PDA

View Full Version : Chuyên mục Học tập Kinh tế


Tà thần
15-02-2008, 08:45 PM
- :056:Nơi đây sẽ post link các trang web kinh tế, để mọi người có thể tham khảo trong học tập. Góp gió thành bão, mong mọi người đóng góp để chúng ta có thật nhiều địa chỉ tham khảo tốt. Cũng như mọi người có thể hỏi các ý kiến thắc mắc về học tập kinh tế, ai biết có thể giải đáp giúp.:cute:

Đây là địa chỉ học liệu mở đầu tiên và nhiều tài liệu nhất tại Việt Nam mà tại hạ biết::ex10: http://ocw.fetp.edu.vn/index.cfm
(Chú ý: Đề nghị mọi người không spam tại đây)

----- Bài viết này được Tà thần thêm vào sau 21 phút và 21 giây -----

Kinh nghiệm xin học MBA Thái Thị Thanh Mai (http://www.maithai.org)
1. Khi nào bạn nên đi học MBA?
1.1. Bạn cần thăng tiến trong lĩnh vực quản lý kinh doanh bạn đang làm:Nếu bạn đã có nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực quản lý kinh doanh thì tấm bằng MBA từ cơ sở đào tạo tốt có thể giúp bạn thăng tiến. Trong quá trình học MBA, bạn sẽ được học những môn giúp bạn bồi bổ thêm kiến thức và nâng cao vốn hiểu biết về kinh doanh.
1.2. Bạn cần một chứng chỉ hành nghề: Với một số ngành như là phân tích tài chính, tư vấn quản lý, v.v., tấm bằng MBA là cần thiết để được vào làm bộ phận quản lý. Những ngành này có tính cạnh tranh rất cao nên để thăng tiến bạn cần phải vượt trội hơn những người có tham vọng như mình và chứng minh được rằng mình có khả năng lãnh đạo. Điều này có nghĩa là bạn phải có kiến thức về các phương thức quản lý và hiểu được phạm vi áp dụng của lý thuyết vào thực tế. Trong quá trình học MBA, bạn sẽ học cách tự tìm và định hướng phát triển cũng như tự đánh giá bản thân, rèn luyện khả năng phối hợp làm việc, và học về đạo đức kinh doanh. Một chương trình MBA tốt sẽ tạo rất nhiều điều kiện để bạn được cọ sát với thực tế kinh doanh.
1.3. Bạn cần một chất xúc tác để đổi nghề: Nếu công việc hiện tại của bạn không phải là kinh doanh hay quản lý mà bạn lại muốn chuyển sang lĩnh vực này thì MBA có thể giúp bạn bước chuyển tiếp. Chương trình MBA sẽ mở ra cho bạn cách nhìn nhận các vấn đề cũ theo cách mới. Trong qúa trình học bạn sẽ được rèn luyện kỹ năng lãnh đạo thông qua teamwork (làm việc theo nhóm), case studies (nghiên cứu tình huống), và cọ sát với công việc quản lý thực tiễn.
1.4. Bạn muốn trở thành chủ doanh nghiệp: MBA sẽ trang bị cho bạn kiến thức nền tảng để tự mở kinh doanh. Bên cạnh các kiến thức cơ bản đó, theo học chương trình MBA sẽ cho bạn các mối quan hệ với các sinh viên MBA khác, họ cũng chính là những người đã, đang, và sẽ hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh. Bạn cũng sẽ xây dựng được các mối quan hệ quý báu với giới kinh doanh thông qua những sinh viên này cũng như hội cựu sinh viên của trường và các mối kinh doanh mà trường giới thiệu.
2. Các chuyên ngành mà bạn có thể chọn
2.1. Accouting ̣(kế toán) Bạn sẽ học về làm sổ sách và báo cáo tài chính cho công ty. Nhiệm vụ của kế toán viên là cung cấp thông tin tài chính của công ty cho những người quan tâm. “Financial accouting” (kế toán tài chính) cung cấp thông tin cho những người ngoài công ty (ví dụ như là cơ quan thuế, cổ đông, v.v ) còn “managerial accouting” (kế toán quản lý) thì cung cấp thông tin nội bộ cho những nhà quản lý của công ty để giúp họ đưa ra quyết định về vận hành và phát triển công ty. Ngành này đòi hỏi ở bạn đức kiên trì, sự yêu thích các con số, và tính chính xác cao.
2.2 Finance (tài chính) Bạn sẽ được học làm thế nào để đầu tư vào real assets (ví dụ như đầu tư vào nhà đất, v.v.) và financial assets (ví dụ như đầu tư vào ngân hàng, thị trường chứng khoán) và quản lý các khoản đầu tư đó cũng như cách quản lý các luồng tiền tệ ra và vào công ty. Ngành này đòi hỏi ở bạn kiến thức tư duy toán học cao và sự hiểu biết tốt về kinh tế học.
2.2. Human resource mangement (quản trị nhân lực) Bạn sẽ được học làm thế nào để quản lý và khuyến khích nhân viên làm việc hết sức mình và đem lại hiệu quả cao nhất cho công ty. Ngành này đòi hỏi ở bạn khả năng đắc nhân tâm và kỹ năng giao tiếp quần chúng.
2.3. Information management (quản lý thông tin) Bạn sẽ được học làm thế nào để quản lý thông tin và sử dụng chúng một cách hiệu quả trong kinh doanh. Ngành này đòi hỏi ở bạn hiểu biết về hoạt động kinh doanh của công ty, tư duy logíc, khả năng phối hợp làm việc với các bộ phận khác của công ty, và sự đam mê các công nghệ thông tin ví dụ như máy tính, intranet, internet, firewall, các chương trình phần mềm ứng dụng, v.v.
2.4. Marketing (tiếp thị) Bạn sẽ được học làm thế nào để tiếp cận và đưa sản phẩm và dịch vụ của công ty đến cho khách hàng. Như vậy bạn sẽ học về phân tích thị trường, tìm kiếm khách hàng mới, giữ khách hàng cũ, quyết định giá bán hàng, phương thức tiếp thị, v.v. Ngành này đòi hỏi ở bạn tính sáng tạo cao, khả năng thích ứng co với môi trường, à kiến thức tốt về Hman psychology (tâm lý học con gười) cộng với ự đam mê giao tiếp xã hộ̣i.
2.5. General management (quản lý) Nếu bạn chọn học “general managment” thì tức là bạn sẽ không chuyên sâu về lĩnh vực nào hết mà sẽ được học tất cả các môn ở mức độ chung chung. Ngành học này phù hợp với những ai muốn làm “senior managment” như là CEO (chief executive officer) v.v. hay là muốn mở công ty riêng. Ngành này đòi hỏi ở bạn tư duy logíc, tư duy chiến lược, tính can dảm dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm, sự nhạy bén, và hơn cả là máu làm doanh nghiệp.
2.6. International Business “International business” là một khái niệm rất rộng. Đây là ngành học giành cho những người muốn làm ở các công ty đa quốc gia mà trong công việc có đụng chạm đến yếu tố nước ngoài hoặc làm việc trên thị trường quốc tế. Trong “international business” bạn cũng có thể đi sâu vào một trong các lĩnh vực hẹp từ 2.1 đến 2.6. Ví dụ khi bạn muốn làm cho bộ phận xuất khẩu của một công ty thì bạn nên chọn học “marketing” trong “international business”.
3. Tìm trường học MBA Để tìm được trường phù hợp thì trước hết bạn cần hiểu rõ mình theo học MBA vì mục đích gì và tìm hiểu xem trường nào có thể cung cấp cho bạn cái bạn cần. Bạn cũng cần phải xác định rõ là đi học chính là đầu tư công sức, thời gian, và tiền bạc để lấy kiến thức phục vụ cho công việc tương lai chứ đừng coi nó là một chuyến đi chơi du lịch hay coi việc lấy được tấm bằng là mục đích. Có bằng MBA mà không làm được việc thì thà đừng có còn hơn. Chỉ có kiến thức và khả năng networking mới có thể giúp bạn làm việc thành công. Khi xác định được rằng mình đi học vì mục đích rõ ràng thì sau đây là một số tiêu chí để bạn cân nhắc:
3.1. Xếp hạng (ranking) của trường: Chỉ dựa vào chỉ số xếp hạng của trường (bạn có thể tìm thấy ranking của các trường trên www.usnews.com, www.businessweek.com, www.mbainfo.com, www.ft.com, v.v.) không thể cho bạn biết được liệu trường đó có chương trình phù hợp với bạn hay không. Ranking chỉ cho bạn một cái nhìn chung chung tổng quát về trường chứ không cho bạn biết thực tế chất lượng của từng chương trình cụ thể. Nó cũng không thể cho bạn biết là liệu nó thể đem lại cho bạn các mối quan hệ (network) mà bạn cần hay không. Vì vậy bạn chỉ nên coi ranking như là một thông tin để tham khảo chứ không nên coi nó là tiêu chí duy nhất để chọn trường. Tuy nhiên bạn nên chọn trường đã được kiểm định chất lượng vì MBA là một đầu tư rất lớn cho tương lai. Theo học một chương trình kém chất lượng sẽ không đem lại cho bạn kiến thức, kỹ năng, hay các mối quan hệ cần thiết để thành công trông tương lai. Bất cứ trường nào cũng đều cố gắng đánh bóng tên tuổi của mình để chiêu sinh. Ở Mỹ có rất nhiều tổ chức kiểm định chất lượng nhưng duy chỉ có The Association To Advance Collegiate School of Business (http://www.aacsb.edu) mới là tổ chức có uy tín. Những trường nào không được tổ chức này công nhận thì thường không có chất lượng tốt.
3.2. Chương trình học (curriculum) Vi ̀ bạn theo học MBA có mục đích rõ ràng, bạn cần tìm chương trình có khả năng phục vụ mục đích đó một cách tốt nhất. Bạn muốn tương lai sẽ làm gì sau khi học xong MBA thì chọn chương trình mà trường có thế mạnh nhất. Nếu bạn muốn theo hoc MBA để chuẩn bị cho việc mở công ty kinh doanh riêng sau này thì nên lựa chọn chương trình nào nhấn mạnh về đào tạo doanh nhân (có nhiều môn về “entrerpreneurship”, “new venture management”, “small business managment”, etc.). Tương tự như vậy, nếu bạn muốn trở thành nhà phân tích tài chính thì nên chọn chương trình nhấn mạnh vào các môn tài chính, v.v...Để biết được trường có thế mạnh về lĩnh vực nào thì vào website của khoa business và xem curriculum (các môn mà trường dạy), professor profile (sơ yếu lý lịch của giáo viên về ngành học và các công trình nghiên cứu của giáo viên đó), alumi activities (các hoạt động của cựu sinh viên của trường), business connection (mối quan hệ của trường với các doanh nghiệp), v.v.
3.3. Networking: Không ai có thể làm kinh doanh hay quản lý mà không cần đến quan hệ. Nếu bạn muốn làm gì sau khi học xong MBA thì tìm trường tập trung nhiều người đã, đang, và sẽ hoạt động trong lĩnh vực mình quan tâm. Để biết thông tin này thì bạn nên tìm hiểu ở mục “student profile”, “alumni organization”, và “professional centers” của trường
3.4. Dịch vụ tìm việc làm: Nếu bạn không biết sau khi học xong MBA thì mình sẽ đi đâu để kiếm việc làm thì nên chọn trường có cách chương trình dịch vụ giúp sinh viên kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Rất nhiều trường có dịch vụ giúp sinh viên kiếm việc trên phạm vi toàn cầu. Thường sinh viên Việt nam mình quay về nước sau khi học nên cái này có lẽ không quá quan trọng. Nếu bạn muốn kiếm việc làm ở nước ngoài thì cũng nên quan tâm đến tiêu chí này.
3.5. Địa điểm của trường và chất lượng cuộc sống Dù sao thì khi học MBA bạn cũng bỏ ra 1-2 năm trong quãng đời của mình ở trường bạn học nên ngoài kiến thức ra bạn cũng muốn có ký ức đẹp sau khi ra trường. Địa điểm của trường có thể quyết định các yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn như là thời tiết khí hậu, giá cả sinh hoạt, hoạt động xã hội v.v.
4. Yếu tố quyết định cơ hội bạn được chấp nhận vào trường bạn chọn Có rất nhiều trường tốt mà bạn thích nhưng chưa chắc người ta đã nhận bạn vì số lượng người xin học luôn luôn cao hơn số xuất mà trường có. Do vậy bạn cần đánh giá đúng khả năng của mình đến đâu so với yêu cầu của trường. Trường đánh giá khả năng của bạn theo những tiêu chí sau:
4.1. Học lực Trường sẽ nhìn vào điểm đại học của bạn để đánh giá sức học của bạn so với bạn bè cùng lứa ở trường của bạn. Điểm khá hay giỏi của bạn chỉ thể hiện là bạn có sức học tốt hơn so với bạn bè cùng lứa ở trường của bạn chứ không thể hiện sức học của bạn so với sinh viên ở trường khác và nước khác. Nếu trường bạn định xin đã có nhiều sinh viên đến từ trường của bạn thì người ta sẽ căn cứ vào thống kê giữa sức học của các sinh viên đó ở trường hiện tại so với điểm số của họ khi học ở trường của bạn để dự đoán sức học của bạn nếu được chấp nhận vào trường. Vì thế nên nếu nhiều sinh viên được điểm giỏi của trường bạn vào học ở trường đó lại học kém thì người ta cũng không quan tâm lắm vào bảng điểm của bạn nữa. Ngược lại, nếu những sinh viên được điểm trung bình ở trường của bạn vào học trường đó học rất tốt thì nếu bạn chỉ được điểm trung bình của trường bạn cũng không phải là trở ngại trong việc bạn xin học. Vì mỗi trường có tiêu chuẩn chấm điểm riêng và chất lượng học sinh không giống nhau nên người ta cần xem xét đến điểm GMAT của bạn để đối chiếu bạn với các sinh viên trường khác khi xem xét hồ sơ của bạn. Điểm GMAT sẽ càng quan trọng khi trường bạn định xin vào chưa có ai từng học ở trường mà bạn đã học.
4.2. Kinh nghiệm và triển vọng thành công trong công việc Chất lượng sinh viên ra trường có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của trường nên người có triển vọng tốt khi ra trường sẽ tạo tiếng tốt cho trường. Để đánh giá được liệu bạn có khả năng thành công trong tương lai hay không, người ta nhìn vào những gì bạn đã và đang làm, khả năng tạo network (thông qua letter of recommendation - thư giới thiệu - người ta có thể phán đoán xem bạn có khả năng lập quan hệ với ai và mức độ thân cận của mối quan hệ đó như thế nào), khả năng thuyết phục và marketing (thông qua statement of purpose - thư xin học). Trong các lớp MBA thi việc làm case studies (giáo viên đưa ra tình huống và học viên trao đổi kinh nghiệm và ý tưởng xem trong trường hợp và bối cảnh nào thì nên làm thế như thế nào là tốt nhất) chiếm tỷ trọng khá cao. Phương thức này thường có hiệu quả cao khi các học viên có kinh nghiệm làm việc lâu năm và các học viên không có kinh nghiệm giống nhau. Vì vậy hội đồng tuyển chọn sẽ cố gắng đa dạng hóa thành phần học viên. Điều này có nghĩa là bạn có thể được nhận học chỉ vì bạn có kinh nghiệm làm việc mà các thí sinh khác không có trong khi các tiêu chí khác (như là GMAT, GPA..) của bạn không hẳn là đã cao. Tuy nhiên chỉ có người trong hội đồng tuyển sinh mới biết được năm nào họ thiếu thí sinh trong lĩnh vực nào. Vì vậy lời khuyên tốt nhất cho bạn là hãy nhấn mạnh vào khả năng đóng góp xây dựng bài cho lớp học thông qua thư xin học (statement of purpose) của bạn.
4.3. Khả năng trình bày Trong quản lý và kinh doanh thì khả năng thuyết phục là vô cùng quan trọng. Muốn bán được hàng thì trước hết bạn phải biết cách hấp dẫn và thuyết phục được khách hàng của mình là hàng của mình ưu việt hơn các hàng khác. Muốn lãnh đạo thì bạn phải thuyết phục được người khác tin và làm theo ý mình. Để thuyết phục bạn cần phải biết trình bày ý tưởng của mình bằng văn bản (người ta nhìn vào statement of purpose - thư xin học – của bạn để đánh giá) cũng như qua diễn thuyết (cái này người ta sẽ kiểm tra qua lần interview - phỏng vấn bạn). Tuỳ theo ngành bạn chọn (ví dụ như accouting) mà có thể trường không chú trọng lắm vào khả năng diễn thuyết. Tuy nhiên dù ngành nào thì bạn cũng phải biết viết tốt.
4.4. Tư chất Mỗi ngành nghề đều đòi hỏi bạn cần có một số tố chất nhất định. Người ta sẽ nhìn vào SOP, LOR, và CV của bạn cũng như qua interview để phán đoán xem tư chất của bạn có phù hợp với ngành bạn chọn hay không. Ví dụ nếu bạn muốn theo chuyên ngành accounting mà lại thể hiện mình là người có tính sáng tạo cao nhưng lại thiếu kiên nhẫn thì khả năng được chấp nhận vô cùng thấp. Cũng vậy nếu bạn muốn theo ngành human resource management mà lại thể hiện là mình ít giao tiếp và ít hoạt động xã hội thì bạn không phải là người có tố chất để thành công trong ngành này.
5. Vấn đề tài chính để theo học một khóa MBA
5.1. Xin học bổng Chi phí học MBA thường là rất lớn, đặc biệt là đối với mức thu nhập ở Việt Nam. Nếu bạn có sức học tốt và có khả năng thuyết phục thì bạn nên mạnh dạn tìm kiếm học bổng hoặc là trợ giúp tài chính từ phía nhà trường và các công ty. Tuy nhiên bạn cũng nên xác định là xin học bổng học MBA khó hơn rất nhiều so với học các ngành khác. Lý do la sau khi tốt nghiệp MBA bạn sẽ có khả năng thu nhập cao hơn hẳn so với nếu bạn học các ngành khác và như vậy người ta sẽ cho rằng bạn hoàn toàn có thể trang trải cho việc hoc MBA nay, kể cả nếu bạn không có tiền ngay bây giờ nhưng khả năng trả nợ của bạn rất cao. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là không có cơ hội. Dưới đây liệt kê một số nguồn hỗ trợ tài chính mà bạn có thể tham khảo.
