PDA

View Full Version : Bối cảnh lịch sử trong truyện Biên Hoang Truyền Thuyết


neeon
15-02-2008, 10:16 PM
Nhà Tấn (phồn thể: 晉朝; giản thể: 晋朝; bính âm: jìn cháo; 265–420), là một trong sáu triều đại tiếp sau thời Tam Quốc và trước thời Nam Bắc triều ở Trung Quốc. Triều đình này do họ Tư Mã (司馬; pinyin: Sīmǎ) thành lập. Được chia ra làm 2 thời kì Tây Tấn và Đông Tấn

Bối cảnh của truyện là vào thời Đông Tấn (317-420)

Loạn bát vương làm nhà Tây Tấn suy yếu trầm trọng. Hàng loạt tông thất có thế lực và tài năng bị giết, khiến hoàng tộc khủng hoảng nhân sự không có người phò trợ. Chiến tranh xảy ra khiến nhiều vùng bị tàn phá. Các bộ tộc ngoại vi thừa cơ xâm nhập và làm loạn Trung Hoa.

Do khủng hoảng nhân sự, các vị vương nhà Tấn phải dùng tới các tướng sĩ người “Hồ” và họ nhân đó phát triển thế lực. Một bộ tướng của Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh (tham chiến bát vương) là Lưu Uyên[1] đã lớn mạnh trong lúc các sứ quân họ Tư Mã giết hại lẫn nhau. Khi loạn bát vương chấm dứt, Tư Mã Dĩnh đã bị giết; trong 8 vương chỉ còn lại Đông Hải vương Tư Mã Việt nắm quyền trong triều.

Lưu Uyên phát triển thành cánh quân độc lập. Năm 304, Uyên xưng làm vua, lập ra nhà Hán, sử gọi là Hán Triệu. Uyên mang quân đánh chiếm đất nhà Tấn. Trước khi Lưu Uyên nổi dậy, Lý Đặc, Lý Hùng ở Tây Thục đã nổi lên chống Tấn từ năm 302, cát cứ Tây Xuyên mà nhà Tấn không còn khả năng quản lý. Tháng 11 năm 306, Huệ Đế Tư Mã Trung bị giết, Hoài Đế Tư Mã Xí được lập lên thay. Nhà Tấn không dẹp nổi sự làm loạn của các ngoại tộc người Hồ tràn lan khắp trung nguyên.

Năm 310, Lưu Uyên chết, con là Vũ Đế Lưu Thông lên thay. Năm 311, Thông tấn công kinh thành Lạc Dương, bắt sống Tấn Hoài Đế và nhiều triều thần nhà Tấn. Trong cuộc tấn công của Lưu Thông, quân Tấn thất bại nhanh chóng do không đủ mạnh và các sứ quân nhà Tấn đều chỉ nhân loạn lạc để phát triển cơ đồ riêng, không có bụng cứu vua. Vua Tấn bị bắt nhưng vẫn không ai lập vua thay để có chính lệnh điều khiển “thiên hạ” cứu vãn tình thế. Mãi tới năm 313, nghe tin Hoài đế bị Lưu Thông giết hại, một bộ phận triều thần lập Tư Mã Nghiệp lên nối ngôi ở Tràng An, tức là Tấn Mẫn Đế. Năm 316, Lưu Thông lại đánh chiếm Tràng An bắt sống Mẫn Đế. Tấn Mẫn Đế làm tù binh rồi bị Lưu Thông giết chết. Nhà Tây Tấn diệt vong. Tồn tại từ năm 265 đến năm 316

Trong lúc ấy thân thuộc nhà Tấn bỏ chạy từ phía bắc về phía nam và tái lập nhà Tấn ở thành Kiến Khang, nằm ở phía đông nam Lạc Dương và Trường An, gần Nam Kinh ngày nay, dưới quyền Lang Nha Vương (琅邪王) Tư Mã Tuấn. Các họ lớn ở đó gồm có Chu 朱, Cam, Lữ, Cổ, Chu 周 ủng hộ Lang Nha Vương tự phong làm vua, tức là Nguyên Đế của triều Đông Tấn (東晉, 317-420) khi tin tức về việc Trường An thất thủ bay tới phương nam. Bởi vì các vị vua triều Đông Tấn thuộc dòng dõi Lang Nha vương, vốn là chi dưới trong họ Tư Mã, các nước Ngũ Hồ đối nghịch không công nhận tính chính thống của nó và lúc ấy họ gọi Tấn là "Lang Nha".

Chính quyền Đông Tấn quân phiệt và đầy mâu thuẫn tồn tại 104 năm. Trong thời kỳ đầu, chính lệnh ở miền bắc đã mất nhưng một số tướng lĩnh giữ thành phía bắc vẫn theo nhà Đông Tấn mà chống Ngũ Hồ như Lưu Côn, Lý Củ, Vương Tuấn. Trong khi đó ở miền nam, trong số các tướng lĩnh, một số người cũng muốn bắc phạt để dẹp loạn Ngũ Hồ (điển hình là Tổ Địch), nhưng vì nội bộ luôn chứa đựng mâu thuẫn nên không thể tiến hành chính sách bắc phạt trường kỳ, do các tướng lĩnh địa phương gây loạn, điển hình là hai cuộc nổi loạn Vương Đôn và Tô Tuấn. Do không có sự phối hợp đủ mạnh của miền nam, các thành phía bắc dần dần bị cô lập và cuối cùng bị quân Ngũ Hồ đánh chiếm. Có mấy lần Đông Tấn có cơ hội bắc phạt tốt, như lúc Hán Triệu bị quyền thần Lặc Chuẩn tiêu diệt (319) hay nhà Hậu Triệu bị Nhiễm Mẫn tàn phá (350) nhưng vì nội bộ lục đục nên Đông Tấn không thể làm cuộc "trung hưng".

