PDA

View Full Version : Ngược về thời Minh - Nguyệt Quan - No.1 2007 (Mới nhất: Chương 182)


anhhungsida
01-05-2010, 08:14 PM
Ngược về thời Minh


Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)


Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


http://www.ellone.cn/pic/uploadimg/2011-3/20113219225481734.jpg


Giới thiệu:

Người ta ngược thời gian về thời cổ đại không giỏi văn thì cũng siêu võ. Kẻ thì có dị năng siêu phàm, kẻ thì luyện được ngự nữ tâm kinh.

Trịnh Thiếu Bằng, một tên văn dốt võ nát chả biết làm gì đáng ra chết từ lâu nhưng nhờ lỡ tay cứu người mà được Diêm Vương cho sống thêm ba năm. Nhờ khéo làm mình làm mẩy mà bắt chẹt được Ngưu Đầu Mã Diện cho đầu thai về một thư sinh nghèo thời Minh mạt.

Một kẻ văn chả thông, võ lại dốt, gì cũng không biết làm, lịch sử thì chỉ nhớ mang máng lại đầu thai vào một thư sinh nghèo. Hắn làm sao để mà sống sót đây, làm sao để đừng bị đạp ra ngoài đường?

Hắn, một kẻ chỉ còn sống được hai năm chưa biết lúc nào sẽ chết, một kẻ không biết có sống sót nổi trong cảnh nghèo hèn hay không, lại có mạng làm vương gia. Rốt cuộc, hắn sẽ làm sao để hoàn thành số mạng đã định? Hắn sẽ trở thành cái loại vương gia thế nào đây?

Hết khó khăn lại đến gian khổ, hết bị tai nạn đến bị người hại. Bỏ cuộc? Tiếp tục?

Mời các bạn theo dõi từng bước chân của Trịnh Thiếu Bằng (Dương Lăng) trên con đường đầy chông gai trắc trở này.

- Nhóm dịch cẩn bút



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180

Tham Gia Dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

anhhungsida
01-05-2010, 08:20 PM
Ngược về thời Minh


Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)


Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 1 - Thiện nhân chín kiếp

Dịch: TheJoker

Biên dịch: StormRaider

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com



Ngưu Đầu, Mã Diện ngây người cả nửa ngày trời rồi mới rống lên thảm thiết:

- Ta hận Biu-gây!



--------------

Cầu Nại Hà chật hẹp âm u vắt ngang qua dòng Vong Xuyên cuồn cuộn (1), kéo dài tới tận chốn chân mây sâu thẳm trong hư vô. Những quỷ hồn chân không chạm đất đang nghẹn ngào uống bát canh Mạnh Bà để bước vào một kiếp sống mới đầy bí ẩn khôn lường.

Từ sâu thẳm phía chân mây như có một lực hút vô hình khiến cho một khi đã bước chân lên cầu thì đám u hồn không thể quay lại được nữa, chỉ có thể lững lờ trôi về phía trước, như những con thiêu thân lao mình vào lửa.

Đúng vào lúc này, một giọng nói hết sức hung hăng, kiêu ngạo chợt vang lên:
- Ta phải kiện! Nhất định phải kiện!

Theo tiếng nói, một gã trai trẻ trông rất bảnh bao từ phía bên kia cầu Nại Hà bước đến. Đầu tóc y chải chuốt kỹ lưỡng, chỉnh tề đến bóng mượt, bận một bộ âu phục đính rất nhiều kim tuyến, trông như một ngôi sao ca nhạc mới vừa từ sân khấu bước xuống.

- Xoảng!

Bát canh Mạnh Bà đậm mùi rơi xuống đất. Những nếp nhăn xếp đầy trên khuôn mặt của Mạnh Bà càng hằn sâu hơn. Bà thở dài lẩm bẩm: "Đã là lần thứ chín, lần thứ chín rồi! Cái tên gây họa này lại quay về."

Bộ đôi Ngưu Đầu, Mã Diện (Đầu Trâu, Mặt Ngựa) bước theo sau quỷ hồn trông như ngôi sao ca nhạc đó. Cặp mắt trâu của Ngưu Đầu trợn ngược hết mức, còn khuôn mặt của Mã Diện thì chảy dài hơn cả mặt lừa. Tất cả chỉ bởi cái gã Trịnh Thiếu Bằng thuộc thành phần phải cấm tiệt lai vãng theo quyết định của bọn họ đã lại quay trở về.

Đây là lần thứ chín y chết. Truyền kỳ về tám lần đầu thai của y bắt đầu bằng lần rơi thùng cáp treo ở núi Nam Thương. Nhờ đỡ cho một bé gái ba tuổi trước khi ngã mà y tích được âm đức, vì vậy tuổi thọ được tăng thêm ba năm. Nhưng xui xẻo cho bọn Ngưu Đầu, Mã Diện đang phải vội quay về tham dự buổi tiệc cưới của con gái Thành hoàng lão gia, không đợi đến khi y ngã xuống chân núi mà chúng đã tóm lấy hồn phách của y ngay khi y còn lơ lửng trên không.

Mãi đến khi bọn chúng tỉnh lại sau cơn say bí tỷ, phát hiện rằng mình đã bắt nhầm người thì thể xác của Trịnh Thiếu Bằng ở trên dương thế đã bị hỏa táng. Để trốn tránh trách nhiệm, bọn chúng buộc lòng phải đút lót Thôi phán quan, nhờ ông ta tống y về dương gian, cho y mượn xác sống lại để hưởng hết ba năm tuổi thọ ấy.

Nào ngờ... trong vòng có một năm mà y đã chết đến tám lần, không lần nào sống quá hai tháng. Phải nói là Thôi phán quan đối đãi với y rất là chu đáo. Trong lần chuyển thế đầu tiên, Phán quan đã cho y nhập thân vào một phú ông ở Ôn Châu vừa mới bị chết đuối. Phú ông này mở bốn công ty trang phục, tiền của có đến ba trăm triệu, năm nay sáu mươi tám tuổi, cô vợ lại chỉ mới hai mươi tám, ba cô tình nhân như hoa như ngọc tuổi lại càng nhỏ hơn, nhỏ nhất chỉ mới mười tám. Bấy nhiêu đó đủ để cho y vừa lòng rồi, đúng không?

Vấn đề là... lão phú ông này chết đuối không phải ở dưới sông, cũng chẳng phải ở trên biển, mà là chết đuối ở trong bồn tắm. Trong lúc tắm ông bị ả vợ yêu kiều quyến rũ dìm cho chết.

Đang lơ lửng ở trên không chờ nhập xác, Trịnh Thiếu Bằng nhìn thấy cảnh ấy mà sởn tóc gáy. Thế là y khóc lóc nỉ non, rất không cam lòng khi bị Ngưu Đầu, Mã Diện đẩy vào trong thân thể của lão phú hào mới vừa chết đuối. Y thật sự không hưởng thụ nổi loại "diễm phúc" như vậy.

Sau vài tuần lễ, y đã nắm rõ toàn bộ tình hình tài chính và hoạt động của công ty. Sau đó, y đem một phần ba tài sản chia cho người vợ thuở cơ hàn và mấy đứa con trai mà y đã bỏ rơi, còn lại bao nhiêu y đều đem đi làm từ thiện hết.

Một tháng sau, ả vợ xinh đẹp khi thấy y rõ ràng đã chết mà giờ lại sống sờ sờ, hơn nữa còn nhìn ả với một ánh mắt kỳ quái, đã bị doạ cho phát điên, vơ lấy một con dao gọt trái cây đâm y không ngừng. Đến khi Ngưu Đầu, Mã Diện nghe tin cấp tốc chạy tới thì cái thi thể đó đã thủng lỗ chỗ, nếu cho sống lại trông sẽ hơi tởm, thế là bọn chúng đành phải lôi y trở về địa phủ.

Dĩ nhiên Trịnh Thiếu Bằng sẽ không nói toạc ra là y ghét cái thân thể của lão già ấy, nơi cần "mềm" thì lại cứng đơ, chỗ cần "cứng" thì lại mềm xèo, nên đã sớm muốn tìm chết cho rồi. Thế là Phán Quan đại nhân lại phải vắt nát óc suy nghĩ rồi để y nhập vào xác một vị phó thị trưởng vừa mới bị bệnh chết.

Vị phó thị trưởng này mới bốn mươi tám tuổi, có thể xem như là độ tuổi sung mãn, đang nằm trong phòng bệnh cao cấp, khắp người cắm chi chít những ống dẫn. Lúc mới nhập viện thì người đến thăm đông nghịt, nhưng kể từ khi bác sỹ điều trị báo với cấp trên chuẩn bị lễ truy điệu thì phòng ông nằm đã trở nên vắng tanh.

Chưa từng nghĩ là mình có thể làm quan to đến như vậy nên thực sự Trịnh Thiếu Bằng cũng muốn chọc trời khuấy nước một phen. Nhưng y không thể nào chịu nổi cảnh lấy một người phụ nữ tuổi xấp xỉ mẹ mình làm vợ được.

Vì vậy cả ngày y nằm trong bệnh viện cáo ốm, nhất định không chịu về nhà. Đến khi phát hiện lão phó thị trưởng này hóa ra lại là một thành viên trong một đám tham quan hủ lại, lúc bấy giờ y mới thở phào nhẹ nhõm.

Y bèn thu thập một chồng chứng cứ chuyển giao cho văn phòng kỷ luật tỉnh ủy. Thế là trong lúc tổ chức nghiêm khắc điều tra, xét xử vụ án này, y đã “vinh dự” và “chủ động” bị đồng bọn trước đây thủ tiêu.

"Than ôi, nhân vô thập toàn!", Trịnh Thiếu Bằng đành than thở như thế. Tại sao trên đời lại không có được một công tử lịch lãm, ngọc thụ lâm phong, phong lưu phóng khoáng, anh tuấn tiêu sái, tuổi trẻ nhiều tiền chứ nhỉ?

Á... thật ra không phải là không có. Nhưng mà cái đám thanh niên phù hợp mấy cái điều kiện trên đều khỏe như vâm, ăn uống ngon lành. Y muốn nhập được vào xác bọn chúng thì còn phải chờ chán.

Khó khăn lắm, mãi đến lần thứ tám y mới may mắn nhập được vào xác của một ngôi sao ca nhạc phong lưu tiêu sái, nổi tiếng khắp Hương Cảng, Đài Loan. Coi như cũng đã thỏa tâm nguyện của y rồi, nói chung cũng xứng để y hưởng nốt hai năm thọ còn lại chứ nhỉ?

Dè đâu... y bỗng dưng lại chết quay về, đừng nói là Thôi phán quan, thậm chí ngay cả Ngưu Đầu, Mã Diện cũng muốn điên lên.

Trịnh Thiếu Bằng lại cảm thấy nhẹ nhõm. Mới sung sướng nhập vào xác ngôi sao ca nhạc vừa mới chết vì bệnh chưa bao lâu thì y đã kinh hoàng phát hiện: không ngờ cái gã thanh niên bảnh bao xinh đẹp khiến cho biết bao thiếu nữ điên cuồng vây quanh kia lại là một gã đồng tính, lại còn là một gã đồng tính tính nữ.

Nhìn những ánh mắt tràn đầy u oán của mấy tay bạn nhảy khôi ngô ngày thường hay quấn lấy y giờ lại bị y từ chối “tiếp xúc”, y như muốn phát điên. "Cái tấm thân tàn hoa bại liễu này... ta đây đường đường thân nam nhi bảy thước (khoảng một mét bảy), chết đói là chuyện nhỏ, mất trinh là chuyện lớn đó!" Trịnh Thiếu Bằng đau đớn thầm nghĩ.

Cho nên... Khi công ty sắp xếp cho y đến Đại Lục để tham gia biểu diễn từ thiện cứu trợ thiên tai, vị ca sỹ nổi tiếng "vừa trải qua một cơn bạo bệnh" này đã "không cẩn thận" mà ngã xuống sân khấu, ót đập vào đá. Thế là hương hồn của y lại u oán trở về địa phủ.

Bên trong đại điện âm ty tĩnh mịch. Xếp trên một chiếc bàn bát tiên đen nặng trịch là một chồng văn thư cao quá nửa người, mà Thôi phán quan lại không thấy đâu. Ngưu Đầu, Mã Diện vô cùng kinh ngạc nhìn khắp tứ phương rồi bước đến chiếc bàn.

Trên chiếc bàn bát tiên phong vị cổ kính có đặt một màn hình trông giống như màn hình vi tính ở nhân gian, dưới gầm bàn ló ra một nửa thân người, dường như có ai đó đang chui vào gầm bàn.

Ngưu Đầu bước lên phía trước, cẩn thận gọi:
- Phán Quan đại nhân, ngài chui xuống dưới gầm bàn để làm gì vậy?

Thôi phán quan bò ra khỏi gầm bàn. Ông ta mặc một bộ quan phục xưa màu đỏ, hai cánh trên chiếc mũ cánh chuồn trông như hai chiếc lá đào (2), hao hao mấy tay tri huyện thất phẩm trên sân khấu kịch; lông mày chữ bát (3), cặp mắt ti hí, khuôn mặt nhỏ nhắn nhăn nhúm như bánh bao, trông hết sức buồn cười.

Thấy bọn chúng, ông ta liền ủ rũ than:
- Ôi chao! Còn không phải là "nhờ" cái hệ điều hành "Uyn-đầu-ết-pi" (Windows XP) này sao? Từ khi sử dụng nó, hiệu suất công tác của địa phủ tăng cao thì có đấy, nhưng cứ vài tháng phải cài đặt lại một lần. Bổn đại nhân bây giờ nhắm mắt cũng có thể thao tác thuần thục từng bước cài đặt rồi.

Càng chán hơn nữa là hệ điều hành lúc thì chết treo, khi thì chết đứng, rồi tự khởi động, bị sự cố mãi không thôi. Nghe đâu cái Luân Hồi điện ở chỗ Hồng Phán quan đã bị rất nhiều âm hồn lợi dụng lỗi của hệ điều hành mà vượt thời không, trốn về thời cổ đại làm ngựa giống (4) đấy. Mấy kẻ đó thật là, có câu “người khôn chọn chỗ cao mà ở”, bọn họ ở kiếp trước cũng chẳng có làm chuyện gì xấu xa, cớ sao lại phải tranh nhau đầu thai đi làm súc sanh chứ? Làm kiếp ngựa đâu có sung sướng gì? Nghĩ mãi vẫn không thông, thật sự nghĩ không thông!

Ngưu Đầu hơi giật giật khóe miệng, muốn cười nhưng lại cố nín: "Thôi kệ, ông ấy tuổi đã cao, không biết ’ngựa giống’ nghĩa là gì thì cũng thông cảm được. Cũng chả tiện giải thích cho ông ấy".

Đoạn gã thay đổi đề tài:
- Hệ điều hành có vấn đề gì vậy, có muốn tiểu thần giúp ngài sửa một chút không?

Thôi phán quan lắc đầu đáp:
- Mấy cái lỗi này không nghiêm trọng. Có điều sau khi khởi động, đèn ổ cứng cứ chớp nháy liên tục cả nửa tiếng rồi mới cho bổn đại nhân sử dụng, khiến bổn đại nhân chờ đến ngủ gục luôn.

Mã Diện lầu bầu:
- Nghe nói mấy cái hệ điều hành sản xuất trong nước của chúng ta không đến nỗi nào mà, cớ sao khi đó phải mời Thành hoàng ngoại quốc về thiết kế chứ. Nghe nói Diêm Vương bệ hạ đang thương lượng với Diêm Vương phương Tây Lucifer bệ hạ, yêu cầu bọn họ phái cái tay thiết kế sư Biu-gây (Bill Gates) đó nâng cấp hệ điều hành càng sớm càng tốt đấy.

Thôi phán quan lắc đầu chán nản:
- Không được! Nghe nói vị Thành hoàng đó đã lên nhân gian nghỉ phép rồi. Sổ sinh tử không có tên ông ấy, kỳ nghỉ lại chưa kết thúc, chẳng ai kiếm được ông ta, nên giờ đành phải ráng chịu khó thôi. À đúng rồi, chẳng phải các ngươi đã xin nghỉ phép rồi sao, còn chạy tới đây làm gì?

Ngưu Đầu gắng gượng cười vài tiếng, đáp:
- Đại nhân, cái tên... cái tên không chịu sống đó lại chết trở về đây rồi. Cho y hưởng thêm ba năm thọ, y mới qua được có một năm mà đã quay về đến chín lần. Ngài thử nghĩ biện pháp gì xem, chứ cứ cái đà này ngộ nhỡ có ngày gặp phải Diêm Vương, bị ngài biết được thì sẽ rất thảm đó.

Nghe xong, da mặt Thôi phán quan lập tức co rúm lại, ông ta vội vàng nhảy bổ đến trước chiếc máy vi tính gõ lách cách một hồi, sau đó trợn tròn mắt nhìn vào màn hình lặng thinh không nói lời nào.

Mã Diện không khỏi khẩn trương, vội vác bộ mặt ngựa của gã đến hỏi:
- Sao thế, có chuyện gì ư?

Thôi phán quan đáp:
- Không có gì, máy vừa mới cài lại xong. Hệ thống thật lắm rác, kiểu này làm CPU chạy chết bỏ luôn, vận hành siêu chậm!

Ngưu Đầu nghe xong gãi gãi sừng không nói gì.

Đợi một hồi lâu, Thôi phán quan chợt biến sắc, sắc mặt biến đến độ trắng bệch trắng xanh. Nếu không phải ông đang mặc bộ quan phục thùng thình đỏ rực thì nhất định bọn Ngưu Đầu, Mã Diện đã tưởng ông ta là một quỷ tù vừa mới vượt ngục, câu lấy hồn quẳng lại vào ngục rồi.

Ngưu Đầu bất giác hồi hộp hỏi:
- Sao vậy đại nhân, chẳng lẽ hệ điều hành đã nhiều rác đến độ không thể chạy được nữa à?

Thôi phán quan cả người run lẩy bẩy, chỉ vào màn hình, than thở:
- Xong rồi, xong hết rồi, "ết-pi" (XP), lần này "lết đi" (5) thật rồi! Trời ơi, sớm biết sẽ như vầy thì lúc trước ta cứ bẩm báo thẳng với Diêm Vương các ngươi làm trái với quy tắc, câu nhầm hồn phách. Như vậy, lão phu đâu đến nổi vì bọn ngươi mà phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác. Lần này thì thảm chắc rồi!

Mã Diện khịt mũi, bực bội:
- Có gì mà thảm chứ, chẳng phải chỉ là một năm trở về tám lần thôi sao? Cùng lắm thì hai năm còn lại quay về mười sáu lần, có sá gì chứ. Để thần xem ai sẽ lì hơn ai.

Mặt như đưa đám, Thôi phán quan đáp:
- Không phải đâu, không phải đâu! Các ngươi nhìn xem, cái tên các ngươi bắt nhầm lần đó đã liên tục chết đến chín lần, mà mỗi lần đều vì làm thiện mà chết, vì vậy... vì vậy...

Thôi phán quan hít sâu một hơi, nghiến răng nghiến lợi nói tiếp:
- Bây giờ hắn đã là cửu thế thiện nhân (người tốt chín kiếp) rồi.

- Cửu thế thiện nhân? Nghĩa là gì?
Ngưu Đầu không hiểu hỏi. Lời của phán quan đại nhân thật quá sâu xa, khiến cho người ta có chút mù mờ.

Thôi phán quan run lẩy bẩy, giải thích:
- Nếu như bây giờ để cho hắn sống lại, rồi hắn lại làm thiện mà chết, vậy thì hắn sẽ là thập thế thiện nhân (người tốt mười kiếp), sẽ vượt ra khỏi sinh tử luân hồi.

Ngưu Đầu càng không hiểu:
- Thập thế thiện nhân? Thoát ra khỏi sinh tử luân hồi? Nghĩa là sao?

Thôi phán quan vỗ đùi nói:
- Chính là... hắn sẽ trở thành Phật.

Ngưu Đầu, Mã Diện đồng loạt há hốc mồm, nghi ngờ:
- Không... phải chứ? Thành Phật dễ như vậy sao?

Thôi phán quan cười khổ mấy tiếng, nói:
- Đôi khi chuyện thành Phật cũng phải có cơ duyên. Ví dụ như Quan Thế Âm Bồ Tát. Cũng vì trong ngày Phật Tổ giảng kinh truyền đạo độ cho chúng đệ tử thành phật, cũng chính là lúc nhân gian gặp phải đại nạn, Bồ Tát phát nguyện: "Chúng sinh bất độ tẫn, thệ bất thành phật!" (nghĩa là “chúng sanh chưa được độ hết thì thề sẽ chưa thành Phật”) mà đã lỡ mất cơ duyên. Mặc dù bà ta thần thông quảng đại còn trên cả chư phật, nhưng vẫn không được xưng là Phật.

Bọn chúng nghe xong không khỏi vỗ tay khen:
- Tấm lòng Bồ Tát thật là tốt, khó trách thế nhân gọi người là đại từ đại bi. Địa Tạng Vương Bồ Tát nguyện: "Địa ngục bất không, thệ bất thành Phật!" (nghĩa là “địa ngục chưa trống thề sẽ chưa thành Phật”) cũng giống như Quan Thế Âm Bồ Tát. Mặc dầu cả hai chưa thành Phật, nhưng trong lòng chúng tiểu thần hai vị đều là Phật thật sự.

Thôi phán quan than thở:
- Đại từ đại bi cũng không cứu được cái họa của bọn ngươi và ta ngày hôm nay đâu. Chỉ vì thói đời bạc bẽo, lòng dạ con người đổi thay, Phật Tổ muốn cải tạo nhân tâm, cho nên ba trăm năm trước tại Linh Sơn ngài đã ban một lời thề lớn. Ngài nguyện rằng nếu người trần có thể kiên trì làm việc thiện trong mười kiếp thì sẽ lập địa thành Phật (6). Nếu như để hắn làm việc thiện mà chết thêm một lần nữa, khi đó hắn sẽ thành Phật. Phật Tổ thần thông quảng đại, tất nhiên lúc đó sẽ nhìn thấu được ẩn tình, đến lúc đó há chẳng phải sẽ lộ ra hết hay sao?!

Ngưu Đầu, Mã Diện nghe xong cũng không khỏi ngẩn người, ngơ ngác hỏi:
- Vậy... vậy phải làm sao bây giờ? Cái tên vô lại chết tiệt này, chúng tôi vì không nỡ để hắn chịu nỗi đau ngã nát người, nhất thời có lòng tốt mà thu trước hồn phách của hắn, ai ngờ sổ sinh tử lại thay đổi bất thình lình chứ? Bây giờ phải làm sao đây?

Đột nhiên, Ngưu Đầu đảo tròn mắt vài vòng, nghi ngờ:
- Không đúng à đại nhân! Lúc cho hắn mượn xác sống lại, vì để bồi thường hết ba năm tuổi trời của hắn, bọn tôi đã hối lộ Mạnh Bà không cho hắn uống canh mà! Cho nên bất luận là hắn có chết bao nhiêu lần đi chăng nữa thì cũng chỉ tính là một kiếp thôi chứ, sao lại biến thành chín kiếp rồi?

Thôi phán quan thở dài nói:
- Lỗi của hệ điều hành...

Ngưu Đầu, Mã Diện ngây người cả nửa ngày trời rồi mới rống lên thảm thiết:
- Ta hận Biu-gây!

Thôi phán quan đăm chiêu đi lòng vòng trong đại điện. Qua một hồi lâu, lão bất chợt nhíu mày, giảo quyệt nhìn khắp chung quanh rồi vẫy bọn Ngưu Đầu, Mã Diện đến trước mặt, vân vê bộ ria chuột, nham hiểm cười nói:
- Khục khục khục, nếu sai sót máy tính của Luân Hồi điện ở chỗ của Hồng phán quan đó có thể khiến cho âm hồn xuyên qua thời không, vậy thì ta lại nghĩ ra được một phương cách. Nếu nghĩ ra được một biện pháp thu xếp cho hắn đi đến thời cổ đại mà mượn xác sống lại thì, hề hề hề...

Ngưu Đầu chớp chớp mắt, lấy làm kỳ quái hỏi:
- Vậy thì sao? Ngộ nhỡ cái tên đểu cáng đó xây một cây cầu, sửa một con đường không cẩn thận lại va đầu lên một hòn đá bé xíu mà chết, vậy chẳng phải hắn cũng sẽ thỏa lời nguyện ”thập thế thiện nhân” sao?

- Hề hề hề...
Thôi phán quan cố sức rặn một tràng cười nham hiểm:
- Phật Tổ nguyện "Thập thế thiện nhân khả dĩ thành phật (làm thiện mười đời có thể thành Phật)" là vào ba trăm năm trước. Nếu như có người đầu thai trước lúc ấy, thì cho dù hắn có chết một trăm lần cũng vẫn không thỏa điều kiện của mười đời thành Phật, ha ha ha...

Ngưu Đầu, Mã Diện nghe xong liền đồng loạt vỗ tay, nham hiểm cười lớn:
- Vậy thì quá tốt rồi! Đại nhân thật không hổ là lão già thành tinh, úi... là lão luyện thành thục...

--------------

(1) Trong truyền thuyết thần thoại của Trung Quốc, sau khi chết âm hồn sẽ phải bước vào Quỷ Môn Quan, đường xuống Hoàng tuyền (suối vàng). Con đường nối giữa Hoàng tuyền và Âm phủ được ngăn ra bởi Vong Xuyên hà. Nước của Vong Xuyên hà có màu vàng máu (huyết hoàng), dưới đó nhung nhúc những cô hồn dã quỷ không được đầu thai, sâu bọ rắn rết, mùi máu thịt tanh tưởi phả vào mặt. Trên Vong Xuyên hà có Nại Hà kiều (có thuyết giải thích: tội nhân đến đó hỏi làm sao để lội qua sông nên mới được gọi là Nại hà), ngồi cạnh cây cầu là một bà lão được gọi là Mạnh Bà. Muốn đi qua Vong Xuyên hà, phải bước qua Nại Hà kiều. Muốn bước qua Nại Hà kiều thì phải uống một bát Mạnh Bà thang (dân gian Việt nam gọi là “cháo lú”). Không uống Mạnh Bà thang thì sẽ không thể qua được cầu, không qua được cầu sẽ không cách nào đầu thai kiếp khác.

(2) xem hình ở http://www.showchina.org/zt/zgfs/sw/200806/W020080630564428827261.jpg

(3) lông mày cụp 八

(4) Ở đây Thôi Phán quan hiểu nghĩa đen của từ "chủng mã" (种马) có nghĩa là "ngựa giống", nhưng nó còn có nghĩa là người nam giỏi về họat động tình dục (bạn tình giỏi). Ý tác giả muốn mỉa mai những bộ truyện trên mạng khác, thuộc thể loại tự sướng, nhân vật thường trở về quá khứ để tán gái, tán đâu được đấy, truyện tả cảnh quan hệ tình dục quá nhiều không khác gì ngựa giống

(5) "岔皮" (xảo bì) vừa có nghĩa là "XP" (phiên âm) cũng có nghĩa như "tao cao" (糟糕), có nghĩa là "hỏng bét", "tiêu rồi".

(6) lập địa thành Phật: trong truyện này có nghĩa là “thành Phật ngay lập tức” (sau mười đời làm việc thiện). Thông thường, “lập địa thành Phật” không có nghĩa là thành Phật tức thời.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180

Tham Gia Dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

TheJoker
01-05-2010, 09:59 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 2 - Lén vượt thời không

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


- Thời cổ đại có người nào mà không phải làm gì hết, chỉ ăn rồi nằm chờ chết hay không?

Ngưu Đầu ngang nhiên đáp:
- Có, vương hầu, căn bản chỉ là một cái máy tạo phân, sâu mọt của xã hội, rất thích hợp với hắn đấy.


--------------

Trịnh Thiếu Bằng bị lôi đến trước mặt Thôi phán quan. Thôi phán quan khẽ vuốt chòm râu, ra vẻ tươi cười hòa nhã nói:
- Trịnh Thiếu Bằng, mặc dù bọn ta đã câu hồn của ngươi sớm mất ba năm, nhưng cũng đã để cho ngươi sống lại, mượn xác những kẻ không giàu thì sang, xem như không phụ ngươi. Thế nhưng ngươi lại cho rằng vẫn chưa đủ, chỉ trong vòng một năm mà đã quay về đến tám lần. Thôi được rồi, đám người hiện đại các ngươi không phải là rất thích vượt thời không trở về thời cổ đại lắm sao? Lúc trước là bổn phán quan đã sai, vậy ta sẽ đưa ngươi vượt thời không quay về thời cổ đại một chuyến, ngươi thấy thế nào?

“Về thời cổ đại?” - Trịnh Thiếu Bằng không khỏi kích động: “Mình chỉ còn có hai năm để sống, đi du lịch về thời cổ đại một chuyến cũng tốt. Tiếc là chỉ có hai năm để sống, không có cơ hội chinh chiến chém giết, hưởng thụ tư vị làm một đại anh hùng. Ừm… phải hưởng thụ cho sướng một phen! Hai năm à… làm Trụ vương hay là Tùy Văn đế? Cái nào cũng rất có diễm phúc à nha. Chọn gái là phải chọn chất chứ không chọn lượng. Còn không thì làm Sùng Trinh cũng tốt, lúc đó có thể thu được Tần Hoài Bát Diễm (1), Hồng nương tử, Trần Viên Viên này nọ.”

Thôi phán quan híp mắt vê râu, gật gù đắc ý nói:
- Trịnh Thiếu Bằng, kiếp này ta để ngươi đầu thai về thời cổ đại, dù gì thì cũng nên kiếm cho ngươi một gia đình thích hợp. Ta hỏi ngươi, ngươi có biết y thuật hay không? Đại loại như là mổ đầu giải phẫu, nghiên cứu bào chế tây dược gì đấy?

Trịnh Thiếu Bằng chỉ nghĩ tới chuyện sẽ hưởng thụ vài năm, nên vừa nghe ông ta nói vậy, liền nghĩ chẳng lẽ lão còn trông đợi ta sẽ tự thân lập nghiệp làm một thần y hay sao? Vì thế y bèn cười nói:
- Không được, nếu như bị nhức đầu sổ mũi bảo tôi tự mình đến tiệm mua thuốc thì tôi còn làm được, chứ ai mà rảnh hơi nhớ cho hết mấy thứ nguyên liệu thuốc thang này nọ kia chứ?

- Hơn nữa tôi cũng chả nhớ nổi mấy cái thuật ngữ khoa học đâu. Còn về phần giải phẩu mổ đầu gì gì đó, ông đừng có giỡn chơi chứ! Thần y Hoa Đà chỉ vì câu nói phải mổ đầu Tào Tháo mà còn bị chém cho bay đầu, tôi cho dù có biết mổ cũng không dám quay về quá khứ mà khoe khoang đâu. Người ở thời đại đó tri thức còn nông cạn, một đại thần y mà bọn họ còn không tin, cỡ tôi mà về đó khoe tài, không bị người ta gán cho là tà ma ngoại đạo đập cho chết tươi mới là lạ đó.

Nghe xong, sắc mặt Thôi phán quan chợt đanh lại. Ông cố áp chế lửa giận trong lòng, làm ra vẻ ôn hòa nói:
- Hành y là để cứu thế. Làm hạnh lâm quốc thủ (2) mặc dù nở mày nở mặt, thế nhưng… Thôi, không làm thì không làm! Ta lại hỏi ngươi, có biết chế tạo hỏa dược, nghiên cứu chế tạo vũ khí hiện đại không? Chém tướng đoạt cờ, kiến công lập nghiệp cũng là lạc thú của nhân sinh đấy.

Trịnh Thiếu Bằng đáp:
- Hỏa dược hả… tôi nhớ mang máng là phải dùng diêm tiêu (3), lưu huỳnh, rồi còn có một thứ gì chẳng nhớ nữa, phải than củi không ta? Còn về tỷ lệ thì lại càng không nhớ nổi. Nobel là chuyên gia về thuốc nổ mà khi nghiên cứu thứ này còn bị nó nổ cho cụt tay cụt chân, để một thằng gà mờ như tôi đây đi nghiên cứu cái quỷ đó, vậy còn không phải là chê đời quá dài kêu tôi thắt cổ tự tử đi cho rảnh hay sao?

- Còn về phần vũ khí hiện đại… trước tiên ông đưa tôi đến xưởng chế tạo vũ khí học hỏi vài ba năm đi! Rồi sắt thép cổ đại cũng không phù hợp với tiêu chuẩn, dù có nghiên cứu được súng thì lúc bắn chắc cũng nổ gãy nòng ấy chứ! Cho nên ông phải đưa tôi đi học vài năm để biết khai khoáng như thế nào, luyện thép ra làm sao, rèn đập như thế nào, chế tạo máy móc sao cho tốt trước cái đã. Ước chừng trình độ cỡ công nhân kỹ thuật không được đâu, làm sao cũng phải rèn luyện đạt tới trình độ công trình sư may ra mới được à! Không những vậy, mấy cái quy trình của công nghiệp hiện đại thì mấy cái công xưởng chế tạo nho nhỏ cũng không thể làm được đâu nhé. Trở về thời cổ đại, lực lượng sản xuất cùng với năng lực khoa học kỹ thuật của cả xã hội đều không đạt yêu cầu. Đã không có kỹ năng giết rồng, mà thế gian cũng chẳng có rồng (4), vậy chẳng phải là nói xàm hay sao?

Ngưu Đầu nhịn không nổi trợn trừng mắt, gắt gỏng:
- Thật đúng là vô dụng. Vậy kiếm thứ gì đơn giản chút đi. Ngươi biết ủ rượu không? Biết chế tạo ra pha-lê không? Thần y, anh hùng ngươi không làm được, vậy thì làm một đại phú thương cũng không tệ đâu!

Trịnh Thiếu Bằng nhơn nhơn:
- Ủ rượu… không biết. Nhưng mà tôi biết uống, tôi cảm thấy rượu Hồng Tinh Nhị Oa Đầu (5) uống ngon hơn rượu Mao Đài, mà lại không gây váng đầu nữa… Ông trừng mắt cái gì mà trừng! Ông đi mà hỏi xem có bao nhiêu người thật sự biết làm cái thứ quỷ này? Còn về phần pha-lê… tôi chỉ biết là nó được luyện từ cát, còn những thứ khác thì đều không biết.

- Ơ, ngó cái gì? Cho dù là công nhân xưởng pha-lê thì cũng chỉ thạo một công đoạn thôi cơ mà? Có điều tôi lại biết có loại pha-lê được gọi là pha-lê thép (sợi thủy tinh, fiberglass reinforced plastic), có loại pha-lê được gọi là pha-lê đường hóa được sử dụng trong kỹ xảo điện ảnh, có thể ông cũng chẳng biết. À… Không biết nếu đem mấy cái ý tưởng này cung cấp cho mấy tay thợ thủ công chế tạo ngói lưu ly thì bọn họ có thể sáng chế ra được không ta?

Khuôn mặt vốn đã dài của Mã Diện càng dài ra, gân xanh trên trán cũng đều bắt đầu nổi vồng. Hắn cố nén giận nói:
- Văn cũng không biết, võ cũng không thông, tay chẳng thể nâng, vai không thể gánh, ngươi nói xem ngươi làm được cái gì hả? Ngươi hễ mở miệng ra… mở miệng ra… À đúng rồi, thế đầu thai vào nhà quan lại thế gia thì sao? Tối thiểu ngươi cũng biết không ít về chế độ xã hội hiện đại, tùy tiện nêu ra mấy điểm cũng đều là những thay đổi cực kỳ tiến bộ và cách mạng trong thời cổ đại rồi. Làm một bề tôi giỏi giúp vua trị nước cũng không phải là tệ.

Trịnh Thiếu Bằng bĩu môi:
- Mã Diện huynh, không phải huynh muốn được gặp tôi thường xuyên mà đưa ra chủ ý này đó chứ?

Mã Diện ngơ ngác hỏi:
- Tại sao?

Trịnh Thiếu Bằng nói:
- Cải cách chính trị thời cổ đại tôi nhớ không nhiều, nhưng lại nhớ có một người tên là Thương Ưởng (6), rất được sự ủng hộ của vua. Tiểu tử này cũng chẳng thực hiện cải cách gì lớn lao, cũng chỉ là khuyến khích một chút cày cấy và dệt may, loại bỏ một chút đặc quyền thừa kế của quý tộc, phải dựa vào công trạng lớn nhỏ mà ban thưởng này nọ. Kết quả là gã ta bị cả một giai cấp thống trị cực lực phản đối, lôi đi cho ngũ mã phanh thây.

- Cái ông Vương An Thạch thời Tống triều còn tệ hơn, chẳng phải là chỉ cải tiến một chút từ chế độ sẵn có thôi sao? Yêu cầu xúc tiến phát triển thương nghiệp, đề cao sức chiến đấu của quân đội, cải tiến một chút về chế độ thi cử. Chỉ có mấy cái thay đổi nhỏ nhặt không đáng kể như vậy, đường đường lại là một viên tể tướng, sau lưng còn có hoàng thượng chống lưng, vậy mà vẫn làm không xong. Mặc cho ông ta ở trên ra sức hô hào cải cách, quan lại địa phương ở bên dưới căn bản không thèm nghe theo, hết đám này đến đám khác đều không chịu thực hiện, kết quả là ông ta bị bãi quan hai lần, uất ức ôm hận mà chết.

- Huynh nói xem, những thứ này chẳng qua chỉ là những tư tưởng cỏn con mà các chính trị gia vĩ đại trong lịch sử còn không sử dụng được. Tôi, một người căn bản chẳng hề biết gì về giai cấp thống trị và chế độ cổ đại, lại đi nói lung tung mấy thứ chế độ hiện đại gì đó, chưa nói là có phù hợp với nhu cầu phát triển lực lượng sản xuất thời đó hay không, chỉ sợ vừa mới phát biểu cái ý thức vượt thời gian này thì sẽ liền khiến cho phe cải cách giống như bọn Thương Ưởng, Vương An Thạch đều biến thành phe bảo thủ, còn người bị ngũ mã phanh thây lại biến thành thằng tôi. Ái chà, căn bản chỉ là những lời nói suông, nói suông không những hại nước mà còn hại luôn cả tôi đó nha!

Thôi phán quan nhìn chằm chằm vào cái tên phế vật cứ thao thao bất tuyệt này hơn nửa ngày trời rồi đành bất đắc dĩ hỏi:
- Thế… ít ra thì ngươi cũng biết được dòng chảy của lịch sử, ai đắc thế ai thất thế, hẳn cũng phần nào biết mấy thứ này chứ? Kiếm một cây to mà bám vào cũng sẽ có thể sống an nhàn cả đời rồi.

Trịnh Thiếu Bằng lắc đầu quầy quậy:
- Không được đâu, không được đâu! Tôi biết được chút chút về lịch sử thì tính là gì chứ? Dù biết rõ Tần Thủy Hoàng chắc chắn sẽ có được thiên hạ đấy, nhưng ông không có tài cán gì, lại nhảy vào nói rằng hắn có thể thâu tóm được thiên hạ, rằng ông nhất định sẽ trung thành với hắn thì người ta sẽ nuôi ông chắc?

- Tôi còn biết nhà Đường có Lý Thế Dân, bên dưới có Lý Tịnh, Ngụy Trưng (còn gọi là Ngụy Chinh), còn như Trình Giảo Kim thì chả biết là có thật trong lịch sử hay chỉ là nhân vật được bịa ra trong tiểu thuyết. Nhà Tống thì biết có Khấu Chuẩn, về sau mới biết là ông ta chẳng phải nghèo rớt mùng tơi gì, trong nhà chất đầy của cải. Trung thần thì trung thần, nhưng mà hủ bại quá, tính hạn chế của lịch sử mà.

- Càng đáng sợ hơn nữa là, chiếu theo những mô tả về tính tình và cách đối nhân xử thế của bọn họ trong lịch sử hoặc là những câu truyện trong sách, nếu mà dựa dẫm vào bọn họ thì chỉ e mình chết lúc nào cũng không hay. Kiếp vừa rồi tôi là ca sỹ, diễn vai phụ một vở kịch truyền hình, có nghe một nhà sử học được mời đến kể rằng, trong lịch sử có đại gian thần tên là Nghiêm Tung (8), làm thủ phụ (9) hơn chục năm trời, đến cuối đời tài sản bị tịch biên còn không bằng một phần tư của vị đại thanh quan Từ Giai (10) làm thủ phụ trong sáu năm trước hắn nữa, mà hai người này trước khi làm quan đều là có cùng chung điểm xuất phát.

- Bà vợ của Nghiêm Tung quản con rất nghiêm. Nghiêm Thế Phiên cũng không phải là loại nhân vật như Cao Nha Nội (11) trong tiểu thuyết. Lão Nghiêm đối phó với địch thủ chính trị thì chỉ đẩy cho ngã rồi thôi. Mà mấy vị thủ phụ Từ Giai, Cao Củng (12) thì toàn đẩy cho chết mới thôi, nhưng mà mấy người này lại được chết già nha. Người viết sử không dám không lưu lại cho bọn họ mấy phần thể diện. Ai bảo Nghiêm Tung là bị chém đầu chết chứ? Ôi dào, là sách sử hại chết người rồi.

Thôi phán quan giận run cả người, ánh mắt thiếu điều muốn phun lửa, mãi một lúc sau lão mới cất giọng giần giật hỏi:
- Vậy… vậy ta đưa ngươi về thời Tống hoặc thời Nguyên thì thế nào? Tìm bản Cửu Dương thần công hay là Độc Cô Cửu Kiếm gì đó rồi làm một vị đại hiệp nha!

Mặt Trịnh Thiếu Bằng đầy vẻ vô tội, y than thở:
- Lúc đọc truyện tôi đâu có tìm hiểu kỹ, mà lão Kim thì lại không vẽ bản đồ trong đó, ngọn núi Côn Lôn lớn như thế tôi biết leo lên đâu mà tìm? Chỉ nhớ Trương Vô Kỵ bị người ta truy đuổi, sau đó rơi xuống vách núi rồi phát hiện được Cửu Dương chân kinh. Làm sao tôi có thể buộc dây thừng vào từng vách núi mà đi tìm chứ? Kiểu này nếu tôi không bị đứt dây thừng té chết, thì cũng sẽ bị rắn rết dã thú cắn chết. Cho dù có thật sự tìm được đi, ông tưởng đó là truyện tranh à? Bí kíp võ học đẳng cấp cao nhất cũng giống như mấy giáo trình đại học vậy đó, chắc chắn sẽ không có phần mở đầu giới thiệu những kiến thức cơ bản, bộ tôi xem là hiểu được hay sao? E rằng sẽ bị tẩu hỏa nhập ma, không chết thì cũng phát điên.

Nước bọt văng tung toé, miệng liến thoắng đầy tự tin, y tiếp:
- Vả lại tôi là thứ gì? Cho dù tìm được Phong Thanh Dương thì lão ta sẽ bằng lòng dạy võ cho tôi chắc? Cái lão già đó trốn ở trong núi mấy chục năm không hề thu đồ đệ. Lúc lão ấy thu cái tên Lệnh Hồ Xung, ông thực sự cho rằng lão đó vĩ đại vậy sao? Ai mà chẳng biết “nước tốt không để chảy ruộng ngoài” chứ, tốt xấu gì thì hắn cũng là đệ tử phái Hoa Sơn của lão, còn được lão quan sát rất lâu cơ mà. Tôi mà không quen biết gì người trong võ lâm thì thôi không nói. Nếu không hả, Phong Thanh Dương còn chưa thu nhận, tôi đã bị Điền Bá Quang tóm đi làm dâm tặc rồi.

Lỗ mũi trâu của Ngưu Đầu xịt cả khói, gã nghiến răng nghiến lợi mắng:
- Ngươi quả là thiên hạ đệ nhất đại phế vật, vô sỉ cực độ, thật làm mất hết mặt mũi người hiện đại!

Không cảm thấy hổ thẹn mà ngược lại còn tự hào, Trịnh Thiếu Bằng dương dương đắc ý:
- Không phải vậy sao? Cường đại như Mãn Thanh tiến vào Trung Nguyên còn bị người Hán với nhân số chiếm đa số tuyệt đối đồng hóa, chỉ một tên vô danh tiểu tốt đơn phương độc mã chạy về thời cổ đại lại vọng tưởng có thể thay đổi cả một thế giới sao? Chắc chắn sẽ bị đồng hóa thôi. Người hiện đại bộ giỏi lắm hay sao? Các môn, các ngành, các sự phân công lao động trong xã hội hiện đại đều được phân chia rõ rệt đến nỗi mỗi một cá nhân chỉ biết thực hiện mà không thực sự hiểu thấu được nguyên do ngọn ngành, ai cũng như là ếch ngồi đáy giếng, đem về thời cổ đại có thể dùng được à? Còn về phần mấy cái tư tưởng hiện đại, mang đến thời đó căn bản sẽ chỉ là mầm họa gây ra rắc rối, có cũng như không mà thôi!

Thôi phán quan cũng tức giận đến hoa cả mắt, hết cách đành quay đầu sang Ngưu Đầu hỏi:
- Thời cổ đại có người nào mà không phải làm gì hết, chỉ ăn rồi nằm chờ chết hay không?

Ngưu Đầu ngang nhiên đáp:
- Có, vương hầu. Làm hoàng đế còn phải lao tâm cho quốc sự, làm một vương hầu là tốt nhất, không phải quản chuyện gì, ngược lại muốn quản thì nhiều khi sẽ xảy ra chuyện. Dù gì cũng là hoàng thân quốc thích, ăn không rồi chờ chết là được, căn bản chỉ là một cái máy tạo phân, sâu mọt của xã hội, rất thích hợp với hắn đấy.

Trịnh Thiếu Bằng nghe xong liền suy nghĩ: “Ừm! Vương gia cũng không tệ, khi không có gì làm thì dắt mấy tên cẩu nô tài đi trêu ghẹo con gái nhà lành một chút. Làm hôn quân… tốt thì có tốt, có điều lại bị người đời chửi mắng mấy ngàn năm. Làm vương gia được đấy!”

Thôi phán quan thoáng cười khổ. Lão hiện giờ chỉ muốn mời cái vị đại gia này mau mau đi dùm, có điều ngẫm lại, tống bừa hắn về thời cổ đại cũng không dễ. Nếu như hắn chưa chịu sống yên ổn được hai năm mà lại chết đi thì sẽ rất phiền phức. Vì vậy lão bèn nghiêm mặt, nói:
- Được, vậy cứ đưa hắn đi đầu thai mượn xác làm một vương hầu đi! Có điều hai năm này ngươi nhất định phải làm vương hầu cho yên ổn, đừng có đem phiền phức đến cho ta nữa! Bằng không… Hừm! Bản quan mà gặp lại ngươi sẽ đá ngươi bay về thời cổ đại cho làm một vị quan còn lớn hơn cả vương gia nữa đấy.

Trịnh Thiếu Bằng vừa nghe xong, mặt mày rạng rỡ hỏi:
- Ông muốn để tôi làm hoàng thượng hả?

Thôi phán quan sầm mặt:
- Giờ thì chưa, nhưng ngươi mà dám chết trở về lần nữa, ta sẽ “mời” ngươi đi làm Cửu thiên tuế (13) đó!

Trịnh Thiếu Bằng nghe xong lạnh cả sống lưng, vội vàng phản đối:
- Không cần đâu, không cần đâu, làm Vương gia là tốt lắm rồi! Tôi… à, bổn vương đã thỏa mãn rồi. Ơ, tôi còn chưa nói xong mà, hai vị huynh đài làm cái gì vậy?

Ngưu Đầu Mã Diện mặc kệ, cứ túm lấy y lướt ra khỏi U Minh đại điện, phóng như bay qua cầu Nại Hà, lao vào trong biển mây mênh mông.

Lục đạo luân hồi là một bánh xe khổng lồ cao ba tầng đang chậm rãi chuyển động, bề mặt bánh xe được khắc bốn chữ lớn “Chuyển Luân Thánh Vương” màu vàng rực rỡ, bên trên là bức tượng “Tam Thế Phật” bằng vàng. Khuôn mặt của vị Phật này xấu xí kỳ quái, đầu xù răng nhọn, chân đạp đầu ngao (14), miệng ngậm vành bánh xe, hai tay ôm ghì bánh xe, nghiến răng bặm môi như muốn biểu thị thần lực của ngài cũng không thể xoay chuyển được “nghiệp lực” (15) của nhân sinh.

Bên trong bánh xe phát ra sáu đạo hào quang chiếu thẳng ra bên ngoài, chia bánh xe ra làm sáu phần, lần lượt là: thiên đạo, nhân đạo, a tu la đạo, súc sinh đạo, ngạ quỷ đạo, địa ngục đạo.

Quả nhiên công phá pháo đài dễ nhất là từ bên trong. Ngưu Đầu Mã Diện tìm một cớ gạt cho tên quỷ sứ đang canh gác đi khỏi, sau đó lập tức chạy đến phía trước phần nhân đạo, cẩn thận quan sát một chút rồi chầm chậm quay bánh xe thời gian ở tầng thứ hai của bánh xe khổng lồ. Cái pháp luân này quả là kỳ diệu, bánh xe thời gian vừa xoay, bánh xe thân phận của tầng thứ ba cũng theo đó hiện lên nhiều loại thân phận của xã hội đương thời. Ngưu Đầu Mã Diện quay cho bánh xe ở tầng thứ ba chỉ đến vị trí của Vương hầu.

Tám lần thất bại trước đều là do Ngưu Đầu Mã Diện đích thân dẫn y đến nhân gian tìm người thích hợp để mượn xác, lần này lại thông qua pháp luân của lục đạo luân hồi để chuyển thế. Liệu cái pháp luân này có phải là vật chí bảo trong phật môn quyết định vận mệnh họa phúc của một đời người?

Cảm thấy mới lạ, Trịnh Thiếu Bằng không kềm được chạy lên phía trước ngó một chút, khi thấy quả nhiên đang chỉ ở ngay vị trí của vương hầu, trong lòng không khỏi mừng rỡ.

Không ngờ, bởi vì y là linh thể (thân thể của linh hồn), mà Ngưu Đầu, Mã Diện cũng là linh thể, y không kềm được nóng lòng chạy lên nhìn đã đụng vào khuỷu tay của Ngưu Đầu, làm cho bánh xe thời gian khẽ dịch đi một chút, thế nhưng ba người đều không ai để ý.

Chỉ nghe “cách” một tiếng, chuyển thế pháp luân đã dừng lại. Sáu đạo hào quang chiếu ra từ trong bánh xe bỗng nhiên sáng rực một màu vàng, từ từ ngưng lại thành một chùm. Chùm tia sáng xoay tròn chiếu vào người Trịnh Thiếu Bằng. Thân thể của y bị vô số những tia sáng chiếu xuyên qua khiến cho trở nên gần như trong suốt. Ngay sau đó, hai chân y rời khỏi mặt đất, cả thân người thu nhỏ lại, lao đầu vào chùm ánh sáng vàng, trong nháy mắt đã không còn thấy đâu.

Ánh kim quang đọng lại trong phút chốc rồi tan thành sáu đạo hào quang, pháp luân chầm chậm chuyển động trở lại. Ngưu Đầu, Mã Diện vỗ tay cười lớn. Đang cười, Ngưu Đầu đột nhiên khựng lại, cặp mắt trâu chăm chú nhìn Mã Diện:
- A, hiền đệ!

- Chuyện gì vậy niên huynh (người bạn lớn tuổi hơn, giống như hiền huynh)?

- Mã hiền đệ có nhớ hắn vừa mới đầu thai vào thân xác của người nào không?

- Việc này… niên huynh không nhớ sao?

- Ài… hình như bọn mình lại phạm sai lầm nữa rồi… Lần này là vượt thời không, bọn mình không thể đích thân đưa hắn đi. Nếu như hắn không muốn chết, còn cái người mà hắn mượn xác đó lại bởi vì đã chết từ sớm nên đã đóng tài khoản ở âm ty rồi, vậy thì bọn mình biết đi đâu để câu hồn phách của hắn đây?

Mã Diện rụt cổ lại:
- Vậy… a hèm… Hiện giờ ở dưới âm gian cũng tổ chức điều tra nhân khẩu mà. Ai thọ trên một trăm thì Âm ty sẽ lập danh sách đăng ký để giám sát, cho nên hẳn sẽ không có chuyện lọt lưới mấy con cá lớn như Bành Tổ (16) đâu!

- Nói vậy có nghĩa là…

- À? Có nghĩa là gì hả? Không bằng chứng, ai dám nói là bọn mình đưa hắn vượt thời không chứ? Hề hề hề, kẻ đáng lẽ chỉ được sống hai năm mà lại sống quá trăm tuổi, đến lúc đó đã thay đổi nhân sự, người nào mà còn điều tra ra được ai đã làm chứ? Rõ ràng cái tên tiểu tử đó cũng chỉ là một trong số những kẻ lén vượt thời gian mà thôi.

- Đúng đúng đúng, kẻ nào chết kẻ đó tự chịu, chẳng liên quan cái rắm gì đến bọn mình. Ha ha ha… Mã hiền đệ, hôm qua vi huynh (xưng anh một cách khiêm tốn, giống như “ngu huynh”) có kiếm được một vò rượu ngon, ta mời đệ đi nhấm nháp một chút…

Nói đoạn Ngưu Đầu, Mã Diện cùng quàng vai bá cổ bỏ đi.

--------------

(1) Thời Minh - Thanh phân tranh, nổi lên 8 vị mỹ nữ văn hay chữ tốt, cầm kỳ thi họa đều tuyệt, được mệnh danh là Tần Hoài Bát Diễm, bao gồm:

Phong lưu nữ hiệp Khấu Bạch Môn
Trường trai tú phật Biện Ngọc Kinh
Hiệp cốt phương tâm Cố Mi Sanh
Diễm diễm phong trần Đổng Tiểu Uyển
Phong cốt tằng tuấn Liễu Như Thị
Hiệp can nghĩa đảm Lý Hương Quân
Khuynh quốc danh cơ Trần Viên Viên
Linh tú đa tài Mã Tương Lan

Có thể xem thêm thông tin ở đây:
http://www.vietkiem.com/forums/index.php?showtopic=21363

(2) Nhà Ðường cho các học trò đỗ tiến sĩ vào ăn yến ở vườn hạnh (hạnh viên 杏園) nên tục mới gọi các người đỗ là hạnh lâm 杏林. Quốc thủ có nghĩa là danh thủ quốc gia. Câu này muốn nói đến người học cao chức lớn.

(3) Ni-trát ka-li (KNO3). Chất trong suốt, đốt cháy rất dữ dội, dùng làm thuốc súng, thuốc pháo và nấu thủy tinh.

(4) Ý muốn nói là hắn không biết làm, mà nếu có biết thì điều kiện của xã hội cổ đại cũng không đủ cho hắn làm.

(5) Rượu Sao Đỏ, một loại rượu mạnh không màu được chưng cất từ lúa miến sản xuất ở Trung Quốc, sở dĩ có tên là Nhị Oa Đầu là vì nó được chưng hai nước.

(6) Thương Ưởng hay Thương Quân (390 - 338 trước CN), tên thật là Công Tôn Ưởng, sau đổi thành Vệ Ưởng là người nước Vệ (cái tên Vệ Ưởng xuất phát từ tên nước Vệ), làm thừa tướng nước Tần dưới thời vua Tần Hiếu Công. Ông là một chính trị gia xuất sắc theo đường lối của Pháp gia, có công lớn giúp Tần Hiếu Công làm nên nghiệp bá. Ông được phong mười lăm ấp ở đất Ư, đất Thương, phong hiệu là Thương Quân nên gọi ông là Thương Ưởng.

(7) Khấu Chuẩn (Hán tự:寇準, sinh 961, mất 24 tháng 10, 1023) tên chữ Bình Trọng (平仲), quê ở Hoa Chân, là một nhân vật nổi danh đời Tống, từng làm đến chức quan tể tướng. Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Khấu_Chuẩn

(8) Nghiêm Tung (1480-1567): quyền thần triều Minh, thích nịnh nọt cấp trên, trộm quyền đọat lợi, chuyên quyền chính quốc trong suốt gần 20 năm. Về cuối đời, vì chọc giận Thế Tông, bị Thế Tông xa lánh, tịch biên cách chức, mấy năm sau thì chết.

(9) Tương đương với thủ tướng bây giờ.

(10) Từ Giai (1503-1583): vị quan thời Minh cùng làm chung với Nghiêm Tung, được tiến cử làm lễ bộ thượng thư. Nhờ biết đối đãi cẩn thận, lại biết lựa ý mà hùa theo ý của vua, cho nên giữ vững được ghế.

(11) Cao Nha Nội trong Thủy Hử (Thi Nại Am, có người cho rằng của La Quán Trung) là con nuôi Cao Cầu. Có một ngày Lâm Xung đưa vợ là Minh Châu đi chùa, trong lúc đang cúng bái thì Minh Châu bị Cao Nha Nội giở trò sàm sỡ, bị Lâm Xung bắt gặp điên tiết cho vài đấm. Tên tiểu tử này ôm hận trong lòng về kể cho cha nuôi hắn. Sau đó Cao Cầu cùng Lục Khiêm bàn mưu tính kế hãm hại Lâm Xung để trả thù.

(12) Cao Củng (1512-1578): là một chính trị gia có tài vào giữa thời Minh.

(13) Ngụy Trung Hiền (1568-1627) là một trong những đại hoạn quan nổi tiếng nhất và nhiều quyền lực nhất trong lịch sử Trung Quốc. Ông ta là người cầm đầu “đảng hoạn quan” dưới thời Minh Hy Tông trong việc lũng đoạn triều chính, thâu tóm mọi quyền lực trong tay, đồng thời tiêu diệt tất cả những người không cùng phe cánh với mình một cách không khoan nhượng. Vương triều Minh dưới thời Hy Tông suy tàn một cách trầm trọng một phần lớn là do Ngụy Trung Hiền. Do bên trong sinh từ (đền thờ người còn sống) thờ tượng của Ngụy Trung Hiền, ai đi qua cũng phải lậy 5 lậy, hô to “9900 tuổi” (thua vua, “Vạn tuế”), cho nên ông ta tự xưng là “Cửu thiên tuế”.

(14) Ngao (鳌): ba ba khổng lồ trong truyền thuyết, một trong chín con của rồng.
Xem hình: http://img.jiaodong.net/pic/0/10/06/51/10065190_052383.jpg

(15) Nghiệp (Karma) là tư tưởng, lời nói, việc làm, thường khởi xuất do “ý muốn làm” tạo động cơ (tác ý). Theo Phật nói, nghiệp là thứ sẽ luôn đi theo ta không chỉ một đời này mà còn những đời sau.

(16) Bành Tổ là một nhân vật trong truyền thuyết Trung Hoa, được cho là sống lâu đến ngàn tuổi.

Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

TheJoker
02-05-2010, 01:01 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 3 - Chết đi sống lại

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Trịnh Thiếu Bằng định thần lại: “Ôi trời… chẳng lẽ… chẳng lẽ mình đã chuyển thế vào một tên vương gia mù?”


--------------

“Lạnh quá!” - Trịnh Thiếu Bằng khẽ cựa mình tỉnh lại. Ký ức ở tiền thế của y trong lần chuyển kiếp ngược thời gian lần này đã trở nên mơ hồ hơn. Những ký ức của tám lần chuyển thế trong năm qua và những trải nghiệm ở tiền thế trước đó cùng lẫn vào nhau khiến cho y không thể nào phân biệt được cái nào là những trải nghiệm ở tiền thế, cái nào là trải nghiệm của những lần chuyển thế sau đó. Hết thảy những ký ức đều như một đám mây lơ lửng trên bầu trời, lúc ẩn lúc hiện, không thể chạm tới, tựa như một giấc mộng hoang đường.

“Ngưu Đầu Mã Diện cứ vội vội vàng vàng lôi mình đi cứ như là tống khứ Ôn thần (1), cũng không biết đây là cái thời đại nào nữa. Tuy nhiên bọn họ có nói sẽ đem mình nhập xác sống lại làm vương hầu, vậy người mà mình nhập vào hẳn là một vị vương hầu rồi.”

“Nhưng mà nơi này là nơi nào? Sao tối tăm, lạnh lẽo thế?” - Trịnh Thiếu Bằng yếu ớt đưa tay mò mẫm. Trên người y phủ một lớp chăn mỏng, có vẻ như trời đang vào tiết đông, sự âm u giá rét tràn ngập không khí.

Đang muốn tìm hiểu chỗ ở của mình, Trịnh Thiếu Bằng chợt nghe thấy ba tiếng “tóc tóc tóc” của mõ trúc lanh lảnh vang lên, tiếp theo có người lớn tiếng hô to:
- Có khách đến… Ơ kìa, Dương lão thái gia, lão nhân gia ngài sao lại đến đây? Dương tú tài là vãn bối hậu sinh, không đáng để ngài làm như vậy đâu!

Trịnh Thiếu Bằng định thần lại: “Dương lão thái gia? Đây là kiểu xưng hô gì vậy? Bên cạnh náo nhiệt nhưng sao mình lại chỉ thấy tối thui thế này? Ôi trời… chẳng lẽ… chẳng lẽ mình đã chuyển thế vào một tên vương gia mù?”

Chỉ nghe thấy một thanh âm già nua ho mấy tiếng rồi nói:
- Chao ơi! Một nhà này của lục đệ xem như là đã tuyệt rồi, ta có thể không ghé qua một chút hay sao? Lăng nhi là nhân vật hiếm thấy của nhà họ Dương chúng ta đấy. Vị huynh đệ này của ta đến năm mươi bốn tuổi mới có độc một mụn con là đứa này, mà thằng nhỏ mới mười bảy tuổi đã trở thành tú tài trẻ tuổi nhất của Tuyên phủ chúng ta. Vốn còn muốn dựa vào nó để cho nhà họ Dương chúng ta được rạng rỡ tổ tông, vậy mà… Than ôi!

Loáng thoáng còn có cả tiếng khóc thút thít của con gái. Trịnh Thiếu Bằng có chút mơ hồ: “Rốt cuộc chuyện này là sao? Mặc dù chưa từng quay về thời xa xưa, nhưng mà mấy cái giọng điệu này nghe không giống với vương hầu thế gia à.”

Trước mắt vẫn tối đen như mực. Y sốt ruột muốn đứng lên, thế nhưng cái xác vừa mới nhập vào còn trong quá trình hồi phục, máu huyết trong chân tay tê cóng mới vừa bắt đầu lưu thông, cho nên trong một thời gian ngắn sẽ không đủ sức lực nâng người dậy. Cũng may là đã mấy lần làm hồn Trương Ba mượn da hàng thịt nên cũng quen; ở mỗi lần chiếm xác sống lại, lúc mới bắt đầu khống chế thân thể đều yếu đuối như vậy, cho nên y vẫn nhẫn nại nằm yên tại chỗ tích tụ sức lực.

Cái họng to ấy lại hô lên:
- Lão thái gia, mời ngài ngồi bên này! Các vị thân hữu hãy làm lễ!

Lập tức trong căn nhà vừa rồi hãy còn yên tĩnh đã trở nên ầm ĩ như có núi lở, khiến Trịnh Thiếu Bằng giật cả mình. Mới nãy trong phòng còn yên ắng tĩnh mịch, như thể chỉ có dăm ba người, đến khi một trận gào khóc như sói tru quỷ hú của của cả nam lẫn nữ vang lên, Trịnh Thiếu Bằng mới hiểu ra trong nhà vốn đã có nhiều người. Mấy lần chuyển thế trước cũng có khi nhằm ngay lúc mọi người trong nhà đang khóc lóc, nhưng chưa bao giờ tối thui đến nỗi xòe bàn tay không thấy ngón cả. Trịnh Thiếu Bằng chớp chớp mắt, mặc dù vẫn không trông thấy gì, nhưng trực giác cho thấy cặp mắt y không hề khuyết tật, thế nên trong lòng cũng có chút an ủi.

Chỉ nghe đám người đó kêu gào khóc lóc cái gì mà “đại huynh đệ ơi! Ngươi còn trẻ mà sao đi sớm quá vậy”, “Lăng huynh đệ ơi, sao ngươi lại chết như vậy chứ!” loạn cả lên, cũng chẳng biết cái đám người đó có quan hệ họ hàng thân thích gì với người chết hay không nữa.

Trịnh Thiếu Bằng nghe thấy chỉ muốn cười, khóc thật khóc giả cũng đã nghe chẳng phải lần một lần hai. Có điều ở thời hiện đại còn biết kềm chế, còn bây giờ nghe bọn họ hô khóc là khóc ngay, cứ như đang diễn kịch vậy, rất tức cười.

Cái giọng nói ồm ồm ấy lại hô lớn:
- Khách nhân đã làm lễ xong, thân nhân trả lễ nào!

Giọng nói vừa cất lên, những tiếng khóc lóc hỗn loạn lập tức im bặt, im đến nỗi có thể nghe được cả tiếng kim rơi. Thật không thể đoán được làm sao bọn họ có thể đồng diễn một cách thuần thục đến như vậy.

Tiếp đó chỉ nghe thấy giọng đau thương của một người con gái khẽ nói:
- Vị vong nhân (2) Dương Hàn Thị đa tạ lão thái gia, đa tạ các vị thân bằng hảo hữu!

“Vị vong nhân?” - Trịnh Thiếu Bằng nhíu mày: “Chắc hẳn những người này chính là khóc cho mình. Thế thì tốt, thậm chí vợ cũng đã cưới rồi. Nhưng mà… tại sao lại tối om thế này? Phúng điếu thì cũng không có lý gì mà phải tối như bưng chứ nhỉ?”

Đột nhiên y sực nghĩ đến cái gì đó, vội vã đưa tay ra sờ chung quanh.

Chân tay vừa mới cử động được, mặc dù còn yếu ớt chưa thể dùng sức, nhưng khi ngón tay vừa chạm vào vật ở chung quanh, trong lòng y liền có chút minh bạch. Thì ra là y đã bị bỏ vào trong quan tài.

“Trời ạ, một chốc nữa đây không phải sẽ bị chôn sống chứ?” - Lúc này Trịnh Thiếu Bằng đã bắt đầu trở nên sốt ruột, nhưng vì hiện giờ toàn thân của y đều vô lực nên cũng không biết phải làm sao.

Tiếp theo chỉ nghe cái giọng ồm ồm lúc nãy lại hô lớn:
- Các vị thân bằng hảo hữu ở trước linh cữu hãy chia buồn tiễn đưa thêm một chặng nữa nào!

Lời vừa mới dứt, những tiếng gào khóc thảm thiết lại vang lên. Lúc này âm thanh nghe đã gần hơn, đoán chừng là cả bọn đều đã vây trước linh cữu mà khóc.

Thừa cơ, Trịnh Thiếu Bằng cố gắng đưa tay gõ vào quan tài, nhưng vì chân tay vẫn còn hơi cứng nhắc, mới gõ nhẹ có mấy cái y đã cảm thấy đau muốn ngất đi. Mấy tiếng gõ yếu ớt này bị tiếng khóc rống của bọn người kia át hẳn. Không còn cách nào khác, y buộc lòng phải dừng tay.

Lúc này giọng nói ồm ồm lại vang lên:
- Gia quyến tạ lễ một lần nữa! Chư vị thân bằng hãy cố nén bi thương, chấp nhận sự mất mát. Đã đủ lời đủ lễ đủ tâm, lễ hoàn tất!

Như một vị nhạc trưởng tài ba nhất, lời gã vừa dứt, tiếng khóc lập tức ngừng bặt.

Chỉ nghe bên ngoài một trận huyên náo, sau đó giọng nói già nua kia cất tiếng:
- Dương Hàn Thị, cha mẹ chồng ngươi sớm đã ra đi, mà hôm nay Lăng nhi cũng đã theo bọn họ xuống suối vàng, để lại ngươi một mình trơ trọi. Ngươi có dự tính gì không?

Chỉ nghe tiếng một người con gái khe khẽ cất lên:
- Thúc thúc, Ấu Nương đã bước vào cửa nhà họ Dương thì chính là con dâu của nhà họ Dương. Phu quân lần này bị bệnh, mặc dù nhà nghèo xơ xác, vẫn may hãy còn bốn mẫu ruộng nương để lại cho Ấu Nương để giữ gìn môn hộ, cho dù có khổ một chút cũng vẫn có thể sống qua ngày.

Dương lão thái gia ho khan vài tiếng rồi nói:
- Ấu Nương à, tuổi tác của ngươi còn nhỏ, một mình khó mà gánh đỡ cái môn hộ này. Giờ ngươi đã là người của nhà họ Dương chúng ta, nhà họ Dương chúng ta ở nơi này cũng có thể xem là một họ lớn, dù gì cũng không thể để cho ngươi một mình vất vả qua ngày, để cho người ngoài chê cười bọn ta.

Ta và mấy lão nhân trong tộc đã thương nghị, muốn đem bốn mẫu sơn điền (3) này giao cho Tuyền nhi trồng trọt và cày cấy, để bọn Tuyền nhi phụ trách ngày cơm ba bữa cho ngươi. Ngươi là đàn bà, hơn nữa cũng xem như em dâu của nó, giao ruộng đất cho nó cày cấy, ngươi cũng bớt đi được một phần lo lắng về cơm áo gạo tiền. Ngươi thấy có đặng không?

“Chậc, lại còn có cảnh tranh chấp di sản nữa.” - Trịnh Thiếu Bằng buồn bực suy nghĩ: “Còn làm ra vẻ quang minh chính đại. Sao mấy cái chuyện này cổ kim thời nào cũng có nhỉ? Chỉ mới vừa tới phúng điếu thôi mà giờ đã trở mặt rồi, cái vị ‘thúc thúc’ này cũng thật là thiếu kiên nhẫn quá đi!”

Bên ngoài yên tĩnh một hồi rồi mới nghe Ấu Nương nói:
- Ý tốt của thúc thúc Ấu Nương xin tâm lĩnh. Ấu Nương bạc phước, phu quân mất sớm, cũng chưa hề để lại chút hương hỏa, nhưng Ấu Nương dù là nữ nhi gia đình bình thường cũng là người có học ‘Nữ Huấn’ từ nhỏ, hiểu được đạo lý “vi nhân thê tử, tòng nhất nhi chung”(4).

- Nô gia sinh là người của nhà họ Dương, chết là ma của nhà họ Dương. Dù hiện giờ trong nhà chỉ còn lại một mình nô gia, một nhà này vẫn chưa thể tính là đã tuyệt. Dương Tuyền đại bá và phu quân dù gì cũng không phải là anh em ruột thịt, thậm chí thúc thúc người cũng đã sớm phân chia tài sản cho huynh ấy ra nơi khác ở. Giờ nô gia lại đem ruộng đất cha mẹ chồng để lại giao cho huynh ấy, như vậy thỏa đáng hay sao?

Những lời của người con gái này trong nhu có cương, vừa nhắc nhở chớ nên nghĩ rằng nàng là một quả phụ trẻ tuổi vô lực, sẽ không giữ được mà đem gia sản tổ tiên bán đi, vừa ám chỉ rằng lão ta chỉ vì suy nghĩ cho nhi tử của mình mà đến đây tranh đoạt sản nghiệp của anh em con chú con bác của mình.

Dương lão thái gia bị nàng nói toạc ra tâm tư, mặt thoáng đỏ lên, nhất thời có phần không kềm chế được. Lão có tổng cộng bốn người con, duy chỉ có đứa con thứ ba Dương Tuyền này là không nghề không ngỗng, ăn chơi đàng điếm, đã tiêu xài hết sạch số ruộng đất mà hắn được chia.

Mặc dầu lão hận hắn đã khiến cho mình phải thất vọng, nhưng vì không cam lòng nhìn thấy đứa con ruột của mình sống trong cảnh nghèo khổ chán chường, cho nên lão mới dày mặt tới đây đề xuất ra lời thỉnh cầu phi lý này, chỉ mong con mình sau khi có được số ruộng đất này, có thể thay đổi làm lại từ đầu. Không ngờ con bé này tuổi còn nhỏ mà đã cương nghị, lại cứ khăng khăng cự tuyệt.

Điều mà lão không biết chính là, đứa con kia nhờ lão ra mặt đề xuất yêu cầu này với Dương Hàn Thị thật ra còn có một mục đích không thể nói ra. Dương Tuyền ăn chơi đàng điếm, xóm làng đều biết, lại còn xài hoang cạn kiệt gia sản. Từ sau khi bọn Thát Tử vào thôn cướp bóc giết chết cô vợ của hắn vào năm trước, cho đến giờ hắn vẫn chưa tìm được vợ, đã ngoài bốn mươi tuổi đầu mà vẫn còn là một kẻ lông bông.

Em họ Dương Lăng của hắn, cũng là gã tú tài mà Trịnh Thiếu Bằng vừa mượn xác nhập vào, năm nay vừa mới cưới Dương Hàn Thị, vốn tên thật là Hàn Ấu Nương, là một nữ tử xinh đẹp nổi tiếng gần xa. Người ta nói “thâm sơn dục tuấn điểu, sài ốc xuất giai lệ” (5), lời này quả thật một điểm cũng không sai.

Dương Lăng thân ôm bệnh lo toan hôn sự, mong có thể mượn chuyện thành thân để trừ vận xui, rốt cuộc ngay cả tấm khăn voan của tân nương còn chưa kịp dỡ xuống thì bệnh tình đã trở nặng, phải nằm liệt giường. Dương Tuyền mượn cớ thăm huynh đệ nhiều lần đến nhà cò cưa, kết quả đều bị Hàn Ấu Nương đuổi đi.

Nếu không phải vì đứa em dâu này là con gái của Liệp Nhân Vương (vua săn bắn) có võ nghệ giỏi giang thì hắn cũng đã nghĩ đến chuyện dùng vũ lực rồi.

Hắn vốn định bụng đoạt xong ruộng đất của nàng sẽ khống chế cuộc sống của nàng. Lúc đó, việc dần dần chiếm đoạt trái tim và thân xác của tiểu quả phụ đáng thương mới mười lăm tuổi này cũng sẽ không còn là chuyện khó nữa.

Dương Tuyền đứng một bên, cặp mắt tham lam nhìn chằm chằm vào cô em dâu trong bộ đồ tang càng lộ ra vẻ quyến rũ động lòng người. Vừa thấy nàng khiến cho phụ thân mình nghẹn họng, tính tình vô lại tức thời phát tác, hắn không nhịn được quát to:
- Hàn Ấu Nương, ngươi còn nhỏ tuổi, dựa vào cái gì mà đòi giữ gìn cái nhà này? Cha ta đây cũng là có ý tốt, không muốn ngươi đến lúc không thể chịu đựng được nữa sẽ làm ra chuyện nhục nhã gia phong cho nhà họ Dương.

Hàn Ấu Nương tuổi tác tuy nhỏ, nhưng lại rất cương liệt, nghe xong liền phất tay áo đứng dậy, mày ngài xếch ngược, lạnh lùng nói:
- Nô gia đọc sách hiểu lễ nghĩa, tuân thủ đến trọn đời. Từ khi bước vào nhà họ Dương, mỗi ngày không chút nghỉ ngơi phụng dưỡng phu quân, có chỗ nào là không phải với đức hạnh của người phụ nữ? Đại tộc Dương thị cho dù có thứ con cháu xấu xa cũng tuyệt đối sẽ không xuất phát từ nhà ta.

Dương Tuyền nghe nàng chế giễu mình, không khỏi nổi nóng, lớn tiếng mắng:
- Con tiểu tiện nhân nhà ngươi! Lăng đệ là tú tài duy nhất của nhà họ Dương ta, chúng ta đều nhờ vào đệ ấy để làm cho dòng họ nhà họ Dương được vinh dự. Nếu không phải vì bát tự (6) của ngươi khắc chết đệ ấy, thì cớ sao đệ ấy còn trẻ, thân thể trước giờ vẫn luôn khỏe mạnh lại có thể cứ nói chết là chết chứ?

Nói người phụ nữ khắc chết chồng thật sự là gán cho một tội danh không thể biện bạch, mà cũng không thể gánh nổi. Hàn Ấu Nương tính tình cương liệt, lại bị “lưỡi dao mềm”(7) giết người không thấy máu của tên vô lại này đâm cho một nhát khiến nàng giận đến run người. Đảo mắt nhìn quanh, nhân số gia đình của trượng phu vốn đơn bạc, ở chỗ này đều là thân nhân trực hệ của nhà thúc thúc, bọn họ kẻ nào kẻ nấy đều nhìn nàng với một ánh mắt kỳ quái, những cái nhìn lạnh nhạt khó chịu ấy như từng mũi kim đâm vào tim nàng.

Uất ức, bi thương, phẫn nộ, từng dòng cảm xúc lần lượt dâng lên trong lòng; người trượng phu này, từ lần gặp mặt đầu tiên thì đã nằm liệt trên giường như chờ chết. Mặc dù chưa có cảm tình gì, nhưng cái đạo lý “theo đến suốt đời” đã khiến nàng còn chưa kịp cởi áo cưới này đã phải thường xuyên bận rộn chạy đi mời thầy, tìm thuốc, bán của cải để chữa bệnh cho trượng phu, đêm ngày không ngừng chiếu cố cho y.

Chính mình đã bất hạnh như vậy, tuổi còn trẻ đã phải ở góa suốt đời, vậy mà không ngờ thi thể phu quân còn chưa lạnh, tộc nhân của y đã đến mưu đoạt gia sản, còn trút lên đầu mình cái ô danh như vậy. Thân mình thế đơn lực bạc, sau này sẽ phải sống như thế nào trong cái đại gia tộc này?

Nhất thời trong nỗi bi ai, Hàn Ấu Nương không kềm được lệ rưng rưng quanh đôi mắt xinh đẹp, nói:
- Được! Được! Được lắm! Tiễn Ngọc Liên đầu giang toàn tiết (8), lưu danh muôn thuở! Hàn Ấu Nương ta há lại tiếc tấm thân này. Giờ đây ta theo bước phu quân, miễn khỏi phải chịu sự chèn ép của bọn tiểu nhân các người.

Tiểu cô nương nói xong liền xoay người, muốn đập đầu vào quan tài của trượng phu. Dương lão thái gia sợ đến nhảy dựng: “Phụ thân của Hàn Ấu Nương này võ nghệ giỏi giang, khắp làng khắp xóm không ai mà không biết. Hôm nay trượng phu của người ta vừa chết, mình đến nhà uy hiếp đoạt gia tài vốn đã là đuối lý, lại còn bức cô ta đập đầu vào quan tài mà chết. Chuyện này nếu lan truyền ra ngoài, không những bị hàng xóm láng giềng chỉ trích mà cha cô ta há chịu bỏ qua sao?”

Lão ta hoảng hốt bật dậy khỏi ghế la lớn:
- Mau, mau ngăn nó lại!

Thế nhưng Hàn Ấu Nương thân thủ linh hoạt, vừa dứt lời thì đã hành động. Mọi người còn chưa kịp ngăn lại thì nàng đã phóng đến trước quan tài, nhắm vào một góc quan tài muốn đập đầu xuống.

Đúng lúc này, nàng bỗng nhiên khựng lại, đôi mắt tròn xoe sợ hãi nhìn vào quan tài. Chiếc nắp đóng hờ trên quan tài để cho người đến phúng điếu hiện giờ bỗng dưng lại xê dịch qua bên cạnh một chút, sau đó bốn ngón tay trắng bệch vươn ra vịn vào mép quan tài.

Chứng kiến chuyện kỳ quái này, Hàn Ấu Nương không khỏi kinh hãi lui về sau một bước. Mọi người trông thấy hành động của nàng đều nhìn về phía quan tài, lập tức có mấy bà cô hoảng hốt kêu lớn: “Xác chết sống lại rồi!”, sau đó lập tức xoay người co giò chạy mất.

Mấy nam nhân mặc dù không bỏ chạy nhưng cũng đều nơm nớp sợ hãi, tụm lại thành một đoàn. Hàn Ấu Nương can đảm hơn một chút, ngẫm lại dù gì thì đó cũng là phu quân của mình, có là xác chết sống lại hẳn cũng không làm tổn hại đến mình. Hay vì người ấy thấy mình chịu sự hiếp đáp của người khác nên mới từ cõi âm trở về?

Cố đè nén sự sợ hãi trong lòng, nàng dè dặt bước tới trước, đẩy chiếc nắp quan ra. Chỉ thấy trượng phu đang ngồi xổm thở hổn hển bên trong hòm, mà vì trời lạnh nên hơi thở cũng mang theo những làn sương trắng. Hàn Ấu Nương thấy vậy trong lòng không khỏi lấy làm mừng rỡ: “Người chết nào có thể thở ra hơi ấm chứ? Ông trời có lòng thương, không ngờ người ấy… người ấy đã sống lại rồi.”

Trịnh Thiếu Bằng hao phí tất cả sức lực, khó khăn lắm mới đẩy được một góc nắp quan ra, đang quỳ thở hổn hển, bất thình lình trước mắt sáng lòa, ánh sáng chiếu vào khiến y phải nhíu mắt lại, phải một hồi lâu mới thích ứng được đôi chút. Y ngẩng đầu nhìn người quả phụ đáng thương bị người ta hiếp đáp, thật không tài nào có thể liên tưởng đến một người phụ nữ đã xuất giá đi lấy chồng: đây rõ ràng chỉ là một cô bé còn chưa trưởng thành mà.

--------------

(1) Ôn thần: một vị thần mang mầm dịch đến cho loài người, cụm từ “tống Ôn thần” ý chỉ muốn xua đuổi một người hoặc một thứ gì xấu.

(2) Vị vong nhân là người chưa chết, ý chỉ người phụ nữ chưa tuẫn tiết. Chữ dùng khiêm cung kiểu cách của người đời xưa do người vợ góa tự xưng.

(3) Ruộng núi, để phân biệt với “thảo điền” (ruộng cỏ).

(4) Làm vợ người ta thì sẽ theo người ta suốt đời.

(5) Núi sâu sinh chim đẹp, nhà củi xuất giai nhân.

(6) Bát tự: tám chữ (giờ ngày tháng năm sinh viết theo Thiên can và Địa chi) Là một cách xem số mệnh của Trung quốc. Người mê tín cho rằng giờ, ngày, tháng, năm con người được sinh ra đều bị Thiên can Địa chi chi phối. Mỗi giờ, ngày, tháng, năm sinh ấy được thay bằng hai chữ, tổng cộng là tám. Dựa vào tám chữ ấy, ta có thể suy đoán ra vận mệnh của một con người. Theo phong tục cũ, khi đính hôn, hai bên nhà trai và nhà gái phải trao đổi “Bát tự thiếp” cho nhau, còn gọi là “canh thiếp” hay “bát tự”.

(7) Ám chỉ những thủ đoạn âm hiểm, khó biết. Ý nói miệng lưỡi ác độc.

(8) trích trong “Kinh Sai ký”, kể về câu chuyện Tiễn Ngọc Liên vì chấp nhận lấy thư sinh Vương Thập Bằng với sính lễ bằng cây trâm mận gai (kinh sai) mà cự tuyệt cự phú Tôn Nhữ Quyền. Về sau Vương Thập Bằng đậu trạng nguyên, bởi vì từ chối thừa tướng Mặc Sĩ bức hôn, nên bị đưa ra vùng hoang vắng làm quan. Tôn Nhữ Quyền ngầm sửa gia thư của Vương Thập Bằng thành “hưu thư” (thư đuổi vợ) để lừa Ngọc Liên; mẹ kế của Ngọc Liên cũng vì tham tiền mà bức nàng cải giá. Ngọc Liên không nghe, đâm đầu xuống sông tự vẫn, nhưng may mắn được cứu sống.
Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
06-05-2010, 08:51 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 4 - Gia cảnh nghèo khó

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Mình nói là ăn no nằm chờ chết chứ có nói là muốn chết đói đâu!





Nàng mặc một bộ tang phục bằng vải bố thô, đầu buộc một dải lụa trắng, khuôn mặt trái xoan trông hết sức thanh tú. Nàng đang rụt rè nhìn y, đôi mắt đỏ hoe, bờ mi ươn ướt, chiếc mũi nhỏ lạnh cóng đến ửng hồng.

Trịnh Thiếu Bằng ngẩn ngơ nhìn nàng: “Dương Hàn Thị đây sao? Sao nhỏ quá vậy? Chắc mới chỉ lớp bảy, lớp tám thì phải?”

Mặc dầu đã có khá nhiều kinh nghiệm với việc mượn xác sống lại và nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống mới, nhưng bỗng nhiên nhìn thấy người vợ của “thân phận mới” lại “trẻ” đến như vậy, y vẫn cảm thấy rất lạ lùng.

Thân thể y cực kỳ yếu ớt, gắng sức quỳ (1) được một lát thì lại bắt đầu lảo đảo muốn ngã. Trước khi xây xẩm, y gượng cười nói với nàng:
- Đừng sợ! Ta vẫn chưa chết.

(1):Nguyên văn là 跪坐 (quỵ tọa) ngồi quỳ, tức quỳ theo kiểu người Nhật, mông chạm chân; khác với quỳ nghiêm trang khi lễ Phật.
Xem: http://image.baidu.com/i?tn=baiduimage&ct=201326592&lm=-1&cl=2&word=%B9%F2%D7%F8

Hàn Ấu Nương đôi mắt xoe tròn, chằm chằm nhìn y không chớp, lệ từ từ ngấn lên mắt. Một lúc sau, đột nhiên nàng òa khóc.

Tiếng khóc khiến Trịnh Thiếu Bằng cảm thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc từ dưới sống lưng lên đến tận gáy; phải chịu biết bao đau khổ lẫn uất ức lắm người ta mới có thể khóc đến xé lòng xé dạ như vậy.

Hàn Ấu Nương khóc nức nở, hai tay bíu chặt cỗ quan tài gỗ, chỉ sợ một khi buông tay thì sẽ lả người xuống đất. Lúc bình thường nàng không than thân trách phận, chỉ hết lòng chiếu cố y cho tròn đạo phu thê mà thôi. Vừa mới cưới xong, thậm chí hai người còn chưa nói được với nhau mấy câu, giữa hai người cũng chưa thể nói là đã có tình cảm sâu đậm gì. Nhưng bây giờ nàng chợt hiểu y quan trọng và có ý nghĩa đến dường nào đối với nàng. Dù cho chỉ còn một chút khí lực, y vẫn là người đàn ông của mình, có y thì nhà này mới được xem như là còn, mới được xem như là có trụ cột.

Trịnh Thiếu Bằng nghe nàng khóc mà thấy xót xa trong lòng. Vừa định an ủi nàng, nói mấy câu đại loại như “lần đầu gặp mặt xin hãy chiếu cố một chút” giống như mấy lời thoại trong phim, tiếc là thân thể không thể đáp ứng “kỳ vọng” của y, miệng y há ra như cá mắc câu, chả nói được tiếng nào. Chẳng những vậy mà hai mắt y còn trợn trắng lên, lại ngất xỉu trở lại.

Linh đường lại lần nữa trở nên hỗn loạn. Lúc này Hàn Ấu Nương đã tỉnh táo, vừa khóc vừa gọi vừa lôi y ra khỏi quan tài. Dương lão thái gia đã từng nghe qua một số chuyện về người chết giả sống lại, thế nên lão cũng không quá kinh ngạc trước sự việc này. Thấy Dương Lăng sống lại, mặc dù trong lòng lão có chút xấu hổ, nhưng phần cao hứng lại nhiều hơn.

Dù sao Dương Lăng cũng là nhân vật duy nhất có công danh ở thôn Kê Minh Dịch này. Trong tộc có người như vậy cũng là một niềm vinh hiển, nói gì thì nói đó cũng là huyết mạch nhà họ Dương của lão.

Lúc trước bị con trai thuyết phục, lão chạy đến đây tranh đoạt tài sản dĩ nhiên là vì tính toán cho con mình, nhưng có đến phân nửa cũng do lão lo rằng tiểu quả phụ này sẽ không thủ tiết nổi, mấy năm nữa sẽ mang điền sản của nhà họ Dương đi cải giá. Hiện giờ người cháu họ đã sống lại, những lo lắng đó đã không còn, cho nên lão cũng rút lại toan tính kia.

Lão xấu hổ kêu người khiêng giúp đứa cháu của mình đặt lên giường, rồi lại kêu người mời đại phu, bận rộn lo liệu một hồi lâu mới để đám con cháu dìu mình về.

oOo

Hai bát cháo, một đĩa dưa muối trộn, đó là bữa ăn đầu tiên mà “cửu thế đại thiện nhân” Trịnh Thiếu Bằng sau khi chuyển thế thành Dương Lăng dùng cùng với người vợ trẻ. Một ngọn đèn dầu lay lắt chập chờn trên giá bếp, mùi vị thức ăn phả nhẹ khắp phòng.

Tám lần trước, nếu không chuyển thế vào dòng dõi giàu có thì cũng là một kẻ quyền cao chức trọng. Bây giờ bỗng dưng phải ăn loại thức ăn như vầy, cho nên mặc dù bụng sôi ùng ục, nhưng Trịnh Thiếu Bằng, thân phận hiện nay là tú tài Dương Lăng của Tuyên phủ, năm Hoằng Trị thứ mười bảy triều Minh, cũng chỉ miễn cưỡng ăn lưng lưng bụng là đã không thể nuốt trôi thêm được nữa.

Hàn Ấu Nương lại ăn rất ngon miệng. Cơm canh đạm bạc dẫu có kham khổ, nhưng thấy trượng phu không những đã sống lại mà còn có thể tự mình ăn uống, trong lòng nàng chỉ có cảm giác mãn nguyện và vui sướng.

Nhìn căn nhà bốn vách trống trơn, Dương Lăng không khỏi âm thầm thở dài một hơi. Trông thấy Hàn Ấu Nương căn bản chỉ là một cô bé đang bê bát cháo húp sạch sành sanh một cách ngon lành, lại còn dùng lưỡi liếm sạch mép bát, trong lòng y không khỏi xót xa: “Xem ra mấy tên phán quan, quỷ sứ chết tiệt đã chơi mình rồi. Sớm biết như vậy chi bằng lúc đầu hưởng thụ cho sướng cuộc sống làm tỷ phú cho rồi, tuy rằng tuổi có cao một chút… Giờ biết phải làm sao đây? Chẳng lẽ thật sự đi làm Cửu thiên tuế (2)? Nếu thế chi bằng cứ như vậy sống cho qua hai năm, ít ra… cô vợ trẻ này mặc dù hơi nhỏ tuổi một chút nhưng cũng rất ưa nhìn.”

(2) Nguyên văn “nhất vạn tuế giảm khứ nhất thiên tuế”: mười ngàn tuổi trừ đi một ngàn tuổi còn chín ngàn tuổi (Cửu thiên tuế), ý nói đi làm hoạn quan Ngụy Trung Hiền.

Trong lòng còn đang suy tính, nhìn thấy Hàn Ấu Nương đã đặt bát xuống, y bèn đẩy nửa bát cháo còn thừa của mình qua, nhẹ giọng bảo:
- Vẫn chưa ăn no sao? Đây, húp luôn phần này đi!

Lúc này Hàn Ấu Nương mới có can đảm liếc nhìn y. Bộ dạng của y trông vẫn còn hết sức tiều tụy, nhưng tinh thần đã tốt hơn rất nhiều, ánh mắt cũng đã có thần hơn. Thấy ánh mắt của y đang chăm chú nhìn mình một cách dịu dàng, nàng không khỏi cảm thấy có chút ấm áp. Ấu Nương khẽ cụp mắt, lí nhí:
- Tướng công, chàng mới vừa khỏi bệnh, nên ăn nhiều một chút mới phải.

Dương Lăng suy nghĩ một hồi, mới sực nhớ ra mình nên gọi cô ấy là nương tử, có điều kiểu xưng hô cổ xưa này y thật sự rất không quen. Cũng may là từ lúc đổ bệnh, Dương Lăng lúc nào cũng mê mê man man, thậm chí chẳng buồn mở mắt, cũng chưa từng mở miệng gọi một tiếng nương tử, nên y bèn gọi tên tục của nàng:
- Ấu Nương, thân thể ta vừa mới khỏe lại nên không ăn được nhiều. Nếu nàng không ăn thì sẽ rất lãng phí đó.

Hàn Ấu Nương nghĩ ngợi một lúc rồi thẹn thùng cười với hắn, nhận lấy bát cháo, đáp khẽ:
- Đa tạ tướng công!

Dương Lăng quan sát kỹ “cô vợ trẻ”. Cô gái này đã cởi bỏ bộ tang phục, thay một bộ vải thô màu xanh. Khuôn mặt nàng trông vẫn còn non nớt. Có thể vì tập võ quanh năm mà vóc người nàng đã phát dục, hơi có dáng vẻ của một đại cô nương; dung mạo xinh đẹp, nước da ngăm ngăm, hàng lông mày đậm, chiếc mũi xinh xắn thẳng tắp, cặp môi đầy đặn, đôi mắt to đen lay láy, trông mười phần khả ái.

Phát giác trượng phu đang nhìn mình, Hàn Ấu Nương nghĩ rằng trong lúc ăn mình có hành vi nào đó bất nhã, không khỏi có chút thẹn thùng khẽ cựa người. Từ khi thành thân đến nay, đây mới là lần đầu tiên nàng và trượng phu cùng ngồi ăn với nhau. Tuy đã là phu thê hơn nửa năm, nhưng nàng lại không hề có chút ấn tượng gì về trượng phu mình. Ngoại trừ biết được tên của y, biết y là tú tài trẻ tuổi nhất Tuyên phủ, là nam nhân duy nhất có công danh ở vùng Kê Minh Dịch này ra, nàng chẳng mảy may biết được tí gì khác.

Chính giữa căn nhà là phòng ăn, vừa bước vào cửa sẽ đụng bếp, bước vào phía bên phải là phòng ngủ, trong đó vẫn còn thoang thoảng mùi thuốc bắc. Bên trái vốn là chỗ ở của phụ mẫu Dương Lăng, sau khi hai người mất đi, nó bị bỏ trống làm kho chứa một số đồ lặt vặt.

Phòng ăn cũng là phòng khách, đồng thời cũng là chỗ đặt linh đường của Dương Lăng. Hàn Ấu Nương vì sợ thân thể bệnh tật của y quá yếu, cho nên kiên trì không để cho y động tay động chân. Nàng dìu y đến ngồi ở đầu giường đất (3), sau đó tự mình đem các bức liễn, giấy vàng mã các loại do người ta phúng điếu chất vào sau cửa, tháo dỡ linh đường. Ấy vậy mà cũng đã bận rộn đến đầm đìa mồ hôi cả người.

(3) Một loại giường của người phương bắc Trung Quốc dùng để chống lạnh, dùng gạch bình thường hoặc gạch sống (gạch phơi nắng không nung) xây nên, phía trên trải chiếu, phía dưới có lổ hổng nối liền với ống khói, có thể nhóm lửa để sưởi ấm. Còn được gọi là giường lò.

Nhìn Hàn Ấu Nương tháo vát thu dọn nhà cửa, Dương Lăng không khỏi thầm thở dài. Thiên hạ đều nói con gái thời hiện đại tiếp xúc nhiều, ăn uống tốt này nọ cho nên trưởng thành sớm. Trưởng thành sớm cái quái gì chứ? Cái “trưởng thành sớm” đó chẳng qua là về cơ thể và dục vọng của bọn chúng. Hãy nhìn Hàn Ấu Nương mà xem, đó mới là trưởng thành về tâm trí.

Một người con gái mười lăm tuổi vừa bước vào nhà chồng đã phải săn sóc cho một bệnh nhân nằm liệt giường, nhà thì nghèo rớt mùng tơi như vậy, thật sự là đã làm khó cô ấy, cũng không biết làm sao cô ấy có thể cam chịu được hơn nửa năm nay. Nhìn thấy dáng vẻ xinh đẹp và lanh lợi của nàng, bất giác tim Dương Lăng đập nhanh hơn. Dáng vẻ thanh khiết thuần phác của cô gái này khiến cho trong lòng y phát sinh một thứ tình cảm thương xót và yêu quý. Ngẫm lại bản thân nhiều lắm chỉ sống thêm được hai năm, y thật không nỡ lòng làm hại người ta.

Dọn dẹp xong xuôi, Hàn Ấu Nương quay đầu lại, thấy y vẫn đang ngồi trên chiếc giường đất quan sát mình, mặt nàng không khỏi nóng lên. Nửa năm nay, ngày ngày nàng chỉ mong sao trượng phu sẽ tỉnh lại. Hôm nay y đã thật sự tỉnh lại, nàng lại cảm thấy cả người lúng túng khi bị y nhìn ngắm như vậy.

Nàng có chút ngượng ngùng, bẽn lẽn bước vào phòng khêu ngọn đèn dầu tỏ hơn một chút. Thấy ánh mắt y vẫn còn dõi theo mình, khuôn mặt nàng không khỏi nóng bừng, nhưng lại không biết nên nói thế nào với y.

Sau một hồi lóng ngóng trong phòng, nàng đỏ mặt tiến đến gần, kéo tấm chăn mỏng đắp lên đùi y, lắp bắp:
- Tướng công, chàng mới vừa hồi phục, nên nghỉ ngơi nhiều một chút! Thiếp… Thiếp sang nhà Lý đại nương ở kế bên một chuyến, lát nữa sẽ quay về.

Nói xong nàng liền chạy ào ra khỏi nhà.

Dương Lăng khẽ cười, trong lòng dâng lên tình cảm ấm áp. Y không rõ mình vốn mắc phải bệnh gì, song từ lúc mượn xác đến giờ, ngoại trừ vì nằm lâu ở trên giường, cộng thêm không đủ dinh dưỡng khiến cho tứ chi vô lực, hơi thở phập phù không ổn định ra thì không có trở ngại gì khác.

Thấy Hàn Ấu Nương đã chạy ra ngoài, y liền dỡ mền bước xuống giường, nhân cơ hội bắt đầu làm quen với hoàn cảnh một chút. Mới vừa nhìn quanh, lòng y đã cảm thấy khá là chán nản, khắp nhà đều trống trơn, đúng là “nhà không vách trống”, thật là thảm thương.

Bước vào phòng đối diện, từ miệng của Hàn Ấu Nương y đã biết căn phòng này trước đây là phòng của song thân Dương Lăng, hiện giờ bỏ trống để cất một số đồ lặt vặt. Y bước đến cạnh cửa, mở bao lương thực ra, bên trong chỉ còn chưa đầy một bát gạo vụn.

“Thảo nào buổi tối cô ấy chỉ nấu có hai bát cháo, húp nửa bát cháo thừa của mình mà vẫn thấy ngon miệng đến như vậy! Cũng không biết đã bao nhiêu ngày chưa có được một bữa cơm no rồi.” Dương Lăng chợt cảm thấy sống mũi cay cay.

“Với gia cảnh như vậy, chỉ tồn tại thôi e cũng đã là một vấn đề, làm sao có thể qua nổi trời đông giá rét như vậy chứ? Mình nói là ăn no nằm chờ chết chứ có nói là muốn chết đói đâu!” Y lôi mấy tên tiểu quỷ cùng phán quan ra thầm chửi từng tên một.

Căn nhà không lớn, trong nhà lại không có thứ gì, chỉ dạo vài vòng là đã xem hết. Y đẩy cửa bước ra bên ngoài. Sơn thôn về đêm tối mù, những ngọn đèn dầu nhỏ ở các nhà không chiếu được bao xa, căn bản không giống như nông thôn ngày nay khắp nơi đều sáng rực. Ngước nhìn vầng trăng lưỡi liềm bị áng mây đen che khuất trên bầu trời, y chỉ cảm thấy lạnh đến buốt xương. Bốn bề tĩnh mịch, cũng không biết Hàn Ấu Nương đã đi đâu. Đang muốn quay vào trong nhà, đột nhiên y nghe thấy một tiếng “két” gần đó, sau đó có tiếng chó ăng ẳng vang lên.

Lắng tai, y chỉ nghe thấy tiếng của một phụ nữ lớn tuổi cách đó không xa:
- Ấu Nương à, trời tối đó, con đi đường hãy chú ý một chút nhé!

Sau đó là giọng nói trong trẻo của Ấu Nương cất lên:
- Dạ, cảm ơn Lý đại nương! Số lương thực này chờ sang năm trong nhà con có thu hoạch nhất định sẽ trả lại cho người.

Dương Lăng lặng lẽ bước đến bên cạnh bức tường thấp. Bên dưới bức tường có một đống tuyết được vun lại. Y vịn tường nhìn qua, chỉ thấy một bà lão tóc bạc phơ một tay đưa cao đèn dầu, một tay vịn hờ cánh cửa. Hẳn là Ấu Nương đã đi ra khỏi cổng sân.

Chỉ thấy bà lão lắc đầu thở dài một tiếng, lúc bà đóng cửa còn nghe được tiếng một ông lão ở trong nhà:
- Bà bạn già à, thu rồi bọn Thát Tử kéo qua, nhà mình cũng chẳng còn bao nhiêu lương thực dư thừa nữa đâu!

Bà lão vừa đóng cửa vừa khẽ lẩm bẩm:
- Chà! Tôi biết, nhưng mà đứa nhỏ Ấu Nương này thật đáng thương, có thể giúp được thì cứ giúp đi! Hơn nữa thằng nhỏ Lăng nhi đó cũng có công danh, gặp đại nạn không chết tất sẽ có hậu phúc, tương lai…

Cánh cửa đóng lại, tiếng nói chuyện cũng theo đó tắt đi. Dương Lăng nghe cổng sân nhà mình kẹt khẽ, một bóng người nhỏ nhắn bước vào, y bất giác bước tới phía trước vài bước để nghênh đón.

Nhìn thấy trong sân có một bóng người đang bước tới, Hàn Ấu Nương không khỏi hốt hoảng, cho rằng cái tên vô lại Dương Tuyền kia lại đến nhà trêu ghẹo. Một tay nàng giơ nửa bao lương thực lên, tay kia thuận thế lôi một khúc cây từ sau cánh cổng ra, trầm giọng quát:
- Cút ra ngoài cho ta! Bằng không… bằng không ta sẽ kêu trượng phu ta đó!



--------------







Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
12-05-2010, 06:14 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 5 - Lá lành đùm lá rách

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: Duahau

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Nhưng … nhà nghèo rớt mùng tơi như vậy, mình biết phải làm sao mới có thể lo được cái ăn cái mặc cho nàng đây?




Chương năm - Tương nhu dĩ mạt (Lá lành đùm lá rách).

Dương Lăng vừa bước lên mấy bước thì chợt nghe vù một tiếng, đã thấy một cây gậy gỗ to bằng hai lóng tay chĩa vào ngực, làm y la hoảng lên:
- Đừng…

Cổ họng hơi nghẹn lại, y nuốt nước miếng xuống rồi mới từ tốn nói:
- Ấu Nương, là ta, Dương Lăng đây!

- Ơ kìa!
Khúc cây rơi bộp xuống đất, Hàn Ấu Nương vội vã bước tới đỡ lấy y, lo lắng hỏi:
- Tướng công, chàng vừa mới khỏi bệnh, sao lại ra ngoài làm gì? Trời rét căm căm thế này, nếu chàng mà lại có chuyện gì, chàng bảo thiếp … bảo thiếp phải làm sao đây?

Dương Lăng trấn an nàng:
- Không có chuyện gì đâu, ta khỏe lên nhiều rồi. Vì không thường xuyên vận động nên người hơi yếu chút thôi.

Y đưa tay tới muốn giúp Hàn Ấu Nương xách bao lương thực, nhưng nàng nào chịu để cho y động tay động chân, vội vàng dìu y quay vào, nói:
- Tướng công, chàng hãy mau về nằm nghỉ! Ban đêm trời lạnh lắm, để buổi trưa nào tiết trời ấm áp thiếp sẽ đưa chàng ra phơi nắng.

Chẳng còn cách nào khác, Dương Lăng đành để mặc cho nàng dìu mình quay trở vào. Lúc vào nhà rồi, y không nhịn được mới hỏi:
- Ấu Nương, chúng ta chữa bệnh hết sạch tiền rồi phải không? Ta thấy trong nhà chẳng còn món gì nữa.

Hàn Ấu Nương đặt bao lương lên giá bếp, dìu hắn vào phòng trong rồi mới khẽ ừm một tiếng, nhẹ nhàng giải thích:
- Thu rồi lúc bọn Thát Tử kéo đến, thiếp mãi lo cõng chàng chạy lên núi, lương thực trong nhà … đều bị bọn Thát Tử cướp hết, cho nên … thiếp buộc lòng phải đem đồ dùng trong nhà đi cầm một ít.

Dìu Dương Lăng đến ngồi nơi đầu giường, nàng vừa giúp y cởi giày, vừa ngẩng đầu mỉm cười nói với y:
- Tướng công không cần phải lo lắng! Sang năm đất đai nhà ta có thu hoạch, mọi thứ sẽ ổn thôi. Chàng là tú tài, không cần quan tâm đến mấy chuyện này, lúc nào khỏe lên, chàng cứ an tâm đọc sách là được rồi. Năm tới đã là thi Hương rồi đó, ba năm mới có một lần.

Dương Lăng thấy khi nàng nói đến thân phận tú tài của y thì ánh mắt tràn ngập sự ngưỡng mộ và tự hào, trong lòng không khỏi cười khổ. Với sức khỏe hiện giờ, y thật sự không gánh vác được gì, chẳng qua chỉ dựa vào xuất thân tú tài viết được mấy cái mớ văn chương nhảm nhí, vậy mà đã trở thành nam tử hán chân chính trong mắt nàng. Nếu ở thời đại của y, cho dù có tốt nghiệp đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh, mà vô dụng như thế thì sớm đã bị vợ đá văng ra rồi, lấy đâu ra ánh mắt sùng bái mà nhìn y chứ?

Song cũng khó có thể trách nàng lại xem trọng như vậy. Bây giờ đang là thời đại trọng nông khinh thương, thương nhân cho dù có tiền thì địa vị trong xã hội vẫn không bằng một tiểu địa chủ đất chỉ dăm ba mẫu. Cho nên con đường tiến thân phát tài hầu như đều phải dựa vào làm quan, mà để bước vào quan trường thì chủ yếu lại phải thông qua khoa cử. Mặc dù Dương Lăng hiện giờ chỉ là một gã tú tài, nhưng ở thời đại này, thân phận tú tài dù ở chốn thành thị hay nông thôn đều rất có tiếng. Có người đọc sách đến bảy tám mươi tuổi mà vẫn chưa thể đỗ tú tài.

Nhà Minh quản lý người dân rất nghiêm, cho dù là rời quê đi thăm người thân bạn bè cũng đều phải được địa phương cấp giấy thông hành, đóng dấu qua cửa, không thể qua loa. Có điều những người đọc sách có công danh như tú tài, cử nhân thì lại khác. Bọn họ có quyền mang kiếm, mặc áo lụa xanh, tùy ý du ngoạn, dọc đường quan lại không được ngăn chặn hay xét hỏi; trông thấy huyện thái gia - người mà những nông dân bình thường có thể cả đời cũng không được gặp - bọn họ chẳng những không cần cúi lạy, mà còn được phép ngồi. Trong mắt người thường, những người như vậy dĩ nhiên là nhân vật rất có thân phận.

Hàn Ấu Nương kéo chăn cho y dựa vào, rồi lại pha một chậu nước ấm, mặc cho Dương Lăng nhiều lần từ chối nàng vẫn dịu dàng giúp y rửa chân. Vị Dương Lăng này trước giờ nào đã được hưởng thụ loại đãi ngộ như vậy, thế nhưng sau khi cự tuyệt một phen, mắt thấy ngược lại còn khiến cho Hàn Ấu Nương thấp thỏm bất an, y đành để mặc cho nàng hầu hạ.

Đêm nằm trên giường, gác tay lên trán, Dương Lăng lặng lẽ suy nghĩ về những tâm sự của mình. Bên tai nghe được hơi thở nhẹ nhàng của Hàn Ấu Nương, có lẽ nàng ấy đã ngủ say rồi.

Từ lúc thành thân đến nay, Hàn Ấu Nương mặc dù ngủ chung giường với y, nhưng thật ra mỗi ngày nàng đều để nguyên quần áo vậy chăm sóc cho y, nên hai người chưa từng thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, chỉ nằm ngủ bên cạnh. Nhưng đêm nay tướng công của nàng đã không còn bộ dạng mê mê man man đó nữa, trái lại khiến cho nàng cảm thấy cực kỳ xấu hổ. Tuy rằng khi ngủ đã thổi tắt đèn nên chàng không thấy được nàng, nhưng cả người Hàn Ấu Nương vẫn nóng lên, vừa chui vào chăn liền rút cả đầu vào trong đó, không dám ló ra.

Có điều, kể từ lúc thành thân, đêm nay là đêm mà tâm tình nàng cảm thấy vui vẻ nhất. Tướng công chẳng những đã thoát khỏi cơn thập tử nhất sinh, hơn nữa bệnh tình dường như cũng đỡ hơn nhiều, áng chừng chỉ cần nghỉ ngơi thêm một thời gian nữa là có thể hoàn toàn khỏe mạnh lại, cuộc sống sẽ lại ngập tràn hy vọng và mơ ước, nàng sung sướng nghĩ.

Dương Lăng và nàng tuy là quan hệ phu thê, nhưng trong lòng y, người con gái này mặc dù xinh đẹp mê người, nhưng từ khi mở mắt ra, chứng kiến sự vất vả và kiên cường của nàng, y cảm thấy xót thương vô cùng. Bản thân chỉ còn hai năm để sống, y không thể đành lòng có ý với người con gái đáng yêu này.

Y nhìn qua chỗ Hàn Ấu Nương nằm, trong phòng tối om, không thấy rõ được gì, chỉ có thể nghe thấy tiếng thở khe khẽ của nàng, giống như một con mèo nhỏ.

“Chà!” - Y khẽ thở dài một tiếng: “Bây giờ người con gái này đã mang thân phận thê tử của mình, mình không những phải nghĩ cách để tiếp tục sống, mà còn phải có trách nhiệm lo lắng, chăm sóc cho nàng. Nhưng … nhà nghèo rớt mùng tơi như vậy, mình biết phải làm sao mới có thể lo được cái ăn cái mặc cho nàng đây?”

Nghĩ ngợi miên man một hồi lâu nhưng y vẫn chưa có được biện pháp gì. Lúc này nhiệt độ của lò lửa đã dần dần hạ xuống, phần ngoài chăn đã lạnh cứng lại, mà trong chăn cũng bắt đầu lạnh đi. Y siết chặt tấm chăn, chợt nghĩ mình đang nằm ngủ ở gần lò mà còn vậy, Hàn Ấu Nương sẽ càng bị lạnh hơn, không biết nàng có thể chịu được không.

Lặng lẽ đưa tay ra sờ sờ mặt giường bên cạnh, chỉ thấy bên đó lạnh như băng. Ở trong thôn núi muốn đốn củi hẳn là chuyện dễ dàng, trời lạnh như thế tại sao lại không đốt thêm củi? Ban nãy quan sát trong nhà hình như không nhớ rõ dưới bếp còn bao nhiêu củi.

Nhớ lại tình cảnh của bản thân, Dương Lăng không khỏi cảm thấy nhẹ nhõm: “Trong khoảng thời gian đó, mình chỉ còn thoi thóp, dường như có thể chết bất cứ lúc nào. Hàn Ấu Nương đơn độc bơ vơ không người giúp, lại phải chăm sóc cho mình, cô ấy làm gì mà có thời gian lên núi đốn củi chứ.”

Ngón tay chạm vào tấm chăn bên cạnh, Dương Lăng không khỏi giật mình. Tấm chăn này… sao lại mỏng như vậy? Dùng ngón tay miết miết, chỉ thấy lớp chăn đó so với tấm chăn của y thật sự là quá mỏng. Nàng phải trải qua những đêm đông lạnh giá như vậy sao?

Lúc này Hàn Ấu Nương đã co người lại như con tôm. Mặt Dương Lăng chợt nóng lên. Nàng vẫn còn chưa ngủ sao?

Y đỏ mặt hỏi nhỏ:
- Ấu Nương, chưa ngủ hả?

Hàn Ấu Nương ậm ờ đáp một tiếng, âm thanh rụt rè dường như có chút run run.

Dương Lăng thở dài:
- Sao chăn của nàng lại mỏng như vậy, làm sao chịu nổi đêm đông lạnh như thế này chứ? Trong nhà ngay cả chăn bông dày cũng không có sao?

- Ừm…
Hà Ấu Nương khẽ nói:
- Tướng công, bệnh tình của chàng nguy kịch lắm, Ấu Nương thật chẳng có cách nào mời được đại phu, nên đành phải … đành phải … xin lỗi chàng nhé…

Dương Lăng sờ tấm chăn dày của mình, trong lòng bồi hồi. Y bỗng ngồi dậy, đưa tay kéo tấm đệm dưới người Hàn Ấu Nương ra. Vì mặt giường rất trơn nên tấm đệm đó dễ dàng bị y kéo mạnh qua
.
Hàn Ấu Nương trong lòng có chút hốt hoảng, giọng run rẩy:
- Tướng công… chàng… chàng làm gì vậy?

Dương Lăng thấy nàng sợ hãi như vậy, cảm thấy rất buồn cười, bèn cố ý trêu nàng:
- Chúng mình là vợ chồng mà, ngủ chung một chỗ thì có gì không được chứ?

Hàn Ấu Nương càng thêm hốt hoảng, nhưng phu quân nói như vậy thật sự là không có gì không đúng, nàng chỉ biết lắp bắp:
- Nhưng mà … nhưng mà chàng vừa mới đỡ bệnh, chúng ta đừng … đừng …

Dương Lăng không nhịn được khẽ cười:
- Nha đầu ngốc … cái chăn của nàng mỏng quá, thấy nàng nằm đó mà chịu lạnh, ta làm sao có thể ngủ được chứ? Đến đây, chúng mình ngủ chung!

Đặt hai tấm đệm lại chung với nhau, Dương Lăng kéo tấm chăn của nàng ra, đem tấm chăn của mình đắp lên người nàng, sau đó phủ tấm chăn mỏng lên trên, bảo:
- Nàng xem, như vậy tốt hơn nhiều!

Hàn Ấu Nương ngượng đến nỗi trốn luôn ở trong chăn không dám ló đầu ra ngoài, cả người cuộn tròn lại như con tôm, hai nắm tay nhỏ siết chặt đặt trước ngực. Nàng cũng không biết vì sao mình lại sợ hãi và căng thẳng đến như vậy.

Dương Lăng là trượng phu danh chính ngôn thuận của nàng. Từ nhỏ nàng đã được dạy về tam tòng tứ đức, chồng là trời, vợ là đất. Thánh nhân có nói: “Phụ nhân giả, phục vu nhân dã” (Chú thích của dịch giả: Là phụ nữ phải biết phục tùng chồng.) Nếu như phu quân muốn nàng thì việc đó thật sự không có gì là không phải. Nhưng khi vừa nghĩ đến chuyện có thể xảy ra, trong lòng nàng vẫn không khỏi hồi hộp, lo sợ, thậm chí còn sợ hơn cả khi gặp con cọp trong lần đầu tiên đi săn với cha.

Dương Lăng cũng cảm thấy được sự căng thẳng của nàng. Nói thật, y cũng không dám dựa quá gần vào Ấu Nương. Nếu như hai người nằm sát vào nhau quá, y thật không dám đảm bảo mình sẽ không động tâm. Ít nhất thân thể và tinh thần y đều khỏe mạnh, lại nằm cạnh một người con gái trẻ trung như vậy, cho dù trong lòng không muốn, nhưng về mặt sinh lý vẫn sẽ không tránh khỏi sinh ra phản ứng. Cho nên y chẳng dám kéo sát lại khoảng cách chỉ bằng hai nắm tay giữa hai người.

Nhưng bởi vậy cho nên một chút hơi ấm ủ trong chăn cũng tản đi hết, dù chăn có dày cũng chẳng thấy ấm. Nằm được một chút, Dương Lăng lại bò dậy, mò mẫm xỏ giày vào.

Hàn Ấu Nương ló đầu ra hỏi:
- Tướng công, chàng… chàng đi đâu đó?

Dương Lăng hỏi:
- Đèn dầu thắp như thế nào? À không, đèn dầu ở đâu vậy?

Hàn Ấu Nương vội trở dậy đánh đá lửa thắp đèn. Dưới ngọn đèn dầu, gò má nàng ửng đỏ, cũng không biết là do thẹn thùng hay do ánh sáng phản chiếu, nhưng lại càng xinh đẹp thêm. Nàng bối rối hỏi Dương Lăng:
- Tướng công muốn đi ngoài sao? Bô đặt ở ngay phòng ngoài đó.

Dương Lăng lắc đầu:
- Không, ta định bỏ thêm chút củi vào lò.

Hàn Ấu Nương cầm đèn bước theo y ra phòng ngoài. Dưới bếp có chất một bó củi nhỏ đã được chẻ ra cẩn thận. Dương Lăng nhìn quanh rồi bước đến xó nhà, gom lại tất tần tật những bức liễn, giấy vàng mã và rổ cỏ đem nhét xuống đáy lò. Những thứ này đều được làm bằng thân sậy và giấy nên cực kỳ dễ cháy, không lâu sau ngọn lửa đã tắt lại cháy hồng lên.

Làm xong Dương Lăng lại nhét thêm củi vào từng que một. Hàn Ấu Nương mở miệng tính nói nhưng lại thôi, thầm nghĩ: “Đốt thì đã đốt rồi, dẫu sao phu quân cũng đã khỏe hơn, không cần mình phải luôn kề cận. Sáng mai mình dậy sớm lên núi đốn thêm một ít củi nữa là được rồi.”

Dương Lăng để cho lửa cháy từ từ, sau đó phủi phủi tay, quay đầu cười nói:
- Thế này là tốt rồi, đêm nay có thể ngủ ấm được một chút.

Lúc này nhờ ánh lửa trong bếp, y mới nhìn rõ Hàn Ấu Nương đang mặc một bộ đồ ngủ bằng vải thô màu trắng, mặc dù có vài miếng vá, nhưng vẫn không thể che dấu được vẻ yểu điệu động lòng người của nàng. Một chút da thịt thấp thoáng dưới cổ áo trông hết sức mê người.

Trống ngực Dương Lăng đập mạnh, vội vã dời ánh mắt đi không dám tiếp tục nhìn. Hàn Ấu Nương phát giác được cái nhìn của y, trên mặt cũng có chút thẹn thùng, bẽn lẽn dìu Dương Lăng về lại phòng trong. Lúc Dương Lăng tiếp lấy cây đèn từ trong tay Hàn Ấu Nương, y cảm thấy bàn tay nàng rất thô ráp, bèn cầm lấy nhìn một chút. Lòng bàn tay đã có vài vết chai sạn, da thịt trên lưng bàn tay ram ráp, có nhiều vết xước. Mặc dù hôm nay chỉ có thể xem như vừa mới quen thân, nhưng Dương Lăng vẫn đau xót không thôi.

Hàn Ấu Nương đỏ mặt lắc đầu, rụt rè rút tay lại nói:
- Tướng công, đừng để nhiễm lạnh, mau mau nghỉ ngơi đi!

Trải qua chuyện này, hai người cũng không còn câu nệ như trước nữa, một thứ tình cảm không rõ ràng âm thầm nảy sinh trong lòng họ. Sau khi chui vào trong chăn hai người cũng không còn dè dặt nữa.

Những khoảng trống trong chăn bị hơi lạnh tràn vào rất khó chịu. Dương Lăng không biết làm cách nào, cuối cùng chịu không nổi đành phải dịch người sát vào. Hàn Ấu Nương run lên, thân thể có chút căng cứng lại, nhưng vẫn ngoan ngoãn nằm im không nói lời nào.

Dương Lăng chỉ là muốn để cho nàng nằm sát vào mình, khít người lại để tránh cho hơi ấm thoát ra ngoài. Y tự giễu nói với Hàn Ấu Nương:
- Ấu Nương, bọn mình như vậy cũng có thể xem là lá lành đùm lá rách đó!

Vuốt nhẹ lên bàn tay nhỏ nhắn của Ấu Nương, y đau xót nói:
- Tay nàng bị nứt nẻ hết rồi, do giặt giũ và chẻ củi sao? Có đau không?

Hàn Ấu Nương a một tiếng rồi lắc đầu. Chợt phát hiện y không thấy được mình, nàng bèn nói:
- Không đau đâu tướng công. Chỉ cần chàng khỏe lại, Ấu Nương dù phải chịu khổ nhiều hơn cũng không oán hận.

Nghe xong, Dương Lăng không kiềm được siết chặt lấy tay nàng. Y cảm thấy lần chuyển thế này mặc dù là lần gian khổ nhất trong chín lần, nhưng lại khiến y vừa ấm áp lại vừa hạnh phúc. Qua một hồi, nghe thấy hơi thở của Hàn Ấu Nương không giống như đang ngủ, y không nén được lại hỏi:
- Đang nghĩ gì vậy?

Hàn Ấu Nương khẽ thở dài:
- Tướng công, thiếp đang nghĩ đến chuyện thi Hương của chàng sang năm. Trong nhà … đã hết tiền rồi. Nhà bên thiếp có hai ca ca, một đệ đệ, cha thiếp phải gánh vác rất nhiều, không giúp đỡ chúng ta được. Bốn mẫu ruộng núi nhà ta là được tổ tiên truyền lại nên không thể bán. Thi Hương là chuyện quan trọng cả đời của chàng, phải làm sao cho được đây?

“Bốn mẫu ruộng núi à?” - Dương Lăng chợt động tâm, chẳng để ý gì đến nguyên tắc không được động vào gia sản tổ tiên. Cách nghĩ này của y có thể bị cho là xấu xa, nhưng y chỉ nghĩ không biết bán đi bốn mẫu đất này sẽ được bao nhiêu tiền mà thôi. Tốt nhất là phát tài ngay lập tức, để mình có thể an nhàn yên ổn sống hết hai năm, khi chết đi vẫn có thể đảm bảo cho người con gái này suốt đời không cần phải lo lắng về cái ăn cái mặc.

Suy nghĩ lung tung một hồi, y cũng mệt mỏi dần, đồng thời cảm thấy phía dưới giường càng lúc càng ấm lên. Mặc dù Hàn Ấu Nương để cho y tùy ý dựa sát vai, nhưng thân thể nhỏ nhắn vẫn cuộn tròn lại, căng thẳng. Dương Lăng thấy buồn cười, bèn ngáp một cái, cười cười bảo:
- Ấu Nương, thả lỏng người một chút đi, nằm sát vào sẽ ấm hơn! Trời lạnh như vậy, nàng sợ ta sẽ làm gì chứ? À … đột nhiên ta lại nhớ đến người xưa.

Hàn Ấu Nương vừa bị y chọc đến đỏ cả mặt, nghe thấy những lời này, không rõ tướng công tú tài của mình muốn nói đến chuyện gì, không nén được lòng hiếu kỳ bèn hỏi:
- Tướng công nhớ đến người xưa nào vậy?

Dương Lăng cố nhịn cười, kể:
- Ta nhớ tới Liễu Hạ Huệ. Nếu như vị “quân tử” này không bị khuyết tật gì đó thì cũng không khác với tình cảnh hiện giờ của ta lắm: trời đông giá rét, ở dưới cổng thành ôm một thiếu nữ vào lòng mà tâm không loạn. Ta cũng làm được, bởi vì … thật sự là lạnh quá rồi, ý nghĩ xấu xa gì cũng bị đông lại hết.

Hàn Ấu Nương cười khúc khích. Trước lúc xuất giá nàng còn lo rằng tướng công của mình là một “ông tú tài” nhàm chán, cứng nhắc, không ngờ chàng … lại thú vị như vậy. Trong lòng nàng dâng lên một thứ cảm giác kỳ lạ.

“Đây là phu quân bầu bạn cả đời với mình, là người thân thiết nhất của mình sau này.” - Tâm hồn nhỏ bé của nàng khẽ thở phào, sự thân thiết và ngưỡng mộ khiến nàng bất giác nhích sát lại gần Dương Lăng, thân thể đang căng cứng cũng dần thả lỏng ra.

Không kìm lòng được, nàng nép người vào Dương Lăng, kề sát bên tai y thỏ thẻ:
- Tướng công, thiếp nguyện ý dựa sát bên chàng như vậy, bất kể sinh lão bệnh tử, phú quý bần cùng, thiếp cũng không oán không hận sẵn lòng cùng chàng chia sẻ, mãi mãi.

Nghe được tiếng lòng mà Hàn Ấu Nương mượn bóng tối để thổ lộ với mình, con tim Dương Lăng không khỏi khẽ rung lên. Trên thế gian này, chẳng phải mỗi người đều nỗ lực tìm kiếm một nửa còn lại sẵn sàng nói ra ba chữ “ta nguyện lòng” với mình đó sao? Sự xúc động khiến y thiếu chút đã buột miệng nói với nàng rằng y cũng nguyện lòng ở bên nàng như vậy cho đến hết đời nhưng lời vừa ra đến miệng lại nuốt trở vào. Hai năm trên cõi nhân gian mà thôi … y nén tiếng thở dài vào nơi sâu thẳm.

Cơ thể Hàn Ấu Nương mảnh mai, mềm mại, ấm áp, ôm vào trong lòng rất dễ chịu. Lòng yêu thương lấn át cả dục vọng, cơn buồn ngủ ập tới, Dương Lăng ngáp mấy cái rồi chìm vào giấc ngủ say.


--------------







Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

TheJoker
13-05-2010, 11:37 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 6 - Rời nơi núi đồi

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Melly

Biên tập: Melly

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Nhưng ngược lại, nếu vào thành, không chừng y sẽ như bọn người may mắn quay ngược thời gian trong truyện, nghĩ ra được vài phát minh hay sáng chế, kiếm một mớ tiền lớn, bảo đảm Hàn Ấu Nương không phải lo chuyện cơm áo. Cho nên y mới khăng khăng đòi rời khỏi nơi này.



--------------
Con gà trống bên vách liên tục rướn cổ gáy vang. Đang ngủ say sưa, Dương Lăng mơ màng tỉnh giấc, định đưa tay rờ rẫm thì bỗng thấy trước ngực trống trơn. Y bừng mở mắt, trong chăn đã vắng lạnh, chỉ còn mỗi mình y.

Dương Lăng cười khổ, vốn tưởng sẽ chăm lo cho người ta, ai dè người ta đã dậy tự hồi nào mà mình vẫn ngủ nướng. Y quơ lấy quần áo mặc vào, một bộ y phục vải bông xanh lốm đốm vài mảnh vá.

Ra ngoài phòng, ló đầu nhìn quanh mà không thấy bóng dáng của Hàn Ấu Nương đâu, Dương Lăng bước luôn ra cổng. Khí trời giá rét, hơi lạnh xộc thẳng vào mũi. Y co duỗi tay chân, vươn vai ưỡn ngực, cảm thấy tinh thần thoải mái lên rất nhiều.

Tia nắng ban mai đã ló dạng. Nơi này là một ngôi làng bé nhỏ nằm bên sườn núi, chỉ có dăm chục gian nhà, đa số đều ọp ẹp tồi tàn. Dưới sườn núi còn có mấy mươi căn, trông kiểu dáng cũng không tệ, hẳn là thuộc về những gia đình giàu có.

Dương Lăng đang đứng ở bên tường nhìn xuống chân núi, chợt nghe thấy tiếng cổng kêu ken két. Xoay đầu nhìn lại, y thấy ngay bó củi thật to, trên vài nhánh còn vương ít tuyết, bên dưới là một thân hình nhỏ nhắn, thật chẳng cân xứng với bó củi lớn đến thế kia. Dưới bó củi đó lộ ra một khuôn mặt đỏ bừng vì giá lạnh.

Dương Lăng lấy làm xấu hổ, vội vàng chạy đến hỏi han:
- Ấu Nương, nàng sao lại... Mau, mau để xuống đi, sao đốn nhiều củi vậy?!

Hàn Ấu Nương trông thấy y lại còn cuống quít hơn, nàng vội vã đặt bó củi xuống, cầm rìu chạy đến đỡ lấy y, lo lắng nói:
- Tướng công, sao chàng lại ra đây? Bên ngoài lạnh lắm đó, hãy mau trở vào phòng đi.

Dương Lăng có phần tự oán trách bản thân. Y liền giật lấy cây rìu trong tay Ấu Nương ném sang một bên, hai tay nâng lấy khuôn mặt nhỏ nhắn đang đỏ bừng, cảm động nói:
- Ấu Nương, từ giờ về sau đừng đốn nhiều củi như vậy nữa. Nàng phải gọi ta dậy, mấy việc nặng nhọc này phải nên để cho bọn đàn ông chúng ta làm mới phải.

Bị y ôm lấy đôi má, Hàn Ấu Nương cảm thấy ấm áp vô cùng, nhưng nàng vẫn nghiêm túc bảo y:
- Vậy sao được? Chàng là tú tài mà, làm mấy công việc này sẽ bị người khác cười cho đó. Tướng công, hãy mau quay trở về phòng đi, kẻo lạnh đấy.

Hai tay nàng lạnh ngắt, mu bàn tay đỏ ửng, mười ngón tay cũng đã hơi cứng lại. Dương Lăng lấy tay mình bọc đôi bàn tay nhỏ bé của nàng, rảo bước vào trong nhà:
- Nàng mới cần phải mau vào nhà cho ấm đó. Nàng ăn mặc sơ sài quá đi.

Giọng y có phần chán nản:
- Nhà này nghèo đến độ chẳng còn bộ y phục nào ư?
Hàn Ấu Nương xấu hổ, cười đáp:
- Không đâu, vẫn còn bộ đồ mới, nhưng thiếp muốn sang năm mới mặc, bây giờ chưa nỡ dùng. Tướng công, chàng đói chưa, để thiếp đi làm chút đồ ăn.

Dương Lăng chợt thấy sống mũi cay cay, thầm nhủ: “Ngưu Đầu, Mã Diện, các người đã thắng rồi đấy. Nếu chưa thể mang lại cho người con gái xinh đẹp đáng thương này được một cuộc sống tốt đẹp, cho dù các người có lôi ta về làm hoàng đế(1) ta cũng sẽ không về.”

(1) ở đây tác giả chơi chữ, nguyên văn "tố cửu thiên tuế tái gia nhất thiên tuế" nghĩa là chín ngàn năm cộng một ngàn năm = mười ngàn năm, cũng chính là vạn tuế (hòang đế).

Kéo Hàn Ấu Nương đến mép giường ngồi xuống, Dương Lăng phanh áo ra, cầm lấy hai tay nàng đặt lên ngực mình, giọng y mang khí khái của một đại trượng phu:
- Ngồi yên ở đấy, giữ tay cho ấm rồi mới được nói, xem nàng bị đông cứng lại hết rồi kìa.

Hàn Ấu Nương ngẩn ngơ nhìn y, mũi sụt sịt, rồi đột nhiên thút thít rơi lệ. Dương Lăng chợt hoảng, vội vã hỏi:
- Ấu Nương, nàng sao vậy?

Hàn Ấu Nương rút một tay ra khỏi ngực y, gạt nước mắt, thẹn thùng cười bảo:
- Không, thiếp vui đấy mà. Tướng công, chàng đối xử với thiếp thật quá tốt, được gả cho chàng, ấy là phúc của Ấu Nương.

Hàn Ấu Nương cảm thấy thật hạnh phúc, ông trời đã không bạc đãi nàng, không những đã trả người chồng lại cho nàng, mà người chồng này còn rất dịu dàng ân cần, không hề có chút tính cách của một "ông tú tài". Thế gian này đã thực sự cho nàng quá nhiều, trái tim bé nhỏ của nàng tràn ngập sự mãn nguyện. Nhìn thấy niềm hạnh phúc dâng đầy trên khuôn mặt ấy, Dương Lăng không kìm lòng nổi ôm choàng lấy nàng.

Bữa ăn sáng vẫn là cháo ngô cùng dưa muối, Ấu Nương đã nấu cháo nhiều hơn so với ngày hôm qua một chút. Dẫu gì cũng đói hai bữa, Dương Lăng ăn thứ cháo rau vốn khó nuốt này vẫn cảm thấy khá ngon miệng, nhai cái món “rau đông đá” này nghe "rôm rốp". Đột nhiên y hỏi:
- Ấu Nương, bây giờ một mẫu đất đáng bao nhiêu tiền?

Hàn Ấu Nương ngơ ngác một hồi rồi mới trả lời:
- Tướng công, nếu là đất tốt ở bên Tuyên phủ Đại Đồng thì một mẫu khoảng từ sáu đến tám lạng. Ruộng núi nhà chúng ta cũng xấp xỉ bốn lạng bạc.

"Chỉ bốn lạng?". Dương Lăng thất vọng tràn trề. Hàn Ấu Nương chớp chớp mắt không hiểu, nói:
- Bốn lạng cũng không ít mà, đó là tới bốn xâu tiền lận đó, mấy nhà nông dân chúng ta có thể dùng tới hai năm đấy.

Dương Lăng giật thót, sực nhớ ra y vẫn theo thói quen suy diễn vấn đề theo quan niệm hiện đại. Hỏi khéo nàng thì mới biết được một lạng bạc vào khoảng một ngàn văn tiền(2), nói dùng cho hai năm là đã tính rộng rãi. Mấy hộ nghèo đơn chiếc nếu tiết kiệm thì có thể dùng hơn ba bốn năm. Khó trách vì sao Ấu Nương lại bảo là không ít. Có điều cách tính này là đã tính lương thực tự trồng, chứ một lạng cùng lắm chỉ chi tiêu trong vòng một năm.

(2) văn tiền: đơn vị tiền nhỏ nhất (tương đương với xu)

Dương Lăng cẩn thận tính toán, một mẫu bốn lạng, vậy bốn mẫu sẽ là mười sáu lạng, xem ra không ít, nói chung cũng đủ để Ấu Nương dùng hơn mười năm. Song với tình hình ngày hôm qua, nếu như không có mình, chỉ e tộc nhân Dương thị sẽ không dễ dàng nhượng lại ruộng đất cho Ấu Nương.

Nhưng... nếu là mình muốn bán ruộng đất thì chẳng ai có quyền cản trở. Y thầm tính một hồi rồi mở miệng nói:
- Ấu Nương, ta muốn bán hết ruộng đất nhà cửa, dọn vào trong nội thành ở.

Hàn Ấu Nương tròn mắt thất kinh, vội thốt lên:
- Gì chứ? Như thế... như thế sao được? Đó là đất đai của cha mẹ chàng để lại, làm sao có thể mất trong tay chúng ta chứ? Tướng công, chàng lo lắng chúng ta sẽ hết kế sinh nhai phải không? Chàng chớ nên suy nghĩ, những ngày gần đây vì chàng lâm bệnh nên thiếp không dám rời chàng quá xa. Bây giờ chàng đã khỏe lại, chỉ cần an tâm chăm lo đọc sách là được. Thiếp từ nhỏ đã theo cha học bản lãnh săn bắn, qua mấy ngày nữa sẽ lên núi săn thú. Chỉ cần ráng qua khỏi mùa đông này, chờ cho đến khi ruộng đất nhà chúng ta có thu hoạch thì sẽ có thể trả hết số nợ mà chúng ta đã vay mượn.

Dương Lăng khổ sở nói:
- Băng tuyết ngập trời, một nữ nhân như nàng đi lên núi săn bắn sẽ rất nguy hiểm. Thời gian qua đã khổ cho nàng nhiều rồi. Ta nghĩ với tài viết lách và tính toán của ta, vào nội thành thế nào cũng sẽ tìm ra một công việc. Ta thật sự... thật sự không nhẫn tâm để nàng mới chừng này mà vẫn phải nuôi dưỡng một phế vật như ta.

Hàn Ấu Nương hoảng hốt đứng dậy, lật đật kêu:
- Tướng công, chúng ta là phu thê mà sao chàng lại nói ra những lời như vậy? Chàng là tú tài, là người có công danh, sao có thể đi làm mấy chuyện thấp kém đó được.

Dương Lăng không cho là đúng, hỏi ngược lại:
- Những việc đó có gì mà thấp kém? Chẳng lẽ ngay cả vợ mình cũng chăm sóc không nổi thì mới là cao thượng sao?

Không ngờ Hàn Ấu Nương vừa nghe đã rơi nước mắt, thút thít nói:
- Thiếp không thể chăm sóc tốt tướng công, để cho một tú tài như chàng phải đi làm mấy công việc thấp kém đó, sau này xuống cửu tuyền thiếp còn mặt mũi nào để gặp cha mẹ của chàng chứ. Tướng công, thiếp xin chàng, có nhà thì mới có căn cơ, rời quê xa xứ, lưu lạc tha phương sao có thể tính là kế lâu dài?

Dương Lăng thấy nàng rơi lệ liền cuống lên, vội vã đặt bát xuống bàn, kéo nàng vào lòng, khẽ lau nước mắt cho nàng, rồi nhẹ nhàng an ủi:
- Ngoan nào, Ấu Nương đừng khóc, nàng khóc là lòng ta chịu không nổi đâu. Nàng hãy nghe ta nói. Năm sau sẽ tổ chức thi Hương, mà nhà chúng ta thậm chí không có đủ lộ phí thì sao lên tỉnh thành tham gia thi Hương được? Ta làm vậy là để cắt đứt hết đường lui, quyết một trận tử chiến(3), mà ta cũng có thể tập trung tinh thần đọc sách. Vi phu là tú tài trẻ tuổi nhất Tuyên phủ, nàng có lòng tin ta sẽ thi đỗ cử nhân hay không?

(3) nguyên văn "phá phủ trầm chu, bối thủy nhất chiến", nghĩa đen: đập nồi dìm thuyền, dựa sông mà đánh giặc. Ý cắt đứt hết đường lui để làm một trận sống mái. Thuyết Hạng Vũ xưa đem quân đi đánh Cự Lộc, sau khi qua sông thì dìm hết thuyền, đập vỡ nồi niêu để binh sĩ thấy không có đường lui, phải quyết tâm đánh thắng.

Hàn Ấu Nương cuống quít gật đầu:
- Vâng, Ấu Nương tin, tướng công nhất định sẽ có thể thi đỗ cử nhân, sau đó lại tiến kinh tham gia thi Đình, tương lai nhất định sẽ làm đại quan.

Dương Lăng cười nói:
- Thế thì được rồi, nàng còn tiếc mấy mẫu ruộng núi này làm gì? Nếu muốn mua đất, sau này chúng ta sẽ mua cả trăm khoảnh(4) đất tốt, quang tông diệu tổ, tương lai chẳng phải sẽ càng có thêm niềm hãnh diện để đi gặp cha mẹ sao?

(4) một khỏanh tương đương với 100 mẫu, chừng 6,7 héc-ta

Hàn Ấu Nương nghiêng đầu suy nghĩ kỹ rồi chần chừ đáp:
- Tướng công nói cũng có đạo lý, nhưng mà... nhất định phải bán ruộng đất đi sao? Không thì... mượn thúc thúc mấy lạng tiền lộ phí, chàng chỉ cần lo tham gia thi cử, thiếp ở nhà cấy cày, như vậy chẳng phải sẽ ổn thỏa hơn nhiều sao?

Nhìn cái mảnh đất nghèo khó hoang vu này, Dương Lăng liên tưởng tới một nhà kinh tế học bị rơi vào một bộ lạc nguyên thủy, xa rời chế độ và trình độ năng lực sản xuất hiện tại, những thứ mà y hiểu biết căn bản sẽ không có chỗ dùng.

Nhưng ngược lại, nếu vào thành, không chừng y sẽ như bọn người may mắn quay ngược thời gian trong truyện, nghĩ ra được vài phát minh hay sáng chế, kiếm một mớ tiền lớn, bảo đảm Hàn Ấu Nương không phải lo chuyện cơm áo. Cho nên y mới khăng khăng đòi rời khỏi nơi này.

Dĩ nhiên y sẽ không nói thẳng với Hàn Ấu Nương những suy nghĩ trên, cho nên kiếm cớ bảo:
- Hôm qua nàng cũng thấy rồi đó, hiện tại ta thật sự không muốn mang ơn vị thúc thúc đó. Huống hồ…

Y kề sát tai Ấu Nương cười nói:
- Đêm qua nàng đã nhầm ta với ai à? Những ngày qua có phải đã có mấy tên vô lại đến ve vãn nàng phải không? Ta làm sao có thể yên tâm để ái thê bé bỏng xinh đẹp như vậy ở lại đây một mình chứ.

Y chỉ nghĩ trêu mấy câu này thì sẽ làm cho Hàn Ấu Nương xấu hổ mà cười rồi đánh yêu y một phen. Ai dè, Hàn Ấu Nương vừa nghe y nói xong, sắc mặt lập tức trắng bệch, vùng mạnh ra khỏi ngực y, run rẩy nói:

- Tướng công, chàng nói thiếp đưa ong dẫn bướm, không giữ đạo làm vợ đó sao? Phụ nhân chi nghĩa, tòng nhất chi chung(5), đó là cái truyền thống cổ xưa. Ấu Nương tuy là con gái của một thợ săn, nhưng cũng biết những cái đạo lý làm người này, làm sao có thể làm ra được những chuyện bỉ ổi khiến thiên lôi muốn đánh, thần thánh chẳng dung đó chứ?

(5) cái nghĩa của người làm vợ là phải thờ chồng suốt đời
Dương Lăng bị dọa cho nhảy dựng, không nghĩ vốn mấy câu nói đùa lại khiến cho nàng phản ứng gay gắt đến như vậy. Y vội vàng dỗ dành:
- Ấu Nương, nàng quá nhạy cảm rồi, ta... vi phu chỉ là muốn trêu nàng, khen nàng xinh đẹp thôi, nào có ý trách móc gì nàng, nàng ngàn vạn lần chớ có đa nghi. Được rồi, coi như vi phu đã nói sai đi, đến đây, vi phu sẽ chịu phạt, nàng hãy đánh ta mạnh vào.

Dương Lăng chộp lấy nắm tay của Hàn Ấu Nương nện vào ngực mình một trận. Thấy nàng vẫn nước mắt lưng tròng, tức thì nhanh trí, giả bộ ho mấy tiếng. Kế này quả nhiên hữu hiệu, Hàn Ấu Nương lập tức quên mất phiền muộn, lật đật đỡ lấy y:
- Tướng công, có phải là thân thể chàng không khỏe không? Hãy mau nằm xuống nghỉ đi.

Dương Lăng cười thầm, xem ra lấy chiêu này đối phó với nàng ấy trăm lần đều sẽ trúng. Y giả vờ mang bộ dạng thật hư nhược để cho nàng dìu nửa nằm nửa ngồi trên giường, sau đó ho nói:
- Ta không sao, chỉ là tùy tiện trêu chọc nàng, vô ý lỡ lời, thấy nàng thương tâm buồn bã, mà ta thì mồm miệng vụng về, lại chẳng giải thích rõ, trong lòng nóng vội, thế là... khụ khụ....

Hàn Ấu Nương liền nói:
- Ấu Nương tin, Ấu Nương tin tướng công! Hết thảy hãy để cho phu quân an bài là được.

Nàng dựa vào lòng Dương Lăng, hai tay ôm lấy eo y, sợ y lo lắng buồn bực mà sẽ có bất trắc gì, luôn miệng đáp ứng. Qua một hồi lâu, nàng mới khẽ thở dài một tiếng, nói:
- Thiếp hết thảy sẽ đều theo ý phu quân. Chỉ có điều... vẫn xin phu quân để cho thiếp mấy ngày, chàng hãy điều dưỡng cho thân thể được khỏe lên đôi chút, thiếp muốn quay về nhà cha mẹ ở khe núi, dẫu gì cũng phải báo cho phụ thân một tiếng. Mấy hôm trước chàng hôn mê đến kịch liệt, cha đã đến thăm chàng, còn tặng mấy con thú săn được. Chỉ là... trong nhà cũng rất khốn khó, mấy hôm nay cha, huynh trưởng và thúc bá vào sâu trong núi săn bắn vẫn chưa về.

Dương Lăng sẵn lòng đồng ý ngay:
- Đó là lẽ đương nhiên. Nhà cửa đất đai không phải nói muốn bán là sẽ tìm được người mua ngay, dẫu gì thì cũng phải đợi dăm ba ngày. Mấy bữa nữa ta và nàng hãy cùng nhau đi gặp nhạc trượng đại nhân.
--------------


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
16-05-2010, 10:22 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 7 - Người đẹp trên lưng ngựa

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo_vong

Biên tập: duahau

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Hỡi ôi, lúc trước đọc tiểu thuyết thấy mấy nhân vật vượt thời gian trong truyện muốn phát tài liền có người vội đưa tiền tới, muốn làm quan lập tức có hoàng thượng chạy ra khóc lóc năn nỉ xin hắn ta ra làm quan, muốn gặp mỹ nữ thì dù chỉ ra khỏi ngõ cũng gặp được vài ba nàng. Liệu có phải là mình quá kém cỏi không nhỉ?


--------------
Cổ ngữ có câu: "Muốn tới kinh thành phải qua ải Cư Dung, muốn đến ải Cư Dung tất phải đi qua trạm Kê Minh." Trạm Kê Minh cùng với Thổ Mộc bảo cách đó sáu mươi dặm tạo thành thế ỷ dốc, lại kết hợp với Du Lâm hình thành nên ba cửa ải lớn bảo vệ kinh thành.

Dương Lăng và Hàn Ấu Nương đã chuyển nhà ra khỏi vùng núi hẻo lánh. Đầu tiên hai vợ chồng tới thăm vị nhạc phụ đại nhân mà Dương Lăng chưa từng biết mặt, nhưng lại đúng lúc Hàn lão đại dẫn con trai đi săn trên núi chưa về. Hiện giờ tuyết to gió lớn, phụ thân lại vào sâu trong rừng nên Hàn Ấu Nương đoán ít ra cũng phải mươi ngày nửa tháng nữa người mới quay về. Thế là nàng bèn nhắn lại tin mình đã dọn nhà vào trong thành với hàng xóm xung quanh, sau đó cùng Dương Lăng đi Kê Minh.

Dương Lăng chỉ nhớ có nghe qua về cái tên Thổ Mộc bảo. Theo trí nhớ của y, từng có một vị hoàng đế triều Minh dẫn theo năm mươi vạn đại quân đã bị thủ lĩnh bộ tộc Ngõa Lạt (CT: chỉ các bộ tộc ở Tây Mông Cổ, bao gồm phía bắc Tân Cương, Trung Quốc và phía tây nước Mông Cổ ngày nay) đánh cho đại bại ở nơi này, và ông ta đã trở thành một trong số ít các hoàng đế không may bị bắt sống. Nhờ đọc "Bình Tung Hiệp Ảnh" của Lương Vũ Sinh nên y mới biết được chuyện này.

Trong ấn tượng của y, e là chỉ có mấy nơi như Tuyên Đức, Đại Đồng mới đáng được gọi là thành. Tuy nhiên, khởi hành rồi y mới biết giao thông thời này rất bất tiện, còn Kê Minh, mặc dù là một tòa thành nhỏ, nhưng những hàng quán như hiệu buôn, tiệm cầm đồ, hàng dầu, quán trà, quán ăn, loại gì cũng có.

Nơi này là cửa ngõ qua lại giữa kinh thành và vùng Tây Bắc, thương nghiệp phát triển, giao thông tiện lợi, vì thế cũng có thể xem là rất phồn hoa.

Dương Lăng và Hàn Ấu Nương thuê một căn phòng nho nhỏ ở xưởng dầu của nhà họ Tương. Nhà cửa đất đai đều không còn nữa, trên người lại chỉ có khoảng mười lạng bạc, Hàn Ấu Nương sao có thể ngồi không một chỗ! Nàng bèn tới một tiệm may ở đầu phố xin một chân may vá.

Dương Lăng cũng muốn ra ngoài đi lại xem có cách gì để làm giàu không, hoặc ít nhất cũng phải tìm lấy một công việc, chứ để một thiếu nữ mới mười lăm tuổi đầu nuôi, y thật sự cảm thấy không ổn. Nhưng Hàn Ấu Nương lại khăng khăng không chịu, nàng muốn y ở nhà chuyên tâm đọc sách. Dương Lăng cũng đành nghe theo, miệng thì đáp ứng, nhưng nhân lúc nàng không ở nhà liền bắt chước đám học sinh cúp tiết, lẻn ra ngoài đi lăng xăng khắp nơi.

Nào là dịch trạm (CT: trạm truyền đưa văn thư), cửa hàng xe ngựa, tiệm cầm đồ, rồi chùa chiền, mấy chỗ này làm gì có công việc thích hợp với y! Đi cả ngày trời, vắt nát cả óc vẫn không nghĩ ra được cách nào để phát tài, thấy một tiệm rượu, thế là y bước vào kêu ba lạng thịt bò muối, một bình rượu trắng nhỏ, sau đó bắt đầu thưởng thức. Mùi vị của thứ rượu trắng được lên men từ gạo nguyên chất này còn ngon hơn loại rượu cả trăm tệ mà y từng uống tại các nhà hàng lớn. Cho dù có dở thì gã Dương Lăng đáng thương này cũng có biết cách nấu rượu đâu mà phát tài được.

Hỡi ôi, lúc trước đọc tiểu thuyết thấy mấy nhân vật vượt thời gian trong truyện muốn phát tài liền có người vội đưa tiền tới, muốn làm quan lập tức có hoàng thượng chạy ra khóc lóc năn nỉ xin hắn ta ra làm quan, muốn gặp mỹ nữ thì dù chỉ ra khỏi ngõ cũng gặp được vài ba nàng. Liệu có phải là mình quá kém cỏi không nhỉ?

Dương Lăng chán nản uống hết chén rượu chất chứa buồn phiền, sau đó trả bảy văn tiền và rời khỏi quán. Giấu tay vào trong áo, y buồn bực bước đi trên con đường đầy tuyết, tiếng sột soạt vang lên theo từng bước chân. Tòa thành này thật ra rất phồn hoa, lượng người qua lại cũng rất lớn. Nhưng bạn đừng có lấy hình ảnh mọi người đi lại chen chúc của thời nay ra mà tưởng tượng, thời đó không có nhiều người như vậy.

Con đường này tuy tương đối nhộn nhịp, cửa hàng cửa hiệu xếp san sát nhưng người đi lại thật ra cũng chỉ lác đác, không thể xem là nhiều. Sau lưng Dương Lăng chợt vang lên một tràng tiếng vó ngựa dồn dập. Theo thói quen y chỉ tránh đường khi nghe tiếng còi xe, do đó lúc này y vẫn tỉnh như không, cứ bước ngay giữa đường. Đột nhiên vai phải y như bị vật gì quất mạnh xuống, cả người lảo đảo về phía trước, suýt chút nữa là ngã.

Y lấy lại thăng bằng rồi quay đầu nhìn lại, một thớt ngựa thân hình to lớn, lông màu hạt dẻ đang thở phì phò đứng ngay bên cạnh, từ trên ngựa vọng xuống tiếng mắng:
- Ngươi bị điếc hả?

"Cái gì? Đã đụng người ta mà còn ngang ngược?" Dương Lăng tức giận bừng bừng, ngước mắt nhìn lên yên ngựa. Người trên ngựa đội một chiếc mũ da che kín hai tai, để lộ khuôn mặt phấn hồng xinh xắn, mi cong mềm mại, hai hàng lông mày đen nhánh, chiếc mũi dọc dừa nằm ngay dưới cặp mắt long lanh, miệng hồng chúm chím.

Cặp mắt Dương Lăng không tự chủ được sáng rực lên, vừa nhắc mỹ nữ, mỹ nữ đã tới. Mỹ nữ này thật sự là đệ nhất đại mỹ nữ y từng gặp kể từ khi bước chân vào thế giới cổ đại. Từ đôi mày ánh mắt đến mũi ngọc môi hồng, không chỗ nào không quyến rũ. Sự quyến rũ của một nữ nhân chân chính. Trông nàng mới chỉ xấp xỉ mười bốn, mười lăm tuổi, giờ đã đẹp thế này rồi, lớn hơn chút nữa không biết sẽ còn đẹp đến mức nào đây?

Ấu Nương mặc dù cũng là một cô gái xinh đẹp, song vầng trán lại hơi đậm tính cương nghị, đường nét khuôn mặt cũng không yêu kiều bằng. Mà cái khí chất của một cô gái thuần phác miền thôn dã lại càng không thể nào sánh được với khí chất trang nhã cao quý của thiếu nữ trước mặt đây. Có nhìn thấy đôi mắt cực kỳ quyến rũ trên khuôn mặt trái xoan của nàng người ta mới hiểu được hồ ly tinh trông như thế nào.

Nàng mặc đồ nam, bên ngoài khoác chiếc áo choàng màu xanh lục nhạt của nước hồ, để lộ đôi ủng da hươu ống ngắn ở bên dưới. Mày liễu nhướng lên, nàng đang tức giận quát Dương Lăng. Khi thấy y xoay lại, trên người mặc áo vải bông màu xanh nước biển, bên ngoài khoác áo choàng dài màu xanh da trời, dáng người cao ráo, khuôn mặt tuy mang vẻ thư sinh nhưng đường nét lại khá anh tuấn, quan trọng nhất là cặp mắt có thần, nhìn rất thuận mắt, nên cơn tức của nàng cũng tạm thời vơi đi vài phần.

“Hây” có tiếng hét ghìm cương, một người cưỡi ngựa chạy tới bên cạnh. Kỹ thuật rõ ràng là không bằng thiếu nữ xinh đẹp kia, đầu ngựa hất cao, hí vang một tiếng dài, vó đạp tuyết bắn tung tóe. Hắn hơi kiễng mông ổn định thân người rồi mới lớn tiếng:
- Sao vậy muội? Này, tiểu tử mù nhà ngươi đã va vào muội muội của ta phải không?

Gã này khá vạm vỡ, trên người mặc một áo chẽn ngắn nút cài bên, đầu đội mũ nỉ màu tím, tuổi độ hai mươi, da màu đồng, mắt to mày rậm. Gã có phong thái hiên ngang, mặt tràn đầy vẻ kiêu ngạo, trông hết sức gan dạ, dũng cảm. Vừa nói gã vừa rướn người tới, cây roi ngựa trong tay quất vút xuống người Dương Lăng.

Tên này nói đánh là đánh, thật quá bạo ngược. Dương Lăng tránh không kịp, lại sợ bị quất trúng mặt nên theo phản xạ y đưa tay lên che. Thiếu nữ nọ hơi vươn người ra, cây roi ngựa trên tay phải vút thẳng đến quấn lấy roi của ca ca. Rồi nàng kéo về phía sau, không cho nó đánh xuống.

Bật cười khúc khích, nàng thúc ngựa chạy tới bên cạnh Dương Lăng, nói với gã kia:
- Bỏ đi ca ca, trông người ta thế này chắc là kẻ đọc sách, sao có thể chịu được cây roi của huynh chứ? Này, thư sinh, đừng có sợ, bổn cô nương tha cho ngươi đó …

Giọng cười ngọt ngào của cô nàng nghe hết sức êm tai, phong cách thân thiện lại có phần châm chọc.

Dương Lăng bỏ tay xuống, ngẩng đầu ngắm nhìn dung nhan kiều diễm của nàng, khuôn mặt ấy xinh tựa hoa đào. Dương Lăng đã trải qua chín kiếp, từng gặp không biết bao nhiêu mỹ nữ, ấy vậy mà vẫn bị tiểu mỹ nhân có sức quyến rũ chết người này làm cho tim đập thình thịch.

Đôi mắt lấp lánh của thiếu nữ biểu lộ tình cảm rất phong phú. Dường như đã quen với phản ứng của bọn đàn ông khi lần đầu thấy sắc đẹp của mình, tuy nhiên khi thấy ánh mắt Dương Lăng mặc dầu đầy ngưỡng mộ, nhưng lại không có cái vẻ tham lam háo sắc của bọn nam nhân đáng ghét kia, mắt nàng lộ vẻ thú vị. Chăm chú nhìn y một chút, nàng quay đầu sang bảo với gã kia:
- Ca, đi thôi, còn phải mua lễ vật nữa!

Nói rồi, nàng thúc chân vào bụng ngựa, cười nhắc Dương Lăng:
- Thư sinh hãy nhường đường, ta không muốn lại va vào ngươi nữa.

Trong chuỗi cười khanh khách của nàng, con ngựa màu hạt dẻ lướt đi, kỹ thuật của thiếu nữ này quả thật rất giỏi.

Khi bóng dáng yêu kiều xinh xắn lướt qua, Dương Lăng ngửi thấy hương thơm quý phái thoang thoảng mê người.

Gã thanh niên to như con báo kia hung hãn trừng mắt nhìn Dương Lăng, hừ một tiếng, rồi cũng nghênh ngang thúc ngựa chạy theo sau muội muội. Dương Lăng chẳng phải người thích ẩu đả, mà y cũng chẳng có bản lĩnh đánh nhau, nên chỉ cười nhạt không nói gì. Khi thấy hai người đã đi xa, y tiếp tục chậm rãi bước về phía trước.

Dương Lăng cứ trông thấy cửa hàng là bước vào dạo quanh, hy vọng sẽ nảy ra được ý tưởng làm giàu. Tiếc là y nghĩ không ra thứ gì thích hợp để có thể ứng dụng, vừa phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật của người thời này, vừa là kiến thức y hiểu rõ. Vất vả lắm y mới nghĩ ra kẹo hồ lô, ngay lập tức liền thấy hai ông lão đang đứng ở góc đường với hai cây nộm rơm cắm đầy kẹo hồ lô.

Dương Lăng chua chát nghĩ: "Không biết thịt dê xiên của Tây Vực đã truyền đến Trung Nguyên hay chưa, nếu chưa thì xem như chỉ có mình là tung ra được. Nhưng bán thịt xiên thì làm sao mà giàu được đây? Về phương diện ẩm thực, yêu cầu của người xưa đối với vẻ ngoài quan trọng hơn mùi vị nhiều, nếu không thì trong ba thứ 'sắc, hương, vị' của đồ ăn cũng đã chẳng đặt chữ 'sắc' lên hàng đầu."

Ngẫm lại thì cho dù ở thời đại của mình, thịt dê xiên cũng không phải là món ăn có thể đưa vào những nơi trang trọng. Những người có thân phận khi uống rượu giao lưu, ai lại cầm xiên thịt lên mà gặm chứ. Còn với kẻ không có tiền, bảo hắn bỏ ra một văn tiền để ăn mấy viên thịt, chỉ e hắn sẽ không đành lòng.

Tưởng tượng tới việc mình mặc một chiếc áo khoác dài sọc xanh trắng, gắn thêm bộ râu giả, đứng bên cái giá sắt hun khói, vừa giả làm người Tây Vực để mời gọi khách hàng, vừa nướng xiên thịt; còn Hàn Ấu Nương thì ngồi đằng sau cầm mấy que trúc xiên thịt chuột chết, Dương Lăng không khỏi rùng mình: dựa vào thứ đó mà có thể làm giàu ở thời đại này sao? Có đánh chết mình cũng không tin.

Bó tay lê bước, nhìn thấy một cửa hàng nhạc cụ, Dương Lăng bước vào, vừa liếc mắt đã trông thấy hai huynh muội khi nãy cũng đang đứng ở bên trong. Thấy có người vào, thiếu nữ đó cũng quay đầu lại nhìn. Bị bắt gặp, Dương Lăng giờ có muốn quay trở ra cũng bất tiện, sợ bị người ta chê cười là nhát gan.

Lúc này thiếu nữ kia đã bỏ chiếc mũ trên đầu xuống, để lộ ra gương mặt thanh tú, đường nét đẹp như tranh vẽ cùng với mái tóc được vấn ba búi trên đầu. Khi xoay lại nhìn thấy y, thiếu nữ không khỏi mỉm cười rồi lại quay đầu về, vuốt ve một chiếc đàn cổ ở trên bàn.

Dương Lăng không am hiểu về nhạc cụ, nhưng mới vừa thấy người ta đã bỏ đi thì cũng không tiện lắm. Cho nên y làm bộ làm tịch cầm lấy một cây sáo trúc lên nhìn nhìn ngắm ngắm, nhưng mắt lại lén nhìn về phía thiếu nữ.

Nàng chỉ cúi đầu nhìn cây đàn. Trông hình dáng cây đàn đó đúng là đồ quý hiếm trong các loại đàn: dáng vẻ cổ xưa, mặt ngoài bóng loáng như vàng mà chẳng phải vàng, hoa văn tinh xảo, chất liệu sử dụng cũng là loại gỗ đồng cổ (CT: tên khoa học Aleurites cordata, là một thứ gỗ dùng để đóng đàn).

Ánh mắt thiếu nữ lộ vẻ vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, đưa ngón tay ngọc ra vuốt nhẹ dây đàn, trong phòng vang lên những nốt nhạc êm tai.

- A ha, âm điệu thật không tệ!
Thiếu nữ vui thích reo lên. Một ngón tay ấn lên dây thứ nhất, ngón kia khảy đàn, nốt nhạc hùng hồn bi tráng lan rộng khắp phòng.
- Đàn tốt! Lão bản, cây đàn này bao nhiêu tiền?

Lão bản độ sáu mươi tuổi, cười nói với vẻ bợ đỡ:
- Tiểu thư thật biết nhìn hàng, cây đàn này chính là cổ vật từ triều trước, nếu tiểu thư thích, lão sẽ để lại với giá hai mươi lạng bạc.

Thiếu nữ ngạc nhiên hỏi lại:
- Hai mươi lạng ư? Cây đàn này không tồi, nhưng hai mươi lạng thì hơi đắt, ta thấy ... chỉ đáng giá mười lạng thôi.

--------------


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
19-05-2010, 11:32 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 8 - Đưa nhau ra cửa quan

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo_vong

Biên tập: duahau

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Bắt Mẫn huyện lệnh đi vung đao chém người thì còn đạt chuẩn, chứ còn bảo ông ta đi xử án thì … Người ta còn chưa thuộc luật Đại Minh cơ mà.


--------------

Lão bản chép chép cái miệng móm chẳng còn mấy cái răng, bảo:
- Tiểu thư, cây đàn này được làm từ loại gỗ tung cổ thượng hạng đó. Chỉ riêng một khúc gỗ đồng này thôi cũng đã phải mạo hiểm tính mạng vào rừng sâu núi thẳm tìm bao lâu mới được đấy. Tiểu thư hãy nhìn những dây đàn này xem, mỗi một dây đều được bện thành từ ba mươi sáu sợi tơ ô kim (CT: hợp kim giữa đồng và vàng), tiền nào của nấy cả thôi mà! Một cây đàn quý hiếm như vậy, đòi cô hai mươi lạng không hề đắt chút nào.

Thiếu nữ cười không nói, lúm đồng tiền xinh xinh trên má trông thật động lòng người, cặp môi hồng hé mở để lộ hàm răng trắng đều như ngọc. Vẻ đẹp ấy khiến cho trái tim Dương Lăng đang đứng gần đó đập thình thịch. Thiếu nữ nghiêng đầu liếc y, hiển nhiên đã biết y đang trộm nhìn mình, có điều sắc mặt lại chẳng hề có chút khó chịu nào hết.

Thiếu nữ mỉm cười, ngoảnh qua nhìn ca ca, rồi đột nhiên xí xa xí xố một tràng những lời mà Dương Lăng không hiểu. Gã thanh niên cường tráng đó cũng dùng kiểu phát âm tương tự để trả lời. Thiếu nữ lắc đầu, nói với lão bản:
- Lão bản, ta thật rất muốn mua đàn của ông. Ở Kê Minh này, ngoài ta ra e chẳng còn ai bỏ ra nhiều tiền như vậy để mua nó đâu. Thế này đi, mười lăm lạng, nếu được ta sẽ mua.

Lão già lại chép miệng, gật đầu:
- Thôi được, hàng bán cho người biết hàng. Nếu tiểu thư đã nói vậy, lão đây đành bán cho cô vậy.

Thiếu nữ nghe xong khẽ cười, đưa tay vào ngực lấy ra một cái túi nhỏ, rồi lấy từ trong đó ra một viên trân châu. Nàng đặt nó lên lòng bàn tay trắng nõn của mình, đưa ra trước mặt lão bản:
- Được! Đây là viên Hòa Phổ châu thượng hạng, cho dù ở nơi hẻo lánh cũng đã đáng giá mười tám lạng bạc rồi. Ta dùng viên trân châu này đổi lấy cây đàn, ông không cần trả lại tiền thừa, đưa thêm cho ta hộp đàn nữa là được.

Thời đó mặc dầu cũng có vàng ròng bạc trắng, còn lưu thông cả ngân phiếu Đại Minh, song lấy vật đổi vật vẫn rất thịnh hành trong dân gian, cho nên hành động của thiếu nữ này cũng không có gì là kỳ quái. Lão già nhận lấy hạt trân châu, đưa ra ánh sáng mặt trời nheo mắt nhìn, thấy quả nhiên là một viên trân châu thượng hạng. Vụ làm ăn này đúng là quá hời.

Có điều ... Lão già lại tham lam nhìn viên trân châu, âm thầm tính toán: Kê Minh dù tấp nập khách thương nam bắc, nhưng chẳng phải là một nơi tốt để buôn bán nhạc cụ, mình đến đây mở tiệm đã mấy năm mà vẫn thường lỗ nhiều lãi ít. Đây cũng là lúc mình đang tính dời tiệm đến Đại Đồng để làm ăn. Giờ đã cuối năm, viên trân châu này đến tay rồi thì còn phải nghĩ cách bán đi. Mình không nhận ra hai huynh muội này, nên có thể chắc chắn họ không phải là dân bản địa, nghe khẩu âm nói chuyện vừa rồi giống như là người quan ngoại, nói không chừng chỉ là tiện đường ghé qua đây. Nếu cướp được viên trân châu này thì có lẽ sẽ bù được vào phần làm ăn thua lỗ một chút.

Nghĩ đến đây lão già liền nổi lòng tham, thuận tay nhét viên trân châu vào trong ống tay áo, rồi lão cười ha hả nói:
- Tiểu thư, ta chỉ giao dịch bằng tiền mặt, nếu cô thật sự muốn mua vậy hãy đưa bạc đến đây đi.

Thiếu nữ nghe xong bĩu môi, nghĩ tới số bạc trong người không đủ, nàng giậm chân tức giận:
- Cái lão bản nhà ông! Rõ ràng ta đã nhường ông phần hời, vậy mà còn muốn lấy cớ này cớ nọ. Thôi, đem trả lại viên trân châu đây, ta không mua nữa.

Lão già chớp mắt gian xảo, làm ra vẻ kinh ngạc:
- Trân châu? Trân châu nào? Cô đến cửa tiệm của ta mua đồ chứ đâu phải đến bán đồ, ta nào thấy trân châu gì của cô đâu?

- Cái gì?
Khuôn mặt thiếu nữ lập tức đỏ bừng, nàng đập tay xuống quầy giận dữ mắng:
- Loại người như ông sao chẳng có đạo đức gì hết vậy? Muốn gạt lấy trân châu của ta hả?

Gã ca ca kia của nàng nghe thấy vậy liền giận đến tím mặt, hùng hổ vươn tay ra chụp lấy lão già gầy đét đó lôi mạnh từ trong quầy ra bên ngoài, lớn tiếng chửi:
- Con bà ngươi, dám gạt đồ của muội muội ta hả? Ngươi tưởng Mã Ngang ta là kẻ dễ bị ức hiếp lắm hay sao? Lão chó già, mau đưa viên trân châu ra đây.

Lão bản lập tức căng họng bắt đầu la hét:
- Cướp đánh người nè, bớ hàng xóm láng giềng, mau đến xem đây này … Lão Vương ta làm ăn buôn bán trước giờ luôn sòng phẳng, chưa từng gian dối với ai bao giờ … Bọn người vùng khác đến nhà ức hiếp người ta đây này ...

Lão ta thấy Dương Lăng ăn mặc kiểu người bản địa, mà thời đó tư tưởng cục bộ còn nặng, cái kiểu “nói tình không nói lý” rất điển hình. Do vậy lão nghĩ la lớn như vậy thì hàng xóm láng giềng sẽ chạy đến, thêm vào đó, còn có người bản địa này ở đây làm chứng, hai kẻ ngoại địa chỉ còn cách ngậm bồ hòn làm ngọt, ôm hận mà bỏ đi thôi. Nếu vẫn không ăn thua thì lão còn có hai người con trai, chẳng lẽ lại e ngại hai người ngoại xứ hay sao?

Mấy lời la hét hàm hồ này càng khiến cho người thanh niên tự xưng là Mã Ngang kia thêm phẫn nộ. Gã bừng bừng nổi giận, giơ tay lên bạt tai lão, miệng thì mắng:
- Lão chó già gian trá, thật là ép người quá đáng!

Lúc này tấm mành phía sau quầy được vén lên, một gã đàn ông độ bốn mươi, râu ria xồm xoàm xông ra. Vừa thấy cảnh này hắn liền rống to một tiếng rồi vung quyền đánh mạnh, hung tợn quát:
- Thả cha ta ra! Thằng nhóc con từ đâu ra thế, dám đến tận cửa ức hiếp nhà họ Vương ta!

Tên này xem ra cũng có mấy phần khí lực nên quyền đánh ra khá mạnh mẽ. Mã Ngang nhìn thấy liền mỉm cười khinh miệt, vung tay ném bay lão già gầy đét như con khỉ kia đi. Gã đứng nguyên tại chỗ, không thèm nhúc nhích, chỉ đưa một tay ra là đã giữ được nắm đấm của tên nọ. Gã chầm chậm siết năm ngón tay lại, tên đó bị gã bóp chặt lấy nắm tay, kêu lên ôi ối, đau đớn khuỵ xuống.

Mã Ngang cười lạnh lùng, bảo:
- Muốn cướp không sao? Chẳng lẽ chỉ có chút khí lực thế này?

Lão già kia khi nãy bị gã nắm áo tát cho hai cái, sau lại bị ném xuống đất, lúc này đang chỉ tay vào Mã Ngang, la hét càng um sùm hơn. Có điều lão mới la lên được có mấy tiếng thì đột nhiên mặt mũi đỏ lên, hổn hển thở ồ ồ mấy tiếng, ngã gục tắt thở. Mã Ngang đang giữ cổ tay con trai lão, vẫn còn muốn tỏ uy phong. Lúc này láng giềng xung quanh đã nghe thấy tiếng mà kéo lại. Có người đỡ lão già kia dậy, rồi bỗng la lớn:
- Vương Tam Nhi! Mau đến xem cha ngươi đi, ông cụ không xong rồi.

Mã Ngang quay đầu nhìn, thì thấy khuôn mặt của lão chủ cửa tiệm tham tiền kia đã xám ngoét, còn lão thì mềm oặt nằm trong lòng người ta, không động đậy chút nào. Gã thầm kinh hãi, không tự chủ mà buông tay ra.

Gã con trai tên gọi Vương Tam Nhi đó vội vã lao qua ôm lấy lão già, đưa tay lên mũi lão sờ thử, nhưng lão đã tắt thở. Hắn lập tức gào lên đau xót, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng, kêu khóc:
- Cha ơi, thương cho cha từng này tuổi đầu rồi mà còn bị tên khốn kia đánh chết, cha ơi ...

Lúc này ở cửa sau lại xuất hiện thêm người tuổi cũng tương đương gã kia, theo sau là một tốp đàn bà trẻ con, xem ra đều là người nhà họ Vương. Bọn họ nghe thấy tiếng ồn ào nên chạy ra. Mã Ngang ban đầu vẫn cho rằng cả nhà này chỉ đang lừa bịp giả chết, nên cười khẩy không nói gì. Đến khi thấy đám con cháu vây quanh cha, ông bọn họ khóc mãi, sắc mặt gã không khỏi biến đổi hẳn, trong lòng cũng bắt đầu cảm thấy sợ hãi.

Gã lặng lẽ kéo tay áo muội muội, đưa mắt ra hiệu cho nàng, đồng thời định đưa nàng đi khỏi. Nhưng đám người nhà họ Vương nào chịu bỏ qua, lập tức đứng cả lên vây lại, còn la hét ầm ĩ, xô xô đẩy đẩy hai người. Trong đám lộn xộn có người chạy ra ngoài gọi hai nha sai đi tuần đến. Nghe nói có vụ án đánh chết người, hai nha sai đó cũng không dám thờ ơ, vội chạy theo vào trong tiệm, lớn tiếng quát:
- Hung thủ giết người đang ở đâu?

Kê Minh nguyên là từ trạm nâng lên thành, nhưng chưa thể xem là một toà huyện thành được. Nhưng vì nơi đây địa thế quân sự trọng yếu, thêm vào đó lại là cửa khẩu quan trọng để các khách thương trung chuyển hàng hoá, tiền thuế rất dồi dào, do vậy cơ quan huyện lị cũng đã được thiết lập ở đây để cai trị và quản lý trong phạm vi mấy chục dặm xung quanh. Có điều huyện này tương đối nhỏ, huyện lệnh cũng chỉ là quan Tòng thất phẩm.

Mã Ngang thấy quan sai đến, mà gã thì chẳng có cái gan giết quan tạo phản nên không dám lỗ mãng nữa. Con trai của lão bản tiệm nhạc cụ chỉ vào gã, tố cáo:
- Chính là hắn, chính là tên cướp đã giết cha tôi.

Mã Ngang chống chế một cách yếu ớt:
- Không phải tại ta. Lão bản này đã lớn tuổi, đã thế còn giấu đi viên trân châu của em gái ta, bị ta vạch trần nên vừa xấu hổ vừa tức giận ngất đi. Sau đó thì lão bị khí huyết công tâm mà chết. Có can hệ gì tới ta chứ?

Làm gì có chuyện tội phạm sát nhân nói một câu “người chết không phải do ta giết” thì sẽ được thả đi ngay! Hai tay nha sai đó chẳng thèm đếm xỉa đến những gì gã nói. Một tên lôi từ sau lưng ra một sợi dây xích nhỏ, tròng vào cổ gã, sau đó thì áp vai, kẹp tay, trói chặt gã lại. Tên còn lại nắm chặt cán đao bên hông, chỉ cần gã dám phản kháng thì chắc chắn sẽ cho một nhát bay đầu.

Trói chặt Mã Ngang lại xong, gã nha sai liền kéo sợi dây xích, quát:
- Có gì muốn nói thì đi mà giải thích với Huyện thái gia, đi! Gia quyến lão Vương chớ nên khóc nữa, hãy mang cha các ngươi đến nha môn rồi trình bày! Các vị láng giềng, phiền các vị hãy cùng đi làm chứng một chút!

Thiếu nữ nọ lo lắng đến độ nước mắt lưng tròng, mắt thấy ca ca nàng bị trói dẫn đi, nàng vội đưa tay chỉ về phía Dương Lăng nãy giờ vẫn thờ ơ bàng quan, nài nỉ:
- Ca ca của ta không giết người! Thư sinh này vẫn luôn ở đây, hắn có thể làm chứng.

Đứng cạnh đó chứng kiến sự việc suốt từ đầu chí cuối, hiển nhiên Dương Lăng hiểu rõ: gã Mã Ngang này mặc dù trẻ tuổi nóng nảy, nhưng lão già đó giấu diếm đồ vật của người ta, cũng xem như ăn cướp. Nhìn tình huống ban nãy mà phán đoán thì có lẽ lão già mang bệnh tim mạch hay áp huyết cao gì đó rồi. Lão bị Mã Ngang đánh chửi nên vừa tức vừa hoảng, tâm tình bị kích động, kết quả là chôm được viên trân châu thì lại mất luôn cả cái mạng.

Tay nha sai đang nắm chuôi đao nghe thế, tuy đã bước ra khỏi cửa tiệm rồi nhưng vội quay trở vào, cười vờ, bảo:
- Nếu đã thế, vậy cũng mời vị này đi cùng bọn ta về làm chứng.

Thấy thiếu nữ xinh đẹp đó khóc lóc sầu thảm, vẻ mặt van nài, Dương Lăng chợt mềm lòng, bèn gật đầu. Một hàng người nối đuôi nhau đi đến cửa huyện nha. Đứa cháu lớn nhà họ Vương vội vàng đánh trống kêu oan, Huyện thái gia Mẫn Văn Kiến vội vã khoác áo thăng đường nghe án.

Chớ có thấy huyện lệnh thất phẩm trong phim trong kịch thường là các vị quan thấp bé, bất kỳ ai cũng có thể đè bẹp dí bọn họ bằng một ngón tay mà lầm. Thật ra quyền lực của huyện lệnh so với bí thư huyện ủy thời hiện đại lớn hơn rất nhiều. Ông ta có thể một mình kiêm nhiệm đến mấy chức vụ như trưởng phòng công thương, phòng tài chính, phòng thuế vụ, rồi chánh án, trưởng công an huyện v. v...

Vị Mẫn huyện lệnh này không giống với đại đa số các văn quan xuất thân tiến sĩ, cử nhân. Ông ta nguyên là tướng quân du kích trong đội quân biên phòng, bởi vị trí địa lý đặc biệt của Kê Minh nên ông được phái đến đây để quản cả chuyện văn lẫn chuyện võ.

Dương Lăng thấy Huyện thái gia là một người mặt đen, râu quai nón rậm thì rất bất ngờ. Vị Huyện thái gia xuất thân là quan võ này đã ngồi ở chức quan văn được hai năm, ít nhiều cũng biết quy củ, nên vừa nghe nói Dương Lăng là tú tài liền kêu người dọn chỗ cho y ngồi, miễn lễ, rồi lên công đường nghe án.

Ông ta vừa nhìn đã nhận ra đôi huynh muội này không phải là những kẻ qua đường, mà là công tử, tiểu thư của Dịch thừa Mã đại nhân mới nhậm chức ngày hôm qua. Dịch thừa cũng có thể xem là quan viên chịu sự quản lý của Huyện thái gia, nhưng vì Kê Minh là từ trạm nâng cấp lên thành, thủ hạ của sở Dịch thừa ở đây trên dưới trăm người, hơn nữa lại thuộc về hệ thống quân dịch, thành ra trên thực tế Dịch thừa đại nhân lại ngang cấp với Mẫn huyện lệnh.

Tối hôm qua Mẫn huyện lệnh còn dự yến tiệc của Mã dịch thừa, trong bữa tiệc có gặp đôi công tử tiểu thư này, nên cũng có ý muốn giúp gỡ tội cho bọn họ. Tuy vậy, đánh chết người không phải là chuyện nhỏ, mặc dù đã lục ra được viên trân châu ở trên tử thi, chứng thực việc lão kia cướp đồ người khác, nhưng lão già ấy chết ở hiện trường cũng là sự thật. Bắt Mẫn huyện lệnh đi vung đao chém người thì còn đạt chuẩn, chứ còn bảo ông ta đi xử án thì … Người ta còn chưa thuộc luật Đại Minh cơ mà.
--------------


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
22-05-2010, 10:56 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 9 - Nhà có vợ hiền.

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo_vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Ta đau đầu nhất là phải thăng đường xử án. Phải chi ở bên dưới là bọn Thát Đát thì ta đã vung đại đao lên ngay rồi. Phiền là phiền ở chỗ ông nói ông có lý, bà nói bà có lý, nghe tới nghe lui thì chỉ có mỗi lão gia ta là vô lý


--------------Quyển một – Ba tháng khói lửa – Chương thứ chín – Nhà có vợ hiền.

Kết quả, đứng trước công đường Dương Lăng đã nói những gì mình thấy, chứng thực rằng Mã Ngang đích xác chưa hề nặng tay với ông chủ họ Vương.

Già trẻ lớn bé nhà họ Vương bèn quỳ sụp xuống khóc lóc thê thảm, kêu gào kể lể rằng bình thường thân thể cha, ông bọn họ mạnh khoẻ như thế nào, rồi chắc chắn là đã bị Mã Ngang hành hung mà chết ra làm sao, khiến cho vị Huyện thái gia từng trải chiến trường này phải vò đầu bứt tóc, ngồi ở bên trên mà đôi mắt nhỏ trợn tròn, không nghĩ ra được chủ ý gì.

