi lên ngôi, đã lấy niên hiệu là Kritanajasa Jayavardhana và xây dựng quan hệ với nhà Nguyên - Trung Hoa, thông qua các đoàn sứ thần tới Yên Kinh (tức Bắc Kinh ngày nay) được chép trong Nguyên sử.

Vương triều Majapahit cực thịnh vào thời kỳ trị vì của quốc vương Rajasanagana (1350 - 1389). Các cuộc bành trướng liên tục trong thời kỳ này được thể hiện trong bản danh sách các thuộc quốc của Majapahit trong cuốn ‘Nagarakitagama’. Về đại thể nó bao gồm các đảo Java, Bali, phía nam đảo Borneo (còn gọi là Kalimantan), phần lớn đảo Sumatra và một phần phía nam của bán đảo Mã Lai. Nhưng khi quốc vương Rajasanagana qua đời, truyền ngôi cho Vikramavardhana vừa là cháu vừa là con rể, vương triều này bắt đầu suy thoái.

Lúc này, trong vương quốc bùng nổ cuộc nội chiến giữa quốc vương Vikramavardhama và người anh rể là Virabhumi vốn là tiểu vương ở miền Đông. Vương quốc thực tế bị chia cắt làm hai, lịch sử còn gọi là Đông Java và Tây Java (Sử Tàu gọi là Đông Trảo Oa và Tây Trảo Oa). Chiến sự bắt đầu vào năm 1401 và kết thúc vào năm 1406 với các chết của Virabhumi. Cuộc nội chiến dẫn đến hậu quả là sự suy yếu của vương quốc Majapahit.

Trong suốt nửa cuối thế kỷ 14 còn có những cuộc chiến tranh liên miên giữa vương quốc Majapahit và vương quốc Srivijaya ở khu vực quần đảo Sumatra. Kết quả của những cuộc chiến tranh liên miên này là vương quốc Srivijaya bại trận. Một vị vương tử của vương triều Srivijaya đã phải vượt eo biển sang lánh nạn ở bán đảo Mã Lai, và xây dựng căn cứ địa ở Malacca. Thành Malacca chính thức thành lập vào năm 1404, cũng chính là tiền thân của vương triều Malacca sau này.

Lúc Giang Phong đang bình định Lã Tống, đã là mùa đông của năm 1403. Tức là sang năm sau, thành Malacca sẽ chính thức thành lập, và vương triều Malacca cũng được xem như thành lập, tất nhiên lúc này vẫn còn nhỏ yếu.

Còn vương triều Majapahit, dù kiểm soát được phần lớn khu vực các quần đảo Nam Dương, nhưng sau những cuộc chiến tranh liên miên với Srivijaya, và cuộc nội chiến vẫn còn đang diễn ra trong nước, quốc thế đã rất suy nhược. Nếu không, sau này vương triều Malacca nhỏ bé sao có thể phân đình kháng lễ, chia nhau cùng thống trị khu vực được.

Giang Phong xây dựng An Phú Thành và thống trị Lã Tống trong hoàn cảnh như thế.



An Phú Thành.

Sau khi di chuyển Thái Học Viện và các công xưởng từ Hải Tân sang, An Phú Thành giờ đây đã chính thức trở thành đại bản doanh tạm thời của Giang Phong. Gọi là tạm thời, bởi vì Giang Phong không có ý định đóng đô tại đây. Trong tâm tưởng của Giang Phong, nơi đóng đô lý tưởng nhất vẫn là thành phố ở phương nam.

Nhiệm vụ của Nam Dương Hạm đội lúc này là tiếp tục di chuyển những tài sản của Giang Phong từ Tư Dung sang. Chẳng bao lâu nữa, cuộc chiến giữa Đại Ngu và Đại Minh sẽ nổ ra, Giang Phong không muốn tài sản của mình bị mất mát vì chiến loạn. Hơn nữa, vị quản gia của Giang Phong, Quảng Tế Pháp sư, cũng phải sang đây giúp Giang Phong quản lý công việc.

An Phú Thành giờ đây trở nên vô cùng nhộn nhịp. Cả khu vực phía tây của thành thị toàn là các công xưởng, chủ yếu là những xưởng thủ công mỹ nghệ, xưởng dệt tơ lụa, và xưởng hương liệu. Đó là những công xưởng ít gây ô nhiễm (vì thời này toàn làm thủ công, xem như không đáng kể), nên Giang Phong mới cho xuất hiện trong thành. Những công xưởng nào gây ô nhiễm nhiều, đều được xây dựng ở An Hòa trấn và An Hiệp trấn (một thành trấn mới được xây dựng gần mỏ sắt). Hàng thủ công mỹ nghệ thì được xuất sang Minh triều, hiện đang rất được ưa chuộng. Còn tơ lụa được dệt từ tơ sợi mua từ vùng Giang Chiết, Trung Hoa; cùng với hương liệu sẽ được mang bán sang các xứ Ấn Độ và Ả rập, rồi từ đó còn có thể bán sang châu Âu. Hiện tại, các thương đội của Giang Phong mới chỉ buôn bán đến Ấn Độ và một vài xứ Ả rập duyên hải lân cận.

Trước đây, các thương đội của Giang Phong trực tiếp mua tơ lụa từ Trung Hoa, sau đó mang sang các xứ Ấn Độ bán lại. Nhưng Giang Phong cho rằng như thế lợi nhuận không cao (chỉ hơn 10 lần một chút), nên cho xây dựng các xưởng dệt tơ lụa tại An Phú Thành, rồi mua tơ sợi về dệt. Người Đại Việt cũng không lạ gì với việc nuôi tằm dệt lụa. Vương phi Ỷ Lan thời Lý nổi tiếng trong lịch sử cũng từng là một cô gái hái dâu nuôi tằm. Thậm chí sử còn chép rằng các vua nhà Lý đã sử dụng tơ lụa dệt trong nước, không mua của nhà Tống. Hơn nữa, trong các loại cống phẩm đưa sang nước Tàu còn có cả gấm lụa. Điều đó chứng tỏ nghề dệt tơ lụa thời Lý đã rất phát triển, chất lượng cũng rất tốt.

Nguyên nhân thứ hai là Giang Phong nhìn thấy kiểu dáng, chủng loại của tơ lụa nhà Minh không đẹp. Đó là theo cách nhìn của Giang Phong, bởi thời hiện đại vải vóc tơ lụa có vô số chủng loại, không như thời này chỉ có đơn điệu vài loại. Thế là Giang Phong cùng một số Thái học sinh ở Thái Học Viện nghiên cứu, chế ra nhiều chủng loại hơn nữa. Đương nhiên ý tưởng là do Giang Phong đưa ra, còn làm sao thực hiện được ý tưởng là nhiệm vụ của chúng Thái học sinh. Người thời này tay nghề thì khỏi phải nói, bọn họ chỉ thiếu ý tưởng (bị cục hạn do thời đại). Thành ra những sản phẩm mới chất lượng tuyệt hảo, kiểu dáng mới lạ, chủng loại phong phú, sản xuất ra bao nhiêu cũng không đủ nhu cầu của các thương đội. Tơ lụa sản xuất tại An Phú Thành được bán với giá rất cao, rất được giới quyền quý ưa chuộng, vừa xuất hiện trên thị trường là bị mua ngay. Không chỉ có thế, hàng mỹ nghệ và hương liệu của An Phú Thành cũng có chủng loại phong phú, rất được ưa chuộng. Mỗi ngày đều có hàng đoàn thương thuyền chở hàng hóa đi các nơi, đồng thời cũng có hàng đoàn thuyền chở vàng bạc về. Giờ đây, Giang Phong chỉ chuộng vàng bạc, không nhận châu ngọc và ngân phiếu. Châu ngọc chỉ được xem là nguyên liệu cho các công xưởng. Ngân khố của Giang Phong chỉ chứa vàng bạc.

Khu vực phía Tây của An Phú Thành là các khu công xưởng, cũng là khu vực nhộn nhịp nhất thành. Phía đông bắc về hướng An Phú Giang là khu quyền quý, phần còn lại là các khu dân cư. Ngay trung tâm thành, Thái An Cung đã được xây dựng xong, đang trong quá trình hoàn thiện phần nội thất. Nhờ sử dụng thạch nê, công trình xây dựng rất nhanh, chỉ khoảng 4 tháng là đã hoàn thành. Giang Phong đã chuyển vào sống trong cung. Trước cửa chính của Thái An Cung là một đại lộ rộng 20 trượng (tức 80 mét) dẫn thẳng ra bờ vịnh. Song song với nó là hai đại lộ xây dựng từ lúc đầu, rộng 10 trượng, thông từ tây sang đông, đi ngang hai cửa bắc và nam của Thái An Cung. An Phú Thành giờ đây đã có cận 3 vạn hộ, với khoảng 2 vạn là dân bản địa thuận phục, đã trở thành một thành thị lớn, và sự phồn vinh của nó còn hơn hẳn nhiều thành thị có hàng chục vạn hộ ở bắc phương. Mọi dân cư trong thành đều có cuộc sống sung túc no đủ, nên dân bản địa đối Giang Phong không hề tỏ ý phản kháng. Chỉ chưa đầy nửa năm mà nền thống trị của Giang Phong ở Lã Tống đã rất vững vàng. Một phần là vì giới quyền quý bản địa bị bọn Triệu Phong xử lý hết cả, một phần là nhờ cuộc sống sung túc hơn trước, người dân chẳng phản kháng làm gì. ‘Dân dĩ thực vi thiên’ mà. Đủ ăn đủ mặc, cuộc sống yên ổn, mọi sự khác không thành vấn đề.

(chú : "Sử ký - Lệ Thực Kỳ Lục Giả Liệt Truyện” trong đó có câu : "Vương giả dĩ dân vi thiên, nhi dân dĩ thực vi thiên” –“王者以民為天,而民以食為天", tạm dịch : “Bậc vương giả lấy dân làm điều tiên quyết để tồn tại, và dân thì lấy sự ăn làm điều quan trọng hàng đầu". ‘Thiên’ ở đây có nghĩa là điều tối quan trọng để tồn tại. Nhiều người dùng “dân dĩ thực vi tiên”, về mặt ý nghĩa thì cũng không sai, chỉ có điều không được chính thức xem là thành ngữ, ngạn ngữ mà thôi).

gianghoaingoc
13-09-2010, 07:52 AM
Chương 20 : CHIẾN TRANH VỚI TIỂU QUỐC PUNI (1)


Tiểu quốc Puni, còn được gọi là Poni, là tiền thân của Vương quốc Hồi giáo Brunei sau này. Các tư liệu Trung Hoa cổ có nói đến một vương quốc tên là Puni, ở bờ tây bắc của đảo Kalimantan, từng cống nạp cho các hoàng đế Trung Hoa từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 9. Khi Tam Bảo thái giám của nhà Minh là Trịnh Hòa đến Puni vào đầu thế kỷ 15, trong chuyến thám sát vùng Đông Nam Á, ông đã phát hiện một cảng thương mại quan trọng có nhiều thương buôn người Hoa làm ăn phát đạt với chính quốc.

Phải đến giữa thế kỷ 15, vương triều Majapahit theo đạo Hindu suy yếu, đạo Hồi tràn ngập các quần đảo Nam Dương, tiểu vương Puni mới theo đạo Hồi, và thành lập Vương quốc Hồi giáo Brunei. Còn giờ đây, tiểu quốc Puni vẫn là một bộ phận của vương triều Majapahit, và vẫn chưa theo đạo Hồi. Chỉ vì vương quốc đang xảy ra nội chiến, nên tiểu quốc có được phần nào độc lập hơn mà thôi. Đó cũng là nền tảng để tiểu vương Puni tuyên bố độc lập sau này. Đương nhiên, nếu như không có sự xuất hiện của Giang Phong. Giang Phong xuất hiện, bánh xe lịch sử vẫn tiếp tục vận chuyển, nhưng đã lệch hướng.

Khu dân cư ở vùng vịnh Mã Ni trước đây thuộc quyền cai quản của tiểu vương Puni. Do đó, tiểu vương Puni đang tích cực họp quân, chuẩn bị chiếm lại nó. Hạm đội của Puni đã sẵn sàng bắc tiến. Có điều, khái niệm chiến tranh của tiểu vương Puni vẫn bị cục hạn trong khu vực các quần đảo Nam Dương.

An Phú Thành. Thái An Cung, Kính Thiên Điện.

Giang Phong cùng chúng thủ hạ hội họp nghị sự. Thương mại Tổng quản Cát Ti, kiêm nhiệm chủ quản Hướng đạo đoàn hồi báo :

- Đại nhân. Theo tin hồi báo, tiểu vương Puni đang chuẩn bị xuất quân chiếm lại vùng vịnh An Phú. Theo thông tin sơ bộ, lần này tiểu vương Puni phái xuất đại bộ phận binh lực cùng phần lớn chiến thuyền của tiểu quốc, định phát động đại quy mô chiến tranh.

Tiểu quốc Puni, lãnh thổ bé xíu, cư dân ít ỏi, có phát động ‘đại’ quy mô chiến tranh, cũng chẳng ‘đại’ được là bao. Giang Phong mỉm cười hỏi :

- ‘Đại’ đến mức nào ?

Cát Ti đáp :

- Hồi bẩm đại nhân. Binh lực khoảng 4.000 người, chiến thuyền 60 chiếc. Chiến thuyền lớn nhất dài khoảng 5 trượng, rộng hơn 1 trượng. Còn đa số chỉ dài khoảng 3 trượng, rộng 7, 8 thước.

Chúng nhân đều bật cười. Đối diện những chiến hạm dài hơn trăm mét, rộng hơn 60 mét thì những chiến thuyền chỉ dài khoảng 20 mét, rộng 4, 5 mét thật là bé tí xíu. Có điều, đối với tình hình các tiểu quốc ở Nam Dương, lực lượng quân sự như thế đã được xem là hùng hậu; tiểu quốc Puni cũng là một thế lực đáng kể ở đây. Nam Dương không giống như Trung Hoa và Đại Việt, mỗi cuộc chiến tranh động một chút là hàng chục vạn đến cả trăm vạn quân.

Nam Dương Hạm đội Đô đốc Đinh An Bình bước ra nói :

- Đại nhân. Xin giao cho thuộc hạ giải quyết bọn chúng.

Chúng tướng cũng không ai tranh giành, bởi hải chiến là đặc trường của Hạm đội, và đó cũng là công việc của Nam Dương Hạm đội. Định Hải quân chỉ là lục quân, chuyên trách công thành chiếm đất chứ không phải hải chiến. Giang Phong mỉm cười hỏi :

- Mọi người còn có ý kiến gì nữa không ?

Định Hải Tướng quân Triệu Phong bước ra nói :

- Đại nhân. Nếu như tiểu quốc Puni đã phái xuất đại bộ phận binh lực, trong nước chắc chắn hư nhược. Xin đại nhân cho thuộc hạ xuất quân chiếm lĩnh Puni.

Giang Phong ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói :

- ‘Tiểu’ hạm đội của Puni giao cho An Bình phụ trách, nên giải quyết nó ngay trên biển. Tuyệt đối không cho chúng đến gần vịnh An Phú.

Vịnh An Phú giờ đã là một thương cảng quan trọng, mỗi ngày có rất nhiều thương thuyền ra vào, không thể để bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Giang Phong không muốn sinh ý của mình bị đình trệ. Đinh An Bình vâng dạ nói :

- Đại nhân an tâm. Thuộc hạ sẽ giải quyết bọn chúng thật êm thắm. Những tiểu chiến thuyền đó, mấy loạt thần công là giải quyết được ngay thôi.

Giang Phong gật đầu, bảo Triệu Phong :

- Còn Triệu Phong thì khẩn trương lo việc luyện quân, chuẩn bị công chiếm Puni. Ta quyết định tăng quân số lên 2 vạn. Định Hải quân chia làm hai, thành Định Hải nhất sư và Định Hải nhị sư, mỗi sư 5.000 người, bổ sung thêm 5.000 tân quân cho đủ 1 vạn. Định Hải nhất sư phụ trách công chiếm Puni, Định Hải nhị sư trấn giữ Lã Tống.

Triệu Phong vâng dạ, lập tức đi tuyển quân và luyện quân. Mở rộng khu vực kiểm soát, tăng quân là chuyện tất nhiên. Nguồn cung cấp binh nguyên tốt nhất là các trại khổ công ở An Hòa trấn và An Hiệp trấn. Nơi đó có rất nhiều thanh tráng vốn là chiến sĩ của liên minh các bộ lạc trước đây, có sẵn sức lực và khả năng chiến đấu, chỉ cần huấn luyện một chút là có thể cho xuất trận.

Triệu Phong và Đinh An Bình đi rồi, Giang Phong lại bảo viên thủ hạ phụ trách quản lý các kho khí giới :

- Định Hải quân tăng quân số, khí giới trong kho đủ dùng không ?

Gã ta cung kính đáp :

- Hồi bẩm đại nhân. Kho khí giới được tích trữ mấy năm liền, đủ cung cấp cho 5 vạn đại quân. Nhưng vẫn còn một nửa còn ở Hải Tân và Tư Dung, chưa kịp chuyển sang đây.

Giang Phong nói :

- Số khí giới ở Hải Tân và Tư Dung cứ để ở đấy. Thông tri cho xưởng khí giới ở An Hiệp sản xuất thêm khí giới cho kho An Phú. Chỉ tiêu là đủ trang bị cho 5 vạn quân.

Gã ta cung kính vâng dạ. Giang Phong lại hỏi viên thủ hạ phụ trách quản lý các kho lương thực :

- Dự trữ lương thực thế nào ?

Gã ta cung kính đáp :

- Hồi bẩm đại nhân. Lương thực chỉ đủ cho quân dân của An Phú Thành, An Hòa trấn và An Hiệp trấn dùng trong 1 năm. Đến cuối xuân, vụ mùa thu hoạch, nếu không gặp thiên tai, sẽ đủ dùng cho đến cuối năm mà không cần đến lương thực dự trữ trong kho.

Đầu mùa vụ, Giang Phong đã huy động toàn bộ dân chúng đi khai khẩn đồng ruộng để trồng lúa, nếu đến cuối vụ mà không bị thiên tai mưa bão, thì sản lượng sẽ rất khả quan. Kho lương của Giang Phong chỉ phải cung cấp cho quân dân đến cuối xuân mà thôi. Tổng dân số của An Phú, An Hòa và An Hiệp đã lên đến hơn 20 vạn người, do đó mà lượng lương thực dự trữ suốt mấy năm nay giờ chỉ đủ dùng trong 1 năm. Giang Phong ngẫm nghĩ một lúc, đoạn bảo :

- Cát Ti. Ngươi cho các thương đội tăng cường thu mua lương thực ở các nơi. Chiêm Thành, Chân Lạp, Đại Việt, Đại Minh, … ở đâu có bán thì mua hết. Mở rộng các kho lương. Chỉ tiêu ít nhất dự trữ đủ lương thực cung cấp cho 20 vạn quân dân trong 3 năm.

Hiện tại Giang Phong có 20 vạn quân dân, dự trữ như thế, nếu sau này khu vực kiểm soát mở rộng, dân số gia tăng thì cũng đủ dùng. Thật ra thì sau khi chiếm lĩnh một khu vực nào đó, dân bản địa vẫn có sẵn nguồn cung cấp lương thực riêng của họ để dùng, không cần bọn Giang Phong cung cấp. Nhưng nếu Giang Phong di dời bọn họ đến các thành trấn thì khác. Dân chúng rời nơi ở cũ, bắt đầu một cuộc sống mới tại nơi ở mới, do đó thời gian đầu phải được cung cấp lương thực. Tại Lã Tống hiện giờ không phải chỉ có 20 vạn người. Đó chỉ là dân số của ba thành trấn An Phú, An Hòa và An Hiệp mà Giang Phong phải cung cấp lương thực cho đến vụ thu hoạch.

Cát Ti cung kính vâng dạ, rồi lại nói thêm :

- Đại nhân. Tôm cá hải sản cũng là một nguồn cung cấp lương thực đáng kể đấy ạ.

Giang Phong mỉm cười :

- Không cần ngươi phải nói. Gần một nửa số thực phẩm cung cấp cho cư dân các thành trấn là thủy hải sản đấy. Bên bờ Lâm Hải Hồ đã hình thành nhiều làng chài.

Cát Ti cung kính nói :

- Đại nhân anh minh.

Giang Phong khẽ cười, bãi hầu. Bộ máy chiến tranh của An Phú Thành bắt đầu vận chuyển. Lương thực, vũ khí được tập trung ra bờ vịnh. Nhân dịp này, Giang Phong cũng đi thị sát vịnh An Phú. Đây là một vịnh lớn và gần kín, diện tích xấp xỉ 2.000 kilômét vuông, nơi rộng nhất khoảng 50 kilômét, trong khi đó cửa vịnh rộng chưa đến 20 kilômét, lại bị một hòn đảo ngăn đôi, với cửa phía bắc rộng khoảng 3 kilômét, cửa phía nam rộng khoảng 10 kilômét; giữa cửa phía nam còn có một số hòn đảo nhỏ rộng chỉ vài hécta. Nhìn địa hình của vịnh, Giang Phong nghĩ đến việc xây dựng các pháo đài để khống chế hai cửa ra vào. Nhưng trước hết cần phải cải tiến thần công đại pháo. Thời này thần công đại pháo hỏa lực kém quá, dù vấn đề hỏa dược đã được chúng Thái học sinh giải quyết, nhưng bản thân đại pháo vẫn còn đang trong quá trình nghiên cứu. Cũng may tại Lã Tống có rất nhiều khoáng sản : lưu hoàng (lưu huỳnh), tiêu thạch (nitrat kali), đồng, sắt, thủy ngân, … không sợ thiếu nguyên vật liệu.

An Phú Thành phát triển rất thuận lợi. Ngân khố của Giang Phong cũng ngày một đầy thêm. Nhưng Giang Phong vẫn chưa cảm thấy hài lòng. Khoảng cách đến với mục tiêu vẫn còn xa.

gianghoaingoc
14-09-2010, 12:21 AM
Chương 21 : CHIẾN TRANH VỚI TIỂU QUỐC PUNI (2)


Tiểu quốc Puni, chỉ là một tiểu quốc nhỏ trong vương quốc Majapahit rộng mênh mông. Dù so với các tiểu quốc lân cận cũng là một thế lực đáng kể, nhưng thực tế vẫn cứ là một tiểu quốc nhỏ, lãnh thổ chỉ là một dãy đất hẹp ven bờ phía bắc đảo Kalimantan. Do bị cục hạn bởi khái niệm chiến tranh ở khu vực, tiểu vương Puni đã phái 4.000 quân đi trên 60 chiến thuyền đến tấn công chiếm lại vùng vịnh Mã Ni, tức vịnh An Phú lúc này. Với một lực lượng như thế, hoàn toàn đủ khả năng đánh bại các tiểu quốc khác trong khu vực. Có thể trong ấn tượng của tiểu vương Puni, xứ Mã Ni so với Puni vẫn là rất nhỏ, rất rất nhỏ chăng !

Đoàn chiến thuyền của tiểu quốc Puni, gồm có 3 chiếc ‘đại’ thuyền, dài khoảng 20 mét, rộng khoảng 6 mét, chở được 150 người; 45 chiếc ‘trung’ thuyền, dài khoảng 12 mét, rộng gần 4 mét, chở được 80 người; 12 chiếc ‘tiểu’ thuyền, dài khoảng 6 mét, rộng khoảng 2 mét, chở được 30 người. So với các đoàn thương thuyền vẫn thường xuyên đi lại trong vùng, cũng như thủy sư của các tiểu quốc lân cận, đó đã là một lực lượng rất hùng hậu. Thực tế, tiểu quốc Puni vẫn sử dụng lực lượng này để kiểm soát các thương thuyền và thu thuế.

Trên Soái thuyền, Matavamca tướng quân cùng chúng tùy tướng bàn việc viễn chinh. Trước mặt bọn họ là hải đồ vùng vịnh Mã Ni. Mọi người bàn bạc các phương án đổ bộ lên đó và đánh nhau với thủ quân; đồng thời dự đoán các tình huống có thể xảy ra. Đó vẫn là công việc mà một vị tướng có nhiều kinh nghiệm phải làm trước khi giao chiến.

Khác với chúng tùy tướng thần tình thoải mái vui vẻ, Matavamca tướng quân chẳng có vẻ gì là cao hứng, dù được tiểu vương tin cậy giao cho thống suất đại bộ phận binh lực của tiểu quốc. Matavamca ướng quân không cao hứng, không phải là vì lo lắng cho cuộc chiến. Chẳng qua là tướng quân đã biết trước rằng sau khi cuộc chiến kết thúc, ông ta sẽ lại quay về với cảnh ngồi chơi không như trước giờ. Matavamca tướng quân không có xuất thân quý tộc, nên tuy là đệ nhất danh tướng của tiểu quốc Puni, cũng vẫn không được tiểu vương trọng dụng. Một vị tướng quân mà không được cầm quân thì còn gì là tướng quân nữa.

Một viên tùy tướng thấy chủ tướng không vui, an ủi :

- Tướng quân cứ xem như đây là một cuộc du ngoạn đi.

Matavamca tướng quân cau mày nói :

- Cầm quân đánh giặc không phải chuyện đùa, không được khinh suất như thế.

Một gã tùy tướng khác nói :

- Tướng quân chỉ khéo lo. Chúng ta lực lượng hùng hậu thế này, có khi địch quân vừa thấy là bỏ chạy ngay thôi.

Matavamca tướng quân chỉ nhíu mày, không nói gì. Gã kia là thân tộc của tiểu vương, tuy danh nghĩa là tùy tướng, nhưng Matavamca tướng quân cũng không thể ra lệnh cho gã được. Gã được phái theo quân để làm gì, không cần nói cũng dễ đoán được. Trong quân, hơn một nửa số tùy tướng là người của gã, tự thành một thể hệ riêng. Tướng quân lo nhất không phải là thực lực của địch quân thế nào (theo quan niệm của bọn họ, trận chiến này cũng giống như những trận giao chiến trước đây với các tiểu quốc khác trong khu vực), mà chỉ lo khi xuất trận, mệnh lệnh ban ra không mấy người nghe theo, như thế thật nguy hiểm. Có điều, tướng quân cũng đành chịu, không có cách giải quyết nào cả.

Đột nhiên, cả bọn nghe có nhiều tiếng tù và rúc lên, hiệu lệnh này không phải là của quân đội tiểu quốc Puni, như vậy chỉ có thể là địch quân. Cả bọn chấn động. Bọn họ mới rời cảng hơn 3 ngày, hành trình chưa đi được một nửa mà đã đụng độ địch quân rồi. Xem ra địch quân tự động xuất chiến. Như vậy …

Cả bọn đang nhìn nhau, đột nhiên một gã binh sĩ từ bên ngoài hốt hoảng chạy vào, sắc mặt tái mét, hốt hoảng nói không ra hơi :

- Các vị tướng quân … địch quân … thuyền … rất lớn … vô cùng lớn …

Matavamca tướng quân cau mày hỏi :

- Lớn đến mức nào ?

Gã kia lắp bắp nói :

- Rất … rất lớn … hàng trăm lần …

Matavamca tướng quân thoáng biến sắc, rồi nhíu mày lộ vẻ không tin. Có chiến thuyền lớn đến thế hay sao ? Dù là hạm đội của quốc vương ở Majapahit cũng còn chưa lớn đến thế. Chúng tướng cũng nhao nhao bàn tán. Cả bọn đành kéo nhau ra ngoài khoang thuyền để xem. Phải xem tận mắt mới tin được.

Vừa bước ra ngoài khoang, nhìn về phía trước, cả bọn bất giác sững người. Chấn kinh. Vô hạn chấn kinh. Cái gì kia ? Những tòa lâu đài nổi trên biển. Nhìn hạm đội của đối phương, cả bọn, trên từ chủ tướng, dưới đến quân binh, đều biết rằng đã hết rồi. Tuy đối phương chỉ có 20 chiến thuyền, à không, không thể gọi là chiến thuyền, bởi chiến thuyền cũng không thể lớn đến mức đó, cả bọn cũng biết rằng trận này không cần phải giao chiến nữa. Kết quả quá rõ ràng rồi.

Matavamca tướng quân suy nghĩ thật nhanh, thở dài một tiếng, rồi trầm giọng quát :

- Tử chiến.

Một số gã tùy tướng cả kinh :

- Tướng quân …

Matavamca tướng quân phất tay nói :

- Tử chiến.

Thế nhưng, bọn họ còn chưa kịp tổ chức cho binh sĩ chiến đấu thì đối phương đã phát động tấn công. Mà hải chiến theo kiểu này, bọn họ cũng chỉ mới nhìn thấy lần đầu. Hơn nữa, vừa mới nhìn thấy, cả bọn đều lạnh người. Cả Matavamca tướng quân cũng không còn đốc thúc tướng sĩ tử chiến nữa.

Phía bên kia, Đô đốc Đinh An Bình nhìn đoàn chiến thuyền của đối phương, chỉ lắc đầu, nói với viên tùy tướng :

- Truyền lệnh tấn công. Kết thúc nhanh trận chiến.

Chúng tướng sĩ đều đã vào vị trí, vừa được lệnh lập tức chuẩn bị tấn công. Viên tiểu tướng trên vọng lâu ước lượng vị trí địch - ta xong, hô lớn :

- Khoảng cách 2 dặm 30 trượng.

Một viên tùy tướng liền hô :

- Bắn thử.

Truyền lệnh quân lập tức hô vang :

- Bắn thử …

Hiệu kỳ trên cột buồm cũng chuyển động. Các hiệu lệnh của hạm đội chủ yếu truyền đi bằng cờ hiệu, bởi thanh âm có thể nghe không rõ do sóng gió. Nhận được hiệu lệnh, xạ thủ lập tức điều chỉnh, rồi khai bác. Trên các chiến hạm của Nam Dương Hạm đội đều có trang bị thần công đại bác.

Oanh … oanh … oanh …

Hàng loạt đại bác cùng lúc bắn ra, thanh thế long trời lở đất. Tuy chỉ có một số ít bắn trúng mục tiêu, nhưng thanh thế đó cũng đủ uy hiếp tinh thần địch quân rồi. Sau khi bắn thử xong, hiệu lệnh lại truyền tiếp tục xạ kích, xạ thủ lại điều chỉnh đại bác, sau đó thêm hỏa dược, cho đạn pháo vào đại bác, rồi tiếp tục khai hỏa.

Oanh … oanh … oanh …

Lần này chúng xạ thủ bắn chính xác hơn lần bắn thử trước. Sau khi phát xạ, bọn họ cũng không dừng lại, tiếp tục nạp đạn pháo hỏa dược, rồi khai hỏa, bắn tiếp phát thứ ba.

Oanh … oanh … oanh …

Chỉ sau ba đợt pháo kích, đã có gần một nửa số chiến thuyền của đối phương bị bắn chìm hoặc gãy vỡ ra. Đại đa số là những thuyền ‘lớn’, vì mục tiêu lớn nên dễ bắn trúng hơn. Khi pháo kích, các xạ thủ hầu như đều lựa chọn mục tiêu là các thuyền ‘lớn’. Cả 3 chiếc ‘đại’ thuyền của quân đội tiểu quốc Puni đều chịu chung số phận. Quá nửa số binh sĩ của Puni đều đang phải bơi trên mặt biển. Tình hình nguy ngập, tính mệnh đáng lo.

Đô đốc Đinh An Bình đứng trên đài chỉ huy quan sát tình hình chiến sự, xung quanh là các tùy tướng. Tâm trạng mọi người rất thoải mái, nói cười vui vẻ. Đinh An Bình chợt nghe nhiều tiếng la hét kêu gào từ phía đối phương vọng qua, liền hỏi :

- Bọn chúng kêu gào gì thế ?

Một viên tùy tướng gọi viên hướng đạo kiêm thông dịch (nguyên là người giúp việc cho thương nhân từng đi buôn bán qua xứ Puni) đến hỏi, sau đó hồi báo :

- Trình Đô đốc. Bọn chúng kêu gọi xin được đầu hàng.

Đinh An Bình bảo :

- Truyền lệnh tạm ngừng oanh kích, tiếp nhận hàng binh.

Thế là chúng tùy tướng đã có việc làm, lập tức chia nhau dẫn quân đi tước khí giới và tiếp nhận hàng binh. Toàn bộ quân binh Puni chỉ có vài chục người xấu số bị đạn pháo bắn trúng, chết ngay tại chỗ, còn những người bị rơi xuống biển đều được cứu lên. Tổng số hàng binh đến cận 4.000. Ba chiếc ‘đại’ thuyền vì là mục tiêu quá nổi bật nên bị trọng điểm oanh kích, vỡ tan đầu tiên. Tất cả tướng lĩnh của Puni đều rơi xuống biển, sau khi được vớt lên, liền bị tách ra khỏi sĩ binh, giam giữ riêng.

Nhớ lại lần chiến đấu trước với liên minh các bộ lạc, cũng như cách thức của Định Hải Tướng quân Triệu Phong vẫn đối phó với hàng binh, Đinh An Bình bảo chúng tùy tướng :

- Dẫn theo hướng đạo đến phân loại các tướng lĩnh của địch quân, những kẻ nào thân cận với tiểu vương Puni thì tách ra riêng, xử lý hết.

Trước giờ Triệu Phong khi công chiếm một bộ lạc đều xử lý hết các quý tộc trong bộ lạc, chỉ để lại bình dân, như thế sau này mới dễ cai trị. Xưa nay, trong chiến tranh xử trảm địch tướng vẫn là chuyện bình thường.

Tiếp đó, Hạm đội kéo theo một chuỗi thuyền ‘bé tí xíu’ phía sau, quay trở về vịnh An Phú. Trận hải chiến chớp nhoáng đã kết thúc, bất ngờ nổ ra và cũng nhanh chóng kết thúc.

gianghoaingoc
15-09-2010, 08:34 AM
Chương 22 : CHIẾN TRANH VỚI TIỂU QUỐC PUNI (3)


Nam Dương Hạm đội.

Matavamca tướng quân ngồi trong khoang thuyền, nhìn Hạm đội của đối phương mà suy nghĩ rất lâu. Sau khi bị bắt, viên hướng đạo của Nam Dương Hạm đội nhận ra Matavamca tướng quân, biết tướng quân lâu nay vẫn có hiềm khích với tiểu vương Puni, nên được ưu đãi, cho ở riêng một khoang thuyền.

Sau trận thất bại này, Matavamca tướng quân biết rằng tiểu quốc Puni hết thời rồi. Quân đội không còn, lại gặp phải địch nhân hùng mạnh thế này, làm sao chống cự nổi. Từ khi bị bắt, Matavamca lúc ngồi trầm tư, lúc thất thần, lúc lại thở ngắn than dài. Matavamca chỉ là một vị tướng quân, chỉ biết đánh giặc, việc quan trường, quân quốc đại sự không thạo lắm (vậy mới bị tiểu vương không trọng dụng), nên cũng chẳng biết làm sao.

Đang suy nghĩ vẩn vơ, Matavamca đột nhiên giật mình, vì có người cười nói :

- Mã Tà tướng quân. Sao thế ?

Mata – Mã Tà, xem ra cách gọi như thế mới phù hợp với những người quen với Hán tự; giống như Manila được gọi thành Mã Ni hay Ma Ní vậy. Tên đặt theo Hindu giáo thật dài dòng và khó gọi. Chúng tướng thủ hạ của Giang Phong quen với Hán tự hơn là tiếng Hindu, nên gọi thành Mã Tà cho thuận tai. Mã Tà tướng quân quay lại, nhìn thấy đối phương là một vị tướng quân, không khỏi giật mình. Puni có rất nhiều thương nhân người Hán làm ăn buôn bán, Mã Tà tướng quân cũng biết tiếng Hán (thật ra là tiếng Quảng, người Đại Việt và các thương nhân người Hoa ở Nam Dương thường dùng tiếng Quảng chứ không phải tiếng Bắc Kinh), liền hỏi :

- Tướng quân là … ?

Viên tướng cười nói :

- Ta là Nam Dương Hạm đội Đô đốc Đinh An Bình.

Mã Tà tướng quân cũng biết Đô đốc là chức vị rất cao, chỉ huy cả Hạm đội, nên thoáng giật mình. Sau một lúc suy nghĩ, Mã Tà tướng quân hỏi :

- Đinh Đô đốc là người Hán ?

Đinh An Bình lắc đầu nói :

- Không phải. Ta là người Mường, Đông Giang tộc.

Mã Tà tướng quân chưa hề nghe đến người Mường, nên lộ vẻ ngơ ngác. Đinh An Bình nói :

- Tướng quân biết các xứ Chiêm Thành và Đại Việt chứ ?

Mã Tà tướng quân gật đầu nói :

- Biết. Nó nằm ở bờ biển bên kia. Từ đây đi thẳng về phía tây sẽ đến.

Đinh An Bình nói :

- Về phía tây của Chiêm Thành và Đại Việt có các xứ Mường. Người Mường có 5 bộ tộc lớn, trong số đó Đông Giang tộc là lớn nhất. Năm trước Đại nhân giáng lâm tại Đông Giang tộc, nên người Mường chúng ta đều theo Đại nhân.

Đưa mắt nhìn Mã Tà tướng quân một lượt, y lại nói tiếp :

- Ta thấy tướng quân cũng là một nhân tài. Nếu tướng quân đồng ý, ta sẽ tiến cử tướng quân với Đại nhân.

Mã Tà tướng quân ngơ ngác :

- Đại nhân là … ?

Đinh An Bình nói :

- Đại nhân rất vĩ đại, rất tôn quý. Đại nhân không phải là người ở hạ giới của chúng ta.

Thấy Mã Tà tướng quân vẫn ngần ngừ do dự, Đinh An Bình lại nói thêm :

- Số phận của xứ Puni không có gì để bàn nữa rồi. Theo lệ, khi chiếm lĩnh một xứ nào, dân xứ đó sẽ phải trở thành khổ công, làm việc một thời gian rồi mới xem thái độ thế nào mà định cách xử trí. Nếu tướng quân chịu theo, ta có thể cầu Đại nhân miễn cho dân xứ Puni khỏi trở thành khổ công, đương nhiên trừ giới quyền quý thân cận của tiểu vương.

Mã Tà tướng quân hỏi :

- Không thể tha cho tiểu vương được sao ?

Đinh An Bình nói :

- Không thể được đâu. Số phận của bọn họ đã được định đoạt. Ta chỉ có thể xin giúp cho mấy vạn dân xứ Puni mà thôi.

Mã Tà tướng quân suy nghĩ một hồi, rồi thở dài một tiếng, nói :

- Cứu giúp được cho người dân Puni cũng tốt. Mong Đô đốc giúp dùm.

Đinh An Bình cười nói :

- Tướng quân an tâm đi. Trong chúng ta đây, Việt Chiêm Hán Mường đều đủ cả, nay thêm tướng quân là người Puni thì cũng chẳng có vấn đề gì đâu.

Hạm đội tiếp tục tiến về phía bắc. Khi gần tiến vào vịnh An Phú, Đô đốc Đinh An Bình và chúng tùy tướng đều lên đài chỉ huy trên chủ hạm quan sát. Trong bọn có cả Mã Tà tướng quân.

Vào bên trong vịnh, nhìn những chiến hạm đậu bên bến cảng, Mã Tà tướng quân lại một phen chấn kinh. Những chiến hạm này đã rất to lớn rồi, mà những chiến hạm đậu bên bến cảng lại càng to lớn hơn, nhất là 2 chiếc tuần hạm và 5 chiếc vận hạm, rất khổng lồ. Mã Tà tướng quân chỉ mấy chiến hạm đó, hỏi :

- Đô đốc. Những chiến hạm kia … ?

Đinh An Bình nói :

- Đó là những tuần hạm và vận hạm, được dùng để chở Định Hải quân đến Puni.

Nghĩ đến việc những chiến hạm đó tiến vào bến cảng Puni, Mã Tà tướng quân không khỏi lắc đầu. Nhất là khi chiến hạm cập vào bến, nhìn thấy những toán Định Hải quân đang chờ lên thuyền, Mã Tà tướng quân không dám nghĩ đến hậu quả của Puni nữa. Tiểu quốc Puni lúc này binh lực không hư. Trong khi Định Hải quân tập trung trên bến lúc này có đến vạn người, vũ khí khôi giáp tinh lương. Tiểu quốc Puni ngay cả lúc toàn thịnh cũng chưa chắc chống cự nổi, đừng nói giờ đây, đại bộ phận quân đội đều đã trở thành tù binh. Puni là thuộc quốc của Majapahit, giờ chuyển sang làm thuộc quốc cho An Phú Thành, có khi cũng không tệ, Mã Tà tướng quân nghĩ vậy. Và hiện giờ đại đa số tù binh Puni cũng đều nghĩ vậy. Cảnh phồn vinh của cảng An Phú và An Phú Thành làm cả bọn chấn kinh. Cảnh tượng như thế, thành Puni thật không thể sánh bằng.

Trong lúc Định Hải nhất sư đưa quân lên các chiến hạm, Đinh An Bình dẫn Mã Tà tướng quân vào Kính Thiên Điện bái kiến Giang Phong. Những đề nghị của Đinh An Bình về việc xá miễn cho tù binh và dân chúng Puni, Giang Phong đều chấp thuận. Dân bản địa Lã Tống còn lạc hậu nên cần chỉnh đốn, còn dân Puni thì không cần. Nhìn Mã Tà tướng quân, nghĩ đến tên gọi Mã Tà mà bọn Đinh An Bình gọi, Giang Phong khẽ cười, phán :

- Cải tên ngươi thành Mã Tân, phong làm Phó đô đốc Nam Dương Hạm đội, phụ tá cho An Bình.

Tên Mã Tân dễ nghe hơn Mã Tà. Dù sao sau này gã cũng trở thành thuộc hạ của Giang Phong. Còn phong cho gã làm Phó đô đốc là vì gã xem ra quen thủy chiến, phục vụ trong Hạm đội là hợp nhất. Tiếp đó, Định Hải Tướng quân Triệu Phong bước ra nói :

- Đại nhân. Số tù binh Puni nên giải quyết thế nào ạ ?

Giang Phong hỏi :

- Ý ngươi thế nào ?

Triệu Phong nói :

- Hồi bẩm Đại nhân. Bọn họ là người Puni, quen thuộc vùng này, có thể sung vào các đạo quân.

Giang Phong suy nghĩ một lúc, phán :

- Phân cho Định Hải nhất sư và Định Hải nhị sư mỗi sư 1.000 người, lấy lại số tân binh tương ứng từ hai sư đó, hợp với số quân Puni còn lại, tuyển thêm người bổ sung vào cho đủ 5.000, thành lập một đạo quân mới.

Theo mệnh lệnh mới này của Giang Phong, biên chế mới của Định Hải nhất sư và Định Hải nhị sư đã trở thành 1 phần Puni, 4 phần Lã Tống và 5 phần Đại Việt. Kết cấu như thế tương đối ổn định. Dù sao cũng phải sử dụng người bản địa, chứ Giang Phong không thể tuyển quân toàn là người Đại Việt được.

Giang Phong lại bảo :

- Ổn định tiểu quốc Puni xong, lập tức công chiếm các tiểu quốc lân cận, kiểm soát toàn đảo Puni cho ta.

Đảo Puni, tức Kalimantan, dù rất lớn, nhưng các tiểu quốc thuộc Majapahit chỉ nằm men theo bờ biển phía tây và phía nam. Những vùng còn lại tình hình không khác gì Lã Tống. Chỉ cần công chiếm các tiểu quốc đó, phần còn lại rất dễ xử lý. Kinh nghiệm ở Lã Tống có thể mang sang áp dụng ở đó.

Sau đó, bọn Triệu Phong, Đinh An Bình dẫn theo Mã Tân tướng quân xuất chinh Puni. Hạm đội xuất chinh lần này gồm 2 tuần hạm (tức mã thuyền), 5 vận hạm (tức lương thuyền), 15 quân hạm (tức tọa thuyền) và 15 chiến hạm; chở theo Định Hải nhất sư 1 vạn người. Lực lượng như thế là rất hùng hậu. Giang Phong chỉ giữ lại 5 chiến hạm bảo vệ vùng vịnh An Phú.

Hạm đội tiến về phía nam, mất hơn 8 ngày thì đến được ngoài khơi Puni. Đô đốc Đinh An Bình phái ba chiến hạm rời Hạm đội tiến vào gần bến cảng. Khi thấy các chiến hạm tiến đến gần, trên bờ lập tức hỗn loạn. Nhưng rồi dưới sự chỉ huy của tiểu vương, thủ quân nhanh chóng ổn định tình hình, chuẩn bị ứng chiến. Nhiều người khỏe mạnh trong số dân chúng cũng bị trưng tập vào quân đội. Một số thương nhân giàu có mở kho đóng góp lương thực khí giới. Cả tiểu vương và thương nhân hầu như chung sức chống giặc. Trong hoàn cảnh đó, bọn họ cũng tụ tập được gần 2.000 binh lính, đương nhiên đại đa số là tân binh, mới mấy giờ trước còn là dân chúng bình thường, khả năng chiến đấu rất đáng nghi ngờ.

Ba chiến hạm diễu võ giương oai bên ngoài bến cảng một lúc, khi nhìn thấy thủ quân trên bờ đã tụ tập hoàn tất, bố trí xong xuôi, liền rút lui ra ngoài khơi. Thủ quân trên bờ đều thở phào nhẹ nhõm, nghĩ rằng địch quân thấy khó nên đã rút lui rồi.

gianghoaingoc
15-09-2010, 02:05 PM
Chương 23 : CHIẾM LĨNH PUNI


Lại nói, khi Hạm đội tiến đến ngoài khơi Puni, bọn Đinh An Bình không tấn công ngay mà cho ba chiến hạm vào đánh động thủ quân, mục đích là thúc đẩy tính tích cực của đối phương. Bọn họ đều không muốn tiểu quốc Puni không chiến mà hàng. Như thế không hợp với kế hoạch.

Sau khi nghe tin hồi báo, Đinh An Bình truyền lệnh cho Hạm đội toàn thể tiền tiến. Khi cả Hạm đội dàn hàng ngang bên ngoài bờ biển, thủ quân và dân chúng trên bờ chấn kinh không sao kể siết. Nhìn những chiến hạm khổng lồ ngoài khơi, không ai là không lạnh người. Liền sau đó, không để cho thủ quân có nhiều thời gian chuẩn bị, kỳ hiệu lay động ra lệnh tấn công. Xạ thủ trên các chiến hạm lập tức khai hỏa, dùng đại pháo oanh kích các vị trí phòng thủ của thủ quân trên bờ lẫn các kiến trúc trên bến cảng. Khi thủ quân kinh hoàng tháo lui vào trong, các chiến hạm lại tiến sâu vào, mở rộng phạm vi oanh kích. Một số đạn pháo thậm chí còn bắn đến tận thành thị phía trong, làm cho dân chúng ở đó tháo chạy cuống cuồng.

Sau một trận oanh kích đánh tan tuyến phòng ngự của thủ quân, các vận hạm và quân hạm cập vào bến cảng, đổ quân lên bờ. Một vạn quân Định Hải nhất sư dưới sự thống suất trực tiếp của Triệu Phong tiến vào thành Puni, triển khai việc truy kích thủ quân và bắt giữ những kẻ chống đối. Trước lực lượng hùng hậu của đối phương, thủ quân Puni sau một lúc đề kháng đều hạ khí giới đầu hàng. Ai cũng thấy trận chiến này hoàn toàn không có huyền niệm gì, nên cũng không muốn chống cự. Trước đây thần phục Majapahit ở Java, nay đổi người thống trị mới, xem có vẻ còn hùng mạnh hơn, cũng chẳng có chuyện gì đáng phải bàn cãi.

Triệu Phong cho quân vây bắt tất cả những kẻ chống đối, tức là tiểu vương Puni cùng thần thuộc và các thương nhân đã cùng góp sức thành lập đạo thủ quân lâm thời kia; sau đó cho trảm thủ tất cả, tài sản sung công. Thế là, gần như toàn bộ quý tộc và đại bộ phận thương nhân ở Puni bị giết. Đại bộ phận tài sản của Puni đều được sung công. Tài sản của cải ở Puni chủ yếu nằm trong tay giới quý tộc và thương nhân giàu có, còn dân chúng bình thường chẳng có bao nhiêu tài sản. Bọn Đinh An Bình và Triệu Phong cho ba chiến hạm vào trước đánh động, là để những kẻ đó có thời gian tổ chức quân đội chống cự. Có như thế mới có cớ xử lý bọn họ, sung công tài sản chứ. Còn dân thường đều được tha. Tiểu quốc không còn quý tộc bản địa mới dễ thống trị.

Tiếp đó, Triệu Phong giữ lại 1.000 quân bình định Puni. Số còn lại theo Hạm đội tiến sang các tiểu quốc lân cận. Hạm đội chia ra một số vận thuyền, áp giải tù binh và chiến lợi phẩm về An Phú Thành. Trận chiến này dễ dàng và nhanh chóng, chưa hết một ngày là đã giải quyết xong thành Puni, chỉ còn dành thời gian chiêu nạp các làng ở xa hơn mà thôi.

An Phú Thành.

Sau khi chiếm lĩnh tiểu quốc Puni, bộ máy chính quyền ở An Phú Thành lại phải hoạt động hết công suất. Số vàng bạc châu báu chiến lợi phẩm chở về làm Ngân khố của Giang Phong tăng gấp bội. Trải qua mấy trăm năm tích trữ, tài sản của tiểu quốc Puni thật khả quan. Ngoài ra, số tù binh Puni cũng cần phải an bài. Những người này vốn không phải là quân binh, nên Giang Phong không có ý cho gia nhập quân đội. Mà cũng không thể tùy tiện thả bọn họ ra. Có sẵn khổ công miễn phí lẽ nào lại không sử dụng. Giang Phong chỉ hứa xá miễn cho dân thường Puni chứ không phải tù binh. Những kẻ này không thuộc đối tượng được xá miễn, và được đưa đến An Hiệp trấn làm khổ công ở các mỏ quặng.

Đồng thời Thương mại Tổng quản Cát Ti cũng thống suất các thương đội xuống vùng Puni tiếp quản các thương thuyền của những thương nhân chống đối đã bị xử lý. Tài sản của cải thì đã được chở về An Phú Thành, nhưng các thương thuyền, hàng hóa và nhân viên của bọn họ vẫn còn lại ở đấy, giờ đây cũng được sung vào các thương đội của Giang Phong, do Cát Ti quản lý. Cát Ti giờ đây quản lý hàng trăm thương thuyền, hàng nghìn thương nhân, phải nói là vị cao quyền trọng.

Cách An Phú Thành không xa là Lâm Hải Hồ. Hồ có hình như chữ W, rộng khoảng 950 kilômét vuông. Bên trong hồ lại có một hòn đảo lớn, rộng khoảng 50 kilômét vuông, được Giang Phong đặt tên là Lâm Đảo (tên thật là Talim). Hiện tại, hòn đảo đã trở thành cấm địa, được bảo vệ nghiêm ngặt. Người bình thường không được đến gần. Trên đảo có các công xưởng quan trọng của Giang Phong. Một bộ phận của Thái Học Viện cũng được xây dựng ở đó, chuyên thử nghiệm các nghiên cứu của Thái Học Viện.

Hôm nay, Giang Phong đi thị sát ở đó. Chúng thuật sĩ, giờ là Thái học sinh, thay phiên nhau giới thiệu với Giang Phong những thành tựu nghiên cứu của bọn họ. Những cải tiến về kỹ thuật gốm sứ và tơ lụa khiến Giang Phong rất hài lòng. Còn các nghiên cứu cải tiến thần công đại pháo tuy cũng có tiến triển nhưng không được như Giang Phong mong đợi. Hỏa dược đã khá hơn. Nhờ sự gợi ý của Giang Phong, các thuật sĩ – Thái học sinh sau nhiều lần thử nghiệm đã tìm ra công thức pha chế hỏa dược tốt nhất. Nhưng kỹ thuật chế pháo lại không theo kịp. Súng thần công thời này cũng chỉ là một ống sắt dài, bắn đi những viên đạn pháo bằng sắt tròn và đặc, do quá nặng, chỉ thích hợp đặt trên hạm thuyền, sử dụng trong hải chiến và công phá các thành thị gần sông biển. Vậy mà đó đã là kỹ thuật đúc thần công đại pháo tiên tiến nhất lúc bấy giờ, do Hồ Nguyên Trừng sáng chế. Hiện tại, kỹ thuật đúc thần công đại pháo của Đại Việt tiên tiến hơn Minh triều. Theo Lê Quý Đôn chép trong ‘Vân Đài Loại Ngữ’, súng thần công thời Hồ có 3 loại : súng lớn đặt trên lưng voi, súng vừa hai người khiêng, súng nhỏ vác vai. Sau này nhà Hồ bại trận, cha con Hồ Quý Ly bị bắt, nhà Minh đã đưa Hồ Nguyên Trừng về đúc súng cho họ, và được người Tàu tôn xưng là ông tổ súng thần công.

Giang Phong vẫn chưa hài lòng với kết quả hiện tại. Khảo sát một lượt, Giang Phong hỏi nhóm thuật sĩ chuyên nghiên cứu cải tiến thần công đại pháo :

- Nghiên cứu Khai hoa đạn có tiến triển gì không ?

Khai hoa đạn tức là loại đạn pháo khi bắn đến mục tiêu sẽ vỡ tan ra từng mảnh, sát thương cao đối với bộ binh. Hiện tại thần công đại pháo chỉ bắn ra viên đạn sắt tròn và đặc, bắn trúng ai mới sát thương được người đó, đối bộ binh uy lực không đáng kể. Khi nghe Giang Phong hỏi, chúng thuật sĩ thở ngắn than dài nói :

- Hồi bẩm đại nhân. Khó quá ạ. Chúng thuộc hạ vẫn đang cố gắng, nhưng chưa thành công. Đạn thì có thể ‘khai hoa’ được. Chỉ cần sử dụng quả cầu rỗng, bên trong nhồi hỏa dược là xong. Nhưng có lúc nó nổ tung ngay trước họng thần công, gây thương vong cho xạ thủ, có lúc bắn đến mục tiêu mà vẫn chưa nổ. Do đó vẫn chưa ứng dụng vào quân đội được.

Giang Phong cũng biết việc này là khó, nên chỉ đành an ủi khích lệ chúng thuật sĩ, sau đó lại hỏi :

- Còn việc thu nhỏ thần công ra sao rồi ?

- Hồi bẩm đại nhân. Cũng có tiến triển khả quan, hiện đã thu nhỏ đến mức chỉ nặng 800 cân thôi ạ. Mọi người đang nghiên cứu gắn thêm bánh xe cho nó để dễ di chuyển.

1 cân = 16 lượng = 600 gam; 800 cân tương đương 480 kilôgam, so với các loại thần công thời trước là nhỏ rồi. Nghe nói Hồ Nguyên Trừng đã cải tiến thần công đại pháo, có thể cho binh lính khiêng đi được, Giang Phong đã phái người đi thám thính, nhưng vẫn chưa có kết quả. Để chuẩn bị chống quân Minh, nhà Hồ đã cho đúc rất nhiều súng thần công. Giang Phong lệnh cho bọn Quảng Tế Pháp sư ở Đại Việt tìm cách đưa dạng phẩm hoặc những người tham gia đúc súng về đây nghiên cứu.

Khảo sát xong nhóm nghiên cứu thần công và hỏa dược, Giang Phong đi đến một khu vực tách biệt với các khu còn lại. Ở đó chỉ có một tòa trang viện với hơn chục người sinh sống làm việc. Bọn họ là tổ nghiên cứu đặc biệt của Giang Phong. Chủ trì ở đây là Thạch Lang Pháp sư, cũng là một thầy pháp của người Mường giống như Quảng Tế Pháp sư. Có điều lão không giỏi quản lý sự vật, chỉ thông thạo về các loại thảo dược trên rừng núi. Giang Phong hỏi :

- Nghiên cứu thế nào rồi ?

Thạch Lang Pháp sư cung kính đáp :

- Hồi bẩm Đại nhân. Việc Đại nhân giao cho, thuộc hạ mới vừa hoàn thành. Đó cũng là nhờ có số thảo dược thu được từ các bộ lạc trong vùng. Ở xứ này có nhiều thảo dược độc đáo lắm ạ.

Giang Phong hỏi :

- Tác dụng của nó ra sao ?

Thạch Lang Pháp sư nói :

- Nó chậm phát tác, bị trúng xong phải ba ngày sau mới phát tác. Đến lúc đó kẻ trúng độc sẽ bị nôn mửa, chóng mặt, rồi mất dần sức lực, đi đứng không nổi nữa.

Giang Phong ngẫm nghĩ một lúc, rồi hỏi :

- Dễ bị phát hiện không ?

Thạch Lang Pháp sư nói :

- Nếu là thành phẩm thì có thể bị các thầy lang giỏi phát hiện. Còn nếu phân ra hai loại riêng biệt thì rất khó phát hiện. Hơn nữa, đây là loại thảo dược chỉ có ở Lã Tống, không quen với nó thì càng khó phát hiện. Thuộc hạ nghĩ, chỉ cần chế thành hai loại bán thành phẩm, một loại cho vào thức ăn, một loại cho vào nước uống, sẽ rất khó bị phát hiện. Khi địch nhân vừa ăn vừa uống thì sẽ trúng độc.

Giang Phong gật đầu nói :

- Chế thật nhiều, ít nhất cũng phải đủ dùng cho ba vạn người. Chậm nhất sang năm phải xong.

Sang năm là năm 1405, Giang Phong sẽ phải sử dụng đến nó.



___________________________________________
Bà con ai đoán trúng sang năm Giang Phong dùng nó đối phó ai, ngày mai tui post 3 chương.

gianghoaingoc
16-09-2010, 04:45 AM
Chương 24 : THÀNH LẬP QUẬN HUYỆN


Năm Giáp Thân (1404), mùa xuân, An Phú Thành.

Đoàn thuyền từ Tư Dung lại cập cảng, mang theo phần tài sản cuối cùng của Giang Phong ở Hải Tân và Tư Dung sang đây. Vì thế, Quảng Tế Pháp sư cũng theo sang đây để quản lý nội vụ cho Giang Phong. Ngoài vật tư, lão còn đưa sang đây 5.000 binh sĩ mới chiêu mộ ở Đại Việt theo lệnh của Giang Phong. Số binh sĩ này sẽ hợp với đạo quân 5.000 người mới thành lập, để hình thành Định Hải tam sư. Khi đó, Định Hải tam sư sẽ phụ trách phòng thủ Lã Tống, còn Định Hải nhị sư sẽ xuống đảo Puni giúp Định Hải nhất sư bình định nơi đó. Đảo Puni quá lớn, 1 vạn quân xem ra không đủ.

Ngoài ra, đoàn thuyền còn chở đến một số súng thần công kiểu mới của Đại Việt do Hồ Nguyên Trừng cải tiến, trong đó chủ yếu là loại nhỏ hai người khiêng hoặc một người vác vai. Giang Phong lập tức cho đưa đến Thái Học Viện để chúng thuật sĩ nghiên cứu. Kỹ thuật đúc súng thần công thì hiện tại bọn Giang Phong không bằng Hồ Nguyên Trừng, nhưng kỹ thuật điều chế hỏa dược thì tiên tiến hơn nhiều. Kết hợp cả hai lại, kết quả chắc chắn khả quan.

Hiện tại, vùng duyên hải đảo Puni cơ bản đã bình định xong. Định Hải quân đang tiến dần vào trong nội địa, chiêu an các bộ lạc. Do đảo quá rộng lớn, Giang Phong sử dụng phương thức ôn hòa hơn so với Lã Tống, đại quân chiêu an trước, nếu bộ lạc đồng ý quy thuận thì cho biên hộ tịch, rồi để tù trưởng tiếp tục quản lý như trước, Giang Phong chỉ phái người mỗi năm đến thu thuế mà thôi. Còn nếu chống cự, đương nhiên không cần nương tay làm gì, đại quân tràn vào, bộ lạc xóa sổ, tù trưởng và quý tộc đồng loạt trảm thủ, tài sản toàn bộ tịch biên, cư dân đưa đi làm khổ công.

Tù binh và khổ công từ đảo Puni được chuyển về Lã Tống khai thác mỏ quặng. Trong khi đó, dân bản địa của Lã Tống lại được chuyển một phần đến vùng duyên hải đảo Puni hình thành nên các khu định cư dọc theo vùng duyên hải. Giang Phong cho xáo trộn cư dân, dù tốn kém một chút, nhưng sẽ dễ quản lý hơn. Tại đó, các thành thị lớn nhỏ được dựng lên, lớn thì có vài vạn dân, nhỏ thì chỉ hơn nghìn người. Bên trong thành thị, ngoài khu dân cư còn có một số công xưởng, chuyên sản xuất các mặt hàng gia dụng, để cung cấp cho các bộ lạc trong vùng. Các thành thị này sẽ dùng hàng gia dụng sản xuất tại đó trao đổi với các bộ lạc lấy sản vật của họ, rồi mang bán lại cho các thương đội do Cát Ti quản lý. Những sinh ý này đủ để giúp các thành thị trở nên sung túc. Giang Phong cũng sử dụng những thành thị đó để khống chế cục diện đảo Puni.

Thái An Cung, Tĩnh Tâm Lâu.

Đó là một lâu các ba tầng phía sau Kính Thiên Điện, là nơi Giang Phong thư giãn cũng như khi cần suy nghĩ công việc. Lúc này, Giang Phong cùng Quảng Tế Pháp sư, Triệu Phong, Đinh An Bình và Cát Ti đang ngồi quanh một chiếc bàn lớn, trên bàn có một bức ‘Đông Dương Hải Đồ’. Đó là những thủ hạ thân tín nhất của Giang Phong lúc này. Bức hải đồ trên bàn không phải là bức hải đồ do Giang Phong vẽ trước kia, mà là dựa trên đó, bọn Cát Ti mất mấy năm khảo sát địa hình phương vật, rồi vẽ lại, chi tiết hơn và cũng có độ chính xác cao hơn. Nhờ dựa trên bức hải đồ do Giang Phong vẽ, nên bức hải đồ này trông gần giống với các bản đồ thời hiện đại (chỉ thiếu kinh tuyến, vĩ tuyến và độ chính xác không cao lắm); so với các bản đồ do các triều đình phong kiến vẽ, khác nhau một trời một vực. Giang Phong nhớ rằng bức Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ vẽ vào khoảng giữa thế kỷ 19, thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, thật sự nhìn không ra làm sao cả.

Bọn Giang Phong đang bàn bạc phân chia đơn vị hành chính cho khu vực kiểm soát hiện tại. Địa bàn đã quá lớn rồi, không thể tiếp tục cai trị bằng các mệnh lệnh của An Phú Thành như trước nữa. Cần phân chia hành chính và có luật lệ cai trị rõ ràng.

Quảng Tế Pháp sư kiến nghị :

- Đại nhân. Chúng ta nên chia thành các trấn, phủ, huyện như ở Đại Việt.

Triệu Phong nói :

- Đại nhân. Nên chia thành tỉnh, phủ, huyện đi.

Quảng Tế Pháp sư thì chủ trương phân chia các đơn vị hành chính theo kiểu Đại Việt, còn Triệu Phong thì muốn phân chia theo kiểu nước Tàu, vì không ưa Hồ Quý Ly. Thật ra hai kiểu trên chỉ khác nhau ở cấp thứ nhất là trấn hay tỉnh mà thôi, chứ về cơ bản thì cũng giống nhau. Cát Ti và Đinh An Bình thì không có ý kiến. Giang Phong suy nghĩ một lúc, phán :

- Khôi phục cổ chế, thiết lập quận huyện.

Đành rằng tỉnh, phủ, huyện thì giống với các triều đại sau này, nhưng Giang Phong không muốn sử dụng, bởi nó giống với các đơn vị hành chính của nước Tàu lúc bấy giờ. Minh triều chia nước Tàu thành hai kinh, mười ba tỉnh; dưới nữa gồm 140 phủ, 193 châu, 1138 huyện (châu và phủ ngang cấp nhau, châu thiết lập ở vùng rừng núi, những nơi hẻo lánh). ‘Tỉnh, phủ, huyện’ là phân cấp hành chính đặc trưng của nước Tàu; đến thời hiện đại cải thành ‘tỉnh, thị, huyện’, về cơ bản cũng giống nhau.

Nghe Giang Phong quyết định thiết lập quận huyện, Triệu Phong hỏi :

- Đại nhân. Vậy trên quận có thiết lập châu không ?

Thời Hán, một số quận hợp lại thành châu, lập thứ sử. Nhưng châu lại không phải là đơn vị hành chính chính thức, thứ sử chỉ có trách nhiệm giám sát các thái thú (cai quản các quận), chứ không phải là cấp trên của thái thú. Thứ sử lãnh lương 600 thạch mỗi năm, trong khi lương của thái thú là 2.000 thạch, mà thời xưa, lương càng cao tức là chức càng lớn. Giang Phong lại không muốn lập châu, nên suy nghĩ giây lát, rồi nói :

- Trên lập tỉnh, dưới đến quận, rồi đến huyện. Dưới huyện là các thôn làng. Cấp tỉnh đặt Chính vụ, Trị an, Tư pháp Tam ty; quận đặt Tam sở; huyện đặt Tam ban.

Giang Phong phân luôn hành chính, quân sự và tư pháp từ cấp tỉnh đến cấp huyện. Kiểu hành chính đã được quyết định, giờ đến lượt phân chia địa giới hành chính. Giang Phong dùng bút vạch trên bản đồ, chia đảo Lã Tống làm hai, nói :

- Phía bắc là Lã Tống tỉnh, phía nam là An Phú tỉnh.

Lã Tống tức là đảo Luzong, diện tích 104.688 kilômét vuông, bị Giang Phong chia đôi, mỗi tỉnh khoảng hơn 5 vạn. Phần An Phú có vẻ nhỏ hơn một chút, nhưng có An Phú Thành phồn vinh đông đúc. Các đảo nằm ngoài khơi tỉnh nào cũng sẽ do tỉnh đó quản lý, tính ra mỗi tỉnh cũng gần 6 vạn. Tiếp đó, Giang Phong lại khoanh các hòn đảo bên dưới An Phú, nói :

- Khu vực các đảo phía nam An Phú thiết lập Nam An tỉnh.

Khu vực này chính là các đảo Visayas, diện tích 61.077 kilômét vuông. Tiếp đó là nhóm các hòn đảo Mindanao nổi tiếng ở phía nam, diện tích 128.110 kilômét vuông (đảo chính gần 10 vạn), lại bị Giang Phong cắt làm đôi, mỗi phần hơn 6 vạn kilômét vuông, nói :

- Phía tây là Định An tỉnh, phía đông là Hòa An tỉnh.

Đảo Puni, tức Borneo hay Kalimantan, quá lớn, với một dãy núi có đỉnh cao hơn 4.000 mét ở trung tâm; tổng diện tích 743.330 kilômét vuông. Giang Phong suy nghĩ một hồi, rồi bắt đầu từ trung tâm, vẽ chín đường thẳng ra ngoài, phân chia đảo ra thành chín phần, mỗi phần đều có một vùng duyên hải. Bởi vì chỉ có vùng duyên hải mới có các khu định cư vừa được thành lập. Giang Phong phân chia làm sao để mỗi tỉnh đều có 1, 2 khu như thế. Còn chia làm chín bởi vì chín là số tốt.

- Đảo Puni chia thành chín tỉnh là : Puni, Hải An, Hải Châu, Hải Dương, Hải Đường, Hải Hưng, Hải Ninh, Hải Phú, Hải Thanh.

Tạm thời Giang Phong chỉ phân chia trên bản đồ như thế, còn phân chia trên thực tế là việc của bọn Quảng Tế Pháp sư. Giang Phong đương nhiên không thể nhớ chính xác diện tích các đảo, chia tỉnh chủ yếu căn cứ vào Đại Việt, phân chia sao cho mỗi tỉnh bằng khoảng một nửa Đại Việt lúc bấy giờ. Từ các tỉnh đã chia, bọn Quảng Tế Pháp sư sẽ tiến hành thiết lập quận huyện dựa vào các khu dân cư hiện tại. Chỉ có các khu dân cư do Giang Phong cho xây dựng mới có thể làm trị sở của các quận huyện, chứ chẳng lẽ đóng trị sở ở các bộ lạc mà lúc này vẫn còn lạc hậu. Đương nhiên, các khu định cư đó thường được xây dựng ở các cửa sông hay cảng biển, hoặc nếu nằm sâu trong nội địa thì sẽ kiến thiết bên cạnh các mỏ quặng, các nguồn tài nguyên quan trọng.

Giang Phong lại hỏi Cát Ti :

- Hiện tại việc khảo sát các đảo phía nam thế nào rồi ?

Hướng đạo đoàn chủ yếu là thương nhân, do đó Cát Ti cũng phụ trách chỉ huy việc khảo sát tình hình các nơi. Thương nhân rất dễ thiết lập quan hệ hữu hảo với các bộ lạc trong vùng, do đó tiện cho việc khảo sát. Việc này đã thực hiện mấy năm nay rồi. Nghe hỏi, Cát Ti cung kính nói :

- Hồi bẩm Đại nhân. Các đảo vùng Java, Sula, Sumatra, bán đảo Mã Lai đã cơ bản hoàn thành. Chỉ có khu vực Maluku và Timor vì quá xa và nhiều đảo nhỏ nên vẫn chưa xong.

Giang Phong lại nói :

- Trọng điểm sắp tới là vùng Chân Lạp và bán đảo Mã Lai.

Cát Ti vâng dạ nói :

- Đại nhân. Hai vùng trên không vấn đề gì.


Bà con xem thử bản đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ để thấy trình độ vẽ bản đồ hồi xưa :
http://www.flickr.com/photos/doremon360/2458008277/in/photostream/

gianghoaingoc
17-09-2010, 12:52 AM
Chương 25 : TIẾN QUÂN GIA ĐỊNH (1)


Lại nói, nghe Cát Ti bảo vùng Chân Lạp và bán đảo Mã Lai không vấn đề gì, Giang Phong hỏi :

- Khu vực đó hiện nay ra sao ?

Cát Ti ngẫm nghĩ một lúc mới đáp :

- Hồi bẩm Đại nhân. Nước Chân Lạp giờ đã cực kỳ suy yếu, mấy chục năm qua thường xuyên bị nước Thái bên cạnh tấn công. Nước Thái trước kia cũng là một bộ phận của Chân Lạp, sau tách ra độc lập và tấn công Chân Lạp, lấn chiếm dần đất đai. Chân Lạp hiện giờ vẫn đang cố bảo vệ kinh thành Angkor trong tuyệt vọng, không còn khả năng quản đến những vùng khác.

Chân Lạp chính là đế quốc Khmer, đóng đô ở Angkor với thành Angkor Wat nổi tiếng. Còn Thái chính là vương quốc Sukhothai tách ra độc lập từ đế quốc Khmer từ năm 1238, sau đó đến năm 1350 thì bị vương quốc Ayutthaya thay thế. Cả hai vương triều Sukhothai và Ayutthaya đều được gọi tắt là ‘Thái’, nghĩa trong tiếng Thái là ‘tự do’ (tên gọi Xiêm La chỉ có chính thức từ thời vương triều Chakri năm 1782, được sử dụng đến năm 1939, sau đó sử dụng một giai đoạn ngắn nữa 1945 – 1949), và đều đã từng chiếm lĩnh Chân Lạp nhiều năm liền, nhưng rồi lại bị đánh lui. Đến năm 1431, Angkor bị Ayutthaya chiếm lĩnh, đế quốc Khmer diệt vong. Một bộ phận còn lại ở phía nam xây dựng kinh đô mới tại khu vực mà ngày nay là Phnom Pênh, trở thành vương quốc Khmer nhỏ yếu.

Cát Ti lại nói tiếp :

- Còn ở bán đảo Mã Lai hiện nay vừa hình thành tiểu quốc Malacca. Tiểu quốc này do một vị vương tử của vương quốc Srivijaya bên Sumatra thành lập sau khi Srivijaya bị Majapahit ở Java tiêu diệt. Tiểu quốc Malacca này tuy mới thành lập, nhưng thế lực phát triển rất nhanh, lấn chiếm dần các tiểu quốc lân cận. Nghe nói vị tiểu vương này có mộng tưởng thành lập vương quốc và đối kháng với Majapahit.

Mọi người đều phì cười, cho rằng đó là mộng tưởng viễn vông, không nói đến bọn Giang Phong, chỉ riêng vương triều Majapahit ở Java đã là một bàng nhiên đại vật rồi, cả vương triều Srivijaya ở Sumatra còn bị bọn họ chiếm lĩnh, đừng nói chi một tiểu quốc bé nhỏ ở Malacca. Nhưng Giang Phong biết rằng mộng tưởng đó sẽ thành hiện thực, bởi trong lịch sử có tồn tại vương triều Malacca cùng vương triều ở Java phân đình kháng lễ cho đến khi thực dân ở châu Âu đến đây.

Triệu Phong nghe Giang Phong hỏi Cát Ti tình hình Chân Lạp và bán đảo Mã Lai, biết ngay lại có cơ hội chinh chiến, liền hỏi :

- Đại nhân. Khi nào sẽ xuất quân chiếm lĩnh hai xứ đó ạ ?

Giang Phong nói :

- Khi nào Puni an định sẽ xuất quân.

Triệu Phong nói :

- Đại nhân. Hiện tại Puni đã an định rất nhiều rồi. Nhìn thấy hậu quả của các bộ lạc chống đối, phần lớn các bộ lạc ở đó đều chịu chiêu an. Để lại 1 vạn Định Hải nhị sư cũng đủ giải quyết tàn dư còn lại. Chúng ta có thể điều Định Hải nhất sư xuất quân công chiếm một trong hai xứ đó.

Giang Phong suy nghĩ giây lát, rồi chỉ vào một khu vực trên Đông Dương Hải Đồ, nói :

- Vậy hãy công chiếm khu vực này, thiết lập Gia Định tỉnh.

Khu vực mà Giang Phong chỉ đó chính là vùng miền Đông và miền Tây Nam Bộ của Việt Nam ngày nay, thời Nguyễn thiết lập Gia Định Thành, cai quản phần Nam Kỳ lục tỉnh. Khu vực này Giang Phong rất quen thuộc (không quen sao được), tổng diện tích hơn 60.000 kilômét vuông, đủ để thành lập một tỉnh. Triệu Phong nhìn khu vực đó, hoan hỉ nói :

- Toàn là vùng duyên hải. Đại nhân an tâm. Chỉ cần nửa năm là thuộc hạ sẽ bình định được khu vực đó.

Khái niệm bình định của bọn Giang Phong không phải là kiểm soát đến từng thôn làng, từng vùng đất, mà chủ yếu là kiểm soát những vị trí quan trọng, từ đó khống chế các vùng phụ cận, chiêu an các thôn làng trong vùng. Khi nào có chống đối mới xuất quân đánh dẹp. Dù sao thì bọn Giang Phong cũng không đủ người để phái xuống kiểm soát từng thôn làng. Chỉ cần dân bản địa không chống đối là có thể yên ổn sinh sống như trước đây. Hơn nữa, nhờ bọn Giang Phong đến nơi, dẫn theo các thương đội, hoàn cảnh sinh hoạt của dân bản địa còn có phần được cải thiện. Giang Phong rất chú ý việc này, bởi chủ trương trọng thương. Dễ thấy nhất là vùng Puni, các khu dân cư do Giang Phong xây dựng đã thu hút rất nhiều dân bản địa bỏ bộ lạc ra đấy sinh sống, tìm việc làm trong các công xưởng. Một số bộ lạc ở lân cận cũng kéo cả bộ lạc ra lập làng gần đó. Còn bản thân khu dân cư thì thành một khu chợ lớn để các bộ lạc trong vùng đến mua bán trao đổi hàng hóa. Nhờ vậy mà đảo Puni rộng lớn chỉ mất vài tháng là cơ bản ổn định. Riêng vùng Lã Tống, do các tù trưởng và quý tộc của các bộ lạc đều đã bị bọn Triệu Phong xử lý hết, nên dân chúng đều trở thành thuận dân và chịu sự quản lý trực tiếp của An Phú Thành.

Căn cứ vào trí nhớ, Giang Phong chỉ định một số địa điểm cần kiểm soát là Gia Định (Sài Gòn), Định Tường (Long An), Biên Hòa, Vĩnh Long, Hà Tiên, An Giang (Châu Đốc). Đó cũng chính là Nam Kỳ lục tỉnh sau này, giờ được Giang Phong đặt làm 6 quận thuộc tỉnh Gia Định. Khu vực Vũng Tàu đáng ra cũng là một vị trí chiến lược, chỉ đáng tiếc ở đó không có đủ nước ngọt để xây dựng thành một thành thị lớn. Cho quân đóng đồn ở đó hoặc xây dựng một khu dân cư nhỏ thì được.

Giang Phong lại bảo Quảng Tế Pháp sư :

- Tăng cường tích trữ sắt thép và thạch nê đủ để xây dựng 6 thành thị ở Gia Định, lần này kiến thành ở nội lục, chúng ta cần phải xây dựng thành tường.

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Đại nhân. Như thế thì phải mở rộng các công xưởng, cần thêm nhiều khổ công nữa.

Giang Phong suy nghĩ giây lát, rồi bảo Đinh An Bình :

- Cắt ra một phần hạm đội, lấy thêm 3.000 quân của Định Hải tam sư xuất chinh Sula, bắt tù binh về làm khổ công.

Đinh An Bình vâng dạ. Triệu Phong nói :

- Đại nhân. Hay là thuộc hạ ưu tiên chiếm một vài cứ điểm trước, kiến thiết xong nơi đó rồi sẽ mở rộng ra xung quanh.

Giang Phong chợt nhớ đến ở Hà Tiên có nhiều núi đá vôi có thể sản xuất thạch nê, liền gật đầu nói :

- Vậy chiếm lĩnh Gia Định và Hà Tiên trước, sau đó từ Gia Định mở sang Định Tường và Biên Hòa, từ Hà Tiên mở sang Vĩnh Long và An Giang. Ở Hà Tiên có thể xây dựng các công xưởng sản xuất thạch nê lớn. Sản xuất tại chỗ thì đỡ mất công vận chuyển từ An Phú sang.

Đất sét để sản xuất gạch ngói thì xứ nào cũng không thiếu, không cần phải lo. Xây dựng một lò nung gạch ngói cũng chỉ mất ít ngày thôi. Bàn bạc chi tiết xong, mọi người cáo lui đi lo phần việc của mình. Giang Phong gọi Quảng Tế Pháp sư lại, bảo :

- Lã Tống có rất nhiều mỏ vàng bạc. Cần mở rộng khai thác.

Quảng Tế Pháp sư vâng dạ, rồi hỏi :

- Thuộc hạ sang đây, xem tình trạng An Phú Thành, dường như Đại nhân không định ở đây lâu dài.

Lão có cảm giác An Phú Thành cũng sẽ giống như Thánh sơn và Tư Dung hành doanh, Giang Phong chỉ ở tạm thời. Giang Phong mỉm cười nói :

- Ta sẽ đóng đô tại Gia Định. Nơi đó nằm gần tuyến giao thương, lại ở trong nội lục, tiện phát triển hơn. Ngươi hãy chuẩn bị, khi bình định xong xứ đó, ta sẽ cho di chuyển sang đó 5 vạn hộ, chủ yếu lấy dân từ Lã Tống và Puni, kiến thiết Gia Định Thành.

Quảng Tế Pháp sư nghe Giang Phong nói đến đóng đô, hưng phấn nói :

- Đại nhân định kiến quốc. Thế thì tốt quá. Thuộc hạ phải chuẩn bị mới được.

Giang Phong mỉm cười bảo :

- Chuyện kiến quốc hãy còn sớm. Trước tiên phải lo xây dựng Gia Định Thành cho thật rộng lớn huy hoàng đã. Ta muốn rằng so với Gia Định Thành, đừng nói là Thăng Long, ngay cả Kim Lăng Thành của Minh triều cũng sẽ không bằng.

Giang Phong không nhắc đến Bắc Kinh, bởi lúc này nó chưa thành kinh đô. Minh Thành Tổ Chu Lệ xây dựng Bắc Kinh làm kinh đô cũng là chuyện của vài năm nữa, mãi đến năm 1420 mới xây xong và dời đô lên đó. Giang Phong quyết tâm xây dựng Gia Định Thành có quy mô thật to lớn, đương nhiên chỉ về quy mô thôi, chứ không so về sự tráng lệ; Giang Phong không định phung phí tiền của cho việc đó. Xây dựng cung điện thì không mất bao nhiêu tiền của, nhất là có sử dụng thạch nê và sắt thép, nhưng trang hoàng bằng kỳ hoa dị thảo, hay các công trình điêu khắc công phu mới tốn công tốn của. Giang Phong không cần những thứ chỉ để nhìn ngắm đó.

Đang nói chuyện, Giang Phong chợt cảm thấy trong người có gì đó khác lạ, liền cho Quảng Tế Pháp sư lui ra. Trước giờ Giang Phong thỉnh thoảng vẫn có cảm giác như thế, nhưng khi y sư kiểm tra thì không phát hiện có bệnh tật gì. Có điều lần này cảm giác trở nên rõ ràng hơn. Giang Phong tĩnh tâm định thần, cố tìm xem cảm giác đó là gì, nếu phát hiện được nguyên nhân thì càng tốt.

gianghoaingoc
18-09-2010, 12:54 AM
Chương 26 : TIẾN QUÂN GIA ĐỊNH (2)


Lại nói, Giang Phong cảm thấy trong người có gì đó khác lạ, liền tĩnh tâm định thần, cố tìm xem cảm giác đó là gì. Sau một hồi lâu, Giang Phong chợt cảm thấy nơi bụng nóng dần lên. Cái gì thế nhỉ ? Chăm chú theo dõi cả nửa ngày, Giang Phong mới cảm giác được dường như có một khối khí nóng di chuyển bên trong bụng. Tình tiết này có vẻ rất quen. À phải rồi, nội lực chăng ? Trong các truyện võ hiệp hay xuất hiện tình tiết này. Chẳng lẽ vô tình ăn phải kỳ trân dị bảo gì đó nên có được nội lực chăng ? Không lẽ nào ? Việc ăn uống của Giang Phong được chúng thủ hạ lo liệu kỹ lắm mà. Dù sao cũng phải thử mới được.

Nghĩ gì là làm ngay, Giang Phong gọi chúng thủ hạ đến phân phó công việc, rồi bế quan. Trước đó không quên mang theo các bản đồ kinh mạch huyệt đạo và các sách y học. Giang Phong vốn không rành mấy thứ này, cần có sẵn sách vở để nghiên cứu.

Nhớ lại xem, các cao thủ thường dẫn nội lực vào các kinh mạch, xung phá huyệt đạo. Giang Phong liền treo mấy bản đồ kinh mạch lên trước mặt, rồi tưởng tượng, đúng, tưởng tượng luồng khí nóng đi vào một mạch nào đó. Giang Phong không biết vận khí, cũng chẳng biết luyện công, chỉ có thể tưởng tượng thôi.

Tưởng tượng, rồi tưởng tượng, …

Ba tháng sau …

Giang Phong xuất quan, thần thái đã khác hẳn trước kia. Khác như thế nào ư ? Do Giang Phong bế quan suốt ba tháng, không đi đâu, nên nước da trở nên trắng trẻo hơn trước kia. Chỉ có vậy thôi. Trong quá trình ‘tu luyện’, Giang Phong chỉ tưởng tượng, rồi tưởng tượng, vậy mà không ngờ lại có hiệu quả. Luồng khí nóng đó cuối cùng cũng chịu theo ý nghĩ của Giang Phong mà vận chuyển theo các kinh mạch, dần dần xung phá các huyệt đạo, mỗi ngày một ít. Sau hai tháng công phu, luồng khí nóng đó đã đi hết một vòng kinh mạch, có lẽ đó là vận chuyển chu thiên trong võ học chăng ? Chỉ đáng tiếc, ở trong người Giang Phong, nó vận chuyển được một vòng lại mất đi một ít, và rồi đến giờ đã không còn tí nào nữa. Giang Phong rất ngạc nhiên, và cũng có hơi thất vọng. Theo trong truyện võ hiệp, đúng ra mỗi vận chuyển một vòng lại tăng thêm một ít mới phải chứ. Đằng này nó mất đi, mà cơ thể Giang Phong cũng chẳng thấy có gì thay đổi cả, trừ điều đã nói ở trên. Mà thôi, nó mất rồi thì sau này Giang Phong không cảm thấy khó chịu nữa. Thôi đành vậy. Dù trở thành võ lâm cao thủ, đối với Giang Phong cũng chẳng mấy ích lợi. Có vị quân chủ nào lại đi hành hiệp trượng nghĩa đâu. Thượng giả lao tâm, hạ giả lao lực. Giang Phong không cần đích thân làm gì cả. Nếu không, còn cần thủ hạ làm gì.

Và giờ đây, Giang Phong đã đoán được rằng luồng khí nóng trong người đó là hậu quả của quá trình xuyên việt. Ngoài ra, không còn cách giải thích hợp lý nào khác. Không biết nó có lợi hay có hại, mất đi lại càng tốt. Đỡ mất công lo lắng bất an.

Lúc này đã giữa mùa hạ. Khí hậu hải dương nên cũng không nóng lắm. Trong số các thủ hạ thân tín của Giang Phong, giờ chỉ còn lại Quảng Tế Pháp sư là có mặt ở An Phú Thành. Cát Ti thì lo chỉ huy các thương đội. Triệu Phong thì ở Gia Định. Đinh An Bình bận lo xuất chinh bắt tù binh về làm khổ công. Quảng Tế Pháp sư hay tin Giang Phong xuất quan, vội đến nghênh đón. Giang Phong nghe Quảng Tế Pháp sư báo cáo những việc xảy ra trong mấy tháng qua.

Đầu tiên là vấn đề Giang Phong quan tâm nhất, việc tiến quân Gia Định, Định Hải Tướng quân Triệu Phong hoàn thành trên cả mong đợi. Chỉ mất chưa đầy một tháng, kể cả thời gian di chuyển, Định Hải nhất sư đã bình định xong hai vùng Gia Định và Hà Tiên. Giang Phong có hơi ngạc nhiên về tốc độ, nhưng rồi cũng không lấy làm lạ, vì nhớ đến Nguyễn Hữu Cảnh chỉ suất lĩnh một toán quân vào bình định phương nam; và Mạc Cửu chỉ suất lĩnh vài nghìn quân dân, không những đã có thể kiểm soát toàn vùng Hà Tiên, mà lại còn giúp đỡ vua Chân Lạp chống giặc, được tặng thêm đất đai. Trong khi đó, Triệu Phong thống suất đến 1 vạn quân tinh nhuệ, có thêm một số chiến hạm của Nam Dương Hạm đội hỗ trợ, chiếm lĩnh các vùng bên cạnh sông, biển không thành vấn đề. Hiện tại bọn họ đang lo xây dựng quận trị tại nơi Giang Phong đã chỉ định. Quận trị Hà Tiên đóng ở gần các khu núi đá vôi, sau này sẽ là nơi đặt các công xưởng sản xuất thạch nê cung cấp cho toàn vùng, tức là khu vực Kiên Lương ngày nay. Còn quận trị Gia Định đóng ở một cù lao, cách không xa khu đồi mà Giang Phong định kiến tạo cung điện. Vị trí đó cũng tức là khu vực Quận 4 ngày nay, sẽ được Giang Phong cho xây dựng thành thương cảng. Ở đó, sau này có Cảng Sài Gòn rất phát đạt, Giang Phong không tin rằng Cảng Gia Định sẽ không phồn vinh.

Quảng Tế Pháp sư lo việc thiết lập quận huyện cho các tỉnh, giờ cũng đã xong. An Phú Tỉnh nhiều nhất, có 7 quận, 72 huyện. Lã Tống tỉnh có 5 quận 54 huyện. Các tỉnh còn lại cũng đều có từ 4 đến 6 quận, mỗi quận có từ 7 đến 12 huyện. Quảng Tế Pháp sư theo ý Giang Phong không chia các quận quá nhỏ. Các triều đại phong kiến chia Đại Việt thành tỉnh (hay lộ, trấn), phủ, huyện; mà trong đó mỗi tỉnh chỉ có 2, 3 phủ, mỗi phủ chỉ có 2, 3 huyện. Chia như thế có cấp phủ thật dư thừa. Dù là một tỉnh lớn, có đến 8, 9 huyện, chẳng lẽ quan tỉnh không quản lý nổi. Bên Tàu họ chia một tỉnh thành hơn chục phủ, hơn trăm huyện mà vẫn quản lý được đấy thôi. Chẳng lẽ quan lại bên Tàu giỏi hơn quan lại người Việt hay sao ? Nếu có quan viên nào quản lý không nổi, đó là vấn đề năng lực, Giang Phong sẽ cách chức và thay ngay. Hiện tại, kể luôn Gia Định tỉnh, bọn Giang Phong kiểm soát 15 tỉnh, tổng diện tích đất liền hơn 110 vạn kilômét vuông, dân số ước khoảng 500 vạn người; diện tích lãnh thổ gấp 10 Đại Việt, trong khi dân số chỉ gấp đôi, đúng là đất rộng người thưa.

Phân chia quận huyện, thiết lập quan chức, đương nhiên cũng phải có pháp luật kèm theo. Ngoài bộ ‘Hình luật’ dựa theo pháp luật của Đại Việt, bọn Quảng Tế Pháp sư còn dựa vào đề cương của Giang Phong mà cho ra ‘Thương luật’, ‘Công luật’, và ‘Thuế luật’. Tuy vẫn còn rất đơn giản, nhưng trước mắt cũng tạm đủ dùng. Luật thuế lại còn chia dân chúng thành ba loại đối tượng với các mức thuế suất khác nhau. Thần dân người nào có thể nói viết được ‘Thiên tự’ thì hưởng mức thuế thấp nhất; không nói được thì phải chịu mức thuế cao hơn. Ngoại kiều phải chịu mức thuế cao nhất, tương đương với mức thuế của các nước trong vùng. Giang Phong cho thực hiện giáo dục miễn phí, trường học được mở khắp nơi, ai không chịu học thì ráng chịu.

Đinh An Bình nhiều lần xuất chinh Sula, vùng duyên hải gần như bình định xong, giờ đây lại chuyển sang quần đảo Maluku bên cạnh. Do lực lượng không đủ nên bọn họ không tiến sâu vào nội địa. Số lượng khổ công ở Lã Tống đã tăng lên đến 10 vạn, bên Gia Định cũng có 3 vạn. Giang Phong cau mày nói :

- Khổ công nhiều như thế, sau này khi trả tự do, thu xếp việc làm cho bọn họ cũng mệt đấy.

Khổ công sau khi làm việc một thời gian, nếu thái độ tích cực sẽ được trả tự do, và còn được bố trí nơi ở và việc làm. Nhờ đó mà bọn họ ít chống đối, và đều hy vọng vào tương lai sẽ có cuộc sống khá hơn. Quảng Tế Pháp sư nói :

- Đại nhân. Bọn thuộc hạ đã đặt ra chính sách cho khổ công. Nếu làm việc đủ 3 năm, thái độ tích cực sẽ được trả tự do, được cấp nhà ở và tìm cho việc làm. Sau này chúng ta sẽ đưa bọn họ đi mở các khu định cư mới.

Giang Phong nói :

- Cung cấp vũ khí cho các quận huyện tự thành lập địa phương quân. Mỗi huyện 30, mỗi quận 200, mỗi tỉnh 1.000 chắc cũng đủ tự bảo rồi. Khi nào địa phương quân thành lập xong, để lại Định Hải tam sư một nửa trấn giữ Lã Tống, một nửa trấn giữ Puni. Còn Định Hải nhất sư và Định Hải nhị sư đều đưa đến Gia Định.

Quảng Tế Pháp sư cung kính vâng dạ. Giang Phong lại nói :

- Được rồi. Hãy chuẩn bị. Ta sẽ đến Gia Định.

Sau đó mấy ngày, Giang Phong lên Nam Dương Hạm đội đi sang Gia Định, đương nhiên Quảng Tế Pháp sư cũng đi theo. Lão là người quản lý các tài sản của Giang Phong. Đi trên chiến hạm, điều kiện sinh hoạt cũng rất tốt. Giang Phong chỉ không hài lòng tốc độ của nó. Thời hiện đại, các thuyền buồm còn chạy được 12 – 16 hải lý mỗi giờ; nhiều người đóng thuyền buồm theo đúng mô hình thời cổ, vẫn có thể chạy được 10 hải lý mỗi giờ; trong khi đó các chiến hạm của Nam Dương Hạm đội chỉ chạy được 7 – 10 kilômét mỗi giờ, chỉ nhanh hơn đi bộ một chút, nếu thuận gió hay dùng thêm chèo thì mới nhanh hơn. Do đó, đi từ An Phú sang Gia Định cũng phải mất hơn 8 ngày. Thái Học Viện đang nghiên cứu cải tiến theo lệnh của Giang Phong, nhưng tạm thời chưa có kết quả.

gianghoaingoc
19-09-2010, 12:35 AM
Chương 27 : GIA ĐỊNH THÀNH


Năm Ất Dậu (1405), mùa hạ. Gia Định Thành.

Đã một năm kể từ khi Giang Phong chuyển đại bản doanh đến nơi này. Sau hơn một năm kiến thiết không ngừng, Gia Định Thành giờ đây đã có dáng vẻ của một thành thị lớn và phồn vinh. Trong thành đường phố thẳng tắp, ngang dọc như bàn cờ, tất cả đều được trải thạch nê phẳng lì. Nhà cửa hai bên đường tuy cũng mái cong ngói đỏ, nhưng từ cột đến tường đều được xây dựng bằng gạch ngói và thạch nê, rất ít sử dụng đến gỗ. Các căn nhà trong một khu đều cùng một kiểu kiến trúc, thẳng tắp và đều đặn. Nhờ vậy mà phố xá trông rất đẹp. Tuy các thành thị và các khu định cư trong vùng kiểm soát của Giang Phong cũng được xây dựng theo kiểu này, nhưng Gia Định Thành có một điểm đặc biệt hơn, do được Giang Phong chọn làm nơi định đô, nên ở trung tâm có một tòa cung điện rất lớn, là nơi Giang Phong và chúng thủ hạ sống và làm việc.

Tòa cung điện được Giang Phong đặt tên theo ý thích, hoàn toàn không theo truyền thống đặt tên cung điện hoàng gia. Trước đây Thái An Cung, Kính Thiên Điện vẫn còn theo truyền thống, nhưng nay thì không. Giang Phong quyết tâm xây dựng một cung điện lớn nhất thế giới trong điều kiện có thể, nên tên gọi cũng đặc biệt.

Cung điện có tên là Trường Thanh Cung, ‘thanh’ trong ‘thanh phước’; khuôn viên vuông vức, mỗi cạnh dài 5 dặm (2 kilômét), xung quanh được xây một bức tường cao 2 trượng (8 mét), và bên ngoài là một vòng hào rộng 5 trượng, sâu 1 trượng. Chính môn hướng về phía nam, nhìn ra khu cảng, bên trên có lâu các, kỳ đài rất nguy nga đồ sộ, đây là Ngọ môn và cũng là bộ mặt của cung điện, không thể tùy tiện được.

Bên trong cung điện thì đơn giản hơn. Trên diện tích 4 kilômét vuông, tức 4 triệu mét vuông, Giang Phong cho xây dựng 1.000 tòa lâu các, điện đường, đình đài, viện lạc. Giang Phong ưa thích con số 1.000 này, bởi 1.000 là thiên (千), đồng âm với chữ thiên (天) nghĩa là trời. Tuy xây dựng nhiều kiến trúc như thế, nhưng trừ chính điện – Văn Nghi Điện – tất cả đều xây dựng đơn giản, không quá tinh mỹ xa hoa, chỉ cần nhìn vẻ ngoài nguy nga đồ sộ là được. Bằng cách sử dụng bê tông cốt thép, việc xây dựng các kiến trúc nguy nga đồ sộ (so với thời bấy giờ) cũng không quá khó khăn và tốn nhiều công sức. Phần còn lại của cung điện là hoa viên, trồng đủ loại cây cối có thể tìm được. Giang Phong không ưa kỳ hoa dị thảo, quý hiếm nhưng tốn kém và không ích lợi gì. Bên trong cung điện chủ yếu là vườn rừng. Các lao công đã đào cả một khu rừng gần đó di dời vào bên trong cung điện. Rừng cây làm cho cung điện thêm xanh mát và thoáng đãng. Những thứ cây cối có kiểu dáng kỳ lạ cũng được Giang Phong ưa thích, thứ này dễ kiếm và rẻ tiền hơn kỳ hoa dị thảo. Ngoài ra còn có một hồ nước lớn được đào thông với sông Trường Thanh (tức sông Sài Gòn; còn sông Nhà Bè, sông Đồng Nai gọi chung là sông Gia Định; Giang Phong không dùng chữ Sài Gòn, bởi Hán tự của nó là Tây Cống, nghe không hay).

Văn Nghi Điện là nơi lâm triều nghị sự, nên theo ý chúng thủ hạ, phải xây dựng thật to lớn và tráng lệ. Do đó, công trình đến giờ vẫn còn đang trong quá trình xây dựng. Những nơi khác đều đã xây dựng hoàn tất. Đã có hơn 2 vạn nhân công đã được huy động để xây dựng Trường Thanh Cung, mất gần một năm mới xong (trừ Văn Nghi Điện). Tuy khối lượng thi công lớn như thế, nhưng Giang Phong lại chẳng tốn kém bao nhiêu tiền. Gỗ đá, gạch ngói, thạch nê, sắt thép, các loại nguyên vật liệu vốn là của Giang Phong, tàu thuyền vận chuyển cũng của Giang Phong, lao động là khổ công, chỉ cần nuôi ăn nuôi ở, lương thực lại có sẵn, thành ra chẳng tốn kém là mấy, nếu không Giang Phong đã không cho xây dựng một công trình quy mô đến như vậy. Nên biết để xây dựng Gia Định Thành chỉ cần có 1 vạn nhân công.

Các kiến trúc hoàng gia thời bấy giờ rất ưa chuộng nguyên liệu là gỗ và đá, tuy đẹp, nhưng phải cưa xẻ, đục đẽo rất tốn công tốn sức. Muốn tìm một cây gỗ thích hợp, phải tìm kiếm rất nhiều trong rừng. Đặc biệt là đá, muốn đục đẽo một khối đá thành hình dạng như yêu cầu, sau đó ghép lại thành kiến trúc nào đó, mất rất nhiều công sức và thời gian. Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh tuy chỉ rộng 0,72 kilômét vuông, nhưng phải xây dựng đến 15 năm, huy động 100 vạn lao dịch; và tương truyền những người lên rừng tìm gỗ, mười phần không về được một. Giang Phong không dùng gỗ và đá, chỉ dùng gạch ngói, sắt thép, cần gì thì đổ bê tông, thành ra ít tốn công sức, tiến độ xây dựng rất nhanh.

Gia Định Thành giờ đây có 5 vạn hộ, khoảng 30 vạn cư dân, thêm 3 vạn khổ công, chiếm một diện tích ước 36 kilômét vuông, đã là một thành thị lớn. Trong thành có rất nhiều xưởng thủ công, ngoài các công xưởng sản xuất hàng cao cấp thuộc sở hữu của Giang Phong, còn có rất nhiều xưởng thuộc về cư dân trong thành. Một phần những xưởng này theo cư dân di dời từ An Phú Thành sang đây, một phần được xây dựng sau này. Các công xưởng giờ đây chỉ tập trung sản xuất các chủng loại hàng hóa cao cấp, tinh mỹ, chất lượng cao và đương nhiên cũng có giá trị cao. Còn những loại hàng hóa trung đẳng và phổ thông thì để lại cho cư dân. Các thợ khéo đều làm việc trong các công xưởng, bởi muốn tạo ra hàng hóa cao cấp, ngoài tay nghề giỏi còn cần phải có nguyên liệu cao cấp, thứ mà các xưởng thủ công của cư dân khó mà có được. Đa số thợ khéo là những người đã theo Giang Phong từ lâu, và từ thời Tư Dung hành doanh, bọn họ đã thuộc nhóm người giàu có.

Sản phẩm chủ yếu của Gia Định Thành là tơ lụa, gốm sứ, hàng mỹ nghệ, hương liệu, giấy (đặc biệt là giấy trầm, đặc sản của Đại Việt), nước hoa và son phấn (cũng là đặc sản của Đại Việt). Những thứ này không những có thị trường ở phương tây, mà còn được ưa chuộng ở cả phương bắc. Cảng Gia Định giờ đây còn sầm uất hơn cả cảng An Phú lúc trước, tăng thêm sự phồn vinh cho Gia Định Thành.

(chú : giấy trầm, son phấn cùng với ngà voi, sừng tê là những đặc sản của Đại Việt ngày xưa, từng nằm trong danh sách cống phẩm cho nước Tàu, đương nhiên son phấn ngày xưa không giống như son phấn thời hiện đại).

Thành Đức Điện.

Một tòa đại điện có quy mô gần bằng Văn Nghi Điện, giờ đây là nơi làm việc tạm thời của bọn Giang Phong. Như thường lệ, Giang Phong nghe chúng thủ hạ tấu báo sự việc. Giang Phong không chuyên cần chính sự như các hoàng đế thời xưa, mỗi ngày mỗi thượng triều. Mỗi tháng Giang Phong chỉ thượng triều ba lần, sơ tuần và thượng tuần tiểu triều, trung tuần đại triều. Tiểu triều chỉ gồm một số thủ hạ thân tín, đại triều gồm hầu hết quan viên có mặt ở Gia Định Thành. Bình thường, mọi việc Giang Phong phó thác hết cho thủ hạ lo liệu xử lý.

Giang Phong tuy chưa kiến quốc xưng vương, nhưng cũng đã hình thành nên tiểu triều đình, ‘tiểu’ là bởi quy mô đơn giản. Triều đình chỉ có 4 bộ : Chính vụ bộ, quản lý chính sự, do Quảng Tế Pháp sư làm bộ trưởng; Thương vụ bộ, phụ trách việc thương mại, do Cát Ti làm bộ trưởng; Lễ bộ, phụ trách việc giáo dục (xưa có câu ‘Tiên học lễ, hậu học văn’, lễ quản giáo dục là phải), do Đào Anh làm bộ trưởng; và quân bộ, do Giang Phong trực tiếp nắm.

Đào Anh là cô nhi, cha hy sinh trong trận chống quân Chiêm khi Giang Phong mới đến đây, theo Giang Phong từ hồi ở Thánh sơn, nên rất được tin cậy. Gã tuy chẳng phải có văn tài gì đặc biệt, nhưng rất trung thực chấp hành những mệnh lệnh của Giang Phong, nên được giao trọng trách quản lý lễ bộ, phụ trách việc giáo dục; Giang Phong sợ tư tưởng của Nho học ảnh hưởng đến sự phát triển, nên không trọng dụng nho gia. Hiện tại giáo dục phân làm 4 cấp độ. Sơ học mở ở mỗi huyện, chủ yếu dạy dân đọc viết thông thạo. Thầy đồ ở các trường sơ học còn được phái đến từng thôn, từng làng dạy dân đọc viết ‘Thiên ngữ’. Ít nhất cũng phải nói được thứ chữ này mới có thể được xem là thuận dân, hưởng mức thuế thấp nhất và miễn lao dịch. Ở mỗi quận lại mở trường trung học, dạy toán thuật và các ngành nghề khác, tốt nghiệp có thể làm thợ ở các xưởng thủ công hay nhân viên của các thương đội. Ở mỗi tỉnh lại có trường đại học, dạy trình độ cao hơn, tốt nghiệp có thể làm thợ chính, quản lý, hoặc làm quan lại bậc thấp. Chỉ ở Gia Định Thành là có Thái Học, chuyên đào tạo chuyên viên. Hiện giờ quan lại đều được chọn theo công tích và năng lực, nhưng sau này muốn làm quan lại từ cấp quận trở lên thì phải tốt nghiệp Thái Học Viện.

Quân bộ lại chia làm tham mưu bộ, hải quân bộ và lục quân bộ. Tham mưu bộ cũng tức là mưu sĩ đoàn thời bấy giờ, Giang Phong chưa tìm được mưu sĩ nào xuất sắc, nên chỉ có vài người thiện mưu lược, giỏi bàn mưu tính kế làm việc ở đây, chưa đặt chức bộ trưởng. Hải quân bộ do Đinh An Bình làm bộ trưởng. Nam Dương Hạm đội giờ đã chia làm đôi, một phần quản lý lãnh hải, một phần đi chinh chiến các nơi, bắt khổ công; do đó đã có 2 vị tân Đô đốc. Còn Lục quân bộ đương nhiên do Triệu Phong làm bộ trưởng. Từ khi thành lập Định Hải nhất sư, Định Hải nhị sư, gã đã không còn trực tiếp chỉ huy nữa mà làm tổng chỉ huy.

gianghoaingoc
20-09-2010, 02:38 AM
Chương 28 : TẤU TRÌNH CÔNG VIỆC


Thành Đức Điện. Hôm nay thiết tiểu triều, Giang Phong nghe chúng thủ hạ tấu trình công việc trong tuần qua (thời xưa 1 tháng chia làm 3 tuần là sơ tuần, trung tuần và thượng tuần). Giang Phong thiết tiểu triều, mọi sự đơn giản, chẳng có Lôi Phong Cổ, Cảnh Dương Chung, chẳng có tam quỵ cửu khấu, mọi sự vẫn như trước kia, chỉ vì chúng thủ hạ nhất ý nên mới gọi là tiểu triều, đại triều. Giang Phong không cần danh phận, nhưng chúng thủ hạ lại cần.

Quảng Tế Pháp sư vẫn được chúng nhân công nhận là đệ nhất thủ hạ dưới trướng Giang Phong, đảm nhận Chính vụ bộ bộ trưởng, nên bước ra tấu trình trước. Chức vụ Chính vụ bộ bộ trưởng giống như chức thủ tướng ngày nay, quản lý hết mọi quốc sự, chỉ có ba ngành Thương mại, Giáo Dục và Quốc phòng vì trách nhiệm trọng đại nên được tách riêng ra, ngang hàng với Chính vụ bộ.

- Đại nhân. Sau hơn một năm bình định, các đảo Sula và Maluku đã được kiểm soát hoàn toàn. Bạch Hổ Hạm đội đã chuyển mục tiêu sang đảo Hoa Ninh (Wanin, tức New Guinea). Có điều thổ dân ở đó còn cực kỳ lạc hậu, chưa vận y phục, khó thể giáo hóa, chỉ có thể làm khổ công mà thôi.

New Guinea là một hòn đảo lớn, nhưng dân cư rất phức tạp. Đến thời hiện đại, đại đa số dân cư trên đảo vẫn còn sống theo chế độ bộ lạc, gồm hàng nghìn bộ lạc lớn nhỏ, với 1073 loại ngôn ngữ khác nhau, đa phần vẫn còn cởi trần và đóng khố, có cuộc sống lạc hậu, thậm chí chiến tranh giữa các bộ lạc vẫn thường xuyên diễn ra.

Giang Phong cau mày nói :

- Cố gắng giáo hóa. Ai giáo hóa được thì đối xử như những thuận dân khác.

Quảng Tế Pháp sư vâng dạ, nói tiếp :

- Chiếu phép, các đảo Sula có thể chia thành hai tỉnh, các đảo Maluku hợp thành một tỉnh, thỉnh Đại nhân định danh.

Sula, tức Sulawesi, rộng đến 174.600 kilômét vuông, chưa kể các đảo nhỏ xung quanh, còn có thể chia ba, nhưng nơi đó quá xa, dân cư ít, nên chỉ chia đôi. Maluku ở ngay bên cạnh, diện tích 74.505 kilômét vuông, cũng được đặt thành một tỉnh. Giang Phong nói :

- Phân biệt đặt Tân Hóa, Tân An và Tân Định.

Quảng Tế Pháp sư vâng dạ, lui lại. Đến phiên Cát Ti tấu trình :

- Hồi bẩm Đại nhân. Cuộc chiến ở Java đang ngày càng ác liệt, nhưng triều đình Tây Java có vẻ chiếm ưu thế hơn. Không biết Đại nhân có định can thiệp hay không ? Còn khu vực bán đảo Mã Lai, tiểu quốc Malacca hiện đã bành trướng rất nhanh, kiểm soát được một khu vực rộng lớn ở phía nam bán đảo rồi. Địa bàn cũng tương đương một tỉnh của ta.

Giang Phong bảo :

- Java tạm thời không can thiệp, kẻo song phương đình chiến, không có lợi cho chúng ta. Còn Malacca, sang năm sẽ giải quyết. Nếu các xứ Nam Dương đều đã điều tra xong, ngươi hãy mở rộng sang Tây Dương. Nghe nói phía tây bắc Thiên Trúc có các xứ Hồi giáo rất giàu có, phía tây bắc các xứ Hồi giáo nữa lại có các xứ Cơ Đốc giáo. Ở đó có nhiều thuật sĩ tài giỏi. Ngươi hãy cho người đi điều tra xem sao. Điều tra địa hình phương vật các xứ đó, rồi hoàn thiện Thiên Hạ Toàn Đồ giống như đã từng làm với Nam Dương Hải Đồ vậy. Trọng tâm là vùng Tích Lan (Sri Lanka) và vùng vịnh A Lạp Bá (Arab).

Thiên Hạ Toàn Đồ, tức bản đồ thế giới, cũng được Giang Phong vẽ lại theo trí nhớ, nên cũng giống Nam Dương Hải Đồ, chỉ đúng đại khái về hình dạng, phương vị, còn tỉ lệ thì không chính xác chút nào, cần bọn Cát Ti điều tra, hiệu chỉnh lại. Còn Nam Dương Hải Đồ giờ đã hoàn thiện, được các Hạm đội, thương đội và triều đình chính thức sử dụng.

Cát Ti vâng dạ lui về. Triệu Phong bước lên tâu :

- Đại nhân. Năm vạn tân binh đã huấn luyện xong. Thỉnh đại nhân định đoạt.

Từ năm ngoái Giang Phong đã ra lệnh tăng quân. Với khu vực kiểm soát rộng lớn, chỉ riêng phần đất liền đã gần 1,4 triệu kilômét vuông, chỉ có 3 vạn Định Hải quân là hơi ít. Tuy thêm 5 vạn tân binh nữa, tổng quân số 8 vạn cũng còn hơi ít (so với Đại Việt và nước Tàu), nhưng bởi đất rộng người thưa, bao nhiêu đó cũng tạm đủ dùng. Chính sách cai trị của Giang Phong lại ôn hòa, nên không đến nỗi gặp nhiều bất ổn.

Giang Phong nói :

- Cải Định Hải nhất sư thành Ngự Lâm quân, Định Hải nhị sư thành Cấm vệ quân. Định Hải tam sư cải thành Định Hải nhất sư. Thành lập thêm Định Hải nhị sư, Định Hải tam sư, Trấn Biên nhất sư, Trấn Biên nhị sư, Trấn Biên tam sư. Định Hải quân và Trấn Biên quân tăng cường huấn luyện, chuẩn bị viễn chinh.

Triệu Phong nghe nói viễn chinh, cả mừng, vâng dạ lui về. Đinh An Bình bước lên tâu :

- Hồi bẩm Đại nhân. Ba vạn hải quân tân binh cũng đã huấn luyện xong. Lúc nào cũng có thể tham chiến. Chỉ có chiến hạm …

Trong năm qua, số lượng chiến hạm của Hải quân không tăng đáng kể, Đinh An Bình cũng không hiểu Giang Phong cho huấn luyện 3 vạn tân binh để làm gì. Trước đây Nam Dương Hạm đội cũng chỉ có 3.000 binh sĩ. Giang Phong mỉm cười bảo :

- Chiến hạm sắp tới sẽ có, có lẽ sẽ không ít hơn 300 chiếc. Ngươi thấy có cần tuyển thêm tân binh nữa không ?

Đinh An Bình cả kinh nói :

- Hồi bẩm Đại nhân. Nếu như số lượng tuần hạm và vận hạm nhiều thì phải tuyển thêm tân binh nữa ạ.

Giang Phong mỉm cười nói :

- Nếu ta nhớ không lầm, số lượng tuần hạm và vận hạm cũng khoảng trăm chiếc.

Đinh An Bình tính toán một lúc, rồi mới nói :

- Đại nhân. Nếu vậy xin cho thuộc hạ tuyển thêm 2 vạn tân binh nữa. Ba vạn sĩ binh điều khiển các chiến hạm không thành vấn đề, nhưng không đủ để tác chiến.

Giang Phong suy nghĩ giây lát, rồi phê chuẩn. Mọi người xong cả mới đến lượt Đào Anh, bộ trưởng Lễ bộ. Gã bước ra cung kính nói :

- Hồi bẩm Đại nhân. Tình hình giáo hóa ở các tỉnh vẫn rất tốt, trừ các tỉnh mới thành lập còn có chút khó khăn. Hiện toàn dân đã có hơn 6 phần là thuận dân, hơn 3 phần vẫn đang cố gắng học chữ, chỉ có chưa đến nửa phần là thuộc loại khó giáo hóa.

Giang Phong gật đầu hài lòng. Chỉ sau một năm, tình hình như thế là đã rất khả quan rồi. Tuy không bằng được chiến dịch Bình dân học vụ hồi năm 1945, nhưng ở đây đa số là dân ngoại quốc, học nói được tiếng Việt là đã tốt lắm rồi. Đó cũng nhờ ở những chính sách ưu đãi đối với thuận dân, sưu thuế thấp, lại miễn lao dịch, đặc biệt là nói được tiếng Việt (không cần thông thạo lắm) mới dễ kiếm việc làm, mới được ở trong thành thị và các khu định cư.

Mọi người báo cáo xong, Giang Phong truyền bãi hầu, và gọi Quảng Tế Pháp sư ở lại. Khi mọi người đã lui ra hết, Giang Phong mới hỏi :

- Tình hình phương bắc hiện nay thế nào rồi ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Hồi bẩm Đại nhân. Ở Đại Việt, cha con Hồ Quý Ly vẫn khẩn trương xây dựng phòng tuyến, gần đây lại chuẩn bị xây thành Đa Bang ở phía bắc Thăng Long. Đặng Tất được giao trấn giữ phòng tuyến Đa Bang. Hồ Quý Ly cho rằng Đặng Tất đánh giặc không xong, nhưng giữ thành là giỏi nhất, nên mới giao cho trọng trách ấy.

Giang Phong biết thành Đa Bang, nhà Hồ đặt rất nhiều hy vọng vào nơi đó, nên tập trung rất nhiều binh lực phòng thủ. Vì vậy, khi phòng tuyến Đa Bang tan vỡ, thành Đa Bang thất thủ, nhà Hồ cũng diệt vong.

Quảng Tế Pháp sư lại nói :

- Còn phía Minh triều cũng đang tích cực chuẩn bị binh mã, tích trữ lương thảo chuẩn bị nam chinh. Tối đa là sang năm chiến tranh sẽ nổ ra. À quên. Năm nay Minh triều còn sai sứ sang đòi đất Lộc Châu, Hồ Quý Ly ban đầu không chịu, nhưng sau lại sai Hoàng Hối Khanh dâng 59 thôn ở Cổ Lâu cho họ.

Giang Phong cau mày, hỏi :

- Tình hình các thuyền trường của Minh triều ra sao rồi ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Hồi bẩm Đại nhân. Bọn họ đã đóng được hàng trăm thuyền lớn. Theo tin hồi báo, Minh triều Hoàng đế đã truyền chỉ cho Tam Bảo thái giám Trịnh Hòa đi kinh lược các xứ Nam Dương, dự định đến tháng 7 này sẽ khởi trình, chiến hạm ước trên 300, quân số ước 3 vạn.

Giang Phong hỏi :

- Kế hoạch thế nào rồi ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Hồi bẩm Đại nhân. Phía lão Thạch Lang đã xong hết. Ở Hải Tân cũng đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ còn chờ bọn họ đến là sẽ triển khai.

Giang Phong gật đầu, hỏi tiếp :

- Còn phía Chiêm Thành ?

Quảng Tế Pháp sư nhíu mày nói :

- Hồi bẩm Đại nhân. Chiêm Thành gần đây tuy đã hòa hảo với Phạm Thế Căng tướng quân, nhưng cũng đồng thời tích cực chiêu binh mãi mã, có vẻ muốn chuẩn bị chiến tranh. Thuộc hạ lo bọn họ lợi dụng quân Minh tiến sang, bọn Hồ Quý Ly không rảnh lo phương nam mà tiến chiếm Thuận Hóa.

Giang Phong mỉm cười nói :

- Không có gì phải lo. Bọn họ mà bắc tiến thì quân Gia Định cũng sẽ bắc tiến.

Quảng Tế Pháp sư ồ lên, hứng khởi nói :

- Đại nhân anh minh.

gianghoaingoc
21-09-2010, 12:48 AM
Chương 29 : TRỊNH HÒA XUẤT HẢI


Minh triều, Hoa Nam địa khu.

Phụng ý chỉ của Minh triều Vĩnh Lạc Đế Chu Lệ, Tam Bảo Thái giám Trịnh Hòa tổ chức đội thuyền đi kinh lược các xứ Nam Dương. Vĩnh Lạc Đế vì cướp ngôi của cháu mình là Kiến Văn Đế, nghe tin đồn Kiến Văn Đế chạy về vùng duyên hải phương nam, rồi cấu kết với Uy khấu chạy ra hải ngoại, sợ có ngày Kiến Văn Đế quay về giành lại ngôi báu, nên mới phái Trịnh Hòa đi kinh lược các xứ Nam Dương, thừa cơ thám thính tin tức về Kiến Văn Đế.

Tam Bảo Thái giám Trịnh Hòa là người Hồi ở Vân Nam, tên thật là Hajji Mahmud Shams, phiên sang Hán tự thành Mã Tam Bảo. Ông là hậu duệ đời thứ 6 của Sayyid Ajjal Shams al Din Omar, một viên quan cai trị Vân Nam thời nhà Nguyên và đến từ Bukhara (ngày nay thuộc Uzbekistan). Họ ‘Mã’ của ông có từ người con thứ năm của Shams al Din là Masuh. Cả ông nội và cha của ông, Charameddin và Mir Tekin, đều đã hành hương tới thánh địa Mecca. Sau khi quân đội nhà Minh chiếm đóng Vân Nam, ông đã bị bắt giữ khi còn là một cậu bé con và bị hoạn, vì thế ông đã trở thành một thái giám phục vụ cho các hoàng đế Minh triều. Tên gọi Trịnh Hòa là do Vĩnh Lạc Đế đặt cho ông để thưởng công giúp lật đổ Kiến Văn Đế.

Vĩnh Lạc tam niên, lục nguyệt 15 nhật (tức ngày 11 tháng 7 năm 1405 theo Tây Lịch). Sứ đoàn gồm Trịnh Hòa làm chính sứ, Vương Cảnh Hoằng làm phó sứ, suất lĩnh sĩ binh 2 vạn 7.800 người, gồm 63 chiếc bảo thuyền cùng rất nhiều mã thuyền, lương thuyền, tọa thuyền, chiến thuyền, tổng cộng 317 chiếc; từ Tô Châu Lưu Gia Hà xuất hải, sau đó đi dọc theo bờ biển đến Phúc Kiến, rồi từ Ngũ Hổ Môn ở Phúc Kiến kéo buồm đi về phương nam, hướng đến Chiêm Thành.

Trải qua hơn một tháng lần mò trên biển, đoàn thuyền mới đến được Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam). Trịnh Hòa cho thuyền dừng lại đấy nghỉ ngơi vài ngày cho binh sĩ và thủy thủ lấy lại sức. Thủy sư của Minh triều trước nay chủ yếu hoạt động trên sông hồ, đa số không quen với sóng biển. Minh triều chỉ có Thủy sư, hoàn toàn không có Hải quân hay Hạm đội, cũng không có khái niệm lãnh hải. Đây cũng là lần đầu tiên mà bọn họ đi xa như vậy.

Sau mấy ngày nghỉ ngơi dưỡng sức, đoàn thuyền lại kéo buồm ra biển, hướng về phía nam, mục tiêu là Chiêm Thành. Khi đoàn thuyền gần đến hải phận Chiêm Thành, thủy thủ chợt thấy một đoàn gần 10 chiếc thuyền nhỏ đang đánh cá. Trịnh Hòa cho thuyền dừng lại, hỏi thăm. Đáng tiếc, những người đánh cá không ai biết Hán ngữ, song phương nói chuyện mà không hiểu nhau. Cả phiên dịch tiếng Chiêm Thành cũng không cách nào câu thông được. May mắn là trong sứ đoàn có người từng đi sứ Đại Việt, biết được chút ít tiếng Việt, liền bước ra hỏi :

- Này các ngươi. Đây là đâu thế ? Còn bao xa nữa mới đến được Chiêm Thành ?

Ngư dân nghe hỏi bằng tiếng Việt, liền đáp :

- Đây là Hải Tân quốc. Muốn đến nội địa Chiêm Thành phải đi về phía nam mấy ngày nữa mới đến.

Người kia sau khi phiên dịch lại, nghe người bên cạnh nói mấy câu, ngạc nhiên hỏi lại :

- Sao ta nhớ đến đây là đã gần đến Chiêm Thành rồi mà ?

Ngư dân đáp :

- Người dẫn đường cho các vị có phải đã đi Chiêm Thành hồi mấy năm trước không ?

Người kia nói :

- Đúng thế. Có gì khác biệt sao ?

Ngư dân nói :

- Trước đây vùng phía nam cách nơi này vài chục dặm đã là đất Chiêm Thành. Nhưng hiện giờ đó đã là đất Thăng Hoa của Đại Việt. Phần phía nam Thăng Hoa, cũng vẫn còn đang đánh nhau. Muốn đến nội địa Chiêm Thành phải tiếp tục đi về phía nam nữa.

Người trong sứ đoàn lại hỏi :

- Hải Tân quốc là một nước như thế nào ?

Ngư dân đáp :

- Hải Tân quốc là một nước ở ngoài biển, do di dân Việt, Chiêm, Mường cùng lập ra. Trước đây nằm ở ranh giới giữa Chiêm Thành và Đại Việt, nhưng giờ đây đã hoàn toàn nằm ngoài khơi Đại Việt rồi.

Người kia hỏi tiếp :

- Từ đây đi bao lâu nữa mới đến được nội địa Chiêm Thành ?

Ngư dân lắc đầu đáp :

- Không biết nữa. Chúng tiểu nhân chỉ biết đi mãi về phía nam là đến được Chiêm Thành mà thôi.

Chúng sứ thần sau một hồi bàn bạc, quyết định tạm thời ghé vào Hải Tân quốc hỏi thăm tin tức, luôn tiện thuyết phục Hải Tân quốc chủ phái người triều cống Thiên triều. Nước này nằm ngay ngoài khơi Đại Việt, lại không xa Chiêm Thành, tuy nước nhỏ dân ít, nhưng vị trí trọng yếu, cũng rất đáng để thu phục.

Đoàn thuyền ghé vào Hải Tân. Hải Tân quốc chủ thân dẫn văn võ quan viên ra đón sứ đoàn. Tuy nước này chỉ quản lý vài hòn đảo, toàn thể quân dân chưa đến 2.000, nhưng nghe nói xứ Nghệ An chỉ cách nơi đây vài trăm dặm, cả sứ đoàn đều mừng rỡ, ra sức thuyết phục Hải Tân quốc phái sứ thần về triều cống Thiên triều. Đương nhiên Hải Tân quốc chủ lập tức ưng thuận, và nhờ sứ đoàn viết thư tiến dẫn. Mọi người đều vui vẻ.

Hải Tân quốc chủ sai người bày đại tiệc tiếp đãi các thành viên sứ đoàn, đồng thời chúng binh sĩ và thủy thủ cũng có phần. Tuy yến tiệc so với Trung Hoa thì đơn giản hơn rất nhiều, nhưng mọi người đều ăn uống rất hào hứng, nhất là chúng sĩ binh và thủy thủ, bởi lênh đênh trên biển, thức ăn chẳng ngon miệng chút nào. Ăn uống xong, trừ sứ đoàn, những người khác đều phải ở lại trên thuyền hoặc cắm trại ngoài bãi biển. Hải Tân quốc quá nhỏ bé, không thể lo đủ chỗ ở cho gần 3 vạn người.

Sau khi bổ sung thêm lương thực và nước uống, đoàn thuyền lại tiếp tục đi về phương nam. Theo chỉ dẫn của người ở Hải Tân quốc, bọn họ dễ dàng đến được đất Chiêm, và ghé vào một tòa thành lớn để nghỉ ngơi, bổ sung thêm nước uống, đồng thời liên hệ với triều đình Chiêm Thành. Hải Tân đảo quá nhỏ, không đủ nước uống, bọn họ chỉ bổ sung được một ít.

Xứ này gọi là Bạt Đạt Gia, là một tiền đồn quan trọng chống quân Đại Việt của nước Chiêm, đồng thời cũng cách kinh đô Đồ Bàn không xa lắm. Sứ đoàn định nghỉ ngơi lại đây, chờ hồi đáp từ phía triều đình Chiêm Thành. Sau mấy tháng lênh đênh trên biển, đại bộ phận quan binh và thủy thủ đều kéo vào thành nghỉ ngơi ‘hưởng thụ’, chỉ một bộ phận được phái ở lại canh giữ thuyền bè.

Đêm bình an. Mọi người đều rất vui vẻ.

Sáng hôm sau, mọi người định tiếp tục vui vẻ, đột nhiên biến cố phát sinh. Một bộ phận nhân viên sứ đoàn, cùng rất nhiều binh sĩ và thủy thủ có triệu chứng trúng độc, ói mửa vật vã, thậm chí hôn mê bất tỉnh, nếu không thì cũng mất hết sức lực, đi đứng cũng khó khăn. Trịnh Hòa cả kinh, cùng các thành viên sứ đoàn hội ý, cho rằng người Chiêm Thành ám toán, cần phải ‘tiên hạ thủ vi cường’, tạm giành quyền kiểm soát nơi này, rồi tìm đại phu chữa trị. Nếu chậm trễ, cả bọn có nguy cơ bỏ thân nơi đất khách quê người.

Thế là Trịnh Hòa tập hợp binh sĩ, tổ chức tấn công thủ quân trong thành. Bị tấn công bất ngờ, quân Chiêm chống giữ không nổi, phải bỏ thành mà chạy. Bọn Trịnh Hòa dễ dàng giành được quyền kiểm soát Bạt Đạt Gia thành. Thế nhưng, điều làm bọn họ kinh ngạc nhất là dân Chiêm trong thành cũng bỏ nhà cửa, rời thành chạy theo thủ quân. Trong thành giờ đây chỉ còn lại có quân Minh.

Sau đó, quân Chiêm tổ chức lại quân đội và dân binh, chiếm giữ các vị trí hiểm yếu, bao vây quân Minh trong thành. Viện binh của quân Chiêm cũng từ các nơi lục tục kéo đến. Tình thế quân Minh trở nên nguy cấp vô cùng. Quan trọng nhất là số người bị độc phát tác ngày càng nhiều. Số người có thể chiến đấu còn lại chưa được hai phần. Toàn thể sứ đoàn từ trên xuống dưới đều mắng chửi người Chiêm xảo trá gian hiểm.



Trên bờ biển, trong doanh trại của quân Minh, chúng binh sĩ và thủy thủ đều trúng độc, nằm la liệt khắp nơi, rên rỉ không ngừng. Bọn họ không hay biết gì về sự biến trong thành.

Đến giữa trưa, một toán quân khoảng 1 vạn người từ phía nam kéo đến, xông vào doanh trại đánh giết hơn 5.000 quân Minh không còn sức phản kháng. Sau khi tiêu diệt hết quân Minh, bọn họ chỉ thu lấy vàng bạc châu báu và những vật quý giá, còn những chiến lợi phẩm khác trong doanh trại thì bỏ mặc đó, rồi chia nhau lên các thuyền đang neo đậu ngoài biển, kéo buồm đi về phía nam.

Tiếp đó, một số thuyền khác lại kéo đến, thả xuống biển nhiều bè gỗ, mảnh ván vụn, thanh gỗ gãy, rồi châm lửa đốt, biến nơi đây trông giống như vừa diễn ra một trận hải chiến, với nhiều thuyền bè bị đánh chìm, hoặc bị đốt cháy. Trên bờ đầy xác quân Minh, dưới biển đầy mảnh ván vỡ vụn, khó ai phát hiện được chân tướng sự việc.

Đến chiều tối, một toán quân Chiêm kéo đến đây, thấy quân Minh đều đã bị giết, nên rất ngạc nhiên. Nhưng rồi cả bọn lại xông vào doanh trại tranh đoạt chiến lợi phẩm. Quân Minh còn bị ai khác giết nếu như không phải quân Chiêm. Bọn họ thấy không cần thắc mắc chuyện đó.

gianghoaingoc
22-09-2010, 04:46 AM
Chương 30 : LONG SƠN HUYỆN


Long Sơn huyện.

Có thể mọi người còn chưa quen với tên gọi này, nhưng nếu nói đến Vũng Tàu, có lẽ nhiều người rất quen. Đó là một thành phố được xây dựng trên địa giới 3 làng Tam Thắng thời Nguyễn. Di tích pháo đài Phước Thắng vẫn còn, chính là Bạch Dinh ngày nay. Năm 1898, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã cho xây dựng Bạch Dinh (Villa Blanche) trên nền pháo đài Phước Thắng từng khai hỏa bắn vào tàu chiến Pháp 50 năm trước đó. Tại đây hiện vẫn còn lưu giữ 19 khẩu thần công của pháo đài Phước Thắng xưa.

Năm 1876, Vũng Tàu thuộc tiểu khu Bà Rịa, nằm trong khu vực (circonscription) Sài Gòn, theo nghị định phân chia hành chính của chính quyền Pháp thuộc. Ngày 1 tháng 5 năm 1895, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định tách thị xã Cap Saint Jacques ra khỏi tiểu khu Bà Rịa để lập thành phố tự trị (commune autonome) Cap Saint Jacques. Đến ngày 20 tháng 1 năm 1898, Cap Saint Jacques hợp nhất trở lại với tiểu khu Bà Rịa thành khu Cap Saint Jacques cho đến năm 1899 lại tách ra thành hai đơn vị hành chính độc lập. Ngày 14 tháng 1 năm 1899 khu Cap Saint Jacques thành lập tổng Vũng Tàu gồm 7 làng. Theo phân cấp hành chính của Pháp, Thành phố / Thị trấn / Làng (commune) là cấp đơn vị hành chính địa phương thấp nhất của Cộng hòa Pháp. Cấp hành chính trên commune là tổng (canton). Do đó, từ thành phố (commune) nâng cấp lên thành tổng là hợp lý. Hiện tại nước Pháp có 22 vùng (région), 96 tỉnh (département, trước cách mạng Pháp 1789 gọi là province), 329 quận (arrondissement), 3.883 tổng (canton) và 36.783 Thành phố / Thị trấn / Làng (commune).

Năm 1901, dân số Vũng Tàu là 5.690 người, trong đó có gần 2.000 người di cư từ miền Bắc vào, sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thủy hải sản. Ngày 1 tháng 4 năm 1905 theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương, Cap Saint Jacques không còn là thành phố tự trị mà trở thành đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bà Rịa. Năm 1929 Cap Saint Jacques trở thành tỉnh riêng, rồi đến năm 1934 tỉnh Cap Saint Jacques lại hạ cấp xuống thành thành phố (commune). Giờ đây là thành phố thủ phủ của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Một điều đáng lưu ý là nước ngọt sử dụng ở Vũng Tàu được bơm theo đường ống dẫn từ Bà Rịa ra.

Sau khi ổn định được tỉnh Gia Định rồi, Giang Phong đã cho xây dựng một khu định cư mới tại vùng đất thuộc Vũng Tàu ngày nay. Theo truyền thống đặt tên bằng Hán Việt thời bấy giờ, Giang Phong đã lấy tên Long Sơn, một hòn đảo khá nổi tiếng thuộc Vũng Tàu, làm tên huyện, và cũng để phù hợp với Long Hải huyện cũng ở bên cạnh. Cả Long Sơn huyện và Long Hải huyện đều thuộc Gia Định quận. Giang Phong không quy nó về Biên Hòa quận, bởi thời bấy giờ, chưa có đường lớn đi từ Long Sơn về Biên Hòa. Theo sông Gia Định (tức sông Đồng Nai), từ Long Sơn huyện đi về Gia Định Thành trước, rồi mới đến Biên Hòa quận sau.

Long Sơn huyện lúc này là một khu dân cư đặc biệt. Cư dân đều là gia đình những người làm việc trong Xưởng đóng thuyền của Giang Phong, phụ trách nghiên cứu, đóng mới thuyền hạm và cải trang, sửa chữa những thuyền hạm chiến lợi phẩm. Xưởng đóng thuyền này ban đầu được xây dựng ở đảo Hải Tân, sau đó di dời sang An Phú Thành, và lúc này lại di dời đến đây.

Hôm nay, Giang Phong ra thị sát Xưởng đóng thuyền ở Long Sơn, tháp tùng có lão Quảng Tế Pháp sư và Hải quân bộ bộ trưởng Đinh An Bình. Tổng quản Công xưởng là Phạm Phú Chính, một nghệ nhân đóng thuyền giỏi của Đại Việt đã từng theo Giang Phong từ thời ở Hải Tân, đưa Giang Phong ra thị sát các khu vực đóng thuyền hạm. Ở đó lúc này có hàng trăm người đang hì hục làm việc. Trong khu vịnh sát công xưởng hiện đang neo đậu hàng trăm thuyền hạm. Phạm Phú Chính đưa tay chỉ ra vịnh nói :

- Đại nhân. Đó chính là số thuyền hạm chiến lợi phẩm mà Đại nhân đã cho đưa đến hôm trước.

Hơn ba trăm chiến hạm cỡ lớn neo đậu san sát trong vịnh, quang cảnh tráng quán vô cùng. Nhưng Giang Phong chỉ nhìn qua một lượt, rồi nói với vẻ không hài lòng :

- Chẳng phải nói có hơn 60 bảo thuyền rất lớn hay sao. Sao giờ không thấy chiếc nào cả ?

Theo báo cáo trước đây, đoàn thuyền của Trịnh Hòa có 63 chiếc bảo thuyền, lớn hơn mã thuyền rất nhiều. Nhưng Giang Phong chẳng thấy có chiếc thuyền nào đặc biệt lớn so với mã thuyền cả. Theo ‘Doanh nhai thắng lãm’ (viết năm 1451), Trịnh Hòa hàng hải bảo thuyền có 63 chiếc, là loại thuyền lớn nhất thời bấy giờ, tính ra dài 151,18 mét, rộng khoảng 61,6 đến 75 mét. Trên thuyền có 9 cột buồm, treo 12 buồm mành. Mỏ neo nặng mấy nghìn cân. Cần sử dụng 200 thủy thủ mới có thể hoạt động, có thể chở nghìn người.

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Hồi bẩm Đại nhân. Bảo thuyền được mô tả trong báo cáo trước đây là loại thuyền mà Minh triều sử dụng trong lễ khởi hàng của Trịnh Hòa. Theo thông tin mới nhất, loại thuyền đó tuy lớn, nhưng không chịu được sóng gió, chỉ có thể sử dụng trong sông hồ chứ không ra biển được. Minh triều chỉ mang ra lòe người mà thôi. Bảo thuyền ở đây cũng có 9 cột buồm, 12 buồm, nhưng chỉ lớn hơn mã thuyền chút ít.

(chú : các tư liệu của Tàu mô tả bảo thuyền như sau : “Bảo thuyền tòng Long Giang quan xuất thủy, cư cân tùy Trịnh Hòa hạ tây dương đích phiên dịch quan Mã Hoan sở trứ ‘Doanh nhai thắng lãm’ (1451 niên định cảo ) ký lục : Trịnh Hòa hàng hải bảo thuyền cộng 63 tao, tối đại đích trường 44 trượng 4 xích, khoan 18 trượng, thị đương thì thế giới thượng tối đại đích hải thuyền, chiết hợp hiện kim trường độ vi 151,18 mễ, khoan 61,6 mễ, khoan 75 mễ; thuyền thượng 9 ngôi khả quải 12 trương phàm, miêu trọng hữu kỉ thiên cân, yếu động dụng nhị bách nhân tài năng khải hàng, nhất tao thuyền khả dung nạp hữu thiên nhân”. Luận thuyết bảo thuyền này không thể xuất hải cũng là do một số nhà nghiên cứu người Tàu thời hiện đại đưa ra, được các nhà nghiên cứu Âu Mỹ ủng hộ, bởi theo bản vẽ thiết kế còn lưu lại, sườn thuyền bằng gỗ nếu đóng lớn như thế sẽ không đủ vững chắc để chịu đựng sóng gió khi đi biển).

Giang Phong quan sát một lúc, cũng đã nhìn thấy bảo thuyền mà Quảng Tế Pháp sư nói đến. Nếu như nó không neo đậu gần mã thuyền, Giang Phong thật sự không phát hiện nó lớn hơn mã thuyền chút nào, tuy có lớn hơn thật, nhưng chỉ lớn hơn có chút ít. Giang Phong lắc đầu thất vọng, quay sang hỏi Phạm Phú Chính :

- Cải trang hết toàn bộ mất khoảng bao lâu ?

Phạm Phú Chính cung kính đáp :

- Hồi bẩm Đại nhân. Nếu không để ảnh hưởng đến các kế hoạch hiện tại của công xưởng, thì phải mất khoảng từ 6 đến 8 tháng mới có thể cải trang hoàn tất.

Giang Phong gật đầu nói :

- Như thế cũng được. Dù sao thì 2 vạn tân binh mới tuyển cũng chưa huấn luyện xong.

Trong số những người ở đây, chỉ có Hải quân bộ bộ trưởng Đinh An Bình là hứng khởi hơn cả. Nhìn mấy trăm chiến hạm trong vịnh, gã cười mãi không ngậm miệng lại được. Gã nghe nhắc đến tân binh, buộc miệng hỏi :

- Đại nhân. Số chiến hạm này sẽ giao hết cho các Hạm đội ?

Giang Phong mỉm cười hỏi lại :

- Sao ? Ngươi không muốn nhận ư ?

Đinh An Bình vội lắc đầu lia lịa, nói :

- Không … không … Đương nhiên là phải nhận chứ.

Giang Phong nói :

- Số chiến hạm này sẽ giao cho Hải quân bộ. Đến lúc đó các Hạm đội cũng phải tổ chức lại. Tạm thời thành lập 3 Hạm đội. Nam Dương Hạm đội, gồm khoảng 50 chiến hạm, 1 vạn quân, phụ trách kiểm soát hải phận Nam Dương. Tây Dương Hạm đội, gồm khoảng 100 chiến hạm, 1 vạn rưỡi quân, phụ trách khu vực hải phận nam Thiên Trúc. Bắc Dương Hạm đội, gồm số chiến hạm và số quân còn lại, phụ trách khu vực hải phận bắc Lã Tống.

Đinh An Bình cung kính vâng dạ. Có được số chiến hạm này, thực lực của các Hạm đội sẽ tăng rất nhiều. Xem xét một lúc nữa, Phạm Phú Chính lại đưa bọn Giang Phong đi tham quan nơi đóng thuyền hạm. Nhìn chiến hạm đã được đóng xong, đang nằm trong âu thuyền chờ trang hoàng nội thất và bố trí vũ khí, Đinh An Bình trợn tròn mắt, kinh hãi không sao kể siết, lắp bắp nói :

- Đây … đây là chiến hạm mới hay sao ?

Phạm Phú Chính cười nói :

- Đương nhiên là chiến hạm mới rồi. Đóng theo mệnh lệnh của Đại nhân đấy.

Đinh An Bình lo lắng hỏi :

- Nó có thể đi trên biển được không ?

Gã lo lắng như vậy cũng không phải là vô lý. Tấm gương bảo thuyền vẫn còn rành rành ra đó. Mà chiến hạm mới này còn lớn hơn nữa, dài 50 trượng (tức 200 mét), rộng 18 trượng (tức 72 mét), so với bảo thuyền còn lớn hơn nhiều. Phạm Phú Chính cười nói :

- Đương nhiên không vấn đề. Chiến hạm này được đóng gần một năm mới xong, sườn thuyền bằng gỗ, có dùng thép gia cố thêm, đã từng đi thử từ đây đến An Phú, rất vững chãi.

Đinh An Bình cả mừng hỏi :

- Chiến hạm này khi nào mới sử dụng được ? Và khi nào mới có thể đại quy mô trang bị cho các Hạm đội ?

Phạm Phú Chính nói :

- Giờ chỉ còn chờ Xưởng quân khí chuyển thần công đại pháo sang nữa là xong. Còn khi nào mới có thể đại quy mô trang bị cho các Hạm đội, còn chờ thánh ý của Đại nhân. Nhưng hiện tại năng lực của công xưởng cũng chỉ có thể đóng được 4 chiến hạm loại này mỗi năm.

Đinh An Bình lập tức nhìn Giang Phong đầy kỳ vọng. Giang Phong khẽ cau mày, suy nghĩ.

gianghoaingoc
23-09-2010, 01:21 AM
Chương 31 : XUẤT QUÂN MÃ LAI – TÂN THÀNH HUYỆN


Long Sơn huyện. Giang Phong cùng Quảng Tế Pháp sư và Đinh An Bình đi thị sát Xưởng đóng thuyền ở đây. Khi nhìn thấy chiến hạm mới được đóng, Đinh An Bình vô cùng hưng phấn, kỳ vọng Giang Phong cho đại quy mô trang bị cho các Hạm đội. Giang Phong cau mày suy nghĩ giây lát, rồi hỏi Tổng quản Xưởng đóng thuyền Phạm Phú Chính :

- Tốc độ chiến hạm này có thể đạt đến bao nhiêu ?

Phạm Phú Chính cung kính đáp :

- Hồi bẩm Đại nhân. Chiến hạm sử dụng bánh xe đẩy nước thay cho mái chèo, tốc độ rất khả quan, lại hoạt động ổn định. Nếu 12 bánh xe và 12 cột buồm cùng lúc sử dụng, chiến hạm có thể đạt từ 50 đến 60 dặm một canh giờ. Khi thuận gió sẽ nhanh hơn, còn ngược gió sẽ chậm hơn một chút.

Tốc độ 50 – 60 dặm một canh giờ, tức 10 – 12 kilômét mỗi giờ, như thế là cũng đã khá nhanh so với tình hình thuyền bè đương thời. Nên biết, theo các tư liệu của người Tàu, Trịnh Hòa từ Minh triều kinh đô Kim Lăng (tức Nam Kinh, Giang Tô) khởi hàng vào ngày rằm tháng 6, lần mò trên biển đến hơn 1 năm, đến tận ngày 30 tháng 6 năm sau mới đến được Java. Mà khoảng cách từ Nam Kinh đến Java, theo đường thẳng chỉ có khoảng 4.500 kilômét, mà nếu đi men theo bờ biển thì cũng chỉ vào khoảng 7, 8 nghìn. Thuyền bè của Minh triều lớn thì có lớn thật, nhưng tốc độ thì … hết nói. Họ lại sử dụng buồm mành, không sử dụng vải mà dùng mành ghép bằng những thanh tre, trúc làm buồm. Theo Ibn Battuta (một học giả và là nhà du hành nổi tiếng người Ma Rốc, với các chuyến du hành gọi là ‘Rihla’ trong suốt hơn 30 năm, được coi là một trong những nhà du hành vĩ đại nhất, ‘the greatest travellers’, ngang hàng với Marco Polo, nhưng ông đi đường biển, còn Marco Polo đi đường bộ), người đã đến Trung Quốc vào năm 1347 thì : “Các tàu thuyền Trung Quốc có ba loại : loại thuyền lớn được gọi là thuyền mành, loại trung bình gọi là thuyền buồm và loại nhỏ là kakam (?, không dịch được). Loại lớn có thể có từ 3 đến 12 buồm, được làm từ các thanh tre gắn kết lại như cái mành. Chúng không bao giờ bị hạ xuống, nhưng xoay theo hướng gió; khi bỏ neo thì chúng được thả để tự do xoay theo gió. (…) Một thuyền có thể chở tới cả ngàn người, sáu trăm người trong số đó là các thủy thủ và bốn trăm người được trang bị vũ khí, bao gồm các cung thủ, những người mang mộc và nỏ để bắn các loại tên có lửa.”

Giang Phong không ưa kiểu buồm mành đó, nên các chiến thuyền chiến lợi phẩm đều phải cải trang, sửa chữa lại. Còn đối với bọn Đinh An Bình, chiến thuyền của Minh triều quá yếu ớt, không thể không sửa chữa. Bọn họ đã quen sử dụng thần công đại pháo để chiến đấu, nên trên thuyền chỉ trang bị mộc, nỏ, tên lửa (mũi tên có gắn vật dễ cháy, có thể đốt lửa), trong mắt bọn họ là quá yếu ớt. Nói về thần công đại pháo, người Tàu tôn xưng Hồ Nguyên Trừng (con thứ của Hồ Quý Ly) là ông tổ của súng thần công, nhưng thật ra Hồ Nguyên Trừng chỉ cải tiến súng thần công, còn trước đó nhà Trần đã từng sử dụng súng thần công trong chiến tranh rồi. Sử sách chép rằng, trong khi chống Chiêm Thành, Trần Khát Chân đã phục kích quân Chiêm, dùng súng lớn bắn các chiến thuyền của giặc, vua Chiêm là Chế Bồng Nga trúng đạn chết. Không biết ai là người đầu tiên chế súng thần công ở Đại Việt, nhưng ít nhất là vào thời Trần, quân đội Đại Việt đã sử dụng súng thần công. Còn đến thời Hồ, quân Việt đã có súng lớn do voi mang, súng vừa hai người khiêng và súng nhỏ do một người vác trên vai. Hồ Quý Ly còn cho đúc rất nhiều để chống quân Minh. Chỉ tiếc họ Hồ làm nhiều việc mất lòng dân nên mới thất bại.

Lại nói về Giang Phong, sau khi kiểm tra nội thất tân chiến hạm, Giang Phong hài lòng phán :

- Chiến hạm loại này hãy gọi là Thất Tinh cấp chiến hạm, các Hạm đội sẽ sử dụng làm chủ chiến hạm. Tuần hạm cải thành tuần dương hạm. Vận hạm cải thành đại hình chiến thuyền, quân hạm cải thành trung hình chiến thuyền, chiến hạm cải thành tiểu hình chiến thuyền.

Theo quy định mới này, chỉ từ cấp độ tuần dương hạm trở lên mới được gọi là hạm, còn lại đều là chiến thuyền. Mặc dù nhiều chiến thuyền đã có tải trọng hàng nghìn tấn, lớn hơn nhiều loại chiến hạm thời cận đại. Giang Phong lại bảo Phạm Phú Chính :

- Mở rộng công xưởng sao cho có thể đồng thời đóng 10 chiến hạm. Tập trung nghiên cứu gia tăng tốc độ các chiến hạm. Tổ chức nghiên cứu Lục Tinh cấp chiến hạm. Cần gì cứ thông báo với Chính vụ bộ.

Thị sát xong hết, Giang Phong tạm hài lòng đối với các thành tựu của Xưởng đóng thuyền. Sau khi dặn bảo bọn Phạm Phú Chính những vấn đề cần ưu tiên, Giang Phong cùng Quảng Tế Pháp sư trở về Trường Thanh Cung. Đinh An Bình ở lại lo nhận thuyền hạm và tổ chức lại các Hạm đội. Thật ra mục đích chính của gã khi ở lại đây là muốn đốc thúc Phạm Phú Chính sớm mở rộng công xưởng, để Hải quân của gã sớm nhận được các Thất Tinh cấp chiến hạm.

Trong lúc đó, Giang Phong lại truyền lệnh cho Triệu Phong cất quân tiến chiếm khu vực bán đảo Mã Lai để có thể kiểm soát eo biển Malacca, vốn vẫn được tôn xưng là ‘Hoàng kim hải đạo’, mọi giao thương giữa phương đông và phương tây đều phải đi qua eo biển này.

Triệu Phong dòng dõi tướng gia, tính hiếu chiến đã ăn sâu vào huyết quản. Vừa được lệnh xuất chinh, gã liền liên hệ Hải quân bộ điều động đại lượng thuyền hạm vận chuyển 3 vạn Định Hải quân đến eo biển Malacca. Do Đinh An Bình bận tọa trấn ở Long Sơn, chiến dịch này thủy bộ lưỡng đạo đều do Triệu Phong một mình chỉ huy.

Đến eo biển Malacca, Triệu Phong không cho quân đổ bộ lên bán đảo tiến hành chinh chiến ngay, mà lại đổ bộ lên một hòn đảo ở cuối bán đảo do Giang Phong chỉ định, xây dựng căn cứ ở đó. Bán đảo Mã Lai cách xa Gia Định, hậu cầu cung ứng tốn nhiều thời gian, do đó cần có một căn cứ ngay tại chỗ để tích trữ lương thực vật tư phục vụ cho chiến tranh. Hòn đảo đó, đối với bọn Triệu Phong chỉ là một hòn đảo vô danh, nhưng đối với Giang Phong thì có ấn tượng rất sâu sắc, bởi đó chính là đảo Singapore. Thạch nê, sắt thép, gạch đá đổ lên đó, nhanh chóng xây dựng lên một tòa tiểu thành, được Giang Phong đặt tên là Tân Thành. Nơi này nằm cuối bán đảo Mã Lai, ở giữa eo biển giữa bán đảo với đảo Sumatra, đặt căn cứ hải quân tại đây sẽ có thể kiểm soát được cả eo biển, kiểm soát được ‘Hoàng kim hải đạo’. Cuối mùa xuân năm Bính Tuất (1406), tức 2 năm sau khi thành Malacca thành lập, Tân Thành huyện cũng được thiết lập.

Sau gần hai tháng khẩn trương thi công, Tân Thành cơ bản đã được kiến thiết hoàn tất. Do hiện tại chỉ sử dụng cho mục đích quân sự, Tân Thành chỉ có một vòng thành và vài kiến trúc quan trọng bên trong, còn phố xá và các khu dân cư chưa có, sau này sẽ từ từ xây dựng thêm. Bên trong thành có rất nhiều kho chứa lương thực vật tư. Triệu Phong cũng đặt đại bản doanh tại đấy. Giờ đây đã là bộ trưởng Lục quân bộ, dù có hiếu chiến, gã cũng không thể đích thân ra tiền tuyến xung phong hãm trận như trước kia nữa. Thân là thống soái, phải tập ngồi trong màn trướng mà định việc chiến trường. Gã quyết tâm học tập Giang Phong. Giang Phong ngồi ở Trường Thanh Cung mà định việc thiên hạ.

Khi đã đảm bảo được hậu cần, Định Hải quân để lại 3.000 quân trấn giữ Tân Thành. Số còn lại đều hướng đến Malacca. Tân Thành nằm trên một hòn đảo, chỉ cần 3.000 quân phối hợp với Hạm đội là đủ sức phòng thủ.

Malacca là một thành thị nằm ngay bên bờ biển, là chiến trường lý tưởng cho các hạm thuyền của Hải quân. Tiểu quốc Malacca cũng chỉ mới được thành lập 2 năm, căn cơ chưa vững. Do đó bọn Triệu Phong tấn công mà không gặp nhiều khó khăn.

Các chiến hạm đến ngoài khơi Malacca thì dàn ra dọc theo bờ biển. Đây là phong cách tác chiến quen thuộc của Hạm đội. Hiệu lệnh truyền ra, hiệu kỳ phất phới, các khẩu thần công trên các chiến hạm luân phiên phát xạ. Sau nhiều trận chiến, Hải quân đã rút ra được nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Trong số đó, khi pháo kích, bọn họ sẽ không đồng loạt phát xạ mà chia làm 3 phiên, luân phiên xạ kích. Có như thế, địch quân sẽ thấy đạn pháo bắn tới không ngừng, đạn bay đầy trời, liên miên bất tuyệt. Bọn họ cũng sẽ phải liên tục tránh né đạn pháo, không có thời gian tổ chức phòng ngự.

Gần nghìn khẩu thần công liên tục phát xạ, oanh kích thành Malacca suốt hơn một canh giờ, đến nỗi nòng pháo nóng ran. Trong khi đó, trong thành Malacca, tiếng kêu la vang trời dậy đất, thê thảm vô cùng. Khu vực tường thành hướng ra bờ biển đã bị đạn pháo bắn sụp một đoạn lớn. Nhiều kiến trúc trong thành cũng bị đạn pháo bắn sập. Trong thành khói lửa mịt trời, tiếng kêu la dậy đất. Tiểu vương Malacca cố gắng chỉ huy thủ quân lập lại trật tự trong thành, còn việc phản kích, tạm thời bọn họ chưa nghĩ đến, bởi đối phương đang ở trên thuyền ngoài biển, thủ quân sử dụng cung tên có bắn ra cũng chẳng thể nào bắn đi đến khoảng cách mấy dặm được.

gianghoaingoc
24-09-2010, 05:32 AM
Chương 32 : CHIẾM LĨNH MALACCA THÀNH


Lại nói, gần nghìn khẩu thần công liên tục phát xạ, oanh kích suốt hơn một canh giờ, làm cho thành Malacca bị phá hủy nặng nề. Khu vực tường thành hướng ra bờ biển đã bị đạn pháo bắn sụp một đoạn lớn. Nhiều kiến trúc trong thành cũng bị đạn pháo bắn sập. Trong thành khói lửa mịt trời, cư dân hỗn loạn, tiếng kêu khóc rền rĩ ồn ào.

Trước tình hình đó, tiểu vương Malacca cố gắng chỉ huy thủ quân lập lại trật tự trong thành, đồng thời lo bố trí phòng ngự, đề phòng đối phương đổ bộ tấn công. Quân đội của tiểu quốc Malacca chỉ được trang bị cung tên, đối phương lại ở trên thuyền ngoài biển, bọn họ có muốn phản kích cũng lực bất tòng tâm.

Oanh kích hơn một canh giờ, thấy các nòng pháo đều đã nóng ran, Triệu Phong truyền lệnh xạ thủ tạm thời ngừng phát xạ, làm mát các nòng pháo. Thần công đại pháo mỗi khi sử dụng đều phải như vậy, nếu nòng pháo nóng quá mà vẫn bắn tiếp, có thể làm nổ nòng pháo, dẫn đến thương vong. Trong khi đó, Định Hải quân cũng được lệnh chuẩn bị.

Nghỉ ngơi khoảng nửa canh giờ, thần công đại pháo đã trở lại trạng thái bình thường, các xạ thủ được lệnh vào vị trí, Định Hải quân được lệnh lần lượt đổ bộ lên bờ. Vị trí đổ bộ là đoạn bờ biển hướng thẳng vào khu vực thành tường vừa bị phá hủy khi nãy.

Thấy Định Hải quân đổ bộ, thủ quân bên trong thành cũng dàn trận chuẩn bị tiến ra. Tiểu vương Malacca định cho quân tiến đánh lúc đối phương mới chỉ đổ bộ được một phần. Đó là thời cơ tốt nhất nếu chiếu theo lẽ thường. Có điều đáng tiếc là quân đội của Triệu Phong không thể tính theo lẽ thường được.

Thấy thủ quân dàn trận tạo thành mục tiêu quá nổi bật, Triệu Phong truyền lệnh xạ thủ khai pháo. Gần nghìn khẩu thần công trên các chiến thuyền lại hướng về trận hình của thủ quân mà nhả đạn. Tuy ‘khai hoa đạn’ chưa được nghiên cứu thành công, đạn của thần công đại pháo lúc này vẫn là những viên sắt tròn nặng. Nhưng một viên đạn nặng gần chục cân (1 cân = 600 gam), bắn trúng ai cũng chết người đó, đôi khi dư lực còn có thể làm vài người phía sau thương vong. Mỗi lượt phát xạ, gần nghìn viên đạn pháo rải xuống đầu thủ quân, cũng làm cho khoảng nghìn người thương vong. Sau vài lượt phơi mình dưới làn đạn pháo, bọn họ không chịu nổi nữa, bỏ mặc đội hình, mạnh ai nấy chạy đi tìm nơi ẩn nấp. Cả các tướng lĩnh cũng đành chịu, không ước thúc được quân sĩ. Quân đội của tiểu quốc Malacca cũng chỉ hơn vạn, nãy giờ chưa hề giao chiến mà đã tổn thất ước một phần ba, sĩ khí giảm đi rất nhiều, quân sĩ chẳng mấy ai còn có lòng dạ chiến đấu với địch nhân ‘rất’ lợi hại kia.

Định Hải quân đã đổ bộ hoàn tất, Triệu Phong truyền lệnh xạ thủ trên thuyền tạm ngừng oanh kích, thay vào đó là những khẩu thần công cỡ nhỏ của Định Hải quân khai pháo mở đường tiến vào trong thành. Giờ đây, Xưởng quân khí của Giang Phong đã dựa theo cải tiến của Hồ Nguyên Trừng, chế ra nhiều loại thần công cỡ vừa và cỡ nhỏ, gắn trên bánh xe để bộ binh có thể kéo đi các nơi tham gia tác chiến (Hồ Nguyên Trừng chế súng thần công cỡ vừa hai người khiêng, cỡ nhỏ một người vác vai; Giang Phong không thích như vậy mà bắt gắn bánh xe cho các khẩu pháo). Định Hải quân được trang bị khá nhiều loại này. Lã Tống có rất nhiều mỏ đồng, bọn Giang Phong không hề thiếu đồng để đúc thần công đại pháo.

Nhờ có thần công mở đường, Định Hải quân thuận lợi tiến vào trong thành. Tiểu vương Malacca thống suất quân đội ngoan cường chống cự một thời gian, nhưng rồi vì sức yếu thế cô, đành dẫn tàn quân bỏ thành rút lui về hướng đông bắc. Ở nơi đó tiểu quốc vẫn còn một vài tòa thành nữa. Bọn họ sẽ về đó tụ tập quân đội, mưu đồ khôi phục. Chứ lúc này bên cạnh tiểu vương chỉ còn lại hơn năm nghìn tàn quân, không thể nào đương cự nổi với 2 vạn 7.000 Định Hải quân. Triệu Phong đã có thần công đại pháo, lại còn ỷ chúng hiếp cô, quân đội Malacca không bại sao được.

Chiếm được Malacca, Triệu Phong đích thân vào thành an phủ dân chúng. Mọi người dân đều được bảo toàn tài sản, chỉ trừ những kẻ bất hợp tác mới bị bắt giữ. Đương nhiên kho tàng của tiểu vương cũng như tài sản của quan lại tướng lĩnh tiểu quốc đều bị tịch biên, sung công. Việc này, bọn Triệu Phong rất thông thạo.

Triệu Phong chỉ cho lưu lại 5.000 quân phòng thủ thành Malacca, hơn 2 vạn Định Hải quân còn lại tiếp tục lên đường chinh phạt các thành thị và tiểu quốc lân cận. Bọn Triệu Phong chỉ chiêu an các bộ lạc, còn đối với tiểu quốc thì đều tiến quân chiếm lĩnh. Bộ lạc thường chỉ là các thôn làng, có thể để cho tù trưởng tiếp tục cai quản. Nhưng tiểu quốc tối thiểu đã là cấp huyện, nhiều tiểu quốc lớn còn tương đương với cấp quận, thậm chí cấp tỉnh, phải do triều đình ở Gia Định Thành trực tiếp phái quan viên cai quản. Giang Phong muốn lãnh thổ phải được thống nhất hoàn toàn, không thể để cho địa phương thế lực tồn tại, sau này lại bày ra chuyện ly khai.

Sau gần nửa tháng, Triệu Phong đã ổn định được Malacca thành và các vùng phụ cận. Giang Phong cho chuyển đến đó Trấn Biên nhất sư để phụ trách phòng thủ Tân Thành, Malacca thành và các thành trấn phụ cận. Định Hải quân lấy thêm quân bổ sung cho số binh sĩ thương vong để đủ biên chế 3 vạn, tiếp tục chinh phạt các xứ trên bán đảo. Các xứ phía nam bán đảo dưới sự uy hiếp của Định Hải quân và Hạm đội, hầu như đều quy thuận. Chỉ có vùng phía bắc dưới sự lãnh đạo của tiểu vương Malacca tiếp tục kháng cự. Toàn vùng ngập tràn trong khói lửa chiến tranh.

Dù tiểu vương Malacca ngoan cường kháng cự, nhưng bước tiến của Định Hải quân cũng không hề chậm chút nào. Tiểu vương Malacca nguyên là vương tử ở Sumatra, chạy lên bán đảo Mã Lai chiếm đất xây thành, lập nên tiểu quốc mới được vài năm, căn cơ chưa ổn định, lòng dân chưa quy thuận, nên quân đội Malacca hết bại lại bại, bị đuổi dồn về phía bắc. Do chính sách của Giang Phong đối dân chúng khá nhẹ nhàng (chỉ nghiêm khắc đối với quý tộc và những kẻ bất hợp tác), nên được lòng dân bản địa hơn tiểu vương Malacca. Đối với dân bản địa, cả bọn Triệu Phong và tiểu vương Malacca đều là người ngoài, khi lựa chọn một trong hai, dân bản địa đều chọn đi theo bọn Triệu Phong. Không chỉ có thế, đa số quân binh có gốc bản địa trong quân đội của tiểu vương Malacca cũng chuyển sang quy thuận Định Hải quân, làm cho quân đội của tiểu vương Malacca ngày càng ít đi. Cuối cùng, sau hơn nửa năm ngoan cường chống cự, tiểu vương Malacca dẫn tàn quân hơn nghìn người chạy lên xứ Thái, lúc này là lãnh thổ của vương quốc Ayutthaya, được quốc vương xứ này thu nạp. Vương quốc Ayutthaya lúc này đang có chiến tranh với Đế quốc Khmer suy tàn, nên tiểu vương Malacca được phái sang trấn giữ biên cương phía đông, với lời hứa rằng nếu chiếm được đất đai của người Khmer sẽ giao cho tiểu vương Malacca cai trị.

Triệu Phong ổn định xong các xứ trên bán đảo Mã Lai, liền quay về đại bản doanh ở Tân Thành luyện binh, đồ mưu đảo Sumatra phía bên kia eo biển. Công việc ở bán đảo Mã Lai lúc này được chuyển giao lại cho Chính vụ bộ. Triệu Phong thuộc quân bộ, chỉ lo việc chinh phạt mà thôi. Quảng Tế Pháp sư sau khi xin ý kiến của Giang Phong, đã chia bán đảo Mã Lai thành 4 tỉnh. Phần phía nam gọi là tỉnh Cát Long Pha, gồm 6 quận : Tân Thành (sau khi di dân đến, thăng lên thành quận), Malacca, Cát Long Pha (tên Hán tự của Kuala Lumpur), Nam Ba, Quan Đan, Lân Nghi. Phía bắc tỉnh Cát Long Pha là tỉnh Cát Lan Đan (tên Hán tự của Kelantan), cũng gồm 6 quận. Dải đất hẹp phía trên, kéo dài cho đến xứ Thái được chia thành 2 tỉnh là Tân Ân (tức vùng Tanintharyi) và Tân Ý (tức xứ Pattani), mỗi tỉnh đều có 5 quận. Cả bốn tỉnh này mỗi tỉnh đều có diện tích gần 7 vạn kilômét vuông, cũng là những tỉnh lớn. Cát Long Pha và Cát Lan Đan cũng là những xứ đông dân. Chiếm xong bán đảo Mã Lai, tổng dân số các khu vực do Giang Phong kiểm soát đã tăng lên đến hơn 700 vạn người.

Tiếp đó, theo thông lệ là các cuộc di dân và kiến thiết thành thị. Các thành thị có sẵn thì được chỉnh trang lại theo phong cách mà Giang Phong ưa thích. Một số thành thị được hoàn toàn xây mới. Đặc biệt là Cát Long Pha, một thành thị được xây mới hoàn toàn bên cạnh một khu mỏ thiếc rộng lớn, trở thành thủ phủ của cả tỉnh. Giang Phong cần một lượng lớn thiếc để chế tạo các vật phẩm gia dụng. Thiết được sử dụng để mạ lên sắt thép, tạo thành thép không gỉ. Người xưa đã biết cách mạ kim loại, chẳng hạn như mạ vàng, mạ bạc, mạ đồng, … nên việc mạ thiếc cũng không đến nỗi khó khăn.

(chú : người thời xưa chưa biết cường thủy, hỗn hợp của acid sulfuric và acid clorhidric, khi mạ vàng đã mài vàng thành bột, hòa vào thủy ngân, rồi quét lên vật muốn mạ, sau đó làm nóng cho thủy ngân bay hơi).

gianghoaingoc
29-09-2010, 12:14 AM
Chương 33 : BỊ VÂY


Tân Thành.

Là quận trị của Tân Thành quận, lại nằm ngay giữa eo biển Malacca, tuyến đường biển quan trọng nối liền các nước phương đông với các nước phương tây mà mọi thương nhân buôn bán trên biển đều phải đi qua, vì thế mà Tân Thành đã phát triển rất nhanh, lại nhờ thay thế cho vai trò của Malacca thành trước đây mà trở thành một đại thành thị.

Tân Thành được chia thành hai khu vực rõ rệt. Khu đông thành là khu dân cư, khu thương mại, nơi cung cấp hàng hóa thiết yếu cho các thương thuyền xuôi ngược đông tây. Khu tây thành là khu quân sự, căn cứ của Định Hải quân và đại bản doanh của Triệu Phong. Sau khi chiếm lĩnh bán đảo Mã Lai, Triệu Phong đã không quay về Gia Định Thành mà ở lại đây luyện quân, chuẩn bị đồ mưu đảo Sumatra.

Đảo Sumatra ngày xưa là lãnh thổ của vương triều Srivijaya, gần đây mới bị vương triều Majapahit ở Java chiếm lĩnh. Theo ý nghĩ của Triệu Phong, muốn chiếm lĩnh nó cũng không có gì khó khăn, chỉ cần có thời cơ thích hợp. Định Hải quân đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ cần khi thời cơ đến là sẽ xuất quân.

Và cuối cùng thì thời cơ cũng đã đến.

Được tin báo có một tiểu vương trong xứ Sumatra nổi dậy chống lại sự cai trị của vương triều Majapahit, quân đội Java trú đóng trên đảo phải đưa quân đi đánh dẹp, Triệu Phong liền cho chiến hạm chở 2 vạn Định Hải quân vượt qua eo biển, đổ bộ lên bờ biển xứ Palembang, nơi từng là kinh đô của vương triều Srivijaya trước kia, nay vẫn là thành thị lớn nhất trên đảo. Từ đó, đại quân tiến về Palembang thành.

Palembang dù sao cũng từng là kinh đô của một vương triều hùng mạnh, nên thành cao hào sâu, quy mô rộng lớn, nếu thủ quân đông đảo, phòng thủ nghiêm ngặt thì cũng khó đánh chiếm. Có điều, do quân đội Majapahit phải xuất quân đánh dẹp quân khởi nghĩa, trong thành giờ chỉ còn lại khoảng 1 vạn quân. Khi thấy 2 vạn Định Hải quân kéo đến bên ngoài, bọn họ liền vội đóng cửa thành, cố thủ.

Định Hải quân cắm trại bên ngoài thành, tiếp đó là thần công đại pháo được kéo ra, liên tục pháo kích vào bên trong thành. Do thành Palembang nằm cạnh sông Musi, Định Hải quân nhận được tiếp tế dễ dàng từ Hạm đội, vì vậy mà bọn họ không hề tiếc đạn pháo, luân phiên pháo kích suốt ba ngày đêm. Nhất là vào ban đêm, thần công đại pháo xạ kích liên tục, khiến quân dân bên trong thành không thể nghỉ ngơi gì được, tinh thần và thể lực đều bị tiêu hao nghiêm trọng. Sau ba ngày, thủ quân tinh thần mỏi mệt, thể lực kiệt quệ, chịu đựng không nổi nữa, Định Hải quân chỉ phát động một trận tấn công là quân đội Majapahit đã bỏ thành mà chạy. Định Hải quân chiếm lĩnh Palembang thành.

Trước giờ thường chiến thắng dễ dàng trước các đối thủ khiến các tướng lĩnh của Định Hải quân có phần khinh địch. Trong quá trình công thành lại không gặp trở ngại gì đáng kể. Do đó mà từ quân đến tướng dần dần trở nên mất cảnh giác.

Nghỉ ngơi trong thành mấy ngày, Định Hải nhất sư Hiệu úy Đoàn Thịnh và Định Hải nhị sư Hiệu úy Vương Duy bàn nhau cất quân đi bình định các vùng lân cận. Sau một hồi tranh nhau, cuối cùng Định Hải nhất sư ở lại thủ thành, Định Hải nhị sư xuất chinh. Bọn họ thỏa thuận sau 10 ngày sẽ đổi phiên một lần. Thế là Hiệu úy Vương Duy dẫn bản bộ xuất chinh.

Ba ngày sau. Làng Sukajadi.

Đó là một ngôi làng nhỏ ở phía tây Palembang thành, là một địa danh ít ai để ý tới. Nhưng kể từ lúc này, nó đã trở nên nổi tiếng, bởi đã trở thành chiến trường giữa Định Hải nhị sư và quân đội của Majapahit ở Java. Trưa nay, song phương 4 vạn nhân mã gặp nhau bên ngoài làng Sukajadi này. Cả song phương cách nhau ngôi làng, dàn trận sẵn sàng quyết chiến.

Thế nhưng, lúc này đang giữa trưa, song phương không hẹn mà đồng thời tạm đình chiến, cho quân sĩ nghỉ ngơi và ăn bữa trưa. Đến khi trời đã bớt nắng, các tướng lĩnh của song phương mới chỉnh đốn quân đội, chuẩn bị chiến đấu.

Định Hải nhị sư chỉ có một vạn, nên chỉ dàn trận chứ không tiến quân, đứng yên tại chỗ chờ đối phương tiến tới. Sau một lúc, khi quân Majapahit đã tiến đến trước bản trận ước chừng năm dặm, Vương Duy mới hạ lệnh :

- Thần công đại pháo, chuẩn bị.

Các xạ thủ lập tức chuẩn bị sẵn sàng. Khi địch quân tiến đến cách khoảng bốn dặm, Vương Duy lại hạ lệnh :

- Phát xạ.

Mệnh lệnh truyền xuống, 100 khẩu thần công cỡ nhỏ đồng loạt phát xạ. Tuy mỗi viên đạn pháo đều trúng đích, nhưng mỗi lần phát xạ chỉ giết được hơn trăm địch quân, giữa đội ngũ 3 vạn người, hiệu quả thật chẳng đáng kể gì. Đến lúc này, bọn Vương Duy mới nhận ra thần công đại pháo chẳng phải là vô địch. Nhất là trong lúc dã chiến, mà địch quân quá đông như thế này.

Sau 10 lượt pháo kích, quân đội Majapahit đã vượt qua khoảng cách giữa song phương, tràn đến trước đội hình Định Hải nhị sư, khiến cho thần công đại pháo không thể tiếp tục khai hỏa, cái giá phải trả chỉ là gần 1.000 binh sĩ thương vong.

Song phương bắt đầu hỗn chiến.

Định Hải nhị sư là quân tinh nhuệ, trang bị tinh lương, chiến lực rất hùng mạnh. Nhưng quân đội Majapahit lại rất đông đảo. Dùng 3 đánh 1, cũng khiến binh sĩ của Định Hải nhị sư gặp rất nhiều khó khăn, hãm nhập khổ chiến. Chiến trường vang dội những tiếng chém giết, hò reo, quát tháo, kêu gào. Song phương thương vong vô số. Trận chiến cực kỳ khốc liệt.

Song phương kịch chiến đến tối. Khi đêm xuống, không thấy đường chiến đấu nữa thì mới thu quân, ai về trại nấy nghỉ ngơi, chờ sáng mai sẽ lại quyết chiến.

Về đến trại, kiểm điểm quân số, bọn Vương Duy thất kinh khi phát hiện binh sĩ thương vong hơn nửa, hơn 2 nghìn tử trận, cận 3 nghìn mang thương, chỉ còn lại chưa đến 5 nghìn là còn có thể chiến đấu. Nghĩ đến cuộc chiến ngày mai, đối diện địch quân đông đảo, e rằng lành ít dữ nhiều, cả bọn liền quyết định rút lui ngay trong đêm, lặng lẽ rút về thành Palembang.