Các đại thần họ Vương, họ Tạ có thế lực lớn ở Giang Nam. Từ khoảng năm 340, quyền hành trong triều Đông Tấn rơi vào tay Hoàn Ôn. Quyền thần Hoàn Ôn chết năm 373 trước khi ông định đoạt ngôi báu. Sau đó Tạ An lên làm thừa tướng, tỏ ra là người ôn hòa hơn.

Sau trận đó, nhân khi miền bắc loạn lạc, Đông Tấn tiếp tục mở chiến dịch bắc tiến nhưng thành quả không cao, chỉ giành lại được ít đất đai Giang Bắc, không đuổi được Ngũ Hồ ra khỏi trung nguyên. Trận Phì Thuỷ năm 383 trở thành một thắng lợi lớn nhất của nhà Đông Tấn (đồng thời là trận đánh lớn nhất thời Ngũ Hồ, nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc) trong một giai đoạn hợp tác ngắn ngủi của Hoàn Trùng, anh của Hoàn Ôn và tể tướng Tạ An.

Chú cháu Tạ An, Tạ Huyền mất đi, Hoàn Huyền, con trai của Hoàn Ôn nổi lên nắm quyền trong triều và chiếm ngôi nhà Tấn, đổi thành nhà Sở (404). Ông bị Lưu Ngu lật đổ, người đã ra lệnh bóp nghẹt sự phục hồi muộn màng của Tấn An Đế. Vị vua cuối cùng và là em của Tấn An Đế, Tấn Cung Đế, được đưa lên ngôi năm 419.

Trong lúc ấy miền bắc Trung Quốc do 16 nước gọi là Thập lục quốc cai trị. Phần lớn nước trong số đó do Ngũ Hồ thành lập, chỉ có 3 nước (Tiền Lương, Tây Lương, Bắc Yên) do tộc Hán, lập nên.

Dù có loạn lạc, triều đình Đông Tấn vẫn cố gắng mở nhiều cuộc tấn công lên phía bắc để đoạt lại đất đai mất về tay Ngũ Hồ, tuy không thành công lớn nhưng cũng ít nhiều thu được thắng lợi. Các cuộc "bắc phạt" đã tiêu diệt được một số nước Ngũ Hồ đều do các quyền thần thực hiện để phát triển thế lực. Năm 347, đại tướng Hoàn Ôn diệt nước Thành Hán ở Tây Thục; năm 410, quyền thần Lưu Dụ diệt nước Nam Yên, năm 417 Lưu Dụ diệt nước Hậu Tần. Tuy nhiên, nhà Tấn vẫn không chiếm lại được miền bắc.

Uy thế của Lưu Dụ ngày càng lớn. Năm 420, Dụ phế vua Đông Tấn Cung Đế đoạt ngôi, lập ra nhà Tống, sử gọi là Lưu Tống. Nhà Tấn chấm dứt và bắt đầu thời kỳ Nam Bắc Triều (420-589)

Đại chiến Phì Thuỷ :

Hoàn Ôn mất, Tạ An nắm quyền. Tạ An tỏ ra là người mềm mỏng hơn Hoàn Ôn, không hiếp chế vua Tấn.

Lúc đó, Tần vương Phù Kiên thôn tính toàn bộ miền bắc, huy động 100 vạn quân gồm nhiều sắc tộc Hồ và cả người Hán đi đánh miền nam, bất chấp sự phản đối của nhiều văn thần. Phù Kiên chủ quan kiêu hãnh nói rằng, quân Tần chỉ cầm ném roi ngựa xuống sông Trường Giang là đủ lấp sông rồi.

Tướng tiên phong là Phù Dung được lệnh cầm 27 vạn quân tiên phong đi trước. Tạ An tiến cử cháu là Tạ Huyền với Tấn Hiếu Vũ Đế Tư Mã Diệu làm tướng, mang 8 vạn quân ra đóng ở Lạc Giản đón quân Tần.

Khi hai bên sắp đối trận, Phù Kiên đã mắc sai lầm là tin tưởng vào hàng tướng người Hán của Đông Tấn mới hàng là Chu Tự, sai Tự đi dụ hàng Đông Tấn. Chu Tự còn nhớ Đông Tấn, nên mang hết tình hình Tiền Tần tiết lộ cho Tạ Huyền, khuyên nên chủ động đánh quân Tần trước khi đại quân 100 vạn kịp họp đông đủ. Tự còn hẹn làm nội ứng cho quân Tấn.

Lúc đó Phù Dung đang án ngữ sông Phì. Tạ Huyền bèn sai người nói với Phù Dung xin quân Tần tạm rút để quân Tấn qua sông quyết chiến. Phù Kiên cũng muốn lợi dụng quân Tấn qua một nửa sẽ đánh úp nên đồng ý rút lui một đoạn.

Đúng hẹn, quân Tấn sang sông. Trong đêm tối, quân Tần đang chờ nghênh địch, Chu Tự cầm một cánh quân, bỗng hô to:

Quân Tần thua to rồi!

Quân Tần đa sắc tộc, vốn bị cưỡng bức ra trận cho Phù Kiên, nghe nói thua trận liền quay đầu nhất loạt bỏ chạy, tiên phong Phù Dung không thể ngăn lại được. Tạ Huyền thấy quân Tần chạy, thừa cơ thúc quân Tấn truy kích, giết chết rất nhiều. Phù Dung bị tử trận trong loạn quân.

Đó là trận Phì Thuỷ, lớn nhất thời Ngũ Hồ, quyết định cục diện nam bắc, cứu vãn sự tồn tại của nhà Tấn và làm suy yếu trầm trọng nước Tần. 100 vạn quân Tần đại bại bỏ chạy về phía bắc. Phù Kiên về tới Lạc Dương thu thập tàn quân chỉ còn vài chục vạn.

Xé nát Tiền Tần

Đại quân Tiền Tần của Phù Kiên chạy về bắc, tan rã từng mảng. Nhân sự suy yếu của Tiền Tần, các tướng dưới quyền bắt đầu thực hiện ý định ly khai, tái lập thế chia cắt Ngũ Hồ ở miền bắc như trước đây.