Ngồi phía sau một chiếc bàn thấp mặt bên công đường là Hoàng huyện thừa. Nhiệm vụ của huyện thừa là phụ tá cho huyện lệnh, có thể nói là không việc gì trong huyện mà không thể hỏi tới. Nhưng theo thông lệ, để tránh hiềm nghi lấn quyền, huyện thừa chỉ tương đương với huyện lệnh dự bị, bình thường giống như một ông tượng gỗ ở trong miếu, không bày tỏ thái độ với bất cứ chuyện gì.

Vị Hoàng huyện thừa này lại là văn nhân, mà thời đó trọng văn khinh võ, thế nên ông ta vốn rất xem thường cái vị Huyện thái gia xuất thân nhà binh này, cho nên luôn ở bên cạnh đóng vai Từ Thứ (1). Hơn nữa Mẫn huyện lệnh cũng sớm đã quen coi ông ta như không tồn tại, thế nên cũng tuyệt nhiên chẳng hỏi ý về bất cứ chuyện gì.

Đang lúc Mẫn huyện lệnh ngồi bứt râu không biết làm thế nào, một bộ đầu bước đến nói nhỏ vào tai hắn mấy câu. Hắn phất ống tay áo, lớn tiếng nói:

- Tạm thời bắt giữ Mã Ngang, thi thể sẽ do ngỗ tác (người làm nghề khám nghiệm tử thi, thời nay là nhân viên pháp y) trông giữ. Những người khác hãy về nhà trước đi, chờ cho bổn quan khám nghiệm xong sẽ tiếp tục định án.

Mã Ngang bị đưa vào trong đại lao. Mọi người sau khi để lại danh tính, chỗ ở xong thì đều được mời về. Dương Lăng cũng đứng dậy cáo từ Mẫn huyện lệnh, rời khỏi công đường.

Mã tiểu thư vội bước đuổi theo, hơi nhún người nói:
- Đa tạ Dương tú tài đã vì huynh trưởng tôi mà nói rõ sự thật.

Người con gái này quả thật là hoa nhường nguyệt thẹn, trong công đường không rét như ở bên ngoài nên khuôn mặt lạnh cóng của nàng đã khôi phục lại vẻ mềm mại và lộng lẫy, trắng nõn mịn màng như ngọc quý, dung mạo xinh tươi lại càng thêm động lòng người.

Dương Lăng nghe nàng gọi mình là tú tài, không khỏi nghĩ đến mấy gã hủ nho nghèo kiết xác, cảm thấy rất không thoải mải, bèn cười ha hả đáp:
- Tôi cũng chỉ chiếu theo sự thật mà trình bày. Ban nãy trên phố thấy Mã tiểu thư rất có phong thái của nữ trung hào kiệt, hà tất phải trịnh trọng gọi tú tài gì gì đó, cứ gọi thẳng tên tôi là được.

Mã tiểu thư gượng cười nói:
- Vậy, xin đa tạ Dương công tử. Tới lúc xét xử lại sẽ còn phải phiền Dương công tử làm chứng tiếp vậy.

Đang nói đến đó, từ ngoài cổng chợt có một viên quan tuổi trạc ngũ tuần, dưới cằm đính ba chòm râu vội vội vàng vàng bước vào.

Mẫn huyện lệnh lúc này đã hạ lệnh bãi đường nhưng chưa đi khỏi, thấy viên quan nọ bước vào bèn lập tức bước tới nghênh đón:
- Mã đại nhân, ngài tới đúng lúc lắm! Chuyện này thực khiến cho huynh đệ nhức đầu, ngài xem làm sao cho tốt đây?

Hắn là người thẳng ruột ngựa, cũng may mà Mã đại nhân còn cơ trí một chút. Nhận thấy trên công đường ngoài Mẫn huyện lệnh và con gái của mình ra còn có một người thanh niên lạ mặt, trong lòng Mã dịch thừa cảm thấy hơi e ngại, không dám đề cập đến vụ án.

Thấy con gái làm lễ với mình, lão chỉ khoát tay rồi nhìn Dương Lăng nghi hoặc hỏi:
- Vị này là…

Mã tiểu thư vội giới thiệu:
- Phụ thân, vị tú tài này tên là Dương Lăng. Con cùng ca ca đi mua sắm lễ vật mừng sinh nhật mẫu thân, lão chủ tiệm đó gạt lấy trân châu của con, kết quả bị ca ca mắng cho hổ thẹn tức tối mà chết. May nhờ có Dương công tử đây vì nghĩa nói sự thật, làm chứng giúp ca ca, thế nên ca ca mới chưa bị định tội vì những lời nói phiến diện của đối phương. Ngày mai ra công đường sẽ lại phải làm phiền Dương công tử nữa.

Mã dịch thừa nghe xong liền vội vàng chắp tay cảm tạ, hai bên khách sáo một phen.

Mẫn huyện lệnh vốn là người nóng tính, không thể nhịn được nữa, bèn nói:
- Mã đại nhân, không phải là huynh đệ không muốn giúp ngài. Nhà họ Vương đó người đông thế mạnh, lại còn có hương thân láng giềng ra làm chứng giúp, trăm miệng một lời. Mặc dù có lời chứng của Dương tú tài, nhưng đây là một vụ án mạng, huynh đệ không dám tùy tiện thả người đâu.

Mắt thấy vị Huyện thái gia này có cá tính như vậy, Dương Lăng không khỏi phì cười, lại thấy hai người muốn nói mấy câu mà mình không tiện nghe, y bèn vội chắp tay cáo từ. Mã tiểu thư là người rất thông minh, thấy vẻ lắc đầu phì cười của y, cảm thấy dường như y đã có phương cách sẵn trong lòng. Hôm qua trong tiệc rượu nàng đã gặp qua Mẫn huyện lệnh. Giống như cha nàng, lão ta cũng xuất thân từ quân nhân, không được mềm dẻo, khéo léo. Biết đâu vị Dương tú tài này đã có biện pháp cứu người, dẫu gì thì những kẻ đọc sách chắc hẳn đều đã đọc qua luật Đại Minh.

Nghĩ đến đây Mã tiểu thư vội đuổi theo y, dịu dàng hỏi:
- Dương công tử, nhìn thần sắc huynh, dường như đã nghĩ ra cách cứu ca ca tôi rồi phải không?

Vừa nghe Mã tiểu thư hỏi như vậy, Mẫn huyện lệnh và Mã dịch thừa đều bất giác chấn động, bốn con mắt đều dồn về Dương Lăng.

Y giật nảy mình, vội vàng xua tay nói:
- Đâu có, đâu có! Tại hạ chỉ là một nhân chứng, làm sao có thể qua mặt Huyện thái gia mà bày mưu tính kế chứ?

Hai vị Mẫn, Mã nghe thế liền cảm thấy vô cùng thất vọng, ai dè Mã tiểu thư lại hết sức lanh trí, lập tức hỏi dồn:
- Nói vậy là không phải Dương công tử không có biện pháp, mà chỉ vì thân phận không tiện can dự vào vụ án thôi ư?

Dương Lăng chỉ cần nói một câu là mình không có biện pháp nào, lúc đó sẽ có thể lập tức rời đi, quay về tiếp tục kiếm tìm phương pháp làm giàu thời cổ đại, sắm cho Hàn Ấu Nương một phần di sản hậu hĩnh, rồi sau đó thì trở về âm tào địa phủ tiếp tục quậy cho Ngưu Đầu, Mã Diện phải nhức đầu. Nhưng ở trước mặt một tiểu mỹ nhân thánh khiết như đoá phù dung trên mặt nước thế này, có người đàn ông nào lại tự nhận mình là vô năng được chứ?

Bị nàng ta khích, Dương Lăng buột miệng:
- Đúng vậy, tại hạ chỉ là một gã tú tài, do ngẫu nhiên nên mới làm nhân chứng cho chuyện này mà thôi. Nếu như tại hạ lại ra mặt khoa tay múa chân xét án thay cho Huyện thái gia, vậy chẳng phải đã vượt quá thân phận hay sao?

Mã tiểu thư nở một nụ cười rạng rỡ, chợt uyển chuyển quỳ sụp, vái Dương Lăng năn nỉ:
- Dương công tử! Ca ca tôi mặc dù là người hơi lỗ mãng, nhưng quyết sẽ không phải là kẻ ác xấu xa. Chủ tiệm họ Vương đó thấy lợi quên nghĩa mà chết, giờ lại đòi ca ca tôi phải đền mạng cho lão ta, Dương công tử có thể nhẫn tâm mà đứng nhìn hay sao chứ?
Huyện tôn đại nhân và gia phụ đều xuất thân võ biền, tính tình bộc trực, về mặt pháp luật chỉ biết sơ sơ. Dương công tử đã thông hiểu luật pháp, sao có thể thấy chết mà không cứu?
Thánh nhân có câu: "Đọc sách thánh hiền để mà làm gì?" Chỉ có "đảm đương" mà thôi. Khi gặp chuyện chỉ nói có hổ thẹn hay không hổ thẹn, mà không hỏi sẽ có họa gì hay không. Nếu biết rõ là chuyện bất công, nhưng lại tìm cớ lảng tránh không chủ trì chánh nghĩa, ấy gọi là vô sỉ. Dương công tử nghĩ sao?

Dương Lăng cứng miệng á khẩu, không ngờ tiểu cô nương này mồm miệng lại lanh lợi như vậy. Y không khỏi xấu hổ, một mặt vội lục lọi ký ức dung hợp từ hai kiếp lại xem có thể nghĩ ra được một vài biện pháp dựa vào luật Đại Minh và cách phán quyết vụ án ở hậu thế để giúp Mã Ngang hay không, một mặt bước tới đỡ nàng ta dậy, cất tiếng:
- Xin Mã tiểu thư hãy mau đứng dậy. Theo tôi thấy, e rằng bản thân chủ tiệm họ Vương đã mang bệnh từ trước. Mặc dù lệnh huynh có đẩy ngã lão ấy, nhưng tuyệt đối sẽ không đến mức khiến lão phải chết. Tuy nhiên, hiện giờ tinh thần mọi người trong nhà họ Vương đều đang rất cao, trăm miệng một lời, người thì đã chết ở đó, lệnh huynh lại quả thực có đụng vào người lão, nào có thể biện bạch rõ ràng có tội hay vô tội dễ dàng như vậy được? Dù cho tôi có chút ý kiến, cũng chưa chắc sẽ cứu được hắn.

Thời đại này nam nữ thụ thụ bất thân. Cho dù không muốn nhận đại lễ của nàng ta, muốn đỡ nàng ta dậy, y cũng chỉ được đưa tay ra dấu, giữ khoảng cách một thước, lúc ấy đối phương sẽ thuận theo dấu hiệu mà đứng lên. Giống như là người tinh thông Cửu Dương Thần Công vậy, có thể ở xa cả trượng mà phát công đả thương người.

Tuy biết những quy củ này, nhưng Dương Lăng vẫn theo thói quen ứng xử của thời hiện đại, cứ bước lên đỡ lấy cánh tay của Mã tiểu thư nâng nàng dậy. Cầm cánh tay mềm mại của nàng, khuôn mặt mịn màng đáng yêu lại ở ngay trước mặt, thậm chí y còn ngửi được mùi thơm như hoa tỏa ra từ trên người nàng, ngạt ngào hơn hẳn lúc nàng cưỡi ngựa lướt qua.

Trong lòng Mã tiểu thư ngượng ngập không thôi, thầm nhủ: "Trông hắn ra vẻ nhân tài, không ngờ cũng háo sắc như vậy, thừa cơ khinh bạc mình." Mã dịch thừa cũng cảm thấy hắn trực tiếp đỡ con gái mình lên như vậy là hơi lỗ mãng, nhưng lúc này đang cần cứu con ra khỏi ngục, lão lại chỉ có độc một đứa con trai này, nếu có phải dùng con gái để đổi lấy con trai mình lão cũng sẽ chịu.

Cho nên lão vờ như không thấy, vẫn bước đến nhờ vả:
- Có chủ ý gì xin công tử nói ra nghe thử. Không giấu Dương công tử, Mẫn huyện lệnh và ta đều vốn là quân nhân, mấy cái luật pháp này... E hèm, nếu như công tử có biện pháp gì thì đừng ngại nói ra xem sao. Cho dù có hiệu quả hay không, Mã mỗ đều xin ghi nhớ đại ân của công tử.

Lúc này Dương Lăng đã cưỡi trên lưng cọp, khó mà trèo xuống được. Y liếc nhìn sang Mẫn huyện lệnh, ra vẻ khó khăn.

Vị huyện thái gia này như trút được gánh nặng, rất "rộng lượng" khoát tay nói:
- Đúng đúng đúng! Bọn người đọc sách các ngươi có lắm chủ ý, có biện pháp tốt gì thì cứ việc kể ra. Ta đau đầu nhất là phải thăng đường xử án. Phải chi ở bên dưới là bọn Thát Đát thì ta đã vung đại đao lên ngay rồi. Phiền là phiền ở chỗ ông nói ông có lý, bà nói bà có lý, nghe tới nghe lui thì chỉ có mỗi lão gia ta là vô lý, thực sự chẳng cách nào phán cho bọn họ được một cái lý. Đến nỗi bây giờ vừa nghe thấy tiếng trống đánh bên ngoài công đường thôi là trống ngực ta cũng đập thình thịch theo rồi.

- Việc này… việc này…,
Dương Lăng nói:
- Thường có câu: biết người biết ta mới có thể trăm trận trăm thắng. Toàn bộ quá trình xảy ra vụ án tôi đều đã tận mắt chứng kiến, không cần phải nói thêm gì. Có điều, tình tiết của vụ án lại tập trung vào việc ông chủ quán bị đánh chết hay do già yếu mà chết. Vì vậy… trước hết phải hiểu được toàn diện xem trước giờ ông lão đó đã có bệnh tật gì gì hay chưa, sau đó mới tìm sơ hở để có thể rũ bỏ hết mọi trách nhiệm, lấp luôn miệng bọn họ lại, khiến cho bọn họ không thể nói gì được nữa.

- Hay!
Mẫn huyện lệnh vỗ tay lớn tiếng khen khiến Dương Lăng giật cả mình.

Mã dịch thừa cũng thích chí xoa tay lia lịa nói:
- Dương công tử quả nhiên tài giỏi, lão phu chỉ biết lo lắng mà không thể ngang nhiên mà cứu con mình ra khỏi ngục, nghe cậu nói như vậy, dường như cách này rất ổn đó. Con ta đã không đánh người, cái lão già gì đó kia khẳng định là đã có bệnh từ trước. Mẫn đại nhân à, chuyện này vẫn phải phiền ngài phái người tìm hiểu cho rõ rồi.

Mẫn huyện lệnh liên thanh đồng ý:
- Được được được, không thành vấn đề! Thật đúng là kẻ đọc sách, lão Mẫn ta cứ đau đầu mãi về chuyện này, vừa nghe ngươi nói liền thấy rất có lý. Vẫn là kẻ đọc sách thâm độc, ha ha ha… À không, phải là… là kẻ đọc sách thông minh.

Dương Lăng thầm kêu xấu hổ. Chẳng qua vì cấp bách nên y mới đưa ra cái "kế trì hoãn" khi còn làm công tác giải quyết bồi thường bảo hiểm lúc trước mà thôi. Cả thế giới đều biết ngành bảo hiểm ở Trung Quốc nổi tiếng là: "Ký hợp đồng thì dễ còn đòi bồi thường thì khó". Các điều khoản nhiều và rối rắm đến nỗi có thể khiến cho một người tốt nghiệp thạc sỹ phải cảm thấy mình là thằng mù chữ. Những đòi hỏi về chứng cớ liên quan nhiều đến độ có thể khiến cho một người kiên nhẫn nhất cũng phải phát cuồng. Hiện giờ chẳng qua là y lấy dao mổ trâu để giết gà mà thôi.

Có điều khi thấy ánh mắt dịu dàng chứa đầy sự hâm mộ của Mã tiểu thư, cho dù là Dương Lăng cũng không khỏi cảm thấy có chút phởn phơ, khoái chí.

Khi Dương Lăng trở về nhà thì tuyết đã phủ trắng xóa. Tuyết bay rợp trời lại khiến cho không khí ấm hơn; bông tuyết rơi rơi bám đầy lên người y.

Ấu Nương đã về nhà, đang đứng ở trước cửa ngóng trông y trở về. Nhìn thấy bóng y từ xa xa, nàng liền chạy ào đến. Trông thấy nàng, Dương Lăng chợt cảm thấy ấm lòng, đồng thời lại có chút chột dạ. Buổi sáng khi Ấu Nương ra ngoài đi làm, mình đã nói là sẽ ở nhà chăm chỉ đọc sách, rốt cuộc lại bị nàng bắt ngay tại trận thế này. Nếu mà nàng mở lời trách móc, quả thực Dương Lăng vẫn có chút sợ nàng.

Không ngờ Ấu Nương lại chẳng hề đề cập gì về chuyện y không ở nhà, chỉ rất vui vẻ dìu y vào nhà, phủi tuyết trên người y rồi ân cần nói:
- Tướng công, chàng về nhà rồi. Thiếp đã làm cơm xong, đang lo không biết phải đi đâu để tìm chàng đó.

Dương Lăng xấu hổ đáp:
- Ừm, vốn ta định ở nhà an tâm đọc sách, song... À, cái này... chợt nhớ ra có một đồng niên (người thi đỗ đồng khóa) ở đây, cho nên ta đi thăm hắn một chút.

Ấu Nương mỉm cười, nói:
- Tướng công là đàn ông, không thể thiếu được mấy chuyện giao tiếp như vậy, Ấu Nương hiểu mà. Đúng rồi, hôm nay Ấu Nương ở tiệm may làm công, một buổi sáng đã may được mười chiếc áo, kiếm được mười văn tiền lận đó. Tiệm may này nhận vụ làm ăn bên trại ngựa ở sở Dịch Thừa. Có hơn trăm dịch sứ (phu trạm, người đưa thư) ở đó, bọn họ bôn ba tứ xứ quanh năm suốt tháng nên y phục hay hư rách lắm. Việc làm ăn của tiệm rất được, không ngờ vào thành làm công hóa ra cũng tốt thật.

Dương Lăng nhìn nàng mặt mày rạng rỡ, hào hứng kể chuyện đến đỏ bừng cả mặt, không kìm nổi bẹo nhẹ má nàng một cái, cười ha hả nói:
- Ấu Nương thật giỏi, đều tại bệnh của ta mà liên luỵ đến nàng. Nhìn thấy nàng đáng thương như vậy, thật làm cho ta rất là đau xót.

Hàn Ấu Nương bất chợt bị động tác thân mật của y làm cho sững người, khuôn mặt lập tức đỏ lựng. Nàng e lệ cúi đầu, bẽn lẽn nói:
- Tướng công, chúng mình là phu thê. Vốn phải trọn đời bên nhau, đồng cam cộng khổ mà.

Dương Lăng nghe vậy, trong lòng xúc động, không kềm được bèn kéo nàng ôm chầm vào lòng, vuốt nhẹ mái tóc mềm mại của nàng. Lần đầu thân mật với y như vậy, Hàn Ấu Nương ở trong lồng ngực tình lang mà không khỏi ngất ngây, lòng tràn đầy thoả mãn và hạnh phúc.

Một hồi lâu sau Hàn Ấu Nương mới khẽ đẩy y ra, sắc mặt ửng hồng, không dám nhìn y, chỉ cúi đầu vân vê dây lưng, ngượng nghịu nói:
- Tướng công, đồ ăn đang nóng, chàng hãy mau ngồi xuống để thiếp xới cơm cho.

Cơm canh dẫu rằng đạm bạc, nhưng so với khi ở vùng núi thì đã khá hơn rất nhiều. Hơn nữa ông chủ xưởng dầu còn tặng cho họ một chút dầu thô để nấu ăn. Mặc dù không thật quen với mùi vị của loại dầu này, nhưng Dương Lăng vẫn ăn nhiều hơn được một chút.

Nhìn sức ăn của y mỗi ngày một tăng, Hàn Ấu Nương cảm thấy vui hơn bao giờ hết, khuôn mặt rạng ngời hạnh phúc. Ăn cơm xong, Hàn Ấu Nương thu dọn bát đũa, buộc tạp dề bắt đầu rửa bát.

Dương Lăng cảm thấy mình thật đã biến thành một kẻ vô dụng, có cũng như không. Y muốn đến bên cạnh giúp nàng rửa bát đĩa, không ngờ Hàn Ấu Nương lại kinh ngạc kêu ầm lên, quở trách:
- Đời nào lại có đàn ông làm mấy việc này? Tướng công, chàng cứ ngồi đó đi, việc này là việc của phụ nữ người ta mà!
--------------

(1) Từ Thứ (tự Nguyên Trực): một quân sư tài ba của Lưu Bị. Do bị ép buộc phải đầu quân cho Tào Tháo, nên trong thời gian làm quan cho Nguỵ, ông không hề đóng góp gì nhiều cho Tào Tháo về mặt quân sự.


--------------


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

anubis1603
23-05-2010, 10:00 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 10: Bày ra kế hiểm.

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo_vong

Biên tập: anubis1603

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Sở trường duy nhất của y là cái "kế trì hoãn" dùng trong công tác giải quyết bồi thường bảo hiểm, chỉ là chẳng biết có thể dùng được hay không....


Ngượng nghịu gãi gãi mũi, Dương Lăng quay về chỗ ngồi. Đang rất đỗi buồn chán, y chợt nhớ đến chuyện xảy ra ngày hôm nay, liền vội vã lôi rương sách ra lục lọi. Quyển "Đại Minh luật" dày cộm đó quả nhiên cũng nằm bên trong. Y lấy ra rồi bắt đầu lật đọc tỉ mỉ.

Đang tra cứu những điều luật có liên quan đến kiện tụng thì Hàn Ấu Nương mang tới một chén trà nóng nghi ngút khói. Dương Lăng không khỏi gấp sách thầm than thở: “Nam nhân trong xã hội phong kiến thật đúng là ‘nam nhân’ mà, chứ ở xã hội hiện đại thì kiếm đâu ra loại đãi ngộ thế này!”

Vào thời đó, giờ làm việc của những cửa tiệm bình thường không cập rập như bây giờ. Giờ nghỉ trưa rất dài, ước chừng tới hơn hai giờ chiều tính theo giờ hiện đại mới tiếp tục bắt đầu công việc. Cho nên Dương Lăng thoải mái vừa nhấp trà nóng vừa đọc sách, còn Hàn Ấu Nương thì ngồi ở mép giường may vá thêu thùa.

Ngón tay nàng khéo léo thắt nút một đầu sợi chỉ, liếm nhẹ đầu kia rồi luồn nó qua lỗ kim. Nàng co một chân lên giường, cẩn thận may vá quần áo, thi thoảng còn dịu dàng liếc mắt nhìn phu quân đang chăm chú xem sách.

Dương Lăng xem sách hồi lâu, suy nghĩ kỹ càng một trận, nhưng lại chẳng tìm ra được điều luật nào có lợi cho Mã Ngang. Xem ra vẫn phải dựa vào công phu "Thái Cực Quyền" mà mình học được ở hậu thế để đường đường chính chính "hại người lợi ta" rồi.

Y ngẩng đầu thở dài một hơi, vừa lúc bắt gặp Hàn Ấu Nương đang đưa chiếc áo vải bông lên khóe miệng cắn đứt chỉ thừa, còn đôi mắt lại say sưa nhìn mình. Khi chạm phải ánh mắt của Dương Lăng, nàng lập tức hoảng hốt né tránh.

Nhìn thiếu nữ xinh đẹp mới mười lăm, mười sáu tuổi mà ra dáng như một tiểu phu nhân này, mặc dù Dương Lăng đã quyết tâm chỉ coi nàng như một tiểu muội muội hiền lành đáng yêu, nhưng trong lòng y vẫn không khỏi hơi rung động. Từ chín lần chuyển thế đến giờ, y chưa từng có được loại cảm giác ấm áp thế này. Nhịp sống an nhàn êm ả, có một người vợ dịu dàng thùy mị quan tâm săn sóc, đây chẳng phải là cuộc sống mà mình hằng tha thiết ước mơ sao? Chẳng phải là tình cảm mà mình đã vất vả kiếm tìm, cần phải quý trọng hay sao?

Hàn Ấu Nương cúi đầu tiếp tục may vá. Cảm nhận được trượng phu vẫn đang nhìn mình, trong lòng nàng không khỏi lúng túng, tay chân rối loạn. "Ui da" một tiếng, mũi kim đã đâm vào ngón tay nàng. Dương Lăng vội gấp quyển "Đại Minh luật" lại, chụp lấy bàn tay nhỏ nhắn ấy mà xem xét. Chỉ thấy trên đầu ngón tay, một giọt máu đỏ thắm đã ứa ra.

Dương Lăng liếc nhìn xung quanh một lượt, lúc này mới chợt hiểu ra vì sao người xưa khi bị kim đâm lại đưa ngón tay vào miệng để mút. Đó không phải vì bọn họ biết nước bọt có thể sát trùng, mà là thật sự không có thứ gì có thể dùng để lau máu, dẫu sao cũng không thể chùi vào quần áo được! Thế là y cũng "noi gương" đưa ngón tay Hàn Ấu Nương vào miệng mút nhẹ, đầu lưỡi thoa lên ngón tay nàng. Tấm thân Hàn Ấu Nương đột nhiên run lên, khuôn mặt đỏ lựng, cả người nóng bừng.

Dương Lăng khẽ trách:
- Xem nàng kìa, sáng sớm đã phải ra ngoài làm công rồi mà về nhà vẫn không nghỉ ngơi, giờ nàng lại đang làm gì đấy?

Hàn Ấu Nương cụp hàng mi cong xinh đẹp, ngoan ngoãn để mặc cho y nặn nhẹ ngón tay của mình, rụt rè nói:
- Đã sắp sang năm mới rồi mà chàng vẫn chưa có được một chiếc áo khoác tươm tất. Thiết nghĩ chàng là người có thân phận, ăn vận như vầy ra đường sẽ không tránh khỏi bị chê cười, nên thiếp mới tranh thủ may cho chàng một chiếc mới.

Dương Lăng thở dài một hơi. Bên nhau càng lâu, y càng cảm thấy mắc nợ nàng nhiều hơn, cái cảm giác xót xa ấy như thể đã mắc nợ nàng không biết tới mấy kiếp ân tình rồi. Y lặng lẽ siết chặt bàn tay, tình ý chân thành không ngừng lan tỏa khắp tâm hồn và thể xác bọn họ.

Khẽ vuốt ve bàn tay nhỏ nhắn của thiếu nữ mới mười lăm tuổi này, trong lòng Dương Lăng dâng lên muôn phần xúc động. Ở cái tuổi đáng ra vẫn được cắp sách đến trường thì nàng đã phải trở thành một người vợ dịu dàng hiền thục, cái xã hội cổ xưa ác độc này. . . thực khiến người ta phải cảm khái mà.

Luật triều Minh quy định rằng nữ tử đủ mười sáu tuổi mới được xuất giá, song dân gian hiếm khi tuân thủ nó. Thế nên luật pháp thời đó mặc dù rất nghiêm, hở chút là phạm vào tội chém đầu, nhưng đối với chuyện này quan phủ lại mắt nhắm mắt mở, coi như không thấy.

Nặn ngón tay một hồi, áng chừng sẽ không còn chảy máu nữa, Dương Lăng mới bóp nhẹ ngón tay nàng cười nói:
- Được rồi, còn đau không?

- Không đau!
Giọng nàng cất lên hết sức mê ly.

Lúc này Dương Lăng mới phát giác hai rèm mi nàng đang rủ xuống, dáng vẻ ngượng ngùng, khóe môi hé nở một nụ cười ngọt ngào. Trên khuôn mặt non nớt ấy toát lên khí chất cực kỳ dịu dàng điềm tĩnh, đó là thần thái của một phụ nữ trưởng thành mà chỉ khi đối diện với người mình yêu thương nhất thì mới bộc lộ ra.

Trước đây nàng chưa bao giờ bộc lộ loại khí chất đặc biệt như thế, mà chỉ là thể hiện vẻ dịu dàng của nữ giới nói chung thôi. Bên ngoài hoa tuyết phất phơ, rơi xuống đất rồi chẳng còn dấu vết. Hàn Ấu Nương cảm thấy con tim mình vô cùng thanh thản, tình ý chân thành như tầng tầng sóng gợn không ngừng lan tỏa trong lòng nàng. Những sợ hãi lo âu, cay đắng xót xa trong hơn nửa năm qua, ngay tích tắc này như thể đã hoàn toàn tan biến.

Dương Lăng cũng không khỏi nhìn nàng đến ngây ngốc, si mê đắm đuối một hồi lâu. Bầu không khí ngọt ngào yên tĩnh này rốt cuộc đã bị một tiếng kêu lớn bên ngoài phá vỡ. Một nam nhân ở ngoài cửa lớn giọng gọi to:
- Dương Lăng công tử có ở đây không?

Hàn Ấu Nương lúc này mới giật mình "a" lên một tiếng, bừng tỉnh khỏi thoáng say mê, nàng luống cuống vội rụt tay về. Dương Lăng khẽ cười, xoay người đi ra mở cửa. Hoa tuyết theo gió lùa vào tới tấp, mới trở về nhà ăn cơm trong phút chốc mà bên ngoài đã thành một mảng mờ mịt trắng xóa.

Dương Lăng căng mắt ra nhìn, chỉ thấy hai gã nha sai tay giữ cán đao giắt bên hông đang đứng ngoài cửa, trên người phủ một lớp tuyết dày. Phía sau lưng họ còn có một thiếu nữ, trên người nàng khoác áo choàng màu trắng, tay cầm một chiếc ô màu vàng. Cổ áo choàng bằng lông chồn trắng muốt quấn kín cổ nàng chỉ để lộ ra khuôn mặt yêu kiều thuần khiết, trông như một đóa hoa sen nổi trên mặt nước. Giữa hoa tuyết ngập trời, nàng giống như một vị tiên nữ giáng trần.

Hai nha sai này chính là hai gã đã bắt trói Mã Ngang về nha môn, cho nên nhận ra được Dương Lăng. Vừa thấy người mở cửa đúng là y, họ bèn vội ôm quyền nói:
- Ha ha, quả nhiên là Dương tú tài, ti chức xin kính chào. Ti chức phụng mệnh Mẫn huyện lệnh hộ tống Mã tiểu thư đến gặp ngài.

Dương Lăng vội mở rộng cửa đón tiếp:
- Hai vị quan sai đại ca, mau vào đi. A! Mã tiểu thư, mời vào.

Mã Liên Nhi nhoẻn miệng cười, trên gò má hiện lên hai lúm đồng tiền mê người. Hai tay nàng vén chiếc áo choàng rồi bước vào trước, còn hai gã nha sai thì bước theo sau, thuận tay khép cửa lại.

Căn nhà bé tí thoáng chốc đã chứa đến năm người, thành ra có phần hơi chật chội. Mã Liên Nhi tiện tay tháo sợi dây đai ra, cởi bỏ chiếc áo choàng trắng như tuyết, đưa mắt nhìn quanh. Trông thấy Hàn Ấu Nương xinh xắn, nàng không khỏi nở một nụ cười ngọt ngào thốt lên:
- Vị cô nương này là. . . Dương công tử, đây là tiểu muội của ngài à?

Trông thấy bước vào là một đại mỹ nhân như hoa như ngọc, đôi mắt đen lay láy của Hàn Ấu Nương chứa đầy sự cảnh giác. Vừa nghe nàng ta nghĩ mình là muội tử của trượng phu, lập tức nét mặt nàng lộ vẻ không vui, song vì phu quân chưa lên tiếng nên nàng cũng không tiện mở lời.

Dương Lăng cười ngượng nghịu, cảm giác như đang phạm tội "vùi dập" mầm non tổ quốc, y lắp ba lắp bắp đáp:
- A. . . nàng ấy là. . . là vợ của ta.

Ánh mắt Hàn Ấu Nương loé lên một tia đắc ý, nàng liếc nhìn Mã Liên Nhi như để thị uy, đoạn hơi cúi mình chào rồi nhẹ giọng cất tiếng:
- Tướng công, vị tiểu thư đây là. . . ?

Dương Lăng vội giới thiệu:
- Mã tiểu thư đây là nhị tiểu thư của Dịch thừa Mã đại nhân, nàng ta và hai vị nha sai đại ca tìm ta có chút chuyện cần bàn.

Mã Liên Nhi hơi bất ngờ, sửng sốt nói:
- Hóa ra Dương huynh đã lập gia đình. Mã Liên Nhi xin ra mắt Dương phu nhân.

Hàn Ấu Nương vội đáp lễ:
- Tiểu thư không phải khách khí, mau ngồi đi! Hai vị nha sai đại ca, xin mời ngồi!

Trong phòng chỉ có hai chiếc ghế, nên hai gã nha sai đành phải ngồi ở đầu giường. Dương Lăng mới dọn đến đây không lâu, điều kiện trong nhà có hạn, bình thường uống trà cũng chỉ dùng bát lớn. Hàn Ấu Nương nhanh chóng lấy ra bốn chiếc bát rồi rót trà mời khách, hai gã nha sai cảm ơn rối rít.

Mẫn huyện lệnh đã sai người điều tra rõ ràng về tiệm nhạc cụ của nhà họ Vương. Mã đại nhân lo cho con trai của mình, mặc dầu đã có Mẫn đại nhân chiếu cố, nhưng vì lúc này đang là mùa đông giá rét, chỉ sợ trong lao ngục sẽ có gì không ổn, và Mã tiểu thư cũng rất quan tâm tới ca ca, nên đã thúc giục xin Mẫn huyện lệnh phái mấy nha sai phụ trách điều tra vụ này cùng đến nhà họ Dương.

Nghe hai gã nha sai trình bày tình huống bên nhà họ Vương một lượt, Dương Lăng cẩn thận suy nghĩ, cảm thấy y thực sự không tìm ra được một sơ hở nào trong luật pháp triều Minh để có thể giúp cho Mã Ngang thoát tội. Sở trường duy nhất của y là cái "kế trì hoãn" dùng trong công tác giải quyết bồi thường bảo hiểm, chỉ là chẳng biết có thể dùng được hay không, nên đành dè dặt nói ra chủ ý của mình.

Mã tiểu thư cũng không biết biện pháp này có hữu dụng hay không, nàng đánh mắt nhìn sang hai người đi cùng. Gã nha sai Đại Lý có hàm răng vàng khè vỗ đùi một cái tán thưởng:
- Tuyệt! Hay cho cái kế "đà dao"(1) này, dao cùn xắt thịt, từng lát từng lát, hà hà. Huyện lệnh đại nhân xử án công minh, không oan không uổng, cái nhà họ Vương đó sẽ chẳng thể moi ra được điểm nào sai. Chúng mà cứ tiếp tục kiện cáo thì vụ kiện này phải đánh cho tới tan cửa nát nhà mới thôi.

Tay nha sai kia lớn tuổi hơn một chút, là đội trưởng, họ Ngô. Hắn thì lại không tỏ ra quá hớn hở như gã Đại Lý, song cũng khẽ cười nói:
- Không ngờ Dương công tử tuổi còn trẻ thế mà đã tinh thông pháp luật, bụng đầy mưu kế, cho dù là bọn thầy cãi hàng đầu cũng chưa chắc đã đưa ra được diệu kế như vậy. Nếu cứ hành sự theo kế này thì e rằng bọn khổ chủ nhà họ Vương đó sẽ phải mau chóng rút đơn bãi án thôi. Có điều. . . nếu bọn họ chẳng thức thời, Mã công tử sẽ không tránh khỏi phải ở trong nhà lao lâu hơn một chút.

Mã tiểu thư nghe bọn họ nói là kế hay, không khỏi nhướng mày mừng rỡ, nhưng sau khi nghe câu cuối của Ngô đội trưởng thì nàng lại trở nên ngập ngừng.

Nàng cắn môi suy nghĩ rồi thở dài:
- Dẫu sao thì cũng là một mạng người, nếu chỉ phải ở trong ngục thêm một thời gian, chỉ cần an toàn mà nhập ngục cũng đã tốt lắm rồi. Ca ca thường ngày cục cằn lỗ mãng, chịu chút ấm ức để giảm bớt cái tính khí ấy đi cũng tốt.

Dương Lăng được sự tán thành của hai gã nha sai, lá gan bất giác cũng to lên, bắt đầu động não suy nghĩ rồi chậm rãi nói:
- Kế này mặc dù có thể dẫn đến sự chủ động rút đơn kiện của nhà họ Vương, cứu được tính mạng của Mã công tử, lại không làm tổn hại đến danh tiếng của Mẫn huyện lệnh, nhưng. . . Nếu như bọn người đó không nuốt được cục tức này, chỉ e sẽ kéo dài ra cả năm hoặc hơn, cho nên tại hạ còn có một kế. Mã tiểu thư. . .

Y nghiêng người tới gần, ghé miệng sát tai Mã Liên Nhi nói nhỏ mấy câu. Mã Liên Nhi nghe xong liếc y một cái, cười nửa miệng, ngọt ngào tán thưởng:
- Không hổ là người đọc sách, bày ra kế hay thật.

Cái liếc mắt này của nàng cực kỳ quyến rũ, dáng vẻ phong tình lộ ra trong khoảnh khắc ấy khiến cho ánh mắt Dương Lăng nhất thời bị cuốn hút. Mã Liên Nhi cũng nhận ra điều này, khuôn mặt trắng nõn mịn màng bất giác hơi ửng hồng. Nãy giờ vẫn luôn chú ý đến hai người, Hàn Ấu Nương chợt cảm thấy có phần chua xót.


--------------------------------
Chú thích:
(1) "Đà đao kế" và "hồi mã đao" là hai kế khác nhau. "Đà đao kế" là tuyệt kỹ sát thủ của Quan Vân Trường, trong cả bộ “Tam Quốc diễn nghĩa” Quan Công chỉ dùng đến một chiêu rưỡi. Chém Văn Sửu dùng một lần, chiến Hoàng Trung dùng một lần nhưng lại không dùng hết chiêu vì ngựa của Hoàng Trung đã mệt mỏi gục xuống đúng lúc đó, cho nên chỉ tính là một nửa.
Nguyên lý của "đà đao": sau khi giả bại thì kéo lê(đà) đao mà chạy, khi địch nhân đuổi kịp thì vung mạnh đao lên chém, có mắt phượng của Quan Công phối hợp nên không cần dùng đến "hồi mã", lý luận này có xác suất thành công tương đối cao (thực tế là hai trận thắng một, 50%).
"Hồi mã đao" có rất nhiều võ tướng dùng đao sử dụng, cũng giống với nguyên lý của "hồi mã thương", thao tác cũng đơn giản hơn "đà đao", nhưng tỷ lệ thành công lại nhỏ hơn nhiều.


--------------


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
28-05-2010, 10:59 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 11: Bị quan đày đọa

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo_vong

Biên tập: dendaycung

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Bản quan ở Kê Minh này đã hai năm, luôn luôn công bằng chấp pháp, công chính liêm khiết, trị vì cả chốn được phồn thịnh, danh tiếng đồn xa, sẽ không có chuyện dung túng một tên vô lại, cũng sẽ không để cho một người tốt bị oan uổng…



Hôm sau, từ già trẻ lớn bé nhà họ Vương đến hàng xóm láng giềng và cả Dương Lăng đều được triệu lên công đường. Tối qua, Mẫn huyện lệnh đã nhận được hồi báo của nha sai, còn được Mã tiểu thư tỉ mỉ giải thích lại chủ ý của Dương Lăng nên lão ta đã có sẵn tính toán trong đầu. Những lời lẽ nho nhã bay bướm thì lão chẳng nói ra được, có điều lão lính già lõi đời này vốn là một kẻ hay cưỡng từ đoạt lý, giờ lão chỉ cần khoác thêm cái vẻ công bằng chính trực nữa là được.

Mã đại nhân ngồi nghe xử án đằng sau tấm bình phong sau lưng Mẫn huyện lệnh. Đơi khi Mã Ngang được áp giải lên công đường, Mẫn huyện lệnh mới đập phán gỗ xuống bàn, ôn tồn nói với hai người con nhà họ Vương:
- Vương Đại, Vương Nhị, hôm qua bản quan đã lục ra được viên trân châu của tiểu thư nhà họ Mã trên người phụ thân các ngươi. Vương lão thấy tiền mờ mắt, chiếm đoạt trân châu của người khác, chuyện này hai ngươi có ý kiến gì khác không?

- Việc này...
Vương Đại và Vương Nhị nhìn nhau, không biết vị huyện thái gia này có ý đồ gì đây. Đưa mắt ra hiệu cho nhau xong, bọn họ mới thưa với Mẫn huyện lệnh:
- Bẩm lão gia, lúc gia phụ và Mã Ngang phát sinh tranh chấp, thảo dân không có ở đó. Cho nên thảo dân thật sự không biết là gia phụ thấy lợi nảy lòng tham, hay là do Mã Ngang cố ý hãm hại.

Mã Ngang đang quỳ ở trên công đường, nghe thế đùng đùng nổi giận, mắng:
- Nói láo! Chẳng lẽ lão tử lại đổ oan cho lão già đó hay sao? Lão ta nhận trân châu của muội muội ta xong liền một mực chối là đã lấy, rõ ràng có ý chiếm đoạt của cải nhà chúng ta ...

Mẫn huyện lệnh đập phán gỗ xuống nghe "bộp" một tiếng, quát:
- Bản quan chưa hỏi ngươi! Nếu còn dám tùy tiện nói chen vào, bản quan sẽ cho người vả miệng!

Mã Ngang giận sôi máu, hừ một tiếng, không nói thêm lời nào nữa. Mẫn huyện lệnh cười híp mắt, vuốt vuốt chòm râu quai nón, hỏi:
- Nói như vậy, chuyện hai ngươi nói lệnh tôn bị Mã Ngang đánh chết cũng không có ai tận mắt chứng kiến sao?

Vương Đại nghẹn lời, giận dữ nói:
- Bẩm lão gia, mặc dù tiểu dân không tận mắt chứng kiến tên hung thủ này đánh gia phụ, nhưng gia phụ trước giờ thân thể luôn mạnh khỏe, nếu không phải vì bị tên này hành hung, cớ sao lại đột nhiên bỏ mạng? Thấy tiểu dân lao ra ngăn cản, hắn còn ném gia phụ xuống đất, sau đó còn định đánh tiểu dân. Chuyện này hàng xóm láng giềng đều chứng kiến nên có thể làm chứng cho tiểu dân.

Mẫn huyện lệnh cười khà một tiếng:
- Vậy thì hơi khó rồi đây. Lúc đó Dương Lăng Dương tú tài ở ngay tại hiện trường, trước sau đều chứng kiến rõ mồn một. Theo lời của Dương tú tài, lệnh tôn chiếm đoạt trân châu của đại tiểu thư Mã gia, bị huynh trưởng của tiểu thư Mã gia giữ lại nói chuyện phải trái, từ đầu đến cuối chưa từng động chân động tay với ông ta. Dựa theo đó mà xét, lệnh tôn vì đã lớn tuổi, thân thể ốm yếu, lại bị người ta vạch trần hành vi phi nghĩa tại chỗ, cho nên thẹn quá mà chết!

Vương Đại, Vương Nhị nghe xong vội dập đầu kêu oan:
- Đại nhân, oan cho gia phụ, gia phụ…

Mẫn huyện lệnh xua tay:
- Chậm đã, chậm đã, bản
quan còn chưa nói hết. Tuy vậy, theo lời anh em ngươi, thân thể lệnh tôn trước giờ đều rất mạnh khoẻ, nhất định không thể vì tức giận mà chết được. Khi đó Mã Ngang và cha ngươi phát sinh tranh chấp, sau đó cha ngươi ngã xuống đất tắt thở. Mặc dù ngươi không tận mắt chứng kiến, nhưng hàng xóm láng giềng có thể làm chứng rằng từ đầu tới cuối chỉ có một mình Mã Ngang cãi nhau với cha ngươi. Vì vậy hiển nhiên hung thủ sát nhân không thể là ai khác ngoài Mã Ngang, phải không?

Vương Đại, Vương Nhị dập đầu liên tục:
- Đại nhân anh minh, đại nhân anh minh. Gia phụ đúng là bị tên hung thủ điên rồ này đánh chết. Cha tiểu dân lớn tuổi như vậy, sao có thể chịu nổi đòn đánh của hắn? Đừng nói là gia phụ chưa từng thèm muốn của cải nhà hắn, cho dù là thực sự thấy lợi mà nổi lòng tham đi chăng nữa thì cũng không đáng tội chết. Xin đại lão gia hãy chủ trì công đạo!

Mã Ngang nghe thế lập tức nổi giận, hai chân nhớm lên định bật dậy. Lập tức, hai nha dịch đứng bên cầm hai cây côn thủy hỏa trong tay xuyên chéo qua hai chân hắn đè xuống. Mã Ngang đau đến nỗi phải la “ối” lên một tiếng, quỵ xuống, không cựa quậy được nữa.

Mã Liên Nhi thấy vậy vội vàng chạy đến đỡ lấy vai hắn, dỗ dành:
- Ca ca chớ có nóng vội, cứ yên tâm! Mẫn đại nhân công chính liêm minh, nhất định sẽ phán xử một cách công bằng.

Mã Ngang trợn tròn mắt, cả giận nói ngay:
- Ca ca nào có động tay động chân gì với lão ta! Lão thất phu ấy lừa gạt tiền của người khác, con trai lão ta cũng cùng một giuộc, rõ ràng là muốn hãm hại ta. Muội hãy mau đi tìm cha …

Còn chưa dứt lời, vai hắn đã bị Mã Liên Nhi nhéo mạnh. Kinh ngạc ngẩng đầu nhìn lại, thấy muội muội đang trừng mắt với mình, trong lòng hắn chợt hiểu, tức thì ngậm miệng không nói nữa.

Mẫn huyện lệnh cười mỉm, liếc hắn một cái, thầm nghĩ: "Đúng là kẻ ngu ngốc hữu dũng vô mưu! Nếu không phải vì nể phụ thân ngươi cũng làm quan ở Kê Minh này, ta thật chẳng muốn cứu ngươi. Nếu còn không biết tốt xấu, ngươi có bị hành hạ cũng đáng đời."

Ngay sau đó lão hắng giọng, nghiêm mặt nói:
- Bản quan tại vị ở Kê Minh này đã hai năm, luôn chấp pháp công minh, chính trực liêm khiết. Dưới sự cai trị của bản quan, khắp nơi đều phồn thịnh, thanh liêm nức tiếng gần xa, sẽ không có chuyện dung túng một tên côn đồ, cũng sẽ không để người tốt phải chịu hàm oan…

Dương Lăng nghe mà thấy mắc cười. Những lời ca ngợi này không phải do người khác nói ra, mà là bản thân lão tự thổi phồng mình lên trước đám đông, thế đã đủ khôi hài lắm rồi. Vậy mà vị quan huyện râu xồm này lại còn cố nói một cách nghiêm túc như vậy, cứ như thể đã học thuộc lòng. Có điều y ngẫm lại, ở hậu thế khi làm tổng kết cuối năm thì ai ai cũng khoe khoang như vậy, tâng bốc mình lên tận mây xanh. Cho nên y cũng cảm thấy thoải mái hơn nhiều.

Mẫn huyện lệnh lại đổi giọng, lớn tiếng nói:
- Sau khi bản quan tiếp nhận vụ kiện này, đêm qua đã không quản gió tuyết đi tìm hiểu các nhà lân cận, thu thập chứng cứ, hơn nữa còn lệnh cho ngỗ tác kiểm tra di hài lệnh tôn. Theo bản quan được biết, trên người của lệnh tôn không có dấu vết bị ngoại thương, cho nên không đủ … không đủ … chứng minh một cách rõ ràng rằng nạn nhân bị đánh chết.

Mẫn huyện lệnh thầm nuốt nước bọt, bụng bảo dạ: “Cái tay Dương tú tài này kiếm đâu ra mấy từ trúc trắc như vậy nhỉ? Có điều … nghe rất là cao thâm, khà khà!”

Lão cầm chén trà lên nhấp một ngụm, rồi tiếp:
- Hơn nữa, theo bản quan được biết, hai năm trước gia đình ngươi chuyển từ Mân Nam đến đây, vào thu năm ngoái lệnh tôn đã từng bị bệnh nặng suốt một thời gian dài. Cho nên nếu nói cơ thể luôn mạnh khỏe thì khó mà tin cho được.

- Ngoài ra, theo lời khai của lão Hà ở tiệm bán tương, có lần cha ngươi kể với lão rằng trên đường di cư đến đây ông ta từng bị rắn độc cắn ở Hồ Quảng. Vì thế phải hoãn cuộc hành trình lại hơn mười ngày, sau đó do vội vàng nên chưa khỏe hẳn đã tiếp tục lên đường. Đấy đều có khả năng là nguyên nhân dẫn đến tử vong.

- Để tránh đổ oan cho người tốt, cũng không để lọt lưới kẻ xấu, bản quan quyết định: tạm giam Mã Ngang, trước khi vụ án được làm sáng tỏ thì nhất quyết không được thả ra. Đồng thời ta sẽ cử ngỗ tác mổ bụng khám nghiệm tử thi của lệnh tôn, kiểm tra xem có bị nội thương hay không. Còn gia đình các ngươi phải đi tìm thầy lang đã khám bệnh cho lệnh tôn năm ngoái, xin lại đơn thuốc đã kê lúc đó để làm bằng chứng cho việc bệnh tình của lệnh tôn chưa nặng tới mức có thể lưu lại di căn chí mạng về sau.

- Chưa hết, gia đình các ngươi phải mau chóng sai người đến Hồ Quảng, tìm cho bằng được thầy lang đã xem bệnh cho cha ngươi lúc đó, xin lại đơn thuốc chữa bệnh. Đương nhiên, còn phải mời danh y Phủ thành, người đã rút nọc độc của rắn ra khỏi người lệnh tôn, xác định là nó không thể gây chết người. Như vậy bản quan mới có thể dựa vào đó mà phán Mã Ngang tội tử hình.

- Dạ? Tìm lại thầy lang đã khám bệnh cho cha tiểu dân thì không khó, đến Phủ thành mời danh y, việc này …cũng cố gắng làm được. Nhưng … còn phải tới tận Hồ Quảng tìm thầy lang kê đơn lúc đó, có thể ông ta đã chuyển nhà đến nơi khác. Vậy chẳng phải đi xa xôi ngàn dặm vô ích hay sao?

Mẫn huyện lệnh cười thầm một tiếng. Đây mới chỉ là chiêu đầu tiên mà thôi, nếu nhà họ Vương vẫn cứng đầu, thực sự đi ngàn dặm xa xôi lấy đơn thuốc của thầy lang về, ta sẽ an bài để Mã Ngang kháng án, yêu cầu Vương gia phải đi Hồ Quảng một chuyến nữa, lấy thêm giấy xác nhận của tiệm thuốc. Nếu vẫn không xong, ta còn có thể bắt hai huynh đệ nhà hắn quay về quê cũ tìm quan phủ địa phương để xin cấp văn thư xác nhận cha bọn chúng trước giờ luôn mạnh khỏe.

Tóm lại, lộ trình đi đi về về càng xa càng tốt, chứng cứ yêu cầu càng chi tiết càng tốt, vừa cho thấy mình xét án cẩn thận, xem trọng nhân mạng, lại khiến bọn chúng phải khổ sở đi tới đi lui, sức cùng lực kiệt, đến khi phải bỏ cuộc không truy cứu nữa mới thôi. Đây là một trong những mánh khóe thường dùng trong bảo hiểm khi phải bồi thường cho khách hàng.

Vương Đại, Vương Nhị ngẩn người, đang định biện bạch thêm vài câu, Mẫn huyện lệnh đã trừng hai mắt, đập “bộp” phán gỗ xuống bàn, cao giọng nói:
- Được rồi, giải nghi phạm Mã Ngang vào đại lao, trông chừng cho cẩn thận! Những người khác hãy trở về nhà! Chờ khổ chủ là nhà họ Vương tìm được chứng cứ thì bản huyện sẽ lại thăng đường thẩm vấn tiếp. Bãi đường!

Đám nha dịch cùng dạ một tiếng vang rền, ngay sau đó liền có hai nha dịch cường tráng chạy đến, lôi xồng xộc Mã Ngang ra ngoài. Mặc dù đám hung thần ác sát này nhắm vào Mã Ngang, nhưng cũng làm cho huynh đệ nhà họ Vương bị dọa khiếp vía, lời còn chưa ra khỏi cửa miệng đã vội nuốt vào.

Hai huynh đệ nhà họ Vương lặng lẽ quay về nhà, cảm thấy nếu cứ như vậy mà bỏ qua thì thật không cam tâm. Bàn bạc mất hai hôm, bọn họ mới quyết định để Vương Đại thu dọn hành trang đi Hồ Quảng một chuyến, đợi lấy được chứng cứ về rồi sẽ đi Phủ thành mời người. Việc buôn bán trong nhà trước mắt sẽ do Vương Nhị lo liệu.

Đang lúc bàn bạc, vợ của Vương Đại chạy vội vào, lo lắng nói:
- Tướng công, thiếp từng nghĩ nhà mình mấy hôm nay không có khách ghé vào, có lẽ là do nhà mới có người mất, lại sắp đến Tết, cho nên các khách quen có phần kiêng kị. Nhưng hoá ra là do người của sở Dịch thừa tung tin đồn nhảm khắp nơi, nói nhà mình làm ăn gian dối, lấy giả tráo thật, lấy kém tráo tốt, ép mua ép bán. Chẳng những khắp Kê Minh này ai ai cũng biết, mà nghe nói cái bọn dịch sứ (Những người chuyên đưa văn thư từ dịch trạm này tới dịch trạm khác cho triều đình – ND) đáng chết ấy còn truyền công văn đi khắp nơi, chỗ nào cũng đặt chuyện, giờ ngay cả người làng khác cũng biết. Nếu cứ tiếp tục như vậy, nhà chúng ta làm sao mà buôn bán được chứ? Người trong nhà há chẳng phải chỉ có thể chờ chết thôi sao?

Hai huynh đệ họ Vương nghe mà giật nẩy người. Làm ăn sợ nhất là bị mang tiếng xấu, sở Dịch thừa tung tin đồn nhảm trong vùng này thôi còn đỡ, bọn họ mà lợi dụng cả trăm dịch sứ đi xuyên tạc khắp nơi thì tiệm nhạc cụ nhà họ Vương chỉ có nước đóng cửa.

Nhà họ Vương ở đây không có ruộng đất gì, hoàn toàn dựa vào việc buôn bán để kiếm sống. Trong nhà mặc dù sung túc hơn người làm nông bình thường, nhưng thời này trọng nông khinh thương, cho nên địa vị xã hội của bọn họ còn không bằng cả nông dân.

Triều đình nhà Minh đã có quy định, nông dân có thể mặc áo gấm như những người có công danh, nhưng thương nhân dù có giàu có đến đâu đi chăng nữa cũng không được phép làm vậy. Cho nên, mặc dù nông dân không mua nổi áo gấm, nhưng phú thương có mua nổi thì cũng chẳng mặc được. Thậm chí là những thương nhân gia tài ngàn vạn cũng chỉ có thể mặc áo gấm ở trong nhà, khi ra khỏi cửa lại phải thay bằng quần áo vải thô. Nếu không, để người ta cáo quan thì sẽ là tội lớn.

Do đó, khi Vương gia đi thưa kiện thì ngay từ đầu đã rơi vào thế bất lợi, nếu lại còn để cho việc làm ăn “đi tong” chắc chắn sẽ là lợi bất cập hại. Chẳng lẽ vì một người đã chết mà khiến cả nhà không sống được nữa sao?

Đến lúc này, ý định thưa kiện đến cùng của hai huynh đệ đã giảm đi phần nào. Ngẫm lại, cũng gần hết năm, bây giờ mà đi xa thì không ổn, chi bằng hai huynh đệ cố gắng quản lý cửa tiệm, chờ qua tết rồi bàn tiếp.

Hai huynh đệ cùng chạy ra sảnh trước mời chào khách. Thế nhưng qua mấy ngày vẫn không bán được gì, lại còn nghe được tin đồn, nói là Vương lão gia lừa gạt tiền của người ta, bị người ta vạch trần tại chỗ, xấu hổ quá mà chết. Hai đứa con nhà họ Vương còn tham của hơn cả lão ta, mùa đông giá rét thế này mà vẫn bỏ mặc thi hài cha mình ở chỗ ngõ tác, kệ cho người ta mổ bụng moi gan, lóc xương xét nghiệm. Tất cả chỉ vì muốn lừa gạt chút tiền

Thường có câu: Lời gièm pha của thiên hạ luôn rất đáng sợ. Những người khác nào quan tâm thật giả ra sao, tóm lại tất cả chỉ nghĩ không nên qua lại với nhà họ Vương, kẻo lại ảnh hưởng đến thanh danh nhà mình. Có vài nhà hàng xóm vốn rất thân thiết với nhà họ Vương, nhưng mấy hôm nay khi thấy mặt, trông họ hơi là lạ rồi dần dần trở nên xa lánh.

Hai huynh đệ hết sức bất bình, bèn đi cầu kiến huyện thái gia. Nhưng lại nghe nói, vì tuyết lớn làm đổ nhà của ba hộ dân ở Lưu Gia bình, nên huyện lệnh đại nhân vốn yêu dân như con đã đến đó động viên và cứu tế, phải hai ngày sau mới trở về. Hai hôm sau bọn họ quay lại thì lại nghe nói, huyện lệnh đại nhân đã tới Tuyên Phủ để chỉ huy việc vận chuyển lương thực mùa đông cho nha môn và sở Dịch thừa.


--------------


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
30-05-2010, 10:30 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 12: Dây dưa kéo dài

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo_vong

Biên tập: Chũm Chọe

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Cái gì mà dường như? Chẳng phải điều đó rành rành trước mắt sao? Người ta rõ ràng đang giúp nhà họ Mã đấy.



Một hôm lúc Vương Nhị tới Phủ thành lấy hàng, Vương Đại ngồi trong quầy đực mặt nhìn người đi trên đường. Trong cửa tiệm vắng tanh, giờ này năm ngoái còn có mấy đội ca múa, đội cà kheo, có cả tổng hội gánh hát, nhà chùa đến mua vài món nhạc cụ giá rẻ theo mùa. Còn năm nay, cho đến giờ vẫn chưa bán được một món, chẳng lẽ cứ phải chạy ra ngoài đường lôi kéo khách vào hay sao?

Vương Đại vô cùng rầu rĩ mà chẳng biết nên làm thế nào, cẩn thận nhớ lại khi trước thấy cha hắn thường nói là bị tức ngực, hồi năm ngoái còn đột nhiên bị bất tỉnh bởi một cơn bạo bệnh. Nay ngõ tác kiểm tra thấy trên người không có vết thương nào, có lẽ thực sự vì xấu hổ xen lẫn giận dữ, nộ khí công tâm mà chết. Bây giờ làm ầm lên thế này sẽ khiến tiệm nhạc cụ của nhà họ Vương mất sạch thanh danh, một nhà già trẻ lớn bé sắp phải gặm đất mà sống rồi, phải làm thế nào bây giờ?

Đang lúc hắn đắm chìm trong suy tư, chợt có người vỗ lên quầy, cười ha hả hỏi:
- Vương Đại, gì mà ngây người ra thế? Đang tính bán đồ gì vào dịp Tết hả?

Vương Đại ngẩng đầu nhìn thì thấy một lão già quắc thước mặc thanh bào đang tươi cười đứng ở bên ngoài quầy. Hắn vội vàng đứng dậy bước ra nghênh tiếp, mặt cười tươi roi rói, giọng niềm nở:
- Ông chủ Ngô, sao ông rảnh rỗi mà ghé thăm thế? Mau vào đi. Người đâu, mau pha trà ngon đem ra đây.

Vị này tên là Ngô Kiệt, tuổi hơn năm mươi, là thương nhân vùng Xuyên Thiểm (Tứ Xuyên và Thiểm Tây-ND) đến khu vực lân cận kinh thành để buôn bán dược liệu, tiền tài vượt xa nhà họ Vương. Kê Minh là nơi tập trung phân phối luân chuyển dược liệu của lão, một năm thì đã có nửa năm lão ở lại nơi đây. Người làm ăn buôn bán ở vùng này phần đông đều biết đến ông chủ Ngô, kẻ có tiếng vung tay hào phóng.

Ngô Kiệt mỉm cười ngồi xuống ghế, chậm rãi trả lời:
- Nào có bận gì đâu, giờ sắp đến Tết rồi, ta đang bận bịu lo xong đống công việc để còn chuẩn bị về quê ăn Tết, tiện thể đi qua nhà hiền đệ nên ghé vào thăm một chút. Sao hôm nay đệ lại ngồi trông quầy thế? Để xem nào, vẫn chưa có chuẩn bị gì à, trước tiệm trông vắng vẻ quá nhỉ! Thế cha đệ đâu?

Khuôn mặt Vương Đại thoắt trở nên ảm đạm, gượng cười:
- Ôi! Ông chủ Ngô, không giấu gì ông ... cha tiểu đệ vừa mới mất được mấy hôm.

Ngô Kiệt giật mình, la hoảng lên:
- Sao lại có thể như thế được? Lúc ta rời khỏi đây đi Thiểm Xuyên thu mua dược liệu, ông chủ Vương vẫn còn khỏe mạnh lắm mà, sao lại ... Căn bệnh tức ngực khó thở năm ngoái lại tái phát à?

Vợ của Vương Đại cho nước vừa đun vào ấm trà rồi bước ra, khuôn mặt cũng rất buồn bã. Nhìn thấy ông chủ Ngô, bà ta bèn cố gượng cười chào hỏi, rót xong chén trà thì lại quay trở vào nhà sau.

Ngô Kiệt rút từ trong ống tay áo ra tẩu thuốc có miệng làm bằng ngọc bích, lôi từ trong đai lưng ra cái túi, vốc một nắm thuốc lá rồi dùng đồ châm lửa châm mồi. Lão ta khoan khoái rít vào một hơi, lim dim mắt nói:
- Ông chủ Vương đã tròn bảy mươi. Thường có câu: nhân sinh thất thập cổ lai hi, Ông chủ Vương cũng đã sống thọ đến lúc xuôi tay, xem như là hỷ tang vậy. Ta biết huynh đệ hai người vốn hiếu thuận. Lại đây, ngồi xuống đi, đừng có đau buồn, hãy kể cho ta nghe nào.

Vương Đại đem toàn bộ sự tình trước sau kể lại một lượt, dĩ nhiên trong lúc kể đã giấu nhẹm chuyện tìm thấy hạt trân châu ở trên người phụ thân ra. Kể xong, hắn cất giọng phẫn hận:
- Thù cha không đội trời chung. Ông chủ Ngô, ông đã từng vào Nam ra Bắc, hiểu rộng biết nhiều, ông nói xem, thù này nếu không báo, đệ còn không bị hàng xóm láng giềng chửi mắng ở sau lưng sao? Chỉ là giờ đây ... khụ khụ, nhà họ Mã thế mạnh, đặt điều gây thị phi khắp nơi, cho nên mới ... Ông cũng đã thấy đấy, thậm chí khách hàng cũng chẳng buồn ghé vào. Huyện tôn lão gia lại không có ở trong phủ, theo tiểu đệ thấy, hắn ngoài miệng nói thì dễ nghe, nhưng dường như cũng đều là quan lại bao che cho nhau, cố ý thiên vị cho nhà họ Mã thôi.

Ngô Kiệt nghe xong liền cười nhạt, bập một hơi thuốc, giọng khẳng định:
- Cái gì mà dường như? Chẳng phải điều đó rành rành trước mắt sao? Người ta rõ ràng đang giúp nhà họ Mã đấy.

Vương Đại nghe xong vừa giật mình vừa phẫn nộ, vỗ đùi đánh tét:
- Tiểu đệ đã nói rồi mà, hắn vừa bắt chúng ta đi tìm thầy lang, lại bắt đi tìm ông chủ tiệm thuốc. Lúc bọn đệ đi tìm huyện thái gia thì hắn lại không có ở đó, vậy ... vậy ... Hừ, là hắn bức đệ ôm luật triều Minh lên kinh nộp cáo trạng rồi.

Ngô lão bản rút tẩu ra, trợn mắt nhìn hắn:
- Hiền đệ còn tưởng giờ đang là năm Hồng Vũ (Niên hiệu vua Thái tổ, tức Chu Nguyên Chương, thời Minh ở Trung Quốc (1368-1398) - ND) à? Lên kinh kiện cáo? Vậy mà đệ cũng nghĩ ra được! Hoàng đế ngự trong Tử Cấm thành, kín cổng cao tường, trọng binh trùng trùng bảo hộ, đệ gặp được chắc? Mà cho dù gặp được rồi thì sao? Huyện thái gia không có nói người ta không xử vụ này. Việc xem trọng nhân mạng, cẩn thận xử án vốn đã không sai. Đến lúc đó nói không chừng hoàng thượng sẽ còn khen ngợi Mẫn đại nhân xử án cẩn thận, không xem mạng người như cỏ rác. Có khi hoàng thượng còn phán cho đệ tội phỉ báng mệnh quan triều đình, khi quân phạm thượng, có thể là đại tội xử chém toàn gia, họa diệt cửu tộc đó.

Vương Đại nghe thấy hậu quả đáng sợ như vậy, không khỏi kinh hãi đến dựng cả lông tóc, một hồi lâu mới lên tiếng:
- Ôi trời đất ơi, thật cảm tạ ông chủ Ngô đã nhắc nhở. Tiểu đệ kiến thức còn hạn hẹp, chưa trải qua hết sự đời, nếu hôm nay không có buổi trò chuyện với ông thì có thể đệ đã rước họa lớn về nhà. Vậy ... bây giờ đệ nên làm thế nào đây?

Ông chủ Ngô khẽ cười, thong thả nhả ra một ngụm khói, ngước mắt nhìn làn khói lượn lờ bay lên rồi mới chậm rãi khuyên nhủ:
- Vương lão đệ à, lão ca cũng chẳng có nhiều kiến thức gì, chẳng qua vào Nam ra Bắc, mấy chuyện này nghe cũng đã nhiều, thấy cũng không ít. Thường có câu: dân không đấu với quan, lại có câu: dân tâm tự thiết, quan pháp như lô (lòng dân vững như sắt, quan pháp như lò lửa: ý nói pháp luật vô tình, có thể nung chảy cả sắt (dân tâm) - ND). Trong chuyện này đệ không có đầy đủ chứng cứ, cho dù có kiện lên đến điện Kim Loan cũng chưa chắc đã làm gì được người ta, ngược lại có khi còn hại cả nhà mình. Ta có mấy lời khuyên thế này, không biết đệ có chịu nghe hay không?

Vương Đại nghe xong vội vàng bê ấm trà lên, vừa rót thêm trà nóng, vừa khúm núm nói:
- Ông chủ Ngô, mời ông nói cho. Không giấu gì ông, mấy hôm nay trong lòng đệ thấp thỏm không yên, thật giống như đang cưỡi trên lưng cọp, lên xuống đều không xong. Lão nhân gia có chủ ý gì hay, xin hãy nể mặt cha già đã khuất mà vui lòng chỉ giáo cho.

Ông chủ Ngô cười ha hả, gõ nhẹ ống điếu vào chân ghế rồi cẩn thận đặt trên bàn. Lão chậm rãi đưa chén trà lên nhấp một ngụm, sau đó mới cất giọng thong thả:

- Chuyện này vốn không rõ ràng. Đệ mặc dù có nhân chứng chứng minh được là ông chủ Vương chết khi tên Mã Ngang đó tranh chấp với đệ, nhưng lại không có người làm chứng tên Mã Ngang đó đã động thủ với cha đệ. Vị Dương tú tài kia là người có công danh, lại có mặt ở đó từ đầu tới cuối, nếu ta là Huyện thái gia thì ta cũng không thể cứ vậy mà định tội người ta, cho nên ngươi chẳng thể trách Mẫn huyện lệnh được.

- Chuyện ngày hôm nay thành ra nông nỗi này ... Vương lão đệ à, ta nói câu công bằng này ngươi đừng có trách! Vương lão bản tuổi đã gần bảy mươi, khuất đi âu cũng là chuyện phải tới. Ta biết đệ là đứa con có hiếu, chẳng phải muốn kéo con cái nhà người ta chết cùng. Nhưng nếu thật sự là oan uổng cho người ta, đệ làm vậy há chẳng phải sẽ tạo thêm một tội nghiệt cho cha đệ sao?

- Hơn nữa, hiền đệ dẫn cả nhà đến ở nơi này, liệu có thật sự muốn đắc tội với Mã dịch thừa không? Người ta mới đến nhậm chức, còn có thể làm đến mấy năm, đệ đấu lại người ta sao? Huống hồ nếu vụ án này cứ kéo dài mãi, tan cửa nát nhà tạm chưa nói đến, nó còn liên lụy khiến thi cốt lão phụ thân đệ không thể nhập thổ. Trời đông tháng chạp rét mướt như vầy lại bị xếp đống trong nhà xác, nói không chừng còn bị mổ bụng rút ruột, róc xương xét nghiệm. Cha đệ vất vả nuôi hai anh em đệ khôn lớn, để rồi chết cũng không toàn thây, đệ liệu nhẫn tâm sao?

Vương Đại nghe mà chảy cả nước mắt, nước mũi. Hắn sụt sùi khóc:
- Ông chủ Ngô, ông nói xem vậy giờ tiểu đệ nên làm sao cho phải?

Ngô Kiệt khẽ cười, trấn an hắn:
- Nếu như đệ thực sự có tấm lòng hiếu thuận, vậy cứ coi như là Vương lão gia mất đã được an hưởng tuổi trời, chết không tiếc nuối. Còn chuyện chiếm đoạt tiền tài người ta, cho dù là thật hay giả, nhà họ Mã cũng sẽ biết điều không cố truy cứu đâu.

- Có điều, tuy rằng cha đệ không phải bị người ta đánh chết, nhưng vì lúc mua bán nảy sinh tranh chấp, tuổi già sức yếu, lại sinh phẫn uất nên dẫn đến tử vong, nhà họ Mã cũng sẽ khó tránh khỏi có liên can. Nếu không phạt nặng bọn họ thì sẽ khó mà hoá giải nỗi tức giận của đệ, lại càng khó ăn nói trước mặt hàng xóm láng giềng. Theo ta thấy, không bằng kêu nhà họ Mã bồi thường cho đệ vài chục lượng bạc, tất thảy mọi chi phí khâm liệm cũng sẽ đều do bọn họ chi trả. Vụ kiện này xử lý như vậy, đệ thấy sao?

Vương Đại nghe xong cúi đầu không nói, trầm ngâm một lúc mới lắp bắp hỏi:
- Nếu ... nếu xử lý như vậy, sẽ không khiến cho người khinh bỉ chê cười huynh đệ mưu cầu tiền tài, bất chấp đại thù của lão phụ thân sao? Những lời như vậy, bảo đệ làm ... làm thế nào mà nói ra?

Ánh mắt ông chủ Ngô chợt sáng lên, định nói thêm câu nữa thì một người cưỡi lừa đi đến trước cửa. Gã ta nhảy xuống lưng lừa, buộc chặt cương lại rồi xầm mặt xông vào trong phòng. Vương Đại ngẩng đầu liếc nhìn thấy chính là huynh đệ Vương Nhị của mình, vội đứng dậy đón:
- Nhị đệ, đệ về rồi à, thế nào...?

Đoạn hắn liếc mắt nhìn ra ngoài, kinh ngạc hỏi:
- Không phải huynh bảo đệ đi thu mua một lô còi tre, sáo trúc, chiêng đồng, chũm choẹ à? Sao đệ lại về tay không thế?

Vương Nhị quay về phía ông chủ Ngô chắp tay cung kính chào:
- Ông chủ Ngô, chào ngài.

Sau đó gã ta bước tới ngồi phịch xuống cái ghế của ca ca, giọng đầy tức giận:
- Mua hàng gì chứ? Ông chủ Liễu muốn chúng ta giao dịch bằng tiền mặt, không cho nợ hàng.

Vương Đại ngạc nhiên hỏi:
- Sao lại thế chứ? Năm ngoái gia đình chúng ta làm ăn lần đầu với hắn mà hắn còn đồng ý bán chịu cho chúng ta. Đến giờ đã qua lại hơn một năm, chưa từng nợ hắn lạng bạc nào, sao đang tốt đẹp lại đòi giao dịch bằng tiền mặt?

Vương Nhị đáp:
- Còn không phải là vì lũ khốn họ Mã đó sao? Cũng chả biết là ai đã huyên thuyên ...

Nói đến đó gã chợt nhớ ra ông chủ Ngô vẫn còn đang ở trong phòng, vội ngậm miệng lại.

Ngô Kiệt hớp một ngụm trà, thong thả đứng dậy nói:
- Mấy ngày hôm nay buôn bán bận rộn, lão phu cũng không thể ngồi lâu, giờ cũng phải trở về rồi. Nhị vị, năm sau chúng ta gặp lại nhé!

Lão chắp tay cười với Vương Đại, Vương Nhị, rồi từ tốn bước ra ngoài.

Vương Đại nghe xong lời của đệ đệ mình, ngẩn ra một lúc, thấy Ngô lão bản đã sắp khuất tầm mắt, hắn không khỏi bực tức dậm chân, vội vàng đuổi theo phía sau, gọi lớn:
- Ông chủ Ngô, xin chờ đã! Thật không còn biện pháp nào tốt hơn chủ ý của ông nữa. Chỉ có điều, cầu xin lão nhân gia giúp dàn xếp chuyện này, xin ông nhất định phải giúp cho!



--------------


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
02-06-2010, 12:56 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 13: Sư gia danh dự

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo_vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Lúc trước xem ti vi thấy mấy cái tay làm quan động một tí là cải trang vi hành, tra rõ ngọn ngành vụ án, xem ra toàn chỉ là chuyện vớ vẩn. Mỗi ngày có biết bao nhiêu chuyện phải làm như vầy, thời giờ đâu ra cho hắn rời khỏi nha môn mà tự mình đi điều tra phá án chứ?



Quyển một – Ba tháng khói lửa – Chương thứ mười ba – Sư gia danh dự.

Dương Lăng ngồi trong phòng công vụ, đờ người nhìn chồng hồ sơ các vụ án dày cộm xếp trước mặt. Y rất muốn lập tức xắn tay vào làm việc, nhưng lại giống như một tay ngang phải đối diện với đống lưới đánh cá rách nát quấn chằng chịt vào nhau, căn bản không biết phải bắt đầu từ đâu.

Nếu bạn suy nghĩ một tí về những công việc mà một huyện thái gia cần phải phụ trách là sẽ biết thôi, nó không giống như ở trên ti vi, ông ta nhàn rỗi ngồi ở thất phẩm chính đường (sảnh đường lớn nơi quan thất phẩm như huyện lệnh thăng đường chủ trì xử lý kiện cáo, vv…) mà đập phán gỗ cốp cốp đâu.

Tài chính này, thuế vụ này, giao thông này, luật pháp này..., tất cả mọi việc trong huyện đều phải qua tay huyện thái gia giải quyết. Lẽ ra ngoài Huyện thừa, Chủ bạ, huyện thái gia còn có một đám sư gia về luật pháp, về tiền lương, về kiện cáo. Vậy mà giờ đây, Mẫn huyện lệnh, cái lão huyện thái gia gà mờ này lại đem tất tần tật vất cho Dương Lăng. Cho dù là một tay sư gia dồi dào kinh nghiệm đi chăng nữa, e rằng nhất thời cũng phải tay chân bối rối.

Phòng công vụ gồm ba gian phòng ăn thông với nhau như một xâu hồ lô đường. Thông thường bọn sư gia, phụ tá của huyện thái gia đều ngồi ở đây xem xét công văn, xử lý mọi việc. Phía trước phòng công vụ chính là thất phẩm chính đường, nơi huyện thái gia thẩm vấn và xử án, còn phía sau là nơi ở của cả nhà huyện thái gia.

Từ khi giúp nhà họ Mã giải quyết vụ kiện cáo liên quan đến mạng người kia xong, Dương Lăng được Mẫn huyện lệnh rất mực tán thưởng, lập tức được mời vào phủ đảm nhiệm chức vụ sư gia. Đang ảo não vì mình ăn không ngồi rồi, để cho một tiểu cô nương nuôi dưỡng thực là quá vô sỉ, nên y đã vui vẻ chấp nhận ngay.

Có điều vì ánh mắt ai oán của Hàn Ấu Nương, y đành phải nói rõ với Mẫn huyện lệnh rằng chỉ tạm thời làm sư gia, đến kỳ khảo thí sang năm y vẫn sẽ lên tỉnh thành tham gia thi Hương. Mẫn huyện lệnh cũng đồng ý ngay lập tức.

Thật ra y cũng tự biết mình chẳng sống được bao lâu. Ngày thường đi dò hỏi người ta, y cũng biết ở thời đó cho dù có thi đỗ Trạng nguyên đi chăng nữa, cùng lắm thì cũng sẽ chỉ được ở lại kinh thành làm một chân sử quan ở viện Hàn lâm, nếu có thể lập tức được cử đi làm một viên tri huyện đã là tốt lắm rồi, tuyệt đối không thể nào được cử làm quan to. Hiện tại cũng chỉ vì tình cảm với Hàn Ấu Nương và trách nhiệm của người đàn ông nên y mới muốn cố gắng để lại cho nàng một phần gia sản mà thôi, chẳng muốn tham gia thi hương làm gì. Chỉ có điều y không thể chống lại được tình cảm dịu dàng của nữ nhân. Tuy tuổi còn nhỏ mà Hàn Ấu Nương đã có một đôi mắt đầy u oán, đủ khiến y phải thay đổi ý định. Ít ra thì biểu hiện bên ngoài của y là như vậy.

Mẫn huyện lệnh xuất thân quân đội, thân tín đem theo cũng đều là dân đi lính, có thể nói là mù tịt với việc quản trị một huyện. Trong huyện vốn còn có một tay Hoàng huyện thừa, nhưng kẻ này cũng chẳng để ý gì tới Dương Lăng, cả ngày chỉ như một pho tượng đất. Nếu không phải vào ngày phát lương hằng tháng còn thấy lão ta ôm theo cái bao rỗng chạy tới lĩnh tiền lĩnh thóc, nhất định sẽ chẳng thấy bóng dáng của lão ta ở đâu.

May là ở Kê Minh dân chúng thuần phác, hơn hai năm qua vẫn chưa có sự việc gì quá nghiêm trọng. Có điều cuộc khảo hạch ba năm một lần đã sắp tới gần, lúc ấy triều đình sẽ kiểm tra thành tích của các quan viên. Mẫn huyện lệnh mặc dù tính tình thô lỗ, nhưng cũng không khỏi có chút tính toán riêng cho bản thân.

Trong đợt đại khảo thí này của triều đình, thành tích được tính như thế nào đây? Thật ra nó không nằm ngoài hai thứ: một là sự thanh liêm, sáng suốt, hai là thu thuế đúng hạn. Về phần thanh liêm, sáng suốt thì chỉ cần không có nông dân gây loạn, thương nhân bỏ chợ và thư sinh kháng nghị, đồng thời không xảy ra vụ trọng án nào, đã có thể báo cáo là một cảnh thái bình thịnh vượng, "ngoài đường không trộm cắp, tối ngủ khỏi cài then" rồi.

Kê Minh có hai đội quan binh trú đóng, cộng thêm sở Dịch thừa, bọn sai dịch của huyện nha, là một huyện bậc ba quản lý rất nghiêm, hai năm qua chưa từng xảy ra chuyện lớn nào. Thế nhưng về mặt thu thuế đúng hạn thì không được như vậy. Vì là vùng đất có nhiều thương khách tụ tập nên thu thuế buôn ở đây thì còn có thể đúng hạn, nhưng các hộ dân cư phụ cận phần nhiều là sống ở trong núi, bình thường vốn sinh sống rải rác, không dễ quản lý. Hơn nữa đất đai cằn cỗi, bọn Thát Tử lại thường đến quấy nhiễu cướp bóc, cho nên lương thuế giao nộp không được như ý, đến lúc đại khảo không khỏi trở thành điểm yếu của Mẫn huyện lệnh.

Mẫn huyện lệnh làm quan cứ ngây ngây ngô ngô. Phải đến mấy ngày trước lặn lội đi phủ thành một chuyến, lão mới nghe ngóng được cuộc trò chuyện của thượng quan, mới biết được quan văn khảo hạch sẽ có rất nhiều thứ để nói. Đang lo lắng không biết sẽ phải khoe khoang thành tích cai trị của mình như thế nào thì ở trên trời lại rơi xuống một Dương tướng công. Dĩ nhiên lão sẽ đẩy hết trọng trách sang y, trông mong y giúp mình tạo ra được chút thành tích để báo cáo.

Nhưng Dương Lăng quả thực không thể hiểu được phương thức vận hành chính phủ ở thời đại này. Tuy ở kiếp trước hắn đã từng làm trưởng phòng của một công ty bảo hiểm, nhưng với chế độ và cơ cấu quản lý ở thời nay, dù cho không có trưởng phòng thì cả cơ cấu cũng không bị ảnh hưởng quá nhiều. Hiện tại thì không giống như vậy, gần như mỗi chuyện lớn chuyện nhỏ đều cần y quyết định. Dương Lăng làm đến bở hơi tai mà ngay cả công văn thường ngày còn xử lý không xong, lấy đâu ra thành tích cho nổi.

Y ưỡn lưng, đưa tay về phía sau khẽ đấm mấy cái, mày chau mặt ủ nhìn cái đống hồ sơ ở trước mặt. Cuối năm đã cận kề, trạm vận chuyển hàng hóa đang có một đống đặc sản Tây Vực do hoàng cung mua sắm cần phải vận chuyển về kinh thành, thế nhưng lại không có đủ xe, lừa ngựa để sử dụng, cần thỉnh cầu nha huyện giúp đỡ giải quyết.

Bộ phận nhận công văn lại nhận được công hàm của bộ binh thông báo sắp tới sẽ có đại quân điều động, đi qua Kê Minh lúc nửa đêm. Bọn y cần phải mở cửa thành giữa đêm đó, rồi an bài nha sai và quan binh canh giữ cửa thành, nghiêm ngặt đề phòng có kẻ thừa cơ ban đêm lẻn vào.

Ngót nghét cuối năm, lệnh giới nghiêm đã được bãi bỏ. Thân là sư gia chuyên lo về pháp luật, hiển nhiên những việc liên quan đến phương diện trị an, đuổi trộm bắt cướp này nọ y cũng phải đích thân đứng ra xử lý.
Những vật liệu như khói hiệu, lửa hiệu dùng ở phong hỏa đài (1) cũng cần phải thay đổi.

Trâu cày của nhà họ Đậu ở ngoại thành bị thất lạc. Con heo mập mạp do nhà họ Lưu ở phía tây thành nuôi đã ba năm bị trộm mất. Nhà họ Lí có mấy tên lưu manh tụ tập trêu chọc quả phụ trẻ. Đầu thành phía Bắc có đứa nhỏ nhà họ Hách châm pháo làm cháy đống củi của nhà họ Hạ, nhà họ Hạ đến cửa tranh cãi đánh con dâu của nhà họ Hách bị thương. Nhà họ Hách tố cáo nhà họ Hạ gia đến tận nhà mình hành hung, nhà họ Hạ tố cáo nhà họ Hách đốt lửa gây cháy lớn...

Càng chết người hơn là số hộ nông dân khất nợ thuế nông nghiệp thực sự quá nhiều. Có hộ chỉ khất một hai năm, có hộ ngâm phải tới chín tới mười năm, ngâm tới đá cũng phải mềm, không cách nào giải quyết nổi.

Thoạt đầu Dương Lăng còn đập bàn kêu Vương bộ đầu lôi cái tên nông dân gian xảo Hồng Mãn Thương – kẻ ngâm nợ lâu nhất, dai nhất tới, định bụng giết gà dọa khỉ. Đến khi nghe Vương bộ đầu kể lại chuyện huyện thái gia nhiệm kỳ trước đã từng dùng qua phương pháp này, kết quả đã ép vợ Hồng Mãn Thương phải thắt cổ tự vẫn, Hồng Mãn Thương cũng trở nên nửa điên nửa dại. Một đám văn nhân biết được sự tình đồng loạt phẫn nộ bất bình gây náo loạn đến cả bộ Hộ, sau khi quan huyện bị cách chức thì chuyện mới yên.

Vẫn may còn có tay Chủ bạ Vương Dưỡng Chính thấy vị đồng liêu trẻ tuổi này tính nết hòa nhã, làm việc chăm chỉ, nên đã len lén cho y biết Hoàng huyện thừa ngồi ở bổn huyện đã rất lâu, từng trải qua hai đời huyện thái gia. Vị huyện thừa già này là một người có rất nhiều biện pháp, ở chốn quan trường có thể xem là một người lọc lõi, chi bằng hãy xin lão ấy giúp đỡ.

Dương Lăng nghe lời, cắn răng mua chục cân thịt heo, một túi trà ngon đến cửa Hoàng huyện thừa xin chỉ giáo. Ai dè lão đang kèm cặp cháu trai mình luyện chữ, nghe ý tứ của Dương Lăng xong thì chỉ cười nhạt, cố ý cò cưa không chịu giúp đỡ. Nhưng lão lại chẳng hề khách khí gì, vẫn nhận lấy gói thịt heo và túi trà, khiến cho Dương Lăng chẳng biết phải khóc hay nên cười.

"Ôi!" Hồi tưởng đến chuyện này, Dương Lăng thở dài nặng nề, có phần tiếc nuối hai mươi bốn văn tiền đã bỏ ra. Thi thoảng mua ít thịt về, tiểu nha đầu ở nhà đều gắp bỏ vào bát của hắn hết, bản thân lại không nỡ ăn một miếng. Nếu biết trước sẽ như vậy, chi bằng y đem thịt về nhà cho cô bé vừa đáng thương vừa đáng yêu đó ăn một bữa thật ngon còn hơn.

Y cầm lấy bút, viết dự trù tài chính, lương thực cho năm sau đã được tính toán cẩn thận vào trong công văn trình báo lên bộ Hộ: "Tổng cộng quan viên sai nha ở cả Kê Minh là 79 người, dịch sứ 158 người, lính canh nội thành 260 người, dân phu 45 người, ngựa trạm 82 con, tiền chiêu đãi thết tiệc trong năm 7647 lạng, thức ăn cho ngựa 52 thạch (mỗi thạch tương đương 100 lít). Ngoài ra: chiến đài ở cổng Tây thành đã có vết rạn nứt, cần phải tu bổ, dự toán 116 lạng."

Thổi cho tờ công văn ráo mực, y cẩn thận đặt nó lên trên chồng công văn đã xử lý. Tấm rèm cửa chợt được vén lên, một người mặc áo xanh bước vào. Mấy viên tiểu lại phụ trách sao chép, sắp xếp văn thư trong phòng vội vàng đứng dậy chào: "Mẫn đại nhân!"

Dương Lăng ngước đầu lên nhìn, cũng vội đứng dậy thi lễ. Người vừa vào chính là Mẫn huyện lệnh trong bộ y phục bình thường. Lão thoải mái vẫy tay, giọng oang oang:
- Được rồi được rồi, mỗi ngày đều gặp, còn hành lễ làm gì? Trời cũng không còn sớm nữa, hôm nay làm đến đây thôi.

Mấy viên tiểu lại vội vàng vâng vâng dạ dạ, bắt đầu thu dọn vật dụng của mình. Mẫn đại nhân bước đến trước mặt Dương Lăng, thấy y đã xử lý xong gần nửa số công văn, không khỏi đưa ngón tay cái lên tán thưởng:
- Tiên sinh thật có bản lãnh! Bổn huyện vừa nhìn mấy cái thứ này thì đã cảm thấy đau đầu, không ngờ ngươi lại giải quyết nhanh như thế, được hơn một nửa rồi, ha ha ha...

Dương Lăng cười khổ không thôi. Đích xác y xử lý rất mau, song phần lớn đều là những công việc “trên đưa dưới làm”, những vấn đề thực sự nan giải nào có thể giải quyết nhanh được như vậy. Còn chưa kể cái đám con nợ tiền thuế lâu dầm lâu dề phải chia ra đến làm mấy loại. Có loại cố ý kéo dài dây dưa, có loại thực sự do gia cảnh bần hàn, việc điều tra thống kê cho rõ ràng sẽ rất mất thời gian.

Chỉ riêng mấy vụ án nhà này mất con trâu, nhà kia mất con lợn, có vụ nào mà trong lúc xét xử không phải cắt cử mấy người đi đâu, mau lắm cũng cần dăm ba ngày mới điều tra xong. Mấy cái vụ lặt vặt này không lớn, nhưng vụ nào cũng đều cần phải có người, có thời gian, muốn giải quyết nhanh cũng không nhanh được.

Lúc trước xem ti vi thấy mấy cái tay làm quan động một tí là cải trang vi hành, tra rõ ngọn ngành vụ án, xem ra toàn chỉ là chuyện vớ vẩn. Mỗi ngày có biết bao nhiêu chuyện phải làm như vầy, thời giờ đâu ra cho hắn rời khỏi nha môn mà tự mình đi điều tra phá án chứ?

Đương nhiên y không tiện kể khổ mấy chuyện này với huyện thái gia, nên đành luôn miệng nói:
- Đâu có, đâu có,… Đại nhân đã quá khen rồi.

Đợi thấy đám tiểu lại kia đã đi hết, Mẫn huyện lệnh mỉm cười vỗ vai y nói:
- Ta là một kẻ thô lỗ, đừng có xem ta như người đọc sách, không ở trên công đường thì chớ nên khách khí như vầy. Phải rồi, mau mau dọn dẹp rồi đi với ta! Mã dịch thừa muốn tạ ơn ngươi và ta nên mời chúng ta đến Hồng Nhạn lâu uống rượu xem kịch đấy.

Dương Lăng nghe xong không khỏi chần chừ:
- Ồ? Chuyện này... Hay là đại nhân đi trước? Ty chức phải về nhà báo với vợ nhà một tiếng trước, kẻo không nàng ấy lại lo lắng.

Mẫn huyện lệnh cất giọng cười vang, đấm một quyền vào vai y rồi vừa cười vừa mắng:
- Sao lại lôi thôi thế? Đàn ông mà, khi nào muốn về thì về, không muốn về thì phụ nữ vẫn phải ngồi ở nhà mà đợi, nói với thị làm gì? Đi nào, còn trẻ mà đã mang bệnh sợ vợ rồi.

Mẫn huyện lệnh cũng không để cho Dương Lăng phân bua, lôi tuột y ra ngoài. Dương Lăng bất đắc dĩ đành phải thuận theo ý lão. Mẫn huyện lệnh vận thường phục nên cũng không tiện ngồi kiệu quan. Hơn nữa cái thành Kê Minh này cũng chẳng lớn, khoảng cách giữa hai cổng nam và bắc chỉ khoảng bốn dặm. Hồng Nhạn lâu nằm cạnh bên Kim Quang tự, chỉ cách huyện nha một con đường, nên càng không cần phải đi kiệu cho phiền phức.

Hai người đi bộ đến Hồng Nhạn lâu. Mã dịch thừa và Mã Ngang, Mã Liên Nhi sớm đã đợi trong một nhã phòng (phòng VIP). Nơi đây vốn là một kịch viện, gọi là nhã phòng chẳng qua cũng là một chỗ có vị trí tốt ở chính giữa, sử dụng bình phong để phân cách độc lập mà thôi.

Dương Lăng cảm thấy bất ngờ khi thấy Hoàng huyện thừa cũng ở đây, đã gặp mặt đành phải khách sáo chào hỏi một hồi. Mã Ngang bị giam trong đại lao hơn chục ngày, tính khí nóng nảy cũng đã bớt được không ít. Thấy ân nhân cứu mạng xuất hiện, vẻ mặt của hắn trở nên rất thân mật, bước đến cầm tay Dương Lăng tạ ơn không ngớt.

Dương Lăng và Mã Ngang đều là thanh niên trẻ tuổi, có điều một người thì đầy vẻ văn nhân, nho nhã lịch sự, một kẻ thì khôi ngô cường tráng, mày rậm mắt to, không ngờ lại khá hợp chuyện, đúng là có phần kỳ lạ.

Hôm nay Mã Liên Nhi chỉ trang điểm nhẹ, trông rất dễ thương, nhưng khi nhìn Dương Lăng, khuôn mặt mỹ lệ lại tỏ ra khá mất tự nhiên.

Dương Lăng có nghi biểu bất phàm nên ngay lần đầu gặp mặt, tâm hồn thiếu nữ của Mã Liên Nhi đã có vài phần yêu thích y. Nhưng ngay khi biết được y đã lấy vợ, Mã Liên Nhi chỉ coi y như là ân nhân bằng hữu khác giới mà thôi.

So với nô tì, phận làm thiếp cũng không cao hơn bao nhiêu. Đừng nói y chỉ là một tú tài, cho dù y là tuần phủ một tỉnh đi nữa, tuy chỉ là con gái của một quan chức cấp thấp, Mã Liên Nhi cũng tuyệt đối không thể làm thiếp của y. Do đó tình cảm của nàng vừa mới chớm đã bị dập tắt.

--------------

(1) Phong hỏa đài: đài cao để xông khói ban ngày, đốt lửa ban đêm báo tin có giặc tấn công (ND).

Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn có câu:
烽 火 影 照 甘 泉 雲 Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân
Được nữ sĩ Đoàn thị Điểm (hoặc Phan Huy Ích?) diễn nôm:
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây. (BT)


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
05-06-2010, 08:35 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 14: Luận bàn về chữ trinh

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo_vong

Biên tập: ca_vang

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Mã Liên Nhi quay đầu đi, cất giọng xa xăm:

- Hoàn quân minh châu song lệ thùy, hận bất tương phùng vị giá thì …





Hàn huyên một lúc xong, Mã dịch thừa mời mọi người ngồi, tiểu nhị bắt đầu bê từng món đã được gọi lên. Mã dịch thừa quay sang nói với Dương Lăng:
- Dương tú tài, lão phu cũng lớn tuổi rồi, xin gọi ngươi một tiếng hiền điệt. Đứa con này của ta tính tình thô bạo, ngày thường hay gây rắc rối cho lão phu. Lần này gây ra họa lớn, nếu không nhờ diệu kế của Dương hiền điệt, lại được Mẫn đại nhân khai ân, khuyển tử đã phải mang tội giết người rồi.

Dương Lăng vội đáp:
- Đâu có, đâu có! Hôm ấy tiểu điệt nhìn thấy rõ Mã huynh thật sự chưa hề động tay chân với Vương lão bản. Có thể nói là do lòng tham hại người thôi. Vương lão bản kia vì tham trân châu của Mã tiểu thư, bị phát hiện ra rồi tranh cãi một hồi nên thẹn quá hoá giận, nộ khí công tâm mà chết. Đó thực không phải là lỗi ở Mã huynh, xin Mã đại nhân ngàn vạn lần chớ có khiển trách Mã huynh nhiều quá.

Mã Ngang lập tức lên tiếng:
- Cha thấy chưa, con và muội muội nói mà cha không tin. Dương huynh đệ nói vậy cha đã có thể tin rồi chứ? Con không có đánh cái lão già đó.

- Câm miệng! Tiểu súc sinh! Ở đâu có phần cho ngươi nói chen vào!
Mã dịch thừa mắng con xong liền quay về phía Mẫn huyện lệnh, Hoàng huyện thừa và Dương Lăng, lắc đầu nói:
- Xem đó, tiểu súc sinh này được việc thì ít hỏng việc thì nhiều. Đâu có so được với Dương hiền điệt tuy còn thua con ta mấy tuổi nhưng hiểu rõ sự đời, chưa đến hai mươi mà công danh đã có. Ôi, vợ ta mất sớm, một nam một nữ chúng nó thiếu người dạy dỗ nên mới không hiểu việc thế này đây.

Mẫn huyện lệnh, Hoàng huyện thừa và Dương Lăng nghe thế lại phải nói giúp thêm Mã Ngang. Cùng lúc ấy tiểu nhị bắt đầu bày các món ra. Một lát sau, người trong rạp hát càng lúc càng đông. Xung quanh nhã phòng là mấy thương nhân hiện đang nghỉ tạm ở dịch trạm, xa hơn chút nữa là mấy dịch sứ, dân phu và đám nha dịch vô công rồi nghề chạy đến xem để giết thời gian.

Bất chợt sân khấu phía trước bừng sáng, một hồi chiêng trống vang lên và mấy diễn viên bắt đầu bước ra biểu diễn. Thời ấy còn chưa có kịch nói, Dương Lăng lại không rành về tuồng mà không tiện hỏi người khác nên nghe không hiểu được bao nhiêu. Toàn bộ diễn viên tuồng thời đó đều là nam, muốn xem mỹ nữ cũng chẳng được. Dương Lăng cảm thấy rất chán, ngồi nghe Mẫn huyện lệnh, Mã dịch thừa và Hoàng huyện thừa vừa xem vừa đàm luận mới đại khái hiểu ra một chút.

Nghe hai người bọn họ từ ngữ qua lại kể về tình tiết câu chuyện, Dương Lăng thấy hết sức khó tin. Vở tuồng này kể về một người con gái vừa mới kết hôn không lâu thì trượng phu đã rời khỏi nhà đi xa. Mấy năm sau người chồng trở về quê hương. Trên đường về nhà, hắn gặp một cô gái vô cùng xinh đẹp đang hái lá dâu. Bị vẻ đẹp của cô gái đó lay động, hắn bèn bước đến trêu ghẹo. Chẳng ngờ lại bị nghiêm khắc cự tuyệt nên hắn đành bẽ mặt ôm lòng chán chường về nhà. Ai ngờ về đến nhà lại thấy vợ mình chính là người con gái mà hắn vừa mới trêu ghẹo không được. Hắn cảm thấy vô cùng hổ thẹn, tự đáy lòng cũng nảy sinh sự ngưỡng mộ đối với vợ mình.

Truyện đến đây cũng không có gì là bất ổn. Nhưng sân khấu diễn tiếp đến ngày thứ hai, người vợ đó ở trong nhà khóc lóc sướt mướt rồi viết lại một phong di thư và thắt cổ tự vẫn. Trong thư nàng viết vì không giữ trọn đạo làm vợ, gợi lên tà niệm nơi nam nhân, khiến cho trinh tiết bản thân bị ô uế, cho nên nàng không thể tiếp tục sống trên nhân thế, chỉ đành lấy cái chết để bảo toàn trinh tiết. Sự việc đó cuối cùng làm náo động cả thôn làng. Khắp nơi dâng thư, Hoàng đế ban xuống thánh chỉ truy phong nàng liệt nữ này làm Nhất phẩm Cáo Mệnh Phu Nhân và cho lập “Trinh Khiết bài phường“ (cổng chào Trinh tiết), thật vẻ vang vô cùng. Trượng phu của nàng vì để tưởng nhớ, về sau khi cưới phu nhân mới, họ vẫn cùng nhau lên mộ để bái tế.

Hồng Nhạn lâu là một nơi kết hợp giữa rạp hát và tửu điếm, vì vậy một vở tuồng không phải được diễn liên tục cho đến hết, mà còn có giờ nghỉ giữa buổi. Lúc giải lao, hai người Mẫn, Mã bắt đầu sôi nổi đàm luận. Hoàng huyện thừa nhấp rượu, thi thoảng chêm vào vài câu. Tuy lão không nói nhiều nhưng dẫu gì cũng là một kẻ đọc sách nên có thể giảng giải một cách trôi chảy những lời Mẫn huyện lệnh muốn nói nhưng không diễn đạt được.

Dương Lăng lại cảm thấy vở kịch này rất không thực tế, tựa như một câu chuyện hoang đường nhất mà hắn đã từng nghe qua. Câu chuyện ấy kể về một triều nọ có một phụ nữ bị rớt xuống nước, được một nam nhân đi đường trông thấy nắm lấy tay nàng ta kéo lên. Không ngờ nàng ta trở về nhà lấy dao chặt đứt cánh tay của mình, chỉ bởi vì chỗ đó đã bị một người nam nhân không phải trượng phu của mình chạm vào.

Như vậy cũng có thể tính là "thất trinh" đi, vì suy cho cùng đó là thất trinh về thể xác. Nhưng người phụ nữ ở trong vở kịch này không ngờ lại không chịu nổi "thất trinh" về tinh thần. Chưa nói nó vốn không phải là thất trinh, chẳng qua vì nàng ta quá xinh đẹp, khiến cho người ta nhìn vào mà nổi sắc tâm. Người nam nhân đó đã không có tội, mà trái lại người vợ này lại tự cảm thấy chưa tròn phụ đạo làm vợ. Quả thực là hoang đường!

Nghe Mẫn huyện lệnh và Mã dịch thừa luôn miệng tấm tắc, Dương Lăng cuối cùng cũng chịu hết nổi, đành hỏi:
- Hai vị đại nhân, vở tuồng này không khỏi hơi quá khoa trương và không thực tế thì phải? Trượng phu nàng ta là kẻ tồi tệ, đi đường trông thấy mỹ nhân liền buông lời chòng nghẹo, bị mắng phải bỏ đi. Nhưng rốt cuộc người vợ lại cảm thấy tự mình bất trinh, điều đó . . . điều đó quả thật là vô lý! Trên đời làm gì có chuyện như vậy? Chuyện buồn cười như thế, vở tuồng lại khoa trương lên thì có gì hay ho đâu chứ?

Mã dịch thừa kinh ngạc hỏi:
- Sao? Dương hiền điệt đọc sách thánh hiền vậy mà lại không biết sự tích trong Liệt Nữ truyện hay sao? Tích truyện này có gì mà không thật chứ? Nữ tử đó tiết liệt như vậy, thật đúng là tấm gương cho các nữ tử khác trong thiên hạ, làm gì có chỗ nào đáng cười?

Mẫn đại nhân cũng mỉm cười nhấp một ngụm rượu rồi cười ha hả nói:
- Dương tú tài nhất định chỉ đọc mấy sách thánh hiền để thi đỗ công danh, cho nên không biết mấy tích truyện trong "Liệt Nữ truyện". Ngươi mềm lòng tốt bụng cũng phải, ta cũng cảm thấy có chút đáng tiếc cho nữ tử này. Nếu ta mà là quan huyện ở đó, nhất định sẽ phạt đánh tên trượng phu kia bốn mươi gậy to, phạt hắn cả đời không được nạp thiếp. Có điều chuyện này cũng không có gì là không thật cả. Vào năm Thành Hoá (Niên hiệu của vua Hiến Tông nhà Minh (1447-1487) - ND), khi ta vẫn còn là một tiểu binh ở Phúc Kiến đánh hải khấu, phía nam Mân Nam có một phu nhân, sau khi trượng phu mất đi thì muốn tuẫn tiết theo chồng. Họ hàng thân thích lấy đó làm vẻ vang, khua chiêng đánh trống tung hô ầm ĩ. Sau ba ngày, người phu nhân đó tay cầm hoa tươi, ăn mặc đẹp đẽ, ngồi ngay ngắn trong kiệu đến trước phần mộ trượng phu. Sau đó bà bước lên dàn treo đã được dựng sẵn từ trước rồi thắt cổ tự tử. Cảnh Thái đế (Niên hiệu của vua Đại Tông thời Minh (1428 – 1457) - ND) đã ban chỉ tặng thưởng lập Trinh Khiết bài phường, cả tỉnh được thơm lây. Khà khà, cái đền thờ đó chính là do bọn ta đã xây nên cho bà ta (Ở đây có thể tác giả nhầm lẫn về thời gian của hai vị hoàng đế Đại Tông và Hiến Tông - ND.)

Mã dịch thừa gật gù bảo:
- Đúng thế, lễ giáo sao có thể xem nhẹ được? Dương hiền điệt đã quá mềm yếu rồi. Những nữ tử như vậy đều là liệt nữ con nhà gia giáo, nếu mà là những nữ tử hoang đàng sao có thể tiết liệt như vậy được! Nhớ khi trước danh kỹ Từ Châu Quan Phán Phán (1) được thủ soái Trương Âm (2) nạp làm thiếp. Sau khi Trương Âm chết đi, ả đã không tuẫn tiết theo chồng, mà lại quay về Yến Tử lâu cũ của mình sống cô độc mười năm, vọng tưởng sẽ lấy được mỹ danh thủ tiết, thật đúng là mặt trơ mày tráo. Về sau Giang Châu Tư Mã (3) viết một bài thơ vạch trần bộ mặt giả dối của ả, ả mới hổ thẹn tuyệt thực mười ngày mà chết (4). So với vị nữ tử trong vở tuồng này và vị thiếu phụ ở Mân Nam đó thật đúng là một trời một vực.

Ở kiếp trước Dương Lăng rất hay luyện chữ và quan sát mấy bảng chữ mẫu, cho nên biết Giang Châu Tư Mã này là ai. Có điều hắn không hiểu Bạch Cư Dị này tại sao đối với một ông lão bán than thì tỏ lòng thương hại, nhưng đối với một quả phụ ở góa thì lại có thái độ như vậy. Mà khi đó vẫn còn là triều Đường, triều đại có nếp sống cởi mở nhất Trung Quốc. Giờ đã trải qua triều Tống, triều đại xuất hiện “Tam tòng tứ đức” của lão phu tử họ Chu (5), khó trách nữ nhân bị đầu độc nặng đến như vậy.

Ngồi nghe ở một bên, Mã Liên Nhi rất lấy làm bất bình, không nhịn được bèn hừm một tiếng rồi chen vào nói:
- "Thập tái xuân đề biến oanh thiệt, tam hiềm lão sửu hoán nga mi.“ Nếu đó là ái thê chết theo trượng phu thì cũng không phải là không nên. Nhưng đã là hàng hóa để loại nam nhân này đem về làm thiếp, có thể trao đổi mua bán tùy ý thì rõ ràng là không tình nghĩa gì. Vậy mà còn muốn người ta tuẫn tiết đi theo, con làm nữ nhi cũng cảm thấy có phần quá đáng đó.

Nàng chính là đang nghĩ tới mấy câu thơ trong “Truy hoan ngẫu tác” trong tập thơ tự thuật kể lại chuyện phong lưu tao nhã của Bạch Cư Dị. Bài thơ kể rằng ông mua một nữ hài độ mười lăm, mười sáu về làm thiếp. Vui vẻ mới được ba năm, người ta cũng mới mười tám mười chín thì đã chê người ta già, xấu, thế là có nàng bị ông ta đem bán lại cho người khác, có nàng thì bị cho đi. Rồi ông ta lại mua về một “món hàng tươi tốt” khác. Mười năm thay đến ba lần, thành thử viết ra bài này để khoe khoang với chúng bạn.

Mã dịch thừa rất đỗi không vui, chỉ cảm thấy thật quá mất mặt khi con gái mình nói ra những lời này ở trước mặt mọi người. Ở đây có một vị Huyện lệnh, một vị Huyện thừa, còn có một kẻ đọc sách có công danh, vậy mà con gái mình lại nói ra mấy lời đại nghịch bất đạo đó, khó tránh khỏi người ta nghĩ rằng lão dạy dỗ không nghiêm. Cho nên mặc dù ngày thường lão thương yêu nhất là đứa con gái này, lúc này vẫn không nhịn được, bèn tát cho một cái, mắng rằng:
- Hỗn láo, nói gì thế hả? Từ thời Cao Thái Tổ hoàng đế đến nay, bổn triều vốn luôn coi trọng nhất là phong giáo. Để biểu dương tiết phụ, quả phụ dưới ba mươi tuổi mất chồng mà đến năm năm mươi tuổi vẫn không cải giá thì treo biển trước cổng làng, miễn trừ sai dịch cho người trong tộc. Đó là vinh dự đến cỡ nào chứ? Tiết liệt trinh thao vốn là bổn phận. Thường có câu "một ngựa không kết hai yên, một chân khó đạp hai thuyền," cho nên một nữ không hầu hai chồng, cũng giống như bọn ta một thần không thờ hai chủ. Cái đức của nữ nhân mặc dù là ở sự dịu dàng, nhưng những tiết lưu danh đều là về sự trinh liệt. Những lời ta giáo huấn ngươi đều quên hết rồi hay sao?

Mã Liên Nhi xưa nay rất được phụ thân cưng chiều, cho nên khi nàng nghe bọn họ nói về nữ nhân như một thứ đồ chơi riêng của nam nhân thì không nhịn được mà mở miệng phản bác. Ai ngờ phụ thân lại tát cho nàng một bạt tai ở trước mặt người ngoài nên vừa giận vừa xấu hổ, nàng che mặt bật khóc, đứng dậy bỏ chạy đi.

Mã Ngang thấy phụ thân phát hỏa cũng không dám khuyên nhủ, muốn đuổi theo muội muội nhưng lại sợ phụ thân nổi giận nên lưỡng lự ngồi yên. Mã dịch thừa nổi giận đùng đùng phất tay nói:
- Để cho nó đi, chúng ta cứ uống rượu thôi! Nó đúng là được ta nuông chiều quá đâm hư, mấy lời như vậy cũng nói ra được.

Dương Lăng không khỏi sửng sốt. Mã Liên Nhi có chỗ nào nói sai đâu, sao Mã dịch thừa lại nổi nóng lên như vậy. Mẫn huyện lệnh cũng cho rằng đây là chuyện đương nhiên nên không khuyên can thêm. Dương Lăng đứng dậy nói:
- Mã tiểu thư hẳn là chỉ thương tiếc cho Quan Phán Phán, nàng ta tuyệt thực chết đi khiến cho thế gian mất đi một bậc tuyệt đại phong hoa, vì vậy mới xúc động bày tỏ mà thôi. Bá phụ chớ nên tức giận! Bây giờ trời cũng đã tối, Mã tiểu thư một mình đi ra ngoài rất nguy hiểm. Xin hãy để tiểu điệt khuyên nàng trở về!

Mặc dù cảm thấy những lời đó của con gái làm cho mình hết sức mất mặt nhưng dẫu gì cũng cha con tình thâm, nên dù miệng có nói dữ nhưng trong lòng Mã dịch thừa lại lo lắng. Thấy Dương Lăng nói khách khí như thế, mặt lão lập tức dịu lại:
- Vậy đành vất vả cho Dương hiền điệt rồi.

Dương Lăng chắp tay chào mấy người Mẫn đại nhân và Mã dịch thừa, rồi nhanh chóng đuổi theo Mã Liên Nhi. Nàng đang đứng dưới chiếc đèn lồng đỏ treo trước cửa rạp hát, thẫn thờ nhìn lên bầu trời. Nhẹ cả lòng, Duơng Lăng dừng chân, rồi chậm rãi bước tới nói:
- Mã tiểu thư, cô hãy quay lại đi! Lệnh tôn cũng chỉ vì lo mấy lời đó của cô bị người khác nghe thấy, ảnh hưởng đến thanh danh của cô thôi. Đó chính là thương càng nhiều thì mắng càng dữ, cô cũng đừng quá tức giận!

Mã Liên Nhi ngẩng đầu nhìn chòm sao lấp lánh trên trời, khẽ nói:
- Ở trong thiên hạ này, rốt cuộc nữ nhân bị coi là thứ gì? Nữ nhân tuẫn tiết theo chồng là nữ nhân tốt, được ca ngợi, được biểu dương. Tiết liệt của nữ nhân chứng tỏ mỹ đức của nàng, càng chứng tỏ sự vĩ đại của nam nhân, chỉ ra rằng hắn xứng đáng được nữ nhân hy sinh cho hắn. Nhưng đến cùng thì hắn đã làm được gì cho nữ nhân? Coi nữ nhân như tài sản riêng của nam nhân, không chỉ đối với thiếp, mà cả thê cũng như vậy. Ta nghe kể ba kẻ kết nghĩa vườn đào trong "Tam quốc", chuyện đầu tiên họ làm là giết sạch cả vợ con. Đối đãi với thê tử như thế, bọn họ liệu còn có tình cảm hay không? Lưu Bị coi vợ mình là y phục, gã thợ săn Lưu An (6) xem vợ mình như đồ ăn, giết đi để đãi khách. Những kẻ này là người hay là dã thú? Nước thì phải trong, nữ thì phải sạch. Huynh có biết không, mẹ ta . . . đã bị chính cha ta ép chết đó. Lúc bấy giờ cha vẫn còn là một binh sĩ, một mình mẹ nuôi ca ca và ta sống rất là cực khổ. Về sau bọn cướp trên núi gần đó kéo xuống cướp bóc, mẹ đã đem giấu ta và ca ca ở trong một hang nước, nhờ vậy mới thoát được một kiếp nạn. Bọn cướp cưỡng gian bà, sau lại nảy chút lòng tốt hiếm hoi mà không giết chết. Kết quả là mẹ ta không chết dưới đao của đám cướp, mà lại bị chết bởi những ánh mắt khinh bỉ của cha, của bọn đàn ông hèn nhát chỉ biết chạy trốn giữ lấy mạng mình.

Dương Lăng trầm mặc một lúc rồi khẽ thở dài:
- Trong lòng có thiên lý thì dục vọng ắt bị diệt. Chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết là chuyện lớn. Lời của Chu Hy Chu phu tử chưa chắc đã đúng, nhưng vì thiên hạ này là thuộc về nam nhân, thế nên nó lại đúng!

Rồi y nhớ đến thời đại của mình, lắc đầu bảo:
- Không những đúng cho bây giờ, mà mấy trăm năm sau này, nam nhân có lắm người vẫn tin thờ vào nó. Có điều, thứ đạo lý này lại chỉ đặt ra dành riêng cho phụ nữ.

Mã Liên Nhi cười nhạt:
- Chu Hy ư? Lão ta mở miệng ra là "thiên lý", ngậm miệng lại thì "đạo học", nhưng lại đi dụ dỗ hai ni cô làm sủng thiếp, cả nàng dâu góa cũng bị lão đùa bỡn trong tay. Thật đúng là chuẩn mực của đạo đức, là tấm gương của kẻ đọc sách. Rõ nực cười!

Dương Lăng chỉ biết lễ giáo đại phòng (chuẩn mực lễ giáo) là được phát triển mạnh xuất phát từ Chu Hy nhà Tống, kể từ đó nữ nhân tuẫn tiết mới mọc ùn ùn lên như nấm, chứ đâu biết Chu Hy còn có những chuyện "phong lưu" như vậy.

Hắn đành gượng cười:
- Trong cái thế giới này tiếng nói của nam nhân mới có trọng lượng, thế nên yêu cầu về đạo học đối với nam và nữ có sự khác nhau cũng không có gì là lạ. Ví như nam nhân bị sỉ nhục đến tôn nghiêm, khi đó cứ nếm mật nằm gai, nhẫn nhục chịu đựng miễn sao tương lai hắn báo thù được thì sẽ nở mày nở mặt. Không ai cần quan tâm hắn đã từng vô sỉ như thế nào, cho dù hắn có chủ động nịnh hót liếm gót ai. Còn nữ nhân ư, có bị cưỡng bách đến thất tiết cũng đã là tội không thể tha!

Mã Liên Nhi bất chợt quay đầu, ánh mắt như hai vì sao lấp lánh kinh ngạc nhìn Dương Lăng. Một lúc sau nàng mới nói:
- Nam nhân thời nay, đặc biệt là những kẻ đọc sách, có thể nói ra được những lời này thì huynh chính là người đầu tiên mà ta biết. Ta thật nghĩ không ra huynh tuổi còn trẻ, lại đọc những thứ "sách thánh hiền" đó đã lâu, thế mà lại có kiến thức như vậy. Đáng tiếc … thật sự đáng tiếc …

Dương Lăng không kìm được hỏi:
- Đáng tiếc gì?

Mã Liên Nhi quay đầu đi, cất giọng xa xăm:
- Hoàn quân minh châu song lệ thùy, hận bất tương phùng vị giá thì (7) … (Trả ngọc chàng, lệ như mưa. Hận không gặp gỡ khi chưa có chồng.)

Dương Lăng nghe mà trống ngực đập thình thịch, không khí giữa hai người bất chợt trở nên trầm lặng. Sau một hồi lâu y mới cố nặn ra một nụ cười, buông một câu nói đùa để xoa dịu bầu không khí:
- Mặc dầu chúng ta nhờ viên minh châu kia mà có duyên gặp gỡ, nhưng ta chưa hề tặng minh châu cho cô, xin tiểu thư chớ nên nhầm lẫn!

Mã Liên Nhi phì cười một tiếng, xoay đầu trừng ánh mắt quyến rũ liếc y, rồi mím môi, đỏ mặt lấy can đảm nói:
- Đó là do huynh không có phúc khí!

Nhìn ánh đèn rọi xuống sống mũi cao cao của y, trống lòng Mã Liên Nhi chợt đập rộn lên. Nàng lại quay đầu đi, chỉ cảm thấy có một cảm giác diệu kỳ lan tỏa ra giữa hai người.

Khẽ quẹt vệt nước mắt lạnh ngắt trên má, nàng nói:
- Ai đối xử tốt với ta thì ta sẽ đối xử tốt lại với người đó. Từ sau khi mẹ mất đi, Mã Liên Nhi ta cảm thấy trên đời này không có một nam nhân nào đáng để nữ nhân chúng ta phải hy sinh nhiều đến như vậy. Ta sẽ không làm những chuyện ngu xuẩn như ả tiết phụ trên sân khấu ấy đã làm đâu. Ta sẽ sống tốt vì bản thân mình!

Dương Lăng đắm say trong cái thần thái mỹ lệ kết hợp với sự tự tin và dũng cảm của nàng, mãi một lúc sau mới khẽ thở dài:
- Cô được sinh ra quá sớm, đáng lẽ phải sinh trễ hơn năm trăm năm, thật đấy!

Mã Liên Nhi trợn tròn cặp mắt xinh đẹp, lấy làm lạ hỏi:
- Huynh không cảm thấy những lời ta nói là đại nghịch bất đạo, kinh hãi thế tục sao? Nói như vậy chẳng lẽ năm trăm năm sau thì sẽ không có chuyện đó nữa hả?

Dương Lăng trong lòng chợt hoảng, vội cười ha hả nói:
- Ta chỉ nghĩ có lẽ lúc đó sẽ có một bộ phận nam giới coi nữ nhân là một thực thể độc lập mà đòi hỏi bình đẳng cho bọn họ. Ha ha, cũng chỉ là suy đoán lung tung, xúc động bộc phát mà thôi.

Mã Liên Nhi khẽ cười, thò tay vào trong ngực lấy ra một chiếc túi, bước lên mấy bước đặt vào trong tay Dương Lăng, nói:
- Ta có thể thấy phu nhân của huynh rất yêu thương huynh. Viên minh châu này hãy coi là lễ vật ta tặng cho hai người. Chỉ mong huynh hãy đối đãi vợ mình thật tốt, chớ có xử tệ với cô ấy.

Chiếc túi ở trong tay hắn vẫn còn vương chút hương thơm và hơi ấm của thân thể nàng. Mã Liên Nhi thấy hắn cứ đứng ngây ra liền cười khúc khích, vén tóc lên rồi nói:
- Đi thôi, chúng ta quay lại thôi. Ta chỉ là thương tâm chứ không hề có oán giận. Chuyện này dù sao có nói cũng chẳng nói rõ ra được. Nỗi lòng nữ nhân, nam nhân các huynh có mấy ai mà hiểu được chứ?

Liếc qua khóe mắt phát hiện thấy Hoàng huyện thừa đã chạy theo ra đến nơi, nàng vội rút tay lại rồi bước trở vào.

Mãi một lúc sau Dương Lăng mới tỉnh ra, xoay người đi theo. Hắn thấy Huyện thừa Hoàng Kỳ Dận đang cười với mình đầy thâm ý, đưa tay ra dấu mời vào. Hắn cũng khẽ cười, chắp tay đáp lại. Hai người không nói lời nào nhưng lại như thân thiết vô cùng.

-----------------------------

Chú thích:

(1) Quan Phán Phán: còn có tên là Quan Miến Miến, là một danh kỹ đất Từ Châu đời nhà Đường,khoảng niên hiệu Trinh Nguyên và Nguyên Hòa (785—820), được Thượng Thư Trương Kiến Phong nạp làm thiếp - ND

(2) Trương Âm, tên thật là Trương Kiến Phong, Thượng thư nhà Đường. Năm Trinh Nguyên thứ 15 , làm Tiết Độ Sứ ở Vũ Ninh, trấn Thủ Từ Châu - ND

(3) Giang Châu Tư Mã tức Bạch Cư Dị (772-846), tự là Lạc Thiên (樂天), hiệu là Hương Sơn cư sĩ là nhà thơ Trung Quốc nổi tiếng thời nhà Đường. Do hạch tội việc tể tướng Vũ Nguyên Hành bị hành thích và ngự sử Bùi Độ bị hành hung, nhóm quyền thần cho là ông vượt qua quyền hạn, đày làm tư mã ở Giang Châu. Giai đoạn từ năm 821 tới năm 824 làm thứ sử Hàng Châu, năm 825 làm thứ sử Tô Châu, sau được triệu về kinh làm Thái Tử thiếu phó. Năm Hội Xương thứ 2 (842) về hưu với hàm thượng thư bộ Hình, sau mất tại Hương Sơn, Lạc Dương. (ND trích Wikipedia)

(4) Câu chuyện này có sự tích như sau: Bạch Cư Dị lúc còn làm Hiệu thư lang, tới vùng Hoài Tứ, được Trương thượng thư (tức Trương Kiến Phong) mời ăn tiệc. Lúc rượu say, Thượng thư gọi Miến Miến (Quan Phán Phán) ra ca múa giúp vui. Mười hai năm sau, nghe tin Trương thượng thư đã chết, phủ đệ cũ ở Bành Thành có một ngôi lầu nhỏ gọi là Yến Tử lâu. Miến Miến nhớ lòng yêu dấu của Thượng thư ngày trước nên không lấy chồng, về ở lầu ấy hơn mười năm. Ông (Bạch Cư Dị) tặng nàng một bài thơ tứ tuyệt:

Hoàng kim bất tích mãi nga my,
Giản đắc như hoa chỉ nhất chi.
Ca vũ giáo thành tâm lực tận,
Nhất triêu thân tử bất tương tuỳ

Dịch nghĩa :
Không tiếc vàng, bỏ ra mua gái mày ngài,
Chọn được ba bốn cô nàng đẹp như hoa.
Dạy cho họ biết hát múa, hơi sức ông kiệt quệ,
Một sớm đem thân ra đi, chẳng cô nào theo!

Dịch thơ :
Mua gái mày xanh chẳng tiếc vàng,
Như hoa khéo chọn mấy cô nàng.
Dạy cho múa hát bao công sức,
Một sớm về âm chẳng kẻ màng!

Miến Miến đọc đi đọc lại, khóc nói "Từ khi Trương công mất, thiếp không phải không dám chết, nhưng lại sợ trăm năm sau, người đời cho rằng công chuộng sắc đẹp nên có thê thiếp chết theo, lại làm nhơ đức tốt của công, đành gượng mà thôi". Bèn làm bài họa lại Bạch công như sau:

Độc túc không lâu liễm hận my,
Thân như xuân hậu trí tàn chi.
Xá nhân bất giải nhân thâm ý,
Phúng đạo tuyền đài bất khứ tuỳ.

Dịch:
Ở chốn lầu hoang héo mặt mày
Sau Xuân thân khác tựa cành cây
Hiềm vì chẳng kẻ tri âm hiểu
Trách chẳng cùng theo xuống dạ đài
Rồi nàng nhịn ăn uống, mười ngày sau thì chết.

(5) Chu Hy (朱熹, 1130-1200) là một nhà tư tưởng nổi tiếng nhất đời Tống. Sự tổng hợp tư tưởng Khổng giáo với Phật giáo và Đạo giáo (道教) của ông cùng với các tư tưởng khác đã trở thành hệ tư tưởng chính thức của triều đình từ cuối thời nhà Tống tới cuối thế kỷ 19. Vì được kết hợp với khoa cử (科舉), triết lý Chu Hy liên quan tới tín điều chính thức cứng nhắc, bắt buộc sự tuân phục mù quáng từ một phía của dân chúng đối với nhà cai trị, con với cha, vợ với chồng, em với anh. Hậu quả làm kìm hãm sự phát triển xã hội của nước Trung Hoa tiền hiện đại, dẫn tới sự phát triển chậm chạp của nhiều thế hệ chính trị xã hội và sự ổn định tư tưởng dẫn tới sự trì trệ văn hoá cho tới tận thế kỷ 19. Học thuyết lý học Khổng giáo mới cũng đóng vai trò quyết định trong đời sống trí thức tại Triều Tiên, Việt Nam, và Nhật Bản. (ND sưu tầm)

(6) Lưu An là một nhân vật trong Tam Quốc Diễn Nghĩa. Truyện kể lúc Tiểu Bái bị Lữ Bố chiếm cứ, Lưu An đã thu nhận và giúp đỡ Lưu Bị đang lánh nạn. Vì trong nhà không có gì ăn nên đã giết vợ làm thức ăn cho Lưu Bị.

(7) Hai câu thơ nổi tiếng này được trích trong bài “Tiết phụ ngâm”, được viết bởi Trương Tịch, hàm ý cự tuyệt yêu cầu kết thông của tư đồ Lý Đạo Sư, về sau thường được nhiều người trích dẫn nhằm từ chối mối thâm tình của một người dành cho mình. Bài thơ như sau:

Quân tri thiếp hữu phu,
Tặng thiếp song minh châu
Cảm quân triền miên ý
Hệ tại hồng la nhu.
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi,
Lương nhân chấp kích Minh - Quang lý
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt;
Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử.
Hoàn quân minh châu song lệ thùy,
Hận bất tương phùng vị giá thì.

Bản dịch của Ngô Tất Tố:

Chàng hay em có chồng rồi
Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành
Vấn vương những mối cảm tình
Em đeo trong áo lót mình màu sen
Nhà em vườn ngự kề bên
Chồng em chấp kích trong đền Minh – Quang
Như gương, vâng biết lòng chàng
Thờ chồng quyết chẳng phụ phàng nghĩa xưa
Trả ngọc chàng, lệ như mưa
Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
07-06-2010, 10:48 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 15: Hiểu lầm viên trân châu

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo_vong

Biên tập: duahau

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Dương Lăng không khỏi bật cười. Thời này là vậy, mình cứ gắng gượng truyền bá lại những quan niệm của thế kỷ thứ hai mươi mốt chỉ sợ sẽ làm cho nàng sợ thêm. Mấy thứ như lễ giáo đại phòng (chuẩn mực của lễ giáo), phu vi thê cương (vợ phải nghe chồng) là thứ nam nhân dùng để đầu độc nữ tử, nhưng trăm ngàn năm nay, nữ nhân không những tự giác phục tùng những quan niệm này, mà còn cho rằng nó là lẽ đương nhiên, thậm chí còn đề cao nó lên.






Dù Mã Liên Nhi đã quay lại, nhưng vì chuyện lúc nãy nên bầu không khí cũng có căng thẳng hơn. Mẫn đại nhân và Mã dịch thừa không còn hứng thú tán gẫu nữa, chuyển sang bàn chuyện công vụ. Hoàng huyện thừa ngồi bên chỉ mỉm cười lắng nghe, họa hoằn lắm mới chêm lời vào.

Dương Lăng là thuộc hạ, cũng là vãn bối nên đương nhiên phải đảm trách việc mời rượu và giữ cho bầu không khí vui vẻ, khó tránh khỏi uống nhiều, mãi đến khuya mới cáo từ ra về.

Tuyết lại lất phất rơi, cơn gió lạnh cuốn theo những bông tuyết lùa vào cổ áo. Dương Lăng đã uống đến mặt nóng phừng phừng, đầu óc chuếnh choáng. Giấu hai tay vào trong ống tay áo, y khẽ ngâm nga một ca khúc hiện đại đã quên mất tựa, khoan thai rẽ bước vào con hẻm nhà mình.

Về đến nhà, y định gõ cửa, nào ngờ vừa đưa tay lên khẽ đẩy thì cánh cửa đã mở ra rồi. Trong nhà le lói ánh đèn, Hàn Ấu Nương đang ngồi chống cằm trước chiếc bàn thấp, có vẻ rất buồn ngủ. Vừa nghe thấy tiếng động nàng liền ngẩng đầu nhìn, thấy y bước vào thì hết sức vui mừng đứng dậy đón.

Dương Lăng ngạc nhiên nhìn nàng:
- Ấu Nương, trễ như vầy ta tưởng nàng … ngủ rồi.

Y lướt nhìn quanh, thấy dưới bếp lò vẫn còn chút tro lửa lập lòe, hơi nước vẫn nhẹ bốc lên trên nắp nồi. Hàn Ấu Nương bước tới giúp y phủi tuyết trên người, khẽ nói: “Công việc của tướng công bận quá thì phải? Ấu Nương định đến nha môn hỏi thăm, nhưng lại sợ người ta cười nên đành ngồi nhà đợi chàng về.”

Dương Lăng nghe thế thì cảm thấy rất xấu hổ, ấp úng giải thích: “À … Mẫn đại nhân hẹn ta cùng đi dự tiệc, đi gấp quá nên không kịp báo cho nàng một tiếng. Cô bé ngốc, làm gì mà đợi lâu như vậy, đi nghỉ luôn đi có phải tốt hơn không. Nàng … ăn cơm chưa?”

Hàn Ấu Nương ngửi thấy miệng Dương Lăng nồng nặc mùi rượu, cũng biết là y đã đi chè chén tiệc tùng, nhưng nghe giải thích xong nàng mới thấy nhẹ nhõm. Dìu Dương Lăng đến đầu giường, để y ngồi xuống, rồi nàng cúi người giúp y cởi giày, phủi tuyết dính trên đó, còn đem hơ bên bếp lò. Sau đó nàng lại đi rót một bát nước đem đến cho y:
- Tướng công, nước ấm đấy, chàng uống một chút cho thấm cổ. Hầu hạ cho tướng công ngủ xong Ấu Nương sẽ đi ăn.

Dương Lăng nghe vậy, lại nhớ đến vở kịch đã xem tối nay, không cầm được lòng mà nắm lấy tay nàng, thở dài nói:
- Ấu Nương à, nàng là nương tử của ta chứ không phải là nô bộc, nàng không nên hầu hạ ta thế này. Ài, nàng còn nhỏ, lại đáng yêu như vậy, phải được thương yêu cưng chiều mới đúng.

Nghe y nói thế, khuôn mặt Hàn Ấu Nương thoáng ửng đỏ. Thẹn thùng rút tay lại nhưng không được, nàng đành để yên cho y nắm, giọng cảm động:
- Tướng công rất … rất …

Chữ “yêu” ngượng ngùng không thốt lên được, nàng chỉ dám nói:
- Tướng công đối xử với thiếp rất tốt, mà nữ tử bọn thiếp vốn nên hết lòng hết sức hầu hạ cho phu quân của mình, có quan hệ gì với nô tì đâu chứ? Tướng công thương Ấu Nương, Ấu Nương biết rất rõ, nhưng tướng công không nên quá cưng chiều thiếp, sẽ làm hư thiếp đó.

Dương Lăng không khỏi bật cười. Thời này là vậy, mình cứ gắng gượng truyền bá lại những quan niệm của thế kỷ thứ hai mươi mốt chỉ sợ sẽ làm cho nàng sợ thêm. Mấy thứ như lễ giáo đại phòng (chuẩn mực của lễ giáo), phu vi thê cương (vợ phải nghe chồng) là thứ nam nhân dùng để đầu độc nữ tử, nhưng trăm ngàn năm nay, nữ nhân không những tự giác phục tùng những quan niệm này, mà còn cho rằng nó là lẽ đương nhiên, thậm chí còn đề cao nó lên.

“Nữ Giới,” “Nữ Huấn” gì gì đó đại đa số là được viết bởi nữ nhân, lấy chúng làm chuẩn mực cho nữ nhân trong thiên hạ. Người bươn chải ra ngoài tìm việc làm ở hàng may như Ấu Nương đã là cực hiếm rồi, phụ nữ thời này phần đông chỉ ở nhà phụ chồng dạy con. Nếu cấm nàng hầu hạ phu quân, chẵng lẽ muốn nàng xây dựng sự nghiệp cho bản thân sao? Nghĩ như vậy làm Dương Lăng cảm thấy thoải mái hơn khi tận hưởng sự dịu dàng hầu hạ của nàng.

Thấy Dương Lăng ngáp mấy cái, cặp mắt lờ đờ, Hàn Ấu Nương vội giúp y cởi áo ngoài, bảo:
- Tướng công, chàng hãy cởi áo rồi đi nghỉ trước đi!

Dương Lăng buồn ngủ ừm một tiếng, nương theo tay nàng cởi bỏ áo ngoài, sau đó kéo gối lại xoay mình nằm xuống ngủ, miệng lẩm bẩm:
- Thật không thức nổi nữa rồi. Nàng hãy mau ăn cơm rồi cũng ngủ đi nhé!

Hàn Ấu Nương vâng một tiếng, cầm lấy cổ áo giũ giũ để xếp lại. Chợt nghe “cạch” một tiếng, từ trong áo rơi ra một vật, Hàn Ấu Nương hiếu kỳ nhặt lên xem. Dưới ánh đèn dầu, nàng thấy rõ đó là một chiếc túi thơm tinh xảo, kiểu dáng dành cho nữ, chẳng những được may tinh tế bằng chất liệu cao cấp, mà còn thoang thoảng mùi thơm. Khuôn mặt nàng tái hẳn đi.

Tay nàng run ghê gớm, muốn mở nó ra xem, nhưng đồng thời cũng chẳng muốn biết, vậy có thể lừa mình lừa người mà coi như chuyện này chưa từng xảy ra. Do dự một hồi lâu, cuối cùng nàng không kềm nổi sự tò mò, nhẹ nhàng mở chiếc túi, lấy từ bên trong ra một hạt trân châu óng ánh bóng loáng.

Dưới ánh đèn phản chiếu, màu sắc viên trân châu đẹp đẽ vô cùng. Hàn Ấu Nương không khỏi tròn xoe mắt, bụng bảo dạ: "Đẹp quá, nó chính là trân châu mà người ta thường nói đến sao? Tướng công làm thế nào mà có vật này, còn được đựng trong túi thơm của nữ nhân nữa. Chàng ... chàng có nữ nhân khác ở bên ngoài rồi sao?"

Vừa nghĩ đến khả năng duy nhất này, Hàn Ấu Nương cảm thấy đau đớn không thôi. Thảo nào khỏi bệnh rồi mà phu quân vẫn chưa thực hiện cái "lễ vợ chồng" với mình. Lúc sắp xuất giá, bà thím có dạy qua cho mình, nói là phu thê phải … phải làm chuyện ấy thì mới trở thành phu thê. Chiếc khăn trắng thím ấy đưa cho mình để nghiệm hồng (kiểm tra máu trinh) vẫn còn cất trong rương.

Lòng nàng hoảng loạn: "Chẵng lẽ phu quân không chỉ phong lưu bên ngoài mà còn muốn ... kiếm cớ đuổi mình, thế nên mới không gần gũi mình sao? Nhìn cái túi thơm và viên châu bảo này cũng biết nữ tử đó gia cảnh nhất định chẳng phải tầm thường, nếu như phu quân yêu mến ả, hẳn sẽ không nạp về làm thiếp. Mình cứ nghĩ vì chàng mới khỏi bệnh nên không thích thú chuyện ấy, mình là con gái, chàng đã không đề cập đến thì dĩ nhiên mình chẳng thể mở miệng được. Nào ngờ chàng lại ... lại ..."

Dương Lăng mơ mơ màng màng kéo chăn đắp, khó chịu vì đi ngủ mang vớ dài không được thoải mái. Y cởi vớ ra, vất chúng sang một bên thì phát hiện thấy vẫn còn ánh đèn lập loè. Tình cờ ngoảnh đầu lại, y thấy Hàn Ấu Nương đang ngồi bên mép giường, lưng quay về phía mình, bờ vai yếu mềm đang run lên từng chập, còn thoáng nghe có tiếng thút thít.

Tình cảnh này khiến cho men rượu trong người Dương Lăng vơi hết mấy phần. Y vội vàng trở mình ngồi dậy, xoay vai Hàn Ấu Nương lại thì thấy nước mắt long lanh như ngọc rơi từng hàng trên khuôn mặt nhỏ nhắn của nàng. Tiếng nức nở rất thương tâm làm y vội dịch sát đến, ôm chặt lấy bờ eo mảnh mai của nàng, xót xa thốt lên:
- Ấu Nương, sao nàng lại như thế này? Nàng có chuyện gì mà đau lòng đến vậy?

Hàn Ấu Nương vội lau nước mắt, ngoảnh mặt đi khẽ nói:
- Có phải tướng công hiềm Ấu Nương hầu hạ không chu đáo nên muốn ... muốn ruồng bỏ Ấu Nương phải không?

Dương Lăng thấy nàng khóc rất tội nghiệp, tim y cũng cảm thấy đau nhói, vội phân trần:
- Ấu Nương, sao nàng lại nói thế? Những ngày nàng theo ta phải chịu đựng biết bao cực khổ, vậy mà chẳng oán trách gì. Điều ấy Dương Lăng ghi khắc trong tim, sao có thể làm những chuyện như thế chứ?

Hàn Ấu Nương xòe bàn tay ra, u uất nói:
- Tướng công, nếu không phải như vậy, hạt châu này từ đâu mà có? Chàng … chàng đừng dối thiếp nữa!

Nhìn viên trân châu, Dương Lăng mới giật mình hiểu ra. Y cười ha hả, ôm chặt lấy bờ vai mảnh khảnh của Ấu Nương, nhưng nàng cứ khăng khăng vùng ra. Từ nhỏ nàng đã luyện võ công, nếu lúc này thật sự muốn phản kháng, Dương Lăng chắc chắn sẽ không giữ được nàng.

Từ lúc Dương Lăng gặp nàng đến nay, nàng vẫn luôn hết mực nhu mì, chẳng hề có chút nào không vâng lời, tính cách thật không như một nữ tử hoạt bát sống động. Giờ nàng bộc lộ chút dỗi hờn, y lại cảm thấy hết sức thú vị, mặt dày ôm lấy vai nàng một lần nữa. Hàn Ấu Nương vùng vằng mấy cái, Dương Lăng càng ôm chặt thêm, Hàn Ấu Nương liền thôi không dùng sức nữa, chỉ quẫy vai lấy lệ, quay đầu không nhìn mặt y.

Dương Lăng nhón lấy viên trân châu, cười ha hả:
- Ấu Nương, viên trân châu này có đẹp không? Sắp đến Tết rồi, để ta tìm thợ xuyên sợi dây qua cho nàng đeo cổ có được không nào?

Hàn Ấu Nương quay đầu lại, kinh ngạc hỏi:
- Hạt châu này … là cho thiếp ư?

Dương Lăng nháy nháy mắt, vờ làm ra vẻ kì quái hỏi:
- Không cho nàng chẵng lẽ cho ta? Nàng có thấy nam nhân nào đeo cái thứ này chưa?

Hàn Ấu Nương đỏ lựng cả mặt, nhưng nhớ đến chiếc túi thơm, vẫn không nhịn được bèn ấp úng hỏi:
- Nhưng mà … nhưng mà chiếc túi thơm này … tướng công, không phải chàng đã có nữ nhân ở bên ngoài chứ?

Dương Lăng giật thót người, nhớ lại khuôn mặt xinh xắn của Mã Liên Nhi. Mặc dù hai người không có tư tình gì bí mật, nhưng Mã Liên Nhi rất có tình ý đối với y, và y thật ra cũng rất thích cô gái xinh đẹp ấy. Trong lòng hơi hoảng nên y kéo chiếc áo ở phía mép giường lại, lục lọi bên trong lớp áo kép một hồi rồi lấy ra mấy đĩnh bạc trắng, bảo:
- Ồ … nàng nói đến cái này à. Ta uống nhiều rượu, chỉ muốn đi ngủ cho nên vẫn chưa kịp nói với nàng. Thực ra hôm nay Mã dịch thừa vì được ta giúp đỡ xử lý vụ kiện nên đã mời Mẫn đại nhân và ta đi uống rượu. Trong bữa tiệc ông ấy có biếu ta bốn mươi lạng bạc để cảm ơn. Cái túi thơm và viên trân châu là lễ vật mà Mã tiểu thư, người đã tới nhà chúng ta ngày hôm đó, tặng riêng cho nàng. Nàng chớ có hiểu lầm!

Hàn Ấu Nương trước giờ nào đã thấy đĩnh bạc lớn như vậy: bốn mươi lạng bạc chất lượng thượng hạng, đó quả là một con số khổng lồ. Nàng tròn xoe mắt kinh ngạc thốt lên:
- Trời ạ, tướng công chẳng qua chỉ nghĩ giúp cách cho ông ta thôi mà đã được tạ lễ nhiều như vậy sao?

Dương Lăng nhét ngân lượng vào tay nàng, cười nói:
- Nương tử hãy cất đi! Giờ thì yên tâm, không còn buồn phiền gì nữa rồi nhé!

Đĩnh bạc trong tay lạnh ngắt, nặng trĩu. Hàn Ấu Nương bị y trêu đến đỏ cả mặt. Nàng cắn môi, con tim hoảng loạn đã yên ổn lại đến tám phần. Nàng nghĩ bụng, giờ trượng phu vẫn còn say, ngày mai chưa chắc còn nhớ chuyện đêm nay. Có vài chuyện sao mình không nhân tiện hỏi luôn một lần cho rõ ràng, cũng để lòng khỏi phải lúc nào cũng thấp thỏm không yên. Chủ ý đã định, nàng chợt đặt bạc xuống, đưa ống tay áo lên che mặt, ngượng ngùng nói:
- Ấu Nương … Ấu Nương có một câu muốn hỏi tướng công, xin tướng công chớ chê cười thiếp!

Dương Lăng lấy làm lạ, hỏi:
- Chuyện gì vậy? Được rồi, hôm nay Ấu Nương đại nhân cứ thăng đường xét hỏi, Dương mỗ đây biết thì sẽ nói, nói sẽ nói hết. Đại nhân xin cứ hỏi đi!


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

anubis1603
09-06-2010, 02:34 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 16: Lời bịa đặt đáng yêu

Dịch: TheJoker

Biên dịch: lieu

Biên tập: anubis1603

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Ồ, hóa ra người làm nhiều việc tốt ở trên nhân gian, sau khi chết đi thì có thể xuống âm phủ làm quan à?


Hàn Ấu Nương nghe xong cảm thấy buồn cười, nhưng những lời muốn hỏi thì lại xấu hổ chết đi được. Nàng ngập ngừng một lúc lâu, đến khi không nhịn nổi nữa thì mới mở miệng lí nhí hỏi:
- Tướng công, thiếp. . . được gả vào nhà họ Dương đến nay đã gần được một năm. Tướng công vốn. . . vốn dĩ mang bệnh trên người, nên thiếp cũng không thể nói ra, nhưng mà. . .

Đến đây nàng lại bắt đầu quanh co:
- Nhưng mà. . . đến bây giờ. . . vì sao tướng công vẫn không cùng thiếp thực hiện thủ tục của đạo phu thê?

Dương Lăng hốt hoảng trong lòng: "Đến rồi đây, rốt cuộc nha đầu này cũng đã hỏi. Ha! Không phải là nàng ta hoài nghi thân thể mình có bệnh tật gì đấy chứ?"

Ài, đừng nói cô bé này còn nhỏ tuổi, Dương Lăng không phải là không có cảm giác với nàng ấy, nhưng là một người của thời hiện đại, thủy chung y không thể nhẫn tâm chiếm đoạt tấm thân hãy còn non nớt của nàng. Huống chi y còn mang máng nhớ rằng mình chết thường xuyên như cơm bữa, trong mấy lần chuyển thế trước chưa có lần nào sống quá hai tháng. Còn lần này thì …. có lẽ cũng được một tháng rồi.

Nghĩ đến đây, y không khỏi cảm thấy hơi chán nản. Mặc dù cuộc sống gia đình trong tám lần chuyển thế trước tốt hơn bây giờ rất rất nhiều, nhưng y lại thích cái cuộc sống giản dị an nhàn này và có phần yêu mến cô bé trẻ tuổi này. Có điều . . . không thể được. Nếu xâm hại nàng ấy xong, sau đó y lại bỏ mạng nữa thì chẳng phải là hại người ta rồi sao?

Giữ lại tấm thân trinh trắng cho nàng, tuy vẫn xem như là người đàn bà đã có chồng, nhưng trong tương lai nếu có đi bước nữa, vị hôn phu mới thấy nàng vẫn còn là xử nữ thì chắc hẳn sẽ đối xử với nàng tốt hơn một chút. Vả lại, nếu thực sự chiếm hữu nàng thì không khéo lại phát sinh tình cảm sâu đậm với nàng, đến lúc phải chết liệu y còn có thể ra đi thanh thản được không? Chẳng lẽ không cảm thấy đau lòng sao?

Y khẽ thở dài, nhẹ nhàng ôm lấy eo nàng, ghé miệng vào tai nói ra lý do mà y đã nghĩ ra để ứng phó trước đó:
- Ấu Nương, chuyện này ta chưa từng nói với một ai. Giờ ta kể cho nàng nghe, nàng ngàn vạn lần chớ nên nói ra ngoài, được chứ?

Hàn Ấu Nương bị y ôm lấy eo, đặt tay lên bụng của mình, nàng vốn đã căng thẳng đến phát run cả người; giờ lại bị y thì thầm vào tai, hơi ấm phả lên má, chỉ cảm thấy toàn thân như có kiến bò. Nàng run giọng nói:
- Tướng công có điều gì xin cứ nói ra. Ấu Nương. . . Ấu Nương quyết không nói cho bất cứ người nào đâu.

Dương Lăng ừm một tiếng, rồi chợt hỏi:
- Ấu Nương, nàng nói xem. . . con người sau khi chết sẽ đi về đâu ?

- Hả?
Hàn Ấu Nương ngẩn người, không nghĩ đến phu quân lại hỏi tới chuyện này. Nàng thản nhiên đáp:
- Con người chết đi, dĩ nhiên là sẽ phải xuống âm tào địa phủ, dựa vào âm đức tích được ở tiền thế mà sẽ tái nhập luân hồi.

Dương Lăng nói:
- Đúng vậy. Ấu Nương, ngày trước các thầy lang đều nói rằng ta đã chết, đặt vào trong quan tài một ngày, nhưng lại đột nhiên tỉnh dậy. Mọi người tưởng ta vì tắc đờm mà hôn mê, nhưng thật ra. . . linh hồn của ta đã bị Ngưu Đầu Mã Diện lôi đi rồi.

- Á!

Hàn Ấu Nương sợ đến nhảy dựng lên, vùng mạnh ra khỏi người y. Nàng quay lại tròn mắt nhìn y chằm chằm. Mặc dù người ở thời đại này tin rằng tồn tại một nơi gọi là Địa Ngục, nhưng suy cho cùng thì vẫn chưa có ai từng thấy qua, cho nên cảm thấy nó hết sức thần bí. Vậy mà bây giờ trượng phu của mình đã đi vào âm tào địa phủ, rồi lại cải tử hồi sinh, thật sự khiến cho người ta vừa cảm thấy kinh ngạc không nói nên lời, lại vừa có chút tò mò.

Dương Lăng trịnh trọng nói:
- Đáng lẽ ta đã bị phán quyết vào vòng luân hồi rồi, nhưng lúc ấy ta phát hiện ra vị thành hoàng ở đây không ngờ lại là ân sư tại cuộc thi tú tài. Phẩm hạnh cũng như học vấn của lão nhân gia hơn người, nên sau khi tạ thế đã trở thành vị thần của cõi âm, được bổ nhiệm làm thành hoàng của vùng này.

- Ồ, hóa ra người làm nhiều việc tốt ở trên nhân gian, sau khi chết đi thì có thể xuống âm phủ làm quan à?
Hàn Ấu Nương rất kinh ngạc, sớm đã gạt bỏ sự sợ hãi khi thấy trượng phu chết rồi mà vẫn có thể hoàn hồn trở lại, nàng không nhịn được tò mò hỏi.

Dương Lăng cười thầm trong bụng, gật đầu nói:
- Đúng vậy, ân sư vừa thấy liền mang trà mang rượu ra mời ta uống, nói là muốn đưa ta đầu thai vào một gia đình giàu có. Đúng vào lúc đó, ta cảm ứng được nàng đang bị trưởng bối gia tộc của ta hiếp đáp ở dương gian, trong lòng vô cùng tức giận. Ân sư vốn rất coi trọng ta, thấy cảnh đó liền thi triển thần thông để kéo dài tính mạng cho ta, đưa ta hoàn hồn trở lại, nhưng. . . trong vòng hai năm không được thân cận nữ sắc, bằng không pháp thuật sẽ lập tức mất linh.

Mấy câu nhảm nhí này không ngờ lại khiến Hàn Ấu Nương tin sái cổ. Nàng ngẫm nghĩ, đáng ra trượng phu được đầu thai vào một gia đình tốt để hưởng phúc, nhưng vì nàng mà trở lại dương gian, vậy mà mình còn nghi ngờ này nọ, cho nên trong lòng cảm thấy áy náy mãi không thôi.

Để tăng thêm tính chân thật cho lời nói của mình, Dương Lăng còn làm bộ than thở:
- Ôi, đây vốn. . . là thiên cơ, không thể kể cho ai biết được, nhưng ta sao nỡ để cho nàng thương tâm như vậy? Hôm nay nói cho nàng nghe, ta sẽ không thể tránh khỏi phải mất ba năm dương thọ rồi.

Hàn Ấu Nương nghe xong khóc oà lên. Mình thật là đáng chết, sao đang yên lành lại ép trượng phu tiết lộ thiên cơ làm chi, để bây giờ chàng bị giảm mất ba năm tuổi thọ, hoàn toàn đều là do mình hại cả. Nghĩ đến đây, Hàn Ấu Nương lòng đau như cắt, hối hận đến độ chỉ muốn đánh chết bản thân thì mới cam tâm. Nàng ôm chặt lấy y, bi thương nức nở không dứt, luôn miệng nói:
- Thiếp xin lỗi, thiếp xin lỗi. Phu quân, đều là do Ấu Nương không tốt. Trời ơi, thiếp thật đáng chết, vì thiếp nên chàng đã vứt bỏ chuyển thế vào vinh hoa phú quý, lựa chọn quay trở lại nhân gian. Vậy mà thiếp lại hại chàng đến nỗi. . . Hu hu hu. . . Thiếp thật là đáng chết!

Dương Lăng nói dối hết câu này đến câu khác xong, trong lòng liền cảm thấy áy náy không ngớt, hận không thể vả vào miệng mình một cái thật mạnh.

"Mày nói mày là cái thá gì chứ. Nói dối không đụng vào thân thể cô ấy vốn để tốt cho cô ấy. Theo thường lệ thì mày chắc sẽ không sống quá hai tháng, đến lúc đó lại chết đi. Chết rồi là hết, cớ sao lại nói cái gì mà lo lắng cho cô ấy nên mới quay lại nhân gian, rồi vì cô ấy mà bị giảm đi dương thọ. Tại sao lại nói những lời như vậy? Chẳng nhẽ mày còn muốn khiến cho cô ấy không thể xa rời mày hay sao?”

“Nhưng mà. . . tại sao thấy cô ấy coi trọng mày, không ngớt vì mày mà phải đau khổ khóc như vậy, mày lại có một cảm giác thích thú không giải thích được thế này. Mày kém cỏi và ích kỷ đến vậy sao? Vốn là mong còn chẳng được cô bé đáng yêu ấy sẽ chỉ chung tình với mày, nhưng vô hình chung những lời nói dối này lại khiến cô ấy cảm thấy phải mang ơn, thật là vô sỉ mà.”

Y vội vàng tìm cách bù đắp cho nàng, cuống quýt nói:
- Ấu Nương, chớ nên đau lòng nữa. Ân sư nói ta có thể sống đến trăm tuổi mà. Bây giờ chẳng qua chỉ còn sống đến chín mươi bẩy tuổi thôi, cũng coi như sống dai hiếm thấy rồi, có gì mà phải đau lòng chứ? Thế nhưng. . . nếu như ta chết sớm, thì đó là do chuyện thành hoàng làm phép kéo dài tính mạng cho ta đã bị phán quan ở địa phủ phát hiện, vì vậy câu hồn ta về để sớm đưa đi đầu thai mà thôi. Cho nên. . . nếu như có ngày đó, nàng cũng chớ nên đau lòng. Nhờ công đức ở tiền thế, ta vẫn sẽ được hưởng phúc. Nhưng nếu nàng vì ta mà cực khổ thủ tiết, như vậy sẽ làm giảm công đức của ta. Nàng nhất định phải chiếu cố cho bản thân thật tốt, nếu có nhà nào tốt. . .

Miệng y đã bị bàn tay của Hàn Ấu Nương nhẹ nhàng bịt lại, đôi mắt đen láy đẫm lệ chớp chớp, trông xinh đẹp vô ngần. Nàng chỉ khẽ lắc lắc đầu, thỏ thẻ nói:
- Tướng công, đừng nói những lời này nữa, Ấu Nương nghe mà hoảng sợ.

Dương Lăng thở dài:
- Thôi được rồi, sống chết có số, phú quý do trời, ta sẽ không đề cập đến chuyện đó nữa. Nhưng mà. . . nàng phải nhớ kỹ, bất luận như thế nào cũng không được làm khổ bản thân. Chỉ cần nàng được hạnh phúc, thì khi đó bất luận là sống hay chết trong lòng ta mới an tâm.

Hàn Ấu Nương gật đầu, vòng tay ôm lấy lưng y, áp gò má lên ngực y, thì thầm:
- Tướng công, tướng công. . .

Nàng ôm thật chặt lấy Dương Lăng, như thể lo sợ tướng công mất đi sống lại này sẽ lại đột nhiên biến mất. Trong thâm tâm nàng đã quyết định, phu quân đối với mình tình thâm ý nặng, nếu như chàng đột nhiên mất sớm, quá nửa là tại mình ép chàng tiết lộ thiên cơ nên mới bị âm phủ phát hiện. Vậy cũng sẽ không cần vì chàng mà thủ tiết nữa, cứ theo chàng xuống thẳng địa phủ để cầu xin kiếp sau có thể tiếp tục hầu hạ chàng là được.

Nhưng Dương Lăng lại không hề biết những suy nghĩ ở trong đầu nàng, y chỉ biết gán hết thảy mọi thứ cho thiên mệnh; còn nói chết chính là đi hưởng phúc, nếu cô ấy sống tốt thì đó là tích đức cho mình. Cuối cùng coi như y cũng đã dẹp bỏ niềm tâm sự luôn canh cánh trong lòng về “người vợ góa tương lai”, nhưng nào biết rằng y đã sớm bị âm tào địa phủ liệt vào danh sách những thành phần "cấm lai vãng" rồi. Muốn chết ư? Đâu có chuyện dễ dàng như vậy.

Dương Lăng xoa nhẹ tấm lưng nàng. Hình ảnh của cô bé thuỳ mị đáng yêu này càng lúc càng khắc sâu trong lòng y. Một thứ cảm giác tựa như thân tình, lại tựa như ái tình đang dần dần nảy sinh giữa bọn họ. Đêm khuya thanh vắng, hơi ấm từ chiếc lò sưởi đầu giường, một chút men say, một tấm thân mềm mại ôn nhu như nước đang rúc vào ngực y, tất cả khiến y cảm giác được cái mầm mống của tội ác ở dưới hạ thể đã bắt đầu nóng lòng muốn trỗi dậy.

Dương Lăng vội ho một tiếng, khẽ đẩy người nàng ra rồi nói yêu:
- Nha đầu ngốc, đừng có nghĩ ngợi lung tung nữa nghe chưa? Đến đây, cất kỹ chỗ bạc này rồi mau đi ăn cơm đi. Viên ngọc này hay là cứ để ta giữ cho, sáng mai ta lấy một sợi dây xỏ qua rồi đưa lại cho nàng sau.

- Không!
Hàn Ấu Nương đứng dậy cười thẹn thùng, thu lấy ngân lượng rồi ôm chiếc túi vào trong lòng:
- Viên ngọc này rất xinh đẹp, thật không nỡ. Xỏ lỗ qua thì tiếc lắm.

Dương Lăng thấy nàng cười thẹn lộ ra một nét biểu cảm rung động lòng người, nhất thời y không kềm được, bèn giơ tay vỗ bốp vào mông nàng một cái, rồi cười nói:
- Ngốc ạ! Có đẹp đi chăng nữa mà không dùng, đem cất đi thì còn có tác dụng gì?

Tay vừa vỗ xuống, không ngờ bờ mông ẩn dưới lớp váy mềm đó lại to lớn tròn lẳng, cảm giác thật đàn hồi. Còn Hàn Ấu Nương, sau khi bị vỗ một cái thì “á” lên một tiếng, dưới ánh đèn chỉ thấy nàng tóc mai rối loạn, ánh mắt mơ màng. Cô bé mười lăm tuổi này trong lúc vô ý đã để lộ ra vẻ phong tình vô cùng quyến rũ, khiến cho bụng dưới của y càng thêm phát hoả.

Lo bản thân nhất thời động tình sẽ làm ra chuyện mà sau này có hối hận cũng không kịp, y liền vội xoay người nằm xuống giường, kéo tấm chăn lên thân, cố dằn cảm xúc nói:
- Được rồi, mau đi ăn cơm rồi ngủ đi.

Hàn Ấu Nương bị y vỗ vào mông một cái, cả người nóng rực, cô nàng rốt cuộc cũng rạo rực xuân tâm. Dẫu chưa từng có hành động gì quá thân thiết với phu quân, nhưng loại cử chỉ thân mật đột ngột như vậy cũng đã làm nàng vui vẻ không thôi, khiến nàng cảm thấy những việc mình làm đều đáng giá; mọi đắng cay gian khổ dường như cũng biến thành mật ngọt.

Chuyện nam nữ không ngờ lại thú vị như vậy. Nếu như phu quân chàng . . . chàng . . . Chợt nghĩ đến chuyện phu quân trong vòng hai năm sẽ không thể đụng vào nữ sắc, trong lòng Ấu Nương dường như có chút yên tâm, thế nhưng cũng cảm thấy hơi mất mát. Đợi cho vẻ ngượng ngùng trên khuôn mặt dịu đi, nàng mới cầm đèn đến trước chiếc rương ở cạnh tường, mở nắp ra rồi nhét túi ngân lượng giấu vào giữa lớp quần áo, sau đó rón rén bước ra phòng ngoài.

Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
16-06-2010, 04:54 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 17: Thuyết con ếch

Dịch: TheJoker

Biên dịch: lamsonquaikhach

Biên tập: duahau

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Đùa à, nói nhảm cả nửa ngày trời chính là muốn mời người thông thái đến chỉ điểm cho mình một phen, làm sao thả lão đi như vậy được chứ?


Vừa bước vào phòng phê duyệt đã thấy một chồng công văn nằm đó làm Dương Lăng bất giác thở dài. Mặc dù vẫn cảm thấy đau đầu, nhưng trong lòng y không còn quá lo lắng nữa. Dựa theo “thông lệ” của mỗi lần chuyển thế, thế nào rồi y cũng sẽ chết một cách quái lạ, lần sống dai nhất không quá hai tháng, mà tính đến giờ thì y đã ở cái thế giới này được một tháng rồi.

Nghèo túng chính là điểm khác biệt lớn nhất so với các lần trước, và người con gái y nhìn thấy đầu tiên sau khi tỉnh dậy đã khóc đến lệ đẫm mặt hoa đó, lại khiến cho y xót thương biết bao nhiêu. Vì lẽ đó nên với thân phận là người hiện đại đến thời cổ, với mạng sống có hạn của mình, y chỉ mong sao có thể chu cấp một cuộc sống an nhàn, đầy đủ cho Ấu Nương mà thôi. Chẳng mang hùng tâm đại chí, cũng chẳng lòng dạ nào mơ tưởng vui vầy bên bao nhiêu mỹ nhân, chỉ sống vỏn vẹn có hai tháng, y làm sao mà chịu đựng hết được.

Bây giờ trong nhà bỗng nhiên có thêm bốn mươi lượng bạc ròng, có thể xem là một món tiền khổng lồ đối với nông dân vùng này. Để số tiền này lại cho Ấu Nương thì sau này nếu có nhắm mắt xuôi tay, y cũng ra đi thanh thản. Cho nên khi nhìn thấy chồng công văn dày cộm này, trong lòng y cũng không còn cảm thấy quá nhiều áp lực nữa.

Tâm tình không nóng vội nên cách giải quyết công việc cũng trở nên rõ ràng hơn rất nhiều, trong thời gian uống cạn hai chén trà, y đã phê duyệt được sáu bảy tờ văn kiện. Lọc những văn kiện cần đích thân Mẫn đại nhân xử lý qua một bên, y mở một tờ khác thì phát hiện tờ văn kiện này lại là một tấm văn thiếp đã ố vàng, trông không giống như mới được viết. Chẳng lẽ có ai đó đã đem trình nhầm văn kiện cũ?

Lấy làm hiếu kỳ, Dương Lăng cầm tấm văn thiếp lên xem, chỉ thấy ở trên đó bôi bôi xoá xoá, hiển nhiên người viết đã rất do dự. Có điều nét bút chữ Khải (*) viết thật là đẹp, bản thân y viết chữ bút lông cũng đẹp nhưng không thể viết kiểu chữ Khải đẹp như vậy được, y không nén được phải tấm tắc khen ngợi vài tiếng. (*: nguyên văn “dăng đầu tiểu Khải”: chử Khải viết tay nhỏ bằng đầu con ruồi nên gọi là “dăng đầu”)

Y mở tấm văn thiếp ra đọc cẩn thận, thì thấy trên đó viết: “Hiện nay tiêu cực trong triều đình đã nghiêm trọng đến mức cực điểm, vua không giữ đạo quân thần, đại thần không làm tròn trách nhiệm, thưởng tước quá tràn lan, công dịch quá phiền nhiễu, tiến cống vô độ, kẻ ra đi không trở lại. Triều đình xảy ra biến trước nay đều do những thứ đó mà nên. Việc tổ chức trong nội cung đều đã có quy định từ những ngày đầu lập quốc, giờ đây một giám cũng đến hơn mười người, một việc sáu bảy kẻ tham gia. Nào là hưởng lợi từ việc phân phối quận huyện hay lộc vương gia. Nào là tranh quyền thống lĩnh biên cương hay làm đại tướng. Nào là tiến cử tà môn hay hùa vào dâng hiến kỳ thuật. Ty lo gạo tiền thì lách luật ăn riêng, cống vật thì gặp đủ loại yêu sách hối lộ, kẻ giết người được tha, kẻ làm sai thoát tội, không thể kể xiết ..."

Dương Lăng ồ lên một tiếng, xem ra nội dung của tấm văn thiếp này là bàn về quốc sách. Sao loại văn thiếp như vậy có thể xuất hiện trong mớ công văn của một huyện lệnh được nhỉ? Dương Lăng đang mê mải đọc thì chợt nghe tiếng cười ha hả bên cạnh:
- Dương tú tài, vẫn còn đang xử lý công văn sao?

Dương Lăng ngước đầu lên: trước mặt là một lão nhân ngũ tuần, mày râu nhẵn nhụi, trông áo quần thì chỉ là một tiểu lại cấp tòng bát phẩm, còn chưa thể gọi là quan. Đó chính là vị huyện thừa lâu năm ở bản huyện, Hoàng Kỳ Dận.

Dương Lăng vội đứng dậy, chắp tay thi lễ:
- Hoá ra là Hoàng huyện thừa, học sinh thất lễ rồi.

Hoàng Kỳ Dận xua xua tay, ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Cầm tấm văn thiếp trên bàn lên liếc mắt qua, lão cười lớn nói:
- Lý Tư Tỉnh, Đặng Thường Ân à? Ồ, đây đều là những trọng thần của triều đình năm Hiến Tông, trông có vẻ như là bản thảo tấu chương của vị đại nhân nào đấy. Dương công tử từ đâu mà có được vậy?

Cũng không đợi Dương Lăng trả lời, lão tự mình đọc lướt qua nội dung, rồi ngẩng đầu hỏi:
- Dương tú tài nghĩ sao về những lời trong đó?

Đầu tiên là tình cờ thấy một bản thảo tấu chương năm Hiến Tông, cũng gần hai mươi năm trước, ở trong chồng công văn, sau đó lại thấy vị Hoàng huyện thừa “không phải ngày phát lương, không phải ngày thẩm án không ló mặt” đó đột nhiên xuất hiện thì trong lòng Dương Lăng cũng đã đoán ra được vài phần căn nguyên. Y còn cảm nhận được cặp mắt thâm thuý đang nhìn mình chằm chằm, ý như thăm dò, lại có phần khao khát, mong muốn, giống như một đứa trẻ đang hy vọng được thầy khen ngợi.

Dương Lăng đã từng làm cho công ty bảo hiểm sáu bảy năm, đã gặp rất nhiều loại người, sở trường lớn nhất của y là suy đoán tâm lý người khác, cho nên vừa thấy lão ta vô tình để lộ hàm ý trong ánh mắt thì y chợt hiểu ra. Một ý nghĩ táo bạo đột nhiên loé lên trong đầu y: "Đầu tiên là tấu chương của hai mươi năm trước, tiếp theo đó là Hoàng huyện thừa, kẻ quanh năm chẳng thấy bóng dáng đâu xuất hiện. Lão ta nói cái gì là tấu chương của vị đại nhân nào đó năm ấy phác thảo, nội dung trong tấu chương thì lại bài xích trọng thần trong triều đương thời. Chẳng lẽ ... tờ tấu chương này là do lão ấy viết, vì đắc tội với triều đình nên bị giáng chức hết lần này đến lần khác, tới nỗi phải lưu lạc đến Kê Minh này làm một tiểu lại không phẩm cấp?

Vừa nghĩ tới đây, Dương Lăng một mặt phỏng đoán ý đồ của lão, mặt khác giả vờ nói:
- Vãn bối hổ thẹn không rõ sự tình về mấy vị trọng thần triều đình năm hoàng đế Hiến Tông, cho nên thật sự không thể luận bàn.

Hoàng Kỳ Dận lắc đầu bảo:
- Ài ..., đều là chuyện xưa tích cũ cả rồi. Hôm nay rảnh rỗi, ta chỉ ngồi đây tán gẫu với ngươi thôi. Miệng ngươi nói, tai ta nghe, đâu thể tính là nghị luận gì. Ngươi chỉ đơn thuần là đánh giá nội dung trên tờ văn thiếp này mà thôi.

Trong đầu Dương Lăng nghĩ rất nhanh, âm thầm suy đoán: "Nếu mình đoán không sai, thì lão đại nhân bất đắc chí này hẳn đã vì tấm thiếp này mà đắc tội với thiên tử, đến nỗi bị giáng chức hết lần này đến lần khác. Hôm nay lão đến khảo sát mình, lẽ nào là muốn xem xem mình có đáng để lão ra tay giúp đỡ hay không? Thôi được, phỏng chừng mình sống cũng chẳng được bao lâu, cứ mạnh dạn mà bàn luận cũng chẳng sao. Nếu muốn lão ấy giúp đỡ thì đương nhiên phải tâng bốc một phen, nhưng nếu không có cách nghĩ đặc biệt của riêng mình sẽ khó tránh khỏi bị lão ấy khinh thường."

Vừa thầm tính trong lòng, vừa cẩn thận xem kỹ nội dung của tấu chương, Dương Lăng nói:
- Đã như vậy, học sinh đành lớn mật nói càn. Nếu nói không đúng, xin Hoàng huyện thừa chớ chê cười.

Hoàng Kỳ Dận cười nhạt:
- Không sao, không sao, ngươi và ta cũng xem như là đồng liêu, cứ việc nói thoải mái, không cần phải cố kỵ.

Dương Lăng dạ một tiếng, rồi phát biểu ý kiến:
- Mở đầu bài tấu chương này ý nói triều đình đương thời cơ cấu cồng kềnh, người nhiều hơn việc, thỉnh cầu triều đình tinh giản lại các bộ và các quan viên, có thể nói là trúng vào trọng tâm, kiến nghị đưa ra cũng có thể nói là sáng suốt, chỉ là....

Hoàng Kỳ Dận vừa nghe thấy tám chữ "cơ cấu cồng kềnh, người nhiều hơn việc," mắt chợt sáng lên, vỗ tay khen hay:
- Tuyệt diệu, thấu triệt! Chỉ tám chữ này thôi đã nói ra hết sự tình, Dương công tử thật giỏi. Chỉ là cái gì?

Dương Lăng ngây ra một chút, rồi mới chợt tỉnh ngộ: “Phải rồi, triều đại này vẫn chưa có mấy danh từ này, khó trách lão ấy cảm thấy rất đỗi mới lạ. Nhưng mà cũng đâu cần phải kích động đến đỏ cả mặt chứ? Chẳng nhẽ là vì đã tìm được tri âm à?” Dương Lăng cười thầm trong bụng, tiếp tục nói:
- Chỉ là vị đại nhân này có cái nhìn quá đỗi mô phạm đi.

Sắc mặt Hoàng Kỳ Dận thoáng không vui, lão không phục hỏi:
- Tại sao khẳng định như vậy?

Trông thấy phản ứng của lão, Dương Lăng càng chắc chắn với phán đoán của mình, thế là dùng thủ đoạn "trước nâng lên, sau đạp xuống," nói:
- Vị đại nhân này kiên quyết chính trực, không so đo được mất của cá nhân, niềm mong muốn lập lại trật tự để chỉnh đốn triều cương hiện rõ trong từng câu chữ. Có điều, tuy ông ta mang một bầu nhiệt huyết, song suy nghĩ lại hơi đơn giản.

Nghĩ đến việc càng tinh giản cơ cấu càng dẫn đến nhiều tiêu cực ở đời sau, y chậm rãi suy nghĩ nói:
- Theo học sinh thấy, mặc dù quan viên các bộ, phủ ngày một cồng kềnh, nhưng vị đại nhân này lại hy vọng rằng hoàng thượng vừa mở miệng hạ lệnh, liền sẽ có thể chỉnh đốn được kỷ cương, tinh giản được cơ cấu ngay. Đó là điều không thực tế. Đại nhân ngài hãy nghĩ xem, hoàng thượng hạ chỉ xong thì dù gì cũng cần có người thực hiện chứ? Trên dưới cả nước toàn thể hưởng ứng, triệu hồi toàn bộ các quan viên bên ngoài, vậy triều đình sẽ mất đi tai mắt. Quan lại không qua bước đệm trung gian mà lập tức bị cắt giảm, vậy không ít sự vụ sẽ khó tránh rơi vào đình đốn.

Hắn trỏ vào tờ văn thư ở trước mặt, cười khổ nói: “Tỷ như học sinh, đột nhiên để học sinh phụ trách tiền lương, thuế má, hình tụng, nhiều phương diện như vậy, bận đến đầu tắt mặt tối. Khoan nói sẽ cần rất nhiều thời gian để hiểu rõ trình tự, không có một tiền bối giàu kinh nghiệm chỉ điểm sẽ phải đi rất lòng vòng, điểm tối thiểu là học sinh bị trói chân ở đây, không thể cục cựa, như vậy công việc cụ thể đều sẽ phải giao cho kẻ khác lo liệu. Ngài làm sao đảm bảo những kẻ đó sẽ có thể tận tụy với nhiệm vụ của mình chứ?”

Sắc mặt của Hoàng Kỳ Dận trở nên hết sức khó coi, nhưng lại không nói gì. Lặng lẽ lần trong ống tay áo ra cái tẩu thuốc, lão run run nhét sợi thuốc lá vào, có vẻ hơi kích động.

Dương Lăng nói tiếp:
- Những thứ đó vẫn chưa phải là khó khăn thật sự, cũng giống như lần đầu sinh con, người mẹ phải trải qua đau đớn tột cùng, nhưng rồi sẽ đón nhận niềm hạnh phúc vô bờ bến. Cái khó đây chính là ở chỗ … toàn quốc trên dưới có bao nhiêu quan viên? Giữa những vị quan này có không biết bao nhiêu quan hệ dây mơ rễ má, cùng nhau chèo lái sự vận hành của cái quốc gia khổng lồ này. Nếu bỗng dưng muốn chặt đứt nhiều nhánh, vậy sẽ dẫn đến sự phản đối của biết bao nhiêu người? Tuy rằng lực lượng này vô hình, nhưng nhất định là vô cùng đáng sợ, đụng chạm đến lợi ích của quan viên toàn quốc, kể cả những vị quan viên bản thân đang giữ những chức vị quan trọng, không bị xoá bỏ cũng khó tránh phải suy nghĩ. Quan vị nhiều thì lựa chọn của bọn họ cũng sẽ nhiều, quan vị ít đi thì mọi chuyện sẽ không còn thoải mái như vậy nữa, con đường làm quan của chính bọn họ khi đó sẽ ít lối hơn rất nhiều. Hơn nữa, bọn họ sao có thể cam lòng vứt bỏ những mối quan hệ dây mơ rễ má đó chứ. Kiến nghị này quả thật là kẻ địch của quan viên cả nước. Quan vị ít thì bọn thư sinh sẽ tiến thân như thế nào? Thế là cũng đắc tội những kẻ đọc sách luôn. Còn bọn thân hào địa chủ có quan hệ thân mật chống lưng bọn họ thì sao? Tất nhiên sẽ kịch liệt phản đối, lay động đến cả nền tảng nước nhà. Cho dù hoàng thượng có tiếp nhận kiến nghị này, cũng sẽ gặp phải muôn trùng trắc trở và bị ngàn vạn lớp quan viên phản đối mà phải thay đổi chủ ý. Ý kiến này tuy là vì nước vì dân, nhưng lại thực hiện không đúng cách, quá đỗi vội vàng, thành thử hại nước hại dân.

Thân là người trong cuộc, Hoàng Kỳ Dận nào có được những kinh nghiệm thi hành biện pháp chính trị đã được tổng kết qua bao nhiêu triều đại, cũng như cách nhìn thấu triệt về vấn đề tinh giản cơ cấu của các bài báo ở xã hội tiên tiến trong và ngoài nước mà Dương Lăng có thể đọc và tổng kết lại được từ sách báo tạp chí?

Nhớ lại năm đó chính lão tuổi trẻ hăng say, mắt thấy quan lại hủ bại, cơ cấu to lớn cồng kềnh thì lòng bừng nhiệt huyết, điều trần lên hoàng thượng. Quả nhiên hoàng thượng tiếp nhận, không bao lâu sau đã triệt đi một lượng lớn quan viên, giáng chức quốc sư, cắt giảm hơn năm trăm quan truyền phụng (*), đồng thời lệnh cho toàn quốc phải đồng loạt thi hành. (*: chức quan do chính hoàng đế chỉ định, không thông qua sử bộ, cũng không thông qua tuyển chọn.)

Song, chưa quá nửa tháng, mình liền bị giáng chức, điều ra khỏi kinh thành. Bọn người bị giáng chức như Lý Tư Tỉnh, Đặng Thường Ân lại được phục hồi nguyên chức, còn mình thì lại bị trù dập khắp nơi, bị giáng chức hết lần này đến lần khác. Năm năm trời, đường đường một ngự sử ngôn quan (*) đã bị rớt xuống thành một huyện thừa nhỏ bé. (*: chức quan có thể can gián vua.)

Hoàng đế khác lên ngôi, bọn người Lý Tư Tỉnh bị vấn tội. Lúc đó mình cứ nghĩ sẽ thấy lại ánh mặt trời, nào ngờ rất nhiều quan viên bị đồng đảng bọn Lý, Đặng đả kích được phục hồi nguyên chức, duy chỉ mỗi mình dường như đã bị bỏ quên, nhờ người chuyển mấy phong thư đến đồng liêu năm xưa cũng không thấy kết quả. Thì ra mấu chốt lại nằm ở chỗ này.

Tự phụ là vì nước vì dân, nhưng lại rơi vào một kết cục như vậy; căm ghét thế tục, cả đời buồn bực không vui, nào ngờ lại bị một thiếu niên chưa tròn hai mươi một lời nói đúng trọng tâm. Thì ra lão đã đắc tội đến tất cả mọi quan viên.

Vừa nghĩ thông suốt những mấu chốt bên trong, mặc dù tiết trời lạnh lẽo nhưng lưng áo Hoàng huyện thừa vẫn đẫm mồ hôi. Lão cười buồn, giọng bi thương:
- Chẳng lẽ lại khoanh tay ngồi nhìn, mặc cho tình cảnh cứ tiếp tục như vậy. Rồi cuối cùng để bọn chúng như giòi bọ của đất nước, được vỗ béo bằng thành quả lao động của dân chúng hay sao?

Dương Lăng thở dài:
- Muốn thay đổi cũng không phải là không thể, chỉ có điều ... đó không phải là việc có thể làm trong một sớm một chiều. Sắc lệnh từ trên đưa xuống không chỉ cần phải thống nhất, mà còn phải làm liên tục, không thể vì một người nào đó không làm mà ngừng. Thực thi cụ thể phải bắt đầu từ trên xuống dưới, từ một điểm nhỏ mà loang ra thành diện rộng. Trước tiên bắt đầu từ kinh thành, và bắt đầu xoá bỏ từ những bộ ngành và quan viên không quan trọng. Quy mô nên nhỏ chứ không nên to, hành động cũng nên từ từ chứ không nên gấp gáp. Cứ tiếp tục như thế, phải đến ba, năm mươi năm sau mới có thể phát huy hiệu quả ổn định. Đến khi đó còn cần phải xác định lại những định chế về quan và tướng trong luật pháp, thế mới không sợ bị trở mặt. Mặc dù thời gian có hơi lâu, nhưng lại là biện pháp duy nhất có thể thực hiện. Chẳng qua là bỏ ra thời gian dăm ba mươi năm để hướng đến cơ nghiệp muôn đời. Dẫu rằng nó không phải là công lao của một người hay một đời nhưng đất nước và nhân dân sẽ được hưởng lợi muôn đời.

Dương Lăng lại đưa ra cái thuyết con ếch:
- Đại nhân có từng nghe tới một câu chuyện ngụ ngôn chưa? Đổ nước vào nồi, bỏ một con ếch vào, sau đó châm lửa đun dưới đáy nồi cho nước từ từ ấm lên. Bởi vì tốc độ ấm lên chậm nên con ếch không phát hiện ra, vì vậy cũng không gấp gáp phản kháng mà nhảy ra ngoài. Ung dung nhàn nhã cho đến khi nước nóng không thể chịu nổi nữa, muốn nhảy ra khỏi nồi thì đã muộn, khi đó nó đã không còn sức để vùng vẫy nữa rồi. Con ếch có thể nhảy ra khỏi nước sôi hay không, cái đó học sinh không biết. Nhưng quan trọng ở chỗ là nếu dùng nó để miêu tả thế nhân, học sinh lại cảm thấy rất có hình tượng. Việc thi hành chính sách quốc gia gắn liền với sự triển khai toàn cục, thành thử những thay đổi quá quyết liệt đều cần phải thận trọng dè dặt, từ tốn mà làm. Đợi đến khi bắt đầu có thành quả, lúc đó, cho dù những kẻ phản đối có phát hiện ra thì nó đã là xu thế tất yếu, bọn họ không thể phản kháng được.

Hoàng huyện thừa ngẩn người hồi lâu, rồi khàn giọng cười ha hả. Lão đứng dậy, vái sâu một cái, bảo:
- Nghe một lời của người còn hơn đọc sách mười năm. Hoàng mỗ xin thụ giáo.
Nói đoạn lão xoay người, khom lưng, trông như già đi hai chục tuổi, nhọc nhằn cất bước ra ngoài.

Dương Lăng lật đật đứng dậy, chạy đến chắn trước mặt lão, khom người chắp tay nói:
- Hoàng lão, học sinh chỉ là đàm binh trên giấy, ba hoa chích chòe mà thôi. Không ở trong cuộc mới có mấy lời này, nếu thật sự đặt mình vào trong đó thì học sinh cũng như kẻ mù mà thôi. Lão xem, chỉ mỗi công văn huyện mà học sinh xử lý còn không xong thì nói gì đến thụ giáo chứ. Thật ra, học sinh phải thành tâm thành ý thỉnh cầu Hoàng lão tiên sinh chỉ giáo cho mới phải.