Nói về phía quân đội Majapahit, sau khi rút lui về trại cũng kiểm điểm lại quân số, và cũng thất kinh khi phát hiện bản quân thương vong thảm trọng. Ngoài hơn 8.000 quân tử trận, còn có hơn vạn thọ thương, chỉ chiến đấu có nửa ngày mà bọn họ đã thiệt hại gần 2 vạn quân. Giờ đây chỉ còn lại hơn 1 vạn quân còn đủ năng lực chiến đấu. Nghĩ đến chiến lực của đối phương, cả bọn đều rất lo lắng. Dụng 3 vạn đối chiến 1 vạn, mà còn thương vong như thế, đủ thấy đối phương thiện chiến đến mức nào. Viên tướng chỉ huy quyết định tạm thời án binh bất động, đồng thời phái người đi trưng tập dân binh quanh vùng đến tiếp ứng.

Mấy ngày sau, vô số đội dân binh được điều đến nơi, tập họp thành đại quân. Nhìn gần 5 vạn đại quân tụ tập đông đảo, dù đại bộ phận là dân binh, nhưng viên tướng cũng cảm thấy vững lòng, truyền tiến quân. Không tìm thấy đạo quân đã cùng chiến đấu hôm trước, viên tướng liền kéo thẳng đến Palembang thành.

Trong thành, sau khi Vương Duy dẫn tàn binh trở về, bọn Đoàn Thịnh không còn dám khinh địch nữa, lập tức phái quân đi do thám các nơi trong vùng. Khi biết tin quân đội Majapahit hội họp đại quân kéo đến vây thành, quân số đối phương đến 5 vạn, bọn họ không dám xuất thành tiếp chiến, mà tăng cường phòng thủ, đồng thời phái người đến Tân Thành cầu viện.

Quân đội Majapahit kéo đến dưới thành, sau khi lập trại đóng quân, liền tổ chức công thành. Có điều, bọn họ đa số là dân binh mới được trưng tập, chiến lực không cao. Trong thành lại có nhiều thần công đại pháo, nên chỉ sau hai ngày công thành, phía Majapahit đã thương vong gần vạn mà không thể nào đặt chân lên được tường thành. Viên tướng chỉ huy chỉ còn cách chia quân bao vây tứ phía, đồng thời tiếp tục trưng tập dân binh, quyết định vây thành lâu dài cho đến khi đối phương hết sạch lương thực mới thôi.

Từ đó, mỗi ngày lại có thêm nhiều toán dân binh kéo đến gia nhập lực lượng vây thành. Bọn Đoàn Thịnh, Vương Duy càng không dám xuất thành, chỉ gắng sức cố thủ, chờ viện binh.

Tin tức truyền về Tân Thành, Triệu Phong cả kinh, một mặt điều tập quân đội đi cứu viện, mặt khác khẩn cấp báo cáo về Gia Định Thành. Hiện tại trong tay Triệu Phong chỉ còn lại 1 vạn Định Hải tam sư, cùng với 2 vạn dân binh, vốn là quân đội của tiểu quốc Malacca và các tiểu quốc khác trên bán đảo Mã Lai quy thuận. Bấy lâu nay Triệu Phong ở Tân Thành luyện quân chính là huấn luyện lực lượng này.

Trong lúc chờ đợi mệnh lệnh từ Gia Định Thành, Triệu Phong đã phái Định Hải tam sư sang Palembang tiếp viện bọn Đoàn Thịnh, Vương Duy. Định Hải tam sư được lệnh hoạt động dọc theo bờ sông Musi, dựa vào sự hỗ trợ của Hạm đội mà quấy nhiễu địch quân, tiêu hao dần sinh lực địch.

Khi Định Hải tam sư đổ bộ lên xứ Palembang, liền liên tục tấn công các đạo quân nhỏ của phía Majapahit. Nếu như gặp đại đội địch nhân, không thể chống cự nổi thì bọn họ lại rút lên các chiến hạm. Nhờ sự hoạt động của bọn họ, tình hình ở thành Palembang đỡ căng thẳng hơn. Tuy bị vây chặt, nhưng bọn Đoàn Thịnh vẫn còn cầm cự được, chờ viện binh.

gianghoaingoc
30-09-2010, 12:18 AM
Chương 34 : GIẢI VÂY PALEMBANG THÀNH


Ở Gia Định Thành, Giang Phong nhận được tin chiến sự từ Palembang, dù rất không vui vì bọn Triệu Phong hành sự lỗ mãng, nhưng cũng phái Cấm Vệ quân cùng Tây Dương Hạm đội mới thành lập tiến xuống Sumatra. Hải quân bộ bộ trưởng Đinh An Bình được giao thống lĩnh toàn quân.

Tây Dương Hạm đội có đến 100 thuyền hạm, nhiều gấp đôi Nam Dương Hạm đội. Tổng số thủy thủ và binh sĩ 1 vạn rưỡi, thần công đại pháo hơn 4.000 khẩu, là một lực lượng rất hùng hậu. Hạm đội đi về phía nam, đến Tân Thành thì ghé vào đó, lấy thêm 2 vạn dân binh ở chỗ Triệu Phong. Số quân này hợp cùng Cấm Vệ quân, được tổ chức lại, thành lập Thần Vũ quân. Cấm Vệ quân được phân vào các đội dân binh, nắm giữ các vị trí chỉ huy. Thần Vũ quân cũng gồm 3 sư, 3 vạn người.

Triệu Phong tuy không được giao chỉ huy trận này, nhưng cũng đi theo với danh nghĩa làm phó cho Đinh An Bình. Lần này chiến sự bất lợi, gã quyết tâm lấy lại cả vốn lẫn lời.

Chỉnh quân xong, Hạm đội lại rời Tân Thành, tiến về Sumatra, sau đó theo dòng Musi đến gần Palembang. Thần Vũ quân đổ bộ lên bờ, cùng Định Hải tam sư hội hợp. Theo thỏa thuận giữa Triệu Phong và Đinh An Bình, lục quân sẽ do Triệu Phong chỉ huy, còn Đinh An Bình ở lại Hạm đội, chỉ huy hải quân hỗ trợ lục quân tác chiến.

Lúc này, quân đội Majapahit đã tập hợp được một đội quân đông đảo, hơn 8 vạn người, trong đó có đến 7 vạn dân binh. Tuy khả năng tác chiến chưa cao, vũ khí cũng thô sơ, nhưng số lượng có thể bù cho chất lượng. Đại quân Majapahit vây chặt Palembang thành, đồng thời còn chiếm giữ các yếu địa. Từ khi bị Định Hải tam sư quấy nhiễu, quân Majapahit không đóng trại riêng lẻ nữa mà tập họp thành những doanh trại lớn, lại ở gần nhau cho dễ tiếp ứng. Hành động này của bọn họ có gây khó khăn cho Định Hải tam sư, nhưng lại tạo thuận lợi cho các Hạm đội Hải quân.

Tây Dương Hạm đội hội hợp cùng Tân Thành phân hạm đội của Nam Dương Hạm đội, tổng số lên đến 130 thuyền hạm, 5.000 khẩu pháo. Đinh An Bình cho các chiến thuyền, chiến hạm đi dọc theo bờ sông Musi, hễ gặp quân đội Majapahit là lập tức pháo kích. Các doanh trại lớn tập trung là mục tiêu rất rõ ràng. Thần công đại pháo tuy vẫn còn rất đơn giản, oai lực không cao, nhưng nếu tập hợp lại với số lượng lớn thì hiệu quả cũng rất đáng kể. Mỗi lượt có hàng nghìn viên đạn pháo bắn đi, đạn pháo bay đầy trời, cả một nửa bầu trời rực hồng, rồi hàng nghìn người đồng loạt tử trận, máu thịt tứ tung, tử trạng thê thảm, quang cảnh vô cùng khủng bố.

Sau vài lượt pháo kích, với hơn vạn thương vong, các doanh trại của quân Majapahit lần lượt tan vỡ. Dân binh vốn chỉ mới được chiêu tập, chưa được huấn luyện quân sự, kỷ luật lỏng lẻo, nên lúc này chạy nháo nhào hỗn loạn vô cùng. Gần 6 vạn dân binh tháo chạy tán loạn, xung tản đội ngũ của 1 vạn quân chính quy triều đình Majapahit, khiến cho tình hình càng thêm náo loạn.

Nhân cơ hội đó, Triệu Phong thống suất Định Hải tam sư và Thần Vũ quân đánh tràn vào. Với 4 vạn quân sinh lực hoàn hảo, vũ khí tinh lương, đối diện 7 vạn địch quân đang tháo chạy hỗn loạn, bọn Triệu Phong chỉ còn việc là truy sát, đồ sát. Các tướng lĩnh Majapahit cố gắng chỉ huy quân đội đề kháng. Nhưng 1 vạn chính quy quân hoàn toàn bị nhấn chìm giữa sự tấn công của Thần Vũ quân. Còn chúng dân binh thì mạnh ai nấy chạy, hiệu lệnh không truyền xuống được. Đó là hậu quả của việc sử dụng quá nhiều dân binh chưa qua huấn luyện quân sự. Kết quả, quân Majapahit đại bại. Bọn Triệu Phong sau khi tiêu diệt xong 1 vạn chính quy quân của Majapahit, liền chia nhau truy đuổi tàn binh, bắt tù binh. Bọn Đoàn Thịnh trong thành cũng kéo ra tham gia việc truy bắt.

Các cuộc vây bắt tàn quân Majapahit kéo dài đến năm ngày mới kết thúc. Các đạo quân đuổi theo ra xa hàng trăm dặm, bắt được hơn 4 vạn tù binh, trong khi bản thân thiệt hại không đáng kể. Tất cả tù binh đều được đưa về Lã Tống làm khổ công ở các mỏ quặng. Chiến lực của số dân binh này quá thấp, Triệu Phong cũng chẳng muốn tuyển chọn sung vào quân đội. Theo gã, thà rằng sang bán đảo Mã Lai chiêu mộ dân binh vẫn hơn.

Sau khi bàn bạc, việc bình định Sumatra do Triệu Phong đảm trách, còn Đinh An Bình sẽ đưa Hải quân đi cướp phá các vùng duyên hải thuộc vương triều Majapahit. Đảo Sumatra sau khi bị quân đội Majapahit chiêu tập 7 vạn dân binh, giờ đây các bộ lạc, các tiểu quốc rất thiếu thốn thanh niên trai tráng. Đây chính là thời cơ tốt nhất để chinh phục vùng này. Toàn bộ 3 vạn Thần Vũ quân và 2 vạn rưỡi Định Hải quân sẽ phụ trách chinh phục các xứ. Triệu Phong có 6 tháng để bổ sung quân số cho Định Hải quân và hoàn thiện Thần Vũ quân, bởi Cấm Vệ quân tạm sung cho Thần Vũ quân sau này sẽ được triệu hồi về Gia Định Thành.

Tin thắng trận truyền về Gia Định Thành, Giang Phong rất hài lòng, nhưng rồi lại nhận ra hậu quả nghiêm trọng của việc thiếu thốn quân đội. Hiện tại vùng quản hạt của Giang Phong rộng mênh mông, nhưng chỉ có 10 vạn lục quân, 5 vạn Hải quân, thật là quá ít. Đại Việt của Hồ Quý Ly lúc này chỉ rộng gấp đôi tỉnh Gia Định, vậy mà quân đội lại rất đông đảo. Trừ ra quân đội trấn giữ phòng tuyến phía bắc để đề phòng quân Minh, quân trấn thủ kinh đô và các thành trấn, Hồ Quý Ly còn có thể tập hợp được 20 vạn đại quân đi đánh Chiêm Thành, chứng tỏ quân số Đại Việt lúc bấy giờ có thể lên đến 50 vạn người. Thậm chí Hồ Quý Ly còn tuyên bố với triều thần là muốn có được 100 vạn đại quân để chống quân Minh.

Sau khi cùng chúng thủ hạ bàn bạc, Giang Phong quyết định tăng số lượng lục quân lên 30 vạn, hải quân cũng tăng thêm 3 vạn nữa. Như vậy trừ quân đội trú phòng các nơi, sau này khi có chiến tranh cũng sẽ có thể điều động được hơn 20 vạn quân ứng chiến, không bị thiếu thốn quân đội đến nỗi huy động cả Cấm vệ quân tham chiến như lúc này. Các xứ thuộc vương triều Majapahit ở Java được để lại làm chỗ luyện quân. Tạm thời Giang Phong chỉ cho chiếm lĩnh đảo Sumatra để củng cố sự kiểm soát eo biển Malacca, kiểm soát ‘hoàng kim hải đạo’.

Dựa vào kết quả điều tra của bọn Cát Ti trước đây, Quảng Tế Pháp sư đã chia đảo Sumatra (tổng diện tích ước 47 vạn kilômét vuông) thành 8 tỉnh : Lamuri (tức xứ Banda Aceh ngày nay), Batak (tức xứ Medan), Pane (tức xứ Riau), Padang, Jambi (từng có một thời gian là kinh đô của vương triều Srivijaya), Palembang, Lampung, Bengkulu; mỗi tỉnh rộng khoảng 6 vạn kilômét vuông, đồng thời cử quan viên đến cai trị ở cấp tỉnh, quận. Quan viên cấp huyện ưu tiên tuyển chọn người bản địa quy phục.

Sau khi ổn định tình hình ở Palembang, Triệu Phong lại quay về Tân Thành. Với thân phận hiện tại, gã không tiện đích thân dẫn quân chinh chiến các xứ, chỉ cần ở đại bản doanh chủ trì đại cục. Hơn nữa, gã lại có nhiệm vụ mới : huấn luyện tân binh. Hàng loạt tân binh được chiêu mộ ở các nơi, rồi đưa đến Tân Thành. Ở đây, bọn họ trải qua một thời gian huấn luyện quân sự, rồi lại được Hải quân đưa đến các xứ duyên hải của vương triều Majapahit tác chiến, chủ yếu là quấy nhiễu và cướp phá các xứ đó, đồng thời tăng thêm kinh nghiệm chiến đấu. Quân đội mà chưa qua chiến trường, dù có huấn luyện thế nào đi nữa, thì cũng chưa thể xem là quân đội tinh nhuệ được.

Về quân chế, ngoài Ngự Lâm quân, Cấm Vệ quân, Định Hải quân, Trấn Biên quân, Thần Vũ quân đã có, Giang Phong đặt thêm Túc vệ quân, Thần Sách quân, Thần Uy quân, Thần Long quân, Uy Tiệp quân, Bảo Tiệp quân, Long Tiệp quân. Tổng cộng có 12 quân, 30 vạn người. Trong đó có Ngự Lâm quân, Cấm Vệ quân, Túc vệ quân mỗi quân chỉ có 1 vạn người, đóng ở kinh thành Gia Định. Các quân còn lại mỗi quân 3 vạn, phân biệt đóng ở các vùng trọng yếu như An Phú, Tân Thành, Cát Long Pha, … Ngoài chính quy quân còn có địa phương quân, ở tỉnh có 2.000 quân, quận có 300 quân, huyện có 50 quân, phụ trách giữ gìn trị an ở địa phương. Các lực lượng địa phương quân này thực chất cũng chỉ là dân binh, nhưng được trang bị đầy đủ, huấn luyện thường xuyên, làm lực lượng dự bị cho chính quy quân khi cần bổ sung quân số.

Trong thời gian các đạo tân quân luyện binh, các xứ duyên hải ở Java phải nói là đại nạn lâm đầu. Các thôn làng, thành trấn đều bị cướp phá, dân cư bị bắt đưa về Lã Tống và Sumatra làm việc. Triều đình Majapahit dù rất cố gắng đề kháng, nhưng trước sự uy hiếp của các chiến hạm ngoài khơi, quân đội Majapahit chỉ có thể ngăn chặn không cho địch quân tiến vào nội địa, chứ không dám ra vùng duyên hải tác chiến. Hạm đội duy nhất của Majapahit mới đối trận với Tây Dương Hạm đội là bị đánh tan lập tức. Giờ đây mặt biển đã bị Tây Dương Hạm đội kiểm soát hoàn toàn. Vô kế khả thi, tổn thất thảm trọng, triều đình Majapahit chỉ có thể đưa ra hạ sách : dời dân vào trong nội lục, bỏ vùng duyên hải. Triều đình Majapahit đã từng gửi sứ thần cầu hòa, nhưng đã bị từ chối. Các xứ này được sử dụng để luyện quân mà, nếu cho cầu hòa thì còn lấy đâu ra chỗ để luyện quân. Muốn cho cầu hòa thì ít ra cũng phải đợi tân binh được huấn luyện xong hết đã. Giờ thì dân Majapahit đành chịu đựng vậy.

gianghoaingoc
01-10-2010, 03:30 PM
Chương 35 : THẦN THÁNH ĐẾ QUỐC


Năm Đinh Hợi (1407), mùa xuân. Gia Định Thành.

Tùng tùng tùng tùng tùng tùng….

Boong boong boong boong boong boong …

Long Phụng Cổ nổi dồn dập, Cảnh Dương Chung gõ liên hồi, báo hiệu điển lễ bắt đầu. Lúc này thời gian là chính Thìn, tức 8 giờ sáng, tất cả quan viên từ cấp tỉnh trở lên, hoặc tướng lĩnh quân đội từ Lục quân Hiệu úy, Hải quân Đô đốc trở lên đều tề tụ Trường Thanh Cung, tham gia Kiến quốc đại điển. Đã 9 năm kể từ khi Giang Phong xuyên việt, đã 3 năm kể từ ngày chuyển đại bản doanh đến Gia Định Thành, giờ đây, theo sự khẩn cầu của chúng thuộc hạ, cuối cùng Giang Phong cũng đã đồng ý kiến quốc. Tuy vậy, Giang Phong không xưng Hoàng đế, chỉ xưng Hoàng, ý là kế thừa Thái Cổ Tam hoàng, hiệu xưng Văn Hoàng, quốc hiệu Thần Thánh Đế Quốc (dựa theo Đế Quốc La Mã Thần Thánh ở châu Âu lúc bấy giờ, và Giang Phong lại là ‘thần’, tên đó phù hợp).

Chiếu theo cổ lễ, đầu tiên sẽ phải tế cáo thiên địa, nhưng nghi thức này đã bị bỏ qua, bởi Giang Phong là ‘thần’, là ‘chân thần’ chứ không phải ‘giả thiên tử’ như các vị đế vương xưa nay vẫn tự xưng. Giang Phong đã là ‘thần’, đương nhiên có thể trực tiếp câu thông thiên địa, vì vậy mà khỏi phải tế cáo nữa.

Giang Phong chỉ ngự ở Văn Nghi Điện, mặt quay về phương nam nhận sự triều bái của văn thần võ tướng. Các vị đế vương xưa nay đều ngồi quay mặt về phương nam nhận sự triều bái của quần thần, Giang Phong thấy cũng không cần thay đổi lệ đó. Ngai vàng của Giang Phong được đúc bằng vàng khối, nặng 10 vạn lượng, tức 3,75 tấn, được chạm trổ cực kỳ tinh xảo, hoàn toàn là một kiện nghệ thuật phẩm. Bọn Quảng Tế Pháp sư chuẩn bị cho lễ kiến quốc đăng cơ, đã lẳng lặng cho chế tạo từ năm trước, mất gần 1 năm mới hoàn thành. Ở Lã Tống có 31 mỏ vàng lớn nhỏ đang được khai thác nên Giang Phong không hề thiếu vàng.

Chiếu theo cổ lễ, Trung Hoa Hoàng đế sẽ phải vận cổn phục miện quan (mũ miện Thiên tử 12 dải), Đại Việt Hoàng đế sẽ vận hoàng bào long quan để làm lễ đăng cơ. Nhưng Giang Phong chỉ thích màu trắng, không ưa màu đen của cổn miện, cũng chẳng thích màu vàng của hoàng bào, vì vậy chỉ vận y phục toàn trắng, bạch y bạch bào, ngọc đái ngọc quan. Bọn Quảng Tế Pháp sư vì chiều theo sở thích của Giang Phong, đã tra duyệt cổ tịch cổ thư, tuyên bố rằng Thái Cổ Thượng Đế của Trung Hoa, Thái Cổ Phạm Thiên của Thiên Trúc đều vận y phục màu trắng, do đó màu trắng là màu tôn quý hơn cả.

Sách xưa ghi lại, vị Thượng Đế đầu tiên được biết đến ở Trung Hoa là vị Thương Đế hay Thượng Đế (phiên sang tiếng Anh là Shang Ti, vị này không phải là Ngọc Hoàng), là tổ tiên của nhà Thương, được các vua Thương tôn làm thần tối cao trên Thiên giới, vị này thường mặc y phục trắng. Đến thời nhà Chu, các vua Chu mới tôn tổ tiên của mình là Hoàng Đế, hay còn gọi là Hiên Viên Hoàng Đế (phiên sang tiếng Anh là Yellow Emperor), lên làm thần tối cao trên Thiên giới thay thế cho vị Thượng Đế thời nhà Thương, lúc này mới chuộng màu vàng. Còn ở Ấn Độ cổ đại, màu trắng là tôn quý nhất, chỉ tầng lớp tu sĩ mới được mặc; màu vàng là thấp kém nhất, dành cho nô lệ mặc. Khi Thích Ca lập nên đạo Phật, tuyên bố không phân biệt đẳng cấp, nên đã chọn màu vàng làm màu y phục của tăng lữ, nhưng đạo Phật ở Ấn Độ không mạnh, truyền sang Trung Hoa, Đại Việt thì tăng lữ thường không mặc y phục màu vàng mà là màu xanh (ở Trung Hoa) hoặc màu nâu (ở Đại Việt). Đến thời hiện đại, ở Ấn Độ màu trắng vẫn là màu tôn quý nhất. Ngay cả các tôn giáo khác trên thế giới như Công giáo, Hồi giáo cũng vậy.

Giang Phong vận bạch y bạch bào, ngọc đái ngọc quan, ngự trên kim long ỷ (vì làm bằng vàng nên có màu vàng, Giang Phong không hề ghét hoàng kim). Quảng Tế Pháp sư dẫn đầu bách quan quỵ phục trước Giang Phong, tâu :

- Thỉnh Đại nhân tức vị.

Theo nghi lễ soạn sẵn, Giang Phong phán :

- Trẫm đăng hoàng vị, kiến lập hoàng triều, kế Thái Cổ Tam Hoàng, khôi phục nền đại thống.

Bách quan hành đại lễ, tam quỵ cửu khấu. Giang Phong truyền bình thân, bách quan tam bái, về hàng. Dàn nhạc diễn tấu :

“Gia lạc quân tử,
Hiển hiện lệnh đức,
Nghi dân nghi nhân,
Thụ lộc vu thiên,
Bảo hựu mệnh chi,
Tự thiên thân chi.

Can lộc bách phúc,
Tử tôn thiên ức,
Mục mục hoàng hoàng,
Nghi quân nghi vương,
Bất khiên bất vong,
Suất do cựu chương.

Uy nghi ức ức,
Đức âm trật trật,
Vô oán vô ố,
Suất do quần thất,
Thụ phúc vô cương,
Tứ phương chi cương.

Chi cương chi kỷ
Yến cập thần tử,
Bách bích khanh sĩ,
Mỵ vu thánh hoàng,
Bất giải vu vị,
Dân chi du hý.”

Tạm dịch :

Nhà vua anh tuấn vui tươi
Lại còn đức tốt rạng ngời đẹp thay !
Thích hợp với dân hay quan tước,
Lộc trời vua được hưởng dồi dào
Trời phù hộ, dạy giúp vào
Tự trời hành động biết bao nhiêu lần !

Lộc cầu trăm phúc được liền,
Cháu con thì số ức thiên vô cùng.
Lại tuấn tú khiêm cung tất cả,
Ở ngôi vương hoặc giả chư hầu,
Đều không tội lỗi tí nào,
Noi theo phép tắc dựa vào phép xưa.

Uy nghi thận trọng kín thầm
Đều đều hằng có tiếng tăm tốt lành.
Con cháu không riêng tình ghét oán,
Nhiệm dụng người tài cán cao sâu.
Phúc thì vô hạn dồi dào,
Làm nên giềng mối, trông vào bốn phương.

Thánh hoàng ổn định kỷ cương
Bề tôi nhờ đó mà hòng được an.
Trăm chư hầu và hàng khanh sĩ,
Đều mến thương, tôn kính thánh hoàng,
Chẳng lười chức vị đã dành,
Thì dân chúng được yên lành vui chơi.”

Nhã nhạc tấu xong, chiếu theo cổ lễ thì đến phiên dâng ngọc tỷ, nhưng Giang Phong miễn luôn việc này. Ngọc tỷ là của Giang Phong, có lý đâu lại cần thuộc hạ dâng cho. Giang Phong không trọng Nho, trong triều không có nho gia, vì vậy mà mọi nghi lễ đều do Giang Phong định đoạt, không ai có ý kiến gì được. Giang Phong không muốn bị trói buộc bởi nghi lễ.

Ngọc tỷ chính là chiếc ấn quan trọng nhất, để đóng vào các chiếu chỉ quan trọng. Ngọc tỷ của Giang Phong được chạm khắc từ một viên bạch ngọc rất quý giá thu được từ Puni, được thợ giỏi chạm khắc công phu, mất nửa năm mới hoàn thành. Trên ngọc tỷ chạm hình Cửu trảo thần long (theo truyền thuyết là tổ của long tộc), bốn góc có tứ linh quỳ chầu. Mặt ấn khắc tám chữ “Thụ mệnh Giang tộc, thiên địa đồng trị”.

Theo lễ nghi của Minh triều, sau phần dâng Ngọc tỷ còn có “tựu vị, bái, bình thân, cúc cung, bái hưng, bái hưng, bình thân, hốt, cúc cung, tam vũ đạo, quỵ tả tất, tam khấu đầu, sơn hô vạn tuế, tái tam hô, quỵ hữu tất, xuất hốt, ………… quyển ban”. Từ ‘tựu vị’ cho đến ‘quyển ban’ kéo dài hơn 1 giờ mới xong, bách quan cứ làm đi làm lại quỳ, bái, hô vạn tuế, … thật lắm sự phiền phức. Lễ nghi Nho giáo này, cả vua quan đều thấy phiền, nhưng cứ phải làm theo để chứng tỏ triều đình trọng lễ. Có điều Giang Phong đã bỏ hết cho đơn giản.

Chiếu theo cổ lệ, Giang Phong cũng lập Thái Miếu, nhận tổ tiên mình là Đế Giang, kế thừa Phục Hy, Nữ Oa mà làm chúng thần cộng chủ (giống như nhà Chu nhận mình là hậu duệ của Hiên Viên Hoàng Đế, nhà Đường nhận mình là hậu duệ của Thái Thượng Lão Quân). Thái Miếu ở Gia Định Thành chỉ thờ ba vị : Phục Hy, Nữ Oa, Đế Giang, gọi là Tam hoàng. Còn vị Hoàng Đế tổ tiên của nhà Chu thì không được kể đến.

Đế Giang là vua của những tộc người đầu tiên sinh sống ở lưu vực sông Giang (tức Trường Giang ngày nay, thời xưa gọi là Giang thủy), bắt đầu việc trồng trọt, cách nay ước 4 vạn năm, cũng là chủ nhân của nền văn minh Thục Sơn, là tổ tiên chung của các tộc người Thái, Mường, Việt. Còn dân Hoa Hạ, đến thời nhà Chu (cách nay hơn 3.000 năm) vẫn còn sinh sống ở lưu vực sông Hà (tức Hoàng Hà ngày nay, thời xưa gọi là Hà thủy), nước Sở ở lưu vực sông Hoài còn bị xem là man di, đương nhiên không liên quan gì đến các tộc ở mạn sông Giang. Còn Phục Hy đại diện cho tộc người đầu tiên thuần hóa thú vật, Nữ Oa đại diện cho tộc người đầu tiên rời hang động, dựng lều để ở, cách nay khoảng 7 vạn năm. Ba vị này được Giang Phong tôn xưng là Tam hoàng, cho dựng đền thờ khắp nơi trong địa bàn của mình.

Sau khi tiếp nhận bách quan triều bái ở Văn Nghi Điện xong, Giang Phong suất bách quan đến Thái Miếu tế tự. Dù Giang Phong là ‘thần’, nhưng đối với Thái Cổ Đại Thần cũng phải tôn kính. Hơn nữa, Giang Phong còn nhận Tam hoàng là tổ tiên.

Lễ nghi đến đây, Giang Phong cho chấm dứt. Chiếu theo cổ lễ phải tiến hành các nghi thức cả ngày mới xong, Giang Phong không có nhiều kiên nhẫn đến thế. Lễ xong thì đãi yến triều thần. Giang Phong không cải chế (thay đổi chế độ quan lại) nên bách quan vẫn tiếp tục công việc trước đây. Sau này khi cần thiết thì sẽ điều chỉnh. Còn giờ thì tạm ổn rồi. Thể chế do Giang Phong đặt ra không hề giống triều đại nào trước đây, ngay cả chức bộ trưởng cũng mới lần đầu xuất hiện, do đó Giang Phong nói sao thì thành ra như vậy, không cần phải tuân theo cổ lễ gì cả. Giang Phong là ‘thần’ nên được lợi vô cùng, không cần phải theo các nghi lễ do ‘người phàm’ đặt ra, nhờ đó mà tránh được rất nhiều phiền phức.

Sáng hôm sau, Giang Phong cho các quan viên địa phương và các tướng lĩnh quân đội trở về cương vị của mình. Sắp tới có nhiều việc, cần được chuẩn bị sẵn sàng. Thời gian không còn nhiều nữa.





Chương 36 : CHIẾN TRANH ĐẠI MINH – ĐẠI NGU (1)


Gia Định Thành, Trường Thanh Cung, Thành Đức Điện.

Giang Phong thiết tiểu triều, chỉ gồm các thuộc hạ thân tín là bọn Quảng Tế Pháp sư, Cát Ti, Đào Anh, Triệu Phong, Đinh An Bình. Do Giang Phong không thân tự chấp chính, nên tiểu triều, đại triều đều có ý nghĩa như nhau, chủ yếu hồi báo kết quả công việc triều chính và nhận chỉ thị mới từ Giang Phong (đương nhiên giờ đây sẽ được gọi là thánh chỉ, Giang Phong vừa đăng cơ), khác biệt chẳng qua là quy mô số người tham dự. Văn Nghi Điện thiết đại triều, Thành Đức Điện thiết tiểu triều. Trong Trường Thanh Cung có đến 1.000 điện đường lâu các, nên không sợ thiếu chỗ.

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Bản triều hiện đã thiết lập 30 tỉnh là : thánh đô Gia Định; An Phú và Lã Tống ở Lã Tống đảo; Nam An, Định An, Hòa An ở Nam Lã Tống quần đảo; Puni, Hải An, Hải Châu, Hải Dương, Hải Đường, Hải Hưng, Hải Ninh, Hải Phú, Hải Thanh trên Puni đảo; Tân Hóa và Tân An ở Sula quần đảo; Tân Định ở Maluku quần đảo; Cát Long Pha, Cát Lan Đan, Tân Ân, Tân Ý ở bán đảo Mã Lai; Lamuri, Batak, Pane, Padang, Jambi, Palembang, Lampung và Bengkulu ở Sumatra đảo. Các tỉnh lại được chia thành 172 quận, 1688 huyện, hơn 4 vạn thôn trấn. Ngoài ra còn có hải đồn An Đạt Man ở An Đạt Man quần đảo và hải đồn Ba Đan ở Ba Đan quần đảo. Riêng xứ Đài Loan vẫn còn đang bình định.

An Đạt Man quần đảo tức là các đảo thuộc khu vực biển Andaman, thời hiện đại gọi là quần đảo Andaman và Nicobar. Đó thật ra là hai quần đảo nằm đối diện nhau ngay trước lối vào eo biển Malacca, vì nằm ngay vĩ tuyến 10 độ nên khoảng giữa hai quần đảo còn được gọi là eo biển 10 độ (thập độ hải hạp). Các đảo này về địa lý được phân vào khu vực Đông Nam Á (dù thuộc về lãnh thổ của Ấn Độ), cách xứ Lamuri (tức Banda Aceh) không xa. Hải quân bộ đã cho xây dựng ở đó một căn cứ hải quân, gọi là hải đồn An Đạt Man, luôn luôn có một đội chiến hạm túc trực để kiểm soát eo biển, là chốt tiền tiêu của eo biển Malacca.

Ba Đan quần đảo tức là các đảo nằm giữa Philippine và Đài Loan, ở về phía nam eo biển Basi, thời hiện đại gọi là quần đảo Batanes (thuộc Philippine), cách Lã Tống về phía nam 160 kilômét, cách Đài Loan ở phía bắc 190 kilômét, tổng diện tích hơn 200 kilômét vuông, trong đó chỉ có vài đảo là con người có thể ở được. Nơi đó cũng có một hải đồn do các chiến hạm thuộc Bắc Dương Hạm đội trấn giữ.

Đảo Đài Loan, cho đến trước khi ‘Mãn Thanh nhập quan’ vẫn chưa thuộc về các triều đại Trung Hoa. Ở đó đã có dân bản địa sinh sống từ hàng vạn năm trước. Năm 1544, một chiếc tàu Bồ Đào Nha đã nhìn thấy đảo Đài Loan, và đặt tên nó là Ilha Formosa (nghĩa là hòn đảo xinh đẹp). Công ty Đông Ấn Hà Lan ban đầu chỉ buôn bán dọc theo Bành Hồ (quần đảo nằm gần bờ biển Phúc Kiến). Tuy nhiên, nhà Minh tuyên bố quần đảo này là một phần lãnh thổ của mình và đẩy lùi người Hà Lan. Năm 1624, người Hà Lan đã phải rút lui sang Đải Loan, thành lập một thành thị gọi là Tayoan (tức thành phố Đài Nam ngày nay), và bắt đầu nhập khẩu lao động từ Phúc Kiến và Bành Hồ. Người Hà Lan chiếm Đài Loan là để có chỗ buôn bán với các quốc gia Đông Á như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, … Đến khi Mãn Thanh thay thế nhà Minh, Trịnh Thành Công khởi nghĩa thất bại, đã dẫn quân chạy ra Đài Loan, đánh đuổi người Hà Lan, thì lúc bấy giờ Đài Loan mới do người Trung Hoa kiểm soát. Như vậy đến lúc này đảo Đài Loan vẫn chưa thuộc về nước nào, không ai quản lý, mà bỏ không thì thật phí, nên Giang Phong cho người đến quản lý vậy.

Chờ Giang Phong nghiên cứu qua địa đồ xong, Quảng Tế Pháp sư mới nói tiếp :

- Thống kê bước đầu, bản triều có khoảng 238 vạn hộ, 1.300 vạn nhân khẩu, trong đó thuận dân chiếm hơn 7 phần, lương dân chiếm cận 3 phần, nghịch dân không đáng kể, hầu như đều đang làm khổ công ở Lã Tống. Bản triều có 31 mỏ vàng ở Lã Tống, 34 mỏ vàng ở Puni, gần đây lại phát hiện khá nhiều mỏ vàng ở Sumatra, đang chuẩn bị đưa vào khai thác. Ngoài ra cũng có 83 mỏ đồng, hơn trăm mỏ sắt; lưu hoàng, diêm sinh, thiếc, thủy ngân, thạch than, thạch hôi cũng rất nhiều. Về điền sản bản triều có hơn 4 ức mẫu, mỗi năm thu lương không những đủ cho dân chúng sử dụng mà còn thặng dư cận 3 phần. Hiện các kho bản triều tích trữ rất nhiều lương thực, đủ cho trăm vạn đại quân sử dụng đến 3 năm.

Giang Phong rất hài lòng. Chỉ cần có đủ lương thực, cuộc sống no đủ, dân chúng sẽ không nổi loạn. Yêu cầu của dân chúng rất đơn giản. Họ không quan tâm ai đang cai trị, miễn sao có thể ăn no mặc ấm là được. Chỉ có các nhà Nho mới quan tâm triều đình chính thống hay không chính thống. Giống như khi nhà Hồ thay nhà Trần, dân chúng cũng chẳng ai phản đối, cho đến khi Hồ Quý Ly làm nhiều việc mất lòng dân. Do đó, Giang Phong không tiếc lời khen ngợi :

- Tốt lắm. Chỉ cần không thiếu lương tiền, bản triều vô ngại. Khanh lập đại công cho bản triều.

Quảng Tế Pháp sư được Giang Phong khen ngợi, lòng rất cao hứng, thanh âm cao thêm ba phần :

- Tạ Thánh hoàng. Đó là việc mà thần nên làm, không dám sơ suất.

Không chỉ Quảng Tế Pháp sư cao hứng, cả bọn Triệu Phong cũng rất cao hứng, vì có đủ lương thực sẽ có thể phát động chiến tranh. Sau khi Quảng Tế lui về, Triệu Phong bước ra tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Bản triều lục quân 30 vạn đều đã chỉnh đốn huấn luyện xong. Mỗi sư đều được phối thuộc 200 khẩu thần công. Tất cả đều có thể lập tức tác chiến.

Đinh An Bình cũng tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Bản triều Hải quân cả 3 Hạm đội đều đã chỉnh đốn hoàn tất, hải quân 8 vạn, hạm thuyền 382 chiếc, trong đó Thất Tinh cấp chiến hạm 12 chiếc. Trừ Nam Dương Hạm đội phải phụ trách phòng vệ lãnh hải, cả Tây Dương Hạm đội và Bắc Dương Hạm đội đều sẵn sàng tác chiến.

Giang Phong hài lòng, hỏi Quảng Tế Pháp sư :

- Tình hình bắc phương thế nào rồi ? Chiến tranh Minh – Đại Ngu tiến triển ra sao ?

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Tháng tư năm ngoái, lấy cớ đưa Trần Thiêm Bình về nước, Minh triều sai Hàn Quan và Hoàng Trung mang 5.000 quân hộ tống để lập Trần Thiêm Bình làm vua.

Giang Phong cau mày hỏi :

- Gã Trần Thiêm Bình này là người thế nào ?

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Sau khi Chế Bồng Nga tử trận, nhà Trần đánh lui được quân Chiêm Thành, đã hạ lệnh bắt trị tội những thổ hào ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa và các tướng, tôn thất từng theo hàng Chiêm Thành. Trong số những người này có một người là Trần Tông. Một tên gia nô của Trần Tông là Trần Khang đã trốn sang Ai Lao, đổi tên thành Thiêm Bình. Đến năm Canh Thìn (1400), khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, Khang mạo xưng là con của Trần Nghệ Tông, chạy sang Tàu cầu viện Minh triều đánh báo thù. Đến năm Giáp Thân (1404), Minh triều sai Lý Ỷ sang hỏi Hồ Quý Ly về việc Trần Thiêm Bình. Lý Ỷ đến công quán, bí mật sai người do thám tình hình Đại Việt. Khi Lý Ỷ về Tàu, Hồ Quý Ly mới phát hiện ý đồ do thám, liền sai Phạm Lục Tài đuổi theo giết đi. Nhưng khi đến Lạng Sơn thì Ỷ đã ra khỏi biên giới. Ỷ về Tàu, tâu mới Vĩnh Lạc đế rằng họ Hồ xưng đế và ngạo mạn. Sau khi Ỷ về Tàu, Hồ Hán Thương sai Nguyễn Cảnh Chân sang dâng biểu tạ tội và xin rước Trần Thiêm Bình về nước tôn làm vua. Vĩnh Lạc đế hứa phong cho Hán Thương một quận lớn nếu chịu quy phục.

Giang Phong cau mày nói :

- Phụ tử Hồ Quý Ly thật tráo trở, khó khiến người khác tín phục. Quân quốc đại sự, sử dụng tiểu mưu tiểu kế, sao thành được.

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Đúng thế đấy ạ. Hồ Quý Ly chỉ giỏi tiểu mưu tiểu kế, chẳng qua mặt được ai. Thành ra đối diện Minh triều toàn gặp bất lợi.

Triệu Phong hỏi :

- Thế vụ Trần Thiêm Bình thế nào ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Ngày 8 tháng 4, Hoàng Trung đánh vào cửa Lãnh Kinh. Hai đạo quân thủy bộ của nhà Hồ đụng độ với quân Minh. Quân nhà Hồ khinh địch nên bị bại trận, các tướng Phạm Nguyên Khôi, Chu Bỉnh Trung, Trần Nguyên Huyên, Trần Thái Bộc tử trận. Hồ Nguyên Trừng xuống thuyền đi thoát, nhưng giữa đường thuyền đắm, Hồ Nguyên Trừng ngộ nạn.

Nói đến đây, Quảng Tế Pháp sư và Giang Phong nhìn nhau. Giang Phong hiểu ngay lão muốn nói gì. Hồ Nguyên Trừng giỏi chế súng thần công, Giang Phong không muốn để rơi vào tay Minh triều, nhưng lại không thể thu phục, đành dùng đến hạ sách đó. Sau khi Hồ Nguyên Trừng ngộ nạn, những thủ hạ liên quan đến việc chế súng thần công đều được bí mật đón về Xưởng quân khí ở Long Sơn.

gianghoaingoc
02-10-2010, 02:03 AM
Chương 37 : CHIẾN TRANH ĐẠI MINH – ĐẠI NGU (2)


Sau khi kể về việc Hồ Nguyên Trừng ngộ nạn, Quảng Tế Pháp sư dừng lời một lúc rồi mới lại nói tiếp :

- Đúng lúc đó, Hồ Vấn mang quân từ Vũ Cao đến đánh úp quân Minh. Hoàng Trung chống cự không nổi, đến đêm phải rút quân về. Song các tướng nhà Hồ là Hồ Xạ và Trần Đĩnh mang quân đóng chặn ở ải Chi Lăng. Quân Minh bị chặn mất đường về, đành phải chấp nhận giao nộp Trần Thiêm Bình và sai Cao Cảnh đưa hàng thư, đề nghị mở đường cho về nước. Hồ Xạ nhận hàng thư, bằng lòng nhận Thiêm Bình và mở vòng vây cho quân Minh rút lui. Quân nhà Hồ bắt được nhiều tù binh, đưa vào Nghệ An cho làm ruộng. Thiêm Bình bị mang về xử lăng trì. Sau đó, Hồ Hán Thương khẩn trương củng cố phòng tuyến Đa Bang, đồng thời sai sứ đoàn gồm Trần Cung Túc, Mai Tú Phu sang Minh triều xin giảng hòa, biện minh việc Thiêm Bình giả mạo. Nhưng sứ đoàn bị Minh triều bắt giam toàn bộ.

Đinh An Bình than :

- Xem ra Minh triều quyết ý đánh Đại Việt rồi ?

Đào Anh hỏi :

- Sao chúng ta không giúp Đại Việt chống quân Minh ?

Đinh An Bình nói :

- Giúp sao được. Lúc đó chúng ta chỉ có một ít quân, cuộc chiến ở Sumatra còn phải điều động cả Cấm Vệ quân tác chiến. Lấy quân đâu mà giúp Đại Việt.

Giang Phong nói thêm :

- Hồ Quý Ly mất lòng dân, thất bại chỉ là chuyện sớm muộn. Chúng ta giúp y rồi để mất lòng dân luôn sao ? Hơn nữa, Quý Ly bản tính đa nghi. Dù chúng ta chịu giúp, y chưa chắc đã tin. Đến lúc đó, quân ta phải lưỡng diện tác chiến, vừa phải lo chống quân Minh, vừa phải lo đề phòng quân nhà Hồ, gặp bất lợi như thế thì làm sao yên tâm tác chiến được.

Đào Anh chỉ khẽ thở dài. Quảng Tế Pháp sư tiếp lời :

- Tháng 9 năm ngoái, Minh triều sai Trương Phụ, Trần Húc mang quân đánh vào ải Pha Lũy; Mộc Thạnh, Lý Bân mang quân đánh ải Phú Lệnh. Quân Minh chỉ có khoảng 22 vạn, nhưng lại nói phao lên thành 80 vạn. Tháng 10, quân Minh hội ở sông Bạch Hạc, lập doanh trại ở bờ bắc sông Hồng, kéo dài đến tận Chú Giang. Quân nhà Hồ cũng bố trí dọc theo sông Hồng, do Hồ Quý Tỳ, em Hồ Quý Ly, chỉ huy. Quân ở Chú Giang do Hồ Đỗ chỉ huy. Trên bờ, quân bộ và voi đóng đối diện doanh trại quân Minh. Trương Phụ và Mộc Thạnh dùng danh nghĩa ‘Phù Trần diệt Hồ’, viết bảng văn kể tội phụ tử Hồ Quý Ly và tìm con cháu nhà Trần để phục ngôi, cho thả theo dòng sông. Nội dung bảng văn kể 22 tội của Hồ Quý Ly, gồm có 8 nội dung lớn :

1. Cướp ngôi, giết vua và tôn thất nhà Trần (2 tội).

2. Xem nước và nhân dân như thù địch (3 tội).

3. Tự tiện đổi họ Lê sang họ Hồ (1 tội).

4. Lừa gạt triều đình Minh triều (trong vụ Trần Thiêm Bình) (3 tội).

5. Đánh chiếm và khống chế vùng Tư Minh, Ninh Viễn (5 tội).

6. Đánh Chiêm Thành là nước đã thần phục Minh triều (6 tội).

7. Không theo lịch Trung Quốc, tự đổi tên nước (1 tội).

8. Khinh nhờn, không kính trọng Minh triều (1 tội).

Đinh An Bình kinh ngạc nói :

- Không ngờ bọn họ tìm ra được nhiều tội như thế, mà tội nào nghe cũng có lý cả.

Cát Ti cũng nói :

- Mưu kế này thật thâm độc.

Quảng Tế Pháp sư lại nói :

- Quân nhà Hồ trông thấy bảng văn, lại thấy chính sự nhà Hồ mất lòng dân, nên không có lòng chống quân Minh. Các tướng Mạc Thúy, Nguyễn Huân mang 1 vạn quân ra hàng quân Minh và được phong chức tước. Ngày 2 tháng chạp, quân Minh chiếm được bờ sông Mộc Hoàn và chỗ đóng cọc ở sông Bạch Hạc. Tướng chỉ huy Tả Thánh Dực quân là Hồ Xạ không giữ nổi, phải dời trận địa sang phía nam sông Hồng. Đêm mùng 7 tháng chạp, quân Minh tiến ra bãi sông Thiên Mạc, bị tướng nhà Hồ là Trần Đĩnh đánh bại. Sau đó, quân Minh chấn chỉnh lại đội ngũ, đánh được hai mặt sông Thao và sông Tuyên, đóng quân ở bờ bắc sông Thao, đối diện với thành Đa Bang. Đêm mùng 9 tháng chạp, quân Minh đánh úp quân nhà Hồ ở bãi Mộc Hoàn. Tướng nhà Hồ là Nguyễn Công Khôi mải mê nữ sắc, không phòng bị, chiến thuyền bị đốt gần hết. Các đạo thủy quân mặt trên và mặt dưới của nhà Hồ đều không đến cứu ứng. Quân Minh dựng cầu phao vượt sông. Trương Phụ và Mộc Thạnh thấy các bãi sông đều có rào cọc chắn không tiến được, lại biết nhà Hồ chỉ trông vào thành Đa Bang để phòng thủ, nên tập trung tấn công thành này làm bước quyết định cục diện mặt trận. Ngày 12 tháng chạp, quân Minh nhân đêm tối đánh úp thành, Trương Phụ và Hoàng Trung đánh góc tây bắc, Mộc Thạnh và Trần Tuấn đánh mặt đông nam. Phía Mộc Thạnh dùng thang mây đánh lên mặt thành, quân Minh bị giết xác chất cao như núi nhưng vẫn không ngừng tấn công. Tướng nhà Hồ là Nguyễn Tông Đỗ đào thành lùa voi ra đánh. Biết voi sợ sư tử, quân Minh lấy vải vẽ hình sư tử trùm lên đầu ngựa và bắn tên lửa khiến voi sợ phải chạy ngược vào trong. Quân Minh đuổi theo vào tận trong thành, quân nhà Hồ đại bại, phải bỏ chạy về Hoàng Giang. Quân Minh đánh chiếm được thành Đa Bang, bắt được 12 voi chiến và vô số binh khí.

Đinh An Bình nói :

- Bọn Hồ Quý Ly kỳ vọng rất nhiều vào thành Đa Bang. Nay thành Đa Bang thất thủ, quân đội tan vỡ, bại thế đã định.

Quảng Tế Pháp sư lại nói :

- Sau khi thành mất, các cánh quân nhà Hồ dọc sông đều tan vỡ, lui về giữ Hoàng Giang. Trương Phụ tiến đến sông Phú Lương, quân nhà Hồ chặn giữ. Trương Phụ chưa biết tính ra sao thì hàng tướng là Mạc Thuý và Đặng Nguyên vẽ bản đồ địa hình xin làm hướng đạo. Ngày 13 tháng chạp, được sự dẫn đường của Mạc Thuý, quân Minh theo dọc sông Phú Lương tiến xuống, đốt phá cọc gỗ. Ngày 14, quân Minh đánh vào Thăng Long, cướp được nhiều của cải và lương thực, rồi đặt quan cai trị.

Đinh An Bình nói :

- Thế là Minh triều đã lộ rõ mưu đồ đánh chiếm Đại Việt đặt làm quận huyện chứ có ‘Phù Trần diệt Hồ’ đâu.

Triệu Phong hỏi :

- Thánh hoàng. Hồ Quý Ly tất bại. Bản triều sẽ làm gì ạ ?

Giang Phong ngẫm nghĩ giây lát, rồi nói :

- Quý Ly mất lòng dân, nhưng họ Trần vẫn còn. Sau khi nhà Hồ thất bại, tôn thất họ Trần tất khởi binh mưu việc khôi phục. Tạm thời bản triều chưa nên can thiệp vào.

Triệu Phong khẽ than :

- Vậy là không có đánh nhau ư ?

Giang Phong mỉm cười, nói :

- Điều động 5 quân Định Hải, Thần Vũ, Thần Sách, Thần Uy, Thần Long đi bình định Majapahit. Triệu Phong thống lĩnh các đạo quân này. Tây Dương Hạm đội hỗ trợ.

Triệu Phong cả mừng nói :

- Cẩn tuân thánh ý.

Giang Phong lại nói :

- Bắc Dương Hạm đội phái một phân hạm đội đưa Bảo Tiệp quân đến Thuận Hóa, cùng Thế Căng phòng ngự các xứ Tân Bình, Thuận Hóa. Tuyệt đối không cho bọn Hồ Quý Ly chạy vào đấy. Các quân Uy Tiệp, Long Tiệp chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh.

Đinh An Bình cung kính nói :

- Cẩn tuân thánh ý.

Thế là bộ máy chiến tranh của Thần Thánh Đế quốc đã được khởi động. Triệu Phong thống lĩnh 15 vạn quân, cùng 100 thuyền hạm của Tây Dương Hạm đội tiến sang các đảo xứ Java, là lãnh thổ của vương triều Majapahit. Lúc này, vương triều Majapahit đã rất suy yếu. Cuộc nội chiến tranh ngôi giữa vua Vikramavardhama và người anh rể là Virabhumi ở miền Đông, kéo dài từ năm 1401 đến 1406, đã khiến vương quốc kiệt quệ. Tiếp theo đó là cuộc quấy nhiễu bởi việc luyện quân của bọn Triệu Phong, khiến vương quốc càng thêm suy sụp. Các tiểu quốc trong vùng không còn thần phục vương triều nữa, hoặc chỉ thần phục trên danh nghĩa. Quốc vương Vikramavardhama chỉ có thể kiểm soát Majapahit và các khu vực lân cận.

Khi Triệu Phong thống lĩnh đại quân đến tấn công, nhờ sự hỗ trợ của Tây Dương Hạm đội, thành Majapahit nhanh chóng thất thủ, quốc vương Vikramavardhama phải dẫn tàn quân chạy về phía tây, đến Galuh cố thủ. Thấy thế lực của Thần Thánh Đế quốc quá hùng mạnh, nhiều tiểu vương trong vùng sai sứ đến xin thần phục, nhưng đều bị Triệu Phong từ chối. Giang Phong không chấp nhận chế độ phong kiến phân quyền với các tiểu vương tự cai trị tiểu quốc của mình, vốn là truyền thống ở các xứ Đông Nam Á (chỉ trừ có Đại Việt). Những khu vực do Giang Phong kiểm soát, tất cả đều phải trực thuộc triều đình ở Gia Định, không thể để tồn tại các tiểu quốc là ‘quốc trung quốc’.

Trước hoàn cảnh đó, đại bộ phận các tiểu vương đều tập hợp lại xung quanh quốc vương Vikramavardhama để mưu việc đề kháng. Nhưng cũng có một số tiểu vương nguyện ý giao quyền, chỉ nhận tước vị mà hưởng cuộc sống phú quý an nhàn. Giang Phong đã chấp thuận, phong cho bọn họ tước hầu, tước bá và con cháu bọn họ muốn làm quan đều được trọng dụng.

Đảo Java không lớn, lại dài và hẹp, hoàn toàn thích hợp cho quân đội của Thần Thánh Đế quốc tác chiến. Dưới sự hỗ trợ của Tây Dương Hạm đội, Triệu Phong cho quân tập trung bình định khu vực lân cận thành Majapahit, sau đó đến khu vực phía đông, trước đây vốn là địa bàn của tiểu vương Virabhumi, anh rể của quốc vương Vikramavardhama.

Sau đó đại quân mới bắt đầu lấn dần sang phía tây, lấn dần dần, lần dần dần. Quân đội của quốc vương Vikramavardhama cứ phải lùi dần, lùi dần. Sau khi cố thủ Galuh được khoảng 8 tháng, quốc vương Vikramavardhama lại phải bỏ thành chạy về phía tây, đến xứ Kalapa. Rồi sang đầu năm sau (1408), thành Kalapa thất thủ, quốc vương Vikramavardhama tự sát. Vương triều Majapahit chính thức diệt vong.

gianghoaingoc
03-10-2010, 12:44 PM
Chương 38 : CHIẾN TRANH ĐẠI MINH – ĐẠI NGU (3)


Sau khi Majapahit diệt vong, Chính vụ bộ của Quảng Tế Pháp sư lại một phen bận rộn. Đảo Java tuy nhỏ, nhưng lại có dân số quá đông. So với đảo Puni ở phía bắc, diện tích của đảo Java chỉ bằng 1/6, nhưng dân số lại nhiều hơn gấp 10 lần, đến hơn 1.600 vạn, nhiều hơn cả phần còn lại của Thần Thánh Đế quốc.

Phần đất đai mới chiếm được gồm đảo Java và quần đảo Bali ở phía đông, cho đến tận Timor, được chia thành 3 tỉnh. Đảo Java rộng 126.700 kilômét vuông được chia làm đôi, thành 2 tỉnh : Kalapa và Kediri. Quần đảo Bali rộng 88.627 kilômét vuông, thành lập tỉnh Bali. Thần Thánh Đế quốc tăng thêm 3 tỉnh, dân số tăng thêm hơn 1.600 vạn. Do dân số ở Java quá đông, Giang Phong đã cho di dời dân chúng ở những tiểu quốc chống đối sang đảo Puni và đảo Đài Loan ở phía bắc, mỗi đảo khoảng 400 vạn, lại đưa 400 vạn sang Gia Định và các vùng lân cận mới lấn chiếm được từ Đế quốc Khmer, chỉ để lại Java 400 vạn. Đương nhiên, kế hoạch di dân khổng lồ này không thể tiến hành trong một thời gian ngắn, mà dự định sẽ kéo dài trong khoảng từ 3 đến 5 năm. Thời gian đầu chỉ di dân đến đảo Puni trước, nơi đó đất rộng người thưa, đang cần thêm người để khai phá.

Trong khi bọn Triệu Phong đang chinh phục các xứ Java, Giang Phong ở Gia Định Thành vẫn luôn chú ý diễn biến cuộc chiến tranh giữa Đại Minh và Đại Ngu. Chiến hạm có tốc độ nhanh nhất được sử dụng để truyền tin tức từ phương bắc vào.

Sau khi chiếm được Thăng Long, biết căn cứ chính của nhà Hồ ở Tây Đô, triều đình nhà Hồ đang đóng ở đấy, quân Minh đã theo đường sông Phú Lương tiến đánh.

Ngày 20 tháng 2 năm Đinh Hợi (1407), Hồ Quý Tỳ (em Hồ Quý Ly) tiến quân đến Lỗ Giang. Quân hai bên đụng độ nhau ở bờ sông. Quân nhà Hồ có 500 chiến thuyền, còn quân Minh đánh theo cả hai đường thủy bộ. Kết quả quân nhà Hồ đại bại, mất 100 chiến thuyền và 1 vạn binh lính, phải lui về Muộn Hải. Quân Minh bắt được hơn trăm người, trong đó có các tướng nhà Hồ và đem ra chém hết. Hồ Quý Ly cùng Hồ Hán Thương lui về Tây Đô.

Trong khi đó, Hồ Xạ và Hồ Đỗ không giữ được Bình Than, chạy qua cửa Thái Bình đến Muộn Hải hợp binh với Hồ Quý Tỳ. Các tướng cùng đắp lũy, đúc súng, huy động nhân lực ra mặt trận chống giặc. Tuy nhiên, khi quân Minh đuổi đánh đến nơi, quân nhà Hồ chống không nổi, lại phải lui về cửa biển Đại An.

Quân Minh sau một thời gian giao chiến phát sinh bệnh tật, cửa Muộn Hải ẩm thấp nên Trương Phụ phải mang quân ra đóng ở Hàm Tử. Hồ Quý Tỵ cùng Hồ Đỗ, Đỗ Mãn dời quân đến Hoàng Giang, sai người đón Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương ra; sau đó cùng Hồ Xạ, Trần Đĩnh hợp quân thủy và quân bộ cùng tiến lên cửa Hàm Tử đánh quân Minh. Quân nhà Hồ lúc này có tổng cộng 7 vạn, nói thăng lên 21 vạn để phô trương thanh thế.

Ngày 30 tháng 3, quân nhà Hồ tập kết ở Hàm Tử. Hồ Xạ và Trần Đĩnh lãnh quân bộ ở bờ nam sông; Đỗ Nhân Giám và Trần Khắc Trang lãnh quân bộ ở bờ bắc sông; Nguyễn Công Chửng lãnh 100 chiến thuyền làm tiên phong. Quân Minh chia ra 2 mặt thủy bộ, đặt phục binh đón đánh. Hồ Xạ đoán quân Minh có mai phục, không chịu tiến quân. Hồ Đỗ sai người đến trách Hồ Xạ vì sao không tiến quân đánh giặc. Hồ Xạ bất đắc dĩ phải tiến đánh, rồi gặp phục binh, quân nhà Hồ đại bại. An phủ sứ Bắc Giang là Nguyễn Hy Chu bị Trương Phụ bắt sống, Hy Chu chửi Phụ là giặc tàn bạo, bị Phụ giết. Đại tướng Hồ Xạ tử trận, quân bộ hai bên bờ sông đều nhảy xuống sông rồi chết đuối, quân thủy chạy thoát được, nhưng các chiến thuyền chở lương đều bị chìm. Có đến hàng vạn quân nhà Hồ tử trận, máu đỏ nhiễm hồng cả mặt sông. Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cùng các tướng bỏ chạy về Tây Đô.

Cha con Hồ Quý Ly thua chạy vào Thanh Hóa, bị quân Minh đuổi gấp, định dùng hậu phương mới chiếm được từ Chiêm Thành để kháng cự, bèn viết thư cho Phạm Thế Căng đang trấn thủ Nam Trấn, sai lấy một phần ba số dân Việt di cư khi trước mới đến khẩn hoang ở Thăng Hoa, gộp với quân lính địa phương làm quân ‘cần vương’ điều ra bắc, giao cho Nguyễn Lỗ chỉ huy, lại phong cho hoàng tử nước Chiêm cũ là Chế Ma Nô Đà Nan làm ‘Thăng Hoa quận vương’ để vỗ về dân Chiêm tại đây. Chế Ma Nô Đà Nan là con của Chế Bồng Nga, vì tướng La Khải cướp ngôi nên hai con của Chế Bồng Nga phải chạy sang hàng Đại Việt, đều được phong hầu.

Tuy nhiên, vua Chiêm Thành là Ba Đích Lại nhân lúc nhà Hồ bị quân Minh đánh bại, cũng cất quân bắc tiến, lần lượt chiếm lại những vùng đất vốn bị nhà Hồ chiếm giữ hồi năm Nhâm Ngọ (1402). Quân Chiêm đánh chiếm châu Tư, châu Nghĩa, giết chết Chế Ma Nô Đà Nan và tiến lên đánh phủ Thăng Hoa. Phạm Thế Căng lấy cớ phải chống cự quân Chiêm, không điều viện binh cho Hồ Quý Ly. Đồng thời, 1 vạn quân được điều đến trấn giữ quan ải ở Hoành Sơn (tức đèo Ngang), ngăn hẳn phương nam với phương bắc. Hiện tại ở Tân Bình, Thuận Hóa có 3 vạn quân bản bộ của Phạm Thế Căng, cùng với 3 vạn Bảo Tiệp quân, ngoài biển lại được một phân hạm đội của Bắc Dương Hạm đội tuần phòng, hoàn toàn đủ khả năng phòng ngự quân Minh hoặc quân Chiêm.

Ngày 23 tháng 4, quân Minh đánh vào Lỗi Giang, quân nhà Hồ không đánh mà tan. Ngày 29, quân Minh đánh vào cửa biển Điển Canh, thủy quân nhà Hồ tự tan vỡ. Cha con Hồ Quý Ly định lánh đến Thâm Giang nhưng không thành. Tướng Ngụy Thức xin hai cha con Hồ Quý Ly tự thiêu vì : “Nước sắp mất, bậc vương giả không chết bởi tay kẻ khác”. Nhưng Quý Ly không nghe, nổi giận, chém chết Ngụy Thức, rồi bỏ chạy vào Nghệ An.

Đến Kỳ La thuộc Tân Bình, có bô lão nói rằng đất này không lành, không nên ở. Chỗ đó là Kỳ La cạnh núi Thiên Cầm. Kỳ La được người địa phương đọc chệch thành Ky Lê, nghĩa là trói họ Lê - họ cũ của Hồ Quý Ly; Thiên Cầm là ‘trời bắt’. Hồ Quý Ly không nghe, chém chết ông lão.

Ngày 5 tháng 5, quân Minh đánh vào cửa biển Kỳ La (huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay). Hàng tướng người Việt là Nguyễn Đại bắt được Hữu tướng quốc Hồ Quý Tỳ. Ngày 11, quân Minh đánh vào Vĩnh Ninh, Vương Sài Hồ bắt được Hồ Quý Ly ở ghềnh Chẩy Chẩy. Ngày 12, bộ tướng của Mạc Thuý là Nguyễn Như Khanh bắt được Hồ Hán Thương và thái tử Hồ Nhuế ở núi Cao Vọng (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh).

Nhà Hồ hoàn toàn thất bại.

Trong các tướng nhà Hồ, Hồ Xạ và Đỗ Nhân Giám tử trận, Lê Cảnh Kỳ tuyệt thực mà chết, Kiều Biểu và Ngô Miễn nhảy xuống sông tự vẫn. Số các đại thần còn lại : Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Cần, Đỗ Mãn, Trần Nhật Chiêu, Hồ Đỗ, Phạm Lục Tài, Nguyễn Ngạn Quang, Đoàn Bổng, … đều hàng quân Minh. Trương Phụ, Mộc Thạnh sai Liễu Thăng, Lỗ Lân, Trương Thăng, Du Nhượng, Lương Định, Thân Chí bắt giải Hồ Quý Ly, các con cháu và các tướng, cùng ấn tín về Kim Lăng, kinh đô của Minh triều.

Tháng 8, Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân về Tàu, lưu lại Lữ Nghị, Hoàng Phúc trấn giữ Đại Việt. Cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị đày ra Quảng Tây làm lính. Trong số những quan lại nhà Hồ bị bắt, vua Minh giả vờ cho một số người làm thị lang, tham chính ở các nơi xa, nhưng trên đường đi thì sai người trừ khử.

Về hành chính, Minh triều cải Đại Việt thành quận Giao Chỉ, lập 17 phủ : Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tam Giang, Thái Nguyên, Tuyên Hóa, Kiến Bình, Tân An, Kiến Xương, Phụng Hóa, Thanh Hóa, Trấn Man, Lạng Sơn, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa, Thăng Hoa. Dưới 17 phủ là 47 châu, 154 huyện, 1 vệ, 13 sở. Trong 17 phủ trên, các phủ Thuận Hóa, Thăng Hoa thực chất chỉ đặt khống, vì vùng này hiện do Phạm Thế Căng trấn giữ, quân Minh chưa chiếm được. Còn phủ Tân Bình quân Minh chỉ chiếm được phần phía bắc đèo Ngang. Kể từ đèo Ngang vào nam là vùng quản hạt của Phạm Thế Căng. Do đó, trên thực tế Minh triều chỉ quản lý được 14 phủ và nửa phía bắc phủ Tân Bình, địa giới phía nam chỉ đến đèo Ngang.

Sau khi chiếm được Đại Việt, Minh triều sai lùng bắt người tài năng, có sức khỏe, các thợ giỏi bắt mang về Tàu. Kết quả bắt được hàng nghìn người đưa về phục vụ cho triều đình nhà Minh. Cũng may một số người tài hoa nổi bật đã được bí mật đón vào nam, nếu không Đại Việt tổn thất càng nặng nề hơn. Chỉ đáng tiếc, khi nhà Hồ còn, người của Quảng Tế Pháp sư không thể công khai hành động, nên vẫn còn để lại rất nhiều thợ giỏi mà quân Minh đã bắt được.

(chú : dân số các nơi thời xưa không rõ ràng, trong truyện lấy theo tỷ lệ của Đại Việt. Thời Trần – Hồ, dân số Đại Việt có khoảng 3 triệu người Kinh, 2 triệu người ‘man’. Cũng khu vực đó ngày nay có khoảng 40 triệu. Do đó, dân số các nơi khác đều lấy theo tỷ lệ 1/8 so với dân số ngày nay. Có thể không chính xác, nhưng kể ra cũng hợp lý. Dù sao cũng chỉ là truyện).

gianghoaingoc
04-10-2010, 12:27 AM
Chương 39 : CHIẾN TRANH ĐẠI MINH – ĐẠI NGU (4)


Đại Việt từ khi chính thức độc lập vào thế kỷ thứ 10, trải qua hơn 500 năm đã lớn mạnh nhanh chóng, giữ vững bờ cõi, xâm lấn về phía nam, tất cả các mặt đều phát triển mạnh mẽ, nhất là văn hóa đã trở thành quốc hồn quốc túy và có nhiều nét riêng biệt so với Bắc triều. Chẳng hạn vua Trần Nhân Tông xuất gia lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là việc chưa hề thấy trong lịch sử Trung Hoa. Sự lớn mạnh và độc lập của Đại Việt là một hiểm họa cho Bắc triều, đã được chứng minh qua các cuộc chiến tranh Việt - Tống, Việt - Nguyên; nên Minh triều từ khi nắm quyền không thể không biết. Nhằm thủ tiêu nền văn hóa của người Việt, ngay năm Bính Tuất (1406), khi phát binh đánh Đại Việt, Vĩnh Lạc đế đã ban sắc chỉ :

“Khi binh lính vào nước Nam, trừ các kinh Nho gia, kinh Phật, Đạo giáo là không thiêu hủy. Ngoài ra, tất cả sách vở, văn tự cho đến các loại văn tự ghi chép ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ con học … đều đốt hết. Phàm những văn bia do Trung Quốc dựng từ xưa thì đều phải giữ cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ cũng không được để sót.”

Năm Đinh Hợi (1407), Vĩnh Lạc đế lại ra chiếu lệnh thứ hai nhằm hủy diệt văn hóa triệt để hơn :

“Nhiều lần trẫm đã bảo các ngươi, phàm An Nam có văn tự gì, kể cả các câu hát dân gian, … các bia dù dựng lên một mảnh, hễ trông thấy là phá hủy hết … Sách vở do quân lính bắt được phải ra lệnh đốt luôn, không được lưu lại.”

Sự hủy diệt đó đã khiến sử gia Ngô Sĩ Liên phải than rằng :

“Giáo mác đầy đường đâu cũng thấy quân Minh cuồng bạo. Sách vở cả nước thành một đống tro tàn.”

Tuy Minh triều tạm thời chiếm được Đại Việt, nhưng người dân Đại Việt vẫn không ngừng nổi dậy phản kháng. Các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra.

Giữa năm Đinh Hợi (1407), người dân huyện Đông Lan và Trà Thanh thuộc Diễn Châu nổi dậy phá ngục, giết huyện quan. Trương Phụ và Trần Húc phải mang quân vào đánh dẹp.

Tại châu Thất Nguyên (Lạng Sơn), dân tộc bản địa lập căn cứ chống quân Minh. Trương Phụ sai Cao Sĩ Văn đi đánh, đến châu Quảng Nguyên thì bị quân khởi nghĩa giết chết. Sau Trương Phụ phái Trình Dương tăng viện thì mới thắng được.

Tháng 11, Phạm Chấn nổi dậy, lập Trần Nguyệt Hồ - một người tự xưng là tôn thất nhà Trần - làm vua ở Bình Than. Tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn, Trần Nguyệt Hồ bị bắt, Phạm Chấn trốn thoát và gia nhập cuộc khởi nghĩa của Giản Định Đế Trần Quỹ.

Ngoài ra còn có các phong trào nhỏ lẻ khác như Chu Sư Nhan ở An Định (Thái Nguyên), Trần Nguyên Khoáng, Nguyễn Đa Bí ở Thái Nguyên, Trần Nguyên Thôi ở Tam Đái (Phú Thọ), Trần Nguyệt Tôn ở Đồng Lợi ... Do các cuộc khởi nghĩa này đều có quy mô nhỏ, không liên kết được với nhau nên nhanh chóng bị đánh dẹp.

Lúc đó, có tôn thất nhà Trần là Trần Quỹ, con trai vua Trần Nghệ Tông, chạy đến Mô Độ, Trường Yên (Ninh Bình) thì được người phủ Thiên Trường là Trần Triệu Cơ dẫn thủ hạ đi theo. Ngày 2 tháng 10 năm Đinh Hợi (1407), Trần Quỹ lên ngôi ở Mô Độ, xưng hiệu là Hưng Khánh, còn gọi là Giản Định Đế.

Tháng 4 năm Mậu Tý (1408), quân Minh đánh vào hành dinh, vì là quân mới chiêu tập, không đánh mà tan. Giản Định Đế phải chạy về phía Tây, tạm đóng ở đất Nghệ An. Hàng tướng Đặng Tất nghe tin liền giết chết quan nhà Minh, đem quân đến họp với Giản Định Đế, tiến con gái sung vào hậu cung. Giản Định Đế phong Tất làm Hạ quốc công, cùng nhau mưu việc khôi phục. Tướng cũ của nhà Hồ là Nguyễn Cảnh Chân cũng mang quân đến giúp.

Được Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân giúp sức, quân Trần đánh thắng quân Minh và các ‘ngụy quan’ nhiều trận, chiếm giữ một vùng rộng lớn từ Thanh Hóa vào tới đèo Ngang. Giản Định Đế lại sai người vào Nam Trấn dụ Phạm Thế Căng, nhưng bị từ chối. Đặng Tất vốn bất hòa với Phạm Thế Căng, định mang quân vào đánh, nhưng không qua được đèo Ngang, đành phải rút về.

Đến tháng chạp, Giản Định Đế hội tất cả quân Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, rồi tiến ra đánh Thăng Long. Quân ra đến Trường Yên (Ninh Bình) thì các quan của nhà Trần ngày trước và những hào kiệt ở các nơi ra theo nhiều lắm.

Quân Minh đưa tin ấy báo về Kim Lăng. Vĩnh Lạc đế sai Mộc Thạnh đem 4 vạn quân ở Vân Nam sang đánh. Quân Minh cũng điều động 2 vạn thủy quân và trưng dụng 1 vạn quân vận lương ở Quảng Đông để tham gia phòng vệ. Các đội thổ binh 2.000 người cũng được điều động để kịp thời ứng cứu những nơi nguy cấp. Mộc Thạnh cùng với quan đô chưởng là Lữ Nghị vào đến bến Bô Cô thì gặp quân Trần. Hai bên giao chiến, Giản Định Đế thân tự cầm trống thúc quân, tướng sĩ ai nấy hết sức xung phong, phá tan được quân Minh, chém được Lữ Nghị ở trận tiền và đuổi Mộc Thạnh về đến thành Cổ Lộng (thành nhà Minh xây tại khu vực ngày nay là huyện Ý Yên, Nam Định).

Bấy giờ Giản Định Đế muốn thừa thắng đánh tràn ra để lấy lại Đông Quan (tức Thăng Long). Nhưng Đặng Tất ngăn lại, muốn chờ quân các lộ về hội đông đủ, rồi sẽ ra đánh. Từ đó vua tôi không được hòa thuận. Giản Định Đế lại nghe người nói gièm, cho rằng Tất không muốn ra đánh Đông Quan vì có ‘ý khác’. Vì vậy tháng 3 năm Kỷ Sửu (1409), Giản Định Đế bắt Đặng Tất và quan tham mưu là Nguyễn Cảnh Chân đem giết đi, thành ra lòng người ai cũng chán nản, không có lòng giúp nữa.

Sau khi Giản Định Đế giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân thì các con của hai ông là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bỏ đi, đón Trần Quý Khoách (cháu nội Trần Nghệ Tông và gọi Giản Định Đế là chú) ra làm vua tại Chi La, Nghệ An, tức là Trùng Quang Đế. Để tránh tình trạng phân tán lực lượng, Trùng Quang Đế sai tướng Nguyễn Súy mang quân đánh úp bắt Giản Định Đế về, tôn làm Thái thượng hoàng.

Quân Minh sau trận đại bại ở Bô Cô, Mộc Thạnh phải chạy về cố thủ ở thành Đông Quan. Tháng 7, Trùng Quang Đế và Giản Định Đế chia quân hai đường đi đánh quân Minh. Giản Định Đế đóng ở Hạ Hồng, Trùng Quang Đế đóng ở Bình Than. Quân Minh cố thủ không dám ra đánh.

Được tin Mộc Thạnh thất trận, Minh triều sai Trương Phụ mang 5 vạn quân sang cứu viện, thế quân Minh lại lên. Giản Định Đế bỏ thuyền lên bờ, chạy về trấn Thiên Quan. Trùng Quang Đế ngờ Giản Định Đế có ý tách lực lượng riêng nên sai Nguyễn Súy đuổi theo nhưng không kịp. Trương Phụ mang quân đuổi theo bắt được Giản Định Đế và thái bảo Trần Hy Cát, sai giải về Kim Lăng xử trảm.

Tháng 8, Trùng Quang Đế cầm cự với Trương Phụ ở Bình Than, lệnh cho Đặng Dung giữ cửa Hàm Tử. Bấy giờ lương thực rất thiếu thốn, Đặng Dung chia quân đi gặt lúa sớm để cấp cho quân ăn. Quân Minh dò biết, dùng thủy quân đánh cửa Hàm Tử, quân của Dung tan vỡ.

Sau khi bắt được Giản Định Đế, quân Minh cho rằng việc bình định đã gần hoàn thành, nên Trương Phụ xin với Vĩnh Lạc đế về nước, để Mộc Thạnh ở lại chỉ huy lực lượng quân Minh đã được tăng cường, đánh dẹp các nơi.

Ngày 6 tháng 9, quân Minh giao chiến với quân Trần ở cửa sông Thần Đầu. Quân Trần có đến 400 chiến thuyền, hơn 1 vạn quân, tiến đánh rất hăng hái, nhưng không địch nổi lực lượng của quân Minh nên phải rút lui.

Quân Minh đuổi theo quân Trần, đến ngày 7 tháng 2 năm Canh Dần (1410) thì đuổi đến châu Ngọc Ma. Khi đó gặp thổ binh người Thái dẫn voi chiến đổ ra đánh. Quân Minh dùng tên lửa bắn voi và quản tượng, voi hoảng sợ quay đầu chạy, thổ quân Thái tan vỡ. Đến ngày 12, quân Minh lại giao chiến với 2 vạn quân Trần tại Đông Hồ, giết 4.500 người và bắt làm tù binh hơn 2.000 người, quân Trần thua chạy về Nghệ An.

Dù rằng bị đánh lui về phía nam, nhưng lực lượng nhà Trần tiếp tục hoạt động và kiểm soát từ Nghệ An trở vào. Quân Minh liên tục phải điều động quân từ Quảng Tây sang tiếp viện cho Mộc Thạnh. Đầu năm Tân Mão (1411), Vĩnh Lạc Đế lại sai Trương Phụ dẫn 2 vạn rưỡi quân sang tiếp viện cho Mộc Thạnh để đánh dẹp quân Trần. Quân Minh tiến về phía nam, đường thủy do Trương Phụ chỉ huy, đường bộ do Mộc Thạnh chỉ huy, định đánh kẹp quân Trần lại tại các căn cứ dọc các cửa sông đổ ra biển.

Tháng 6 năm Nhâm Thìn (1412), Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân vào đánh Nghệ An, gặp Nguyễn Súy, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung ở Mô Độ. Hai bên liều chết đánh nhau chưa phân thắng bại, thì Súy và Cảnh Dị vượt biển chạy, Hồ Bối bỏ thuyền lên bờ. Đặng Dung thế cô, không có cứu viện, đành đi thuyền nhẹ vượt biển trốn đi.

Tháng 4 năm Quý Tỵ (1413), Trương Phụ lại vào đánh Nghệ An. Trùng Quang Đế rút lui về Tân Bình.

Tháng 6, quân Trương Phụ vào đến Nghệ An, quan Thái phó nhà Trần là Phan Quí Hữu ra hàng, nhưng được mấy hôm thì mất. Trương Phụ cho con Quí Hữu là Liêu làm tri phủ Nghệ An. Phan Liêu muốn tâng công, nên nói cho Phụ biết Trùng Quang Đế có bao nhiêu tướng quân, người nào giỏi, người nào dở, quân số nhiều ít, sơn xuyên chỗ hiểm, chỗ không thế nào. Trương Phụ bèn tiến quân vào Tân Bình.

Tháng 9, quân Trương Phụ vào đến Tân Bình, Nguyễn Súy và Đặng Dung nửa đêm đem quân đến đánh trại Trương Phụ. Đặng Dung đã vào được thuyền của Trương Phụ định bắt sống nhưng không biết mặt, vì thế Trương Phụ mới nhảy xuống sông lấy thuyền nhỏ mà chạy thoát được. Bấy giờ quân Trần còn rất ít, Trương Phụ thấy vậy liền đem quân đánh úp lại, bọn Đặng Dung địch không nổi phải bỏ chạy. Nguyễn Cảnh Dị thua trận bị Trương Phụ bắt, Dị mắng Phụ rồi bị giết.

Từ khi thua trận đó, Trùng Quang Đế quân thế quá yếu, không thể chống với quân Minh được nữa, phải lui vào khu vực phía bắc đèo Ngang, rồi sai người sang nói với Phạm Thế Căng cho lui vào Thuận Hóa. Phạm Thế Căng từ chối, và sai quân giữ vững các nơi hiểm yếu. Không sao được, Trùng Quang Đế cùng bọn Đặng Dung phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Chẳng bao lâu thì bị bắt, giải về Tàu. Đi đến giữa đường, Trùng Quang Đế nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cũng tự sát. Nguyễn Súy tìm cách làm thân với viên quan áp giải mình, được cùng gã đánh cờ. Nhân thời cơ thuận lợi, Nguyễn Súy cầm bàn cờ đập chết gã rồi mới nhảy xuống biển tự vẫn.



Chương 40 : ĐÁNH CHIẾM ĐỒ BÀN


Năm Đinh Hợi (1407), mùa hạ.

Lúc này quân nhà Hồ đã đại bại, cha con Hồ Quý Ly phải dẫn tàn quân chạy về Tây Đô. Cùng lúc đó, vua Chiêm là Ba Đích Lại cũng đem quân bắc tiến, chiếm lại các châu Tư, Nghĩa, bao vây phủ Thăng Hoa. Nhờ có Bảo Tiệp quân với sự hỗ trợ của phân hạm đội thuộc Bắc Dương Hạm đội nên Thăng Hoa mới giữ vững được và tạm thời đánh lui quân Chiêm về Tư, Nghĩa.

Tin chiến sự được báo về Gia Định. Giang Phong liền phái Đinh An Bình suất lĩnh Uy Tiệp quân, Long Tiệp quân, cùng phần còn lại của Bắc Dương Hạm đội tiến đánh Đồ Bàn, kinh đô của Chiêm Thành lúc bấy giờ. Cấm Vệ quân cũng được lệnh tiến theo đường bộ, đánh lấn ra bắc.

Thành Đồ Bàn nằm cách bờ biển khoảng 50 dặm (tức 20 kilômét), tuy có sông Côn chảy ngang qua rồi đổ ra biển, nhưng thuyền hạm của Bắc Dương Hạm đội quá lớn, không thể vào được. Cũng may đã có dự kiến việc này nên trong Hạm đội có khá nhiều ‘tiểu hình’ chiến thuyền (‘tiểu hình’ theo quy cách của Thần Thánh Đế quốc). Uy Tiệp quân và Long Tiệp quân đổ bộ lên bờ, tiến đến bao vây thành Đồ Bàn. Các ‘tiểu hình’ chiến thuyền cũng theo sông Côn đến phía nam thành. Tuy chỉ có 6 vạn quân nhưng được phối thuộc 1.200 khẩu thần công đại pháo, chiến lực rất hùng hậu, lại có Hạm đội hỗ trợ, kiểm soát hoàn toàn mặt biển, không sợ giống như nhà Hồ trước đây, vì thiếu lương mà phải rút lui.

Theo thông lệ, đại quân vây thành, rồi toàn bộ thần công đại pháo tập trung thành trận địa ở phía nam thành, liên tục pháo kích vào bên trong. Các chiến thuyền liên tục vận chuyển đạn pháo từ Hạm đội vào tiếp tế cho đại quân. Hơn nghìn khẩu pháo oanh kích vào trong thành, nửa bầu trời rực hồng lửa đạn, quang cảnh rất là khủng bố. Chỉ cần mỗi viên đạn pháo giết được 1 người thì cũng đủ khiến quân dân trong thành thiệt hại thảm trọng.

Do lượng đạn pháo, hỏa dược dồi dào, Đinh An Bình không cho quân công thành mà cứ liên tục pháo kích như thế. Sau hai ngày, mặt thành phía nam bị bắn sụp nhiều đoạn, mất đi khả năng phòng ngự, và cũng đã có rất nhiều dân Chiêm theo cửa bắc chạy ra ngoài thành ẩn náu. Ở trong thành cứ bị pháo kích liên tục, thật không an toàn chút nào.

Sang ngày thứ ba, vua Chiêm cảm thấy không thể giữ nổi thành, đành dẫn quân chạy về phía tây bắc, lên vùng rừng núi ẩn náu, mưu việc khôi phục. Đinh An Bình dẫn quân vào chiếm lĩnh thành Đồ Bàn, sau đó để lại 5.000 quân trấn giữ, rồi tiếp tục bình định các vùng lân cận.

Mùa thu tháng 8, Cấm Vệ quân cũng tiến đến Đồ Bàn. Vùng lãnh thổ phía nam của Chiêm Thành đã được bình định. Đinh An Bình giao khu vực này lại cho Cấm Vệ quân quản lý, rồi dẫn quân đi vây đánh nơi ẩn náu của vua Chiêm.

Sau hai tháng vây đánh, bọn Đinh An Bình cũng bao vây được vua Chiêm trong một vùng rừng núi ở xứ Tây Sơn. Vùng núi này quá rộng lớn, sử dụng đại pháo không có hiệu quả, Đinh An Bình nghĩ ra một kế, chỉ cho quân vây chặt xung quanh, rồi sai người loan truyền rằng sắp cho phóng hỏa đốt rừng.

Tin này làm cho quân Chiêm trong núi đều kinh hồn thất sắc. Nếu cả ngọn núi bị hỏa thiêu thì bọn họ cũng không thể thoát được. Thế là quân Chiêm đào ngũ dần dần. Một số bỏ trốn, nhưng cũng có một số ít ra hàng bọn Đinh An Bình. Có được hướng đạo, Đinh An Bình cho quân khép chặt vòng vây. Rơi vào đường cùng, mà ‘bậc vương giả không thể chết về tay kẻ khác’, Chiêm vương Ba Đích Lại đã tự thiêu. Triều thần và gia nô cũng có gần trăm người tự thiêu theo vua. Chiêm Thành diệt vong.

Tháng 11, Đinh An Bình lại suất quân tiến ra vùng Tư, Nghĩa. Bảo Tiệp quân cũng từ Thăng Hoa tiến vào. Bị lưỡng diện hiệp công, lại nghe tin Đồ Bàn thất thủ, Chiêm vương đã tự thiêu, đạo quân bắc tiến của Chiêm Thành đành đầu hàng. Lãnh thổ của Đế quốc cũng được nối liền ra đến đèo Ngang.

Toàn cảnh Chiêm Thành, kể luôn vùng Thăng Hoa, cho đến Hải Vân Quan ở phía bắc cũng chưa đến 5 vạn kilômét vuông, được đặt làm 1 tỉnh. Để đặt tên cho tỉnh này, Giang Phong đã suy nghĩ rất nhiều, cuối cùng chọn tên là Phú Yên. Từ nay xứ này sẽ gọi là Phú Yên tỉnh, có các quận : Hội An, Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận. Tiếp đó, 100 vạn dân ở Java được đưa đến định cư tại đấy, ở lẫn với dân Chiêm. Cả dân Đại Việt ở ngoài bắc chạy vào nam lánh nạn cũng được đưa đến định cư ở vùng Hội An, Thăng Hoa.

Tuy chiếm được Chiêm Thành, nhưng muốn hoàn toàn ổn định xứ này cũng phải mất khá nhiều thời gian. Tạm thời Uy Tiệp quân và Long Tiệp quân ở lại trấn thủ. Cấm Vệ quân rút về Gia Định. Bảo Tiệp quân rút về Thuận Hóa. Quân bản bộ của Phạm Thế Căng được cải tên thành Linh Tiệp quân. Phạm Thế Căng được phong Trấn Bắc Tướng quân, tạm quản 2 đạo Linh Tiệp, Bảo Tiệp mà trấn thủ các xứ Tân Bình, Thuận Hóa, phòng ngự Hoành Sơn, ngăn không cho quân Minh tiến về phía nam.

Trong lúc ở các xứ Thanh Nghệ của Đại Việt, quân khởi nghĩa của Giản Định Đế đang đánh nhau với quân Minh, thì Giang Phong lại bận lo ổn định các vùng mới chiếm được, tức các xứ Java, Sumatra và Chiêm Thành. Công cuộc di dân khổng lồ cũng được khẩn trương tiến hành.

Do dân số đã tăng lên gấp đôi, Giang Phong đã cho tăng thêm 24 vạn lục quân, 2 vạn Hải quân nữa. Với dân số hơn 3.000 vạn, chỉ có 57 vạn lục quân, 10 vạn Hải quân là không nhiều. Trong số 24 vạn lục quân tăng thêm, ngoài 18 vạn phân thành 6 quân Trấn Ninh, Trấn Hải, Trấn Phong, Uy Vũ, Uy Đức, Uy Nghĩa. Còn lại 6 vạn chia cho Ngự Lâm quân, Cấm Vệ quân và Túc Vệ quân. Từ nay, cả Ngự Lâm quân, Cấm Vệ quân và Túc Vệ quân đều có đủ 3 sư, 3 vạn người.

Có thêm tân binh tất phải luyện quân. Quan điểm của Giang Phong là quân đội chưa từng ra chiến trường thì chưa thể gọi là quân tinh nhuệ. Mục tiêu luyện quân đương nhiên là hai xứ còn lại trong vùng, vương quốc Ayutthaya ở phía bắc bán đảo Mã Lai và Đế quốc Khmer ở Angkor. Cả 6 đạo quân mới thành lập và Ngự Lâm quân, Cấm Vệ quân, Túc Vệ quân luân phiên tiến đánh 2 xứ đó, chiếm dần đất đai.

Mùa xuân năm Mậu Tý (1408), Đinh An Bình thống suất 4 quân Cấm Vệ, Trấn Ninh, Trấn Hải, Trấn Phong đánh chiếm vùng duyên hải tây nam của Đế quốc Khmer và phía nam xứ Thái, từ Hà Tiên cho đến Tân Ý (Pattani), thành lập 8 quận.

Mùa hạ, Triệu Phong lại suất 4 quân Túc Vệ, Uy Vũ, Uy Đức, Uy Nghĩa đánh chiếm thành Nam Vang ngay ngã ba sông Mekong với Tonle Sap. Thành lập tỉnh Nam Vang.

Mùa thu, Triệu Phong suất quân đánh chiếm đến khu vực phía đông Angkor. Thành lập tỉnh Cao Miên. Mùa thu tháng 9, các vua Thủy Xá, Hỏa Xá ở cao nguyên phía tây tỉnh Phú Yên xin thần phục, đều được phong hầu. Xứ này cách trở, đi lại khó khăn nên Giang Phong chỉ lập quận huyện, nhưng để người bản địa tự cai trị như trước. Tỉnh Tây Nguyên thành lập.

Mùa xuân năm Kỷ Sửu (1409), Triệu Phong lại suất quân đánh chiếm Angkor. Đế quốc Khmer diệt vong. Trên cơ sở Angkor và các vùng phụ cận thành lập tỉnh Angkor. Mùa hạ, Đinh An Bình suất quân đánh chiếm Ayutthaya, vương quốc Ayutthaya diệt vong. Tỉnh Thái Nam thành lập. Vương quốc Sukhothai ở tây bắc xứ Thái từng bị Ayutthaya thay thế, nay lại khôi phục vương triều, trở thành vua của người Thái.

Mùa xuân năm Canh Dần (1410), liên quân Sukhothai – Vạn Tượng hội quân ở cao nguyên Khorat, được 8 vạn người, sau đó tiến xuống phía tây nam định giành lại Ayutthaya. Song phương đánh nhau một trận lớn ở Sing Buri phía bắc Ayutthaya. Thần Thánh Đế quốc chỉ có 2 đạo quân ở đây, nên không thể đánh lui được liên quân Sukhothai – Vạn Tượng, nhưng liên quân cũng bị chặn đứng, không thể tiến xuống phía nam. Song phương cầm cự ở đấy.

Mùa thu năm đó, Triệu Phong thống suất 5 đạo quân Trấn Ninh, Trấn Phong, Uy Vũ, Uy Đức, Uy Nghĩa tiến về miền nam xứ Vạn Tượng, chiếm giữ vùng Savannakhet. Mùa đông, chiếm giữ Viên Chăn. Cầm Công ở Sầm Châu và tiểu vương Ai Lao cũng dâng đất. Quốc vương Vạn Tượng cố thủ ở Luang Phabang. Ba tỉnh mới được thành lập : Sa Thành, Viên Thành, Sầm Châu. Do vương quốc Vạn Tượng chủ động tấn công trước, Giang Phong cho trừng phạt bằng cách dời dân sang các tỉnh thuộc Khmer trước đây, sống lẫn với dân Khmer, đồng thời cho dời 30 vạn dân Chiêm, Java, Thái và Khmer lên sống ở Sa Thành và Viên Thành. Công cuộc di dân này kéo dài đến mùa thu năm sau mới xong.

Cũng mùa đông năm đó, liên quân Sukhothai – Vạn Tượng hết lương, lại nghe tin Vạn Tượng nguy cấp, nên phải rút về phương bắc. Một phần do chiến đấu tử trận, một phần do hết lương binh lính bỏ đi, lúc này liên quân chỉ còn lại khoảng 4 vạn. Trận này liên quân hao binh tổn tướng mà không lập nên công trạng gì. Thế nước của Sukhothai càng thêm suy yếu.

gianghoaingoc
05-10-2010, 01:24 AM
Chương 41 : ĐÚC TIỀN VÀ CẢI TỔ TÔN GIÁO


Năm Tân Mão (1411), mùa xuân.

Giang Phong quyết định giải quyết luôn xứ Thái để rảnh tay lo việc phương bắc. Đại quân chia làm 2 đường. Triệu Phong thống suất 3 đạo quân Uy Vũ, Uy Đức, Uy Nghĩa từ Viên Thành tiến sang phía tây, hướng về Sukhothai. Đinh An Bình cũng suất lĩnh 3 đạo quân Cấm Vệ, Túc Vệ, Trấn Hải, từ Thái Nam tiến về phía bắc, cùng Triệu Phong hợp vây Sukhothai. Mùa hạ, sau 6 ngày pháo kích, Sukhothai thất thủ. Quốc vương Sukhothai dẫn tàn quân chạy sang Miến Điện, được quốc vương xứ ấy thu nhận. Triệu Phong ở lại bình định các tiểu quốc Thái và xứ Luang Phabang. Đinh An Bình rút quân trở về Gia Định. Thêm 4 tỉnh mới được thành lập : Thái Trung, Thái Bắc, Thái Đông, Khorat. Do xứ này đất rộng người thưa, lại ở sâu trong lục địa, mỗi tỉnh đều rộng 8, 9 vạn kilômét vuông.

Từ lúc này, toàn vùng Đông Dương lục địa và Nam Dương quần đảo đã được thống nhất dưới sự cai quản của triều đình ở Gia Định. Chế độ phân phong tiểu quốc cũng chấm dứt. Nhờ có Hải quân hùng mạnh, Giang Phong thiết lập một chế độ trung ương tập quyền, quân chủ chuyên chế, với quyền lực tập trung vào Trường Thanh Cung. Dù Giang Phong không trực tiếp chấp chính, nhưng uy quyền của Giang Phong là không thể bàn cãi.

Sau khi thống nhất toàn khu vực, triều đình có làm hai việc quan trọng là đúc tiền và cải tổ tôn giáo.

Từ trước đến giờ, thương nhân các nước khi buôn bán giao dịch với nhau thường dùng ‘vàng thoi, bạc nén’. Có cả những nén vàng, nén bạc đúc theo hình Nguyên bảo của Tàu, cũng có cả những thoi vàng, thoi bạc dạng thanh của các nước phương nam. Hình thức hỗn loạn. Giang Phong đã cho đúc tiền mới để thống nhất tiền tệ, gồm kim tệ, ngân tệ và đồng tệ. Nguyên bảo so với dạng thoi, dạng thanh thì có đẹp hơn thật, nhưng khi cất giữ sẽ chiếm nhiều chỗ.

Một kim tệ bằng 1/10 lượng (tức 1 chỉ, tương đương 3,75 gam), được đúc theo dạng đồng xu, nhưng không có lỗ ở giữa. Một mặt chạm nổi hình chân dung Giang Phong; mặt kia có hình Thái dương ‘18 tia’ ở giữa, cùng dòng chữ “Thần Thánh Đế quốc” bằng Thiên tự ở trên, chữ Ba Tư, chữ Phạn và chữ Hán ở dưới.

Một kim tệ bằng 100 ngân tệ. Thời bấy giờ, tỷ lệ quy đổi giữa hoàng kim và bạch ngân là 1 : 60, tức 1 lượng hoàng kim bằng 60 lượng bạch ngân. Do đó 1 ngân tệ tương đương 0,06 lượng bạch ngân, nặng 2,25 gam. Vì trọng lượng riêng của hoàng kim nặng hơn bạch ngân nên dù ngân tệ nhẹ hơn kim tệ, thì thể tích lại không hề nhỏ hơn. Ngân tệ cũng có hình dạng giống kim tệ, nhưng thay hình Thái dương ‘18 tia’ bằng hình Giang sứ (con rùa).

Tiếp đó, 1 ngân tệ bằng 100 đồng tệ. Hình dạng đồng tệ cũng giống kim tệ và ngân tệ, nhưng hình vẽ là hình chiến hạm đi trên sóng biển.

Tiền tệ của Đế quốc có kiểu dáng đẹp, triều đình lại ra lệnh thu thuế bằng loại tiền tệ mới này. Do đó mà kim tệ, ngân tệ, đồng tệ nhanh chóng được sử dụng rộng rãi trong Đế quốc. Thậm chí các xứ Thiên Trúc (nam Ấn Độ), Ba Tư, Ả Rập cũng sử dụng kim tệ và ngân tệ. Hoàng kim, bạch ngân dù ở đâu thì cũng có giá trị cả.

Còn việc cải tổ tôn giáo chỉ là tình cờ. Ở Đế quốc, các xứ nội lục dân theo Phật giáo Nam tông; các xứ Tân Bình, Thuận Hóa dân Việt theo Phật giáo Bắc tông. Các xứ hải đảo và khu vực bán đảo Mã Lai thì dân lại theo Ấn Độ giáo (tức Hindu giáo). Lại có một số nhóm nhỏ theo Hồi giáo (đến giữa thế kỷ 15 Hồi giáo mới truyền bá mạnh ở Nam Dương) và các tôn giáo bản địa. Sau các cuộc đại di cư từ những năm Đinh Hợi (1407), dân chúng ở lẫn vào nhau, vấn đề tôn giáo cũng hơi hỗn loạn. Giang Phong tình cờ nghe Quảng Tế Pháp sư nói rằng hiện tại trong Đế quốc có rất nhiều thần dân thờ Giang Phong làm thần. Nguyên nhân khiến người dân tin tưởng là bởi Giang Phong ‘trường sinh bất lão’ - chỉ có thần linh mới có thể ‘trường sinh bất lão’ mà thôi. Nghe nói vậy Giang Phong mới để ý đến dung mạo của mình. Đến lúc này, đã 13 năm kể từ lúc Giang Phong xuyên việt, thế mà dung mạo Giang Phong không hề thay đổi, vẫn như lúc mới đến đây. Có lẽ quá trình xuyên việt đã gây ra chuyện này chăng. Những người khác xuyên việt thì thần công cái thế hay pháp thuật cao cường; Giang Phong không có gì cả, thì lại trở thành trẻ mãi không già, tuy cũng có ít tác dụng phụ khác, nhưng nói chung lợi nhiều hơn hại. Bình thường Giang Phong không để ý đến chuyện này, nhưng thuộc hạ và thần dân để ý. Từ đó mà thuyết ‘Giang Phong là thần linh’ được đại bộ phận thần dân tin tưởng, và rất phổ biến, kể cả trong và ngoài Đế quốc.

Đã vậy, Giang Phong quyết định cải tổ tôn giáo để giải quyết vấn đề thiếu điện đền chùa miếu để thờ phụng của dân di cư. Có điều, đặt ra một tôn giáo hoàn toàn mới bắt người dân tin theo thì dễ gây ra chiến tranh tôn giáo, khiến tình hình bất ổn. Sau nhiều ngày suy nghĩ, Giang Phong chợt nhớ đến Einstein, người mà chỉ dựa vào các nghiên cứu của người khác, phát biểu lại theo ý mình, rồi trở thành nhà bác học vĩ đại. Giang Phong tổ chức lại tín ngưỡng như sau :

“Thế giới của phàm nhân gọi là hạ giới, thế giới của thần linh gọi là thượng giới.”

“Ở hạ giới có nhiều quốc gia, nhiều dân tộc. Trên thượng giới cũng có nhiều thần hệ, nhiều thần quốc. Mỗi vị thần có thể bảo hộ 1 dân tộc, 1 quốc gia, hay 1 nhóm người nào đó. Các vị đại thần có thể có tín đồ khắp nơi ở hạ giới.”

“Giang tộc là thần tộc, đồng thời cũng là thần hệ, thần quốc. Giang tộc ôn hòa nhất, chỉ tự mình tu luyện, không tranh giành tín đồ, không hiềm khích với ai.”

“Ở hạ giới, giữa các quốc gia, dân tộc thường xảy ra chiến tranh. Trên thượng giới cũng thường xảy ra chúng thần đại chiến. Nguyên nhân có thể vì hiềm khích giữa các thần linh với nhau, mà cũng có thể do hiềm khích giữa những tín đồ mà họ bảo hộ.”

“Chúng thần đại chiến rất khốc liệt, bởi thần linh đều bất tử, nếu không vì thực lực chênh lệch quá lớn, có thể làm đối phương hồn phi phách tán ngay tức khắc, thì chỉ cần 1 tia thần thức hay một chút nguyên thần cũng đủ để thần linh hồi sinh. Chúng thần đại chiến có thể kéo dài rất lâu, hàng chục năm, hàng trăm năm, hoặc lâu hơn nữa.”

“Sau chiến tranh, thần linh thọ thương cần trầm thụy (ngủ sâu) hoặc bế quan để khôi phục thực lực. Lúc đó, tín ngưỡng lực từ hạ giới có thể bị phân tán, mất đi phần nào.”

“Trải qua hàng vạn năm, các thần tộc có đông thêm, nhưng bởi chiến tranh nên tổn thương nhiều nguyên khí. Giang tộc ôn hòa nhất, không bị tổn thương nguyên khí vì chiến tranh, lại không có hiềm khích với ai, đã trở nên có uy tín nhất. Những thần linh có hiềm khích, nhưng không muốn chiến tranh, đã nhờ Giang tộc phân xử. Những thần linh phải trầm thụy hoặc bế quan, đã nhờ Giang tộc quản lý giúp tín đồ ở hạ giới, để tín ngưỡng lực không bị phân tán. Dần dần, Giang tộc cộng trị thiên địa. Các thần hệ, thần quốc phái đại diện của mình đến giúp Giang tộc quản lý công việc của thượng giới và hạ giới, hình thành thượng giới triều đình.”

“Giang tộc giúp chúng thần quản lý tín đồ ở hạ giới, đổi lại Giang tộc được hưởng 1% tín ngưỡng lực. Tín đồ khi cầu nguyện, cần thông qua Thái dương đồ để đảm bảo tín ngưỡng lực có thể đến được với thần linh.”

Đại khái, tổ chức tôn giáo mới do Giang Phong đặt ra là như thế, mục đích là để thống nhất việc thờ phụng, tế tự. Các điện đền chùa miếu từ nay phải có 2 phần. Phần nội điện thờ Đế Giang, hoặc Tam hoàng, phần chính điện phía trước thờ phụng thần, thánh, tiên, phật của nơi đó. Ví dụ, 1 ngôi chùa phật, chỉ cần dọn thêm một gian nội điện thờ Đế Giang hoặc Tam hoàng là xong. Nếu một nơi có tín đồ của nhiều tôn giáo mà thiếu đền chùa, thì chỉ xây dựng 1 ngôi đền, nội điện thờ Tam hoàng, chính điện chia thành nhiều phần, mỗi tôn giáo một phần. Như vậy sẽ có lợi cho hòa hợp tôn giáo. Còn Thái dương đồ chính là hình Thái dương ‘18 tia’ trên kim tệ. Giang Phong cho đúc thật nhiều Thái dương đồ bằng đồng, lớn nhỏ đủ loại, cho phổ biến khắp Đế quốc, đồng thời khuyến khích thương nhân truyền bá đi các nơi. Có Thái dương đồ, nếu không thể đến được đền chùa (ví dụ đang trên đường đi) thì tín đồ hướng vào đó cầu nguyện cũng được, tín ngưỡng lực vẫn có thể đến được thần linh mà họ cầu nguyện. Đương nhiên các đền chùa cũng phải có Thái dương đồ, bởi thiếu nó thì tín ngưỡng lực sẽ bị phân tán.

Tổ chức tôn giáo kiểu mới của Giang Phong truyền bá cũng thuận lợi, bởi không xung đột với tín ngưỡng hiện tại của thần dân, chỉ cải biến chút ít, không có ảnh hưởng gì nhiều. Với uy quyền của Trường Thanh Cung, chẳng ai chỉ vì chút ít cải biến đó mà chống lại triều đình. Hơn nữa, tư tưởng tôn giáo của Giang Phong nghe cũng hợp lý, được thần dân chấp nhận. Hai tôn giáo lớn nhất trong Đế quốc lúc này là Phật giáo Nam tông và Ấn Độ giáo. Vậy thì mọi người cũng chấp nhận quan niệm trên thượng giới cũng có phật quốc của Thích Ca và thần quốc của Phạm Thiên. Các thần thánh của Hồi giáo và các tôn giáo bản địa cũng có thần quốc của mình. Trên thượng giới có nhiều thần quốc. Có như thế, người dân không vì thờ Phạm Thiên mà phủ nhận Thích Ca, hay ngược lại.





Chương 42 : GIÁO HÓA VÀ LỊCH PHÁP


Ngoài vấn đề tiền tệ và tôn giáo, việc giáo hóa cũng có nhiều tiến triển. Trải qua gần 10 năm cố gắng, kể từ thời kỳ còn ở Tư Dung hành doanh, sự nghiệp giáo hóa của Đế quốc giờ đây đã rất phát triển. Giang Phong cũng quan niệm rằng “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nên rất quan tâm đến việc bồi dưỡng hiền tài. Giang Phong không đánh giá cao thiên tài, nhân tài, bởi “có tài mà không có đức cũng là người vô dụng”. Chỉ có hiền tài là cần được đề cao.

Theo quan niệm phương đông, thiên tài là bậc thấp nhất, hiền tài mới là bậc cao nhất của những người tài giỏi. Các vua thời xưa thường cho treo bảng cầu hiền, tức là cầu hiền tài (Bác Hồ sau Cách Mạng Tháng Tám cũng có cầu hiền). Những người tài giỏi được phân cấp như sau :

1. Thiên tài : là những người có thiên phú, mới sinh ra đã có tài năng đặc biệt, khi còn nhỏ được gọi là thần đồng. Có điều rất ít thần đồng phát triển được tài năng của mình cho đến lớn. Đặc biệt, đa số thiên tài tính cách khác người, rất khó gần gũi.

2. Địa tài : là những người không có thiên phú, nhưng nhờ cần cù cố gắng, ham học hỏi, nên rèn luyện được tài năng, còn gọi là ‘chân tài thực học’. Những người này được coi trọng hơn thiên tài. Có điều, địa tài không có thiên phú, nên thành tựu bị giới hạn.

3. Nhân tài : là người gồm đủ thiên tài và địa tài. Đã có thiên phú, lại cố gắng học hỏi, tất thành tựu phi thường. Xưa nay vẫn có quan niệm : nhân tài một phần nhờ thiên phú, chín phần nhờ mồ hôi; hay “bác học không có nghĩa là ngừng học”.

4. Lương tài : nhân tài là chỉ người có tài năng đặc biệt về một lĩnh vực nào đó, chưa hẳn có ích. Ví dụ như người giỏi việc cướp của giết người, cũng kể là có tài năng. Chỉ những nhân tài mà làm việc có ích cho xã hội mới được xem là lương tài. Người “có tài mà không có đức là người vô dụng”. Lương tài mới hữu dụng.

5. Hiền tài : lương tài đồng thời là hiền nhân, được gọi là hiền tài, là “nguyên khí của quốc gia”.

Để bồi dưỡng hiền tài, Giang Phong rất coi trọng việc giáo hóa. Từ Thái Học Viện ban đầu, đã phát triển thành một hệ thống trường học trải khắp các quận huyện. Thậm chí nhiều thôn trấn còn mở lớp học, do những người biết chữ dạy lại cho những người chưa biết chữ. Để khuyến khích việc giáo hóa, Giang Phong còn đặt ra nhiều ưu đãi cho những người nói được tiếng Việt, hay đọc viết được Thiên tự. Các thầy đồ, giáo sư cũng được đãi ngộ cao. Có điều, thầy đồ và giáo sư của Đế quốc không giống nho gia bên Tàu, chỉ dạy chữ, rồi làm thơ viết văn, “bãi truất bách gia, độc tôn nho thuật”, mà đều thông thạo toán thuật, kỹ nghệ. Ở Đế quốc, “bách gia tranh minh”, bách nghệ đều được coi trọng như nhau. Tuy vậy, trên thực tế vẫn có phân biệt, do ảnh hưởng tư tưởng của Giang Phong, nho sinh dài lưng tốn vải, nên nho gia có địa vị kém nhất, thua cả thương nhân. Tư tưởng nho gia có lợi cho việc ngu dân, ổn định nền thống trị. Nhưng Giang Phong không cần, mà cũng không muốn ngu dân. Nếu không đã không tổ chức hệ thống trường lớp khắp cả các quận huyện thôn trấn, đẩy mạnh việc giáo hóa trong toàn Đế quốc.

Có thể nói, so với các nơi khác trên thế giới lúc bấy giờ, Đế quốc có tỷ lệ người biết chữ cao nhất. Ở Trung Hoa thì khỏi cần nói, các triều đại đều ‘độc tôn nho thuật’, thực hiện chính sách ngu dân. Ở Ấn Độ, do ảnh hưởng của Ấn Độ giáo (tiền thân là Bà La Môn giáo), sự phân chia 4 giai cấp rất rõ rệt, 2 tầng lớp dưới chiếm đại đa số dân chúng, và hầu như đều mù chữ. Còn ở phương Tây, lúc này đang trong thời kỳ đêm dài Trung Cổ, 1 nghìn năm đen tối.

Lịch pháp ở Đế quốc cũng sử dụng lịch âm theo kiểu phương đông (thật ra là Âm dương lịch, bởi vì có tính đến cả mặt trời và mặt trăng, nên mới có tháng nhuận), nhưng Giang Phong không cho sử dụng cách tính niên đại theo kiểu các triều đại phong kiến lúc bấy giờ, như Vĩnh Lạc nguyên niên, Vĩnh Lạc đệ thập niên, … của Minh triều, hay Thánh Nguyên nguyên niên của Hồ Quý Ly, Thiệu Thành nguyên niên, Khai Đại đệ ngũ niên, … của Hồ Hán Thương. Cách tính như thế rất phiền phức, khó nhớ, khó tính. Chẳng hạn từ Thánh Nguyên nguyên niên (năm Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, mở đầu nhà Hồ) cho đến Khai Đại đệ ngũ niên (năm mà Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt, nhà Hồ diệt vong) là bao nhiêu năm. Nếu không nhớ lịch sử thì làm sao tính ra.

Thánh Nguyên nguyên niên (1400, Hồ Quý Ly chỉ làm vua 1 năm, rồi nhường ngôi cho con mà làm Thái Thượng Hoàng), Thiệu Thành nguyên niên (1401), Thiệu Thành đệ nhị niên (1402), Khai Đại nguyên niên (1403), Khai Đại đệ nhị niên (1404), … Khai Đại đệ ngũ niên (1407). Tính ra nhà Hồ kéo dài gần 8 năm.

Tính toán kiểu đó quá khó khăn và phiền phức, do đó Giang Phong không đặt niên hiệu, mà cho sử dụng Giang lịch, tức lịch của Giang tộc. Tây lịch tính năm bắt đầu là Công nguyên, tức là năm chúa Jesu giáng sinh, Công giáo ra đời. Giang lịch của Giang Phong tính năm bắt đầu là khởi nguyên của văn hóa Thục sơn. Chỉ có điều Giang Phong không biết nền văn hóa Thục sơn chính thức khởi nguyên vào năm nào, nên lấy tượng trưng, kể đến năm Giang Phong xuyên việt là 3 vạn 9.500 năm. Tức là năm nay, năm Tân Mão (1411) là Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.513, thật là nghe rất oai. Giang Phong là thần, lời của Giang Phong cũng là thần dụ. Mọi người đều xem năm Giang lịch nguyên niên là năm mà Giang tộc dựng nghiệp, truyền đến lúc này đã gần 4 vạn năm.

Ngoài ra, trải qua gần 10 năm nghiên cứu, các thuật sĩ ở Thái Học Viện cũng đã chế tạo thành công Khai hoa đạn theo yêu cầu của Giang Phong, tuy còn nhiều hạn chế, nhưng cũng đã là một bước tiến vượt bậc. Nguyên lý của Khai hoa đạn là sử dụng viên đạn rỗng, bên trong chứa hỏa dược và các mảnh sắt bén nhọn, có dây cháy chậm nối với bên ngoài. Khi điểm hỏa thần công đại pháo, dây cháy chậm cũng được điểm hỏa, cháy dần vào bên trong. Bọn họ hiện chỉ có thể khống chế thời gian cháy chậm khoảng từ 3 đến 5 giây. Do đó phạm vi oanh kích của Khai hoa đạn chỉ vào khoảng 1 dặm đến 2 dặm (tức từ 400 đến 800 mét). Với nguyên lý này, nếu bắn quá xa, khi dây cháy chậm cháy hết, dù chưa đến mục tiêu, Khai hoa đạn vẫn nổ trên không trung; còn nếu bắn quá gần, dây cháy chậm chưa cháy hết, thì dù đến mục tiêu, Khai hoa đạn vẫn chưa nổ. Tuy bị hạn chế như vậy, nhưng Giang Phong cũng rất hài lòng, khen thưởng chúng thuật sĩ, bảo bọn họ cố gắng cải tiến thêm; đồng thời truyền lệnh cho Xưởng quân khí chế tạo thật nhiều Khai hoa đạn.

Năm nay, ở ngoài Đại Việt cũng là lúc Minh triều sai Trương Phụ dẫn quân sang tiếp viện cho Mộc Thạnh để đánh dẹp quân khởi nghĩa của Trùng Quang Đế. Giang Phong ngại mang tiếng, không muốn can thiệp vào công việc của họ Trần (Giản Định Đế và Trùng Quang Đế đều đa nghi), nên chuyển sự chú ý sang phía nam và phía tây.

Phía nam các xứ Java và Bali có một hòn đảo rất lớn (Úc Đại Lợi hay châu Úc), nằm cách quận Timor của tỉnh Bali chỉ 1.200 dặm (tức 480 kilômét), trên đảo cư dân thưa thớt. Sau nhiều năm thăm dò, Giang Phong đã phái Hạm đội đến đấy, xây dựng các khu định cư đầu tiên. Trên đảo có nhiều mỏ quặng và đồng cỏ, thích hợp phát triển khai khoáng và chăn nuôi. Đảo này được Giang Phong đặt tên là Minh Châu, vì cư dân quá ít, chưa đặt quận huyện, tạm thời do triều đình trực tiếp quản lý.

Phía đông tỉnh Bali có một hòn đảo lớn tương đương đảo Puni (đảo New Guinea, diện tích 786.000 kilômét vuông), sau nhiều năm quấy nhiễu, Giang Phong đã cho sát nhập hẳn vào Đế quốc, đặt làm 9 tỉnh : Đông An, Đông Anh, Đông Ba, Đông Bình, Đông Cơ, Đông Cương, Đông Hà, Đông Hiệp, Đông Hưng. Dân cư trên đảo cũng ước 100 vạn, nhưng vì còn quá lạc hậu, vẫn còn sống theo kiểu bộ lạc, cởi trần đóng khố, săn bắn hái lượm, nên chỉ mới đặt tỉnh, chưa đặt quận huyện, chờ giáo hóa dần dần. Khi nào dân bản địa đạt đến mức văn minh cần thiết thì mới thiết lập quận huyện.

Vấn đề hai xứ đó chỉ là chuyện nhỏ, không quan trọng lắm. Vấn đề ưu tiên của Đế quốc lúc bấy giờ là việc ở xứ Tích Lan, phía tây bắc hải đồn An Đạt Man.

Tích Lan, còn gọi là Ceylon hay Sri Lanka, là một hòn đảo nằm cách khoảng 31 kilômét ngoài khơi bờ biển phía nam Ấn Độ. Sri Lanka luôn là một cảng biển và là đầu mối thương mại quan trọng giữa phương đông và phương tây. Các thương thuyền từ các xứ Ả Rập, Ba Tư, Miến Điện, Thái, Mã Lai, Java, cũng như các vùng khác ở Nam Dương ngày càng lui tới đây đông hơn. Nửa phía bắc của Tích Lan lúc này đang do Vương triều Vijayanagara (tên đầy đủ là Vijayanagara Sāmrājyamu, còn được gọi là Vương quốc Bisnaga) ở nam Ấn Độ kiểm soát, do tiểu vương Aryacakravarti cai quản. Nửa phía nam là lãnh thổ của tiểu quốc Raigama, do tiểu vương Vira Alakesvara cai quản. Trong lịch sử, vị tiểu vương này có xung đột với Trịnh Hòa năm 1409, rồi bị bắt giải về Kim Lăng, sau được thả về, nhưng buồn bực mà qua đời vào năm nay (1411), sang năm sau thì tiểu quốc Raigama bị tiểu quốc Kotte thay thế. Có điều, Trịnh Hòa đã tử trận ở Chiêm Thành mấy năm trước, nên vị tiểu vương này giờ đây vẫn còn làm vua rất vui vẻ ở Raigama.

gianghoaingoc
07-10-2010, 04:45 AM
Chương 43 : TÍCH LAN (1)


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.513 (Tân Mão, 1411), mùa hạ.

Do có nhiều bất đồng với Vương triều Vijayanagara (đóng đô ở Vijayanagara trên cao nguyên Deccan ở nam Ấn Độ) về các vấn đề thương mại, Cát Ti đề nghị Đế quốc nên tiến chiếm Tích Lan, ngăn chặn ảnh hưởng của Vương triều Vijayanagara ở đấy. Tích Lan là một hải cảng quan trọng trong giao thương giữa phương đông và phương tây, nếu rơi vào tay Vương triều Vijayanagara thì đối với Đế quốc vô cùng bất lợi. Nửa phía bắc của Tích Lan lúc này đang do Vương triều Vijayanagara kiểm soát, do tiểu vương Aryacakravarti cai quản. Nửa phía nam là lãnh thổ của tiểu quốc Raigama bản địa, do tiểu vương Vira Alakesvara thống trị. Thật tế là gần đây tiểu quốc Raigama liên tục bị tiểu quốc Aryacakravarti (còn gọi là tiểu quốc Jaffna vì đóng đô ở bán đảo Jaffna miền bắc Tích Lan) uy hiếp.

Mùa thu tháng 7, Giang Phong phái Đinh An Bình thống lĩnh Tây Dương Hạm đội chở theo Định Hải quân và Trấn Phong quân tiến chiếm Tích Lan.

Tháng 9, Tây Dương Hạm đội đến được bờ biển phía nam Tích Lan, lãnh thổ của tiểu quốc Raigama. Định Hải quân và Trấn Phong quân đổ bộ lên bờ, cắm trại ở Magarapura, ngay bên cửa sông. Một tòa tiểu thành nhanh chóng được xây dựng ở đấy, được đặt tên là Nam Lan Thành (thành ở phía nam Tích Lan). Cuối tháng, một vạn dân di cư cũng được đưa đến đấy để hình thành nên khu định cư đầu tiên. Tiến trình khai thác Tích Lan bắt đầu.

Tháng 10, tiểu vương Raigama phái một đạo quân 5 vạn người tiến đánh Magarapura. Song phương giao chiến ngay trên cánh đồng phía bắc Nam Lan Thành. Quân đội Thần Thánh Đế quốc lấy khỏe đánh mệt, lấy đông đánh ít, lại nhờ sự hỗ trợ của các khẩu thần công trên mặt thành, nên đã chiến thắng vang dội. Năm vạn quân Raigama bị 6 vạn quân Đế quốc vây đánh, bị đại pháo oanh kích, đặc biệt là khi Đinh An Bình vâng lệnh Giang Phong, cho thử nghiệm Khai hoa đạn trong thật chiến, khiến quân Raigama thiệt hại thảm trọng. Sau gần một ngày giao chiến, lại trải qua năm ngày truy sát, cuối cùng chỉ có hơn 5.000 quân Raigama chạy thoát. Quân đội Đế quốc bắt được hơn 2 vạn tù binh. Số tù binh này ngay lập tức bị đưa đến Sumatra làm việc trong các mỏ vàng. Đinh An Bình không dám để bọn họ ở lại Nam Lan Thành, sợ có bất trắc.

Tháng 11, khu định cư thứ hai được xây dựng ở Gadawaga, ngay một cửa sông khác nằm về phía tây Magarapura. Đế quốc phái Thần Sách quân đến Tích Lan, và Đinh An Bình giao cho trấn thủ ở đấy. Một tòa thành thứ hai được xây dựng, được đặt tên là Thúy Lan Thành. Đồng thời, Đinh An Bình phái Trấn Phong quân tiến chiếm Ratnapura, một khu vực khai thác đá quý ở về thượng nguồn con sông chảy qua Thúy Lan Thành, và xây dựng ở đấy tòa thành thứ ba, Bảo Lan Thành. Sau đó, Thần Sách quân được giao trấn thủ 3 tòa thành ấy và bình định các vùng lân cận. Trấn Phong quân và Định Hải quân tích cực chuẩn bị chiến tranh.

Tháng 12, tiểu vương Raigama huy động quân đội toàn tiểu quốc được hơn 10 vạn, kéo đến tái chiếm Ratnapura. Tiểu vương Raigama có thể từ bỏ Magarapura, cũng có thể từ bỏ Gadawaga, nhưng tuyệt đối không thể từ bỏ Ratnapura, nơi cung cấp đá quý cho tiểu quốc, là một nguồn thu nhập quan trọng của tiểu quốc.

Giữa tháng 12, trận chiến Ratnapura bùng nổ. Một bên là 10 vạn quân Raigama, một bên là 7 vạn quân Đế quốc (Định Hải quân, Trấn Phong quân và 1 sư của Thần Sách quân). Vì địch quân đông hơn, không có ưu thế về quân số, Đinh An Bình đã cho quân sử dụng hết sạch số Khai hoa đạn hiện có, tiến hành đồ sát quân Raigama. Có điều, do có kinh nghiệm từ trận chiến Magarapura, Đinh An Bình cho sử dụng Khai hoa đạn khá phân tán, mục tiêu chủ yếu là trọng thương địch quân (để còn bắt làm tù binh). Trong số địch quân thương vong vì Khai hoa đạn, chỉ có chưa đến 3 phần trận vong.

Đang chỉ huy chiến đấu, Đinh An Bình chợt nhìn thấy trong quân đội Raigama có một toán quân chiến đấu cực kỳ kiên cường, hãn bất úy tử. Khi mà các toán quân khác thấy thế bất lợi, đã chuẩn bị tháo lui thì bọn họ vẫn kiên quyết tiến công, một bước không lùi. Đinh An Bình cau mày, truyền lệnh :

- Tất cả thần công đại pháo tập trung tiêu diệt toán hãn binh kia.

Lập tức, thần công đại pháo tập trung rải đạn xuống đầu toán quân kia. Khi đã hết Khai hoa đạn, xạ thủ lại sử dụng loại đạn thông thường, tiếp tục oanh kích mục tiêu. Vậy mà 1 vạn hãn binh kia vẫn kiên trì chiến đấu cho đến người cuối cùng. Đinh An Bình cũng phải thầm thán phục chủ soái của toán quân đó, bảo với chư tùy tướng :

- Thăm dò xem toán hãn binh đó do ai chỉ huy.

Trận chiến vẫn tiếp diễn, nhưng khi toán hãn binh kia toàn thể trận vong thì quân Raigama bại thế đã định. Các toán quân còn lại của tiểu quốc Raigama lần lượt rút lui khỏi chiến trường. Thế nhưng, người xưa có câu “Binh bại như sơn đảo”, một khi bại thế đã thành định cục thì bại binh khó mà kiểm soát được. Quân Raigama định yên ổn rút lui, nhưng nào ngờ khi Định Hải quân và Trấn Phong quân chia đường đuổi theo truy sát thì bắt đầu mạnh ai nấy chạy, binh chẳng tìm thấy tướng, tướng chẳng quản được binh. Kết quả, rút lui biến thành tháo chạy, quân Raigama hoàn toàn tan rã, bại binh tháo chạy tán loạn. Đinh An Bình chia Định Hải quân và Trấn Phong quân thành 6 đạo, mỗi đạo 1 sư, chia đường truy sát tàn binh Raigama. Kết cục, chỉ có chưa đến 2 vạn tàn quân chạy về được đến Raigama. Vương tử Parakrama Bahu, thống soái quân Raigama, cùng hàng trăm viên tướng tử trận.

Sau trận chiến, Đinh An Bình mới biết toán hãn binh kia chính là toán thân binh của vương tử Parakrama Bahu. Bọn họ được huấn luyện trở thành quân tinh nhuệ bậc nhất của tiểu quốc Raigama để chống lại sự xâm lấn của tiểu quốc Aryacakravarti ở phương bắc, bấy lâu nay lập được rất nhiều chiến công, nào ngờ giờ đây toàn diệt. Thống kê chiến quả, quân Đế quốc tử trận hơn 1.000, thọ thương gần một phần ba, nhưng đã giết được 1 vạn rưỡi địch quân, bắt được 6 vạn tù binh, kể cả thương binh. Chiến quả huy hoàng. Công lao lớn nhất trong trận này không phải Định Hải quân, cũng chẳng phải Trấn Phong quân, mà chính là Khai hoa đạn. Đinh An Bình lập tức dâng biểu về triều xin bổ sung thêm đạn dược, đặc biệt là Khai hoa đạn.

Cũng như lần trước, toàn bộ tù binh lập tức được chuyển đến Sumatra, nếu là thương binh thì cũng chỉ được chữa trị cho đến khi thương thế ổn định rồi lần lượt chuyển đi. Đinh An Bình quyết không để cho tiểu quốc Raigama có cơ hội phục hồi quân lực. Tổn thất trong trận chiến này đã làm cho tiểu quốc Raigama kiệt quệ.

Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.514 (Nhâm Thìn, 1412), mùa xuân tháng giêng.

Đợi cho quân sĩ dưỡng thương, khôi phục chiến lực xong, Đinh An Bình quyết định tiến đánh Raigama. Kinh đô Raigama của tiểu quốc Raigama nằm ở miền trung tây đảo Tích Lan, ở về phía tây bắc Bảo Lan Thành, cách bờ biển phía tây của đảo Tích Lan cũng không xa. Đinh An Bình chỉ để lại 4.000 quân trấn thủ Bảo Lan Thành, 3.000 quân trấn thủ Thúy Lan Thành và 3.000 quân trấn thủ Nam Lan Thành. Định Hải quân, Trấn Phong quân và 2 sư của Thần Sách quân, tổng cộng 8 vạn được huy động tiến đánh Raigama.

Cuối tháng giêng, đại quân xuất chinh. Đầu tháng hai, chiến hạm của Tây Dương Hạm đội chở quân đến khu vực bờ biển gần Raigama. Đại quân đổ bộ lên đó, rồi tiến về thành Raigama. So với hai trận chiến trước. Trận này chẳng có gì đáng kể. Quân đội Đế quốc đông hơn quân Raigama gấp ba lần, trang bị tinh lương, sĩ khí cao ngất, chiến lực hùng hậu. Quân Raigama chỉ chống cự một cách yếu ớt, sau vài trận pháo kích, tiểu vương Vira Alakesvara bỏ thành, dẫn tàn quân chạy về vùng núi phía đông bắc.

Đinh An Bình chiếm lĩnh Raigama, cải tên thành Trung Lan Thành, ổn định tình hình trong thành, bình định các vùng lân cận, đồng thời phái người dò tìm tông tích tiểu vương Vira Alakesvara. Giữa tháng hai, Đinh An Bình đang chuẩn bị cất quân truy quét tàn quân Raigama thì được tin báo tiểu vương Aryacakravarti đã ra tay trước. Quân Aryacakravarti vượt biên giới tràn vào lãnh thổ Raigama, bắt giết tiểu vương Vira Alakesvara và chiếm lĩnh một vùng đất rộng lớn ở phía đông.

Đinh An Bình cả giận, phái người đến trách tiểu vương Aryacakravarti. Tiểu vương Aryacakravarti cũng tức giận mắng sứ giả, đuổi về. Song phương chính thức kết thù. Tháng 3, Đinh An Bình phái hạm đội đến phong tỏa bán đảo Jaffna, cắt đứt liên hệ giữa kinh đô Jaffna với phần còn lại của tiểu quốc.

Mùa hạ tháng 5, Thần Vũ quân được phái đến Tích Lan. Đinh An Bình huy động Định Hải quân, Trấn Phong quân, Thần Vũ quân và 1 sư của Thần Sách quân, tổng cộng 10 vạn tiến đánh bán đảo Jaffna. Như thường lệ, đại quân vây thành và tập trung thần công đại pháo liên tục oanh kích vào thành. Quân đội Aryacakravarti bị phong tỏa đã gần 3 tháng, vật tư thiếu thốn, nhưng vẫn kiên quyết tử thủ chờ viện binh. Tiểu quốc Aryacakravarti là một bộ phận của Vương triều Vijayanagara ở nam Ấn Độ, nên đã gửi sứ giả đi cầu viện.

gianghoaingoc
07-10-2010, 09:24 PM
Chương 44 : TÍCH LAN (2)


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.514 (Nhâm Thìn, 1412), mùa hạ tháng 6.

Tiểu quốc Aryacakravarti vốn là một bộ phận của Vương triều Vijayanagara ở nam Ấn Độ, nên khi bị bao vây phong tỏa đã gửi sứ giả đi cầu viện. Đầu tháng 6, thủy quân Vijayanagara (gọi là thủy quân bởi không có chiến hạm theo tiêu chuẩn Thần Thánh Đế quốc, không thể gọi là Hạm đội) chở viện quân sang Tích Lan gặp phải các chiến hạm của Tây Dương Hạm đội gần đảo Punkudutivu, ngoài khơi Jaffna. Trận hải chiến nổ ra rất nhanh và cũng kết thúc rất nhanh. Trận hải chiến diễn ra hoàn toàn ngoài sự tưởng tượng của thủy quân Vijayanagara. Thông thường, thủy chiến hay hải chiến thì chiến thuyền song phương tiến lại gần nhau. Cung thủ song phương dùng cung tên, nỏ, máy bắn đá tấn công. Sau đó các chiến thuyền áp sát vào nhau và thủy quân hỗn chiến.

Nhưng Hải quân của Thần Thánh Đế quốc được huấn luyện chiến thuật khác hẳn. Ngay từ khi mới thành lập, do thiếu quân, Giang Phong đã cấm chỉ hỗn chiến, bởi kết quả của hỗn chiến luôn là hao binh tổn tướng, ‘sát địch nhất thiên tự tổn bát bách’, dù thắng hay bại đều thiệt hại nặng nề.

Các chiến hạm, chiến thuyền của Tây Dương Hạm đội khi phát hiện địch thuyền đều chạy ra xa ngoài mấy dặm, sau đó mới quay đầu và … khai pháo. Ở cự ly đó, cung tên, nỏ hay máy bắn đá đều vô dụng. Các loại hỏa khí đơn giản cũng kém hiệu quả. Chỉ có thần công đại pháo là còn duy trì được oai lực.

Hải quân của Đế quốc đã thành lập hơn 10 năm, đã trải qua vô số trận chiến đấu lớn nhỏ, kinh nghiệm phong phú, kỹ thuật thuần thục. Sau hơn 10 lượt oanh kích, quá nửa số chiến thuyền của thủy quân Vijayanagara bị đánh chìm. Trên mặt biển trôi bồng bềnh hàng vạn sĩ binh Vijayanagara, vốn là viện quân cho Jaffna. Số chiến thuyền còn lại khiếp quá, vội vã giương cờ trắng đầu hàng.

Đến lúc này, các thủy thủ của Tây Dương Hạm đội mới thấy khổ. Lúc oanh kích địch thuyền thì sướng khoái vô cùng. Nhưng đến khi cứu những tù binh đang trôi trên biển thì thật hao công tốn sức. Trận này, Tây Dương Hạm đội bắt sống gần 10 vạn tù binh (bị trúng đạn hoặc chết đuối hơn nghìn người), thu được hơn 400 ‘tiểu’ chiến thuyền (tính theo tiêu chuẩn của Đế quốc, những thuyền nào ngắn hơn 16 trượng, tức 64 mét, đều là ‘tiểu’).

Sau khi tiêu diệt thủy quân Vijayanagara, Đinh An Bình cho các khẩu pháo trên chiến hạm cùng thần công đại pháo của lục quân tập trung lại liên tục oanh kích Jaffna, đồng thời không quên bắt loa gọi dân trong thành đầu hàng. Dù vậy, thủ quân vẫn kiên cường chống trả. Đại pháo thời này còn quá sơ khai, oai lực không cao nên mới oanh kích suốt gần một tháng mà chưa công phá được thành. Cũng có thể vì thành này quá kiên cố, thủ quân quá kiên cường.

Đến giữa tháng 6, không còn kiên nhẫn được nữa, Soái hạm chuyển đến Jaffna, Đinh An Bình quyết định đích thân chỉ huy công thành. Đầu tiên, binh sĩ được lệnh đào đất đắp thành những ngọn đồi cao bên ngoài thành, cách tường thành khoảng 1 dặm (400 mét). Sau đó, những khẩu thần công cỡ nhỏ của lục quân được kéo lên đồi. Khai hoa đạn được cho vào nòng pháo, rồi Đinh An Bình truyền lệnh phát xạ, xạ thủ châm ngòi, rải đạn vào trong thành.

Ban đầu vì định chiếm lĩnh Jaffna nên xạ thủ được lệnh chỉ sử dụng loại đạn pháo thông thường, không sử dụng Khai hoa đạn, sợ làm dân chúng trong thành thiệt mạng với số lượng lớn. Nhưng giờ đây, khi thấy dân trong thành giúp đỡ thủ quân phòng thủ, Đinh An Bình đánh giá dân trong thành toàn là nghịch dân, mà lại là loại cực kỳ ngoan cố, do đó đã cho sử dụng đến Khai hoa đạn.

Đạn pháo rải vào trong thành, lập tức tạo nên vô số tiếng gào thét thê lương, kêu la thảm thiết. Trong phạm vi 1 dặm kể từ tường thành trở vào, khói lửa ngút trời, người thọ thương vô số, tiếng khóc lóc kêu gào vang dội khắp nơi. Hàng trăm khẩu pháo đồng loạt phát xạ, mỗi viên Khai hoa đạn khi phát nổ lại bắn ra hàng trăm mảnh sắt bén nhọn. Thành ra mỗi lượt pháo kích có đến hơn chục vạn mảnh sắt rải xuống đầu quân dân trong thành. Quang cảnh vô cùng khủng bố.

Đại pháo phát xạ đồng thời cũng dọn sạch thủ quân đang phòng ngự trên tường thành. Ngay lúc đó, một số khẩu đại pháo khác cũng nhả đạn vào cổng thành. Sử dụng đại pháo phá thành nhanh hơn là sử dụng Xung xa, Công thành xa. Sau một lúc, cổng thành bằng sắt bị bắn vỡ. Đại pháo ngừng phát xạ. Đại quân tràn vào trong thành.

Quân Jaffna chống cự rất ngoan cường. Nhưng đến khi thấy đối phương dọn đường dẫn đại pháo vào thành, thì thủ quân lại nghĩ đến thảm cảnh khi nãy, ý chí chiến đấu giảm dần, và cũng đã có một số bắt đầu đào ngũ.

Do đã xác định dân trong thành là nghịch dân loại ngoan cố nhất, Đinh An Bình không ngại gì cả, truyền lệnh đại pháo nhắm vào nơi nào có nhiều địch quân mà oanh kích. Chỉ sau vài lượt phát xạ, quân Jaffna đua nhau tháo chạy, thành Jaffna thất thủ. Đinh An Bình một mặt kiểm soát toàn thành, một mặt phái quân truy sát bại binh.

Bán đảo Jaffna đã bị Tây Dương Hạm đội phong tỏa mấy tháng nay, bại binh có thể chạy đi đâu được. Kết quả chỉ sau hơn nửa tháng truy quét, tất cả đều bị bắt. Tiểu vương Aryacakravarti chết trong đám loạn quân.

Tù binh theo như thông lệ, được đưa hết đến Sumatra. Dân trên bán đảo được chia thành 2 loại : dân ngoài thành được xem là lương dân, dân trong thành bị xem là nghịch dân, chiếu theo chế độ của Đế quốc mà xử lý.

Chiếm xong Jaffna, Đinh An Bình phái Trấn Phong quân, Thần Vũ quân chia nhau đi bình định các xứ thuộc tiểu quốc Aryacakravarti; để lại 3.000 quân trấn thủ Jaffna, còn lại Định Hải quân và 7.000 quân thuộc Thần Sách quân đi theo Hạm đội tác chiến. Sau đó, Đinh An Bình đích thân đưa các chiến hạm của Tây Dương Hạm đội tiến về phía tây. Thế là các thành trấn dọc theo bờ biển phía bên kia lập tức tao ương. Tây Dương Hạm đội lập lại chiến thuật đã sử dụng ở Java, tấn công tất cả những thành trấn nằm dọc theo bờ biển và có tường thành. Những khu dân cư nào không có tường thành thì được bỏ qua. Bọn họ thấy nơi nào thủ quân đông, thành trì kiên cố thì quấy nhiễu; thấy nơi nào thủ quân ít, thành trì sơ sài thì tấn công cướp phá.

(chú : thời xưa, Hải quân đồng thời cũng là Hải tặc, thậm chí các thương thuyền cũng có thể biến thành Hải tặc, đó là chuyện rất bình thường. Không chỉ có thế, có thời kỳ các triều đình ở châu Âu còn cho phép thương thuyền nước mình tự vũ trang, cướp phá các thương thuyền hay thành trấn của địch quốc, không chỉ chiến lợi phẩm tự xử lý mà còn có quân công).

Không phải Đinh An Bình không muốn chiếm lĩnh các xứ này, nhưng theo tin tức thu được, quân đội của Vương triều Vijayanagara đông đến 110 vạn, chỉ riêng đội thân binh của Quốc vương ở Vijayanagara trên cao nguyên Deccan cũng đông đến 10 vạn bộ binh, 2 vạn kỵ binh (cavalrymen) cùng với 900 con voi. Trước một lực lượng hùng hậu như thế, Giang Phong không có ý định trực diện đối địch. Hòa hảo là tốt nhất.

Trước sự quấy nhiễu và cướp phá của Tây Dương Hạm đội, Vương triều Vijayanagara thiệt hại nặng nề. Bọn họ cũng đã từng tập trung binh lực định vây đánh quân đội Đế quốc. Nhưng Đinh An Bình đâu để bọn họ toại nguyện. Gã không bao giờ cho quân đi xa bờ biển, và thấy có vấn đề gì là lập tức lên thuyền chuyển đi nơi khác ngay. Thành ra quân đội của Vương triều Vijayanagara mải lo ứng phó chỗ này thì lửa đã cháy ở chỗ kia, phản ứng không kịp. Cuối cùng quốc vương của Vijayanagara quyết định cầu hòa.

Sau gần 3 tháng cướp phá, thấy không còn chỗ nào có thể tiếp tục nữa, Đinh An Bình cũng quyết định chấp nhận đề nghị giảng hòa của Vương triều Vijayanagara. Được sự chấp thuận của Giang Phong, bọn Đinh An Bình đã cùng sứ giả của Vương triều Vijayanagara ký kết Jaffna điều ước. Song phương thỏa thuận :

1. Hai nước hòa hảo, thân thiện.

2. Quân đội của Thần Thánh Đế quốc không được đặt chân lên lãnh thổ của Vương triều Vijayanagara nếu không được triều đình Vijayanagara đồng ý.

3. Vương triều Vijayanagara công nhận Tích Lan và các hải đảo ngoài biển thuộc về Thần Thánh Đế quốc.

4. Vương triều Vijayanagara “tặng” cho Thần Thánh Đế quốc 10 vạn cân vàng.

5. Thần thánh Đế quốc “tặng” cho Vương triều Vijayanagara 100 khẩu thần công đại pháo.

(chú : 10 vạn cân chỉ tương đương 160 vạn lượng, đối với các vương triều Ấn Độ là không nhiều. Ngày trước khi quân Anh chiếm Ấn Độ, lượng vàng trong kho của các tiểu vương là ‘vô số’, ‘không thể thống kê được’, mà ở Ấn Độ có đến hàng trăm tiểu vương. Kho tàng của các Vương triều càng khủng bố hơn).

Giải quyết xong vấn đề với Vương triều Vijayanagara, các xứ ở Tích Lan cũng đã bình định xong, Đinh An Bình chỉ để lại Thần Sách quân trấn thủ Tích Lan, sau đó dẫn quân về Gia Định. Tỉnh Tích Lan được thành lập, gồm 7 quận : Nam Lan, Thúy Lan, Bảo Lan, Trung Lan, Bắc Lan (Jaffna), Đông Lan (Gokanna), Tây Lan (Maha Theta); thủ phủ đóng ở Bảo Lan để kiểm soát các mỏ đá quý tại đó. Các thành trấn có sẵn của các tiểu quốc ở đây được cải thành huyện, quan viên chọn trong số những người bản địa. Ở Tích Lan còn nổi tiếng với ngọc trai và ngà voi, nên Giang Phong đặc biệt coi trọng, cho một phân hạm đội của Tây Dương Hạm đội đóng ở đấy.

gianghoaingoc
08-10-2010, 01:23 PM
Chương 45 : ĐIỀU LO NGHĨ CỦA GIANG PHONG


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.514 (Nhâm Thìn, 1412), mùa đông tháng 11.

Gia Định Thành.

Bọn Đinh An Bình về đến Gia Định Thành, mang theo vô số cống vật : vàng, ngà voi, ngọc trai, và rất nhiều bảo vật khác. Cả những pho tượng đá, những biểu tượng đặc trưng văn hóa thu được từ Raigama và Raffna cũng được chở về. Những thứ này, trong mắt bọn Quảng Tế Pháp sư chỉ là những vật kỳ lạ, nhưng đối với Giang Phong nó có giá trị hơn nhiều.

Thành Đức Điện. Tiểu triều.

Sau khi nghe chúng thủ hạ hồi báo công việc như thường lệ, Giang Phong bỗng khẽ than :

- Đến giờ mới thấy Trường Thanh Cung quá nhỏ. Phải chi khi trước trẫm cho xây dựng lớn hơn.

Trường Thanh Cung thật ra rộng đến 4 kilômét vuông, nếu chỉ là một cung điện bình thường thì không hề nhỏ. Ngay cả Tử Cấm Thành mà Vĩnh Lạc đế đang dốc toàn quốc lực xây dựng, huy động hơn 100 vạn dân phu, phải mười mấy năm nữa mới xong, cũng chỉ rộng có 0,72 kilômét vuông. Thế nhưng, Trường Thanh Cung lại không phải là một cung điện bình thường, mà còn là nơi ở của Giang Phong, đồng thời cũng là nơi Giang Phong cất giữ tài sản của mình. Giang Phong bảo nhỏ, bởi vì lúc này các tài sản đó đã chiếm đến gần một nửa cung điện. Đương nhiên nếu chỉ châu ngọc vàng bạc thì không đến nỗi chiếm nhiều chỗ như thế. Giang Phong cho thu thập cả những tượng đá, hoa văn, điêu khắc, … tóm lại là đủ mọi thứ mà người hiện đại gọi là cổ vật văn hóa. Thậm chí, mấy tòa tháp đá nếu tháo ra vận chuyển được thì Giang Phong cũng đã cho mang luôn về đây, cuối cùng chất đầy trong cung. Số lượng các tiểu quốc mà Đế quốc đã chinh phục có đến hàng nghìn (Chiêm Thành và Vạn Tượng hơn trăm, Khmer và Thái hàng trăm, Majapahit nhiều hơn nữa, …), trải qua hàng trăm năm tích lũy, kho tàng cũng rất đáng kể. Đó là chưa kể đến mỗi tiểu quốc ít ra đều có cung điện và đền thờ. Sau này các nhà khảo cổ khi khai quật một di tích, thường thu được rất nhiều cổ vật. Đằng này Giang Phong không thu từ di tích mà là nguyên trạng. Thành ra tài bảo và cổ vật văn hóa nhiều vô kể, đến nỗi phải lo không có chỗ cất giữ. Trừ những tượng đá ra, các bảo bối khác đương nhiên không thể tùy tiện để chất đống ngoài sân vườn chịu mưa nắng, sương gió được.

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Thánh hoàng. Hay là chúng ta mở rộng cung điện.

Giang Phong nói :

- Trẫm cũng có ý đó. Chư khanh có phương án nào không ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Hiện tại phía nam và phía đông Trường Thanh Cung là sông rạch. Phía tây có một ít dân cư, phía bắc còn trống. Chúng ta có thể mở rộng ra phía tây và phía bắc.

Đào Anh nói :

- Khải tấu Thánh hoàng. Bên kia sông Gia Định còn rất rộng rãi, chúng ta có thể xây thêm cung điện bên đó, rồi xây cầu nối cả hai cung điện với nhau.

Triệu Phong nói :

- Không ổn. Ta nhớ trước đây Tần Thủy Hoàng xây cung điện ở hai bên sông Vị, rồi xây cầu nối lại với nhau. Làm như thế hóa ra chúng ta học theo Tần Thủy Hoàng sao ? Không tốt. Mà dường như cung điện của Tần Thủy Hoàng đó sau này bị thiêu rụi thì phải.

Quảng Tế Pháp sư gật đầu nói :

- Đúng thế. Sau này cung điện bị Hạng Vũ thiêu rụi.

Đào Anh vội biện bác :

- Ta không có ý đó.

Giang Phong khẽ cười, an ủi Đào Anh. Đinh An Bình xuất thân Cấm vệ trưởng, chỉ huy lực lượng bảo vệ Giang Phong trước đây, do đó quan tâm nhiều hơn đến vấn đề an ninh, nên nói :

- Nếu xây dựng hai cung điện, việc bảo vệ sẽ khó khăn hơn.

Giang Phong gật đầu. Ngoài vấn đề an ninh, Giang Phong còn có một lý do khác nữa. Giang Phong không muốn xây dựng hai cung điện, bởi muốn biến Trường Thanh Cung trở thành tòa cung điện lớn nhất thế giới. Có thể trước đây chỉ lớn nhất về quy mô, nhưng nhờ số lượng tài bảo và cổ vật văn hóa kia, chắc chắn sau này sẽ còn lớn nhất về giá trị, về nét đặc sắc, và về sự tráng lệ nguy nga. Do vậy, Giang Phong phán :

- Đồng thời mở rộng sang phía tây và phía bắc 5 dặm. Chính bắc và tây bắc tạm thời làm viên lâm, dự phòng cho sau này. Chính tây chia thành nhiều khu, mỗi khu vuông vức 2,5 dặm, dành cho một chủ đề riêng như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, …

Giang Phong chỉ đề ra ý tưởng, còn thiết kế, thực hiện là việc của bọn Quảng Tế Pháp sư. Sự việc như thế là đã được quyết định. Giang Phong hy vọng rằng các khu trưng bày đó, do tập trung rất nhiều bảo vật của các tôn giáo, sau này có thể trở thành thánh địa để các tín đồ đến viếng, chiêm ngưỡng. Trường Thanh Cung sau khi mở rộng sẽ có diện tích 100 dặm vuông (10x10 dặm), tức 16 kilômét vuông (4x4 kilômét). Chủ yếu công trình tập trung ở khu vực chính tây và bức tường thành bao quanh cung điện. Còn khu vực chính bắc và tây bắc chỉ phải trồng thêm cây xanh, tạo giả sơn và đào hồ, suối để tạo thành viên lâm, khối lượng công việc tuy không ít, nhưng đơn giản.

Tiếp đó, Giang Phong lại bảo :

- Triệu Phong và An Bình tiếp tục luyện quân, chuẩn bị cho kế hoạch sắp tới. Tuyên triệu Lý Ngân hồi triều. Truyền Thế Căng khẩn trương luyện quân, chuẩn bị bắc tiến.

Kế hoạch sắp tới đương nhiên là đối phó quân Minh, giành lại Đại Việt. Giang Phong không can thiệp lúc này vì ngại Giản Định Đế và Trùng Quang Đế nghi kỵ. Hai người đó nổi danh đa nghi, không khéo chưa đánh được quân Minh đã biến thành nội chiến, khiến quân Minh hưởng lợi. Thà rằng Giang Phong tự đánh quân Minh. Và Giang Phong đã quyết định khi quân Trần bị tiêu diệt thì sẽ xuất quân bắc tiến. Đương nhiên bắc tiến theo kiểu của Giang Phong.

Sau khi mọi người lĩnh chỉ, Giang Phong lại hỏi :

- Tình hình Đài Loan thế nào ?

Đinh An Bình tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Đài Loan hiện đã ổn định. Dân di cư và dân bản địa đã chịu sống hòa hợp với nhau. Trước đây có một số kẻ chống đối đều đã bị phán là nghịch dân, đưa đến Sumatra hết rồi.

Giang Phong hài lòng bảo :

- Điều 8 quân Thần Vũ, Thần Uy, Thần Long, Uy Tiệp, Long Tiệp, Trấn Ninh, Trấn Phong, Định Hải đến đảo Đài Loan luyện quân để thích nghi với khí hậu phương bắc. Triệu Phong quản việc này.

Triệu Phong cả mừng vâng dạ lĩnh chỉ. Giang Phong lại bảo Quảng Tế Pháp sư :

- Nghe nói người Mông Cổ đã khôi phục phần nào thực lực, đang quấy nhiễu biên giới Minh triều. Khanh hãy cho người liên hệ với các bộ tộc Mông Cổ, viện trợ lương thực khí giới cho bọn họ. Đương nhiên chúng ta cũng không thể chịu thiệt, hãy đổi lấy chiến mã về. Trẫm định sẽ thành lập kỵ binh.

Quảng Tế Pháp sư vâng dạ lĩnh chỉ. Việc này cũng bình thường, kẻ địch của kẻ địch chính là bạn. Viện trợ cho Mông Cổ để bọn họ quấy nhiễu Minh triều, đối với Đế quốc rất có lợi. Hơn nữa, Mông Cổ thiếu vũ khí nhưng thừa chiến mã, đổi chiến mã về để thành lập kỵ binh càng có lợi hơn. Kỵ binh Mông Cổ danh vang thiên hạ kia mà. Chiến mã Mông Cổ thấp bé, tốc độ không nhanh bằng chiến mã Đại Uyển, A Lạp Bá; nhưng có sức bền rất tốt, có thể tác chiến xa, lâu dài, thích hợp quân đội viễn chinh.

Đinh An Bình chợt hỏi :

- Khải tấu Thánh hoàng. Còn xứ Lưu Cầu giải quyết thế nào ạ ? Bọn họ hiện vẫn triều cống cho Minh triều.

Giang Phong ngẫm nghĩ giây lát, rồi nói :

- Vậy hãy thành lập quận Lưu Cầu thuộc tỉnh Đài Loan.

Đinh An Bình vâng dạ, lĩnh chỉ. Triệu Phong chợt nói :

- Thánh hoàng. Nghe nói Khai hoa đạn hiệu quả rất tốt. Xin hãy trang bị cho các đạo lục quân để thần có thể huấn luyện những chiến thuật tác chiến mới.

Giang Phong mỉm cười nói :

- Trẫm đã truyền lệnh mở rộng Xưởng quân khí, toàn lực sản xuất đạn dược để trang bị cho toàn quân.

Sau đó bãi triều. Mọi người ai lo việc nấy. Triệu Phong lập tức điều động 8 đạo quân chuẩn bị, rồi liên hệ với Hải quân vận chuyển bọn họ đến Đài Loan huấn luyện. Quảng Tế Pháp sư một mặt chuẩn bị khởi công mở rộng cung điện, một mặt tổ chức sứ đoàn đi Mông Cổ. Còn Soái hạm của Đinh An Bình thì di chuyển đến Lưu Cầu. Chỉ cần vài chục chiến hạm dàn hàng ngoài khơi cũng đủ khiến quân dân Lưu Cầu kinh hoàng thất sắc. Quốc vương Lưu Cầu dâng biểu cầu hòa, nhưng bị từ chối. Sau mấy trận oanh kích, quân Lưu Cầu trói quốc vương lại, mở cửa thành bảo đầu hàng. Lưu Cầu chịu ảnh hưởng của Nhật Bản nhiều hơn Trung Hoa, nên họ xây dựng thành bảo chứ không phải phương thành theo kiểu Trung Hoa.

Chiếm lĩnh kinh đô của Lưu Cầu, Đinh An Bình hiểu dụ quân dân các xứ thuộc Lưu Cầu đầu hàng, sau đó thiết lập hệ thống quan lại, sử dụng hàng binh Lưu Cầu đảm nhiệm các chức trách ở các huyện. Xong đâu đấy, các chiến hạm lại nhổ neo, đi bình định các đảo trong vùng vốn không thuộc Lưu Cầu. Theo quan điểm của Đinh An Bình, những hòn đảo ngoài biển mà không thuộc về quốc gia nào thì đều thuộc về Đế quốc; Hải quân của Đế quốc có thể hoạt động đến đâu thì nơi đó thuộc về lãnh hải của Đế quốc. Thời này các quốc gia còn chưa có khái niệm lãnh hải (mới có khái niệm lãnh thổ), thậm chí nhiều quốc gia còn có “Cấm hải lệnh” cấm đóng thuyền lớn đi biển, hay như Minh triều cấm cả ngư dân đi biển. Do vậy mà không có ai tranh giành quyền lãnh hải với bọn Đinh An Bình.

gianghoaingoc
09-10-2010, 10:20 AM
Chương 46 : HỒNG LONG PHÂN HẠM ĐỘI


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.515 (Quý Tỵ, 1413), mùa xuân.

Cát Ti quả nhiên không thể ngồi yên được, luôn luôn tìm cách mở rộng vùng kiểm soát của Đế quốc để tiện cho việc thương mại. Sau vụ Tích Lan, Cát Ti lại báo cáo việc Vương quốc Hồi giáo Mamluk ở Cairo kỳ thị thương nhân nước ngoài, gây khó khăn cho việc thương mại của Đế quốc (thật ra phần lớn là của Giang Phong, bởi chỉ có Giang Phong mới có những thương thuyền cỡ lớn đi đến tận các xứ A Lạp Bá, một số ít thuộc về các quan trong triều). Sự thật thì việc kỳ thị thương nhân nước ngoài của các Vương quốc Hồi giáo cũng không phải mới xảy ra gần đây, từ lâu bọn họ đã đặt ra mức thuế rất cao đánh vào thương nhân nước ngoài, thậm chí đối với nhiều vương quốc, đó còn là nguồn thu chính của bọn họ. Chỉ có điều, Cát Ti không cam tâm đóng khoản thuế cao ngất như thế, theo cách nói của Cát Ti thì : bọn họ lấy tiền của Thánh hoàng một cách trơ tráo, không thể chấp nhận được. Cát Ti đã nhiều lần phái sứ giả thương lượng với bọn họ, nhưng đều không thành.

Tiền của Thánh hoàng bị lấy đi một cách trơ tráo (thật ra thì cũng có một bộ phận tiền của các quan trong đó). Đó là đại sự. Toàn thể triều đình đều phẫn nộ, và Giang Phong đã phái một phân hạm đội của Tây Dương Hạm đội đến bán đảo A Lạp Bá (Arab). Các xứ Tích Lan được lệnh phải hỗ trợ phân hạm đội này.

Phân hạm đội được đặt tên là Hồng Long phân hạm đội, gồm 3 chiếc Thất Tinh cấp chiến hạm, 10 chiếc Tuần Dương hạm và hơn 50 chiến thuyền lớn nhỏ, về quy mô đã tương đương với Nam Dương Hạm đội. Phân hạm đội do Đô Đốc Tôn Lương chỉ huy, còn chở theo 1 sư của Thần Sách quân đang trú đóng ở Tích Lan, cùng rất nhiều lương thực vật tư.

Phân hạm đội từ Tích Lan xuất phát, đi ngang qua mũi đất phía nam của lục địa Ấn Độ, tiếp tục đi thẳng về phía tây. Tuyến đường này, các thương thuyền dưới quyền Cát Ti đã qua lại rất nhiều lần, hải đồ đã hoàn thiện, lại có thêm sự hướng dẫn của hướng đạo đoàn, nên phân hạm đội không gặp phải khó khăn gì đáng kể.

Đi về phía tây, đến lục địa Phi châu, phân hạm đội quay mũi dọc theo bờ biển mà đi về phương bắc. Đó là hải tuyến đơn giản nhất mà bọn Cát Ti vẫn sử dụng : từ Tích Lan đi thẳng về phía tây, gặp lục địa thì chuyển về hướng bắc sẽ đến được các xứ A Lạp Bá. Phần đất lục địa đó chính là lãnh thổ của nước Somali thời hiện đại, lúc này vẫn chỉ là những bộ lạc sơ khai, tiếng Anh gọi chung những xứ đó là ‘Ethiopic and Somali Tribes’.

Tháng 4, đến được mũi đất tiến vào Hồng Hải, phân hạm đội dừng lại. Đô đốc Tôn Lương cho quân đổ bộ lên chiếm lĩnh hai mũi đất đó, để tiện khống chế hải tuyến. Do eo biển giữa hai mũi đất quá hẹp, nếu bị địch quân khống chế sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho Hải quân Đế quốc nếu muốn ra vào Hồng Hải.

Hai mũi đất đó lúc này chẳng có quân đội trú đóng, quân đội Đế quốc chỉ cần đổ bộ lên cắm trại ở đó, rồi khẩn cấp xây dựng pháo đài. Mất gần nửa tháng mới xây xong vòng tường bên ngoài của pháo đài và vài kiến trúc quan trọng cho việc phòng thủ. Đô đốc Tôn Lương cho đặt trên mỗi pháo đài 50 khẩu thần công. Cùng với bức tường cao 2 trượng và 500 quân trú phòng, nếu bị đại đội địch quân tấn công, pháo đài vẫn có thể đứng vững cho đến khi viện binh đến cứu. Còn nếu địch quân dưới 1 vạn, tấn công pháo đài chỉ hao binh tổn tướng mà thôi.

Trong lúc pháo đài đang xây dựng, Đô đốc Tôn Lương phái sứ giả đến triều đình Adal ở bờ phía nam và triều đình Rasulid ở bờ phía bắc, đồng thời thông báo về Tích Lan để đội thuyền thứ hai lên đường chở vật tư đến bổ sung.

Trên vùng đất bờ nam Hồng Hải lúc này có hai vùng riêng biệt : vùng phía bắc là các triều đại bản địa và vùng phía nam cũng là triều đại bản địa, nhưng chịu ảnh hưởng của Hồi giáo, hình thành dần những tiểu quốc Hồi giáo.

Vùng phía bắc gồm nhiều tiểu quốc chư hầu của Vương triều Solomonic, là một triều đại được thành lập trên vùng cao nguyên Abyssinian (ở xứ Ethiopia). Vương triều Solomonic là sự nối tiếp vương triều Zagwe, các quốc vương tự nhận mình là hậu duệ của quốc vương Asumite triều Solomonic, nên cũng gọi vương triều của mình là Solomonic. Vị quốc vương đầu tiên là Yekuno Amlak, người đã lật đổ vị quốc vương cuối cùng của vương triều Zagwe và kết hôn với con gái của họ.

Vùng phía nam sau khi Hồi giáo truyền vào đã hình thành nhiều tiểu quốc, dưới sự thống lĩnh của Vương quốc Hồi giáo Adal. Do khác biệt tôn giáo, do ảnh hưởng của Hồi giáo, chiến tranh giữa Solomonic và Adal diễn ra liên tục. Xứ Adal trước khi Hồi giáo truyền vào là chư hầu của Solomonic. Từ năm 1288, các tiểu vương xứ này theo Hồi giáo và không triều cống cho Vương triều Solomonic nữa, thế là chiến tranh bùng nổ, kéo dài đến tận lúc này. Đến năm 1332 các tiểu quốc cùng thống nhất chống lại Solomonic, Adal được xem như thành lập. Quân Solomonic thường chiếm được ưu thế, nhiều vị quốc vương của Adal bị bắt, bị giết, nhưng cuộc phản kháng vẫn cứ tiếp diễn đến giờ. Đến năm 1403, quốc vương của Adal là Sa’ad Din II đã chiến thắng quân Solomonic nhiều trận nhỏ, củng cố được vị thế của Adal. Theo lịch sử, đến năm 1415, quân Adal giành được ưu thế trong chiến tranh, Vương quốc Hồi giáo Adal được chính thức thừa nhận, và tồn tại đến năm 1555 thì tan rã thành nhiều tiểu quốc nhỏ.

Còn các vương triều của xứ Ethiopia trong lịch sử, tuy trên danh nghĩa có lãnh thổ rộng lớn, nhưng cứ phải thường xuyên đối phó các cuộc phản kháng ở các địa phương. Điều đó chứng tỏ bọn họ ít được lòng dân. Và nước Ethiopia hiện đại hoàn toàn là một quốc gia nội lục, không giáp biển, thường xuyên có chiến tranh với lân quốc để mở đường ra biển. Thậm chí vào năm 1998 đã nổ ra chiến tranh giữa Ethiopia với Eritrea để tranh giành một vùng đất giáp biển, kéo dài đến năm 2000, với kết quả là 123.000 người Ehiopia và 19.000 người Eritrea thiệt mạng. Quân Ethiopia ban đầu chiếm giữ được khoảng 20% lãnh thổ Eritrea nhưng sau đó đã bị đánh lui.

Sứ giả của Đô đốc Tôn Lương đến nơi, đã được triều đình Adal tiếp đãi trọng hậu. Quốc vương Sa’ad Din II đồng ý nhượng mũi đất đó cho Đế quốc, đổi lại, Đế quốc giúp Adal chống lại quân Solomonic. Dù sao thì Adal chưa kiểm soát được hoàn toàn vùng này, mũi đất đó chỉ trực thuộc Adal trên danh nghĩa, và giờ đây đã do bọn Tôn Lương kiểm soát. Trong tình thế bị quân Solomonic uy hiếp, hiệp ước này xem ra có lợi cho Adal nhiều hơn.

Còn sứ giả đến Rasulid thì bị triều đình ở đó đuổi về. Không những thế, quân đội Rasulid tập kết ở Ta’izz, kinh đô thứ hai của vương quốc, rồi tiến xuống Moka, theo đó tấn công mũi đất. Đại quân Rasulid đông đến 5 vạn người, trong đó có 1 vạn kỵ binh. Hồng Long phân hạm đội chỉ có 1 vạn Hải quân, cùng với 1 vạn lục quân của Thần Sách quân, nên Đô đốc Tôn Lương quyết định phòng thủ, tiêu hao sinh lực địch quân.

Khi quân đội Rasulid tiến xuống thì pháo đài đã xây dựng xong các kiến trúc phòng thủ. Đô đốc Tôn Lương phái 1.000 quân trú đóng trong pháo đài, còn lại đều đóng ở bờ biển phía nam. Các chiến hạm, chiến thuyền dàn ra dọc theo bờ biển. Pháo đài nằm gần biển, nên có thể cùng Hải quân hiệp đồng tác chiến.

Tháng 6, quân đội song phương giao chiến bên ngoài pháo đài. Do quân số ít hơn, lại ở xa hậu phương, khó bổ sung binh lực nên Đô đốc Tôn Lương không cho quân trực tiếp giao chiến. Ban ngày, các khẩu thần công trên pháo đài và trên các hạm thuyền luân phiên nhả đạn về phía quân Rasulid. Ban đêm, quân Đế quốc được chia thành những toán nhỏ khoảng 1.000 người, quấy nhiễu, tập kích quân Rasulid, chủ yếu tiêu hao sinh lực địch quân.

Giữa tháng 6, do thám được vị trí trại lương của quân Rasulid, Đô đốc Tôn Lương sai quân tập kích, dùng hỏa dược dẫn hỏa thiêu rụi trại lương, đồng thời còn thường xuyên cho tấn công cắt đứt các đường tiếp tế. Cuối tháng 6, thành Moka nằm bên cạnh bờ biển phía tây bắc mũi đất bị chiếm. Quân Rasulid thiếu lương, rơi vào tình thế khó khăn.

Tháng 7, quân Rasulid hết lương, phải rút lui. Quân Đế quốc truy đuổi, bắt được hơn 5.000 tù binh. Do quá xa, để khỏi tốn công vận chuyển, Đô đốc Tôn Lương tỏ ra rộng rãi, chuyển giao toàn bộ tù binh cho Adal để sung vào quân đội của họ. Quốc vương Adal tặng lại nhiều châu báu để cảm tạ.

Suốt tháng 7, Hồng Long phân hạm đội chia nhau đi cướp phá các thành trấn duyên hải thuộc Vương triều Rasulid. Một số bộ lạc du mục trên bán đảo A Lạp Bá quy phục. Đô đốc Tôn Lương chia phần đất duyên hải nằm trong tầm uy hiếp của Hải quân thành nhiều phần, giao cho bọn họ quản lý. Bọn họ có toàn quyền trên các khu vực đó và nộp thuế cho Đế quốc. Do được xem là lương dân nên mức thuế không cao. Nếu sau này bọn họ trở thành thuận dân thì mức thuế sẽ càng thấp hơn nữa.

gianghoaingoc
09-10-2010, 08:21 PM
Chương 47 : TIẾN ĐẾN AI CẬP


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.515 (Quý Tỵ, 1413), mùa thu tháng 8.

Quân Rasulid lại tập kết ở Ta’izz, định tiến xuống tái chiếm các vùng duyên hải. Đô đốc Tôn Lương được các bộ lạc báo tin, liền suất lĩnh quân đội, phối hợp cùng chiến sĩ của các bộ lạc tập kích quân Rasulid trên đường hành quân. Quân Rasulid đại bại. Toàn bộ lương thực, khí giới thu được cùng với gần 1 vạn tù binh được giao hết cho các bộ lạc. Lực lượng của các bộ lạc trở nên lớn mạnh, hăng hái luyện tập chờ quân Rasulid tiến xuống lần nữa. Nhiều bộ lạc du mục khác thấy thế, đua nhau quy thuận. Tất cả vùng duyên hải của vương triều Rasulid bị phân chia hết. Mỗi khi quân Rasulid họp quân tiến xuống tái chiếm thì đều bị quân Đế quốc liên hợp với lực lượng của các bộ lạc đánh bại, tù binh đều trở thành chiến sĩ của các bộ lạc, làm cho thực lực của các bộ lạc ngày càng mạnh hơn. Sau vài trận, quân Rasulid không dám tiến xuống nữa.

Tháng 9, sau khi các bộ lạc quy thuận đã ổn định được vùng quản hạt của mình, chiếu chỉ của Giang Phong truyền đến, phong cho tộc trưởng các bộ lạc này thành tiểu vương Hồi giáo, mang phẩm hàm hầu tước, bá tước của Đế quốc, cho thành lập các tiểu quốc Hồi giáo. Hơn 40 tiểu quốc được thành lập dọc theo vùng duyên hải Rasulid, bao vây phong tỏa phần còn lại của Rasulid trong nội địa.

Cuối tháng 9, một bộ lạc lớn trong sa mạc đột nhiên tiến đến chiếm lấy Ta’izz từ tay quân Rasulid, rồi sai sứ giả đến liên hệ với Đô đốc Tôn Lương cầu phong, được Tôn Lương tiến cử, và triều đình Đế quốc đã chấp thuận.

Sang tháng 10, nhiều tiểu quốc chư hầu trong nội địa cũng chuyển sang quy phục và nộp thuế cho Đế quốc. Bọn họ lo sợ quân Đế quốc tiến vào và bị các bộ lạc trong sa mạc kéo ra chiếm mất đất đai, giống như các tiểu quốc chư hầu của Rasulid ở vùng duyên hải trước đây, nay đã bị các bộ lạc chiếm lấy và thành lập các tiểu quốc mới, hoặc giống như Ta’izz. Vương triều Rasulid chỉ còn kiểm soát được khu vực xung quanh kinh đô chính Zabid, thế lực chỉ tương đương một tiểu quốc lớn. Quốc vương của vương triều Rasulid vẫn giữ vương hiệu, nhưng không còn được ai công nhận nữa. Mọi người chỉ xem ông ta như là một tiểu vương của tiểu quốc Zabid.

Tiếp đó, chiến hạm chuyển xuống vùng phía đông nam Adal, khu vực các bộ lạc Ethiopic và Somali, rồi các tiểu quốc vùng nam vịnh Aden được thành lập. Các bộ lạc xứ này lần lượt chuyển đổi sang chế độ phong kiến, kiến lập tiểu quốc, uy hiếp vương triều Solomonic từ phía nam. Từ bộ lạc chuyển sang phong kiến, giới quý tộc cần có những sự hưởng thụ mới tương ứng. Các thương đội do Cát Ti quản lý có thêm thị trường. Quan hệ kinh tế thay đổi, xứ này cũng dần dần phồn vinh.

Tháng chạp, có thêm viện binh từ Tích Lan, Hồng Long phân hạm đội chính thức tiến đến vịnh Suez ở phía tây bán đảo Sinai, gần cửa kênh đào Suez thông ra Hồng Hải.

Con kênh đào này đã có lịch sử rất lâu đời. Từ thời các Pharaon, người Ai Cập đã đào kênh nối thông Địa Trung Hải với Hồng Hải. Có lẽ vào khoảng những năm 1878 đến 1839 trước Tây lịch, vào triều đại Pharaon Senusret III đã có một kênh đào đông tây nối sông Nile với Hồng Hải phục vụ giao thông bằng những con thuyền đáy bằng đẩy sào và cho phép việc giao thương giữa Hồng Hải với Địa Trung Hải. Có nhiều dấu vết cho thấy con kênh này đã tồn tại vào thế kỷ 13 trước Tây lịch vào thời kỳ Pharaon Ramesses II. Có điều, con kênh này đã không đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Ai Cập lúc bấy giờ và nhanh chóng bị lãng quên.

Theo sử sách Hy Lạp, vào khoảng những năm 600 trước Tây lịch, Hoàng đế Necho II của Hy Lạp đã nhận thấy tầm quan trọng của kênh này và cho tu sửa lại nó. Tuy nhiên con kênh chính thức được hoàn thành bởi Hoàng đế Darius I của Ba Tư. Ông đã hoàn thành con kênh sau khi chiếm Ai Cập và đã mở rộng nó đủ để cho phép hai tàu chiến trieme tránh nhau trong kênh và hành trình trong kênh mất 4 ngày. Sau khi sửa sang con kênh xong, Darius I đã xây dựng bia kỷ niệm công lao của mình ở đấy.

Hồng Long phân hạm đội tiến vào vịnh Suez, khiến cho trú quân và dân chúng ở trên bờ xuất hiện khủng hoảng. Từ mấy tháng trước, bọn họ đã nghe đồn đại về sự xuất hiện của những chiến hạm ‘rất lớn’ đến từ Đông phương Đế quốc. Nhưng đa số chỉ nghe qua rồi cười đối phương nói quá, phóng đại, thổi phồng sự thật. Nào ngờ, đến khi tận mắt chứng kiến, bọn họ còn cảm thấy các chiến hạm này còn lớn hơn cả sự tưởng tượng ban đầu.

Nếu chỉ như vậy thôi thì còn chưa có gì phải lo sợ. Có điều, gần đây lan truyền trong khắp Ai Cập tin tức về sự hiềm khích giữa vương triều Burji ở Cairo với Đông phương Đế quốc. Mọi người đều đã biết chuyện vương triều Burji kỳ thị thương nhân của Đông phương Đế quốc, cự tuyệt sứ giả của họ, và quan hệ song phương trở nên ác liệt. Mấy tháng gần đây đã không còn thấy thương nhân của Đông phương Đế quốc xuất hiện trên đất Ai Cập. Do đó, khi thấy Hồng Long phân hạm đội xuất hiện, ai nấy đều biết chiến tranh giữa hai nước sắp bùng nổ. Thường dân vội vã thu dọn đồ đạc, tạm thời di tản ra xa vùng chiến sự. Còn binh lính được lệnh tăng cường phòng bị. Rất nhiều cứ điểm phòng ngự nhanh chóng được lập nên dọc theo bờ biển.

Trong quân đội Ai Cập thời kỳ này có một lực lượng đặc biệt, nô lệ binh, tiếng Ai Cập gọi là Mamluk, là lực lượng quân đội được tổ chức từ những người nô lệ theo Hồi giáo. Triều đại do những tướng lĩnh Mamluk có gốc nô lệ thành lập được gọi là triều đại Mamluk, bắt đầu từ năm 1250, gồm có 2 dòng Bahri và Burji. Thường thì ngôi vị quốc vương do các tướng lĩnh Mamluk thay nhau nắm giữ, và rất thường xảy ra việc đánh giết nhau để tranh ngôi, do đó mà các vị quốc vương cũng thường không ở ngôi được lâu dài. Có năm, có đến 4 vị quốc vương thay nhau cai trị.