Thực ra, nguy cơ tái chia cắt đã tồn tại ngay khi Phù Kiên thống nhất, vì trong hàng ngũ tướng sĩ của ông, có nhiều người dị tộc được ông thu phục, đã manh tâm ly khai.

Khi cầm đại quân xuống phía nam, Phù Kiên đã giao cho tướng Lã Quang đi dẹp các nước thiểu số phía Tây thuộc nước Tiền Lương cũ. Dẹp xong vùng Tây Lương, Quang nhân Phù Kiên bại trận bèn cắt đất Lương xưng làm Lương vương, lập ra nước Hậu Lương (384).

Năm sau, một thủ lĩnh người Tiên Ty khác là Khuất Phục Quốc Nhân cũng nổi dậy xé đất Tần, lập ra nước Tây Tần (ở vùng Cam Túc ngày nay).

Ngay năm 383, các tướng họ Mộ Dung, con cháu nước Tiền Yên cũ, đã tách riêng khỏi đại quân Tiền Tần tháo chạy về phía bắc, lập lực lượng riêng chống lại Phù Kiên. Ngay trong hàng ngũ các tướng họ Mộ Dung cũng chia cắt và không thần phục nhau. Con Tiền Yên vương Mộ Dung Tuấn là Mộ Dung Thùy lập ra nước Hậu Yên, một tướng khác là Mộ Dung Xung chiếm vùng Sơn Tây lập ra nước Tây Yên.

Năm sau, một bộ tướng người Khương, cũng từng được Phù Kiên cho hàng không giết trong khi thống nhất phương bắc là Diệu Tràng, nhân bị sai đi đánh Tây Yên bại trận, sợ bị Phù Kiên bắt tội, bèn ly khai, lập ra nước Hậu Tần.

Dòng dõi nước Bắc Đại cũ là Thác Bạt Khuê, được một số cựu thần trung thành, nhân khi thiên hạ đại loạn, đón lập làm vua, tái lập nước Bắc Đại, đến năm 386 đổi tên là Nguỵ, sử gọi là Bắc Nguỵ.

Như vậy, chỉ sau một thời gian rất ngắn sau trận Phì Thuỷ, miền bắc lại bị chia cắt trở lại, trên bản đồ phía bắc có sự tồn tại của 7 quốc gia.

Mộ Dung Thùy nắm trong tay lực lượng khá mạnh cũ của Tiền Tần, nên nhanh chóng phát triển nước Hậu Yên thành nước lớn, đóng đô ở Trung Sơn.

Hai nước Tây Yên và Hậu Tần liền kề với đất Tiền Tần nên xung đột xảy ra ác liệt. Năm 385, Phù Kiên bị quân Tây Yên của Mộ Dung Xung cũng kéo đến đánh Tiền Tần để báo thù họa vong quốc năm 371, vây đánh ở Tràng An, phải phá vây ra ngoài. Cùng lúc đó quân Hậu Tần của Diệu Tràng thừa cơ đón bắt giết Kiên. Một số triều thần sót lại của Tiền Tần lập con Kiên là Phù Phi lên ngôi ở Nghiệp Thành, nhưng nhanh chóng bị quân Tây Yên đánh bại. Phù Phi bị tử trận.

Chính trong nội bộ các quốc gia ly khai Tiền Tần cũng vô cùng rối ren. Nước Tây Yên từ năm 384 đến 386 liên tục đổi chủ, họ Mộ Dung chém giết lẫn nhau. Cuối cùng, năm 386, Mộ Dung Vĩnh giành được ngôi vua. Nhưng lúc đó Tây Yên đã suy yếu, bị mất Tràng An vào tay Hậu Tần.

Năm 386, nghe tin vua Tiền Tần là Phù Phi bị giết, cháu họ của Phù Kiên là Phù Đăng được lập làm vua. Các vua Tiền Tần nối đời kế tục nhau chiến tranh với Hậu Tần của Diệu Tràng, nhưng cuối cùng đều bị cha con Diệu Tràng - Diệu Hưng đánh bại. Năm 394, Phù Đăng bị quân Hậu Tần của Diệu Hưng giết chết. Phù Xung được lập lên thay, nhưng vẫn không xoay chuyển được tình thế. Xung bị quân Hậu Tần đánh bại, bỏ chạy về phía tây, bị quân Tây Tần bắt giết. Nước Tiền Tần mất.

Hậu Tần diệt được Tiền Tần, phát triển thành nước lớn phía Tây. Trong khi đó, Hậu Yên vương Mộ Dung Thùy không muốn họ tộc Mộ Dung bị chia rẽ, bèn mang quân đánh Tây Yên. Năm 394, Mộ Dung Thùy giết được Mộ Dung Vĩnh, diệt nước Tây Yên. Hậu Yên cũng trở thành nước lớn. Về cơ bản, Hậu Tần và Hậu Yên đóng ở vị trí như Tiền Tần và Tiền Yên trước đây.

uy nhiên, cục diện đó lập tức bị phá vỡ. Nước Ngụy của Thác Bạt Khuê nhanh chóng lớn mạnh, cất quân nam tiến, đánh Hậu Yên. Quân Yên không chống nổi, thái tử Mộ Dung Bảo liên tục bị thua trận. Mộ Dung Thùy phải tự tay cầm quân tạm đẩy lui được quân Nguỵ, nhưng không lâu sau thì già yếu mà mất (396).

Quân Ngụy lại nam tiến, lấy đất Hậu Yên như tằm ăn lá dâu. Vùng Hà Nam, Hà Bắc bị quân Ngụy chiếm. Hậu Yên rút lên phía bắc, chỉ bao gồm đất của nước Yên cổ thời Chiến Quốc xưa kia. Cùng lúc đó nội bộ Hậu Yên lại xảy ra tranh đoạt, chém giết lẫn nhau, khiến liên tiếp chỉ trong chưa đầy 10 năm, các vua Mộ Dung Bảo (398), Mộ Dung Thịnh (401), Mộ Dung Hy (407) đều bị giết. Một người con nuôi của Mộ Dung Bảo là Cao Vân giết Hy làm vua, nhưng không lâu sau bị quyền thần giết chết (409). Một đại thần người Hán là Phùng Bạt được lập lên ngôi, đổi quốc hiệu là Bắc Yên, vì khi đó nước Yên nằm ở phương bắc, để phân biệt với nước Nam Yên.