5.1.1. Trợ giúp tài chính từ phía nhà trường: Tất cả các chương trình MBA (và hầu hết các cơ sở giáo dục của Mỹ) đều hoạt động như các doanh nghiệp. Đây là những doanh nghiệp đặc biệt vì họ bán educational services (dịch vụ giáo dục). Như vậy họ cũng cho “discounts” (giảm giá) cho một số khách hàng bằng hình thức tuition waiver (miễn giảm học phí), cho “rebates” (hoàn trả một phần tiền) bằng hình thức scholarship (học bổng), và có thể cấp “coupons” (phiếu mua hàng miễn phí) cho một số khách hàng đặc biệt bằng hình thức fellowship (học bổng danh dự). - Trường cho “discounts” cho những đối tượng nào? Doanh nghiệp nào cũng cần phải phân đoạn thị trường để xác định giá bán hàng. Với khách hàng có khả năng chi trả cao và không quá nhạy cảm với giá cả thì doanh nghiệp sẽ đòi giá cao, còn nếu khách hàng có khả năng chi trả thấp và/hoặc nhạy cảm với giá cả thì doanh nghiệp sẽ hạ giá xuống thấp hơn để thu hút khách hàng. Hạ thấp đến đâu thì tùy theo giá sản xuất (bao gồm tiền lương cho giáo viên và nhân viên của trường, tiền quảng cáo tiếp thị, tiền trang thiết bị trường học, v.v.). Do vậy, với những người đạt yêu cầu admission của trường rồi thì trường sẽ lẩy những người có khả năng chi trả cao nhất rồi hạ dần xuống đến những người có khả năng chi trả thấp hơn và cho tới khi nào đủ số sinh viên cho khoá học thì thôi. Vì thế cơ hội bạn được “discount” từng nào sẽ tuỳ thuộc vào application pool (những người cùng xin học) của năm bạn xin học. Nếu số người đạt yêu cầu của trường và có khả năng chi trả bằng hoặc lớn hơn với số xuất trường có thể đáp ứng thì bạn không có cơ hội được “discount”. - Trường cho “rebates” cho những đối tượng nào? “Rebate” cũng là một phương thức hạ giá. Nó khác với “discount” ở chỗ “discount” là hạ giá tại chỗ còn “rebate” nó cho phép doanh nghiệp sử dụng số tiền thu được từ khách hàng (với trường là tiền học phí) một thời gian trước khi hoàn trả lại (với trường thì họ sẽ cấp học bổng sau khi sinh viên đã nhập học). Lý do và nguyên tắc cho “rebate” cũng giống như cho “discount” đã nói ở phần trên. - Trường cho “coupons” cho những đối tượng nào? Doanh nghiệp nào cũng cần phải có bằng chứng về chất lượng sản phẩm/dịch vụ của mình để quảng cáo. Trường cần phải có ít nhất một vài sinh viên ưu tú, người mà khi ra trường chắc chắn sẽ thành công, để chứng minh là dịch vụ đào tạo của họ tốt. Vì thế họ cho “coupons” để hấp dẫn những đối tượng này. Mặt khác trường cũng muốn giảm chi phí vận hành nên đều muốn có một số sinh viên hạt nhân làm khuấy động không khí học tập và các hoạt động của trường. Vì vậy để kiếm được “coupons”, bạn cần phải chứng minh được là mình thuộc nhóm các đối tượng này. Trường cho được bao nhiêu “coupons” và giá trị của mỗi “coupon” phụ thuộc vào khả năng tài chính của trường nên trường càng lớn thì số “coupons” càng nhiều. Ngoài ra nguồn tài chính cho những “coupons” này cũng đến từ các tài trợ cá nhân, công ty, sinh viên cũ của trường, v.v. Với những “coupons” sẵn có, trường sẽ phân phối cho những người có khả năng nhất rồi hạ dần xuống cho đến khi hết “coupons” thì thôi. Do vậy cơ hội bạn được “coupon” từng nào sẽ tuỳ thuộc vào application pool (những người cùng xin học) của năm bạn xin học. Và cũng như các doanh nghiệp, các trường đều muốn giảm chi phí hoạt động nên họ sẽ thuê một số sinh viên làm graduate assistants (những người làm việc hành chính), teaching assistants (những người làm trợ giảng), hoặc reasearch assistants (những người làm trợ lý nghiên cứu) vì đây là lực lượng có học mà giá lao động lại rẻ mạt (chỉ bằng 1/2 hoặc 1/3 giá người đi làm bình thường với trình độ tương đương). Tuy rằng là lao động rẻ mạt so với thu nhập của châu Âu và Mỹ, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với thu nhập ở Việt Nam nên kiếm được việc như vậy cũng không đến nỗi tệ lắm. Để xin các xuất này thì về nguyên tắc cũng giống như bạn xin việc làm. Cơ hội của bạn đến đâu thì tuỳ thuộc vào available jobs (nhu cầu cần người làm) và khả năng của bạn so với những người cùng xin việc như bạn. Tóm lại bạn cần tìm hiểu thật kỹ về trường bạn định xin và đánh giá đúng về khả năng của mình cũng như của các thí sinh khác. Bạn cũng nên vào phần student profile để so sánh mình với những sinh viên đã được hỗ trợ tài chính của trường để đánh giá cơ hội của mình và hoạch định chiến lược xin hỗ trợ tài chính của trường sao cho hiệu qủa nhất.
5.1.2. Các quỹ cho học bổng 100% cho ngành MBA: Vì bạn là người Việt Nam nên có lợi thế ở chỗ các nước phát triển và các tổ chức quốc tế có dành riêng một số quỹ hỗ trợ đào tạo nhân lực cho các nước đang phát triển. Những người được nhận các học bổng này đều là những người chứng minh được là họ sẽ đem được kiến thức của mình học được ở nước phát triển về phục vụ cho quê hương của họ dưới hình thức này hay hình thức khác. Và các quỹ học bổng này đều yêu cầu sinh viên phải về nước sau khi hoàn thành khoá học. Dưới đây là các quỹ cho học bổng 100% cho ngành MBA mà tôi được biết (nếu bạn biết thêm quỹ nào thì xin vui lòng báo cho tôi để chia sẻ với các bạn sinh viên khác): Qũy học bổng ADB (Asian Development Bank): http://www.adb.org/JSP/default.asp, Qũy học bổng WB (World Bank): http://www.worldbank.org/wbi/scholarships/, Qũy học bổng IMF (International Monetary Fund): http://www.imf.org/external/np/ins/english/scholar.htm, Qũy học bổng Ford Foundation: http://www.fordfound.org/news/more/1...0ifp/index.cfm, Qũy học bổng Fulbright: http://vietnam.usembassy.gov/wwwhfabout.html, Học bổng Quốc tế dành cho phụ nữ (AAUW International Fellowship): http://www.aauw.org/fga/fellowships_...ernational.cfm
5.2. Tự bỏ tiền túi hoặc đi vay Nếu bạn thấy mình không thuộc nhóm có khả năng được học bổng và cũng không muốn (hoặc không xin được) việc làm như đã nói ở trên thì bạn cũng có thể tính đến việc tự bỏ tiền ra đi học như phần đông các sinh viên MBA khác. Bạn nên cân nhắc kỹ giữa cái giá phải trả (bao gồm tiền học phí và chi phí cơ hội) để theo học MBA và lợi ích nó mang lại (ví dụ như mức thu nhập trước và sau khi học MBA). Nếu thẩy lợi ích nó mang lại thực sự đáng giá của nó thì nên mạnh dạn đầu tư. Nếu bạn không có nguồn tài chính sẵn có thì vẫn có thể đi vay người thân, bạn bè, ngân hàng, v.v. để đi học. Tất nhiên nếu phải đi vay thì chí phí học MBA sẽ cao hơn vì phải trả lãi xuất.
6. Chuẩn bị hồ sơ xin học
6.1. GPA (grade point average: điểm học đại học) Như đã nói ở trên, trường sẽ nhìn vào điểm đại học của bạn để đánh giá sức học của bạn so với bạn bè cùng lứa ở trường của bạn. Nếu bạn xin vào trường mà đã có người đã học ở trường của bạn thì bạn không gặp nhiều rắc rối về bảng điểm. Nhưng nếu rủi là người đó có bảng điểm đẹp nhưng sang đó học không tốt sẽ làm người ta e dè về cái bảng điểm của bạn. Tuy nhiên, nhìn chung mà nói thì người ta không quá quan tâm đến bảng điểm của Việt Nam lắm (mặc dù bạn vẫn phải chứng minh là bạn đã thực sự học xong đại học) mà quan tâm đến các yếu tố khác như nêu ở mục 6.2 – 6.6. Bất lợi lớn với sinh viên Việt Nam là nhiều trường không cấp bảng điểm nhiều lần, chất lượng dịch thuật ở nhiều phòng công chứng không tốt, các môn học không tương đồng với các môn sinh viên học ở Mỹ, và hệ thống chấm điểm của Việt Nam rất khác so với Mỹ. Nhiều trường hợp sinh viên Việt Nam xin học MBA ở bị từ chối chỉ vì cái bảng điểm trông không chuyên nghiệp (vì không chuyên nghiệp làm cho người ta nghi ngờ chất lượng đào tạo của trường cấp cái bằng đó) hoặc bị từ chối vì người ta không thể kiểm tra được là trường cấp cái bằng đó có phải là trường được Việt Nam công nhận hay không. Để khắc phục vấn đề này thì bạn nên làm những việc sau:
- Thuê phiên dịch chuyên nghiệp dịch sẵn và lên layout (trình bày) thật chuẩn. Nếu có điều kiện nên tham khảo cách trình bày bảng điểm của Mỹ hoặc it́ ra cũng nên tham khảo cách trình bày bảng điểm của người đã được trường của Mỹ nhận.
- Nếu có thể thì khi xin trường chứng nhận vào bảng điểm là bạn đứng thứ bao nhiêu trong khóa học của mình (giống như percentile ở bảng điểm TOEFL và GMAT)
- Lên văn phòng IIE tại Việt Nam xin một bảng giải thích cách tính điểm và hệ thống giáo dục của Việt Nam. - Tiếp theo lên trường xin dấu của trường vào bản dịch. Nếu trường của bạn không đóng dấu vào bản dịch thì lên phòng công chứng xin làm loại công chứng dịch hiệu đính (tức là xin người ta chứng nhận bản dịch của mình là chính xác và vẫn giữ nguyên cách trình bày của mình).
- Nếu trường của bạn không phải là trường lớn mà nước ngoài đã biết thì lên phòng Quan hệ Quốc tế của Bộ Giáo dục và Đào tạo xin giấy xác nhận là trường của bạn được nationally accredited (nhà nước Việt Nam công nhận).
6.2. SOP (statement of purpose: thư xin học) SOP là một phần rất quan trọng trong bộ hồ sơ của bạn. Trường sẽ nhìn vào đó để đánh giá khả năng thuyết phục của bạn và đoán xem bạn có tố chất cần có để thành công trong ngành bạn định xin học hay không. Đi xin học cũng giống như đi bỏ thầu. Chỉ có những nhà thầu biết cách tiếp thị mới trúng thầu được. Nhiều bạn sinh viên Việt Nam thích làm theo mẫu viết sẵn nhưng đây là cách “chào hàng” tồi tệ nhất. Bạn cứ thử hình dung xem một ngày hội đồng tuyển chọn phải đọc hàng trăm cái SOP thì người ta có muốn đọc cái SOP của bạn không nếu như cái SOP của bạn cũng giống như những cái khác? Nếu bạn chỉ muốn làm copy-cat (sao chép lại cái của người khác mà không động não) thì bạn khó có thể thành công trong kinh doanh được. Trong kinh doanh, bạn cần phải có điểm gì đó khác lạ hấp dẫn so với các đối thủ cạnh tranh thì mới thu hút được khách hàng. Cũng giống như vậy, SOP của bạn phải thể hiện được là bạn là một người độc lập và có sức cạnh tranh. Bạn có cái mà trường cần và trường có thể cung cấp cho bạn cái bạn muốn. Bạn hãy tìm hiểu thật kỹ về trường mà bạn định xin học xem sinh viên của họ như thế nào và tìm hiểu xem cái mình có (ví dụ như quan hệ, gia đình, am hiểu về thị trường Việt Nam, v.v) có phải là cái người ta cần không. Cái này cũng giống như đi bán hàng thì phải hiểu khách hàng cần gì và muốn gì. Khi viết SOP, bạn nên biến nó thành một bài nghị luận (a piece of argument) và chứng tỏ cho người ta thấy là tại sao phải nhận bạn chứ không phải là người khác.
6.3. LOR (letter of recommendation: thư giới thiệu) Người ta xem LOR của bạn để phán đoán xem bạn có khả năng lập quan hệ với ai và mức độ thân cận của mối quan hệ đó như thế nào. Vì thế bạn nên chọn người sẵn sàng bỏ tâm huyết ra để viết tốt về bạn một cách tỷ mỷ. Và người đó nên có uy tín và thành công trong lĩnh vực bạn xin học, đơn giản là vì người trong cuộc có khả năng đánh giá tốt hơn việc liệu bạn có triển vọng thành công trong thị trường việc làm mà bạn chọn (liệt kê ở phần 2.1 – 2.7). Người này không nhất thiết phải là giáo sư của bạn mà có thể là đối tác làm ăn hoặc một chuyên gia trong lĩnh vực mà bạn theo đuổi.
6.4. Điểm TOEFL (test of English as a foreign language) Điểm TOEFL không đóng vai trò quyết định xem bạn có được học bổng hay hỗ trợ tài chính hay không. Điểm TOEFL chỉ chứng minh là bạn có khả năng giao tiếp và học tập bằng tiếng Anh. Nên khi bạn đã đạt ngưỡng trên 250 (tương đương với 600 điểm thi giấy) thì nó không còn quan trọng nữa. Nếu bạn ở ngưỡng 213-250 (tương đương với 550-600 điểm thi giấy) thì bạn sẽ khá vất vả khi theo học. Nếu bạn ở dưới ngưỡng 213 này thì khả năng tiếp thu kiến thức của bạn sẽ bị hạn chế một cách đáng kể vì rào cản ngôn ngữ. Và do đó bạn sẽ chẳng thu lại được mấ̉y từ việc theo học MBA. Chính vì tiếng Anh là phương tiện truyền tải kiến thức, nên bạn nên trau dồi vốn tiếng Anh của mình cho thật tốt để tiếp thu được nhiều nhất từ việc đi học này. Đi học là đầu tư (tiền bạc, công sức, và thời gian) cho tương lai nên bạn hãy cố gắng sao thu lại được nhiều lợi nhuận nhất từ khoản đầu tư này. Cách học chuẩn bị cho TOEFL thế nào thì tôi sẽ nói cụ thể ở series các bài viết về cách học cho các kỳ thi chuẩn hoá của Mỹ.
6.5. Điểm GMAT (graduate management admission test) GMAT kiểm tra khả năng tính toán, từ vựng và viết lách cần có để có thể theo học các chương trình quản trị kinh doanh. Thông qua kỳ thi này, người ta cũng có thể đánh giá thí sinh về khả năng tập trung làm việc, (bằng việc bắt bạn phải làm bài test trong gần bốn tiếng liên tục), khả năng ra quyết định dứt khoát (đã trả lời câu nào rồi là không thể quay lại để thay đổi câu trả lời), khả năng phân phối qũy thời gian hạn hẹp (bạn chỉ có khoảng dưới hai phút để trả lời mỗi câu hỏi), v.v. Dưới đây tôí chỉ giới thiệu về kỳ thi và cách các trường đánh giá thí sinh qua kỳ thi này. Còn cách học chuẩn bị cho GMAT thế nào thì tôi sẽ nói cụ thể ở series các bài viết về cách học cho các kỳ thi chuẩn hoá của Mỹ.
6.5.1. Nội dung bài thi GMAT Mỗi bài thi GMAT sẽ có 3 phần theo thứ tự như sau: 1 tiếng viết 2 bài luận, 75 phút cho bài thi định lượng (quantitative), và 75 phút cho bài thi ngôn ngữ (verbal).
6.5.1.1.Bài thi viết Bài thi viết của GMAT không phải là bài kiểm tra trình độ tiếng Anh như bài thi viết của TOEFL mà nó được thiết kế để kiểm tra khả năng tư duy và khả năng trình bày ý tưởng của bạn bằng tiếng Anh. Bài thi viết gồm 2 phần, mỗi phần làm trong 30 phút. Với bài viết phân tích (analysis of an issue), bạn sẽ phải đánh giá một vấn đề từ nhiều khía cạnh và sau đó trình bày quan điểm của bạn về vấn đề đó. Dựa trên phân tích của mình, bạn cần phải đưa ra lập luận cho quan điểm của mình. Với phần đánh giá lập luận (analysis of an argument), bạn sẽ phải đánh giá lập luận của người khác xem lập luận đó có chặt chẽ hay không. Bạn sẽ cần phải phân tích các tiền đề mà người đó đưa ra cũng như các giả định mà người đó sử dụng để lập luận để rồi phán xem liệu kết luận của người đó có hợp lý không.
6.5.1.2.Bài thi định lượng Bài thi định lượng có 37 câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra khả năng tìm đáp án (problem-solving) và khả năng đánh giá xem bài toán cần điều kiện gì để giải được (data-sufficiency). Các câu hỏi này đều không khó vì bạn chỉ cần các kiến thức toán học của lớp 9-10 là có thể trả lời được. Nếu bạn có thoải mái thời gian thì chắc là bạn chằng làm sai nhưng cái khó của GMAT là bạn chỉ có 75 phút cho tất cả 37 câu này.
6.5.1.3.Bài thi ngôn ngữ Bài thi ngôn ngữ có 41 câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra khả năng của bạn về chữa câu (sentence-correction), đánh giá lập luận (critical-reasoning), và đọc hiểu (reading-comprehension). Với các câu hỏi về chữa câu (sentence-correction), bạn chỉ việc phân tích xem liệu câu viết có đúng ngữ pháp không và nếu không đúng thì sửa thế nào. Với các câu hỏi về đánh giá lập luận (critical-reasoning), bạn sẽ cần phải phân tích các tiền đề, các giả định, và kết luận của một đoạn văn lập luận ngắn rồi tùy câu hỏi mà bạn phải tìm cách phản bác, ủng hộ, hay suy diễn thêm từ lập luận đó. Với câu hỏi về đọc hiểu (reading-comprehension), bạn sẽ phải đọc một đoạn văn dài khoảng 350 từ để tìm ý chủ đạo, thông tin chi tiết, và thông tin có thể suy diễn được từ đoạn văn đó.