Vào năm 1249, thời quốc vương Salih Ayyub của vương triều Ayyubid, quốc vương Louis IX của nước Pháp hô hào thánh chiến, nhưng không tiến đánh Jerusalem mà lại tấn công Cairo. Quân đội viễn chinh do Louis IX đích thân chỉ huy trước tiên chiếm giữ Damietta ở gần cửa sông Nile phía bắc Cairo, sau đó tiến dần về phía nam. Trong lúc chiến tranh xảy ra thì quốc vương Salih Ayyub qua đời, con trai là Al Mu’ Azzam Turanshah kế vị. Nhưng trước khi Turanshah kịp xuất quân thì các tướng lĩnh Mamluk đã đánh bại quân viễn chinh trong trận Al Mansurah và bắt giữ Louis IX, do đó mà thanh thế vang dội. Turanshah điều đội thân binh của mình chiếm giữ các vị trí hiểm yếu để đề phòng quân Mamluk. Nhưng các tướng lĩnh Mamluk đã ra tay trước, ám sát Turanshah, sau đó đánh lẫn nhau để tranh ngôi trong suốt 10 năm. Kết quả, hai thế lực mạnh nhất là Qutuz kiểm soát Cairo và Baybars Bahri kiểm soát Syria (lúc này thuộc Ai Cập). Đến khi quân Mông Cổ tiến vào khu vực, hai thế lực này liên hợp với nhau, đánh bại quân Mông Cổ. Tiếp đó nội chiến lại xảy ra, và cuối cùng Baybars Barih chiến thắng, thành lập vương triều Mamluk Barih.

Năm 1377, một cuộc nổi dậy đã nổ ra ở Syria và lan nhanh sang các xứ Ai Cập khác. Năm 1382, Barquq lên cầm quyền, kết thúc vương triều Barih. Năm 1389, Barquq bị đánh bại phải chạy khỏi Cairo, nhưng đến năm 1390 đã chiếm lại được, chính thức thành lập vương triều Mamluk Burji. Barquq là một kẻ hiếu chiến, đã giết sứ giả của Timur, Đại Hãn Mông Cổ cai quản một hãn quốc rộng lớn từ Thổ Nhĩ Kỳ, Syria ở phía tây đến khu vực bắc Ấn Độ ở phía đông, do đó đã kết thù với Timur, rồi dẫn đến chiến tranh năm 1400.

Cũng giống như vương triều Mamluk Barih, vương triều Mamluk Burji thường xuyên xảy ra chiến tranh giữa các tướng lĩnh Mamluk để tranh ngôi và các vị quốc vương thường không ở ngôi được lâu dài. Chỉ từ khi chính thức thành lập (1390) đến lúc này (1413) đã có 4 cuộc nổi loạn tranh ngôi và có 5 vị quốc vương. Có người ở ngôi chỉ vài tháng.

1. Az Zahir Sayf Al Din Barquq (1390 – 1399), qua đời.

2. Faraj bin Barquq (1399 – 1405), bị đánh đuổi, chạy thoát.

3. Abdul Aziz bin Barquq (1405), cướp ngôi thành công, nhưng vài tháng sau bị đánh bại, bị bắt, chết trong tù.

4. Faraj bin Barquq (1405 - 1412), giành lại được ngôi, làm quốc vương lần thứ hai, nhưng rồi lại gặp phản loạn, bị giết.

5. Al Adil Al Musta’ in Billah (1412), cướp ngôi thành công, nhưng vài tháng sau lại bị lật đổ, chạy thoát.

6. Tatar I (1412 – đến lúc này), cướp ngôi thành công.

Tóm lại, thời đại của các Mamluk cũng là thời đại nội chiến của Ai Cập, các tướng lĩnh Mamluk đánh nhau không ngừng. Nội chiến liên miên, đất nước bị chia cắt, các thế lực quân phiệt chia nhau kiểm soát các khu vực và chờ cơ hội cướp ngôi. Tình cảnh dân Ai Cập lúc này không nói cũng đủ biết. Hồng Long phân hạm đội đến Suez trong hoàn cảnh như thế.

gianghoaingoc
10-10-2010, 12:47 AM
Chương 48 : TRẬN SUEZ ĐÁNH BẠI QUÂN MAMLUK


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.515 (Quý Tỵ, 1413), mùa đông tháng chạp.

Hồng Long phân hạm đội tiến vào vịnh Suez, gây nhiều khủng hoảng cho quân dân trên bờ. Quân đội Mamluk xây dựng khẩn cấp nhiều cứ điểm dọc theo bờ biển, tổ chức phòng ngự. Chỉ vì vịnh Suez quá dài, quân Mamluk không thể nào phong tỏa hết bờ biển, nên tập trung phòng thủ ở bờ phía tây, đề phòng quân đội đối phương đổ bộ tiến đánh kinh thành Cairo.

Hồng Long phân hạm đội lại không hề có ý định tiến đánh Cairo, đương nhiên nếu thời cơ thuận lợi, bọn họ sẵn sàng chiếm lĩnh những nơi có thể chiếm lĩnh được. Nhưng lúc này đây cần ưu tiên hoàn thành nhiệm vụ trước đã. Toàn thể các thuyền hạm thuộc Hồng Long phân hạm đội di chuyển vào tận sát cửa vào kênh đào Suez, sau đó xuống thuyền nhỏ, đổ bộ lên bờ. Toàn khu vực Suez địa hình bằng phẳng, rất thích hợp cho quân đội đổ bộ, nhưng thuyền hạm của Hồng Long phân hạm đội quá lớn, không thể trực tiếp cập vào bờ được, phải sử dụng thuyền nhỏ cho quân đội lần lượt đổ bộ.

Số binh sĩ đã đặt chân lên bờ lập tức tổ chức thành đội ngũ, tiêu diệt tất cả binh lính tuần phòng của quân Mamluk. Còn các thuyền nhỏ lại quay ra vận chuyển tiếp đợt quân đổ bộ tiếp theo. Lục quân trên Hồng Long phân hạm đội không đông, cũng chỉ có 2 sư 2 vạn người, nên chỉ mất vài lượt vận chuyển là đã đổ bộ hết lên bờ.

Lúc này, quân Mamluk cũng đã phát hiện đối phương đổ bộ, lập tức điều động 5 vạn quân đang trú đóng quanh đó kéo đến tấn công, có ý đổ đẩy lui quân đội đối phương xuống biển. Bọn họ cũng đã thám thính được rằng đối phương quân đội không đông.

Song phương đối diện, không có gì phải do dự, lập tức lao vào tiến công. Quân đội Đế quốc ít hơn, không trực tiếp tấn công mà dàn thành đội hình phòng ngự, chờ đối phương xông đến. Trọng bộ binh một tay cầm khiên lớn, một tay cầm đại đao dàn thành hàng đầu tiên. Khiên lớn cao gần 1 mét, 2 chiếc khiêng chồng lên nhau, dựng thành hàng chỉnh tề phía trước thành một bức tường vững chắc bảo hộ toàn quân. Tiếp đó là trường thương binh xếp thành hàng thứ hai, trường thương xuyên qua những khoảng trống giữa các chiếc khiên, hướng về phía trước tạo thành thương trận. Cung thủ ở sau cùng, giương cung lắp tên sẵn sàng bắn ra. Đây chỉ là trận hình thông thường của quân đội các nước phương đông.

Quân Mamluk đông hơn, lại cần chủ động tấn công, nên dàn thành đội hình cách đó vài dặm rồi tiến hành xung phong. Các xứ A Lạp Bá nổi tiếng về kỵ binh, 1 vạn kỵ binh dàn ra phía trước làm thành quân chủ lực công kích, mục tiêu xung phá đội hình quân đối phương, 4 vạn bộ binh còn lại phụ trợ.

Hiệu lệnh truyền xuống. Kỵ binh Mamluk thúc chiến mã xung phong, khí thế hung hãn, chứng tỏ cực kỳ thiện chiến. Không thiện chiến sao được, bởi quân Mamluk quanh năm đánh nhau vì tranh đoạt ngôi quốc vương kia mà. Nội chiến liên miên, kết quả trực tiếp là quân đội đều thiện chiến.

Song phương còn cách hơn 2 dặm (800 mét), Mamluk kỵ binh sắc mặt lộ vẻ hung hăng, tay nắm chặt đao kiếm, chuẩn bị chiến đấu. Đột nhiên …

Oanh. Oanh. Oanh …

Hàng loạt đạn pháo từ các chiến hạm ngoài biển bắn vào, rải xuống giữa đội hình Mamluk kỵ binh, lập tức người ngã ngựa nghiêng, đội hình hỗn loạn. Những con ngựa phía trước vì bị đạn pháo phía sau làm cho kinh sợ, hoảng loạn phóng nhanh về phía trước. Những con ngựa phía sau thì sợ hãi chạy tạt sang hai bên. Còn những con ngựa ở ngay đó thì … bị đạn pháo bắn trúng, còn kết quả nào khác nữa.

Số phận những Mamluk kỵ binh ở hàng đầu cũng không khá hơn. Do chiến mã kinh hãi phát cuồng, đã tăng tốc chạy tới trước, xung thẳng vào thương trận. Kết quả thành xâu thành xâu đinh vào trường thương, tử trạng rất thê thảm.

Tiếp đó, 400 khẩu thần công cỡ nhỏ của lục quân khai pháo. Khai hoa đạn rải vào đầu số Mamluk kỵ binh còn chưa xung vào thương trận, tạo nên càng nhiều thương vong, càng nhiều hỗn loạn. Sau đó, cung thủ phóng tên. Mỗi loạt hơn vạn mũi tên bắn đầy trời, hết loạt này đến loạt khác, liên miên bất tuyệt, làm cho tiền đầu Mamluk kỵ binh thiệt hại nặng nề, gần như toàn diệt. Quân đội Đế quốc tiền tiến, lại tiền tiến, áp sát dần nửa phần còn lại của Mamluk kỵ binh. Các khẩu thần công cỡ nhỏ cũng được đẩy theo. Bên phía quân Mamluk, 4 vạn bộ binh cũng đã tiến đến gần, hội hợp cùng số Mamluk kỵ binh còn lại, chuẩn bị xung phong cùng quân Đế quốc hỗn chiến. Các tướng lĩnh Mamluk cũng đã nhận ra nếu cứ giữ khoảng cách, bọn họ chỉ làm bia cho đại pháo của đối phương.

Thần công đại pháo oai lực cự đại, chỉ đáng tiếc thời gian mỗi lần khai pháo hơi bị lâu, do đó cung nỏ vẫn là vũ khí quan trọng trong chiến tranh. Cung nỏ chỉ đến đâu, hàng nghìn quân Mamluk thương vong đến đó. Cung nỏ chỉ về phía nào, quân Mamluk ở đó thương vong ngã xuống còn nhanh hơn cắt cỏ. Nông dân cắt cỏ thì cắt từng nắm từng nắm nhỏ, còn quân Mamluk ngã xuống thì từng phiến từng phiến lớn. Lúc này, cung thủ đã bắn hơn 10 lượt, bắn ra hơn 10 vạn mũi tên, sát tử trọng thương hàng vạn địch nhân thì các khẩu thần công đại pháo lại mới khai pháo lần thứ hai.

Oanh. Oanh. Oanh …

Loạt pháo thứ hai khiến cho sĩ khí của quân Mamluk giảm đến mức thấp nhất. Cuối cùng, đã có tướng lĩnh Mamluk chịu không nổi, dẫn quân tháo chạy. Quân của viên tướng đó ở phía sau, chưa cùng quân đối phương trực tiếp chiến đấu, nhưng thấy tình cảnh phía trước, ai nấy không khỏi lạnh người, vừa nghe lệnh rút lui là lập tức ùn ùn tháo chạy. Theo thể chế hiện tại của vương triều Mamluk, địa vị của các tướng lĩnh Mamluk phụ thuộc vào lực lượng quân đội mà họ nắm giữ. Có quân đội, bọn họ mới có thể chiếm địa bàn, làm quân phiệt, mưu đồ tranh ngôi. Nếu như không còn quân, bọn họ cũng sẽ không là gì cả. Do đó viên tướng kia sợ quân bản bộ thương vong hết sạch, nên tự tiện dẫn quân tháo lui. Dù sao thì các tướng lĩnh Mamluk chẳng ai chịu ai, chỉ cần nắm quân trong tay là chẳng cần sợ gì cả.

Sau khi có một toán quân Mamluk tháo chạy, những toán quân Mamluk ở gần đó thấy tình thế không hay, cũng bắt đầu tháo chạy theo. Gần 3 vạn tàn quân Mamluk nhanh chóng tan vỡ, tranh nhau tháo chạy, tình thế hỗn loạn cực độ.

Giữa lúc đó, từ trong hướng nội địa chợt xuất hiện đại đội nhân mã bất thần tấn công tàn quân Mamluk. Một bên vừa đại bại, sĩ khí mất hết, đang tháo chạy; một bên dưỡng tinh xúc nhuệ, chiến ý bừng bừng. Chiến cục hoàn toàn nghiêng hẳn về một phía. Tàn quân Mamluk bị lưỡng diện hiệp kích, lớp thương vong, lớp bị bắt, lớp đầu hàng. Chỉ có vài trăm Mamluk kỵ binh hộ tống vài tướng lĩnh quan trọng chạy thoát về hướng tây bắc.

Đạo quân xuất hiện trong hướng nội địa đó chính là quân đội của các tiểu quốc mới thành lập dọc theo bờ đông bắc Hồng Hải (trước đây mấy tháng còn là chiến sĩ của các bộ tộc du mục trong sa mạc). Mỗi lần theo quân đội Đế quốc chinh chiến đều thu được chiến lợi phẩm phong hậu, khiến cho quân đội các tiểu quốc càng thêm tích cực tham chiến. Thật ra thì dù không có chiến lợi phẩm, để lấy lòng Đế quốc, các tiểu quốc cũng sẽ xuất quân.

Giải quyết xong chiến trường, quân đội Đế quốc tiến về khu vực đã chọn sẵn để xây dựng nơi trú quân. Còn quân đội các tiểu quốc lo phân chia tù binh, chiến lợi phẩm. Quân Mamluk kéo đến đây 5 vạn, tử trận 1 vạn rưỡi, chạy thoát vài trăm, Có đến gần 3 vạn rưỡi tù binh để các tiểu quốc chia nhau. Có điều, các tiểu quốc ‘hiến’ cho Hồng Long phân hạm đội 1 vạn tù binh để làm khổ lực. Trận chiến này, các tiểu quốc chỉ ở phía sau kiểm tiện nghi, công lao chủ yếu thuộc về quân đội Đế quốc. Đại bộ phận chiến lợi phẩm nhượng cho bọn họ là quá đủ rồi, bọn họ cũng không dám giành hết. Dù sao quân đội Đế quốc cần xây dựng trú địa, nên rất cần khổ lực.

Tiếp đó, vật tư được cho chuyển lên bờ, bắt đầu xây dựng thành lũy trấn thủ xứ này. Có 1 vạn khổ lực, việc xây dựng nhanh chóng hơn dự định. Chẳng bao lâu nữa, nơi đây sẽ xuất hiện một tòa thành thị đồng thời cũng là thương cảng, tiền cảnh khả quan.

Trong lúc Đô đốc Tôn Lương bận lo chỉ huy việc kiến thiết tân thành, một viên tùy tướng được giao chỉ huy quân đội Đế quốc và quân liên hợp các tiểu quốc tiến về phía bắc, thanh lý các cứ điểm của quân Mamluk dọc theo bờ kênh đào, thuận tiện xem có thời cơ tiến về Cairo hay không ?

Kênh đào thời này không giống với kênh đào thời hiện đại, không thẳng theo hướng bắc – nam, mà có hình chữ L, bắt đầu từ Hồng Hải, thông sang hồ Đắng Lớn (Great Bitter Lake) ở phía bắc, rồi thông sang hồ Timsah ở phía bắc hồ Đắng Lớn, tiếp đó chuyển hướng sang phía tây đi vào hồ Wadi Turnilat, theo sông Nile đi ngang qua Cairo, tiếp đó xuôi dòng sông Nile đi về hạ lưu ra Địa Trung Hải. Kênh đào lại cạn, chỉ có một số ‘tiểu hình’ chiến thuyền của Hồng Long phân hạm đội là vào được. Do đó lúc này tác dụng không lớn. Hồng Long phân hạm đội được lệnh đến đây xây dựng một thành thị làm nơi dừng chân giao thương cho các viễn dương thương nhân.

gianghoaingoc
11-10-2010, 12:20 AM
Tối rồi post lộn, thiếu chương 49, giờ post thêm. Bà con coi lại.

Chương 49 : BẮC PHẠT


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414), mùa xuân tháng hai.

Gia Định Thành. Trường Thanh Cung. Tử Tiêu Điện.

Đây là nơi làm việc của Giang Phong, đồng thời cũng là nơi đọc sách, nối liền với Tàng Thư Điện ở ngay bên cạnh. Trải qua hơn 10 năm sưu tầm, hiện trong Tàng Thư Điện có đủ các loại thư tịch cổ kim, đông phương tây phương. Không chỉ ưu tiên tích trữ thư tịch tại Tàng Thư Điện, Giang Phong còn ra lệnh xây dựng Thư Viện tại mọi trường học trong Đế quốc, khuyến khích mọi người đọc sách. Ở các Thư Viện còn treo hai câu :

“Vạn ban giai hạ phẩm. Duy hữu độc thư cao.”

‘Độc thư’ ở đây có nghĩa là đọc sách, là trí thức, chứ không có nghĩa là nhà nho như người Tàu vẫn hiểu. Do ảnh hưởng của Giang Phong, quan niệm về ‘độc thư’ của Đế quốc với Hán tộc hoàn toàn khác nhau. Ở Hán tộc, ‘độc thư nhân’ đồng nghĩa với nho gia. Còn ở Đế quốc, nông dân vẫn có thể đọc các sách nông học; thương nhân đọc các sách kinh thương; thợ thủ công đọc các sách công nghệ; quân binh cũng có các sách quân sự; và toán thuật thì quan trọng đối với tất cả mọi người.

Giang Phong khinh nho, nhưng không khinh Khổng. Nho giáo là biến tướng không tốt của Khổng giáo. Khổng Tử nói đến nghĩa vụ của thần dân đối với quân chủ, nhưng quân chủ cũng phải có nghĩa vụ tương ứng đối với thần dân. Mạnh Tử cũng nói : “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân thì quý, đất nước thứ hai, vua thì khinh). Ngoài ra cũng có câu : “Dân vi thuỷ ,quân vi chu ,thuỷ khả tải chu ,diệc khả phúc chu” (Dân như nước, vua như thuyền, nước có thể nâng thuyền, nhưng cũng có thể lật thuyền). Chính vì vậy, khi Khổng Tử còn tại thế, các tư tưởng của Ngài ít được các vị vua thời ấy ưa chuộng. Còn Nho giáo đã bỏ đi phần sau, chỉ giữ lại nghĩa vụ của thần dân đối với quân chủ và được các đế vương ưa chuộng. Nho giáo cũng đề cao việc đọc sách, nhưng chỉ là sách nho, khinh thường tất cả các loại sách khác, các nghề nghiệp khác, thậm chí còn xem ‘nông, công, thương’ là ‘tiện nghiệp’. Trước khi Nho giáo xuất hiện thì ‘Bách gia tranh minh’, đến khi Nho giáo xuất hiện thì ‘Bãi truất bách gia, độc tôn nho thuật’. Nho giáo xuất hiện, dẫn đến việc chỉ có các sách nho mới được xem là chính thống, độc thư nhân hầu như đều là đọc sách nho, cùng với nó là chính sách ngu dân và xem dân đen như rơm rác. Trong nước chỉ khuyến khích viết văn làm thơ, xã hội mấy nghìn năm vẫn cứ như thế, làm sao phát triển được.

Khổng Tử dạy học, dạy cả ‘lục nghệ’, là lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự (cưỡi ngựa), thủ (học chữ), số (học tính); học trò của Khổng Tử học cả văn lẫn võ, xuất triều vi tướng, nhập triều vi tương (‘tương’ là quan văn, ‘tướng’ là quan võ, xưa có câu ‘vương hầu tương tướng’). Đến Nho giáo lại trọng văn khinh võ, nho gia được gọi là thư sinh, còn có câu ‘thư sinh trói gà không chặt’.

Lê Quý Đôn của Đại Việt có câu : “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng”, thật đúng làm sao. Lúc này câu đó chưa xuất hiện, nhưng Giang Phong đã mượn lấy mà dùng, để nhấn mạnh chủ trương của Đế quốc : mọi nghề nghiệp đều quan trọng, bách gia đều được đề cao (trừ nho gia).

Xuất binh cần truyền hịch để giành chính nghĩa, mà truyền hịch thì cần kể tội, giống như Minh triều đã kể 22 tội của Hồ Quý Ly. Tội soán cải tư tưởng của Khổng Tử cũng là một đại tội trong hịch văn bắc phạt lần này, bởi Khổng Tử là “Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư” của Hán tộc.

Trong Tử Tiêu Điện lúc này chỉ có Giang Phong và Quảng Tế Pháp sư. Giang Phong đang nghe Quảng Tế Pháp sư báo cáo tình hình phương bắc.

Mùa đông năm ngoái, quân Trần của Trùng Quang Đế đã bị đánh bại hoàn toàn, vua quan Trùng Quang Đế đều bị bắt giải về Tàu, và đều tự sát trên đường áp giải. Quân Minh đã tập trung ở Nghệ An, chuẩn bị tiến đánh Thuận Hóa. Trấn Bắc Tướng quân Phạm Thế Căng đã đích thân đến trấn thủ phòng tuyến Hoành Sơn (đèo Ngang), đồng thời khẩn cấp gửi tấu biểu về triều thỉnh ý.

Giang Phong cầm tấu biểu của Phạm Thế Căng xem qua một lượt, đoạn hỏi :

- Quốc thư của bản triều gửi cho Minh triều thế nào rồi ?

Để có cớ xuất quân, trước đây Giang Phong đã sai sứ mang quốc thư sang Minh triều, yêu cầu Minh triều rút quân khỏi Đại Việt và bãi bỏ ‘Cấm hải lệnh’, không được gây khó khăn cho thương nhân của Đế quốc. ‘Cấm hải lệnh’ của Minh triều cấm người dân xuất hải (kể cả ra biển đánh cá), cấm cả việc giao thiệp với người ngoại quốc. Thương nhân của Đế quốc chỉ có thể buôn bán với quan lại do Minh triều chỉ phái, mà sự quan liêu hống hách của bọn quan lại đó khiến cho việc giao thương khó khăn vô cùng. Vì vậy mà trong quốc thư mới có yêu cầu bãi bỏ ‘Cấm hải lệnh’. Đương nhiên khi thảo quốc thư, bọn Giang Phong cũng biết rằng Minh triều chẳng khi nào chấp nhận những yêu cầu đó. Bọn họ lúc nào cũng tự kiêu tự ngạo, nhắm mắt bịt tai mà tự cho mình là Thiên triều Thượng quốc.

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Khải tấu Thánh hoàng. Sứ đoàn vẫn còn đang trên đường về, nhưng theo tin hồi báo, Vĩnh Lạc đế xem xong quốc thư của bản triều, lập tức ném xuống đất và đuổi sứ đoàn của bản triều về nước. Không những thế, y còn ra lệnh cấm thương nhân của bản triều vào đất Minh triều giao thương. Hừ. Y có cấm cũng vô ích. Bản triều xuất quân bắc phạt, chiến tranh bùng nổ, còn giao thương gì nữa.

Vốn đã biết kết quả sẽ là như thế, Giang Phong cũng không tức giận, hỏi tiếp :

- Việc chuẩn bị chiến tranh đến đâu rồi ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Khải tấu Thánh hoàng. Ở An Phú, Viên Thành và Hội An đều đã tích trữ rất nhiều lương thảo, đủ cho đại quân sử dụng trong 1 năm. Các kho lương trong toàn Đế quốc cũng đều đã chuẩn bị sẵn sàng, có thể điều vận bất cứ lúc nào. Lương thực tích trữ của bản triều đủ để tiến hành chiến tranh trong 10 năm, thậm chí lâu hơn nữa. Bản triều lương thực rất sung túc.

Để chuẩn bị bắc phạt, bọn Giang Phong đã chuẩn bị hơn 10 năm rồi kia mà. Gần đây, sản lượng lương thực của Đế quốc mỗi năm không những đủ cho thần dân sử dụng mà còn dư gần 3 phần, đều được tích trữ trong các kho quân lương. Nhiều năm tích lũy, lương thực vô số, dù cho có gặp mất mùa liền 2, 3 năm thì toàn dân cũng không bị đói. Do đó, cung ứng cho quân đội tiến hành chiến tranh trong 10 năm cũng không thành vấn đề.

Quảng Tế Pháp sư lại nói :

- Xưởng đóng thuyền ở Long Sơn vừa cho hạ thủy 10 chiếc vận hạm tải trọng 10 vạn thạch, đủ để vận lương cho các đạo quân bắc phạt.

Giang Phong khẽ gật đầu. Mỗi thạch là 100 cân, mỗi cân 600 gam. Vận hạm còn nhỏ hơn Thất Tinh cấp chiến hạm, nhưng sử dụng để vận lương cũng đủ rồi. Quảng Tế Pháp sư nói tiếp :

- Theo Triệu Tướng quân báo về, các đạo quân đã huấn luyện xong, sẵn sàng xuất chinh. Lý Tướng quân ở Viên Thành cũng báo như vậy. Hải quân cũng đã sẵn sàng, chỉ còn chờ thánh ý.

Giang Phong hỏi :

- Phía Đông Doanh thế nào ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Các Phiên chủ ở Cửu Châu đảo đều đồng ý xuất binh cướp phá vùng Hoa Bắc, đương nhiên là phải sau khi bản triều tấn công Giang Nam. Nếu như quân đội bản triều chiếm được thượng phong, chắc chắn càng có nhiều Phiên chủ ở Đông Doanh xuất binh. Tuy bản triều chẳng hy vọng gì nhiều ở bọn họ, nhưng tin chắc bọn họ cũng sẽ gây ra ít nhiều hỗn loạn cho hậu phương của Minh triều.

Giang Phong lại hỏi :

- Phía Mông Cổ thế nào ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.512 (1410), Vĩnh Lạc Đế suất lĩnh 10 vạn quân, 3 vạn cỗ xe ngựa chở lương thực, quân nhu chinh phạt Mông Cổ. Lần đó quân Minh còn mang theo nhiều tặng vật để lấy lòng người Olrat, mà yêu cầu bọn họ trung lập. Người Mông Cổ đánh không lại, phải chạy về phía tây. Nhưng sau đó, khi quân Minh rút về thì người Mông Cổ lại quay về đất của họ, và tiếp tục quấy nhiễu biên cương phía bắc của Minh triều để trả thù. Nhờ có lương thực, vũ khí của bản triều viện trợ, người Mông Cổ liên tục nam tiến vào đất của Minh triều cướp phá, gây cho Minh triều rất nhiều thiệt hại. Hiện tại song phương vẫn còn giao tranh với nhau. Vĩnh Lạc đế giờ vẫn còn ở Bắc Bình chỉ huy quân đội phòng ngự biên cương, giao cho Thái Tử Cao Thức ở lại kinh đô Giám quốc.

Giang Phong trầm ngâm giây lát, rồi bảo :

- Truyền Tử Tấn thảo hịch bắc phạt.

Lý Tử Tấn, hiệu là Chuyết Am, sinh năm Mậu Ngọ (1378), quê ở làng Triều Đông, huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thường Tín, Tp. Hà Nội), thi đỗ Thái học sinh năm Canh Thìn (1400), cùng khoa với Nguyễn Trãi, dưới triều Hồ Quý Ly, nhưng không ra làm quan. Khi quân Minh sang, đã được người của Quảng Tế Pháp sư đón vào nam, và được Giang Phong giao cho giữ chức Trưởng sử, phụ trách thảo chiếu chỉ, công văn, giấy tờ, thư tín, …

Hai ngày sau, Giang Phong thiết đại triều ở Văn Nghi Điện, triệu tập triều thần văn võ, truyền lệnh bắc phạt. Sau đó, mệnh lệnh khẩn cấp truyền đi.



Chương 50 : TIẾN CHIẾM THANH NGHỆ


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414), mùa xuân tháng ba.

Trấn Bắc Tướng quân Phạm Thế Căng suất lĩnh hai quân Bảo Tiệp, Linh Tiệp vượt đèo Ngang bắc tiến thảo phạt quân Minh, sai thám mã truyền hịch đi các nơi. Hịch rằng :

“Ta Trấn Bắc Tướng quân họ Phạm,
Tính thẳng ngay bố cáo hịch này,
Kể từ khi Ngô tặc sang đây,
Việc nhà nước chứa chan nhiều nỗi.

Dân Đại Việt vốn không lầm lỗi,
Giết bỏ đều quyền nội trong tay
Ngoài nhân dân ngậm đắng nuốt cay,
Trong triều sĩ đêm ngày ta thán.

Quân Trương Phụ, Lý Bân, Mộc Thạnh,
Giết dân ta máu chảy thành sông,
Chốn quân doanh uế trược muôn phần,
Giặc tàn bạo xa gần thiết sỉ.

Vâng Đế quốc Thánh hoàng mật chỉ,
Ta xuất binh nghĩa vị cần vương.
Đất Nam phương tề tận đao thương
Quét trừ bọn nhiễu nhương tàn bạo.

Đồng hiệp sức ra tay giữ nước,
Như thuốc hay chữa bệnh mau lành,
Tờ hịch văn truyền đến trấn thành,
Mong triều dã ứng theo đuổi giặc.”

(chú : Anh Quốc Công Trương Phụ, Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh, Phong Thành Hầu Lý Bân là 3 viên tướng Minh triều có chức tước cao nhất trong đạo quân xâm lấn Đại Việt. Nguyên còn có Thành Quốc Công Chu Năng làm thống soái, nhưng khi đến Long Châu, chưa ra khỏi đất Tàu thì đã chết, phó soái Trương Phụ lên thay).

Khi quân Thuận Hóa vượt đèo Ngang tiến ra. Tướng trấn thủ Kiềm Châu là Phạm Đống Cao đem dân binh các tộc Mường đi đánh đất Trà Long (Tương Dương, Nghệ An). Khi đến núi Bồ Cát thì gặp quân Minh cũng đang tiến lên. Song phương xông vào nhau quyết chiến. Phạm Đống Cao một thương một ngựa, xông thẳng vào giữa trận giặc đánh giết, ngựa đến đâu, quân Minh rẽ ra đến đấy. Dân binh các tộc Mường thấy thế càng thêm hăng hái, tràn lên đánh giết rất dữ dội. Quân Minh yếu thế không địch nổi, phải rút chạy về Trà Long. Quân Mường giết được sĩ tốt quân Minh hơn nghìn người, bắt được hơn trăm con ngựa và rất nhiều khí giới.

Thắng trận Bồ Cát, Phạm Đống Cao thừa thế suất quân tràn xuống vây thành Trà Long. Quan Tri châu là Cầm Bành vốn là một chi của họ Cầm ở Sầm Châu, nhận được thư của Cầm Công nên mở cửa thành ra hàng. Quân Mường chiếm được châu Trà Long, thanh thế lừng lẫy. Sau đó, Phạm Đống Cao dẫn quân thuận theo sông Lam tiến xuống đất Khả Lưu, cùng quân Thuận Hóa hợp vây thành Nghệ An.

Còn Phạm Thế Căng khi suất quân Thuận Hóa vượt đèo Ngang ra bắc, các châu huyện vùng bắc Tân Bình nguyên là vùng quản hạt cũ của Phạm Thế Căng đều mở cửa thành đầu hàng. Phạm Thế Căng vốn là đệ nhất danh tướng của Đại Việt lúc bấy giờ, lại từng có công dẹp giặc Chiêm Thành nên rất được lòng dân xứ này. Đại quân thuận thế tiến đến phía nam thành Nghệ An mà không gặp trở ngại gì đáng kể. Khi quân đến làng Đa Lôi, huyện Thổ Du (nay là huyện Thanh Chương), thì dân làng mang rượu thịt ra đón rước, khóc lạy mà nói rằng : không ngờ ngày nay lại thấy uy nghi nước cũ.

Tháng 4, Quân Thuận Hóa tiến đến Nghệ An, đóng quân ở phía nam thành, doanh trại kéo dài mấy dặm, quân thế rất mạnh. Quân Minh trong thành chỉ có hơn vạn, cùng năm nghìn dân binh của ‘ngụy tướng’ Phan Liêu, nên hết sức cố thủ, không dám ra đánh. Phan Liêu nguyên là con của Phan Quý Hữu, làm quan Thái Phó thời Trùng Quang Đế. Tháng 6 năm ngoái, quân Trương Phụ vào Nghệ An thì Phan Quý Hữu ra hàng, nhưng được mấy ngày sau thì mất. Trương Phụ cho con Quý Hữu là Liêu làm Tri phủ Nghệ An. Chính Liêu đã chỉ đường cho quân Minh vây bắt vua quan Trùng Quang Đế. Liêu biết mình phải tội lớn với Đại Việt, nên chỉ còn cách hết sức chống giữ, chờ cứu viện.

Trương Phụ ở Thăng Long nghe tin Phạm Thế Căng bắc tiến, đang vây thành Nghệ An, liền sai bộ tướng Lý An mang 5 vạn quân theo đường biển vào cứu viện. Bắc Dương Hạm đội Đại Đô đốc Mã Tân (nguyên tên thật là Matavamca, đại tướng của tiểu quốc Puni) đã phái một đội chiến hạm chờ sẵn ngoài biển, chờ các ‘tiểu’ chiến thuyền của quân Minh đi qua thì xông ra đánh. Sau một trận pháo kích cộng với xung kích, các ‘tiểu’ chiến thuyền của quân Minh đều bị bắn vỡ, bị đụng chìm. Quân Minh tử trận vài nghìn, còn lại đều bị bắt, không có ai chạy thoát.

Các chiến hạm của Bắc Dương Hạm đội tiêu diệt xong các chiến thuyền quân Minh, liền kéo ra bắc đồn trú ở cửa biển Thần Phù, ngăn hẳn các xứ Thanh Hóa, Nghệ An, Trường Yên (Ninh Bình) với quân Minh ở Thăng Long.

Nghệ An Thành.

Dừng quân nghỉ ngơi 3 ngày, Phạm Đống Cao tập trung 1.200 khẩu thần công thuộc 2 đạo quân, lập thành trận địa pháo ở phía nam thành, sau đó đồng loạt nã pháo vào tường thành, cửa thành. Đạn pháo làm thành tường chấn động rung rinh, đá rơi ra từng tảng từng tảng. Quân Minh cũng có một số thần công đại pháo thu được từ quân nhà Hồ, liền bắn trở ra. Thế nhưng hỏa dược của quân Minh chất lượng kém hơn hẳn hỏa dược của quân Đế quốc, nên phạm vi xạ kích không xa bằng, hoàn toàn bị áp chế.

Thành Nghệ An tuy kiên cố, nhưng cũng không thể chịu nổi 1.200 khẩu đạn pháo liên tục oanh kích. Chỉ sau hơn nửa ngày, tường thành đã sụp đổ một mảng lớn. Thật ra thì thành Nghệ An còn kém kiên cố hơn thành Đồ Bàn của Chiêm Thành nhiều, bởi đã lâu năm chưa được tu tạo sửa chữa. Mọi chú ý của nhà Hồ đều tập trung vào các thành trì ở phía bắc, đặc biệt là thành Đa Bang. Thế mà thành Đa Bang khi bị quân Minh tấn công còn không đứng vững được bao lâu, nói gì đến thành Nghệ An.

Khi tường thành sụp đổ, quân Thuận Hóa tràn vào trong thành. Do trong thành đều là dân Việt nên thần công đại pháo không được phép bắn pháo vào bên trong. Thế nhưng, 6 vạn quân Thuận Hóa tràn ngập thành Nghệ An cũng đủ khiến quân Minh khiếp đảm, phải mở cửa bắc tháo chạy. Tri phủ Nghệ An Phan Liêu chết trong đám loạn quân, dân binh của Phan Liêu đều đầu hàng. Phạm Thế Căng để lại 1 sư 1 vạn quân trấn thủ Nghệ An, còn lại lập tức truy đuổi quân Minh đang tháo chạy.

Nói về quân Minh do tướng Trần Trí cầm đầu bỏ thành Nghệ An chạy về phía bắc, định rút về Thăng Long. Nào ngờ chỉ chạy được chưa đến 10 dặm thì chợt nghe phía trước pháo nổ vang trời, tiếng reo dậy đất, rồi quân Mường ở hai bên đường đổ ra đánh giết. Trần Trí cố suất quân chống cự một lúc, lại thấy quân Thuận Hóa đuổi đến, cờ hiệu của Phạm Thế Căng phất phới tung bay trong gió, cả kinh thất sắc, vội bỏ mặc sĩ tốt, quay đầu ngựa tháo chạy về phương bắc. Quân Minh tan rã, bị bắt, bị thương, bị giết gần hết, chỉ còn lại chưa đến nghìn người chạy được theo Trần Trí.

Phạm Thế Căng bảo Phạm Đống Cao dẫn quân về trấn thủ Nghệ An, đồng thời chỉnh hợp hàng binh, xử lý tù binh, sau đó lại suất quân đuổi theo bọn Trần Trí đến tận Diễn Châu. Trần Trí dẫn quân vào thành Diễn Châu cố thủ.

Phạm Thế Căng nghe báo Trần Trí lại dẫn quân vào cố thủ ở Diễn Châu, tiền quân đã vây chặt Diễn Châu Thành, tức giận nghiến răng nói :

- Ái chà ! Ai ngờ cái gã Trần Trí này lại giỏi chạy đến thế. Lần này quyết không cho gã có cơ hội chạy thoát nữa.

Nói đoạn phân binh đi chiếm giữ các chỗ hiểm yếu ở về phía bắc Diễn Châu, sau đó mới suất đại quân đến vây thành. Bọn Phạm Thế Căng bao vây 3 ngày, chờ thần công đại pháo kéo đến nơi, rồi lại cũng giống như ở Nghệ An, dùng đại pháo bắn thành. Nhưng lần này chỉ có 1.000 khẩu thần công dàn ra phía trước cổng thành phía nam.

Trần Trí nghe báo, biết là không thể giữ nổi thành, truyền quân sĩ gom góp lương thực mang theo, sau đó lại mở cửa bắc tháo chạy. Bọn Trần Trí ghé vào Diễn Châu mục đích không phải muốn cố thủ ở đấy, chỉ vì thiếu lương, cần bổ sung thêm mà thôi.

Bọn Trần Trí lại chạy về phía bắc, khi đi ngang qua một cánh rừng, bỗng nghe thấy hai bên trống đánh vang trời, quân reo dậy đất, rồi có một toán quân đổ ra đón đánh. Viên tướng dẫn đầu mắt to, râu rậm, mặt đen, tướng dữ như hổ, một tay cầm khiên, một tay cầm đại đao, giục ngựa xông ra, quát lớn :

- Quân giặc kia còn chạy đi đâu ? Trương Hổ ta chờ các ngươi đã lâu lắm rồi.

Trần Trí sai viên tùy tướng múa thương chặn đánh, nhưng chỉ vừa xông ra là đã bị Trương Hổ chém một đao ngã lăn xuống ngựa. Trần Trí cả kinh thúc quân ùa vào. Trương Hổ lùi lại, quát quân sĩ bắn tên ra, quân Minh trúng tên thương vong rất nhiều. Trần Trí cũng trúng tên rơi xuống ngựa, rồi bị bắt. Quân Minh thấy chủ tướng bị bắt, lại bị vây chặt, đều phải đầu hàng.

Phạm Thế Căng phái 1 sư 1 vạn quân đi chinh phục các châu huyện vùng Diễn Châu, sau đó suất quân đến vây thành Tây Đô. Cũng áp dụng chiến thuật như ở Diễn Châu và Nghệ An, dù chỉ còn lại 800 khẩu thần công, nhưng thành Tây Đô chẳng có bao nhiêu quân Minh, chỉ chống cự được 4 ngày rồi thất thủ.

Chiếm xong thành Tây Đô, Phạm Thế Căng lại để 1 sư 1 vạn quân ở lại bình định vùng này, sau đó kéo 3 vạn quân còn lại thuộc đạo Linh Tiệp tiến ra Trường Yên, cùng Hải quân hội hợp. Kể từ lúc này, khu vực từ sông Đáy trở vào nam đều được sát nhập vào bản đồ Đế quốc.


Thời này người Đại Việt gọi quân Minh là giặc Ngô, nên một số đoạn đối thoại trong truyện gọi giặc Ngô chính là quân Minh đó nha.

gianghoaingoc
12-10-2010, 02:14 AM
Chương 51 : BAO VÂY THIÊN TRƯỜNG


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414), mùa hạ tháng 5.

Nghỉ ngơi ở Trường Yên một thời gian cho sĩ binh dưỡng sức, đồng thời chờ bổ cấp đầy đủ, Phạm Thế Căng lại vượt sông Đáy tiến quân ra bắc đánh chiếm Thiên Trường. Lúc này, 2 đạo quân Bảo Tiệp và Linh Tiệp lại hội hợp đầy đủ, quân thế lừng lẫy.

Trương Phụ ở Thăng Long sai Mộc Thạnh mang 3 vạn quân ra giữ Thiên Trường, sai Phương Chính mang 2 vạn quân ra đóng ở Ninh Kiều để tiếp ứng, lại sai người chạy trạm khẩn cấp về Tàu cầu viện, và gọi quân Vân Nam sang cứu.

Phạm Thế Căng kéo quân đến vây thành Thiên Trường, lại học theo lối cũ, cho dàn trận địa thần công đại pháo, oanh kích công phá thành tường. Thế nhưng, Mộc Thạnh là danh tướng Minh Triều, đâu dễ chịu thua, đã sai lính đào lấy đất đá trong thành lấp vào những chỗ hư hỏng của thành tường, còn sai lấy phên tre, mảnh chiếu thấm ướt nước che bên ngoài tường thành để giảm bớt lực lượng của đạn pháo. Phạm Thế Căng lại sai tập trung công kích vào cổng thành. Nào ngờ Mộc Thạnh lại cho quân đổ đất lấp hẳn cổng thành lại.

Bắn phá suốt cả ngày không xong, Phạm Thế Căng đành tạm dừng lại. Nghĩ mãi không ra kế gì phá thành, Phạm Thế Căng chỉ đành cho vây thành. Trong thành có 3 vạn quân tinh nhuệ, và ước 1 vạn dân binh. Phạm Thế Căng chỉ có 6 vạn quân, nếu cường công, dù có chiếm được thành thì cũng sẽ thiệt hại nặng nề, có hại cho việc bắc phạt.

Hôm sau, Phạm Thế Căng triệu tập chư tướng bàn kế phá thành, một viên tùy tướng hiến kế :

- Tướng quân. Chúng ta hãy bắn thư vào thành bảo Mộc Thạnh cho dân ra khỏi thành, rồi sẽ quyết chiến để khỏi liên lụy dân chúng. Nếu trong thành không còn dân, chúng ta sẽ sử dụng đại pháo.

Phạm Thế Căng lắc đầu nói :

- Vô ích thôi. Mộc Thạnh mưu mô quỷ quyệt, quyết chẳng bao giờ đồng ý việc đó.

Viên tùy tướng nói :

- Chúng ta cứ thử xem, biết đâu …

Phạm Thế Căng ngẫm nghĩ, thấy thử xem cũng chẳng hề gì, nếu như thành công thì càng tốt. Liền đó, Phạm Thế Căng sai viết chiến thư, cột vào mũi tên và cho quân bắn vào trong thành. Kết quả thật đúng như ước đoán của Phạm Thế Căng, Mộc Thạnh sau khi đọc xong chiến thư, chỉ khẽ cười nhạt, rồi cho quân đến đóng doanh trại lẫn với các phố xá trong thành.

Hành động đó của Mộc Thạnh khiến Phạm Thế Căng và chư tướng mắng chửi không tiếc lời. Bọn Phạm Thế Căng đang vô kế khả thi, bàn luận phân vân, thì có thám tử vào báo :

- Tướng quân. Quân Ngô trong thành đang chuẩn bị chiến đấu. Có nhiều khả năng Mộc Thạnh sẽ xuất thành quyết chiến.

Chư tướng nghe báo, hoan hỉ vỗ tay kêu lớn :

- Thánh hoàng phù hộ. Mộc Thạnh chịu xuất thành rồi.

- Chỉ cần quân Ngô chịu ra khỏi thành, chúng ta có thể đánh cho bọn chúng không còn manh giáp.

- Phải đó. Nếu không phải vì có dân trong thành, quân Ngô đã bị diệt sạch từ lâu rồi.



Phạm Thế Căng không lạc quan như chư tướng. Mộc Thạnh nổi tiếng lão mưu thâm toán, quỷ quyệt vô cùng. Quân Minh thế yếu, phải cố thủ thành trì chờ viện binh từ phương bắc sang, có lý nào lúc này lại chủ động xuất thành quyết chiến. Phạm Thế Căng suy nghĩ một lúc, không nghĩ ra nguyên do, liền hỏi chúng tham mưu :

- Mọi người thấy thế nào ?

Trong quân bộ có tham mưu bộ, mỗi đạo quân đều có đặt ban tham mưu, để giúp các tướng lĩnh bày mưu hiến kế. Phạm Thế Căng chỉ huy đại quân, nên đương nhiên cũng có một ban tham mưu tương đối quy mô. Chúng tham mưu bàn bạc một hồi, rồi viên tham mưu truởng đại diện nói :

- Tướng quân. Có lẽ quân Ngô định cướp doanh.

Phạm Thế Căng cả kinh :

- Cướp dinh ?

Viên tham mưu trưởng gật đầu nói :

- Quân Ngô yếu thế, chẳng lẽ nào lại chủ động xuất thành quyết chiến. Bọn chúng chuẩn bị chiến đấu, chỉ có thể là tập kích doanh trại quân ta. Tướng quân cũng nên chú ý động tĩnh của Phương Chính ở Ninh Kiều. Quân Ngô có thể lưỡng diện hiệp công.

Phạm Thế Căng gật đầu khen phải, phái thám tử tăng cường thám thính tin tức của Mộc Thạnh và Phương Chính. Chúng tham mưu cũng bàn bạc lên phương án đối phó.

Mây đầy trời. Gió chỉ hiu hiu thổi. Đêm nay trời tối đen, cả năm ngón tay giơ trước mặt cũng khó thấy rõ.

Mộc Thạnh phái quân đội xuất thành cướp doanh có đến 2 vạn rưỡi, do Đô ty Chu Kiệt suất lĩnh. Quân cướp doanh của Chu Kiệt len lén rời thành, hướng về phía doanh trại của quân Nam. Toàn quân đều đi bộ, sĩ tốt trong miệng đều ngậm một thanh gỗ nhỏ để khỏi phát ra thanh âm. Nghĩ đến sự an bài của Mộc Thạnh, Chu Kiệt trong lòng bình tĩnh. Ngoài đạo quân này, phía Phương Chính cũng hiệp đồng tác chiến, cơ hội thành công càng cao hơn.

- Tướng quân. Phía trước đã là doanh trại của quân Nam.

Thám tử len lén đến báo cáo. Chu Kiệt bỏ thanh gỗ nhỏ trong miệng ra, truyền lệnh :

- Truyền quân đội chuẩn bị xung kích địch doanh.

Sau đó, gã cầm chắc trường thương, ánh mắt chăm chú nhìn về phía trước, chờ quân đội chỉnh quân bị chiến.

- Tướng quân. Mọi thứ đã chuẩn bị xong cả.

Một viên bộ tướng đến báo cáo. Chu Kiệt nắm chặt trường thương, vung lên chỉ về phía trước, quát :

- Xung phong.

Chu Kiệt dẫn đầu quân đội hướng doanh trại quân Nam xung phong. Hỏa tiễn nhanh chóng đốt cháy các doanh trướng, quân của Chu Kiệt điên cuồng hướng doanh trướng bắn tên. Hỏa tiễn sáng rực cả một góc trời.

- Sát.

Trường thương của Chu Kiệt chỉ hướng trước mặt, rồi dẫn đầu sĩ tốt xông vào bên trong doanh trại. Hai vạn rưỡi tướng sĩ bắn ra vô số hỏa tiễn, doanh trướng của quân Nam lửa cháy rực trời. Quân Minh nhanh chóng xông được vào bên trong doanh trại.

Lửa cháy càng lúc càng lớn, nhưng bên trong doanh trại không có một địch quân nào xuất hiện. Nhìn thấy tình cảnh đó, Chu Kiệt trong lòng kinh hãi. Gã biết lần này đã hãm nhập vào vòng mai phục của quân Nam rồi.

- Rút lui.

Trong lúc hoảng loạn, Chu Kiệt lớn tiếng truyền lệnh quân đội rút lui. Quân Minh cũng đua nhau chạy ra ngoài, vừa chạy vừa quát tháo, người phía sau hối thúc người phía trước :

- Lui. Lui mau.

- Giặc có mai phục.

- Nhanh lên. Nhanh lên.



Trong doanh trại, quân Minh mạnh ai nấy chạy, không còn hàng ngũ gì nữa. Tình cảnh bắt đầu hỗn loạn. Đột nhiên …

Oanh. Oanh. Oanh …

Một trận pháo kích bắn ngay lên đầu quân Minh, lần này đều sử dụng Khai hoa đạn. Do mục tiêu đã định sẵn từ trước, các khẩu thần công đều hướng vào bên trong doanh trại, đạn pháo rải đều khắp hết mọi nơi. Hơn nghìn khẩu thần công đồng loạt bắn ra hơn nghìn viên đạn pháo, nổ tung ra thành hàng vạn mảnh sắt nhỏ bén nhọn, rải xuống đầu quân Minh, khiến quân Minh tổn thất nặng nề. Quân cướp doanh chỉ có 2 vạn rưỡi, chỉ sau một loạt pháo kích, đã thọ thương gần hết, số tử vong cũng không ít. Tiếp đó là một làn mưa tên bắn vào giải quyết những kẻ còn lại. Chu Kiệt cũng chết trong đám loạn quân. Quân Minh toàn diệt.

Giữa lúc ấy, phía tây bắc đột nhiên truyền đến tiếng trống trận thùng thùng, tiếp đó 2 vạn quân của Phương Chính đã kéo đến. Toán quân này nguyên bản cũng lẳng lặng kéo đến cướp doanh, nhưng trên đường gặp nhiều trở ngại, đến chậm hơn một chút, khi thấy doanh trại quân Nam lửa cháy rực trời, biết trận chiến đã diễn ra, nên không cần che giấu hình tích nữa, khẩn cấp kéo đến tiếp ứng.

Phạm Thế Căng đứng trên vọng lâu quan sát trận chiến, khẽ cười nói :

- Quả như tham mưu trưởng đã nói. Bọn Phương Chính cuối cùng cũng đến rồi.

Đoạn quay sang hỏi tùy tướng :

- Chuẩn bị sẵn sàng cả rồi chứ ?

Viên tùy tướng đáp :

- Trình Tướng quân, chư tướng đã sẵn sàng. Đêm nay quyết chiếm cho được thành Thiên Trường.

Phạm Thế Căng gật đầu nói :

- Có thể phát động được rồi.

Mệnh lệnh truyền xuống. Lập tức tiếng trống trận càng lớn hơn. Từ bốn phương tám hướng xông ra vô số quân Nam bao vây quân Phương Chính. Đây là đạo mai phục thứ hai. Lửa cháy ngút trời, tiếng reo dậy đất. Quân Phương Chính bị tập kích bất ngờ, lâm vào hỗn loạn, cộng với vô số cung tên bắn vào bọn họ, thương vong nặng nề, 2 vạn quân Minh bị 5 vạn quân Nam phục kích, làm sao chống nổi. Phương Chính cảm thấy không hay, quay đầu ngựa hết sức liều mạng phá vòng vây, hướng thành Thiên Trường rút lui.

Lần này quân Minh tổng cộng phái 4 vạn rưỡi quân đội đi cướp doanh, 2 vạn rưỡi quân của Chu Kiệt đã bị tiêu diệt hoàn toàn, giờ đây 2 vạn quân của Phương Chính cũng đang bị bao vây, đồ sát. Đại tướng Trương Hổ từ trong hàng quân xông ra, gặp phải Phương Chính đang rút lui, cả mừng quát lớn :

- Tướng Ngô kia, còn chạy đi đâu.

Vừa quát, Trương Hổ vừa vung đại đao chặn Phương Chính lại. Biết khó thể chạy kịp, Phương Chính chỉ đành quay lại cùng Trương Hổ chiến đấu. Song phương đâm qua chém lại. Dù Trương Hổ sức lực hơn người, nhưng Phương Chính lúc này đã ở trạng thái liều mạng, nhất thời khiến cho Trương Hổ gặp ít nhiều khó khăn.

Chính đang chiến đấu, đám thân binh của Phương Chính đột nhiên xông thẳng vào vòng chiến, liều mạng ngăn Trương Hổ lại. Phương Chính thừa cơ giục ngựa bỏ chạy. Trương Hổ bị đám thân binh của Phương Chính ngăn cản, không đuổi theo kịp, tức giận quay sang chém giết đám thân binh.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
13-10-2010, 06:39 AM
Chương 52 : GIẢI PHÓNG THIÊN TRƯỜNG


Lại nói, sau khi Phương Chính chạy thoát, quân Minh tan vỡ càng nhanh hơn. Phạm Thế Căng cũng truyền quân nhanh chóng giải quyết trận chiến. Quân Nam không trực tiếp hỗn chiến mà đứng bên ngoài bắn tên. Tên bay đầy trời. Quân Minh thương vong vô số. Lớp bị chết, lớp bị thương, lớp bị bắt, lớp đầu hàng. Chỉ có chưa đến 3.000 quân chạy thoát được, hoảng loạn tháo chạy về hướng thành Thiên Trường. Số này sở dĩ chạy thoát được cũng là do Phạm Thế Căng cố ý thả cho đi.

Cũng lúc này, tại một ngôi làng cách thành Thiên Trường không xa, có hai thanh niên đang ngồi uống rượu chuyện trò, cùng thảo luận quốc gia đại sự. Cả hai tư chất văn nhã, thần thái cao quý, rõ ràng xuất thân từ dòng dõi cao quan vọng tộc. Một người đưa mắt dõi nhìn về phía bắc, khẽ thở dài than :

- Giặc Ngô hại nước, biết bao giờ mới có vua hiền, cứu dân trong vòng nước lửa.

Người kia chợt hỏi :

- Nguyễn huynh thấy Phạm tướng quân thế nào ?

Người họ Nguyễn lắc đầu nói :

- Là tướng giỏi, nhưng không biết tâm tính thế nào.

Người kia gật đầu nói :

- Phạm tướng quân là đệ nhất danh tướng của Đại Việt ta, trước có công bình Chiêm, sau giữ yên Nam Trấn. Ngày trước ta còn nghĩ Phạm tướng quân là người trung nghĩa. Trong khi giặc Chiêm hoành hành, triều đình nguy cấp, nhiều đại tướng và tôn thất đã theo hàng giặc Chiêm thì Phạm tướng quân vẫn một lòng chiêu tập dân binh theo triều đình chống giặc. Thế nhưng, khi Quý Ly soán vị, Phạm tướng quân không có ý kiến gì. Khi giặc Ngô sang, Phạm tướng quân cũng không tỏ thái độ. Khi đức Giản Định Đế và Trùng Quang Đế khởi binh, Phạm tướng quân cũng không ủng hộ. Thậm chí khi đức Trùng Quang Đế thất thế, xin với Phạm tướng quân mở cửa ải để lánh về phương nam cũng bị từ chối. Rồi giờ đây Phạm tướng quân lại bộc phát, chỉ trong vài tháng đã bình định được một khu vực còn rộng lớn hơn đức Giản Định Đế lúc trước. Trong tay chỉ có 6 vạn quân mà cả Mộc Thạnh, Trần Trí, Phương Chính đều không phải đối thủ. Xem ra Trương Phụ cũng không khá hơn, nếu không đã xuất binh quyết chiến chứ đâu có giữ thế thủ chờ viện binh như lúc này.

Người họ Nguyễn nói :

- Ta càng lúc càng nhìn không thấu Phạm tướng quân. Nhưng theo như hịch văn, Phạm tướng quân có vua hiền để phò tá. Chẳng phải hịch văn có câu “Vâng Đế quốc Thánh hoàng mật chỉ” đó sao ? Chỉ không biết vị vua hiền đó là người thế nào ?

Người kia hỏi :

- Chúng ta đi gặp Phạm tướng quân chứ ?

Người họ Nguyễn nói :

- Bấy lâu nay chúng ta du lịch khắp nơi, chưa tìm thấy ai xứng đáng là vua hiền cả. Dù sao đây cũng là cơ hội.

Người kia gật đầu nói :

- Cũng phải.

Người họ Nguyễn lại nói :

- Ta xem trận chiến này như là một cơ ngộ đi. Khi nào Phạm tướng quân chiếm được Thiên Trường, chúng ta sẽ đến bái kiến. Dù sao Thiên Trường cũng là đất tổ của nhà huynh. Thiên Trường được giải phóng, cũng là một sự kiện có ý nghĩa trọng đại.

Người kia nhìn ra ngoài trời, nói :

- Gió lên rồi.

Hai người họ đang yên lặng trầm tư, đột nhiên có một người hối hả chạy vào, vừa thở dốc vừa nói :

- Công tử. Công tử. Giặc Ngô nhân đêm tối đến cướp doanh trại quân ta, đại bại. Mấy vạn giặc Ngô chỉ có vài nghìn chạy thoát.

Cả hai giật mình sửng sốt, đồng bật dậy, nói :

- Đi. Chúng ta đi xem thử.



Nói về quân Minh do Phương Chính cầm đầu cuống cuồng tháo chạy. Quân Nam đuổi theo ở xa xa phía sau. Tiếng trống trận thùng thùng, tiếng hò reo vang dậy càng làm cho quân Minh thêm hoảng loạn. Phạm Thế Căng cho quân chậm chậm từ từ đuổi theo đằng sau, cố ý bức quân Minh chạy vào trong thành Thiên Trường.

Phương Chính cùng chúng sĩ tốt chạy đến trước cửa thành, lớn tiếng gọi thủ quân mở cửa :

- Quân đâu. Mau mở cửa.

- Ngươi, ngươi, ngươi nữa. Nhanh lên.

- Quân Nam sắp đuổi theo đến nơi rồi kìa.

- Có mau mở cửa không ? Còn chần chừ, đợi bản tướng quân vào thành rồi sẽ chém đầu các ngươi.



Cửa thành mở ra, quân Minh tranh nhau chạy vào bên trong. Chỗ cổng thành hỗn loạn vô cùng. Binh lính thủ thành liên tục thúc giục bại binh nhanh chóng vào thành, kẻo quân Nam đuổi đến. Mộc Thạnh ở trên thành lâu nhìn thấy cảnh đó, chỉ khẽ lắc đầu thở dài. Không ngờ quân Nam cũng có người giỏi mưu lược. Kế hoạch cướp doanh hoàn hảo như thế mà lại gặp phải cảnh thảm bại thế này, 4 vạn rưỡi đại quân chỉ chạy thoát được có vài nghìn. Thật là trời chẳng phù hộ Thiên triều a. Còn việc quân Nam đuổi tới, Mộc Thạnh cũng không lo lắm, bởi đối phương hãy còn xa, mà số quân Minh ở ngoài thành chỉ còn chưa đến hơn nghìn, chỉ lát nữa thôi là có thể vào hết và cửa thành có thể đóng lại.

Đột nhiên …

Oanh. Oanh. Oanh …

Nghe tiếng đại pháo nổ vang, quân Minh đều cả kinh thất sắc. Mộc Thạnh cũng giật mình. Hiện tại trong số tất cả quân Minh ở đây chỉ có một nhóm người không giật mình, cũng không kinh hãi. Đó là đám thủ quân đang trấn giữ ở cổng thành và số bại binh còn sót lại ở dưới thành môn. Bọn họ không giật mình kinh hãi, bởi vì đã không còn cơ hội nữa. Đạn pháo bắn ngay vào giữa cổng thành, khiến gần trăm người đang chen chúc ở đó tử thương gần hết.

Tiếp đó, lại có thêm nhiều loạt đạn pháo liên tiếp rải lên tường thành, uy hiếp thủ quân không dám ló đầu lên. Còn ở thành môn, vẫn có từng loạt, từng loạt đạn pháo bắn vào đó, ngăn không cho thủ quân đóng cổng thành lại. Phía quân Nam, Phạm Thế Căng đã cho chuẩn bị trận địa thần công đại pháo từ trước, ngắm vào mục tiêu sẵn sàng, nên khi phát xạ cũng tương đối tinh chuẩn.

Đạn pháo bắn được một lúc thì ngừng lại. Nhưng quân Minh trong thành chẳng thấy nhẹ nhõm chút nào, bởi bọn họ phát hiện quân Nam nhân lúc bọn họ lo ẩn nấp đạn pháo đã xông đến chiếm lĩnh thành môn, và hiện đang tràn vào trong thành. Mộc Thanh thở dài, dẫn tàn quân mở cửa phía bắc rút chạy. Cổng thành đã bị chiếm, quân Nam có đến 6 vạn, trong khi quân Minh kể cả đám bại binh chỉ còn lại chưa đến 8.000, chênh lệch quá lớn, dù quân Minh có sĩ khí ngút trời cũng không thể nào chống cự nổi, đừng nói lúc này vừa mới bại trận, sĩ khí giảm sút nghiêm trọng. Biết sự tình vô vọng, Mộc Thạnh không bao giờ miễn cưỡng làm.

Mộc Thạnh đã bỏ thành rút chạy, Phạm Thế Căng nhanh chóng kiểm soát được Thiên Trường, dời đại bản doanh vào trong thành và tiến hành an dân, đồng thời phân phái các tướng lĩnh dẫn quân đi chiếm lĩnh các nơi khác. Thiên Trường đại bại, quân Minh giờ chỉ còn lại một lực lượng ít ỏi ở Thăng Long. Phạm Thế Căng nhân đó phái Trương Hổ dẫn 1 vạn quân đi chiếm lĩnh Quốc Oai, Quảng Oai, Gia Hưng, Quy Hóa, Đà Giang, Tam Đái (Bạch Hạc), Tuyên Quang để chặn đường viện binh của quân Minh ở Vân Nam sang; lại phái Cầm Huy dẫn 1 vạn quân đi chiếm lĩnh Kiến Xương, Tân Hưng, Thượng Hồng (Bình Giang), Hạ Hồng (Ninh Giang), Bắc Giang, Lạng Giang để chặn đường viện binh của quân Minh ở Lưỡng Quảng sang. Đích thân Phạm Thế Căng sẽ dẫn 4 vạn quân còn lại đi đánh Thăng Long. Đồng thời, truyền thư cho Phạm Đống Cao ở Nghệ An mang dân binh ra giúp.

Giữa lúc Phạm Thế Căng đang bận lo chỉnh đốn quân đội, chuẩn bị tiến đánh Thăng Long thì có tùy tướng vào báo :

- Tướng quân. Quân ta bắt được hai người hình tích khả nghi. Bọn họ bảo là từ Thăng Long vào đây bái kiến Tướng quân.

Phạm Thế Căng ngẫm nghĩ giây lát, rồi gật đầu nói :

- Có lẽ là hiền sĩ của Đại Việt ta. Mời bọn họ vào đây.

Lát sau, tùy tướng dẫn hai thanh niên khí chất văn nhã đi vào. Phạm Thế Căng nhìn hai người họ một lượt. Cả hai ước hơn ba mươi tuổi, một có phong thái thư sinh, còn người kia tuy văn nhã, nhưng thần thái nghiêm nghị, có tư chất tướng môn hổ tử. Cả hai hướng vào Phạm Thế Căng thi lễ, nói :

- Trần Văn, Trần Vũ bái kiến Phạm tướng quân.

Phạm Thế Căng khẽ gật đầu nói :

- Hai ngươi chờ một lúc. Bản tướng giải quyết quân vụ xong rồi chúng ta sẽ đàm đạo.

Cả hai người vâng dạ, ngồi vào ghế ở mé dưới. Viên tùy tướng gọi người dâng trà. Phạm Thế Căng lại tiếp tục phê duyệt báo cáo quân tình. Còn hai người mới đến lại chú ý quan sát Phạm Thế Căng. Càng quan sát, cả hai lại càng cảm thấy hồ đồ. Phạm Thế Căng tuy có đại tướng phong phạm, khí thế bất phàm, nhưng không có vẻ gì là trí tướng. Thế mà trận đánh tối quá, chiến sự oanh oanh liệt liệt, quân Nam đại thắng, tiêu diệt gần 4 vạn rưỡi quân Minh, trong khi bản thân thiệt hại chưa đến 1 nghìn, phải nói là chiến quả huy hoàng.

Hai người bọn họ tối qua khi nghe gia nhân báo tin chiến sự, lập tức chạy ngay đến gần chiến trường quan sát tình thế. Thời gian đi lại cũng chỉ mất hơn canh giờ, vậy mà khi cả hai đến nơi thì Phạm Thế Căng đã vào thành rồi. Chiến lực và hiệu suất của quân Thuận Hóa khiến cả hai đối Phạm Thế Căng càng thêm kính ngưỡng. Trước giờ, cả hai chỉ biết Phạm Thế Căng được tôn xưng là Đại Việt đệ nhất danh tướng, còn họ Phạm giỏi thế nào thì chưa nghe ai nói đến, chỉ biết rằng trận chiến nào có Phạm Thế Căng tham gia đều giành thắng lợi, vắng mặt Phạm Thế Căng, đa số thất bại, hoặc chinh chiến vô công. Thậm chí có người còn gọi Phạm Thế Căng là ‘phúc tướng’. Điều này, cả Phạm Thế Căng cũng không ngờ đến.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
14-10-2010, 08:12 AM
Chương 53 : ĐỐI THOẠI – CHẤN KINH


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414), mùa hạ tháng 5. Thiên Trường.

Phạm Thế Căng xử lý quân cơ sự vụ xong, quay sang nhìn 2 thanh niên tự xưng là Trần Văn và Trần Vũ kia một lượt, rồi chỉ tủm tỉm cười. Cả hai vội đứng dậy vòng tay nói :

- Tướng quân.

Phạm Thế Căng vẫn không đứng dậy đáp lễ, chỉ khẽ cười nói :

- Hai ngươi bất tất đa lễ, cũng không cần giấu diếm thân phận làm gì.

Cả hai nghe Phạm Thế Căng nói vậy, kinh hãi vô cùng. Một người ấp úng nói :

- Tướng quân biết chúng ta ?

Phạm Thế Căng cười nói :

- Ta với Ứng Long tuy không có nhiều giao tình, nhưng dù sao cũng là đồng liêu. Thần thái của ngươi khá giống Ứng Long, không khó để nhận ra. Ta cũng rất kính nể Băng Hồ Công.

Cả hai nghe nói giật mình, vội nghiêng người thi lễ, nói :

- Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn bái kiến Tướng quân.

Ứng Long là tên thật của Nguyễn Phi Khanh. Phạm Thế Căng có biết Nguyễn Phi Khanh, nên nhận ra thanh niên kia là ái tử của Nguyễn Phi Khanh - Nguyễn Trãi. Trước đây Phạm Thế Căng từng nghe nói Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn kết bạn chu du khắp nơi tìm minh chủ, nên khi nhận ra Nguyễn Trãi thì cũng đoán biết người còn lại hẳn là Trần Nguyên Hãn. Băng Hồ Công là Trần Nguyên Đán, ông nội của Trần Nguyên Hãn, làm quan Tư đồ dưới thời Trần. Nguyễn Trãi là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán nên cùng Trần Nguyên Hãn cũng là thân thích.

Phạm Thế Căng cười nói :

- Bất tất đa lễ. Cứ ngồi đi.

Cả hai vâng dạ, ngồi xuống. Tuy Phạm Thế Căng chỉ ngồi trên soái vị, không hề đứng dậy chào đón, không thể gọi là lễ hiền hạ sĩ, nhưng cả hai người cũng không lộ vẻ bất mãn hay có ý không vui. Sách “Tang thương ngẫu lục” có chép rằng hai người ‘ra mắt’ Lê Lợi đến 2 lần : lần đầu, hai người đến và bỏ về sau khi thấy Lê Lợi xé thịt bằng tay và đưa lên miệng ăn ngay trong ngày giỗ; lần thứ hai, hai người mới ở lại sau khi thấy Lê Lợi thức khuya nghiền ngẫm binh thư. Điều đó chứng tỏ cả hai đều nghiêm khắc với việc chọn minh chủ để phò tá. Có điều Phạm Thế Căng khác Lê Lợi. Lê Lợi chỉ là thổ hào ở vùng Lam Sơn, trước khi khởi nghĩa thì danh vọng không lớn. Còn Phạm Thế Căng là ‘đệ nhất danh tướng’ của Đại Việt, vị cao quyền trọng. Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn lúc này chỉ là những thanh niên có chí lớn, chưa trở thành hiền thần hay danh tướng, thân phận không thể sánh bằng Phạm Thế Căng. Hơn nữa, Phạm Thế Căng cùng với Nguyễn Phi Khanh là đồng liêu, đó cũng là sự thật. Thậm chí, thân phận địa vị của Phạm Thế Căng so với Nguyễn Phi Khanh còn cao hơn, và so với các con của Trần Nguyên Đán cũng cao hơn hẳn. Các con của Trần Nguyên Đán chỉ được làm Tướng quân bình thường; còn Phạm Thế Căng tổng lĩnh Nam Trấn, cai quản 3 phủ Thuận Hóa, Tân Bình và Thăng Hoa, là biên cương trọng thần, được quyền tự chiêu mộ binh mã (các tướng khác tự chiêu mộ binh mã sẽ bị xem như là tạo phản). Do đó Phạm Thế Căng xem bọn Nguyễn Trãi là hậu bối cũng không có gì là không phải, nhất là lúc này, sau khi chiếm được Thiên Trường, thanh thế và danh vọng đều tăng cao.

Bọn Nguyễn Trãi ngồi xuống rồi, Nguyễn Trãi mới hỏi :

- Tướng quân nay đã chiếm được Thiên Trường rồi, không biết khi nào ra lấy lại Đông Quan ?

Phạm Thế Căng nói :

- Đông Quan ? Ý ngươi muốn nói Thăng Long. Đông Quan là tên của họ Hồ gọi, bản triều vẫn gọi nó là Thăng Long. Triều đình đã ban chỉ, lấy đất từ Trường Yên đến Lạng Giang thành lập tỉnh Thăng Long, lấy Thăng Long Thành làm trị sở. Bản tướng đương nhiên phải lấy lại Thăng Long. Bọn Trương Phụ hiện chỉ còn lại một ít quân đội, không phải lo.

Nghe Phạm Thế Căng nhắc đến điều mà bọn họ vẫn thắc mắc bấy lâu, Nguyễn Trãi vội hỏi :

- Xin hỏi Tướng quân, triều đình ở đâu ạ ? Triều đình đã lập, sao không chiếu cáo thiên hạ ?

Phạm Thế Căng khẽ cười, nói :

- Triều đình không phải mới lập. Chúng ta phò tá Thánh hoàng, thành lập đạo quân đầu tiên vào năm Mậu Dần ở Kiềm Châu, hành doanh đặt ở Thánh Sơn. Đến năm Canh Thìn, cũng là năm Quý Ly xưng đế, Thánh hoàng đã dời hành doanh đến Hóa Châu, đồng thời thành lập Hải quân. Đến năm Quý Mùi, bản triều xây dựng An Phú Thành, Thánh hoàng lại dời hành doanh đến đó. Sang năm sau, Thánh hoàng chính thức chọn Gia Định Thành làm kinh đô, dời triều đình đến Gia Định. Bản triều đã chuẩn bị bắc phạt từ khi còn ở Kiềm Châu, đương nhiên không thể phô trương để cho giặc Ngô biết mà đề phòng. Đâu có như bọn Giản Định, Trùng Quang, chỉ có một ít binh mã mà đã huênh hoang tự xem mình là Thiên tử, rồi lại còn sợ thiên hạ không ai biết.

Bọn Nguyễn Trãi nghe Phạm Thế Căng nói thế, càng thêm ngơ ngác. Nguyễn Trãi từng đọc rất nhiều sách, có thể nói là tinh thông ‘thiên văn địa lý’ (Nguyễn Trãi từng viết quyển ‘Dư Địa Chí’, đương nhiên là khái niệm ‘thiên văn địa lý’ của nhà nho thời bấy giờ), nhưng chưa từng nghe đến An Phú, Gia Định. Do vậy liền hỏi :

- Tướng quân. Gia Định ở đâu ạ ?

Phạm Thế Căng nói :

- Hiện chúng ta đang ở tỉnh Thăng Long. Phía nam, từ Thanh Hóa đến Hóa Châu là tỉnh Thuận Hóa. Phía nam Thuận Hóa, phần lãnh thổ của Chiêm Thành trước đây kể luôn đất Thăng Hoa gọi là tỉnh Phú Yên. Phía nam tỉnh Phú Yên chính là tỉnh Gia Định. Gia Định Thành là trị sở của tỉnh Gia Định, và cũng là kinh đô của bản triều.

Nguyễn Trãi ngạc nhiên hỏi :

- Vậy ra triều đình đã diệt Chiêm Thành ?

Phạm Thế Căng gật đầu nói :

- Chiêm Thành nhiều lần quấy nhiễu Thuận Hóa, nên bản triều đã diệt hẳn Chiêm Thành để tuyệt hậu hoạn. Đương nhiên giờ đây dân Chiêm đều đã trở thành thần dân của Đế quốc.

Nguyễn Trãi lại hỏi :

- Tướng quân. Triều đình đóng đô thiên nam, không phải khó trị nước lắm sao ? Triều đình có định sau này sẽ thiên đô về Thăng Long ?

Phạm Thế Căng bật cười nói :

- Cái gì mà thiên nam. Các ngươi vẫn không bỏ được tư tưởng thổ hào rồi, chỉ biết được mấy tấc đất quanh nhà mình mà thôi. Cương thổ Đế quốc rộng mênh mông. Trong cương thổ Đế quốc, kinh đô của bản triều thiên bắc và thiên đông đấy. Ở phương nam, chỉ riêng đất Minh Châu cũng lớn gấp đôi cương thổ của Minh triều. Từ Gia Định đi đến vùng cực nam của Đế quốc còn xa hơn từ Gia Định đi đến vùng cực bắc của thảo nguyên Mông Cổ nữa đấy. Như thế mà gọi là thiên nam sao ?

Bọn Nguyễn Trãi chấn kinh không sao kể siết. Khái niệm thiên hạ của bọn họ chủ yếu chỉ là đất Trung Hoa và Đại Việt, miễn cưỡng kể thêm Chân Lạp, Chiêm Thành, Ai Lao, Mông Cổ, Triều Tiên. Còn theo như lời Phạm Thế Căng, cương thổ của Đế quốc chẳng phải rất lớn, lớn hơn cả Minh triều, là một siêu cấp Đế quốc. Nguyễn Trãi cảm thấy đầu óc loạn cả lên, những tri thức đã học trước đây xem như vô dụng cả. Trần Nguyên Hãn thì đỡ hơn, bởi chẳng nghiên cứu sâu về ‘thiên văn địa lý’, nên trấn tĩnh hỏi :

- Xin hỏi Tướng quân. Cương thổ Đế quốc rộng đến mức nào ạ ?

Phạm Thế Căng ngẫm nghĩ giây lát, đoạn hỏi :

- Các ngươi biết các xứ Thiên Trúc, Ba Tư chứ ?

Trần Nguyên Hãn cau mày, Nguyễn Trãi đã định thần lại, gật đầu nói :

- Biết ạ. Phía tây Trung Hoa là đất Tây Vực, phía tây của Tây Vực là Thiên Trúc, lại đi về phía tây nữa là đến đất Ba Tư.

Phạm Thế Căng cười hỏi :

- Nếu đi về phía tây nữa thì sao ?

Nguyễn Trãi cố ngẫm nghĩ, cố nhớ lại kinh sách, hồi lâu mới nói :

- Theo cổ thư ghi lại thì phía tây Ba Tư là Đại Tần, đó là một nước rất lớn. Thời Hán từng sai Trương Khiên đi sứ sang các nước phía tây, nhưng cũng chỉ đi được đến các nước ở Tây Vực. Đến thời Đường, mới có Tam Tạng Thiền sư đi được sang đến Thiên Trúc. Chuyện về các xứ Ba Tư, Đại Tần chỉ do các thương nhân Tây Vực kể lại.

Phạm Thế Căng gật đầu :

- Đại Tần chính là Âu châu, ngày trước gọi là La Mã, ở về phía tây xứ Ba Tư. Cương thổ Đế quốc theo hướng bắc - nam, khi nãy bản tướng đã nói qua rồi. Còn theo hướng đông – tây, nếu lấy Gia Định Thành làm chuẩn, xem khoảng cách từ Gia Định Thành đến nam Thiên Trúc là 1 đoạn, thì từ nam Thiên Trúc đi sang phía tây một đoạn tương đương nữa là đến xứ Somali, rồi lại đi tiếp về phía tây bắc một đoạn tương đương nữa là đến A Lạp Bá, nơi đó cũng vẫn là cương thổ của Đế quốc. A Lạp Bá nằm về phía tây nam xứ Ba Tư, phía nam Âu châu. Còn về phía đông thì bản tướng cũng không rõ hiện đã mở mang đến đâu rồi, nhưng có lẽ ngắn hơn một chút.

Càng nghe nói ý nghĩ của bọn Nguyễn Trãi càng hỗn loạn, không thể tưởng tượng ra cương thổ Đế quốc rộng đến mức nào. Bọn họ chỉ có khái niệm Thiên Trúc rất xa, còn Ba Tư thì rất rất xa, nhưng xa như thế nào thì vẫn không có khái niệm rõ ràng. Tuy vậy, bọn họ đều không phải người thường, nhanh chóng bỏ qua chuyện đó, chỉ cần biết được Đế quốc rất rộng lớn, rất hùng mạnh là được rồi.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
15-10-2010, 04:15 PM
Chương 54 : HỊCH VĂN


Lại nói, Phạm Thế Căng giảng giải về cương thổ và thế lực của Đế quốc, khiến cả Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đều chấn kinh không sao kể siết. Nhưng cả hai đều không phải người thường, nhanh chóng bỏ qua chuyện đó, không nghĩ đến nữa. Nguyễn Trãi lại hỏi về chuyện quan trọng trước mắt :

- Tướng quân. Sau khi đã lấy lại được Thăng Long thì sẽ làm gì nữa ạ ?

Theo ý Nguyễn Trãi là muốn hỏi về việc khôi phục đất nước, bởi sau khi đánh đuổi được quân Minh thì việc quan trọng cần làm là an dân, khôi phục đất nước. Nhưng Nguyễn Trãi lại quên rằng mình lại dùng đến tầm nhìn mà Phạm Thế Căng bảo là ‘thổ hào’, trong tầm nhìn hạn hẹp chỉ biết có Đại Việt, mà quên rằng Đế quốc rất hùng mạnh, sử dụng nhân tài vật lực của hơn 60 tỉnh để khôi phục Đại Việt, không thành vấn đề. Hiện tại, Đế quốc trừ Thăng Long và Thuận Hóa ra còn có 63 tỉnh khác, trong đó đất Minh Châu (Úc châu) rộng lớn chỉ được lập 1 tỉnh (vì ít dân).

Phạm Thế Căng nói :

- Còn làm gì nữa chứ ! Đương nhiên tiếp tục bắc phạt. Nhiệm vụ của bản tướng là tiến chiếm Quảng Tây.

Tiến chiếm Quảng Tây ? Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đều giật mình, nhưng rồi nghĩ lại, theo lời Phạm Thế Căng thì Đế quốc đã hùng mạnh như thế, có lẽ chẳng có gì phải sợ Minh triều. Và giờ đây bọn họ mới hiểu ý nghĩa của từ ‘bắc phạt’ mà Phạm Thế Căng nói nãy giờ. Lúc trước cả hai chỉ nghĩ ‘bắc phạt’ là từ Thuận Hóa đánh ra Thăng Long, nhưng đến lúc này cả hai mới hiểu ý nghĩa thực sự của nó. ‘Bắc phạt’ là chinh phạt Bắc triều, không phải chỉ đơn giản là khôi phục Đại Việt, vì vậy mới mất đến 16 năm chuẩn bị.

Phạm Thế Căng lại nói :

- Lý Ngân đã tiến quân vào Vân Nam. Triệu Phong đã tiến đánh Quảng Đông, Phúc Kiến, Chiết Giang, hiện đang tấn công Kim Lăng, kinh đô của Minh triều. Chỉ có bản tướng là hơi chậm, cần phải khẩn trương hơn nữa. Bản tướng cần chiếm lĩnh Quảng Tây, sau đó phối hợp với Lý Ngân tiến quân vào Hồ Quảng.

Thấy cũng đã đủ đả kích tinh thần hai người bọn họ rồi, Phạm Thế Căng cười a a nói :

- Đây là hịch văn do Tử Tấn soạn. Các ngươi xem qua đi. À. Tử Tấn với Nguyễn Trãi thi đỗ đồng khoa thì phải ?

Nguyễn Trãi giật mình hỏi :

- Phải chăng Tướng quân nói đến Chuyết Am Lý Tử Tấn.

Phạm Thế Căng gật đầu :

- Phải đó. Y văn hay chữ tốt, được Thánh hoàng tin dùng, cho giữ chức Trưởng sử, phụ trách thảo chiếu chỉ, công văn.

Nguyễn Trãi nói :

- Vãn sinh với Chuyết Am huynh đỗ cùng khoa năm Canh Thìn.

Phạm Thế Căng đưa cho bọn họ xem tờ hịch văn do Lý Tử Tấn soạn. Hịch văn này để truyền sang đất Bắc, nên viết bằng chữ Hán, tạm dịch như sau :

“Thường nghe rằng :

Bậc minh chủ gặp nguy vong mà biến thế,

Đấng trung thần lo nạn nước mà tùng quyền.

Vậy nên :

Có người phi thường rồi mới có việc phi thường. Có việc phi thường rồi mới có công lao phi thường. Người phi thường ấy, không phải ai cũng có thể bắt chước được.

Xưa kia, Đại Tống gặp lúc vua hèn, Tần Cối dối vua hại người trung nghĩa, tác oai tác phúc. Thiên hạ lắm người oán hận nhưng không ai dám nói gì. Thế rồi hắn cũng phải chết, mang tiếng ô nhục, lưu tiếng xấu muôn đời.

Cho đến cuối thời Nam Tống, Sử Di Viễn chuyên chính, bên trong giữ quyền tể tướng, bên ngoài thống chế tam quân, lạm quyền quốc sự, quyết việc nơi Cung cấm, dưới lăng loàn, trên suy yếu, bách tính ai cũng đau lòng.

Ngày nay có gã Yên vương Chu Lệ làm càn. Cha gã là Nguyên Chương, vốn là ăn mày được Quách Tử Hưng thu nhận, nhờ tài nịnh hót mà được thừa kế chức vị, nắm quyền quân sự, làm điều yêu nghiệt, tham tàn càn rỡ, tổn thương phong hóa, tàn ngược nhân dân, bị đuổi đánh, phải chạy sang đầu phục Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi, quan bái Quốc công, vậy mà không biết đền ơn, nhờ có của tiền mua lấy chức vị, mang vàng ngọc đút lót chỗ quyền môn, trộm cắp đỉnh tư, làm nghiêng đổ cơ đồ Tống thất.

Đến gã tên Lệ, con thằng ăn mày, cháu tên tá điền, nên chẳng có nết na gì, tai quái luông tuồng, ham loạn lạc, vui trong tai vạ của bách tính.

Bản triều đây, thống lĩnh tứ hải, tảo trừ lũ hung nghịch. Gặp hồi Huệ đế yếu hèn, tên Lệ mượn cớ ‘tịnh nạn’, xin với bản triều giúp đỡ thanh quân trắc, diệt gian thần. Bản triều tưởng gã có lòng trung nghĩa, nên đã cho giữ một cánh quân, tặng lương tặng của, tưởng rằng chim ưng, chó săn cũng có chút tài khả dụng.

Nào ngờ tên Lệ là đứa ngu si dốt nát, tiến liều lùi bậy, liên miên bại trận, làm tổn quân mã, mất cả nhuệ khí tam quân. Bản triều lại phải rèn luyện quân ngũ, chinh tập lương thảo, rồi cho gã tiếp tục cử sự. Thân dê đội lốt hổ, nắm được quyền hành, những tưởng rồi gã sẽ đem thân khuyển mã để báo được những trận thua trước, cứu nạn cho bách tính Trung Nguyên.

Thế mà gã nhân được thể, dám làm trò chó vượt qua rào, hung hăng tàn bạo, chinh chiến liên miên, hại người hiền, giết người ngay. Quan cố Học sĩ Phương Hiếu Nhụ là bậc anh tài tuấn vĩ, thiên hạ đều biết tiếng, nhìn ngay nói thẳng, không lời dua nịnh, mà cũng bị gã giết hại, phanh thây giữa chợ, đầu bêu ngọn giáo, vợ con đều bị hại. Từ đó kẻ sĩ khắp nơi ai ai cũng đều tức giận, nhân dân chốn chốn càng xót xa căm hờn.

Về sau, bản triều có việc ở phương tây, nên có sai quan trưởng sử đến truyền cho gã phải an phủ dân thảo nguyên phương bắc. Thế mà gã dám ngông nghênh làm càn, đem quân cướp bóc các bộ lạc thảo nguyên, để đến nỗi dân phương bắc tụ tập báo thù, làm hại đến bách tính Trung Nguyên. Như thế tội lỗi của gã thật lớn lắm vậy.

Gã khinh thường thiên oai, bại hoại pháp chế, rối loạn kỷ cương, khuynh loát cả cõi Trung Nguyên, chuyên chế hết cả triều chính, muốn thưởng ai mặc lòng, muốn giết ai tùy ý. Yêu ai thì làm rạng đến ba đời, ghét ai thì giết cả ba họ. Ai tụ tập luận bàn thì bị chém công khai, ai bí mật dị nghị thì bị giết lén lút. Bách quan phải ngậm miệng, người đi đường chỉ đưa mắt cho nhau, không ai dám nói tiếng nào. Chức thượng thư chỉ còn biết ghi chép buổi triều hội, công khanh ngồi đứng cho có vị. Ôi thương thay ! Giận thay !

Thân ở ngôi vương mà gã quen thói trộm cướp, làm nhơ cả nước, làm nhục muôn dân, gây vạ độc địa cho cả vong hồn người chết. Chính sự thì gã tinh ranh khắc nghiệt, luật lệ đặt ra trói buộc khắp mặt, cạm bẫy chăng ra đầy đường khắp lối, khiến ai nấy giơ tay đụng phải lưới, bước chân vướng phải tròng. Cho nên dân vô tội các xứ Miêu, Việt đau khổ lầm than, tiếng rên la khắp chốn rất là ai oán. Trải xem sử sách cổ kim, những kẻ làm vua mà tham tàn khốc liệt cũng nhiều, nhưng không kẻ nào tai hại bằng tên Lệ ngày nay nữa.

Bản triều còn bận nhiều việc, chưa kịp răn trách gã, tức là còn nấn ná rộng dung, tưởng gã sẽ sửa lầm cải lỗi đi chăng ? Thế mà gã vẫn lòng lang dạ sói, manh tâm gây vạ, muốn đạp đổ pháp tắc, tàn ngược thiên hạ. Gã hãm hại người trung nghĩa, chính là gã muốn củng cố địa vị độc tài để được tự làm ác như con cú độc vậy.

Bản triều phụng oai linh Thiên đế an phủ tứ hải. Hiện nay đất Trung Nguyên lầm than, dân Trung Nguyên khốn khổ, tuy có kẻ sĩ trung nghĩa, nhưng bị bạo quân tàn ngược hiếp chế, thì còn phát triển khí tiết của mình làm sao được ? Hơn nữa, tên Lệ còn sai mấy vạn Cẩm y vệ, lùng sục khắp cõi, ngoài mặt giả thăm dò dân tình, thực chất là tàn hại bách tính. Bản triều sợ rằng sự tàn ngược đó mỗi lúc một nảy nở thêm, nên ban chiếu răn trách gã. Thế mà gã không những nhắm mắt bịt tai, lại còn dối lừa thiên sứ. Thánh hoàng nổi giận, truyền chỉ thảo phạt. Nay mai quân thiên triều bốn đường cùng tiến, thị vũ dương uy, cùng khôi phục an lạc cho cõi Trung Nguyên, cứu bách tính giữa vòng tai vạ.

Ai lấy được thủ cấp của tên Lệ, sẽ được phong vương, trấn thủ cõi Trung Nguyên. Tướng sĩ quan lại những ai đến hàng, đều miễn trừ tội cũ. Bản triều sẵn sàng mở rộng đường ân đức, ban thưởng tuyên dương cho ngay.

Nay hịch truyền ra, bố cáo thiên hạ, để tứ phương thần dân biết rằng kẻ nghịch tất bị nghiêm trừng, kẻ ác tất bị chỉnh trị. Lưới trời lồng lộng, thưa nhưng khó lọt.”

Đọc xong hịch văn, cả Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn đều trợn tròn mắt, không ngờ hịch văn còn có thể viết như vậy. Nói như thế, tội lỗi của Minh đế ‘cao như núi, sâu như biển’ a. Phạm Thế Căng khẽ cười. Khi mới đọc hịch văn lần đầu, y cũng vậy thôi. Sau một lúc, y mới bảo :

- Được rồi. Hai ngươi đến đây làm gì ta đã biết rồi. Nếu hai ngươi có ý phụng sự triều đình, ta sẽ tiến cử hai ngươi với Thánh hoàng. Tử Tấn vẫn khen Nguyễn Trãi ngươi văn hay chữ tốt. Ngươi với Tử Tấn cùng thi đỗ đồng khoa, làm quan đồng triều là hợp quá rồi còn gì. Còn Nguyên Hãn, nghe nói ngươi không chỉ giỏi võ mà còn có mưu lược, xem ra có thể trở thành đại tướng.

Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đều cúi đầu suy nghĩ. Phạm Thế Căng cũng không giục, để yên cho cả hai suy tính.

(chú : Hàn Lâm Nhi tự xưng là Tiểu Minh Vương của nước Tống, khi Chu Nguyên Chương về đầu, được phong là Ngô quốc công).




Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-10-2010, 09:12 PM
Chương 55 : TÂY CHINH HOÀN THÀNH


Lại nói, khi nghe Phạm Thế Căng chiêu dụ, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn cùng trầm ngâm suy nghĩ. Phạm Thế Căng cũng không hối thúc, cứ để yên cho cả hai suy tính. Hồi lâu sau, Nguyễn Trãi đứng dậy vòng tay nói :

- Đa tạ Tướng quân có lòng cất nhắc. Bọn vãn sinh tài sơ học thiển, chưa dám nhập triều vi quan. Nhưng nếu có thể, mong rằng Tướng quân có thể thu xếp cho bọn vãn sinh đến Gia Định thăm viếng Chuyết Am huynh.

Phạm Thế Căng là người thế nào, đương nhiên biết thừa bọn Nguyễn Trãi muốn gì, nhưng y chỉ cười cười nói :

- Được thôi. Ta sẽ thu xếp để các ngươi có thể theo thương thuyền vào Gia Định.

Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đồng cung thân nói :

- Đa tạ Tướng quân.

Phạm Thế Căng lại nói :

- Chỉ có điều, khi đã đặt chân lên cương thổ bản triều, các ngươi nếu như không muốn bị thiệt thòi, tốt nhất là nên bỏ hẳn các thói quen của nho gia. Bản triều khinh nho, nho gia tối tiện.

Nguyễn Trãi nghe nói kinh hãi thất sắc, hỏi :

- Nho gia là gốc của triều đình, tại sao triều đình lại khinh nho ạ ? Không có nho gia làm sao trị nước ? Như thế chẳng phải nguy lắm hay sao ?

Phạm Thế Căng khẽ cười nhạt, nói :

- Bản triều khinh nho, mà vẫn dân phú quốc cường đó thôi. Đại Việt trọng nho, thì vẫn bé tẻo teo, ngay cả Ai Lao, Chiêm Thành cũng dám hiếp đáp. Ở bản triều, trừ nho gia ra, chúng dân đều bình đẳng, sĩ nông công thương đều như nhau. Tứ đại bộ môn của bản triều là Thương, Chính, Giáo, Quân. Sở dĩ ở bản triều nho gia tối tiện là vì Thánh hoàng bảo rằng nho gia là phản đồ của Khổng môn, xuyên tạc hoặc bóp méo các tư tưởng cao đẹp của Khổng phu tử. Khổng phu tử bảo rằng ‘hữu giáo vô loại’, việc giáo hóa không được phân biệt đối đãi; Thánh hoàng muốn giáo hóa toàn dân, mọi thần dân của bản triều đều phải biết chữ; trong khi đó nho gia lại chủ trương thực hiện chính sách ngu dân, đương nhiên tối tiện.

Nguyễn Trãi kinh hãi không sao kể siết, bởi Nguyễn Trãi thực chất là một nhà nho, mà theo như lời của Phạm Thế Căng, nho gia là phản đồ của Khổng môn, là tối tiện. Trong khi đó, Trần Nguyên Hãn lại chú ý vấn đề khác, nên hỏi :

- Tướng quân. Triều đình giáo hóa toàn dân được sao ạ ? Chẳng lẽ ở Đế quốc tất cả thần dân đều biết chữ ?

Phạm Thế Căng lắc đầu nói :

- Không. Muốn toàn dân đều biết chữ, có lẽ phải mất 10 năm nữa. Hiện tại tỷ lệ biết chữ mới đạt 7 phần, vẫn còn 3 phần đang tiếp tục theo học. Đương nhiên biết chữ ở đây chỉ tính là biết đọc, biết viết, không cần phải biết làm thơ, làm phú. Bản triều thực hiện nhiều chính sách khuyến học, chẳng hạn như mở trường học ở mỗi huyện, các thôn làng có cả lớp học, dạy học hoàn toàn miễn phí; hoặc như ai biết chữ đóng thuế nhẹ hơn người không biết chữ. Do đó mọi người đều tích cực học chữ.

Trần Nguyên Hãn chép miệng nói :

- Mở trường đến tận thôn làng, lại dạy học hoàn toàn miễn phí, như thế tốn kém biết bao nhiêu mà nói, nhất là một đại quốc với cương thổ rộng lớn như Đế quốc.

Phạm Thế Căng mỉm cười bảo :

- Bản triều tiền lương sung túc, chẳng vấn đề gì. Năm kia, Nam Thiên Trúc hiến 10 vạn cân vàng, Thánh hoàng đã dụng một phần cho việc giáo hóa, thành ra không sợ thiếu tiền.

Nói đoạn, Phạm Thế Căng lấy ra một túi gấm nhỏ nhưng trông cũng khá nặng, trao cho Trần Nguyên Hãn, cười nói :

- Đây là chút ít ta cho các ngươi làm lộ phí. Mấy đồng xu của Đại Việt hay Đại Minh, ở bản triều không sử dụng được đâu. Bản triều cũng không sử dụng vàng thoi bạc nén.

Trần Nguyên Hãn ngần ngừ giây lát, rồi tạ ơn nhận lấy. Phạm Thế Căng lại nói :

- Trong đó có 100 kim tệ, 100 ngân tệ, 100 đồng tệ, chắc cũng đủ cho các ngươi sử dụng một thời gian. 100 đồng tệ bằng 1 ngân tệ, 100 ngân tệ bằng 1 kim tệ, 100 kim tệ bằng 10 lượng hoàng kim.

Sau đó Phạm Thế Căng gọi người đưa cả hai đi nghỉ ngơi, sáng mai sẽ theo vận thuyền đi ra chỗ Hạm đội, rời từ đó phía Hải quân sẽ thu xếp cho bọn họ.



Gia Định Thành. Trường Thanh Cung. Tử Tiêu Điện.

Giang Phong lại ngự trong điện nghe Quảng Tế Pháp sư báo cáo nội tình ngoại vụ của Đế quốc. Quảng Tế Pháp sư ngoài chức danh chính thức là Chính vụ bộ bộ trưởng, còn kiêm nhiệm quản lý bộ phận giám sát, tình báo, làm tai mắt cho Giang Phong. Tuy lão kiêm nhiệm nhiều việc, nhưng các công việc cũng không mất công mất sức gì nhiều, vì lão chỉ phụ trách quản lý, còn việc thực hiện đã có quan lại cấp thấp hơn phụ trách. Thực tế lão chỉ lo việc chuyển những ý đồ của Giang Phong thành mệnh lệnh, rồi phân phó chúng thuộc quan thực hiện. Trong số các văn võ triều thần, chỉ có lão là người hiểu ý Giang Phong nhất.

Ngự trên ngai, Giang Phong vẫn mặc bộ bạch y như thường lệ. Quảng Tế Pháp sư là nhất đẳng trọng thần, vận y phục màu đen, tay áo rộng, thắt đai vàng, đội mão triều thiên. Y phục của Đế quốc lấy màu trắng là tôn quý nhất, kế đó là màu đen, tím, lục. Còn các màu khác thì như nhau. Từ y phục của Giang Phong được chế theo kiểu các phim cổ trang kiếm hiệp Hồng Kông thời hiện đại, đã trở thành kiểu y phục phổ biến nhất trong Đế quốc. Kiểu y phục này khác hoàn toàn hán phục mà Minh triều bên Tàu hay các vua quan nhà Trần, nhà Hồ ở Đại Việt vẫn dùng, đã trở thành nét đặc sắc riêng của Đế quốc. Y phục trên phim ảnh được thiết kế để có thể thu hút người xem, nên đương nhiên là phải đẹp rồi (xấu ai mà xem). Giang Phong thích y phục đẹp, nên đã chọn kiểu đó.

Gần đây có hai việc Giang Phong đặc biệt chú ý : Bắc phạt và Tây chinh. Bắc phạt là việc bọn Phạm Thế Căng đang thực hiện. Còn Tây chinh là nhiệm vụ của Hồng Long phân hạm đội ở các xứ A Lạp Bá. Việc Tây chinh rất thuận lợi. Hồng Long phân hạm đội có 1 vạn thủy quân, 2 vạn lục quân, và được sự phối hợp của các tiểu quốc chư hầu trong vùng, đã kiểm soát hoàn toàn bán đảo Sinai, khu vực lân cận các hồ Đắng, Timsah, Ballah và Wadi Turnilat; các cửa biển của các nhánh sông Nile ở phía tây, đặc biệt là vùng vịnh Buhayrat Al Manzilah; khu vực nằm giữa sông Jordan, Tử Hải và Địa Trung Hải, kéo dài cho đến gần Tripoli. Liên quân cũng đã từng bao vây Cairo, buộc vương triều Mamluk ở đó phải cầu hòa.

Hiện tại vùng đất của vương triều Mamluk thực tế chia thành 3 phần. Phần Cairo và Thượng Ai Cập thuộc quyền kiểm soát của Al Muayyad Sayf Ad Din Tatar, quốc vương hiện tại của vương triều Mamluk. Khu vực Alexandria và vùng tây bắc Ai Cập thuộc quyền kiểm soát của Al Adil Al Musta' in Billah, quốc vương bị lật đổ năm Nhâm Thìn (1412), chạy thoát đến Alexandria. Phần bắc Sinai gồm cả đất Syria do các tướng lĩnh Mamluk tự cai quản, đang có khuynh hướng chuyển đổi thành các tiểu quốc Hồi giáo.

Khu vực kiểm soát của Đế quốc ở đấy được chia thành 4 tỉnh. Hai tỉnh vùng tây bắc là Sinai và Jerusalem. Hai tỉnh vùng đông nam là Yemen và Somali (triều đình chỉ trực tiếp quản lý hai khu vực quanh pháo đài trấn giữ hai mũi đất ở eo biển dẫn vào Hồng Hải, lấy đó làm trị sở của tỉnh, còn lại đều là các lãnh địa chư hầu, không lập quận huyện). Jerusalem là một vùng đất của chiến tranh, nếu do các vương triều Hồi giáo kiểm soát thì trở thành lý do kêu gọi Thập tự chinh, còn nếu do các thế lực thuộc Cơ Đốc giáo kiểm soát thì lại là nguyên nhân của Thánh chiến. Trong suốt chiều dài lịch sử của thành Jerusalem, có đến 25 thế lực thay nhau kiểm soát, trong đó có cả La Mã (Roma), Ba Tư (Persia), Babylon, Byzantine, Macedonia, các hiệp sĩ thập tự chinh (Crusaders), … Thành Jerusalem nằm ngay phía bắc bán đảo Sinai, vốn do vương triều Mamluk ở Cairo kiểm soát, sau khi đánh bại Vương quốc Jerusalem của Các hiệp sĩ thập tự chinh. Khi quân đội Đế quốc bao vây Cairo, đã nhân tiện phái một đạo quân đến chiếm lấy, rồi tuyên bố biến Jerusalem thành tự do thành thị, cho phép tín đồ của mọi tôn giáo đến hành hương, thăm viếng, định cư. Giang Phong còn thiết lập một quy chế đặc biệt cho thành Jerusalem : một ‘hội đồng quản hạt’ gồm đại diện của 4 thế lực lớn trong thành cổ (là Armenia, Do Thái, Hồi giáo, Cơ Đốc giáo), sẽ thay mặt Đế quốc quản lý chính sự của thành thị, chịu trách nhiệm trực tiếp với Chính vụ ty của tỉnh. Một ngôi đền quy mô cực lớn cũng được xây dựng tại khu vực di tích ngôi đền thiêng liêng cổ xưa, sẽ là nơi thờ tự chung của các tôn giáo.

Tóm lại, công cuộc Tây chinh tiến triển rất thuận lợi, Hồng Long phân hạm đội chỉ còn lo ổn định tình hình trong 4 tỉnh mới thành lập, đưa thêm dân đến lập nên các khu định cư, và xây dựng thành Suez trở thành một trung tâm thương mại của khu vực.

__________________________________________________ ___________
Hôm nay tui đi đám cưới, uống chút bia, về ngủ đến giờ.




Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
25-10-2010, 07:42 AM
Chương 56 : TÂY TUYẾN VÀ BẮC TUYẾN


Báo cáo xong tình hình các xứ A Lạp Bá, Quảng Tế Pháp sư lại thở dài nói :

- Thánh hoàng. Tuy rằng tình hình nhìn chung rất thuận lợi, nhưng tình hình Âu Châu bất ổn cũng khiến bản triều gặp phải không ít khó khăn.

Giang Phong cau mày hỏi :

- Bản triều chỉ mới tiến quân đến các xứ A Lạp Bá, quan hệ gì đến Âu Châu ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Khải tấu Thánh hoàng. Bản triều đang gặp phải vấn đề người Do Thái di cư. Từ khi hội đồng quản hạt của Thành Jerusalem được thành lập, có sự tham gia của đại diện người Do Thái, vô số người Do Thái trên khắp Âu Châu đang đổ về Jerusalem. Hiện tại đã có gần 10 vạn người Do Thái đến xin định cư ở Jerusalem, và còn có gấp mấy lần số đó đang tiếp tục đổ về. Tuy rằng người Do Thái có thể tự hỗ trợ lẫn nhau, không đến nỗi tạo thành gánh nặng cho bản triều, nhưng có quá nhiều người di cư đến như thế cũng gây ra ít nhiều bất ổn.

Giang Phong hỏi :

- Vì nguyên nhân gì mà bọn họ bỏ nơi sinh sống kéo nhau di cư đến Jerusalem. Di cư qua mấy nghìn dặm không phải là việc dễ dàng.

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Khải tấu Thánh hoàng. Người Do Thái buộc phải di cư vì sự bài xích và tàn hại của các vương quốc và lãnh địa ở Âu Châu. Những năm gần đây, rất nhiều người Do Thái bị tàn sát và trục xuất, những người còn sống sót phải lang thang khắp nơi. Năm Tân Mùi (1391), vương quốc Tây Ban Nha tàn sát hơn 4.000 người Do Thái ở Seville, tiếp đó là hàng nghìn người bị Tòa án dị giáo bắt giam, tra tấn và thiêu sống, người Do Thái đã phải bỏ trốn khỏi Tây Ban Nha. Năm Giáp Tuất (1394), vương quốc Pháp Lan Tây tịch thu tài sản và trục xuất hơn 10 vạn người Do Thái ra khỏi lãnh thổ. Ở Đức Ý Chí, người Do Thái bị xem là vật hiến tế trong các buổi tế thần. Ở khắp các vương quốc và lãnh địa ở Âu Châu đều có những sự việc tương tự. Theo tin tức thu được, ở Âu Châu cứ vài chục năm là những việc như thế lại xuất hiện một lần. Người Do Thái giỏi kinh doanh, đa phần giàu có. Các quốc vương và lãnh chủ ở Âu Châu cứ chờ người Do Thái tích tụ được một số tài sản lớn là lại trục xuất và tịch thu tài sản của họ. Quá trình cứ thế lập đi lập lại.

Giang Phong hỏi :

- Bọn họ sử dụng lý do gì để bức hại người Do Thái ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Khải tấu Thánh hoàng. Đa phần buộc tội tổ tiên người Do Thái đã sát hại Thần của Cơ Đốc giáo. Ngoài ra còn có những buộc tội người Do Thái thực hiện những nghi lễ tế ma quỷ, dùng máu trẻ em để hiến tế; bỏ độc vào giếng nước hại người Cơ Đốc giáo; xúc phạm Thần của Cơ Đốc giáo bằng các nghi thức ma quỷ, …

Giang Phong khẽ thở dài, nói :

- Xem ra ở Âu Châu, người Do Thái bị xem là ma quỷ, là xấu xa tàn ác.

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Khải tấu Thánh hoàng. Đúng thế đấy ạ ! Người Âu Châu mỗi khi gặp phải tai họa gì hầu như đều cho rằng có nguyên nhân từ người Do Thái, rồi sát hại người Do Thái để hiến tế hoặc trả thù.

Giang Phong trầm ngâm giây lát, rồi phán :

- Cố hỗ trợ họ. Nhưng để tất cả tập trung ở Jerusalem cũng không ổn. Tìm cách phân tán một phần về các tỉnh khác. Người Do Thái giỏi kinh doanh buôn bán, phân tán đi các tỉnh có lợi cho phát triển thương mại.

Quảng Tế Pháp sư cung kính vâng dạ, đoạn nói :

- Khải tấu Thánh hoàng. Hiện tại Âu Châu đang rất rối ren. Hầu như dân các xứ Âu Châu đều theo Cơ Đốc giáo, nhưng hơn chục năm nay, Cơ Đốc giáo lại đồng thời có đến 3 vị giáo chủ : Gregorius XII ở Roma, Benedictus XIII ở Avignon và Alexander V ở Bolonia; khi Alexander V qua đời thì Gioan XXIII lên thay. Cả 3 vị này đều tự xưng mình là đại diện của giáo hội. Các quốc vương và lãnh chủ chia bè kết phái tấn công lẫn nhau. Mấy năm trước, Gregorius XII buộc phải rời giáo đô Roma vì chiến tranh. Roma thuộc về Gioan XXIII, thì đến năm ngoái Gioan XXIII cũng phải chạy khỏi Roma. Ở Âu Châu hiện nay rất loạn, vô cùng loạn.

Giang Phong nói :

- Hiện tại bản triều chưa thể can thiệp vào đó. Truyền quốc thư yêu cầu bảo hộ các quyền lợi của bản triều không bị xâm phạm. Mục tiêu ưu tiên của bản triều hiện tại là Minh triều.

Quảng Tế Pháp sư cung kính vâng dạ. Giang Phong lại hỏi :

- Việc bắc phạt thế nào rồi ?

Quảng Tế Pháp sư liền báo cáo chiến quả của các đạo quân bắc phạt. Đối với đạo quân của Phạm Thế Căng, hiện tại Trương Phụ và Mộc Thạnh đang bị vây trong thành Thăng Long, hầu như toàn bộ lãnh thổ của Đại Việt đều đã được giải phóng. Phạm Thế Căng đang tập trung binh lực chuẩn bị giải quyết cho xong thành Thăng Long để còn tiếp tục bắc tiến.

Tây lộ do Lý Ngân chỉ huy cũng đã kiểm soát được bộ phận phía nam của cao nguyên Vân Quý. Tây lộ có 4 đạo quân Uy Vũ, Uy Nghĩa, Uy Đức, Trấn Biên dẫn theo 10 vạn dân binh Thái – Lào, tiến vào cao nguyên Vân Quý. Chính quy quân tấn công chiếm lĩnh các phủ huyện, sau đó giao lại cho dân binh phòng thủ, quản lý. Dân binh chiến lực không bằng được chính quy quân, nhưng cũng đủ để phòng thủ các phủ huyện, hoặc đối phó những đạo quân thông thường. Hiện tại Tây lộ đại quân đang áp sát Côn Minh, thủ phủ của Vân Nam. Đạo quân Vân Nam sang tiếp viện cho bọn Trương Phụ vừa nghe tin đại quân áp cảnh, chưa ra khỏi biên giới đã phải vội vã rút về, bị Trấn Biên quân chặn đánh trên đường, tan rã hoàn toàn. Quá nửa Vân Nam đã bị Đế quốc kiểm soát.

Đông lộ Đại quân do Triệu Phong chỉ huy, từ Đài Loan tấn công chiếm lĩnh các phủ huyện duyên hải vùng Quảng Đông, Phúc Kiến; cướp phá các phủ huyện duyên hải cùng Chiết Giang, Tô Châu (do gần Kim Lăng, nơi tập trung quân tinh nhuệ của Minh triều, nên không chiếm lĩnh). Hiện tại các hạm thuyền của Bắc Dương Hạm đội đã tiến vào Trường Giang, áp sát phong tỏa Kim Lăng và cắt đứt tuyến giao thông vận tải trên Đại Vận Hà.



Chú : Chữ ‘Pope’ trong tiếng Anh xuất phát từ chữ ‘papa’ trong tiếng Latinh. Tuy nhiên, đây là từ ngữ gốc Hy Lạp Cổ, dùng để chỉ người cha trong gia đình. Ban đầu, người Công giáo Đông phương nói tiếng Hy Lạp hoặc Tây phương nói tiếng Latinh đều dùng chữ ‘papa’ để gọi các vị giám mục, linh mục trong giáo hội, thể hiện sự tôn trọng, kính cẩn. Ngày nay, Giáo hội Chính Thống Hy Lạp, Chính Thống Nga và Serbia vẫn sử dụng cách gọi như thế. Tuy nhiên, Giáo hội Công giáo Roma chỉ sử dụng từ ngữ này dành cho vị giám mục Roma. Lịch sử Giáo hội Công giáo Roma ghi nhận, Grêgôriô VII (1073-1085) là người đã chính thức giới hạn việc dùng từ ‘papa’.

Từ ‘giáo hoàng’ trong tiếng Việt thực ra không dịch sát từ gốc Latinh, nó được dịch một cách cảm quan từ người Công giáo đối với vị lãnh đạo tinh thần của mình. ‘Giáo’ nghĩa là Giáo hội, ‘hoàng’ nghĩa là ông vua, người lãnh đạo giáo hội. Các giáo dân Công giáo Việt Nam thường sử dụng danh xưng Đức Thánh Cha. Thật ra chức vụ chính thức của Ngài là : Giám mục Roma, mục tử đoàn chiên chúa. Trong lịch sử, có nhiều vị đã được bầu lên, nhưng qua đời trước khi đảm nhiệm chức vụ mục tử đoàn chiên chúa, và cũng không được chính thức xem là ‘Pope’. Ban đầu, Cơ Đốc giáo bị Đế quốc La Mã cấm đoán. Đến thời Hoàng đế Constantinople mới được công khai truyền giáo. Khi đó Cơ Đốc giáo có 5 trung tâm tôn giáo là : Jerusalem, Antioch, Roma, Alexandria, và Constantinople; 5 vị Giám mục của những nơi này là những vị đứng đầu giáo hội, địa vị ngang hàng nhau. Trong đó, Jesusalem được tôn vinh là ‘Mẹ Giáo Hội’ (Mother Church); Alexandria được xem là trung tâm học thuật của Cơ đốc giáo. Trong số 5 vị Giám mục đó, chỉ có Giám mục Roma và Giám mục Constantinople tranh giành quyền chủ trì các Công đồng, cũng là người đại diện của Chúa, dẫn đến cuộc Ly giáo Đông - Tây vào năm 1054.

Cách dịch sai này cũng giống như dùng từ ‘Thiên Chúa giáo’ để chỉ Giáo hội Công giáo Roma, do yếu tố lịch sử, bắt nguồn từ việc Công giáo Roma là giáo hội thuộc Kitô giáo được truyền bá vào Việt Nam sớm nhất. Thuật ngữ ‘Kitô giáo’ (thường được người Công giáo Roma sử dụng) hay ‘Cơ Đốc giáo’ (thường được người Tin Lành sử dụng) được dùng để chỉ các tôn giáo khởi nguồn từ Chúa Kitô (Chúa Cơ Đốc, Christ). Tín đồ được gọi là ‘Kitô hữu’. Nhưng theo ngữ nghĩa, Cơ Đốc giáo hoặc Kitô giáo (Christianity) bao hàm các tôn giáo khởi nguồn từ Chúa Cơ Đốc hoặc Chúa Kitô (Christ), bao gồm cả Công giáo Roma, Chính Thống giáo Đông Phương, Tin Lành, Anh Giáo, giáo hội Luther, … Tương tự, Thiên Chúa giáo nên được hiểu là ‘Các tôn giáo thờ phụng Thiên Chúa’. Vì vậy, thuật ngữ ‘Thiên Chúa giáo’ nên dùng cho ‘Các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham’, vì các tôn giáo này có một điểm chung là xác quyết niềm tin của mình vào Thiên Chúa. ‘Các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham’ bao gồm Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Mormon và nhiều giáo phái nhỏ khác.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
25-10-2010, 12:06 PM
Chương 57 : MINH TRIỀU CHIẾN LOẠN (1)


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414), mùa hạ tháng 4. Quảng Châu. Cửa biển Hổ Môn. Đông Thắng đảo.

Đông Thắng đảo trước đây hoang vu không một bóng người, giờ đây tụ tập vô số hạm thuyền, binh sĩ, lương thực vũ khí. Triệu Phong đã thiết lập ở đấy nam tuyến chỉ huy bộ, phụ trách chinh phạt Quảng Châu. Đông Thắng đảo nằm ngay trên tuyến giao thông hàng vận của Châu Giang, nằm ngay cửa biển, dễ kiểm soát và thống quản toàn cục. Chỉ huy bộ đóng ở đây là rất thích hợp.

Đứng trên Đông Vũ sơn, một ngọn núi cao trên Đông Thắng đảo, Triệu Phong nhìn về phía Quảng Châu. Trời đầy sương che mờ cảnh vật, không thể nhìn thấy được thứ gì ở xa. Chỉ có thể nghe thấy những tiếng đạn pháo nổ đoàng đoàng từ xa vẳng lại, lâu lâu lại nhìn thấy những đạo hỏa quang bắn thẳng lên trời.

Độ nửa tháng trước, chiến sự ở Giao Chỉ nguy cấp, tuân theo thánh chỉ, Quảng Đông Đô chỉ huy sứ Lý Thừa Nghiêu đã tuyển lấy 3 vạn quân từ các vệ sở ở 19 châu phủ đất Quảng Đông : Quảng Châu, Liên Châu, Triệu Khánh, Đức Khánh, Thiệu Châu, Nam Hùng, Huệ Châu, Liên Bình, Triều Châu, Cao Châu, Hóa Châu, Lôi Châu, Liêm Châu, Khâm Châu, Quỳnh Châu, Đam Châu, Vạn Châu, Nhai Châu, La Định đi cứu viện Giao Chỉ. Trong Quảng Châu Thành giờ đây chỉ còn lại 5.000 quân phòng thủ, nếu là bình thường, đó cũng đã là một lực lượng rất hùng hậu.

Hiện tại, trong Quảng Châu Thành có 3.000 phủ binh, bên ngoài thành có 1.000 quân trấn thủ Tam Giang Khẩu, cùng với 1.000 quân Phiên Ngu vệ. Minh triều quân chế định mỗi vệ sở cơ bản có 5.600 quân, các tiểu tướng gọi là thiên hộ, bách hộ, … Nhưng do một bộ phận đã bị điều đi cứu viện Giao Chỉ, Phiên Ngu vệ chỉ còn lại 1.000 quân do một viên thiên hộ chỉ huy.

Từ sáng sớm, nghe tin báo có mấy toán Uy Khấu đang cướp phá các thôn trấn ngoài thành, Đô chỉ huy sứ Lý Thừa Nghiêu đã phái 1.000 phủ binh phối hợp với 1.000 quân Phiên Ngu vệ đi đánh dẹp. Ở cách thành hơn 50 dặm, phủ binh đụng độ ‘Uy Khấu’. Nhìn thấy đối phương chưa đến 1.000 người, 2 viên thiên hộ lãnh quân cả mừng, lập tức hợp quân dàn trận tác chiến. Quang minh chính đại đối trận, trước thực lực cường đại của Thiên triều đại quân, 2 viên thiên hộ tự tin đám ‘Uy Khấu’ kia sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt. Đám quân ‘ô hợp’ kia làm sao có thể kháng cự nổi Thiên triều tinh nhuệ đại quân.

Các tướng lãnh quân Minh đang còn mơ mộng về chiến thắng, đột nhiên nghe thấy những tiếng nổ đoàng đoàng. Tiếp đó là hàng loạt đạn pháo rải xuống đầu quân Minh. Hàng trăm viên đạn pháo rải xuống, hàng trăm quân Minh thương vong, trận hình hỗn loạn. Phía ‘Uy Khấu’ vẫn án binh bất động, không thừa cơ tấn công.

Chỉ sau loạt đạn pháo đầu tiên, đã có 1 viên thiên hộ tử trận. Viên thiên hộ còn lại cố gắng tụ tập quân đội, ra lệnh xung phong. Muốn tránh khỏi đạn pháo oanh tạc, chỉ có thể cùng quân giặc hỗn chiến mà thôi. Dù sao lúc này quân Minh cũng vẫn còn đông hơn.

Sau một hồi cố gắng, quân Minh cũng đã tập hợp lại, nhắm quân giặc xung phong. Nào ngờ quân giặc không dám ứng chiến mà lại lui về phía sau. Quân Minh hùng hổ đuổi theo, đột nhiên người ngã ngựa nghiêng. Quân Minh lúc này mới phát hiện bị lọt vào một trận địa cạm bẫy dày đặc. Khi nãy trận địa cạm bẫy này bị đội hình quân ‘Uy Khấu’ che mất, khi bọn họ lui lại thì mới lộ ra.

Liền đó, một loạt đạn pháo lại ập tới, rải xuống đầu quân Minh. Lần nay Khai hoa đạn làm cho quân Minh tổn thất thảm trọng, số thương vong hơn nghìn. Quân ‘Uy Khấu’ thừa cơ tràn tới tấn công. Quân Minh thấy thảm cảnh đồng bạn, sĩ khí mất hết, chỉ còn biết tìm đường tháo chạy. Sau một trận đuổi giết, quân Minh chỉ chạy thoát được chưa đến trăm người.

Nghe bại binh hồi báo, Lý Thừa Nghiêu mới biết quân giặc không phải là Uy Khấu, bởi Uy Khấu không thể nào có hỏa lực mạnh mẽ đến như vậy. Gã chỉ còn biết tập họp phủ binh chuẩn bị thủ thành, không dám phái quân rời thành nữa. Đối diện địch quân lợi hại như thế, giao chiến trên đất bằng, quân Minh chỉ có thiệt hại thảm trọng mà thôi. Giờ chỉ còn biết dựa vào thành trì phòng ngự, đồng thời phái quân đi cầu viện.

Đạo tiên phong của Đế quốc quân đội sau khi đánh tan 2.000 quân Minh, lập tức kéo vào đóng trại phía trước Quảng Châu Thành. Nhìn thấy đối phương chỉ dùng 1.000 quân mà định tấn công thành trì có 2.000 quân phòng ngự, Lý Thừa Nghiêu cũng không dám mở cửa thành ra đánh mà quyết tâm cố thủ.

Dưới sự dẫn đường của hướng đạo, các hạm thuyền của Đệ nhất phân hạm đội thuộc Bắc Dương Hạm đội thuận dòng Châu Giang tiến thẳng đến Quảng Châu Thành. Tam Giang Khẩu chỉ có 1.000 quân trấn thủ, sau mấy trận oanh kích, đã nhanh chóng thất thủ. Các hạm thuyền thẳng đến trước Quảng Châu Thành. Quân Minh ở Quảng Châu mấy chục năm nay chẳng gặp phải chiến loạn gì, an nhàn quen rồi, chẳng có ý thức phòng bị gì cả. Khi chợt phát hiện đầy trời đạn pháo rải xuống đầu, thủ quân ở Tam Giang Khẩu nhanh chóng hãm nhập hỗn loạn. Khi quân đội Đế quốc đổ bộ lên bờ, quân Minh hoặc là quỳ xuống xin hàng, hoặc là bị đao thương sát tử. Chỉ chưa đến nửa giờ, Tam Giang Khẩu đã bị quân đội Đế quốc kiểm soát, 1.000 quân Minh trấn thủ ở đấy xem như bị tiêu diệt hoàn toàn.

Đế quốc quân đội đại quy mô đổ bộ đương nhiên kinh động rất nhiều người. Chỉ vì lúc này ở Quảng Châu Thành chỉ còn lại hơn 2.000 phủ binh, còn không đủ lực lượng để phòng ngự, làm sao dám ra ngăn chặn. Trấn Phong quân 3 vạn người kéo đến bên ngoài thành, càng làm cho Lý Thừa Nghiêu thêm lo lắng bất an.

Đến chiều, khi đại quân bố trí hoàn tất, 600 khẩu thần công của Trấn Phong quân đồng loạt hướng vào Quảng Châu Thành khai hỏa. Quảng Châu Thành đã từ rất lâu chưa từng gặp cảnh chiến loạn, thành tường thiếu tu sửa, chỉ sau 2 loạt oanh kích, 1.200 phát đạn đã bắn sập thành môn. Tiếp đó, thần công chuyển hướng oanh kích vào phía trong thành, mở đường cho Trấn Phong quân nhập thành. Quảng Châu Thành chẳng cầm cự được bao lâu là đã hãm nhập vào đao thương chiến hỏa.

Các quan viên của Quảng Đông từ Bố Chánh Sứ cho đến tiểu quan tiểu lại còn ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra thì được tin Quảng Châu Thành đã thất thủ. Nhìn thấy trong thành chiến hỏa hỗn loạn, cả bọn chỉ còn biết dẫn gia nhân tìm đường chạy loạn.

Trong Đô chỉ huy sứ ti, Lý Thừa Nghiêu thẫn thờ nhìn mấy chục gã thân binh trung thành còn sót lại, đoạn vẫy tay bảo bọn họ tìm đường tẩu thoát, sau đó vào trong Đại sảnh, ngồi lên án, quan phục chỉnh tề, rút kiếm tự sát.



Boong. Boong. Boong …

Trời vừa tờ mờ sáng, từng đội từng đội quan quân khua đồng la đi qua từng dãy phố rao lớn :

- Mọi gia mọi hộ nghe đây. Bản triều Thần Thánh Đế quốc, lần này bắc phạt Minh triều đại nghịch vô tín, bách tính vốn vô tội, miễn giữ yên bổn phận, không chống lại Thiên triều, tất sẽ bình an. Bằng ai chống lại, bản triều tất diệt mãn môn, tru cửu tộc …

Sau cơn chiến hỏa bất ngờ, dân trong thành đều ở yên trong nhà, không ai dám ra ngoài đường. Mọi nhà đều đóng kín cửa. Dân chúng vẫn còn trong cơn hỗn loạn. Không ai hiểu chuyện gì đang xảy ra cả. Trước giờ không ai có khái niệm Quảng Châu Thành sẽ bị tấn công, bởi ai cũng tin rằng Đại Minh là Thiên triều đại quốc, là hùng mạnh nhất, không đánh nước khác thì thôi, còn có nước nào dám đến xâm phạm. Chính vì vậy, khi quân đội Đế quốc kéo vào thành, đã làm cho niềm tin của quân dân trong thành sụp đổ hoàn toàn. Mất niềm tin, mất phương hướng, không ai còn biết phải làm gì. Thành ra việc chiếm lĩnh của Trấn Phong quân càng thêm thuận lợi.

Triệu Phong cũng không vào thành, chỉ để lại 1 sư của Trấn Phong quân ở lại bình định vùng này, sau đó đại quân tiến lên phía bắc chiếm lĩnh các thành thị dọc theo vùng duyên hải. Bảy đạo quân còn lại là Thần Vũ, Thần Uy, Thần Long, Uy Tiệp, Long Tiệp, Trấn Ninh, Định Hải cũng được đưa vào đổ bộ lên các vùng duyên hải Phúc Kiến, Chiết Giang, chiếm lĩnh các phủ huyện ở đó. Thành trì thiếu tu sửa, quân đội thiếu huấn luyện, nên các thành trì lần lượt thất thủ. Chỉ chưa đầy nửa tháng, các phủ huyện duyên hải Quảng Đông, Phúc Kiến lần lượt bị chiếm lĩnh, các phủ huyện thuộc Chiết Giang bị cướp phá sạch sẽ.

Đại đô đốc Mã Tân chỉ huy lực lượng chủ lực của Bắc Dương Hạm đội phối hợp cùng 3 đạo quân Thần Vũ, Thần Uy, Thần Long tấn công các xứ tỉnh Chiết Giang. Minh triều lấy vùng đất từ Phúc Kiến cho đến lưu vực Thái Hồ, gồm cả Gia Hưng, Hồ Châu đặt làm tỉnh Chiết Giang. Còn Tô Châu thì thuộc Nam Trực Lệ (gồm cả các địa khu Hoài Bắc, Hoài Nam, Giang Nam). Đại quân công chiếm nơi nào đều cướp phá triệt để. Toàn bộ của cải của Minh triều lẫn những người có liên quan trực tiếp với Minh triều (không chỉ quan lại mà kể cả nho sĩ, phú hộ) đều bị tịch thu. Dân chúng được phân làm hai loại : thuận dân và nghịch dân. Mã Tân lấy lý do nơi này sẽ trở thành chiến trường, buộc dân chúng di cư đi nơi khác, hoặc về phương nam, hoặc về phương bắc. Những ai chịu làm thần dân của Đế quốc được cấp lương, đưa lên thuyền di cư về phương nam; những ai không chịu làm thần dân của Đế quốc thì bị tịch thu toàn bộ tài sản, rồi đưa lên thuyền di cư về vùng Giang Bắc. Tính ra chỉ có 3 phần dân chúng chọn di cư về phương nam. Và tiếp đó quan lại Minh triều ở Giang Bắc phải hao tâm tốn sức lo cho hàng trăm vạn lưu dân không chút tài sản, không chút lương thực.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
26-10-2010, 07:18 AM
Chương 58 : MINH TRIỀU CHIẾN LOẠN (2)


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414), mùa hạ tháng 4. Huệ Châu.

- Báo.

Một viên thám tử chạy đến trước mặt Hiệu úy Lưu Ân, vừa thở dốc vừa cung thân hành lễ. Lưu Ân chưởng quản đệ tam sư của Trấn Phong quân, nên mang hàm Hiệu úy. Lưu Ân khẽ gật đầu ra hiệu cho viên thám tử báo cáo tình hình quân giặc.

- Hồi báo Hiệu úy đại nhân. Minh tặc Huệ Châu vệ chỉ huy sứ Vương Vân hai ngày trước đã dẫn 3.000 phủ binh bỏ thành đào tẩu. Hiện tại Huệ Châu Thành không binh không tướng, đệ tứ vệ đã công chiếm Huệ Châu phủ nha môn, đang thanh lý dư đảng Minh tặc trong thành.

Lưu Ân biến sắc :

- Chạy rồi ?

Lưu Ân thống suất Trấn Phong quân đệ tam sư rời Quảng Châu bắc tiến, hướng về Phúc Kiến. Huệ Châu Thành nằm về phía đông bắc Quảng Châu, là một tòa đại thành án ngữ trên đường tiến quân. Sau khi dễ dàng chiếm lĩnh các huyện Nam Hải, Đông Hoàn, Lưu Ân cũng đồng thời bố trí việc tấn công chiếm lĩnh Huệ Châu, nơi có đến 3.000 quân Minh trấn thủ. Y đã tiêu tốn rất nhiều tâm lực chuẩn bị phương án tác chiến, nào ngờ chỉ sau một đêm, lại được tin báo quân Minh đã bỏ chạy mất rồi, giống như một đao toàn lực lại chém vào không khí vậy, cảm giác rất khó chịu. Lưu Ân nhíu mày, bảo viên tùy tướng :

- Ngô Vệ úy. Hãy suất lĩnh kỵ binh vệ đuổi theo Minh tặc, cố gắng làm chậm bước tiến của bọn chúng, chờ hậu quân của ta đến hợp công.

- Vâng.

Kỵ binh vệ úy Ngô Minh lập tức ứng tiếng, rồi suất kỵ binh vệ khẩn cấp đuổi theo quân Minh. Kể từ khi Đế quốc viện trợ lương thực khí giới cho Mông Cổ chư tộc, đã đổi về rất nhiều chiến mã. Một phần chiến mã được đưa đến nuôi dưỡng ở các quân mã trường ở Minh Châu (Úc Châu), một bộ phận cung cấp cho 8 đạo quân ở Đài Loan, thành lập lực lượng kỵ binh. Mỗi sư 1 vạn người đều có thành lập 1 kỵ binh vệ 1.000 người. Trước giờ kỵ binh vệ chưa từng tham gia tác chiến, dù ngày thường cố gắng huấn luyện, nhưng anh hùng không có đất dụng võ, nay mới được thử thân thủ, đương nhiên toàn quân tướng sĩ vô cùng hưng phấn, theo sự hướng dẫn của thám tử đuổi gấp theo quân Minh.

Tự trong lòng mà nói, Lưu Ân cũng cảm thấy ‘đồng tình’ phủ quân Quảng Đông. Toàn Quảng Đông có 19 châu phủ, 75 huyện. Quân đội phải chia ra trú đóng các nơi, mỗi phủ có thể có 1 vệ sở, cũng có khi chỉ có vài nghìn, mỗi huyện vài trăm huyện binh; lực lượng phân tán khắp nơi, mà các tướng lĩnh đâu dám tự tiện rời trú sở, chỉ có thể ở tại chỗ cố thủ, và cầu mong đối phương không đánh đến nơi. Vì vậy, đối 3.000 phủ binh Huệ Châu, Lưu Ân tin chắc có thể toàn diệt. Nhưng y không ngờ chưa giao chiến mà quân Minh đã bỏ thành mà chạy, à không, đã ‘chiến thuật chuyển di’ mất rồi. Kế hoạch đã chuẩn bị rất chu đáo mà giờ đây lại không có chỗ dùng.

- Ai ! Minh tặc chẳng có kẻ nào là tốt cả. Uổng công ta …

Lưu Ân khẽ lắc đầu, khóe miệng bất giác nhếch lên lộ ra một tia cười lạnh. Nếu như ngươi đã dám bỏ chạy, ta sẽ giúp ngươi tuyên truyền, xem Minh triều sẽ xử trí việc này như thế nào. Địch quân chưa đến đã bỏ thành mà chạy, tội này …

- Truyền lệnh đệ ngũ vệ phối hợp đệ tứ vệ nhanh chóng thanh lý Minh tặc trong thành. Đệ nhất vệ, đệ nhị vệ, đệ tam vệ men theo Đông Giang mà tiến quân, công chiếm các huyện Bác La, Long Xuyên, Hà Nguyên, … Đệ lục vệ, đệ thất vệ theo quan đạo tiến thẳng đến Vĩnh An. Đệ bát vệ, đệ cửu vệ hiệp trợ kỵ binh vệ đuổi theo Minh tặc.

Quân Minh không còn, Lưu Ân quyết định chia quân công chiếm toàn bộ 8 huyện của Huệ Châu phủ. Mệnh lệnh truyền xuống, quân đội lập tức chia đường hành động.

Nói về kỵ binh vệ sau khi rời Huệ Châu lập tức phóng ngựa phi nhanh. Huệ Châu vệ chỉ huy sứ Vương Vân đã bỏ chạy cách nay hai ngày rồi. Tuy thời gian đã qua mấy ngày, nhưng dù sao cũng đông đến 3.000 người, dấu vết để lại rất rõ ràng.

Đuổi theo một lúc, viên thám tử hướng đạo đột nhiên hô quân đội dừng lại, rồi chạy vào bên mé đường, đến một gốc cây không thấy có gì đặc biệt, lần mò một lúc, lôi ra một ống trúc nhỏ. Gã bẻ gãy ống trúc lấy ra một bức mật thư, dùng một loại chất lỏng đồ lên, đọc xong, rồi chạy lại nói với kỵ binh vệ úy Ngô Minh :

- Vệ úy đại nhân. Minh tặc không chạy đến Hải Phong mà chuyển hướng Đồng Sơn đi về phía Liên Hoa Sơn. Nơi đó núi non hiểm trở, đường lối lại thông hướng nhiều nơi. Lưu bọn Minh tặc ở đó thật không có lợi cho quân ta.

Ngô Minh khẽ gật đầu. Nếu như quân Minh bỏ chạy luôn thì không nói làm gì. Còn nếu như bọn họ trốn vào Liên Hoa Sơn chuẩn bị đánh du kích thì thật không ổn. Mặc dù Ngô Minh tin rằng quân Minh tướng sĩ sống an nhàn sung sướng ở phủ thành quen rồi, chưa chắc đã có thể chịu đựng được cuộc sống gian khổ trong rừng núi, đặc biệt lúc này lại đang là mùa mưa. Nhưng dù sao thì cẩn thận vẫn hơn. Ngô Minh suy nghĩ một lúc, rồi truyền lệnh :

- Lập tức chuyển hướng Đồng Sơn, cấp tốc hành quân, cố đuổi cho kịp Minh tặc. Diệt xong Minh tặc chúng ta sẽ nghỉ ngơi. Các huynh đệ, kỵ binh vệ chúng ta lần đầu xuất trận, phải đánh làm sao cho thật oanh oanh liệt liệt.

Chúng kỵ binh lớn tiếng vâng dạ. Toàn quân lại khẩn cấp tiền tiến. Đuổi theo gần một ngày, bọn họ đã nhìn thấy quân Minh phía trước. Quân Minh cũng đã phát hiện bọn họ, dừng quân dàn trận ứng chiến. Bộ binh gặp phải kỵ binh, có bỏ chạy cũng vô ích. Hai chân người không thể nào chạy nhanh bằng 4 chân ngựa.

Kỵ binh vệ chỉ có 1.000 người, quân Minh có đến 3.000, dù giao chiến vẫn có thể thắng được, nhưng tất nhiên sẽ tổn thất nặng. Đây là lực lượng kỵ binh duy nhất của Trấn Phong quân đệ tam sư, không thể chỉ đánh một trận rồi thôi. Ngô Minh suy nghĩ thật nhanh, rồi truyền lệnh :

- Giữ khoảng cách an toàn, kỵ xạ.

Liền đó kỵ binh phóng ngựa đến khoảng cách quân Minh ước 20 trượng (tức 80 mét), giương cung phóng tên. Một nghìn mũi tên đồng loạt rải xuống đầu quân Minh, ít ra cũng khiến quân Minh tổn thất vài trăm. Trong đội hình quân Minh lập tức vang lên những tiếng rên la kêu gào inh ỏi của những người thọ thương nhưng chưa chết.

Nhìn thấy cảnh đó, Huệ Châu vệ chỉ huy sứ Vương Vân tâm thần choáng váng, kinh hãi không sao kể siết. Quân giặc thật là hiểm ác. Kỵ binh đối chiến bộ binh, không chịu xung phong tấn công mà ở ngoài bắn cung như thế, thật là … thật là bỉ ổi vô sỉ mà.

Ngô Minh chẳng cần biết có bỉ ổi vô sỉ hay không. Nhiệm vụ của gã chỉ là cầm chân quân Minh, chờ đại quân đến nơi sẽ hợp lực tiêu diệt. Trong chiến thuật chiến tranh của Đế quốc không cho phép ‘giết địch 1.000, tự tổn 800’, trừ phi tình huống đặc thù. Có điều lúc này không phải là tình huống đặc thù.

Kỵ binh lại phóng loạt tên thứ hai, khiến quân Minh tổn thất thêm vài trăm người nữa. Quân sĩ Huệ Châu vốn là ‘lính kiểng’, bình thường chỉ giữ thành, làm oai với bình dân bách tính, chứ không phải tinh binh cường tướng để tham gia chiến tranh, vì thế trang bị cũng bình thường, trừ một số tướng lĩnh, quân đội sĩ tốt chỉ mặc áo vải, không ai có áo giáp hay hộ tâm kính cả, vì thế mà khi bị trúng tên khó tránh khỏi thương vong. Đặc biệt là khi trên đầu mũi tên có một rãnh nhỏ, sau khi ngâm vào mấy thứ thuốc nước lấy từ chỗ Thạch Lang Pháp sư thì chất thuốc bám lại đấy, ai bị bắn trúng, chất đó hòa tan vào máu, không làm chết người ngay mà … Nhìn cảnh quân Minh lúc này cũng đủ biết. Đại đa số quân Minh trúng tên lúc này chưa chết hẳn, ôm vết thương lăn lộn dưới đất, kêu gào inh ỏi, máu tuôn không ngừng, thảm cảnh khiến đồng bạn không khỏi rợn người.

Không còn cách nào khác, Vương Vân đành suất lĩnh sĩ tốt xung phong. Khoảng cách chẳng có bao xa, chỉ cần cố chịu một loạt tên là có thể cùng kỵ binh hỗn chiến. Kỵ binh mất đi tốc độ, mất đi khoảng cách thì chẳng khá hơn bộ binh bao nhiêu. Có điều Ngô Minh đời nào để cho đối phương toại nguyện. Kỵ binh được lệnh lùi ra xa, rồi tiếp tục phóng tên. Khi đối phương lại gần thì lại tiếp tục lùi ra xa, rồi bắn tên tiếp. Cứ như thế, sau loạt tên thứ 5, quân Minh đã tổn thất quá nửa, chỉ còn lại hơn 1.000 người.

Tấn công vô ích, bỏ chạy vô môn, Vương Vân đành suất lĩnh tàn binh chạy về phía một ngọn đồi gần đấy. Sau khi đã chạy lên đồi, bọn họ lăn đá xuống, chặt cây ném xuống ngăn cản kỵ binh, tạm thời có được một chỗ yên thân để nghỉ ngơi.

Quân Minh không thể chạy được nữa, Ngô Minh kể như đã hoàn thành nhiệm vụ, nên cũng không gấp tấn công, chỉ cho quân chia ra bao vây ngọn đồi đề phòng quân Minh đào thoát.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
27-10-2010, 05:30 AM
Chương 59 : MINH TRIỀU CHIẾN LOẠN (3)


Lại nói, tấn công vô ích, trốn thoát không đường, quân Minh đành chạy lên một ngọn đồi gần đấy, rồi lăn đá xuống, chặt cây ném xuống ngăn cản kỵ binh, cố thủ trên đấy. Quân Minh không thể chạy được nữa, kỵ binh vệ úy Ngô Minh kể như đã hoàn thành nhiệm vụ, nên cũng không gấp tấn công, chỉ cho quân chia ra bao vây ngọn đồi đề phòng quân Minh đào thoát.

Ngô Minh giục ngựa đi vòng quanh đồi khảo sát địa hình, tìm cách tiêu diệt quân giặc. Trên đồi cây cối rậm rạp, lại đang mùa hạ, có thể sử dụng hỏa công. Thế là Ngô Minh phái mấy đội kỵ binh đi thu gom các vật dễ cháy. Số còn lại chia làm hai đội, luân phiên tuần tra, ngăn không cho quân Minh có cơ hội đào thoát.

Trưa hôm sau, khi đã thu gom được một lượng lớn các vật dễ cháy, lại đang lúc trưa nắng, Ngô Minh truyền lệnh phóng hỏa đốt rừng. Quân sĩ ném vật dễ cháy vào các bụi cây rậm rạp dưới chân đồi, rồi châm lửa đốt. Ngọn lửa dần dần bốc cao và lan dần lên trên đồi. Khói bốc mù mịt. Kỵ binh được lệnh lui ra phía xa xa, và chuẩn bị truy sát số quân Minh có thể vượt qua ngọn lửa mà thoát được xuống đồi.

Ngọn lửa khi đã bốc cao thì lan rất nhanh lên trên đồi. Cả ngọn đồi giờ đây trông giống như một ngọn đuốc khổng lồ. Quân Minh trên đồi bị khói hun, bị lửa đốt kêu la inh ỏi. Cả ngọn đồi chìm trong biển lửa, sức nóng kinh hồn. Phần lớn quân Minh đều bị thiêu chết trên đồi. Chỉ có chưa đến trăm người đào thoát được xuống đồi, nhưng rồi lại nhanh chóng làm mồi cho cung tên của kỵ binh. Đối diện kỵ binh truy sát, bọn họ không ai đào thoát được. Huệ Châu vệ của Minh triều hoàn toàn bị xóa sổ. Sau đó, kỵ binh vệ quay lại cùng bản sư công phạt các xứ đông bắc Quảng Đông, dần dần bức cận Phúc Kiến.

Không chỉ Trấn Phong quân, cả 8 đạo quân thuộc Đông lộ đều tứ diện khai hoa, công thành bạt trại, chiếm lĩnh cướp phá hàng trăm phủ huyện dọc theo duyên hải, nam từ Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) cho đến tận bờ nam Trường Giang ở phía bắc.

Minh triều hiện tại đang trong giai đoạn suy yếu, có thể nói là suy yếu nhất kể từ ngày đầu kiến quốc đến giờ. Sử sách ghi lại, giai đoạn cường thịnh nhất của Minh triều (năm 1392, thời Hồng Vũ đế Chu Nguyên Chương), quân đội ước tính có 16.489 tướng lĩnh, 1.198.434 binh sĩ và 45.080 chiến mã. Nhưng sau ba cuộc đại quy mô chiến tranh do Vĩnh Lạc đế phát động : Tịnh nạn chiến tranh (1398 – 1402), Đại Minh – Đại Ngu chiến tranh (từ 1406 đến giờ), Đại Minh – Mông Cổ chiến tranh (1410), binh lực suy giảm rất nghiêm trọng, đặc biệt là cuộc nội chiến Tịnh nạn.

Binh chế của Minh triều không thực hiện quân dịch chế độ mà thực hiện quân hộ chế độ, hay còn gọi là vệ sở chế độ. Minh triều tại toàn quốc các nơi quân sự trọng điểm chiến lược thiết lập vệ sở trú quân. Mỗi vệ có quân đội 5.600 người, bên dưới có thiên hộ sở, bách hộ sở, dưới nữa là tổng kỳ và tiểu kỳ. Các vệ sở đều thuộc quyền quản hạt của Ngũ quân đô đốc phủ, chỉ có số ít ngoại lệ thuộc quyền quản lý của Binh bộ, có chuyện gì thì tập trung điều động, không chuyện gì thì trả về vệ sở.

Minh triều không tuyển mộ binh sĩ từ dân chúng (theo kiểu quân dịch chế độ), mà quân đội có nguồn gốc từ thế tập quân hộ (tức quân hộ chế độ), do mỗi quân hộ phái 1 người làm chính đinh đến vệ sở gia nhập vệ sở quân. Binh sĩ tại vệ sở luân phiên tuần phòng và làm ruộng. Lương thực thu được qua làm ruộng sẽ được sử dụng để cung cấp cho tướng sĩ và những nhu cầu cần thiết khác của vệ sở. Mục tiêu của việc này là dưỡng binh nhưng không hao tốn tài lực quốc gia (ngụ binh ư nông chính sách). Quân hộ số lượng cố định, thế tập từ đời này sang đời khác, một người làm lính thì cả nhà đời đời làm lính. Do vậy, binh nguyên của quân đội Minh triều có hạn, chỉ hạn chế trong số binh hộ đó thôi. Mãi đến đời Gia Tĩnh sau này (bối cảnh của Truyện Kiều), do loạn lạc nhiều mới thực hiện quân dịch chế độ, mộ binh từ dân chúng để đối phó với nội ưu (quân khởi nghĩa trong nước) ngoại hoạn (uy khấu ở phía đông, hải tặc ở phía đông nam, quân Miến Điện ở phía tây nam, quân Mông Cổ ở phía tây bắc, quân Nữ Chân ở phía đông bắc). Quân hộ chế độ tuy làm quốc khố bớt tốn kém, nhưng cũng có những nhược điểm nghiêm trọng : binh nguyên bị giới hạn; sĩ binh thiếu thời gian huấn luyện (theo quy chế thì mỗi ngày 2 giờ tuần phòng 8 giờ làm ruộng, nếu huấn luyện thì tính vào thời gian tuần phòng, mà vùng quản hạt không thể không tuần phòng, thành ra ít huấn luyện); nhưng nghiêm trọng hơn cả là nạn kiêm tính đất đai, rất nhiều ruộng đất của vệ sở giao cho quân hộ bị các tướng lĩnh chiếm làm của riêng, quân sĩ không đủ sống, phải tìm nghề khác mưu sinh, đào binh xuất hiện rất nhiều. Không hiếm các vệ sở, quân số thực tế không còn đủ một nửa biên chế, và các tướng lĩnh cũng khai gian để ăn trọn số quân lương cấp cho những binh sĩ thiếu đó (ví dụ vệ sở đủ biên chế 5.600 người, nhưng thực tế chỉ có 2.600 người, thì số quân lương của 3.000 người còn lại các tướng lĩnh sẽ chia nhau). Thời kỳ nông dân Sơn Đông khởi nghĩa, có những vệ như Thanh Châu vệ, mãn biên chế 5.600 người, nhưng thực tế binh lực chỉ hơn nghìn người, thành ra đại bộ phận Sơn Đông nhanh chóng bị quân khởi nghĩa chiếm lĩnh, Vĩnh Lạc đế phải điều động quân tinh nhuệ ở kinh đô đi đàn áp.

Minh triều lại chia lãnh thổ thành 2 kinh là Bắc trực lệ (Bắc Kinh, bao gồm phần lớn vùng Hà Bắc) và Nam trực lệ (Kim Lăng, gồm cả Giang Tô, An Huy); 13 tỉnh là Thiểm Tây, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Quảng, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Phúc Kiến, Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam. Địa giới phân theo địa hình sông núi (không giống thời hiện đại), có nhiều chỗ không hợp lý lắm, ví dụ như Nam trực lệ bao quát 3 địa khu lớn là Hoài Bắc, Hoài Nam và Giang Nam, hoặc như tỉnh Hà Nam lại quản hạt một bộ phận đất đai ở phía bắc Hoàng Hà (vốn thuộc Hà Bắc), tỉnh Sơn Đông quản hạt cả đất Liêu Đông, tỉnh Thiểm Tây quản hạt từ đất Thiểm Tây về phía tây (gồm cả Cam Túc, Thanh Hải). Hai kinh và 13 tỉnh lại chia thành 153 phủ, 234 châu (gồm cả trực lệ châu thuộc tỉnh và chúc châu thuộc phủ) và 1171 huyện. Các châu phủ lại không thể không có quân đội canh phòng, do đó đã phân bớt một lượng không nhỏ quân đội.

Nguyên bản Minh triều có 1.198.434 binh sĩ (gần 120 vạn), phân cho 2 kinh, 13 tỉnh, 153 phủ, 234 châu, 1171 huyện, trong thời bình tương đối ổn thỏa. Nhưng Vĩnh Lạc đế lại là người hiếu chiến. Cuộc chiến tranh ở Đại Việt chiếm mất 20 vạn. Sau khi đánh nhau với Mông Cổ năm Canh Dần (1410), quân đội trú phòng ở biên giới phía bắc phải tăng cường, kể luôn phòng thủ Bắc Kinh chiếm mất 50 vạn (Bắc Kinh, Sơn Hải quan, Hà Bắc, Sơn Tây, Cam Túc mỗi nơi ước 10 vạn). Quân trú phòng ở Nam Kinh 10 vạn (trước đây phải 20 vạn). Chỉ còn lại chưa đến 40 vạn phụ trách phòng thủ mấy trăm châu phủ, hơn nghìn huyện (nếu không tính huyện, chỉ chia đều cho gần 400 châu phủ thì mỗi nơi chỉ được xấp xỉ 1.000 quân, đó là chưa tính đến quân số khống do các vệ sở khai gian). Đặc biệt, cuộc chiến tranh ở Đại Việt toàn lấy quân ở các tỉnh phía nam, thành ra lực lượng trú phòng ở các châu phủ huyện phía nam càng thêm thiếu thốn. Thậm chí nhiều phủ huyện không thấy một bóng quân Minh.

Chính vì những nguyên nhân trên, khi quân đội Đế quốc tiến công vào các tỉnh phương nam, gần như đánh vào chỗ không người. Tốc độ tiến quân cực nhanh, hầu như ngày nào cũng có phủ huyện bị công chiếm. Theo kế hoạch của quân bộ, quân đội Đế quốc chỉ chiếm lĩnh các xứ Quảng Đông, Phúc Kiến (ở vùng duyên hải, với sự hỗ trợ của Hải quân, dễ phòng thủ hơn). Nam Dương Hạm đội liên tục vận chuyển 10 vạn dân binh các xứ Lã Tống, Mã Lai, Java lên phụ trách trú phòng các phủ huyện chiếm được. Tỉnh Quảng Đông có 19 châu phủ, 75 huyện; tỉnh Phúc Kiến có 9 châu phủ, 57 huyện; 10 vạn dân binh dư sức trú phòng rồi. Quân phòng thủ của Minh triều trước khi quân đội Đế quốc đến còn không được một nửa số đó.

Chinh phạt khoảng 3 tháng, toàn bộ các châu phủ ở Quảng Đông, Phúc Kiến toàn bộ nạp nhập vào bản đồ Đế quốc. Thời gian tiêu hao chủ yếu là quá trình hành quân, chứ công thành chiến hầu như không đáng kể, nhiều phủ huyện còn không có quân Minh phòng thủ, hoặc có nhưng quá ít, thiếu huấn luyện (phần lớn quân tinh nhuệ đã bị điều động cho cuộc chiến tranh ở Đại Việt rồi), vừa nghe đối phương kéo đến đã bỏ thành mà chạy. Cũng do vậy mà chiến tích của các kỵ binh vệ gần đây ngày càng nổi bật. Kỵ binh chỉ chiếm một phần mười quân số, nhưng giết địch đến hơn một nửa.

Trong thời gian đó, đạo quân từ Quảng Đông đi tiếp viện Đại Việt, nghe tin Quảng Châu nguy cấp, vội vã quay về cứu viện, đã bị Trấn Ninh quân đánh tan. Tiếp đó, Trấn Ninh quân khai tiến vào Giang Tây. Nơi đó có một địa điểm trọng yếu mà Giang Phong ra lệnh phải cố gắng công chiếm cho được.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
27-10-2010, 05:05 PM
Chương 60 : MINH TRIỀU CHIẾN LOẠN (4)


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414), mùa thu tháng 7.

Lúc này, khi vùng Quảng Đông, Phúc Kiến lần lượt bị chiếm lĩnh thì vùng Chiết Giang và phía đông của Nam trực lệ (Tô Châu) đã phải gánh chịu hoàn cảnh chiến hỏa khủng khiếp nhất từ xưa đến giờ. Vì nơi đây rất gần Kim Lăng, trọng địa của Minh triều, Đế quốc chưa định chiếm lĩnh, nên đã tiến hành cướp phá triệt để. Toàn bộ tài sản, lương thực của quan phủ và dân chúng đều bị tịch thu (trừ số dân chúng chịu quy thuận Đế quốc và di cư về phương nam sinh sống). Ruộng vườn đều bị đốt sạch, nhà cửa thành trì đều bị san bằng. Hơn thế nữa, toàn bộ dân chúng đều bị cưỡng chế di cư về vùng Giang Bắc, ai trái lệnh xử trảm, khiến cho các xứ Giang Nam giờ đây bốn phía quạnh hiu, không một bóng người. Vùng Giang Nam là vựa lúa chính của Minh triều, chỉ cần phá sạch vùng này, tình cảnh của Minh triều sẽ càng thêm nguy ngập.

Trong lúc vùng Giang Nam vắng vẻ hoang tàn thì vùng Giang Bắc hoàn toàn ngược lại – quá đông người. Hàng trăm vạn dân chúng từ Giang Nam dắt dìu nhau tìm phương sinh kế. Không chút tài sản, không chút lương thực, để có thể sống qua ngày, bọn họ phải vào rừng hái rau, xuống sông bắt cá, tìm kiếm tất cả những thứ gì có thể ăn được. Chỉ sau vài ngày, rau không còn, cá cũng hết, bọn họ cùng quẫn đến mức tìm bắt cả sâu bọ, lột cả vỏ cây để ăn. Tình cảnh bọn họ có khi còn thảm hơn lưu dân lúc Hoàng Cân khởi nghĩa thời Hán mạt - Tam Quốc.

Lưu dân đã khổ, quan lại Minh triều cũng khổ không kém. Lưu dân đói khổ, quan lại tâm khổ. Bất ngờ có quá nhiều lưu dân đói khổ kéo đến, các quan lại Minh triều phải vò đầu bức tóc, lao tâm lao lực tìm cách xử trí. Trước tình cảnh này, nếu không an bài thỏa đáng, rất có thể gây ra đại loạn. Nhiều nơi đã xuất hiện tình trạng cướp bóc nhà phú hộ, hoặc phá kho lương của quan phủ. Đói khổ quá rồi, nếu không tìm được thức ăn thì sẽ chết đói, dù sao cũng chết, nếu liều mạng biết đâu còn có cơ hội sinh tồn. Chính vì thế mà cũng đã có không ít lưu dân đã biến thành bạo dân, loạn dân, khiến cho tình trạng trị an trong vùng trở nên vô cùng tồi tệ. Một số huyện thành còn bị loạn dân chiếm lĩnh, quan lại bị giết, phủ khố và phú hộ bị cướp phá.

Đó chính là mục đích của Đế quốc, nhiễu loạn hậu phương của Minh triều.

Cũng cùng lúc này, các vùng Sơn Đông, Hà Bắc cũng gặp phải chiến loạn. Các phiên chủ ở Đông Doanh thấy quân đội Đế quốc cướp phá thuận lợi quá, chiến lợi phẩm nhiều vô số, nên cũng phái quân sang cướp bóc vùng duyên hải Sơn Đông. Mông Cổ chư tộc thấy Trung Nguyên đại loạn, cũng phái chiến sĩ đánh xuống phía nam, cướp phá báo thù. Khắp lãnh thổ Minh triều, từ nam chí bắc đều bị chiến hỏa thiêu đốt, sinh linh đồ thán.

Đến cuối tháng 7, ngoài 2 đạo quân Trấn Phong, Trấn Ninh tiến công Giang Tây, cả 6 đạo quân còn lại đều đã tề tụ ở vùng nam ngạn Trường Giang, áp sát Kim Lăng Thành. Bắc Dương Hạm đội đã phong tỏa Trường Giang và Đại Vận Hà, lương thực từ phía nam không thể vận chuyển lên phía bắc được nữa.

Triệu Phong chuyển đại bản doanh lên Sùng Minh đảo, trực tiếp chỉ huy cuộc bao vây Kim Lăng.

Sùng Minh đảo nằm ngay Trường Giang nhập hải khẩu, còn được gọi là ‘Trường Giang môn hộ, Đông hải Doanh châu’. Toàn đảo 3 mặt giáp sông, 1 mặt giáp biển, tổng diện tích ước 1.225 kilômét vuông, đông tây dài 80 kilômét, bắc nam rộng từ 13 đến 18 kilômét. Trên đảo bằng phẳng, không đồi núi. Sùng Minh đảo hình thành vào khoảng Đường Vũ Đức nguyên niên (Tây Lịch 618), có cư dân ở Đan Dương, Cư Dung di cư đến sinh sống, lập thành thôn trấn.

Triệu Phong đến Sùng Minh đảo, ngay lập tức, một căn cứ hải quân và một tòa tiểu thành cũng nhanh chóng được xây dựng, làm căn cứ bổ cấp vật tư lương thực cho các đạo quân. Đế quốc đã chuẩn bị tiến hành chiến tranh lâu dài. Minh triều dù sao cũng là nước lớn, lãnh thổ rộng, dân cư đông, không thể đánh nhanh thắng nhanh được.

Lúc này, nhận được tin Minh triều đã tụ tập quân đội về phòng thủ Kim Lăng Thành, Triệu Phong rất hoan hỉ. Đó là một tin rất tốt lành. Dù sao quân bộ cũng chỉ quyết định bao vây Kim Lăng, không tiến hành công thành chiến. Quân Minh bỏ các phủ huyện kéo về Kim Lăng, đối với việc công chiếm các phủ huyện càng dễ dàng hơn. Do đó, Triệu Phong đã phái Thần Vũ quân tiến công cướp phá các phủ huyện vùng Nam trực lệ, lại phái Thần Uy quân men theo Trường Giang, dưới sự hỗ trợ của Bắc Dương Hạm đội, tiến công cướp phá vùng Hồ Quảng (vùng Hồ Nam, Hồ Bắc). Dân chúng các xứ này cũng bị tịch thu tài sản và cưỡng chế di cư sang Giang Bắc. Hơn 200 hạm thuyền của Bắc Dương Hạm đội phong tỏa hoàn toàn Trường Giang, không một chiếc thuyền nào của Minh triều có thể rời Giang Bắc đi xuống phía nam, Vĩnh Lạc đế có muốn điều binh ở Hà Bắc, Sơn Đông xuống tăng viện cho Kim Lăng cũng không thể thực hiện được. Hơn nữa, quân Hà Bắc còn phải phòng ngự quân Mông Cổ, quân Sơn Đông lại phải chống uy khấu (cách Minh triều gọi hải tặc Đông Doanh).

Triệu Phong đích thân chỉ huy 4 đạo quân Thần Long, Uy Tiệp, Long Tiệp, Định Hải bao vây Kim Lăng Thành. Xung quanh Kim Lăng Thành có nhiều đồi núi, thích hợp bố trí thần công đại pháo oanh kích vào thành, thậm chí có nơi còn có thể trực tiếp bắn pháo đến tận Hoàng cung Đại nội. Cũng chính vì nguyên nhân này, khi được triều thần chỉ cho thấy điều đó, Vĩnh Lạc đế mới quyết định dời đô lên Bắc Kinh. Đương nhiên quân đội Đế quốc không thể bỏ qua ưu thế đó mà không tận dụng. Toàn bộ 2.400 khẩu thần công đại pháo của 4 đạo quân đều được kéo lên các ngọn đồi đó (theo quân chế, mỗi đạo quân 3 vạn người được phối thuộc 600 khẩu thần công). Sau đó mỗi ngày đều luân phiên oanh kích vào thành, đêm ngày không nghỉ. Xạ thủ cứ nhắm vào những nơi tập trung nhiều kiến trúc, đặc biệt là Hoàng cung, mà oanh kích. Quân dân Minh triều trong thành khổ không sao kể siết. Tuy quân Minh trong thành có đến 15 vạn quân, nhưng đối phương cũng có 12 vạn, cùng với thần công đại pháo oai hiếp, quân Minh không có chút ưu thế nào. Hơn nữa, Kim Lăng hiện tại vẫn là kinh đô của Minh triều, không thể tùy tiện bỏ được (theo lịch sử, đến năm 1420 Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh mới xây dựng xong, đến năm 1421 Vĩnh Lạc đế mới chính thức dời đô từ Kim Lăng lên Bắc Kinh). Đối với Hán tộc mà nói, triều đình bỏ kinh đô mà chạy, uy tín của triều đình và sĩ khí của quân đội sẽ tổn thất rất nặng nề.

Kim Lăng thành cao hào sâu, quân đội đông đảo, Triệu Phong chỉ vây thành và đêm ngày oanh kích. Chiến sự chủ yếu chuyển sang các phủ huyện lân cận.

Dương Châu phủ.

Dương Châu là một phủ trực thuộc Nam trực lệ, nằm bên bờ bắc Trường Giang. Từ xưa Dương Châu đã là một thành thị lớn, kinh tế phát triển, cư dân đông đúc. Từ thời Đường đã nổi tiếng là ‘Phú giáp thiên hạ’, ‘Dương nhất Ích nhị’ (chỉ Dương Châu và Ích Châu, tức Thành Đô). Khi vùng phía nam của Nam trực lệ không còn chỗ để cướp phá nữa, Thần Vũ quân liền nhắm đến Dương Châu ở Giang Bắc. Một tiểu phân hạm đội gồm 20 chiến thuyền của Bắc Dương Hạm đội theo dòng Đại Vận Hà tiến về sát thành Dương Châu. Chiến hạm quá lớn, không thể vào Đại Vận Hà được thì dàn ra dọc theo bờ bắc Trường Giang. Cùng lúc đó còn có Thần Vũ quân đệ nhị sư cũng tiến về Dương Châu Thành.

Dương Châu ở về phía đông bắc Kim Lăng Thành. Do bị cách trở bởi Trường Giang, Dương Châu vệ không thể tăng viện cho Kim Lăng được, nên giờ đây trong thành vẫn còn lại khoảng 4.000 quân Minh.

Dương Châu Thành. Tri phủ nha môn.

Các quan viên văn võ của Dương Châu phủ tụ tập trong đại đường bàn việc chống giặc. Người bảo công, người bảo thủ, mỗi người một ý, tranh cãi kịch liệt. Dương Châu vệ chỉ huy sứ Trương Hạo Kiên đỏ mặt tía tai nói :

- Tri phủ đại nhân. Ngài quyết ý xuất quân sát tặc ?

Tri phủ Dương Châu Đổng Chương chậm rãi vuốt râu nói :

- Tặc quân đại pháo lợi hại, các vị chắc cũng nghe nói rồi. Nếu chúng ta cứ cố thủ trong thành, hậu quả … e rằng sẽ không khác gì Tô Châu đâu. Thà rằng chúng ta xuất thành nghênh chiến, dĩ dật đãi lao, may ra còn có cơ hội thắng lợi.

Trương Hạo Kiên nói :

- Không ổn. Tặc quân đông hơn chúng ta, xuất thành nghênh chiến, thua nhiều hơn thắng.

Đổng Chương cãi :

- Cố thủ trong thành, chút cơ hội thắng lợi cũng không có. Tặc quân hành quân đến đây, tất phải nhọc mệt. Chúng ta nhân lúc bọn chúng chưa kịp nghỉ ngơi dưỡng sức, nhất cổ tác khí tấn công, chỉ cần quan quân một lòng, tất có cơ hội thắng lợi. Chứ để tặc quân có thời gian nghỉ ngơi dưỡng sức, chúng ta không còn cơ hội nào nữa.

Trương Hạo Kiên và các tướng lĩnh của Dương Châu vệ lại nhất trí thủ thành, không chịu xuất thành nghênh chiến. Cuối cùng, Đổng Chương đành nói :

- Chư vị muốn thủ thành thì bản phủ không nài ép nữa. Vậy hãy chia cho bản phủ 3.000 quân, bản phủ xuất thành chống giặc. Chư vị còn lại 1.000 quân, có thể điều tập thêm dân chúng hỗ trợ thủ thành.

Trương Hạo Kiên và các tướng lĩnh bàn bạc một lúc, rồi chấp nhận đề nghị của Đổng Chương. Mọi người ai nấy đều ngạc nhiên vì sự dũng cảm của ông ta. Tri phủ vốn là văn quan, mà lại hăng hái suất quân đánh giặc, quả là trung thần hiếm có trên đời.


_________________________________________
Theo bà con vị Tri phủ này có mưu đồ gì không ?



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
28-10-2010, 03:55 AM
Chương 61 : DƯƠNG CHÂU BINH BẠI


Lại nói, các tướng lĩnh của Dương Châu vệ cuối cùng cũng chấp nhận đề nghị của Đổng Chương, chia cho ông ta 3.000 quân để xuất thành nghênh chiến. Trong lúc chờ điều động quân đội, Đổng Chương trở về phủ, gọi viên sư gia thân tín đến bảo :

- Ngươi hãy mau thu xếp cho gia quyến của bản phủ cải trang thành sĩ binh, trà trộn vào quân đội mà xuất thành.

Viên sư gia ngạc nhiên nói :

- Ý của Đại nhân là … ?

Đổng Chương cười nhạt nói :

- Bọn Trương Hạo Kiên muốn cùng chết với thành, bản phủ không ngăn cản. Hừ. Kinh đô còn bị vây, Tô Châu còn bị san bằng, bản thành làm sao chống nổi.

Viên sư gia ngơ ngác hỏi :

- Tặc quân hùng mạnh như thế, sao Đại nhân còn suất quân nghênh chiến ? Vãn sinh thấy chẳng có bao nhiêu cơ hội chiến thắng.

Đổng Chương cười lạnh nói :

- Bản phủ cũng thấy vậy, nhưng nếu xuất thành, may ra còn có cơ hội sống sót. Bản phủ là văn quan, khi xuất chiến có ở phía sau cũng chẳng ai nói gì được. Hễ binh bại, bản phủ có thể tìm nơi lánh nạn. Sau này triều đình có tra xét, chỉ cần báo cáo là bị tặc quân chặn mất đường, không hồi thành được. Như thế vẫn còn hơn cùng chết với thành.

Viên sư gia sáng mắt lên, tán tụng :

- Đại nhân anh minh.

Đổng Chương ngay trưa hôm đó suất lãnh 3.000 quân xuất thành nghênh địch. Sau khi rời thành, viên sư gia lẳng lặng dẫn gia quyến của tri phủ đại nhân và của mình rời quân đội, lánh nạn về phương bắc. Quân đội tiếp tục hướng nam hành quân.

Đồng Sơn.

Đồng Sơn là một ngọn núi nằm về phía nam Dương Châu Thành, gần Đại Vận Hà và Trường Giang, đỉnh núi cao 149,5 mét, là ngọn núi cao nhất Dương Châu. Trong lúc bố trí tấn công Dương Châu Thành, Thần Vũ quân đệ nhị sư tạm thời đóng chỉ huy bộ ở đó. Hiệu úy Đào Gia Khiêm cùng các tùy tướng, vệ úy hợp nhau bàn bạc kế hoạch công thành. Trưa hôm đó, nghe thám tử hồi báo, Đào Gia Khiêm cười nhạt nói :

- Đổng Chương thật là to gan lớn mật nha. Dám bỏ thành không phòng thủ, lại suất lãnh 3.000 quân xuất thành nghênh chiến. Như thế càng tiện cho chúng ta.

Đào Gia Khiêm thật sự không nghĩ ra được lý do Tri phủ Dương Châu Đổng Chương xuất thành nghênh chiến. Phải chi quân Minh đông hơn thì không nói, đằng này là lấy 3.000 chống 1 vạn có thần công đại pháo hỗ trợ.

Bầu trời đầy mây, thái dương khuất sau bạch vân làm không gian bớt chói chang hơn. Mây trắng dày đặc trên không trung tạo ra cảm giác bầu trời có vẻ thấp hơn. Gió mát từ ngoài sông thổi vào, làm không gian dịu mát. Từ trên núi cao nhìn xuống, không gian cũng thoáng đãng rộng lớn hơn.

Đào Gia Khiêm cho 9 bộ binh vệ bày trận dưới chân núi chờ quân Minh đến, còn kỵ binh vệ mai phục sau những đám cây rậm trên núi, chờ lệnh xuất kích. Cả 200 khẩu thần công cũng được bố trí trên núi. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều thuộc về đệ nhị sư.

Ước nửa giờ sau, 3.000 quân Dương Châu vệ do Tri phủ Dương Châu Đổng Chương thống lãnh đã hành quân đến nơi. Bọn họ phải đối mặt với 9.000 địch quân chờ sẵn từ lâu. Đổng Chương ngồi trên chiến mã ở phía sau hàng quân, xung quanh là 100 thân binh. Cả bọn đã sẵn sàng để … bỏ chạy. Hầu như không ai tin rằng trận này Dương Châu vệ có thể thắng được, từ tướng lĩnh cho đến sĩ tốt. Có điều, không ai phản đối việc xuất thành nghênh chiến của Đổng Chương, bởi cả bọn đều đang chờ cơ hội để bỏ chạy, đương nhiên là chạy luôn về phương bắc lánh nạn chứ không phải chạy về Dương Châu Thành. Không ai muốn cùng chết với thành. Qua lời của lưu dân Giang Nam đi ngang qua đây, bọn họ đều biết được tình cảnh của các phủ huyện ở Giang Nam.

Bọn Đào Gia Khiêm nhìn quân Minh như nhìn những người sắp chết. Tại chiến trường bằng phẳng thế này rất có lợi cho hỏa khí của Đế quốc phát huy toàn bộ oai lực. Phía sau bọn họ lúc này có đến 200 khẩu thần công đã nạp đạn sẵn sàng, toàn là Khai hoa đạn. Đào Gia Khiêm truyền lệnh :

- Lệnh xạ thủ chuẩn bị, vọng thủ ước tính cự ly. Khi địch quân tiến đến 200 trượng đồng loạt khai hỏa.

- Vâng.

Nhận được mệnh lệnh, xạ thủ và vọng thủ đều chuẩn bị sẵn sàng. Mỗi khẩu thần công có 2 xạ thủ, phụ trách nạp hỏa dược, đạn pháo và châm lửa. Còn vọng thủ là những người tinh thông toán thuật, có thể ước tính khoảng cách địch - ta.

- Địch quân cách 500 trượng.

- Địch quân cách 400 trượng.

- Địch quân cách 300 trượng.

- Địch quân cách 200 trượng.

- Khai hỏa.

Các khẩu thần công lập tức gầm lên, rải đạn về phía quân Minh. Mỗi viên Khai hoa đạn chứa hơn trăm mảnh sắt bén nhọn, 200 viên nổ tung trên đầu quân Minh, rải xuống hàng vạn mảnh sắt, làm quân Minh thương vong thảm trọng, kêu gào rên rỉ inh ỏi. Chiến trường máu thịt tứ tung, không khí lẫn theo mùi tanh của máu, cảnh tượng cứ như ở dưới mười tám tầng địa ngục. Chỉ có Đổng Chương cùng đám thân binh ở phía sau, nằm ngoài tầm đạn pháo nên thoát được (Đổng Chương sợ chết nên đi rất chậm). Nhìn thấy thảm cảnh trước mặt, cả bọn sợ xanh mặt, vội vã quay đầu ngựa tháo chạy. Đào Gia Khiêm đời nào để cho bọn họ tháo chạy dễ dàng như thế, lập tức truyền lệnh :

- Kỵ binh vệ truy kích.

Thế là 1.000 kỵ binh ùa xuống núi, đuổi theo truy sát hơn 100 người bọn Đổng Chương. Còn 9 bộ binh vệ bắt đầu xử lý chiến trường, giải quyết toàn bộ quân Minh thương vong. Vì sắp phải công chiếm Dương Châu, bọn họ không muốn phân bớt binh lực canh giữ tù binh - không thu tù binh.

Trận chiến Đồng Sơn kết thúc, giải quyết xong chiến trường, đệ nhị sư lập tức hành quân đến Dương Châu. Kỵ binh vệ đi trước, đến phong tỏa Dương Châu Thành. Kỵ binh tuy không thể công thành, nhưng có thể phong tỏa thành trì. Dù sao thì quân Minh trong thành cũng chỉ còn lại khoảng nghìn người.

Sáng hôm sau, đệ nhị sư đại quân đã dàn trận phía trước Dương Châu Thành. Phía sau quân trận chính là trận địa thần công đại pháo. Bên cạnh đó là một núi đạn pháo. Dương Châu Thành nằm ngay bên cạnh Đại Vận Hà, tiếp tế cực kỳ dễ dàng.

Cho quân đội chuẩn bị hoàn tất, Đào Gia Khiêm truyền lệnh :

- Khai hỏa.

Thần công đại pháo tiếp tục gầm lên, oanh kích vào Dương Châu Thành. Trận địa pháo chia làm 2 bộ phận, 100 khẩu thần công hướng vào thành môn nhả đạn, 100 khẩu còn lại rải đạn lên tường thành, tiêu diệt thủ quân. Sau 10 loạt đạn, thành môn bị phá, toàn bộ đại pháo được đẩy lên rải đạn pháo vào bên trong mở đường cho bộ binh tiến quân.