Khi Hậu Yên bị Ngụy xâm chiếm, một người con của Mộ Dung Thùy là Mộ Dung Đức bỏ chạy về vùng Sơn Đông, bị tách khỏi lực lượng của Mộ Dung Bảo, không thể liên hệ được. Nghe tin Mộ Dung Bảo bị giết (398), Đức bèn chiếm lấy vùng Hoài Bắc, giáp với Đông Tấn, xưng làm Nam Yên vương. Trên thực tế Nam Yên và Bắc Yên đều rất nhỏ bé, không có đủ thực lực để tái lập sự hùng mạnh của Tiền Yên.

Theo mình, Mộ Dung Phục, Mộ Dung Bác, nước Yên trong Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung có lẽ là con cháu của Mộ Dung Thùy trong truyện này cũng nên :D

Thông tin thêm về nhân vật Lưu Dụ, người lập ra nhà Lưu Tống:

-Tên gọi

Triều đại này do Lưu Dụ 劉裕 (363-422) lập ra, họ của ông cùng với tên gọi triều đại "Tống" hợp thành tên gọi được sử dụng để chỉ triều đại này, nhà Lưu Tống. Tên gọi này được sử dụng nhằm mục đích phân biệt triều đại này với triều đại cùng tên là nhà Tống 宋 (960-1279), là triều đại nổi tiếng, tồn tại lâu hơn và có nhiều sự kiện lịch sử hơn. Nhà Lưu Tống cũng từng được gọi là nhà Nam Tống (南宋), do nó là một triều đại thuộc Nam triều trong lịch sử Trung Quốc, tức là một trong các triều đại có kinh đô đặt tại Kiến Khang (ngày nay là Nam Kinh). Tuy nhiên, nhà Tống (960-1279) kể từ sau năm 1127 cũng phải lui về phía nam, đặt kinh đô tại Lâm An (ngày nay là Hàng Châu, Chiết Giang), nói chung cũng được gọi là nhà Nam Tống. Vì thế, đối với triều đại ngắn hơn nhiều này, là chủ đề của bài này, thì tên gọi "Lưu Tống" được sử dụng là hợp lý hơn cả trong nhiều ngữ cảnh.
- Lịch sử

Khai quốc hoàng đế Lưu Dụ xuất thân từ trong quân đội, thuở nhỏ gia đình nghèo. Khi nhà Đông Tấn rơi vào thời kỳ xuống dốc, dân nổi lên làm loạn khắp nơi, nội bộ triều đình đấu đá lẫn nhau làm tê liệt mọi hoạt động trong nước. Năm 402, một viên tướng của nhà Đông Tấn là Hoàn Huyền khởi binh soán ngôi, lấy quốc hiệu là Sở. Lưu Dụ cùng Lưu Nghị khởi binh cần vương, cuối cùng tiêu diệt được lực lượng của Hoàn Huyền. Sau đó Lưu Dụ xuất quân nam chinh bắc phạt, ổn định tình hình. Cuối cùng tấn công tiêu diệt lực lượng của Lưu Nghị, Tư Mã Hưu Chi và ép Tấn Cung Đế nhường ngôi để lập ra triều Tống.

Nhà Lưu Tống là triều đại rơi vào tình trạng bất ổn. Một loạt các hoàng đế hoặc là thiếu năng lực hoặc là các bạo chúa, điều đó đã dẫn tới nhiều cuộc nổi dậy quân sự. Trong số các vị hoàng đế đó có thể kể tới Lưu Thiệu, Tống Hiếu Vũ Đế, Tống Phế Đế, Tống Minh Đế và Tống Hậu Phế Đế. Vua Minh Đế là đặc biệt tàn bạo, đã giết hại một lượng lớn những người anh em, cháu chắt và các họ hàng gần xa khác - nhiều trong số đó chỉ là trẻ em. Sự bất ổn nội bộ như vậy cuối cùng đã dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của triều đại này vào năm 479 khi Thuận Đế Lưu Chuẩn bị tướng Tiêu Đạo Thành phế truất, lập ra nhà Nam Tề.

Tuy nhiên, người sáng lập ra triều đại này Tống Vũ Đế lại được cho là một trong những viên tướng vĩ đại nhất trong thời kỳ Nam Bắc triều, và thời gian trị vì của vị hoàng đế thứ ba, Tống Văn Đế, được biết đến như là giai đoạn ổn định chính trị và quản lý hành chính tốt, không chỉ của mỗi hoàng đế mà còn của các quan lại trung thực và mạnh mẽ. Thời kỳ này được biết đến dưới tên gọi triều Nguyên Gia (425-453, lấy theo niên hiệu mà vị hoàng đế này dùng) và nó là một trong những thời kỳ hoàng kim nhất của Nam triều.


Nguồn : vi.wikipedia.org
Mong các bạn đừng spam nhé và còn gì thiếu sót mọi người bổ sung thêm nhé :grin:

diepphi
16-02-2008, 12:15 AM
Kết cục 1 số nhân vật....

Lưu Lao Chi - 3 lần phản chủ, chết ko toàn thây

Lưu Lao Chi là mãnh tướng của Bắc Phủ binh, Khi Tạ Huyền chiêu mộ nhân tài cho đội quân này, Lưu Lao Chi cùng với Hà Khiêm, Gia Cát Khản, Cao Hằng, Lưu Quỹ, Điền Lạc, Tôn Vô Chung nhanh chóng được đề bạt, trong đó Lưu Lao Chi là người nổi bật nhất.

Sau này, Vương Cung muốn chống lại Tư Mã Nguyên Hiển, nên mời gọi Lưu Lao Chi. Vốn Lưu Lao Chi đã nhận lời, nhưng sau đó ông lại đổi ý theo về với họ Tư Mã.