6.5.2 Các trường đánh giá điểm GMAT của bạn như thế nào? Trong 50 năm qua, các trường đại học dùng điểm thi GMAT để giúp họ đánh giá chính xác hơn về các thí sinh. GMAT là phần khách quan nhất vì tất cả các thi sinh đều thi trong điều kiện giống nhau và được đánh giá theo chuẩn chung. Các số liệu thống kê của GMAC (Graduate Management Admission Council) thì điểm GMAT tỷ lệ thuận với điểm số của thí sinh trong năm đầu học MBA GMAT được dùng để so sánh trình độ của các thí sinh từ các trường khác nhau. Nếu chỉ nhìn điểm GPA thì người ta không thể so sánh các thí sinh từ các trường khác nhau vì sinh viên được đánh giá là giỏi của trường này có thể chỉ là trung bình, thậm chí trung bình kém, nếu học ở trường khác. Lý do là mỗi trường có chất lượng đào tạo và tiêu chuẩn đánh giá sinh viên rất khác nhau. Nếu mà thí sinh có trình độ thật thì không khó khăn lắm để được điểm GMAT cao. Nói vậy không có nghĩa cứ điểm GMAT cao là học giỏi bởi vì một số người chỉ tập trung vào ôn luyện GMAT mà bỏ bê việc học hành ở trường. Vì thế nên người ta không dùng GMAT như là yếu tố duy nhất để đánh giá thí sinh. Bảng báo điểm GMAT có ghi điểm tổng số và điểm của từng phần. Tùy theo ngành học bạn chọn mà người ta chú trọng đến điểm số của phần nào trong số ba phần của GMAT. Nếu bạn chọn học ngành cần nhiều đến tính toán như là finance hay accounting thì đương nhiên bạn cần phải có điểm quantitative tốt trong khi điểm verbal không quá quan trọng. Tương tự, nếu bạn muốn học ngành cần diễn giải nhiều như là human resource mangement thì đương nhiên bạn cần có điểm verbal tốt trong khi điểm quantitative không quan trọng lắm. Ngoài ra người ta còn nhìn vào điểm phần viết như là dấu hiệu cho thấy thí sinh có thực sự viết SOP của họ hay không. Lý do là vì có quá nhiều công ty dịch vụ chuyên sửa chữa và thậm chí viết hộ SOP. Do vậy nếu mà bạn có SOP viết rất tốt mà điểm bài viết của GMAT kém thì người ta sẽ không tin rằng bạn là người thực sự viết SOP của bạn. Vậy điểm GMAT bao nhiêu là tốt? Cai đó tuỳ theo trường mà bạn định xin. Bạn nên tìm hiểu xem các sinh viên trường bạn định xin thường có điểm GMAT là bao nhiêu. Để biết thông tin này thì bạn xem phần admission requirement hoặc FAQ hoặc student profile trên trang web của trường.
6.6. Interview (phỏng vấn) Tùy ngành và trường bạn xin học mà bạn sẽ phải trải qua cuộc phỏng vấn hay không. Nếu bạn muốn theo học ngành phải nói nhiều như là marketing (và đặc biệt là khi bạn xin làm teaching assistant) thì trường sẽ phỏng vấn bạn. Khi trường đã quyết định phỏng vấn bạn thì tức là đến 80% là muốn nhận bạn. Ngoài ra khi trường đang cân nhắc giữa bạn và thí sinh khác có hồ sơ tốt tương đương với hồ sơ của bạn thì trường sẽ dựa vài kết quả cuộc phỏng vấn bạn và những thi sinh đó để quyết định xem nhận ai và loại ai. Các câu hỏi trong cuộc phỏng vấn thường xoay quanh các vấn đề như tại sao bạn lại chọn ngành mà bạn chọn, tại sao bạn muống học trường của họ, tại sao bạn lại chọn lúc này để đi học chứ không phải là sớm hơn hay muộn hơn, bạn mong đợi gì từ khoá học, và kế hoạch tương lai của bạn là gì khi học xong MBA, v.v.
Thai Thi Thanh Mai