Lúc này y gọi Hoàng lão mà không xưng quan hàm, chính là thật sự tự coi mình là học sinh. Sắc mặt Hoàng huyện thừa thay đổi khó đoán, ngó hắn một hồi lâu. Dương Lăng khom lưng, cung kính chắp tay giữ lễ. Đùa à, nói nhảm cả nửa ngày trời chính là muốn mời người thông thái đến chỉ điểm cho mình một phen, làm sao thả lão đi như vậy được chứ?

Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
19-06-2010, 02:04 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 18: Khói hiệu đêm giao thừa

Dịch: TheJoker

Biên dịch: lamsonquaikhach

Biên tập: Chũm Chọe

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Dương Lăng há hốc mồm, mãi một lúc sau mới quay lại nhìn Hàn Ấu Nương, hai cặp mắt không hẹn mà cùng mang đến một tin: "Thát Tử đã kéo đến!"



Trong lòng Hoàng Kỳ Dận vẫn luôn cảm thấy tràn đầy nhiệt huyết nhưng không thể tận trung báo quốc, ở trong cái ao tù nhỏ bé này quả thật làm hao mòn hùng tâm tráng chí, đến hôm nay lão mới thấy được rằng mình thất bại không oan.

Tuy tấm văn thiếp đáng tự hào ngày ấy đã khiến cho lão bị thất bại, song trong lòng lão vẫn luôn có ngạo khí của một văn nhân, cho rằng mình bị những kẻ bất đồng chính kiến đả kích. Mặc dù không thể thỏa chí quan trường nhưng sử sách ắt sẽ lưu lại thanh danh, vậy cũng không uổng phí một đời. Ngờ đâu tấu chương của mình nếu được thực thi thì cũng sẽ làm hại nước hại dân, thế nên lúc này lão chẳng những tâm chí nguội lạnh mà ngạo khí ứ đọng bấy lâu cũng tan biến hết.

Nhìn người thanh niên trẻ tuổi anh tuấn Dương Lăng này, Hoàng Kỳ Dận âm thầm suy xét:
- Vốn chỉ nghe nói hắn là tú tài trẻ tuổi nhất trong huyện, cùng lắm là tinh thông văn chương bát cổ (*) mà thôi, không ngờ lại có tầm nhìn như vậy. Bản thân mình đã chẳng có thành tựu gì, thôi thì cứ hết lòng giúp đỡ hắn, tương lai nếu hắn có thể trở thành một đại danh thần thì lúc đó mình cũng sẽ được lưu danh sử sách. Bằng không, chỉ cần hắn có thể làm quan lớn một phương thì đứa cháu sớm mất cha đó của mình cũng có thể tìm được nơi nương tựa. (*: Bát cổ gồm phá đề, thừa đề, khởi giảng, nhập thủ, khởi cổ, trung cổ, hậu cổ, thúc cổ.)

Nghĩ đến đây, Hoàng Kỳ Dận cười ha hả, bước tới đỡ Dương Lăng dậy, mặt mày rạng rỡ nói: "Dương hiền chất chớ nên khách sáo, tiếng sư trưởng hổ thẹn không dám nhận. Lão Hoàng ở trong huyện quá lâu đến nỗi sắp thành tinh rồi, hiền chất nếu có chỗ nào cần giúp đỡ thì cứ việc mở miệng, lão Hoàng đảm bảo không một chút giấu giếm".

Kê Minh là một huyện cấp ba, so với huyện giàu có như Giang Nam thì tổng số thuế thu được hàng năm kém gấp ba trăm, năm trăm lần. Mức thuế thấp đến kinh người, nhìn sơ qua có vẻ như cần phải tăng thêm mức thuế, hoặc chí ít thì huyện nhỏ như vậy không nên có nợ thuế mới phải. Nhưng trên thực tế, ở nơi này, kể cả mấy địa chủ nhỏ hoặc gia đình tự canh cũng còn bữa đói bữa no nữa là, cho nên nợ thuế nợ lương cũng đã trở thành chuyện cơm bữa.

Bởi thế mà một quan huyện ở một huyện giàu cho dù có thu thuế đến 80% nhưng đời sống sinh hoạt của người dân ở nơi đó vẫn không bị ảnh hưởng, hơn nữa còn được xưng tụng là thanh thiên, biếu tặng "vạn dân tán"(*). Nhưng mấy năm sau nếu y xui xẻo bị điều đến cái huyện nghèo như vậy, thì cho dù có tổn hao tâm sức cố ép thu 30% thuế, khi đó trong mắt người dân, y vẫn trở thành tham quan, ác quỷ hút máu người. (*: thời xưa, để ca tụng sự liêm chính của quan lại địa phương, các thân sĩ sẽ tặng những chiếc dù (tán), trên đó có thêu nhiều sợi vải lụa nhỏ.)

Huống hồ hoàng đế dựng nước Đại Minh là Chu Nguyên Chương tính toán bổng lộc của các quan viên cực kỳ chính xác. Bổng lộc phát ra chỉ đủ cho quan viên nuôi dưỡng một nhà già trẻ. Thậm chí chi phí nghênh đón, tống tiễn, tiền lương cho gia đinh phu dịch, kiệu phu mã phu, bao gồm cả trợ tá sư gia … toàn bộ đều do quan viên tự bỏ tiền túi. Vì vậy số tiền lương mà người dân giao nộp chắc chắn là sẽ bị các quan địa phương "vay" một phần cho vào túi riêng. Quan huyện đã như vậy, các thôn trưởng, lý trưởng, giáp trưởng bên dưới ai nấy cũng giống nhau. Do đó dù thu được 100% thuế, nộp lên quốc khố cũng chỉ có tám phần.

Bởi vậy khi thu không đủ thuế, các quan địa phương liền tự thi triển thần thông. Huyện nào mà số đất đai vượt quá con số bộ Lại nắm rõ thì sẽ lấy phần đó bù vào, còn những huyện vốn đã nghèo thì liều báo cáo có thiên tai để xin miễn giảm, vừa hoàn thành nhiệm vụ thu thuế, lại được tiếng thương dân.

Tuy rằng Kê Minh có nhiều người thiếu nợ lương thuế (lương thực và thuế), song những năm gần đây nhờ có thêm người khai hoang, mà số đất đai do Bộ Hộ quản lý lại là con số từ thời dựng nước, do vậy dù số thuế thu được là rất ít, nhưng chỉ cần lấy số dư thuế thương mại bù đắp vào một phần là có thể đạt được con số mà Bộ Hộ yêu cầu.

Ngoài ra, mùa thu vừa rồi bọn Thát Tử mới vừa kéo đến cướp bóc, quan huyện có thể lấy lý do đó để báo cáo về tai họa, vẽ thêm tình tiết nghiêm trọng nhằm miễn giảm thuế ruộng nương. Do vị trí địa lý đặc thù có ý nghĩa về mặt quân sự của Kê Minh đã vượt xa phạm vi huyện lỵ, nên tuy hiểu rõ số thuế trưng thu mỗi năm ở nơi này dù có cố vắt thêm cũng không đủ, bộ Lại cũng sẽ không vì thế mà nghiêm khắc kiểm tra tình hình thực tế.

Vốn đang rầu rĩ đến thối cả ruột, thế mà khi được Hoàng Kỳ Dận chỉ điểm, Dương Lăng bỗng thấy sáng rõ. Con số 30% thuế thu được ít ỏi đến thảm thương, nhưng qua ngòi bút biến hóa của Hoàng huyện thừa không ngờ thành ra chỉ phải nộp lên trên có một nửa. Dương Lăng thấy thế mà phục sát đất.

Những công việc lặt vặt còn lại, Dương Lăng cũng đã mau chóng bắt tay vào,xử lý gọn ghẽ dưới sự chỉ bảo của Hoàng huyện thừa. Và y trở thành người nắm quyền khống chế hành chính của một huyện sau lưng Mẫn huyện lệnh. Chỉ có điều toàn bộ quyền lực của y đều đến từ Mẫn huyện lệnh. Chỉ cần đội ngài "Bồ Tát bằng đất sét" này ở trên đầu, y sẽ chính là người phát ngôn cho Bồ Tát. Nếu không có ngài Bồ Tát này thì cũng sẽ chẳng có ai nghe theo lệnh của y cả.

Được sự ủng hộ của vị huyện thái gia chính hiệu là Mẫn huyện lệnh và sự hỗ trợ hết sức mình của nhân vật đứng hàng thứ hai là Hoàng huyện thừa, công việc nội vụ của tiểu huyện thành "tuy nhỏ mà quan trọng” này đã được Dương Lăng xử lý hết sức gọn gàng. Không bao lâu, người dân, quan binh hay dịch sứ ở Kê Minh đều biết nhân vật thực sự điều khiển hoạt động của huyện này là một thiếu niên mười sáu tuổi đứng đằng sau Mẫn đại nhân. Người này tên gọi là Dương Lăng.

Hàn Ấu Nương không còn đi làm công ở tiệm may nữa. Không phải là nàng chẳng muốn đi mà là ông chủ ở đó không dám tiếp tục thuê nàng. Đùa à, nam nhân của nàng là ai chứ? Trên đầu y bây giờ chỉ có thiếu mỗi cái mũ quan của huyện thái gia mà thôi.

Thời này ở thành phố lớn như Chiết Giang đã có mấy công xưởng dệt nhuộm, kẻ làm đến cả trăm. Song những người làm thuê này đại đa số đều là nam, phụ nữ ở một địa phương nhỏ bé như vậy ra ngoài đi làm là chuyện rất hiếm gặp. Cho nên mặc dù không muốn để cho một cô gái mới mười lăm tuổi hàng ngày nằm lỳ trong nhà làm thiếu phụ trông nhà, Dương Lăng cũng đành phải nhập gia tuỳ tục, không để nàng ra ngoài nữa.

Có điều một mình Hàn Ấu Nương ở nhà thật quá nhàm chán, trừ việc bếp núc ra thì đúng là vô công rồi nghề, mà thời đại này lại không có những phương tiện giải trí như ti vi. Tuy bấy giờ phần lớn phụ nữ sau khi lấy chồng đều như vậy, song theo suy nghĩ của một người hiện đại, Dương Lăng lại cảm thấy Ấu Nương giống như đang bị cầm tù ở trong nhà.

Mỗi ngày chỉ khi nào y trở về, lúc đó nàng mới biểu lộ sự vui mừng, ngồi nhìn y ăn mà như có rất nhiều điều muốn kể, một chút chuyện nhỏ nàng cũng có thể làm cho chúng thêm thú vị mà kể hết nửa buổi. Hồi ở sơn thôn tuy gian khổ nhưng ít ra nàng còn có thể ra ngoài, giờ lại giống như chim ở trong lồng, nên ánh mắt nàng càng lúc càng thêm u ám.

Dương Lăng nhìn nàng mà cảm thấy đau lòng. Thêm vào đó là công việc của y thật sự quá bận rộn, nên y đã quyết định đưa cho nàng bộ y phục nam giới rồi dẫn đến phòng phê duyệt để giúp mình sao chép, soạn, viết văn kiện. Cũng may là Hàn Ấu Nương không giống như những cô gái khác: phụ thân nàng vốn là một tiêu đầu của tiêu cục, về sau vì mất một số tiêu lớn mà tiêu cục mới trở nên lụi bại. Cho nên hoàn cảnh gia đình nàng cũng không tệ, thuở nhỏ ở nhà nàng đã từng được dạy dỗ, đương nhiên có thể đảm nhiệm được những việc ghi chép này.

Có việc để làm, lại có thể ở cạnh phu quân mình, Hàn Ấu Nương dĩ nhiên trong lòng vui phơi phới. Dương Lăng "công tư phân minh", mặc dù mọi người trong phòng đều biết đó là nội nhân (vợ) của Dương sư gia, song y lại chỉ nói là mời nàng đến giúp đỡ, vì thế tiền lương cứ theo quy định mà trả. Chỉ có điều người y thuê riêng thì phải do y phát lương cho nên Dương Lăng cũng theo lề thói ở đây, cái nào đã nên ăn chặn thì bỏ hết vào hầu bao không thiếu một xu.

Vì Dương Lăng là do cá nhân Huyện thái gia mời, không có phẩm cấp nên bổng lộc mỗi tháng chỉ có ba thạch, tương đương với sáu chỉ bạc. Số tiền này là do Huyện thái gia chi trả. Bổng lộc hàng tháng của Huyện thái gia là ba lạng bảy chỉ, đủ nuôi sống một gia đình già trẻ. Để trả thêm cho trợ tá, phó sư gia, người hầu hay kiệu phu, nếu Mẫn huyện lệnh không xén bớt chút tiền thuế thì cả gia đình lão phải gặm đất mà ăn.

Trên quan trường gọi loại "tạm giữ" hợp lý này là "hoả hao" (*), dựa theo sự lý giải của Dương Lăng thì đó chính là: trên có chính sách, dưới có đối sách. Trước đây khi xem tiểu thuyết, đọc đến đoạn quan viên đời nhà Minh tham ô sáu mươi lạng bạc trắng, Chu Nguyên Chương liền thi hành cực hình lột da nhồi rơm. Nhưng đám quan lại tham ô đó vẫn không chừa, hết kẻ này đến kẻ khác lần lượt kéo nhau lên đoạn đầu đài, lúc đó y cảm thấy rất khó hiểu. Hôm nay bản thân tự trải nghiệm, y mới biết được tuy thật có tham quan, nhưng cho dù là thanh quan đi nữa thì việc giữ lại một số tặng phẩm cũng là chuyện cần làm. (*: vốn chỉ phần bạc hao hụt trong lúc đúc chảy bạc nén.)

May mà những quan viên này về sau đã tự hình thành nên một thông lệ: cái nào thuộc về tham ô, cái nào thuộc về quà biếu tự nhiên đã trở thành một hệ thống nằm ngoài triều cương mà quan viên trên dưới đều tự động tuân thủ. Có Hoàng lão chỉ điểm, Dương Lăng cũng vững tâm mà cất lấy phần mình.

Mai là ngày mùng một Tết. Có lẽ là do tâm tình mà rõ ràng là khí trời vẫn còn ẩm lạnh, nhưng đi trên đường lại không cảm thấy giá rét như mọi ngày. Gần xa đã nghe thấy những tiếng pháo nổ đì đùng.

Ngày mai nha môn huyện không phải đi làm, cho nên mãi đến tận khuya Dương Lăng mới xử lý xong đống công văn, rồi cùng với Hàn Ấu Nương rời khỏi huyện nha. Mọi nhà đều đã treo đèn lồng đỏ ở trước cửa, ngay cả những nhà ngày thường rất tiết kiệm, không dám dùng mà hôm nay cũng đã châm nến treo đèn lồng từ sớm.

Thời này, nữ nhân không được đi trước hoặc sóng bước ngang hàng cùng trượng phu, cho nên Hàn Ấu Nương vẫn theo quy củ đó mà đi sau nửa bước. Dương Lăng thấy lúc này trời đã tối đen không gây chú ý nhiều, hơn nữa Hàn Ấu Nương lại đang mặc đồ nam, vì thế y cố ý đi chậm lại, rồi thừa dịp nàng không chú ý, nắm lấy tay nàng.

Hàn Ấu Nương giật mình, ngượng chín cả mặt, cố giãy tay mấy cái mà không thoát. Đỏ mặt, nàng cúi đầu khẽ trách:
- Tướng công, chàng...

Dương Lăng quay đầu lại, nở một nụ cười ấm áp rồi nhẹ nhàng nói:
- Ngày mai hãy lên phố mua sắm chút đồ Tết, còn đêm nay chúng ta đến tửu quán ăn chút gì đó đi! Đi thôi!
Nói đoạn y kéo Hàn Ấu Nương đi thẳng tới một tửu điếm nho nhỏ mà y đã từng đến một lần.

Dương Lăng là một kẻ thích chỗ quen, ghé qua một lần mà cảm thấy khẩu vị dùng được thì sẽ lười tìm một quán khác, lúc muốn thay đổi khẩu vị, cũng cứ thẳng tiến đến chỗ đó. Hàn Ấu Nương trong lòng tuy có chút bất an, nhưng nàng biết tướng công của mình hiền lành tử tế, cộng với sắc trời đã tối đen, người khác cũng sẽ không nhìn rõ mặt nên để mặc cho y nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn rồi ngoan ngoãn bước theo.

Lúc Dương Lăng và Hàn Ấu Nương rời khỏi tửu điếm thì đêm đã rất khuya, trên bầu trời chi chít ánh sao, những bông tuyết mềm mại rơi lất phất làm cho khuôn mặt vốn đã ấm lên vì rượu của y cảm thấy hết sức thoải mái.

Dương Lăng mặt mày phấn khởi, kéo tay Hàn Ấu Nương dạo bước trong thành. Tuy cả hai đều không nói lời nào, chỉ cần tay trong tay thôi thì trong lòng đã trào dâng một cảm xúc rất đặc biệt.

Đứng ở lỗ châu mai trên tường thành, Dương Lăng vốc lấy một nắm tuyết, vo lại thành một quả cầu rồi dùng hết sức ném mạnh nó vào trong màn đêm mịt mờ phía ngoài thành. Chẳng qua vì thân thể gầy còm, ít tập luyện nên lần này hơi dùng sức khiến cho cơ bắp y đau nhức một chút. Binh sỹ đi tuần qua lại nhiều làm tuyết bị đạp mòn nên mặt đất rất trơn, suýt nữa thì y bị ngã. Hàn Ấu Nương kinh hãi, vội bước tới bên cạnh đỡ lấy, giúp cho y lấy lại thăng bằng, rồi vừa thở ra một hơi vừa cười trách móc:
- Tướng công, xem chàng kìa, làm sao mà lại như một đứa trẻ như vậy chứ? Cẩn thận kẻo ngã đấy!

Dương Lăng xoay người lại, vuốt nhẹ gò má bóng mịn săn chắc của nàng rồi nhẹ giọng âu yếm:
- Nàng mới là một đứa trẻ con chưa lớn đó.

Hàn Ấu Nương bĩu môi không chịu rồi thẳng người lên. Thấy nét thơ ngây vẫn còn trên khuôn mặt nàng và đôi mắt dịu dàng ấy, con tim Dương Lăng liền đập thình thịch. Lúc này y mới phát hiện rằng y và nàng đã càng ngày càng trở nên thân thiết, y đã quen được nàng thầm lặng ở cạnh bên chăm sóc cho, y đã quen thân mật cùng nàng. Nếu một ngày bỗng nhiên y hồn về nơi chín suối, lúc đó chẳng phải sẽ khiến cho nàng càng thêm thương tâm lắm sao?

Nhưng nếu bây giờ đối xử lạnh lùng, Dương Lăng làm sao chịu được những dòng lệ của nàng? Thật sự bây giờ còn quá đột ngột để nói với nàng rằng một ngày nào đó y sẽ chết, nàng phải tự lo cho bản thân. Mà cũng không cách nào nói ra được, y chỉ biết ngây ngốc đứng nhìn Hàn Ấu Nương, chẳng biết phải nên nói những gì.

Khuôn mặt trái xoan của Hàn Ấu Nương bỗng chợt càng lúc càng nóng dần. Dưới ánh nhìn bởi cặp mắt sáng rực như sao mai của Dương Lăng, nhất là trong người y vẫn còn hơi rượu, dĩ nhiên Hàn Ấu Nương sẽ hiểu lầm ý của y, trong lòng nàng bất giác vừa sợ hãi lại vừa vui sướng đến nỗi cả người hoảng loạn, run rẩy.

Ngay vào lúc này, từ trong đôi mắt đen láy của Hàn Ấu Nương, Dương Lăng đột nhiên nhìn thấy một cột lửa loé sáng. Hàn Ấu Nương lúc này cũng tròn mắt kinh hãi nhìn qua vai Dương Lăng, ngây người nhìn chăm chăm về phía xa chân trời.

Dương Lăng lập tức quay đầu lại. Hai đầu phía đông và phía tây tường thành mỗi đầu đều có một toà phong hoả đài, mà giờ đây phong hoả đài ở phía đông tường thành đã được nhóm lên, lửa cháy bừng bừng. Ở phía xa, nơi tường thành uốn lượn kéo dài vào tận trong rừng sâu còn có mấy ánh lửa lập loè.

Y lại nhìn sang hướng tây, ngay đúng lúc đó, phong hoả đài ở phía này cũng nổ ầm một tiếng rồi cháy bùng lên, thế lửa mãnh liệt. Rất nhanh sau đó phong hoả đài ở hướng tây nơi triền núi cũng được châm sáng, truyền tiếp tới nơi ở xa hơn.

Dương Lăng há hốc mồm, mãi một lúc sau mới quay lại nhìn Hàn Ấu Nương, hai cặp mắt không hẹn mà cùng mang đến một tin: "Thát Tử đã kéo đến!"

Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

TheJoker
22-06-2010, 01:15 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 19: Lão huyện lệnh điên

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: TheJoker

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Dương Lăng đứng ở một bên trợn mắt há miệng mà nhìn. Nói thật, mấy ngày nay ngày nào cũng thay Mẫn huyện lệnh xử lý sự vụ lớn nhỏ, Mẫn huyện lệnh giống như là con rối, cho nên tuy là cảm kích ân tri ngộ của lão ta, nhưng tự đáy lòng y lại xem thường lão, không ngờ lúc này lão lại xử lý chiến sự đâu vào đấy.


Tuy chưa từng tận mắt thấy lửa hiệu nhưng đã nghe nói rất nhiều lần về nó, đương nhiên Hàn Ấu Nương hiểu được việc châm lửa phong hoả đài đại biểu cho cái gì. Ấn tượng của nàng về sự hung tàn và dã man của Thát Tử cũng giống như cái nhìn của người thời nay về phát xít Nhật: đều là một bầy dã thú khát máu.

Dương Lăng thì ngạc nhiên hơn là khiếp sợ. Do ảnh hưởng bởi vô số phim ảnh và kịch truyền hình ở hậu thế, trong tưởng tượng của y, cái gọi là Thát Tử đều là những chiến sĩ Mông Cổ bộc trực mạnh mẽ, vừa mến khách lại vừa hào sảng, có lẽ chiến đấu rất dũng mãnh. Nói gì đi chăng nữa thì không phải là bọn xâm lược mất hết nhân tính được.

Chẳng là lúc này triều đình hai bên còn đang đối địch, y sẽ không ngây thơ cho rằng không may bọn họ tấn công vào được trong thành thì sẽ tha cho mình, bèn vội vàng kéo tay Hàn Ấu Nương tức tốc chạy về nha môn.

Lúc này cổng thành đóng chặt, cư dân trong thành đã sớm vì lửa hiệu mà nháo nhào đổ ra ngoài. Chuyện tiểu vương tử Thát Đát Bá Nhan Mãnh Khả kéo quân tập kích biên giới đã không phải là lần đầu, nhưng đa phần bọn chúng không dám đánh thẳng vào quan ải như Kê Minh này. Đối với những thành trì tương đối to lớn như vầy, bọn chúng sẽ không đủ năng lực mang theo các loại khí giới công thành đi một khoảng đường xa chỉ để cướp bóc; Thát Tử sẽ không chấp nhận thương vong lớn chỉ để công thành.

Thông thường thì chiến tranh quy mô nhỏ sẽ không dùng đến phong hoả đài để truyền tin. Nhưng tình hình đêm nay có vẻ hơi đặc biệt, dường như có quan ải đã bị công kích trực tiếp, những người dân này há không cảm thấy lo sợ?

Mẫn huyện lệnh tuy làm quan huyện ù ù cạc cạc, nhưng dẫu gì vẫn xuất thân quân nhân, vừa nghe được tin tức Thát Tử đến liền vội vàng từ trong hậu sảnh chạy ra ngoài, thậm chí y phục cũng chưa kịp mặc chỉnh tề.

Quân trú đóng nơi đây chỉ có hai trăm sáu mươi người, do hai bả tổng (*) thống lĩnh. Dựa theo quy củ của triều Minh, một khi phát sinh chiến sự, quan hành chính tối cao ở địa phương đó sẽ phụ trách toàn bộ hoạt động quân sự, sĩ quan quân đội không có quyền độc lập chỉ huy. Do đó bây giờ Mẫn huyện lệnh còn trở thành tư lệnh phòng ngự chiến khu. (*: võ quan trấn thủ)

Đây vốn là nghề cũ của Mẫn huyện lệnh, cho nên một mặt lão lập tức phái thám mã liên lạc với mấy trạm dịch gần nhất thăm dò thêm tin tức, một mặt phái người mau chóng thúc ngựa quay về Phủ thành điều binh, lại đồng thời phái người báo tin cho Mã dịch thừa, yêu cầu toàn bộ nhân viên quân dịch phân phát đao thương, chuẩn bị lên thành chi viện khi có yêu cầu.

Dương Lăng đứng ở một bên trợn mắt há miệng mà nhìn. Nói thật, mấy ngày nay ngày nào cũng thay Mẫn huyện lệnh xử lý sự vụ lớn nhỏ, Mẫn huyện lệnh giống như là con rối, cho nên tuy là cảm kích ân tri ngộ của lão ta, nhưng tự đáy lòng y lại xem thường lão, không ngờ lúc này lão lại xử lý chiến sự đâu vào đấy.

Văng nước miếng tứ tung điều khiển tất cả xong xuôi, Mẫn huyện lệnh mới thở ra một hơi. Chỉnh đốn lại quan phục, lão chạy ra phía sau quát lớn:
- Khôi giáp, đại đao của lão tử đâu, mau lấy ra đây!

Nói đoạn xoay đầu liếc Dương Lăng và Hàn Ấu Nương đang đứng sau lưng, cười nói:
- Mẹ nó, năm nay sợ là không dễ qua rồi. Cái đám Thát Tử này tranh thủ đến cướp ngay trước đêm giao thừa, chắc là do đông năm nay tuyết lớn làm chết quá nhiều dê bò, bọn chúng mà không vét cho đủ ăn đủ dùng thì sẽ chẳng bỏ đi đâu.

Lúc này hai tên gia bộc, một tên bê bộ tỏa tử giáp (1), một tên vác thanh đại đao chạy ra. Vì đây là huyện bậc ba, điều kiện gian khổ, Mẫn huyện lệnh chưa mang theo vợ con bên người, cho nên ngày thường hầu hạ lão là mấy tên gia bộc này.

(1) áo giáp hợp lại bằng những vòng kim lại xen vào nhau, còn gọi là giáp xích (xem hình http://imgsrc.baidu.com/baike/abpic/item/0b07ec1f7eda1b53f724e421.jpg)

Cũng không xem mình như người ngoài, Mẫn huyện lệnh cởi luôn áo bào quan văn, thay y phục ngay tại đại sảnh. Hàn Ấu Nương thấy vậy vội vàng lui sang phòng bên để tránh dị nghị. Giáp trụ chỉnh tề xong, Mẫn huyện lệnh khoác chiếc áo bào quan huyện lên lại, rồi chộp lấy thanh đại đao từ tay gia bộc.

Thanh đao đó e phải nặng đến bốn mươi cân. Mẫn huyện lệnh nâng đao một tay, cổ tay vừa xoay, thanh đại đao nặng trịch trong tay xoay tít một trận, sau đó chém uỳnh xuống đất, khiến cho gạch xanh trên mặt đất vỡ văng tung toé. Dương Lăng trong lòng rúng động, mặc dù biết Mẫn huyện lệnh này xuất thân võ quan, nhưng y không ngờ lão ấy lại có thể sử dụng binh khí nặng như vậy.

Mẫn huyện lệnh cả người vận đồ huyện thái gia, cánh chuồn trên mũ vẫn còn lắc lư mỗi khi đi tới đi lui, nhưng lại vác theo một thanh đại đao sắc bén, trông chẳng ra ngô ra khoai. Lão cũng chẳng chút bận tâm, uy phong lẫm liệt quay ra ngoài sảnh quát:
- Đi! Theo ta lên tường thành!

Một đám nha dịch trong sân tuần tự chạy đến ứng tiếng reo hò, đám người đông đảo rầm rộ xông ra ngoài. Dương Lăng cũng chạy theo ra khỏi nha môn. Bốn chiếc đèn lồng đỏ treo trước cửa nha môn nhẹ lay trong gió tuyết. Lúc này tuyết đã rơi dày hơn, bông tuyết bay lả tả. Đất trời mênh mông, mù mịt.

Mẫn huyện lệnh dẫn theo một đám người đeo đao cầm thương, sải bước xông lên đầu thành (*). Khắp trên các đường phố, dân chúng chạy tán loạn như kiến bò trên chảo nóng; bọn họ cũng chẳng có thời gian để tâm. (*: lầu trên tường thành)

Trên cổng thành phía nam, gần trăm quan binh đang căng thẳng chăm chú nhìn xuống dưới thành. Cổng thành này nằm trấn ngay trên đường quan đạo thông nam bắc, hai cổng đông, tây giáp núi, không thích hợp cho ngựa chiến chạy. Cho dù Thát Tử đến tấn công cũng sẽ khó điều động kỵ binh để công vào hai cổng đông, tây, có thể nói là tương đối an toàn, cho nên mỗi nơi chỉ phái bảy mươi quan binh đóng giữ, do một bả tổng cưỡi ngựa đi lại để tuần tra.

Bả tổng ở cổng thành phía nam đang đứng trên đầu thành quan sát ở phía dưới, mắt thấy huyện thái gia tự thân dẫn người đến thì vội chạy lại, quỳ một gối, hai tay ôm quyền nói:
- Ty chức Giang Bân tham kiến Mẫn đại nhân.

Mẫn huyện lệnh phất tay:
- Miễn đi! Giang bá tổng, Thát Tử đến rồi à?

Giang Bân nhe răng cười, rồi thưa:
- Đại nhân, ánh đèn không soi được đến chân thành nên nhìn không rõ lắm. Có điều từ số đuốc không nhìn rõ của bọn Thát Tử thì ít nhất không dưới trăm tên. Nhưng đại nhân cứ yên tâm, có ty chức ở đây, bọn chúng sẽ không công lên nổi đâu.

Dương Lăng quan sát kỹ người gọi là Giang bả tổng này. Vị Giang bả tổng này tướng mạo cực kỳ anh tuấn, trông cũng phải ngoài hai mươi, vóc người tráng kiện, thần thái nhanh nhẹn dũng mãnh, tựa hồ chẳng chút để tâm đến Thát Tử.

Dương Lăng không khỏi thầm gật gù. Trong ấn tượng trước đây của y, tất cả binh sĩ Đại Minh đều rất nhu nhược, bằng không thì hoàng đế Đại Minh thân chinh thống lĩnh năm mươi vạn đại quân đã không bị thái sư Dã Tiên của Ngoã Lạt dẫn mười vạn đại quân đánh cho tan tác, thậm chí ngay cả hoàng đế cũng bị bắt sống. Y còn cho rằng quan viên Đại Minh khi vừa nghe đến cái tên Thát Tử thì sẽ sợ tái mặt, không ngờ ở đây, một vị huyện thái gia, một vị bả tổng thủ thành lại có dũng khí như vậy.

Mẫn đại nhân cười ha hả, bảo:
- Đi, đi, lên trên xem nào!

Đám người bọn họ bước lên đầu thành, vịn vào ụ thành nhìn xuống, chỉ thấy phía dưới tối om, hơn trăm bó đuốc di động khắp nơi, dưới thành vọng lên những tiếng la hét kỳ quái. Chính giữa thông lộ dưới thành, ngoài một tầm tên, tập trung hơn hai mươi bó đuốc, soi thấy mấy bóng người đang ở phía xa hướng lên trên thành hét hò gì đó. Mẫn đại nhân cười nhạt nói:
- Chỉ trên trăm tên ít ỏi đã muốn chiếm được Kê Minh dịch của ta sao?

Giang Bân chỉ tay về phía hướng đông đằng xa nói:
- Đại nhân, thám mã khi nãy phái đi bị Thát Tử bắn chết một người, người quay về bẩm báo rằng bên phía Nhị Lý Bán có tiếng quân sĩ giáp chiến rền trời, chắc hẳn Thát Tử đang tấn công nơi đó.

Nhị Lý Bán, Ngũ Lý Đài và Tuần La Phố là những quan ải gần nhất quanh Kê Minh; nhưng nếu muốn tiến thêm một bước công kích ải Cư Dung thì nhất định phải từ Kê Minh Dịch đánh vào. Cho nên Mẫn đại nhân vừa nghe mũi chủ công của Thát Tử là nhằm vào Nhị Lý Bán liền hiểu ra rằng lần này bọn chúng lại vì không chịu nổi mùa đông giá rét, đã xem Đại Minh như nhà kho của mình mà kéo đến cướp bóc lương thảo.

Cho nên mục đích của bọn Thát Tử dưới thành chín phần mười là chặn cổng thành, đề phòng trong thành phái viện binh đi cứu Nhị Lý Bán. Đã hơn hai năm không động đao thương, hai tay Mẫn Văn Kiến đã ngứa ngáy lắm rồi, nên vừa thấy bên dưới Thát Tử phi ngựa quanh tường thành la hò những câu vô nghĩa thì sướng rơn. Lão quay đầu bảo Giang bả tổng:
- Giang bả tổng, chuẩn bị cho ta một thớt chiến mã, phái bốn mươi người theo ta ra ngoài thành đánh lui bọn Thát Tử.

Giang bả tổng cũng đã sớm muốn xuất chiến một trận, chẳng qua chưa có mệnh lệnh của thượng quan nên không dám vọng động, nên vừa nghe phân phó thì lập tức mừng rỡ, vội quát thủ hạ:
- Người đâu, dắt hai con chiến mã đến đây, cung thủ trên thành chuẩn bị! Lưu, Lý, hai vị đồn trưởng hãy dẫn quân theo đại nhân và ta xuất chiến!

Dương Lăng thấy bọn họ chỉ dẫn bốn mươi người đã dám xuất thành thì rất đỗi kinh ngạc. Vương bộ đầu ở cạnh bên vốn là thân binh của Mẫn đại nhân lúc còn trong quân đội, thấy vẻ mặt kinh ngạc của Dương Lăng thì cười ha hả nói:
- Xem ra Dương sư gia chưa thấy qua thần dũng của Mẫn đại nhân rồi. Đại nhân vốn là Thiên tổng dưới trướng của quan tổng binh Đại Đồng Đỗ đại nhân, võ nghệ siêu quần. Trước đây khi tiêu diệt sơn tặc, đại nhân chỉ dẫn nhân mã một đồn thì đã giết cho hơn trăm tên sơn tặc của Ngưu Đầu sơn phải trốn lủi vào trong rừng. Lần này nhất định sẽ kỳ khai đắc thắng (thắng ngay trận đầu).

Hai kỵ binh và bốn mươi tiểu binh xông ra thành nghênh chiến với những kỵ binh Thát Đát cưỡi chiến mã to lớn đó? Trong lòng Dương Lăng có chút bất an, song ngẫm lại, cây đại khảm đao nặng bốn mươi cân bị Mẫn huyện lệnh sử dụng dễ dàng như không, mà đại đao này lúc vung lên nào chỉ một, hai trăm cân; một thân võ nghệ đó hiển nhiên là bất phàm, cho dù địch không lại có lẽ cũng sẽ không gặp nguy hiểm gì, lúc này y mới có chút yên tâm.

"Két két", cổng thành bên dưới đã mở ra. Tòa thành nhỏ này không hề có luỹ hào bảo vệ, cũng không có cầu treo. Trên thành, hai mươi tay cung thủ giương cung lắp tên, thủ thế đợi sẵn. Dưới thành Mẫn đại nhân cùng Giang bả tổng dẫn bốn mươi quan binh xông ra khỏi thành.

Trong bốn mươi tay tiểu binh có hai mươi đao thuẫn binh, hai mươi trường thương binh, phân ra hai bên tạo thành hình cánh nhạn. Giang Bân ghì cương chiến mã, đang muốn lớn tiếng kêu gọi bọn Thát Đát cách một tầm tên đầu hàng, thì Mẫn đại nhân đang một tay cầm cương, tay cầm đại đao thong thả đi trên đường đột nhiên hét lên một tiếng rồi quát lớn:
- Đầu lĩnh quân giặc xâm phạm biên giới hãy mau đến đây chịu chết dưới đao của ta, xông lên!

Nói đoạn vung đao qua đầu đánh vù một tiếng, hai chân thúc ngựa phóng như bay về phía hơn chục tên Thát Đát khoác nghiêng da thú, lưng đeo cung tên ở phía trước.

Giang Bân mắt thấy mà trợn ngược. Y biết vị Mẫn đại nhân này vốn là một Thiên tổng nổi tiếng dưới trướng tổng binh Đại Đồng Đỗ Nhân Quốc. Đỗ tổng binh xưng là Đỗ Phong Tử (*), khi lâm trận giết địch chẳng màng đến mưu lược chiến trận gì, càng chẳng biết gì về phối hợp nhiều loại binh chủng, thông thường địch ta đôi bên vừa chạm trán liền đều lập tức dẫn quân ùa vào đánh như ong vỡ tổ, thành một vòng hỗn chiến. Tay lão cầm một thanh đại khảm đao sống dày nặng sáu mươi cân, chưa mấy ai có thể ngăn được lão ta, quả đúng là "người cản giết người, phật cản giết phật." Có điều hai quân đối chiến thì không phải cứ cá nhân làm ra vẻ anh hùng là đã có thể quyết định được thắng bại. Lão ta tuy là hiếu chiến, tự tay giết chết Thát Đát rất nhiều, nhưng lúc nào cũng đều là thua nhiều thắng ít, mỗi khi bại trận thì lấy đao chém vào khôi giáp để phát tiết. Không ngờ tác phong vị Mẫn huyện lệnh này lại giống với tổng binh đại nhân của lão ấy như đúc. (*: lão Đỗ điên)

Giang Bân cuống cả lên, nếu Mẫn huyện lệnh mà có mệnh hệ gì thì y có mười cái đầu cũng không đủ chém, thế là lúc này cũng bất kể thủ hạ đều là bộ binh, lập tức vung đao quát lớn:
- Theo đại nhân, giết cho ta!

Giang Bân này khoẻ hơn người, lại giỏi thuật cưỡi ngựa, sử dụng hai thanh trảm mã đao dài ba thước, hai tay cầm đao, chỉ dùng chân để điều khiển ngựa, điên cuồng đuổi theo huyện thái gia Mẫn Văn Kiến.

Bốn mươi tiểu binh thấy vậy đành phải ra sức đuổi theo sau đít ngựa. Đêm khuya đường trơn, tuyết phủ dày đặc, trong khoảnh khắc đã không còn bóng dáng đội hình gì nữa, trở thành một đám binh lính mất chỉ huy.

Trái lại, Huyện thái gia cưỡi một con ngựa tốt, nên chỉ trong chốc lát đã chạy hết khoảng cách một tầm tên. Lão thả lỏng dây cương, hai tay nhấc đao, như một cơn lốc đánh thốc về phía gã thanh niên tầm hai mươi tuổi đang được đám người vây quanh. "Cầm tặc tiên cầm vương" (*), vị huyện thái gia nghèo chữ này vẫn biết cái đạo lý đấy. (*: Bắt giặc trước hết bắt vua)

Dưới ánh lửa của ngọn đuốc, gã thanh niên đó vận một chiếc áo khoác bằng da hổ, vai đeo cung, tay cầm một thanh trường thương vắt ngang qua yên ngựa. Sứ mệnh của hắn chính là gây rối trú quân trong thành, hù doạ bọn họ, ngăn không cho bọn họ xuất thành cứu viện quan binh của trạm dịch Nhị Lý Bán. Nhiệm vụ này có thể nói là hết sức nhẹ nhàng.

Vừa đến dưới chân thành, hắn liền phân phó thủ hạ mỗi người cầm hai bó đuốc, phi ngựa khắp các khu đất xung quanh, phô trương thanh thế để doạ dẫm, còn bản thân hắn thì đứng ở chỗ này lớn tiếng chửi mắng. Trước đó hắn cũng đã biết sơ về quân thủ thành ở nơi này, ước đoán rằng quân phòng thủ trong thành không nhiều, chủ quản huyện lị lại là quan văn, dưới thanh thế như vậy tuyệt sẽ không dám ra thành nghênh chiến, cho nên đã có chút lơ là.

Cũng phải nói là hắn xui xẻo, hôm nay đụng phải lão huyện lệnh điên dưới trướng của lão tổng binh Đại Đồng điên, không những ra thành nghênh địch mà còn đơn thương độc mã nhào tới đánh. Vì vị tướng lĩnh Thát Đát này đứng cách cổng thành một tầm tên, mà binh sĩ thủ hạ Mẫn Văn Kiến vừa ra khỏi thành liền lao vào đánh, thậm chí đuốc cũng chưa châm, cho nên đứng ở đây hắn không hề hay biết quan binh đã rời thành. Tuy là Mẫn huyện lệnh có lớn tiếng quát ở dưới thành, nhưng vì khi đó hắn cũng đang rống họng chửi mắng quan binh trên thành cho nên không có nghe thấy, còn cho rằng quan binh Đại Minh trên thành đang chửi lại.

Lúc này tuyết rơi ngập trời, Mẫn huyện lệnh cưỡi ngựa đen, vận chiếc quan bào màu xanh, hoà cùng một khối với màn đêm. Vó ngựa tuy nhanh nhưng khắp nơi đều là kỵ binh Thát Đát đang thoả sức phóng ngựa phô trương thanh thế, cho nên bọn chúng lại càng không để ý. Mãi đến khi Mẫn huyện lệnh xông đến trước mặt, hai tay giơ đao, đánh thẳng vào trong đám người, thì lúc này, thấp thoáng dưới ánh lửa của hơn chục bó đuốc, bọn chúng mới nhìn rõ được kẻ này là người của Đại Minh.

Một bên thì không chút chuẩn bị, một bên thì phóng ngựa như bay, đến lúc phi đến gần thì gã thanh niên khoác áo da hổ đó mới kinh hãi trợn tròn đôi mắt. Chỉ thấy trước mặt một người đang cưỡi ngựa phóng đến, người trên lưng ngựa vận áo bào quan văn Đại Minh, thấy rõ trước vạt chiếc quan bào đó thêu một con chim nhỏ màu vàng đang giương cánh. Trên đầu người này còn đội một chiếc mũ ô sa, hai cánh chuồn lập loè lắc lư hết cỡ, song nhờ tính đàn hồi cực tốt mà vẫn chưa bị đứt rời.

Vị quan văn trên ngựa này mặt đen xì xì, cặp mắt bé xíu trợn tròn, râu quai nón đầy cả mặt, hai tay giơ cao lên trời, tạo nên một tư thế kỳ quái.

Ngựa phi nhanh như chớp, mấy chục tên Thát Đát nhất thời không kịp phản ứng, đến khi hai cánh tay ở tư thế quái dị đó nhằm vào vai đeo khố của gã thanh niên vận hổ bào bổ mạnh xuống, thì lúc này, dưới những ánh lửa rọi sáng một khoảng trời, bọn chúng mới phát hiện trong tay vị quan văn Đại Minh này đang cầm một thanh đại khảm đao sắc bén.
Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 [/QUOTE]

TheJoker
23-06-2010, 11:22 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 20: Huyện thừa gầm thét

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: TheJoker

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Hoàng huyện thừa nghe xong liền đập bàn giận dữ mắng:
- Khốn khiếp! Đồ con lừa! Thật đúng là tên điên!

Dương Lăng nghẹn họng, không biết lão đang chửi mình hay là đang chửi Mẫn huyện lệnh.


Mượn sức khoái mã vọt tới, thanh đại khảm đao nặng hơn bốn mươi cân xé gió vù vù khuấy cho tuyết trắng bay tán loạn đầy trời. Ngựa đến đao bổ, thanh niên kia đã không còn tránh kịp. Khi hắn còn đang sợ hãi, mới nhấc cán thương lên khỏi yên ngựa thì lưỡi đao đã chém chéo xuống.

Một cột máu tươi bắn lên, chiếc đầu không biết đã lăn về phía nào. Một đao này chém từ cổ bên phải xuống đến tận sườn trái, xẻ mất nửa thân người, nửa bờ vai cũng không thấy đâu. Trong cơn mưa máu, phần còn lại của cái thân thể không đầu lắc lư mấy cái rồi ngã nhào xuống ngựa.

Đại đao lóe lên, quay vòng vòng trong tay Mẫn huyện lệnh nhẹ như không. Bó đuốc trên tay đối phương chính là mục tiêu rõ ràng nhất, lão vung đao, trái đâm, phải quét, liên tục bổ, chém. Dù sao chung quanh cũng đều là kẻ địch, do đó lão chém giết mà không hề e dè.

Những kẻ này đều là anh hùng trên lưng ngựa, vốn sẽ không phản ứng chậm như vậy, có điều khi thấy thanh niên mặc hổ bào ở giữa vừa đối mặt liền bị Mẫn Văn Kiến chém chết thì bọn chúng đã bàng hoàng. Sự bàng hoàng này tuy chỉ diễn ra trong chốc lát, nhưng đại đao của Mẫn huyện lệnh đã chém chết năm tên.

Lúc này những tên khác mới hét lên một tiếng, nháo nhào phóng ngựa tháo chạy, đồng thời ném đuốc về phía Mẫn huyện lệnh. Mẫn huyện lệnh vung đao gạt những bó đuốc ra, hăng say chém giết, còn lớn tiếng cười phóng ngựa đuổi theo không tha.

Giang Bân ở phía sau thấy vậy hốt hoảng la lớn:
- Mẫn đại nhân, hãy mau trở lại!

Mẫn Văn Kiến cũng chả thèm để ý, đuổi theo một bóng đen ở phía trước, quát to một tiếng, vung đao bổ xuống. Chỉ thấy tên đó đột nhiên ghìm cương, con ngựa tung hai vó trước, hí lên một tràng. Một tiếng “keng” vang lên, Mẫn huyện lệnh cảm thấy hai cánh tay tê rần, không khỏi trừng mắt khen:
- Khí lực thật mạnh!

Tên tướng lĩnh Thát Đát đó có nỗi khổ không thể nói ra. Vũ khí mà hắn sử dụng chính là Tam Cổ Thác Thiên Xoa (đinh ba), toàn thân bằng thép, luận về cân nặng không hề kém đại đao của Mẫn Văn Kiến, luận về lực cánh tay lại càng mạnh hơn. Nhưng Mẫn Văn Kiến là vung đao bổ thẳng, còn hắn là đỡ vội, cho nên mặc dù khí lực của hắn mạnh hơn ba phần, lần này hai tay vẫn bị chấn đến tê rần. Đại đao của Mẫn Văn Kiến tuy bị mẻ một miếng, nhưng cây xoa của hắn cũng đã bị chém cong queo.

Tên này quyết đoán kịp thời, lập tức trở tay phóng mạnh cây xoa đã bị chém cong vào người Mẫn Văn Kiến, sau đó giật cương, rạp người thuận theo quan đạo phi như tên bắn về phía trước, đồng thời lấy cung đeo trên lưng xuống.

Mẫn Văn Kiến vung đao gạt văng cây Thác Thiên Xoa, đang định tiếp tục truy đuổi thì ở mặt bên đột nhiên xông ra một thớt ngựa. Tên trên ngựa cầm thương đâm tới, may nhờ những cây đuốc trên mặt đất còn chưa tắt hẳn, vừa nhác thấy tên đó, không kịp ngả người tránh, Mẫn huyện lệnh vội đưa đao lên đỡ, gạt cây thương ra.

Ngay sau đó, phía bên phải vang lên một tiếng hét, một thanh trường đao vụt chém tới. Mẫn Văn Kiến đỡ trái thì lại hở phải, ba người giáp chiến tạo thành một vòng tròn. Lúc này tuyết lớn mịt mù, hoàn toàn phải dựa vào vài cây đuốc còn chưa tắt trên mặt đất để soi sáng, cho nên bọn họ đều rất cẩn thận, không ai dám áp sát vào.

Kỵ binh Thát Tử xa gần đã phát hiện thủ lĩnh bị tập kích, bèn nhao nhao hò hét xông đến. Cũng may trời quá tối, lại có hai tướng lĩnh Thát Đát đang cùng lão loạn chiến, nên bọn người Thát Đát kia không thể phát huy sở trường cưỡi ngựa bắn cung. Bằng không, cho dù có một thân võ nghệ thì Mẫn huyện lệnh cũng khó tránh bị bắn thành con nhím rồi.

Lúc này Giang Bân đã phóng ngựa đến phía trước, cổ tay rung lên, hai thanh mã đao xảo diệu vung ra tạo thành hai đóa hoa đao. Hai chân móc chặt vào bàn đạp, y nhổm người dậy, song đao như gió táp mưa sa giao thủ với tên Thát Đát cầm thương hơn chục hiệp, bức lui hắn, sau đó lập tức quay về phía Mẫn Văn Kiến hét lớn:
- Đại nhân, một khi đuốc tắt chúng ta sẽ bị vây ở ngoài thành đó! Hãy mau về thành!

Mẫn Văn Kiến ngẩn người, vung đại đao lên, chạm với đao của tên nọ làm xẹt lên một loạt tia lửa, đoạn quay đầu ngựa nói:
- Nói đúng lắm, chúng ta về thành!

Hai người quay đầu ngựa, mở đường máu về thành. Chung quanh hơn chục tên Thát Đát cầm đao, thương không ngừng quấn lấy. Mẫn Văn Kiến cũng không biết một đao bất ngờ vừa rồi lại có thể giết chết Húc Liệt Bột Tề, con trai thứ hai của tiểu vương tử Thát Đát Bá Nhan Mãnh Khả, lúc này mắt thấy bốn bề là kỵ binh Thát Đát ùn ùn liều mạng xông tới, nếu hai người bị vây lại thì thật sẽ không thể trở về thành, cho nên lão cũng không ham chiến nữa; vũ khí vừa chạm liền đánh bật công kích đối phương, cùng Giang Bân chém giết cướp đường quay về.

Lúc này, tên tướng lĩnh Thát Đát bị Mẫn huyện lệnh một đao chém cong cây Thác Thiên Xoa phải thảm bại bỏ chạy khi nãy cũng đã quay đầu ngựa đuổi theo. Hắn rất hận vị quan văn triều Minh này, cũng chẳng thèm quan tâm đến quan binh triều Minh đang rút về, chỉ từ xa dán mắt nhìn vào ánh sáng sắc bén loé lên lúc Mẫn huyện lệnh vung đại đao, giương cung lắp tên tìm cơ hội.

Vừa mới chạy được nửa đường, nhác thấy huyện thái gia và bả tổng đánh ngược trở về, bốn mươi tay binh sỹ lập tức quay đầu lao về phía cổng thành, bốn bề kỵ binh Thát Đát không ngừng truy đuổi. Chỉ tội cho mấy tay đao thuẫn binh, lúc này có thể nói là đã mất sạch đội hình, lại không có trường thương binh phối hợp, căn bản không chống nổi thiết kỵ của bọn người Thát Đát quá hai hiệp, trong nháy mắt đã bị kỵ binh Thát Đát đuổi tới đâm chết bảy tám người.

May mà bọn họ cách thành không xa, lúc này đã nằm trong tầm bắn của cung thủ trên đầu thành. Cung thủ trên thành thấy kỵ binh Thát Đát cầm đuốc phi đến, lập tức bắn tên như mưa, bức lui bọn chúng.

Thát Tử thấy vậy, lần lượt dừng ngựa, gác binh khí, rút cung tên sau lưng ra bắn theo. Tuy phía trước là một khoảng tối mù, không nhìn rõ bóng người, hoàn toàn không phát huy được kỹ thuật bắn tên của bọn chúng, song vẫn có gần mười binh sỹ trúng phải loạn tiễn, trong đó mấy người bị thương nhẹ, trên lưng còn cắm tên sắc, lảo đảo, thậm chí bò lết vào trong thành.

Mẫn huyện lệnh vừa phóng ngựa đến cổng thành thì tên quan quân Thát Đát kia thấy cơ hội sắp vuột mất, lập tức buông cung, một mũi tên bay “vút” ra. Áo giáp Mẫn huyện lệnh mặc chính là tỏa tử giáp, không sợ búa bổ đao chém, nhưng những kẽ hở giữa các móc khóa lại không thể ngăn cản tên bắn vào. Lão chỉ cảm thấy lưng chợt rung lên, đau rát; mũi tên nhọn kia đã bắn trúng vị trí dưới xương bả vai.

Một tên này bắn ra rất mạnh mẽ, móc khóa của tỏa tử giáp rất khít, vậy mà sau khi bị móc khóa chặn lại một phần đầu tên hình tam giác vẫn xuyên vào. Nếu không phải đã bị chặn lại một phần, một tên này e rằng đã xuyên thẳng vào tim.

Mẫn huyện lệnh vội cúi rạp người, thúc ngựa phóng nhanh vào trong thành. Đằng sau Giang Bân múa song đao, phóng vào như một cơn gió. Số binh sỹ còn lại ào ạt chạy vào thành, rầm một tiếng, cửa thành đã được đóng lại.

Đám người Dương Lăng lũ lượt từ trên tường thành kéo xuống. Mẫn huyện lệnh nhảy xuống ngựa mà vẫn cười ha hả:
- Quá đã! Quá đã! Mẹ nó, nếu lần này mà có một đội kỵ binh thì lão tử đã chém sạch cái đám Thát Tử này rồi.

Thấy trên lưng lão cắm một mũi tên lông chim mà mặt lại tỉnh như không, Dương Lăng trợn tròn mắt. Y vội vàng kêu lên:
- Đại phu, mau tìm đại phu, đại nhân bị trúng tên rồi!

Mẫn đại nhân phẩy tay cười nói:
- Vết thương vặt này thì nhằm nhò gì.

Nói đoạn lão bước tới trước mấy bước, đột nhiên cảm thấy choáng váng, đầu gối nhũn ra, suýt tý nữa ngã xuống đất, may mà Giang Bân thân thủ linh hoạt kịp thời bước tới đỡ lấy lão.

Mẫn đại nhân lắc lắc đầu, chửi đổng:
- Bọn chó Thát Tử đáng chết! Trên tên... có tẩm độc.

Lão vừa nói xong thì ngất đi. Lúc này mọi người ai nấy đều luống cuống tay chân, vội vàng ba chân bốn cẳng khiêng lão lên lầu gác trên tường thành để nằm sấp xuống giường.

Giang Bân cầm lấy một chiếc đèn dầu lớn ở trên bàn, xé áo của Mẫn huyện lệnh ra. Nhìn thấy đầu tên cắm vào trong kẽ hở của tỏa tử giáp, y cũng không dám rút bừa, lập tức quát lớn:
- Đại phu đâu? Mau đi tìm đại phu!

Vài người ở cạnh đó vội cuống cuồng chạy đi. Mấy vị đồn trưởng bên dưới cũng phái người đem hết mấy binh sỹ bị thương vào trong lầu gác, bố trí nằm trong một tầng. Chỉ một lát sau, lang trung lưng đeo hòm thuốc đã được dẫn vào. Ông ta cưa gãy mũi tên trên người Mẫn huyện lệnh, cởi khôi giáp của lão ra. Chỉ thấy chỗ tên cắm sưng lên một cục to như trứng ngỗng, đen sì bóng nhẵn, đã rỉ ra một chút máu tanh.

Giang Bân khẩn trương hỏi:
- Đại nhân thế nào rồi? Có nguy hiểm đến tính mạng không?

Lang trung kia đầu hai thứ tóc, bôn ba trong quân đội đã nửa đời người, thường hay xử lý các loại vết thương. Tuy trước mặt là Huyện thái gia, lão cũng không quá lúng túng, lập tức lấy từ trong hòm ra một con dao bạc, rạch vào chỗ vết thương sưng tấy đen sì kia, tức thì máu đen ứa ra. Mẫn huyện lệnh vẫn nằm yên, không hề có cảm giác.

Lang trung dùng vải bông thấm máu, đưa lên mũi ngửi ngửi, rồi thở phào nói:
- Thật may, đây là độc của Lang Xỉ thảo (cỏ răng sói), độc tính cũng không mạnh. Đại nhân chém giết trên chiến trường, độc tố lan nhanh nên mới hôn mê. Chờ tiểu nhân lấy hết máu độc ra, kê thêm mấy toa thuốc, nghỉ ngơi dăm ba ngày là có thể bình phục rồi.

Mọi người ở bên cạnh nghe xong mới thở phào nhẹ nhõm. Ngay lúc này một đám người đột nhiên từ bên ngoài tiến vào. Dương Lăng quay đầu lại nhìn, chỉ thấy Hoàng huyện thừa vẻ mặt u ám đang dẫn đầu, Vương chủ bộ, điển sử (sử quan) Lưu đại nhân, Phùng tuần kiểm (quan tuần sát) cùng với Hồng bộ đầu đến muộn dẫn một đám người vội vã theo sau. Y vội bước tới nghênh đón:
- Hoàng lão, ngài đến rồi.

Hoàng huyện thừa nghiêm mặt ừm một tiếng. Lão đang ở dưới thành thì nghe nói Mẫn huyện lệnh bị trúng tên độc, lúc này lạnh lùng lườm mắt hỏi:
- Mẫn đại nhân ra sao rồi?

Dương Lăng vội vàng đem mọi việc kể lại một lượt. Hoàng huyện thừa nghe xong liền đập bàn giận dữ mắng:
- Khốn khiếp! Đồ con lừa! Thật đúng là tên điên!

Dương Lăng nghẹn họng, không biết lão đang chửi mình hay là đang chửi Mẫn huyện lệnh. Mặc dù phẩm tước của Hoàng huyện thừa chỉ thấp hơn Mẫn huyện lệnh một cấp, chức vị năm đó lại cao hơn, nhưng cái kiểu ngang nhiên nhục mạ quan trên như vậy cũng quá vô lễ rồi.

Hoàng huyện thừa trán nổi gân xanh: lão đã thực sự nổi giận. Bình thường đối với những chuyện trong huyện lão không nghe không hỏi đơn thuần là vì tình cảm cá nhân, nhưng hiện giờ giặc ngoài xâm phạm, một khi thành bị phá thì gần vạn tính mạng toàn thành, bao gồm cả cha mẹ già một nhà của lão e rằng sẽ đều khó sống nổi, thử hỏi lão làm sao không giận?

Râu vểnh ngược, chỉ chỏ lung tung, Hoàng huyện thừa lớn tiếng quở mắng:
- Các ngươi cũng không biết khuyên nhủ đại nhân, lại còn hùa theo y làm càn. Hiện giờ trong thành đã loạn ra cái dạng gì rồi? Chiến sự chưa rõ ràng mà đã có hàng loạt bá tánh náo loạn ở cửa bắc, nếu không phải ta và Phùng tuần kiểm kịp thời chạy đến dẹp đuổi bọn họ thì có lẽ bây giờ bá tánh toàn thành đã bỏ chạy hết một nửa rồi.

- Thành cũng không có bố trí phòng thủ gì cả. Nếu không phải Thát Tử kéo đến vội vàng, không có sự chuẩn bị, bọn chúng há chẳng phải đã dễ dàng đánh lên thành rồi sao? Thân là quan phụ mẫu một huyện mà không biết tính cho toàn cục, hữu dũng vô mưu, chỉ biết khoe cái dũng của kẻ thất phu, thật chẳng đâu có cái lý này...

Hiện tại Mẫn huyện lệnh đang hôn mê bất tỉnh, quan chức cao nhất ở đây chính là Giang Bân Giang bả tổng, cũng là quan thất phẩm. Nhưng thời đấy võ quan địa vị rất thấp, phẩm cấp tuy ngang nhau nhưng địa vị lại thấp hơn huyện thái gia đến mấy bậc, quyền lực thì lại càng không thể sánh bằng, cho nên đứng trước mặt vị lão huyện thừa này y cũng không dám nói gì. Trên vọng lâu tuy có mấy chục người chen chúc, nhưng lại im phăng phắc, mặc cho con mèo già lâu nay không ra oai tha hồ lớn tiếng gầm thét...
Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
29-06-2010, 05:44 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 21: Tình yêu đơn giản

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: fishscreen

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Mượn xác hoàn hồn, nghịch thiên cải mệnh vốn không hề dễ dàng như vậy. Khói lửa ngay trước đêm giao thừa khiến cho y càng tin rằng cái kiếp chuyển thế lắm tai nhiều nạn của mình lại sắp bắt đầu.


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng
Chương 21 – Tình yêu đơn giản

Hoàng huyện thừa chửi gà mắng chó thậm tệ một hồi, nhưng Dương Lăng lại không đồng tình: quan văn thật là nhát gan, chẳng lẽ để mặc quân Thát đến quấy nhiễu, chỉ có thể đóng cổng thủ thành à! Vậy chẳng phải ngoại tộc sẽ càng ngạo mạn hơn sao?

Ra vẻ cung kính lắng nghe nhưng cặp mắt y lại láo liên khắp nơi. Chỉ thấy đám người Vương chủ bộ và Lưu điển sử đều đứng cung tay, vâng vâng dạ dạ, riêng có vị Giang bả tổng kia lại lấm la lấm lét, giống như một học sinh hư hỏng đang bị thầy giáo quở trách, cặp mắt cũng đảo tới đảo lui. Bốn mắt chạm nhau, cả hai cùng ngầm hiểu ý khẽ cười.

Ánh mắt Dương Lăng lướt qua mấy vị đồn trưởng đang đứng ngay cửa, chợt thấy ở xa xa một bóng dáng quen thuộc. Y nhìn kỹ lại, Hàn Ấu Nương không biết đã đến tự khi nào, đang đứng sát bên vách tường, đôi mắt đen láy sáng ngời đang nhìn mình không chớp.

Phát giác Dương Lăng đã chú ý đến sự hiện diện của mình, Hàn Ấu Nương bất giác le lưỡi, lặng lẽ nép sát vào tường. Dương Lăng trong lòng phát hoảng, không biết khi nào trên thành sẽ khai chiến, đến lúc đó tên bay đạn lạc, nàng hãy còn là một tiểu cô nương mười mấy tuổi, chẳng may bị thương thì biết phải làm sao?

Dương Lăng nghiêm mặt trừng mắt với nàng, bặm môi hất đầu ra phía cửa. Hàn Ấu Nương mím môi, cặp mắt chớp chớp, rõ ràng đã thấy động tác của y nhưng lại làm như không biết, dời ánh mắt sang bên cạnh.

Dương Lăng cau mày, nhìn chằm chằm vào nàng. Sắc mặt Hàn Ấu Nương dần dần mất tự nhiên, ánh mắt do dự, cuối cùng đành đón lấy ánh mắt của y. Dương Lăng nhướng mày, đoạn nheo mắt đảo một vòng trên khuôn mặt nàng, sau đó làm động tác vỗ mạnh xuống phía dưới, hàm ý uy hiếp.

Gương mặt Hàn Ấu Nương đỏ bừng. Từ sau cái ngày Dương Lăng phát vào mông nàng một cái, giống như đã thành lệ, về sau mỗi khi nàng không nghe lời, gia pháp họ Dương sẽ là phát vào mông. Giờ đây thấy được ánh mắt sinh động của Dương Lăng, đương nhiên nàng biết ý của phu quân là gì.

Hoàng lão phu tử đang văng nước bọt mắng chửi, bỗng dưng phát hiện Dương Lăng giống như đang bị chuột rút, lão ngỡ ngàng hỏi:
- Dương sư gia, cậu có điều gì muốn nói sao?

Dương Lăng giật nảy mình, vội vàng đáp:
- Hả? Đâu có, đâu có, Hoàng lão nói rất đúng, học sinh xin cung kính nghe dạy bảo.

Hoàng huyện thừa gật gù hài lòng, lúc này mới phát hiện mình mượn chuyện để mắng chửi hồi lâu nhưng vẫn chưa đưa ra được ý kiến gì có tính xây dựng, liền liếm môi rồi sắp xếp lại dòng suy nghĩ.

Dương Lăng lại liếc sang Hàn Ấu Nương, thấy môi nàng mím ngang, đôi mắt tròn xoe mê người đã díp lại thành hình trăng lưỡi liềm thì không khỏi có chút cảm giác bó tay: “Mình thật là đã hơi quá chiều cô nhóc này rồi. Vốn ngoan ngoãn cúi đầu phục tùng, chỉ biết vâng lời, giờ thì quá lắm, chẳng những không nghe lời mà còn cười nhạo mình nữa chứ.”

Hoàng huyện thừa thong thả bước vài bước, sau đó đứng lại nói:
- Chư vị! Tuy mấy năm gần đây tiểu vương tử không ngừng quấy nhiễu biên giới chúng ta, nhưng chưa bao giờ tấn công cửa ải quân sự quan trọng. Lần này lửa hiệu ở phong hỏa đài đã được đốt lên, tất phải có đại đội nhân mã của Bá Nhan Mãnh Khả tập kích. Đêm nay cần phải canh phòng nghiêm ngặt, đợi trời sáng nghe ngóng tình hình quân địch rồi hãy tính kế sách!

Rồi lão cao giọng nói:
- Hiện giờ quân địch vừa mới xuất hiện mà dân chúng trong thành đã tự rối loạn. Phùng tuần kiểm, ngươi hãy lập tức dẫn người tuần tra trong thành, nghiêm cấm dân chúng đi lại ngoài đường, nếu có kẻ nào thừa dịp cháy nhà đến hôi của, cướp bóc, tung tin nhảm làm rối loạn lòng quân thì chém đầu ngay tại chỗ! Cần phải đảm bảo trong thành không loạn!

Phùng tuần kiểm giật mình hỏi lại:
- Việc này… Đại nhân, chưa được Tam ty (*) thẩm vấn xét xử và thánh thượng ngự bút phê chuẩn, sao có thể tùy tiện giết người?

(*) Tam ty (三司) có rất nhiều nghĩa:

Đời Hán có nghĩa là Tam công (ba chức quan cao nhất) gồm thái uý (đại tư mã), tư đồ, tư không.

Đời Đường, từ khi Võ Tắc Thiên cầm quyền, “tam ty” gồm Thượng thư bộ Hình, các ngự sử thuộc bộ Hình, Đại Lý Tự (giống như Tóa án tối cao hiện nay); cả ba bên cùng thẩm định những vụ án lớn, có thể đề nghị phạt tử hình.

Hai đời Minh, Thanh dùng từ "tam pháp ty" để chỉ bộ Hình, Đô Sát Viện (viện kiểm sát), Đại Lý Tự. Ba cơ quan này cũng thẩm xét những vụ án đại hình, dâng lên hoàng đế duyệt.

Ở đây, tác giả dùng chữ “tam ty” với các nghĩa sau.

Có thể xem thêm:
http://baike.baidu.com/view/57344.htm
http://baike.baidu.com/view/37835.htm


Hoàng huyện thừa cười lạnh nói:
- Khi chiến sự bùng nổ, quan viên địa phương có quyền quyết định, không cần trình báo lên bộ Hình. Ngay cả điều này ngươi cũng không biết sao?

Phùng tuần kiểm đỏ rần mặt, vội chắp tay đáp:
- Vâng, hạ quan tuân lệnh!
Nói đoạn lão xoay người dẫn theo một đám thuộc hạ vội vội vàng vàng chạy đi.

Hoàng huyện thừa ra lệnh tiếp:
- Hồng bộ đầu, ngươi hãy dẫn người nhanh chóng đến thương khố Dịch mã thự, bảo bọn họ chuyển cây gỗ, đá tảng, dầu tung và vôi đến tường thành bốn phía!

Hồng bộ đầu cung kính tuân lời. Hoàng huyện thừa lại bảo Lưu điển sử:
- Lưu đại nhân, phiền ngài điều một bộ phận cai ngục ở đại lao ra, sau đó thông tri cho bảo trưởng và lý trưởng (*) các nơi tuyển chọn trai tráng gấp rút đào hố bẫy ngựa, bố trí cọc chống ngựa bên trong cổng thành ba phía đông, tây, nam, để một khi chiến sự căng thẳng, những trai tráng này còn có thể lên thành trợ chiến!

(*)Thời xưa mười hộ gọi là một giáp, mười giáp gọi là một bảo, từ mười bảo trở lên là một thôn. Đứng đầu một bảo là Bảo trưởng, đứng đầu một thôn là Lý trưởng.

Lão lại ra lệnh cho Vương chủ bộ:
- Vương đại nhân, ngài hãy ở lại cố thủ nha huyện, trình báo quân tình, còn phải phụ trách thu xếp ngày ba bữa cơm cho binh sỹ.

Dương Lăng nghe Hoàng huyện thừa an bài xong, lúc này mới hoàn toàn khâm phục. Vừa nãy y thấy Mẫn đại nhân anh dũng gan dạ, khiến cho nhiệt huyết cũng bị kích thích dâng trào, chỉ cảm thấy phải đại chiến một trận oanh liệt với quân Thát Đát mới không uổng là nam nhi.

Lúc này bình tĩnh lại, nghe an bài của Hoàng huyện thừa xong, y mới thấy bất luận là công hay thủ thì trước hết đều cần phải ổn định hậu phương. Nếu để mặc cho dân chúng trong thành tụ tập ngoài phố, nghe sai rồi đồn bậy làm nhiễu loạn quân tâm thì e rằng tin vịt khắp chốn, sự sợ hãi lan truyền bệnh dịch, đến lúc dân chúng bỏ chạy như ong vỡ tổ thì đã không thể trấn an được nữa.

Hơn nữa hiện giờ trong thành mới có hơn hai trăm quan binh, nếu không lên kế hoạch chuẩn bị mọi thứ ngay từ bây giờ, đợi khi nước đến chân thì sẽ không thu xếp kịp nữa. Mình vốn dĩ cũng chỉ biết “lập mục tiêu, vạch kế hoạch”, nào biết mấy thứ này, suýt nữa làm hỏng đại sự.

Tất cả quan văn đều đi hết. Giang bả tổng thấy chỉ còn lại một đám binh sỹ thủ hạ của mình, bèn sờ sờ mũi cười nói:
- Hoàng đại nhân! Quân Thát vẫn còn quấy nhiễu ở dưới thành, bổn quan sẽ dẫn người ra đầu thành tuần sát, xin cáo từ!

Hoàng huyện thừa chắp tay, đưa mắt tiễn y rời đi, đoạn thở dài một tiếng, ngồi xuống bên bàn, hỏi chuyện Dương Lăng:
- Dương hiền điệt, có phải ngươi cảm thấy lần này chiến tranh nổ ra, lão phu hơi nhát gan sợ chiến phải không?

Dương Lăng bước tới bưng bình trà rót vào chén cho lão, cung kính nói:
- Hoàng lão! Học sinh còn trẻ tuổi bốc đồng, mắt thấy Mẫn đại nhân vũ dũng hơn người, máu nóng bốc lên thì cũng muốn xông theo lên đầu thành.

- Nghĩ kỹ lại, vẫn là Hoàng lão an bài ổn thoả. Mẫn đại nhân hiện là quan phụ mẫu của một huyện, lẽ ra nên cân nhắc toàn diện, lấy đại cục làm trọng. Nếu chỉ ham muốn thống khoái nhất thời, sẽ khó tránh khỏi lợi bất cập hại. Chỉ trách học sinh không tận lực khuyên can, lúc này ngẫm lại thật sự rất hổ thẹn.

Hoàng Kỳ Dận cười khổ nói:
- Cậu đừng nhìn quân Thát bên ngoài thành không đông mà tưởng lầm! Lần này bọn chúng tấn công thẳng vào những cứ điểm quân sự quan trọng, tham vọng rất lớn. Nam nhi kiến công lập nghiệp, bảo vệ lãnh thổ, đây là cơ hội rất tốt. Cậu hãy còn trẻ, cần phải rèn luyện nhiều hơn mới được.

Dương Lăng liếc thấy Hàn Ấu Nương đang rón rén bước ra khỏi vọng lâu, vội thuận miệng đáp:
- Vâng! Hoàng lão không cần nhọc công dặn dò, học sinh cũng phải biết gánh vác trách nhiệm. Hoàng lão nghỉ ngơi một lúc đi, học sinh ra ngoài trông coi việc bố trí canh phòng một chút!

Hoàng Kỳ Dận vân vê chòm râu, vui vẻ gật gật đầu. Dương Lăng hối hả chạy ra, chỉ thấy một bóng người xinh xắn đang vội vã nấp vào trong góc tối của vọng lâu. Y không nhịn được phải phì cười.

Lúc này tuyết vẫn chưa ngừng rơi. Nơi này là chỗ cao nhất của cả tòa thành, gió núi từ giữa hai ngọn núi phía trước lùa vào khiến tuyết càng dày thêm. Dương Lăng chậm rãi tản bộ đến dưới vọng lâu, hít sâu một hơi, nheo mắt nhìn lên trời, để mặc cho gió lạnh xen lẫn bông tuyết đập vào mặt, hồi lâu không nói một lời. Gió núi lạnh thấu xương thổi vào áo dài bay phần phật.

Dưới thành quân Thát Đát đã thôi phóng ngựa quấy nhiễu. Xa xa trên mặt đất bùng lên năm đống lửa khổng lồ. Dương Lăng giật giật mí mắt: “Chỉ một nhóm nhỏ trăm người sẽ không thể công hạ được Kê Minh, bọn họ bất chấp gió tuyết đợi ở dưới thành, chẳng lẽ kế tiếp còn có đại quân tập kích?”

Trong góc tường, một đôi mắt xoe tròn nhìn Dương Lăng, gió tuyết lùa lên tấm thân cao gầy yếu đuối của y. Cuối cùng Hàn Ấu Nương không nhịn được đành chạy ra, đau lòng kéo tay áo y, giống như một đứa trẻ phạm lỗi lí nhí nói:
- Tướng công…

Dương Lăng thở dài một tiếng, cúi đầu nhìn cặp mắt trong như nước của Hàn Ấu Nương, dịu dàng nâng lấy khuôn mặt non nớt của nàng như đang vốc một ngụm nước suối, xót xa nói:
- Ấu Nương, nàng có võ nghệ, một mình thoát thân sẽ tiện hơn. Nếu như thành thật sự bị phá, nàng hãy thừa lúc hỗn loạn mà chạy đi, trốn về nhà họ Dương… không! Trốn về nhà mẹ nàng đi!

Hàn Ấu Nương nghẹn ngào nói:
- Tướng công, chàng đang nói gì vậy? Cho dù có chuyện gì thiếp cũng phải ở cùng với chàng, sao có thể bỏ lại phu quân chạy trốn một mình chứ?

Dương Lăng cười trừ, có chút xót thương và tiếc nuối. Đến lúc này y mới phát hiện rằng, cho dù không có tình yêu mãnh liệt, không có cái lãng mạn anh anh em em, nhưng không biết từ khi nào người con gái đáng yêu lanh lợi này đã đi sâu vào trong lòng của y.

Y thích người con gái này, nhưng lại không dám tiếp nhận tình ý của nàng. Có lúc y không kềm được mà thân mật với nàng, có lúc lại giữ khoảng cách với nàng, rất nhiều mâu thuẫn, cũng bởi vì y biết mạng sống của mình ngắn ngủi biết chừng nào, cho nên thà rằng cứ duy trì tình hình như hiện tại.

Mượn xác hoàn hồn, nghịch thiên cải mệnh vốn không hề dễ dàng như vậy. Khói lửa ngay trước đêm giao thừa khiến cho y càng tin rằng cái kiếp chuyển thế lắm tai nhiều nạn của mình lại sắp bắt đầu.

Y thở dài, ngón tay nhẹ nhàng mơn trớn trên khuôn mặt thuần khiết non nớt đáng yêu của Hàn Ấu Nương. Khuôn mặt của nàng mát lạnh như băng, trơn như ngọc. Trong ánh mắt đượm vẻ ưu buồn của Dương Lăng toát lên vẻ dịu dàng. Không kềm lòng được, y bất chợt ôm chặt lấy Hàn Ấu Nương vào lòng như muốn siết tan nàng ra, miệng lẩm bẩm:
- Thật may biết bao, ta có thể cùng nàng kết mối lương duyên này… Cũng tốt, nếu để ta phải chịu dày vò hết hai năm, khi đó trong lòng nhất định sẽ càng thêm đau khổ. Ấu Nương, hãy đáp ứng với ta, nếu như thành không giữ được, nàng nhất định phải trốn đi, tìm một người tốt mà lấy, đừng để ta ở dưới cửu tuyền mà vẫn phải bận lòng về nàng.

Y nghĩ lầm là đại hạn đã đến, không nhịn được mà thổ lộ chân tình. Hàn Ấu Nương lại hiểu lầm, cho rằng phu quân quyết tâm cùng sống chết với dân chúng toàn thành, cho dù thành bị phá cũng quyết không chạy trốn, nhưng vẫn lo cho mình bơ vơ không nơi nương tựa, không người chiếu cố. Nam nhân yêu dấu trong lòng nàng đột nhiên được thăng cấp thành một anh hùng khiến cho người ta phải kính trọng.

Lệ nóng trào mi, nàng ôm chặt lấy Dương Lăng, nép vào lòng y nói:
- Tướng công, chàng cứ yên tâm giúp đại nhân thủ thành là được. Ấu Nương là vợ của chàng, cho dù chàng đến nơi nào Ấu Nương thiếp cũng sẽ theo chàng đến đó. Nếu tướng công mất đi…

Nàng nghẹn ngào:
- Vậy thì Ấu Nương cũng sẽ theo chàng xuống cửu tuyền, quyết không sống cho qua ngày đoạn tháng.

Dương Lăng nghe xong phát hoảng, đẩy nàng ra giận dữ nói:
- Đáng chết, nàng thì biết gì chứ? Chết cùng ta thì có ích gì? Ta chỉ muốn nàng tiếp tục sống, sao nàng lại ngốc như vậy…

Đèn lồng treo trên vọng lâu chiếu tỏ gương mặt đẫm lệ của Hàn Ấu Nương. Dương Lăng không nhịn được trong lòng đạu xót, những lời trách mắng cũng không thể nói ra.

Hàn Ấu Nương ngẩng đầu, nước mắt lưng tròng, ngây thơ chân thật nói:
- Ấu Nương hiểu chứ. Ấu Nương biết phu quân yêu thương thiếp, lo lắng cho thiếp. Nhưng mà phu quân có biết không, kiếp này Ấu Nương đã kết đôi cùng phu quân, nếu như phu quân mất đi, Ấu Nương sống có gì vui chứ?

Tâm hồn Dương Lăng chợt run lên. Dưới ánh đèn lồng đỏ nhạt, y đột nhiên phát hiện giữa đôi lông mày của người con gái nhỏ nhắn thuần khiết này đã toát lên vẻ phong tình mị hoặc của phụ nữ trưởng thành. Phải chăng hồng nhan trong thiên hạ đều có loại phong vận nửa ngây thơ khờ khạo, nửa chín chắn trưởng thành phát ra từ đáy lòng này?

- Ấu Nương, Ấu Nương à…
Dương Lăng cảm động than, lại ôm lấy nàng vào lòng, hai mái đầu kề nhau. Đèn lồng đỏ trên vọng lâu đung đưa, ánh sáng chập chờn, hai trái tim hòa nhịp, cả thế giới như chỉ còn lại hai người. Gió lớn, tuyết bay trong thoáng chốc đều trở nên vô cùng xa xăm, chỉ còn bầu không khí nồng nàn thân ái khiến cho con tim bọn họ cảm thấy an bình và yên ả.

“Trên đời này, chỉ e không còn người con gái nào có thể khiến cho mình động lòng như nàng nữa.” - Dương Lăng bất giác suy nghĩ.

Hàn Ấu Nương ôm chặt lấy người đàn ông yêu thương nàng.

“Ông trời đã ban cho ta một tướng công tốt nhất” - Nàng mãn nguyện suy nghĩ, gương mặt lộ vẻ tươi cười.

Bông tuyết tung bay, chỉ trong chốc lát đã phủ lên người đôi trẻ đang ôm nhau một lớp trang phục trắng ngần.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
02-07-2010, 05:57 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 22: Trận chiến lúc bình minh

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


“Yêu người khác?” - Ý nghĩ này vừa xuất hiện trong đầu, y chợt phát hiện được rồi mất nàng càng khiến cho y khó lòng chịu đựng nổi. Cán cân của tình yêu đã bắt đầu lắc lư bất định giữa lòng ích kỷ và sự “vĩ đại”. Tuyết tan trên khuôn mặt y như những giọt nước mắt long lanh.


Quyển 1 - Khói lửa suốt ba tháng
Chương 22 - Trận chiến lúc bình minh

“Tuuu…u…”

Dương Lăng giật mình tỉnh giấc bởi tiếng tù lệnh phát ra lanh lảnh, vội vàng bật dậy. Vì có Hàn Ấu Nương bên cạnh, không tiện nằm chung cái giường to đùng trong gác canh với bọn Hoàng huyện thừa nên y đã đến ngủ bên trong lầu Ngọc Hoàng ở phía đông bắc thành.

Hàn Ấu Nương cũng đã tỉnh giấc, dụi dụi mắt. Dương Lăng nhảy xuống đất, vừa lao ra ngoài vừa dặn vói lại:
- Quân Thát đánh thành rồi. Nàng ở yên đây, ta đi xem thử!

Khắp nơi nơi đều vang lên tiếng chém giết. Binh sĩ trên tường thành chạy qua chạy lại, không ngừng vung đao chặt đứt dây móc từ dưới thành ném lên, đồng thời dùng cung tên bắn trả.

Trên tường thành, cứ cách khoảng mười bước lại đặt một chiếc xe tời quấn dây xích, chính giữa là một khối gỗ tròn đường kính cả thước, dài khoảng một trượng. Trên khối gỗ cắm chi chít những cây đinh sắt dài chừng năm tấc, hơi giống như một cây lang nha bổng khổng lồ.

Chỉ cần hai binh sĩ nấp sau thành đóa (1) nhấc khối gỗ lên ném xuống dưới thành là sẽ nghe một loạt tiếng hét thảm, sau đó bọn họ lại quay bánh xe ở hai đầu, kéo cây “lang nha bổng” trở về.

(1) thành đóa: phần nhô lên trên tường thành, để ấn nấp tránh tên.

Tuy công cụ thủ thành này có hơi cồng kềnh và tốn thời gian, nhưng hai bên còn có mấy tay cung thủ phụ giúp, bù đắp cho các khuyết điểm trên, cho nên lực sát thương của nó cũng không hề nhỏ.

Dương Lăng ba chân bốn cẳng chạy đến tường thành, vừa mới vịn tay lên thành đóa, một mũi tên bén nhọn đã bay vút sượt qua mặt y, cắm “phập” vào xà ngang lầu Ngọc Hoàng, đuôi mũi tên rung bần bật càng khiến cho y toát mồ hôi lạnh.

Hoàn hồn, nấp sau thành đóa nhìn nghiêng xuống dưới, Dương Lăng không khỏi cả kinh. Sao đột nhiên lại xuất hiện nhiều quân địch như vậy?

Khắp nơi dưới chân thành đều là quân Thát Đát. Tường thành cao đến mấy trượng, bọn chúng dùng móc câu và thang dây ném lên tường thành, hung hãn không sợ chết trèo lên, phía sau có rất đông cung thủ phi ngựa tới lui bắn tên lên thành yểm trợ. Cung thủ trên thành cũng liên tục bắn trả, song vì địch đông ta ít nên dù có địa lợi vẫn bị ép không ngóc đầu lên nổi.

Dương Lăng khom người vội vã chạy đến cửa phía nam, vừa mới xông lên vọng lâu đã nghe “ầm” một tiếng, mặt đất rung chuyển, khói thuốc súng mịt mù khiến y giật bắn cả người. Nhìn xuống dưới thành y thấy mặt đất lõm một lỗ lớn, hơn chục người ngã lăn quay, còn có một thớt ngựa bị nổ đứt chân đang nằm trong vũng máu không ngừng hí thảm.

Dương Lăng không nói nên lời, không ngờ đại pháo thời này lại lợi hại như vậy. Thời đại này đã có đạn nổ rồi sao? Vậy mà y còn tưởng rằng đạn pháo thời này đều là những quả bi sắt.

Có điều khói thuốc súng thật quá nồng nặc. Dương Lăng mới vừa chạy tới, đang thở dốc thì bị thuốc súng xông vào phổi, ho sặc sụa. Khói dần tan đi, hiện ra Hoàng huyện thừa đang nấp sau công sự trên vọng lâu. Lão vẫy tay gọi Dương Lăng:
- Hiền điệt, mau qua đây! Cẩn thận đừng để bị trúng tên đấy!

Dương Lăng khom người chạy tới gần, chỉ thấy ba khẩu đại pháo trước vọng lâu chĩa xuống bên dưới, mấy tay pháo thủ đang khẩn trương nạp đạn, đổ thuốc. Lúc này ngòi nổ của khẩu đại pháo bên trái được châm cháy xì xì, mấy tay pháo thủ lần lượt bịt tai nhắm mắt lại. Chỉ nghe “oành” một tiếng, chỗ đặt đại pháo khói thuốc súng mịt mù, không nhìn ra nổi một bóng người.

Dương Lăng bị khói hun đến đỏ cả mắt. Khi màn khói dày đặc ở trước mặt tan đi, y thấy khẩu đại pháo dù đã được lắp giá đỡ bên dưới cũng đã dịch về phía sau hơn một trượng. May mà trên thân pháo còn có neo sắt giữ lại, nếu không thì chẳng biết khẩu đại pháo này đã văng đi đâu mất. Những tay pháo thủ đang đẩy đại pháo trở về chỗ cũ.

Do quân Thát ở dưới thành chạy tứ tán khắp nơi tránh hướng chính diện, nên mặc dù phát pháo này có thanh thế long trời lở đất cũng chỉ sát hại được một tên và làm bị thương vài tên nữa, có cảm giác như lấy đại bác bắn ruồi.

Dương Lăng hỏi lớn:
- Hoàng đại nhân, tại sao quân Thát đột nhiên kéo đến đông vậy? Giang bả tổng đâu rồi?

Hoàng huyện thừa chỉ tay về phía trước nói lớn:
- Nhị Lý Bán đã bị thất thủ, quân Thát tăng binh rồi. Giang bả tổng đang ở phía trước đốc chiến, trên thành chỉ còn hơn trăm binh sĩ, lo được chỗ này thì lại mất chỗ kia. Ngươi hãy mau đến sở dịch thừa yêu cầu người của sở dịch đến thủ thành.

- Được!
Dương Lăng đáp nhanh, đoạn xoay người chạy xuống dưới thành. Lúc này Lưu điển sử đã dẫn hơn hai trăm tráng đinh xông lên thành, được một đội trưởng chỉ huy phân tán ra khắp tường thành. Những tráng đinh này chỉ là dân chúng bình thường, chưa được huấn luyện quân sự nên rất lúng túng. Sau khi nghe binh sĩ hướng dẫn, bọn họ cũng chẳng quản dưới thành có quân địch hay không, tìm được đá là ném ngay xuống dưới thành, khiến cho đám binh sĩ phải giậm chân tức giận.

Đám tráng đinh này cũng không biết cách tự bảo vệ bản thân, một người vừa ló đầu ra liền bị một mũi tên bắn trúng ngực, may mắn vừa lúc Hàn Ấu Nương chạy đến nên vội đỡ lấy y. Những tráng đinh khác thấy vậy sợ co rúm cả người, mặc cho quan binh lớn tiếng quát tháo thế nào cũng nhất định không chịu ló đầu ra nữa.

Lúc này trên đường vắng tanh, quả nhiên dân chúng đã bị đám nha dịch quát đuổi nên đều ở yên trong nhà không dám chạy lung tung. Vừa chạy đến ngã tư đường, Dương Lăng đã thấy Mã dịch thừa dẫn hơn mười dịch sứ theo sau ba cỗ xe ngựa đang vội vã từ phía trước chạy đến. Y liền đứng lại, gọi lớn:
- Mã đại nhân, quân Thát bên dưới thành phân tán để công thành, quân phòng thủ không đủ người, Hoàng huyện thừa mời ngài phái toàn bộ dịch sứ lên thành giúp phòng thủ.

Mã dịch thừa nhảy xuống ngựa nói:
- Còn người đâu nữa chứ! Cửa đông và cửa tây cũng có rất đông quân Thát tấn công, bọn chúng không đủ dụng cụ công thành nên đã phân tán ra chung quanh leo lên tường thành. Toàn bộ người của ta đã phái đi hết, chỉ còn lại chừng này, đang đưa pháo đến cho Giang đại nhân.

Dương Lăng vừa nghe còn có đại pháo thì trong lòng không khỏi mừng rỡ, song nhớ lại hiệu quả khi nãy của cái thứ bằng sắt đó thì lại có chút thất vọng. Hắn giậm chân nói:
- Bây giờ quân Thát tản ra bốn phía, chủ yếu là quân sĩ thủ thành không kịp đối phó, sợ rằng tác dụng của đại pháo sẽ không lớn.

Mã dịch thừa ra lệnh cho hai cỗ xe ngựa chia ra chạy về hai cổng đông tây, còn mình thì dẫn theo một cỗ xe tiếp tục tiến về phía trước, đáp:
- Hiền điệt sai rồi, đây không phải là pháo Đại Tướng Quân. Những khẩu pháo này là “Kích Tặc Thần Cơ Thạch Lựu pháo”, “Uy Viễn Thạch pháo”, “Vạn Nhân Địch Lệ Chi pháo”, dùng chúng để thủ thành là tiện lợi nhất.

Dương Lăng nghe mà ù ù cạc cạc. Mã dịch thừa thấy y không hiểu, bèn vừa chạy vừa giải thích cho y một hồi. Thì ra pháo mà Mã dịch thừa nói đến ở đây kỳ thực chính là tạc đạn (trái phá).

“Kích Tặc Thần Cơ Thạch Lựu pháo” có phần na ná với lựu đạn ở thời hiện đại, đúc bằng gang, hình dáng giống như một quả lựu to đã chín.

“Uy Viễn Thạch pháo” là đá được đục lỗ, bên trong chứa thuốc nổ. Trong mỗi viên đạn đá còn trộn thêm một trăm viên đá nhỏ, khi nổ có lực sát thương rất cao.

“Vạn Nhân Địch Lệ Chi pháo” có thể tích lớn nhất, bên trong bình đất sét nhét đầy thuốc nổ, còn có đá vụn, sắt vụn, chông sắt,… Khi nổ mảnh đạn văng đến mấy trăm bộ, sát thương rất nhiều kẻ địch.

Dương Lăng nghe xong mừng húm. Nhớ hồi xem “Hoả thiêu Viên Minh viên” (lửa cháy vườn Viên Minh), khi đó Đại Thanh giao chiến với liên quân tám nước chỉ dùng chiến thuật biển người, trường mâu đại đao liều chết với bọn xâm lược, không ngờ vũ khí của triều Minh đã phát triển đến như vậy. Có được thứ đồ chơi này thì cho dù là một thư sinh như mình mà đi thủ một mảng tường thành cũng sẽ dễ như trở bàn tay. Nghĩ đến đây y không khỏi hăng hái đến xoa tay.

Quả nhiên lượng tạc đạn vừa được vận chuyển đến đã phát huy tác dụng rất lớn. Những kỵ binh chuyên dùng vũ khí lạnh của Thát Đát tuy dũng mãnh không sợ chết, nhưng căn bản không thể nào chống lại được thuốc nổ. Dưới thành chỗ nào có tiếng nổ là chỗ đó tử thương vô số, đợt tấn công của quân địch phải tạm thời đình chỉ.

Trên đầu thành quân Minh tử thương hơn bốn mươi người, cộng với bọn tráng đinh không biết tự bảo vệ thành ra thương vong trên trăm người. Lang trung quân sự và những lang trung dân gian tạm thời được điều động đều bận bịu trị thương khắp nơi.

Giang bả tổng vừa tự tay chém chết mấy tay binh sĩ Thát Đát, sẵn máu đang sôi, xách hai thanh trảm mã đao đầm đìa máu lớn tiếng chửi bọn tráng đinh ngu xuẩn, thỉnh thoảng còn đá vào mông bọn họ, quát bảo bọn binh sĩ dạy bọn họ phải tác chiến ra sao. Đám người Hoàng huyện thừa và Lưu điển sử thì chạy đến hai cổng thành đông tây tuần sát, xem xét tình hình thương vong.

Dương Lăng vịn bờ tường thành, thấy bọn Thát Đát đã lui về hơn ba tầm tên, đang chuẩn bị cho đợt công kích tiếp theo. Quân Thát Đát bên ngoài hai cổng thành đông tây cũng bắt đầu kéo về tập kết ở đó, nhân số phải đến hơn ba ngàn. Hàn Ấu Nương tay cầm một cây tiêu bổng (gậy dân phòng) xin được từ chỗ mấy nha dịch quen biết đang đứng bên cạnh y cẩn thận trông chừng, mặc dù vóc người nhỏ nhắn song tư thế lại tỏ ra hiên ngang oai hùng.

Dương Lăng thấy bên ngoài thành vẫn còn nhiều quân địch như vậy, cho dù bọn chúng chỉ đơn thuần tấn công liều mạng chấp nhận hao quân đi nữa, quân thủ thành còn lại có chống chọi được với đợt công kích thứ hai hay không cũng rất khó nói. Hơn nữa, vũ khí thủ thành lợi hại nhất là những quả tạc đạn cũng chỉ còn chưa tới hai mươi quả. Y bất giác hơi lo lắng.

Nhưng lúc này quân lực triều Minh đã khiến cho y cảm thấy rất bất ngờ rồi, không ngờ khoa học kỹ thuật quân sự thời Minh đã phát triển như vậy. Trong ấn tượng của y Minh triều lúc nào cũng yếu đuối nhu nhược, hoàng đế thì không quản chính nghiệp, hoạn quan thì gây họa cho thiên hạ, còn về những thứ khác thì y lại không biết rõ.

So với những người bình thường rành những bộ phim về Thanh cung, y cũng chỉ có thể biết được hơn họ một chút. Nếu không phải vì biết đương kim thái tử tên là Chu Hậu Chiếu (2), lại vừa vặn đã xem bộ “Du Long Hí Phụng” thì y sẽ còn chẳng biết bây giờ ai kế vị ngai vàng sau hoàng đế Hoằng Trị chứ đừng nói là biết gì nhiều về Minh triều.

(2) Chu Hậu Chiếu, thụy hiệu là Nghị Đế, là tên riêng của Minh Vũ Tông. Chu Hậu Chiếu kế vị vua cha Minh Hiếu Tông. Sau khi ông qua đời, Minh Thế Tông kế vị.

Vì lịch sử triều Minh là do người triều Thanh viết lại, không cần nói cũng biết trong đó sẽ có ẩn tình, cho nên những hí thuyết (một loại hí kịch diễn lại một sự kiện lịch sử), diễn nghĩa gì gì phát triển từ nó đương nhiên lại càng không đáng tin. Bản “Dương Châu Thập Nhật ký” (3) , bản “Gia Định Đồ Thành ký lược” (3) lại bị chôn vùi hơn hai trăm năm ngay trên đất Trung Quốc. Mãi đến hơn hai trăm năm sau mới tìm thấy chúng từ Nhật Bản, đủ thấy được sự triệt để của những vụ án văn tự thời Thanh.

(3) “Dương Châu Thập Nhật ký” (扬州十日记): do Vương Tú Sở viết, kể lại chuyện quân Thanh phải sau bảy ngày chiến đấu gian khổ mới chiếm được Dương Châu; sau đó quân Thanh đồ sát dân chúng Dương Châu trong mười ngày, gần như đốt trụi Dương Châu.
”Gia Định Đồ Thành ký lược”(嘉定屠城记略) cũng kể chuyện quân Thanh tàn sát dân chúng thành Gia Định.

Cả hai truyện đều bị triều đình nhà Thanh cấm triệt.

Thật ra vào thời đó, triều Minh đã không cách quá xa với chủ nghĩa tư bản, sản lượng sắt bằng tổng sản lượng của cả Châu Âu, một phần ba số lượng bạc của toàn thế giới đổ về Trung Quốc thông qua mậu dịch, sản lượng công nghiệp chiếm trên 60% sản lượng toàn cầu, còn vào cái thời gọi là Càn Long thịnh thế thì sản lượng chỉ chiếm được 6% toàn cầu.

Khó trách vì sao nhà truyền giáo phương Tây thời Minh là Matteo Ricci (4), đã ghi chép về Trung Quốc trong bản “Trung Quốc Trát Ký” (ghi chú về Trung Quốc) như sau: “Nơi này của cải sản xuất cực kỳ dồi dào, thứ gì cũng có, đường ăn trắng hơn đường của Châu Âu, vải đẹp hơn vải của Châu Âu… Mọi người đều ăn mặc hoa lệ, tác phong nhanh nhẹn, tinh thần dân chúng vui vẻ, lịch sự lễ độ, ăn nói văn nhã.”

(4) Matteo Ricci (Lợi Mã Đậu) là một thầy tu Thiên chúa giáo người Ý nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, là người phương Tây đầu tiên được mời vào Tử Cấm thành. Xin xem wikipedia để biết thêm thông tin.


Trong khi đó thời Càn Long, đặc sứ Anh Quốc McCartney (5) đến tìm hiểu thì lại kể rằng: “Khắp nơi nơi đều là cảnh nghèo khó kinh người… rất nhiều người không có quần áo mặc… quân đội rách rưới bẩn thỉu trông như một đám ăn mày.”

(5) Năm 1793 đặc sứ Anh Quốc McCartney (Mã Cáp Nhĩ Ni) đến Trung Quốc gặp vua Càn Long để thỉnh cầu thiết lập quan hệ thương mại. Đáp lại yêu cầu này, vua Càn Long đã viết thư trả lời đức vua Anh Quốc, nói rằng: “Thiên triều sản vật dồi dào, không thứ gì không có. Thứ lỗi không cần tích trữ thêm hàng hoá ngoại nhập.”

Trung Quốc thời Minh có phần giống với Nhật Bản sau này, những gì có thể tự phát minh thì sẽ tự phát minh, phát minh không được thì sẽ bỏ ra một số tiền lớn mua lại của nước ngoài sau đó nghiên cứu bắt chước. Thời đó mỗi doanh của “Thần Cơ doanh” đặt tại kinh thành có 5000 người, 3600 khẩu Phích Lịch pháo, 200 khẩu pháo Đại Liên Châu, 400 khẩu súng tay. Rõ là trang bị hiện đại đến cỡ nào!

Thế nhưng, sự tiên tiến về kinh tế, văn hoá không thể điều hoà cùng với sự hủ bại về chính trị và quân sự, khiến cho các nền văn hoá lạc hậu hơn lại du nhập và thống trị một Trung Quốc đã tương đối văn minh. Thời gian bị quay ngược lại một cách thần kỳ, các nhà khoa học thì tuyệt tích, vũ khí tiên tiến thì bị chôn vùi.

Súng thì bị coi là “kỳ kỹ dâm xảo” (loại kỹ xảo tà quái) cần phải huỷ bỏ. Trong “chiến tranh Nhã Khắc Tát" (6), sau khi quân Thanh thu được kiểu súng châm ngòi bóp cò, Khang Hy chỉ giữ lại hai khẩu để mình dùng chơi, hạ lệnh cho quân sĩ không được sử dụng loại súng tân tiến này, với lý do “không được ngưng dùng cung tiễn trường mâu mà tiền nhân đã truyền lại”. Đến khi chiến tranh nha phiến nổ ra, quân Thanh chuyên cầm đại đao trường mâu hoàn toàn lạ lẫm với hỏa khí, lại coi chúng là tà vật, cho rằng dùng máu chó mực là có thể hoá giải được.

(6) Jaxa: Khu dân tộc thiểu số vùng Cát Lâm, Hắc Long Giang.


Đương nhiên Dương Lăng không hiểu nhiều lắm về những chuyện này, chẳng qua y thấy vũ khí quân Minh sử dụng đã vượt rất xa dự liệu của mình, lại nhớ đến chuyện Trung Quốc sau này bị Bát Kỳ (7) càn quét nên nhất thời nghĩ không ra nguyên nhân trong đó mà thôi.

(7) Bát kỳ Mãn Thanh gồm tám đội quân: Chính Hoàng kỳ, Tương Hoàng kỳ, Chính Hồng kỳ, Tương Hồng kỳ, Chính Lam kỳ, Tương Lam kỳ, Chính Bạch kỳ, Tương Bạch kỳ.

Chính Hoàng kỳ, Tương Hoàng Kỳ và Chính Bạch kỳ thường được gọi là “Thượng Tam Kỳ”(上三旗) và nằm dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hoàng đế. Chỉ những người Mãn Châu thuộc Thượng Tam Kỳ mới được đích thân Hoàng đế lựa chọn vào đội bảo vệ riêng của mình. Những kỳ còn lại được gọi là “Hạ Ngũ Kỳ” (下五旗) và được chỉ huy bởi các hoàng tử người Mãn Châu trực hệ của Nurhachi theo chế độ cha truyền con nối, và thường được gọi theo nghi thức là “Thiết mạo tử vương” (鐵帽子王 - Các hoàng tử mũ sắt) hay các “Hòa Thạc” (和硕). Họ cùng nhau tạo thành một hội đồng quản lý quốc gia Mãn Châu cũng như bộ tư lệnh quân đội có tên gọi là Hòa Thạc Bội Cần.

Vương chủ bộ và những bô lão đức cao vọng trọng trong thành đã dẫn người lên thành đưa cơm. Ông chủ của “Hồng Nhạn lâu” còn đặc biệt mổ một con heo to mập để khao thưởng tướng sĩ. Hàn Ấu Nương tay cầm hai bát cơm tẻ và một bát thịt heo hầm bước đến gọi:
- Tướng công, ăn cơm đi thôi!

Lúc này Dương Lăng mới sực tỉnh, vội tiếp lấy đồ ăn từ tay Hàn Ấu Nương đặt lên tường thành phủ đầy tuyết, sau đó hai người đứng bên bờ tường dùng cơm. Dương Lăng đã đói meo, lùa đến quá nửa bát cơm thì mới phát hiện Hàn Ấu Nương đang vừa ăn vừa cười tủm tỉm nhìn mình. Y lấy làm lạ, bèn hỏi:
- Nàng nhìn ta làm gì thế?

Hàn Ấu Nương hé môi cười, ôn nhu đáp:
- Thiếp thấy tướng công ăn ngon miệng nên trong lòng rất vui.

Mắt Dương Lăng có chút ươn ướt. Y thấy Hàn Ấu Nương lại tranh ăn rau với mình, chừa thịt lại trong bát, tiết trời lạnh, mỡ thịt sắp đông lại đến nơi, liền gắp lấy mấy miếng bỏ vào trong bát nàng, ra lệnh:
- Mau ăn hết thịt đi! Tướng công không thích ăn thịt heo béo, hiểu không?

Hàn Ấu Nương ngoan ngoãn vâng một tiếng, đoạn lấy đũa xắn đôi miếng thịt, gắp phần nạc bỏ vào bát Dương Lăng, còn mình thì lùa cơm, ánh mắt lộ ra khỏi miệng bát chớp chớp nhìn y. Dương Lăng hết cách, đành cười trừ thuận theo ý nàng, lùa thịt vào miệng nhai ngồm ngoàm. Thấy y ăn ngon miệng như vậy, cặp mắt to tròn của Hàn Ấu Nương hài lòng tít lại thành một vầng trăng non.

Ăn xong, Hàn Ấu Nương nhanh nhẹn thu lại bát đũa muốn đem về. Dương Lăng thấy trên mép nàng còn dính một hạt cơm, không nén nổi buồn cười đưa ngón tay lên mép môi của nàng gạt xuống. Hàn Ấu Nương ngẩn người, nhìn thấy hạt cơm dính trên ngón tay của y, không khỏi cảm thấy mắc cỡ, lại thấy Dương Lăng không vất hạt cơm đi mà đưa nó vào miệng, cả khuôn mặt nàng lập tức đỏ bừng.

Nàng vội vã đưa mắt liếc xung quanh, thấy không có ai chú ý đến cử động thân mật tựa như đùa bỡn này của phu quân, lúc này bờ vai đang gồng lên vì khẩn trương mới yên tâm mà thả lỏng. Thấy tướng công vẫn còn nhìn mình cười tủm tỉm, nàng xấu hổ lườm y một cái, rồi vội vã bê bát đũa xoay người chạy đi.

Dương Lăng thấy nàng tuy mặc nam trang nhưng tấm lưng vẫn lộ ra dáng mảnh khảnh, dáng vẻ đung đưa lại có một phong thái quyến rũ, bất giác trong lòng xao động. Nghĩ đến một ngày nào đó có lẽ nàng sẽ đối xử dịu dàng và âu yếm với một người đàn ông khác như đối với mình, trong lòng y bỗng cảm thấy ghen tỵ: “Tập tục thời này như vậy, Ấu Nương nhất định sẽ không tái giá chứ? Vậy mình có thể…”

Y chợt xoay người, vốc lấy một nắm tuyết trắng tinh chà vào má: “Trời đánh chết mày đi! Sao mày lại có suy nghĩ này? Nếu để tình cảm phát triển quá nhiều, chẳng phải sẽ khiến cho cô ấy càng thêm đau khổ sao? Mày chưa thử qua, sao biết sẽ không đành lòng để cho cô ấy yêu người khác chứ?”

“Yêu người khác?” - Ý nghĩ này vừa xuất hiện trong đầu, y chợt phát hiện được rồi mất nàng càng khiến cho y khó lòng chịu đựng nổi. Cán cân của tình yêu đã bắt đầu lắc lư bất định giữa lòng ích kỷ và sự “vĩ đại”. Tuyết tan trên khuôn mặt y như những giọt nước mắt long lanh.

“Tuuu…u…”

Tiếng tù và cất lên không đúng lúc cắt ngang dòng suy nghĩ, Dương Lăng bực bội chùi tuyết trên mặt, cúi xuống ôm một khối đá nặng hơn hai mươi cân.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
11-07-2010, 07:14 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 23: Tráng sĩ chặt tay *

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: fishscreen

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Những binh sỹ đang giương cung cài tên nhoài người về phía trước chợt la lên:
- Đại nhân, phía trước là người dân của chúng ta. Giặc Thát... bọn giặc Thát đã bắt dân của chúng ta dàn hàng ở phía trước.


Nghe tiếng tù và, đám binh sỹ đều ào ào lao lên đầu thành, lo lắng nhìn xuống phía dưới. Lúc này kị binh Thát Đát không còn phân tán công thành như một bầy ong vỡ tổ giống vừa rồi nữa, trong đám địch quân trùng trùng điệp điệp đã xuất hiện hơn chục chiếc thang công thành sơ sài, xem ra là mới chặt cây trên núi xuống tạo thành.

Tường thành Kê Minh không tính là quá cao, bắc được thang lên, cộng thêm tài bắn cung thần kì của quân Thát Đát yểm trợ, với số người ít ỏi trong thành như vậy, chỉ cần có một điểm bị công phá thì sẽ mất toàn bộ thế cuộc.

Giang Bân nắm song đao, sát khí đằng đằng nói:
- Dựng Đại Tướng Quân lên, bắn nát thang của bọn chúng cho ta!

Vài binh sỹ và dân tráng lập tức chạy tới, giúp các pháo thủ mau chóng điều chỉnh lại vị trí của đại pháo.

Xa xa, một cái đài hình thù kì quái, xung quanh dùng gỗ đan chéo lại với nhau được dựng lên. Đài cao chừng năm trượng, trên cùng là một cái bệ, bên dưới là một bệ hình vuông lớn hơn, mặt bên lộ ra hai hàng bánh lăn bằng gỗ, phía trước căng một tấm da trâu. Không thể nhìn rõ bên trong, nhưng khi nhìn thấy cái thứ kì dị đó lắc lư tiến tới, có thể đoán ra quân Thát đang nấp đằng sau tấm da trâu đẩy đài gỗ về phía trước. Quân Thát Đát ở phía sau bắt đầu lúc nhúc di chuyển theo, từ trên thành nhìn xuống trông như một phiến mây đen phủ trên đất tuyết đang tràn đến.

Mặt trời đã lên cao, nhưng lấp lóe khắp nơi lại là ánh sáng lạnh của đao thương, chói lòa khắp cả một vùng. Giang Bân vung đao chỉ về phía cái đài hình chữ “tĩnh” (井) kia hét lớn:
- Mau bắn tan chiến xa công thành đó cho ta!

Quân Thát càng lúc càng tiến đến gần, những binh sỹ đang giương cung cài tên nhoài người về phía trước chợt la lên:
- Đại nhân, phía trước là người dân của chúng ta. Giặc Thát... bọn giặc Thát đã bắt dân của chúng ta dàn hàng ở phía trước.

- Hả?
Giang Bân nghe xong vội lao lên phía trước, vịn tay vào tường đóa * nhìn xuống (*gò nhô lên trên tường). Lúc này quân Thát đã tiến đến rất gần, có thể thấy rõ ở hàng đầu có hai ba mươi người cả nam lẫn nữ, già trẻ đều có, tất cả đều mặc trang phục Trung Nguyên. Lần này thì ngay cả Giang Bân cũng sững người.

Bắn? Nhưng đó đều là con dân Đại Minh, ai có can đảm gánh tội danh đồ sát hương thân này. Không bắn? Nếu để mặc cho quân Thát đến gần, tất cả bọn họ đều sẽ chẳng còn mạng, cả Kê Minh cũng sẽ thất thủ.

Giang Bân đảo tròng mắt, giận dữ mắng:
- Bắn cho ta! Đó là quỷ kế của quân Thát, tất cả đều là bọn quân Thát cải trang, bắn chết hết cho ta!

Nòng của đại pháo đã được nhắm chuẩn vào chiếc chiến xa công thành kia. Nhìn gã pháo thủ cầm bó đuốc châm lên kíp nổ, gò má Giang Bân không khỏi giật giật. Lúc này một dân tráng đột nhiên la lên:
- Không được bắn, không được bắn! Đó là hương thân của chúng ta đấy, ta nhận ra được, người ở bên trái là cậu ta, bọn họ đều là hương lão trên Bá Lạp lĩnh ở gần thành đó!

Ngòi lửa đang cháy “xì xì”, Lưu tuần kiểm nhanh tay lẹ mắt tuốt đao chém một nhát vào trên hỏa pháo, chặt đứt ngòi nổ. Hoàng huyện thừa sợ đến tái mét mặt mày, còn bọn Vương chủ bộ thì đều thở phào một hơi.

Giang Bân nóng ruột giậm chân, trán nổi gân xanh nói:
- Ta nói với chư vị lão đại nhân, nếu bị chiến xa áp sát đầu thành, chỉ với bọn người chúng ta thì căn bản không thể thủ thành được. Bây giờ không phải là lúc mềm yếu như đàn bà đâu!

Hoàng huyện thừa nói:
- Không được! Chúng ta thân là quan phụ mẫu, sao có thể làm tổn thương dân chúng của mình chứ? Hãy chọn mấy tay giỏi tiễn thuật trực tiếp bắn chết quân Thát, ngăn cản bọn chúng áp sát!

Mấy tay quan văn đứng cạnh đều gật đầu lia lịa.

Hạ lệnh bắn phá một trận không cần phân địch ta sao? Chỉ e từ đây ô danh của bọn họ sẽ bị ghi vào tư liệu của huyện, muôn đời bị người chửi rủa. Bọn họ há lại chịu nhận lấy thứ tội danh này sao? Hơn nữa, nếu để cho ngự sử ngôn quan biết được tố cáo lên triều đình, thì cho dù hôm nay có thoát khỏi đồ đao của Thát Đát, e rằng bọn họ cũng sẽ bị hoàng thượng giáng tội.

Mấy tay cung thủ kéo cung buông tên, tên bay vun vút. Song tấm da trâu được căng phía trước chiến xa đã tiến vào tầm bắn kia lại chưa được thuộc, vừa dẻo lại vừa cứng, những mũi tên căn bản không xuyên qua được. Đại đội quân Thát ẩn náu sau chiến xa công thành từ từ tiến đến gần, không hề quan tâm đến tên bắn.

Giang Bân sốt ruột quát lớn:
- Ở đây do ta chỉ huy. Pháo thủ đâu, bắn cho ta, bắn tan chiến xa cho ta!

Hoàng huyện thừa giận dữ, nghiêm mặt quát:
- Kẻ nào dám? Quân Đại Minh lại đồ sát con dân Đại Minh, ở đâu có lý này! Ta là huyện thừa của bổn huyện, khi Mẫn đại nhân vắng mặt, quan viên lớn nhỏ của bổn huyện, kể cả thống lĩnh trú quân đều do bổn quan quản lí, ai dám kháng lệnh?

Đám pháo thủ ngơ ngác nhìn nhau, không biết nên nghe theo mệnh lệnh của ai.

Mấy mũi tên bắn trúng tấm da trâu chỉ khiến cho nó rung lên mấy cái, nhiều nhất chỉ có một hai mũi vạch vào tấm da, không hề có sức uy hiếp. Một gã kị binh Thát Đát một tay cầm thương, phóng ngựa lên trước chiến xa, hét lớn bằng tiếng Hán:
- Phía trước đều là người của bọn ngươi, ai dám bắn? Các ngươi hãy nhìn cho kỹ!

Nói xong hắn quặt ngựa quay về, cúi xuống giật lấy một cái bọc trong tay một thiếu phụ, sau đó phóng ngựa trở lại. Thiếu phụ kia gào khóc chạy theo sau, thình lình một mũi tên nhọn bay đến cắm vào ngay giữa lưng, bà ta lảo đảo mấy cái rồi ngã xuống.

Mọi người trên thành đều sững sờ, trơ mắt nhìn thiếu phụ đó ngã xuống mà không cách nào cứu viện. Gã lính Thát có thân hình vạm vỡ kia cầm thương đến dưới thành, giơ cái bọc trong tay lên, mũi thương sắc bén trên tay phải lập tức đâm xuyên qua nó, chĩa cao lên trời. Gã dương dương đắc chí kêu lớn:
- Chúng ta biết quân phòng thủ trong thành không nhiều, mau mau mở cổng đầu hàng thì còn có thể giữ được mạng, bằng không thì toàn thành sẽ bị giết sạch, ngay cả trẻ nhỏ như vậy cũng quyết không tha!

Người ở trên đầu thành lúc này mới biết cái bọc trong tay mà hắn chọc xuyên qua chính là một đứa trẻ, ai nấy đều giận đến nổ đom đóm mắt. Mấy tay cung thủ đang giương cung chẳng biết vì sợ hãi hay giận dữ mà cánh tay run lên, cũng không kéo cung được nữa.

Thấy máu tươi chảy dọc theo cán thương, từng giọt rơi xuống trên mặt tuyết, Hàn Ấu Nương đưa tay bụm miệng, tay kia thì bấu chặt vào cánh tay Dương Lăng, nước mắt đã nhạt nhòa trên mi.

Mãi một lúc sau, Giang Bân mới đột nhiên rống lên:
- Tất cả đứng ngây ra đó làm con mẹ gì? Khai pháo! Khai pháo cho ta! Cái đám mọt sách ngu xuẩn các người, phải để quân Thát xông lên giết sạch chúng ta thì mới vừa lòng sao?

Hoàng huyện thừa miệng cứ lập cập: “không được... không được...”, nhưng lại không nói ra được câu nào hoàn chỉnh. Dương Lăng cũng không ngờ quân Thát lại tàn nhẫn như vậy, chứng kiến cảnh tượng đẫm máu này, cú sốc tâm lí khổng lồ mới khiến cho hắn nhận ra một hiện thực: hiện tại chính là hiện tại, ngoại tộc của hiện tại chính là ngoại tộc, bọn chúng đều là cầm thú không chút tính người.

Nhìn thấy một đứa trẻ còn quấn trong tã bọc bị một kẻ dã man khát máu một thương đâm chết mà không hề chớp mắt, con ngươi của Dương Lăng đã đỏ ngầu. Gạt mạnh tay Ấu Nương ra, y lao đến trước đại pháo, giật lấy bó đuốc trong tay gã pháo thủ, châm vào ngòi nổ, căng cổ khản giọng hét lớn:
- Mẹ nó! Giết! Giết! Giết!

“Ầm” một tiếng, đại pháo giận dữ gầm lên, đạn pháo chuẩn xác rơi vào trên chiến xa khiến cho phần bệ nổ tung thành từng mảnh. Mấy người dân ở phía trước và quân Thát đang ở dưới bệ đẩy chiến xa công thành đều bị bắn tan xác, máu thịt bay tứ tung, cái khung khổng lồ lắc lư rồi đổ sập. Những người Hán không bị nổ chết bỏ chạy tứ tán, song lại bị mấy mũi tên lông chim bắn theo lần lượt giết chết ngay trên tuyết.

Tên lính Thát vừa uy hiếp khiêu chiến dưới thành thấy vậy liền khiếp sợ, lập tức quay đầu ngựa định chạy về. Nhưng ngựa vừa mới xoay đầu, một mũi tên nhọn đã xuyên qua sau gáy hắn, lộ ra bên dưới cổ. Tên lính Thát kia không kịp kêu lên một tiếng, ngửa mặt lên trời rơi xuống, một chân vẫn móc vào bàn đạp ngựa, cái xác bị chiến mã lôi về.

Trên đầu thành, Hàn Ấu Nương mắt đỏ hoe, tay giơ cây chiến cung vừa đoạt lấy từ trong tay binh sĩ ở bên cạnh, lại lắp một mũi tên nữa vào. Loại cung lớn thủ thành này có tốc độ bắn rất nhanh, không giống như nỏ ngắn dùng trong khoảng cách gần mà lại khá giống với loại trường cung mà nàng hay dùng khi đi săn thú ở trong núi. Năm mười hai tuổi nàng đã từng dùng trường cung bắn trúng con báo đang chạy băng băng trong rừng rậm, đương nhiên chẳng phí chút sức để bắn trúng tên lính Thát không hề được che chắn này.

Thấy tấm “khiên người” đã mất đi tác dụng, bọn quân Thát liền hò hét khiêng hơn mười chiếc thang gỗ phân làm mấy đội lao về phía tường thành.

Đại pháo lại bị bật ra khỏi vị trí. Khói thuốc súng tan đi, chỉ thấy Dương Lăng tay cầm cây đuốc, cả người run lẩy bẩy như một chiếc lá vàng rơi trong gió. Mặt y bị khói hun đen thui, mở cặp mắt đỏ kè chậm rãi xoay người nhìn về phía bọn người Hoàng huyện thừa và Mã dịch thừa, cất giọng khàn khàn nói:
- Bị rắn cắn tay, tráng sĩ chặt bỏ. Đại cuộc... đại cuộc làm trọng!

Hoàng huyện thừa nhìn hắn chằm chằm, đột nhiên hét lớn một tiếng, điên cuồng lao tới, dùng hết sức ôm một khối lôi thạch ném mạnh xuống dưới thành. Đám người Vương chủ bộ và Mã dịch thừa cũng như hoá điên, tất cả đều xông lên. Giang Bân không dám để cho bọn họ chết hết ở đây, lập tức gọi mấy binh sĩ cả ôm lẫn nhấc kéo đám người đọc sách kia vào trong gác canh.

Y bước đến trước mặt Dương Lăng, vỗ mạnh lên vai khen:
- Thể hiện rất tốt, mềm yếu như đàn bà thì làm được đại sự gì chứ! Cho dù người khác thấy thế nào, gần vạn dân chúng Kê Minh nếu có thể giữ được tính mạng đều là nhờ ngươi đó.

Nói đoạn y nhổ một bãi nước bọt xuống đất, quát lớn:
- Tiếp tục khai pháo, bắn nát hết thang gỗ của quân Thát đi!

Nhưng lúc này quân lính Thát Đát dưới thành đã tránh cổng chính, phân làm hai cánh dựng thang lên tường thành, bắt đầu tấn công mạnh mẽ, vì vậy tác dụng của đại pháo đã giảm đi.

Dương Lăng lùi qua một bên, bất luận là tiếng hí của chiến mã, tiếng tên bay xé gió, hay là tiếng la hét chém giết, mọi thứ dường như đã trở thành âm thanh của một thế giới khác. Trên vài chiếc thang gỗ đã có người leo lên tới đầu thành, nhưng lại bị Giang Bân dẫn người mạnh mẽ ép xuống. Y vẫn hồn bay phách lạc đứng đấy, giống như còn chưa tỉnh lại. Mặc dù biết rằng biện pháp lí trí nhất lúc đó chính là phải nhẫn tâm nã pháo, nếu không thì sẽ còn chết nhiều người hơn, nhưng những người dân đó chết là do chính tay mình, y vẫn có một cảm giác tội lỗi nặng nề.

Tạc đạn đã dùng hết, những dân tráng vốn nhát gan sợ chiến dường như cũng đã bị kích động khiến cho sự dũng cảm ẩn giấu trong người trỗi dậy, ném đá, lăn gỗ, rải vôi, tất cả đều được sử dụng, không ít người còn nhặt lấy đao thương của quân sỹ đã chết tham gia giáp chiến. Quân Thát hoàn toàn là lấy thịt đè người hòng mở ra một con đường, thề phải hạ Kê Minh cho bằng được.

Ở không xa, trên một chiếc thang đã có bốn gã lính Thát xông lên thành, đang kịch chiến với quân Minh, phía sau còn có người không ngừng leo lên. Giang Bân thấy tình thế không ổn, liền múa hai thanh mã đao nhuộm máu lao tới như một cơn lốc.

Dương Lăng bị tiếng hét thảm thiết ở ngay bên cạnh làm cho bừng tỉnh. Lúc này quan binh thủ thành đang thiếu người, chỗ bị khuyết đó đã không còn quân bổ sung. Y không cần suy nghĩ, liền nhặt lấy một cây trường thương rồi xông đến.


-----*-----


* Trích trong câu “phúc xà thích thủ, tráng sỹ giải oản” ví dụ về việc tự chặt tay để tránh độc tố lan khắp người. Nghĩa bóng chỉ việc hy sinh một phần để bảo vệ cho toàn cục.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

anubis1603
13-07-2010, 07:13 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 24: Phong Ma côn pháp

Dịch: TheJoker

Biên dịch: lamsonquaikhach

Biên tập: anubis1603

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Dương Lăng say mê ngắm nhìn, hai nắm tay siết chặt lại, trong lòng không ngừng kích động. Y thầm hạ quyết tâm, nếu hôm nay có thể thoát chết thì nhất định phải bảo nàng dạy cho vài ngón bộ côn pháp này.




Hàn Ấu Nương sử dụng một cây phong hỏa côn, nàng đứng cùng với những pháo thủ đã bỏ đại pháo tay lăm lăm đao thương ở trên đầu thành chống địch, luôn để mắt tới Dương Lăng, thấy y không ngờ lại lượm thương xông về phía lũ giặc Thát thì sợ đến kinh hồn bạt vía. Tướng công là một kẻ đọc sách, thân thể xương cốt lại yếu ớt, đánh với một tráng hán bình thường sợ đã không nổi rồi, sao có thể là đối thủ của những tên giặc Thát giết người không chớp mắt này chứ? Nàng vung côn đập lên vai một tên giặc Thát vừa mới nhảy tót lên đầu thành, quét gã rơi xuống, đoạn co chân phóng đi.

Địch ta giáp chiến trên chiến trường không hề màu mè hoa lá, hoàn toàn đều là những động tác chém, bổ, đâm, đơn giản và trực tiếp nhất. Song vừa mới giao thủ, Dương Lăng mới biết hoàn toàn không chỉ là như vậy, sức lực và tốc độ của hắn căn bản không cách nào so được với những kẻ quanh năm rong ruổi trên chiến trường này. Một gã giặc Thát vừa cầm đại đao cứa qua cổ một binh sỹ, thuận thế khều một cái đã hất văng cây thương trong tay Dương Lăng.

Một tiếng quát vang lên chói tai, đại đao bổ xuống ngay đầu, Dương Lăng nhìn thanh đại đao ập xuống mà trong lòng chỉ nghĩ: "Đến rồi, mình lại chết nữa. Ấu Nương đâu rồi?" Y không tránh được nên cũng chẳng muốn tránh, trong tích tắc đối diện với cái chết này, y chỉ muốn được nhìn thấy Ấu Nương một lần nữa.

Mới quay đầu được nửa vòng, y đã trông thấy Hàn Ấu Nương đang phóng nhanh về phía y như một con báo mẹ bảo vệ con, khăn vấn trên đầu đã rơi xuống, bím tóc tung bay trong gió, khuôn mặt ửng đỏ như hoa đào.

Người và côn như biến thành một đường thẳng, vù một tiếng, đầu côn đã nhanh chóng điểm tới bên trên đỉnh đầu Dương Lăng. Một tiếng "coong" vang lên, thanh đại đao vừa mới tới đỉnh đầu bị Hàn Ấu Nương điểm trúng khiến cho thế đao đang chém thẳng xuống bị đẩy lệch đi, bổ chệch xuống đất thành một đường sâu hoắm.

Hàn Ấu Nương vừa đến, liền tì vai xuống đất mượn thế lộn một vòng về phía trước, búng người vung côn, điểm bộp vào giữa ngực tên giặc Thát đó. Lực đạo của một côn này cực mạnh, gã lui lịch bịch mấy bước về phía sau, chân còn chưa vững, Hàn Ấu Nương đã nhún chân xoay eo phóng tới hai bước. "Bộp bộp bộp", bóng côn như gió táp mưa sa quất vào bên trái cổ, bên phải cổ, giữa trán, hạ bộ; đánh cho gã ngã cũng không thể ngã mà la cũng không kịp la.

Dương Lăng trố mắt ra nhìn, chỉ thấy Hàn Ấu Nương múa côn quanh người, nắm giữa thân bổng, mũi côn sạt qua trước ngực Dương Lăng, mang theo tiếng gió rít vù vù. Thân người vừa xoay, tay đã trượt xuống đầu côn, cả cây vẩy lên như đuôi báo, quất mạnh vào yết hầu của gã giặc Thát. Dương Lăng nghe rõ thấy tiếng xương cổ họng vỡ nát răng rắc. Một côn này vậy mà đã đánh văng cả tấm thân to lớn đó bay lên, lộn một vòng trên đầu thành rồi rơi xuống dưới đất.

Mấy chiêu này của nàng đều độc địa mãnh liệt, côn pháp vừa nhanh lại vừa hiểm, khiến cho người ta hoa mắt, bộ pháp lại càng mạnh mẽ có lực. Vừa thấy đầu thành lại ló ra một cái đầu người, đầu côn liền đâm tới như chớp. Một côn như mũi kích điểm ngay mi tâm gã đó, gã chưa kịp thấy rõ địch nhân thì đã ngã ngửa mặt lên trời.

Hàn Ấu Nương thu côn lùi lại về bên cạnh Dương Lăng, hai gối mềm nhũn gần như sắp quỵ xuống, nàng vội lấy côn chống xuống đất, lúc này mới ổn định lại thân hình. Còn Dương Lăng thì vẫn đang trợn mắt há mồm mà nhìn, thấy sắc mặt nàng trở nên trắng bệch, trán vã mồ hôi, y sợ hãi vội vàng dìu lấy nàng hỏi han:
- Ấu Nương, nàng sao rồi, bị thương ở đâu? Bị thương ở đâu?

Hàn Ấu Nương run giọng:
- Tướng công, Ấu Nương không sao, chỉ là. . . chỉ là một đao đó làm cho thiếp sợ muốn chết, hu hu hu. . .

Đương sự chẳng làm sao cả, còn nàng thì lại không ngớt nức nở.

Lúc này Giang Bân mới nhận thấy kẻ hậu sinh võ nghệ siêu quần đó không ngờ lại là một cô bé, còn cho rằng nàng vì vừa mới giết người cho nên thấy sợ, hắn vung đao liên tiếp chém mấy tên giặc Thát rồi cười ầm lên:
- Sợ gì chứ, lão tử lần đầu trên chiến trường thì chân cẳng cứ co rúm lại, tiêu trưởng phải túm cổ bắt ta xông lên phía trước đấy. Giết thêm mấy tên nữa thì cô sẽ hết sợ thôi.

Giang Bân đã chém giết đến say máu, hắn nhảy vọt lên tường thành, một cước đạp bay tên địch vừa mới bò lên, tay vung mã đao điên cuồng chém liên tiếp mấy đao, chặt đứt giây thừng buộc thang gỗ. Mấy tên giặc Thát vừa mới leo lên được nửa thang đã kêu thảm ngã xuống.

Nhất thời dưới thành tên bắn lên như mưa, tất cả đều nhắm vào Giang Bân. Giang Bân đứng trên đầu thành, song đao trong tay múa tít đến mức gió mưa không lọt, chặn rớt hết những mũi tên đó. Trông thấy võ tướng thống lĩnh thần dũng như vậy, những binh lính vốn đã chớm khiếp sợ ở chung quanh lập tức phấn chấn sỹ khí, tạm thời áp chế được thế công của giặc Thát.

Hàn Ấu Nương dìu đỡ Dương Lăng, nói:
- Tướng công, chàng hãy mau chạy lên lầu gác đi

Dương Lăng giậm chân chán nản. Khốn khiếp, thực đúng là tay không thể nâng vai không thể gánh, một chút hữu dụng cũng không có. Ngoài việc ném đá xuống dưới thì chỉ còn cung tên, mà cái nào cũng không phải là thứ mà người chưa từng đụng vào như mình có thể chơi được.

Thế nhưng bản thân Dương Lăng cũng tự hiểu, vừa rồi suýt nữa thì bị người ta chém chết, lại thấy Hàn Ấu Nương vì mình mà hoảng sợ như vậy, y cũng không dám làm tàng nữa, chỉ đành ngoan ngoãn lủi thủi đi lên lầu gác, trước khi đi còn hỏi vội một câu:
- Không ngờ võ nghệ của nàng lại giỏi như vậy. Đó là côn pháp gì vậy?

Hàn Ấu Nương đỏ mặt, bẽn lẽn nói:
- Là do cha thiếp dạy cho, Ấu Nương cũng không rõ nữa.

Thấy y đã bước vào lầu gác, lúc này Hàn Ấu Nương mới yên tâm, nàng lập tức xách côn chạy về bên Giang Bân cùng sát vai tác chiến. Chỉ cần chỗ nào bị giặc Thát đánh hở ra, bọn họ một đao một côn liền tấn công như sấm sét, nhanh chóng đẩy lui được bọn giặc Thát.

Giang Bân dũng mãnh thì Dương Lăng đã từng chứng kiến tận mắt, nhưng y không ngờ võ nghệ của Hàn Ấu Nương cũng xuất chúng như vậy. Một cây phong hỏa côn trong tay nàng múa đủ loại động tác: đập, đâm, quét, hất; côn ảnh mù trời như giao long xuất thủy. Thật không ngờ một cô bé con ngày thường nhu hòa nhút nhát như vậy, thế mà bây giờ lại nhe nanh múa vuốt hệt như một con sư tử hung mãnh.

Dương Lăng say mê ngắm nhìn, hai nắm tay siết chặt lại, trong lòng không ngừng kích động. Y thầm hạ quyết tâm, nếu hôm nay có thể thoát chết thì nhất định phải bảo nàng dạy cho vài ngón bộ côn pháp này. Đang xem đến nhiệt huyết dâng trào, bên cạnh bỗng có người vỗ lấy vai y. Quay đầu lại nhìn thì thấy Vương chủ bạ đã theo sát đến bên cạnh, trên khuôn mặt loang lổ vệt xanh vệt đen. Dương Lăng cũng bị khói thuốc súng hun đen thui, chỉ còn mỗi tròng mắt là còn trắng. Hai người bọn họ trông như một cặp tiểu quỷ vậy.

Lão đứng sát Dương Lăng, song cặp mắt lại chằm chằm nhìn phía tướng sỹ đang giáp chiến khắp nơi, giống như đang cùng y sóng vai theo dõi tình hình quân địch, hắn khẽ mở miệng nói:
- Dương sư gia, cậu làm không hề sai, đó là sự lựa chọn bất đắc dĩ, các đồng liêu sẽ không ai nói ra nói vào gì. Chỉ có điều. . . cậu nên coi chừng Mã dịch thừa.

Dương Lăng ngơ ngác, cũng khẽ hỏi:
- Tại sao phải coi chừng ông ta?

Vương chủ bộ gượng cười đáp:
- Dịch thừa là một chức nhỏ không đáng tính, cậu nói xem lão ta dựa vào cái gì để ngồi ngang hàng với huyện thái gia?

Lão húng hắng vài tiếng, đoạn nói tiếp:
- Dịch thừa của Đại Minh chúng ta hết thảy đều là mật thám của cẩm y vệ, cẩn thận là trên hết.

"Cẩm y vệ?" Dương Lăng thầm giật mình. Y vốn vẫn cho rằng cẩm y vệ đều là đại nội thị vệ bên cạnh hoàng đế, không ngờ một "cục trưởng bưu chính" kiêm "chủ nhiệm kho lương" lại cũng có thể dây dưa với cả cẩm y vệ. Mạng lưới tình báo của Đại Minh này đúng là phát triển thật đấy.

Nghĩ đến mối quan hệ giữa mình và Mã dịch thừa, y hơi yên tâm, nhưng vẫn cảm thấy có chút bất bình, bèn nói:
- Dân chúng dưới thành rõ ràng đã không còn đường sống, cho dù có thể sống đi chăng nữa, đem hai thứ lên cân, mấy vạn mạng người so với mấy chục mạng, chẳng lẽ còn không phân biệt được bên nào nặng bên nào nhẹ sao?

Vương chủ bạ cười khan vài tiếng, thở dài nói:
- Trừ phi kéo được bọn ngôn quan ngự sử cao cao tại thượng ở trong kinh thành lên đầu thành này, bằng không chỉ sợ bọn họ sẽ không nghĩ như vậy đâu.
Nói xong Vương chủ bạ lặng lẽ bỏ đi.

Dương Lăng quay đầu liếc nhìn thì thấy Hoàng huyện thừa đang đứng cùng với Mã dịch thừa trò chuyện gì đó. Ánh mắt thoạt giao nhau, y liền nhận thấy sự quan tâm của lão, Dương Lăng lập tức hiểu ra lão đã cố ý giữ chân Mã dịch thừa để Vương chủ bộ đến căn dặn y những lời này.

Trong lòng y có chút nghi hoặc: "Nhưng mình đã cứu lấy con trai của lão ấy mà, chẳng lẽ Cẩm Y Vệ đều lãnh khốc vô tình như vậy sao? Hoàng huyện thừa căn dặn như vậy cũng khẳng định là muốn mình tìm cơ hội hối lộ Mã dịch thừa thật tốt đây. Khục! Dù gì thì mình cũng chẳng sống được bao lâu nữa, muốn mình chết thì còn được, chứ muốn moi tiền ta thì còn khuya. Bằng không Ấu Nương của mình sẽ sống như thế nào?"

Ấu Nương của mình? Nghĩ đến đây, con tim của "kẻ keo kiệt số một" chợt rung lên một chập. Ngước nhìn lên thành, chỉ thấy bóng lưng Hàn Ấu Nương đang múa côn vun vút, hai bím tóc đen nhánh rũ xuống đến tận hông đang vung vẩy sau lưng.

Đúng vào lúc này, Lưu tuần kiểm giơ cung la rầm lên:
- Quân Thát bị đánh lui rồi, quân Thát bị đánh lui rồi.

Hai người Hoàng huyện thừa và Mã dịch thừa đang trò chuyện vừa nghe thấy nhất tề chen nhau chạy lên. Chỉ thấy quân Thát rút về như thuỷ triều, vừa lui vừa không ngừng bắn tên lên đầu thành yểm trợ cho bọn binh sĩ đang leo thang công thành rút xuống.

Trông thấy bọn chúng tiến lui có trật tự không hề hoảng loạn, tuy không hiểu trận hình nhưng Dương Lăng cũng nhận ra đội hình những tên giặc Thát đó tuy hỗn tạp nhưng không loạn, vẫn lờ mờ lộ ra vài đội hình tấn công, y không khỏi buột miệng thốt lên:
- Quân Thát đang làm gì vậy? Chỉ cần bọn chúng cường công một lần nữa thì sẽ có thể trèo lên đầu thành rồi, sao lại đột nhiên thoái lui thế?

Vương ban đầu cười ha hả nói:
- Dương sư gia, cậu nói quân Thát thì không sợ chết sao? Bọn chó đẻ đó đã bị chúng ta đánh cho cong đít rồi.

Trực giác của Dương Lăng cảm thấy có chút không đúng, nhưng lại không nói ra được nguyên nhân. Trái với những quan văn đang hết sức cao hứng, đầu óc y vẫn còn tương đối minh mẫn. Ngẫm nghĩ một chút, y đột nhiên kêu lên:
- Không hay, chẳng lẽ bọn chúng muốn tấn công hai cổng đông tây sao? Chúng ta vừa mới rút đi một phần nhân lực ở hai cổng đó về, chỗ đó thực lực yếu đi rồi.

Lúc này Giang Bân cũng đã vội vã chạy về. Trời rét căm căm, nhưng y đã cởi bỏ chiến bào, để trần hai cánh tay, song đao trong tay đã oằn cả lưỡi, bên trên bầy nhầy máu thịt. Nghe được Dương Lăng nói vậy, hắn liền tiếp lời:
- Chắc không đâu, hai phía đông tây đường phố chật hẹp, bình thường cổng thành đều đóng chặt, chúng ta tuy ít người nhưng bọn chúng cũng sẽ không thể phái đại đội nhân mã chiến đấu. Có điều, ta thấy giặc Thát tất có quỷ kế.

Hàn Ấu Nương đã chạy trở về, trong lầu gác là một đám lão gia đại nhân nên nàng cũng không tiện bước vào, bèn đứng ở bên ngoài cửa nhìn Dương Lăng, hai má ửng đỏ, tóc ướt bệt lên cả trán. Dương Lăng khẽ mỉm cười với nàng, đoạn bước tới mấy bước, che tay lên trán nhìn xuống phía dưới thành.

Trên mặt đất phủ đầy tuyết, quân Thát dạt ra thành một lối đi, chính giữa xuất hiện bốn thớt tuấn mã đang kéo hai vật đen ngòm tiến về thành. Dương Lăng còn chưa kịp thông báo phát hiện của y, Giang Bân đã như một con gà bị cắt tiết nhào tới phía trước, ngẩn ra một chút rồi nhảy dựng lên, căng họng hét lớn:
- Khốn khiếp! Là “Oanh Thiên Phích Lịch Mãnh Hỏa Pháo”!

-----*-----



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
17-07-2010, 09:06 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 25: Thời khắc hiểm nguy

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Mặc dù thời đại này chưa có khái niệm về việc chăm sóc gia đình liệt sỹ, nhưng nếu như mình tử trận tại đây, ngày sau ắt hẳn Mẫn huyện lệnh và Vương chủ bạ sẽ chiếu cố cho Ấu Nương!

Chương 25 - Thời khắc hiểm nguy

Hoàng huyện thừa mắt không được tốt nên không thấy rõ hai vật đó, nhưng ở trong cái tiểu trấn chốn biên thuỳ này đã nhiều năm nên lão đương nhiên biết "Oanh Thiên Phích Lịch Mãnh Hoả Pháo" là gì, vừa nghe xong sắc mặt lão lập tức trắng bệch.

"Oanh Thiên Phích Lịch Mãnh Hoả Pháo" có thể dùng để thủ thành, nhưng công thành mới đúng là sở trường của nó, uy lực của đạn pháo đủ để phá huỷ cổng thành, đánh sập tường thành. Hiện giờ quân Thát dưới thành có hơn ba ngàn quân, một khi cổng thành bị phá hủy, trạm Kê Minh tất sẽ không giữ được. Có điều không biết bọn chúng kiếm ở đâu ra loại đại pháo này.

Vốn là Bác Đạt Nhĩ Mô - chủ tướng của quân Thát trong cuộc tiến công ba quan ải Nhị Lí Bán, Ngũ Lí Phố và Kê Minh lần này - vừa dẫn quân đi công phá trạm Nhị Lí Bán, đang phóng hoả chém giết cướp bóc trong thành thì nghe nói thằng con Húc Liệt Bột Tề của Bá Nhan Mãnh Khả đã bị quân Minh giết chết. Hắn lập tức hạ lệnh cho phó tướng Hất Lâm Đạt Đạt dẫn quân đến Kê Minh, thề phải giết sạch toàn thành để báo mối thù này.

Hắn cũng biết Kê Minh khó đánh hơn Nhị Lí Bán nhiều, cho nên đích thân thống lĩnh hơn một ngàn quân, mang theo "Oanh Thiên Phích Lịch Mãnh Hoả Pháo" vừa đoạt được từ Nhị Lí Bán tiến thẳng tới Kê Minh. Khi vừa đến nơi, nghe nói quân sỹ công thành đã tử thương hơn ngàn, hắn lập tức hạ lệnh cho đại quân rút lui, định dùng hoả pháo bắn sập huyện thành.

Giang Bân tuy kiêu dũng, song giờ phút này cũng biết đại thế đã mất, y quẳng hai thanh mã đao đã quăn hết lưỡi xuống đất, nói với Hoàng huyện thừa:
- Hoàng đại nhân, bỏ thành thôi!

Hoàng Kỳ Dận mặt xám như tro, chòm râu dài dưới cằm run rẩy không ngừng, trả lời:
- Bỏ thành ư? Ngươi và ta có nhiệm vụ giữ mảnh đất này, nếu bỏ thành chạy trốn thì sẽ phải bẩm báo với Thánh thượng ra sao? Hoàng mỗ nguyện cùng sống chết với thành!

Giang Bân trợn tròn hai mắt nhìn đám quan viên huyện nha, gầm lên tức giận:
- Nếu cổng thành bị phá, đương nhiên Kê Minh sẽ thất thủ, chẳng lẽ mọi người lại phải chịu chết một cách vô ích hay sao? Lúc cần quyết đoán thì phải quyết đoán, nếu không sẽ sinh họa đó!

Sau đó y chợt xoay người lại, quát bảo một tên binh sỹ:
- Mẫn đại nhân đã tỉnh chưa? Ta muốn bẩm báo quân tình với Mẫn đại nhân!

Tên lính đó nơm nớp sợ hãi thưa:
- Mẫn đại nhân vẫn sốt cao, hãy còn chưa tỉnh.

Giang Bân nghe thế thì nghiến răng ken két, đi tới đi lui trong phòng như con gấu bị nhốt trong chuồng. Đám quan viên đưa mắt nhìn nhau, trong bọn họ đã có kẻ lộ vẻ kinh sợ, nhưng không ai dám đầu têu xướng lên hai chữ "bỏ thành".

Dương Lăng không hiểu các vấn đề rắc rối bên trong, y chỉ nghĩ không thủ được thì lui, hà tất phải so đo chuyện được mất của một vùng, sau này quy tụ lực lượng quay về chiếm lại là được rồi. Y nào biết đối với cổ nhân hai chữ khí tiết so với tính mạng còn quan trọng hơn nhiều, cho nên có đôi khi chuyện bọn họ làm sẽ là hành vi vô cùng ngu xuẩn ở thời hiện đại, nhưng trong thời đại này thì lại rất bình thường.

Y bước tới thưa với Hoàng huyện thừa:
- Đại nhân, kết cục đã rõ rồi, sao không thừa dịp quân Thát chưa tiến đánh mà mau chóng rút lui? Quân nhu vật tư tuy không kịp mang đi, nhưng bảo vệ được tính mạng của mọi người quan trọng hơn mà. Núi xanh còn đó, sao phải lo không có củi đun?

Hoàng huyện thừa không lớn tiếng mắng y, lão chỉ mệt mỏi khoát tay, thở dài đáp:
- Bọn quân Thát đều giỏi cưỡi ngựa, bây giờ dù có bỏ thành cũng không thể chạy thoát, tiếp tục thủ thành thì còn có thể giết thêm được mấy tên.

Dương Lăng vội hiến kế:
- Vậy thì chúng ta tiếp tục ở lại nơi này kéo dài thời gian, đồng thời phái vài vị đại nhân tổ chức cho dân lành mau chóng trốn ra ngoài theo cổng bắc, sau khi ra khỏi thành lập tức chạy lên núi. Kỵ binh của quân Thát dù có lợi hại hơn đi chăng nữa thì cũng chẳng cách nào truy sát được dân chúng trong vùng sơn dã bạt ngàn. Vả lại đám quân Thát này còn chưa đủ năng lực để đoạt lấy giang sơn Đại Minh ta đâu, chẳng qua chỉ sắm vai cường đạo kéo đến cướp bóc một phen mà thôi. Vào được thành thế nào bọn chúng cũng sẽ đi lục soát vơ vét của cải, ít nhiều cũng phải mất một quãng thời gian.

Hoàng huyện thừa hai mắt sáng rực, khen:
- Chính thế! Lão phu đã hồ đồ rồi.

Lão lập tức quay sang hạ lệnh cho Vương chủ bạ và mấy vị hương thân chưa kịp rời đi:
- Vương chủ bạ, ông và Mã dịch thừa hãy cũng các vị Lý trưởng, Bảo trưởng (*) tổ chức cho dân chúng rời thành theo cổng bắc, sau đó chia nhau trốn lên núi!

(*) Thời xưa mười hộ gọi là một giáp, mười giáp gọi là một bảo, từ mười bảo trở lên là một thôn. Đứng đầu một bảo là Bảo trưởng, đứng đầu một thôn là Lý trưởng – ND.

Vương chủ bạ ngạc nhiên hỏi lại:
- Đại nhân, còn ngài thì sao?

Hoàng huyện thừa cương quyết:
- Tuy lão phu là một thư sinh, không thể cầm kiếm giết địch, nhưng cũng sẽ cùng các tướng sỹ thủ thành đồng sinh cộng tử!

Giang Bân thấy lão định hy sinh cùng thành như thế, thầm đoán chắc hẳn lão còn có ý ở lại giám sát và đôn đốc mình tác chiến. Y cười rộ, đoạn nghiến răng quay sang phía gần trăm tàn binh đều đã thương tích đầy mình, cười gằn:
- Được, hơn trăm cân (*) thịt này của lão tử sẽ ở lại đây, giết thêm được tên nào thì hay tên đó. Các ngươi mau trở về vị trí, thề chết không lui! Kẻ dám tự ý thoái lui, giết không tha!

(*) Cân Trung Quốc, hai cân tương đương 1kg – ND.

Hoàng huyện thừa liếc nhìn Dương Lăng, bảo:
- Hiền điệt, ngươi... hãy đưa Mẫn đại nhân rời thành đi!

Dương Lăng một mặt cảm phục khí phách của Hoàng lão phu tử, mặt khác y nghĩ dù có trốn thoát thì mình cũng chẳng còn sống được bao lâu, chi bằng cứ ở lại đây. Mặc dù thời đại này chưa có khái niệm về việc chăm sóc gia đình liệt sỹ, nhưng nếu như mình tử trận tại đây, ngày sau ắt hẳn Mẫn huyện lệnh và Vương chủ bạ sẽ chiếu cố cho Ấu Nương!

Nghĩ đến đó, y cất giọng hiên ngang lẫm liệt:
- Không! Tại hạ cũng sẽ ở lại đây, cùng giữ thành với Hoàng lão và các tướng sỹ.

Vương chủ bạ được lãnh nhiệm vụ sơ tán dân lành, quả thực trong lòng cũng nhẹ nhõm đi nhiều, lúc này thấy hành động của Dương Lăng thì vô cùng hổ thẹn, khí phách thư sinh nổi lên cũng lập tức nói:
- Ăn lộc vua mà chẳng thể giúp gì cho vua! Ôi, hổ thẹn làm sao, thật đã uổng công đọc sách thánh hiền! Dương sư gia, xin cậu hãy dẫn đại nhân rời đi, ta sẽ ở lại.

Dương Lăng còn trông cậy lão sau này chiếu cố cho Hàn Ấu Nương, sao nỡ để lão ở lại chịu chết cơ chứ? Y vội vàng khom người vái lão một cái thật sâu rồi bảo:
- Vương chủ bạ phải phụ trách sự an nguy của trăm họ cùng tính mạng của Mẫn đại nhân cùng gia quyến, trách nhiệm nặng nề, sao có thể ở lại được chứ? Ngài hãy mau đưa Mẫn đại nhân rời đi, còn chậm trễ nữa sẽ không kịp đó. Có điều... tiểu điệt có một chuyện muốn nhờ. Sau này xin đại nhân chiếu cố chuyết kinh (bà xã - cách nói xưa) Ấu Nương nhiều cho một chút!

Vương chủ bạ cảm động khôn cùng, nước mắt chảy dài trên mặt. Lão thấy Dương Lăng lấy vai tiểu điệt mà nhờ mình, bèn lập tức đáp luôn:
- Hiền điệt cứ yên tâm, chỉ cần lão phu còn một hơi thở, quyết sẽ không phụ sự uỷ thác!

Nói đoạn lão lập tức gọi người lên lầu khiêng Mẫn huyện lệnh xuống.

Mã dịch thừa sớm đã khiếp sợ trong lòng, lão vốn chỉ là Dịch thừa, lại mới tới nơi đây, chưa có tình cảm sâu nặng gì với Kê Minh, chỉ mong mau chóng dẫn hai con lập tức trốn đi. Thấy tình hình như vậy lão vội ra đứng ở cửa chỉ huy đám hương thân phụ lão nhanh chóng rời đi, chuẩn bị sơ tán dân lành ra khỏi thành.

Dương Lăng ba chân bốn cẳng chạy đến cửa lầu gọi Hàn Ấu Nương:
- Ấu Nương! Thành đã không thể giữ được nữa rồi, nàng hãy lập tức theo Vương chủ bạ bảo vệ Mẫn đại nhân rời thành chạy lên núi đi!

Hàn Ấu Nương vội hỏi:
-Tướng công, vậy còn chàng?

- Ta... Nàng và bọn họ cứ đi trước một bước, ta sẽ theo sau ngay.
Dương Lăng thuận miệng đáp bừa.

Hàn Ấu Nương tỏ vẻ ngờ vực nhìn y, sau cùng kiên quyết:
- Không, thiếp theo chàng. Nếu đi thì chờ chàng cùng đi.

Dương Lăng sốt ruột, nghiêm giọng quát:
- Sao nàng hồ đồ vậy? Lời của vi phu (chồng, nói khiêm) mà nàng một câu cũng chẳng thèm nghe... Có phải là muốn ta bỏ nàng ngay bây giờ không hả?

Y càng thúc hối, Hàn Ấu Nương càng tin y đã quyết tâm sống chết cùng thành, chỉ có điều nàng không biết sự "vĩ đại" của y hoàn toàn là vì tình cảm riêng tư mà thôi. Tiểu cô nương này vốn tính tình đáo để, chẳng qua nàng chưa từng tỏ ra ương bướng trước mặt y bao giờ. Tuy nhiên lúc này nàng cũng chẳng để tâm tới "tam tòng tứ đức" gì đó nữa, gân cổ lên cãi:
- Thiếp chưa từng phạm vào thất xuất chi lệ (1), vì lẽ gì mà tướng công đòi bỏ thiếp?

- Nàng...!
Dương Lăng nổi nóng, vung tay định đánh. Hàn Ấu Nương nhắm mắt đứng yên, hoàn toàn không hề có ý tránh né. Dương Lăng đã giơ tay lên, lại thấy khuôn mặt non nớt của nàng, sao có thể đành lòng ra tay được chứ?

Chính vào lúc này hai tiếng nổ "ầm, ầm" chợt vang lên, Giang Bân la lớn:
- Quân Thát bắn pháo rồi!

Dương Lăng không nghĩ ngợi gì, lập tức ôm Hàn Ấu Nương nhào xuống đất, đè lên người nàng.

Sau một hồi chấn động, đất bụi mịt mù bay khắp nơi, một góc ngôi lầu bị bắn trúng, cả toà lầu sụp xuống non nửa. Gạch, đá, ngói, gỗ không ngừng rơi xuống, đám thân sỹ quan viên trong phòng bị gạch đá văng tung toé đập trúng, ít nhiều đều bị thương. Quá nửa số thương binh vốn đang nằm ở góc tường bị chôn sống trong đống gạch ngổn ngang.

Thật ra không chỉ đám người trong phòng ngu ngốc, những binh sỹ bên ngoài cũng căn bản chẳng hiểu đạo lý nằm sấp xuống đất sẽ có thể giảm thiểu tối đa lực sát thương của vụ nổ. Chúng ta bây giờ xem riết nên quen, cứ tưởng rằng đây là một chuyện vặt vãnh mà con người vốn đã biết từ lúc sinh ra, thực ra con người đã phải mò mẫm tìm hiểu qua bao thế hệ mới phát hiện được chuyện này.

Hàn Ấu Nương bị Dương Lăng xô ngã xuống đất, lại bị y nằm đè lên người, trong lòng hơi có chút mơ hồ, không rõ đây là gia pháp mới phát minh gì của phu quân, sau vụ nổ mới chợt hiểu rằng phu quân sợ mình bị thương. Vội vàng trở mình ra khỏi người Dương Lăng, lập tức nàng nhìn thấy một đống ngói vụn bên người Dương Lăng, trên lưng y còn bị một nửa khung cửa sổ đè lên. Nàng hoảng sợ, vội vã lôi khung cửa sổ ra, lo lắng hỏi:
- Tướng công, chàng có bị thương không?

Vào lúc này, một thân sỹ vốn đã chạy tới bên cầu thang run rẩy đứng dậy rồi hốt hoảng la to:
- Mau cứu người, Mã dịch thừa bị chôn ở bên dưới rồi.

Cùng lúc ấy Giang Bân đang nằm bò trên tường thành đột nhiên phát ra một tràng cười điên cuồng:
- Mụ nội nó! Bắn hay lắm, bắn hay lắm! Ha ha ha ha...

Giang bả tổng điên rồi sao? Lúc này đám người Hoàng huyện thừa tóc tai mặt mũi đầy đất bụi, không hẹn mà cùng trợn tròn mắt nhìn y. Chỉ thấy Giang bả tổng vung tay chỉ xuống dưới thành điên cuồng cười mãi không ngớt.

Mọi người dõi mắt nhìn xuống dưới thành, chỉ thấy có một khẩu "Oanh Thiên Phích Lịch Mãnh Hoả Pháo" của quân Thát văng ra khỏi chỗ cũ mấy trượng, giá pháo bay lên trời rồi rơi vào giữa đám đông, khiến tử thương mất một mớ. Khẩu đại pháo kia thì chỉ còn trơ lại một cái nòng đang nằm trong một cái hố đen ngòm, một bánh của giá pháo vẫn còn chậm rãi lăn trên tuyết, mãi một lúc mới ngã xuống.

Ai nấy đều lộ vẻ kinh ngạc, không rõ đã xảy ra chuyện gì. Giang bả tổng cười ha hả kể:
- Quân Thát không biết cách dùng đại pháo của chúng ta, chúng không niềng pháo để cố định. Một khẩu thì bị nổ văng cả thân đi, khẩu khác thì lại cho quá nhiều thuốc nổ, nổ banh mẹ họng nó rồi. Ha ha ha...

-----*-----





(1) Đời xưa có luật "thất xuất chi lệ" (bảy điều được phép bỏ vợ), đó là: bất thuận phụ mẫu (không nghe cha mẹ), dâm đãng, cấu (dơ bẩn), hữu ác tật (có bệnh hiểm nghèo), khẩu đa ngôn (thọc mạch, lắm điều), đạo thiết (trộm cắp). Nếu phụ nữ phạm vào một trong những điều này, người chồng có quyền bỏ vợ, đuổi về lại nhà bố mẹ ruột.






Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
22-07-2010, 06:32 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 26: Cứu binh bất ngờ

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo vong

Biên tập: duahau

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Vào phút giây này, lòng y tràn ngập niềm quyến luyến với sự sống và một nỗi sợ hãi không tên. Ngoài một vài cảm giác đó, y còn chưa kịp suy nghĩ gì khác thì ý thức đã rơi vào tình trạng đình trệ, đầu óc trở nên trống rỗng.

Nghe xong lời giải thích của Giang bá tổng, mọi người ai nấy đều vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ. Dương Lăng chạy ra ngoài thấy được cảnh quái dị đó, cũng cảm thấy hết sức tức cười.

Sau một hồi hỗn loạn, dưới sự chỉ huy của một tên tướng lĩnh, quân Thát Tử đã bắt đầu chạy tới lật khẩu đại pháo kia lại. Dương Lăng thấy thế bèn lập tức hét lên:
- Đừng đứng đó mà nhìn nữa! Vương đại nhân, nhân cơ hội này hãy mau dẫn người tổ chức cho trăm họ rời thành đi! Nhanh lên nào! Vài người nữa qua bên này, mau đi cứu Mã dịch thừa và các binh sĩ bị thương!

Giang Bân nghe thế mới sực nhớ ra giờ mọi người vẫn còn đang bên bờ sinh tử, không phải là lúc xem náo nhiệt. Gã vội xoay người lại quát lớn:
- Pháo thủ đâu? Có ai còn sống không? Mau lấy đại pháo của chúng ta bắn nát đại pháo của bọn Thát Tử đi!

Trên lầu thành lập tức trở nên nhộn nhịp. Mẫn đại nhân may mà vừa mới được khiêng xuống tầng hai, bằng không đã mất mạng trong phát pháo hồi nãy. Giờ thì lão xem như là người hạnh phúc nhất rồi, thân là "nhà lãnh đạo tối cao" của Kê Minh, một mình một ngựa xông vào trận địa quân địch, một đao chém rơi đầu đứa con út của tiểu vương tử Bá Nhan Mãnh Khả, sau đó bỏ lại bãi chiến trường hỗn loạn cho người khác dọn dẹp.

Vương chủ bạ ra lệnh cho người khiêng Mẫn tri huyện theo, rồi cùng với một đám hương thân cấp tốc chạy xuống dưới thành. Dương Lăng và Lưu tuần kiểm thì gọi hơn chục binh sĩ mang cuốc xẻng lại, đào bới đống đổ nát để cứu người. Sau một hồi lâu, bọn họ đã lôi ra được năm sáu người từ trong đống gạch ngói, ngoại trừ một người bị đá đè chết, những người còn lại đều may mắn không bị nguy hiểm về tính mạng.

Mã dịch thừa trước đó đứng ở cửa lầu chỉ huy các hương thân rút lui ra ngoài, sau khi kéo được đầu lão ra ngoài, lắc vai mấy lượt nhưng vẫn không động đậy. Đến khi Dương Lăng và mọi người dọn sạch đám gạch ngói vụn dính trên người lão thì đều rùng mình kinh sợ. Một cái xà nhà đang nằm đè lên bụng Mã dịch thừa, phần thân dưới của lão bầy nhầy máu thịt, người đã tắt thở.

Ở bên kia, Giang Bân vất vả lắm mới tìm ra được mấy tay binh sỹ biết sử dụng hỏa pháo trong đám tàn binh, đáng tiếc hai trong ba tay pháo thủ chính đã bỏ mạng trong lúc giáp chiến để thủ thành khi nãy, chỉ còn lại một người thì lại bị thương và mới vừa được bới ra từ trong đống đổ nát. Y trước đó đã trúng một đao vào hông, nay lại bị gạch rơi vỡ đầu. Giang Bân cũng chẳng quan tâm nhiều đến vậy, gã kêu người đưa ngay tay pháo phủ mặt đầy máu me lên trên đài pháo.

Tay pháo thủ mặt mày vẫn còn choáng váng chỉ huy đám trợ thủ điều chỉnh góc độ pháo. Một quả pháo được bắn ra, nổ cách khẩu pháo của phe bên kia hơn mười trượng (33m), tuy không gây tổn hại gì cho nó nhưng cũng nổ chết hơn mười tên Thát Tử. Bọn Thát Tử đang lúng túng nạp đạn nhồi thuốc ở đó lập tức cuống cả lên.

Thời này vẫn chưa phát minh ra thước ngắm cho đại pháo, tất cả đều dựa vào phán đoán bằng mắt thường và kinh nghiệm của pháo thủ. Khi nãy bọn họ có thể bắn một phát nổ tan chiến xa của Thát Tử hoàn toàn là vì cái vật cồng kềnh đó ở rất gần, có thể bắn thẳng. Nhưng hiện giờ đối phương đã để đại pháo của chúng ở ngoài ba tầm tên, cho dù người pháo thủ kia đang ở trong trạng thái tốt nhất lúc bình thường cũng chưa chắc đã có thể bắn trúng đối phương, huống chi là bắn kiểu vòng cung trong tình hình như lúc này.

Giang Bân cũng chẳng hy vọng gì mình có thể một phát bắn tan đại pháo của đối phương, gã lập tức lệnh cho người nạp đạn vào ba khẩu đại pháo chờ bắn, sau đó kêu người dìu tay pháo thủ chính đi điều chỉnh cho từng khẩu, rồi liên tiếp bắn ra hai phát. Kết quả một phát pháo bắn quá gần, lãng phí cả đạn pháo, nhát kia thì lại bay quá xa, rớt oành vào giữa đám Thát Tử.

Mấy người Hoàng huyện thừa, Dương Lăng và Giang Bân đang đứng trên tường thành quan sát đều sốt hết cả ruột, hai tay siết chặt đến độ toát cả mồ hôi, nhưng lại chẳng giúp được gì. Lần đầu tiên trong đời Dương Lăng lại cảm thấy căm ghét cái nghề bảo hiểm của mình, nếu khi xưa mình là một tay pháo binh thì... Cơ mà, có làm pháo binh e cũng chẳng dùng được cái thứ pháo cổ lỗ sĩ này!

Bỗng mười mấy tên Thát Tử đang dựng lại khẩu đại pháo kia nhảy tót lên ngựa rồi quay đầu bỏ chạy. Dương Lăng và mọi người thấy khẩu đại pháo nổ vang, miệng pháo phụt lửa, đồng thời một đám khói lớn bốc lên mịt mù. Trong đám khói, thân pháo bay lên không trung rồi nặng nề rơi uỳnh xuống đất.

Đám người Dương Lăng chỉ cảm thấy dưới chân rung rinh một chút rồi thôi, chẳng có gì lạ. Mọi người kinh ngạc đưa mắt nhìn nhau, tất cả đều cảm thấy kỳ lạ: đạn pháo đâu? Tường thành không bị nổ chỗ nào cả, sao lại không thấy bóng dáng của đạn pháo đâu?

Giang Bân cười khan hai tiếng, nói:
- Bọn Thát Tử dù có ngu ngốc đến đâu đi chăng nữa thì chắc cũng không đến nỗi quên cho đạn vào pháo chứ nhỉ?
Miệng tuy cười nhưng trong lòng gã lại tràn ngập một cảm giác lo lắng khó tả, nụ cười trên mặt vì vậy trông hết sức gượng gạo.

Dương Lăng còn chưa kịp nói gì thì từ dưới thành đã vọng lại một loạt những tiếng la hét long trời, đó là tiếng hoan hô của quân Thát Tử. Đưa mắt trông xuống, chỉ thấy một rừng đao thương trong đám người đông nghìn nghịt.

Dương Lăng kinh hãi đưa mắt nhìn sang Giang Bân, trong mắt của cả hai bất chợt hiện lên nỗi khiếp sợ, bọn họ không hẹn mà cùng đồng thanh la lên: "Cổng thành!"

Một phát pháo bay thẳng này của Thát Tử đã bắn nát cổng thành bằng gỗ, giữa hai cánh cổng bị bắn vỡ vẫn còn ít khói chầm chậm bốc lên. Mọi người đang đứng trên tường thành đều ngây ra như phỗng. Trăm ngàn kỵ binh đang ùn ùn kéo tới, Kê Minh thất thủ đến nơi rồi!

Tiếng la hò chém giết vang trời đã át đi tiếng kêu la kinh hoàng của các binh sỹ và dân binh đang hoảng sợ, lúc này họ đã hoàn toàn mất hết ý chí chiến đấu. Dương Lăng lặng lẽ quay đầu lại, ánh mắt dò tìm của y chạm phải một đôi mắt trong veo.

Trong đôi mắt ấy ẩn chứa một mối thâm tình và sự lưu luyến vô hạn. Dương Lăng bất chợt cảm thấy đôi mắt ấy sao mà thân thiết thế, như thể từ lâu, lâu lắm rồi vẫn luôn chăm chú quan sát y một cách nồng nàn như vậy. Chẳng lẽ mối duyên phận ngắn ngủi này quả thật đã được định sẵn từ kiếp trước? Nếu vậy, liệu kiếp sau hai đứa mình còn có thể gặp lại nhau không?

“Thông thông mỹ mộng nại hà thiên, ái đáo thâm xử liễu vô oán...” (*) (Mộng đẹp nào ngờ thật ngắn ngủi, đã đắm say rồi oán trách chi...)

Vào phút giây này, lòng y tràn ngập niềm quyến luyến với sự sống và một nỗi sợ hãi không tên. Ngoài một vài cảm giác đó, y còn chưa kịp suy nghĩ gì khác thì ý thức đã rơi vào tình trạng đình trệ, đầu óc trở nên trống rỗng.

Đột nhiên, một khuôn mặt quỷ hung tợn bất chợt xuất hiện trước mặt Dương Lăng, che khuất bóng dáng Ấu Nương. Trên khuôn mặt quỷ đó loang lổ những vết máu, miệng quỷ há rộng, họng phát ra tiếng kêu như ống bễ. Nó nắm chặt lấy vai Dương Lăng rồi ra sức lắc mạnh, điên cuồng cười lớn: "Đến rồi, ha ha, rốt cuộc đã đến rồi, ha ha ha..."

Hắn ta khỏe thật, Dương Lăng bị lắc đến nỗi gần nôn mửa. Y đột ngột đẩy bật được khuôn mặt quỷ hung tợn đang lắc lư ở ngay trước mặt mình ra, tầm nhìn đã trở lại cự ly bình thường. Lúc này y mới nhìn rõ thì ra khuôn mặt quỷ đó là của Giang Bân, vì hưng phấn mà khuôn mặt vốn trắng bóc của gã đã biến thành đỏ ửng, cơ thịt trên mặt không khống chế được trở nên méo mó.

Bị Dương Lăng đẩy ra, gã chẳng hề có vẻ không vui, vẫn tiếp tục khoa tay múa chân, cười điên cuồng:
- Đến rồi, ha ha ha, cát nhân tất có thiên tướng, Tham tướng Vĩnh Ninh đã đến rồi!

Dương Lăng ngẩn người, giờ mới nghe thấy một loạt những tiếng súng nổ vang như rang lạc. Y đã thay Mẫn huyện lệnh xử lý chính vụ bấy lâu, đương nhiên hiểu được lời của Giang Bân. Quân biên phòng ở Tuyên Hoá có một Tổng binh, một Phó tổng binh, dưới là bảy Tham tướng. Tham tướng Vĩnh Ninh chính là tướng quân phụ trách phòng ngự khu vực Hoài Lai (một huyện thuộc Trương Gia Khẩu, tỉnh Hà Bắc.)

Sự thay đổi đột ngột giữa hai thái cực, từ tuyệt vọng đến vui sướng, khiến cho mắt y chợt tối sầm lại, suýt ngất. Không biết tự khi nào, Hàn Ấu Nương đã chạy đến trước mặt, Dương Lăng kéo nàng vào lòng, toàn thân run lên vì hạnh phúc.

Khi Hàn Ấu Nương dìu y về phía tường thành, hai chân y vẫn còn loạng choạng, tựa như vừa mới uống hai cân rượu trắng. Quân Thát Tử dưới thành đã tiến vào phạm vi một tầm tên bắn, nhưng ở cổng thành cũng đã có một lượng lớn quan binh xuất hiện, dẫn đầu là một đội quân sử dụng súng hỏa mai. Tiếng súng nổ đì đoàng, trong đám khói súng mịt mù, bọn Thát Tử ở phía trước ngã rạp xuống hàng lọat như lúa mùa gặt.

Súng hỏa mai thời này uy lực chưa đủ mạnh, cự ly bắn cũng không bằng tên, nếu đối phương khôi giáp đầy đủ thì đạn chì chưa chắc đã bắn xuyên qua được. Nhưng hiện giờ quân Thát Tử đang vô cùng đắc ý, thúc ngựa như điên, tranh nhau vào thành trước để cướp vàng bạc và gái đẹp. Khi súng hỏa mai khai hỏa, bọn chúng đã xông tới khoảng cách nửa tầm tên, phần lớn binh sỹ lại chỉ mặc áo vải bình thường, cho nên lập tức chết như rạ.

Súng hỏa mai tuy không bắn chết được chiến mã, nhưng chiến mã bị bắn trúng lại rất đau đớn, không chịu lao lên phía trước mà hoảng loạn bỏ chạy, giẫm đạp lên nhau. Số lượng quân địch tử thương vì chuyện này có lẽ cũng chẳng kém gì số bị súng hỏa mai bắn trúng.

Thấy những tay súng của quân Minh rất hỗn loạn, Dương Lăng nhớ lại lúc xem mấy bộ phim nước ngoài có bối cảnh ở thế kỷ 17. Những tay súng trong phim khi đứng nguyên tại chỗ bắn thì chia làm ba đội, đội thứ nhất nằm sấp, đội thứ nhì quỳ một gối, đội thứ ba đứng thẳng, lần lượt bắn và lắp đạn. Nếu vừa bắn vừa di chuyển thì chia làm hai đội, đội thứ nhất sau khi bắn xong thì lui về, đội thứ hai lại tiến lên, cứ thế bắn đan xen để khắc phục khuyết điểm tốn thời gian lắp đạn sau khi bắn của loại súng hỏa mai thời bấy giờ.

Thế nhưng quân Minh dưới thành lại xông bừa lên bắn như ong vỡ tổ, sau đó thì vội vội vàng vàng rút về phía sau, để cho kỵ binh vừa mới xông ra đánh bọc sườn quân Thát Tử từ hai cánh. Các tay súng ở tuyến đầu chưa kịp rút về đã bị cung tên của Thát Tử bắn chết và bị thương một loạt.

“Chẳng lẽ quân Minh vẫn chưa biết dùng phương pháp chia hàng để bù đắp cho khuyết điểm của súng hỏa mai hay sao?” Dương Lăng nghĩ bụng: "Đợi lát nữa có lẽ nên hỏi bọn Giang bá tổng một chút xem sao, biết đâu kẻ đến từ thời hiện đại như mình lại có cơ hội thật sự để khoe khoang kiến thức."

Thật ra, phương pháp bắn theo ba hàng trước đây đã được đại tướng quân Mộc Anh dùng để dẹp loạn trong những năm Hồng Vũ. Sau đó hỏa khí được phân phối trong quân đội càng ngày càng nhiều, mà triều Minh lại chưa từng xem trọng việc huấn luyện quan quân và binh sỹ, nên mấy phương thức vận dụng chiến thuật này không được phổ cập rộng rãi. Vì thế khi sử dụng hỏa khí, quân Minh vẫn thường là nổ súng đồng loạt, để rồi sau đó quân địch xông đến ngay trước mặt, súng hỏa mai khi đó chỉ còn là que cời lò.

Chủ lực của quân Minh vẫn không ngừng ào ra ngoài thành, lao về phía bọn Thát Tử. Tuy tốc độ triển khai trận địa của họ không nhanh bằng đối phương, nhưng một là vì người Thát Tử không hề chuẩn bị tâm lý, hai là vì loạt súng càn quét ban nãy đã khiến cho bọn chúng bị rối loạn đội hình, thế nên tình thế hết sức có lợi cho quân Minh.

Dương Lăng siết chặt hai tay, nhiệt huyết sôi trào. Chính vào lúc này, phía sau y chợt có người gọi lớn:
- Tham tướng Hà đại nhân, Giám quân Diệp đại nhân, Phó giám quân Lưu công công ở Hoài Lai, Vĩnh Ninh đến! Tri huyện Kê Minh cùng các quan viên thủ thành đâu?

Chú thích:
(*) Hai câu trích trong lời bài hát "Tiền thế kim sinh" trong bộ phim truyền hình "Tân bạch nương tử truyền kỳ"
Mạc phi tiền thế na nhất nhãn
Chích vi kim sinh kiến nhất diện
Thông thông mĩ mộng nại hà thiên
Ái đáo thâm xử liễu vô oán
Thiên sơn trở cách vạn lí viễn
Lai thế tái tục kim sinh duyên
Ninh nguyện tương thủ tại nhân gian
Bất nguyện tập tác thiên thượng tiên
Nhượng na triền triền nhiễu nhiễu đích tình ý vĩnh triền miên






Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
27-07-2010, 06:40 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 27: Giám quân, gian quân

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo vong

Biên tập: duahau

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Hàn Ấu Nương thấy y đứng đó, bộ dạng như thất thần thì không khỏi tò mò, hỏi:
- Tướng công, làm Dịch thừa là thăng quan hay giáng chức thế?

Dương Lăng lắc đầu:
- Là choáng váng!

Chương 27 - Giám quân, gian quân

Dương Lăng xoay người lại, thấy Hoàng huyện thừa, Giang Bân và các quan viên huyện nha đang bước vội lên phía trước, quỳ xuống chào:
- Hạ quan Hoàng Kỳ Dận, Huyện thừa huyện Kê Minh, cùng Bá tổng Giang Bân tham kiếm các vị đại nhân.

Tham tướng Vĩnh Ninh khoát tay:
- Đứng lên đi, Mẫn tri huyện đâu?

Lão vừa chuyển động, những phiến giáp trên người lập tức phát ra tiếng kêu loảng xoảng. Vị Tham tướng Hà đại nhân ở Vĩnh Ninh này tuổi trạc ngũ tuần, vóc người không cao, hai má gầy hóp, cặp mắt sắc bén nổi bật trên màu đen của da mặt, kết hợp với bộ giáp trụ sáng loáng, càng làm toát ra khí thế không giận mà uy của kẻ bề trên.

Đi theo sau tay Tham tướng là một đám Hiệu úy (tên gọi của sỹ quan quân đội thời xưa) giáp trụ sáng choang, bên cạnh thì có hai người đang đứng, một trái một phải. Người đứng bên trái tuổi ngoài bốn mươi, mày trơn mặt trắng, là một quan văn dáng dong dỏng cao, khắp người toát ra vẻ tri thức. Lúc này hắn ta đang đưa mắt đánh giá Hoàng huyện thừa.

Vừa liếc thấy bổ phục (**) của hắn, cộng với hiểu biết của bản thân, Dương Lăng nhận ra người này là một quan văn tòng ngũ phẩm. Đại Minh quả nhiên có truyền thống quan văn nắm quân quyền, không ngờ lại phái một quan văn tòng ngũ phẩm đi giám sát một Tham tướng chánh tam phẩm. (**:loại hình thêu trên quan phục (trước ngực và sau lưng) để phân biệt cấp bậc. Ví dụ như quan văn thêu chim, quan võ thêu thú)

Đối với Dương Lăng mà nói, thái giám có thể coi là sinh vật hiếm lạ nhất, cho nên y chăm chú quan sát đến mấy lượt. Không giống với đám thái giám giả trong phim luôn mang vẻ tươi cười xiểm nịnh, vẻ ngoài quái quái, vị Lưu công công đứng bên phải tuổi hơn năm mươi, cằm nhọn, đôi mắt tinh minh mà ôn hòa, ngoại trừ da thịt có vẻ hơi nhão và trắng bóc ra, trông lão ta không có gì đặc biệt.

Mấy người Hoàng huyện thừa và Giang Bân lật đật đứng dậy. Hoàng huyện thừa khom người báo cáo:
- Bẩm đại nhân, Mẫn huyện lệnh trúng phải tên tẩm độc của Thát Tử nên đã hôn mê bất tỉnh. Khi nãy do tình thế nguy ngập nên hạ quan đã sai Chủ bạ trong huyện khiêng Mẫn đại nhân xuống dưới thành, hiện giờ hạ quan và Giang bá tổng Giang Bân phụ trách việc thủ thành.

Dưới thành, tiếng trống trận ầm ầm vang lên, tiếng chém giết rền rĩ vang trời. Lúc này quân Minh đã đánh cho bọn Thát Tử không kịp trở tay, từ trong thành quân đổ ra cuồn cuộn như thác. Bác Đạt Nhĩ Mô còn tưởng đã trúng phải gian kế của quân Minh, lập tức lệnh cho Hất Lâm Đạt Đạt đoạn hậu, đại quân bắt đầu rút lui.

Vị Lưu công công đó thấy quân Thát Đát rút lui thì cười lớn nói:
- Tướng quân thần dũng, đại quân vừa đến đã chiếm lại được Kê Minh, mới đánh đã giành thắng lợi. Đây thật đúng là một món quà mừng năm mới đầy ý nghĩa dâng lên cho Thánh thượng.
Giọng lão ta không đến nỗi quá chói tai, nhưng ngữ điệu quả thật hơi có chút ẻo lả.

Hà tham tướng khẽ cười, khoát tay nói:
- Lưu công công quá khen rồi! Người đâu, truyền xuống, lệnh cho Hạ Sĩ Kiệt, Vương Thừa Hiến, Trịnh Nhất Ngạc chia ra đóng ở phía đông, nam và tây thành, còn Tất Xuân, Tôn Đại Trung truy sát tướng địch!

Diệp ngự sử nghe vậy vội lên tiếng:
- Tướng quân, xin hãy chậm đã! Quân ta vừa đến, chưa rõ tình hình bên địch thế nào, làm sao có thể liều lĩnh khinh địch được? Binh thư có câu: biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Bọn người Thát Đát sống dựa vào ngựa nên năng lực di chuyển vượt xa quân ta. Theo tình hình hiện giờ, ta trước hết nên cố thủ thành trì, phái người do thám, hiểu rõ tình thế rồi hãy bàn tiếp.

Giang Bân nghe xong cũng vội nêu ý kiến:
- Đại nhân, trận thế của địch đã loạn, nếu bây giờ thừa cơ tập kích, tất sẽ thu được hiệu quả bất ngờ, ấy gọi là binh quý ở chỗ thần tốc. Nếu chờ cho bọn chúng ổn định lại thế trận, ung dung bố trí đội ngũ thì khi đó chúng ta sẽ gặp nhiều rắc rối hơn rồi.

Diệp ngự sử thấy gã chỉ là một quan viên cấp dưới, không khỏi phẩy áo cười nhạt:
- Buồn cười! Binh giả, thiên hạ chi hung khí dã, dụng chi thận chi (việc dùng binh là điều hại cho thiên hạ, cần phải cẩn thận). Mỗi lần dụng binh, khinh xa ngàn chiếc, trọng xa ngàn cỗ, mười vạn giáp quân, lương thảo phải vận chuyển từ xa ngàn dặm, mỗi ngày tiêu tốn ngàn vàng. Đại quân ta vừa tới, vẫn chưa ổn định, lương thảo cung ứng thì đều bị tụt lại. Hiện giờ phía sau thì không có viện binh, phía trước tình hình còn chưa rõ, cứ liều lĩnh tấn công như vậy, chẵng lẽ là vì tham công hay sao?

Giang Bân tuy cũng hiểu chút ít binh thư, nhưng tri thức có hạn, nghe thấy mấy cái ngàn ngàn vạn vạn gì đó thì chóng mặt ù tai, mịêng lưỡi cứng đơ không đáp lại được câu nào. Dương Lăng tuy không hiểu binh pháp, nhưng cũng thấy rõ rành rành Thát Tử vừa bị đánh cho không kịp trở tay, nếu lúc này thừa cơ truy sát, bọn chúng tất sẽ khó mà tổ chức phản kích một cách hiệu quả được.

Vả lại thời đó hệ thống chỉ huy quân đội còn chưa phát triển, tính tổ chức của binh sĩ rất kém, mà lòng tận trung thì lại càng kém hơn. Đám sĩ tốt đánh trận hầu hết đều dựa vào nhuệ khí, thế nên thi thoảng có chuyện mấy vạn nhân mã đánh bại mấy chục vạn đại quân, thì cũng chẳng phải là chuyện lừa lọc trong tiểu thuyết mà là chuyện có thật.

Một đội quân mà bị đổ soái kỳ, đại quân rất có khả năng sẽ lập tức tan vỡ, dù muốn tổ chức lại cũng sẽ hết sức khó khăn. Hiện giờ Thát Tử rõ ràng là đang tan vỡ, vậy mà cái con mọt sách này lại cẩn thận như vậy: chẳng mong có công, chỉ cầu không có tội, bê nguyên xi mấy điều cứng nhắc trong binh thư ra, đúng là nhảm nhí!