Dương Châu vệ chỉ huy sứ Trương Hạo Kiên ban đầu còn tập trung được vài vạn dân phụ hiệp trợ thủ thành. Nhưng khi thành môn bị phá, đạn pháo rải vào trong thành, một bộ phận dân phu hốt hoảng tìm đường chạy trốn, làm lòng quân hoán tản. Đến khi Đào Gia Khiêm cho quân bắc loa truyền rằng Đế quốc quân đội không bắt tù binh, hễ ai cầm vũ khí chống lại đều trảm thủ, thì quân dân trong thành không còn ai cầm vũ khí nữa. Trương Hạo Kiên cùng đám tùy tướng và thân binh mở cửa bắc bỏ chạy, và bị kỵ binh vệ truy sát. Đệ nhị sư đại quân tiến vào Dương Châu Thành.

Tiếp theo đó, cũng như ở vùng Giang Nam, bọn Đào Gia Khiêm tiến hành đại thanh lý. Một bộ phận nhỏ dân chúng quy thuận được cấp lương thực và đưa ra ngoài thành, lên thuyền di cư về phương nam. Sau đó, toàn bộ tài sản của quan phủ và quân dân trong thành bị tịch thu hết. Toàn bộ cư dân bị cưỡng chế rời khỏi Dương Châu, đi về phương bắc. Dương Châu Thành bị san bằng. Do có thuốc nổ nên việc san bằng thành trì cũng không khó lắm.

Việc chiếm thành chỉ mất mấy canh giờ, nhưng việc xử lý sau chiến tranh mất gần nửa tháng. Không hổ danh ‘nhất Dương nhị Ích’, tài vật trong thành Dương Châu được thu thập lại, chất cao như núi, vàng bạc châu báu, kỳ trân dị bảo nhiều không kể siết. Hèn gì quân Nguyên và quân Thanh đánh chiếm Dương Châu đều mở cuộc đại tàn sát để cướp đoạt tài vật. Kim Nguyên Bảo và Ngân Nguyên bảo (nén vàng, nén bạc dạng thuyền kiểu Trung Hoa) đều có nguồn gốc từ tài vật cướp được ở Dương Châu. Khi quân Nguyên chiếm Dương Châu đã mở cuộc đại tàn sát, cướp được vàng bạc nhiều vô số. Viên tướng Nguyên đã cho đúc vàng, bạc thành nén dạng thuyền, chở về kinh đô. Nguyên đế thấy hình dáng như thế rất đẹp, nên cho phổ biến rộng rãi, và được các triều đại sau này tiếp tục sử dụng. Nguyên Bảo có nghĩa là bảo vật của nhà Nguyên.

Số tài vật thu được ở Dương Châu tương đương với tài vật ở Tô Châu và Hàng Châu cộng lại, đủ thấy người Dương Châu giàu như thế nào. Các chiến thuyền phải liên tục vận chuyển chiến lợi phẩm ra Sùng Minh đảo, rồi Lục Tinh đại vận hạm sẽ vận chuyển tài vật về Gia Định. Lương thực thu được thì giữ lại làm quân lương. Sau các cuộc cướp phá ở khu vực Giang Nam và Hồ Quảng, vựa lúa của Trung Hoa đã trở nên hoang tàn, không một bóng người, rất nhiều kho quân lương của Minh triều đã rơi vào tay quân đội Đế quốc. Tình hình chiến sự đối Minh triều càng thêm bất lợi.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
29-10-2010, 06:41 AM
Chương 62 : TRUY SÁT TRƯƠNG PHỤ


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414), mùa hạ tháng 6. Thăng Long.

Hoàng Cung của Đại Việt xưa, nay là Đại tướng quân phủ, các tướng Minh triều như Trương Phụ, Mộc Thạnh, Phương Chính, Vương Hữu, … hội họp bàn bạc tìm cách vượt qua cảnh nguy khốn trước mắt. Từ khi Thăng Long bị vây, tình hình nguy cấp, những cuộc hội họp như thế này diễn ra hàng ngày ở đây. Nhưng thực lực song phương quá chênh lệch, bọn họ vẫn không tìm ra được cách gì để cứu vãn tình thế nguy ngập hiện tại, chỉ còn biết đặt hy vọng vào các đạo viện quân từ Vân Nam và Lưỡng Quảng sắp sang.

Hôm nay, thần sắc Trương Phụ cực kỳ không tốt. Chư tướng đều đoán rằng đã có đại sự phát sinh. Phương Chính ngạc nhiên hỏi :

- Đại soái. Có việc gì khiến ngài phải lo lắng như vậy. Tuy lúc này tình hình đối chúng ta có phần bất lợi, nhưng chỉ cần viện quân sang đến thì chúng ta sẽ đánh tan quân Nam được ngay. Cũng giống như thời bọn Trần Quỹ, Đặng Tất vậy đó. Quân Nam chỉ mạnh nhất thời, làm sao có thể chống nổi đại binh Thiên triều.

Mộc Thạnh lắc đầu nói :

- Không dễ dàng thế đâu. Phạm Thế Căng không giống bọn Đặng Tất. Họ Phạm nổi danh là Giao Chỉ đệ nhất danh tướng, đánh đâu thắng đó. Nếu viện quân sang, chúng ta cũng chỉ có thể bảo vệ được Đông Quan mà thôi.

Đông Quan chính là tên gọi thời này của Thăng Long, do bọn Hồ Quý Ly đặt sau khi dời kinh đô về Tây Đô (Thanh Hóa). Nghe nhắc đến viện binh, Trương Phụ lại thở dài. Mộc Thạnh kinh hãi hỏi :

- Đại soái. Phải chăng viện binh gặp trở ngại gì trên đường đi ?

Trương Phụ lại thở dài, nói :

- Không có viện binh nữa đâu.

Phương Chính cả kinh, đứng bật dậy nói :

- Không thể nào nha. Rõ ràng triều đình đã đưa tin sang bảo là sẽ có viện binh kia mà.

Trương Phụ thần sắc trầm trọng, nhìn khắp chư tướng một lượt, nói :

- Bản soái buộc phải báo cho mọi người biết một tin rất xấu.

Chư tướng thấy Trương Phụ thần sắc trầm trọng, biết là sự việc nghiêm trọng, đều chú tâm lắng nghe, đồng thời suy đoán xem chuyện gì. Trương Phụ nói :

- Quân Nam mạnh hơn chúng ta tưởng nhiều. Đây là hịch văn của bọn chúng truyền sang Trung Nguyên. Mọi người xem đi.

Nói đoạn, Trương Phụ lấy tờ hịch văn mà Lý Tử Tấn soạn, truyền sang đất Minh triều đưa cho chư tướng xem. Mọi người lần lượt xem qua, ai nấy đều vừa kinh vừa nộ. Phương Chính vỗ bàn nói :

- Vô quân vô phụ. Bọn chúng thật không xem Thiên triều ra gì mà !

Vương Hữu nói :

- Đại soái. Bọn chúng truyền hịch như thế, lẽ ra triều đình phải phẫn nộ, điều động đại quân sang chinh phạt chứ, sao lại không có viện binh ?

Chúng tướng đồng thanh khen phải. Chỉ có Mộc Thạnh là vẫn nhíu mày suy nghĩ. Vương Hữu hỏi :

- Kiềm quốc công. Ngài nghĩ ra điều gì vậy ?

Mộc Thạnh là con thứ của Kiềm Ninh Vương Mộc Anh, kế nghiệp anh là Mộc Xuân, trấn thủ đất Vân Nam vào năm 1398. Sau khi đánh bại nhà Hồ, chiếm lĩnh Đại Việt, Mộc Thạnh đã được Vĩnh Lạc đế phong làm Kiềm quốc công vào năm 1408 (tước quốc công chỉ thấp hơn tước vương). Trong thời Minh, con cháu nhà họ Mộc đời đời trấn thủ Vân Nam, phụ trách phòng ngự sự tấn công của quân Miến Điện.

Nghe hỏi, Mộc Thạnh lắc lắc đầu, xua tan những ý nghĩ không có đáp án, quay sang hỏi Trương Phụ :

- Đại soái. Trước đây khi hoàng thượng khởi binh Tịnh nạn, nghe nói có nhận được viện trợ từ một thế lực ngoại quốc, phải chăng … ?

Trương Phụ gật đầu nói :

- Ta nghĩ đúng là bọn họ. Hoàng thượng trước đây có hứa tạo điều kiện cho bọn họ buôn bán với Trung Nguyên. Nhưng triều đình gần đây lại tăng cường hạn chế việc buôn bán với ngoại quốc. Có lẽ vì thế mà đã làm bọn họ tức giận.

Phương Chính chép miệng nói :

- Bọn họ tức giận thì làm được gì. Chẳng lẽ bọn họ còn có thể xâm phạm Thiên triều được sao ?

Trương Phụ trầm trọng nói :

- Đúng thế.

Phương Chính nói :

- Phải như vậy chứ ! Trong thiên hạ còn ai dám xâm phạm Thiên triều, không sợ Thiên oai hay sao.

Trong khi đó, Mộc Thạnh lại giật mình hỏi :

- Đại soái. Chẳng lẽ bọn họ đã xuất quân ?

Trương Phụ gật đầu nói :

- Đúng thế. Hịch văn vừa truyền là bọn họ cũng xuất quân.

Chúng tướng cả kinh, sửng sốt, thất thần. Hồi lâu, Mộc Thạnh mới hỏi :

- Đại soái. Tình hình chiến sự thế nào rồi ? Chẳng lẽ bọn họ đã đánh vào Lưỡng Quảng ?

Trương Phụ nói :

- Không. Tình hình nghiêm trọng hơn nhiều.

Chư tướng nghe nói vậy, tâm tình bất giác trở nên trầm trọng. Không ai nói gì nữa, ngồi yên chờ nghe Trương Phụ nói. Trương Phụ khẽ than một tiếng, nói :

- Hồi tháng tư, bọn họ xuất quân hai đường tấn công bản triều. Tây lộ quân từ đất Thái tấn công Vân Nam. Đông lộ quân từ ngoài biển tấn công Quảng Đông. Thành Quảng Châu chỉ cầm cự được mấy canh giờ là thất thủ. Sau đó các phủ huyện khác cũng lần lượt thất thủ. Cũng cùng lúc đó, các tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang và Nam trực lệ cũng bị tấn công. Đến giờ, các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến, Chiết Giang đều đã rơi vào tay bọn họ. Ngay cả Nam Kinh cũng đang bị bao vây, Đại Vận Hà và Trường Giang đã bị phong tỏa. Theo tin mới nhất, các đạo quân của bọn họ đang tụ tập về Nam Kinh, chuẩn bị công thành.

Tình hình còn nghiêm trọng hơn chư tướng tưởng tượng. Mọi người thất thần, đầu não hỗn loạn. Chỉ có Mộc Thạnh là còn trấn tỉnh, hỏi :

- Đại soái. Quảng Tây vẫn chưa thất thủ ?

Trương Phụ khẽ lắc đầu, nói :

- Chưa. Nhưng sắp rồi. Tây lộ quân sau khi chiếm xong Vân Nam đang chuyển hướng sang Quảng Tây.

Mộc Thạnh nói :

- Đại soái. Chúng ta ở đây cố thủ cô thành, cũng không ích lợi gì. Phạm Thế Căng vì sợ tổn thất nên không công thành, chứ nếu quân Nam toàn lực công thành, chúng ta cũng khó giữ được. Tình hình đã vậy, triều đình chắc chẳng còn lòng dạ nào nghĩ đến việc Giao Chỉ. Chi bằng chúng ta tạm rút về giữ Quảng Tây.

Trương Phụ gật đầu nói :

- Ta cũng nghĩ vậy.

Thế là cả bọn bàn bạc việc rút khỏi Thăng Long, chạy về giữ Quảng Tây. Trong thành quân Minh chỉ còn gần 2 vạn, để có đủ binh lực giữ Quảng Tây, không thể để tổn thất thêm nữa.

Mấy hôm sau, vào buổi tối, quân Minh bất ngờ mở cửa đông, bỏ thành rút chạy. Bọn họ không đi bằng cửa bắc bởi nơi đó Phạm Thế Căng có đặt trọng binh trấn giữ. Bọn họ cũng không chạy về hướng Bạch Hạc là đường quân Minh kéo sang đánh nhà Hồ khi trước, mà lại chạy về phía đông bắc, theo hướng Vạn Kiếp, rồi từ đó rút về Quảng Tây qua đường Lạng Sơn, đến châu Tư Minh. Trương Phụ khi trước sang đây bằng đường Bạch Hạc, nay không dám về bằng đường cũ, sợ bị phục kích.

Gần 2 vạn quân Minh, vì đào mạng mà chạy đi rất nhanh và lặng lẽ. Không ai dám phát ra tiếng động mạnh, sợ bị đối phương phát hiện. Sự việc có liên quan đến tính mạng, quân Minh bộc phát năng lực mà ngày thường không thể nào có được. Trương Phụ dẫn quân an toàn chạy đến bến Vạn Kiếp, mọi người thở phào nhẹ nhòm. Quân Minh một số lo nấu cơm ăn, một số khác lo kết bè để sang sông. Cả bọn tạm nghỉ ngơi giây lát trước khi tiếp tục cuộc bôn đào.

Cơm nấu xong, quân Minh đang tụ tập lại chuẩn bị ăn cơm, đột nhiên từ xa có tiếng pháo nổ vang trời, rồi có tiếng quân hò reo vang dội. Liền đó là một trận pháo kích dội xuống đầu quân Minh, tạo ra tổn thất thảm trọng. Quân Minh không còn lòng dạ nào ở lại đấy nữa, quăng bỏ chén cơm, tìm đường tháo chạy. Từ phía đông nam có đến mấy vạn quân đang rung cờ đánh trống rầm rộ tiến vào, đao thương kiếm kích sáng ngời, tiếng quân reo dậy đất. Quân Minh đã biết đối phương lợi hại rồi, đương nhiên không dám chạy ra hướng đó, đành kéo nhau xuống bè bơi sang bờ bên kia. Một số khác không lên được bè, đành ôm khúc gỗ bơi sang, vũ khí khôi giáp quăng bỏ cả. Giữa lúc đó, trên sông xuất hiện rất nhiều chiến thuyền, thuận dòng bơi đến. Từ trên thuyền tên bắn xuống như mưa, quân Minh chết vô số, máu tươi nhuộm hồng cả mặt sông.

Bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh được chúng tùy tướng hộ tống chạy sang được bờ bên kia, kiểm điểm lại binh mã, thấy chỉ còn lại vài nghìn người, đại tướng Vương Hữu tử trận. Lúc đó, quân Nam lại lên thuyền chuẩn bị vượt sông đuổi theo. Cả bọn không dám chần chờ, vội vã cướp đường mà chạy.

Trên đường đi, quân Minh thường xuyên bị dân binh các thôn làng phục kích, thiệt hại dần. Thỉnh thoảng lại nghe phía sau có tiếng quân Nam hò hét đuổi theo, nên cả bọn đều không dám dừng chân nghỉ ngơi, việc ăn uống chỉ đành gặm lương khô, uống nước lạnh. Đến Nội Bàng, quân Minh chỉ còn lại chưa đến 2.000 người, tất cả đều mệt mỏi vô cùng, chỉ vì sự sống còn nên mới miễn cưỡng cầm cự mà tiếp tục bước đào bôn.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
30-10-2010, 07:10 AM
Chương 63 : TIẾN QUÂN QUẢNG TÂY


Lại nói, trên đường rút chạy, quân Minh bị phục kích ở Vạn Kiếp, thiệt hại thảm trọng. Đến Nội Bàng, quân Minh chỉ còn lại chưa đến 2.000 người, tất cả đều mệt mỏi rã rời, chỉ vì sự sống còn nên mới miễn cưỡng cầm cự mà tiếp tục bước đào bôn.

Nội Bàng vốn là một quan ải, đồi núi hiểm trở. Khi quân Minh đi qua đó, lập tức từ trên núi có đạn pháo và cung tên bắn xuống, đồng thời còn có phục binh đổ ra đánh. Các tướng Minh hết sức chống trả, cướp đường mà chạy. Phương Chính suất lĩnh 1.000 quân đoạn hậu, bị chết trong đám loạn quân.

Chạy đến Lộc Châu, quân Minh lại gặp phục binh từ hai bên sườn núi bắn tên tẩm độc xuống như mưa. Các tướng Minh liều chết bảo hộ Trương Phụ chạy thoát, Mộc Thạnh tử trận. Qua khỏi Lộc Châu, quân Minh chỉ còn lại vài trăm người. Ai nấy thần tình ảo não. Trương Phụ không dám đi đường lớn nữa, dẫn quân lẻn theo đường tắt đi về phía châu Tư Minh.

Đến được châu Tư Minh là đã vào đất Quảng Tây rồi. Bọn Trương Phụ đều thở phào nhẹ nhõm. Nào ngờ, vừa đến gần quan ải thì từ bốn phía có đại quân đổ ra bao vây. Rồi từ trên quan ải có người nói vọng xuống :

- Trương tướng quân. Ta là Phạm Thế Căng, ở đây chờ tướng quân đã lâu.

Vừa nói xong, không để cho đối phương có thời gian phản ứng, Phạm Thế Căng truyền quân xông vào vây đánh. Ba nghìn quân trang bị tinh lương đối phó vài trăm người mỏi mệt rã rời, kết quả không cần nói cũng đủ biết. Bởi vì khi sang đánh Đại Việt, bọn Trương Phụ đối xử với dân Việt tàn nhẫn vô cùng, làm lắm điều tàn bạo gớm ghê, như là : xếp người thành núi, hoặc rút ruột người treo lên cây, hoặc nấu thịt người để lấy dầu, còn những người Việt ai theo quân Minh mà giết được nhiều người bản quốc thì được thưởng cho làm quan. Do đó mà Phạm Thế Căng đã không bắt tù binh, sát tử tất cả.

Bọn Trương Phụ không thể chạy thoát được là do quan niệm thâm căn cố đế đã làm hại bọn họ. Sơn xuyên Đại Việt, bọn họ không thể nào thông thạo bằng bọn Phạm Thế Căng. Sau khi giải phóng Đại Việt, vây thành Thăng Long, Phạm Thế Căng danh tiếng lừng lẫy, dân Việt đều ủng hộ, sẵn sàng thông phong báo tín, báo tin về tung tích của quân Minh. Khi quân Minh còn ở trong thành Thăng Long, Phạm Thế Căng còn chưa nắm được rõ ràng. Nhưng từ khi quân Minh bỏ thành rút chạy thì chẳng bao lâu sau Phạm Thế Căng đã biết tin, bố trí phục kích. Bọn Trương Phụ cứ nghĩ rằng nơi đây cũng là đất Minh triều (quan niệm thâm căn cố đế rồi), cũng giống như bên Trung Nguyên, thành ra quên mất những vấn đề trên, dẫn đến toàn quân tận diệt.

Đế quốc có lực lượng Hải quân hùng hậu. Phạm Thế Căng ngay khi biết tin đã nhờ Hải quân vận chuyển 2 sư của Bảo Tiệp quân đến Vạn Kiếp, đồng thời lấy thêm dân ở đó giả làm quân đội để tăng thanh thế. Khi quân Minh đang chuẩn bị ăn cơm, mấy vạn đại quân kéo ra tấn công thì chỉ có 2 vạn quân ở phía trước là chính quy quân, còn phía sau đều là dân chúng giả trang. Khi quân Minh chạy được qua bên kia sông thì chỉ có 1 sư vượt sông đuổi theo, còn 1 sư theo đường biển sang đánh châu Tư Minh.

Tiêu diệt được bọn Trương Phụ rồi, Phạm Thế Căng thông tri cho Phạm Đống Cao ở Nghệ An ra trấn thủ Thăng Long, giao việc ổn định Thăng Long cho dân binh Mường của Phạm Đống Cao, rồi suất lĩnh Bảo Tiệp quân, Linh Tiệp quân tiến vào đất Quảng Tây. Khi Phạm Thế Căng đặt chân lên đất Quảng Tây thì 2 đạo quân Trấn Ninh, Trấn Phong đang công chiếm Giang Tây cũng giao cho Phạm Thế Căng thống lĩnh.

Mùa thu tháng 7, quân của Phạm Thế Căng và quân của Lý Ngân từ Vân Nam sang cùng hội họp dưới chân thành Quế Lâm. Sau khi Vân Nam, Quảng Đông, nam Giang Tây bị Đế quốc quân đội chiếm lĩnh, Quảng Tây đã trở thành một ốc đảo, bị bao vây tứ phía. Quân Minh ở đây không còn chút ý chí chiến đấu, đào binh vô số. Mà nguyên bản ở đây đã không có bao nhiêu quân đội, thành ra các phủ huyện nhanh chóng thất thủ, rơi vào tay Đế quốc.

Khi trước, để chuẩn bị lực lượng đánh nhà Hồ, Vĩnh Lạc đế đã cho điều động lực lượng từ Nam Kinh, theo đường thủy xuống hội binh với các lực lượng đang tập trung tại Quảng Tây, gồm 9,5 vạn quân từ các tỉnh Chiết Giang, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Quảng (gồm Hồ Nam và Hồ Bắc ngày nay), cộng với 1 vạn kỵ binh và bộ binh lấy từ Cấm quân, 3 vạn thổ binh từ Quảng Tây. Minh triều cũng huy động chuẩn bị tác chiến 7,5 vạn kỵ binh và bộ binh từ Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên. Các xứ Vân Nam và Quảng Tây được lệnh mỗi xứ phải chuẩn bị 20 vạn thạch lương (mỗi thạch 100 cân, mỗi cân 0,6 kilôgam) cung ứng cho quân đội. Vân Nam cũng được lệnh huy động 1 vạn quân tiếp viện. Trận chiến này đã điều động đến 22 vạn quân ở phía nam (khi sang đánh, quân Minh nói thăng lên là 80 vạn để hư trương thanh thế), sau khi chiếm được đất Đại Việt thì thiệt hại cũng không ít.

Đến khi Giản Định đế và Trùng Quang đế nổi lên, quân Minh đánh thua nhiều trận, thiệt hại không ít, phải rút về giữ Thăng Long và dâng biểu cáo cấp về Minh triều xin viện binh. Mộc Thạnh được lệnh mang 4 vạn quân Vân Nam sang cứu, nhưng lại bại trận, phải về giữ thành Cổ Lộng. Minh triều lại phải phái Trương Phụ dẫn quân sang cứu viện. Lần này Trương Phụ tuy bắt được Giản Định đế và Trùng Quang đế, nhưng chưa kịp ban sư hồi triều thì gặp phải Phạm Thế Căng suất quân bắc phạt, sau nhiều trận chiến đã tử trận tại châu Tư Minh, đại quân toàn diệt.

Sau mấy trận chiến liên tục đó, quân đội ở các tỉnh phương nam của Minh triều hầu như bị điều sang Đại Việt gần hết. Thành ra khi quân đội Đế quốc tiến sang, gần như tiến vào chỗ không người. Quảng Tây cùng với Vân Nam là hai nơi quân đội bị điều đi nhiều nhất. Vì thế mà Phạm Thế Căng tiến sang đã công chiếm các phủ huyện rất dễ dàng, chỉ chưa đầy 1 tháng đã tiến quân đến dưới chân thành Quế Lâm.

Trong thành Quế Lâm lúc này chỉ còn lại chưa đầy 2.000 quân. Đối diện với hơn chục vạn quân ngoài thành, thủ quân không còn ý chí kháng cự, liền giết chết tướng lĩnh chỉ huy, mở cửa thành đầu hàng. Chiếm lĩnh đại bộ phận Quảng Tây, Phạm Thế Căng để lại 1 sư của Bảo Tiệp quân tiếp tục bình định xứ này, rồi đại quân chuyển hướng sang đất Quảng Đông. Nhiệm vụ của Phạm Thế Căng lúc này là thống lĩnh 4 đạo quân Bảo Tiệp, Linh Tiệp, Trấn Phong, Trấn Ninh công chiếm Giang Tây và vùng nam Hồ Quảng (tức Hồ Nam). Còn Lý Ngân thống lĩnh 4 đạo quân Uy Vũ, Uy Nghĩa, Uy Đức, Trấn Biên tấn công Quý Châu và cướp phá Tứ Xuyên.

Vĩnh Lạc đế là kẻ tàn nhẫn và đa nghi. Sau khi dời lên Bắc Kinh đánh nhau với quân Mông Cổ, Vĩnh Lạc đế đã mang hai phần ba quân đội lên phương bắc, chỉ để lại phương nam một phần ba quân đội giao cho Thái tử Giám quốc thống lĩnh. Lúc này, các tỉnh phương bắc của Minh triều dày đặc quân đội. Sơn Đông 20 vạn (Sơn Đông, Liêu Đông), Bắc trực lệ 30 vạn (Hà Bắc, Bắc Kinh, Sơn Hải quan), Sơn Tây 10 vạn (Nhạn Môn quan), Thiểm Tây 20 vạn (Trường An, Gia Dụ quan – Cam Túc). Trong khi đó các tỉnh phương nam ngoài Nam trực lệ (Nam Kinh) có 10 vạn quân, còn lại gần 30 vạn, phần lớn dốc vào chiến tranh ở Đại Việt, ở các tỉnh chẳng có bao nhiêu quân đội. Hậu quả của việc này là các tỉnh phương nam nhanh chóng thất thủ, dân chúng bị đuổi chạy về phương bắc, trở thành lưu dân ‘tam không’ (không nhà cửa, không tài sản, không lương thực), gây hỗn loạn ở vùng Giang Bắc.

Nói về Phạm Thế Căng, chỉ để lại Quảng Tây 1 sư của Bảo Tiệp quân phối hợp với dân binh Thái - Lào điều từ Vân Nam sang cùng bình định xứ này, sau đó suất lĩnh 2 sư của Bảo Tiệp quân, tiến vào đất Giang Tây hội họp cùng Trấn Phong quân và Trấn Ninh quân. Còn đạo Linh Tiệp quân tiến sang công chiếm vùng nam Hồ Quảng.

Trên đất Giang Tây, lấy vùng phía nam mới chiếm được làm bàn đạp, Phạm Thế Căng xua quân tràn lên phía bắc, công thành bạt trại, thế như phá trúc. Đại quân đi trước, dân binh Lã Tống, Mã Lai và Java điều từ Quảng Đông sang đi phía sau, phụ trách phòng thủ những phủ huyện mà bọn Phạm Thế Căng chiếm được. Đại quân men theo Cống thủy, tiến chiếm Cống Châu phủ, một vị trí trọng yếu nằm cạnh hợp lưu của Cống thủy và Chương thủy. Sau đó đại quân tiến thẳng về Nam Xương, thủ phủ của Giang Tây. Sau ba ngày công thành, dù thủ quân chiến đấu kiên cường, nhưng quân số quá ít, chỉ hơn 3.000 người, nên chỉ giữ được đến ngày thứ ba thì thành phá.

Vì trận này công thành chiến kéo dài, chiến sự khốc liệt, quân đội Đế quốc thiệt hại hơn 1.000 người (lấy 8 vạn quân tấn công một tòa thành chỉ có 3.000 thủ quân, thiệt hại như thế là nặng), Phạm Thế Căng nổi giận xung thiên, ra lệnh bắt giữ toàn bộ quan lại tướng lĩnh của Minh triều trong thành, trảm toàn gia. Toàn bộ sĩ tốt trong quân đội Minh triều, dù phủ binh hay dân binh đều bị trảm. Số người bị giết lên đến mấy vạn. Toàn bộ dân chúng bị xua về phía nam sung vào lực lượng khổ công. Nam Xương Thành không còn lại một bóng người. Vì việc này, Phạm Thế Căng phải điều 1 sư của Bảo Tiệp quân đi theo áp giải. Họ Phạm làm thế là muốn cảnh cáo những phủ huyện khác phải suy tính hậu quả nếu như chống lại đại quân.

(chú : trong lịch sử, Trương Phụ chết khi đi theo Minh Anh Tông đánh quân Ngõa Thích ở Thổ Mộc Bảo. Trận đó 50 vạn quân Minh đại bại, Minh Anh Tông bị bắt sống, Trương Phụ tử trận. Giờ đây gặp phải Phạm Thế Căng nên Trương Phụ chết sớm hơn).


Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
31-10-2010, 07:26 AM
Chương 64 : CẢNH ĐỨC TRẤN


Sau trận Nam Xương, đại quân của Phạm Thế Căng đẩy nhanh tiến độ công thành bạt trại. Trấn Ninh quân khẩn cấp hành quân công chiếm các huyện vùng đông bắc Nam Xương, đặc biệt là Phù Lương huyện, nơi có một mục tiêu quan trọng do Giang Phong chỉ định phải ưu tiên công chiếm – Cảnh Đức Trấn. Các đạo quân còn lại tỏa đi đánh chiếm các nơi khác. Rất nhiều phủ thành có chưa đến nghìn thủ quân, khi đại quân đến nơi đã không dám kháng cự, nhanh chóng mở cửa thành đầu hàng.

Phù Lương huyện. Cảnh Đức Trấn.

Cảnh Đức Trấn là một trung tâm gốm sứ của Trung Hoa, lần đầu tiên được ghi vào sử sách là vào thời Đông Tấn, gọi là Tân Bình Trấn. Đến năm 621 thời Đường, cải tên thành Tân Bình huyện; năm 716 lại cải tên thành Tân Xương huyện, lập Xương Nam Trấn trực thuộc Tân Xương huyện. Năm 742, Tân Xương huyện cải tên thành Phù Lương huyện. Bắc Tống năm 1004, gốm sứ Xương Nam chất lượng ưu lương, được Tống Chân Tông chọn sử dụng trong cung đình, gọi là ngự dụng từ khí, đồng thời lấy niên hiệu làm tên, cải Xương Nam Trấn thành Cảnh Đức Trấn, để đề cao địa vị của gốm sứ Xương Nam. Từ đó, danh xưng Cảnh Đức Trấn được sử dụng đến ngày nay.

Cảnh Đức Trấn là một hương trấn thuộc Phù Lương huyện, nằm về phía đông bắc Nam Xương phủ. Ở đây có rất nhiều xưởng gốm sứ lớn, dân cư đông đúc, kinh tế thịnh vượng. Năm Nhâm Ngọ (1402), Vĩnh Lạc đế vừa chiếm được Nam Kinh, đăng cơ xưng đế, đã vội vã thành lập Cảnh Đức Trấn Ngự khí hán, chuyên cung cấp gốm sứ cho cung đình. Điều đó cho thấy Cảnh Đức Trấn đều được mọi triều đại coi trọng.

Khi nghe tin Nam Xương thất thủ, hàng vạn người bị giết, toàn bộ dân chúng bị cưỡng chế di cư về phương nam, các đại nhân vật có thân phận địa vị ở Cảnh Đức Trấn vội hội họp lại bàn bạc, tính chuyện tương lai. Không chỉ tin tức ở Nam Xương Thành, tin tức từ các xứ Hàng Châu, Tô Châu, Dương Châu, … liên tục đưa đến, cũng làm bọn họ lo lắng bất an. Dân chúng vốn không có bao nhiêu tài sản, còn bọn họ đều là đại phú hào, đại thương gia, không thể không lo. Mọi người tùy sự quen biết mà tụ họp thành từng nhóm, bàn tán sôi nổi, thậm chí tranh luận kịch liệt.

Trong lúc những người khác xôn xao bàn luận, Ngũ Quốc Trung, chủ xưởng gốm sứ lớn nhất Cảnh Đức Trấn, vẫn an nhiên nhấm nháp chung trà, thần thái tiêu dao tự tại, chẳng có vẻ gì là lo lắng cả. Thái độ của y trở nên rất nổi bật giữa cảnh mọi người đều lo lắng bất an này. Một người ngồi bên cạnh hiếu kỳ hỏi :

- Ngũ huynh xem ra vẫn tiêu dao tự tại, lẽ nào đã đi trước mọi người một bước ?

Những người xung quanh nghe nói đều quay lại nhìn. Ngũ Quốc Trung lắc đầu nói :

- Không có.

Người kia hỏi :

- Thế sao Ngũ huynh chẳng có vẻ gì là lo lắng hết ?

Ngũ Quốc Trung ung dung tự đắc nói :

- Việc gì phải lo lắng. Chúng ta tuy cũng là đại phú hào, đại thương gia. Nhưng chúng ta khác những vị lão bản ở Tô Châu, Hàng Châu.

Những người khác nhao nhao hỏi :

- Khác như thế nào ?

Ngũ Quốc Trung thủng thẳng nói :

- Chúng ta nắm giữ những loại gốm sứ chất lượng ưu lương nhất. Đó là một lá bùa hộ mệnh quan trọng. Chư vị có thấy khi nào cải triều hoán đại mà chúng ta bị liên lụy hay không ? Miễn sao chúng ta giữ đúng bổn phận của mình, đừng tham gia vào quan trường tranh đoạt thì không việc gì phải lo lắng.

Mọi người ồ lên, đồng thanh khen phải. Triều đại nào cũng cần gốm sứ để sử dụng. Cung đình cần, quan lại cần, phú hào cần. Do vậy mà Cảnh Đức Trấn luôn được các triều đại đặc biệt bảo hộ. Một người vẫn chưa yên tâm, hỏi :

- Chúng ta có cần đưa gia quyến đi tránh nạn không ?

Ngũ Quốc Trung nói :

- Tránh nạn ở đâu bây giờ ? Tứ phía đều binh hoang mã loạn, chạy ra ngoài lúc này, có thể bị giết bất cứ lúc nào. Còn nếu may mắn không bị giết thì cũng sẽ bị tịch thu tất cả mọi thứ, đuổi lên phương bắc, lúc đó lại phải đào củ, lột vỏ cây mà ăn qua ngày, và có thể chết đói bất cứ lúc nào.

Mọi người nghe họ Ngũ nói có lý quá, không ai dám bỏ trấn trốn đi. Cả bọn cũng không còn quá lo lắng cho tương lai, chuyển sang tán tụng họ Ngũ và tiếp tục bàn chuyện làm ăn.

Vài ngày sau, một toán 3.000 kỵ binh kéo đến phong tỏa Cảnh Đức Trấn, không cho ai rời khỏi. Trong đó có 1.000 kỵ binh trực tiếp bao vây Ngự khí hán. Có điều kỵ binh không quấy nhiễu người trong trấn nên mọi người cũng yên tâm chờ đợi.

Mười ngày sau, Phạm Thế Căng rời Nam Xương, đích thân dẫn Bảo Tiệp quân đệ nhị sư, đệ tam sư đến Cảnh Đức Trấn.

Phạm Thế Căng đến nơi, mệnh lệnh truyền xuống, quân đội lập tức tập trung tất cả các nghệ nhân gốm sứ, những người thợ làm việc trong lĩnh vực gốm sứ về một nơi, rồi dù muốn hay không muốn, tất cả đều bị cưỡng chế di cư về phương nam cùng với gia đình. Ai phản kháng, vẫn như mọi khi, trảm toàn gia. Dưới lưỡi đao sáng loáng, hầu như chẳng ai dám kháng cự. Tân gia của bọn họ đã được chuẩn bị sẵn ở Thuận An huyện, phía bắc Gia Định Thành. Giang Phong đã quyết định cho xây dựng nơi đó thành một trung tâm gốm sứ của Đế quốc.

Phạm Thế Căng chỉ cần những nghệ nhân, thợ gốm. Còn chủ xưởng, thương gia, phú hộ, quan viên, nho sĩ, tức những đại nhân vật thì xử lý giống như ở Tô Châu, Hàng Châu, Dương Châu – toàn trảm, gia sản tịch thu. Dân cư ở Cảnh Đức Trấn chỉ được chia thành 2 loại : người làm công (9 phần) và giới chủ (1 phần). Người làm công thì di cư về Thuận An, Gia Định. Giới chủ thì toàn trảm, bởi bọn họ là những người dễ thiên hướng về Minh triều nhất. Đế quốc chỉ cần thợ gốm sứ, không cần chủ xưởng gốm sứ. Các xưởng gốm sứ ở Thuận An hiện tại tuy quy mô không bằng ở Cảnh Đức Trấn, nhưng đó là do thiếu thợ, chứ tay nghề của các nghệ nhân ở đấy cũng chưa chắc thua kém những nghệ nhân ở Cảnh Đức Trấn. Dù sao thì Thái Học Viện lúc nào cũng nghiên cứu các công nghệ mới, mẫu mã mới, rồi đưa ra áp dụng tại các xưởng gốm sứ ở Thuận An. Còn ở Cảnh Đức Trấn thì chỉ nghề truyền nghề, làm theo kinh nghiệm mà thôi. Gốm sứ Chu Đậu thời Trần chất lượng rất tốt, trước khi quân Minh sang thì các nghệ nhân Chu Đậu đều đã di cư đến Thuận An. Chỉ đáng tiếc, nghệ nhân gốm sứ vẫn còn ít quá, không thể mở rộng quy mô, vì thế mà Giang Phong mới nhắm đến Cảnh Đức Trấn.

Sau khi xử lý xong công việc ở Cảnh Đức Trấn, Phạm Thế Căng truyền lệnh : san bằng Cảnh Đức Trấn. Không chỉ có thế, rất nhiều xác người chết, xác động vật chết còn bị ném xuống giếng, hồ, ao, đầm quanh đấy để sau này gây ra ôn dịch, để không ai dám đến đây sinh sống nữa. Phạm Thế Căng quyết định xóa sổ hẳn Cảnh Đức Trấn. Nếu sau này có người xây dựng lại Cảnh Đức Trấn thì khó thể xây dựng ở đây. Mà nếu xây dựng ở nơi khác thì Cảnh Đức Trấn sẽ không còn là Cảnh Đức Trấn nữa.

Đầu tháng chín, tin thắng lợi tới tấp đưa về Soái doanh của Phạm Thế Căng. Đến lúc này, 14 châu phủ ở Quảng Tây (Nam Xương, Trữ Châu, Thụy Châu, Cửu Giang, Nam Đường, Nhiêu Châu, Quảng Tín, Kiến Xương, Phủ Châu, Cát An, Lâm Giang, Viên Châu, Cống Châu, Nam An) và 77 huyện đều đã bị chiếm lĩnh hoàn toàn. Phạm Thế Căng để 2 sư của Bảo Tiệp quân ở lại ổn định tình hình, sau đó đại quân tràn sang vùng nam Hồ Quảng ở phía tây, mục tiêu Động Đình Hồ.

Hồ Quảng là một tỉnh lớn, gồm có 31 châu phủ, 108 huyện. Hồ có nghĩa là cái hồ, ý muốn chỉ Động Đình Hồ; Quảng nghĩa là rộng lớn. Hồ Quảng là đất Kinh Châu xưa, có thể chia thành 3 vùng : vùng nam Động Đình Hồ (tức Hồ Nam), vùng bắc Động Đình Hồ (tức Hồ Bắc), và vùng đông Động Đình Hồ (tức phần phía nam của An Huy, phần phía bắc của An Huy thuộc về Nam trực lệ). Theo chỉ dụ từ Gia Định, bọn Phạm Thế Căng chỉ chiếm lĩnh vùng nam Hồ Quảng, các phần còn lại chủ yếu là cướp phá, xua dân di cư về phương bắc. Dưới sự uy hiếp của Bắc Dương Hạm đội, khu vực hai bên bờ Trường Giang sẽ bị biến thành vùng trắng, không dân cư, trở thành ranh giới tự nhiên với Minh triều, tạo điều kiện cho Đế quốc ổn định khu vực chiếm được ở phía nam.

Sang tháng 10, toàn bộ những vùng phía nam Trường Giang đều đã bị Đế quốc kiểm soát (trong đó có vùng trắng không dân cư ở hai bên bờ Trường Giang). Quảng Tế Pháp sư cũng đã phái quan viên đến cai trị những vùng chiếm được. Theo ý của Giang Phong, những chức vị cấp tỉnh, quận sẽ do người Kinh, Mường, Chiêm đảm nhiệm (trong quan niệm của Giang Phong, người Kinh, Mường, Chiêm đều là người Việt). Còn các chức vị cấp huyện, ở vùng Vân Quý sẽ do người Thái – Lào đảm nhiệm; ở vùng Lưỡng Quảng, Giang Tây, Phúc Kiến, nam Hồ Quảng sẽ do người Lã Tống, Mã Lai, Java đảm nhiệm. Việc trị an cũng do 20 vạn dân binh kiểm soát.

_________________________________________________
Do Vĩnh Lạc đế tập trung quân đội lên phía bắc, phương nam nhanh chóng đổi chủ. Vĩnh Lạc đế nổi giận lôi đình, huy động 100 vạn đại quân nam hạ. Thần Thánh Đế quốc chỉ có thể điều động 30 - 33 vạn chống cự. Với tình hình như thế, theo bà con chiến tranh sẽ diễn ra thế nào theo hướng có lợi cho Đế quốc.




Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
01-11-2010, 10:05 AM
Chương 65 : CHUẨN BỊ ĐẠI QUYẾT CHIẾN


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414), mùa đông tháng 10.

Các vùng chiếm được từ Minh triều tạm thời đã ổn định, Quảng Tế Pháp sư phụng mệnh Giang Phong chia tỉnh, quận, huyện và điều phái quan viên đến đảm nhiệm việc trị dân.

Đất Vân Nam (rộng 394.100 kilômét vuông) Minh triều chia làm 60 châu phủ, 30 huyện (có châu, phủ không có huyện trực thuộc); Đế quốc chia thành 5 tỉnh, Vân Nam, Đại Lý, Lệ Giang, Bảo Sơn, Trấn Khang; 32 châu phủ lớn cải thành quận; còn lại lập huyện, đồng thời lập thêm nhiều huyện mới ở các vùng dân tộc (quan chức vẫn do người dân tộc nắm giữ, tự quản lý).

Đất Quý Châu (rộng 176.100 kilômét vuông) Minh triều chia làm 17 châu phủ, 14 huyện; Đế quốc chia thành 2 tỉnh Quý Dương, Vĩnh Ninh.

Đất Quảng Tây (rộng 236.700 kilômét vuông) Minh triều chia làm 58 châu phủ, 50 huyện; Đế quốc chia thành 3 tỉnh Quế Lâm, Tư Minh, Nam Ninh.

Đất Quảng Đông (rộng 177.900 kilômét vuông) Minh triều chia làm 19 châu phủ, 75 huyện; Đế quốc chia thành 3 tỉnh Quảng Châu, Quỳnh Châu, Triều Châu.

Đất nam Hồ Quảng (rộng khoảng 230.000 kilômét vuông) có 14 châu phủ, 42 huyện của Minh triều; Đế quốc chia thành 3 tỉnh Trường Sa, Hành Sơn, Nguyên Châu.

Đất Giang Tây (rộng 166.900 kilômét vuông) Minh triều chia làm 14 châu phủ, 77 huyện; Đế quốc chia thành 2 tỉnh Cống Chương, Cửu Giang.

Đất Phúc Kiến (rộng 121.400 kilômét vuông) Minh triều chia làm 9 châu phủ, 57 huyện; Đế quốc chia thành 2 tỉnh Phúc Châu, Tuyền Châu.

Còn các xứ Chiết Giang, Nam trực lệ, bắc và đông Hồ Quảng, nam Tứ Xuyên tuy Đế quốc cũng kiểm soát được hoàn toàn hoặc một bộ phận, nhưng không còn dân, nên không thiết tỉnh. Đó là vùng trắng, vùng ranh giới tự nhiên với Minh triều sau này.



Nam trực lệ (Nam Kinh). Kim Lăng Thành.

Cho đến lúc này, quân đội Đế quốc vẫn tiếp tục vây thành, và thường xuyên bắn pháo vào thành, bất kể đêm ngày. Quân ngoài thành không công thành, và quân trong thành cũng không thể phá vòng vây. Cho đến lúc này, trải qua gần nửa năm bị vây, quân dân trong thành cũng đã quá quen với tiếng đạn pháo rồi, thậm chí có người khi nghe pháo nổ cũng chẳng buồn tránh nữa, trúng đạn chết thì thôi, xem như là giải thoát.

Hiện tại trong thành đang lâm vào cảnh thiếu thốn lương thực nghiêm trọng. Các kho quân lương trong thành đủ cung cấp cho 10 vạn quân dùng trong mấy năm, nên quân đội không lo thiếu lương. Có điều dân chúng ít có ai dự trữ trong nhà cả nửa năm lương thực. Dân thành thị mà, mua vừa đủ ăn, ăn hết rồi lại đi mua tiếp. Các cửa hiệu bán gạo cũng vậy, kho gạo trong thành cũng chỉ đủ bán một thời gian mà thôi, và gần đây thì đều cạn sạch rồi (một phần là do bán hết, nhưng cũng có một phần đầu cơ làm giá, bị dân chúng phẫn nộ phá kho cướp sạch). Ngoài ra người trong thành cũng không có rau xanh để ăn hàng ngày. Trước đây thì mỗi ngày đều có nông dân chở rau từ ngoài thành vào bán, nhưng từ khi thành bị vây thì hết rau ăn rồi. Thử nghĩ xem suốt gần nửa năm không có rau ăn. Hậu quả … Ngay cả thịt cá cũng thiếu thốn. Nhà cửa bị đạn pháo bắn sập, bắn cháy cũng không có nguyên liệu để sửa chữa. Người dân trong thành đã sắp trở thành ‘tam không’ giống như lưu dân ở Giang Bắc.

Quân trong thành đã 3 lần tổ chức phá vây, nhưng cả 3 lần đều bị thiệt hại thảm trọng mà phải rút lui vào thành. Ban đầu thủ quân có 15 vạn thì lúc này chỉ còn lại chưa đến 10 vạn. Quân bên ngoài vẫn ổn định ở 4 đạo quân, 12 vạn người, và sau mỗi tháng quân số bị tổn thất sẽ được bổ sung ngay. Thật ra thì quân đội Đế quốc chỉ bị tổn thất một ít vào 3 lần phá vây của quân Minh. Chứ bình thường chỉ vây thành, không công thành, làm sao có thiệt hại.

Giữa tháng 10, các đạo quân tề tụ về Kim Lăng, chuẩn bị cho một cuộc chiến quy mô lớn sắp diễn ra.

Sùng Minh đảo. Trường Hưng Thành.

Trường Hưng Thành là một tòa tiểu thành mới được xây dựng trong thời gian bắc phạt, là căn cứ hậu cần của Đông lộ quân và cũng là đại bản doanh của Triệu Phong.

Lúc này, các tướng lĩnh của bắc phạt đại quân đang tụ họp bàn bạc chiến sự. Có Triệu Phong của Đông lộ quân, Lý Ngân của Tây lộ quân, Phạm Thế Căng của Nam lộ quân và Mã Tân của Bắc Dương Hạm đội. Ngoài ra còn có Hải quân bộ bộ trưởng Đinh An Bình mang chiếu lệnh của Giang Phong đến.
Đinh An Bình nói :

- Theo tin từ thám tử, Minh triều đang chuẩn bị huy sư nam hạ, giải vây Kim Lăng Thành.

Mã Tân hỏi :

- Đinh Đại nhân. Minh triều đang bị người Mông Cổ cướp phá vùng bắc biên và người Đông Doanh cướp phá vùng Sơn Đông, còn có thể điều động đại quân nam hạ được sao ?

Đinh An Bình nói :

- Hai phần ba quân lực Minh triều tập trung ở phòng tuyến phía bắc, tổng cộng 80 vạn. Lần này Vĩnh Lạc đế quyết tâm giải vây Kim Lăng, nên định bỏ mặc các xứ Cam Túc, Sơn Tây, chỉ tập trung phòng thủ vùng Hà Bắc, Sơn Đông mà thôi. Có thể đại quân nam hạ đông đến 60 vạn. Ngoài ra còn có thêm 40 vạn dân binh. Tổng quân số đạt đến 100 vạn.

Triệu Phong ngạc nhiên hỏi :

- 40 vạn dân binh ? Ở đâu ra thế ?

Đinh An Bình nói :

- Trước nay Minh triều thực hiện chính sách quân hộ, chỉ tuyển quân trong quân hộ, nhưng lần này tình hình nguy cấp, Vĩnh Lạc đế đã nghe lời quần thần, tuyển quân từ những người khỏe mạnh trong số lưu dân chạy loạn, vừa tăng thêm quân số, vừa giảm bớt số lưu dân thiếu đói, nhất cử lưỡng tiện. Có điều, 40 vạn dân binh đó thực chất cũng chỉ là nông dân bỏ cuốc cày cầm vũ khí mà thôi, chưa hề được huấn luyện, chiến lực chẳng đáng kể gì. Giống như Hoàng Cân quân thời Hán mạt vậy đó.

Phạm Thế Căng cau mày nói :

- Tổng binh lực của chúng ta chỉ có 42 vạn. Nếu vẫn tiếp tục bao vây Kim Lăng Thành thì chỉ có thể điều động tối đa 33 vạn quân ứng chiến. Nếu cùng quân Minh quyết chiến, dù chúng ta vẫn có thể chiến thắng, nhưng chắc chắn sẽ tổn thất thảm trọng. Quân Minh ở biên giới phía bắc thường xuyên đánh nhau với người Mông Cổ, nên đều thiện chiến.

Mã Tân cười nói :

- Ai bảo trực diện quyết chiến làm chi mà tổn thất thảm trọng.

Mã Tân tướng quân sau mười năm phục vụ trong quân đội Đế quốc, đã nghiên cứu rất sâu sắc chiến lược chiến tranh của Đế quốc. Triệu Phong gật đầu nói :

- Đúng thế. Chúng ta không cần quyết chiến, chỉ cần kéo dài thời gian. Quân Minh có một nhược điểm là không có nhiều lương thực. Quân đội càng đông thì càng nhanh chóng tan rã.

Đinh An Bình cười nói :

- Phải đó. Hồng Vũ đế kiến đô ở Kim Lăng vì nơi đây là vùng sản lương, do vậy mới có chủ trương ‘quảng tích lương, hoãn xưng vương’. Vĩnh Lạc đế dời đô lên Bắc Kinh. Mà phương bắc đất hẹp người đông, lương thực thiếu thốn, hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn lương thực từ Giang Nam chuyển lên. Mấy tháng nay, Hải quân của chúng ta phong tỏa Đại Vận Hà, vùng Hà Bắc đã lâm vào cảnh thiếu lương thực. Cộng thêm hơn nghìn vạn lưu dân đổ lên Giang Bắc, tình hình càng thêm trầm trọng. Giá lương thực đã tăng lên gấp mấy lần so với trước đây mà vẫn không có để bán. A a, 100 vạn quân, để xem bọn họ có thể cầm cự được bao lâu.

Mã Tân nói :

- Vậy thì chúng ta chỉ cần phong tỏa Trường Giang, không cho quân Minh vượt sông là được.

Đinh An Bình mỉm cười nói :

- Không không. Không nên phong tỏa tuyệt đối. Cũng nên tạo cơ hội cho quân Minh có thể vượt sông.

Triệu Phong khẽ cười hỏi :

- Ý Đại nhân là … ?

Đinh An Bình gật đầu, mỉm cười. Triệu Phong vỗ bàn cười nói :

- Hay lắm. Cứ làm như thế đi.

Mã Tân cũng đã hiểu ra, nói theo :

- Đúng thế. Nên tạo cơ hội cho quân Minh vượt sông. Chỉ là … không phải toàn bộ.

Mọi người đều cười. Đinh An Bình lại nói :

- Tháng trước Triều Tiên quốc có phái một đoàn thuyền chở lương thực sang hỗ trợ cho Minh triều. Thánh hoàng đã phái sứ giả đến trách hỏi, nhưng bọn họ không lý gì đến. Thánh hoàng đã phái một đội chiến hạm của Nam Dương Hạm đội tiến vào vùng biển Triều Tiên.

Triệu Phong bình luận :

- Bọn họ còn chưa nhìn rõ thời thế.

Đinh An Bình lại bảo Mã Tân :

- Tướng quân phái một tiểu phân hạm đội tiến vào Hoàng Hà, phong tỏa được phần nào hay phần đó. Làm sao khiến cho Hà Bắc thiếu đói thì càng hay.

Triệu Phong nói :

- Hay là để ta phái một đạo quân đi cướp phá các phủ huyện dọc hai bên bờ Hoàng Hà.

Đinh An Bình suy nghĩ một lúc, rồi nói :

- Hay đó. Chỉ cần phong tỏa triệt để Trường Giang, 33 vạn hay 30 vạn cũng không khác biệt gì nhiều.

Mã Tân hỏi :

- Có nên thông báo cho người Đông Doanh biết để cùng phối hợp không ?

Đinh An Bình gật đầu nói :

- Cũng được. Bảo bọn họ chuyển mục tiêu lên vùng duyên hải Hà Bắc.

Triệu Phong chợt nói :

- Nếu quân Minh huy sư nam hạ, biên giới phía bắc chắc chắn yếu đi. Nên liên hệ với người Mông Cổ tăng cường tiến công. Khi cần thiết, Hải quân có thể chở bọn họ theo đường biển đổ bộ lên Hà Bắc. Chỉ cần bọn họ chiếm được một đoạn Trường Thành, tình hình sẽ có biến chuyển ngay.

Mọi người khen phải. Phương hướng đã định. Việc còn lại là giao cho tham mưu đoàn tính toán.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
02-11-2010, 07:22 AM
Chương 66 : VĨNH LẠC ĐẾ QUYẾT ĐỊNH THÂN CHINH


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414). Cũng tức là Minh triều Vĩnh Lạc năm thứ 12.

Khổng Phu Tử có câu nói : “Hà chính mãnh vu hổ”, nghĩa là chính quyền hà khắc đáng sợ như cọp dữ. Câu nói này rất thích hợp vào giai đoạn đầu này của Minh triều. Từ thời Hồng Vũ đế Chu Nguyên Chương, ‘hà chính’ nào chỉ đáng sợ như cọp dữ. Chu Nguyên Chương là người tàn bạo hiếu sát, liên tục tàn sát công thần, bởi cho công thần là những ‘gai nhọn’ có hại cho sự thống trị của họ Chu, cần phải loại bỏ. Toàn bộ những văn thần võ tướng từng vào sinh ra tử giúp ông ta dựng nên đại nghiệp đều bị sát hại triệt để. Nhiều vụ án lớn như Hồ Duy Dung, 3 vạn người bị sát hại; Lam Ngọc, 2 vạn người bị xử trảm. Sử cũ chép rằng, mỗi sáng trước khi vào triều các quan đều từ biệt vợ con, bởi không biết có còn sống qua ngày hôm đó hay không. Ông ta còn cấm đoán thương nhân, bởi cho rằng thương nhân là hạng người chỉ chuyên bóc lột người khác, dẫn đến thương mại đình đốn, thương nhân không dám làm ăn, các cửa hiệu đều đóng cửa, người dân muốn mua gì cũng không được. Mãi đến lúc xã hội hỗn loạn, ông ta mới rút bỏ lệnh cấm. Ngoài ra, đối phó không nổi hải tặc, ông ta lại ban bố ‘Cấm hải lệnh’, cấm người dân đóng thuyền lớn, cấm ra biển (kể cả đi đánh cá), cấm sinh sống gần biển, những người dân sống gần bờ biển đều bị cưỡng chế di dời vào nội lục. ‘Cấm hải lệnh’ bắt đầu từ Chu Nguyên Chương, tồn tại suốt trong triều đại nhà Minh. Như thế, nào chỉ gọi là ‘hà chính’, thật sự là ‘bạo chính’.

Sự lạc hậu của Trung Hoa so với thế giới cũng bắt đầu từ thời Minh. Trước đó, nền văn minh Trung Hoa luôn dẫn đầu thế giới trong hàng nghìn năm. Các sử gia cho rằng sự lạc hậu này có nhiều nguyên nhân, trong đó có biện pháp thống trị chuyên chế bảo thủ của Chu Nguyên Chương, đặc biệt là thể chế chính trị tập quyền cao độ, quyền lực về kinh tế nằm dưới cực quyền chính trị, mà các chế độ về cửa ải bến sông, chế độ cấm buôn bán trên biển, chế độ hộ làm nghề thủ công, chế độ lưu thông hàng hóa … là nguyên nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Ngoài ra, cách chọn nhân tài bằng lối văn bát cổ (một thể văn dùng trong các kỳ thi thời phong kiến, chỉ chuộng phô trương hình thức, ít chuộng giá trị đích thực của nội dung) và chủ trương văn hóa chuyên chế của Minh triều cũng là nguyên nhân chủ yếu để tạo nên sự đình trệ của xã hội Trung Hoa. Do đó, tuy Chu Nguyên Chương có công lớn đánh đuổi quân Nguyên, nhưng cũng có tội rất lớn đối với đất nước Trung Hoa.

Minh triều chỉ có được mấy năm dùng ‘nhân trị’ dưới thời Kiến Văn đế Chu Doãn Văn. Nhưng những năm này lại là những năm chiến tranh khốc liệt. Cuộc chiến Tĩnh nạn tuy chỉ kéo dài trong 3 năm, mà trước sau đã gây tổn thất gần trăm vạn quân. Lần đầu, triều đình phái lão tướng 65 tuổi Cảnh Bỉnh Văn suất lĩnh 30 vạn Bình Yên đại quân, đại bại ngay đêm Trung Thu. Tiếp đó lại đến phiên Lý Cảnh Long suất lĩnh 50 vạn quân tiếp viện, hợp với tàn quân của Cảnh Bỉnh Văn thành 60 vạn, và bại trận càng thê thảm hơn. Phía Yên quân, số tổn thất không rõ, nhưng cũng có mấy lần thảm bại, đại quân tận thất, chỉ còn Yên Vương Chu Lệ và một số tùy tướng chạy thoát về Bắc Bình. Ba năm chiến tranh, tổn thất gần trăm vạn quân, chưa kể đến bình dân bách tính chết trong chiến loạn hay trở thành lưu dân, chết đói trên đường chạy loạn.

Vĩnh Lạc đế Chu Lệ lên ngôi, tiếp nối sự tàn bạo hiếu sát của cha, sát hại rất nhiều quần thần. Và ông ta còn hơn cả cha mình ở chỗ hưởng thụ, hiếu danh và hiếu chiến. Chu Nguyên Chương còn tương đối tiết kiệm. Chu Lệ xây cung thất, đào Vận Hà, sửa Trường Thành, trưng tập hàng triệu phu dịch (làm không công). Chu Lệ tuyển mỹ nữ khắp thiên hạ (trong và ngoài nước), tận tình hưởng thụ, phung phí tiền tài để chiều ý mỹ nhân. Chu Lệ thường niên phát động chiến tranh, chinh nam phạt bắc, hao binh tốn của vô số. Quốc khố cạn kiệt, triều đình tăng thuế, dân chúng lầm than.

Chu Lệ là một vị hoàng đế cực kỳ hiếu danh, sử Tàu gọi là ‘hảo đại hỉ công’. Chu Lệ cũng là một vị hoàng đế ưa thể diện. Dẹp loạn, chinh chiến và bản thân phô trương lãng phí đã khiến cho quốc khố gần như cạn kiệt. Nhiều năm chiến tranh, các kho lương nhập không đủ xuất, lương thực cạn dần. Lương thiếu tiền thiếu, sự tình tự nhiên trở nên nghiêm trọng. Muốn giải quyết trong thời gian ngắn, chỉ có thể tăng thuế.

Cai trị trong hoàn cảnh đó, Vĩnh Lạc đế Chu Lệ lại không thể nghe được những lời trái tai. Những ai làm hoàng đế phật lòng, đều không có kết cục tốt. Kết quả, bên tai Vĩnh Lạc đế lúc nào cũng chỉ nghe những lời tán tụng anh minh thần vũ, thiên hạ thái bình, Vĩnh Lạc thịnh thế, … Mười mấy năm nhắm mắt bịt tai tự cao tự đại, thình lình đại chiến bộc phát, nam phương tận thất, chỉ trong vòng nửa năm mà một nửa giang sơn Đại Minh đã đổi chủ, Vĩnh Lạc đế không nộ khí xung thiên sao được.

Bắc trực lệ. Bắc Kinh. Dưỡng tâm điện.

Phía trên ngai rồng, Vĩnh Lạc đế Chu Lệ trợn mắt nhìn xuống mấy chục vị quần thần quỳ phục phía dưới.

Rầm.

Một âm thanh chấn động, vang vọng trên điện vốn yên ắng như tờ. Các tấu sớ trên long án bị Vĩnh Lạc đế xua tay, rơi đầy dưới nền điện. Vĩnh Lạc đế cầm lấy chung trà mà cung nữ dâng lên, nhấm nháp một ngụm để giáng hỏa, rồi mới nói :

- Đứng cả dậy đi. Việc đã thế rồi, chư khanh phải nhanh chóng tìm cách giải quyết.

Tuy nhiên không rõ ý tứ của Vĩnh Lạc đế thế nào, như quần thần phía dưới vẫn phải run rẩy đứng lên. Hoàng đế không nổi giận ? Lạ thật đấy ! Mấy chục vị đại thần không ai dám lên tiếng, toàn bộ đều cúi đầu chờ hoàng đế kim khẩu ngọc ngôn.

Hoàng thái tôn Chu Chiêm Cơ xuôi tay đứng hầu phía sau Vĩnh Lạc đế. Chu Chiêm Cơ là con trưởng của Thái tử Giám quốc Chu Cao Thức, rất được Vĩnh Lạc đế yêu quý, đi đâu cũng cho đi theo. Có lần, Vĩnh Lạc đế muốn phế Thái tử, hỏi đại thần về đức hạnh của Thái tử. Vị đại thần đó biết ý của Vĩnh Lạc đế, đã nói một câu : “Hảo hoàng tôn”. Thế là Vĩnh Lạc đế bỏ ý định phế Thái tử, vì muốn vị Hoàng thái tôn yêu quý của mình được kế ngôi.

Vĩnh Lạc đế đột nhiên quay lại hỏi :

- Cơ nhi. Ngươi nói thử xem. Trước tình thế này bản triều phải làm sao ?

Chu Chiêm Cơ giật mình, nhưng nhanh chóng trấn tĩnh, ngẫm nghĩ thật nhanh, rồi bình tĩnh nói :

- Đánh. Tập toàn quốc chi lực, nhất chiến diệt tặc quân, chương hiển Đại Minh thiên oai, an định thiên hạ nhân tâm, trọng chấn quân trung khí thế.

- Ừm.

Vĩnh Lạc đế mặt không đổi sắc, chỉ khẽ ậm ừ một tiếng, rồi quay sang hỏi chúng quần thần :

- Lời của Hoàng thái tôn, chư khanh thấy thế nào ?

Biết không thể chần chờ được nữa, nếu chần chờ có thể dẫn đến long nhan phẫn nộ, Cam Túc quân vụ chưởng sự Dương Vinh xuất ban tâu :

- Khải tấu thánh thượng. Thần nhận thấy lời Hoàng thái tôn rất có lý. Tặc quân phong tỏa Vận Hà, lương thực từ Giang Nam không thể vận chuyển lên phương bắc. Nếu triều đình không sớm khai thông Vận Hà, sớm muộn gì Hà Bắc cũng thiếu lương, tình hình sẽ nghiêm trọng.

Vua quan hay quân dân gì cũng đều không thể không ăn, thiếu lương đương nhiên tình hình sẽ nghiêm trọng, thậm chí sẽ xuất hiện phản loạn. Các cuộc khởi nghĩa nông dân lớn mạnh có khi nào không phải vì đói khổ. Vĩnh Lạc đế lại quay sang nhìn những người khác. Phò mã Quảng Bình hầu Viên Dung xuất ban tâu :

- Khải tấu thánh thượng. Nam Kinh là kinh đô của tiên đế, là bản triều căn cơ, nếu thất thủ, tất quân dân sĩ khí thụ tổn, thỉnh khẩn cấp tăng viện.

Vĩnh Lạc đế cau mày, nói :

- Tặc quân thế mạnh, bản triều còn phải phòng ngự Mông Cổ và Uy Khấu, không đủ binh lực nam hạ, khó a !

Cẩm Y Vệ đô chỉ huy thiêm sự Kỷ Cương xuất ban tâu :

- Khải tấu thánh thượng. Gần đây lưu dân từ Giang Nam chạy lên Giang Bắc ngày càng đông, vô sở xử sự, để lâu tất sinh biến. Triều đình có thể tuyển thanh tráng nhập ngũ, tất sẽ có trăm vạn đại quân.

Vĩnh Lạc đế khen phải, phán :

- Chư khanh hãy chỉnh bị binh mã, lương thực, khí giới, chuẩn bị huy sư nam hạ. Lần này trẫm sẽ thân chinh, suất trăm vạn đại quân bình tặc.

Chúng quần thần tuân chỉ. Bộ máy quân sự của Minh triều lập tức khẩn trương vận chuyển. Lương thực, vũ khí được tập trung về Thông Châu. Ngũ quân đô đốc phủ điều động 60 vạn binh mã tập hợp tổ chức nam chinh đại quân. Cẩm Y Vệ đô chỉ huy thiêm sự Kỷ Cương phụng chiếu đến vùng Giang Bắc trưng tập thanh tráng 40 vạn, sung vào quân đội. Quần thần văn võ cũng chuẩn bị sẵn sàng tùy giá nam chinh.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
11-11-2010, 12:56 PM
Chương 67 : MINH TRIỀU BÁCH VẠN ĐẠI QUÂN


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.517 (Ất Mùi, 1415). Cũng tức là Minh triều Vĩnh Lạc năm thứ 13. Mùa xuân, tháng giêng.

Sau mấy tháng chuẩn bị, Minh triều đã tụ tập được 60 vạn đại quân. Các đạo quân từ Cam Túc, Thiểm Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Liêu Đông, cùng kéo về hội quân ở Tế Nam (thủ phủ của tỉnh Sơn Đông), chuẩn bị Nam chinh. Cẩm Y Vệ đô chỉ huy thiêm sự Kỷ Cương cũng đã chiêu tập nạn dân được 40 vạn, tập trung ở Tế Nam luyện quân, chờ hội họp với đạo Cấm quân từ Thông Châu xuống.

Ngày 15 tháng giêng, Vĩnh Lạc đế tế cáo thiên địa, xa giá rời thành Bắc Kinh, ngự giá thân chinh. Đạo Cấm quân hộ giá đến Thông Châu, hội họp cùng đạo quân từ Sơn Tây vừa vượt Thái Hành Sơn sang, sau đó cùng vượt Hoàng Hà tiến về Tế Nam.

Ngày 8 tháng 2, các đạo quân hội nhau ở Tế Nam. Vĩnh Lạc đế tổ chức duyệt binh, chính thức truyền hịch nam chinh. Trăm vạn đại quân đóng trại bên ngoài thành, doanh trại dài trên trăm dặm (dặm Tàu), khắp nơi đều thấy toàn người là người. Vĩnh Lạc đế thấy trong tay mình có đến trăm vạn đại quân, ý khí phong phát, cuồng ngạo tuyên bố :

- Phen này trẫm thân chinh, quyết tận diệt loài nghịch lỗ.

Sau đó, Cam Túc quân vụ chưởng sự Dương Vinh lĩnh ấn tiên phong, suất lĩnh 30 vạn đại quân đi trước mở đường. Đạo trung quân do Vĩnh Lạc đế thân tự suất lĩnh, rầm rộ kéo về phương nam. Quân đi trải dài hàng trăm dặm. Trăm vạn đại quân khí thế ngút trời, ‘thiên hạ’ (theo khái niệm của Minh triều) chấn động.

Tin truyền về phương nam. Bắc Dương Hạm đội Đại đô đốc Mã Tân triệu tập đại bộ phận hạm thuyền về phòng ngự suốt dọc tuyến hạ lưu Trường Giang. Ngoài ra, Trấn Bắc tướng quân Phạm Thế Căng thân suất lĩnh đạo quân Định Hải được một phân hạm đội của Bắc Dương Hạm đội chở lên phía bắc.

Cuối tháng 2, đạo tiên phong của quân Minh tiến đến phía bắc Hoài Thủy. Tại đây, đường lộ bị phá hủy nghiêm trọng, quân Minh buộc phải tạm dừng lại, lo việc mở đường.

Ở đấy lại có một trại thủy quân bên bờ sông, trước đây có một đội thủy quân của Minh triều trú đóng, sau đó bị các chiến hạm của Bắc Dương Hạm đội tiêu diệt, chiếm giữ. Giờ đây, thấy quân Minh người đông thế mạnh, các chiến hạm của Bắc Dương Hạm đội tạm rời khỏi đấy, rút về phương nam. Chiếm lại được trại thủy quân, có sẵn cơ sở ở đấy, Dương Vinh liền cho đóng đại bản doanh ngay trong trại thủy quân, còn đạo quân tiên phong thì đóng doanh trại quanh đó. Quân Minh ban ngày đi mở đường, ban đêm trở về nghỉ ngơi ở đó.

Bấy giờ, vào đêm cuối tháng, trời đêm u ám không trăng. Một đội hạm thuyền của Bắc Dương Hạm đội lại tiến về phía thủy trại. Thuyền đi trên mặt nước, lấp loáng dưới ánh sao trời, mấy rặng u uất bóng cây xanh, một dải mênh mông màu lụa trắng, bốn bề lặng ngắt, thuyền lướt băng băng.

Khi đến canh tư, gần đến doanh trại quân Minh, cách khoảng 5 dặm mặt sông, đội hạm thuyền gặp phải 10 chiếc thuyền tuần tra của giặc. Thuyền giặc rất nhỏ, mỗi chiếc thuyền chỉ chở được ước chừng 10 người. Đó là những thuyền nhỏ của dân trong vùng vừa bị quân Minh trưng dụng. Hoàng Nghĩa Hiền, viên tướng thống lĩnh đội chiến hạm của Bắc Dương Hạm đội lập tức truyền lệnh vây đánh, tiêu diệt được 8 chiếc, còn lại 2 chiếc đi sau cùng, nhanh tay chèo mà chạy thoát về thủy trại phi báo. Hoàng Nghĩa Hiền thúc đội chiến thuyền đuổi theo đến sát thủy trại.

Gần đến nơi, các chiến hạm dàn hàng, các khẩu thần công đều hướng về phía thủy trại. Một tiếng lệnh truyền, hơn trăm khẩu thần công đồng loạt khai hỏa, nã pháo về phía thủy trại. Liền đó, trong khi xạ thủ tiếp tục nạp đạn pháo thì chiến thuyền đã tiếp tục tiến sát đến mục tiêu hơn. Rồi sau đó các khẩu thần công lại tiếp tục nã đạn vào thủy trại, khiến cả khu vực thủy trại khói lửa mịt trời, tiếng rên la kêu gào dậy đất. Trước khi rút đi, quân đội Đế quốc đã chuẩn bị sẵn rất nhiều vật dễ cháy, để lại trong thủy trại và các khu vực quanh đó, lại còn rắc lên đó hỏa dược. Vì vậy mà khi bị dẫn hỏa, cả khu vực đột nhiên biến thành biển lửa. Quân Minh đang giấc ngủ mê, choàng thức giấc, kinh hồn thất vía, xô xát dẫm đạp nhau, kẻ thì chạy lên bờ, kẻ thì nhảy xuống sông, ai nấy đều chỉ cố tìm đường thoát thân, không ai có lòng dạ kháng cự.

Tiếp đó, các doanh trại của quân Minh đóng quanh đó cũng bị mấy đội đặc chủng binh của quân đội Thần Thánh Đế quốc xâm nhập phóng hỏa. Quân Minh ban ngày làm việc mệt nhọc, lúc này đang còn chìm đắm trong giấc mộng hương, đột nhiên cảm giác bốn bề nóng bức, rồi nghe tiếng báo động vang trời, bật ngồi dậy chạy ra khỏi trướng bồng thì đã thấy hỏa quang tràn ngập, liệt diệm xung thiên. Những kẻ ngủ mê, khi ngọn lửa ập đến, không chạy kịp, mang nhiên hốt hoảng giữa vùng lửa dữ. Những kẻ thật thà chậm chạp thì cố lo cứu hỏa. Những kẻ linh mẫn nhanh nhạy hơn thì đã đoán biết sự tình không hay.

Giữa cảnh hỗn loạn đó, thế lửa mỗi lúc một thêm dữ dội. Nguyên bản doanh trại, trướng bồng của quân Minh đều làm bằng gỗ, vải, lại thêm dưới đất ngập đầy lá cây, cỏ dại, và còn được rắc thêm hỏa dược từ trước, hiện tại lại bị đổ thêm dầu lên nữa. Ngọn lửa đã bốc lên ngùn ngụt, lan ra nhanh chóng, sức người làm sao cứu nổi. Chẳng bao lâu sau, ngọn lửa từ các điểm nhỏ ban đầu đã lan tràn ra khắp doanh trại. Số quân Minh lo cứu hỏa cũng đã bỏ dỡ hành động vô ích đó, bắt đầu tìm đường thoát thân. Thế nhưng, bốn phía đều là ngọn lửa, chạy đi đâu bây giờ.

Đêm hôm đó, ngay bờ sông, lửa cháy rực trời, pháo nổ vang dội. Dương Vinh ở trong thủy trại, nghe báo động, vội ra ngoài chỉ huy quân Minh ứng chiến. Có điều, đến lúc này bọn họ mới phát hiện nơi duy nhất không có lửa chính là cổng của thủy trại. Dương Vinh vốn là văn quan, tuy cũng có ít nhiều mưu lược, nhưng không có kinh nghiệm cầm quân tác chiến, lúc này liên hệ với quân Minh ở các doanh trại xung quanh lại bị cắt đứt, nên cũng không biết phải làm sao, chỉ đành cùng các tùy tướng và thân binh chạy vội ra hướng cổng thủy trại để tìm lối đào sinh.

Nào ngờ lúc này 2 đạo Thần Uy và Thần Vũ lại kéo đến, chia ra truy sát những kẻ may mắn thoát ra được từ các doanh trại của quân Minh quanh đó, đồng thời phân ra một sư án ngữ trước cổng thủy trại, chặn đứng hy vọng thoát thân của bọn Dương Vinh.

Tại khu vực chật hẹp nơi cổng thủy trại, số quân Minh muốn tìm lối thoát thân mạnh ai nấy chạy, bị dồn lại tại đó, khó thể qua được. Không chỉ có thế, trong bóng đêm ở phía xa xa lại còn có cung tên bắn tới không ngừng. Cứ 10 người thì chưa chắc đào thoát được 1, 2. Đó là chưa kể đến việc chạy thoát được ra bên ngoài sẽ còn bị đối phương truy sát.

Doanh trại quân Minh lúc này đây giống như một đống lửa khổng lồ đang bừng bừng cháy, làm cho bóng đêm tăm tối thêm phần sáng lạn. Quân đội của Thần Thánh Đế quốc ẩn náu trong bóng tối, liên tục bắn tên, trong lòng đều có cảm giác : “Sướng làm sao ! Ban đêm bắn tên mà còn có người chiếu sáng cho nữa, khiến chúng ta không đến nỗi vì không nhìn thấy đối phương mà bắn trật. Thật là sướng nha !”.

Quân đội của Thần Thánh Đế quốc thì sướng rồi, chỉ có quân Minh là chịu không nổi, kêu khóc inh ỏi, tiếng gào khóc rên la liên miên bất tuyệt, càng nghe càng cảm thấy thê lương.

Giữa cảnh hỗn loạn đó, đột nhiên trong đám quân Minh có kẻ hô lớn :

- Tránh ra. Tránh ra. Dương đại nhân đến rồi.

- Dương đại nhân đến. Tránh đường. Tránh đường.

Trong đám quân Minh đột nhiên phân ra một khoảng trống, để Dương Vinh cùng các tùy tướng và chúng thân binh xuất trại phá vây. Dương Vinh vốn nghỉ ngơi trong thủy trại, bị cảnh hỗn loạn làm cho tỉnh giấc, sau khi tổ chức thủ hạ cứu hỏa không thành, liền biết đại thế đã mất, lại nghe nói cổng thủy trại đã bị quân địch ngăn chặn, đành suất lĩnh tàn binh chạy ra, quyết tâm liều mạng phá vòng vây. Mấy vạn quân Minh trú đóng bên trong thủy trại đều muốn thông qua cổng thủy trại mà thoát thân, chen chúc nhau ở đó. Bọn Dương Vinh không thể qua được, vô kế khả thi, chỉ đành sai thân binh trảm sát những kẻ cản đường. Bọn thân binh vừa chém giết vừa lớn tiếng hô hoán, do đó mới mở ra được một khoảng trống.

Dương Vinh được bọn thân binh hộ tống đến cổng thủy trại, nhìn thấy số quân Minh chạy trốn ra bên ngoài đều lần lượt gục ngã dưới làn mưa tên dày đặc, bất đắc dĩ phải lớn tiếng quát :

- Đừng chạy loạn lên. Nghe lệnh của ta.

Dương Vinh tuy quát như thế, nhưng trong lòng thì vạn phần lo lắng. Lúc này đại thế đã mất, bốn bề đều là biển lửa, nếu không bỏ chạy thì chỉ có thể bị ngọn lửa thiêu chết mà thôi. Mặc dù Dương Vinh chẳng có chủ ý gì, nhưng tiếp theo tiếng quát vừa rồi, số tàn quân hoảng loạn chạy trốn cũng giảm dần, và dần dần tập hợp lại xung quanh bọn Dương Vinh, chờ chủ tướng tổ chức phá vây.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
11-11-2010, 07:03 PM
Chương 68 : QUÂN MINH THỌ HẠI


Lại nói, khi Dương Vinh chạy ra được đến cổng thủy trại, thu góp tàn quân tập họp quanh mình, lo tổ chức phá vây. Quân Minh không hoảng loạn đào thoát nữa, mà dần dần tụ tập lại xung quanh bọn Dương Vinh. Cũng cùng lúc này, ở phía đối diện, số lượng tên bắn ra cũng giảm dần.

Dương Vinh mặc dù nỗ lực tưởng nhìn xem đối phương thật ra có đến bao nhiêu nhân mã. Thế nhưng lúc này y đang ở chỗ sáng, còn đối phương ở chỗ tối cách đó cả trăm mét, dù cho y có cố gắng thế nào đi nữa thì cũng chỉ có thể nhìn thấy ở phía xa xa mờ mờ ảo ảo có vô số bóng dáng địch quân, nhưng thật ra có bao nhiêu thì y không thể nhìn rõ được.

Dưới sự oai hiếp của cung tên, trong lúc không biết rõ phía đối phương tình hình thế nào, Dương Vinh bắt đầu do dự, không dám mạo muội dẫn đầu binh sĩ xông ra. Đừng nói lúc này quân Minh đa số y phục không tề chỉnh, kể cả các tướng lĩnh nhiều người cũng không có đủ giáp trụ, hơn nữa sĩ binh đều mong muốn trốn chạy, chẳng hề có ý chí chiến đấu, dù có thế nào cũng khó thể chống đỡ nổi làn mưa tên dày đặc của đối phương. Nghĩ đến chỗ này, Dương Vinh không khỏi tức giận, lớn tiếng mắng chửi :

- Con rùa rút đầu ở đằng kia ! Các ngươi là sơn tinh thủy quái ở đâu ? Không dám cùng chúng ta chính diện chiến đấu, lại nhắm lúc chúng ta đang ngủ, mò đến đây phóng hỏa ! Như thế sao có thể gọi là anh hùng hảo hán ? Các ngươi có dám cùng chúng ta chiến đấu trăm hiệp ? Nếu như chúng ta thắng, các ngươi hãy mau nhường đường. Nếu như chúng ta bại, thì có chết cũng tâm phục khẩu phục. Xuống đến âm phủ, chúng ta cũng sẽ gọi các ngươi một tiếng hảo hán ! Còn nếu không, dù hôm nay chúng ta có chết ở đây, chắc chắn sẽ biến thành quỷ hồn, thống lĩnh chúng huynh đệ tìm các ngươi báo thù ! Bọn tiểu quỷ ở đối diện kia ! Các ngươi có dám cùng chúng ta quyết một trận tử chiến ? Các ngươi có ai dám không ?

Bọn quân Minh quanh đó cũng đồng thanh hô lớn :

- Các ngươi có ai dám không ?

Phía đối diện chợt có những tiếng cười rộ, rồi có người lớn tiếng đáp lại :

- Các ngươi hồ đồ mất rồi. Chúng ta là người của Thần Thánh Đế quốc, đương nhiên không phải người hán, làm sao có thể trở thành hảo hán được. Hắc hắc. Lão hồ đồ kia ! Mau chịu chết đi thôi.

Tiếp đó, có tiếng đại pháo gầm lên, rồi một loạt thần công rải xuống đầu quân Minh, khiến xương tan thịt nát tung tóe khắp nơi. Quân Minh hoảng loạn không dám tụ tập lại một chỗ nữa mà tứ tản bôn đào. Có điều khi bọn họ chạy ra ngoài thì lại có một làn mưa tên dày đặc ập đến, kết liễu vô số người. Quân Minh trong lúc hỗn loạn, chết hại rất nhiều.

Cuộc chém giết mãi đến khi mặt trời lên cao rồi mới kết thúc. Trận này, quân Minh tử thương vô số, mười phần không chạy thoát được một. Cả 30 vạn tiên phong quân, số chạy thoát được chỉ hơn vạn người. Thi thể nằm la liệt khắp nơi. Có thi thể bị ngọn lửa đốt cháy thành than, nhưng cũng có thi thể bị cung tên bắn chết. Quân đội Thần Thánh Đế quốc xử lý chiến trường bằng cách mang những thi thể nào chưa bị đốt cháy quẳng xuống ao hồ, giếng nước gần đó, hoặc ném vào rừng rậm, đồi núi cho phơi thây ngoài sương gió. Không chỉ có thế, khi đại quân đã rút lui rồi, một số người ở lại còn lấy ra mấy ống trúc có chứa các mẫu dịch bệnh (tác phẩm của Thạch Lang Pháp sư ở Thái Học Viện), mang rải xuống các chỗ ném thi thể khi nãy, để thúc đẩy dịch bệnh phát sinh. Bọn họ hy vọng mấy chục vạn thi thể ở đây sẽ tạo ra một trận dịch bệnh khủng khiếp.

Tin truyền về phương bắc. Nghe báo 30 vạn quân tiên phong mất cả, Vĩnh Lạc đế long nhan đại nộ, vỗ án mắng rằng :

- Họ Dương kia. Trẫm tưởng ngươi có tài cán, phong cho quan chức, sai thống lĩnh 30 vạn tiên phong quân. Nào ngờ ngươi bất tài như thế, 30 vạn đại quân chỉ một đêm là mất sạch. Thật nhục quốc thể mà !

Thế rồi Vĩnh Lạc đế sai truyền chỉ kết tội Dương Vinh, phạt toàn gia nam thì sung quân ở bắc biên, vĩnh viễn không được về phương nam, nữ thì sung làm nô tỳ, hầu hạ ở các nơi công quán. Tiếp đó, Vĩnh Lạc đế lại thúc đại quân tiến nhanh hơn, lại sai Cẩm Y Vệ đô chỉ huy thiêm sự Kỷ Cương đi chiêu mộ thêm 30 vạn quân nữa để bổ sung vào số vừa tử trận.

Quân Minh lại rầm rộ kéo đến vùng Hoài Bắc, đến chỗ chiến trường mấy hôm trước thì buộc phải dừng lại, vì đường chưa mở xong. Vĩnh Lạc đế cho tập hợp các văn võ đại thần đến bàn bạc. Phò mã Quảng Bình hầu Viên Dung tâu :

- Thánh thượng. Chúng ta nên sai quân dọn dẹp các chỗ doanh trại cũ, dựng lên tân doanh trại mà trú đóng ở đó. Tặc quân vừa mới phóng hỏa xong. Những gì có thể cháy được thì đều đã cháy hết rồi. Chúng ta đóng quân ở đó, sẽ không sợ hỏa công nữa. Còn nếu như tặc quân có gian kế gì khác, chỉ cần chúng ta canh phòng nghiêm ngặt thì dù tặc quân có gian kế cũng không có cơ hội thực hiện.

Vĩnh Lạc đế khen phải, sai y kế thi hành. Cả 70 vạn đại quân đồng loạt khai công, tiến độ rất nhanh, chẳng bao lâu là một tòa doanh trại lớn hơn trước gấp mấy lần đã được dựng lên. Sau đó, Vĩnh Lạc đế cắt ra 20 vạn quân luân lưu tuần phòng, đề phòng địch quân tập kích. Còn lại 50 vạn thì lo việc mở đường.

Hơn nửa tháng trôi qua, đường đi đã mở được mấy chục dặm. Kỷ Cương cũng đã chiêu mộ được 30 vạn tân binh, đưa đến đấy. Vĩnh Lạc đế lại cắt ra 30 vạn quân (với một nửa là tân binh) làm đạo tiên phong, sai Viên Dung làm thống soái, đi trước mở đường. Đại quân tạm nghỉ ngơi lại đấy, chờ sĩ khí khôi phục rồi mới tiến quân. Sau trận thảm bại của tiên phong quân vừa rồi, sĩ khí của quân Minh đã suy giảm rất nghiêm trọng. Hơn nữa, tiến quân vài chục dặm rồi lại phải lập lên doanh trại mới thì rất tốn công tốn sức. Thà rằng chờ đến khi đường lộ mở thông rồi thì tiến quân luôn thể. Trong thời gian đó, Vĩnh Lạc đế giao việc giám sát quan quân cho Kỷ Cương cùng chúng Cẩm Y Vệ, rồi cùng các ái phi và cung nhân ‘điên loan đảo phụng’ bên trong long trướng.

Lúc này đây, quân Minh lại khôi phục trăm vạn đại quân như lúc đầu, nhưng khí thế không còn như trước nữa. Vả lại, trăm vạn đại quân này chất lượng không đảm bảo, bởi vì trong đó có đến 70 vạn tân binh (với 40 vạn chỉ mới huấn luyện được 1 tháng, và 30 vạn hoàn toàn chưa được huấn luyện, chỉ có thể xem là phu dịch). Sau trận hỏa công khi trước, 30 vạn quân tinh nhuệ của đạo tiên phong đã hiến thân trong biển lửa.

Mấy ngày sau, Viên Dung sai người về báo đường đã sắp thông, tối đa 10 ngày nữa là xong. Vĩnh Lạc đế liền triệu văn võ đại thần nhóm họp nghị sự, bàn việc tiến quân. Thế nhưng, chờ cả nửa canh giờ mà chỉ thấy quần thần đến được có mấy người. Vĩnh Lạc đế long nhan đại nộ, vỗ án quát mắng :

- Trẫm tuyên triệu mà dám không đến, thật là không xem trẫm ra gì mà. Người đâu ! Lập tức tuyên triệu lần nữa, nếu như lại không đến, xử trảm !

Thánh chỉ ban ra, nhưng còn chưa kịp truyền đi thì lần lượt có người đến bẩm báo :

- Khải tấu thánh thượng. Vương tướng quân thọ trọng bệnh, hiện tại không thể ngồi dậy nổi.

- Khải tấu thánh thượng. Chu thị lang thọ trọng bệnh, hôn mê bất tỉnh.

- Khải tấu thánh thượng. Khâu tướng quân thọ trọng bệnh.

- Khải tấu thánh thương. Hoàng thượng thư trúng phải thương hàn, tay chân vô lực, thọ bệnh trên giường.



Hàng loạt tin báo khiến Vĩnh Lạc đế kinh nghi bất định. Hóa ra văn võ đại thần đa số đều thọ trọng bệnh. Có người bảo là thương hàn, có người cho là trúng phải tà khí. Hầu như những người thọ bệnh đều mắt mờ chóng mặt, tay chân vô lực, thân thể thì lúc nóng lúc lạnh, nhiều chỗ đau đớn nhức nhối. Nhưng làm sao mà cả bọn lại thọ bệnh cùng lúc như thế chứ. Xem ra có phần cổ quái. Vĩnh Lạc đế lập tức truyền chỉ cho Kỷ Cương thống suất Cẩm Y Vệ đi tra xét.

Chỉ hơn canh giờ sau, Kỷ Cương vào bẩm báo :

- Khải tấu thánh thượng. Không chỉ các vị đại nhân thọ trọng bệnh. Kể cả binh sĩ cũng đều thọ bệnh khoảng 8 phần. Hiện chỉ còn lại khoảng 15 vạn binh sĩ là còn khỏe mạnh.

Vĩnh Lạc đế và chúng quần thần (những người còn sót lại) đều thất kinh, biết ngay đại sự không hay. Mọi người bàn luận phân vân, đều biết là đã trúng phải âm mưu quỷ kế của tặc quân, nhưng không ai biết được nguyên nhân, nên cũng không thể đề ra được cách đối phó. Cuối cùng, Vĩnh Lạc đế chỉ còn cách truyền chỉ cho Kỷ Cương khẩn trương điều tra nguyên nhân khiến mấy chục vạn đại quân đồng loạt thọ bệnh.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
11-11-2010, 10:23 PM
Chương 69 : ÔN DỊCH


Lại nói, khi biết tin đại bộ phận quan quân đều thọ trọng bệnh, Vĩnh Lạc đế và quần thần đều biết là đã trúng phải âm mưu quỷ kế của đối phương. Nhưng vì không tìm được nguyên nhân nên không ai có thể đề ra được cách đối phó. Cuối cùng, Vĩnh Lạc đế chỉ còn cách truyền chỉ cho Kỷ Cương khẩn trương điều tra nguyên nhân khiến cho mấy chục vạn đại quân đồng loạt thọ bệnh.

Chưa điều tra thì không sao ! Đến khi điều tra thì mới thấy kinh sợ. Xung quanh khu vực doanh trại, trong các khu rừng, bụi rậm có vô số thi thể thối rữa. Dưới các ao hồ, giếng nước quanh đó cũng vậy. Tin tức vừa hồi báo, các thái y đã nhất trí khẳng định : ôn dịch. Thời cổ đại, các mùa xuân hạ trong dân gian thường xuất hiện ôn dịch. Quan điểm của người Trung Hoa xem ôn dịch là độc khí, mà theo họ, chỉ cần ‘chính khí tồn nội’ thì có thể ‘tị kì độc khí’. Do đó dân gian mỗi khi phát sinh đại quy mô ôn dịch, mọi người thường không nghĩ đến tìm đại phu chữa bệnh, mà là tìm đạo sĩ làm phép trừ tà. Thật ra thì có tìm đại phu cũng chẳng mấy hữu ích. Cách chữa bệnh của người Tàu là ‘vọng, văn, vấn, thuyết’, gọi là ‘tứ chẩn’. Sau khi bắt mạch xem bệnh xong rồi thì mới bốc thuốc, sắc thuốc cho bệnh nhân uống. Quy trình chữa bệnh tốn rất nhiều thời gian. Mà thuốc cũng không hề rẻ. Do đó người nghèo thường không có tiền chữa bệnh. Đặc biệt đối với ôn dịch, thường thì chỉ một người mắc bệnh, chẳng bao lâu sau cả làng chết sạch. Những chuyện như thế là rất phổ biến.

Vào giai đoạn này, hễ nơi nào phát sinh ôn dịch là nơi đó trở nên hoang tàn. Y học chưa đủ phát triển để chống lại ôn dịch. Đối với người hiện đại, có lẽ ít có ấn tượng về ôn dịch. Nhưng trong khoảng thế kỷ 14 đến thế kỷ 17, ôn dịch đồng nghĩa với thần chết, hậu quả rất khủng khiếp. Khoảng giữa thế kỷ 14, một trận đại dịch đã tràn qua châu Âu, châu Á, Bắc Phi, gây nên hậu quả rất kinh hoàng, con người gọi là ‘Cái chết đen’ (Black Death). Con số người thiệt mạng do đại dịch ‘Cái chết đen’ thay đổi liên tục theo kết quả các cuộc nghiên cứu. Theo chuyên gia về lịch sử Trung Cổ Philip Daileader thì kết quả các cuộc nghiên cứu cho thấy có chừng 45% tới 50% dân số châu Âu chết trong vòng chỉ bốn năm (từ 1346 đến 1350), các quốc gia ở khu vực Địa Trung Hải như miền Nam nước Pháp, Tây Ban Nha, tỷ lệ dân số tử vong có lẽ lên tới 75% đến 80%; trong khi ở các nước phía Bắc như Đức hay Anh, con số này dừng lại ở khoảng 20%. Tại khu vực Trung Đông gồm Iraq, Iran và Syria, số người chết trong giai đoạn trung kỳ Hồi giáo là vào khoảng một phần ba dân số. Ước khoảng 40% dân số Ai Cập đã chết trong lần đại dịch này. Người ta cho rằng cứ sau vài thế hệ dân số thì ôn dịch lại quay trở lại với mức độ hủy diệt khác nhau cho tới tận thế kỷ 17. Tổng cộng trong giai đoạn này đã có trên 100 đại dịch quét qua châu Âu. Ở Trung Hoa cũng không tránh khỏi. Ước tính nạn ôn dịch trong thế kỷ 14 đã cướp đi mạng sống của ít nhất một phần ba dân số Trung Hoa.

Tóm lại, thời bấy giờ, ôn dịch rất khủng khiếp. Người dân xem ôn dịch là thiên tai, nhân lực không thể kháng cự, chỉ có thể chịu đựng chờ chết, hoặc cầu trời đất thánh thần phù trợ tai qua nạn khỏi.

Mặc dù Vĩnh Lạc đế và quần thần đã cố gắng hết sức, thế nhưng số quân Minh ngã bệnh càng lúc càng đông, và số người chết càng lúc càng nhiều. Chúng thái y, đại phu dù rất cố gắng, nhưng nhân số có hạn, chỉ có thể cứu chữa cho các trọng thần, còn mấy chục vạn quan quân thì đành chịu. Đến khi số người chưa mắc bệnh chỉ còn lại hơn 10 vạn, Vĩnh Lạc đế đành suất lĩnh tàn quân tạm rút về Tế Nam tị nạn. Dù không cam lòng, nhưng Vĩnh Lạc đế cũng không dám ở lâu tại ổ ôn dịch kia.

Lúc xuất chinh hùng hùng hổ hổ, trăm vạn đại quân trải dài mấy trăm dặm, sĩ khí ngút trời; vậy mà chỉ mới chưa đầy 2 tháng, Vĩnh Lạc đế đã phải dẫn tàn quân hơn 10 vạn chạy về Tế Nam. Thật không cam lòng nha. Vĩnh Lạc đế long nhan đại nộ, chỉ tay về phương nam, lớn tiếng quát mắng :

- Nghịch lỗ vô sỉ ! Trẫm cùng các ngươi không đội chung trời !

Cùng lúc đó, tin tức không cánh mà bay, chẳng bao lâu đã lan truyền khắp chốn Trung Nguyên, sau đó cả vùng thảo nguyên, Đại Mạc, Tây Vực, Cao Ly, Đông Doanh, cho đến nam phương các xứ thảy đều thông hiểu. Minh triều cho đến lúc này đã hao tổn gần 90 vạn đại quân, và còn 30 vạn tân tiên phong quân ở mạn Dương Châu, mọi người cũng đều cho rằng ít có hy vọng bình yên đào thoát. Hoài Bắc chiến dịch, thiên hạ chấn động. Đại Minh quốc thống lung lay.

Nói về đạo tân tiên phong quân gồm 30 vạn người, do Phò mã Quảng Bình hầu Viên Dung thống lĩnh, đã mở đường đến tận khu vực Dương Châu. Khi tin tức về thảm họa ở Hoài Bắc truyền đến, lòng quân chấn động. Chúng tướng và binh sĩ đều có lòng rút về. Viên Dung cũng không phải là danh tướng, thấy tình thế như vậy, vô kế khả thi, cũng đành thuận theo ý kiến chúng tướng mà rút về phương bắc. Có điều cả bọn không dám về bằng đường cũ, bởi không ai dám đi qua vùng ôn dịch, nơi đã giết chết 60 vạn đại quân, nên đi vòng về phía đông, men theo vùng Quảng Lăng, đi song song theo bờ biển mà về hướng Từ Châu.

Hôm đó, đại quân đi qua một vùng rừng rậm. Hai bên đường đều mọc đầy cây cối rậm rạp. Quân Minh mải đi, trong lòng lo rầu, sợ địch quân đuổi theo, nên chỉ cắm cúi bước nhanh, không ai để ý dưới chân đất đá rất khác thường : đều có màu đen bóng.

Quân Minh mải hành quân, đột nhiên nghe thấy từ phía sau có tiếng quân reo dậy đất, biết là địch quân đã sắp đuổi đến nơi, đều hoảng loạn tháo chạy về phía trước. Quân Minh trở nên hỗn loạn, không còn đội ngũ gì nữa. Viên Dung và chúng tướng cố gắng lập lại trật tự, nhưng đều vô ích. Quân sĩ mạnh ai nấy chạy, hiệu lệnh truyền xuống chẳng ai nghe theo. Thậm chí có rất nhiều tướng lĩnh cấp thấp cũng đã chạy theo quân sĩ. Đối với mọi người lúc này, tính mạng quan trọng hơn cả. Trước tiên phải lo đào mạng, mọi chuyện tính sau.

Đột nhiên, bốn phía có những tiếng nổ vang. Tiếp đó, từ cả bốn phía hỏa quang xung thiên, liệt diễm hung hãn. Chỉ trong chốc lát, bốn phương tám hướng đều là lửa đỏ. Càng khủng khiếp hơn khi quân Minh phát hiện đất đá dưới chân cũng bốc lửa, bùng cháy dữ dội. Bọn họ không biết rằng khi phát hiện bọn họ rút lui theo đường này, Bắc Dương Hạm đội Đại đô đốc Mã Tân đã cho hạm thuyền vận chuyển rất nhiều than đá đến đây, rải đầy mặt đất. Mà than đá khi đã bốc cháy, hỏa thế rất dữ dội, nhiệt độ cũng rất cao. ‘Đất đá’ cháy, cây cỏ cháy. Cả khu vực nhanh chóng biến thành biển lửa. Ngọn lửa ở đây cháy đến 2 ngày 2 đêm mới tắt.

Trận này, 30 vạn tân tiên phong quân toàn diệt. Trước sau, chỉ trong hơn 2 tháng, đã có 120 vạn quân Minh tử trận, văn thần võ tướng tử vong vô số. Minh triều quốc lực đại tổn, quốc thế đại giảm, quốc thống ngửa nghiêng.

Giải quyết xong quân Minh từ phương bắc kéo xuống, chiến quả huy hoàng, các tướng lĩnh của đạo quân bắc phạt lại nhóm họp ở Sùng Minh đảo, Trường Hưng Thành để cùng bàn bạc chiến sự. Phạm Thế Căng đã suất quân tiến về phương bắc, giờ chỉ còn lại Triệu Phong, Lý Ngân, Mã Tân và Đinh An Bình. Sau khi tổng kết tình hình chiến sự, Đinh An Bình nói :

- Sau khi thiệt hại 120 vạn quân binh, Minh triều đã không còn năng lực phát động chiến tranh nữa rồi.

Triệu Phong nói :

- Đừng nói là phát động chiến tranh, bọn họ còn có thể tự bảo được nữa không cũng là vấn đề.

Lý Ngân nói :

- Có lẽ cũng đã đến lúc giải quyết Kim Lăng Thành rồi.

Đinh An Bình gật đầu nói :

- Đúng thế. Sau khi giải quyết xong Kim Lăng Thành, chúng ta có thể lấy Trường Giang làm biên giới, lấy vùng Giang Bắc – Hoài Nam làm vùng đệm, tiến hành ‘tam quang chính sách’.

Chiến lược đã định, các đạo quân bắc phạt của Thần Thánh Đế quốc bắt đầu tập trung về xung quanh Kim Lăng Thành. Bọn Đinh An Bình huy động đến 10 đạo quân, 30 vạn quân để tấn công Kim Lăng Thành lúc này còn lại chưa đến 10 vạn quân. Tỷ lệ công : thủ là 3 : 1, thật ra nếu bình thường thì cũng chưa đủ đảm bảo để có thể công chiếm thành công. Nhưng lúc này là lúc phi thường. Thành Kim Lăng đã bị bao vây gần được một năm, trong thành lương thực thiếu thốn, lại thêm ngày ngày đều bị thần công đại pháo nã đạn vào, khiến cho quân dân trong thành cả sức lực và tinh thần đều suy sụp nghiêm trọng. Lại thêm tin tức 120 vạn đại quân bị tiêu diệt, Vĩnh Lạc đế dẫn 10 vạn tàn quân tháo chạy về Tế Nam, khiến cho quân Minh trong thành sĩ khí mất hết, và dân chúng thì bắt đầu có ý nghĩ cải triều hoán đại. Tóm lại, tất cả quân dân đều nhìn thấy tương lai của Minh triều đang dần trở nên mờ mịt.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
12-11-2010, 03:24 PM
Chương 70 : KIM LĂNG THẤT THỦ


Kim Lăng Thành.

Thần Thánh Đế quốc tập trung 30 vạn quân chuẩn bị công chiếm Kim Lăng Thành. Sau khi bị bao vây gần 1 năm, quân dân trong thành cả tinh lực và sức lực đều suy sụp nghiêm trọng. Một bầu không khí bi quan bao trùm từ Hoàng cung cho đến các phố phường.

Ngày 25 tháng 3, Triệu Phong đích thân chỉ huy việc công thành, 30 vạn đại quân chia thành 3 đạo, dàn ra trước các cửa đông, nam và tây, chỉ để lại cửa bắc. Đó là chiến thuật ‘vây tam khuyết nhất’ rất quen thuộc. Ở mỗi cửa thành có 10 vạn quân, 2.000 khẩu thần công (mỗi sư 1 vạn người thì có 200 khẩu thần công cỡ nhỏ, có bánh xe để kéo đi) đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ còn chờ lệnh công thành.

Đầu giờ Mão, Triệu Phong truyền lệnh công thành. Cả 6.000 khẩu thần công đồng loạt khai hỏa. Ánh lửa đạn rực hồng cả nửa bầu trời. Tiếng pháo nổ vang trời uy hiếp tinh thần của quân dân trong thành. Một phần ba số thần công sử dụng đạn sắt đặc nhắm bắn vào cổng thành, trong khi đó hai phần ba còn lại sử dụng khai hoa đạn rải lên đầu quân dân bên trong. Khu vực từ tường thành kéo dài vào bên trong hơn trăm bước bị biến thành khu vực tử vong. Không có một sinh vật nào có thể sống sót ở đấy.

Chỉ sau 6 loạt đạn, cổng thành đã bị phá. Các khẩu thần công được đẩy lên phía trước, rải đạn mở đường tiến quân. Các đạo quân cũng lần lượt tiến vào trong thành. Quan quân vừa tiến vào thành vừa hô lớn :

- Đầu hàng khỏi chết, kháng cự diệt môn.

Đương nhiên là hô bằng tiếng Hán. Trong thời gian vây thành, bọn Triệu Phong cho quân sĩ học thuộc câu này, và nay đã có cơ hội mang ra sử dụng. Quan quân tiến vào thành tương đối thuận lợi. Phần lớn quân Minh không có lòng nào kháng cự mà đua nhau chạy ra cửa bắc tìm đường đào tẩu. Rất nhiều phú hộ trong thành cũng dắt nhau tháo chạy. Bọn họ đã sớm biết rằng quân đội Thần Thánh Đế quốc chỉ tha cho dân nghèo. Còn phú hộ với quan lại đều bị tịch thu toàn bộ tài sản. Có lý do hẳn hoi ! Quan lại làm việc cho Minh triều, là kẻ địch, cần nghiêm trị; phú hộ đều ít nhiều có quan hệ với quan lại, tức là cũng có quan hệ ‘thân mật’ với Minh triều, cũng là kẻ địch và cũng cần trừng phạt. Bọn họ không muốn sống cuộc sống nghèo khổ nên mới liều mạng gom góp tài sản bỏ trốn. Trong khi đó thì bình dân bách tính ai nấy ở yên trong nhà, chờ cơn binh lửa đi qua.

Cuối cùng, có khoảng 3 vạn quân Minh hạ vũ khí đầu hàng, hơn 6 vạn quân Minh, trong đó có 1 vạn Cấm quân bảo hộ Thái tử Giám quốc cùng các quan viên chạy ra cửa bắc tìm đường tẩu thoát. Ngoài ra còn có hơn 10 vạn phú hào và gia quyến dắt dìu nhau tháo chạy. Mười mấy vạn người cùng ùa ra khỏi thành, quang cảnh hỗn loạn vô cùng.

Triệu Phong để lại 6 vạn quân bình định Kim Lăng Thành, truy quét tàn dư Minh triều trong thành; phái 12 vạn quân truy sát quân Minh đào tẩu, do Lý Ngân thống lĩnh; và cử ra 12 vạn quân truy sát phú hào bỏ trốn, do Đinh An Bình thân tự chỉ huy. Quân chia ba lộ cùng hành động.

Nói về đạo quân trong thành, sau mấy canh giờ lùng sục, giải quyết toàn bộ các nơi đề kháng, chiếm lĩnh các nha môn, Hoàng cung, và phủ đệ của quan viên Minh triều, Triệu Phong cho niêm phong tất cả. Theo quan niệm của bọn Triệu Phong, phong thủy của thành Kim Lăng không tốt, do vậy bọn họ không có ý định đóng đại bản doanh trong thành. Đối với Triệu Phong, đóng đại bản doanh ở Trường Hưng Thành, Sùng Minh đảo tốt hơn nhiều. Nơi đó xây dựng theo kiểu Gia Định Thành, tiện nghi đầy đủ, vật chất phong phú, hưởng thụ cuộc sống tốt hơn, và đặc biệt là cũng an toàn hơn.

Đạo quân của Đinh An Bình đuổi theo đám phú hộ bỏ trốn, nhanh chóng đuổi kịp. Bọn phú hộ mang vác nặng nề, sức lực lại không thể nào bằng được quân đội, do đó chẳng bao lâu là bị bao vây. Bọn phú hộ mặc dù chia thành nhiều nhóm, chạy về nhiều hướng khác nhau. Nhưng quan quân đông hơn, cũng chia thành nhiều đội, tỏa ra bao vây tất cả. Chỉ mất hơn một ngày là toàn bộ đều bị bắt trở lại. Đinh An Bình cho tịch thu tất cả tài sản bọn họ mang theo, và áp giải bọn họ ra giam giữ Trường Hưng Thành, chờ đưa về phương nam. Trong văn án, Đinh An Bình xem bọn họ giống như quan lại Minh triều bị bắt, tức là tù phạm. Đã có thánh chỉ từ Gia Định Thành đưa đến, tất cả tù phạm loại này sẽ được chuyển giao cho Thương vụ bộ, đưa sang Âu châu bán làm nô lệ. Âu châu hơn 50 năm trước vừa trải qua trận đại dịch ‘Cái chết Đen’, dân số giảm gần một nửa, rất cần nhân lực bổ sung, đặc biệt là nô lệ làm các công việc nặng nhọc (các tài liệu ghi lại cho biết Âu châu mất đến 150 năm mới khôi phục lại quy mô dân số bằng với trước đại dịch).

Sau khi tấn công Minh triều, ban đầu Giang Phong chỉ cho bắt tù binh làm khổ công, nhưng rồi số khổ công có nguồn gốc Hán tộc này gây ra nhiều chuyện thị phi tại nơi trú đóng, đặc biệt là tầng lớp quan lại của Minh triều vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của nho học, xem Hán tộc là Thiên triều thượng quốc, các nước khác đều là phiên bang, hoặc man di mọi rợ. Giang Phong rất không hài lòng, hậu quả đương nhiên nghiêm trọng. Một đạo thánh chỉ đã quyết định số phận của số ‘điêu dân’ đó, tất cả đều bị biến thành nô lệ, bán sang Âu châu. Và từ lúc đó về sau, tất cả quan lại của Minh triều cùng với tầng lớp nho gia, sĩ tử đều bị biến thành nô lệ hết. Những kẻ này chính là những kẻ được hưởng đặc quyền đặc lợi trong xã hội Minh triều (quan lại thì khỏi phải nói, còn nho sĩ chỉ cần đỗ Tú Tài là được miễn toàn bộ lao dịch thuế khóa, đỗ đạt cao thì dù không làm quan cũng được hưởng bổng lộc, tạo nên gánh nặng cho xã hội).

Còn đạo quân của Lý Ngân truy sát tàn dư quân Minh, chỉ đuổi sát theo phía sau và tiêu diệt những kẻ chậm chân chứ không tràn lên giao chiến. Dụng 12 vạn tấn công 6 vạn địch quân, tuy cũng có thể thắng được, nhưng tất nhiên cũng phải chịu thiệt hại không nhỏ. Bọn họ chỉ đuổi theo, ngăn chặn các đường phía nam, bức quân Minh chạy men theo Trường Giang về phía tây (quân Minh không chạy về phía đông, bởi bọn họ không thể chạy ra biển).

Đinh An Bình sau khi giải quyết xong đám phú hộ đào tẩu thì cũng suất quân đuổi theo hỗ trợ đạo quân của Lý Ngân. Đinh An Bình là Hải quân bộ bộ trưởng, nên khi đuổi theo chọn ngay đường thủy, sử dụng các hạm thuyền của Bắc Dương Hạm đội vận chuyển quân đội đi về phía thượng lưu, đổ bộ xuống chặn đường tàn dư quân Minh. Khi quân Minh chạy đến được Vu Hồ thì bị chặn đứng. Đầu tiên là một trận pháo kích dội xuống đầu quân Minh, 1.200 khẩu thần công bắn ra Khai hoa đạn, biến thành hàng chục vạn mảnh sắt nhọn như tên, bén như dao, giống như nhà nông cắt lúa mà cắt lấy sinh mạng quân Minh, khiến quân Minh ngã xuống từng phiến từng phiến lớn. Sau đó, 24 vạn đại quân hợp vây, tiêu diệt tàn dư còn lại. Trận này, quân Minh thương tàn hơn 4 vạn, tử trận hơn 1 vạn, chỉ còn lại chưa đến 5 nghìn bị bắt. Thái tử Giám quốc Chu Cao Thức tự sát, rất nhiều đại thần cũng tự sát theo.

Đinh An Bình có thân phận địa vị cao nhất ở đây, nên sinh sát đại quyền, chiến hậu xử lý, an bài tù binh, Lý Ngân nhường hết cho y định đoạt. Đinh An Bình chỉ giữ lại số tù binh chưa bị thương tật, còn hơn 4 vạn thương tàn binh bị đuổi về phương bắc, để tạo thêm gánh nặng cho Minh triều. Bọn họ đã bị thương tật tàn phế, chắc chắn không thể tham quân ra trận được nữa. Ngoài ra, hơn vạn thi thể trận vong cũng bị đưa xuống hạm thuyền vận chuyển về vùng Hà Bắc, rồi ném xuống các ao hồ sông suối dọc theo Hoàng Hà. Hoài Thủy chiến dịch đã tạo cho bọn Đinh An Bình rất nhiều ý tưởng.

Ba ngày sau khi Kim Lăng Thành bị công chiếm, 30 vạn đại quân của Thần Thánh Đế quốc tề tụ về đây. Toàn bộ dân chúng trong thành đều bị tập hợp lại, rồi phân chia thành 2 nhóm : lương dân và nghịch dân. Hơn 100 vạn cư dân của Kim Lăng thì có hơn 60 vạn nguyện ý quy thuận tân triều (bởi bọn họ đã nhìn thấy tương lai mờ mịt của Đại Minh), còn lại gần 40 vạn vẫn hướng về phương bắc. Nhưng lần này Minh triều đã thảm bại, quốc lực suy kiệt, bọn Đinh An Bình không có ý định cung cấp miễn phí cho Minh triều mấy chục vạn ‘tân binh’ nữa. Do đó, Đinh An Bình vỗ án quyết định, và Thương vụ bộ có thêm gần 40 vạn tân nô lệ.

Kim Lăng Thành dù sao cũng là kinh đô của Minh triều trong suốt 50 năm nay, kim ngân tài bảo tụ tập ở đây vô số. Mặc dù kho tàng trong Hoàng cung sau mấy phen chiến loạn đã không còn nhiều nữa, nhưng Kim Lăng có rất nhiều phú hộ, tài sản tịch thu được nhiều vô số. Bọn Đinh An Binh chỉ mất 1 ngày để chiếm lĩnh Kim Lăng, nhưng phải mất cả tháng để xử lý chiến quả.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
12-11-2010, 09:34 PM
Chương 71 : MINH QUỐC TIÊU ĐIỀU


Năm Vĩnh Lạc thứ 13 quả là một năm đại hạn đối với Minh triều. Năm ngoái tuy Giang Nam toàn thất, nhưng Minh triều vẫn còn giữ được vùng Giang Bắc, kể từ Trường Giang cho đến Trường Thành, và quân đội cũng còn được 80 vạn tinh nhuệ. Thế nhưng sang năm nay, chỉ mới 3 tháng đầu năm, từ ban đầu có 80 vạn tinh nhuệ, 70 vạn tân binh, tổng cộng 150 vạn; mà giờ đây chỉ còn lại 30 vạn tàn binh (20 vạn ở Bắc Kinh, Hà Bắc và 10 vạn ở Tế Nam). Đại Minh quốc lực suy kiệt, quốc thế chông chênh, quốc thống có cơ đứt đoạn.

Tế Nam Thành.

Sau khi thất trận ở Hoài Thủy, dẫn tàn binh chạy về Tế Nam, Vĩnh Lạc đế ở tại hành cung, ngày ngày nổi giận, hết đập phá rồi lại sát nhân. Vô số bảo vật trong hành cung đã bị hủy hoại bởi cơn giận của Vĩnh Lạc đế. Không ít cung nhân và đại thần cũng bị liên lụy, gia phá thân vong. Giờ đây, các đại thần nhân tâm hoảng hốt, ai nấy đều sợ nhập cung diện thánh, vì sợ gặp phải cơn giận bất thường của đấng quân vương.

Nếu Vĩnh Lạc đế loạn phát oai mà quốc thế được cứu vãn thì cũng tốt. Đằng này tin xấu cứ liên tục truyền về. Đúng là phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí.
Vùng Sơn Đông hoàn toàn hỗn loạn, một phần vì tin bại trận khiến cho dân tâm hoảng hốt, một phần vì ‘Uy khấu’ ngông cuồng cướp phá khắp nơi. Trước đây ‘Uy khấu’ chỉ cướp phá dọc theo vùng duyên hải. Nhưng giờ đây bất kể sông hồ, hễ nơi nào thuyền đến được là có mặt ‘Uy khấu’, quan quân không thể nào đánh dẹp nổi. ‘Uy khấu’ rất xảo quyệt. Hễ thấy đại đội quan quân thì lên thuyền rút chạy, còn nếu như thấy một toán nhỏ quan quân thì bọn họ sẵn sàng tấn công. Thậm chí có nhiều toán ‘Uy khấu’ tập hợp lại thành một lực lượng hùng mạnh, công chiếm các huyện thành. Sơn Đông đại loạn, dân bất liêu sinh.

Không chỉ có thế, do vùng Sơn Đông trở nên điêu tàn, những nơi có thể cướp phá ít đi, nhiều toán ‘Uy khấu’ bắt đầu chuyển hướng sang vùng Hà Bắc. Trên các sông hồ ở Hà Bắc gần đây đã thấy xuất hiện bóng dáng ‘Uy khấu’.

Nếu như ‘Uy khấu’ chỉ có thể làm tổn thương Minh triều, không nghiêm trọng đến nỗi vong quốc diệt tộc, thì giờ đây Minh triều đã phải đối diện với một nguy cơ lớn hơn nhiều. Cuối tháng 3, thám mã khẩn cấp đưa tin cáo cấp từ Bắc Kinh : Sơn Hải Quan thất thủ, Mông Cổ nhập quan. Trước đây người Mông Cổ chỉ có những toán nhỏ tiến vào lãnh thổ Minh triều cướp phá. Nhưng vào khoảng tháng 2, người Mông Cổ đi vòng theo đường biển, vượt qua Bột Hải, xâm nhập Liêu Tây, Hữu Bắc Bình (phía nam Trường Thành), bao vây Sơn Hải Quan. Đến giữa tháng 3, Sơn Hải Quan thất thủ, và đại đội kỵ binh Mông Cổ nam tiến. Các bộ tộc Mông Cổ đều đã biết tin quân Minh thảm bại, tổn thất 120 vạn đại quân, quốc lực suy kiệt, nên nhân cơ hội này kéo nhau tấn công Minh triều báo thù việc Vĩnh Lạc đế đánh Mông Cổ 5 năm trước. Do ảnh hưởng của Thần Thánh Đế quốc, sự kiện quân Mông Cổ tấn công Bắc Kinh xảy ra sớm hơn 34 năm.

Tin cáo cấp của Bắc Kinh khiến Vĩnh Lạc đế hoảng hốt. Bắc Kinh là nơi căn bản của Vĩnh Lạc đế, phần lớn thân tộc hoàng thất còn lại hiện đang tập trung ở đấy (số ở Nam Kinh nếu không tự sát thì đã trở thành tù binh rồi). Lúc này không còn sức chống giữ phương nam, chỉ còn cách tập trung những lực lượng còn lại phòng thủ Bắc Kinh. Thế là, theo đề nghị của quần thần, Vĩnh Lạc đế dẫn quân về Bắc Kinh. Cẩm Y Vệ đô chỉ huy thiêm sự Kỷ Cương lại được phái đi làm công việc quen thuộc : chinh binh, mà lần này là cưỡng chinh (cưỡng chế chinh binh).

Sau khi Vĩnh Lạc đế về đến Bắc Kinh, tình hình Hà Bắc tạm ổn định. Quân Mông Cổ dựa vào ưu thế kỵ binh, liên tục di động cướp phá các nơi, nhưng không còn năng lực công chiếm các phủ thành nữa. Mà quân Minh cũng không đủ năng lực đánh đuổi quân Mông Cổ về thảo nguyên phương bắc. Minh triều chỉ còn cách giữ vững các nơi yếu địa, đồng thời chờ Kỷ Cương chinh binh.

Trong lúc bận lo đối phó với quân Mông Cổ, Minh triều đành bỏ mặc hai tin cáo cấp khác : Liêu Đông thất thủ và Triều Tiên cầu viện. Minh triều hiện tại đang phải cố gắng phòng thủ Bắc Kinh, tự lo thân còn chưa xong, làm sao đủ sức lo chuyện khác được.

Minh triều nguyên bản kiểm soát được một eo đất hẹp tại bán đảo Liêu Đông (đối diện với Sơn Đông qua Bột Hải). Điều này không có nghĩa là Minh triều kiểm soát được vùng phía bắc Sơn Hải Quan (bên ngoài Trường Thành), bằng chứng rõ nhất là Liêu Đông thuộc sự cai quản của Sơn Đông hành tỉnh. Giờ đây Sơn Hải Quan đã rơi vào tay quân Mông Cổ. Vùng biển đã bị các chiến hạm của Thần Thánh Đế quốc kiểm soát, Minh triều dù có muốn chiếm lại Liêu Đông cũng hữu tâm vô lực. Sau khi quân đội ở Liêu Đông bị Vĩnh Lạc đế rút về tham gia đội quân nam chinh, Phạm Thế Căng suất lĩnh đạo quân Định Hải đã dễ dàng chiếm lĩnh Liêu Đông mà không gặp phải sự phản kháng đáng kể nào. Cũng bắt đầu từ lúc này, các bộ lạc Mông Cổ đã có thể nhận viện trợ hoặc giao dịch trực tiếp với Thần Thánh Đế quốc từ Liêu Đông. Người Mông Cổ sử dụng chiến mã để đổi lấy lương thực, vũ khí trang bị cho lực lượng kỵ binh đi cướp phá Minh triều; sau đó lại sử dụng kim ngân tài bảo cướp được đổi thành lương thực, vũ khí, rồi tiếp tục cướp phá. Nhờ đó, lực lượng của bọn họ càng lúc càng mạnh hơn.

Còn xứ Triều Tiên, lúc này do nhà Triều Tiên cai trị, nên còn có quốc hiệu là ‘Đại Triều Tiên quốc’. Nhà Triều Tiên (1392 – 1910), tiếng Hàn là Joseon, hay còn gọi là nhà Lý, là một triều đại được thành lập bởi Triều Tiên Thái Tổ Lý Thành Quế (I Songgye) và tồn tại hơn 5 thế kỷ. Triều đại này được thành lập sau khi Lý Thành Quế lật đổ nhà Cao Ly (Koryo) tại Khai Thành (Kaesong), rồi dời kinh đô về Hán Thành (tức Seoul ngày nay). Lý Thành Quế là người thân Minh ngay từ khi còn là tướng lĩnh của nhà Cao Ly. Khi xin Minh triều sắc phong vào năm 1393, Lý Thành Quế e nhà Minh phản đối việc Lý Thành Quế quyết tâm chọn quốc hiệu là Triều Tiên, nên đề xuất thêm một tên gọi khác là Hòa Ninh (lấy từ tên trang ấp của cha mình là Lý Tử Xuân). Hồng Vũ đế Chu Nguyên Chương sau khi biết tên Triều Tiên có nguồn gốc từ chữ ‘Triều Nhật Tiên Minh’ (nghĩa là ‘buổi sáng trong lành’) liền quyết định chọn tên Triều Tiên, nhưng chỉ phong cho Lý Thành Quế làm Quyền Tri Triều Tiên Quốc Sự. Mãi đến năm 1401, Minh triều mới phong cho Triều Tiên Thái Tông Lý Phương Viễn (lên ngôi từ năm 1400) làm Triều Tiên Quốc Vương. Sau khi qua đời, Lý Phương Viễn được vị vua kế tiếp đặt cho thụy hiệu là ‘Cung định Thánh đức Thần công Kiến thiên Thể cực Đại chính Khải hữu Văn vũ Duệ triết Thành liệt Quang hiếu Đại vương’.

(chú : Vương triều này được người Hán gọi là ‘Lý thị Triều Tiên vương triều’, gọi tắt là ‘Lý Triều’; nhưng người Hàn Quốc không sử dụng cách gọi này, bởi cho rằng nó mang tính chất nhục nhã, gợi cho họ nhớ đến giai đoạn bị Nhật Bản xâm chiếm, Triều Tiên Hoàng đế bị giáng xuống thành Lý vương, phiên vương của Nhật Bản, khiến người Hàn Quốc nhớ đến giai đoạn khổ nhục đó, do vậy vẫn gọi là ‘Triều Tiên vương triều’).

Khi chiến tranh bùng nổ, Đại Vận Hà bị phong tỏa, Minh triều lâm vào cảnh thiếu lương thực, Triều Tiên quốc có phái một đoàn thuyền chở lương thực sang hỗ trợ cho Minh triều. Giang Phong đã phái sứ giả đến trách hỏi, nhưng vua quan Triều Tiên không lý gì đến. Trong mắt bọn họ, Minh triều vẫn là Thiên triều thượng quốc, còn Thần Thánh Đế quốc chỉ là phiên bang tiểu quốc. Vì vậy, Giang Phong đã phái một đội chiến hạm của Nam Dương Hạm đội tiến vào vùng biển Triều Tiên, phong tỏa toàn vùng. Giờ đây, vùng biển Triều Tiên hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Thần Thánh Đế quốc. Thuyền bè của Đông Doanh được tự do đi lại trên biển, trong khi thuyền bè của Triều Tiên hễ ra khơi là bị tiêu diệt ngay. Điều này đã tạo cơ hội cho cướp biển Đông Doanh cướp phá Triều Tiên, hành động còn ngông cuồng hơn cả ở vùng Sơn Đông, Hà Bắc (dù sao thì quốc lực của Triều Tiên cũng không thể sánh được với Đại Minh). Chỉ trong mấy tháng, Triều Tiên không còn giữ được các đạo phía nam, mất đi 3 trong số 8 đạo hành chính của cả nước, vì thế mới dâng biểu sang Minh triều cáo cấp. Có điều lúc này Minh triều muốn cứu viện Triều Tiên, chỉ có 2 đường : đường bộ, thì phải vượt qua Sơn Hải Quan do quân Mông Cổ trấn giữ và Liêu Đông do Định Hải quân của Phạm Thế Căng trú đóng; hoặc đường biển thì phải vượt qua sự phong tỏa của Bắc Dương Hạm đội ở Bột Hải và Nam Dương Hạm đội ở vùng biển Triều Tiên; mà trong lúc này, với Minh triều là điều không thể. Không có được viện binh, thế lực của Triều Tiên vương triều ngày càng suy yếu.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
13-11-2010, 08:41 AM
Chương 72 : BẮC PHƯƠNG ĐẠI LOẠN


Lại nói, Triều Tiên dâng biểu sang Minh triều cáo cấp, xin viện binh. Nhưng Minh triều tự thân còn chưa lo xong, sao có thể lo đến việc ở Triều Tiên. Không có được viện binh, thế lực của Triều Tiên vương triều ngày càng suy yếu. Trong nước bắt đầu xuất hiện loạn lạc.

Tháng 4, giới quý tộc Quyền môn (Gwonmun) lại nổi dậy, phục ngôi cho Cung Nhượng Vương. Trước đây, vào năm 1388, Lý Thành Quế lật đổ U Vương của Cao Ly vương triều, tôn Dương Vương lên ngôi. Nhưng sau đó y lại giết cả U Vương và Dương Vương, đưa một người thuộc vương tộc là Vương Dao lên kế vị, hiệu xưng Cung Nhượng Vương. Đến năm 1392, Lý Thành Quế lại lật đổ Cung Nhượng Vương, giam lỏng ở Nguyên Châu, và tự đăng cơ xưng vương, lập nên nhà Triều Tiên, dời đô đến Hán Thành. Trong thời gian trị vì của Lý Thành Quế, giới quý tộc Quyền môn nhiều lần nổi dậy định phục ngôi cho họ Vương, nhưng đều bị đàn áp. Lần này, nhân cơ hội Triều Tiên vương triều suy yếu, bọn họ lại nổi dậy, thành công phục ngôi cho Cung Nhượng Vương, khôi phục quốc hiệu Cao Ly, đóng đô ở Toàn Châu, lãnh thổ bao gồm 3 đạo phương nam là Toàn La (Toàn Châu phủ, La Châu mục), Khánh Thượng (Khánh Châu phủ, Thượng Châu mục, Tấn Châu mục), và Trung Thanh (Trung Châu mục, Thanh Châu mục, Công Châu mục).

Tháng sau, một viên biên tướng trấn thủ Bình An đạo của Triều Tiên là Kim Thế Nam đã cất quân đánh chiếm Hàm Kính đạo ở phía đông, sau đó tự xưng Kim Chiêu Vương, quốc hiệu Kim, đóng đô ở Bình Nhưỡng, lãnh thổ bao gồm 2 đạo phương bắc là Bình An (Bình Nhưỡng phủ, Trữ Biên đại đô hộ phủ, Nghĩa Châu mục) và Hàm Kính (Hàm Hưng phủ, Kính Thành đô hộ phủ, Bắc Thanh đô hộ phủ). Triều Tiên vương triều chỉ còn lại 3 đạo ở giữa là Kinh Kỳ (Hán Thành phủ, Khai Thành phủ), Hoàng Hải (Hoàng Châu mục, Hải Châu mục) và Giang Nguyên (Giang Lăng đại đô hộ phủ, Nguyên Châu mục).

Cả hai nước Cao Ly và Kim đều sai sứ đến Gia Định cầu phong, đồng thời liên minh với nhau uy hiếp Triều Tiên quốc.

Còn ở Minh triều, tình hình cũng hỗn loạn không kém.

Đầu tháng 5, do Kỷ Cương chinh binh chinh lương ở Hà Nam một cách quá tàn bạo, hễ gặp tráng đinh là bắt, hễ gặp lương thực là thu, khiến dân chúng căm phẫn, lần lượt nổi dậy khởi nghĩa. Khắp các phủ Trần Châu, Hứa Châu, Trịnh Châu, Vũ Châu, Đặng Châu, Nam Dương, Quy Đức, Chương Đức đều có quân khởi nghĩa. Do quan quân không còn, các quan viên Minh triều ở Hà Nam không thể nào đàn áp quân khởi nghĩa nổi. Nghĩa quân tràn ra khắp nơi, công thành lược địa. Kỷ Cương bị đuổi chạy về Sơn Đông.

Sau một thời gian công thành lược địa, một đạo nghĩa quân lớn chiếm được Nam Dương phủ làm đại bản doanh. Do có tiền lương, có địa bàn, nghĩa quân ở Nam Dương dần dần thu phục được các đạo nghĩa quân nhỏ hơn, lại nhận được viện trợ từ phương nam nên ngày càng phát triển hùng mạnh. Thủ lĩnh của bọn họ là Lưu Khánh tự nhận là hậu duệ của Hán Quang Vũ đế, tuyên bố kế nghiệp tổ tiên, khôi phục Hán triều. Ngày 3 tháng 6, Hán quân tụ họp được 20 vạn người, kéo về bao vây Lạc Dương. Sau 5 ngày vây hãm, Lạc Dương thất thủ. Ngày 15 tháng 6, Lưu Khánh đăng cơ xưng đế, xưng hiệu là Uy Vũ đế, quốc hiệu Đại Hán, đóng đô Lạc Dương. Đến đầu tháng 7, trong số 20 châu phủ, 96 huyện của Hà Nam hành tỉnh thì đã có 17 châu phủ, 72 huyện thuộc quyền kiểm soát của Hán quân. Chỉ còn lại 3 châu phủ nằm sát Sơn Đông thì vẫn còn thuộc quyền kiểm soát của Minh triều.

Hán quân hưng khởi thúc đẩy hào cường vọng tộc các xứ lần lượt học theo. Ai lại không muốn kiến quốc xưng đế, không những có thể quang tôn diệu tổ, mà còn có thể hưởng tận vinh hoa phú quý.

Ngày 15 tháng 7, Lý Thiếu Hoa xưng đế ở Trường An, xưng hiệu Thánh Đức, quốc hiệu Đại Đường, lãnh thổ gồm 18 châu phủ, 68 huyện ở trung bộ Thiểm Tây (trừ 12 châu phủ, 27 huyện vùng Hán Trung và Lan Châu). Ngày 20 tháng 7, Minh Ngọc Toàn xưng vương ở Thành Đô, xưng hiệu Đức Vương, quốc hiệu Hạ. Minh Ngọc Toàn là em của Hạ vương Minh Ngọc Trân của nước Hạ ở vùng Tứ Xuyên trước đây. Nhờ dư oai của Minh Ngọc Trân, Hạ Đức Vương Minh Ngọc Toàn chiếm lĩnh được 35 châu phủ, 111 huyện của Tứ Xuyên hành tỉnh và 4 châu phủ, 11 huyện vùng Hán Trung của Thiểm Tây hành tỉnh; lãnh thổ rộng hơn 2 nước Đại Hán và Đại Đường nhiều.

Tháng 8, một phú hào của tiền trang Sơn Tây là Tiền Khải dốc hết tài sản ra mộ quân, tụ họp được hơn 20 vạn người, chiếm lấy cả 23 châu phủ, 79 huyện đất Sơn Tây. Ngày 15 tháng 9, Tiền Khải đăng cơ xưng đế, xưng hiệu Long Khánh đế, quốc hiệu Tấn, đóng đô ở Thái Nguyên. Ngoài ra còn có 8 châu phủ và 16 huyện vùng Lan Châu bị quý tộc Mông Cổ chiếm giữ, xưng vương và tuyên bố kế tục nhà Nguyên (sau khi chạy khỏi Bắc Kinh, dòng dõi nhà Nguyên vẫn tiếp tục xưng đế trên thảo nguyên Mông Cổ, sử gọi là Bắc Nguyên, nhưng không có quyền lực gì đáng kể).

Tóm lại, đến mùa thu, Minh triều chỉ còn lại vùng Hà Bắc và Sơn Đông. Các tỉnh Hà Nam, Thiểm Tây, Sơn Tây, Tứ Xuyên lần lượt hình thành các nước Đại Hán, Đại Đường, Tấn, Hạ và phiên vương Mông Cổ ở Lan Châu. Còn vùng Hồ Bắc, Huy Châu, Dương Châu, trên danh nghĩa được Thần Thánh Đế quốc tuyên bố là lãnh thổ của mình (biên giới phía bắc là Hoài Thủy), nhưng thực tế đã bị biến thành vùng đất trống, không một bóng người, trở thành vùng đệm giữa các nước Hán tộc ở phía bắc với Thần Thánh Đế quốc. Hơn nữa, vùng Hoài Thủy vừa xảy ra ôn dịch, dân chúng cũng không dám đến đấy sinh sống.



Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.517 (Ất Mùi, 1415). Mùa thu, tháng 8. Sùng Minh đảo. Trường Hưng Thành.

Triệu Phong mấy tháng nay rảnh rỗi không có việc gì làm, hết tắm biển rồi lại câu cá, đánh cờ giải khuây. Minh triều quốc lực suy kiệt, không còn đủ khả năng phát động chiến tranh nữa, cuộc bắc phạt đã kết thúc, các đạo quân đã lần lượt rút về phương nam. Giờ chỉ còn lại Định Hải quân ở Liêu Đông, Thần Long quân ở Kim Lăng, Thần Vũ quân ở Trường Sa và Thần Uy quân ở Quảng Châu; cùng với Bắc Dương Hạm đội đóng đại bản doanh ở Đài Loan. Các tướng lĩnh cũng chỉ còn lại Triệu Phong, và Mã Tân là còn ở lại phương bắc cho đến khi cục diện ổn định. Trong khi đó thì Lý Ngân lại suất lĩnh các đạo quân Uy Vũ, Uy Nghĩa, Uy Đức, Trấn Biên theo đường cũ qua Vân Nam quay về xứ Thái.

Hôm nay, Triệu Phong đang ngồi câu cá giải khuây thì có thân binh đến bẩm báo :

- Đại nhân. Có Triệu Anh Triệu đại nhân từ Gia Định đến.

Triệu Phong nghe báo mà giật mình. Triệu Anh là thân đệ của Triệu Phong, trước đây được Giang Phong chọn vào giúp việc ở Tử Tiêu Điện, có thể xem là cận thần của Giang Phong. Nay gã được phái đến đây, hẳn phải có đại sự gì quan trọng.

Triệu Phong liền trở về Soái phủ, tiếp kiến thân đệ. Triệu Anh thần thái hưng phấn, vừa bước vào đã nói ngay :

- Đại ca. Chúc mừng đại ca nha !

Triệu Phong cau mày hỏi :

- Đệ. Có việc gì cũng nên nói cho rõ ràng ! Không nên nhanh nhảu như vậy ! Chúc mừng điều gì thế ?

Triệu Anh hớn hở nói :

- Có thánh chỉ cho đại ca đây.

Triệu Phong giật mình, vội sai sắp bàn hương án, tiếp chỉ. Lễ tiết đầy đủ, Triệu Anh giở chiếu chỉ ra tuyên đọc :

“Thụ mệnh vu thiên, Thánh hoàng chiếu viết :

Trẫm duy lập chính dụng nhân, nghi cử khảo công chi điển. Lường tài định vị, dụng tinh trị sự chi năng. Tư nhĩ Quân bộ Các thần, Lục quân bộ bộ trưởng Triệu Phong, thần uy vũ dũng, văn vũ kiêm thông, chinh nam phạt bắc, chiến tích huy hoàng. Tư đặc thăng thụ Ngự tiền hộ giá đại thần, Chiêu Vũ Vương, gia cửu tích.

Tứ chi sắc mệnh, miễn hàm cần ư xu sự. Thức khâm thành mệnh, vĩnh vô dịch ư thừa hưu. Khâm thử.”

Tạm dịch :

“Thể theo mệnh trời, Thánh hoàng chiếu rằng :

Trẫm nghĩ việc trị nước dùng người, nên xem xét theo phép công. Lường tài mà phong chức, dựa theo năng lực làm việc. Nay Quân bộ Các thần, Lục quân bộ bộ trưởng Triệu Phong, thần oai võ dũng, văn võ kiêm thông, chinh nam phạt bắc, chiến tích huy hoàng. Nay đặc biệt gia phong cho làm Ngự tiền hộ giá đại thần, Chiêu Vũ Vương, gia cửu tích.

Ban cho sắc mệnh, phải cố siêng năng làm việc. Sứ mệnh vua giao, luôn làm không chán không nghỉ. Khâm thử.”

Triệu Phong nghe nói mà kinh ngạc ngẩn người. Phong vương, gia cửu tích. Cửu tích là dấu hiệu của Thiên tử, được sử dụng xa mã, vận cổn miện theo nghi vệ cao nhất (của nho gia). Trước đây có Tào Tháo, Tư Mã Ý, Lý Thế Dân đều được gia cửu tích. Triệu Phong kinh hãi lắp bắp :

- Đệ. Chuyện này …

Gia cửu tích là chuyện không tầm thường, không khéo có thể mang lại họa sát thân. Vì thế mà Triệu Phong rất lo lắng. Quả thật là Triệu Phong công lao quá lớn. Triệu Anh cười nói :

- Đại ca nên nhớ rằng Thánh hoàng không phải là phàm nhân. Thánh hoàng cộng trị cả thiên địa.

Triệu Phong ngẫm nghĩ giây lát, rồi tung hô vạn tuế và tiếp chỉ.


Bản đồ 8 đạo Triều Tiên :
http://www.mediafire.com/?1mh9cde610j70jl

Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
13-11-2010, 01:04 PM
Chương 72 : HÀ BẮC DÂN


Lại nói, sau khi nghe thân đệ phân giải, Triệu Phong tung hô vạn tuế và tiếp chỉ, chính thức thụ phong vương tước. Triệu Anh còn mang theo cổn miện may sẵn cho Triệu Phong. Thấy đại ca vẫn còn lo lắng, Triệu Anh nói thêm :

- Đại ca. Không chỉ có đại ca được phong vương và gia cửu tích thôi đâu ! Cả Phạm tướng quân, Lý tướng quân, Mã đại đô đốc, Đinh đại nhân đều được phong vương và gia cửu tích. Cả đệ nữa. Đệ nhờ được hưởng phúc của đại ca mà cũng được phong thưởng. Đối với Thánh hoàng, Thiên tử cũng chỉ là một danh hiệu của nhân gian mà thôi. Thánh hoàng là Thiên, nếu chúng ta được làm Thiên tử thì cũng như trở thành con cháu của Thánh hoàng mà thôi.

Triệu Phong gật đầu khen phải. Trải qua hơn chục năm tuyên truyền, quan niệm Giang Phong là ‘Thiên’ đã thâm nhập nhân tâm, nhất là những người thân cận với Giang Phong lại càng tin tưởng. Giang Phong là ‘Thiên’, địa vị đương nhiên cao hơn những vị Hoàng đế vốn tự xưng mình là ‘Thiên tử’. Và như vậy thì bọn Triệu Phong có được sử dụng nghi vệ Thiên tử cũng không có vấn đề gì cả. Sau đó, hai huynh đệ họ Triệu hàn huyên trò chuyện, hỏi thăm việc nhà việc nước. Triệu Phong vốn rất yêu quý vị thân đệ này của mình, nghe nói gã cũng được phong vương, lòng rất cao hứng. Nói chuyện hồi lâu, Triệu Anh như chợt nhớ ra, mới nói :

- Đại ca. Đệ đến đây là còn có chuyện muốn nhờ đại ca đó nha !

Triệu Phong hỏi :

- Chuyện gì thế ?

Triệu Anh nói :

- Thánh hoàng phong cho đệ làm Tống Mẫn Vương, phái đệ đến Khai Phong thành lập nước Tống. Thánh hoàng bảo đệ đến đây nhờ đại ca thu xếp cho.

Triệu Phong ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói :

- Không thành vấn đề. Hiện tại trong thành Kim Lăng có gần 4 vạn hàng binh, ta sẽ chiêu mộ thêm cho đủ 10 vạn, rồi đệ dẫn quân chiếm lĩnh vùng Sơn Đông, sau đó tiến chiếm Khai Phong. Ta sẽ lấy 2 vạn Thần Long quân và 2 vạn Định Hải quân hỗ trợ đệ. Đồng thời sẽ thông tri cho Bắc Dương Hạm đội phong tỏa Hoàng Hà.

Thế là Triệu Phong tập họp hàng binh, rồi lấy thêm dân binh người Hán từ các tỉnh (dân binh theo khái niệm của Thần Thánh Đế quốc, không phải dân binh mới chiêu mộ của Minh triều), sau đó chiêu mộ thêm cho đủ 10 vạn, toàn là người Hán, giao cho Triệu Anh thống lĩnh. Bọn Triệu Phong lúc này mới tuyên dương thân phận của mình cho dân chúng biết, rằng bọn họ là dòng dõi hoàng tộc Đại Tống, khi bị nhà Nguyên tiêu diệt thì tổ tiên là Triệu Trung đã chạy sang Đại Việt, có giúp người Đại Việt chống lại nhà Nguyên. Nay Triệu Anh trở về Khai Phong khôi phục Đại Tống triều đình.

Sau khi chuẩn bị hoàn tất, Triệu Anh suất lĩnh 10 vạn quân đổ bộ vào bán đảo Sơn Đông. Triệu Phong cũng đích thân suất lĩnh 4 vạn quân theo hỗ trợ thân đệ. Chỉ trong mấy ngày, bọn họ đã bao vây Tế Nam Thành. Đừng nói Tế Nam, cả Sơn Đông hành tỉnh cũng chẳng còn bao nhiêu binh mã, Kỷ Cương chống cự không nổi, phải bỏ Tế Nam mà chạy về Hà Bắc. Tiếp đó, Triệu Phong suất quân chiếm lĩnh các châu phủ, rồi giao lại cho quân của Triệu Anh tiếp quản. Chỉ sau 2 tháng đánh dẹp, toàn bộ 21 châu phủ, 89 huyện vùng Sơn Đông, cùng với 3 châu phủ, 24 huyện vùng Khai Phong đã tận thu trong tay. Ngày 20 tháng 10, Triệu Anh đăng cơ xưng đế, xưng hiệu Mẫn đế, quốc hiệu Đại Tống, đóng đô ở Khai Phong. Được sự cho phép của Giang Phong, Triệu Anh tuy chỉ là vương tước của Thần Thánh đế quốc, nhưng lại là hoàng đế đối với các nước khác. Cũng giống như các tiểu vương Hồi giáo ở các xứ A Lạp Bá, lại chỉ là hầu tước của Thần Thánh Đế quốc. Tước vị được Giang Phong ban cho phải tôn quý hơn.

Hệ thống tước vị ở Thần Thánh Đế quốc được chia thành 3 bậc. Cao nhất, tôn quý nhất là tước vị phong cho văn thần võ tướng của Đế quốc. Những người này chỉ được phong tước, không được phong đất, nhưng giữ các yếu chức ở triều đình Đế quốc, do vậy mà thân phận tôn quý. Chỉ vì triều đình thực hiện chế độ trung ương tập quyền, không có cắt đất phân phong, nên mới không được phong đất. Ở vị trí thứ hai là tước vị của các chư hầu, tuy cũng được Đế quốc phong tước cho, nhưng có địa vị thấp hơn. Ví dụ như cũng đồng là vương tước, nhưng Triệu Anh có thân phận địa vị thấp hơn Triệu Phong, dù rằng Triệu Anh có lãnh thổ, có triều đình riêng. Thấp nhất là tước vị của người ngoại quốc, không phải được Đế quốc phong cho. Thường thì Đế quốc cũng công nhận tước vị của bọn họ, nhưng bị giảm đi 2 cấp. Ví dụ như đế thì ngang công, vương thì ngang hầu, công tước thì ngang bá tước, … (hệ thống tước vị lần lượt là : đế, vương, công, hầu, bá, tử, nam; cả phương đông và phương tây đều giống nhau. Ở Âu châu chỉ có Đế quốc La Mã Thần Thánh là có hoàng đế; còn lại như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, … đều chỉ có quốc vương, gọi là vương quốc; các nước nhỏ hơn thì chỉ có công tước, gọi là công quốc).

Tóm lại, đến tháng 10, vùng Trung Nguyên đã xuất hiện 6 nước lớn tương đương nhau và 1 nước nhỏ ở khu vực Cam Túc. Tình trạng này gần giống với thời Ngũ Đại Thập quốc, một nửa đất nước bị người không phải Hán tộc chiếm giữ (thời kỳ đó là người Sa Đà). Phần còn lại hình thành hàng loạt các nước nhỏ khác. Điểm đặc biệt là thời kỳ đó, các nước lớn do người không phải Hán tộc thành lập lại được xem là chính thống, tôn chủ; còn các nước nhỏ của người Hán do lãnh thổ nhỏ bé, nên chỉ được xem là các tiểu quốc chư hầu. Giờ đây tình trạng cũng tương tự.

Đại Tống – Tống Mẫn đế Triệu Anh, chiếm lĩnh 24 châu phủ, 113 huyện ở vùng Sơn Đông và Khai Phong, đóng đô ở Khai Phong, quân đội có 10 vạn và đang được chiêu mộ thêm, được sự hỗ trợ trực tiếp của Triệu Phong nên tiền lương, vũ khí đều sung túc, thực lực hùng hậu.

Đại Hán – Hán Uy Vũ đế Lưu Khánh, chiếm lĩnh 17 châu phủ, 72 huyện ở vùng Hà Nam, đóng đô ở Lạc Dương, quân đội có 30 vạn, có nhận viện trợ từ phương nam, quốc lực hùng hậu. Trong nước tình hình tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng nhiều của chiến tranh loạn lạc.

Đại Đường – Đường Thánh Đức đế Lý Thiếu Hoa, chiếm lĩnh 18 châu phủ, 68 huyện ở trung bộ Thiểm Tây hành tỉnh, đóng đô ở Trường An, quân đội có 20 vạn, quốc lực trung bình. Trong nước tình hình ổn định, dân chúng an cư lạc nghiệp, không bị ảnh hưởng nhiều của chiến tranh loạn lạc.

Hạ - Hạ Đức Vương Minh Ngọc Toàn, chiếm lĩnh 39 châu phủ, 122 huyện ở vùng Tứ Xuyên và Hán Trung, đóng đô ở Thành Đô, quân đội 20 vạn, quốc lực yếu, nhưng địa hình hiểm trở, dễ thủ khó công, tách biệt hẳn với vùng Trung Nguyên, hoàn toàn không bị ảnh hưởng của chiến tranh loạn lạc.

Tấn – Tấn Long Khánh đế Tiền Khải, chiếm lĩnh 23 châu phủ, 79 huyện ở đất Sơn Tây, đóng đô ở Thái Nguyên, quân đội 30 vạn, quốc lực hùng hậu, nhưng phải chịu sự uy hiếp của Đại Minh ở phía đông và Mông Cổ ở phía bắc.

Lương – Lương Vương Oyiradai, chiếm lĩnh 8 châu phủ và 16 huyện ở vùng Cam Túc, đóng đô ở Lan Châu, quân đội có 5 vạn kỵ binh Mông Cổ, quốc lực yếu, nhưng cách xa Trung Nguyên, gần Mông Cổ, dễ nhận được viện trợ từ các bộ lạc Mông Cổ. Oyiradai vốn là một Hãn (Khan) của Bắc Nguyên, nhưng đang tìm cách hướng Thần Thánh Đế quốc cầu phong.

Đại Minh – Minh Vĩnh Lạc đế Chu Lệ, chiếm lĩnh 27 châu phủ, 116 huyện ở vùng Bắc trực lệ (tức vùng Hà Bắc), đóng đô ở Bắc Kinh, quân đội có 50 vạn (gồm 30 vạn quân tinh nhuệ và 20 vạn tân binh mới chiêu mộ), thực lực mạnh nhất, nhưng đang phải đánh nhau với các bộ lạc Mông Cổ. Lãnh thổ phía bắc của Đại Minh thường xuyên bị quân Mông Cổ cướp phá. Vùng Liêu Tây, Hữu Bắc Bình và lân cận Sơn Hải Quan vẫn đang do người Mông Cổ kiểm soát. Và vùng duyên hải cùng các nơi lân cận sông hồ vẫn tiếp tục bị ‘Uy khấu’ cướp bóc. Đại Minh quốc cũng là nơi hỗn loạn nhất, dân tình khốn khổ nhất. Người dân truyền tụng nhau bài thơ cổ ‘Hà Bắc dân’ để bày giải nỗi lòng mình :

“Hà Bắc dân,
Sinh cận nhị biên trường khổ tân,
Gia gia dưỡng tử học canh chức,
Thâu dữ quan gia sự di địch.
Kim niên đại hạn thiên lý xích,
Châu huyện nhưng thôi cấp hà dịch,
Lão tiểu tương y lai tựu nam,
Nam nhân phong niên tự vô thực.
Bi sầu thiên địa bạch nhật hôn,
Lộ bàng quá giả vô nhan sắc,
Nhữ sinh bất cập Trinh Quán trung,
Đẩu túc sổ tiền vô binh nhung.”

Tạm dịch :

“Dân Hà Bắc,
Giữa hai biên giới sống khổ cực,
Sinh con ai chẳng dạy nông tang,
Nộp hết cho quan để biếu giặc.
Năm nay đại hạn nghìn dặm khô,
Phu đi làm sông huyện vẫn bắt,
Trẻ già dắt díu xuống miền nam,
Nam tuy được mùa vẫn đói rạc.
Trời thảm đất sầu ngày tối sầm,
Bao khách qua đường mặt nhợt nhạt,
Tiếc sinh chẳng nhằm đời Trinh Quán,
Vài đồng đấu gạo không loạn lạc.”

Qua đó cũng đủ thấy tình cảnh của dân chúng Đại Minh quốc khốn khổ đến thế nào. Làm ra bao nhiêu lương thực, phải nộp cho triều đình phần lớn làm quân lương (để dùng cho việc chiến tranh), phần nhỏ giữ lại cũng chẳng yên, phía bắc thì có quân Mông Cổ cướp phá, phía nam thì có ‘Uy khấu’ cướp bóc. Người chết đói còn nhiều hơn người chết vì chiến tranh. Không ít người bỏ xứ tha hương, dắt dìu nhau vượt Thái Hành Sơn sang Sơn Tây, hoặc vượt Hoàng Hà xuống Sơn Đông, Hà Nam tỵ nạn. Sự xuất hiện của dân tỵ nạn đến từ Hà Bắc tuy có khiến triều đình các nước phải lo nhiều hơn về việc trị an và bố trí nạn dân, nhưng cũng làm cho lòng dân không còn hướng về Đại Minh nữa. Dân chúng suy nghĩ rất đơn giản, và chỉ hướng về sung túc an định chứ chẳng bao giờ hướng về khốn khó cơ hàn. Chẳng mấy ai muốn phải chịu cảnh giống như dân Hà Bắc cả.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
13-11-2010, 04:57 PM
Chương 74 : NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY


Trở lại Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.516 (Giáp Ngọ, 1414), mùa hạ, tháng 5.

Hai người bọn Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn được Phạm Thế Căng sắp xếp cho theo thương thuyền để vào Gia Định. Tuy Trung Hoa chiến loạn, nhưng vùng Đông Doanh đã trở nên phồn vinh hơn. Các tuyến thương mại cũng chuyển dần về hướng đó. Nhân cuộc bắc phạt của Thần Thánh Đế quốc, hải tặc Đông Doanh sang cướp phá Trung Hoa, mang về rất nhiều tài bảo, trở nên giàu có, thành ra nhu cầu hưởng thụ cũng trở nên cao hơn nhiều. Đó là cơ hội cho các thương nhân.

Cả hai được Phạm Thế Căng cấp cho ‘thông hành chứng thư’ rồi lên thuyền vào nam. Ở Thần Thánh Đế quốc, không có ‘thông hành chứng thư’ thì không thể tự do đi lại trong các thành thị, nếu bị phát hiện thì sẽ bị tống giam vào lao ngục. Người ngoại quốc muốn vào lãnh thổ Đế quốc bắt buộc phải đến Ngoại vụ ban, trực thuộc Chính vụ ty ở các tỉnh, xin cấp ‘thông hành chứng thư’ để chứng minh thân phận, đề phòng gian tế, gián điệp, tặc khấu, yếu phạm, …

Thương thuyền đi đến Hội An thì dừng lại, tiếp thêm vật tư, nước uống, cũng như để cho thương nhân lên Hội An Thành mua bán. Hội An là một tân thành thị, được thành lập vào năm Ất Dậu (1405) theo lệnh của Giang Phong. Thành Hội An không nằm tại vị trí Hội An ngày nay, mà nằm ở khu vực phía nam đèo Hải Vân, ngay khu vực Đà Nẵng. Tại đó có một vịnh nước sâu, thuận lợi cho các hạm thuyền cỡ lớn neo đậu.

Thuyền ghé vào Hội An. Bọn Nguyễn Trãi cũng lên bờ, vào dạo phố phường để cảm nhận phong cách phố thị phương nam. Đến trước cổng thành, bọn họ phải trình ‘thông hành chứng thư’ thì mới được thủ thành sĩ binh cho vào.

Bọn họ trước tiên đi dạo một vòng phố thị, để thỏa mãn tâm nguyện nghiên cứu cuộc sống của người phương nam. Ở đây, bọn họ dễ dàng nhận ra phong cách sống của người dân khác hẳn vùng Thăng Long. Không khí thương nghiệp bao trùm mọi nơi. Các cửa hiệu buôn bán sầm uất, khách ra vào nhộn nhịp. Hội An là một trong những trạm trung chuyển của tuyến thương mại từ phương bắc đến Gia Định, kinh đô của Đế quốc, nên dù chỉ mới thành lập chưa đến 10 năm, mà đã trở thành một tòa đại thành thị, dân số hơn 10 vạn người, là trung tâm kinh tế quan trọng nhất của cả tỉnh Phú Yên (tức đất Chiêm Thành cũ).

Đặc biệt, bọn Nguyễn Trãi phát hiện trong thành có đủ mọi thành phần dân tộc. Người Hán, người Việt, người Mường, người Chiêm, người Lào, người Thái, người Khmer, người Mã Lai, người Java, người Thiên Trúc, người Đông Doanh, người Mông Cổ, … thậm chí có cả người Âu da trắng và người Phi da đen. Nguyễn Trãi cố tìm cách nói chuyện với một người da trắng, và biết được rằng bọn họ đến từ một nơi rất xa, rất xa, ở tận bên kia bờ đại dương, ở một xứ gọi là A Lạp Bá, và bọn họ cũng là thần dân của Đế quốc.

Đi dạo khắp thành, cả hai đều kinh ngạc trước những đường phố thẳng tắp, đều đặn như bàn cờ, mặt đường bằng phẳng, nhà cửa hai bên đường đều được xây bằng gạch ngói, cao 2, 3 tầng, không hề nhìn thấy những ngôi nhà gỗ xập xệ như các thành thị ở vùng Thăng Long. Nhất là cảnh phồn vi nhộn nhịp ở đây. Trần Nguyên Hãn nói :

- Nguyễn Trãi. Ta không thể tin rằng đây chỉ là một tòa tân thành mới được xây dựng chưa đến 10 năm. Nếu ở phương bắc, kể cả bên Trung Nguyên, thì cũng có thể kể là một tòa đại thành.

Theo quan niệm của hai người bọn họ trước đây, trừ người Hán và người Việt là văn minh, còn lại đều là ngu muội, lạc hậu, dã man. Còn ở đây, người Hán và người Việt đều không chiếm ưu thế. Tỷ lệ người Chiêm, người Mường và người Java cao hơn nhiều (điều này cũng không có gì khó hiểu, bởi quan niệm sĩ, nông, công, thương; trọng nông khinh thương, thương nhân tối tiện của nho gia đã thâm căn cố đế trong tư tưởng của người Việt thời bấy giờ).

Nguyễn Trãi ngẫm nghĩ giây lát, rồi nói :

- Nguyên Hãn. Đừng quên thế lực của Đế quốc. Đã có thể kiến lập một Đế quốc rộng mênh mông như thế, thì ở Đế quốc không điều gì là không thể. Ở đây đã vậy, ta tin chắc rằng khi đến Gia Định chúng ta sẽ nhìn thấy những điều không thể tưởng tượng nổi.

Trần Nguyên Hãn nói :

- Nãy giờ ta chú ý một điều : tất cả người dân ở đây đều đối xử bình đẳng với nhau, không phân biệt đối xử dù thuộc bất kỳ dân tộc nào.

Nguyễn Trãi nói :

- Nghe nói ở Đế quốc mọi thần dân, dù thuộc bất kỳ dân tộc nào, cũng đều bình đẳng trước pháp luật. Đế quốc chỉ phân biệt thần dân thành 3 loại : thuận dân, là những người có thể nói viết được ngôn ngữ của Đế quốc; lương dân, là những người không chống đối Đế quốc, nhưng chưa nói viết được ngôn ngữ của Đế quốc; và nghịch dân, là những người chống đối lại Đế quốc.

Trần Nguyên Hãn ngẫm nghĩ giây lát, đột nhiên nói :

- Vậy thì chúng ta …

Đến đây, bọn Nguyễn Trãi mới phát hiện một vấn đề nghiêm trọng : giao tiếp nói chuyện thì không vấn đề gì, nhưng bọn họ lại trở thành những người mù chữ. Ở Đế quốc, người dân không sử dụng chữ Hán, mà sử dụng một thứ chữ trông giống như những phù hào của các pháp sư thường sử dụng (chữ Latinh do cong cong ngoằn ngèo trông giống phù hào). Bọn Nguyễn Trãi không đọc được thứ chữ này, nên biến thành người mù chữ. Các cửa hiệu, thương điếm, khách sạn, … đều có biển hiệu, nhưng bọn họ không thể đọc được. Cảm giác mù chữ đối với những người có học thức cao như bọn họ thật là khốn khổ. Đặc biệt là khi bọn họ phát hiện đại bộ phận người dân đều biết chữ, bất kể thuộc dân tộc nào. Thế là, bọn họ quyết tâm khi về thuyền phải nhờ chúng thương nhân dạy cho học chữ. Dù sao thì từ nay về sau bọn họ cũng đã trở thành thần dân của Đế quốc rồi. Nếu không đọc viết được văn tự của Đế quốc, bọn họ chỉ có thể kể là thần dân hạng hai - lương dân mà thôi.

Dạo phố một hồi cũng mỏi chân, cả hai quyết định ghé vào hàng quán nào đó bên đường để nghỉ ngơi ăn uống. Đi được mấy bước, cả hai chợt nghe từ một quán trà gần đó có tiếng ca ngâm vọng ra :

“Đất quê ta khi mưa chẳng thấm,
Người quê ta tuy lấm mà vui.
Đất nước ta gian lao mà anh dũng,
Quê hương ta ra ngõ gặp anh hùng.”

Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đưa mắt nhìn nhau, rồi rảo bước đi vào trà quán. Vào bên trong, bọn họ nhìn thấy một trung niên nhân vận thanh y trường bào, tóc cột dây tơ, tay cầm quạt lông, ung dung phe phẩy. Trên chiếc bàn trước mặt có một chiếc khay gỗ, một chiếc phách để gõ nhịp và một bình trà. Qua lời nói của những người trong quán, bọn Nguyễn Trãi biết được đó là thuyết thư nhân, và bọn họ không biết rằng thuyết thư nhân còn là quan viên của Đế quốc, dù chức vị nhỏ, nhưng được Giang Phong đặc biệt trọng thị.

Tìm bàn ngồi xuống, gọi một bình trà và vài món bánh trái, cả hai ngồi yên chờ nghe thuyết thư nhân nói chuyện, sẵn tiện tìm hiểu phong tục phương nam. Ở nơi đất lạ quê người, bọn họ trở nên cẩn thận hơn, không dám mạo muội xen vào những việc không liên quan đến mình.

Thuyết thư nhân nhấp nháp chung trà thấm giọng xong, cầm phách lên gõ nhịp, hắng giọng ngâm rằng :

“Đại Việt xưa,
Có lắm trang tuấn kiệt hùng anh.
Trải mấy ngàn năm lịch sử lừng danh
Biết bao gương oai hùng sáng lạn
Một lòng tranh đấu, gìn giữ cho giang san
Cho nước nhà thịnh trị bình an
Lòng không nề nguy hiểm gian nan
Chỉ mong Tổ quốc bền vững vinh quang.
Xưa kia dân ta lắm điều khổ cực
Dưới quyền thống trị của nước Tàu
Thuở ấy có vị nữ anh hùng họ Trưng
Cùng đứng lên để lo dẹp giặc
Trước là bảo vệ đất nước non sông
Sau quyết tâm rửa hận thù chồng
Hai bà phất cờ cưỡi voi ra trận
Đánh đuổi lũ quân Tàu
Mê Linh từ nay rạng ánh thanh bình
Nước non nhà dứt nạn chiến chinh.”

Mọi người vỗ tay cổ vũ. Nhiều người bỏ tiền vào chiếc khay gỗ trước mặt thuyết thư nhân. Có ai đó nói :

- Đào tiên sinh. Tấu một đoạn nào nói về quê ta đi.

Những người khác đua nhau khen phải. Thuyết thư nhân tươi cười gật đầu, gõ phách ca rằng :

“Chín năm qua,
Xây dựng quê nhà,
Hào hùng thay khúc tráng ca.
Hội An quê ta
Trải chín mùa xuân ngát hương hoa
Trên quê hương sâu nặng nghĩa tình
Thương sao miền đất quê mình
Đã từng bước trưởng thành
Từ sau cuộc chiến tranh
Biết bao mất mát đau thương
Của những năm tháng u buồn
Thuở nơi đây là bãi chiến trường
Một thời tang tóc bởi đao thương.
Chín năm qua ngày hòa bình lập lại
Quê ta chuyển mình cất cánh vươn vai
Hội An phố thị hôm nay
Ước hẹn sáng ngời tương lai.”

Ở trà quán cả buổi, nghe thuyết thư nhân ca ngâm cho đến xế chiều, thấy đã đến giờ phải về thuyền, bọn Nguyễn Trãi mới rời Hội An, ra bến xuống thuyến. Nguyễn Trãi có quan hệ khá tốt với một thương nhân trên thuyền, do đó cả hai liền theo người đó nhờ dạy cho văn tự của Đế quốc. Thứ chữ này đọc sao viết vậy, rất đơn giản, đối với bọn Nguyễn Trãi sẽ chẳng mất nhiều thời gian để có thể đọc viết thông thạo.


Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
14-11-2010, 10:05 PM
Chương 75 : ĐẾN GIA ĐỊNH THÀNH


Thương thuyền tốc độ không nhanh, lại chở nặng, nên mất khoảng 10 ngày mới đến được khu vực Long Sơn. Đi dọc theo bờ biển, từ Hội An Thành (Đà Nẵng ngày nay) đến Long Sơn huyện (Vũng Tàu ngày nay) ước khoảng 1.000 kilômét, do không có nhiều gió nên thuyền chỉ đi được khoảng 100 kilômét mỗi ngày (tính ra chỉ hơn 4 kilômét mỗi giờ, là tốc độ thông thường của các thuyền buồm thời bấy giờ).

Ở tận cùng mũi đất nhô ra ngoài biển của Long Sơn huyện có một pháo đài với nhiều khẩu thần công cỡ lớn, để kiểm soát vịnh Long Sơn, nơi cửa biển của sông Gia Định. Mọi hải thuyền lớn nhỏ muốn vào sông Gia Định đều phải ghé cảng Long Sơn, đến Hải quan ty xin giấy phép xuất nhập quan khẩu. Gia Định là kinh đô của Thần Thánh Đế quốc, nên được kiểm soát nghiêm ngặt hơn những nơi khác.

Thuyền tiến vào vịnh Long Sơn. Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đứng bên ngoài khoang thuyền xem phong cảnh. Thuyền bè ra vào tấp nập, quang cảnh nhộn nhịp khiến cả hai đều kinh ngạc. Nhất là khi nhìn rất nhiều thuyền lớn có đến 6, 7 cột buồm, dài hơn 10 trượng, cả hai đều phải thán phục sự giàu mạnh của Thần Thánh Đế quốc. Đại Việt xưa nay chưa bao giờ có được cảnh này.

Đột nhiên, Trần Nguyên Hãn chỉ về một hướng, bật kêu lên thảng thốt :

- Nhìn kìa !

Nguyễn Trãi vội quay nhìn về hướng đó, và cũng giật mình thất sắc. Trước mắt hai người họ là một chiếc thuyền khổng lồ, thật lớn, cực kỳ lớn, vô cùng lớn. Thuyền của bọn họ ở bên chiếc thuyền đó, chênh lệch quá lớn. Lão thương nhân đang đứng gần đó, thấy hai người như thế, vuốt râu cười nói với vẻ tự hào :

- Đó là Thất Tinh cấp vận hạm, phụ trách vận chuyển lương thực, khí giới cho quân viễn chinh ở Kim Lăng. Thuyền dài 50 trượng, rộng 18 trượng, cao 2 trượng, tải trọng khoảng 1 ức rưỡi cân. Hải quân của Đế quốc còn có Lục Tinh cấp chiến hạm lớn hơn nữa. Và ta còn nghe nói các vị Học sĩ ở Thái Học Viện đang nghiên cứu chế tạo Ngũ Tinh cấp chiến hạm.

Hầu như bất cứ thần dân nào của Đế quốc, khi nhìn thấy những chiến hạm khổng lồ như thế đều cảm thấy tự hào, nhất là khi giới thiệu nó với người lạ. Bọn Nguyễn Trãi liền nhân cơ hội đó, hỏi han về Thần Thánh Đế quốc, về Gia Định Thành.

Khi thuyền cập vào Long Sơn cảng, lão thương nhân bảo :

- Chúng ta ở lại thuyền, đừng lên bến. Thuyền chỉ ghé vào đây giây lát để xin giấy phép xuất nhập quan khẩu, rồi sẽ đi ngay. Đến chiều chúng ta sẽ có thể nghỉ ngơi ở Gia Định Thành rồi.

Nói đến đây, lão chợt vuốt râu tán thán :

- Gia Định Thành là tòa thành tuyệt vời nhất trên thế gian. Trường Thanh Cung cũng là cung điện vĩ đại nhất trên thế gian. Khi nghỉ hưu, ta nhất định sẽ đến Gia Định Thành sinh sống, an dưỡng tuổi già. Ta đã xin được giấy phép định cư ở Gia Định rồi.

Nguyễn Trãi ngạc nhiên hỏi :

- Muốn sinh sống ở Gia Định Thành cũng phải xin phép nữa sao ạ ?

Lão thương nhân vuốt râu cười nói :

- Đương nhiên. Bất kỳ ai muốn định cư ở Gia Định Thành đều phải xin phép. Người lạ sau khi xin phép nhập thành đều chỉ được ở lại không quá nửa tháng. Nếu quá hạn, có lý do chính đáng thì có thể xin gia hạn, bằng không, khi bị phát hiện sẽ bị tống giam đó.

Thuyền chỉ ghé lại Long Sơn cảng ước khoảng nửa canh giờ, sau khi nhân viên của Hải quan ty lên thuyền tra xét xong thì nhổ neo tiếp tục khởi trình, hướng vào sông Gia Định. Trên mặt sông, thuyền bè đi lại tấp nập, thuyền lớn thuyền nhỏ đủ cả. Thủy thủ trên các thuyền có rất nhiều dân tộc, cho thấy thuyền đến từ nhiều địa vực khác nhau.

Đến chiều, thuyền cập cảng Gia Định. Cảng nằm ngay cạnh một khu thương mại sầm uất, trên bến dưới thuyền, cảnh mua bán náo nhiệt vô cùng, hàng hóa xuất nhập liên tục, có gốm sứ, tơ lụa, trà diệp, hương liệu, thủ công mỹ nghệ, lâm sản, hải sản, … Hàng hóa chủng loại phong phú và nhiều vô kể.

Thuyền cập cảng. Trong lúc chúng thương nhân lo tìm đối tác tiến hành mua bán thì Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn tiến thành.

Gia Định Thành được xây dựng sau khi Trường Thanh Cung đã hoàn công, chu vi 100 dặm (tức 40 kilômét, rộng hơn thành Bắc Kinh vốn chỉ có chu vi 24 kilômét), cao 4 trượng, dày từ 4 đến 5 trượng (trên đỉnh và dưới chân tường), cứ cách 50 trượng có một pháo đài, bố trí thần công đại pháo. Thành được xây hoàn toàn bằng gạch và thạch nê, bên trong có cốt sắt (chứ không đắp bằng đất giống như thành Thăng Long; hoặc chỉ có lớp đá mỏng, dày khoảng 0,7 mét ở mặt ngoài như thành Tây Đô của nhà Hồ). Bên ngoài có hộ thành hà rộng 10 trượng, sâu ước 2 trượng. Thành môn quy hô hùng vĩ, thành lâu tráng lệ huy hoàng. Đứng trước thành môn, bọn Nguyễn Trãi không khỏi choáng ngợp, thầm nhủ rằng trên thế gian không có tòa thành nào vĩ đại hơn Gia Định Thành. Trần Nguyên Hãn cảm thán :

- Thật là một tòa thành vĩ đại !

Thăng Long Thành tuy là tòa thành lớn nhất Đại Việt, nhưng so với Gia Định Thành thì giống như huyện thành so với kinh thành - không thể so sánh.

Sau khi trình ‘thông hành chứng thư’ bọn Nguyễn Trãi được thủ thành sĩ binh chỉ đường đến Chính vụ ty đăng ký tạm trú, sau đó cả hai nhập thành. Đi qua thông đạo dưới thành môn, bọn Nguyễn Trãi kinh ngạc khi phát hiện phố thị không chật chội như ở Thăng Long. Đại lộ chính rộng 20 trượng. Những đại lộ nhỏ hơn rộng 10 trượng, 15 trượng ngang dọc như bàn cờ. Xen giữa là những đường phố nhỏ hơn, chỉ rộng 5 trượng, cắt ngang qua các đại lộ. Mặt đường bằng phẳng và sạch sẽ. Phố xa phồn hoa, náo nhiệt nhưng không hề hỗn loạn. Dân chúng sống trong những tòa nhà xây bằng gạch, cao 2, 3 tầng, chỉnh tề sang trọng. Trong thành không hề nhìn thấy những ngôi nhà gỗ xiêu vẹo, cũng không có những con hẻm nhỏ tối tăm của dân nghèo, mà vẫn thường được gọi là bần dân khu.

Trong lúc Nguyễn Trãi mãi ngắm nhìn phố xá, Trần Nguyên Hãn giục :

- Chúng ta đến Chính vụ ty trước đã.

Nguyễn Trãi gật đầu khen phải. Thế là cả hai theo hướng dẫn của sĩ binh ở thành môn mà tìm đến Chính vụ ty. Ở đó, cả hai được quan viên hướng dẫn điền vào một biểu mẫu xin tạm trú, in dấu tay đầy đủ, rồi được cấp giấy phép tạm trú nửa tháng. Sau đó, cả hai hỏi thăm đường, tìm khách sạn thuê phòng nghỉ lại. Ở Thần Thánh Đế quốc, chỉ có khách sạn chứ không có khách điếm.

Sau đó, cả hai bắt đầu đi dạo, tham quan Gia Định Thành, mà mục tiêu đầu tiên là Trường Thanh Cung. Dù không thể vào bên trong, nhưng đi dạo bên ngoài cũng đủ thấy sự vĩ đại của nó. Tường thành của cung điện có chu vi 40 dặm (tức 16 kilômét), quy mô hùng vĩ hơn cả Thăng Long Thành. Giờ đây, cả hai mới nhận thấy lời nói của lão thương nhân trên thuyền quả không sai. Trên thế gian khó tìm được một cung điện nào khác vĩ đại hơn Trường Thanh Cung.



Trong lúc Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đi dạo bên ngoài thì Giang Phong ngự trong Tử Tiêu Điện xem báo cáo về những hành động của hai người bọn họ thời gian qua. Do được Lý Tử Tấn tiến cử, Quảng Tế Pháp sư rất trọng thị hai người bọn Nguyễn Trãi, và đã chỉ thị Ám bộ theo dõi hành tông của bọn họ. Lão đã biết trước hai người bọn họ sẽ vào Gia Định, vì sau khi gặp bọn họ, Phạm Thế Căng đã sai người đưa tin về triều. Có điều, hiện tại triều đình không thiếu quan viên, mà Giang Phong cũng không có hứng thú với Bình Ngô Sách, cũng như tư tưởng nho gia của Nguyễn Trãi, nên tạm thời chưa cho triệu kiến, chờ thời gian rèn luyện bọn họ.

Đọc xong báo cáo, Giang Phong mỉm cười nói :

- Gã Nguyễn Trãi này cũng thú vị nhỉ.