StormRaider
15-02-2008, 11:13 PM
Một số lưu ý với các bạn muốn học MBA (từ kinh nghiệm bản thân, tớ cũng đang apply MBA):

- MBA ở Mỹ thường kéo dài 2 năm (một số trường có chương trình 1 năm), MBA ở châu Âu thường kéo dài 1 năm. Trong hầu hết các bảng xếp hạng trên thế giới thì các chương trình MBA của Mỹ chiếm khoảng 80% trường top 100. Đứng đầu về MBA của châu Âu thường là London Business School, của châu Á thường là INSEAD (kết hợp Pháp + Singapore).

- Đăng ký MBA thường là quá trình rất mất thời gian, công sức và chi phí. Khuyến cáo của hầu hết các trường cũng như các tổ chức tư vấn là nên chuẩn bị trước ít nhất 1 năm. Các giai đoạn nói chung như sau:
+ Học và thi chứng chỉ: bao gồm 2 chứng chỉ là ngoại ngữ và năng lực. Với MBA ở Mỹ là TOEFL (iBT >= 100/120, Havard thì >= 109/120) và GMAT. Với MBA ở châu Âu là IELTS (nếu là tiếng Anh) và GMAT, có một số trường chấp nhận GRE, nhưng GRE còn khó thi hơn GMAT -_- Tùy vào trình độ của bạn, nói chung giai đoạn này thường mất khoảng 6 tháng. Tốn kém từ 400$ (lệ phí thi, còn lại tự học) đến --- (400$ + tiền học).

+ Làm các loại giấy tờ thủ tục: dịch và chứng nhận bằng + bảng điểm, giấy khen, xin thư giới thiệu, chứng minh tài chính (nếu bạn có thể chứng minh sớm),... Chú ý là đa phần các trường ở Mỹ không chấp nhận công chứng ở VN, bạn phải đem hồ sơ đến trường mà yêu cầu dịch + chứng nhận. Đa phần các trường ở Mỹ yêu cầu gửi bảng điểm gốc không chuyển sang GPA, chỉ có một số ít yêu cầu chuyển sang GPA hoặc giải thích hệ thống cho điểm của VN. Nói chung là nếu không yêu cầu thì không nên chuyển, vì thường là chuyển sang GPA trông không đẹp bằng các đồng chí nước ngoài. Bỏ những giấy tờ cần thiết vào phong bì dán kín, ghi tên trường, tên mình, acc dùng để apply vào trường lên phong bì rồi dùng dịch vụ chuyển phát bảo đảm để gửi sang, tránh thất lạc. Tốn kém khoảng 1-2tr.

+ Mở acc apply online, xem các thủ tục của các trường. Thường thì các trường ở Mỹ có 1 số vòng, bao gồm:
* Early Decision: thường bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11,12. Nộp ở vòng này cơ hội được nhận cao nhất, cơ hội được học bổng cũng cao nhất. Đổi lại, phải quyết định học sớm nhất, lệ phí giữ chỗ cao nhất.
- Round 1,2,3 (4,5): thường kéo dài đến cuối tháng 3, đầu tháng 4. Càng về sau càng khó được nhận, càng khó được học bổng.

Nói chung là nên chuẩn bị từ sớm, nộp được càng sớm càng tốt.

+ Viết essay, nộp hồ sơ (lệ phí khoảng 50-200$), phỏng vấn. Chờ kết quả, được thì lo lấy visa rồi lên máy bay vù ^_^

Chi phí học MBA ở Mỹ khoảng 100,000$ (học phí + ăn ở) -> -xxxx $ (miễn học phí, bao ăn ở, dư tiền đi chơi).

prettygurl
16-02-2008, 12:23 AM
Khi học MBA bạn nên focus vô chuyên ngành của undergrad hoặc related ngành để không phải tốn tiền và sức học thêm, và tốt nhất là plan out tất cả các lớp bạn muốn lấy để save time. Bạn cũng nên vừa đi học & đi làm sẻ giúp bạn hiểu bài hơn. (Mình đang học MBA tại Mỹ nên chỉ nói lên những kinh nghiệm của bản thân). Nếu bạn nào cần gì thì cứ email cho mình mình sẻ giải thích nhiều hơn (mình đang học MBA-Accounting/CPA)

BadLuckGuy
17-02-2008, 10:46 PM
Mình có vài câu hỏi:
1. Nếu mình h đang học undergrad ở Úc, khi ra trường muốn học MBA ở Mĩ thì có cần phải thi iBT hay không?
2.Liệu học ở MBA có dễ dàng xin được internship/scholarship hay ko? Tỉ lệ là khoảng bao nhiêu? Vì nghe nhiều người bạn nói với nhiều quan điểm trái ngược nhau nên rất thắc mắc.