Có điều, tuy Diệp ngự sử chỉ là quan văn tòng ngũ phẩm, nhưng Hà tham tướng lại chẳng dám xem thường ý kiến của hắn. Giám quân, trách nhiệm nào chỉ là giám sát quân đội không thôi, thật ra đó mới là kẻ nắm quyền quyết định cuối cùng. Ông ta trầm ngâm một chút, sau đó quay sang hỏi Giang Bân:
- Quân địch công thành có bao nhiêu tên?

Giang Bân vội đáp:
- Bẩm đại nhân, đêm qua chỉ có hơn trăm tên Thát Tử kéo đến quấy nhiễu, nhưng rạng sáng hôm nay đột nhiên có gần ba ngàn tên tấn công ào ạt vào thành, ban nãy lại có thêm khoảng ngàn tên kéo theo hai khẩu đại pháo đến. Nếu không phải vì tướng quân kịp đến thì thành này hiện đã thất thủ rồi.

Diệp ngự sử nghe vậy liền bảo:
- Thế nào? Quân địch không ngừng tăng lên, hiển nhiên là còn có hậu viện, sao có thể không cẩn thận ứng phó chứ?

Hà tham tướng do dự một lúc rồi quay sang bên cạnh hỏi:
- Lưu công công thấy thế nào?

Hai vị giám quân này đều là bị triệu tới nhậm chức tạm thời cho có. Diệp ngự sử là người của kỳ đại khảo hạch ba năm một lần sắp tới, đến Tuyên phủ để kiểm tra thành tích của quan viên địa phương. Lưu công công là thái giám chưởng quản ty Chung Cổ (đội kèn trống trong cung) trong Nhị Thập Tứ nha môn của nội cung, phụng chỉ xuất kinh mua sắm. Trên đường quay trở lại kinh thành thì lão bị khoái mã chạy liền tám trăm dặm chặn lại, sau đó được sai nhậm chức Giám quân cùng với Diệp ngự sử.

Tuy rằng địa vị thấp kém nhưng lão ta lại là người có thể thường xuyên thấy mặt Hoàng đế nhất, Hà tham tướng cũng không dám xem thường ý kiến của lão. Vị Lưu công công này ở trong cung đình chức vụ thấp hèn, thế nên mặc dù là Giám quân nhưng lão cũng không dám kiêu ngạo, suốt dọc đường đều hết sức cẩn thận, chỉ sợ sẽ để lộ cái xấu.

Vừa rồi nghe ý kiến của Diệp ngự sử, trong lòng lão ta âm thầm tính toán: "Đại quân chúng ta vừa mới tới đã đoạt lại được trạm Kê Minh ngay, có thể nói là một đại công. Nếu đưa quân đánh tiếp, lập thêm được chiến công thì đúng thật là như thêu hoa trên gấm. Nhưng nếu đúng như lời Diệp ngự sử nói, lỡ Thát Tử còn có phục binh, quân ta mà thất bại thì ta không làm tròn trách nhiệm một Giám quân, há chẳng phải sẽ bị Thánh thượng trách mắng sao? Cẩn thận vẫn hơn!"

Nghĩ đến đây, Lưu công công mỉm cười nói:
- Hà tướng quân có dũng, Diệp ngự sử thì có mưu, còn ta tầm nhìn hạn hẹp, cũng chẳng dám nói là có kiến giải gì. Có điều, đại quân lặn lội đường xa nên mệt mỏi không kém địch nhân, nếu tùy tiện truy kích, lỡ như có gì sơ suất thì sẽ không được tốt cho lắm. Hiện giờ Trịnh tham tướng và Tống tham tướng đang dẫn quân từ Trác Lộc, Xích Thành đến giáp công quân Thát Đát. Ngoài ra còn có tướng quân du kích Tề Quảng Thắng đang gấp rút chi viện cho trạm Nhị Lý Bán. Mấy cánh đại quân cùng tới như vậy, quân Thát Đát nhất định sẽ thất bại, ta nghĩ cứ cẩn thận một chút cũng tốt.

Thấy hai vị Giám quân đã có ý kiến tương tự nhau, Hà tham tướng bèn nói:
- Được, các tướng nghe lệnh đây! Lệnh cho Tất Xuân, Tôn Đại Trung lập tức thu binh, đồn trú trước cổng thành và phòng bị thật nghiêm ngặt! Sai thợ thuyền trong quân và thợ địa phương lập tức sửa chữa cổng thành! Phái thám mã thăm dò thực lực quân địch và tình hình hiện tại của Nhị Lý Bán và Ngũ Lý Phố!

Dương Lăng nghe vậy thầm lắc đầu: "Chẳng sợ kẻ địch giống hổ, chỉ e tướng nhà như heo. Rõ ràng là thời cơ cực tốt, không ngờ lại bị một gã thư sinh với một tên thái giám nói hươu nói vượn một hơi thành ra phải bỏ phí như vậy. Thật đáng tiếc!"

Hà tham tướng bảo thêm:
- Hoàng huyện thừa, Giang bả tổng, hai người cùng bản quan đi tuần tra quanh thành! À... Dịch thừa bản địa đâu?

Hoàng huyện thừa vội đáp:
- Đại nhân, Mã dịch thừa... đã chết trận!

Hà tham tướng lại hỏi:
- Chủ bạ đâu?

Hoàng huyện thừa thi lễ, đáp:
- Đại nhân, Vương chủ bạ đã đưa Mẫn đại nhân xuống thành, đường đến đây đã bị nghẽn bởi đại quân nên tạm thời ông ấy chưa tới kịp. Vị này là Dương sư gia, phụ trách lo liệu toàn bộ chuyện dân sự trong thành. Tướng quân xin cứ việc phân phó!

Hà tham tướng liếc mắt nhìn Dương Lăng, thấy y còn trẻ như vậy thì không khỏi giật mình. Hoàng huyện thừa thấy thế bèn mỉm cười cung tay nói:
- Đại nhân, Dương sư gia tuổi trẻ đầy triển vọng, đã giúp Mẫn đại nhân quản lý Kê Minh trên dưới rất trật tự, ngăn nắp và rõ ràng. Đại nhân cứ yên tâm!

- Vậy sao?
Hà tham tướng đưa mắt đánh giá Dương Lăng một chút, vẻ mặt nghiêm nghị đã hòa hoãn hơn một chút, ông ta chỉ tay vào Dương Lăng, bảo:
- Ngươi giao tất cả sự vụ ở huyện nha cho Hoàng huyện thừa! Từ bây giờ ngươi sẽ tạm thay chức Dịch thừa của Kê Minh, phụ trách liên lạc và vận chuyển lương thảo. Còn nữa, đêm nay bản tướng cùng hai vị Giám quân đại nhân sẽ ở lại sở dịch thừa, ngươi hãy đi sắp xếp một chút đi!

Dương Lăng vội khom người đáp:
- Vâng! Ti chức tuân lệnh!

Hà tham tướng lại quay sang phía Diệp ngự sử và Lưu công công, hòa nhã nói:
- Hai vị Giám quân đại nhân, mời! Chúng ta đi xem xét tình hình phòng thủ của thành một chút!

Hoàng huyện thừa vội sai Vương ban đầu (đội trưởng Vương) theo Dương Lăng đi tiếp quản sở dịch thừa, sau đó lão và Giang Bân cùng ba vị đại nhân rời đi. Dương Lăng đứng thẳng lưng lên, hơi hoang mang một chút. Hàn Ấu Nương thấy y đứng đó, bộ dạng như thất thần thì không khỏi tò mò, hỏi:
- Tướng công, làm Dịch thừa là thăng quan hay giáng chức thế?

Dương Lăng lắc đầu:
- Là choáng váng!

- Ối!
Hàn Ấu Nương lo lắng nói:
- Tướng công vừa rồi đã bị thương, sao gã Giang bả tổng đó còn nắm lấy mà lắc chứ? Thật là! Tướng công thân thể không khỏe, vậy mà hắn còn mạnh tay như thế!
Hàn Ấu Nương vừa nói vừa tức giận trừng mắt nhìn theo bóng Giang Bân.

Dương Lăng cười nhăn nhó:
- Không phải thế đâu! Đó là tại vì ta chưa từng làm Dịch thừa bao giờ nên giờ không biết phải làm gì cả. Hoàng lão lại cùng với mấy vị đại nhân đi tuần thành rồi, thế là chẳng còn ai chỉ điểm cho.

Hàn Ấu Nương bảo:
- Thế thì ... đi hỏi Vương chủ bạ đi! Bây giờ vẫn chưa tới trưa, thời gian để sắp xếp chỗ ở cho các vị đại nhân vẫn còn dư dả lắm.

Dương Lăng vỗ trán:
- Ừ đúng, giờ ta phải đi, nàng hãy về nhà nghỉ ngơi một chút! Vi phu lo xong sẽ về ngay, mệt thật đấy!

Ấu Nương nghe xong bèn vâng một tiếng, Dương Lăng và Vương ban đầu thì lập tức xuống dưới thành.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
02-08-2010, 05:08 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 28: Dịch thừa tạm quyền

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Qua cái tết này, liệu ta sẽ còn có may mắn cùng nàng đón cái tết thứ hai hay không?

Quyển một - Ba tháng khói lửa –
Chương 28: Dịch thừa tạm quyền

Lúc này đại quân đã tập trung trong thành, trạm Kê Minh nhỏ nhoi đầy ắp binh lính. Trong quân đội nhà Minh có hai loại biên chế: quân thuộc vệ sở và quân thuộc về doanh. Quân biên phòng là quân đội thuộc về doanh. Dưới trướng Hà tham tướng có năm vị quan đô ty, mỗi vị đô ty thống lĩnh một nghìn một trăm hai mươi người, tổng số quân lính trong thành lúc này đã tới năm nghìn sáu trăm người, bất luận là binh lực hay là khí thế đều vượt hẳn giặc Thát.

Khi nãy nếu nhân lúc giặc Thát vẫn còn kinh hoàng thất thố chưa kịp chuẩn bị, đưa quân tiên phong chọc thẳng vào trung khu làm rối loạn thế trận đối phương rồi lại dẫn đại quân chia làm hai cánh giáp công, ít ra cũng có thể khiến nhân mã của bọn chúng tổn thất một nửa. Đáng tiếc lại lỡ mất cơ hội tốt, thật khiến người ta phải nuối tiếc.

Vương chủ bạ đang ở gần huyện nha. Vốn lão đã khiêng Mẫn huyện lệnh theo tới gặp các nhân sỹ, định tổ chức cho trăm họ chạy trốn thì lại thấy đại quân từ thành bắc kéo vào, đương nhiên không cần phải thực hiện kế hoạch đã định từ trước nữa. Lão đưa Mẫn đại nhân về huyện nha trước, trong lúc đang hối hả quay trở lại thì gặp Dương Lăng và Vương ban đầu đang cùng cưỡi ngựa tới.

Tuy Dương Lăng không biết cưỡi ngựa, nhưng vì muốn tranh thủ thời gian nên y cũng gắng gượng leo lên chiến mã. Mặc dù ngựa không phi nước đại nhưng cũng đủ xóc nảy khiến cho hai chân y mỏi nhừ, lưng như muốn gãy sụm.

Vừa thấy Vương chủ bạ, Dương Lăng vội báo cho lão biết chuyện mình tạm thời nắm quyền Dịch thừa, sau đó khiêm tốn thỉnh giáo lão một lúc lâu. Nắm được yếu lĩnh công việc rồi, y lập tức đến sở dịch thừa.

Sở dịch thừa là một công thự dạng ngũ tiến liên hoàn viện(1) xây bằng gạch và gỗ. Cụm kiến trúc này hết sức rộng lớn, từ ngoài bước vào là dịch quán, tiếp theo là dịch thương (bộ phận coi kho), dịch học (nơi học của con quan), giang phòng (nhà tang lễ), còn phòng làm việc và phòng ngủ của Dịch thừa thì nằm ở trong cùng.

Nhận được quân lệnh do Vương ban đầu truyền, vì “không trâu phải bắt chó đi cày” nên tạm thời sở dịch thừa do Dương Lăng quản lý. Trạm Kê Minh nhỏ xíu, không có quan trông kho riêng nên Dịch thừa kiêm luôn chức này. Thủ hạ của Mã dịch thừa gồm sáu tên tiểu lại, trong đó có bốn tên phụ trách sự vụ của sở dịch thừa, còn hai tên quản lý nhà kho.

Trong trận chiến vừa rồi, quân thủ thành tử thương rất nhiều. Sáu tên tiểu lại lên thành hỗ trợ phòng thủ chỉ còn sống sót bốn người, một kẻ lại bị trọng thương, thành thử chỉ còn ba tên để cho Dương Lăng sai bảo. Ba người này đều mặt mày đen thui vì khói lửa chưa kịp rửa ráy, tuy không đến nỗi giống hệt ông táo bếp như Dương Lăng, nhưng trông cũng đủ tức cười rồi.

Dương Lăng sai bọn họ thu dọn mấy căn phòng tốt nhất, chuẩn bị mời ba vị đại nhân vào ở. Sau đó y lại yêu cầu bọn họ đi dọn dẹp nhà kho, lần lượt là lương thảo và đồ dùng, kê khai xác nhận số lương thảo cấp dưỡng đã thu nhận được ngay tại chỗ một cách rõ ràng, rồi lập sổ, tổ chức cho đám dịch sứ phân phát tới các doanh.

Phân phó xong xuôi, Dương Lăng đưa mắt ngó quanh, nhớ lại đây chính là nơi Mã dịch thừa thường ngày làm việc, y không khỏi cảm khái vô cùng. Kể ra thì thật hai người rất có duyên, lão ấy chỉ đến trạm Kê Minh sớm hơn mình một ngày, và mình thì nhờ vụ kiện của nhà lão nên mới kết thân được với Huyện thái gia, kiếm được một chức vị để mưu sinh.

Thế mà Mã dịch thừa mới nhậm chức hơn một tháng thì đã phải chết thảm ở nơi đây, còn mình, kẻ bất cứ lúc nào cũng chuẩn bị chết lại vẫn còn sống sờ sờ ra đó, thế sự thật khó lường! Dương Lăng thầm nghĩ: “Có nên đi thăm huynh muội Mã Ngang một chút không nhỉ? Giờ bọn họ chắc đã biết tin dữ của Mã đại nhân, mình cũng nên đi thăm hỏi bọn họ một chút mới phải!”

Có điều hiện giờ xe ngựa chở quân nhu của quân doanh đang kéo tới nườm nượp, phải đón tiếp quan viên, cho lương thảo nhập kho, tính toán nhu cầu cấp dưỡng của từng đội quân, thu xếp việc cung ứng quân nhu cho các doanh. Y và mấy tên tiểu lại đang bận đến tối tăm mặt mũi, chẳng còn thời gian để đi chia buồn.

Hơn nữa Mã dịch thừa vừa mới chết, y lại đang tạm nắm quyền dịch thừa, nếu y đang đứng trước mặt anh em họ Mã mà một đám dịch sứ, tiểu lại cứ thỉnh thoảng lại chạy đến xin chỉ thị, e rằng trong lòng anh em Mã Ngang sẽ càng thêm khó chịu. Cho nên nghĩ lui nghĩ tới một hồi rồi y buộc lòng phải thôi.

Cái mớ thóc gạo lương thực ra ra vào vào này thật quá ư là lộn xộn. Dương Lăng nghĩ mãi không thông, chỉ là quân lương cho hơn chục ngày thôi, để yên trong quân doanh thì cũng có sao đâu? Điều động tới tấp như vậy, tốn của hao người, vừa mất thời giờ vừa tốn sức lực, cho dù làm vậy là để quan văn nắm giữ lấy mạch máu của quân đội, nhưng cũng không khỏi tốn hao công sức quá mức cần thiết.

Y quay mòng mòng như chong chóng, liên tục phải cưỡi ngựa áp tải lương thảo đưa đến từng cổng thành. Lúc tạt qua nhà, y bèn vội vàng nhảy xuống ngựa, định vào nhà thay chiếc áo khoác, chiếc đang mặc trên người thật đã quá bẩn thỉu.

Vừa nhảy xuống ngựa, Dương Lăng chợt cảm thấy hai chân hụt hẫng như mới vừa bước từ trên thuyền xuống. Do không biết cưỡi ngựa, hai bắp đùi non của y bị cạ đến nổi mẩn, đi đứng rất khó khăn. Sợ Ấu nương trông thấy sẽ đau lòng, lúc vào tới cửa y liền chậm bước, cố đi đứng ra vẻ tự nhiên hơn.

Vừa bước vào nhà, y đã trông thấy Hàn Ấu Nương đeo tạp dề bằng vải hoa xanh lam đang ngồi trước bếp bọc bánh cảo. Thấy tướng công trở về, nàng liền như một con chim khách vui vẻ, vô cùng phấn khởi chạy ào ra đón, khuôn mặt đỏ bừng tràn ngập vui mừng.

Trong không khí có mùi nhân bánh, Dương Lăng đưa mũi hít hít vài hơi. Ừm, đó là cảm giác gia đình, một cảm giác thật an bình. Thấy trên gò má của Hàn Ấu Nương còn dính chút bột bánh, đáy mắt y chợt dấy lên một tia yêu thương ấm áp. Hiện giờ càng lúc y càng thích nhìn vẻ mặt vừa như con nít, vừa như một người vợ bé nhỏ dịu dàng của nàng.

Thoáng thấy trên vung nồi đã xếp chỉnh tề bốn hàng bánh cảo, mỗi chiếc bánh đều như một thỏi bạc trắng tinh, y khẽ mỉm cười trách nhẹ:
- Nàng thật! Bảo về nhà nghỉ ngơi, làm mấy món ăn bình thường là được rồi, nàng còn phí sức gói bánh cảo làm gì vậy?

Hàn Ấu Nương vừa giúp y cởi chiếc áo khoác dơ dáy ra, vừa vui vẻ đáp:
- Tướng công, hôm nay là Tết mà, sao có thể qua loa chứ. Đây là... đây là năm đầu tiên chúng ta cùng ăn tết đó.

Dương Lăng ngẩn ngơ. Một ngày đầy rẫy những sự cố nguy hiểm đã khiến y sớm quên béng hôm nay là mồng một Tết. Đêm giao thừa đầu tiên ở triều Minh không ngờ lại là đêm giao thừa mà y cùng đón với Ấu Nương trong bóng đao ánh kiếm. Trông thấy vẻ mặt tràn đầy hạnh phúc cùng nụ cười ngọt ngào không chút trách móc của Hàn Ấu Nương, lòng y chợt đau nhói. Qua cái tết này, liệu ta sẽ còn có may mắn cùng nàng đón cái tết thứ hai hay không?

Sợ Hàn Ấu Nương thấy được vẻ mặt của mình, y vội quay lưng cầm lấy chiếc áo khoác, vừa mặc vào vừa nói với nàng:
- Ừm, ta quên mất. Để lát nữa đi mua thêm chút rượu và đồ ăn, chờ ta về chúng ta sẽ cùng đón năm mới, bù cho đêm giao thừa.

Hàn Ấu Nương cất giọng trong vắt vâng một tiếng, rồi báo:
- Chiếc áo mới may của tướng công thiếp đang để ở đầu giường, đợi khi nào chàng về rồi hẵng thay.

Dương Lăng ừ một tiếng rồi vội vã trở ra ngoài, nhảy tót lên lưng ngựa, cùng hai tay dịch sứ chạy về phía nam thành. Ngoài thành phía nam đồn trú hai doanh binh mã, lúc này đang chôn nồi làm cơm, gỗ đốn tạm từ trên núi ẩm ướt khó nhóm nên nhất thời khói bay mù mịt khắp nơi.

Lên lầu thành hỏi thăm thì biết Hoàng huyện thừa và Giang bả tổng đã đưa mấy vị đại nhân đến lầu Hồng Nhạn ăn uống, thợ thuyền đang tu sửa cổng thành cũng đã đi nghỉ cả rồi. Dương Lăng ngó thấy không còn chuyện gì nữa, bèn dẫn theo vài tên tiểu lại quay về.

Bôn ba từ sáng đến giờ y mới ăn một bữa cơm, bụng đã đói đến lép kẹp. Vả lại, tuy rằng y đã dần nắm được chút yếu lĩnh cưỡi ngựa nhưng giờ vẫn cảm thấy cưỡi ngựa vất vả hơn đi bộ nhiều. Cưỡi ngựa thì cả người đều phải dùng sức, mệt đến rã rời, miệng lưỡi khô khốc.

Chớm thấy một cái giếng ven đường, y liền nhảy tót xuống ngựa chạy lại quay ròng rọc gỗ kéo lên một thùng nước. Nước giếng trong vắt, trôi nổi vài mảnh băng nhỏ trong suốt. Dương Lăng vốc lấy một vốc nước giếng ngọt lịm lạnh buốt uống ừng ực mấy ngụm lớn một cách sảng khoái. Nước giếng lạnh buốt trôi xuống dạ dày, cái lạnh xen lẫn trong vị ngọt khiến dạ dày lâm râm buôn buốt. Y hít thở mấy hơi, rồi cứ thế xối nước giếng rửa mặt mũi. Đứng thẳng người lên, y vươn vai, uốn người, hà hơi ra một màn sương trắng, những sợi tóc dính nước trong nháy mắt đã trở nên cứng ngắc.

Lúc này từ trong quân doanh ngoài thành có hơn chục kỵ binh cưỡi khoái mã cấp tốc phi tới. Khi thấy mấy kẻ vận trang phục của sở dịch thừa đang đứng bên giếng nước, tay tướng lĩnh cầm đầu liền vội vàng ghìm cương, nhưng vì ngựa phi quá nhanh nên phải lao hơn chục trượng gã mới ghìm chiến mã quay đầu lại được.

Dương Lăng kinh ngạc nhìn tay tướng lĩnh giữa đám binh sỹ kia. Vị này tuổi trạc tứ tuần, thân hình còm nhom, da dẻ đen nhẻm, dưới hàm là một chòm râu be bé. Có điều nhìn kỹ thì thấy xương gò má nhô cao, cặp mắt tam giác, tròng trắng nhiều hơn tròng đen, phần nào đã phá hỏng khí chất nho nhã của gã.

Sắc mặt gã lạnh lùng, có vẻ như đang cố nén sự oán giận. Chiến mã vừa đến trước mặt bọn Dương Lăng, gã ngạo mạn ghì cương, một tay nắm chặt roi ngựa, hỏi bằng giọng kẻ cả:
- Các ngươi là người của sở dịch thừa hả?

Phà hơi vào hai tay đã lạnh đến ửng đỏ, Dương Lăng hỏi ngược lại:
- Tướng quân là vị nào thế? Có việc chi sao?

Thân binh bên cạnh gã đó lớn tiếng quát:
- Hỗn láo! Đây là Tất đô ty của bọn ta, còn không mau trả lời?

Biết gã là tướng quân hàm chánh tứ phẩm thì Dương Lăng không dám coi nhẹ, vội thẳng lưng lại chắp tay nói:
- Ty chức chính là dịch thừa tạm quyền của bổn huyện, không biết tướng quân có điều chi sai khiến?

Gã tướng quân đó nghe xong liền lập tức vung roi, "chát", ngọn roi rít lên một tiếng sắc lẻm sượt qua bên tai Dương Lăng khiến y giật nẩy mình. Thấy thế mấy tên thân binh phá ra cười ầm ĩ. Dương Lăng giận tím mặt, ngẩng đầu giận dữ nhìn gã đô ty. Chỉ thấy gã Tất đô ty nghiến răng, cười lạnh nói:
- Một tên dịch thừa cỏn con như ngươi mà cũng thật là lớn mật. Bổn tướng dẫn quân trong đêm gấp rút chi viện, đã cứu gần vạn lê dân trạm Kê Minh, vậy mà hôm nay lại định để cho binh sỹ của bổn tướng phải chịu đói, thật là quá vô lý!

Thấy vị tướng quân này ngang ngược như thế, vốn Dương Lăng đang tím mật bầm gan, nhưng khi nghe xong lời này lại không khỏi giật mình, cơn giận lập tức tiêu tan. Y nhíu mày hồ nghi hỏi:
- Sao lại có chuyện như thế?

Y quay đầu nhìn về phía cửa nam thành vẫn đang để ngỏ, chỉ tay về phía những làn khói bếp đang lượn lờ, hỏi:
- Ta đã sai người đi phân phát lương thảo, ngoài thành rõ ràng đã có khói bếp, sao có thể nói là để binh lính bị đói được?

Tất đô ty tím mặt cười gằn, đáp:
- Đó là quân doanh của Tôn Đại Trung. Thủ hạ của Tất Xuân ta cũng là quan binh Đại Minh, cho đến tận bây giờ, tướng sỹ trong quân ta chỉ được chia một nửa số gạo. Thường có câu rằng hoàng đế không để quân bị đói, chẳng nhẽ trạm Kê Minh nhà ngươi lại muốn bọn ta mang bụng đói ra trận giết địch hay sao?

Trong đầu Dương Lăng thoáng qua ý nghĩ: "Tham ô tiếm của ư?" Lúc y rời sở dịch thừa đã từng đích thân đi kiểm tra kho, lương thảo vận chuyển tới tối thiểu phải chất đầy hai phòng trong kho, đủ để cung cấp cho năm nghìn quan binh dùng trong trong mười ngày. Kẻ nào mà lớn mật như vậy, không ngờ lại dám ăn bớt mất một nửa, hơn nữa lại đang giữa lúc đánh nhau như thế này, quả thật là gan lớn bằng trời.

Lúc này thậm chí trong lòng y còn nảy sinh ý muốn giết người, mặt mày cũng lập tức xám xịt. Cố chế ngự lửa giận, Dương Lăng quay về Tất đô ty chắp tay khom người vái một vái, thốt từng chữ như chém đinh chặt sắt:
- Đại nhân, đây là sơ suất của ty chức, mong đại nhân lượng thứ cho! Xin đại nhân hãy lập tức phái nhà bếp trong quân đến sở dịch thừa trước, ty chức sẽ về đó ngay bây giờ đích thân phân phát quân lương ngay.

Một tên tiểu lại đứng bên cạnh không ngừng giật giật ống tay áo y như thể muốn nói điều gì. Dương Lăng chẳng chút quan tâm, hai mắt vẫn nhìn thẳng vào gã đô ty nọ.

Nghe Dương Lăng nói xong, nét hung bạo trên khuôn mặt của Tất đô ty từ từ dịu lại. Gã khẽ nghiêng người, vươn thân, cặp mặt tam giác nhìn chằm chằm vào Dương Lăng một hồi không chớp. Đột nhiên gã hỏi:
- Ngươi tên là gì?

Dương Lăng đáp:
- Ty chức Dương Lăng, dịch thừa tạm quyền của huyện Kê Minh.

Tất đô ty gật đầu, ngồi thẳng người lên rồi cười ha hả:
- Hay, hay cho một dịch thừa tạm quyền Dương Lăng, bổn tướng sẽ nhớ kỹ. Khâu Đại Bằng, ngươi hãy mau đuổi theo Quan Thụ Anh, kêu bọn chúng hãy ngoan ngoãn không được cướp lương nữa, cứ nói là Dương dịch thừa sẽ lập tức tới mở kho. Bổn tướng trở về đại doanh chờ tin tức của các ngươi, ha ha ha...



(1) một loại kiến trúc cổ, có năm gian (năm cụm kiến trúc) đi theo chiều dọc, ăn sâu vào trong. Ngoài ra còn có thất tinh liên hòan viện, ngũ tiến liên hòan viện, cửu liên hòan viện . Xem thêm về lịch sử của viện này tại http://ngmchina.com.cn/web/?action-viewnews-itemid-158153





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
09-08-2010, 02:21 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 29: Mở kho phát lương

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Thấy tình hình đã căng như dây đàn, Dương Lăng vội phi ngựa tới la lớn:
- Tất cả hãy dừng tay cho ta, có chuyện gì cứ nói với ta là được!




Tất đô ty dẫn theo đám thân binh phóng ra khỏi thành nhanh như chớp.

Dương Lăng hiểu được ý tứ trong lời của Tất đô ty. Y thật không ngờ gã đã phái người đến sở dịch thừa cướp lương rồi, thế là không màng đến hai bên đùi vẫn còn đau nhức, y vội vã lên ngựa phi nhanh về sở dịch thừa.

Tên tiểu lại vừa kéo ống tay áo y lúc nãy cũng vội phóng ngựa theo bên cạnh, lo lắng nói:
- Đại nhân, ngài không nên đồng ý cung cấp quân lương cho hắn! Giờ phải làm sao đây?

Bị xóc lên xóc xuống như một con rối, nhưng Dương Lăng vẫn quát:
- Có gì mà không nên chứ? Chẳng lẽ ngươi muốn để các tướng sỹ mang bụng đói đi đánh giặc hay sao? Việc ăn bớt quân lương ở triều nào đại nào cũng là tội chém đầu!

Gã tiểu lại cười nhăn nhó đáp:
- Đại nhân, đám tiểu lại như chúng tôi đây sao dám tuỳ tiện ăn bớt quân lương. Là tự bọn họ không mang đủ quân lương, trách được ai chứ?

Dương Lăng cả giận mắng:
- Nói xàm! Rõ ràng là có hai kho chất đầy quân lương, đủ dùng cho mười ngày. Ngươi dám gạt ta sao?

Tiểu lại vội giải thích:
- Tiểu nhân nào dám, trong kho tuy có lương thực dư, nhưng là của quân chính quy. Đám này là quân dự bị, chỉ mang theo có chừng ấy lương thực, có liên can gì tới chúng ta nào? Đại nhân, trong quân lương của Tôn đô ty cũng có tới ba phần là lấy từ quân lương của quân chính quy đó.

Dương Lăng hỏi:
- Chậm đã chậm đã! Ngươi hãy giải thích từ từ, chuyện này là thế nào?

Tên tiểu lại vừa phóng ngựa vừa giảng giải tường tận cho Dương Lăng rõ. Thì ra trong năm doanh binh mã dưới trướng Hà tham tướng, những doanh đóng ở phía đông, phía tây và phía nam thành chính là thân tín của y, là quân chính quy khu vực Hoài Lai, cũng là quân đội đóng giữ dài hạn ở vùng này.

Trong hai doanh binh mã xông ra ngoài thành đánh trận đầu thì quân đội của Tôn Đại Trung được gọi là khách quân, cũng chính là quân ngoại tỉnh. Mặc dù xuất phát từ nhu cầu đóng giữ mà bọn họ đã bị điều đến đồn trú lâu dài ở vùng này, song cung cấp lương thảo, bổ sung nhân lực, thậm chí là cung ứng ngựa, đao hay thương cho bọn họ vẫn đều do phía nguyên quán là Hà Nam phụ trách.

Còn quân của Tất Xuân thì được gọi là quân dự bị, được tạm thời điều từ vệ sở Chiết Giang tới, vì vào thời điểm mấy tháng này hàng năm, người Mông Cổ có nhiều khả năng xâm phạm biên cương nhất. Sau đó họ sẽ phải quay về lại Chiết Giang.

Lần này người Thát đồng thời tấn công hơn mười trạm dịch giữa mấy huyện kề nhau, khói lửa của những trạm phong hỏa đài truyền đến tận kinh thành. Tổng binh Tuyên phủ phái ra ba vị tham tướng cấp tốc chi viện cho Trác Lộc, Hoài Lai và Xích huyện, ngoài ra còn sai hai vị tướng quân du kích tác chiến cơ động, đại quân đi rất vội. Doanh quân nhu là đơn vị thuộc quyền quản lý của tham tướng Vĩnh Ninh, lương thảo vận chuyển đến đương nhiên được ưu tiên cho nhân mã bản bộ trước, vì vậy quân của Tôn Đại Trung và Tất Xuân đều không đủ lương.

Tuy quân của Tôn Đại Trung là khách quân, nhưng vì họ đồn trú lâu dài ở vùng này, cho nên tạm thời rút một ít lương thảo của quân chính quy ra cũng không sao, trở về trình báo xin quan coi kho ở Phủ thành khấu trừ vào quân lương từ Hà Nam chuyển tới là được. Nhưng quân dự bị là quân đội không cố định, qua xuân là họ trở về lại nơi đóng quân cũ. Vào thời điểm đó vận chuyển bất tiện khiến hiệu suất làm việc của quan viên địa phương thấp đi, nên tranh cãi đùn đẩy nhau, khất nợ quân lương là chuyện thường. Ngộ nhỡ bọn họ còn chưa thanh toán xong hết nợ nần mà đã thu quân về bản xứ thì ai sẽ chịu trách nhiệm về số lương thảo thâm hụt này đây?

Nghe tên tiểu lại giải thích xong, Dương Lăng cảm thấy hơi khó tin. Trong quân đội, khâu này quan trọng như vậy thế mà lại không thể làm theo kiểu "chi trả tập trung". Chế độ cung ứng quân nhu cứng nhắc, thiếu linh hoạt và không thực tế. Y thật không biết là do thằng ngu nào đặt ra nữa, chẳng trách khi nãy đi khắp toàn thành thấy chất lượng quân phục và vũ khí của binh sỹ các doanh chênh lệch nhau và không đồng đều.

Lúc này y cũng biết mình đã đáp ứng quá mức rồi, nhưng nếu như tướng sỹ ngay cả cơm còn không được ăn no, lòng quân và khí thế làm sao có thể đảm bảo chứ? Huống hồ quân nhu của Tất Xuân chẳng qua chỉ là chưa kịp vận chuyển đến, chỉ cần kịp thời viết thư đến nhà kho Phủ thành xin điều chỉnh lại sổ sách một chút, có lẽ sẽ không có vấn đề gì. Nghĩ đến đó Dương Lăng dần cảm thấy yên tâm.

Mặt trời đã ngả bóng về tây, được bao phủ bởi lớp tuyết trắng, sở dịch thừa đang tắm mình trong ánh mặt trời trông càng lạnh lẽo. Trên đường truyền tin dưới vách núi phía đông, cứ cách hai mươi bước lại treo một chiếc đèn lồng mặt giấy đã cũ kỹ, mờ đục, đang nhẹ đung đưa trong gió.

Có năm chiếc xe ngựa đang dừng trên đường truyền tin thoai thoải dốc, phía trước huyên náo tiếng người, đều là khẩu âm của người phương Nam. Đám này khoảng hơn bốn chục tên, cầm đao giương súng, sát khí đằng đằng. Trước nhà kho của trạm dịch, hơn chục tên dịch tốt cầm côn đứng chắn trước cửa kho dưới sự chỉ huy của một viên tiểu lại, đang giằng co cãi nhau như gà chọi với đối phương.

Thấy tình hình đã căng như dây đàn, Dương Lăng vội phi ngựa tới la lớn:
- Tất cả hãy dừng tay cho ta, có chuyện gì cứ nói với ta là được!

Thân binh của Tất đô ty là Trịnh Đại Bằng đi tới cạnh gã cầm đầu ghé tai nói mấy câu. Kẻ này vai đang vác đại đao, ống tay áo xắn cao, mặt đầy sát khí, hệt như một gã đồ tể. Hắn liếc xéo Dương Lăng rồi khoát khoát tay, bọn binh sỹ lập tức im lặng.

Trông thấy Dương Lăng, viên tiểu lại canh giữ cửa kho vội gọi lớn:
- Dịch thừa đại nhân đến rồi. Đại nhân, những tên lính này muốn cướp quân lương! Hê hê, lão tử mới bò ra từ đống xác chết, còn sợ mấy tên lính to đầu các ngươi sao?

Mấy tên lính kia vừa nghe thế thì lập tức lại ầm ỹ lên, Dương Lăng vội giơ cao hai tay hô lớn:
- Im lặng một chút nào, vị Trịnh huynh đây chắc đã truyền đạt quân lệnh của Tất đô ty rồi, các vị tướng sỹ chớ gây náo động! Cho hỏi ở đây vị nào quân chức cao nhất, xin mời bước lên để tính toán việc chia lương cùng với bổn Dịch thừa. Sau khi ký tên xác nhận là có thể lĩnh lương thảo về.

Gã quan quân đứng cạnh Trịnh Đại Bằng thong thả bước ra, ưỡn ngực ưỡn bụng nói:
- Coi như ngươi thức thời! Bọn ta xông pha bán mạng ở tiền tuyến, nơi này có lương thực mà lại để cho chúng ta phải đói. Tưởng bọn ta dễ bị ức hiếp lắm hay sao?

Tiểu lại trông kho lắp bắp nói:
- Đại nhân, số lương thảo này không thể tự tiện chia cho bọn họ đâu, bọn họ là ...

Dương Lăng ngắt lời gã:
- Ta biết, bọn họ là quân dự bị, là khách quân, lương thảo quân nhu của bọn họ vẫn chưa được vận chuyển tới!

Y đưa mắt nhìn khắp mọi người, cao giọng:
- Đồng thời ta cũng biết, bọn họ là cánh quân dũng mãnh, là cứu tinh của bổn huyện. Khi trạm Kê Minh đang đối mặt với nguy khốn, chính bọn họ xông lên tiền tuyến đánh đuổi giặc Thát, bảo vệ tính mạng dân chúng toàn thành.

Y quay về phía các binh sỹ hỏi:
- Nếu như ta không nhìn lầm, đội quân dùng súng đó thuộc doanh của các vị phải không?

- Không sai!
Gã quan quân đó mặt đầy vẻ kiêu ngạo, dương dương tự đắc ngó quanh, cao giọng:
- Các tay súng trong quân phương Bắc quá ít, chỉ có quân phương Nam chúng ta mới có đội quân chuyên dùng súng mà thôi!

Dương Lăng gật đầu:
- Ừm, giờ đây quân địch đã lùi bước, bổn huyện từ trên xuống dưới, bao gồm cả cha mẹ vợ con của các vị huynh đệ đều có thể vững bụng ăn no, ngủ một giấc lành, đó là nhờ vào cái gì? Chính là nhờ vào những binh sỹ dũng cảm này giúp chúng ta canh giữ thành trì, vậy nên giặc Thát mới không dám đến xâm phạm và quấy nhiễu nữa!

Y cao giọng tiếp:
- Các ngươi nói xem, dựa vào cái gì mà trong kho có lương nhưng lại không chia? Chẵng lẽ để cho những binh sỹ chiến đấu anh dũng này vác bụng đói đi giúp chúng ta phòng thủ bên ngoài thành sao? Những anh hùng đang vì chúng ta mà đổ máu, chúng ta không thể nào để cho anh hùng đã đổ máu lại còn rơi lệ được!

Những lời này có sức kích động thật quá lớn. Thời đó có ai mà quan tâm xem mấy tên binh sĩ quèn này nghĩ gì chứ? Ai lại thực sự để ý đến tác dụng của bọn họ chứ? Đó là cái thời mà thành tích chiến thắng cả trăm trận cũng không bằng một bài văn chương hoa lệ.

Những binh sỹ đang cầm đao giương súng đó đều lặng lẽ hạ tay xuống, vẻ hung hãn trên mặt đã hoàn toàn biến mất. Bọn họ vừa tự hào vừa cảm động, mắt đã hơi ươn ướt, cơ mặt nanh ác của gã quan quân trông như tay đồ tể kia cũng đang co giật.

Tiếp đó, Dương Lăng lại đổi giọng:
- Hơn nữa... Chúng ta có gì phải lo lắng chứ? Bọn họ đến từ vùng Giang Chiết (tên gọi tắt của Giang Tô và Chiết Giang), mà Giang Chiết vốn là nơi cá lắm thóc nhiều, thuế hằng năm của cả nước mười phần thì đến bảy, tám phần là của Giang Chiết, Hồ Quảng. Địa phương trù phú như vậy mà còn sợ mượn lương không trả sao?

- Không sai, Quan Thụ Anh ta lấy cái đầu ra đảm bảo, chờ khi quân lương của quân ta vận chuyển đến, nhất định sẽ trả lại cho kho ngay, nửa hạt cũng không thiếu!
Được Dương Lăng vừa tâng vừa bốc, gã quan quân đó cũng cảm thấy mình giống như một anh hùng dân tộc, vỗ ngực bồm bộp, cao giọng hứa hẹn.

Dương Lăng thở phào một hơi, nháy mắt ra hiệu với viên tiểu lại giữ kho, sau đó quát:
- Còn không mở kho chia lương?

Rồi y lại quay về phía Quan Thụ Anh cười nói:
- Quan tướng quân, làm chậm trễ giờ ăn các huynh đệ, thật sự là có lỗi quá! Có điều nhà kho là nơi quan trọng, vẫn mong Quan tướng quân trông giúp các vị huynh đệ, chờ người của ta cân đong xong rồi hãy vận chuyển lương thảo, chớ nên làm rối trình tự!

Được y gọi là tướng quân, lập tức Quan Thụ Anh tươi cười rạng rỡ, chấp thuận ngay:
- Chuyện nhỏ, chuyện nhỏ thôi, không cần nhọc công Dịch thừa đại nhân căn dặn!

Đoạn hắn trừng mắt, quay về phía đám binh sỹ thủ hạ quát lớn:
- Tất cả các huynh đệ hãy bình tĩnh một chút, không được làm mất mặt quân Chiết Giang chúng ta.

Đám quân lính nhao nhao vâng dạ ầm ỹ. Quan Thụ Anh vỗ mạnh vai Dương Lăng, cười hà hà nói:
- Huynh đệ là đội trưởng đội thân binh dưới trướng Tất đại nhân. Dương dịch thừa, chúng ta làm bằng hữu nhé.

Trách nhiệm của thân binh chỉ là phụ trách an nguy cá nhân của tướng lĩnh, lúc có chiến tranh thì tạm kiêm đốc thúc binh lính chiến đấu. Gã đội trưởng này tuy rằng chức quan không lớn, song quả thực là tâm phúc của Tất Xuân. Đương nhiên Dương Lăng cũng nhún nhường, tâng bốc thêm mấy câu kiểu chiến sỹ là con em của nhân dân, khiến cho Quan Thụ Anh như gặp được tri kỷ, cảm thấy thân thiết gấp bội.

Đối đáp khó khăn lắm mới tống được cái đám âm binh đó đi, Dương Lăng lật đật trở về nhà. Mãi đến lúc này y mới thấy cả người ê ẩm, xương cốt như nhũn ra. Vừa vào trong nhà, y liền ngả thẳng lưng xuống giường thở một hơi thật dài.

Hàn Ấu Nương thấy y mặt mày mệt mỏi thì liền vội tới cởi giày giúp, để hai chân y gác lên giường rồi mới ngồi bên cạnh nhẹ nhàng đấm chân cho y. Nàng dịu dàng thăm hỏi:
- Tướng công, chàng mệt rồi phải không? Nghỉ ngơi một chút rồi chúng mình ăn cơm nhé!

Đầu giường gần nơi lò lửa nên rất ấm áp dễ chịu, hai tay Hàn Ấu Nương lại hết sức nhẹ nhàng, cảm giác thoải mái khiến cơn buồn ngủ ùa đến, làm y chẳng muốn mở mắt. Mãn nguyện gối đầu lên tấm chăn, y lẩm bẩm:
- Ấu Nương, ta mệt quá, cả người đau nhức.

Hàn Ấu Nương đổi từ đấm chân sang xoa bóp nhẹ nhàng các cơ bắp đau nhức của y từ cẳng chân lên, miệng nàng hé cười:
- Ấu Nương xoa bóp cho tướng công, giờ nếu có thêm chút rượu thuốc nữa thì tốt hơn, bảo đảm ngày mai sẽ không còn đau nhức chút nào nữa.

Một cảm giác ngứa lâm râm dễ chịu từ cẳng chân truyền lên đến bụng. Dương Lăng sảng khoái "ô" lên một tiếng, thả lỏng thân thể hưởng thụ sự dịu dàng của nàng. Một lúc sau, y đột nhiên nhớ tới cái gì đó, vội mở bừng mắt, nói:
- Thân thể ta thật yếu quá đi, sau này chắc phải rèn luyện một chút. À đúng rồi, hôm nay ở trên tường thành ta thấy côn pháp nàng dùng lợi hại quá! Đó là côn pháp gì vậy?

Hàn Ấu Nương thoáng đỏ mặt, vừa ngượng nghịu xoa bóp hai chân cho y vừa lí nhí đáp:
- Là chút võ vẽ quê mùa thôi. Tướng công hỏi chuyện này làm gì?









Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
15-08-2010, 12:40 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 30: Mồng một Tết

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo vong

Biên tập: Dark_Blood

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Dương Lăng nghe giọng nàng có chút ngượng nghịu, bèn chăm chú ngắm nhìn. Nàng vừa mới gội đầu, mái tóc xõa xuống ngay ngắn sau lưng, óng ả mượt mà, toát ra nét tươi trẻ dịu dàng. Bên dưới hai hàng mi cong vút là một đôi mắt tròn xoe, ngây thơ chớp chớp như đang tránh né một điều gì.




Dương Lăng nghe giọng nàng có chút ngượng nghịu, bèn chăm chú ngắm nhìn. Nàng vừa mới gội đầu, mái tóc xõa xuống ngay ngắn sau lưng, óng ả mượt mà, toát ra nét tươi trẻ dịu dàng. Bên dưới hai hàng mi cong vút là một đôi mắt tròn xoe, ngây thơ chớp chớp như đang tránh né một điều gì.

Dương Lăng nghĩ thầm: "Chẳng lẽ lại là thứ tuyệt học gia truyền gì đó tuyệt đối không được truyền cho người ngoài."

Mặc dù y biết Ấu Nương đã trao trọn trái tim thiếu nữ cho mình, nhưng nếu gia tộc của nàng thật sự có quy định như vậy thì y cũng không thể trách nàng được, tuy tận đáy lòng y vẫn thấy có chút mất mát. Y gượng cười nói:
- Ồ, thì ra là công phu gia truyền của Hàn gia nhà nàng. Không cho phép người ngoài học sao? Ha ha, là ta lỗ mãng quá."

Theo phong tục xưa nay, con gái lớn lấy chồng phải xem nhà chồng như nhà mình, trong khi nhà cha mẹ ruột lại trở thành người ngoài. Nếu thiên vị bên ngoại hơn, vậy đã vi phạm thất xuất chi lệ (đã có giải thích ở chương trước) rồi. Với Hàn Ấu Nương, câu nói vừa rồi của Dương Lăng có thể xem như một lời trách móc hết sức nặng nề.

Nàng không khỏi lo lắng phân trần:
- Không phải, không phải đâu. Thiếp nào dám giấu giếm tướng công chuyện gì, nếu chàng muốn học, thiếp sao dám không dạy chứ? Bộ côn pháp này do cha thiếp học được từ Thiếu Lâm tự ở Hà Nam, gọi là... gọi là Phong Ma côn pháp.

Thời buổi này, quy định về xuất gia cực kỳ nghiêm ngặt, người dưới sáu mươi tuổi muốn đi tu phải được cha mẹ và quan viên địa phương đứng ra chứng nhận, sau đó lên kinh tham gia khảo thí, người nào tinh thông kinh văn mới được phát cho độ điệp (giấy chứng nhận công tác của thầy chùa – ND.) Các chùa chiền lớn do thiếu người kế tục, đành phải thu nhận rộng rãi đệ tử tục gia, cho nên cả vùng Hà Nam, Hà Bắc có rất nhiều môn đồ Thiếu Lâm tục gia. Thuở nhỏ phụ thân của Ấu Nương cũng vì gia cảnh bần hàn nên đã tới chùa Thiếu Lâm kiếm cơm, nhờ đó mới học được một thân võ nghệ.

Nghe thấy cái tên "Phong Ma côn pháp," lại liên tưởng đến vẻ mặt giấu giấu diếm diếm của Ấu Nương, Dương Lăng chợt hiểu ra. Nhìn vẻ mặt thẹn thùng và vóc dáng yêu kiều của Ấu Nương, y càng cảm thấy đáng yêu, không khỏi bật cười lớn. (Phong ma nghĩa là điên khùng – ND.)

Bị y cười, Hàn Ấu Nương lúng túng vô cùng, bối rối nhìn chồng. Thấy Dương Lăng cứ khoái chí cười mãi mặt nàng bất giác đỏ lựng, ngượng ngùng nói:
- Ấu Nương vốn không muốn nói, đều tại tướng công ép người ta... Nghe xong rồi còn cười người ta nữa.

Nói rồi nàng dẩu môi lên. Dương Lăng cười đau cả bụng một hồi, thấy khuôn mặt nàng đầy vẻ ấm ức thì vừa cười vừa khẽ ôm Hàn Ấu Nương vào lòng vào lòng:
- Ha ha ha, ta vốn không thấy buồn cười, chỉ tại nàng quá nhạy cảm khiến ta chợt nghĩ tới cảnh một nữ tử yêu kiều như nàng nhe nanh múa vuốt sử dụng Phong Ma côn pháp gì đó thôi, thật sự không nhịn được cười.

Dương Lăng cười bật ngửa ra sau. Hàn Ấu Nương làm mặt nghiêm không nói, nhưng trong ánh mắt dần có nét vui vẻ, cuối cùng không nén được phải phì cười. Nàng ấm ức đánh mạnh lên chân Dương Lăng một cái, hờn dỗi nói:
- Tướng công xấu lắm, cố ý trêu người ta!

Dương Lăng bị nàng đánh cho một phát đau điếng, hít vào một hơi rồi nói:
- Ui da, nhẹ chút đi mà! Yên ngựa cứng quá, ta cưỡi đến nỗi bắp đùi sắp rã ra rồi.

Hàn Ấn Nương hoảng quá, vội vàng lấy hai tay xoa bóp , dáng điệu thiếu điều muốn kề miệng vào thổi. Nàng nhẹ nhàng, từ tốn xoa bắp đùi y, ánh mắt chăm chú nhìn y hỏi:
- Giờ còn đau không? Đợi ăn cơm xong thiếp đi mua thuốc kim sang cho chàng nhé.

- Ặc... khụ… khụ…
Dương Lăng hắng giọng, cất tiếng hơi khàn khàn nói:
- Không cần đâu, chỉ tại ta không rèn luyện thường xuyên thôi. Được rồi... ừm, không cần xoa nữa.

Tiểu nha đầu này cũng đã trưởng thành rồi, nhưng có lúc lại hết sức “ngây thơ”. Cách chỗ "hiểm" của y gần như vậy mà hai bàn tay mềm mại của nàng cứ xoa xoa bóp bóp, rõ là khiêu khích lửa dục trong người y mà. Chỗ đó giống cái phao cứu sinh dẹp lép ném xuống biển, chốc lát là phình to lên, chỉ thẳng lên trời như ma thuật.

Dương Lăng vội vã co người lại. Cảm ơn ông trời! À không, cảm ơn bác thợ may mới đúng, vì đã làm cái đũng quần rộng rãi, đủ để che lấp cái "biểu hiện tội lỗi" của y. Y không khỏi thở phào một tiếng, nhưng ngay lập tức lại phát hiện khuôn mặt xinh xắn của Hàn Ấu Nương đang cách môi mình rất gần. Trên khuôn mặt non nớt cùng làn da không chút tì vết kia, mấy sợi tóc cứ vuốt ve vào mũi y, khiến y ngứa ngáy muốn hắt hơi.

Khuôn mặt Hàn Ấu Nương mang theo một mùi hương thoang thoảng của thiếu nữ, thật khiêu gợi khiến Dương Lăng rục rịch muốn làm bậy. Y cảm thấy bàn tay đang để trên đùi mình của nàng lúc này nóng tựa hòn than, không chịu nổi nữa, y bèn ôm lấy nàng, hôn lên mặt một cái.

Thân thể Ấu Nương thoáng run lên, rồi cứng đờ. Khuôn mặt nàng mịn màng trắng trẻo, làn da tựa như mỡ đông nhưng lại căng mịn, Dương Lăng như chưa đã thèm, chồm tới hôn thêm một cái thật dài. Mặt Ấu Nương trong nháy mắt đã trở nên nóng bừng, toàn thân cứng đờ, thế nhưng đôi mắt nàng lại trở nên long lanh quyến rũ. Nét mặt nàng vừa kinh ngạc, thẹn thùng, xen lẫn với niềm vui sướng bất tận và tình ý miên man.

Đôi môi nàng đỏ mọng, trơn bóng như trái đào chín, có thể hái xuống bất cứ lúc nào. Cố nén lại dục vọng đang trào dâng mãnh liệt, Dương Lăng khàn giọng bảo:
- Ta... đói rồi, đi ăn bánh cảo thôi.

- Ưm...
Hàn Ấu Nương đáp bằng giọng mũi, nhưng thân thể vẫn không nhúc nhích, cặp mắt long lanh như mặt nước hồ thu cứ say đắm nhìn Dương Lăng, mê hoặc khôn tả.

Túc tịch bất sơ đầu,
Ti phát phi lưỡng kiên,
Uyển chuyển lang tất thượng,
Hà xử bất khả liên!

(Đêm trước không chải đầu, tóc xoã xuống hai vai, dịu dàng sà lên đùi chàng, chỗ nào chẳng đáng yêu! Trích Tử dạ ca.
Đêm trước em chẳng chải đầu,
Bờ vai tóc xoã một mầu tơ xanh,
Dịu dàng sà nhẹ đùi anh,
Đâu đâu cũng vẻ long lanh yêu kiều.)

Hàn Ấu Nương để lộ thần thái mê người, như thể "đón chào Dương Lăng tới hái hoa." Trong tiềm thức của y, nụ hoa tươi này đang phơi bày một vẻ tự nguyện dâng hiến.

Nếu như Hàn Ấu Nương là một khóm cỏ non, vậy trên đầu Dương Lăng lúc này đã bắt đầu lú ra một cặp sừng trâu thật lớn. Y bây giờ chỉ muốn nuốt trọn Hàn Ấu Nương vào bụng, sau đó bắt đầu tận hưởng hương vị tươi mát của nàng.

Dương Lăng hếch mũi hít lấy mùi hương xử nữ toả ra từ thân thể Ấu Nương, rốt cuộc không kiềm lòng được, hai tay y bất chợt vòng ra sau đầu nàng kéo sát lại, miệng ôm lấy đôi môi ngọt ngào.

Hai bờ môi tiếp xúc, Hàn Ấu Nương vừa thở vừa rên khe khẽ, để Dương Lăng khai phá khuôn miệng xinh xắn trong trắng của mình, hoàn toàn khác vẻ dũng mãnh và bá đạo như lúc huyết chiến trên tường thành. Dương Lăng thưởng thức hương vị tinh khiết của một trinh nữ, ngón tay không tự chủ vén cổ áo nàng ra, khám phá làn da mịn màng thơm mát.

- Ưm...
Hàn Ấu Nương thốt ra một tiếng rên nhẹ, thần trí mê man mặc cho y xâm chiếm, thân thể yếu ớt ngả vào lòng y. Mùi hương trinh trắng thuần khiết của cơ thể nàng khiến cho bao mệt mỏi trong ngày của Dương Lăng vụt tan biến . Rất lâu sau y mới thoả mãn, tách miệng mình ra khỏi bờ môi đỏ ửng của Ấu Nương.

Càng lúc Hàn Ấu Nương càng toát ra phong vị vốn có của nữ nhân, ánh mắt nàng xao động như mặt nước hồ thu, đôi môi mọng đỏ bị y hôn đến ướt mềm, dáng vẻ trông mỹ miều khôn tả.

- Chụt…
Hai đôi môi lại chạm vào nhau, nhưng lần này chỉ là một nụ hôn phớt, tiếp đó Dương Lăng cười nhỏ, bảo:
- Nương tử à, có thể làm cơm cho ta được không?

Hàn Ấu Nương vốn đang si mê nhìn y, đôi mắt long lanh mọng nước, nghe thấy lời này nàng dường như sực tỉnh khỏi một giấc mộng dài, a lên một tiếng. Thẹn thùng kéo cổ áo lên, nàng bối rối bước xuống giường, lâng lâng như bước trên không. Ngoài phòng vang lên tiếng nồi niêu chén bát loảng xoảng , hiển nhiên tâm trí của nàng vẫn còn chưa bình tĩnh lại.

Dương Lăng mỉm cười, khẽ vân vê những đầu ngón tay, nơi đó vẫn còn sót lại cảm giác mềm mại, ấm áp của ngực nàng. Con tim của y đã bắt đầu dao động, lần đầu tiên y cảm thấy căm ghét lời nói dối trá kia của mình.

Nếu như không có lời nói dối đó thì có phải giờ này mình đã có thể tận hưởng thân thể xinh đẹp trinh nguyên của nàng rồi không? Mấy ngày nay, ít nhiều y cũng đã hiểu được phần nào về tính nết nàng. Dương Lăng biết rằng, cho dù nàng vẫn còn là xử nữ, cả đời này nhất định chỉ là nữ nhân của y, tuyệt không cải giá. Niềm tin được hình thành từ nhỏ của một người, y có thể thay đổi được sao?

Vừa nghĩ đến thời hạn hai năm, đến sự chia ly đang rình rập và đã được báo trước ấy, y không còn dũng khí chiếm hữu nàng nữa. Đã không thể hứa hẹn với nàng điều gì, y sao có thể thản nhiên hưởng thụ quyền lợi của một người chồng? Thế nhưng, cho dù có phải sống trong cảnh nghèo túng ở thời đại này hay không, y đều không nỡ rời xa, bởi vì nơi đây còn có người vợ y vẫn bận lòng, người vợ y luôn quyến luyến.

Dương Lăng lặng thinh nghĩ ngợi, trái tim bắt đầu thắt lại như thể đang có kim đâm...

"Hữu phục chương chi mỹ vị chi hoa, hữu lễ nghi chi đại vị chi hạ" (*), Hoa Hạ, chữ "Hoa" trong cái tên của dân tộc lâu đời ấy xuất phát từ những phục sức mỹ lệ của nó. Trong lịch sử Trung Hoa, Hán phục nhà Minh có nhiều kiểu dáng nhất, và đương nhiên cũng đẹp đẽ nhất. Nhờ đôi bàn tay khéo léo của Ấu Nương, bộ trang phục ngày Tết đơn giản đã được khâu cắt lại trông rất hợp với dáng người Dương Lăng, mặc vào rất đẹp. (* lấy cái đẹp của phục sức gọi nó là Hoa, lấy cái quý của lễ nghi gọi nó là Hạ)

Dương Lăng mặc trường bào cổ tròn, vạt áo màu xanh, tay áo rộng, đầu đội khăn vuông, vóc dáng cao ráo, mắt sáng như sao. Khí chất nho nhã ấy khiến Ấu Nương vui sướng vô bờ.

Ấu Nương mặc quần hoa, bên ngoài khoác bằng chiếc váy kẻ ô màu lam, thân trên mặc một chiếc bì giáp (**) màu hồng lạt. Eo thon ôm sát, váy xoè đung đưa, mái tóc đen nhánh thắt thành hai bím buông dài tới eo, cả người toát ra vẻ thanh nhã thuần khiết. (**Một loại áo thời cổ, không có cổ áo và tay áo. Ảnh: http://hiphotos.baidu.com/potsong/pi...04a08bb70a.jpg)

Bên dưới ống váy lấp ló một đôi hài thêu hoa mũi vểnh. Nàng bưng bánh cảo mới ra lò, còn nghi ngút khói đến đặt xuống chiếc bàn vuông con con được để trên giường. Dương Lăng thẳng lưng, ngồi xếp bằng ngay ngắn bên cạnh bàn, ánh mắt vô cùng chăm chú.

"Đàn ông không có tiền đồ mới chui đầu vào bếp," đó là câu mà Hàn Ấu Nương vừa mới nói, so với câu "quân tử không đứng gần bếp," ý nghĩa thật không khác là bao. Dương tú tài tuân mệnh ngồi yên, nhưng trong đầu cứ suy đoán bậy bạ, ánh mắt láo liên lén thưởng thức vẻ đẹp của vị thê tử nhỏ bé đang bận bịu của mình, dĩ nhiên y cũng không hề quên cặp chân thanh tú dưới váy nàng.

Đôi bàn chân của Hàn Ấu Nương rất đẹp. Thời thơ ấu, Dương Lăng đã từng chứng kiến tục bó chân , khi ấy trông vô cùng kinh dị. Để có được " Kim Liên Tam Thốn" (***) (gót sen ba tấc,) bàn chân người phụ nữ bị biến dạng khủng khiếp, xấu xí đến thảm thương. Còn đôi chân của Hàn Ấu Nương may mắn không bị bó, Dương Lăng nghĩ có thể do gia cảnh nhà nàng bần cùng, con gái cũng phải ra đồng làm ruộng, nên mới may mắn giữ gìn được vẻ đẹp này. (*** Chân bị bó rồi được gọi là “liên”, các “liên” kích thước khác nhau thì được chia vào các đẳng cấp khác nhau, trên bốn thốn là thiết liên, bốn thốn là ngân liên, còn ba thốn thì là kim liên.)

Thật ra lúc ấy, tục bó chân vẫn chưa thịnh hành cho lắm, con gái bó chân không nhiều, mãi đến cuối triều Minh tục lệ mới bắt đầu trở nên phổ biến; đến đời nhà Thanh, thứ phong tục bệnh hoạn này mới đạt đến tầm ảnh hưởng cao nhất. Bằng không với nguyện vọng cao cả của Ấu Nương là trở thành một người vợ hiền thục đức hạnh, có lý do gì để nàng không bó chân cơ chứ? Nếu như thế, hôm nay Dương Lăng đã không thể thấy được vẻ oai hùng, mạnh mẽ của nàng khi quật ngã tên cường đạo Thát Đát trên tường thành rồi.

Bánh cảo nhân củ cải trắng thịt heo được bê lên bàn, còn có một đĩa bò muối, một đĩa thịt thái miếng, và một bình rượu trắng nhỏ.

Đây đích thực là ngày tết ấm áp và hạnh phúc nhất của đôi uyên ương trong đêm đông lạnh giá, ngay sau một trận chiến sinh tử. Ấu Nương ngồi đó ăn uống ngon lành, đôi mắt sáng long lanh, hòa hợp với khung cảnh xung quanh tạo nên bức tranh lãng mạn nhất trong mắt Dương Lăng.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
17-08-2010, 05:48 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 31: Hai con hổ

Dịch: 6300

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Quá thối nát, quá sa đọa rồi! Y cảm thấy như mình đang phạm tội. Nếu ở thời đại của mình, đàn ông mà hưởng thụ như thế này tất sẽ gặp quả báo!

Quả báo lập tức tới ngay.




Chương 31: Hai con hổ


Vừa cơm nước xong Ấu Nương đã vội vàng dọn dẹp nhà cửa. Dương Lăng bưng ấm trà nhìn nàng bận bịu mà thấy bứt rứt khó chịu trong lòng. Quá thối nát, quá sa đọa rồi! Y cảm thấy như mình đang phạm tội. Nếu ở thời đại của mình, đàn ông mà hưởng thụ như thế này tất sẽ gặp quả báo!

Quả báo lập tức tới ngay. Dương Lăng vừa đứng dậy, định trơ mặt tới xin Ấu Nương cho phép mình rửa mấy cái bát, quét dọn linh tinh thì “rầm”, cửa nhà bỗng bị đá tung, gió lạnh táp thẳng vào mặt. Vừa mới ngẩng đầu lên, Dương Lăng đã thấy một bóng người màu trắng xộc thẳng đến, giáng ngay một cú đấm rất mạnh vào vai y. Dương Lăng loạng choạng, suýt chút nữa thì ngã phịch xuống đất.

Gượng đứng vững lại, Dương Lăng thấy một nam một nữ đang đứng giữa cửa, chính là hai anh em Mã Ngang đang mặc đồ tang. Mặt Mã Ngang đỏ phừng phừng, có vẻ đang rất tức giận. Còn Mã Liên Nhi trông như một đóa sen trắng xinh đẹp thấm đầy sương mai đứng lẻ loi, chỉ có điều vào lúc này, khuôn mặt yêu kiều như tranh vẽ đó lại tối sầm đầy vẻ bất mãn, đôi mắt long lanh pha chút khinh bỉ đang trừng mắt nhìn Dương Lăng.

Dương Lăng bối rối hỏi:
- Mã huynh, Mã tiểu thư, các vị.... thế này là thế nào?

Mã Ngang lớn tiếng mắng:
- Đồ cẩu tặc vong ân phụ nghĩa, ai xưng huynh gọi đệ với ngươi hả?

Mắng xong, hắn lại nhào tới trước vung quyền đánh. Không biết võ, Dương Lăng làm sao dám đánh nhau với hắn. Y vừa lùi được hai bước, Hàn Ấu Nương đã từ bên cạnh nhanh nhẹn vọt lên. "Chát" một tiếng, nàng đỡ được quyền chưởng của Mã Ngang.

Phòng ngoài không lớn, quyền chưởng của Mã Ngang hùng dũng mạnh mẽ, khí thế uy mãnh, bao trùm cả không gian. Hàn Ấu Nương giữ vững môn hộ (*), không hề tránh né, bàn tay nhỏ nhắn quẫy đảo dập dờn, khéo léo dùng kỹ xảo cầm nã thủ giằng co với hắn, không lùi nửa bước.
(*): từ võ hiệp, ý là phòng thủ vững chắc.

Dương Lăng không biết vì sao hai anh em nhà họ lại kiếm mình gây chuyện. Y vừa bị Mã Ngang đấm một cú, giờ lại thấy hắn chẳng thèm nói năng gì mà đã ra tay đánh nhau với Ấu Nương, lửa giận trong người bốc lên.

Thấy quyền chưởng của Mã Ngang bá đạo mạnh mẽ, nếu như thân thể nhỏ nhắn đáng yêu của Ấu Nương bị dính một đòn thì nguy mất, y bèn lớn tiếng cảnh cáo:
- Mã Ngang, chuyện đâu còn có đó! Nếu ngươi đánh Ấu Nương bị thương, ta thề không đội trời chung với ngươi!

Mã Liên Nhi vốn chỉ đứng ở một bên cười lạnh xem đánh nhau, thấy y thề độc như vậy thì không khỏi dựng cặp lông mày liễu. Nàng nhoáng người lướt qua bên cạnh hai người đang giằng co, xông thẳng tới Dương Lăng. Thân thể nàng vốn yêu kiều thướt tha như liễu rủ ven hồ, nhưng khi động thân lại rất mạnh mẽ.

Hàn Ấu Nương cực kỳ nóng ruột, mặc dù giận tên thô lỗ kia đã đấm tướng công nàng một cú, nhưng biết hai anh em nhà họ từng qua lại thân thiết với tướng công cho nên nàng ra tay còn nể nang vài phần. Lúc này Mã Liên Nhi đã lao vào nhà, nàng có muốn cản cũng không kịp nữa, nên vừa lập tức rùn người xuống tránh một quyền của Mã Ngang, nàng rút ngay một đôi đũa, rướn mình vút một cái đã dí sát vào cổ họng Mã Ngang, quát lớn:
- Dừng tay!

Mã Liên Nhi cũng đã lao tới bên người Dương Lăng, cổ tay trắng nõn vươn ra, tóm lấy tay Dương Lăng vặn ra đằng sau, tay phải rút từ trong thắt lưng ra một con dao găm bén ngót, kê ngay vào cổ họng y. Vừa ngẩng đầu lên đã thấy anh trai bị Hàn Ấu Nương khống chế, nàng không khỏi giật mình kinh hãi.

Quay đầu nhìn lại thấy Dương Lăng bị tóm, Hàn Ấu Nương bèn tì mạnh đầu đũa thêm một chút nữa, lạnh lùng quát lớn:
- Thả tướng công của ta ra!

Cùng lúc đó, Mã Liên Nhi cũng quát:
- Thả anh của ta ra!

Quát xong, cả hai đều ngẩn người, bốn mắt nhìn chằm chằm vào đối phương, không ai chịu buông tay trước.

Dương Lăng nhẹ nhàng lấy hơi để khỏi bị lưỡi dao sắc bén cứa vào cổ họng, rồi nói với Hàn Ấu Nương:
- Ấu Nương, thả Mã huynh ra!

Hàn Ấu Nương không cam lòng:
-Tướng công, nhưng mà chàng…

Dương Lăng trừng mắt, đầy khí phách ngắt lời:
- Thả y ra!

Hàn Ấu Nương trề môi, đành phải hạ đôi đũa xuống. Mã Liên Nhi cười khẩy, nói kháy:
- Đại trượng phu oai phong lẫm liệt đấy nhỉ! Ngươi cho rằng ta không dám giết ngươi sao?

Dương Lăng đành hỏi:
- Dù sao giết người cũng phải có tội danh chứ? Dương Lăng tự thấy chưa hề đắc tội với hai anh em các vị, cô nương giết ta làm gì?

Tuy y không biết vì sao anh em nhà này lại tức giận như vậy, thế nhưng trong mắt hai người lại không hề có sát ý, cho nên y cực kỳ bình tĩnh.

Mã Liên Nhi nâng tay trái lên khiến tay của Dương Lăng bị kéo ngược lên cao hơn một chút. Dao sắc kề cổ nên y không dám khom lưng, chỉ đành đau đớn rên rỉ. Hàn Ấu Nương thấy vậy cực kỳ đau lòng, nhưng lúc này tướng công ở trong tay người ta nên dù muốn cũng chẳng dám động đậy. Mã Liên Nhi nghiến răng cười gằn:
- Ngươi đã từng giúp ca ca ta một bận, nhưng lẽ nào Mã gia ta đã bạc bẽo với ngươi chăng? Ngươi... vì sao ngươi lại ức hiếp người quá đáng như vậy?

Dương Lăng kinh ngạc hỏi lại:
- Mã tiểu thư, cho đến giờ ta vẫn chưa biết mình sai trái điều gì, cô nương có thể nói rõ được không?

Mã Ngang phẫn uất quát:
- Cha ta vừa qua đời, bây giờ ngươi làm dịch thừa bản huyện phải không? Ngươi giỏi lắm, xương cha ta còn chưa lạnh, ngươi vì lấy lòng Hà tham tướng và các giám quân từ kinh đô tới mà tống cổ chúng ta ra khỏi sở dịch thừa. Thiên hạ còn có kẻ lòng lang dạ sói như ngươi sao?

Mã Liên Nhi run giọng:
- Cứ coi như là ngươi muốn trục xuất anh em ta ra khỏi sở dịch thừa đi, nhưng chúng ta vừa mới đến đây hơn nửa tháng, chưa quen với sinh hoạt nơi đây. Cuối cùng chỉ xin một gian phòng ở sở dịch thừa để lập linh đường cho gia phụ mà cũng bị người của ngươi từ chối. Người đi thì trà lạnh nhưng đến mức này thì.... Họ Dương kia, Mã Liên Nhi nhìn lầm ngươi rồi!

Nàng nhớ lại ngày đó ở Hồng Nhạn lâu, mình đã nhất thời nảy sinh tình cảm, thậm chí còn bùi ngùi "hoàn quân minh châu song lệ thùy, hận bất tương phùng vị giá thời" với Dương Lăng. Ai dè người đàn ông duy nhất mình yêu mến, ngưỡng mộ lại là một kẻ bạc bẽo, mà người của sở dịch cũng hám lợi tuyệt tình như vậy, khiến lòng nàng không khỏi chua xót.

Dương Lăng ngẩn người, một hồi lâu sau mới bắt đầu kêu oan với trời:
- Mã Huynh, Liên Nhi tiểu thư, Dương Mỗ không hề làm việc quá đáng như vậy! Mã bá phụ mất ở trên thành, ta cũng rất đau lòng, chẳng qua hôm nay đại quân vừa mới tới, ta cũng vừa tiếp nhận sự vụ của sở dịch, nhiều việc còn chưa rõ, bôn ba cả ngày tới mức chân tay rã rời, vốn định ngày mai tới phúng điếu. Sao có thể đuổi hai người ra khỏi sở dịch, hai vị xem ta có phải là loại người đó không?

Mã Ngang tức giận quát:
- Lòng người khó đoán, ai biết ngươi là cái dạng quái thai gì?

Mã Liên Nhi nghe xong hơi ngớ người, từ từ buông tay Dương Lăng, cặp mắt long lanh nhìn thẳng vào trong mắt y, gằn từng tiếng một:
- Ngươi không làm như thế à?

Dương Lăng không hề e dè nhìn lại nàng, khẽ lắc đầu đáp:
- Ta không làm!

Nhìn thấy ánh mắt trong sáng đầy chân thành của hắn, Mã Liên Nhi liền tin ngay, nàng cười chua xót, đau khổ nói:
- Người còn nhân tình còn, có lẽ mấy tên tiểu lại dở trò cáo mượn oai hùm rồi. Hai anh em ta quả là lỗ mãng đã quấy rầy vợ chồng hai vị. Anh, chúng ta đi thôi!

Nàng cụp mắt, chán nản, đau khổ lướt qua người Dương Lăng, kèm theo một mùi hương thơm ngát. Dương Lăng không khỏi nhớ tới bộ dáng hứng khởi của nàng vào ngày đầu gặp nhau.

Phụ thân của Mã Liên Nhi vốn ở tận Liêu Đông, Mã Liên Nhi lớn lên ở đó, không những rành cưỡi ngựa mà còn biết rõ tiếng Thát Đát, tính tình của nàng cũng cởi mở phóng khoáng như phụ nữ Thát Đát, rất khác với phụ nữ Trung Nguyên. Từ lúc quen nàng tới giờ, đây là lần đầu Dương Lăng nhìn thấy nàng yếu đuối bơ vơ như vậy.

Dương Lăng không khỏi nhiệt tình nắm lấy cánh tay nàng, hỏi:
- Từ từ đã! Mã thế bá gọi ta là hiền điệt, cũng xem như ta là vãn bối của ông. Tình hình cụ thể ở đó ta còn chưa rõ ràng lắm, có thể kể lại cho ta rõ không?

Mã Liên Nhi ngoảnh đầu lại, cặp mắt như nước hồ thu của nàng đảo lên tay hắn, Dương Lăng vội vàng buông ra. Y nhất thời nóng lòng mà quên mất ở thời đại này, nếu tùy tiện cầm tay con gái nhà người ta thì quả là một hành động cực kỳ thất lễ.

Vốn là cảnh kiếm bạt cung trương, nhưng nhờ sự tín nhiệm và thầm hiểu giữa Dương Lăng với Mã Liên Nhi nên tình hình căng thẳng đã được hóa giải. Dưới ánh mắt chăm chú vẫn đầy tức giận bất bình của Mã Ngang, Mã Liên Nhi kể lại sự việc một lượt. Hóa ra là vào buổi chiều, Dương Lăng có giao viên tiểu lại ở sở dịch đi chuẩn bị mấy gian phòng tốt. Kẻ này liền vào sở dịch cho người thu dọn các phòng đã được cấp làm chỗ trú ngụ cho Mã đại nhân cùng hai con. Hắn muốn dành những gian phòng này cho các vị quan to từ kinh đô tới ngụ. Trạm dịch nhỏ bé này chưa từng đón một vị tai to mặt lớn nào, mà những phòng tốt nhất của sở dịch cũng đúng là những gian phòng này.

Lúc đó Mã Ngang và em gái biết phụ thân đã mất, liền chạy tới đầu thành nhận xác nên không biết việc này. Đến lúc họ trở về thì phòng ốc đã bị dọn trống trơn rồi. Mã Ngang bộp chộp bèn tặng cho tên tiểu lại kia mấy cái bạt tai vào mặt.

Phụ thân của hắn vừa mới nhậm chức được hơn một tháng, vẫn chưa kịp có uy đức với cấp dưới. Tiểu lại kia vốn còn định lịch thiệp mời bọn họ chuyển sang phòng bên cạnh để thờ phụng nhưng bị ăn mấy cái bạt tai nên nổi nóng, gọi dịch tốt tới đuổi bọn họ ra ngoài.

Mã Liên Nhi nghĩ tới thi thể phụ thân ở trên xe ngựa ngoài cửa còn chưa được thu xếp nên xin mượn một gian phòng để bày linh đường. Trong lúc nóng giận, viên tiểu lại lấy cớ cấp trên ngụ tại chỗ này nên từ chối, không cho lập linh đường để khỏi cản trở cảnh quan.

Anh em họ Mã đáng thương buổi sáng còn là chủ nhân của sở dịch thừa, đến chiều lại phải vất vưởng nơi đầu đường xó chợ. Hai người lại mang theo một thây người nên ngay cả khách sạn cũng không chịu nhận. Trong lúc đau khổ hoang mang, cho rằng kẻ bày trò là tên Dương Lăng vong ân phụ nghĩa nên họ mới đùng đùng nổi giận đánh tới cửa.

Hàn Ấu Nương vốn cũng là người mềm lòng, chính nàng cũng đã phải trải qua cảnh xa lìa người thân, bơ vơ không nơi nương tựa, nếm trải cảm giác bị ức hiếp, chỉ nghe kể chuyện mà đã nước mắt lưng tròng. Nàng rưng rưng nhìn tướng công như muốn khẩn cầu, chỉ mong chàng có thể giúp đỡ hai anh em nọ một phen, nàng đã sớm bỏ qua sự xấc xược của đôi huynh muội này rồi.

Nghe xong, Dương Lăng cực kỳ phẫn nộ, y bèn bảo Mã Ngang:
- Mã huynh! Bá phụ đối xử với ta như con cháu, việc này cứ giao cho ta đi, coi như là một chút lòng hiếu của ta với lão nhân gia. Ta phụ hai người đi sửa soạn linh đường, sớm ngày mai, ta sẽ cùng chư vị đồng liêu trong huyện tới viếng Mã bá phụ!





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
23-08-2010, 01:46 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 32: Ngầm tỏ tấm lòng

Dịch: 6300

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: rama123411

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Dương Lăng ngoái đầu lại, thấy Mã Liên Nhi từ cuối hành lang đang chậm rãi bước tới. Ánh đèn lay động trong gió rọi xuống bộ quần áo trắng tinh của nàng, eo thắt đai tang, bóng hình thon thả như muốn nương theo cơn gió



Dương Lăng dẫn huynh muội Mã Ngang ra ngoài, quả nhiên thấy trước cửa có một cỗ xe đang đậu. Tên tiểu lại (*) đó xem ra cũng không quá tuyệt tình, hắn vẫn còn để lại cỗ xe này. Ba người đi mua quan tài, cờ tang, vàng mã chất hết lên xe rồi chở tới sở Dịch Thừa. Tới nơi, y sai người dọn dẹp phòng ốc để bố trí linh đường. (* tiểu lại: các chức dưới quyền quan gọi là lại, chức vụ không có phẩm cấp.)

Tên tiểu lại trực đêm nghe nói Dịch Thừa đại nhân đến liền vội vàng chạy tới trình diện. Dương Lăng thấy hai má hắn đang sưng vù thì lập tức nhíu mày. Y là người hiện đại nên không đồng tình với tư tưởng “vì mình là người thuộc giai cấp cao nên có tư cách và danh dự cao hơn người khác.” Nếu đổi lại là y bị người khác đùng đùng bạt tai mấy cái thì chỉ sợ đã điên tiết lên rồi.

Do vậy nên y không vì bênh vực Mã Ngang huynh muội mà quát mắng gã tiểu lại, chỉ nhẹ nhàng nhờ hắn gọi mấy người tới giúp bố trí linh đường. Tên tiểu lại kia thấy cấp trên ra mặt, đành ngượng ngập tìm mấy tên dịch tốt đến, giúp đại nhân giải quyết công chuyện.

Vào thời điểm này cũng không thể kiếm đâu ra đầy đủ đồ cúng được, phía trước bát hương chỉ bày biện qua quýt vài món. Bên cạnh quan tài là câu đối phúng điếu và cờ trắng. Trong bồn gốm có giấy lụa, vàng mã và còn hai cây nến trắng đang cháy trên linh cữu. Mã Ngang và Mã Liên Nhi đang túc trực trước linh cữu, vừa đốt tiền giấy vừa lã chã rơi nước mắt.

Dương Lăng không chịu nổi bầu không khí đau thương buồn bã này nên khuyên giải an ủi vài câu rồi cáo từ ra về, bỗng sau lưng y có người gọi:
- Dương huynh…

Dương Lăng ngoái đầu lại, thấy Mã Liên Nhi từ cuối hành lang đang chậm rãi bước tới. Ánh đèn lay động trong gió rọi xuống bộ quần áo trắng tinh của nàng, eo thắt đai tang, bóng hình thon thả như muốn nương theo cơn gió. Ánh mắt của y bỗng dưng khẽ ngẩn ra.

Mã Liên Nhi bước tới bên người Dương Lăng, khẽ nói:
- Dương huynh, hoạn nạn mới thấy chân tình, Liên Nhi đa tạ huynh!

Nói xong nàng liền gập người vái, Dương Lăng vội vàng ngăn lại rồi nói:
- Liên Nhi tiểu thư, cô quá khách sáo rồi. Bá phụ là trưởng bối của ta, chuyện nhỏ này là trách nhiệm ta phải làm hết sức nên không thể nhận đại lễ này được.

Mã Liên Nhi nhẹ nhàng đứng thẳng lên, cười khổ nói:
- Ta muốn cảm tạ huynh là bởi vì bản thân mình mà thôi. Gia huynh ngoại trừ sức lực, thích đánh đấm thì chẳng có sở trường gì cả. Còn ta chỉ là một cô gái, nếu như không có huynh thì hôm nay chúng ta muốn làm tròn đạo hiếu của con cái cũng chẳng thể được.

Giọng nàng nghẹn ngào, than thở:
- Ta vẫn luôn hận cha đã bức mẹ phải chết, luôn luôn hận người, cho nên mặc dù đau lòng nhưng cũng không đến nỗi bi thương hết muốn sống.

Nàng lại cười khúc khích rồi nhìn thẳng vào Dương Lăng hỏi:
- Những lời mà ta vừa nói có phải là đại nghịch bất đạo không nhỉ?

Ở kiếp trước truyền thông phát triển, Dương Lăng từng thấy rất nhiều mỹ nữ, sắc đẹp đều tuyệt vời, sợ rằng đế vương của thời này chắc gì đã có khả năng thấy hết tuyệt sắc trong thiên hạ. Lẽ ra với sự hiểu biết của hắn thì không thể bị Mã Liên Nhi mê hoặc được.

Thường có câu “nữ yếu tiếu, nhất thân hiếu” (con gái mặc đồ tang trông sẽ đẹp hơn), và cả câu “đăng hạ khán mỹ nhân, dũ tăng tam phân nhan sắc” (nhìn mỹ nhân dưới đèn, sẽ thấy nhan sắc nàng đẹp hơn ba phần.) Diện mạo của Mã Liên Nhi vốn đã rất đẹp, rất quyến rũ rồi, lúc này lại mặc một bộ đồ tang màu trắng mộc mạc, toát lên vẻ thánh khiết không tì vết. Lúc này cặp mắt như sao ấy lại ngân ngấn nước, vẻ nhu mì đáng thương đó khiến người ta cảm động nói không nên lời. Rốt cuộc, Dương Lăng lại không dám đối diện với nàng.

Mã Liên Nhi yếu ớt nói:
- Ta đau lòng, mà nói thật ra là có một phần hối hận. Bởi vì cho tới tận bây giờ, ta mới biết nếu như không có cha thì ta đã không thể sống thoải mái như vậy. Dù sao đi nữa, cha ta cũng đã đối xử với ta rất tốt, ta không nên thù ghét, lúc nào cũng làm cha giận như vậy.

Dương Lăng thầm than thở: “Đây có phải là minh chứng cho câu ‘tử dục dưỡng nhi thân bất tại’ (**) không? Vì sao lúc nào cũng phải để mất rồi mới biết quý trọng cơ chứ?” (**: Con muốn báo hiếu cha mẹ nhưng cha mẹ không còn)

Mã Liên Nhi cười cay đắng, nói:
- Khi gia phụ lĩnh chức dịch thừa, vốn có hai huyện còn chỗ trống. Do ở đây gần vùng quan ngoại, mà ta lại cảm thấy rất thích cuộc sống ở những nơi như thế này cho nên mới năn nỉ cha ta tới đây. Chính ta đã hại cha rồi, nếu như ta có thể đoán trước được việc sẽ xảy ra, thì có lẽ…

Dương Lăng an ủi:
- Ai có thể biết trước được tương lai chứ? Liên Nhi tiểu thư, đây không phải là lỗi của cô.

“Biết trước thì có gì hay cơ chứ, nếu như không phải biết mình chỉ còn sống được hai năm thì không biết bây giờ ta và Ấu Nương đã vui vẻ tới cỡ nào rồi.” Dương Lăng thương cảm khuyên nhủ:
- Đã không thể biết trước tương lai thì nên sống một cách nghiêm túc từ ngay bây giờ, nắm bắt hiện tại mới đáng quý, tương lai sẽ không hối hận. Tiểu thư thấy có phải không?

Mã Liên Nhi thấy ánh mắt trong veo của y chăm chú nhìn mình, trong ánh mắt đó chất chứa nhiều tình cảm phức tạp, tâm tình thiếu nữ khẽ rộn ràng. Nàng đâu biết Dương Lăng vì nghĩ tới Hàn Ấu Nương nên mới xót xa như vậy, liền hiểu nhầm: “Nắm bắt lấy hiện tại mới đáng quý ư? Y… muốn ám chỉ điều gì với mình sao? Nhưng y đã thành thân rồi mà.”

Mã Liên Nhi cảm thấy mặt mình như phát sốt, bị Dương Lăng nhìn nên càng hoảng hốt, nàng lắp ba lắp bắp:
- Nắm bắt hiện tại… mới đáng quý sao? Ta có thể nắm bắt được cái gì đây? Nhà thì chẳng có, đất cũng không, mặc dù gia phụ cũng có chút tích góp nhưng ‘miệng ăn núi lở.’ Ở đây huynh muội ta lại chẳng có ai thân thích, có lẽ… có lẽ vài hôm nữa ta cùng ca ca khiêng linh cữu về quê cũ.

Nàng nói xong, tim đập mạnh như ngựa phi nước đại: “Y có giữ ta lại không? Nếu như y giữ ta lại, ta phải làm sao đây? Ta cũng nhìn ra được là y rất yêu thương Hàn Ấu Nương, nhất định sẽ không vì ta mà bỏ nàng ấy đâu. Nhưng nếu như y bày tỏ tình yêu với ta, ta… Mã Liên Nhi này lẽ nào phải chịu làm thiếp cho người ta sao?”

Mã Liên Nhi cũng không muốn chịu cảnh nhục nhã phải làm thiếp nhà người nhưng lại ái mộ phong độ lịch lãm của Dương Lăng. Và nhất là, chỉ có người đàn ông này mới có thể hiểu và bao dung cho cách nhìn của nàng mà theo quan điểm của phụ nữ Trung Nguyên là đại nghịch bất đạo

“Hiện tại, gia cảnh của mình chắc chắn là sa sút, mà y chưa đầy hai mươi tuổi đã ngồi tới chức vị mà cha mình phải vất vả cả nửa đời người mới đạt được, có thể nói là tiền đồ không giới hạn. Liệu y có phải là người mà mình có thể lựa chọn hay không?” - Mã Liên Nhi hoảng hốt không muốn đối mặt với tình cảm đang dâng lên trong lòng, quả thật là vô cùng mâu thuẫn và bối rối.

Dương Lăng nợ Hàn Ấu Nương một mối thâm tình nặng như núi còn chưa biết lấy gì báo đáp, nào có tâm tư dây vào một mối tình khác, dù dung mạo xinh đẹp của Mã Liên Nhi quả thật khiến những người đàn ông bình thường đều yêu thích. Có điều y cũng không biết rằng Mã Liên Nhi đang dịu dàng kín đáo giãi bày tâm sự với y như vậy cũng chỉ là cho y một cái cớ để giữ nàng lại mà thôi.

Dương Lăng chợt trở nên nghiêm túc, mà sự nghiêm túc này lại xuất phát từ góc độ suy nghĩ của bằng hữu. Y cảm thấy tòa thành nơi biên cương này không thích hợp để huynh muội Mã Liên Nhi lưu lại, bèn nói:
- Tòa thành nhỏ ở vùng biên cương này lúc nào cũng có thể xảy ra chiến tranh loạn lạc, rời đi cũng tốt, trở về đất tổ dù sao cũng có họ hàng thân hữu giúp đỡ.

Tiếng lòng của Mã Liên Nhi vừa vang lên đã vụt tắt, bàn tay đang nắm chặt cũng buông lỏng ra, trong mắt chớp qua sự thất vọng khó mà che giấu được.

Lúc Dương Lăng cáo từ rời đi đã không chú ý tới ánh mắt vô cùng u oán của Mã Liên Nhi. Y yêu cầu tiểu lại đưa đến một con ngựa rồi phi một mạch tới huyện nha tìm bổ đầu trực đêm, bảo hắn sớm ngày mai khi chư vị đại nhân đến hãy mời bọn họ đến sở dịch thừa để phúng điếu Mã dịch thừa.

Trong đám quan viên huyện nha này, Hoàng huyện thừa có chức vị cao nhất, lại luôn quan tâm tới Dương Lăng. Y lại là sư gia của Mẫn đại nhân nên những người khác cũng luôn đối xử với y rất lễ nghĩa. Dương Lăng tự tin thân phận đặc thù của mình vẫn đủ sức kêu gọi.

Dặn dò xong, Dương Lăng định trở về nhà, nhưng nghĩ tới Mẫn đại nhân chắc đã được chuyển về huyện nha, cũng không biết bệnh tình thế nào rồi, liền đi vào trong xem thử. Y đi vào phía sau nha môn, thấy trong gian nhà chính có hai tên đầy tớ đang ngồi trên giường đất uống rượu, trên bàn bày một đĩa lạc rang và một đĩa tai heo. Nhìn thấy Dương sư gia, người được đại nhân coi trọng nhất đi vào, hai người vội vàng bước xuống giường. Lý lão đầu nhe răng cười chào:
- Dương sư gia, ngài tới thăm lão gia đấy à?

Dương Lăng gật đầu rồi hỏi:
- Đại nhân ra sao rồi?

Lý lão đầu tới cầm lấy áo choàng cho Dương Lăng, cười trả lời:
- Cơn sốt của lão gia đã lui rồi, chẳng qua là vẫn chưa tỉnh mà thôi, để tôi đưa ngài vào trong!

Dương Lăng xua tay nói ngay:
- Thôi không cần, đang tết nhất, hai ngươi lại hiếm khi được nghỉ ngơi, đi nghỉ cả đi, ta vào thăm đại nhân rồi về ngay!

Y vén rèm bông, bước vào phòng ngủ của Mẫn Văn Kiến. Trên chiếc bàn nhỏ phía trước giường đất đặt một ngọn đèn dầu, còn Mẫn đại nhân thì nằm ở đầu giường, đang quấn chăn kê cao gối ngủ say. Dương Lăng bước tới ngồi trước giường, thấy Mẫn Văn Kiến ngủ ngửa mặt lên trời, râu vểnh ngược, không nhịn được liền khẽ cười.

Xem xét kỹ thì thấy khuôn mặt đen thui của Mẫn huyện lệnh đã hồng hào hơn một chút. Nhẹ nhàng sờ lên trán của lão, cơn sốt đã lui, xem ra độc tố trên người đã được tẩy trừ nên không còn nguy hiểm gì nữa rồi. Dương Lăng thở phào rồi xoay người chuẩn bị rời đi thì đột nhiên Mẫn tri huyện rên rỉ một tiếng, lẩm bẩm nói:
- Nước, nước, lão tử .... muốn uống nước!

Dương Lăng mừng quá, vội cầm lấy ấm trà trên bàn, kê vòi ấm tới sát miệng lão. Mẫn huyện lệnh liền như cá voi hút nước, đã bắt đầu thì không dừng lại được nữa, quá nửa ấm trà đã trôi thẳng vào dạ dày, bấy giờ Mẫn râu xồm mới chậm rãi mở mắt.

Nheo mắt một hồi lâu lão mới nhìn rõ trước mặt là sư gia Dương Lăng của mình, Mẫn huyện lệnh chớp chớp mắt, nhìn quanh bốn phía, lầm bầm hỏi:
- Ta đang ở nhà à? Quân tình hiện tại như thế nào rồi?

Dương Lăng cười trả lời:
- Đại nhân, ngài đã ngủ một ngày một đêm rồi. Hôm nay đại quân của Vĩnh Ninh tham tướng đã đến, Thát Tử đã rút lui vào núi rồi, vòng vây ở Kê Minh đã được giải trừ, đại nhân chớ nên lo lắng!

Mẫn tri huyện nghe vậy sắc mặt liền lộ vẻ vui mừng, mắt khép hờ một lát rồi lại mở to ra, nhìn chung quanh than thở:
- Chỉ có ngươi ở đây thôi à? Đúng là đường xa mới biết sức ngựa, hoạn nạn mới biết lòng người. Mẹ nó, tất cả đều tưởng lão tử chết chắc rồi sao?

Dương Lăng cảm thấy thẹn thùng. Hôm nay có quá nhiều việc, mấy vị quan viên có chức sắc đều đi tiếp đón đám Hà tham tướng. Mọi người biết Mẫn tri huyện không gặp nguy hiểm gì đến tính mạng nên mới không tới thăm lão. Còn riêng mình, nếu không phải vì chuyện của Mã gia thì tối nay cũng đã không tới huyện nha làm gì. Không ngờ người thô lỗ như Mẫn tri huyện lại nhạy cảm như vậy. Xem ra câu “lễ đa nhân bất quái” (lễ phép nhiều thì chẳng ai trách) quả không sai, cổ nhân cực kỳ coi trọng lễ tiết, sau này mình phải luôn chú ý mới được.

Dương Lăng vội vàng giải thích thay mọi người, lúc này Mẫn đại nhân mới trở nên thoải mái. Từ lúc trên giường bệnh tỉnh lại, chỉ có Dương Lăng ở bên, khiến lão cực kỳ vui mừng, xem ra trực giác của mình coi y là thân tín quả là không nhầm.

Dương Lăng nhớ tới việc Hà tham tướng ra lệnh bổ nhiệm tạm thời liền kể lại cho Mẫn tri huyện, lão nghe xong liền trợn mắt quát:
- Như thế sao được? Ngươi đi rồi thì nha môn của ta do ai quản?

Quát xong, lão lại nghĩ rằng cũng không nên đối xử quá tệ với người của mình, liền nói tiếp:
- Thế cũng tốt, coi như là ngươi đã chính thức bước vào quan trường rồi. Em rể của ta là tri phủ Đại Đồng, ngày mai ta sẽ sai người báo cho y biết để giúp ngươi trở thành một viên dịch thừa chính thức. Chuyển từ tạm thời lên chính thức rất dễ dàng, không tới hai ngày đâu.

Lão cười gian hai tiếng nói:
- Hê hê, chớ nên coi thường chức dịch thừa này! Chức quan mặc dù không lớn, nhưng lại rất béo bở. Chức vị này để cho ngươi làm cũng tốt, nếu để người khác chiếm mất thì ta cũng không cam lòng.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
24-08-2010, 08:36 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 33: Mã Ngang tòng quân

Dịch: TheJoker

Biên dịch: hieusol

Biên tập: nguyenthai

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


- Tiểu thư nói cũng có lý, ở lại nơi này đúng là có điều bất tiện. Ta thấy nên mời tiểu thư về nhà ta ở trước...

Y vừa nói đến đây, thấy Mã Ngang miệng hả to như hà mã đang ngáp, cặp mày liễu của Mã Liên Nhi cũng xếch ngược lên



Quyển 1 Khói lửa suốt ba tháng - Chương 33 Mã Ngang tòng quân

Sáng sớm tinh mơ, Dương Lăng cưỡi ngựa phi về phía sở Dịch thừa. Kẻ nói vô tâm, người nghe hữu ý, hôm qua y nói ra câu "yên ngựa cứng quá", thế là Ấu Nương cả đêm làm cho y một cái đệm dày, vắt lên yên ngựa vừa nhẹ vừa êm, khiến y suốt đường cứ lo mình bị đu đưa lắc lư đến ngã.

Như một tân khoa trạng nguyên(1) diễu hành trên phố, y lắc lư đến cổng sở Dịch thừa. Đột nhiên từ xa có tiếng vó ngựa gấp rút vọng lại, hơn mười thớt khoái mã lao vút tới. Dương Lăng quay đầu nhìn sang, thấy một đám vệ sỹ áo giáp sáng choang đang vây quanh một tướng quân đầu đội khôi giáp, chính là vị Tất Xuân Tất đô ty đó.
.

Tất đô ty mặt mày tươi rói, chẳng giống gì với khí thế vênh váo ép người ngày hôm qua. Y gấp roi ngựa, chắp tay cười lớn nói:
- Được Dương lão đệ quan tâm chiếu cố nhiều, bổn tướng đặc biệt đến để cảm ơn đây.

Đêm qua Quan Thụ Anh vận chuyển lương thảo về doanh và có thuật lại nguyên xi những lời của Dương Lăng cho y. Trong lúc nhắc lại, nét mặt Quan Thụ Anh vẫn tràn ngập vẻ kiêu ngạo, tay đội trưởng thân binh tính thẳng như ruột ngựa này cảm thấy lời của Dương Lăng rất hay.

Tất Xuân đã lăn lộn trên quan trường bấy lâu, sẽ không vì mấy câu đầy sức truyền cảm (2) đó mà xem Dương Lăng là tri kỷ cả đời, tuy vậy y vẫn cảm thấy vô cùng sảng khoái, càng thêm hảo cảm với Dương Lăng. Sáng sớm rong ngựa trong thành, chợt nhớ tới vị Dịch thừa này, y nhất thời cao hứng, bèn phóng thẳng đến sở dịch để tỏ lòng biết ơn.

Dương Lăng vội bước lên nói mấy lời khách sáo. Tất Xuân nghe nói y muốn đi viếng một vị trưởng giả nên không tiện bỏ đi ngay, thế là cũng vào viếng để tránh phải thất lễ.

Nhóm người bọn họ tiến vào sân thì thấy cỗ kiệu màu xanh lục quen thuộc của Mẫn huyện lệnh dừng ở trong sân. Thì ra các vị đồng liêu đã đến huyện phủ từ sớm để vấn an đại nhân trước. Vết thương trúng tên của Mẫn tri huyện không sâu, nhưng vì mũi tên có độc nên mới hôn mê lâu như vậy, đã tỉnh lại rồi thì không còn đáng ngại nữa. Lão nghe nói Mã dịch thừa đã mất, lại nhớ hồi hôm chỉ có Dương Lăng bồi tiếp mình nên không khỏi phát sinh cảm giác bầu bí thương nhau (nguyên văn "thố tử hồ bi" - thỏ chết cáo thương), thế là chẳng màng can ngăn, lão lập tức ngồi kiệu chạy đến phúng viếng.

Huynh muội Mã Ngang không ngờ Dương Lăng có thể gọi nhiều người có thân phận đến viếng đến như vậy. Chớ thấy ngày thường Mẫn tri huyện và Mã dịch thừa xưng huynh gọi đệ mà lầm. Thứ nhất là có tiền bạc "phúng điếu", thứ hai là Mã dịch thừa tốt xấu gì cũng giắt một lệnh bài Cẩm y vệ ở trên người, bằng không, phải cực kỳ nể nang lắm thì kém tới mấy cấp mới được người ta đến viếng.

Còn như vị tướng quân mà Dương Lăng đang đưa vào... Cứ thử tưởng tượng một cục trưởng cục bưu chính huyện qua đời mà lại được lãnh đạo cấp phó tỉnh đến dự tang lễ, thì sẽ biết ngay người nhà có cảm giác gì.

Những người này, có một số hai huynh muội đều chưa gặp qua lần nào, hiển nhiên bọn họ đều là nể mặt Dương Lăng mà đến. Vừa nghĩ đến đây, Mã Ngang thật sự cảm kích Dương Lăng đến rơi nước mắt. Đối với Mã Liên Nhi thì ngoài vẻ cảm kích, trong ánh mắt của nàng nhìn về phía y còn mang thêm vài phần u oán, khiến Dương Lăng cảm thấy khó hiểu.

Tất Xuân vốn chỉ định lướt vào rồi ra, nhưng vừa trông thấy Mã Liên Nhi đã không nỡ bỏ đi. Y không ngờ ở vùng đất nhỏ này lại có thể gặp được một tiểu mỹ nhân đẹp tuyệt như hoa như ngọc vậy; nàng tuổi trạc mười lăm mười sáu, duyên dáng thướt tha, thân mặc áo tang, lộ ra dáng vẻ rất đỗi mảnh mai yếu ớt.

Dung nhan mỏng manh như cánh hoa chớm nở đọng giọt sương mai, thật sự yêu kiều đến không thể diễn tả bằng lời. Ba cô vợ lớn nhỏ của mình cũng có thể xem là giai nhân xứ Giang Nam, ấy vậy mà không được sáu phần xinh đẹp của nàng ta.

Đến tận lúc hai huynh muội đến trước mặt vị quan trưởng phẩm bậc cao nhất này để bái tạ, thì Tất đô ty mới thu lại ánh mắt quyến luyến, ngồi ngay ngắn nhận một lễ của bọn họ, sau đó đưa tay phải đỡ hờ, nói:
- Hai vị hãy đứng lên đi! Lệnh tôn vì nước hy sinh, Tất mỗ rất là tôn trọng, đến đây bái tế cũng là việc nên làm.

Hai huynh muội bái một lạy nhưng lại không đứng lên, Mã Ngang nói:
- Tướng quân đại nhân, Mã Ngang muốn gia nhập quan binh, giết Thát tử, bảo vệ Đại Minh, vì phụ thân báo thù, xin đại nhân thành toàn.

- Việc này...
Tất Xuân không khỏi do dự một chút. Nếu như y là binh thuộc doanh thì tuỳ tiện thu mấy người cũng dễ. Nhưng quân đội của y lại thuộc biên chế vệ sở, lính dưới trướng đều là quân hộ (3), cha truyền con nối. Tuy cũng có kẻ lén lút mạo danh đi lính thay, thế nhưng công khai thu nạp trước mặt biết bao người như vậy thật sự rất bất tiện.

Mã Liên Nhi ngẩng đầu xin:
- Tướng quân đại nhân, huynh trưởng ta học được một thân võ nghệ, làm lính hầu cũng được. Cầu xin đại nhân có thể cho y cơ hội vì cha tận hiếu, vì nước tận trung.

Thấy mỹ nhân cất giọng êm ái thỉnh cầu, xương cốt Tất Xuân đã mềm nhũn cả ra. Cặp mắt tam giác hơi díp lại, đầu óc nóng lên, y bảo:
- Được rồi, mau đứng lên đi! Ngươi đã am hiểu võ nghệ, lại biết viết lách, trước hết hãy đến làm thân binh cho ta, nhận chức Thập trưởng (4). Sau này lập được chiến công ta sẽ lại thăng quan cho ngươi.

Mã Ngang hết sức mừng rỡ, dập đầu bái tạ rồi đứng dậy. Thập trưởng tuy là chức nhỏ, nhưng suy cho cùng vẫn xem như là một quan quân. Mã Ngang vẫn luôn tự cho mình tài giỏi, tự tin rằng dựa vào võ nghệ của bản thân y chẳng những sẽ có thể thay cha báo thù, mà còn có thể kiếm một chức quan trong quân đội.

Thấy huynh trưởng nhà mình đã có lối đi, Mã Liên Nhi cũng mừng cho y. Chỉ là nghĩ đến chuyện huynh trưởng tòng quân rồi, sẽ trơ trọi lại mỗi mình, thâm tâm nàng không khỏi buồn rầu.

Chiến sự chưa yên nên Tất Xuân không dám nán lại lâu. Ngồi thêm một chốc y liền cáo từ trở về quân doanh, còn căn dặn Mã Ngang tang sự xong xuôi hãy đến quân doanh báo danh. Mẫn đại nhân vết thương chưa khỏi nên cũng không thể ngồi lâu, mà đám quan viên nha huyện đều có sự vụ cần làm, thành thử cũng tuần tự cáo từ rời đi.

Đáng lý huynh muội nhà họ Mã nên túc trực bên linh cữu (thủ linh) bảy ngày, sau đó mai táng để cha an nghỉ. Có điều thời đó xem trọng chuyện "lá rụng về cội", nếu như chết ở quê người, thường đều để quan tài lại ở những nơi như chùa chiền, miếu mạo, chờ khi có dịp sẽ đưa về quê nhà an táng. Một số nhà gia cảnh bần hàn, không chịu nổi chi phí vận chuyển đường dài, quan tài thậm chí phải lưu lại hơn chục năm.

Sau một hồi bàn bạc, hai huynh muội quyết định gửi quan tài ở chùa Phổ Độ nơi Kê Minh, đợi sau này mới chuyển về quê. Hiện tại Mã Ngang sốt ruột báo thù, nóng lòng muốn tòng quân, tuy không để tang theo quy định, nhưng cũng xem như là đã tận hiếu, đương nhiên sẽ không có ai trách móc.

Nhưng lúc này, sắp xếp cho Mã Liên Nhi như thế nào lại trở thành chuyện khó. Thấy Mã Ngang đưa mắt về phía mình, Dương Lăng liền trấn an:
- Mã huynh không cần phải lo lắng, tiểu thư cứ ở lại nơi này là được!

Mã Liên Nhi lạnh nhạt liếc y, nghiêm mặt bảo:
- Huynh muội ta bây giờ không còn quan hệ gì với sở Dịch nữa, ở lại nơi này há chẳng phải là danh bất chính ngôn bất thuận sao.

Phụ nữ thích nhất là thù dai, nhất là mấy người đẹp hay được nuông chiều. Dương Lăng chỉ nghĩ nàng vẫn còn giận tên tiểu lại kia nên bảo:
- Vậy có sao đâu? Lát nữa để ta đi sắp xếp cho nàng là được.

Mã Liên Nhi hếch mũi:
- Ta với huynh không thân thích, lại chẳng phải bạn bè gần gũi, đến lúc đó không chừng sẽ nảy sinh những lời đồn đại ác ý đấy.

Mã Ngang trừng mắt:
- Ai dám? Hơn nữa... không họ hàng thân thích thì còn đúng, chứ sao lại không bạn bè gì? Huynh và Dương lão đệ cũng đã xem như là bằng hữu tốt rồi, giúp huynh chăm lo cho muội tử một chút thì có sao đâu chứ?

Mã Liên Nhi giậm chân, quay ngoắt đầu không thèm để ý tới tên ngốc đó nữa. Dương Lăng thầm trù tính, cũng cảm thấy Mã Liên Nhi nói có lý. Vì y chỉ là Dịch thừa tạm thời, ngay cả gia quyến của y cũng chưa dọn vào sở Dịch thừa ở, nếu như để thêm một cô nương trẻ tuổi sống ở chỗ này, chắc chắn sẽ dẫn đến những lời ong tiếng ve.

Mẫn huyện lệnh vừa nãy trước lúc rời khỏi cũng nói đã cử người đi thông báo cho em trai vợ lão, tốt hơn trước tiên cứ để nàng ở cùng với Ấu Nương vài hôm, còn mình thì chuyển tới ở trong sở Dịch, chờ đến khi chính thức nhận bổ nhiệm, lúc ấy nhường lại căn nhà nhỏ của mình cho nàng ấy là được. Trong bụng trù tính như vậy, y nói với Mã Ngang:
- Tiểu thư nói cũng có lý, ở lại nơi này đúng là có điều bất tiện. Ta thấy nên mời tiểu thư về nhà ta ở trước...

Y vừa nói đến đây, thấy Mã Ngang miệng hả to như hà mã đang ngáp, cặp mày liễu của Mã Liên Nhi cũng xếch ngược lên nên liền vội bổ sung:
- Úi ... trước để bầu bạn với tiện nội, còn ta dọn đến sở Dịch ở là được rồi. Chờ khi Thát Tử rút lui, tiểu thư hãy quyết định đi hay ở cũng không muộn.

Mã Ngang vui mừng khôn xiết, sắp xếp như vậy còn có gì phải lo lắng chứ. Mã Liên Nhi lườm Dương Lăng một cái, suy nghĩ một chút rồi cũng không nói thêm gì. Chuyện này coi như đã được giải quyết.

Ngay trong hôm đó, Thát Tử chỉ phái ra một toán lính nhỏ do thám quân Minh. Hai phe đều thăm dò thực lực của đối phương, bên nào cũng không đưa ra quân đội tác chiến chủ lực.

Lúc trời gần tối, Dương Lăng dẫn người giúp huynh muội Mã Ngang đưa quan tài của Mã dịch thừa gởi ở chùa Phổ Độ. Mọi chuyện bố trí thoả đáng xong, Mã Ngang liền đến quân doanh của Tất đô ty báo cáo, còn Dương Lăng dẫn Mã Liên Nhi về nhà. Ấu Nương là một phụ nữ rất nhiệt tình, lại hết sức đồng cảm với vị đại tiểu thư gặp nạn này, nên sau khi nghe nói nàng ta chỉ tá túc vài hôm thì không chần chừ mà đáp ứng luôn.

Mã Liên Nhi đối xử với y thì lạnh lùng băng giá, nhưng khi thấy Hàn Ấu Nương thì lại trở nên thân thiết, thấy vậy Dương Lăng không khỏi thở phào một hơi. Cả ngày nay, thái độ của Mã Liên Nhi đối với y, thậm chí ngay cả lúc cười cũng đều lạnh nhạt, giả tạo. Dương Lăng cũng chẳng biết mình đã đắc tội với nàng ta ở chỗ nào. Y thật sự vẫn lo vị thiên kim họ Mã này đến nhà rồi vẫn sẽ giở tính khí tiểu thư. Y nhịn được, nhưng y không thể chịu được bất cứ kẻ nào làm Ấu Nương buồn giận.

Ấu Nương ít đọc sách, nhưng tính tình thuỳ mị, thông minh lanh lợi, biết cái gì nên nói, cái gì không nên nói. Mã Liên Nhi từ nhỏ lớn lên ở vùng tắc ngoại, ghét nhất là dáng vẻ làm bộ làm tịch của bọn con gái đọc nhiều thi thư ở Trung Nguyên, nên rất hợp với nàng. Chỉ một lúc sau hai người đã rất thân thiết.

Nơi sở Dịch thừa chợt xuất hiện một bóng người lặng lẽ bước vào trạm gác (môn phòng), hỏi tên lính gác cổng:
- Dịch thừa đại nhân có ở đây không?

Tên lính gác cổng này vốn là dịch tốt, do bị thương lúc ở trên thành nên cử động khó khăn. Sở Dịch hiện nay đang thiếu người, thế là để cho gã và tên lính gác cổng ban đầu tạm thời hoán đổi nhiệm vụ. Hắn tưởng kẻ kia tìm Dịch thừa tạm thời là Dương Lăng, nên vẫn ngồi ở trên đầu giường hỏi:
- Đại nhân vừa mới ra ngoài, ngươi có chuyện gì?

Vừa hỏi hắn vừa dò xét một lượt, thì thấy kẻ đến trên người mặc áo quần thường dân, mũ trùm đầu da chó sụp sát xuống tận lông mày, nét mặt đầy vẻ phong sương.

Kẻ đó nghe xong liền lấy từ trong ngực ra một phong thư được dán kín bằng sáp, đưa cho hắn, bảo:
- Ta từ quan ngoại đến, còn phải trở về ngay trong đêm nay. Phiền ngươi chuyển cái này tới cho Dịch thừa đại nhân. Cáo từ!

Tên lính gác cổng gật đầu nhận lấy bao thư. Người nọ đẩy cổng, biến vào giữa màn đêm mù mịt. Tên lính gác cổng nhìn phong thư, thấy chỗ phong ấn vẽ một con quái ngư. Hắn cũng chẳng để tâm, ngáp một cái, rồi đặt phong thư lên đầu giường.


Chú thích:

(1) Nguyên văn "khoa quan": trong chế độ khoa cử thời xưa, tân khoa trạng nguyên sau khi thi đình được đức vua khâm điểm (tự thân chấm điểm), quan viên lại bộ, lễ bộ sẽ giơ cao thánh chỉ, gõ chiêng dẹp đường. Trạng nguyên thân vận hồng bào, mão cắm cung hoa (hoa trong ngự uyển), cưỡi tuấn mã, diễu hành trên ngự nhai ở hoàng cung kinh thành, được vạn dân chúc tụng.

(2) Nguyên văn "thanh tình tịnh mậu": nghĩa đen chỉ cỏ cây phong phú um tùm, nghĩa bóng chỉ sự truyền cảm và lôi cuốn (trong biểu diễn).

(3) thời xưa tòng quân ở Trung Quốc, các hộ gia đình được phái đi làm quân sai. Thời Đông Tấn, Nam Bắc triều, hộ tịch của binh sỹ và những người thân trong gia đình đều thuộc về quân phủ, gọi là quân hộ. Các thế hệ trong quân hộ cha truyền con nối đều phải đi lính, chưa được phép sẽ không thể thoát khỏi quân tịch. (theo bách khoa).

(4) một kiểu quân hàm trong quân đội thời xưa: cứ năm người lập ra một Ngũ tràng (trường), hai mươi người là Thập tràng (trường). Một trăm người là Bách phu tràng (trường), năm trăm người là tiểu đô thống, một nghìn người là Đại đô thống. Ba nghìn người là Chính thiên tướng, năm nghìn người là Chính thiên nha tướng, một vạn người thì thiết lập Chính phó tướng quân. (Theo bách khoa)



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
25-08-2010, 12:40 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 34: Mưa gió kéo tới

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: nguyenthai

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Tình cảm của y dành cho Ấu Nương từ sự yêu mến thương xót lúc ban đầu cho đến yêu thương sâu đậm như hôm nay, ý niệm vĩ đại sắm vai người dẫn dắt hạnh phúc cho nàng, trao nàng vào vòng tay kẻ khác sớm đã bị y vứt đi rồi.



Hà tham tướng và hai vị giám quân sau khi cùng với người thủ bản địa là Giang bá tổng tuần sát ba thành thì đi đến doanh trại của Tất Xuân. Tất Xuân chỉ là quân dự bị, tạm thời do Hà tham tướng quản lý, cho nên không được thuần phục như bọn tướng lĩnh khác.

Đêm hôm qua, trong doanh trại của Tất Xuân lại náo loạn cả lên, nguyên nhân là do thiếu hụt lương thảo. Vốn dĩ Hà tham tướng chỉ quan tâm đến lương thảo cho quân chính quy của mình, nên chẳng thèm dòm ngó tới quân của Tất Xuân. Nếu không phải nhờ Dương dịch thừa hào hiệp xuất lương, có lẽ đến bây giờ quân của Tất Xuân sẽ vẫn còn ôm bụng đói, nên trong lòng y có vài phần ác cảm. Chính vì vậy khi gặp Hà tham tướng, y cũng tỏ thái độ lạnh nhạt.

Hà tham tướng cũng chẳng để bụng, sau khi xem xét việc phòng thủ trong doanh xong, đang lúc muốn đi sang doanh của Tôn Đại Trung thì thám mã trong quân doanh đã đuổi tới đại doanh của Tất Xuân. Lúc này y vừa mới rời khỏi lều của Tất Xuân, lại nhận được quân tình cấp báo nên bèn quay về quân doanh rồi thắp đèn, mở quân thư ra xem.

Quân thư được gởi tới từ Tổng binh phủ. Xem xong quân tình cấp báo, lập tức Hà tham tướng đem thư truyền xuống cho các chư tướng. Về phần mình thì đi tới đi lui trong lều, vẻ mặt không ngừng biến đổi, thần sắc cực kỳ ảo não.

Thì ra lần này tiểu vương tử Bá Nhan Mãnh Khả của Thát Đát tập trung binh mã các bộ lạc, tổng cộng có hai vạn người, chia nhau quấy phá mười mấy dịch trạm dọc biên giới nhằm cướp lương thực vật tư để bù lại những tổn thất do trời đông tuyết lớn, đồng thời để có thể qua được mùa đông này một cách yên ổn. Hy vọng những tài vật cướp được có thể giúp cho các bộ lạc của mình thuận lợi vượt qua mùa đông này. Do đó trong chiến lược lần này của bọn họ, không hề có ý định đánh lâu. Thật ra, từ sau khi Minh Thành Tổ năm lần đánh Thát Đát (1), Ngoã Lạt, cho đến tận bây giờ dị tộc ngoài biên ải vẫn chưa hồi phục được nguyên khí, vì vậy về căn bản trước mắt vẫn chưa đủ thực lực để công thành cướp trại.

Sau khi lửa hiệu truyền tới, mấy cánh quân Minh đồng loạt xuất phát. Do tuyết lớn lấp đường nên cánh quân ở Hoài Lai là đội đến sau cùng, ngoài ra còn có hai nhánh quân khác. Trong khi người Thát Đát vẫn chưa đánh hạ được Trác Lộc thì đại quân phía bắc của tham tướng Thạch Mã Doanh đã đuổi đến. Quân địch khoảng chừng năm ngàn người, vừa mới cướp bóc được vài thôn xóm dọc đường thì đã hốt hoảng bỏ chạy, nửa đường lại bị quân của du kích tướng quân Cát Uy chặn đánh, bị tổn thất nặng nề, đại quân còn lại không đến ba ngàn. Do vậy, có thể nói nhánh quân phía bắc vừa mới xuất quân đã chiến thắng giòn giã, lập được công đầu.

Tiểu vương tử Bá Nhan Mãnh Khả tự mình dẫn một vạn kỵ binh Thát Đát công đánh Xích huyện, đã liên tục chiếm được ba toà thành nhỏ. Tham tướng Úy Quảng và du kích tướng quân Dương Gia Long ở phía nam, cùng với tướng phòng thủ Xích huyện là Vương Thừa Hiến. Ba nhánh đại quân hợp lại số lượng cũng vừa đông tới một vạn, vì vậy đôi bên giao chiến không phân thắng bại, rơi vào thế giằng co.

Nhưng mà rạng sáng hôm nay, đại quân của tiểu vương tử bỗng nhiên chia thành hai nhánh rút lui, tham tướng Uý Quảng dẫn quân liên tục đuổi theo. Trong đó một nhánh quân chuồn lên phía bắc, nhánh còn lại thì chẳng biết đã trốn đi đâu. Thư từ tổng binh yêu cầu Hà tham tướng phối hợp với đại quân hai cánh tả hữu, chiếm lại các dịch trạm đã thất thủ, đồng thời tìm cơ hội gây tổn thất cho kẻ địch.

Mặc dù tham tướng Vĩnh Ninh đã thành công bảo vệ được Kê Minh, nhưng chiến tích đó so với hai vị tướng lĩnh đồng liêu thì vẫn còn kém xa. Hơn nữa qua tình huống được miêu tả trong thư, nắm rõ được ý đồ tác chiến của quân địch, y mới hay hôm qua quân Thát không hề có viện binh, đồng thời cũng chẳng ham chiến, vậy mà khi đó y lại không thể chớp lấy thời cơ để lập đại công, bây giờ nghĩ lại không khỏi có chút cảm giác phiền muộn.

Xem xong quân thư, sắc mặt của Diệp ngự sử cũng cực kỳ khó coi. Y sợ bị vặn hỏi, bèn giành mở miệng nói trước:
- Quân ta mới đến, không rõ tình hình của quân địch thì dùng binh cẩn thận một chút cũng không có gì là không thỏa đáng. Bây giờ chúng ta đã biết quân địch không có ý đánh lâu, vậy thì ngày mai chúng ta nên truy tìm tung tích quân địch, chủ động xuất chiến!

Lưu công công cũng gật đầu đồng ý, nói:
- Hôm nay tuy quân ta không có truy kích, nhưng quân Thát cũng không biết nội tình của quân ta, chưa chắc đã chạy xa. Ngày mai nếu chúng ta tấn công bất ngờ, thì việc lập đại công sẽ dễ như trở bàn tay.

Tất Xuân suy nghĩ một chút rồi nói:
- Tham tướng đại nhân, hai vị giám quân đại nhân, ty chức cho rằng quân Thát thành thạo dã chiến hơn chúng ta. Thêm vào đó hai nhánh quân Trác Lộc và Xích huyện đã có hai vị du kích tướng quân hợp tác, ngoài ra số lượng quân ta lại không chiếm ưu thế so với quân địch, mặt khác phía trước lại có nhiều đường núi, rất bất lợi cho đại quân truy kích, vì vậy ty chức nghĩ rằng...

Diệp ngự sử ngắt lời y:
- Bây giờ đã rõ tình hình quân địch, cũng chính là lúc thừa thắng truy kích, khiến cho Thát Tử không dám khinh thường uy thế của quân Minh ta. Tất tướng quân nói như vậy, có phải là nhát gan sợ chiến hay không?

Cặp mắt tam giác của Tất Xuân trợn lên, hiển nhiên cơn giận đã lên tới cực điểm. Y hít vào một hơi, mặt tím lại không nói lời nào, nhưng trong lòng thì lại chửi ầm: “Lúc ông đây muốn thừa thắng truy kích, mày nói ông tham công liều lĩnh, bây giờ ông không muốn đuổi nữa thì mày lại nói ông nhát gan sợ chiến, đúng là bọn văn nhân chó má đáng bị chém đầu!”

Lúc này Giang Bân nhớ tới trong thư có nói đến trong hai cánh quân trốn chạy ở Xích huyện, có một cánh quân khoảng năm ngàn người, không biết đã chạy về hướng nào, không khỏi thầm suy nghĩ. Nhưng lập tức y nghĩ đến chuyện quân Thát nếu có chạy hẳn cũng chạy về biên giới phía bắc, chẳng có lý do nào mà chạy về hướng đông, đến Hoài Lai tìm chết, cho nên lời vừa đến miệng thì lại nuốt trở vào.

Hà tham tướng liếc nhìn Tất Xuân, rồi mỉm cười nói:
- Tất đô ty từ phương nam đến, không rõ địa lý, không biết tình hình quân địch nên cũng không thể trách được. Đường núi quả thật khó đi, nhưng chính vì khó đi nên kỵ binh Thát Đát mới không thể phát huy hết sở trường được. Thuộc hạ của ta đều là người bản địa, nắm rõ địa thế nơi này, ngày mai đại quân khởi hành cứ cho nhân mã chính của ta làm tiên phong là được.

Tất Xuân cười nhạt không nói: “Đây rõ ràng là biết quân Thát rút lui, muốn quân chính quy của mình tranh chiếm quân công mà.”

Hà tham tướng cũng chẳng để ý tới thần sắc của y, lập tức hăm hở truyền tin triệu tập ngay chủ tướng các lộ đến quân doanh của Tất Xuân, bắt đầu nghiên cứu bàn bạc chuyện xuất binh ngày mai.

Dương Lăng trở về sở Dịch, tạm thời ở tại phòng làm việc thường ngày của Mã dịch thừa. Căn phòng không lớn, sảnh ngoài rất nhỏ, nhưng phía trên đầu bàn cũng có treo một tấm biển. Phía sau là một gian nhỏ dùng để nghỉ tạm, chiếc giường chiếm đến hai phần ba không gian, bên cạnh giường là một dãy tủ bằng gỗ lê nặng trịch.

Từ khi đến thế giới này, đây cũng là lần đầu tiên Dương Lăng ngủ một mình. Đêm nay khi bên cạnh không có Hàn Ấu Nương nằm chống cằm ở đầu giường cùng y rủ rỉ mấy mẩu chuyện phiếm, trong lòng y tự nhiên cảm thấy trống vắng không ngủ được. Dương Lăng cười khổ, cô bé này không ngờ lại có sức hấp dẫn đến như vậy, vô tình đã chi phối tình cảm của mình, khiến cho mình như một thằng bé mới biết yêu phải lo nghĩ thiệt hơn.

Vừa nhớ đến Ấu Nương, y cảm thấy toàn thân ấm áp và dễ chịu, trong lòng như thể được rót mật. Từ sau lần hôn trước, tiểu cô nương đó dường như cũng đã nếm được mật ngọt, mặc dù không dám chủ động hôn y, nhưng mỗi khi lên giường cũng không vội vã chui tọt vào trong chăn, trùm kín người chỉ thò ra mỗi mái tóc như trước nữa, mà lúc nào cũng nằm sấp ở đầu giường, chớp đôi mắt to đen láy tròn xoe như quả nho nhìn y cười.

Nha đầu đó không biết là cô nàng chỉ để lộ vỏn vẹn mỗi bờ vai trong chiếc áo ngủ bằng vải thô thôi, vậy mà vẻ yêu kiều thuần khiết non nớt tựa như một đoá hoa bé nhỏ thẹn thùng đó đã ẩn chứa sức hấp dẫn vô hạn rồi. Ông trời hãy rủ lòng thương, Dương Lăng đã cảm thấy mình có thể sẽ biến thành người sói đêm trăng tròn bất cứ lúc nào rồi đây nè.

Dương Lăng càng lúc càng mất tự tin về khả năng khống chế của mình, y không biết mình còn đang khăng khăng giữ vững cái gì. Hình bóng xinh đẹp của Ấu Nương đã chiếm hết cả con tim y. Nói một cách ích kỷ, tình cảm của y dành cho Ấu Nương từ sự yêu mến thương xót lúc ban đầu cho đến yêu thương sâu đậm như hôm nay, ý niệm vĩ đại sắm vai người dẫn dắt hạnh phúc cho nàng, trao nàng vào vòng tay kẻ khác sớm đã bị y vứt đi rồi.

Nhưng đối với việc chiếm hữu nàng, để cho Ấu Nương hoàn toàn trở thành người của mình, y lại càng lúc càng lo sợ hơn. Chính vì do dự lúc ban đầu, y cảm thấy mình đã lãng phí quá nhiều thời gian, không biết là mình còn sống được bao lâu. Giống như là một con bạc, đánh đến khi trong tay chỉ còn lại một ít vốn cuối cùng, thì trở nên lo sợ, loại cảm giác lo lắng được mất mãnh liệt này khiến y không dám dễ dàng đặt xuống số tiền cược cuối cùng.

Lắc lắc cái đầu, lắc cho tan cái cảm giác vừa chua xót vừa ngọt ngào ấy, y thuận tay mở một cái tủ ra. Sau khi Mã dịch thừa chết, xâu chìa khoá của lão cũng được chuyển giao cho Dương Lăng. Hồi chiều đến chỗ này làm việc, Dương Lăng còn làm một chuyện khiến người ta cười. Một dãy bốn cái tủ bên giường được khoá bằng bốn cái khoá đồng lạ lùng khác nhau. Mẫu khoá chia ra làm các loại chó, ngựa, tôm, cá. Dương Lăng phí biết bao sức lực mới mở ra được ổ khoá chó đồng và ngựa đồng, còn cái ổ khóa tôm đồng thì vặn đến cong cả chìa cũng không mở ra được, đành phải xấu hổ gọi một tên tiểu lại vào giúp. Té ra ổ khoá hình con tôm đó không phải là vặn để mở, mà là móc ra ngoài.

Sau cùng là cái ổ khoá con cá, theo lời tên tiểu lại đó, bởi vì cá ban đêm không nhắm mắt, cho dù khi ngủ mắt vẫn mở thao láo, thành thử dùng ổ khoá con cá, ngụ ý là lúc nào cũng phải trông chừng; vì thế đây nhất định là chiếc tủ mà đại nhân cất những văn kiện quan trọng nhất. Chính vì vậy, cái ổ khoá này cũng rất là đặc biệt, chìa khoá tra vào khe xong, vặn một cái rồi còn phải đẩy vào trong thêm một cái nữa thì mới mở được.

Lúc ấy Dương Lăng vội chạy đi kiếm con dấu về, đóng dấu lên mấy công văn khẩn rồi quay về linh đường. Tủ vẫn không khoá, nên y bèn thuận tay kéo cửa, mở luôn chiếc tủ có ổ khoá con cá bằng đồng kia, thì thấy thư tín bên trong đều đã mở niêm phong, bên cạnh tất cả dấu xi niêm phong đều có một con cá hình thù quái dị.

Dương Lăng kéo chiếc bàn nhỏ gần lại, vặn sáng bấc đèn của chiếc đèn dầu lên rồi vội vã soi đèn xem sơ qua một lượt. Chỉ lật vài phong thư, y đã ý thức được đây hẳn là những tin tức tình báo của hệ thống Cẩm Y Vệ.

Những tin tức tình báo này không chỉ dừng lại ở mấy chuyện đời tư thầm kín của đám quan lại, mà còn có cả phong tục dân tình, thậm chí là cả ruộng đất thu hoạch, thời tiết hạn lụt, có thể nói là đủ thứ trên đời, không cái gì là không có.

Dương Lăng không ngờ được mạng lưới tình báo của Cẩm y vệ lại rộng lớn như vậy. Không những thế mà định hướng của việc thu thập tình báo cũng không chỉ bó hẹp ở sự trung thành và chính trực của quan lại. Nếu lợi dụng tốt được mạng lưới tình báo khổng lồ như thế này, chắc hẳn người cầm quyền triều đình nhà Minh sẽ có thể trực tiếp nắm vững mọi tình huống ở mọi mặt một cách tỉ mỉ và chân thật nhất. Điều đó hẳn là có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với việc cai trị quốc gia. Tiếc là, hình như chưa bao giờ nghe nói có Cẩm y vệ nào của triều Minh làm được chuyện gì tốt cả.

Sau một thời gian tiếp tục lục lọi, Dương Lăng lấy ra một phong thư từ nửa tháng trước, khi đọc thì không khỏi sững người. Trong này nói rõ, mùa đông năm nay bên ngoài biên ải tuyết lớn liên miên, vô số trâu dê của rất nhiều bộ lạc bị chết vì lạnh, một số bộ lạc nhỏ đã hết cách sinh tồn, do vậy các bộ lạc đã nhiều lần liên lạc với nhau, có thể sẽ gây bất lợi cho nhà Minh.

Dương Lăng nghĩ đến phong thư mà không ngớt cười khổ: “Tiếc cho những mật thám phải nhận lệnh liều mạng bôn ba ẩn náu khắp nơi trên đất khách quê người. Các loại tin tình báo ở mọi nơi trên toàn quốc đều đã tập trung nơi kinh thành cả rồi, nhưng cấp cao của Cẩm y vệ sẽ chỉ chú ý tới những thứ mà bọn họ cảm thấy hứng thú, phần lớn các tin tình báo còn lại sẽ bị bỏ lên giá cao không ai quan tâm. Nếu có quan viên đắc lực chú ý đến phần tình báo này từ trước thì có phải người dân ở vùng biên giới đỡ gặp tai họa hơn rồi không?”

Cảm khái một hồi lâu, Dương Lăng chợt bật cười khanh khách:
- Mình chẳng qua chỉ là một tên dịch thừa nhỏ nhoi, lại ở đây thở ngắn than dài lo cho nước cho dân, như thế có thể có ảnh hưởng gì đến cái đế quốc khổng lồ này cơ chứ? Thay vì theo đuổi những thứ xa vời, không bằng mình cứ tập trung làm những việc thiết thực đã (hảo cao vụ viễn, bất như cước đạp thật địa) (2), chăm sóc cho người mình yêu thật tốt, cố làm tròn bổn phận của mình là được rồi. Vòng quay của lịch sử, bản thân mình có thể đẩy cho chuyển động sao?

Sáng sớm hôm sau, tuyết lớn lại rơi. Dương Lăng khép sát hai tay áo lại, đứng ở ngoài hành lang thưởng thức tuyết bay đầy trời. Tuyết thời đó trắng hơn những đời sau này, bông tuyết cũng rất to, tung bay ngay trước mắt, trong suốt long lanh. Dương Lăng đưa một tay ra đón lấy vài bông tuyết rơi xuống, bông tuyết vừa chạm vào tay liền tan ra, nhanh đến mức không kịp nhìn thấy vẻ mỹ lệ của nó.

Dương Lăng thở dài tiếc nuối, vừa mới phẩy nước tuyết đọng trên lòng bàn tay thì một giọng nói yêu kiều trong trẻo vang lên từ cuối hành lang:
- Tướng công!

Chú thích:

(1) Minh Thành Tổ hay Minh Thái Tông (1360 - 1424), tên thật là Chu Lệ (hay Chu Đệ), thụy hiệu là Văn Đế. Năm lần đánh Thát Đát gồm:
- Một lần trước 1410, ông sai một viên tướng đi đánh nhưng thất bại, phải rút về. Năm 1410 ông đem mười vạn quân với ba vạn cỗ xe chở lương thực, quân nhu, và một số tặng vật để lấy lòng người Oyrat (Ngoã Lạt), yêu cầu họ trung lập. Quân Mông đại bại trong cuộc chiến này. Minh Thành Tổ còn thân chinh ba lần nữa, một lần năm 1422 - ông dẫn một đoàn quân hai mươi ba vạn năm nghìn người, mười một vạn bảy nghìn cỗ xe, mỗi cỗ hai con lừa. Quân Mông Cổ trốn thoát về phía Tây, quân Minh cướp bóc được rất nhiều rồi trở về. Hai cuộc chiến sau, năm 1423 và 1424, kết quả cũng như vậy, và trong cuộc chiến cuối ông đột ngột qua đời. (Trích wiki)

(2) Xuất xứ của từ “cước đạp thật địa”: Thời kỳ Tống Anh Tông, Tư Mã Quang phụ trách chủ biên “Tư Trì Thông Giám”. Ông nghiên cứu rất nhiều thư tịch lịch sử, thu thập tài liệu khắp nơi, dựa theo trình tự niên đại trước sau tập trung biên soạn, cuối cùng hoàn thành 294 quyển “Tư Trì Thông Giám”. Về sau vì phản đối Vương An Thạch cải cách hiến pháp ông nên chuyển đến Lạc Dương định cư. Thiệu Ung của Lạc Dương đánh giá ông là một người “cước đạp thật địa” (làm những việc thiết thực đến nơi đến chốn).




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Dark_Blood
27-08-2010, 05:24 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 35: Phục binh bốn bề

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: Dark_Blood

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Cùng lúc này, hai bên sườn núi nổi lên vô số tiếng gõ mõ, trong khoảnh khắc trên sườn núi trắng xoá bỗng hiện ra vô số bóng người, loạn tiễn bắn xuống như mưa, đuôi tên rợp trời, trông dày đặc như một trận bão tuyết.

Nghe tiếng gọi, Dương Lăng ngoái đầu lại, nhìn thấy Hàn Ấu Nương và Mã Liên Nhi mỗi người cầm một chiếc ô, uyển chuyển nhẹ nhàng băng qua khoảng sân về phía y. Mã Liên Nhi khoác một chiếc áo lông cừu, xinh đẹp như tranh vẽ chứ không phải người trần mắt thịt.

Hàn Ấu Nương thấp hơn Mã Liên Nhi một chút. Nàng mặc váy kẻ ô màu lam, khoác bì giáp màu hồng nhạt, tuy không lộng lẫy như người bên cạnh, nhưng sở hữu khuôn mặt thanh tú và nụ cười dịu dàng giống như một cô bé láng giềng xinh đẹp .

Nàng xách một chiếc giỏ phủ vải bố màu xanh lam, ô che lệch sang hướng đó, nửa thân còn lại bám đầy tuyết rơi. Dương Lăng liền chậm rãi bước xuống thềm, trước tiên gật đầu chào Mã Liên Nhi, sau đó bước tới đón lấy chiếc giỏ trong tay Ấu Nương, rồi kéo nàng vào dưới mái hiên. Y vừa phủi bông tuyết trên vai và trán dùm nàng, vừa hỏi:
- Tuyết lớn thế này, mới sáng sớm nàng đến làm gì?

Hàn Ấu Nương gấp ô lại, phà hơi lên ngón tay đã ửng đỏ vì lạnh, chiếc mũi nhỏ nhắn nhíu lại như sóng gợn mặt hồ mùa xuân, cười ngọt ngào, nói:
- Để đưa cơm nước cho tướng công mà! Thiếp còn luộc hai quả trứng gà đó. Tướng công vất vả việc công, không thể để bụng đói được!

Dương Lăng trách:
- Nàng đó! Ta đã ở sở Dịch thừa rồi còn lo bị đói hay sao?

Đoạn y kéo Ấu Nương, quay đầu nói với Mã Liên Nhi:
- Mã tiểu thư, mau vào trong nhà đi, dưới hiên có gió lùa, cẩn thận kẻo trúng phong hàn đấy!

Mã Ngang tòng quân, muốn chuyển từ dân tịch thành quân tịch bắt buộc phải đến nha huyện đăng ký. Hôm nay tuyết lớn, Mã Liên Nhi định hôm khác hẵng đi, nhưng thấy Ấu Nương muốn ra khỏi nhà, liền đi cùng rồi rẽ vào sở Dịch thừa trước.

Lúc này nhìn người ta có đôi có cặp, tình nồng ý ngọt, Mã Liên Nhi cảm thấy có chút cảm khái trong lòng. Nàng dỡ mũ xuống, vén mái tóc đen tuyền, suôn mượt và mềm mại hơn cả tấm vải sa tanh ra đằng sau, giậm chân rũ tuyết đọng trên ủng, rồi im lặng bước vào trong nhà.

Dương Lăng hối hả ăn cho xong bữa, vừa buông đũa thì tên lính gác cổng liền khập khà khập khiễng bước vào. Thấy phu nhân của vị dịch thừa mới nhậm chức và con gái của người tiền nhiệm đều ở trong phòng, y không dám nán lại lâu, vội lấy phong thư nhận được đêm hôm qua ra giao cho Dương Lăng, kèm theo một nụ cười, nói:
- Đại nhân, đây là thư đưa đến đêm qua, người mang thư bảo rằng nhất định phải giao cho đại nhân.

Dương Lăng không biết ai lại viết thư cho y, bèn cầm lấy phong thư bóc chỗ dán, nhận ra bên cạnh dấu xi niêm phong ở mặt sau có một hình vẽ quái ngư. Y không khỏi giật mình: “Là mật hàm của Cẩm Y Vệ sao? Những mật hàm mình xem hôm qua đều đã mở sẵn, cho nên không có gì phải sợ. Nhưng mình không phải là người của Cẩm Y Vệ, bây giờ lại tùy tiện mở mật thư của họ ra xem, mong sao đừng xảy ra chuyện gì!”

Thư đã mở, lúc này lo nghĩ này nọ cũng vô ích. Y rút bức thư ra, chỉ hy vọng nội dung là mấy chuyện vặt vãnh nào đó, vậy cho dù bị người ta biết được có lẽ cũng không có gì to tát lắm.

Cẩn thận đọc qua thư một lượt, Dương Lăng liền cảm thấy yên tâm. Trong thư không hề đề cập đến chuyện cơ mật nào, ngược lại nó còn mang đến một chuyện vui có thể công khai. Y vội cất thư vào, hưng phấn nói:
- Hoá ra tên thủ lĩnh phe địch Mẫn đại nhân chém chết đêm trước là vương tử Thát Đát, lần này Mẫn đại nhân lập được đại công rồi!

Y phấn khởi vỗ tay, nói tiếp:
- Giờ ta phải đi báo cho đại nhân một tiếng. Ấu Nương, nàng và Mã tiểu thư hãy chờ ở đây nhé, đợi cho ngớt tuyết rồi hẵng về nhà!

Hàn Ấu Nương ngoan ngoãn gật đầu. Dương Lăng vội vã bước ra ngoài. Mã Liên Nhi nhớ tới một chuyện, đột nhiên lên tiếng:
- Dương huynh, ta đi cùng huynh, hôm qua anh trai ta phải đi gấp, ta muốn đi giúp anh ấy thay đổi dân tịch.

Dương Lăng đương nhiên không thể khước từ, lập tức kêu người của sở Dịch thừa dẫn thêm một con ngựa nữa tới, hai người phi thẳng đến nha huyện. Mẫn huyện lệnh đang nằm trên giường cho lang trung thay thuốc, nghe xong tin tức Dương Lăng mang đến, lão há hốc mồm, to đến nỗi có thể nhét trọn một quả trứng vào. Ngẩn ra hồi lâu, lão đòi kiểm tra lại nội dung thư mấy lượt; rồi như mụ gà mái già đẻ trứng , lão cất tiếng cười “khục khục khục”.

Lão vốn lo rằng cười lớn sẽ động vào vết thương cho nên mới nén cười như thế, ai dè càng khiến cho cơ thể run lên bần bật.

Dương Lăng thấy lão cười nhưng phải khổ sở như vậy, bản thân cũng cảm thấy khá khôi hài: “Hoá ra lỗ mãng cũng có chỗ tốt của nó. Có ai biết lão già này chỉ tiện tay vung đao, đã “hái” được công lao to lớn như vậy chứ?”

Đang vui vẻ, bỗng nhiên nụ cười trên mặt của Mẫn đại nhân tắt ngúm, lão nghĩ ngợi một chút rồi biến sắc, nói:
- Không hay! Con trưởng của Bá Nhan Mãnh Khả là một gã tàn phế, nghe nói hắn rất xem trọng nhị vương tử Húc Liệt Bột Tề này. Hôm nay con hắn đã bị ta giết chết, đại quân Thát Đát lại dễ dàng rút lui như vậy, thật sự khả nghi.

- Khi nãy có thông báo, sáng sớm hôm nay quân ta đã dỡ lều truy tìm tung tích quân địch. Nếu như Bá Nhan Mãnh Khả dẫn đại quân đến báo thù cho con trai mình, vậy sẽ cực kỳ không ổn. Phải lập tức cho Hà tham tướng biết chuyện này mới được. Dương sư gia, ngươi hãy mau đuổi theo Hà tham tướng, đem tin tức này báo cho y!

Dương Lăng nghe xong, biết được sự tình khẩn cấp, vội vàng vâng dạ rồi nhanh chóng chạy ra ngoài. Lúc này Mã Liên Nhi đã đổi dân tịch, đang chờ y ở phòng bên tiền sảnh.Thấy Dương Lăng gấp gáp leo lên ngựa, hơn nữa lại có vẻ cấp bách, nàng cũng vội vàng dắt ngựa theo, hỏi:
- Dương huynh, có chuyện gì mà hoảng hốt vậy?

Dương Lăng cao giọng đáp:
- Sáng nay đại quân đã dỡ lều đi truy kích Thát Tử. Kẻ mà Mẫn huyện lệnh chém chết hôm trước không ngờ lại là vương tử Thát Đát, chỉ e quân Thát lui binh chưa hẳn đã là thật. Nếu như bọn chúng mang lòng báo thù, sợ rằng sẽ lấy lùi làm tiến, âm thầm mai phục. Tôi phải đuổi theo Hà tham tướng, đem tin này báo cho ngài biết.

Nói đoạn Dương Lăng liền cưỡi ngựa phóng thẳng ra phía nam thành.
Mã Liên Nhi phóng lên yên, quay ngựa tại chỗ mấy vòng. Nàng nhớ đến ca ca của mình cũng đang ở trong đại quân, nếu thật sự có quân Thát mai phục, liệu có thể sống sót trong đám loạn quân hay không? Rốt cuộc nàng không yên lòng, vụt roi cho ngựa đuổi theo Dương Lăng.

Đại bản doanh bên ngoài thành lúc này chỉ còn một ít binh lính già yếu trông coi. Dương Lăng hỏi ra mới biết đại quân đã xuất phát được một canh giờ, lòng như lửa đốt, y lập tức đuổi theo bằng con đường vốn đã bị đoàn ngựa và xe của đại quân cày nát. Có điều mặt đường ngoại thành không được bằng phẳng thênh thang như đường sá nội thành, Dương Lăng lại mới học cưỡi ngựa, tay cầm cương trong khi miệng thở hồng hộc vì căng thẳng, coi bộ còn mệt hơn cả con ngựa y đang cưỡi.

Đi được hơn một dặm, y chợt nghe thấy tiếng vó ngựa vang lên từ phía sau, quay đầu lại thì thấy Mã Liên Nhi cũng đang thúc ngựa phi nhanh tới. Chiếc áo khoác lông cừu của nàng không biết đã cởi ra từ khi nào, lộ ra bộ đồ màu xanh biếc, thân trên khoác chiếc áo da cáo, dáng vẻ đẹp mê hồn, động tác phóng ngựa phi nước đại càng thêm ưu mỹ vô cùng.

Khi ngựa của nàng phi đến bên cạnh, Dương Lăng vội nói:
- Liên Nhi tiểu thư, sao cô lại đến đây? Cũng tốt, cô giỏi cưỡi ngựa, hãy mau đuổi theo đại quân bảo họ ngừng truy bắt, đề phòng bất trắc!

Mã Liên Nhi khẽ cau mày, đáp:
- Việc hành quân của quân đội há lại để một phụ nữ như ta xen vào sao? Huynh có mang theo bức mật thư đó không?

Dương Lăng vỗ trán, thốt:
- Thôi chết, tôi để quên nó ở chỗ Mẫn đại nhân rồi!

Nghe xong Mã Liên Nhi lạnh nhạt hứ một tiếng, đột nhiên đưa tay ấn xuống lưng ngựa, eo nàng ưỡn lên, nhún người đứng thẳng trên lưng ngựa. Ngựa vẫn đang phóng băng băng, phải khen thuật cưỡi ngựa của vị cô nương này quả thật rất cao. Nàng nói với Dương Lăng:
- Thả dây cương ra, để ta xử lý!

Dương Lăng ngỡ ngàng buông dây cương, không hiểu nàng sẽ điều khiển như thế nào. Chỉ thấy hai thớt ngựa sóng đôi, Mã Liên Nhi nhún người nhảy lên, nhẹ nhàng khéo léo đáp xuống trước người Dương Lăng, đế giày thúc về phía sau, ra lệnh:
- Nhường bàn đạp ngựa cho ta!

Dương Lăng rút hai chân ra khỏi bàn đạp, chỉ cảm thấy thân thể chênh vênh, vội cuống cuồng ôm lấy chiếc eo thon của Mã Liên Nhi. Đột nhiên bị đàn ông ôm eo, mặc dù sớm có chuẩn bị, song Mã Liên Nhi vẫn thoáng sững người, cơ bụng căng cứng lại.

Nàng hít sâu một hơi, cố làm ra vẻ tự nhiên, cầm dây cương lên, nói:
- Ôm chặt vào, ta sẽ đưa huynh đi gặp Hà tham tướng!

Mã Liên Nhi vốn lớn lên tại vùng biên thùy, tài cưỡi ngựa rất cao. Hiện giờ cơ thể cả hai lại rất nhẹ, cộng lại còn chưa bằng một giáp sĩ, hai người một ngựa chở đôi chẳng những không hề ảnh hưởng đến tốc độ; ngược lại dưới kỹ thuật cao siêu của nàng, ngựa phi càng nhanh càng vững.

Lúc này đại quân của Hà tham tướng đã tiến vào Ngoạ Hổ sơn. Thám tử được phái đi tối qua, sáng nay đã mang tin trở về: Quân Thát đã vơ vét sạch trâu, dê, xe ngựa của Nhị Lý bán và Ngũ Lý phố rồi phái người vận chuyển về biên ngoại. Nhưng địch quân vẫn chưa rút lui, sau khi thất bại ở Kê Minh, bọn chúng rút về thủ ở Du Mộc đồn, phân ra nhiều tốp lính nhỏ cướp bóc ở những thôn trấn lân cận.

Nhận được tin báo chuẩn xác, Hà tham tướng vui mừng khôn xiết. Dù gì phía trước chỉ có một con đường độc đạo dẫn đến Kê Minh, y không sợ bị đối phương mai phục, nên mới dốc toàn bộ năm đại đội mạo hiểm vượt tuyết đuổi theo, muốn giáng cho quân Thát một cuộc tập kích bất ngờ.

Dựa theo lời của Diệp ngự sử, nhờ trận tuyết lớn, quân Thát tuyệt đối không đoán được quân ta sẽ bất ngờ tấn công. Năm xưa Lý Tố nhân đêm tuyết mịt mù tiến vào Thái châu, lập được chiến công lẫy lừng*. Lần này y đột kích, diệt sạch địch quân, cũng có thể được lưu danh sử sách, sánh kịp cổ nhân.

Đại quân đã đi được được sáu dặm, đang tiến vào Hồ Lô cốc. Sơn cốc này hai bên vách là núi cao kéo dài, chính giữa tạo thành một sơn cốc hình hồ lô. Hà tham tướng tuy nóng lòng lập công, nhưng cũng không phải là một tướng lĩnh non nớt, vẫn chưa bị công danh lợi lộc làm cho u mê, lập tức ra lệnh cho đại quân tạm thời dừng lại, phái thám mã đi dò xét phía trước.

Diệp ngự sử thấy Hà tham tướng không thúc quân tiến tới, liền giục ngựa lên, chỉ roi về sơn cốc phía trước, nói:
- Đại nhân, hẻm núi phía trước sườn núi hai mặt không dốc, hai bên cách đỉnh núi tới mấy trăm trượng, trên núi lại không gì che lấp, căn bản không thể giấu phục binh. Nếu như quân Thát đặt mai phục trên đỉnh núi, với khoảng cách xa như vậy, cung tên kiếm kích sẽ không thể uy hiếp được đại quân ta. Có cái dốc thoai thoải dài mấy trăm trượng này, cây và đá (không chắc, giữ nguyên bản biên dịch) cũng khó mà phát huy được tác dụng. Đại nhân chớ nên lo lắng!

Lưu công công ở trong kiệu nhoài người ra quan sát chung quanh, nói:
- Ừm, tuy là tôi đây không biết việc binh, nhưng thấy trên ngọn núi này trụi lủi, quả thật không thể giấu người. Hai bên có dãy núi bao quanh, Quân Thát hoàn toàn không có khả năng đánh phủ đầu hay tập hậu chúng ta. Vả lại số lượng quân Thát kém hơn chúng ta, sao có thể lấy ít chọi nhiều chứ? Chúng ta có thể tuyệt đối yên tâm tiến về phía trước đấy!

Hà tham tướng mỉm cười, nói:
- Ha ha, hai vị giám quân nói chí phải. Bổn tướng chẳng qua lo sơn cốc này chật hẹp, quân ta phải chuyển đội hình thành một hàng dài, trước và sau không phối hợp tốt được; lỡ như quân Thát bố trí mai phục ở phía trước, binh mã ở phía sau sẽ khó bề chi viện, thành ra không thể phát huy ưu thế về quân số, tất sẽ chịu nhiều thương vong hơn. Tạm thời cứ chờ thám thính rõ ràng tình hình quân địch rồi hãy quyết định cũng không muộn.

Qua độ nửa giờ, bốn tay thám mã lần lượt trở về, báo rằng phía trước không thấy địch quân, trên lớp tuyết trong sơn cốc cũng không thấy dấu vết do ngựa, xe giẫm lên. Nên biết hiện giờ tuy tuyết rơi dày, nhưng nếu có đại đội nhân mã hành quân, cũng không thể nào che giấu hết mọi vết tích như vậy. Hà tham tướng nghe xong liền cảm thấy yên tâm, lập tức truyền quân lệnh xuống, yêu cầu toàn quân trước và sau gia tăng tốc độ, nhanh chóng vượt qua sơn cốc, nhằm hướng Du Mộc đồn thẳng tiến.

Năm ngàn binh lính tuân theo hiệu lệnh, liền tiếp tục lên đường. Đội ngũ trùng trùng điệp điệp, giống như một con rồng dài trong dãy núi tuyết. Hạ đô ty Hạ Sĩ Kiệt dẫn quân chủ lực đi đầu, vừa vượt qua đoạn cuối của Hồ Lô cốc. Ngay khi sắp sửa ra khỏi sơn cốc, đột nhiên cửa cốc phía trước vang lên tiếng trống trận “tùng tùng tùng” như sấm nổ, cờ xí phất lên ngợp trời. Cùng lúc này, hai bên sườn núi nổi lên vô số tiếng gõ mõ, trong khoảnh khắc trên sườn núi trắng xoá bỗng hiện ra vô số bóng người, loạn tiễn bắn xuống như mưa, đuôi tên rợp trời, trông dày đặc như một trận bão tuyết.

(*): Lý Tố (hay Lý Sách) (773 - 821) là đại tướng nhà Đường, tự là Nguyên Trực, người Lâm Đàm Thao châu (giờ thuộc Cam Túc), con của Lý Thành, am hiểu binh thư, giỏi bắn cung cưỡi ngựa. Ban đầu ông nhậm chức Thứ sử hai châu Phường, Tấn. Năm Nguyên Hoà thứ mười một (năm 816 TCN), ông nhận chức Tiết độ sứ Đường, Tuỳ, Đặng, lĩnh binh thảo phạt quân phiến loạn của Ngô Nguyên Tế. Ông sở trường về quan sát tình thế, lựa chọn thời cơ. Mùa đông năm sau, thừa lúc địch quân lơi lỏng, nhân đêm tuyết ông dẫn quân đánh chiếm Thái châu, bắt sống Ngô Nguyên Tế, được trao chức Sơn Nam Đông Đạo Tiết độ sứ, phong tước Lương quốc công.

Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Dark_Blood
01-09-2010, 02:04 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 36: Cướp đường mà chạy

Dịch: lamsonquaikhach

Biên dịch: vo vong

Biên tập: Dark_Blood

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Diệp ngự sử vội vàng nhảy xuống ngựa, chui vào xe của Lưu công công, run giọng:
- Nhìn xung quanh trống không thế này, Thát tử từ đâu chui ra thế?



Bọn giặc Thát đứng trên cao bắn ra một trận mưa tên dày đặc, khiến quân Minh tử thương rất nhiều. Cũng may đội quân của Hà tham tướng rất dày dạn kinh nghiệm trận mạc, sau một hồi hoảng loạn liền nghe theo mệnh lệnh lập ra xa trận , đưa chiến xa ra hai bên dựng thành các vách chắn, giống như một thành lũy nhân tạo.

Những quân lính cầm khiên cao bằng thân người cũng kết hợp với nhau ghép thành những tấm lá chắn bảo vệ hai cánh. Chờ đến khi đội hình phòng ngự được lập xong, quân Minh mười phần đã chết mất một phần. Diệp ngự sử vội vàng nhảy xuống ngựa, chui vào xe của Lưu công công, run giọng:
- Nhìn xung quanh trống không thế này, Thát tử từ đâu chui ra thế?

Trên nóc và hai bên thành xe đều được làm từ gỗ dày, vốn không sợ tên bắn thủng. Nhưng nghe tiếng tên cắm vào thân xe không ngừng vang lên, Diệp ngự sử không khỏi lo sợ trong lòng. Lưu công công vốn là thái giám, nhưng lá gan lại to hơn Diệp ngự sử khá nhiều, tuy nhiên cũng không tránh khỏi việc cơ mặt giật giật, đa phần do sự căng thẳng tột độ khi lần đầu tiên phải trải qua cảnh chiến tranh khốc liệt thế này.

Hai bên vách núi bằng phẳng, trụi lủi, một lớp tuyết trắng xóa phủ dài từ chân đến đỉnh, căn bản không phù hợp để giấu phục binh. Nhưng lúc này trên sườn núi bọn Thát Đát lại mặc đủ thứ trang phục chạy qua chạy lại bắn tên, làm địa hình xáo trộn lên, nhờ đó quân Minh mới hiểu ra được điều bí mật phía sau đợt phục kích.

Vốn trên hai sườn núi, mỗi bên có xây một dãy tường cao hơn nửa thân người, vách tường đâm xéo lên trên, lại được thiên nhiên ngụy trang bằng một lớp tuyết dày. Theo góc nhìn từ dưới lên, quân Minh chỉ thấy một vách núi thẳng tắp kéo dài lên tận đỉnh.

Người Mông sống tại vùng thảo nguyên và sa mạc, di chuyển theo nguồn nước, sinh sống theo lối du mục, từ lâu đã phát minh ra một cách dựng thành trì đơn giản. Trong những cơn gió lạnh ào ào của mùa đông, họ dùng cỏ và những cành cây khô đặt quanh khu lều trại, sau đó rưới nước lạnh lên cho đông thành một bức tường chắn gió rét. Bọn giặc Thát nhân ban đêm đã âm thầm đào hố đun nước, rồi dùng các dụng cụ có sẵn để xây hai bức tường thành trên hai vách núi, chỉ mất chưa tới một đêm đã xong.

Bá Nhan Mãnh Khả biết tin quý tử chết thảm liền lập tức hạ lệnh rút lui. Hắn dẫn quân đi suốt ngày đêm tới Du Mộc truân (truân là ngọn núi nhỏ); sau khi hợp quân với Bác Đạt Nhĩ Mô, binh lực đã vượt qua quân Minh, nên hắn mới dám bỏ ngựa chuyển thành bộ binh giao chiến với quân của Hà tham tướng.

Hiện giờ quân Minh ở Trác Lộc và huyện Xích đã tạo thế gọng kìm vây chặt từ hai bên cánh. Bá Nhan Mãnh Khả dùng kế này mục đích dồn sức đánh một trận diệt hết quân Minh ở Hoài Lai, báo thù cho con, sau đó tiếp tục lui quân.

Hà tham tướng ổn định lại hàng ngũ một chút rồi lập tức hô lớn:
- Phất cờ hiệu, ra lệnh cho Hạ Sĩ Kiệt cố thủ phía trước, Vương Thừa Hiến đem quân tấn công hai bên sườn, nhất định phải phá được một khe hở. Lệnh cho Tôn Đại Trung, Tất Xuân chuyển hậu đội thành tiền đội, nhanh chóng lui về sau. Trịnh Nhất Ngạc chỉ huy trung quân!

Vương Thừa Hiến ra lệnh cho cung thủ bắn tên kiềm chế quân địch ở hai cánh, tự mình dẫn lính cầm đao khiên và giáo dài công phá hai sườn núi để đại quân có thời gian rút lui. Đại tướng Bác Đạt Nhĩ Mô đang chỉ huy quân Thát, mắt thấy phe địch nhanh chóng ổn định thế trận, giờ đã bắt đầu phản công, hắn lập tức hạ lệnh:
- Bắn chết tên vẫy cờ hiệu trong quân Minh, giết chết chiến mã, không được để chúng thiết lập đội hình!

Mệnh lệnh vừa phát ra, một làn mưa tên đã được trút xuống. Tên lính vẫy cờ hiệu bị tên cắm như con nhím, chết ngay tại chỗ, đồng thời có vô số chiến mã thụ thương, đau đớn hí lên, chạy loạn xạ trong sơn cốc. Quân Minh bị chính ngựa của mình dày xéo, thế trận lập tức đại loạn, không cách nào phản công được.

Vương đô ti bất chấp mưa tên, cố gắng dẫn nhân mã của mình tấn công vách núi bên phải. Chỗ này vốn không cao lắm, nếu khống chế được điểm chiến lược này, quân Minh có thể bố trí cung thủ áp chế ngược lại bọn Thát tử, có khả năng lập tức ổn định được tình hình, nếu không đại quân co cụm trong sơn cốc đành bó tay chờ chết.

Hắn tự mình cầm đao ứng chiến, quân Minh khắp nơi như con thú bị vây khốn, liều mạng phát động hàng loạt các đợt tấn công lên sườn núi. Từng thi thể ngã xuống, không ai kịp khóc thương cho người chết, thậm chí chẳng ai buồn chú ý người ngã dưới chân mình là ai. Trên chiến trường khốc liệt này, cái chết đã trở thành chuyện cơm bữa, cho dù người có tình cảm đến đâu cũng trở thành chai lì như gỗ đá.

Dưới sự chỉ huy của các Thập trưởng và Tiêu trưởng, quân Minh lũ lượt xông lên, giẫm đạp thi thể các đồng đội để tìm lấy cơ hội sống còn. Bọn Thát tử trên sườn núi, với lợi thế địa hình và tiễn thuật siêu việt, mỗi mũi tên bắn ra đều chí mạng.

Diệp ngự sử nấp trong xe run rẩy thét:
- Hà đại nhân, Hà đại nhân! Giặc Thát đã sớm sắp đặt mai phục, mau mau rút lui đi thôi!

Hà tham tướng cầm cây Nhạn linh đao, mặt mày xanh lè, đáp:
- Ta đã phái người thông báo cho Tất Xuân rồi. Hẻm núi này chật chội, không thích hợp cho quân ta tập kết, nếu hậu quân không chịu lui, chúng ta không cách nào xông ra được!

Diệp ngự sử tức giận nói:
- Đại quân trúng mai phục trong khi Tất Xuân còn chưa có động tĩnh gì. Bọn ta sắp chết ráo đến nơi rồi! Ta thề sẽ tố cáo hắn cái tội làm lỡ cơ hội giết giặc! Hà đại nhân, ta phải đến hậu trận đốc chiến!

Hà tham tướng đang bận chỉ huy đại quân, dĩ nhiên không có kiên nhẫn nghe họ Diệp lải nhải. Lão nghe thấy hắn bảo muốn đi đến chỗ Tất Xuân, tránh được chuyện y hoa tay múa chân làm rối chuyện ở đây bèn lập tức lệnh cho hai mươi lính cầm khiên hộ tống hắn và Lưu công công rời đi. Một thư sinh, một thái giám - hai vị chỉ huy tối cao - lập tức lảo đảo chạy về phía hậu doanh.

Sơn cốc dưới núi Ngọa Hổ này có hình như trái hồ lô, miệng cốc hướng về phía trạm Kê Minh. Đại quân của Tất Xuân vừa tiến vào cốc, Dương Lăng và Mã Liên Nhi đã thúc ngựa đuổi kịp. Nghe Dương Lăng kể lại tình hình, Tất Xuân cũng nhận ra chuyện đã trở nên quá nghiêm trọng, vừa định dẫn y đi gặp Hà tham tướng thì giặc Thát đã phát động thế công.

Được một làn mưa tên yểm trợ, giặc Thát từ chỗ ẩn nấp trên sườn núi tràn xuống miệng cốc, cắt đứt đường lui của quân Minh. Cửa cốc vốn chật hẹp, chỉ cần mấy chục cung thủ không ngừng bắn tên, cho dù thiên quân vạn mã cũng đừng mong xông ra nổi.

Quân Thát ở sơn cốc chỉ muốn ngăn cản quân Minh thoát ra nên không công kích mà chỉ lo canh giữ chỗ quan trọng này. Mỗi tên giặc Thát mang trên lưng ít nhất bốn ống tên, trong khi Nam quân của Tất Xuân chủ lực là đao thuẫn thủ và hỏa thương thủ (lính bắn súng), căn bản không cách nào chống lại được bọn giặc Thát dũng mãnh thiện chiến, lấy một địch mười, lại chiếm được địa điểm chiến lược này.

Chỉ trong phút chốc, ngoài cốc đã la liệt trên trăm thi thể quân Minh. Mã Liên Nhi lần đầu tiên nhìn thấy cảnh máu chảy đầu rơi khốc liệt thế này, sắc mặt liền trắng bệch, còn Dương Lăng từng trải qua trận chiến thủ thành, tâm lý đã có sức chịu đựng nhất định. Y kéo nàng nấp vào giữa hai thùng xe, nhờ thế mới tránh khỏi tên bay đạn lạc.

Đòn phản công của quân Minh đã lập tức bị cung tiễn của giặc Thát cản lại, từng thi thể gục xuống giữa miệng cốc chật hẹp. Quân Minh vừa phải tranh đoạt lối thoát duy nhất với đối phương, vừa phải ứng phó với mưa tên ào ào từ phía trên, nên thương vong không ngừng gia tăng.

Dương Lăng chú ý thấy phe mình đã hết sức hỗn loạn, căn bản không thể tạo ra sư uy hiếp lên phe địch. Phải công nhận tướng chỉ huy của quân Minh vô cùng dũng cảm, ai cũng đều liều mình xông pha nơi tiền trận, nhưng tóm lại mấy gã đó chỉ biết khoe khoang cái dũng mãnh cá nhân, tuyệt đối không biết bày binh bố trận một cách có hiệu quả.

Nói thẳng ra, nếu để bọn họ ở nơi đất bằng, nghe theo chỉ huy của cấp trên để lập trận thì còn mong ra dáng ra vẻ một chút; nhưng một khi phát sinh hỗn chiến như vầy, mệnh lệnh của thượng cấp không thể bao quát toàn quân, đám quan quân cấp thấp vô học kia chỉ biết dấn thân lên trước quân lính, vung đao đốc chiến, không hề biết cách phối hợp cái loại binh chủng sao cho hiệu quả.

Dương Lăng thấy tình hình của đại quân như vậy, lưng liền ướt đẫm mồ hôi. Mã Liên Nhi lại đang lo lắng cho sự an nguy của anh mình, nhưng khi thấy hắn đứng làm tùy tùng cho Tất đô ti nàng mới yên tâm được.

Chính vào lúc này, Diệp ngự sử và Lưu công công nhếch nhác chạy tới. Diệp ngự sử đang muốn trách móc Tất đô ti về việc không phá nổi vòng vây, bỗng nhìn thấy một cô gái mặc áo màu lục đứng gần đó, tưởng rằng Tất đô ti còn mang theo gia quyến đi hành quân, trong lòng không khỏi nổi cơn đại nộ.

Tất đô ti thấy giặc Thát trong cốc dựa vào địa thế hiểm yếu để phòng thủ, phe ta khó có thể công phá nhanh chóng; y định ra lệnh chuyển sang tấn công quân địch trên sườn núi, rồi từ trên dùng uy lực của súng ống áp chế bọn giặc Thát ở cửa sơn cốc. Nhưng theo suy nghĩ của Diệp ngự sử và Lưu công công, nhất định phải đánh phá cửa sơn cốc mới có đường sống, nếu chờ Tất Xuân tấn công lên sườn núi rồi mới quay lại chiếm lại cửa cốc, chỉ sợ lúc đó toàn quân đã bị tiêu diệt sạch rồi.

Hai người bèn thống nhất lấy thân phận Giám quân lệnh cho Tất đô ti bằng bất cứ giá nào phải mở được một lối ra. Tất đô ti đành hậm hực hạ lệnh thôi tấn công sang hai bên, chỉ lo điều động binh lực ra sức công kích cửa cốc. Hắn giận tới mức mặt vồng gân xanh, ra lệnh:
- Kỳ bả tổng, Lư bả tổng, tập trung hỏa lực vào cửa cốc, chỉ được tiến, không được phép lùi, nhất định phải mở ra một con đường máu!

Hắn lại quát bảo đội trưởng đội thân binh:
- Quan Thụ Anh ra trước trận đốc chiến, một người lui chém một người, toàn đội lui chém đội trưởng, đội trưởng hi sinh mà toàn đội lui, giết sạch không cần bàn!

Quân lệnh như sơn, hai vị Bả tổng cũng biết đây là thời điểm ngàn cân treo sợi tóc, đành phải hạ lệnh cho quân mình đội mưa tên toàn lực đánh về hướng cửa cốc. Phía trước tên bắn như rợp trời, sườn núi hai bên tuy có hỏa lực của quân Minh áp chế nhưng tên vẫn bắn ra không ngớt, rất nhiều binh sĩ mới vừa xông ra ngoài đã bị tên ghim đầy người, máu nhuộm lênh láng.

Hỏa thương thủ xông đến vừa tầm ngắm liền bắn ra một loạt, tuy cũng giết chết rất nhiều quân Thát, nhưng đao thuẫn thủ phía sau chậm chạp không xông lên kịp, thành ra giặc Thát có dịp bắn trả một lượt, một lần nữa phong tỏa cửa sơn cốc.

Dương Lăng nhìn sang cỗ xe nặng chịch nằm dưới đất, lại liếc thấy một xác ngựa trên đất, liền nghĩ ra một biện pháp, lập tức la lớn:
- Tất đại nhân, điều khiển ngựa làm khiên thịt, đại quân đi sau ngựa, chắc chắn có thể mở ra một đường sống!

Lưu công công, Diệp ngự sử nghe được vô cùng mừng rỡ, lập tức ra lệnh cho Tất Xuân làm theo. Phải biết thời bấy giờ chiến mã có giá tới gần bốn trăm quan một con, trong khi quân Minh trước nay lại khan hiếm chiến mã, cho nên tướng sĩ chưa từng nghĩ tới chuyện dùng chiến mã làm lá chắn. Nhưng lúc này đại quân đang lâm nguy, làm sao lo cho ngựa được nữa. Họ lập tức tập trung những chiến mã còn lại ra trước trận, được đại khái hơn bốn mươi con, hỏa thương thủ liền lấy thuốc súng rắc lên đuôi ngựa, sau đó châm lửa dốt. Chiến mã bị cái nóng làm đau, tức thì hí lên điên cuồng, phi nước đại về phía trước.

Hất Lâm Đạt Đạt đang dẫn quân giữ cửa cốc bỗng thấy mấy chục con ngựa đang điên cuồng phi nước đại tới, tiếng vó ngựa vang rền, bèn kinh hoảng ra lệnh cho quân sĩ bắn tên. Một loạt tên bắn ra, nhưng sinh lực của ngựa dẫu sao cũng mạnh hơn con người, nên chỉ có vài con hí thảm ngã xuống, còn đại đa số vẫn mang tên mà chạy, phá tan đội hình của giặc Thát, điên loạn chạy ra khỏi cốc. Có mấy tên lính Thát không kịp lui liền bị ngựa giày xéo nát bét như cám, đến mức la cũng không kịp.

Nhân cơ hội này, Tất đô ti chỉ huy đại quân đội mưa tên xông thẳng ra ngoài, Hất Lâm Đạt Đạt lập tức dẫn hơn bốn trăm tên giặc Thát còn lại đón đánh. Cửa sơn cốc vốn chật hẹp, chỉ cần khoảng hai trăm người đã bịt kín hoàn toàn, hai phe trộn lẫn vào nhau đánh xáp lá cà.

*: Một đơn vị trong biên chế quân đội thời cổ, tiêu chuẩn các thời khác nhau, không rõ thời Minh là bao nhiêu


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
04-09-2010, 06:49 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 37: Lằn ranh sống chết

Dịch: lamsonquaikhach

Biên dịch: vo vong

Biên tập: duahau

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Hai người cuối cùng cũng lên tới đỉnh núi, Mã Liên Nhi vừa nhìn thấy tình hình trước mắt thì không khỏi thầm giật mình sợ hãi, tia hy vọng chạy thoát cuối cùng đã tan tành. Đỉnh núi chật hẹp, sườn dốc gần bảy mươi độ, căn bản không có đường nào để chạy.



“Chíu…!” Dây cung ngân lên, rít những tiếng ghê người, hơn trăm đốm sáng bắn về phía trước. Lúc này đã còn không thấy rõ vẻ mặt của từng binh sĩ, cả đoàn quân Minh đang như nước lũ phá đê hơi dừng lại một chút, phía trước đồng loạt ngã xuống cả dãy. Nhưng đây đã là đợt tên cuối cùng mà bọn Thát tử có thể bắn ra.

Quân Minh được thôi thúc bởi ý chí cầu sinh cực lớn, thế nên dù không ai đánh trống trận hay phát lệnh xung phong, nhưng mọi người vẫn không có cách nào dừng chân lại được. Bởi lẽ người trước chỉ hơi dừng lại một chút là lập tức bị người phía sau đẩy phải tiếp tục chạy lên, hết lớp này đến lớp khác, tựa như sóng biển lớp sau đè lớp trước.

Bọn giặc Thát chắn ở cửa sơn cốc giống như tảng đá ngầm trong cơn sóng lớn, đao bén hung hãn cắt lên thân thể quân Minh, làn sóng đang tràn tới kia bắn tung bọt nước, những bọt nước màu đỏ tươi.

Trên sườn núi, các cung thủ của giặc Thát đã không còn cách nào áp chế được quân Minh, bởi vì lúc này người của hai phe đã chen lẫn vào nhau, mắc kẹt ở cửa sơn cốc, đang liều chết đánh xáp lá cà. Bọn chúng chỉ còn cách quẳng cung tên xuống, cầm lấy đao thương, từ chỗ nấp hai bên sườn núi xông xuống chém giết giữa đám quân Minh.

Liền đó, dưới sự chỉ huy của các tướng tá, những binh sĩ vốn chỉ có thể chen chúc phía sau bị động chịu đòn đã bắt đầu xông ngược lên trên sườn núi, thọc sâu chém giết về phía sau, một chỗ hở được mở ra. Tựa như dãy domino bị ngã, cả vòng vây hoàn mĩ liền mất đi tác dụng khiến giặc Thát chỉ đành lao xuống chém giết.

Trên hai khoảnh đất bằng phẳng hình bán nguyệt của Hồ Lô cốc đồng thời diễn ra cuộc chiến xáp lá cà. Mà nơi hai đường mòn sơn cốc chật hẹp thì người chen người, người lấn người, ai ai cũng muốn cuồng chân chạy nhanh về phía lối ra, nhưng đều bị dòng người cuốn lấy, lôi chầm chậm mà hung hãn về phía trước, gần như chân không chạm đất.

Mùi máu tanh lan trong không khí lạnh lẽo, tuyết lớn vẫn tung bay. Tiếng kim loại ma sát làm người ta cảm thấy ghê răng, tiếng kim loại đâm vào thịt khiến người ta cảm thấy run rẩy, hai âm thanh ấy cứ thay nhau vang lên. Máu thịt trong mưa tuyết tạo thành một bức tranh đẹp đến thê lương.

Phía sau người lúc nhúc, nhưng các binh sĩ có thể chiến đấu ở phía trước lại không quá trăm người. Ở cả hai bên, người phía trước vừa tử thương thì lập tức có người phía sau hăng hái xông lên thế chỗ. Nơi quân hai bên giao chiến dần dần bị xác người và máu tươi chồng chất lên nhau thành một đường ranh giới.

Trong đám thi thể trên mặt đất liên tục có những binh sĩ ôm nhau vật lộn, những người xông lên tiếp theo căn bản không có thời gian phân biệt địch ta, cũng chẳng hở chút thời gian để giúp đỡ nên cứ thế đạp lên thân thể và máu tươi của họ, và lúc ấy lớp quân địch mới cũng đã hùng hổ lao đến.

Khung cảnh tráng lệ của vạn quân quần nhau đã bắt đầu. Đây là một trận đánh hỗn loạn thực sự, lính không thấy tướng, tướng không thấy lính. Mỗi người đều nắm chặt binh khí trong tay, chăm chăm tìm kiếm một đôi mắt thù địch, để rồi rống lớn xông lên.

Trước sau trái phải đều là đao thương kiếm kích, thỉnh thoảng còn có tên bắn lén bay qua. Lúc này mạng người tuyệt đối bình đẳng, một tướng lĩnh chỉ huy ngàn quân cũng có thể bị một tên lính quèn nhất đâm chết. Võ công kỹ xảo gì cũng không dùng được, căn bản đến chỗ tránh né cũng chẳng có, chỉ là chặt chặt chặt, giết giết giết! Sơn cốc lúc này như nồi nước đang sôi, thứ nước đỏ rực màu máu, mà chỗ thoát duy nhất chính là cửa sơn cốc, vị trí mấy người bọn Dương Lăng đang đứng.

Bộ hạ của Hất Lâm Đạt Đạt đều là những kẻ dũng mãnh giết người không chớp mắt, nhưng sức ép tìm chỗ thoát của dòng “nước lũ” thật quá lớn, mạng chúng liên tiếp bị đối phương lấy đi, mở cửa sơn cốc chỉ còn là vấn đề thời gian.

Những binh sĩ cầm khiên bảo vệ Diệp ngự sử và Lưu công công tay nắm đoản đao, cố gắng hết sức vây quanh hai lão di động về phía cửa sơn cốc. Nhưng dòng người chen chúc quá chật chội, Diệp ngự sử chỉ lảo đảo ngã xuống đất một cái là lập tức bị vô số đôi chân đạp lên, của giặc Thát có, của những sĩ tốt mà hắn vẫn xem là cấp thấp cũng có.

Không ai có thời gian nhìn xem đám thịt mình giẫm dưới chân là của một sĩ tốt quèn hay là của một đại nhân cao quý. Đao thương đoạt mạng đang múa may trước mắt, bản năng duy nhất còn lại là vung vũ khí để tìm đường sống.

Hai binh sĩ bảo vệ muốn nâng hắn dậy nhưng mới vừa cúi xuống liền bị làn sóng người không thể kháng cự cuốn ngã và hàng loạt đôi chân giẫm lên. Điều này khiến lòng dạ những binh sĩ khác trở nên cứng rắn hơn, không ai nhìn lại một lần nào nữa. Cả dòng người bất luận địch ta đều bị một sức mạnh to lớn ép di chuyển về phía cửa sơn cốc một cách không thể tự chủ.

Dương Lăng đã trở nên ngây ngốc. Trong loạn quân kiểu này, cá nhân dù thần dũng đến đâu cũng chẳng ăn thua gì, huống chi thể lực y chẳng bằng một tên lính quèn, phản ứng bản năng của y chỉ là chỗ nào ít người thì chen tới đó. Trong bóng đao kiếm cùng tiếng thét gào chém giết không dứt thì trách nhiệm duy nhất mà y còn nhớ là giữ chặt tay Mã Liên Nhi, nàng đã theo mình tới đây, tuyệt đối không được bỏ trốn một mình.

Ai cũng đều muốn xông ra khỏi cửa sơn cốc, đó mới là đường sống. Nhưng Dương Lăng cũng biết trong đám loạn quân này mình căn bản không có năng lực chạy tới cửa sơn cốc, cho dù không bị giặc Thát giết chết thì thân thể gầy yếu của y cũng sẽ bị người ta chen ngã thành một đống thịt vụn thôi.

Dương Lăng kéo Mã Liên Nhi đang đờ đẫn thoát khỏi dòng lũ đó, chạy lên sườn núi. Phạm vi chém giết ngày càng mở rộng bởi sự phản công của quân Minh nên hai người chỉ có nước chạy lên cao hơn.

Giặc Thát phát hiện trên sườn núi có hai người đang đứng, lập tức có kẻ vung đao xông tới, hoàn toàn là phản ứng bản năng muốn tiêu diệt mọi sinh mạng đối địch.

Nhìn thấy quần áo trang sức không giống mình, phản ứng bản năng của chúng chính là chém giết. Hiện giờ người của hai bên đều trở thành những sinh vật khát máu và điên cuồng nhất, đôi tròng mắt đỏ ngầu đã không còn chút lý trí nào, chỉ chăm chăm tìm sinh mạng theo bản năng để mà hủy diệt đi.

Dương Lăng thầm kêu khổ, y bây giờ chỉ còn lại một loại bản năng, đó là chạy trốn. Dòng người trong sơn cốc giống như một dòng sông đang chảy xiết, chen chúc cuốn lẫn nhau, va đập vào nhau, với khí thế ấy, chỉ cần rơi vào trong là sẽ lập tức bị xé thành mảnh vụn nên y chỉ có thể chạy lên chỗ cao hơn.

Dưới sự truy đuổi ráo riết của mấy tên giặc Thát đang kêu những tiếng ồ ồ như dã thú, hai người cố hết sức chạy lên đỉnh núi. Lúc đầu là Dương Lăng kéo Mã Liên Nhi đang sợ hãi kinh hoàng chạy, khi còn cách đỉnh núi hơn hai chục mét thì Dương Lăng đã mệt phờ, bắt đầu được Mã Liên Nhi kéo chạy lên trên.

Thân thể đúng là thiếu luyện tập quá rồi, Dương Lăng cảm thấy tim đập thình thịch, hai tai lùng bùng, cơ bắp trên đùi run rẩy, cảm giác đau đớn đến nghẹt thở ấy khiến y gần như muốn buông bỏ việc chạy trốn, thà chịu bị Thát tử chặt đầu còn hơn.

Thế nhưng Mã Liên Nhi rõ ràng không nghĩ thế, tuy cổ họng nàng đã phát ra tiếng thở gấp hoàn toàn không phù hợp với bề ngoài như tiên nữ của mình, nhưng nàng đã thức tỉnh khỏi sự choáng váng do cảnh máu me, bắt đầu dùng hết sức kéo Dương Lăng chạy trốn.

Nếu lúc này có người ngồi ở không gian khác nhìn bọn họ, nhất định sẽ cho rằng đang coi phim chiếu chậm. Trong gió tuyết tung bay, phía trước một nam một nữ chầm chậm cất bước, phía sau mấy kẻ như hung thần ác sát cầm đao rõ ràng chỉ cần chạy mấy bước là có thể đuổi kịp, nhưng vẫn cứ chậm chạp bước đi, trợn trừng đôi mắt như muốn ăn tươi nuốt sống người ta, cặm cụi đuổi theo.

Hai người cuối cùng cũng lên tới đỉnh núi, Mã Liên Nhi vừa nhìn thấy tình hình trước mắt thì không khỏi thầm giật mình sợ hãi, tia hy vọng chạy thoát cuối cùng đã tan tành. Đỉnh núi chật hẹp, sường dốc gần bảy mươi độ, căn bản không có đường nào để chạy. Tuyệt vọng buông tay Dương Lăng, nàng quay đầu nhìn bọn giặc Thát đuổi riết không tha, rồi bỗng thò nhanh tay vào ngực rút ra cây trâm vàng mà trước khi phi ngựa khỏi thành nàng đã cất vào ngực, đặt lên yết hầu.