Khi Hoàn Huyền hưng binh đánh Tư Mã Nguyên Hiển, Lưu Lao Chi lại nhận lời giúp đỡ Hoàn Huyền. Nguyên Hiển chết rồi, Hoàn Huyền tìm cách đoạt binh quyền của ông. Lưu Lao Chi và con trai là Lưu Kính Tuyên quyết tâm phản Hoàn, tướng sĩ đều ko theo.

Lưu Tập nói thẳng: "Tướng quân đã phản Vương Duyện châu, Tư Mã lang quân, nay lại phản Hoàn công. 1 người đã phản chủ 3 lần thì trời đất khó dung." nói xong đều đi cả. Lưu Lao Chi ko thấy Lưu Kính Tuyên đâu, vì khi đó Tuyên ghé qua nhà ở Kinh Khẩu có việc, thì tưởng là con mình đã bị hại. Lưu Lao Chi sợ hãi nên tự sát.

Hoàn Huyền đã cho quật mồ ông lên, chặt nát rồi vất ra đường. Về sau, Lưu Dụ đứng ra đề nghị, mọi người mới thu xác của ông về chôn cất cẩn thận.

Lưu Dụ ko quên ân nghĩa của Bắc Phủ binh, lại chơi khá thân Lưu Kính Tuyên. Sau khi cha chết, Tuyên chạy đến chỗ Cao Nhã Chi nương náu, khi Lưu Dụ lên ngôi, Tuyên về với nhà Lưu Tống.

weingarten
16-02-2008, 05:27 PM
Phần tài liệu của Nhạn môn quan về khung cảnh lịch sử của tác phẩm Biên hoang truyền thuyết đã được bạn Herobk13 sao chép lại,ghi rõ nguồn và post ở Thuvien-ebook trong link dưới đây.Link: http://thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=3584&page=4 Mời các bạn tham khảo.

longkhau
08-03-2008, 02:41 AM
Lịch sử và 1 số nhân vật đã rõ . tại hạ xin mạn phép hỏi : Vậy theo các huynh đề ,vi trí cái Biên hoang ở đâu vậy , nó có khả năng có thật ko , hay hoàn toàn do HD hư cấu nên ?

deviouslove
05-04-2008, 11:20 PM
Nhà Tống (宋朝) (420-479) là triều đại đầu tiên trong số bốn Nam triều ở Trung Quốc, tiếp theo sau nó là nhà Nam Tề.
Triều đại này do Lưu Dụ 劉裕 (363-422) lập ra, họ của ông cùng với tên gọi triều đại "Tống" hợp thành tên gọi được sử dụng để chỉ triều đại này, nhà Lưu Tống. Tên gọi này được sử dụng nhằm mục đích phân biệt triều đại này với triều đại cùng tên là nhà Tống 宋 (960-1279), là triều đại nổi tiếng, tồn tại lâu hơn và có nhiều sự kiện lịch sử hơn. Nhà Lưu Tống cũng từng được gọi là nhà Nam Tống (南宋), do nó là một triều đại thuộc Nam triều trong lịch sử Trung Quốc, tức là một trong các triều đại có kinh đô đặt tại Kiến Khang (ngày nay là Nam Kinh). Tuy nhiên, nhà Tống (960-1279) kể từ sau năm 1127 cũng phải lui về phía nam, đặt kinh đô tại Lâm An (ngày nay là Hàng Châu, Chiết Giang), nói chung cũng được gọi là nhà Nam Tống. Vì thế, đối với triều đại ngắn hơn nhiều này, là chủ đề của bài này, thì tên gọi "Lưu Tống" được sử dụng là hợp lý hơn cả trong nhiều ngữ cảnh.
Khai quốc hoàng đế Lưu Dụ xuất thân từ trong quân đội, thuở nhỏ gia đình nghèo. Khi nhà Đông Tấn rơi vào thời kỳ xuống dốc, dân nổi lên làm loạn khắp nơi, nội bộ triều đình đấu đá lẫn nhau làm tê liệt mọi hoạt động trong nước. Năm 402, một viên tướng của nhà Đông Tấn là Hoàn Huyền khởi binh soán ngôi, lấy quốc hiệu là Sở. Lưu Dụ cùng Lưu Nghị khởi binh cần vương, cuối cùng tiêu diệt được lực lượng của Hoàn Huyền. Sau đó Lưu Dụ xuất quân nam chinh bắc phạt, ổn định tình hình. Cuối cùng, Lưu Dụ tấn công tiêu diệt lực lượng của Lưu Nghị và đánh đuổi các tôn thất nhà Đông Tấn là Tư Mã Hưu Chi, Tư Mã Sở Chi. Khi không còn trở ngại, Lưu Dụ ép Tấn Cung Đế nhường ngôi để lập ra triều Tống.

Nhà Lưu Tống là triều đại rơi vào tình trạng bất ổn. Một loạt các hoàng đế hoặc là thiếu năng lực hoặc là các bạo chúa, điều đó đã dẫn tới nhiều cuộc nổi dậy quân sự. Trong số các vị hoàng đế đó có thể kể tới Lưu Thiệu, Tống Hiếu Vũ Đế, Tống Phế Đế, Tống Minh Đế và Tống Hậu Phế Đế. Vua Minh Đế là đặc biệt tàn bạo, đã giết hại một lượng lớn những người anh em, cháu chắt và các họ hàng gần xa khác - nhiều trong số đó chỉ là trẻ em. Sự bất ổn nội bộ như vậy cuối cùng đã dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của triều đại này vào năm 479 khi Thuận Đế Lưu Chuẩn bị tướng Tiêu Đạo Thành phế truất, lập ra nhà Nam Tề.