Đa tạ trước

StormRaider
17-02-2008, 11:17 PM
Mình có vài câu hỏi:
1. Nếu mình h đang học undergrad ở Úc, khi ra trường muốn học MBA ở Mĩ thì có cần phải thi iBT hay không?
2.Liệu học ở MBA có dễ dàng xin được internship/scholarship hay ko? Tỉ lệ là khoảng bao nhiêu? Vì nghe nhiều người bạn nói với nhiều quan điểm trái ngược nhau nên rất thắc mắc.

Đa tạ trước
Nếu học >= 2 năm thì không phải thi TOEFL, nhưng vẫn phải thi GMAT.

Có xin được scholarship hay không thì phụ thuộc vào profile của mình, profile càng tốt thì khả năng được scholarship càng cao. Nhìn chung là các trường ở Mỹ coi trong sự đa dạng nên rất chào đón ứng viên tới từ các nước ít xuất hiện, trong đó có Việt Nam. Tất nhiên là phải chứng tỏ mình có khả năng và thực sự quan tâm tới trường của họ.

NeedFood
18-02-2008, 12:07 AM
Mình xin bổ sung những gì bác Tôm đã nói. Bằng MBA là professional degree, nên khi các bạn du học xin scholarship thì khả năng lớn nhất là xin từ những quỷ học bổng của nước nhà, của tập đoàn hội tư nhân như Tà thần đã post, chứ khó có hy vọng xin được scholarship từ trường. Bằng MBA bên Mỹ hữu dụng nhất là cho những bạn đã đi làm, lấy thêm bằng MBA để có thể lên chức quản lý hay được tăng chức trong công việc mình đang làm. Đối với các bạn du học: nếu muốn sau này ra trường làm việc ở VN hay ở Á Châu thì bằng MBA nước ngoài có giá trị, nhưng nếu các bạn muốn làm việc ở Mỹ thì mình khuyên các bạn ráng xin vô học những trường nổi tiếng xếp hạng cao. Những trường nổi tiếng thì mới có thể tạo nhiều cơ hội internship với những hãng lớn để các bạn có kinh nghiệm đi làm và cũng có faculty của trường hỗ trợ. Nếu các bạn không có kinh nghiệm đi làm mà chỉ có bằng MBA từ một trường không nổi tiếng thì cơ hội các bạn tìm được công việc tốt ở Mỹ không cao vì ở đây khi nộp đơn xin việc, kinh nghiệm làm rất quan trọng.

Tà thần
18-02-2008, 10:28 AM
Những địa chỉ website chứa đầy thông tin về các vấn đề liên quan đến du học Mỹ được Viện giáo dục quốc tế IIE Việt Nam giới thiệu sẽ giúp bạn vững vàng hơn khi sống và học tập tại một môi trường mới.

Thông tin về du học Mỹ
www.educationusa.state.gov
www.us-guide.org
www.collegeview.com
www.AmericanGraduateEducation.com
www.petersons.com/educationusa
www.internationalstudentguidetotheusa.com
www.thongtinduhoc.com
www.collegeconfidential.com
www.ttvnol.com (mục Du học)
www.internationalstudent.com
www.vco-edusa.net (Education USA Virtual Consulting Office-Answer YOUR question about studying abroad in America)
www.unitedstatesvisas.gov
vietnam.usembassy.gov
Học bổng, hỗ trợ tài chính
http://www.fundingusstudy.com/
http://www.fastweb.com/
http://www.internationalstudent.com/
http://www.scholarshipexperts.com/ (Provides a customized list of local, state, national, and school-specific scholarships)
http://www.collegescholarships.com/ ((Scholarships for international students who are currently living in the United States)
http://www.finaid.org/ (Search for scholarships that match your profile http://www.internationalscholarships.com/ (News, information, resources and more about being and international student.)
http://www.free-scholarships–and-financial-aid.com/ (Resources to help you learn about the college admissions process, identify and contact colleges, and discover the scholarships and financial aid programs)
Du học bậc phổ thông
www.foreignborn.com/self-help/school/(public and private high schools)
http://www.greatschools.net/ (public school)
http://www.schools.com/ (boarding schools only)
http://www.boardingschoolreview.com/ (private schools)
www.boardingschoolusa.com/toc.asp
nces.ed.gov
http://www.nais.org/ (financial aid for high school study; go to “Admission and financial aid”, then “Financial aid facts for parents”, then “scholarship providers”)
Thông tin về ĐH Cộng đồng, khóa học tiếng Anh nâng cao và trao đổi văn hóa
http://www.americancommunitycolleges.com/
www.aspectfoundation.org/ex_study/high_school.html
http://www.cci-exchange.com/ (for high school home-stay programs from 5-10 months also has short-term high school programs)
http://www.ayusa.org/
www.csun.edu/~hcedu013/karin.html (links to many programs, also short-term English language programs)
www.aaiep.org/search.cfm (run by American Association of Intensive English programs)
www.uciep.org/index.php (run by University and College Intensive English programs)
http://www.esl.com/
http://www.intensiveenglishusa.org/
Thông tin, thứ tự xếp hạng các trường được công nhận (Accreditation)
http://www.usnews.com/ (US News & World Report)
http://www.chea.org/ (Council of Higher Education Accreditation).

StormRaider
18-02-2008, 06:50 PM
Mình xin bổ sung những gì bác Tôm đã nói. Bằng MBA là professional degree, nên khi các bạn du học xin scholarship thì khả năng lớn nhất là xin từ những quỷ học bổng của nước nhà, của tập đoàn hội tư nhân như Tà thần đã post, chứ khó có hy vọng xin được scholarship từ trường. Bằng MBA bên Mỹ hữu dụng nhất là cho những bạn đã đi làm, lấy thêm bằng MBA để có thể lên chức quản lý hay được tăng chức trong công việc mình đang làm. Đối với các bạn du học: nếu muốn sau này ra trường làm việc ở VN hay ở Á Châu thì bằng MBA nước ngoài có giá trị, nhưng nếu các bạn muốn làm việc ở Mỹ thì mình khuyên các bạn ráng xin vô học những trường nổi tiếng xếp hạng cao. Những trường nổi tiếng thì mới có thể tạo nhiều cơ hội internship với những hãng lớn để các bạn có kinh nghiệm đi làm và cũng có faculty của trường hỗ trợ. Nếu các bạn không có kinh nghiệm đi làm mà chỉ có bằng MBA từ một trường không nổi tiếng thì cơ hội các bạn tìm được công việc tốt ở Mỹ không cao vì ở đây khi nộp đơn xin việc, kinh nghiệm làm rất quan trọng.
Tớ lại không nghĩ như bác NeedFood. Đồng ý là MBA là professional degree, nhưng MBA là một course phổ biến hơn các course khác nên được các doanh nghiệp và alumni tài trợ nhiều hơn. Các MBA school của Mỹ đều quảng cáo có 40-50% sinh viên nhận được hỗ trợ về tài chính, tất nhiên là nhiều ít khác nhau, ít thì 2000-5000$, nhiều thì full tuition + stipend. Đấy là nói chung, còn khả năng nhận được scholarship của mỗi cá nhân phải phụ thuộc vào riêng cá nhân đó. Trong số những người tớ biết thì đa phần những người từ VN nếu đã được nhận vào học MBA ở Mỹ thì sẽ có scholarship/assistantship. Cá nhân tớ mới có 1 trường báo kết quả và cũng được full tuition rồi, đang định thương lượng để xin thêm stipend.

Về internship thì cho dù là sinh viên của trường nổi tiếng hay không cũng chủ yếu là xin internship ở quanh thành phố có trường đó. Vì vậy nếu 2 trường ở cùng thành phố mới có chuyện trường tốt dễ xin internship hơn, còn nếu một mình một cõi thì danh tiếng hay không sẽ không còn là vấn đề mà lúc đó lại phụ thuộc vào kết quả học của chính mình và môi trường xung quanh thành phố đó. Ví dụ nếu trường đang học mạnh về finance mà trong thành phố có nhiều hãng về finance, mình cũng major về finance thì dễ xin internship. Còn nếu mọi thứ đều nghiêng về finance mà mình lại major về consultant hay general management,... thì sẽ khó xin hơn. Túm lại là nếu quan tâm tới trường nào thì nên tìm hiểu cụ thể, Mỹ có hơn 300 B-school rải rác trên khắp đất nước nên khó khái quát lắm.

kyo2702
18-02-2008, 06:57 PM
Đệ có 1 câu hỏi mong các anh em giúp đỡ,chả là hôm nay nghe thông tin sáng mai sẽ phải nộp đề tài ý nghĩa của giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O )đối với các doanh nghiệp.:xitmau:đệ rất mong nhận được sự hồi âm gấp của anh em
mà hay là 4HH lập 1 top giúp đỡ việc học hành đi nhỉ?

StormRaider
18-02-2008, 11:22 PM
Đệ có 1 câu hỏi mong các anh em giúp đỡ,chả là hôm nay nghe thông tin sáng mai sẽ phải nộp đề tài ý nghĩa của giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O )đối với các doanh nghiệp.:xitmau:đệ rất mong nhận được sự hồi âm gấp của anh em
mà hay là 4HH lập 1 top giúp đỡ việc học hành đi nhỉ?
Cái này học lâu lắm rồi, bây giờ chỉ nhớ mang máng :00:

Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa được sử dụng để doanh nghiệp có thể hưởng các ưu đãi đặc biệt theo quy định về xuất xứ hàng hóa của các nước. Ví dụ Thái Lan có quy chế về miễn thuế với hàng hóa với các nước trong ASEAN, trong đó có VN, vậy doanh nghiệp VN xuất khẩu hàng sang Thái Lan có thể xin Phòng thương mại và công nghiệp VN chứng nhận lô hàng của mình có xuất xứ từ VN, khi làm việc với hải quan Thái Lan chỉ cần xuất trình giấy này thì có thể được miễn thuế xuất nhập khẩu.

mkn
18-02-2008, 11:29 PM
c/o = certificate of origin ??

cái này hình như thuộc phạm trù của shipping? ai học/làm món này chắc biết.

tiếc là ta học banking chứ không rành trade nên chịu thua.......