Dương Lăng thở phì phò chỉ tay vào nàng, y thở gấp đến mức không thể nói nổi thành lời. Mã Liên Nhi ngực phập phồng nhìn y, ánh mắt hết sức phức tạp. Liếc sang thấy mấy tên giặc Thát đang cười hung tợn đã gần bò tới đỉnh núi, nàng không nén nổi tiếng cười bi thương. Quay đầu nhìn Dương Lăng một cái thắm thiết, rồi nhắm hai mắt lại, nàng nắm chặt cây trâm đâm mạnh vào yết hầu mình.

Cơ bắp toàn thân Dương Lăng đều run bần bật vì dùng sức quá độ. Đã mệt đến mức không muốn cử động chút nào, nhưng thấy hành động của Mã Liên Nhi, y vẫn cố hết sức lao lên đập cái “bốp” vào tay Mã Liên Nhi, năm ngón tay xước qua gò má nàng.

Mã Liên Nhi bị mũi trâm vạch một vết xước trên cổ nhưng trâm vàng đã bay khỏi tay, dấu năm ngón tay hằn rõ trên mặt. Nàng ngẩn ngơ đứng đó, kinh ngạc nhìn Dương Lăng. Biết nàng sợ bị giặc Thát làm nhục nên mới muốn tự tận, nhưng lúc này y đã vô cùng mệt mỏi, cũng không có thời gian để giải thích nữa rồi. Y thất tha thất thểu nhào tới trước dốc, phía trước tuy không có đường, nhưng muốn chạy trốn thì đó dường như là con đường duy nhất.

Quay lại tay không đánh nhau với mấy chiến binh Mông Cổ dũng mãnh kia ư? Khỏi cần nghĩ cũng biết, bóng đao lướt qua là cái đầu xinh đẹp của y sẽ lập tức lìa khỏi thân. Y đưa mắt xem xét vách núi gần như thẳng đứng khiến người ta chóng mặt. Vừa gấp rút tính toán cơ hội sống, y vừa vẫy tay gọi Mã Liên Nhi, cất giọng khàn khàn: “Qua… khục khục… Qua đây!”

Trong đám giặc Thát đuổi theo đã có hai tên đã leo lên sườn núi. Bọn chúng mới vừa chém giết một hồi lâu trong sơn cốc, thể lực đã hao tổn rất nhiều, bây giờ đuổi một hơi lên núi nên hai tên đều thở dốc như trâu. Thấy địa hình, bọn chúng biết hai người phía trước không có đường chạy nữa nên cũng cảm thấy yên tâm. Chúng chống đao xuống đất thở hồng hộc, giờ cũng cần phải khôi phục sức lực để vung đao chém người.

Hai tên giặc Thát đưa ánh mắt hung ác đánh giá một nam một nữ trước mặt, vẻ tàn bạo hung dữ trong mắt dần dần mất đi, bắt đầu thay bằng ánh mắt dâm tà. Hai đôi mắt đầy dục vọng như muốn lột sạch quần áo của Mã Liên Nhi, sức lực đã mất bắt đầu khôi phục lại rất nhanh vì bản năng của giống đực.

Lúc cha Mã Liên Nhi làm công tác thu thập tin tình báo cho Cẩm y vệ ở vùng Tái Ngoại, thân phận công khai là một nhà buôn đồ da, thường giao thiệp với các bộ lạc Thát Đát. Mã Liên Nhi từ nhỏ đã từng nghe nói giữa các bộ lạc Thát Đát, vì tranh chấp thảo nguyên tươi tốt mà không ngừng nổ ra chiến tranh, vợ con của phe bị thua phải làm nữ nô chịu đủ thứ lăng nhục. Nữ nhân rơi vào trong tay loại người dã man này thì giá trị không bằng một con gia súc, kết quả so với rơi xuống địa ngục quả thật còn thảm hơn.

Mã Liên Nhi thấy thân hình hai tên giặc Thát ấy bề ngang bề dọc to bè như nhau, vẻ ngoài chẳng khác dã nhân là mấy, mắt bừng bừng lửa dục thì không khỏi giật mình run rẩy, khắp người lạnh buốt tới xương. Lựa chọn duy nhất của nàng chính là chạy theo Dương Lăng, trong lòng chỉ nghĩ: “Thôi, không thể giữ vẹn thi thể, đành nhảy xuống núi cho dã thú lấp bụng vậy, thế cũng hơn là bị người giày vò tới chết.”


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
07-09-2010, 07:56 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 38: Đêm dài đằng đẵng

Dịch: Joker

Biên dịch: vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Một lúc lâu sau, dưới hố tuyết trong bóng tối tĩnh mịch của núi rừng chợt vang lên một giọng nữ cao vút:
- Thịt mỡ ư? Ta béo lắm sao?



Quyển một - Khói lửa suốt ba tháng - Chương 38 Đêm dài đằng đẵng

Dương Lăng ôm Mã Liên Nhi nhảy xuống sườn núi phủ đầy tuyết. Tuyết đọng ở bên này ít bị ánh nắng mặt trời chiếu phải nên mặt ngoài đã đông cứng thành lớp băng trong suốt. Hai người nương theo lực quán tính bắt đầu trượt xuống sườn dốc đứng. Mã Liên Nhi theo bản năng hét lên một tiếng chói tai, ôm chặt lấy cổ Dương Lăng.

Tiếng gió không ngừng vang vun vút bên tai do hai người đang trượt xuống rất nhanh. Vốn Mã Liên Nhi không sợ chết nhưng ở trong cảnh hung hiểm này nàng lại sợ đến hồn phi phách tán, áp sát cả thân hình vào người Dương Lăng, nhắm nghiền hai mắt.

Dương Lăng đã từng chơi trượt cát nên y ước đoán chỉ cần tốt số không bị va quệt vào cọc gỗ, gốc cây thì sẽ còn cơ hội sống sót. Y ôm chặt Mã Liên Nhi, căng thẳng nhìn chăm chăm vào sườn núi phía dưới. Ở bên này không có cây gỗ lớn, những bụi cây thấp nhỏ bị tuyết đọng che phủ và những đám cỏ dại đã cào rách áo của y nhưng không làm tổn thương đến da thịt.

Mắt thấy sắp tới chân núi, với độ dốc như thế và tốc độ lao xuống như hiện tại, bọn họ sẽ bị đập thẳng xuống mặt tuyết như một viên đạn. Dương Lăng đột ngột ngửa mặt lên trên, ngả người ra phía sau chuyển từ ngồi thành nằm, đồng thời cố sức giữ đầu cách mặt tuyết một chút để tránh va vào đá và chạc cây.

Bị bất ngờ, Mã Liên Nhi chúi người về phía trước, môi bập vào miệng Dương Lăng, tạo thành một nụ hôn môi rất chi là không lãng mạn. Cả hai cùng rên lên một tiếng, trong miệng ứa ra vị tanh mằn mặn.

Mã Liên Nhi trợn tròn cặp mắt, cô nàng còn chưa kịp nói gì thì “phịch” một tiếng, tuyết văng tung toé, thân thể của Dương Lăng nện mạnh xuống mặt đất, tiếp tục trượt đi. Chân phải Dương Lăng bỗng đạp phải một gốc cây nhỏ, ngay cùng lúc ấy, chỉ nghe rắc một tiếng, thân thể của hai người liền chuyển hướng, xoay ngang rồi lăn long lóc.

Lăn vòng vòng một hồi mới dừng lại được. Hoàn hồn, Dương Lăng đưa mắt dáo dác nhìn quanh, thấy mình đã lọt vào trong một khu rừng, chếch về phía sau khoảng hơn chục mét là gốc cây bị y đạp gãy khi nãy, hai mét trước mặt chính là một khối đá to phủ một lớp tuyết dày.

Mã Liên Nhi cũng đã bớt căng thẳng, lúc này nàng mới phát giác mình đang nằm trong lòng Dương Lăng với một tư thế hết sức ám muội. Khuôn mặt thanh tú thoáng đỏ bừng, nàng ra sức nện mạnh lên ngực Dương Lăng một quyền. Dương Lăng đang vui mừng vì "thân thể mềm mại" vốn luôn yếu ớt của mình lần này bình an không tổn thương gì, bị cô nàng nện cho một cú mới phát hiện là trên người mình còn có một thân thể mềm mại khác đè lên, y giật nảy mình vội buông tay ra, Mã Liên Nhi đỏ mặt bò dậy.

Dương Lăng dày mặt đứng dậy bước tới trước Mã Liên Nhi, ngẩng đầu nhìn lên đỉnh núi hai người vừa trượt xuống. Lúc này tuyết rơi mờ mịt, trong rừng tầm nhìn không quá trăm bước nên y không thấy rõ được tình hình trên đỉnh.

Tim Mã Liên Nhi đập thình thịch như ngựa chạy, nàng lén đưa mắt nhìn chiếc áo dài của Dương Lăng đã rách bươm, để lộ chiếc quần vải bông màu xanh bên trong, hai miếng bông vải trên mông cũng lộ cả ra, hình dạng cực kỳ thảm hại.

“Y thật dũng cảm! Một thư sinh yếu đuối thế mà dám nhảy từ trên đỉnh núi băng dốc đứng thế này.” Nhớ tới lúc lăn xuống núi, y vẫn luôn ôm chặt lấy mình, để mình nằm trên, làm đệm cho mình, Mã Liên Nhi thầm cảm thấy ngọt ngào, trong mắt bất giác dấy lên một tia âu yếm.

Dương Lăng không hề hay biết mình giống như một công đực đang khoe đuôi, có điều là đang nhìn từ phía sau. Y quay lại hào hứng nói với Mã Liên Nhi:
- Giặc Thát không dám nhảy xuống núi như vậy đâu! Chúng ta hãy vào rừng trốn một lúc, tránh sự lùng sục của bọn chúng.

Nhìn cánh rừng bao la heo hút, trong rừng im ắng không vết chim bay, không dấu chân người, Mã Liên Nhi hơi do dự:
- Sườn núi dốc như vậy, chắc bọn chúng sẽ không dám xuống đâu. Nếu chúng ta lạc trong rừng, sẽ bị mắt kẹt lại ở nơi này đó.

Dương Lăng thoáng chau mày, gượng gạo:
- Nếu chỉ một mình tôi, quân Thát chưa chắc sẽ đuổi theo. Nhưng có thêm cô thì khó nói lắm, hay là cứ trốn đi đã.

Mã Liên Nhi bỗng nhướng mày:
- Huynh có ý gì vậy? Chẳng lẽ tôi là họa... Ư ừm... Vậy chúng ta trốn đi!
Nàng chợt đổi thái độ, ngượng ngập đồng ý.

************************

Dương Lăng vốc một nắm tuyết cho vào miệng, ngậm tan từ từ, đến lúc nước không còn lạnh nữa mới chậm rãi nuốt xuống, đồng thời cẩn thận ngó chung quanh. Mã Liên Nhi cũng nhếch nhác không thể tả, mồ hôi nhễ nhại, thoa lệch tóc rối, vạt váy cùng ống tay áo bị xé thành mấy mảnh rách bươm.

Tuyết đã ngừng rơi, trời bắt đầu chạng vạng tối, ngọn núi trống trơn vắng vẻ, bốn bề mênh mông. Khung cảnh
đối với cặp ăn mày này tựa như trong chốn Dao Trì tiên cảnh vậy. Đá tảng, cây tùng, mặt đất, hết thảy đều được tuyết che phủ, khoác lên mình một bộ áo trắng tinh khôi...

Cảnh sắc rất đẹp, rất nguyên thủy, đủ khiến người ta lưu luyến khó quên, tinh thần vui tươi thanh thản. Có điều, đó là nếu bọn họ không bị lạc đường, và sau lưng không có một con sói bám theo.

Ban đầu hai người chỉ muốn trốn trong rừng một lúc, nhưng khi bọn họ đang loạng choạng bước vào rừng rậm, một con sói đang kiếm mồi bỗng dưng xuất hiện sau lưng bọn họ như ma quỷ. Phản ứng đầu tiên của hai người là chạy trốn, con sói cứ thong thả lững thững theo sau, chờ đợi bọn họ cạn kiệt hết sức lực.

Mã Liên Nhi đã sinh sống trên thảo nguyên nhiều năm, nàng biết không thể cứ tiếp tục chạy như vậy, bằng không sẽ dễ dàng trở thành món ăn trong miệng con sói này. Nàng lượm một cành cây bị tuyết đè gãy ở trên nền đất đầy tuyết, đứng lại đương đầu vói con sói đen to lớn đó.

Dương Lăng thấy nàng không chạy, cũng nhặt một cành cây lên, tham gia vào cuộc chiến. Có lẽ người hiện đại ngay từ nhỏ đã nghe quá nhiều truyện đồng thoại về những con sói xám to đùng, nhưng khi thật sự gặp loài động vật trông không khác mấy so với "chó hoang" này, một người trưởng thành đang cầm cây gậy to sẽ khó mà sinh ra cảm giác sợ hãi chúng.

Mã Liên Nhi biết rõ sự đáng sợ của loài sói, Dương Lăng thì không, mà không biết thì không sợ. Dương "tú tài" hăm hở vung gậy lên, quát to một tiếng, nhắm đầu sói nện mạnh một gậy. Tuy thể trạng y không được tốt, nhưng cú đánh dùng toàn lực này cũng đủ sức đập vỡ sọ một người thân thể tráng kiện.

Cây gậy rắn chắc vừa phang trúng ngay đầu của con sói, Dương Lăng còn chưa kịp cao hứng thì Mã Liên Nhĩ đã thét lớn:
- Cẩn thận!
Rồi nàng vung gậy quét ngang tới.

Bị trúng một gậy nặng nề của Dương Lăng, con sói to lớn lăn ra mặt đất kêu ăng ẳng như chó, rồi trở mình bò dậy, hung tợn nhảy chồm lên lao về phía y.

Dương Lăng giật nẩy mình trước phản ứng mau lẹ của con sói, y đã thấy rõ những chiếc nanh trắng hếu lởm chởm trong miệng nó. May thay chiếc gậy trong tay Mã Liên Nhi mang theo tiếng gió rít cũng đã đánh đến, cây gậy quét mạnh trúng chân sau của con sói. Nó rơi xuống đất tru lên thảm thiết rồi khập khà khập khiễng lủi vào một lùm cây, nhưng vẫn hung hãn nhìn chằm chằm bọn họ không rời.

Hai tay Mã Liên Nhi nắm chặt cây gậy, giải thích với Dương Lăng:
- Xương sọ của sói rất cứng, muốn đánh phải đánh vào chân và lưng của nó. Sói là loài ”đầu đồng chân đất, đuôi sắt hông bùn”, cứ nhè vào đó mà đánh!

Con sói cũng nhận ra hai sinh vật này không phải là thứ dễ đối phó, nhưng lại vẫn không chịu bỏ đi. Hai người đuổi theo, sói liền bỏ chạy, hai người quay đi, sói lại bám theo. Cứ đánh đánh chạy chạy lòng vòng như vậy cho đến giờ, con sói không biết đã đi đâu, còn hai người cũng đã lạc lối.

Bọn họ bây giờ đã mệt đến nửa bước cũng khó lê nổi. Bên trong quần áo ướt đẫm, mồ hôi trong xiêm áo đã nhanh chóng đóng băng, cái lạnh khiến cả người bọn họ co ro run rẩy. Lúc này đã là buổi hoàng hôn, nếu cứ như vậy qua đêm, hai người không bị sói ăn thì cũng sẽ chết cóng. Thế là dưới sự hướng dẫn của Mã Liên Nhi, Dương Lăng đã học được một chút kỹ năng sinh tồn nơi dã ngoại: đào tuyết làm ổ.

Trong rừng tuyết đọng phủ lên không ít cây cổ thụ cao chọc trời, cổ thụ đổ xuống, ở dưới liền hình thành mấy cái hố. Lòng hố tuy không rộng nhưng có khe hở để có thể hít thở. Dương Lăng khoét rỗng cái hố bị tuyết lấp đầy, chất mấy cành cây khô vào. Hai người cuộn người ngồi vào trong, vừa có thể chống rét, vừa tránh được dã thú.
Màn đêm đã hoàn toàn buông xuống, hai chân của Dương Lăng đã tê cóng. Không biết tự lúc nào Mã Liên Nhi đã cuộn người sát vào Dương Lăng, đầu gục xuống vai y mệt mỏi như muốn ngủ.

- Không được ngủ, chúng ta phải trò chuyện để tỉnh táo, nhất định phải cố chịu đựng cho tới khi trời sáng!
Mí mắt Dương Lăng cũng sắp díp lại, y nhéo mình một cái, cố sức hét gọi Mã Liên Nhi.

- Ôi..., Dương tú tài, Dương dịch thừa, Dương đại ca, huynh rủ lòng thương một chút đi mà! Muội vừa mệt, vừa đói, vừa buồn ngủ. Cho muội dựa một chút, dựa một chút, chỉ một chút xíu thôi, đến trời sáng... là được rồi.
Mã Liên Nhi yếu ớt rên rỉ đáp, giọng điệu thỏ thẻ chừng như như đang làm nũng. Nếu đang ở trong khuê phòng ngan ngát hương trầm mà nghe được âm thanh nỉ non như thế chắc chắn sẽ khiến cho người ta cảm thấy ướt át nóng bỏng đến thấu xương, lòng không kìm nổi nghĩ bậy nghĩ bạ.

"Không được!" Tuy tự bản thân Dương Lăng chưa từng trải qua những chuyến sinh tồn nơi dã ngoại bao giờ, nhưng lại xem quá nhiều câu chuyện trong báo và tạp chí nói về việc người ta chết cóng vì lạnh lúc ngủ. Y muốn gọi Mã Liên Nhi tỉnh dậy nhưng Mã Liên Nhi mệt đến độ không hề muốn cử động, cả thân thể mềm mại không xương uể oải dựa vào người Dương Lăng, rõ là đang ương bướng không chịu tỉnh dậy.

- Không được, ngồi dậy cho ta! Đợi đến lúc trời sáng thì cô cũng đã chết cóng rồi, cả người đóng một lớp băng cứng đến nỗi ngay cả sói cũng gặm không nổi! Ta không muốn kéo một bức tượng băng về đâu!
Dương Lăng nóng ruột, đưa tay vỗ vào mặt nàng.

Cảm thấy đôi môi hơi đau, Mã Liên Nhi mở mắt. Trong hố tối như bưng, nhưng hơi thở của Dương Lăng đang không ngừng phả vào mặt nàng, thật ấm, đó là hơi ấm duy nhất. Mã Liên Nhi càng buồn ngủ hơn, nàng lẩm bẩm:
- Nói... nói cái gì thế? Để muội... ngủ một chút đi mà!

- Không được ngủ!
Dương Lăng nóng ruột:
- Phấn chấn tinh thần lên đi, thân thể xương cốt của ta sợ sẽ không qua nổi đêm nay đâu. Mỡ của phụ nữ dày hơn, chịu lạnh tốt hơn đàn ông, để ta cởi đồ cho cô mặc. Không được ngủ, có thể sống được người nào thì sống người đó!

Đầu óc đang lơ mơ, nhất thời Mã Liên Nhi không tiêu hoá được lời của Dương Lăng. Nàng tham lam rúc sát hơn vào người y, giọng mơ màng:
- Cái gì... Mỡ gì cơ?

- À, là lớp mỡ dưới da... Chà, có nói cô cũng chẳng hiểu, cứ coi nó như là thịt mỡ là được.

- ...

Một lúc lâu sau, dưới hố tuyết trong bóng tối tĩnh mịch của núi rừng chợt vang lên một giọng nữ cao vút:
- Thịt mỡ ư? Ta béo lắm sao?




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

duahau
13-09-2010, 05:07 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 39: Không lòng dạ nào để ngủ

Dịch: Joker

Biên dịch: vo vong

Biên tập: duahau

Hiệu đính: TroiOi

Nguồn: www.tangthuvien.com


Mã Liên Nhi rúc vào trong lòng y như một con chim nhỏ, im lặng một hồi lâu, nàng bỗng nhiên run rẩy nói:
- Vậy chúng ta... chúng ta có thể xem như là duyên phận do ông trời an bài hay không?



Phụ nữ yêu cái đẹp, xưa nay vẫn vậy. Thật không ngờ, cái chết đe dọa không làm nàng tỉnh ngủ được, mà một từ “thịt mỡ” lại khiến nàng kích động hệt một chú gà chọi. Dương Lăng phải hết hơi giải thích mãi, Mã Liên Nhi mới bình tĩnh lại.

Tỉnh ngủ rồi thì cảm giác lạnh buốt càng lúc càng khó mà chịu đựng nổi, hai hàm răng nàng đánh vào nhau lách cách. Cảm thấy trên vai hơi nặng, nàng thử đưa tay sờ vào, thất thanh kêu lên:
- Huynh lấy áo đưa cho ta, thế còn huynh thì sao?

Dương Lăng thở dài:
- Tôi sợ mình sẽ không cầm cự nổi đến sáng đâu.

Vừa dứt lời, chiếc áo đó đã trở về trên người y và một đôi tay choàng qua ôm chặt lấy y. Mã Liên Nhi run rẩy nói khẽ:
- Chúng ta... kề sát lại một chút, có lẽ sẽ vượt qua được. Hoàn cảnh... hoàn cảnh cấp bách thì cũng nên linh động, đúng không?

Kề sát lại quả nhiên ấm hơn nhiều, Dương Lăng cũng lặng lẽ ôm chặt Mã Liên Nhi, lấy chiếc áo dài bọc cả hai người lại. Có lẽ do căng thẳng, hai người hít thở có phần gấp gáp. Dương Lăng nghĩ đến Ấu Nương, nhớ tới đêm đông giá lạnh bọn họ ôm nhau sưởi ấm ấy, lòng bỗng không yên.

Một lúc sau, từ bên ngực y vang lên tiếng hỏi rụt rè:
- Không phải huynh nói là muốn tán gẫu ư? Sao không nói gì hết vậy?

-Ừm? Ồ... nghe nói cô sống ngoài biên thùy từ nhỏ, quê cô ở đâu vậy?
Dương Lăng trấn tĩnh lại, vớ đại lấy một đề tài.

Sau chút xấu hổ và lúng túng ban đầu, Mã Liên Nhi đã dần quen với sự thân mật của hai người, nàng khẽ cựa thân thể mềm mại để tư thế thêm thoải mái, tự nhiên.

- Quê ta à...?
Nàng ngáp một cái, nép sát vào bộ ngực ấm áp của y, đáp:
- Quê ta ở kinh đô, nhưng ta chưa tới đó bao giờ, chỉ biết đại thúc (bác) và thúc thúc (chú) vẫn còn ở đó.

- Kinh đô ư? Quê cô ở Bắc Kinh à?

- Cái gì? Huynh thế mà cũng là tú tài à?
Mã Liên Nhi phì cười:
- Kim Lăng mới là kinh đô, Bắc Kinh là kinh sư.

- Ồ!
Dương Lăng toát mồ hôi, hỏi:
- Kim Lăng sao? Vùng đất nổi tiếng phồn hoa từ xưa đó à? Đại Minh chúng ta tại sao chuyển kinh sư đến Bắc Kinh thế? Ở đó vừa gần Thát Tử, thời tiết lại giá lạnh.

Mã Liên Nhi hứ một tiếng:
- Tú tài của ta ơi, muốn đùa với ta cũng không cần phải giả đò như vậy đâu! Hay là huynh đang kiểm tra ta đó hử? Thiên tử thủ quốc môn (vua phải giữ biên cương), hiểu chưa?

Không để ý thái độ của mình với Dương Lăng đã càng lúc càng thân mật, nàng nói tiếp:
- Từ nghìn năm nay, mối uy hiếp đối với Trung Nguyên đa phần đến từ phương bắc, phía bên kia tường thành là kẻ địch. Yến Kinh (tên cũ của Bắc Kinh) nằm nơi hiểm yếu, phía bắc thì núi non hùng vĩ, phía nam có thể khống chế Trung Nguyên, lại thông với vùng Giang Hoài (1), liền sa mạc, hơn nữa lại gần vùng giặc Thát. Thành Tổ dời đô về đây, chính là để giữ biên giới!

- Huynh nghĩ xem, kinh sư nằm ở đây, triều đình không muốn chú trọng đến phương bắc cũng không được. Nếu không tại sao lại phải lập trọng binh đồn trú ở cửu biên (2)? Tại sao Cẩm y vệ lại phái nhiều mật thám quanh năm ẩn náu ở quan ngoại như vậy?

Dương Lăng còn tưởng vì thấy Yến Kinh có điềm lành xuất hiện nên Chu Lệ mới dời đô về đấy, ai ngờ còn bởi nguyên nhân này. Ngẫm lại, hoàng đế Đại Minh các triều đại dù ngu dốt cỡ nào, phần nhiều vẫn chấp thuận thực thi chính sách "thiên tử thủ quốc môn". Vào cuối thời Minh, khi mạng sống bị đe doạ mà hoàng đế Sùng Trinh vẫn không sử dụng tinh binh ở Sơn Hải Quan (3), đại thế mất rồi, ông ta vẫn không chịu lánh xuống phương Nam mà tự vẫn tại Môi Sơn. Rốt cuộc thì ông ta đã không làm nhục khí tiết người Hán, đến chết cũng làm tròn sứ mệnh "Thiên tử thủ quốc môn".

Mã Liên Nhi đau lòng nói:
- Sau khi cha ta gia nhập Cẩm y vệ liền bị phái đến vùng quan ngoại làm thám tử, chịu đựng nửa đời người, khó khăn lắm mới được trở về quan nội, kết quả lại... hiện giờ cũng không biết ca ca đã ra sao rồi?

Nói đoạn nàng bật khóc nức nở.

Dương Lăng an ủi:
- Yên tâm đi! Lúc đó binh mã hoảng loạn, nhưng Mã huynh ở bên người Tất đô ty sẽ không có gì đáng ngại đâu. Cố qua đêm nay, ngày mai chúng ta tìm đường quay trở về thành, Mã huynh nhất định đã ở trong thành rồi đó.

- Ừm...
Mã Liên Nhi lau nước mắt, nói:
- Chỉ mong chúng ta có thể qua được đêm nay. Huynh kể chuyện cho ta nghe được không? Vậy sẽ không buồn ngủ nữa.

Dương Lăng vắt óc suy nghĩ một hồi lâu, cố nhịn cơn đói đang réo ùng ục trong bụng, bắt đầu kể:
- Ngày xưa có một ngọn núi tên là Ngũ Chỉ Sơn, trên núi có một đám cường đạo, kẻ đứng đầu tên là Chí Tôn Bảo (4)...

Chẳng lẽ người ở thời đại này không ai biết đến bộ "Tây Du Ký" hay sao? Dương Lăng buồn bực nghĩ thầm. Thế là vừa mới kể được một chút, y đã phải bắt đầu kể lại từ Đông Thắng Thần Châu, Hoa Quả sơn, Thuỷ Liêm động, giới thiệu bằng hết lai lịch xuất thân của Tôn Ngộ Không. Vừa mới kể thêm được một hồi, y lại phải kể sang chuyện Đường Tăng, từ lúc còn là Kim Thiền tử đến quá trình phiêu lưu của lão.

Mã Liên Nhi thoải mái ngồi tựa trong lòng y, im lặng nghe kể chuyện. Nhưng Dương Lăng kể rất gượng gạo, bởi vì y cảm thấy có mấy đoạn hết sức khôi hài mà Mã Liên Nhi lại chẳng cười lấy một tiếng. Chẳng lẽ phụ nữ thời Minh không có tế bào hài hước à?

Khi kể đến Tử Hà Tiên Tử, Mã Liên Nhi mới trở nên hứng thú. Nghe đến đoạn Tử Hà Tiên Tử đòi Chí Tôn Bảo hôn mình, nàng chợt nhớ đến "nụ hôn" vô ý của hai người lúc trượt xuống núi. Vừa nghĩ đến chuyện này, môi nàng lại thoáng đau, song trong lòng lại có phần bồi hồi.

Nàng không kìm được, bật hỏi:
- Tại sao Chí Tôn Bảo không tiếp nhận nàng ấy vậy? Bạch Tinh Tinh là yêu tinh, y là đại thánh bị đày xuống phàm trần, hai người vốn chẳng phải một đôi. Tử Hà tiểu thư mới là thần tiên, vả lại Chí Tôn Bảo nói đúng đó, duyên phận là do ông trời an bài, ông trời là lớn nhất!

Sặc, lần đầu nghe thấy có người lấy môn đăng hộ đối ra giải thích "Đại Thoại Tây Du"! Đến phút cuối Mã Liên Nhi lại hỏi:
- Vậy cuối cùng Chí Tôn Bảo thích ai?

- Ơ... Tử Hà Tiên Tử.

- Hứ! Đàn ông, miệng một đằng tim một nẻo!
Mã Liên Nhi hậm hực. Dương Lăng đỏ mặt biện bạch:
- Có lẽ cô nói đúng, cho dù là Tề Thiên Đại Thánh cũng không thể đấu với ông trời. Trời cao định sẵn duyên phận mà, y cũng đành nghe theo vận mệnh an bài mà thôi.

Mã Liên Nhi rúc vào trong lòng y như một con chim nhỏ, im lặng một hồi lâu, nàng bỗng nhiên run rẩy nói:
- Vậy chúng ta... chúng ta có thể xem như là duyên phận do ông trời an bài hay không?

Lấy hết dũng khí nói xong câu đó, nàng cảm thấy hoàn toàn kiệt sức. Mặt nóng rần, nàng vùi đầu vào trong lòng y chẳng dám ló ra. Dương Lăng giật mình kinh hãi, ngớ ra một hồi lâu mới nói:
- Cô... đừng nên nghĩ ngợi lung tung, tuy rằng chúng ta má ấp vai kề nhưng không quan hệ bất chính, hơn nữa... hơn nữa cô không nói, ta không nói, cũng chẳng ai biết.

- Trời biết đất biết, huynh biết ta biết, hôn huynh cũng đã hôn rồi, ôm cũng đã ôm rồi, còn bảo ta làm sao xuất giá đây?
Trong màn đêm che phủ, Mã Liên Nhí nói một cách "hùng hồn", song con tim lại đập loạn thình thịch, nàng tiếp:
- Bất kể lần này thắng hay bại, Mẫn đại nhân cũng đã giết chết được một vương tử, nhất định sẽ được thăng quan. Huynh là tâm phúc của lão, lại trẻ tuổi có tài, có lẽ thêm vài ba năm nữa, ắt có thể làm quan phụ mẫu của một huyện. Ta... Ta tuy là con gái nhà tiểu lại, nhưng cũng biết đọc sách hiểu lễ nghĩa. Huynh làm quan rồi, cũng cần một người vợ xứng với huynh.

Nàng nói mà xấu hổ không thôi, trong lòng thầm nghĩ: "Mã Liên Nhi ta vẫn luôn tâm cao khí ngạo, hôm nay dày mặt tự tiến cử mình như vậy đã là việc xấu hổ chết người rồi, còn muốn xúi dục người ta bỏ vợ. Nhìn thế nào cũng đều thấy mình giống một nữ nhân xấu xa vô liêm sỉ nhất, nhưng... nhưng ai mà không có một lần ích kỷ chứ?”

Nghe nàng có ý bảo mình bỏ vợ tái hôn, Dương Lăng bừng giận, y ưỡn thẳng lưng, lạnh lùng nói:
- Mã tiểu thư, cô từ nhỏ đã trưởng thành ở vùng biên ngoại, ta thích nhất chính là cá tính hào phóng thẳng thắn của cô, cũng không tin cô sẽ để ý đến những thứ cổ hủ ngu xuẩn. Hôm nay ta có thể vì cô mà bỏ nàng ấy, sau này lẽ nào sẽ không vì người khác mà bỏ cô sao? Tử Hà Tiên Tử nói rất hay: “Nếu như không thể ở cùng với người ta thích, cho dù để ta làm Ngọc Hoàng đại đế ta cũng sẽ chẳng vui vẻ gì.” Ta cũng vậy, nếu như muốn ta bỏ Ấu Nương, cho ta làm Hoàng đế ta cũng không làm!

Bị y trách mắng Mã Liên Nhi xấu hổ vô cùng, nàng vừa ngượng vừa thẹn nói:
- Vậy ta... ta... ta nguyện làm tiểu thiếp của huynh, như vậy... như vậy huynh có chịu không?"

Dương Lăng ngây người, trong lòng vừa cảm động lại vừa khó xử, y cười nhăn nhó:
- Liên Nhi tiểu thư, tội tình gì cô phải đày đoạ bản thân như vậy? Dương Lăng không tiếp nhận nổi tấm lòng của cô đâu.

Mã Liên Nhi bỗng vùng ra khỏi lòng y, trừng mắt giận dữ nói:
- Huynh chê ta không đủ xinh đẹp hay bởi vì ta không phải là một người phụ nữ tốt?

Dương Lăng vội nói:
- Liên Nhi tiểu thư, cô rất xinh đẹp, rất đáng yêu, và ta cũng tin cô là một người con gái kiên cường, có lòng tự trọng. Cô coi thường đám nam nhân xem nữ nhân như đồ chơi, miệt thị cái gọi là vợ phải theo chồng của bọn họ. Chính vì như vậy, một khi cô đã thích một người, nhất định sẽ không bao giờ chùn bước. Được xem trọng như thế, Dương Lăng thật sự ghi khắc trong tim.

- Nói thật dễ nghe! Ta đã nguyện lòng ở dưới người khác rồi, chỉ bởi ta tin huynh sẽ thật sự đối xử tốt với ta, tại sao huynh còn... Trong lòng huynh, trên đời này không có ai sánh được với Ấu Nương phải không?

Dương Lăng cảm khái nói:
- Cô sai rồi! Trong lòng ta, Ấu Nương là một cô gái rất bình thường. Cô ấy không phải là người xinh đẹp nhất, cũng không nhất định là đáng yêu nhất. Thế giới rộng lớn, chưa xem hết toàn bộ phong cảnh, ai dám nói là đã nhìn thấy phong cảnh đẹp nhất chứ? Nhưng với phong cảnh, cô vẫn có thể đi đến từng nơi để thưởng thức, lựa ra một chỗ đẹp nhất làm chốn cự ngụ cho mình, nếu có năng lực cô thậm chí còn có thể chiếm giữ tất cả. Nhưng với phụ nữ lại không giống vậy, yêu không chỉ là thưởng thức và chiếm hữu, mà đôi bên còn phải có trách nhiệm với nhau, đã yêu nhau thì nên hết lòng tuân thủ ước hẹn "cho tới bạc đầu.”

- Biển người mênh mang, phụ nữ xinh đẹp rất nhiều. Không lẽ ta gặp ai cũng yêu, gặp người tốt hơn thì vứt bỏ người cũ đi? Nếu vậy thứ ta chiếm được cũng sẽ chỉ là thể xác của phụ nữ mà thôi! Như lời cô đã nói ở Hồng Nhạn lâu, nếu chỉ coi vợ như đồ vật, không hề có tình cảm chân thành thì dựa vào cái gì để đòi họ thật tâm đối đãi với mình đây chứ?

Mã Liên Nhi yên lặng một hồi lâu, đột nhiên bật cười:
- Ngài tú tài thao thao bất tuyệt, nói tràng giang đại hải, tại hạ cam bái hạ phong. Người ta trêu huynh thôi, sao kích động quá vậy?

Dương Lăng ngẩn ra, không biết cô nàng thật sự nói đùa hay đang che giấu sự xấu hổ của bản thân. Tiếc là trời tối đen như mực nên y không nhìn thấy được vẻ kỳ dị trong mắt nàng và cả nụ cười chứa đầy ẩn ý trên môi nàng nữa. Đó là nụ cười của người thợ săn khi đã xác định được con mồi nhất định phải bắt.

Mã Liên Nhi ngẫm lại lời của Dương Lăng, rồi trong lòng thầm nghĩ: “Đứa con gái từ vùng biên ngoại như mình đây mà là khác thường ư? Gã tú tài này mới thật sự là khác thường. Biển người mênh mang, có lẽ y quả thực không phải là phong cảnh đẹp nhất, nhưng lại là phong cảnh thích hợp với mình nhất. Ông trời đã đưa y đến trước mặt, không giữ chặt lấy y há chẳng phải là có lỗi lắm sao? Hì... tương lai còn dài mà!"

Sau một hồi lâu tâm tình nàng đã bình ổn trở lại, thoáng mang vẻ tươi cười, nàng bắt chước lời thoại mà Dương Lăng vừa nãy đã kể:
- Đêm dài đằng đẵng, không lòng dạ nào để ngủ, chi bằng Dương huynh hãy kể cho ta thêm một câu chuyện xưa nào đặc sắc hơn chút đi. (Câu này bắt chước lời thoại trong Đại thoại Tây Du)

Dương Lăng cũng cười thầm: ai nói phụ nữ thời Minh không biết hài hước là gì chứ? Đoạn y phấn chấn tinh thần nói:
- Được, ta sẽ kể cho cô một câu chuyện giúp tinh thần hưng phấn. Câu chuyện này có tên là Hoạ Bì!

Chú thích:
(1) Chỉ vùng đất nằm giữa Trường Giang và Hoài Hà. Gồm có Giang Tô, An Huy và một bộ phận nhỏ của Giang Tây, Hồ Bắc, Hà Nam.

(2) Tên gọi chín điểm quân sự cần trấn giữ vùng biên tái bắc bộ thời Minh. Sau khi nhà Minh được thành lập, quân Nguyên lẩn trốn ở biên tái phía bắc vẫn không ngừng quấy nhiễu, uy hiếp nghiêm trọng đến sự thống trị của nhà Minh. Để củng cố biên phòng khu vực bắc bộ, Minh thái tổ Chu Nguyên Chương nhiều lần phái tướng bắc chinh, đồng thời phân đất phong hầu cho các con là Chu Lệ, Chu Quyền đem trọng binh trú thủ biên tái bắc bộ. Minh thành tổ Chu Lệ vừa xuất quân ra sa mạc phía bắc, vừa bố trí trấn giữ vùng biên duyên, phái binh trấn thủ. Ban đầu thiết lập bốn trấn giữ ở Liêu Đông, Tuyên Phủ, Đại Đồng, Diên Tuy, kế tiếp lập trấn ở Ninh Hạ, Cam Túc, Kế Châu, rồi lại lập hai trấn ở Sơn Tây, Cố Nguyên, ấy là cửu biên.

(3) Sơn Hải Quan là cửa ải đầu tiên của Trường Thành, bắc dựa dãy Yên Sơn, nam liền biển Bột Hải, non xanh nước biếc, quang cảnh hùng vĩ, nằm ở nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Hà Bắc và Liêu Ninh, khởi điểm của Trường Thành. Người đầu tiên xây dựng Sơn Hải Quan là Từ Đạt, vị tướng nổi tiếng của nhà Minh. Với con mắt sắc bén về quân sự, Từ Đạt đã xây dựng Sơn Hải Quan để kiểm soát được núi, lại khống chế được biển. Ải này có 4 cửa, cửa phía Đông có một bức hoành phi với dòng chữ "Thiên hạ đệ nhất quan". (sưu tầm)

(4) đây là bộ "Tân Tây Du Ký" (Đại thoại Tây Du) gồm 2 phần do Châu Tinh Trì thủ vai chính. Chí Tôn Bảo trong phim là hậu thân của Tôn Ngộ Không 500 năm sau.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
19-09-2010, 12:42 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 40: Thoát hiểm

Dịch: TheJoker

Biên dịch: vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com


- Hi hi, huynh muội ư? Vị đại ca này, vừa rồi đệ thấy hai người đang thơm môi nhé!



Chương 40: Thoát hiểm

- A...!
Trong tiếng thét chói tai của Mã Liên Nhi, Dương Lăng đã kể xong truyện "Oan quỷ lục". Hê hê! Thật là thành công rực rỡ. Mã Liên Nhi đang sợ run cầm cập, cực kỳ giống một chú chim cun cút, nói chung y đã vớt vát được một chút mặt mũi cho "Đại thoại Tây Du".

Cười thoả mãn, Dương Lăng nhìn lên miệng hố trắng nhờ nhờ bên trên. Mặc dù trời vẫn chưa sáng nhưng trong không khí đã thoáng có chút hơi ấm của buổi sớm mai.

Mã Liên Nhi vẫn co ro trong chiếc áo choàng, có thể là vì lạnh, cũng có thể là vì sợ. Dương Lăng buồn cười, vỗ vỗ vai nàng, khích lệ:
- Trời sáng rồi, chúng ta đã chịu đựng được.

- Trời sáng rồi ư?
Từ trong lòng y, Mã Liên Nhi chầm chậm ló đầu ra, tham lam nhìn những tia sáng dịu nhẹ trên miệng hố. Trời sáng thì tốt rồi, trời sáng thì sẽ không còn phải sợ nữa. Không ngờ tên tú tài đáng ghét này lại biết kể không ít truyện, nhưng mấy truyện ma quỷ đó cũng kích thích thật.

Dương Lăng cười thầm trong bụng, cả đêm kể liền mấy truyện đã được y gia công chỉnh sửa như "Oán quỷ lục", "Hồn ma hoa anh đào“, "Ký túc xá nam sinh số 17", nói thật, ngay bản thân y cũng thấy nổi da gà.

Thấy vẻ cười cợt trên mép y, Mã Liên Nhi hậm hực lườm y một cái, làm mặt giận:
- Là huynh cố ý phải không?

Dương Lăng giật mình, thái độ của cô nàng trông không được thoải mái lắm, có lẽ do nằm trong lòng mình quá lâu. Một bên má nàng đã bị ép đến đỏ lựng, tóc tai rối bời, dáng vẻ càng thêm mấy phần quyến rũ, tựa như một cô vợ vừa mới thức dậy, lười biếng và yêu kiều, vẻ mặt hờn dỗi trông lại càng động lòng người quá đỗi.

Dương Lăng vội quay đầu, múa may chân tay đang tê rần một hồi rồi chầm chậm chui ra khỏi hố tuyết. Như chiếc lưới trong tay người đánh cá, màn đêm đang được từ từ thu lại, trời đất chìm trong màu xám bạc. Mặt trời vẫn chưa xuất hiện, song chân trời đã bắt đầu ửng sáng.

Thật là lạnh. Đối với một người đang đói như y, cái cảm giác khi không có một tia nắng nào quả thật giống như đang ở dưới địa ngục. Phóng mắt nhìn chung quanh chỉ thấy một màu trắng xoá, không biết mình đang ở nơi nào, không có ánh nắng, thậm chí y không thể nhận ra phương hướng giữa núi rừng bị băng tuyết bao phủ như thế này.

Mã Liên Nhi cũng chui ra khỏi hố tuyết, nàng ngó quanh rồi vui mừng:
- Thật may trời không âm u, tuy mặt trời chưa ló dạng nhưng cũng có thể thấy được đông tây nam bắc rồi. Đi theo muội, chỉ cần ra khỏi khu rừng này, chúng ta sẽ có hy vọng trở về.

Hai người đã không thể nào tiếp tục chịu đựng thêm một đêm trong núi rừng nữa rồi, phải nhân lúc còn tí sức lực mà cố gắng nhanh chóng rời đi. Trải qua một đêm khốn đốn, thể lực của bọn họ đã kém trước nhiều, hai người đành phải vừa dìu nhau vừa khập khiễng đạp tuyết men theo một dòng suối đã bị đóng băng mà đi từ từ. Cùng sóng vai dắt nhau đi, Mã Liên Nhi và y lại giống như một đôi bạn đồng hành đang "đạp tuyết tìm mai".

Đã chẳng thể nhìn ra được diện mạo ban đầu của dòng suối là như thế nào nữa, lớp tuyết dày đặc đóng trên bề mặt giống như một con đường uốn lượn giữa núi rừng. Chỉ có những cột băng cao ngất thỉnh thoảng mọc lên ở hai bên bờ nhắc nhở người ta rằng đây từng là một dòng suối nhỏ nước reo vang chảy siết. Từng cơn gió nhẹ thổi qua, trút những hạt tuyết trên cây xuống cổ hai người, thỉnh thoảng có tiếng chim kêu qua những tầng cây.

Đi được hơn nửa canh giờ, hai người đã ra khỏi khu rừng rậm, lên tới một sườn núi tuyết cây cối thưa thớt. Ngẩng đầu nhìn quanh, từ phía tây trải dài về hướng đông bắc đều là những ngọn núi không cao lắm nhấp nhô đan xen. Ngoại trừ những thân cây có màu tàn tro, khắp ngọn núi chìm trong thế giới màu bạc trắng xóa.

Tia nắng đầu tiên ló dạng mang đến chút hơi ấm cho hai người. Hai người đang hăng hái muốn tiếp tục đi về phía trước thì một con sóc chợt nhảy phốc qua trước mặt, để lại một hàng những dấu chân lờ mờ trong vùng đất tuyết bao la vô hạn. Rồi sau đó nó kéo theo chiếc đuôi to xù lủi vào trong một hang tuyết.

Mã Liên Nhi mừng rỡ, vội vã buông tay Dương Lăng, hớn hở chạy tới nằm trườn trên mặt tuyết nhìn một lúc, sau đó bất chấp cái lạnh bắt đầu lấy tay đào bới. Dương Lăng cười nhăn nhó bước tới hỏi:
- Đại tiểu thư à, lúc này mà cô còn muốn bắt sóc để chơi sao?

Mã Liên Nhi vẫn nằm soài như một chú cún con đang cào tuyết, thở hổn hển đáp:
- Đừng ngốc nữa! Mau giúp muội đào đi nào! Trong hang sóc chắc chắn sẽ có đồ ăn. Trong hang của một con sóc có thể lấy được tới mấy cân lương thực đó. Đào được rồi, cho dù hôm nay không thoát khỏi đây được, chúng ta cũng sẽ không chết đói.

Vỗ trán một cái, Dương Lăng vứt cây gậy trong tay, phụ nàng đào bới. Đầu tiên hai người dẹp hết đống tuyết phía ngoài, sau đó lại ba lần làm gãy khúc gậy mới mở rộng được miệng hang đông cứng. Con sóc đã trốn mất bằng một cửa hang khác. Hang của nó rất sâu, Dương Lăng đưa tay vào mò, mò đến khi mặt mày dính đầy bùn đất mới được toại nguyện, y moi ra được rất nhiều quả khô như hạt dẻ, hạt kê, táo gai (họ Crataegus)…

Hai người phấn khởi ngồi xổm trên tuyết kiểm lại chiến lợi phẩm. Dương Lăng cầm hai hạt kê lên, chà chà lên vạt áo, rồi đưa cho Mã Liên Nhi một hạt. Hai người tham lam dùng miệng bóc vỏ hạt, sau đó nhai lấy nhai để nghe rôm rốp cái hạt đã đông cứng ngắc.

Dương Lăng mỉm cười nhìn Mã Liên Nhi đang nhai ngon lành, vốn định khen nàng mấy câu, đột nhiên thấy cô nàng biến sắc, mặt trắng bệch như tuyết. Dõi theo ánh mắt kinh hoàng của nàng, Dương Lăng đưa mắt nhìn ra sau lưng, trái tim lập tức nặng trĩu. Sói! Đến những bốn con, con nào con nấy so với con hôm qua còn to hơn, khoẻ mạnh hơn, dữ tợn hơn.

Bốn con sói cùng bước nhẹ nhàng nhanh chóng áp sát bọn họ. Dương Lăng đột nhiên đứng dậy. Bốn con sói, một trước ba sau, tạo thành hình tam giác từng bước áp sát. Hàm răng lởm chởm trắng nhọn, ánh mắt hung tợn khiến người ta phải khiếp sợ.

Mã Liên Nhi cũng run rẩy đứng dậy. Tuyệt vọng liếc nhìn những con sói hoang đang tới gần hơn, nàng bất chợt gọi to:
- Dương Lăng!

Dương Lăng bị kéo xoay người lại, đón lấy y chính là khuôn mặt đang ửng hồng cùng với đôi mắt không rõ đang ẩn chứa tình cảm gì của Mã Liên Nhi. Nàng đột nhiên nhào tới, ôm chặt lấy Dương Lăng, giọng run run:
- Dương Lăng, huynh ôm muội đi!

Cả người run rẩy, nàng siết chặt lấy Dương Lăng, hơi thở gấp gáp tìm kiếm bờ môi y.

Bốn con sói vì hành động quái dị của hai sinh vật này mà thoáng dừng chân lại. Con sói đi đầu gừ một tiếng uy hiếp, đoạn tiến nhanh dần. Mười lăm trượng, mười trượng, năm trượng, tiến vào phạm vi có thể tấn công. Cái chân sau mạnh mẽ của nó chợt co lại, nó đã muốn phóng lên.

Ngay vào lúc này, "tách", tiếng dây cung bật mạnh, một mũi tên nhọn hoắt không biết từ đâu bắn đến xuyên qua bụng con sói. Lực tên bắn cực mạnh, đầu mũi tên xuyên thủng bụng sói rồi cắm vào trong tuyết. Con sói tru lên một tiếng dài thê lương, hai chân lẩy bẩy rồi ngã xuống mặt đất. Chỉ trong chốc lát máu tươi đã thấm đỏ một mảng lớn.

Nghe tiếng tru thảm thiết, bọn Dương Lăng lập tức quay đầu nhìn lại. Ba con sói hoang thấy con sói kia bị trúng tên nên đã dừng chân lại, cùng tru gào nhìn quanh tìm kiếm nơi bắt nguồn của sự uy hiếp. Thân hình thon mảnh của chúng nhanh nhẹn chạy quanh một vòng, sau đó quay lưng định chuồn đi.

Lúc này lại có ba mũi tên nhọn xé gió xuyên qua rừng cây bay vút ra, bắn chết cả ba con sói một cách cực kỳ chuẩn xác. Con sói có thể hình nhỏ nhất bị lực tên bắn văng lông lốc, thân thể nảy lên không trung rồi rơi phịch xuống đất, tắt thở.

Dương Lăng và Mã Liên Nhi vừa kinh ngạc vừa vui mừng, ngước đầu nhìn quanh tìm kiếm ân nhân cứu mạng. Trên sườn núi là một vùng trắng xoá, ánh nắng của mặt trời mọc phản chiếu từ đó khiến mắt hai người bị chói loà. Dương Lăng nheo mắt lại, phát hiện dưới những cây bạch dương bên sườn núi lộ ra bóng dáng mấy người đang từng bước đi về phía bọn họ.

Tổng cộng có bốn người. Dẫn đầu là một đại hán thân hình vạm vỡ, mặc chiếc áo dài màu tro xanh, tuổi chừng ngoài bốn mươi, thân trên khoác chéo một tấm da thú đã sờn rách, lưng đeo một cây cung săn dài, tay cầm một cây xiên sắt.

Ba người đi sau, người lớn nhất khoảng hơn hai mươi tuổi, đang cầm một cây cung, sau lưng mang ba, bốn con gà rừng, bộ lông dài của chúng đung đưa trong gió. Nhỏ nhất là một thằng bé kháu khỉnh, khuôn mặt bụ bẫm đỏ bừng, tuy trông bẩn thỉu nhưng lại cứng cáp như một tảng đá.

Nó chỉ độ mười hai, mười ba tuổi, mặc chiếc áo da dê rách nát, lưng đeo một cây cung, tay đang nắm dây thừng dắt một con hoẵng nhỏ bị thương. Cặp giò nhỏ nhắn, ngắn ngủn của con vật đang vất vả khó nhọc nhấc bước trên mặt tuyết phủ dày quá gối, thằng nhỏ đôi khi quay đầu lại dùng cây gậy trong tay vụt xuống mông con hoẵng một cái.

Người thanh niên chừng hơn hai mươi tuổi trông khá anh tuấn, y liếc nhìn hai người Dương Lăng một cách thân thiện, rồi kêu gã trông trẻ hơn một chút và thằng nhóc mép chỉ mới lún phún lông măng cùng đi thu thập xác sói. Họ rút mũi tên ra khỏi xác mấy con vật, quệt máu trên mũi tên lên da sói, cắm tên lại vào trong bao, sau đó nện mạnh một phát xuống đầu con sói còn chưa tắt thở, rồi lấy dây thừng ra cột chung chân của bốn con sói lại.

Người trung niên đi đến trước mặt hai người Dương Lăng, nhìn họ từ trên xuống dưới. Ông thấy hai người này, nam thì mặt dính đầy bùn, nhưng lại có khí chất của một kẻ đọc sách; nữ thì quần áo xốc xếch, nhưng chất liệu vải không tầm thường, dung mạo cũng không giống với người sống trong núi. Ông ta hoài nghi hỏi:
- Hai vị là người ở đâu? Sao lại chạy đến vùng rừng núi hoang dã ở Ngũ Sách Lĩnh này?

Dương Lăng thấy ông ta râu ria xồm xoàm, tuy trông cục mịch song mặt mũi ngay thẳng có vẻ chính khí, nên cảm thấy hơi yên tâm. Có điều đây là vùng núi rừng hoang vu, y vẫn phải cẩn thận một chút, không dám nói thật với gã đại hán trông như ngọn núi này.

Y chắp tay đáp:
- Chúng tôi... Huynh muội chúng tôi vốn định đi tới trạm Kê Minh thăm người thân, trên đường gặp phải quan binh và giặc Thát đang đánh nhau, trong lúc trốn chạy đã trốn đến nơi này. Đa tạ ơn cứu mạng của đại thúc!

- Hi hi, huynh muội ư? Vị đại ca này, vừa rồi đệ thấy hai người đang thơm môi nhé!
Thằng bé kháu khỉnh bụ bẫm không biết đã chạy tới từ lúc nào, đang vừa giậm tuyết vừa nói. Chân nó quấn một đống xà cạp, bên trên lại khoác hai tấm da thú, khiến cho vóc người vốn không phải là thấp cũng trở nên béo lùn, hết sức đáng yêu.

Mặt của Dương Lăng và Mã Liên Nhi lập tức đỏ bừng, người trung niên mắng:
- Đừng nói bậy bạ nữa, đi giúp anh mày buộc thú săn lại đi!

Thằng nhóc lè lưỡi, ấm ức:
- Vốn là vậy mà, bọn họ có thơm môi mà. Có con thấy, đại ca thấy, nhị ca thấy, cha cũng thấy...

Đại hán đá một cước vào mông của thằng nhóc đang lẩu bẩu lầu bầu, cười mắng:
- Thằng nhóc này, mày lắm mồm quá đấy, về ta sẽ phạt không cho mày ăn cơm!

Sau đó ông quay đầu lại nhìn hai người, ánh mắt cảnh giác loé lên vẻ lạnh lẽo sắc bén, hỏi:
- Ta họ Hàn, là thợ săn trên núi. Hai vị rốt cuộc là người ở đâu?




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
24-09-2010, 02:46 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 41: Lo trước tính sau

Dịch: 6300

Biên dịch: Hieusol

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com


Y khục khục cười gượng, vội vàng nói chữa:
- Đại thúc hiểu lầm rồi, vị tiểu thư này không phải vợ của cháu. Vì vừa rồi chưa biết rõ ngọn nguồn nên mới nói dối thúc.




Chương 41: Lo trước tính sau

Mã Liên Nhi rất lúng túng, sợ bị người khác hiểu nhầm là anh em thì càng tệ hơn nên đành đỏ mặt đáp bừa:
- Đại thúc, xin lỗi thúc. Cháu và... tướng công đang rời nhà đi xa. Đại thúc hơi quá cẩn thận rồi!

Dương Lăng giật mình, lúc này y mà giải thích nữa thì không khỏi càng rối rắm hơn nên đành ngậm miệng làm thinh. Đại hán chợt nói:
- Ta biết rồi, năm mới về nhà mẹ phải không? Quân Thát gây khổ nhiều quá. Chúng ta cũng từ trong thành trốn tới đây, vậy cùng đi với nhau nhé!

Đại hán họ Hàn, gọi là Hàn Lâm, con trai trưởng là Hàn Uy, con trai thứ là Hàn Võ, còn cậu út có tên hơi tầm thường một chút, gọi là Mãn Thương (đầy kho). Người dân có hoàn cảnh thiếu hụt thường đặt cho con mình cái tên may mắn để lấy khướt. Dương Lăng đã từng biết mấy người có tên Mãn Thương rồi, đáng tiếc là đa số những người có tên như vậy đều nghèo rớt mùng tơi.

Hàn Lâm náu mình ở vùng núi hẻo lánh nơi biên thùy, dọc đường đã thu nhận khoảng một trăm người dân đang chạy giặc, tất cả đều phải dựa vào tay nghề săn bắn của cha con họ mới có thể sống sót. Cả nhà xem ra cũng khá chất phác, gió lạnh át tiếng không tiện chào hỏi nhiều nên họ chỉ cười cười khách khí rồi vác thú săn được lên lưng, đi nhanh về phía trước.

Chú bé Mãn Thương tới dắt con hoẵng đi, cười hì hì hết nhìn Dương Lăng lại nhìn Mã Liên nhi. Cậu tới sát Dương Lăng, líu lo:
- Dương đại ca, vợ của huynh đẹp thật đấy! Xinh hơn chị của đệ nhiều.

Mã Liên Nhi nghe được đỏ cả mặt, thoáng nét vui mừng. Được gọi là "vợ" khiến cô nàng mới biết yêu này ngây ngất mãi. Dương Lăng ngượng nghịu chẳng thể thừa nhận hay phủ nhận, đành ho khan giả điếc.

Hàn Võ nói với Hàn Uy:
- Đại ca, sau khi có tuyết lớn thì bầy thú kéo nhau đi kiếm ăn, quả thực là cơ hội săn bắn rất tốt. Xem ra cả trăm người đều có thể húp canh thịt rồi.

Hàn Uy đáp:
- Ừ, những người trẻ tuổi đều lập nhóm tới vùng lân cận hái hoa quả khô, thêm vào thú săn được của chúng ta thì có thể khiến mọi người đều được ăn no. Phỏng chừng chập tối là có thể đến Kê Minh rồi.

Hàn Võ liền cất tiếng chửi:
- Ngay cả ông già với trẻ con còn biết đi xung quanh nhặt củi khô để mọi người sưởi ấm đấy! Nhưng tên tam ca nhà họ Dương lại quá hèn hạ, chẳng chịu làm gì cả, lúc ăn cơm lại còn cố vơ vét, thật khiến người ta bực cả mình!

Hàn Uy huých hắn một cái:
- Đừng cằn nhằn nữa, cha mà nghe thấy lại đá vào mông đệ đấy! Dù sao đó cũng là bà con của em rể chúng ta, không nên so đo với gã làm gì.

Bên cạnh, Hàn Mãn Thương vừa ra sức kéo con hoẵng nhỏ vừa hào hển nói:
- Theo đệ thì chúng ta không nên chạy trốn nữa. Đám giặc Thát tới thôn ta chỉ hơn ba chục tên, bằng võ nghệ của cha và chúng ta thì sao không thể trừng trị được chúng chứ?

Hàn đại thúc đang đứng trên một mỏm đá, gằn giọng quát con:
- Cuồng vọng kiêu căng! Chúng ta có thể trừng trị được mấy chục tên giặc Thát kia, nhưng khi chúng quay lại sẽ dẫn theo vài trăm vài nghìn tên đến san bằng cả thôn. Một cá nhân võ nghệ cao cường so với vạn quân thì có tác dụng gì chứ?

Lão chống nạnh dạy bảo con trai:
- Lúc ta còn ở Thiếu Lâm học nghệ, đã từng nghe kể, lúc Tổ Tĩnh gặp nạn, Đạo Diễn đại sư mời ba trăm tăng binh của phái Thiếu Lâm tới trợ chiến. Cuối cùng chỉ có hơn một trăm người trở về, phân nửa đã tàn phế. Lúc đó, dẫn đầu là trưởng lão Hư Vân đại sư của La Hán đường, có công phu Kim Chung tráo và Thiết Bố sam đao thương bất nhập cũng chỉ chống đỡ được trong thời gian uống cạn chén trà rồi bị loạn tiễn bắn như con nhím.

Hàn Mãn Thương không phục nên hỏi lại:
- Vậy thì học võ cũng chẳng có tác dụng gì ư?

Hàn lão nhẹ giọng đáp:
- Cũng không hẳn như thế! Ba trăm tăng binh Thiếu Lâm kia cũng chiến đấu ngoan cường được trong vòng một canh giờ với hai nghìn quân địch. Nhưng khi đại quân giao chiến thì mấy trăm cao thủ võ thuật có tác dụng gì chứ?

Dương Lăng thấy tên nhóc con kia có vẻ chán nản liền phỉnh:
- Đừng nhụt chí! Đó là do người chỉ huy không biết cách thôi. Phái những cao thủ như thế đi xông pha chiến đấu thì tất nhiên không có tác dụng gì rồi. Nếu như giao cho họ cướp đốt lương thảo, ám sát tướng địch thì còn có tác dụng hơn mấy vạn đại quân đấy.

Dương Lăng nói tới đây chợt nghĩ đến một điều khiến y giật thót mình: ”Không phải chứ? Y họ Hàn, có ba đứa con trai, từng học nghệ ở Thiếu Lâm, bây giờ là một thợ săn....".

Dương Lăng hơi hoảng hốt: "Lẽ nào đây chính là cha vợ, anh vợ và em vợ mà mình chưa từng được gặp sao? Mình không biết họ đã đành, thế quái nào mà họ cũng không nhận ra mình như vậy nhỉ?”

Thực ra, nếu bây giờ mặt hắn không dính đầy bùn đất thì lão Hàn cũng không thể nhận ra ông con rể của mình được. Sau khi con gái mình lấy chồng, tuy lão Hàn cũng từng gặp con rể mình vài lần nhưng khí sắc hiện tại của hắn khác xa vẻ mặt vàng vọt, hơi thở thoi thóp trước kia.

Từ miệng của những người dân trong làng đang chạy nạn, Hàn Lâm biết được con rể đã bình phục và dọn vào Kê Minh ở rồi. Cho nên bây giờ dù có thấy Dương Lăng quen quen thì lão cũng không thể nghĩ tới cái tên mang vợ vào thành thăm người thân lại là con rể mình được.

Mà chính Dương Lăng cũng chưa từng gặp người nhà của Ấu Nương. Trước đây vì sợ Ấu Nương phát hiện sơ hở nên mỗi khi nàng tán gẫu nhắc tới người nhà, y cũng đều không dám dò la tên tuổi của họ là gì. Lúc này cảm thấy nghi nghi, Dương Lăng liền luống cuống.

Y thấp thỏm bất an, ngượng ngập bắt chuyện với lão Hàn:
- Hàn đại thúc, các người từ đâu trốn tới đây vậy?

Hàn Lâm đáp:
- Từ dãy núi Bình Vân. Chúng ta đi săn trong núi khoảng mười ngày, vừa mới về làng thì đụng phải giặc Thát, phải vội vàng cùng dân làng chui vào khe núi. Còn hai người từ đâu tới đây thế?

Dương Lăng giật thót, dãy núi Bình Vân à? Không thể sai được rồi, người đàn ông vạm vỡ mặc đồ da thú, tướng người rắn rỏi bị mình lừa chính là .... cha vợ của mình!

Y khục khục cười gượng, vội vàng nói chữa:
- Đại thúc hiểu lầm rồi, vị tiểu thư này không phải vợ của cháu. Vì vừa rồi chưa biết rõ ngọn nguồn nên mới nói dối thúc.

- Ồ?
Hàn Lâm nhìn y ngờ vực, Dương Lăng vội giải thích:
- À ừm.. Thực ra chúng cháu chạy tới đây báo tin cho quân Đại Minh. Rút cuộc khi chiến sự xảy ra, bọn cháu bị quân Thát truy đuổi mà lạc vào khu rừng này. Còn việc... là do lúc đó nàng quá sợ hãi. Ngài là người từng trải, chắc ngài cũng hiểu phải không? He he he....
Hắn vênh mặt với ông bố vợ, cười đúng chất của một gã đàn ông đích thực.

Hàn Lâm hiểu ý cười hô hố rồi vuốt vuốt râu, xem ra chính lão cũng không biết mình hiểu cái gì nữa, tuy nhiên lão cũng không tiện hỏi lại. Dương Lăng thừa cơ kể sơ qua hàng loạt chuyện mình đã trải qua, bao gồm đưa tin, gặp mai phục, chạy trốn, gặp sói để ”gài hàng” với ông bố vợ.

Đám người trong khe núi lợi dụng địa thế tự nhiên, dùng thân cây dựng lên rất nhiều lều cỏ hình chóp, trên nóc được lợp lá cây để chắn tuyết, tạo thành những ngôi nhà tạm. Bây giờ, phía trước mỗi túp lều đều có một nồi sắt sứt miệng bắc trên những chiếc bếp xếp bằng đá, gỗ cháy tí tách, tuyết trong nồi đã được đun sôi, khói trắng bốc lên mịt mù.

Những người chạy nạn này dường như đã có kinh nghiệm chạy giặc nên chậu, nồi, bát, muỗng đều đủ cả. Thực ra, bình thường tất cả tài sản của họ cũng chỉ có mấy thứ này thôi. Thấy cha con Hàn Lâm mang về được nhiều thú như vậy, những người dân ăn mặc lam lũ, mặt mày ngây dại đều trở nên có sức sống hơn, nhao nhao tới giúp bọn họ khiêng thú vào giết mổ.

Mặc dù Hàn lão đại mang về hai người khách lạ, một người lại là một mỹ nhân xinh như hoa như ngọc, nhưng bọn họ, kể cả là những thanh niên khí huyết cương phương cũng không thèm nhìn lâu. Trên đường chạy nạn, họ đã nhìn thấy quá nhiều rồi. Mà bây giờ đối với bọn họ, sắc đẹp không có sức mê hoặc bằng một chiếc màn thầu.

Hàn Lâm mời Dương Lăng và Mã Liên Nhi tới trước lều của mình ngồi. Hàn Uy cắt vài miếng thịt sói, thịt hươu quẳng vào trong nồi. Có một bà già tóc bạc cẩn thận lấy ra một chiếc túi vải, thả vào từng chiếc nồi một ít gạo, rồi thêm một chút muối, cuối cùng thả vào rất nhiều quả khô do những người dân chạy giặc kiếm được. Trong không khí bắt đầu tỏa lên mùi thức ăn.

Lúc này, có một giọng nói già nua cất lên:
- Hàn Lão đệ, hôm nay có thể tới được Kê Minh không? Có một vài bà con bị trúng phong hàn, không thầy không thuốc, sợ rằng không chịu nổi nữa rồi.

Nhìn về phía tiếng nói, Dương Lăng thấy một ông lão chống gậy lảo đảo bước tới. Ông có gương mặt chữ điền, khuôn mặt đỏ au, đôi lông mày dài bạc phơ. Vừa nhìn thấy Dương Lăng, ông lão liền ngẩn người, Dương Lăng cũng giật mình nhìn kỹ lại ông ta. Y đã nhận ra ông lão này, ngày thứ hai sau khi sống lại chính ông lão này còn lên núi thăm hắn. Vị này chính là tộc trưởng họ Dương, Dương lão thái gia.

Ông lão ngẩn người một lúc rồi đột nhiên tức giận, quơ gậy nhằm đánh Dương Lăng, miệng thì chửi:
- Cái thằng chẳng ra gì này, ngay cả sản nghiệp tổ tiên cũng đem đi bán! Ngươi có xứng với cha ngươi không? Có xứng với liệt tổ liệt tông không hả? Chuyện đại sự như vậy lại không bàn với ta, ngươi đã trưởng thành hay chưa vậy?

Dương Lăng ngỡ ngàng lùi về phía sau, không biết cụ lớn này nổi giận vì điều gì: “Ta bán đất của ta thì việc gì phải bàn bạc với ông nhỉ? Lại còn tức giận như thế nữa, chẳng nhẽ ngay cả chuyện này cũng phải hỏi gia tộc sao?”

Hàn Lâm giữ tay Dương lão thái gia lại, cười nói:
- Sao lão ca lại làm thế? Có chuyện gì thì cứ nói cái đã.

Dương lão thái gia căm hận trả lời:
- Biết ngay là ông bênh con rể ông mà! Tên tiểu súc sinh này bán cả sản nghiệp tổ tiên, chuyện lớn như vậy mà không bàn bạc với người trong tộc, hắn có còn coi mình là người họ Dương nữa không chứ?





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
30-09-2010, 02:09 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 42: Nhìn nhau say đắm

Dịch: 6300

Biên dịch: Lamsonquaikhach

Biên tập: nguyenthai

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com


Dương Lăng ngửa mặt nhìn nàng, thấy ánh mắt vui mừng khôn xiết của nàng tỏa sáng như ánh mặt trời. Bốn mắt nhìn nhau, sóng lòng dâng trào.




Chương 42: Nhìn nhau say đắm

Hàn Lâm cũng trố mắt ra nhìn, lão giật mình quan sát Dương Lăng. Quả thật mặt mày của gã này càng nhìn càng giống thằng con rể bệnh tật liên tục của lão nên ngập ngừng hỏi:
- Y... y đúng là con rể của ta à?

Dương lão thái gia trợn mắt, cười khẩy:
- Sao vậy? Hai người còn muốn cùng nhau lừa ta nữa à? Ta tuy già rồi nhưng chưa có mù đâu nhé, tên nhóc Lăng Nhi này là do một tay ta chăm sóc từ bé đến lớn, làm sao có thể nhìn lầm được?

- Hả? Ngài là .... cha vợ ư?
Dương Lăng liền giả vờ 'giật nảy mình', 'vui mừng ngạc nhiên' tiến lên chào hỏi. Nếu y không làm nhiều trò như vậy thì sợ rằng ông bố vợ sẽ không chịu tin lời giải thích về chuyện vừa nãy. Ai bảo khoảnh khắc y sắp chết thì bị Mã Liên Nhi 'cưỡng hôn', lại còn bị ông bố vợ nhìn thấy chứ?

Dương lão gia tử vẫn chưa hết tức giận, đứng ở bên cạnh xem vở kịch nhận người thân. Ông bố vợ tuy chưa đến mức lú lẫn nhưng bị Dương Lăng 'gài hàng', nên lúc này nhìn thấy ông con rể quả thật đang vui sướng nhảy cẫng lên, mặt mày hớn hở thì chỉ biết hỏi han tình hình gần đây của con gái mình.

Nhưng hai ông anh vợ thì lại không dễ bị lừa, sau khi nghe nói biết y là em rể của mình, hai người đều tỏ vẻ hơi khó chịu. Về phần mình, Dương Lăng cũng thấy hơi run khi nhìn vào nắm tay to bằng chiếc bát của họ. Thấy Dương lão thái gia và vài ông lão vẫn còn lấn cấn về chuyện mình tự tiện bán sản nghiệp của tổ tiên nên nhân cơ hội này, y bèn tìm cách thoát khỏi hai ông anh rể. Rồi Dương Lăng chủ động tiếp cận với Dương lão thái gia:
- Đại bá, cháu biết ngài không vừa lòng với việc cháu bán đất. Tuy vậy, cháu có câu này muốn hỏi đại bá, tổ tiên của họ Dương từ đâu tới đây, hay là vừa mới đến nơi này đã có ngay đám đất đai ruộng vườn này?

Dương lão thái gia giật mình, tuy chưa biết y hỏi là có ý gì nhưng cũng trả lời:
- Chúng ta là hậu duệ của người kế nghiệp Đại Tống, từ Sơn Tây chuyển tới đây, tính ra thì cũng đã năm đời. Lúc đó, Thuận Đức công chuyển lên phía bắc, chỉ mang theo vợ con tới Kê Minh mua mười mẫu ruộng núi. Nhưng bây giờ tộc chúng ta đã hưng vượng, ruộng đất có hơn trăm mẫu, tất cả đều do tổ tông chúng ta chắt chịu mà có. Chúng ta, phận là con cháu thì phải có trách nhiệm giữ gìn không được thay đổi, sao lại có thể phá hoại như ngươi được?

Lúc Dương lão thái gia tới thăm Dương Lăng, lão cũng đã lải nhải về sự tích chói lọi của tổ tiên. Nghe nói bọn họ là hậu duệ của Dương gia tướng ở Sơn Tây, cũng thuộc dòng dõi của Long Hổ vệ thượng tướng quân Dương Hữu của triều trước. Thời Hồng Vũ, có một vị tổ tiên tên là Dương Thuận Đức chuyển tới đất này, hình thành nên họ Dương. Hồi đó khi Dương Lăng nghe xong nguồn gốc của mình cũng giật mình kinh ngạc một hồi lâu.

Tuy nhiên, Dương gia tướng hưng thịnh phát đạt, con cháu đông đúc. Các triều Bắc Hán, Bắc Chu, Tống, Nguyên, Minh đều có hậu duệ của Dương gia vào triều làm quan. Mỗi triều đều có hậu duệ kiệt xuất làm đến các chức quan cao, hiển quý không chỉ trăm năm. Do đó, nếu khiên cưỡng gán ghép như thế thì có cả đống người mang họ Dương nhân đó mà dựa hơi Dương gia tướng, chính vì thế nên Dương Lăng mới nửa tin nửa ngờ.

Nghe Dương lão thái gia nói thế, Dương Lăng liền hân hoan trả lời:
- Chính thế, nghèo thì phải thay đổi. Lúc Thuận Đức công chuyển tới đây thì không nhà không cửa, không tấc đất cắm dùi, chẳng phải nhờ xông pha mà có phần gia nghiệp này sao? Đã khi nào người ôm khư khư lấy gia viên mà không thay đổi cho thích ứng không? Chính vì điều này nên cháu đã tìm ra lối thoát, làm rạng rỡ họ Dương đó. Bây giờ cháu được bổ nhiệm làm Dịch Thừa của Kê Minh, không tốt hơn là ôm đống ruộng vườn làm nông dân sao?

Dương lão thái gia nghe nói Dương Lăng giờ đã làm quan, cười tít mắt sung sướng, cơn tức giận liền tan biến ngay lập tức, còn xoay ra hỏi việc làm quan của Dương Lăng. Theo đó, y liền đem việc mình làm sư gia, thêm mắm dặm muối việc mình nhậm chức Dịch thừa, tuần tự kể ra một lượt. Dương lão thái gia còn chưa kịp nói gì thì mấy ông già trong tộc đã khen ngợi không ngớt. Hiển nhiên, một người làm quan cả họ được thơm lây.

Dương Lăng lòe xong mấy lão già ngang bướng, vừa quay đầu lại thì thấy hai ông anh vợ vẫn đang nhìn mình trừng trừng, thầm kêu khổ. Y chợt nhận ra hai ông anh vợ này không hề chất phác như vẻ bên ngoài, mà ngược lại từ ánh mắt có thể thấy họ rất lanh trí.

Thấy Dương Lăng đã nói chuyện xong với những người trong họ, Hàn Võ tươi cười đi tới, vỗ vai Dương Lăng, thân thiết nói:
- Em rể giỏi thật đấy, mới lên huyện được hơn một tháng mà đã làm quan rồi. Em gái của ta tuổi còn nhỏ, nếu làm gì không đúng quy củ ở nơi ấy thì mong em rể khoan dung nhiều hơn nữa.

Dương Lăng mỉm cười, khổ sở nói:
- Nhị ca sao lại nói thế, Ấu Nương đối với đệ rất tốt, chúng em là vợ chồng cùng chung hoạn nạn, đệ và Ấu Nương rất là ... rất là đằm thắm.

Hàn Võ vui vẻ nói:
- Thế thì tốt, thế thì tốt, em rể là người đọc sách, hiểu biết nhiều, chắc cũng rành đạo lý phải quý trọng vợ từ thuở hàn vi, quả thật ta đã quá lo lắng rồi.

Dương Lăng trả lời với vẻ mặt nhăn nhó:
- Phải, phải, nhị ca cứ yên tâm đi.

Vừa rồi bị ông anh vợ vỗ một cái, không hiểu sao khớp hai vai của Dương Lăng bị sái, bây giờ mềm oặt không thể động đậy. Y ủ ê mặt mày ngước mắt nhìn lại, thấy Hàn Mãn Thương đang ngồi bên cạnh nồi sắt đang cười khúc khích, làm mặt quỷ với y. Ba anh em đều ghét một người, cặp mắt đen láy đầy vẻ lanh lợi kia không hề hiền lành như vẻ bên ngoài.

Dương Lăng giận thầm:
- Anh vợ thì "chơi khó" mình, em vợ thì mình không chấp. Ấu Nương còn biết đọc biết viết, hai ông anh vợ này sao có thể là kẻ quê mùa không biết chữ nghĩa chứ? Chỉ sợ chút mánh khóe này của mình chỉ có thể gạt được ông bố vợ hiền lành chất phác thôi.

Hàn Uy vốn đĩnh đạc, thấy Dương Lăng đang khó xử liền bước tới bắt chuyện với y:
- Em rể, ta và nhị đệ đều rất yêu thương cô em gái nhỏ. Em rể là người đọc sách, thông tình đạt lí, tất nhiên sẽ không bạc đãi Ấu Nương. Nhị đệ tuy tính tình cương trực, nhưng thực ra lại là người có tấm lòng rất tốt, đệ đừng nên trách y.

Y tươi cười vỗ lên vai Dương Lăng:
- Đi nào, chúng ta đi ăn chút gì đó, nếu em gái biết ta để tướng công của nó đói thì nó sẽ nổi giận với ta mất, ta không gánh nổi trách nhiệm này đâu.

Y mượn động tác lại gần, lặng lẽ huých vào tay trái Dương Lăng, tay phải giữ lấy bả vai ông em rể, tiếng khớp xương khẽ kêu "khục khục", lập tức phục hồi lại nguyên trạng hai khớp vai bị sái.

Dương Lăng cảm thấy bất lực, thầm nghĩ xem ra mình cũng cần phải nhanh chóng thúc đẩy quá trình học "Phong ma côn pháp" thôi. Nếu không thì mình làm thịt cá cho mấy người này làm dao thớt, cuộc sống của mình sau này sẽ không dễ chịu tí nào đâu.

Buổi chiều tà, khi vừa vượt qua ngọn núi cuối cùng ở phía trước, cổ thành Kê Minh bỗng hiện ra trong tầm mắt. Vừa leo qua núi, mọi người đều sững sờ, kinh hoàng. Lúc này ánh hoàng hôn đỏ như máu, từng đụn khói thuốc súng lập lờ bốc lên từ cánh đồng tuyết, pha lẫn mùi máu tanh nồng nặc. Trên mặt tuyết, hàng trăm xác người đang nằm ngổn ngang, giống như bị đàn trâu chạy qua giày xéo. Mỗi ngọn giáo đều xuyên qua một thi thể, lẻ loi vươn cao trong làn gió. Trên xác rất nhiều quân Minh hoặc quân Thát đều vương những ngọn cỏ khô, tuyết nhuộm chiến bào.

Vài con chiến mã vô chủ mang theo vết thương trên mình đang chậm chạp bước đi trên cánh đồng tuyết, thỉnh thoảng hí lên những tiếng thảm thương khiến cho khung cảnh đầy xác người càng toát lên vẻ thê lương.

Từ tình cảnh này có thể thấy, một ngày một đêm đó, quân Minh và quân Thát ở trước trạm Kê Minh giằng co chém giết không biết bao nhiêu hiệp. Không rõ tình hình hiện tại ra sao, quân Thát đã lùi chưa hay vẫn còn đánh chiếm Kê Minh? Lòng Dương Lăng trầm xuống, nếu như trạm Kê Minh đã bị Thát tử chiếm rồi, vậy thì Ấu Nương....

Nghĩ tới điều này,trong lòng y cực kì trống rỗng, hồn bay phách lạc, muốn lao nhanh xuống núi. Thấy vậy, Hàn Lâm liền giữ y lại, quát lên:
-Chớ nên lỗ mãng, phải nhìn cho rõ đã!

Hàn Uy đứng ở nơi cao, rẽ đám cỏ lạnh, nheo mắt nhìn một lát, hưng phấn kêu lên:
- Là cờ của nhà Minh, trạm Kê Minh vẫn nằm trong tay quân Minh.

Hơn trăm nạn dân nghe vậy, vẻ mặt đang lo lắng trở nên rạng rỡ phấn khởi. Không cần kêu gọi, cả đoàn người liền ráng sức băng qua chiến trường đẫm máu đáng sợ này, nhanh chân chạy về phía Kê Minh. Dương Lăng biết mình suốt một ngày một đêm không trở về, không biết Ấu Nương sốt ruột đến nhường nào. Lúc ở trên núi y biết có vội cũng chẳng có tác dụng gì nên còn giữ được bình tĩnh, nhưng lúc này đây thấy Kê Minh đã ở trước mắt, trong lòng kích động, y càng chạy càng nhanh hơn.

Nhưng đôi giày của y lại không thích hợp để đi đường núi, vừa mới chạy đã mệt lử, khiến cho y loạng choạng ngã mấy lần liền. Mấy anh em Hàn Uy phải chăm sóc cho các cụ cao tuổi nên không rảnh tới giúp y. Mã Liên Nhi thấy thương, tuy cũng muốn tới đỡ y, nhưng người nhà họ Hàn, họ Dương gia ở đây, nàng là người dưng sao có thể đỡ một người đàn ông, nên chỉ đành coi như không thấy.

Hàn Lâm thấy vậy thầm lắc đầu, biết rằng xương cốt thân thể con rể vẫn còn yếu đuối quá. Mà y là tú tài, chắc là không thèm để ý tới cái phương pháp rèn luyện thân thể bằng cách múa thương xách đao của mình đâu. Lão mò mẫm móc từ trong người ra một cái bao bố, bên trong đều là những thứ lão kiếm được trong lúc đi săn, bao gồm cẩu kỷ (vị thuốc đông y), nhung hươu, đuôi hổ, xương hổ... Ừm... trong lòng lão thầm tính toán chờ đến khi vào thành rồi sẽ ủ rượu hầm canh cho con rể uống để bồi dưỡng thân thể mới được

Càng tới gần cổ thành, từ nam chí bắc, tử thi và máu trên mặt đất càng nhiều. Cổ thành Kê Minh được xây bằng gạch xanh, cô độc đứng sừng sững dưới bóng núi nhập nhoạng. Có thể thấy rõ cổng thành dù đã sụp một góc nhưng vẫn vươn lên trời cao, tạo thành một đường cong tuyệt đẹp. Trên tường thành thấp thoáng bóng người đang qua lại.

Đoàn người càng dìu nhau tới gần, số người trên tường thành cũng nhiều hơn. Ánh chiều tà rọi xuống tháp canh, làm cho đao thương và những bó tên trong tay bọn họ lấp lánh bén ngọt. Dương Lăng sợ quan binh trên tháp canh tưởng nhầm mình là Thát Tử mà bắn tên bừa, do vậy, y liền chặn bước chân của nạn dân, một mình đi lên phía trước, vừa đi vừa hét to về phía trên thành:
- Ta là Dịch thừa Kê Minh Dương Lăng. Đằng sau là người dân ở thôn trấn phụ cận, vị đại nhân nào hiện đang trấn giữ tháp canh, mời ra gặp mặt.

Y còn đang do dự nhìn đám người trên tháp canh (tường thành), thì bỗng một bóng người quen thuộc lọt vào trong tầm mắt. Là Ấu Nương, nàng đứng trên tháp canh cao cao. Bóng tà dương chiếu xuống cổ thành, cũng chiếu xuống người nàng, khiến cho thân thể nàng như được phủ một lớp viền màu vàng.

Dương Lăng ngửa mặt nhìn nàng, thấy ánh mắt vui mừng khôn xiết của nàng tỏa sáng như ánh mặt trời. Bốn mắt nhìn nhau, sóng lòng dâng trào. Trên tháp canh, Giang Bân cất cao giọng ồ ồ:
- Đúng là Dương Dịch thừa rồi, mau mở cổng thành! Mau mở cổng thành!

Hàn Ấu Nương ngẩn ngơ nhìn Dương Lăng, khuôn mặt thùy mị hiếm có, không hề nghe thấy gì chung quanh.





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
04-10-2010, 08:32 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 43: Cẩm Y Bách hộ

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Lamsonquaikhach

Biên tập: nguyenthai

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- Triều đình cần một chút thể diện, quân đội lại cần một con dê thế tội, Cẩm Y Vệ thì cần phần công lao này, ngươi hiểu chứ?




Quyển một - Khói lửa suốt ba tháng - Chương 43 Cẩm Y Bách hộ (1)

Hôm đó quân Minh đột phá khỏi vòng vây của người Thát, lập tức tháo chạy về trạm Kê Minh, toàn bộ ngựa xe dùng vận chuyển quân nhu đều bị vất lại ở Ngũ Sách Lĩnh. Do quân Thát bỏ ngựa, cận chiến nên bọn chúng cùng hoà vào trong đám quân Minh hỗn loạn, kết quả là không kìm lại được nên bị dòng người điên cuồng ép xông về phía trước.

Trên dải đất bằng phía trước trạm Kê Minh xuất hiện một cảnh tượng chiến tranh chưa từng có: vây chặt xung quanh bọn tướng tá của hai bên địch, ta có ít nhất khoảng trăm tên thân quân, còn lại đều quấn lẫn vào nhau. Trong đó, xông lên phía trước cả chính là quân Minh, phía sau là quân Thát, phía sau nữa lại là quân Minh, cuối cùng là quân Thát. Mọi người cùng chạy đến nỗi nón xiên giáp lệch, kèn lệnh, chiến kỳ đều bị vứt sạch. Tất cả là một khối "thịt ba rọi" đang "lăn" về phía trước.

Đám quân Thát chạy ở đằng đầu chẳng có lòng dạ nào mà rượt đuổi. Nhưng khi bọn chúng vừa ngoái đầu nhìn lại, thì thấy cuồn cuộn mênh mông quân Minh đang chạy thục mạng áp sát sau lưng. Nếu dừng chân, thì cho dù không bị giết cũng sẽ bị quân Minh giẫm chết, thế là bọn chúng đành phải cắm đầu cắm cổ chạy về phía trước. Theo sau quân Minh chính là hai cánh quân Thát ở trên chóp núi lúc đầu, vì nhìn thấy đằng trước quân Minh có người của mình, lại không nghe thấy thủ lĩnh ra lệnh thu binh, thế là bọn chúng cũng liền "bèo trôi theo nước" mà "chảy" về phía trước. Do vậy hai bên vừa chạy vừa đánh, trong khi thực lực binh sỹ cũng tương đương, nên nhất thời không phân thắng bại.

Từ lúc Dương Lăng rời khỏi huyện nha chạy đi báo tin, Mẫn huyện lệnh không yên lòng bèn kêu người khiêng đến thành đầu chờ. Khi nhìn thấy đám quân như một cơn hồng thuỷ từ xa xa ập đánh tới, Mẫn huyện lệnh sợ bắn người, liền vội vã ra lệnh cho sỹ tốt thủ thành dàn đại pháo, chuẩn bị nghênh địch.

Đến khi loạn quân chạy tán loạn đến dưới thành, thấy cảnh tượng kinh ngạc ngàn năm có một này, nhất thời Mẫn tri huyện nhìn mà miệng mồm há hốc, hai hàng lông mày dựng đứng cả lên. Lão thật không rõ tình hình bên dưới thế nào, là quân Minh đã tạo phản hay là quân Thát đã quy hàng. Đến khi thấy loạn quân dưới thành vẫn "ngươi một đao, ta một thương" chém giết nhau không ngừng, lão mới đoán ra mấy phần căn nguyên.

Nếu mở cổng thành lúc này, loạn quân Thát Đát thế nào cũng sẽ thừa lúc hỗn loạn mà xông vào thành. Để đội quân hơn một vạn người này biến trạm Kê Minh thành chiến trường, toà cổ thành này chắc chắn sẽ bị phá huỷ. Do vậy, Mẫn Văn Kiến quyết định dứt khoát, lập tức ra lệnh cho quân đội sở thuộc của Giang Bân nghiêm thủ thành trì, không mở thành cho bất kỳ ai.

Dưới thành binh sỹ quân Minh kêu gào "mở thành", Hoàng huyện thừa dìu Mẫn tri huyện đứng trên thành đầu, hướng xuống thành la lớn:
- Giết giặc là trách nhiệm của các ngươi, giữ đất là chức trách của bổn huyện. Quân Thát còn chưa lui thì cổng thành còn chưa mở!

Đôi khi, nỗi sợ hãi cực độ cũng có thể khiến người ta sinh ra dũng khí giết người. Trong lúc binh sỹ quân Minh còn chưa hết kinh hoảng thì lại bị chặn mất đường lui, quay đầu lại nhìn, vốn dĩ bọn Thát tên nào cũng cao to, kéo đến kéo đi như một cơn gió, nhưng hôm nay bọn chúng cũng giống như bọn họ, chạy đến nhễ nhại mồ hôi, trông cực kỳ thảm hại, tức thì bọn họ dũng khí dâng trào, không cần tướng, tá hạ lệnh liền bắt đầu "bắt cặp" chém giết luôn.

Mẫn huyện lệnh điều động toàn bộ hơn bốn trăm quan binh lưu thủ ở ba cổng thành khác đều đến bờ tường thành nam, dùng cung tiễn hiệp trợ quân Minh dưới thành. Nhiều mũi tên bất ngờ được bắn đi, tuy rằng địch ta hỗn loạn đã giảm thiểu lực sát thương, nhưng sức uy hiếp về tâm lý lại cực lớn.

Bá Nhan Mãnh Khả tự mình dẫn đại quân chặn đường quân Minh ở cuối đầu Hồ Lô cốc, lấy khoẻ ứng mệt (dĩ dật đãi lao). Sỹ tốt Thát Đát lại như sói như hổ, nghênh chiến với quân Minh đang quýnh quáng, dĩ nhiên quân Minh lập tức tan rã, Hạ đô ty Hạ Sĩ Kiệt tử trận. Bá Nhan Mãnh Khả liên tục đuổi theo, nhưng không ngờ trận chiến lại biến thành như thế này.

Lúc này số lượng nhân mã của hắn vốn đã hơi chiếm thượng phong so với quân Minh, về năng lực cận chiến thì lại càng bỏ xa quân Minh, nhưng muốn giết chết hết một nghìn binh lính quân Minh thì bản thân cũng tổn thất hết tám trăm. Vì vậy, nếu như thật sự muốn quét sạch những binh sỹ quân Minh đã đỏ mắt liều mạng này, hắn cũng không chắc sẽ còn người nào có thể bình yên trở về hay không.

Ngoài ra hắn vẫn chưa quên tham tướng doanh mã Trác Lộc Thạch đang chỉ huy một đội quân đang tiến tới gần. Mặc khác, đại quân của Quảng tham tướng Uất huyện tuy bị một cánh nhân mã khác của mình dẫn dụ, nhưng hơn hai nghìn quân tinh nhuệ của Du kích tướng quân Dương Gia Long cũng đang thẳng tiến về phía Hoài Lai, nếu không thể tốc chiến tốc thắng thì sẽ bị quân Minh bao vây ngược lại. Thế là, Bá Nhan Mãnh Khả đã đưa quân đánh lén được một trận, hết cách đành phải thu thập loạn binh, bắt đầu thoái lui.

May mắn cho quân Thát là lúc này quân Minh tự ai nấy đánh, nên không cách nào tổ chức phản kích một cách hiệu quả. Vì vậy, hỗn chiến kéo dài đến nửa đêm, Bá Nhan Mãnh Khả đã có thể thu thập loạn quân rút lui, cướp lấy ngựa rong bên ngoài Hồ Lô cốc rồi trốn xa.

Lúc này Mẫn tri huyện mới mở cổng thành cho tàn quân vào thành. Quân Minh bấy giờ như chim sợ cành cong, hối hả rút vào thành, không có lấy cả dũng khí để thu dọn chiến trường. Trận chiến này quân Minh tổn thất hai nghìn binh sĩ, ngoài ra ba trăm cỗ chiến xa, tám trăm thớt chiến mã đều bị vất lại ở Hồ Lô cốc.

Hà tham tướng thủ ở trạm Kê Minh thêm ba ngày, rồi phụng lệnh Tổng binh Tuyên phủ thu binh quay về thành, còn nhân mã quân đội sở thuộc của Tất đô ty thì lưu thủ tại Kê Minh. Lúc này, Hà tham tướng biết rằng con đường làm quan của mình đã mịt mờ rồi, đành ngoan ngoãn chờ nghe hạch tội.

Sau khi về thành, Dương Lăng đã viết lại một ít tri thức về tăng cường tố chất binh lính và vận dụng hoả khí đưa cho Hà tham tướng. Y thấy rằng, hiện nay loại quân đội "trọng tướng không trọng binh, hai quân giao chiến đều dựa vào dũng tướng, tướng dũng thì binh cũng như hùng sư (sư tử đực), mất tướng thì trăm vạn sỹ binh cũng biến thành cát vụn" này thật sự là quá có vấn đề. Tuy nhiên ngay khi y vừa mới rời đi, thì những điều y đã khổ tâm tư lự viết ra liền bị Hà tham tướng cười khẩy ném xuống bàn:
- Một kẻ thư sinh thì biết quái gì về quân sự chứ?

Trái lại, vị Lưu công công kia lại lặng lẽ nhặt lấy bức thư cất vào trong ngực áo. Bây giờ bất cứ thứ gì có thể gây chút bất lợi cho Hà tham tướng đều là "chứng cứ" để lão "chạy tội", đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Vị Lưu công công này ít học nhưng không ngờ lại có thể viết ra được một bản sớ chương "trình độ cao" đưa khoái mã phi báo về kinh sư: quân ta tổn thất thê thảm, một vị đại quan tứ phẩm tử trận, tất cả đều vì Hà tham tướng ngang ngược độc hành, tham công mạo tiến, mắc mưu giặc Thát.

Ngày thứ bảy sau khi cuộc chiến chấm dứt, Dương lão thái gia bận lòng về nhà cửa ở quê, cho nên thế cục vừa ổn định liền không nhẫn nại được nữa, đòi dẫn tộc nhân trở về Dương gia bình. Thấy vậy, Dương Lăng thở phào nhẹ nhõm. Qua bảy ngày này, y mới biết dấu ấn gia tộc in sâu trên thân thể một người ở thời đại này như thế nào. Nếu trong gia tộc có một người tài hoa xuất chúng, bất luận quan hệ họ hàng xa hay gần, kẻ đó đều phải gánh vác trách nhiệm trọng đại cho cả gia tộc. Vì thế, cả nhà họ Dương nhân khẩu khoảng sáu, bảy mươi người (trong đó có vài người chỉ là họ hàng cùng chi gần cả trăm năm trước), vào thành ăn, ở toàn bộ chi phí đều đến đòi y một cách rất là "hợp tình hợp lý", hệt như đó chính là nghĩa vụ mà y phải hoàn thành.

Hơn nữa những người khác, bất kể là Ấu Nương hay là hương thân đồng liêu, họ cũng đều coi chuyện đấy là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên, đối với Dương Lăng thì điều này thật sự hơi khó hiểu. Do vậy, sau khi vất vả tiễn đưa những người này xong, Dương Lăng liền nhẹ nhõm trở về sở Dịch. Một tên tiểu lại chạy đến trước mặt bẩm báo:
- Đại nhân, có một vị tiên sinh muốn gặp ngài, chờ trong phòng khách đã lâu.

Đưa cương ngựa cho một tên dịch tốt, vội chạy đến phòng tiếp khách be bé của sở Dịch thừa, Dương Lăng thấy một lão già mặc áo bào xanh đang ngồi vắt chân trên chiếc ghế dựa chậm rãi nhấp trà. Dương Lăng biết trà của sở Dịch được chia thành bốn cấp, nếu không phải là những quan viên mà mình tự thân khoản đãi, bọn tiểu lại sẽ không dâng loại trà ngon thượng đẳng lên. Khi thấy loại trà tứ đẳng thấp kém ấy mà lão vẫn thưởng thức ngon lành đến vậy, y bèn thầm đánh giá: xem ra lão ta cũng chẳng phải là nhân vật trọng đại gì. Nghĩ vậy, y lấy làm yên tâm, bèn ung dung cười nói:
- Vị tiên sinh đây, tại hạ chính là Dịch thừa của bổn huyện, không biết có điều chi chỉ giáo?

Lão già mặc áo bào xanh một tay bưng trà, một tay nhịp khẽ lên bàn ra điều hài lòng. Nhìn dung mạo của lão thấy tuổi trạc ngũ tuần, vẻ mặt quắc thước, cặp mắt phượng đang khép hờ. Nghe tiếng Dương Lăng, lão hơi mở mắt, nhìn từ trên xuống dưới mấy lượt, rồi cười ha hả nói:
- Dương lão đệ đã về rồi à? Còn nhận ra ta không?

Lão vừa nói, vừa nhẹ tay đặt chén trà lên bàn. Dương Lăng liếc thấy trên tay lão đeo một chiếc nhẫn ngọc lục trong suốt. Thời đó vẫn chưa có sản phẩm hợp chất nhân tạo, màu sắc chiếc nhẫn lại êm dịu như vậy nhất định giá trị của nó không nhỏ. Dương Lăng chột dạ, càng cảm thấy thêm phần hiếu kỳ đối với thân phận của người này. Y bèn nhìn kỹ lại, thấy lão thật cũng có hơi quen quen, song nhất thời y lại không nhớ nổi đã gặp lão ở đâu rồi.

Lão già áo bào xanh thấy Dương Lăng có phần lúng túng, không kìm được bèn bật cười ha hả, đứng dậy nói:
- Lần trước ta và ngươi đã gặp nhau, cũng là ở trong sở Dịch thừa này, khi đó ta là khách, ngươi cũng là khách. Nhưng mà không ngờ chưa đến một tháng, ngươi đã làm chủ nhân rồi.

Dương Lăng "a" lên một tiếng, vui vẻ chắp tay nói:
- Ta nhớ ra rồi, ông là... Ông là bằng hữu của Mã dịch thừa Mã đại nhân, đại dược thương (buôn dược) của Xuyên, Thiểm, Ngô Kiệt, Ngô lão tiên sinh.

Ngô Kiệt, cũng chính là nhà buôn dược lớn đã giúp Mã dịch thừa khuyên nhủ nhà họ Vương rút kiện khi xưa, nghe xong cũng phá ra cười to, liền đó chỉnh lại nét mặt, nghiêm túc nói:
- Ta không phải là bằng hữu của Mã dịch thừa, mà chính là thượng cấp của y. Dương dịch thừa, hôm nay... Ta cũng là thượng cấp của ngươi.

Dương Lăng mặt mày rúng động nhìn lão già thoắt cười tươi roi rói, thoắt thâm trầm lạnh nhạt này, trong lòng chợt loé linh quang, không khỏi la thất thanh:
- Lão tiên sinh là... là Cẩm Y...

Ngô Kiệt nét mặt dãn ra, mỉm cười, chậm rãi nói:
- Hiện giờ ngươi không phải cũng vậy sao? Dương đại nhân, Dương bách hộ!

Dương Lăng sững sờ. Bách hộ? Bách hộ là một chức quan chánh lục phẩm đó trời, và còn là quan chức thuộc vệ sở nữa. Từ lúc nào mình đã tòng quân, lại còn được lên Bách hộ vậy?

Thấy mặt y tràn đầy vẻ kinh ngạc, Ngô Kiệt cười lớn khoát tay nói:
- Không cần phải ngạc nhiên. Ngươi vừa được nhậm chức Dịch thừa tạm thời, thì bộ Lại đã phát công văn, phỏng chừng không lâu sau thì ngươi sẽ có thể tiếp nhận lệnh bổ nhiệm thôi. Dịch thừa Đại Minh chúng ta tuy thuộc quản hạt của bộ Hộ, nhưng ai ai cũng biết rằng, tất cả dịch thừa đều là người của Cẩm Y Vệ chúng ta. Bổn Thiên hộ đã phái người điều tra về ngươi rồi. Ngươi là tú tài năm Hoằng Trị thứ mười lăm, gia thế trong sạch, là hậu duệ của danh tướng Bắc Tống nhà họ Dương. Bây giờ, ta phụng chỉ dụ của Bắc Trấn phủ ty (2) Trấn phủ Trương đại nhân triệu ngươi gia nhập Cẩm Y Vệ, phụ trách truy bắt và thám thính tình báo khu vực Hoài Lai, trao chức Bách hộ, mọi việc ngươi sẽ trực tiếp chịu sự điều khiển của bổn Thiên hộ.

Nói đoạn, Ngô Kiệt rút từ trong ống tay áo ra một cuộn giấy, một thẻ bài giắt lưng, mỉm cười đưa cho Dương Lăng rồi nói tiếp:
- Dương bách hộ! Mã dịch thừa vất vả nửa đời, cũng chưa được phong Bách hộ. Ngươi tuy mới sơ nhiệm Dịch thừa, nhưng đã vì Đại Minh ta lập được đại công, thế nên giành được sự tưởng thưởng này. Ha ha, Bách hộ của Cẩm Y Vệ ta so với Thiên hộ trong quân hãy còn cao hơn ba phần, ngươi chớ có mà phụ sự ân thưởng của Trấn phủ Trương đại nhân đấy nhé!

Mù mờ nhận lấy thẻ bài và chỉ dụ, Dương Lăng lắp bắp:
- Đại nhân, tại hạ... ti chức thật sự không hiểu, ti chức đã từng lập được đại công gì?

Ngô Kiệt cười nói:
- Có công mà không kiêu ngạo, quả nhiên rất tốt, có điều đã là công của ngươi thì ngươi cũng không cần phải khiêm nhường. Tiểu vương tử Thát Đát bố trí mai phục ở Hồ Lô cốc muốn một mẻ tóm gọn quân ta, nhưng may nhờ mật thám Cẩm Y Vệ nhận được tin tức này, Dương dịch thừa lại phi ngựa báo tin mới khiến quân đội Đại Minh tránh được họa thua trắng. Đây còn không phải là một đại công sao?

Dương Lăng thất thanh:
- Cái gì? Nào có chuyện đó, Thiên hộ đại nhân đã hiểu lầm rồi. Khi tại hạ nhận được tin tức đuổi đến thì đã chậm trễ, nếu không phải nhờ Tất đô ty dẫn quân liều chết mở một đường máu thì quân ta đã...

Nói đến đây, y bất giác lạnh người, lập tức không dám nói tiếp những lời phía sau nữa.

Lúc này, ánh mắt của vị Ngô thiên hộ diện mạo quắc thước, phong thái nhẹ nhàng đã trở nên âm u lạnh lẽo, trên người toát ra vẻ lạnh lùng mà chỉ những kẻ có thể tuỳ ý quyết định sinh tử kẻ khác mới có thể có. Lão thoáng cười nhạt, rất lâu sau mới buông ra từng chữ:
- Tiểu vương tử Thát Đát bố trí mai phục ở Hồ Lô cốc, muốn một mẻ tóm gọn quân ta. Hà tham tướng tham công mạo tiến, nhưng may nhờ Cẩm y vệ Dương dịch thừa phi ngựa báo tin, nên quân Đại Minh không bị tiêu diệt, có đúng hay không?

Dương Lăng lạnh người, bất giác đáp:
- Việc này... Ti chức... Đúng ạ!

Ngô Kiệt nhẹ gật đầu, đột nhiên lại mở miệng cười, nói:
- Ngươi vốn là một kẻ đọc sách, thân lại ở xa chốn triều đình nên không biết chuyện trong triều, không hiểu một số chuyện vốn cũng không thể trách ngươi được. Nhưng giờ ngươi đã là người của Cẩm Y Vệ, cho nên... Những chuyện trước đây không hiểu, bây giờ nhất định ngươi phải hiểu!

Dương Lăng không cầm lòng được hỏi:
- Ý đại nhân là...

Ngô Kiệt đưa ngón tay đeo ban chỉ (3) bằng ngọc xoa xoa cằm, thong thả:
- Triều đình cần một chút thể diện, quân đội lại cần một con dê thế tội, Cẩm Y Vệ thì cần phần công lao này, ngươi hiểu chứ?

(1) Thời Minh, chế độ quân đội vệ sở cũng lập ra Bách hộ sở. Bách hộ là quan chỉ huy (trưởng quan) của Bách hộ sở, thống lĩnh 112 quân, gồm 2 tổng kỳ, mỗi tổng kỳ gồm 5 tiểu kỳ; mỗi tiểu kỳ 10 lính. Bách hộ sở trực thuộc Thiên hộ sở. Có lẽ con số 112 bao gồm 2 vị chỉ huy tổng kỳ lẫn 10 vị chỉ huy tiểu kỳ (Rất cám ơn Bác luulang :cute::cute:)
(2) Nhà Nguyên, Minh đều cho chư vệ bố trí Trấn phủ ty, thiết lập cấp quan Trấn phủ. Cẩm y vệ sở thuộc của nhà Minh có Nam Bắc Trấn phủ ty.
Nam Bắc Trấn phủ ty là cơ cấu phụ trách thám thính và truy bắt hình sự của Cẩm y vệ, trong đó "Nam Trấn phủ ty" phụ trách quân kỷ, pháp kỷ của bản vệ. "Bắc Trấn phủ ty" ghi chép các án kiện mà Hoàng đế đã khâm định, có ngục riêng (Chiếu ngục), có thể tự do bắt bớ, tra hỏi, hành quyết mà không cần phải qua tổ chức tư pháp.
(3) Một loại nhẫn to đeo trên ngón tay cái, có từ đầu nhà Thanh, đến cuối nhà Thanh mới được biết đến rộng rãi. Đầu đời Thanh, ban chỉ được làm bằng xương, dùng để bảo vệ ngón tay cái khi bắn cung. Sau này, ban chỉ được làm bằng vàng, bạc, ngọc thạch và dùng để trang sức cho giới quý tộc Mãn thanh, hoặc là tặng phẩm của vua ban cho bề tôi có công. (Nguồn: baike)






Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
10-10-2010, 09:38 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 1 – Khói lửa suốt ba tháng

Chương 44: Trăng tỏ khó tròn

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Lamsonquaikhach

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng hoàn toàn hoá đá: "Đồng chí, đồng chí từ nơi nào vượt thời không đến đây vậy?"



Quyển một - Khói lửa suốt ba tháng - Chương 44 Trăng tỏ khó tròn

Ngày mai là rằm tháng giêng. Sau khi trải qua cuộc chiến loạn đêm giao thừa, dân chúng đã tìm lại được cảm giác ngày Tết. Ngay khi Hà tham tướng hậm hực ra đi, quan viên Kê Minh Dịch cũng dần bắt đầu mở tiệc mời nhau tới tấp.

Mãi đến hơn mười ngày sau, lệnh bổ nhiệm của bộ Lại mà theo lời của Ngô thiên hộ là sẽ lập tức đến ngay mới rề rà đưa đến, khiến cho Dương Lăng được một phen kiến thức trọn vẹn sự chênh lệch giữa hệ thống tình báo bí mật và đường đi bình thường của quan phủ.

Hôm nay, Mẫn huyện lệnh thiết tiệc khoản đãi Tất đô ty. Tuy rằng thưởng phạt của triều đình còn chưa ban bố, song ai nấy đều biết Mẫn tri huyện sắp được thăng chức. Tuy quân Hoài Lai thua trận, nhưng trách nhiệm không thuộc về huyện lệnh. Hơn nữa, huyện lệnh là quan văn mà có thể tự tay chém chết vương tử của thủ lĩnh địch quân, trong mắt của thánh thượng và đám đại học sỹ, ý nghĩa chính trị của nó đã vượt xa bản chất của cuộc chiến.

Đang lúc rượu cao hứng, Mẫn tri huyện cười hề hề đi đến trước mặt Dương Lăng, thấp giọng:
- Dương sư gia à, em rể của bổn huyện đã đưa tin đến cho bổn huyện, kinh thành muốn điều ta đi phương nam, nghe đâu là điều nhiệm làm Phó sứ Diêm vận ty Hải Ninh.

Dương Lăng không biết chức quan này phẩm cấp cỡ nào, song thấy Mẫn tri huyện mặt mày hớn hở, nên y nghĩ chắc hẳn chức quan không nhỏ. Hơn nữa vùng đất biên thùy nghèo xác hoang vu này đương nhiên không thể so sánh với Hải Ninh, thế là y vội vàng vòng tay chúc tụng:
- Chúc mừng đại nhân! Chúc mừng đại nhân!

Phó sứ Diêm vận ty là quan Tòng ngũ phẩm, đối với tri huyện một huyện cấp ba như Mẫn Văn Kiến có thể được xem là đã thăng liên tiếp ba cấp rồi (1). Quan trọng nhất chính là Diêm vận sứ là một chức quan cực tốt. Diêm thương (nhà buôn muối) vùng đó đều là ức vạn phú ông, giàu nứt đố đổ vách, chỉ cần chút tiền lọt qua kẽ hở ngón tay thôi cũng đủ cho người ta ăn cả đời rồi.

Mẫn tri huyện thích chí cười tít mắt, xua tay lia lịa:
- Nói nhỏ chút đi! Nhỏ chút đi! Chiếu chỉ còn chưa ban xuống, chưa thể nói gì được.

Thoáng nhìn đám quan lại đang luân phiên mời rượu nhau, nói cười rôm rả, lão nói tiếp với Dương Lăng:
- Sau khi bổn huyện qua đó, một khi ổn định rồi sẽ liền giúp ngươi hoạt động, cũng điều ngươi đến Giang Nam. Bổn huyện ngồi ở cái xứ Kê Minh khỉ ho cò gáy này hết hai năm cũng không được chút công tích nào, ngươi vừa tới, bổn huyện liền được thăng quan. Ngươi thật đúng là phúc tướng của bổn huyện.

Điều đến Giang Nam tất nhiên là tốt, nhưng mà tôi còn mạng hưởng phúc sao? Vả lại thân phận công khai trước mắt của tôi là Dịch thừa, trong tối đã là Cẩm y vệ Bách hộ, còn cao hơn lão đại ông một cấp, không được Cẩm y vệ gật đầu, việc điều động đâu dễ vậy được?

Nghĩ đến đây, Dương Lăng gượng cười, đáp:
- Đại nhân đã yêu mến đề bạt ti chức, Dương Lăng thật cảm động, xin ghi khắc trong tim, không biết lấy gì báo đáp!

Trộm thấy y có vẻ lơ đễnh, Mẫn tri huyện không khỏi cười ha hả. Lão đấm vai Dương Lăng, thân mật nói:
- Đại trượng phu chí tại bốn phương, chớ nên bi quan như vậy. Vả lại sau khi ta nhậm chức, thế nào cũng phải mất một năm rưỡi mới có thể tìm được cơ hội điều ngươi đi. Ngươi nên thoải mái một chút, thời gian dài như vậy đủ để sinh con rồi. Đã có lòng thì "ra tay" sớm chút đi, chớ nên lề mề chậm chạp.

Dương Lăng ù ù cạc cạc, chả hiểu mô tê gì:
- Ủa! Ủa? Sao ti chức chẳng hiểu đại nhân đang nói gì cả?

Mẫn tri huyện bĩu môi, liếc xéo y nói:
- Tiểu tử nhà ngươi chả thành thật! Chuyện này mọi người đều biết cả rồi, ngươi còn muốn giấu ta sao? Ha ha, cũng khó trách ngươi phải giấu giấu diếm diếm, đứa con gái đó thật sự là "mọng véo ra nước" quá mà. Nhưng ngươi yên tâm đi, ông đây không ham nữ sắc, ha ha ha...

Dương Lăng đầu óc mù mờ còn đang muốn truy vấn, Tất đô ty đã gọi lớn kêu Mẫn tri huyện qua. Y đang cảm thấy thắc mắc quay người lại thì Lưu điển sử mỉm cười đi tới, nâng chén chúc mừng:
- Dương lão đệ, chúc mừng song hỷ lâm môn, hôm trước vinh dự nhậm chức dịch thừa, ít hôm nữa lại “đỗ nhỏ” (2). Đến lúc đó Lưu mỗ lại phiền kính một chén rượu nhạt đấy.

- Nào có, nào có, Lưu đại nhân khách khí rồi!
Dương Lăng cười rồi cùng nâng chén. Lúc này y mới ngẫm lại ý tứ trong câu nói vừa rồi: “Đề tên trên bảng vàng là đỗ lớn, động phòng hoa chúc là đỗ nhỏ. Hắn nói mình ‘đỗ nhỏ' là có ý gì?”

Dương Lăng muốn hỏi lại cho rõ, nhưng ai nấy đều chỉ uống cho cao hứng rồi đi lung tung chuyện trò, vớ lấy một người thì lè nhè vài câu. Lưu điển sử vừa dứt lời đã loạng choạng đi thẳng đến chỗ Vương chủ bộ. Ánh mắt Dương Lăng mãi dõi theo lão đến nổi Hoàng huyện thừa đến bên cạnh mà cũng không hay biết.

Hoàng huyện thừa thong thả bước đến cạnh y, ho nhẹ một tiếng, rồi mỉm cười nói:
- Mẫn đại nhân sắp thăng quan! Dựa vào tư cách, lai lịch của cậu và mối quan hệ với Mẫn đại nhân, theo lão phu đoán, không tới mấy năm cậu sẽ có thể lên đến thất phẩm. Tiếp đó có thể vượt được Vũ môn hay không, phải xem phúc khí của cậu nữa. Cậu còn trẻ, chỉ cần cẩn thận làm quan, một mai phong vân tề tụ (3), tiền đồ tự nhiên vô lượng, nóng vội sẽ lại không được.

Dương Lăng thấy Hoàng huyện thừa đến, vội cung kính đáp:
- Đa tạ Hoàng lão chỉ điểm, học sinh xin thụ giáo!

Hoàng huyện thừa thấy chung quanh không ai chú ý, đột nhiên thấp giọng nói:
- Có điều chuyện lần này cậu thật đã lỗ mãng rồi! Nhà họ Mã tuy đã sa sút nhưng suy cho cùng người ta cũng từng làm quan, hôm nay chuyện của các cậu ai ai cũng đã biết, tại sao cậu cứ kề cà không chịu sắm đồ mua thiếp (4)? Nếu trong túi eo hẹp, mấy năm nay lão phu vẫn còn chút tiết kiệm, cậu cứ tạm cầm để ứng phó trước vậy.

Dương Lăng thất kinh:
- Hoàng lão, ông nói gì vậy? Nạp thiếp? Tôi... tôi... Tôi nói là muốn nạp thiếp khi nào vậy? Hơn nữa tiểu thư nhà họ Mã vì lý gì lại chịu làm thiếp người ta?

Y vừa nói xong, Hoàng huyện thừa đã giật nảy mình, vội luôn miệng nói:
- Cẩn thận lời nói, cẩn thận lời nói! Cậu nói bậy bạ gì thế? Làm thiếp người ta tuy hơi mất thể diện, nhưng cũng không ai lại chê cười nàng. Còn cậu nói như vậy, lỡ mà lan truyền ra ngoài, tiểu thư nhà họ Mã làm sao sống được đây?

Dương Lăng trợn mắt hỏi:
- Hoàng lão, rốt cuộc là đã xảy ra chuyện gì vậy? Tại sao... tại sao học sinh nghe mà không hiểu?

Hoàng huyện thừa cười nói:
- Nạp thiếp rước người đẹp về, đó là chuyện hết sức phong lưu, cậu còn nghệch mặt ra là sao? Hôm đó cậu cùng Mã tiểu thư quay về thành, bọn ta với Mẫn tri huyện đã nghe Mã tiểu thư kể lại đã từng cùng cậu trải qua một đêm trong hố tuyết trên rừng núi ...

Nghe xong, lúc này Dương Lăng mới chợt tỉnh ngộ, không kìm được đành bật cười ha hả, nói:
- Hoàng lão quả nhiên đã hiểu lầm rồi. Tôi cùng Mã tiểu thư chỉ là vì trời đông đất lạnh, không hề có bất kỳ...,
Nói đến đây, y chợt nhớ đến chuyện hai người từng ôm nhau qua đêm; cho dù ở thời hiện đại cũng đủ coi là mờ ám rồi, thế là y lập tức nghẹn họng, không nói gì được nữa.

Hoàng huyện thừa vân vê chòm râu, hơi phật lòng, nói:
- Tóm lại chuyện cô nam quả nữ cùng nhau qua đêm là thật, đúng không? Nàng ta dám kể chuyện này cho mọi người, hiển nhiên đã có tình ý với cậu. Nữ tử coi trọng danh tiết, nàng còn có thể chọn chồng khác tái giá được sao? Làm giàu thì phải nhân từ, làm quan thì phải liêm chính, làm người thì phải có tình nghĩa. Cậu là kẻ đọc sách thánh hiền, chẳng nhẽ còn không hiểu đạo lý này hay sao? Ta coi cậu như con cháu nên mới nói câu chân thành như vậy với cậu, cậu nhất định chớ phạm sai lầm đó!

Dương Lăng thoáng nghẹn lời, nhất thời cũng không nói thêm được gì...
***

Tuyết đọng dưới chân bờ tường trên con đường truyền tin bị Dương Lăng giẫm lên phát ra những tiếng "rộp rộp". Bước vào gian thứ tư của dịch quán, ngẩng đầu nhìn thấy đèn treo trong sân của Mã Liên Nhi vẫn sáng, Dương Lăng nhớ lại lời Hoàng huyện thừa đã nói trong bữa tiệc hồi tối, trong lòng máy động bèn chầm chậm bước tới.

Cửa phòng không đóng, dưới ánh đèn có thể thấy khói bếp bên trong lan toả ra ngoài, Dương Lăng bước tới cửa, nhìn thấy Mã Liên Nhi đang ngồi trên chiếc ghế đặt trước bếp, một tay chống cằm, một tay đun củi vào lò, dáng trông rất nhàm chán, tư thế uể oải yêu kiều động lòng người.

Ánh lửa soi lên khuôn mặt trắng bóng như ngọc của nàng, thoáng lộ vẻ ửng hồng mỹ lệ, đôi mắt quyến rũ mê người lờ mờ lộ vẻ trưởng thành: sự dằn vặt khiến cho người ta trở nên chín chắn. So với buổi đầu gặp gỡ, vị đại tiểu thư này hôm nay đã bớt sôi nổi và khinh xuất, bất giác đã nhã nhặn và trầm tĩnh hơn.

Dương Lăng gõ nhẹ lên khung cửa. Mã Liên Nhi ngẩng đầu, nhìn thấy y, trong mắt nàng bỗng loé lên một tia vui mừng và thân thiết. Nàng phấn khởi định đứng dậy, song lại lập tức thu lại tình cảm đã biểu lộ, mỉm cười nói:
- Từ lúc trở về thành, đã mấy ngày rồi không gặp huynh! Tiệc rượu đã tàn rồi sao?

Dương Lăng giật mình, không nhịn được bèn hỏi:
- Làm sao cô biết tôi đi dự tiệc?

Mã Liên Nhi không trả lời, chỉ dùng cặp mắt biết nói liếc y thật sâu. Dương Lăng chợt sững người. Y chợt biết, những ngày qua chắc chắn Mã Liên Nhi không lúc nào không để ý tới hành tung của y. Những lời nàng nói trong cái đêm trên Ngũ Sách Lĩnh đó, thật chỉ là nói đùa sao?

"Nàng ta dám kể chuyện này cho mọi người, hiển nhiên đã có tình ý với cậu. Nữ tử coi trọng danh tiết, nàng còn có thể chọn chồng khác tái giá được sao?" Ngẫm lại lời Hoàng huyện thừa, Dương Lăng chợt hiểu. Mình không biết có nhiều cấm kỵ như vậy, nhưng Mã Liên Nhi lại có thể không biết sao? Nàng đã kể lại những chuyện này, rõ ràng là đang tạo ra một sự thật đã rồi, lợi dụng dư luận khiến mình phải rước nàng về.

Dương Lăng không khỏi cười khổ:
- Liên Nhi tiểu thư! Có phải là cô đã cố ý đem chuyện chúng ta bị lạc trong rừng, cùng trải qua một đêm dưới hố tuyết kể cho mấy người Mẫn đại nhân phải không? Cô rõ ràng biết những thứ lễ nghi phiền phức đó hại chết người, vậy mà còn đem danh tiết của mình ra đùa được. Sao cô có thể làm ra chuyện ngốc nghếch như vậy chứ?

Mã Liên Nhi chợt ngưng bỏ củi vào lò, im lặng một hồi, rồi đột nhiên bật cười lớn đáp:
- Chẳng phải ngốc sẽ tốt hơn hay sao? Chẳng phải người ta thường nói con gái bất tài thì có đức sao? Huynh thích muội thông minh một chút hay là ngốc một chút?

Nàng cười có phần xảo quyệt, lại có phần đắc ý như đã đạt được quỷ kế.

Dương Lăng giậm chân nói:
- Sao cô lại chẳng biết nặng nhẹ đến vậy? Mồm mép chết người, cô... Cô thật quá khinh xuất rồi!

Tay Mã Liên Nhi thoáng run lên. Không hề ngẩng đầu lên, nàng cứ cúi đầu một hồi lâu rồi bỗng nghẹn ngào hỏi:
- Dương Lăng! Có phải huynh rất ghét muội hay không?

Bếp lửa hồng bùng lên những ngọn lửa, Dương Lăng bắt gặp một giọt nước mắt trong suốt nhỏ xuống mu bàn tay nàng, bất giác mềm lòng, bèn vỗ về:
- Sao lại có thể như thế được chứ? Có lúc nào cô thấy tôi ghét cô không?

Mã Liên Nhi nín khóc, mỉm cười:
- Đương nhiên là... chưa thấy. Huynh có thích muội hay không, muội nhìn ra ngay.

Bếp lửa hồng sáng rực, vẻ mặt tươi cười rạng rỡ đang mang đầy nét vui sướng lẫn đắc ý.

Dương Lăng buồn bực. Nha đầu này chẳng những diện mạo giống hồ ly tinh, bụng dạ cũng hệt như một cô nàng tiểu hồ ly. Thật không biết mới nãy nàng ta thật sự đau lòng hay là giả đò đau lòng nữa, bộ dạng của nàng nào có giống như người mới khóc đâu?

Bị y nhìn chằm chằm, Mã Liên Nhi vậy mà lại biết thẹn thùng, nàng ngượng nghịu cúi đầu, đỏ mặt nói:
- Dương đại ca, đêm đó là muội không tốt. Huynh nói đúng, nếu như huynh thật sự thôi Ấu Nương, vậy còn đáng để muội yêu sao? Hôm đó ở dưới thành, nhìn thấy ánh mắt huynh nhìn Ấu Nương thì muội đã biết cả cuộc đời này sẽ không có ai có thể thay thế vị trí nàng ấy trong trái tim huynh. Muội nào dám mộng tưởng tranh giành địa vị đó, muội chỉ hy vọng... chỉ hy vọng huynh cũng có thể đối xử tốt với muội, thì muội đã đủ thoả mãn rồi.

Nàng ngẩn ngơ nhìn chăm chăm vào ánh lửa bập bùng, ánh mắt tràn ngập sự khao khát được hạnh phúc, rồi nói với giọng mơ màng:
- Muội chỉ cần có một phu quân có thể cưng muội, yêu muội thì đã cảm thấy mỹ mãn rồi. Ăn ngon mặc ấm? Muội không khao khát. Còn địa vị chính thê?... Hừm! Nếu như một nam nhân coi nữ nhân là tài sản riêng của mình, giống như cha muội, và cũng như rất, rất nhiều nam nhân Đại Minh chúng ta, thì cái gọi là chính thê đó, liệu có đem đến hạnh phúc cho người ta không?

Bằng giọng điệu cứng cỏi chứa đựng một sự chín chắn không cân xứng với tuổi tác, nàng thổ lộ nội tâm thiếu nữ với Dương Lăng:
- Muội lớn lên vùng biên ngoại, ăn nói, cư xử không biết giữ lễ, quy củ như con gái Trung Nguyên chúng ta. Nhưng muội tuyệt đối không phải là một đứa con gái tuỳ tiện. Dương đại cạ, muội sẽ tuân theo đạo làm vợ, kính trọng Ấu Nương.

Dương Lăng giậm chân cười khổ:
- Cô... Ngày thường thấy cô thông minh lắm mà, sao lại bất chấp lý lẽ như vậy chứ? Tôi không đùa với cô nữa, ngày mai tôi sẽ lập tức đi tìm Mã Ngang bái kết nghĩa. Hẳn không ai có thể huyên thuyên chuyện huynh muội vì mạng sống mà náu thân cùng một chỗ chứ?

Mã Liên Nhi thấy y quay người sắp bỏ đi thì phát hoảng, nàng vội vã phóng tới ngăn y, rồi lao vào lòng ôm lấy y hờn mắng:
- Cả nửa tháng huynh mới tới gặp muội, muội không cho huynh đi!

Dương Lăng cuống lên, vội vã kêu:
- Mau bỏ tay ra, để người ta trông thấy thì còn ra thể thống gì?

Mã Liên Nhi càng ôm cứng lấy y không chịu buông. Khuôn mặt ngọc còn chưa khô lệ hé một nụ cười lấy lòng:
- Kẻ có danh tiết không biết giữ là muội, kẻ đáng bị người ta nhổ nước bọt dìm chết cũng là muội. Hết thảy muội đều không sợ, huynh sợ gì chứ?

Dương Lăng nghẹn họng, lắp bắp nói:
- Là... Tôi... là tôi lo cho cô thôi!

Mã Liên Nhi chợt đảo đôi mắt trong veo, quyến rũ nói:
- Chàng vẫn có thể cưới, thiếp còn chưa gả, muội mới không sợ kẻ khác nói lời đàm tiếu.

Trong ánh mắt loé lên một tia khinh miệt và oán hận kỳ lạ, nàng bỗng nhiên căm giận thốt lên một câu tục ngữ: "Nghe tiếng dế kêu mà không trồng trọt ư(5)!"

Dương Lăng đứng trơ ra đấy, dở khóc dở cười. Mã Liên Nhi nở một nụ cười xinh đẹp, hai tay vẫn ôm lấy cổ Dương Lăng, say sưa nói:
- Từ sau đêm ấy, muội rất nhớ vòng tay của huynh, nhớ đến những câu truyện xưa vừa dễ sợ, lại hấp dẫn mà huynh kể cho muội nghe. Huynh biết không, bắt đầu sau cái đêm ấy, muội đã không thể nào cách xa huynh được nữa.

Lời của nàng thật sự thốt lên tự đáy lòng, ngữ khí hết sức chân thành. Đáng tiếc khuôn mặt trời sinh đoan chính của nàng vốn chứa sức mê hoặc của loài yêu tinh, chỉ là vì tuổi tác hãy còn nhỏ, còn chưa hiện quá rõ. Lúc này hình ảnh một thiếu nữ mơ mộng trong tình yêu, vẻ mặt nhu mì, má đỏ hây hây, bất kể có tình cảm chân thành và nồng nàn như thế nào cũng vẫn mang vẻ yêu kiều lẳng lơ, dường như đang cố ý quyến rũ người.

Thấy vẻ mặt khó xử của Dương Lăng, nàng ranh mãnh nói:
- Huynh thật muốn kết bái với đại ca muội à? Thật sự muốn làm thân ca ca của muội?

Đôi mắt lấp lánh đen nhánh đó cháy ngầm hai ngọn lửa, bờ mi thẹn thùng rũ xuống, miệng khẽ ngâm nga một bài hát: "Củi khô ~ Lửa cháy ~ Nấu nên cơm ngon í a ~ Nghĩa huynh, nghĩa muội ~~~ Càng thêm thân ~~", chỉ hát được mấy câu, nàng không nén được xấu hổ mà vùi vào lòng Dương Lăng, lấy hết dũng khí nói:
- Bài hát này muội học ở biên ngoại, huynh muốn làm anh… kết nghĩa của muội? Được á, muội thấy chả sao cả!

Dương Lăng hoàn toàn hoá đá: "Đồng chí, đồng chí từ nơi nào vượt thời không đến đây vậy?" Cô nàng đại tiểu thư ở trước mặt người khác thì hoá trang thành một tiểu thục nữ này, ở trưóc mặt y lại tràn trề nóng bỏng hệt như một người đàn bà vùng quan ngoại, không chút che giấu (cái hotness của her!).

Mã Liên Nhi lấy hết dũng khí mạnh dạn thổ lộ nỗi lòng xong, nhiệt độ trên khuôn mặt xinh xắn không ngừng tăng lên. Bàn tay của nàng dán lên cổ Dương Lăng, mu bàn tay bị lò bếp hun, mềm mại và nóng hừng hực. “Đôi gò bồng đảo đầy đặn mê người ở trước ngực nàng có phải cũng ’mềm mại và hừng hực’ như vậy hay không?”

Dương Lăng biết rõ là không nên nghĩ đến nó, nhưng khi ánh mắt vừa chạm phải đường cong ưu mỹ trước ngực nàng, trong đầu y không tự chủ mà loé lên cái ý nghĩ đấy. Y chỉ cảm thấy bụng dưới nóng lên, một loại xao động khó có thể chế ngự khiến y thiếu chút nữa mất tự chủ, hôn lấy đôi môi anh đào có thể tuỳ ý "chiếm đoạt" ấy của nàng.

"Bước thêm một bước thì sẽ không thể quay đầu được nữa đâu!" Dương Lăng âm thầm cảnh báo chính mình, rồi vùng thoát khỏi vòng tay của Mã Liên Nhi. Bị bất ngờ, Mã Liên Nhi loạng choạng lui lại mấy bước, sắc mặt lập tức trở nên trắng bệch, đôi mắt cong vút tựa vầng trăng bỗng nhiên đờ đẫn, giống như tử tù bị áp giải ra pháp trường - tràn ngập sự hoảng sợ.

Nếu như Dương Lăng có tình, có ý với nàng, nếu như y chịu nạp nàng làm thiếp, thì sao y có thể đối xử với nàng như vậy? Mã Liên Nhi cố kìm chế bản thân, muốn giữ lại chút tôn nghiêm cuối cùng, nhưng nước mắt lại cứ tuôn trào, đồng thời khoé miệng nhếch lên một nụ cười thê lương.

Dương Lăng không đành lòng, bèn quay đầu đi, khẽ nói:
- Liên Nhi tiểu thư! Dương Lăng không phải là người đáng để cô phó thác cả đời. Thật đấy, lời tôi nói ngày hôm nay không phải vì bản thân tôi, cũng không phải vì Ấu Nương, mà chỉ là vì cô. Hai năm, nhiều nhất là hai năm, cô sẽ hiểu vì sao tôi lại cự tuyệt cô!

Y không dám quay đầu lại, cứ vậy bước thẳng ra ngoài, mất hút trong màn đêm. Mã Liên Nhi chầm chậm bước đến cửa, đôi mắt đượm nỗi mất mát thất thần nhìn về phía y vừa biến mất, một lúc lâu sau lại chậm rãi hướng lên bầu trời.

Trời đêm trong vắt, một vầng trăng sáng như chiếc mâm bạc lấn át bầu trời, soi sáng vô số chùm sao.

Lệ đẫm nhoè mi, Mã Liên Nhi khẽ ngâm: "'Kim phong ngọc lộ nhất tương phùng, tiện thắng khước nhân gian vô số (6).
Muội không biết huynh đang nói gì, không hiểu huynh đang tìm cớ gì. Có lẽ đối với huynh, ở chung với nhau đêm đó không đáng là gì, nhưng mà huynh có biết, với muội, đó lại là hạnh phúc mà suốt cuộc đời muội cũng khó thể quên.”

(1) Tri huyện Kê Minh Dịch là quan Tòng thất phẩm
(2) Thuở xưa, việc thi đậu và việc cưới vợ gần như liên tiếp gắn liền với nhau, vì thi đậu Trạng Nguyên thì được nên danh phận, rồi có nhiều gia đình quyền quí kêu gả con gái cho. Do đó, người xưa xem việc thi đậu Trạng là Đại đăng khoa (đậu lớn), cưới vợ là Tiểu đăng khoa (đậu nhỏ).
(3) Nguyên văn "phong vân tế hội" ý chỉ gặp được cơ hội hiếm có, sẽ thăng quan tiến chức vù vù.
(4) Thời đó, khi cưới vợ (thê) thì được gọi "thú" (cưới), mà thiếp lại là "nạp". Lễ vật tặng cho gia đình nhà vợ khi "thú thê" (cưới vợ) được gọi là "sính lễ", mà lễ vật dành cho lúc "nạp thiếp" thì lại bị gọi là "đồ mua thiếp".
(5) Nguyên văn "thính lạt lạt cổ khiếu, hoàn bất chủng địa liễu ni": "lạt lạt cổ" là một loại côn trùng có hại cho hoa màu, thuộc họ dế nhũi, nghĩa đen là: nghe thấy tiếng dế kêu mà sợ không dám trồng trọt. Tục ngữ này răn chớ nên nghe những lời tầm phào (tiếng dế) mà hãy cứ làm chuyện mình nên làm (trồng trọt).
(6) Dịch thơ
"Gió vàng sương ngọc tìm nhau
Đường trần muôn kiếp có đâu sánh cùng" (vietkiem.com)
Đây là câu thơ trích trong bài "Thước kiều tiên" (Cầu ô thước) của Tần Quán viết khi bị đày ra biên cương, chia cắt với người vợ là Tô Tiểu Muội.
Hai câu này miêu tả sự gặp gỡ của Ngưu Lang và Chức Nữ (kim phong: gió thu, do mùa thu thuộc hành kim), ám dụ rằng phu thê của tác giả chia cách đôi nơi, nhưng với tình cảm sâu đậm của phu thê họ, gặp nhau một lần còn giá trị hơn nhiều lần gặp mặt của người khác.

Nguyên văn:
鵲橋仙

纖雲弄巧
飛星傳恨
銀漢迢迢暗度
金風玉露一相逢
便勝卻人間無數

柔情似水
佳期如夢
忍顧鵲橋歸路
兩情若是久長時
又豈在朝朝暮暮

Hán Việt:
Tiêm vân lộng xảo,
Phi tinh truyền hận,
Ngân Hán điều điều ám độ.
Kim phong ngọc lộ nhất tương phùng,
Tiện thắng khước nhân gian vô số.
Nhu tình tự thuỷ,
Giai kỳ như mộng,
Nhẫn cố thước kiều quy lộ!
Lưỡng tình nhược thị cửu trường thì,
Hựu khởi tại triêu triêu mộ mộ?

Dịch nghĩa:
Từng đám mây màu nhỏ khoe đẹp
Sao bay truyền cho nhau nỗi hận
Sông Ngân vời vợi thầm vượt qua
Gió vàng móc ngọc một khi gặp nhau
Hơn hẳn bao lần ở dưới cõi đời
Tình mềm tự nước
Hẹn đẹp như trong giấc mơ
Không nỡ nhìn cầu Ô Thước là lối về
Hai mối tình đã thật sự là lâu dài
Há đâu cứ phải gặp nhau chiều chiều sớm sớm

Vài bài dịch thơ :

Mây viền khoe đẹp,
Sao bay đưa hận,
Thầm qua sông Ngân vời vợi.
Gió vàng, móc ngọc một gặp nhau,
Hơn biết mấy người đời gần gụi.
Tình mềm tựa nước,
Hẹn đẹp như mơ,
Cầu Thước nhìn về ngại nỗi.
Hai tình ví phỏng mãi lâu dài,
Đâu cứ phải mai mai tối tối.
(Nguyễn Xuân Tảo, thivien.net)

Âm thầm quá bước Ngân hà
Sao bay gửi hận mây hoa khoe màu
Gió vàng sương ngọc tìm nhau
Đường trần muôn kiếp có đâu sánh cùng
Nhu tình mộng đẹp tương phùng
Ngậm ngùi chẳng nỡ ngoảnh trông thước kiều
Tình xưa nếu mãi còn yêu
Cần chi sớm sớm chiều chiều bên nhau
(Phi hoa phi tuyết, Vietkiem.com)





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
13-10-2010, 06:01 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 45 – Mùa xuân đã đến

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Fishscreen

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Khoé miệng Dương Lăng méo xệch: “Gần đây mình bị sao thế nhỉ? Sao cứ có những suy nghĩ không đứng đắn vậy ta?”




Quyển 2 - Nhắm mắt vào kinh
Chương 45 – Mùa xuân đã đến


Tháng hai đầu xuân, tiết trời vẫn còn lạnh lẽo cô liêu, nhưng nụ đào đã nở, cỏ cây cũng đã nảy chồi non xanh nhạt.

Trên sân đập lúa bằng phẳng sực nức mùi thóc gạo. Bọn dịch tốt đã chuyển tất cả lương thực trong kho ra ngoài sân đập; chân để trần, tay giơ cào gỗ, xới thóc lên phơi.

Tiếp sau đó, Dương Lăng được một phen “bận rộn”. Thấy lương thực đã được trải đều, y liền xỏ giày thong thả bước ra khỏi sở Dịch. Công việc hiện giờ của y rất nhàn hạ, thành Kê Minh vừa trải qua trận chiến, ngoại trừ một số thư từ công văn ra thì không phải tiếp nhận nhiệm vụ gì cả. Song ở bên phía Cẩm Y Vệ, tin tức bí mật lại lui tới như thoi đưa.

Theo như tình hình được miêu tả trong các bản tin tình báo, các bộ lạc trên thảo nguyên cũng đang không ngừng phân tranh. Lúc hợp lực tấn công cướp bóc các thành trì gần biên giới Đại Minh, bọn chúng giống như một đám cường đạo kết phường cướp bóc, ngầm hẹn phối hợp với nhau. Khi lui về, sẽ lại vì phân chia chiến lợi phẩm không đồng đều mà bắt đầu hiềm khích lẫn nhau. Giữa các bộ lạc Thát Đát và các bộ tộc khác thường xảy ra chuyện đánh giết.

Nghe đâu Nữ Chân, Tây Phiên và một số bộ lạc nhỏ thân đơn thế cô của Thát Đát, mặc dù cũng tham gia cướp phá đợt này, nhưng kết quả là nhân mã tổn thất thảm trọng, tài sản được phân chia lại ít nhất. Trải qua trận chiến này cuộc sống bọn họ lại càng thêm gian khổ: nấu cơm không có nồi sắt, nêm món ăn không có muối, không có lấy cả một bộ quần áo chỉnh tề. Có điều lúc này cỏ đã mọc xanh trên thảo trường, chim oanh bay lượn khắp nơi, những người dân du mục mưu sinh bằng chăn nuôi sắp bắt đầu cuộc sống mới cho nên không còn lo bọn họ tấn công nhà Minh vào mùa này.

Mẫn huyện lệnh đã đến Hải Ninh nhậm chức. Sắp tới đây Tất đô ty cũng phải lên đường trở về Giang Nam. Còn cha con Hàn Lâm vốn là hộ săn bắn trong núi, không có ruộng đất, không cần phải trở về. Trong trận chiến vừa qua, dịch tốt Kê Minh tử thương gần ba phần, đang lúc thiếu người, Dương Lăng bèn thu xếp đưa cha vợ và anh vợ vào làm việc trong sở Dịch. Còn cậu em vợ Hàn Mãn Thương, mặc dù chú ta cũng nhao nhao đòi làm dịch tốt nhưng cho dù có khai man tuổi thì cái bộ mặt búng ra sữa của nó cũng quá rành rành, nên đành phải thôi.

Dưới nỗ lực của Dương Lăng cùng với sự trợ giúp trấn áp của Vương chủ bộ và Hoàng huyện thừa, nhìn chung lời đàm tiếu về “Dương dịch thừa tuyết dạ bạn mỹ nữ, tú tài công chánh nguyệt nạp kiều nương (1)” lưu truyền trong nha môn đã được khống chế, không lan truyền đến dân thường và quân lính.

(1) Tạm dịch:
Dương dịch thừa đêm đông cùng mỹ nữ
Ông tú tài giêng đến nạp thiếp xinh

Dương Lăng phải suy nghĩ nhiều như vậy, mối bận tâm về Mã Liên Nhi cũng phai nhạt đi, chuyện cứ thế trôi qua. Ai ngờ, không biết bởi vì hai người cùng tuổi hay vì Mã Liên Nhi là bạn gái duy nhất của Hàn Ấu Nương trong dịch thự, mà chuyển đến chưa được mấy hôm, hai người đã đối xử với nhau rất thân thiết.

Tuy Mã Liên Nhi tránh mặt không gặp Dương Lăng, song tình thân giữa nàng với Hàn Ấu Nương thì lại càng lúc càng mật thiết. Hai ngày trước Dương Lăng vô tình gặp cô nàng một lần. Mới chỉ hơn một tháng, hai má của nàng đã gầy đi, cằm cũng nhọn hơn, đôi mắt có vẻ to hơn nhưng ánh mắt thì lại ít có thần hơn.

Trông thấy vậy, Dương Lăng cũng không biết là nên đau lòng hay nên áy náy. Y chỉ có thể cố hết sức trong khả năng của mình, căn dặn người chiếu cố cho cuộc sống nàng tốt hơn một chút. Mạng sống của bản thân y quá ư ngắn ngủi, trong khi Mã Liên Nhi vẫn còn có thể lựa chọn khác; với sắc đẹp của nàng ấy, không nghi ngờ gì sẽ có thể tìm được một tấm chồng yêu thương và nuông chiều nàng. Nhận nàng làm thiếp ư? Như vậy là quá ích kỷ. Nếu lợi dụng lúc nàng không hay biết về cuộc sống đoản mệnh của mình mà bỉ ổi tiếp nhận nàng, vậy ta yêu nàng hay làm hại nàng? Như vậy là quá bất công cho nàng!

Về phần Ấu Nương, y đã suy nghĩ nghiêm túc và đã thông suốt. Từ giây phút y mở mắt ra, Ấu Nương đã được ông trời xếp đặt là người của y. Những ngày qua, y đã biết rõ Ấu Nương là một phụ nữ rất truyền thống, rất chất phát. Ngay từ lúc đầu, khi còn hoàn toàn lạ lẫm với phu quân, còn chưa có tình cảm gì, nàng đã quyết tâm vì y trọn đời thủ tiết, huống hồ giờ đây tình cảm bọn họ đang nồng nàn sâu đậm như vậy.

Lối nghĩ mà ban đầu y cho là đúng, tuyệt nhiên không thể thành hiện thực được. Nếu cứ cùng Hàn Ấu Nương sống hết hai năm với thứ tình cảm nửa như tình thân, nửa như tình yêu này, nhất định y sẽ ôm theo mối hận suốt đời mà bắt đầu kiếp luân hồi mới. Còn Ấu Nương? Những gì mình để lại cho nàng sẽ chỉ là nỗi đau thương vô tận và thêm nhiều nhung nhớ.

Nếu đã như vậy, thì sao không để cả hai cùng trải qua hai năm trong ngọt ngào và hạnh phúc? Nếu có thể cho nàng một kết tinh của tình yêu… Mắt Dương Lăng đã ươn ướt. Làm chồng, làm cha, chỉ cần nghĩ một chút, một cảm giác trách nhiệm nặng trĩu và thành tựu đã khiến y kích động không ngừng.

Tuy rằng sinh mạng hơi ngắn ngủi, nhưng cuộc sống chung của bọn họ cũng muôn màu muôn vẻ. Nếu lại có thêm một đứa con bé bỏng thì cho dù có mình có mất đi, Ấu Nương vẫn sẽ có chỗ dựa, vẫn có thể dũng cảm sống tiếp. Đứa con của bọn họ vẫn sẽ đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nàng.

Nhưng mà, khi y vừa có cái quyết tâm khiến y kích động không thôi này, lời nói dối đáng chết đó lại trở thành chướng ngại vật. Sẽ phải nói với Ấu Nương thế nào đây? Cho dù Ấu Nương vẫn luôn tuân lời y, nhưng e rằng việc này liên quan đến sống chết của y, tiểu nha đầu cũng khó mà đành lòng để y thắt cổ trong yên bình. Nàng không thuận lòng lên giường, chăng nhẽ y phải giở trò cưỡng gian? Ha, đợi đến khi nào mày đánh thắng được nàng rồi hãy cân nhắc nhé!

Dương Lăng gãi cằm cười khổ không thôi. Bản tính y vốn ngả ngớn hoạt bát, nhưng từ khi gặp được Ấu Nương, y lại càng lúc càng trở nên trầm tĩnh và thực tế, quả thật chẳng giống chính mình. Cái cô bé cưng ngây thơ thuần khiết, dịu dàng đáng yêu này thiệt là!

Dương Lăng vừa đi vừa nghĩ đến Ấu Nương, khi thì mỉm cười, khi thì lại khẽ nhíu mày. Bên bờ sông nhỏ ngoài phía đông thành, nước sông đã tan hoàn toàn, dòng nước trong veo vui sướng chảy băng băng. Lấy tay dò thử thì thấy nước vẫn lạnh thấu xương, song đã có thể chịu được.

Y cảm thấy gần đây thân thể đã săn chắc hơn thấy rõ. Rượu thuốc nhạc phụ đại nhân ngâm cho uống quả là rất tốt, không biết có phải là phương thuốc bí truyền của võ tăng chùa Thiếu Lâm hay không. Khi y hỏi thì nhạc phục cũng không đáp, chỉ bảo rằng rượu này được ngâm bằng thảo dược trân quý trên núi, có công hiệu bồi bổ căn nguyên, cường thân kiện thể.

Phải nói, rượu thuốc này đúng là chính hiệu. Lần đầu không biết độ mạnh của thuốc, y uống một hơi ba chung, kết quả là tối hôm đó y quá đỗi dễ chịu luôn, hai bên eo sau nóng hầm hập như đang chườm hai túi nước nóng, thậm chí tinh thần cũng hết sức sung mãn, mãi đến tận nửa đêm mới ngủ được. Bây giờ vào mỗi bữa cơm tối Ấu Nương đều pha cho y một chung, y càng uống càng hứng thú.

Một thiếu phụ trẻ tay cầm làn tre nhảy qua những hòn đá trên sông. Trông thấy một người thanh niên đang đứng bên bờ nhìn mình, cô nàng e thẹn lướt qua bên người y, bị ánh mắt sáng rỡ của y ngắm nghía, cô nàng nhất thời không dám xoay bờ eo thon lại.

Ánh mắt Dương Lăng dõi theo bóng dáng mềm mại phơi phới tuổi xuân của nàng ta lả lướt đi thật xa, đến khi có một cơn gió lạnh thổi thốc vào mặt y mới định thần lại. Y tự tát mình một cái: “Chết tiệt, gần đây sao kỳ vậy ta? Sao dạo này thường hay thích ngắm gái đẹp quá ta! Chẵng lẽ xuân đến, cả loài người cũng lên cơn động cỡn hay sao?”

Dương Lăng nhìn vũng nước ở phía trước, không có gì làm nên y đang tính đi kiếm cần câu giết thời gian, đột nhiên nghe một giọng nói trong trẻo đáng yêu:
- Tướng công, chàng đang chờ bọn thiếp trở về sao?

Dương Lăng nghe tiếng liền ngẩng đầu lên, trông thấy Hàn Ấu Nương và Mã Liên Nhi xinh đẹp dịu dàng đang bước men theo con đường nhỏ từ trong núi đi đến. Tay trái Hàn Ấu Nương khoác chiếc giỏ vuông, tay phải đang đung đưa một cành đỗ quyên rực rỡ, mặt tươi như hoa, xinh xắn như nước suối dưới khe . Mã Liên Nhi đi cạnh, y phục trắng hơn tuyết, xinh đẹp thướt tha, cả người không chỗ nào không quyến rũ.

Hai người lên núi hái rau dại mới trở về, đột nhiên thấy Dương Lăng đang đứng bên bờ sông. Hàn Ấu Nương vui mừng, hí hửng bước nhanh tới trước nghênh đón. Mã Liên Nhi vừa đuổi theo mấy bước, chợt bước chậm lại, ngẫm nghĩ cẩn thận lời của Hàn Ấu Nương: “Tướng công, chàng đang chờ ‘bọn thiếp’ trở về sao?”

Những ngày gần đây, Hàn Ấu Nương tỏ ra thân cận với nàng, Mã Liên Nhi cực kỳ thông minh, lẽ nào không thấy được? Nàng chỉ biết Dương Lăng thu xếp để Ấu Nương đến chiếu cố cho mình, nhưng bây giờ càng lúc nàng càng cảm thấy dường như Hàn Ấu Nương đang tỏ ý muốn xúc tiến cho mình và Dương Lăng. Nàng ấy… nàng ấy thật sự vui lòng để mình bước vào nhà họ Dương ư?

Vừa nghĩ đến khả năng này, trống ngực Mã Liên Nhi không khỏi đập thình thịch. Nàng biết quá rõ vị trí của Ấu Nương trong trái tim của Dương Lăng, nếu như nàng ấy chịu gật đầu, vậy chuyện này sẽ rất có hi vọng.

“Mình thật là ngốc! Nếu trực tiếp đến với tên ngốc Dương Lăng này không được, sao mình lại không nghĩ ra cách lấy lòng Ấu Nương nhỉ? Sau này khi thật sự trở thành tỷ muội rồi, mình cũng phải được nàng ấy cho phép mới có thể gần gũi y. Đã vậy, bây giờ nên đối xử tử tế với nàng ấy mới được.”

Hàn Ấu Nương lại không phát hiện sơ hở trong lời nói của mình. Nàng nở một nụ cười rực rỡ, chạy đến bên cạnh Dương Lăng, giơ chiếc giỏ lên như thể muốn hiến dâng bảo vật, nói:
- Tướng công, thiếp ngắt được rất nhiều rau dại nè. Chàng xem, nào là nấm tai mèo, rau tề, rau khúc (2). Còn nữa, chàng xem, quả thù lù này to không? Để thiếp rửa rồi chàng nếm thử, ngon lắm đó.

(2) Rau tề (tề thái, cỏ tâm giác, địa mễ thái): tên một thức cỏ, hoa trắng, khi còn non ăn được, dùng làm thuốc giải nhiệt, lợi tiểu, cầm máu...
Rau khúc (thử khúc thảo, thanh minh thảo): Tên một loài rau dại. Hằng năm, cứ tới mùa xuân, cây lại xuất hiện, mọc lên khắp nơi, thường hay gặp nhất ở trên các bãi hoang, bờ ruộng, bờ cát ven sông... Rau khúc vừa làm bánh được vừa làm thuốc chữa bệnh rất tốt.

Hàn Ấu Nương phấn khởi đặt chiếc giỏ xuống đất, chọn quả thù lù to nhất rồi chạy ra bờ sông rửa. Lúc này, Mã Liên Nhi cũng đã đi đến, nhìn Dương Lăng cười một cách thiếu tự nhiên.

Dương Lăng nhìn nàng. Mã Liên Nhi toàn thân mặc đồ trắng, cách ăn mặc đã giản dị hơn nhiều so với trước kia. Ánh nắng ấm áp của ngày xuân chiếu lên khuôn mặt mịn màng thanh tú của nàng, tựa như trong suốt. Trên chiếc eo thon thon khiến người ta hận không thể siết lấy kia, chiếc đai lưng phe phẩy theo gió núi, như thể chỉ khẽ giật nhẹ sẽ lột trần tấm thân ngọc ngà ấy. Khoé miệng Dương Lăng méo xệch: “Gần đây mình bị sao thế nhỉ? Sao cứ có những suy nghĩ không đứng đắn vậy ta?”

Không gặp hơn một tháng, Mã Liên Nhi cũng không thay đổi nhiều lắm. Trên môi vương những sợi lông măng nhỏ bé. Vẫn là bộ dáng thiếu nữ còn mang vẻ ngây thơ, nhưng cõi lòng từng trải và chín chắn khiến nàng như lột xác, giống như một đoá thược dược mảnh mai, yểu điệu lung linh.

“Cô ấy đã gầy đi nhiều!”

“Y đã cường tráng hơn nhiều!”

Mã Liên Nhi thật sự giống như Ấu Nương đã nói, chiếc cằm thon lại, đôi mắt thật to, khuôn mặt trái xoan ấy đã sắp đuổi kịp hình ảnh hồ ly tinh trong phim hoạt hình rồi, vẻ yếu ớt gầy ốm càng tăng thêm phần quyến rũ. Mà Dương Lăng vốn là một kẻ văn nhã, song cái vẻ phong độ của kẻ trí thức ấy lại có phần nho nhã yếu đuối. Hôm nay lưng của y đã thẳng hơn, cặp mắt đã đen và sáng hơn, cặp lông mày cũng đã trở nên khí khái bừng bừng.

Hiện tại y mặc một chiếc áo đơn màu xanh, răng trắng môi hồng, mắt sáng như sao, hệt như một chàng công tử phong lưu văn nhã. Gò má vốn tái nhợt cũng hồng hào lên rồi. Vừa nói đến hồng thì đã thấy hồng rồi, ừm… rất là… hồng!

Cảm thấy chóp mũi chợt lạnh, Dương Lăng thuận tay quẹt qua, không ngờ máu đỏ cả tay. Ơ… kém dữ vậy sao? Gần đây y cảm thấy mũi hay bị khô, còn tưởng là do trong nhà đốt giường đất, hoặc vì mùa xuân khí hậu khô hanh. Nhưng bây giờ nhìn thấy người ta lại chảy máu mũi, chuyện này coi bộ khó giải thích à!

Y lúng túng đưa tay lên mũi giữ chặt. Máu vẫn đang chảy, đã tràn qua miệng, cho nên y không dám mở miệng. Mã Liên Nhi sợ hãi la lên:
- Dương đại ca, huynh chảy máu kìa!

Bất đắc dĩ Dương Lăng đành đảo mắt ra hiệu đã biết, cái này trông giống như bọn họ đang có bất hoà không thèm nói chuyện với nhau. Vừa ngước mắt lên thấy vậy, Hàn Ấu Nương liền cuống quít chạy tới hỏi:
- Chàng bị sao vậy? Mau ngửa cổ lên đi!

Nói đoạn nàng dùng bàn tay còn ướt vuốt trán giúp Dương Lăng.

Dương Lăng ngửa đầu nhìn trời, bầu trời thật trong xanh, mây trắng cuộn chung quanh, giống như màn tơ, dằng dặc nhớ đất trời…

Đang thầm lặng hỏi ông trời, đột nhiên ai đó nhét một vật mềm mại vào trong tay, y thoáng sờ qua, thì ra là một chiếc khăn nhỏ. Y vội chụp lên mũi, lau máu. Chiếc khăn tay trắng tinh toả ra một mùi hương nhàn nhạt.

Đây không phải là mùi của Ấu Nương. Mùi hương của Ấu Nương là một mùi thơm dịu nhàn nhạt như hoa nhài, còn đây là mùi hương cực phẩm cao cấp. Dương Lăng máy động trong lòng: “Đây là khăn của Liên Nhi!”

Máu đã ngưng chảy. Dưới ánh mắt ân cần của hai tiểu mỹ nhân đang lom lom nhìn, Dương Lăng bối rối chạy ra bờ sông rửa mặt. Mã Liên Nhi và Hàn Ấu Nương nhìn y, lại nhìn nhau, rồi chột dạ quay đầu đi chỗ khác.

Mã Liên Nhi cắn môi, hơi chột dạ, hơi buồn cười, lại hơi đắc ý. Cách biệt một tháng, không ngờ vừa gặp lại nhau, y lại có thể xịt máu khi thấy mình.

Hàn Ấu Nương nhìn Dương Lăng với vẻ khẩn trương, nhủ thầm: “Hỏng rồi! Cha nói thứ rượu thuốc dùng nhân sâm, hổ cốt, nhung hươu, cẩu kỷ để pha chế này dùng để bồi bổ thân thể, song thuốc quá mạnh, gân cốt tướng công lại yếu, cho nên phải uống cẩn thận. Nhưng mình thấy tướng công thích uống, nên mỗi ngày rót nhiều thêm một chút, ai ngờ… ‘hư bất thụ bổ’ (3) thật rồi. Tướng công sẽ không có chuyện gì chứ?”

(3) Theo Trung y, cơ thể con bệnh quá yếu, được bồi bổ mà bệnh tình không những không thuyên giảm mà còn nặng hơn hoặc xuất hiện di chứng thì gọi là “hư bất thụ bổ” (yếu nên không tiếp thu chất bổ được).

Trông thấy ánh mắt Mã Liên Nhi đang liếc nhìn tướng công, Hàn Ấu Nương thầm nghĩ: “Đệ đệ không nói càn, quả nhiên Liên Nhi tỷ tỷ có tình ý với tướng công.”

Lời của tiểu đệ Mãn Thương tố cáo với nàng lại văng vẳng bên tai:
- Tỷ! Đệ nói cho tỷ nghe, khi bọn đệ đến cứu tỷ phu, thì thấy y đang cùng với vị tỷ tỷ xinh đẹp ở trong sở Dịch, à… là Liên Nhi tỷ tỷ đang thơm môi đó.

Hàn Ấu Nương khẽ thở dài, lại nhớ đến lời dặn của cha:
- Ấu Nương, chồng có cương thường của chồng, vợ có đức hạnh của vợ, lời thầy dạy con đã quên hết rồi sao? Người vợ ghen tuông sẽ bị ruồng bỏ đó! Con thử xem tự cổ chí kim có kết cục tốt nào cho nữ nhân được cưng chiều mà kiêu ngạo không?

Luật pháp nhà Minh chúng ta quy định bốn mươi không con mới được nạp thiếp. Nhưng đó là cho bách tính thường dân, không áp dụng được cho kẻ làm quan. Cô gia (con rể) tiền đồ rộng lớn lắm. Con gái à, rất nhiều phụ nữ bản triều chủ động nạp thiếp cho phu quân mình, ai cũng nói bọn họ hiền hậu rộng lượng. Con chớ nên để mang tiếng ghen tuông, sẽ lợi không bằng hại đấy!

Chúng ta xuất thân bần hàn, con có thể cưới được ông tú tài này là vì năm xưa ta đã cứu Dương lão gia khỏi miệng cọp, cho nên mới có thể kết thông gia với họ. Con là một đứa nhỏ tốt phúc, con hãy xem trong thôn chúng ta, làng trên xóm dưới có ai mà không hâm mộ con?

Hai con mắt tinh tường này của cha không nhìn lầm người đâu. Cô gia là người phúc hậu, đối đãi với con cũng rất tốt. Chỉ cần con tận tâm hầu hạ chồng, sớm ngày hạ sinh quý tử cho nhà họ Dương, thì cho dù tiểu thư nhà họ Mã của y có xinh đẹp hơn con, thân thế có tốt hơn con, vị trí của con cũng sẽ vẫn vững chắc, không ai có thể chiếm đoạt được.
Không được nổi máu ghen tuông! Theo cha nghĩ, nếu cô gia đã thích Mã tiểu thư rồi, chi bằng con chủ động giúp nàng ấy một chút, sau này thành tỷ muội rồi cũng sẽ dễ sống chung hơn, cô gia sẽ càng kính trọng con hơn. Như vậy không tốt cho con sao?

Hàn Ấu Nương thầm thở dài một tiếng. Đã làm vợ, ai lại không mong muốn chồng mình xuất chúng hơn người chứ? Nhưng có tiền đồ rồi thì lập tức chồng mình sẽ có thêm người khác. “Hối giáo phu tế thỏa phong hậu” (4), đời người có được thì cũng có mất thôi.

(4) Trong câu này chữ 觅 (mịch) viết sai thành chữ 妥 (thỏa), chữ 侯 (hầu) viết sai thành chữ 候 (hậu). Câu đúng là “hối giáo phu tế mịch phong hầu”.

Câu thơ này trích trong bài “Khuê Oán” (閨怨), tạm dịch “nỗi oán phòng khuê” của Vương Xương Linh thời Thịnh Đường, miêu tả tâm trạng u sầu của người thiếu phụ có chồng đang tham gia chinh chiến.

Nguyên văn
閨怨
王昌齡

閨中少婦不知愁, 春日凝妝上翠樓。
忽見陌頭楊柳色, 悔教夫婿覓封侯。

Hán Việt:
Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
Xuân nhật ngưng trang thượng thúy lâu
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giáo phu tế mịch phong hầu

Dịch thơ :
Cô gái phòng the chửa biết sầu
Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu
Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu
Hối để chồng đi kiếm tước hầu
Ngô Tất Tố


Ngày xuân trang điểm má hồng
Lên chơi gác Thúy, nàng không biết sầu
Đường xa, kìa liễu xanh mầu
Xui chồng đi giật tước hầu, dại chưa!
Vũ Hoàng Chương





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
17-10-2010, 04:58 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 46 – Niềm vui chốn khuê phòng

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Hieusol

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Thiếu nữ dù si tình đến mấy, nhưng giữa hai người lại chưa có thâm tình gì đáng kể, liệu nàng ta sẽ còn nhớ đến mình sao?




Quyển hai - Nhắm mắt lên kinh thành - Chương 46 Niềm vui chốn khuê phòng

Joker dịch- Hieusol biên

Dương Lăng đứng trong sân dùng muối và xơ mướp chà răng, hà hơi ra vẫn còn thoảng mùi rượu, đầu cũng hơi lâng lâng. Tối hôm nay Ấu Nương không cho y uống rượu thuốc mà thay bằng rượu Cao Lương tự ủ mua ở tiệm rượu nhỏ trên huyện, nên y đã uống thêm mấy chén.

Buổi chiều Ấu Nương luộc mớ rau dại, chưng một con gà nhỏ, mời Liên Nhi qua dùng bữa chung. Trời còn chưa tối Ấu Nương đã đưa nàng ấy về phòng, đến giờ vẫn chưa trở lại, cũng chẳng biết hai người bọn họ đang nói những chuyện gì. Dương Lăng cũng lười không muốn quan tâm.

Lúc cần chẳng quyết, nay phải lo toan. Tình hình thực sự của bản thân không thể kể cho bất kỳ người nào cả, dù gì cũng không thể giở lại cái câu dối trá "nội trong hai năm ắt chết" ra gạt thêm Mã Liên Nhi, nếu để Hàn Ấu Nương biết được, thế thì chẳng khác nào lạy ông tôi ở bụi này.

Dương Lăng đang chìm trong suy nghĩ, Hàn Ấu Nương đã bước vào trong sân. Miệng còn ngậm bọt muối, Dương Lăng gật đầu đón nàng:
- Đưa nàng ta về rồi à?

- Dạ!
Hàn Ấu Nương đáp lời, bước đến cạnh Dương Lăng, chần chừ không vào nhà. Súc miệng xong, Dương Lăng thấy nàng vẫn đứng cạnh mình, trên khuôn mặt không biết giấu diếm đó rõ ràng đang viết "có chuyện muốn nói", không nhịn được bèn mỉm cười trìu mến véo nhẹ mũi nàng, bảo:
- Đứng ngây ra đó làm gì? Đi, vào nhà thôi!

Dương Lăng cài cửa lại, ngồi xuống giữa phòng, đưa tay lấy bình trà. Cô nàng Ấu Nương chu đáo không biết đã thay trà tự khi nào, bây giờ vừa khéo đủ ấm để uống. Tường đặt ghế dựa là kiểu tường vách đôi được hun khí nóng bởi hệ thống sưởi chung trong sở dịch, vách tường được giữ ấm suốt ngày nên gian phòng rất ấm cúng.

Y vừa đưa mắt nhìn, Hàn Ấu Nương liền luống cuống đan hai ngón tay mảnh khảnh lại vào nhau, đảo mắt nhìn khắp phòng mấy vòng, rồi trộm liếc y, vẻ do dự. Thấy vậy,
Dương Lăng lấy làm thú vị, bụng bảo dạ: "Ấu Nương trước giờ chưa từng có vẻ mặt khó xử như vậy, chuyện gì khiến nàng ấy khó mở miệng như vậy chứ? À, đúng rồi, hình như nghe nhạc phụ nói đang xoay sở tiền nong làm mối cho Hàn Uy cưới vợ. Chẵng nhẽ là muốn mượn tiền?"

Khi mấy mươi cái miệng người họ Dương tới đây ăn uống, nàng đã không chút keo kiệt chu cấp cái ăn cái mặc cho bọn họ, còn luôn lo lắng mình sẽ trách móc nàng không chăm sóc chu đáo người nhà họ Dương. Lần này nàng lại đứng ra mượn tiền cho nhà mẹ đẻ, thật làm khó cho nha đầu này quá rồi.

Dương Lăng không nỡ để nàng khó xử thêm, bèn chủ động hỏi:
- Ấu Nương, có phải nàng có chuyện muốn nói không?

- Á?
Cơ thể Hàn Ấu Nương thoáng run lên, nàng hoảng hốt lắc đầu:
- Phải, á, không phải, ưm... Trà nguội rồi phải không? Để thiếp đi đun thêm nước.

Dương Lăng phì cười, nói:
- Nàng thật! Có phải là đại ca thiếu tiền để cưới vợ không? Nghe nói y và vị Trương cô nương cùng chạy nạn vào thành đó rất là thân thiết à. Thiếu tiền lo liệu hôn sự phải không nào? Mấy chuyện này nàng không cần hỏi ta, nhà chúng ta do nàng làm chủ, thiếu bao nhiêu nàng cứ lấy là được.

- Không phải mà!
Hàn Ấu Nương dẩu môi, ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, nguýt yêu y:
- Không phải vì chuyện của nhà ngoại. Cha đã nói rồi, anh cả muốn cưới vợ thì phải tự mình kiếm tiền để cưới, tướng công tìm việc làm cho cha và hai anh là đã quí lắm rồi.

- Xem nàng nói kìa!
Dương Lăng cười ha hả:
- Ta phải cảm kích nhạc phụ đã cho ta cô vợ đáng yêu, dịu dàng như vầy mới phải chứ! Lại còn phải cảm kích đại ca, nhị ca đã sinh ra sớm hơn nàng nữa, bằng không thì chừng nào mới đến phiên chúng ta xứng đôi như thế này? Có phải không hử, cô vợ bé nhỏ của ta?

Thấy dáng vẻ đáng yêu của nàng, Dương Lăng không chế ngự được lửa dục dâng trào, quên sạch mình đang muốn hỏi gì. Y thích chí ghé sát qua ôm lấy bờ vai thơm của Ấu Nương, hôn đánh chụt lên má nàng.

Hàn Ấu Nương thẹn thùng nhích vai tránh ra, dài giọng trách:
- Tướng... công..., mùi rượu nồng quá à!

- Giỏi nhỉ! Dám chê miệng tướng công có mùi rượu! Ta phải chấp hành gia pháp, phạt nàng đứng phơi mông trong sân.
Dương Lăng mượn rượu giả khùng.

Không biết có phải do bị Ấu Nương đùa bỡn không, y chỉ cảm thấy lửa dục đang thiêu đốt, nhất thời không kìm được mà thi triển ma thủ lên bộ ngực trắng mềm và bờ mông căng tròn của Ấu Nương.

Hàn Ấu Nương ngượng đến nhũn cả người. Nàng uốn éo tấm thân hòng tránh né sự tập kích của y, yêu kiều lí nhí trong hơi thở gấp:
- Bỏ chàng đi! Ở đâu lại có... có kiểu phạt vợ mình như vậy chứ?

Nàng quẫn bách đấm nhẹ lên người Dương Lăng, ánh mắt chợt sáng lên; tưởng tượng nếu như tướng công phạt mình như vậy thật... Lập tức bị ý nghĩ bạo dạn của mình làm cho ngượng chín mặt, nàng lấy tay che mặt, giậm chân, lắc vai:
- Tướng công nói bậy quá à, thật là ngượng chết đi...

Vẻ khêu gợi hấp dẫn đầy nữ tính đó khiến Dương Lăng hưng phấn không thôi, hận không thể lập tức "làm thịt" Ấu Nương ngay tại chỗ. Y hít vào một hơi, nâng tấm thân mềm mại của Ấu Nương đặt lên gối mình, hôn phớt lên má nàng một cái, rồi chủ động trở về chủ đề chính:
- Được rồi, tướng công không làm loạn nữa. Nói cho ta nghe, nàng muốn nói gì với tướng công vậy?

Hàn Ấu Nương thẹn thùng liếc y cười, dí dỏm:
- Tướng công đòi chấp hành gia pháp mà! Thiếp sợ quá nên quên hết rồi.

Dương Lăng thấy nàng cười đỏ cả mặt, mắt ngọc đong đưa, vẻ nũng nịu rất quyến rũ, tức thời lửa dục vừa mới dằn xuống lại bùng lên, bên dưới cơ thể lập tức cứng như thép.

Hàn Ấu Nương đang khúc khích cười trêu tướng công, bờ mông tròn lẳn hoạt bát vừa hơi dịch đi bỗng chạm phải một vật cứng như khúc gỗ. Thoạt tiên nàng giật mình, sau đó liền như một con thỏ trúng tên, nhảy vụt ra khỏi lòng Dương Lăng, hai tay bưng lấy khuôn mặt đỏ bừng, nóng như lửa, lắp bắp:
- Tướng công, chàng... chàng... thiếp... thiếp... , Ấu Nương không trêu... Không trêu chàng nữa.

Dương Lăng cười khổ. Y cảm thấy mũi khó chịu như thể lại sắp chảy máu, bèn vội vàng cầm lấy chén trà đã nguội uống cạn một hơi, hắng giọng vài tiếng, rồi ra vẻ đạo mạo trang nghiêm:
- Tiểu nha đầu, vậy còn không mau kể đi. Rốt cuộc là muốn nói chuyện gì với ta?

Hàn Ấu Nương hé ngón tay, trộm liếc Dương Lăng, rồi mới từ từ bỏ tay xuống, giọng thẹn thùng pha lẫn rụt rè:
- Tướng công! Thiếp... Thiếp biết Liên Nhi tỷ rất thích tướng công. Ấu Nương nghĩ... Nếu như tướng công đồng ý, hôm nào thiếp sẽ nói chuyện với Liên Nhi tỷ tỷ. Chúng ta sẽ... sẽ rước nàng ấy về. Tướng công nhân phẩm xuất chúng, dưới gầm trời tướng công là giỏi nhất, cũng coi như chúng ta không làm nhục mặt người ta.

Chợt đổi sắc mặt, Dương Lăng nhíu mày hỏi:
- Nàng nghe ai nói vậy? Là... Mãn Thương nói à?

Hàn Ấu Nương ngập ngừng:
- Tướng công! Ấu Nương sớm đã... đã nghe người ta nói rồi. Nữ tử rất coi trọng danh tiết đó. Thiếp nghe nói Mã đại ca muốn rời đi cùng Nam quân, Liên Nhi tỷ tỷ không danh không phận ở lại nơi này cũng không thích hợp. Nháy mắt sẽ qua hạn cúng thất tuần rồi, nếu bây giờ không rước người ta về, vậy sẽ phải chờ thêm ba năm nữa. Nếu chàng đồng ý, chúng ta sẽ cho nàng một danh phận trước, khi đó cho dù có rước về chậm một chút cũng không sao.

Thời xưa, đối với con gái, cha mẹ tạ thế là đại tang, theo quy định sẽ phải chịu tang ba năm. Nhưng có vài trường hợp có thể châm chước được, người xưa cũng không quá cứng nhắc. Ví dụ như chuyện tòng quân của Mã Ngang, hay bản thân là đại quan trọng yếu của triều đình, vì đại sự quốc gia cần kíp được vua đích thân giữ lại, thì gọi là "Đoạt tình".

Trong dân gian, cũng có một tình huống, đó chính là: cha mẹ mất đi trong vòng bảy bảy bốn chín ngày thì cho phép kết hôn, dân gian gọi nó là "Xung hỷ". Tục ngữ có câu "Thiên quan tòng môn xuất, kỳ gia hảo hưng vượng"(1), nghĩa là vì sự ra đi của người chết đem đến sự ra đời của thêm nhiều sinh mạng mới cho gia tộc, con đàn cháu đống, kế tục hương hoả dài lâu, như vậy không bị xem là bất hiếu.

Dương Lăng yên lặng nhìn Ấu Nương một hồi lâu. Cặp mắt trong veo của nàng có chút tủi thân, chút ghen tuông, song nhiều hơn lại là sự lo lắng cho Mã Liên Nhi và sự tín nhiệm vô điều kiện đối với y.

Dương Lăng chậm rãi lắc đầu, đoạn nói:
- Đừng nghe người khác nói xàm, nàng không cần phải dây vào chuyện vớ vẩn đó. Ta đã tìm hiểu rồi, tháng tư hằng năm sẽ có một đoàn buôn hàng da từ quan ngoại ghé qua Kê Minh xuống phương nam. Đến lúc đó ta sẽ thu xếp để bọn họ giúp đỡ Mã tiểu thư đưa linh cữu xuôi nam, trở về cố hương là được.

Hàn Ấu Nương tròn mắt, thắc mắc:
- Nhưng mà... Chàng và nàng ấy...

Nhẹ nhàng hôn lên chiếc môi anh đào không cho nàng nói tiếp, đoạn lướt miệng đến bên tai nàng, Dương Lăng khẽ nói:
- Giữa ta và nàng ấy không phức tạp như nàng tưởng tượng đâu. Ngoan đi, thời gian trôi qua tự nhiên sẽ không còn có ai nhắc đến nữa, Liên Nhi tiểu thư cũng sẽ không còn nhớ đến những chuyện này, hiểu không?

- Dạ!
Hàn Ấu Nương ngoan ngoãn khép miệng lại. Tuy nàng không rõ những gì tướng công nói lắm, nhưng hàng chân mày lại hiện lên vẻ nhẹ nhõm và vui sướng.

Vốn chỉ đòi voi, lại được thêm tiên, còn có gì để mà không vui chứ?

***************************

Dương Lăng nằm trên giường, đầu gối lên tay, hai mắt nhắm hờ, thầm tính: "Ấu Nương cũng biết chuyện giữa mình và Mã Liên Nhi rồi, xem ra người biết chuyện này thật không ít. Tuy nhiên, đến khi Mã Liên Nhi đưa linh cữu về Kim Lăng, hết thảy mọi việc tự nhiên sẽ tan theo mây khói, từ đây trở đi mỗi người một phương. Thiếu nữ dù si tình đến mấy, nhưng giữa hai người lại chưa có thâm tình gì đáng kể, liệu nàng ta sẽ còn nhớ đến mình sao?”

Chắc chắn qua một hai năm, nàng ấy sẽ buông xuôi đoạn tình cảm này, bắt đầu cuộc sống mới. Dương Lăng tin tưởng vào điểm này, y vẫn chưa "tự sướng" đến độ cho rằng một khi thích y thì phụ nữ sẽ "không bao giờ chùn bước, trọn đời không quên". Y cũng chỉ là một thằng đàn ông bình thường, không có sức hấp dẫn đến cỡ đó.

Cảm thấy gò má nhồn nhột, Dương Lăng mở mắt thấy Ấu Nương đang ngồi bên cạnh, dịu dàng nhìn y. Mái tóc dài hơi ẩm ướt, chạm vào mặt lành lạnh. Tiểu nha đầu vừa mới tắm rửa xong.

Khuôn mặt xinh xắn thuần khiết khuất sau mái tóc vẫn còn phơn phớt hồng sau khi tắm. Hàng mi mềm, đôi mắt ươn ướt, quyến rũ không nói lên lời. Những tâm tư phiền não trong lòng Dương Lăng lập tức hóa thành hư không. Y thở dài, bắt đầu chuyển sang cân nhắc nên làm thế nào để phá vỡ cục diện bế tắc hiện nay. Một người con gái xinh đẹp mỹ miều phơi bày ngay trước mắt như vậy, song chỉ có thể nhìn mà không thể "ăn", thật khó chịu muốn chết à.

Chẳng biết vì sao, Hàn Ấu Nương mặt mày hớn hở, còn mang vẻ nhu mì khó tả, hình như... còn đang cười lấy lòng? Dương Lăng chớp chớp mắt, nghi ngờ mình đã nhìn lầm.
Nàng mặc áo ngắn, nằm sấp trên giường, kề sát bên Dương Lăng, thả dài mái tóc về phía trước, tươi cười bắt đầu kể chuyện linh tinh với y:
- Tướng công, hôm nay thiếp và Liên Nhi tỷ tỷ lên núi hái rau, thấy một cây hòe già phải đến mấy trăm năm tuổi mà hai ngày trước đã bị sét xuân bổ cháy đó.

Thân thể nhỏ nhắn xinh xắn mê người, bộ ngực mềm mại vô ý chạm vào khuỷu tay Dương Lăng. Ngửi thấy huơng vị xử nữ tươi mát từ người nàng, phần dưới mới vừa "nguội" của Dương Lăng lại không thể kìm chế bắt đầu xuất hiện phản ứng "căng phồng".

Thân thể mềm mại của Hàn Ấu Nương lại dựa sát hơn, kề mặt trên ngực y, hào hứng kể chuyện:
- Bọn thiếp nghe đại thúc sống trong núi nói, đó là bởi vì cây hoè già muốn thành tinh, nên Lôi thần đã nổi giận đó. Nếu là trước kia thì thiếp sẽ còn bán tín bán nghi, nhưng mà tướng công cũng đã gặp được thần tiên, thiếp cũng không dám không tin, nên đã kéo Liên Nhi tỷ tránh đi. Tướng công, nếu như cây hoè già đó bị sét đánh không chết, có thật nó sẽ biến thành yêu tinh không?

"Nha đầu à, ta không biết là cây hoè già có biến thành yêu tinh hay không, ta chỉ biết là nàng sắp biến thành yêu tinh đến nơi rồi! Còn ta... ta cũng đã chuẩn bị khẩu 'đại pháo trần gian' rồi đó, biết không hử? Tiểu yêu tinh!" Dương Lăng nghiến răng nghiến lợi thầm nghĩ.


(1) Nguyên văn:
千棺从门出, 其家好兴旺. 子存父先死, 孙在祖乃丧

Hán Việt:
Thiên quan tòng môn xuất,
Kỳ gia hảo hưng vượng.
Tử tồn phụ tiên tử,
Tôn tại tổ nãi táng.

Nghĩa là:
Nghìn quan tài qua cửa,
Nhà đó hẳn có thời.
Con còn cha mất trước,
Cháu sống ông đi rồi.
(Trích từ Ỷ Thiên Đồ Long ký - Hồi 17)




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
20-10-2010, 10:06 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 47 - Không gần nữ sắc

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Hieusol

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- Tướng công, như thế... thật sự không tính là gần nữ sắc ư?

- Ờ... Đương nhiên! Tướng công là kẻ đọc sách mà!




Quyển hai - Nhắm mắt lên kinh thành - Chương 47 Không gần nữ sắc

Dương Lăng đang bị lửa dục thiêu đốt, tấm chăn bất tri bất giác lặng lẽ dựng lên một cây cột nhỏ. Nhưng Hàn Ấu Nương chưa trải sự đời, đối với mấy chuyện này cái hiểu cái không, hơn nữa thường ngày nàng cũng hay bám dính bên người Dương Lăng, cho nên không hề biết lúc này vì uống rượu tráng dương hằng ngày mà tinh trùng Dương Lăng đã chạy lên tới não rồi.

Vẫn cố đè nén lòng ham muốn Ấu Nương, Dương Lăng khổ sở cười, đáp:
- Ừm! Biết đâu được, có thể thành tinh đấy.

Tham lam rờ rẫm khuôn mặt trơn nhẵn của Ấu Nương, y cố ý ngáp to một tiếng, rồi bảo:
- Vừa mới tắm xong, nàng hãy mau đắp chăn lên rồi ngủ đi kẻo nhiễm lạnh.

- Không, bây giờ nóng quá à!
Con người có thể thích nghi với hoàn cảnh. Sự nuông chiều và dung túng của Dương Lăng đã khiến bản tính của Hàn Ấu Nương đều phát huy ra hết, không còn vì tướng công là ông tú tài mà lúc nào cũng bị gò bó, mất tự nhiên. Nàng như một đứa trẻ đang làm nũng, nằm sấp trên giường, co hai cái chân nhỏ nhắn đong đưa trên không:
- Sở Dịch vẫn đốt giường sưởi mà. Sáng nào thức dậy cũng phải uống nhiều nước hết, miệng khô rồi nè. Lát nữa thiếp thay chăn mỏng. Tướng công! Chàng có muốn thay không?

Dương Lăng rướn người dậy, dồn gối cao lên một chút, đoạn đáp:
- Không cần, ”xuân che đông đậy”, nàng hiểu không? Thay chăn sớm sẽ bị cảm mạo đó. Nàng cũng đừng nên thay vội, đợi thêm vài bữa nữa đi!