Thấy Giang Phong mỉm cười, Quảng Tế Pháp sư biết rằng việc này xem như đã xong. Sau này sẽ có Lý Tử Tấn chiếu cố hai người bọn họ. Quảng Tế Pháp sư lại hỏi :

- Thánh hoàng. Thế vụ việc nô lệ Hán tộc xử lý thế nào ạ ?

Tù binh bắt được từ Minh triều ban đầu đều được sung làm khổ công giống như những tù binh khác. Nhưng giới sĩ phu, quan lại Hán tộc vốn bị tư tưởng nho gia hun đúc lâu năm, không chịu yên phận mà thường xuyên sinh sự thị phi, khiến các trại khổ công không thể nào yên tĩnh được. Giang Phong tức giận, đã truyền chỉ biến bọn họ thành nô lệ. Nghe nhắc đến việc đó, Giang Phong khẽ cau mày, ngẫm nghĩ giây lát, rồi nói :

- Nữ thì bán trong nước, còn nam thì bán sang Âu châu.

Âu châu hơn 50 năm trước đã trải qua một trận đại dịch ‘Cái chết đen’ làm dân số giảm gần một nửa, do đó đang rất cần lao động lực, và nam nô lệ là một lựa chọn khả thi. Còn nữ nô lệ là sinh sản lực, có thể giúp dân số của Đế quốc tăng thêm, nên sẽ không bán ra nước ngoài. Một nam ba nữ mỗi năm có thể sinh ba người con, nhưng một nữ ba nam mỗi năm chỉ có thể sinh được một người con mà thôi. Vì thế, tỉ lệ sinh nhiều hay ít phụ thuộc nhiều vào số phụ nữ (đương nhiên đối với trường hợp đàn ông vô sinh là ngoại lệ).



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-11-2010, 02:12 PM
Chương 76 : SỨ GIẢ CỦA NAPOLI


Ngoài các vụ trên, kỳ này lại còn xảy ra nhiều việc khác. Quảng Tế Pháp sư tiếp tục bẩm tấu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Các tướng quân Hồi giáo ở Syria, phía bắc Jerusalem, xứ A Lạp Bá, dâng biểu xin thần phục bản triều và xin thành lập các tiểu quốc Hồi giáo. Thỉnh Thánh hoàng định đoạt.

Trước đây các xứ Syria (thời trước thế kỷ 20 gồm cả Lebanon), Jerusalem (gồm cả Israel, Jordan, Palestine) đều thuộc về vương quốc Hồi giáo Mamluk ở Cairo. Nhưng sau khi Đế quốc chiếm giữ bán đảo Sinai và Jerusalem thì vương quốc Hồi giáo Mamluk bị chia thành 3 phần : phần Cairo và Thượng Ai Cập thuộc quyền kiểm soát của Al Muayyad Sayf Ad Din Tatar, quốc vương hiện tại của vương triều Mamluk; khu vực Alexandria và vùng tây bắc Ai Cập thuộc quyền kiểm soát của Al Adil Al Musta' in Billah, quốc vương bị lật đổ năm Nhâm Thìn (1412), chạy thoát đến Alexandria; và đất Syria (bị tách rời khỏi Ai Cập bởi bán đảo Sinai và Jerusalem) do các tướng lĩnh Mamluk tự cai quản, có khuynh hướng chuyển đổi thành các tiểu quốc Hồi giáo giống các xứ Somali và Yemen gần đó. Sau một thời gian chuẩn bị, đến lúc này, các tướng quân ở Syria đã dâng biểu cầu phong, mong muốn trở thành tiểu vương Hồi giáo.

Giang Phong ngẫm nghĩ giây lát, rồi phán :

- Cắt phần Tripoli khỏi Jerusalem, thành lập tỉnh Tripoli, gồm cả các xứ Syria.

Quảng Tế Pháp sư cung kính lĩnh chỉ. Điều đó có nghĩa là các khu vực thuộc Syria trở thành một tỉnh riêng, với vùng ven biển, gồm Tripoli (nay thuộc Lebanon, trước đó có thời gian là tiểu quốc Tripoli của các Hiệp sĩ Thập tự chinh cho đến khi bị người Ai Cập chiếm giữ) và các vùng lân cận do Đế quốc kiểm soát; khoảng 90% diện tích còn lại sẽ do các tướng lĩnh Mamluk tự cai quản với các tiểu quốc Hồi giáo của mình. Thể chế ở đây sẽ giống với 2 tỉnh Somali và Yemen ở gần đó.

Tiếp đó, Quảng Tế Pháp sư lại tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Việc tuyển mỹ nữ nhập cung nên xử lý thế nào ạ ?

Trong cung quá trống vắng không có lợi cho quốc vận, các vị văn võ đại thần đều nghĩ vậy, nên cuối cùng Giang Phong cũng đã chấp thuận tuyển mỹ nữ nhập cung. Có điều tuyển thế nào, quy mô ra sao, phạm vi tuyển, … còn chờ định đoạt. Giang Phong hỏi :

- Ý quần thần thế nào ?

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Để cho công bằng, chúng thần nghĩ nên tuyển trong phạm vi toàn quốc, chia đều cơ hội cho các tỉnh. Hơn nữa, để khỏi mang tiếng kỳ thị, mọi dân tộc đều tuyển. Nếu như có ai không hợp thánh ý thì vẫn có thể cho làm phổ thông cung nhân, hoặc ban cho những ai có công. Dù sao thì cũng đều là mỹ nữ cả.

Giang Phong trầm ngâm giây lát, đoạn phán :

- Tuyển mỗi tỉnh một người. Các nước chư hầu vẫn có thể tham gia. Không giới hạn dân tộc.

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Hiện tại bản triều có 95 tỉnh; cộng thêm các xứ Đông Doanh, Mông Cổ xin lấy thêm 5 người nữa cho đủ 100.

Giang Phong bằng lòng. Tuyển chẵn 100 cho may mắn. Số 100 xưa nay vẫn là số hên. Nhân sinh bách tuế, bách niên giai lão, bách quan, bách tính, Bách Việt, … Nghe nói cả nước có đến 95 tỉnh, Giang Phong cũng không ngờ, liền lấy sổ sách ra xem lại. Bọn Quảng Tế Pháp sư chia tỉnh tùy theo khu vực, lớn nhỏ khác nhau. Lớn nhất là Minh Châu (Úc), nhỏ nhất là Đài Loan (gồm cả Lưu Cầu). Tổng cộng 95 tỉnh, kể luôn Tripoli.

Xong việc tuyển mỹ, Quảng Tế Pháp sư lại tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Hôm qua thần nhận được tin báo của Hồng Long Phân hạm đội Đô đốc Tôn Lương. Tôn Đô đốc bảo rằng sắp tới có Louis Đệ Tam của Napoli theo vận thuyền của phân hạm đội đến Gia Định, có việc muốn thương lượng với bản triều.

Giang Phong ngạc nhiên hỏi :

- Y đến có việc gì ?

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Theo tin tức thu được, vị Louis Đệ Tam đó trên danh nghĩa là Quốc vương của Napoli, nhưng ngôi vua đã bị người khác chiếm mất. Bắt đầu từ khoảng 40 năm trước đến giờ, ngôi vua của xứ Napoli này rất hỗn loạn và phiền nhiễu. Khi đó, nữ vương John Đệ Nhất không có con, đầu tiên chọn em họ của mình là Charles của Durazzo làm người thừa kế. Nhưng sau đó, giữa hai người nảy sinh xích mích, xem nhau như kẻ thù, nên John Đệ Nhất đã chọn Louis Đệ Nhất làm người thừa kế. Có điều chẳng bao lâu sau, Charles đem quân tấn công, bắt giam John, tự lên ngôi vua của Napoli và sau đó giết chết John trong tù. Louis Đệ Nhất đã mấy lần dẫn quân về giành lại ngôi vua, nhưng đều không thành công. Khi Charles qua đời thì con là Ladislas lên kế vị, nhưng vì còn nhỏ nên mất ngôi, bị trục xuất. Con trai của Louis Đệ Nhất là Louis Đệ Nhị lên kế vị, cũng chỉ được 3 năm thì bị Ladislas lật đổ. Khoảng 5 năm trước, Louis Đệ Nhị lại đem quân về giành lại ngôi vua, nhưng thất bại. Ladislas vừa mới mất năm nay, ngôi vua truyền cho chị của y là John Đệ Nhị. Louis Đệ Nhị không cam tâm nên mới phái trưởng tử là Louis Đệ Tam đi sứ sang bản triều. Bọn họ muốn tìm ngoại viện. Louis Đệ Tam hiện tại mới 11 tuổi. Khi tin tức truyền về triều, có lẽ bọn họ đã đến Tích Lan.

Giang Phong hỏi :

- Tình thế xứ đó thế nào ?

Quảng Tế Pháp sư tra duyệt tư liệu một hồi lâu, rồi mới chỉ lên trên địa đồ, tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Phía tây các xứ A Lạp Bá là Địa Trung Hải. Bán đảo La Mã nằm ngay giữa Địa Trung Hải, một đầu nối vào bờ phía bắc. Ở trung tâm bán đảo có thành La Mã, là lãnh địa của vị giáo chủ Cơ Đốc giáo La Mã. Phía nam bán đảo là vương quốc Napoli. Phía dưới vương quốc Napoli có một hòn đảo lớn, là Sicily, trước kia cũng là một vương quốc độc lập, nhưng giờ đây là thuộc địa của vương quốc Aragon ở bờ tây bắc Địa Trung Hải. Ngoài ra trên bán đảo còn có rất nhiều công quốc, lãnh địa lớn nhỏ khác như Florence, Genoa, Venice, … Chiến tranh xảy ra liên miên. Thậm chí hiện tại Cơ Đốc giáo La Mã còn có đến 3 vị giáo chủ ở Avignon, Bolonia và La Mã. Cả 3 đều tuyên bố là chính thống.

Giáo Hoàng là cách dịch sai của người Tàu, rồi người Việt lấy dùng. Người Tàu biết đến Thiên Chúa rộng rãi nhất có lẽ là thời kỳ Thái Bình Thiên Quốc. Hồng Tú Toàn tự xưng là người đại diện của Thiên Chúa ở nhân gian, rồi xưng Thiên Vương. Có lẽ người Tàu cho rằng Đức Cha ở La Mã phải có địa vị tôn quý hơn, nên phải gọi là Giáo Hoàng. Thật ra ở châu Âu chưa bao giờ sử dụng danh hiệu có nghĩa là Giáo Hoàng. Danh hiệu chính thức của Ngài là Giám mục La Mã, mục tử đoàn chiên chúa, và được gọi một cách tôn kính là Papal hay Pope, dịch đúng nghĩa phải là Đức Cha, người Việt còn gọi là Đức Thánh Cha (thời kỳ Trung Cổ, ở miền trung nước Ý có Papal States – nước của Đức Cha). Vào khoảng đầu thế kỷ 15 này, ngay cả ở Trung Hoa cũng chưa có cách gọi ‘Giáo Hoàng’. Người Hán, người Việt thường gọi người đứng đầu các giáo phái là ‘giáo chủ’ : giáo chủ Bạch Liên giáo (Minh giáo hay Hỏa giáo), giáo chủ Thiên Sư giáo (Đạo giáo), … Do đó trong truyện sẽ sử dụng từ ‘giáo chủ’ cho phù hợp với hoàn cảnh. Khi nói đến ‘giáo chủ của Cơ Đốc giáo La Mã’ tức là nói đến ‘Giáo Hoàng’, còn ‘giáo chủ của Cơ Đốc giáo Phương Đông’ tức là chỉ ‘Thượng phụ giáo chủ của Chính Thống giáo’.

Giang Phong ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi phán :

- Napoli cũng chỉ là một tiểu quốc, khi tiếp đãi chỉ cần sử dụng lễ tiết như với các phiên chủ của Đông Doanh, tộc trưởng của Mông Cổ hay tiểu vương Hồi giáo, tương đương hầu tước của bản triều.

Ý bản thân chưa phải là một nước lớn (chỉ tính phần bán đảo), đằng này Napoli chỉ là phần phía nam của Ý, dù xưng là vương quốc thì đối với Đế quốc cũng chỉ là tiểu vương. Hơn nữa, cha con Louis nhà Valois chỉ là vua của Napoli trên danh nghĩa, ngai vàng đã bị cướp mất hơn 20 năm nay.



Những người mà bọn Giang Phong nói đến lúc này đã đến được Tân Thành, một thành thị nằm trên một hòn đảo ở ngay mũi đất cực nam của Mã Lai bán đảo. Louis Đệ Tam do còn nhỏ nên có một vị lão thần là Ferdinand Caracciolo đi cùng, với một số cận vệ. Bọn họ chỉ đi nhờ vận thuyền của Hồng Long phân hạm đội đến Tích Lan, rồi theo thương thuyền để đến Gia Định. Hôm nay, thương thuyền ghé lại Tân Thành, và bọn họ quyết định tiến thành tham quan.

Bọn họ đầu tiên đi dạo một vòng thành thị, để Louis Đệ Tam và Ferdinand Caracciolo tìm hiểu phong tục của Thần Thánh Đế quốc. Tân Thành, có thể nhiều người không nhớ được tên này, nó chính là hòn đảo Singapore nằm trong eo biển Malacca, và cũng là đất nước Singapore (Tân Gia Ba). Tân Thành không có tài nguyên để phát triển, nhưng nằm ngay trên Hoàng kim hải đạo, là căn cứ hậu cần của những tàu thuyền đi trên tuyến hải vận Đông – Tây, nhờ vậy mà kinh tế rất phát triển, nhất là thương mại, đặc biệt phồn vinh. Nhiều thương thuyền đến từ A Lạp Bá, để tiết kiệm thời gian đi lại, chỉ đi đến đây, bán hàng hóa của phương tây, rồi mua đặc sản của phương đông chở về.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-11-2010, 02:14 PM
1 An Phú Nam đảo Luzon 104,688
2 Lã Tống Bắc đảo Luzon
3 Nam An Đảo Visayas 61,077
4 Định An Tây đảo Mindanao 128,110
5 Hòa An Đông đảo Mindanao
6 Puni 9 tỉnh đảo Borneo 743,330
7 Hải An
8 Hải Châu
9 Hải Dương
10 Hải Đường
11 Hải Hưng
12 Hải Ninh
13 Hải Phú
14 Hải Thanh
15 Gia Định Nam bộ Việt Nam 63,294
16 Tân Hóa Bắc đảo Sulawesi 174,600
17 Tân An Nam đảo Sulawesi
18 Tân Định Đảo Maluku 74,505
19 Cát Long Pha 2 tỉnh Mã Lai bán đảo 131,598
20 Cát Lan Đan
21 Tân Ân vùng Tanintharyi (Myanma) 43,328
22 Tân Ý Mã Lai bán đảo (thuộc Thái) 88,503
23 Lamuri 8 tỉnh đảo Sumatra 470,000
24 Batak
25 Pane
26 Padang
27 Jambi
28 Palembang
29 Lampung
30 Bengkulu
31 Kalapa 2 tỉnh đảo Java 126,700
32 Kediri
33 Bali Quần đảo Sunda nhỏ 88,627
34 Phú Yên Nam trung bộ Việt Nam 44,257
35 Tây Nguyên Việt Nam 54,475
36 Nam Vang 3 tỉnh xứ Khmer 178,035
37 Cao Miên
38 Angkor
39 Thái Nam 5 tỉnh xứ Thái 86,115
40 Thái Đông 83,180
41 Thái Trung 83,791
42 Thái Bắc 85,852
43 Khorat 85,674
44 Viên Thành 3 tỉnh xứ Lào 232,350
45 Sa Thành
46 Sầm Châu
47 Đông An 9 tỉnh đảo New Guinea 786,000
48 Đông Anh
49 Đông Bình
50 Đông Ba
51 Đông Cơ
52 Đông Cương
53 Đông Hà
54 Đông Hiệp
55 Đông Hưng
56 Tích Lan Đảo Sri Lanka 65,000
57 Đài Loan 38,251
58 Thuận Hóa Bắc trung bộ Việt Nam 51,511
59 Thăng Long Đông bắc Việt Nam 52,814
60 Trấn Ninh Tây bắc Việt Nam 62,432
61 Sinai Bán đảo Sinai + bờ tây Suez 65,000
62 Minh Châu Úc châu 7,686,850
63 Yemen Yemen + bờ đông Hồng Hải 1,127,970
64 Somali Somali và bờ tây Hồng Hải 937,657
65 Jerusalem Israel, Palestine, Jordan 119,270
66 Vân Nam 5 tỉnh xứ Vân Nam (Tàu) 394,100
67 Đại Lý
68 Lệ Giang
69 Bảo Sơn
70 Trấn Khang
71 Quý Dương 2 tỉnh xứ Quý Châu (Tàu) 176,100
72 Vĩnh Ninh
73 Quế Lâm 3 tỉnh xứ Quảng Tây (Tàu) 236,700
74 Tư Minh
75 Nam Ninh
76 Quảng Châu 3 tỉnh xứ Quảng Đông (Tàu) 177,900
77 Quỳnh Châu
78 Triều Châu
79 Trường Sa 3 tỉnh xứ Hồ Nam (Tàu) 211,800
80 Hành Sơn
81 Nguyên Châu
82 Chương Cống 2 tỉnh xứ Giang Tây (Tàu) 166,900
83 Cửu Giang
84 Phúc Châu 2 tỉnh xứ Phúc Kiến (Tàu) 121,400
85 Tuyền Châu
86 Kim Lăng 2 tỉnh xứ Giang Tô (Tàu) 108,940
87 Trường Hưng
88 Hàng Châu 2 tỉnh xứ Chiết Giang (Tàu) 101,800
89 Ôn Châu
90 An Khánh 2 tỉnh xứ An Huy (Tàu) 139,400
91 Huy Châu
92 Kinh Châu 3 tỉnh xứ Hồ Bắc (Tàu) 185,900
93 Nghi Xương
94 Tùy Châu
95 Tripoli Syria (gồm cả Lebanon) 195,630

gianghoaingoc
17-11-2010, 12:54 PM
Chương 77 : THAM QUAN TÂN THÀNH


Lại nói, bọn Louis Đệ Tam và Ferdinand Caracciolo đi tham quan Tân Thành để tìm hiểu phong tục của Thần Thánh Đế quốc. Đây là lần đầu tiên bọn họ đi ra ngoài Âu châu, nên nhìn gì cũng thấy mới lạ. Louis Đệ Tam sau khi quan sát một hồi, bỗng nói :

- Caracciolo. Ta thấy ở đây không hề có người nghèo nha. Thần Thánh Đế quốc quả là giàu có !

Ferdinand Caracciolo nói :
- Thiếu chủ. Nghe nói ở Thần Thánh Đế quốc, người nghèo chỉ sống ở các vùng nông thôn mà thôi. Sống ở thành thị đều là người giàu có cả. Còn Thần Thánh Đế quốc giàu có là sự thật. Quốc thổ quá rộng lớn, tài nguyên quá sung túc, hàng hóa quá phong phú mà. Nghe nói ở Thần Thánh Đế quốc bấy lâu nay không hề xảy ra nạn đói.

Một lão nhân đi cùng bọn họ chợt góp lời :

- Ta còn nghe nói khoảng 2 năm trước, vương quốc Vijayanagara ở nam Thiên Trúc đã cống hiến cho triều đình Thần Thánh Đế quốc 1.600 vạn kim tệ. Ta không thể tưởng tượng nổi số vàng đó phải chở bao nhiêu thuyền mới hết. Như thế của đủ thấy Thần Thánh Đế quốc giàu đến mức nào !

Ferdinand Caracciolo giật mình hỏi :

- Nhiều đến thế ư ?

Lão nhân này xem ra có vẻ là đại nhân vật, bí mật đi theo sứ đoàn, bởi xem thái độ của Ferdinand Caracciolo đối với lão cũng không thua đối với thiếu chủ của mình. Lão nhân gật đầu bảo :

- Đúng thế. Ngoài ra hàng năm các tỉnh đều tiến cống vô số tài bảo về Gia Định. Nghe nói Gia Định Thành là tòa thành thị vĩ đại nhất thế giới. Ở đó lại có tòa cung điện vĩ đại nhất mọi thời đại.

Louis Đệ Tam vẫn chưa có khái niệm rõ ràng về kim tệ, nên hỏi :

- 1.600 vạn kim tệ là bao nhiêu ?

Ferdinand Caracciolo giải thích :

- Thiếu chủ. Kim tệ nặng hơn florin một chút. Tỷ lệ quy đổi phổ biến là 11 florin đổi được 10 kim tệ. Như vậy 1.600 vạn kim tệ tương đương 17.600.000 florin.

Florin là đơn vị tiền tệ của Ý, và được sử dụng phổ biến khắp châu Âu vào thời Trung Cổ, trở thành đồng tiền chung của toàn châu Âu thời bấy giờ (đơn vị tiền tệ trong game ‘Medieval : Total War’ cũng là florin). Florin ban đầu là đồng tiền vàng của nước cộng hòa Florence, nên được gọi là florin. Florence là trung tâm thương mại và tài chính của châu Âu vào lúc đó, các ngân hàng của Florence có chi nhánh ở khắp châu Âu, do đó florin trở nên thông dụng. Các nước khác ở châu Âu sau này đúc đồng tiền vàng cũng theo quy cách của florin và cũng gọi là florin, chỉ có hình và chữ trên đồng tiền là khác. Mỗi florin tiêu chuẩn nặng 54 grain vàng (tức khoảng 3,5 gam). Một lượng vàng nặng 37,5 gam. Như vậy, 10 kim tệ = 1 lượng vàng = 37,5 gam; còn 11 florin = 38,5 gam. Lấy florin đổi kim tệ phải chịu thiệt một ít, bởi vì sau đó Đế quốc còn phải mang florin đúc lại thành kim tệ, phải tốn thêm chi phí. Ở Thần Thánh Đế quốc chỉ được phép sử dụng kim tệ trong giao dịch, vì vậy mà các thương nhân phương tây cũng đã dần dần có thói quen sử dụng kim tệ, để mua bán với thương nhân của Thần Thánh Đế quốc được thuận tiện hơn. Hiện tại, do chiến tranh ở phương bắc, ‘Con đường Tơ lụa’ trên bộ đã trở nên rất nguy hiểm, thương mại đường biển trở thành lựa chọn hàng đầu của thương nhân phương tây. Ngoài ra, Trung Hoa chiến loạn, sản xuất đình đốn, thương nhân chỉ có thể mua hàng hóa của Thần Thánh Đế quốc mà thôi.

Louis Đệ Tam cả kinh nói :

- Nhiều đến thế ư ? Với số tiền đó, có thể mua được bao nhiêu là lãnh địa.

Lão nhân nói :

- Thần Thánh Đế quốc không có chuyện mua bán lãnh địa. Toàn bộ quốc thổ đều thuộc về Hoàng đế.

Louis Đệ Tam nói :

- Lúc đi qua Hồng Hải, chẳng phải chúng ta thấy có vô số tiểu quốc hay sao ? Kể cả vùng bắc Jerusalem cũng vậy. Các tiểu vương ở đó đều nhận mình là thần tử của Thần Thánh Đế quốc.

Lão nhân nói :

- Một số vùng xa xôi tuy có phong đất cho quý tộc, thành lập các vương quốc, công quốc, … Nhưng những lãnh địa đó vẫn thuộc về Hoàng đế. Một khi bọn họ làm cho Hoàng đế không hài lòng thì lãnh địa có thể bị thu hồi. Các lãnh địa không có người thừa kế cũng sẽ bị thu hồi. Ở Thần Thánh Đế quốc, Hoàng đế là Thần, có quyền tối thượng.

Louis Đệ Tam nói với vẻ âu lo :

- Như thế quý tộc của Thần Thánh Đế quốc không thể đảm bảo được tài sản của mình ư ? Lãnh địa của bọn họ có thể bị thu hồi bất kỳ lúc nào, chỉ cần Hoàng đế không hài lòng !

Lão nhân nói :

- Vấn đề là Thần Thánh Đế quốc quá hùng mạnh, kháng cự chỉ có thể bị diệt vong. Hơn nữa, so với các quý tộc ở La Mã, quý tộc ở Thần Thánh Đế quốc an định và phú túc hơn nhiều. Chỉ cần đừng làm điều gì khiến Hoàng đế bất mãn thì chẳng sao cả. Với lãnh thổ quá rộng lớn, nếu như đừng làm gì quá đáng thì triều đình cũng không rảnh mà hỏi đến.

Nói đến đây, lão quay sang một trung niên nhân bên cạnh, hỏi :

- Dayan. Có phải thế không ?

Trung niên nhân là người Âu, nhưng lại vận y phục theo kiểu của Thần Thánh Đế quốc. Y là người Do Thái, tên đầy đủ là David Ben Dayan, trước đây sống ở miền bắc Ý Đại Lợi bán đảo, gần công quốc Milan. Sau vì muốn tránh bị kỳ thị mà cùng những người Do Thái khác di cư đến Jerusalem, trở thành thần dân của Thần Thánh Đế quốc. Do gia cảnh giàu có, lại giỏi việc thương mại, y đã mua một chiếc thương thuyền, hoạt động trên tuyến hải vận Gia Định – Sinai. Lão nhân kia có quen biết y lúc còn ở Ý, nên đã theo thuyền của y đến Gia Định. Giờ đây, đã là thần dân của Thần Thánh Đế quốc, theo như dân gian thường gọi là ‘cao nhân nhất đẳng’, y không cần cung kính đối đãi bọn Louis Đệ Tam như trước kia nữa. Trước đây, khi đối diện lão nhân kia, y còn phải quỳ xuống lạy chào, bởi ở Ý, thậm chí ở cả Âu châu, lão có thân phận rất tôn quý. Lão chính là George Đệ Nhất, Vương tử - Giám mục của Trento, một lãnh địa ở bắc Ý, hiện tại là chư hầu của Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức (Đế quốc La - Đức, gồm miền bắc Ý, Đức, Áo và một số quốc gia đông Âu khác). Lão sang Gia Định có hai nhiệm vụ chính : một cho giáo hội, tìm kiếm sự ủng hộ cho Công đồng Constance trước sự uy hiếp của Ladislas (vua thực tế của Napoli, mấy năm trước đã đánh chiếm Roma, đánh đuổi giới lãnh đạo của giáo hội); một cho bản thân mình, do Trento đang bị đe dọa chiếm đóng bởi quân đội Áo – Tyrolese (của Frederick Đệ Tứ, Công tước Áo, Bá tước Tyrol).

Nghe hỏi, y điền đạm nói :

- Đúng thế. Cuộc sống ở Đế quốc an định và phú túc hơn nhiều. Cũng có rất nhiều tiện nghi để hưởng thụ cuộc sống. Ngay cả một thương nhân như ta cũng còn được hưởng thụ tốt hơn công tước, hầu tước ở Âu châu. Ở Đế quốc, không ai bị kỳ thị vì sắc tộc hay tôn giáo, chỉ phân biệt thái độ đối với Đế quốc, thần phục hay chống đối mà thôi.

Louis Đệ Tam than :

- Đúng thế. Ở chỗ ta chẳng có gì khác để giải trí ngoài yến tiệc và khiêu vũ. Ngày ngày cứ như thế, sinh hoạt chẳng còn có hứng thú gì nữa.

Ferdinand Caracciolo nói :

- Thiếu chủ. Còn có đua ngựa và đấu kiếm nữa nha.

Louis Đệ Tam lắc đầu nói :

- Hai trò đó ta đâu có tham gia được.

Louis Đệ Tam mới 11 tuổi, nên chưa thể tham gia hai trò nguy hiểm đó. David Ben Dayan nghe thế, cười nói :

- Nếu các vị có hứng thú thì ta xin mời các vị cùng đi thưởng thức một trò giải trí của Đế quốc.

Louis Đệ Tam nghe nói, hai mắt sáng rỡ, vội gật đầu nói :

- Phải đó. Chúng ta đi thôi.

Cả bọn theo David Ben Dayan đi về hướng đông bắc của thành thị. Trên đường đi, David Ben Dayan chỉ những tờ giấy lớn dán trên các bức tường, vẽ những hình ảnh nhiều màu sặc sỡ rất bắt mắt, nói :

- Đó là quảng cáo cho trận đấu sắp diễn ra ?

Louis Đệ Tam ngạc nhiên hỏi :

- Quảng cáo là gì ?

David Ben Dayan giải thích :

- Tức là giới thiệu về trận đấu, cổ động mọi người đi xem. Quảng cáo sẽ giúp nhiều người biết về thứ được quảng cáo hơn. Ví dụ như ta mang đặc sản từ Âu châu đến đây bán, nhưng người ở đây chẳng mấy ai biết đến, lúc đó ta có thể thuê quảng cáo để giới thiệu hàng hóa của mình cho mọi người biết. Quảng cáo có nhiều loại : có thể là dán tranh ảnh như thế này, cũng có thể thuê người đi khắp các đường phố mà rao hàng, giới thiệu, …

(chú : tên của giới quý tộc Âu châu thường có ‘Đệ Nhất’, ‘Đệ Nhị’, … đi kèm để phân biệt với tổ tiên họ khi trùng tên. Người Việt hiện giờ cũng có không ít người có tên trùng với tên của ông bà, còn nếu như xét đến mấy trăm năm hoặc nghìn năm trước, có lẽ ai cũng sẽ bị trùng tên với một vị tổ tiên nào đó. Quý tộc Âu châu truyền thừa mấy trăm năm, thậm chí cả nghìn năm, nên trùng tên là rất phổ biến. Ví dụ Hoàng đế đầu tiên của Đế quốc Byzantine (330 – 1453) là Constantine I, và Hoàng đế cuối cùng là Constantine XI, giữa họ còn có 9 vị Constantine khác. Cho đến thời hiện đại, nhiều người Âu Mỹ trong tên gọi vẫn có số thứ tự kèm theo, ví dụ như Bill Gates của Microsoft, có tên đầy đủ là William Henry Gates III).



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
17-11-2010, 04:25 PM
Chương 78 : TÂN THÀNH VẬN ĐỘNG TRƯỜNG


Lại nói, sau khi nghe David Ben Dayan giải thích về quảng cáo, Louis Đệ Tam lại hỏi :

- Trận đấu gì thế ?

David Ben Dayan nói :

- Túc cầu, một môn thi đấu rất được người dân Đế quốc ưa thích. Môn này đối kháng khích liệt, rất phù hợp với tinh thần thượng võ của người dân. Và môn này cũng thích hợp cho cả quý tộc và bình dân. Quý tộc thường tự tổ chức một đội túc cầu, thi đấu với những đội khác, giành lấy vinh dự. Còn bình dân thì xem thi đấu hoặc tham gia thi đấu.

Nói đến đây, y chỉ về phía một kiến trúc quy mô lớn ở phía trước, bảo :

- Đến rồi. Kia chính là Tân Thành Vận động trường, nơi tổ chức các sự kiện thi đấu diễn ra tại Tân Thành quận.

Tiếp đó mỗi người bỏ ra 10 ngân tệ để mua vé vào bên trong. Ở Vận động trường có 3 loại vé : Quý tân phòng, 10 kim tệ (được ngăn thành từng phòng riêng, có bàn ghế, trà kỷ, …); Quý tân khu, 10 ngân tệ, khu vực dành riêng cho giới giàu có; và Phổ thông khu, 10 đồng tệ, dành cho bình dân bách tính. Không phải bọn Louis Đệ Tam không muốn mua vé loại 1, nhưng vì không còn, đành phải chấp nhận vé loại 2. Sau đó, cả bọn vào trong, đến khu vực ghi trên vé. Cũng may là khu vực này chuyên dành cho giới giàu có, và cũng có không ít quý tộc ở đấy (số lượng Quý tân phòng có hạn, không phải ai cũng mua được vé loại 1), nên bọn Louis Đệ Tam cũng không cảm thấy khó chịu.

Túc cầu là một môn thể thao rất phổ biến ở thế giới của Giang Phong trước khi xuyên việt đến đây. Mấy năm trước, Giang Phong nhận thấy dân chúng thiếu thốn giải trí, sinh hoạt rất buồn chán, mà ‘nhàn cư vi bất thiện’, do đó Giang Phong đã cho phổ biến những môn thể thao có thể phổ biến được, để thần dân có nơi giải trí, phát tiết phần tinh lực vượng thịnh trong những lúc rảnh rỗi, trong đó có môn túc cầu. Môn túc cầu không cần điều kiện gì đặc biệt, chỉ cần một khoảng đất trống làm sân thi đấu là được, đương nhiên những trận đấu chính thức sẽ được tổ chức trong các Vận động trường. Vấn đề lớn nhất đối với túc cầu là ‘cầu’ (trái bóng). Thời này không có cao su. Bên Tàu trước đây làm cầu bằng bố hoặc vải (ngay thời Tống đã rất được giới quyền quý ưa thích, Cao Cầu nhờ giỏi đá cầu mà được làm quan lớn). Cầu bằng bố thì đàn hồi tốt, nhưng vì đặc ruột nên nặng, phải có sức lực mạnh mẽ mới đá được, mà cũng không thể đá xa, chỉ thích hợp giới quân nhân, võ sĩ. Cầu bằng vải thì nhẹ hơn, nhưng chỉ thích hợp đá bổng, đá qua đá lại trên cao. Giang Phong nhớ rằng có một môn thể thao gọi là cầu mây, liền cho người dùng mây đan thành cầu, bên ngoài bọc vải, sau nhiều phen nghiên cứu đã tạo ra được trái cầu rỗng ruột, đàn hồi tốt. Môn này được dân chúng đặc biệt ưa thích, chỉ sau vài năm là đã phổ biến ra toàn Đế quốc, từ thành thị cho đến thôn quê đều xuất hiện vô số các đội túc cầu.

Túc cầu đã trở thành một môn thể thao có quy mô toàn Đế quốc, nên cũng có một hệ thống các giải thi đấu hoàn chỉnh. Các đội túc cầu tùy thực lực mà được phân thành 3 hạng : nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng. Dưới nữa là nghiệp dư đội, không được xếp hạng. Mỗi hạng đều có các giải vô địch, được tổ chức hàng năm. Các đội lấy tỉnh làm đơn vị, cùng thi đấu với nhau, để thăng hạng hay xuống hạng. Mỗi tỉnh, nhất đẳng có 8 đội, mỗi năm có 2 đội xuống hạng; nhị đẳng có 12 đội, tam đẳng có 16 đội, mỗi năm đều có 2 đội thăng hạng và 2 đội xuống hạng. Mỗi 4 năm sẽ tổ chức giải vô địch toàn Đế quốc, vòng chung kết tổ chức ở Gia Định Thành, khiến cho các đội có thêm động lực phấn đấu.

Sự thật thì 3 năm trước, giải vô địch túc cầu toàn Đế quốc lần thứ nhất được tổ chức với quy mô cực kỳ hoành tráng, làm chấn động cả Đế quốc. Nhất là khi đội vô địch cùng một số nhân vật biểu hiện xuất sắc, được Giang Phong triệu kiến, cho tham gia yến tiệc ở Trường Thanh Cung. Sau đó còn phong tước quý tộc cho 1 số người (đương nhiên chỉ là tiểu quý tộc, chỉ có danh vị, chẳng có bổng lộc gì), làm cho những người giàu có nhưng chưa phải là quý tộc càng thêm phong cuồng. Quý tộc tuy chỉ là danh vị, nhưng giữa quý tộc và bình dân bách tính thân phận khác xa nhau rất nhiều. Ở đâu cũng vậy, quý tộc vẫn luôn tôn quý, vẫn là mục tiêu mà nhiều người hướng đến. Và ở Thần Thánh Đế quốc, còn có nhiều nơi, nhiều trò giải trí chỉ dành riêng cho giới quý tộc tham gia.

Đối với những việc đó, Giang Phong xem trọng nhất là lợi ích xã hội. Các giải vô địch toàn Đế quốc mỗi 4 năm tổ chức 1 lần không chỉ giúp các địa phương có thêm cơ hội tương hỗ giao lưu, mà còn tăng cường khái niệm quốc gia trong thần dân của Đế quốc.

Tân Thành Vận động trường, 1 vạn chỗ ngồi gần như kín chỗ. Bọn Louis Đệ Tam ngồi ở khán đài phía đông, nhìn cảnh náo nhiệt của Vận động trường, không khỏi giật mình. Tân Thành chỉ có chưa đến 10 vạn cư dân, tính ra đã có 1 phần 10 cư dân trong thành đến đây xem thi đấu. David Ben Dayan đã xem qua nội dung quảng cáo, liền giải thích :

- Hôm nay là trận đấu quan trọng giữa đội Vương thị của quận Tân Thành và đội Cơ Long liên minh của quận Cát Long Pha. Kết quả trận đấu này có ảnh hưởng lớn đến thứ hạng của các đội tại giải vô địch túc cầu tỉnh Cát Long Pha năm nay. Chỉ có 2 đội đứng đầu mỗi tỉnh mới có cơ hội tham gia vòng sơ tuyển của giải vô địch túc cầu toàn Đế quốc tổ chức vào năm tới.

Cơ Long, tức Klang, là tên sông và tên thung lũng ở Kuala Lumpur, thủ đô của Malaysia, nơi có nhiều mỏ khai thác thiếc. Sau khi cầu viên của hai đội xuất trường, cả Vận động trường trở nên náo nhiệt hẳn lên. Tất cả từ cầu viên, cho đến chủ cầu đội đều hy vọng có thể tiến kinh, danh dương thiên hạ. Cư dân bản địa cũng hy vọng cầu đội của địa phương mình có thể tiến kinh, để chứng tỏ địa phương mình hơn hẳn các địa phương khác. Thể diện, đối với cá nhân hay tập thể đều rất quan trọng. Đôi khi, con người cũng có thể vì thể diện mà bất kể tính mạng.

Sau tiếng còi khai cuộc, trận đấu bắt đầu. Thật tế thì luật lệ thi đấu của túc cầu được Giang Phong bê hoàn toàn luật lệ của hậu thế ra áp dụng (đương nhiên chỉ những gì Giang Phong nhớ được), sau đó tùy tình hình mà cải tiến cho phù hợp với thời đại bấy giờ. Sau gần 5 năm phổ biến, các luật lệ đã rất hoàn thiện.

Trên sân, trận đấu nhanh chóng kịch liệt hẳn lên. Vì là đội chủ nhà, Vương thị đội có lực lượng cổ động viên rất đông đảo. Tiếng hò reo cổ vũ trên khán đài không lúc nào dứt. Tuy vậy, Cơ Long liên đội cũng không hề kém. Do nhiều hào tộc ở Cát Long Pha liên hợp thành lập, thực lực của Cơ Long liên đội cũng vào hàng đầu cả tỉnh. Cả hai đội đều do hào tộc đầu tư, dụng nhiều tiền của chiêu mộ các hiệp khách giang hồ tham gia thi đấu, nên năng lực vượt hơn phổ thông cầu đội rất nhiều.

Hiệp khách giang hồ nguyên bản là những người ưa ẩu đả, thích đánh nhau, và đại đa số là loại du thủ du thực, không có sinh kế chính đáng, thường làm những việc phạm pháp (giết người, bảo kê, buôn lậu, …). Giới giang hồ được các tiểu thuyết kiếm hiệp tuyên dương, ca ngợi, nhưng thực ra so với giới xã hội đen thời hiện đại cũng chẳng hơn gì. Từ thời xa xưa đã có câu : “Hiệp dĩ võ phạm cấm”, cũng đủ thấy giới hiệp khách giang hồ thường bị các triều đại phong kiến đặt ra ngoài vòng pháp luật. Nhất là đặc điểm mỗi khi có xích mích liền chém giết lẫn nhau, rất bị quan phủ phản cảm.

Hiện tại khác hơn rồi. Phần lớn hiệp khách giang hồ đã bị triều đình ‘gián tiếp’ chiêu an, cấp cho bọn họ cơ hội hoàn lương. Mặt khác triều đình cũng tăng cường đả kích những kẻ ngoan cố. Nhất lưu, nhị lưu hiệp khách thì có thể tổ chức tiêu cục, lấy việc bảo hộ các thương đội làm sinh kế. Đế quốc có thương mại rất phát triển, bọn họ không sợ thiếu việc làm. Đại hiệp thì có thể gia nhập quân đội, trở thành tướng lĩnh, quân quan. Còn tam lưu, bất nhập lưu hiệp khách thì có thể tham gia các môn thể thao đòi hỏi nhiều thể lực, kiểu như túc cầu. Thành ra hiện tại ở Đế quốc hầu như chẳng còn ai dám xưng là dân giang hồ nữa. Nếu không, chẳng bao lâu sao là sẽ bị lực lượng tinh nhuệ của Đế quốc truy sát, không có chốn dung thân.

Tóm lại, cầu viên của các hào môn cầu đội đa phần có xuất thân hiệp khách giang hồ, bởi bọn họ nhiều năm tập võ, thân thể bền bỉ, lực lượng mạnh mẽ, tốc độ nhanh chóng, khi đá cầu có ưu thế hơn hẳn những người bình thường. Các hào tộc khi tổ chức cầu đội cũng ưa thích tuyển mộ những người như thế. Cầu viên nếu có năng lực xuất sắc còn có thu nhập cao. Vừa được danh, vừa được lợi, nên nghề cầu viên rất được nhiều hiệp khách hoàn lương ưa thích.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
19-11-2010, 12:48 PM
Chương 79 : KHÍCH LIỆT ĐỐI KHÁNG


Lại nói, sau tiếng còi khai cuộc, trận đấu trên sân nhanh chóng kịch liệt hẳn lên. Do ảnh hưởng của Giang Phong, hình thức thi đấu của túc cầu ở Đế quốc khác hẳn thời Đại Tống bên Tàu, chủ yếu là trực tiếp đối kháng, chứ không phải thưởng thức cầu viên biểu diễn những động tác hoa mỹ, có tám phần giống với hiện đại túc cầu.

Trên sân, trận đấu càng lúc càng khích liệt. Vương thị là hào cường của Tân Thành, quan hệ với giới hào cường ở Cát Long Pha không tốt lắm, dẫn đến quan hệ giữa hai cầu đội cũng không được tốt. Cầu viên của song phương đa số lại xuất thân từ giới giang hồ hiệp khách, thành ra trong trận đấu đã diễn ra không ít những hành động bạo lực.

Ở các địa phương của Đế quốc, các cầu đội kiểu như Vương thị đội, hay Cơ Long liên đội nhiều không kể siết. Giới quý tộc hào phú dần có phong trào nuôi dưỡng cầu đội để tranh danh. Đừng nói là vô địch toàn Đế quốc, dù chỉ vô địch toàn tỉnh, khi về đến quê nhà cũng phong quang vô hạn, có thể diện vô cùng. Còn giả như hai gia tộc có hiềm khích, thay vì suất lĩnh gia đinh đánh nhau thì phạm pháp, để cho cầu đội của hai nhà thi đấu tranh thắng bại, làm thế sẽ văn minh hơn nhiều.

Ngồi trên khán đài, xem cầu viên song phương cao tốc di chuyển, chuyền những đường cầu điệu nghệ và đầy uy hiếp, cổ động viên của hai đội hưng phấn vô cùng, không ngừng hò reo cổ vũ. Tuy Tân Thành Vận động trường là sân nhà của Vương thị đội, nhưng cũng có hơn nghìn cổ động viên của Cơ Long liên đội từ Cát Long Pha theo cầu đội đến đây cổ vũ cho trận đấu. Lúc này đây, không chỉ bình dân bách tính mà cả giới quý tộc hào phú cũng thỉnh thoảng bật dậy, lớn tiếng reo hò cổ vũ cho đội mà mình ủng hộ. Không khí náo nhiệt đầy thích khích đó khiến cho Louis Đệ Tam cũng bị cảm nhiễm, đôi lúc cũng hoan hô như những người khác (đương nhiên là hoan hô bằng tiếng Latinh, ở xung quanh chẳng mấy người hiểu được).

Cầu đang được một cầu viên của Vương thị đội dẫn tiến sát đến cầu môn của đối phương. Đột nhiên, một, hai, rồi ba cầu viên của Cơ Long liên đội từ ba hướng áp lại, ngăn cản mọi đường tiến của đối thủ. Cầu viên của Vương thị đội thấy không còn khả năng tự dẫn tiến, liền đá mạnh cầu vào khu vực trung tâm, cách cầu môn chưa đến 20 mét. Cầu bay bổng trên cao, hàng loạt cầu viên của cả hai đội đồng thời nhảy bật lên, hy vọng dùng đầu đẩy cầu công môn hoặc phá ra ngoài.

Một cầu viên của Vương thị đội tiếp cầu, đẩy cầu chuyển hướng vào góc trái cầu môn. Giữa lúc đó, thủ môn của Cơ Long liên đội hai chân bật lên, dịch chuyển về phía góc trái một bước, sau đó phóng người lên cao, tại không trung vươn thân người cao lớn của mình, tay phải giơ ra, chính diện chặn cầu, sau đó đẩy mạnh ra xa. Cầu vượt cột dọc ra ngoài.

Toàn trường bật lên những tiếng thở dài tiếc nuối. Một số người xung quanh chỗ bọn Louis Đệ Tam bàn luận xôn xao :

- Razak chuyền cầu hơi gấp, nếu không Chandra đã không thể đấy bóng ra ngoài.

- Không đúng. Chu Thái dùng đầu đẩy cầu vào góc chết. Tại Chandra phán đoán chính xác. Chandra thật là tài, không hổ danh là đệ nhất thủ môn viên.

- Đúng thế. Chandra là đệ nhất thủ môn viên, trạng thái luôn luôn ổn định. Cơ Long liên đội đã sang tận Java, dùng nhiều tiền để thỉnh y về đó.

- Không đúng. Razak mới là đệ nhất cầu viên. Mỗi cú chuyền bóng vào cấm khu hầu như đều tạo ra cơ hội công môn.

- Hứ, nói thừa. Chuyền bóng vào cấm khu mà không tạo ra cơ hội công môn thì còn chuyền làm gì.

- Phải đó. Tạo ra cơ hội mà không thành công ghi bàn thì cũng vô ích. Tài năng của Chandra chặn đứng mọi cơ hội của Razak.



Cả bọn tranh cãi dữ dội. Cũng may vì đều là giới quyền quý nên còn giữ thân phận, không đến nỗi sử dụng quyền cước. Tuy nhiên nhiều người lớn tiếng, đỏ mặt tía tai. Louis Đệ Tam quay sang nói với David Ben Dayan :

- Túc cầu xem hồi hộp ghê nha. Mà sao bọn họ tranh cãi dữ vậy ?

David Ben Dayan nói :

- Bọn họ ủng hộ hai đội khác nhau, hơn nữa trước trận đấu đã cá cược với nhau, nên giờ biện luận cho đội mà mình ủng hộ.

Louis Đệ Tam ngạc nhiên :

- Cá cược ?

David Ben Dayan nói :

- Đương nhiên. Cá cược trong túc cầu rất thịnh hành ở Đế quốc. Nhưng triều đình có hạn chế, mức cá cược không được quá cao.

Trong lúc bọn họ đang nói chuyện thì toàn trường đột nhiên yên tĩnh bất thường, sau đó là tiếng còi báo hiệu ghi bàn. Lúc bọn Louis nhìn xuống sân thì phát hiện cầu môn của đội Vương thị đã bị công phá. Cầu viên của Cơ Long liên đội đang ôm nhau hoan hô.

- Phạm quy. Phạm quy.

Trong một Quý tân phòng gần đó truyền ra tiếng thét phẫn nộ làm bọn Louis Đệ Tam giật mình. Bất quá thanh âm đó chỉ truyền ra đến Quý tân khu bên cạnh, chứ không ảnh hưởng gì đến các khán đài khác. Giữa cảnh náo nhiệt ồn ào của toàn trường, thanh âm của y thật không đáng kể. Một vị quý tộc ngồi gần bọn Louis Đệ Tam chép miệng nói :

- Lão Vương Quang lại nổi giận rồi.

Một người bên cạnh nói :

- Cũng phải thôi. Thua trận này, lão sẽ mất mặt trước những người ở Cát Long Pha.

Một người khác tiếp lời :

- Đến giữa trận đấu, lão ta thế nào cũng vào phòng nghỉ của cầu viên quát tháo một trận.

Quả nhiên, sang hiệp thứ hai, cầu viên của Vương thị đội phong cuồng tung hoành khắp sân, hừng hực khí thế như đang chuẩn bị đánh nhau, có một lúc dồn ép đối phương về phía phần sân của đội mình. Cầu viên của Cơ Long liên đội đa phần cũng xuất thân từ giới giang hồ hiệp khách, đâu thể để đối phương bức ép dễ dàng như vậy. Thế là, thay vì chặn cầu thì lại chặn chân, ‘lỡ bước’ ‘mất đà’ chạy đâm vào nhau liên tục diễn ra. Trận đấu trở nên hỗn loạn.

Đột nhiên, một cầu viên của Cơ Long liên đội khi chặn chân đối thủ, có động tác quá mạnh, làm đối phương ngã sấp xuống sân, rồi không gượng dậy nổi nữa. Một số cầu viên gần đó còn nhìn thấy có máu đổ. Thế là cầu viên hai đội tụ lại, khoa chân múa tay tranh chấp kịch liệt. Trọng tài phải nhờ đến lực lượng bảo vệ của Vận động trường mới phân tán được cầu viên của hai đội ra xa nhau. Người bị thương được đưa ra ngoài sân. Trọng tài quyết định phạt thẻ vàng cầu viên phạm quy, và cho Vương thị liên đội hưởng cú đá phạt ngay trước cầu môn. Lẽ ra thì phải phạt thẻ đỏ, nhưng trọng tài thấy cầu viên hai đội gần như hỗn chiến, có vẻ bực mình hành động của các cầu viên Vương thị đội, nên chỉ phạt thẻ vàng.

Sau một lúc chuẩn bị, cầu viên của Cơ Long liên đội đã xếp xong nhân tường phòng thủ. Razak đứng trước cầu, chuẩn bị đá phạt. Giữa lúc đó, có người vỗ vai y, nói :

- Razak, nhường cú đá phạt này cho ta được không ?

Razak nhìn thấy đội hữu là Vệ Thanh, ngạc nhiên hỏi :

- Cậu đá phạt ?

Razak ngạc nhiên vì Vệ Thanh không hề thiện trường đá phạt. Vệ Thanh nói :

- Hàn Thức là bà con xa với ta. Ta muốn trả thù cho hắn.

Razak gật đầu, nhường quyền đá phạt cho Vệ Thanh. Sau khi trọng tài ra hiệu đã có thể đá phạt, Vệ Thanh lui lại phía sau mấy bước, rồi chạy nhanh tới, đá vào cầu một cú thật mạnh. Cầu từ mặt sân bay lên, giống như mũi tên rời cung, nhanh như tên bắn lao về phía cầu môn, à không, không phải lao tới cầu môn. Mang theo sự phẫn nộ của Vệ Thanh, hàm chứa lực lượng hùng hậu, cầu bay với tốc độ cực nhanh. Mọi người chỉ nhìn thấy cầu biến mất, thoát cái đã thấy xuất hiện trước mặt Mã Tam, người vừa bị phạt thẻ vàng khi nãy.

Mã Tam chỉ còn biết trợn mắt nhìn cầu từ nhỏ biến lớn, tiếp đó liền cảm thấy nơi mặt gần như bị trọng trùy đập phải, ánh mắt tối sầm, nước mắt không khống chế được, chảy dài ra. Cùng với nước mắt còn có hai dòng máu từ mũi ứa ra.

Cầu sau khi tạo nên những hậu quả đó liền bật trở lại, kế tục lăn đến gần chỗ Vệ Thanh. Cổ động viên trên khán đài còn chưa kịp nhận ra chuyện gì thì Vệ Thanh đã đá thêm một cú nữa. Lần này cầu bay thấp, trong lúc Mã Tam đang ngã xuống thì bắn trúng bụng của gã, khiến gã triệt để hôn mê.

Cầu lại bật ngược trở về. Vệ Thanh còn định đá thêm một cú nữa. Thế nhưng những người xung quanh đã kịp phản ứng. Cầu viên của Cơ Long liên đội xông thẳng tới cùng Vệ Thanh ‘lý luận’ (đương nhiên không chỉ bằng miệng). Cầu viên của Vương thị đội cũng xông vào tiếp ứng đội hữu. Trọng tài thì khẩn cấp kêu gọi bảo vệ của Vận động trường.

Trận thi đấu túc cầu biến thành thi đấu võ đài. Dưới sân thì cầu viên hỗn chiến. Trên khán đài, do bị phân ra thành hai khu vực khác nhau nên cổ động viên của hai đội chỉ có thể mắng chửi hoặc ném giày dép vào nhau. Tình thế cực kỳ hỗn loạn.




Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
19-11-2010, 04:37 PM
Chương 80 : SỨ ĐOÀN ĐẾN LONG SƠN


Lại nói, sau khi Vệ Thanh hành động trả thù, trận thi đấu túc cầu biến thành thi đấu võ đài. Mọi người từ cầu viên cho đến cổ động viên đều tấn công lẫn nhau. Tình thế cực kỳ hỗn loạn. Phải gần một khắc sau thì bảo vệ mới giải tán được cầu viên của hai đội ra xa nhau. Đến lúc này, các trọng tài khẩn cấp hội ý, bàn cách xử lý vụ việc. Cổ động viên thấy thế đều lặng yên chờ đợi, tạm thời không tấn công nhau nữa.

Cuối cùng, 18 cầu viên của cả hai đội bị thẻ đỏ đuổi ra khỏi sân. Bọn họ là những người tham gia hỗn chiến hăng hái nhất, và ít nhiều đều thọ thương. Trên sân chỉ còn lại 4 người, 2 của Cơ Long liên đội và 2 của Vương thị đội. Dù chỉ còn lại bao nhiêu người đó thì trận đấu cũng vẫn phải tiếp tục tiến hành. Kết quả cuối cùng, trận này Cơ Long liên đội giành thắng lợi với tỷ số 1 : 0.

Sau khi trận đấu kết thúc, bọn Louis đứng dậy định ra về thì bị David Ben Dayan ngăn lại. Trong lúc cả bọn ngạc nhiên thì David Ben Dayan chỉ xung quanh nói :

- Mọi người chẳng thấy những người khác đều chưa về cả hay sao ?

Ferdinand Caracciolo hỏi :

- Tại sao thế ?

David Ben Dayan nói :

- Thế nào lát nữa ở bên ngoài cổ động viên của hai đội cũng hỗn chiến. Chúng ta chờ bọn họ bị giải tán xong rồi hãy ra cho an toàn.

Bọn Louis Đệ Tam hiểu ra, vì sự an toàn của bản thân nên cũng ngồi lại chờ đợi. Hồi lâu sau, khi thấy những người khác rời đi thì bọn họ cũng mới đi theo. Rời Vận động trường, Louis Đệ Tam hào hứng hỏi :

- Xem túc cầu cũng hấp dẫn ghê. Ở đây còn trò giải trí nào nữa không ?

David Ben Dayan nói :

- Ở tây bắc có một sân côn cầu, nhưng đó là trò giải trí dành riêng cho quý tộc. Ta là bình dân bách tính nên không vào được.

Đá cầu bằng chân nên gọi là túc cầu. Còn đánh cầu bằng gậy thì được gọi là côn cầu (môn này chính là golf), ở Thần Thánh Đế quốc chỉ dành riêng cho giới quý tộc. Louis Đệ Tam nói :

- Ngươi không phải là quý tộc, nhưng chúng ta là quý tộc nha.

David Ben Dayan cười nhạt hỏi :

- Vậy các vị có quý tộc bài không ?

Louis Đệ Tam ngạc nhiên hỏi :

- Quý tộc bài là gì ?

David Ben Dayan nói :

- Quý tộc bài là chứng nhận thân phận quý tộc ở Đế quốc. Quý tộc bài có 3 loại : ngân bài cấp cho quý tộc có lãnh địa ở địa phương, kim bài cấp cho quý tộc không có lãnh địa, và ngọc bài cấp cho vương tước. Các vị không có quý tộc bài, đương nhiên thân phận quý tộc không được Đế quốc công nhận.

Trong lòng y nói thêm một câu : “Ở Đế quốc, các ngươi và ta đều bình đẳng, chẳng ai tôn quý hơn ai”. Chỉ có điều, vì lễ mạo mà y không nói thẳng ra. Louis Đệ Tam nói :

- Chúng ta không phải người của Thần Thánh Đế quốc, làm sao có thể có được quý tộc bài chứ !

David Ben Dayan nói :

- Thì chính vì vậy mới không được Đế quốc công nhận thân phận quý tộc. Đế quốc đối xử với những người không phải là thần dân của Đế quốc chỉ có hai thái độ : thân thiện hoặc địch đối, không phân biệt quý tộc hay bình dân. Có nghĩa là người từ Âu châu sang, nếu không chống đối Đế quốc thì dù quý tộc hay bình dân đều được đối xử như nhau. Còn chống đối thì … hắc hắc, nhà giam của Đế quốc sẽ có thêm người.

Louis Đệ Tam nói :

- Sao lại thế được chứ ? Còn gì là quy tắc nữa chứ !

Ở Âu châu, quý tộc của nước này khi sang nước khác thì thân phận quý tộc vẫn được công nhận, dù hai nước thân thiện hay địch đối. Ví dụ như Anh – Pháp có chiến tranh, công tước ở Anh khi sang Pháp vẫn là công tước (trong một nước thường có nhiều phe phái, công tước ở Anh chưa chắc đã bị người Pháp xem là kẻ thù). David Ben Dayan nói :

- Nên nhớ ở đây là Đế quốc, có quy tắc của Đế quốc. Toàn bộ Âu châu hợp lại, trong mắt Đế quốc cũng chỉ là một tiểu địa phương mà thôi. Quy tắc của Âu châu đối với Đế quốc chẳng có giá trị gì cả. Nên biết rằng hiện tại Đế quốc có rất nhiều tỉnh, trong đó tỉnh lớn nhất rộng bằng cả Âu châu.

George Đệ Nhất, Vương tử - Giám mục của Trento thì lại quan tâm vấn đề khác (Vương tử - Prince, là tước hiệu ở Âu châu, cao hơn Công tước - Duke, thấp hơn Quốc vương – King, không nhất thiết là con của vua). Lão hỏi :

- Tại sao quý tộc có lãnh địa sử dụng ngân bài, còn quý tộc không có lãnh địa lại sử dụng kim bài. Chẳng lẽ ở Thần Thánh Đế quốc, quý tộc không có lãnh địa lại có địa vị cao hơn quý tộc có lãnh địa.

David Ben Dayan gật đầu nói :

- Đúng thế. Ngân bài quý tộc là ngoại thần, đa phần là ngoại tộc quy hóa, giống như ở Yemen, Somali hoặc Syria. Bọn họ có lãnh địa, nhưng không được giữ các quan chức ở Đế quốc, một số người còn gọi bọn họ là quý tộc nhà quê. Kim bài quý tộc là nội thần, đa phần là cận thần của Thánh hoàng, vì lập công nên được phong tước, bọn họ không có lãnh địa, nhưng quan chức tại thân, địa vị tôn quý hơn. Bọn họ sống ở thành thị, thường thì giàu có hơn, và sự hưởng thụ cũng phong phú hơn. Ngân bài quý tộc có địa vị thấp hơn kim bài quý tộc nửa bậc.

George Đệ Nhất gật đầu tỏ ý hiểu. Quan trọng là có quan chức với không có quan chức, được Hoàng đế tin tưởng hay không. Giống như ở Đế quốc La – Đức (Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức, hay còn gọi là Thánh chế La Mã), Bá tước nhưng có quyền bầu Hoàng đế (thường gọi là tuyển hầu) thì địa vị cao hơn Công tước nhưng không có quyền bầu Hoàng đế, dù cho trên danh nghĩa thì thân phận của Công tước cao hơn Bá tước. Bao giờ cũng vậy, quyền vị vẫn thường đi liền với nhau. Hơn nữa, khi sang đến Thần Thánh Đế quốc, bọn họ nhận thấy ngay cuộc sống giữa thành thị và nông thôn khác nhau rất rõ rệt.

Louis Đệ Tam thì quan tâm đến những chuyện khác hơn, hỏi :

- Thế còn nơi giải trí nào khác nữa không ?

David Ben Dayan nói :

- Trong thành còn có Kịch viện, nhưng các vị không nói được ngôn ngữ của Đế quốc, có vào xem cũng không hiểu được gì đâu. Những nơi khác thì lúc này không có mở cửa. Chỉ còn lại Đế quốc Lạc viên mà thôi. Ở đó có nhiều tiện nghi phục vụ quý khách, miễn là có tiền, ai cũng vào được.

Thế là trước sự hối thúc của Louis Đệ Tam, David Ben Dayan dẫn cả bọn đến tham quan Đế quốc Lạc viên, một trong những nơi du ngoạn và hưởng thụ của giới giàu có ở Đế quốc. Trong đó có thương nghiệp khu, bán đủ loại hàng hóa cung ứng cho cuộc sống của giới quý tộc hào môn; có các khu thể thao, giải trí; lại có cả thư viện. Đến đây, mọi người chia thành 3 nhóm : bọn Louis Đệ Tam đến khu giải trí; David Ben Dayan thì đến thương nghiệp khu; còn George Đệ Nhất thì sang khu thư viện. Cả Louis Đệ Tam và George Đệ Nhất đều có mang theo phiên dịch nên đi riêng không thành vấn đề.

Sáng hôm sau, cả bọn rời Tân Thành giương buồm thẳng tiến đến Long Sơn huyện. Khoảng cách từ Tân Thành đến Long Sơn ước 2.700 dặm (khoảng 1070 kilômét), thuyền đi mất hơn 10 ngày. Đến Long Sơn, thuyền ghé vào xin giấy phép xuất nhập quan khẩu. Vì sắp đến Gia Định (thật ra thì Long Sơn huyện đã thuộc địa giới tỉnh Gia Định), bọn Louis Đệ Tam đều ra bên ngoài khoang thuyền xem phong cảnh. Thuyền bè ra vào tấp nập, quang cảnh nhộn nhịp trên bến dưới thuyền khiến cả bọn đều kinh ngạc. Ý Đại Lợi bán đảo cũng có nền thương nghiệp phát triển (chẳng hạn như Florence, Venice, Genoa, …), nhưng không có bến cảng nào bằng được Long Sơn. Nhất là khi nhìn thấy rất nhiều thương thuyền cỡ lớn có đến 6, 7 cột buồm, dài hơn 10 trượng (40 mét), dài gấp mấy lần các thuyền lớn nhất của Âu châu thời bấy giờ. Cả bọn đều phải thán phục sự giàu mạnh của Thần Thánh Đế quốc.

(chú : thuyền của Âu châu thời Trung Cổ đa phần chỉ dài khoảng 20 mét trở lại. Đội thuyền thám hiểm của Columbus vào cuối thế kỷ 15 gồm các thuyền carrack và caravel, trong đó chiếc lớn nhất có tên là Santa Maria, dài 22,6 mét, rộng 3 mét, sau bị mắc cạn ở Haiti và bị phá hủy).

Lúc thuyền đang neo đậu trong cảng, bọn họ đều giật mình thảng thốt, không thể nói nên lời khi đột nhiên nhìn thấy một ‘vật khổng lồ’ đang tiến đến gần. Những thủy thủ ở gần đó đều bật cười. Cảnh tượng thế này, bọn họ không chỉ nhìn thấy một lần. Rất nhiều người lần đầu đến Long Sơn, đặc biệt là người ngoại quốc, đều có thái độ như thế. Một người cười bảo :

- Đó là Lục tinh cấp chiếm hạm của Hải quân Đế quốc, dài 60 trượng (240 mét), rộng 20 trượng (80 mét), cao 2 trượng (8 mét), tải trọng khoảng 2 ức cân (200 triệu cân, tức 12 vạn tấn).

George Đệ Nhất lẩm bẩm :

- Chiến thuyền lớn thế này, làm sao đánh lại.

Hải chiến thời bấy giờ, ở cả Âu – Á hầu như đều giống nhau, chủ yếu là tràng nhau cho chìm, hoặc xông lên boong thuyền hỗn chiến, dùng tên lửa bắn nhau chủ yếu là để gây hỗn loạn. Nhưng với chiến thuyền lớn thế này, đối diện thuyền ‘nhỏ’ ở Âu châu có thể xưng là vô địch. Bọn họ đã từng nhìn thấy những chiến thuyền của Hồng Long phân hạm đội tuần tra trên Hồng Hải, nhưng không có chiếc nào lớn đến thế này.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
20-11-2010, 04:38 AM
Chương 81 : ĐỆ TRÌNH THƯ HÀM NGOẠI GIAO


Lại nói, khi trông thấy Lục Tinh cấp chiến hạm của Hải quân Đế quốc, bọn Louis Đệ Tam đều giật mình thảng thốt. Hồi lâu, Ferdinand Caracciolo bật thốt :

- Chúa ơi ! Thần Thánh Đế quốc làm sao mà tạo được thuyền lớn thế này cơ chứ ? Chẳng lẽ là ân tứ của Chúa ?

Lúc này, David Ben Dayan đã trở về thuyền, nghe nói vậy liền cười nhạt nói :

- Nên nhớ đây là Đế quốc, là Thần Thánh Đế quốc. Thánh hoàng là thần thánh, chủ tể cả thiên địa. Còn Chúa thì … Ở Đế quốc, chẳng có mấy người tín Chúa. Số lượng người Do Thái chúng ta còn đông hơn số người tín Chúa Cơ Đốc.

George Đệ Nhất ôn tồn nói :

- Đây là đất nước của truyền thuyết, xuất hiện kỳ tích gì cũng không phải là lạ. Với lãnh thổ rộng mênh mông của Thần Thánh Đế quốc, e rằng Đế quốc của người Mông Cổ cũng không thể sánh kịp.

Người Mông Cổ xây dựng một Đế chế rộng mênh mông từ Âu sang Á, lúc mạnh nhất có lãnh thổ rộng đến 33 triệu kilômét vuông. Người Mông Cổ cũng là cơn ác mộng của Âu châu thời Trung Cổ. Đế quốc của người Mông Cổ ở Trung Hoa là nhà Nguyên đã bị nhà Minh tiêu diệt vào năm 1368, nhưng Bắc Nguyên vẫn tồn tại trên thảo nguyên bên ngoài Trường Thành cho đến năm 1635. Kim Trướng Hãn quốc ở Nga và Đông Âu tồn tại cho đến năm 1502. Sát Hợp Đài Hãn quốc (Chagatai) có lãnh thổ kéo dài từ sông Amu Darya ở phía nam của biển Aral cho đến dãy núi Altai ở biên giới Mông Cổ và Trung Hoa ngày nay, tồn tại cho đến tận năm 1687. Còn Đế quốc của Timur (Timurid Empire) - đế chế bao gồm toàn bộ Trung Á, cũng như phần lớn của Pakistan, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Tiểu Á và Caucasus - bị tan rã năm 1526, thì một vị hoàng tử là Babur đã chiếm Ấn Độ, thành lập Đế chế Mughal tồn tại đến năm 1857 (khi bị Anh xâm chiếm). Nói chung, đối với Âu châu lúc này, thế lực của người Mông Cổ ở phía đông vẫn còn rất mạnh.

Nghe nhắc đến người Mông Cổ, David Ben Dayan nói thêm :

- Ta nghe nói người Mông Cổ ở phương bắc có nộp cống cho Đế quốc.

Trong lúc bọn Louis Đệ Tam kinh ngạc thì thuyền rời cảng Long Sơn, tiến vào Gia Định Giang, thẳng về Gia Định Thành. Sông này nơi rộng nhất lên đến hàng nghìn mét, nơi hẹp nhất cũng vài trăm mét, sâu từ 15 – 20 mét, đủ cho nhiều thuyền lớn qua lại.

Trên hành trình đến Gia Định, ấn tượng sâu sắc nhất đối với bọn Louis Đệ Tam là mỗi tòa thành của Thần Thánh Đế quốc đều được xây dựng cao lớn kiến cố, nhiều bức tường thành dày hơn chục mét, cao hơn chục mét, khiến bọn họ không thể tưởng tượng được phải có quân đội như thế nào mới có thể công chiếm được những thành thị kiên cố đến như thế. Các tường thành ở Âu châu tuy cũng có nhiều nơi cao đến hơn chục mét, nhưng độ dày chỉ khoảng 4 mét trở lại. Thậm chí nhiều bức tường thành chỉ dày hơn 1 mét, sau khi bị máy bắn đá bắn vài lần là sập xuống. Có thể chỉ có tường thành của Constantinople là có thể sánh được (khi bị người Ottoman bao vây thành phố năm 1371, người Byzantine giữ được đến 82 năm, mãi đến năm 1453 mới thất thủ).

Ngoài ra, Louis Đệ Tam thì rất hứng thú với sự hưởng thụ của giới quý tộc ở Đế quốc, còn George Đệ Nhất thì hứng thú nhất với các thư viện của Thần Thánh Đế quốc. Mỗi khi nghĩ đến kho sách đồ sộ trong các thư viện, George Đệ Nhất không khỏi say mê, thầm nhủ phải cố gắng mua thật nhiều sách của Thần Thánh Đế quốc, mang về Trento xây dựng một thư viện quy mô như vậy. Hiện tại Âu châu vẫn còn trong giai đoạn cuối của ‘Đêm dài Trung Cổ’, văn hóa không những không phát triển mà còn thụt lùi so với thời Đế quốc La Mã Cổ đại.

Thuyền cập cảng Gia Định. Đứng trên bến cảng rộng lớn, nhìn về tòa thành cao lớn ở phía xa, David Ben Dayan nói :

- Chúng ta đến Gia Định rồi đấy.

Là thần dân của Đế quốc, mỗi khi đứng trước Gia Định Thành giới thiệu với người mới đến lần đầu, David Ben Dayan cũng giống như những thần dân khác của Đế quốc, đều cảm thấy vô cùng hãnh diện. Người Do Thái mấy nghìn năm nay không có Tổ quốc, nên giờ đây David Ben Dayan đã xem Đế quốc như Tổ quốc của mình. Dù sao thì Jerusalem cũng là một phần của Đế quốc, và Đế quốc là nơi duy nhất người Do Thái được đối xử bình đẳng với những dân tộc khác, thậm chí bọn họ còn được tham gia quản lý Jerusalem, thánh địa của các dân tộc quanh Địa Trung Hải.

- Đây quả là một tòa thành thị vĩ đại.

Khi đi đến gần Gia Định Thành, George Đệ Nhất bất giác quay sang nói với David Ben Dayan. Ở Âu châu cũng có nhiều tòa đại thành thị, nhưng không có nơi nào sánh được với Gia Định Thành, không chỉ với quy mô kiến trúc mà còn cả sự phồn hoa thịnh vượng. Chỉ cần nhìn cảnh tàu thuyền nhộn nhịp nơi bến cảng cũng thấy được phẩn nào sự giàu mạnh của Gia Định Thành. Đặc biệt, lão còn phát hiện người Đế quốc rất chú trọng kỷ luật và trật tự. Nhà cửa ở Đế quốc đều được xây dựng ngay hàng thẳng lối, đường xá thẳng tắp, phố thị sạch sẽ, náo nhiệt nhưng không hỗn loạn.

Khi đi qua khỏi thành môn, bọn họ nhìn thấy hiện ra trước mắt những đường phố rộng lớn và thẳng tắp, phố xá phồn hoa vô cùng. Hai bên đường, các cửa hiệu trưng bày đầy hàng hóa, đủ mọi chủng loại, người mua kẻ bán nhộn nhịp. Người xe qua lại tấp nập, đông đúc nhưng trật tự. David Ben Dayan nhắc nhở bọn Louis Đệ Tam :

- Các vị phải đi về phía bên phải để khỏi cản trở giao thông.

Tiếp đó, y đưa bọn Louis Đệ Tam đến liên hệ với Ngoại vụ ty thuộc Chính vụ bộ, đệ trình thư hàm ngoại giao. Thư hàm nhân danh Louis Đệ Nhị, Công tước xứ Anjou, Bá tước xứ Provence, Bá tước xứ Maine, Vua của Napoli (danh nghĩa), Vua của Sicily (danh nghĩa), lãnh chủ xứ Guise. Đó là tất cả các danh hiệu mà Louis Đệ Nhị có được. Đúng ra Louis Đệ Nhị còn có danh hiệu Vua của Jerusalem (đương nhiên cũng trên danh nghĩa), nhưng đã bỏ đi để tránh xung đột với Thần Thánh Đế quốc. Ngoài ra còn có thư hàm ngoại giao của Vua Pháp, bởi Louis Đệ Nhị là em họ của Vua Pháp Charles Đệ Lục (cả hai cùng là cháu nội của vua John Đệ Nhị, cha họ là anh em ruột). Đồng thời, George Đệ Nhất cũng trình công hàm của giáo chủ Công giáo La Mã Gregorius XII. Các thư hàm đều bày tỏ ý nguyện muốn thông sứ với Thần Thánh Đế quốc, đó chỉ là phần công khai, còn những phần bí mật khác sẽ cần thảo luận sau.

Ngoại vụ ty cử Chính sứ tiếp đãi George Đệ Nhất, còn Phó sứ tiếp đãi Louis Đệ Tam. Chính phó sứ là quan viên đứng đầu Ngoại vụ ty, phẩm cấp còn cao hơn Chính phó sứ của các Chính vụ ty cấp tỉnh nửa cấp, nên tiếp đãi sứ đoàn là hợp lễ. George Đệ Nhất bản thân là Vương tử - Giám mục, thân phận cao quý hơn Louis Đệ Tam (và cả Louis Đệ Nhị nếu như bỏ đi các tước vị danh nghĩa), do đó được Chính sứ tiếp đãi. Trong lúc Ngoại vụ ty lo đón tiếp sứ đoàn, báo cáo về sự việc cũng đã được khẩn cấp đưa vào Trường Thanh Cung để trình lên Giang Phong.

Tử Tiêu Điện.

Quảng Tế Pháp sư cầm báo cáo của Ngoại vụ ty tấu trình với Giang Phong, rồi nói :

- Thánh hoàng. Sứ đoàn của Napoli đã đến Gia Định. Thật ra sứ đoàn không phải là của Napoli mà đến từ Anjou. Theo luật thừa kế ở Âu châu thì ngôi vua của Napoli đúng ra phải thuộc về Louis Đệ Nhất. Nữ vương Joanna Đệ Nhất của Napoli chọn Louis Đệ Nhất làm người thừa kế. Nhưng Charles Đệ Tam đã đem quân cướp ngôi, giết hại Joanna Đệ Nhất. Louis Đệ Nhất, rồi con trai là Louis Đệ Nhị đã nhiều lần mang quân về giành lại ngôi vua, nhưng đều thất bại. Charles Đệ Tam qua đời, truyền ngôi cho con trai là Ladislaus. Chính gã Ladislaus này càng hiếu chiến hơn, vào các năm Mậu Tý (1408), Canh Dần (1410) và Quý Tỵ (1413) đã đánh chiếm thành La Mã, trục xuất các giáo chủ Gregorius XII và John XXIII của Công giáo La Mã, riêng lần thứ hai có buộc John XXIII bồi thường 10 vạn florin, ước khoảng 9 vạn 909 kim tệ. Theo tin tức thu được, John XXIII đã chạy khỏi Roma đi cầu cứu với Hoàng đế La – Đức, và đang chuẩn bị triệu tập Công đồng ở Constance.

Giang Phong cau mày hỏi :

- Vậy sao công hàm lại là của Gregorius XII ?

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Khải tấu Thánh hoàng. Hiện ở Công giáo La Mã có đến 3 vị giáo chủ : Gregorius XII lên ngôi ở La Mã; John XXIII tuy cũng lên ngôi ở La Mã, nhưng kế vị từ Alexander V của Pisa; và Benedicto XIII lên ngôi ở Avignon. Do đó chỉ có Gregorius XII được xem là chính thống.

Giang Phong nói :

- Vấn đề tôn giáo để bọn họ tự giải quyết lấy, bản triều không nên can thiệp vào, miễn sao đừng ảnh hưởng đến lợi ích của bản triều thì thôi.

Quảng Tế Pháp sư cung kính vâng dạ, rồi hỏi :

- Thánh hoàng có định tiếp kiến George Đệ Nhất và Louis Đệ Tam không ạ ?

Giang Phong ngẫm nghĩ giây lát rồi nói :

- Vụ này các khanh cứ chiếu phép xử lý. Khi nào xong hết rồi trẫm sẽ triệu kiến bọn họ.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
20-11-2010, 05:52 PM
Chương 82 : KHUYÊN ĐẤT PHI CHÂU - CẢI TỔ HẢI QUÂN


Khi Giang Phong quyết định tạm thời chưa triệu kiến George Đệ Nhất và Louis Đệ Tam, Quảng Tế Pháp sư để chuyện đó sang một bên, lại tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng, Tây Dương Hạm đội tiến hành khuyên đất ở Phi châu đã gần thành công. Các chiến hạm tiền tiêu đã đến được cửa vào Địa Trung Hải. Các khu dân cư đã mở đến khoảng giữa bờ tây. Các thuyền vẽ bản đồ cũng đã vẽ đến khu vực phía nam.

Tên gọi Phi châu có nguồn gốc từ thời cổ đại, khi người La Mã gọi vùng Bắc Phi là Africa terra. Sau đó từ Africa được dùng để chỉ toàn bộ Phi châu cho đến tận ngày nay, khi phiên sang âm Hán Việt sẽ thành ‘A Phi Lợi Gia’, gọi tắt là Phi (cũng giống như America phiên sang âm Hán Việt thành ‘A Mỹ Lợi Gia’, gọi tắt là Mỹ). Phi châu lúc này vẫn còn là vùng đất hoang sơ với hàng vạn bộ lạc chiếm cứ lãnh thổ rộng mênh mông. Trừ vùng ven Địa Trung Hải có xuất hiện các quốc gia thống nhất, thì vùng còn lại vẫn theo chế độ bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc một cách lỏng lẻo. Chính vì nguyên nhân đó mà người Âu châu đã chiếm Phi châu làm thuộc địa một cách tương đối đơn giản. Nhớ đến việc đó, Giang Phong cũng rất muốn học theo, nhưng với tình trạng của Đế quốc hiện tại, chiếm lĩnh hoàn toàn Phi châu là một việc không hề dễ dàng. Đế quốc không đủ quân đội để đóng giữ các nơi. Vì vậy chúng triều thần mới đề ra sách lược khuyên đất chiếm địa bàn. Tức là Hải quân của Đế quốc sẽ mở mang, xây dựng các khu dân cư dọc vùng duyên hải, củng cố địa bàn, dần dần mở rộng ra kiểm soát toàn bộ vùng duyên hải. Lực lượng Hải quân của Đế quốc hùng mạnh nhất thời bấy giờ, hoàn toàn đủ năng lực làm việc đó. Sau khi khuyên địa thành công thì có thể ngăn cản người Âu châu xâm chiếm Phi châu.

Thế là, các chiến hạm của Tây Dương Hạm đội bắt đầu từ Somali đi lần về phía nam, chở theo người và vật tư, cứ cách khoảng 500 dặm (200 kilômét) thì xây dựng một khu dân cư bên bờ biển, với chỉ khoảng hơn trăm hộ dân, vài công xưởng, làm đầu cầu giao thương với các bộ lạc trong vùng, mua đặc sản của bọn họ, và bán lại cho bọn họ những hàng hóa của Đế quốc. Giang Phong chỉ ra lệnh chiếm lĩnh phần đất cực nam của Phi châu, vì nơi đó có nhiều vàng. Bọn Quảng Tế Pháp sư đã chuẩn bị 3 vạn hộ đưa đến đó định cư.

Ngoài các Hạm đội của Hải quân, Đế quốc còn có hai Hạm đội bán quân sự : một gọi là các thuyền khảo sát, có nhiệm vụ đi tìm các tuyến hàng hải tốt nhất; và một gọi là các thuyền vẽ bản đồ, có nhiệm vụ đi dọc theo các bờ biển, hiệu chỉnh bản đồ cho hoàn thiện hơn. Bản đồ đầu tiên do Giang Phong vẽ ra chỉ có hình dạng đại khái, không hề chính xác về tỉ lệ. Các thuyền vẽ bản đồ sẽ đi dọc theo bờ biển, khảo sát địa hình phương vật, ước tính khoảng cách, rồi vẽ lại bản đồ cho chính xác hơn.

Giang Phong lại hỏi :

- Thế khu vực phía đông thế nào rồi ?

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Các thuyền khảo sát đã tiếp cận bờ biển nam Mỹ châu, nhưng chưa tìm ra được tuyến hàng hải tốt nhất. Ngoài ra bọn họ cũng đã khảo sát xong Đông Minh Châu đảo, hòn đảo lớn ở phía đông Minh Châu. Một số khu dân cư đầu tiên cũng đã được xây dựng ở đấy. Dân bản địa ở đấy không đông lắm.

Giang Phong suy nghĩ giây lát, đoạn hỏi :

- Hải quân hiện tại có bao nhiêu chiến hạm ? Lĩnh hải của bản triều đã rất rộng lớn, có lẽ cần tổ chức lại các Hạm đội.

Quảng Tế Pháp sư tìm trong các sổ sách một hồi lâu, rồi tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Hiện tại Hải quân có 18 chiếc Lục Tinh cấp chiến hạm, 42 chiếc Thất Tinh cấp chiến hạm, 120 chiếc Tuần dương hạm, 122 đại hình chiến thuyền, 80 trung hình chiến thuyền và 90 tiểu hình chiến thuyền. Trong số đó có khoảng một nửa đang phục vụ cho chiến trường phương bắc.

Giang Phong nói :

- Trung tiểu hình chiến thuyền hãy chuyển sang dân sự, cũng có thể bán lại cho thương nhân sử dụng làm thương thuyền. Số hạm thuyền còn lại tổ chức thành 6 Hạm đội : Lam Long Hạm đội, Thanh Long Hạm đội, Hồng Long Hạm đội, Hắc Long Hạm đội, Bạch Long Hạm đội và Hoàng Long Hạm đội. Lam Long và Thanh Long Hạm đội sẽ đóng đại bản doanh ở Sùng Minh đảo và Đài Loan đảo, phụ trách khu vực Bắc Hải. Hồng Long Hạm đội đóng đại bản doanh ở Tích Lan, phụ trách khu vực Nam Thiên Trúc Hải. Hắc Long Hạm đội sau khi tiến trú Địa Trung Hải sẽ đóng đại bản doanh ở mũi đất phía nam cửa vào của Địa Trung Hải, trên vùng đất của người Moors. Bạch Long Hạm đội đóng đại bản doanh ở Long Sơn, phụ trách khu vực Nam Hải. Còn Hoàng Long Hạm đội tạm thời đóng đại bản doanh ở Minh Châu, bảo vệ tuyến hàng hải sang Mỹ Châu. Việc cải tổ Hải quân, cố gắng trong 1 năm phải xong. Ngoài ra cần chú ý, Long của bản triều không giống Long của Hán tộc, đừng lấy Long của Hán tộc làm kỳ hiệu.

Quảng Tế Pháp sư cung kính vâng dạ, ghi vào sổ cho nhớ. Rồng Việt Nam luôn có những đặc trưng rõ ràng :

Thân rồng uốn hình sin 12 khúc, đại diện cho 12 tháng trong năm, biểu trưng cho sự thay đổi thời tiết năm tháng, sự trù phú và phồn vinh của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước.

Thân rồng mềm mại uốn lượn thể hiện sự biến hóa và khả năng thay đổi, dịch chuyển thiên nhiên của con rồng cai quản thời tiết, mùa màng; trên lưng có vây nhỏ liền mạch và đều đặn.

Đầu rồng là phần rất đặc biệt, hoàn toàn khác rồng Trung Hoa : nó có bờm dài, râu cằm, không sừng, mắt lồi to, hàm mở rộng có răng nanh ngắt lên, đây là điểm hoàn toàn khác với các con rồng khác của các nước, đặc biệt là cái mào ở mũi, sun sóng đều đặn (có người gọi là mào lửa) chứ không phải là cái mũi thú như rồng Trung Hoa, Lưỡi rồng mảnh và rất dài. Miệng rồng luôn ngậm viên châu (ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Hoa thì rồng hay cầm viên ngọc bằng chân trước). Viên châu tượng trưng cho tính nhân văn, tri thức và lòng cao thượng. Đầu rồng luôn hướng lên đớp lấy viên châu, thể hiện tinh thần tôn trọng các giá trị nhân văn cao quý, theo đuổi sự uyên bác và tinh thần cao thượng.

Những điều ấy được đặt lên trên tất cả các giá trị khác kể cả sức mạnh và sự thống trị thường thấy của một con rồng phương Đông. Toàn thân rồng toát lên nét uyển chuyển và một sức căng rất lớn từ cái vươn chân dài, đầu ngẩng cao, dáng đầu rực lửa thể hiện cho khí thế hừng hực muốn tiến lên chinh phục các giá trị văn minh nhất của phương Đông cổ đại. Rồng của Việt Nam tượng trưng cho trí tuệ nhiều hơn là sức mạnh. Tiếc rằng hình tượng rồng của Việt Nam đã bị vùi lấp bởi sự sùng bái văn hóa Hán của các triều đại phong kiến cuối cùng là triều Lê và triều Nguyễn. Con rồng của Việt Nam đã bị Hán hóa (Hanization) kể từ triều Lê.

Quảng Tế Pháp sư lại hỏi :

- Thánh hoàng. Bản triều cương thổ mở rộng rất nhiều, có cần tăng quân không ạ ?

Giang Phong hỏi :

- Các khanh thấy thế nào ?

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Dạ. Chúng thần thấy rằng nên tăng thêm lục quân. Bản triều cương thổ quá lớn mà lục quân chỉ có 57 vạn là quá ít đấy ạ. Nam Thiên Trúc còn có 110 vạn, Minh triều khi trước cũng có đến 120 vạn. Ngay cả bọn Hồ Quý Ly khi trước cũng có đến 50 vạn quân.

Giang Phong suy nghĩ một lúc, rồi phán :

- Tuyển thêm 5 đạo quân nữa, cứ gọi là Uy Viễn, Chiêu Đức, Chiêu Hòa, Chiêu Viễn, Chiêu Tín. Chiếu theo lệ cũ, đưa sang tây phương luyện quân.

Sau khi tấu trình xong mọi việc, Quảng Tế Pháp sư liền lui ra, chỉ đạo việc hội đàm với bọn Louis Đệ Tam và George Đệ Nhất. Chỉ đạo chứ không chủ trì, vì Quảng Tế Pháp sư là đệ nhất trọng thần của Thần Thánh Đế quốc, vì tự trọng thân phận cũng như quốc thể mà không thể bình đẳng tiếp xúc với sứ đoàn, còn nếu như lấy tư cách kẻ trên người dưới thì cũng không hay lắm, vì bọn Louis Đệ Tam không phải là thần dân của Đế quốc. Nếu như bọn họ không chịu cúi đầu thì sự việc sẽ càng phức tạp hơn.

Louis Đệ Tam tiếp xúc với Đế quốc, mang theo đề nghị liên minh cùng chống lại vương quốc Anh Cách Lan (England). Nhưng đề nghị này chỉ mang lại một sự mỉm cười nhã nhặn từ Ngoại vụ ty Phó sứ. Đế quốc muốn đánh nhau với Anh Cách Lan thì cần gì liên minh với ai. Hơn nữa, trong mắt mọi thần dân của Đế quốc, từ quan viên quý tộc cho đến bình dân bách tính, đều không xem vương quốc Pháp Lan Tây (France) ngang hàng với Đế quốc, tối đa chỉ ngang một tỉnh của Đế quốc mà thôi.

Đề nghị không được chấp nhận, bọn Louis Đệ Tam đưa ra đề nghị thứ hai, Đế quốc xuất quân tấn công quân Anh, nước Pháp sẽ trả tiền cho Đế quốc, quan hệ này ở Âu châu thường sử dụng, gọi là cố dụng quân. Nhà Louis mấy lần dẫn quân chiếm lại Napoli cũng đều có sử dụng cố dụng quân. Thế nhưng, đề nghị thứ hai này cũng không được chấp thuận. Đế quốc không thiếu tiền để mang tính mạng binh sĩ đi trao đổi. Hơn nữa, nếu cần thì Đế quốc tự tuyên chiến, rồi tự chiếm lấy chiến lợi phẩm vẫn hơn. Văn thần võ tướng của Đế quốc không ai cho rằng Đế quốc đánh không lại quân Anh.


__________________________________________________ __
(tham khảo : http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_dragon)

thanked để biểu hiện sự hân thưởng đối với tác giả - by Vua_dam




Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
05-12-2010, 10:18 PM
Chương 83 : NHẬP CUNG DIỆN THÁNH


Lại nói, sau khi đề nghị liên minh, rồi cố dụng quân đều lần lượt bị từ chối, phía Louis Đệ Tam đành chấp nhận giải pháp cuối cùng : ký kết một hiệp định thương mại. Louis Đệ Tam thay mặt cho cha mình là Louis II de Anjou (Louis Đệ Nhị của xứ Anjou) cùng đại diện của Thương vụ bộ ký kết hiệp định, theo đó Đế quốc sẽ cung cấp vũ khí, nhu yếu phẩm cho Anjou, nếu cần cũng có thể cho vay.

Phía George Đệ Nhất, các thỏa thuận tiến hành dễ dàng hơn nhiều. Về mặt chính thức, Đế quốc đồng ý ủng hộ Công đồng Constance và phái sứ giả đến dự. Ngoài ra còn có 2 mật ước : Đế quốc thừa nhận Gregorius XII là giáo chủ hợp pháp của Công giáo La Mã, 2 giáo chủ còn lại là ngụy giáo chủ; Đế quốc ủng hộ sự độc lập của Trento, và sẽ gây sức ép đối với Frederick Đệ Tứ, Công tước Áo, Bá tước Tyrol, để quân đội Áo – Tyrolese không xâm chiếm Trento.

Các hiệp ước ký kết xong, cả Louis Đệ Tam và George Đệ Nhất mới có thời gian đi du ngoạn Gia Định Thành. Đầu tiên, bọn họ đi dạo một vòng thành thị, ngắm nhìn các cửa hiệu hai bên đường phố chất đầy hàng hóa. Hành trình này mất đến 3 ngày, và Louis Đệ Tam mua rất nhiều vật phẩm, đặc sản của phương đông, những thứ mà ở Âu châu vô cùng quý hiếm, như tơ lụa, gốm sứ, hương liệu, trà diệp, hàng thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là Louis Đệ Tam rất thích các loại đồ chơi đặc sắc của phương đông. George Đệ Nhất thì mãn nguyện vì mua được rất nhiều sách. Gia Định Thành là trung tâm học thuật của cả Đế quốc, nên văn hóa giáo dục rất phát triển, các thư quán, thư viện lớn nhỏ có ở khắp nơi trong thành. Thành ra tùy tùng của bọn họ phải tay sách tay mang rất nhiều thứ.

Đến ngày thứ ba, bọn họ đi xuống khu bến cảng, và gặp được David Ben Dayan đang bàn chuyện làm ăn ở đấy. Thế là mọi người hội họp cùng đến trà quán uống trà đàm đạo. Trà diệp là một đặc sản của phương đông, và rất quan trọng đối với người phương tây. Người phương tây ăn nhiều chất dầu mỡ, nên cần uống trà để giảm béo, đặc biệt là hồng trà. Văn hóa trà từ đó thâm nhập vào đời sống sinh hoạt hàng ngày của người Âu Mỹ.

Sau một tuần trà, George Đệ Nhất nhìn cảnh nhộn nhịp của bến cảng, cảm thán nói :

- Dayan. Ta thật không dám tin đây là tòa thành thị chỉ mới được xây dựng hơn 10 năm trước. Dù ở Âu Châu cũng không có tòa thành thị nào sánh được với nơi đây, kể cả La Mã.

David Ben Dayan cười cười nói :

- Các hạ. Ngài nên biết rằng chủ nhân của thành thị này, và của cả Đế quốc rộng mênh mông này là một vị thần linh. Đối với nhân loại chúng ta xem là kỳ tích thì đối với thần linh cũng chỉ là chuyện bình thường.

Louis Đệ Tam nói :

- Cung điện của Hoàng đế thật vĩ đại. Chúng ta chỉ đi quanh một vòng thôi mà đã mất cả nửa ngày. Không biết bên trong còn lộng lẫy đến thế nào ?

David Ben Dayan nói :

- Không phải Hoàng đế. Đừng lầm lẫn giữa Thánh hoàng và Hoàng đế. Ở phương đông có nhiều tước vị, cao nhất là Hoàng, dưới Hoàng là Đế, rồi mới đến Vương. Hoàng đế là tước vị trung gian, nằm giữa Hoàng và Đế. Ở phương đông xưa nay chỉ có 4 vị Hoàng, trừ Thánh hoàng ra thì 3 vị còn lại đều sống ở thời viễn cổ, cách nay hàng vạn năm.

Dừng lời giây lát, David Ben Dayan mới nói tiếp :

- Trong Trường Thanh Cung tập trung toàn bộ bảo vật của Đế quốc, vàng bạc châu báu và các cống phẩm của các địa phương. Nghe đồn bên trong vàng bạc chất cao như núi, bảo vật không tính bằng rương mà bằng cung điện. Trường Thanh Cung đã mấy lần mở rộng vì không đủ chỗ chứa các cống phẩm.

George Đệ Nhất nói :

- Gia Định Thành dân cư thật đông đúc, chắc cũng phải trên chục vạn chứ không ít.

David Ben Dayan nói :

- Toàn tỉnh Gia Định có dân số gần 200 vạn, riêng Gia Định Thành ước khoảng 60 vạn.

Bọn George Đệ Nhất đều ngạc nhiên, trầm trồ về sự thịnh vượng của Gia Định Thành. Nên biết lúc này nước Anh dân số chỉ có 4 triệu, tức 400 vạn. Nước Pháp đang bị người Anh chiếm đóng gần một nửa lĩnh thổ, trăm năm chiến tranh vẫn đang diễn ra, cả nước hoang tàn. Còn Constantinople lúc này cũng chỉ có khoảng 5 vạn người. Trong khi thành La Mã (Roma) chỉ có 2 vạn (số liệu ước tính năm 1400).

George Đệ Nhất lại nói :

- Gia Định Thành có nền học thuật cực kỳ hưng thịnh. Mấy hôm nay ta thấy có rất nhiều thư viện ở khắp nơi.

David Ben Dayan nói :

- Đế quốc áp dụng chế độ khuyến khuyến giáo dục. Cơ sở giáo dục miễn phí trên toàn Đế quốc, những người không biết chữ phải đóng thuế cao hơn. Chính vì thế mà đại bộ phận thần dân của Đế quốc đều biết chữ. Học thuật không hưng thịnh sao được.

George Đệ Nhất giật mình hỏi :

- Ngươi nói Thần Thánh Đế quốc dạy chữ miễn phí cho mọi người dân ?

David Ben Dayan cười cười nói :

- Không phải !

George Đệ Nhất ngạc nhiên :

- Thế sao ngươi mới nói … ?

David Ben Dayan nói :

- Ta không nói dạy chữ miễn phí, mà là cơ sở giáo dục, tức là không chỉ dạy chữ, mà cả các môn cơ sở như Toán pháp, Ngữ pháp, Viết văn, … Giáo dục ở Đế quốc chia làm 3 cấp bậc chính là Sơ học, Trung học, Đại học. Mỗi thôn làng đều có lớp học, mỗi huyện đều có trường Sơ học, mỗi quận đều có trường Trung học, mỗi tỉnh đều có trường Đại học. Tối cao là Thái Học Viện ở Gia Định. Cấp Sơ học được dạy miễn phí.

George Đệ Nhất nói :

- Dù chỉ miễn phí cấp Sơ học thì tốn kém biết bao nhiêu mà kể !

David Ben Dayan nói :

- Bởi vậy, người Đế quốc hầu như ai cũng biết toán thuật, gian thương khó mà làm ăn được ở đây. Chỉ có người Do Thái chúng ta nhờ trung thực nên đi đến đâu cũng được hoan nghênh.

Bọn George Đệ Nhất cố nén cười. Người Do Thái ở Âu châu nổi tiếng là gian thương, thường cho vay nặng lãi nên tiếng tăm không được tốt (Cơ Đốc giáo không cho phép tín đồ cho vay, vì thế nghề cho vay gần như trở thành chuyên chức của người Do Thái).

Hôm nay bàn về Trường Thanh Cung, sáng hôm sau, bọn George Đệ Nhất, Louis Đệ Tam đã được Đệ nhất trọng thần của Đế quốc là Quảng Tế Pháp sư mời vào trong cung dự yến. Yến tiệc gồm toàn các món ngon vật lạ của Đế quốc, do những đầu bếp tài ba nhất chế biến, nên cả bọn ăn đến no căng cả bụng, không tiếc lời khen ngon. Bọn họ đều là những người thuộc giới quyền quý nhất Âu châu, nhưng cũng chưa bao giờ được ăn những món ngon đến vậy. Cho đến lúc bấy giờ, ẩm thực ở Âu châu cũng vẫn còn khá đơn điệu.

Sau đó cả bọn được hướng dẫn tham quan cung điện. Dù không được nhìn thấy các kho vàng bạc, nhưng các bảo vật trong cung nhiều đến nỗi cả bọn chấn động cả tâm thần. Nhìn các bảo vật chứa đầy trong các cung điện, hết cung điện này đến cung điện khác, cả bọn chấn kinh không sao kể siết. Đến lúc này, bọn họ mới có cảm giác chân thực về sự giàu mạnh của Thần Thánh Đế quốc.

Bọn họ mất 2 ngày mới tham quan được một phần Trường Thanh Cung. Mấy ngày hôm đó bọn họ được nghỉ lại trong cung chứ không cần trở về khách sạn. Đến sáng ngày thứ ba, Quảng Tế Pháp sư thông báo cho cả bọn biết Thánh hoàng triệu kiến. Chỉ có George Đệ Nhất, Louis Đệ Tam và lão quản gia Ferdinand Caracciolo mới được đến Văn Nghi Điện diện thánh. Bọn tùy tùng không được phép đi theo.

Bước chân vào Văn Nghi Điện, cả George Đệ Nhất, Louis Đệ Tam và lão quản gia Ferdinand Caracciolo đều cảm thấy chấn kinh. Đừng nói các cung điện của quốc vương, hoàng đế, dù là các tòa thần điện lớn nhất Âu châu cũng không thể sánh bằng với nơi thiết triều của triều đình Thần Thánh Đế quốc. Không chỉ rộng lớn, sự tráng lệ nguy nga, chạm vàng khảm ngọc rực rỡ huy hoàng làm cả bọn lóa cả mắt. Và điều làm cả bọn kinh hãi hơn cả là những viên minh châu giá trị liên thành lại được khảm trên tường và trần để chiếu sáng. Quả là lộng lẫy xa hoa đến cực điểm.

Hai bên đại điện, văn vũ đại thần nhìn bọn Louis Đệ Tam, không hề thấy lạ lùng. Chịu ảnh hưởng của Giang Phong, trọng thương, nên gia tộc bọn họ ít nhiều đều có thương thuyền buôn bán giữa đông - tây phương, do đó đối với người Âu châu cũng chẳng xa lạ gì. Các đại thần của triều đình Đế quốc đồng thời cũng là các đại thương nhân, và Giang Phong chính là đệ nhất đại thương nhân. Thần Thánh thương hội của Giang Phong là đệ nhất thương hội của Đế quốc.

Đến trước long giai, George Đệ Nhất, Louis Đệ Tam và lão quản gia Ferdinand Caracciolo hướng về Giang Phong, chiếu theo tây phương lễ nghi hành lễ bái kiến :

- Thánh hoàng vĩ đại. Chúng thần đại biểu toàn thể Âu châu nhân dâng Ngài sự tôn kính tối cao và chân thành.

Lưỡng ban văn vũ đại thần đều lộ vẻ không hài lòng về cách hành lễ của bọn họ, nhưng Giang Phong đã cho phép nên không ai dám nói gì.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
06-12-2010, 05:18 AM
Chương 84 : THU NHẬN NGHĨA TỬ


Trường Thanh Cung. Văn Nghi Điện.

Sau khi ba người bọn Louis Đệ Tam hành lễ bái kiến, Giang Phong truyền bình thân, rồi ngắm nhìn ba người bọn họ. Louis Đệ Tam mới 11 tuổi, tuấn tú thông minh, xuất thân quyền quý nên rất có phong thái quý tộc. Lão quản gia Ferdinand Caracciolo thì có bề ngoài của một thuộc hạ ít nói, trung thành, nhưng qua ánh mắt, Giang Phong cho rằng lão ta cũng là kẻ lắm mưu mô. George Đệ Nhất là một vị Giám mục, thường niên bố đạo, nên dung diện từ hòa, thần thái thân thiện, dễ được lòng người khác. Trong khi đó, bọn Louis Đệ Tam cũng len lén quan sát Giang Phong. Khi đối diện Giang Phong, bọn họ có cảm giác đối diện với một lực lượng thần bí siêu nhiên, giống như một vị thần linh từ trên cao dụng ánh mắt từ hòa phủ thị chúng sinh.

Nhìn thấy ba người bọn họ đột nhiên cúi đầu, Giang Phong không hề cảm thấy ngạc nhiên. Ngoài sự thần bí do Giang Phong tạo ra qua hình tượng thần linh, bản thân kiến trúc của Văn Nghi Điện cũng góp công đáng kể. Nơi long giai được xây dựng cao hơn phần còn lại của đại điện, chạm khắc nhiều hình ảnh, phù hào thần bí, cùng với sự kim bích huy hoàng đã gây nên ít nhiều áp lực đối với người bên dưới.

Giang Phong khẽ mỉm cười, hỏi George Đệ Nhất :

- Dường như Gregorius XII đã 90 tuổi rồi phải không ?

Tuy ba người bọn họ không dẫn theo phiên dịch, nhưng triều đình có phiên dịch, là quan viên của Thương vụ bộ. Nghe hỏi, George Đệ Nhất kính cẩn đáp :

- Hồi bẩm Thánh hoàng. Hết năm nay Đức Cha sẽ tròn 90 tuổi.

Tiếng Anh gọi là Pope, tiếng Latinh là Papal, nghĩa là Đức Cha (giáo dân người Việt gọi tôn kính là Đức Thánh Cha), có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ‘papa’, nghĩa là ‘cha’. Đức Cha Gregorius XII tên thật là Angelo Corraro, sinh năm 1326, đến nay (năm 1414) là đã 89 tuổi, có thể nói là thượng thọ. Thời xưa hiếm có vị vua chúa nào có thể sống thọ đến thế, nhất là trong thời loạn lạc (Đức Gregorius XII từng phải rời giáo đô Roma vì bị Ladislaus chiếm đóng, sau đó không thể quay về).

Giang Phong lại nói :

- 90 tuổi, chẳng còn nhiều sức lực nữa, nên nghỉ ngơi an dưỡng là hơn.

George Đệ Nhất ngập ngừng hỏi :

- Ý Thánh hoàng là …

Giang Phong không trả lời, lại nói :

- Còn việc của Trento, trẫm sẽ viện trợ ngươi 3 nghìn vũ khí và 1 năm lương thực cho 3 nghìn người. Chỉ cần ngươi chiêu mộ dân chúng trong lĩnh địa, vũ trang và huấn luyện bọn họ, ít ra cũng có thể tự bảo được.

George Đệ Nhất cả mừng, vâng dạ tạ ơn. Đối với các cuộc chiến tranh ở Âu châu thời Trung Cổ, 3 nghìn quân cũng là một lực lượng đáng kể. Louis Đệ Nhị (cha của Louis Đệ Tam) đã từng suất lĩnh 1.500 kỵ binh tấn công Napoli vào năm 1409, chiếm lại được các vùng đất của Đức Cha (Papal States) bị Ladislaus chiếm trước đó, nhưng tấn công Napoli không thành công. Còn trong ‘Chiến tranh trăm năm’ (1337 – 1453) giữa Anh và Pháp, lực lượng đông đảo nhất của Pháp là dưới thời vua Charles VI (1415) thì cũng chỉ có 36.000 người (tương ứng quân Anh của Henry V có 12.000 người). Không giống với phương đông, mỗi cuộc chiến tranh là hàng chục vạn cho đến hàng trăm vạn quân. Cũng chính vì vậy mà chỉ với 2 vạn kỵ binh, người Mông Cổ đã có thể đánh đến tận Âu châu.

Sau đó, Giang Phong quay sang Louis Đệ Tam, hỏi :

- Hài tử. Con có em trai không ?

Louis Đệ Tam ngạc nhiên không hiểu sao Giang Phong lại hỏi thế, nhưng vẫn kính cẩn đáp :

- Hồi bẩm Thánh hoàng, con có em trai là René mới 5 tuổi.

Giang Phong mỉm cười nói :

- Trẫm không có nhi tử. Con có muốn làm nghĩa tử của trẫm không ?

Louis Đệ Tam ngơ ngác :

- Sao ạ ?

Giang Phong mỉm cười nói :

- Con có em trai, các tước vị ở Anjou hãy nhường lại cho em trai, còn các vùng đất bị người khác chiếm mất, như Napoli, Sicily, … trẫm sẽ giúp con giành lại. Con cũng sẽ là hoàng tử của Thần Thánh Đế quốc. Và trẫm sẽ viện trợ lương thực vũ khí cho Anjou. Nghe nói quân Pháp Lan Tây đang bị quân Anh Cách Lan tấn công gấp lắm, tình thế nguy ngập lắm phải không ?

Louis Đệ Tam ngơ ngác nhìn lão quản gia Ferdinand Caracciolo. Lão ta khẽ hỏi :

- Ý thiếu chủ thế nào ?

Louis Đệ Tam hỏi :

- Theo lão ta có nên đồng ý không ?

Lão quản gia ngẫm nghĩ giây lát, rồi nói :

- Nếu thiếu chủ đồng ý, thiếu chủ sẽ lập tức trở thành hoàng tử của Thần Thánh Đế quốc, thân phận tôn quý. Thánh hoàng còn hứa giúp thiếu chủ khôi phục Napoli, Sicily, và còn viện trợ lương thực vũ khí cho Anjou để chống quân Anh Cách Lan. Tình hình của Pháp Lan Tây hiện nay không hay lắm, nếu sắp tới mà còn thất trận nữa thì Anjou sẽ bị uy hiếp. Nghe nói Công tước đại nhân còn dự định nếu tình hình không hay thì sẽ đưa phu nhân và tiểu thiếu chủ sang Provence lánh nạn. Do đó, theo lão thần thấy, nếu thiếu chủ đồng ý, về công hay tư đều có lợi cả. Chỉ có điều nếu vậy thì thiếu chủ sẽ phải xa Anjou.

Louis Đệ Tam ngẫm nghĩ giây lát, rồi bật cười nói :

- Cũng có sao đâu. Trước đây ta cũng vẫn ở Provence đó thôi. Hơn nữa, việc ta làm hoàng tử của Thần Thánh Đế quốc cũng đâu có ngăn cấm ta về thăm mẹ và em trai ta.

Nói xong, Louis Đệ Tam quay sang nói với Giang Phong :

- Thánh hoàng. Con đồng ý ạ. Nhưng Thánh hoàng sẽ viện trợ cho Anjou thứ gì thế ạ ? Có nhiều không ?

Giang Phong mỉm cười :

- 1 vạn vũ khí, 1 năm lương thực cho 1 vạn quân, 1 tiểu hạm đội, có được không ?

Louis Đệ Tam nói :

- Sao lại là một tiểu hạm đội ạ ? Một đại hạm đội không được sao ?

Giang Phong cười nói :

- Tiểu hạm đội là theo tiêu chuẩn của Thần Thánh Đế quốc, tức là tổng tải trọng từ 1 ức (100 triệu) cân trở xuống. Thôi được rồi. Trẫm cho con được lựa chọn chiến thuyền, được không ? Nhưng đây không phải là trẫm viện trợ cho Anjou mà là tặng cho con. Còn con muốn tặng lại cho ai thì tùy ý con.

Louis Đệ Tam miễn cưỡng nói :

- Vâng ạ !

Giang Phong thấy vậy, chỉ mỉm cười. Sau đó Giang Phong cho Louis Đệ Tam khấu đầu lạy chín lạy, trước sự chứng kiến của văn vũ đại thần, chính thức trở thành nghĩa tử của Giang Phong, hoàng tử của Thần Thánh Đế quốc. Tên gọi tiếng Pháp Louis không thích hợp, Giang Phong cùng các đại thần bàn bạc, đổi lại là Long nhi, có âm gần giống, nhưng thích hợp hơn. Do vậy, từ đây Louis Đệ Tam có tên mới là Giang Long, gọi thân mật là Long nhi.

Giang Phong cho thu xếp một cung điện thật xinh đẹp trong Trường Thanh Cung cho Long nhi ở, đồng thời chọn thầy dạy học cho Long nhi. Lão quản gia Ferdinand Caracciolo cũng ở chung tại đó, hầu hạ thiếu chủ.

Hôm sau, Long nhi đến gặp Giang Phong, xin cho đi chọn chiến thuyền để thành lập hạm đội. Cậu bé muốn sớm xong việc để còn cho Ferdinand Caracciolo về Anjou báo tin. Giang Phong bảo Hải quân bộ bộ trưởng Đinh An Bình đưa cậu bé đi ra căn cứ hải quân ở bán đảo Long Sơn.

Khi đi, Long nhi thầm nghĩ phải nên lựa chọn thế nào, chợt nhớ rằng không có khái niệm 1 ức cân là bao nhiêu, liền hỏi lão quản gia :

- 1 ức cân là bao nhiêu vậy ?

Lão quản gia thầm tính toán một lúc, rồi nói :

- Thiếu chủ. Cứ 3 cân thì tương đương với 4 livre. Vậy 1 ức cân tương đương 133 triệu livre, hay 60 nghìn tấn Anh Cách Lan.

Thời Trung Cổ ở châu Âu, người Pháp sử dụng đơn vị đo khối lượng là livre (= 489,5 gam hệ SI), quintal (= 100 livre), once (= 1/16 livre), denier (= 1/24 once), grain (= 1/24 denier); người Anh thì sử dụng đơn vị pound (= 454 gam hệ SI), ton (hay tấn, = 2240 pound, tương đương 1016,96 kilôgam hệ SI), ounce (= 1/16 pound), dram (= 1/16 ounce), grain (= 1/7000 pound). Thần Thánh Đế quốc thì sử dụng đơn vị của phương đông, 1 cân = 16 lượng, 1 lượng = 10 chỉ = 100 phân = 1.000 ly, 1 tấn = 10 tạ = 100 yến = 1.000 cân (1 cân = 600 gam, 1 tấn = 600 kilôgam hệ SI).

Sau một lúc, lão quản gia lại nói thêm :

- Thiếu gia. Hiện nay, hải quân hoàng gia Anh Cách Lan có khoảng 180 chiến thuyền, tổng tải trọng cũng chỉ đạt hơn 20 nghìn tấn Anh Cách Lan. Các chiến thuyền Balinger lớn nhất cũng chưa đạt 100 tấn, thường có 40 người. Một chiến thuyền cỡ lớn thì tối đa cũng chỉ khoảng 200 tấn. Hải quân Pháp Lan Tây trước chiến tranh có hơn 200 chiến thuyền, nhưng giờ thì … mất hết cả rồi. Sau trận L’Ecluse hồi 74 năm trước (năm 1340), Pháp Lan Tây không còn hải quân nữa.

Long nhi cả mừng nói :

- Vậy thì tiểu hạm đội của ta sẽ lớn gấp 3 lần hạm đội của Anh Cách Lan ?

Lão quản gia nói :

- Vâng ạ. Nhưng nếu chiến thuyền của Đế quốc lớn thì số lượng chiến thuyền sẽ không nhiều.

Long nhi nói :

- Không sao. Thuyền lớn thì dễ đụng chìm thuyền nhỏ. Thà rằng có 1 chiến thuyền cỡ lớn còn hơn có 3 chiến thuyền cỡ nhỏ.

Đinh An Bình đứng gần đó, thông qua phiên dịch, biết bọn họ nói gì, không khỏi bật cười.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
06-12-2010, 02:34 PM
Chương 85 : TÌNH HÌNH PHÁP LAN TÂY


Lại nói, khi nghe Long nhi và lão quản gia Ferdinand Caracciolo bàn bạc về hạm đội, Đinh An Bình không khỏi bật cười, bảo :

- Hạm đội của Hải quân Đế quốc chiến đấu không phải bằng cách đụng chìm địch hạm, mà là bắn chìm.

Long nhi ngạc nhiên hỏi :

- Bắn chìm là sao ?

Đinh An Bình nói :

- Đương nhiên là sử dụng thần công đại pháo bắn chìm.

Long nhi ngơ ngác hỏi :

- Thần công đại pháo ?

Đinh An Bình chỉ vào dãy thần công đại pháo nằm dọc hai bên mạn thuyền, cười nói :

- Đó chính là thần công đại pháo.

Bọn họ đi trên chiến thuyền của Hải quân, nên đương nhiên có trang bị thần công đại pháo. Trừ Thần Thánh Đế quốc, đối với thời bấy giờ, ở cả phương đông và phương tây, hải chiến vẫn là sử dụng chiến thuyền đụng nhau, hoặc cung thủ và chiến sĩ quyết chiến. Long nhi nghe nói, liền chạy đến bên một khẩu thần công đại pháo, xem thử, sờ thử, rồi hỏi :

- Nó lợi hại lắm à ?

Đinh An Bình cười nói :

- Nó có thể bắn vỡ địch hạm cách chúng ta hơn 5 dặm, điện hạ nghĩ có lợi hại không ?

Long nhi mở tròn mắt, kinh ngạc nói :

- Lợi hại thế cơ à ?

Đinh An Bình lại nói :

- Trước đây, khi tấn công các thành trì duyên hải, thần công đại pháo của Hải quân còn được sử dụng để bắn sập thành tường của các thành trì nữa kia. Thành tường bị phá, quân ta chiếm thành sẽ dễ dàng hơn.

Khi ra đến căn cứ Hải quân ở Long Sơn, nhìn các chiến thuyền nằm đầy trong vịnh, Long nhi cứ ngần ngừ mãi không biết nên lựa chọn thế nào. Đây chỉ là tiểu hình, trung hình chiến thuyền mà trước đây Giang Phong đã định cho thoái dịch, bán lại cho thương nhân dùng làm vũ trang thương thuyền. Nhưng những chiến thuyền dài 60 mét, 80 mét thì đối với Long nhi cũng là rất lớn, so với các chiến thuyền của Âu châu thời bấy giờ thường chỉ dài hơn 10 mét, tối đa cũng chỉ 20 mét là đã rất lớn. Chỉ về những chiến thuyền trong vịnh, Đinh An Bình nói :

- Thuyền nhỏ có tải trọng khoảng 700 vạn cân, thuyền lớn khoảng 1.700 vạn cân. Ngoài ra chiếc thuyền chúng ta vừa đi đó có tải trọng hơn 3.000 vạn cân. Tùy ý điện hạ lựa chọn, miễn sao không quá 1 ức cân thì thôi.

Long nhi cùng lão quản gia bàn bạc một lúc rồi quyết định chọn 1 chiếc đại hình chiến thuyền (3.000 vạn cân), 2 chiếc trung hình chiến thuyền (1.700 vạn cân) và 5 chiếc tiểu hình chiến thuyền (700 vạn cân), tổng tải trọng là 9.900 vạn cân. Đây là những chiến thuyền thời kỳ đầu, mỗi chiếc chỉ có từ 10 đến 20 khẩu thần công đại pháo. Tiểu hạm đội có 8 chiến thuyền, được Long nhi đặt tên là “Hạm đội Angers”, theo tên lâu đài của nhà Louis tại Anjou, cũng còn được gọi là trái tim của Anjou. Kỳ hạm, tức chiến thuyền chỉ huy, được đặt tên là “René de Anjou”, theo tên em trai của Long nhi, người sẽ thừa kế lĩnh địa Anjou và danh hiệu Công tước sau này (do Long nhi nhường lại). Hai chiếc trung hình chiến thuyền được đặt tên là “Comte de Maine” (Bá tước của Maine) và “Comte de Provence” (Bá tước của Provence), đều là các tước vị mà René sau này sẽ được thừa kế.

Sau khi đã thành lập Hạm đội xong, Đinh An Bình điều thủy thủ đến phục vụ tạm thời trên Hạm đội Angers, chờ sau này đến Âu châu sẽ bàn giao cho nhà Anjou, và giúp bọn họ huấn luyện tân thủy thủ. Tiếp đó là lương thực và vũ khí được chuyển lên các chiến thuyền.

Sau 10 ngày chuẩn bị, George Đệ Nhất và Ferdinand Caracciolo cùng đoàn tùy tùng lên thuyền trở về Âu châu. Đoàn thuyền rời Gia Định Giang, đi về phía nam đến Tân Thành, sau đó đi theo tuyến hàng hải đông tây, qua Tích Lan, Somali, Yemen vào Hồng Hải rồi đến Sinai. Đến thành Suez nằm bên bờ vịnh Suez, lương thực vũ khí được đưa lên bờ, rồi chuyển xuống thuyền nhỏ, theo kênh đào Suez đưa ra bờ Địa Trung Hải. Còn Hạm đội không thể vào kênh đào Suez, đành phải đi dọc theo bờ biển Phi châu, mất nhiều thời gian hơn.

George Đệ Nhất và Ferdinand Caracciolo dẫn đoàn tùy tùng khẩn cấp đi sang thành Sinai ở bên bờ Địa Trung Hải, bên bờ vịnh Buhayrat al Manzilah. Bọn họ thuê thương thuyền để đưa lương thực vũ khí vượt Địa Trung Hải về Provence và Trento.

Khi Ferdinand Caracciolo về đến Provence thì đã vào cuối mùa đông năm Giáp Ngọ, theo Tây Lịch thì đã vào đầu năm mới 1415. Từ năm ngoái, quốc vương Anh Cách Lan Henry V (lên ngôi năm 1413) đã từ chối đề nghị giảng hòa của phe Armagnac đang nắm quyền nhiếp chính triều đình Pháp Lan Tây. Do đó, mọi người đều đang chờ đợi một cuộc chiến tranh quy mô lớn tái bùng phát.

Giai đoạn từ năm 1389 đến năm 1415 này được các sử gia phương tây gọi là “giai đoạn hòa bình thứ hai” của cuộc “chiến tranh trăm năm”. Gọi là hòa bình, nhưng thực chất Pháp Lan Tây lâm vào cảnh nội chiến giữa phe Armagnacs do Công tước Louis I de Orléans đứng đầu (khác Louis I de Anjou, ông nội của Louis III) và phe Burgundy do Công tước Jean I de Burgundy đứng đầu, với sự hậu thuẫn của Anh Cách Lan. Nguyên nhân của cuộc nội chiến là sự xung đột giữa Jean I de Burgundy với Louis I de Orléans trong cách điều hành quốc gia, rồi dẫn đến chiến tranh, kéo theo đồng minh của hai phe tham chiến.

Khi quốc vương Pháp Lan Tây Charles VI de Française bị bệnh tâm thần, đất nước được cai trị bởi một hội đồng nhiếp chính do vương hậu Isabeau de Bavière đứng đầu kể từ năm 1393. Vương hậu là người không có chủ trương và các thành viên có ảnh hưởng nhất trong hội đồng nhiếp chính là Công tước xứ Burgundy, Công tước xứ Orléans và Công tước xứ Anjou. Do Công tước xứ Anjou phải lo giành lại các đất đai của mình ở Napoli nên ít quan tâm triều chính, thành ra chỉ có Công tước xứ Burgundy và Công tước xứ Orléans tranh quyền với nhau (Công tước xứ Anjou có nhiều lĩnh địa nhất nên có địa vị siêu nhiên, Công tước phu nhân còn là người tài trợ cho những lực lượng chống quân Anh, trong đó có cả Joan de Arc sau này).

Trong thực tế, sự xung đột này là sự đối mặt giữa hai hệ thống kinh tế, xã hội và tôn giáo. Pháp Lan Tây là một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển với một hệ thống tôn giáo và chế độ phong kiến mạnh mẽ, các lĩnh chủ phong kiến có vai trò quan trọng và nhiều quyền lực. Trong khi đó, Anh Cách Lan có khí hậu ẩm, nhiều mưa, nhiều đồng cỏ và nghề nuôi cừu phát triển. Người Anh bán lông cừu cho xứ Flanders để dệt may thành quần áo. Do đó, ở Anh Cách Lan, giai cấp tư sản và các thành thị đang ngày càng trở nên quan trọng hơn. Công tước xứ Burgundy đồng thời cũng là Bá tước xứ Flanders, có quan hệ mật thiết với người Anh, ủng hộ mô hình kinh tế của người Anh với nền thương mại và giai cấp tư sản phát triển. Còn phe Armagnacs ủng hộ chế độ hiện thời, với sự thống trị quốc gia của các lĩnh chủ phong kiến. Ngoài ra, phe Armagnacs được sự ủng hộ của giáo chủ Clément VII ở Avignon, còn phe Burgundy được sự ủng hộ của giáo chủ Urbain VI ở Roma (người tiền nhiệm của Gregorius XII).

Sau khi Công tước Louis I de Orléans bị ám sát năm 1407, Paris bị kiểm soát bởi Jean I de Burgundy, và nội chiến quy mô lớn bùng phát. Sau nhiều cuộc chiến, song phương lúc thắng lúc thua, nên đã cùng ký kết hòa ước vào năm 1412. Đến mùa xuân năm 1413, Jean I de Burgundy tiến hành một cuộc cải cách ở Paris, gây ra cuộc nổi loạn Cabochiens, với xu hướng hạn chế quyền lực của chế độ quân chủ, tăng cường quyền lực cho giới tư sản. Nhưng sự lạm dụng của phe Burgundy và Capochiens, nhất là các cuộc thảm sát, đã khiến dân chúng bất mãn và nổi loạn. Khi bị đàn áp, họ đã kêu gọi phe Armagnacs về giải cứu Paris. Đến năm 1414, phe Armagnacs giành lại được quyền kiểm soát Paris và Công tước Burgundy bị đuổi chạy về vùng đông bắc. Đến lúc này, người Anh bắt đầu can thiệp giúp đồng minh của họ. Mọi người ai cũng biết chiến tranh giữa Anh Cách Lan và Pháp Lan Tây chắc chắn sẽ tái diễn.

Trong hoàn cảnh đó, lão quản gia Ferdinand Caracciolo vội khẩn cấp chinh binh, tuyển mộ nông dân từ các lĩnh địa của nhà Anjou, trước mắt là ở Provence, tổ chức thành quân đội, khẩn trương huấn luyện chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp tới. Nhà Anjou tuy không tham gia vào cuộc nội chiến, nhưng vẫn phải chống lại sự xâm chiếm của Anh Cách Lan, bởi các lĩnh địa Anjou và Maine nằm không xa Paris. Ngoài ra, lão còn gửi 1.000 người sang Sinai nhờ Hồng Long phân hạm đội giúp huấn luyện thành thủy thủ, để tương lai có thể phục vụ ở hạm đội Angers.

Nhận được tin báo, Louis II de Anjou cũng cử Công tước phu nhân Yolande de Aragon và René đến Provence chủ trì đại cuộc. Một vạn quân đội là một lực lượng rất đáng kể, nhất là trong hoàn cảnh lúc này. Do các xứ Napoli sẽ do Louis III, lúc này là Long nhi, giải quyết nên nhà Anjou có thể rảnh tay lo việc trong nước. Người dân Pháp Lan Tây đã quá mệt mỏi với sự tranh giành quyền lực của hai phe Armagnacs và Burgundy.




Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
07-12-2010, 12:34 AM
Chương 86 : CÔNG ĐỒNG CONSTANCE


Trong lúc ở Pháp Lan Tây, nhà Anjou đang lo chỉnh bị binh mã, chuẩn bị cho chiến tranh, thì cũng cùng lúc này, Công đồng của Giáo hội Công giáo La Mã đã nhóm họp ở Constance, một thành thị miền nam nước Đức, từ ngày 16 tháng 11 năm 1414, với sự tham dự của 29 hồng y, 200 giám mục, 100 đan viện phụ, 300 nhà thần học và giáo luật, khoảng 8.000 giáo sĩ, Hoàng đế Sigismund của Đế quốc La Mã Thần Thánh dân tộc Đức (thường được gọi tắt là Đế quốc La – Đức) cùng 1.000 kỵ binh, nhiều quân vương, công tước, bá tước cũng có mặt. Thêm vào đó 7 vạn giáo dân các nơi cũng kéo về Constance tham dự. Mọi người đều hy vọng Công đồng có thể kết thúc được cuộc ly giáo đã kéo dài mấy chục năm qua.

Nguồn gốc của cuộc ly giáo có nguyên nhân sâu xa từ thời kỳ “cuộc lưu đày Avignon”. Đức Cha Bonifacio VIII (1294 – 1303) đã cố gắng củng cố một quyền tối thượng về cả thế tục và tôn giáo cho Giáo hội. Chính sách đó đã gây ra xung đội với các quân vương của Âu châu, chủ yếu là với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức và quốc vương Pháp Lan Tây. Phản ứng lại với hành động của Giáo hội, quốc vương Philippe IV de Française đã tấn công nước của Đức Cha (Papal of States), Bonifacio VIII vì tức giận mà qua đời. Trong khi Benedict XI được bầu lên kế vị thì Philippe IV de Française công khai tuyên bố Bonifacio VIII là “dị giáo, mua bán đồ thánh, ma thuật và nô lệ của quỷ dữ”. Cùng lúc đó thì giới quý tộc La Mã lại tấn công lẫn nhau làm cho giáo đô Roma hỗn loạn. Benedict XI không can thiệp được và qua đời chỉ sau 8 tháng lên ngôi. Sau đó thì Clemente V người Pháp được bầu lên ở Lyon, và từ chối trở về Roma. Đến năm 1309, Đức Cha Clemente V chọn Avignon làm giáo đô mới. Có 7 vị Đức Cha đã trị vì tại đây, tất cả đều là người Pháp, và đương nhiên chịu ảnh hưởng của triều đình Pháp Lan Tây. Một số vị sau đó cố gắng để có thể quay về Roma, nhưng mãi đến năm 1376, dưới thời Gregorius XI mới thành công. Khi Gregorius XI qua đời năm 1378, người dân Roma nổi loạn đòi phải bầu ra một vị Đức Cha người Roma. Các hồng y vì lo sợ đám đông, đã bầu một vị giám mục người Napoli lên ngôi, tức là Urbano VI. Nhưng vì Ngài đa nghi, độc đoán và dễ nổi nóng nên các hồng y bất mãn, quay trở về Avignon bầu Clemente VI lên ngôi. Thế là Giáo hội có đến 2 vị Đức Cha. Các xứ Pháp Lan Tây, Aragon, Castile và León, Cyprus, Burgundy, Savoy, Napoli, Sicily và Tô Cách Lan ủng hộ Clemente VI ở Avignon. Còn các xứ Đan Mạch, Anh Cách Lan, Flanders, Đế quốc La – Đức, Hungary, bắc Italy, Ái Nhĩ Lan, Bồ Đào Nha, Na Uy, Ba Lan và Thụy Điển thừa nhận Urbano VI ở Roma. Đến năm 1409, một số hồng y họp Công đồng ở Pisa, bầu lên vị Đức Cha thứ ba, Alexander V. Ba người đều tuyên bố mình là chính thống. Cho đến lúc này, có Gregorius XII (Urbano VI truyền cho Bonifacio IX, rồi đến Innocento VII và Gregocius XII) thường được gọi là Đức Cha La Mã, Benedict XIII (kế vị từ Clemente VII) được gọi là Đức Cha Avignon và John XXIII (kế vị từ Alexander V) được gọi là Đức Cha Pisa. Các vị quân vương, quý tộc và cả giáo dân đều mong muốn tình trạng ly giáo sớm chấm dứt. Giải pháp được ủng hộ nhiều nhất là cả 3 vị cùng thoái vị, để Công đồng bầu ra người mới.

Các phiên họp diễn ra trong thánh đường chính tòa Constance, do Đức Cha John XXIII ngồi ghế chủ tọa, với chương trình nghị sự gồm 3 điểm chính :

1. Tái lập sự thống nhất của Giáo hội Công giáo La Mã.

2. Chống dị giáo, kết án tử hình John Wiclif và Jean Huss (hỏa thiêu Jean Huss vào năm 1415). Trong bối cảnh ba vị Đức Cha (Papal), Jean Huss đã không coi Giáo hội cơ chế là Giáo hội thực. Bị kết án, nhưng ông vẫn được dân Boheme ủng hộ. Jean Huss mạnh dạn đến Công đồng Constancia, chứng minh ý kiến mình có căn bản Phúc Âm. Khi bị bắt giam, ông viết thư tự nhận mình tử đạo cho chân lý. Sự hỏa thiêu Jean Huss đã gây ra nội chiến nhiều thập niên, vì ngay khi đó, có 450 lĩnh chủ viết thư bênh vực ông là người chính thống về giáo lý. Nội chiến chỉ kết thúc khi tư tưởng của Jean Huss được Đế quốc La – Đức công nhận.

3. Cải cách Giáo hội : Công đồng tuyên bố “Quyền tối thượng thuộc về Công đồng” là hợp với đạo lý của Giáo hội (trước đây thì Quyền tối thượng thuộc về Đức Cha). Cuộc cải cách này gần giống với sự chuyển đổi từ chế độ quân chủ chuyên chế sang quân chủ lập hiến.

Trong lúc cuộc hỏa thiêu Jean Huss đang làm xôn xao cả Âu châu thì Giám mục Trento George I thay mặt Đức Cha Gregorius XII đến mật đàm với các hồng y lãnh đạo của Công đồng. Đến chiều ngày 20 tháng 3 năm 1415, biết tin về cuộc mật đàm, John XXIII cảm thấy mình bị bỏ rơi, liền rời bỏ Constance. Việc này làm mọi người xôn xao, nhưng nhờ sự khéo léo và uy tín của Hoàng đế La – Đức Sigismund và nhiều vị hồng y khác mà Công đồng vẫn tiếp tục.

Sau nhiều phiên mật đàm, song phương đạt được thỏa thuận : Đức Cha Gregorius XII đồng ý thoái vị, Công đồng Constance đồng ý giữ lại tất cả các hồng y do Gregorius XII bổ nhiệm, và cử Ngài làm Giám mục Frascati, hiệu trưởng của Sacred College of Cardinals và thừa kế vĩnh viễn ở Ancona.

Ngày 29 tháng 5, Công đồng chính thức phế truất John XXIII.

Ngày 1 tháng 6, Trị an ty Chính sứ tỉnh Jerusalem của Thần Thánh Đế quốc là Dương Nghĩa thống suất 5.000 kỵ binh đổ bộ lên Provence (một lĩnh địa của nhà Anjou ở đông nam Pháp Lan Tây, bên bờ Địa Trung Hải), sau đó vượt qua Milan, Thụy Sĩ, đến đầu tháng 7 thì tiến vào Constance. Ngày 4 tháng 7, Dương Nghĩa cùng với 2 đại diện của Gregorius XII là hồng y Giovanni Dominici và Công tước Caroli Malatesta tham dự phiên họp thứ 14 của Công đồng. Sự có mặt của Dương Nghĩa cùng 5.000 kỵ binh đã làm giảm phần nào ảnh hưởng của Hoàng đế La – Đức Sigismund đối với Công đồng. Trong phiên họp, Công tước Caroli Malatesta đã thay mặt Đức Gregorius XII đọc diễn văn thoái vị. Sau đó, Công đồng lại tuyên bố phế truất Benedict XIII và cuộc ly giáo kết thúc. Tuy vậy, Công đồng vẫn tôn trọng Đức Gregorius XIII bằng cách chưa bầu ngay Đức Cha mới. Theo kế hoạch, Công đồng sẽ vẫn còn họp cho đến năm 1418, và sẽ bầu trước khi bế mạc.

Dương Nghĩa chỉ ở lại dự đến giữa tháng 7, sau đó rời Constance quay về Jerusalem, chỉ để lại đại diện của 4 cộng đồng hiện đang quản lý thánh địa.

Cuộc họp của Công đồng Constance đang thu hút sự chú ý của toàn Âu châu thì cuộc đại chiến mà mọi người chờ đợi sau gần một năm uân nhưỡng cuối cùng cũng đã bùng nổ.

Ngày 13 tháng 8 năm 1415 (Tây Lịch), quốc vương Anh Cách Lan Henry V of England đã suất lĩnh 12.000 quân đổ bộ vào vùng duyên hải phía bắc Pháp Lan Tây, tấn công thành phố cảng Harfleur. Tuy vậy, quân Pháp ở đấy đã chống cự rất ngoan cường, nhiều lần đẩy lùi quân Anh, khiến cho quân Anh không thể đánh nhanh thắng nhanh như dự kiến. Điều đó cũng có nghĩa là kế hoạch chiến tranh của Henry V of England đã đổ vỡ, và quân Anh lỡ mất cơ hội tiến thẳng vào Paris. Đến ngày 22 tháng 9, thành phố mới đầu hàng, và quân Anh đóng lại đó cho đến tháng 10. Sau trận này, quân Anh tử trận rất nhiều, chỉ còn lại khoảng 9.000, và Henry V of England quyết định chuyển đến thành phố cảng Calais, nơi mà bọn họ có thể tìm thấy những trang bị cho mùa đông.

Khi quân Anh đang bao vây Harfleur, quân Pháp đã tập hợp quân cứu viện, nhưng chỉ có được chưa đến 9.000 quân nên không thể cứu viện kịp thời. Triều đình Pháp Lan Tây đành kêu gọi các lĩnh chủ quý tộc đưa tư quân gia nhập quân đội. Khi đã tập hợp được 36.000 người, quân Pháp mới tiến lên phía bắc. Ngày 24 tháng 10, song phương gặp nhau tại Agincourt.

Quân Anh lúc này chỉ còn lại 8.500 người, thức ăn còn lại rất ít, đã hành quân 260 dặm Anh trong vòng 2 tuần rưỡi, và nhiều người bị bệnh kiết lỵ. Trong khi quân Pháp đông đến 36.000 người, và có khoảng 10.000 hiệp sĩ, 12.000 cung thủ. Chiến trường là dải đất hẹp nằm giữa các khu rừng Tramecourt và Agincourt. Quân Pháp trấn giữ phía bắc, ngăn không cho quân Anh đi đến Calais.

Sáng sớm ngày 25, Henry V of England đã triển khai quân đội thành 3 đạo, với 1.500 trường thương binh, và 7.000 trường cung binh. Đạo tiên phong do Công tước xứ York chỉ huy, đạo trung quân do đích thân Henry V chỉ huy, còn hậu đội do lĩnh chủ Camoys thống lĩnh. Ngoài ra còn có Sir Thomas Erpingham, hiệp sĩ hoàng gia nhiều kinh nghiệm chỉ huy các cung thủ ở hai bên bìa rừng. Do tình hình bất lợi, người Anh đã cầu nguyện trước cuộc chiến, hy vọng sẽ tránh được hình phạt ở địa ngục nếu tử trận.

Ngược lại, với lực lượng đông hơn gấp 4 lần, trang bị tốt hơn và có nhiều kỵ binh, người Pháp tin tưởng rằng bọn họ sẽ chiến thắng dễ dàng. Quân Pháp cũng chia làm 3 đạo. Đạo đầu tiên được chỉ huy bởi Charles de Albret, Marshal Boucicault, Công tước xứ Orléans và Bourbon, cùng với đội kỵ binh của Bá tước xứ Vendome và Hiệp sĩ Clignet de Brebant. Đạo thứ hai được chỉ huy bởi Công tước xứ Bar và Alencon, cùng với Bá tước của Nevers. Đạo thứ ba do Bá tước của Dammartin và Fauconberg chỉ huy. Người Pháp còn có khoảng 8.000 chiến xa hạng nặng. Trong quân Pháp có rất nhiều quý tộc và bọn họ đều rất hăng hái tham chiến.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
08-12-2010, 03:02 AM
Chương 87 : TRẬN ANGINCOURT


Ngày 25 tháng 10 năm 1415 theo Tây lịch, tức Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.517 (Ất Mùi).

Quân Anh Cách Lan gồm 8.500 người (1.500 trường thương binh và 7.000 trường cung thủ) thiếu lương thực và bệnh tật đã đụng độ cùng 36.000 quân Pháp Lan Tây được trang bị tốt (trong đó có 10.000 hiệp sĩ và 12.000 cung thủ) ở Agincourt. Trong khi quân Anh lo cầu nguyện trước trận chiến thì quân Pháp rất thoải mái vì tin tưởng vào chiến thắng.

Trái với lệ thường, trong hàng ngũ quân Pháp, giới quý tộc đều tranh nhau dẫn đầu, trong khi binh sĩ bình dân thì chỉ ở phía sau và phần lớn không thể hoặc không muốn triển khai, bởi địa hình khá hẹp, và đối với dân chúng, chiến tranh không mang lại nhiều lợi ích. Trong khi đó thì giới quý tộc lại háo hức với cuộc chiến, vì bọn họ hy vọng tù binh sau trận chiến sẽ mang lại cho bọn họ một khoản tiền chuộc đáng kể. Ngân khố của giới quý tộc Pháp hiện giờ đã bị thâm hụt rất nghiêm trọng. Với số lượng áp đảo, người Pháp tin rằng sẽ dễ dàng đánh bại quân Anh. Thêm nữa, trong hàng ngũ quân Pháp có rất nhiều quý tộc mà cha ông của họ đã từng đại bại nhục nhã ở Crecy và Poitiers, nên bọn họ đang rất khao khát báo thù.

Trận chiến bùng nổ. Giới quý tộc và các hiệp sĩ Pháp tranh nhau dẫn đầu tấn công, đội hình hỗn loạn, không ai chỉ huy được. Hơn nữa, bọn họ không lo giết giặc mà chỉ mải lo bắt tù binh. Phía bên kia thì quân Anh bắn tên ra như mưa, chỉ giết chết chứ không bắt sống. Quân Pháp xung phong nhiều đợt, nhưng không có đội hình gì và thiếu sự thống nhất chỉ huy nên không sao phá vỡ được hàng phòng ngự của quân Anh. Lại do không lo giết giặc, nên quân Pháp tổn thất thảm trọng. Đến giữa trưa, quân Anh bắt được hàng nghìn tù binh, nhưng vì không đủ khả năng canh giữ, và sợ bọn họ tái vũ trang phản kháng với vũ khí rơi vãi đầy mặt đất, nên Henry V đã ra lệnh tàn sát tất cả tù binh (trừ những tù binh có giá trị).

Đến chiều, quân Pháp thiệt hại hơn một phần ba, đành phải rút lui. Trận này, quân Anh tử trận khoảng 450 người, trong đó có Công tước York và Edward of Norwich, bị thương khoảng 1.600 người. Quân Pháp tử trận khoảng 4.000 người, bị thương khoảng 11.000 người và bị bắt hơn 2.000 người. Người Pháp còn tổn thất 3 Công tước, 8 Bá tước, 1 Tử tước, 1 Giám mục và rất nhiều quý tộc, trong đó có Công tước Charles de Orléans, Công tước John I de Alençon, Thống chế Jean Le Maingre. Trận Agincourt đã khiến cho phe Armagnacs suy sụp, bởi quân đội của họ bị thiệt hại nặng nề và phần lớn giới lãnh đạo đã thương vong hay bị người Anh bắt làm tù binh.

Dù vậy, phía quân Anh cũng bị tổn thất đáng kể, không còn khả năng tiếp tục chiến tranh mà phải tạm nghỉ ngơi chỉnh đốn. Chỉ có phe Burgundy là được lợi, chỉ 10 ngày sau trận chiến, bọn họ đã thừa cơ dẫn quân tiến vào Paris.

Sau trận Agincourt, tình thế Pháp Lan Tây rất nguy ngập, các lĩnh địa phía bắc và phía tây đa số bị Anh Cách Lan và các đồng minh của họ kiểm soát. Tuy quân Anh đã rút về Calais chỉnh đốn lại lực lượng, nhưng Paris đã rơi vào tay phe Burgundy, lực lượng đồng minh thân cận nhất của quân Anh, và cũng là lực lượng chống đối chính với triều đình Pháp Lan Tây. Đặc biệt, vùng chiến sự đã áp sát Maine và Anjou, các lĩnh địa chính của nhà Anjou, khiến họ buộc phải lên kế hoạch phản công.

Ngày 10 tháng 11, Nam tước Jean de Rais suất lĩnh 1 vạn quân Anjou, gồm 4.000 cung thủ, 6.000 trường thương binh, rời Provence tây tiến. Đại quân vượt qua Languedoc tiến vào vùng Guyenne (còn gọi là vùng Gascony), tấn công Bordeux, thủ phủ của lĩnh địa quốc vương Anh Cách Lan tại đấy. Ngày 28, quân Anjou bao vây Bordeux. Quân Anh tại đây chỉ có 1.200 người, không chống cự nổi, sau 5 ngày bị vây đã dâng thành đầu hàng. Nam tước Jean de Rais chia quân thành 10 đạo, đánh dẹp các nơi. Đến ngày 13 tháng 12, toàn cảnh Guyenne đã rơi vào tay quân Anjou. Anh Cách Lan chính thức mất lĩnh địa cuối cùng ở phía nam của mình.

Cũng trong ngày 10 tháng 11, Hạm đội Angers đang thao luyện ở Sinai thì được lệnh rời Địa Trung Hải, di chuyển sang vùng biển phía tây của Pháp Lan Tây. Hạm đội gồm 8 chiến thuyền, 102 khẩu thần công, 1.000 thủy quân và 17 tướng lĩnh. Tiểu hình chiến thuyền 5 chiếc, mỗi chiếc trang bị 10 khẩu thần công, có 100 thủy quân, 2 tướng lĩnh. Trung hình chiến thuyền 2 chiếc, mang tên ‘Comte de Maine’ và ‘Comte de Provence’, mỗi chiếc trang bị 16 khẩu thần công, có 150 thủy quân, 2 tướng lĩnh. Đại hình chiến thuyền 1 chiếc, mang tên ‘Réne de Anjou’, đồng thời cũng là Soái thuyền, được trang bị 20 khẩu thần công, có 200 thủy quân, 3 tướng lĩnh, do Đô đốc Frederick du Guesclin chỉ huy. Frederick du Guesclin là con trai của Bertrand du Guesclin, được Louis II de Anjou phong tước Hiệp sĩ và trở thành cận thần của nhà Anjou. Khi lão quản gia Ferdinand Caracciolo về đến Provence thì đã cử Frederick du Guesclin cùng với 1.000 thủy quân sang Sinai huấn luyện. Hạm đội Angers được tổ chức theo biên chế của Thần Thánh Đế quốc, nên Frederick du Guesclin đã được phong làm Đô đốc.

Ngày 3 tháng 12, Hạm đội vượt qua eo biển Gibraltar, men theo bán đảo Iberia tiến lên phía bắc. Ngày 16, Hạm đội đến Bordeux, lấy thêm 8.000 quân trong số 1 vạn quân Anjou tại đấy, rồi tiếp tục tiến về phía bắc.

Ngày 28 tháng 12. Giữa trưa. Eo biển Manche. Chiến thuyền ‘Réne de Anjou’, phòng chỉ huy.

- Đô đốc. Gặp phải Hạm đội Anh Cách Lan.

Thuyền trưởng Deprez Eugene của chiến thuyền ‘Réne de Anjou’ báo cáo với thanh âm đầy hưng phấn. Đô đốc Frederick du Guesclin nhíu mày hỏi :

- Lực lượng địch quân thế nào ?

Thuyền trưởng Deprez Eugene đáp :

- Trình Đô đốc. Hạm đội Anh Cách Lan có 42 chiến thuyền Balinger và 3 đại hình chiến thuyền (great ship), trong đó phần lớn là thuyền vận tải.

Đô đốc Frederick du Guesclin gật đầu nói :

- Quân Anh Cách Lan đang trú đóng ở Calais. Chắc Hạm đội này chở vật tiếp tế cho Calais.

Calais là một hải cảng ở phía bắc Pháp Lan Tây, nằm ở eo hẹp nhất của biển Manche, đối diện với Dover bên phía Anh Cách Lan. Đây là căn cứ tiếp tế chủ yếu của quân Anh Cách Lan trong cuộc ‘chiến tranh trăm năm’. Sau trận Agingourt, quân Anh Cách Lan thiệt hại nặng, nên quốc vương Henry V of England đã dẫn quân về đấy nghỉ ngơi, và bản thân Henry V of England thì đã về nước chuẩn bị thêm viện quân.

Đô đốc Frederick du Guesclin cùng thuyền trưởng bước lên đài chỉ huy, nhìn ra phía xa chỉ thấy nhiều chấm đen nhỏ xíu ở phía chân trời. Vì khoảng cách quá xa, chỉ có thủy thủ trên đài quan sát mới có thể nhìn thấy rõ. Đô đốc Frederick du Guesclin truyền lệnh :

- Cho Hạm đội tiến gần hơn. Bày trận.

Kỳ hiệu phất phới, mệnh lệnh được truyền đi toàn Hạm đội. Khoảng cách song phương lúc này chỉ còn hơn 5 dặm Anh, nếu không bày trận thì sẽ không còn kịp nữa. Các khẩu thần công trên chiến thuyền tuy thuộc vào loại lạc hậu (đối với Thần Thánh Đế quốc), nhưng cũng có tầm bắn xa hơn 1 dặm Anh.
Soái thuyền ‘Réne de Anjou’ dẫn đầu Hạm đội Angers tiến thẳng về phía Hạm đội Anh Cách Lan. Khi chỉ còn cách khoảng 3 dặm, Đô đốc Frederick du Guesclin truyền lệnh :

- Dàn trận chiến đấu.

Mệnh lệnh truyền xuống, các chiến thuyền lập tức phân tán ra. Những chiến thuyền ở giữa hạ nửa buồm, giảm tốc độ. Hạm đội dàn thành trận hình chữ V, có ý bao vây Hạm đội quân địch. Các chiến thuyền đều dần dần chuyển hướng để hướng mạn thuyền về phía địch hạm. Phía bên kia, Hạm đội Anh Cách Lan cũng đã nhìn thấy đối phương, quay đầu chuẩn bị chiến đấu.

Sau một lúc, thủy thủ trên đài quan sát hô lớn :

- Cách địch hạm 2 dặm.

Đô đốc Frederick du Guesclin truyền lệnh :

- Xạ thủ chuẩn bị !

Các xạ thủ đều vào vị trí, thuốc pháo được cho vào nòng. Lát sau, thủy thủ trên đài quan sát lại hô :

- Cách địch hạm 1 dặm.

Đô đốc Frederick du Guesclin truyền lệnh :

- Bắn thử.

Bắn thử tức là mỗi đội có một khẩu thần công sẽ điều chỉnh biên độ, bắn thử xem cự ly có chính xác hay không. Thời kỳ này kỹ thuật còn lạc hậu, thủy thủ trên đài quan sát chỉ có thể ước tính cự ly bằng kinh nghiệm, cần phải bắn thử mới biết chính xác hay không.

Đùng. Đùng. Đùng …

Mỗi chiến thuyền đều có một khẩu thần công bắn thử, xác định cự ly. Sau đó các khẩu thần công còn lại đều theo đó mà điều chỉnh biên độ nòng pháo. Giây lát, thủy thủ trên đài quan sát lại hô :

- Cách địch hạm 3 phần 4 dặm.

Đô đốc Frederick du Guesclin truyền lệnh :

- Pháo kích.

Xạ thủ lần lượt khai hỏa. Các khẩu thần công lần lượt pháo kích về phía Hạm đội Anh Cách Lan, từng phát từng phát, liên miên không ngớt. Thời kỳ chưa có thiết giáp hạm, dù là tối cao cấp chiến hạm cũng chỉ có thể phát xạ từng phát từng phát, hiếm khi nào toàn bộ đại pháo đồng loạt phát xạ, trừ khi cận thân hỗn chiến. Sở dĩ phải làm thế là vì lực phản chấn của đại pháo. Thử tưởng tượng, mấy chục khẩu đại pháo nặng hàng tấn, hàng chục tấn đồng loạt phát xạ, phản chấn lực cực lớn, thân thuyền thì được đóng bằng gỗ, làm sao chịu đựng nổi.

Đùng. Đùng. Đùng …

Mặt biển đang yên tĩnh đột nhiên nổi lên những thanh âm vang dội. Từ các khẩu thần công phát ra những đạo hỏa quang, cùng với nó là rất nhiều thiết đạn lao vun vút về phía thuyền địch.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
08-12-2010, 03:25 PM
Chương 88 : TRẬN HẢI CHIẾN MANCHE


Ngày 28 tháng 12 năm 1415 theo Tây lịch, tức Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.517 (Ất Mùi). Hạm đội Angers của Anjou đã đụng độ Hạm đội Hải quân Hoàng gia Anh Cách Lan ở ngoài khơi eo biển Manche, các thành phố cảng Calais không xa.

Hạm đội Angers có 8 chiến thuyền, gồm : 1 đại hình chiến thuyền ‘Réne de Anjou’, dài 95 mét, rộng 40 mét, cao 6 mét, 7 cột buồm, tải trọng 1,8 vạn tấn, có 20 khẩu thần công, 200 thủy thủ; 2 trung hình chiến thuyền ‘Comte de Maine’ và ‘Comte de Provence’, dài 80 mét, rộng 32 mét, cao 5 mét, 6 cột buồm, tải trọng 1 vạn tấn, có 15 khẩu thần công, 150 thủy thủ; 5 tiểu hình chiến thuyền, dài 60 mét, rộng 22 mét, cao 4 mét, 5 cột buồm, tải trọng 4.200 tấn, có 10 khẩu thần công, 100 thủy thủ. Ngoài ra trên các chiến thuyền còn có chở theo 4.000 cung thủ (bowman) và 4.000 trường thương binh (spearman).

Hạm đội Hải quân Hoàng gia Anh Cách Lan có 45 chiến thuyền, gồm : 42 chiến thuyền Balinger, dài 12 - 14 mét, rộng 3 mét, cao 2 mét, 1 cột buồm với cánh buồm vuông, tải trọng 100 tấn, có 30 mái chèo và 40 thủy thủ; 3 đại chiến thuyền (Great ship), dài 18 mét, rộng 3 mét, cao 2,1 mét, 1 cột buồm, tải trọng 180 tấn, có 50 mái chèo và 100 thủy thủ.

(chú : trong đội thuyền của Columbus sau này đi thám hiểm châu Mỹ, chiếc lớn nhất có tên là ‘Santa Maria’, dài 22,6 mét, rộng 3 mét, cao 2,1 mét, 3 cột buồm, tải trọng 223 tấn. Qua đó sẽ thấy các chiến thuyền Balinger và Great ship của Anh Cách Lan lúc bấy giờ, giai đoạn cuối của ‘Đêm dài Trung Cổ’, là lớn).

Hạm đội song phương gặp nhau, khi còn cách nhau 3 phần 4 dặm Anh, Đô đốc Frederick du Guesclin của Hạm đội Angers đã truyền lệnh pháo kích vào Hạm đội đối phương.

Đùng. Đùng. Đùng …

Cả 51 khẩu thần công lần lượt khai hỏa. Mặt biển đang yên tĩnh đột nhiên nổi lên những thanh âm vang dội. Đồng thời, từ các khẩu thần công phát ra những đạo hỏa quang, cùng với nó là rất nhiều thiết đạn lao vun vút về phía thuyền địch.

Bên phía Hạm đội Hải quân Hoàng gia Anh Cách Lan, Bá tước John Grey I of Tankerville chỉ huy Hạm đội, theo lệ thường đang cùng thuộc hạ chơi bài thì được báo phát hiện Hạm đội của Pháp Lan Tây. Khi nghe báo cáo, Bá tước chỉ cười nhạt, chẳng thèm để tâm đến, chỉ truyền lệnh cho Hạm đội tiến đến tiêu diệt Hạm đội đối phương, sau đó cùng thuộc hạ tiếp tục chơi bài. Hành động của Bá tước vốn không có gì lạ, bởi trong mắt của một quý tộc Anh Cách Lan, Hải quân Pháp Lan Tây không thể gọi là Hải quân, hễ đánh là bại. Nhiệm vụ của Bá tước chỉ là vận chuyển vật tư sang Calais, trước giờ vẫn rất an nhàn, có lẽ lâu lâu cũng nên phấn khích một chút để thay đổi không khí. Cả bọn vừa chơi bài vừa nói cười vui vẻ. Đột nhiên …

Đùng. Đùng. Đùng …

Tiếng đại pháo truyền đến làm cả bọn giật mình. Trợ thủ đắc lực của Bá tước là Thomas Kyriell đề nghị :

- Bá tước Đại nhân. Tình hình có vẻ không ổn. Chúng ta ra ngoài xem thử thế nào !

Bá tước gật đầu nói :

- Cũng được. Chúng ta ra ngoài xem thử !

Khi cả bọn ra đến bên ngoài thì loạt bắn thử của Hạm đội Angers vừa kết thúc. Bọn họ không có cảm giác bị pháo kích, nhưng tất cả đều chấn kinh khi nhìn thấy Hạm đội Angers đang sừng sững tiến đến. Khoảng cách của song phương lúc này chưa đến 1 dặm, nên tầm quan sát rất rõ ràng, đặc biệt là khi chiến thuyền của đối phương quá lớn, cực kỳ lớn.

Bá tước đưa tay chỉ về phía Hạm đội đối phương, run giọng hỏi :

- Đó mà là Hạm đội của Pháp Lan Tây hay sao ?

Một gã thuộc hạ chỉ về phía đỉnh cột buồm trên chiến thuyền đối phương, nói :

- Đại nhân hãy xem. Đó chính là hiệu kỳ của Công tước xứ Anjou.

Bá tước nhíu mày nói :

- Công tước xứ Anjou chẳng phải đang bận lo giành lại đất đai ở Napoli hay sao ? Giờ còn đến đây làm gì nữa chứ ?

Bọn họ ngạc nhiên cũng phải, bởi Công tước xứ Anjou cũng đồng thời là Quốc vương Napoli, nhưng Vương quốc Napoli đã bị cha con Ladislaus chiếm mất, đánh nhau mấy chục năm nay mà vẫn chưa giành lại được. Do đó, việc triều chính của Pháp Lan Tây, Công tước xứ Anjou ít tham dự.

Bọn họ còn đang bàn tán thì tiếng đại pháo lại nổ vang. Nhưng lần này là toàn diện pháo kích. Cả 51 khẩu thần công đều lần lượt khai hỏa, liên tục pháo kích về phía Hạm đội Anh Cách Lan. Xạ thủ của Hạm đội Angers khai hỏa hết loạt này đến loạt khác. Bọn họ không giống như tiến hành hải chiến mà như là đang huấn luyện xạ kích. Tuy nói là chiến đấu, nhưng chỉ có phía Hạm đội Angers đơn phương tấn công. Vũ khí của các thủy thủ trên Hạm đội Anh Cách Lan có cự ly xa nhất là trường cung, nhưng dù trường cung thủ (longbowman) có lực lượng mạnh nhất thì cũng không thể nào bắn đến mục tiêu cách xa cả nghìn mét. Phạm vi tấn công hữu hiệu của trường cung thủ thường chỉ đạt đến 100 mét. Do đó, xạ thủ của Hạm đội Angers tha hồ lấy chiến thuyền của Hạm đội Anh Cách Lan làm bia tập bắn.

Trong hải chiến, do điều kiện trên biển, khi pháo kích đa số thường bắn không trúng mục tiêu, bắn trúng chỉ là thiểu số. Nhưng ít ra thì cũng sẽ có bắn trúng. 51 khẩu thần công bắn ra 51 phát đạn, ít ra cũng có vài phát trúng mục tiêu. Trong khoảng cách từ 3 phần 4 dặm cho đến nửa dặm, trước sau đã có 6 chiến thuyền của Hạm đội Anh Cách Lan bị bắn chìm, và 8 chiếc khác hư hỏng nặng, không thể di chuyển.

Khi khoảng cách giữa song phương chỉ còn nửa dặm, các chiến thuyền của Hạm đội Angers chuyển hướng, bảo trì cự ly. Đối với các xạ thủ, nửa dặm là cự ly lý tưởng nhất, vừa có thể thoải mái pháo kích vừa không sợ bị tấn công.

Trên chiến thuyền ‘Réne de Anjou’, Đô đốc Frederick du Guesclin vừa cười lớn vừa nói :

- Ha ha ha. Bắn. Bắn nữa. Bắn chìm thuyền của bọn Anh Cách Lan, nhấn chìm bọn chúng xuống biển.

Thuyền trưởng Deprez Eugene thì quá hưng phấn, chạy đến giành chỗ với xạ thủ, thử cảm giác pháo kích thuyền địch. Các xạ thủ cũng rất hưng phấn, nạp đạn khai hỏa không biết mệt. Chỉ sau 5 loạt pháo kích, phía Hạm đội Anh Cách Lan đã tổn thất gần 1 phần 3 lực lượng.

Bá tước John Grey I of Tankerville bên phía Hạm đội Anh Cách Lan thấy phía mình tổn thất thảm trọng. Trong lòng rối bời, vò đầu bứt tóc, không ngừng than thở :

- Làm sao đây ? Phải làm sao đây ? Cứ như thế này, các chiến thuyền của chúng ta sẽ bị bọn chúng bắn chìm hết !

Một gã thuộc hạ đề nghị :

- Bá tước Đại nhân. Chúng ta chỉ còn cách áp sát địch thuyền, rồi tiến hành hỗn chiến. Chỉ ở cự ly gần, trường cung thủ của chúng ta mới phát huy được uy lực.

Bá tước gật đầu khen phải, nhanh chóng truyền lệnh. Các chiến thuyền còn lại của Hạm đội Anh Cách Lan đẩy mạnh tay chèo, cố gắng áp sát địch thuyền. Chỉ có điều, các chiến thuyền của Hạm đội Angers tốc độ nhanh hơn, nên dễ dàng duy trì cự ly. Với sự cố gắng tột bậc của các thủy thủ Anh Cách Lan, khoảng cách giữa song phương tuy có rút ngắn lại, nhưng tốc độ rất là chậm chạp. Mất gần 1 giờ, khoảng cách giữa song phương từ 800 mét rút ngắn lại còn 400 mét, vẫn còn nằm ngoài phạm vi tấn công của quân Anh. Và điều đó chính là thảm họa cho bọn họ, bởi vì với khoảng cách 400 mét, khả năng bắn trúng mục tiêu của các xạ thủ Hạm đội Angers tăng lên thấy rõ. Đến lúc này, Hạm đội Anh Cách Lan thiệt hại nặng nề, cả 3 chiếc đại chiến thuyền (Great ship) đều bị trọng thương; các chiến thuyền Balinger thì có 11 chiếc bị bắn chìm và 18 chiếc trọng thương, mất khả năng di chuyển, 13 chiếc còn lại thì có đến 6 chiếc bị thương nhẹ, tốc độ giảm xuống chưa còn một nửa.

Đến lúc này, các chiến thuyền của Hạm đội Angers không di chuyển để giữ cự ly nữa mà đứng yên một chỗ. Các xạ thủ thì tập trung hỏa lực vào những chiến thuyền còn lại của đối phương. Sau 2 loạt pháo kích, 102 phát đạn, 6 chiếc bị thương nhẹ thì 2 chìm, 4 trọng thương; 7 chiếc còn lại đều ít nhiều hư hỏng. Khi chiến thuyền của Hạm đội Anh Cách Lan tiến đến cự ly dưới 100 mét, trường cung thủ chuẩn bị công kích, ngửa mặt nhìn lên, thì thấy mạn thuyền của đối phương quá cao, bọn họ không thể nhìn thấy mục tiêu để công kích. Đối diện với các chiến thuyền của Hạm đội Angers, bọn họ có cảm giác như đang đứng trước những tòa thành bảo vậy. Do đó, dưới sự uy hiếp của các khẩu thần công, bọn họ đành hạ khí giới đầu hàng.

Trận hải chiến bắt đầu từ giữa trưa, kéo dài gần 4 giờ, đến cuối buổi chiều thì kết thúc. Kết quả, Hạm đội Anh Cách Lan toàn diệt : 13 chiến thuyền Balinger bị bắn chìm, 3 chiếc đại chiến thuyền (Great ship) và 22 chiến thuyền Balinger trọng thương, 7 khinh thương, tất cả đều đầu hàng. Quân Anh có 1.980 người thì đầu hàng 1.238 người, còn lại tử trận hoặc mất tích. Quân Anjou thọ thương 26 người, do pháo kích quá hăng hái mà bị phỏng.


Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
09-12-2010, 03:28 AM
Chương 89 : TRẬN CALAIS


Lại nói, sau khi Hạm đội Anh Cách Lan đầu hàng, Hạm đội Angers bắt đầu tiến hành thu nhận hàng binh và thanh kiểm chiến lợi phẩm. Hơn nghìn tù binh là một vấn đề quan trọng cần phải giải quyết. Hạm đội Angers cần phải tấn công Calais, nếu như phái quân canh giữ tù binh thì lực lượng tấn công Calais sẽ bị suy giảm, ảnh hưởng đến chiến sự. Cuối cùng, Đô đốc Frederick du Guesclin đã tìm ra phương án tốt nhất : tạm giữ tù binh Anh Cách Lan trên mấy chiến thuyền bắt được, mà chiến thuyền được chọn toàn là những chiến thuyền trọng thương sau trận hải chiến, không còn khả năng di chuyển. Như thế Hạm đội Angers chỉ cần phái 1 chiến thuyền canh giữ là đủ. Nếu tù binh trên chiến thuyền nào nổi loạn thì sẽ lập tức bắn chìm chiến thuyền đó, nhấn chìm tất cả xuống dưới biển. Nhờ thế, 1.000 thủy thủ của Hạm đội Angers dư sức canh giữ hơn nghìn tù binh đã bị tước vũ khí, không ảnh hưởng đến tình hình chiến sự.

Còn những chiến thuyền chiến lợi phẩm mất khả năng di chuyển, đã được bọn họ dùng dây nối vào những chiến thuyền có thể di chuyển, rồi kéo vào bờ. Những chiến thuyền bị hư hỏng, chỉ cần tu sửa là lại có thể sử dụng. Sau khi thành lập Hạm đội Angers, những chiến thuyền Balinger đối với Hải quân Anjou không thể gọi là chiến thuyền, nhưng sử dụng làm thương thuyền cũng tốt chứ sao. Nó còn tốt hơn các thương thuyền mà người Âu châu đang sử dụng lúc bấy giờ. Hoặc là sử dụng làm thuyền vận tải cũng được.

Ngoài ra, số lượng vật tư thu được cũng rất lớn, đủ cho 1 vạn quân sử dụng trong ba tháng. Hạm đội Anh Cách Lan có nhiệm vụ vận chuyển hàng tiếp tế cho quân viễn chinh ở Calais mà.

Ngày 31 tháng 12 năm 1415, Hạm đội Angers tiến vào vùng biển Calais. Quân Anjou đổ bộ lên bờ, tiến đến chiếm giữ các yếu điểm ở vùng bờ biển phía bắc thành phố. Calais là một thành phố cảng, nằm ngay bên cạnh bờ biển, nên cũng nằm trong tầm uy hiếp của Hạm đội Angers. Sau trận hải chiến trên biển Manche, thủy thủ trên Hạm đội Angers, cho đến các tướng lĩnh, đều rất hứng thú với việc pháo kích địch quân. Trong trận hải chiến, mỗi khẩu thần công trung bình bắn 15 phát, chiếm đến hơn 1 phần 3 số đạn dược phối cấp cho Hạm đội. Do vậy, khi trận hải chiến vừa kết thúc, Đô đốc Frederick du Guesclin đã sai người khẩn cấp hồi báo với Công tước Anjou, để liên hệ với Thần Thánh Đế quốc mua thêm đạn dược.

Quân Anh Cách Lan trong thành Calais chỉ có hơn 3.000 người, trong đó có hơn 2.500 là trường cung thủ (longbowman). Sau trận Agincourt, quân Anh Cách Lan có gần 500 người tử trận, và khi về đến Calais thì đã có khoảng 1.600 người bị thương và hơn 3.800 người bị bệnh (kiết lỵ) mất khả năng chiến đấu. Do đó, quân Anh Cách Lan chỉ còn lại hơn 2.000 người, cộng với thủ quân trong thành gần 1.000 người nữa, tổng cộng có được khoảng 3.000 quân. Do đó dù chiến thắng vang dội ở trận Agincourt, quân Anh Cách Lan không còn khả năng tấn công Paris mà buộc phải rút về Calais nghỉ ngơi dưỡng sức, và quốc vương Henry V of England đã phải về nước chuẩn bị thêm viện quân.

Khi 8.000 quân Anjou đổ bộ lên bờ biển, Bá tước xứ Marshall John de Mowbray chỉ huy quân Anh Cách Lan trong thành, nhận thấy quân Anjou quá mạnh, không dám ra đánh, mà quyết định cố thủ. Calais là căn cứ địa của Anh Cách Lan trong các cuộc tấn công Pháp Lan Tây, do đó thành trì kiên cố, đã từng đứng vững trước nhiều cuộc tấn công của quân Pháp.

Calais có bức tường thành kiên cố bao quanh, có con hào đôi và nhiều công sự. Ngoài ra, Calais nằm ngay bên bờ biển, dễ dàng nhận được hỗ trợ từ Hải quân, do vậy mới được phía Anh Cách Lan lựa chọn làm tiền đồn, căn cứ địa đánh Pháp. Nhưng lần này, việc nằm ngay bên bờ biển lại có lợi cho quân Anjou.

Nam tước Jean de Rais chỉ huy quân Anjou củng cố các cứ điểm bên bờ biển trước, sau đó mới tổ chức công thành. Lần này, cả hải lục quân cùng liên hợp tấn công. Đô đốc Frederick du Guesclin chỉ huy Hạm đội tiến đến ngoài khơi đối diện cổng phía bắc của thành Calais, rồi ra lệnh cho các xạ thủ khai hỏa. Cả 51 khẩu thần công luân phiên nhả đạn vào cổng thành. Do hỏa lực tập trung, chỉ sau 10 lượt pháo kích, cổng thành đã không còn đứng vững, đổ sụp xuống. Đến lúc này, Nam tước Jean de Rais mới suất lĩnh 8.000 quân Anjou tràn vào trong thành. Calais vốn là thành phố của Pháp Lan Tây, dân trong thành đa số là người Pháp Lan Tây, do đó quân Anjou kiểm soát được thành phố mà không gặp nhiều trở ngại. Khi quân Anjou nhập thành, quân Anh Cách Lan chống trả một cách yếu ớt, đến khi thiệt hại gần 1.000 người thì rút lui vào thành bảo bên trong thành phố tiếp tục cố thủ.

Thành phố Calais cũng giống như nhiều thành phố khác của Âu châu lúc bấy giờ, có trung tâm là một thành bảo, hay còn gọi là lâu đài, là nơi ở của lĩnh chủ địa phương. Gia đình lĩnh chủ, quân đội và bộ máy cai trị đều tập trung bên trong thành bảo. Dân chúng sống ở bên ngoài, tạo ra các khu phố. Và một khi dân cư phát triển đông đúc thì thành phố được hình thành. Chỉ các thành phố lớn, quan trọng mới có tường thành bao quanh. Một khi thành phố thất thủ thì thành bảo là cứ điểm cuối cùng của thủ quân.

Với một tòa thành bảo, diện tích không lớn, 2.000 quân hoàn toàn đủ sức phòng ngự. Thành bảo nằm sâu phía trong, đại pháo trên chiến thuyền không bắn đến được, do đó muốn chiếm được thành bảo thì chỉ còn cách cường công. Nam tước Jean de Rais sợ thiệt hại nặng, nên không công thành mà chỉ bao vây xung quanh. Quân Anjou chia ra 6.000 người vây thành, số còn lại chia ra kiểm soát thành phố.

Đến tối, Nam tước Jean de Rais và Đô đốc Frederick du Guesclin gặp nhau tại phòng chỉ huy trên chiến thuyền ‘Réne de Anjou’ để bàn bạc tình hình chiến sự. Đô đốc Frederick du Guesclin nói :

- Chúng ta nên nghĩ cách giải quyết thành bảo cho sớm, không nên để dây dưa kéo dài. Công tước Đại nhân còn muốn chúng ta tấn công xứ Flanders.

Nam tước Jean de Rais cau mày nói :

- Ta cũng biết vậy, nhưng thành bảo rất kiên cố, không có sự hỗ trợ của pháo hạm, quân ta tấn công sẽ tổn thất rất nặng nề. Chúng ta chỉ có 8.000 quân, nếu thiệt hại nặng, làm sao có thể đánh chiếm Flanders được.

Đô đốc Frederick du Guesclin gật đầu nói :

- Cũng phải. Sau khi chiếm Calais, chúng ta phải để lại ít nhất 2.000 quân để phòng thủ. Đến lúc đó …

Nam tước Jean de Rais quay sang hỏi chúng thuộc hạ :

- Mọi người có ý kiến gì không ?

Cả bọn vò đầu bứt tóc, cố gắng suy nghĩ. Hồi lâu, thuyền trưởng của chiến thuyền ‘Réne de Anjou’ đề nghị :

- Hay là chúng ta hỏa thiêu thành bảo. Chúng ta đem hỏa dược rải xuống dưới chân tường, rồi phóng hỏa.

Nam tước Jean de Rais cau mày nói :

- Như thế thì không thể bắt được tù binh rồi. Hơn nữa, nếu phóng hỏa, những chiến lợi phẩm bên trong thành bảo sẽ bị thiêu hủy hết.

Đô đốc Frederick du Guesclin lại nói :

- Ta thấy đó là ý kiến hay. Thiêu hủy còn hơn thiệt quân. Nên nhớ xứ Flanders rất giàu có đó nha.

Phải nha ! Mọi người nghĩ đến sự giàu có của xứ Flanders ở ngay bên cạnh, ánh mắt đều sáng rỡ, lập tức tán thành đề nghị phóng hỏa. Flanders là một lĩnh địa quan trọng của Công tước xứ Burgundy, nằm ngay phía đông Calais, là trọng điểm cần tấn công của quân Anjou.

Sáng hôm sau, quân Anjou được lệnh tìm gỗ, củi, rơm rạ, và những thứ dễ cháy tập trung lại xung quanh thành bảo. Thủ quân trong thành bảo thấy thế, lo sợ vô cùng. Đến chiều, nhiều đống gỗ lớn được ném xuống chân tường, chất cao hơn cả đầu người. Quân Anjou lại còn dùng cung tên bắn lên mặt thành, áp chế không cho thủ quân ló đầu lên. Chỉ riêng đội cung thủ 4.000 người đã đông gấp đôi số lượng thủ quân trong thành, tên bắn ra như mưa, áp chế hoàn toàn đối phương.

Đến tối, ngọn lửa được đốt lên, thông qua hỏa dược làm cho ngọn lửa bùng lên rất dữ dội. Hơi nóng tỏa ra ngùn ngụt, không ai có thể đến gần. Cả một khu vực rộng lớn gần cửa bắc của thành bảo sáng bừng dưới ngọn lửa khổng lồ cao hàng mấy mét. Quân Anjou không có ý định thiêu hủy hoàn toàn thành bảo, chỉ muốn phá hủy tường thành để có thể tấn công vào trong mà thôi. Do đó toàn bộ những vật dễ cháy đều được tập trung về đây. Ngọn lửa cháy lớn đến nổi cả ở Hạm đội ngoài biển cũng nhìn thấy rõ.

Khi ngọn lửa được đốt lên thì thủ quân trong thành bảo cũng bắt đầu hỗn loạn. Ngọn lửa quá lớn, nếu không được dập tắt thì có thể cháy lan ra cả thành bảo, rồi toàn bộ thủ quân sẽ bị thiêu sống. Nhưng những người muốn cứu hỏa lại bị đội cung thủ của quân Anjou ngăn cản, tử thương không ít. Bá tước xứ Marshall John de Mowbray chỉ khống chế được hơn một giờ, rồi thủ quân tan vỡ. Rất nhiều quân Anh Cách Lan mở cửa thành bảo bỏ chạy ra ngoài. Tình hình hỗn loạn đến mức Bá tước John de Mowbray không sao kiểm soát được. Cuối cùng, cả bọn đành mở cửa thành bảo đầu hàng.