NeedFood
19-02-2008, 12:00 AM
Bác Tôm,
Khác biệt giữa professional degree (như bằng MBA) với academic degree (tiến sĩ) là academic degree có cống hiến cho cộng đồng trong khi professional degree chỉ làm lợi cho bản thân. Như tiến sĩ khoa học sẽ làm nghiên cứu cống hiến cho cộng động khoa học, nên thông thường các bạn được nhận vào academic degree sẽ được trường học đài thọ 100% và cho luôn tiền ăn ở, trong khi học professional degree thì khó được trường cho học bổng như vậy. Khi website của trường nói rằng 40-50% được tài trợ thì phải hiểu rõ việc tài trợ đó như thế nào, vì bên đây khi nói đến tài trợ, không chỉ bao gồm học bổng (không cần phải trả lại) mà cũng bao gồm cho mượn (sau khi ra trường phải trả lại với % interest). StormRaider được full tuition nếu đó là tiền học bổng không cần trả lại chứ không phải tiền cho mượn thì StormRaider là 1 trong số ít người được đó vì cho dù giỏi hay không giỏi, trường không có lý do gì để tài trợ học bổng cho học sinh học MBA cả. Bởi vậy mình nói khả năng xin học bỏng với những tập đoàn tư nhân hay những hội ASEAN chẳng hạn cao hơn vì họ có lý do để khuyến khích học sinh du học Á Châu học MBA.
Về phần internship thì như mình đã nói, trường cấp MBA ở Mỹ rất nhiều và người có bằng MBA cũng khá nhiều vì hội đoàn business school không có hạn chế nên giống như trường hợp những trường tự lập ở VN, mọc lên như nấm và có nhiều bằng không có giá trị gì cả. Những bạn đã có kinh nghiệm đi làm, đã có việc làm thì học MBA trường nào cũng được, chỉ thêm 1 cái bằng để nâng cao tay nghề lên chức quản lý. Nhưng những bạn không có kinh nghiệm đi làm, 1 cái bằng MBA từ trường không nổi tiếng cho dù mình có học giỏi, thì trong mắt những công ty không có giá trị bằng 1 anh học trung bình ở trường nổi tiếng. Tại sao những trường nổi tiếng thu hút nhiều học sinh giỏi? Không phải vì những trường ấy dạy giỏi hay chương trình tốt mà vì những giáo sư và alumni của trường đó đều là CEO, manager, những người có chức vị lớn trong những hãng xưởng lớn, nên khi sinh viên học trường nổi tiếng có cơ hội rất cao được nhận vô internship tốt vì đã có letter of recommendation từ những người rất có máu mặt. Mình chỉ nói riêng cho trường hợp học MBA thôi còn những ngành khác thì khả năng học của mình rất quan trọng.

prettygurl
22-02-2008, 04:04 AM
Nếu như undergrad của bạn là ngành liên quan đến bussiness thì MBA sẽ giúp rất nhiều về việc được promo lên manager possition, nhưng nếu bạn from những ngành khác mà học MBA thì bạn nên coi lại, tại vì khi ra đi làm, MBA không có giá trị nếu như bạn không có kinh nghiệm & không có quan hệ tốt với đồng nghiệp và cấp trên. Hiện tôi đang học tại Devry univesity. Trường này không cần phải có GMAT score để apply (GMAT: score của bạn ít nhất phải 80% thì mới apply into MBA program, tất cả các trường điều đòi hỏi điều kiện này), Trường này không nổi tiếng về MBA, nhưng mà rất nổi tiếng về accounting (CPA). Becker, top CPA review school, là chi nhánh của trường này. Nếu bạn có ý định thi CPA thì trường này là sự chọn lựa tốt nhất. (Tôi chỉ recommend trường này nếu bạn major in accounting và muốn pass CPA)

Tà thần
11-03-2008, 08:19 PM
Nhờ các anh/chi xem và cùng thảo luận về đề tài suất chiết khấu nha, ai có cao kiến chỉ giúp. Một suất chiết khấu như thế nào là hợp lý.





Tỷ lệ tài trợ cho dự án thường là vốn vay chiếm 70%, vốn chủ sở hữu chiếm 30% tổng mức đầu tư của dự án. Vì thế, mô hình WACC có thể sử dụng lần lượt các tỷ lệ này làm tỷ trọng trong mô hình.



1. Ứng dụng mô hình CAPM và WACC để xác định xuất chiết khấu



1.1. Phương pháp tính trực tiếp cho thị trường Việt Nam dựa trên chỉ số Vn-Index.



Bộ dữ liệu là số liệu Vn-Index từ năm 07/03/2001- 07/03/2008 với các thông số chủ yếu như sau:

Re=Rf + β*(Rm - Rf)

Re: Chi phí vốn chủ sở hữu

Rf: lãi suất phi rủi ro (trái phiếu chính phủ) 8,5%

Rm: Lãi suất thị trường 14,5%

Hệ số β: 0,999 (được tính từ bộ dữ liệu VN-Index giai đoạn 7//2000 – 3/2008).

* Chi phí vốn CSH: Re = 8,5% + 0,999*(14,5% - 8,5%) = 14,49%

* Chi phí vốn vay (Quí I/2008): 14%

Như vậy suất chiết khấu là: WACC = 70%*14,49% + 30%*14% = 14,34%

Tuy nhiên, mức biến động của VN-Index là rất lớn qua các năm, đặt biệt là trong giai đoạn 2006 – 2008, đồng thời thị trường chứng khoán Việt Nam mới đi vào hoạt động chưa được 10 năm (TTCK bắt đầu từ tháng 7/2000), nên mức độ tin cậy không cao trong kết quả tính toán. Nếu xét riêng cho năm 2006, 2007 thì suất sinh lợi vốn chủ sở hữu vào khoảng 25%-30%

1.2. Phương pháp gián tiếp thông qua thị trường Hoa Kỳ:

1.2.1. Tính suất chiết khấu cho năm 2007

- Suất sinh lợi phi rủi ro Hoa Kỳ = Lợi suất TP CPHK kỳ hạn 10 năm; ngày 14/9/2007 = 4,47%

- Suất sinh lợi danh mục thị trường Hoa Kỳ = Suất sinh lợi trung bình cổ phiếu, giai đoạn 1997 – 2007 = 9,39%

- SSL phi rủi ro lịch sử Hoa Kỳ = SSL trung bình TPCP, giai đoạn 1997 - 2007 = 4,13%

- Mức bù rủi ro thị trường Hoa Kỳ = 9,39% - 4,13% = 5,26%

- Hệ số β thị trường Hoa Kỳ = 1,09.

- Mức bù rủi ro quốc gia (chênh lệch lợi suất trái phiếu quốc tế của chính phủ Việt Nam và TPCP Hoa Kỳ tháng 10/2005) = 1,97%

- Mức bù rủi ro ngoại hối = tỷ lệ lãi suất tiền gửi VND 12 tháng, 25/7/07 – tỷ lệ lãi suất tiền gửi USD 12 tháng, 25/7/07 = 8,28% - 5,05% = 3,23%

* Chi phí vốn cổ phần:

Re = 4,47% + 1,09*5,26% + 1,97% + 3,23% = 15,40%.

* Chi phí vốn vay (Quí IV/năm 2007): 12%.

Như vậy, suất chiết khấu bình quân có trọng số:

R = 30%*15,40% + 70%*12% = 14,38%

1.2.2. Tính suất chiết khấu tương ứng tình hình lãi suất hiện nay:

- Suất sinh lợi phi rủi ro Hoa Kỳ = Lợi suất TP CPHK kỳ hạn 10 năm; ngày 14/9/2007 = 4,47%

- Suất sinh lợi danh mục thị trường Hoa Kỳ = Suất sinh lợi trung bình cổ phiếu, giai đoạn 1997 – 2007 = 9,39%

- SSL phi rủi ro lịch sử Hoa Kỳ = SSL trung bình TPCP, giai đoạn 1997 - 2007 = 4,13%

- Mức bù rủi ro thị trường = 9,39% - 4,13% = 5,26%

- Hệ số β thị trường Hoa Kỳ = 1,09.

- Mức bù rủi ro quốc gia (chênh lệch lợi suất trái phiếu quốc tế của chính phủ Việt Nam và TPCP Hoa Kỳ tháng 10/2005) = 1,97%

- Mức bù rủi ro ngoại hối = tỷ lệ lãi suất tiền gửi VND 12 tháng– tỷ lệ lãi suất tiền gửi USD 12 tháng = 9,84% - 5,10% = 4,74%

* Chi phí vốn CSH: RE = 4,47% + 1,09*5,26% + 1,97% + 4,74% = 16,91%.

* Chi phí vốn vay (Quí I/2008): 14%.

Như vậy, suất chiết khấu bình quân có trọng số:

R = 30%*16,91% + 70%*14% = 16,04%

Nhận xét: tình hình biến động lãi suất trong thời gian gần đây là mang tính chất nhất thời do sự điều chỉnh của chính sách vĩ mô điều tiết và quản lý thị trường. Trong dài hạn, để đảm bảo giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao thì chính phủ sẽ có những điều chỉnh phù hợp có tác động làm giảm lãi suất. Mặc khác, suất chiết khấu là xem xét cho cả thời kỳ thường là từ 5 – 10 năm, nên có thể xem xét suất chiết khấu bằng mức bình quân của cả hai kỳ tính toán trên là (16,04% + 14,38%)/2 = 15,21%.

Tà thần
18-04-2008, 07:10 PM
Chương trình học bổng Fulbright tại Việt Nam, mời các bạn có ý định học tiếp thạc sỹ về chính sách công vào đây xem::tungtung:

http://www.fetp.edu.vn/apply/index.cfm

Tà thần
25-04-2008, 03:38 PM
Chương trình học bổng Fulbright năm 2008; 2009:
tại Mỹ: http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/04/780082/
tại VN: http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=11&id=b859ee1a1641c7

nlkien
17-05-2008, 08:39 PM
Ôn luyện TOEFL-iBT trực tuyến

Công ty Giáo dục Toàn cầu (Global Education) vừa cho ra mắt chương trình ôn luyện thi TOEFL-iBT trực tuyến tại địa chỉ www.globaledu.com.vn/toefl.

Chương trình ôn luyện được xây dựng trên cơ sở trở thành kênh thông tin học liệu - tham khảo thiết thực nhất cho những người có nhu cầu ôn tập và tham gia kỳ thi TOEFL-iBT hiện nay.

Trên cơ sở nghiên cứu và khảo sát thực tế, Global Education đã hình thành kho học liệu tham khảo phong phú cho người học về kiến thức, kỹ năng, cách thức làm bài để tiếp cận với mức điểm cao nhất của kỳ thi TOEFL-iBT.

Chương trình được xây dựng với các phần học tập như sau: kiểm tra đầu vào; bài giảng chuyên đề; luyện kỹ năng; mở rộng vốn từ; bài thi mẫu; luyện tập... Hơn 10.000 trang tư liệu đã được xây dựng và tổ chức thành các bài giảng, bài học, câu hỏi, bài thi giúp người học mở rộng vốn hiểu biết bằng tiếng Anh và luyện tập có hệ thống các kỹ năng để sử dụng tiếng Anh trong thi cử cũng như trong cuộc sống.

nlkien
18-05-2008, 10:10 PM
Thể thao điện tử có thể nuôi sống game thủ?

Ngày nay, rất nhiều phụ huynh lo ngại con cái họ mê game quên học, nhưng nghĩ đi cũng phải nghĩ lại, một sự việc bao giờ cũng có hai mặt tồn tại, bên cạnh mặt này, game vẫn còn mặt mạnh của nó.

Nếu nhìn nhận một cách khách quan, game là sản phẩm vô tri và vô giác, sở dĩ có những người mê mẩn vào game bỏ quên cuộc sống phần nào đó cũng bởi khả năng ý thức và tự kiềm chế của họ. Nếu chơi game đúng mức và đúng nghĩa, game sẽ không những giúp chúng ta giải trí mà còn giúp ta rèn luyện những kỹ năng về thân thể, trí lực và tiếp cận với công nghệ tiên tiến. Game là sản phẩm của sự kết hợp hội họa, công nghệ và cuộc sống, nhiều người cũng từng khẳng định rằng thông qua chơi game họ đã tiếp xúc nhiều và quen thuộc, nhanh nhạy hơn với thao tác máy tính.

Chỉ đơn giản luận bàn về game thể thao điện tử, nó có ích lợi gì và game có giúp ích gì được cho cuộc sống của game thủ không mà ngày nay cả thế giới có tới hàng triệu triệu người cùng tham gia vào thể loại này? Nhiều cường quốc về game như Hàn Quốc, Trung Quốc, hay Singapore đặc biệt tập trung đầu tư phát triển để tạo nên phong trào rộng khắp, giải đấu lớn mang tính chuyên nghiệp có hiệp hội, đoàn thể quản lý chặt chẽ và quy củ với những giải thưởng lên tới hàng triệu USD và thậm chí có những người sống chủ yếu là dựa vào "nghề" game này.