Hàn Ấu Nương bĩu môi:
- Nóng vậy mà tướng công còn chưa chịu thay. Tối ngủ chàng hay đạp chăn ra, thiếp vẫn phải đắp lại cho chàng nhiều lần lắm đó.

Chải tóc xong, nàng khéo léo vén lên cao để lộ cần cổ xinh đẹp. Đưa mắt dõi theo tà áo hở lệch, y bắt gặp làn da trơn mượt của bầu ngực. Quả đào non bé xinh xinh đã bắt đầu tạo thành đường cong tuyệt mỹ.

Dương Lăng nhìn chăm chăm, không nỡ thu lại ánh mắt, rồi nhìn dọc xuống xuôi theo tấm lưng nàng. Một đôi chân trắng nõn nhỏ nhắn đang xoè ngón đong đưa trên không, làm co giãn chiếc váy lót của nàng, thi thoảng hiện rõ đường cong của bờ mông tròn trịa khoẻ khoắn.

Tiểu cô nương mới mười bốn, mười lăm, tướng mạo vẫn còn hơi giống một quả nho xanh, nhưng cặp mông tròn lẳn ấy đã có hơi hướm xinh đẹp của phụ nữ rồi. Theo cách nói của các cụ, mông như vậy sẽ đẻ tốt, Dương Lăng "xấu xa" suy nghĩ. Dạo gần đây y thường hay có những ý nghĩ xấu xa.

Thân trên của Ấu Nương thon thả, đáy thắt lưng ong, nhưng mông và đùi lại đã nẩy nở như một người phụ nữ trưởng thành. Theo hiểu biết của Dương Lăng, thân dưới phát dục sớm cho biết sau này nàng sẽ không lớn lên theo hướng cao gầy, mà hẳn sẽ vẫn duy trì vóc dáng nhỏ nhắn đáng yêu này.

Trông thấy ánh mắt bốc lửa của trượng phu, Hàn Ấu Nương thẹn thùng bỏ chân xuống, khuôn mặt càng thêm ửng hồng. Nàng vẫn chưa biết cách phơi bày tư thế khêu gợi để trêu chọc đàn ông, nhưng động tác và dáng điệu ngây thơ thuần khiết này lại càng quyến rũ mê người hơn.

Không nhịn thêm được nữa, Dương Lăng thở gấp, tung chăn ra, xoay vai Ấu Nương lại. Trong tiếng kêu dịu dàng, Ấu Nương khẽ trở người ngả vào lòng y. Nàng tràn trề hạnh phúc tựa vào ngực y, hưởng thụ những cái vuốt ve mơn trớn của phu quân.
Những lúc hai người nằm trên giường tán gẫu chuyện gia đình, Dương Lăng vẫn thường táy máy tay chân nên Ấu Nương cũng dần dần quen với những vuốt ve của y. Hôm nay cảm kích phu quân đã từ chối nạp thiếp, Hàn Ấu Nương càng để cho y thoả sức vuốt ve, không hề trái ý.

Dương Lăng ôm chiếc eo thon của nàng, vuốt ve bộ ngực non nớt cùng bờ mông đầy đặn săn chắc, rất đàn hồi của nàng. Đường cong mềm mại mượt mà ấy dường như có thể tạm xoa dịu dục vọng của y.

Ấu Nương nhắm mắt lại, ngất ngây trong lòng trượng phu, cánh mũi khẽ phập phồng. Bỗng nhiên Dương Lăng đưa tay mò vào trong quần lót của nàng, bờ mông săn chắc, trơn tuột bị y bóp mạnh. Làn da mịn màng trơn bóng tựa như một dòng suối chảy xuôi, lờ mờ toát ra sức sống tràn trề của tuổi thanh xuân.

Hàn Ấu Nương cảm giác động tác của trượng phu hôm nay có chút khác với ngày thường. Nàng thẹn thùng cụp mi, cản:
- Tướng công, chàng đừng... đừng... mà!

Tinh trùng lên não có thể khiến cho đàn ông có thể nói những lời bình thường không thể nói, làm những chuyện bình thường không thể làm, hơn nữa còn có thể ra sức điều động tế bào não bộc phát cơ trí. Nhân loại tiến bộ là nhờ theo đuổi dục vọng mà. Lúc này, Dương Lăng chợt loé sáng kiến, nảy ra một biện pháp giải quyết cho nan đề của mình.

Y chẳng nói chẳng rằng ôm chặt lấy Ấu Nương, nhẹ giọng bảo:
- Ấu Nương! Ngày đó ta đã uống rượu, cũng buồn ngủ rồi, lại thêm vì nàng đang khóc nên ta hơi sốt ruột, có vài điều vẫn chưa nói kịp cho nàng hay.

- Ừm?
Hàn Ấu Nương mở mắt ra, nhìn sang Dương Lăng dò hỏi.

Mặt giả thần giả quỷ, Dương Lăng ra vẻ nghiêm túc nói:
- Thành hoàng còn nói với ta rằng, nếu như mời hoà thượng làm phép rồi đeo một tượng phật đã được khai quang (1) trên người thì... thì cũng sẽ không ảnh hưởng đến chuyện sinh hoạt vợ chồng.

- Ồ!?
Khoé miệng Hàn Ấu Nương hơi nhếch lên. "Sinh cho phu quân một đứa con, thừa kế hương hoả nhà họ Dương, thì con sẽ không sợ mất đi sự yêu thương của hắn", lời cha nói bỗng lướt qua đầu nàng. Trải qua chuyện của Mã Liên Nhi, nàng hơi có cảm giác không an toàn, cho nên ngay lập tức nghĩ đến vấn đề quan trọng cần đưa vào lịch sinh hoạt thường ngày.

Nàng phấn khởi siết chặt vòng tay quanh ôm cổ trượng phu:
- Kê Minh Dịch có miếu tự nhưng không có hoà thượng. Chúng ta sắp xếp thời gian đi Phủ thành một chuyến được không? Tìm một vị đại sư...

“Được, đương nhiên là được rồi, nhưng còn bây giờ thì sao đây? Tên đã lên dây cung rồi, không thể không bắn đâu à!” Uống rượu bổ hơn một tháng nay, bây giờ quả thật Dương Lăng đã như thác lũ tràn bờ, đại hồng thủy chứ chẳng chơi à! Dương Lăng ậm ờ:
- Được! Được! Có thời gian chúng ta sẽ đi Phủ thành một chuyến.
Vừa nói y vừa lật mình đè lên người Ấu Nương.

Thân thể non nớt của Ấu Nương phối hợp một cách hoàn mỹ với y; đùi, eo và tay đều tràn trề sự mềm dẻo, không chỗ nào không đàn hồi, không chỗ nào không linh hoạt tự nhiên. Đó là kết quả của việc Ấu Nương đã chạy nhảy, leo trèo trong rừng từ nhỏ.

Lửa dục của Dương Lăng bị thân thể trẻ trung tràn trề sức sống của nàng bùng thổi. Y vứt bỏ gánh nặng trong lòng, ôm chầm lấy tấm thân tuyệt mỹ của Ấu Nương, tuỳ ý nhấm nháp đôi môi anh đào ngọt ngào và mềm mại của nàng.

- Tướng công! Bây giờ vẫn chưa được. Bây giờ... đừng...
Hàn Ấu Nương vừa thích vừa sợ, hoảng loạn đẩy người y ra.

- Yên tâm nào vợ yêu, tướng công... Hôm nay tướng công không đòi thân thể của nàng, sẽ không tính là gần nữ sắc đâu!
Dương Lăng thở hổn hển, đành miễn cưỡng lùi bước mà cầu xin.

Hàn Ấu Nương ngạc nhiên chẳng hiểu, chớp chớp đôi mắt xoe tròn long lanh bóng nước, bàn tay nhỏ bé đã bị Dương Lăng kéo vào trong quần lót của y.

Một tiếng "á" khẽ cất lên, Ấu Nương rút mạnh tay về như thể bị ong chích. Nhưng Dương Lăng đã giữ chặt lấy cổ tay nàng, tách từng ngón ra, để nàng nắm lấy cái vật cứng ngắt, nóng hổi đang kích động ở trong đó.

Cả người Hàn Ấu Nương run lên vì căng thẳng, nàng nhắm tịt mắt, người cứng đờ, không dám nhúc nhích. Dương Lăng dẫn dắt tay nàng vuốt lên vuốt xuống, rồi hôn nhẹ vành tai xinh xắn của nàng, nhỏ giọng:
- Cứ như vậy, hiểu không?

Hàn Ấu Nương hé một con mắt nhìn y, rồi lại lập tức nhắm nghiền lại, mặt đỏ bừng như lửa, lắp bắp:
- Thiếp... thiếp... ưm..., nhưng... vậy... như vậy không tính là gần nữ sắc à?

- Ừm, không tính!

- Thật ư?

- Đương nhiên rồi! Tướng công là người đọc sách mà!

- Ờ...

- Nhẹ quá... nàng làm mạnh thêm chút đi.

- Ờ...

- Ui da... Nàng đang nhổ cải hay sao vậy? Nhẹ tay chút đi cưng.

- Ờ...

Ngoài cửa sổ ánh trăng sáng ngời. Trong phòng, Dương Lăng đang kiên nhẫn phổ cập tri thức vỡ lòng cho Ấu Nương. May mắn gặp một học sinh giỏi tiếp thu rất nhanh, cho nên cuối cùng y cũng dần lạc bước thiên thai, bay bổng như tiên.

Hàn Ấu Nương ngồi xếp bằng bên cạnh Dương Lăng, mái tóc rối tung buông xoã, đôi mắt long lanh chứa đựng vẻ ngượng ngùng không thể che giấu. Đôi bàn tay thon thả trắng phau đang "chấp hành" chỉ thị của Dương Lăng, không ngừng hoạt động dưới chăn. Một lúc lâu sau nàng mới cố nén ngượng ngùng, tò mò hỏi:
- Tướng công, làm như vậy rất dễ chịu à?

Dương Lăng đang nhắm mắt say sưa tận hưởng vui thú. Bàn tay nhỏ bé của Ấu Nương đã mềm lại có sức, tuy nàng không biết kỹ thuật gì, nhưng lúc này y cũng chẳng lo, sau này cứ từ từ "chỉ dạy" thôi. Hiện tại động tác như vậy cộng thêm dáng vẻ loli của nàng đã đủ kích thích rồi, cho nên y chỉ khẽ "ừm" một tiếng.

Hàn Ấu Nương nghĩ ngợi một chút, rồi lại dừng tay, vẻ mặt nghiêm túc:
- Tướng công, thiếp vẫn cảm thấy... Như vầy thật không tính là gần nữ sắc sao?

“Nàng không biết là nói về mấy chuyện này cần phải có quá trình chuẩn bị hay sao? Sao bỗng dưng lại cứ muốn dò hỏi vấn đề này?” Dương Lăng khóc không ra nước mắt, chỉ đành cắn răng nhắc lại từng chữ một:
- Tin ta đi! Không sai đâu, bởi vì ta là kẻ đọc sách mà!

Hàn Ấu Nương rụt rè cười, không thắc mắc nữa. Vẻ mặt nàng rất chuyên tâm, dưới ánh đèn, khuôn mặt non nớt yêu kiều khoác lên thêm một quầng sáng màu hồng nhạt, ngũ quan xinh xắn toát ra vẻ dịu dàng đáng yêu.

Lưng Dương Lăng bắt đầu cứng lại. Thoáng nhìn Ấu Nương như một con sói nhìn mồi, y phát hiện đôi môi của nàng cong cong, mảnh mai, hàm răng hơi hé mở, mắt đẹp tựa mùa xuân. Ban nãy sao không phác giác ra nhỉ? Theo tính nết ngoan ngoãn vâng lời của Ấu Nương đối với y, nếu như dùng cái miệng chúm chím như quả dâu đó để..., Chỉ mới vừa nghĩ như vậy, cơn hưng phấn đang gần đạt đến đỉnh điểm của y liền không kiềm chế được mà phun trào.

Ấu Nương không hề có kinh nghiệm, nên vừa cảm nhận được phản ứng kích động của y, tay nàng càng hoạt động hăng hơn. Cơ thể sau khi mới phát tiết xong cực kỳ mẫn cảm, Dương Lăng vội nắm lấy cổ tay nàng, ngăn cô nàng vì lòng tốt mà "giày vò" mình.

Vừa hổn hển khôi phục thần trí xong, y thấy Ấu Nương đang tròn xoe đôi mắt nhìn mình tựa như còn chưa biết đã xảy ra chuyện gì, nhưng trong ánh mắt trong veo thánh khiết đó lại mang đầy vẻ hứng thú. Khi ánh mắt hai người vừa chạm nhau, đôi mắt ấy lập tức e thẹn dời đi.

- Tướng công, chàng đỡ rồi à?
Nàng cúi đầu thẹn thùng hỏi.

Dương Lăng khẽ vuốt chân nàng, "ừm" một tiếng. Hàn Ấu Nương bị nhột bèn rụt chân lại, sau đó vui vẻ mỉm cười như thể đã hoàn thành một nhiệm vụ vĩ đại. Như một cô mèo con mềm mại, nàng mãn nguyện ngả vào lòng Dương Lăng, khẽ nói:
- Tướng công, như thế... thật sự không tính là gần nữ sắc ư?

- Ờ... Đương nhiên! Tướng công là kẻ đọc sách mà!
Dương Lăng vừa dứt lời, Hàn Ấu Nương lại cười ngọt ngào:
- Tướng công, tim chàng đập nhanh quá!

Dương Lăng bật cười, y vừa cười vừa ôm chặt hơn cô vợ bé bỏng đáng yêu này vào lòng.

Y bỗng hiểu “chẳng qua Ấu Nương chỉ muốn trò chuyện với mình mà thôi”. Y âu yếm vuốt mái tóc mềm mại như tơ của Ấu Nương.

******************

Sáng sớm hôm sau, Dương Lăng đi đến kho sân lương thực ở gian hai, thấy hơn mười tên lính sắp hàng bên xe ngựa đang chờ sẵn trong sân, dẫn đầu chính là đội trưởng thân binh của Tất Xuân - Quan Thụ Anh. Dương Lăng vội vàng bước lên nghênh đón.

Trông thấy y, Quan Thụ Anh cười lớn chào:
- Dương dịch thừa dậy sớm thật! Vì trong quân cần lương thảo cho nên tại hạ đưa người đến để nhận thêm ba ngày lương thực.

Dương Lăng đã sớm nghe tin đại quân của Tất Xuân sắp sửa lên đường quay về Chiết Giang, cho nên y cũng đã tính toán để bọn họ nhận lương thảo theo từng hạn ngắn, phòng sau này còn phải nộp lên trên, vì thế quân dụng phải chia ra nhận nhiều lần. Hai người đang đứng tán gẫu trong sân, chợt thấy Mã Ngang tay cầm roi ngựa hầm hầm từ sân sau bước ra.

Y đoán Mã Ngang mới vào thăm em gái, chỉ không biết đã cãi nhau với Mã Liên Nhi chuyện gì mà vẻ mặt có phần không vui. Dương Lăng chắp tay:
- Mã huynh! Đã lâu không gặp!

Mã Ngang thấy y thì hơi ngạc nhiên, song cũng vội chắp tay đáp lễ:
- Dương dịch thừa!

Quan Thụ Anh cười hì hì, nói chen:
-_Mã lão đệ, sao sắc mặt khó coi quá vậy. Chẵng nhẽ... lệnh muội không đồng ý?

Mã Ngang gượng cười, đáp:
- Làm gì có chuyện đó! Đại nhân đã coi trọng, để mắt đến anh em của bọn đệ như vậy! Thường có câu ‘huynh trưởng như cha’, chuyện của em gái còn không phải do đệ làm chủ hay sao?

Quan Thụ Anh cười vờ vịt:
- Nói cũng phải, ta chúc mừng Mã lão đệ trước vậy! Sau này vẫn mong lão đệ chiếu cố nhiều một chút đấy!

Trên mặt hơi loé lên một tia đắc ý, Mã Ngang đáp:
- Không dám, chúng ta cùng là huynh đệ dưới trướng Tất đại nhân, nên chiếu cố cho nhau mới phải. À! Đệ còn phải đi chùa Phổ Độ một chuyến. Dương dịch thừa, lão Quan, ta đi trước đây!

Đưa mắt tiễn Mã Ngang vội vã rời đi, Dương Lăng thắc mắc:
- Quan huynh! Mã đại ca đang làm gì vậy? Sao lại gấp gáp vậy?

Quan Thụ Anh nói với giọng điệu kỳ quái:
- Đại nhân đã nhìn trúng em gái của Mã Ngang, có ý muốn nạp nàng ta làm thiếp. Có được cơ hội kết thân với Đô ty đại nhân, vị nhân huynh này đây dĩ nhiên cầu còn không được rồi. Có điều xem bộ dạng thua cuộc của y, quả hồng này không dễ cầm à. Xem ra đứa em gái đó của y cũng không phải là cô gái không có chủ kiến. Ha ha, muốn dùng em gái làm bàn đạp, xem ra cũng không dễ dàng gì!

Nhìn gã cười như vậy, cũng không ai biết là vì gã khinh thường Mã Ngang, hay là vì đố kỵ mình không có một cô em gái như hoa như ngọc để mình cũng một bước lên trời, trở thành ông anh vợ của đại quan tứ phẩm triều đình.

Dương Lăng nghe xong không khỏi thất kinh, "Tất đô ty đã nhìn trúng Mã Liên Nhi rồi sao?" Nghĩ đến tuổi tác của Tất đô ty và cha Mã Liên Nhi không hơn kém bao nhiêu, lại nghĩ đến cặp mắt tam giác có điều khắc bạc đấy của hắn, hơn nữa Mã Liên Nhi mới mười sáu mười bảy, xinh đẹp và ngây thơ, hình tượng "đầu bạc má hồng"(trâu già gặm cỏ non) lướt qua đầu, bất chợt y cảm thấy khó chịu.

Cự tuyệt Mã Liên Nhi xong, y cảm thấy mình đã nợ người ta một phần tình cảm, cho nên mới hao phí tâm sức lợi dụng chức quyền muốn giúp nàng đưa linh cữu về quê, coi như là đền bù. Nếu như nàng có thể tìm được một tấm chồng vừa ý, y cũng sẽ có thể trút bỏ được gánh nặng trong lòng. Ngờ đâu anh trai nàng lại tự dưng chen ngang, vì tiền đồ của bản thân mà muốn nàng làm thiếp một kẻ tuổi đã gần năm mươi. Chẳng nhẽ thật sự hồng nhan bạc mệnh, Mã Liên Nhi chỉ có số làm thiếp người ta thôi sao?

Trông bộ dạng đùng đùng bỏ đi của Mã Ngang, hiển nhiên là gã đã ăn phải quả đắng ở chỗ Mã Liên Nhi, cô em gái trong cứng ngoài mềm rồi. "Mình có nên đi thăm nàng ấy một chút không?" Dương Lăng tự hỏi, muốn xoay người song lại sững ra, dừng lại: "Dù sao đây cũng là chuyện của nhà người ta, mình lấy tư cách gì mà xen vào chứ?"

Thấy Dương dịch thừa nghe lời mình xong thì hơi thừ người, Quan Thụ Anh không khỏi cảm thấy kỳ quái. Tay lính xuất thân là thợ mổ heo này lại rất tinh ý, gã lập tức nhìn ra vài phần căn nguyên ngay: “Trông dáng điệu thế này, chẵng nhẽ Dương dịch thừa cũng thích Mã cô nương? Ừ nhỉ, bọn họ ở chung trong một đại viện, ’Thư sinh với tiểu thư sau vườn hoa’ mà, trong hí kịch vẫn thường hát như vậy.”

“Ha! Có kịch hay xem rồi. Tên tiểu tử Mã Ngang đó, khi trước gặp mình lúc nào cũng một điều Quan đại ca, hai điều Quan đại ca; bây giờ còn chưa có gì mà hễ mở miệng là luôn mồm lão Quan rồi, nghe chối tai bỏ mẹ. Nếu để nó lên làm anh vợ của Tất đại nhân, đạp lên mặt mũi mình, thì chắc mình sẽ biến mẹ nó thành tiểu Quan quá! Ừ, chuyện này mình phải tính toán một chút. Tiểu Dương này trượng nghĩa, giúp y cũng là giúp mình mà!"

Trong khi hai người đang mang những tâm sự riêng, một tên tiểu lại đã vội vội vàng vàng chạy đến, từ xa đã gọi vọng:
- Dịch thừa đại nhân! Người lần trước lại đến tìm ngài rồi, đang ở tiền thính (sảnh chờ) đợi ngài đó.

Câu nói không đầu không đuôi làm Dương Lăng ngây người, y hỏi dồn:
- Cái gì mà lần trước tới? Người nào vậy?

Tiểu lại bẩm:
- Chính là cái lão buôn thuốc tự xưng là họ Ngô ấy, lão nói là có chuyện gấp cần gặp đại nhân ngài đấy ạ!


(1) “Khai quang” là thỉnh một Pháp thân của Phật nhập vào tượng Phật; rồi sau đó coi tượng Phật như một thân thể hữu hình của ngài để thờ cúng.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
25-10-2010, 06:32 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 48 - Thăng quan mù mờ

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Hieusol

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Ngây người một hồi, Dương Lăng mới lắp bắp hỏi:
- Ngô đại nhân, chuyện này... Sao đột nhiên lại điều ta vào kinh làm quan vậy?




Quyển hai - Nhắm mắt lên kinh - Chương 48 Thăng quan mù mờ

Nghe nói Ngô thiên hộ đã đến, Dương Lăng biết có chuyện quan trọng nên lập tức cáo biệt Quan Thụ Anh, gấp rút chạy ngay đến sảnh chờ (tiền thính). Bên ngoài văn phòng của dịch thừa có hai người dong dỏng, trẻ tuổi lanh lợi đang đứng nghiêm. Dương Lăng đoán họ là tuỳ tùng của Ngô Kiệt nên cũng không để tâm, sải bước qua cửa. Y thấy Ngô Kiệt vẫn mặc bộ áo xanh, đang ngồi ngay ngắn trên ghế dựa, nhưng dáng ngồi ngay ngắn hôm nay lại không hề giống với vẻ khoan thai tự đắc trong lần gặp trước.

Dương Lăng chợt cảm thấy hồi hộp, xem bộ dạng này, nhất định Ngô Kiệt có chuyện trọng yếu mới đến, chẳng lẽ Cẩm y vệ đã xảy ra chuyện gì sao? Trông thấy y đi tới, Ngô Kiệt liền lập tức đứng lên. Thấy tên tiểu lại vừa nhắn tin cũng đang theo sau Dương Lăng, lão ta vội vàng nói:
- Dương đại nhân! Mời vào nội sảnh nói chuyện!

Thấy vậy, Dương Lăng phất tay để tên tiểu lại rời đi, rồi khép chặt cửa phòng, thấp thỏm theo Ngô Kiệt bước vào phòng trong. Y vừa định dùng lễ ra mắt của hạ quan với cấp trên thì bất ngờ Ngô Kiệt chợt xoay người, sụp gối quỳ đánh soạt:
- Hạ quan Ngô Kiệt, bái kiến Cẩm y thân quân Chỉ huy sứ ti Đồng tri (1) Dương Lăng Dương đại nhân!

Dương Lăng giật nảy người, lúng ta lúng túng nâng Ngô Kiệt dậy, vẻ bối rối không hiểu:
- Ngô đại nhân, ngài nói gì vậy? Đồng tri gì? Việc này... việc này…

Ngô Kiệt cố nặn bộ mặt tươi cười, vòng tay đáp:
- Chúc mừng đại nhân! Đề đốc Cẩm y vệ Trương đại nhân rất xem trọng tài học của Dương đại nhân, đã lệnh cho đại nhân lên chức Cẩm y vệ Đồng tri, thăng quan ngũ phẩm. Hạ quan vào kinh xử lý công vụ, đặc biệt tiếp nhận lệnh dụ này thông tin trước cho đại nhân.

Phải biết Ngô Kiệt là Thiên hộ Tòng ngũ phẩm, chỉ thua y nửa cấp nên không cần phải giữ lễ đến cỡ đó. Nhưng hiện thời Dương Lăng đã là quan viên kinh thành, tham gia bộ phận trung ương của Cẩm y vệ, lại mới chỉ có mười tám tuổi, tiền đồ vô cùng rực rỡ, Ngô Kiệt sao dám không ra sức bợ đỡ?

- Hả?
Dương Lăng càng thêm ngỡ ngàng, tù mù chẳng hiểu gì. Y không có chút khái niệm gì về chức quan Đồng tri, nhưng về ngũ phẩm thì lại biết rành. Ngây người một hồi, Dương Lăng mới lắp bắp hỏi:
- Ngô đại nhân, chuyện này... Sao đột nhiên lại điều ta vào kinh làm quan vậy?

Ngô Kiệt nghe mà thiếu điều muốn khóc: "Ngươi hỏi ta, ta biết hỏi ai đây? Ta chỉ là Cẩm y vệ thế tập (là con cháu của Cẩm Y vệ đời trước), khổ cực ba mươi năm mới lên được chức Thiên hộ. Trong số Cẩm y vệ được tuyển chọn từ dân gian mà thăng tiến từng bước cũng có kẻ đạt đến cấp bậc này, nhưng bọn họ đều cũng phải lăn lộn cả đời, lập không biết bao nhiêu công lao mới được chức đó. Ai mà biết được phần mộ tổ tiên nào của tiểu tử nhà ngươi đã kết phát(2) chứ! Ta vẫn còn ức đến run người lên đây này!"

Có điều mấy lời này nào dám nói ra, lão vội vừa cười vừa đáp:
- Hạ quan tiếp nhận xong lệnh dụ liền từ kinh thành chạy đến đây ngay trong đêm, cũng không rõ tình hình cụ thể trong đó. Có lẽ bụi trần không che được ngọc sáng, ngọc rực rỡ chói loà, đại nhân tài học xuất chúng, nổi trội hơn người, sao triều đình lại có thể chôn vùi nhân tài chứ? Ha ha ha...

Vừa cười, Ngô Kiệt vừa rút từ trong ống tay áo ra một tấm giấy nhét vào trong tay Dương Lăng, rồi nói tiếp:
- Đại nhân lần đầu lên kinh, mua nhà lập đất, thăm viếng đồng liêu, nhất định sẽ tốn chút chi phí. Hạ quan kính biếu nghìn lạng gọi là lộ phí, xin đại nhân vui lòng nhận cho.

Dương Lăng vừa nghe nói nghìn lạng bạc ròng thì nào dám nhận, Ngô Kiệt nghiêm mặt giải thích:
- Đại nhân chớ quan tâm! Hằng năm hạ quan bôn ba biên ngoại, khổ thì có chút khổ, nhưng để che dấu thân phận nên thường tiến hành riêng một vài vụ buôn bán dược liệu, da, trà, muối… với ngoại tộc. Có thân phận Cẩm y vệ che chở nên tiền bạc kiếm được cũng khá dễ, chút bạc này không đáng là bao, chỉ là chút thành ý của hạ quan, đao cùn không đáng tra vỏ mà thôi. Nếu như đại nhân không nhận, thật tình hạ quan sẽ rất khó xử.

Không đợi Dương Lăng cự tuyệt, lão đút ngân phiếu vào trong ống tay áo y, rồi làm ra vẻ bịn rịn không nỡ xa, nói tiếp:
- Hạ quan và đại nhân quen biết nhau đến nay khá hợp duyên. Lần này đại nhân tiến kinh, chỉ đến khi trở về kinh thành báo cáo nhiệm vụ hằng năm hạ quan mới có thể đến phủ của đại nhân để bái kiến rồi.
Ôi chao! Hạ quan tuổi đã cao, quanh năm bôn ba vùng biên ngoại, chân cẳng đã cảm thấy bất tiện. Lần này đại nhân tiến kinh nhất định sẽ được trọng dụng, đến lúc ấy vẫn mong đại nhân có thể nói tốt vài lời cho hạ quan. Nếu có thể điều hạ quan về kinh, hạ quan nguyện sẽ theo làm tuỳ tùng cho đại nhân.

Dương Lăng thầm nghĩ “Xem ra vị Ngô thiên hộ này chẳng được lòng người trong kinh, bằng không có lắm người quyền cao chức trọng như thế, y không cần phải nhờ vả đến mình. Nhưng mà, một tiểu lại như mình được vẻ vang thăng quan lên Bách hộ, còn có thể nói là nhờ Cẩm y vệ vì đón cầu ân huệ ở trước mặt hoàng đế mà tranh đoạt chiến công đi, chứ hôm nay chẳng biết vì sao lại thăng mình lên làm Đồng tri như thế này, quả thật có vẻ quá ư quỷ dị!”

Ngô Kiệt về kinh lần này chính là để chạy chọt trên dưới khắp nơi muốn được điều hẳn về kinh, không phải chỉ thông qua riêng mỗi một cửa. Những người này làm quan lâu năm, kết bè kết phái, rất chú ý đến những động thái thay đổi nhân sự trong triều. Dương Lăng tuổi chưa tròn hai mươi, lại do đích thân thủ lĩnh tối cao Cẩm y vệ hạ lệnh tấn chức vào kinh, tiền đồ đương nhiên không thể lường được. Nếu như hôm nay không tạo dựng tốt quan hệ, sau này còn ai thèm để ý dệt hoa trên gấm (nói tốt) cho họ chứ?

Dương Lăng suy nghĩ một hồi rồi lại hỏi:
- Ngô đại nhân, bây giờ tôi vẫn mang thân phận dịch thừa, không cần lệnh điều động của bộ Lại sao? Khi nào thì tôi mới có thể vào kinh vậy?

Ngô Kiệt ngẩn người, đáp:
- Đại nhân! Trong kinh lệnh cho hạ quan phải cấp tốc chạy về đây ban lệnh dụ ấn tín, nhưng lại không hề đề cập đến ngày tiến kinh của đại nhân. Ồ, phải rồi, đến cùng với hạ quan có hai vị Cẩm y Hiệu úy, là người trong kinh phái tới hộ tống đại nhân, đại nhân có thể hỏi thăm bọn họ.

Dương Lăng thu lệnh dụ ấn tín xong, cả hai cùng trở ra ngoại sảnh. Ngô Kiệt mở cửa gọi hai người trẻ tuổi ban nãy vào. Hai người bọn họ cao xấp xỉ như nhau, cùng ngươi sáng mắt trong, trông mười phần thông minh lão luyện. Hai người đã sớm biết lệnh bổ nhiệm từ kinh thành nên vừa bước vào phòng liền ôm quyền, quỳ một gối, hành lễ với Dương Lăng:
- Ti chức Liễu Bưu, Dương Nhất Thanh bái kiến Đồng tri đại nhân!

Dương Lăng chưa quen bị người ta dùng đại lễ như vậy để yết kiến, vội vàng bước tới nâng hai người dậy. Hỏi kỹ một hồi, y biết được mệnh lệnh mà hai người nhận được là mặc thường phục bảo vệ y về kinh, rồi diện kiến Trương đại nhân. Còn phần lúc nào về kinh, Trương đại nhân từng căn dặn kỹ càng sắp đến trong kinh sẽ đưa một đội ngũ khác đến nghênh đón, bọn họ chỉ cần ở yên đó chờ là được, đồng thời tạm thời không thông báo cho quan phủ địa phương chuyện y thăng chức Đồng tri.

Dương Lăng và Ngô Kiệt nghe xong trố mắt nhìn nhau, hết sức ngạc nhiên. Phải biết rằng thân phận của Cẩm y vệ chia làm ba loại. Một loại là làm ban sai (3) trong nha môn, thân phận công khai, là thành viên nòng cốt của Cẩm y vệ; một loại là bán công khai giống như cái chức dịch thừa này, ai ai cũng biết y có lớp thân phận này, nhưng không ai vạch trần, là nhân viên ngoại vi của Cẩm y vệ; loại thứ ba chính là loại như Ngô Kiệt, lấy thân phận thường dân để hoạt động, người ngoài tuyệt đối không thể biết được
thân phận thật sự của họ là mật thám của Cẩm y vệ.

Dương Lăng được thăng chức Đồng tri, vào kinh đô làm quan, chính là thân phận công khai. Bây giờ lại không cho y thông báo với quan phủ địa phương, hiển nhiên trong đó còn có ẩn tình. Trong kinh còn có người đặc trách đến để nghênh tiếp y? Điều này càng khiến cho Ngô Kiệt nghĩ rằng nhất định Dương Lăng đã kiếm được chỗ dựa lớn nào đó ở trong kinh, cho nên thái độ càng thêm cung kính. Về phần hai tay Hiệu úy đã là thân binh do Dương Lăng quản lý, thấy vị đại nhân này trẻ tuổi như vậy cũng hết sức vui mừng.
Hậu nhân của những công thần huân khanh (bề tôi có công) của các triều đại trong Cẩm y vệ rất nhiều, đều là quan chức truyền đời, hai người bọn họ lại là Cẩm y vệ được tuyển chọn và điều động từ trong dân gian. Điều này giống như người ta học hệ đại học chính quy, còn anh chỉ tốt nghiệp trung học dạy nghề, cho dù năng lực làm việc của anh có cao hơn người ta, việc thăng tiến của anh cũng sẽ gặp phải trùng trùng cách trở. Hôm nay hai người bọn họ được hầu hạ vị đại nhân trẻ tuổi có tiền đồ rộng lớn như vậy, hơn nữa lại cùng hệ bình dân, đương nhiên cơ hội thăng tiến sẽ càng lớn.

Tiễn Ngô Kiệt xong, Dương Lăng thu xếp cho Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh trọ lại dịch quán. Ngẫm lại, hôm nay mình đã là quan lớn ngũ phẩm, hơn nữa còn là Cẩm y vệ quyền cao chức trọng, sau phút ngỡ ngàng y bỗng cảm thấy vui sướng khôn tả. Không nén được rạo rực, y chạy thẳng vào hậu viện để báo tin mừng cho Ấu Nương.

Đàn ông đang yêu ai cũng đều giống như trẻ con, có chuyện gì hay ho đều chỉ mong sao cho người thân yêu nhất của mình có thể biết tin càng sớm càng hay. Dương Lăng phấn khởi chạy ào đến sân trong gian thứ tư (tứ tiến), đúng lúc gặp Mã Liên Nhi rẽ ra cổng sân, tay bưng một chậu nước đổ ào ra ngoài. Nàng đeo tạp dề, mái đầu tóc đen quấn khăn trắng, tay áo xắn lên phân nửa, phơi trần hai cánh tay nõn nà như ngó sen đã đỏ ửng vì ngâm lâu trong nước dưới tiết trời hãy còn se lạnh; dáng điệu áo vải, váy rũ hiếm khi thấy được của nàng lại đem đến một ý vị khác biệt.

Khóe mắt nàng đo đỏ, hình như vừa mới khóc. Chợt thấy Dương Lăng đi tới, Mã Liên Nhi giật mình thất kinh, không muốn bị y bắt gặp bộ dạng nhếch nhác hiện giờ nên nàng vụt quay đầu bước nhanh vào trong sân. Trông thấy nàng, Dương Lăng sực nhớ đến chuyện Tất đô ty nạp thiếp vừa nghe ban nãy, liền vội vàng đuổi theo. Vừa lách người vào trong sân lại thấy Dương Lăng lẽo đẽo theo vào, Mã Liên Nhi cuống cuồng, vội vã bê một chậu gỗ khác ở dưới đất lên rồi hoảng hốt bước vào phòng.

Từ khi nào Mã Liên Nhi lại sợ gặp người khác như vậy nhỉ? Càng thêm hiếu kỳ, Dương Lăng không chút nghĩ ngợi liền bước theo vào phòng. Vừa giận vừa thẹn, Mã Liên Nhi đặt chậu gỗ lên bàn, lúng túng xoay người chắn phía trước, cáu gắt:
- Huynh đuổi theo ta làm gì?

Dương Lăng buông thỏng tay, vẻ bất đắc dĩ:
- Khi không cô chạy làm gì? Trong chậu có vật gì không thể cho người khác thấy hay sao?

Mã Liên Nhi chợt đỏ mặt, tức giận lườm Dương Lăng, gắt gỏng:
- Ai cần huynh lo? Huynh là gì của ta chứ... Chó mà cứ thích bắt chuột (ý nói nhiệt tình một cách không cần thiết)!

Mặt đỏ hồng, nàng kéo khăn trải bàn che chậu gỗ lại, rồi đi đến đầu giường ngồi phịch xuống, hai chân co lên, hai tay ôm gối, gác cằm lên đầu gối, nhìn Dương Lăng hỏi:
- Huynh đuổi theo ta làm gì? Có chuyện muốn nói sao?

Dương Lăng chú ý thấy nàng mang một đôi hài cong màu trắng, đó là đôi giày mang để tang cho phụ thân; hai chân gập lại, váy căng ra, đằng sau đôi chân thẳng tắp là nửa cung tròn tuyệt mỹ như vẽ bằng com-pa.

Vừa quét mắt nhìn, cảm thấy lòng hồi hộp kích động, lập tức Dương Lăng không dám nhìn lâu, ánh mắt dời lại chiếc chậu gỗ được khăn trải bàn che phủ, y mới chợt ngộ ra ban nãy rất có thể nàng giặt giũ một loại yếm lót của nữ nhân. Đấy là những thứ cấm kỵ nhất của nữ nhân, ngay cả Ấu Nương khi giặt giũ những thứ đồ lót này cũng đều tránh mặt mình. Thảo nào Mã Liên Nhi lại cứ như giẫm phải đuôi chuột mà chạy về phòng, té ra là muốn cất giấu vật đó gấp.

Buông người ngồi xuống chiếc ghế đối diện, y trầm ngâm một lúc rồi hỏi:
- Nghe nói... sáng nay Mã huynh có ghé qua?

Liếc y một cách đầy hàm ý, Mã Liên Nhi nhếch miệng:
- Không phải huynh đã gặp y rồi sao?

Dương Lăng đỏ mặt, ngượng ngập hỏi:
- Cô... Sao cô biết?

Mã Liên Nhi đảo mắt một vòng, thoáng nở một nụ cười khó hiểu, trả lời:
- Ta... nghe nói sáng nay huynh đã gặp y.

Dương Lăng gượng cười nói:
- Còn chọc à? Sao cô vẫn không biết lo sầu gì thế? Nghe nói ca ca cô muốn ép cô gả cho Tất đại nhân hả?

Mã Liên Nhi trợn mắt, thầm nhủ: ”Ta lo lắng cái gì? Ca ca lại hám lợi đến mê muội tâm can. Chẳng lẽ ta không tự nguyện, y dám trói ta giao cho người khác bắt làm thiếp hay sao?"


(1) Tên chức quan xưa, tên gọi của chức phó.
(2) Nguyên văn "tổ phần mạo thanh yên" (nghĩa đen là mộ tổ tiên toả khói xanh), là một kiểu nói theo phong thuỷ, khói xanh (thanh yên) đại khái mang khí chất xanh tươi, cát tường, là một điềm báo đại cát đại lợi. Dựa theo cách nói xưa là mộ phát, có thể làm quan.
(3) Giúp quan phủ hoặc quân đội giải quyết những việc như trưng thu thuế má, chiêu mộ phu dịch, vân vân.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
28-10-2010, 10:21 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 49 - Hẹn ước ba năm

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Hieusol

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Bây giờ tôi và cô lập một ước hẹn quân tử ba năm, sau ba năm, nếu như Dương Lăng chưa ch... úi... chưa "lạc phách" thì sẽ rước cô về!




Quyển hai - Nhắm mắt lên kinh - Chương 49 Hẹn ước ba năm

Thấy y lo lắng cho mình, lòng Mã Liên Nhi ngọt ngào hơn được rót mật. Vừa tính mở lời an ủi, lòng nàng chợt máy động: “Hôm qua Ấu Nương muội muội nói ra nói vào đã để lộ ý chấp nhận nạp mình làm thiếp, cũng không biết muội ấy đã đề cập với vị lang quân nhẫn tâm này chưa. Hôm nay y chịu lo lắng cho mình, cho thấy y cũng không vô tình, cũng không uổng mình đã trao toàn bộ con tim cho y.”

“Chi bằng mình...,” nàng cắn nhẹ môi, cười nửa miệng liếc Dương Lăng, "Mình thử khích y xem sao, nếu có thể làm cho y mở mang đầu óc là tốt nhất. Ôi! Thật không biết kiếp trước mắc nợ y cái gì nữa?! Thân là con gái mà phải trăm phương nghìn kế, nhẫn nhịn để được việc mà xuống nước cầu xin y!"

Thầm oán lườm Dương Lăng, Mã Liên Nhi cất giọng u uẩn:
- Ừm! Ta có thể như thế nào chứ? Một nữ nhân như ta, huynh nói có thể khuấy lên phong ba gì chứ? Huynh trưởng như cha, y lấy danh nghĩa phụ huynh ép ta, Tất đô ty lại là quan lớn, ta có thể làm sao đây?

Thấy nàng ngân ngấn lệ, Dương Lăng không cầm lòng được, thấp giọng an ủi:
- Cô là người tự do, nếu cô không bằng lòng, ai có thể cưỡng ép cô chứ?

Mã Liên Nhi vốn chỉ muốn khơi dậy lòng thương hoa tiếc ngọc của Dương Lăng, không ngờ nói rồi lại gợi lên chuyện đau lòng của mình. Có chút không kiềm chế được tâm tình, nàng chán nản nói:
- Người tự do? Từng có việc đó sao? Người con gái có thể có quyền tự lựa chọn phu quân ư?

Giọng nàng dần nhỏ lại:
- Ta vẫn muốn..., ta chấm một người. Vì hắn, ta không tiếc phải trả giá bằng danh tiết của mình, tự dồn bản thân vào đường cùng, chẳng qua là bởi thích hắn, muốn ở cùng hắn mà thôi. Người ta sẽ tiếp nhận sao? Biết đâu trong lòng hắn, ta bị coi là một đứa con gái nham hiểm, vô sỉ, thích dùng cơ mưu. Nếu như hắn thích ta, vậy thì xong, nhưng nếu hắn không muốn, kẻ khác sẽ chỉ ca tụng hắn là anh hùng cao cả, danh sỹ phong lưu, mọi cô gái đều thích. Nhưng còn cô gái từ đó về sau lại sẽ không thể ngẩng đầu, chịu hết mọi đắng cay nghiệt ngã.

Mã Liên Nhi đỏ bừng mặt, trừng mắt oán hận nhìn Dương Lăng:
- Huynh cùng Ấu Nương nghĩa nặng tình thâm, từ hôm dưới thành đó ta đã rõ. Được, ta tự nguyện làm thiếp, hầu chồng lo việc nhà, vậy mà vẫn khó được toại nguyện. Ha ha, là ta tự làm tự chịu, hôm nay danh tiết đã huỷ, còn có người nguyện đối đãi với ta như là vợ chính sao?

Dương Lăng ngây người một hồi lâu, rồi hổ thẹn chống chế:
- Cô… Cô thông minh thanh khiết, đoan trang dịu dàng, không phải người đàn ông nào cũng sẽ để ý đến những lời ong tiếng ve này đâu.

Không để ý đến những lời y nói, Mã Liên Nhi tự cất giọng xa xăm:
- Tất đô ti lấy ba nàng tiểu thiếp ở Giang Nam, nghe nói y đối đãi với tiểu thiếp vô cùng hà khắc, chánh thê thì lại hết sức hung hãn, ta... Hôm nay ta muốn làm thiếp cũng không còn đường lựa chọn... Tự mình tạo nghiệt thì không còn đường sống nữa ư?

Dương Lăng im lặng một hồi lâu mới hít vô một hơi thật sâu, hạ giọng:
- Liên Nhi, không phải Dương Lăng thật sự muốn ép cô bước trên con đường này. Số mệnh là vậy, tôi... Tôi thật sự là có nỗi niềm khó nói.

Mã Liên Nhi nghe xong, rèm mi cụp xuống, hai hàng lệ trong vắt trào ra, đau thương đến chết lịm cõi lòng. Lời đã nói đến dường này, vậy mà Dương Lăng vẫn tìm cớ cự tuyệt nàng; nàng thật sự đã tuyệt vọng rồi.

Từ sau đêm cùng ở bên nhau trong hố tuyết giữa núi rừng ấy, Mã Liên Nhi đã khắc sâu hình bóng của Dương Lăng vào trong tim, y chính là đấng phu quân thích hợp với nàng. Nếu chưa bao giờ gặp gỡ y, có lẽ sau này nàng vẫn còn có thể tuỳ ý tìm lấy một người chồng, thế nhưng biết y rồi, làm sao những nam tử bình thường cổ hủ ngu muội, xem nữ nhân như đồ chơi đó còn có thể được nàng để vào mắt chứ?

Dương Lăng kính trọng nàng, hiểu nàng, không xem nàng như một người con gái đi ngược truyền thống. Nàng đã thấy y cưng chiều yêu thương, không bỏ rơi ruồng rẫy Ấu Nương như vậy, nếu như nàng nên vợ nên chồng với y, thành tâm hầu hạ, nhất định y cũng sẽ thật tâm che chở và yêu thương nàng, sẽ không vì thân phận tiểu thiếp mà xem thường nàng, sẽ không vì thứ bậc xếp sau mà ruồng bỏ nàng. Phu quân như vậy còn không đáng để mình một lòng một dạ hay sao? Thế nhưng, dù đặt cược hết danh tiết của bản thân vào một ván, rốt cuộc nàng vẫn thua, thua hoàn toàn, thua đến thảm.

Dương Lăng thấy nàng lệ châu lăn xuống, nhất thời không biết phải làm thế nào; khuôn mặt xinh đẹp ấy đã không còn chút sinh khí, tựa như một bức tượng điêu khắc bằng ngọc. Một hồi lâu y mới thở dài, bất lực cúi đầu nói:
- Nước mắt của phụ nữ...! Liên Nhi, cô nên cư tang cho cha ba năm. Bây giờ tôi và cô lập một ước hẹn quân tử ba năm, sau ba năm, nếu như Dương Lăng chưa ch... úi... chưa "lạc phách" (1) thì sẽ rước cô về! Dĩ nhiên để cho công bằng, cô vẫn được xem như chưa gả, cho đến lúc đó cô vẫn có thể chọn lựa khác, chỉ cần cô gặp được người đàn ông hợp ý!

Mã Liên Nhi bừng mở lớn hai mắt, cố gắng chớp chớp cho rơi hết lệ, không dám tin:
- Thật chứ?

Dương Lăng cười giễu bản thân:
- Thật đấy! Chỉ cần nội trong thời gian đó Dương mỗ vẫn chưa... "lạc phách", vẫn có thể nuôi được cô. Khi ấy nếu cô bằng lòng bước vào nhà họ Dương tôi, sẽ không ai có thể ngăn cô!

Mã Liên Nhi từ khóc hóa cười, nàng nhảy phóc xuống đất, vui mừng muốn nhảy bổ đến ôm lấy y. Song khi Dương Lăng đã chấp nhận nàng, sự mạnh dạn và đáo để vốn có lại hoàn toàn biến mất, thay vào đó là vẻ thẹn thùng khó kềm nén.

Mắt ngọc xoe tròn, hàng mi cong vút, nàng cắn môi, nhẹ giọng nói với Dương Lăng:
- Nghèo khó thì đã sao? Chẳng lẽ bây giờ chức quan huynh đang làm khiến cho người ta ao ước sao? Hừm! Có phải huynh cho rằng tiểu nữ bị huynh mê hoặc đến ngay cả giữa dịch thừa và đô ti, chức quan nào lớn hơn cũng không phân biệt được sao? Huynh đó nha, người ta hết lần này đến lần khác tỏ lòng với huynh như vậy, huynh còn không rõ tấm lòng của người ta hay sao?

Dương Lăng cười gượng:
- Chức quan hiện tại thì sao chứ? À phải rồi, tôi có chuyện muốn nói với cô. Tôi dự tính hai tháng nữa, lúc thương nhân buôn hàng da ở quan ngoại ghé qua Kê Minh, tôi sẽ nhờ bọn họ giúp cô đưa linh cữu về quê. Có điều...

Dương Lăng đem tin được thăng chức lên Cẩm y vệ chỉ huy Đồng tri, sắp sửa lên kinh sư kể cho nàng một lượt. Mã Liên Nhi nghe xong mừng đến mặt mày rạng rỡ, hồ hởi nói:
- Tốt quá rồi, vừa rồi muội còn lo vì muội mà... Tất đô ty sẽ tìm huynh gây phiền toái, bây giờ không phải sợ hắn nữa!

Nàng thoáng suy nghĩ, rồi bỗng chau mày lo lắng nói tiếp:
- Không đúng à! Thăng cấp trong quân đội nào phải trò đùa, chuyện này thật cổ quái!

Dương Lăng cười lớn đáp:
- Tôi cũng cảm thấy cổ quái, tuy nhiên ngẫm lại, thấy cũng chẳng phải là chuyện xấu. Ai mà tốn hao bấy nhiêu công sức cho tôi một chức quan to, rồi lại lo nghĩ tìm cách hại tôi chứ?

Mã Liên Nhi, lúc này đã chuyển sang vai trò người vợ nhà họ Dương, suy nghĩ cẩn thận rồi lắc đầu:
- Có câu nói 'quan lộ hiểm ác' huynh có biết không? Để muội suy nghĩ một chút, ừm... với 'công lao' mà huynh lập được, tuyệt không có lý nào thăng liền ba cấp, thẳng đến trung ương của Cẩm y vệ. Trong kinh lại càng không thể có ai tốt bụng mà vô duyên vô cớ thăng chức cho huynh như vậy. Chúng ta phải suy nghĩ thật kỹ xem sao, không thể để bị kẻ khác hãm hại được...

Mã Liên Nhi càng nghĩ càng cảm thấy có vấn đề. Trên đời làm gì có chuyện tốt như vậy, trong chuyện này ắt có một mấu chốt quan trọng nào đó chưa thể lần ra. Dương Lăng lên kinh lành hay dữ nhất định có quan hệ với cái mấu chốt này.

Thấy nàng ngồi ở đầu giường, mày ngài nhíu chặt, lẩm bẩm một mình, Dương Lăng bèn bật cười:
- Tôi thấy cô sắp sửa có thể mở hiệu xem số mệnh cho người ta rồi đó. Suy nghĩ nhiều như vậy để làm gì? Chờ đến khi tôi vào kinh diện kiến vị Trương đại nhân đó rồi, bí ẩn tự nhiên sẽ tỏ tường thôi. Bây giờ có suy nghĩ thêm nữa thì vẫn là võ đoán, hà tất phải đa nghi?

Mã Liên Nhi lườm y, quở trách:
- Huynh hay quá nhỉ! Không phải người ta lo là lo cho huynh sao?
Nghẫm nghĩ một lúc, nàng lại lắp bắp:
- Thế... thế huynh vào kinh, vậy muội thì sao đây?

Dương Lăng đáp:
- Chiều nay tôi sẽ đi gặp Hoàng huyện thừa nhờ Hoàng lão giúp đỡ. Hai tháng sau đoàn buôn phương bắc sẽ xuôi nam, giúp cô trở về Kim Lăng.

Ánh mắt Mã Liên Nhi chợt ảm đạm, bịn rịn:
- Vậy muội... chẳng phải là sẽ không thể gặp lại huynh trong suốt ba năm rồi sao? Huynh... có vì lâu ngày chày tháng mà quên mất người ta hay không?

Nàng thầm tính trong lòng: “Đưa linh cữu phụ thân trở về cố hương xong, mình có nên lên kinh sư để gặp huynh ấy không nhỉ? Nếu huynh ấy thăng chức Chỉ huy Đồng tri, mà thật sự không ai có ý gì với huynh ấy, theo lẽ thường hẳn sẽ không thể nhậm chức tại nha môn quan trọng như Bắc trấn phủ ty. Nếu như huynh ấy được điều đến Kim Lăng Nam trấn phủ ty làm quan, vậy chẳng phải... Ừm, đợi khi có tin tức chuẩn xác của huynh ấy rồi hẵng nói vậy".
******************************

Trong lều của Tất Xuân, Tất đô ty vui vẻ nói với Mã Ngang:
- Mã Ngang, không lâu nữa quân ta sẽ trở về Chiết Giang rồi. Ngươi biết đấy, qua ngày cúng thất tuần của lệnh tôn thì bổn quan sẽ không tiện... Ha ha ha, nếu không thì cái đám ngự sử mọt sách ngớ ngẩn của tỉnh Giang Chiết biết được, tấu lên trên thì thật không đáng. Không biết hôm nay ngươi đã đề cập với lệnh muội tâm ý của bổn quan chưa?

Mã Ngang biết em mình giỏi cưỡi ngựa bắn cung, tinh thông âm luật, lại xinh đẹp quyến rũ, tính khí luôn ương bướng, thiết nghĩ nàng ta sẽ lập tức đáp ứng chuyện tốt "thà làm thiếp anh hùng còn hơn làm vợ kẻ tầm thường". Cho nên khi nghe Tất Xuân tiết lộ tình cảm yêu thích Mã Liên Nhi, chưa thèm dò hỏi ý tứ của em gái y đã đồng ý ngay lập tức. Nào ngờ hôm nay đề cập chuyện đó với em gái thì bị nàng ta khóc lóc mắng cho một trận rồi đuổi ra ngoài.

Lúc này thấy Tất Xuân hỏi tới, mặt gã không khỏi đơ ra, ngập ngừng đáp:
- Chuyện này... Ty chức chỉ mới dò xét ý tứ của em gái một chút, vẫn chưa đề cập tới ý của đại nhân. Có điều đại nhân lãnh đạo quân đội một phương, quyền cao chức trọng, cô ấy xưa nay xem trọng anh hùng trượng phu, có lẽ sẽ không cự tuyệt.

Cặp mắt tam giác của Tất Xuân vẫn luôn chăm chú nhìn vẻ mặt của Mã Ngang, vừa nghe gã trả lời một cách miễn cưỡng, mặt lập tức sa sầm. Hôm nay sau khi trở về, Quan Thụ Anh đã lỡ miệng nói với hắn là có người đồn rằng vị Dương dịch thừa và Mã Liên Nhi cô nương có tình ý với nhau, nghe đâu gần đây muốn nạp nàng ta làm thiếp, khi đó Tất Xuân đã hết sức không vui.

Chẳng qua hắn nghĩ Mã Liên Nhi đang trọ trong dịch thự, sẽ khó tránh được lời ong tiếng ve của những kẻ rỗi việc. Luận thân phận, luận địa vị, Dương Lăng sao có thể bì được với mình? Nếu như Mã tiểu thư quả thật có ý làm thiếp Dương Lăng, vậy chẳng phải mình càng có hy vọng hay sao?

Nghĩ đến dáng vẻ cực kỳ xinh đẹp, kiều diễm của Mã Liên Nhi, hắn liền không quan tâm đến những lời đồn đãi kia nữa. Nhưng lúc này trông thấy thần sắc của Mã Ngang, hắn nghĩ "chẳng lẽ Mã tiểu thư không biết thủ lễ, thật đã có tư tình với Dương dịch thừa sao?", trong lòng liền cảm thấy khó chịu.

Mã Ngang thấy sắc mặt hắn âm u, không khỏi rùng mình, vội hoảng hốt nói tiếp:
- Việc hôn nhân đại sự nào ai cho phép phận gái tự mình làm chủ? Tục ngữ có câu "quyền huynh thế phụ", lời của ty chức sẽ là ý của cô em gái. Cô ấy giỏi cưỡi ngựa bắn cung, dạo gần đây tù túng ở trong thành nhất định cũng rất buồn chán. Hôm trước Trương huyện lệnh mới nhậm chức đã mở tiệc chiêu đãi đại nhân, chi bằng ngày mai đại nhân mời Trương tri huyện đi săn, đến lúc đó ty chức sẽ hẹn em gái đi cùng. Đi săn về, trên bàn tiệc, ty chức tuyên bố gả em gái cho đại nhân ở trước mặt mọi người là xong.

Vẻ âm u trên mặt Tất Xuân lập tức tiêu tan, hắn cười ha hả:
- Nếu là như vậy, chuyện này sẽ giao cho ngươi! Chốc nữa hãy lấy thiệp của ta đi gặp Trương đại nhân nhé.

Mã Ngang khom người đáp:
- Vâng, đại nhân!

Tất Xuân vẫy tay cười, nói:
- Không cần câu nệ như vậy! Ngày mai ta và ngươi sẽ là người một nhà rồi, còn khách khí làm gì, ha ha ha...

(1) Ở đây Dương Lăng chơi chữ: "lạc phách" vừa có nghĩa là nghèo khổ, bần cùng (còn gọi là "lạc bạc" 落泊), vừa có nghĩa là mất đi hồn phách. Y nói như vậy thì Mã Liên Nhi sẽ nghĩ đến nghĩa đầu, mà không nghĩ y đang nói đến cái chết.





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
30-10-2010, 11:57 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 50 - Không khí chan hoà

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mã Liên Nhi thấy vậy vội vàng bỏ củ khoai qua một bên, dìu Ấu Nương ngồi xuống ghế, mang chén trà của Dương Lăng đến, nói:
- Ấu Nương muội muội! Muội uống miếng trà đi!





Quyển hai - Nhắm mắt lên kinh
Chương 50 - Không khí chan hoà


Nghe nói tướng công sắp được vào kinh làm quan, Hàn Ấu Nương mừng líu lo như một nàng chim hỉ thước. Thấy bộ dạng vui sướng của nàng, Dương Lăng cũng thả lỏng tâm tình, tạm thời dẹp bỏ những mối lo ngại qua một bên. Y có thể cảm nhận được niềm vui sướng của Ấu Nương, cùng chia xẻ cảm giác ngọt ngào ấy.

Hồ hởi đến nỗi hai má căng mọng như quả táo chín, Hàn Ấu Nương vui sướng nói:
- Thiếp biết mà! Tướng công là người đọc sách có tiền đồ nhất, nhất định sẽ có thể làm quan lớn. Đợi cha về thiếp sẽ nói cho người biết chuyện này, nhất định người sẽ cao hứng lắm đây.

Dương Lăng mỉm cười kéo nàng vào lòng, khẽ nói:
- Xem nàng cao hứng chưa kìa, nhỏ giọng một chút đi, tí nữa bẩm với nhạc phụ một tiếng là được rồi. Công hàm trong kinh đặc biệt nói rõ là tạm thời chưa được rêu rao ra ngoài, người biết chuyện càng ít càng tốt.

Hàn Ấu Nương cũng biết đây là quy củ làm quan của Cẩm y vệ, mặc dù có chút tiếc nuối vì chuyện phu quân làm đại quan mà không thể vinh hiển với xóm làng, nhưng y đã nói là không thể để người khác biết, nên nàng liền ngoan ngoãn đáp lời:
- Vâng, vậy chút nữa thiếp sẽ thông báo cho cha một tiếng, không nói ra ngoài là được rồi.

Hàn Ấu Nương càng ngoan ngoãn nhu mì, Dương Lăng càng cảm thấy áy náy trong lòng. Tuy rằng "tấm séc khống" chi cho Mã Liên Nhi chỉ là hoa trong gương, là trăng trong nước, là toà lâu đài vẽ trong không khí, nhưng y vẫn không đành lòng giấu gạt Ấu Nương. Thở dài một hơi, y vùi đầu vào cổ Ấu Nương, nhẹ vuốt làn da mịn màng của nàng, dè dặt nói:
- Ấu Nương, tướng công... còn có một chuyện...

Vừa nghe đến đó cơ thể Hàn Ấu Nương liền run lên, tức thời khuôn mặt đỏ bừng như lửa, cả người trở nên mất tự nhiên. Đêm qua, sau khi được kiến thức "hung khí" đáng sợ của tướng công, lại nhớ đến lời mà mấy bà dì, bà thím vô duyên nhiều chuyện đã nói với mình, Ấu Nương không khỏi suy tưởng liên miên. Ai nói thiếu nữ không tơ tưởng yêu đương chứ? Sau khi Dương Lăng đã say giấc nồng, cô gái nhỏ này vẫn thường nằm chống cằm, si mê ngắm nhìn y non nửa buổi tối.

Lúc này bị Dương Lăng ôm vào lòng với một tư thế thân mật như vậy, lại nghe ngôn từ ám muội của y, lập tức Ấu Nương nghĩ lệch ý đi. Lông măng toàn thân dựng đứng cả lên, nàng ngượng ngùng hỏi:
- Tướng... tướng công, là chuyện gì?

Dương Lăng ấp úng kể lại chuyện Mã Ngang muốn gả em gái làm thiếp cho Tất đô ty cùng với chuyện hẹn ước ba năm của mình cùng Mã Liên Nhi. Kể xong, Dương Lăng đưa mắt nhìn trộm Ấu Nương, chỉ thấy vai của tiểu nha đầu này thoáng trùng xuống, vẻ ủ rũ lộ rõ trên khuôn mặt.

Dương Lăng áy náy:
- Ấu Nương, chuyện này là ta không tốt... Nhưng Tất đô ty đó... Ta... Ước hẹn ba năm của ta bây giờ cũng chỉ là nói suông như vậy thôi, tướng công chưa từng nghĩ tới việc hễ thấy con gái đẹp là rước về nhà đâu. Có nàng, tướng công thật sự đã rất thoả mãn rồi. Đừng giận có được không?

Khi vừa nghe Dương Lăng kể xong, thật sự Hàn Ấu Nương cảm thấy hơi khó chịu, nhưng nghĩ lại thấy tính cách của tướng công quả thật không phải là loại đàn ông phong lưu thành tính, mà kẻ làm quan lớn có mấy ai lại không năm thê bảy thiếp? “Theo tập quán, khi muốn nạp thiếp phu quân tuyệt nhiên không cần phải được mình đồng ý. Bây giờ chàng lại còn dè dặt, chỉ lo mình không vui như vậy, mình cũng nên biết tự vừa lòng rồi.”

“Cha nói đúng, tướng công càng thương mình, mình càng phải thường xuyên nhắc nhở bản thân, ngàn vạn lần chớ nên vì được cưng yêu mà kiêu ngạo. Hơn nữa... Ài, ai bảo tướng công đã cùng trải qua một đêm với người ta làm chi, đổi lại là mình, đặt vào hoàn cảnh đó, về sau cũng sẽ khó mà lấy người khác, không thể hại cả cuộc đời của Mã tiểu thư được.”

Nghĩ vậy, Ấu Nương vui vẻ nói với Dương Lăng:
- Tướng công! Ấu Nương không phải là kẻ ghen tuông, đây cũng là duyên phận của Liên Nhi tỷ tỷ và chàng. Nếu đã như vậy, chút nữa chúng ta sẽ nhờ trưởng bối có danh vọng trên huyện ra mặt ước định chuyện này với nhà họ Mã trước nhé!

Dương Lăng thở phào nhẹ nhõm, đáp:
- Không cần đâu, bây giờ chưa nói tới chuyện đó vội. Tất đô ty là người có địa vị, chỉ cần Mã tiểu thư một mực không bằng lòng, hắn sẽ không dám làm chuyện ép gả ép cưới đâu. Không lâu nữa Mã tiểu thư sẽ đưa linh cữu về quê nhà Kim Lăng, nơi ấy những kẻ tài hoa, gia thế hiển hách nhiều không kể xiết. Không chừng ba năm sau người ta đã nhìn trúng một thanh niên tài năng xuất chúng nào đó rồi, hà tất phải trói buộc người ta làm gì!"

Tuy Hàn Ấu Nương không cam lòng chia sẻ tình yêu của trượng phu với người khác, nhưng cũng không thích nghe y nói lời hạ thấp bản thân. Trong con tim bé bỏng của nàng, phu quân mới là người trượng phu tài ba nhất, biết quan tâm tới nương tử nhất. Nếu như có một ngày Mã Liên Nhi thật sự chọn kẻ khác, vậy đúng là cô ấy có mắt không tròng.

Nghe Dương Lăng nói như vậy, nàng vứt bỏ lòng ghen tuông qua một bên, có phần không phục nói:
- Hứ, nếu thật sự như vậy thì nàng ta không có phúc rồi! Có ai tốt hơn tướng công của thiếp chứ?

Được nghe nàng khen như vậy, trong lòng Dương Lăng thầm cảm thấy ấm áp, y không kìm nổi bèn trêu:
- Nếu tướng công nàng tốt như vậy, vậy để ta kiếm thêm mấy tỷ muội nữa về cho nàng nhé?

Tuy biết rõ tướng công đang trêu mình nhưng Hàn Ấu Nương vẫn không khỏi quýnh quáng:
- Không cần, không cần, không cần! Chúng ta... Chúng ta... Nồi trong nhà chúng ta không đủ nấu cho nhiều người như vậy đâu.

Thấy nàng luống cuống đưa lý do như vậy, Dương Lăng bật cười rộ, nào ngờ Ấu Nương lại bồi thêm một câu:
- Vả lại thân thể tướng công không tốt, chàng có thể không lo chứ thiếp phải lo đấy!

Tiếng cười của Dương Lăng bất chợt tắt ngúm, mãi một hồi lâu y mới "thẹn quá hoá giận", hầm hừ:
- Cái gì? Nàng chê thân thể ta yếu hử? Thân thể tướng công yếu lắm phải không?

- Không, không, không phải mà!
Hàn Ấu Nương cười tít mắt, giọng dịu dàng như thể đang dỗ trẻ con:
- Tướng công đổ oan người ta rồi! Người ta là nói thân thể chàng vừa phải mà, ưm ưm...

Lời còn chưa dứt, Dương Lăng đã khoá cái miệng xinh xắn của nàng bằng một nụ hôn, trong lòng tức tối thầm nhủ: "Bé con này được mình chiều quá đâm hư rồi, không ngờ đã bắt đầu trêu chọc mình. Hôm nay mình phải chấp hành gia pháp mới được, bằng không e chẳng bao lâu sẽ không còn 'Phu cương' gì nữa."

Nào ngờ chỉ hôn một lát, Dương Lăng đã cảm thấy có nơi nào đó bắt đầu phồng lên, y không khỏi say đắm nhìn xuống cái miệng nhỏ xinh của Ấu Nương, mang vẻ "nhục mất nước" mà khẩn cầu:
- Vợ yêu ơi! Tướng công vừa gần gũi nàng thì đã chịu không nổi nữa rồi, hãy giúp tướng công một chút được không? Ấu Nương ngoan, Ấu Nương...

Hàn Ấu Nương bật cười, tức tốc nhảy phóc ra khỏi đùi y, chạy vội ra ngoài. Chỉ nghe tiếng "loảng xoảng" vang lên, giọng nói của Ấu Nương vọng vào từ phía xa xa bên ngoài phòng:
- Mùa xuân trong người nhiều hỏa khí, tướng công uống nhiều trà một chút đi nhé! Sẵn tiết trời đang đẹp, thiếp đi giặt... giặt mền.

******************************

"Một chú ong mật chăm chỉ cần cù."

Đó là lời bình luận của Dương Lăng về ái thê. Nàng không cho y động tay động chân, lý do là đàn ông không nên rớ tới những thứ này. Do bị chiều riết đâm trở nên "kiêu ngạo", tiểu cô nương ngày càng lớn mật này còn bồi thêm một câu:
- Nam nhân chân tay vụng về, mang tiếng là giúp thu dọn đồ đạc, nhưng càng giúp càng bừa. Tướng công đại nhân của thiếp ơi, chàng hãy ngoan ngoãn ngồi yên ở đó đi!

Chàng tướng công họ Dương ngoan ngoãn ngồi yên được một lát, thấy Hàn Ấu Nương loay hoay lục lọi, thu xếp vật dụng cần đem lên kinh, y ngẫm thấy mình cũng nên thanh lý sổ sách, chỉnh lý lại những công hàm bí mật tới lui của Cẩm y vệ một chút, phòng khi vào kinh cần giao tiếp cũng đỡ phải luống cuống chân tay. Thế là y bèn báo Ấu Nương một tiếng rồi vội chạy về sở dịch.

Sắp xếp công hàm lại một lượt, vừa cho tất tần tật vào cái tủ có treo chiếc khóa hình con cá vàng, khóa tủ xong, Dương Lăng chợt nghe từ gian ngoài vang lên tiếng đập cửa, y vội kéo lê đôi giày chạy ra. Vừa mở cửa, Dương Lăng ngay lập tức nhìn thấy Mã Liên Nhi tay lót khăn đang bưng một chiếc nồi sắt nhỏ nghi ngút khói.

Dương Lăng rất đỗi ngạc nhiên, vội vàng tránh lối cho nàng bước vào. Mã Liên Nhi đặt chiếc nồi sắt lên bàn rồi e thẹn nói:
- Muội... muội thấy tối rồi mà huynh vẫn còn xử lý công vụ cho nên đã làm chút đồ ăn, cũng không biết có hợp với khẩu vị của huynh không.

Dương Lăng đã không còn ngây ngô như lúc mới đến thời đại này nữa, một người con gái chủ động làm cơm cho con trai là có ý gì, trong lòng y hiểu rất rõ. "Ba ngày xuống bếp làm cơm. Rửa tay, nấu bát canh thơm đã rồi (1)", Mã Liên Nhi lúc này đây đang mang tư tưởng cô dâu muốn xắn tay hầu hạ y.

Lúc dự tiệc trên huyện, Dương Lăng đã có ăn qua món này, biết được cái món "đả-biên-lô" (hay tả-pí-lù, tạp-pín-lù) này chính là món lẩu (2). Y mở vung ra, chỉ thấy trong chiếc nồi nghi ngút khói là rau cải xanh biếc, nấm ăn đen đen, thịt hoẵng trắng hồng, gừng lát xanh nhạt..., thật khiến cho người ta phải phát thèm. Dương Lăng buột miệng khen:
- Thơm quá! Còn thơm hơn cả bếp trưởng ở lầu Hồng Nhạn nấu nữa.

Được y khen ngợi, Mã Liên Nhi vui mừng ra mặt. Nàng lấy đôi đũa từ trong ống tay áo ra, định bảo y nếm thử, thế nhưng ngoài cửa chợt vọng vào giọng nói phấn khởi của Hàn Ấu Nương:
- Tướng công, đại ca đem từ Phủ thành về một ít vật hiếm lạ nè, đây là...

Theo tiếng nói, Hàn Ấu Nương sải bước vào trong cửa, vừa trông thấy Mã Liên Nhi cũng ở đây, nàng không khỏi ngẩn người. Tuy Mã Liên Nhi đã được Dương Lăng chấp nhận, nhưng dẫu sao thân phận vẫn xem như là người ngoài, hôm nay bị Ấu Nương bắt gặp tại trận, nàng lập tức xấu hổ đến nỗi đỏ bừng cả mặt.

Dương Lăng cũng không hề chuẩn bị tâm lý cho cục diện "hậu chiếu hậu" như thế này. Ba người tròn mắt ngẩn tò te nhìn nhau một chốc, bất chợt Hàn Ấu Nương nhoẻn miệng cười:
- Liên Nhi tỷ tỷ, tỷ cũng ở đây à?

Mã Liên Nhi thở phào nhẹ nhõm. Nàng ngượng nghịu nói:
- Ấu Nương muội muội, ta... tối nay ta có làm món đả-biên-lô, thế nên mang đến mời Dương đại ca nếm thử. Tay nghề của ta không sánh bằng muội, nếu muội không chê, hãy đến đây nếm thử chút đi!

Thấy trong tay Ấu Nương đang cầm mấy vật không nhìn rõ do khuất ánh đèn, Dương Lăng tò mò hỏi:
- Ấu Nương, nàng cầm gì thế?

Hàn Ấu Nương đáp:
- Tướng công! Đây là thứ mà đại ca mang từ Phủ thành về, nghe nói nó được mang tới Đại Minh chúng ta từ các nước phiên bang, gọi là khoai ngọt, luộc chín ăn rất ngọt. Chàng nếm thử đi! À, Liên Nhi tỷ tỷ, tỷ cũng nếm thử xem!

Nhìn thấy vật được nàng giơ lên ấy, Dương Lăng không khỏi ngạc nhiên thốt:
- Khoai lang?
Cẩn thận nhìn kỹ, đây quả đúng là hai củ khoai lang.

Hàn Ấu Nương lấy làm lạ hỏi:
- Tướng công biết nó à? Đây là sản vật từ phiên bang mang về đấy. Nghe đại ca nói ở phương nam có người trồng, ở nơi này nó vẫn là của hiếm, nhưng không hề đắt. Thế nên đại ca mua một ít về nếm thử cho biết.

Dương Lăng vội lấp liếm:
- Ta... à, lúc ta đi tới Phủ thành thi hương, từng thấy thứ này.
Đoạn y cười nói tiếp:
- Trông thế này e là nó đã để qua cả mùa đông, lượng nước ít đi, nướng lên ăn sẽ ngọt hơn. À phải rồi, so với ngũ cốc chúng ta trồng ở đây, thứ này dễ sinh trưởng hơn, sản lượng lại nhiều, sao không trồng với số lượng lớn nhỉ? Một mẫu phỏng chừng có thể thu hoạch được không ít lương thực đấy.

Nhìn vật trong tay, Hàn Ấu Nương tò mò hỏi:
- Vật này không có hạt giống thì sao mà trồng nhỉ? Hơn nữa cũng không biết nó có thích hợp với đất canh tác nơi đây của chúng ta hay không, người làm nông vẫn phải dựa vào thu hoạch mỗi mùa để mà sống qua ngày, ai dám mạo hiểm trồng nó chứ?

Lúc này Dương Lăng mới sực nhớ rằng y chưa bao giờ nhìn thấy các loại cây nông nghiệp thích hợp trồng trọt ở phương bắc như ngô, khoai lang, khoai tây được trồng ở Kê Minh cả. Cây nông nghiệp ở nơi đây căn bản vẫn là các giống như lúa mạch, lúa gạo, đậu, kê, vân vân... Xem ra, theo con đường mậu dịch hàng hải, những sản vật của nước ngoài này đã được đưa vào Đại Minh, chỉ có điều vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Nếu phổ biến những loại cây nông nghiệp này, vậy sản xuất nông nghiệp của cả Đại Minh sẽ được nâng cao biết bao.

Dương Lăng biết nông dân xem trọng nhất là đất đai, nếu như đột nhiên bắt bọn họ trồng những thứ cây lạ lẫm thay thế cho những giống cây lương thực truyền thống từ mấy trăm năm qua, chỉ sợ sẽ chẳng có ai dám mạo hiểm như vậy. “Lần này tiến kinh, có lẽ nên tìm cơ hội đề xuất với triều đình một phen, nếu chuyện này được chú trọng, rồi sau đó triều đình ra mặt phát triển những thứ cây trồng này trên diện rộng, vậy cũng xem như là mình đã làm được một chuyện ích nước lợi dân rồi!"

Nghĩ đến đó, Dương Lăng mừng vui khôn xiết. Y biết mình chưa động đến thì Ấu Nương nhất định sẽ không ăn một miếng nào, nên bèn khấp khởi nhận lấy củ khoai lang từ tay Ấu Nương. Y bẻ một miếng lớn, trìu mến đút vào cái miệng nhỏ xinh của nàng, nói:
- Nàng nếm thử xem ăn có ngon không?

Đưa mắt liếc qua, thoáng thấy mặt Mã Liên Nhi đầy vẻ hâm mộ, những tưởng là nàng cũng thèm vật hiếm lạ mà trước giờ chưa từng được thấy này, y bèn nhét củ khoai lang vào tay nàng, cười bảo:
- Đây, cô cũng nếm thử đi, ngọt lắm!

Mã Liên Nhi ưm một tiếng, nhìn y đầy vẻ tình ý mặn nồng. Nàng vừa cho khoai lang vào miệng, chợt nghe Hàn Ấu Nương "ợ" một tiếng, vẻ mặt trở nên khá là kỳ dị. Hoá ra bị Dương Lăng bẻ một miếng khoai lang lớn đút vào miệng, ngại má phồng lên sẽ trông khó coi nên Hàn Ấu Nương nuốt vội, không ngờ lại bị nghẹn.

Mã Liên Nhi thấy vậy vội vàng bỏ củ khoai qua một bên, dìu Ấu Nương ngồi xuống ghế, mang chén trà của Dương Lăng đến, nói:
- Ấu Nương muội muội! Muội uống miếng trà đi!

Ấu Nương đón lấy chén trà, hớp vài hớp cho thấm họng, thông cổ, đoạn liếc nhìn nàng như có thâm ý, ngại ngùng nói:
- Khiến Liên Nhi tỷ chê cười rồi, có điều cái thứ này ngọt thật đấy. Liên Nhi tỷ, tỷ cũng nếm thử đi!

Mã Liên Nhi ừm một tiếng, cầm lấy củ khoai, sau đó lại đặt đôi đũa vào tay Ấu Nương, nhẹ giọng bảo:
- Muội muội cũng nếm thử tay nghề của ta đi! Ta không giỏi nấu nướng, muội đừng chê cười nhé!

Hai người con gái, một người ăn khoai lang, một người nếm lẩu, bầu không khí bỗng trở nên chan hoà trong tiếng nói cười vui vẻ. Dương Lăng đứng một bên, không hề hay biết vừa rồi "thượng viện” và “hạ viện" đã đạt được một nghị quyết chung về vấn đề chủ quyền quốc gia và liên hợp cầm quyền.

(1) Hai câu thơ này được trích trong bài "Tân giá nương" (Nàng dâu mới) của Vương Kiến (王 建 ) thời Đường.
Nguyên văn:
Tam nhật nhập trù hạ,
Tẩy thủ tác canh thang.
Vị am cô thực tính,
Tiên khiển tiểu cô thường.

Dịch nghĩa:
Ngày thứ ba (cô dâu) xuống bếp
Rửa tay sạch rồi nấu món canh
Vì chưa biết rõ khẩu vị của mẹ chồng
Nên nhờ cô em chồng nếm thử trước.

Dịch thơ - Trần Trọng Kim:
Ba ngày xuống bếp làm cơm,
Rửa tay, nấu bát canh thơm đã rồi.
Chưa hay tính mẹ thường xơi,
Nhờ em nếm trước, xem mùi được không. (theo thivien.net)

(2) Lẩu là cách gọi theo kiểu phiên âm từ chữ 爐 ( lú), đọc là lô. "Đả biên lô" tức là món ăn nấu chín bên lò lửa (biên lô).




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
01-11-2010, 11:00 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 51 - Ngũ tiễn liên châu (Năm mũi tên liên tiếp)

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Cho nên vừa nghe Giang Bân nói tiễn thuật của Ấu Nương xuất sắc, Mã Liên Nhi liền nổi lòng háo thắng, lập tức thôi không khước từ nữa mà tháo cung tên xuống, tay phải đưa ra sau rút luôn năm mũi tên từ trong ống.





Quyển hai - Nhắm mắt lên kinh
Chương 51 - Ngũ tiễn liên châu (Năm mũi tên liên tiếp)

Sắc xuân ló dạng, tuyết chảy băng tan, bình nguyên rợp bóng cỏ xanh rờn song trên những dãy núi xa xa vẫn trắng xoá băng tuyết. Hôm nay gió xuân nhàn thổi, không khí thoáng đãng dễ chịu, từng đám mây trắng trôi lững lờ trên bầu trời xanh thẳm. Trên thảo nguyên, những khóm cỏ non phủ lên mặt đất ẩm ướt tơi xốp trông như một tấm thảm mềm mại.

Tất đô ty và Trương huyện lệnh mới nhậm chức cùng một số quan chức dân sự lẫn quân sự đang cưỡi ngựa đi vòng qua núi Kê Minh. Phía trước là một thảo nguyên, vài chú chim đang bay lượn là là trên thảm cỏ. Trương huyện lệnh là tiến sỹ năm Hoằng Trị thứ mười hai (1499), tuy là thư sinh tuổi trạc tam tuần nhưng lại đang cưỡi chiến mã, kỵ thuật cũng tương đối rành rẽ.

Đi song song với Trương huyện lệnh, Tất đô ty quay sang mỉm cười nói:
- Tất mỗ xưa nay vẫn cho là thuật cưỡi ngựa bắn tên trong học xá (như trường học - ND) chỉ là chuyện hư hão mà thôi. Khi nãy nghe quý sư gia nói Trương đại nhân có thể kéo cung ba thạch (1 thạch bằng 60 kg, cung ba thạch là loại cung cần dùng lực kéo 180kg mới có thể kéo được – ND.), trong vòng trăm bộ (khoảng 167 mét, một bộ là 5/3 mét – ND.) bách phát bách trúng, ấy thật là văn võ song toàn.

Vừa nói ánh mắt hắn lại vừa lơ đễnh liếc trộm Mã Liên Nhi. Mã Liên Nhi đang cưỡi một thớt ngựa đỏ tía, trên người mặc trang phục đi săn, khoác thêm một chiếc áo lụa mỏng ở bên ngoài, tất cả đều có màu xanh sẫm, chân nàng vẫn xỏ đôi giày tang, lưng thắt đai trắng, bên hông còn giắt thanh loan đao nhỏ như để làm đồ trang sức. Nàng khoác nghiêng chiếc cung, lưng đeo ống tên, trang phục khoẻ khoắn mang phong cách của dị tộc vùng Tái ngoại khiến nàng càng thêm phần lộng lẫy.

Gió xuân thổi chiếc áo khoác lụa tung bay, vừa hay giúp cho bộ trang phục đi săn tôn lên những đường cong quyến rũ của nàng. Đằng sau chiếc áo lụa mỏng tanh, những đường cong hoàn mỹ mang đầy hơi thở của tuổi thanh xuân ấy lúc ẩn lúc hiện, quyến rũ vô cùng. Nghĩ đến việc mấy ngày nữa sẽ có thể ôm lấy tiểu mỹ nhân quyến rũ này vào lòng, Tất đô ty không khỏi sinh lòng dâm dục.

Thật tình hắn lười chẳng muốn để ý đến Huyện thái gia, trong lòng thầm hận trên thảo nguyên này không thể chỉ có hắn và Mã Liên Nhi, hai người lấy đất làm giường, lấy trời làm chăn, điên đảo một phen cho sướng. Nhưng dẫu gì hắn cũng là đại quan có thân phận trong triều đình, đừng nói hiện giờ Mã Liên Nhi còn chưa phải là thiếp của hắn, cho dù đã được hắn cưới về, lúc này hắn vẫn đang ở cùng một chỗ với đồng liêu, nếu chỉ lo cho ái thiếp của mình thì thật quá mất thân phận.

Nghe được lời "khen tặng" của Tất đô ty, Trương huyện lệnh dè dặt mỉm cười, vuốt râu khiêm tốn đáp:
- Đại nhân quá khen rồi. Lúc còn ở học xá, bổn huyện tuy cũng tập bắn cung cưỡi ngựa, nhưng nào so được với đại nhân và các vị mãnh tướng trong quân. Về phần cây cung ba thạch đó thì... bổn huyện quả thực là không giương nổi, có điều bách phát bách trúng... Ha ha ha, Tất tướng quân hẳn không biết! Bia trong học xá của chúng ta ở Phúc Kiến có đường kính gần một trượng.

Bia lớn có đường kính một trượng? Tất đô ty nghe xong, thoạt tiên ngây người, sau đó bật cười ha hả. Các quan bên cạnh phần lớn là người phương bắc hoặc tướng lĩnh trong quân, tất cả đều không kềm được vẻ tủm tỉm, có người vội hắng giọng nhằm che giấu nụ cười. Với bia có đường kính một trượng, nếu nói trong vòng trăm bộ bách phát bách trúng thì thật sự cũng chẳng có gì đáng khoe khoang. Bọn họ quả thật không ngờ bia trong học xá ở phương nam lại lớn như vậy.

Mã Liên Nhi ngồi trên lưng ngựa, vẻ mặt như cười mà chẳng phải cười, tâm tư ngơ ngẩn, chỉ thả hồn vào tâm sự của bản thân. Mã Ngang cẩn thận liếc nhìn vẻ mặt của em gái, thấy nàng sắc mặt bình tĩnh, hắn còn tưởng rằng nàng thấy Tất đô ty đầu đội mũ, thân mặc giáp, oai phong lẫm liệt, thế nên đã bị rung động bởi khí phách anh hùng của gã, lúc này mới cảm thấy yên tâm.

Buổi sáng Mã Liên Nhi bị ca ca gạt ra ngoài, lấy lý do là rủ nàng đi dạo chơi săn bắn. Lúc này trái tim đã có chốn về, Mã Liên Nhi đang cảm thấy cực kỳ vui vẻ, do vậy nàng cũng không muốn tỏ ra quá khắt khe với người thân duy nhất của mình. Huống hồ khi ở tái ngoại, hầu như mỗi ngày nàng đều cưỡi ngựa bắn cung, từ khi trở về Trung Nguyên thì đã lâu không thử lại tay nghề, nên nàng bèn vui vẻ đồng ý ngay. Nào ngờ sau khi cưỡi ngựa ra ngoài thành bằng con chiến mã do ca ca dắt đến, Mã Liên Nhi thấy một đám quan chức, lại còn có cả Tất đô ty, lúc bấy giờ nàng mới hiểu rõ ý đồ của ca ca mình.

Vốn Mã Liên Nhi muốn quay đầu ngựa bỏ đi ngay, nhưng hiện đang có nhiều quan viên không hiểu rõ sự tình đang ở đây, nàng làm như vậy sẽ quá thất lễ. Sợ rằng nàng vừa mới bỏ đi, lập tức sẽ xuất hiện rất nhiều lời võ đoán và chỉ trích. Nếu là trước đây nàng còn có thể chẳng để tâm đến cách nhìn của người khác, nhưng hôm nay nàng đã tự xem mình là người của nhà họ Dương, nên không dám không kiêng nể điều gì như trước nữa, đành phải đi theo tới thảo nguyên.

Tối hôm qua, sau khi được Ấu Nương ngầm tỏ ý tiếp nhận, xem như chuyện sau này được gả vào nhà họ Dương đã là trăm phần trăm, Mã Liên Nhi vừa yên tâm lại vừa cảm thấy ngọt ngào. Nàng hoàn toàn ngây ngất trong tâm tình của bản thân, đôi mắt lung linh trong veo như nước hồ thu thỉnh thoảng hoà theo dòng cảm xúc. Nàng lúc thì mỉm cười, khi thì e thẹn, phối hợp với ngũ quan xinh xắn mê người tạo nên một vẻ quyến rũ khôn tả.

Khi Tất đô ty nhìn nàng bằng ánh mắt nóng bỏng thì nàng cũng nhận biết. Nàng thấy hắn tự cao rằng bản thân là người có danh phận, chẳng những không dám đến gần bắt truyện với nàng, mà còn khi nhìn nàng cũng phải mượn lúc nói chuyện với người khác rồi liếc một cái thật nhanh, như thể sợ sẽ làm mất cái vẻ “oai phong” của một gã tướng quân vậy. Trong lòng nàng chỉ cảm thấy cái vẻ giả dối của hắn thật buồn cười.

Dương đại ca. Ôi, Dương đại ca!

Nghĩ đến Dương Lăng, lòng Mã Liên Nhi lại thầm cảm thấy ngọt ngào. Dương đại ca chẳng như cái kẻ kia, huynh ấy thèm vào quan tâm đến việc người khác nghĩ gì về bản thân. Ngày đó hai người bọn mình từ trong vùng rừng núi trở về thành, mấy người Mẫn đại nhân, Giang bả tổng đều đứng trên tường thành, nhưng khi bước vào thành Dương đại ca lại chỉ ôm chặt lấy Ấu Nương đang đẫm lệ vào trong lòng, sau đó còn dỗ dành, chọc cười muội ấy, mặc kệ những người xung quanh. Lúc nhìn Ấu Nương, đôi mắt ấy huynh ấy tựa như đang ngắm bảo vật trong lòng vậy.

Nghĩ đến đây, lòng Mã Liên Nhi lại không khỏi rạo rực. Chỉ cần có một ngày huynh ấy cũng có thể nhìn mình bằng ánh mắt chở che yêu thương như vậy, đừng nói là chờ ba năm, dù có chờ ba mươi năm, chờ cả đời, mình cũng sẵn lòng.

Nghĩ vậy, Mã Liên Nhi bất giác lại mỉm cười.

Suốt nãy giờ Giang Bân vẫn ở bên cạnh ngắm nàng, lúc này thấy nụ cười xinh như nụ đào hé nở làm mê đắm lòng người kia, cặp mắt hắn không khỏi muốn rớt ra ngoài. Hôm đó Mã Liên Nhi từ ngoài thành trở về, áo quần nhếch nhác, tóc mai tán loạn, trong mắt hắn nàng đã chẳng khác gì tiên nữ rồi. Hôm nay nàng trang điểm nhạt, trang phục khoẻ khoắn, đẹp đến mức khiến người ta phải nghẹt thở. Ôi trời, nếu như có thể cưỡi lên người đại cô nương hoa nhường nguyệt thẹn này thì...

Giang Bân nuốt nước miếng ừng ực, rồi ngẩng đầu oán hận liếc nhìn Tất Xuân, trong lòng thầm nhủ: "Con mẹ nó, nếu mình mà cũng là một đại tướng quân, dù gì cũng phải cưới cô nàng như vậy về thì mới không tính là uổng phí cuộc đời."

Từ miệng thân binh trong quân của Tất đô ty, gã cũng đã nghe phong phanh tin tức Tất Xuân muốn nạp Mã Liên Nhi về làm thiếp. Hôm nay Tất Xuân mời các vị quan lại trong vùng du xuân, chỉ đem theo mỗi một cô gái này, thật ra không chỉ có gã, đa số quan lại có mặt nơi đây cũng đã đoán được vài phần.

Từ trong bụi cỏ phía trước một con hươu bào béo múp chợt nhảy ra, lao về phía sườn núi cách đó không xa. Quan Thụ Anh hô to lên:
- Đại nhân, ngài mau nhìn kìa, có một con hươu bào!

Những kẻ này ai nấy trên lưng đều đeo quân cung (Để phân biệt với cung dùng trong săn bắn – ND.), nghe thấy vậy đều vội vã lấy cung ra cầm trên tay. Nhưng đám quan viên thì không ai động thủ, những thân binh kia có bắn tên ra cũng chỉ để chặn đường chạy của con hươu, dọa nó phải chạy sang hướng khác mà thôi. Con mồi ư? Đương nhiên là để dành cho tướng quân đại nhân bắn rồi.

Con hươu bào ngốc nghếch đáng thương đó bị những mũi tên chuẩn xác của đám thân binh dọa sợ hãi chạy loạn cả lên. Hai người Tất đô ty đứng đầu võ tướng và Trương huyện lệnh đứng đầu văn quan lúc này đều đã cầm cung, rút tên, nhưng lại không ai động thủ. Hai tên cứ ở đó khiêm tốn nhường nhau, toàn nói mấy câu khách sáo kiểu nhà quan như "mời đại nhân bắn trước mở màn, để bọn tôi được kiến thức một phen"…

Mã Liên Nhi thấy bọn họ đi săn mà cũng giả tạo khách sáo như vậy, hoàn toàn không có cái lạc thú của việc dạo tiết thanh minh hay săn bắn, bèn thầm hừ một tiếng, khinh bỉ quay ngoắt đầu đi. Thị vệ tùy thân của Tất đô ty là Trịnh Đại Bằng thúc ngựa chạy lên phía trước thưa với Tất Xuân và Trương huyện lệnh:
- Các vị đại nhân, hôm nay Mã tiểu thư là phụ nữ duy nhất trong nhóm chúng ta, theo ty chức thấy, mũi tên mở màn này chi bằng mời Mã tiểu thư ra tay. Mã tiểu thư vận quân trang, chắc hẳn thuật cưỡi ngựa bắn cung cũng bất phàm.

Trương đại nhân được mệnh danh có thể giương được cung ba thạch, nội trong trăm bộ bách phát bách trúng, đối mặt với con hươu bào béo ú cách có mấy chục bộ đó thật sự cũng hơi lo, lo là mũi tên mở màn ấy nếu thật có trúng thì cũng sẽ phải nghe toàn những lời hoan hô ngược mà thôi. Cho nên khi nghe thấy lời của Trịnh Đại Bằng, hắn như được đại xá, lập tức vỗ tay cười nói ngay:
- Hay lắm, hay lắm, bậc anh thư không thua gì trang nam tử mà. Vậy mời Mã tiểu thư bắn mũi tên mở màn này, chúng ta xin rửa mắt mà trông.

Được gãi đúng chỗ ngứa, cặp mắt tam giác của Tất đô ty cũng trở nên hoà nhã hơn hẳn. Cuối cùng hắn cũng có cơ hội đường hoàng quay sang nói chuyện với Mã Liên Nhi mà không sợ kẻ khác dị nghị chê cười. Hắn lập tức nghiêng người sang phía Mã Liên Nhi, cười nói:
- Mã tiểu thư, vậy mời cô thi triển thân thủ được không?

Hắn vừa nói xong, mọi người lập tức dạt ra hai bên, nhường đường cho Mã Liên Nhi.

Thật ra, do câu nói vô tình mời Mã Liên Nhi bắn phát tên đầu của Trịnh Đại Bằng mà lúc đó Tất đô ty mới nảy ra ý nghĩ lấy lòng nàng. Nhưng Mã Liên Nhi lại không biết nội tình, nàng cho là gã Tất đô ty thông đồng cùng thân binh sắp đặt từ trước, nên trong lòng càng thêm chán ghét gã.

Nàng nheo đôi mắt lại thành hai đường cong vút, sau đó mỉm cười đáp:
- Tất tướng quân thân kinh bách chiến, sát khí bức nhân, Trương đại nhân thiện xạ như thần, trăm phát trăm trúng. Tiểu nữ lưng đeo cung chẳng qua cũng chỉ là hư trương thanh thế, nào dám múa rìu trước mặt hai vị đại nhân? Tiểu nữ còn mong được kiến thức sự thần dũng của hai vị đại nhân một chút nữa cơ.

Giọng nói nàng vô cùng mềm mại và ngọt ngào. Thật ra chẳng qua nàng chỉ cố ý nói bằng giọng trong trẻo hơn một chút, nhưng âm thanh như vậy phát ra từ miệng mỹ nhân, kẻ khác sẽ có cảm giác nũng nịu lả lơi, quyến rũ khôn tả.

Mã Ngang vừa nghe liền biết không ổn. Hắn là người biết rõ tính khí của em gái mình nhất, hiểu rằng một khi cô em dùng giọng điệu như vậy để nói chuyện, chính là lúc nàng sắp hết kiên nhẫn, muốn nổi nóng rồi. Hắn vừa định chạy lên dàn xếp, không ngờ Giang Bân vừa nghe âm thanh hớp hồn của Mã Liên Nhi, xương cốt liền nhũn ra, thiếu chút nữa đã ngã cắm đầu xuống đất.

Lúc ấy mọi người đều đang nghe Mã Liên Nhi nói, mà gã lại ở gần Mã Liên Nhi nhất, cho nên tức thời toàn bộ ánh mắt đều tập trung trên người gã. Tuy da mặt không phải là mỏng, nhưng Giang Bân cũng hơi xấu hổ ngượng ngùng. May là gã rất nhanh trí, vội vàng cười nói:
- Ài, câu bậc anh thư không thua gì trang nam tử của Trương đại nhân làm ty chức lại nhớ đến phu nhân của Dương dịch thừa.

Trên chiến trường nào đã từng cho phép đàn bà ra trận, nhưng ngày đó giặc Thát công thành, Dương phu nhân nữ cải nam trang, đã ở trên thành hiệp trợ quân ta anh dũng giết giặc, đó chẳng phải là Hoa Mộc Lan, bậc anh thư không thua gì trang nam tử hay sao? Dương phu nhân đã từng một tên bắn chết gã Thát Tử khiêu chiến dưới thành. Lúc ty chức đi thu dọn xác chết, thấy gã đó bị mũi tên cắm vào từ sau gáy, rồi xuyên hẳn ra ngoài ngay dưới cổ họng ba tấc, một tên trí mạng. Tiễn pháp ấy thật không tầm thường, ha ha ha, thật không tầm thường.

Tất đô ty nghe xong bèn cười ha hả khen:
- Dương dịch thừa trói gà không chặt, không ngờ Dương phu nhân lại giỏi võ nghệ như thế. Mã tiểu thư, cô cũng chớ nên khước từ nữa, chi bằng cô cũng thi triển tài nghệ đi được chăng?

Thật ra thì tiễn thuật của Mã Liên Nhi ra sao hắn cũng chẳng để ý, chẳng qua là muốn dỗ dành cho nàng vui vẻ mà thôi, cho dù nàng có sẩy tay thì hắn cũng có thể cười xoà, nữ nhân mà!

Tuy Mã Liên Nhi mang lòng cảm kích Hàn Ấu Nương, đã xem nàng là tỷ muội thân thiết nhất của mình, song nội tâm con người rất là kỳ lạ, trong tiềm thức nàng lại rất sợ mọi người nghĩ rằng Ấu Nương tài giỏi hơn mình. Địa vị của nàng sau này đã không thể bằng với Ấu Nương, nếu Ấu Nương lại còn xuất sắc hơn nàng ở mọi mặt, trong lòng nàng sẽ càng cảm thấy không an toàn.

Cho nên vừa nghe Giang Bân nói tiễn thuật của Ấu Nương xuất sắc, Mã Liên Nhi liền nổi lòng háo thắng, lập tức thôi không khước từ nữa mà tháo cung tên xuống, tay phải đưa ra sau rút luôn năm mũi tên từ trong ống. Mọi người không khỏi kinh ngạc ồ lên một tiếng, không biết nàng muốn làm gì. Có vài gã quan văn không am tường võ nghệ còn cười thầm, cho là nàng căn bản không biết bắn cung.

Mã Liên Nhi giật cương thúc ngựa phóng lên mấy bước, đoạn thả cương xuống, tay trái cầm cung, tay phải cầm ngược bốn mũi tên ở phần lông đuôi, chỉ đặt một mũi lên dây cung. Sau đó nàng hít sâu một hơi, kéo căng cây cung như trăng rằm rồi buông dây, một mũi tên lao vụt đi.

Mọi người còn chưa kịp quay đầu xem mũi tên đó đã trúng hay chưa, Mã Liên Nhi đã như làm xiếc, tay phải phất khẽ, lại một mũi tên nữa được đặt lên dây, thủ pháp nhanh nhẹn vô cùng. Chỉ nghe tiếng dây cung "tạch, tạch " liên tiếp mấy tiếng, năm mũi tên lướt đi cực nhanh, tên này nối tiếp tên kia bay đi vun vút. Tên bắn ra liên tục liền trong một hơi, khiến mắt người không theo kịp.

Bắn năm mũi tên xong, Mã Liên Nhi lật tay khoác chéo chiếc cung lên vai như cũ, rồi nàng quay đầu ngựa lại, khẽ mỉm cười nói:
- Tiểu nữ đã sẩy tay rồi.

Mọi người đang há hốc mồm kinh ngạc, nghe thấy vậy bèn ngẩng đầu nhìn ra phía xa, chỉ thấy năm mũi tên tạo thành hình ngũ giác nhốt con hươu bào đang run lẩy bẩy vì sợ kia vào giữa. Khoảng cách giữa các mũi tên gần như toàn bộ giống hệt nhau, như thể đã được đo đạc đàng hoàng.

Sau một lúc lâu, một tay tướng lĩnh dưới trướng Tất đô ty kinh ngạc thốt lên:
- Liên châu tiễn pháp! Đồn rằng thần tiễn Triết Biệt (1) của giặc Thát nhanh nhất cũng chỉ có thể bắn một lần chín tên, Mã tiểu thư không ngờ lại bắn được năm mũi liền lúc, thật là lợi hại, thật là lợi hại!

Mọi người nghe xong, bất luận là hiểu hay không hiểu đều ca tụng không ngớt. Tất đô ty vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, càng không tiếc lời ngợi khen. Đôi mắt to tròn đen láy của Mã Liên Nhi thoáng liếc về phía Giang Bân như để thị uy, trên mặt mang theo mấy phần đắc ý.

Đúng vào lúc này, đằng xa có một người cưỡi ngựa phóng vội đến. Mọi người đều quay đầu nhìn, chỉ thấy kẻ đó càng lúc càng gần. Khi kẻ đó chạy đến gần mọi người mới thấy rõ trên người hắn vận áo số (Áo được đánh số, dùng cho các binh sỹ và nha dịch thời xưa – ND.) của dịch trạm, cưỡi một thớt dịch mã. Khi đến trước mặt mọi người hắn ghìm cương lại, vẻ mặt nôn nóng nhìn khắp đám người như đang tìm kiếm ai đó.

Vừa thấy y Mã Liên Nhi liền nhận ra đó là đại ca Hàn Uy của Ấu Nương, bèn vội vàng thúc ngựa chạy lên mấy bước hỏi:
- Hàn đại ca! Sao huynh lại đến đây?

Hàn Uy mặt đầy mồ hôi, cũng không biết là vì đang nôn nóng hay vì mệt, y vừa đưa ống tay áo lên quệt mồ hồ trên mặt vừa nói:
- Mã tiểu thư, tôi tìm cô đến khổ. Kinh thành đột nhiên cử một vị công công đến, ông ta phụng thánh chỉ của hoàng đế đến truyền lệnh Dương Lăng lập tức vào kinh. Em gái và em rể kêu ta báo với cô một tiếng, nhưng ta không biết các người đang săn bắn ở chỗ nào. Vừa rồi ta đã phải chạy khắp các nơi xung quanh một lượt đấy...

Y còn chưa nói xong, Mã Liên Nhi đã cả kinh la lên một tiếng, hai chân thúc vào bụng ngựa, không hề quay đầu mà giục ngựa phi thẳng về trạm Kê Minh. Các quan viên ngơ ngác nhìn nhau, bọn quan viên ở nha huyện còn to nhỏ thì thầm, sắc mặt kỳ dị. Mã Liên Nhi vừa nghe nói Dương Lăng đã đi rồi, lập tức tỏ ra vô cùng nôn nóng, thậm chí còn không thèm gởi lại một câu chào cho phải phép. Nàng và Dương Lăng một là không thân không thích, hai là chẳng phải bạn bè, nếu nói hai người bọn họ không có tư tình, ai mà tin chứ?

Tất đô ty mặt mày xám xịt, cặp mắt tam giác đỏ ngầu, cả người hơi run rẩy. Mã Ngang phi ngựa đến bên cạnh hắn, run rẩy gọi nhỏ:
- Tất... Tất đại nhân...

Tất đô ty cười gằn một tiếng, xoay người giương cung lắp tên. Sau tiếng kêu rền rĩ của dây cung, mũi tên sắc bén “chíu” một tiếng bay đi, bắn xuyên qua thân con hươu đang bị vây trong năm mũi tên không dám động đậy, khiến nó gục xuống đất.






(1) Triết Biệt hay còn gọi là Giả Biệt (không rõ năm sinh - mất 1225) là một trong những viên đại tướng của Thành Cát Tư Hãn. Ông nổi tiếng với tài bắn tên bách phát bách trúng. Người ta cho rằng Triết Biệt không phải là tên thật của ông mà là do Thành Cát Tư Hãn đặt cho (trong tiếng Mông Cổ, Triết Biệt có nghĩa là thần tiễn)

Khi Thành Cát Tư Hãn đem quân tấn công bộ lạc Tần Diệc Xích Ngột, Triết Biệt hăng hái chống cự. Trong lúc chiến đấu ông đã bắn bị thương Thành Cát Tư Hãn nhưng do quân địch quá đông, bộ lạc của ông thua. Triết Biết bị bắt, đầu hàng Thành Cát Tư Hãn và trở thành viên tướng dưới quyền.

Sau này Triết Biệt đi theo Thành Cát Tư Hãn chinh chiến, lập được rất nhiều công lao. Triết Biệt đã từng cầm quân tấn công Trung Quốc, Trung Á và Đông Âu. Ông chưa bao giờ tỏ ra cậy công, luôn tỏ ra trung thành với Thành Cát Tư Hãn. Triết Biệt mất trên đường đánh Kievan Rus, một quốc gia có thủ đô là Kiev, lãnh thổ ngày nay trải dài trên Belarus, Ukraina và Liên Bang Nga. (theo wikipedia)




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
05-11-2010, 06:45 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 52 - Lớ ngớ lên kinh

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



"Sợi tóc, sợi tình, ba mũi tên, ba năm chờ đợi. Nha đầu này sẽ không cố chấp như Ấu Nương đó chứ?"




Quyển hai - Nhắm mắt lên kinh
Chương 52 - Lớ ngớ lên kinh

Mặt trời chói lọi đã lên cao, người đi đường bắt đầu đông dần, cổng thành bắc bỗng nhiên xuất hiện một đội ngũ kỳ dị: mười sáu gã cấm quân Đại Minh vận quân trang, đao dắt bên hông, đang hộ tống một chiếc xe ngựa được sơn sáng bóng chạy vào thành.

Tuấn mã cao lớn tuyền một màu trắng, yên ngựa hoa lệ, khôi giáp những gã võ sĩ trên ngựa mặc tinh mỹ hơn trang phục của quân biên phòng gấp không biết bao nhiêu lần. Sau khi vào thành, xe ngựa không hề dừng lại, đội nghi trượng (1) tiến thẳng về phía sở Dịch thừa.

Trong sở dịch, Dương Lăng đang uống trà tán gẫu cùng Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh, nghĩ mọi cách hòng moi thêm tin tức về kinh thành và cẩm y vệ từ miệng bọn họ. Lúc này một gã dịch tốt vội vội vàng vàng chạy vào bẩm báo:
- Đại nhân, có quan viên đi qua đây đến đưa thư trú giá (thư yêu cầu được ngụ lại tại sở dịch đương địa – ND.), đội xe đã sắp đến nơi rồi.

Nghe xong, Dương Lăng cảm thấy rất đỗi kỳ lạ. Tuy rằng sở dịch chịu trách nhiệm tiếp đãi các quan viên qua lại, nhưng cách trạm Kê Minh này không xa chính là địa bàn của người Thát Đát, cho nên chưa từng có quan lớn ghé qua. Nếu như có quan viên đến đưa thư trú giá, vậy quy mô đội xe nhất định không nhỏ, là ai đến đây nhỉ?

Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh vội vã theo y ra ngoài đón khách. Trên con đường truyền tin trước mặt một chiếc xe ngựa đang chầm chậm đi tới, ở hai bên chiếc xe, mỗi bên có tám thớt tuấn mã được cưỡi bởi những kỵ sĩ đầu đội mũ thân mặc giáp, thập phần uy vũ.

Vừa thấy lá hoàng kỳ cắm trên xe ngựa, Liễu Bưu mau chóng tiến lên một bước, ghé vào tai Dương Lăng nói nhỏ:
- Đại nhân, đây là người ở kinh sư đến đó.

Dương Lăng khẽ gật đầu, đứng trang nghiêm trước cửa. Chiếc xe ngựa tiến đến trước mặt y rồi dừng lại, rèm cửa vén lên, từ trong một người khom lưng bước ra. Trông lão tuổi độ hơn năm mươi, khuôn mặt gầy gò, mặc trang phục thái giám trong cung.

Dương Lăng thất thanh kêu lên:
- Lưu công công?

Người đó đúng là giám quân Lưu công công. Lão bước xuống xe ngựa, toét miệng cười với Dương Lăng:
- Dương dịch thừa, ta và cậu thật có duyên đó! Mới hơn một tháng mà chúng ta đã lại gặp nhau rồi.

Dương Lăng mời Lưu công công vào trong đại sảnh, lòng vẫn chưa rõ mục đích đến đây của lão ta. Việc y được thăng chức làm một gã đồng tri ngũ phẩm trong cẩm y vệ đâu cần đến thái giám trong cung xuất hiện? Thông thường thái giám chỉ xuất cung khi phụng chỉ giám sát quân đội, thu thuế, hoặc mua sắm vật dụng cho hoàng cung; rất hiếm khi triệu kiến một gã quan viên dưới tam phẩm mà cần thái giám mang thánh chỉ đến tuyên chiếu.

Mười sáu tay võ sĩ bước vào đại sảnh đứng sang hai bên, tay dằn cán đao bên hông, mắt nhìn thẳng. Lưu công công đi đến chính giữa đại sảnh rồi quay người lại, đằng hắng một tiếng, cất cao giọng:
- Dịch thừa huyện Kê Minh Dương Lăng tiếp chỉ!

Dương Lăng vẻ mặt lơ ngơ luống cuống, không biết phải làm sao. Nghe nói hoàng đế hạ thánh chỉ cho mình, y vô cùng ngạc nhiên; còn về phần tiếp chỉ, có phải làm giống như trong phim hay không, y cũng không rõ lắm. May mà Lưu công công cũng đã thấy nhiều người như vậy, thánh chỉ không phải là tờ rơi, có bao nhiêu quan viên thật sự được tiếp thánh chỉ chứ? Thậm chí ngay cả đại thần làm quan trong triều, có không ít người trong lần đầu tiếp thánh chỉ cũng đã gây ra những chuyện nực cười. Lão khẽ mỉm cười, hai tay cầm thánh chỉ, nhẹ giọng bảo:
- Dương dịch thừa, quỳ xuống nghe tuyên chỉ là được!

Dương Lăng đưa mắt ánh mắt cảm kích nhìn lão rồi vội vàng quỳ hai gối xuống, nói:
- Thần Dương Lăng xin nghe.

Lần đầu quỳ trước kẻ khác, trong lòng Dương Lăng vẫn hơi có chút không thoải mái, chỉ đành coi như là nhập gia tuỳ tục vậy, dù sao y cũng không có gan kháng cự.

Lưu công công từ từ mở thánh chỉ ra, rồi cất cao giọng:
- Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: Trẫm nghe: Tam Đại (*) sở dĩ được thiên hạ, ấy là bởi tại lòng dân. Thế nên, dân chính là gốc rễ của quốc gia. Bậc Tiên hiền có nói: khi mà đại đạo được thực thi, thiên hạ sẽ thuộc về mọi người.
((*): tên chung chỉ ba triều đại cổ ở Trung Quốc - nhà Hạ do Vũ sáng lập, nhà Thương do Thành Thang dựng lên, và nhà Chu do Chu Văn Vương khởi thủy.)

Lưu công công đọc du dương trầm bổng, đầu gật gù lắc lư. Dương Lăng nghe Lưu công công đọc mấy thứ cổ văn đó, mặc dù hiểu được ý nghĩa bên trong, nhưng cũng nghe đến trầy trật. Mãi một hồi lâu sau y mới thấy Lưu công công đi vào chủ đề chính:
- Vì lẽ đó, dân chính là chủ của quốc gia, Thiên tử nhờ dân mà có thiên hạ. Đấng quân vương phải coi trọng chữ tín, giữ lấy thuận hoà, tuyển chọn hiền lương. Đương kim thái tử thông tuệ hiếu học, nghe có tú tài Tuyên phủ là Dương Lăng, có tài kiêm đức, rất tốt. Nay trẫm tuyên Dương Lăng vào kinh, nhậm chức thái tử thị độc (Chức quan chuyên hầu hạ thái tử đọc sách – ND.), sau khi nhận chiếu lập tức tiến kinh, không được chậm trễ. Khâm thử. Tháng hai năm Hoằng Trị thứ mười tám.

Dương Lăng nghe mà ù ù cạc cạc. Thái tử thị độc? Không phải là cẩm y vệ đồng tri sao? Trong lòng y chợt nhớ đến lời Mã Liên Nhi đã nói đêm hôm ấy: “Thăng cấp trong quân đội nào phải trò đùa. Có câu nói 'quan lộ hiểm ác' huynh có biết không? Để muội suy nghĩ một chút, ừm... với 'công lao' mà huynh lập được, tuyệt không có lý nào thăng liền ba cấp, thẳng đến trung ương của Cẩm y vệ. Trong kinh lại càng không thể có ai tốt bụng mà vô duyên vô cớ thăng chức cho huynh như vậy. Chúng ta phải suy nghĩ thật kỹ xem sao, không thể để cho kẻ khác hãm hại được...”

Dương Lăng đột nhiên bừng hiểu. Chẳng trách Cẩm y vệ lại vội vàng chạy đến thăng quan cho y, hoá ra là vì nghe nói hoàng đế muốn y làm thái tử thị độc, cho nên đến để thêu hoa trên gấm (ý làm cho chuyện đã tốt đẹp sẵn rồi càng tốt đẹp hơn nữa – ND.). Tuy rằng thái tử thị độc chỉ là quan lục phẩm, nhưng nói trắng ra đó chính là bạn học của thái tử, một khi thái tử đăng cơ, những kẻ thân cận và hiểu rõ thái tử nhất ấy có lẽ nào lại không được trọng dụng?

Chức dịch thừa này của y vốn chỉ là một tiểu lại con con ở vòng ngoài của Cẩm y vệ, hôm nay một bước thăng quan liền đã trở thành nhân viên cộm cán ở trung ương. Ban cho một chức quan để lôi kéo tâm phúc của hoàng đế tương lai về bên phe mình, đương nhiên Cẩm y vệ chẳng thiệt thòi gì rồi.

Thấy y vẫn ngỡ ngàng quỳ tại chỗ, Lưu công công bèn thấp giọng bảo:
- Dương dịch thừa, sao còn chưa lĩnh chỉ tạ ân?

Dương Lăng sực tỉnh, vội vàng hô to:
- Thần lĩnh chỉ tạ ân!

Hai tay y đón lấy thánh chỉ trong tay Lưu công công. Liếc thấy lão không có ý bắt mình thực hiện ba quỳ chín lạy, y bèn đứng lên.

Giao thánh chỉ xong, Lưu công công lập tức thu lại vẻ cao cao tại thượng, ôn hoà nói với Dương Lăng:
- Dương tướng công! Ta là Lưu Cẩn, nô tài bên cạnh thái tử gia, sau này Dương tướng công làm thái tử thị độc, chúng ta còn phải thân thiết với nhau nhiều mới được.

Dương Lăng nghe xong giật mình đánh thót, thất thanh kêu lớn:
- Lưu Cẩn? Ông là Lưu Cẩn sao? (2)

Lưu công công chớp chớp mắt, lấy làm lạ hỏi:
- Sao? Dương tướng công đã từng nghe nói về ta à?

Dương Lăng gật gật, rồi lại lắc lắc đầu, cũng không biết nên nói gì cho phải.

Lưu Cẩn, nguyên mẫu của vị xưởng công (3) trong "Tân Long Môn khách sạn", đại thái giám giết người không chớp mắt trong truyền thuyết, vậy mà lại là lão thái giám tướng mạo tầm thường này ư?

Nhờ phước của tiểu thuyết và ti-vi nên cái đám Uông Trực, Vương Chấn, Lưu Cẩn, Ngụy Trung Hiền gì gì đó Dương Lăng đều rất quen thuộc. Trong đó những đại thái giám này kẻ nào kẻ nấy đều có một thân võ công quỷ dị tuyệt luân, tóc bạc phơ mặt hồng hào, tính cách quái gở. Bây giờ tận mắt nhìn thấy Lưu Cẩn thật sự lại có tướng mạo tầm thường, nhất thời Dương Lăng vẫn nghĩ là trùng họ trùng tên.

Lưu Cẩn vui vẻ nói:
- Ta hầu hạ bên cạnh thái tử gia, hiếm khi rời khỏi kinh thành, người biết được tên ta không có mấy, chẳng ngờ Dương tướng công lại đã nghe qua. Ha ha, quả nhiên là “tú tài không ra khỏi nhà mà vẫn rành chuyện thiên hạ”.

Dương tướng công, giờ cậu đã nhận thánh chỉ, ta thấy chúng ta hãy lập tức khởi hành thôi. Đương kim thái tử đam mê võ thuật, thích nhất là múa gậy đánh thương, hành quân bố trận. Bức thư mà Dương tướng công trình lên cho Hà tham tướng ta đã mang về kinh, thái tử gia xem xong rất thích, muốn dùng phương pháp của cậu để thao luyện Thần Cơ doanh đấy, chớ để thái tử gia sốt ruột.

Lúc này Lưu Cẩn xử lý công vụ khá là cẩn thận và nghiêm túc. Hiện lão đang cai quản Chung cổ ty, là cơ quan có quyền hạn nhỏ nhất trong Nhị thập tứ nha môn (4). Thái tử Chu Hậu Chiếu bướng bỉnh háo võ, tính tình sớm nắng chiều mưa, mà vạn tuế gia lại rất là cưng chiều đứa con bảo bối này, thế nên Lưu Cẩn nào dám chậm trễ.

Dương Lăng chỉ đành gọi Ấu Nương tới, bắt đầu thu thập hành trang. Hai người Liễu, Dương nói với người ngoài rằng mình là người hầu của nhà họ Dương. Mặc dù người của sở dịch bản địa cảm thấy kỳ lạ, song vì Lưu công công không biết gia cảnh nhà họ Dương cho nên lão cũng chẳng để tâm. Chuẩn bị hết thảy xong xuôi mà Mã Liên Nhi vẫn chưa trở về, Dương Lăng bèn nói với Ấu Nương nhờ đại ca nàng ra ngoài thành báo tin, tránh để nàng ấy nghĩ rằng mình đi mà không lời từ biệt.

Lúc này, ba cỗ xe ngựa đã đi vào khúc quanh trên sơn đạo. Đường núi chật hẹp, mười sáu tay vệ sĩ tám trước tám sau hộ tống, phía trước là cỗ xe ngựa sơn son của Lưu công công, hai cỗ xe ở phía sau được phái đi từ sở dịch, trước hai cỗ xe đều dựng thẳng một cây cột cao, trên viết một chữ "dịch". Xe đằng sau chở hành lý, Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh ngồi trên xe đó.

Hàn Ấu Nương lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa sổ. Từ nhỏ nàng chưa từng xa cách người thân, một mình đi đến địa phương xa xôi như vậy. Mấy ngày trước cứ nghĩ đến việc được đi đến kinh thành là nàng lại hào hứng như một đứa trẻ, bây giờ thật sự ra đi, lòng nàng lại cảm thấy trống trải. Chà, cha đã là dịch sứ, bôn ba khắp nơi, lần này ra đi lại không thể gặp người để từ biệt, cũng không biết phải mất bao lâu nữa mới có thể gặp lại người thân nhỉ?

Dương Lăng biết nàng không nỡ rời xa quê nhà, bèn nhẹ giọng an ủi:
- Yên tâm đi, đợi khi chúng ta thu xếp ổn thoả mọi việc xong, ta sẽ nghĩ biện pháp đón nhạc phụ và mọi người vào kinh.

Ấu Nương khẽ ưm một tiếng, nhẹ nhàng dựa trong lòng Dương Lăng, đôi mắt nhấp nháy, cũng không biết là đang nghĩ gì. Dương Lăng nhẹ nhàng vuốt ve lưng nàng, cũng chìm trong muôn vàn suy nghĩ.

“Thái tử thị độc, cái chức này nó như thế nào nhỉ? Mình không hề được lưu lại ký ức của vị tú tài Tuyên phủ Dương Lăng đó, mấy cái thứ như là tứ thư ngũ kinh hay văn chương bát cổ, có thể nói là mình mù tịt chẳng biết gì. Mong rằng cái chức thị độc đó tên đúng như thật (Thị độc nghĩa là hầu đọc sách – ND.), chỉ cần cùng thái tử đọc sách là được rồi.”

Lịch sử mà y còn nhớ được thật sự là quá ít. Ngoại trừ Chu Hồng Vũ, Thành Tổ và vị vua cuối cùng là Sùng Trinh, những hoàng đế triều Minh khác y thật sự biết rất ít. Lúc này đây chẳng hiểu sao y lại bị đẩy lên trung tâm vũ đài của lịch sử, bên cạnh toàn là những nhân vật quyền cao chức trọng của cái thời đại này, liệu y có thể ứng phó được không đây?

Trước giờ Dương Lăng cũng chẳng có ước muốn gì cao sang, chỉ mong vợ con đầm ấm bên giường, sống khoái lạc qua hai năm là được, thế mà giờ đây phải đi làm chuyện con chó đi cày. Thường có câu làm bạn với vua như chơi với hổ, vì an toàn của bản thân, y không thể không nghiêm túc nghĩ ngợi, chủ động nhận thức và tìm hiểu về thời đại này.

Dương Lăng sắp xếp các chuỗi suy nghĩ lại một chút, những tư liệu có liên quan đến thời đại này chầm chậm hiện lên trong đầu y.

Bây giờ là năm Hoằng Trị thứ mười tám, hoàng đế là Hoằng Trị, họ Chu. Còn về tên của ông ta, vì học thức có hạn nên từ niên hiệu kia y không thể liên tưởng ra nổi, thế nên không rõ tên; cuộc đời của ông ta y cũng mù tịt nốt. Thái tử là Chu Hậu Chiếu, phong lưu, háo sắc, ngu đần, diện mạo rất tuấn tú, sự tích có liên quan: du long hí phượng (6), nhớ mang máng hình như y chết rất sớm. Lưu Cẩn là đại gian thần, thời gian phất: không rõ, chết ra làm sao: không rõ, nhưng tóm lại là chẳng được chết tử tế.

“Ăn hại! Hoàn toàn là đồ ăn hại!” Dương Lăng chỉ có thể xấu hổ tự đánh giá bản thân như vậy. Chỉ dựa vào chút tư liệu ít ỏi này mà có thể thấu rõ tiên cơ, tìm lành lánh dữ, nắm bắt lịch sử được sao? Chán nản một hồi, Dương Lăng bỗng phấn chấn trở lại, ngồi thẳng lưng lên: “Để ý nhiều vậy làm gì? Hoàng đế Chính Đức cái gì chứ, gian thần Lưu Cẩn cái gì chứ?! Mạng mình ngắn ngủi chỉ như cỏ cây, mấy thứ đó không đến lượt mình bận tâm. Mục đích của mình chỉ là đi kinh sư, làm quan lớn, lăn lộn ở Bắc Kinh!”

Điếc không sợ súng, Dương Lăng chuẩn bị nhắm mắt xông bừa lên kinh sư, trong lòng bắt đầu lạc quan một cách mù quáng.

***

Như một cơn lốc, Mã Liên Nhi quất ngựa phi đến sở dịch thừa, sau chớp mắt lại phóng ngựa chạy thẳng đến thành bắc. Tiếng những chiếc vó ngựa to bằng cái bát gõ xuống nền đá vang lên dồn dập như mưa rơi. Khoái mã phi ra khỏi thành, trong đồng cỏ bát ngát đã không thấy bóng dáng cỗ xe đâu. Mã Liên Nhi cầm cương nấn ná dưới cổng thành trong chốc lát, sau đó không dùng con đường cái quan vòng qua sườn núi mà nàng phi ngựa theo đường tắt, thẳng qua giữa những thửa ruộng chưa được canh tác, phóng về phía trước.

Chiếc áo choàng lụa màu xanh sẫm tung bay phần phật trong gió. Con tim nàng đập thình thịch. Dương đại ca thật nhẫn tâm, ngay cả thời gian gặp mặt mình một lần cũng không có sao? Tại sao lại đi vội vã đến vậy chứ? Cách biệt lần này, phải đến ba năm sau mới có thể gặp lại mà.

Ngựa phi như bay, dưới kỹ thuật cưỡi ngựa cao siêu của nàng, bốn vó của con ngựa tía lao vút đi như mũi tên vừa rời dây cung. Chạy đến cuối khu ruộng là một con sông nhỏ, con ngựa tía phóng thẳng qua, những giọt nước bắn lên tung toé đầy trời như ngọc vỡ. Xa xa, nàng nhìn thấy vài cỗ xe ngựa đang đi dọc theo con đường trên núi. Mã Liên Nhi vui mừng khôn xiết, nàng quay đầu ngựa, chạy dọc theo dòng sông nhỏ dưới chân núi, không ngừng đuổi theo những cỗ xe ngựa trên sườn núi.

Thế núi biến ảo, trước mắt là một khe núi hình bán nguyệt, đoàn xe ngựa rẽ vào được một nửa. Chếch ở phía bên này là vách núi giáp với vực sâu. Bọn giáp sĩ đi trên sườn núi và Liễu Bưu, Dương Nhất Thanh ngồi trên càng xe đang cảm thấy hết sức nhàm chán, bỗng thấy bóng một con ngựa tía đang đuổi nhanh dưới chân núi. Liễu Bưu bèn đứng dậy nhìn xuống rồi la lớn:
- Dưới chân núi có một vị tiểu thư đang đuổi theo chúng ta!

Dương Lăng và Ấu Nương nghe thế vội vàng nhô người ra ngoài thùng xe, nhìn thấy dưới chân núi một áng mây xanh cưỡi một thớt ngựa tía đang từ từ phi đến. Hàn Ấu Nương thất thanh la to:
- Là Liên Nhi tỷ tỷ! Tướng công, Liên Nhi tỷ tỷ đến rồi.

Dương Lăng vội vàng kêu xa phu dừng xe, rồi đứng trên càng xe nhìn xuống chân núi. Mã Liên Nhi cũng dừng ngựa, một người một ngựa đứng lặng im nơi đó. Ở giữa là một vách núi không thể trèo lên được, hai người chỉ có thể đứng nhìn nhau từ xa.

Mã Liên Nhi ngẩn ngơ ngóng nhìn một hồi lâu. Thấy Dương Lăng vẫy tay với mình, sau đó ra hiệu cho xe ngựa tiếp tục khởi hành, nhưng vẫn đứng ở trước xe nhìn mình, lòng Mã Liên Nhi chợt kích động. Nàng rút thanh loan đao nhỏ bên hông ra, cắt một lọn tóc rồi vội vàng buộc vào một mũi tên.

Xe ngựa từ từ di chuyển, chỉ cần rẽ khỏi con đường trên hẻm núi này thì sẽ biến mất khỏi tầm mắt của nàng. Mã Liên Nhi bất chợt giật cương, hai chân thúc vào bụng ngựa. Ngựa hí vang một tràng, vang vọng khắp vùng núi.

Dương Lăng và đám võ sĩ đều hướng mắt nhìn xuống chân núi. Con ngựa tía đứng thẳng lên bằng hai chân, rồi sau khoảnh khắc, bốn vó nó cùng lúc tung lên, phi cực nhanh về phía trước, ước chừng chỉ ba mươi trượng ở đằng trước chính là vách núi dựng đứng.

Ngựa phi nhanh như tên bắn, trong nháy mắt đã chỉ còn cách vách núi hai mươi trượng. Nếu cứ phi thẳng về phía trước với tốc độ như vậy, e rằng cả người lẫn ngựa đều sẽ va vào vách đá. Những người ở trên núi đều không khỏi kinh hãi la lên một tiếng. Chợt thấy khoái mã của Mã Liên Nhi bỗng nhiên quay ngoắt một góc gần chín mươi độ, nàng buông cương, lấy cung, xoay người, rút tên. Động tác của nàng liền mạch, gọn gàng đẹp mắt, khiến người ta nhìn thấy rồi không khỏi phải lắc đầu tán thưởng.

Liễu Bưu, Dương Nhất Thanh và mấy gã giáp sĩ hộ vệ đã không thể nhịn được mà lớn tiếng reo hò ca ngợi. Trong nhà của các vị đại thần hiển quý trên kinh thành ít nhiều đều nuôi dưỡng vài gã Thát quan, đó là những dũng sĩ Mông Cổ được chiêu mộ về. Bọn họ từng chứng kiến những người này biễu diễn thứ công phu cưỡi ngựa bắn tên mà thiết kỵ nhà Nguyên năm xưa đã dùng để tung hoành thiên hạ.

Thuật cưỡi ngựa bắn tên của người Mông Cổ đứng đầu trong thiên hạ. Công phu cưỡi ngựa rút tên của Mã Liên Nhi giống hệt như những dũng sĩ vừa giỏi cưỡi ngựa vừa giỏi bắn tên trong đám Thát quan này, và vì được phô diễn bởi một thiếu nữ nên nó càng toát lên vẻ đẹp không nói nên lời.

Ngay trong khoảnh khắc cỗ xe ngựa của Dương Lăng sắp rẽ qua vách phía trước, rời khỏi tầm mắt của Mã Liên Nhi, thì nghe "tóc, tóc, tóc", ba mũi tên bay tới cắm ngay ngắn trên cột cờ cách Dương Lăng chỉ một sải tay, đuôi tên vẫn còn run lên bần bật. Xa phu đang an vị ở dưới cột cờ sợ run cầm cập, suýt nữa ngã lộn cổ xuống xe.

Xe ngựa chầm chậm di chuyển, trước vách núi là một bụi cỏ xanh, đã không thể nhìn thấy Liên Nhi ở dưới chân núi nữa. Ba mũi tên nhọn cắm ngay ngắn trên cột cờ tạo thành hình chữ nhất (Chữ nhất: 一 ), trên đuôi tên ở chính giữa buộc một lọn tóc đen, vẫn đang chầm chậm phất phơ trong gió.

Hàn Ấu Nương khẽ vuốt lọn tóc đen nhánh, giọng đau xót:
- Tướng công! Liên Nhi tỷ tỷ cắt tóc để tỏ rõ tâm ý đó.

Dương Lăng vuốt nhẹ mũi nàng, rồi quay đầu nhìn ba mũi tên nhọn và lọn tóc đen đang ghim chặt trên cột cờ, y không khỏi gượng cười, lòng thầm suy nghĩ: "Sợi tóc, sợi tình, ba mũi tên, ba năm chờ đợi. Nha đầu này sẽ không cố chấp như Ấu Nương đó chứ?"





(1) Vũ khí, quạt kiệu, cờ xí... mà đội hộ vệ mang theo khi vua, quan tuần hành.
(2) Lưu Cẩn: hoạn quan "nổi tiếng" dưới triều vua Minh Vũ Tông. Do hầu hạ Vũ Tông từ lúc còn chưa lên ngôi nên Lưu Cẩn rất được nhà vua quý chuộng, phong làm Tư lễ giám, chuyên phê duyệt sớ của các quan tấu trình. Với chức quan đó, Lưu Cẩn giả mệnh hoàng đế tự ý định đoạt mọi công việc trong nước. Dân gian khi đó gọi Lưu Cẩn là “Hoàng đế đứng”, ám chỉ quyền lực của y, để phân biệt với “Hoàng đế ngồi” là Vũ Tông. Lưu Cẩn nắm quyền trong hơn năm năm thì bị một số quan lại phối hợp lật đổ.
(3) Thủ lĩnh của Đông xưởng
(4) Nhị thập tứ nha môn là thể chế hoạn quan thời Minh, là cơ cấu hầu hạ hoàng đế và dòng dõi gia tộc của hoạn quan. Bên trong thiết lập mười hai giám, bốn ty, tám cục, gọi chung là Nhị thập tứ nha môn.
(5) Điển tích: năm Chính Đức, khi trị quốc, vì để nắm rõ tình hình đất nước, hoàng đế Vũ Tông Chu Hậu Chiếu hay thích vi hành trong dân gian. Hoàng đế Chính Đức cải trang đi chơi đến Mai Long trấn, ngủ lại tại quán trọ Lý Long. Lý Long ở bên ngoài gác đêm, phân phó cho Phượng Thư trông nom quán trọ. Chu Hậu Chiếu bị vẻ đẹp hoa nhường nguyệt thẹn của Phượng Thư khuynh đảo, cố ý gọi rượu và đồ ăn để chọc ghẹo. Lúc đầu Phượng Thư chỉ đối đãi sơ sài, mà Chu Hậu Chiếu thần hồn càng lúc càng thêm điên đảo. Cuối cùng Chu Hậu Chiếu lộ ra thân phận chân long thiên tử của bản thân cùng bày tỏ tình cảm khao khát với Phượng Thư, hai người nên duyên. Khi Phượng Thư đòi ban tước, Chu Hậu Chiếu bèn phong thị làm "Hi Sái cung phi" (cung phi nô đùa).





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
09-11-2010, 09:47 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 53 - Cẩm Y đề đốc

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Trương Tú nghe vậy thì phá ra cười lớn, hết sức vui vẻ vỗ bàn đáp:
- Lọt vào mắt xanh của bệ hạ? Nào chỉ là lọt vào mắt xanh của bệ hạ! Tuy ngươi ở nơi xa xôi hẻo lánh, thế nhưng ngươi có biết bây giờ bộ Binh, bộ Công, nha môn Tam Pháp ty, nha môn Nội Quan, giám sát viện, Ngũ Quân đô đốc phủ, tất cả đều đang quây lại đánh nhau, một nửa quan viên của thành Bắc Kinh bị cuốn vào, tất cả là do Dương đồng tri nhà ngươi mà ra đó!



Chương 53 - Cẩm Y đề đốc

- Mã ngoạ tào (1)! Ha ha ha, Dương tướng công, cậu lại thua rồi.
Lưu Cẩn vỗ tay cười lớn ra vẻ cực kỳ đắc ý. Dọc đường nhàn rỗi, Lưu Cẩn thường xuyên mời Dương Lăng lên xe lão chơi cờ giết thời gian. Kỳ nghệ của lão không quá cao minh, nhưng khi phát hiện kỳ nghệ của Dương Lăng còn tệ hơn mình, lão lại bỗng trở thành kẻ mê cờ, hằng ngày lấy sự chà đạp Dương Lăng làm niềm vui.

Dương Lăng hừm một tiếng, đáp:
- Ván này không tính. Tôi ăn quân của ông, ông bèn chơi xấu hoãn lại một nước, bằng không chỉ còn một pháo một mã, bất kể thế nào cũng không phải là đối thủ của tôi. Không được, không được, chơi lại!

Lưu Cẩn vội chặn tay y, đắc ý cười nói:
- Phong độ, phải có phong độ chứ Dương tướng công! Hà hà, hôm nay bốn ván ta đã thắng ba rồi.

Vị gian thần lộng quyền tương lai này khi chưa đắc thế lại giống hệt như một người bình thường, không ngừng gật gù đắc chí. Ở chung với lão lâu ngày, Dương Lăng đã vứt bỏ sự kiêng kỵ vốn có, hai người xem nhau như bạn chí thân.

Lưu Cẩn vừa nói vừa vén rèm xe nhìn ra ngoài, đoạn vui vẻ bảo:
- Đến rồi, sắp vào đến thành rồi!

Dương Lăng nghe vậy cũng ló đầu ra ngoài quan sát. Dưới ánh hoàng hôn chập choạng, cổng thành trang nghiêm to lớn ở phía trước đã đập ngay vào mắt.

Dương Lăng vén rèm trước bước ra ngoài, đứng trên càng xe quan sát. Có mười sáu tay thị vệ cấm quân mở đường, quan thủ thành hoàn toàn không dám ngăn trở, đội xe nghênh ngang chạy vào thành. Lưu Cẩn cũng bước ra ngoài đứng cạnh y, hai tay bỏ vào trong ống tay áo, cười tít mắt:
- Dương tướng công, đây chính là kinh sư của Đại Minh chúng ta, cậu thấy thế nào?

Dương Lăng chăm chú quan sát thành Bắc Kinh thời này. Mặc dù trong thành nhà cửa san sát, người đi đường đông đúc náo nhiệt, song ngoại trừ một vài quán rượu lác đác gần xa cùng với phủ đệ của các công thần công tướng, hết thảy nhà cửa dường như đều không cao quá hai trượng. Đưa mắt nhìn ra xa, hiển nhiên quần thể kiến trúc nguy nga lộng lẫy nằm thấp thoáng nơi ánh tà dương ấy chính là hoàng thành.

Lưu Cẩn hỏi:
- Dương tướng công, có cần tìm một khách sạn để trọ trước không? Bây giờ trời đã tối, ngày mai giờ dần ba khắc ta sẽ ở ngoài ngọ môn dẫn Dương tướng công vào kiến giá.

Dương Lăng còn chưa trả lời, Liễu Bưu không biết tự lúc nào đã lặng lẽ đi tới trước mặt y dõng dạc báo:
- Công tử, Dương lão thái gia đã sai người đi gấp tới kinh thành mua một khu nhà ở phố Hộ Quốc Tự để công tử ở rồi. Chúng ta có về thẳng nhà hay không?

Dương Lăng và Lưu Cẩn đều hơi ngẩn người. Vẻ mặt Lưu Cẩn hơi khó coi, lão vốn cho rằng Dương Lăng là một gã dịch thừa nghèo nên lão không nghĩ đến việc vơ vét một ít từ y. Nhưng trông tình hình thế này, nhà họ Dương ở Kê Minh có vẻ còn là một tài chủ địa phương, thế mà Dương Lăng lại không có chút biểu hiện đối với mình, thật là không ra sao cả! Đi báo tin cho người đỗ đạt còn được chút tiền thưởng, mình đi báo tin cho Hoàng thượng, chẳng lẽ lại không đáng tiền hay sao?

Lúc này Liễu Bưu lại tháo một bao vải trên vai xuống, đặt lên xe. Bao vải vừa chạm vào xe liền vang lên những tiếng "lách cách", xem ra đồ vật bên trong cũng không nhẹ. Liễu Bưu mỉm cười nói:
- Lưu công công, đây là chút đặc sản địa phương mà lúc đi lão thái gia đã căn dặn mang theo biếu ngài, mời công công mang về nếm thử cho tươi ạ! Gia đình nông thôn chỉ có chút lễ vật nhỏ, thật không đủ để bày tỏ lòng thành.

Lưu Cẩn nhìn cái bọc nặng trình trịch đó, ước chừng tối thiểu cũng phải hai trăm lạng bạc, liền lộ vẻ hớn hở, quay đầu sang cười nói với Dương Lăng:
- Dương tướng công khách khí quá rồi! Trong cung thứ gì cũng không thiếu, nhưng mà những thổ sản nông thôn này thì… thật sự là không có nhiều. Ha ha ha, tấm lòng này của cậu thật đáng quý!

Biết đây nhất định là do Cẩm Y vệ chuẩn bị sẵn, Dương Lăng vội cười, đở lời:
- Đâu có, đâu có! Chỉ là chút vật mọn không đáng bày lên bàn tiệc, Lưu công công thích là tốt rồi.

Lưu Cẩn cười tươi hơn hớn:
- Thích chứ, thích chứ! Ta rất thích ăn mấy thứ đặc sản địa phương thế này. Nếu như Dương tướng công đã có chỗ ở, vậy ta sẽ trở về đại nội phục mệnh, sáng mai ta chờ đón Dương tướng công ở ngoài ngọ môn.

Ngay sau đó, Lưu Cẩn hí hửng chỉ huy đội xe quay trở về hoàng thành, còn hai chiếc xe ngựa của Dương Lăng thì rẽ vào hướng phố Hộ Quốc Tự. Dương Lăng vừa trở về xe của mình, Ấu Nương đã nghe được loáng thoáng cuộc trò chuyện, bèn thích chí ôm lấy cánh tay y hỏi:
- Tướng công, chúng ta đã có nhà ở kinh sư rồi sao?

Dọc đường đi tiểu cô nương này cũng có tâm trạng riêng, nghĩ hiện giờ phu quân đã là quan ngũ phẩm của Cẩm Y vệ, lại là Thị độc bên cạnh thái tử gia, trong lúc ăn nói lẫn đi đứng mình không thể làm điều vượt quá khuôn phép khiến cho tướng công bị mất thể diện được. Vốn nghe nói các phu nhân hay tiểu thư con nhà danh gia vọng tộc ra khỏi nhà đều ngồi im trong xe, cho nên sau khi vào thành Bắc Kinh, nàng vẫn luôn ngồi im trong xe, thậm chí không dám vén rèm cửa xe. Hiện giờ cỗ xe đang đi trên con phố lớn phồn hoa, vậy mà nàng vẫn không biết thành Bắc Kinh ra như thế nào.

Dương Lăng hôn phớt lên môi nàng rồi đáp:
- Ừm! Hẳn là do Cẩm Y vệ thu xếp.

Kế đó y lại ghé vào tai Ấu Nương bảo:
- Hôm nay vừa mới vào thành, chúng ta không nấu cơm. Tối nay tướng công sẽ đưa nàng đi dạo phố.

Ấu Nương nghe xong lập tức lộ vẻ vui mừng, gật đầu lia lịa:
- Vâng vâng! Ấu Nương còn chưa được nhìn xem thành Bắc Kinh ra làm sao, thật muốn đi mở mang kiến thức một chút. Nếu không có tướng công đi cùng, Ấu Nương không dám ra ngoài đâu!

Dương Lăng bật cười hỏi:
- Ngay cả giặc Thát còn không sợ, thế mà Ấu Nương lại sợ đi dạo trên phố lớn ở kinh sư này à?

Ấu Nương hồn nhiên đáp:
- Tướng công! Chàng không dẫn thiếp đi, người ta là phụ nữ sao dám tự tiện la cà dạo phố chứ, sẽ khiến người ta chê cười đó.

Dương Lăng nói:
- Nàng thật! Nhà chúng ta không có mấy quy củ đó, thích ra ngoài thì cứ ra ngoài, dạo phố hay mua sắm gì cũng được.

Nói rồi Dương Lăng nhìn vẻ xinh xắn của Ấu Nương, trong lòng thầm nghĩ: "Giờ mà là thời hiện đại, để cô bé này mặc áo thun với quần bò, tóc cột lại một túm, nhất định sẽ là một nữ sinh xinh đẹp tươi mát. Mình sẽ cùng nàng đi xem phim, uống cà phê, nếu nàng nhanh mồm nhanh miệng chút thì sẽ đi đến chỗ đám gian thương mà kỳ kèo trả giá, hề hề. Có điều nếu đặt vào thời đó thì mình làm gì tốt phúc có được nàng?!"

Thấy ánh mắt sáng rực của Dương Lăng lom lom nhìn mình, khuôn mặt Ấu Nương càng thêm ửng đỏ. Nàng mắc cỡ cúi đầu bẽn lẽn:
- Tướng công, chúng ta ở phố Hộ Quốc Tự, không biết chùa Hộ Quốc này có cao tăng có thể, có thể…
Nói đến đây mặt nàng lập tức đỏ bừng, không nói tiếp được nữa.

Dương Lăng lập tức chấn động, cả người cũng nóng lên. Đêm trước khi đi, Dương Lăng đã phải kỳ kèo rồi mềm mỏng khẩn cầu mãi cô bé này cuối cùng mới chịu học bài "thổi tiêu dưới trăng" trong tâm trạng vừa thấp thỏm lo sợ vừa xấu hổ. Cái mùi vị tiêu hồn lúc đó, dù có nói ra người ngoài cũng thật khó mà hiểu hết được.

Lần này phải đi đường xa vất vả, chung quanh lại có nhiều người, cho nên y cũng không dám có cử chỉ thân mật với Ấu Nương. Giờ nghe nàng nói vậy, Dương Lăng lập tức ngứa ngáy trong lòng, "bích ngọc phá qua thời, tương vi tình điên đảo. Cảm lang bất tu noản, hồi thân tựu lang bão. (2)" Ấu Nương quả thật là một “tiểu gia bích ngọc” (xem 2) chân chính, thật không biết khi thật sự cùng nàng điên loan đảo phượng, một hồi xuân sắc vô biên đó sẽ nóng bỏng đến như thế nào?

Dương Lăng cười gian manh nói:
- Đúng! đúng! Tối nay chúng ta hãy đi tìm một vị đại hoà thượng để khai quang, sau đó để nàng gặp gỡ ”tiểu hoà thượng” của ta một chút mới được.

Ấu Nương vội nói:
- Không được, như vậy không được đâu tướng công! Chúng ta nhất định phải gặp đại hoà thượng, tiểu hoà thượng thì có mấy năm đạo hạnh chứ? Ấu Nương không dám đem tính mạng của chàng ra đùa đâu!

Khoé miệng Dương Lăng hơi nhếch lên, vẻ mặt cổ quái, y đáp:
- Nhất định phải gặp đại hoà thượng sao? Nhưng mà tiểu hoà thượng này của tướng công nếu chưa được nương tử mến yêu của ta khai quang gia trì (3), trải qua muôn vàn thử thách, làm sao có thể tu thành đại hoà thượng được?

Tuy Ấu Nương ngây thơ thuần khiết, nhưng nàng không hề kém thông minh, thấy lời nói của tướng công có phần kỳ lạ, nàng chớp chớp đôi mắt ngọc nghi hoặc nhìn y. Dương Lăng mỉm cười ôm lấy Ấu Nương, ghé vào tai nàng thì thầm mấy câu. Ấu Nương khẽ kêu lên một tiếng, vừa giận vừa thẹn đấm nhẹ người tướng công mấy cái, rồi đỏ mặt cắn môi lườm y, giận dỗi nói:
- Ngày mai tướng công phải gặp Hoàng đế rồi, cần phải nghỉ ngơi thật tốt! Tối nay Ấu Nương sẽ không gặp bất cứ hoà thượng nào hết.

Dương Lăng cười trêu:
- Như thế sao được? Để ta xem thử bên ngoài có chùa miếu nào hay không, tối nay nhất định phải để nương tử mở cửa đón khách, nghênh tiếp tiểu hoà thượng của ta vào nhà.

Nghe tướng công nói mấy lời đáng xấu hổ đó, Ấu Nương nhũn cả người ra, ngả vào lòng y thở gấp, không dám lên tiếng đáp lời. Dương Lăng vén rèm kiệu lên nhìn ra bên ngoài. Người đi đường tới lui tấp nập, trên đường hàng quán san sát, xem ra con đường này cũng khá phồn hoa.

Hàn Ấu Nương cũng tò mò ló đầu ra ngoài nhìn quanh. Nàng thấy Liễu Bưu, Dương Nhất Thanh đang cuốc bộ bên cạnh cỗ xe, bên góc đường ở đằng xa có một người đang đứng. Liễu Bưu nhìn về phía kẻ đó làm nhanh vài động tác tay, kẻ đó gật đầu, bỏ tay trái xuống bên người rồi cũng làm rất nhanh vài động tác đáp trả, sau đó xoay người bỏ đi.

Động tác của hai người vừa nhanh lại vừa tự nhiên, nếu không phải Hàn Ấu Nương tinh mắt, tâm tư lại cẩn thận, nhất định sẽ không chú ý tới. Hàn Ấu Nương lấy làm lạ quay đầu gọi:
- Tướng công!

Chợt lúc này Dương Nhất Thanh ở bên ngoài hô lớn:
- Đã đến nhà rồi, mời công tử và phu nhân xuống xe!

Bị tiếng gọi của Dương Nhất Thanh cắt ngang, Hàn Ấu Nương bèn nuốt lời muốn nói vào. Dương Lăng vén rèm xe, thấy trước mặt là một khu nhà xây theo lối tứ hợp viện (4), trước cửa có một khoảnh đất trống, trồng hai hàng hoè Long Trảo, cửa vào khu nhà đang mở, có thể nhìn thấy bên trong ngăn nắp sạch sẽ, xem ra vừa mới được sửa sang không lâu.

Hàn Ấu Nương cũng nhảy xuống xe, lòng đầy vui sướng quan sát ngôi nhà mới của mình. Trong sân, ngoại trừ một giếng nước, chính giữa còn có một vườn hoa, hai bên là chái nhà, ngay phía trước là ba gian nhà ngói xanh. Xem ra chủ cũ của khu nhà này khi trước cũng là một hộ giàu có neo người, không biết Cẩm Y vệ làm thế nào mà mua được?

Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh mang tất cả hành lý vào nhà. Khu nhà này tuy mới mua không lâu, song hết thảy dụng cụ sinh hoạt đều đã đầy đủ, tiết kiệm cho bọn họ không ít thời giờ mua sắm bày biện. Nhác thấy trời hãy còn sớm, Hàn Ấu Nương hăng hái xắn tay thực hiện quyền lợi bà chủ nhà, bố trí lại căn nhà mới của mình, rộn ràng trong niềm hạnh phúc. Chuyện ra phố ăn cơm và đi chùa gặp đại hoà thượng đã bị nàng dẹp sang một bên mất hút.

Dương Nhất Thanh đến bên cạnh Dương Lăng, vẻ mặt bí hiểm bẩm:
- Đại nhân! Đề đốc chỉ huy sứ Trương đại nhân nghe tin đại nhân đã vào kinh, muốn được gặp ngài, chúng ta có đi ngay bây giờ không?

- Ồ!
Dương Lăng lập tức đứng dậy. Thủ lĩnh tối cao của Cẩm Y vệ muốn tiếp kiến y, y làm sao dám chậm trễ? Sau khi nói vội với Ấu Nương một tiếng xong, y lập tức cùng Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh đi ra ngoài.

Dương Lăng đã nghe hai người Liễu Bưu và Nhất Thanh nói qua, nha môn của ty chỉ huy sứ Cẩm Y vệ không hề được đặt trong thành Bắc Kinh mà đặt tại Thiên Tân vệ (5), nhưng ty Bắc Trấn Phủ, bộ phận quan trọng nhất trong Cẩm Y vệ lại được đặt trong kinh thành. Thành thử một năm thì quá nửa thời gian đề đốc chỉ huy sứ Cẩm Y vệ không ở Thiên Tân vệ, mà công tác trong thành Bắc Kinh.

Ty Bắc Trấn Phủ được đặt ở phía bắc thành Đông An, ngay sát cổng chính của Đông xưởng. Cái thành Bắc Kinh to như vậy, ngoại trừ hoàng thành, cũng chỉ có nơi này là yên tĩnh nhất. Vừa rẽ vào con đường đó, trên đường lập tức vắng tanh, không có lấy một bóng người.

Lúc đi ngang qua "Đông Tập Sự xưởng" (tên đầy đủ của Đông Xưởng – ND.), Dương Lăng hiếu kỳ nhìn vào bên trong, không biết đám nha sai, đầu lĩnh, rồi còn cả xưởng công, đốc công trong đó có thân hoài tuyệt kỹ như trong phim hay không. Tiếc là mặt trời sắp lặn, ngoại trừ hai tên nha sai đứng ngoài canh gác ra, không thấy bất kỳ người nào. Đi tiếp về phía trước chính là nha môn của ty Bắc Trấn Phủ, cũng không có gì khác biệt với những nha môn bình thường khác, trước cổng đặt hai con sư tử đá lớn, còn có Đới Đao thị vệ của Cẩm Y vệ đứng canh gác bên ngoài.

Được hai người Liễu, Dương dẫn vào trong nha môn của ty Bắc Trấn Phủ, Dương Lăng bước vào một đại sảnh. Trên bức tường màu trắng trên sảnh vẽ một con mãnh hổ hạ sơn. Mãnh hổ sống động như thật, nhe nanh múa vuốt, như thể chực vồ xuống. Bên trong đại sảnh yên tĩnh uy nghiêm, Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh bước đến cửa thì không dám đi vào tiếp, cho nên tất nhiên phải có quan quân Cẩm Y vệ khác mời y đi vào. Dương Lăng đang đứng trong sảnh, khoanh tay ngắm nhìn con mãnh hổ chợt sau lưng có người cười rộ bảo:
- Dương đồng tri đến rồi sao? Thật không may, Trấn phủ sứ đại nhân đã dẫn người đi Kim Lăng rồi. Hạ quan là Vu Vĩnh, thiên hộ Cẩm Y vệ, ở đây chờ đón Dương đại nhân.

Dương Lăng vội vàng quay người, luôn miệng nói:
- Không dám, không dám, chào đại nhân!
Rồi y tròn xoe mắt nhìn, thoáng ngẩn ra, người đứng trước mặt y đích thực đang mặc một bộ phi ngư phục (6) của Cẩm Y vệ, hông đeo Tú Xuân đao, nhìn trang phục thì đúng thật là một thiên hộ.

Vậy nhưng người này lại tóc vàng, mắt xanh, mũi lõ, da dẻ trắng một cách khác thường, không ngờ lại là người châu Âu. Gã thiên hộ tên Vu Vĩnh ấy thấy Dương Lăng ngẩn người ra thì mỉm cười, kế đó dùng khẩu âm Bắc Kinh nói:
- Hạ quan Vu Vĩnh! Đại nhân vừa mới đến kinh thành, để hôm khác hạ quan sẽ thiết tiệc mời đại nhân. Ha ha ha, sau này cùng làm quan triều đình, rất mong được đại nhân dìu dắt nhiều hơn. À phải rồi, Đề đốc đại nhân chờ ngài đã lâu, mời đi theo hạ quan ra mắt đề đốc đại nhân trước!

Dương Lăng chắp tay cảm tạ rồi đi theo vị Cẩm Y vệ người nước ngoài này vòng qua đại sảnh. Hai bên hành lang đều là những căn phòng nối tiếp nhau, Vu Vĩnh dẫn Dương Lăng đến trước cửa một căn phòng, mở cửa phòng rồi mỉm cười mời:
- Đại nhân, mời vào!

Dương Lăng gật đầu cảm tạ, đoạn sải chân bước vào. Chỉ thấy những cây nến to đặt trên đĩa treo cạnh bốn vách tường soi căn phòng sáng choang, một người đàn ông trung niên mặc y phục nho sĩ đang ngồi đằng sau chiếc bàn dài mỉm cười. Thấy y bước vào, người đó mới đặt quyển sách trong tay xuống.

Biết chắc người này chính là Trương Tú Trương đại nhân, thủ lĩnh tối cao của Cẩm Y vệ, Dương Lăng bèn vội bước tới, quỳ một gối xuống, thực hiện quân lễ:
- Hạ quan Dương Lăng tham kiến đề đốc đại nhân!

Trương Tú nheo mắt đánh giá y một lượt, rồi hài lòng cười nói:
- Tốt, quả nhiên là tuổi trẻ có triển vọng. Dương đồng tri ngồi đi, chớ nên khách khí!

Dương Lăng cũng lén quan sát vị Trương đại nhân này, thấy ông ta tuổi trạc ngũ tuần, vẻ mặt ôn hoà, hào hoa phong nhã, bộ dạng không hề có khí thế của kẻ nắm giữ binh quyền lẫn sinh tử của người khác trong tay.

Ở ngoài cửa, Vu Vĩnh vòng tay nói:
- Đề đốc đại nhân, Dương đại nhân! Hạ quan xin được cáo lui trước!
Nói đoạn hắn quay về phía Dương Lăng mỉm cười thân thiện, kế đó nhẹ nhàng khép cửa phòng.

Thấy vẻ mặt đăm chiêu của y, Trương Tú cười lớn nói:
- Vu Vĩnh là hậu duệ của người Sắc Mục (7), nghe nói quê quán ở xứ sông Ranh (8) gì đó, vốn dĩ còn là quý tộc vùng bản địa. Lúc đại quân triều Nguyên tây chinh đã bắt về hơn vạn nô lệ tóc vàng mắt xanh, trong đó có cả tổ tiên của y. Bây giờ trong kinh sư vẫn còn hơn một ngàn hộ gia đình như y đang cư trú.

Đến lúc này Dương Lăng mới hiểu ra. Tựa hồ rất hài lòng với Dương Lăng, Trương Tú mỉm cười nói:
- Dương đồng tri nhất biểu nhân tài, kiêm thêm học thức xuất chúng, vào Bách Hy Viên nhất định sẽ có thể được trọng dụng. Tốt lắm, tốt lắm!

Dương Lăng kinh ngạc:
- Bách Hy Viên? Đại nhân, đó là nơi nào vậy?

Trương Tú thoáng sững người, rồi phá lên cười nói:
- Ha ha, là bổn quan lỡ lời. Khục khục! Đương kim Thái tử còn nhỏ, ham thích mấy trò mới lạ trong chốn đông cung, ha ha,… Vương công đại thần trong triều thường gọi đông cung là Bách Hy Viên (nơi có nhiều trò vui chơi đùa nghịch – ND.), cho nên bản quan nhất thời cũng thuận miệng.

Dương Lăng toát mồ hôi hột, vội khiêm tốn nói:
- Đại nhân quá khen rồi, hạ quan chỉ là một tên tú tài, có thể làm Thái tử thị độc đã thấy được yêu quá mà sợ rồi, nào dám hy vọng xa vời!

Trương Tú mỉm cười nói:
- Anh hùng chẳng ngại xuất thân hèn, hơn nữa ngươi phải biết rằng Thái phó, Thị giảng của Thái tử hiện giờ đều có xuất thân đại học sỹ, học sỹ, nhưng khi thái tử đọc sách, trước giờ lại chưa từng có một Thị độc. Thế mà hôm nay Thái tử lại thích ngươi, cầu xin bệ hạ triệu ngươi vào kinh, đông cung ưu ái ngươi, bệ hạ lại ưu ái đông cung, tức là bệ hạ đã ưu ái ngươi rồi. Ngày mai yết kiến, bệ hạ sẽ ban cho ngươi xuất thân đồng tiến sỹ, sau này ngươi không thể coi mình là tú tài nữa.

Dương Lăng lắp bắp:
- Đại nhân! Hạ quan ngu muội, vẫn không hiểu vì lẽ gì mà một dịch thừa nho nhỏ ở Kê Minh như hạ quan lại có thể lọt vào mắt xanh của bệ hạ, được lên kinh làm Thị độc vậy?

Trương Tú nghe vậy thì phá ra cười lớn, hết sức vui vẻ vỗ bàn đáp:
- Lọt vào mắt xanh của bệ hạ? Nào chỉ là lọt vào mắt xanh của bệ hạ! Tuy ngươi ở nơi xa xôi hẻo lánh, thế nhưng ngươi có biết bây giờ bộ Binh, bộ Công, nha môn Tam Pháp ty (9), nha môn Nội Quan, giám sát viện, Ngũ Quân đô đốc phủ, tất cả đều đang quây lại đánh nhau, một nửa quan viên của thành Bắc Kinh bị cuốn vào, tất cả là do Dương đồng tri nhà ngươi mà ra đó!

Dương Lăng nghe xong cả kinh, thất thanh:
- Cái gì?







(1) Thuật ngữ Cờ Tướng chỉ một nước cờ sát cuộc.
(2) Hai câu thơ trên được trích trong tập thơ Nhạc Phủ (thơ ca trong dân gian và âm nhạc, soạn theo thể cách những khúc nhạc trong nội phủ) "Bích Ngọc Ca".
Bích Ngọc, nhân vật chính trong thành ngữ "tiểu gia bích ngọc" (con gái cưng), là thiếp của Nhữ Nam Vương Tư Mã Nghĩa đời Tấn. Bích Ngọc họ Lưu, nàng không đẹp xuất sắc, nhưng qua sự sủng ái của Nhữ Nam Vương đối với nàng, đoán chừng nàng rất dễ nhìn, rất có ý vị, và còn hát rất hay. Đáp ứng lời thỉnh cầu của Tư Mã Nghĩa, Tôn Xước đã sáng tác hai bài "Bích Ngọc Ca".

Bài thứ nhất:
Bích ngọc tiểu gia nữ, bất cảm phàn quý đức.
Cảm lang thiên kim ý, tàm vô khuynh thành sắc.

Dịch thơ - Tiểu Phong:
Bích Ngọc khuê nữ tiểu gia
Biết lòng chẳng xứng người ta đức tài.
Ngàn vàng một tấm tình ai
Thẹn mình nhan sắc nhạt phai kém người

Bài hai:
Bích ngọc phá qua thời, tương vi tình điên đảo.
Cảm lang bất tu noản, hồi thân tựu lang bão.

Dịch thơ - Tiểu Phong:
Bích Ngọc đôi tám vừa tròn,
Vì tình điên đảo chẳng còn biết chi.
Mến chàng thiếp có ngại gì
Quay người nép dưới thân kia trong lòng.
(3) Phạn ngữ, ý tăng thêm phật lực để bảo hộ và phù trợ cho chúng sinh.
(4) Tứ Hợp Viện là một kiểu kiến trúc điển hình ở Bắc Kinh. Tòa nhà gồm bốn dãy phòng ở các phía đông tây nam bắc, ở giữa là sân trống, cửa vào thường đặt ở phía nam.
(5) Vệ sở là biên chế quân đội thời Minh, chia làm hai cấp: vệ và sở. Một phủ lập thành sở, nhiều phủ lập thành vệ. Vệ lập chỉ huy sứ, thống lĩnh năm nghìn sáu trăm binh sĩ. Dưới vệ có Thiên hộ sở (thống lĩnh một nghìn một trăm hai mươi người), dưới Thiên hộ sở lập Bách hộ sở (lĩnh một trăm mười hai quân). Vệ sở ở mỗi huyện phủ sẽ do đô chỉ huy sứ của các chỉ huy sứ ty quản lý, các đô chỉ huy sứ sẽ lại được quản lý bởi trung ương ngũ quân đô đốc phủ.
(6) Y phục cao quý của quan lại, có thêu hoa văn hình con cá chuồn.
(7) Sắc Mục là tên gọi của một địa vị xã hội dưới thời Nguyên. Trái ngược với sự tin tưởng của số đông, cụm từ Sắc Mục (hiểu nghĩa đen là "mắt màu") không ám chỉ bọn họ có "mắt màu" so với những người Nguyên-Mông mắt đen, mà thật ra, nó có nghĩa là "các sắc danh mục" (各 色 名 目 , nghĩa là "các loại tên gọi, danh mục"), ám chỉ sự đa dạng sắc tộc của người Sắc Mục.
(8) Sông Rhine (hay Rhein) dài 1.320 km, là một trong những con sông lớn và quan trọng nhất châu Âu.
(9) Tam Pháp Ty là sự kết hợp của Bộ Hình (Tư Pháp), Đô Sát viện (viện Giám sát) và Đại Lý tự (tòa Phá án) nhằm thẩm định các vụ án lớn (còn gọi là “Tam ty hội thẩm”). Triều Nguyễn cũng áp dụng cơ cấu tổ chức này để có những hoạt động cụ thể nhằm giải quyết thỏa đáng những điều khiếu nại của nhân dân.





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
12-11-2010, 05:49 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 54 - Duyên nơi cửa phật


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- Hôm nay tiểu đệ cùng huynh cũng xem như thoáng gặp gỡ, không biết vì sao kiếp trước huynh đài quay đầu nhìn ta nhiều lần như thế?



Chương 54 - Duyên nơi cửa phật

Đề đốc Cẩm Y vệ Trương Tú mỉm cười nói:
- Tiểu vương tử Thát Đát tập kích biên giới nước ta, đại quân hai ngả Trác huyện, Xích huyện đều có chiến tích, chỉ riêng cánh quân ở Hoài Lai là hao binh tổn tướng, khiến cho một vị đô ty tử trận, Giám quân Ngự sử Diệp đại nhân cũng bị loạn quân giẫm chết. Tam Pháp Ty phụng thánh dụ xem xét, cân nhắc định tội Hà tham tướng, không ngờ sau khi bị giải vào kinh, Hà tham tướng lại đem hết thảy tội khinh địch, liều lĩnh tiến quân đổ lên người Giám quân Diệp đại nhân và Lưu công công.

Hà tham tướng là tướng lĩnh do bộ Binh tiến cử, nếu như Hà tham tướng bị trị tội, tự nhiên bọn họ sẽ khó tránh bị chỉ trích không biết dùng người. Cho nên bộ Binh ra sức bảo vệ Hà tham tướng, chỉ trích Giám quân đã không rõ việc dùng binh, lại can thiệp sai bậy. Lúc này đám Ngự sử ở Đốc Sát viện và nha môn Nội Quan đều không khỏi cùng mang lòng thù địch với bộ Binh, từ đó hai phe công kích nhau không ngừng.

Nha môn của ty Nội Quan chẳng qua chỉ toàn là một đám thái giám, vốn không có ý kiến gì về mặt quân sự, nhưng khi hồi kinh, Lưu công công lại mang về một phong thư.

Nói đến đây, Trương Tú quay sang Dương Lăng cười bảo:
- Đó chính là phong thư mà ngươi đã gửi cho Hà tham tướng.

Dương Lăng nói:
- Vâng, hạ quan từng có chút ý kiến nông cạn dâng cho Hà tham tướng, nhưng không biết phong thư đó tại sao lại rơi vào trong tay Lưu công công vậy ạ?

Trương Tú lắc đầu:
- Nội tình trong đó ta cũng không rõ. Lưu công công là người hầu hạ bên cạnh Thái tử, trong cung y có một người bạn tốt tên là Trương Vĩnh (1). Vị công công này cũng biết một chút về quân sự, xem xong phong thư của ngươi thì coi như vật chí bảo, lập tức xúi bẩy ty Nội Quan hạch tội bộ Binh, chỉ trích rằng: “Sức chiến đấu của binh sĩ trong quân không mạnh, năng lực trinh sát kém, bộ Binh không biết cách cầm quân, đó mới chính là nguyên nhân dẫn đến thất bại.”

Ha ha, bộ Binh tuy phụ trách điều binh khiển tướng, thế nhưng thường ngày việc luyện binh và thống lĩnh quân đội thực chất lại do Ngũ Quân đô đốc phủ phụ trách. Thế là như trút được gánh nặng, bộ Binh liền lôi Ngũ Quân đô đốc phủ vốn không hề liên quan vào cuộc. Bốn nha môn bắt đầu đấu đá lòng vòng như đèn kéo quân.

Dương Lăng lắp bắp:
- Chuyện này... Chuyện này... Hạ quan thật không ngờ có thể xảy ra nhiều rắc rối như vậy. Chỉ là ban nãy đại nhân có nói bộ Công cũng xen vào cuộc tranh cãi này, không biết chuyện dùng binh thì có liên can gì tới bộ Công vậy?

Trương Tú đáp:
- Không liên can, thật ra không hề liên can. Có điều trong phong thư của ngươi lại đề cập đến cái hay khi vận dụng hỏa khí cùng với tác dụng quan trọng của nó đối với chiến sự sau này. Bộ Binh có một chủ sự tên là Vương Thủ Nhân (2), y xem xong thư thấy rất tâm đắc. Tính mọt sách nhất thời phát tác, y bèn dâng lên Hoàng thượng Vạn Ngôn Thư, lời lẽ lưu loát, bàn nhiều về đạo trị quân, lại đề cập tới súng hoả mai của bản triều, yêu cầu phải cải tiến ngay. Trong tờ điều trần y cũng tỏ ra không hài lòng về việc quân đội phương bắc được trang bị quá ít súng ống. Theo bản đốc thấy, nội dung mà y tấu lên cũng đánh trúng chỗ yếu đương thời, chỉ là chọn thời điểm có phần không thích hợp.

Nghe đến ba chữ Vương Thủ Nhân, Dương Lăng có cảm giác hơi quen quen, song nhất thời lại không nhớ ra được ông ta là ai. Có điều nếu y đã có ấn tượng, chắc hẳn lúc trước khi xem sách sử đã gặp qua. Mặc dù bây giờ Vương Thủ Nhân chỉ là một chủ sự nhỏ nhoi của bộ Binh, nhưng rất có thể sau này ông ta cũng sẽ trở thành một vị quan đạt được nhiều thành tựu, cho nên y thầm ghi nhớ trong lòng.

Trương Tú lại kể tiếp:
- Trong tình hình ấy bộ Công đâm lo sẽ bị những nha môn đang đùn qua đẩy lại kia sẽ đẩy trách nhiệm bại trận lên người bọn họ, thế là bèn quay qua phía Hoàng thượng kể khổ, nào là ngân lượng trích cấp không đủ, tố chất quân đội kém, súng hoả mai chế tạo không dễ...
Trương Tú vuốt cằm ra điều nghĩ ngợi một hồi, rồi lấy làm rất thú vị nói tiếp:
- Ừ... Sổ sách của bộ Công mới vừa trình lên đại nội hôm qua. Bản đốc đoán chủ quản vấn đề tiền lương của bộ Hộ mà nhận được tin tức xong, chắc sẽ lại biện hộ cho sổ sách đây.

Dương Lăng nghe mà dở khóc dở cười, y thốt lên:
- Sao lại có thể như vậy chứ? Hạ quan thật không ngờ lại nổi lên hồi phong ba thế này, sớm biết như vậy... phong thư đó không viết thì hơn.

Trương Tú vươn vai, uể oải nói:
- Ngươi bắt cua bao giờ chưa? Bỏ một bầy cua vào trong sọt, không cần phải đậy nắp lại nhưng cua vẫn không thể bò ra. Bởi vì chỉ cần có một con muốn bò lên, những con cua khác liền sẽ nhao nhao bám lên người nó, kết quả là nó bị kéo xuống. Rốt cuộc không một con nào có thể bò ra. Ha ha, trên quan trường xưa nay đều là như vậy, chẳng có gì lạ cả.

Cho dù không có phong thư của ngươi, bọn họ cũng sẽ tự tìm những cái cớ khác đề đùn đẩy trách nhiệm cho nhau thôi. Chẳng qua lần này ngươi nhờ thế mà vớ bẫm. Giờ đây Lục bộ đều biết đến đại danh của ngươi, Thái tử nghe chuyện như thế liền đòi xem thư của ngươi, xem xong bèn đến chỗ bệ hạ xin người, muốn ngươi vào kinh làm Thị độc. Ha ha ha...

Cười đã, vẻ mặt nghiêm túc trở lại, Trương Tú nói tiếp:
- Cuộc đấu đá lòng vòng ấy không hề có can hệ gì với Cẩm Y vệ của ta. Ngươi có biết vì sao hôm nay bản đốc đặc biệt triệu kiến ngươi không?

Dương Lăng đáp:
- Xin đại nhân mách cho!

Trương Tú trầm ngâm:
- Cẩm Y vệ của chúng ta chuyên điều tra xử phạt văn võ bá quan cùng dân chúng cả nước, nằm độc lập ngoài Tam Pháp ty, mà Đông xưởng thì phụ trách giám sát bá quan và cả Cẩm Y vệ. Mỗi khi ty Bắc Trấn Phủ của ta nhận chiếu xử trọng án, Đông xưởng đều sai người dự thẩm. Có thể nói, quyền hạn của Đông xưởng còn cao hơn cả Cẩm Y vệ của chúng ta.

Dương Lăng không biết lão ta nói mấy chuyện này để làm gì, trong lòng không khỏi có chút tò mò, lắng nghe lão nói tiếp:
- Nhưng trong Cẩm Y vệ có rất nhiều quan chức là hậu nhân của các vị công thần, hơn nữa có rất nhiều quan viên của Đông xưởng vốn là quan quân được chiêu nạp từ Cẩm Y vệ của chúng ta, cho nên có thể nói là Đông xưởng và Cẩm Y vệ có quan hệ rất mật thiết. Nếu thật sự phải xét về thực lực, Cẩm Y vệ chưa hẳn đã sợ gì Đông xưởng. Cũng may một xưởng một vệ chúng ta xưa nay vẫn luôn luôn thuận hòa, trước giờ chưa từng xảy ra khúc mắc.

Trương Tú liếc y rồi nói:
- Từ cuối năm ngoái đến nay, bệ hạ dần cảm thấy long thể bất an... Những ngày gần đây, bệ hạ có ý mở lại Tây xưởng để giám sát Đông xưởng và Cẩm Y vệ. Trước mắt ngài đang sai người bí mật gây quỹ, mà quan viên thì phần lớn là thu nạp từ trong quân đội, tự lập thành một hệ, hoàn toàn không liên can gì với Đông xưởng và Cẩm Y vệ.

Dương Lăng nghe lão nói vậy thì chợt giật mình, suy nghĩ cẩn thận mới hiểu được ẩn ý trong lời của lão ta. Hoàng đế cảm thấy thân thể không tốt, đã bắt đầu lo tính cho người nối nghiệp. Tuy Đông xưởng và Cẩm Y vệ là hai tổ chức mà lão tin cậy nhất, nhưng quyền lực của họ lại quá lớn. Hơn nữa qua lời của Trương Tú, tuy xưởng có trách nhiệm giám sát vệ, song thật sự thì cả hai lại biểu hiện như người một nhà, cho nên Hoàng đế không yên tâm. Tây xưởng đang chuẩn bị được mở lại kia không điều một binh một tốt nào của Đông xưởng và Cẩm Y vệ, mục đích chính là nhằm hạn chế thế lực của hai tổ chức này, tránh cho tân đế đăng cơ sẽ bị mất quyền lực.

Trương Tú lại nói:
- Thái tử tuổi còn nhỏ, Cẩm Y vệ ta có trách nhiệm bảo vệ an toàn cho hoàng thất, sao có thể không để ý cẩn thận chứ? Nhưng bệ hạ đã có lòng nghi ngờ, giờ đây Đông xưởng và Cẩm Y vệ không thể không tránh được hiềm nghi, cho nên không tiện sắp đặt người bên cạnh Thái tử. Lúc này ngươi sắp được làm Thái tử Thị độc, tức là cận thần bên cạnh Thái tử, nên phải gánh lấy trách nhiệm này. Ngươi hiểu ý của bản đốc chứ?

Dương Lăng làm gì mà còn chưa rõ dụng ý của lão? Cẩm Y vệ và Đông xưởng vui buồn có nhau, chung tay nắm quyền thế, giờ đây Tây xưởng sắp được thành lập, lấy việc giám sát cả hai làm nhiệm vụ, dĩ nhiên bọn họ sẽ không yên lòng để quyền lực bị tước mất.

Hiện giờ những kẻ bên cạnh Thái tử chỉ là một đám thái giám, tuy rằng bọn chúng cũng là đối tượng có thể lôi kéo, nhưng những vị thái giám đang nắm quyền ở Đông xưởng đương nhiên không vui lòng bồi dưỡng ra một đám đồng loại mà sau này có thể sẽ tiếm đoạt quyền lực của mình. Dương Lăng lại chưa có gốc rễ trong triều, bồi dưỡng một người như y, cho dù sau này có lên như diều gặp gió thì y cũng sẽ không rời bỏ hai cây đại thụ Đông xưởng và Cẩm Y vệ. Hiển nhiên y là ứng viên thích hợp nhất.

Nghĩ đến đây, Dương Lăng không khỏi nhấp nhổm không yên. Đối với một kẻ có tham vọng, loại cơ duyên cùng chỗ dựa vững chắc như vậy đương nhiên là trăm năm khó gặp một lần. Có điều trong tình hình ấy, một Thị độc nhỏ nhoi như y khó tránh sẽ trở thành cái gai trong mắt, cái dằm trong chân của một số kẻ khác, muốn an nhàn sống hết hai năm e chẳng dễ chút nào.

Nghĩ được điểm mấu chốt trong đó, Dương Lăng không khỏi lo sợ bẩm:
- Đa tạ đại nhân cất nhắc! Chỉ có điều, hạ quan... hạ quan tuổi còn trẻ, e rằng sẽ phụ sự tin cậy của đại nhân mất.

Ánh mắt Trương Tú chằm chằm ghim vào người y một hồi lâu, đến khi trong lòng Dương Lăng nổi lên từng cơn ớn lạnh thì Trương Tú mới mỉm cười, đảo mắt thờ ơ nói:
- Trên đời này, lớn nhất chính là Thiên tử, chỉ cần ở cạnh Thiên tử, không có chuyện gì là không thể.

Đoạn lão mỉm cười, tiếp:
- Nói đến Tây xưởng, ta lại nhớ đến một chuyện. Năm Thành Hoá thứ ba, Nam Man (3) nổi loạn, Bá tước Lý Cẩn và Thượng thư Trình Tín ở Tương Thành đốc quân thảo phạt, sau khi quét sạch loạn tặc đã bắt được vô số nam nữ. Bọn họ đưa đám nô lệ này về kinh thành chia tặng cho các vương hầu. Trong đám nô lệ này có một nam tử họ Uông và một bé gái họ Kỷ được đưa vào đại nội, nam tử bị thiến làm hoạn quan, bé gái được nạp làm cung nữ...

Nói đến đây, lão nhìn qua phía Dương Lăng rồi cười khà khà hỏi:
- Ngươi có biết hai người này về sau có tao ngộ như thế nào không?

Rồi không đợi y trả lời, Trương Tú đã tự đáp luôn:
- Mười năm sau, triều đình thiết lập Tây xưởng lần đầu tiên. Chỉ trong chốc lát, quyền lực của Tây xưởng đã khuynh đảo thiên hạ, vượt lên trên Đông xưởng và Cẩm Y vệ, mà xưởng công của Tây xưởng đó... họ Uông, tên Trực, chính là tên hoạn quan bị bắt nhập cung mười năm trước đó.

Dương Lăng đã nghe nói về tên tuổi của Uông Trực, nghe vậy bèn "a" lên một tiếng. Trương Tú kể tiếp:
- Còn bé gái họ Kỷ ban đầu làm cung nữ, rồi được thăng lên nữ quan, sau đó được phong làm Thục phi, về sau lại còn được phong làm Hoàng hậu, chính là thân mẫu của đương kim hoàng thượng hiện giờ.

Lão vỗ tay, thở dài nói:
- Tao ngộ như thế cũng thật là hiếm thấy! Nghĩ lại những tù binh bị bắt ở Đại Đằng Hạp (4) khi xưa, cho dù trên đường áp giải bị binh sỹ tuỳ ý đánh chết cũng không tính là gì. Ai có thể ngờ rằng trong đó có hai người đã đến được bên cạnh Thiên tử, có thể tạo nên câu chuyện oanh liệt về sau chứ?

Lão mỉm cười rồi nói tiếp:
- Ngươi xuất thân là kẻ đọc sách, đám quan văn đó coi ngươi như người của mình. Ty Nội Quan, Đốc sát viện và bộ Binh lại đều khá có hảo cảm với ngươi, sau lưng ngươi còn có Cẩm Y vệ và Đông xưởng cùng giúp đỡ, có thể nói là vô số cơ duyên. Chỉ cần có thêm được sự yêu thích của Thái tử, một khi Thái tử lên ngôi cửu ngũ, chính là lúc ngươi sẽ như rồng gặp mây, danh vang khắp gần xa! Dương đồng tri, ngươi còn muốn tự coi nhẹ mình không?

Dương Lăng nhìn vào bộ mặt tươi cười "ân cần" đó của Trương Tú, dường như trông thấy cánh tay của Dương Bài Trường vung về phía trước, kêu lớn:
- A Mễ Nhĩ, tiến lên! (5)

****

"A Mễ Nhi" đã tiến lên, nhưng không phải tiến về phía tiền đồ xán lạn, mà là tiến về phía người vợ của y.

Vừa rời khỏi ty Bắc Trấn Phủ của Cẩm Y vệ, thấy đèn sáng khắp nơi, Dương Lăng liền sực nhớ Ấu Nương vẫn còn ở nhà chờ mình, bèn lập tức nóng lòng trở về ngay. Mấy cái câu kiểu như "kim lân khởi thị trì trung vật, nhất ngộ phong vân tiện hóa long (6)" gì gì đó lập tức bị y dẹp qua một bên. Chỉ còn có hai năm nữa, thời gian quý báu biết bao nhiêu, cứ nên tập trung chăm sóc cho tiểu nương tử dễ thương của mình thì hơn.

Kinh sư có hai hội chùa lớn, gọi là hội chùa đông và hội chùa tây. Hội chùa đông tổ chức tại chùa Long Phúc gần lầu Tứ Bài trên phố Đại Thị, được mở vào mùng chín và mùng mười hằng tháng. Hội chùa tây tổ chức tại chùa Đại Long Thiện Hộ Quốc (7) ở phố Hộ Quốc Tự, được mở vào mùng bảy và mùng tám hằng tháng.

Hôm nay không phải là ngày hội chùa, nhưng hai con đường này bấy lâu đã hình thành nên khu thương nghiệp ổn định, quán trà, tiệm rượu, cửa hàng mọc lên san sát, vô cùng náo nhiệt. Sau khi ăn bữa cơm tối đầm ấm ở một quán ăn, Dương Lăng và Ấu Nương đi thẳng về phía chùa Hộ Quốc.

Dĩ nhiên y không dẫn theo hai gã người ngoài Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh. Kết quả là sau khi ăn xong bữa tối, từ trong ngõ đi ra , hai người lại đi nhầm lối, thế là đành phải hỏi thăm người đi đường. Những người đi đường nghe nói đôi phu thê trẻ này muốn đến chùa Hộ Quốc để dâng hương thì đều lộ vẻ ngạc nhiên, song vẫn chỉ đường cho bọn họ.

Thì ra ngôi chùa mười gian rộng lớn rất có tiếng tăm này giờ đây đã biến thành một chùa Lạt-ma. Đối với những vị bồ tát hình dạng kỳ quái mà Lạt-ma thờ cúng, các vị nhân sĩ chốn kinh sư vốn vẫn luôn có suy nghĩ "kính quỷ thần nhi viễn chi" (7) nên cũng không dám lĩnh giáo lễ nghi dâng cúng của các vị Lạt-ma. Chỉ những khi có hội chùa, du khách mới vui vẻ bước vào bên trong ngoạn cảnh còn ngày thường rất ít người ghé thăm. Vì vậy hương quả trong ngôi chùa này rất lèo tèo, hoàn toàn không giống với cảnh hương quả hưng thịnh ở những chùa miếu khác.