Đến lúc này, một phần của bước tường thành phía bắc đã bị ngọn lửa nung nóng, sụp xuống. Nam tước Jean de Rais vừa lo tiếp thu đối phương đầu hàng, vừa sai người lo cứu hỏa. Chiếm được thành bảo rồi, bọn họ cũng không muốn thành bảo bị thiêu hủy.

Đến sáng ngày 1 tháng 1 năm 1416, sau gần 70 năm dưới sự kiểm soát của người Anh (kể từ năm 1346), thành phố cảng Calais chính thức rơi vào tay quân Anjou.





__________________________________________________ ______
chú : trong truyện tui dùng từ Anh Cách Lan là để phân biệt với khải niệm nước Anh mà mọi người vẫn hiểu bây giờ. Hiện nay, người Việt thường sử dụng nước Anh để chỉ United Kingdom (UK). Đó là cách hiểu sai, nhưng mọi người đã dùng quen rồi nên được coi như đúng. "Đã từ lâu người ta thường dùng England một cách nhầm lẫn để chỉ Britain và cả the United Kingdom; và hiện nay Great Britain và the United Kingdom được dùng để chỉ cùng một thực thể - tuy nhiên, đây chỉ là cách gọi không chính thức." (http://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_hi%E1%BB%87p_V%C6%B0%C6%A1ng_qu%E1%BB%91 c_Anh_v%C3%A0_B%E1%BA%AFc_Ireland). Ở Anh họ còn phân biệt rõ :


The English: người Anh;
The Welsh: người xứ Wales;
The Irish: người Ireland;
The Scottish hoặc Scots: người Scotland

"United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland" (Liên hiệp Vương quốc Đại Bất Liệt Điên và Bắc Ái Nhĩ Lan), tên gọi ngắn là United Kingdom (viết tắt là UK), gồm 4 phần chính là England (Anh Cách Lan), Scotland (Tô Cách Lan), Wales (Gan) và Northern Ireland (Bắc Ái Nhĩ Lan). Trước năm 1707 thì Scotland là vương quốc độc lập; trước năm 1800, Ireland cũng là vương quốc độc lập; Wales cũng chỉ bị sát nhập vào năm 1535. Do đó trong truyện nói Anh Cách Lan là chỉ phần England mà thôi. Còn vương quốc Scotland theo phe Pháp Lan Tây (cũng khác nước Pháp hiện đại). Bà con có thể xem trên bản đồ kèm theo ở chương 87.

Bà con ai coi bóng đá chắc cũng biết 4 xứ trên có 4 đội bóng đá quốc gia riêng khi tham gia World Cup hay Euro. Tóm lại, tui viết Anh Cách Lan là muốn chỉ xứ England.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
10-12-2010, 02:07 AM
Chương 90 : ĐẠI TÂY


Đại Tây, tức chỉ Âu châu, người xưa gọi các nước ở Âu châu là ‘Đại Tây chư quốc’, hay ngày nay vẫn gọi là ‘các nước phương tây’ (người xưa thích thêm chữ Đại vào để chỉ những thứ lớn, như Đại Việt, Đại Minh, Đại Hàn, đại quân, đại tướng, …). Do đó, đại dương ở bên cạnh Đại Tây chư quốc được gọi là Đại Tây Dương.

Âu châu, Đại Tây chư quốc, với trung tâm là Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức (Đế quốc La – Đức). Lân cận có các vương quốc lớn là Pháp Lan Tây (France), Anh Cách Lan (England), Hungary, Ba Lan (Poland). Và ở vòng ngoài nữa là các vương quốc yếu hơn : Tô Cách Lan (Scotland), Ái Nhĩ Lan (Ireland), Na Uy (Norway), Thụy Điển (Sweden), Đan Mạch (Denmark), Bồ Đào Nha (Portugal), Castile, Aragon, Sicily, Napoli, Papal of State. Giữa các vương quốc đó có xen lẫn nhiều công quốc hay nước cộng hòa nhỏ khác, như : Cộng hòa Genoa, Cộng hòa Venice, Thụy Sĩ (Swiss), Milan, Majorca, Navarre, … hay các lĩnh địa hiệp sĩ : Knight of Saint John, Teutonic Knights. Cuộc ‘chiến tranh trăm năm’ có sự tham gia của gần như toàn thể Đại Tây chư quốc, với hai phe là :

1. Pháp Lan Tây (France), Castile, Tô Cách Lan (Scotland), Genoa, Majorca, Bohemia, Aragon, Brittany (Blois).

2. Anh Cách Lan (England), Plantagenet, Burgundy, Aquitaine, Brittany (Montfort), Bồ Đào Nha, Navarre, Flanders, Hainaut, Luxembourg, Đế quốc La – Đức, Đan Mạch.

Ngoài ra còn có các cuộc chiến tranh nhỏ khác, như các cuộc chiến giữa Papal of State và Ladislaus of Napoli, Đế quốc La – Đức và vương quốc Hungary, Công tước xứ Anjou và Ladislaus of Napoli, Vương tử - Giám mục Trento và Công tước Áo, … Ở phía đông thì chiến tranh giữa Đế quốc Byzantine và Đế quốc Ottoman cũng đã kéo dài cả trăm năm. Nói chung, cả Âu châu gần như ngập chìm trong chiến tranh loạn lạc.

Khoảng nửa năm trở lại đây, thông qua các thương nhân ngang dọc khắp Đại Tây chư quốc, những lời ca về ‘Vương tử của bi thương’ được truyền tụng khắp nơi. Từ các vương quốc Ba Lan, Hungary ở phía đông; cho đến Bồ Đào Nha, Castile ở phía tây; Tô Cách Lan, Đan Mạch ở phía bắc; Sicily, Napoli ở phía nam, đâu đâu cũng nghe thấy những vần điệu đó. Trong cảnh tăm tối u buồn của ‘Đêm dài Trung Cổ’, những vần điệu đó mang đến cho những người dân nghèo ít nhiều hy vọng – hy vọng về Ánh sáng ở tương lai.

“Cậu vốn là vương tử của bóng tối, cậu vốn là một vị vương cô độc, cậu vốn là một chương buồn của vở kịch cuộc đời.

Bên dưới cuộc đời đầy sóng gió, che giấu một tâm hồn cô độc. Cậu vô lực tránh né, cậu vô pháp thoát ra, chỉ còn cách dụng tâm hồn cô độc an ủi trái tim bi thương.

Trong tuổi thơ ngắn ngủi của mình, cậu chứng kiến hết bi kịch này đến bi kịch khác. Cung đình phản loạn, vương quốc bị chiếm, quê hương loạn lạc, gia đình phân ly, đã khiến cho bóng dáng nhỏ bé của cậu dần dần nhiễm lấy sắc màu bi thương. Vương giả trước sau vẫn luôn cô độc.

Có lẽ cậu là một vị vương yếu đuối. Cho dù cậu phản kháng thế nào, kiên cường thế nào, cậu vẫn không thể cải biến được số phận của vương quốc và của bản thân mình. Một vị vương cô độc, phải tịch mịch suốt đời. Có lẽ đó là kết cục đã được định sẵn. Một vị vương cô độc, có lẽ sẽ vẫn mãi mãi cô độc, cùng với những dòng lệ tuôn rơi, hóa thành hư vô, chìm vào dĩ vãng.

Thế nhưng, may mắn cho cậu, tinh thần của cậu cảm động Thiên đế. Khi cậu lần đầu tiên được đối diện Thiên đế, cũng là lần đầu tiên cậu cảm thấy thế gian không chỉ toàn là hắc ám. Ánh sáng của hy vọng dẫn đường cho cậu tiến đến tương lai.”

“Cậu có đôi mắt màu tím, với con ngươi màu đen đầy ôn nhu. Màu sắc của ôn nhu thường chỉ là những màu nhẹ nhàng, tại sao sự ôn nhu của cậu lại có màu đen ? Bởi vì cuộc đời u buồn, khiến cho sự ôn nhu của cậu quá đỗi thâm trầm. Bởi vì cuộc đời hắc ám, khiến cho sự ôn nhu của cậu nhuốm màu bi thương.

Có ai biết chăng ? Sự ôn nhu đó, chỉ cần chạm nhẹ vào, sẽ có cảm giác đau đớn đến tận tâm hồn. Sự ôn nhu đó, thật ra cũng là sự tuyệt vọng gắn liền với tịch mịch, với cô độc. Sự ôn nhu đó, so với những sự ôn nhu khác, càng thêm trầm trọng.

Chân chính hạnh phúc, cậu đã từng có. Thế nhưng chiến tranh, phản bội và sự lừa dối, đã khiến cho hạnh phúc rời xa cậu, rất xa, rất xa. Sự hy vọng của cậu, bất quá cũng chỉ là có được một niềm vui nhỏ bé. Thậm chí, sự truy cầu hạnh phúc, đối với cậu, cũng đã là hạnh phúc.”

“Cậu là một vị vương cô độc. Thế gian thì vĩnh hằng, đời người thì hữu hạn. Giữa thế gian bao la, cậu phải làm gì, cậu phải đi đâu về đâu ? Sinh mệnh của cậu, lẽ nào chỉ gắn liền với bất hạnh, với bi thương ? Cho dù đóa hoa mỹ lệ, rồi cũng có lúc úa tàn. Cho dù cuộc đời bất hạnh, rồi cũng có lúc sang trang. Ánh sáng cuối cùng, chỉ đến với người có ý chí, có niềm tin – niềm tin về hy vọng, niềm tin về tương lai.”

Không ai biết vị vương tử đó là ai, là người ở đâu. Nhưng những người dân bình thường, từ nông dân cho đến thị dân, dù ở thôn quê hay nơi thành thị, mọi người đều nhận thấy bối cảnh của câu chuyện đó sao mà quen thuộc. Chiến tranh, loạn lạc, bất hạnh, bi thương, chẳng phải đang bao trùm toàn cõi Âu châu hay sao ? Từ đó, những vần điệu kia ngày càng đi sâu vào lòng dân chúng.

Và lúc này, nhân vật chính trong câu chuyện đó đang hướng về Âu châu, đang hướng về Đại Tây chư quốc.

Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.518 (Bính Thân, 1416). Xuân vương chính nguyệt. Đại Tây hành cung.

Để dễ dàng tiến hành chiến tranh với Pháp Lan Tây, Anh Cách Lan có một tiền đồn, đồng thời cũng là căn cứ địa, là thành phố cảng Calais. Thần Thánh Đế quốc cũng có một căn cứ địa để chuẩn bị cho việc kinh lược Đại Tây chư quốc, đặt ở Sinai. Nơi đây không chỉ có một căn cứ Hải quân nằm bên trong vịnh Buhayrat al Mazilah, mà còn tập trung nhiều đạo quân trú đóng huấn luyện. Ngoài ra, ở bên bờ Địa Trung Hải, gần căn cứ Hải quân còn có một tòa hành cung được xây dựng theo kiểu Trường Thanh Cung, nhưng quy mô nhỏ hơn, dự phòng sử dụng đến nếu một lúc nào đó Thánh hoàng ngự giá kinh lược tây phương. Hành cung này được đặt tên là Đại Tây hành cung, ngụ ý hướng về Đại Tây chư quốc.

Kể từ tháng 10 năm ngoái, tình hình ở Hoa Bắc đã tạm ổn định, với sự tồn tại của 7 nước : Đại Tống ở Sơn Đông, Đại Hán ở Hà Nam, Đại Đường ở Thiểm Tây, Đại Minh ở Hà Bắc, Tấn ở Sơn Tây, Hạ ở Tứ Xuyên và Lương ở Cam Túc. Thần Thánh Đế quốc chỉ để lại Hoa lục 4 đạo quân : Thần Long quân ở Kim Lăng, Thần Uy quân ở Quảng Châu, Thần Vũ quân ở Trường Sa và Định Hải quân ở Liêu Đông. Các đạo quân Uy Vũ, Uy Nghĩa, Uy Đức, Trấn Biên tiến về xứ Thái, đánh đuổi quân Miến Điện đang xâm chiếm vùng bắc Thái, nhân tiện bình định các xứ Miến Điện. Còn các đạo quân Uy Tiệp, Long Tiệp, Linh Tiệp, Bảo Tiệp, Trấn Phong, Trấn Ninh đều được triệu hồi về phương nam.

Cuộc bắc phạt đã kết thúc, Giang Phong lúc này mới rảnh tay lo việc của Long nhi, cũng là việc kinh lược Âu châu. Trước đó, từ cuối năm Giáp Ngọ (1414), Giang Phong đã phái 2 đạo tân quân là Chiêu Viễn, Chiêu Đức đến Sinai huấn luyện. Giờ đây, 4 đạo Uy Tiệp, Long Tiệp, Linh Tiệp, Bảo Tiệp cũng được lệnh lên đường đến Sinai. Cùng đi còn có Long nhi và Hải quân bộ bộ trưởng Chiêu Đức Vương Đinh An Bình.

Trên danh nghĩa, Long nhi là quốc vương của Napoli và Sicily (thừa kế từ Louis II de Anjou và Louis I de Anjou), đồng thời còn tranh chấp ngôi quốc vương của Aragon (thừa kế từ mẹ là Yolande de Aragon). Cuộc tranh chấp ngôi quốc vương này gần giống cuộc tranh ngôi giữa quốc vương hai nước Anh Cách Lan và Pháp Lan Tây, dẫn đến cuộc ‘chiến tranh trăm năm’. Quốc vương John I de Aragon qua đời, Yolande de Aragon là người con duy nhất còn sống, nên được thừa kế ngai vàng. Nhưng giới quý tộc Aragon lại muốn ưu tiên cho thân nhân nam hơn nữ, vì thế ngai vàng đã thuộc về chú của Yolande de Aragon là Martin I de Aragon. Đến khi Martin I de Aragon qua đời, không có người thừa kế hợp pháp, Yolande de Aragon đã đòi lại ngai vàng. Trong khi đó thì một số họ hàng xa của Martin I de Aragon cũng đòi quyền thừa kế. Những người tranh chấp ngai vàng gồm :

1. Fadrique de Aragon y Luna, Bá tước xứ Luna, cháu nội của Martin I de Aragon, người con không được thừa nhận (bastard) của con trai Martin I de Aragon.

2. Jaume, Công tước xứ Urgel, cháu nội của Alfonso IV de Aragon, con trai của em họ của Martin I de Aragon.

3. Alfonso, Công tước xứ Gandia, đã 80 tuổi (qua đời năm 1412), chú họ của Martin I de Aragon.

4. Louis III de Anjou (tức là Long nhi), cháu ngoại của John I de Aragon, thừa kế qua mẹ là Yolande de Aragon.

5. Fernando de Trastamara el de Antequera (Ferdinand), nhiếp chính của Castile, cháu nội của Peter IV de Aragon, thừa kế qua mẹ là Eleanor de Aragon, nữ vương của Castile. Cháu họ xa của Martin I de Aragon.

Cuộc tranh chấp kéo dài, và trong thời gian đó, Aragon không có quốc vương.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
10-12-2010, 12:14 PM
Chương 91 : ĐẠI TÂY HÀNH CUNG


Lại nói, sau 2 năm không có quốc vương, đến năm 1412, các quý tộc của Aragon đã quyết định nhóm họp để tuyển chọn tân quốc vương. Thế nhưng, hội nghị đã gặp rất nhiều khó khăn “do sự phân kỳ lợi ích giữa các phe phái của giới quý tộc; sự thiếu kiên nhẫn của những người ủng hộ Công tước xứ Urgel; và sự can thiệp của quân đội Castile do Fernando de Trastamare cầm đầu”.

Cuối cùng, Fernando de Trastamare được chọn làm quốc vương, tức Fernando I de Aragon. Thế nhưng, do có sự can thiệp của quân đội Castile, nhiều người đã không thừa nhận kết quả đó, và nhà Anjou vẫn tuyên bố quyền thừa kế của mình là hợp pháp (sau đó có giành lại được ngai vàng trong một thời gian ngắn, nên một số sử gia phương tây vẫn gọi Yolande de Aragon là Queen of Four Kingdom, với 4 vương quốc là Sicily, Jerusalem, Cyprus và Aragon, trong đó Aragon lại kiểm soát cả Majorca, Valencia và Sardinia nên còn có thể xem là 7 vương quốc).

Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.518 (Bính Thân, 1416). Mùa xuân tháng 2. Đại Tây hành cung.

Tôn Lương, nguyên là Đô Đốc của Hồng Long phân hạm đội thuộc Tây Dương Hạm đội, sau khi Hải quân cải tổ thì đã được thăng làm Đại đô đốc của Hắc Long Hạm đội, phụ trách khu vực Địa Trung Hải và Đại Tây Dương, có các căn cứ ở Gibraltar, Cathage và Sinai. Khi Long nhi và Đinh An Bình đến Đại Tây hành cung thì Tôn Lương cũng đến bái kiến, hồi báo tình hình.

Long nhi lúc này đã 13 tuổi. Sau gần 2 năm sinh sống ở Thần Thánh Đế quốc, Long nhi đã nói được ngôn ngữ của Đế quốc, và tính cách của cậu bé khiến cho mọi người đều yêu mến. Trong chính điện, cậu bé ngồi trên bảo tọa, Đinh An Bình ngồi bên cạnh, còn văn thần võ tướng đứng hầu hai bên. Long nhi hỏi :

- Tôn Đại đô đốc. Tình hình Pháp Lan Tây thế nào rồi ?

Cậu bé vẫn quan tâm tình hình Pháp Lan Tây, đặc biệt là Anjou, nhất là khi quân Anjou đã triển khai phản công từ mấy tháng trước. Đại đô đốc Tôn Lương nói :

- Hồi bẩm Điện hạ. Sau trận Agincourt, Pháp Lan Tây quân lực đại giảm, phe Armagnacs suy yếu nhanh chóng, thành Paris rơi vào tay quân Burgundy, các đạo quân Pháp Lan Tây không còn khả năng tiến hành các chiến dịch chống quân Anh Cách Lan nữa. Mùa đông vừa rồi, quân Anjou phản công, chiếm Guyenne, đánh bại Hạm đội Anh Cách Lan, rồi chiếm Calais. Sau đó, quân Anjou huy động thêm 1 vạn dân binh từ Anjou và Maine, lấy vũ khí thu được từ Calais trang bị cho dân binh, rồi tiến chiếm Flanders. Mùa xuân, Hạm đội Angers tấn công thành phố cảng Dover trên đất Anh Cách Lan, tiêu diệt Hạm đội Anh Cách Lan trú đóng ở đó. Còn lục quân đã tăng lên đến 2 vạn rưỡi, liên tục tiến chiếm các lĩnh địa ở duyên hải phía bắc Pháp Lan Tây, nằm ở khoảng giữa Calais và Anjou, như : Artois, Picardie, Eli, Longuevlle, Normandy. Đến lúc này, toàn bộ khu vực bắc bộ Pháp Lan Tây đã do quân Anjou kiểm soát.

Long nhi hỏi :

- Quân Anjou xử lý các lĩnh địa chiếm được như thế nào ?

Tôn Lương nói :

- Đương nhiên là cử người đến cai quản hoặc phân phong cho thuộc hạ. Nam tước Jean de Rais được phong là Bá tước xứ Eli, còn Đô đốc Frederick du Guesclin của Hạm đội Angers được phong làm Tử tước xứ Boulogne. Cả lão Ferdinand Caracciolo cũng được phong làm Bá tước xứ Artois.

Đối với người của Thần Thánh Đế quốc thì việc chiếm đất rồi cử người đến cai trị là chuyện bình thường. Nhưng ở Âu châu, mỗi lĩnh địa đều có chủ nhân, sử dụng vũ lực để chiếm lấy đa phần bị xem là không hợp pháp. Các vương công, quý tộc ở Âu châu mở rộng lĩnh địa hầu như đều bằng cách thừa kế, hôn nhân hay mua lại. Do vậy, Long nhi lo lắng nói :

- Làm thế có vấn đề gì bất ổn không ?

Tôn Lương ngạc nhiên nói :

- Có gì bất ổn đâu ! Đất đai chiếm được, muốn phân phong cho ai hay muốn xử lý thế nào thì đều là chuyện thiên kinh địa nghĩa mà.

Đinh An Bình mỉm cười bảo Long nhi :

- Không sao đâu ! Chỉ cần có sức mạnh, thì làm gì cũng đều đúng cả, không ai dám phản đối. Hơn nữa, quân Anjou chiếm đất từ quân Anh Cách Lan hoặc đồng minh của chúng kia mà.

Đoạn, Đinh An Bình bảo Tôn Lương :

- Phía Anjou có liên hệ với các ngươi không ?

Tôn Lương nói :

- Hồi bẩm Đại vương. Quân Anjou đã mấy lần liên hệ với bọn thuộc hạ để mua thêm đạn dược cho thần công đại pháo. Ngoài ra, sau khi tăng quân số, bọn họ cũng đã 2 lần mua lương thự vũ khí.

Đinh An Bình gật đầu hỏi :

- Được rồi. Thế còn tình hình Napoli và Aragon thế nào ?

Tôn Lương nói :

- Hồi bẩm Đại vương. Ngụy vương Ladislaus de Napoli đã qua đời cách nay 2 năm, chị gã là Joan II de Napoli kế vị. Bà ta thay chồng như thay áo vậy. Năm Tân Tỵ (1401), bà ta kết hôn với Công tước William de Austria (Áo) thì đến năm Bính Tuất (1406) chồng qua đời, bà ta có tình nhân là Pandolfello Alopo. Đầu năm ngoái, Bà ta vừa đính hôn với John de Aragon, con trai của Fernando I de Aragon, thì sang tháng sau đã chia tay ngay để đến cuối năm kết hôn với James de Bourbon, Bá tước xứ La Marche, nhằm nhận được sự hỗ trợ của triều đình Pháp Lan Tây. Thỏa thuận hôn nhân quy định rằng sau khi kết hôn, Joan II de Napoli phải phong cho James de Bourbon danh hiệu Vương tử xứ Taranto. Tuy nhiên, Joan II de Napoli đã thất hứa. Không nhận được danh hiệu như thỏa thuận, James de Bourbon đã giết chết Alopo và buộc Joan II de Napoli phải nhường ngôi cho mình, sau đó giam giữ bà ta trong phòng riêng ở vương cung. Có điều, hành vi của James de Bourbon bị giới quý tộc và dân chúng Napoli căm ghét. Hiện tại, dân chúng Napoli đang chuẩn bị nổi dậy.

Nếu không có sự xuất hiện của Thần Thánh Đế quốc thì theo đúng lịch sử, cuộc nổi dậy sẽ bùng nổ trong năm nay (1416), James de Bourbon sẽ bị lật đổ và Joan II de Napoli được phục ngôi. Đến năm 1418, James de Bourbon rời Napoli trở về lĩnh địa của mình ở Pháp Lan Tây. Năm 1423, Alfonso V de Aragon tấn công Napoli, Joan II de Napoli phải chạy sang Aversa. Tại đó, bà ta gặp Louis III de Anjou, và nhận Louis III de Anjou làm người thừa kế. Năm 1424, Joan II de Napoli khôi phục được ngai vàng, và Louis III de Anjou đến sống tại một trong các lĩnh địa của mình là Calabria, chờ được nối ngôi. Có điều, Louis III de Anjou qua đời vào 10 năm sau đó, và không có con. Quyền thừa kế thuộc về Réne de Anjou, em trai của Louis III de Anjou. Joan II de Napoli qua đời vào 1 năm sau, và Réne de Anjou trở thành quốc vương Napoli.

Giờ đây, Louis III de Anjou đã trở thành Long nhi, Hoàng tử của Thần Thánh Đế quốc, và Đế quốc đang chuẩn bị kinh lược Đại Tây chư quốc, khôi phục các tước vị mà Long nhi đang có. Đinh An Bình quay sang hỏi Long nhi :

- Điện hạ hiện đang có những tước vị nào ?

Long nhi suy nghĩ giây lát, rồi đáp :

- Quốc vương Napoli, Quốc vương Sicily, Quốc vương Aragon, Quốc vương Cyprus.

Tôn Lương nói thêm :

- Nếu vậy thì Điện hạ còn là Quốc vương Majorca, Valencia, Sardinia và Corsica; Công tước xứ Atens và Neopatria; Bá tước xứ Barcelona , Roussillon và Cerdanya. Đó là những vương quốc và lĩnh địa thuộc quyền sở hữu của Quốc vương Aragon.

Đinh An Bình lại nói :

- Joan II de Napoli cũng là thành viên của vương tộc Hungary thì phải ?

Tôn Lương nói :

- Hồi bẩm Đại vương. Charles III de Napoli, cha của Ladislaus de Napoli, người đã cướp ngôi quốc vương Napoli của Louis I de Anjou, từng là quốc vương Hungary. Sau khi ông ta qua đời thì Mary de Hungary kế vị ngôi quốc vương Hungary, và Ladislaus de Napoli kế vị ngôi quốc vương Napoli, rồi sau đó Joan II de Napoli đã kế ngôi của Ladislaus de Napoli.

Nghe nhức đầu quá, Đinh An Bình khẽ lắc đầu, nói :

- Tóm lại là Điện hạ cũng có đủ lý do để phát động chiến tranh với Hungary.

Tôn Lương gật đầu nói :

- Vâng ạ. Không chỉ Hungary, kể cả Bourbon, Aragon, Castile và Navarre.

Đinh An Bình hỏi :

- Tình hình Aragon thế nào ?

Tôn Lương nói :

- Hồi bẩm Đại vương. Sau khi Fernando I de Aragon lên ngôi thì tình hình Aragon vẫn ổn định. Cả Aragon và Castile tuy hai mà một, bởi Fernando I de Aragon vừa là quốc vương Aragon, vừa là nhiếp chính của Castile. Nữ vương Castile là chị dâu của gã. Tháng trước, thuộc hạ sai người mang thư sang yêu cầu gã trả lại ngai vàng cho Điện hạ, nhưng đã bị từ chối.

Đinh An Bình gật đầu nói :

- Rất tốt. Thế thì ta có lý do động binh với cả Castile. Tôn Đại đô đốc.

Tôn Lương vội ứng tiếng vâng dạ, cung kính chờ lệnh. Đinh An Bình truyền lệnh :

- Tập trung chiến hạm, phong tỏa vùng duyên hải Napoli, Sicily và Aragon. Vận hạm chuẩn bị sẵn sàng.

Tôn Lương cung kính nhận lệnh. Đinh An Bình lại gọi :

- Vương Nguyên, Triệu Quý Thường, Ngô Trấn Quốc, Lý Xương Văn.

Cả bốn người này đều là Tướng quân, thống lĩnh các đạo quân Chiêu Viễn, Chiêu Đức, Bảo Tiệp, Linh Tiệp. Quân chế của Đế quốc : 10 người thành 1 đội, có Đội trưởng; 10 đội thành 1 đoàn, có Thống lĩnh; 10 đoàn thành 1 vệ, có Vệ úy; 10 vệ thành 1 sư, có Hiệu úy; 3 sư thành 1 quân, có Tướng quân. Tướng quân có thể là Thiên Tướng quân, Tả Tướng quân, Trấn Bắc Tướng quân, Chinh Bắc Tướng quân, Thảo Nghịch Tướng quân, Chiêu Đức Tướng quân, Kiêu Kỵ Tướng quân, Long Nhương Tướng quân, …

Nghe gọi, cả bọn bước ra cung kính chờ lệnh. Đinh An Bình truyền lệnh :

- Hai đạo Chiêu Viễn, Bảo Tiệp tiến chiếm Napoli, Ngô Trấn Quốc làm chính, Vương Nguyên làm phó; hai đạo Chiêu Đức, Linh Tiệp tiến chiếm Sicily, Lý Xương Văn làm chính, Triệu Quý Thường làm phó.

Cả bọn cung kính nhận lệnh. Đinh An Bình lại truyền lệnh cho quan lại các tỉnh chuẩn bị lương thực vật tư hỗ trợ đại quân.


Có thể bà con chưa biết :

Danh hiệu quý tộc ở Âu châu

Danh hiệu quý tộc ở Âu châu có cấu trúc giống nhau :

<Tước hiệu> <Tên> <liên từ> <tên lĩnh địa/tên nơi sinh>

Liên từ là ‘of’ trong tiếng Anh, ‘de’ trong tiếng Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, ‘di’ trong tiếng Ý, ‘von’ trong tiếng Đức, ‘van’ trong tiếng Hà Lan, …

Ví dụ : Công tước Louis II xứ Anjou, Duke Louis II of Anjou, Duché Louis II de Anjou, Duca Luigi II di Angiò, Herzog Ludwig II von Anjou, Hertog Lodewijk II van Anjou, …

Những lĩnh địa không phải là vương quốc, công quốc độc lập thường được gọi là ‘xứ’, ví dụ : xứ Wales.

Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của giới quý tộc Âu châu. Trong các cung đình thường sử dụng tiếng Pháp. Từ chiến tranh thế giới thứ nhất đến chiến tranh thế giới thứ hai, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thông dụng (nói giọng Mỹ sẽ bị xem là nhà quê). Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tiếng Mỹ thay thế vai trò của tiếng Anh (nói giọng Mỹ mới sang).

Kỳ sau : Các loại tước hiệu của quý tộc Âu châu.


Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
11-12-2010, 10:57 AM
Chương 92 : CHINH PHỤC SICILY


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.518 (Bính Thân, 1416). Mùa xuân tháng 2, ngày rằm. Quân cảng Sinai.

Đối với người phương đông, những ngày đầu tháng và giữa tháng đều là những ngày tốt, còn gọi là ngày sóc và ngày vọng, là những ngày mà triều đình thiết đại triều. Còn đối với người phương tây, đêm trăng tròn cũng là một đêm huyền diệu. Do đó, ngày rằm tháng 2 đã được chọn làm ngày đại quân xuất chinh.

Quân cảng Sinai, nằm trong căn cứ hải quân ở vịnh Buhayrat al Mazilah, cách không xa cửa biển của nhánh phía đông sông Nile, hôm nay đột nhiên náo nhiệt khác thường. Hơn hai phần ba số chiến hạm của Hắc Long Hạm đội, gồm 2 chiếc Lục tinh cấp chiến hạm, 5 chiếc Thất tinh cấp chiến hạm, 12 chiếc Tuần dương hạm và 12 chiếc đại hình chiến thuyền được tập trung ở quân cảng, phụ trách vận chuyển đại quân đến Napoli và Sicily. Trên bến cảng, các đạo quân Chiêu Viễn, Chiêu Đức, Bảo Tiệp, Linh Tiệp cũng đã chuẩn bị hoàn tất, sẵn sàng lên thuyền xuất chinh.

Ngoài ra, theo thông lệ của Thần Thánh Đế quốc, mỗi khi đại quân xuất chinh đều có dân binh đi theo hỗ trợ. Theo lệnh của Chiêu Đức Vương Đinh An Bình, các tỉnh ven bờ Địa Trung Hải đã tuyển mộ 1 vạn dân binh, toàn là người Âu châu, để đi theo hỗ trợ đại quân. Nhiệm vụ của dân binh là phụ trách phòng thủ những địa bàn mà đại quân chiếm được. Sau khi Thần Thánh Đế quốc kiểm soát Sinai, rồi tiếp đó là các khu vực duyên hải phía đông và phía nam của Địa Trung Hải, đặc biệt là thánh địa Jerusalem, không chỉ có vô số thương nhân đổ đến tìm cơ hội phát tài, mà số người Âu châu đến đấy tránh loạn cũng không ít. Do đó, việc tuyển mộ dân binh không gặp nhiều khó khăn. Tổng chỉ huy lực lượng dân binh là Long nhi, để sau này sẽ chuyển đổi dân binh thành quân đội vương quốc của Long nhi. Các tướng lĩnh chỉ huy dân binh được tuyển chọn trong số những người thuộc gia đình phú thương, hoặc bình dân có học thức – những người hy vọng có thể thông qua quân công để trở thành quý tộc. Đối với người Âu châu, thân phận địa vị giữa bình dân và quý tộc cách biệt vô cùng lớn.

Đến giờ hoàng đạo, Đinh An Bình và Long nhi bước lên kỳ đài giữa quân cảng, nói lời động viên quân đội trước lúc xuất chinh. Long nhi hướng về lực lượng dân binh, chỉ nói đơn giản 4 chữ : “Phú quý, yên bình”, nhưng đã làm cho cả bọn nhiệt huyết sôi trào, hừng hực khí thế, muốn lập tức ra ngay chiến trường giết giặc lập công. Hưng phấn hơn cả là giới tướng lĩnh dân binh, bọn họ đã được cho biết rằng, trong tân triều đình sẽ có chỗ của bọn họ, đương nhiên là bọn họ phải biểu hiện năng lực của mình trước đã, triều đình sẽ không thu nhận những người vô dụng.

Sau đó, đại quân lần lượt xuống thuyền, để Hải quân chở đến địa điểm tác chiến. Hai đạo Chiêu Viễn, Bảo Tiệp tiến đến Napoli; còn hai đạo Chiêu Đức, Linh Tiệp tiến đến Sicily. Mỗi lộ đại quân được phối thuộc 5.000 dân binh.

Quãng đường từ Sinai đến Sicily khoảng 1.800 kilômét, đến Napoli gần 2.000 kilômét. Hạm đội đến Sicily trước, đổ 2 đạo quân Chiêu Đức và Linh Tiệp lên bờ biển phía đông. Sau đó Hạm đội tiếp tục vượt qua eo biển giữa Sicily và Napoly, tiến lên phía bắc. Theo kế hoạch, 2 đạo quân Chiêu Viễn và Bảo Tiệp sẽ được đưa đến vùng biên giới phía bắc của vương quốc Napoli, rồi từ đó sẽ đánh dần về phía nam, mục đích là để ngăn chặn không cho giới quý tộc và quân đội Napoli chạy lên phía bắc vào khu vực lĩnh địa của Giáo hội Công giáo La Mã (Papal of States). Vương quốc Napoli nằm trên bán đảo, chỉ cần đại quân ngăn chặn phía bắc, vùng biển lại bị Hải quân Đế quốc kiểm soát, thì địch quân sẽ chẳng thể chạy đi đâu được. Quân đội Đế quốc có ưu thế tuyệt đối, không cần sử dụng chiến thuật ‘vi tam khuyết nhất’ (vây 3 mặt, để trống 1 mặt).

Sicily trước đây là một vương quốc độc lập, nhưng đến năm 1409 đã bị sát nhập vào Aragon. Tuy nhiên, do Sicily không được triều đình Aragon xem trọng lắm, nên ở đấy chỉ có 3.000 quân, chia nhau trấn giữ các thành phố quan trọng trên đảo, như Palermo, Messina, Catania, Syracuse và Ragusa, trong đó thủ phủ Palermo tập trung đến 1.000 quân.

Ngày 27, Linh Tiệp quân bao vây Syracuse, thành phố cảng ở phía đông nam đảo. Ba vạn đại quân tấn công thành phố chỉ có 500 quân phòng thủ, chỉ mất chưa đến một buổi là đã chiếm được. Sau đó, 1.000 dân binh được phái trú đóng tại đây, đồng thời phụ trách bình định các thôn làng, thị trấn trong vùng.

Ngày 28, Linh Tiệp quân chia làm hai đạo tiến đánh Ragusa ở phía tây và Catania ở phía bắc; đồng thời Chiêu Đức quân bao vây Messina, thành phố cảng quan trọng nằm bên bờ eo biển giữa Sicily và Napoli. Cuộc tấn công không gặp phải trở ngại nào đáng kể. Các Hiệp sĩ của Aragon khi thấy mấy vạn đại quân dàn trận bên ngoài thành phố, chẳng mấy ai dám dẫn vài trăm quân ra nghênh chiến, đa phần cố thủ trong thành phố một cách tuyệt vọng. Và cũng có không ít tùy nghi di tản, quyển khoản tiềm đào, hay nói nôm na là gom tài sản bỏ trốn.

Ngày 1 tháng 3, khu vực phía đông đảo Sicily tràn ngập quân đội Thần Thánh Đế quốc. Người dân Sicily lần đầu phải đối diện với hình thức chiến tranh khác hẳn Âu châu. Đối với quân đội Đế quốc, tinh thần Hiệp sĩ của người Âu châu không có nghĩa lý gì cả. Dù chỉ đối diện vài trăm kẻ địch, hàng vạn đại quân cũng đồng loạt tấn công. Đầu tiên là hàng nghìn cung thủ đồng loạt bắn tên, rải mưa tên xuống đầu đối phương. Sau đó, khi đối phương đã trúng tên gần hết, thì chỉ cần một lượt xung phong là kẻ địch sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.

Ngày 5 tháng 3, thủ phủ Palermo bị Chiêu Đức quân bao vây. Thành phố nằm bên bờ biển, nên cũng nằm trong tầm pháo kích của Hải quân Đế quốc. Sau một ngày pháo kích vào thành phố, cổng thành bị phá hủy, thủ quân không dám xuất hiện gần khu vực cổng thành và đại quân dễ dàng tràn vào bên trong. Thành phố thất thủ.

Sau đó, đại quân phân thành các nhóm nhỏ, chia nhau đi bình định toàn đảo. Đại quân đến nơi nào, dân chúng đều được tập họp lại để phân biệt nghịch dân và lương dân (địa bàn chưa bình định, thuận dân chưa thể xác định), hễ ai tỏ ý chống đối, thậm chí là bất hợp tác, đều bị xem là nghịch dân, là kẻ địch, sẽ bị tiêu diệt hoặc bắt giữ, trở thành tù binh chiến tranh. Theo thông lệ của Âu châu thời bấy giờ, tù binh chiến tranh nếu không có tiền chuộc thì đều bị biến thành nô lệ. Nhưng quân đội Đế quốc không cần tiền chuộc, hễ trở thành tù binh chiến tranh thì tương lai chắc chắn trở thành nô lệ. Ngoài ra, toàn bộ giới quý tộc của Sicily đều bị xem là người của Aragon, là kẻ địch, không ai được tha thứ. Giang Phong quyết định chế độ tương lai ở vương quốc của Long nhi sẽ là trung ương tập quyền, do dó mà lĩnh chủ phong kiến theo kiểu Âu châu không được phép tồn tại, nhân lúc chiến tranh giải quyết hết bọn họ là thích hợp hơn cả. Bọn họ thần phục Fernando I de Aragon, một trong những kẻ tranh chấp ngai vàng với Long nhi, nên bị xem là kẻ địch cũng không có gì là không đúng.

Đến giữa tháng 3, toàn cảnh Sicily cơ bản đã được bình định. Ở Sicily giờ đây không còn ai là quý tộc, chỉ còn lại toàn bình dân. Không còn quý tộc nghĩa là việc chống đối hầu như cũng không còn. Việc trị an trở nên tốt hơn, và được chuyển giao hoàn toàn cho lực lượng dân binh. Do mất đi quý tộc cùng với thuộc hạ và gia nhân của bọn họ, dân số Sicily giảm khoảng 1 phần 10, nhưng không vấn đề gì. Hệ thống chính quyền theo kiểu Đế quốc được thiết lập ở đây. Toàn đảo Sicily được thành lập 1 quận, có 5 huyện là 5 thành phố chính của nó. Quan viên được tuyển chọn trong lực lượng dân binh.

Chỉ trong vòng nửa tháng, 6 vạn đại quân đã tiêu diệt hoàn toàn 3.000 quân Sicily và bình định toàn cảnh (chiến quả chẳng có gì huy hoàng). Sau đó, Hải quân lại vận chuyển 5 vạn đại quân sang đảo Sardinia ở phía tây bắc Sicily. Còn lại 1 vạn tiến sang chiếm lĩnh Reggio trên đất Napoli nằm bên kia eo biển.

Trong khi đó thì cuộc chiến ở Napoli thì có nhiều kịch tính hơn. Khi khu vực phía bắc đã bị các đạo quân Chiêu Viễn và Bảo Tiệp khống chế, James de Bourbon ở Napoli vội vã triệu tập quân đội bảo vệ Napoli. Do dưới thời Ladislaus de Napoli, vương quốc đã tổ chức nhiều cuộc chiến tranh, quân lực giảm sút nghiêm trọng, do vậy lúc này toàn vương quốc chỉ có hơn 300 Hiệp sĩ và 5.000 quân. Trong diễn văn động viên quân đội, James de Bourbon tuyên bố :

- Ngày xưa, người Hy Lạp chiến tranh với Đế quốc Ba Tư, tuy thành Atens bị thiêu hủy, nhưng cuối cùng người Hy Lạp với chỉ 10.000 quân cũng đã đánh bại 5 triệu quân Ba Tư của Xerxes Đại đế (sử gia Hy Lạp cổ đại Herodotus ghi nhận có 5 triệu người, với một nửa là binh sĩ lấy từ 46 tiểu quốc thuộc địa, nhưng các sử gia hiện đại cho rằng chỉ có khoảng 200.000 – 250.000 người). Nếu chúng ta đồng tâm hợp lực, chắc chắn cũng sẽ đánh bại kẻ thù, bảo vệ Napoli.

Sau đó, quân đội của James de Bourbon tiến đến pháo đài Aversa ở phía bắc Napoli.



Có thể bà con chưa biết :

Các loại tước hiệu của quý tộc Âu châu (phần 1)

1. Các loại tước hiệu chính :

Ở phương đông, mà cụ thể là Trung Quốc có nhiều loại tước hiệu, tùy triều đại, nhưng có 5 loại tước hiệu chính là Công, Hầu, Bá, Tử, Nam.

Ở Âu châu cũng có 5 loại tước hiệu chính, nên được phiên dịch đối ứng với các tước hiệu của phương đông là Công tước, Hầu tước, Bá tước, Tử tước, Nam tước. Ngoài ra còn có Chuẩn nam tước và Hiệp sĩ, tuy có tước hiệu nhưng chưa chính thức là quý tộc.

2. Pháp Lan Tây (Française) :

Nhóm 1 :
Empereur - Hoàng đế
Royaume - Quốc vương
Dauphin - Thái tử
Prince - Vương tử

Nhóm 2 :
Duché - Công tước
Marquisat - Hầu tước
Comté - Bá tước
Vicomté - Tử tước
Baron - Nam tước

Nhóm 3 :
Seigneurie - Lĩnh chủ
Chevalier - Hiệp sĩ

Ngoài ra còn có lĩnh địa của giáo hội, gồm :
Évêché - Lĩnh địa Giám mục
Archévêché - Lĩnh địa Tổng Giám mục

Nhóm 1 là thành viên Hoàng gia, nhóm 2 là quý tộc, nhóm 3 phi quý tộc.

Đến năm 1870, chế độ Cộng hòa thành lập, tước hiệu quý tộc bị bãi bỏ.

(chú : lĩnh chủ, ngày xưa còn gọi là lãnh chúa, giống như : chúa nhật, bang chúa, hội chúa ... Nhưng ngày nay thường dùng 'chủ', như chủ nhật, bang chủ, hội chủ ....)

Kỳ sau : Anh Cách Lan và Tô Cách Lan



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
12-12-2010, 03:46 AM
Chương 93 : CHINH PHỤC NAPOLI (1)


Lại nói, sau khi các đạo quân Chiêu Viễn và Bảo Tiệp khống chế khu vực phía bắc vương quốc Napoli, cả vương quốc bất ngờ phát hiện, bọn họ không hùng mạnh như vẫn tưởng. Chỉ trong 3 ngày, toàn bộ lĩnh thổ phía bắc đều rơi vào tay đối phương, và vương quốc bị phong tỏa triệt để, hoàn toàn tách biệt với phần còn lại của thế giới. Triều đình Napoli vội vã triệu tập quân đội, nhưng lúc này toàn vương quốc chỉ có hơn 300 Hiệp sĩ và 5.000 quân. James de Bourbon động viên toàn quân, hứa sẽ thăng quan tấn tước, sau đó quân đội tiến đến pháo đài Aversa ở phía bắc vương đô Napoli.

Pháo đài Aversa là một trong những pháo đài kiên cố nhất vương quốc, nằm ở phía bắc vương đô Napoli, là một cứ điểm phòng thủ mặt bắc vương đô, và cũng như là nơi lánh nạn của vương tộc nếu như vương đô thất thủ. Mất vương đô, nhưng Aversa còn, thì vẫn còn cơ hội phục quốc. Nhưng nếu như Aversa thất thủ thì vương đô cũng khó mà giữ được. Do đó, đối với triều đình Napoli, pháo đài Aversa cũng có địa vị trọng yếu không kém gì vương đô.
Khi quân đội Napoli tiến vào Aversa thì đạo Bảo Tiệp quân cũng tiến đến bao vây pháo đài.

Aversa có một bức tường thành cao, kiên cố, cùng nhiều vị trí hiểm yếu để phòng thủ. Năm xưa, khi xây dựng pháo đài này, các Bá tước xứ Aversa đã cố ý xây dựng sao cho sử dụng ít quân phòng thủ để chống lại số quân tấn công lớn hơn nhiều, thật thích hợp với tình trạng hiện tại của quân đội Napoli. Với 5.000 quân phòng thủ, muốn công chiếm pháo đài này, không thể nào không hy sinh vài vạn chiến sĩ. Đó là điều mà quân đội Thần Thánh Đế quốc không thể nào chấp nhận được. Chiêu Anh Tướng quân Lý Xương Văn, thống soái đạo quân Bảo Tiệp, liền triệu tập chúng tham mưu hội họp bàn bạc kế sách. Lý Xương Văn nói :

- Thành bảo của đối phương quá kiên cố, bất lợi cho phía tấn công. Chúng ta lại không thể sử dụng sinh mạng binh sĩ đổi lấy chiến thắng. Mọi người có kế sách gì không ?

Chúng tham mưu khẩn trương suy nghĩ tìm kế sách. Thật ra ý nghĩ trên đã theo bọn họ suốt từ khi Bảo Tiệp quân bao vây Aversa đến giờ. Bọn họ đều biết rằng nếu sử dụng sinh mạng binh sĩ để đổi lấy chiến thắng, dù có công chiếm được Aversa, bọn họ cũng chẳng có công lao gì, thậm chí nếu quân số thiệt hại nặng nề thì còn có thể bị giáng chức, cách chức.

Hồi lâu, một viên tham mưu rụt rè nói :

- Tướng quân. Có lẽ chúng ta đã rơi vào ngộ khu. Nhiệm vụ của chúng ta là chiếm lĩnh Napoli chứ không nhất thiết phải chiếm lĩnh Aversa.

Lý Xương Văn hỏi :

- Ý ngươi là chúng ta bỏ qua Aversa, trực tiếp tiến công Napoli ?

Viên tham mưu kia đáp :

- Tướng quân. Chúng ta có thể để lại 1 vạn quân bao vây Aversa. Số còn lại tấn công Napoli. Hiện tại Napoli hầu như không còn quân phòng thủ.

Lý Xương Văn gật đầu khen phải, vừa định lên tiếng khen ngợi thì một viên tham mưu khác lại góp ý :

- Tướng quân. Chúng ta không nhất thiết bao vây Aversa, hủy diệt nó luôn cũng được. Dạng kiến trúc thành bảo như thế, bản triều xây dựng lại cũng chẳng mất bao nhiêu thời gian. Aversa không giống như Napoli, chúng ta không cần phải cố kỵ nhiều.

Người Âu châu xây dựng lâu đài, pháo đài (Castle) bằng đá, nên mất nhiều thời gian, còn Thần Thánh Đế quốc xây dựng bằng thạch nê (tức bê tông cốt thép), nên mất ít thời gian hơn. Lý Xương Văn ngạc nhiên hỏi :

- Ngươi có kế sách gì ?

Gã ta đáp :

- Tướng quân. Hỏa công.

Hỏa công – đối với các tướng lĩnh phương đông không hề lạ. Nhất là trong lịch sử chiến tranh Trung Hoa, hỏa công được sử dụng rất nhiều. Trận Xích Bích nổi tiếng sử dụng hỏa công. Vũ Hương Hầu Gia Cát Lượng cũng thiện trường sử dụng hỏa công. Nhiều tướng lĩnh và quân sư cũng nhờ sử dụng hỏa công mà nổi tiếng. Nhiều khai quốc công thần của Minh triều cũng nổi tiếng nhờ sử dụng hỏa công. Do đó, khi nghe nhắc đến hỏa công, Lý Xương Văn lập tức hội ý, cười hắc hắc nói :

- Tốt lắm. Hôm nay hủy diệt Aversa. Ngày mai tiến chiếm Napoli.

Sau đó, tướng lệnh truyền ra, toàn thể đại quân chỉ để lại 1 vạn bao vây pháo đài, số còn lại tỏa ra xung quanh đốn gỗ, thu nhặt các vật dễ cháy. Đến chiều, một lượng lớn gỗ củi chất thành nhiều đống xung quanh pháo đài, khiến thủ quân bên trong pháo đài ngạc nhiên vô cùng, không hiểu đối phương định làm gì, chẳng lẽ định đốt củi để sưởi ấm. Đã sang xuân rồi, thời tiết đâu còn lạnh nữa, vả lại có đốt củi sưởi ấm cũng đâu cần nhiều gỗ củi như thế. Bất giác, cả bọn đều có cảm giác không hay.

Mọi sự chuẩn bị hoàn tất, tướng lệnh lại truyền ra, đại quân mang gỗ củi và các vật dễ cháy ném vào chân thành, chất kín xung quanh không để lại một khoảng trống nào. Đến lúc này, thủ quân bên trong pháo đài mới hiểu rõ mưu đồ của đối phương là định thiêu sống bọn họ, ai nấy đều lạnh xương sống.

Tướng lệnh lại truyền ra, binh sĩ y lệnh phóng hỏa và ngọn lửa bốc lên dữ dội. Do lượng gỗ củi quá nhiều, lại có hỏa dược trợ thế, nên ngọn lửa bốc lên quá cao, hỏa thế vô cùng hung hãn, và nhiệt độ tỏa ra cũng rất cao. Chỉ sau một lúc, cả thành tường cũng bị nung đỏ hồng. Pháo đài bị biến thành một ngọn đuốc khổng lồ, nổi bật trong đêm.

Xong đâu đấy, chẳng cần chờ đợi kết quả, Lý Xương Văn chỉ để lại 1 vạn quân canh giữ và phụ trách duy trì ngọn lửa, số quân còn lại đều được lệnh tranh thủ nghỉ ngơi để sáng sớm ngày mai hành quân đến Napoli.

Do số lượng gỗ củi quá nhiều, ngọn lửa duy trì suốt hai ngày đêm, và toàn bộ thủ quân trong pháo đài đều bị thiêu sống. Thật ra thì chỉ sau nửa ngày, thủ quân bên trong pháo đài đã giương cờ trắng đầu hàng. Có điều binh sĩ của Bảo Tiệp quân đều cố tình tỏ ra không nhìn thấy. Ngọn lửa quá lớn, hỏa thế quá hung hãn, không ai muốn vì kẻ địch mà mạo hiểm tiếp cận ngọn lửa, để rồi uổng mạng vô ích. Trong khi muốn tiếp nhận đầu hàng thì bọn họ phải dập tắt ngọn lửa, mở đường cho hàng binh đi ra.

Không được chấp nhận đầu hàng, thủ quân bên trong pháo đài không thể tránh khỏi số phận bị thiêu sống. Và những nạn nhân đầu tiên chính là 300 Hiệp sĩ. Hiệp sĩ của Âu châu thời Trung Cổ sử dụng những bộ áo giáp quá nặng nề, toàn thân sắt thép từ đầu đến chân, tuy có thể bảo hộ tốt cơ thể, nhưng cũng khiến cho việc di chuyển rất khó khăn, đồng thời mỗi khi mặc vào hay cởi ra đều mất rất nhiều thời gian và công sức. Do vậy mà Hiệp sĩ thường phải có tùy tùng trợ giúp, giúp đỡ bọn họ mặc giáp và lên ngựa. Thế rồi lúc này đây cũng chính bộ giáp đó đã góp phần khiến cho bọn họ tử vong sớm hơn những người khác. Thử tưởng tượng toàn thân bao bọc trong sắt thép, đứng giữa ngọn lửa đáng cháy hừng hực, hậu quả …

Sau khi ngọn lửa được dập tắt, pháo đài Aversa đã trở thành một đống hoang tàn, đương nhiên những người bên trong đều đã hóa ra tro. Bảo Tiệp quân đệ tam sư cũng chẳng buồn dọn dẹp chiến trường (bị ngọn lửa thiêu đốt suốt hai ngày, làm gì còn có chiến lợi phẩm tồn tại), mà kéo xuống Napoli trợ chiến. Nhưng khi đệ tam sư đến được Napoli thì thành phố đã rơi vào tay Bảo Tiệp quân. Do Napoli hầu như không còn quân đội phòng thủ, Bảo Tiệp quân đã công chiếm rất dễ dàng. James de Bourbon cùng các quý tộc của Napoli đã bỏ chạy đến xứ Taranto ở phía đông nam vương quốc, lĩnh địa mà James de Bourbon nhắm đến khi kết hôn với Joan II de Napoli.

Sau khi chiếm lĩnh Napoli, vương đô của vương quốc Napoli, Lý Xương Văn cùng Triệu Quý Thường chia hai đạo quân Bảo Tiệp và Chiêu Viễn thành nhiều toán nhỏ, ít thì một vệ, nhiều thì năm ba vệ, tỏa ra bình định khu vực trung bộ vương quốc Napoli, với mục tiêu giải quyết hoàn toàn giới quý tộc ‘phản nghịch’ của Napoli. Bọn họ bị kết tội ‘phản nghịch’ vì đã thần phục cha con Ladislaus de Napoli mà chống lại nhà Anjou, thậm chí còn theo Ladislaus de Napoli ba lần tấn công giáo đô La Mã, đuổi Đức Thánh Cha (Papal) khỏi đấy, và có lần còn buộc Đức Thánh Cha nộp tiền chuộc 100.000 florin (mỗi florin nặng 3,85 gam vàng, 1 chỉ vàng chỉ có 3,75 gam, tức 100.000 florin tương đương 10.267 lượng vàng, hay 385 kilôgam vàng). Những tội trạng đó được công bố, người Âu châu, nhất là những tín đồ Công giáo La Mã, nếu không ủng hộ thì cũng không phản đối việc trừng trị những kẻ ‘phản nghịch’ đó. Nhất là những bài ca về “Vương tử của bi thương” được phổ biến trước đây đã giúp cho Long nhi có lợi hơn về mặt dư luận. Đa số bình dân không chống lại sự cai trị của Long nhi, không phải đối việc thay đổi triều đại ở Napoli. Dù gì thì bọn họ cũng không ưa James de Bourbon. Những kẻ chống đối chỉ có giới quý tộc, những kẻ mà dù có chống đối hay không đều thuộc đối tượng bị giải quyết (trục xuất hay bắt giữ). Bọn họ càng chống đối thì đối với Đế quốc, đối với sự cai trị sau này của Long nhi càng có lợi.



Có thể bà con chưa biết :

Các loại tước hiệu của quý tộc Âu châu (phần 2)

3. Anh Cách Lan (England) :

Chế độ tước sĩ của triều đình Anh Cách Lan có bối cảnh lịch sử rất lâu đời (có lẽ chỉ sau Pháp Lan Tây). Phong hiệu phân thành 7 cấp chính, chia thần dân thành 2 bộ phận lớn là quý tộc (peerage) và bình dân.

Nhóm 1 :
King and Emperor / Queen and Empress : Quốc vương kiêm Hoàng đế / Nữ vương kiêm Nữ hoàng.
King / Queen : Quốc vương / Nữ vương.
Prince of Wales : Vương tử xứ Wales (tước hiệu của Thái tử)
Prince - Vương tử
Princess Royal / Princess : Đại công chủ / Công chủ.

Nhóm 2 :
Royal Duke / Royal Duchess : Đại công tước / Nữ đại công tước
Duke / Duchess : Công tước / Nữ công tước
Marquess / Magrave : Hầu tước / Nữ hầu tước
Count / Countess : Bá tước / Nữ bá tước
Viscount / Viscountess : Tử tước / Nữ tử tước
Baron / Baroness : Nam tước / Nữ nam tước
Lord : Huân tước (tước hiệu phong cho con trai của công tước, hầu tước; không có phong địa)

Nhóm 3 :
Baronet - Tùng nam tước
Knight - Hiệp sĩ

Nhóm 1 là thành viên Hoàng gia, nhóm 2 là quý tộc, nhóm 3 phi quý tộc.

Ở Anh Cách Lan, quyền lực của giáo hội không lớn.

Người Việt thường sử dụng nhầm lẫn giữa 2 loại tước hiệu Nữ hoàng và Nữ vương. Trong chế độ tước sĩ của Anh Cách Lan, đây là 2 loại tước hiệu khác nhau. Nữ hoàng (Empress) Victoria, nhưng phải là Nữ vương (Queen) Elizabeth II. Trước đây Anh Cách Lan chỉ có Quốc vương, Nữ vương. Đến năm 1876, Nữ vương Victoria gia miện thành Nữ hoàng Ấn Độ, từ đó Quốc vương và Nữ vương Anh Cách Lan có thêm tước hiệu Hoàng đế, Nữ hoàng. Nhưng đến năm 1947, Ấn Độ độc lập, thì tước hiệu Hoàng đế và Nữ hoàng cũng không còn.

4. Tô Cách Lan (Scotland) :

Chế độ tước sĩ của Tô Cách Lan cơ bản giống với Anh Cách Lan, chỉ có một số khác biệt :

Lord of Parliament : Nghị hội huân tước (tương đương Nam tước của Anh Cách Lan)

Ở nhóm thứ 3 có thêm :
Laird : Nam tước (đứng dưới Lord of Parliament và không phải là quý tộc)

Kỳ sau : Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
12-12-2010, 06:09 PM
Chương 94 : CHINH PHỤC NAPOLI (2)


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.518 (Bính Thân, 1416). Mùa xuân tháng 3.

Một tháng sau khi xuất chinh, khu vực bắc bộ và trung bộ vương quốc Napoli đã bị 2 đạo quân Chiêu Viễn và Bảo Tiệp chiếm lĩnh. Đồng thời khu vực tây nam cũng bị Chiêu Đức quân Đệ tam sư kiểm soát. James de Bourbon chỉ còn kiểm soát khu vực đông nam, chủ yếu là Taranto và các vùng phụ cận.

Ngày 15 tháng 3, Lý Xương Văn, tổng chỉ huy chiến trường Napoli, giao khu vực đã bình định xong cho lực lượng dân binh quản lý, rồi thống suất đại quân tiến về miền nam Napoli, mục tiêu là Taranto, nơi tập trung tàn dư của James de Bourbon. Ở đó, James de Bourbon đã triệu tập gần như toàn bộ giới quý tộc của Napoli cùng với tư quân của bọn họ, tập họp được hơn 1 vạn quân, trong đó có đến hơn 500 Hiệp sĩ và 1.500 quý tộc, chiếm gần hết tổng số quý tộc của vương quốc. Thành ra, đội quân của James de Bourbon có thể xem là đội quân quý tộc, số lượng thì đông, nhưng sức chiến đấu thì … cần phải xem lại. Chỉ trừ những quý tộc bản thân là Hiệp sĩ, năng lực chiến đấu xuất sắc, đa phần quý tộc chỉ giỏi hưởng thụ, khả năng chiến đấu có khi còn thua cả bình dân. Quan trọng hơn cả, xuất hiện đại lượng quý tộc trong quân đội, kỷ luật khó giữ, và binh sĩ phải lo bảo vệ quý tộc hơn là lo giết giặc (đặc biệt là quân đội Napoli lúc này được hình thành từ tư quân của quý tộc, đương nhiên phải lo bảo vệ chủ nhân trước).

Ngày 20, quân đội song phương đụng độ ở Mateola, phía bắc Taranto. Phía Thần Thánh Đế quốc có 7 vạn quân, gồm 2 đạo Bảo Tiệp quân, Chiêu Viễn quân, hội họp cùng Chiêu Đức quân Đệ tam sư từ phía tây nam kéo lên. Phía James de Bourbon có 1 vạn quân đội quý tộc, gồm 500 Hiệp sĩ, 1.500 quý tộc và khoảng 8.000 binh sĩ. Tỷ lệ chênh lệch giữa quân số song phương không khác nhiều so với trận Agincourt, nhưng lần này quân đội của James de Bourbon không gặp may như quân đội của Henry V of England.

Trước trận, James de Bourbon lại động viên cổ vũ toàn quân :

- Trong trận Agincourt mấy tháng trước, quân Anh Cách Lan chỉ có hơn 8.000 người mà đã đánh bại gần 4 vạn quân Pháp Lan Tây, chiến quả huy hoàng. Trận này, nếu như chúng ta đồng tâm hiệp lực, gắng sức chiến đấu, chắc chắn cũng sẽ giống như quân Anh Cách Lan, đánh bại kẻ thù, chiến thắng huy hoàng.

James de Bourbon là quý tộc Pháp Lan Tây mà lại lấy trận Agincourt ra để động viên quân đội thì thật không phải chút nào. Y vừa nói xong, một loạt những tiếng nổ vang trời từ phía trận địa đối phương truyền lại, sau đó là hơn nghìn quả đạn pháo đổ xuống đầu quân đội Napoli, mà mục tiêu chủ yếu là đội hình của các Hiệp sĩ. Hiệp sĩ ở Âu châu cũng đồng nghĩa với kỵ sĩ, khi xung phong thì tập họp thành đội hình san sát nhau để gia tăng xung kích lực. Nhưng lần này, đội hình đó đã trở thành tấm bia rất nổi bật cho thần công đại pháo của quân đội Thần Thánh Đế quốc. Theo quân chế của quân đội Thần Thánh Đế quốc, mỗi sư được phối cấp 200 khẩu thần công (đương nhiên là nhỏ hơn pháo hạm của Hải quân để tiện di chuyển), thành ra 7 vạn đại quân có đến 1.400 khẩu thần công, chỉ cần một loạt pháo kích cũng đủ để nhấn chìm đội hình Hiệp sĩ của quân Napoli trong khói lửa. Sau loạt pháo kích đó, toàn bộ quan quân Napoli đều nhìn nhau sửng sốt, pha lẫn kinh hoàng. Chỉ trong nháy mắt, 500 Hiệp sĩ đã bị xóa sổ, kèm theo là gần nghìn người khác ở lân cận, trong đó cũng có không ít quý tộc. Tử trạng của bọn họ vô cùng thê thảm, thịt nát xương tan.

Sau loạt pháo kích là đến phiên cung thủ phát oai. Ở quân đội Thần Thánh Đế quốc, mỗi sư thường có 1 vệ kỵ binh, 1 vệ pháo binh, 4 vệ cung thủ (trang bị cung, nỏ) và 4 vệ cận chiến bộ binh (sử dụng đao, thương). Như vậy, 7 vạn đại quân có đến 2 vạn 8.000 cung thủ. Tất cả đồng loạt công kích, 2 vạn 8.000 mũi tên đồng loạt rải xuống đầu gần 9.000 quân Napoli. Phải nói là tên bắn như mưa. Quân Napoli không chỗ tránh né, kêu khóc vang trời, đặc biệt là số quý tộc, tiếng gào thét kinh thiên động địa, đất thảm trời sầu.

Sau mấy lượt công kích của lực lượng cung thủ, quân Napoli đại bộ phận thọ thương hay tử trận, máu nhuộm đầy đồng, thây phơi đầy nội. Chỉ có lực lượng thân binh của James de Bourbon và một số quý tộc, do vận áo giáp bảo hộ kín kẽ, nên chưa bị thương hoặc chỉ bị thương nhẹ, không ảnh hưởng nhiều đến khả năng chiến đấu. Thấy vậy, Lý Xương Văn lại truyền lệnh cho trận địa thần công khai hỏa một loạt nữa, giải quyết số tàn dư, rồi mới cho quân tiến lên giải quyết chiến trường.

Sau trận Mateola, lực lượng phản kháng cuối cùng ở vương quốc Napoli bị tiêu diệt hoàn toàn. Quân đội Đế quốc dễ dàng tiến chiếm Taranto. Đến ngày 24, toàn cảnh Napoli đã được bình định, và cũng giống như ở Sicily, ở Napoli lúc này chỉ còn lại toàn bình dân. Hàng loạt tướng lĩnh dân binh được bổ nhiệm làm quan viên cai trị các nơi. Còn việc phong tước, phải chờ đến khi vương quốc chính thức thành lập, Long nhi chính thức đăng quang.

Ngày 1 tháng 4, Long nhi và Đinh An Bình đến Napoli. Khi bước chân vào vương đô, Long nhi không khỏi cảm khái. Đây là kỳ vọng của Louis I de Anjou, rồi cả Louis II de Anjou, đến nay mới có thể hoàn thành. Còn nếu mở rộng ra cho cả Sicily và Napoli, thì có thể kể từ thời Charles I de Anjou (1226 – 1285). Charles I de Anjou được Đức Thánh Cha (Papal) phong cho làm quốc vương của vương quốc Sicily (bao gồm cả Napoli) từ năm 1262, đăng quang vào năm 1266, nhưng đến năm 1282 thì mất đảo Sicily (loạn quân được vương quốc Aragon hỗ trợ), chỉ còn lại Napoli.

Gia tộc Anjou là một đại gia tộc ở Pháp Lan Tây, có cùng dòng họ với quốc vương, nhưng là dòng thứ. Charles I de Anjou, người khai sinh gia tộc Anjou là em trai của quốc vương Pháp Lan Tây Louis IX de Française thuộc Vương triều Capetian, được phong làm Công tước xứ Anjou và Bá tước xứ Maine, trong đó Anjou là một công quốc chư hầu ở phía tây của vương quốc Pháp Lan Tây. Gia tộc Anjou sau phân thành 4 chi là :

1. Anjou – Maine, dòng chính, cai trị Anjou và Maine, Sicily (1266 – 1282), Napoli (1266 – 1382) và nhiều lĩnh địa lớn nhỏ khác như Provence, Forcalquier, Piedmont, …

2. Anjou – Hungary, cai trị Hungary (1308 – 1395), Ba Lan (1370 – 1399).

3. Anjou – Taranto, cai trị Đế chế Latin ở Constantinople (1313 – 1374).

4. Anjou – Darazzo, cai trị Napoli (1382 – đến giờ), dòng này bị xem là phản nghịch, vì Charles III de Napoli (cha của Ladislaus de Napoli) đã giết Joan I de Napoli (thuộc dòng Anjou – Maine) để cướp ngôi.

Ngoài ra còn có chi thứ 5 – Vương triều Valois. Sau khi Charles IV de Française qua đời, dòng Capetian không có người thừa kế, triều thần và quý tộc Pháp Lan Tây đã chọn Philippe VI de Valois, Công tước xứ Anjou, Bá tước xứ Maine và Valois lên làm quốc vương, trở thành Philippe VI de Française. Con trai của Philippe VI de Française là Jean II de Française trước khi lên ngôi cũng là Công tước Anjou. Đến đây, Jean II de Française cho con trưởng là Charles V de Française làm Dauphiné (tức Thái tử), còn con thứ là Louis I de Anjou làm Công tước xứ Anjou, Bá tước xứ Maine. Louis I de Anjou là cha của Louis II de Anjou, và là ông nội của Louis III de Anjou (tức Long nhi). Tóm lại gia tộc Anjou có quan hệ rất gần gũi với các quốc vương Pháp Lan Tây, và có địa vị hiển hách. Louis II de Anjou và Công tước phu nhân là người tài trợ cho nhiều lực lượng chống Anh Cách Lan trong cuộc “chiến tranh trăm năm”, trong đó có cả Jeanne de Arc (tiếng Anh : Joan of Arc - thánh nữ, anh hùng cứu quốc của Pháp).

Sau khi vào vương cung của Napoli, Đinh An Bình nhìn quy mô của nó, khẽ lắc đầu, nói với Long nhi :

- Nơi này không thể xem là vương cung, không phù hợp với thân phận của Điện hạ.

Long nhi ngạc nhiên hỏi :

- Ý vương gia thế nào ?

Đinh An Bình nói :

- Vương cung ít ra phải tương đương với Đại Tây Hành cung ở Sinai thì mới phù hợp với thân phận của Điện hạ. Hơn nữa, Napoli quá gần La Mã (tức Roma), không thích hợp để đóng đô.

Long nhi ngẫm nghĩ giây lát, thấy cũng có lý, liền hỏi :

- Vậy theo vương gia thì nên đóng đô ở đâu ?

Đinh An Bình nói :

- Ở Sicily là tốt nhất.

Long nhi lập tức tán thành. Trước khi Charles I de Anjou mất đảo Sicily thì vương đô đóng ở Sicily, và tên vương quốc cũng là Sicily. Do đó, đóng đô ở Sicily là rất thích hợp. Hơn nữa, Sicily nằm ở trung tâm Địa Trung Hải, cùng với bán đảo Italia chia Địa Trung Hải thành hai phần Đông và Tây. Vì vậy, Sicily giữ một vị trí trọng yếu trên các tuyến hàng hải ở Địa Trung Hải.

Cuối cùng, Đinh An Bình và Long nhi thống nhất chọn thành phố cảng Syracuse làm vương đô của tân vương quốc mà Giang Phong đặt tên cho là Latium, theo tên một quốc gia cổ trên đất Italia. Việc kiến thiết vương đô được khẩn trương tiến hành. Trong thời gian chờ đợi, Long nhi sẽ vẫn ở tại Đại Tây Hành cung.



Có thể bà con chưa biết :

Các loại tước hiệu của quý tộc Âu châu (phần 3)

5. Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức :

Tên tiếng Đức : Heiliges Römisches Reich Deutscher Nation
Tên tiếng Anh : Holy Roman Empire of the German Nation
Tên tiếng Pháp : Saint-Empire romain de la Nation Germanique
Tên tiếng Latinh : Imperium Romanum Sacrum Nationis Germanicæ

Tên gọi này có từ đầu thế kỷ 15 cho đến khi Đế quốc bị giải thể vào năm 1806. Trước đó, tên gọi không có cụm từ 'Dân tộc Đức'. Đế quốc được hình thành từ vương quốc Francie Orỉentable (Francie Đông), và kế thừa tên 'Đế quốc La Mã Thần Thánh' từ Charlemagne, vua của người Francs, Hoàng đế của cả phương tây.

Hoàng đế của Đế quốc không được cha truyền con nối mà được bầu lên từ các Tuyển hầu, do đó Đế quốc không có Thái tử.

Nhóm 1 :
Kaiser : Hoàng đế
König : Quốc vương
Kurfürst : Tuyển hầu
Prinz : Vương tử (các con của Hoàng đế
Fürst : Vương tử (vua của 1 công quốc chư hầu)

Nhóm 2 :
Erzherzog : Đại công tước
Herzog : Công tước
Markgraf : Hầu tước, Biên cảnh Tổng đốc (do ở biên cảnh nên có quyền hành lớn, quân đội mạnh, và tương đối độc lập đối với triều đình)
Landgraf : Cung đình Bá tước
Graf : Bá tước
Vizegraf : Tử tước
Baron : Nam tước
Freiherr : Nam tước (hoặc chuẩn Nam tước, thấp hơn Baron)

Nhóm 3 :
Ritter : Hiệp sĩ
Junker : lĩnh chủ, hương thân

Kỳ sau : Hà Lan và Bỉ



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
14-12-2010, 01:36 AM
Chương 95 : VƯƠNG QUỐC LATIUM


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.518 (Bính Thân, 1416). Mùa hạ, tháng 4.

Đến lúc này, vương quốc Latium của Long nhi đã kiểm soát được lĩnh thổ của 4 vương quốc là Napoli, Sicily, Sardinia và Corsica. Đinh An Bình tạm thời cho chuyển đại bản doanh đến Napoli, rồi phái 2 đạo quân Chiêu Viễn, Bảo Tiệp tấn công Aragon, và 4 đạo quân Chiêu Đức, Linh Tiệp, Uy Tiệp, Long Tiệp tấn công Castile. Do Fernando I de Aragon vừa là quốc vương Aragon vừa là nhiếp chính của Castile (nữ vương là chị dâu), nên cả hai vương quốc này có thể xem như là một, khi tấn công Aragon thì phải tính cả Castile và ngược lại. Do đó, để đơn giản, Đinh An Bình đã điều thêm 2 đạo quân Uy Tiệp và Long Tiệp ở Sinai, cùng với 4 đạo quân hiện hữu hình thành lưỡng lộ đại quân, tấn công cả 2 vương quốc.

Sau trận Aljubarrota với thất bại của liên minh Castile – Aragon – Pháp Lan Tây, nền độc lập của Bồ Đào Nha được xác nhận với việc thành lập Vương triều Aviz, và Castile không còn hùng mạnh như trước nữa. Năm 1383, vua Ferdinand I de Portugal qua đời mà không có con trai kế vị, người con gái duy nhất lại là vợ của quốc vương Jean I de Castile, nên theo luật thừa kế ở Âu châu lúc bấy giờ, quốc vương Jean I de Castile sẽ đồng thời là quốc vương của Bồ Đào Nha. Đối mặt với nguy cơ mất độc lập, giới quý tộc Bồ Đào Nha với sự ủng hộ của người dân Lisbon đã đề nghị Jean I de Aviz (con trai của quốc vương trước đó) lên ngôi. Thế là giữa Jean I de Aviz và Jean I de Castile diễn ra cuộc tranh chấp quyền thừa kế ngai vàng giống hệt cuộc tranh chấp giữa quốc vương hai nước Anh Cách Lan và Pháp Lan Tây. Sau đó, Anh Cách Lan ủng hộ Portugal, còn Pháp Lan Tây và Aragon ủng hộ Castile. Đầu năm 1384, nghe tin Jean I de Aviz sắp lên ngôi, Jean I de Castile liền phối hợp cùng các đồng minh là Aragon và Pháp Lan Tây tổ chức một đạo quân 31.000 người (trong đó có 2.000 Hiệp sĩ đến từ Pháp Lan Tây) để xâm chiếm Bồ Đào Nha. Jean I de Aviz tổ chức được một đạo quân 6.500 người và được hỗ trợ bởi 600 trường cung thủ (longbowman) đến từ Anh Cách Lan. Thế rồi trận Aljubarrota diễn ra, liên quân Bồ Đào Nha - Anh Cách Lan đại thắng, chỉ thiệt hại 1.000 người, nhưng đã tiêu diệt 4.000 địch quân trong trận chiến và 5.000 địch quân trong ngày hôm sau. Trận Aljubarrota đã chính thức xác nhận sự thành lập vương triều Aviz ở Bồ Đào Nha, đồng thời dẫn đến sự suy yếu của vương quốc Castile.

Đến lúc này, để chống lại sự tấn công của quân đội Thần Thánh Đế quốc, liên quân Castile – Aragon cũng tập họp được khoảng 3 vạn quân. Dù chiếm ưu thế tuyệt đối về quân số và trang bị vũ khí, quân đội Thần Thánh Đế quốc tiến quân không được thuận lợi lắm, nguyên nhân chủ yếu là vì sợ tổn thất nặng nên các tướng lĩnh đều tránh xung đột trực diện, chỉ tiến hành những trận chiến khi có ưu thế tuyệt đối. Ngoài ra, quốc vương ở đây không bị mất lòng dân như James de Bourbon ở Napoli. Quân đội Thần Thánh Đế quốc không phải không thắng được, nhưng vì tiến độ tấn công chậm chạp, nên sẽ mất nhiều thời gian hơn.

Ở vương quốc Castile, 12 vạn quân Thần Thánh Đế quốc đánh nhau với 2 vạn quân Castile chỉ giành được một số chiến thắng nhỏ. Phải sang tháng 5, khi có thêm 2 vạn dân binh Hồi giáo từ bờ nam eo biển Gibraltar kéo sang hỗ trợ, quân đội Thần Thánh Đế quốc mới đánh bại được quân Castile, đuổi tàn quân Castile chạy sang lĩnh thổ Aragon ở phía bắc. Lĩnh thổ vương quốc Castile trước kia thuộc về vương quốc Hồi giáo Almohades. Do đó, người Hồi giáo xem việc tham chiến như là tham gia Thánh chiến, khả năng chiến đấu cao đến mức không ngờ. Cũng chính vì vậy mà Đinh An Bình mới tuyển mộ dân binh từ người Hồi giáo.

Ở vương quốc Aragon, 6 vạn quân Thần Thánh Đế quốc đánh nhau với 1 vạn quân Aragon, tình hình chiến sự cũng tương tự như ở Castile. Sau 1 tháng giao chiến, quân đội Thần Thánh Đế quốc cũng chỉ kiểm soát được khoảng một nửa lĩnh thổ Aragon ở vùng duyên hải phía đông.

Đầu tháng 6, khi các đạo quân Linh Tiệp, Uy Tiệp, Long Tiệp cùng 1 vạn dân binh Hồi giáo từ Castile kéo sang trợ chiến, quân đội Thần Thánh Đế quốc tập trung 16 vạn quân tấn công chưa đến 1 vạn quân Aragon, thì mới kết thúc được cuộc chiến. Sau đó đại quân tràn sang các vùng chưa chiếm được ở phía tây và phía bắc thuộc bán đảo Iberia. Sang đến giữa tháng 7, toàn bán đảo Iberia đã được Thần Thánh Đế quốc kiểm soát hoàn toàn, biên giới mở rộng đến vương quốc Pháp Lan Tây ở phía bắc. Nhưng theo kế hoạch định sẵn từ trước ở Trường Thanh Cung, lĩnh thổ của Aragon và Navarre vốn không thuộc về vương quốc Hồi giáo Amohades, nên được chuyển giao cho vương quốc Latium của Long nhi; còn Castile, Bồ Đào Nha, Granada (ước khoảng 483.000 kilômét vuông) được sát nhập vào Thần Thánh Đế quốc, hình thành 7 tỉnh mới là Cordova, Granada, Gibraltar, Lisbon, Toledo, Santander và Léon.

Như vậy, sau khi sát nhập Aragon và Navarre, vương quốc Latium mở rộng thêm gần gấp đôi. Qua sự tham mưu của các văn quan đến từ Thần Thánh Đế quốc, Long nhi và Đinh An Bình bàn bạc việc thiết lập thể chế mới cho vương quốc. Từ nay, vương quốc Latium thực hiện chế độ quân chủ chuyên chế, lĩnh thổ vương quốc thống nhất tuyệt đối, bãi bỏ chế độ phân phong lĩnh địa, không để các vương quốc tồn tại độc lập mà tổ chức thành tỉnh, quận, huyện theo kiểu Thần Thánh Đế quốc. Ở Âu châu, nhiều vương quốc dù có vua chung, nhưng vẫn là những vương quốc độc lập, giống như Sigismund de Luxembourg, vừa là Hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức, vừa là Quốc vương Hungary, Quốc vương Boheme và Công tước xứ Luxembourg, trong khi các quốc gia đó vẫn tồn tại độc lập với nhau.

Lĩnh thổ của vương quốc Latium được tổ chức lại thành 4 tỉnh :

1. Sicily (diện tích 63,470 kilômét vuông) : do 3 vương quốc Sicily, Sardinia, Corsica và quần đảo thuộc địa Majorca (của Aragon) hợp thành, được chia thành 7 quận, gồm 3 quận Syracuse, Palermo và Messina thuộc đảo Sicily; 2 quận Cagliari và Sassari thuộc đảo Sardinia; quận Corsica thuộc đảo Corsica; quận Majorca thuộc quần đảo Majorca. Trong đó Syracuse là kinh đô.

2. Napoli (diện tích 73,261 kilômét vuông) : nguyên là vương quốc Napoli, được chia thành 6 quận là Napoli, Taranto, Calabria, Potenza, L’Aquila và Foggia.

3. Aragon (diện tích 58,110 kilômét vuông) : nguyên là phần phía bắc của vương quốc Aragon cùng với công quốc Navarre, được chia thành 5 quận là Barcelona, Lérida, Navarre, Saragossa và Gerona.

4. Valencia (diện tích 55,419 kilômét vuông) : nguyên là phần phía nam của vương quốc Aragon, được chia thành 5 quận là Valencia, Sagunto, La Plana, Alicanté, Monreal del Campo.

Kể từ lúc này, vương quốc Latium đã trở thành một nước lớn ở Âu châu, có thể sánh ngang với Pháp Lan Tây, Hungary; chỉ thua Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức; mạnh hơn cả Anh Cách Lan (sau khi bị quân Anjou đánh bại vào đầu năm, mất hết các lĩnh địa trên đất Pháp).

Từ khi quân Anjou quật khởi và vương quốc Latium hình thành, cục diện Âu châu đã có những biến đổi rất đáng kể.

Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức vẫn là thế lực mạnh nhất, có điều Đế quốc La – Đức không thống nhất mà là một liên minh các vương quốc, công quốc độc lập, trong đó Hoàng đế chỉ là một vương công lớn, không thể chỉ huy các vương công quý tộc khác nếu như họ không muốn nghe lệnh.

Nhóm thế lực thứ hai gồm có vương quốc Pháp Lan Tây ở phía tây, vương quốc Hungary ở phía đông và vương quốc Latium ở phía nam. Ba vương quốc này bao vây ba mặt Đế quốc La – Đức. Và do Đế quốc La – Đức ở về phe Anh Cách Lan trong cuộc ‘chiến tranh trăm năm’ nên quan hệ với vương quốc Pháp Lan Tây rất xấu, từ đó dẫn đến quan hệ với vương quốc Latium cũng không được tốt. Cũng còn may là Hoàng đế Sigismund de Luxembourg của Đế quốc La – Đức đồng thời cũng là quốc vương Hungary, nên tình hình đối với Đế quốc La – Đức chưa đến nỗi tồi tệ.

Nhóm thế lực thứ ba gồm các vương quốc yếu hơn như Đan Mạch, Thụy Điển, Tô Cách Lan (Scotland) và Ba Lan.

Nhóm thế lực thứ tư, yếu nhất, gồm các vương quốc nhỏ, công quốc và cộng hòa quốc như Na Uy, Ái Nhĩ Lan (Ireland), Papal of States, Candia, Syprus, Iceland, Burgundy, Bungary, Bosnia, Albani, Servia, Wallachia, Moldavia, Genoa, Venice, Byzantine, Lithuania, Morea, Trebizonde, Teutonic Knights, Knights of Saint John, … Riêng cộng hòa Novgorod và công quốc Moscow là chư hầu của Hãn quốc Kim trướng (Mông Cổ), chưa được kể là thế lực thuộc Âu châu.

Vương quốc Latium quật khởi quá nhanh, trong lúc các nước Âu châu còn chưa kịp có phản ứng gì thì đã có 5 vương quốc (Sicily, Napoli, Sardinia, Aragon, Corsica) và 1 công quốc (Navarre) trở thành lịch sử. Tuy rằng vương quốc Latium hiện giờ chỉ có 1 vạn quân đội, nhưng các nước đều không dám xem thường, do vương quốc Latium được hậu thuẫn trực tiếp bởi Thần Thánh Đế quốc, và Long nhi còn là Hoàng tử của Thần Thánh Đế quốc. 18 vạn quân đội cùng Hắc Long Hạm đội đủ sức uy hiếp bất kỳ nước nào ở Âu châu.



Chương 96 : LẠI CHUẨN BỊ CHIẾN TRANH


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.518 (Bính Thân, 1416). Mùa thu, tháng 8. Đại Tây Hành cung.

Do chiến tranh ở Iberia bán đảo đã kết thúc, Long nhi và Đinh An Bình không ở lại bộ chỉ huy tiền phương tại Napoli nữa mà quay về Đại Tây Hành cung ở Sinai. Lúc này cung điện ở Syracuse vẫn còn đang trong quá trình xây dựng, nên Long nhi phải tạm trú ở Đại Tây Hành cung. Còn Đinh An Bình quen sống trong những cung điện kiểu phương đông, ở trong cung điện kiểu phương tây thấy không thoải mái tí nào, do đó mà khi chiến tranh vừa kết thúc thì đã cùng Long nhi quay về Đại Tây Hành cung.

Dù vậy, Đinh An Bình cũng giống như bọn Triệu Phong, đều là những phần tử hiếu chiến, nên chiến tranh vừa kết thúc là lại muốn phát động một cuộc chiến tranh mới. Do đó, ánh mắt của y lại hướng sang khu vực phía đông vương quốc Latium, những vương quốc nằm bên kia bờ biển Adriatic. Ở phía tây và phía nam của vương quốc Latium là các tỉnh trên bán đảo Iberia và các tỉnh Bắc Phi của Thần Thánh Đế quốc, ở phía tây bắc là vương quốc Pháp Lan Tây, chính bắc là Papal of States, đều là những nơi không tiện tiến hành chiến tranh, chỉ có khu vực phía đông là thích hợp, lại có lý do chính đáng. Nhà Anjou – Hungary của Ladislaus de Napoli từng chiếm đóng Napoli, sát hại nữ vương Joan I de Napoli của nhà Anjou - Maine, do vậy Long nhi hoàn toàn đủ lý do để phát động chiến tranh. Thật ra quan hệ giữa giới quý tộc Âu châu vô cùng phức tạp, trải qua mấy trăm năm truyền thừa, ân oán không ít, muốn tìm lý do để tuyên chiến dễ dàng vô cùng.

Khi bàn bạc cùng Long nhi chuyện quân quốc đại sự, Đinh An Bình còn chưa kịp đề xuất việc đông chinh, thì Long nhi đã nói :

- Vương gia. Các thuộc hạ của ta đều muốn ta sớm đăng quang và đại phong quần thần. Vương gia thấy thế nào ?

Đinh An Bình ngẫm nghĩ giây lát, rồi nói :

- Đại phong quần thần thì không thành vấn đề, chỉ cần không phân phong lĩnh địa là được. Mọi đất đai trong vương quốc đều phải thuộc về Điện hạ. Còn việc đăng quang thì chưa phải lúc.

Long nhi ngạc nhiên hỏi :

- Sao vậy ?

Đinh An Bình nói :

- Đệ đệ của Chiêu Vũ Vương Triệu Phong còn được Thánh hoàng cho đăng cơ xưng đế. Điện hạ không thể kém gã ta được.

Long nhi giật mình :

- Ý vương gia bảo ta xưng đế ?

Đinh An Bình nói :

- Không phải ý của ta mà là ý của Thánh hoàng. Chỉ cần quốc thổ của Điện hạ đạt đến một quy mô nhất định, Thánh hoàng sẽ đích thân gia miện cho Điện hạ làm Hoàng đế. Do đó, đại sự hiện giờ đối với điện hạ là mở mang quốc thổ.

Long nhi hỏi :

- Lại tiếp tục phát động chiến tranh nữa ư ? Chọn mục tiêu ở đâu bây giờ ?
Đinh An Bình mỉm cười hỏi :

- Điện hạ quên gã Ladislaus rồi sao ?

Long nhi giật mình :

- Ý vương gia muốn nói đến Hungary ?

Đinh An Bình gật đầu nói :

- Đúng thế. Mục tiêu sắp tới sẽ là Hungary.

Long nhi nói :

- Nhưng phu quân của nữ vương Mary de Hungary lại là Sigismund de Luxembourg, là Hoàng đế của Đế quốc La – Đức đó nha !

Đinh An Bình mỉm cười nói :

- Chính vì thế mà chúng ta càng phải tấn công Hungary. Điện hạ quên George I de Trento rồi sao ?

Long nhi lo lắng nói :

- Chúng ta mở rộng quy mô chiến tranh, có vấn đề gì không ?

Đinh An Bình cười nói :

- Không vấn đề gì cả. Chiến tranh ở Hoa Bắc đã kết thúc vào năm trước. Chiến tranh ở Miến Điện cũng đã kết thúc vào đầu năm nay. Hiện giờ còn có mười mấy đạo quân đang rảnh rỗi. Mà Điện hạ nên nhớ rằng các tướng lĩnh của Đế quốc đều hiếu chiến cả, không thể an nhàn quá lâu được.

Long nhi ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói :

- Nhưng quân đội của ta chỉ có 1 vạn người, chia ra phòng thủ 4 tỉnh là đã quá sức rồi, nếu mở rộng quốc thổ sẽ không có đủ quân đội để phòng thủ.

Việc công thành chiếm đất, quân đội Thần Thánh Đế quốc có thể làm thay, nhưng việc phòng thủ quốc thổ phải do lực lượng dân binh người Âu châu của Long nhi đảm nhiệm. Việc thiếu quân đội cũng là vấn đề, nhưng không phải không có cách giải quyết. Đinh An Bình nói :

- Vậy thì tăng quân. Quân đội Anjou mà còn có 2 vạn rưỡi người. Quân đội Pháp Lan Tây cũng có hơn 3 vạn. Vương quốc Latium không thể ít hơn được. Tăng quân lên 5 vạn, thành lập 5 sư đoàn.

Long nhi nói :

- Nhưng vương quốc mới thành lập, mức độ trung thành của thần dân chưa thể đảm bảo nha !

Đinh An Bình nói :

- Không hề gì. Ở các tỉnh quanh Địa Trung Hải của Thần Thánh Đế quốc có không ít người Âu châu, tạm thời cứ tuyển mộ trong số bọn họ, sau này sẽ di dân từ các vùng mới chiếm lĩnh bù lại. Sau khi Điện hạ đại phong quần thần, ta nghĩ sẽ có không ít bình dân hăng hái tham quân.

Long nhi đưa ra một bản danh sách, nói :

- Đây là danh sách ta định phong tước đợt này, vương gia xem thử rồi cho ý kiến.

Đinh An Bình cầm xem, rồi gật đầu nói :

- Quân đội phải do Điện hạ trực tiếp thống lĩnh, không thể để cho các đại gia tộc can thiệp vào. Các đại gia tộc thường xem lợi ích của gia tộc cao hơn lợi ích của quốc gia, vì thế Điện hạ không nên giao cho trọng nhậm, nhất là trong quân đội. Sử dụng tướng lĩnh từ bình dân hay tiểu gia tộc là tốt nhất. Còn tước hiệu thì chúng ta có thể phong, công tước hay hầu tước đều không thành vấn đề.

Long nhi mỉm cười nói :

- Hiện giờ trong vương quốc, đừng nói đại gia tộc, ngay cả tiểu gia tộc cũng không còn. Ở vương quốc chỉ còn lại một số tiểu quý tộc bất đắc chí, không lĩnh địa, không quyền lực mà thôi.

Đinh An Bình gật đầu nói :

- Như thế càng tốt. Trong vương quốc, quý tộc có thể cao quý hơn bình dân, nhưng không thể có nhiều đặc quyền. Người duy nhất có thể có đặc quyền chỉ có thể là Điện hạ.

Long nhi gật đầu :

- Ta hiểu rồi. Ta sẽ nắm chắc quân đội, và không để cho các gia tộc lũng đoạn triều chính.

Đinh An Bình trao lại danh sách cho Long nhi, nói :

- Vậy là ta yên tâm rồi. Quân đội Đế quốc không thể ở lại đây mãi được. Việc triều chính phải trông chờ cả ở Điện hạ đấy.

Long nhi gật đầu nói :

- Ta hiểu rồi. Vậy thì trong những trận chiến sắp tới phải cho quân đội của ta tham chiến mới được, không thể để bọn họ là dân binh mãi được.

Đinh An Binh nói :

- Điện hạ nói rất phải. Cần cho bọn họ làm quen với sự ác liệt của chiến trường. Quân đội mà chưa từng tham chiến thì không thể xem là quân đội được.

Giữa lúc đó, Chronique de Venette, cận thần của Long nhi, vào bẩm báo :

- Hồi bẩm bệ hạ, Đại vương. Có sứ thần của nước cộng hòa Genoa đến, xin được yết kiến bệ hạ.

Chronique de Venette là một tiểu quý tộc ở Pháp Lan Tây, gia tộc đã suy bại, để chạy loạn trong cuộc nội chiến giữa hai phe Armacnacs và Burgundy, đã mượn danh nghĩa hành hương đến thánh địa mà di cư sang Jerusalem. Sau cuộc tuyển mộ dân binh, gã nhờ tài năng, học thức và thông hiểu lễ nghi mà được Đinh An Bình và Long nhi chú ý, rồi được chọn làm thư ký quan của Long nhi. Chức thư ký quan của quốc vương cũng tương đương với chức vụ Chánh văn phòng Nội Các, ngang cấp Bộ trưởng, có thân phận địa vị rất cao. Hơn nữa, thư ký quan cũng có nghĩa là cận thần thân tín của quốc vương, vị cao quyền trọng hơn ngoại thần nhiều.

Nghe nói có sứ thần của Genoa đến, Long nhi ngạc nhiên hỏi :

- Bọn họ đến đây làm gì thế ?

Chronique de Venette tâu :

- Hồi bẩm bệ hạ. Bọn họ đến kháng nghị việc bản triều chiếm lĩnh Corsica. Đảo quốc Corsica tuy trên danh nghĩa thuộc về vương quốc Aragon, nhưng thực tế lại là thuộc địa của Genoa.

Đinh An Bình ánh mắt bừng sáng, hừ nhẹ một tiếng, nói :

- Kháng nghị ? Bọn chúng dựa vào đâu mà kháng nghị ? Rõ ràng Corsica danh nghĩa thuộc về Aragon, Điện hạ tiếp quản Aragon, thì tiếp quản luôn Corsica là việc thiên kinh địa nghĩa. Chúng ta chiếm lý, không cần để ý đến bọn chúng.

Chronique de Venette cũng biết Đinh An Bình có thân phận địa vị rất cao, không thua kém gì Long nhi, nhất là trong lĩnh vực quân sự thì có tiếng nói quyết định, bởi họ Đinh không chỉ thống lĩnh 18 vạn quân đội Thần Thánh Đế quốc ở đây, mà còn là Hải quân bộ bộ trưởng. Do đó, gã cung kính hỏi :

- Vậy bản triều nên đáp hạ sứ giả Genoa thế nào ạ ?

Đinh An Bình cười nhạt nói :

- Thống trách bọn chúng khinh thường vương quốc Latium, khinh thường Điện hạ. Sau đó hạ chiến thư.

Cả Long nhi và Chronique de Venette đều giật mình :

- Hạ chiến thư ?

Đinh An Bình nói :

- Đúng thế. Hạ chiến thư.

Long nhi nói :

- Vương gia. Như thế còn nên không ? Nước cộng hòa Genoa ở Âu châu có địa vị rất đặc biệt đó nha !

Đinh An Bình nói :

- Bọn chúng có địa vị đặc biệt là nhờ ở Hải quân. Các nước ở Âu châu khi có hải chiến thường thuê chiến thuyền của bọn họ tham chiến. Nhưng Hải quân của bọn họ, đối với Đế quốc, còn chưa sánh bằng các đội vũ trang thương thuyền nữa, không cần để ý đến.

Long nhi chợt nhớ đến Hạm đội Angers của nhà Anjou nguyên bản cũng chỉ là đội vũ trang thương thuyền của Đế quốc, nên gật đầu tán đồng. Đinh An Bình quay sang viên tùy tướng của mình, bảo :

- Truyền lệnh Tôn Đại đô đốc điều Hạm đội phong tỏa Genoa, vận chuyển Linh Tiệp quân đổ bộ vào Genoa. Truyền lệnh Lý Xương Văn chuẩn bị phương án công chiếm Genoa. Truyền lệnh các đạo quân còn lại chuẩn bị chiến tranh.



Có thể bà con chưa biết :

Các loại tước hiệu của quý tộc Âu châu (phần 4)

6. Hà Lan :

Hà Lan nằm ở phía tây bắc của châu Âu và có biên giới với Bỉ, Đức và nhìn ra biển Bắc.

Thời Trung Cổ, Hà Lan thuộc lĩnh thổ của Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân Tộc Đức. Hà Lan, tiếng Anh là Holland, thực ra chỉ là 1 trong 7 công quốc tuyên bố tách khỏi Đế quốc La - Đức hình thành Liên minh Utrecht vào ngày 23 tháng 1 năm 1579. Sau đó là cuộc chiến tranh 80 năm, đến ngày 15 tháng 5 năm 1648 mới được chính thức công nhận độc lập, thành lập "Republiek der Zeven Verenigde Nederlanden".

Danh xưng chính thức là "Het Koninkrijk der Nederlanden" (Hán Việt : Ni Đức Lan vương quốc), nhưng thông thường bị gọi lầm là Holland (Hà Lan), mà trên thực tế Hà Lan chỉ là hai vùng trong Ni Đức Lan vương quốc (North Holland và South Holland, ngày xưa chỉ là Holland), và được dùng lâu thành quen. Có lẽ thương thuyền của Công quốc Holland đến nước ta đầu tiên, nên mới bị gọi lầm như thế.

Ni Đức Lan có nghĩa là "vùng đất thấp".

(tham khảo : http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_Lan)

Nhóm 1 :
Koning/Koningin : Quốc vương / Nữ vương
Kroonprins : Thái tử
Prins : Vương tử

Nhóm 2 :
Aartshertog : đại công (đã bãi bỏ)
Hertog : công tước
Markies : hầu tước
Graaf : bá tước
Burggraf : tử tước
Baron : nam tước

Nhóm 3 :
Ridder : Hiệp sĩ

Hà lan hiện có 2 vương tử, 31 bá tước, 103 nam tước, 8 Hiệp sĩ.

7. Bỉ :

Cái tên 'Bỉ' (Belgium) xuất xứ từ Gallia Belgica, một Tỉnh La Mã ở phần cực bắc của Gaul nơi người Belgae, một sự pha trộn giữa người Celt và German sinh sống. Về mặt lịch sử, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg được gọi là Các nước "vùng đất thấp", thường để chỉ một vùng hơi rộng hơn nhóm quốc gia Benelux hiện tại. Thời Trung Cổ, Bỉ có nhiều công quốc, lĩnh địa; lúc thì là chư hầu của Đế quốc La - Đức, lúc thần phục Pháp Lan Tây, thậm chí phe Burgundy. Tóm lại, đây là vùng chiến loạn của Âu châu.

(tham khảo http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%89)

Do lúc theo Pháp Lan Tây, lúc theo Đế quốc La - Đức, nên tước hiệu có cả tiếng Pháp/tiếng Đức.

Nhóm 1 :
Roi/Koning - quốc vương
Prince/Prins - vương tử

Nhóm 2 :
Duc/Hertog - công tước
Marquis/Markies - hầu tước
Count/Graaf - bá tước
Viscount/Burggraff - tử tước
Baron - nam tước

Nhóm 3 :
Chevalier/Ridder - Hiệp sĩ
Squire/jonkheer - lĩnh chủ, hương thân

Bỉ hiện có 9 vương tử, 5 công tước, 10 hầu tước, 85 bá tước, 35 tử tước, 317 nam tước, 113 Hiệp sĩ.


Kỳ sau : Đan Mạch và Thụy Điển



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
14-12-2010, 11:21 AM
Chương 97 : PAVIA ĐẠI HỘI CHIẾN


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.518 (Bính Thân, 1416). Mùa thu, tháng 8.

Vương quốc Latium tuyên bố đối nước cộng hòa Genoa tuyên chiến nhanh chóng lan truyền khắp Âu châu chư quốc, nguyên nhân là vì cộng hòa Genoa khinh thị vương quốc Latium, khinh thị quốc vương Louis de Latium (tên gọi ở Âu châu của Long nhi, vì là quốc vương đầu tiên của vương quốc nên không thể dùng tên Louis III). Mọi người không kinh hãi với việc tuyên chiến, mà kinh hãi vì nguyên nhân tuyên chiến. Các nước đương nhiên biết việc cộng hòa Genoa phái sứ giả sang Sinai kháng nghị việc vương quốc Latium chiếm lĩnh Corsica. Mọi người không ngờ vương quốc Latium lại xem điều đó như là bị khinh thị, rồi phát động chiến tranh. Phải chăng, điều đó cũng đồng nghĩa với việc chỉ cần nước nào đó tỏ ý bất kính với quốc vương Latium là có thể trở thành nguyên nhân của chiến tranh. Đó chính là điều các nước lo lắng. Các nước không lo ngại quân đội của Latium, mà lo ngại thế lực đứng đằng sau Latium – Thần Thánh Đế quốc.

Tuy nhiên, các đại thế lực lại nghĩ đến nguyên nhân sâu xa hơn. Cuộc nổi loạn Sicilian Vespers năm 1283, buộc Charles I de Anjou phải rời Sicily, có sự hỗ trợ trực tiếp của Aragon và Genoa. Người Genoa còn cho giới quý tộc Sicily và Napoli vay để chống lại quân đội phục quốc của nhà Anjou. Nay vương quốc Aragon đã trở thành lịch sử, có lẽ Genoa cũng không tránh khỏi số phận tương tự. Nếu vậy thì những thế lực nào từng chống lại nhà Anjou cũng đều có thể trở thành mục tiêu của vương quốc Latium chăng. Và thế là bọn họ đều nhìn về phía Hungary và Burgundy. Đương nhiên, cả vương quốc Hungary và công quốc Burgundy cũng tích cực chuẩn bị chiến tranh.

Cuối tháng 8, chỉ sau nửa tháng kể từ ngày tuyên chiến, Hải quân của Thần Thánh Đế quốc đã phong tỏa vùng biển ngoài khơi Genoa, và 3 vạn quân của đạo Linh Tiệp quân đổ bộ lên bờ.

Genoa là một nước duyên hải, nằm men theo bờ biển, hẹp mà dài, rất thích hợp để các chiến hạm của Hải quân Thần Thánh Đế quốc công kích. Genoa trước đây từng có lực lượng hải quân hùng mạnh, nhưng sau chiến tranh với cộng hòa Venice năm 1380, đã bại trận và suy yếu. Hơn nữa, Hạm đội của Genoa cũng chỉ có thể xưng hùng với các tiểu quốc ở Địa Trung Hải mà thôi.

Toàn dân Genoa cũng chỉ chưa đến 10 vạn người, đại đa số là thương nhân, trừ hải quân ra thì quân đội thường trực chỉ có khoảng 1.000 người, khi có chiến tranh thì thuê cố dụng quân (để giảm chi phí duy trì quân đội). Chỉ có điều, sau khi tuyên chiến, vương quốc Latium còn tuyên bố bất kỳ ai giúp người Genoa đều là kẻ thù của vương quốc, nên nghị viện Genoa dù sử dụng nhiều tiền bạc cũng không thuê được cố dụng quân – không ai muốn trở thành mục tiêu tiếp theo của vương quốc Latium, hơn nữa xem ra Genoa chẳng có cơ hội nào để chiến thắng.

Ngày 22, đội chiến hạm tiên phong của Hắc Long Hạm đội tiến vào vùng biển Genoa.

Ngày 23, một trận hải chiến chớp nhoáng diễn ra ngoài khơi thành phố cảng Genoa. Hạm đội Genoa với 12 ‘tiểu’ chiến thuyền bị tiêu diệt hoàn toàn. Gần 50 vũ trang thương thuyền của Genoa đều ẩn náu bên trong cảng, không dám ra ngoài. Cùng ngày, quân Anjou ở Provence cũng áp sát biên cảnh Genoa và Milan, sẵn sàng hỗ trợ vương quốc Latium.

Ngày 24, sau mấy giờ pháo kích vào thành phố, các vận thuyền của Hắc Long Hạm đội đổ 3 vạn Linh Tiệp lên bờ. Sau đó, đại quân tiến vào thành phố, thế như phá trúc. Những nơi mà người Genoa ngoan cường đề kháng thì lục quân chỉ bao vây, rồi gọi chiến hạm đến pháo kích vào đó. Quân dân Genoa tổn thất thảm trọng.

Ngày 25, thành phố thất thủ. Cuộc cướp bóc bắt đầu. Đúng, cướp bóc ! Quân đội Đế quốc thực hiện chính sách giống hệt như đã từng làm ở vùng Giang Bắc khi chiến tranh với Minh triều. Toàn thể dân chúng của Genoa được tập trung ra bờ biển, sau đó được phân loại thành 2 nhóm : quý tộc và bình dân. Toàn bộ tài sản của bọn họ đều bị tịch thu, sung công. Còn tất cả bị cưỡng chế di cư, trở thành khổ công hay nô lệ (nếu là nghịch dân hoặc quý tộc). Theo lệ ở Âu châu thời bấy giờ, kẻ bại trận bị bắt làm tù binh có thể dùng tiền để chuộc, còn nếu không chuộc thì bị biến thành nô lệ. Có điều Thần Thánh Đế quốc không cho chuộc tù binh. Giang Phong không muốn mất công sức bắt được địch nhân, rồi vì tiền mà thả bọn họ ra để bọn họ tiếp tục chống đối.

Cuộc cướp bóc kéo dài suốt ba ngày. Sau đó, theo lệnh của Long nhi, toàn bộ quý tộc của Genoa được chuyển giao cho quân Anjou. Đó là quà Long nhi tặng cho em trai của mình Réne de Anjou. Còn toàn bộ bình dân bị cưỡng chế di cư đến Tripoli khai phát vùng đất mới mở mang ở đó.

Ngày 28, chờ mãi không thấy quân đội công quốc Milano sang cứu viện Genoa, Lý Xương Văn suất lĩnh đạo Linh Tiệp hợp cùng 1.000 quân Anjou tạo thành liên quân tiến sang Milano ở ngay phía bắc Genoa. Bởi vì cộng hòa Genova thật ra nằm dưới quyền thống trị của dòng họ Visconti xứ Milano, nên trước đó Đinh An Bình đã có kế hoạch chiến tranh với cả Genoa và Milano.

Ngày 3 tháng 9, Linh Tiệp quân Đệ nhị sư đụng độ quân đội Milano tại Pavia, cạnh bờ sông Po. Sau một trận giao chiến, 5.000 quân Milano bị bao vây ngay trên cánh đồng. Do bốn phía bằng phẳng, không có các vị trí hiểm yếu, Đệ nhị sư đành đào vô số hầm hố, cài đặt vô số cạm bẫy, đào hào đắp lũy bao vây địch quân. Quân Milano dù nhiều lần tổ chức phá vây, nhưng quân số ít hơn, trang bị kém hơn, nên đều bị đánh bật trở lại, và thiệt hại không nhỏ. Tướng chỉ huy quân Milano đành tổ chức cố thủ và phái người đi cầu viện.

Ngày 5, quân tiếp viện của Milano kéo đến, hội hợp với số quân bị vây được hơn 1 vạn, còn đang tổ chức phá vây thì Đệ nhất sư, Đệ tam sư của Linh Tiệp quân đã kéo đến. Lý Xương Văn sử dụng 3 vạn quân bao vây hơn 1 vạn quân Milano.

Ngày 6, Công tước Jean II de Fearless xứ Burgundy thống suất 30.000 quân, mượn đường của Liên minh các công quốc Thụy Sĩ (Duchies of Swiss Confederation), tiến sang tiếp viện Milano. Do nhà Burgundy liên minh với Anh Cách Lan trong cuộc ‘chiến tranh trăm năm’, nên đã bị quý tộc Pháp Lan Tây, trong đó có nhà Anjou, xem là kẻ địch. Cũng chính vì vậy mà Công tước xứ Burgundy mới phái quân đội sang tiếp viện cho Milano. Bọn họ định liên minh với nhau cùng chống lại vương quốc Latium, hay nói đúng hơn là quân đội Thần Thánh Đế quốc.

Ngày 9, quân Burgundy hội hợp cùng quân Milano, quân số tăng lên đến gần 40.000 người, định phản công tiêu diệt Linh Tiệp quân. Nào ngờ, Ngô Trấn Quốc thống suất Bảo Tiệp quân kéo đến, hợp cùng Linh Tiệp quân bao vây liên quân Milano – Burgundy.

Ngày 12, Hoàng đế Sigismund de Luxembourg của Đế quốc La – Đức đang ở Constance đã triệu tập 45.000 quân kéo sang tiếp viện cho quân Milano, nguyên nhân cũng tương tự như Công tước xứ Burgundy. Do biết thế nào vương quốc Latium cũng sẽ tấn công Hungary, mà Sigismund de Luxembourg lại là phu quân của nữ vương Mary de Hungary, vì vậy mà quân đội Đế quốc La – Đức nhân lúc này tham chiến luôn.

Quân đội Đế quốc La – Đức cũng theo đường Thụy Sĩ tiến sang Milano. Ngày 18, sau 6 ngày khẩn cấp hành quân, quân đội Đế quốc La – Đức đã đến được chiến trường. Thế nhưng, Đinh An Bình đã phái 4 đạo quân Uy Tiệp, Long Tiệp, Chiêu Viễn, Chiêu Đức mai phục chờ sẵn, khi thấy quân đội Đế quốc La – Đức vừa đến gần khu vực chiến trường thì kéo ra bao vây ngay. Trên đồng bằng sông Po lúc này có hai vòng vây cực lớn : 1 bao vây 40.000 liên quân Burgundy – Milano và 1 bao vây 45.000 quân Đế quốc La – Đức.

Ngày 19, Đinh An Bình đích thân đến chỉ huy cuộc hội chiến, lại đưa thêm 3 vạn dân binh của vương quốc Latium đến tiếp viện. Vòng vây được xiết chặt thêm. Quân đội Thần Thánh Đế quốc chỉ bao vây chứ không tấn công, thỉnh thoảng chỉ dùng thần công đại pháo nã đạn vào bên trong, thường là lúc nửa đêm, để khiến cho địch quân không ngủ được. Nhiều lúc, Đinh An Bình còn cho quân đốt gỗ ướt, hun khói vào trong vòng vây, hành hạ thể xác và tinh thần địch quân.

Ngày 25, sau hơn nửa tháng bị vây, sau hơn 10 ngày không được nghỉ ngơi, sau mấy ngày hết lương, cuối cùng liên quân Milano – Burgundy cũng hạ khí giới đầu hàng. Thật ra nếu như không đầu hàng thì bọn họ cũng không còn đủ sức chiến đấu. Đến lúc này, liên quân chỉ còn lại 3 vạn người. Hơn 1 vạn tử vong, khoảng một nửa là do chết đói, còn một nửa là tử trận khi phá vòng vây thất bại.

Ngày 6 tháng 10, sau nhiều lần phá vây thất bại, quân số tổn thất nặng nề, tinh thần và thể lực đều suy sụp nghiêm trọng, lương thực lại cạn, quân đội Đế quốc La – Đức cũng buộc phải hạ khí giới đầu hàng. Đến lúc này, trong vòng vây chỉ còn lại vài nghìn người là còn đủ sức cầm vũ khí.

Bắt được hơn 6 vạn tù binh, Đinh An Bình để 2 đạo quân Chiêu Đức, Chiêu Viễn ở lại xử lý chiến trường, số còn lại phân thành 5 đạo tỏa ra chiếm lĩnh các xứ trong công quốc Milano.



Có thể bà con chưa biết :

Các loại tước hiệu của quý tộc Âu châu (phần 5)

8. Đan Mạch :

Nhóm 1 :
Konge/Dronning - quốc vương / nữ vương
Kronprins - Thái tử
Fyrste - thân vương

Nhóm 2 :
Hertug - công tước
Marki - hầu tước
Greve - bá tước
Vicegreve - tử tước
Baron - nam tước

Nhóm 3 :
Ridder - Hiệp sĩ

9. Thụy Điển :

Nhóm 1 :
Kung/Drottning - quốc vương / nữ vương
Kronprins/Kronprinsessan - Thái tử/ nữ thái tử
Furste - thân vương
Prins - vương tử

Nhóm 2 :
Hertig - công tước
Markis - hầu tước
Greve - bá tước
Vicegreve - tử tước
Baron - nam tước

Nhóm 3 :
Friherre - tùng nam tước (chuẩn nam tước)

Thụy Điển vào năm 1975 đã bãi bỏ chế độ "công thần thế tước".

Kỳ sau : Na Uy và Phần Lan



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

ksminhthang
14-12-2010, 04:55 PM
http://my.imageshack.us/v_images.phpđang tạo hạm đội mới kiếm dc mẫu 3 cột buồm.
thuyền 9 buồm dài 95m rộng 22m. cao 11m, mặt nước lên mặt thuyền 4m. tháp lầu 9m

gianghoaingoc
15-12-2010, 09:01 PM
Chương 98 : GIA ĐÌNH NHÀ ANJOU


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.518 (Bính Thân, 1416). Mùa đông, tháng 10. Thành phố cảng Genoa.

Sau cuộc chiến, không chỉ thành phố cảng Genoa, toàn lĩnh thổ của nước cộng hòa Genoa không còn lại một người dân nào. Tất cả dân chúng đều đã bị đưa sang Tripoli khai phá mở mang các vùng đất mới. Ở Genoa chỉ có 1.000 dân binh của vương quốc Latium tạm thời trú đóng, chờ điều tân di dân sang đây. Nơi đây có vị trí trọng yếu, lại nằm ngay bên cạnh Provence, nên Long nhi và Đinh An Bình đều nhất trí là phải bố trí những cư dân đáng tin cậy đến sinh sống. Có điều, giờ đây trong thành Genoa còn có 1 vạn quân của Chiêu Đức quân Đệ nhất sư trú thủ, bởi sự hiện diện của Long nhi và Đinh An Bình trong thành phố. Bộ chỉ huy chiến dịch Milano đặt tại đây. Đinh An Bình đến đây để đích thân chỉ huy Pavia đại hội chiến. Còn Long nhi đến để gặp Réne de Anjou. Genoa nằm ngay bên cạnh Provence, mà lúc này Réne de Anjou lại đang ở Provence.

Do cuộc chiến tranh tại Pháp Lan Tây diễn ra rất gần các công quốc Anjou và Maine, nên nhà Anjou đã tạm thời di chuyển đến Provence, đại hậu phương của họ, chỉ có Louis II de Anjou là ở lại Anjou để chủ trì đại cuộc. Louis II de Anjou sinh năm 1377, năm nay mới 40 tuổi, chính là đang tuổi tráng niên. Theo đúng lịch sử, nếu không có sự xuất hiện của Thần Thánh Đế quốc thì sang năm Louis II de Anjou sẽ vì ưu uất mà qua đời, trao lại quyền vị và sự kỳ vọng phục quốc cho Louis III de Anjou khi đó mới 14 tuổi. Nhưng lúc này, quân Anjou đang trên đà thắng thế, Louis II de Anjou đang hứng khởi chỉ huy đại quân đông chinh bắc phạt, nên chuyện đó chắc sẽ không diễn ra. Nói tóm lại, nhà Anjou lúc này đang rất huy hoàng.

Trong lúc Đinh An Bình đã sang Pavia chỉ huy cuộc chiến, Long nhi ở lại Genoa tiếp đón các em của mình sang thăm. Lần này sang Genoa không chỉ có Réne de Anjou - 7 tuổi, mà còn có cả các em trai, em gái khác : Marie de Anjou – 12 tuổi, Yolande de Anjou – 4 tuổi và Charles de Le Maine – 2 tuổi. Long nhi có tất cả 2 em trai và 2 em gái ở nhà Anjou. Đương nhiên, lúc này Long nhi không thể được tính là người của nhà Anjou, và tên ở Âu châu của Long nhi là Louis de Latium. Công tước phu nhân Yolande de Aragon vì tế nhị nên không sang. Chỉ có lão quản gia Ferdinand Caracciolo, giờ là Bá tước Ferdinand de Artois, phụ trách hộ tống các vị thiếu chủ.

Nhìn thấy các em, Long nhi hoan hỉ bế người em trai nhỏ nhất, Charles de Le Maine, lên nựng nịu một hồi, rồi xoa đầu hỏi han từng người em khác. Dù Long nhi chỉ mới 13 tuổi, nhưng đã có phong thái của một đại nhân vật. Long nhi đã chuẩn bị rất nhiều quà, là những đồ chơi không có ở Âu châu, để tặng cho các em. Nhà Anjou quyền quý bậc nhất Pháp Lan Tây, không thiếu gì vàng bạc châu báu, do đó Long nhi chỉ tặng các em đồ chơi. Những thứ mới lạ từ đông phương khiến ai nấy đều rất thích. Yolande de Anjou hồn nhiên hỏi :

- Sao anh có nhiều đồ chơi quá vậy ?

Long nhi mỉm cười xoa đầu Yolande de Anjou, bảo :

- Anh giờ là quốc vương của Latium kia mà.

Yolande de Anjou vỗ tay nói :

- Anh là quốc vương đó nha. Vậy là anh ngang hàng với quốc vương Pháp Lan Tây rồi. Hôm nào anh cho em đến vương cung của anh chơi với nha.

Long nhi mỉm cười nói :

- Đương nhiên rồi. Vương cung hiện đang xây dựng. Khi nào xong anh sẽ dẫn các em đến đó chơi.

Vương cung ở Syracuse thực ra được thiết kế với quy cách Hoàng cung, bởi Long nhi được chuẩn bị để làm Hoàng đế chứ không phải quốc vương. Dù toàn bộ quần thể kiến trúc phải mất mấy năm mới có thể hoàn thiện, nhưng các kiến trúc chính chỉ sang năm là xong, và đến lúc đó cung đình sẽ có thể chính thường hoạt động.

Long nhi gọi người hầu sắp bày yến tiệc khoản đãi các em. Long nhi không chỉ là quốc vương của Latium, mà còn là Hoàng tử của Thần Thánh Đế quốc, nên việc ăn uống được phục vụ theo tiêu chuẩn cao nhất. Cả Long nhi và Đinh An Bình đều là những đại nhân vật của Thần Thánh Đế quốc, nên đầu bếp đều là cung đình ngự trù, tay nghề khỏi phải nói. Ngay đến Charles de Le Maine mới có 2 tuổi cũng có phần thức ăn riêng phù hợp với mình. Nhìn mọi người ăn uống vui vẻ, Long nhi mỉm cười, tự tay đút thức ăn cho Charles.

Sau bữa ăn, trong lúc trò chuyện, Marie de Anjou chợt hỏi :

- Anh ơi. Nghe nói ở Jerusalem có học viện dành cho quý tộc phải không ạ ?

Long nhi gật đầu :

- Đúng thế. Em định đến đó học ư ?

Marie nói :

- Vâng ạ. Papa và mama đều bảo rằng em đã đến tuổi đi học rồi.

Long nhi suy nghĩ giây lát, rồi mỉm cười nói :

- Cũng tốt. Em đến đó học, anh vẫn có thể chiếu cố được cho em, không sao cả.

Ở Jerusalem, Thần Thánh Đế quốc có mở một học viện để dạy cho con em của quý tộc các xứ A Lạp Bá và vùng lân cận Địa Trung Hải về các kiến thức và nghi lễ của Đế quốc. Con em quý tộc thường được phụ huynh mời gia sư về dạy tại nhà, nhưng khi học viện khai giảng, đại đa số quý tộc đều gửi con em của mình đến đó nhập học, với hy vọng con em họ có thể nhanh chóng hòa nhập với Đế quốc. Hơn nữa, đến học tại đó còn có cơ hội kết bạn với những con em quý tộc khác, sẽ rất có lợi để sau này kế thừa gia nghiệp. Giao tế quan hệ, đối với giới quý tộc rất quan trọng, thân phận địa vị càng cao thì lại càng quan trọng

Réne de Anjou chợt nói :

- Anh ơi. Hạm đội Angers mà anh tặng cho em lợi hại quá hà. Em muốn có thêm một Hạm đội nữa. Em muốn đánh sang Anh Cách Lan.

Long nhi khẽ cau mày, quay nhìn lão quản gia nhà Anjou, Bá tước Ferdinand de Artois. Lão vội giải thích :

- Quân ta đã chiếm lại được toàn bộ Pháp Lan Tây. Hiện Hạm đội Angers đang đánh nhau với Hải quân Anh Cách Lan ở vùng biển Manche. Sau 80 năm chiến tranh, cả nước bị tàn phá nặng nề, nên lúc này toàn thể quân dân Pháp Lan Tây đều muốn chuyển chiến trường sang đất Anh Cách Lan. Có điều, dù Hạm đội Angers chiếm ưu thế tuyệt đối trên biển, nhưng cũng không thể khống chế hoàn toàn vùng biển Manche, và cũng chưa đủ điều kiện để đưa quân đội đổ bộ sang đất Anh Cách Lan.

Kể từ khi chiến tranh bùng nổ năm 1337, đến nay (năm 1416) vừa tròn 80 năm, chiến tranh rất ác liệt, nhưng đều diễn ra trên đất Pháp Lan Tây, khiến cho Pháp Lan Tây phải chịu thiệt hại rất nặng nề. Cũng từ cuộc chiến này mà thù hận giữa 2 nước mới kéo dài dai dẳng đến tận thời hiện đại. Do đó, khi giành được thắng lợi với ưu thế vượt trội, người Pháp muốn báo thù rửa hận cũng không có gì là lạ. Nhưng việc Hạm đội Long nhi không thể quyết định được. Suy nghĩ giây lát, Long nhi mới nói :

- Anh không quyết định được chuyện đó. Nhưng anh sẽ nói với Chiêu Đức Vương xem sao. Chiêu Đức Vương là bộ trưởng Hải quân bộ, đối với các loại vũ trang thương thuyền chắc có quyền quyết định.

Nghe nhắc đến thuyền, Charles đang được Long nhi bế trong lòng chợt lên tiếng :

- Anh ơi. Thuyền. Xem thuyền.

Long nhi mỉm cười, xoa đầu Charles, bảo :

- Được rồi. Chúng ta ra biển chơi một chút. Em sẽ được xem thuyền.

Yolande de Anjou hỏi :

- Anh ơi. Em nghe nói thuyền của Thần Thánh Đế quốc lớn lắm phải không ạ ?

Long nhi mỉm cười đáp :

- Thuyền không lớn. Chỉ có hạm mới lớn thôi.

Charles lại nói :

- Anh ơi. Hạm. Xem hạm.

Long nhi liền truyền lệnh chuẩn bị hạm thuyền để mọi người ra biển chơi. Dưới bến cảng có rất nhiều thuyền hạm của Hắc Long Hạm đội, và bọn Long nhi đi trên chiến hạm lớn nhất - một trong hai chiếc Lục Tinh cấp chiến hạm. Mỗi khi Long nhi và Đinh An Bình đi đâu đều sử dụng Lục Tinh cấp chiến hạm, danh nghĩa là vì để phù hợp thân phận địa vị, nhưng thực chất là vì an toàn.
Lên trên chiến hạm, Charles tròn xoe mắt, nói :

- Anh ơi. Lớn quá. Lớn quá.

Bọn Réne de Anjou đứng trên boong thuyền, nhìn xuống những chiến thuyền Genoa nhỏ bé đậu trong cảng, tấm tắc xuýt xoa không ngớt. Réne de Anjou còn nói :

- Phải chi chúng ta có một chiến hạm kiểu này nhỉ ?

Long nhi khẽ thở dài, nói :

- Không thể nào được đâu. Đóng được một chiến hạm kiểu này mất rất nhiều thời gian, ở Đế quốc còn không đủ sử dụng, mỗi Hạm đội chỉ được phối cấp có 2, 3 chiếc, làm gì còn truyền ra ngoài.

Lão quản gia Bá tước Ferdinand de Artois gật gù nói :

- Bệ hạ nói phải đó. Chiến hạm kiểu này, không nước nào chấp nhận truyền ra ngoài đâu, trừ khi họ có chiến hạm khác còn lợi hại hơn.

Long nhi đã là quốc vương của Latium, Hoàng tử của Thần Thánh Đế quốc, nên lão không thể gọi là thiếu chủ như lúc trước. Long nhi nghe lão nói thế, bảo :

- Đế quốc đã có Ngũ Tinh cấp chiến hạm, nhưng cũng không có nghĩa là những chiến hạm đẳng cấp thấp hơn có thể cung cấp cho nước khác. Các Hạm đội của Hải quân Đế quốc đều đang cần bổ sung chiến hạm.

Lão quản gia Ferdinand de Artois nghe thế, giật mình hỏi :

- Còn chiến hạm lớn hơn cả chiếc này ?

Long nhi lắc đầu bảo :

- Không. Chỉ tương đương chiếc này, nhưng tốc độ nhanh hơn, nhiều thần công đại pháo hơn, khả năng tấn công và phòng ngự cao hơn.

Biết nhà Anjou đang mong mỏi tăng cường lực lượng Hải quân, Long nhi chỉ khẽ lắc đầu. Đừng nói chiến hạm kiểu này, ngay cả loại chiến hạm nhỏ nhất, tuần dương hạm, cũng chưa chắc có được. Nhưng Long nhi cũng thông cảm, bởi trước giờ Hải quân Anh Cách Lan vẫn luôn vượt trội hơn, nay có cơ hội, bọn họ không muốn bỏ lỡ. Chỉ đành hy vọng ở sự thông cảm của Đinh An Bình.




Có thể bà con chưa biết :

Các loại tước hiệu của quý tộc Âu châu (phần 6)

10. Na Uy

Nhóm 1 :
Konge/Dronning - quốc vương / nữ vương
Kronprins - Thái tử
Furst - thân vương

Nhóm 2 :
Hertug - công tước
Marki - hầu tước
Greve - bá tước
Visegreve - tử tước
Baron - nam tước

Nhóm 3 :
Ridder - Hiệp sĩ

Na uy sau khi độc lập vào năm 1905 đã bãi bỏ chế độ "công thần thế tước". Trước đó Na Uy luân phiên là thuộc địa của Đan Mạch và Thụy Điển. Quốc vương Na Uy do quốc vương của tôn chủ quốc kiêm nhiệm, nên tước hiệu giống 2 nước đó.

11. Phần Lan

Nhóm 1 :
Keisari - hoàng đế
Prinssi - Hoàng thân
Arkkiherttua - đại công

Nhóm 2 :
Herttua - công tước
Markiisi - hầu tước
Jaarli - bá tước
Varakreivi - nam tước

Nhóm 3 :
Ritari - Hiệp sĩ

Phần Lan không có Tử tước.

Quý tộc chế độ của Phần Lan phụ thuộc vào quý tộc chế độ của Thụy Điển. Đến năm 1809, nước nga chiếm đóng Phần Lan, thì Phần Lan đại công quốc mới kiến lập tương đối độc lập quý tộc tước vị đẳng cấp chế độ, Phần Lan đại công do Nga quốc Sa hoàng kiêm nhiệm, chỉ sắc phong hai loại tước vị là Bá tước và Nam tước. Các tước vị cao hơn là từ nước Nga. Năm 1918, Phần Lan thành lập nền cộng hòa đã bãi bỏ quý tộc chế độ.

Ở Âu châu ngày trước, chỉ có Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức, Nga quốc và Ottoman là có Hoàng Đế. Sa Hoàng của Nga tự nhận thừa kế từ Đế quốc Byzantine, do cưới vị công chúa của Hoàng đế cuối cùng của Byzantine. Ottoman diệt Byzantine, nên cũng xem mình là Đế quốc. Còn Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức là nối tiếp từ Đế quốc Tây La Mã và Đế quốc La Mã Thần Thánh (của Charlesmagne, người Đức gọi là Karl der Große, vua Pháp, Đức, Ý, và cả Tây Âu).

Kỳ sau : Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha




Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-12-2010, 07:55 PM
Chương 99 : KẾT THÚC BẮC PHƯƠNG CHIẾN LƯỢC


Lại nói, Long nhi dẫn các em đi chơi trên biển một đêm, sáng hôm sau mới cho chiến hạm quay về. Trong các em, bé nhỏ nhất Charles luôn luôn bám theo Long nhi, đòi được bế. Long nhi cũng cưng chiều bé nhất. Bé mới 2 tuổi, được Long nhi yêu mến, cho nhiều đồ chơi, thức ăn ngon, nên quý mến Long nhi cũng là chuyện bình thường.

Hôm sau, khi về đến Genoa, Long nhi đã thấy Đinh An Bình về đến đó rồi. Long nhi ngạc nhiên hỏi :

- Vương gia. Cuộc chiến thế nào rồi ?

Đinh An Bình tủm tỉm cười nói :

- Đương nhiên là đã giải quyết xong cả rồi. Quân ta bắt được 6 vạn tù binh, giết được 2 vạn rưỡi , thương vong chỉ có vài trăm. Hiện tại các đạo quân đang công chiếm các xứ ở Milano.

Sở dĩ thương vong ít như thế là vì không có chiến đấu nhiều, chỉ bỏ đói địch quân rồi tự nhiên chiến thắng. Đối phương khi tổ chức phá vây thì sử dụng mưa tên và đạn pháo ngăn cản. Có thể nói, trận Pavia đại hội chiến là trận chiến tuyệt vời nhất của quân đội Thần Thánh Đế quốc từ trước đến nay.

Long nhi hỏi :

- Vương gia định xử trí Milano giống Genoa ?

Đinh An Bình cười bảo :

- Đương nhiên.

Long nhi khẽ cau mày, nhưng rồi cũng không nói gì, chỉ bọn Réne de Anjou giới thiệu với Đinh An Bình, sau đó nói :

- Vương gia. Quân Anjou muốn mở rộng Hải quân, không biết vương gia có thể giúp đỡ không ?

Đinh An Bình dễ dãi nói :

- Chiến hạm thì không được, nhưng vũ trang thương thuyền thì không thành vấn đề. Bán cho thương nhân hay bán cho quân Anjou thì cũng thế thôi. Đương nhiên không thể miễn phí. Ta chỉ có thể xem phía Anjou bình đẳng với thương nhân của Đế quốc.

Lão quản gia Bá tước Ferdinand de Artois sau khi tận mắt chứng kiến sự hùng mạnh của Thần Thánh Đế quốc, khi về đến Provence đã tranh thủ học ngôn ngữ của Đế quốc, đến nay cũng tạm nghe hiểu được, vội ứng tiếng nói :

- Vâng ạ. Chúng tôi sẽ mua. Đa tạ Đại vương đã chiếu cố.

Đinh An Bình gật đầu nói :

- Mọi người đi nghỉ ngơi trước đi. Bản vương có việc cần bàn với Điện hạ.

Lão quản gia vâng dạ, đưa các thiếu chủ đi theo sự hướng dẫn của người hầu về nơi nghỉ ngơi. Chỉ có bé Charles là không chịu rời Long nhi, nhõng nhẽo mếu máo :

- Không. Anh ơi. Anh bế.

Long nhi ngại ngùng nhìn Đinh An Bình. Họ Đinh mỉm cười nói :

- Không sao. Tiểu công tử còn nhỏ quá mà. Tiểu công tử thật đáng yêu đó nha.

Thế là Long nhi bế bé Charles cùng Đinh An Bình bàn bạc quân quốc đại sự. Đinh An Bình nói :

- Sau khi giải quyết xong chiến trường Milano, quân ta sẽ tiếp tục bắc phạt. Lúc đó sẽ có hai hướng, tây bắc sang Đế quốc La – Đức. Điện hạ muốn chọn hướng nào ?

Long nhi suy nghĩ giây lát, rồi nói :

- Vậy hãy tấn công Burgundy đi ! Nếu chiếm Burgundy thì dễ dàng sát nhập vào Latium. Còn Đế quốc La – Đức thì khó hơn, phản kháng sẽ rất nghiêm trọng, mà dù có chiếm được cũng khó sát nhập. Ở đó có đến hàng nghìn lĩnh địa lớn nhỏ, quý tộc quá nhiều.

Có thể nói Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức có thể chế gần giống các vương triều Hạ, Thương của Trung Hoa cổ đại. Trong nước có đến hàng nghìn lĩnh địa lớn nhỏ, mỗi lĩnh địa độc lập với nhau như một quốc gia vậy, cũng giống như hàng nghìn tiểu quốc chư hầu thời Hạ, Thương (vua Thành Thang, tổ của nhà Thương, đã hội họp hơn 2.000 nước chư hầu để chinh phạt vua Kiệt nhà Hạ). Hoàng đế thật ra cũng chỉ là một lĩnh chủ lớn, hùng mạnh, và được các vương công quý tộc bầu lên làm Hoàng đế. Mà chức Hoàng đế đó lại không thể cha truyền con nối. Với một đất nước như thế, thật khó cai trị. Nghe Long nhi bảo thế, Đinh An Bình gật đầu nói :

- Ta cũng nghĩ giống Điện hạ. Tuy quân ta vừa tiêu diệt 4 vạn rưỡi quân Đế quốc La – Đức, nhưng đó thật ra cũng chỉ là thân quân của Hoàng đế Sigismund de Luxembourg mà thôi. Các vương công quý tộc còn rất nhiều quân đội. Nếu như lúc này chúng ta tấn công, Sigismund de Luxembourg có thể thừa cơ thống nhất lực lượng các lĩnh địa chư hầu dưới danh nghĩa chống quân ta, để củng cố địa vị của mình. Còn nếu như chúng ta cứ để mặc đó thì thế lực của Sigismund de Luxembourg sẽ càng ngày càng suy yếu. Sau khi quân đội tổn thất nghiêm trọng, các vương công chư hầu sẽ không còn nể trọng hắn ta như trước nữa. Chúng ta cũng có thể sử dụng một số thủ đoạn khác nữa để làm giảm thế lực của hắn ta.

Long nhi hỏi :

- Vậy chúng ta sẽ tấn công Burgundy ?

Đinh An Bình cười nói :

- Thật ra tấn công Burgundy còn có một điều lợi khác nữa là có thể nhân tiện giải quyết luôn công quốc Bourbon ở cạnh đó. Điện hạ còn nhớ James de Bourbon chứ ?

Long nhi kinh ngạc nói :

- Vương gia định tấn công cả Bourbon ?

Đinh An Bình cười nói :

- Bourbon tuy ở khu vực trung tâm của Pháp Lan Tây, không thích hợp để sát nhập vào Latium, nhưng Điện hạ có thể tặng nó cho tiểu công tử đây. Điện hạ trước đã có quà cho Réne de Anjou thì cũng nên có quà cho tiểu công tử đây chứ. Tiểu công tử đáng yêu thế này cơ mà.

Long nhi nhìn bé Charles lúc này đang tròn xoe mắt lắng nghe hai người nói chuyện, suy nghĩ giây lát rồi cũng tán đồng đề nghị của Đinh An Bình. Để bé Charles trở thành Công tước xứ Bourbon cũng hay, dù sao thì James de Bourbon cũng đã tử trận ở Taranto rồi.

Mấy ngày sau, khi đã ổn định tình hình ở Milano, 5 đạo quân Uy Tiệp, Long Tiệp, Linh Tiệp, Bảo Tiệp, Chiêu Viễn cùng với 2 vạn dân binh Latium được lệnh tiến sang Liên minh các công quốc Thụy Sĩ ở phía bắc. Đó là con đường bắt buộc để từ Milano tiến sang Burgundy hoặc vùng nội lục của Đế quốc La – Đức. Trên danh nghĩa, bọn Đinh An Bình tuyên bố quân của Burgundy và Đế quốc La – Đức tiến sang Milano bằng đường Thụy Sĩ, nên bọn họ xem Thụy Sĩ cũng là kẻ địch. Chiến trường tiếp theo dự kiến sẽ diễn ra ở Thụy Sĩ.

Chỉ đáng tiếc, người tính không bằng trời tính. Khi đạo tiên phong là Bảo Tiệp quân vừa tiến gần đến biên giới với Thụy Sĩ thì gặp phải sứ giả từ Thụy Sĩ sang, tỏ ý xin quy thuận. Khi gặp sứ giả Thụy Sĩ, Ngô Trấn Quốc càu nhàu nói :

- Các ngươi tại sao lại không chịu chống cự, quy thuận sớm thế làm gì ? Ít ra cũng phải chống cự vài trận đã chứ !

Sứ giả Thụy Sĩ cười khổ, thầm than : “Chống cự rồi sẽ phải gánh chịu hậu quả giống như Genoa và Milano à !”. Dù vậy, ngoài mặt gã ta vẫn phải nói :

- Mạo phạm Thần Thánh Đế quốc chính là bọn quý tộc. Quân dân Thụy Sĩ trước nay vẫn kính phục Thần Thánh Đế quốc và mến đức “Hoàng tử của bi thương”. Nay bọn quý tộc đã bỏ trốn hết rồi. Quân dân chúng tôi mới họp nhau sang xin thần phục.

Nghe nói quý tộc đã bỏ trốn hết, nghĩ rằng bọn chúng chắc chắn sẽ mang theo của cải tài sản, có tấn công cũng chẳng mang lại bao nhiêu lợi ích, vì vậy Ngô Trấn Quốc chỉ đành dẫn sứ giả Thụy Sĩ đến bái kiến Long nhi và Đinh An Bình.

Sau khi tiếp nhận sự quy thuận của các công quốc Thụy Sĩ (mà lúc này không thể xem là các công quốc nữa, bởi quý tộc đã bỏ trốn hết), Đinh An Bình để lại 1 vạn dân binh Latium trấn thủ Thụy Sĩ, triệu kiến một số nhân vật bình dân nổi tiếng của Thụy Sĩ, rồi truyền lệnh quân đội tiếp tục tiến sang công quốc Burgundy ở phía tây bắc. Thật ra công quốc Burgundy có 2 bộ phận : Đất công tước xứ Burgundy (Duchy of Burgundy) thuộc lĩnh thổ Pháp Lan Tây và Đất Bá tước xứ Burgundy (Count of Burgundy) thuộc lĩnh thổ Đế quốc La – Đức. Công tước xứ Burgundy cai quản cả 2 xứ này. Trước đây, nhà Burgundy cai quản nhiều lĩnh địa rộng lớn ở cả Pháp Lan Tây và Đế quốc La – Đức, gồm các xứ Burgundy, Nevers, Charolais, Flanders, Picardie, Clermont, Eu, Artois, Hainaut, Brabant, Gueldre, Luxembourg, Rethel. Nhưng giờ đây, nhà Burgundy chỉ còn lại Burgundy – Nevers - Charolais ở phía nam và Luxembourg - Rethel ở phía bắc. Mỗi vùng này đều có các lĩnh địa tiếp giáp nhau, một phần nằm bên Pháp Lan Tây và một phần nằm bên Đế quốc La – Đức.

Khi quân đội Thần Thánh Đế quốc tiến vào Burgundy thì giới quý tộc ở đó đã học theo giới quý tộc Thụy Sĩ, kéo nhau di tản lên Luxembour ở phía bắc. Sau trận Pavia, mất đi 30.000 quân, nhà Burgundy hầu như không còn quân đội để điều động nữa, nên chỉ còn cách di tản. Dân chúng ở đó cũng học theo dân chúng Thụy Sĩ, nhanh chóng xin quy thuận.

Thừa thế, các đạo quân Linh Tiệp, Bảo Tiệp tràn sang Bourbon, các đạo quân Uy Tiệp, Long Tiệp tràn sang Nevers ở ngay phía tây Burgundy, và đạo quân Chiêu Viễn tiến xuống Charolais, nhanh chóng chiếm lĩnh các xứ đang không hư này. Ở những xứ này, quý tộc di tản quá sớm, dân chúng quy thuận quá nhanh chóng, nên quân đội Đế quốc không có cơ hội thực hiện chính sách như ở Genoa và Milano. Dù sao thì không hao binh tổn tướng, không phí đạn dược cung tên mà chiếm được là cũng tốt lắm rồi. Thực ra nếu không phải đối diện 180.000 quân và “tam quang chính sách” ở Genoa, dân chúng ở đó cũng sẽ không quy thuận dễ dàng như thế. Dân chúng chỉ cần sống ổn định, không quan tâm nhiều ai là người thống trị, miễn sao người thống trị không tàn ác đến độ “nhân thần cộng phẫn” thì thôi.

Chiếm được Burgundy, các chiến dịch ở phương bắc xem như cũng đã kết thúc, trọng tâm của bọn Đinh An Bình sẽ chuyển sang phía đông.



Có thể bà con chưa biết :

Các loại tước hiệu của quý tộc Âu châu (phần 7)

12. Tây Ban Nha :

Nhóm 1 :
Rey/Reina - quốc vương / nữ vương
Príncipe de Asturias - Thái tử (Hán tự : a tư đồ lý á tư vương tử)
Príncipe - vương tử

Nhóm 2 :
Duque - công tước
Marqués - hầu tước
Conde - bá tước
Vizconde - tử tước
Barón - nam tước

Nhóm 3 :
Señor hương thân

13. Bồ Đào Nha :

Nhóm 1 :
Imperador - hoàng đế (chỉ sử dụng ở Brasil)
Rei - quốc vương
Príncipe - vương tử

Nhóm 2 :
Duque - công tước
Marquês - hầu tước
Conde - bá tước
Visconde - tử tước
Barão - nam tước

Bồ Đào Nha khi thành lập nền cộng hòa vào năm 1910 đã bãi bỏ chế độ quý tộc.


Kỳ sau : Ý và Ba Lan



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
24-12-2010, 12:38 AM
Chương 100 : CHIẾN DỊCH TYROL (1)


Lại nói, sau khi chiếm được Burgundy, Nervers, Charolais và Bourbon, các chiến dịch ở phương bắc xem như cũng đã kết thúc. Đinh An Bình quyết định thừa thắng xông lên, chuyển hướng sang khu vực phía đông. Các chiến dịch ở phương bắc, quân đội không có chiến đấu nhiều, nên cũng không tiêu hao nhiều sức lực, sẵn sĩ khí đang lên, thừa cơ tấn công là có lợi hơn cả. Lúc này, sau khi thiệt hại 45.000 quân ở Milano, Đế quốc La – Đức đang trong thời gian hồi phục, không thể chủ động tham chiến. Nếu để đến sang năm, khi quân lực hồi phục, tình hình khó thể thuận lợi như lúc này.

Mục tiêu kế tiếp của bọn Đinh An Bình là Hungary, nhưng trước đó, bọn họ phải vượt qua công quốc Áo – Tyrol nằm giữa Hungary và Thụy Sĩ. Nếu không, phải đi đường biển vòng qua mũi cực nam bán đảo Italia, rồi vào biển Adriatic, thì sẽ mất rất nhiều thời gian.

Sẵn đà thắng lợi, đại quân vượt biên giới vào Tyrol, hội họp với 3.000 quân của George I de Trento tại đấy, hợp thành liên quân tấn công liên quân Áo – Tyrol. Mấy năm nay, Công tước Áo Frederic IV de Autriche đã chuẩn bị quân đội để xâm chiếm Trento, nào ngờ còn chưa kịp hành động thì đã bị tấn công trước. Tyrol là một căn cứ địa quan trọng của liên quân Áo – Tyrol, nơi chứa nhiều lương thực vật tư chuẩn bị cho công cuộc xâm chiếm Trento. Do đó, Frederic IV de Autriche không thể để mất Tyrol, đã tập trung quân đội lại đấy kháng cự, đồng thời cầu cứu các công quốc lân cận và cầu cứu Hoàng đế Sigismund de Luxembourg. Dưới sự kêu gọi của Sigismund de Luxembourg, hàng loạt các công quốc thành viên của Đế quốc La – Đức đã hội quân về đấy. Tyrol sắp sửa biến thành một đại chiến trường.

Trước khi chiến dịch Tyrol diễn ra, bọn Đinh An Bình còn có nhiệm vụ quan trọng là chỉnh hợp các vùng mới chiếm được, phái quan viên đến cai trị để sát nhập vào Latium. Cũng giống như ở 4 tỉnh cũ, toàn bộ đất đai của các lĩnh địa mới chiếm được đều trở thành tài sản của Long nhi. Ở Âu châu thời Trung Cổ, lĩnh địa là tài sản của lĩnh chủ, lĩnh chủ cũng tức là địa chủ, còn bình dân chỉ là tá điền, hoặc nông nô. Còn ở vương quốc Latium, chỉ có duy nhất 1 địa chủ là quốc vương. Toàn bộ đất đai trong vương quốc đều thuộc về quốc vương, đó là đặc quyền thần thánh bất khả xâm phạm. Nhưng Long nhi không thể tự mình quản lý toàn bộ số đất đai đó, nên chính sách đất đai mới đã được ban hành. Đất đai được giao cho nông dân, những người sẽ cày cấy trồng trọt trên đó, và sẽ nộp thuế cho quốc vương. Bọn họ cũng chỉ phải nộp duy nhất một sắc thuế cho quốc vương mà thôi, không phải nộp vô số các sắc thuế như nông dân ở các lĩnh địa khác. Vương quốc Latium không tồn tại nhờ nguồn thuế thu được từ nông dân. Thu nhập từ các hoạt động thương mại, từ các thành thị mới là nguồn thu chính.

Nói đúng ra, chính sách kinh tế của vương quốc Latium là học theo chính sách của Thần Thánh Đế quốc, chủ yếu là hạn chế đến mức tối đa địa chủ, và ưu đãi giới tư sản đang dần hình thành. Thương nhân, tức là tư sản phi quý tộc, rất được coi trọng và tạo điều kiện để phát triển. Thời Trung Cổ, tư sản dù giàu có cũng chỉ là bình dân, không có quyền hạn gì trong hệ thống nhà nước, đó là nguyên nhân tạo nên Cách mạng tư sản Pháp. Do đó, khi vương quốc Latium bãi bỏ chế độ phân phong lĩnh địa, chỉ có giới quý tộc – địa chủ bị ảnh hưởng, còn giới tư sản lại càng có cơ hội phát triển hơn nữa. Ở đâu cũng vậy, quý tộc có lĩnh địa chỉ là một bộ phận nhỏ, còn đại bộ phận quý tộc chỉ là tiểu quý tộc, không thân không thế, nếu không y phụ đại quý tộc thì cuộc sống cũng chỉ khá hơn bình dân một chút. Thậm chí nhiều tiểu quý tộc mà gia tộc suy bại, thì sinh hoạt có khi còn kém hơn phổ thông bình dân. Cũng vì vậy mà khi triều đình trục xuất hoặc tiêu diệt quý tộc - địa chủ, ở vương quốc không hề xuất hiện hỗn loạn. Cũng có không ít thương nhân – tư sản nhanh chóng hòa nhập thời cuộc, chuyển thân biến thành quan viên, tân quý tộc (quý tộc – tư sản).

Sau khi kết thúc bắc phương chiến lược, vương quốc Latium tăng thêm 3 tỉnh mới :

1. Milano (diện tích 54,681 kilômét vuông) : nguyên là các lĩnh địa Milano, Piedmond, và nước cộng hòa Genoa, được chia thành 6 quận là Milano, Bresia, Lecco, Turin, Piedmond và Genoa.

2. Thụy Sĩ (diện tích 54,964 kilômét vuông) : nguyên là các công quốc Thụy Sĩ và lĩnh địa Savoy, được chia thành 6 quận là Zurich, Bern, Lucerne, Valais, Uri và Savoy.

3. Burgundy (diện tích 47,784 kilômét vuông) : nguyên là công quốc Burgundy, các lĩnh địa Nevers và Charolais, được chia thành 5 quận là Nevers, Charolais, Beaune, Besançon và Pontarlier.

Còn công quốc Bourbon là quà của Long nhi tặng cho bé Charles, lúc này mới 2 tuổi. Bé là con út, sau này không thể thừa kế cơ nghiệp nhà Anjou, nên Long nhi mới tặng cho công quốc này để tương lai ít ra bé cũng sẽ là một công tước.

Sau khi chỉnh hợp xong các tỉnh mới, Đinh An Bình thân tự ra chiến trường chỉ huy chiến dịch. Còn Long nhi ở lại an phủ dân chúng trong các vùng mới chiếm được.



Merano, thủ phủ của Tyrol, nơi có Tyrol thành bảo (Castle of Tyrol) nằm tại thung lũng Val d’ Ultimo, gần sông Passirio.

Cờ xí nghênh phong phất phới. Hai bên vó ngựa dập dồn.

Một đạo quân đông đảo rầm rộ hành quân. Phía sau đoàn quân, những trận trận bụi mù cuốn bay theo gió, nhìn qua cứ giống như một trận bão cát nơi sa mạc. Đại quân ba đường thẳng tiến, nhanh chóng hướng về thành bảo trung tâm của Tyrol, mang theo sát khí ngút trời.

Hai vạn kỵ binh hành quân hai bên tả hữu, hộ vệ hai cánh của đại quân. Liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento đông đến 20 vạn 3.000 người được hai đạo kỵ binh bảo vệ hai bên, cả ba đường cẩn thận nhưng nhanh chóng tiến thẳng về Tyrol thành bảo. Bộ binh đội ngũ còn mang theo không ít công thành khí giới như xung xa, vân thê, và đặc biệt là hàng nghìn khẩu thần công, dư sức công phá những tòa thành bảo kiên cố nhất. Những khí giới nặng nề đó được đại quân bảo hộ ở chính trung tâm, được những binh sĩ tinh nhuệ nhất bảo vệ, được những chiến mã cường tráng nhất kéo đi, trên đường lưu lại những vết lún sâu, cho những người sau này đi qua nơi này biết rằng đã từng có một đạo quân hùng hậu đi qua đây.

Toàn đạo quân có 20 vạn 3.000 người, trong đó gồm có 18 vạn quân Thần Thánh Đế quốc, 2 vạn quân Latium và 3.000 quân Trento. Sau nhiều ngày hành quân, cuối cùng đại quân cũng đến được Tyrol thành bảo, cứ điểm của liên quân Áo – Tyrol ở thung lũng Val d’ Ultimo. Khi đại quân xuất hiện dưới chân thành, đã khiến cho đối phương rúng động không ít. Các xứ Tây Âu thường niên chiến loạn, nhưng bọn họ cũng chưa khi nào nhìn thấy đại quân đông đến hàng chục vạn như thế.

Có một điều lạ là ở các nước Đông Âu và vùng Tây Á, như Đế quốc Ottoman, Đế quốc Ba Tư, vương triều Mamluk, vương triều Timurid, Hãn quốc Kim trướng, … mỗi khi đánh nhau thường huy động đến hàng trăm nghìn quân, thậm chí có khi lên đến hàng triệu quân (Đế quốc Ba Tư xâm lược Hy Lạp, có trận Marathon nổi tiếng, khởi nguyên của môn Marathon ngày nay). Trong khi chiến tranh ở các nước Tây Âu thường mỗi bên chỉ có vài nghìn quân tham chiến, đôi khi lên đến vài vạn là nhiều. Giống như trong cuộc ‘chiến tranh trăm năm’ giữa Anh Cách Lan và Pháp Lan Tây, quốc vương Anh Cách Lan Henry V of England chỉ suất lĩnh 12.000 quân sang xâm lược Pháp Lan Tây, rồi sau nhiều cuộc giao tranh, tổn thất một phần quân lực, đến trận Agincourt, quân Anh Cách Lan chỉ còn lại 8.500 người vừa thương vừa bệnh, vậy mà còn đại thắng. Do đó cũng đủ thấy, với 3.000 quân chính quy trang bị tinh lương, Trento đã có thể kể là một công quốc mạnh. Còn với 5 vạn chính quy quân, Latium cũng có thể kể là một đại vương quốc, ít ra thì cũng hơn hẳn Anh Cách Lan và Pháp Lan Tây lúc này.

Đại quân thuận lợi tiến đến bên ngoài Tyrol thành bảo hạ trại. Trên đường đi, không hề có một đội địch quân nào dám chặn đường. Đối diện một đạo quân nhân số lên đến hơn 200.000 người, quân đội Tyrol chỉ còn có thể cố gắng phòng ngự chờ viện binh. Dù Công tước Áo Frederic IV de Autriche đã cầu cứu các công quốc lân cận lẫn Hoàng đế Sigismund de Luxembourg, nhưng viện quân cần có thời gian tập hợp, không thể nào đến ngay được. Phía Tyrol ít ra cần phải đan độc phòng thủ trong vòng một tháng. Một tháng a ! Nam tước Andreas de La Passiria khẽ thở dài. Đối phương không chỉ đông hơn gấp mười, mà đông hơn gấp trăm lần. Quân đội ở trong thành bảo hiện chỉ có hơn 2.000 người, làm sao ứng phó, làm sao kéo dài thời gian phòng thủ cho đến khi viện quân đến được. Có lẽ chỉ còn cách làm nhục sĩ khí của đối phương thì may ra … Có lẽ cũng chỉ còn cách đó. Suy nghĩ đến đây, Nam tước Andreas de La Passiria truyền gọi đệ nhất Hiệp sĩ dưới trướng của mình.


__________________________________________________
Chúc mừng đến chương 100, hôm nay tui sẽ post 2 chương "Đông Phương Thần Thánh Đế quốc" và 2 chương "Vương Mệnh".


Có thể bà con chưa biết :

Các loại tước hiệu của quý tộc Âu châu (phần 8)

14. Ý :

Nhóm 1 :
Imperatore - Hoàng đế
Re - quốc vương
Principe - vương tử

Năm 1936, Quốc vương Ý tự phong làm Hoàng đế Etiopia, cũng giống Nữ vương Anh tự phong làm Nữ hoàng đế Ấn Độ năm 1876.

Nhóm 2 :
Duca - công tước
Marchesse - hầu tước
Conte - bá tước
Visconte - tử tước
Barone - nam tước

Nhóm 3 :
Cavalieri - Hiệp sĩ

Ý vào năm 1947 thành lập nền cộng hòa đã bãi bỏ chế độ quý tộc.

15. Ba Lan :

Nhóm 1 :
Krol - quốc vương
Ksiaze - vương tử

Nhóm 2 :
Ksiaze - công tước
Margrabia - hầu tước
Hrabia - bá tước
Baron - nam tước

Tước hiệu Ksiaze nếu là vương tộc thì gọi là vương tử, ngoài vương tộc gọi là công tước.

Nhóm 3 :
Rycerz - Hiệp sĩ
Giermek - hương thân

Ba Lan vào năm 1918 thành lập nền cộng hòa đã bãi bỏ chế độ quý tộc.


Kỳ sau : Hungary và Nga




Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
24-12-2010, 12:10 PM
Chương 101 : CHIẾN DỊCH TYROL (2)


Merano, thủ phủ của Tyrol, nơi có Tyrol thành bảo, nằm tại thung lũng Val d’ Ultimo, gần sông Passirio.

Liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento thuận lợi tiến đến bên ngoài Tyrol thành bảo hạ trại. Trên đường đi, không hề có một đội quân nào thuộc phe Áo - Tyrol dám chặn đường. Đối diện một đạo quân nhân số lên đến hơn 200.000 người, đông hơn thủ quân gấp trăm lần, quân đội Tyrol chỉ còn có thể cố gắng phòng ngự chờ viện binh. Để kéo dài thời gian chờ cứu viện, Nam tước Andreas de La Passiria sau nhiều phen suy nghĩ, đã quyết định tìm cách hạ thấp sĩ khí đối phương, mong có thể vãn cứu phần nào tình hình. Nam tước Andreas de La Passiria cho rằng, nếu như đối phương sĩ khí đại giảm, tạm thời sẽ không tấn công thành bảo, hoặc có tấn công thì cũng sẽ không tích cực. Suy đi nghĩ lại, thấy cũng chỉ còn cách đó mà thôi, Nam tước liền bảo hầu cận :

- Truyền gọi Werner Kottenkamp đến đây ?

Werner Kottenkamp là đệ nhất Hiệp sĩ dưới trướng của Nam tước Andreas de La Passiria. Hiệp sĩ là một tước hiệu bán quý tộc có từ thời kỳ đầu Trung Cổ, thường để chỉ trọng kỵ binh, ban đầu để chỉ kỵ sĩ, nhưng dần về sau thì biến thành một loại tước hiệu. Gọi là bán quý tộc vì Hiệp sĩ có thân phận nằm ở trung gian giữa bình dân và quý tộc, địa vị cao hơn bình dân nhưng thấp hơn quý tộc (một số quý tộc cũng muốn làm Hiệp sĩ thì ngoại lệ), và tước hiệu Hiệp sĩ cũng không được thừa kế. Trong suốt thời kì trung Cổ, bất cứ ai cũng có thể cũng trở thành một Hiệp sĩ nhưng do trang bị rất đắt tiền, Hiệp sĩ thường xuất thân từ những gia đình giàu có hay quý tộc. Mỗi Hiệp sĩ thường chỉ huy khoảng 10 người, và có một tùy tùng hầu hạ. Áo giáo của Hiệp sĩ rất nặng, cần có tùy tùng giúp đỡ mới có thể mặc vào và lên ngựa được. Hiệp sĩ tùy tùng cũng phải phụ trách chăm lo cho chiến mã và vũ khí của chủ. Hiệp sĩ thường quy phục một vị lĩnh chủ hay quân vương, chiến đấu cho chủ của mình trong chiến tranh hay quyết đấu vì lợi ích của chủ. Khi hai quý tộc có hiềm khích, ngoài cách giải quyết bằng chiến tranh, còn có thể thông qua quyết đấu, phái Hiệp sĩ dưới quyền mình xuất chiến để bảo vệ danh dự và lợi ích của mình.

Quy trình để trở thành một Hiệp sĩ gồm 3 giai đoạn : từ người hầu cho các lãnh chúa, người hầu riêng cho các hiệp sĩ, rồi cuối cùng sau khi qua các đợt huấn luyện sẽ được phong làm Hiệp sĩ. Quá trình thường bắt đầu vào năm một cậu bé lên 7 tuổi, cậu bé sẽ được gửi đến dinh thự của một vị lĩnh chủ giúp việc như một người hầu. Ở đó, cậu bé sẽ học cách cư xử, phép lịch sự, vệ sinh và tôn giáo từ những người hầu nữ trong gia đình lĩnh chủ, đồng thời còn học cách săn bắn, cách nuôi chim ưng, và một số kỹ năng phụ khác như : chuẩn bị ngựa, cưỡi ngựa, cách sử dụng tất cả các loại áo giáp và vũ khí. Đến năm 14 tuổi, cậu bé sẽ được đi theo hầu một vị Hiệp sĩ. Điều này cho phép cậu bé học thêm nhiều điều khác từ những trận đấu của chủ nhân. Nhiệm vụ chính của cậu bé là chuẩn bị ngựa và vũ khí cho chủ nhân. Điều này rèn luyện cho cậu bé những tính cách của một Hiệp sĩ : kiên nhẫn, rộng rãi, và quan trọng nhất là trung thành. Vị Hiệp sĩ kia sẽ chỉ dạy cậu bé mọi điều cần thiết để trở thành một Hiệp sĩ. Khi cậu bé lớn hơn một ít, cậu bé sẽ theo chủ nhân vào chiến trường, và giúp đỡ các Hiệp sĩ đó nếu họ bị thương. Một số cậu bé đã được phong làm Hiệp sĩ ngay trên chiến trường nhờ sự chiến đấu dũng cảm, nhưng hầu hết chỉ được phong tước hiệu Hiệp sĩ bởi những lĩnh chủ sau khi đã huấn luyện hoàn chỉnh. Cậu bé sẽ trở thành một Hiệp sĩ vào khoảng 18 - 21 tuổi. Một khi đã hoàn tất việc đào tạo, cậu bé sẽ được phong tước. Khi đó, cậu bé sẽ phải cầu nguyện cả đêm, xưng tội trước ngày phong tước trong một nhà thờ. Sau đó, cậu bé phải tắm rửa sạch sẽ, mặc áo trắng, quần màu vàng, và áo khoác tím, rồi được phong tước bởi quân vương hay lĩnh chủ. Vào thời Trung Cổ, cậu sẽ phải thề tuân theo những quy tắc của một Hiệp sĩ, và không bao giờ chạy trốn khỏi chiến trường. Mọi phụ nữ sẽ gõ nhẹ lên áo giáp của cậu. Cậu cũng có thể được phong tước ngay trên chiến trường, lúc mà lĩnh chủ đơn giản chỉ cần đặt tay hay thanh kiếm của mình lên vai của cậu và nói : "Ngươi là Hiệp sĩ". Tuy nhiên, các lĩnh chủ cũng không thể tùy tiện phong tước, bởi theo quy định, tùy vào tước vị của mình mà lĩnh chủ chỉ có thể phong một số lượng Hiệp sĩ nhất định.

Hiệp sĩ gắn liền với những lĩnh chủ phong kiến. Một hiệp sĩ thường được trả công sau các trận đánh bằng đất đai, nhưng đôi khi cũng bằng tiền. Hiệp sĩ được hỗ trợ về mặt kinh tế bởi những nông dân làm việc trên đất của mình và từ nhà thờ. Trong thời kì chiến tranh, quân vương hay lĩnh chủ có thể ra lệnh động viên tất cả các Hiệp sĩ đang ở trong nước hoặc trong lĩnh địa của mình để tham gia vào cuộc chiến, có thể là phòng thủ hay xâm lược các nước, các lĩnh địa khác. Nhiều quý tộc thường thuê những người khác để đi thay cho mình, còn một số khác nói rằng mình không thể đánh nhau. Về sau, các quân vương thích quân đội thường trực, bởi vì họ có thể sử dụng quân đội lâu hơn, chuyên nghiệp hơn và trung thành hơn. Điều này dẫn đến việc các Hiệp sĩ được trả lương bằng tiền từ các lĩnh chủ và từ đó các Hiệp sĩ được phép thu thuế để lấy lương. Một Hiệp sĩ có quyền mang thắt lưng trắng và quần màu vàng để thể hiện đẳng cấp quý tộc của mình (dù rằng chỉ là bán quý tộc).

Nói tóm lại, Hiệp sĩ chính là lực lượng chiến đấu chủ lực của các nước Âu châu thời Trung Cổ. Họ có thể chỉ huy quân đội, đan độc chiến đấu, hoặc tổ hợp thành kỵ sĩ đoàn (Âu châu kỵ binh). Werner Kottenkamp chính là Hiệp sĩ giỏi nhất, mạnh nhất, và cũng là đoàn trưởng Hiệp sĩ đoàn dưới trướng Nam tước Andreas de La Passiria. Khi được truyền gọi, Werner Kottenkamp vội đến ra mắt Nam tước, hỏi :

- Đại nhân. Có chuyện gì không ạ ?

Nam tước Andreas de La Passiria nói :

- Ngươi hãy xuất trận thách đối phương quyết đấu, đánh bại đối phương, nhằm hạ thấp sĩ khí đối phương.

Werner Kottenkamp vâng dạ, khi chuẩn bị đi thì Nam tước lại nói thêm :

- Bằng mọi cách giành chiến thắng. Quân lực giữa ta và địch quá chênh lệch, chỉ có hạ thấp sĩ khí đối phương thì mới mong phòng thủ được cho đến khi viện quân đến nơi.

Sau đó, Werner Kottenkamp mặc giáp, lên ngựa, thống lĩnh Hiệp sĩ đoàn rời thành bảo đến trước doanh trại địch quân khiêu chiến. Gã án chiếu quy tắc của Hiệp sĩ, trước tiên giục ngựa ra trước hàng quân thách đấu :

- Các ngươi có ai dám cùng ta quyết đấu một trận ?

Giọng của gã ta rất lớn, vang vọng vào trong tận trung doanh. Và gã cũng nói tiếng Pháp rất chuẩn, nên bọn thủ hạ của Đinh An Bình hiểu ngay gã muốn nói gì, lập tức hồi báo.

Vào thời Trung Cổ, cho đến tận trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất, tiếng Pháp vẫn là ngôn ngữ chính của giới quý tộc Âu châu. Các vương triều Anh Cách Lan, Pháp Lan Tây, Tây Ban Nha và Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức đều có nguồn gốc từ vương quốc Franks. Charlemagne Đại đế lên ngôi Hoàng đế La Mã năm 800 tại Roma, là vua của cả Tây Âu (Đông Âu là địa bàn của Đế quốc Đông La Mã, hay còn gọi là Đế quốc Byzantine ở Constantinople). Sau khi Charlemagne Đại đế qua đời, Đế quốc bị chia làm 3 phần cho 3 vị Hoàng tử : Tây Franks (Western Frankish Realm), sau thành Pháp Lan Tây; Đông Franks (Eastern Frankish Realm), sau thành Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức; Trung Franks (Central Frankish Realm), sau bị mất phần phía bắc vào tay Tây Franks và Đông Franks, còn lại phần phía nam trở thành Italia. Hàng trăm công quốc và lĩnh địa lớn cũng là do Charlemagne Đại đế phân phong cho thủ hạ của mình. Sau này vùng Catalonia ở phía nam của Tây Franks trở thành tiền thân của vương quốc Tây Ban Nha Cơ Đốc giáo (phía nam là vương quốc Hồi giáo của người Moors như Almohads, Granada). Công tước Normandy ở phía bắc Pháp Lan Tây sau chinh phục và thống nhất các tiểu quốc ở đảo Anh, thành lập vương quốc Anh Cách Lan. Chính vì vậy mà tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ chính thức của giới quý tộc Âu châu. Khi giao tiếp, giới quý tộc sử dụng tiếng Pháp, và các cung đình cũng sử dụng tiếng Pháp.

Đinh An Bình đang ở trong Soái trướng, nghe thủ hạ hồi báo, lộ vẻ ngạc nhiên, nhìn chúng thủ hạ hỏi :

- Gã ta kêu như thế thật ư ?

Những thủ hạ biết tiếng Pháp gật đầu nói :

- Vâng ạ. Gã ta kêu như thế đấy !

Trước giờ chưa từng gặp phải cảnh này, Đinh An Bình ngần ngừ nói :

- Gã ta có phải tự tìm cái chết hay không ? Hay là còn có âm mưu quỷ kế gì ?

Chúng thủ hạ nhìn nhau, vô pháp hồi đáp. Bọn họ cũng chưa từng gặp phải cảnh này.



Có thể bà con chưa biết :
Các loại tước hiệu của quý tộc Âu châu (phần 9)

16. Hungary :

Nhóm 1 :
császár - Hoàng đế
király/királyné - Quốc vương / Nữ vương
fejedelem - thân vương
herczeg - đại công

Nhóm 2 :
gróf - bá tước
báró - nam tước

Nhóm 3 :
lovag - Hiệp sĩ

Hungary nguyên bản không có Hoàng đế, quân chủ xưng hiệu là Quốc vương. Thời kỳ Áo - Hung Đế quốc, do Hoàng đế Áo kiêm nhiệm Hungary Quốc vương. Hungary cũng không có công tước, hầu tước và tử tước. Đến năm 1918 thành lập nền cộng hòa quốc đã bãi bỏ chế độ quý tộc.

17. Nga quốc :

Nhóm 1 :
Император/Императора - Hoàng đế / Nữ hoàng
Цар/Царица - Sa hoàng / Nữ sa hoàng
Цесаревич - hoàng thái tử
Великий Князь/Инфант - đại công / nữ đại công

Nhóm 2 :
Князь/Герцог - công tước / vương tử
Маркиз/Бояре - hầu tước
Граф - bá tước
Виконт - tử tước
Барон - nam tước

Nhóm 3 :
Рыцарь - Hiệp sĩ

Nga quốc đến năm 1917 đã bãi bỏ chế độ quý tộc.

Hết.


Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
25-12-2010, 02:53 AM
Chương 102 : CHIẾN DỊCH TYROL (3)


Lại nói, khi Werner Kottenkamp đến trước doanh trại của liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento khiêu chiến, Đinh An Bình rất ngạc nhiên, nhìn chúng thủ hạ bảo :

- Gã ta có phải muốn chết hay không ? Hay là còn có âm mưu quỷ kế gì ?

Chúng thủ hạ nhìn nhau, vô pháp hồi đáp. Bọn họ chưa từng gặp phải cảnh này. Hành vi của gã Werner Kottenkamp, đối với các Hiệp sĩ của Âu châu là anh hùng, là dũng cảm, nhưng đối với chúng tướng của Thần Thánh Đế quốc là ngu ngốc, là tự tìm cái chết. Trung Hoa thời cổ đại, chẳng hạn như thời Tam Quốc, song phương giao chiến còn phái tướng lĩnh ra quyết đấu để tăng sĩ khí. Nhưng sau này đại quân tác chiến, hơn thua nhau chủ yếu qua chiến lược, chiến thuật (vậy mới có câu : binh bất yếm trá), chuyện quyết đấu như thế không còn nữa. Và quân đội Thần Thánh Đế quốc khi tác chiến hoàn toàn không có chuyện cho tướng lĩnh ra quyết đấu hay dẫn đầu đoàn quân xung phong. Tướng lĩnh là để chỉ huy quân đội, không phải để khoe tài dũng võ.

Đinh An Bình thấy vậy, xua tay nói :

- Thôi được rồi. Kệ đi. Xạ thủ đâu, pháo kích.

Mệnh lệnh truyền xuống, và thế là vận mệnh của gã Werner Kottenkamp đã được định đoạt như vậy. Đường đường là một Hiệp sĩ nổi danh, chỉ vì cô lậu quả văn, không biết rõ phương pháp tác chiến của đối phương, trong lúc xuất trận khiêu chiến, đã bị thần công đại pháo của đối phương cướp đi sinh mạng. Khôi giáp của Hiệp sĩ vừa nặng nề vừa kiên cố, cung tên bình thường ít có tác dụng, nhưng khi đại pháo oanh kích thì cả người lẫn ngựa đều trở nên tan xương nát thịt, bỏ mạng đương trường.

Đại pháo đã khai hỏa, không lý gì chỉ nhắm vào một mình gã Werner Kottenkamp. Cả Hiệp sĩ đoàn đi theo gã ta đến quán chiến cũng bị họa lây. Một trăm Hiệp sĩ trong Hiệp sĩ đoàn cuối cùng chỉ có hơn chục người chạy về được đến thành bảo, thật là tổn thất thảm trọng. Trận tiếp xúc đầu tiên, quân Tyrol không những không thể hạ thấp sĩ khí đối phương, mà ngược lại còn gặp phải thảm bại, tự hạ thấp sĩ khí của mình.

Hay tin gã Werner Kottenkamp và đại bộ phận Hiệp sĩ đoàn đều bỏ mạng trước doanh trại của đối phương, Nam tước Andreas de La Passiria vừa giận vừa lo. Giận vì đối phương không tuân thủ quy tắc Hiệp sĩ, giở trò vô sỉ như thế. Lo vì đối phương đã giở trò vô sỉ như thế, thì khi công thành chắc chắn sẽ sử dụng âm mưu quỷ kế, bất chấp danh dự quý tộc, từ đó sẽ khiến cho tình thế của quân Tyrol càng thêm khó khăn. Nam tước Andreas de La Passiria suy nghĩ một hồi, không còn cách nào khác, chỉ đành tăng cường công tác phòng thủ. Nam tước Andreas de La Passiria còn cho quân đổ đất đá lấp kín lối vào thành bảo, việc ra vào chỉ dùng dây thừng cột vào người thả từ tường thành xuống đất, đồng thời lại phái sứ giả sang doanh trại đối phương trách đối phương về việc không tuân thủ quy tắc Hiệp sĩ. Tuy biết làm thế cũng chẳng có tác dụng gì, nhưng Nam tước Andreas de La Passiria vẫn làm, vì chút hy vọng mong manh.

Sứ giả của Tyrol vâng mệnh Nam tước đại nhân sang doanh trại liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento, nhìn thấy doanh trại san sát, đao kiếm sáng ngời, cờ xí ngợp trời, quân đông chật đất, trong lòng kinh hãi không sao kể siết. Gã có bao giờ được nhìn thấy quân dung hùng tráng đến thế !

Khi gã đi ngang qua doanh trại của quân đội Trento, quân sĩ trong doanh trại thấy gã ta là sứ giả của Tyrol, đột nhiên đồng loạt giơ tay lên cao, đồng thanh quát lớn :

- Sát. Sát. Sát.

Phản ứng của quân đội Trento làm sứ giả vừa kinh vừa sợ. Tyrol và Trento vốn thù hằn với nhau từ lâu. Ngày xưa, Tyrol vốn thuộc lĩnh địa Vương tử - Giám mục xứ Trento (Prince – Bishopric of Trento), đến năm 1027 bị Hoàng đế Conrad II le Salique của Đế quốc La – Đức tách ra, sát nhập vào lĩnh địa Công tước xứ Bavaria (Duchy of Bavaria). Đến năm 1363, Tyrol bị sát nhập vào lĩnh địa của Công tước Áo Rodolphe IV le Fondateur de Autriche của nhà Habsburg. Nhà Habsburg của Áo sau khi chiếm được Tyrol, lại chuẩn bị bành trướng xuống Trento ở phía nam, do đó mà quan hệ giữa song phương không hề tốt. Ngày nay, vùng nam Tyrol, nơi có thủ phủ Merano, trở thành tỉnh Bolzano – Bozen, thuộc vùng Trentino - Alto Adige / Südtirol của Italia; còn vùng bắc Tyrol là bang Tyrol của Áo. Di tích lịch sử Tyrol thành bảo (Castle of Tyrol) đến nay vẫn còn ở Merano.

Sứ giả Tyrol sau nhiều phen hữu kinh vô hiểm, cuối cùng cũng đến được trước Soái trướng. Gã được phái đến đây với nhiệm vụ là trách hỏi liên quân sao không tuân thủ các quy tắc của Hiệp sĩ. Có điều, sau nhiều phen bị kinh sợ, gã lo cho sinh mạng của mình, nên đã cố gắng trình bày ý kiến của Nam tước Andreas de La Passiria một cách thật nhẹ nhàng uyển chuyển, cố ý tỏ cho đối phương biết gã chỉ phụng mệnh hành sự, đó không phải là chủ ý của gã.