Khi tham gia các game thể thao điện tử, thể thao giải trí, bạn sẽ cảm nhận được một sự khác biệt, bạn được vận động từ trí lực, thị lực cho đến thể lực. Thao tác tay liên tục qua bàn phím và chuột máy tính, mắt và tai phải quan sát mọi chi tiết chuyển động của màn hình, tai lắng nghe từng tiếng động, sáng suốt, nhanh nhạy để phán đoán tình huống và đưa ra quyết định đúng lúc, chính xác… Tất cả kết hợp lại sẽ giúp bạn luyện tập cùng lúc nhiều khả năng của cơ thể, giúp bạn trở nên linh hoạt hơn, nhạy bén hơn trong giải quyết vấn đề, xử trí tình huống.

Ngoài ra ở một số quốc gia có ngành công nghệ thông tin phát triển như như Hàn Quốc, Mỹ… game đã không còn là sân chơi đơn thuần mà thậm chí đã phát triển thành nghề, có thể đảm bảo cuộc sống game thủ lẫn nhà phát hành game. Một trong những dòng game có sức mạnh đặc biệt này chính là thể loại MMOFPS (game thể thao điện tử, bắn súng góc nhìn thứ nhất) với đại diện là Counter Strike (CS) được ưa chuộng tại châu Âu, Mỹ và tại châu Á thì không thể không nhắc sản phẩm Sudden Attack (Hàn Quốc) đã có tại Việt Nam qua cái tên Biệt đội thần tốc.

Với sự hỗ trợ và tư vấn đắc lực từ Hiệp hội thể thao điện tử sắp được thành lập, chắc chắn sẽ giúp game thủ Việt Nam nâng cao kỹ thuật thi đấu và kỹ năng lên một tầm cao mới để kỳ vọng vào một cuộc đọ sức ở các giải đấu lớn quốc tế mang về vinh quang cho thể thao Việt Nam.

Quy cho cùng, game vẫn là sản phẩm và con người sử dụng vẫn phải biết linh hoạt và chủ động, đừng quá đam mê để thành phụ thuộc mà hãy sáng suốt để khai thác những khía cạnh mạnh và hay của game để hỗ trợ và bổ sung cho cuộc sống của mình thêm phong phú, đa dạng và thêm có lợi.

(St)

nlkien
24-05-2008, 12:43 PM
Chuyện giáo dục, kinh nghiệm sống và học ở xứ "Tầy Chơi"
(by Netwalker - ttvnol.com/forum)


Chuyện học ở xứ Trời Tây, khác với chúng ta nhiều lắm. Về lý thuyết, sinh viên Việt Nam rất tốt nhưng đến phần ứng dụng và thực hành thì ……………..


Việc học bên này thực tế hơn, ứng dụng, gần gũi với cuộc sống hơn ở Việt nam. Khi tôi đi dạy thêm (tutor) học sinh PTTH (high school) ở đây mới thấy rằng chương trình học của Việt Nam chúng ta nặng quá mà trên thực tế các bạn thử hỏi sau ngần ấy năm học các bạn nhớ được những gì và tốt nghiệp ĐH ra có áp dụng được những gì học ở trường vào cuộc sống không?. Đúng ra mà nói để học tốt tất cả chương trình giáo dục của Việt Nam, học sinh sẽ phải học cắm đầu cắm cổ, không có thời gian cho các hoạt động khác, nói đâu vui chơi giả trí. Còn nếu không sẽ dẫn đến hiện tượng quay cóp bài. Những học sinh cấp III có dự định học tiếp Đại học sẽ chỉ tập trung vào luyện thi Đại Học. Việc luyện thi tốt nghiệp PTTH theo trình tự đứng hạng thứ Nhất bị chuyển xuống hạng Hai trong ưu tiên. Ở phương Tây, điểm ở PTTH chính là điểm xét tuyển vào trường ĐH. Học sinh PTTH ở đây nếu cảm thấy không thể đi theo con đường học hành (academy) học cao hơn nữa vì bất cứ lý do gì trình độ học vấn cũng như khả năng tài chính thường sẽ chuyển sang học ở các trường dạy nghề (Trade school) để có thể nhanh chóng tốt nghiệp ra đi làm. Ví dụ như học về y tá, hành chính, xây dựng, công nghệ thông tin. Các bậc phụ huynh tôn trọng quyết định của họ. Sau một vài năm đi làm, nếu họ cảm thấy có thể học tiếp được thì lại quay lại chốn giảng đường. Học sinh Việt Nam thường chịu sức ép của cha mẹ, sợ “mất mặt”. Tâm lý giáo dục châu Á vẫn là “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “Trứng đòi khôn hơn vịt”, bảo đi học là đi học, mặc dù có học vào đầu hay không không cần biết. Nếu học trường này không tốt thì chạy chọt chuyển sang trường khác. Thi không đỗ đại học thì mất tiền đi học, còn có đi học hay đi chơi thì cũng không cần biết. Học xong, tốt nghiệp ra thì lại xem có quen biết ai không để nhờ vả xin việc. Cứ như vậy từ bé đến lớn, từ lúc sinh ra, lớn lên, học xong đi làm, lập gia đình, Bố Mẹ lo hết. Điều này hình thành một lối suy nghĩ, ý thức hệ ảnh hưởng cà hai phía phụ huynh lẫn con cái. Tôi biết có những trường hợp người con đã tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ được Bố Mẹ nhờ vả xin cho được đi làm thư ký ở một công ty nước ngoài, lương hơn $100 nhưng Bố Mẹ vẫn nuôi ăn, nuôi ở, hàng tháng vẫn cho tiền đi mua sắm quần áo mới để đi làm, cho tiền đổi xe máy đẹp hơn để đi, tiền lương kiếm được chỉ để tiêu vặt và ăn quà. Về phía con cái thì cũng đâm ra ỷ lại. Tất nhiên không phải ai cũng vậy. tôi cũng biết những trường hợp sinh viên từ các tỉnh nghèo phấn đấu ra thành phố học, tự xin việc làm vì không ai giúp đỡ, sau đó còn kiếm được học bổng du học tại Hoa Kỳ, sau khi tốt nghiệp, kiếm được việc làm tại một công ty Luật nổi tiếng ở Mỹ, , rồi một mình đi làm gửi tiền giúp đỡ gia đình ở quê, cho các cháu ra thành phố học từ bậc phổ thông. Họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì để tồn tại, để theo học được, để đạt được ước nguyện. Ý chí phấn đấu vươn lên của họ tuyệt vời. Trên đây chỉ là hai ví dụ điển hình mà tôi trực tiếp quen biết.

Hiện nay, có một bộ phận lớn thanh niên nhất là con nhà khá giả, dân thành phố, có kinh tế tốt gần như không có định hướng cho tương lai, không có khả năng tự lập, hoàn toàn thiếu khả năng và kỹ năng sống, phụ thuộc vào gia đình từ mấy nghìn để đổ xăng đi chơi với bạn bè cho đến đồng quà sáng. Thanh niên 18-20 tuổi nhưng gần như không biết làm bất cứ việc gì. Nếu ai đó bảo đi làm tiếp thị hoặc gác cổng khách sạn thì bĩu môi không thèm làm, cho là “mất mặt”, “xấu hổ” với bạn bè. Việc gia đình tất nhiên không cần nói, con số thanh niên nhất là con trai biết giúp việc gia đình chiếm tỉ lệ rất thấp. ( Một phần cũng do tâm lý trọng Nam khinh Nữ tồn tại từ lâu đời).

Có bao giờ bạn tự hỏi mình đã làm được gì cho bản thân, cho gia đình chưa? Nếu có, bao nhiêu lâu bạn lại dành thời gian ngồi xuống để tự suy nghĩ đánh giá, nhận xét về bản thân mình. Mỗi năm, năm năm, mười năm một lần, hay chưa bao giờ? Xin miễn hỏi câu ……làm được gì cho đời. Mỗi một năm qua đi bạn có dành được 5 phút để tự hỏi mình những câu hỏi trên đây không trong khi có dư thừa thời gian đi chơi, lượn lờ, đánh bóng mặt đường và hỏi bạn bè : “Có đứa nào nghĩ ra cái gì để giết thời gian không?”. Tôi rất mong muốn Mod làm một khảo sát thử nghiệm vô danh tính (anonymous survey) câu hỏi trên với đăng ở trên TTVN đẻ xem kết quả ra sao? (Ai ủng hộ ý kiến trên hãy viết thư cho Mod.)

Vì vậy, sẽ không mấy ngạc nhiên khi thấy nhiều bạn sinh viên Việt Nam du học gặp phải cú shock văn hóa (culture shock) khi lần đầu tiên xa gia đình, xa người thân, xa bạn bè, phải một mình đối mặt với mọi thứ ở một xứ xở xa lạ. Lần đầu tiên phải sống tự lập, lần đầu tiên mới phát hiện ra rằng mình chẳng biết làm cái gì cả. Tất cả phải bắt đầu từ đầu, học cách sống cô đơn tự lập, học cách tự chăm sóc cho bản thân, học cách nấu ăn, và học cách tự học. Nói ra nghe buồn cười nhưng thực tế là vậy. Điều này gây sức ép nặng lên tâm lý (stress), ảnh hưởng đến chất lượng sống và học tập. Có nhiều người bị stress năng nề quá ảnh hưởng đến thần kinh hoặc phải bỏ học giữa chừng.

Hy vọng diễn đàn này sẽ giúp cho các bạn mới sang tìm được những kinh nghiệm để nhanh chóng hòa nhập vào môi trường mới, nền văn hóa mới. Các bạn đang ở nhà thay đổi nếp nghĩ, cách học. Các bạn chuẩn bị đi làm cho các công ty nước ngoài sẽ hoc cách hòa nhập vào môi trường làm việc của công ty ( Coporate Culture). Bạn nên nhớ rằng mỗi một công ty có một cung cách làm ăn, quản lý riêng. Công ty Việt Nam có một lề lối làm việc kiểu khác, công ty nhà nước khác với công ty tư nhân, quản lý kiểu Mỹ khác với quản lý kiểu Nhật, hệ thống tài chính kế toán của Việt nam khác với Mỹ, v…v và v…v. Tôi hy vọng sẽ có thời gian để viết một bài riêng cho mục này. Làm thế nào để thăng tiến nhanh trong nghề nghiệp (How to be a fast tracker) nhất là trong môi trường các tập đoàn quốc tế. Nếu VN thì tôi nghĩ các bạn đã có câu trả lời rồi, phải không. Hy vọng các cao thủ thâm niên, kỳ cựu vào đây thảo luận và chia sẻ những kinh nghiệm bổ ích với các bạn.



HỘI NHẬP VĂN HÓA



Việt Nam ta có câu: “ Nhập gia tùy tục” , văn hóa phương tây có câu : “ đến La Mã làm như người La Mã”. Dân Mỹ thực dụng rút ngắn lại một chữ: “địa phương hóa” (localized).

Khi đã xác định đi du học là bạn cần phải mở lòng mình ra để đón nhận những cái mới, những cái khác biệt. Cần phải hòa nhập với môi trường, nền văn hóa địa phương. Sau khi nhận giấy nhập học cần phải tìm hiểu chuẩn bị kỹ lưỡng, tham khảo tài liệu, kinh nghiệm của những người đi trước về nơi mình đến. Tìm hiểu về những điều nên và không nên làm, về sự khác biệt, đặc trưng của nền văn hóa đó. Khi đến nơi, đăng ký tham gia các câu lạc bộ của nhà trường, tham gia các hoạt động thể thao, gần như tất cả các trường ở My kể cả PTTH chứ không nói gi là ĐH ở Mỹ đều có phòng TD (Gyms), thậm chí có sân vận động để chơi bóng đá châu Âu (soccer) và bóng đá Mỹ (American football). Các hoat động này giúp cho bạn nhanh chóng hội nhập và tránh được culture shock, giúp cho ngôn ngữ của bạn tốt hơn. Bạn có thể đến văn phòng International Student Service (ISC) để hỏi thêm các thông tin, dịch vụ hỗ trợ cho sinh viên quốc tế, địa chỉ liên hệ của hiệp hội sinh viên Việt Nam.