Nhưng người Hán không giống như những người phương Tây luôn vạch rõ giới hạn về tín ngưỡng tôn giáo. Đơn giản là anh có tín ngưỡng của anh, tôi có tín ngưỡng của tôi, tuyệt đối không vì anh thờ Nguyên Thủy Thiên Tôn, tôi thờ Phật Tổ Như Lai mà sẽ đánh nhau túi bụi, hay là cấm cản không cho con cái lấy nhau. Cho nên tuy người đi đường cảm thấy kỳ lạ khi cặp vợ chồng trẻ này muốn đi đến chùa Lạt-ma, nhưng cũng không ai làm khó bọn họ.

Những năm gần đây, không ít nhà sư từ Thanh Khang Tạng (9), thậm chí từ ngoài sa mạc, đến tấn kiến triều đình Đại Minh. Bởi vì vùng đất của bọn họ được cai trị theo chế độ chính giáo hợp nhất (*), những Lạt-ma này vào chầu cũng giống như quan viên từ nơi đó vào triều yết kiến, rất được triều đình xem trọng. Cho nên Hoàng đề đã ban vài ngôi chùa cho những tăng lữ có lòng muốn ở lại Trung Nguyên, chùa Hộ Quốc là một trong số đó.
(*): Chế độ cai trị mà nguyên thủ quốc gia và lãnh tụ tôn giáo cùng là một người, pháp luật được viết dựa theo giáo nghĩa của tôn giáo, dân chúng tôn thờ duy nhất một loại tôn giáo.

Tuy rằng hương hoả không vượng, nhưng may nhờ triều đình cấp dưỡng, nhu yếu phẩm được cung cấp đúng hạn, cho nên cuộc sống của những vị Lạt-ma ở đây cũng không hề kham khổ.

Bước vào cổng chính, Dương Lăng thấy trong chùa sáng choang. Mặc dù cũng có vài du khách, nhưng trông tuổi tác dường như phần lớn đều là những cụ già đi dạo mệt mỏi vào đây nghỉ chân, ngồi tán gẫu dưới hành lang. Còn ngay trước lối vào điện Kim Cương, tuy cửa điện rộng mở thế nhưng lại tĩnh mịch lạnh lẽo, không ai bước vào.

Dương Lăng ngoái đầu nhìn, thấy Hàn Ấu Nương đang cách mình hơn ba thước, bẽn lẽn theo sau, trong lòng bất giác cảm thấy buồn cười, không nhịn được bèn trêu:
- Nương tử, cùng đi trên phố mà cách xa như vậy để làm gì? Tướng công phải liên tục ngoái đầu nhìn nàng, sắp trẹo cổ rồi đây này.

Hàn Ấu Nương xấu hổ đi đến bên cạnh y, khẽ trách:
- Tướng công! Nói nhỏ chút đi mà, người ta nghe được sẽ cười cho đấy. Thiếp là nữ nhân, vốn không thể sóng vai bước ngang hàng với chàng mà.

Dương Lăng cười lớn nói:
- Được, vậy nàng cứ đi theo đằng sau đi. Phật dạy: “Kiếp trước ngoái đầu nhìn năm trăm lần mới có thể đổi được một lần thoáng gặp gỡ ở kiếp này.” Về sau nàng cứ đi theo tướng công mỗi ngày, tướng công không có gì làm sẽ ngoái đầu lại nhìn nàng một chút, nhìn đến năm ngàn, năm vạn lần, tranh thủ để kiếp sau vẫn làm phu thê.

Ấu Nương cười thẹn lườm y, chưa kịp đáp lời thì một giọng cười "hắc hắc" khó nghe đột nhiên vọng lại, kế đó là tiếng nói:
- Thuyết pháp này thật thú vị! Ta chỉ mới nghe nói rằng ”trăm năm tu duyên, nghìn năm tu phận, vạn năm tu duyên phận” mà thôi.

Ngoái đầu lại nhìn, Dương Lăng trông thấy một thư sinh trẻ tuổi, mặt như thoa phấn, tay cầm một cây quạt thếp vàng đang nhìn y cười hì hì. Tiểu thư sinh này có vóc người cao hơn Ấu Nương một chút, mặt mày sáng láng, vận một bộ đạo bào (một loại trang phục áo dài chấm gót đời Minh - tác giả.), lưng buộc đai gấm, đầu đội mũ quả dưa (10), chóp mũ đính một viên thạch anh, trông thật khôi ngô tuấn tú.

Tiểu thư sinh vừa mở miệng, cái tiếng vịt đực khó nghe trong thời kỳ bị vỡ giọng lại ồ ồ vang lên:
- Có điều, không biết cái ”ngoái đầu nhìn năm trăm lần” của vị huynh đài đây là điển cố trong bộ kinh văn nào vậy? Là Tam Quy Ngũ Giới Từ Tâm Yếm Ly Công Đức kinh, A Di Đà Phật Âm Vương Đà La Ni kinh? Hay là Tứ Thập Nhị Chương kinh vậy?

Nói đoạn y bung cây quạt thếp vàng dùng làm trang sức kia ra đánh xoạch, khẽ quạt quạt mấy lượt, dáng vẻ khá là tiêu sái. Kế đó y lại cảm thấy chán nên gấp quạt lại, rồi hỏi:
- Hôm nay tiểu đệ cùng huynh cũng xem như thoáng gặp gỡ, không biết vì sao kiếp trước huynh đài quay đầu nhìn ta nhiều lần như thế?





(1) Trương Vĩnh (1465 - 1529), Ngự dụng giám thái giám, tự là Đức Duyên, biệt hiệu "thủ am". Đầu những năm Hồng Vũ, ông cố nội của ông ta dời đến Tân Thành, Bảo Định (nay là huyện Tân Thành tỉnh Hà Bắc), trở thành người Tân Thành. Năm Thành Hoá thứ mười một (1475), ông ta được chọn vào cung, vào cung Càn Thanh hầu hạ cho vua Hiến Tông, năm đó ông ta gần mười tuổi. Sau đó ông ta được thăng chức làm Nội quan giám hữu giám thừa. Năm Thành Hoá thứ mười ba (1487), Hiến Tông qua đời, Hiếu Tông điều ông ta đến Mậu Lăng ty. Năm Hoằng Trị thứ chín (1496), ông ta được điều vào đông cung hầu hạ cho Thái tử Chu Hậu Chiếu, tức Vũ Tông sau này. Năm Hoằng Trị thứ mười tám (1505), Vũ Tông kế vị, điều chuyển Trương Vĩnh làm Ngự mã giám tả giám thừa, không lâu sau thăng làm Ngự dụng giám thái giám. Trương Vĩnh tấu sớ xin cố thái giám Ngô Trung nhượng lại điền trang rộng đến bảy dặm. Bộ Hộ chỉ trích ông ta vi phạm cấm lệnh, cần phải điều tra trừng trị, song Vũ Tông lại chiếu lệnh cho Trương Vĩnh quản lý tài sản.
(2) Vương Thủ Nhân(1472-1529), người Dư Diêu, Chiết Giang, tự là Bá An, hiệu Dương Minh Tử, đời gọi là Dương Minh tiên sinh, học giả đồng liêu gọi là Vương Dương Minh. Ông là nhà tư tưởng, triết học, văn học và quân sự nổi tiếng nhất thời Minh, là người đã thu thập để viết nên tập Lục Vương Tâm Học. Chẳng những tinh thông Nho gia, Phật gia, Đạo gia, mà ông còn có thể lĩnh binh chinh chiến, là nhà thông thái toàn năng hiếm thấy trong lịch sử Trung Quốc. Ông được phong là "tiên Nho", pho tượng thờ thứ 58 trong miếu thờ Khổng Tử.
(3) Nam Man (nghĩa là "người man rợ phương nam") là từ miệt thị trong lịch sử Trung Quốc để chỉ các bộ lạc nổi loạn phía tây nam của Trung Quốc. Từ này xuất hiện sau khi có vương quốc Tam Miêu hùng mạnh vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên do người Miêu dẫn đầu. Trong thời kỳ Tam Quốc, người Miêu dưới sự lãnh đạo của Mạnh Hoạch đã nhiều lần nổi lên chống lại Thục Hán, sau khi Mạnh Hoạch bị Gia Cát Lượng bắt và thả bảy lần đã quy phục Thục Hán. Nam Chiếu thường xuyên cống nộp thông qua Kiếm Nam Tiết Độ Sứ. (theo wikipedia)
(4) Đại Đằng Hạp là hẻm núi (hạp cốc) rộng lớn và dài nhất trong phạm vi Quảng Tây, trở thành khu vực giao tranh của binh gia tự cổ chí kim. Cuộc khởi nghĩa nổi tiếng của dân tộc người Dao ở thời Minh đã bùng nổ ở nơi đây, kéo dài trên hai trăm năm. Từ đầu những năm Hồng Vũ (~1375) đến năm Thiên Khải (1621 - 1627), Vương triều nhà Minh lần lượt đưa trọng binh trấn thủ, trấn áp cuộc khởi nghĩa của người Dao.
(5) nguyên văn "A Mễ Nhĩ, xung!" đây là câu nói thịnh hành lấy từ trong bộ phim truyền hình nổi tiếng Trung Quốc "Người khách lên Băng Sơn". Trong phim, khi A Mễ Nhĩ cùng Cổ Lan Đan Mỗ trùng phùng, y đã không dám chạy tới ôm cô. Thấy tình hình như vậy, Dương Bài Trường đã ra lệnh: "A Mễ Nhĩ, tiến lên!" Thời nay, nó được dùng như một câu khích lệ. Khi một thanh niên nhìn trúng một cô gái nào đó nhưng lại không đủ can đảm theo đuổi, bạn bè cậu ta sẽ đồng thanh cổ vũ bằng câu: "A Mễ Nhĩ, tiến lên!"
(6) "Lân vàng há phải vật trong ao, nếu gặp phong vân sẽ hóa rồng" - trích câu nói nổi tiếng trong bộ phim Phong Vân. Nhưng thật ra câu "Kim lân khởi thị trì trung vật" lại bắt nguồn từ bài thơ trong tập "Tinh Học Đại Thành" của Vạn Dân Anh, thời Minh. Thơ rằng:
Nguyệt không chi nhân diệc hãn phùng, (月空之人亦罕逢)
Na kham quan quý tại kì trung; (那堪官贵在其中)
Kim lân khởi thị trì trung vật, (金鳞岂是池中物)
Bất nhật thiên thư hạ cửu trùng (不日天书下九重)
(7) Chùa Hộ Quốc lấy tên đặt trong vùng vào thời Nguyên đặt cho. Năm Tuyên Đức thứ tư (1264-1295) đổi tên thành chùa Đại Long Thiện. Năm Thành Hóa thứ tám (1472) được ban tên chùa Đại Long Thiện Hộ Quốc. Vì chùa tọa lạc ở phía tây thành Bắc Kinh, cho nên người Bắc Kinh xưa còn gọi nó là "chùa Tây".
(8) Thành ngữ này có nguồn gốc từ một câu nói của Khổng Tử trong "Luận ngữ - Ung dã" (論語•雍也):
Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi, khả vị tri hĩ ( 務民之義,敬鬼神而遠之,可謂知矣 )
Tạm dịch như sau:
Làm việc nghĩa, có ích cho dân, tuy phải kính trọng quỷ thần nhưng không cầu cạnh quỷ thần, mà nên tránh xa quỷ thần, đó là trí.
Có thể nói rằng, "Kính nhi viễn chi" chính là cách nói rút gọn từ câu "Kính quỷ thần nhi viễn chi"( 敬鬼神而遠之).
Ngày nay, trong tiếng Việt, thành ngữ "kính nhi viễn chi" thường được dùng trong các trường hợp: Bề ngoài tỏ ra kính nể, tôn trọng một đối tượng nào đó, nhưng trên thực tế không muốn tiếp cận, gần gũi với đối tượng đó; hoặc thường dùng trong các trường hợp mỉa mai, châm biếm khi mình không muốn tiếp cận với một đối tượng nào đó. (theo wikipedia)
(9) Thanh Khang Tạng chỉ cao nguyên Thanh Tạng, vùng cao nguyên cao nhất thế giới ở châu Á. Vắt qua khu tự trị Tây Tạng, toàn bộ tỉnh Thanh Hải và khu tự trị Duy Ngô Nhĩ, Tân Cương, tỉnh Cam Túc và một phần tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam.
(10) Tên thông dụng của "lục hơp nhất thống mạo", một loại mũ đội được người dân trong kinh thành dùng nhiều. Mũ hình bán nguyệt dùng sáu miếng vải lụa ghép thành. (xem hình http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/2/2e/Ming_dynasty_man.jpg)





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
15-11-2010, 10:23 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 55 - Giáo sỹ Tây Dương



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo vong

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- "Khắp dưới gầm trời, chẳng chỗ nào không phải đất của vua. Trong cả bốn bể, chẳng một ai không là bề tôi của vua."



Chương 55 - Giáo sỹ Tây Dương

Dương Lăng dời mắt, thấy bên cạnh tiểu công tử trắng ngần này là một vị trung niên đầu đội mũ mềm, vận quan phục ống tay rộng. Người này da dẻ trắng trẻo, khí chất ung dung, tướng mạo giống tiểu công tử kia đến bảy tám phần, có lẽ là một cặp cha con. Có điều vị văn sỹ trung niên này dáng người mập mạp hơn, tháng hai đầu xuân khí trời vẫn lạnh lẽo, ấy vậy mà trên da thịt nhẵn nhụi của ông ta lại lấm tấm mồ hôi.

- Chuyện này...
Dương Lăng có phần lúng túng. Thật tình thì y không hề biết câu nói đó có thật sự bắt nguồn từ kinh phật hay không, nhưng vừa nghe tiểu thư sinh kia một hơi kể ra mấy bộ kinh phật mà mình chưa hề nghe qua thì biết ngay người ta mới đúng là kẻ đọc sách, hơn nữa hiểu biết về phật học rất sâu. Y nào dám đối đáp bậy bạ, chỉ đành cười trừ nói:
- Ờ... Chuyện này, hà hà, tại hạ thích đọc sách nhưng lại không ham mê tìm tòi nghiên cứu, thật sự không nhớ ra được đó là điển cố trong bộ kinh thư nào.

Tiểu thư sinh nọ đảo cặp mắt đen tròn của mình, rồi đột nhiên cười ranh mãnh nói:
- Ta hiểu rồi, vị huynh đài này vốn là thuận miệng nói bừa để chọc cho nương tử được vui, quả nhiên cơ trí! Bội phục! Bội phục!

Người trung niên đứng cạnh bên cười lớn nói:
- Con chớ có ăn nói lung tung!
Tuy là mở miệng trách móc, nhưng giọng ông ta lại rất nhẹ nhàng, cả khuôn mặt toát lên vẻ hiền hậu của người cha, hiển nhiên là rất cưng chiều con mình.

Tiểu thư sinh không phục nói:
- Vốn dĩ là vậy mà. Tỷ tỷ, tướng công nhà tỷ có phải là thường hay nói bậy nói bạ để tỷ được vui không?

Hàn Ấu Nương đỏ mặt, khẽ xì một tiếng, ánh mắt ngọt ngào liếc nhìn Dương Lăng, tình cảm dịu dàng muốn che giấu cũng không được. Người thiếu niên vỗ tay cười nói:
- Trăng hoa đón gió vui xuân mới, hàng liễu bên cầu đắm khói sương (1), đẹp thì đẹp đấy, nhưng làm sao có thể sánh được với vẻ đẹp 'mày tựa núi xuân, mắt như thu thuỷ' của nữ tử khi chìm trong bể tình? Lúc tỷ tỷ nhìn tướng công nhà mình, nụ cười thật xinh, thật ngọt! Có điều đệ thấy tướng công nhà tỷ tướng mạo anh tuấn, tài hoa hơn người, nhất định là rất giỏi cưng nựng người khác. Tỷ tỷ phải trông chừng cẩn thận, kẻo không huynh ấy lại đi trêu hoa ghẹo nguyệt đấy!

Hàn Ấu Nương hứ một tiếng, nhưng vừa định cất lời phản bác thì chợt nhớ đến Mã Liên Nhi. Người con gái xinh đẹp đó, mình là thiếu nữ mà nhìn còn thấy tim đập thình thịch, thế nhưng lại cam tâm tình nguyện đi theo Dương Lăng làm tiểu thiếp. Nói không chừng tướng công thật sự rất giỏi cưng nựng người khác, khiến cho con gái nhà người ta bị mê hoặc rồi trao tim cho chàng. Vừa nghĩ nàng vừa liếc nhìn Dương Lăng với vẻ ai oán.

Người văn sỹ trung niên kia cười lớn, xoa đầu con mình rồi trách:
- Nói xàm!
Dứt lời ông ta quay sang Dương Lăng chắp tay cười nói:
- Vị công tử này, con ta tính tình bướng bỉnh, mong công tử thứ lỗi cho!

Dương Lăng vội đáp:
- Không dám, không dám. Lệnh công tử thông minh lanh lợi, học thức hơn người, như ngọc trong đá, tương lai nhất định sẽ có tài làm Trạng Nguyên.

Tiểu thư sinh nọ nghe xong, vẻ mặt như cười mà không phải cười, thần sắc hơi cổ quái. Dương Lăng thấy vị trung niên kia không xưng họ tên cũng không có ý trò chuyện với mình, bèn cáo từ:
- Tại hạ phải cùng nương tử vào miếu dâng hương, thứ lỗi không hầu chuyện được!

Văn sỹ trung niên cười nói:
- Không sao cả, công tử xin cứ tự nhiên!

Dương Lăng vừa mới kéo Ấu Nương bước dọc theo hành lang mấy bước, tiểu công tử nọ đột nhiên lại gọi với theo:
- Này, huynh đài, huynh vẫn chưa nói vì sao kiếp trước lại quay đầu nhìn ta hơn năm trăm lần đó nhé.

Dương Lăng quay đầu cười nói:
- Chuyện này... Chỉ có hai loại người có thể khiến ta liên tục ngoái đầu lại nhìn: một là giai nhân tuyệt thế vô song, hai là loại vô lại nợ tiền không trả. Không biết tiểu huynh đệ ngươi là loại người nào?
Nói xong y cười lớn rồi kéo Ấu Nương rảo bước bỏ đi.

Tiểu thư sinh vỗ cây quạt nhỏ thếp vàng, nghiêm túc cân nhắc một hồi lâu:
- Gì thế nhỉ... Tuyệt thế giai nhân? Không ổn. Vô lại nợ tiền... Hình như cũng không ổn. Ai da, tiểu tử này chơi mình!

Ngẫm ra được ý xỏ xiên, tiểu thư sinh bèn hậm hực cất bước đuổi theo. Văn sỹ trung niên không kịp ngăn lại, chỉ đành lắc đầu cười, khẽ đưa tay vẫy một cái. Trong hành lang, hơn mười hán tử trước đó vốn trông như những du khách đứng ở xung quanh lần lượt hiện thân, lặng lẽ đi theo ông ta.

Văn sỹ trung niên chậm rãi đi theo sau con trai. Một lão bộc ăn mặc như gia nhân bước đến bên cạnh dìu ông ta, nhỏ giọng nói:
- Lão gia, sắc trời không còn sớm nữa, chúng ta hãy quay về thôi!

Văn sỹ trung niên mỉm cười bảo:
- Ha ha, đứa nhỏ này ngày thường ngay cả một người bạn chơi cùng cũng không có, hiếm khi có được người cãi vặt cùng thế này, cứ để nó chơi thêm một chút đi!

Lão bộc gật đầu, khom lưng dìu vị trung niên hơi mập mạp này vất vả bước vào điện Kim Cương. Bỗng nhiên từ phía điện Thiên Vương ở gian sau vang đến những âm thanh huyên náo. Vẻ mặt người văn sỹ trung niên chợt trở nên căng thẳng, chân bước nhanh hơn, giọng lo lắng:
- Mau đi xem, đã xảy ra chuyện gì vậy?

Băng qua sảnh điện, chỉ thấy trước điện Thiên Vương có vài nhà sư Tây Tạng mặc hồng bào, đội mũ cao đang đứng trên nguyệt đài (*), phía dưới có năm người mặc trường bào đang đứng, còn một người nằm dưới đất, hai bên đang cãi nhau ầm ỹ.
(*): bục có mặt chính nhô ra phía trước, ba mặt đều có bậc lên xuống.

Tiểu thư sinh, Dương Lăng và Ấu Nương đứng cùng một chỗ ngóng cổ xem náo nhiệt. Sáu, bảy hán tử tráng kiện đứng chung quanh bọn họ, có vẻ như cũng là du khách xem náo nhiệt, song lại ngầm vây bọn họ vào giữa để bảo vệ.

Trên đài, những nhà sư Tây Tạng bô lô ba la quát tháo. Dưới đài, những người mặc trường bào thân hình dong dỏng cao cũng vung tay múa chân, to tiếng biện hộ bằng một thứ ngôn ngữ kỳ lạ, bộ dạng trông cực kỳ giận dữ.

Lúc Dương Lăng nhìn thấy trên nguyệt đài là mấy nhà sư Tây Tạng thì đã biết hôm nay vào nhầm cửa chùa, tiếp đó khi thấy mấy người đàn ông mặc trường bào đứng cạnh đỉnh đồng bên dưới bục đài đều là người Tây Dương mũi cao, mắt xanh, thì lại càng cảm thấy kỳ quái hơn. Hai tốp người nước ngoài "ông nói gà bà nói vịt", cãi lộn nhặng xị một hồi lâu, một người Tây Dương dáng cao gầy trong đám người ở dưới bục đài đột nhiên bước ra, mặt đỏ gay, căng họng la lên:
- "Khắp dưới gầm trời, chẳng chỗ nào không phải đất của vua. Trong cả bốn bể, chẳng một ai không là bề tôi của vua." (2)
Các người đuổi bọn ta đi là không đúng lý!

Vị tiểu công tử kia cùng phụ thân đưa mắt nhìn nhau, không nhịn được bật cười. Nhà sư Tây Tạng trên bục cũng hầm hầm nói bằng tiếng Hán:
- Không phải là bọn ta... không thu nhận các người. Nhưng đám hòa thượng Tây Dương các người ý đồ không tốt, đem người mắc bệnh đến đây, sẽ lây nhiễm.

Người Tây Dương ở dưới bục đài lắc đầu lia lịa:
- Không, không, không. Bệnh mà y mắc không phải là ôn dịch, sẽ không lây nhiễm đâu.
Người hai bên đều dùng thứ tiếng Hán giả cầy của mình tranh cãi qua lại, mấy người Dương Lăng đứng ở cạnh bên lúc này mới lờ mờ đại khái hiểu ra được.

Thì ra mấy người Tây Dương này là nhà truyền giáo đến từ Phật Lăng Cơ (tên gọi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngày xưa), đã lăn lộn ba năm ở Đại Minh, mấy ngày trước vừa mới thành công thu được một tín đồ đầu tiên của bọn họ ở đất này, đó là một tên ăn mày mắc phải bệnh nan y, toàn thân lở loét, phập phù thoi thóp, thế là liền như đoạt được chí bảo mang y về chùa Hộ Quốc mà mình đang ở nhờ, một mặt chăm sóc y, mặt khác đem giáo lý Thiên Chúa giáo truyền bá. Những nhà sư Tây Tạng lo bệnh tật của kẻ này sẽ lây nhiễm, thương lượng mấy lần vẫn không có kết quả, bèn đuổi bọn họ ra khỏi cửa.

Dương Lăng thấy người mà đám truyền giáo nước ngoài này cứu trợ là người Hán, tuy rằng có phần vì tư lợi, muốn phát triển giáo đồ, nhưng cũng tính là một việc thiện, liền bước lên giúp họ cãi lý. Nhưng mấy nhà sư Tây Tạng kia căn bản bất chấp lý lẽ, không hề có lòng từ bi của người cửa phật.

Tiểu thư sinh cùng phụ thân thì thầm mấy câu, kế đó ngoắc tay gọi một người hầu lại nhỏ giọng căn dặn. Người hầu đó chạy lên nguyệt đài, nói mấy câu với một Lạt ma chấp sự. Vị Lạt ma chấp sự đó nghe nói vị thiện nhân dưới đài muốn quyên góp ba nghìn lạng bạc tiền hương hoả thì mặt mày lập tức tươi roi rói, ngay lập tức đáp ứng yêu cầu thu nhận mấy nhà truyền giáo Tây Dương kia.

Ngôi chùa to lớn này có tới hơn mười gian, muốn an bài một khu phòng độc lập nho nhỏ cho mấy người kia đương nhiên không thành vấn đề. Hôm nay bọn họ chuyện bé xé ra to, muốn đuổi mấy người Tây Dương này đi, nguyên nhân thật sự là vì tuy trong con mắt người Hán thì đám sư sãi Lạt Ma cố nhiên là kỳ quái, nhưng trong mắt các nhà sư này thì những hòa thượng tóc vàng mắt xanh kia còn là những kẻ man di mọi rợ ăn thịt người chưa được khai hóa.

Có được chỗ nương thân, đám truyền giáo vui sướng không thôi, nhao nhao hướng về vị đại thiện nhân và Dương Lăng - người đã lên tiếng cất lời chính nghĩa - tỏ lòng cảm ơn rối rít, rồi sau đó họ tới chỗ ở cũ đem chăn đệm, rương hòm đưa vào hậu viện. Người Tây Dương vóc dáng cao nhất có vẻ như thủ lĩnh của tốp giáo sỹ nọ không ngừng dùng thứ tiếng Hán hết sức kém cỏi của mình để tỏ lòng cảm tạ với Dương Lăng và tiểu thư sinh.

Dương Lăng rất tò mò về những nhà truyền giáo này. Trong ấn tượng của y, các nhà truyền giáo Tây Dương đến Trung Quốc trong thời kỳ đầu vẫn khá văn minh và chính trực, thật sự xuất phát từ tín ngưỡng tôn giáo cuồng nhiệt nên mới không ngại gian khổ đến phương Đông xa xôi truyền đạo, cho nên khi trò chuyện với bọn họ y luôn rất khách sáo.

Những nhà truyền giáo này nhận mệnh lệnh của Tòa thánh đến phương Đông truyền giáo, đi đến đâu cũng gặp trắc trở, có rất ít người chịu để ý đến bọn họ. Lúc này thấy Dương Lăng chủ động bắt chuyện, nhà truyền giáo đó rất hưng phấn, lập tức lắp bắp tự giới thiệu hành trình đến đây của mình.

Thì ra nhà truyền giáo này tên là Sa Tư Các, y và mấy mươi vị giáo sỹ nhận chỉ lệnh của giáo hội Da-tô (Jesus) Phật Lăng Cơ tổ chức thành đoàn đến phương Đông truyền giáo. Ban đầu họ đến được Ấn Độ, nhưng ở đó truyền bá giáo lý lại rất khó khăn và nguy hiểm, một vài giáo sỹ còn vì bất đồng tôn giáo mà đã bị người dân bản xứ đánh chết.

Sau đó bọn họ nghe nói đi tiếp về phía đông có một quốc gia còn hùng mạnh và văn minh hơn, thế là bọn họ rời khỏi Ấn Độ, xuôi theo đường biển để đến Đại Minh, kết quả khi đội thuyền đến Malacca (3) thì bị quân đội nơi đó bắt giữ. Về sau bọn họ mua chuộc lính canh, thông qua thương nhân bản xứ lén vượt biên đến Nhật Bản, sau khi lưu lại vài giáo sỹ ở đó, năm người còn lại đi thuyền tới vùng Giang Chiết, rốt cuộc đã đến được Đại Minh.

Nhưng muốn truyền bá giáo lý Phúc Âm của Thiên Chúa giáo tại vùng đất của người Hán này rõ ràng là có chút khó khăn. Đối với dân chúng thì một vị thần bẻ xương đàn ông để tạo ra đàn bà hiển nhiên là không thần thông quảng đại bằng Nữ Oa nương nương nặn đất thành người. Hơn nữa vị thần Tây Dương kia còn không dạy cho đôi nam nữ đáng thương biết thế nào là liêm sỉ lễ nghĩa, cả ngày để cho bọn họ trần truồng lang thang trong vườn cây ăn quả. Thứ thần chẳng đâu vào đâu này hiển nhiên không có sức hấp dẫn như Phật Tổ Như Lai từ bi hoà nhã và Thái Thượng Lão Quân có thể hàng yêu phục ma rồi.

Cho nên năm nhà truyền giáo này lăn lộn vất vưởng hơn hai năm ở vùng Giang Chiết mà không kiểm nổi một tín đồ, bất đắc dĩ đành phải đến kinh sư, hy vọng có thể được hoàng đế Đại Minh triệu kiến để có cơ hội truyền đạt giáo lý ở Đại Minh.

Để người Hán có thể tiếp nhận dễ dàng hơn, giờ đây bọn họ đổi sang mặc trường bào, học Tứ thư Ngũ kinh. Để phù hợp với quan niệm "Trời tròn Đất vuông" (4) của người Trung Quốc, họ thậm chí đã vẽ lại một phần bản đồ thế giới mà mình mang theo, đặt vị trí của Trung Quốc ở chính giữa, có thể nói là đã dốc sạch vốn liếng ra rồi. Đáng tiếc quan viên bộ Lễ nghe nói bọn họ không phải là sứ giả đại diện cho tiểu bang dị quốc đến yết kiến thiên triều thì đã đuổi bọn họ đi ngay, đến giờ còn chưa gặp được Hoàng đế mà bọn họ đã sắp trở thành ăn mày rồi.

Tiểu thư sinh nọ nghe xong cảm thấy khá thú vị, không nhịn được bèn chen miệng vào:
- Quốc gia của các người ở đâu? Rộng chừng nào vậy?

Sa Tư Các lắp bắp nói:
- Ở phương Tây, rất xa rất xa, phải ngồi thuyền rất rất lâu. Quốc gia của chúng tôi vốn cực kỳ nhỏ, còn không lớn bằng vùng Giang Chiết, nhưng hai mươi năm trước nữ vương Castilla thành hôn cùng quốc vương Aragón (5) của chúng tôi, hai nước đã sát nhập lại. Đất nước của chúng tôi bây giờ đã lớn hơn rất nhiều, còn lớn hơn vùng Giang Chiết một chút.






(1) Nguyên văn: Thiên địa gian hoa nguyệt xuân phong, họa kiều yên liễu
"Thiên địa gian" là giữa trời đất, "hoa nguyệt xuân phong" là trăng hoa và gió xuân, "họa kiều" là một loại cầu được trang hoàng lộng lẫy, "yên liễu" là nhành liễu giữa làn sương sớm.

HieuSol phỏng dịch :
Gió xuân thắm đượm trăng hoa,
Bên cầu tơ liễu sương nhòa mắt ai.

(2) Nguyên văn "Phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ. Suất thổ chi tân, mạc phi vương thần" trích từ bài "Bắc sơn", phần Tiểu nhã trong Kinh Thi.
Kinh Thi gồm 311 thiên, chia làm ba phần lớn: Phong (Quốc phong), Nhã, và Tụng. Trong đó, Nhã, nghĩa là đính chính, gồm những bài hát nơi triều đình, được chia làm 2 phần: Tiểu nhã và Đại nhã. Tiểu nhã bao gồm những bài dùng trong trường hợp không quan trọng lắm như các buổi yến tiệc (74 thiên).

(3) Malacca hay còn gọi là Malaka (phiên âm Mã Lục Giáp), là một cựu quốc gia tại Đông Nam Á, chịu ảnh hưởng Hồi giáo, được thành lập năm 1402, đến năm 1511 thì bị người Bồ Đào Nha chiếm.

(4) Kỳ thực học thuyết cổ đại Trung Quốc “Trời tròn Đất vuông” tuyệt đối không phải là một khái niệm về mặt địa lý, mà nói về một loại Đạo, một loại quy luật, một loại văn hóa. Trời tròn biểu tượng cho "Đạo Trời viên dung", chính là sự hài hòa và quy luật tuần hoàn của vũ trụ. Đất vuông cũng giống như Đạo làm người, giảng rõ ra chính là đức tính ngay thẳng, trung dung, hành động có quy phạm, đây mới là giá trị chân chính mà câu nói: “Thiên viên Địa phương” hằng biểu hiện – “Thiên nhân hợp nhất”.

(5) Aragón, Castilla, Leon và Navarre đã làm nên nền tảng của đất nước và đế chế Tây Ban Nha hiện nay. Năm 1469, ngai vàng của hai vương quốc đạo Cơ đốc là Aragón và Castilla đã được hợp nhất bởi lễ cưới giữa vua Fernando II của Aragón và nữ hoàng Isabel I của Castilla. Năm 1492, vương quốc hợp nhất đã chiếm đóng Granada, chấm dứt 781 năm cai trị của người Hồi giáo tại bán đảo Iberia.
Vua Fernando và nữ hoàng Isabel đã củng cố vững chắc hệ thống quyền lực trung ương, đồng thời cái tên España (Tây Ban Nha) bắt đầu được dùng để chỉ vương quốc hợp nhất. Với những cải cách lớn về chính trị, pháp luật, tôn giáo và quân đội, Tây Ban Nha đã vươn lên trở thành một cường quốc trên thế giới. (theo wikipedia)




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
18-11-2010, 11:49 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 56 - Đêm mê ly



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo vong

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Nhưng Dương Lăng không chút nghi ngờ rằng mặc dù Ấu Nương không biết và cũng sẽ không nói câu thề đó, nhưng không những nàng đang thực hiện nó, mà sẽ còn mãi tiếp tục làm như vậy.



Chương 56 - Đêm mê ly

Tiểu thư sinh không nhịn được bèn cười nói:
- Phí hơi cả ngày trời, vẫn chỉ là một vùng Giang Chiết thôi mà. Làm sao ở đó các ngươi có thể để cho phụ nữ làm quốc vương được nhỉ? Bà ta cưới người khác thì lấy cả quốc gia đem làm của hồi môn à?

Dương Lăng cười nói với y:
- Quốc gia phương tây đúng là có thể để cho phụ nữ làm vua. Ngươi chớ thấy quốc gia Phật Lăng Cơ bé nhỏ mà lầm, hải quân của bọn họ rất hùng mạnh, hiện tại có thể nói là tung hoành bốn biển, gần như không có đối thủ. Ở nơi đó, bọn họ có một loại hoạt động nổi tiếng nhất gọi là đấu bò tót, thú vị hơn nhiều so với mấy trò đá gà chọi dế của bọn trẻ con Đại Minh chúng ta. Đấu sỹ bò tót tài giỏi có thể một kiếm đâm xuyên tim một con bò đực khổng lồ nặng cả nghìn cân.

Sa Tư Các trở nên hưng phấn, vội nói:
- Thật khó tin! Ngài đã đến quốc gia của chúng tôi sao? Ở Đại Minh có rất ít người biết tới chuyện ở nước chúng tôi. Lạy Chúa, thậm chí có người nói ở đó chúng tôi ăn thịt người nữa cơ.
Y nhún nhún vai, vẻ mặt vô tội, nói tiếp:
- Thượng đế chứng giám, trên đường đến phương đông, chúng tôi cũng sợ nhất là gặp phải tộc mọi ăn thịt người.

Dương Lăng nghe thấy thế thì cười ầm lên. Vị văn sỹ trung niên nọ hứng thú quan sát y một chút, mỉm cười không nói gì. Tiểu thư sinh nghe Dương Lăng khen ngợi hải quân của Phật Lăng Cơ hùng mạnh thì lấy làm không phục, vốn định nhắc đến hạm đội khổng lồ dưới trướng Trịnh Hòa với bảy lần đến đại dương phía tây (1) của bản triều, bỗng nghe đến võ sỹ đấu bò gì đó, lập tức nảy sinh hứng thú, vội hỏi:
- Võ sỹ đấu bò gì thế? Ngươi hãy mau nói cho ta nghe, chơi hay lắm sao?

Đang định trả lời, Dương Lăng chợt nhìn thấy Ấu Nương đang đứng ở một bên hiếu kỳ nghe mình giảng giải, y không khỏi giật thót người. Y vốn là một tú tài nơi sơn thôn hẻo lánh, dựa vào cái gì mà biết tường tận những chuyện nơi đất khách quê người? Mặc dù không lo Ấu Nương sẽ vì vậy mà nghi ngờ gì, nhưng nếu để cho nàng hỏi tới thì sẽ không tránh khỏi phải tốn nhiều nước bọt giải thích một phen. Thế là y cười ha hả nói:
- Đấu bò thật sự không phải là trò cho con nít chơi, rất là nguy hiểm đó. Nếu ngươi có hứng thú, ngày thường rảnh rỗi hãy đến thăm mấy vị hoà thượng Tây Dương đây, hỏi bọn họ một chút không phải sẽ biết ngay sao? Ta và nương tử còn có việc, không thể để chậm trễ quá lâu, phải cáo từ chư vị rồi.

Tiểu thư sinh trợn mắt, miệng lẩm bẩm:
- Đấu bò rất hay sao? Chờ ta lớn thêm một chút ta sẽ đấu một trận, không những đấu bò mà ta sẽ đấu cả hổ nữa! Hừ, dám xem thường ta sao?

Sa Tư Các nghe Dương Lăng nói xong thì vội vàng cất tiếng:
- Khách nhân tôn quý, xin hãy chờ một chút, tôi có vài món lễ vật nhỏ tặng cho các vị.
Y vội vã cầm một chiếc rương nhỏ lên, lấy ra vài món đồ, cầm trên tay rồi nói:
- Hôm nay đa tạ các vị đã giúp đỡ, ở đây có mấy món đồ nhỏ, xin tặng cho các vị làm lễ vật.

Trong tay y cầm hai chiếc đồng hồ quả quýt và một cái lăng kính tam giác. Trong hai chiếc đồng hồ quả quýt bằng bạc đó, một cái trên vỏ khắc bộ xương khô, cái còn lại khắc cây thánh giá. Tiểu thư sinh rất hiếu kỳ, không hề khách sáo cầm lấy ngắm nghía. Vị văn sỹ trung niên nọ hiển nhiên cũng chưa từng thấy qua thứ này, mặt đầy vẻ tò mò, song lại chỉ mỉm cười đứng bên cạnh con mình xem y cầm chơi.

Sa Tư Các miệng cười toe toét chỉ cho tiểu thư sinh đó cách sử dụng lăng kính tam giác và đồng hồ quả quýt. Tiểu thư sinh nghe xong liền cầm lăng kính tam giác chạy qua một bên soi lên ánh đèn quan sát, sau đó tíu tít nói với phụ thân về cảnh tượng mới lạ vừa nhìn thấy.

Nhìn những món đồ của Sa Tư Các, Dương Lăng thầm nghĩ: "Những nhà truyền giáo này phần lớn đều tinh thông triết học, vật lý, hoá học, nếu triều đình nhà Minh có thể xem trọng bọn họ, để những nhà truyền giáo này làm môi giới, tăng cường giao lưu văn hoá và khoa học kỹ thuật giữa phương Đông và phương Tây, có lẽ chúng ta sẽ không gặp phải tình trạng bế quan tỏa cảng, mọi phương diện dậm chân tại chỗ, khiến cho sau này Mãn Thanh nhập quan, hàng trăm nghìn người Hán phải chết, càng sẽ không xuất hiện cục diện bốn trăm triệu đồng bào bị người ta ức hiếp mổ xẻ ở thời cận đại. Nếu Hoàng đế đã yêu thương thái tử, mà vị Hoàng đế Chính Đức tương lai này lại khá ham chơi, vậy mình có thể lợi dụng một chút, có lẽ ngày mai tiến cung nên dâng chút lời ’sàm ngôn’”.

Nghĩ đến đây, y bèn thấp giọng nói với Sa Tư Các:
- Sa Tư Các tiên sinh, tại hạ dày mặt muốn xin tiên sinh một cây thánh giá và một chiếc đồng hồ quả quýt. Đối với quý quốc và giáo lý của các vị, ta cũng có đôi chút hiểu biết, khi nào thuận tiện ta sẽ góp lời với triều đình, hy vọng có thể khơi dậy sự trọng thị của triều đình, cho phép các vị gây dựng giáo hội, tuyên truyền giáo lý.

Sa Tư Các nghe vậy thì vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, run giọng hỏi:
- Ngài là quan viên hay là quý tộc triều đình? Ngài có thể gặp được Hoàng đế bệ hạ sao?

Dương Lăng vội nói:
- Nhỏ tiếng chút đi! Hà hà, Sa Tư Các tiên sinh không cần hoài nghi, ngày mai ta sẽ vào cung gặp Hoàng đế.

Sa Tư Các mừng đến mặt mày rạng rỡ, vội vàng tháo cây thánh giá đeo trên cổ xuống, xong lại chạy đến chỗ một chiếc rương khác lấy ra thêm một chiếc đồng hồ quả quýt. Xem ra bọn họ cũng biết "mật ngọt chết ruồi" thì sẽ dễ được người ta tiếp nhận hơn là "Thượng đế yêu thương nhân loại", cho nên lúc đến phương Đông đã mang theo không ít lễ vật.

Sa Tư Các trịnh trọng trao lễ vật vào tay Dương Lăng, nói:
- Ngài là quý nhân của chúng tôi, rất hy vọng có thể nhận được sự giúp đỡ của ngài.

Dương Lăng gật đầu mỉm cười, đoạn cất cao giọng nói với tiểu thư sinh:
- Tiểu huynh đệ, sau này gặp lại!

Tiểu thư sinh đó đang áp một chiếc đồng hồ quả quýt vào tai, tò mò lắng nghe tiếng tích tắc, tích tắc bên trong, nghe vậy bèn vẫy tay tiễn y. Xoay người đi được vài bước, Dương Lăng chợt quay đầu lại mỉm cười rồi nói với Sa Tư Các:
- Đúng rồi, nếu giáo sỹ tiên sinh muốn tuyên truyền giáo lý, có thể thử truyện trò với các cụ bà láng giềng trước xem sao, có lẽ sẽ dễ thành công hơn đấy.

Sa Tư Các lấy làm kỳ quái hỏi:
- Tại sao?
Dương Lăng bắt chước y nhún vai, cười nói:
- Tình hình các nước bất đồng, những thứ mê tín của chế độ phong kiến này, à, những chuyện này, ở nơi này của chúng ta phụ nữ lúc nào cũng là những người thích tin theo trước. Ha ha ha, cáo từ!

Dương Lăng và Ấu Nương rời khỏi chùa Hộ Quốc. Đi dọc theo con phố lớn được một lát, Hàn Ấu Nương đột nhiên kéo ống tay áo y, bẽn lẽn quay đầu nhìn về phía chùa Hộ Quốc, ấp úng nói:
- Tướng công, chúng... chúng ta không xin tượng phật sao?

Thấy nét mặt e thẹn của nàng lúc cố lấy can đảm nói ra những lời như vậy trông hết sức mê người, Dương Lăng nhịn không được bèn cố ý trêu:
- Thôi, trời đã tối rồi, hôm khác chúng ta hẵng đi.

Hàn Ấu Nương lại giật giật ống tay áo y, trề môi, cúi gằm mặt, chẳng nói chẳng rằng, tựa như cô bé đáng thương đang bị ức hiếp. Dương Lăng thấy vậy thì thầm ngứa ngáy trong lòng, không nhịn được bèn thấp giọng cười nói:
- Nương tử bé bỏng, mong sớm bị tướng công ”hiếp đáp” đến thế cơ à? Ha ha, về nhà đi, tướng công đã xin được tượng phật rồi.

***

Hàn Ấu Nương đặt chậu nước rửa chân bên cạnh Dương Lăng, ngồi xổm tháo giày cho y, sau đó hỏi:
- Tướng công, mau nói cho thiếp đi, chàng xin được tượng phật lúc nào vậy?

Hàn Ấu Nương ngâm chân Dương Lăng vào trong nước, vừa nhẹ nhàng chà chân cho phu quân, vừa ngước mắt nhìn y. Dương Lăng lấy từ trong ngực ra cây thánh giá nọ, tay cầm sợi dây, y vừa cười hề hề vừa lắc lư nó ở trước mặt nàng. Cặp mắt Ấu Nương sáng lên, vội vàng chùi tay vào vạt áo rồi cầm cây thánh giá lên xem.

Chớp chớp hàng mi dài, nàng chăm chú nhìn một hồi lâu rồi nhíu mày tò mò hỏi:
- Tướng công, đây là ông phật nào vậy? Thật là quái lạ, sao lại mặc ít đồ như thế chứ?

Ánh mắt Dương Lăng đảo như rang lạc, tiện miệng đáp:
- Thì cũng giống như mấy La Hán mà nàng thấy trong chùa đó, rất nhiều người đều để trần cánh tay. Ông Phật này thì để trần cả đùi.

- Ưm!
Ấu Nương lại nghiêng đầu xem xét một hồi, không yên tâm hỏi:
- Tướng công, ông phật râu xồm đùi trần này có linh không vậy? Đã khai quang chưa?

Dương Lăng đáp:
- Quang rồi, sao lại không quang, quang nữa thì sẽ thành ở trần đó (2). Vị thần này tên là Cơ Đốc, nàng có thấy quan cao nhất trong Cẩm Y vệ chúng ta được gọi là Đề đốc không? Đề đốc tức là trông coi, giám sát, cai quản và dẫn dắt Cẩm Y vệ đó, đủ lợi hại chưa? Cơ... Đốc này à, đương nhiên là giám sát và cai quản… - Nói đến đây y chợt cười hề hề, không dám đùa giỡn lung tung nữa. (Chữ “Cơ” trong tiếng Trung phát âm là “ji”, mà “ji ji” là từ để chỉ dương vật của đàn ông, có lẽ Dương Lăng đang định nói tới cái này.)

Trước kia y không hề tin vào thần thánh, nhưng từ lúc đầu thai chuyển thế đến nay, có vài chuyện y thật sự không dám đem ra bông đùa.

Dương Lăng ngó xuống, thấy Hàn Ấu Nương đang cúi đầu chăm chú rửa chân cho mình, khuôn mặt xinh xắn toát lên vẻ hiền thục của người vợ đảm đang, cánh môi cong cong mỉm cười, mê người khôn tả.

Cô bé xinh đẹp trẻ tuổi này bất kể nghèo khó khổ sở thế nào vẫn luôn theo sát bên y, xem y như bầu trời, như tính mạng của chính mình, chưa từng cất một lời oán thán. Y thì lúc nào cũng ngây ngây ngô ngô, gặp sao hay vậy, may mắn lắm mới có được vị trí như ngày hôm nay. Nhưng nếu không có bờ lưng non nớt của Ấu Nương ở phía sau gánh đỡ mà không hề oán trách một lời ấy, y không biết liệu mình có phải đã sớm biến thành một đống xương mục rồi hay không. Vân vê sợi dây chuyền bạc trong tay, nhìn cây thánh giá bằng bạc ròng đó, Dương Lăng bỗng nhớ tới câu thề mà rất nhiều người đã trang trọng cất lên lúc thành hôn:
"Em bằng lòng làm vợ của anh. Suốt cuộc đời này, dù hạnh phúc hay đau buồn, dù giàu sang hay nghèo khổ, dù khỏe mạnh hay bệnh tật, em đều sẽ luôn hết lòng với anh, không xa rời anh, mãi mãi ở bên anh!"

Trong những người từng nói câu nói này, không biết có bao nhiêu người đã thật sự thực hiện được nó? Nhưng Dương Lăng không chút nghi ngờ rằng mặc dù Ấu Nương không biết và cũng sẽ không nói câu thề đó, nhưng không những nàng đang thực hiện nó, mà sẽ còn mãi tiếp tục làm như vậy.

Dương Lăng cũng âm thầm cất lời thề: “Ấu Nương, chúng mình đã từng đùm bọc lẫn nhau, sau này cũng sẽ không bỏ rơi nhau. Ấu Nương, nàng chính là của cải quý giá nhất của ta.”

Lòng y nóng ran, bất thình lình rút chân ra xỏ vào giày, khom người bế Ấu Nương lên. Ấu Nương kêu lên một tiếng, giọng hoảng hốt:
- Tướng công, chàng làm gì vậy?

Dương Lăng đặt nàng lên đầu giường, khẽ bảo:
- Ngồi ngay ngắn lên nào, nàng đã vì tướng công mà nếm biết bao cay đắng, chịu biết bao đau khổ, mãi cho đến hôm nay mới là đêm động phòng hoa chúc chân chính từ sau khi nàng được gả cho ta, nhưng tướng công lại không có rượu thơm nến đỏ, không có khách chúc đầy nhà. Lúc vừa mới đến nhà chồng, vì tướng công mà nàng đã phải uất ức tự mình kéo khăn đỏ trùm đầu(3). Đêm nay, hãy để tướng công rửa chân cho nàng, hầu hạ nàng để chuộc tội!

- Gì cơ?
Ấu Nương nghe xong, khuôn mặt tràn ngập sự hoảng sợ, giãy nãy nói:
- Không thể được! Tướng công, chàng vạn vạn lần không thể làm thế được. Phụ nữ hầu hạ đàn ông của mình là điều nên làm, là bổn phận, nhưng tướng công mà rửa chân cho thiếp thì sẽ bị giảm phúc đó!

Dương Lăng giữ chặt lấy hai chân nàng, ngâm chúng vào trong nước, giọng cương quyết bảo:
- Ngồi yên nào! Chỉ được cái nói mò, chân Ấu Nương đẹp như vậy, tướng công có thể rửa chân cho nàng, đó là phúc khí của tướng công. Đấy không phải là giảm phúc, phải là thêm phúc mới đúng.

Chân Ấu Nương co rúm, ngón chân khẽ gập lại, mặc cho y nhẹ nhàng xoa bóp. Đôi chân ngọc nhỏ bé thanh tú ấy mỹ lệ vô ngần, đường cong bàn chân mềm mại đẹp đẽ, gầy mà không để lộ xương.

Trên đỉnh đầu khẽ vang lên tiếng nức nở, từng giọt từng giọt nước mắt nhỏ xuống chậu nước, Dương Lăng đành phải lên tiếng:
- Ấu Nương, nàng khóc gì chứ? Hôm nay là ngày vui của chúng ta, phải vui lên, nếu không sẽ xui xẻo lắm đấy!

- Ưm!
Ấu Nương vội lau nước mắt, rưng rưng nói:
- Tướng công, sớm mai canh mấy chàng lên triều vậy, để thiếp còn gọi chàng dậy.

Dương Lăng nghĩ ngợi một chút rồi đáp:
- Là canh ba giờ dần. Ha ha, nha đầu ngốc, giờ là lúc đêm xuân nghìn vàng của chúng mình, thế mà nàng lại còn nghĩ ngợi đến mấy chuyện đó.

Ấu Nương cắn môi, cười thẹn thùng. Lòng bàn chân vừa bị Dương Lăng gãi nhẹ, nàng liền rụt chân về vì nhột, miệng khẽ rên rỉ một tiếng. Dương Lăng ngẩng đầu, chỉ thấy hàng mi nàng cong cong, bờ môi hơi vểnh, một vẻ tựa vui tựa hờn, quyến rũ đến thấu xương, khiến con tim y không kìm nổi phải xao động. Cuối cùng y đã biết được thế nào mới là điên đảo tâm hồn.

Đêm, đã bắt đầu.










(1) Trịnh Hoà (1371-1433), tên khai sinh là Mã Tam Bảo, là nhà hàng hải và nhà thám hiểm người Trung Quốc nổi tiếng nhất. Ông chính là người đã chỉ huy các chuyến thám hiểm được gọi chung là các chuyến đi của "Thái giám Tam Bảo hạ Tây dương" (三保太監下西洋) hay "Trịnh Hòa đến đại dương phía tây" từ năm 1405 đến năm 1433. Tạp chí Life Magazine xếp Trịnh Hòa đứng thứ 14 trong số những người quan trọng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua.
Số lượng chuyến đi của ông tới Tây dương tùy vào cách phân chia, nhưng ông và hạm đội đã "Tây dương" không dưới 7 lần. Ông đã đưa về Trung Quốc nhiều chiến lợi phẩm và các phái viên từ ít nhất 30 vương quốc - bao gồm cả vua Alagonakkara của Tích Lan (Ceylon) đến Trung Quốc để tạ lỗi các Hoàng đế Trung Hoa. (trích wikipedia)
(2) Ở đây Dương Lăng chơi chữ: "quang" trong "khai quang" nghĩa là "lễ mở vải phủ tượng phật", nhưng cũng có nghĩa là "trần trụi". Ý Dương Lăng nói là chúa Jesus đã để trần đủ rồi, lột bớt thêm nữa thì sẽ không còn gì mặc nữa.
(3) Đang nói đến tập tục chú rể kéo khăn trùm đầu màu đỏ của cô dâu trong đêm động phòng.






Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

TheJoker
20-11-2010, 10:50 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 57 - Đêm xuân ngắn ngủi



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo vong

Biên tập: Meoxu

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- Tướng... tướng công, chàng... chàng làm gì vậy?

- Không cần cái đó, rườm rà quá đi. Nương tử à, phải có hứng… thú, hiểu không?



Chương 57 - Đêm xuân ngắn ngủi

Thổi tắt đèn? Không được!

Trốn vào trong chăn thoát y? Không được!

Dưới sự cấm cản của đấng lang quân "bạo chúa", Hàn Ấu Nương đành phải nhắm mắt trút bỏ xiêm áo, để lộ một thân hình mịn màng mềm mại. Ngay trước mắt Dương Lăng bất chợt chói lòa, cái yếm đỏ tươi cùng chiếc quần lót màu hồng sen mỏng manh không cách nào che giấu được thân thể thanh cao thoát tục của nàng, tấm thân thiếu nữ gần như phơi trần trong ánh sáng lờ mờ càng khiến người ta phải hoa mắt.

Trông thấy ánh mắt si dại của Dương Lăng, Ấu Nương ngượng ngùng "ưm" một tiếng rồi vội vàng xoay người, đưa tấm lưng trắng mịn về phía y.

Dương Lăng nín thở sáp lại gần, nhẹ nhàng đẩy Ấu Nương xuống giường, rồi bất chợt đưa tay giật chiếc quần lót của nàng. Ấu Nương yêu kiều kêu lên “ối” một tiếng, bàn tay không kịp giữ lại, chiếc quần đã bị y kéo tuột xuống. Ấu Nương ngượng quá, vội ôm lấy gò má nóng hổi của mình, đôi chân liên tục đạp xuống chiếc đệm giường tỏ vẻ phản kháng, bờ mông tròn lẳn trắng phau lúc lên lúc xuống đập thẳng vào mắt Dương Lăng.

Trông Ấu Nương lúc này tựa như một trái đào mật chín mọng và thơm ngát, từ eo trở xuống, đường cong mê người dọc hai bên thân nàng lượn xuống tạo nên một vẻ thanh nhã và gợi cảm vô cùng, lại thêm sự uốn lượn lên xuống nhịp nhàng trên làn da mịn màng nõn nà ấy thật khiến người ta không kìm nổi những ý nghĩ ám muội. Làn da nàng mịn màng như trứng gà bóc dưới ánh sáng lại lộ ra vẻ óng ánh lung linh, thực khiến người ta phải nuốt nước miếng ừng ực.

Dương Lăng nuốt nước bọt, ngón tay vuốt nhẹ theo cặp chân thanh tú săn chắc của Ấu Nương mơn trớn lên trên. Đôi chân khả ái của Ấu Nương hơi co lại, hai mắt cá chân yêu kiều dính sát vào nhau, cặp đùi khép chặt đến nỗi một ngón tay cũng không chen được vào.

Cảm giác được sự căng thẳng của nàng, Dương Lăng khẽ mỉm cười. Y từ tốn cởi bỏ áo quần rồi nhẹ nhàng trườn lên tấm thân non nớt láng mịn của Ấu Nương. Ấu Nương lập tức cảm nhận được thân thể trần trụi của tướng công, mặt nàng càng đỏ hơn, nhưng lại không dám giãy giụa nữa.

Dương Lăng nhẹ nhàng đưa tay lần mò khám phá, khẽ thò vào trong chiếc yếm xoa nắn bầu ngực xinh xắn của nàng. Dưới sự vân vê của y, nhũ hoa nho nhỏ đã nhanh chóng săn cứng. Dần dần, hoà cùng sự âu yếm nhẹ nhàng mà điêu luyện của Dương Lăng, hơi thở dồn dập của Ấu Nương đã chuyển thành những tiếng rên rỉ đầy khêu gợi. Dưới những cái vuốt ve mơn trớn của y, thân thể nàng khẽ run lên từng chập, bên dưới đã bắt đầu ẩm ướt.

Một cảm giác trước nay chưa từng đó lan tỏa khắp người Ấu Nương , vừa khiến nàng hoang mang, lại vừa đem đến cảm giác khoan khoái lạ kỳ khó mà diễn tả bằng lời. Nàng ngượng đến nỗi da thịt toàn thân đều ửng lên màu phấn hồng khêu gợi. Giọng run rẩy ngọt ngào, nàng cầu khẩn:

- Tướng công, xin... xin chàng... tắt đèn đi!

- Không! - Dương Lăng hôn phớt trên lưng nàng một cái rồi si mê nói:

- Ta muốn nhìn nàng, nếu để cho vẻ mỹ lệ thế này lặng chìm trong bóng tối, ông trời sẽ không tha cho ta đâu. Ta muốn nhìn nàng, dù có qua một trăm, một nghìn năm nữa, ta cũng sẽ vẫn nhớ tới cái đêm mà Ấu Nương xinh đẹp đã dâng hiến tình yêu và thân thể của nàng ấy cho ta.

Hàn Ấu Nương lấy tay che lấy khuôn mặt đỏ bừng, lời tán tụng vừa dịu dàng vừa chứa chan tình cảm của phu quân khiến nàng như ngây ngất. Ngón tay của Dương Lăng nhẹ nhàng tháo nút thắt trên chiếc yếm duy nhất còn lại trên người nàng rồi giật nhẹ ra. Sống lưng Ấu Nương thẳng tắp, xuôi theo đó xuống dưới là một khe trũng bí ẩn mà vô cùng đẹp đẽ. Nút thắt chiếc yếm vừa bị cởi ra, khi tấm thân mềm mại của nàng được lật lại, phần khuôn mặt lộ ra sau hai bàn tay đều đã đỏ bừng.

Dương Lăng hài lòng chống người dậy, hai mắt loé lên ngọn lửa của tình yêu. Khi y vừa tính sáp lại mơn trớn cặp môi anh đào của Hàn Ấu Nương, nàng bỗng nhiên "a" lên một tiếng, thình lình bỏ hai tay ra, mở mắt căng thẳng hỏi:

- Tướng công, chàng đã đeo tượng phật chưa?

Chỉ thấy ngay trước tấm ngực trần của Dương Lăng, cây thánh giá nọ đang đung đưa chậm rãi. Ấu Nương ngượng chín người, vội vã nhắm mắt lại. Động tác ngây thơ cùng thân thể trẻ trung của nàng toát ra sức hấp dẫn mạnh mẽ, khiến cho hơi thở Dương Lăng lập tức trở nên gấp gáp hơn.

Y không nhịn được nữa, lập tức cúi xuống hôn lên bầu ngực xinh xắn của Ấu Nương, một cánh tay mò xuống vuốt ve bờ eo thon thả của nàng, khiến cho vùng bụng phẳng lì kia căng cứng lại. Ngón tay y lướt qua nơi nào, da gà liền nổi lên nơi ấy.

Dương Lăng chăm chú nhìn hàng mày liễu của nàng, khẽ lấy chân tách hai chân nàng ra, ngực đè lên thân thể nhỏ nhắn của nàng. Trực giác của phụ nữ khiến Ấu Nương bất giác trở nên yên lặng, cặp mắt đen láy mở ra đầy hoảng sợ. Hai cánh tay thon thả của nàng bấu chặt vào cánh tay Dương Lăng, cơ thể run rẩy đợi chờ thời khắc căng thẳng đó.

Cặp mắt của Dương Lăng bỗng cũng trở nên đen tuyền, miệng nhẹ gọi tên Ấu Nương, lại hơi nâng người lên, rồi cuối cùng khẽ khàng cất tiếng:

- Ấu Nương, tướng công đến đây.

- Đừng! Khoan đã, tướng công! - Ấu Nương bỗng nhiên kêu lên. Dương Lăng vội vàng ghìm cương trước vực, giật mình hỏi:

- Sao thế Ấu Nương? Nàng... Nàng không muốn...?

Ấu Nương đỏ mặt đáp:

- Không, không phải. Tướng công, chàng ngồi dậy đi, thiếp... thiếp quên khăn trắng...

Vừa nói nàng vừa thẹn thùng quay đầu qua phía bên, cố vươn tay sang chỗ chiếc chăn vẫn còn xếp bên cạnh. Tối nay lúc trở về nàng đã đi tìm chiếc khăn trắng nghiệm hồng mà mẹ tặng khi xuất giá, sau đó lặng lẽ nhét dưới đáy chăn của mình. Trong thời khắc chỉ mành treo chuông, rốt cuộc nàng kịp nhớ ra, may mà chưa làm lỡ đại sự.

Dương Lăng thấy nàng lôi tấm khăn trắng tinh ra, giống như là phất cờ trắng đầu hàng, thì không khỏi có cảm giác dở cười dở khóc. Nàng là người vợ mà y yêu thương nhất, trong lúc này đây y chỉ muốn nàng có thể ghi nhớ khoảnh khắc ngọt ngào và niềm hạnh phúc khi hai người thuộc về nhau trong lần đầu tiên này chứ không phải là nơm nớp lo sợ nằm lên chiếc khăn nhỏ xíu kia, mọi tâm tư đều tập trung chờ đợi y kiểm nghiệm sự trinh trắng của nàng. Y hy vọng Ấu Nương cũng có thể hưởng thụ khoái lạc cùng y chứ không phải chỉ một mực hiến dâng.

Ấu Nương đang mím môi lúng túng muốn lót khăn trắng dưới mông mình, Dương Lăng chợt giật lấy nó vứt sang một bên. Nàng tròn xoe mắt sửng sốt, lắp bắp nói:

- Tướng... tướng công, chàng... chàng làm gì vậy?

- Không cần cái đó, rườm rà quá đi. Nương tử à, phải có hứng… thú, hiểu không?

- Đi… Đi đâu? (Trong tiếng Trung chữ “thú”(qù) đọc giống chữ “đi”(qù), Ấu Nương nghe nhầm – ND.)

Dương Lăng đưa hai tay lần xuống dưới mông Ấu Nương, xoa bóp hai bờ mông tròn lẳn của nàng, khoé miệng mang theo một nụ cười mỉm đầy mê hoặc. Y kề bên tai nàng khẽ nói:

- Đi đến đây này. Tướng công không muốn cầm quân đối trận. Đêm nay tướng công muốn cướp trại công thành, để tiểu nương tử võ nghệ siêu quần của ta phải giơ tay đầu hàng...

...

Toàn bộ thể xác và tâm hồn của hai người hoà quyện vào nhau, dư âm của cuộc mây mưa càng làm cho cả 2 cảm thấy tâm hồn dào dạt và vô cùng thỏa mãn. Trong lần đầu đón nhận "mưa móc" Ấu Nương đã "đầu hàng" tới ba lần, sau đó Dương Lăng mới được tận hứng trong cơn khoái cảm, rồi y ôm nàng chìm vào giấc ngủ say.

Đang ngủ say sưa không biết trời trăng mây nước, Dương Lăng đột nhiên choàng tỉnh. Y mở mắt ra, chỉ thấy Ấu Nương đã mặc xiêm y, khoác áo dài, đang ngồi bên cạnh đẩy khẽ y:

- Tướng công, nên thức dậy rồi. Tướng công, hôm nay phải lên triều đó.

Dương Lăng lờ đờ ngó ra ngoài cửa sổ. Bên ngoài trời vẫn tối như bưng, quay đầu nhìn lại, dưới ánh đèn hắt sáng, Ấu Nương sau khi đón nhận mưa móc lúc này vẫn còn mặt mày ngây ngất, tóc mai rối loạn, vẻ thiếu phụ thướt tha ấy đẹp đến nỗi khiến người phải nín thở.

Con tim Dương Lăng thoáng xao động, y đưa tay kéo nàng ôm vào lòng, hôn phớt lên môi nàng rồi cười nói:

- Trời còn tối mà, gọi tướng công dậy sớm như vậy, có phải là muốn tướng công trò chuyện cùng nàng không? Đêm qua tướng công mệt quá, cho nên... gần gũi nàng xong thì đã ngủ luôn.

Ấu Nương được y ôm vào lòng, con tim vui phơi phới, lại nghe y nhắc đến cái chuyện vừa xấu hổ vừa ngọt ngào kia, khuôn mặt càng đỏ ửng lên, nhất thời cả người mềm nhũn. Nàng vốn đang nũng nịu lay Dương Lăng dậy, nhưng giờ lại cảm thấy mình vừa bị tướng công ôm vào lòng thì ngay cả tay cũng đã mềm nhũn, không còn chút sức lực, thế là không kìm nổi vừa ngượng ngùng vừa quýnh quáng kêu lên:

- Tướng công, chàng mau dậy đi! Không còn sớm nữa đâu, sắp đến giờ Dần rồi. Thiếp đã làm xong bữa sáng, hôm nay chàng phải đi diện kiến hoàng đế đó!

- Hả? - Dương Lăng giật nảy mình. Y vốn chẳng có bao nhiêu ấn tượng với giờ Dần, giờ Mão gì gì đó của thời đại này, nhất thời không nghĩ rằng bây giờ bên ngoài mới chỉ có vẻ như hơn bốn giờ sáng mà đã đến giờ rồi.

Lúc này thì Dương Lăng cũng quýnh quáng lên, vội vàng trở mình ngồi dậy. Vừa ngồi dậy, y bỗng phát hiện trên đệm có một miếng vá vuông vắn. Tấm đệm giường này là tấm đệm được hai người mang theo từ Dương Gia Bình, do họ tạm thời chưa có thời gian mua sắm vật dụng mới. Tuy rằng trên đệm có mấy vết vá, nhưng Dương Lăng nhớ là chỗ này không hề bị rách. Y lấy làm lạ hỏi:

- Ấu Nương, chỗ này bị rách lúc nào vậy? Đừng có vá tới vá lui nữa, chi bằng hôm nào đó chúng ta đi mua ít vải bông làm lại giường đi!

Ấu Nương cụp hàng mi xuống, mặt đỏ như vải điều. Nàng thẹn thùng lấy từ sau lưng ra một miếng vải đã được gấp lại ngay ngắn, bẽn lẽn nói:

- Còn không phải đều là do chàng..., đây là... chuyện trọng đại của nữ nhi, thiếp lại không thể để lại ở chỗ đó, ngượng chết đi được.

Dương Lăng dòm dòm, miếng vải đó rõ ràng là mới vừa được cắt từ tấm đệm ra, hơn nữa, tuy đã được gấp lại, nhưng bên trên vẫn thoáng lộ ra màu đỏ.

- Ớ?... Ý? Ồ...

***************************

Mặt trời đã lên cao được ba con sào, Dương Lăng đang đứng bên ngoài điện Trung Hoà, bụng đói lép kẹp. Cái lão Hoàng đế này cũng thật làm cao quá đi, nếu đã không muốn tiếp kiến sớm thì bắt người ta dậy sớm thế để làm cái quái gì cơ chứ?

Lần đầu lên triều, hơn nữa lại không quen thuộc kinh thành, cho nên cơm sáng còn chưa kịp ăn thì Dương Lăng đã phải lật đật ba chân bốn cẳng chạy đến Tử Cấm Thành. Cũng phải nói là các quan viên trong triều đình này đều dậy rất sớm, lúc Dương Lăng đến nơi thì đã có rất đông đại thần đang chầu chực bên ngoài Ngọ môn.

Lúc được Lưu Cẩn dẫn vào hoàng cung thông qua lối nhỏ, Dương Lăng còn tưởng là mình được đãi ngộ đặc biệt, không ngờ rằng lại bị đưa thẳng đến điện Trung Hoà, sau đó được cho hay rằng Hoàng đế đã lên dự buổi tảo triều (1), khi về mới gặp y.

Chờ từ lúc trời còn tù mù cho đến tận hừng đông, rồi từ lúc hừng đông đến tận bây giờ, Dương Lăng uể oải nhìn cái bóng dưới chân mình, sau đó lại bắt đầu ngó nghiêng xung quanh. Lưu Cẩn dẫn y đến chỗ này xong thì không biết đã lặn đi đâu mất, để y đứng chờ một mình ở đây. Trước điện, thị vệ nghiêm mắt nhìn thẳng, không hề liếc y lấy một cái. Dương Lăng cũng không dám chủ động bắt chuyện. Những cung nữ thi thoảng ra vào điện thì dường như lại rất có hứng thú với y, lần nào cũng đưa mắt liếc nhìn.

Dương Lăng cũng trộm ngắm bọn họ. Tuy có câu rằng "con gái mười tám không có ai là xấu", nhưng phần lớn những cung nữ này cũng chỉ là dung mạo đoan trang, vóc dáng cân đối, không được như trên ti vi, cung nữ người nào người nấy đều xinh đẹp mê người. Dương Lăng ngó một hồi rồi cũng bắt đầu “nghiêm mắt nhìn thẳng” luôn.

Đang khi cái bụng lại "ùng ục" kháng nghị một hồi, Dương Lăng chợt trông thấy trước điện có một đội ngũ đang đi tới, phía trước là một vị tướng quân cao lớn dẫn đầu đội nghi trượng. Phía sau, bên dưới tán lọng màu vàng là một chiếc long liễn (*) được khiêng bởi tám gã thái giám đang đi về phía y. Tinh thần Dương Lăng lập tức trở nên phấn chấn.
(*: nguyên văn là "bộ liễn", một loại kiệu tám người khiêng của vua)

Vừa trông thấy long liễn, bọn cung nữ, thị vệ, thái giám gần xa lần lượt đều quỳ xuống đất. Vừa mới ưỡn lưng xong, Dương Lăng cũng vội vàng bắt chước quỳ theo. Đội ngũ đông đảo cuồn cuộn đi qua bên người y, tiến thẳng vào trong điện Trung Hoà, căn bản chẳng ghé mắt nhìn tới những người bên cạnh.

Dương Lăng vừa quỳ dưới đất vừa thầm lắc đầu, hoàng đế bất quá làm việc ở ngay trong nhà, vậy thì kiếm nhiều kẻ rảnh rang như vậy để làm gì chứ? Nhưng mà quả thực y không biết, đội nghi trượng này vẫn còn là ít. Nếu như hôm nay là ngày cử hành hội triều lớn thì trong đội nghi trượng còn sẽ có hai con hổ, báo, bốn con voi, năm chiếc lễ xa, đội ngũ đó càng đông đảo và hoành tráng hơn thế này nhiều. Đế vương đương nhiên phải có phong phạm của đế vương, mà phong phạm chính là dựa vào sự hoành tráng

Thấy một con kiến đang từ bên gối bò nhanh qua, Dương Lăng co ngón tay búng nó sang một bên. Con kiến lăn mấy vòng trên mặt đất rồi cuộn người lại giả chết. Một lát sau, phát hiện không có nguy hiểm gì, nó lại lật đật bò dậy rồi vội vã trốn đi.

Khoé miệng Dương Lăng không khỏi hơi nhếch lên, thoáng lộ một nụ cười: trong mắt hoàng đế, mình chẳng phải cũng chỉ như là một con kiến thôi sao. Y hơi ngẩng đầu, đội nghi trượng vẫn đang đi về phía trước, những kẻ cầm cờ, cầm lọng, cầm kim qua (2), nườm nượp nối đuôi nhau không dứt. Thấp thoáng dưới những lá cờ, một góc trời xanh thẳm và cao vời vợi hiện ra.

Dương Lăng nhìn đến ngơ ngẩn, trong lòng thầm nghĩ: “Hôm nay, có thể đi đến nơi trung tâm quyền lực của thiên hạ, mình đã không còn là một con kiến cỏn con nữa. Nếu cho mình thời gian và cơ hội, dưới bầu trời của trang lịch sử này, liệu mình sẽ là một lá cờ ngạo nghễ tung bay rồi tan biến theo năm tháng, hay là một toà lầu sừng sững mãi mãi không đổ sụp?”

Đội nghi trượng chia ra đứng ở hai bên hành lang, im lìm bất động. Phỏng chừng hoàng đế lão gia cũng đã đói, thế nên phải uống chút trà, ăn chút điểm tâm. Mãi một hồi lâu rất lâu sau mới thấy một tên thái giám đi ra ngoài cửa điện Trung Hoà, vung phất trần lên, giọng the thé gọi:

- Tuyên thị độc Dương Lăng tiếp kiến!

Lúc đi Lưu Cẩn đã dạy y một số lễ nghi căn bản của cung đình, thế nên Dương Lăng nghe xong bèn vội vàng bước lên, cất cao giọng nói:

- Thần Dương Lăng xin vâng mệnh.

Tiểu thái giám đó hơi mỉm cười nói:

- Dương thị độc, mời theo ta vào! - Nói đoạn hắn xoay người đi trước. Dương Lăng cúi đầu rảo bước vào theo.

Ở tiền thế, lúc đi thăm Cố Cung y cũng đã đến điện Trung Hoà này, nhưng bố cục và cách bài trí bên trong hiện giờ rõ ràng có chỗ không giống. Dương Lăng cũng không dám ngó nghiêng lung tung, chỉ cố theo chân tên tiểu thái giám đó đi vào trong. Đi đến cuối tấm thảm đỏ tươi, tiểu thái giám chợt lánh sang một bên, cao giọng nói:

- Thị độc Dương Lăng bái kiến hoàng thượng.

Dương Lăng biết người ngồi bên trên nhất định là đương kim thiên tử - hoàng thượng Hoằng Trị. Y quỳ xuống đất, hai bàn tay hướng về phía trước và áp xuống tấm thảm, dập trán lên đầu ngón tay, lấy đủ hơi rồi cất cao giọng nói:

- Vi thần Dương Lăng khấu kiến hoàng thượng.

Phía trên, một giọng nói khoan thai thanh nhã cất lên:

- Miễn lễ, bình thân!

- Tạ ơn bệ hạ! - Dương Lăng đứng dậy, cung kính lui qua một bên, đầu hơi cúi, mắt nhìn qua mũi tới thẳng chỗ tim. Tuy rằng trong lòng y cũng muốn tận mắt nhìn diện mạo vị hoàng đế Hoằng Trị này một chút, nhưng con mắt lại không dám ngó lung tung. Ánh mắt y chỉ khẽ động đậy, trông thấy phía trước có một đôi giày thuộc loại dành cho quan lại, dường như còn có một vị quan viên khác đang ở đây.

Giọng nói ung dung thanh nhã kia lại cất lên:

- Lưu khanh, cứ như vậy đi. Khanh hãy soạn chỉ nói với quốc vương Triều Tiên rằng thái tử tuổi còn nhỏ, vốn không cần dâng nữ tử tới làm gì. Có điều trẫm vẫn niệm tình hắn có lòng, mặc dù những nữ tử đó ai nấy đều da dẻ thô ráp, vừa béo vừa lùn, không được tốt lắm, song trẫm đều đã phong làm nữ quan.

Dương Lăng nghe mà méo mồm, thiếu chút nữa thì không nhịn được mà bật cười thành tiếng. Có lẽ lúc soạn chỉ vị Lưu đại nhân này sẽ không đưa nguyên lời nói thẳng như vậy vào, nhưng được chính tai nghe hoàng đế ban xuống thánh dụ thú vị như thế, quả thực cũng rất hiếm có.

Chỉ nghe vị Lưu đại nhân đó cười ha hả nói:

- Thần nghĩ quốc vương Triều Tiên cũng biết là thái tử nhỏ tuổi, cho dù có dâng lên nữ tử xinh đẹp thì cũng khó có thể được yêu thích, vậy nên đã lựa vài ả mà có cho đi cũng không tiếc để tống đến chỗ bệ hạ đấy.

Hoàng đế Hoằng Trị nghe xong cũng không kìm nổi cười rộ, rồi lão hổn hển nói:

- Vẫn là khanh mồm mép lanh lợi! Ha ha, hắn nhỏ mọn nhưng trẫm thì không thể hẹp hòi, lễ vật tặng lại không được làm mất khí phách của thiên triều ta. Đi đi, tự đi soạn chỉ là được.

- Vâng, thần tuân chỉ. - Vị Lưu đại nhân đó đáp lời, sau đó khom người lui ra.

Dương Lăng cũng nghe nói vị vua Hoằng Trị này chỉ yêu thương mỗi một mình đưong kim hoàng hậu, không lập thêm phi tần nào nữa. Hiện giờ thái tử lại nhỏ tuổi, nói không chừng quốc vương Triều Tiên lại thật sự có ý định này.

Vị Lưu đại nhân kia ở trước mặt hoàng đế mà vẫn dám bông đùa, chắc hẳn là cận thần được sủng ái bên cạnh Hoằng Trị, nhưng không biết là vị nào. Lão ta có quyền soạn chỉ... Nghĩ đến đây, trong lòng Dương Lăng máy động, chợt nhớ ra người đương thời khi bình luận về ba vị đại học sỹ trong triều có nói "Lý Công mưu trí, Lưu Công quyết đoán, Tạ Công ngay thẳng", chẳng lẽ vị Lưu đại nhân này chính là đại học sỹ Lưu Kiện (3)?

Lúc này chợt nghe Hoằng Trị nói:

- Ngươi chính là Dương Lăng ư? Ồ, tuổi so với thái tử cũng không lớn hơn bao nhiêu, tốt lắm, tốt lắm... A, ngươi là..., Dương khanh, ngẩng đâu lên đi!





(1) thời Minh hoàng đế có hai lần ngự triều, một là vào buổi sáng, gọi là "tảo triều" (lên triều sớm), hai là vào buổi trưa (giờ ngọ), gọi là "ngọ triều" (lên triều trưa).
(2) những dụng cụ dùng trong đội nghi trượng: cờ, lọng, vũ khí (xem hình cây "kim qua": http://imgsrc.baidu.com/baike/pic/item/c9bdddcefd3e843393457e50.jpg)
(3) Lưu Kiện (1433 - 1526), tự Hy Hiền, người Lạc Dương, Đại học sỹ trong triều thời kỳ Minh Vũ Tông. Cha là Lưu Lượng, chức Tam nguyên giáo dụ, có học hành. Thuở nhỏ lễ phép thận trọng, cùng giao du với đồng hương là Diêm Vũ Tích và Bạch Lương Phụ, được chân truyền của danh gia triết học duy tâm là Tiết Tuyên, người Hà Đông. Năm Thiên Thuận thứ tư đỗ tiến sỹ, được tuyển vào Hàn Lâm Viện làm biên tu. Đầu năm Thành Hoá, soạn ra "Anh Tông thật lục". Lưu Kiện giỏi về phán đoán, Tạ Thiên thiện về lập luận, Lí Đông Dương tính cách ôn hoà mà lại túc trí đa mưu. Thế nên đã có lời khen "Lý Công mưu trí, Lưu Công quyết đoán, Tạ Công ngay thẳng đĩnh đạc."






Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 [/QUOTE]

Ba_Van
24-11-2010, 08:28 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 58 - Đối đáp lung tung



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Nếu trách phạt quá nặng, e sẽ khiến tướng sỹ tiền phương e ngại, sau này giao chiến với địch sẽ không dám liều mạng, chỉ mong không sơ sẩy, chẳng cầu có công lao.



Chương 58 - Đối đáp lung tung

Vốn Dương Lăng không hề có cảm giác kính sợ Thiên tử như những kẻ đọc sách đương thời, hơn nữa con người ta khi đói cũng rất thiếu kiên nhẫn cho nên y hoàn toàn chẳng có tâm tình để nói mấy câu của kẻ nô tài như kiểu "hạ thần sợ là…”, “hạ thần không dám…" gì gì đó, rồi còn phải đợi Hoàng đế cười vang mấy tiếng, phất tay phán cho một câu "Trẫm xá tội cho ngươi". Thế nên vừa nghe vua Hoằng Trị nói xong, y lập tức ngẩng đầu, đưa mắt nhìn ra đằng sau long án (bàn làm việc của vua).

Vị Hoàng đế này dáng người hơi mập một chút, trông rất uy nghi. Đầu ông ta đội mũ Dực Thiện (*), người vận long bào cổ chật, ống tay áo rộng, mặt mũi trông hơi quen quen. Trông thấy tướng mạo của y, vua Hoằng Trị bỗng dưng đứng dậy, lông mày hơi nhướng lên, cười ha hả nói:
- Hoá ra là ngươi!
(*) Xem :http://www.cchmi.com/Portals/0/diancpic/41%E9%87%91%E7%BF%BC%E5%96%84%E5%86%A0.jpg)

Dương Lăng "a" một tiếng, chợt nhớ tới cặp cha con mình đã gặp tối qua. Thì ra bọn họ là..., Dương Lăng vừa vui mừng vừa kinh ngạc thốt:
- Thì ra Hoàng thượng là...

Hoàng đế Hoằng Trị vội ho một tiếng, đưa mắt ra hiệu cho y. Dương Lăng lập tức tỉnh ngộ, vội vàng nuốt nửa câu còn lại vào bụng. Thời đó, Hoàng đế cải trang vi hành là một hành động đủ để khiến bá quan dâng sớ can ngăn. Tuy rằng hiện thời chung quanh đều là những kẻ hầu hạ cận kề Hoàng đế, chuyện Hoàng đế lén rời cung trong lòng bọn họ cũng biết rõ đến tám, chín phần, thế nhưng nói công khai trước đám đông thì lại là chuyện khác.

Thấy y khá cơ trí, ánh mắt Hoằng Trị không khỏi lộ ra vẻ hài lòng. Ông ta từ tốn ngồi xuống, mỉm cười bảo:
- Hoá ra là ngươi à, trẫm đọc đến tên của ngươi, mới sực nhớ ra thì ra ngươi chính là viên Dịch thừa ở Kê Minh đã chấp bút viết ra sự thật, chỉ rõ những thói xấu đương thời của bản triều đó. Ha ha ha, ngươi có biết chỉ vì một phong thư của ngươi mà giờ đây triều đình của trẫm đã cãi nhau ghê gớm lắm không?

Vừa nói ông ta vừa vê vê hàng lông mày, khuôn mặt tuy tươi cười, song lại thoáng lộ ra vẻ mệt mỏi khó che giấu. Không nằm ngoài dự đoán của Cẩm Y đề đốc Trương Tú, hôm nay tảo triều, bộ Hộ đã dâng sổ sách lên để biện giải cho mình, rũ bỏ trách nhiệm. Lúc đầu Hoằng Trị vốn chỉ ra lệnh cho Tam Pháp ty thương nghị xử phạt Hà tham tướng, thế nhưng giờ đây Hà tham tướng đã ở trong đại lao của bộ Hình hơn nửa tháng, bá quan trong triều thì lại dẹp y sang một bên mà bắt đầu quay sang cãi vã nhau, những chuyện dù có liên quan hay không đều được lôi ra tất tần tật, khiến Hoằng Trị nhức đầu không chịu nổi.

Thấy Hoàng thượng lộ vẻ mệt mỏi, một thái giám già chầu bên cạnh vội bước đến trước mặt, mở một chiếc hộp nhỏ. Dương Lăng ngửi thấy một mùi thơm nhàn nhạt, đưa mắt nhìn, chỉ thấy trên miếng gấm lót trong hộp có đặt một viên thuốc màu đỏ lớn bằng quả nhãn. Hoằng Trị nhón lấy viên thuốc đưa vào miệng rồi nhấp một hớp trà nuốt xuống.

Trong lòng Dương Lăng thầm máy động. Trong ấn tượng của y, các Hoàng đế triều Minh phần lớn đều đoản thọ, dường như không mấy người sống quá bốn mươi, nguyên nhân chính là vì bọn họ luôn lấy Đạo giáo làm quốc giáo, cá đời Hoàng đế đều thích uống đan dược do đạo sỹ luyện ra. Những đan dược này tuy có thể làm đầu óc tỉnh táo, nâng cao tinh thần, nhưng phần lớn đều mang độc tố mãn tính. Chẳng lẽ thứ Hoằng Trị uống cũng là loại đan dược kiểu này hay sao?

Thấy y ngẩn người, Hoằng Trị còn tưởng y bị lời mình vừa nói ban nãy làm cho hoảng sợ, bèn cười bảo:
- Ha ha! Ngươi ở nơi thấp hèn nhưng vẫn không quên lo lắng cho đất nước, trẫm rất lấy làm mừng, Dương khanh chớ nên lo sợ!

- Vâng!
Dương Lăng nhân cơ hội cố lấy can đảm tâu:
- Khải bẩm Hoàng Thượng, ở Kê Minh thần từng theo đại quân giao chiến cùng giặc Thát, cho nên đối với tình hình lúc bấy giờ cũng hiểu rõ được phần nào. Thần nghĩ, người Thát Đát tụ hợp hơn hai vạn quân xâm phạm Đại Minh ta, đại quân hai ngả Trác huyện và Xích huyện đều lập được công lao, cánh quân ở Hoài Lai tuy có phần tổn thất, nhưng công tội cũng đủ bù trừ. Thần mạo muội... nghĩ... Hà tham tướng quả không đến mức phải bị định tội.

Trong lòng Dương Lăng thật ra cũng khá thông cảm với vị Hà tham tướng nọ. Tuy rằng ông ta cũng có tư tâm, không điều động bộ đội chủ công chính quy đi chiến đấu với địch trước, nhưng khi đối mặt với giặc Thát, quả thật cũng đã vắt sức lo nghĩ, không dám buông lơi. Nếu như lúc đó không phải do hai vị Giám quân ba lần bảy lượt thúc giục, chưa hẳn ông ta đã nóng vội tiến công như vậy.

Giờ đây ông ta lại bị giam vào đại lao trở thành con dê thế tội, Dương Lăng cảm thấy có phần quá hà khắc. Cho nên y thừa dịp Hoàng đế đang cao hứng mà lấy can đảm tâu trình quan điểm của mình. Sau khi nói xong, tim y cũng đập thình thịch, trong lòng cực kỳ căng thẳng, chỉ lo vị Hoàng đế này cũng thuộc loại người buồn vui thất thường.

Uống viên thuốc màu đỏ kia xong, tinh thần Hoằng Trị đã tốt hơn rất nhiều, nghe được lời của Dương Lăng, ông bèn liếc nhìn y, hứng thú hỏi:
- Ngươi thử nói xem, vì lý do gì mà không nên trị tội hắn?

Sớm nay lên triều, bộ Binh, bộ Công, bộ Hộ, Ngũ Quân đô đốc phủ lại cãi nhau loạn cả lên, Hoằng Trị đau đầu chính là bởi chuyện này. Thế nhưng lúc này ông ta đã ở thế cưỡi lưng cọp, nếu như Dương Lăng có thể đưa ra một lý do giúp Hà tham tướng thoát tội, vậy thì những kẻ đòi trừng trị hắn cũng sẽ bỏ qua, quan viên các bộ tự nhiên sẽ không kỳ kèo chuyện này mãi nữa. Đây chính là kết cục mà Hoằng Trị đang cần vào lúc này.

Dương Lăng nghe Hoằng Trị nói bằng giọng ôn hoà, dũng khí vì thế cũng tăng lên, y sắp xếp lại dòng suy nghĩ một chút rồi tâu:
- Hoàng Thượng! Người Thát Đát dùng năm nghìn kỵ binh tinh nhuệ tấn công Kê Minh, lúc ấy quân phòng thủ trong thành không tới bốn trăm, may nhờ thành lũy kiên cố, hoả pháo lợi hại mới có thể tạm thời giữ vững. Nhưng ngay khi cổng thành bị đại pháo của giặc Thát bắn vỡ, sinh mạng hơn vạn dân chúng trong thành đã như chỉ mành treo chuông. Nếu không nhờ có Hà tham tướng kịp thời dẫn quân kéo đến cứu, trăm họ toàn thành làm sao thoát được cảnh lầm than, thành Kê Minh cũng nhờ thế mà không rơi vào tay giặc. Đây là một công.

Lúc tuyết lớn phủ dày trên núi, Hà tham tướng nóng lòng giết địch nên trúng phải mai phục. Đây là một tội. Như vậy là công tội có thể bù trừ.

Sau khi quân ta sa vào mai phục của quân địch, Hà tham tướng có thể dứt khoát cho lui quân, khiến quân Thát không thể bày trận có sức sát thương lớn, giảm thương vong của quân ta đến mức thấp nhất, sau đó quả thật chiến trận diễn ra không khác mấy so với giao phong chính diện. Vì vậy tuy chuyện trúng kế là thật, nhưng tổn thất lại không hẳn đã đạt đến mức như bị trúng kế.

Dương Lăng không hề đề cập đến những tổn thất về ngựa, chiến xa và quân nhu mà lúc quân Minh tranh nhau bỏ chạy trối chết ra khỏi cốc đã vứt bỏ lại, càng không đề cập đến sự can thiệp ngu xuẩn của hai vị Giám quân không hiểu gì về việc quân. Lúc này y vẫn còn thấp cổ bé họng, nếu nói ra chỉ e hiệu quả không lớn, ngược lại sẽ còn tự lôi mình vào cái vòng xoáy to lớn này.

Kế đó y liền lái câu chuyện qua hướng khác:
- Khải bẩm Hoàng Thượng! Vì thế nên thần cho rằng, binh sỹ Hà tham tướng không đông bằng đối phương nhưng lại đạt được kết quả chiến đấu như vậy, vẫn có thể xem là một viên lương tướng. Nếu trách phạt quá nặng, e sẽ khiến tướng sỹ tiền phương e ngại, sau này giao chiến với địch sẽ không dám liều mạng, chỉ mong không sơ sẩy, chẳng cầu có công lao. Đến lúc đó ai nấy lâm địch đều e dè chùn bước, chẳng phải khiến quân Thát càng thêm kiêu ngạo ư?

- Ồ...!
Hoằng Trị khẽ gật gù, như có điều nghĩ ngợi. Thoạt tiên nhận tin báo từ khoái mã của Lưu Cẩn, biết tiền phương hao binh tổn tướng, ông nổi cơn giận dữ nên mới lập tức lệnh cho Cẩm Y vệ giải Hà tham tướng về kinh luận tội.

Từ xưa, chốn quan trường là nơi mà người ta chỉ quan tâm tới lợi ích của bản thân, kẻ làm quan trong triều chỉ lấy việc "đoán mò ý vua" làm mục tiêu hàng đầu. Nếu Hoàng thượng muốn trừng trị một người nào đó, bọn họ sẽ vắt óc suy nghĩ gán tội danh cho kẻ ấy để Hoàng thượng có thể trừng trị hắn một cách “công bằng chính trực”. Những người phẩm đức cao thượng một chút, chỉ cần không ném đá khi người ta rơi xuống giếng đã là tốt lắm rồi. Có mấy ai lại chịu vì kẻ đó mà nói ra sự thật?

Những điều mà Dương Lăng vừa nói ra, đây là lần đầu tiên Hoằng Trị được nghe thấy, cho nên trong lòng lập tức máy động. Ông luôn tiếc nuối là mình không có tài như Thái tổ, Thành tổ, có thể vung roi nơi Tái Ngoại, khiến cho giặc Thát vừa nghe gió đã phải chạy dài. Nhưng là Thiên tử của Đại Minh, ông vẫn hy vọng ít nhất mình có thể khiến giặc Thát không dám tuỳ tiện xâm phạm biên giới, để cho con dân Đại Minh không đến nỗi bị quân man di chà đạp.

Có trừng trị một Hà tham thướng hay không, đó không phải là vấn đề lớn, nhưng nếu hình phạt quá nghiêm khiến biên quân sau này cứ sợ bóng sợ gió trong chiến đấu, thật không phải là điều hoàng đế Hoằng Trị mong muốn.

Xem ra hồi phong ba "luận tội" khiến cho kinh sư chao đảo lần này có thể lắng lại tại đây rồi. Hoằng Trị âm thầm tính toán trong lòng, chủ định đã có, song vẻ mặt vẫn thản nhiên như không, ông cười rồi hỏi tiếp:
- Vương Thủ Nhân ở bộ Binh đã dâng lên một tấu chương, tỏ ra rất mực tôn sùng đạo luyện binh mà ngươi đề cập đến. Hôm nay ngươi cứ nói thoải mái, để trẫm xem thử nó có chỗ nào độc đáo nào!

Dương Lăng có phần sầu não, trong bụng nhủ thầm: "Rốt cuộc Thị độc là làm cái gì đây? Chẳng lẽ không phải là làm bạn học với con trai ông sao? Sao lại giống như đang mời thầy về dạy thế này? Bộ còn muốn kiểm tra trước hay sao?" Thế nhưng y lại không rõ, Hoàng đế phải lo nghĩ rất nhiều việc, nếu ông có lòng muốn kiểm tra bản lãnh của một người nào thì chính là có ý quý tài muốn trọng dụng. Nếu đổi lại là một vị quan thành thạo quy tắc quan trường, lúc này nhất định sẽ phấn chấn tinh thần, hận không thể trổ hết thập bát ban võ nghệ ra lập tức để chiếm cảm tình của Hoàng đế.

Dương Lăng suy nghĩ một lúc, thầm so sánh một số tình hình bản thân quan sát được và tình hình quân đội đời sau, rồi nói:
- Khải bẩm Hoàng Thượng! Thần thấy tướng lĩnh trong quân đội năng lực không đồng đều, tuy có tướng quân dũng mãnh, nhưng phần nhiều chỉ coi trọng sức mạnh cá nhân, không hề có sở trường về trị quân.

Hơn nữa, thiên hạ hiện giờ trọng đạo khinh khí (Đạo ở đây là đạo lý, lý luận, còn khí tức là những thứ kỹ thuật, dụng cụ - ND.), trọng văn khinh võ, quân công trăm trận không bằng một bài văn chương cẩm tú, khiến đa phần những người văn võ song toàn đều bỏ võ mà theo văn, thế nên lương tướng càng thêm khó cầu.
Vả lại trong quân đội hiệu lệnh thì không đồng nhất, vũ khí giáp trụ thì không giống nhau, lương thảo cung ứng cũng không đồng đều, thường ngày huấn luyện cực ít, cho dù có sức chiến đấu cũng khó mà phát huy. Ở Kê Minh thần thường được thấy quân đội thao diễn, lúc ấy cờ xí rợp trời, áo quần rực rỡ, đao thương sáng loáng, chiên trống rền vang, trông rất oai nghiêm hùng tráng. Thế nhưng vì phần lớn thời gian binh sỹ chỉ diễn tập trên những trận hình như thế này, xem trọng bề ngoài mà không quan tâm đến hiệu quả thật, cho nên thật sự không có bao nhiêu tác dụng.

Quân đội cần phải luyện tập hằng ngày, cho dù thế nào đi chăng nữa cũng phải bỏ ra một chút thời gian vào diễn tập dã chiến, như thế thì tân binh mới có thể trở thành binh sỹ lão luyện, binh sỹ lão luyện mới có thể trở thành tinh binh. Khi ấy quân đội Đại Minh ta với hoả khí được trang bị, nhất định sẽ là một mũi nhọn sắc bén. Nếu dùng tốt, giặc Thát sẽ không chịu nổi một đòn. Nhưng binh khí dù tốt thì cũng phải có người sử dụng, trong khi đó quân sỹ bây giờ kẻ biết dùng súng đạn đã là khó kiếm, đừng nói là thành thạo. Cho nên, thần nghĩ rằng luyện binh bằng thực chiến mới là cách hữu hiệu nhất để quân đội mạnh lên.

Sắc mặt Hoằng Trị hơi sầm xuống. Cái tệ nạn "tướng không biết quân, quân không biết tướng" không phải là ông không biết, nhưng chia tách binh lực, hạn chế binh quyền là thủ đoạn quan trọng để đế vương nắm vững quân quyền. Nếu cho phép tướng lĩnh hoàn toàn khống chế quân đội, thao luyện diễn tập thường xuyên, vậy chẳng phải là trao quyền hành vào tay kẻ khác hay sao?

Thoáng thấy sắc mặt của Hoằng Trị, Dương Lăng biết là hỏng bét rồi. "Từ xưa đến nay, đế vương lo nhất chính là chuyện soán ngôi đoạt quyền, những gì mình nói chẳng phải là phạm vào điều kiêng kỵ của lão ta sao?" Nghĩ thế y bèn vội vàng nói tiếp:
- Cho nên thần nghĩ, có thể tuyển chọn lương tướng làm giáo đầu chuyên trách luyện binh, cứ nghìn người thì lập thành một đoàn, huấn luyện cho họ năng lực chủ động tác chiến và ứng biến khi lâm địch. Đến khi chiến sự nổ ra, người cầm quân chỉ cần đứng giữa điều khiển, cho dù chủ soái không có mặt, sự phối hợp giữa các đạo quân cùng lắm cũng chỉ bị sai lệch một chút, tuyệt đối sẽ không xuất hiện cục diện ‘tướng soái vắng mặt thì toàn quân tan vỡ’.
Nói tóm lại, thần cho rằng từ xưa đến nay vua chúa các đời đều là trọng tướng không trọng binh, thường có câu rằng ‘ba quân dễ kiếm một tướng khó cầu’, nhưng dùng phép luyện binh này thì lại là trọng binh không trọng tướng. Hãy xem kỵ binh tinh nhuệ của Mông Cổ năm xưa, những tướng lĩnh cầm quân của họ có mấy ai đã từng đọc qua binh thư chiến sách, hiểu biết văn thao võ lược? Nếu toàn quân đều dũng mãnh thiện chiến, cho dù không có lương tướng thì cũng có ai có thể địch lại đây?

Y phải cố nghĩ cách chuyển đổi một số thuật ngữ hiện đại thành lời mà Hoằng Trị có thể hiểu được rồi nói cho ông ta nghe, cho nên có chỗ diễn đạt không được trọn ý. Thật ra, điều mà y muốn nói chính là tăng cường năng lực chủ động tác chiến của các đơn vị cấp độ từ đoàn trở xuống trong quân đội, tướng lĩnh cao cấp chỉ phụ trách đứng giữa điều khiển mà không phải tự làm hết mọi việc. Làm như vậy mặc dù là trao quyền nhiều hơn cho quân đội, nhưng quyền lực thực chất của các tướng lĩnh cao cấp lại không có gì thay đổi, cho nên thực tế thì quyền kiểm soát của Hoàng đế lại càng tăng thêm.

Hoằng Trị nghe đến phần sau, lờ mờ cảm thấy nội dung mà y nói dường như vừa có thể tránh xảy ra tình trạng thần tử nắm giữ binh quyền mà sinh lòng tạo phản, lại vừa có thể đề cao năng lực tác chiến của quân Minh, nhưng nhất thời lại không hiểu thấu được hoàn toàn.

Ông đang định hỏi thêm, cụ thể hơn thì vị thái giám già bên cạnh khẽ bước lên thấp giọng nhắc:
- Bệ hạ, ngọ triều sắp bắt đầu rồi, người xem...

Hoằng Trị khẽ ồ một tiếng rồi bảo Dương Lăng:
- Ừm, lời ái khanh rất có lý, trẫm sẽ cân nhắc. Người đâu, thưởng cho Dương Lăng ngự bài đi lại trong cung, ban cho xuất thân đồng tiến sỹ, bắt đầu nhậm chức Đông cung Thị độc ngay trong hôm nay. Hãy đưa Dương khanh đến Xuân Phường đi!

- Tạ ơn Hoàng Thượng!
Dương Lăng quỳ xuống tạ ơn, hai tay tiếp nhận một miếng ngọc bài cho phép ra vào cấm cung mà thái giám đưa cho, sau đó đi theo tên tiểu thái giám đã dẫn y đi vào lui ra ngoài.

Dương Lăng đi theo tên tiểu thái giám qua cổng Càn Thanh, thẳng đến Xuân Phường, nơi thái tử ở. Sau khi bước vào một tòa cung điện, Dương Lăng đứng chờ ở ngoài cửa, còn tên tiểu thái giám vào trong bẩm báo. Một lúc sau, cửa cung điện mở ra, một viên quan trạc ngũ tuần bước ra, phất ống tay áo, hầm hầm bỏ đi, không thèm liếc Dương Lăng lấy một cái.

Dương Lăng đang ngẩn người nhìn theo bóng lưng ông ta thì tên tiểu thái giám đưa tin cũng đã bước ra theo. Y nhìn về phía Dương Lăng nói:
- Dương thị độc, giờ ngài hãy chờ ở đây đi! Cốc công công đã biết rồi, chờ một lát Thái tử gia sẽ triệu kiến ngài. Ta về trước đây.

Dương Lăng đứng nguyên tại chỗ, chờ cho đến khi gót chân mỏi nhừ. Thấy trong cung này bốn bề tĩnh mịch, không hề có cung nữ, thậm chí thái giám cũng không thấy một ai, y nhân cơ hội khom lưng vận động thân thể đang mỏi nhừ một chút. Bỗng nhiên lưng y chợt trầm xuống, ngay sau đó vai như bị siết lại, tựa như có vật gì đó đang bò lên vai y, Dương Lăng sợ hãi giật nảy mình.

Y vừa xoay đầu, một khuôn mặt Thiên Lôi lông lá vừa vặn đối diện với y. Trên khuôn mặt xấu xí đó, một cặp mắt nhỏ xíu xoay tròn đang trừng mắt nhìn y không chớp.

Dương Lăng kinh hoảng la to một tiếng. Không đợi y tóm lấy, khuôn mặt Thiên Lôi kia còn bị tiếng la của y làm cho hoảng sợ hơn, lập tức rụt đầu lại, thoắt một cái đã phóng tót lên đầu y. Lúc này, từ nơi cửa điện phụ vọng lại giọng đùng đục bể tiếng của một thiếu niên:
- Cốc Đại Dụng, Lý đại học sỹ đã đi chưa? Úi, ngươi là ai? Đừng có cử động lung tung kẻo tiểu hầu nhi của ta nổi nóng! Cẩn thận không nó cào khắp mặt ngươi đó!







Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
28-11-2010, 10:45 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 59 - Đào tạo cướp biển



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng mỉm cười. Trước mặt y là một cậu nhóc chưa hiểu mấy về phải trái đúng sai, là một tờ giấy trắng có thể tô cũng có thể xóa. Lý học sỹ dạy cho y lễ nghĩa liêm sỉ, dạy cho y lối tự mãn của thiên triều; Cốc Đại Dụng lại dạy y ăn chơi hưởng lạc, hoang dâm vô độ; vậy thì phải để cho Dương Lăng ta dạy y nhìn ra thế giới, hướng lòng tham lam và dã tâm ra bốn bể!

Giáo dục, phải bắt đầu từ bé...



Chương 59 - Đào tạo cướp biển

Dương Lăng quay đầu nhìn lại, thấy một cậu thiếu niên đứng ngay sau lưng mình đang vỗ tay cười lớn. Tiếng cười còn chưa dứt, cậu ta vừa thấy mặt y thì đột nhiên trợn mắt há mồm, ngớ người chăm chăm nhìn y, một lúc lâu sau mới phấn khích hô to:
- Là ngươi à? Ngươi là thị độc của ta sao? Cái gã... gã Dương Lăng, dịch thừa ở Kê Minh chính là ngươi hả?

Vừa rồi Dương Lăng được diện kiến Hoằng Trị nên đã sớm biết tiểu thư sinh mà mình gặp hôm qua chắc chắn là Chính Đức rồi, cho nên cũng không bị bất ngờ. Y cười gượng, cúi đầu trả lời:
- Thái tử điện hạ! Vi thần chính là Dương Lăng, xin thứ cho vi thần không thể làm lễ với Thái tử được, vì... vì...

Chu Hậu Chiếu cười hì hì, khoát tay nói:
- Không cần hành lễ, không cần hành lễ! Ngày nào cũng làm lễ, phiền chết đi được!

Lúc này, một gã thái giám béo ú đang dắt theo một con chó đen lớn cao bằng nửa thân người từ trong cung điện đi ra, hắn cười hì hì:
- Thái tử gia! Vừa rồi nô tài thật sự là sợ chết khiếp đó. Con chó này trốn trong tủ chẳng chịu ngoan ngoãn gì cả, lão nô đã vứt mấy cục xương thịt vào trong rồi mà nó vẫn ư ử suốt, suýt chút nữa thì bị Lý học sỹ phát hiện.

Dương Lăng cẩn thận quan sát Cốc Đại Dụng. Y thấy hắn vóc người mập lùn, mặt tròn, mày rắn, mắt lươn, khuôn mặt tươi tắn. Nếu không sớm biết sự tích về sau của kẻ này thì Dương Lăng thực sự cho rằng hắn rất hòa ái tốt bụng, khiến người khác cực kì yêu mến.

Chu Hậu Chiếu cười như một đứa trẻ đắc ý, hỏi gã:
- Đại Dụng! Lý thái phó đi rồi sao?

Cốc Đại Dụng cười vuốt đuôi:
- Chỉ trong hai canh giờ mà Thái tử gia chui ra chui vào nhà xí tới tám lần, Lý đại nhân sớm đã khó chịu rồi. Mặc dù hôm nay ngài ấy không phải chầu triều sớm nhưng phải tới dự ngọ triều, vừa nãy không chờ được nữa nên đã xin cáo lui trước rồi.

Chu Hậu Chiếu cười ha hả, y nhón mũi chân bước đi, lắc lư người ba lần, vươn cổ thẳng đơ, giống như một con lật đật, nói chậm rì rì:
- Quân tử cầu học đạo - không cầu ăn uống, quân tử lo không học được đạo - không lo nghèo. Kẻ làm quân vương - phải biết nhân từ, kẻ làm bề tôi - phải biết cung kính, kẻ làm con - phải biết hiếu thuận, kẻ làm cha - phải biết nhân từ, giao thiệp với người khác - phải biết giữ chữ tín....

Chu Hậu Chiếu đọc xong liền cau mày than thở:
- Thánh nhân chỉ nói một câu về lễ, nghĩa, nhân, trí, tín, Lý đại học sĩ lại lôi ra một đống dẫn chứng, trích dẫn đủ thứ kinh thư điển tịch, đã giảng giải mất bảy ngày trời rồi. Ta thấy thật kỳ quặc, cái đầu của thánh nhân trông nó như thế nào nhỉ, lúc nói ra câu đó, ông ta có thực sự nghĩ nhiều và kỹ như vậy không? Muốn dạy ta trở thành quân vương thì phải giảng đạo trị quốc chứ, sao mà mỗi câu đều cứ phải lôi bằng được các bậc thánh nhân từ cả nghìn năm trước vào, như kiểu nếu không làm thế thì người khác sẽ không phục vậy. Thực sự là cực kỳ nhạt nhẽo, ta nghe mà chán muốn chết.

Y phất tay, giống như vừa trút được gánh nặng:
- Đi rồi thì tốt, đi rồi thì tốt! Ông ta đi rồi thì ta cũng trở vào trong thôi!

Chu Hậu Chiếu đưa tay huýt gió gọi con khỉ đang ngồi chồm hỗm trên đầu Dương lăng nhưng nó vẫn nghìn ngang nhìn ngửa, không buồn để ý tới y. Chu Hậu Chiếu nhếch miệng cười:
- Xem ra con khỉ của ta rất thích ngươi đó, đi thôi! Dương thị độc! Chúng ta vào trong nào!

Dương Lăng méo mặt bám theo sau Chu Hậu Chiếu bước vào thư phòng dành cho Thái tử đọc sách. Tuy gọi là thư phòng nhưng lại giống một cung điện lớn, rất vắng vẻ, chỉ có hai gã tiểu thái giám phục dịch đứng ngay sát cửa. Thấy con khỉ ngồi chồm hỗm trên đầu Dương Lăng, hai tên này không nhịn được phải che miệng cười trộm.

Chu Hậu Chiếu thoải mái ngồi xuống một cái ghế thấp được sơn sáng bóng, liếc nhìn Dương Lăng với vẻ vô cùng hứng thú, đoạn vui vẻ cười bảo:
- Tới đây nào! Dương thị độc ngồi đi! Để ta bảo Đại Dụng cho ngươi xem trò khỉ cưỡi chó, còn có phi qua vòng lửa, rất hay đó.

Dương Lăng cẩn thận ngồi xuống sau một cái bàn. Chu Hậu Chiếu lấy mấy trái cây trên đĩa ném xuống dưới đất, con khỉ đang trên đầu Dương Lăng liền lao xuống nhặt, ngồi xổm dưới đất gặm ăn.

Chu Hậu Chiếu bảo Cốc Đại Dụng:
- Ta đói rồi, mang tới đây cho ta chút đồ ăn đi!

Cốc Đại Dụng đang buộc con chó vào cây cột trong điện, nghe xong liền bảo mấy câu với tên thái giám trước mặt, tên thái giám đó phóng đi như bay.

Nơi Thái tử đọc sách chỉ có thái giám, không có cung nữ hầu hạ. Chỉ một lát sau, tám tên tiểu thái giám bưng mâm đi vào. Vốn Dương Lăng đang đói meo, ngửi thấy mùi thức ăn, bụng y liền sôi ùng ục.

Tiểu Thái tử thính tai nghe được, thế là bèn vừa cười vừa chỉ về phía trước Dương Lăng nói:
- Bày ở đó, bày ở đó! Nếu như trong cung của Thái tử ta mà có người chết đói thì đúng là chuyện khiến người ta cười đến rụng răng mất!

Chu Hậu Chiếu nói xong liền cười hì hì đứng lên, tùy tiện bước tới ngồi xuống bên cạnh Dương Lăng, đưa cho y đôi đũa bạc, nói:
- Ăn đi, nếm thử xem thức ăn trong cung của ta thế nào!

Dương Lăng thấy vị hoàng đế Chính Đức trong truyền thuyết này chẳng hề có vẻ kiêu căng phách lối chút nào, cảm giác gò bó liền biến mất. Có Dương Lăng ngồi cùng, dường như Chu Hậu Chiếu ăn cũng ngon miệng hơn, y vừa ăn vừa nói với Dương Lăng:
- Hôm nay ngươi không tới nghe Lý thái phó giảng bài cho nên buổi chiều cũng chẳng có gì để giảng giải cho ta cả nhỉ! Phải rồi, hôm qua ngươi có nói tới thứ gì đó gọi là đấu bò tót, mau kể cho ta nghe đi!

Dương Lăng vốn cho rằng thị độc chỉ cần nghe giảng cùng với thái tử, không để cho Thái tử quá buồn chán là được, giờ nghe ý tứ của Chu Hậu Chiếu, dường như thị độc còn phải phụ trách giải đáp thắc mắc khi Thái tử tự học. Nếu như quả thật vị Thái tử này chuyên cần hiếu học, tên thị độc dốt nát mình đây chắc sẽ lộ tẩy ngay tại chỗ mất?

Dương Lăng nghĩ tới đó không khỏi mừng thầm, y vừa nhấm nháp của ngon vật lạ do ngự trù nấu nướng vừa kể về môn thể thao đấu bò tót ở Tây Ban Nha cho Chu Hậu Chiếu nghe. Hiểu biết của Dương Lăng về môn thể thao này rất ít ỏi, thế nên y chỉ tập trung kể những chuyện cười về những đấu sĩ bò tót sẩy tay bị bò tót đuổi loạn khắp sân và bị húc văng khỏi đấu trường. Dương Lăng vốn giỏi mồm mép, lại cố ý thêm mắm thêm muối, không chỉ Chu Hậu Chiếu say mê mà ngay cả Cốc Đại Dụng và những tiểu thái giám dâng cơm đang đứng ở bên cạnh cũng nghe đến nhập thần.

Dương Lăng thấy Cốc Đại Dụng đang cười ngặt nghẽo mà trong lòng thầm cảm thấy xấu hổ, trước mặt mình là những ai chứ? Một kẻ là hôn quân tương lai nổi tiếng dâm đãng, còn kẻ kia là tên đại gian đại ác lừng danh. Còn mình thì sao? Mang tiếng là thị độc nhưng lại đóng vai một tên lộng thần, một tên hề mua vui cho Thái tử.

Không sai, y chẳng có dã tâm gì cả, thế nhưng đã tới cái thế giới này rồi, y không thể biến mình thành một khán giả thờ ơ với sự đời được. Về mặt tình cảm y cũng chẳng khác gì những người Hán hiện nay, trang bi thảm nhất trong lịch sử Trung Quốc đối với y vốn chỉ là lịch sử, là quá khứ đã qua, y chẳng thể làm gì được, nhưng bây giờ, hết thảy còn chưa diễn ra. Đế quốc Đại Minh lúc này vẫn là quốc gia giàu có nhất thế giới, vận mệnh đã sắp đặt y tới trước mặt quân vương của Đại Minh, lẽ nào y lại không bỏ ra một phần sức lực?

Sự suy tàn của triều Minh chủ yếu là do tư duy của bọn họ quá bảo thủ. Kẻ thống trị, thậm chí cả giai cấp thống trị đều mù quáng tự cao tự đại, bế quan tỏa cảng. Bây giờ là thời điểm cả thế giới đang phát triển mạnh cùng chủ nghĩa tư bản đang chuyển mình, nếu như Trung Quốc có thể giữ mối liên hệ mật thiết với thế giới thì tư tưởng và nhận thức của cả giai cấp thống trị sẽ ngầm chịu ảnh hưởng, nhất định sẽ có thể phát triển theo hướng tích cực hơn.

Người trước mặt mình là ai chứ? Là Hoàng đế Đại Minh tương lai đó! Đại Minh lúc này đang thiếu thứ gì? Chính là thiếu chí tiến thủ! Nếu như có thể khiến vị Thái tử trước mặt này nhìn xa trông rộng hơn, ở thời kỳ quân quyền tối cao này, một suy nghĩ của y cũng có thể sinh ra tác dụng không để đoán trước được với sự phát triển của lịch sử. Lịch sử... thực sự là không thể thay đổi sao?

Dương Lăng nghĩ tới đó, trong lòng thầm thấy rộn ràng. Y cố giữ bình tĩnh, nói với Chu Hậu Chiếu:
- Thái tử, nếu người thích nghe, vi thần có thể kể mấy chuyện khác cho người.

Chu Hậu Chiếu vui mừng quá đỗi, bèn gật đầu liên tục. Mặc dù y là Thái tử nhưng đời sống tinh thần lại kém xa trẻ em thời hiện đại, dùng từ khô khan vô vị để hình dung cũng không quá đáng chút nào. Lúc này nghe Dương Lăng kể những chuyện mới lạ y mới biết trên thế giới này còn có rất nhiều thứ đặc sắc và hay ho như thế, cũng biết trời đất rộng lớn đến mức nào. Vốn đang nghe đến say mê nên Dương Lăng vừa đề nghị như vậy, cậu thiếu niên Chính Đức bèn vội vàng bảo với Cốc Đại Dụng:
- Đại Dụng! Kêu người báo với Trí Vân thiền sư hôm nay không học Phạn văn nữa!

Dương Lăng nghe vậy thì rất ngạc nhiên, không ngờ Chu Hậu Chiếu còn học cả ngoại ngữ nữa. Mà qua cách y tùy ý bảo thái giám hủy giờ học, rất hiển nhiên là môn học đó không phải do hoàng đế sắp xếp cho y. Hình tượng Chính Đức này khác rất xa kẻ hoang dâm vô độ, vô công rồi nghề mà Dương Lăng biết.

Dương Lăng thong thả kể chuyện cướp biển Tây Ban Nha. Những nữ vương cướp biển tóc đỏ, thuyền trưởng cướp biển chột mắt được y gia công gộp lại thành một chuyện. Vẫn duy trì được sự thú vị cho câu chuyện, y còn kể thêm về việc tranh chấp bá quyền trên biển của các nước châu Âu đang diễn ra vào thời điểm hiện tại. Thậm chí y còn hư cấu thêm một nước tương tự với Đại Minh ở bờ kia đại dương, nằm cách Đại Minh còn xa hơn các nước Ả-Rập, y kể lại câu chuyện từ lúc nó hùng mạnh, giàu có, cho đến khi suy bại, chịu đủ sự lăng nhục.

Chuyện cướp biển đầy hấp dẫn khiến Chu Hậu Chiếu vốn thích phiêu lưu nghe đến mê mẩn. Dương Lăng bắt đầu kể đến đoạn các nước châu Âu vì tranh giành quyền bá chủ trên biển, bề ngoài thì tuyên bố không đội trời chung với cướp biển nhưng lại ngấm ngầm nuôi dưỡng và sai chúng tấn công thuyền buôn nước khác. Cốc Đại Dụng ở bên hơi chau mày, tỏ ra khinh thường các nước nhỏ man di này không biết sĩ diện.

Tiểu Chính Đức thì lại xoa tay, giọng say mê:
- Hay quá, có triều đình chống lưng phía sau, lại không làm mất thể diện của triều đình, chuyện làm ăn lãi như vậy, cướp biển lại hay như vậy, ngay của ta cũng muốn thử một phen, há há há...

Dương Lăng mỉm cười. Trước mặt y là một cậu nhóc chưa hiểu mấy về phải trái đúng sai, là một tờ giấy trắng có thể tô cũng có thể xóa. Lý học sỹ dạy cho y lễ nghĩa liêm sỉ, dạy cho y lối tự mãn của thiên triều; Cốc Đại Dụng lại dạy y ăn chơi hưởng lạc, hoang dâm vô độ; vậy thì phải để cho Dương Lăng ta dạy y nhìn ra thế giới, hướng lòng tham lam và dã tâm ra bốn bể!

Giáo dục, phải bắt đầu từ bé...







Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
01-12-2010, 07:20 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 60: Hải đồ Trịnh Hòa



Dịch: 6300

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng tràn đầy tự tin, giả làm bộ dạng của một lão thần ung dung đáp:
- Thái tử cứ yên tâm! Chỉ cần dùng kế này là nhất định có thể bịt được tai mắt của ngự y.



Chương 60: Hải đồ Trịnh Hòa

Nước Thiên Phương, quốc gia cổ có nền văn minh tự cung tự cấp, có quá nhiều điểm giống với triều Minh đến nỗi Chu Hậu Chiếu không biết tự lúc nào đã coi nó chính là quốc gia của mình, cảm tình với Thiên Phương quốc tự nhiên tăng lên.

Khi y nghe tới đoạn quốc gia hùng mạnh này dần dần tụt hậu so với các nước phương tây, trong khi các nước phương tây bước vào thời kỳ Phục hưng, khoa học kỹ thuật phát triển, Thiên văn, Vật lí, Hóa học đều tiến bộ cực nhanh, đã mài đao xoèn xoẹt với ý đồ xâu xé chiếc bánh ngọt Thiên Phương, mà đất nước Thiên Phương lại mù quáng tự cao tự đại, không ngừng suy bại, khiến cho y tức đỏ mặt, căm hận đập bàn chửi:
- Tên hoàng đế đó thực là cực kì ngu xuẩn, làm ta tức chết mất!

Nghe tới quân đội tám nước dựa vào thuyền chắc pháo mạnh, chỉ vài nghìn người ít ỏi mà tấn công được vào kinh sư của Thiên Phương quốc, thiêu rụi cả một công trình vĩ đại có một không hai được xây dựng bởi sức lực của cả nước, ngay cả Cốc Đại Dụng cũng tức giận đến mặt nổi gân xanh, the thé nói:
- Hoàng đế nước đó thật quá ngu xuẩn, mấy chục vạn đại quân mà lại không chặn nổi vài nghìn quân ít ỏi! Đáng thương! Đáng hận!

Dương Lăng than thở:
- Ban đầu những quốc gia đó so với nước Thiên Phương đều nghèo túng như ăn mày, nhưng bọn họ không hề tự đại, lại rất chú trọng giao lưu. Quốc gia này phát minh ra khoái thuyền, quốc gia khác liền lập tức học được. Quốc gia kia phát minh được đại pháo có tầm bắn xa và uy lực lớn hơn pháo Đại tướng quân, ngay lập tức có nuớc phái người tới học tập, sau đó phát minh ra đại pháo còn lợi hại hơn. Bọn họ phát triển không ngừng, còn nước lớn kia thì lại bế quan tỏa cảng, cho rằng mình đứng đầu thiên hạ, sao mà không bại cho được?

Chu Hậu Chiếu lại đập bàn nói:
- Cái loại thuyền cướp biển ba cột buồm với thuyền nhỏ có nhiều buồm đó thì lợi hại lắm hay sao? Ta thấy rằng chính nước Thiên Phương kia mới là kẻ vô dụng, nếu gặp phải đại chiến hạm của bổn triều thì... hừ hừ!

Y quay sang hỏi Cốc Đại Dụng:
- Đại Dụng, bản vẽ bảo thuyền đi Tây dương từ thời Vĩnh Lạc (1) để ở đâu rồi? Mang tới đây cho ta, để Dương thị độc xem xem, so với thuyền nhỏ của Tây phiên kia thì ai hơn ai?

Cốc Đại Dụng khom lưng, khuôn mặt béo tròn tươi cười kèm theo sự kính cẩn, trả lời:
- Bẩm thái tử gia, tất cả bản đồ biển, bản vẽ bảo thuyền của chuyến Trịnh công công tới Tây dương vốn giao cho bộ Công ở Nam Kinh, thời hoàng đế Anh Tông đã chuyển đến bộ Binh ở kinh sư, lúc ấy định dùng khi vượt biển đến phương Tây lần nữa. Nhưng thị lang Lưu Đại Hạ nghe được chuyện này, cảm thấy việc lưu thông với phương tây làm hao tài tốn của, chẳng có ích gì, bản đồ biển này quả là mầm họa quốc gia, cho nên y đã giấu nó đi. Nô tài phỏng đoán rằng, bây giờ nó vẫn còn bị quẳng trong đại khố của bộ Binh.

Dương Lăng nghe xong người run lên, buột miệng nói:
- Gì cơ? Tấm bản đồ kia vẫn chưa bị đốt đi sao?
Y nói xong mới nhận ra là đã lỡ lời, trong lòng hối hận không thôi. Mặc dù y nhớ trong sách sử có nói rằng hải đồ kia đã bị Lưu Đại Hạ, một kẻ chính trực nhưng thiển cận, đốt mất rồi, nhưng lại không nhớ chuyện xảy ra khi nào, nếu như hiện tại vẫn chưa xảy ra việc này, há không phải khiến người ta nghi ngờ sao?

Cốc Đại Dụng cười híp mắt lườm y, thầm nghĩ:
"Quả nhiên tên Dương Lăng này là người của Cẩm Y vệ, vòi của bọn họ vươn rộng thiệt, ngay cả chuyện cực kỳ bí mật này mà cũng biết, hé hé! Tiếc là y có biết nhưng lại không kĩ càng tỉ mỉ như mình."

Cốc Đại Dụng cố ý khoe khoang, đắc ý cười:
- Dương thị độc có chỗ không biết rồi, chuyện đó chỉ là truyền bậy mà thôi. Lúc đó Lưu Đại Hạ chỉ là một thị lang nho nhỏ, mặc dù y không muốn cho hoàng đế thấy tấm hải đồ đó nhưng cũng không có gan đốt nó đâu. Những thứ đó chất đầy cả năm hòm lớn đó, nếu như y muốn đốt đi, há có thể che mắt người khác? Chẳng lẽ y không cần mạng nữa hay sao? Ha ha, lúc đó y thuyết phục thượng thư bộ Binh là đại nhân Hạng Trung. Hạng đại nhân cho rằng lời hắn nói có lí mới ngầm ưng thuận cho y giấu thứ đó đi, chỉ tâu dối với hoàng đế Anh Tông là công văn từ Nam Kinh chuyển đến quá nhiều, không tìm thấy tung tích, dự tính nếu như hoàng đế Anh Tông đòi gấp quá thì lại mang trình lên. Thực ra lúc đó hoàng đế Anh Tông cũng có nhớ đến chuyện này nhưng khi biết công văn đã bị thất lạc thì cũng không để tâm cho lắm, chính vì thế mà chuyện này đã được giấu đi.

Dương Lăng bán tín bán nghi hỏi:
- Lời Cốc công công nói là thật sao? Bản hải đồ đó .... đến bây giờ mà vẫn còn sao?

Chu Hậu Chiếu cười ha hả:
- Cốc Đại Dụng nghe nhiều nhớ lâu, đây chính là sở trường của y. Đại Dụng đọc sách không nhiều nhưng trí nhớ lại rất tốt, y nói còn tất nhiên là còn rồi. Y vốn phục vụ tại Đông Xưởng. Mũi của bọn Đông Xưởng còn thính hơn Đại Hắc của ta đó.

Vốn tám năm trước, hoàng đế Hoằng Trị đã từng sủng tín đại thái giám Lý Quảng, một thời nịnh phật nịnh đạo, luyện đan luyện dược, khiến cho khắp triều đình tràn ngập khói đen khí độc. Lúc đó Cốc Đại Dụng được mấy tên gian hoạn Lý Quảng, Dương Bàng sủng ái nên được nghe không ít chuyện. Sau đó Lý Quảng thấy nhóm Lưu Đại Hạ dựa vào đám trung thần được Hoằng Trị tin tưởng mà liên tục dâng tấu phê bình, chỉ trích bọn chúng kéo bè kéo cánh che mắt chủ làm chuyện xấu, nên đã phái Cốc Đại Dụng điều động đội ngũ Đông Xưởng sưu tầm tư liệu của nhóm người này, muốn lật đổ bọn họ.

Cho nên trong lòng Cốc Đại Dụng biết rất rõ những chuyện to nhỏ mà Lưu Đại Hạ đã làm. Thế nhưng thời vận của y không tốt, cả bộ tài liệu vừa mới thu thập xong thì Lý Quảng đã bị bệnh chết rồi. Hoàng đế Hoằng Trị vẫn tiếp tục u mê không tỉnh ngộ đã phái người tới nhà y tìm kiếm thiên thư. Kết quả là thiên thư không tìm được mà lại tra ra một lượng lớn vàng bạc châu báu, lúc này mới tin chuyện đám thần tử nói Lý Quảng làm việc tất trách, chuyên nhận hối lộ. Đến lúc này cả phe cánh của Lý Quảng mới hoàn toàn sụp đổ, cả đám thân tín bọn chúng bị thất sủng. Cốc Đại Dụng bị Vương Nhạc Vương công công, thủ lĩnh mới của Đông Xưởng, đuổi ra khỏi đó, phải chịu đựng biết bao năm, hao tổn biết bao tâm sức mới được làm kẻ hầu bên người thái tử.

Nghe được lời khen của Chu Hậu Chiếu, Cốc Đại Dụng cười híp mắt, khom khom người, nói:
- Tạ ơn Thái tử gia đã khen ngợi! Tuy nhiên thoáng cái đã qua bao nhiêu năm rồi, lão nô lo rằng đống giấy tờ đó không được bảo quản tốt, nếu như bị ẩm mốc, chuột gặm rồi thì có lẽ chẳng thể dùng được nữa.

Dương Lăng vừa mừng vừa sợ, nói với Chu Hậu Chiếu:
- Thái tử! Năm xưa những bản vẽ sơ đồ chế tạo thuyền này, không biết đã hao tốn tâm trí của biết bao nhiêu người thợ giỏi, tuy rằng bây giờ chưa chắc đã tái tạo được chiến hạm khổng lồ như hồi đó, nhưng để chế tạo ra những chiếc thuyền nhỏ hoàn mỹ thì chúng rất có giá trị tham khảo. Những tấm hải đồ kia mới là những thứ hiếm có hơn. Biển khơi rộng lớn hơn lục địa rất nhiều, mỗi tấm bản đồ đường biển đều phải hao tốn luợng lớn tiền bạc mới vẽ nên đuợc đó.

Chu Hậu Chiếu không biết vì sao y lại xúc động như vậy, nhìn hắn một cách khó hiểu, trầm ngâm nói:
- Ừm.... Lưu Đại Hạ? Lão già này bây giờ là thượng thư bộ Binh, muốn lấy được thứ này từ tay lão, sợ rằng....

- Sao? Ngay cả thái tử cũng không thể lấy được thứ này từ trong tay lão ư?
Dương Lăng nghe xong liền vô cùng thất vọng.

Chu Hậu Chiếu bị y kích động, liền ưỡn ngực lên nói:
- Lưu Đại Hạ tuy là sủng thần bên cạnh phụ hoàng nhưng lão cũng không dám đắc tội với ta, chỉ là... dù sao lão cũng là quan nhất phẩm, người mà ta phái đi chỉ muốn làm lấy lệ thì không phải là tay trắng trở về sao?

Dương Lăng đảo mắt, nói:
- Nếu như vậy thì tự thân thái tử gia phải đi một chuyến hay sao?

Chu Hậu Chiếu cười ha hả:
- Nếu ta tự thân đi lấy thứ đó thì tin rằng lão cũng không dám không đưa cho ta, nhưng mà...

Y nhăn nhó một hồi rồi nói tiếp:
- Ta muốn xuất cung một chuyến, còn khó hơn lên trời. Một năm, chỉ có phụ hoàng dắt ta ra ngoài dăm ba lần đó thôi. Mấy ngày nữa kỳ thi Đình sẽ bắt đầu, các vị sư phụ của ta đều lo việc tuyển người cho kỳ thi mùa xuân nên không ai tới dạy cả. Phụ hoàng sợ ta bỏ bê việc học hành nên đã sắp xếp mấy thứ khỉ gió cho ta viết, còn ra lệnh cho tả hữu thứ tử của Xuân Phường luân phiên giám sát, thực sự là một tấc khó rời đó.

Xuân Phường là nha môn trực thuộc thái tử cung, do hai quan Tả Xuân Phường tả thứ tử và Hữu Xuân Phường hữu thứ tử phụ trách quản lý việc học của thái tử. Những viên quan đảm nhiệm chức thứ tử này đều cương trực thẳng thắn, thậm chí trong đó còn có vài người thuộc đám hàn lâm học sĩ ngu dốt cổ hủ, trước giờ lục thân bất nhận, chí công vô tư. Có bọn họ đốc thúc, chính ra còn khủng khiếp hơn tự thân đại học sĩ giảng bài, Chu Hậu Chiếu nghĩ tới liền đau đầu không ngớt.

Dương Lăng biết những bản thiết kế chiến hạm và tấm bản đồ hàng hải hiển thị phía Nam Hải và con đuờng sang phuơng Tây do rất nhiều thợ giỏi vẽ ra vẫn còn trong nhân gian, làm sao hắn có thể để yên cho nó bị tiêu hủy được, nhất thời trong lòng lập tức ngứa ngáy vô cùng. Y thấy Thái tử khó xử, liền vội vàng hỏi:
- Thế trong tình huống thế nào thì quan viên Xuân phường mới không thể giám sát Thái tử đọc sách vậy?

Cốc Đại Dụng trả lời thay:
- Dương thị độc, nếu như thân thể Thái tử bất an thì mới có thể tạm dừng lớp học.

Dương Lăng vui mừng:
- Thế thì tốt rồi! Chỉ cần Thái tử giả vờ bệnh là xong, phải không?

Chu Hậu Chiếu trợn mắt, gắt lên:
- Nói dễ vậy à? Nếu ta bảo thân thể bất an thì chẳng phải cả đám Thái y viện sẽ xông ngay tới cuốn lấy ta mà khám bệnh sao? Đến lúc sự việc bị bại lộ, nhất định phụ hoàng sẽ trách móc ta đó.

Xem ra, tình cảm của Chu Hậu Chiếu với phụ hoàng của y rất tốt. Hậu Chiếu vừa kính vừa sợ, không hề muốn chọc ông tức giận. Dương Lăng cười nói:
- Thế thì có gì là khó? Thái tử chỉ cần nói bị đau đầu, mặc cho y thuật của ngự y thần thông đến đâu cũng chỉ có thể dặn Thái tử cố gắng tính dưỡng, tuyệt không có ai dám nói Thái tử không có bệnh.

Chu Hậu Chiếu nửa tin nửa ngờ hỏi:
- Quả thực là như vậy sao? Trong Thái y viện có mấy vị quốc y thánh thủ đáng gờm lắm đó.

Dương Lăng tràn đầy tự tin, giả làm bộ dạng của một lão thần ung dung đáp:
- Thái tử cứ yên tâm! Chỉ cần dùng kế này là nhất định có thể bịt được tai mắt của ngự y.

Não bộ là bộ phận phức tạp nhất của con người, dù y học hiện đại phát triển đến đâu cũng không thể chẩn đoán hết bệnh tật của nó. Lúc y làm công tác bồi thường tại công ty bảo hiểm, nếu như gặp phải khách hàng là bạn học, thân thích của mình thì sẽ bày cho họ biện pháp này. Chỉ cần tới bệnh viện nói là bị đau đầu, kể cả là đang khỏe mạnh hoạt bát thì cũng không có máy móc nào có thể chứng minh y nói dối.

Y không tin rằng thần y cổ đại dùng cách bắt mạch cũng dám nói rằng một người không có bệnh, trừ phi người đó một tên lang băm chuyên bốc phét. Trước mặt vị đương kim thái tử này, dù cho là lang băm có lòng lừa đảo cũng không dám bảo đảm y không có bệnh, lỡ ra y thực sự có bệnh mà làm chậm trễ việc điều trị thì liền phạm tội mất đầu ngay.

Chu Hậu Chiếu nghe vậy vui mừng, nhảy lên cười nói:
- Há há há! Như thế rất hay, ngày mốt là kỳ thi mùa xuân, quá trưa ngày mai ta sẽ bắt đầu đau đầu!

Y uy phong lẫm lẫm chỉ Cốc Đại Dụng nói:
- Đại Dụng, gọi Lưu Cẩn, Mã Vĩnh Thành, Cao Phượng, La Tường, Ngụy Bân, Khâu Tụ, Trương Vĩnh ra đây cho ta. Đám người thối tha các ngươi tụ tập lại rồi tính toán kế hoạch làm sao để ta lẻn được ra khỏi cung, ha ha ha ha.....

Dương Lăng nghe Hậu Chiếu nhắc đến những cái tên quen thuộc trên, không khỏi cười khổ trong lòng. Xem ra hôm nay Kinh Sư Bát Hổ đều đã tề tựu tại Đông cung. Thế nhưng y đang muốn Chính Đức theo đường lối của mình vạch ra, tạm thời phải dựa vào tám kẻ này.

Bởi vì Dương Lăng muốn tạo nên tất nhiên không phải là một tên "hoàng đế phóng đãng", cũng không phải là một vị vua như “Nghiêu Thuấn" trong mắt đám tiên sinh phẩm hạnh, sĩ tử đại phu. Những người thống trị Trung Quốc bị những lời bịa đặt "Trung Quốc là trung tâm của thiên hạ" mê hoặc quá lâu rồi do đó bọn họ đã chùn chân mỏi gối, rất thiếu dã tâm. Đám sĩ tử đó già cỗi cổ hủ, chăm chăm theo gia pháp tổ tông, gương cũ không đổi, tầm nhìn hạn hẹp.

Đầm nước đọng này chỉ cần có một con suối mới chảy vào, hậu thế sẽ có một cục diện hoàn toàn khác. Thế nhưng hiện tại y cũng giống như đang chơi với lửa, nếu như dẫn đường không cẩn thận, Chính Đức khó thành ngọc báu; có dã tâm mà bất tài, hắn sẽ biến thành một tên bạo quân cực kỳ hiếu chiến, như vậy chi bằng cứ để cho hắn trở thành một thiên tử phong lưu chìm trong phụ nữ còn hơn.

“Ta sẽ thành hay bại đây? Nếu như bại rồi, trăm năm sau, người đời sau sẽ bình luận thế nào.....?"

Khóe miệng Dương Lăng nhếch một nụ cười khổ quái dị, dường như y nghe thấy lời thuyết minh hùng hồn mở đầu một bộ phim kiếm hiệp:

"Thời Chính Đức, gian tặc Dương Lăng và Bát Hổ cấu kết với nhau hãm hại trung thần, làm cho triều cương đại loạn, dân chúng lầm than, nhân sĩ giang hồ hiệp nghĩa đồng loạt nổi lên phản kháng, tạo ra bao khúc ca tráng lệ..."



(1) Nhắc tới việc Thái giám Tam Bảo hạ Tây Dương (三保太監下西洋) tức là những chuyến thám hiểm Đông Nam Á và Ấn độ dương của Trịnh Hòa (xem chú thích chương 56).
Xem thêm http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Bnh_H%C3%B2a




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
05-12-2010, 11:03 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 61 – Học sinh bất lương




Dịch: VoVong

Biên dịch:

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Tạ Thiên vừa thổi râu vừa trừng mắt một hồi lâu rồi cũng chỉ đành lắc đầu thở dài, thầm nghĩ: “Hôm qua Lý Đông Dương nói Thái tử một tiết học chạy đi nhà xí tới tám lần. Hôm nay mình lên lớp thấy y không đi nhà xí thì đã mừng thầm rồi, chẳng ngờ hôm nay đít y không sao thì cái đầu lại sinh bệnh. Chà, Thái tử lười học như thế, biết làm sao đây?”



Chương 61 – Học sinh bất lương

“Lứa tuổi thiếu niên nhi đồng là lúc mà thân thể đang phát triển, không được ngủ đủ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự trưởng thành của cả tâm hồn và thể xác.” Dương Lăng vừa ngáp dài vừa thầm lầm bầm trong bụng, nếu không phải còn vài phần tự biết mình, nhất định lúc này y sẽ trịnh trọng đưa ra lời kháng nghị như thế với vị Thị giảng học sỹ Tạ Thiên đang thao thao bất tuyệt trước mặt.

Mộc Trai tiên sinh đang giảng bài đến lúc hưng phấn, nước bọt bắn tứ tung. Lúc này Chu Hậu Chiếu đang ngồi nghiêm trang sau bàn, vai kề vai với Dương Lăng, vẻ mặt đờ đẫn, ánh mắt ngây ngốc, trạng thái hóa đá này đã kéo dài được gần một buổi sáng rồi.

Nhưng từ nửa canh giờ trước Dương Lăng đã bắt đầu ngáp ngắn ngáp dài. Kể từ cái ngáp đầu tiên của y, như có bệnh truyền nhiễm, hai gã học sinh bất lương bắt đầu ngáp liên tục không ngừng.

Sau khi ngáp xong, nước mắt trào ra khiến đôi mắt họ ươn ướt. Tạ Thiên nhìn thấy cảnh này thì lại cho rằng Thái tử và Dương thị độc bị nội dung đặc sắc và sinh động trong bài giảng của mình làm cho cảm động, nên lão càng giảng càng hăng.

Dương Lăng lại chán nản ngáp thêm cái nữa, sau đó lặng lẽ bĩu môi khinh thường. Chưa nói tới chuyện phải học từ sáng sớm, những bài giảng của lão thư sinh cổ hủ này quả thực là quá mức khô khan vô vị. Nghe nói trong ba vị sư phụ của Chu Hậu Chiếu thì ông này giảng bài chán nhất, quả đúng không sai. Có lẽ những nội dung đó là tài liệu giảng dạy tiêu chuẩn của các vị Thái phó từ cổ tới kim, chúng được giảng cả ngàn năm rồi, biển cả cũng biến thành nương dâu, vậy mà chúng nó vẫn chẳng có gì thay đổi, vừa không liên quan tới thực thế, lại chẳng nói gì tới tương lai. Còn về cục diện thế giới ư? Chuyện đùa! Trong mắt Tạ đại học sỹ, ngoại trừ Đại Minh ra thì còn có thế giới gì nữa chứ? Càng đáng ghét hơn nữa là tay đại học sỹ này còn ỷ vào công phu đủ để thi đỗ Trạng Nguyên của bản thân, toàn bới móc nội dung trong những cuốn sách lạ hoắc đi cùng với những chữ hiếm gặp, dường như không làm như thế thì không đủ thể hiện sự bác học của ông ta vậy.

Dương Lăng đưa tay lên bóp trán, giả bộ như đang cúi đầu trầm tư, rồi dựa vào sự yểm hộ của bàn tay y bắt đầu liếc mắt quan sát cái giá bày đồ cổ ở bên cạnh. Trên chiếc giá được làm bằng gỗ lim này bày một loạt những vật kỳ trân hiếm có, ánh mắt Dương Lăng dừng lại trên một chiếc hồ lô sáng bóng được làm bằng bạch ngọc.

Chiếc hồ lô bạch ngọc này đẹp thật, vừa nhìn là biết giá tiền không thấp, đường cong mỹ lệ kia cứ tựa như… tựa như thân thể Ấu Nương vậy. Chất ngọc long lanh, đường cong mềm mại, hà hà, thường ngày ta cứ bị bờ vai thon gọn cùng với cái eo nhỏ như lưng ong của Ấu Nương lừa, tưởng rằng thân hình nàng chỗ nào cũng đều nhỏ nhắn lung linh như vậy. Khi nàng nằm sấp trên giường, mái tóc dài đen nhánh che đi một nửa khuôn mặt mỹ lệ đỏ bừng như lửa, cặp vai thon be bé và bờ eo nhỏ xinh xinh kia lại càng tôn lên cặp mông tròn xoe đẫy đà phía dưới cùng với đôi đào tiên vô cùng dụ người ở phía bên trên.

Theo những động tác điên cuồng của mình, cặp đùi trắng nõn vừa mềm mại vừa đầy chất đàn hồi kia cứ đưa qua đưa lại, thật khiến người ta phải hoa mắt đắm say. Vào lúc mà Ấu Nương dường như không nhịn nổi nữa, nhưng lại vẫn nhẫn nhịn ngoan cường, tiếng rên rỉ kia mới thật hấp dẫn làm sao, đưa tay sờ vào chỗ nào cũng thấy mềm mại mịn màng như ngọc, sảng khoái vô cùng, thật khiến người ta phải tiêu hồn lạc phách. Sau khi điên đảo một trận xong, ôm thân thể mịn màng trần trụi của nàng trong lòng, để nàng ngồi lên gối, hai người cũng không nói năng gì, cứ để mặt kề sát mặt, lặng lẽ ngồi yên, nghe tiếng nàng thở, cảm nhận tim nàng đập, ôi chao, cảm giác đó mới thân thiết làm sao…

Thật là yêu nàng chết mất! Ngày mai nhất định phải tranh thủ thời gian đi mua cho nàng bộ bàn trang điểm, gương soi, màn lưới, chăn lụa,… Mình phải dốc hết sức để nàng có thể sống thật vui vẻ; một nương tử tốt như thế, không thể bạc đãi nàng được! Một cô gái mới có mười sáu tuổi đầu, ở thời hiện đại thì vẫn còn được ba mẹ nuôi nấng và chăm sóc, vậy mà ngày ngày nàng đều phải giặt giũ quần áo nấu nướng cơm nước cho mình, lại lo hết việc nhà, sáng sớm canh tư đã phải dậy làm cơm. Ôi, trong mắt nàng, nàng là cây tầm gửi sống dựa vào mình, nhưng trong lòng mình, nàng mới là cái cây cao để mình dựa dẫm.

Đang lúc Dương Lăng suy nghĩ vu vơ, chợt vạt áo y bị Chu Hậu Chiếu giật giật. Y sững người, bèn ngẩng đầu nhìn lên, trên chiếc bàn trước mặt đột nhiên nghe bộp một tiếng, thì ra Tạ Thiên vừa dùng chiếc thước trong tay gõ mạnh một cái xuống bàn, sau đó chắp tay sau lưng đi ra chỗ khác, lạnh lùng hỏi:
- Dương thị độc thấy bài giảng của ta thế nào?

- Dạ? À, tuyệt lắm, tuyệt lắm! Thật là nghe xong như tỉnh cơn mê, đề hồ quán đỉnh (1)!
Dương Lăng giật nảy mình, lập tức rời khỏi cơn tưởng tượng.

Gã huynh đệ chung hoạn nạn Chu Hậu Chiếu của y ở bên cạnh che miệng cười thầm trước tai họa mà y gặp phải, đồng thời hai tay linh hoạt kết thành một cái đại thủ ấn ở dưới bàn. Thật không nhìn ra Chu Hậu Chiếu học cái này nhanh như thế, chỉ thấy mấy cái kim cương ấn, sư tử ấn, trí quyền ấn, nhật luân ấn, bảo bình ấn (3) được mười ngón tay của hắn bắt liên tục, động tác vừa nhanh vừa khéo, khiến người ta nhìn mà hoa hết cả mắt, đồng thời trong miệng hắn còn khẽ lẩm bẩm: “Ta quán, ta quán, ta quán quán quán, bảo bình quán đỉnh, nhị lợi năng thành kim cương vương quảng đại phật ngữ quán đỉnh, mật tam thậm thâm quán đỉnh, vô nhị vô biệt đại lạc quán đỉnh…” (3)

Đang khi Chu Hậu Chiếu quán đỉnh đến say mê, Tạ Thiên chợt hỏi:
- Thái tử mặt mày rạng rỡ, nhất định là đã lĩnh ngộ được nhiều điều, xin Thái tử hãy giải thích một chút được chăng?

- A! Dạ? Cái gì?
Chu Hậu Chiếu chậm rãi ngẩng đầu lên, khuôn mặt lập tức trở nên giống như một thằng đần, ngây người nhìn Tạ Thiên. Dương Lăng nhìn hắn với vẻ đồng cảm, trong lòng cũng sinh ra nhiều cảm xúc.

Đứa nhỏ này thực sự là học nhiều quá đến nỗi sắp trở thành thằng ngốc rồi.Thực ra, hắn cũng thật đáng thương. Học sinh thời hiện đại khi đi học còn có giờ thể dục, âm nhạc, mỹ thuật gì đó để tiêu khiển một chút, nhưng tiểu tử này thì cả ngày toàn phải nghe giảng bài về chính trị với văn học.

Dương Lăng khẽ ho một tiếng, đưa ngón tay lên day day trán. Chu Hậu Chiếu thấy thế liền lập tức hiểu ý, nhăn mặt nói với Tạ Thiên:
- Tạ đại học sỹ! Đầu ta hơi đau, ối chao, cứ hơi suy nghĩ một chút là lại đau.

Dương Lăng lén giơ ngón tay cái lên bên dưới gầm bàn. Khóe miệng Chu Hậu Chiếu hơi mấp máy đoạn hắn cũng đáp lại y bởi động tác Giống hệt. Cốc Đại Dụng đứng hầu một bên đã lâu, lúc này nghe thấy vậy bèn lao nhanh ra, bộ dạng như một tên hán gian đang cầm theo khẩu súng mauser. Gã kiễng chân nhìn trái ngó phải, đoạn thất thanh kêu to như có cướp tới nhà:
- Thái tử gia đau đầu sao? Người đâu, người đâu rồi, mau đi gọi thái y, chậm là ta lấy đầu ngươi đó!

Tên tiểu thái giám đang đứng ở cửa bèn lao đi như một làn khói. Tạ Thiên vừa thổi râu vừa trừng mắt một hồi lâu rồi cũng chỉ đành lắc đầu thở dài, thầm nghĩ: “Hôm qua Lý Đông Dương nói Thái tử một tiết học chạy đi nhà xí tới tám lần. Hôm nay mình lên lớp thấy y không đi nhà xí thì đã mừng thầm rồi, chẳng ngờ hôm nay đít y không sao thì cái đầu lại sinh bệnh. Chà, Thái tử lười học như thế, biết làm sao đây?”

Tạ Thiên lòng đầy phiền muộn rời khỏi cung Thái tử, trên đường còn gặp ba vị Thái y đang xắn quần chạy vội, đằng sau là một đám tiểu dược đồng lưng khoác hòm thuốc chạy theo.

Tạ đại học sỹ đứng trong cung suy nghĩ hồi lâu: “Thái tử là Hoàng đế tương lai, y ham chơi không chú ý học tập như vậy thực không phải là chuyện nhỏ! Mình được bệ hạ tin cậy giao cho dạy dỗ Thái tử, nhất định phải cúc cung tận tụy, gan óc lầy đất cũng không nề hà. Hiện giờ Thái tử ham chơi như thế, cho dù có đắc tội với Thái tử cũng nhất định phải bẩm với Hoàng thượng mới được.”

Tạ Thiên suy nghĩ xong xuôi bèn xoay người đi thẳng đến cung Càn Thanh.

***

Tại Ngự Thư phòng trong cung Càn Thanh, lúc này Hoằng Trị đang nổi cơn lôi đình, lão ném mạnh phong thư cấp báo quân tình xuống bàn, tức giận nói:
- Bọn Bắc Nguyên Thát Đát này thực quá ngông cuồng. Tiểu vương tử vừa mới cướp bóc quay về xong, Hỏa Sư lại mang ba ngàn quân đi vòng qua biên quân ở Hoài Lai, tập kích Diên Khánh từ con đường nhỏ trong núi. Nếu không nhờ có Trác Du Kích nhanh chóng tiếp viện, bọn chúng chẳng phải là sẽ tiến dần từng bước, đánh thẳng đến kinh sư hay sao?

Gã thái giám Miêu Quỳ đứng hầu bên cạnh bèn khẽ cất tiếng:
- Hoàng thượng chớ giận! Hỏa Sư chỉ có vẻn vẹn ba ngàn nhân mã, hắn xâm nhập Đại Minh ta tựa như một con cá trê bơi vào biển lớn, có thể gây ra sóng gió gì chứ? Đại Minh ta binh cường mã tráng, chỉ có điều quốc thổ của chúng ta quá rộng lớn, cần chia binh ra trấn thủ, chỗ nào cũng phải đề phòng. Một bên phòng thủ, một bên tấn công, quyền chủ động nằm trong tay địch thủ, chúng ta khó mà giữ được vẹn toàn, đám người hoang dã kia chẳng hề kiêng kị gì, do đó mới có thể thừa lúc chúng ta sơ suất mà xâm nhập. Lão nô chỉ cần năm ngàn binh mã, nhất định sẽ có thể đuổi Hỏa Sư ra khỏi biên cương, đánh cho hắn tơi bời tan tác, từ nay không dám tùy tiện khai chiến nữa.

Lưu Kiện vừa mới phụng chiếu vào cung nghe thế bèn vội tâu:
- Bệ hạ! Hiện giờ Trác Chí Kỳ và Lưu Anh đã dẫn quân đánh đuổi Hỏa Sư rồi. Người Mông Cổ thạo việc cưỡi ngựa cướp bóc, tới lui như gió, nếu tùy tiện xuất binh e rằng sẽ lao sư động chúng, hao tổn tiền tài, đồng thời cũng khó mà tìm được tung tích địch, xin bệ hạ suy nghĩ kỹ!

Hoằng Trị nghe thế thì không khỏi do dự. Miêu Quỳ nghe nói Hỏa Sư chỉ có ba ngàn người, nóng lòng muốn lập công, vừa nghe Lưu Kiện khuyên can bèn vội tâu:
- Bệ hạ! Hỏa Sư chỉ dẫn theo có ba ngàn quân mà dám xâm phạm Đại Minh, cướp bóc phá hoại như ở chỗ không người, nếu không trừng phạt thật nghiêm, chỉ e người Mông Cổ sẽ càng ngày càng ngông cuồng kiêu ngạo.

Lý Đông Dương vội vàng can gián:
- Bệ hạ, dẫn quân viễn chinh nào phải chuyện tầm thường, binh mã lương thảo đều phải chuẩn bị, khi chuẩn bị đủ xong thì Hỏa Sư đã ở xa ngoài ngàn dặm rồi. Huống chi thần nghe nói tên Hỏa Sư này mặt đỏ như lửa, vóc người to lớn, kiêu dũng thiện chiến, sức mạnh tuyệt luân, cho dù có đuổi kịp thì cũng chưa chắc đã làm gì được hắn. Hơn nữa Hỏa Sư chính là con rể của Khả hãn Bắc Nguyên Mãn Đô Cổ Lặc, hắn chỉ dẫn theo một cánh quân đơn lẻ ba ngàn người xâm nhập nước ta, lại trang bị gọn nhẹ như thế, một khi ra khỏi cửa quan nhất định sẽ có đại quân tiếp ứng. Nếu chúng ta chủ động xuất binh, e là cần có binh lực đông gấp năm lần địch, nếu không sẽ khó mà làm nên chuyện gì.

- Chuyện này…
Vốn trong lòng Hoằng Trị rất ngưỡng mộ Thái tổ và Thành tổ với thành tích văn trị võ công, nghe nói người Mông Cổ ngông nghênh như vậy, rất muốn xuất binh đánh một trận. Nhưng ông ta trước giờ rất coi trọng ý kiến của triều thần, huống chi giờ lại là hai trọng thần Lưu Kiện và Lý Đông Dương cùng tỏ ý phản đối, Hoằng Trị không khỏi cảm thấy do dự, khát vọng muốn xuất binh cũng nguội đi nhiều.

Chính vào lúc này, một viên hoạn quan bước vào bẩm báo:
- Hoàng thượng! Tạ đại học sỹ cầu kiến.

Hoằng Trị vô cùng mừng rỡ, vội bảo:
- Mau, mau triệu ông ta vào!

Tạ Thiên bước nhanh vào trong Ngự Thư phòng, vừa định báo chuyện Thái tử ham chơi chợt phát hiện Lưu Kiện và Lý Đông Dương đều ở đây, ông bất giác ngẩn người, lời đã lên đến miệng cũng đành nuốt xuống.

Ông và Lưu Kiện, Lý Đông Dương cùng làm quan trong triều, tuy giao tình không tệ nhưng cũng không muốn ở trước mặt bọn họ mà kể chuyện kia ra, như thế chẳng phải chứng tỏ bản thân bất tài, không dạy được học trò hay sao?




Chú thích:
1. Đề hồ là chỉ phật pháp tối cao, quán đỉnh là nghi thức rưới nước xuống đầu trong Phật giáo. Câu này là để chỉ việc nghe được những lời cao minh và hiểu ra rất nhiều điều.
2. Mỗi một loại thủ ấn là một tư thế riêng của hai bàn tay. Theo phật giáo, việc kết ấn có thể đem đến những sức mạnh đặc thù cho ý niệm và thể xác.
3. Quán đỉnh có hai loại là ngoại thập lợi quán đỉnh và nội ngũ lực quán đỉnh. Ngoại thập lợi quán đỉnh cần có những pháp khí sau: Ngũ tinh hoa, quán miện, bảo bình, miện lưu, châu man, binh khí, tràng, tản cái, thủ ấn, ẩm thực. Nội ngũ lực quán đỉnh cần có các điều kiện sau: Thính văn quán đỉnh, tu tập quán đỉnh, thuyết pháp quán đỉnh, sự nghiệp quán đỉnh, nhị lợi năng thành kim cương vương quảng đại phật ngữ quán đỉnh. Chu Hậu Chiếu nói những lời trên nhằm trêu chọc Dương Lăng.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
09-12-2010, 06:31 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 62 - Tam công nhất lão




Dịch: TheJoker

Biên dịch: VoVong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Lão già bán tạp hoá trợn mắt nhìn gã đàn ông đầu bù, tóc hoa râm, dáng người gầy gò đen đúa, râu ria xồm xoàm đang quỳ gối dập đầu trước cửa nhà Dương Lăng. Sau khi cung kính dập đầu ba cái, gã đàn ông nhảy phóc lên ngựa, ra roi phóng vút đi.



Chương 62 - Tam công nhất lão

Thấy Tạ Thiên, Hoằng Trị mừng rỡ:
- Ái khanh đến thật đúng lúc, trẫm đang định sai người đến Đông cung tìm khanh đây.

Trông thấy hai vị đại học sỹ Lưu Kiện và Lý Đông Dương đều có mặt, Tạ Thiên ngạc nhiên hỏi:
- Bệ hạ, đã xảy ra chuyện lớn gì sao?

Đứng ở một bên, Lưu Kiện thuật lại cho Tạ Thiên biết tin tiểu vương tử Bá Nhan Khả Hãn của Bắc Nguyên vừa rút quân thì Hỏa Sư lại đi đường vòng đánh sâu vào trong biên giới để cướp bóc, sau đó lại nhắc lại những ý kiến bất đồng vừa rồi một lượt. Tạ Thiên nghe xong liền lắc đầu quầy quậy, sau đó tâu với hoàng đế Hoằng Trị:
- Bệ hạ, việc binh đao là thứ hung khí của thiên hạ, cái dũng cũng là thứ hung đức trong thiên hạ, ấy đều không phải thứ mà người quân tử nên dùng!
Dân Mông Cổ dã man, coi giết chóc như cầy cấy. Nếu thượng quốc thiên triều ta cũng bắt chước bọn chúng, lấy đạo người đối đãi người, khó tránh khỏi sẽ gây ra chiến tranh dồn dập, trăm họ lầm than, ruộng đồng bỏ hoang, cỏ gai mọc rậm, như thế há chẳng phải đã trái với đạo nhân nghĩa sao?
Đại Minh ta là nước văn minh lễ nghĩa, vừa không cần cướp đoạt của cải của người khác, lại chẳng mong nô dịch bọn người hoang dã man di, cớ gì phải xuất binh viễn chinh chứ? Giờ đây thiên hạ thái bình, chính trị trong sạch, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, duy chỉ phải lo việc thiên tai nhân họa. Theo thần thấy, chúng ta chỉ cần phái tướng thủ cửu biên (*), canh phòng nghiêm ngặt, ngăn bọn man di ngoài biên cương là được rồi.
Hỏa Sư đã có thể theo đường mòn tập kích Diên Khánh, rõ ràng là phòng tuyến biên thuỳ của ta đã có sơ hở. Thần cho rằng nên đắp thêm Trường Thành đoạn Bát Đạt Lĩnh ở Diên Khánh, xây dựng biên thành, đóng binh trấn giữ, đại sự tất sẽ ổn định.
(*): Cửu biên bao gồm Liêu Đông, Tuyên Phủ, Đại Đồng, Duyên Tuy, Ninh Hạ, Cam Túc, Kế Châu, Thái Nguyên, Cố Nguyên.

Nghe lý luận của lão, Hoằng Trị hơi cảm thấy không vui. Việc binh là thứ hung khí của thiên hạ ư? Không có thứ hung khí này, Đại Minh từ đâu mà có? Cái dũng là thứ hung đức trong thiên hạ ư? Thế nhưng mỗi một vị hoàng đế khai quốc, kể cả Thái Tổ, Thành Tổ, có ai mà không dùng binh đao để bình thiên hạ chứ? Chẳng lẽ phải đợi hoàng đế triều trước thoái vị hay sao?

Nhưng những lời Tạ Thiên nói đều là câu chữ của các bậc Tiên hiền, tuy Hoằng Trị là đế vương nhưng cũng không thể phản bác thẳng thừng. Trong mắt của những kẻ có học trong thiên hạ, văn chương đạo đức của các bậc Tiên hiền chính là khuôn vàng thước ngọc, mãi mãi bất khả xâm phạm. Hết cách, Hoằng Trị đành buồn bực nói bằng giọng không vui:
- Thôi, trẫm đã truyền Thượng thư bộ Binh Lưu Đại Hạ vào cung rồi, cứ chờ nghe ý kiến của ông ta rồi hãy quyết định chuyện này vậy.

Một lát sau, bên ngoài ngự thư phòng vang tới một giọng nói sang sảng tựa chuông đồng:
- Thần, Thượng thư bộ Binh Lưu Đại Hạ, phụng chiếu tấn kiến!

Hoằng Trị nghe vậy bèn tức tốc triệu vào. Lưu Đại Hạ là một ông già đã bảy mươi, râu tóc bạc phơ nhưng tinh thần vẫn quắc thước, vóc người cao lớn, lời nói và cử chỉ đều toát ra vẻ dũng mãnh, rất có uy phong của một người cầm quân. Triều đại của Hoằng Trị có hai vị thượng tướng quân già như Hoàng Trung(*): một là Lưu Đại Hạ, vị kia là Vương Việt (1), đều là "gừng càng già càng cay".
(*): Lão tướng nhà Thục trong Tam Quốc Chí

Phẩm hàm và công trạng của Vương Việt thậm chí còn trên Lưu Đại Hạ. Năm xưa ông ta từng là Thượng thư bộ Binh, sau cai quản toàn bộ tam biên (*), năm bảy mươi tuổi còn đích thân cầm quân viễn chinh, ruổi ngựa đến dưới núi Hạ Lan, tập kích phá tan doanh trại dài mười dặm của tiểu vương tử, thu được được vô số lạc đà, ngựa, bò, dê và vũ khí. Ông ta lắm mưu nhiều kế, đánh cho tiểu vương tử vừa nghe thấy tiếng là bỏ chạy, được luận công tấn thăng hàm Thiếu bảo. Cai quản tam biên, nắm quyền đại tướng, cả triều đại nhà Minh cũng chỉ có một mình ông ta mà thôi.
(*): Chỉ ba vùng Diên Tuy, Cam Túc, Ninh Hạ.

Đáng tiếc khi ấy chính là giai đoạn mà đại gian thần thái giám Lý Quảng – kẻ cổ xuý cho phong trào trường sinh bất lão, thành tiên, thành đạo - nắm quyền. Vương Việt biết rõ mình làm tướng ở biên cương, phải viễn chinh Thát Đát xa mấy nghìn dặm, sợ nhất chính là có người trong triều cản trở ở sau lưng, bởi một khi lương thảo ngắt quãng, hậu cần gián đoạn, thì sẽ bị rơi vào tình trạng cô lập.

Để được sự ủng hộ của Lý Quảng, không đến nỗi phải chịu đủ khó khăn trên đường viễn chinh, Vương Việt sai người kết giao mua lòng hắn ta, thậm chí còn chia cho hắn một phần chiến công. Được lợi ích, lại có cả chiến công, lúc ấy Lý Quảng mới tận tâm tận lực kiến nghị với hoàng đế khiến cho triều đình dốc sức ủng hộ Vương Việt.

Nhưng sau khi Lý Quảng bị bệnh mất, trong nhà lục được vô số vàng bạc châu báu, bị định tội đại gian đại ác, không chỉ bè đảng bọn Lý Quảng bị sụp đổ, mà Vương Việt vì có quan hệ mật thiết với hắn nên cũng bị đám ngự sử ngôn quan dâng tấu hạch tội đủ điều, trách mắng là bè đảng gian thần.

Trong mắt của những kẻ thư sinh đó, một khi gian thần lộng quyền, cho dù chỉ lo giữ thân mình thì cũng không được làm trái với lời dạy của các bậc Tiên hiền thuở xưa, dù cho có là "vờ thuận a dua để đạt mục đích" cũng tuyệt đối không được. Huống chi bất luận bây giờ ông nói lời vàng ngọc như thế nào, ai biết được lúc trước ông nghĩ gì chứ? Chẳng phải lúc nào ông cũng xoen xoét "ta không vào địa ngục thì còn ai vào địa ngục" ư? Vậy ông hãy xuống địa ngục đi!

Vương Việt dẫn quân rong ruổi nghìn dặm, phá địch như chẻ tre, ở tuổi thất thập cổ lai hi mà còn đánh cho thiết kỵ Mông Cổ không còn manh giáp, rốt cuộc không những không được vùi thây nơi sa trường mà còn bị bọn ngôn quan của Đốc Sát Viện hết kẻ này đến kẻ khác dâng tấu mắng chửi, uất ức mà chết.

Lưu Đại Hạ là trọng thần trong triều, lần lượt phò tá ba vị hoàng đế Anh Tông, Hiến Tông, Hiếu Tông, là nguyên lão tam triều đức cao vọng trọng. Lão là người làm việc quả quyết, giỏi việc binh đao, lại vô tư chính trực, cho nên dù bọn Lưu Kiện vẫn luôn xem thường võ tướng, nhưng lại khá kính trọng vị Lưu thượng thư này.

Lưu Đại Hạ xem xong tấu báo quân tình liền trầm ngâm một hồi lâu, rồi sau đó khẽ lắc đầu nói:
- Bệ hạ, thần cũng cho rằng... nên canh phòng nghiêm ngặt chứ không nên đưa quân ra biên ải!

Lưu Kiện, Tạ Thiên, Lý Đông Dương nghe vậy đều thở phào nhẹ nhõm.

Miêu Quỳ lại đưa mắt nhìn trời, vô cùng tức giận. Lão biết, tuy Lưu Đại Hạ nói vậy phần lớn là do việc công, nhưng trong đó chưa hẳn đã không có chút tư tâm nào. Lưu Đại Hạ cùng nội quan (thái giám) trong triều tranh đấu đã nhiều năm, coi hoạn quan như rắn rết, chỉ cần là kiến nghị mà do nội quan đưa ra, bất luận đúng sai trong lòng lão cũng đều phát sinh vài phần cảnh giác.

Thuở Trịnh công công bảy lần đến đại dương phía Tây, thế lực hoạn quan đang hùng mạnh. Lưu Đại Hạ cho rằng viễn dương đến nước khác là sai lầm về mặt chính trị, là điều động binh lực một cách vô bổ, lại sợ thế lực hoạn quan mượn chuyện này để phát triển quyền lực, trở thành đại họa cho triều đình, do đó khi Anh Tông muốn tiếp tục viễn hành, lão liền bất chấp lý lẽ mà can ngăn. Nghe nói bản đồ hàng hải của Trịnh công công đã bị hủy trong tay lão.

Năm Thành Hóa thứ mười bảy, An Nam (Việt Nam) xâm lấn Lào, thất bại. Khi ấy Uông công công Uông Trực muốn thừa cơ chiếm lại An Nam đã không còn ngoan ngoãn vâng lời Đại Minh, bèn nhờ bộ Binh tìm lại bản đồ của An Nam trước kia.

Lưu Đại Hạ cho rằng một khi chiến sự nổ ra, thua thì tử thương thảm trọng, thắng thì thế lực hoạn quan mạnh lên, vì vậy lại đem bản đồ An Nam giấu mất, không chịu giao. Chính sách bế quan tỏa cảng, tự bảo vệ mình rất được bọn sỹ phu tán đồng, cho nên ngay cả kẻ quyền khuynh triều chính như Uông Trực cũng không có cách nào gây khó dễ cho lão.

Giờ đây lão nói như vậy, chẳng lẽ là sợ hoạn quan sẽ lại đắc thế một lần nữa? Miêu Quỳ vừa nghĩ vừa lạnh lùng liếc nhìn lão, ánh mắt đầy vẻ oán hận. Nhưng Lưu Đại Hạ là thần tử được Hoằng Trị sủng ái nhất hiện nay, lão ta cai quản vùng Hoàng Hà, quét sạch phản tặc, đốc quản quân lương, làm quan thanh liêm, có thể nói là trên dưới triều đình ai nấy đều ca ngợi. Tuy rằng Miêu Quỳ cũng được sủng ái, nhưng cũng không dám khinh suất dây vào.

Hoằng Trị nghe vị dũng tướng này cũng nói như vậy, trong lòng cảm thấy thất vọng vô cùng. Ông nói với giọng không phục:
- Thái Tổ, Thành Tổ từng mấy lần xuất quân ra ngoài biên ải, đánh cho người Mông thất bại thảm hại, khiến người Mông về sau thấy cờ xí của Đại Minh ta liền phóng ngựa tránh xa, quân ta muốn đánh một trận mà cũng không được. Khi xưa đã oai phong như thế, cớ gì bây giờ lại không thể?

Lưu Đại Hạ chắp tay thưa:
- Bệ hạ thần vũ chẳng kém gì Thái Tổ, Thành Tổ, nhưng ngày nay binh mã kém xa khi trước, vả lại thuở ấy triều đình thường xuyên điều cả chục vạn đại quân ra sa mạc. Hiện nay quân binh Đại Minh ta chỉ giỏi thủ không giỏi công, việc chiến tranh không thể tùy tiện phát động. Trong tình thế hiện giờ, thủ là thượng sách, chiến là hạ sách.

Ba vị đại học sỹ vuốt râu mỉm cười, tỏ ý tán thành. Hoằng Trị thở dài bảo:
- Ái khanh hiểu rõ việc quân, khanh đã nói như vậy, tất là hữu lý. Nếu không có lời hay của mấy vị ái khanh, trẫm nhất thời giận dữ kích động, suýt nữa đã làm hỏng đại sự rồi.

Lưu Kiện cúi đầu tán dương:
- Bệ hạ lắng nghe lẽ phải, quả thật là minh quân trên đời.

Hoằng Trị cười gượng khoát tay, kế đó lại hỏi Lưu Đại Hạ:
- Theo ái khanh, trẫm nên xử trí chuyện này như thế nào đây?

Lưu Đại Hạ thoáng ngẫm nghĩ một chút rồi đáp:
- Lời của ba vị đại học sỹ rất có lý. Thần cũng nghĩ rằng nên hạ lệnh cho tướng lĩnh biên cương nghe ngóng địch tình, phòng thủ nghiêm ngặt, đề phòng quân địch xâm phạm. Ngoài ra nên xây đắp thêm một đoạn trường thành ở Bát Đạt Lĩnh, lập cửa ải để chống địch, đồng thời cho trọng binh đồn trú ở lân cận, xây dựng trạm canh và phong hỏa đài tại những con đường núi và đường giao thông quan trọng từ Quan Thành lên phía bắc. Nếu thi hành song song những kế sách này, kinh sư nhất định sẽ vững như bàn thạch.

Hoằng Trị ung dung ngồi trên long ỷ, gật gù nói:
- Cứ theo lời khanh vậy, Lưu đại học sỹ hãy soạn chỉ đi!

- Vâng, thần xin cáo lui!

Hoằng Trị khoát tay, nhìn mấy vị trọng thần bên người lần lượt cất bước lui ra, trong lòng thất vọng: "Tiểu vương tử tập kích biên giới trong đêm giao thừa, ba cánh đại quân ta đã dễ dàng giành lại đất đai bị mất trong nháy mắt. Chẳng lẽ vừa rời khỏi biên ải, mãnh hổ này thật sự sẽ biến thành con mèo hay sao? Ôi, có lẽ bọn họ đã đúng, chính trị và quân sự nửa do sức người, nửa do sức trời, gây dựng cơ nghiệp đã gian nan, bảo vệ cũng không phải dễ..."

***

Thái y quả nhiên không dám phán bừa là Thái tử không bị bệnh, càng không dám tuỳ tiện bốc thuốc, chỉ dám kê đại mấy toa thuốc an thần, căn dặn Thái tử nghỉ ngơi nhiều một chút rồi lui ra. Dương Lăng mỉm cười nói với Thái tử:
- Điện hạ, sáng ngày mai chúng ta cứ y kế mà làm, vi thần tạm xin cáo lui đây.

- Được, sáng ngày mai ngươi hãy ở ngoài cửa hậu cung chờ ta!
Chu Hậu Chiếu khoát tay, trong lòng thì đang nghĩ về chuyện khác. Tối hôm qua hắn được xem bọn La Tường, Cao Phượng biểu diễn kịch đèn chiếu (2) đến nửa đêm, giờ lại thấy thèm được xem tiếp. Tạ đại học sỹ đã đi, gã đang muốn gọi bọn họ đến diễn tiếp.

Nhìn vẻ mặt hắn, Dương Lăng tỉnh bơ vái sâu một vái, xong quay sang gật đầu chào Cốc Đại Dụng ở cạnh, rồi chậm rãi lui ra. Qua hai ngày tiếp xúc, y cũng thấy được cái đám Bát hổ(*) hiện hoàn toàn chưa có dã tâm chính trị gì. Nhưng vì bọn chúng lựa ý hùa theo Thái tử, giúp cho hắn vui, cho nên các hành động và việc làm hiện tại lại khiến cho chúng khó tránh khỏi sẽ bước đi trên con đường ấy.
(*): "Bát hổ" gồm: Lưu Cẩn, Mã Vĩnh Thành, Cao Phượng, La Tường, Nguỵ Bân, Khâu Tụ, Cốc Đại Dụng, Trương Vĩnh.

Hiện giờ y mới vừa kết bạn với Thái tử, còn Bát hổ lại chăm sóc Chu Hậu Chiếu từ nhỏ cho đến lớn, luận cảm tình tuyệt đối y không thể bằng bọn chúng được. Nếu để Bát hổ nảy lòng nghi kỵ y, tuỳ tiện nói xấu mấy câu trước mặt Thái tử, đến lúc ấy cái chức thị độc này của y cũng khỏi cần làm tiếp nữa. Hơn nữa Thái tử đang ở trong thời kỳ tâm lý nổi loạn của tuổi teen, nếu y học theo các vị trung thần hết mực khuyên ngăn, e rằng chỉ tạo ra hiệu ứng ngược.

Cho nên Dương Lăng không dám để lộ chút vẻ phản cảm nào trên mặt. Y chỉ hy vọng rằng với nỗ lực của bản thân sẽ có thể khiến cho vị hoàng đế mà theo quỹ đạo lịch sử ban đầu sẽ là một gã hôn quân này sẽ khác đi đôi chút so với lịch sử. Có điều... tuy nói tuổi thiếu niên là lúc dễ uốn nắn nhất, nhưng mà... vỏn vẹn chỉ có hai năm, ài, thời gian không chờ mình, đành cố hết sức thôi.

***
Đường Hộ Quốc Tự, một kẻ áo vải đầu bù tóc rối cưỡi một thớt ngựa gầy.

Hà tham tướng dò hỏi mãi mới tìm đến được cửa nhà Dương Lăng.

Từ khi bị áp giải vào kinh nhốt vào đại lao bộ Hình đến nay đã được hơn nửa tháng, mãi đến hôm nay gã mới được phóng thích ra khỏi ngục, giáng làm Phó thiên tổng, phải đi đến vùng Quảng Tây xa xôi để nhậm chức.

Hơn nửa tháng nay, rốt cuộc gã đã được biết thế nào gọi là thế sự vô thường, thế nào gọi là thói đời nóng lạnh. Đám bè bạn năm xưa cũng có vài kẻ đang làm quan trong kinh, nhưng không một kẻ nào dám ra mặt nói giúp gã một câu công đạo.

Người nhà gã hay tin xấu, bèn bảo tam đệ gã mang rất nhiều vàng bạc vào kinh vận động, lo lót. Nhưng đây là vụ án do Thiên tử yêu cầu xét xử, lại cuốn bộ Binh, bộ Công, bộ Hộ, Ngũ Quân đô đốc phủ vào vòng tranh cãi, lúc này người ta tránh còn không kịp, ai dám đưa chân bước vào trung tâm cơn bão chứ? Vì vậy chỉ muốn tìm người nói giúp vài câu thôi mà cũng không được.

Lúc đó gã lại nghe tin mẹ già tuổi gần bảy mươi vì hay tin gã phạm tội bị giam vào đại lao, có thể sẽ nguy tới tính mạng mà lòng lo lắng khiến bệnh ngày một nặng thêm, hiện giờ bệnh tình nghiêm trọng, thậm chí trong nhà đã chuẩn bị sẵn quan tài, áo liệm đầy đủ cả. Thế là lòng gã càng như có lửa đốt, bi phẫn khôn cùng.

Chánh giám quân Diệp ngự sử là một gã quan văn, lại đã chết trên chiến trường. Không ai muốn bất chấp liêm sỉ, có thể khiến cho thân bại danh liệt mà đi tố cáo một thư sinh đã "chết trận" chốn sa trường, huống chi còn có gần trăm ngòi bút của Đốc Sát viện ra sức ủng hộ gã ta.

Còn vị Lưu công công đó lại là hoạn quan trong đại nội, là tâm phúc bên cạnh Thái tử, tuy rằng hiện giờ không quyền không thế, nhưng rất được Thái tử coi trọng. Hơn nữa lão là giám quân do đích thân thánh thượng cắt cử, chỉ trích lão sẽ khó tránh có ý ngầm nói thánh thượng dùng người không sáng suốt, cho nên càng không có kẻ nào dám vạch lỗi của lão ta.

Thế là người phải gánh chịu hết thảy mọi tội danh và trách nhiệm này không còn ai khác ngoài gã.

Thoạt đầu Hà tham tướng nghĩ rằng cùng lắm mình sẽ chỉ bị phán tội tham công rơi vào bẫy địch, nặng nhất cũng chỉ là tước quan giáng chức mà thôi. Sau đó khi thấy quan cai ngục vốn lúc đầu còn có chút ý tốt với mình ngày càng trở nên lạnh nhạt, về sau thậm chí còn không cho phép gia quyến vào thăm, đến lúc đó gã mới cảm thấy không ổn. Đến khi tam đệ dùng tiền hối lộ cai ngục, lén vào thăm gã, gã mới hay non nửa quan viên kinh sư đều đang bị cuốn vào trong vụ luận tội này.

Hà tham tướng lập tức ngã lòng nản chí. Gã ở trong quan trường lâu năm, sao lại không biết quy củ của quan trường chứ? Chuyện đã ầm ĩ lên đến mức này, kết quả của vụ luận tội tất nhiên sẽ đi vào ngõ cụt. Muốn tháo gỡ những mối rắc rối ấy, mười phần thì có tám, chín là sẽ bắt gã chết thay, phủi tay cho xong hết mọi chuyện.

Hà tham tướng ngậm ngùi căn dặn tam đệ không cần lãng phí tiền bạc ở trong kinh thành vận động nữa, hãy tức tốc trở về quê chăm sóc mẹ già. Sau đó gã lại đau khổ nhờ em trai chuẩn bị thêm một cỗ áo quan, rồi buồn bã nói:
- Mẹ già đau ốm liệt giường, ta thân là con trưởng lại không thể ở bên cạnh báo hiếu, chỉ đành xuống suối vàng tiếp tục phụng dưỡng mẹ mà thôi.

Tam đệ của gã trào lệ mà đi, từ lúc đó Hà tham tướng chỉ ôm lòng chờ chết. Mấy ngày nay, tóc đen trên đầu gã đều đã biến thành hoa râm. Hôm nay khi Cẩm Y Vệ cầm thánh dụ đến đại lao bộ Hình, Hà tham tướng vẫn ngỡ rằng giờ chết đã tới, không ngờ nghe được lại là tin mình được thả ra khỏi ngục.

Hà tham tướng vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Gã dò hỏi thị vệ Cẩm Y Vệ mới hay dịch thừa Kê Minh là Dương Lăng đã vào kinh làm thái tử thị độc. Không ngờ cái tên dịch thừa nhỏ nhoi mà vốn chưa từng được gã để vào mắt khi đó lại trượng nghĩa trực ngôn, liều chết khuyên can, bù công đắp tội cho gã ở trước mặt bệ hạ, nên giờ gã mới được sống sót rời khỏi đại lao.

Tuy bộ Binh giáng gã xuống làm Phó thiên tổng, đày tới tận Quảng Tây xa xôi, nhưng so với tâm lý trông chờ cái chết, đây đã là kết cục không thể tốt hơn rồi.

Đường dài mới biết ngựa hay, ở lâu mới thấu được thay lòng người. Hiện giờ trong lòng Hà tham tướng, Dương Lăng không khác gì cha mẹ tái sinh ra gã. Tuy loại võ tướng truyền thống như gã có rất nhiều tật xấu và khuyết điểm, nhưng tấm lòng trung nghĩa chính trực cùng với tâm lý có ơn tất mong được báo cũng là tiêu chuẩn đạo đức đã được gieo sâu vào lòng từ bé.

Hà tham tướng cũng không cần phải đi Quảng Tây nhậm chức ngay, nhưng trong nhà mẹ già bệnh nặng khó qua, nếu trước khi mẹ chết không thể gặp mặt một lần thì gã thật sẽ hối hận vô cùng, cho nên nóng lòng muốn về quê. Vừa nhận văn thư bổ nhiệm của bộ Binh xong, gã lập tức chạy đến Dương phủ, định bụng bái tạ ân nhân cứu mạng xong là sẽ lập tức lên đường.

Vừa đến trước cửa nhà Dương Lăng, thấy trên cửa treo chiếc khoá đồng, Hà tham tướng không khỏi ngẩn người. Theo lời người của Cẩm Y Vệ kể thì khi Dương thị độc vào kinh, phu nhân của y cũng đi theo cùng, sao trong nhà lại không có ai như thế này chứ?

Một lão già bày sạp bán đế lót giầy, khăn thêu lẫn hạt dưa, táo tầu trong ngõ trông thấy gã bèn cất cao giọng hỏi:
- Này, ngươi là ai thế? Là khách nhà Dương thị độc Dương đại nhân à?

Hà tham tướng dắt ngựa bước qua, ôm quyền hỏi:
- Vâng, lão ca quen người nhà họ Dương sao? Thế có biết người Dương phủ đi đâu rồi không?