Đinh An Bình ngồi trong Soái trướng, cách một bức rèm, quan sát thái độ của sứ giả Tyrol, khe khẽ gật đầu. Sau khi nghe sứ giả nói xong, Đinh An Bình khẽ nói mấy câu, rồi George I de Trento thay mặt nói :

- Ngươi nói thật là vô lý. Trong quân đội chúng ta không có ai là Hiệp sĩ, các quy tắc của Hiệp sĩ có liên quan gì đến chúng ta kia chứ !

Nên biết rằng, trong thời Trung Cổ, phong khí Hiệp sĩ rất thịnh hành ở Âu châu. Các vị quân vương, lĩnh chủ và giới quý tộc đều lấy các quy tắc của Hiệp sĩ làm nguyên tắc ứng xử của mình. Nổi tiếng nhất trong thời gian này là quốc vương Jean II de Française (hay còn gọi là John II of France), ông là cha của Louis I de Anjou. Sau trận Poitiers trong cuộc ‘chiến tranh trăm năm’, ông đã bị quân Anh Cách Lan bắt giữ, sau được thả ra với điều kiện phải giao cho Anh Cách Lan một lĩnh địa rộng lớn và phải cho con thứ của mình là Louis I de Anjou sang Anh Cách Lan làm con tin. Sau này, Louis I de Anjou trốn thoát được về Pháp Lan Tây thì đã bị cha mình trách phạt. Để giữ đúng tinh thần Hiệp sĩ, Jean II de Française đã tự mình sang Anh Cách Lan làm con tin thay thế, kết quả chết một cách nhục nhã ở Anh Cách Lan.

Sứ giả Tyrol nghe nói thế cũng không biết nói sao cho phải. Quân đội Latium và Trento đều là bộ binh, không có Hiệp sĩ; còn quân đội Thần Thánh Đế quốc thì có kỵ binh, nhưng lại không phải là người Âu châu, nên cũng chẳng phải là Hiệp sĩ. George I de Trento đã từng đến Gia Định, nên khi nhận được viện trợ quân sự từ Thần Thánh Đế quốc đã tổ chức quân đội theo kiểu chính quy quân của Thần Thánh Đế quốc, không sử dụng Hiệp sĩ chỉ huy quân đội, trực tiếp dùng tiền trả lương cho binh sĩ. Làm như thế, quân đội có thể đảm bảo trung thành hơn, tiết kiệm chi phí hơn, trong khi chiến đấu lực cũng không giảm. Ở Âu châu, trừ quân đội Latium ra, thì quân đội Trento có quy cách tổ chức giống Thần Thánh Đế quốc nhất. Trong quân đội chỉ có một tiếng nói duy nhất, mọi binh sĩ đều chỉ trung thành với lĩnh chủ, đó là điều mà George I de Trento hài lòng nhất. Không một vị lĩnh chủ nào muốn trong quân đội của mình lại có tiếng nói khác.

Hồi lâu, George I de Trento lại bảo sứ giả Tyrol :

- Ngươi có biết Đại vương giữ chức vụ gì không ? Đại vương chính là bộ trưởng Hải quân bộ của Thần Thánh Đế quốc. Đại vương là tướng lĩnh Hải quân. Do đó, nếu các ngươi muốn quyết đấu một cách công bằng, Đại vương có thể chấp nhận quyết đấu bằng hình thức hải chiến. Chỉ cần các ngươi phái Hạm đội tham chiến, Đại vương sẽ tiếp chiến ngay.

Sứ giả Tyrol nghe nói lập tức xám mặt. Giờ đây ở Âu châu chư quốc đều biết Hạm đội của Thần Thánh Đế quốc rất khủng bố. Mỗi chiến hạm cứ như là một pháo đài trên biển. Ngay cả các cường quốc Hải quân ở Âu châu như Anh Cách Lan, Pháp Lan Tây, Genoa, Venice, … còn không chống nổi, nói gì một quốc gia nội lục như Đế quốc La – Đức.

Đinh An Bình thấy thái độ của sứ giả như thế, chỉ khẽ mỉm cười, bảo thuộc hạ mang ra trao cho sứ giả một bản danh sách, nói :

- Chỉ cần giao nộp cho chúng ta những người trong danh sách này, chúng ta sẽ tha cho cái gã Nam tước chủ nhân của ngươi. Bằng không, khi chúng ta phá thành, gà chó không tha. Hạn chót là sáng sớm ngày mai.

Sau đó truyện lệnh đưa sứ giả đi ra. Sứ giả Tyrol rời khỏi đại doanh trong lo sợ, rồi run rẩy mở bản danh sách vừa được trao cho ra xem. Chỉ mới liếc qua một loạt danh tính trong đó, gã đã toát mồ hôi. Những tên được ghi trong danh sách toàn là những quý tộc có lĩnh địa, có chức quyền ở Tyrol, thậm chí còn có tư quân không ít. Nam tước Andreas de La Passiria không có thẩm quyền, và dù cho có thẩm quyền thì cũng không dám giao nộp. Xem ra số phận của thành bảo rất đáng lo nha. Và quan trọng hơn cả là số phận của gã càng đáng lo hơn.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
26-12-2010, 07:49 AM
Chương 103 : CHIẾN DỊCH TYROL (4)


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.519 (Đinh Dậu, 1417). Mùa xuân, tháng 3. Tyrol, thủ phủ Merano, Tyrol thành bảo.

Ngay từ sáng sớm, liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento đã lần lượt rời khỏi doanh trại, kéo đến tập họp phía trước Tyrol thành bảo, chuẩn bị công thành. Trên cánh đồng phía trước thành bảo, khắp nơi đều thấy toàn người là người. Quả là :

Cờ xí nghênh phong phất phới.
Tiếng reo vang dậy đất trời.
Đao kiếm tua tủa sáng ngời.
Quân uy hào hùng cường thịnh.

Là một bộ phận của đại quân, trước quân dung như thế, tất cả tướng lĩnh, binh sĩ, không kể là thuộc quân đội Thần Thánh Đế quốc, Latium hay Trento đều có tinh thần rất tốt, hăng hái chuẩn bị giết giặc lập công. Liên quân không phải là quân Ba Tư của Xerxes Đại Đế, không ai tin rằng lấy 203.000 quân tấn công hơn 2.000 quân Tyrol lại thất bại, cho dù đối phương có ở vào vị trí phòng thủ đi nữa. Không nói đến chiến lược hay chiến thuật, ngay cả ‘lấy thịt đè người’ cũng có thể thắng được. Chỉ có Xerxes Đại Đế của Ba Tư mới dùng 5 triệu người mà đánh thua hơn 1 vạn quân Hy Lạp (sử gia Hy Lạp cổ đại Herodotus ghi nhận có 5 triệu người, với một nửa là binh sĩ, một nửa là dân phu, được huy động từ 46 tiểu quốc thuộc địa; quân Ba Tư giết vua Sparta, đốt thành phố Athens, nhưng sau thua 1 trận hải chiến nên buộc phải rút quân về).

Trong khi đó, phía thủ quân trong thành bảo thì ngược lại. Sĩ binh mặt mày hoặc xanh hoặc tái, lo lắng bất an, tay cầm vũ khí nhưng sĩ khí mất hết, tín tâm không còn. Bọn họ không hề tin tưởng có thể phòng thủ được thành bảo. Nhiều người trong bọn họ đã nghe nói về tối hậu thư của đối phương đã bị Nam tước đại nhân từ chối, và chủ soái bên phía đối phương đã tuyên bố sau khi phá thành thì ‘gà chó không tha’. Do đó, bọn họ rất lo lắng cho số phận của mình. Nhiều người đã nghĩ đến chuyện bỏ trốn, nhưng dưới quyền oai của Nam tước đại nhân, và trước cảnh một số đào binh bị xử tử thị chúng, cả bọn tạm thời vẫn còn đứng trên tường thành chờ đợi đối phương đến đồ sát. Đúng thế, bọn họ chờ đợi đối phương đến đồ sát, chứ lấy 1 địch trăm, bọn họ làm sao chống nổi. Bọn họ chỉ là phổ thông sĩ binh, không phải là dũng tướng kiểu như Quan Vũ, Trương Phi hay Triệu Tử Long mà có thể lấy 1 địch trăm.

Đinh An Bình đứng trên đài chỉ huy, nhìn về hướng Tyrol thành bảo. Đài chỉ huy là một loại đài cao, dưới chân có gắn bánh xe, do ngựa kéo hoặc quân sĩ đẩy đi; tướng soái đứng trên đó có thể quan sát toàn diện chiến trường, để có thể ra mệnh lệnh phù hợp với cục diện trận chiến. Bên cạnh Đinh An Bình chỉ có các tùy tướng thuộc hạ. George I de Trento và các tướng lĩnh Latium không có ở đấy, mà đã đi chỉ huy quân đội của mình. Trận này, Đinh An Bình quyết định giao cho quân đội Latium và Trento giải quyết, vừa có tác dụng luyện quân vừa tạo cơ hội cho bọn họ giết giặc lập công. Quân đội mà chưa từng tham gia chiến đấu, chưa từng giết giặc thì chưa thể xem là quân đội chân chính. Dù sao thì lấy 23.000 quân tấn công hơn 2.000 quân, chắc cũng không có vấn đề gì. Mà lỡ như có vấn đề gì thì còn có 18 vạn quân Thần Thánh Đế quốc ở đó, không sao cả.

Khi thấy các công tác chuẩn bị đã hoàn tất, Đinh An Bình truyền lệnh :

- Khai hỏa.

Mệnh lệnh truyền xuống. Trận địa thần công đại pháo lập tức khai hỏa, oanh kích vào tường thành và các điểm cao bên trong thành bảo. Tất cả 3.600 khẩu thần công của 6 đạo quân đã được tập trung lại một chỗ, đồng loạt khai hỏa, uy lực kinh nhân. Không chỉ địch quân, ngay cả phía liên quân mỗi khi nghe thần công phát xạ cũng chấn kinh vô cùng. Mỗi loạt đạn pháo bắn ra, khói lửa nhiễm hồng cả nửa bầu trời. Sau đó thì bên trong thành bảo cũng có khói lửa bốc cao, cùng những tiếng kêu khóc vang trời dậy đất. Bị đạn pháo dội lên đầu, thủ quân trên tường thành tổn thất thảm trọng. Nhiều người không chết vì bị đạn pháo bắn trúng, mà bị gạch đá đổ xuống đè chết.

Sau ba loạt pháo kích, hơn 1 vạn phát đạn đã phá hủy hoàn toàn thành tường của Tyrol thành bảo. Các kiến trúc bên trong cũng bị phá hủy không ít. Đinh An Bình ra lệnh ngừng pháo kích, rồi truyền lệnh xung phong. Tiếng trống thúc dồn dập, tiếng tù và rúc lên vang vọng. Quân đội Latium và Trento nghe lệnh xung phong, lập tức nắm chặt đao thương tràn vào thành bảo. Hiện giờ, thành bảo không còn tường thành, không còn các tiễn tháp phòng ngự, chỉ còn lại những đống đổ nát. Không có gì uy hiếp, liên quân khí thế hừng hực ào ạt xông vào trong tìm diệt địch quân. Theo sự an bài từ trước, quân đội Latium và Trento xung phong theo từng tiểu đội, bảo đảm không có ai đi riêng lẻ để giảm thiểu thương vong vô ích.

Mệnh lệnh xung phong truyền xuống chưa được bao lâu thì đã nghe bên trong thành bảo vang lên những tiếng sát phạt chém giết vang trời. Từng đoàn từng đoàn liên quân Latium – Trento hợp nhau truy sát địch quân, có khi mấy đội vài chục người hợp nhau truy sát vài quân địch. Không sao được, số quân tấn công đông hơn đối phương gấp 10 lần, bình quân thì cũng phải 10 người đánh 1 người, ta nhiều địch ít nên đành hợp nhau chia công lao mà thôi.

Quân Tyrol đã ở vào thế kém, mà lại còn gặp phải một vấn đề chết người nữa là thiếu sự chỉ huy, chỉ có thể tự phát chiến đấu. Các tướng lĩnh, các Hiệp sĩ của Tyrol, kể cả Nam tước Andreas de La Passiria đều ở trên những tháp cao, khi bị thần công đại pháo oanh kích thì nơi đó lại là những mục tiêu lộ liễu nhất, bị oanh kích đầu tiên. Kết quả, sau khi thần công đại pháo ngừng phát hỏa thì đại bộ phận tướng lĩnh Tyrol đã vùi thân dưới các đống đổ nát.

Nam tước Andreas de La Passiria may mắn không tử nạn vì đạn pháo, được các thân binh cứu thoát khỏi đống đổ nát, nhưng tình thế cũng chẳng khả quan hơn chút nào, vì lúc này Nam tước đang bị vây chặt trong phủ đệ của mình. Xung quanh Nam tước chỉ có vài chục thân binh, trong khi đối phương đông đến hàng nghìn. Giết chết được Nam tước Andreas de La Passiria là đại công hàng đầu, nên các tướng lĩnh Latium và Trento đều dần dần tập trung về cả nơi đây. Bọn họ đều là tướng lĩnh cao cấp, giết chết phổ thông binh sĩ chẳng mang lại được bao nhiêu công lao, chỉ có trảm địch tướng thì mới có thể kể là chiến công.

Bá tước Enguerrand de Monstrelet, quý tộc – tư sản, một Hiệu úy của quân đội Latium (thống lĩnh 1 sư, 1 vạn quân), nhìn những tướng lĩnh khác, nói :

- Chúng ta bao nhiêu người đây, mà Andreas de La Passiria chỉ có một, xử lý thế nào ?

Tử tước Bernardo Madruzzo de Garda, cũng là quý tộc – tư sản, tướng lĩnh quân đội Trento, nói :

- Ai có mặt thì có phần !

Thấy đối phương giành nhau công lao, không xem mình ra gì, Nam tước Andreas de La Passiria nổi xung quát lớn :

- Các ngươi có ai dám cùng ta quyết một trận tử chiến ?

Bá tước Jean de Venette, một Hiệu úy khác của quân đội Latium, bắt chước thần thái của chủ soái, nhìn mọi người hỏi :

- Gã ta đang muốn chết phải không ? Hay là còn có âm mưu quỷ kế gì khác ?

Bá tước Enguerrand de Monstrelet cười ha hả nói :

- Mặc kệ có âm mưu quỷ kế hay không ! Giải quyết sớm cho xong, kẻo đêm dài lắm mộng. Cung thủ đâu ?

Lập tức, mấy chục đội cung thủ tiến ra, giương cung lắp tên nhắm vào Nam tước Andreas de La Passiria và chúng thân binh. Bá tước Enguerrand de Monstrelet vung tay nói :

- Bắn.

Thế là tên bắn như mưa, kết liễu cả bọn Nam tước Andreas de La Passiria. Tiếp đó, cả bọn lại phân tán ra chỉ huy truy sát tàn binh Tyrol. Sau mấy giờ chiến đấu, thật ra không thể gọi là chiến đầu mà phải gọi là đan phương diện đồ sát, cuối cùng liên quân Latium – Trento cũng giải quyết được toàn bộ tàn quân trong thành. Tiếp đó là công tác thu nhặt chiến lợi phẩm. Đinh An Bình trị quân rất nghiêm, nghiêm cấm tất cả sĩ binh thu nhặt chiến lợi phẩm trong lúc đang chiến đấu, ai vi phạm lập tức trảm thủ. Do vậy mà khi chiến đấu kết thúc, công tác thu nhặt chiến lợi phẩm mới bắt đầu. Sĩ binh sẽ được phân chia chiến lợi phẩm tùy vào công lao.

Đến tận chiều tối, công tác thu nhặt chiến lợi phẩm và kiểm kê các kho tàng của Tyrol thành bảo mới cơ bản hoàn thành. Không hổ là cứ điểm chuẩn bị cho cuộc xâm chiếm Trento của Công tước Áo, trong các kho tàng của thành bảo có rất nhiều quân lương vật tư. Đinh An Bình thu lấy 1 phần 3, còn lại để cho quân đội Latium và Trento chia nhau.

Sau khi tiêu diệt được Tyrol thành bảo, Đinh An Bình cắt ra 10 vạn quân, phối hợp cùng quân đội Latium và Trento chia thành 10 đạo, đi tấn công các lĩnh địa quanh đó, để hoàn toàn kiểm soát Tyrol trước khi tiếp tục đông chinh. Mỗi đạo quân gồm 1 vạn quân Thần Thánh Đế quốc, 1.000 quân Latium và 300 quân Trento (làm hướng đạo).

Cuối tháng 3, toàn bộ lĩnh thổ Tyrol đã được bình định, toàn bộ quý tộc – địa chủ hay những quý tộc có tư binh đều đã bị đánh dẹp. Chỉ có một số ít nhanh chân chạy sang công quốc Bavaria ở phía bắc hay cộng hòa Venice ở phía nam lánh nạn. Ngoài ra, rất nhiều tiểu quý tộc không thân không thế đã được Đinh An Bình triệu kiến, xem xét lưu dụng. Dù sao thì những vùng đất mới chiếm lĩnh cũng cần có người cai trị.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
27-12-2010, 12:49 AM
Chương 104 : CHIẾN DỊCH SALZBURG (1)


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.519 (Đinh Dậu, 1417). Mùa hạ, tháng 4.

Sau khi đã chiếm lĩnh và bình định hoàn toàn Tyrol, liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento tiếp tục đông chinh, hướng về Salzburg, nơi liên quân Áo – Bavaria – Bohemia đang tập họp. Đinh An Bình quyết định đánh nhanh thắng nhanh, không thể để kéo dài, nếu không viện quân từ các công quốc thuộc Đế quốc La – Đức kéo đến thì muốn tiêu diệt hoàn toàn địch quân sẽ phiền phức hơn rất nhiều. Salzburg nằm ngay giao giới giữa Áo, Bavaria và Tyrol, có một vị trí chiến lược quan trọng. Đinh An Bình quyết định chiếm nơi đó, làm bàn đạp uy hiếp cả Áo và Bavaria, thậm chí cả Bohemia ở phía bắc.

Salzburg là một Tổng giáo phận của Giáo hội Công giáo La Mã, là lĩnh địa của Vương tử - Giám mục Tổng giáo phận (Prince – Archbishopric). Thời Charlemagne Đại đế, Giám mục Tổng giáo phận Salzburg là Arno de Salzburg rất được Đại đế tôn trọng, giao cho quyền cai trị và truyền giáo ở Salzburg, tức là cai quản cả việc đạo lẫn việc đời ở đấy, trở thành một lĩnh chủ phong kiến. Sau này, trong các cuộc tranh chấp giữa Giáo hội Công giáo La Mã với Thánh Hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần Thánh xem Đức Thánh Cha (Papal) và Thánh Hoàng đế (Saint Emperor) ai có địa vị cao hơn, khi ưu thế nghiêng về phía Thánh Hoàng đế, thì các Giám mục Tổng giáo phận Salzburg đã bị trục xuất, giam cầm hoặc lưu đày. Thậm chí thành phố còn bị Bá tước xứ Plain trung thành với Thánh Hoàng đế phá hủy vào năm 1167, và Salzburg đã bị sát nhập vào công quốc Bavaria vốn do con em hoàng tộc cai trị. Sau các cuộc hòa giải giữa song phương, Giám mục Tổng giáo phận Salzburg là Eberhard de Regensberg đã có thể trở lại truyền giáo vào năm 1200, nhưng quyền lực không còn được như trước nữa.

Người Việt có sự hiểu lầm trong các chức vụ của Giáo hội Công giáo La Mã. Người Việt thường cho rằng chức vụ cao nhất là Giáo hoàng, rồi đến Hồng y giáo chủ, các Tổng giám mục và Giám mục, dưới nữa mới đến Linh mục, Phó tế. Thật ra thì đó là cách dịch các chữ Pope (hay Papal, dịch là ‘Đức Cha’, ‘Đức Thánh Cha’ thì chính xác hơn, bởi gốc của nó là chữ ‘papa’ trong tiếng Latinh, có nghĩa là ‘cha’), Cardinal (có thể được dịch thành ‘yếu tố thuộc bản chất, nền tảng, hay trụ cột’, gốc từ chữ ‘cardo’ trong tiếng Latinh, có nghĩa là ‘bản lề’, ‘khớp nối’ hay ‘điểm mấu chốt’, người Việt dịch là ‘Hồng y’ dựa theo màu sắc y phục), Archbishop (Giám mục Tổng giáo phận), Bishop (Giám mục Giáo phận), Priest (Linh mục), và Deacon (Phó tế). Thật ra thì Giáo Hội Công giáo La Mã chỉ có 3 hàng giáo phẩm là Giám mục, Linh mục và Phó tế.

1. Giám mục : là những mục tử kế vị các thánh Tông đồ, các vị này có đầy đủ quyền năng và uy phong như nhau, kể cả Đức Thánh Cha. Nhưng vì Đức Thánh Cha là vị Tông đồ trưởng - là vị thủ lĩnh các Tông đồ (thủ lĩnh mục tử đoàn chiên chúa) nên có địa vị và quyền hạn cao hơn. Các vị Giám mục đứng đầu Linh mục đoàn, cai quản các giáo phận. Các giáo phận này có những giáo phận lớn quản lý các giáo phận nhỏ hơn ở xung quanh, được gọi là Tổng giáo phận. Các Giám mục Tổng giáo phận có địa vị cao hơn các Giám mục Giáo phận. Và trong Giáo hội Công giáo La Mã có 8 Tổng giáo phận quan trọng nhất (Roma và 7 Tổng giáo phận xung quanh), nên các vị Giám mục cai quản các Tổng giáo phận đó sẽ có địa vị cao nhất. Đứng đầu là Giám mục Tổng giáo phận Roma (tức Pope, Đức Thánh Cha); kế đó là Giám mục Tổng giáo phận Ostia (Hồng y niên trưởng, đứng đầu Hồng y đoàn); sau đó là các Giám mục Tổng giáo phận Palestrina, Albano, Frascati, Porto Santa Rufina, Sabina Poggio Mirteto và Velletri Segni. Các vị Giám mục Tổng giáo phận này (trừ Đức Thánh Cha) được gọi là Hồng y Giám mục. Các Giám mục Tổng giáo phận khác được mặc Hồng y thì được gọi là Hồng y Linh mục, còn các Hồng y cai quản các cơ quan ở Tòa thánh Vatican thì được gọi là Hồng y Phó tế.

2. Linh mục : là những người phụ tá theo đúng nghĩa của các Giám mục. Các vị linh mục phải tuân thủ hoàn toàn theo luật độc thân, tiết dục và khó nghèo. Linh mục công giáo luôn luôn là nam, và chưa hề có tiền lệ là phụ nữ. Các linh mục được làm Thánh lễ cũng như các bí tích khác khi có sự chuẩn y của Giám mục. Linh mục cai quản một ‘giáo xứ’. Khi hội đủ những điều kiện cần và đủ, mọi linh mục đều có thể được phong Giám mục.

3. Phó tế : là những người phụ tá cho Linh mục.

Sở dĩ chức vụ lớn nhất trong Giáo hội chỉ là Giám mục, là vì sau khi Đức Jesu qua đời, các môn đệ của Ngài, tức 12 vị Thánh Tông đồ, đã đi các nơi truyền giáo. Saint Peter (người Việt gọi là Thánh Phêrô) đã đứng đầu Công đồng Jerusalem, rồi đến làm Giám mục Antioh, sau lại đến Roma thành lập giáo đoàn tiên khởi, nguồn gốc của Giáo hội Công giáo La Mã ngày nay. Do Thánh Peter chỉ là Giám mục, các Đức Thánh Cha kế vị Thánh Peter không thể có chức vụ cao hơn Ngài. Vì vậy, chức vụ đầy đủ của Đức Thánh Cha là ‘Giám mục Tổng giáo phận Roma, thủ lĩnh mục tử đoàn chiên chúa’, là chức vụ do Thánh Peter truyền lại.

Lại nói về xứ Salzburg, Đức Giám mục Tổng giáo phận không còn nhiều quyền lực, phải chịu phụ thuộc vào Công tước xứ Bavaria, tình thế rất không hay. So ra thì George I de Trento may mắn hơn nhiều. Cả hai đều là Vương tử - Giám mục, nhưng vì lĩnh địa Trento chưa bị Công tước Áo xâm chiếm, nên George I de Trento có nhiều quyền tự chủ hơn. Nhưng dù sao thì Đức Giám mục Tổng giáo phận Salzburg cũng vẫn là người có nhiều uy tín nhất ở đấy. Do vậy, khi đại quân tiến vào Salzburg, George I de Trento đến gặp Đinh An Bình đề nghị :

- Đại vương. Ta với Eberhard III de Neuhaus, Giám mục xứ Salzburg, có ít nhiều quen biết. Ta có thể vận động Eberhard III de Neuhaus kêu gọi dân chúng Salzburg ủng hộ chúng ta, chống lại liên quân Áo – Bavaria – Bohemia.

Đinh An Bình nhớ đến mật chỉ của Thánh hoàng, mỉm cười hỏi :

- Ông ấy có yêu cầu gì không ?

Thấy Đinh An Bình đã biết mình có liên hệ với Eberhard III de Neuhaus, George I de Trento ngượng ngùng nói :

- Hồi bẩm Đại vương. Ông ấy chỉ hy vọng Đại vương cho phép ông ấy được ở lại Salzburg tiếp tục chăm lo cho giáo dân.

Đinh An Bình khẽ cười. Xem ra cả Ngài Giám mục cũng không nhìn thấy liên quân Áo – Bavaria – Bohemia có hy vọng chiến thắng. Cũng phải thôi. Cả ba công quốc khẩn cấp họp quân cũng chỉ huy động được hơn 5 vạn người, trong đó có đến quá nửa là nông dân mới bỏ cuốc cày cầm vũ khí.

Suy nghĩ giây lát, Đinh An Bình gật đầu nói :

- Được rồi. Bản vương chấp thuận. Nếu ông ấy lập được đại công, bản vương còn có thể cho kiêm quản cả quân chính đại quyền của Salzburg.

George I de Trento cả mừng nói :

- Đại vương yên tâm. Ta sẽ đích thân đi lo việc này, bảo đảm hoàn mỹ hoàn thành nhiệm vụ.

Đinh An Bình mỉm cười :

- Bản vương chờ tin mừng của ngươi.

Đại quân tiếp tục tiền tiến. George I de Trento rời khỏi đại quân, đi lo liên lạc với Eberhard III de Neuhaus, Giám mục Tổng giáo phận Salzburg.



Bên bờ sông Salzach, xứ Salzburg.

Dưới ánh thái dương chói chang, không khí bắt đầu nóng dần lên. Sĩ binh đi dưới ánh dương quang chỉ lưu lại những bóng dài và phát ra những hơi thở dồn dập. Những đoàn quân đang khẩn trương tiến về Salzburg. Hàng đoàn người đi trong mệt mỏi, tay vẫn chưa quen cầm vũ khí, dáng vẻ thiểu não, mồ hôi nhễ nhại, trông cứ như một đám bại binh. Đây đó lại nghe thấy nhiều tiếng quát tháo :

- Hừ. Đám dân đen kia, đi nhanh lên. Đi nhanh nữa lên.

- Sao lại dừng lại ? Muốn chết phải không ? Tiếp tục đi.

- Tên kia. Sao kéo lê vũ khí dưới đất. Cầm thẳng lên. Nhanh.



Xen lẫn vào đó là những tiếng roi đánh vào da thịt chan chát. Đoàn quân tuy đông đến 2 vạn người, nhưng xem chừng không có chút sĩ khí nào hết. Đó chính là đạo quân của Công tước xứ Bavaria tiếp viện cho Công tước Áo. Quân tinh nhuệ của Bavaria đã tiêu hao phần lớn trong chiến dịch Pavia cùng với quân đội của Hoàng đế Sigismund de Luxembourg, giờ chỉ còn lại một ít phải phụ trách bảo vệ lĩnh địa. Do đó, Công tước xứ Bavaria đã trưng tập nông dân, phát cho vũ khí rồi đẩy ra chiến trường.

‘Đại quân’ Bavaria đang khẩn cấp hành quân. Các tướng lĩnh Bavaria đang tụ tập lại than vãn càu nhàu vì phải hành quân giữa trời nắng chói chang thế này. Chủ soái thì đang vừa bực bội vì hiện tình quân đội, vừa lo lắng cho cuộc chiến sắp tới. Tóm lại, quân tướng Bavaria đều có tâm trạng không được tốt.

Quân đội cứ thế tiền tiến. Bá tước Friedrich Martin de Augsburg, thống soái quân Bavaria, ngồi trên chiến mã, đang nhíu mày nghĩ ngợi, thì chợt có viên cận tướng, Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch, chạy đến trước mặt, bẩm báo :

- Bá tước đại nhân. Phía trước phát hiện đại đội địch quân đang cướp phá các thôn trấn, quân số ước khoảng 2.000 người, thỉnh Bá tước đại nhân định đoạt.

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg nhíu mày hỏi :

- Có nhìn thấy cờ hiệu của địch quân hay không ?

Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch bẩm báo :

- Hồi bẩm Bá tước đại nhân. Địch quân mang cờ hiệu của Trento.

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg cả mừng nói :

- Tốt. Truyền lệnh quân đội thẳng tiến, tấn công địch quân, bảo vệ dân chúng.

‘Đại quân’ được lệnh khẩn cấp hành quân, quyết không được để lỡ chiến cơ.

_______________________________________________
(tham khảo tại : http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_h%E1%BB%99i_C%C3%B4ng_gi%C3%A1o_R%C3%B4m a)




Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
28-12-2010, 02:23 AM
Chương 105 : CHIẾN DỊCH SALZBURG (2)


Lại nói, khi được tin báo phát hiện tung tích quân đội Trento đang cướp phá ở phía trước, Bá tước Friedrich Martin de Augsburg truyền lện ‘đại quân’ thẳng tiến, kéo tới tấn công địch quân. Bá tước Friedrich Martin de Augsburg sợ quân đội Thần Thánh Đế quốc, e ngại quân đội Latium, chứ không sợ quân đội Trento. Trong ý nghĩ của Bá tước, quân đội Trento còn kém hơn cả liên quân Áo – Tyrol, không có gì phải sợ hết.

‘Đại quân’ Bavaria nhanh chóng kéo đến thôn trấn trước mặt, hội ngộ cùng quân đội Trento. Thấy đối phương đông hơn gấp 10 lần, quân Trento không dám ứng chiến, vội vã tháo chạy về phía nam. Bá tước Friedrich Martin de Augsburg thấy vậy, vội thúc quân đuổi theo, còn ngồi trên chiến mã quất roi cười lớn nói :

- Chuyến đi săn này, nhất định thắng lợi. Công tước đại nhân sẽ thấy ta vừa ra quân đã chiến thắng. Ha ha ha.

Đưa mắt nhìn quang cảnh bờ sông, Bá tước Friedrich Martin de Augsburg lại nói tiếp :

- Chuyến này truy sát địch quân, nhân tiện thưởng thức phong cảnh bên sông Salzach, thật là một công đôi việc. Ha ha ha.

Tuy hứng khởi trong lòng, nhưng Bá tước Friedrich Martin de Augsburg cũng không phải là hạng hữu dũng vô mưu, nhìn thấy sĩ khí quân đội không cao, liền quay sang bảo viên cận tướng, Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch :

- Truyền lệnh của ta. Đại quân tăng tốc truy sát địch quân. Địch quân vừa mới cướp phá xong, chắc chắn sẽ có rất nhiều tài vật. Thông báo cho binh sĩ, chiến lợi phẩm do người nào giành được sẽ thuộc về người đó.

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg chỉ cần chiến công, không cần chiến lợi phẩm. Thật ra thì Bá tước cũng không đánh giá cao số tài vật mà địch quân cướp được. Chỉ là các thôn trấn nghèo khổ, có gì đáng giá đâu mà cướp. Nếu như địch quân cướp phá một thành thị hay một đại lĩnh địa, chiến lợi phẩm phong phú thì Bá tước đã không truyền lệnh như vậy.

Mệnh lệnh truyền xuống, ba quân hoan hô vang dội. Có động lực, ai nấy càng chạy nhanh hơn, khoảng cách với địch quân ở phía trước cũng rút ngắn lại dần. Binh sĩ thấy có hy vọng, nên lại càng hăng hái. Nông dân bị lĩnh chủ trưng tập gia nhập quân đội, không hề được trả lương, do đó bọn họ chỉ còn biết hy vọng vào chiến lợi phẩm.

Truy đuổi hơn nửa ngày, mọi người bắt đầu nhìn thấy có nhiều vật tư, vũ khí rơi vãi trên đường, xem ra địch quân vì hối hả tháo chạy nên làm rơi rớt. Quân Bavaria hăng hái tranh cướp, rồi lại hăng hái truy đuổi, không cần các tướng lĩnh thúc giục mà ai nấy đều rất tích cực. Nhiều người nhìn thấy địch quân ở phía trước tay bao tay bị, mang xách nhiều thứ, lòng tham làm đỏ hồng cả mắt, điên cuồng đuổi theo, quên cả mệt mỏi đói khát.

Nhìn thấy địch quân chạy thẳng về phía rừng núi trước mặt, Bá tước Friedrich Martin de Augsburg như nhìn thấy chiến công trước mắt, tiếng quát tiếng cười vang vọng nơi sơn dã :

- Ha ha ha. Địch quân sắp hết đường chạy rồi. Mọi người gắng sức lên.

Song phương truy đuổi cả ngày, cuối cùng đại đội quân Trento chạy vào trong một sơn cốc. Đó là một sơn cốc vô danh nằm ngoài rìa của khu vực núi non Trung Alps (Central Alps), ở về phía nam Salzburg. Khi đến trước cửa sơn cốc, Bá tước Friedrich Martin de Augsburg giật cương dừng lại, ngần ngừ không dám tiến vào. Viên cận tướng, Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch, thấy thế liền nói :

- Bá tước đại nhân. Khu vực này xem ra hung hiểm, nên đề phòng địch nhân có âm mưu quỷ kế.

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg hừ lạnh một tiếng, nói :

- Ta lẽ nào không biết ?

Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch vội khom lưng nói :

- Bá tước đại nhân. Chúng ta có cần phái người vào bên trong thám thính hay không ?

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg khen phải, nói :

- Ngươi hãy suất lĩnh 1.000 quân vào bên trong thám thính tình hình.

Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch nghe nói thế, nhất thời toàn thân run rẩy, chút nữa là đã rơi xuống ngựa. Gã ta thân thể hồng hào mập mạp, chưa từng tham gia chiến tranh, đừng nói là chém giết, sở trường duy nhất là nịnh nọt làm vui lòng chủ tướng, nói không dễ nghe thì là tham sống sợ chết. Lần này chủ tướng phái gã vào trong thám thính tình hình địch quân, có phải là muốn lấy mạng gã hay không. Gã ấp úng nói :

- Bá tước đại nhân. Thuộc hạ nhất thời cảm mạo, hay là phái người khác đi được không ?

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg trừng mắt nhìn gã, lạnh lùng nói :

- Hừ. Bảo ngươi đi thì ngươi cứ đi. Việc gì cứ nhiều lời như thế !

Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch thấy Bá tước sắc diện âm trầm, nghĩ đến tính cách hung bạo, thường xuyên đánh đập gia nhân, thuộc hạ của Bá tước, không khỏi ớn lạnh, vội vàng nói :

- Vâng ạ. Thuộc hạ đi ngay. Thuộc hạ đi ngay.

Nói xong gã ta vội vã giục ngựa chạy đi, kiểm điểm binh mã tiến vào trong sơn cốc.

Ánh dương xế bóng, gió thổi hiu hiu.

Đội tiên phong của quân Bavaria chầm chậm tiến vào trong sơn cốc, vừa đi vừa cẩn thận quan sát tứ phía, sợ kinh động địch quân. Địch quân đông đến 2.000 người, đông gấp đôi bọn họ. Nếu làm kinh động, địch nhân kéo ra vây đánh, thì dù đại quân bên ngoài có kéo vào cứu viện, không ít người trong số bọn họ cũng sẽ phải vĩnh viễn vùi thân ở đây. Có lẽ Bá tước đại nhân phái bọn họ vào đây làm mồi dụ địch chăng ? Mọi người đều nghĩ vậy. Số phận của con mồi sẽ chẳng hay ho gì. Do đó mọi người đều chẳng mấy tích cực.

Trong đội quân, Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch cưỡi ngựa đi sau cùng, sắc diện tái nhợt, toàn thân run rẩy, xem chừng ngồi yên được trên lưng ngựa là đã cố sức lắm rồi. Với bộ dạng như thế, nếu gặp phải địch quân thì làm sao chiến đấu. Fränkische Schweiz, Hiệp sĩ lĩnh quân, khinh miệt nhìn Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch một lượt, khẽ hừ một tiếng. Bọn họ rất xem thường loại người như Nam tước, chỉ biết nịnh nọt, chiến đấu thì không ra gì. Nếu không phải có mệnh lệnh của Bá tước đại nhân, bọn họ sẽ chẳng thèm lý đến Nam tước. Hồi lâu, Hiệp sĩ Fränkische Schweiz không nhịn được nữa, giục ngựa lại gần nói :

- Nam tước đại nhân. Hay là đại nhân chờ ở đây, để chúng ta vào bên trong do thám, rồi sẽ ra đây hồi báo với đại nhân, được không ?

Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch trong lòng mừng thầm, nhưng ngoài mặt vẫn cố nói cứng :

- Như thế … như thế e rằng không tiện. Cùng đi. Chúng ta hãy cùng đi.

Hiệp sĩ Fränkische Schweiz càng cảm thấy gã ta đáng ghét, muốn đi cho khuất mắt, nhưng vì sự an toàn của bản thân và thủ hạ, tốt nhất không nên đưa Nam tước đi theo, liền vội nói :

- Không sao đâu ! Chúng ta chỉ vào bên trong xem xét một lúc. Nam tước đại nhân cứ ở đây chờ tin tức của chúng ta.

Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch khẽ thở phào, nói :

- Như vậy đành làm phiền mọi người rồi.

Thế là Hiệp sĩ Fränkische Schweiz dẫn thủ hạ tùy tùng và binh sĩ vào bên trong thám thính. Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch ở lại đó chờ đợi. Lát sau, gã nghe bên trong có nhiều tiếng hò hét quát tháo, giây lát lại thấy quân thám thính chạy ngược trở ra. Gã kinh hãi, vội giục ngựa chạy theo, đến bên Hiệp sĩ Fränkische Schweiz, hỏi :

- Tình hình bên trong thế nào ?

Hiệp sĩ Fränkische Schweiz đáp :

- Địch quân đang xây dựng các công trình phòng ngự bên trong, có lẽ định cố thủ chờ viện quân.



Bên ngoài sơn cốc, Bá tước Friedrich Martin de Augsburg chờ đợi hồi lâu, có vẻ ngồi đứng không yên. Trong khi đó thì chúng sĩ binh đều ngồi bệch cả dưới đất nghỉ ngơi. Sau cả ngày truy đuổi, giờ đây ai nấy cũng đều cảm thấy mệt mỏi. Binh sĩ phải chạy bộ bằng hai chân chứ không được cưỡi ngựa như Bá tước và các tướng lĩnh, Hiệp sĩ. Bá tước thấy vậy, tuy trong lòng bực bội, nhưng cũng đành chịu.

Một gã Hiệp sĩ thân tín của Bá tước đối Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch rất không tín nhiệm, đến bên Bá tước nói :

- Bá tước đại nhân. Bọn họ vào bên trong đã lâu, đúng ra phải quay ra rồi, trừ khi có biến cố gì đó ?

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg cười nhạt nói :

- Không sao đâu ! Ít ra cũng sẽ chạy ra được đôi ba người chứ !

Gã Hiệp sĩ thân tín nghe giọng lạnh lùng của Bá tước, bất giác cảm thấy lạnh cả xương sống. Hơn nghìn người a. Vào bên trong sơn cốc thám thính đến hơn cả nghìn người, Bá tước hy vọng sẽ có đôi ba người chạy ra được để mang tin tức ra. Vậy hóa ra … Gã ta thoáng rùng mình, không dám nói gì thêm nữa. Giữa lúc đó, gã chợt nghe Bá tước nói :

- Xem kìa. Bọn họ ra rồi. Hừm … Còn nhiều hơn so với sự tưởng tượng của ta !

Gã Hiệp sĩ thân tín nghe nói, lại rùng mình, quay nhìn về phía cửa sơn cốc, quả thực nhìn thấy đội tiên phong đã quay trở ra, nhân số tuy có giảm bớt, nhưng không đến một thành. Đa số binh sĩ chạy ra đến ngoài này đều ngồi bệch xuống đất thở dốc. Hiệp sĩ Fränkische Schweiz cùng với Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch giục ngựa đến chỗ Bá tước Friedrich Martin de Augsburg bẩm báo địch tình.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
29-12-2010, 05:38 AM
Chương 106 : CHIẾN DỊCH SALZBURG (3)


Lại nói, khi ra đến bên ngoài sơn cốc, tuy nhân số có giảm bớt, nhưng không đến một thành, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm. Trước tình cảnh hiểm nghèo như thế, chạy thoát được ra ngoài này đã là may mắn lắm rồi. Đa số binh sĩ chạy ra đến ngoài này đều ngồi bệch xuống đất thở dốc. Hiệp sĩ Fränkische Schweiz cùng với Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch giục ngựa đến chỗ Bá tước Friedrich Martin de Augsburg bẩm báo địch tình. Hiệp sĩ Fränkische Schweiz hướng về Bá tước hành lễ Hiệp sĩ, nói :

- Bá tước đại nhân. Bọn thuộc hạ đã thám thính rõ tình hình trong sơn cốc, nên quay ra bẩm báo với Bá tước đại nhân.

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg gật đầu bảo :

- Từ từ mà nói !

Hiệp sĩ Fränkische Schweiz còn chưa kịp bẩm báo thì Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch đã giành nói :

- Bá tước đại nhân. Địch quân tập trung ở phía trong sơn cốc, đang cố thủ chờ chết. Đại quân của chúng ta có thể tập trung lực lượng tiêu diệt bọn chúng.

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg đưa mắt nhìn Hiệp sĩ Fränkische Schweiz, gã liền vội gật đầu. Bọn họ vào trong sơn cốc thám thính, đụng độ với quân Trento, bị đánh bật trở ra. Do nhân số ít hơn nhiều nên bọn họ cũng không dám tiến vào sâu, chỉ quan sát sơ bộ tình hình rồi quay ra bẩm báo, chờ Bá tước đại nhân định đoạt. Bá tước Friedrich Martin de Augsburg nghe báo, trong lòng cao hứng, truyền lệnh :

- Tốt lắm. Đại quân tiến vào sơn cốc, tiêu diệt địch quân.

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg lúc này ‘hùng tư anh phát, khí thế phi phàm’, xem chừng thắng lợi đã nắm chắc trong tay. ‘Đại quân’ Bavaria dưới sự thống lĩnh của Bá tước hùng hổ tiến vào trong sơn cốc. Sau một hồi nghỉ ngơi, binh sĩ phần nào đã lấy lại sức, và khi nghĩ đến chiến lợi phẩm, ai nấy đều trở nên tích cực hơn.

Đi sâu vào giữa sơn cốc mà vẫn chưa thấy tung tích địch quân đâu, Bá tước Friedrich Martin de Augsburg quay sang hỏi Hiệp sĩ Fränkische Schweiz :

- Địch quân ở chỗ nào ?

Hiệp sĩ Fränkische Schweiz nói :

- Bá tước đại nhân. Qua khỏi khúc quanh phía trước có một khu rừng, địch quân ẩn náu bên trong khu rừng đó.

Bá tước Friedrich Martin de Augsburg gật đầu nói :

- Truyền lệnh của ta, toàn quân xung phong, toàn lực tiêu diệt địch quân. Chiến lợi phẩm tự ý xử lý.

- Xung phong !

‘Đại quân’ Bavaria toàn lực xung phong, do nghĩ đến ‘tương lai tươi sáng’, toàn thể binh sĩ tướng lĩnh đều tranh nhau chạy trước, bởi ai đi trước thì có cơ hội chiếm lấy chiến lợi phẩm nhiều hơn. Bá tước đại nhân đã cho phép tự ý xử lý chiến lợi phẩm kia mà. Ai giành được thì đương nhiên sẽ thuộc về người đó.

Đột nhiên …

Một tiếng pháo hiệu chấn động cả sơn cốc, rồi tiếng reo hò vang dậy đất trời. Tiếp đó là vô số gỗ đá từ hai bên vách núi ném xuống, vô số cung tên từ các hướng bắn ra, cùng với những tiếng kêu la gào khóc thảm thiết, liên miên bất tuyệt. Quân Bavaria đã rơi vào vòng phục kích.

Hai vạn quân Bavaria chen chúc nhau bên trong một đoạn hẹp của sơn cốc, hai đầu đã bị gỗ đá lấp kín, hai bên vách núi lại có vô số cung tên liên tục bắn xuống, nhất thời tổn thương thảm trọng. Nam tước Jürgen Kotzur de Reibisch bị một hòn đá to bằng nắm tay ném trúng đầu, rơi xuống ngựa, hôn mê bất tỉnh. Bá tước Friedrich Martin de Augsburg thì may mắn hơn, bản thân không sao, nhưng chiến mã thì bị trúng tên, hất văng Bá tước xuống đất, rồi được chúng thân binh bảo hộ nên Bá tước tạm thời vẫn còn an toàn. Bá tước vừa kinh vừa sợ, không ngừng quát tháo :

- Tản ra. Mau tản ra.

Bá tước cố gắng chỉ huy quân đội tổ chức phòng ngự. Chỉ đáng tiếc hình thế cực kỳ hỗn loạn, tiếng kêu la gào khóc, tiếng hò hét quát tháo vang dậy khắp nơi, không ai nghe Bá tước chỉ huy nữa. Chẳng mấy chốc là thanh âm của Bá tước bị nhấn chìm bởi vô số những thanh âm hỗn loạn khác. Trước tình cảnh đó, Bá tước chỉ còn biết ôm đầu tuyệt vọng, than thở :

- Thôi rồi ! Thôi hết rồi !

Vô số gỗ đá, cung tên từ hai bên vách núi bắn xuống như mưa, nhanh chóng nhấn chìm binh tướng Bavaria dưới sự tuyệt vọng vô biên. Không ngừng có người trúng gỗ đá, bất tỉnh. Không ngừng có người trúng tên, thương vong. Lại càng có nhiều người tử thương do giẫm đạp lẫn nhau. Tiếng kêu khóc vang vọng khắp sơn cốc, rất lâu không tản. Máu tươi nhiễm hồng cả mặt đất. Sơn cốc bị biến thành một chốn nhân gian địa ngục. Thật là :

Cờ mở gió bay,
Trống động trời lay.
Gió bắc ào ào,
Phục binh tứ phía.
Chủ tướng khinh địch,
Rơi vòng phục kích.
Dạ phải hãi hùng,
Mạng thành đê tiện.
Sơn cốc hoang vu,
Bóng người chen chúc.
Đường lối quanh co,
Núi non cao ngất.
Ngọn gió lạnh lùng,
Nắng chiều hiu hắt.
Tên bắn như mưa,
Máu tuôn đầy đất.

Giữa cảnh hỗn loạn đầy tuyệt vọng đó, quân Bavaria chợt nghe bốn phía có nhiều tiếng hô vang :

- Đầu hàng tha chết. Đầu hàng tha chết.

Tiếp đó, đối phương tạm thời ngừng tấn công. Quân đội Bavaria là quân nông dân, hay nói rõ hơn chính là nông dân mới bỏ cuốc cày, tay vẫn chưa quen cầm vũ khí, nên chẳng có sĩ khí hay lòng trung thành gì đáng kể, giữa cảnh tuyệt vọng này, thấy có cơ hội sinh tồn liền đua nhau ném bỏ vũ khí, giơ tay xin hàng. Sau cùng, đến ngay cả các tướng lĩnh và Hiệp sĩ cũng hạ vũ khí đầu hàng. Bị rơi vào đường cùng thế này, bọn họ có muốn chống cự cũng chỉ uổng mạng vô ích. Đối phương chỉ ở trên hai bên vách núi ném gỗ đá hay bắn tên xuống chứ có chịu cùng bọn họ giao chiến đâu. Bọn họ có muốn dùng mạng đổi mạng cũng không được.

Phụ trách dụ địch là quân đội Trento, còn phụ trách phục kích là quân đội Latium. Khi thấy đối phương đã hạ vũ khí đầu hàng, liên quân Latium – Trento liền rời chỗ phục kích, xuống tiếp thu hàng binh, giải quyết chiến trường. Đáng thương cho quân đội nông dân Bavaria, mới trở thành binh sĩ chưa bao lâu, tay vẫn chưa cầm chắc vũ khí thì đã biến thành tù binh. Kiểm điểm chiến quả, quân Bavaria tử trận hơn 5.000 người, thọ thương hơn vạn, chỉ có chưa đến 3.000 người là còn lành lặn.

Người đông thế mạnh, liên quân Latium – Trento chỉ mất một ngày để xử lý chiến quả. Hôm sau, liên quân rời sơn cốc, áp giải tù binh và chiến lợi phẩm quay về cùng đại quân. Theo ý của Đinh An Bình, tù binh thì liên quân phải giao nộp lên, còn chiến lợi phẩm thì bọn họ có thể tự chia nhau. Tuy là quân nông dân, tài sản không có gì nhiều (nếu không muốn nói là không có gì), nhưng ai cũng có vũ khí, mà vũ khí có thể chuyển thành tiền; đặc biệt là chiến mã, khôi giáp của các Hiệp sĩ thì lại càng đáng giá.

Mấy ngày sau, đại quân hội họp, áp sát Salzburg, thủ phủ của lĩnh địa. Lúc này, 2 vạn quân Áo và 1 vạn quân Bohemia đã hội họp ở đấy. Khi hay tin đạo viện quân Bavaria đã toàn diệt, cả bọn chấn động, không dám xuất thành ứng chiến, chỉ cố thủ trong thành rồi gửi thư về Công tước Áo và Hoàng đế Sigismund de Luxembourg (kiêm quốc vương Bohemia) xin thêm viện binh. Dùng 3 vạn quân ô hợp (không ít là nông dân mới bị trưng tập) chống lại hơn 20 vạn quân tinh nhuệ của đối phương, ngay cả bọn họ cũng không dám tự tin có thể kháng cự nổi, đừng nói là phải đánh lui đối phương.

Liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento đến dựng doanh trại phía ngoài thành bảo thủ phủ của Salzburg. Đinh An Bình gọi George I de Trento đến, hỏi :

- Liên hệ với Eberhard III de Neuhaus thế nào rồi ?

George I de Trento nói :

- Đại vương yên tâm. Mọi sự đâu vào đấy cả rồi. Ông ấy đã sẵn sàng phối hợp đại quân.

Đinh An Bình mỉm cười nói :

- Tốt lắm. Lần này ngươi hãy cố lập nhiều quân công. Bản vương sẽ tâu với Thánh hoàng sát nhập Tyrol vào Trento để thành lập một tân vương quốc.

Lĩnh thổ của Tyrol và Trento hợp lại đã lớn hơn cả Sicily và Sardinia, gấp 3 lần Corsica. Ba xứ đó còn là vương quốc được thì tân Trento cũng có thể thành lập vương quốc. George I de Trento nghe nói cả mừng, vội nói :

- Đại vương yên tâm. Quân đội Trento sẽ hết lòng giúp Đế quốc chinh phạt nghịch tặc.

Ở Âu châu, có gì sung sướng hơn khi có thể trở thành quốc vương. Ngôi vị quốc vương không chỉ đại biểu cho quyền lực, mà còn là một loại vinh dự, tượng trưng cho thân phận. Ở Âu châu, công tước, hầu tước, thậm chí vương tử, thân vương vô số, nhưng có mấy ai có thể trở thành quốc vương. Thời Trung Cổ, nhiều vương tử, đại công tước ở Đế quốc La – Đức muốn trở thành quốc vương, nhưng phải chờ đến khi quyền lực của các Thánh Hoàng đế suy yếu, mới có thể dùng uy bức lợi dụ, ép buộc Thánh Hoàng đế phong cho mình làm quốc vương, mà cũng không có mấy người thành công. Quốc vương, vương quốc khi đối diện công tước, công quốc tự nhiên có được tiên thiên ưu thế, giống như người Trung Hoa có câu “Quan đại nhất cấp áp tử nhân”.

An phủ George I de Trento đang tâm tình kích động, Đinh An Bình trao cho lão một chiếc túi gấm, nói :

- Cứ theo đó thi hành.

Sau đó, Đinh An Bình lại truyền lệnh cho binh sĩ nghỉ ngơi dưỡng sức, chuẩn bị cho đại chiến.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
30-12-2010, 05:13 AM
Chương 107 : CHIẾN DỊCH SALZBURG (4)


Salzburg. Hohensalzburg thành bảo.

Hohensalzburg trong tiếng Đức có nghĩa là ‘Salzburg cao’ (High Salzburg). Hohensalzburg thành bảo (Hohensalzburg Castle) nằm trên đỉnh Festungsberg, với chiều dài 250 mét và chiều rộng 150 mét, là một trong những thành bảo lớn nhất Âu châu thời Trung Cổ (đến nay vẫn còn di tích ở Salzburg, Áo; năm 1977, nhân kỷ niệm 900 năm Hohensalzburg, Áo có phát hành đồng tiền xu in hình Hohensalzburg thành bảo). Ngay cả Tử Cấm Thành Bắc Kinh cũng chỉ dài 961 mét, rộng 753 mét, trong khi Salzburg chỉ là một lĩnh địa nhỏ phụ thuộc vào đại lĩnh địa Bavaria thuộc Đế quốc La – Đức (tính ra Salzburg chỉ tương đương châu phủ ở Trung Hoa, dưới cả cấp tỉnh), bởi vậy mà Hohensalzburg thành bảo có diện tích như thế đã là rất rộng lớn. Đây cũng chính là nơi đóng trụ sở của chính quyền lĩnh địa Salzburg, là nơi ở của các quan chức quý tộc Salzburg và quý tộc tướng lĩnh do Bavaria phái đến, đồng thời cũng là nơi cố thủ cuối cùng của bọn họ. Bên ngoài, đại quân đối phương tràn ngập khắp nơi. Vì vậy mà liên quân Áo – Bohemia đã rút về đây cố thủ chờ viện binh. Đạo quân Bavaria đã bị đánh bại, đầu hàng mất rồi, nên giờ đây liên quân Áo – Bavaria – Bohemia thiếu mất quân đội Bavaria.

Liên quân Áo - Bohemia có 3 vạn người, chỉ là đạo tiên phong, có nhiệm vụ làm chậm bước tiến của đối phương, để các vị Công tước có thời gian chinh binh. Tất cả mọi người, không ai dám tin rằng chỉ sử dụng vài vạn quân có thể chống nổi liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento. Ngay cả tạm thời ngăn chặn cũng không thể nào ! Các vị Công tước chỉ hy vọng đạo tiên phong có thể làm chậm bước tiến của đối phương mà thôi.

Trong Hohensalzburg thành bảo, những người lĩnh đạo liên quân gồm quý tộc, quan chức, tướng lĩnh, Hiệp sĩ thủ lĩnh, … đã hội họp bàn bạc kế sách. Nhiệm vụ của bọn họ là làm chậm bước tiến của đối phương. Nhưng trước tình hình hiện tại, bọn họ đã bị buộc phải cố thủ ở đây, đối phương chỉ cần để lại vài vạn quân bao vây thành bảo, rồi vẫn có thể tiếp tục tiến quân. Đó là chưa nói đến việc đối phương đại cử tấn công, bọn họ cũng không tin rằng có thể cố thủ thành công. Nếu thế thì nhiệm vụ của bọn họ xem như đã thất bại rồi. Nghĩ đến tính cách tàn bạo, nóng giận thất thường của Công tước Ernest de Autriche Intérieure, Hầu tước Kultur de Klagenfurt chỉ huy đạo quân Áo không khỏi rùng mình lo lắng nói :

- Chúng ta phải làm sao để buộc địch quân tạm hoãn công thành. Mọi người có chủ ý gì không ?

Công tước Ernest de Autriche Intérieure (tiếng Đức : Ernst der Eiserne, tức Ernest xứ Nội Áo) là nhiếp chính cho Công tước Albert IV de Habsbourg của công quốc Áo (lúc này đã 20 tuổi). Công quốc Áo bấy giờ bao gồm các lĩnh địa Autriche (tức Austria hay Áo), Styria, Carinthia, Carniola và Tyrol; trong đó các xứ Styria, Carinthia và Carniola gọi chung là Nội Áo. Các lĩnh địa của Công tước Ernest de Autriche Intérieure chiếm đến hơn một nửa lĩnh thổ của công quốc Áo, do đó mà Công tước Ernest de Autriche Intérieure quyền khuynh cả nước, vẫn giữ quyền nhiếp chính mặc dù Công tước Albert IV de Habsbourg đã lớn.

Lo lắng của Hầu tước Kultur de Klagenfurt cũng là lo lắng chung của mọi người, bởi một khi thành bảo thất thủ thì số phận những người ở đây đều như nhau cả, không tử trận cũng sẽ trở thành tù binh. Bá tước Bände de München của quân Bohemia nói :

- Ta nghĩ ... chúng ta nên phái những tiểu đội cảm tử đi quấy nhiễu địch quân, đốt phá doanh trại, chặn đường cướp lương chẳng hạn !

Bá tước Geschichte de Regensbg thuộc Bavaria tán thành :

- Phải đó. Địch quân quá đông, mỗi ngày tiêu hao rất nhiều lương thực. Chỉ cần chúng ta cắt đứt, à không, chỉ cần phá hoại đường vận lương của địch quân, khiến địch quân thiếu lương, sẽ không còn khả năng công thành nữa.

Hầu tước Kultur de Klagenfurt khen phải nói :

- Đúng. Chúng ta chỉ cần phái các tiểu đội cảm tử xuất thành, đối chúng ta không ảnh hưởng nhiều đến khả năng thủ thành, nhưng lại gây khó khăn cho địch quân, thật là phương pháp hay.

Bá tước Geschichte de Regensbg nói thêm :

- Chỉ cần nửa tháng, chỉ cần nửa tháng thôi thì viện quân sẽ đến.

Bá tước Bände de München lại nói :

- Ta còn có ý này ... không biết ...

Mọi người chụm đầu lại, nghe Bá tước Bände de München thì thầm một hồi, rồi Hầu tước Kultur de Klagenfurt vỗ bàn nói :

- Hay. Cứ làm như thế.

Những người khác cũng đồng thanh tán thành. Tiếp đó, mọi người lập tức trở về nơi đóng quân, khẩn trương tuyển mộ cảm tử quân để thi hành kế hoạch.



Doanh trại của liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento. Soái trướng.
Đinh An Bình nghe viên tùy tướng của mình là Lý Tuấn Thuần bẩm báo xong, ngạc nhiên nói :

- Bị cướp lương ? Có kẻ dám chặn đường cướp lương ?

Lý Tuấn Thuần cung kính đáp :

- Vâng ạ. Chỉ trong một ngày đã xảy ra liên tiếp ba vụ.

George I de Trento lo lắng hỏi :

- Có thiệt hại gì không ?

Lý Tuấn Thuần nói :

- Đại vương rất coi trọng lương thảo, phái đại quân hộ lương, làm sao xảy ra chuyện được. Hơn nữa, đối phương mỗi nhóm chỉ có vài trăm người, tiểu đả tiểu náo thì được, đối diện 1 vạn quân tinh nhuệ, trong đó có đến 3.000 kỵ binh, thì còn làm nên việc gì !

Đinh An Bình nói :

- Xem ra đối phương định quấy nhiễu quân ta, để quân ta không còn rảnh rang công thành đây mà. Thật ra thì bọn chúng không làm thế, bản vương cũng chưa có ý định công thành lúc này.

George I de Trento hỏi :

- Đại vương cho rằng do quân Áo làm ?

Đinh An Bình nói :

- Đương nhiên. Bọn chúng không tự tin có thể cố thủ thành công, nên bày ra trò này đây mà.

Lý Tuấn Thuần lại nói :

- Khải bẩm đại vương. Địch quân sau khi cướp lương thất bại, bị truy sát, không chạy về phía Salzburg mà chạy về phía nam. Kỵ binh của quân ta đuổi đến biên giới với Venice rồi thôi. Chưa có lệnh của đại vương, kỵ binh không dám tiến vào Venice.

Đinh An Bình hỏi :

- Bọn chúng chạy vào bên trong lĩnh thổ Venice ?

Lý Tuấn Thuần đáp :

- Vâng ạ. Địch quân có 3 đội thì 1 đội bị tiêu diệt hoàn toàn, còn lại tàn binh của 2 đội kia chạy thoát được vào lĩnh thổ Venice.

Đinh An Bình hai mắt sáng lên, đột nhiên vỗ bàn, ra vẻ tức giận nói :

- Bọn Venice này thật to gan mà. Bản vương đã định tha cho bọn chúng. Nào ngờ bọn chúng còn dám cấu kết với quân Áo, cướp lương của quân ta. Thật là đáng chết !

George I de Trento ngạc nhiên hỏi :

- Đại vương cho rằng Venice và Áo có cấu kết ?

Đinh An Bình nhìn lão, mỉm cười nói :

- Bọn chúng thật sự có cấu kết hay không thì không quan trọng, miễn là có chứng cứ chứng minh bọn chúng có cấu kết là được rồi.

Đinh An Bình còn không nói thêm câu nữa : “Chỉ cần bản vương bảo có cấu kết tức là có cấu kết, còn chứng cứ, muốn có bao nhiêu mà chẳng được”. Thời buổi này, phần đúng luôn luôn nằm trong tay kẻ mạnh hơn. Giống như các trận quyết đấu giữa các Hiệp sĩ ở thời này, bất kể ai đúng ai sai, sau khi quyết đấu xong, phần đúng luôn luôn thuộc về kẻ thắng. Đó cũng là một trong những ảnh hưởng của phong khí Hiệp sĩ thời Trung cổ.

George I de Trento nghe nói, gật gù tỏ ý hiểu. Lão dù sao cũng là một Giám mục, từng đi nhiều nơi truyền giáo, tiếp xúc với nhiều hạng người, kiến thức không hạn hẹp như những quý tộc bình thường. Đinh An Bình lại bảo :

- Ngươi thông tri cho phía Venice biết, hạn trong ba ngày phải giao nộp nghịch tặc và tuyên bố tuyệt giao với Đế quốc La – Đức. Nếu không, bản vương sẽ phái quân vào Venice bắt giặc. Lời lẽ phải thật cứng rắn.

George I de Trento vâng dạ, lập tức đi lo việc tiếp xúc với phía Venice. Lão biết Đinh An Bình cần có cớ để phái quân tiến vào Venice, nên cần phải tiến hành các động tác cần thiết để giành phần phải về phía mình, ít ra cũng trên danh nghĩa. Bản thân George I de Trento cũng không ưa gì Venice. Lĩnh địa Trento nằm ngay bên cạnh nước cộng hòa Venice, có ba mặt bị Venice bao bọc, chỉ có phía bắc giáp với Tyrol. Hai nơi lại thuộc về hai chính thể khác nhau : Trento – phong kiến giáo quyền và Venice – cộng hòa nghị viện. Venice lại luôn tìm cách thôn tính Trento giống như Áo vậy. Venice lại là cường quốc hải quân ở Âu châu (trước khi Thần Thánh Đế quốc đến đây), nên người Venice rất kiêu ngạo, bình thường chẳng xem người Trento vào đâu, còn khó ưa hơn cả Áo. Do đó, sớm giải quyết Venice thì cũng như giúp Trento giải quyết một mối tâm phúc đại họa. Còn việc Venice bị sát nhập vào Latium, Latium còn hùng mạnh hơn Venice nhiều, George I lại không sợ. Thứ nhất, Latium bản thân đã rất hùng mạnh, có hay không có thêm Venice cũng vậy. Thứ hai, George I de Trento và Long nhi rất thân thiết, từng cùng nhau đi đến Gia Định kia mà. Thứ ba, và quan trọng nhất, George I de Trento đã từng đi đến Gia Định, là vị quân chủ Âu châu đầu tiên đến Gia Định, và địa vị đã được Giang Phong công nhận. George I de Trento tin rằng chỉ cần thân cận Thần Thánh Đế quốc, thân cận bọn Đinh An Bình, địa vị của mình sẽ vững như bàn thạch. Lão còn cảm thấy cư xử với Đinh An Bình, với Thần Thánh Đế quốc còn dễ chịu hơn với Hoàng đế và các Công tước của Đế quốc La – Đức (vốn có hiềm khích với giáo hội).



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
31-12-2010, 12:07 AM
Chương 108 : SỰ BIẾN VENICE


Tuy trước đây Trento là một bộ phận của Đế quốc La – Đức, George I de Trento về danh nghĩa là thần tử của Hoàng đế Đế quốc La – Đức, nhưng George I de Trento bản thân còn là một vị Giám mục, thuộc về Giáo hội Công giáo La Mã vốn có hiềm khích với Hoàng đế Đế quốc La – Đức (tranh chấp xem Pope và Saint Emperor ai có địa vị cao hơn). Trước đây, Trento và Salzburg là hai lĩnh địa lớn của Giáo hội ở khu vực phía đông. Nhưng Salzburg đã bị Bavaria thuộc phe Hoàng đế Đế quốc La – Đức thôn tính. Trento lại bị công quốc Áo của nhà Habsbourg uy hiếp, có nguy cơ bị xâm chiếm. George I de Trento phải tìm mọi cách bảo vệ lĩnh địa của mình cũng như của giáo hội, không thể để mất giống như Salzburg. Giáo hội mất đi các lĩnh địa, thế lực sẽ ngày càng yếu. Đó là điều mà George I de Trento không muốn xảy ra.

Tình cảnh của Trento và Salzburg lại khá giống nhau. Salzburg bị các công quốc Bavaria và Áo bao bọc, sau bị sát nhập vào Bavaria (đến sau chiến tranh thế giới thứ hai lại bị sát nhập vào Áo). Trento thì ba mặt bị cộng hòa Venice bao bọc, phía bắc giáp Tyrol thuộc Áo. George I de Trento vì muốn bảo toàn lĩnh địa, đã xoay sở rất nhiều cách, cuối cùng còn tự mình đi đến Gia Định tầm cầu hỗ trợ. Lúc bấy giờ, Giáo hội Công giáo La Mã đang trong cuộc Ly giáo, cùng một lúc có đến 3 Đức Thánh Cha (Papal hay Pope), mà vị nào cũng có ít nhiều quân vương ủng hộ, khiến giáo hội bị chia rẽ, là thời kỳ buồn thảm nhất của giáo hội, còn nghiêm trọng hơn cả thời kỳ Đại Ly Giáo. Cuộc Đại Ly Giáo có nguyên nhân chủ yếu là sự khác biệt giữa cách truyền giáo, giải thích kinh nghĩa (dù sao thì trên danh nghĩa cũng là như thế). Còn cuộc Ly giáo lần này hoàn toàn là do quyền lợi thế tục, không liên quan gì đến giáo nghĩa. Bản thân là một vị Giám mục, George I de Trento cảm thấy rất đau lòng. Lão còn nhìn thấy sở dĩ có cuộc Ly giáo là do có sự hậu thuẫn của các quân vương, để làm cia rẽ, suy yếu giáo hội. Hai vị ngụy giáo chủ (Antipope) : Benedictus XIII của Avignon được Pháp Lan Tây ủng hộ, và John XXIII của Pisa được Đế quốc La – Đức ủng hộ. Chỉ có Đức Thánh Cha Gregorius XII là được dân Roma ủng hộ (được công nhận là chính thống).

Do vậy, khi giao thiệp với Venice, George I de Trento có thái độ rất cứng rắn. Khi sứ giả của Venice biện bác :

- Những kẻ cướp lương đó không phải do chính phủ cộng hòa Venice sai khiến.

George I de Trento đã nói :

- Lấy gì để chứng minh. Chúng ta chỉ thấy bọn chúng chạy vào lĩnh thổ Venice, và Venice đã để mặc cho bọn chúng ẩn náu trên lĩnh thổ của mình.

Sứ giả của Venice cố biện bác :

- Cộng hòa Venice là một quốc gia tự do dân chủ, mỗi ngày có biết bao nhiêu người ra vào biên giới, chính phủ không thể kiểm soát hết được.

Bản thân là một quân chủ, George I de Trento rất không ưa sự tự do dân chủ theo kiểu Venice (dân chủ, nhưng ‘dân’ ở đây chỉ là một số ít quý tộc, gần giống kiểu quyền thần tiếm quyền của vua ở phương đông). Do vậy, George I de Trento lạnh lùng nói :

- Đó chỉ là một cách chối cãi không mấy thuyết phục. Mỗi quốc gia đều phải chịu trách nhiệm trên lĩnh thổ của mình. Chúng ta có đầy đủ lý do để tin rằng Venice và Áo đang câu kết chống lại liên quân chúng ta. Do đó, chúng ta sẽ có cách đối phó thích hợp.

Sứ giả của Venice tái mặt, cãi :

- Nhưng …

George I de Trento xua tay nói :

- Không nhưng nhị gì cả. Đại vương đã ra tối hậu thư, ta cũng đã thông báo cho các ngươi. Các ngươi chỉ cần trả lời có thực hiện hay không mà thôi. Đến kỳ hạn, nếu các ngươi không giao người, không tuyên bố tuyệt giao với Đế quốc La – Đức, chúng ta sẽ xem các ngươi là đồng bọn của bọn chúng, và liên quân sẽ tiến vào Venice.

Sứ giả của Venice cố nói :

- Nhưng … Giám mục đại nhân. Chúng ta thật sự không có câu kết với Áo, không có sai người cướp lương, cũng không biết bọn chúng lúc này ở đâu. Chúng ta làm sao giao người.

George I de Trento cười nhạt nói :

- Được rồi. Cứ xem như lời giải thích của các ngươi tạm chấp nhận được đi. Các ngươi đã không thể kiểm soát được lĩnh thổ của mình, để cho nghịch tặc hoành hành. Vài ngày nữa, liên quân sẽ tiến vào Venice, giúp các ngươi giải quyết nghịch tặc. Còn khi đó quân đội của chúng ta lỡ có giải quyết Venice giống như đã từng giải quyết Genoa. Sau đó chúng ta chỉ cần giải thích : “Chúng ta không có ra lệnh làm vậy, đó là do thủ hạ tự ý làm, nhưng bọn chúng trốn đâu mất rồi, chúng ta cũng không biết bọn chúng lúc này ở đâu, các ngươi đành chịu vậy”. Cách xử lý đó chắc hợp ý các ngươi chứ ?

Sứ giả của Venice cả kinh thất sắc, định cố nói thêm, nhưng George I de Trento đã xua tay bảo :

- Đủ rồi. Người đâu. Tiễn khách.

Sau đó lão phất tay áo, đi vào trong, để lại sứ giả của Venice vẫn còn sững sờ thất thần ở đó.

Chẳng bao lâu sau, cả Venice chấn động. Thái độ cứng rắn của George I de Trento khiến dân chúng Venice cả kinh thất sắc. Giới quý tộc Venice thì biết rằng đối phương dĩ công mưu tư, trả thù việc bị áp bức khinh thường ngày trước. Nhưng việc những kẻ cướp lương của liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento chạy trốn vào lĩnh thổ Venice có rất nhiều người trông thấy, là sự thật không thể chối cãi được. Bọn họ đoán rằng phía Áo định lôi Venice vào cuộc cùng chống lại liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento, nên mới vu oan giá họa. Do đó ai nấy đều mắng chửi chủ tớ Công tước Ernest de Autriche Intérieure không tiếc lời. Nhưng có mắng chửi cũng không ích gì, tình hình đã vậy, bọn họ chỉ đành một mặt truy lùng bọn cướp lương, một mặt điều quân phòng thủ biên giới, đồng thời còn ra lệnh phong tỏa biển Adriatic.

Trong lúc giới quý tộc cầm quyền ở Venice đang rối lên lo cách ứng phó thì dân chúng Venice trở nên hỗn loạn. Mọi người một mặt trách chính phủ gây hấn với liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento, một mặt lo di tản khỏi Venice. Không ai muốn phải chịu hậu quả giống như dân Genoa đã từng phải chịu mấy tháng trước. Một số chạy sang Trento ở phía bắc hay Milano ở phía tây, nhưng có rất nhiều người chạy sang Papal State ở phía nam. Còn chạy sang Carinthia và Carniola thuộc Áo ở phía bắc và phía đông … không ai nghĩ đến. Ở Áo hiện đang có chiến tranh, chạy sang đó chẳng khác nào tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa.

Chỉ trong vài ngày, đại bộ phận dân chúng Venice đã di tản thành công sang các lĩnh địa lân cận an toàn hơn. Đa số thương nhân và những người giàu có phi quý tộc đều đi sang Milano, bởi chính sách ở Latium rất thích hợp với bọn họ, nhiều người còn hy vọng từ đó có thể đi sang Thần Thánh Đế quốc. Còn phổ thông dân chúng đại bộ phận đi xuống Papal State, chỉ có chưa đến 1 phần 5 là đi sang Trento. Tuy kỳ hạn của tối hậu thư đã qua từ lâu, nhưng liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento chỉ mới di chuyển về phía nam, chưa tiến vào Venice. Đinh An Bình cố ý dành thời gian cho dân chúng Venice di tản. Còn giới quý tộc Venice, thật đáng tiếc cho bọn họ, quân đội liên quân đã phong tỏa biên giới với Áo, Trento và Milano, đồng thời thông tri với Papal State không tiếp nhận bọn họ quá cảnh. Ngoài khơi Venice cũng đã xuất hiện chiến hạm của Hắc Long Hạm đội. Do vậy, bọn họ không thể chạy đi đâu được. Cho đến lúc này, ở Venice chỉ còn lại giới quý tộc, quân đội Venice và một số ít dân chúng ủng hộ bọn họ. Cũng giống như ở Genoa, quân đội Venice đa phần là lính đánh thuê, chỉ cần trả tiền là bọn họ sẵn sàng liều mạng.

Ở Salzburg, sau khi nghe báo về tình hình Venice, Đinh An Bình đã phái 3 đạo quân Uy Tiệp, Long Tiệp, Chiêu Viễn, cùng với 1 vạn quân Latium, tổng cộng 10 vạn quân cùng tiến vào Venice. Trong Salzburg thành bảo chỉ có 3 vạn quân ô hợp, để lại 10 vạn quân cũng đủ ứng phó rồi.

Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.519 (Đinh Dậu, 1417). Mùa hạ, tháng 4.

Ngày 18, mệnh lệnh truyền xuống, 10 vạn liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium rầm rộ vượt qua biên giới, tiến vào lĩnh thổ Venice. Sau một trận giao chiến chớp nhoáng, 5.000 lính đánh thuê của Venice hạ vũ khí đầu hàng. Tàn quân Venice từ các nơi rút về thành phố cố thủ.

Ngày 24, liên quân bao vây thành phố. Hạm đội Venice đã bị tiêu diệt từ trước. Vùng biển Venice hoàn toàn do các chiến hạm của Hắc Long Hạm đội kiểm soát.

Ngày 26, thần công đại pháo từ các chiến hạm nã pháo vào thành phố, báo hiệu cuộc tấn công bắt đầu. 10 vạn đại quân của liên quân còn đông hơn toàn thể quân dân trong thành phố nhiều lần. Cuộc tấn công chỉ diễn ra đến chiều thì thành phố thất thủ. Cộng hòa Venice chính thức chung kết. Hắc Long Hạm đội được lệnh phái chiến hạm đi tiếp quản các thuộc địa của Venice trong Địa Trung Hải và Hắc Hải, cũng giống như đã từng làm với Genoa trước đây. Sau đó, do Venice không còn dân, không cần trú quân, nên đại quân lại hành quân về Salzburg chuẩn bị cho cuộc chiến với liên quân các công quốc của Đế quốc La – Đức.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
01-01-2011, 07:13 AM
Tân niên khoái lạc, phúc lộc thọ tường.
Xuân vương như ý, thịnh vượng an khang.


Chương 109 : SALZBURG ĐẠI HỘI CHIẾN (1)


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.519 (Đinh Dậu, 1417). Mùa hạ, tháng 4.

Do sự biến Venice diễn ra, Hohensalzburg thành bảo đã cầm cự được hơn nửa tháng trong yên bình mà không bị tấn công. Chỉ tiêu mà bọn Hầu tước Kultur de Klagenfurt, Bá tước Geschichte de Regensbg và Bá tước Bände de München đã hoàn thành trên cả mong đợi. Bọn họ đã cầm cự được cho đến khi viện quân đến nơi.

Lần này, không chỉ có quân đội của các công quốc thuộc Đế quốc La – Đức, mà còn có quân đội vương quốc Hungary cùng tham chiến. Thật ra thì trong thời kỳ này, Đế quốc La - Đức và vương quốc Hungary tuy 2 mà 1. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg của Đế quốc La – Đức lại là phu quân của nữ vương Mary de Hungary của vương quốc Hungary, thuộc nhà Anjou – Hungary, một trong số các phân chi của nhà Anjou (House of Anjou), chủ nhân của các triều đại Angevin.

Nhà Anjou là gia tộc danh giá nhất Âu châu thời Trung Cổ, là chủ nhân của các triều đại Angevin lừng lẫy. Các phân chi của nhà Anjou làm quân vương, Hoàng đế khắp các Đế quốc, vương quốc, công quốc, và vô số lĩnh địa từ Tây Âu cho đến Đông Âu, từ Bắc Âu cho đến Nam Âu. Chỉ đáng tiếc nhà Anjou không thống nhất, và các phân chi còn thường thù địch lẫn nhau, tranh giành lĩnh địa của nhau bằng cả chiến tranh. Các triều đại Angevin của nhà Anjou được các sử gia hiện đại chia thành 3 giai đoạn :

1. Triều đại Angevin đầu tiên (the first Angevin dynasty) : bắt đầu từ Bá tước Geoffrey V de Anjou đến Quốc vương John of England. Sau đó dòng này được gọi là triều đại Plantagenet, kể từ Henry III of England cho đến Richard II of England. Rồi dòng này lại chia làm 2 trong cuộc chiến tranh Hoa Hồng :

• Nhà Lancaster : con cháu của John of Gaunt, Công tước xứ Lancaster.

• Nhà York : con cháu của Edmund of Langley, Công tước xứ York.

Triều đại này sở hữu các tước hiệu : Quốc vương Anh Cách Lan, lĩnh chủ xứ Ái Nhĩ Lan, Vương tử xứ Wales, Công tước xứ Aquitaine, Công tước xứ Normandy, Công tước xứ Brittany, Bá tước xứ Anjou, Bá tước xứ Maine, Bá tước xứ Poitou, lĩnh chủ xứ Cyprus, và trên danh nghĩa quốc vương Pháp Lan Tây, Jerusalem, Sicily, Castile, và Roma.

2. Triều đại Angevin thứ hai (the second Angevin dynasty) : bắt đầu từ Charles I de Napoli (sau khi nhà Plantagenet thành lập ở Anh Cách Lan), cai trị vùng đất chính của nhà Anjou – lĩnh địa tự trị Anjou (là chư hầu của quốc vương Pháp Lan Tây nhưng có quyền tự trị rất rộng rãi, có thể xem gần như là một công quốc độc lập, nhiều bản đồ còn vẽ lĩnh địa của nhà Anjou tách biệt với Pháp Lan Tây, với màu sắc khác hẳn để phân biệt), cùng với các vương quốc Hungary (thời Trung Cổ gồm cả Croatia, Slovakia, Rumani), Jerusalem, Sicily, Napoli, Ba Lan, và nhiều lĩnh địa ở Pháp Lan Tây, Đế quốc La – Đức. Dòng này trừ chi trưởng Anjou – Maine, còn có 4 phân chi :

• Nhà Anjou – Hungary : bắt đầu từ Charles Martel de Anjou, cai trị các vương quốc Hungary (1308 - 1385 và 1386 - 1395) và Ba Lan (1370 - 1399).

• Nhà Anjou - Napoli : bắt đầu từ Công tước Charles de Calabria.

• Nhà Anjou - Taranto : bắt đầu từ Philippe I de Taranto, cai trị Đế quốc Latin (1313 - 1374) ở Constantinople.

• Nhà Anjou – Durazzo : bắt đầu từ Công tước Jean de Durazzo, cai trị Napoli (1382 – 1435) và Hungary (1385 – 1386, chiếm ngôi của nhà Anjou - Hungary).

Triều đại này sở hữu các tước hiệu : Bá tước xứ Anjou, Bá tước xứ Provence, Quốc vương Sicily, Quốc vương Napoli, Quốc vương Hungary, Quốc vương Ba Lan, Hoàng đế của Constantinople, Quốc vương Albania, Vương tử xứ Achaea, nhà độc tài của Epirus.

3. Triều đại Angevin thứ ba (the third Angevin dynasty) : tức dòng Anjou – Maine (còn gọi là Anjou – Valois, do có họ hàng với Quốc vương Pháp Lan Tây thuộc nhà Valois), bắt đầu từ Louis I de Anjou, cai trị các lĩnh địa ở Pháp Lan Tây và Italy (Réne de Anjou làm quốc vương Napoli, gồm toàn bộ phần đất phía nam Roma).

Các tước hiệu của triều đại này gồm có : Công tước xứ Anjou, Bá tước xứ Maine, Bá tước xứ Provence và Forcalquier, Quốc vương Napoli, Công tước xứ Touraine, Công tước xứ Lorraine, Công tước xứ Bar, Công tước xứ Calabria, Bá tước xứ Piedmont, Bá tước xứ Roucy, Bá tước xứ Étampes, Bá tước xứ Gien, Bá tước xứ Giuse, Bá tước xứ Mortain, và trên danh nghĩa là quốc vương Sicily, Jerusalem, Cyprus, Aragon.

Rõ ràng là nhà Lancaster và nhà Anjou - Maine thuộc hai phe đối địch nhau trong cuộc ‘chiến tranh trăm năm’. Nhà Anjou – Maine và nhà Anjou – Durazzo đánh nhau giành ngôi Quốc vương Napoli; hoặc nhà Anjou – Durazzo và nhà Anjou – Hungary đánh nhau giành ngôi Quốc vương Hungary; thậm chí trong nhà Plantagenet vì tranh ngôi Quốc vương Anh Cách Lan mà chia thành 2 nhà Lancaster và York, … Tóm lại, nếu tính về tổng lĩnh thổ do nhà Anjou kiểm soát thì rất rộng lớn, nhưng lại phân tán thuộc nhiều phân chi độc lập, thậm chí thù địch nhau.

(tham khảo tại : http://en.wikipedia.org/wiki/Category:House_of_Anjou)

Trong số các phân chi, chỉ có nhà Anjou – Maine vì cai quản phần đất gốc của tổ tiên, nên có thân phận đặc thù, có quan hệ tương đối tốt với các phân chi khác. Theo đúng lịch sử, trong cuộc ‘chiến tranh trăm năm’, quân Anh tấn công khắp nơi trên đất Pháp, từ bắc đến nam, đến tận Aquitaine ở giáp giới với Aragon (nay là Tây Ban Nha), nhưng tránh Anjou. Hoặc Louis III de Anjou (tức Long nhi) là con nuôi của nữ vương John II de Napoli thuộc nhà Anjou – Durazzo (để được thừa kế ngôi quốc vương Napoli), lại có em gái Marie de Anjou là ‘queen consort’ của Pháp và cháu gái Margaret de Anjou (con của Réne de Anjou) là ‘queen consort’ của Anh. ‘Queen consort’ đại khái có thể dịch là vương hậu thừa kế, là người có quyền thừa kế ngai vàng khi quốc vương qua đời mà không có con nối dõi, hoặc sẽ có quyền nhiếp chính khi con còn nhỏ, thậm chí còn có thể giúp quốc vương xử lý chính sự. Không phải vị vương hậu nào cũng có tước hiệu ‘queen consort’. Tương tự là ‘king consort’ cho phu quân của nữ vương. Ngoài ra, trong cuộc ‘chiến tranh trăm năm’, Thái tử Charles VII de Française được nhà Anjou nuôi dưỡng để khỏi chết như hai người anh của mình (là những Thái tử trước đó). Yolande de Aragon, mẹ của Louis III de Anjou, người nuôi dạy Thái tử Charles VII de Française cùng với các con của mình, đã từng trả lời khi triều đình Pháp Lan Tây yêu cầu đón Thái tử về triều : “Chúng ta không nuôi dạy cậu ấy để làm cho cậu ấy chết như các anh em của mình, hoặc điên loạn như cha của mình, hoặc trở thành người Anh như các người. Ta giữ cậu ấy ở lại đây với ta. Cứ đến và đón cậu ấy đi, nếu như các người dám”.

Vì vậy, cuộc chiến ở Salzburg giữa liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento và liên quân Đế quốc La - Đức – vương quốc Hungary, cũng có thể xem là cuộc tranh chấp giữa các phân chi trong nhà Anjou, với một bên là Long nhi (nhà Anjou – Maine) và bên kia là vợ chồng Hoàng đế Sigismund de Luxembourg và nữ vương Mary de Hungary (nhà Anjou – Hungary). Trên danh nghĩa, liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento phát động chiến tranh vì cuộc tranh chấp ngai vàng ở Napoli. Công quốc Áo bị họa lây vì có quan hệ với vương quốc Napoli (Công tước Áo đời trước là phu quân của nữ vương John II de Napoli, em gái và là người kế vị của Ladislaus de Napoli, kẻ thù chính của nhà Anjou - Maine). Tuy vậy, giờ đây cuộc tranh chấp đã mở rộng thành cuộc tranh bá quyền ở Âu châu. Do đó, cuộc đại hội chiến ở Salzburg rất được các bên xem trọng.

Liên quân Đế quốc La – Đức – vương quốc Hungary huy động gần như toàn bộ lực lượng quân sự mà bọn họ có thể huy động được để đưa đến chiến trường Salzburg. Mọi người đều biết rằng nếu thất bại trong cuộc chiến này, bọn họ có thể mất nước. Do đó, Hoàng đế Sigismund de Luxembourg của Đế quốc La – Đức đã huy động quân đội từ các công quốc Luxembourg, Bavaria, Áo, Bohemia, Moravia, Silesia, Saxony, Württemberg, Francony, Palatinate, Lüneburg, Bradenburg, Hesse, Cologne, và hàng trăm lĩnh địa lớn nhỏ khác, tổng quân số 190.000 người (hơn 90% là quân nông dân mới trưng tập). Vương quốc Hungary phải để lại quân đội phòng ngự quân Thổ của Đế quốc Ottoman, và đề phòng người Croatia nổi dậy giành độc lập (kể từ thế kỷ 13 đã từng nổi dậy nhiều lần, đều bị đàn áp, lần gần nhất là vào 14 năm trước - năm 1403), nhưng cũng điều động 95.000 quân (đa số là quân nông dân) đến tham chiến.

Tổng quân số của liên quân Đế quốc La – Đức – vương quốc Hungary đông đến 285.000 người, chưa biết khả năng chiến đấu thế nào, nhưng thanh thế kinh nhân. Trên các cánh đồng của Salzburg toàn người là người, quang cảnh cực kỳ tráng quán. Nhưng lại có vấn đề là các nước Âu châu chưa từng tổ chức một đạo quân đông đến như thế bao giờ, nên không ai có kinh nghiệm và năng lực chỉ huy. Hơn nữa, quân đội đến từ hàng trăm lĩnh địa khác nhau, trừ lĩnh chủ của họ ra, không ai có thể chỉ huy được. Cuối cùng, mỗi vị lĩnh chủ hoặc tự thân, hoặc phái thân tín chỉ huy quân đội của mình, còn đích thân Hoàng đế Sigismund de Luxembourg phụ trách tổng chỉ huy thống suất đại quân tác chiến. Quân đội Hungary không có nữ vương thống suất, nhưng Hoàng đế Sigismund de Luxembourg lại là phu quân của nữ vương nên không thành vấn đề. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg là ‘king consort’ của vương quốc Hungary, có đầy đủ quyền hạn giống với nữ vương, cho nên còn có tước hiệu là Quốc vương Hungary.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
02-01-2011, 05:36 PM
Chương 110 : SALZBURG ĐẠI HỘI CHIẾN (2)


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.519 (Đinh Dậu, 1417). Mùa hạ, tháng 4. Salzburg.

Liên quân Đế quốc La – Đức – vương quốc Hungary huy động gần như toàn bộ lực lượng quân sự mà bọn họ có thể huy động được để đưa đến chiến trường Salzburg. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg của Đế quốc La – Đức đã huy động quân đội từ các công quốc Luxembourg, Bavaria, Áo, Bohemia, Moravia, Silesia, Saxony, Württemberg, Francony, Palatinate, Lüneburg, Bradenburg, Hesse, Cologne, và hàng trăm lĩnh địa lớn nhỏ khác, tổng quân số 190.000 người. Vương quốc Hungary cũng điều động 95.000 quân đến tham chiến. Tổng quân số của liên quân đông đến 285.000 người, thanh thế kinh nhân. Trên các cánh đồng của Salzburg toàn người là người, quang cảnh cực kỳ tráng quán.

Trong khi đó, bên phía liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento cũng có viện quân, nhưng chỉ có thêm 1 vạn tân binh Latium mới tuyển mộ, được đưa ra chiến trường để quen với việc chinh chiến. Tổng quân số liên quân đạt 213.000 người, tuy cũng đông, nhưng so với đối phương thì ít hơn khoảng 25%.

Ngày 26 tháng 4, sau khi đã ổn định quân tâm, an bài ổn thỏa nơi đóng quân, Hoàng đế Đế quốc La – Đức Sigismund de Luxembourg liền phái sứ giả sang doanh trại đối phương hạ chiến thư.

Sứ giả của Hoàng đế Sigismund de Luxembourg tay cầm một lá cờ trắng nhỏ (cờ hiệu của sứ giả, báo hiệu không phải lực lượng chiến đấu), sang trước doanh trại của liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento gọi lớn :

- Ta là sứ giả của Thánh Hoàng đế sang gặp Nguyên soái của các ngươi.

Trong doanh trại không ai lên tiếng, quân canh vẫn ở trên các vọng lâu, tiễn tháp nhìn ra ngoài, không ai thèm đáp lời sứ giả. Gã ta có cảm giác bị khinh thị, lại quát to :

- Ta là sứ giả của Thánh Hoàng đế sang gặp Nguyên soái của các ngươi. Trong các ngươi có ai có thể nói chuyện thì mau đáp lời.

Giây lát, từ trên vọng lâu có một giọng âm trầm truyền xuống :

- Đại vương của chúng ta thân phận tôn quý, đâu phải ai muốn gặp thì cũng có thể gặp được. Ngươi hãy chờ ở đó, chờ Đại vương định đoạt.

Sứ giả tự nhận rằng có đại quân hậu thuẫn, không hề lo sợ, nên quát trả :

- Ta là sứ giả của Thánh Hoàng đế, thay mặt Thánh Hoàng đế sang gặp Đại vương của các ngươi. Chẳng lẽ Thánh Hoàng đế của chúng ta lại không tôn quý hơn Đại vương của các ngươi hay sao ?

Trong thâm tâm của gã ta, Hoàng đế đương nhiên phải tôn quý hơn vương, nên dương dương đắc ý. Nào ngờ gã lại nhận được câu trả lời hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của gã. Đối phương khi nghe gã nói thế, cất tiếng cười dài, hồi lâu mới nói :

- Đương nhiên. Đương nhiên Đại vương của chúng ta tôn quý hơn Hoàng đế của các ngươi. Hoàng đế của các ngươi, so với các Hoàng đế của Trung Hoa, Mông Cổ, e rằng vẫn còn kém hơn một bậc. Trong khi Đại vương của chúng ta có thân phận còn tôn quý hơn cả các Hoàng đế của Trung Hoa, Mông Cổ.

Câu trả lời của đối phương khiến cho gã sứ giả ngớ người, lặng yên hồi lâu. Đối với người Âu châu thời bấy giờ, Trung Hoa, nơi có thể sản xuất tơ lụa, gốm sứ, trà diệp, … là một đại quốc. Còn Mông Cổ thì khỏi phải nói, đương nhiên là một đại quốc. Vó ngựa Mông Cổ đã làm biết bao người Âu châu kinh sợ. Người Âu châu và người Thổ - Hồi Giáo (đế quốc Ottoman) luôn thù hằn với nhau, nhưng khi Timur (Thiếp Mộc Nhi) của Hãn quốc Chagatai (Sát Hợp Đài) thống suất 140.000 quân tiến vào Ankara, tấn công Đế quốc Ottoman vào năm 1402, người Âu châu sợ quân Ottoman thất bại, quân Mông Cổ sẽ tràn vào Âu châu nên đã quay sang ủng hộ Đế quốc Ottoman. Kết quả, quân Ottoman vẫn thảm bại ở Ankara, khiến Âu châu chấn động. Còn trước đó, khi Hãn Batu (cháu nội Thành Cát Tư Hãn) dẫn quân tấn công Âu châu, Đức Thánh Cha Innocent IV đã phái sứ giả đến tận thảo nguyên Mông Cổ cầu hòa.

Marco Polo của thành Venice và Giovanni da Pian del Carpini, Giám mục Tổng giáo phận Antivari đã đến Mông Cổ và mang về Âu châu những thông tin về sức mạnh của Đế quốc Mông Cổ. Mặc dù vào thời Trung Cổ, những câu chuyện của Marco Polo bị nghi ngờ và bị cho là những câu chuyện viễn tưởng (ngay cả các nhà nghiên cứu thời hiện đại vẫn nghi ngờ, bởi lịch sử Trung Hoa không nhắc gì đến Marco Polo, trong khi ông tự nhận rằng mình đã được làm quan ở Trung Hoa dưới triều Nguyên của Hốt Tất Liệt; theo lẽ thường, một người Âu châu được làm quan ở Trung Hoa tất nhiên phải được ghi chép lại). Trong khi đó, những câu chuyện của Giovanni da Pian del Carpini lại được tin tưởng, bởi Ngài là Giám mục Tổng giáo phận Antivari, phụng mệnh Đức Thánh Cha Innocent IV đi sứ Mông Cổ. Ngài khởi hành từ Lyon vào lễ Phục sinh năm 1245, mang theo một bức thư của Đức Thánh Cha gửi đến Đại Hãn (Great Khan) để cầu hòa và mời Đại Hãn theo Cơ Đốc giáo. Sứ đoàn đi qua Kiev, vượt qua Nepere và Volga, rồi gặp Hãn Batu tại Volga. Ngài là người Âu châu đầu tiên ghi lại những cái tên hiện đại của các con sông đó. Sau đó sứ đoàn được kỵ binh Mông Cổ hộ tống đi đến thảo nguyên Mông Cổ gặp Đại Hãn. Kết quả của chuyến đi, sứ đoàn mang về Âu châu lá thư của Đại Hãn Mông Cổ yêu cầu Đức Thánh Cha và các quân vương Âu châu phải tuyên thệ trung thành với Đại Hãn, cùng với thông tin quân Mông Cổ tiếp tục tây tiến. Cũng từ đó, người Mông Cổ bị xem là ‘Tai họa của Chúa’ (the scourge of God). Sau khi Đế quốc Mông Cổ bị phân hóa thành 4 Hãn quốc, thì 2 Hãn quốc ở phía tây có tiếp giáp với Âu châu là Hãn quốc Kim trướng (Golden Hordes Khanate) có biên giới đến Hắc Hải và Hãn quốc Sát Hợp Đài (Chagatai Khanate) có biên giới đến Syria, vẫn là sự uy hiếp lớn đối với các nước Âu châu.

Do vậy, khi nghe nói vị Đại vương của đối phương có địa vị tôn quý hơn cả các Hoàng đế của Trung Hoa và Mông Cổ, gã sứ giả của Hoàng đế Sigismund de Luxembourg bán tín bán nghi. Người trên vọng lâu cũng không giải thích, chỉ lạnh lùng bảo :

- Ngươi cứ chờ ở đó, chờ Đại vương định đoạt.

Gã sứ giả bực bội càu nhàu một hồi, rồi đành tìm chỗ ngồi chờ. Nhiệm vụ chưa hoàn thành, gã không dám bỏ về, chỉ đành nhẫn nhịn chờ đợi. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg tính tình nóng nảy bạo ngược, đối đãi thủ hạ chẳng nhẹ tay bao giờ.

Hồi lâu, cổng doanh trại mở ra. Một vị quý tộc Âu châu đến chỗ gã sứ giả của Hoàng đế Sigismund de Luxembourg, nhã nhặn nói :

- Chúng ta đi thôi. Đại nhân đang chờ.

Gã sứ giả thấy đối phương xử sự nhã nhặn, trong lòng cả mừng, cũng không ra vẻ kiêu kỳ, sợ làm đối phương phật ý, rồi sẽ đổi thành người khác tiếp đãi giống như người trên vọng lâu khi nãy, lúc đó chỉ có bản thân gã chịu thiệt thòi. Do vậy, gã cũng lịch sự đáp lễ, rồi đi theo vào trong doanh trại.

Qua nhiều khu đóng quân, đến khu trung tâm, gã sứ giả được đưa vào một doanh trướng. Ngồi giữa doanh trướng là một vị Giám mục Cơ Đốc giáo, sắc diện bất thiện. Gã sứ giả chưa từng gặp vị Giám mục kia bao giờ, nhưng cũng đoán biết đối phương hẳn là George I de Trento, là Vương tử - Giám mục của Trento. Trong quân đội đối phương, chỉ có duy nhất George I de Trento là Giám mục mà thôi. Dù song phương đang ở tình trạng đối địch nhau, nhưng gã sứ giả bản thân là một tín đồ Cơ Đốc giáo, khi gặp hàng giáo phẩm bắt buộc phải kính lễ, để biểu hiện lòng tôn kính Giáo hội, tôn kính Chúa. Do đó, gã ta vội hành lễ, làm dấu thánh, nói :

- Cầu Chúa phù hội Ngài. Giám mục Đại nhân.

George I de Trento cũng làm dấu thánh, nói :

- Chúa sẽ phù hộ ngươi !

Gã sứ giả biết không thể gặp được vị Đại vương của đối phương, cảm thấy đưa chiến thư cho George I de Trento cũng được, nên vội lấy chiến thư ra, trao cho George I de Trento, nói :

- Giám mục Đại nhân. Đây là chiến thư của Thánh Hoàng đế gửi cho các vị.

George I de Trento cầm bức chiến thư trên tay, cũng không mở ra xem mà quẳng sang một bên, rồi nghiêm giọng nói :

- Khi nào quyết chiến, chỉ có Đại vương mới có thể định đoạt. Cả Hoàng đế của các ngươi cũng không thể. Chúng ta việc gì phải nghe theo sự an bài của Sigismund de Luxembourg.

Gã sứ giả biện bác :

- Nếu vậy thì Thánh Hoàng đế cũng chưa chắc chịu nghe theo sự an bài của Đại vương các vị.

George I de Trento lạnh lùng nói :

- Vậy thì các ngươi còn hạ chiến thư làm gì ?

Gã sứ giả nói :

- Nếu không định ngày quyết chiến, chẳng lẽ quân đội song phương cứ đóng quân mãi như thế hay sao ?

George I de Trento hỏi lại :

- Vậy có sao đâu ? Khi nào thấy thích hợp, Đại vương sẽ ra lệnh tấn công. Còn lúc này, cứ chờ đấy.

Gã sứ giả nói :

- Quân đội song phương đông đến nửa triệu, cứ đóng quân mãi ở đây, không làm gì cả, hao phí biết bao nhiêu mà nói !

George I de Trento cười nhạt, biết rằng bên phía đối phương có lương thực không được dư dả cho lắm, nên mới nóng vội quyết chiến như thế. Đại quân đông đến 285.000 người, mỗi ngày tiêu hao lương thực rất nhiều, kéo dài cả tháng sẽ thành một con số thiên văn.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
10-01-2011, 12:28 AM
Chương 111 : CHUYỂN HƯỚNG TẤN CÔNG


Lại nói, khi nghe gã sứ giả của Hoàng đế La - Đức Sigismund de Luxembourg bảo rằng song phương cứ đóng quân mãi ở đây, không làm gì cả, sẽ hao phí lương thực rất nhiều, George I de Trento liền biết ngay bên phía đối phương có lương thực không được dư dả cho lắm, nên mới nóng vội quyết chiến như thế. Đại quân đông đến 285.000 người, mỗi ngày tiêu hao lương thực rất nhiều, kéo dài cả tháng sẽ thành một con số thiên văn. Đối với các nước phương đông, đặc biệt là ở Trung Hoa, con số 285.000 quân, tức 28 vạn 5.000 quân, là không nhiều (thua cả quân đội của Hồ Quý Ly ở Đại Việt). Nhưng ở Âu châu đó đã là con số rất lớn.

George I de Trento nghe gã sứ giả nói thế, chỉ cười nhạt bảo :

- Đóng quân ở đây hay đóng quân ở nơi khác đều tiêu hao lương thực cả, có gì khác biệt đâu !

Đối với quân đội của liên quân Thần Thánh Đế quốc - Latium – Trento thì không có gì khác biệt, bởi quân đội của liên quân là quân thường trực, đóng quân ở đâu cũng đều phải ăn, cũng đều phải tiêu hao lương thực. Trong khi đó, quân đội của liên quân Đế quốc La – Đức – vương quốc Hungary là quân nông dân, được chinh triệu trong lúc khẩn cấp, hậu cần bổ cấp chuẩn bị không đủ, lương thực thiếu thốn, thời gian càng kéo dài càng bất lợi. Ngoài ra, nông dân bị bắt ra chiến trường, nếu đến vụ mùa mà chiến tranh còn chưa kết thúc, sẽ lỡ mất vụ mùa, sang năm sẽ lại càng thiếu lương thực. Bọn Đinh An Bình, George I de Trento cũng biết vậy, nên không gấp phát động tấn công, tiếp tục chờ thời cơ. Gã sứ giả nghe đối phương đáp như thế, ngớ người một lúc, rồi lặng yên chẳng biết nói sao. Chẳng lẽ gã lại thú nhận quân đội bản phương là quân ô hợp, hay thú nhận bản phương không có đủ lương thực. Chỉ cần gã dám nói vậy, chuyện đến tai Hoàng đế Sigismund de Luxembourg, gã sẽ khó giữ được tính mạng. Tốt nhất là im lặng để khỏi phải ‘thần khẩu hại xác phàm’.

George I de Trento lại bảo :

- Ngươi về đi. Khi nào thấy thích hợp, Đại vương sẽ ra lệnh tấn công. Còn nếu như các ngươi không thể chờ được, cứ kéo đến đây nạp mạng.

Gã sứ giả đành quay về hồi báo với Hoàng đế Sigismund de Luxembourg. Cả bọn bàn tán phân vân, không ai có chủ ý gì. Công tước Ernest de Autriche Intérieure, nhiếp chính của Công quốc Áo, sai Hầu tước Kultur de Klagenfurt suất lĩnh 10.000 quân đến doanh trại đối phương khiêu chiến để khuếch trương thanh thế. Đại quân cũng được lệnh chuẩn bị sẵn sàng, chờ thời cơ mà phát động tấn công. Đối phương có thể chờ được, nhưng bọn họ thì không thể chờ được - hậu cần không đủ.

Hầu tước Kultur de Klagenfurt dẫn quân đến trước doanh trại đối phương, dàn thành trận thế chỉnh tề, rồi giục chiến mã ra trước hàng quân, hướng về phía đối phương quát to :

- Trong các ngươi, có ai dám ra đây cùng ta quyết một trận tử chiến.

Quan quân bên trong doanh trại thấy vậy, đều đưa mắt nhìn nhau, hỏi :

- Gã ta muốn chết hay là có âm mưu gì ?

Viên tướng phụ trách việc phòng ngự xua tay bảo :

- Mặc kệ gã ta có âm mưu hay không ! Truyền lệnh khai pháo !

Tiếp đó, mấy nghìn khẩu thần công đồng loạt khai hỏa. Đạn lửa đỏ rực cả nửa bầu trời. Một bộ phận phủ xuống đầu Hầu tước Kultur de Klagenfurt, còn đại đa số rải xuống đầu quân đội Áo đang dàn trận chỉnh tề ở phía sau. Hầu tước Kultur de Klagenfurt tử trận ngay giữa trận tiền, quân đội phía sau cũng tổn thất thảm trọng. Những người bị đạn pháo bắn trúng, lập tức tan xương nát thịt, tử trạng thê thảm. Những kẻ chưa bị đạn pháo bắn trúng, hốt hoảng tháo chạy, giẫm đạp lên nhau chết rất nhiều. Cuối cùng chỉ còn lại chưa đến 3.000 người chạy về đến doanh trại bản phương.

Tận mắt nhìn thấy thảm trạng đó, từ Hoàng đế cho đến vương công quý tộc đều kinh hãi thất sắc. Mọi người không ai nhắc đến chuyện khiêu chiến nữa, chỉ cùng nhau bàn bạc, tìm cách khắc phục sự uy hiếp bởi vũ khí của đối phương. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg còn rao truyền trong toàn quân, ai tìm được cách sẽ được trọng thưởng, thậm chí cắt đất phong tước.

Thế là, trong mấy ngày sau đó, quân đội song phương đều án binh bất động. Cuộc đại hội chiến không diễn ra như dự kiến.



Nghỉ ngơi vài ngày, Đinh An Bình đột nhiên ra lệnh cho đại quân rời doanh trại, di chuyển về phía đông nam. Đại quân thừa lúc đêm tối lặng lẽ rút đi, nhưng trong doanh trại vẫn cắm cờ xí dày đặc như vẫn có quân đội đóng trong đó. Còn đại quân rời Salzburg, di chuyển sang Styria, hướng về phía Hungary. Vương quốc Hungary đã huy động đại bộ phận quân đội đến Salzburg tham chiến, còn lại một bộ phận phải đóng giữ ở biên giới phía đông đề phòng quân Thổ, trong nước lúc này trống không, là thời cơ tốt nhất để tiến chiếm. Đây là kế sách ‘tị thực kích hư’ rất bình thường, nhưng hiệu quả.

Trong khi đó, phải vài ngày sau phía liên quân Đế quốc La – Đức – vương quốc Hungary mới phát hiện có sự khác lạ bên phía doanh trại đối phương. Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg là người đã phát hiện ra điều đó, nên vội đi gặp Hoàng đế Sigismund de Luxembourg bẩm báo :

- Bệ hạ. Bên doanh trại đối phương có điều khác lạ. Chúng ta nên phái thám tử sang bên đó điều tra xem sao.

Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg là một trong bảy vị Tuyển hầu của Đế quốc La – Đức (còn gọi là Đại cử tri), những người có quyền bầu Hoàng đế, nên có địa vị rất cao. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg không thể không tôn trọng ý kiến của các Tuyển hầu, nên vội hỏi :

- Khác lạ thế nào ?

Frederick I de Brandenburg nói :

- Mấy ngày nay, bên doanh trại đối phương không hề thấy có sự ồn ào như mọi khi, lại còn có nhiều đàn chim đáp xuống đậu ngay trên các doanh trướng. Dường như doanh trại không người.

Sigismund de Luxembourg cả kinh, vội truyền lệnh thám tử khẩn cấp sang doanh trại đối phương thám thính tình hình. Trong lúc chờ đợi, Sigismund de Luxembourg hỏi Frederick I de Brandenburg bằng giọng lo lắng :

- Đối phương quỷ kế đa đoan. Nếu như đối phương rút đi thật, chẳng biết lại có âm mưu quỷ kế gì nữa đây ?

Frederick I de Brandenburg thở dài nói :

- Quân ta tập trung ở đây, các nơi khác binh lực không hư. Ta chỉ lo đối phương chuyển hướng tấn công các nơi khác.

Sigismund de Luxembourg giật mình nói :

- Có thể lắm. Không. Không chỉ là có thể. Ta có cảm giác đối phương chắc chắn sẽ làm như vậy. Phải làm sao đây ?

Frederick I de Brandenburg lắc đầu nói :

- Đành chờ cho có kết quả chính xác đã, rồi mới định đoạt được.

Sigismund de Luxembourg gật đầu, lại sai thám tử mở rộng phạm vi thám thính sang các khu vực xung quanh. Ông ta cho rằng đối phương đã chuyển hướng tấn công các nơi khác, nên cần biết chính xác đối phương đã đi về hướng nào.

Hồi lâu, đội thám tử thứ nhất đã quay trở về, hồi báo :

- Bệ hạ. Doanh trại đối phương không có ai hết.

Do đã phán đoán từ trước, Sigismund de Luxembourg không giật mình nữa, chỉ xua tay nói :

- Được rồi. Lui ra đi.

Khi thám tử đã lui ra, ông ta quay sang nhìn Frederick I de Brandenburg, hỏi :

- Giờ chúng ta phải làm sao ?

Frederick I de Brandenburg nói :

- Mời các vương công đến bàn bạc vậy !

Sigismund de Luxembourg liền truyền lệnh :

- Người đâu. Mau mời chư vị vương công khẩn cấp đến nghị sự !

Lát sau, các vị Tuyển hầu (Elector), vương tử (Prince), công tước (Duke) kéo đến hội họp. Mọi người đều ngạc nhiên, không hiểu Hoàng đế triệu tập khẩn cấp như thế là có việc gì. Chẳng lẽ chiến sự phát sinh biến cố. Mọi người nhìn thấy Hoàng đế Sigismund de Luxembourg và Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg đều có sắc diện u ám, nên đoán chắc đã xảy ra chuyện không hay. Công tước Henry XVI de Bavaria hỏi :

- Bệ hạ. Chẳng lẽ đã xảy ra chuyện gì sao ?

Sigismund de Luxembourg nói :

- Đối phương đã rút quân. Bên doanh trại đối phương lúc này không người.

Tuyển hầu Eric V de Saxe - Lauenburg hoan hỉ nói :

- Thế thì hay quá. Cuối cùng đối phương cũng đã chịu rút lui rồi.

Một số người cũng lộ vẻ nhẹ nhõm. Cuộc chiến ở đây khiến bọn họ tốn kém quá nhiều, ai nấy đều cảm thấy mệt mỏi và tiếc của, nhưng lại không thể không tham chiến. Chỉ có Công tước Henry XVI de Bavaria tinh minh hơn, hỏi :

- Bệ hạ lo lắng chuyện gì thế ?

Sigismund de Luxembourg nói :

- Quân ta tập trung ở đây, các nơi khác không hư. Ta lo đối phương sẽ chuyển hướng tấn công các nơi khác. Những nơi có nhiều nguy cơ nhất chính là Bavaria, Württemberg, Styria và Carinthia.

Mọi người cả kinh thất sắc. Công tước Henry XVI de Bavaria tái mặt hỏi :

- Có biết đối phương chuyển đi đâu không ạ ?

Sigismund de Luxembourg lắc đầu nói :

- Chưa rõ. Thám tử đang đi điều tra. Ta cho mời mọi người đến đây, là muốn hỏi xem mọi người có cách gì ngăn trở đối phương thay đổi chiến trường hay không ?

Ai nấy đưa mắt nhìn nhau. Sigismund de Luxembourg thấy vậy chỉ biết lắc đầu, thầm than quân ta chẳng lẽ không có trí giả hay sao.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 10:48 AM
Chương 112 : CHIẾN DỊCH HẺM NÚI KALWANG (1)


Lại nói, Hoàng đế Sigismund de Luxembourg đang thất vọng trước thái độ của chúng vương công quý tộc, đột nhiên nghĩ đến Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg vốn thông minh tài trí, liền quay sang hỏi ý :

- Chúng ta nên đối phó thế nào đây ?

Frederick I de Brandenburg suy nghĩ hồi lâu, rồi mới nói :

- Chỉ còn cách đưa quân đội đuổi theo đối phương mà thôi.

Công tước Henry XVI de Bavaria lập tức tán thành :

- Phải đó. Đối phương đã rút đi. Chúng ta tiếp tục đóng quân ở đây cũng chẳng ích lợi gì. Nên đưa quân đuổi theo đối phương.

Mọi người đều khen phải, nhất là các vị Công tước của Bavaria, Württemberg và Autriche Intérieure (tức Nội Áo, cai quản các vùng Styria và Carinthia), bởi lĩnh địa của bọn họ gần đây nhất, có nguy cơ bị tấn công trước nhất. Không còn cách nào khác hay hơn, Hoàng đế Sigismund de Luxembourg đành truyền lệnh cho mọi người chuẩn bị sẵn sàng, để khi có tin tức về địch quân là lập tức đuổi theo.

Hôm sau, thám tử đưa tin về, phát hiện đối phương hành quân về hướng Styria. Công tước Ernest de Autriche Intérieure lập tức dẫn quân đi trước để bảo vệ lĩnh địa của mình. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg thống suất đại quân đuổi theo phía sau. Phía sau Styria chính là Hungary, là lĩnh địa của Sigismund de Luxembourg, nên ông ta thúc quân đuổi theo rất gấp, hy vọng sẽ đuổi kịp trước khi đối phương tiến vào Hungary. Lúc này Hungary hầu như không có quân phòng thủ, nếu để đối phương tiến vào cướp phá, hậu quả sẽ rất nặng nề. Khả năng cướp phá của liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium mọi người đều biết rõ, tấm gương các xứ Genoa và Milano vẫn còn rành rành ra đó. Những nơi nào mà nhắm không thể chiếm giữ được, liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium sẽ cướp phá triệt để, cướp sạch, phá sạch đến độ trở thành vùng trắng, không còn gì cả.

Sigismund de Luxembourg là phu quân của nữ vương Mary de Hungary, là ‘King consort’ của vương quốc Hungary. Như đã giới thiệu ở các chương trước, ‘King consort’ hay ‘Queen consort’ là phu quân hay vương hậu của nữ vương hay quốc vương, và có quyền thừa kế ngôi báu khi nữ vương hay quốc vương qua đời mà không có con trai kế vị. Do Sigismund de Luxembourg từng hại chết mẹ của nữ vương Mary de Hungary nên bị nữ vương thù hận, hai người chỉ là vợ chồng trên danh nghĩa, và sống riêng biệt với nhau. Dù vậy, Sigismund de Luxembourg vẫn là ‘King consort’ của vương quốc Hungary. Do đó, khi nữ vương Mary de Hungary đã qua đời vào năm 1395 trong một tai nạn đáng ngờ, không có con trai kế vị, Sigismund de Luxembourg đã kiêm nhiệm quốc vương Hungary, biến Hungary thành một trong các lĩnh địa của mình. Sigismund de Luxembourg thường xuyên gây chiến tranh bên ngoài, Hungary là một trong các hậu phương quan trọng phục vụ cho việc tham chiến, do vậy mà không thể để mất được. Sigismund de Luxembourg đã mấy lần tăng thuế để có tiền phát động chiến tranh, rồi bị dân chúng trong một số lĩnh địa nổi dậy đánh đuổi, phải dựa vào lực lượng của Hungary để khôi phục. Do đó, trong mắt Sigismund de Luxembourg, Hungary là một lĩnh địa rất quan trọng.



Hẻm núi Kalwang, tây bắc xứ Styria.

Do dãy núi Alps (An-pơ) trải dài từ đông sang tây, từ Áo sang đến tận Pháp, muốn đi từ Salzburg sang Styria, chỉ có thể đi men theo các hẻm núi, các thung lũng nằm giữa dãy núi. Có những hẻm núi rộng hơn chục kilômét, nhưng cũng có những hẻm núi co thắt lại, chỉ rộng vài trăm mét. Hẻm núi Kalwang gần thị trấn Kalwang là một hẻm núi nhỏ như thế. Hẻm núi tuy hẹp nhưng rất dài, là một trong những vị trí phòng ngự lý tưởng.

Hoàng đế Sigismund de Luxembourg thúc đại quân đuổi đến đầu phía tây của hẻm núi Kalwang thì gặp địch quân trở kích. Liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento để lại đấy 1 vạn quân, dựa vào địa hình thiết lập hào lũy ngăn cản. Quân đội của Sigismund de Luxembourg không thể tiến quân được, làm cho ông ta vô cùng nóng ruột, triệu tập chúng vương công bàn bạc. ‘Đệ nhất trí giả’ là Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg hiến kế :

- Bệ hạ. Mưu đồ của đối phương đã quá rõ ràng, định dùng một lượng nhỏ quân đội ngăn cản chúng ta ở đây, để tiện cho đại quân hành động. Chúng ta chỉ còn cách cường công, sử dụng ưu thế binh lực tấn công, dùng biển người nhấn chìm đối phương. Nếu không, chỉ có thể trơ mắt nhìn Styria, Hungary, thậm chí cả các xứ Áo và Bohemia thất thủ.

Các xứ Styria và Áo thuộc về Công quốc Áo không kể, nhưng Hungary và Bohemia là hai vương quốc, và cũng là hai lĩnh địa lớn nhất của Sigismund de Luxembourg, gần như chiếm đến hơn 90% tổng diện tích các lĩnh địa của ông ta. Phần còn lại chính là Công quốc Luxembourg sát biên giới Pháp Lan Tây, trong hoàn cảnh nước Pháp đang do nhà Anjou khống chế, Sigismund de Luxembourg lại theo phe Anh Cách Lan trong cuộc ‘chiến tranh trăm năm’, hoàn toàn không thể dùng làm hậu phương được.

Thế nên, suy nghĩ giây lát, Sigismund de Luxembourg vỗ bàn quyết định :

- Cường công. Huy động đại quân cường công. Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg sẽ đảm nhiệm thống soái chiến trường.

Chúng vương công đồng vâng lệnh. Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg thời gian qua đã chứng tỏ được tài trí của mình, mọi người đều kính phục nên không ai có ý kiến phản đối. Sigismund de Luxembourg lại nói thêm :

- Nếu các xứ Áo, Bohemia, Hungary đều thất thủ, đối phương phối hợp với quân Anjou ở Pháp Lan Tây, hai đầu cùng đánh, Đế quốc có khi không còn tồn tại. Mọi người phải cố gắng chiến đấu vì vận mệnh của Đế quốc.

Mọi người cả kinh, đều ứng tiếng hứa sẽ dốc sức chiến đấu. Frederick I de Brandenburg bắt đầu phân phái hoạt động cho các đạo quân. Toàn bộ quân đội của Công quốc Áo, Vương quốc Hungary và Vương quốc Bohemia gồm hơn 150.000 quân là lực lượng chủ công, số quân còn lại là lực lượng dự bị, sẵn sàng chi viện tiền tuyến. Lực lượng chủ công lại chia làm 5 bộ phận, luân phiên thượng trận, bảo đảm việc chiến đấu được liên tục, không để cho đối phương có cơ hội củng cố hào lũy.

Trời tối, trong hẻm núi bóng tối đến sớm hơn bên ngoài. Ở đó chỉ có một dãy doanh trại với 1 vạn quân. Còn phía ngoài hẻm núi, hàng trăm nghìn quân Áo – Hungary - Bohemia lũ lượt tiến tới, biển người hung dũng, quang cảnh náo động, có vẻ như cuồng phong bão tố sắp bùng phát, hay một đợt sóng thần sắp ập vào các hào lũy đang chắn giữ ngay đầu hẻm núi.

Ở nơi khác, Bá tước, Hầu tước đã là đại nhân vật, hùng cứ một phương. Nhưng ở đây, các vị Bá tước và Hầu tước đại nhân chỉ là những tiểu nhân vật, phụng mệnh hành sự, bởi phía trên nữa còn có rất nhiều Tuyển hầu, Vương tử, Công tước đại nhân. Do đó, các vị Bá tước, Hầu tước phải đích thân ra chiến trường suất lĩnh quân đội chiến đấu. Quân đội liên quân đại đa số là nông dân mới bỏ cuốc cày cầm vũ khí, nếu thiếu sự chỉ huy sẽ không thể nào hình thành nên chiến đấu lực.

Tu tu tu …

Một hồi tù và thật dài rúc lên, báo hiệu chiến đấu bắt đầu. Đội quân đầu tiên gồm 3 vạn quân Áo phát động tấn công. Công tước Ernest de Autriche Intérieure truyền lệnh :

- Cung thủ chuẩn bị. Tiến đến phía trước hai trăm bước.

Các đội cung thủ theo lệnh tiến tới phía trước. Khi đã đến cách hào lũy của đối phương khoảng một tầm tên, Công tước Ernest de Autriche Intérieure lại truyền lệnh :

- Dừng lại.

- Chuẩn bị.

Công tước đại nhân của chúng ta còn chưa kịp ra lệnh ‘bắn’ thì đã thấy từ phía hào lũy của đối phương có rất nhiều mũi tên bắn ra, rải xuống đầu quân đội Áo. Cung thủ trên lũy có ưu thế độ cao nên có tầm bắn xa hơn. Khi quân Áo vừa chuẩn bị bắn thì đối phương đã bắn trước rồi. Một lượt tên rải xuống đầu khiến đội ngũ quân Áo hỗn loạn, nhiều tân binh chẳng kể gì đến mệnh lệnh của tướng lĩnh chỉ huy, chạy loạn khắp nơi tránh né. Đội hình quân Áo ngày càng trở nên hỗn loạn, không thể nào tổ chức phản kích. Đương nhiên, phía đối phương không thể nào bỏ lỡ thời cơ. Từng loạt, từng loạt tên cứ liên tiếp bắn ra, gây cho quân Áo thương vong thảm trọng. Công tước Ernest de Autriche Intérieure không còn cách nào khác, đành ra lệnh cho quân đội tạm thời rút lui ra ngoài.

Quân Áo rút chạy ra ngoài hơn dặm mới dám dừng lại chỉnh đốn đội ngũ. Đến lúc này, sau khi kiểm điểm lại mới hay chỉ sau hơn khắc tiếp chiến, quân Áo đã thiệt hại hơn vạn, trong đó có gần 4.000 người tử vong, số còn lại tạm thời mất sức chiến đấu. Chưa chính thức tiếp chiến mà đã thiệt hại khoảng 40% quân số, Công tước Ernest de Autriche Intérieure nộ khí trùng trùng, vỗ bàn quát tháo liên hồi. Sở dĩ có thiệt hại lớn như thế, bởi sau các trận chiến ở Tyrol, Salzburg, quân chủ lực của Áo đã thiệt hại gần hết, xuất hiện trên chiến trường chỉ là quân nông dân ô hợp (số tinh nhuệ ít ỏi còn lại được Công tước đại nhân giữ lại bên cạnh hộ vệ mình, nơi chiến trường tên bay đạn lạc, tính mạng quan trọng hơn hết).

Lần đầu chiến đấu lại thảm bại như thế, sĩ khí liên quân giảm sút nghiêm trọng. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg và chúng vương công đều hết sức lo âu. Còn Công tước Ernest de Autriche Intérieure vì hổ thẹn mà giả vờ bị thương, ở yên trong doanh trướng, không dám ra ngoài gặp ai.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 10:52 AM
Chương 113 : CHIẾN DỊCH HẺM NÚI KALWANG (2)


Lại nói, sau khi quân Áo thảm bại, khiến cho sĩ khí liên quân giảm sút nghiêm trọng, cả Hoàng đế Sigismund de Luxembourg và chúng vương công đều hết sức lo âu. Thấy tình hình có biến, Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg đành thay đổi sách lược, truyền lệnh cho cả 4 đội quân chủ công còn lại gồm 12 vạn quân đồng loạt tấn công. Hơn 13 vạn dự binh quân cũng được lệnh chuẩn bị sẵn sàng tham chiến. Frederick I de Brandenburg quyết định một khi đã phát động tấn công, phải lợi dụng một cổ khí thế tiền tiến, tiền tiến, tiếp tục tiền tiến, mãi cho đến khi kiểm soát được hẻm núi này mới thôi. Chỉ cần vượt qua được nơi này, địa hình phía trước không còn nhiều trở ngại nữa. Phía bên kia đã là đầu phía đông của dãy Alps rồi. Tuy vẫn chưa ra khỏi vùng núi, nhưng địa hình không còn hiểm trở nữa, thuận lợi cho đại quân tác chiến hơn.

Tu tu tu …

Lại một hồi tù và dài thúc giục quân đội tiền tiến. Đại đội liên quân Hungary – Bohemia (quân Áo vừa nãy đã bị đả tàn rồi) tràn lên công kích hào lũy đối phương. Dưới sự uy hiếp của chấp pháp đội, quân binh bị xua lên phía trước, phải không ngừng tiền tiến, bất kể cung tên của đối phương rải xuống đầu. Sau khi có gần nghìn người bị xử tử giữa trận, không ai còn dám tháo lui nữa. Người phía trước ngã xuống, đã có người phía sau xông lên thay thế. Chiến huống cực kỳ thảm liệt.

Trước sự tấn công cực kỳ hung hãn của liên quân Hungary – Bohemia, phía quân đội Thần Thánh Đế quốc phải liên tục lùi vào bên trong hẻm núi, hết lùi lại lùi, liên tục lùi. Phía liên quân Hungary – Bohemia có thể tử chiến, nhưng phía Thần Thánh Đế quốc thì không. Do vậy mà hàng loạt trận địa, hào lũy lần lượt rơi vào tay liên quân Hungary – Bohemia.

Chỉ sau 2 ngày, Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg đã chỉ huy quân đội tiến được gần chục dặm, công chiếm được đại bộ phận hẻm núi, chỉ còn lại một đoạn ngắn ở đầu phía đông còn nằm trong tay đối phương. Để giành được chiến quả như thế, bọn họ đã phải đổi bằng hơn 1 vạn quân tử trận và gần gấp ba lần số ấy thọ thương, mất sức chiến đấu. Tuy vậy, chiến quả cũng làm chúng vương công rất phấn khởi. Bởi đây cũng là lần đầu tiên bọn họ giành được chiến thắng trước quân đội Thần Thánh Đế quốc. Trận chiến này đã mang lại cho bọn họ niềm tin rằng quân đội Thần Thánh Đế quốc không phải là ‘bất khả chiến thắng’, chỉ cần có ưu thế binh lực, hoàn toàn có thể đánh thắng được đối phương.

Đến ngày thứ ba, nhìn thấy chỉ còn một đoạn ngắn nữa là đã có thể vượt qua được hẻm núi, trên từ Hoàng đế Sigismund de Luxembourg, dưới đến Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg và chúng vương công đều quyết định tập trung toàn bộ binh lực quyết tâm kiểm soát cho được toàn bộ hẻm núi ngay trong hôm nay. Quân đội sĩ khí đang dâng cao, tốt nhất nên thừa cơ tấn công, không nên dừng lại.

Tu tu tu …

Lại hiệu tù và ra lệnh phát động tấn công. Quân đội liên quân Đế quốc La – Đức – Vương quốc Hungary tràn ngập toàn bộ hẻm núi. Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg bố trí như thế là để có đủ uy thế, bảo đảm sĩ khí quân đội không giảm, đồng thời cũng khiến cho quân tiên phong không có đường lùi, chỉ có thể tiền tiến, liên tục tiền tiến. Mấy ngày qua, nhờ dùng sách lược đó mà bọn họ đã đánh lui địch quân, kiểm soát gần hết hẻm núi.

Trong lúc đại quân phát động tổng tấn công, Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg an ổn ở trung quân cùng với Hoàng đế Sigismund de Luxembourg chỉ huy đội quân dự bị và chờ đợi chiến báo từ tiền tuyến. Chờ mãi … chờ mãi … chờ đến quá trưa mà vẫn chưa có tin tức gì, cả hai sốt ruột phái gã Hiệp sĩ thân tín đi ra tiền tuyến xem thử. Hồi lâu, gã ta mới trở về bẩm báo :

- Bệ hạ, Đại nhân. Phía trước địch quân xây dựng hào lũy rất kiên cố. Quân ta nhất thời không công phá được, tổn thất rất nặng.

Hoàng đế Sigismund de Luxembourg sa sầm nét mặt, quát :

- Truyền lệnh tiếp tục tấn công.

Cuộc chiến lại tiếp diễn ngày càng khốc liệt hơn. Bên ngoài quân reo dậy đất, trong trung doanh yên ắng như tờ. Cả Hoàng đế Sigismund de Luxembourg và Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg đều không có chút tinh thần nào để chuyện trò. Bọn họ đều khẩn trương chờ đợi chiến báo, hy vọng tình hình chiến cục khả quan hơn. Đến lúc này đây, quân đội Đế quốc La – Đức không thể chịu đựng thêm một thất bại nào nữa.

Sở dĩ có chuyện đó là do quốc tình của Đế quốc La – Đức. Đế quốc La - Đức (tên gọi đầy đủ là Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức) thật ra không phải là một quốc gia thống nhất. Đế quốc này có chế độ gần giống như Đế quốc Mông Cổ vậy. Đế quốc Mông Cổ là một liên minh lỏng lẻo giữa các bộ tộc Mông Cổ, với Đại Hãn do các Hãn (đứng đầu các bộ tộc, Hãn quốc) bầu lên. Đế quốc La – Đức cũng là một liên minh lỏng lẻo của hơn 2.000 công quốc lớn nhỏ thuộc Vương quốc Đông Pháp Lan Khắc (Đông Frank), với Hoàng đế do các vương công quý tộc bầu lên. Từ thời Hoàng đế Thần Thánh Charlemagne (tiếng Latin : Carolus Magnus hay Karolus Magnus, nghĩa là Đại đế Carolus) thống nhất Âu châu vào thế kỷ VIII (chính thức lên ngôi năm 800 tại Roma, sau khi đã chiếm được hầu hết vùng Tây Âu), hàng loạt vương công quý tộc người Frank đã được phong thưởng, chia nhau cai trị các lĩnh địa ở khắp nơi. Các vị vương công quý tộc này chính là nền tảng của tầng lớp quý tộc Âu châu thời Trung Cổ. Hoàng đế Thần Thánh Charlemagne có 3 người con trai, tạo thành ba phân chi đối nghịch nhau. Sau khi ông qua đời, các người con đánh nhau tranh ngôi, và Đế quốc tan rã, chia thành 3 vương quốc Đông Frank, Trung Frank, Tây Frank, là tiền thân của các nước Đức, Ý, Pháp sau này (trong đó chỉ có Pháp là tương đối thống nhất). Do được kết hợp từ hơn 2.000 công quốc lớn nhỏ, ngôi vị Hoàng đế của Đế quốc La – Đức không hề ổn định, nếu như Hoàng đế không cường thế, các vị vương công quý tộc hoàn toàn có thể không tuân lệnh Hoàng đế nữa. Sau thất bại trong trận Pavia, uy tín của Hoàng đế Sigismund de Luxembourg đã giảm sút nghiêm trọng, mệnh lệnh truyền ra, trừ quân bản bộ thì chẳng còn mấy ai nghe theo. Lúc này liên quân hình thành được chẳng qua là vì tự thân lợi ích của các vương công quý tộc chứ không phải vì phục tùng mệnh lệnh của Hoàng đế. Trong Đế quốc có đến quá nửa số công quốc vì nhiều lý do khác nhau mà không đến tham gia liên quân (đa số là lĩnh chủ ‘bị bệnh’, khiến người ta có cảm giác dịch bệnh đặc biệt chiếu cố các vị lĩnh chủ, nếu không thì sao lại có hơn nghìn vị lĩnh chủ đồng loạt ‘bị bệnh’ như thế).

Chờ đợi khiến cho người ta có cảm giác thời gian trôi qua lâu hơn. Lúc này đây, cả Hoàng đế Sigismund de Luxembourg và Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg đều có cảm giác như thế. Quân đội đang chiến đấu là liên quân Hungary – Bohemia, là quân bản bộ của Hoàng đế. Số quân đội thương vong toàn là lực lượng của Hoàng đế cả. Vì thế mà Hoàng đế lo lắng bất an.

Đến chiều, gã Hiệp sĩ cung đình thân tín mới lại trở vào, thần sắc căng thẳng, bẩm báo :

- Bệ hạ, Đại nhân. Quân ta không công phá được hào lũy của đối phương, tổn thất cực kỳ nặng nề. Lúc này binh sĩ cũng đã rất mệt mỏi, sức chiến đấu suy giảm nghiêm trọng.

Hoàng đế Sigismund de Luxembourg giận dữ nói :

- Cả lũ ăn hại. Chỉ một đoạn hào lũy mà cũng không công chiếm được. Đúng là một lũ ăn hại mà.

Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg lựa lời khuyên giải :

- Bệ hạ. Binh sĩ chiến đấu từ sáng đến giờ, có lẽ cũng đói rồi nên mới giảm sức chiến đấu.

Hoàng đế Sigismund de Luxembourg cảm thấy cũng phải, liền truyền lệnh :

- Truyền quân đội tạm rút lui. Nghỉ ngơi ăn uống.

Mệnh lệnh truyền ra, liên quân Hungary – Bohemia ai nấy thở phào nhẹ nhõm, rùng rùng rút lui khỏi chiến trường, về bản doanh nghỉ ngơi ăn uống. Chiến đấu kịch liệt suốt cả ngày, dù là binh sĩ hay tướng lĩnh đều đói bụng cả rồi. Mà khi bụng đói thì sức chiến đấu bị giảm sút là chuyện đương nhiên. Chẳng mấy ai tình nguyện mang bụng đói mà tham gia chiến đấu cả. Quân đội Latium – Thần Thánh Đế quốc cũng chỉ giữ vững hào lũy chứ không truy đuổi.

Trong lúc binh sĩ nghỉ ngơi, Hoàng đế Sigismund de Luxembourg, Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg và vài vị vương công quý tộc thân tín cùng nhau bàn bạc tình hình chiến sự. Cuối cùng, dưới sự kiên quyết của Hoàng đế Sigismund de Luxembourg, mọi người quyết định sẽ tiếp tục phát động tấn công ngay trong đêm, dùng số lượng đánh bại đối phương. Chiến đấu vào ban đêm, uy lực hỏa khí của đối phương sẽ giảm sút nghiêm trọng. Tuy phía tấn công có thể gặp ít nhiều khó khăn, nhưng có thể sẽ có hiệu quả hơn. Những cái chết vì thần công đại pháo làm giảm sĩ khí của binh sĩ, còn chiến hữu tử trận vì đao thương chém giết còn có thể làm tăng nhiệt huyết, tăng sĩ khí. Liên quân còn đến vài trăm nghìn quân, không sợ thiệt hại.

gianghoaingoc
16-05-2011, 10:57 AM
Chương 114 : CHIẾN DỊCH HẺM NÚI KALWANG (3)


Trong một vùng đồi núi kín đáo ở phía tây nam hẻm núi Kalwang có một dãy doanh trại nằm xen giữa những khu rừng. Ở trung doanh, ba vị thủ lĩnh hội họp bàn bạc việc quân cơ. Hai người vận cẩm bào, mão vàng giáp bạc theo thể thức đại tướng của Thần Thánh Đế quốc. Người còn lại vận Hồng y theo thể thức Giám mục, đầu đội mão triều thiên hai tầng bằng vàng. Bọn họ chính là Ngô Trấn Quốc và Vương Nguyên là hai tướng thống lĩnh hai đạo quân Bảo Tiệp và Chiêu Viễn, cùng với Vương tử - Giám mục George I de Trento của Đại lĩnh địa Trento – Tyrol. George I de Trento đã được phong Hồng y Giám mục khi thay mặt Đức Thánh Cha Gregorius XII đi sứ sang Gia Định, nhưng mão triều thiên hai tầng là do lão tự chế ra với sự đồng ý của Long nhi sau khi lĩnh địa Tyrol được sát nhập vào Trento. Trong hàng giáo phẩm Cơ Đốc Giáo không có sử dụng loại mão triều thiên hai tầng, chỉ có mão triều thiên ba tầng là mão chuyên dụng của Đức Thánh Cha. Hồng y Giám mục thấp hơn Đức Thánh cha một bậc, nên mão triều thiên của lão chỉ có hai tầng.

Ba người cùng ngồi quanh một chiếc bàn tròn, vừa uống trà vừa bàn bạc. Ngô Trấn Quốc hỏi :

- Trận địa xử lý thế nào rồi ?

Vương Nguyên nói :

- Chúng ta đã chiếm lĩnh ba đạo hào lũy ở cửa phía tây hẻm núi. Binh sĩ đã đào thêm hào ở mặt đông. Địch quân đã hoàn toàn bị vây trong hẻm núi. Khi nào thì phóng hỏa ?

Ngô Trấn Quốc nói :

- Đại vương truyền lệnh đầu giờ Tuất tối nay sẽ phóng hỏa.

Theo lịch cổ, mỗi ngày được chia làm 12 canh giờ. Giờ Tý bắt đầu từ 11 giờ tối đến 1 giờ khuya. Do đó, đầu giờ Tuất chính là lúc 7 giờ tối. Vương Nguyên nói :

- Binh sĩ đã chuẩn bị đâu vào đó cả rồi, chỉ còn chờ lệnh hành sự.

George I de Trento nói :

- Bên trong hẻm núi có đến gần 300.000 người, phóng hỏa có tàn nhẫn quá không ?

Ngô Trấn Quốc nói :

- Quân giặc đông hơn quân ta. Nếu không phóng hỏa thì để chiến thắng quân ta sẽ thiệt hại rất nặng nề. Thà rằng quân giặc chết nhiều còn hơn để quân ta chết nhiều. Chúng ta không có trách nhiệm thương hại quân giặc.

Vương Nguyên cũng nói :

- Từ bất chưởng binh. Nếu song phương hỗn chiến, 3.000 quân của lão có khi còn lại không được mấy người.

George I de Trento khẽ thở dài, gật đầu nói :

- Nhị vị nói rất phải. Ai ! Hy vọng bọn chúng sớm đầu hàng.

Quân Trento 3.000 người tham gia liên quân là lực lượng tinh nhuệ nhất của George I de Trento. Lực lượng này đã tham gia các chiến dịch Tyrol, Salzburg và hẻm núi Kalwang, thực sự là lực lượng năng chinh thiện chiến, lão không thể để cho thiệt hại nặng nề được. Thế là bọn họ tiếp tục uống trà chuyện vãn, chờ trời tối.



Tối đến, cả Ngô Trấn Quốc, Vương Nguyên và George I de Trento cùng ra chiến tuyến đích thân chỉ huy hành động. Lúc này mặt trận đang do Chiêu Viễn quân Đệ nhị sư phụ trách phòng thủ. Vương Nguyên hỏi viên Hiệu úy Đào Anh Dũng :

- Chuẩn bị đến đâu rồi ?

Đào Anh Dũng hành quân lễ, nói :

- Báo cáo Đại nhân. Tất cả đã sẵn sàng.

Vương Nguyên đưa mắt nhìn Ngô Trấn Quốc, thấy y gật đầu, liền truyền lệnh :

- Chiếu kế hoạch hành sự.

Đào Anh Dũng lập tức chạy đi chỉ huy bản bộ binh mã phát động kế hoạch. Mấy nghìn cung thủ chiếm giữ nhiều vị trí dưới đất lẫn trên sườn núi, đồng loạt chuẩn bị cung tên, mồi lửa, trên đầu mũi tên đều có cột một mảnh vải nhúng dầu, bọc hỏa dược. Đào Anh Dũng truyền lệnh :

- Châm lửa.

Tất cả cung thủ đồng loạt châm lửa vào đầu mũi tên, sau đó giương cung lắp tên, sẵn sàng chờ lệnh. Đào Anh Dũng lại quát :

- Bắn.

Mấy nghìn mũi tên lửa đồng loạt được bắn ra. Mặt đất trước đó đã được rải hỏa dược và cỏ khô, nhiều nơi còn rải than đá, nên lập tức bốc lửa, bừng cháy dữ dội. Ngọn lửa dần dần lan về phía đông. Do có hào lũy cách lửa nên ngọn lửa không hề uy hiếp quân đội Thần Thánh Đế quốc.

Ngọn lửa lan dần, lan dần, rồi cũng lan đến khu doanh trại của liên quân Đế quốc La – Đức – Vương quốc Hungary. Do đang mùa hạ, không khí khô và nóng, nên thế lửa rất hung hãn. Khi ngọn lửa ập đến, mãn sơn biến dã đều là lửa đỏ, cả binh sĩ lẫn tướng lĩnh đều hốt hoảng tháo chạy về phía đông, bỏ của chạy lấy người. Đóng doanh trại ở khu vực phía tây này là lực lượng dự bị của liên quân, là quân đội của các tiểu công quốc thuộc Đế quốc La – Đức, toàn là nông dân ô hợp, nên khi tháo chạy cũng mãn sơn biến dã, không có hàng ngũ gì cả. Nhiều người vì tranh đường đoạt lối mà xô đẩy giẫm đạp nhau. Tiếng gào khóc vang trời dậy đất, vô cùng thê thảm.

Ở mặt trận phía đông, Hoàng đế Sigismund de Luxembourg và Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg đang chỉ huy quân đội tấn công phòng tuyến của quân đội Thần Thánh Đế quốc, đột nhiên nghe thấy từ phía sau có nhiều tiếng ồn ào hỗn loạn truyền đến. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg cau mày nói :

- Chuyện gì thế ? Quân đội của ai mà không có quy củ gì cả ? Giữa chiến trường mà gây náo loạn như thế thì còn ra thể thống gì nữa. Người đâu. Mau đi xem thử là chuyện gì ?

Gã Hiệp sĩ cung đình thân tín vội giục ngựa đi xem xét tình hình. Nhưng gã mới đi chưa được chục mét thì chợt thấy có vô số binh sĩ phe mình đang ùn ùn chạy đến, vừa chạy vừa la hét kêu khóc. Gã cả kinh, vội vã xông tới chặn một người đang bỏ chạy lại, hỏi thăm tình hình, rồi sắc mặt tái ngắt, chạy vội về chỗ Hoàng đế Sigismund de Luxembourg bẩm báo :

- Bệ hạ. Nguy rồi. Địch quân phóng hỏa thiêu hẻm núi.

Cả Hoàng đế Sigismund de Luxembourg, Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg và những vương công quý tộc xung quanh cũng đều kinh hãi thất sắc. Nghe nói đối phương phóng hỏa thiêu hẻm núi, mọi người lập tức liên tưởng đến hậu quả khủng khiếp của nó. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg đưa mắt nhìn về phía tây, đã bắt đầu thấy có ánh hồng ở phía xa, lo lắng nói :

- Phải làm sao đây ? Trước mặt là quân giặc, phía sau là ngọn lửa, hai bên là vách núi cao ngất. Chúng ta phải làm sao ? Mọi người ai có ý kiến gì không ?

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, thất hồn lạc phách. Không ai có phương cách gì để lánh nạn cả. Phía trước là phòng tuyến của đối phương, hào lũy kiên cố, công phá mãi không được. Hai bên là vách núi dốc đứng, không leo lên được (thật ra có thể leo lên được nhưng phải mất nhiều thời gian, mà lúc này ngọn lửa đã sắp lan đến nơi, không còn thời gian nữa). Còn phía sau là ngọn lửa … Ai ! Không cam tâm a ! Hoàng đế Sigismund de Luxembourg thở ngắn than dài, rồi đột nhìn quay nhìn Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg. Chúng vương công cũng lần lượt nhìn Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg. Mọi người đều đặt cả hy vọng vào ông ta, vị trí giả của liên quân. Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg vò đầu bức tóc suy nghĩ một lúc, rồi đột ngột vỗ đùi nói lớn :

- Có rồi ! Có cách rồi !

Ai nấy đều mừng rỡ nhìn ông ta đầy hy vọng. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg vội hỏi :

- Cách gì ? Mau nói đi !

Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg nói :

- Chỉ cần chúng ta tạo một vành đai cách lửa ở xung quanh, rồi đốt lửa ở phía ngoài là có thể thoát được ngọn lửa.

Mọi người ồ lên khen phải. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg quát lớn :

- Nhanh lên. Lập tức hành động.

Chúng vương công quý tộc lập tức chia nhau chỉ huy tướng sĩ cắt cỏ đào đất tạo vành đai cách lửa xung quanh chỗ quân đội đang tụ tập. Vì sự an nguy của mình, mọi người đều hành động rất tích cực. Chỉ sau một lúc, vành đai cách lửa đã được tạo xong, mọi người liền phóng hỏa ở phía ngoài. Thế là ngọn lửa bùng lên, và cháy lan dần về phía tây. Khắp hẻm núi tràn ngập lửa đỏ, sáng rực như ban ngày. Nhưng nhờ có vành đai cách lửa, cả bọn tạm thời thoát nạn.

Sau hơn hai canh giờ, ngọn mới bắt đầu tắt dần. Phía liên quân Đế quốc La – Đức – Vương quốc Hungary ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm. Nhưng bọn họ cũng chưa dám rời khỏi khu vực an toàn, mà chờ đợi thêm hơn canh giờ nữa, đến khi ngọn lửa hoàn toàn tắt hẳn thì mới dám chỉnh đốn lớn đội ngũ, kiểm điểm thiệt hại. Ai nấy mặt mũi phờ phạc, chẳng còn chút sĩ khí nào nữa.

Đến khi kiểm điểm toàn quân, từ Hoàng đế, vương công quý tộc cho đến phổ thông binh sĩ đều mãn diện u sầu. Trận hỏa hoạn đã cướp đi sinh mạng của hơn 4 vạn người, trong đó có không ít vương công quý tộc (thuộc đạo quân dự bị ở hậu doanh). Nhưng điều đó chưa có gì là nghiêm trọng, bởi liên quân vẫn còn lại khoảng 24 vạn quân. Điều đáng sợ là ngọn lửa đã thiêu rụi toàn bộ vật tư lương thực. Trong lúc tháo chạy khỏi ngọn lửa, mọi người chỉ nghĩ đến tính mạng của mình, làm sao chạy cho thật nhanh, chạy cho thật xa khỏi ngọn lửa. Không ai nghĩ đến việc cứu vật tư lương thực cả. Mà trước ngọn lửa hung hãn, mãn sơn biến dã như thế thì dù cho có muốn cứu cũng không kịp. Còn Hoàng đế Sigismund de Luxembourg thì đang ở chiến trường chỉ huy quân đội chiến đấu, đương nhiên không có mang theo vật tư lương thực đến đây.

Sau khi thoát chết vì lửa thiêu, mọi người lại sắp đối diện với cái đói. Tình cảnh liên quân trở nên vô cùng bi đát.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 11:02 AM
Chương 115 : ĐẦU HÀNG


Lại nói, ngọn lửa bất ngờ đã khiến cho hơn 4 vạn quân Đế quốc La – Đức – Vương quốc Hungary tử vong, đồng thời còn thiêu hủy toàn bộ doanh trại, vật tư, lương thực của liên quân. Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg bày kế giúp mọi người thoát chết vì lửa thiêu, nhưng mọi người lại sắp đối diện với cái đói. Tình cảnh liên quân trở nên vô cùng bi đát. Ai nấy mãn diện u sầu.

Hoàng đế Sigismund de Luxembourg nhìn đám tàn binh bại tướng quanh mình, thở dài hỏi :

- Chúng ta phải làm sao đây ? Ai có ý kiến gì không ?

Tuy hỏi mọi người, nhưng ánh mắt của Hoàng đế vẫn nhìn về phía Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg. Và những người khác cũng vậy. Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg cười khổ, lại vò đầu bức tóc ngẫm nghĩ tìm kế sách. Hồi lâu, ông ta mới nói :

- Chúng ta không còn vật tư lương thực, không thể cầm cự lâu. Giờ chỉ còn cách toàn lực tổ chức phá vây. Nếu như không xong thì chỉ còn cách đầu hàng.

Mọi người đưa mắt nhìn nhau, nhận thấy đúng là như vậy. Vật tư lương thực mất sạch. Ngọn lửa quái ác lại thiêu rụi toàn bộ cây cỏ trong hẻm núi, muốn kiếm gì ăn cũng không có. Lúc này cả bọn lại vừa đói khát vừa mệt mỏi. Nếu không thể phá vây thành công, bọn họ không thể nào cầm cự quá ba ngày. Thế nhưng, lại một vị vương công buột miệng nói :

- Khi còn sức lực mà không thể công phá được phòng tuyến của giặc, nói gì đến lúc này !

Mọi người nghe nói đều giật nảy mình. Phải a ! Hôm qua liên quân còn sức lực, còn sĩ khí mà vẫn không thể công phá được phòng tuyến của đối phương, lại còn thương vong thảm trọng, nói gì đến lúc này, khi mà cả tướng sĩ quân binh ai nấy đều mệt mỏi bơ phờ, vừa đói vừa khát. Tuyển hầu Frederick I de Brandenburg cười khổ, nói :

- Quay về mặt tây vậy ! Hy vọng ở đó quân giặc không mạnh lắm.

Mọi người khen phải, lập tức suất lĩnh bản bộ binh mã lui về phía tây. Thế rồi cả bọn tràn trề thất vọng khi gặp phải hào lũy của liên quân Thần Thánh Đế quốc – Trento. Dựa vào vị trí, mọi người nhận ra rằng từ nơi đây ra đến cửa hẻm núi còn có đến 3, 4 đạo hào lũy như thế nữa. Trước đây bọn họ mất đến mấy ngày mới có thể công phá được mấy đạo phòng tuyến này. Còn giờ đây … E rằng chưa ra khỏi được hẻm núi thì cả bọn đã chết đói hết rồi. Công tước Ernest de Autriche Intérieure (Công tước xứ Nội Áo) tuy nóng nảy hung bạo, nhưng cũng là người sợ chết, nên nhìn Hoàng đế Sigismund de Luxembourg ngập ngừng nói :

- Bệ hạ …

Còn nước còn tát, hay chưa đến bước đường cùng thì chưa bỏ cuộc. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg nghiêm giọng nói :

- Quyết chiến trận cuối cùng. Ta không tin rằng tướng sĩ liều chết mà vẫn không phá được vòng vây.

Nói rồi liền đi chỉnh đốn binh mã tổ chức phá vây. Công tước Ernest de Autriche Intérieure đưa mắt nhìn những người khác. Công tước Henry XVI de Bavaria hạ giọng nói :

- Chúng ta ra ngoài kia nghỉ ngơi một chút !

Thế là mọi người giải tán. Công tước Henry XVI de Bavaria, Công tước Ernest de Autriche Intérieure, Tuyển hầu Eric V de Saxe - Lauenburg và vài vị Công tước thân cận khác tụ họp một chỗ bàn bạc. Công tước Ernest de Autriche Intérieure nói :

- Chúng ta nên làm sao đây ?

Tuyển hầu Eric V de Saxe – Lauenburg thở dài nói :

- Sigismund quyết tử chiến, ta thấy hoàn toàn không có chút hy vọng nào !

Đến nước này, ông ta cảm thấy không cần tôn trọng Hoàng đế Sigismund de Luxembourg. Tình thế bi đát hiện tại khiến cho uy tín của Hoàng đế Sigismund de Luxembourg mất sạch, thậm chí không còn cả tôn nghiêm. Quốc vận Đế quốc nguy ngập, chúng vương công quý tộc đổ hết trách nhiệm cho Hoàng đế Sigismund de Luxembourg. Nếu như không có ông ta, hẳn đã không có chiến tranh giữa Vương quốc Latium và Đế quốc La – Đức.

Nghe Tuyển hầu Eric V de Saxe – Lauenburg nói vậy, chúng vương công quý tộc đều đồng cảm, phân phân gật đầu. Một người đề nghị :

- Hay là chúng ta đầu hàng vậy !

Mọi người cảm thấy cũng chỉ còn cách đó. Công tước Henry XVI de Bavaria là người tinh minh hơn cả, liền nói :

- Chúng ta phái người liên hệ đối phương thử xem. Nếu như đối phương đồng ý cho dùng tiền chuộc thì chúng ta đầu hàng.

Ở Âu châu thời Trung Cổ, nếu như thất trận bị bắt thì có thể dùng tiền chuộc thân. Cũng chính vì hy vọng có khoản tiền chuộc này mà quân đội triều đình Pháp Lan Tây mới thất bại ở trận Agincourt. Khi song phương giao chiến, sát tử đối phương dù sao vẫn dễ dàng hơn tìm cách bắt sống đối phương. Chỉ có điều, ở đây liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento không có chủ động giao chiến, mà chỉ phòng thủ trận địa và bỏ đói địch quân. Liên quân Đế quốc La – Đức – Vương quốc Hungary không công phá được các phòng tuyến của đối phương thì chỉ còn nước chết đói hoặc đầu hàng. Mà chúng vương công quý tộc thì chẳng muốn chịu chết chút nào. Vì thế mà ai nấy đều tán đồng đề nghị của Công tước Henry XVI de Bavaria. Mọi người bàn bạc hồi lâu, rồi cử Bá tước Henry V de Görz làm sứ giả đi liên hệ với đối phương.

Bá tước Henry V de Görz bí mật đi tiếp xúc với Vương tử - Giám mục George I de Trento, người trước giờ vẫn giữ vai trò phát ngôn của liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento. Được sự ủy quyền của Đinh An Bình, George I de Trento nhận lời đề nghị của chúng vương công quý tộc Đế quốc La – Đức, nhưng phải kèm theo một điều kiện :

- Các công quốc Bavaria và Württemberg phải cắt 5% lĩnh địa của mình sát nhập vào Trento. Còn các lĩnh địa thuộc Áo nằm bên trong Württemberg cũng phải chuyển giao cho Trento.

Bá tước Henry V de Görz ngần ngừ nói :

- Như thế …

George I de Trento cười nhạt nói :

- Đó là điều kiện tiên quyết. Nếu như Bavaria và Württemberg cảm thấy thiệt thòi thì có thể yêu cầu những người còn lại hỗ trợ để bù lại.

Bá tước Henry V de Görz thấy đối phương quyết ý như thế, không biết nói sao, đành quay về báo lại cho chúng vương công quý tộc biết. Cả bọn bàn bạc hồi lâu, cảm thấy điều kiện đó có thể chấp nhận được, nên đều thuyết phục Công tước xứ Bavaria và Công tước xứ Württemberg đồng ý. Mọi người hợp nhau đóng góp kim ngân tài bảo để đền bù cho hai người họ. Nên biết rằng việc bại trận phải cắt đất cầu hòa là chuyện thường tình. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Đế chế Đức sụp đổ, phải cắt khoảng 10% lĩnh thổ cho các nước thắng trận để cầu hòa (chưa kể khoản tiền bồi thường chiến phí và nhiều điều kiện khắc nghiệt khác). Ở đây George I de Trento đòi hỏi phần lĩnh thổ chỉ hơn 1 vạn kilômét vuông, so với toàn Đế quốc La – Đức thì không nhiều. Còn chuyện của Công tước Ernest de Autriche Intérieure không còn quan trọng nữa, bởi các xứ Nội Áo đều đã bị liên quân Thần Thánh Đế quốc – Latium – Trento chiếm lĩnh, và sau này cũng không có hy vọng phục hồi.

Thế là đại bộ phận quân đội Đế quốc La – Đức hạ khí giới đầu hàng. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg chỉ còn lại một số cận thần thân tín, cùng hơn 100.000 tàn binh bại tướng, lại thêm lương thực vật tư không còn, lâm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan.

Hôm sau nữa, tin tức toàn cảnh Hungary thất thủ bắt đầu lan truyền với tốc độ thật nhanh, khiến toàn quân hoàn toàn mất tinh thần. Hơn 80.000 quân còn lại của Vương quốc Hungary quyết định đan độc hướng Thần Thánh Đế quốc đầu hàng. Bọn họ biết rằng từ nay Hungary đã trở thành một phần lĩnh thổ của Vương quốc Latium, người thân của bọn họ đã trở thành thần dân của Latium, nên chẳng ai muốn kháng cự nữa.

Thật ra khi tổ chức chiến dịch hẻm núi Kalwang, Đinh An Bình đã phái 2 đạo quân Thần Thánh Đế quốc gồm 6 vạn người phối hợp cùng 3.000 quân Trento trấn giữ mặt tây hẻm núi, lại phái 2 đạo quân khác trấn giữ mặt đông hẻm núi. Còn lại 2 đạo quân cùng với 3 vạn quân Latium, tổng cộng gồm 9 vạn người chia nhau đi chiếm giữ toàn cảnh Áo và Hungary. Cả hai nơi chẳng còn bao nhiêu thủ quân, thậm chí rất nhiều nông dân cũng bị chinh triệu tham quân, nên đã bị chiếm lĩnh rất dễ dàng. Lĩnh thổ Vương quốc Latium giờ đây đã chính thức tiếp giáp Đế quốc Ottoman ở phía đông và Vương quốc Ba Lan ở phía đông bắc, chiếm đến khoảng một nửa diện tích Âu châu thời bấy giờ (lúc này chưa có nước Nga; Công quốc Moscow và Cộng hòa Novgorod là chư hầu của Hãn quốc Kim trướng của người Mông Cổ, do người con trai trưởng của Thành Cát Tư Hãn lập ra).

Đứng trước tình cảnh đó, nhìn lại bên mình chỉ còn lại hơn 2 vạn tàn quân bại tướng, Hoàng đế Sigismund de Luxembourg cuối cùng cũng chấp nhận lời khuyên của các cận thần, hướng Thần Thánh Đế quốc đầu hàng. Đặc biệt, Hoàng đế Sigismund de Luxembourg nhất quyết chỉ hướng Thần Thánh Đế quốc đầu hàng chứ không chịu hướng Vương quốc Latium đầu hàng. Đinh An Bình chẳng chấp nhất chút sĩ diện nhỏ đó của ông ta, nên cũng đồng ý.

Thế là, chiến dịch quy mô lớn nhất trong lịch sử Âu châu thời Trung Cổ chính thức chấm dứt.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 11:08 AM
Chương 116 : TÌNH THẾ ÂU CHÂU NĂM ĐINH DẬU (1)


Năm Đinh Dậu (1417), sau khi chiến dịch hẻm núi Kalwang - chiến dịch quy mô lớn nhất trong lịch sử Âu châu thời Trung Cổ - chính thức chấm dứt, tình thế Âu châu đã trở nên rất rõ ràng. Âu châu lúc này chủ yếu chia thành hai phần : phần phía nam thuộc về Vương quốc Latium, và phần phía bắc thuộc về các nước còn lại.

Sau khi chiếm lĩnh toàn cảnh Hungary, quân đội Thần Thánh Đế quốc không tấn công quân Thổ của Đế quốc Ottoman ở phía đông, mà tiến quân về hướng Hy Lạp ở phía nam, thừa dư âm của chiến dịch hẻm núi Kalwang mà bình định các lĩnh địa vùng Balkan, chính thức định hình cương thổ của Vương triều Latium. Do sử dụng danh nghĩa giúp người Cơ Đốc giáo phương Đông chống quân Thổ, mà các vùng này thường bị kỵ binh Thổ xâm nhiễu, nên chỉ có một số đại quý tộc tổ chức phản kháng, còn dân chúng thì rất ít chống đối việc sát nhập vùng này vào Vương triều Latium. Trước đây họ chọn thần phục Đế quốc Byzantine ở Constantinople. Nhưng nay Đế quốc Byzantine đã rất suy yếu, thành Constantinople đã bị quân Thổ bao vây kể từ năm 1371 cho đến tận lúc này, các tiểu quốc địa phương lại chống quân Thổ không hữu hiệu, nên dân chúng chọn chỗ dựa mới vững chắc hơn là điều bình thường.

Khi tiến xuống đến bán đảo Morea ở phía cực nam, Đinh An Bình mới cho quân đội xuống thuyền, vượt Địa Trung Hải trở về Sinai, giao lại các vùng đất mới chiếm được cho quân đội Latium quản lý. Quân đội Latium lúc này có 6 vạn quân chính quy, khoảng 5 vạn quân địa phương, chia nhau trú đóng khắp các quận huyện trong vương quốc. Quân Thổ của Đế quốc Ottoman hiện đang bận vây đánh thành Constantinople, nên cũng không muốn có xung đột ở biên cảnh phía tây. Vì thế mà song phương tự giác phòng thủ biên cảnh của mình, tương an vô sự.

Vương quốc Latium kiểm soát các lĩnh địa Aragon và Navarre trên bán đảo Iberia; các đảo Iviza, Majorca, Minoroa, Sardinia, Corsica, Sicily, Malta, Candia và nhiều đảo nhỏ khác trong vùng Địa Trung Hải, biển Adriatic và biển Aegaeum; toàn bộ bán đảo Ý, trừ phần Papal States ở Roma và vùng phụ cận; các lĩnh địa phía nam lục địa Âu châu, với phía bắc là Burgundy, Các công quốc xứ Thụy Sĩ, Tyrol – Trento, Áo, Hungary; vùng bán đảo Balkan, cho đến biên giới Đế quốc Ottoman ở phía đông. Lĩnh thổ vương triều được chia thành 22 tỉnh :

1. Sicily : gồm các đảo Sicily, Sardinia, Corsica và quần đảo thuộc địa Majorca hợp thành, được chia thành 7 quận, gồm 3 quận Syracuse, Palermo và Messina thuộc đảo Sicily; 2 quận Cagliari và Sassari thuộc đảo Sardinia; quận Corsica thuộc đảo Corsica; quận Majorca thuộc quần đảo Majorca. Trong đó Syracuse là kinh đô.

2. Napoli : nguyên là vương quốc Napoli, được chia thành 6 quận là Napoli, Taranto, Calabria, Potenza, L’Aquila và Foggia.

3. Aragon : nguyên là phần phía bắc của vương quốc Aragon cùng với công quốc Navarre; được chia thành 5 quận là Barcelona, Lérida, Navarre, Saragossa và Gerona.

4. Valencia : nguyên là phần phía nam của vương quốc Aragon; được chia thành 5 quận là Valencia, Sagunto, La Plana, Alicanté, Monreal del Campo.

5. Milano : nguyên là các lĩnh địa Milano, Piedmond, và nước cộng hòa Genoa; được chia thành 6 quận là Milano, Bresia, Lecco, Turin, Piedmond và Genoa.

6. Thụy Sĩ : nguyên là các công quốc Thụy Sĩ và lĩnh địa Savoy; được chia thành 6 quận là Zurich, Bern, Lucerne, Valais, Uri và Savoy.

7. Burgundy : nguyên là công quốc Burgundy, các lĩnh địa Nevers và Charolais; được chia thành 5 quận là Nevers, Charolais, Beaune, Besançon và Pontarlier.

8. Lombard : nguyên là nước cộng hòa Venice, và các lĩnh địa ở Lombard, Romagna phía bắc bán đảo Ý; được chia thành 6 quận là Venice, Mantova, Modena, Florence, Siena và Ferrara.

9. Bắc Adriatic : nguyên là vùng phía nam công quốc Áo; được chia thành 6 quận là Gorizia, Trieste, Styria, Carniola, Carinthia và Burgenland.

10. Moravia : nguyên là vùng phía bắc công quốc Áo và công quốc Moravia; được chia thành 5 quận là Niederösterreich, Oberösterreich, Vienna, Moravia và Zlin.

11. Bratislava : nguyên là 20 lĩnh địa của người Slovak thuộc Hungary; được hợp lại thành 5 quận là Brastislava, Kremnikx, Zips, Saris và Hont.

12. Transdanubia : là các lĩnh địa phía tây của vương quốc Hungary, khu vực sông Danub; được chia thành 6 quận là Budapest, Györ, Pécs, Székesfehérvár và Raab.

13. Hungary : là các lĩnh địa phía nam của vương quốc Hungary được chia thành 6 quận là Miskolc, Debrecen, Szeged, Békés, Bihar và Plain.

14. Transylvania : là các lĩnh địa phía đông của vương quốc Hungary được chia thành 6 quận là Bacău, Suceava, Iaşi, Bihor, Cluj và Maramureş.

15. Krajova : phần phía tây của tiểu vương quốc Wallachia, được chia thành 6 quận là Krajova, Mureş, Dolj, Gorj, Timiş và Arad.

16. Crostia : nguyên là lĩnh địa Crostia thuộc Hungary; được chia thành 5 quận là Sibenik, Dubrovnik, Split, Poreč và Trogir.

17. Bosnia : nguyên là vương quốc Bosnia; được chia thành 5 quận là Sarajevo, Zvornik, Lika, Pakrac và Mostar.

18. Belgrade : nguyên là lĩnh địa của người Serbia thuộc Hungary; được chia thành 5 quận là Belgrade, Pančevo, Novi Sad, Zrenjanin và Smederevo.

19. Servia : nguyên là vương quốc độc lập của người Serbia; được chia thành 5 quận là Tivar, Bor, Kragujevac, Nis và Novi Pazar.

20. Albania : gồm 5 quận là Tirana, Podgorica, Pristina,Skopje và Vloré.

21. Thessalia : nguyên là các lĩnh địa miền bắc bán đảo Hy Lạp; được chia thành 6 quận là Thessalia, Chalcidice, Pieria, Ipiros, Athos và Evros.

22. Athens : nguyên là các lĩnh địa miền nam bán đảo Hy Lạp; được chia thành 7 quận là Athens, Euboea, Phocis, Kriti, Corinthia, Messinia và Olympia.

Ngoài ra còn có 2 lĩnh địa giáo quyền là :

1. Đại lĩnh địa Trento – Tyrol : do Vương tử - Giám mục George I de Trento cai trị, đang xin thăng cấp lên thành vương quốc.

2. Lĩnh địa Salzburg : được giao cho Vương tử - Giám mục Eberhard III de Neuhaus cai trị, vì đã có công lĩnh đạo giáo dân nổi dậy đánh đuổi quân chiếm đóng Bavaria, thần phục vương quốc Latium.

https://lh4.googleusercontent.com/_X4mRV1LWcaQ/TdClRVwO6YI/AAAAAAAAAMs/JjNWqA35g9s/s912/Ban%20do%202.PNG

Với một lĩnh thổ rộng đến 1,329,847 kilômét vuông, Vương triều Latium trở thành một thế lực hùng mạnh nhất ở Âu châu, uy hiếp tất cả các quốc gia còn lại. Hơn nữa, lĩnh thổ phần lớn nằm trong cương giới của Đế quốc La Mã cổ đại, nên vương triều Latium có thể tự nhận là sự kế thừa từ Đế quốc La Mã cổ xưa. Long nhi hoàn toàn có thể lên ngôi Imperator, tức Hoàng đế của người La Mã. Thật ra thì Long nhi đang chuẩn bị quay về Gia Định Thành thụ phong đế vị.

https://lh6.googleusercontent.com/_X4mRV1LWcaQ/TdCmNj7_fiI/AAAAAAAAAM4/an_57Y3mxC8/Hundred_years_war_france_england_1435.jpg

Phía tây bắc vương quốc Latium là vương quốc Pháp Lan Tây (Française). Trước đây, khoảng một nửa cương thổ của vương quốc Pháp Lan Tây bị quân Anh Cách Lan chiếm đóng, chủ yếu là vùng Aquitaine ở phía nam và vùng Paris ở phía bắc. Ngoài ra còn có các vùng Burgundy và Planders bị Công tước xứ Burgundy tách ra khỏi vương quốc, thành lập công quốc độc lập. Phần đất còn lại của vương quốc thì lĩnh địa Provence ở phía nam và các lĩnh địa Anjou, Maine ở lưu vực sông Loire đều thuộc về nhà Anjou. Sau khi quân đội nhà Anjou đã đánh đuổi quân Anh Cách Lan ra khỏi vương quốc thì toàn bộ các lĩnh địa do Anh Cách Lan chiếm đóng cùng với các lĩnh địa vùng Planders của Công tước xứ Burgundy cũng đều trở thành lĩnh địa của nhà Anjou. Quân Anjou chẳng khi nào đã chiếm giữ rồi lại tự nhiên nhường lại cho người khác. Vương quốc Pháp Lan Tây gần như mất nước, nhờ có nhà Anjou nổi lên phục quốc, những người khác không có công lao gì, ai lại dám đi tranh giành chiến lợi phẩm với nhà Anjou mà lúc này uy thế đang chấn nhiếp cả Âu châu (người Âu châu xem Long nhi cũng thuộc nhà Anjou). Thế cho nên, các lĩnh địa của nhà Anjou chiếm hết đại bộ phận cương thổ vương quốc Pháp Lan Tây, triều đình chỉ kiểm soát được khu vực Orléans ở vùng trung bộ, mà vùng này lại gồm vô số quý tộc lớn nhỏ. Thật ra thì vương quốc Pháp Lan Tây do các lĩnh chủ phong kiến chia nhau cai trị, quốc vương cũng chỉ là một lĩnh chủ nhỏ, lớn nhất là Anjou, tiếp đó là hai xứ Orléans và Burgundy. Sau cuộc nội chiến Armagnacs - Burgundy (1407 – 1412), các lĩnh địa của Công tước xứ Burgundy tách ra độc lập, còn Công tước xứ Orléans đại diện cho phe Armagnacs giữ vai trò nhiếp chính. Quốc vương Charles VI de Française bị bệnh tâm thần, nên chỉ là quốc vương trên danh nghĩa. Hiện tại, trong vương quốc đang có cuộc vận động tôn Công tước xứ Anjou lên làm quốc vương, bởi quốc vương hiện tại bị bệnh tâm thần, thái tử thì còn quá nhỏ và đang sống (tị nạn) ở nhà Anjou, trong khi Công tước xứ Anjou với quốc vương lại là anh em họ (cha họ là anh em ruột), và đang trực tiếp kiểm soát đến 80% vương quốc. Cuộc vận động đó còn có mục đích khác nữa là hy vọng ở sự an định của vương quốc khi nhà Anjou lên cai trị, bởi Vương triều Latium ở phía nam quá cường thế. Quốc vương hiện tại đang bị Quốc vương Anh Cách Lan tranh chấp ngai vàng (nguyên nhân của cuộc ‘chiến tranh trăm năm’). Nếu như Công tước xứ Anjou lên ngôi, mọi người tin rằng Quốc vương Anh Cách Lan sẽ chẳng dám tranh ngôi nữa. Sau hơn 80 năm chiến hỏa liên miên, hơn ai hết, người dân Pháp Lan Tây rất trông chờ vào hòa bình.

Phía bắc Vương quốc Pháp Lan Tây đương nhiên là Vương quốc Anh Cách Lan (England). Sau khi bị quân Anjou đánh đuổi ra khỏi đất Pháp Lan Tây, tình thế vương quốc Anh Cách Lan đang xấu đi rất nhanh. Vương quốc Tô Cách Lan (Scotland) ở phía bắc vốn liên minh với Vương quốc Pháp Lan Tây trong cuộc ‘chiến tranh trăm năm’, giờ đây đã chuyển sang liên minh trực tiếp với Công tước xứ Anjou, uy hiếp biên cảnh phía bắc của Anh Cách Lan. Người xứ Wales nổi lên giành độc lập năm 1400, bị quân Anh Cách Lan dập tắt cách nay hai năm (1415), giờ lại tiếp tục nổi dậy. Vương quốc Ái Nhĩ Lan (Ireland) cũng lại phản công giành lại vùng lĩnh thổ phía đông bị Anh Cách Lan chiếm đóng sau thất bại hồi 20 năm trước. Nói tóm lại, Vương quốc Anh Cách Lan lúc này ba bề thọ địch, tình thế hiểm nghèo.

gianghoaingoc
16-05-2011, 11:28 AM
Chương 117 : TÌNH THẾ ÂU CHÂU NĂM ĐINH DẬU (2)


Trong khi ở vùng tây bắc Âu châu, Vương quốc Anh Cách Lan lúc này ba bề thọ địch, tình thế hiểm nghèo, thì vùng trung bộ Âu châu cũng chẳng được yên bình. Trên cương thổ của Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức vốn có hàng nghìn công quốc lớn nhỏ, sau chiến dịch hẻm núi Kalwang, đã biến thành một lò lửa chiến tranh. Hoàng đế Sigismund de Luxembourg không còn uy tín gì nữa, ngôi vị Hoàng đế chỉ còn trên danh nghĩa, chúng vương công quý tộc không ai tuân phục. Những vương công quý tộc không tham gia chiến dịch hẻm núi Kalwang, nhân cơ hội những người tham chiến đang bị bắt, quân đội tổn thất hoàn toàn, liền đua nhau xua quân xâm chiếm lĩnh địa của bọn họ. Các cuộc chinh phục, thôn tính, cướp phá không ngừng bùng phát, chiến tranh diễn ra liên tục hàng ngày, dân chúng rên siết trong cảnh nước sôi lửa bỏng. Cũng chính những cuộc chiến tranh đó đã khiến cho việc chuộc thân của những vương công quý tộc bị bắt diễn ra rất thuận lợi, và Thần Thánh Đế quốc hoạch lợi nhiều hơn cả mong đợi. Chúng vương công quý tộc đều mong muốn nhanh chóng quay về bảo vệ lĩnh địa của mình, nên chẳng tiếc gì kim ngân tài bảo, bởi một khi lĩnh địa mất đi thì bọn họ cũng chẳng còn gì cả, đương nhiên lúc đó cũng sẽ chẳng còn cơ hội chuộc thân.