Tuy nhiên, người sáng lập ra triều đại này Tống Vũ Đế lại được cho là một trong những viên tướng vĩ đại nhất trong thời kỳ Nam Bắc triều, và thời gian trị vì của vị hoàng đế thứ ba, Tống Văn Đế, được biết đến như là giai đoạn ổn định chính trị và quản lý hành chính tốt, không chỉ của mỗi hoàng đế mà còn của các quan lại trung thực và mạnh mẽ. Thời kỳ này được biết đến dưới tên gọi triều Nguyên Gia (425-453, lấy theo niên hiệu mà vị hoàng đế này dùng) và nó là một trong những thời kỳ hoàng kim nhất của Nam triều.

Theo wikipedia

matixryder
24-04-2008, 09:27 PM
Việc Hậu Cung của nhà Ngụy luôn bất ổn và được cho là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến cái chết của Ngụy Đế Thác Bạt Khuê và con của ông sau này . Điều này giải thích phần nào qua nhân vật Sở Vô Hạ .

*DiepKhai*
05-08-2008, 10:58 PM
Bài này dịch từ http://www.greatchinese.net để mọi người biết thêm về Lưu Dụ và 1 cuộc bắc phạt của ông.
Tống Vũ Đế Lưu Dụ (363-422)

Tên tự là Đức Dư, lúc nhỏ nhũ danh Kí nô. Quê gốc ở Bành thành Tuy lý (Nay là Giang tô Từ Châu). Sau tằng tổ là Lưu hỗn theo Tấn thất chạy nạn về phương nam trú ở Kinh vi (Nay là Giang Tô Trấn giang).

Tuy có tin cho rằng Lưu Dụ là hậu duệ của Tây hán Sở Nguyên vương Lưu Giao, tiền nhân không ít người làm quan trong triều nhưng đến đời ông tổ Lưu Kỳ thì gia đạo hoàn toàn suy sụp. Lưu Kỳ cả đời chỉ làm được 1 chức quan nhỏ.

Thiếu thời, Lưu Dụ rất bần hàn, phải đi mót lúa, đốn củi để kiếm sống, nhưng từ nhỏ tính cách đã mạnh mẽ, cứng cỏi , ưa mạo hiểm. Vào thời Đông Tấn - Hiếu Vũ đế, Lưu Dụ gia nhập quân ngũ bắt đầu cuộc sống nơi hòn tên mũi đạn.

Vào thời kỳ đầu, Lưu Dụ đầu quan dưới trướng tướng quân Bắc Phủ Binh - Tôn vô Chung, nhưng thông tin thời kỳ này không rõ ràng. Vào tháng 11 năm An Đế Long An thứ 3, Tôn Ân khởi loạn từ Cối kê (Hiện tại là Chiết Giang - Thiệu Hưng), tám quận phía Đông Nam đồng thời hưởng ứng làm người người khiếp đảm.

Triều đình nhà Tấn sai Tạ Diễm và Lưu Chi Lao tiên phong dẫn binh trấn áp. Tạ Diễm xuất thân từ gia tộc họ Tạ danh giá đương thời, còn Lưu Chi Lao là danh tướng có công lớn trong trận đại phá quân Tiền Tần của Phù Kiên bên bờ sông Phì Thủy. Lưu Dụ được Tôn Vô Chung tiến cử chuyển sang phục vụ dưới trướng Lưu Lao Chi - làm chức tham quân. Vào thời gian chiến dịch Tam Ngô, Lưu Dụ luôn xung phong ở hàng đầu, trận nào cũng phá địch, khả năng chiến lược quân sự được chứng tỏ. Lưu Dụ không những có phong cách tác chiến dũng mãnh, phá thành công lũy, tấn công vây trận đều chỉ huy rất bài bản, mưu trí hơn người, lấy ít địch nhiều. Trong thời binh lửa loạn lạc, muôn dân đồ thán Lưu Dụ có khả năng duy trì kỷ luật quân đội rất cao nên rất được lòng người. Do công thảo phạt nghịch tặc nên được phong Kiến Võ tướng quân, chức Thái thú Hạ bi . Lưu Dụ tiếp tục xuất lĩnh thủy quân truy sát quân Tôn Ân khiến Tôn Ân quân bại phải nhảy xuống biển tự vẫn.


Cuộc khởi nghĩa Tôn Ân khiến binh lực triều Tấn suy kiệt nặng nề, phòng thủ kinh thành suy nhược trầm trọng, khi đó Hoàn Huyền thừa cơ cất binh từ Kinh Châu phản loạn. Năm Nguyên Hưng thứ nhất (402) - Hoàn Huyền cử binh đông tiến công hạ Kiến Khang, giết chết Tư Mã Nguyên Hiển, đoạt binh quyền từ tay Lưu Lao Chi giao cho anh họ là Hoàn Tu. Lưu Lao Chi sợ họa lánh đi , nhưng rồi cũng phải tự thắt cổ mà chết. Lưu Dụ liền theo kế tùy nghi, tạm đầu hàng Hoàn Huyền để tính kế lâu dài. Do Lưu Dụ có nhiều chiến tích trên chiến trường trên danh vọng trong Bắc Phủ Binh là rất lớn, nên Hoàn Huyền cũng khó mà đối xử tệ được. Tháng 12 năm đó Hoàn Huyền soán ngôi nhà Tấn lại càng ân sủng với Lưu Dụ.


Thê tử của Hoàn Huyền là Lưu thị nhìn thấy dã tâm của Lưu Dụ nhiều lần khuyên chồng rằng: "Lưu Dụ là giống ngọa hổ tàng long, là người có tâm trí bất đồng, sẽ không cam chịu nên sớm trừ để tuyệt trừ hậu hoạn." Hoàn Huyền từ chối mà rằng "Ta muốn bình định Trung nguyên, nếu không có người này ắt không xong, sao lại giết hắn đi. Sau khi bình định thiên hạ xong rồi hãy bàn sau."

Trong khi Hoàn Huyền vẫn còn đang tính toán, thì Lưu Dụ âm thầm liên kết với bọn Hà Vô Chung, Lưu Nghị trốn đi Nghiễm lăng (Nay là Giang Tô -Dương Châu), Lịch Dương ( Nay là An Huy, Hỏa huyền), Kinh khẩu, cùng các vùng xung quanh Kiến Khang khởi binh làm loạn.