Điều nữa cũng xin lưu ý một số bạn hội nhập kiểu gì mà đánh mất luôn bản sắc, “Tây hóa một cách thái quá” quên mất cả cội nguồn của mình. “Tây” còn hơn “ Tây” (Act more aggressive than a local). Có cậu bé mới sang Mỹ hoc 1 tháng trong chương trình trao đổi (Exchange Program) đã phat biểu với tôi như sau: “May có bọn anh nói chuyện với em chứ ở đây không có người Việt, một tháng nay nói toàn tiếng Anh quên mất tiếng Việt rồi”. Cậu bạn tôi tức quá không chịu được xổ ra một tràng tiếng Anh làm cậu bé kia trố mắt hỏi anh nói gì. Bạn tôi lại xổ ra thêm một tràng tiếng Việt: “Tao nói Bố mày sang đây mười mấy năm rồi mà vẫn chửi bậy giỏi đây này. Tao tưởng mày tiếng Anh giỏi quá quên mất tiếng Việt rồi.”. Hãy học những cái gì tốt của văn hóa họ (văn hóa phương Tây) và giữ lại những bản sắc tốt của mình. Có vầy bạn mới linh hoạt, có tính canh tranh, dễ hòa nhập với thế giới nhưng bạn vẫn là bạn.(A global man with his own identity. A flexible and competitive man).

nlkien
08-06-2008, 08:50 AM
10 phong thái làm việc của người thành công


Tại sao cùng năng lực như nhau nhưng có người thăng tiến rất nhanh, có người lại giậm chân tại chỗ? Bạn có thể nghĩ rằng thành công đến với những người này vì họ có hậu thuẫn. Có thể, nhưng có một điều quan trọng hơn chính là thái độ làm việc của họ.


Tiến sỹ Martin Seligman đã phát hiện ra rằng thái độ làm việc là nhân tố quyết định, nó còn quan trọng hơn cả chỉ số IQ, bằng cấp và một số nhân tố khác. Ông thấy rằng những người có thái độ tích cực, thân thiện thường tiến xa hơn trong sự nghiệp. Cho dù bạn đến từ đâu, bạn thông minh như thế nào nếu bạn có một thái độ đúng đắn trong công việc thì bạn sẽ thành công.

Dưới đây là 10 thái độ của các nhân viên thành công, bạn có thể xem qua và áp dụng cho bản thân:

1. Tôi chịu trách nhiệm cho số phận của mình

Nếu bạn chỉ dành thời gian để ngồi chờ đợi điều gì tốt đẹp sẽ đến với sự nghiệp của bạn thì bạn sẽ còn phải đợi lâu. Những người thành công luôn tự quyết định điều gì tốt đẹp sẽ đến với họ, họ tạo ra và điều khiển số phận của họ. Bạn sẽ thành công, sẽ có vị trí xứng đáng trong sự nghiệp nếu bạn biết bước đi và tìm kiếm cơ hội của mình.

2. Không có gì là không thể

Bạn nghĩ bạn không có cách nào để có thể vươn tới vị trí phó giám đốc? Nếu bạn suy nghĩ như vậy thì bạn chắc chắn sẽ không bao giờ có được vị trí đó. Hãy nhớ rằng nếu bạn muốn làm được việc gì thì phải luôn nghĩ rằng bạn có khả năng để làm điều đó.

3. Tôi luôn coi trọng công việc được giao, dù đó là việc vặt

Bạn sẽ không thể biết được khi nào thì bạn đang ở trong tầm kiểm soát của sếp vì vậy luôn phải làm việc cẩn thận cho dù đó là việc nhỏ. Một nhân viên PR cấp cao làm việc tại Chicago nói rằng công việc đầu tiên cô ấy được giao đó là sắp xếp lại tủ đựng hồ sơ của phòng. Cô ấy đã làm việc rất nhiệt tình và ngay sau đó đã nhận được lời khen từ phía sếp về sự chăm chỉ đó. Vì vậy bạn cần nhớ nếu lần sau được giao bất cứ công việc nào hãy làm với tất cả sự nhiệt tình của mình.

4. Xây dựng mối quan hệ tốt với mọi người

Tại sao bạn phải tức tối với các đồng nghiệp trong khi bạn có thể cư xử thân thiện và hòa đồng với mọi người? Ví dụ, bạn có nghĩ rằng việc tạo được mối quan hệ tốt với thư ký của sếp là quan trọng không? Hãy cư xử tốt và tạo mối quan hệ thân thiết với tất cả mọi người, biết đâu trong tương lai những mối quan hệ này lại có ích cho bạn.

5. Làm việc một cách tận tâm

Nếu bạn cứ nghĩ cả ngày rằng tại sao bạn lại phải làm những công việc này, hay công việc này không đúng với chuyên môn và nhiệm vụ của bạn… thì sẽ chỉ khiến cho bạn không thể hoàn thành công việc và sẽ phải chịu đựng sự bực tức của sếp. Cho dù công việc được giao không phù hợp, nhưng một nhân viên thành công luôn làm việc như thể đó là công việc trong mơ của họ vậy.

6. Luôn tận dụng cơ hội để mở rộng mối quan hệ của mình

Những nhân viên thành công họ biết được giá trị của việc có được quan hệ rộng rãi, cả trong và ngoài công ty. Bạn cần thiết lập cho mình nhiều mối quan hệ và chuyên nghiệp hơn. Hãy bắt đầu bằng việc rủ các đồng nghiệp ra ngoài vào giờ nghỉ, đi uống café sau giờ làm hay tham gia các cuộc hội thảo giữa các công ty.

7. Luôn học hỏi và làm mới bản thân

Để có thể thăng tiến thành công bạn cần chịu khó trau dồi và cập nhật kiến thức thường xuyên. Ví dụ, bạn nên tình nguyện đảm nhận những dự án mới để học hỏi những kiến thức và kỹ năng mà mình chưa biết.

8. “Thất bại sẽ giúp mở đường cho thành công”

Ai cũng phải từng trải qua thất bại dù chỉ là một lần và sự khác biệt giữa người thành công và không thành công chính là cách họ đối mặt với thất bại đó như thế nào. Những người thành công sẽ tìm thấy những bài học trong thất bại đó và tiếp tục tiến bước.

9. Tôi luôn tự hào về bản thân

Bạn đã bao giờ chờ đợi ai đó trong công ty sẽ nhận ra tài năng và nỗ lực của bạn? Có lẽ đã đến lúc bạn cần phải đứng lên và nói về những kết quả công việc và đóng góp của bạn cho công ty. Những người thành công luôn biết cách để cho mọi người thấy thành tích của mình mà lại không có vẻ gì là khoe khoang.

10. Tôi luôn tự tìm những cơ hội mới

Những người thành công luôn tự tìm kiếm những cơ hội để tiến lên trong sự nghiệp. Luôn lắng nghe, quan sát và để ý tìm tới những cơ hội mới. Bạn không bao giờ biết được khi nào thì bạn sẽ khám phá ra được cơ hội sẽ có thể thay đổi cả sự nghiệp của bạn vì vậy đừng bao giờ ngừng tìm kiếm chúng.


(Theo MSN)

nlkien
20-06-2008, 07:57 AM
Trung Quốc thu lợi lớn nhờ Olympic

Không chỉ mang lại lợi nhuận lớn, Olympic 2008 còn thúc đẩy nền kinh tế của xứ sở Vạn lý Trường Thành tăng trưởng mạnh hơn, cũng như nâng cao giá trị thương hiệu của doanh nghiệp.

Giáo sư kiêm nhà nghiên cứu kinh tế Crisp Gladden cho rằng, Olympic sẽ mang đến 6 tỷ USD lợi nhuận cho riêng thành phố Bắc Kinh. Thông thường, Thế vận hội sẽ thu hút rất nhiều nhà tài trợ, lợi nhuận về quảng cáo cũng tăng cao.

Ông tính toán, nếu mức doanh thu từ Olympic 2008 là 30 tỷ USD thì ít ra riêng thành phố Bắc Kinh sẽ thu được khoản lợi nhuận 6 tỷ USD. Tổng đầu tư của các dự án phục vụ Thế vận hội mà Chính phủ Trung Quốc chi là khoảng 30 tỷ nhân dân tệ (khoảng 4,36 tỷ USD). Tuy nhiên, các dự án này lại rơi vào các lĩnh vực thông tin liên lạc, thiết bị giao thông và mang tính chất lâu dài, nên nó hoàn toàn phục vụ nền kinh tế Trung Quốc.

London là chủ nhà của Olympic 2012, các chuyên gia kinh tế Anh cũng đã có một cuộc nghiên cứu tính đến giá trị mà sự kiện này mang lại. Ông Crisp Gladden cho biết, kết quả thu được rất khả quan: London sẽ thu về 2 tỷ bảng Anh.

Nếu tính thêm mức lợi nhuận đến từ truyền thông, quảng cáo thì người Bắc Kinh có thể tin tưởng về một tương lai tươi sáng của nền kinh tế. Ông Gladden lấy ví dụ, giá trị từ truyền thông mà Olympic Sydney năm 2000 đạt được là 5 tỷ USD.

Olympic Bắc Kinh được coi là dịp không chỉ để Trung Quốc giới thiệu bản sắc văn hóa ra thế giới mà còn nâng cao giá trị thương hiệu của các doanh nghiệp và đất nước. Phó chủ tịch điều hành Ủy ban Olympic Bắc Kinh Vương Vỹ cho hay, kế hoạch mở rộng thị trường Bắc Kinh đã được thiết lập từ tháng 9/2003. Cho đến nay việc thu hút tài trợ cũng đã hoàn thành, với hơn 62 doanh nghiệp đã sẵn sàng cho công việc này. Ngân hàng Trung Quốc đóng vai trò là nhà tài trợ chính của thế vận hội Bắc Kinh.

"Trước khi Thế vận hội diễn ra thì ban tổ chức đã nhận được toàn bộ chi phí tài trợ của ngân hàng Trung Quốc và các doanh nghiệp khác. Olympic sẽ giúp chúng ta có được những khoản lợi nhuận rất đáng kể", ông này nói.

Nhà kinh tế học Trung Quốc Phan Cương cho rằng, kinh tế nước này sẽ tăng trưởng mạnh hơn sau Thế vận hội Olympic 2008. Theo ông, Olympic sẽ khắc họa những thành tựu lớn lao của nền kinh tế Trung Quốc với bạn bè thế giới. Điều đó không chỉ thể hiện ở cơ sở hạ tầng hiện đại, ngành du lịch phát triển mà cả những chính sách nỗ lực đưa nền kinh tế đi lên của Chính phủ nước này.

Theo ông, nền kinh tế có thể chậm lại do phải chịu thêm chi phí phục vụ cho Thế vận hội, nhưng xét về tiến trình phát triển chung của quốc gia thì tốc độ tăng trưởng vẫn khá. Các công trình xây dựng khang trang hơn, thị trường cổ phiếu ổn định trở lại. "Do đó, tôi tin rằng sau khi Olympic 2008 kết thúc thì kinh tế đất nước sẽ phát triển", ông Phan Cương nói.