Xấu số nhất vẫn là Hoàng đế Sigismund de Luxembourg. Do tính cách hung bạo hiếu chiến, trước đây còn cường thế mà vẫn nhiều phen bị dân chúng đánh đuổi, nói gì lúc này. Nghiêm trọng nhất là vấn đề của phong trào Kháng Cách. Trong khi Công đồng Constantine đang nhóm họp, Jan Huss (tiếng Anh là John Huss, một nhà thần học, nhà cải cách tôn giáo Séc) đã đến Constantine để bày tỏ quan điểm của mình, nhưng đã bị Giáo hội Công giáo La Mã kết tội dị giáo, và bị thiêu sống (năm 1415). Khi đó, đã có 450 lĩnh chủ viết thư bênh vực ông là người chính thống về giáo lý, và đã dẫn đến cuộc nổi dậy của người Bohemia ủng hộ Jan Huss (lịch sử gọi là cuộc chiến tranh Hussites, kéo dài 15 năm với thắng lợi thuộc về phe Hussites, Giáo hội Công giáo La Mã tổ chức ba cuộc Thập tự chinh vào các năm 1420, 1423, 1431 để đàn áp nhưng vẫn thất bại), cũng như cuộc vận động thành lập Giáo hội Hussites sau này.

Do Jan Huss bị thiêu sống, những người ủng hộ Jan Huss (được gọi là Hussites) đã nổi dậy ở Bohemia. Và do Hoàng đế Sigismund de Luxembourg thất trận ở hẻm núi Kalwang, người Bohemia đã truất phế ông ta, tự thành lập Hội đồng quý tộc để cai trị vương quốc như một thể chế Nghị viện kiểu Anh Cách Lan. Để củng cố chính quyền, bọn họ đã học theo George I de Trento, gửi một sứ đoàn đến Gia Định. Trong khi đó, Hoàng đế Sigismund de Luxembourg mất đi hai vương quốc Hungary và Bohemia, cũng tức là đã mất đi hơn 90% lĩnh địa của mình, trở thành một tiểu lĩnh chủ, chẳng còn được ai tôn trọng nữa.

Ngoài ra, hiện tại mọi người đang tránh sử dụng tên gọi Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức, chỉ gọi đơn giản bằng tên Đế quốc Đức, bởi tên gọi La Mã Thần Thánh không còn thích hợp nữa do sự xuất hiện của Vương quốc Latium.

Ở phía đông bắc Vương triều Latium, tức là khu vực phía bắc Hungary, có hai vương quốc Ba Lan (Poland), Lithuania và lĩnh địa Các Hiệp sĩ Teutonic (do Hội đồng Hiệp sĩ cai trị). Giữa Vương quốc Ba Lan và lĩnh địa Các Hiệp sĩ Teutonic đang có xung đột, tuy chưa diễn biến thành chiến tranh, nhưng tình hình cũng không được yên ổn. Ở phía đông và đông nam là các tiểu vương quốc Moldavia, Wallachia, vương quốc Bulgaria và Đế quốc Ottoman, có cuộc bao vây thành Constantinople đã kéo dài gần 50 năm nay.

Chỉ có duy nhất vùng Bắc Âu là ổn định nhất, với các vương quốc Đan Mạch (Denmark), Na Uy (Norway) và Thụy Điển (Sweden). Ngoài ra, phần phía tây bán đảo Iberia, gồm các vương quốc Leon, Castile, Bồ Đào Nha (Portugal) và Granada (Hồi giáo) được sát nhập vào Thần Thánh Đế quốc, thành lập 7 tỉnh vùng Iberia (Cordova, Granada, Lisbon, Toledo, Santander, Léon và Gibraltar).

Do Thần Thánh Đế quốc thực hiện tự do tôn giáo ở tỉnh Jerusalem, chấm dứt tình trạng người Hồi giáo độc quyền kiểm soát thánh địa, nên đã có rất nhiều người Cơ Đốc giáo từ Âu châu hành hương đến đó, và cũng có không ít người ở lại, bổ sung cho thế lực Cơ Đốc giáo ở đây. Đồng thời, bởi vì nơi đây thuộc cương thổ của Thần Thánh Đế quốc, có phong khí tự do hơn ở Âu châu (lịch sử gọi Âu châu thời kỳ này là ‘Đêm dài Trung Cổ’ thì cũng đủ biết), nên phong cách truyền giáo cũng có khác hơn. Cuộc Đại Ly giáo của Giáo hội Công giáo La Mã mới kết thúc với Công đồng Constantine (vẫn còn đang nhóm họp). Giáo hội Chính Thống giáo Đông Phương đã rất suy yếu bởi cuộc tấn công của người Thổ, và thành Constantinople đang bị bao vây. Ở Bohemia, Ba Lan và Đan Mạch đang có phong trào Kháng Cách. Do đó mà người Cơ Đốc giáo ở Jerusalem tự nhận mình tiếp nối từ Giáo hội tiên khởi thời các thánh Tông đồ (nơi này là quê hương của chúa Kitô cũng như các thánh Tông đồ, cũng là nơi hình thành tổ chức giáo hội đầu tiên), và xưng là Giáo hội Nguyên thủy, để phân biệt với Giáo hội Công giáo La Mã và Giáo Hội Chính Thống giáo Đông Phương.



Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.519 (Đinh Dậu, 1417). Mùa thu tháng 8. Sinai. Đại Tây hành cung.

Sau khi chỉnh đốn xong tình hình quân chính của Vương quốc Latium, Long nhi và Đinh An Bình quay trở về Đại Tây Hành cung. Vương cung ở Syracuse vẫn còn đang trong quá trình xây dựng, nên Long nhi vẫn thích ở Đại Tây Hành cung hơn. Vương quốc Latium được tổ chức theo hình thức của Thần Thánh Đế quốc, cũng chia thành tỉnh - quận - huyện, nên dù Long nhi ở tại Sinai cũng vẫn không ảnh hưởng đến việc thống trị. Thần Thánh Đế quốc rộng lớn đến thế, Giang Phong ở tại Gia Định Thành mà vẫn thống trị được đấy thôi. Vào thời Trung Cổ, chỉ cần nắm chắc quân quyền thì ngôi vị không có vấn đề gì.

Trải qua hơn một năm đông chinh bắc phạt, Vương quốc Latium đã trở thành một đại cường quốc chiếm vị trí chủ đạo ở Âu châu. Với diện tích quốc thổ 1,329,847 kilômét vuông, Vương quốc Latium có diện tích lớn hơn cả tổng diện tích các nước Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Thụy Sĩ và Bỉ thời hiện đại. Cả nước có 22 tỉnh, 124 quận, hơn nghìn huyện và 2 lĩnh địa giáo quyền. Quân đội chính quy 6 vạn người trú đóng ở các vị trí hiểm yếu, đặc biệt là khu vực biên cảnh phía bắc và phía đông. Quân địa phương gồm 5 vạn, phụ trách phòng thủ các tỉnh thành, quận thành, huyện thành. Ngoài ra, đại lĩnh địa Trento – Tyrol cũng tăng quân số lên 1 vạn. Sau chiến tranh, George I de Trento có người có của, nên đã quyết định mở rộng quy mô quân đội. Do lĩnh địa nằm ở vùng biên cảnh nên lão phải đề phòng tình trạng xấu nhất (thật ra thì lão đang chờ cơ hội mở mang lĩnh địa, bởi giờ đây các vương công quý tộc ở Đế quốc La – Đức đâu dám dẫn quân vượt qua biên giới của Vương quốc Latium). Mới hơn một năm trước lão còn lo lĩnh địa bị xâm chiếm, mà giờ đây lão lại tìm cơ hội xâm chiếm lĩnh địa kẻ khác, quả là tình cảnh khác nhau một trời một vực. Mỗi khi nói chuyện với bằng hữu, lão vẫn tự hào nói rằng việc đi đến Gia Định đã đổi thay số phận của lão.

Long nhi giờ đây đã 14 tuổi. Sau gần 2 năm gần gũi Giang Phong, sau hơn 1 năm cai trị Vương quốc Latium, Long nhi đã trưởng thành rất nhiều, đã có được ít nhiều uy thế của đế vương, nói một cách văn hoa là ‘vương giả phong phạm’. Trong chính điện, cậu bé cùng Đinh An Bình bàn bạc đại sự. Cậu bé hỏi :

- Phụ hoàng triệu chúng ta về Gia Định. Vương gia định khi nào sẽ khởi trình ?

Đinh An Bình nói :

- Tình hình Âu châu cũng tương đối ổn định rồi. Tin rằng hiện tại chẳng có nước nào dám gây hấn với Đế quốc cũng như Vương quốc Latium đâu. Việc ở đây để lại cho chư tướng giải quyết cũng không vấn đề gì. Mười ngày nữa chúng ta sẽ khởi trình. Điện hạ thấy thế nào ?

Long nhi gật đầu nói :

- Cũng được. Vương gia có biết phụ hoàng triệu chúng ta về cung vì việc gì không ?

Đinh An Bình mỉm cười nói :

- Còn việc gì nữa đâu ! Đương nhiên là việc điện hạ gia miện xưng đế rồi. Nên biết, Vương quốc Latium hiện tại rộng gấp rưỡi tổng diện tích 5 Đế quốc ở Trung Hoa đó nha !

Hiện tại ở Trung Hoa có 5 Đế quốc là Đại Minh (ở Hà Bắc), Đại Tống (ở Sơn Đông và vùng Khai Phong), Đại Hán (ở Hà Nam trừ vùng Khai Phong), Đại Đường (ở Thiểm Tây), Tấn (ở Sơn Tây) và 2 vương quốc Hạ (ở Tứ Xuyên), Lương (ở Cam Túc). Tổng diện tích 5 Đế quốc chỉ có khoảng 875,000 kilômét vuông, nhỏ hơn diện tích Vương quốc Latium nhiều. Đương nhiên dân số thì đông hơn. Người Trung Hoa nổi tiếng về việc đông dân kia mà. Tổng quân số của 5 Đế quốc lên đến 150 vạn, trong khi Vương quốc Latium chỉ có 11 vạn, kể luôn địa phương quân.

Long nhi nghe Đinh An Bình nói vậy, lắc đầu nói :

- Không phải. Ta nghe nói có việc xung đột ở nam Thiên Trúc. Không rõ sự tình thế nào ? Phụ hoàng có quyết định chinh phạt nam Thiên Trúc hay không ?

Đinh An Bình cười nói :

- Cũng chẳng có chuyện gì đáng kể đâu ! Trước đây Vương triều Vijayanagara thống trị toàn bộ nam Thiên Trúc, có hàng trăm tiểu quốc chư hầu. Sau này Đế quốc chiếm Tích Lan, công kích nam Thiên Trúc, buộc Vương triều Vijayanagara phải nạp cống cầu hòa. Từ đó thế lực của Vương triều Vijayanagara ngày càng yếu hơn. Gần đây, người Mông Cổ ở bắc Thiên Trúc lấn xuống phía nam, xung đột với Vương triều Vijayanagara. Các tiểu quốc phương nam thấy thế, muốn tìm nơi bảo hộ vững chắc hơn, nên đã xin thần phục Đế quốc. Vương triều Vijayanagara phản đối việc ấy, thành ra có xung đột với Đế quốc. Nhưng đối với Đế quốc, Vương triều Vijayanagara chẳng đáng kể gì !

Long nhi hỏi :

- Theo Vương gia thì phụ hoàng có quyết định chinh phạt nam Thiên Trúc không ?

Đinh An Bình nói :

- Chúng ta không nên phỏng đoán thánh ý, chỉ nên phụng chỉ hành sự. Hơn nữa, dù có tiến hành chinh phạt nam Thiên Trúc thì cũng không phải là nhiệm vụ của chúng ta. Đã đến lúc Triệu vương gia cầm quân rồi.

Đinh An Bình và Triệu Phong vẫn luân phiên nhau cầm quân chinh phạt. Đinh An Bình vừa mới phụ trách chinh phạt Âu châu, nên lần chinh phạt sau sẽ được giao cho Triệu Phong đảm nhiệm.

gianghoaingoc
16-05-2011, 11:40 AM
Chương 118 : ĐỨC THƯỢNG PHỤ VÀ NGÀI HỒNG Y PHÓ TẾ


Gia Định Thành.

Long nhi đứng trên đầu thuyền, nhìn về phía thành Gia Định ở phía xa. Lục Tinh cấp chiến hạm khi tiến vào Gia Định Giang, mọi thuyền bè khác đều phải nhường đường. Đã hơn một năm rồi Long nhi mới trở lại Gia Định. Ba năm trước, Long nhi lần đầu đến Gia Định cùng Hồng y Giám mục George I de Trento và quản gia Ferdinand Caracciolo (giờ đây là Bá tước Ferdinand de Artois) với thái độ lo lắng hoang mang. Giờ đây, thân phận của Long nhi đã khác đi, và thế lực của Long nhi ở Âu châu chỉ có đi uy hiếp nước khác chứ không sợ bị nước khác uy hiếp nữa.

Hiện tại, trên thuyền ngoài những người cũ năm xưa như Hồng y Giám mục George I de Trento và Bá tước Ferdinand de Artois, còn có thêm hai em trai của Long nhi là Réne de Anjou – 8 tuổi và Charles de Le Maine – 3 tuổi; Hồng y Phó tế Otto de Colonna của San Giorgio in Velabro, người đại diện cho Công đồng Constantine của Giáo hội Công giáo La Mã; Linh mục Jan Želivský, đại diện của Hội đồng quý tộc vương quốc Bohemia, và cũng là lĩnh tụ của những người ủng hộ Huss (Hussites); Thượng phụ giáo chủ Theophilus II của Jerusalem, tức là lĩnh tụ của Giáo hội Nguyên thủy, còn gọi là Giáo hội Cơ Đốc giáo Nam phương (để phân biệt với Giáo hội Công giáo La Mã ở phía tây và Giáo hội Chính Thống giáo Đông Phương ở phía đông). Vậy là chỉ còn thiếu đại diện của Tòa Thượng phụ Constantinople nữa là đủ mặt đại diện các hệ phái của Cơ Đốc giáo.

Tòa Thượng phụ của Jerusalem có thể tự xưng là Giáo hội Nguyên thủy, bởi vì nó có nguồn gốc từ tổ chức Giáo hội đầu tiên của Cơ Đốc giáo, với vị Giám mục đầu tiên là James the Just, người được xem là James Adelphotheos, nghĩa là James người anh em của Chúa (có những cách gọi như “the brother of God”, “Jesus’ cousin”, “the brother of our Lord”), người đã Tử vì đạo vào năm 62. Bách Khoa Toàn Thư Công Giáo (Catholic Encyclopedia, phát hành lần đầu tiên ở Mỹ năm 1907) viết : “Trong suốt nhiều thế kỷ đầu tiên của Cơ Đốc giáo, các nhà thờ nơi đây đã là trung tâm của Cơ Đốc giáo ở Jerusalem, ‘Thần thánh và vinh quang Sion, mẹ của tất cả các nhà thờ’ (Holy and glorious Sion, mother of all churches). Chắc chắn không có nơi nào trong Cơ Đốc giáo đáng kính hơn so với vị trí của Last Supper, nơi đã trở thành nhà thờ Cơ Đốc giáo đầu tiên”. Do vậy, Jerusalem mới trở thành thánh địa của toàn thể những người thờ phụng Cơ Đốc, dù theo hệ phái nào, và Tòa Thượng phụ của Jerusalem có thể tự hào về nguồn gốc của mình.

Cũng vì những nguyên nhân đó, tuy rằng quan hệ giữa Hồng y Phó tế Otto de Colonna và Linh mục Jan Želivský khá là căng thẳng, thì quan hệ giữa Thượng phụ giáo chủ Theophilus II với hai người họ vẫn tốt đẹp. Cũng giống như địa vị của nhà Anjou đối với các chi tộc thuộc các triều đại Angevin ở Âu châu vậy.

Từ sau cuộc Đại Ly giáo Đông - Tây, thế lực của Giáo hội Chính thống giáo Đông Phương (còn gọi là Đông Chính giáo) và Giáo hội Công giáo La Mã (còn gọi là Công giáo, nhưng bị các hệ phái Cơ Đốc giáo khác phản đối, khi có quan hệ với các hệ phái Cơ Đốc giáo khác, Tòa thánh Vatican phải dùng danh hiệu Giáo hội Công giáo La Mã) gần như tương đương nhau. Nhưng khi Đế quốc Byzantine ngày càng suy yếu, thì cán cân thế lực giữa song phương càng ngày càng nghiêng về phía Tây phương. Đến khi quân đội Thần Thánh Đế quốc tiến vào Jerusalem thuộc Vương triều Mamluk ở Ai Cập, thế lực Cơ Đốc giáo ở đây quật khởi, và Giáo hội Chính thống giáo Đông phương bị chia làm hai : phía bắc thuộc về Giáo hội Chính thống giáo Đông phương ở Constantinople và phía nam tách ra thành lập Giáo hội Nguyên thủy ở Jerusalem. Theo lẽ thì thế lực của hai hệ phái này càng yếu hơn nữa. Nhưng chỉ có Đông Chính giáo là yếu đi, còn Giáo hội Nguyên thủy dựa vào Thần Thánh Đế quốc mà phát triển mạnh mẽ, nhất là khi chế độ Cộng quản ở thành Jerusalem được thiết lập, rất nhiều tín đồ Cơ Đốc từ Âu châu đã kéo đến đất thánh hành hương và chạy loạn, lánh nạn chiến tranh ở quê nhà, đặc biệt là những người giàu có, mang theo cả gia tài đến đây lập nghiệp, càng khiến cho thế lực của Giáo hội Nguyên thủy tăng lên nhanh chóng. Đặc biệt là sự thành lập Vương triều Latium, đã trở thành bàn đạp cho thế lực của Giáo hội Nguyên thủy tiến vào Âu châu lục địa. Nên nhớ rằng toàn bộ quân đội cũng như đại bộ phận quan viên của Vương triều Latium đều được tuyển mộ từ các tín đồ Cơ Đốc ở Jerusalem và Syria.

Lúc này đây, cũng ở đầu thuyền, cách chỗ Long nhi không xa, Hồng y Phó tế Otto de Colonna và Thượng phụ giáo chủ Theophilus II đang đứng nói chuyện, không khí xem có vẻ rất hòa hảo. Thượng phụ giáo chủ Theophilus II thực tế là lĩnh tụ của Giáo hội Cơ Đốc giáo Nam phương, lại có chỗ dựa là Thần Thánh Đế quốc, nên có thế lực vững chắc, địa vị đặc thù. Còn Hồng y Phó tế Otto de Colonna mặc dù tương lai có thể trở thành lĩnh tụ của Giáo hội Công giáo La Mã, một trong ba hệ phái lớn của Cơ Đốc giáo, nhưng lúc này vẫn chưa trở thành Đức Thánh Cha, vẫn còn là Hồng y Phó tế. Hơn nữa, chỗ dựa của Giáo hội Công giáo La Mã là các quân vương Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức, mà đứng đầu là Hoàng đế Sigismund de Luxembourg, thì lúc này Hoàng đế Sigismund de Luxembourg đã thất thế, và Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức danh tồn thật vong, dần dần bị thay thế bằng Đế quốc Đức tứ phân ngũ liệt. Đó là nguyên nhân chuyến đi đến Gia Định của Hồng y Phó tế Otto de Colonna. Do vậy mà khi đối diện Thượng phụ giáo chủ Theophilus II, Hồng y Phó tế của chúng ta cảm thấy ít nhiều tự ti. Cũng vì thế, câu chuyện giữa hai người họ ít nhắc đến chuyện giáo hội, mà chỉ đàm luận thời cuộc, cũng như Đức Thượng phụ giới thiệu với Ngài Hồng y Phó tế về Thần Thánh Đế quốc. Kể từ khi thuyền rời Sinai, Ngài Hồng y Phó tế đã có khái niệm rõ ràng hơn về sự rộng lớn và hùng mạnh của Thần Thánh Đế quốc.

Cả hai nói chuyện một hồi thì Long nhi đi đến chỗ bọn họ. Hai người họ vội chào hỏi :

- Điện hạ.

- Bệ hạ.

Thượng phụ giáo chủ Theophilus II gọi Long nhi là Điện hạ bởi Long nhi là Hoàng tử của Thần Thánh Đế quốc. Còn Hồng y Phó tế Otto de Colonna gọi Long nhi là Bệ hạ do chức vụ Quốc vương Latium. Đế chuẩn bị cho chuyến đi này, Hồng y Phó tế đã học tập ngôn ngữ của Thần Thánh Đế quốc, tuy chưa thể nói viết thông thạo, nhưng cũng có thể giao tiếp thông thường được. Ở Âu châu lúc này tràn ngập thương nhân của Thần Thánh Đế quốc hoặc có quan hệ với Thần Thánh Đế quốc (đa phần là người Âu châu và người Do Thái ở Jerusalem), nên việc học tập ngôn ngữ của Thần Thánh Đế quốc cũng không khó khăn gì. Long nhi mỉm cười hỏi :

- Sắp đến Gia Định rồi. Nhị vị không gặp vấn đề gì chứ ?

Thượng phụ giáo chủ Theophilus II nói :

- Điện hạ. Thuyền rất vững vàng, chúng ta không bị gì cả.

Hồng y Phó tế Otto de Colonna cũng nói :

- Đúng thế. Thuyền quá lớn, đi trên biển mà vẫn yên ổn như trên đất liền vậy.

Long nhi mỉm cười nói :

- Lát nữa đến Gia Định, nhị vị cứ đến ở tại Cung điện của ta.

Thượng phụ giáo chủ Theophilus II biết Cung điện của Long nhi nằm bên trong Trường Thanh Cung, nên cả mừng nói :

- Đa tạ Điện hạ.

Hồng y Phó tế Otto de Colonna tuy chưa hiểu rõ ý nghĩa của việc đó, nhưng thấy Đức Thượng phụ nói vậy thì cũng nói theo :

- Đa tạ Bệ hạ.

Ba người hàn huyên một lúc nữa thì chiến hạm tiến vào khu vực Quân cảng. Ở Gia Định Thành có hai bến cảng : Thương cảng và Quân cảng. Để bảo đảm an ninh cho bọn Long nhi cũng như các sứ đoàn, chiến hạm của bọn họ sẽ ghé vào Quân cảng. Thương cảng long xà hỗn tạp, không chỉ khó tiến hành việc bảo vệ mà còn gây cản trở cho việc buôn bán của dân chúng. Chỉ có điều, lúc này chiến hạm đã đến trước Quân cảng, nhưng lại không thể cập cảng được. Trong bến cảng đang có hàng trăm hạm thuyền neo đậu, trong đó có cả Thất Tinh cấp chiến hạm và Lục Tinh cấp chiến hạm, chiếm hết diện tích của cầu cảng. Long nhi ngạc nhiên nói :

- Hôm nay làm gì mà Quân cảng có nhiều hạm thuyền thế nhỉ ?

Hồng y Phó tế Otto de Colonna hỏi :

- Bình thường nơi đây không có nhiều hạm thuyền ư ?

Thượng phụ giáo chủ Theophilus II giải thích :

- Bình thường các hạm thuyền của Hải quân đều neo đậu ở căn cứ Hải quân Long Sơn. Còn dân thuyền thì neo đậu ở Thương cảng.

Giữa lúc đó thì Đinh An Bình đi đến. Long nhỉ hỏi :

- Vương gia có biết ở Quân cảng đang có chuyện gì không ?

Đinh An Bình gần đây uy danh hiển hách, chấn động Âu châu các xứ. Đức Thượng phụ và Ngài Hồng y Phó tế vội chắp tay chào hỏi. Đinh An Bình gật đầu đáp lễ, rồi nói :

- Hạm thuyền chở cống vật từ các tỉnh. Chúng ta phải chờ thêm một lúc nữa. Quan viên của Quân cảng đang thu xếp để hạm của chúng ta có chỗ neo đậu.

Long nhi gật đầu nói :

- Không sao. Chờ một lúc cũng không hề gì !

gianghoaingoc
16-05-2011, 11:50 AM
Chương 119 : VẠN QUỐC LAI TRIỀU


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.519 (Đinh Dậu, 1417). Mùa thu, tháng 9. Gia Định Thành. Trường Thanh Cung. Tử Tiêu Điện.

Giờ đã cuối thu, sắp chuyển sang mùa đông, nhưng Gia Định Thành nằm ở vùng nhiệt đới, lại chịu ảnh hưởng của miền khí hậu hải dương, nên quanh năm ấm áp, mùa đông cũng không lạnh lắm, cùng với sự phồn hoa của nó, có thể xem là ‘tứ quý như xuân’, một sự xưng tụng mà người xưa chỉ dành cho các chốn thế ngoại đào nguyên.

Như thường lệ, Giang Phong duyệt đọc báo cáo về tình hình chính sự trong triều. Việc triều chính ở Đế quốc, Giang Phong giao cho chúng triều thần chia nhau xử lý, chỉ cần định kỳ hồi báo cho Giang Phong biết. Giang Phong tự biết mình không giỏi xử lý chính sự, lại muốn an nhàn, nên đã giao quyền cho triều thần. Giang Phong chỉ quyết định quốc sách, chiến lược, hay định đoạt các đại sự kiện. Thân tự thân vi chỉ khiến cho mình lao tâm lao lực, rồi đoản thọ giống như Gia Cát Vũ hầu. Quyền lực, Giang Phong đã đạt đến tột đỉnh quyền uy, nên đối với quyền lực chẳng có tham vọng gì nữa.

Khi Giang Phong duyệt đọc biểu tấu, Quảng Tế Pháp sư đứng bên cạnh giải thích những vấn đề trong đó. Lão theo Giang Phong ngay từ khi Giang Phong mới giáng lâm thế giới này, sang năm nữa là tròn 20 năm, lão cũng đã quá tuổi cổ lai hy, nhưng giờ vẫn còn khỏe mạnh, tinh thần bão mãn, xem ra sống đến trăm tuổi cũng không vấn đề gì. Khi Giang Phong xem đến những biểu tấu về các lĩnh thổ ở Mỹ châu, Quảng Tế Pháp sư nói :

- Khải tấu Thánh hoàng. Từ bán đảo Iberia đi về phía tây, vượt qua Đại Tây Dương sẽ đến một vùng bình nguyên trù phú, nhưng dân cư thưa thớt và lạc hậu. Dân bản địa còn lạc hậu hơn cả các xứ Phi châu. Bản triều đã men theo bờ biển từ bắc xuống nam thiết lập hàng trăm khu định cư, tương tự như các khu định cư ở Phi châu, cứ cách 100 dặm lại có một khu định cư như vậy. Những khu định cư nhỏ chỉ vài trăm cư dân, còn những khu định cư lớn có đến hàng nghìn, có quân đội trú đóng. Mỗi khu định cư đều được xây dựng một bức tường thành kiên cố bao quanh, cao 10 mét, dày 2, 3 mét, bên trong chứa đầy lương thực, và dân chúng đều được vũ trang, có thể giữ vững ít nhất nửa năm một khi có biến cố. Và chỉ cần tin cáo cấp được phát đi, chậm nhất là sau hai tháng sẽ có đại quân cứu ứng.

Giang Phong hỏi :

- Chỉ mới thiết lập được các khu định cư ở bờ biển phía đông ?

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Ở bờ biển phía tây Mỹ châu, bản triều mới khai thác được vùng phía bắc. Vì Đại Đông Dương quá rộng lớn, các chiến hạm của chúng ta xuất phát từ Đông Doanh và Trung Hải đảo chỉ có thể tiếp ứng cho vùng bắc Mỹ châu. Theo kế hoạch, vùng nam Mỹ châu sẽ được khai phá trong vài năm tới.

Đại Đông Dương tức là Thái Bình Dương, vì là phần mở rộng của Đông Hải, nên được gọi là Đại Đông Dương, đối ứng với Đại Tây Dương ở phía bên kia. Hòn đảo Hawai’i ở giữa Đại Đông Dương được gọi là Trung Hải đảo. Do bờ biển phía đông Mỹ châu và bờ biển phía tây Âu châu, Phi châu gần như song song với nhau qua Đại Tây Dương, nên việc tiếp tế được tiến hành tương đối dễ dàng. Còn ở bờ biển phía tây Mỹ châu, Đế quốc chỉ mới tiếp tế được cho vùng bắc Mỹ châu, thông qua các căn cứ Hải quân ở Đông Doanh và Trung Hải đảo, nên vùng nam Mỹ châu phải chờ đến khi các khu định cư ở bắc Mỹ châu đã phát triển ổn định, rồi mới có thể khai thác.

Giang Phong lại xem đến biểu tấu về các sứ đoàn. Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Dịp này có đến 1 vạn 8.316 sứ đoàn của các Đế vương Trung Hoa, các phiên quốc Đông Doanh, các Hãn quốc Mông Cổ, các tiểu quốc nam Thiên Trúc, các tiểu vương Hồi giáo, các tiểu vương Phi châu, các tiểu vương và tù trưởng Mỹ châu. Sứ đoàn đông nhất có đến hơn trăm người, sứ đoàn ít nhất chỉ có 3 người. Hiện ở Gia Định Thành đã có đến hơn chục vạn sứ tiết các phương.

Thời Trung Cổ tiểu quốc như rừng (tiểu quốc lâm lập). Chỉ riêng các xứ nam Thiên Trúc (tức vùng nam Ấn Độ, hay Cộng hòa Ấn Độ ngày nay; trước đây các xứ Pakistan, Butan, Nepan, Bangladesh cũng được gọi là Ấn Độ) đã có cả nghìn tiểu quốc. Các xứ A Lạp Bá cũng tương tự. Còn Phi châu và Mỹ châu thì càng nhiều hơn. Các bộ lạc cũng được xem là các thực thể tương đương tiểu quốc, bởi có nhiều bộ lạc (ví dụ bộ lạc Mông Cổ) có dân số đông gấp mấy lần các tiểu quốc ở nam Thiên Trúc hay các xứ A Lạp Bá. Do đó, hơn vạn sứ đoàn đủ để đại biểu ‘vạn quốc lai triều’, một trong những vinh dự quan trọng của các triều đại xưa.

Giang Phong hỏi :

- Không có sứ đoàn nào đến từ Âu châu hay sao ?

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Có ạ ! Nhưng bọn họ đi cùng với Điện hạ và Chiêu Đức Vương. Có sứ tiết của Giáo hội Công giáo La Mã, Vương quốc Bohemia, Đại lĩnh địa Trento – Tyrol, Lĩnh địa Salburg. Còn có hai em của Điện hạ, là Công tước Réne de Anjou và Công tước Charles de Le Maine xứ Bourbon. Ngoài ra, theo tin hồi báo từ Sinai, đã có thêm các sứ đoàn khác đang trên đường đến Gia Định, như : Vương quốc Anh Cách Lan, Vương quốc Tô Cách Lan, Vương quốc Ái Nhĩ Lan, Lĩnh địa Wales, Vương quốc Đan Mạch, Vương quốc Na Uy, Vương quốc Thụy Điển, Vương quốc Ba Lan, Vương quốc Lithuania, Lĩnh địa Các Hiệp sĩ Teutonic, Vương quốc Moldavia, Vương quốc Wallachia, Vương quốc Bulgaria, Công quốc Silesia, Công quốc Saxony, Công quốc Palatine, Công quốc Lorraine, Công quốc Cologne, Lĩnh địa Pomerania, Công quốc Liechtenstein, Liên minh các Công quốc xứ Nederland, Lĩnh địa giáo quyền Liège.

Nederland, âm Hán Việt là Ni Đức Lan, có nghĩa là Vùng đất thấp, thường bị gọi lầm là Hà Lan (Holland) mà thực tế Hà Lan chỉ là một tỉnh (provincy) của nước này (đến năm 1840 mới được chia thành 2 tỉnh là Nam Hà Lan và Bắc Hà Lan). Khi Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức suy yếu, 7 Công quốc xứ này đã ly khai thành lập Liên minh Utrecht vào năm 1568 và tuyên bố độc lập vào năm 1579. Thế nhưng, lúc này Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức đã tan rã và lâm vào cảnh nội chiến. Có lẽ đây cũng là cơ hội cho các xứ Nederland độc lập chăng ?

Giữa lúc này, có thị vệ vào báo :

- Khải tấu Thánh hoàng. Chiến hạm của Điện hạ và Chiêu Đức Vương đã đến Gia Định, vì gặp phải các hạm thuyền chở cống phẩm đang bốc dỡ hàng nên chưa thể vào Quân cảng.

Giang Phong cho thị vệ lui ra, rồi hỏi Quảng Tế Pháp sư :

- Hôm nay các hạm thuyền chở cống phẩm đến Gia Định ?

Quảng Tế Pháp sư tâu :

- Khải tấu Thánh hoàng. Các hạm thuyền chở cống phẩm bắt đầu từ nửa tháng trước đã lần lượt đến Long Sơn. Nhưng vì khi vào Gia Định là phải phong tỏa Gia Định Giang, ảnh hưởng đến sinh kế của dân chúng, nên thần đã cho tập trung ở Long Sơn, rồi khi đến đông đủ thì cùng vào Gia Định một lúc. Chiều qua, đoàn hạm thuyền cuối cùng đến từ Mỹ châu đã đến Long Sơn, rồi hôm nay mới cùng vào Gia Định. Do hạm thuyền chở cống phẩm nặng nề chậm chạp, nên các sứ đoàn đã đi theo thuyền nhẹ đến trước.

Giang Phong bảo :

- Được rồi. Khanh hãy ra Quân cảng tiếp đón Long nhi và Đinh khanh gia.

Quảng Tế Pháp sư vâng dạ, cáo thoái rời cung, đi ra Quân cảng tiếp đón Long nhi và Đinh An Bình.

Khi lão ra đến Quân cảng thì chiến hạm của bọn Long nhi vẫn còn ở ngoài sông, chưa thể cập cảng. Lão đành thân tự chỉ huy quan quân tập trung vận chuyển hết cống phẩm trên một hạm thuyền xuống cảng, để rồi cho hạm thuyền đó rời cảng, dành chỗ lại cho chiến hạm của bọn Long nhi.

Cuối cùng thì chiến hạm cũng có thể cập cảng. Long nhi lên bờ, thấy Quảng Tế Pháp sư chờ sẵn ở đó, kinh ngạc nói :

- Sao dám phiền lão Pháp sư chờ chúng ta ở đây ?

Quảng Tế Pháp sư cười nói :

- Ta đang ở Tử Tiêu Điện tấu trình chính sự, thì Thánh hoàng được tin Điện hạ và Đinh vương gia hồi triều, nên phái ta ra đây đón tiếp.

Long nhi vội nói :

- Không dám. Không dám. Thật phiền lão Pháp sư.

Nói đoạn, Long nhi gọi hai người em của mình đến, giới thiệu :

- Lão Pháp sư. Đây là Réne de Anjou, Công tước xứ Anjou và Charles de Le Maine, Công tước xứ Bourbon. Hai em. Đây chính là Quảng Tế Pháp sư, chưởng quản toàn bộ chính vụ của Đế quốc. Hai em hãy mau chào lão Pháp sư.

Réne de Anjou vội chắp tay chào hỏi :

- Xin bái kiến lão Pháp sư.

Charles de Le Maine đứng nép phía sau Long nhi, ló đầu ra giơ tay chào :

- Xin chào lão Pháp sư. Lão Pháp sư khỏe ạ ?

Quảng Tế Pháp sư phì cười, nói :

- Tiểu công tử đáng yêu quá !

Bé Charles quả thật là rất đáng yêu, ai thấy cũng đều quý mến.

gianghoaingoc
16-05-2011, 12:00 PM
Chương 120 : BÁCH PHƯƠNG TIẾN CỐNG


Lại nói, sau khi Long nhi giới thiệu hai em của mình với Quảng Tế Pháp sư xong, sự ngây thơ của bé Charles khiến cho lão Pháp sư rất yêu quý. Sau đó Đinh An Bình, Thượng phụ giáo chủ Theophilus II và Hồng y Giám mục George I de Trento cùng bước đến chào hỏi. Quảng Tế Pháp sư không chỉ chưởng quản chính vụ của Đế quốc, mà còn là Nguyên lão trọng thần, theo Giang Phong sớm nhất, được Giang Phong tin tưởng giao cho quản lý cả tài sản Hoàng gia và Ám bộ - tổ chức tình báo của Đế quốc. Do vậy, trong toàn Đế quốc, trừ Giang Phong ra thì lão Pháp sư có địa vị tôn quý nhất, cả bọn Đinh An Bình và Triệu Phong, hai vị quân vụ đại thần, cũng phải tôn kính.

Trong khi đó, Hồng y Phó tế Otto de Colonna và Linh mục Jan Želivský nghe nói lão Pháp sư chưởng quản toàn bộ chính vụ của Thần Thánh Đế quốc, đều cả kinh, vội vã bước đến vái chào. Quảng Tế Pháp sư cũng chào đáp lễ, rồi nói với Long nhi :

- Dịp này có 1 vạn 8.316 sứ đoàn các tiểu quốc đến Gia Định triều cống, cống phẩm hơi nhiều, nên Điện hạ phải chờ lâu.

Long nhi ngạc nhiên hỏi :

- Có đến 1 vạn 8.316 sứ đoàn các tiểu quốc ?

Quảng Tế Pháp sư cười nói :

- Đó là chưa kể Vương quốc Latium của Điện hạ, cùng với sứ đoàn Pháp Lan Tây, Bohemia và cả 22 tiểu quốc Âu châu đang trên đường đến đây.

Bọn Hồng y Phó tế Otto de Colonna, Linh mục Jan Želivský và cả Réne de Anjou nghe nói có đến hàng vạn sứ đoàn các tiểu quốc, đều chấn kinh vô cùng. Bọn họ chưa có khái niệm đầy đủ về thế giới, chỉ khi tiếp xúc với Thần Thánh Đế quốc thì được biết thêm về Mỹ châu, Phi châu, và biết rằng những nơi đó lớn hơn Âu châu rất nhiều lần. Đến khi nhìn thấy Thế Giới Đồ Bản trên chiến hạm của Đế quốc Hải quân thì mới biết được diện mạo thế giới và sự rộng lớn của Thần Thánh Đế quốc. Đối với những địa phương phức tạp, khó chinh phục, Giang Phong cho phép bọn họ thần phục trên danh nghĩa với một khoản cống nạp nhẹ nhàng. Do đó mà các xứ đông Mông Cổ (các lĩnh địa của người Mông Cổ, trừ Hãn quốc Kim trướng và Hãn quốc Chagotai ở phía tây), bắc Trung Hoa (trừ vùng Hà Bắc của Đại Minh) Đông Doanh, Triều Tiên (trừ vùng 3 đạo trung bộ của Lý thị vương triều), nội địa A Lạp Bá (vùng sa mạc Arab), nội lục Phi châu, Mỹ châu đều được xem là lĩnh thổ của Đế quốc. Trên danh nghĩa, lĩnh thổ của Thần Thánh Đế quốc đã chiếm trên 90% diện tích địa cầu (đương nhiên là có rất nhiều vùng đất chỉ trên danh nghĩa).

Trong khi đó, bé Charles nghe nói đến cống phẩm, ngơ ngác nhìn quanh với vẻ hiếu kỳ, hỏi :

- Cống phẩm ở đâu ạ ?

Quảng Tế Pháp sư nhìn bé, rồi nhìn Long nhi, mỉm cười nói :

- Nếu như Điện hạ muốn xem cống phẩm thì xin mời.

Long nhi ngần ngại nói :

- Cống phẩm chư quốc tiến cống lên phụ hoàng, chúng ta xem trước có tiện không ạ ?

Quảng Tế Pháp sư mỉm cười nói :

- Không hề gì ! Cống phẩm sau khi kiểm kê sẽ được chuyển hết vào kho, chưa chắc Thánh hoàng có thời gian nhìn đến nó. Đối với Thánh hoàng, của cải chẳng qua cũng chỉ là những con số mà thôi. Hiện tại trong cung đã tràn ngập kim ngân tài vật, kỳ trân dị bảo. Có lẽ sang năm lại phải mở rộng Trường Thanh Cung một lần nữa.

Nói đoạn lão nắm tay bé Charles, dẫn đi xem cống phẩm, vừa đi vừa vui vẻ nói :

- Tiểu công tử cứ tự nhiên thoải mái như ở nhà vậy. Không cần phải ngại. Thật ra thì ta cũng chưa nhìn thấy cống phẩm, cũng muốn xem cho biết.

Mọi người liền đi về phía trung tâm Quân cảng. Ở đó có một khu vực được dựng mái che, bên dưới bày la liệt hàng chục vạn chiếc rương lớn nhỏ đủ loại. Đó là những rương cống phẩm được tạm chuyển lên đây, chờ đưa vào cung cất giữ. Quảng Tế Pháp sư ra lệnh cho quan quân mở nắp rương ra xem. Ngay lập tức, ánh châu quang bảo khí làm mọi người lóe mắt. Trong các rương toàn là kim ngân tài vật hay kỳ trân dị bảo. Một lượng lớn tài bảo tập trung vào một chỗ, làm đa số mọi người chấn kinh đến mức mất cả tư duy, mất cả cảm giác, chỉ biết đứng lặng người mà nhìn về phía châu quang bảo khí. Hàng trăm chiến hạm cỡ lớn chở đầy cống phẩm cũng đủ thấy số lượng lớn đến mức nào. Đương nhiên bọn Quảng Tế Pháp sư, Đinh An Bình thường xuyên diện đối số lượng lớn cống phẩm, nên vẫn xem như thường. Đế quốc đâu phải lần đầu tiên thu nhận cống phẩm, chỉ có không nhiều, không tập trung như lần này mà thôi. Dù vậy, số lượng tài bảo trong Trường Thanh Cung cũng vô cùng lớn, nhiều hơn số trên bến cảng nhiều. Đế quốc tụ tập hơn chục năm nay kia mà. Thành ra bọn họ đối diện số lượng lớn cống phẩm, chỉ cảm thấy tự hào mà thôi.

Quảng Tế Pháp sư gọi Long nhi :

- Điện hạ. Chúng ta xem qua một lượt thôi rồi còn nhập cung diện thánh.

Long nhi giật mình, quay mặt đi, gật đầu nói :

- Phải rồi. Chúng ta đi thôi.

Nói rồi đến bế bé Charles lên. Bé Charles còn quá nhỏ, không có khái niệm về kim ngân tài bảo, chỉ xem đó là những thứ đồ chơi rất đẹp mà thôi. Bé chỉ vào một viên hồng ngọc to bằng nắm tay, tỏa ánh hồng quang lấp lánh, nói :

- Đẹp quá anh ơi !

Long nhi âu yếm xoa đầu bé, mỉm cười bảo :

- Được rồi. Chúng ta hãy về cung nghỉ ngơi. Em đói chưa nào !

Bé vội gật đầu nói :

- Vâng. Em đói rồi ạ. Chúng ta đi ăn đi !

Réne de Anjou chợt hỏi :

- Anh ơi. Toàn bộ số cống phẩm đó đều là lễ vật các nước dâng lên Thánh hoàng phải không ạ ?

Long nhi gật đầu nói :

- Phải rồi.

Quảng Tế Pháp sư lại nói thêm :

- Bao nhiêu đây cũng chỉ là một bộ phận. Còn rất nhiều trên chiến hạm chưa được chuyển xuống. Ngoài ra còn có 10 vạn chiến mã cống phẩm từ các xứ Mông Cổ đang được nuôi dưỡng ở Mã trường tại Long Sơn.

Hồng y Phó tế Otto de Colonna và Linh mục Jan Želivský ở gần đó đều giật thót mình khi nghe nhắc đến 10 vạn chiến mã. Khác với kim ngân tài bảo, chiến mã đồng nghĩa với chiến lực. Có được 10 vạn chiến mã thì cũng có thể huấn luyện được 10 vạn kỵ binh. Nghĩ đến 10 vạn kỵ binh xung trận, ai nấy đều rùng mình. Chiến mã khác với phổ thông mã. Phổ thông mã chỉ có thể dùng làm sức kéo, còn chiến mã dùng cho chiến trận, quý hơn nhiều. Ít thì không sao, nhưng với một số lượng lớn thì không hẳn có tiền là mua được. Vương quốc Pháp Lan Tây tập trung toàn quốc cũng chỉ được hơn vạn kỵ sĩ. Vương quốc Anh Cách Lan chỉ có hơn nghìn. Đế quốc Mông Cổ chỉ dùng 2 vạn kỵ binh để tấn công Âu châu, cũng đủ thấy ở Âu châu chiến mã quý hiếm đến mức nào.

Réne de Anjou nghe vậy, lại rụt rè nói :

- Anh ơi. Em không có lễ vật gì hết nha !

Quảng Tế Pháp sư phì cười bảo :

- Không sao. Người nhà cả mà. Không cần đâu.

Nói rồi lão dắt Réne de Anjou đi trước, Long nhi bế bé Charles đi theo, cùng rời Quân cảng. Những người khác cũng vội vã theo sau. Khi vào thành, Đinh An Bình cáo từ đi về vương phủ của mình. Đức Thượng phụ giáo chủ Theophilus II có dinh thự riêng trong thành, nên cũng từ biệt mọi người đi về đó nghỉ ngơi. Quảng Tế Pháp sư bảo Long nhi lo an bày cho các em của mình nghỉ ngơi ăn uống trước. Còn lão thì quay về hồi báo với Giang Phong.

Chính Đức Điện là cung điện của Long nhi, cách Tử Tiêu Điện không xa. Long nhi đưa hai em của mình cùng với Hồng y Phó tế Otto de Colonna và Linh mục Jan Želivský về đấy nghỉ ngơi. Thị nữ được lệnh chuẩn bị yến tiệc. Long nhi nghe lời Quảng Tế Pháp sư, lo cho các em của mình ăn uống trước. Bé Charles còn quá nhỏ, ở đây lạ chỗ lạ người, nên Long nhi phải đích thân chăm lo cho bé.

Khi cả bọn đã ăn uống xong, Long nhi định đi bái kiến phụ hoàng, thì Quảng Tế Pháp sư lại đến. Trên tay lão cầm một chiếc rương nhỏ, nhìn thấy bé Charles liền cười hỏi :

- Tiểu công tử ăn uống có ngon miệng không nào ?

Bé Charles gật đầu nói :

- Ngon lắm ! Ngon lắm ạ !

Quảng Tế Pháp sư đưa chiếc rương nhỏ trên tay ra, cười nói :

- Quà cho tiểu công tử đây này ?

Bé Charles nhận lấy, ngạc nhiên hỏi :

- Gì thế ạ ?

Quảng Tế Pháp sư cười bảo :

- Tiểu công tử cứ mở ra xem thì biết.

Bé Charles vâng lời mở ra xem. Bên trong chính là viên hồng ngọc mà bé nhìn thấy ở ngoài Quân cảng, nên hớn hở nói :

- Cám ơn lão Pháp sư.

Long nhi nghi ngại nói :

- Lão Pháp sư. Đây là cống phẩm. Có được không ạ ?

Quảng Tế Pháp sư cười nói :

- Sao lại không được. Đây là quà của Thánh hoàng ban cho tiểu công từ đấy nhé. Chứ ta làm sao dám nhiễm chỉ cống phẩm.

Long nhi thở phào nói :

- Thế thì hay quá.

Thấy Réne de Anjou nhìn viên hồng ngọc trên tay bé Charles đầy vẻ tiện mộ, Quảng Tế Pháp sư lại bảo :

- Thánh hoàng còn có quà ban cho Réne, đang ở bên ngoài đó.

Réne de Anjou cả mừng chạy vội ra ngoài cung điện, nhìn thấy một con bạch long câu nhỏ, cương vàng yên ngọc rất xinh đẹp, liền rối rít cảm tạ. Sau đó, Long nhi đi theo Quảng Tế Pháp sư đi bái kiến phụ hoàng.


Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 12:09 PM
Chương 121 : TRIỀU THÁNH, GIA MIỆN


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.519 (Đinh Dậu, 1417). Mùa đông, tháng 10. Gia Định Thành. Trường Thanh Cung. Văn Nghi Điện.

Theo đúng kế hoạch, buổi triều hội đầu tiên của tháng 10 (đúng ngày sóc, tức ngày mùng 1) cũng là lúc tiếp kiến các phương sứ tiết. Lúc này, sứ tiết của Âu châu chư quốc chỉ mới có sứ tiết của Vương quốc Anh Cách Lan, Vương quốc Tô Cách Lan, Vương quốc Ái Nhĩ Lan, Vương quốc Đan Mạch, Vương quốc Ba Lan, Vương quốc Moldavia, Vương quốc Wallachia, Công quốc Palatine, Công quốc Liechtenstein, Liên minh các Công quốc xứ Nederland và Lĩnh địa giáo quyền Liège là đến nơi. Những sứ đoàn còn lại chưa đến kịp, và Giang Phong cũng không có ý định chờ đợi.

Tùng tùng tùng tùng tùng tùng …

Boong boong boong boong boong boong …

Long Phụng Cổ nổi dồn dập, Cảnh Dương Chung gõ liên hồi, báo hiệu điển lễ bắt đầu. Lúc này thời gian là chính Thìn, tức 8 giờ sáng, tất cả quan viên từ cấp tỉnh trở lên, hoặc tướng lĩnh quân đội từ Lục quân Hiệu úy, Hải quân Đô đốc trở lên đều tề tụ Trường Thanh Cung, tham gia đại điển. Các phương sứ tiết cũng đã tụ tập đông đủ. Bọn họ thuộc vô số dân tộc, tôn giáo, địa vực, y phục hoa lệ rực rỡ, đủ màu đủ kiểu. Ngự Lâm quân, Cấm vệ quân, Túc vệ quân dàn bày nghiêm chỉnh, kiếm kích sáng ngời. Mấy chục vạn người tụ tập trước Văn Nghi Điện mà vô cùng trật tự. Trận dung hùng hậu, khí thế uy nghiêm khiến mọi người ngây ngất, có cảm giác như đang trong mộng. Đặc biệt là các vị Đế vương Trung Hoa. Lần này đất Trung Hoa ngoài Hoàng Đế Đại Tống, còn có thêm Hoàng Đế Đại Hán, Hoàng Đế Đại Đường và Lương vương thân đến tham dự. Trận dung của đại điển vượt hẳn quan niệm ‘vạn quốc lai triều’ của bọn họ. Phải như thế này mới có thể hào xưng là ‘vạn quốc lai triều’. Chứ ở Trung Hoa trước đây, chỉ có vài quốc gia lân cận đến triều cống mà cũng dám xưng ‘vạn quốc lai triều’, thật đáng hổ thẹn.

Đã 19 năm kể từ khi Giang Phong xuyên việt đến đây, đã 10 năm kể từ khi Thần Thánh Đế quốc thành lập, Đế quốc đã phát triển vượt bậc, cường thịnh vô song. Hải quân Đế quốc xuất hiện khắp các đại dương, cờ xí của Đế quốc xuất hiện khắp các lĩnh thổ. Kim tệ của Đế quốc hầu như trở thành tiền tệ chính thức của thế giới (các đồng florin của Âu châu, các kim nguyên bảo của Trung Hoa chẳng còn mấy ai sử dụng nữa, bởi Thần Thánh Đế quốc không chấp nhận nó). Văn minh của Đế quốc lan truyền khắp năm châu bốn biển. Và Giang Phong trở thành ‘thần’ của ức vạn thần dân.

(chú : ngày xưa người phương đông sử dụng hệ tính ‘vạn’ chứ không phải ‘nghìn’ như người phương tây; tức ‘vạn’, rồi vạn vạn là ‘ức’, vạn ức là ‘tỷ’, ‘tỷ’ này tương đương ‘tỷ Anh’, tức ‘triệu triệu’ chứ không phải ‘nghìn triệu’, bằng ‘1000 tỷ Mỹ’; hiện tại ở Trung Hoa, Nhật Bản cũng còn sử dụng; ví dụ ‘100 万’, ‘100 wan’, ‘100 man’ tức là 100 vạn, cũng là 1 triệu).

Sau khi trống đánh chuông rung, đại điển chính thức bắt đầu. Giang Phong vận bạch y bạch bào, ngọc đái ngọc quan, ngự trên kim long ỷ. Quảng Tế Pháp sư dẫn đầu bách quan quỵ phục trước kim giai triều bái, tung hô :

- Thánh hoàng nhân nghĩa anh minh. Vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế.

Giang Phong phán :

- Bình thân.

Chúng triều thần đứng dậy, chia hai hàng đứng hầu hai bên kim giai. Dàn nhạc diễn tấu khúc Gia lạc, ca tụng công đức Thánh hoàng.

“Gia lạc quân tử,
Hiển hiện lệnh đức,
Nghi dân nghi nhân,
Thụ lộc vu thiên,
Bảo hựu mệnh chi,
Tự thiên thân chi.

Can lộc bách phúc,
Tử tôn thiên ức,
Mục mục hoàng hoàng,
Nghi quân nghi vương,
Bất khiên bất vong,
Suất do cựu chương.

Uy nghi ức ức,
Đức âm trật trật,
Vô oán vô ố,
Suất do quần thất,
Thụ phúc vô cương,
Tứ phương chi cương.

Chi cương chi kỷ
Yến cập thần tử,
Vạn bích khanh sĩ,
Mỵ vu thánh hoàng,
Bất giải vu vị,
Dân chi du hý.”

Tạm dịch :

Nhà vua anh tuấn vui tươi
Lại còn đức tốt rạng ngời đẹp thay !
Thích hợp với dân hay quan tước,
Lộc trời vua được hưởng dồi dào
Trời phù hộ, dạy giúp vào
Tự trời hành động biết bao nhiêu lần !

Lộc cầu trăm phúc được liền,
Cháu con thì số ức thiên vô cùng.
Lại tuấn tú khiêm cung tất cả,
Ở ngôi vương hoặc giả chư hầu,
Đều không tội lỗi tí nào,
Noi theo phép tắc dựa vào phép xưa.

Uy nghi thận trọng kín thầm
Đều đều hằng có tiếng tăm tốt lành.
Con cháu không riêng tình ghét oán,
Nhiệm dụng người tài cán cao sâu.
Phúc thì vô hạn dồi dào,
Làm nên giềng mối, trông vào bốn phương.

Thánh hoàng ổn định kỷ cương
Bề tôi nhờ đó mà hòng được an.
Vạn chư hầu và hàng khanh sĩ,
Đều mến thương, tôn kính thánh hoàng,
Chẳng lười chức vị đã dành,
Thì dân chúng được yên lành vui chơi.”

Bài này thuộc thiên Đại nhã của Kinh Thi, nói về đức độ của vua, thích hợp với triều thần bách tính, nên được hưởng lộc trời dồi dào. Trời cũng bảo hộ, giúp đỡ vua trong mọi việc, con cháu đông, tuấn tú và tài giỏi. Vua chăm lo triều chính, ổn định kỷ cương, thì triều thần chư hầu, đều kính mến vua, và bách tính được an cư lạc nghiệp. Đương nhiên nội dung của bài đã được chỉnh sửa lại cho thích hợp với Đế quốc, bởi quy mô của Đế quốc lớn hơn nhà Chu cả nghìn lần.

Tiếp đó, lễ quan cao giọng xướng :

- Truyền bách phương sứ tiết thượng triều kiến giá.

Tiếp đó, các phương sứ tiết theo thứ tự lần lượt nhập điện. Lượt đầu tiên gồm có sứ tiết các Đế quốc như Đại Tống, Đại Hán, Đại Đường, Tấn, Đông Doanh, Mông Cổ. Đó là những chư hầu bậc thứ nhất của Thần Thánh Đế quốc, hiệu xưng Đế. Đông Doanh và Mông Cổ tuy không thống nhất, phiên quốc hoặc hãn quốc rất nhiều, nhưng vẫn có một chính quyền trung ương trên danh nghĩa, nên vẫn được xem là đại quốc. Các vị Hoàng Đế Đại Hán, Đại Đường dù thân cư đế vị, nhưng khi nhập điện thì cũng cảm thấy chấn kinh không sao kể siết. Chính là ‘cư di khí, dưỡng tu thể’. Giang Phong gần 20 năm thân cư cao vị, làm Thánh hoàng, làm thần linh, lẽ nào không thể bồi dưỡng được một điểm khí chất. Hơn nữa, lúc này Giang Phong ngự trên long ỷ ở giữa kim giai. Mà long ỷ với kim giai là trung tâm của toàn đại điện, được thiết kế tam phẩm cửu giai, cùng với bối cảnh kim long cực lớn, tứ bề kim bích huy hoàng, khiến cho sự uy nghiêm của hoàng gia phát huy đến cực độ. Thêm vào đó, Giang Phong từ trên cao nhìn xuống, thần sắc uy nghiêm, dù cho chúng thần linh có lẽ cũng chỉ được thế mà thôi. Người Trung Hoa vốn tin vào ‘hoàng giả chi khí’. Đó có lẽ là ‘hoàng giả chi khí’ chăng ?

Lượt thứ hai gồm các vương quốc nhỏ hơn, dẫn đầu là Hạ, Lương, rồi đến các vương quốc Kim (bắc Triều Tiên bán đảo), Cao Ly (nam Triều Tiên bán đảo), Anh Cách Lan, Tô Cách Lan, Đan Mạch, Ba Lan, Moldavia, Đại lĩnh địa Trento – Tyrol, và những tiểu vương quốc lớn các xứ nam Thiên Trúc, A Lạp Bá, Somali. Đó là những chư hầu bậc thứ hai, hiệu xưng Vương.

Lượt thứ ba gồm những tiểu vương quốc trung bình các xứ nam Thiên Trúc, A Lạp Bá, Somali, Phi châu, Mỹ châu, thêm vào đó là một số vương quốc, công quốc ở Âu châu như : Vương quốc Ái Nhĩ Lan, Vương quốc Wallachia, Công quốc Palatine, Công quốc Liechtenstein, Liên minh các Công quốc xứ Nederland và Lĩnh địa giáo quyền Liège. Đó là những chư hầu bậc thứ ba, hiệu xưng Công.

Lượt thứ tư gồm những tiểu quốc và bộ lạc còn lại, được xem là chư hầu bậc bốn, hiệu xưng Hầu, Bá, Tử, Nam. Đấy là những tước vị được Thần Thánh Đế quốc công nhận, đương nhiên vẫn phải thấp hơn trực thần một bậc. Tức là Hoàng Đế Đại Tống, Đại Đường, Mông Cổ, … sẽ có địa vị tương đương tước hiệu Chiêu Đức Vương của Đinh An Bình.

Văn Nghi Điện đã được mở rộng, có thể tổ chức buổi đại triều với 1 vạn người tham gia, nhưng lúc này trở nên chật chội với gần 2 vạn người chen chúc với nhau. Tuy vậy, những người có mặt trong điện cũng vẫn lấy làm hãnh diện, bởi còn có hơn chục vạn người đang phải ở bên ngoài. Các phương sứ tiết cứ theo lượt triều bái, không tiến hành từng người một, bởi có đến cả vạn sứ thần, nếu từng người một hành lễ thì biết bao giờ mới xong.

Sau đó là đến phiên gia miện, thụ phong cho một số vương công. Đầu tiên là Long nhi, gia miện Hoàng đế. Vương quốc Latium được chính thức thăng cấp lên thành Đế quốc Latium. Long nhi quỳ trước kim giai, Giang Phong thân tự đội hoàng quan cho Long nhi. Dàn nhã nhạc trỗi khúc Thăng bình. Lễ quan xướng :

“Tung cao duy nhạc,
Tuấn cực vu thiên,
Tứ quốc vu phiền,
Tứ phương vu tuyên.”

Tạm dịch :

Sừng sững cao chính là ngọn núi
Nhô vút lên thấu đến trời mây.
Cõi bờ các nước bốn phương,
Phô truyền bốn hướng nên vương hóa này.

Tiếp theo là đến lượt Hồng y Giám mục George I de Trento, được gia miện thành Quốc vương. Đại lĩnh địa Trento – Tyrol được thăng cấp lên thành Vương quốc Trento. Giang Phong cũng đích thân gia miện. Lễ quan xướng :

“Điểu tùy loan phượng phi đằng viễn,
Nhân bạn hiền lương phẩm tự cao.”

Tạm dịch :

Chim theo loan phượng bay xa,
Người gần hiền sĩ thanh cao hơn người.

Rồi đến Réne de Anjou được phong là Quốc vương Anjou. Cuộc vận động để nhà Anjou lên nắm quyền ở Pháp Lan Tây vẫn chưa ngã ngũ. Giang Phong trực tiếp tách các lĩnh địa của nhà Anjou ra khỏi Vương quốc Pháp Lan Tây, thành lập Vương quốc Anjou, phong cho Réne làm Quốc vương. Riêng lĩnh địa Bourbon của bé Charles được tách ra thành lập Công quốc Bourbon độc lập. Dù là nước nhỏ, nhưng được Đế quốc Latium hậu thuẫn nên rất vững vàng ổn định.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 12:20 PM
Chương 122 : HUY NHI HẠ SINH


Dục Thánh Điện. Đó là một tòa cung điện có địa vị đặc thù trong Trường Thanh Cung. Bình thường nơi đó để trống, nhưng hôm nay lại đông đúc khác thường. Trên từ Thánh hoàng, dưới đến văn vũ bách quan đều tụ tập trong điện ngoài điện. Hôm nay là một ngày đặc biệt của Đế quốc. Bên cạnh Giang Phong tụ tập đông đủ văn vũ trọng thần, gồm Quảng Tế Pháp sư, Long nhi, Chiêu Đức Vương Đinh An Bình, Chiêu Vũ Vương Triệu Phong, Chiêu Liệt Vương Phạm Thế Căng, Chiêu Minh Vương Cát Ti, Diễn Công Đào Anh, Định Công Lý Ngân, Hải Công Mã Tân. Đây là những vương công đại nhân có địa vị cao nhất trong triều đình Đế quốc. Quảng Tế Pháp sư không phải là vương công, mà có tước hiệu Đại Pháp sư, là Thánh hoàng Đại ngôn nhân, là người được xem gần gũi với thần linh nhất. Vì Giang Phong là ‘thần’, nên tước hiệu của Quảng Tế Pháp sư giống như Đức Thượng phụ của Giáo hội Nguyên thủy hay lĩnh tụ của những tôn giáo khác vậy. Chỉ có điều lúc này Thần Thánh Đế quốc quá hùng mạnh, chiếm ưu thế tuyệt đối trên thế giới, nên Đông Phương Thiên Đế được xem là hùng mạnh hơn Tây Phương Thiên Chủ, do vậy mà địa vị của lão Pháp sư cũng hiển hách hơn.

Hôm nay, đứa con đầu tiên của Giang Phong sắp xuất sinh, quần thần văn vũ đều hy vọng vị Hoàng tử đầu tiên của Đế quốc chào đời, nên đều tụ tập lại đây chờ đợi tin tức. Giang Phong lên ngôi mười mấy năm nay mà vẫn không có con cái, nên quần thần bách tính đều rất lo lắng. Hoàng gia không người thừa kế, Đế quốc sẽ gặp nguy cơ. Mọi người đã quen sống dưới sự hùng mạnh của Đế quốc. Thuế phú nhẹ nhàng, giáo dục bắt buộc, triều chính thanh minh, là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thịnh vượng của Đế quốc. Hiện tại, những khu vực do Đế quốc trực tiếp kiểm soát cũng là những khu vực văn minh, sung túc nhất thế giới. Do vậy, không ai hy vọng Đế quốc sẽ tan rã. Nhược quốc bị hiếp đáp, còn cường quốc thì đi hiếp đáp nước khác. Chẳng ai muốn mình bị hiếp đáp cả. Mặc dù Long nhi cũng là Hoàng tử của Đế quốc. Thế nhưng, Long nhi chỉ là con nuôi, theo phong tục Á Đông không thích hợp để kế thừa ngôi đại thống. Theo phong tục, chỉ có con ruột, hoặc những người trong thân tộc Hoàng gia mới được kế ngôi (vua không có con thì truyền ngôi cho anh em, hoặc cháu họ). Cuối thời Trần có một vụ nhường ngôi cho con nuôi, đã gây ra nguy cơ rất lớn cho Đại Việt.

Gần 50 năm trước, tức năm Kỷ Dậu (1369), Trần Dụ Tông mất, không có con. Triều đình tôn thất định tôn Cung Định Vương là anh của Trần Dụ Tông lên ngôi, nhưng bà Hoàng Thái Hậu nhất định lập người con nuôi của Cung Túc Vương là Dương Nhật Lễ. Nguyên mẹ của Lễ là người hát xướng, lấy người hát bội tên là Dương Khương, có thai rồi mới bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc Vương, sinh ra Lễ. Khi Lễ lên làm vua, cải họ là Dương để dứt ngôi nhà Trần, rồi giết bà Hoàng Thái Hậu và Cung Định Vương. Lúc bấy giờ, Cung Tĩnh Vương đang ở kinh sư cũng sợ bị hại, vả lại tính khí cũng nhu nhược, không có ý tranh cạnh, mới bỏ trốn lên mạn Đà Giang. Các tôn thất nhà Trần hội nhau đem quân về bắt Lễ giết đi, rồi rước Cung Tĩnh Vương về làm vua, tức là Trần Nghệ Tông. Khi Lễ bị giết, mẹ Lễ chạy sang Chiêm Thành, xin với vua Chiêm là Chế Bồng Nga đem quân sang đánh Đại Việt. Quân Chiêm vượt biển vào cửa Đại An, kéo lên đánh Thăng Long. Quân Trần đánh không nổi, Nghệ Tông phải chạy lên Đông Ngạn (thôn Cổ Pháp, làng Đình Bảng). Quân Chiêm vào thành, đốt sạch cung điện, bắt đàn bà con gái, lấy hết các đồ châu ngọc, rồi mới rút quân về. Và cũng từ đó, quân Chiêm quen đường, cứ vài năm là lại sang đánh cướp một trận, mãi đến khi Phạm Thế Căng trấn thủ Nam Trấn mới chấm dứt.

Nói tóm lại, mọi người mong chờ một vị Hoàng tử để có thể kế thừa đại thống. Long nhi cũng hiểu vị thế của mình, nên hài lòng với ngôi vị Hoàng đế của Đế quốc Latium. Long nhi không có căn cơ gì ở Thần Thánh Đế quốc, hơn nữa tình cảnh của nhà Anjou lúc này so với 3 năm trước khác nhau một trời một vực, nên không có gì để không hài lòng cả. Ngay cả Vương quốc Pháp Lan Tây cũng không chấp nhận Quốc vương Anh Cách Lan làm Quốc vương của mình kia mà. Dù rằng Quốc vương Anh Cách Lan là cháu ngoại của Quốc vương Pháp Lan Tây đời trước, và dòng chính của ngôi Quốc vương Pháp Lan Tây hết người thừa kế.

Ở bên ngoài phòng tiếp sinh, trong lúc quần thần bồn chồn hồi hộp thì Giang Phong vẫn bình tĩnh ngự trên long ỷ chờ đợi. Giang Phong biết rõ tình trạng cơ thể của mình, có sống đến trăm tuổi có lẽ cũng không thành vấn đề, nên không quá quan tâm con trai hay con gái. Sau khi xuyên việt, không biết bị ảnh hưởng gì của thì không loạn lưu hay không mà sức khỏe của Giang Phong càng ngày càng tốt, gần 20 năm nay mà chẳng có bệnh tật gì cả, thậm chí cũng chẳng bị suy lão. Đúng là thần tích !

Quần thần bồn chồn một lúc, rồi thấy Giang Phong vẫn lặng yên ngồi đó, cũng đành phải nén lòng mà ngồi một chỗ. Rồi chuyện gì đến cũng phải đến. Hồi lâu sau, từ trong phòng tiếp sinh truyền ra tiếng khóc oe oe của trẻ con. Một tân sinh mệnh đã chào đời. Quần thần ai nấy đều hồi hộp, đứng bật cả dậy. Rồi cửa phòng bật mở, chúng thái y ùa ra, hướng vào Giang Phong vái lạy, chúc tụng :

- Cung hỷ Thánh hoàng. Hoàng tử đản sinh.

Giang Phong nhìn tiểu hài tử nằm yên trong lòng một vị lão thái y, mỉm cười hạnh phúc, bước đến gần định bế. Bé trắng trẻo mủm mỉm, hai mắt mở to, nhìn Giang Phong giây lát, rồi thật bất ngờ, bé giơ hai cánh tay nhỏ xíu ra, thỏ thẻ gọi :

- Ba ba.

Thấy bé biết gọi ‘ba ba’ và đòi bế, Giang Phong hoan hỉ ôm bé vào lòng, âu yếm xoa đầu bé, khen :

- Con ngoan lắm. Hy vọng sau này con có thể kế thừa cơ nghiệp của phụ hoàng.

Chúng triều thần thấy Hoàng tử mới vừa hạ sinh đã biết gọi ‘ba ba’, sau giây phút kinh ngạc sững sờ, thì đều hết lời chúc tụng Giang Phong có được ‘thánh tử’. Mọi người nghĩ đến thân phận của Giang Phong, nên cảm thấy thần tích xuất hiện cũng chẳng có gì là lạ. Quảng Tế Pháp sư hớn hở nói :

- Hoàng tử mới sinh mà đã thông minh như thế, sau này chắc chắn sẽ có thế kế thừa ngôi đại thống.

Giang Phong mỉm cười, xoa đầu bé, âu yếm nói :

- Hy vọng được như thế. Cố lên con nhé.

Thấy Quảng Tế Pháp sư và chúng triều thần ngơ ngác nhìn nhau, Giang Phong mỉm cười bảo :

- Tất cả hài tử của trẫm đều mang huyết thống thần thánh, đến khi nào huyết thống đó thức tỉnh thì mới có thể kế thừa cơ nghiệp của trẫm. Phàm nhân chỉ có thể làm thái bình vương, không thể kế vị.

Quảng Tế Pháp sư nói :

- Hoàng tử thông minh thế này, sau này chắc chắn sẽ đủ tư cách kế vị.

Giang Phong mỉm cười :

- Trẫm cũng mong như thế. Phải không con ?

Bé nãy giờ nằm yên trong lòng Giang Phong, nghe mọi người nói chuyện, có lẽ cũng hiểu mọi người đang nói gì, nên khi nghe Giang Phong nói thế liền gật đầu. Giang Phong cao hứng quá, suy nghĩ giây lát, rồi nói :

- Huy nhi. Con sẽ là Giang Thiếu Huy.

Bé nghe nói thế, lại gật đầu. Long nhi đứng bên cạnh, thấy bé đáng yêu quá, liền bước đến nói :

- Phụ hoàng ơi ! Cho Long nhi bế em bé với.

Huy nhi đưa mắt nhìn Long nhi, rồi chợt giơ hai cánh tay nhỏ xíu ra, gọi khẽ :

- Ca.

Long nhi hớn hở bế Huy nhi vào lòng, hôn vào đôi má phúng phính của bé. Giang Phong quay sang chúng triều thần bảo :

- Phong cho Cầm nhi làm Vân Phi. Truyền toàn quốc đại khánh.

Nói xong liền đi vào trong phòng tiếp sinh thăm Cầm nhi, mẹ của Huy nhi. Long nhi cũng vội bế Huy nhi đi theo. Ở Trường Thanh Cung chỉ có cung nhân, Giang Phong chưa lập hậu phi. Cầm nhi sau khi sinh hạ Huy nhi mới trở thành vị phi tử đầu tiên. Tiêu chuẩn để trở thành phi tử là phải hạ sinh hài tử, bất kể con trai hay con gái. Còn hoàng hậu thì … theo ý Giang Phong, phàm nhân không đủ tư cách trở thành hoàng hậu. Giang Phong không biết có thể sống được đến bao nhiêu tuổi, nhưng trường sinh bất lão, nếu mấy chục năm sau hoàng hậu là bà lão 80 tuổi, trong khi Giang Phong dáng vẻ vẫn đôi mươi thì thật không ổn.

Tin tức từ trong cung nhanh trong truyền ra bên ngoài, dân chúng đều biết hoàng gia có thêm hoàng tử, và đặc biệt là hoàng tử vừa mới xuất sinh đã biết nói, đã biết gọi ‘ba ba’, ‘ca ca’ và còn biết đòi bế nữa. Thật không hổ danh là con của Thánh hoàng. ‘Thánh tử’ có khác. Khắp kinh thành tưng bừng lễ hội, đèn hoa cờ xí rực rỡ, pháo nổ vang dội khắp nơi. Mọi người lũ lượt đổ ra đường phố. Hoàng gia cũng cho bày đồ ăn thức uống khắp nơi để cùng dân chúng chung vui.


Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 12:28 PM
Chương 123 : TÂN CHIẾN LƯỢC


Sau khi Huy nhi hạ sinh, Giang Phong rất cao hứng. Hàng loạt biểu tấu của triều thần nhân đó cũng được phê chuẩn dễ dàng. Triệu Phong cả năm nay ở Trường Hưng Thành rảnh rỗi an nhàn đến phát chán, nên đã dâng biểu xin được xuất chinh nam Thiên Trúc, thảo phạt Vương triều Vijayanagara. Lý do được đưa ra là Vương triều Vijayanagara tấn công các nước chư hầu của Đế quốc ở vùng nam Thiên Trúc.

Số là ở nam Thiên Trúc có đến hàng trăm tiểu quốc lớn nhỏ, nếu kể luôn những tiểu quốc chỉ gồm một tòa thành thị thì phải lên đến cả nghìn. Lúc bấy giờ, bán đảo Ấn Độ còn được gọi là các xứ Thiên Trúc. Vùng bắc Thiên Trúc thuộc quyền kiểm soát của người Mông Cổ, vùng nam Thiên Trúc thuộc quyền thống trị của Vương triều Vijayanagara. Thế nhưng, triều đình Vijayanagara đóng đô ở thành Vijayanagara trên cao nguyên Decan, và chỉ kiểm soát được những khu vực lân cận. Những khu vực khác thuộc vùng nam Thiên Trúc bị chia ra thành cả nghìn tiểu quốc, do các vị tiểu vương tự cai trị lấy, chỉ thần phục và nộp cống cho Vương triều Vijayanagara. Càng về phía nam, càng xa khu vực cao nguyên Decan, sự thống trị của Vương triều Vijayanagara càng yếu ớt.

Từ khi quân đội của Thần Thánh Đế quốc tiến vào khu vực nam Thiên Trúc, buộc Vương triều Vijayanagara phải dùng trọng lễ cầu hòa, thì uy tín của triều đình Vijayanagara giảm đi nhanh chóng. Các tiểu quốc chư hầu nhận thấy triều đình Vijayanagara đã suy yếu, nên bắt đầu dương phụng âm vi, dần dần chỉ còn thần phục trên danh nghĩa. Thậm chí, nhiều tiểu quốc tương đối hùng mạnh còn phớt lờ những mệnh lệnh của Vijayanagara. Ngoài ra, một số tiểu quốc khác thần phục Vương triều Vijayanagara chủ yếu là tìm chỗ dựa để được bảo hộ, thì nay lại thấy tôn chủ quốc không còn đủ mạnh nữa, không đủ sức bảo hộ bọn họ nữa. Thế là bọn họ quyết định tìm chỗ dựa mới đáng tin cậy hơn. Và tất cả đều hướng về Thần Thánh Đế quốc, bởi lúc bấy giờ, có nước nào hùng mạnh hơn Thần Thánh Đế quốc kia chứ. Vậy là Thần Thánh Đế quốc đã có thêm rất nhiều chư hầu mới ở vùng nam Thiên Trúc, đặc biệt là những tiểu quốc lân cận vùng duyên hải, có quan hệ kinh tế và chịu ảnh hưởng trực tiếp của Thần Thánh Đế quốc.

Vương triều Vijayanagara thấy nhiều tiểu quốc chư hầu theo gió trở cờ, đương nhiên không hài lòng, một mặt phái sứ giả sang Gia Định kháng nghị, mặt khác cử binh thảo phạt những tiểu quốc từ chối thần phục bọn họ. Dù sao thì những tiểu quốc đó cũng là chư hầu của Đế quốc, nên quân đội trú đóng ở Tích Lan đã tiến vào nam Thiên Trúc viện trợ. Chỉ có điều trú quân ở Tích Lan quá ít, đối phó không xuể, nên trước sau đã có gần chục tiểu quốc bị chiếm giữ, tiểu vương phải lưu vong sang Tích Lan. Những vị này đã liên hợp lại dâng biểu về Gia Định xin Đế quốc xuất quân giúp bọn họ phục quốc. Chính vì vậy mà Triệu Phong đã dâng biểu xin suất quân thảo phạt Vương triều Vijayanagara, giúp các chư hầu phục quốc. Giang Phong đã chuẩn tấu, phái Triệu Phong suất lĩnh 8 đạo quân tinh nhuệ Thần Vũ, Thần Sách, Thần Uy, Thần Long, Uy Vũ, Uy Đức, Uy Nghĩa, Uy Viễn, cùng với 4 đạo tân binh Long Giang, Đông Giang, Tương Giang, Ngân Giang; tổng cộng 36 vạn quân xuất chinh nam Thiên Trúc thảo phạt Vương triều Vijayanagara, mục tiêu là hoàn toàn tiêu diệt Vương triều Vijayanagara, khiến cho nam Thiên Trúc chỉ còn lại các tiểu quốc, để dễ cai trị hơn. Theo kế hoạch của Giang Phong, các tiểu quốc chư hầu ở nam Thiên Trúc được giữ nguyên tình trạng hiện tại. Đế quốc chỉ chiếm lĩnh địa bàn kiểm soát của Vương triều Vijayanagara, sát nhập vào lĩnh thổ Đế quốc. Đối với việc này, các tiểu quốc ở nam Thiên Trúc cũng chẳng hề phản đối, một phần vì sợ oai Đế quốc, phần khác là vì địa bàn kiểm soát của Vương triều Vijayanagara tiếp giáp với lĩnh địa của người Mông Cổ ở miền bắc, bọn họ chẳng ai muốn nhiễm chỉ cả. Đối với người Thiên Trúc, đặc biệt là các quân vương quý tộc, người Mông Cổ cũng đồng nghĩa với ác mộng.

Trong khi đó, Đinh An Bình lại dâng biểu xin thảo phạt Đế quốc Ottoman, để giải quyết hoàn toàn mối ẩn hoạn của vùng bán đảo A Lạp Bá và Đế quốc Latium. Quân Thổ của Đế quốc Ottoman hiếu chiến và ngông cuồng. Nếu không hoàn toàn đánh bại bọn họ thì khó lòng tiêu trừ hậu hoạn. Giang Phong cũng chuẩn tấu, nhưng phải chờ sau khi dẹp xong Vương triều Vijayanagara, rồi điều cả 12 đạo quân viễn chinh tiếp tục tây chinh. Trong lúc chờ đợi, Đinh An Bình phải về Sinai chỉnh bị 6 đạo quân đang trú đóng tại đấy.

Còn Cát Ti thì dâng biểu xin cho thần dân của Đế quốc được tham gia khai cương thác thổ. Dù sao thì ở Phi châu và Mỹ châu chỉ mới có khu vực duyên hải bị Đế quốc kiểm soát, những bộ lạc nằm trong phạm vi vài trăm dặm thật sự thần phục. Còn những bộ lạc thổ dân nằm trong nội lục đa phần dương phụng âm vi, hoặc thậm chí kháng cự sự hiện diện của Đế quốc. Cát Ti xin cho thần dân được tổ chức Khai thác đoàn, tiến hành khai thác những khu vực mà ảnh hưởng của Đế quốc chưa đến được. Giang Phong đã phê chuẩn đề nghị này, nhưng phạm vi khai thác chỉ giới hạn trong nội lục Phi châu, ngoài ra không được vô cớ xúc phạm đến lợi ích của các bộ lạc, tiểu quốc đã ‘thật sự’ thần phục Đế quốc, cụ thể là những bộ lạc, tiểu quốc có cử sứ đoàn đến Gia Định tiến cống. Giang Phong cố ý khiến cho những kẻ một dạ hai lòng, chỉ thần phục trên danh nghĩa phải hối hận. Còn việc không cho khai thác ở Mỹ châu là bởi lúc này ở Phi châu còn rất nhiều vùng rộng lớn chưa được ‘khai hóa’, Mỹ châu lại quá xa, hơn nữa Giang Phong biết rằng Mỹ châu có rất nhiều vàng bạc, phải để cho Đế quốc quân đội đến chiếm lĩnh.

Chiếu thư quy định : Bách tính thuận dân ai có năng lực đều có thể đăng ký với quan phủ xin thành lập Khai thác đoàn, đến Phi châu nội lục khai cương thác thổ. Chỉ cần bọn họ có thể giành được đất đai từ thổ dân chưa ‘khai hóa’, kiến thiết thành trấn, thì thành trấn đó sẽ trở thành lĩnh địa của bọn họ, bọn họ chỉ cần hướng Đế quốc cống nạp thuế phú là được, địa vị được xem tương đương với các tiểu vương Phi châu. Đây là một cách để bình dân trở thành quý tộc, nên chắc chắn sẽ có rất nhiều bình dân phú hào tham gia. Còn giới quý tộc ai có hứng thú mạo hiểm, cũng có thể tham gia khai thác, không hạn chế. Nhưng chiếu thư này không có hiệu lực đối với những người không phải là thuận dân của Đế quốc, tức chỉ lương dân và nghịch dân. Lương dân là chỉ những thần dân của Đế quốc nhưng không nói được ngôn ngữ của Đế quốc, đa số là thần dân của những vùng mới ‘khai hóa’, hoặc những lĩnh địa xa xôi mà lĩnh chủ không nhiệt tâm với việc giáo dục. Còn nghịch dân là chỉ những cư dân chống đối Đế quốc, hoặc thuộc những thế lực chưa thần phục Đế quốc.

Đế quốc có thể thống trị một lĩnh thổ rộng mênh mông thế này cũng nhờ tình hình thế giới lúc bấy giờ, trừ đất Trung Hoa thì đều không tồn tại một vương triều thật sự thống nhất. Chẳng hạn như, ở nam Thiên Trúc danh nghĩa do Vương triều Vijayanagara thống trị, nhưng Vương triều Vijayanagara chỉ có thể kiểm soát được khu vực cao nguyên Decan, những nơi khác là địa bàn của các tiểu quốc bán độc lập, chỉ thần phục và nạp cống cho Vương triều Vijayanagara, đồng thời tự cai trị địa bàn của mình. Do vậy, chỉ cần Vương triều Vijayanagara sụp đổ, các tiểu vương nam Thiên Trúc sẵn sàng thay đổi tôn chủ quốc, đối với bọn họ cũng không có khác biệt gì đáng kể. Còn ở Âu châu cũng tương tự. Đế quốc La Mã Thần Thánh Dân tộc Đức bao gồm hàng nghìn công quốc, lĩnh địa độc lập hợp thành. Sự lỏng lẻo còn hơn cả các xứ nam Thiên Trúc. Khi liên quân của Hoàng đế Sigismund de Luxembourg bị đánh bại thì Đế quốc cũng sụp đổ. Các vương quốc khác ở Âu châu cũng do vô số lĩnh địa bán độc lập hợp thành, Quốc vương chỉ là một đại lĩnh chủ mà thôi. Bởi thế, mỗi khi chinh phục một khu vực, quân đội Thần Thánh Đế quốc chỉ cần đánh bại tôn chủ quốc, an phủ các chư hầu là có thể thống trị được khu vực. Đương nhiên, đó chỉ là đối những nước lớn, còn khi gặp những nước nhỏ thì trực tiếp tiêu diệt và sát nhập vào lĩnh thổ Đế quốc. Riêng ở đất Trung Hoa, do bởi mấy mươi năm bạo chính của cha con Vĩnh Lạc đế, đặc biệt là Vĩnh Lạc đế thường xuyên phát động chiến tranh, lại sinh hoạt xa hoa hoang phí, dẫn đến quốc lực suy kiệt, khiến Minh triều sụp đổ.

Long nhi chỉ ở lại Gia Định hơn tháng, rồi lại theo Đinh An Bình đi về Âu châu. Đối với việc thảo phạt quân Thổ, Long nhi cũng giống như những người Âu châu khác, rất có hứng thú. Mặc dù lần này việc chinh phạt không có quân đội Latium tham gia, nhưng Long nhi là Hoàng tử của Đế quốc, đương nhiên có tư cách tham dự. Chỉ còn chờ Triệu Phong hoàn thành việc bình định nam Thiên Trúc là có thể khởi binh.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 12:36 PM
Chương 124 : VƯƠNG TRIỀU VIJAYANAGARA DIỆT VONG (1)


Nam Thiên Trúc.

Đất Thiên Trúc lúc bấy giờ bao gồm cả đất Ấn Độ, Pakistan, Nepan, Butan, Bangladesh, Sri Lanka (Tích Lan). Vương triều Vijayanagara chỉ thống trị khu vực nam Thiên Trúc, kể từ cao nguyên Decan trở về nam, bao gồm phần đất các bang Andhra Pradesh, Goa, Karnataka, Kerala và Tamil Nadu, trong đó phần lĩnh thổ do Vương triều Vijayanagara trực tiếp kiểm soát chỉ gồm phần cao nguyên Decan ở phía bắc Vương triều. Các tiểu quốc ở nam Thiên Trúc thần phục và cống nạp cho Vijayanagara chẳng qua là vì Vijayanagara giúp bọn họ kháng cự sự xâm lấn của các thế lực người Mông Cổ ở miền bắc. Quân đội của toàn vương triều gồm khoảng 1,1 triệu người (tức 110 vạn, ít hơn quân đội Minh triều một chút), nhưng gồm có hai bộ phận rõ rệt : Quân đội triều đình bao gồm 100.000 bộ binh (shieldmen), 20.000 kỵ binh (cavalrymen) và hơn 900 con voi; phần còn lại là quân đội địa phương, tức quân đội của các tiểu quốc chư hầu.

Triệu Phong đặt đại bản doanh tại Jaffna, một đại thành thị ở phía bắc Tích Lan. Các đạo quân đã lần lượt đến Tích Lan hội họp. Riêng 4 đạo quân Thần Vũ, Thần Sách, Thần Uy, Thần Long đã đổ bộ lên đất nam Thiên Trúc, tiến về phía cao nguyên Decan, giúp các tiểu quốc bị Vương triều Vijayanagara chiếm giữ phục quốc. Triệu Phong không phải không muốn trực tiếp suất quân tác chiến, nhưng vì bản thân là Thống soái, đành phải ở lại hậu phương chủ trì đại cục. Xung phong hãm trận là việc của các vị tướng quân. Cũng giống như cuộc bao vây Kim Lăng và đánh nhau với trăm vạn đại quân của Minh triều trước đây, bọn Triệu Phong chỉ ở Trường Hưng Thành chủ trì đại cục.

Nghe tin Thần Thánh Đế quốc cử binh chinh phạt, Vương triều Vijayanagara vội vã dốc toàn bộ quốc lực nghênh chiến, đồng thời chinh triệu quân đội các tiểu quốc chư hầu tham chiến. Bọn họ biết trận chiến này quan hệ đến sự sinh tử tồn vong của Vương triều, nên buộc phải dốc toàn tâm toàn lực nghênh chiến.

Do quân đội Đế quốc viện cớ giúp các tiểu vương phục quốc, trong quân còn có các vị tiểu vương tùy hành, nên sư xuất hữu danh, không bị dân chúng trong vùng xem là hành vi xâm lược. Bốn đạo quân chia làm hai đường, mỗi đường 6 vạn quân, lần lượt tiến vào các tiểu quốc bị quân Vijayanagara chiếm giữ, đánh bại số thủ quân tại đấy, rồi giao lại cho các tiểu vương bản địa khôi phục chính quyền. Quân đội Đế quốc tạm trú đóng lại đấy giữ gìn trật tự, chờ các vị tiểu vương chinh triệu tân quân bảo vệ quốc thổ. Do quân đội Đế quốc không can thiệp vào việc chính sự ở đây, nên không gây bất mãn trong giới quý tộc bản địa.

Tiếp theo đó, lần lượt 8 đạo quân còn lại cũng tiến vào khu vực giáp giới với vùng kiểm soát của Vương triều Vijayanagara. Tất cả 12 đạo quân, 36 vạn đại quân vân tập biên giới khiến kinh đô Vijayanagara nhân tâm hoàng hoàng. Đại quân áp cảnh. Trong lúc quân đội của Vương triều Vijayanagara chỉ có 10 vạn bộ binh, 2 vạn kỵ binh, cùng với 900 con voi chiến. Các tiểu quốc chư hầu nhìn rõ hình thế, không nước nào mang quân đến trợ chiến cả. Tình thế hiện tại, chỉ cần người có chút trí thương đều có thể thấy rõ, nếu như Thần Thánh Đế quốc thất bại thì còn có thể tái lập viễn chinh quân, tiếp tục chinh phạt, còn nếu như Vương triều Vijayanagara thất bại, thì hậu quả trực tiếp là diệt vong. Mà xem ra Vương triều Vijayanagara chẳng có mấy cơ hội giành được chiến thắng. Cả về số lượng, trang bị, chiến lực, … quân đội Vương triều Vijayanagara chẳng thể nào so sánh được với quân đội Thần Thánh Đế quốc.

Đối diện đại quân áp cảnh, Vương triều Vijayanagara chỉ có thể huy động được 10 vạn bộ binh, 2 vạn kỵ binh, 900 con voi. Quân lực chênh lệch quá lớn. Quốc vương Deva Raya I của Vijayanagara vội chinh tập dân binh được thêm 30 vạn nữa, quân số tạm thời tăng lên 42 vạn, đông hơn đối phương, khiến cho sĩ khí quân đội dâng cao một chút, còn về chiến lực thì … không đáng tin tưởng lắm. Hỗn hợp 10 vạn chính quy quân với 30 vạn quân nông dân, khiến cho toàn thể chiến lực của quân đội suy giảm nghiêm trọng. Đặc biệt đây lại là quân đội Thiên Trúc, chiến lực không thể nào sánh bằng quân đội Trung Hoa. Do vậy mà Quốc vương Deva Raya I lo lắng không thôi.

Quốc vương Deva Raya I là cháu nội của Quốc vương Harihara Raya II (trị vì 1377 - 1404). Sau khi Harihara Raya II qua đời, đã có cuộc tranh ngôi giữa các vị vương tử. Virupaksha Raya trị vì trong vài tháng thì bị con trai là Bukka Raya II ám sát. Ông này trị vì được một thời gian trong giai đoạn 1405 – 1406, rồi cũng bị em trai là Deva Raya I lật đổ. Deva Raya I bắt đầu trị vì từ năm 1406. Trong suốt triều đại của mình, Deva Raya I đã liên tục chiến đấu chống lại Velamas xứ Telangana, Sultan Bahmani xứ Gulbarga, Reddis xứ Kondavidu và Gajaptis xứ Kalinga. Gần đây nhất là chiến tranh với Thần Thánh Đế quốc. Nội loạn, chiến tranh đã khiến cho quốc lực của Vương triều Vijayanagara ngày càng suy kiệt, dẫn đến quốc thế suy vi, chư hầu ly tán. Deva Raya I rất hối hận, không ngờ Thần Thánh Đế quốc lại có phản ứng cường ngạnh như thế. Nhưng giờ đây có hối hận cũng đã muộn, chỉ còn cách chuẩn bị chiến tranh mà thôi.

Thông qua thám tử báo cáo, Triệu Phong được biết đại quân Vijayanagara cơ bản so với một đám nông dân không có gì khác biệt, so ra còn kém hơn cả dân binh của Đế quốc. Tuy 12 vạn chính quy quân còn có chút chiến lực, nhưng khi bị hỗn hợp chung với 30 vạn nông dân, thì chiến lực suy giảm rất nhiều. Suy tính hồi lâu, Triệu Phong quyết định xuất chiến.

12 đạo quân được lệnh tiến sát đô thành Vijayanagara của Vương triều Vijayanagara. Do phải mang theo thần công đại pháo cùng rất nhiều đạn dược, đại quân phải mất hơn 1 tháng mới tiến được đến ngoại vi thành Vijayanagara. Song phương đại quân an doanh lập trại đối diện bên ngoài thành. Triều đình Vijayanagara đã biết đại pháo của Thần Thánh Đế quốc lợi hại, nên đã từ bỏ việc cố thủ thành trì, quyết định chính diện quyết chiến. Trong quân đội Vijayanagara có quá nhiều dân binh (thực chất là nông dân), nếu thành môn bị đại pháo phá hủy tất sĩ khí đại giảm, nhiều khả năng sẽ phát sinh đại quy mô đào binh. Thà rằng dựa vào ưu thế quân số mà quyết chiến một trận, nhất chiến định càn khôn.

Bình minh, ở bầu trời phương đông, ánh thái dương đã bắt đầu le lói. Aliva Rama và Sriranga, hai vị tướng quân của Vương triều Vijayanagara, đích thân thống suất bản bộ kỵ binh công kích doanh trại đối phương. Theo mệnh lệnh của Quốc vương Deva Raya I, bọn họ sẽ lợi dụng địch nhân đang lúc mê ngủ mà tấn công cướp trại. Cưỡi trên lưng chiến mã, cả 2 vạn kỵ binh đều giương cung lắp tên, chuẩn bị bắn ra những mũi tên lửa.

Khi kỵ binh áp sát doanh trại đối phương, gần đến tầm bắn, thần kinh chúng kỵ binh đều căng thẳng tột độ, chuẩn bị buông cung. Đột nhiên …

A a a …

Phịch phịch phịch …

Hàng loạt kỵ binh, chiến mã ở hàng đầu bị vướng cạm bẫy, ngã ngựa. Bên ngoài doanh trại bố trí rất nhiều cạm bẫy, chưa gì mà đã có vài trăm kỵ binh thương vong. Tiếp đó là một hồi tù và rúc lên lanh lảnh, báo động có địch quân đến cướp doanh.

Aliva Rama và Sriranga thấy bản bộ kỵ binh rơi vào hỗn loạn, cả kinh thất sắc, giục ngựa chạy ngược chạy xuôi, luôn miệng quát tháo cố ổn định trận hình. Sau hơn 1 khắc, đội ngũ mới ổn định. Hai người bọn họ vừa định tiếp tục xung phong thì đột nhiên …

Đoàng đoàng đoàng …

Một trận đại pháo gầm vang báo hiệu đối phương đã phản kích. Tiếp đó, hàng nghìn viên đạn pháo bắn tới, rực hồng cả nửa bầu trời. Theo đúng biên chế của quân đội Thần Thánh Đế quốc, 36 vạn quân có đến 7.200 khẩu thần công, mỗi phương hướng được bố trí trận địa pháo gồm 1.800 khẩu. Bởi đã xác định từ trước cự ly pháo kích đối ứng với cạm bẫy bên ngoài, nên đa số đạn pháo đều tìm thấy mục tiêu. Tuy đều là thật tâm đạn, mỗi viên đạn khi bắn trúng mới sát tử được đối phương, nhưng chỉ loạt pháo kích kia cũng đã khiến đối phương thương vong thảm trọng. Do đang trong trận hình xung phong, đội ngũ rất mật tập, thành ra chỉ 1.800 viên đạn pháo đã khiến cho hơn 5.000 kỵ binh thương vong hoặc mất sức chiến đấu.

Thấy chưa gặp địch nhân mà đã tổn thất 1 phần tư quân số, Aliva Rama quả đoạn quyết định rút lui. Gã cao giọng quát :

- Lui. Lui mau.

Tiếng chiêng thu quân khua vang. Aliva Rama và Sriranga đích thân dẫn quân đoạn hậu. Nào ngờ, chúng kỵ binh vừa mới quay đầu ngựa định tháo lui thì đột ngột phát hiện địch quân từ bốn phương tám hướng ùn ùn áp tới. Trông tình hình đối phương ít ra cũng có đến hơn chục vạn quân tinh nhuệ, đao thương kiếm kích sáng ngời. Quân đội của Thần Thánh Đế quốc đều là những kẻ năng chinh thiện chiến, lẽ nào lại không đề phòng địch quân đến cướp doanh. Bọn Aliva Rama chính là tự đưa cổ vào tròng.

Aliva Rama trông thấy địch quân đông đảo, và có vẻ rằng càng lúc càng đông hơn, liền vội quát lớn :

- Phá vây. Sống hay chết chỉ ở lúc này !

Quân Vijayanagara giơ cao vũ khí, chuẩn bị liều chết phá vây. Cùng lúc đó, hàng vạn mũi tên từ phía đối phương liên tục bắn ra như mưa, liên miên bất tuyệt. Chỉ trong chốc lát, đã có gần vạn kỵ binh Vijayanagara trúng tên ngã ngựa. Aliva Rama cả kinh thất sắc, vội dẫn đầu chúng thân binh toàn lực phá vây, cuối cùng bởi bị ‘đặc thù chiếu cố’ mà chết trong đám loạn binh. Chỉ có Sriranga nhanh trí cởi bỏ khôi giáp, giả trang làm phổ thông kỵ binh, nên chạy thoát cùng với hơn nghìn tàn binh bại tướng.


Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 12:44 PM
Chương 125 : VƯƠNG TRIỀU VIJAYANAGARA DIỆT VONG (2)


Lại nói, sau khi 2 vạn kỵ binh tinh nhuệ bị tiêu diệt, chỉ còn hơn nghìn tàn binh bại tướng chạy thoát về Vijayanagara, khiến toàn thể triều đình trên dưới chấn động không ít. Thậm chí đã bắt đầu xuất hiện dư luận yêu cầu đầu hàng. Từ quan viên tướng sĩ cho đến bình dân bách tính, không ai tin rằng triều đình Vijayanagara có thể kháng cự lại Thần Thánh Đế quốc. Thực lực song phương chênh lệch quá lớn kia mà. Chỉ có điều Quốc vương Deva Rama I và các đại quý tộc trong triều đều biết rằng ai cũng có thể đầu hàng, chỉ có bọn họ là không thể. Thần Thánh Đế quốc không thể nào tha thứ cho bọn họ, nếu không làm sao có thể an phủ các tiểu vương chư hầu đã bị bọn họ đánh đuổi trước đây (thật ra thì Đế quốc không muốn lưu hậu hoạn). Cảm thấy sĩ khí và lòng tin của quân dân ngày càng suy giảm, thời gian càng kéo dài sẽ càng bất lợi, Quốc vương Deva Rama I quyết định phát động tấn công, nhất chiến định càn khôn.

Cưỡi trên lưng voi trắng, Deva Rama I đưa mắt nhìn đại quân 40 vạn người ùn ùn kéo đi, lòng dạ không sao bình tĩnh được. Dù vậy, ông ta vẫn phải cố tỏ ra tự tin. Thân là quốc vương, nếu chưa giao chiến mà đã tỏ ra lo sợ thì cách thất bại không xa rồi. Nhìn quân đội đối phương đang dàn trận ở phía xa, Deva Rama I khẽ lắc đầu, ra lệnh cho tùy tướng thúc giục đại quân tiến nhanh hơn. Dưới sự đốc thúc của 10 vạn chính quy quân, 30 vạn dân binh bày thành trận thế ở hai bên, để lại khu vực chính giữa cho chính quy quân cùng đội tượng binh. Hơn nghìn kỵ binh còn lại được bố trí xung quanh con voi trắng của quốc vương, phụ trách bảo giá hộ hàng. Nhìn trận hình, nhìn khí thế, xem ra cũng kinh nhân.

Quân đội Thần Thánh Đế quốc cũng bày thành trận thế. Trận này do Định Công Lý Ngân chỉ huy. Lý Ngân từng là tướng thống lĩnh Tây lộ quân hồi Bắc phạt, sau lại đánh sang tận xứ Miến Điện giáp giới Thiên Trúc, nên lần này được Triệu Phong phái suất quân tấn công Vijayanagara.

Xem thấy đối phương không chủ động tấn công, Deva Rama I quyết định tiên hạ thủ vi cường. Ông ta muốn xem thử đối phương có thật sự lợi hại như lời đồn hay không.

Trống trận nổi ầm ầm. Vijayanagara đại quân bị đốc chiến đội xua tới trước. Deva Rama I đã sai hơn nghìn kỵ binh sung lâm thời đốc chiến đội. Đại quân hơn 40 vạn người bị bức bách hướng đối phương tấn công. Bọn họ đa phần chỉ vận áo giáp da, sử dụng một thanh đao, nhiều người còn đi chân không, đầu quấn khăn, ngoài ra chẳng có một trang bị nào khác.

Lý Ngân nhìn một lúc, rồi bảo viên tùy tướng :

- Truyền lệnh cung thủ chuẩn bị. Khi đối phương vượt qua tầm bắn thì công kích. Thương trận dàn ra bảo hộ cung thủ.

Mệnh lệnh truyền xuống, thương trận bắt đầu vận động. Trường thương thủ xếp thành 3 hàng ở phía trước đội hình cung thủ, trường thương dài 8 thước (3,2 mét) chĩa thẳng về phía trước. Bên cạnh mỗi trường thương thủ còn có một Đại đao binh tay cầm đao tay cầm khiên bảo hộ.

Quân Vijayanagara tiến đến trước thương trận ước 100 bước, các đội cung thủ bắt đầu phóng tiễn. Hơn chục vạn mũi tên bắn ra ào ạt, tên bay như mưa, liên miên bất tuyệt. Quân Vijayanagara lớp này ngã xuống lớp khác xông lên, rồi lại trúng tên ngã xuống, thương vong thảm trọng.

Deva Rama I vội truyền lệnh :

- Tượng binh tấn công.

Nhìn thấy phía trước quân Vijayanagara tổn thất nặng nề, Deva Rama I cuối cùng cũng hạ quyết tâm phát động toàn lực tấn công. Quân Vijayanagara phần lớn là dân binh, hay nói rõ hơn là quân nông dân, nếu gặp bất lợi, sĩ khí suy giảm thì rất dễ bỏ chạy. Đến lúc đó, dù sử dụng vũ lực cũng khó ép bọn họ trở lại chiến trường.

Mệnh lệnh của Deva Rama I được chấp hành rất nhanh. Đội tượng binh được xua lên phía trước. Tiếp theo những tiếng rống của đại tượng, 900 con voi chiến dàn hàng thành đạo tiên phong xông tới trước, theo sát phía sau là quân đội Vijayanagara. Gặp phải binh sĩ Vijayanagara ở phía trước không kịp tránh đường, đại tượng trực tiếp dẫm đạp thành một đoàn máu thịt, tử trạng thê thảm.

900 con voi chiến đồng loạt xung phong, khí thế vô cùng khủng bố. Những con vật khổng lồ này tuy tốc độ không nhanh, nhưng mỗi bước chân khiến cho mặt đất rung rinh chấn động, thanh thế kinh nhân, dẫn đến đối phương tâm thần chấn động. Quân đội Thần Thánh Đế quốc cũng không ngoại lệ.

Lý Ngân vội truyền lệnh :

- Thần công nhắm đội tượng binh khai hỏa. Sử dụng loại thần công cỡ nhỏ.

Liền đó, gần 3.000 khẩu thần công cỡ nhỏ đồng loạt khai hỏa, pháo nổ vang trời, khói bốc mù mịt, đạn bay đỏ rực nửa bầu trời. Đại tượng dù da dày đến mức nào cũng không thể chịu nổi đạn pháo tấn công. Khắp chiến trường vang dậy những tiếng voi rống. Mấy chục con voi ở hàng đầu bị đạn pháo bắn trúng, đau đớn đến phát cuồng, vừa gào rống vừa hất văng quản tượng trên lưng, sau đó quay đầu bỏ chạy. Tiếp đó là đến những con voi ở phía sau cũng lần lượt chịu chung số phận. Voi chiến một khi phát cuồng, nháo nhào tháo chạy, hậu quả vô cùng khủng bố. Vô số binh sĩ Vijayanagara bị voi dẫm đạp, thịt nát xương tan. Trận hình quân Vijayanagara đại loạn.

Lý Ngân thấy tình thế có lợi, lập tức truyền lệnh ba quân toàn lực tấn công. Đầu tiên, tất cả 7.200 khẩu thần công đồng loạt khai hỏa, rải đạn xuống đầu địch quân. Sau đó, 36 vạn quân phát động xung phong, thương trận đi trước, cung thủ đi sau, vừa đi vừa bắn tên tới tấp. Chỉ chưa đến nửa giờ giao chiến, đã có hàng vạn quân Vijayanagara tử thương bởi đạn pháo, cung tên, hay bị voi giẫm đạp. Quân Vijayanagara bắt đầu bỏ chạy, đương nhiên là quân nông dân bỏ chạy trước, đốc chiến đội ngăn cản thế nào cũng không xuể. Hơn nữa, không ít binh sĩ thuộc đốc chiến đội bị đàn voi giẫm đạp hoặc trúng đạn pháo tử vong. Thậm chí, nhiều toán đốc chiến bị đàn voi xua đuổi, đành phải gia nhập đội hình bại binh. Chẳng ai dám dùng tấm thân máu thịt để cản bước chân đàn voi cả. Mà đàn voi đều đã phát cuồng, có cản cũng vô ích. Lần lần, toàn thể quân Vijayanagara đều ùn ùn bỏ chạy. Tình thế thật đúng với cảnh tượng ‘Binh bại như sơn đảo’, dù cho Tiêu Hà tái thế, Gia Cát phục sinh cũng đành phải bó tay.

Khi địch quân đã bỏ chạy, Lý Ngân lập tức huy sư đuổi theo. Quân đội Thần Thánh Đế quốc chia thành 4 lộ, mỗi lộ 9 vạn quân, rầm rộ đuổi theo, đại pháo nổ vang như sấm, tên bắn như mưa. Quân Vijayanagara lớp chết, lớp bị thương, thi thể và thương viên nằm ngổn ngang đầy chiến trường. Lý Ngân lại truyền cho những người biết tiếng Thiên Trúc bắt loa gọi hàng. Vô số quân Vijayanagara cảm thấy tuyệt vọng, vội bỏ khí giới, quỳ dưới đất xin đầu hàng. Đúng là nhất chiến định càn khôn. Quân Vijayanagara thảm bại ngay trước kinh đô, đánh dấu cho sự diệt vong của Vương triều Vijayanagara.

Cuối cùng, quốc vương Deva Rama I cũng không chạy thoát khỏi sự truy sát của kỵ binh Thần Thánh Đế quốc, đành phải tự sát ngay trên lưng voi. Lý Ngân điều động binh mã xử lý kẻ đầu hàng, truy sát kẻ bỏ chạy, đồng thời tiến chiếm thành Vijayanagara.

Khi Lý Ngân đặt chân vào cung điện của quốc vương Deva Rama I, cũng là lúc Vương triều Vijayanagara chính thức diệt vong. Toàn bộ vương tộc cùng văn võ đại thần Vijayanagara đều bị xử lý giống như cách xử lý đối với quần thần Minh triều trước đây, tức bị sung làm nô lệ, nam bán sang Âu châu, nữ làm nô tỳ hoặc gả cho những thần dân chưa có vợ của Đế quốc. Do thiếu dân đi khai thác các vùng đất chiếm được, Giang Phong chủ trương khuyến khích mọi thần dân tăng cường sinh con, sinh càng nhiều con càng tốt. Những đứa con nào mà gia đình không nuôi nổi thì triều đình sẽ nhận nuôi. Giang Phong cần thật nhiều di dân đi khai khẩn Phi châu, Mỹ châu nên triều đình mới có chính sách đó.

Sau khi chiếm được Vijayanagara, Lý Ngân một mặt dâng biểu về triều, một mặt phái quân đội đi bình định các nơi. Toàn bộ khu vực kiểm soát của Vương triều Vijayanagara trước đây đều bị sát nhập vào Đế quốc. Chính vụ bộ sẽ phái quan viên đến đây tiến hành phân chia thành quận huyện và tiếp quản việc cai trị. Dân Thiên Trúc chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Bà La Môn giáo, nên đa số là thuận dân, sau khi Vương triều Vijayanagara sụp đổ thì dễ dàng cải hoán môn đình, trở thành thần dân của Thần Thánh Đế quốc. Cũng như trước đây khi Timur xâm chiếm vùng bắc Thiên Trúc thì bọn họ dễ dàng trở thành thần dân của Đế quốc Timur vậy. Việc bình định xứ này dễ dàng hơn ở Trung Hoa hoặc Âu châu nhiều.

Sau ba tháng ổn định tình hình, Đế quốc chỉ để lại 2 đạo quân Thần Vũ và Thần Sách ở lại trấn thủ xứ này, còn lại 10 đạo quân kia đều được Hải quân vận chuyển đến căn cứ Sinai, chuẩn bị cho việc chinh phạt Đế quốc Ottoman. Khi đại quân đến nơi, Đinh An Bình rất phấn khởi, lập tức chuẩn bị xuất chinh.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 12:49 PM
Chương 126 : CHINH PHẠT ĐẾ QUỐC OTTOMAN


Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.510 (Mậu Tuất, 1418). Mùa xuân, tháng 3. Bán đảo Tiểu Á.

Tiểu Á hay Anatolia (tiếng Hy Lạp : Ανατολία, có nghĩa là ‘Mặt trời mọc’) là một bán đảo thuộc Á châu, nằm giáp với Âu châu ở phía tây bắc, với Hắc Hải ở phía bắc, Địa Trung Hải ở phía nam, biển Aegean ở phía tây, và vùng đất châu Á rộng lớn ở phía đông.

Lúc này, chủ nhân của bán đảo Tiểu Á là Đế quốc Ottoman của người Thổ. Sultan của Đế quốc Ottoman là Mehmed I Çelebi được tôn xưng là ‘Vị lập quốc thứ hai của Đế quốc Ottoman’, mặc dù lúc này Đế quốc Ottoman yếu hơn thời vua cha là Bayezid I nhiều. Thời trước, khi Bayezid I còn trị vì, Đế quốc Ottoman chiếm lĩnh hầu hết bán đảo Tiểu Á và cả một phần vùng đất Balkan thuộc Âu châu, bao vây Đế quốc Byzantine bên trong thành Constantinople (Đế quốc Byzantine chỉ còn lại khu vực thành Constantinople, dân số chỉ khoảng 50.000 người). Nhưng đến năm 1402, khi Timur của Hãn quốc Chagatai xua quân Mông Cổ tây chinh, tấn công Đế quốc Ottoman thì quân Thổ đại bại ở Angora (nay là Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ), đại quân Thổ tan vỡ, Sultan Bayezid I bị Timur bắt sống. Năm sau, Bayezid I chết trong nhà ngục, bắt đầu thời kỳ nội chiến của Đế quốc Ottoman. Bốn vị hoàng tử con của Bayezid I đã mỗi người chiếm giữ một vùng lĩnh địa, làm Đế quốc phân liệt, rồi đưa quân đánh nhau để tranh ngôi, gây ra thời kỳ nội chiến tàn khốc kéo dài suốt 10 năm. Bọn họ là Musa và Mehmed Çelebi chia nhau kiểm soát Amasya, Isa chiếm giữ Bursa, và Suleyman chiếm giữ Rumelia (phần đất Thổ Nhĩ Kỳ thuộc Âu châu).

Đến năm 1405, Isa bị đánh bại và Mehmed Çelebi kiểm soát được Bursa, một thành phố quan trọng và cũng là kinh đô của Đế quốc Ottoman, nằm bên cạnh eo biển Dardanelles ngăn cách Âu châu với Á châu. Năm 1410, Musa đánh thắng Suleyman, xưng bá cả vùng Rumelia và bắt đầu chiếm dần các lĩnh địa khác ở bán đảo Balkan. Đế quốc Ottoman còn lại hai vị hoàng tử cùng tranh giành ngôi vị Sultan. Năm 1413, Mehmed Çelebi liên kết với quân Byzantine, đã giành thắng lợi vang dội trước quân Musa ở Camurli. Mehmed Çelebi chính thức lên ngôi, trở thành Sultan của người Thổ, xưng hiệu là Mehmed I Çelebi cai trị cả vùng Tiểu Á và Rumelia.

Năm 1416, Belreddin nổi dậy ở bán đảo Karaburun. Cuộc nổi dậy này thu hút được sự ủng hộ đông đảo của dân chúng trong vùng. Quân khởi nghĩa phát triển đến hơn 1 vạn người, và đã giành được một số thắng lợi nhỏ trước quân triều đình Ottoman. Cuộc nổi dậy này đã phần nào làm suy yếu Đế quốc. Belreddin tên đầy đủ là Sheikh Mahmoud Bin Bin Abdulaziz Badraldin Israel, một giáo sĩ tiến bộ, nổi dậy đấu tranh để dân chúng không phải đóng thuế quá cao. Ông không chỉ là một giáo sĩ có uy tín, mà còn là phò mã của vương triều Mamluk ở Ai Cập (vợ ông là Cazibe Hatun, một công chúa Mamluk). Theo lịch sử, cuộc nổi dậy thất bại, những chiến hữu của Belreddin đều bị xử tử, còn ông bị giải về treo cổ ở Serez vào năm 1420. Nhưng lúc này (năm 1418), cuộc chiến vẫn còn đang diễn ra ở bán đảo Karaburun. Chính vì chiến tranh liên miên hơn chục năm nay, nên quốc lực của Đế quốc Ottoman không còn thật sự hùng mạnh nữa. Cũng do vậy mà khi Vương triều Latium quật khởi ở phía tây thì quân Ottoman vẫn án binh bất động, phòng giữ bờ cõi của mình và đàn áp các cuộc nổi dậy trong nước.

Ngày 15 tháng 3 năm Mậu Tuất (1418), đại quân Thần Thánh Đế quốc tế cờ xuất chinh. Các đạo lục quân vượt biên giới Syria (đất Syria thời Trung Cổ, rộng hơn lĩnh thổ nước Syria ngày nay) tiến vào lĩnh thổ Đế quốc Ottoman ở phía bắc. Trong khi đó thì các chiến hạm của Hắc Long Hạm đội kéo đến phong tỏa eo biển Dardanelles, pháo kích vào các thành thị, pháo đài ở hai bên bờ eo biển, ngăn hẳn phần Rumelia với bán đảo Tiểu Á. Kinh đô Bursa bị pháo kích rất dữ dội. Các chiến hạm của Hắc Long Hạm đội tràn ngập cả eo biển, nhiều lần dàn trận như muốn chiếm lấy một vùng bờ biển để tổ chức đổ bộ. Sultan Mehmed I Çelebi phải vội tập trung binh lực từ các nơi về bảo vệ Bursa, trong đó có một bộ phận không nhỏ chia ra phòng ngự khu vực bờ biển, ngăn không cho địch quân đổ bộ. Đồng thời, Mehmed I Çelebi còn phái một sứ đoàn đến Sinai xin thần phục Thần Thánh Đế quốc, nhưng bị bọn Đinh An Bình từ chối. Sau cuộc đại điển ‘vạn quốc lai triều’, những ai không đến Gia Định triều cống thì sẽ không được Đế quốc công nhận. Trước đó, Giang Phong đã quyết định thống trị khu vực Tiểu Á và Rumelia theo mô hình Jerusalem và Syria, nên Đế quốc Ottoman phải kết thúc. Hơn nữa, nếu như Đế quốc Ottoman thần phục thì công huân ở đâu ra. Bọn Đinh An Bình đều là những kẻ hiếu chiến kia mà.

Lộ lục quân của Thần Thánh Đế quốc do Đinh An Bình đích thân thống suất, gồm 16 đạo quân Đế quốc (6 đạo trú đóng ở Sinai trước đây và 10 đạo từ nam Thiên Trúc mới chuyển đến) với 48 vạn người, thêm vào đó có 2 vạn kỵ binh Mamluk, 10 vạn bộ binh Ai Cập và 1 vạn kỵ binh A Lạp Bá trợ chiến. Quân đội Mamluk, Ai Cập và A Lạp Bá sẽ đóng vai trò dân binh, hỗ trợ quân đội Đế quốc chiến đấu cũng như phòng thủ các vùng đất chiếm được.

Các vùng đất phía đông bán đảo Tiểu Á tuy trên danh nghĩa thuộc về Đế quốc Ottoman, nhưng thực tế có vô số tiểu bộ lạc sinh sống trên đấy, vì nộp cống cho Đế quốc Ottoman nên được xem là thuộc lĩnh thổ Ottoman. Cũng vì thế mà 16 năm trước, Timur đã xâm chiếm vùng này rất dễ dàng, đại quân Mông Cổ tiến thẳng một mạch đến tận Angora (tức Ankara) mới gặp phải quân đội Ottoman chặn đánh.

Giờ đây, Sultan Mehmed I Çelebi đang phải lo phòng thủ kinh đô Bursa, vùng này gần như bỏ ngõ. Đinh An Bình tiến quân theo đường tiến quân của người Mông Cổ trước đây, tiến đến đâu là công thành bạt trại đến đó. Các đội kỵ binh Mamluk và A Lạp Bá được thả đi cướp phá các tiểu bộ lạc trong vùng quân đội đi qua. Đinh An Bình cho bọn họ tự do tác chiến, tùy ý xử lý chiến lợi phẩm, nên cả bọn đều rất hăng hái, tiến đến đâu là cứ như ‘hoàng trùng quá cảnh’, cướp sạch, phá sạch, giết sạch đến đó, thực hiện ‘tam quang chính sách’ đến mức triệt để. Thời Trung Cổ, quân đội cướp phá là chuyện bình thường. Chẳng hạn như có một cuộc Thập tự chinh đi ngang qua Constantinople, đã nhân tiện phá thành, sau khi cướp phá xong còn phóng hỏa đốt thành, khiến cho văn vật bị hủy, sự phồn vinh thịnh vượng của Constantinople từ đó cũng chấm dứt, sau này Đế quốc Byzantine chỉ còn lại chút hơi tàn.

Đại quân tiến công thuận lợi ngoài cả sự tưởng tượng của Đinh An Bình. Vạn lý hành quân mà chẳng có một cuộc giao tranh đáng kể nào. Những cuộc giao chiến thảm liệt chủ yếu là các cuộc cướp phá của kỵ binh Mamluk và A Lạp Bá. Đại quân đông đến 610.000 người, thần công đại pháo gần vạn, mỗi khi nã pháo công thành thì cả nửa bầu trời rực hồng lửa đạn, thành trì kiên cố đến đâu cũng bị phá hủy dễ dàng, những tiểu đội quân Thổ làm sao dám ngăn cản. Đại quân tiến về phía tây, các bộ lạc Thổ cũng vội chạy về phía tây, bị dồn đuổi dần về phía Bursa. Những bộ lạc nào chậm chân thì trở thành mục tiêu của kỵ binh Mamluk và A Lạp Bá. Bọn họ ai nấy đều rủng rỉnh kim tệ trong túi. Chiến lợi phẩm thu được, bọn họ đều bán lại cho những đội thương nhân đi phía sau đại quân, đổi lấy kim tệ cho nhẹ nhàng. Hành trang phải càng nhẹ nhàng thì mới càng dễ dàng cướp phá, càng có nhiều chiến lợi phẩm hơn.

Dù vậy, cũng có không ít tù trưởng các tiểu bộ lạc mang cả quân dân ra đầu hàng Đế quốc. Đinh An Bình không chấp nhận cho Đế quốc Ottoman đầu hàng, nhưng đối với các tiểu bộ lạc thì sẵn sàng mở rộng cửa đón chào. Đinh An Bình cứ khuyên trên địa đồ những vùng đất nhất định, rồi giao cho các bộ lạc này cai quản, tự trị, giống như các tiểu vương quốc A Lạp Bá vậy. Những bộ lạc bỏ chạy về phía tây đa phần là các bộ lạc lớn, có quan hệ thân mật với triều đình Ottoman. Những bộ lạc đầu hàng, không chỉ lo di cư đến vùng đất được giao, mà còn đua nhau đóng góp kỵ binh tham chiến. Bọn họ xin với Đinh An Bình cho kỵ binh Thổ được gia nhập đội ngũ của kỵ binh Mamluk và A Lạp Bá. Đến khi đại quân đến được Angora thì kỵ binh Thổ theo quân đã đông đến hơn 2 vạn người.

Đến Angora, Đinh An Bình cho đại quân cắm trại lại đấy, tạm thời nghỉ ngơi chỉnh quân. Nơi đây là chiến trường xưa kia giữa quân Thổ của Bayezid I và quân Mông Cổ của Timur. Đinh An Bình rất hy vọng quân Thổ lại chọn nơi đây là địa điểm quyết chiến, bởi sau một lần thảm bại, dẫn đến Đế quốc tan rã, tất sẽ tạo nên ám ảnh trong lòng quân dân Ottoman. Chỉ đáng tiếc là sau mấy ngày mà vẫn không thấy có động tĩnh gì từ phía triều đình Ottoman. Bọn họ chỉ lo cố thủ Bursa mà thôi.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 12:58 PM
Chương 127 : BURSA ĐẠI HỘI CHIẾN (1)


Lại nói, đại quân Thần Thánh Đế quốc đóng quân tại Angora nghỉ ngơi chỉnh quân. Đinh An Bình hy vọng sẽ có đại chiến tại đây, nhưng phía quân Ottoman lại không có động tĩnh gì, nên đại quân lại tiếp tục tiến quân.

Trong thời gian đại quân nghỉ ngơi, Đinh An Bình đã cho hậu cần quân tổ chức xây dựng ở đây một tòa tiểu thành, để lại 1 vạn dân binh Ai Cập trú đóng. Các thương nhân theo quân cũng tạm thời tập kết tại đây, bởi xa mã của bọn họ đã chở nặng quá rồi. Bọn họ chờ đại quân đánh thông đường đến khu vực eo biển Dardanelles rồi sẽ theo thuyền trở về Sinai. Mỗi thương đoàn chỉ phái một nửa nhân thủ đi theo đại quân, một nửa ở lại giữ gìn hàng hóa. Bọn họ còn mua lại rất nhiều xa mã từ các tiểu bộ lạc trong vùng hoặc từ chiến lợi phẩm của kỵ binh Thổ, Mamluk và A Lạp Bá. Đến lúc này, số kỵ binh Thổ theo quân đã đông hơn cả số kỵ binh Mamluk, đứng đầu trong số ba đạo kỵ binh trợ chiến.

Nghỉ ngơi nửa tháng, đại quân lại tiếp tục bước chinh trình, tiến thẳng đến Bursa, kinh đô của Đế quốc Ottoman. Lúc này, đại quân chỉ còn lại 48 vạn quân Đế quốc, hơn 5 vạn kỵ binh Thổ, Mamluk và A Lạp Bá, cùng với 2 vạn dân binh Ai Cập. Số dân binh Ai Cập còn lại đã được chia ra phòng thủ các thành thị trọng yếu mới chiếm được. Đinh An Bình còn chuẩn bị sử dụng đến 10 vạn dân binh Nubia hiện đang tập trung huấn luyện ở Sinai, và nếu cần thì còn có thể triệu tập dân binh Yemen và Somali.

Bursa, kinh đô của Đế quốc Ottoman, giờ đây vô cùng náo nhiệt và hỗn loạn. Hàng trăm bộ lạc, hàng chục vạn quân dân bị đại quân Thần Thánh Đế quốc dồn đuổi về phía này, dần dần đều tập trung lại quanh thành Bursa. Sultan Mehmed I Çelebi vừa mừng vừa lo. Mừng vì có thêm người để chinh binh, nhưng lo vì vấn đề trị an và lương thực. Hàng chục vạn người tập trung về đây, trong ngoài thành Bursa xuất hiện hàng vạn ngôi lều lớn nhỏ đủ loại, hàng chục vạn nạn dân không có việc gì làm, sẽ khiến cho trị an trong vùng càng thêm rối loạn. Thêm vào đó, đa phần các bộ lạc này trên đường chạy nạn đã để lạc mất phần lớn dê ngựa, hành trang (bị kỵ binh Thổ, Mamluk và A Lạp Bá truy sát, dê ngựa đi chậm quá, hành lý nặng quá nên phải bỏ lại, bỏ của chạy lấy người), thành ra hiện tại lâm vào tình trạng thiếu lương thực. Mấy ngày gần đây, nhiều hộ dân cư ngoài thành bị cướp phá, ngay cả trong thành về đêm cũng không được an toàn, càng làm cho Mehmed I Çelebi và triều đình quan viên thêm đau đầu.

Giữa cảnh rối loạn đó, tin báo về việc đại quân Thần Thánh Đế quốc áp sát Bursa càng khiến tình hình thêm hỗn loạn. Một số gia đình giàu có nhưng không phải quý tộc trong thành đã len lén thu góp tài sản chạy khỏi Bursa. Cảnh thành trì thất thủ, rồi bị cướp phá thiêu hủy ở xứ này vốn không lạ gì. Bọn họ không muốn gặp phải cảnh đó nên sớm chạy khỏi nơi này.

Trong cung điện, Sultan Mehmed I Çelebi trầm tư khổ tưởng tìm cách vượt qua quốc nạn. Xung quanh là đông đảo triều thần, nhưng ai nấy đều cúi đầu lặng im. Mehmed I Çelebi nghĩ mãi mà không tìm ra diệu sách gì, lại nhìn quần thần ai nấy co đầu rút cổ, tức giận quát :

- Các ngươi … các ngươi … bình thường ta ban cho các ngươi cao quan lộc hậu mà giờ đây không ai giúp ta đưa ra được chủ ý gì là sao, là sao hả ?

Một vị triều thần rụt rè nói :

- Bệ hạ. Nếu không muốn lánh đi nơi khác thì chỉ còn cách quyết chiến mà thôi, không còn đường nào khác đâu ạ !

Một vị triều thần khác nói thêm :

- Xin bệ hạ cho chinh thêm binh ạ ? Chúng thần thề cùng địch quân tử chiến đến cùng !

Nhiều người khác đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng nói :

- Xin thề cùng địch quân tử chiến đến cùng !

Không ai biết bản ý bọn họ như thế nào, nhưng trước tình hình thế này, bọn họ không thể không lên tiếng thề quyết tử chiến, nếu không khó thể bình an bước ra khỏi nơi này. Mehmed I Çelebi đưa mắt nhìn khắp chúng quần thần hồi lâu rồi mới nghiêm giọng nói :

- Truyền lệnh phong tỏa toàn thành, ai dám bỏ trốn lập tức xử tử.

Nói xong lại đưa mắt nhìn một lượt chúng triều thần, ánh mắt tràn ngập sát khí khiến ai nấy cũng đều rùng mình. Sau đó, Mehmed I Çelebi lại truyền lệnh :

- Chinh triệu tất cả những người đàn ông khỏe mạnh trong thành gia nhập quân đội chống giặc.

Một vị triều thần vội nói :

- Bệ hạ. Nếu như thế e rằng chúng ta không có đủ lương thực cung cấp cho quân đội.

Mehmed I Çelebi cau mày hỏi :

- Lương thực còn được bao nhiêu ?

Vị triều thần kia cung kính nói :

- Bẩm bệ hạ. Lương thực trong thành chỉ đủ cung cấp cho 1 triệu người sử dụng trong 1 tháng nữa.

Mehmed I Çelebi cả kinh hỏi :

- Sao ít thế ?

Vị triều thần kia nói :

- Bẩm bệ hạ. Kinh đô bị công kích mấy tháng nay, nạn dân kéo đến càng lúc càng nhiều, việc canh tác sinh sản lại đình trệ, nên lương thực càng lúc càng thiếu thốn ạ ! Đặc biệt là nạn dân của các bộ lạc từ phía đông mới kéo đến gần đây, lương thực vật tư đa số bị lạc mất trên đường chạy loạn, lâm vào cảnh thiếu ăn, nếu không được triều đình tiếp tế sẽ lâm vào cảnh thiếu đói, rất dễ phát sinh họa loạn.

Mehmed I Çelebi cau mày ngẫm nghĩ hồi lâu, cười khổ nói :

- Nếu không có bọn họ thì đỡ biết chừng nào nhỉ ?

Vị đại thần kia vội nói :

- Nhưng triều đình cũng không thể đuổi bọn họ đi nơi khác ạ ! Nếu không, địch quân còn chưa đánh đến nơi mà kinh thành đã đại loạn trước rồi.

Một vị đại thần khác đột nhiên hiến kế :

- Bệ hạ. Hay là chúng ta chinh triệu bọn họ vào quân đội, sau đó lập tức đưa ra chiến trường. Triều đình chỉ mất ít ngày lương thực. Bọn họ mà giết được kẻ địch nào thì đối triều đình càng có lợi.

Mehmed I Çelebi sáng mắt lên, khen :

- Chủ ý của ngươi rất hay. Cứ thế mà làm. Việc này ta giao cho ngươi xử lý.

Vị đại thần kia cung kính vâng dạ, Mehmed I Çelebi lại nói :

- Mau thi hành đi !

Vị đại thần kia vội cáo lui, đi thực hiện ngay việc đó. Với sự nỗ lực của ông ta, chỉ hai ngày sau, quân Ottoman đã chinh triệu được thêm 750.000 dân binh, cộng với quân triều đình đạt đến hơn 1 triệu. Điều đó có nghĩa là toàn bộ trai tráng trong ngoài thành Bursa, kể cả những nơi lân cận cũng bị chinh triệu hết. Mehmed I Çelebi biết trận chiến này quan hệ đến sự sinh tử tồn vong của Đế quốc Ottoman, cũng như của bản thân ông ta, nên hoàn toàn đồng ý việc đó. Nếu như thất trận, cũng giống như phụ vương, mạng sống có thể không còn, thì còn lo gì đến chuyện tương lai. Muốn gì thì cũng phải vượt qua cơn quốc nạn này mới được.

Sau ba ngày khẩn cấp huấn luyện, Mehmed I Çelebi cho chỉnh đốn đội ngũ, rồi dẫn quân xuất thành chặn đánh địch quân. Với đạo quân đông đến hơn 1 triệu người, nếu thời gian kéo dài, thành Bursa không thể cung cấp đủ lương thực để nuôi quân, vì thế mà Mehmed I Çelebi bất đắc dĩ phải sớm tìm cơ hội quyết chiến.

Trên một khu bình nguyên cách thành Bursa hơn trăm dặm, quân đội song phương đụng độ với nhau. Do trời đã xế bóng, song phương quyết định cắm trại lại nơi này, nghỉ ngơi một đêm, đến sáng mai sẽ quyết chiến. Lúc này, trên bình nguyên này tập trung đến gần 1 triệu 700.000 quân đội song phương, doanh trướng chật đồng, người đi chật đất, đến khi nấu cơm chiều thì khói bốc mù trời giống như đang có một trận đại hỏa hoạn vậy.

Đại doanh quân đội Ottoman. Vương trướng.

Mehmed I Çelebi triệu tập các đại thần vào vương trướng cùng ăn tối và nghị bàn việc giao chiến vào ngày mai. Mehmed I Çelebi nói với vẻ lo lắng :

- Tuy quân ta đông hơn, nhưng địch quân đều là tinh nhuệ, vũ khí tinh lương, đại pháo lợi hại. Xem ra trận chiến ngày mai chúng ta không có mấy ưu thế rồi. Nghe nói trước đây bọn họ chỉ có 200.000 quân mà đã tiêu diệt cả Đế quốc La Mã Thần Thánh, càn quét cả tây phương, diệt quốc vô số, thành lập nên Đế quốc Latium rộng lớn như bây giờ.

Một viên cận thần là Miran Lazarevic nói :

- Bệ hạ. Nếu như giao chiến không có ưu thế thì chúng ta có thể dùng mưu.

Mehmed I Çelebi hỏi :

- Ngươi có mưu kế gì ? Hãy mau nói ra !

Miran Lazarevic nói :

- Bệ hạ. Chúng ta hãy cho cung thủ mai phục trên các ngọn đồi phía sau nơi đây, trên đó chuẩn bị thật nhiều đá tảng nữa. Khi giao chiến, bệ hạ có thể cho quân tạm lui về phía đó. Nếu địch quân đuổi theo, quân mai phục đổ ra đánh, quân ta cũng từ phía sau đánh tràn đến, có thể đánh bại được địch nhân.

Mehmed I Çelebi ngẫm nghĩ giây lát, rồi gật đầu nói :

- Kế ấy hay lắm ! Có thể thi hành.

Mọi người đều thấy mưu kế đó rất hay. Thế là quần thần cũng đồng thanh tán dương Sultan anh minh thần vũ, Lazarevic đại nhân trí kế phi phàm, địch nhân tất sẽ bị đánh bại, quân ta tất sẽ đại thắng, …



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 01:02 PM
Chương 128 : BURSA ĐẠI HỘI CHIẾN (2)


Lại nói, khi Miran Lazarevic hiến kế được Sultan Mehmed I Çelebi chấp thuận, mọi người đều tán dương Sultan anh minh thần vũ, Lazarevic đại nhân trí kế phi phàm, địch quân tất bại, quân ta tất thắng, … Mehmed I Çelebi nghe chúng quần thần tán tụng như thế, rất lấy làm hài lòng, vẻ lo lắng về quốc nạn không còn nữa, giống như địch quân đã bị đánh bại rồi vậy. Không chỉ riêng Mehmed I Çelebi mà cả quần thần đều lấy lại được lòng tin khi đối diện với địch quân. Đó là một điều may mắn lớn cho phía quân đội Ottoman. Chứ nếu chưa giao chiến mà tướng lĩnh đã sợ thua thì còn giao chiến gì nữa. Không chỉ có thế, Miran Lazarevic lại còn nói thêm :

- Nếu như quân ta may mắn đại thắng, đuổi chạy được địch quân thì chúng ta có thể nhân cơ hội đó chiếm lĩnh trận địa đại pháo của địch quân. Nghe nói địch quân có đến cả vạn khẩu thần công đại pháo. Nếu như quân ta mà chiếm được số đại pháo đó thì không còn sợ gì địch quân nữa.

Bọn họ đều biết thần công đại pháo rất nặng nề, nếu phải bỏ chạy thì khó mà kéo theo kịp. Mehmed I Çelebi cả mừng nói :

- Đúng thế ! Đúng thế ! Chỉ cần chiếm được số thần công đại pháo đó, dù cho có thiệt hại vài trăm nghìn quân cũng không tiếc. Địch quân mà thiếu đi đại pháo thì cũng giống như sư tử mà mất đi nanh vuốt, không còn gì đáng sợ nữa.

Thật sự thì Mehmed I Çelebi cũng không sợ gì việc tổn thất vài trăm nghìn binh sĩ. Trong hơn 1 triệu quân Ottoman ở đây thì có đến gần 75% là dân binh được chọn ra chiến trường làm bác hôi kia mà. Nếu không, duy trì một đạo quân đông đảo như thế, nhất thời triều đình Ottoman cũng không có đủ lương thực để cung cấp cho quân đội. Mehmed I Çelebi lại bảo Miran Lazarevic :

- Việc này ta giao cho ngươi toàn quyền an bài.

Miran Lazarevic cung kính nói :

- Vâng ạ. Thần sẽ an bài đâu vào đó cả. Bệ hạ cứ an tâm.

Mehmed I Çelebi lại quay sang quần thần nghiêm giọng nói :

- Ngày mai các ngươi phải đốc thúc quân binh hết sức chiến đấu. Khi có hiệu lệnh tiến quân, ai mà dám không tiến, lập tức xử trảm.

Chúng quần thần đều cung kính vâng dạ. Mọi người chia nhau đi chuẩn bị cho cuộc chiến ngày mai. Trong lòng cả bọn lúc này tràn trề hy vọng vào một trận đại thắng, mà không biết rằng ‘hành sự tại nhân, thành sự tại thiên’.

Cũng cùng lúc đó, trong soái doanh của quân đội Thần Thánh Đế quốc, Đinh An Bình triệu tập chúng tướng bàn bạc việc quân. Đinh An Bình nói :

- Quân giặc đông hơn trăm vạn, chiến đấu chắc chắn sẽ rất khích liệt. Để tránh tổn thất nặng nề, mọi người ai có chủ ý gì hay không ?

Tham mưu trưởng Trương Kỳ nói :

- Đại vương. Tối nay chúng ta có thể cướp doanh địch quân !

Đinh An Bình thoáng cau mày :

- Cướp doanh ? Có ổn không ?

Quân đội Thần Thánh Đế quốc luôn đề phòng bị cướp doanh, nên khi dựng doanh trại ở đâu đều có nhiều bố trí để phòng chống. Khó biết địch quân cũng có làm thế hay không. Trương Kỳ nói :

- Chúng ta có thể phân làm hai giai đoạn. Phái một đạo quân đi trước cướp doanh. Nếu như địch quân không có đề phòng thì thiêu hủy địch doanh luôn. Ngoài ra bố trí thêm một đạo quân mai phục ở phía sau, nếu như địch quân có đề phòng thì sẽ tấn công vào mặt sau địch quân. Bằng không thì sẽ làm đạo dự bị.

Một viên tham mưu lại hiến kế :

- Chúng ta có thể kết hợp với cả thần công đại pháo. Quân ta chỉ bao vây ở vòng ngoài, rồi pháo kích vào đại đội nhân mã của địch quân ở phía trong.

Đinh An Bình gật đầu bảo :

- Ban tham mưu lên kế hoạch đi. Rồi chư tướng sẽ theo đó thi hành.



Mây rất dày. Đêm nay trời âm u. Trên bầu trời chỉ có vài ngôi sao. Tinh quang chiếu xuống mặt đất mờ mờ ảo ảo. Nhiều chỗ giơ bàn tay ra không nhìn rõ năm ngón.

Đinh An Bình phái 9 vạn quân đi cướp doanh. Ngoài ra còn có 42 vạn quân mai phục ở hai bên trái phải địch doanh, chờ lệnh hành sự. Chỉ còn lại hơn 10 vạn quân ở lại bảo hộ bản doanh.

Thần Uy Tướng quân Hoàng Thắng dẫn đầu đội tiền quân lặng lẽ tiến sát đến bên ngoài địch doanh, chiến mã đều bị cột miệng lại, sĩ binh thì ngậm một thanh gỗ nhỏ trong miệng để khỏi gây ra tiếng động. Cũng may là địch quân không có bố trí cạm bẫy bên ngoài doanh trại, nên đội quân của Hoàng Thắng dễ dàng tiến sát đến bờ rào ngoài cùng. Nghĩ đến sự an bài của Đại vương, Hoàng Thắng trong lòng đại định, ngoài đạo quân của mình, vẫn còn có 6 vạn quân ở phía sau, bên ngoài lại còn có thêm 42 vạn quân và gần 1 vạn khẩu thần công tiếp ứng. Có mấy tầng bố trí như thế, lần này cướp doanh dù cho thất bại, chỉ cần xung thoát ra ngoài là vẫn an toàn.

Hoàng Thắng nhìn vào bờ rào phía trước mặt một lúc, rồi hỏi viên tùy tướng :

- Thám tử quay lại chưa ?

Viên tùy tướng lắc đầu đáp :

- Chưa ạ !

Nói đến đây, gã chợt chỉ về phía trước, hô khẽ :

- Tướng quân. Về rồi kìa !

Hoàng Thắng nhìn thấy hai gã thám tử đang rón rén quay lại, liền vội hỏi :

- Tình hình bên trong thế nào ?

Một gã thám tử nhanh nhảu nói :

- Hồi Tướng quân. Trừ một số ít canh phòng bên ngoài các địa điểm quan trọng, toàn bộ địch quân đều lăn ra ngủ trong các doanh trướng, căn bản chẳng có tuần canh gì hết. Thậm chí thuộc hạ thay đổi y phục, lẻn vào bên trong đi khắp một vòng mà chẳng ai chú ý đến thuộc hạ. Kẻ nào kẻ nấy đều ngủ như trâu, tiếng ngáy truyền ra đến tận ngoài này cũng còn nghe thấy thấp thoáng.

Hoàng Thắng ngạc nhiên nói :

- A ! Địch quân lại như thế ư ?

Gã thám tử nói chắc như đinh đóng cột :

- Thuộc hạ xin dùng tính mệnh đảm bảo. Những điều đó là do thuộc hạ tận mắt nhìn thấy. Hơn nữa, bọn thuộc hạ dạo quanh trong đó hết một vòng, toàn bộ địch doanh đều như thế cả, tuyệt đối không hề giả dối.

Hoàng Thắng ngạc nhiên không thôi. Bọn họ không biết rằng người phương tây, trong đó có cả người Thổ vốn quen dàn trận giao chiến, thổi kèn xung phong, mặt đối mặt chiến đấu, không có sử dụng nhiều âm mưu quỷ kế như người phương đông. Các trận chiến ở Âu châu đều như thế cả. Việc Miran Lazarevic nghĩ ra mưu kế mai phục trên ngọn đồi phía sau đã là thần mưu diệu kế trên đời hiếm có rồi. Nếu không phải gặp nguy cơ, có khi Mehmed I Çelebi cũng không chấp nhận sử dụng âm mưu, bởi theo văn hóa của bọn họ thì hành động như thế là không anh hùng, cũng giống như người phương tây tuân thủ tinh thần Hiệp sĩ vậy.

Thấy Hoàng Thắng mãi suy nghĩ, viên tùy tướng khẽ nhắc nhở :

- Tướng quân. Chúng ta tấn công thôi.

Hoàng Thắng giật mình, gật đầu bảo :

- Truyền lệnh tấn công.

Thế là đạo tiền quân 3 vạn người phá rào tràn vào bên trong, gặp người thì sát, gặp doanh trướng thì thiêu. Quân Ottoman vốn không đề phòng, nên khắp đại doanh hỗn loạn vô cùng. Hỏa quang xung thiên, liệt diệm bừng bừng. Quân Ottoman đang ngủ say sưa, tỉnh dậy trong lúc đại hỏa thiêu đến nơi, hoang mang hoảng loạn chạy ngược chạy xuôi. Thật thà một chút thì lo cứu hỏa. Lanh lợi một chút thì cảm giác thấy tình hình không hay, vội lo tìm đường thoát thân.

Thấy tình hình thuận lợi như thế, Hoàng Thắng liền vội đốt pháo hiệu tung lên trời. Các đạo quân bên ngoài lập tức reo hò xông đến, phá rào tràn vào địch doanh vừa thiêu vừa sát.

Giữa cảnh hỗn loạn đó, hỏa thế càng lúc càng lớn. Nguyên bản quân Ottoman xây dựng doanh trướng toàn bằng vải và gỗ, cũng không chuẩn bị đề phòng hỏa hoạn, bên trong cỏ dại khắp nơi, lúc này lại đang mùa hạ, khí trời oi bức, thành ra có muốn cứu hỏa cũng không xuể, mới dập tắt chỗ này thì càng có nhiều chỗ khác bùng lên. Thêm vào đó, quân Thần Thánh Đế quốc mang hỏa dược rải vào rồi mới phóng hỏa, nên hỏa thế càng dữ dội. Chẳng mấy chốc là toàn doanh trại đã chìm trong biển lửa. Phong trợ hỏa thế, hỏa tá phong oai. Hỏa thế hung hãn vô cùng, thiêu sạch mọi thứ mà nó tràn qua. Số quân Ottoman đang lo cứu hỏa cũng đành từ bỏ hành động vô ích của mình, bắt đầu tìm đường thoát thân.

Mehmed I Çelebi đang ngủ say trong vương trướng thì đột ngột bị thị vệ đánh thức, bẩm báo hung tin. Ban đầu ông ta còn cố gắng chỉ huy quân binh xung quanh cứu hỏa, đồng thời truyền lệnh quần thần chỉ huy quân binh chống cự, nhưng rồi xem ra hành động đó chẳng có mấy hiệu quả. Dù cho đốc chiến đội tuân lệnh giết chết một số kẻ bỏ chạy thì số quân Ottoman bỏ chạy lại càng nhiều hơn, xung tản cả đốc chiến đội. Hầu như cả doanh trại đều tháo chạy ra ngoài. Thật ra thì đầu tiên chỉ có dân binh bỏ chạy, số quân đội Hoàng gia vẫn tìm cách kháng địch, nhưng dân binh chiếm đến 75% toàn quân, nên khắp nơi đều thấy người bỏ chạy. Trước tình thế đó, cả doanh trại đều dần dần bỏ chạy theo cả. Chẳng ai muốn ở lại trong doanh trại để bị thiêu chết trong ngọn lửa hung hãn kia. Đến khi ngọn lửa tràn ngập cả doanh trại thì Mehmed I Çelebi cũng bị đám thị vệ trung thành đưa lên ngựa tìm đường thoát thân.



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 01:04 PM
Chương 129 : HAI ĐẾ QUỐC CÙNG DIỆT VONG


Doanh trại bị thiêu hủy là một thảm họa đối với quân đội Ottoman. Quân binh nếu như không bị thiêu chết hay bị giết chết giữa trận thì cũng đều cuống cuồng tháo chạy về phía Bursa, không ai còn tập hợp hay chỉ huy được nữa.

Ngay cả Mehmed I Çelebi cũng được đám thị vệ trung thành đưa lên ngựa tìm đường thoát thân. Cả bọn chạy một mạch đến sáng, vừa mệt vừa khát. Vừa chạy từ trong ngọn lửa ra, lại cuống cuồng chạy thoát thân, ai nấy đều mất nước, cảm thấy vô cùng khát. Mehmed I Çelebi nhìn quanh, thấy chỉ còn lại hơn trăm thị vệ, áo mũ xốc xếch, mặt mũi hốc hác, thần thái hoang mang lo lắng, nhìn ra xa chưa thấy truy binh, khẽ thở dài một tiếng, nói :

- Tạm dừng lại giây lát, kiếm nguồn nước lấy chút nước uống rồi sẽ cùng ta về Rumelia.

Trong lúc khẩn trương chạy loạn, bọn họ không kịp lấy theo túi nước, hoặc có thì cũng không còn nước để uống. Một gã thị vệ nói :

- Bệ hạ. Gần đây có một dòng suối nhỏ.

Mehmed I Çelebi gật đầu nói :

- Được rồi. Chúng ta mau đi đến đó. Ngươi hãy dẫn đường.

Gã thị vệ vâng dạ, giục ngựa chạy trước dẫn đường. Cả bọn cũng vội giục ngựa chạy nhanh theo phía sau, cùng đi về phía dòng suối. Khi đến nơi, ai nấy vội vã chạy đi lấy đầy túi nước, đồng thời cho ngựa uống nước, tranh thủ thời gian để rồi tiếp tục chạy trốn. Thừa lúc này, gã thị vệ trưởng hỏi :

- Bệ hạ. Sao chúng ta không về Bursa mà lại sang Rumelia ạ ?

Mehmed I Çelebi thở dài hỏi :

- Nếu chúng ta về Bursa, ngươi nghĩ chúng ta có thể ngăn được bước tiến của địch quân chăng ?

Nghĩ đến thực lực hung hãn của địch quân, gã thị vệ trưởng buồn bã lắc đầu, nói :

- Khó a !

Mehmed I Çelebi cũng thở dài. Với thực lực của quân đội Ottoman lúc này, không chỉ khó, mà có thể nói là vô vọng. Xong đâu đấy, cả bọn lại lên yên, phóng ngựa tiếp tục bước bôn trình.

Chạy được một lúc nữa, cả bọn chợt nghe phía sau có tiếng vó ngựa đuổi theo. Ai nấy lo sợ truy binh, nhưng khi nghe kỹ thì chỉ nghe thấy có tiếng vó ngựa của một con ngựa. Mehmed I Çelebi nói :

- Có lẽ là quân ta !

Những người khác cũng nghĩ vậy, đều thở phào nhẹ nhõm. Thế nhưng, trái với suy nghĩ của bọn họ, kẻ đuổi theo không phải là quân Ottoman mà là quân Thần Thánh Đế quốc. Bọn Mehmed I Çelebi đều cảm thấy ngạc nhiên, không hiểu sao đối phương chạy một mình đến đây làm gì. Gã thị vệ trưởng nói :

- Bệ hạ. Hay là phái 3 người quay lại sát gã để tuyệt hậu hoạn.

Mehmed I Çelebi gật đầu đồng ý. Gã thị vệ trưởng vừa định phái ba gã thị vệ cạnh đó đi hành sự thì đột nhiên biến cố phát sinh. Đối phương khi chạy gần đến nơi, vừa nhìn thấy đoàn nhân mã của Mehmed I Çelebi chạy phía trước, trông y phục, trông đám thị vệ thì dễ dàng xác định người cầm đầu là Sultan của Đế quốc Ottoman. Gã ta vốn là trinh sát binh, không cần phải chiến đấu, chỉ cần tìm ra Mehmed I Çelebi là đã lập được đại công. Do vậy, gã không giục ngựa phóng nhanh hơn mà lại ghìm cương cho ngựa chạy chậm lại, rồi lấy từ trong túi ra một viên hỏa pháo, ném mạnh lên trời. Viên hỏa pháo nổ bùng trên không trung, tỏa ra vạn ánh hỏa quang. Mehmed I Çelebi thấy thế cả kinh, vội nói :

- Nguy rồi ! Chạy mau !

Cả bọn vội vàng ra roi giục ngựa chạy nhanh hơn nữa. Nhưng chỉ được một lúc, bọn họ đã nghe thấy có nhiều tiếng vó ngựa từ trước mặt chạy lại, từ hai bên chạy đến, và cả từ phía sau đuổi đến. Ánh hỏa pháo đã báo động cho kỵ binh của Thần Thánh Đế quốc đang truy lùng quanh đó tụ tập lại, bao vây bọn Mehmed I Çelebi. Trước khi cuộc tập kích diễn ra, Đinh An Bình đã phái một nửa số kỵ binh trong quân gồm hơn 2 vạn người chia nhau đi chặn các đường tháo chạy của địch quân. Do vậy mà bọn họ mới có thể xuất hiện phía trước bọn Mehmed I Çelebi. Bị vây kín bốn mặt, Mehmed I Çelebi chỉ còn cách kháng cự trong tuyệt vọng, và rồi cuối cùng chết vì loạn tiễn. Ông ta thà chết kháng cự đến cùng, chứ quyết không chịu để bị bắt rồi chết trong nhà ngục như vua cha. Chiến đấu với quân đội các nước Âu châu, lỡ bị bắt còn có cơ hội chuộc thân, chứ với quân đội phương đông thì không có chuyện đó. Kỵ binh Thần Thánh Đế quốc thấy không thể bắt sống, nên trút làn mưa tên lên đầu đối phương, tiêu diệt tất cả.

Thành Bursa cũng nhanh chóng thất thủ đúng như dự đoán của Mehmed I Çelebi. Sau khi thất trận, tàn quân Ottoman chạy về đó, và Đinh An Bình nhanh chóng phái quân đuổi theo, dẫn đầu là hơn 5 vạn kỵ binh Thổ, Mamluk và A Lạp Bá. Số kỵ binh này tuy không thiện chiến, nhưng truy đuổi tàn binh thì rất giỏi, bởi có cơ hội tranh đoạt chiến lợi phẩm kia mà. Các đội kỵ binh này chia thành nhiều nhóm nhỏ (theo đơn vị bộ lạc, tiểu quốc) đuổi sát phía sau tàn quân Ottoman, tiến thẳng vào thành Bursa. Và thành Bursa phải hứng chịu một kiếp nạn lớn, bị tàn binh Ottoman và kỵ binh Thổ, Mamluk, A Lạp Bá luân phiên đốt phá, cướp đoạt.

Mãi gần nửa ngày, khi đại quân Thần Thánh Đế quốc tiến vào Bursa thì cuộc cướp phá mới chấm dứt. Đinh An Bình nhanh chóng phái quan viên tổ chức an dân, bình định hỗn loạn và thiết lập hệ thống cai trị. Các đạo quân cũng được phân ra đi chinh thảo những vùng chưa thần phục. Đế quốc Ottoman kể như chấm dứt.

Nghỉ ngơi nửa tháng, Đinh An Bình lại tập trung 10 đạo quân, 30 vạn người, cùng 2 vạn dân binh Ai Cập xuống chiếm hạm vượt qua eo biển Dardanelles, tiến sang đất Rumelia (tức phần đất Thổ Nhĩ Kỳ thuộc châu Âu ngày nay). Long nhi đang ở cùng Hạm đội cũng theo quân xuất chinh. Do Đế quốc Ottoman đã sụp đổ, vùng Rumelia lại chịu ảnh hưởng nhiều của người La Mã, nên khi có Long nhi xuất diện thì việc thu phục đất này dễ dàng hơn bên phía bán đảo Tiểu Á rất nhiều. Giờ ở đây chỉ còn lại thành Constantinople nằm trơ trọi một mình giữa vòng vây. Dưới sự cổ động của Đức Thượng phụ giáo chủ Theophilus II của Jerusalem, Đinh An Bình bàn bạc với Long nhi, quyết định chinh phục thành Constantinople.

Đinh An Bình để lại dân binh Ai Cập phòng thủ các xứ đất Rumelia, rồi dẫn đại quân kéo đến vây thành Constantinole. Trên bờ có 30 vạn đại quân, 6.000 khẩu thần công đại pháo. Dưới biển có các chiến hạm của Hắc Long Hạm đội, thần công đại pháo uy lực càng lớn hơn đại pháo của lục quân. Lần đầu tiên quân dân Constantinople nhìn thấy quân đội hùng mạnh đến thế, quân tâm hoán tản rất nhiều. Đáng chú ý là thành Constantinople đã bị quân Thổ bao vây kể từ năm 1371 cho đến tận lúc này, trải qua gần 50 năm chiến loạn và bị cô lập, toàn bộ quân dân trong thành chỉ có khoảng 5 vạn người, ít hơn quân vây thành rất nhiều. Đặc biệt là khi tuyến thương mại đường biển Gia Định – Sinai được mở ra, thay thế cho tuyến Con đường tơ lụa đi qua sa mạc, thì địa vị của thành Constantinole (vốn nằm ở đầu phía tây của Con đường tơ lụa) không còn quan trọng như xưa nữa, do đó mà triều đình Constantinople cũng không giàu có dư dả gì. Quân đội trong thành lúc này chỉ có khoảng 7.000 người, trong đó có 2.000 người là lính đánh thuê nước ngoài. Thật ra so với dân số trong thành thì tỷ lệ này đã rất cao, khoảng 1 : 7. Nhưng khi so với quân đội Thần Thánh Đế quốc bên ngoài thành thì quá nhỏ đến mức không đáng kể (chỉ tương đương 2%).

Hoàng đế Manuel II Palaiologos của Constantinople (lên ngôi từ năm 1391, xưng hiệu là Hoàng đế La Mã, lịch sử gọi là Hoàng đế Byzantine, nhưng thật ra Đế quốc Byzantine lúc này chỉ còn lại thành Constantinople) thấy đối phương quân dung hùng hậu, quân số đông đảo, nhắm bề chống cự không nổi, nên sai sứ sang xin cầu hòa. Nhưng Đinh An Bình đã lấy cớ Constantinople không có trong danh sách tiến cống của Thần Thánh Đế quốc, nên triều đình này không được công nhận, rồi từ chối nghị hòa. Đại quân đã chuẩn bị sẵn sàng, lẽ nào bỏ lỡ nửa chừng, phí công phí sức một cách vô ích hay sao.

Thành Constantinople tuy thành cao hào sâu, từng đứng vững trước sự bao vây của quân đội Ottoman trong suốt gần 50 năm, nhưng đó chỉ là đối với quân đội Ottoman trang bị lạc hậu, còn đối diện thần công đại pháo của quân đội Thần Thánh Đế quốc thì thành cao hào sâu cũng chỉ làm mất thêm chút công sức mà thôi. Đinh An Bình tập trung 6.000 khẩu thần công đại pháo của 10 đạo quân trước cổng thành phía tây, rồi cho đại pháo cùng hướng về cổng thành, tập trung khai hỏa. Cùng lúc đó, các chiến hạm cũng nã pháo vào trong thành từ ngoài biển (thành Constantinople nằm trên bán đảo, trừ mặt tây thì ba mặt còn lại đều giáp biển). Nhất thời, khắp bốn phía thành Constantinople khói bốc mịt trời, pháo thanh chấn động, hỏa quang xung thiên.

Đinh An Bình cho pháo kích suốt từ sáng đến trưa, bắn gần 10 vạn viên đạn pháo vào cổng thành và phía trong thành. Dưới sự pháo kích khủng khiếp như vậy, thành trì chỉ được xây bằng gạch đá, làm sao chịu đựng cho nỗi. Cổng thành đã sớm bị phá hủy rồi.

Đến trưa, Đinh An Bình cho dừng pháo kích, rồi nổi trống trận, truyền đại quân nhập thành. Đại quân 30 vạn người, đông gấp 6 lần toàn thể quân dân trong thành, nhanh chóng tràn ngập toàn thành. Thành Constantinople thất thủ. Hoàng đế Manuel II Palaiologos cho thiêu Cung điện tự sát. Đế quốc Byzantine diệt vong. Sự kiện này diễn ra sớm hơn lịch sử 32 năm (cũng giống như sự kiện quân Mông Cổ vây thành Bắc Kinh sớm hơn 34 năm vậy).



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940

gianghoaingoc
16-05-2011, 01:11 PM
Chương 130 : ĐẠI KẾT CỤC


Tin tức về hai Đế quốc Ottoman và Đông La Mã (cách gọi của các nước Tây Âu đối với Đế quốc Byzantine) lần lượt diệt vong chỉ cách nhau vài tháng nhanh chóng truyền sang Âu châu, khiến chúng vương công quý tộc chấn kinh, còn dân chúng thì xôn xao bàn tán. Đối với bình dân bách tính thì đó cũng chỉ là chuyện trà dư tửu hậu, còn đối với nhiều vị vương công quý tộc thì điều đó đồng nghĩa với một nguy cơ to lớn. Tiếp sau đó, những nước từng phái sứ tiết đến Gia Định triều cống thì hoan hỉ vui mừng, còn những nước không triều cống lại lo lắng bất an, cố gắng tìm cách bổ khuyết, vừa khẩn trương thành lập sứ đoàn gửi đến Gia Định, vừa sai sứ giả liên hệ với những người quen biết thuộc nhóm được Thần Thánh Đế quốc công nhận nhờ cầu xin giúp. Đến lúc này, bọn họ đều đã nhận ra rằng không một vị quân vương nào, không một dân tộc nào có thể hứng chịu được cơn thịnh nộ của Đức Thánh hoàng ở Trường Thanh Cung.

Ở Tiểu Á, Đinh An Bình được lệnh tạm trú quân ở đó, ổn định khu vực. Ngoài ra, để có thể triệt để thống trị cương thổ rộng mênh mông, Giang Phong lại ban chiếu tăng quân. Lần này là tăng quân đến hơn trăm vạn. Đế quốc hùng mạnh, lương thực tài nguyên sung túc, có thể cung ứng cho một đội quân đông đảo. Dùng 200 vạn quân để khống chế 90% diện tích địa cầu, quả thật không nhiều. Chỉ có điều, khác với những lần trước, mục tiêu chinh binh lần này đại bộ phận là các chiến binh dũng mãnh của những bộ lạc ở Phi châu và Mỹ châu. Những chiến binh bộ lạc này cực kỳ dũng mãnh thiện chiến, chỉ có vấn đề là quá lạc hậu. Nhưng ở thời buổi lãnh binh khí này, bọn họ chỉ cần gia nhập quân đội Thần Thánh Đế quốc, được trang bị vũ khí tinh lương, được huấn luyện quân sự, được cung cấp lương hướng đầy đủ thì sẽ nhanh chóng trở thành những chiến binh tinh nhuệ ngay.

Trong số hơn trăm vạn tân binh đó, có 3 vạn kỵ binh Arab, 5 vạn kỵ binh Thổ, 2 vạn kỵ binh Somali, 5 vạn kỵ binh Mông Cổ, 10 vạn quân Nubia (dân tộc sống ở khu vực bắc Sudan, nam Ai Cập ngày nay), 10 vạn quân Berber (dân tộc sống ở khu vực nam Địa Trung Hải, từ Marocco đến Lybia), 30 vạn quân Kaffir (Kaffir trong tiếng Arab nghĩa là ‘không tin tôn giáo’, chỉ các dân tộc nam Phi châu theo tín ngưỡng địa phương, không theo các tôn giáo lớn như Hồi giáo, Cơ Đốc giáo, Bà La Môn giáo hay Phật giáo), 25 vạn quân da đỏ Mỹ châu, 10 vạn sơn địa quân Miến Điện, 2 vạn sơn địa quân Tamil (ở nam Thiên Trúc), 30 vạn quân Hán. Tổng quân số tăng thêm đến 132 vạn. Cộng với quân số của 28 đạo quân hiện hữu thì tổng số quân chính quy của triều đình đạt đến 216 vạn quân, được chia thành 72 đạo quân. Đương nhiên, khi thành quân thì các thành phần dân tộc được trộn lẫn vào nhau, không để bất kỳ một dân tộc nào chiếm ưu thế trong một đơn vị quân đội (kiểm soát đến cả cấp đội). Đồng thời, mỗi đơn vị quân đội đều có tân binh và lão binh phối hợp với nhau, để khỏi làm giảm sức chiến đấu của quân đội.

Đại quân sau khi chinh triệu xong, chia làm hai lộ, tập hợp ở nam Thiên Trúc và bán đảo Tiểu Á, giao cho Triệu Phong và Đinh An Bình huấn luyện. Nhiệm vụ sắp tới của hai người bọn họ là chinh phạt Hãn quốc Chagotai ở khu vực Ba Tư, bắc Thiên Trúc và Hãn quốc Kim Trướng ở phía bắc Hắc Hải và biển Caspian. Đây là hai trong số bốn Hãn quốc lớn của người Mông Cổ, nhưng đã tự lập ngay từ sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời, đương nhiên cũng chẳng thần phục nhà Nguyên, hay nay là Bắc Nguyên.

Hãn quốc Chagotai, âm Hán Việt là Sát Hợp Đài, cũng chính là Đế quốc của Timur, đã từng đánh bại quân Ottoman ở Angora năm 1402, nhưng sau khi Timur qua đời năm 1405, Hãn quốc lâm vào nội chiến, các vị vương công tranh ngôi, các vị Tổng đốc địa phương tự lập, dẫn đến Hãn quốc bị phân chia thành nhiều tiểu quốc nhỏ, thế yếu lực suy. Chỉ có Hãn quốc Kim trướng lúc này còn tương đối cường thịnh (so với các vương quốc, Hãn quốc lân bang). Hiện giờ chỉ còn lại hai khu vực này vẫn chưa nằm trong sự chi phối của Thần Thánh Đế quốc, do đó mới cần xuất quân chinh thảo.

Thật ra thì Thần Thánh Đế quốc hoàn toàn đủ năng lực để thống trị toàn bộ các vùng lĩnh thổ, nhưng Giang Phong vẫn để lại mỗi khu vực một số thế lực ‘phản nghịch’, như Đại Minh ở Trung Nguyên, Lý thị vương triều ở trung bộ bán đảo Cao Ly, các công quốc lớn nhỏ trong Đế quốc Đức, … cũng như rất nhiều tiểu quốc chư hầu khác, chính là muốn để lại chỗ cho thần dân so sánh, cho chúng vương công đại thần có chỗ lập uy, và những người hiếu chiến có chỗ mà phát tiết. Những thế lực ‘phản nghịch’ thường xuyên gặp cảnh chiến loạn, khó phát triển được. Những tiểu quốc chư hầu thực ra chính là những đại địa chủ, lĩnh dân ở đó không thể nào sinh sống tự do như ở các quận huyện của Đế quốc được. Mọi thần dân sau khi so sánh, vô hình chung sẽ có cảm giác ưu việt.

Đến Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.511 (Kỷ Hợi, 1419), mùa xuân, tháng 2, lưỡng lộ đại quân dưới sự thống suất của Chiêu Vũ Vương Triệu Phong và Chiêu Đức Vương Đinh An Bình đồng thời xuất quân chinh phạt Hãn quốc Chagotai và Hãn quốc Kim Trướng. Đại quân tiến đến đâu, địch quân tan vỡ đến đó. Bọn Đinh An Bình không cho quân thừa thắng truy kích, mà tuần tự tiệm tiến, chiếm được vùng nào thì dốc sức bình định, thiết lập quận huyện, phái quan viên cai trị và tổ chức dân binh canh giữ. Đại quân thế như phá trúc, sau gần một năm chinh chiến thì chinh phục được toàn vùng. Hai Hãn quốc hoàn toàn diệt vong.

Giang lịch năm thứ 3 vạn 9.511 (Kỷ Hợi, 1419). Mùa thu, tháng 9. Thành Syracuse, kinh đô của Đế quốc Latium, trở nên vô cùng nhộn nhịp bởi sự xuất hiện của rất nhiều sứ đoàn lân bang đến chúc hạ Long nhi nhân dịp sinh nhật 16 tuổi. Long nhi sinh ngày 25 tháng 9 năm 1403 theo Tây lịch, tức ngày 9 tháng 9 năm Quý Mùi, ngay tiết Trùng Cửu. Vì vậy mà tiết Trùng Cửu hàng năm cũng trở thành ngày lễ kỷ niệm sinh nhật của Long nhi (Thần Thánh Đế quốc sử dụng Âm lịch, nên Đế quốc Latium cũng sử dụng Âm lịch). Và sinh nhật năm nay là một ngày quan trọng đối với Long nhi, bởi theo truyền thống Đông phương thì ‘nữ thập tam, nam thập lục’, sau ngày sinh nhật này thì Long nhi chính thức trưởng thành rồi. Long nhi có địa vị quan trọng ở Âu châu cũng như ở Thần Thánh Đế quốc, nên lễ sinh nhật của Long nhi, các vương công quý tộc lân bang đều thân tự đến dự đông đủ. Lẽ ra thì lễ sinh nhật này phải được tổ chức ở Gia Định, nhưng vì Hoàng cung của Long nhi ở thành Syracuse mới hoàn công, nên Giang Phong đã cho tổ chức ở đấy, để Long nhi ăn mừng khánh thành tân Hoàng cung và nhận lễ triều kiến của các nước chư hầu, củng cố địa vị của Đế quốc Latium.

Hoàng cung Latium tuy không có quy mô vĩ đại như Trường Thanh Cung, nhưng ở khu vực Âu châu thì không có nơi nào có thể sánh bằng. Rất nhiều quân vương trầm trồ thán phục, rồi thầm ghen tỵ cho sự may mắn của Long nhi. Hoàng cung quy mô rộng lớn, hoa lệ huy hoàng. Các vị quân vương, quý tộc đến dự lễ đều được bố trí ở trong cung, hưởng thụ sinh hoạt như giới quyền quý đông phương. Các sứ đoàn có hai loại : những lĩnh chủ, quý tộc trực thuộc Thần Thánh Đế quốc chỉ cử sứ giả đế chúc hạ; còn các quân vương quý tộc Âu châu đều thân tự đến dự (có lẽ vì sợ mất lòng Long nhi chăng). Lúc này cũng là dịp để giới quý tộc có cơ hội gặp gỡ giao lưu, bởi đây cũng là kỳ hội họp của giới quý tộc Âu châu có quy cách cao nhất, đông đủ nhất từ trước đến giờ.

Cũng trong dịp này, qua sự đề xuất của Quốc vương Anh Cách Lan Henry V of England, Long nhi đã cho thống kê lại thành viên các chi tộc Nhà Anjou, và chỉnh đốn gia tộc. Mọi thành viên của gia tộc đều xem Long nhi là gia chủ đương nhiên, và đều hãnh diện khi là thành viên của gia tộc cao quý nhất Âu châu này. Dưới sự chủ trì của Long nhi, các thành viên chủ chốt của gia tộc đã hội họp, xác định các phân chi và phân chia địa bàn ảnh hưởng (Henry V cường liệt yêu cầu) :

1. Chi trưởng : Long nhi; Đế quốc Latium.

2. Chi Anjou : Réne de Anjou; vương quốc Anjou và các lĩnh địa xứ Pháp Lan Tây.

3. Chi Plantagenet : Henry V of England; bắc Âu châu.

4. Chi Bourbon : Charles de Le Maine; công quốc Bourbon.

5. Chi Poland : Władysław II Jagiello; đông Âu châu.

Władysław II Jagiello là Đại công tước Lithuania, là phu quân của Nữ vương Jadwiga de Poland quá cố. Nữ vương Jadwiga de Poland là hậu duệ cuối cùng của chi Anjou – Hungary, từng cai trị Hungary (1308 – 1395), Ba Lan (1370 – 1399). Sau này Hungary bị Sigismund kiêm tính, chi Anjou – Hungary chỉ còn lại đất Ba Lan. Đến khi Nữ vương Jadwiga de Poland qua đời năm 1399 thì phu quân Władysław II Jagiello kế vị làm Quốc vương Ba Lan. Nguyên bản ông ta xưng hiệu là gia tộc Jagiellon, nhưng khi thấy Đế quốc Latium đột nhiên xuất hiện, chiếm trọn nửa phần Âu châu, và cả các xứ Anh Cách Lan, Pháp Lan Tây đều do các phân chi của gia tộc Anjou khống chế, thì ông ta theo gió trở cờ, xóa sổ gia tộc Jagiellon, tự xưng mình là người kế thừa của chi Anjou – Hungary (từ vợ), và cố làm thân với các phân chi khác. Long nhi nghĩ rằng chi Anjou – Hungary cũng giống như chi Anjou – Maine, đều là nạn nhân của chi Anjou – Darazzo (của Ladislaus de Napoli), nên đã tiếp nhận, để chi Anjou – Hungary (giờ đổi thành chi Poland) được duy trì. Tính ra, trong các phân chi của gia tộc Anjou trước đây, chỉ có 2 chi Anjou - Darazzo và Anjou – Taranto đã tuyệt hậu (thật ra tình trạng của Sigismund cũng tương tự Władysław II Jagiello, nhưng không được Long nhi công nhận, để chi Anjou – Darazzo chấm dứt luôn).

Ngoài ra, mọi người còn thỏa thuận vùng Trung Âu (tức Đế quốc Đức) không phân chia, nghĩa là ai chiếm được thì thuộc về người đó. Điều đó cũng có nghĩa là sắp tới đây, Đế quốc Đức vốn đang là bãi chiến trường, thì chiến tranh sẽ càng khốc liệt hơn.



Trường Thanh Cung.

Giang Phong xem biểu tấu từ các nơi đưa về, rất hài lòng. Hiện tại trên thế giới trừ ba bãi chiến trường đang hồi náo nhiệt thì phần còn lại đã thật sự thiên hạ thái bình. Ba bãi chiến trường kia là do Giang Phong cố ý để lại, cho những kẻ hiếu chiến có chỗ phát tiết tinh lực và dã tâm của mình. Ba nơi đó là Đế quốc Đức ở trung bộ Âu châu, Đại Minh ở bắc Trung Nguyên và Lý thị vương triều ở trung bộ Cao Ly.

Thần Thánh Đế quốc giờ đây với các Hạm đội xưng hùng tứ hải, với hơn 200 vạn đại quân tinh nhuệ trấn giữ các vùng hiểm yếu, có thể nói là vững như bàn thạch. Giang Phong cho tụ tập những học giả khắp nơi về Gia Định, thân tự chỉ đạo, đề ra hạng mục cho bọn họ nghiên cứu, khiến cho khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão. Giang Phong biết nguyên lý, các học giả kia chịu trách nhiệm biến nguyên lý trở thành thành quả, tạo ra vô số phát minh sáng chế, khiến cho Đế quốc ngày càng cường thịnh, kinh tế phát triển, cuộc sống của thần dân ngày càng được cải thiện.

“Khi Thánh hoàng đặt bút vẽ bản đồ thế giới, thiên hạ bách tính đều được thấm nhuần ơn vũ lộ, thoát khỏi cảnh tối tăm của đêm dài lạc hậu. Thần dân của Đế quốc hay thuận dân của các chư hầu đều được hưởng thụ cuộc sống văn minh, vật chất phong phú, khoa kỹ phát triển, xã hội ổn định, kinh tế phồn vinh. Thật may mắn là ông cha chúng ta đã được cứu rỗi, không giống như ‘khí dân’ của ba xứ phản nghịch, bị Thiên thóa khí, mấy trăm năm rồi mà vẫn mãi sống trong cảnh lạc hậu bần cùng. Nhờ phúc tổ tiên mà hiện tại chúng ta mới có thể dùng tư thế nhàn nhã để xem lại đoạn lịch sử này”. Đó là lời của một vị Âu duệ học giả mấy trăm năm sau, bình luận về phúc ấm của tổ tiên mình.


Hết



Trụ sở Ái Mộ Hội :
http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=46940