Tháng 2 năm Nguyên Hưng thứ 3 (404), Lưu Dụ phát động khởi nghĩa bằng cách tụ tập hàng trăm đồ đảng ở Kinh khẩu làm binh biến giết chết Hoàn Tu. Lưu Nghị đồng thời cũng giết chết Hoàn Hoằng (em Hoàn Tu) ở Nghiễm Lăng. Rồi mọi người cùng tôn Lưu Dụ lên làm minh chủ, truyền hịch khắp nơi đồng thời khởi nghĩa. Hoàn Huyền thấy tình thế bất lợi liền đem Tấn An Đế chạy ra Giang Lăng. Tháng 3 năm đó Lưu Dụ tiến quân vào Kiến Khang, thống lĩnh kinh sư rồi xuất binh mã Tây tiến. Sau hơn 1 tháng kịch chiến Hoàn Huyền bị bức phải trốn vào Tây Xuyên thì bị Ích châu đô hộ là Phùng Thiên giết chết. Cùng tháng đó Lưu Dụ phục hồi đế vị cho Tấn An Đế. Để thưởng cho Lưu Dụ có công tái tạo Tấn thất, An Đế phong Lưu Dụ làm Thị Trung, Xa Kỵ tướng quân, bên ngoài nắm quân sự, bên trong lo triều chính.

Nhà Đông Tấn từ khi di giá xuống phương Nam liên tục bị phương bắc uy hiếp. Duy có Tổ Địch, Dữu Lượng, Ân Hạo và Hoàn Ôn từng đưa quân Bắc phạt nhưng không ai thành công. Để nâng cao danh vọng , Lưu Dụ muốn thống lĩnh quân đội bắc tiến.

Năm Nghĩa Hy thứ năm (409), Vua nước Nam Yên là Mộ Dung Đức chết, Mộ Dung Siêu kế vị liền xua quân ngược Hoài bắc chiếm 2 quận của Tấn, đuổi hàng ngàn hộ gia đình chạy loạn. Lưu Dụ nhân đó dâng biểu xin Bắc phạt, rồi đến tháng 3 dẫn quân theo hướng bắc thẳng tiến.

Đại tướng Nam Yên là Công Tôn Ngũ thấy quân Tấn uy mãnh liền đề nghị với Mộ Dung Siêu tạm lánh đi Đại Hiện (Nay là Sơn Đông Nghi Huyền), lập kế vườn không nhà trống nhưng bị cự tuyệt. Lưu Dụ chớp thời cơ mạo hiểm kéo quân qua ải Đại hiện bất ngờ tấn công Lâm Cù (Nay là Sơn Đông - Dịch huyền) chiếm được 1 lượng quân lương lớn. Sau đó quân Tấn so Lưu Dụ đích thân chỉ huy nhanh chóng tấn công đuổi quân Yên đến Nghiễm cố (nay là Sơn đông -Ích đô). Mộ Dung Siêu trốn vào trong thành kiên thủ không ra đánh. Hai bên bước vào giai đoạn dằng co. Quân Tấn 1 mặt đắp lũy cao quanh Nghiễm cố để siết chặt quân lương của quân Yên, một mặt tích cực chiêu hàng phân hóa. Đại tướng quân Nam Yên là Hoàn Tuân vốn là anh em với thứ sử Từ Châu Đoạn Hành quay về hàng Lưu Dụ. Lưu Dụ liền hạ lệnh cho người này chế tạo khí giới công phá kinh đô Nam Yên , truy bắt Mộ Dung Siêu. Lưu Dụ lấy cớ thành kiên thủ không hàng nên khi vào thành liền hạ sát toàn bộ vương , công đến 3 ngàn người cho hả giận.

Sau khi vượt qua Tề Cảnh Lưu Dụ tính hạ Hạ Bi để tiến vào đồng bằng Hà lạc (Hà xương, Lạc dương) nhưng em vợ của Tôn Ân là Lư Tuần thu thập tàn quân đánh bại quân Tấn 1 trận lớn ở Dự chương (nay là Giang Tây - Nam xương). Lưu Dụ buộc phải đem quân hồi sư. Sau khi hồi sư trước thì trấn áp Lư Tuần, sau tiêu diệt các thế lực cát cứ Trường giang như Lưu Nghị, bè đàng của Tiếu Túng. truy đuổi Tư mã Hưu chi. Lịch sử phương Nam trong hàng trăm năm chưa bao giờ thống nhất như vậy.

Năm Nghĩa hi thứ 12 (416), Vua Hậu Tần là Diêu Hưng chết, Diêu Hoằng lên kế vị bên trong có phản loạn dẹp mãi không được. Lưu Dụ cho rằng đây là thời cơ tốt để diệt nhà Hậu Tần nên tháng 8 năm đó phong Lưu Mục Chi làm Thượng thư tả phó xạ, bên trong lo triều chính, bên ngoài lo quân lương rồi chính mình chia quân làm 4 lộ bắc phạt. Tháng 9 Lưu Dụ chiếm Bành thành. Long tương tướng quân Vương Trấn Ác, Quan quân tướng quân Đàn đạo Tể dẫn binh từ sông Hoài, sông Phì chuyển hướng tiến đến Hứa, Lạc khiến quân Hậu Tần bất ngờ kéo nhau ra hàng, quân Tấn hành quân thần tốc đến tháng 10 thì Vương Trấn Ác chiếm được Lạc Dương.

Cùng tháng 5 năm đó, Lưu Dụ để con là Lưu Nghĩa Long trấn thủ Bành thành, rồi xuất đại quân Bắc thượng. Khi này quân Bắc Ngụy (nhà Thác bạc) phái 10 vạn quân đóng tại Hà bắc quấy rối quân Tấn. Lưu Dụ thong thả tiến quân dùng nỏ cứng, giáo dài để phá kỵ binh Bắc Ngụy lần lượt tiến lên. Vương trấn Ác xuất quân Lạc Dương tiến về ải Đồng quan, quân Tần thủ hiểm lại cắt đứt đường vận lương của Đàn Đạo Tể khiến quân Tấn bị vây khốn. Vương, Đàn cầu cứu Lưu Dụ nhưng Lưu Dụ bị quân Ngụy kiếm chế không thể thoát ra được. Nhưng sau quân Tấn được dân địa phương ủng hộ quân lương liền chuyển nguy thành an. Tháng 7, Lưu Dụ thoát được sự kiềm chế của quân Ngụy tiến đến Thiểm thành, tiên phong là Trầm Điền Tử tấn công Vũ quan tiến đến Thanh nê (nay là Thiểm tây - Lan điền). Tháng 8 thì Lưu dụ đến Đồng quan hội họp toàn quân.

Tần chủ Diêu Hoằng 2 đầu đều thụ địch bèn lập mưu tiêu diệt cánh quân của Trầm Điền Tử trước rồi chống Lưu Dụ sau. Liền xuất mấy vạn kị binh nhanh chóng tiến đến Thanh nê. Quân của Trầm điền Tử vốn chỉ vài ngàn người nhưng đều anh dũng thiện chiến phi thường mấy lần đánh bại quân Tần khiến Diêu Hoằng phải quay về Trường an. Lúc này Vương Trấn Ác công phá phòng tuyến Đồng quan trực diện tấn công Trường an khiến Diêu hoằng phải dẫn quần thần ra ngoài thành đầu hàng.

Tháng 9, Lưu Dụ khí thế hừng hực chỉnh đốn quân sĩ chuẩn bị chinh phạt Quan trung thì được tin Lưu Mục Chi bệnh chết. Lưu Dụ sợ triều đình có biến liền để con trai mới 12 tuổi là Lưu Nghĩa Chân cùng Vương Tu, Vương Trấn Ác, Trầm điền Tử cùng các quan văn võ thủ Trường An còn mình dẫn quân về Nam.

Sau khi Lưu Dụ vội vã quay về thì vua nước Hạ là Hách Liên Bột Bột được mưu thần là Vương Mãi Đức hiến kế: " Lưu Dụ để con trấn thủ Trường An mà quay về Nam có lý do không gì khác là mưu đồ Đế vị, hắn không thể nào phân thân quay lại được. Đối với chúng ta đây là 1 cơ hội rất tốt."

Lưu Dụ rút đi không lâu thù Hách Liên Bột Bột cho quân cắt đứt Thanh nê tiến đến Đồng quan công đả Trường An. Đồng thời lúc này bên trong Trường An có chiến loạn, đầu tiên là Trầm điền Tử giết hại Vương Trấn Ác, Vương Tu giết chết Trầm Điền Tử, Lưu Nghĩa Chân lại giết Vương Tu. Lưu Dụ nghe tin vô cùng sợ hãi liền lệnh cho Chu Linh Thạch trấn thủ Trường An, Lưu Nghĩa Chân nhanh chóng hồi kinh. Lưu Nghĩa chân cùng binh sĩ đem theo mĩ nữ và tài vật đi chậm nên bị quân Hạ đuổi kịp khiến Chu Linh Thạch chết trận, Lưu Nghĩa Chân 1 mình 1 ngựa chạy trốn. Trường An được rồi lại mất, tốn thất vô cùng lớn lao. Nhưng qua 2 lần bắc phạt 1 vùng rộng lớn gồm phía nam sông Hoàng hà, phía bắc Dĩnh Thủy và đầu nguồn Hàn thủy đã trở thành đất đai của nhà Tấn.

Vì có công lao lớn nên địa vị của Lưu Dụ ở triều đình vô cùng hiển hách. Trước sau thụ phong Tướng quốc, Tống công, hưởng lễ cửu tích thống lĩnh chư hầu. Năm Nghĩa hi thứ 14 (418) Lưu Dụ lệnh cho tâm phúc phế An đế lập Tư Mã Đức Văn lên làm hoàng đế bù nhìn. Năm Nguyên hi thứ 2 (420), Lưu Dụ lại buộc Tư mã Đức Văn nhường ngôi, đặt quốc hiệu là Tống, cải thành năm Vĩnh sơ, hiệu là Vũ đế.

Sau khi lên ngôi, để tránh cái gương của họ Tư mã, Tống Vũ đế liền tước bỏ quyền lực của các chư hầu, phiên trấn, tập trung quyền hành trung ương. Do Kinh châu nhiều lần phản loạn nên biến Kinh Châu phủ thành Kinh châu hạt, hạn chế quyền hành của các tướng sĩ.Để ngừa quyền thần làm loạn nên ra chiếu chỉ phàm sau khi xuất quân hồi sư phải giao lại binh quyền cho triều đình. Quản lý hộ khẩu các thế tộc, giảm bớt nguồn thu của quan phủ chỉnh đốn hộ tịch, thay đổi cách thổ đoạn (thu thuế), chính quyền sở hữu phát hành tiền tệ khuyến khích buôn bán. Tô thuế của nông dân được giảm nhẹ, nuôi dưỡng sức dân , phát triển sinh sản.

Từ thời Ngụy Tấn đến nay triều đình sống xa hoa phú quý, như do Vũ đế xuất thân nghèo hèn nên chịu khó sống đời thanh bần, đối với ngựa xe, mĩ nữ càng tiết dục.

Năm Vĩnh sơ thứ 3 (402) , tháng 5, Tống Vũ đế bệnh mất, thọ 60 tuổi.

lanhdiendiemla
05-08-2008, 11:22 PM
(418) Lưu Dụ lệnh cho tâm phúc phế An đế lập Tư Mã Đức Văn lên làm Khôi lỗi hoàng đế
Khôi lỗi ở đây viết hoa là danh hiệu đấy à ???

Vũ Khắc Điệp
05-08-2008, 11:34 PM
Khôi lỗi ở đây viết hoa là danh hiệu đấy à ???

Khôi lỗi nghĩa là con rối, chắc lại hoàng đế bù nhìn.