Lão già dương dương tự đắc đáp:
- Biết chứ, sao không biết cho được!? Nhà ta ở sát bên nhà họ Dương đấy! Dương đại nhân là thị độc bên cạnh thái tử, là cận thần bên cạnh thiên tử, mỗi ngày đại nhân đều vào hoàng cung, ta sao lại không biết chứ?
Ta đã cố ý dậy thật sớm mới thấy được hình dáng của Dương đại nhân khi đi chầu đấy! Chậc, chậc, ta thì chưa gặp thiên tử bao giờ, nhưng người bên cạnh thái tử đã là một nhân vật như vậy, có thể tưởng tượng được tướng mạo của vạn tuế gia sẽ như thế nào rồi đấy. Nếu không sao người ta lại nói hoàng đế là chân long, là Tử Vi Tinh Quân (*) trên trời xuống cõi phàm chứ...
(*): Mỗi ngôi sao được đặt một tên riêng. Theo thần thoại Trung Quốc thì mỗi ngôi sao có một vị Tinh quân trông coi, mỗi vị Tinh quân đó lại có một tên riêng, sao Tử Vi đại diện cho bậc đế vương.

Hà tham tướng nhíu mày nghĩ bụng: "Sao người ở nơi này lại nói lắm thế nhỉ? Vừa mở lời là đã là một tràng bất tận, đợi thêm lát nữa ai mà biết được lão ta sẽ nói đến tận đâu ."
Gã vội ngắt lời lão già:
- Vậy xin hỏi lão ca có biết người nhà Dương đại nhân đi đâu không?

Bị ngắt ngang lời, lão già hơi cảm thấy khó chịu. Lão khoát tay nói:
- Dương đại nhân đương nhiên là đang ở trong cung cùng với thái tử gia rồi, thế mà cũng phải hỏi? Còn Dương phu nhân thì đã ra ngoài mua đồ ăn rồi. Dương đại nhân đó là người bên cạnh thái tử gia cơ đấy, hê hê, vậy mà thanh liêm lắm đó, cả kiệu phu cũng không thuê, đến giờ mỗi ngày vẫn đi bộ đến Tử Cấm Thành, trong nhà thì một mình Dương phu nhân giải quyết mọi việc. Dương phu nhân này quả thật là người vợ xinh đẹp hiền thục, dáng người như hoa như ngọc, thật xứng với một nhân vật tuấn tú như Dương đại nhân...

Hà tham tướng vái sâu, cảm tạ:
- Đa tạ lão ca!

Đoạn gã xoay người quay lại đi tới trước cửa nhà Dương Lăng, đứng lặng im hồi lâu, rồi đột nhiên buông cương ngựa, quỳ sụp gối dập đầu xuống đất.

Lão già bán tạp hoá trợn mắt nhìn gã đàn ông đầu bù, tóc hoa râm, dáng người gầy gò đen đúa, râu ria xồm xoàm đang quỳ gối dập đầu trước cửa nhà Dương Lăng. Sau khi cung kính dập đầu ba cái, gã đàn ông nhảy phóc lên ngựa, ra roi phóng vút đi.

Một lúc lâu sao lão già mới sực tỉnh, nhếch cái miệng đã rụng hết răng lên. Trăm nghìn câu chuyện bắt đầu được ấp ủ trong trí tưởng tượng phong phú của lão.

***************




Chú thích:

(1) Vương Việt, tự Thế Xương, người Tuấn huyện, tướng lĩnh vào giai đoạn giữa đời Minh. Theo sử sách, ông có vóc người cao lớn, khoẻ mạnh, thiện bắn cung, rất có mưu lược. Năm Cảnh Thái thứ hai đỗ tiến sỹ.

(2) Loại kịch trong đó nhân vật biểu diễn được cắt hình từ da thú hoặc giấy các-tông.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
14-12-2010, 08:03 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 63: Bát hổ dạo phố




Dịch: 6300

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Chu Hậu Chiếu thấy trong chợ bán rất nhiều thứ không có trong cung nên rất thích thú. Ngộ tính của tên nhóc này rất tốt, thấy người khác mặc cả, trả giá quyết liệt đến không biết đường nào mà lần bèn ngứa ngáy trong lòng, thấy thích thứ nào cũng tới hỏi giá, sau đó học theo người ta mặc cả.



Chương 63: Bát Hổ dạo phố


Ngày hôm sau, do Thái tử "bị bệnh" không cần phải vào cung nên Dương Lăng được ngủ nướng, mãi đến tận giờ thìn hai khắc y mới từ trong mộng tỉnh dậy. Nắng xuân tươi thắm len qua song cửa trải xuống chăn, ánh sáng êm dịu sáng sủa.

Con mèo nhỏ Ấu Nương đang rúc vào ngực y ngủ ngon lành. Mái tóc đen nhánh mềm mại che khuất nửa khuôn mặt thanh tú của nàng. Trên gương mặt xinh đẹp, hàng mi dài khép ngủ cong vút mê người đang khẽ rung rinh.

Khuôn mặt trắng nõn thanh tú của nàng thật hấp dẫn, dù khóe mi vẫn toát ra vẻ ngây thơ và trong sáng, nhưng đã điểm xuyết hương vị của phụ nữ. Dương Lăng yêu mến nhìn cô gái nhỏ đang nằm trong lòng, nhẹ nhàng co tay gối đầu, không dám cử động mạnh sợ làm nàng tỉnh giấc.

Mấy bữa qua phải vào cung sớm nên y cảm thấy khổ khôn tả. Hôm qua đã nói với nàng hôm nay không cần phải vào cung sớm, lúc này thấy nàng ngủ thoải mái, Dương Lăng mới giật mình nhận ra mỗi ngày nàng đều phải gọi mình dậy, mỗi lần tỉnh giấc thức ăn đã luôn được bày sẵn. Không những phải dậy sớm, trong lòng nàng lúc nào cũng phải lo tới những việc này nên lúc ngủ cũng không được ngon giấc, nhất định thân thể nàng càng thêm mệt mỏi.

Dù mệt mỏi rã rời nhưng chỉ một chốc sau Ấu Nương đã tỉnh dậy. Mở mắt thấy phu quân đã tỉnh, nàng vội le chiếc lưỡi nhỏ xinh, xấu hổ hỏi:
- Ơ kìa, tướng công đã tỉnh rồi à? Thật là... thiếp lại ngủ quên mất.

Dương Lăng thấy nàng hốt hoảng định bò dậy, liền vươn tay giữ vai nàng lại, mỉm cười bảo:
- Hai ngày nay nàng dậy sớm quá, tối... còn dọn dẹp tắm rửa, lại ngủ quá muộn. Dù sao hôm nay ta cũng không cần phải đi sớm, nghỉ ngơi thêm một lát nữa đi.

Ấu Nương nghe y nói những lời yêu thương, mặt nàng hồng phơn phớt, vừa thẹn vừa vui, liếc mắt nhìn lại, vâng một tiếng rồi ngoan ngoãn rúc vào lòng y, thỏ thẻ làm nũng:
- Ừm! Hai ngày nay, thiếp cũng không biết sao nữa. Nhất là hôm nay, thiếp cảm thấy các khớp xương đều ê ẩm, người mềm nhũn cả ra, lại chẳng muốn nhúc nhích gì nữa. Lúc còn ở nhà với bố mẹ, ngày nào thiếp cũng phải dậy sớm luyện võ, bây giờ thì càng ngày càng lười rồi.

Dương Lăng thấy nàng kêu thân thể ê ẩm, chẳng muốn cử động thì vội hỏi:
- Sao lại thế? Có phải là bị trúng gió rồi không?
Vừa hỏi y vừa rờ trán nàng, chỉ thấy hơi ươn ướt nhưng lại mát, không nóng chút nào.

Trước giờ thân thể Ấu Nương vẫn khỏe mạnh, từ bé chưa từng bị bệnh vặt, cho nên nàng cũng không để tâm lắm, còn tưởng là do hai ngày qua mới bị phá thân, tướng công đòi hỏi quá độ, việc xấu hổ này đâu thể nói ra được, vì thế nàng khẽ cười:
- Không sao đâu, thiếp luyện võ từ nhỏ, thân thể khỏe mạnh lắm, nếu thực sự bị cảm mạo phong hàn thật, thiếp đi tìm thầy lang bốc vài thang thuốc là được.

Dương Lăng sờ trán nàng không thấy bị sốt, nên cũng bớt lo, lại thấy bộ dáng yêu kiều nhõng nhẽo đáng yêu của nàng chan chứa phong tình của gái mới lấy chồng, sự quyến rũ này khác hẳn nét ngây thơ xinh tươi ngày trước, lửa lòng bỗng bùng lên. Ôm nàng sát hơn, y cười ranh mãnh:
- Nào, để tướng công giúp Ấu Nương xoa bóp cho đỡ mệt.

Trong chăn, bàn tay xấu xa đang "do thám" áo lót của Ấu Nương, lén lút lần mò tới bộ ngực mịn màng mềm mại của nàng, sờ nắn nhẹ nhàng. Ấu Nương khẽ lườm y, mặt nàng đỏ ửng lên thật mê người.

Ấu Nương lặng im, ngây ngất, mặc cho Dương Lăng nghịch ngợm bộ ngực của mình. Bị y vuốt ve một lúc, thân thể bắt đầu không được tự nhiên, chỉ cảm thấy đê mê, thế nhưng cái cảm giác uể oải khó tả khiến nàng không muốn cục cựa. Nàng hổn hển mắng khẽ:
- Tướng công đừng nghịch nữa! Chẳng phải chàng nói còn phải vào cung một chuyến sao? Chàng hãy mau dậy súc miệng thay đồ đi, thiếp chuẩn bị bữa sáng cho chàng.

Dương Lăng thấy nàng e lệ rụt rè cũng không nỡ ép buộc, bèn thơm nhẹ lên má nàng, rồi cười hì hì nói:
- Nếu nàng mệt thì cứ nghỉ ngơi đi! Tướng công ăn tạm thứ gì đó trên đường cũng được rồi.

Nào chịu như vậy, Ấu Nương vừa gượng dậy mặc quần áo vừa hỏi:
- Tướng công, hôm qua chàng vừa về Liễu Bưu lại mời chàng tới Bắc trấn phủ ty để làm gì thế? Chẳng phải bây giờ chàng đang làm việc ở chỗ Thái tử rồi sao?

Nhân lúc nàng đứng dậy, Dương Lăng vỗ một phát vào cặp mông đẫy đà vênh vểnh của nàng, cười trả lời:
- Dù sao đã khoác chức quan của Cẩm Y vệ thì cũng phải được cắt cử đi làm việc cho họ chứ. Trương đề đốc sợ ta chưa thể xử lý công vụ nên tạm thời phái ta làm mấy việc nhàn hạ, chuyên phụ trách công văn của Nam trấn phủ ty trình lên kinh sư.

Ấu Nương nhanh nhẹn vấn tóc, khẽ ồ một tiếng, nghiêng đầu hỏi:
- Tướng công, Nam trấn phủ ti quản lý những gì vậy?

Dương Lăng đáp:
- Nam trấn phủ ty quản lý hình danh trong vệ và những sự vụ của quân tượng. Hình danh chính là phụ trách việc xét xử, còn quân tượng thì là các thợ chế tạo khôi giáp, quân giới, hỏa tiễn, súng hoả mai, thậm chí cả chiến thuyền, chiến xa, tất cả đều do Nam trấn phủ ty quản lý.

Hình danh trong vệ mà Dương Lăng nói chỉ phụ trách xét xử những người phạm tội bên trong Cẩm Y vệ. Còn bình thường quan lại và tướng lĩnh phạm tội đều giao cho Tam Pháp ty cai quản. Cho nên phạm vi phụ trách hình danh của Nam trấn phủ ty hơi giống một tòa án binh cỡ nhỏ. Còn như việc quản lý quân tượng, nếu như ở thời hiện đại tất nhiên là một ngành khá quan trọng, nhưng tại thời đại này thì việc trông nom công nhân kỹ thuật không được tính là một thứ gì to tát lắm.

Ấu Nương đương nhiên không biết những điều này. Dương Lăng ăn xong bữa sáng, dặn dò Ấu Nương nếu thấy khó chịu thì cứ lên giường nghỉ, còn mình thì khoác bọc áo quần đã chuẩn bị từ trước, ung dung đi thẳng đến cổng sau của kinh thành.

Lúc này trời còn sớm nhưng những cửa hàng lân cận kinh thành đã mở cửa kinh doanh rồi. Bấy giờ địa vị của thương nhân trong xã hội rất thấp, nhưng lợi nhuận cực lớn của buôn bán khiến nhiều người thèm thuồng. Do đó một số nhà dòng dõi công thần huân khanh bèn cử quản gia tới vùng phụ cận hoàng thành, lấy danh nghĩa cá nhân quản gia mở cửa hàng,kỳ thực việc đầu tư, kinh doanh, lợi nhuận đều nằm trong tay bọn họ. Dần dần tự phát hình thành nên một khu chợ bán hàng cao cấp tại nơi này.

Dương Lăng tới một tiệm trà ở sát cửa hậu cung, gọi một bình trà và chút hạt dưa, vừa uống vừa chờ. Chờ được nửa canh giờ, y thấy cửa cung mở ra, hai mươi mấy tên thái giám đẩy mấy xe chở nước ra khỏi cửa cung.

Nội cung thường thường cử người tới Ngọc Tuyền sơn múc nước suối hảo hạng dâng đế vương và đám phi tần uống. Tuy rằng thông thường lúc trời còn chưa sáng đã xuất phát rồi, nhưng rời cung vào lúc này cũng là chuyện bình thường, cho nên đám du khách và thương nhân đang nhốn nháo rộn ràng chung quanh cũng không chú ý lắm.

Dương Lăng quan sát cẩn thận, thấy trong đám người đó có vài thái giám hơi cúi đầu liếc ngang liếc dọc. Trong đó có một tiểu thái giám nhỏ tuổi đi cạnh cái bánh xe to tướng của chiếc xe chở nước, nhìn ngó láo liên tứ phía. Dương Lăng vừa nhìn qua đã nhận ra người đó chính là Chu Hậu Chiếu, vội vàng chạy tới đón.

Chu Hậu Chiếu mặc y phục của tiểu thái giám đang nhìn đông nhìn tây, Dương Lăng sáp đến níu lấy tay áo hắn, thấp giọng gọi:
- Thái tử!

Chu Hậu Chiếu giật mình, ngẩng đầu trông thấy y, nét mặt không khỏi lộ vẻ mừng rỡ. Dương Lăng vội vàng khoát tay ra hiệu đừng lên tiếng. Lưu Cẩn cũng đang đi bên cạnh Chu Hậu Chiếu, trông thấy Dương Lăng, lão liền mỉm cười chào.

Dương Lăng vác gói đồ đi theo bọn họ một hồi tới một tiệm gỗ. Các loại gỗ thượng hạng trên khắp cả nước được chuyển tới tiệm này, họ còn mời rất nhiều thợ cả đến làm mộc, có thể chế tác tại chỗ các loại đồ dùng trong nhà với đủ kiểu dáng khác nhau thoả mãn yêu cầu của đám quan to quý tộc. Do đó bên cạnh cửa hàng có một lối nhỏ dẫn đến xưởng mộc riêng của tiệm.

Dương Lăng kéo Chu Hậu Chiếu một cái, Chu Hậu Chiếu cũng hiểu ý, nhân lúc mọi người không chú ý, theo Dương Lăng rẽ vào ngõ nhỏ. Dương Lăng bước vội mấy bước, thấy xung quanh không có ai, quay người lại vừa định lên tiếng, liền thấy một đám người đi theo sau Chu Hậu Chiếu. Y mắt tròn mắt dẹt, hoảng hốt hỏi:
- Sao.... sao mà... các vị công công đều tới vậy?

Hôm qua bọn họ đã thỏa thuận Lưu Cẩn và Trương Vĩnh sẽ theo Chu Hậu Chiếu nhân cơ hội xe chở nước rời cung mà lẻn ra. Cốc Đại Dụng và Mã Vĩnh Thành thì ở lại Đông cung để che mắt; còn bọn Cao Phương, La Tường, Ngụy Bân, Khâu Tụ thì không được giao việc gì.

Bởi vì đám Bát hổ không phải toàn là người trưởng thành, còn có những thái giám trẻ mới hai mươi tuổi, nếu như đều theo ra ngoài thì quá lộ liễu, hơn nữa y còn sợ bọn họ xúi giục Chu Hậu Chiếu gây chuyện. Còn Trương Vĩnh, Lưu Cẩn, một kẻ trưởng thành lão luyện, một kẻ cơ mưu thâm sâu, có bọn họ đi theo phối hợp là tương đối ổn thỏa. Dè đâu lúc này y nhìn lại thấy đủ cả tám người chẳng thiếu một ai đều theo ra khỏi cung.

Ngụy Bân thấy Dương Lăng hoảng hốt, cười hề hề:
- Dương tướng công không cần phải lo lắng! Tối qua hoàng thượng vừa mới tới thăm Thái tử, vả lại hôm nay bên quân đội có tin cấp báo, hoàng thượng và ba vị đại học sĩ cùng các vị thượng thư của bộ Binh, bộ Công đang nghị sự! Còn người của bộ Lễ, bộ Hộ đều đang phải tuần tra trường thi kỳ thi Xuân. Không có chuyện gì đâu!

Dương Lăng cười khổ một tiếng, y biết rõ mấy kẻ này đời nào bỏ qua cơ hội lấy lòng thái tử. Dương Lăng đành phải nói:
- Các vị công công nói cũng phải, chỉ là.... trước đó hạ quan không hiểu tình hình, cho nên chỉ chuẩn bị ba bộ quần áo...

Khâu Tụ vội đáp:
- Không sao cả, chúng ta đều đã tự chuẩn bị y phục rồi.

Gã ngó quanh bốn phía, thấy ở giao lộ chỉ thỉnh thoảng có mấy người đi qua, cũng không quá để ý đến trong ngõ, liền vội vàng cởi áo bào thái giám, tháo nón xuống, trên người đã mặc sẵn một bộ quần áo sĩ tử bình thường, trên đầu đội một chiếc khăn thư sinh, cải trang rất nhanh chóng. Gã vốn là một hoạn quan, thiếu khí chất mạnh mẽ của đàn ông nên mặc bộ y phục này, tuy da hơi đen nhưng lại thật giống kẻ đọc sách yếu đuối.

Chu Hậu Chiếu, Lưu Cẩn, Trương Vĩnh được Dương Lăng chuẩn bị đủ áo quần rồi nên không phải ăn mặc rườm rà như vậy. Mấy người kia đổi y phục xong liền đứng chắn phía trước, ba người còn lại cũng vội vã thay đổi áo quần, cả mười người đều ăn mặc kiểu văn nhân. May mắn là đúng dịp kỳ thi Xuân, sĩ tử văn nhân khắp nơi tụ tập tới kinh sư, khắp thành Bắc Kinh đều là người đọc sách, nên bọn họ cũng không khiến người khác nghi ngờ.

Dương Lăng hỏi:
- Thái tử, bây giờ chúng ta tới bộ Binh chứ?

Chu Hậu Chiếu vừa rời khỏi hoàng cung, như chim xổ lồng, như cá gặp nước. Ngày trước hắn rời khỏi cung toàn do phụ hoàng đưa đi, có rất nhiều thị vệ ngầm bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ đi tới những chốn ít người lai vãng; chưa bao giờ hắn được như hôm nay tự mình ra ngoài. Hắn như nhà quê lên phố, thấy cái gì cũng mới lạ. Nếu như bây giờ tới bộ Binh náo loạn một trận, rồi tới nơi khác dạo chơi thì chắc chắn không vui nữa, làm sao hắn chịu đi luôn bây giờ. Thế là Chu Hậu Chiếu vội vàng khoát tay đáp:
- Đừng gấp, đừng gấp! Chúng ta đi dạo khắp nơi trước đã.

Dương Lăng không biết làm sao, đành phải theo hắn đi lang thang trong chợ. Chu Hậu Chiếu thấy trong chợ bán rất nhiều thứ không có trong cung nên rất thích thú. Ngộ tính của tên nhóc này rất tốt, thấy người khác mặc cả, trả giá quyết liệt đến không biết đường nào mà lần bèn ngứa ngáy trong lòng, thấy thích thứ nào cũng tới hỏi giá, sau đó học theo người ta mặc cả.

Mặc dù hắn không biết giá cả nhưng Bát hổ lại khá rành rẽ. Có bọn họ ở bên giúp đỡ, dù Chu Hậu Chiếu không đến nỗi tiêu tiền như nước, nhưng hễ đã mặc cả xong thứ gì thì phải mua luôn. Bấy giờ đa số bọn Bát hổ đều cười khổ vì chẳng có xu nào, duy có Mã Vĩnh Thành chuyên phụ trách mua sắm thường nhật trong cung, mặc dù không phải là thái giám chủ sự nhưng tiền bạc trong tay cũng đủ để dùng. Để lấy lòng thái tử, chỉ cần Chu Hậu Chiếu mặc cả xong thứ gì, gã liền lập tức rút tiền ra mua.

Mấy người dạo quanh vùng ven hoàng thành chưa tới một canh giờ mà tám tên thái giám và cả Dương Lăng đều đã tay xách nách mang, khuân vác đủ thứ. Ngay bản thân Chu Hậu Chiếu cũng nghiêng vai cắp một quyển lụa, tay phải xách hai bao trà, trên cổ treo mấy hộp trân châu, tay trái cầm một chiếc đĩa lớn có tạo hình hoa sen cá vàng ở bên trong rất đẹp, trông rất buồn cười.

Mặc dù thân phận của đám thương nhân đó thấp kém, nhưng đều là nhân viên quản gia được các thế gia vọng tộc phái ra nên cũng khá hiểu các mặt của xã hội. Nhìn tính cách của đám người này giống như bọn nhà giàu mới nổi, còn tưởng là tài chủ dưới nông thôn lên, nên cho dù ăn bạc của bọn họ xong mà trên mặt đám thương nhân vẫn không tránh khỏi vẻ khinh bỉ.

Chu Hậu Chiếu chơi đùa rất vui vẻ, mặc kệ vẻ mặt của đám thương nhân đó. Đi dạo trong chợ đến chán chê rồi, hắn mới cảm thấy mấy thứ trong tay quá vướng víu. Quay đầu nhìn lại, thấy bộ dạng của đám người Lưu Cẩn và Dương Lăng còn nhếch nhác hơn mình nhiều, Chu Hậu Chiếu chợt cười ầm lên.

Hắn nghĩ tám người kia đều ở trong cung hầu hạ mình, trong kinh cũng không có người thân nào nên bèn nói với Dương Lăng:
- Hôm nay đi chơi thật là vui! Vốn ta muốn đi dạo phố thêm, nhưng mấy thứ này quá phiền phức. Không phải là ngươi mới tới kinh thành sao? Mấy thứ này tạm coi như quà chúng ta tặng ngươi. Chúng ta tới đầu phố thuê xe đi! Mang mấy thứ này tới nhà ngươi, sau đó tiếp tục dạo phố.

Nghe xong, Dương Lăng trong lòng rất vui vẻ, không ngờ đi theo Thái tử dạo phố còn được cho quà. Chu Hậu Chiếu mua sắm toàn dựa vào ý thích của bản thân, cũng không màng giá cả ra sao, cho nên những món đồ này rất đa dạng, có những thứ chỉ hai chục văn tiền, có những thứ đắt tới vài ba trăm lạng. Đống đồ mấy người đang xách tính ra cũng phải hơn ngàn lạng bạc, trong đó còn có gương son các thứ, mình mang về sẽ giúp Ấu Nương tiết kiệm được thời gian đi mua sắm.

Trong lòng phấn chấn, ngoài miệng y vẫn còn khách sáo một hồi, vội vã khiêm nhường:
- Thái tử gia,việc này không ổn đâu, đây đều là những thứ người thích! Nếu như muốn ban thưởng cho thần, tám vị công công cũng phải có phần mới phải.

Chu Hậu Chiếu nghe xong cười mắng:
- Giả bộ vừa thôi, bọn họ ăn trong cung, dùng đồ trong cung, ngay cả nhà cũng không có, cho họ mấy thứ này về làm gì? Mau đi kiếm xe đi!

Trương Vĩnh cũng nhăn nhó phụ họa:
- Dương tướng công, cậu đừng từ chối nữa! Cái thân già của ta sắp không chịu nổi nữa rồi. Ui da, cái vò này khi nãy không cảm thấy nặng chút nào mà bây giờ sắp tuột xuống đất rồi đây này!

Mấy người La Tường, Ngụy Bân, Khâu Tụ liên tục gật đầu hưởng ứng. Mặc dù cả bọn đều là nô tài để sai bảo nhưng chưa từng làm những việc lao lực. Vác đồ cả nửa ngày trời, vừa đừ vừa mệt, lại không dám tùy tiện bỏ mấy thứ Thái tử mua xuống, bây giờ bọn họ chỉ mong mấy thứ này mau mau rời khỏi tay, còn việc cho ai thì cũng chẳng quan trọng.

Thế là Dương Lăng và Chu Hậu Chiếu sánh vai chen chúc khỏi đám đông đi ra đường cái. Do đông người, đám thái giám sợ Chính Đức bị lạc mất nên theo thói quen bốn trước bốn sau bảo hộ, lưng cũng hơi khom xuống, nhìn qua giống như đang hầu hạ một quý công tử xuất hành. Nhưng bọn họ đều mặc đồ thư sinh nên người qua đường thấy cũng hơi lạ. Đoàn người vẫn không phát hiện, cứ xếp thành hai "cánh quân" vác đống đồ lỉnh kỉnh kéo tới nhà Dương Lăng.


***************








Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
17-12-2010, 10:17 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 64 Thập đại ác nhân




Dịch: TheJoker

Biên dịch:

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Sỹ tử ấy đứng dậy, nước mắt giàn giụa, ngoái đầu thấy Dương Lăng sắp rẽ qua góc màn che, liền vội cất cao giọng nghẹn ngào nói to:
- Ơn giúp đỡ của Dương đại nhân, cả đời này học sinh Nghiêm Tung sẽ không bao giờ quên!"

Vừa mới rẽ qua màn che, nghe được lời gã Dương Lăng liền vấp chân, thiếu chút nữa thì ngã lộn cổ xuống sông.



Quyển hai - Nhắm mắt lên kinh
Chương 64 Thập đại ác nhân

Dương Lăng thuê một cỗ xe lớn, chất từng món đồ lên xe. Trương Vĩnh, Lưu Cẩn, Mã Vĩnh Thành, ba tên thái giám cao tuổi nhất lên ngồi trên xe cùng với Thái tử và thị độc, còn những tên trẻ tuổi hơn đành phải hạ mình theo sau xe, cùng đi thẳng đến đường Hộ Quốc Tự.

Mặc dù Chu Hậu Chiếu gan to làm liều, nhưng y cũng lo chuyện Thái tử tự mình rời cung sẽ lan khắp mọi người, cho nên dọc đường căn dặn Dương Lăng và Bát hổ cùng nói bọn họ đều là thị độc của Thái tử, hôm nay đến nhà họ Dương là để chào đón đồng liêu tiến kinh, có lòng mua lễ vật biếu tặng. Mấy tên thái giám đều vâng vâng dạ dạ đáp lời, dù sao thì dân gian trăm họ cũng không biết bên cạnh thái tử gia có bao nhiêu văn nhân làm Thị độc.

Sau khi Dương Lăng rời khỏi nhà, Ấu Nương cảm thấy trong người khó chịu, mới ăn qua loa một chút thì đã không thể nuốt thêm. Nàng bèn vào giường nằm nghỉ một chút, rồi lại ngồi dậy luyện hít thở một hồi, cảm thấy trong lòng thoải mái hơn nhiều. Vừa mới hồi phục tinh thần, nàng chợt nghe tiếng đập của vòng khoá bằng đồng trước cổng rồi có tiếng tướng công gọi:
- Ấu Nương! Mau ra đón khách...

Hàn Ấu Nương vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ: “sao hôm nay tướng công về sớm vậy?” Nàng vội xuống giường, bước ra cửa đón. Có tám, chín người diện đồ tú tài màu xanh đang đứng ngoài cửa, người nào người nấy tay xách nách mang không ít đồ lỉnh kỉnh. Dương Lăng bước lên, cười nói:
- Ấu Nương, mấy vị này đều là Thị độc của Thái tử điện hạ trong Đông cung, là đồng liêu của ta. Nghe nói ta vừa mới đến kinh sư, các vị có lòng mua lễ vật đến đây thăm hỏi.

Mấy người Lưu Cẩn, Cốc Đại Dụng nghe xong đều cố nặn ra một bộ mặt vui vẻ hoà nhã, lần lượt gật đầu, tươi cười đồng thanh nói:
- Đúng vậy! Đúng vậy! Chúng tôi đều là đồng liêu của Dương tướng công. Hôm nay muốn đến quý phủ để thăm viếng.

Trình độ văn hoá tám người này có cao, có thấp, tên thì gọi nàng là “Dương phu nhân”, kẻ thì gọi nàng là “tiểu nương tử”. Khâu Tụ, Nguỵ Bân trẻ tuổi, lại ở trong cung từ bé nên càng không biết phải xưng hô với Ấu Nương như thế nào, thế là cũng bất kể mình lớn hay nhỏ tuổi hơn Dương Lăng cứ gọi nàng là "chị nhà Dương" luôn (Dương gia tẩu).

Nghe nói là đồng liêu cùng làm việc chung với tướng công, Ấu Nương không dám chậm trễ, vội vàng mời bọn họ vào nhà. Mấy tên này vừa bước vào nhà liền vội tranh thủ chất hết các thứ mà Chu Hậu Chiếu đã mua xuống khắp nhà rồi tìm chỗ ngồi đấm tay bóp chân. Lễ vật mà những tên này xách rất đa dạng, thậm chí còn có riềm giấy đính thạch anh, hũ dưa muối, hồ lô Bát Tiên, đủ cả. Sau khi chất cả vào nhà, trên giường dưới đất khắp nơi đều là lễ vật.

Chính Đức đi sau lưng mọi người, bước vào nhà sau cùng. Y cũng ăn mặc như một tiểu thư sinh, người mặc áo xanh, đầu đội khăn vải, tay cầm "bánh Hồ lô đường" gặm được một nửa. Y nhảy mấy bước đến bên cạnh Ấu Nương, thảy ba xâu trân châu và một bao giấy Tuyên Thành thượng hạng lên giường rồi cười hề hề với Ấu Nương:
- Ấu Nương tỷ tỷ, đệ cũng đến nè.

Ấu Nương hơi ngẩn người. Thấy y còn nhỏ tuổi, nàng không khỏi vừa cảm thấy ngạc nhiên vừa cảm thấy kỳ lạ: "Thư sinh nhỏ tuổi thế này mà cũng là người bên cạnh thái tử à?" Nàng thấy thư sinh này hơi quen, nhưng lại không nhớ nổi đã từng gặp mặt lúc nào. Dương Lăng vội bước tới giới thiệu:
- Vị này... a hèm, cũng là đồng liêu của ta. Nương tử còn nhớ tiểu công tử mà chúng ta đã gặp ở Hộ Quốc tự ngày đó không?

Hàn Ấu Nương "a" lên một tiếng, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ đáp:
- Nhớ rồi, thiếp nhớ rồi! Thì ra tiểu công tử cũng là “bạn độc” (bạn đọc sách, khác với thái giám) bên cạnh thái tử gia. Mời vào, mời vào!

Ấu Nương thấy tuổi tác của vị tiểu thư sinh này xấp xỉ với tam đệ Mãn Thương của mình, cảm thấy rất đỗi thân thiết. Nàng cười nói với y:
- Mau vào nhà ngồi đi! Đệ là đồng liêu của tướng công, phải gọi tỷ là tẩu(*) mới đúng.
(*) Tỷ dùng chung để xưng chị, còn tẩu là tiếng kính xưng đối với vợ của của anh, vợ của người lớn tuổi hơn hoặc đối với phụ nữ có chồng nói chung.

Chính Đức chỉ có một đệ đệ đã chết yểu lúc nhỏ, con cháu họ Chu tuy nhiều, song tất cả đều bị đuổi ra khỏi kinh hết, nên ngày thường y thật sự chưa từng gọi người khác là tẩu. Nghiêng đầu nghĩ ngợi một lát, cảm thấy có người chị như Ấu Nương cũng không tệ, thế là y bèn vui vẻ sửa đổi cách gọi.

Ấu Nương cười đáp lại một tiếng, đang chuẩn bị đun nước pha trà, Trương Vĩnh vội ngăn lại, cười ha hả nói:
- Phu nhân không cần khách sáo đâu. Chốc nữa Dương thị độc sẽ mời các vị đồng liêu đến tửu lâu uống rượu, chúng tôi đến nhà ngồi một chút rồi sẽ đi thôi.

Những kẻ này đang thật sự rất mệt, nhưng Chính Đức thì vẫn dồi dào sức lực, chạy loạn khắp trong nhà ngoài sân, hễ thấy thứ gì mà chưa gặp bao giờ thì y liền tò mò căng cái họng vịt đực ra gọi "tẩu" tới. Từ khi đến kinh thành, Ấu Nương cũng hơi nhớ đến người thân ở quê nhà. Chính Đức mày đen mắt đẹp, nghịch ngợm khoẻ khoắn rất giống với đệ đệ Hàn Mãn Thương của nàng, vì vậy Ấu Nương cũng rất thích y, cho nên hết lần này đến lần khác kiên nhẫn giải thích một phen.

Một hồi sau, Chu Hậu Chiếu lại nhìn thấy cái giếng trong sân. Thấy buộc dây thừng vào bánh xe gỗ, kéo thùng gỗ lên thì có thể múc được nước giếng ngon ngọt và mát rượi, thế là tính ham chơi của y lập tức phát tác. Sau khi nghe Ấu Nương giải thích cách dùng, thấy nước trong lu chỉ còn non nửa, y lập tức nổi hứng hăm hở kéo từng thùng nước đổ vào trong lu.

Bọn Lưu Cẩn, Trương Vĩnh thấy Thái tử làm công việc nặng nhọc như vậy, cũng bất chấp thân thể còn đang rã rời, ồ ạt tranh nhau chạy ra đòi giúp. Chu Hậu Chiếu đang chơi hăng đâu chịu buông tay, đổ đầy cả lu nước rồi mới tiếc nuối dừng tay.
Vừa rồi đứng ở bên giếng, mấy tên thái giám cứ thon thót lo Thái tử sẽ gặp bất trắc, rốt cuộc thấy y đã dừng tay, sợ y lại nghĩ ra thêm trò chơi mới mẻ gì nữa, liền vội thừa dịp cáo từ Ấu Nương. Hàng người rời khỏi sân nhà, Dương Lăng cố ý tụt lại ở phía sau, chờ bọn họ đi xa một chút rồi quay đầu nói với Ấu Nương:
- Ấu Nương, sắc mặt nàng tệ lắm, má đỏ bừng rồi. Có phải cảm thấy không được khoẻ không? Nếu không thì... Khi nào về ta dẫn nàng đi gặp lang trung nhé?

Hàn Ấu Nương phấn chấn tinh thần cười nói:
- Thân thể thiếp nào quý giá như vậy? Tướng công yên tâm đi, có lẽ là do lạnh bụng cho nên hơi khó chịu, thiếp nghỉ ngơi một chút thì sẽ đỡ thôi. Chàng hãy đi tiếp khách đi, chớ để thất lễ.

Nàng vừa phủi bụi bặm bám trên vai Dương Lăng do khiêng đồ khi nãy, vừa mỉm cười nói:
- Thái tử gia thật là một người kỳ lạ. Thị độc có người sắp làm ông người ta, có người thì lại là trẻ con chưa lớn, chắc bọn họ cũng là những nhân vật lớn trong triều nhỉ? Có điều thiếp cảm thấy bọn họ không oai phong bằng tướng công đâu.

- Dĩ nhiên!
Dương Lăng ưỡn ngực đáp. Y ngoái đầu nhìn: tám tên đại thái giám, một thằng nhóc con. Phẩm chất của "cửu đại ác nhân" trong lịch sử này hãy tạm chưa nhắc đến mình, cho nên nếu chỉ nhìn vào tướng mạo thì trông thế nào mình cũng đúng là người oai phong nhất.

Y cười với ái thê một cách rất uy nghi rồi nói:
- Nàng trở về đi, không khỏe thì nghỉ ngơi, đừng dọn dẹp đồ đạc trước. Chờ thêm mấy ngày nữa tướng công mua nha hoàn về hầu hạ nàng. Ấu Nương của ta cũng nên được hưởng phúc một tý rồi.

*****************

Kỳ thi Hội thường được cử hành vào tháng Hai năm kế tiếp của kỳ thi Hương, xưa gọi là "kỳ thi Xuân"*. Đến lúc đó sỹ tử toàn quốc tụ tập về kinh thành quyết trận sống mái. Tính bi tráng của nó còn khốc liệt hơn cả những kỳ thi đại học một chọi trăm, một chọi nghìn ngày nay. Do năm ngoái vua Hoằng Trị bị một cơn bệnh nặng, qua năm lại gặp phải chuyện Thát Đát tập kích biên giới, cho nên kỳ thi Xuân năm nay trì hoãn lại đến giờ mới khai mạc, trễ trọn một tháng.
(*): Vì kỳ thi Hội diễn ra vào mùa xuân kế tiếp của kỳ thi Hương, trong các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất, do bộ Lễ tiến hành, nên còn gọi là “lễ vi”, hay “xuân vi”

Hôm nay là ngày thi đầu tiên. Bộ Lễ phải xin thánh dụ, cúng trời xanh, bái Khổng Tử, thực hiện rất nhiều lễ nghi hết sức rườm rà, cho nên lúc bắt đầu thi trời đã không còn sớm nữa. Bây giờ trên đường vẫn còn từng đám sỹ tử hối ha hối hả chạy đến Văn Miếu để thi.

Chu Hậu Chiếu nhìn những thí sinh lưng đeo vải bọc, tay ôm bút nghiêng, nảy lòng tò mò, cũng chạy tới miếu Khổng Tử để xem náo nhiệt. Dương Lăng biết y mà chưa chơi thỏa thì nhất định không có lòng dạ nào đi làm đại sự, thế là đành phải cùng với bọn Lưu Cẩn cuống quýt đuổi theo đến Văn Miếu.

Những thành thị có chút quy mô ở Đại Minh đều xây dựng “học cung” (nhà học). Học cung chính là nơi khổ học của sỹ tử đồng thời cũng là chốn thờ Khổng tử. Miếu Khổng tử của kinh sư đương nhiên là học cung lớn nhất toàn quốc. Đám người Chu Hậu Chiếu đến trước học cung, thấy bức hoành treo cao cao trên cạnh cửa viết bốn chữ vàng "Vạn Thế Sư Biểu"(1). Dựng ngay trước cây cầu bên ngoài ao miếu là một tấm bia cấm cao hai mét: "Quan viên văn võ đến đây phải xuống ngựa".

Không cần biết quan lớn cỡ nào, đã đến học cung đều phải hạ kiệu, xuống ngựa mà bước bộ vào. Những văn nhân được phong làm đại quan đều trở về cúng bái Khổng lão phu tử, xem như là đã "áo gấm về làng", khoe khoang với những kẻ tầm thường. Còn võ tướng, cho dù là quan đến nhất phẩm, quyền khuynh triều chính, từ rất xa mà nhìn thấy hai chữ Học Cung thì cũng phải đi vòng. Đành thế thôi, đám hủ nho già một mực tin rằng "bán bộ Luận Ngữ trị thiên hạ, Đạo Đức văn chương thế vô song"(2), người học võ bước vào là muốn nhận lấy sự kỳ thị rồi.

Học cung tuy lớn, nhưng vẫn không đủ chứa thí sinh của cả nước nên đã dựng thêm ba dãy chòi gỗ sát tường cung để bổ sung thêm điểm thi. Chung quanh màn vải giăng kín, binh sỹ canh gác nghiêm ngặt.

Lúc Chu Hậu Chiếu rì rì chạy đến nơi thì "chuông vang trống dội", kỳ thi đã bắt đầu. Trước cửa, ngoài người nhà, gia bộc của đám sỹ tử và một vài tiểu thương bán nước trà, điểm tâm ra, thì chẳng còn sỹ tử nào nữa. Chu Hậu Chiếu bỗng cảm thấy vô vị. Thấy dưới gốc cây hoè to có sạp trà, y liền qua đó ngồi. Lưu Cẩn vội kêu tiểu nhị lại, gọi trà, điểm tâm, hạt dưa rồi cùng Chu Hậu Chiếu tán gẫu dưới gốc cây.

Dương Lăng nhìn trời, ước chừng khoảng hơn mười giờ sáng, vẫn còn dư thời gian để đến bộ Binh, lúc này mới yên tâm. Y báo với Chu Hậu Chiếu một tiếng, rồi men theo ao nước trước học cung chậm rãi đi về hướng Tây, định ngó bộ dáng của những sỹ tử dự thi mớ văn Bát Cổ này. Có điều màn vải giăng thật quá kín, cách vài bước lại có một quan binh canh gác, đến gần một chút là bị bọn họ lớn tiếng quát nạt ngay. Đi dạo một hồi, cảm thấy chán, Dương Lăng đang định quay người trở về thì đột nhiên một sỹ tử tay kẹp bao vải hối hả chạy lướt qua người y, thẳng tới cửa trường thi do màn vải giăng. Sỹ tử ấy đầu mướt mồ hôi, giơ thẻ thi lên sốt sắng báo:
- Binh đại ca, học sinh vì đến muộn, lại đến nhầm trường thi, chậm trễ chút thời gian. Xin quan binh đại ca hãy châm chước một chút, cho ta vào đi.

Dương Lăng dừng bước lại, quay người tò mò nhìn. Đứng gác ở cửa có bốn tên lính, một tên tiểu kỳ (lính đeo cờ) xua tay bảo:
- Chuyện lớn như thi Hội này mà cũng nhầm lẫn được à? Đã muộn thì đợi thêm ba năm đi. Chúng ta cũng không dám tự quyết định cho ngươi vào đâu.

Vị sỹ tử đó nôn nóng đến toát mồ hôi đầm đìa, vừa quỵ luỵ khẩn cầu, vừa chắp tay vái lia lịa:
- Các vị quan binh đại ca, học sinh cực khổ đọc sách học hành mười năm không nghỉ, chính là vì một khắc này đây. Không dám giấu các vị quan binh đại ca, đêm qua học sinh còn cố thức học đến tận canh ba. Chỉ hận trên đường đụng phải một tên vô lại, bị hắn quấn lấy quấy rầy mãi, cho nên lỡ mất thời giờ. Xin các vị hãy giúp đỡ một chút!

Dương Lăng quan sát tên sỹ tử này, thấy gã tuổi trạc hai mươi lăm, hai mươi sáu, mày rậm mắt to, nước da ngăm ngăm, vóc người vừa cao vừa gầy, người mặc một bộ thanh sam, trông như cây sậy.

Gã vừa van vỉ vừa đưa tay vào ngực lấy tất cả ngân lượng cất trong người nhét vào tay của tên lính nọ, kèm theo một nụ cười nói:
- Các vị binh đại ca hãy châm chước giúp một chút, đại ân đại đức học sinh suốt đời sẽ không quên.

Tên lính thấy y nhét chừng hơn chục lượng bạc ròng, ánh mắt tức thời lộ ra vẻ tham lam. Có điều bên trong trường thi này là trọng địa, cửa ải trùng trùng, qua được ải này của hắn cũng không vào được đến trường thi. Tuy hắn là một quan binh lớn nhưng cũng không có quyền đưa người vào, đành phải ngậm ngùi đẩy số bạc lại vào trong ngực sỹ tử nọ, lắc đầu, không nói gì thêm.

Thấy tình cảnh đến nước này, sỹ tử đó quýnh quáng đến độ mồ hôi trên trán chảy xuống ròng ròng. Bản thân gã lại như không cảm nhận được, thậm chí không lau chúng đi, mà vẫn níu kéo tên tiểu kỳ nọ khẩn nài không ngớt. Mấy tên lính khác thấy gã cứ đứng lỳ không chịu đi thì cùng bắt đầu lớn tiếng nạt nộ. Một quan viên bộ Lễ bên trong nghe tiếng ồn bước ra, phất ống tay áo, lạnh lùng gắt:
- Kẻ nào làm ồn ở ngoài cửa đó?

Quan viên Bộ Lễ đó chỉ là viên ngoại lang(3) bộ Lễ, nhưng dưới tình thế quẫn bách sỹ tử này đã hết cách đành sụp gối xuống đất đánh "cộp" một tiếng, cất cao giọng khẩn khoản:
- Xin đại nhân hãy cứu ta! Xin đại nhân hãy cứu ta! Học sinh vì trễ một khắc, không kịp vào trường thi, xin đại nhân nghìn vạn lần khai ân, hãy để cho ta vào.

Năn nỉ dứt lời, sỹ tử đó dập đầu như giã tỏi. Dương Lăng vốn chẳng để ý gì mấy, đến khi nghe tiếng đầu gã nện "bồm bộp" xuống đất, mới thót mình lo lắng, lập tức đồng cảm.

Viên ngoại lang bộ Lễ đảo mắt kinh bỉ, lạnh lùng nói:
- Triều đình mở khoa chọn sỹ là muốn tuyển lựa nhân tài, vì nước dốc sức. Thi Hội là chuyện lớn như vậy mà ngươi còn có thể đến trễ, loại người như ngươi cũng có thể vào triều làm quan ư? Trở về đọc sách Thánh Hiền thêm mấy năm nữa đi!

Tên sỹ tử nghe xong cảm thấy nghẹn ngào, càng không đứng dậy mà nằm phục tại chỗ dập đầu không ngừng, lời khẩn cầu thậm chí cũng không thể thốt ra. Dương Lăng thấy vậy không đành lòng, không nén được bèn xin hộ:
- Vị đại nhân này! Y đến trễ cùng lắm chỉ một khắc mà thôi, tuyệt đối sẽ không thể có chuyện lộ đề dối trá gì, chi bằng để cho y vào đi. Đại nhân cũng là kẻ đọc sách, hẳn phải biết khổ học không dễ mà.

Viên ngoại lang bộ Lễ cười khẩy, vừa liếc xéo y vừa khinh khỉnh hỏi:
- Ngươi là kẻ nào?

Dương Lăng đáp:
- Tại hạ Dương Lăng, cũng là một kẻ đọc sách. Người đọc sách vất vả nửa đời, đường công danh chỉ có một đường khoa cử. Quan hệ đến tiền đồ cả đời của người ta, đại nhân hãy khai ân giúp y một chút đi!

Viên ngoại lang cười nhạt, đáp với giọng quái gở:
- Khoa trường là nơi nào chứ? Khoa cử là đại sự như thế nào chứ? Việc trang nghiêm thiêng liêng như vậy, há có thể cho phép người ta tự làm theo ý mình ư?

Dương Lăng thấy vẻ mặt khinh người của gã, chợt nhớ câu chuyện Nguỵ Trung Hiền của Đông xưởng sai người đưa Trương Hiếu Cổ (Hiếu Cổ nghĩa là ham thích đồ cổ - ND) vào trường thi trong tác phẩm "Liên Thăng Tam Cấp", trong lòng bèn máy động. Ai cũng nói Xưởng - Vệ hoành hành, kẻ nào cũng nhìn người bằng nửa con mắt, không biết lệnh bài của mình có dùng được hay không. Thấy chung quanh không có người quen, y bèn thò tay vào ngực lấy ra tấm ngọc bài, giơ lên trước mặt viên ngoại lang bộ Lễ, mỉm cười nói:
- Đại nhân! Chính vì khoa cử là đại sự hàng đầu của đời người, vẫn mong đại nhân châm chước một chút, thật sẽ công đức vô lượng.

Viên ngoại lang nhìn thấy lệnh bài Phi Ngư trong tay Dương Lăng, lập tức giật thót mình. Cẩm Y Vệ ung dung tự tại trong kinh sư, mười người thì hết tám, chín kẻ là ma đầu uống máu của Bắc trấn phủ ty. Chỉ cần đưa một hiệu uý của nha môn này ra cũng đủ bóp chết viên ngoại lang cỏn con như hắn rồi, huống hồ nhìn vào ngọc bài trong tay người này thì y nhất định phải là quan quân cao cấp trong Cẩm Y vệ.

Từ khi nào Cẩm Y vệ quản luôn cả chuyện khoa cử vậy? Bọn họ cũng xem như là người thuộc hệ quân đội, bình thường ghét nhất là đến mấy chốn học cung này. Chẳng lẽ... là hoàng thượng ra lệnh Cẩm Y vệ đến âm thầm giám sát? Không lẽ chậm trễ một chút thì không tính là chuyện to tát không thể châm chước hay sao? Nếu như kẻ này thêm mắm thêm muối gièm pha mình ở trước mặt hoàng thượng, nói mình cố ý làm khó sỹ tử, vậy thì...

Thế là trong chớp mắt, mồ hôi chảy ròng ròng khắp mặt viên ngoại lang. Gã lắp bắp đáp:
- Dương đại nhân! Vừa nãy hạ quan không biết thân phận Dương đại nhân nên đã thất lễ, thật sự đã thất lễ. Có một câu này của đại nhân, vậy có gì là không thể chứ! Hạ quan sẽ lập tức tự mình đưa sỹ tử này vào trường thi ngay. Xin đại nhân cứ yên tâm!

Gã sỹ tử cao gầy vẫn luôn quỳ ngước mặt ở cửa nghe hai người nói chuyện, vừa nghe xong liền lộ ngay vẻ mừng rỡ. Y vội vàng khấu đầu làm lễ, nói:
- Đa tạ Dương đại nhân, đa tạ khảo quan đại nhân!

Tuy y không biết ngọc bài Dương Lăng cầm là lệnh bài gì, nhưng thấy y tuổi hãy còn trẻ, lại có thể khiến cho vị khảo quan đó phải biến sắc, nhất định là vị quan to chức lớn rồi.

Dương Lăng chắp tay nói với khảo quan:
- Nếu đã vậy, đa tạ!
Rồi quay sang sỹ tử nọ cười lớn bảo:
- Đưa huynh vào khó, đề danh Kim Bảng còn khó hơn. Có thể vượt long môn hay không, tất cả đều sẽ trông cậy vào bản lĩnh của huynh đó!

Làm xong được một chuyện tốt, lòng y cảm thấy rất vui vẻ. Bước chân lâng lâng, y nhắm thẳng về phía cổng chính của học cung mà tiến. Vị viên ngoại lang bộ Lễ thở phào nhẹ nhõm, vẫn còn chút khiếp vía, nói với gã sỹ tử:
- Mau đứng dậy đi, để ta đưa ngươi vào trường thi!

- Vâng! Vâng! Đa tạ khảo quan đại nhân!
Sỹ tử ấy đứng dậy, nước mắt giàn giụa, ngoái đầu thấy Dương Lăng sắp rẽ qua góc màn che, liền vội cất cao giọng nghẹn ngào nói to:
- Ơn giúp đỡ của Dương đại nhân, cả đời này học sinh Nghiêm Tung(*) sẽ không bao giờ quên!
(*): xem chú thích 8 ở chương 2 về nhân vật "nổi tiếng" này

Vừa mới rẽ qua màn che, nghe được lời gã Dương Lăng liền vấp chân, thiếu chút nữa thì ngã lộn cổ xuống sông.


***************



Chú thích:
(1) Vạn thế sư biểu: vị thầy mẫu mực của muôn đời.
Người đời sau tôn tặng Đức Khổng Tử là: Vạn thế sư biểu, là vị thầy đúng nghĩa nhất, không ai có thể so sánh được với Ngài, làm kiểu mẫu muôn đời về sau. (theo Cao Đài)
(2) Dịch nghĩa: nửa bộ Luận Ngữ đủ trị vì thiên hạ, bài Đạo Đức Kinh trên thế gian chỉ một không hai.
Đạo Đức Kinh tác phẩm kinh điển của Đạo giáo do Lão Tử soạn còn Luận Ngữ là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và những lời nói của người đương thời.
Câu này cho thấy những nhà hủ nho trọng văn như thế nào.
(3) Chỉ chức quan lang nằm ngoài nhóm quan chính (chính viên) trong bộ Lễ.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
20-12-2010, 07:35 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 65 - Lại sinh chuyện phiền phức




Dịch: |YanYan*

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Chu Hậu Chiếu nghe vậy cảm thấy thú vị, y hứng chí vỗ bàn đánh bộp, hạ lệnh:
- Đi! Chúng ta đi xem thử rốt cuộc ba nàng nhạc kỹ này có chỗ nào xuất chúng.


Đã post đến chương 66


Chương 65 - Lại sinh chuyện phiền phức

Ngồi được một lúc, Chu Hậu Chiếu cảm thấy hơi chán. Mặt trời càng lúc càng lên cao, trong bụng cũng cảm thấy đói, y đang định kêu người đi tìm Dương Lăng về thì thấy một đội bộ khoái của Ngũ Thành Binh Mã ty[1] đang vội vội vàng vàng chạy lại, không cầm đao thương mà cầm chổi và xẻng hót. Vài tên lại mục (viên chức nhỏ, không có phẩm cấp, chỉ huy một số viên tiểu lại) diễu võ dương oai quát lớn:
- Những người không liên quan mau lánh đi mau! Đương kim thánh thượng sắp đến tuần thị trường thi đây.

Chu Hậu Chiếu nghe nói lão tử của y sắp đến, giật nảy cả người, vội vàng đứng dậy. Bọn bộ khoái vung chổi quét tứ tung, bụi đất mù mịt. Không cần bọn chúng đuổi, những người dân đứng chờ ở ngoài trường thi cũng phải vội vàng lánh vào trong rừng cây đối diện bên đường.

Người bán trà rong hô xui xẻo, cũng vội gọi bà vợ bê bàn ghế, những bộ trà nhanh chóng chuyển chỗ, cũng lúc này Dương Lăng mặt mày hầm hầm từ góc bên kia của mành vải quẹo ra. Chu Hậu Chiếu mừng rỡ, vội vàng nói:
- Ngươi về thật đúng lúc! Mã Vĩnh Thành! Ngươi thường xuất cung mua sắm, mau giới thiệu một quán rượu kha khá, chúng ta đi ăn một bữa no nê đi!

Thấy giọng của y tương đối lớn, Cốc Đại Dụng giật mình, vội thấp giọng bẩm:
- Thái tử gia cẩn thận, đừng để người khác nghe thấy.

Quen nhìn sắc mặt người khác, bọn Lưu Cẩn, Trương Vĩnh đều nhận ra vẻ không vui của Dương Lăng, có điều chúng nghĩ đến nát óc cũng không biết y gặp phải chuyện gì.

Dương Lăng không ngờ vì nhất thời hảo tâm mình đã giúp đỡ một tên đại gian thần có tiếng trong lịch sử, lúc này lại nghe Chu Hậu Chiếu đòi đi ăn uống, càng cảm thấy đau đầu. Y vội tiến sát đến bên cạnh Châu Hậu Chiếu, thấp giọng nói:
- Thái tử! Chúng ta rời cung đã lâu, kéo dài thời gian e rằng bệ hạ sẽ phát giác. Theo vi thần thấy, chúng ta hãy đi ăn chút cơm rồi mau chóng đến bộ Binh thôi!

Chu Hậu Chiếu cũng thấp giọng cười nói:
- Dương thị độc không cần phải lo lắng! Một lát nữa phụ hoàng sẽ đi tuần thị trường thi, trong thời gian ngắn sẽ chưa về cung đâu. Chúng ta đi tìm chỗ ăn uống một chút, đợi ta ăn no bụng rồi sẽ thuê xe đến bộ Binh lấy đồ.

Chu Hậu Chiếu nghĩ đường đường thái tử ra mặt, Lưu Đại Hạ thế nào cũng phải nể mặt, đòi một ít đồ há không dễ như trở bàn tay ư?

Mã Vĩnh Thành nghe lệnh của Chu Hậu Chiếu, vội dẫn cả bọn quay lại đường lớn, mười người thuê hai cỗ xe ngựa. Biết phụ hoàng của y muốn đến học cung, Chu Hậu Chiếu sợ sẽ bị ông ta phát hiện nên dặn dò Mã Vĩnh Thành đi càng xa càng tốt. Xe ngựa đi khắp đường to lối nhỏ được một lúc, Chu Hậu Chiếu từ trong xe nhìn thấy một con hẻm nhỏ bên đường vô cùng phồn hoa, đầu hẻm có một quán rượu, cờ bay phất phới, thật là vô cùng náo nhiệt. Y gõ vào thành xe, gọi Mã Vĩnh Thành dừng lại.

Mã Vĩnh Trinh đưa mắt nhìn, thì ra hẻm nhỏ này chính là hẻm Bách Thuận, là một nơi phong nguyệt nổi tiếng của kinh thành, lòng không khỏi thầm kêu khổ. Hoàng đế Hoằng Trì chỉ có một đứa con trai, có thể nói ông vô cùng sủng ái Chu Hậu Chiếu, thêm vào đó bản thân hoàng thượng cũng thường lén rời cung nên cho dù có biết Thái tử tự ý xuất cung, cùng lắm ông cũng sẽ cho đánh bọn gã vài gậy lấy lệ. Vì vậy đám thái giám này mới dám xúi Thái tử xuất cung, nhưng nếu hoàng thượng biết bọn hắn dẫn tiểu thái tử đến chốn trăng hoa, vậy tội không nhẹ rồi.

Nhưng gã lại không dám nói rõ với Chu Hậu Chiếu. Tính tò mò của vị Thái tử này quá lớn, càng là nơi không cho y đến, y càng muốn đến. May mà y chỉ vừa ý với tòa tửu lầu đầu hẻm kia, vậy đi vào mau chóng ăn uống một chút rồi nhanh chân rời khỏi là được.

Mã Vĩnh Thành dừng xe rồi trả tiền, tranh thủ dặn bọn người Lưu Cẩn, Trương Vĩnh vài câu. Mấy tên thái giám già gật đầu lia lịa, mau chóng bước lên bảo hộ Chu Hậu Chiếu vào tửu lầu, chỉ sợ "con ngựa hoang" này lại nhất thời nổi hứng đi dạo lung tung trong hẻm này.

Cả bọn bước lên lầu. Mã Vĩnh Thành chọn những món ngon nhất dọn lên đầy một bàn, mười người bắt đầu ăn uống trong gian phòng nhỏ yên tĩnh gần cửa sổ. Chu Hậu Chiếu còn nhỏ nhưng lại thích uống rượu, song vì y còn ít tuổi, tửu lượng còn thấp, uống được vài chén thì mặt đã đỏ bừng, bèn kêu Ngụy Bân mở cửa sổ cho thoáng khí.

Tiết tháng ba, ánh mặt trời rạng rỡ, không khí cũng vô cùng mát mẻ, gió xuân hây hây. Chu Hậu Chiếu bỗng cảm thấy phấn chấn tinh thần, y nổi hứng đứng dậy rót rượu cho bọn Dương Lăng, ép bọn họ cũng uống vài ly.

Chu Hậu Chiếu đang uống vui vẻ, bỗng nghe có tiếng đàn sáo từ ngoài cửa sổ loáng thoáng vẳng lại. Vốn yêu thích âm nhạc, y bất giác dừng chén tập trung lắng nghe.

Y hoàn toàn không hứng thú với âm nhạc truyền thống trong cung đình, nhưng lại rất thích những khúc ca dân gian, kỳ âm của dị vực, lúc này nghe khúc nhạc kỳ diệu êm tai từ phía xa vẳng lại, tuy nhạc khí sử dụng vẫn là đàn sáo, nhưng phong tình lại không giống với phong cách âm nhạc trong cung đình.Y bất giác đứng dậy dựa vào lan can nhìn ra xa, hứng thú chỉ xuống một dãy nhà tứ hợp viện hai tầng ở phía dưới hỏi:
- Đại Thành, đó là nơi nào?

Mã Vĩnh Thành và Lưu Cẩn đưa mắt nhìn nhau, lắp ba lắp bắp đáp:
- Ồ… lão nô cũng không biết, chắc là nhạc kỹ[2] do bọn lái thương mời đến đang ca hát.

Chu Hậu Chiếu vỗ tay nói:
- Có rượu mà không có nhạc sao được? Mau đi gọi một người lên đây, ta cũng muốn nghe đàn hát.

Mã Vĩnh Thành mặt mày khổ sở chần chừ không muốn động đậy. Vừa vặn lúc này ông chủ quán rượu thấy những người khách bàn này hào phóng nên đích thân bưng thêm một con cá chép lớn vào phòng, Chu Hậu Chiếu quay lại gọi ông ta:
- Chủ quán, ta nghe có tiếng đàn sáo ở bên kia rất thú vị. Mau đi gọi cho ta một người đến, ta muốn nghe nhạc.

Thấy y ngồi ở vị trí chủ trì, chủ quán biết tiểu công tử này tuy nhỏ tuổi nhưng lại là người cầm đầu đám thư sinh này. Ông ta nhìn ra cửa sổ một cái, cười đáp:
- Khách quan, nhạc kỹ ở bên kia không biểu diễn ở bên ngoài, khách quan muốn nghe nhạc, thì phải đến tận nơi để nghe.

Chính Đức nghe vậy thì lấy làm tò mò, hỏi:
- Ơ, phải nhạc kỹ không vậy? Sao lại tự cao tự đại như vậy, đâu phải là không trả tiền, tại sao lại tự đại như vậy?

Chủ quán thấy y nhỏ tuổi, đoán rằng y vẫn còn chưa hiểu cho lắm, nhưng mấy tay thư sinh bên cạnh, ai ai cũng lộ vẻ quái dị, nói không chừng là khách thường xuyên trong chốn phong lưu. Ông ta cười đáp:
- Khách quan có điều không biết! Các cô nương trong hẻm này đều là người có thân phận, thường ngày chỉ tiếp quan lại quyền quý, phú gia công tử, bình thường không dễ gì xuất đầu lộ diện.
Nơi vọng lại tiếng nhã nhạc đàn sáo kia là Thì Hoa Quán, càng là nơi nổi danh trong hẻm Bách Thuận này của chúng tôi. Cô nương xinh đẹp trong quán cũng là nhiều nhất, các cô nương do tú bà Nhất Xứng Kim ở đó dạy dỗ ai ai cũng tinh thông cầm kỳ thi họa. Thường ngày ra vào nơi đó đại đa số đều là những danh sĩ phong lưu, quan lại quyền quý có danh phận, quán rượu này của tôi còn nhỏ, không mời được cô nương bọn họ.

Châu Hậu Chiếu phong lưu hoang đường được lưu truyền hậu thế lúc này vẫn chỉ là một thằng nhóc chưa biết gì, hoàn toàn không có hứng thú với nữ sắc, chỉ muốn kêu người đến ca hát mà thôi, nghe nói nhạc kỹ ở đó không diễn ở bên ngoài, lập tức không còn chút hứng thú.

Chủ quán lại nói:
- Tiểu công tử nếu muốn đi xem cho mở tầm mắt, Thì Hoa Quán cũng thât là một nơi tốt để đi. Nơi đó những cô nương đang nổi tiếng như Hương Bảo Nhi, Khả Liễu Nhi đều xinh đẹp vô cùng, tiểu công tử nhân phẩm tuấn tú như vậy, bọn họ nhất định sẽ rất thích đó. Trong Thì Hoa Quán còn có ba tiểu cô nương xinh đẹp hơn nữa, vẫn còn chưa tiếp khách, đều là những thanh quan nhân[3].
Ba cô nương này tuy còn ít tuổi, nhưng đều là những mỹ nữ có vẻ đẹp trời cho. Một người tên là Tuyết Lý Mai, giỏi thổi tiêu; một người tên là Đường Nhất Tiên, giỏi gảy đàn; còn một người nữa là Ngọc Tỷ Nhi, ca múa đều giỏi. Ba người này tài nghệ và tướng mạo đều thập phần xuất chúng, tuổi tác cũng tương đương với công tử đây.

Nghe mấy cái tên Tuyết Lý Mai, Đường Nhất Tiên, Dương Lăng lờ mờ cảm thấy quen tai, tựa như đã đừng nghe qua. Nhớ trong chín kiếp luân hồi của y, kiếp cuối cùng nhập vào xác một ca sĩ nổi tiếng, từng đóng một vai trong một bộ phim liên quan đến triều Minh, dường như lúc đó đã nghe qua mấy cái tên này.

Dương Lăng nghĩ thầm: “Những nhạc kỹ này có thể lưu danh đến hậu thế, chắc cũng là danh kỹ đương thời, lẽ nào bởi vì qua tay Chính Đức, cho nên mới nổi danh? Thế nhưng trong lịch sử trước đây Chính Đức không có lần xuất cung này, phải tranh thủ tên tiểu tử này còn chưa hiểu gì về nữ sắc, lái chuyện này đi, không để cho y sa vào con đường đó.”

Dương Lăng bèn không thèm suy nghĩ đến mấy cái tên nghe quen tai này nữa, vội gắt chủ quán:
- Đi đi đi! Bớt huyên thuyên đi, mấy người chúng ta có gì mà chưa từng thấy! Vị tiểu công tử này của chúng ta tôn quý vô cùng, làm gì có việc hạ thấp thân phận đi gặp một ca kỹ chứ? Mau lui xuống!

Y vốn muốn thổi Chu Hậu Chiếu một tí để y tự thị thân phận bỏ ý muốn nghe nhạc đi, nhưng Chu Hậu Chiếu lại cười tít mắt, dễ dãi :
- Không sao, không sao! Ngươi nói một người giỏi thổi tiêu, một người giỏi gảy đàn, một người giỏi ca múa, vậy ba người này quả là tuyệt phối. Thế nhưng khúc nhạc ta nghe thử này nếu như là do bọn họ biểu diễn thì nhạc lý của họ cũng bình thường thôi.

Bọn người Lưu Cẩn lo lắng phập phồng sợ Chu Hậu Chiếu nhất thời hứng lên, đòi đến đó nghe ca hát. Nghe thấy y nói vậy mới yên tâm, nhao nhao phụ họa:
- Đúng vậy, đúng vậy! Công tử có gì mà chưa từng thấy chứ? Thôi đừng để ý, chúng ta uống rượu nào.

Chủ quán thấy Chu Hậu Chiếu hiền hòa, liền giả lả:
- Lúc này tấu nhạc chưa hẳn đã là các cô nương đó! Mấy vị khách quan không đi xem tài nghệ của bọn họ một lần, về sau muốn đi xem thì thiếu mất một vị rồi.

Chu Hậu Chiếu hiếu kỳ hỏi:
- Tại sao lại thiếu một người?

Chủ quán đáp:
- Nghe nói vị thương nhân họ Nghiêm để ý đến Ngọc Tỷ Nhi cô nương, bỏ ra nhiều tiền mua nàng ta về làm thiếp. Mấy ngày nay Ngọc Tỷ Nhi cô nương đều lấy nước mắt để rửa mặt, rất là đau buồn.

Dương Lăng nghe vậy lấy làm lạ vô cùng, bất giác hỏi:
- Cái gì? Làm gì có chuyện đó? Gả cho người khác làm thiếp cũng tốt hơn cái nghề bán tiếng cười cho người không quen biết, nàng ta có gì mà không vui chứ?

Chủ quán đáp:
- Khách quan chắc rằng ít khi đi lại chốn phong nguyệt, cho nên không biết tập tục nơi đó. Nếu là một cô nương bình thường, có người chuộc thân thoát khỏi bể lửa cho nàng ta, tất nhiên là điều mong mà không được. Nhưng Ngọc Tỷ Nhi cô nương còn trẻ, đã là thanh quan nhân có tiếng tại đây, về sau nhất định sẽ nổi danh. Danh kỹ đều lấy việc gả cho quan gia và văn nhân làm điều vinh dự, nếu ai bị thương nhân mua về làm thiếp thì đó là kết cục tồi tệ vô cùng, làm sao nàng ta cam tâm chứ?

Chu Hậu Chiếu nghe vậy cảm thấy thú vị, y hứng chí vỗ bàn đánh bộp, hạ lệnh:
- Đi! Chúng ta đi xem thử rốt cuộc ba nàng nhạc kỹ này có chỗ nào xuất chúng.


***************



Chú thích:
[1] Ngũ Thành Binh Mã ty: Năm Vĩnh Nhạc thứ hai (1404) nhà Minh thiết lập Bắc Kinh binh mã chỉ huy ty, sau khi định đô tại Bắc Kinh lập thành Ngũ thành binh mã ty, tức Trung, Đông, Tây, Nam, Bắc thành binh mã chỉ huy ty, là nha môn hàm Chánh lục phẩm. Mỗi ty lập ra một chỉ huy, bốn phó chỉ huy, một lại mục phụ trách trị an, phòng cháy và khai thông sửa chữa đường phố, vân vân, tương đương với Khu cảnh vệ Bắc Kinh và Cục công an ngày nay.
[2] Nhạc kỹ: Trung Quốc xưa gọi chung những nghệ nhân theo nghiệp âm nhạc, ca hát là Nhạc kỹ.
[3] Thanh quan nhân chỉ những phụ nữ chỉ bán nghề không bán thân, còn Hồng quan nhân chỉ những phụ nữ vừa bán nghề lại bán thân trong chốn hoan trường.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Đã post đến chương 66

Ba_Van
23-12-2010, 12:17 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 66 Chọc vào một gậy




Dịch: Bé Thy

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- Nghiêm đại gia, mong ông nói chuyện khách sáo cho! Tuy ông có tiền nhưng chẳng là gì đối với tỉ muội chúng tôi cả. Ông muốn mua mèo mua chó gì tùy ông, nhưng tỷ tỷ tôi không trông mong được vào nhà ông đâu. Huỷ ước chẳng phải là đền gấp đôi thôi sao? Tiền này chúng tôi sẽ trả.





Chương 66 Chọc vào một gậy

------------------------

Chu Hậu Chiếu vừa dứt lời, cả chín người còn lại đều nhất tề kêu khổ. Lưu Cẩn vội khuyên:
- Muộn…muộn lắm rồi, công tử! Hãy để hôm khác đi đi, đừng quên là lát nữa chúng ta còn có việc quan trọng cần làm đó.

Dương Lăng cũng vội tiếp lời:
- Đúng vậy, công tử! Những nơi đó tốt hơn hết là không nên đi, nếu để lệnh tôn biết được, chắc chắn sẽ bị trách phạt đó.

Trong những người này, suy cho cùng đám Lưu Cẩn và Cốc Đại Dụng cũng chỉ là nô tài, nhưng y lại là Thái tử thị độc, chịu trách nhiệm dạy dỗ thái tử, nay thành ra xúi giục Thái tử đi thanh lâu kĩ viện, tội ấy thực sẽ không nhẹ.

Cho dù Hoằng Trị lo cho sĩ diện của hoàng gia, không dám hé lộ chuyện Thái tử trốn ra ngoài, gán bừa cho y một tội danh nào đó cũng đều có thể khiến cho y chết dễ như trở bàn tay. Mặc dù từ những năm đầu lập nước Đại Minh đã lập ra một “Giáo Phường Ty“ to lớn, quan lại không những tự mình mua bán phụ nữ, mở kĩ viện, mà còn đưa cả vợ và con gái của những quan viên phạm tội vào làm kĩ nữ miễn phí, có thể nói là đã làm đủ chuyện thất đức. Nhưng trong pháp điển lại công khai quy định một điều là: ”nghiêm cấm quan lại quan hệ với kĩ nữ, ai trái lệnh sẽ bị phạt sáu mươi trượng”.

Tuy rằng điều luật này vốn chưa từng được ai tuân thủ theo, trên dưới Đại Minh đều mắt nhắm mắt mở làm ngơ, nhưng không có nghĩa là điều luật này đã đi mất hiệu lực. Chỉ cần Hoàng đế lấy danh nghĩa này để trừng trị y, bọn tướng quân đại hán sẽ dốc toàn lực “giúp cho” mông của y được “tiếp xúc thân mật” với sáu mươi trượng, lúc đó y không chết cũng thành tàn tật.

Chu Hậu Chiếu thấy bọn họ hết người này đến người khác nhảy ra khuyên ngăn, còn đưa cả phụ hoàng ra doạ mình, đành nói với vẻ không vui:
- Thôi, không đi thì thôi! Cái này không được, cái kia cũng không xong, thật là mất hứng.

Bọn người Dương Lăng sợ lát nữa Chu Hậu Chiếu sẽ lại đổi ý nên cũng không còn tâm trạng nhâm nhi thưởng thức mà vội vã ăn cho xong. Mã Vĩnh Thành nhanh chóng trả tiền rồi đưa Thái tử xuống lầu. Cả bọn đang đứng trước cửa quán định gọi xe thì thấy một người đàn ông mặt ngựa trạc tứ tuần dẫn theo vài tên đầy tớ to khỏe bước đến, vừa đi vừa đùng đùng quát mắng:
- Chẳng phải đã nói sau ba ngày sẽ đến đưa người đi sao? Sao tên Tô Hoài chó má đó lại đổi ý rồi?

Cạnh bên, một gã đàn ông nhỏ thó, dáng nhanh nhẹn đang chạy chậm theo hắn cười xiểm nịnh nói:
- Nghiêm đại gia! Nghe nói có tên lại mục ở Ngũ Thành Binh Mã Ty cũng để mắt tới Ngọc Tỷ Nhi, chi tiền nhiều hơn ngài. Hai vợ chồng Nhất Xứng Kim suy nghĩ lại rồi nổi lòng tham, nói rằng Nghiêm đại gia ngài vàng bạc châu báu đầy nhà, chắc không ngại bỏ ra thêm ít tiền. Nhưng mà công việc ngày thường của ngài là xây dựng, nếu như đắc tội với người của Ngũ Thành Binh Mã ty…

Ngừơi đàn ông mặt ngựa được gọi là Nghiêm đại gia bỗng nhiên dừng bước, lạnh lùng liếc mắt nhìn gã, giọng âm u:
- Tề Phương! Người nhận được bao nhiêu quà cáp của Tô Hòai mà nói giúp hắn trước mặt lão tử?

Tề Phương biến sắc, vội đáp:
- Đại gia! Xem ngài nói kìa, ai lạ ai thân chẳng lẽ tôi còn không biết sao? Sao tôi có thể nói giúp cho Tô Hoài được?

Nghiêm đại gia hừ một tiếng, mắng:
- Ai lạ ai thân? Tên chó má nhà ngươi chỉ thân với tiền bạc thôi, lão tử bỏ năm ngàn lạng bạc trắng ra chuộc thân cho Ngọc Tỷ Nhi, hắn còn muốn bao nhiêu nữa, hả? Đó là năm ngàn lạng bạc trắng bóng đó. Người của Ngọc Tỷ Nhi được khảm vàng hay nạm ngọc hay sao mà đáng giá đó? Ta khinh, hắn nằm mơ đi. Văn tự cũng đã viết rồi, hắn dám nuốt lời sao? Đi, hôm nay ta sẽ đến cửa đòi người, xem ai dám cản ta!

Chu Hậu Chiếu vừa nghe sắp có tiết mục cướp dâu để xem, tâm tư buồn bực khi nãy bỗng chốc trở nên phấn chấn, y hứng thú kéo Dương Lăng, gọi:
- Đi mau, đi theo xem náo nhiệt!

- Ơ kìa…!
Dương Lăng chưa kịp kéo lại, Chu Hậu Chiếu đã nhanh như chớp đi theo sau mấy người kia. Dương Lăng giậm chân, rồi cùng đám người Lưu Cẩn vội vã đuổi theo.

Khắp con phố này đều là tường thấp, hoa nở rực rỡ, trên cánh cửa trước một lạc viện trang nhã có treo tấm biển đen sơn vàng đề: “Thì Hoa Quán”. Vị Nghiêm lão gia kia đã dẫn người xông vào. Chu Hậu Chiếu dẫn đầu cả bọn cũng hứng chí đi theo vào trong.

Vừa bước vào cửa chính là một giếng trời rộng lớn, dưới những cây cột dựa dọc hành lang là những chiếc bàn nhỏ nhắn vuông vức, khách làng chơi thường ngồi đây uống trà, tuyển chọn các cô nương. Vì trời vẫn còn sớm nên dưới hành lang không hề có khách.

Lầu hai phía trên giếng trời là một dãy những căn phòng nhỏ, trước cửa đều có treo biển. Đây là phòng của những kỹ nữ bình thường nhất của kĩ viện. Đi sâu vào gian lạc viện thứ hai mới là nơi ở của các hồng cô nương*, đẳng cấp rõ ràng chênh lệch nhau xa. (*: xem chú thích về Hồng quan nhân ở chương trước)

Bọn người Dương Lăng vội vàng đuổi theo vào cửa, chỉ thấy cánh cửa nhỏ trong lạc viện thông ra hậu viện đang mở, vị thương gia họ Nghiêm cùng người đi theo đã vào gian thứ ba, Chu Hậu Chiếu khấp khởi theo sau bọn họ. Dương Lăng sợ y gặp bất trắc, vội dẫn tám tên thái giám đuổi theo.

Chu Hậu Chiếu muốn xem náo nhiệt, làm sao nỡ bỏ đi, thế là bèn vừa trừng mắt vừa cầu khẩn bọn người Dương Lăng và Lưu Cẩn đang bám riết không buông. Vừa nhìn thấy người kia dẫn bốn tên gia nhân khỏe mạnh xông vào hậu viện, y cũng vội vàng đuổi theo.

Đuổi tới gian lạc viện thứ ba, một người đàn ông yếu ớt nghe tiếng động chạy ra đón đã bị họ Nghiêm túm lấy cổ áo lớn tiếng chửi mắng. Bọn Dương Lăng vội kéo Chu Hậu Chiếu định rời khỏi, Chu Hậu Chiếu đang xem náo nhiệt, làm sao chịu đi. Y lại trơ mặt ra vừa cầu khẩn vừa trừng mắt, vừa đánh vừa xoa chứ nhất quyết không chịu bỏ đi.

Người đàn ông yếu ớt đó chính là tú ông Tô Hoài, hắn vừa cười nịnh bợ Nghiêm Khoan vừa nói:
- Nghiêm lão gia, cần gì phải tức giận như vậy chứ? Tôi đã nhận tiền của ngài, đương nhiên là sẽ không nuốt lời. Chỉ là Ngọc Tỷ Nhi đã theo vợ chồng tôi từ lúc năm tuổi,nhất thời không nỡ rời xa, vì đau lòng mà cơ thể cũng đã mang chút bệnh. Nghiêm gia hãy nương cho một khoảng thời gian nữa được không? Cùng lắm chỉ phải đợi thêm mấy ngày nữa thôi.

Nốt ruồi đen có lông trên má của Nghiêm Khoan rung lên, hắn nhe răng cười gằn đáp: - Khốn kiếp, kỹ nữ vô tình, con hát vô nghĩa, người như cô ta sao có thể không nỡ rời bỏ Tú ông,Tú bà như các ngươi chứ? Nghe nói các ngươi đang tìm một người mua khác, còn là một tên quan bé như hạt mè nữa, hê hê, phô trương thanh thế để dọa lão tử đây sao? Nhưng mà ta đã trả tiền rồi, có văn tự trên tay, có gặp quan ta cũng không sợ.

Một người phụ nữ trung niên mặc đồ tím nhạt từ sương phòng bên trái vội vàng đi ra, từ xa đã cười hì hì, nói:
- Ồ,Nghiêm đại gia, xem lời ngài nói kìa! Ngọc Tỷ Nhi là con nuôi của tôi, sau này nó theo ngài rồi thì ngài sẽ là con rể của tôi mà, sao có thể tổn hại hòa khí được?

Thân phận kĩ nữ so với người thường thấp hơn một bậc, thuộc về tầng lớp hạ lưu, nhưng thương nhân cũng là tiện dân, chẳng tốt hơn nàng ta bao nhiêu. Hơn nữa, vị Nghiêm lão gia này lại là khách quen của Thì Hoa Quán, đều quen nhau cả, cho nên Nhất Xứng Kim mới dám trêu hắn mấy câu thô tục.

Nhất Xứng Kim tuổi ngoài tứ tuần, nước da trắng mịn, tuy trên mặt có vài nếp nhăn nhưng làn thu ba dập dờn xinh đẹp và sắc sảo, dáng vẻ thướt tha vẫn rung động lòng người.

Nghe lời nói chêm chọc cười này của bà ta, ông chủ Nghiêm không xụ mặt nữa, hắn buông Tô Hoài ra cười nhạt:
- Năm ngàn lạng bạc, làm đứa con rể này không rẻ đâu à! Nhất Xứng Kim! Bớt giở trò trêu chọc ta đi, ngươi nói không nuốt lời? Được, coi như ta nghe nhầm, dù sao bây giờ nàng ấy là thiếp của ta, ba ngày sau vẫn là của ta. Vậy chọn ngày không bằng ngẫu nhiên, hôm nay ta muốn thành thân cùng nàng, ngươi thấy thế nào?

Nhất Xứng Kim biến sắc, gượng cười nói:
- Nghiêm đại gia! Tuy hứa gả Ngọc Tỷ Nhi cho ngài, nhưng suy cho cùng vợ chồng tôi đã nuôi nấng nó đến chừng này, sao có thể không có chút tình cảm nào chứ? Nay đứa con này không khỏe, yếu ớt sợ hãi, vợ chồng chúng tôi cũng rất đau lòng, sau này nó sẽ là người chung chăn gối với ngài rồi, chẳng lẽ ngài không đau lòng sao?

Nhất Xứng Kim vừa nói vừa liếc nhìn tướng công của mình, Tô Hoài nhún nhún vai, không nói tiếng nào. Thì ra vị Nghiêm lão gia này tên là Nghiêm Khoan, là khách quen của Thì Hoa Quán. Hôm đó ngủ thân mật với một hồng cô nương tại gian lạc viện thứ hai, nên đã qua đêm ở đây. Sáng dậy mở cửa sổ, đúng lúc nhìn thấy Ngọc Tỷ Nhi từ hậu viện đi ngang qua, thế là lập tức hồn siêu phách lạc

Nghiêm Khoan là một thương gia ham tiền, vốn không ưa trò ngắm trăng vịnh cảnh, nghe nhạc làm thơ, chỉ vì học đòi nho nhã để lấy lòng thanh quan nhân này nên cũng đứt ruột tốn một đống bạc giả làm người nho nhã vài ngày. Nhưng cả mấy lần ngay đến bàn tay nhỏ bé của người ta cũng chưa được đụng đến.

Hắn nghĩ thay vì lấy dao cùn cắt thịt, chi bằng tốn một đống bạc lớn đưa tiểu mỹ nhân đẹp mê hồn này về nhà thưởng thức cho đã. Hôm đó đúng lúc Nhất Xứng Kim đang bệnh, tướng công của bà ta lo việc làm ăn, tuy thanh lâu là mỏ vàng, năm ngàn lượng đối với ông ta mà nói cũng không phải là một con số tầm thường. Hắn tính từ lúc mua Ngọc Tỷ Nhi ở Đại Đồng Sơn Tây về chỉ tốn tám trăm văn tiền, nay nuôi được tám năm thì đã có thể đổi lấy năm nghìn lạng bạc, nên đã lập tức nhận lời ngay, còn lăn cả dấu vân tay lên văn tự nữa.

Khi Nhất Xứng Kim nghe được việc chồng mình tự ý quyết định, liền mắng hắn té tát. Mụ ta lăn lộn bao nhiêu năm trong chốn phong nguyệt nên Ngọc Tỷ Nhi sau này kiếm được bao nhiêu tiền trong lòng mụ ta rất rõ. Hơn nữa sau khi cô nàng nghe nói mình bị Tô Hoài bán cho một thương nhân thì đau đớn thương tâm, khóc lóc om sòm mấy trận, khiến Tô Hoài cũng có chút hối hận.

Nhưng văn tự đã ký làm sao nuốt lời được? Hai người bọn họ tính đi tính lại,cố gắng tạo ra tin đồn rằng tên lại mục ở Ngũ Thành Tư Mã ty cũng để ý Ngọc Tỷ Nhi, định dùng chức quan để chèn ép hắn.

Kì thực Ngũ Thành Binh Mã ty không phải là nha môn to tát gì, chỉ là một nơi quản lí trị an bình thường ở kinh thành (không kể Hoàng thành và Tử Cấm Thành). Lại mục lại càng không được xem như một chức quan, chỉ là cầm đầu của một nhóm tiểu lại, bình thường theo phía sau tuần thành ngự sử đi dạo phố phường, đợi nghe sai khiến, phất cờ hò reo, là một tên sai vặt không hơn không kém.

Kì thực tiểu lại của Ngũ Thành Tư Mã ty rất tội nghiệp, ngoài việc bắt mấy tên trộm, sai dân chúng quét dọn đường phố, dọn dẹp cống ngầm, kiểm tra cân đong của thương buôn có chính xác không và đánh đập những tên dân ngu xuẩn phóng uế bừa bãi, thì vốn không có quyền quản lí hoặc chấp pháp. Khắp kinh thành đều là người quyền quý, bọn họ còn có thể quản lí ai?

Nhưng một tiểu lại như vậy muốn áp chế thương nhân cũng rất dễ dàng. Nghiêm Khoan ở kinh thành làm ăn chẳng phải thường sợ nha môn quản lí trị an, thành quản, vệ sinh phòng dịch ở đây nắm thóp sao? Không ngờ lời này thông qua Tề Phương đến tai hắn, Nghiêm Khoan này lại không để tâm, vẫn tìm đến tận cửa. Hai vợ chồng bọn họ nhất thời không biết hắn có bối cảnh lớn cỡ nào.

Nghiêm Khoan nghe xong lời Nhất Xứng Kim vừa nói liền cười ha hả, đáp bằng giọng quái gỡ:
- Đau lòng? Để những cô nương yểu điệu xinh đẹp ở trong kĩ viện này của ngươi bị người này người kia chọc vào, ta mới đau lòng đó. Sao? Một kĩ nữ như ả mà dám chê thân phận ta thấp hèn sao? Đừng vuốt mặt mà không biết nể mũi, chỉ có người ta chọn ả thôi, làm gì tới lượt ả chọn khác. Ta có tiền, ta chính là đại gia!

Cửa phòng đối diện đang đóng chặt bỗng mở toang, một tiểu cô nương với khuôn mặt trang điểm nhẹ, khoác áo lụa thêu hoa mẫu đơn, mặc váy xếp nếp màu xanh lá mạ từ trong bước ra rất nhanh. Nàng đứng ở cửa, nhướng mày, vẻ mặt lạnh lùng nói:
- Nghiêm đại gia, mong ông nói chuyện khách sáo cho! Tuy ông có tiền nhưng chẳng là gì đối với tỉ muội chúng tôi cả. Ông muốn mua mèo mua chó gì tùy ông, nhưng tỷ tỷ tôi không trông mong được vào nhà ông đâu. Huỷ ước chẳng phải là đền gấp đôi sao? Tiền này chúng tôi sẽ trả.

Cô nương mặc váy xanh này tư thế yểu điệu, nước da trắng ngần, phía dưới hàng chân mày nhạt là một đôi mắt xinh đẹp và vô cùng sắc sảo, âm thanh khi nói chuyện vừa giòn vừa gấp, giống như rang đậu vậy.

Chu Hậu Chiếu không nhịn được, tấm tắc cười khen:
- Cô nương này lợi hại thật, hơn kẻ bất lực kia nhiều.

Dương Lăng và Cốc Đại Dụng nghe xong nhìn nhau cười một cách khổ sở.

Nghiêm Khoan chau mày nói:
- Tuyết Lý Mai cô nương, cô nói thật dễ, muốn hủy ước cũng phải được sự đồng ý của ta mới được. Tiền? Ta đây không thiếu, chỉ thiếu mỗi con mèo con chó làm ấm giường. Ngọc Tỷ Nhi này, lão tử quyết lấy rồi!

Hắn rút từ trong ngực áo ra một tờ văn tự, lạnh lùng đưa trước mặt Tô Hoài nói:
- Trên văn tự này của ta còn có dấu vân tay của ngươi đó. Sao, chúng ta có cần lên nha môn gặp nhau không?

Lại thêm một vị tiểu cô nương từ bên trong tú lâu đó bước ra, đi thẳng đến trước mặt Nghiêm Khoan rồi nói với giọng cầu khẩn nhẹ nhàng:
- Nghiêm đại gia! Thường có câu cố hái dưa dưa sẽ không ngon, những chuyện như vậy đôi bên phải tình nguyện mới được. Ngài hãy rủ lòng khai ân, buông tha Ngọc Tỷ Nhi đi.

Nghiêm Khoan cười ha hả, híp mắt nói:
- Vẫn là Nhất Tiên cô nương ăn nói ngọt ngào, làm cho người khác thích thú, đâu như thứ đàn bà miệng mồm đanh đá kia, ha ha ha.

Dương Lăng nghe giọng nói nàng ngọt ngào, cũng không khỏi liếc nhìn một cái. Vị cô nương Đường Nhất Tiên này cũng chỉ khỏang mười ba mười bốn tuổi, dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt xinh đẹp rực rỡ, trên khóe môi có một nốt ruồi son, toát lên vài phần hoạt bát. Nàng liếc Nghiêm Khoan cười thẹn thùng, nũng nịu nói:
- Vậy là Nghiêm đại gia đã đáp ứng?

Nghiêm Khoan thấy thế xương cốt liền nhũn ra, hắn híp mắt nói:
- Đáp ứng ư? Ta đáp ứng gì chứ? Vàng bạc mua nụ cười, người đẹp đón niềm vui, mua bán công bằng mà. Hề hề, cô bé có dáng vẻ động lòng người, vài năm nữa cũng sẽ thành tiểu yêu tinh. Đừng vội, đừng vội! Cuối năm nay ta sẽ kiếm thêm được một món tiền kha khá nữa, đến lúc đó ta cũng sẽ mua cô về bầu bạn với Ngọc Tỷ Nhi. Chúng ta một giường ba người, cô thấy thế nào?

Hiện nay Đường Nhất Tiên, Ngọc Tỷ Nhi và Tuyết Lý Mai đều có thân phận thanh cao, khách nhân bọn họ tiếp đãi thường ngày đều tương đối nho nhã, nào ăn nói thô tục như hắn. Nàng nghe xong vừa giận vừa thẹn, nhưng nhất thời lại không dám phát tác.

Nghiêm Khoan phe phẩy văn tự trên tay,đang dương dương tự đắc, bỗng tay chợt hẫng đi, một giọng vịt đực ồm ồm cất lên bên tai:
- Cầm lông gà mà tưởng là thẻ lệnh, thô bỉ hết chỗ nói, tục tằn không chịu nổi! Để ta xem là cái giống gì.

Nghiêm Khoan thất kinh, ngoái đầu lại nhìn, thì thấy một tiểu thư sinh đang cầm văn tự trên tay, mở hết cở cổ họng vịt đực đọc to:
- Bản ty lạc hộ(1) Tô Hoài, hiện có con gái nuôi Ngọc Đường Xuân, tên thật là Tô Tam, vốn mong tiếp khách dưỡng lão. Nay có thương nhân Nghiêm Khoan phải lòng tiểu nữ, Tô Hoài đã nhận năm nghìn lạng bạc làm lễ vật chuộc thân. Từ nay về sau…


***************



Chú thích:
(1) Lạc hộ là kỹ viện, nhà chứa




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
26-12-2010, 06:47 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 67 – Không lo việc chính




Dịch: Vo Vong

Biên dịch:

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Chu Hậu Chiếu thường ngày ở trong cung cũng không thiếu gì những cung nữ trẻ tuổi hầu hạ. Thế nhưng những nàng đó cho dù tướng mạo không tồi thì khi đứng trước mặt y cũng luôn tỏ vẻ nghiêm túc e dè, ngay cả thở mạnh một hơi cũng không dám, nào bình dị dễ gần như cô gái này. Đã thế nàng ta lại còn dám dạy bảo y, có điều lời dạy bảo lại nghe rất ngọt ngào, khiến người ta không kìm được lòng yêu mến.





Chương 67 – Không lo việc chính

-----------------

Thấy thiếu niên mặc đồ nho sỹ, đằng sau còn có bảy tám tên tú tài bộ dạng èo uột yếu ớt bám theo như lũ chim cun cút, Nghiêm Khoan cho rằng y chỉ là một kẻ đọc sách tới chốn lầu xanh uống rượu vui chơi. Vốn hắn cũng không muốn vô lễ, thế nhưng tờ văn tự đã bị cướp mất, trong lòng cũng thầm sợ sẽ xảy ra điều gì lầm lỡ, lại nghe Chu Hậu Chiếu cứ đọc ầm lên như chỗ không người nên hắn chẳng màng khách sáo nữa, lập tức bước tới đưa tay giật lại.

Chu Hậu Chiếu thấy hắn đưa tay ra cướp thì bèn vội tránh sang bên cạnh, bàn tay Nghiêm Khoan liền vỗ trúng vào cánh tay y. Tay Chu Hậu Chiếu chợt trầm xuống, roạt một tiếng vang lên, lập tức tờ văn tự chuộc thân rách thành hai nửa.

Chu Hậu Chiếu cả mừng, bèn dùng cái giọng vịt đực của mình cười nói:
- Mọi người đều thấy rồi đó nhé! Chính hắn ta tự xé tờ giấy này, không liên quan gì tới ta hết.

Nghiêm Khoan cuống lên, lập tức bước tới tung ra một quyền, miệng mắng:
- Đồ tiểu súc sinh, cút con mẹ mày đi!

Quyền của hắn đánh trúng ngay vào sống mũi của Chu Hậu Chiếu. Ngay lập tức Chu Hậu Chiếu choáng váng đầu óc, máu mũi chảy dài, không kìm được kêu ầm lên. Chu Hậu Chiếu vốn luyện võ từ nhỏ, khi ở trong cung cũng theo mấy thị vệ đại nội vốn là cao thủ được mời tới từ phái Võ Đang để luyện tập một số môn võ nghệ cao minh. Tuy nhiên một là y hoàn toàn không có kinh nghiệm thực chiến, hai là trước nay chưa bị người khác đánh bao giờ, do đó khi thấy mũi mình vừa đau vừa tê dại, đưa tay lên sờ thì thấy toàn là máu, trong lòng lập tức hoảng hốt, chẳng hề nghĩ tới chuyện đánh trả.

Nghiêm Khoan giật lấy hai mảnh giấy từ trong tay y rồi ghép lại, cũng may, ghép lại vẫn liền lạc, không có vấn đề gì cả.

Trông thấy Thái tử bị đánh, tám con “chim cun cút” liền như bị đào mất mộ tổ, lập tức đều lo lắng vô cùng, kẻ nào kẻ nấy mặt mũi đỏ bừng xông lên.

Tuy rằng thường thì thể lực của thái giám vẫn yếu hơn của người bình thường một chút, thế nhưng trước khi vào cung Trương Vĩnh đã từng đọc qua binh thư, luyện qua võ nghệ, nên quyền hắn đấm ra cũng khá có uy lực. Nghiêm Khoan vừa mới nhét tờ văn tự vào trong ngực thì Trương Vĩnh đã vung quyền đấm trúng hắn, hắn loạng choạng lùi về sau mấy bước, tiếp đất bằng mông.

Nghiêm Khoan cả giận, lập tức quát tháo bốn tên thủ hạ khỏe mạnh của mình:
- Đánh cho ta!

Bốn tên tráng hán lập tức xông lên đánh nhau lộn tùng phèo với tám gã thái giám. Tuy rằng bốn tên tráng hán thấy đối phương đều là người đọc sách nên không dám nặng tay, thế nhưng tám kẻ yếu xìu như bún thiu kia làm sao là đối thủ của người ta cho được? Tuy là tám người đánh bốn, thế nhưng ngoại trừ Trương Vĩnh còn có công có thủ một chút ra, đám người còn lại đều chỉ có thể vừa lùi về phía sau vừa ăn đòn.

Nhìn cuộc đánh đấm “thê thảm đến không nỡ nhìn” ngay trước mắt, Dương Lăng thầm tính cho dù mình có tham gia thì cũng chỉ là thêm cái bia thịt cho người ta đánh mà thôi. Y bèn dứt khoát đi tới đỡ Thái tử dậy, đồng thời cất giọng thân thiết hỏi:
- Công tử, cậu thế nào rồi? Có sao không?

Chu Hậu Chiếu đang dùng tay che mũi, máu tươi không ngừng chảy ra qua kẽ ngón tay, miệng ú ớ không nói được câu nào. Bỗng có một bàn tay be bé xinh xinh từ bên cạnh đưa tới cho y một chiếc khăn tay tràn đầy hương thơm mê người kèm giọng nói ngọt ngào:
- Tiểu công tử, cậu hãy lau đi!

Chu Hậu Chiếu không khỏi ngẩn người, bất giác đưa tay nhận chiếc khăn. Ngón tay y chạm vào tay người ấy, chỉ cảm thấy nó vừa mềm mại vừa láng mịn vô cùng, trong lòng chợt trào lên một cảm giác khác lạ trước nay chưa từng có. Ngay trước mắt y xuất hiện một đôi mắt như biết nói, bên trong ẩn chứa sự dịu dàng khó có thể miêu tả bằng lời, còn có cả sự quan tâm và thông cảm trong nụ cười nhè nhẹ kia nữa, thật khiến lòng người phải rung động.

Chu Hậu Chiếu đưa chiếc khăn của Đường Nhất Tiên lên bịt mũi, lập tức ngửi thấy một mùi hương thoang thoảng ngập tràn. Y nhất thời như ngây ngốc, ngay cả lời Dương Lăng vừa nói cũng không nghe thấy.

Tô Hoài, Nhất Xứng Kim cùng với một vài tên quy công nghe ồn ào chạy đến nhìn thấy trước mắt có hơn chục người đang đánh nhau lộn tùng bậy, cũng chẳng biết là nên khuyên can hay nên giúp bên nào, nhất thời lúng ta lúng túng chẳng biết nên làm sao mới phải. Chợt nghe một tiếng hô yêu kiều trong trẻo vang lên:
- Đừng đánh nữa!

Giọng nói của thiếu nữ này cực kỳ dễ nghe. Bất giác mười hai người đang đánh nhau đều dừng tay lại, nhất tề nhìn về hướng phát ra âm thanh. Trong lầu có một thiếu nữ vận bộ áo trắng như tuyết đang đứng, mái tóc dài buông xõa sau lưng, thân hình thon thả tuyệt vời.

Thiếu nữ đó lạnh nhạt nói:
- Nghiêm đại gia, việc gì phải làm tổn thương người vô tội chứ? Xin ngài trở về đi, ba ngày sau Tô Tam sẽ đi theo ngài là được rồi!

Tuyết Lý Mai - thiếu nữ vận bộ áo xanh biếc đứng bên cạnh vội can:
- Chị Ngọc Tỷ Nhi, người như thế mà chị cũng muốn đi theo hay sao chứ? Tới gặp quan thì sao nào, muội quen người ở bộ Lễ…

Thiếu nữ áo trắng ngắt lời nàng, cất giọng buồn bã:
- Muội muội ngốc nghếch, nói những chuyện đó làm gì? Những lão gia đó ngâm thơ, vẽ tranh, bàn chuyện trăng gió với chúng ta chẳng qua chỉ là để tiêu khiển mà thôi. Người ta đã phải bỏ tiền ra, lại không nợ gì chúng ta cả, nếu thật sự phải đến chỗ quan phủ, chỉ sợ người ta còn không dám nhận đã từng quen biết chúng ta nữa kìa!

Nàng thở dài một hơi buồn bã, sau đó lại tiếp:
- Đừng nói gì thêm nữa, những người như chúng ta đều không nhà không cửa, tựa như là bông liễu bay trong gió, nhánh bèo trôi trong nước. Gió thổi bay tới đâu thì chúng ta bay tới đó, sóng cuốn tới đất nào thì chúng ta cũng chỉ có thể tới đất đó mà thôi.

Nghiêm Khoan phá lên cười ha hả, mắt liếc nhìn khắp xung quanh. Nhận thấy lúc này mấy tên thư sinh kia đã bị thủ hạ của mình đánh cho mặt mũi tím bầm, đang hậm hực nhìn về phía mình, có vẻ cũng không muốn gây sự thêm nữa, thế là hắn bèn dương dương đắc ý bảo:
- Được rồi! Sớm biết điều như thế này có phải là thoải mái hơn không, lúc ấy ông đây sao lại nổi giận chứ? Ha ha, chúng ta đi thôi! Nhất Xứng Kim, ba ngày sau ta sẽ tới mang người đi đó, nếu ngươi còn dám lằng nhằng đùn đẩy, hừ!

Hắn khẽ khoát tay, dẫn theo bốn tên tráng hán to khỏe nghênh ngang bỏ đi. Dương Lăng đưa mắt nhìn về phía trong lầu, thấy một thiếu nữ đẹp như người trong tranh. Nàng ta vận bộ váy áo trắng như tuyết, trang điểm giản đơn, tuy bị vướng bởi bóng râm của tòa lầu nên không thể nhìn rõ dung mạo, thế nhưng chỉ nhìn thân hình cùng với cử chỉ lễ độ kia thôi cũng đủ thấy không hề thua kém vầng trăng rạng rỡ trên trời cao rồi. Lúc này nàng lại đứng ngay cạnh Tuyết Lý Mai đẹp tựa nhành mai trong tuyết, mỗi một động tác của các nàng đều nhã nhặn nhẹ nhàng, vẻ đẹp của cả hai càng tăng lên gấp bội.

Mỹ nữ này quả nhiên không thẹn với lời đồn, chỉ riêng cử chỉ cùng với khí chất kia thôi đã là không tầm thường rồi.

Bát hổ tuy từng là đàn ông nhưng lại đã tu luyện đến cảnh giới tối cao “bản lai vô nhất vật, hà xứ lạc trần ai” (Vốn là hư vô chẳng có vật gì, cớ nào lại nhiễm bụi trần cho được, hai câu trong bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng - ND.), đẹp cũng được, xấu cũng đành, chẳng liên quan gì tới bọn họ hết, lúc này cả tám khuôn mặt chỗ xanh chỗ tím đều ghé đến chỗ Chu Hậu Chiếu để khoe công.

Chu Hậu Chiếu cũng chẳng để ý tới đám “xú bát quái” hàng thực giá thực kia (Xú bát quái là từ để chỉ người xấu xí, trong đó xú nghĩa là xấu xí, bát là tám, quái là quái dị. Trong đoạn này xú bát quái là chỉ tám tên thái giám lúc này đã bị đánh cho mặt mũi sưng vù - ND.). Y vội lau dòng máu tươi chảy xuống tới bên miệng, sau đó lại chùi chùi mũi, thấy không còn máu chảy nữa. Y bớt lo hẳn, lập tức bỏ tay xuống, nói với Đường Nhất Tiên:
- Đa tạ cô nương, ta không sao rồi!

Đường Nhất Tiên nở nụ cười ngọt ngào nói:
- Vậy thì tốt! Những kẻ đó đều là người thô tục, ỷ mình có chút tiền thối tha mà đi ức hiếp người khác. Cậu là một thư sinh yếu đuối, cứ đọc sách thánh hiền của cậu là được rồi, sao lại đi đối đầu với đám vô lại ấy chứ? Sau này phải tự biết mình, đừng có cố quá mà rước họa vào thân!

Chu Hậu Chiếu thường ngày ở trong cung cũng không thiếu gì những cung nữ trẻ tuổi hầu hạ. Thế nhưng những nàng đó cho dù tướng mạo không tồi thì khi đứng trước mặt y cũng luôn tỏ vẻ nghiêm túc e dè, ngay cả thở mạnh một hơi cũng không dám, nào bình dị dễ gần như cô gái này. Đã thế nàng ta lại còn dám dạy bảo y, có điều lời dạy bảo lại nghe rất ngọt ngào, khiến người ta không kìm được lòng yêu mến.

Một sợi tơ tình mông lung chợt sinh ra nơi đáy lòng Chu Hậu Chiếu, tiểu cô nương dáng người nhỏ nhắn xinh xắn có giọng nói làm say lòng người này đã lặng lẽ đặt một dấu ấn vào trong trái tim y. Cho dù thân là Thái tử cao quý, thế nhưng y cũng là đàn ông, những người vừa mới biết đến chuyện ái tình chắc cũng hiểu được điều này, mỗi một lời nói tiếng cười, mỗi một hành vi cử chỉ của đối phương đều được y quan tâm để ý.

Chu Hậu Chiếu nghe nàng bảo mình là một thư sinh yếu ớt vô dụng thì cảm thấy hơi khó chịu, không kìm được đỏ bừng mặt nói:
- Ai nói là ta không đánh lại được hắn chứ? Với công phu Thập Đoạn Cẩm (Một loại võ công – ND.) của ta, cho dù là năm ba tên đại hán cũng không tới gần được, muốn dạy dỗ mấy tên nhãi nhép ấy còn chẳng phải là dễ như trở bàn tay sao? Có điều vừa rồi… vừa rồi ta mới lần đầu động thủ với người khác, nhất thời ngây ra mà thôi.

Đường Nhất Tiên nghe y bốc phét rằng năm ba người cũng không thể tới gần mình, thế nhưng sau lại nói là chưa từng động thủ với người khác, nào biết được y nói thực, còn cho rằng gã tiểu thư sinh này khoe mẽ, không kìm được khẽ cười khúc khích đáp:
- Được rồi, được rồi! Công tử công phu lợi hại, tôi tin là được rồi chứ gì? Mũi cậu ổn rồi chứ? Không có việc gì thì về nhà sớm một chút đi, nơi như thế này ít tới một chút là tốt nhất!

Chu Hậu Chiếu thấy nàng cho rằng mình bốc phét, lập tức giận dữ đến đỏ bừng cả mặt. Đứng trước mặt người con gái lần đầu khiến trái tim y rung động, lại bị người ta coi là trẻ con, y làm sao có thể chịu đựng cho nổi? Chu Hậu Chiếu giậm chân hậm hực nói:
- Nàng không tin sao? Ta muốn trừng trị tên vô lại đó thực dễ như trở bàn tay, còn cả tờ văn tự chuộc thân rắm chó gì đó nữa, trông hắn cầm cứ như cầm bảo bối vậy. Hừ hừ, ta muốn lấy lại nó chẳng qua cũng chỉ cần một câu nói mà thôi.

Hai mắt Đường Nhất Tiên lập tức sáng lên, nhưng ngay sau đó lại thở dài một hơi với vẻ thất vọng. Vị tiểu công tử này chắc hẳn là công tử của nhà giàu nào đó, vì không biết trời cao đất dày nên mới dám nói lời ngông cuồng như vậy. Năm ngàn lượng bạc chẳng phải là con số nhỏ, cho dù y xuất thân từ gia đình giàu có, nhưng trưởng bối trong nhà y đời nào lại chịu để cho y lấy bạc ra tiêu xài hoang phí thế được?

Chu Hậu Chiếu thấy nàng không tin thì không khỏi cuống lên, y đưa mắt nhìn bọn thuộc hạ. Lúc này bọn Lưu Cẩn đều tay áo rách toang, mũ rơi ra ngoài, tóc tai tán loạn, mặt mũi sưng vù, bất luận là lôi tên nào ra cũng đều không có sức thuyết phục, thế là đành chỉ tay vào Dương Lăng nói:
- Nàng không tin sao? Không tin hãy hỏi y xem ta làm có được không nào!

Đôi mắt long lanh của tiểu cô nương đó nhìn chăm chăm vào Dương Lăng, ngay cả hai vị cô nương Tô Tam và Tuyết Lý Mai ở đằng sau cánh cửa tuy tỏ vẻ không để ý nhưng thực ra đều đang dỏng tai lên nghe. Dương Lăng hết cách nên đành gật đầu đáp:
- Không sai, lời của vị công tử này không phải là giả. Đừng nói là chỉ dạy dỗ cho tên vô lại kia một trận, cho dù là chuộc lại tờ văn tự kia cũng chẳng phải chuyện gì khó khăn.

Dương Lăng tướng mạo tuấn tú, phong thái hiên ngang, hiện giờ ngoài sáng y là Thái tử thị độc, trong tối là quan cao trong Cẩm Ỷ vệ, sự từng trải về tâm lý cùng với kinh nghiệm sống còn vượt xa tuổi tác hiện giờ, những lời y nói toát ra một sự uy nghiêm khiến người ta khó mà không tin. Tô Tam vốn đứng đằng sau bậc cửa lặng lẽ nhìn y, giờ nghe thế lập tức thở phào một hơi, Đường Nhất Tiên thì dùng giọng hoài nghi hỏi:
- Lời của công tử… là thật sao?

Trong suy nghĩ của nàng, vị công tử này dù rất có thân phận, đủ sức bức ép được Nghiêm Khoan phải trả lại tờ giấy chuộc người, thế nhưng nếu không phải vì y cũng đã động lòng với Ngọc Tỷ Nhi, việc gì lại phải bỏ ra một số tiền như thế chứ? Nhìn dáng vẻ y như cây ngọc đón gió, quần áo chỉnh tề, lại là một người đọc sách có thân phận, nếu y cũng muốn chuộc thân cho Ngọc Tỷ Nhi, nói không chừng tỷ ấy còn vô cùng mừng rỡ ấy chứ. Lúc này trong lòng nàng vừa mừng cho Ngọc Tỷ Nhi, lại vừa có mấy phần ngưỡng mộ và tự thương cho số phận mình.

Chu Hậu Chiếu đắc ý:
- Đương nhiên là thật rồi!

Y nghênh ngang chỉ tay vào Dương Lăng nói:
- Dương… Dương đại ca, chuyện này giao cho huynh đó. Hãy dạy dỗ cho tên khốn nạn kia một trận, sau đó thì đòi tờ văn tự chuộc người về!

Trong suy nghĩ của y, y là vua, Dương Lăng là bầy tôi, chuyện mà y giao cho Dương Lăng đi làm thì cũng giống như là y đã làm chuyện đó cho người khác. Nhưng trong suy nghĩ của Ngọc Đường Xuân, Tuyết Lý Mai, Đường Nhất Tiên và đám người bọn Nhất Xứng Kim thì lại hoàn toàn khác. Sau khi nghe xong, cả bọn đều như giật mình hiểu ra, thảo nào tiểu thư sinh này lại tỏ vẻ chắc chắn như vậy, e là người bạn lớn tuổi hơn y một chút kia mới là nhân vật có lai lịch và chỗ dựa.

Ngọc Đường Xuân ở sau bậc cửa nhìn Dương Lăng chăm chú một hồi, nhận thấy lúc này y có vẻ như hơi sửng sốt. Vốn là một cô gái cực kỳ nhanh trí, nàng lập tức dịu dàng khom người cảm tạ:
- Vậy Tô Tam xin tạ ơn Dương công tử!

Thế này tức là sắt đã được rèn khi còn nóng, ván đã đóng thuyền.

Chu Hậu Chiếu nghi hoặc hỏi:
- Hả? Người giúp đỡ là ta cơ mà, tại sao nàng lại đi cảm ơn y vậy?

Đường Nhất Tiên bật cười đáp:
- Ai nói là không cảm ơn cậu chứ? Nếu hai vị công tử chịu giúp đỡ, tiểu nữ sẽ bày tiệc cảm ơn cả hai.

- Được!
Chu Hậu Chiếu nghe nói nàng sẽ bày tiệc để cảm tạ, trong lòng không khỏi mừng rơn, lập tức nói ngay:
- Chúng ta đi đây, các nàng cứ đợi tin tốt của chúng ta nhé! Muộn nhất là ba ngày, chuyện này nhất định sẽ được giải quyết xong!

Lúc này trong lòng y, trong mắt y chỉ có một nàng Đường Nhất Tiên yêu kiều xinh đẹp, y chỉ hận không thể làm xong chuyện này ngay lập tức để lấy lòng nàng, bèn vội vàng chạy ngay ra ngoài cửa Thì Hoa Quán. Thấy Nghiêm Khoan đã dẫn người sắp ra đến ngoài đường lớn, Chu Hậu Chiếu lập tức ra lệnh:
- Cao Phượng, La Tường! Mau bám theo hắn, đừng để hắn chạy mất!

Rồi y bảo Dương Lăng:
- Ngươi mau tới Ngũ Thành Binh Mã ty điều quân đến đây bắt người cho ta!

Tám gã thái giám và Dương Lăng nghe vậy đều giật nảy mình. Lần này thì lớn chuyện rồi, Thái tử đến thanh lâu đánh nhau với một tay khách làng chơi, sau đó điều động người của Ngũ Thành Binh Mã ty đến đàn áp đối phương, chuyện này mà loan truyền khắp nơi thì còn ra thể thống gì nữa?

Cả bọn đều vội bước tới cố sức khuyên can. Chu Hậu Chiếu cả giận nói:
- Hắn dám đánh ta, nay có giết hắn thì cũng chẳng phải chuyện ghê gớm gì! Các ngươi dám chống lệnh sao?

Bình thường chuyện gì Chu Hậu Chiếu cũng tùy tiện, chẳng hề có chút uy nghiêm nào. Nhưng lúc này trong cơn giận dữ, cái khí thế được bồi dưỡng từ bé khi chuyên môn sai khiến người khác, muốn gì được nấy của y lập tức thể hiện ra, Bát hổ đều không khỏi run lên cầm cập, Dương Lăng cũng thầm chấn động toàn thân.

Cao Phượng, La Tường thấy mấy người thân cận nhất của Thái tử như Dương Lăng, Lưu Cẩn, Trương Vĩnh đều không dám nói gì thêm, cũng chỉ đành liều mình đuổi theo Nghiêm Khoan mà thôi. Cốc Đại Dụng biết rằng chuyện gì Chu Hậu Chiếu đã hạ quyết tâm thì khó mà khuyên nổi, nên cũng chỉ đành khẽ đẩy Dương Lăng, ý bảo y mau đi tìm người của Ngũ Thành Binh Mã ty tới.

Dương Lăng đành gượng cười rời đi. Vốn y cho rằng vị Thái tử nhỏ tuổi này dễ đối phó, mình chỉ cần dùng một chút kế sách nho nhỏ là có thể khiến Chu Hậu Chiếu cam tâm tình nguyện nghe lời ngay, kế đó mượn danh nghĩa Thái tử để đi lấy bức bản đồ đi biển của Trịnh Hòa về. Trong lòng y vốn đã có chút đắc ý, nào ngờ đến lúc này mới biết mình đã tính nhầm một chuyện, đó là cho dù Chu Hậu Chiếu có tính tình tùy tiện và hay suy nghĩ linh tinh, thế nhưng những thứ đó thì người khác tuyệt đối không thể dự đoán được và cũng không thể nào ngăn cản nổi.

Y không dám rời đi quá xa, chỉ đành đi tìm người của Ngũ Thành Binh Mã ty ở xung quanh khu vực đó. Vốn thì người của Ngũ Thành Binh Mã ty không ngừng tuần tra trên đường, nhưng lúc này chẳng biết có phải là vì đã bị kéo đến học cung để tham gia “hoạt động tổng vệ sinh vì tình yêu tổ quốc” hết cả rồi không mà chẳng thấy một ai cả. Vốn Dương Lăng định thừa cơ trở về báo cáo với Thái tử luôn để tránh lớn chuyện, nào ngờ từ tửu lầu trước mặt chợt có mấy gã Cẩm Y vệ bận bộ quần áo Phi Ngư bước ra ngoài.

Dương Lăng cả mừng, những người này có thể nói là chuyên gia dọa nạt bắt bí người ta, để bọn họ ra mặt là ổn thỏa nhất. Cẩm Y vệ bắt người còn cần phải có lý do hay sao chứ? Như vậy thì không phải lo thân phận của Thái tử bị bại lộ rồi.

Dương Lăng vội bước lên trước cản đường của bọn họ, rồi đưa thẻ bài ra yêu cầu bọn họ trợ giúp bắt người. Mấy tên Cẩm Y vệ lúc này đều đã hơi say, họ đưa bắt nhìn nhau, nhưng đều chẳng hề có vẻ muốn hành động gì cả. Dương Lăng nhìn phẩm hàm của họ, thấy phần lớn là Hiệu úy, Lực sỹ, trong đó cũng chỉ có hai viên Tiểu kỳ, quan chức không lớn, biết rằng mình có quyền điều động chúng, bèn không kìm nổi quát to:
- Còn ngây ra đó làm gì? Phạm nhân sắp chạy mất rồi, có chuyện gì ta sẽ hỏi tội các ngươi đó!

Phía sau đám người có một giọng nói uể oải vang lên:
- Chuyện gì vậy? Vị đại nhân nào đang công cán thế, muốn điều người của ta tới giúp đỡ sao?

Nghe thấy thế mấy tên Cẩm Y vệ bèn rẽ sang hai bên, dành lối đi cho một hán tử mặc thường phục áo gấm dẫn theo sáu bảy người từ trong tửu lầu bước ra.

Người đó tuổi hơn ba mươi, thân hình cao lớn khỏe mạnh, dáng vẻ dũng mãnh tựa như một con báo đang uể oải dạo chơi. Hắn đi tới bên cạnh Dương Lăng, hai người đưa mắt nhìn nhau dò xét, trong lòng thầm đoán thân phận của đối phương. Hồi lâu sau người đó chợt mở miệng cười, chắp tay chào:
- Ta là Chưởng hình thiên hộ (Thiên hộ chuyên quản việc hình phạt – ND.) Tiền Ninh của Bắc Trấn Phủ ty, huynh đệ là…

Dương Lăng lúc này mới giật mình hiểu chuyện. Thảo nào khi nãy bọn kia không hề có hành động gì, thì ra không những cấp trên của bọn họ có mặt ở đây, mà phẩm cấp của y cũng không thấp. Nghe Tiền Ninh xưng phẩm bậc, Dương Lăng vội đáp:
- Tại hạ Đồng tri Dương Lăng của Nam Trấn Phủ ty.

Tiền Ninh nghe nói là người của Nam Trấn Phủ ty, cũng có thể coi là một bộ phận quan trọng trong Cẩm Ỷ vệ, tuy rằng quyền thế không được mạnh bằng Bắc Trấn Phủ ty, thế nhưng phẩm hàm của người ta lại cao hơn hắn nửa bậc, thế nên bèn khách khí nói:
- Thì ra là Dương đại nhân! Không biết vì sao Dương đại nhân lại muốn nhờ các huynh đệ của ta giúp đỡ vậy? Tuy rằng Cẩm Y vệ chúng ta bắt người không cần phải có chiếu chỉ, thế nhưng dưới chân thiên tử dù gì cũng phải kiêng dè một chút mới được…

Dương Lăng kéo hắn qua một bên, thấp giọng nói:
- Tiền huynh! Không giấu gì huynh, ta và mấy người bạn vừa đi tới ngõ Bách Thuận đằng trước… Hà hà, kết quả là có gây gỗ với một gã thương nhân, quyền qua cước lại một hồi thì mấy người bạn của ta đã bị thương. Do đó ta muốn mời các vị huynh đệ tới giúp ta dạy dỗ cho bọn chúng một trận.

Vốn đang buồn vì cứ ngồi uống rượu trong kia mãi mà chẳng có việc gì để vận động tay chân, lúc này Tiền Ninh nghe nói chỉ là chuyện nhỏ, vả lại dù gì cũng không thể không nể mặt người ta được, bèn lập tức khoát tay ra lệnh với thủ hạ:
- Đi nào! Hăng hái lên một chút, có việc để làm rồi!

***************



Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
02-01-2011, 10:17 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 68 – Lục soát khắp kinh sư




Dịch: Vo Vong

Biên dịch:

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Chu Hậu Chiếu đỏ bừng mặt đáp:
- Không được, lời ta nói ra như bát nước đã hắt đi! Sao có thể để cô nương nhà người ta chê cười được, nhất định phải đòi lại tờ văn tự đó về cho ta.




Chương 68 – Lục soát khắp kinh sư



Dương Lăng dẫn theo đám Cẩm Y vệ như lang như sói chẳng mấy chốc đã đuổi kịp Chu Hậu Chiếu, Lưu Cẩn và đám người còn lại. Lúc này Chu Hậu Chiếu đang bám theo Cao Phượng và La Tường đuổi theo Nghiêm Tung từ xa, ngoảnh đầu lại thấy có hơn mười Cẩm Y vệ, y không kìm được cất tiếng khen:
- Vị Dương thị độc này thật có bản lĩnh, không ngờ chỉ dựa vào thân phận thị độc mà có để điều động được cả một đội Cẩm Y vệ. Có điều không biết y đã tiết lộ thân phận của ta chưa nhỉ?

Vừa đuổi kịp, nhìn thấy Chu Hậu Chiếu thì Tiền Ninh cả kinh, tròng mắt như sắp rớt ra ngoài. Chu Hậu Chiếu không biết hắn nhưng hắn lại biết Chu Hậu Chiếu, đây là đương kim Thái tử cơ mà, vì sao Thái tử lại rời cung vậy? Tiền Ninh thầm kinh hãi trong lòng nhưng lại không dám để lộ ra ngoài mặt. Đôi mắt hắn liếc nhìn xung quanh, lập tức nhận ra mấy gã thư sinh ẻo lả bên cạnh Thái tử đều là thái giám giả trang, hắn càng thêm tin chắc.

Đã thường nghe kể chuyện Hoàng thượng hay dẫn Thái tử ra ngoài cung vui chơi, chẳng ngờ chính bản thân Thái tử cũng có lúc lén trốn ra ngoài thế này! Nhìn hình dáng bầm dập của những người bên cạnh Thái tử thì có vẻ như là không dám tiết lộ thân phận nên đã phải chịu thiệt thòi lớn gì đó. Hà hà, trèo được lên cái cây lớn như Thái tử đây, đó là một cơ hội cho dù muốn tìm cũng chẳng thể tìm được ấy chứ!

Hắn cũng không dám làm lộ thân phận của Chu Hậu Chiếu, chỉ tỏ vẻ vô cùng cung kính hỏi:
- Công tử chính là bạn của Dương huynh đệ sao? Mọi người yêu tâm, chuyện này cứ giao cho ta, ta nhất định sẽ thay mọi người dạy dỗ cho tên thương gia giàu có mà bất nhân ấy một trận.

Hắn liếm liếm môi, trong lòng thầm tiếc nuối: “Vốn định giúp vị Dương đồng tri này dạy cho mấy tên thương gia kia một trận, sau đó thì xin đẹp của bọn chúng một ít. Bây giờ thì không tiện ra tay ngay trước mặt Thái tử rồi.”

Chu Hậu Chiếu đưa mắt nhìn hắn với vẻ tán thưởng, sau đó khen:
- Tốt, những người ta mang theo đều là kẻ nhát gan sợ chuyện… ừm… không nhát gan thì cũng không làm được việc. Chuyện này xin nhờ ngươi đó, hãy đuổi theo rồi dạy dỗ bọn chúng một trận cho ta đi!

Tiền Ninh cười hà hà đáp:
- Chuyện này thì dễ thôi! Tại hạ sẽ đưa chúng vào một con hẻm, sau đó thì công tử muốn làm thế nào cũng được.

Thế nhưng sau khi đuổi theo được một lát, Tiền Ninh dần chau mày lại, thần sắc bắt đầu có chút bất an. Hắn đưa mắt nhìn khắp xung quanh, chỉ thấy những bức tường cao được lát bằng gạch xanh càng lúc càng nhiều, bên trong còn toàn là đình đài lầu các. Tiền Ninh không kìm được thầm lẩm bẩm: “Kẻ dây vào Thái tử thật sự chỉ là một tên thương nhân sao? Xung quanh đây… Xung quanh đây đều là nơi ở của vương hầu quý tộc cơ mà!”

Tại một con hẻm rất hẹp và dài ở phía trước, Cao Phượng đang đứng dưới một cổng chào ở trước ngõ vào hẻm vẫy tay gọi bọn họ. Khi mấy người bọn họ tới gần, Cao Phượng báo:
- Công tử! Con hẻm này vừa dài vừa hẹp, La Tường đã bám theo vào trong đó rồi, chúng ta có đuổi theo không đây?

- Đuổi chứ! Tại sao lại không đuổi nào?
Chu Hậu Chiếu trừng mắt giận dữ:
- Chẳng lẽ ta lại sợ bọn chúng chắc?

Vốn hơi e ngại trong lòng, nhưng ngay khi nghe Chu Hậu Chiếu nói vậy Tiền Ninh liền lập tức tỉnh ngộ. Người trước mặt là ai nào? Là đương kim Thái tử, là Hoàng đế tương lai đó, đắc tội với một vương hầu thì có là gì ghê gớm chứ? Chỉ cần được lòng Thái tử, muốn có vinh hoa phú quý thực dễ như trở bàn tay.

Thường có câu rằng “phú quý hiểm trung cầu” (muốn tìm vinh hoa phú quý thì phải xông vào chốn hiểm nguy), nay chỉ là mối nguy hiểm nho nhỏ mà cũng không dám thử, làm sao có thể thăng quan tiến chức được cơ chứ? Hơn nữa mình là người của ty Bắc Trấn Phủ trong Cẩm Y vệ, cho dù là công hầu quý tộc đi nữa thì cũng có mấy ai lại không chịu nể mặt đây?

Nghĩ vậy Tiền Ninh liền can đảm hơn nhiều, thậm chí còn hận không thật sự gặp phải một vị quyền thần nào đó, để bản thân phải nếm chút đau khổ, như thế ấn tượng của Chu Hậu Chiếu về hắn chắc chắn là sẽ càng sâu đậm hơn nhiều. Cả đám người bước nhanh vào trong con hẻm, khu vực này toàn là những tòa nhà cao vút của các vị đại thần quý tộc, nhưng cũng đã đến nơi giáp giới với khu nhà ở của bá tánh bình dân.

La Tường ngoảnh đầu nhìn lại thấy bọn họ đã tới gần, bèn chỉ tay vào một khu nhà cực lớn ở phía trước, lắp bắp nói:
- Công tử! Kẻ đó… kẻ đó đã vào trong cánh cửa này.

Mọi người nhìn về phía cánh cửa thì thấy một khu nhà lớn vô cùng, ngoài cùng là một cánh cửa lớn được sơn màu đỏ, chiếc vòng đập cửa được làm bằng đồng, hai bên cạnh của bậc thềm đá khá cao là một đôi sư tử rất đẹp, cao đến hai thân người.

Vừa thấy vậy, ngoại trừ Chu Hậu Chiếu và Dương Lăng ra, những người còn lại đều kinh hãi vô cùng. Tiền Ninh không kìm được buột miệng:
- Phủ của Thọ Ninh hầu sao?

Dương Lăng cũng nhìn thấy bốn chữ lớn mạ vàng “Thọ Ninh Hầu Phủ” trên bức biển treo trước cổng, có điều y cũng chẳng để tâm tới chuyện này cho lắm. Tên Nghiêm Khoan kia ăn nói thô tục, quyết chẳng phải là hầu gia gì cả, nhiều lắm cũng chỉ là một gã quản gia trong hầu phủ mà thôi. Trong những người ở đây có Thái tử, có Cẩm Y vệ, còn có cả tám đại gian thần tương lai, chẳng lẽ lại sợ gã hay sao chứ?

Nhưng vừa đưa mắt nhìn mấy người xung quanh, y bèn lập tức cảm thấy có điều không ổn. Mấy người Lưu Cẩn, Trương Vĩnh bên cạnh đều tỏ vẻ sợ hãi, ngay cả khuôn mặt tươi tắn với nụ cười trời sinh của Cốc Đại Dụng cũng trở nên gượng gạo. Chẳng lẽ vị hầu gia này rất có quyền thế hay sao? Trong ấn tượng của y… dường như y chưa từng nghe nói triều Minh có vị hầu gia nào ghê gớm như vậy thì phải.

Đang lúc Dương Lăng cảm thấy lạ, Lưu Cẩn đã lên tiếng nói với Chu Hậu Chiếu:
- Công tử, đây là phủ đệ của quốc cữu gia, không nể tăng thì cũng nên nể phật. Chúng ta… có nên thôi đi không?
Khi nhắc tới ba chữ “quốc cữu gia”, hắn còn đặc biệt nhấn mạnh thêm.

Dương Lăng nghe vậy liền giật mình chợt hiểu. Đương kim hoàng thượng chỉ có một vị hoàng hậu, hậu cung rộng lớn như thế mà ngay cả một phi tử cũng không có, sự sủng ái của lão ta với hoàng hậu chắc chắn không phải tầm thường. Tòa hầu phủ này không ngờ lại là phủ đệ của một người anh em ruột của hoàng hậu, thảo nào bọn họ lại sợ sệt như thế.

Vị thái tử Chu Hậu Chiếu này vốn tính hiền lành dễ gần, tuy rằng y thân phận cao quý, thế nhưng sau khi bị một gã tiện dân đấm cho một cú trong lòng cũng chẳng suy nghĩ gì nhiều. Sở dĩ y nhất quyết không chịu bỏ qua chuyện này chủ yếu là vì muốn lấy lòng vị Đường Nhất Tiên cô nương kia mà thôi.

Thế nhưng lúc này khi nhìn thấy phủ đệ của Thọ Ninh hầu, biết rằng có khả năng gã Nghiêm Khoan đó là người làm trong phủ, y lại càng không chịu bỏ qua. Đó là nhà của cậu y, người làm trong nhà của cậu y lẽ nào không phải là tôi tớ của y hay sao chứ? Bị người làm nhà mình đấm cho một cú thì dù y hiền lành đến đâu đi nữa cũng không nhịn được.

Hơn nữa tuy y là con đẻ của hoàng hậu, thế nhưng lại chẳng có bao nhiêu tình cảm với Trương hoàng hậu. Trong cung ngoài cung trước giờ vốn có tin đồn rằng y là do một vị cung nữ sinh ra sau một lần được Hoằng Trị ban ơn mưa móc, sau đó thì bị Trương hoàng hậu vốn không có con đoạt lấy. Chuyện này y cũng chỉ loáng thoáng nghe qua, tuy rằng không tin tưởng lắm, thế nhưng chuyện Trương hoàng hậu và y trước giờ không thân thiết với nhau lắm lại là sự thực, do đó quan hệ của y với hai người cậu Thọ Ninh hầu Trương Hạc Ninh và Kiến Xương hầu Trương Diên Ninh cũng chẳng tốt đẹp gì.

Chu Hậu Chiếu cười lạnh hai tiếng, trong bụng nhủ thầm: “Nếu đã là người trong phủ Thọ Ninh hầu, vậy ta cứ xông vào bắt người là xong. Tên Trương Hạc Linh đó chắc cũng chẳng dám nói câu nào đâu, ta mất mặt không phải cũng là hoàng hậu mất mặt hay sao chứ?” Y cắn chặt răng, định hạ lệnh cho bọn Lưu Cẩn xông vào phủ, chợt cánh cửa lớn màu đỏ lại được mở ra.

Mọi người vội tránh vào sâu trong hẻm, nhìn thấy tên Nghiêm Khoan vừa rồi dẫn theo một đám người ra ngoài, đi về hướng bên trái dọc theo dãy tường cao được xây bằng gạch xanh. Chu Hậu Chiếu mừng thầm, thấp giọng bảo:
- Bám theo nào! Đợi hắn đi vòng qua góc tường kia, các ngươi hãy nện cho hắn một trận, cướp tờ văn tự rồi chuồn luôn!

Lưu Cẩn thấy Thái tử đã quyết tâm phải trừng trị tên Nghiêm Khoan, đành nói:
- Vậy cũng được, có điều mấy người bạn mà Dương tướng công mời tới thực bắt mắt quá. Chi bằng để chúng tôi đổi quần áo với họ, như thế tên tiểu tử kia bị đánh một trận xong cũng chẳng biết do ai làm, tránh sinh chuyện thị phi.

Chu Hậu Chiếu bực mình đáp:
- Vậy thì nhanh lên một chút, đừng để hắn chạy mất đấy!

Tiền Ninh đang so sánh thực lực của Thái tử và quốc cữu, đồng thời suy tính đến chuyện được mất nếu đi nhầm nước cờ, ngay khi nghe được cách lưỡng toàn kỳ mỹ như vậy thì không khỏi mừng rỡ vô cùng. Hắn lập tức gọi bọn Lưu Cẩn mau cởi áo ngoài ra, sau đó lựa lấy mấy tên thủ hạ đắc lực, sai khoác mấy chiếc áo thư sinh ra bên ngoài bộ quần áo Phi Ngư, xong xuôi lặng lẽ bám theo mấy kẻ kia.

Chu Hậu Chiếu không muốn ở yên một chỗ, lập tức kéo Dương Lăng theo cùng. Cả bọn lặng lẽ đi vòng qua góc tường, nhận ra nơi đây cũng là một góc của phủ Thọ Ninh hầu, có điều tường ngoài đều đã bị dỡ đi, dường như đang được mở rộng. Phía bên trái có một con đường, cạnh đường toàn là nhà của dân thường, phủ Thọ Ninh hầu sau khi dỡ bỏ tường ngoài thì mở rộng về hướng đó. Cây bên đường đã bị chặt hết, cả con đường đều bị quây vào trong phủ, mấy chiếc mái cong của những tòa lầu các mới được xây trong phủ đều thò cả vào phần sân của những nhà dân thấp bé xung quanh.

Hơn trăm thợ thủ công đang hí húi làm việc, trên bức tường thấp có mấy người mặc trang phục gia đinh của hầu phủ đang quát tháo mấy chục người có già có trẻ có nam có nữ ở bên đường:
- Hầu gia của chúng ta là người biết lý lẽ nhất đó, hãy nhìn cái móng nhà này xem, có chiếm tí đất nào của các ngươi không hả? Không chứ gì? Con đường này không đi được thì các ngươi cứ đi đường vòng là ổn thôi, sao nào? Lầu các của hầu gia chúng ta thò vào sân nhà các ngươi thì sao? Có giỏi thì các ngươi cứ đi kiện, bọn ta cũng chẳng chiếm tí đất nào của các ngươi, phần trên không trung thì vương pháp không hề ghi là thuộc về nhà các ngươi mà! Định vu cáo Hầu gia sao? Xem các ngươi có gan không nào?

Nghiêm Khoan dẫn người hùng hùng hổ hổ xông tới quát tháo:
- Chuyện gì vậy? Lũ đểu cáng các ngươi lại tới gây chuyện hay sao? Thọ Ninh hầu gia vốn tính từ bi, các ngươi đã được voi rồi lại còn đòi tiên hả? Mẹ kiếp, ta nói cho các ngươi biết, ông đây sắp tới phải đi Bát Đạt Lĩnh nhận một vụ làm ăn lớn, là Trường Thành đó! Biết không hả? Các ngươi mà cứ tới lằng nhằng làm lỡ thời gian hoàn thành công trình của ta, chỗ bạc đó các ngươi trả cho ta nhé!

Một ông lão chống gậy run rẩy trả lời:
- Nghiêm đại gia! Cây táo nhà chúng tôi đã bị người của ngài cưa mất rồi, mái hiên của các ngài cũng đè xuống bệ cửa sổ phía đông nhà chúng tôi, trong nhà lúc này tối đen như mực! Đại gia…

Một tên tay chân của Nghiêm Khoan vung roi da quật vút xuống vai ông lão, rồi như một con chó dựa oai chủ cao giọng quát:
- Trong kinh sư có vô số phủ đệ của các vương hầu quý tộc đều do lão gia nhà chúng ta xây đó, còn chưa thấy có người nào nói chúng ta chèn ép trăm họ đâu! Lão già kia, con mắt nào của ngươi nhìn thấy bọn ta cưa cây táo nhà ngươi hả? Sao ngươi không nói là mình khuyết đức nên bị sét đánh đổ cây táo đó đi?

Đám nô bộc của hầu phủ đứng cạnh đó nghe vậy đều phá lên cười ha hả, ông lão giận đến đỏ bừng cả mặt, toàn thân run lên. Chu Hậu Chiếu ghé đến gần nói với Tiền Ninh:
- Đánh! Đánh xong rồi rút! Hừm, nhất định phải cướp lấy tờ văn tự trong người hắn về đây!

Đánh xong rồi chạy rất hợp ý Tiền Ninh, hắn lập tức đưa mắt ra hiệu với thủ hạ, đoạn gằn giọng:
- Lên!

Mấy tên Cẩm Y vệ nghe mệnh lệnh liền lập tức hung hăng xông đến. Cả bọn đều sở trường về những môn chiến đấu tay không, đánh người thì chuyên chọn những chỗ yếu hại như khớp xương mạng sườn mà tẩn, trước giờ vẫn ra tay độc ác vô cùng, không hề kiêng dè gì cả.

Tiền Ninh biết những người này có quan hệ mật thiết với phủ Thọ Ninh hầu, vốn thầm kiêng kị trong lòng nên ra tay còn chừng mực một chút. Nhưng mấy tên Hiệu úy, Lực sỹ kia thì chỉ phụng lệnh hành sự, chẳng cần biết ba bảy hai mươi mốt gì cả, ra tay tàn độc vô cùng, chẳng khác gì giã gạo. Chỉ trong khoảnh khắc họ đã đánh gục bảy tám tên, khiến đối phương phải che vai ôm sườn lăn lộn khắp đất kêu gào thảm thiết.

Tiền Ninh giữ chặt lấy Nghiêm Khoan, trước tiên tặng cho vài cái tát khiến đầu óc gã choáng váng, sau đó thì xé tung vạt áo trước ngực của gã lục soát một hồi. Chu Hậu Chiếu khoái trá chạy tới, đá hai cái thật mạnh vào mông Nghiêm Khoan, cười ha hả. Tiền Ninh mò mẫm trong ngực Nghiêm Khoan một lúc, sau đó ngẩng đầu lên nói với Chu Hậu Chiếu:
- Thái… Công tử, sao trong ngực hắn không có thứ gì hết vậy?

- Không có ư?
Chu Hậu Chiếu ngẩn người, lập tức nổi giận đùng đùng đá một nhát vào đùi Nghiêm Khoan, mắng lớn:
- Có phải là vừa rồi ngươi đã giấu vào trong hầu phủ rồi không hả?

Nghiêm Khoan đưa tay ôm đùi kêu la đau đớn, rên rỉ:
- Tiểu… súc sinh, ngươi là ai? Đã biết ta là người của hầu phủ mà còn… còn dám đánh ta sao?

Chu Hậu Chiếu thấy hắn mắng mình là tiểu súc sinh thì giận dữ định co chân đá tiếp, Dương Lăng vội giữ y lại, ghé miệng đến sát tai y báo:
- Công tử! Trước tiên hãy rời khỏi đây đã, sau này tìm cơ hội đòi lại tờ giấy đó là được, bọn chúng đã trở về gọi người rồi.

Chu Hậu Chiếu đỏ bừng mặt đáp:
- Không được, lời ta nói ra như bát nước đã hắt đi! Sao có thể để cô nương nhà người ta chê cười được, nhất định phải đòi lại tờ văn tự đó về cho ta.

Dương Lăng hết cách chỉ đành vỗ ngực đảm bảo:
- Chuyện này cứ giao cho tại hạ, trong vòng ba ngày tại hạ nhất định sẽ lấy được tờ văn tự đó về! Tuyệt đối sẽ không để công tử phải thất hứa đâu!

Chu Hậu Chiếu nghe vậy bèn đá mạnh lên người Nghiêm Khoan một cái nữa, rồi mới chịu để cho Tiền Ninh và Dương Lăng kéo chạy trốn như bay. Người ta thường nói “quý nhân ra khỏi cửa thì lắm mưa nhiều gió”, có điều mưa gió hôm nay hình như là nhiều quá thể! Dương Lăng vừa kéo Chu Hậu Chiếu chạy đi, trong lòng vừa nghĩ hôm nay bận rộn cả ngày trời mà vẫn chẳng nhìn thấy bức bản đồ đi biển của Trịnh Hòa đâu cả, thật là đau đầu mà!

Phủ của hầu gia thật đúng như câu “nhất nhập hầu môn thâm tự hải” (Vừa vào cửa nhà quan hầu tước liền thấy nó sâu như biển – ND.), đợi đến khi kẻ báo tin tập hợp đủ người theo quản gia thống lĩnh xông ra ngoài thì bọn Dương Lăng đã chạy mất hút từ lâu rồi.

Thọ Ninh hầu hay tin nổi giận đùng đùng. Tuy Nghiêm Khoan chỉ là một người làm trong phủ nhưng em gái hắn ta lại là thiếp yêu của Thọ Ninh hầu, nói cách khác, Nghiêm Khoan chính là anh vợ của anh vợ của đương kim hoàng thượng. Đánh chó cũng phải ngó mặt chủ, huống hồ còn là đánh anh vợ của hắn. Hơn nữa người anh vợ này đã tự lập môn hộ ở bên ngoài, dùng nghề xây dựng đã kiếm về cho hắn rất nhiều bạc.

Hôm qua hắn vừa mới kiếm cho gã anh vợ này một công việc béo bở là xây dựng Trường Thành đoạn Bát Đạt Lĩnh, nếu gã ta bị thương nặng thì tổn thất to rồi. Trong cơn giận dữ Trương Hạc Linh phái người cầm thư tay của hắn tới thẳng Ngũ Thành Binh Mã ty. Ngũ Thành Binh Mã ty hay tin liền giật nảy mình, không ngờ lại có người dám chạy đến phủ của Thọ Ninh hầu gây chuyện, thế này thì gay thật rồi! Hoàng thượng còn đang tuần sát ở học cung, nếu đám người xấu này dám cả gan làm kinh động thánh giá nữa, vậy chẳng phải là bọn họ bị tội rơi đầu hay sao?

Ngự sử tuần thành tựa như gặp phải đại địch, lập tức đích thân lùng sục, đi đằng trước là hai tên lính cầm roi mở đường quất đen đét liên tục. Đám lưu manh kẻ cắp trên đường đều ôm đầu lủi như chuột, những người bày sạp bán hàng trên đường im bặt như ve sầu mua đông, cả thành Bắc Kinh trở nên hỗn loạn.

Đám bộ khoái, mã khoái tràn ra khắp nơi, ngay cả lính của doanh trại binh mã trong kinh sư cũng bị điều động. Bọn Chu Hậu Chiếu được Tiền Ninh kéo lên một tửu lầu quen của hắn. Cho dù nhìn thấy Cẩm Y vệ ở trên đó, đám binh mã không ngờ vẫn dám phái người lên lục soát. Chu Hậu Chiếu không khỏi chau mày cười lạnh:
- Ghê thật, chẳng qua chỉ là một tên người làm trong hầu phủ bị đánh mà hiện giờ thì quả đúng là gần đến mức phải phong tỏa toàn thành rồi. Lý thái phó kể chuyện sử sách với ta, thường nói ngoại thích chuyên quyền, thế lực vượt cả thiên tử. Hà hà, ta thấy tên Thọ Ninh hầu này quả là còn oai phong hơn cả thiên tử ấy chứ!



***************



Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
06-01-2011, 05:58 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)


Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 69 - Dùng trí đấu vương hầu quyền thế




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com




Tiền Ninh cười khì khì đáp:
- Thật ra Tiền mỗ cũng muốn bịa đặt thêm một chút thị phi, tiếc là đã bận rộn cả đêm. Thật ra mấy vụ án không phải chỉ có bấy nhiêu, bọn ta cũng chẳng dư thời gian thêu dệt thêm lỗi cho Trương hầu gia. Những hồ sơ vụ án này có nhân chứng, có vật chứng, có cái còn là của khổ chủ gởi tới nha môn tố cáo nữa, có điều không ai dám xử lý nên vẫn còn xếp đống mà thôi. Đại nhân xem thử có thứ nào dùng được thì cứ việc cầm lấy. Yên tâm, toàn bộ những tư liệu này đều do Tiền mỗ sai thủ hạ chép lại, không phải là thư từ công văn của Cẩm Y vệ chúng ta, sẽ không dẫn lửa cháy đến chúng ta đâu.




Các bạn đặt ở chế độ 20 post/trang sẽ xem được chương 70.:foyourinfo:




Chương 69 - Trí đấu quyền hầu
(Dùng trí đấu vương hầu quyền thế)

Thấy lính canh tuần đi lại liên miên không ngớt dưới lầu, Tiền Ninh chợt đảo mắt, ra lệnh cho đám hiệu uý Cẩm Y vệ dưới trướng:
- Xuống lầu hết cho ta! Canh chừng cửa, không cho ai lên quấy nhiễu!

Thủ hạ vừa ra khỏi nhã phòng, Tiền Ninh lập tức quỳ sụp xuống đất, cung kính thưa:
- Thần Tiền Ninh tham kiến Thái tử điện hạ!

Chu Hậu Chiếu "ý" kinh ngạc, ngước mắt nhìn Dương Lăng, Dương Lăng khẽ lắc đầu. Thấy vậy Tiền Ninh bèn cung kính bẩm rõ:
- Vi thần từng nhậm chức thống lĩnh thị vệ trong cung nên đã may mắn được gặp Thái tử điện hạ. Hôm nay điện hạ cải trang vi hành, thần vốn không dám làm lộ thân phận của ngài, nhưng hiện giờ binh lính lùng sục khắp kinh sư, vi thần chỉ còn cách dựa vào thân phận Cẩm Y vệ đích thân hộ tống điện hạ hồi cung. Vì thế vi thần mạo muội chào điện hạ, mong điện hạ thứ tội.

Chu Hậu Chiếu nghe xong bừng tỉnh, cười ha hả nói:
- Đứng dậy đi, không cần mấy quy củ thối đó. Ta cũng không ngờ đánh một tên vô lại lại kéo vô lại cả thành đến. Cái tên nhà ngươi cũng giảo hoạt lắm, bằng không, sao ngươi còn phải giả vờ không quen biết ta chứ?

Lúc này Dương Lăng cũng thở dài một hơi, thất vọng nhìn xuống dưới lầu, biết rằng hôm nay đừng hòng đi đến bộ Binh lấy tấm hải đồ của Trịnh Hoà. Lưu Cẩn ghé tai y thấp giọng bảo:
- Dương thị độc chớ nên sốt ruột! Tấm hải đồ đó để ở bộ Binh lâu năm như vậy, nếu muốn vứt thì đã sớm vứt từ lâu, nếu chưa vứt thì cũng sẽ không rời nơi đó một khắc. Ngày khác lại tìm cơ hội lấy về cũng được.

Dương Lăng sửng sốt nhìn lão. Lưu Cẩn mỉm cười nói:
- Tấm hải đồ đó là bảo vật Trịnh công công tốn bao tâm huyết lưu lại. Câu chuyện vô cùng ấn tượng, vạn nước truyền tụng đó là công lao do những người thuộc nội cung bọn ta tạo nên, bọn ta cũng không nỡ để nó bị huỷ bỏ đâu.

Dương Lăng rất đỗi kinh ngạc, nhìn nụ cười an ủi của "đồng chí" thái giám, cặp mắt của y không hẹn mà đã ươn ướt...

Được Tiền Ninh dẫn hơn chục tên Cẩm Y vệ "áp giải", dĩ nhiên đám quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa đụng phải bọn họ trên đường đều không dám chặn hỏi. Chu Hậu Chiếu suông sẻ trở về Đông Cung từ cổng sau Tử Cấm Thành.

Vừa trở về Xuân Phường an toàn, y liền vỗ bàn cái bộp, nói với Dương Lăng:
- Hôm nay chuyện đã ầm ỹ lên cả rồi, nhưng ta đã nhận lời của cô nương người ta, không thể thất hứa. Chính ta đã bảo nội trong ba ngày dứt khoát sẽ trả lại văn tự mua thiếp cho nàng ấy, ngươi xem làm sao để cướp tờ giấy đó về?

Dương Lăng chau mày. Khi đó để gạt Chu Hậu Chiếu rời khỏi “chiến trường”, y đã thuận miệng hứa bừa mấy câu. Nay xem ra gã Nghiêm Khoan chính là người của Thọ Ninh hầu. Ngay cả chuyện xây công sự Bát Đạt Lĩnh mà Trương Hạc Linh cũng có thể giao cho gã, chứng tỏ quan hệ bọn họ thật không tầm thường, căn bản chính là "quan thương một nhà".

Lấy tiền mua chuộc chỉ sợ không đưa được cái giá khiến gã động lòng, hơn nữa chuyện bấm bụng nhẫn nhịn như vậy nhất định Thái tử sẽ không chịu. Còn như muốn dùng quan uy bức bách thì đương kim thánh thượng sủng ái mỗi chính cung; chỉ cần nhìn khí thế các loại đội ngũ lùng sục kinh sư hôm nay là đủ rõ, vị quốc cữu gia này há dễ trêu vào sao? Trừ khi chính vua Hoằng Trị đích thân ra mặt, bằng không còn ai áp chế được hắn chứ.

Dương Lăng chau mày suy nghĩ một hồi, thật sự không nghĩ ra được biện pháp gì, y ngẩng đầu nhìn tám "thiên tài" chuyên trị người mà nghe nói là cả khi nằm mơ cũng có thể nghĩ ra biện pháp hại người, lại thấy tám cặp mắt cũng đang dòm y lom lom. Dương Lăng khổ sở cười một tiếng, đành phải cân nhắc từng lời:
- Tên Nghiêm Khoan đó chỉ là người làm, vốn không đáng lo, có điều Thọ Ninh hầu lại làm chủ cho gã... Muốn đụng đến gã, thì phải khuất phục Thọ Ninh hầu trước mới được.

Chu Hậu Chiếu đáp ngay:
- Không cần úy kỵ! Tuy Trương Hạc Linh là quốc cữu, nhưng thái độ kiêu căng của ông ta thật khó ưa, nếu có thể dập bớt oai phong của ông ta cũng là điều tốt. Ngươi có biện pháp gì cứ nói đi.

Dương Lăng trầm ngâm một hồi rồi nói:
- Người có thể khiến cho Thọ Ninh hầu bớt kiêu căng, chỉ còn có đương kim bệ hạ. Nhưng nếu muốn bệ hạ khiển trách ông ấy thì cần phải có chứng cớ tội trạng đủ nghiêm trọng khiến cho bệ hạ phải nổi giận...

Cốc Đại Dụng nghe vậy bèn xen vào:
- Việc này dễ thôi! Chỉ những việc xâm phạm quyền lợi của dân lành, lấn chiếm đường phố, tự ý giao công trình cho kẻ khác cũng đủ để dâng sớ hạch tội ông ta rồi, huống hồ e rằng Thọ Ninh hầu không chỉ... hà hà!

Lưu Cẩn nhíu mày nói:
- Có được chứng cớ còn phải có người đắc lực trình cho bệ hạ mới được. Nếu như chúng ta ra mặt, nhất định bệ hạ sẽ sinh nghi. Chuyện này...

Chu Hậu Chiếu mất kiên nhẫn:
- Sao mà phiền quá vậy! Nếu làm vậy không được thì nhân dịp mấy ngày này đang thi Hội, các Thái phó ít đến trông coi ta, ta tranh thủ rời cung một chuyến nữa đi thẳng đến tìm quốc cữu đòi vậy. Ta không tin ông ấy sẽ vì một tên người làm mà dám đắc tội với ta.

Nghe đến hai chữ "Thái phó", Dương Lăng không khỏi sáng rỡ hai mắt, hỏi ngay:
- Điện hạ! Mấy ngày nay các vị đại học sỹ đều không đến giảng bài cho người sao?

Chu Hậu Chiếu đưa mắt nhìn Cốc Đại Dụng, Cốc Đại Dụng đáp thay:
- Bắt đầu từ ngày mai, hằng ngày ba vị đại học sỹ sẽ luân phiên tham gia trông coi thi cử thi tại trường thi, hai vị còn lại sẽ ở trong cung xử lý chính vụ. Vì thế thay vì mỗi ngày do ba vị đại học sỹ luân phiên lên lớp, hiện đổi lại thành mỗi ngày một vị đại học sỹ đến dạy, vả lại thời gian cũng giảm xuống còn một canh giờ.

Dương Lăng vỗ đùi nói:
- Tốt! Thần đã có biện pháp rồi. Ngày mai sẽ do vị đại học sỹ nào phụ trách giảng dạy?

Cốc Đại Dụng quả nhiên là kẻ "thính tai", thuộc làu làu thời khoá biểu lẫn lão sư giảng dạy mà phủ Chiêm Sỹ thu xếp cho Thái tử, hắn đáp không chút suy nghĩ:
- Ngày mai hẳn sẽ do đại học sỹ Lý Đông Dương giảng dạy.

Dương Lăng cười khà khà, ghé vào tai Chu Hậu Chiếu thì thầm một hồi. Chu Hậu Chiếu nghe xong bán tín bán nghi hỏi lại:
- Biện... biện pháp này thật sự hiệu quả sao?

Dương Lăng cười nói:
- Nếu làm khéo, Thọ Ninh hầu gia sẽ chỉ còn nước bỏ quân giữ soái. Đến lúc đó, thứ nhất điện hạ không phải thất tín với người. Thứ hai, tên Nghiêm Khoan đó vô lễ với Thái tử, ta có thể trị gã thân bại danh liệt khiến gã từ nay không thể cựa quậy gì được. Thứ ba, điện hạ còn có thể giành được sự tán thưởng của các vị thái phó.

- Ồ?
Chu Hậu Chiếu phấn chấn tinh thần:
- Sẵn lúc trời còn sớm, ngươi hãy mau đi thu xếp đi! Nhất thiết phải chuẩn bị đầy đủ trước khi Lý thái phó đến vào ngày mai cho ta.

- Dạ, vi thần tuân mệnh!
Dương Lăng mỉm cười vái chào, quay sang khẽ gật đầu với Bát Hổ rồi nghiêng mình lui ra.

*** *** *** *** *** *** *** *** *** ***

Rạng sáng hôm sau, khi ánh dương còn chưa nhô cao, một chiếc xe nhỏ chạy nhanh đến một góc bên ngoài Ngọ môn. Chờ sẵn đằng sau góc cổng, Dương Lăng lách mình lên xe. Tiền Ninh ngồi ngay ngắn ở trong xe, đưa cho y một bọc giấy dầu dầy cộm, cười nói:
- Hôm qua nhận lệnh của Dương đại nhân, Tiền mỗ đã phân phó tuỳ tùng bận rộn một đêm, cuối cùng đã có thu hoạch, may mắn không làm nhục mệnh. Ha ha, đây là những thứ mà đại nhân yêu cầu, đại nhân xem thử có dùng được hay không?

Dương Lăng khách khí vài ba câu, rồi ngồi xuống cạnh y, mở bao lấy ra một chồng giấy dầy cộm, vén rèm mượn ánh nắng ban mai vội vã xem. Sau một hồi y líu lưỡi hỏi:
- Tiền huynh! Ta chỉ nhờ huynh thu thập một số việc Thọ Ninh hầu cấu kết thương nhân tự ý giao công trình với lại xâm phạm lợi ích của dân. Nếu không đủ nghiêm trọng mới tuỳ tiện sắp đặt thêm một chút sai phạm để tăng thêm trọng lượng. Nhưng những tài liệu này của huynh thậm chí còn có cả án giết người nữa, nếu thật sự bệ hạ cho tra xét, há không phải là lấy đá tự đập vào chân mình à?

Tiền Ninh cười khì khì đáp:
- Thật ra Tiền mỗ cũng muốn bịa đặt thêm một chút thị phi, tiếc là đã bận rộn cả đêm. Thật ra mấy vụ án không phải chỉ có bấy nhiêu, bọn ta cũng chẳng dư thời gian thêu dệt thêm lỗi cho Trương hầu gia. Những hồ sơ vụ án này có nhân chứng, có vật chứng, có cái còn là của khổ chủ gởi tới nha môn tố cáo nữa, có điều không ai dám xử lý nên vẫn còn xếp đống mà thôi. Đại nhân xem thử có thứ nào dùng được thì cứ việc cầm lấy. Yên tâm, toàn bộ những tư liệu này đều do Tiền mỗ sai thủ hạ chép lại, không phải là thư từ công văn của Cẩm Y vệ chúng ta, sẽ không dẫn lửa cháy đến chúng ta đâu.

Dương Lăng kinh ngạc hỏi lại:
- Những thứ này đều là thật ư?

Tình Ninh gật đầu nói:
- Đều là thật!
Đoạn y cười nhạt, ngạo nghễ nói:
- Bất kể là ai, chỉ cần Cẩm Y vệ chúng ta muốn xử lý hắn, sẽ không có bí mật gì có thể che giấu chúng ta được. Có điều... Thọ Ninh hầu được mấy "gốc cây to" trong cung che bóng, những thứ này chưa hẳn đã lật đổ được hắn. Đại nhân nhất thiết phải cẩn thận, đừng để mình cũng rơi vào hố bẫy đó.

Dương Lăng gật đầu nói:
- Tiền huynh yên tâm, chuyện này tự có người xung phong xông trận. Ha ha, ta phải chạy gấp vào trong cung rồi. Lần này đã phiền Tiền huynh, tấm lòng của Tiền huynh ta sẽ bẩm cho điện hạ biết.

Tiền Ninh hớn hở ra mặt, liền vội chắp tay đáp:
- Đều là huynh đệ hà tất nói lời khách khí như vậy. Cổng Ngọ môn có nhiều triều thần, Tiền mỗ không tiện lộ diện, đành cung tiễn Dương đại nhân tại đây. Chúc đại nhân kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công!

*** ***

- Khổng Tử nói: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”. Ý muốn nói bậc làm vua phải theo đúng đạo làm vua, kẻ bầy tôi phải theo đúng với đạo bề tôi, người làm cha phải theo đúng đạo làm cha, kẻ làm con phải theo đúng đạo làm con.
Lý Đông Dương vừa giảng vừa vui vẻ liếc nhìn Thái tử. Hôm nay Thái tử rất lanh lợi, ngồi nghiêm chỉnh sau bàn, dường như rất chăm chú nghe giảng, khiến trái tim già của lão rất yên lòng.

Lý Đông Dương mỉm cười giảng tiếp:
- Con người hay thưởng cho người mình thích, phạt kẻ mình ghét. Bậc minh quân thì lại không như vậy, thưởng tất thưởng cho người có công, phạt tất phán cho kẻ có tội. Bậc minh quân giỏi trị nước, trong phải củng cố quyền uy, ngoài phải tăng cường quyền bính. Như vậy mới có thể chinh phạt kẻ địch, không ai dám không nghe.

Lão đưa chén trà lên môi nhấp một ngụm thấm giọng, đang định giảng kỹ hơn, chợt nghe Thái tử hỏi:
- Thái phó à, làm bậc minh quân phải thưởng phạt phân minh. Nhưng nếu như kẻ có tội là cận thần của Thiên tử hoặc thậm chí là họ hàng thân thích, phải chăng có thể khoan hồng?

Lý Đông Dương nghiêm mặt đáp:
- Không được! Vương tử phạm pháp cũng chịu tội như thứ dân, vì sao? Bởi lẽ vua không phải là chủ một nhà, mà là chủ một nước. Đối với vua, khắp cả nước đều là con dân, cớ sao lại phân chia xa gần? Vua thánh tôi hiền, ấy là phước của thiên hạ; vua minh thần trung, ấy là phước của quốc gia. Nếu như dung túng bênh vực cận thần làm ác, đấy không phải là phước của đất nước.

Dương Lăng ho khan một tiếng, Chu Hậu Chiếu liền lôi dưới gầm bàn ra một bọc giấy, thở dài một hơi, thưa:
- Thái phó dạy rất phải! Hôm nay Dương thị độc vào cung, nhặt được một cái bọc ở ngay cửa cung, bên trong không ngờ lại những tội chứng tố giác quốc cữu Trương Hạc Linh dung túng gia nhân gây hại dân lành. Mỗi việc, mỗi vụ đều khiến người ta nhìn thấy mà đau lòng. Chao ôi! Sau khi ta xem xong vốn nghĩ Trương Hạc Linh là cậu, hay là cứ gấp chuyện này lại không đề cập đến, nhưng nghe xong lời dạy dỗ của Thái phó, ta thật cảm thấy xấu hổ. Nếu như cứ che giấu không đưa, vậy thật đã phụ lời thánh nhân rồi.

Lý Đông Dương nghe xong rúng động hỏi:
- Là tội chứng gì? Thái tử có thể cho thần xem một chút hay không?

Chu Hậu Chiếu thừa cơ vừa đưa bao giấy cho lão vừa lắc đầu hổ thẹn:
- Một bên là cậu ta, bên khác là bá tánh lê dân chịu đựng ức hiếp, không chốn khẩn cầu. Tuy ta không nỡ thưa bẩm phụ hoàng để tổn thương hoà khí trong nhà, nhưng sau khi nghe lời dạy dỗ của Thái phó lại thật sự không đành lòng ngoảnh mặt làm ngơ.

Lý Đông Dương vội vã lật xem đống đơn kiện tố cáo tội trạng Thọ Ninh hầu Trương Hạc Linh. Chỉ đưa mắt vài lượt, lão đã giận không kiềm chế được, vẻ mặt phẫn nộ:
- Vương hầu quý thích, không ngờ lại xâm hại lợi ích của dân một cách trắng trợn đến mức thế này. Điện hạ không cần phải hổ thẹn, người làm rất phải! Vua là thuyền, thứ dân là nước. Dân do trời sinh, không phải là vua; trời lập ra vua, cũng là vì dân. Điện hạ có thể kết nối lòng mình với lê dân, đó là phước của xã tắc.

Rồi ông lại liếc sang Dương Lăng, nói đầy thâm ý:
- Những hành vi này của Thọ Ninh hầu khiến cho bá tánh lê dân cất tiếng than oán dậy trời, mà lại không chốn cầu khẩn, cho nên mới có người bất đắc dĩ làm vậy. Điện hạ! Mời Dương thị độc hãy cùng điện hạ tự ôn lại bài học trước, lão thần phải ra ngoài thôi. Trước hết cần kiểm chứng một lượt, ví như là thật, nhất định lão thần sẽ bẩm báo với thánh thượng.

Dương Lăng nghe xong liền nhướng mày. Trong lời của lão già này có ẩn ý, rõ ràng không hẳn đã tin mình nhặt được gói giấy trên đường vào cung. Có điều người này ghét ác như thù, biết rõ bị người ta lợi dụng nhưng vẫn không chịu làm ngơ. Hơn nữa, tất cả các vụ án Tiền Ninh đưa đến đều là thật cho nên y cũng không sợ lão kiểm chứng.

Lý Đông Dương cáo từ rời cung.

Trong ngày này, so với trước kia rõ ràng Chu Hậu Chiếu ngoan hơn rất nhiều. Thái tử chỉ ngoan ngoãn ở trong Xuân Phường cùng Dương Lăng bàn chuyện trên trời dưới đất, không dám chơi đùa gây rối nữa.

Lý Đông Dương vội vã chạy về điện Cẩn Thân, lập tức ra lệnh cho Hữu ty nha môn điều tra báo cáo. Những vụ án này phần lớn đều đang được khiếu kiện tại nha môn, chỉ là bị người đùn đẩy lần lữa mãi nên không thể xử lý mà thôi, cho nên vừa cho điều tra liền biết là đúng, chỉ hơn một canh giờ đã kiểm chứng được bảy tám phần. Lý Đông Dương nghe xong những tội ác khiến người phẫn nộ đó không khỏi giận tím tái mặt mày, lập tức cầm bút viết lưu loát bài sớ vạn ngôn, rồi phất ống tay áo đi dự Ngọ triều.

Trong Đông cung, Chu Hậu Chiếu đang nghe Dương Lăng kể về phong tình các nước, mở rộng tầm nhìn. Đang nghe đến hồi say sưa, chợt y nghe giọng the thé của Cốc Đại Dụng từ bên ngoài:
- Ối chao! Hai vị công chúa điện hạ, sao hai người đến Đông cung vậy?

Một giọng thiếu nữ yêu kiều cất lên:
- Thái tử đâu? Mau dẫn ta đi gặp huynh ấy.

Cốc Đại Dụng ấp úng:
- Công chúa điện hạ, Thái tử đang ôn bài, người xem...

Một giọng nói ngây thơ thuần khiết của một thiếu nữ khác cất lên:
- Hừ! Có phải là các người lại dùng mấy trò đá gà dạy chó lừa để Thái tử ca ca chơi đùa phải không? Tỷ tỷ, chúng ta tự vào đi.

Chu Hậu Chiếu "a" lên một tiếng, vội nói:
- Vĩnh Phúc và Vĩnh Thuần đến rồi. Ngươi trốn đằng sau bình phong một lúc đi. Trong cung có nhiều quy củ thối lắm, ngươi không thể tùy tiện thấy mặt bọn họ đâu!

Nghe vậy, Dương Lăng vội vàng đứng dậy trốn vào sau bức bình phong bằng gỗ tử đàn lâu năm. Y nghe Chu Hậu Chiếu cất cao giọng gọi:
- Đại Dụng! Mời hai vị công chúa vào đi!

Tiếp theo đó là tiếng một thiếu nữ cười khúc khích nói:
- Lạ quá, lạ quá! Không ngờ hôm nay hoàng huynh lại ngồi yên ở nơi này, không chơi mấy trò chó mèo nữa nhỉ, chẳng lẽ huynh đổi tính rồi?

***************



Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

TheJoker
10-01-2011, 08:12 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 70 - Nhốn nháo ở hậu cung



Dịch: workman

Biên dịch: |YanYan*

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Công chúa Vĩnh Phúc cũng đang dán tai vào bình phong nghe lén phụ hoàng và Thái tử nói chuyện, nghe đến đây trong lòng khẽ động, nghiêng đầu nhìn Dương Lăng. Nào ngờ nàng vừa quay đầu thì trâm ngọc vạch vào tấm bình phong phát ra tiếng “két”. Trong phòng chỉ có cha con Hoằng Trị nói chuyện, vô cùng yên tĩnh, vừa nghe thanh âm đó Hoằng Trị lập tức lạnh giọng quát:
- Ai? Dám nghe lén trẫm và Thái tử nói chuyện! Ra đây cho trẫm!


Chương bảy mươi - Nhốn nháo ở hậu cung

------------------------

Chỉ nghe Chu Hậu Chiếu hừ một tiếng, giọng khá uy nghiêm:
- Vĩnh Thuần, chẳng có chút quy củ nào cả! Gặp ta mà cũng không biết làm lễ à?

Thiếu nữ có giọng ngây thơ đáp:
- Thôi đi! Nếu hoàng huynh chịu nói quy củ thì mẫu hậu đã bớt lo lắng. Huynh suốt ngày cứ ta ta, có từng xưng “Cô gia”, “Quả nhân” đâu, muội làm lễ cái gì chứ?

Dương Lăng đứng sau bình phong, nghe Chu Hậu Chiếu gọi nàng là Vĩnh Thuần, thầm nghĩ: “Hiện giờ hoàng đế Hoằng Trị có một trai hai gái, cô nương này chính là con gái nhỏ nhất của Hoằng Trị - công chúa Vĩnh Thuần. Nghe nói nàng ta mới mười một tuổi, chẳng trách nghịch ngợm như thế, người kia đương nhiên là công chúa Vĩnh Phúc rồi. Hai tiểu cô nương tới đây làm gì nhỉ?”

Công chúa Vĩnh Phúc năm nay mười ba tuổi, nhỏ hơn Chu Hậu Chiếu hai tuổi, nhưng lại đoan trang ôn nhu, hết sức biết lễ. Dù tiểu muội nghịch ngợm nhưng nàng cũng chỉ mỉm cười chứ không trách, vẫn sửa vạt áo ngay ngắn thi lễ theo đúng lễ tiết chính thức của cung đình:
- Hoàng muội Vĩnh Phúc ra mắt thái tử điện hạ. Điện hạ thiên tuế thiên thiên tuế!

Trước nay Chu Hậu Chiếu vẫn không thích lễ nghi cung đình, mặc dù vừa rồi y giáo huấn tiểu muội, nhưng kỳ thật lại rất thích thái độ thoải mái như vậy của nàng. Lúc này thấy công chúa Vĩnh Phúc quả thật làm đại lễ, y đành phải ngồi nghiêm chỉnh nhận lễ, sau đó nhấc cánh tay phải lên như một con rối gỗ, cất giọng nhạt nhẽo:
- Hoàng muội miễn lễ, bình thân! Các muội xưa nay không đến Xuân Phường, hôm nay tới đây...?

Công chúa Vĩnh Thuần cướp lời:
- Thái tử ca ca, hậu cung bây giờ nhốn nháo vô cùng, huynh mau đi...

Công chúa Vĩnh Phúc đột nhiên ho khan một tiếng, cắt ngang:
- Các ngươi đều lui ra đi, ta có chuyện muốn nói với thái tử điện hạ.

- Dạ!
Cốc Đại Dụng vốn rất lanh lợi, vội vàng vâng lệnh rồi khoát tay, dắt hai tên tiểu thái giám rời khỏi, nhè nhẹ khép cửa cung.

Công chúa Vĩnh Phúc ngồi dựa vào sạp (giường hẹp) mềm, lộ vẻ lo lắng:
- Hoàng huynh, huynh mau đi hậu cung một chuyến đi! Phụ hoàng trước nay vẫn thương yêu huynh nhất, huynh ra mặt có lẽ có thể dập tắt cơn giận lôi đình của phụ hoàng.

Chu Hậu Chiếu nhất thời không hiểu, nghi hoặc hỏi:
- Phụ hoàng tức giận vì chuyện gì?

Công chúa Vĩnh Phúc đáp:
- Lúc Ngọ triều khi nãy, Lý đại học sĩ hạch tội Thọ Ninh Hầu, nói ông ta lừa gạt, chiếm lấy tư điền, ngoài bốn ngàn mẫu (nguyên văn: công khoảnh, bằng một hecta. NB) ruộng tốt do hoàng gia ban tặng gần đây, còn bá chiếm gần một ngàn tám trăm khoảnh (mỗi khoảnh #6,667 hecta. NB); tranh giành lợi ích với dân lại càng khỏi nói, vừa dung túng gia nhân mua bán muối ở tám mươi vạn dặm ven bờ Lưỡng Hoài, lại vừa bức chiếm nhà dân, cưỡng bức kỹ nữ thanh lâu làm thiếp. Kết quả là cãi nhau to với Thọ Ninh Hầu ngay giữa triều, phụ hoàng nhất thời giận dữ giam cả hai người vào đại lao. Việc này... chà...!

- A?!
Chu Hậu Chiếu tròn mắt, sao lại tới nông nỗi này? Y ngây người một lát, đảo mắt hỏi:
- Hai người... Hai người đều bị giam à! Dường như trước kia cũng có người hạch tội Thọ Ninh Hầu, phụ hoàng đâu có tức giận như thế, lần này làm sao vậy?

Công chúa Vĩnh Thuần cười khì, rồi nhảy lên níu vào cánh tay hắn nói:
- Lý đại học sĩ khi chỉ trích Thọ Ninh Hầu là ngoại thích chuyên quyền nhất thời lỡ lời, nói đến họ Trương của mẫu hậu – một người vinh cả họ vinh, Thọ Ninh Hầu thừa cơ chỉ trích lão là hạ thần mà dám gọi hoàng hậu là “Trương thị”, là đại bất kính, tội đáng xử trảm.

Lý đại học sĩ nổi giận đùng đùng, đoạt lấy cây ngọa qua trùy của Kim Qua võ sĩ trong cung đuổi đánh Thọ Ninh Hầu. Lão là một lão già gần sáu mươi, làm sao đánh nổi Thọ Ninh Hầu, trái lại còn bị Thọ Ninh Hầu đoạt kim qua đạp cho hai đạp. Phụ hoàng giận dữ, bảo bọn họ thất lễ trước mặt quân thượng nên tống cả hai vào ngục.

Chu Hậu Chiếu nghe vậy muốn bật cười, y nhếch miệng nói:
- Sao lại như thế? Ha ha, khục khục, việc này...
Y vừa nói, khóe mắt vừa hơi liếc về phía bình phong, nhưng bên ngoài có hai công chúa ngồi đó, Dương Lăng nào dám lên tiếng.

Công chúa Vĩnh Phúc lườm tiểu muội đang hả hê, rồi lo lắng:
- Hoàng huynh! Thân thể phụ hoàng không được khỏe, bây giờ Lý Đông Dương bị hạ ngục, cả đám Tạ Thiên, Lưu Kiện, Lưu Đại Hạ dẫn theo bá quan văn võ cả triều quỳ gối trước đại điện xin tha. Phụ hoàng giận dữ lánh vào hậu cung, nhưng mẫu hậu nghe nói Thọ Ninh Hầu bị bắt, lại khóc lóc không ngừng với phụ hoàng, muội cùng hoàng muội thấy tình thế không ổn, mới đến gặp huynh...

Mặc dù nghịch ngợm, nhưng Chu Hậu Chiếu lại rất kính trọng cha, nghe thế y lập tức đứng dậy nói:
- Ta nói mà, phụ hoàng không cho bất kỳ phụ nữ nào tự ý đến chỗ dạy học ở Đông Cung, chả trách các muội hôm nay lại đến đây. Ta sẽ đến hậu cung, các muội...

Y mới nói tới đây, từ xa xa đã có người hô to:
- Bệ hạ giá lâm đông cung, Thái tử mau đón!

Đây là thái giám chuyên môn phụ trách việc xướng lễ trong cung, giọng nói thanh cao vang xa. Công chúa Vĩnh Phúc nghe thế đứng bật dậy, hoảng hốt:
- Nguy rồi, phụ hoàng đang nổi nóng, nếu thấy chúng ta không tuân ý chỉ, e rằng càng tức giận hơn, việc này...

Vĩnh Thuần công chúa kéo hoàng tỷ, nói:
- Nhanh, lánh đi trước đã! Không biết chừng phụ hoàng tới kiểm tra hoàng huynh học hành, đợi phụ hoàng đi rồi chúng ta lại ra.

Nói rồi tiểu công chúa Vĩnh Thuần kéo hoàng tỷ trốn vào sau bình phong. Chu Hậu Chiếu chưa kịp cản thì hai người đã ẩn vào sau bình phong rồi. Một lát sau, không thấy phía sau bình phong vọng ra tiếng kêu kinh ngạc nào nên Chu Hậu Chiếu cũng cảm thấy hơi bồn chồn. Cửa cung mở ra, hoàng đế Hoằng Trị đã đến nơi, Chu Hậu Chiếu thấy vậy vội vàng khom người thưa:
- Nhi thần tham kiến phụ hoàng!

- Đứng lên đi!
Hoằng Trị phất tay áo, ra hiệu cho Miêu Quỳ. Miêu Quỳ dẫn người rón ra rón rén lui ra ngoài, nhè nhẹ đóng cửa cung lại.

Chu Hậu Chiếu đứng dậy, lẳng lặng nhìn sắc mặt phụ hoàng. Y thấy thần sắc phụ hoàng bình thản, trong mắt tựa hồ còn có nét cười, không giống dáng vẻ nổi giận đùng đùng, lúc này mới yên lòng, đồng thời lại hơi ngạc nhiên.

Cửa điện vừa đóng, Hoằng Trị cũng không còn làm ra vẻ hoàng đế nữa, mà tự nhiên ngồi cạnh án thư, vỗ vỗ sạp gấm bảo:
- Hoàng nhi, ngồi đi!

Chu Hậu Chiếu ngồi xuống cạnh phụ hoàng, y không tiện nhắc tới việc vừa mới phát sinh ở hậu cung, đành phải hỏi:
- Ngọ triều vừa xong, sao phụ hoàng không nghỉ ngơi một chút. Xem người kìa, lại đổ mồ hôi rồi!

Hoằng Trị hiền lành nhìn y, mỉm cười nói:
- Mẫu hậu con đang cằn nhằn phụ hoàng, phụ hoàng tới chỗ con trốn, ha ha! Hai ngày nay mấy đại học sĩ đều bận rộn cho kỳ thi Hội, việc học của con có bị ảnh hưởng không?

Chu Hậu Chiếu làm vẻ kỳ lạ, ngạc nhiên hỏi:
- Mẫu hậu cằn nhằn cha ư? Tại sao lại thế chứ?

Hoằng Trị buồn cười liếc nhìn y, rồi đột nhiên nghiêm mặt hỏi:
- Hoàng nhi, con không biết thật sao?

Chu Hậu Chiếu rúng động trong lòng, nhìn thấy ánh mắt như rọi vào tận tim gan của phụ hoàng, trên trán bất giác tuôn đầy mồ hôi hột.



******************************


Dương Lăng phía sau bình phong nghe hoàng tử, công chúa thảo luận quốc sự như chuyện trong nhà. Thì ra nhà của đế vương, hoàng hậu mẫu nghi thiên hạ cũng giống như những đôi vợ chồng nhà bình thường. Y đang nghe rất thú vị, chợt nghe bên ngoài có tiếng báo Hoàng Thượng giá đáo. Ngay sau đó một làn hương phất tới, hai tiểu giai nhân mặc cung trang vội vàng vọt vào sau tấm bình phong, Dương Lăng không khỏi kinh ngạc đến ngây người.

Vội vàng nhìn thoáng qua, y thấy một thiếu nữ mặc áo quần màu vàng, dung mạo xinh đẹp tuyệt trần, thần khí cao quí, vào khoảng mười ba mười bốn tuổi, trên đầu búi một búi tóc cao vút đen huyền, dưới mái tóc mây là một gương mặt nhỏ nhắn trắng như tuyết rất kiều mỵ, mi như trăng non, mắt như thu thủy. Vừa thấy y, nàng lập tức cả kinh đến nỗi đôi môi anh đào há thành hình chữ O, suýt nữa kêu lên thành tiếng.

Tiểu cô nương kia vẫn là một cô bé, mặc một bộ quần áo trong cung màu đỏ tía, mặt trái xoan nhỏ xinh, tuổi tuy nhỏ nhưng đã có bộ dáng rất động lòng người, vóc người nhỏ nhắn xinh xắn như một cánh hoa nhỏ. Nàng vừa nhìn thấy Dương Lăng cũng không khỏi tròn mắt nhìn, nhưng thấy tỷ tỷ sắp kêu lên, vội vàng vươn tay bịt lấy đôi môi anh đào của tỷ, nhè nhẹ lắc đầu.

Công chúa Vĩnh Phúc bị muội muội bịt miệng, chỉ lộ ra đôi mắt to lúng liếng đen nhánh, nàng chớp chớp mắt, ra hiệu cho muội muội. Vĩnh Thuần lúc này mới buông tay ra, hai người quay đầu, hai đôi mắt đen lay láy trừng lên nhìn Dương Lăng. Dương Lăng mặt mày rầu rĩ, trước tiên cúi chào làm lễ, rồi chỉ chỉ ra phía ngoài, rồi chỉ vào mình, cuối cùng lại chắp tay, mặt mày rầu rĩ như đang diễn kịch câm.

Công chúa Vĩnh Thuần không khỏi phì cười, vội vàng bịt miệng, đôi mắt to cười cười liếc nhìn y. Nhìn thấy bộ dáng này của y, trong mắt công chúa Vĩnh Phúc cũng không khỏi lộ vẻ buồn cười. Lúc này Hoằng Trị hoàng đế đã vào phòng, hai người sợ bị phụ hoàng phát hiện, vội vàng lùi vào trong, như vậy càng gần Dương Lăng hơn.

Dương Lăng và Vĩnh Thuần đều không để ý gì, nhưng công chúa Vĩnh Phúc đã là cô nương mười ba tuổi rồi, lần đầu đứng sát một nam nhân đến thế nên trong lòng không khỏi hơi bồn chồn. Lúc này lễ giáo rất được xem trọng, là một thời kỳ đáng xấu hổ. Đối với việc nam nữ, một số nhà nho lớn không còn yêu cầu hà khắc như đời Tống trước đây nữa, nhưng một số khác lại muốn phục cổ, yêu cầu đối với lễ giáo càng lúc càng hà khắc. Ví như Hải Thụy, chỉ vì cô con gái năm tuổi nhận một cái bánh từ tay một người con trai khác, hắn cũng cho là đã vượt qua vòng lễ giáo, buộc con gái phải nhịn đói tới chết để bảo toàn danh tiết, thật đã tới mức tẩu hỏa nhập ma rồi.


Công chúa Vĩnh Phúc là con cháu hoàng gia, tuy tính tình thoải mái phóng khoáng, nhưng lánh mình cùng một chỗ với một thanh niên trai tráng như vậy, nàng cũng không lấy làm tự nhiên cho lắm, huống hồ vì ở trong cung, số đàn ông con trai mà nàng gặp cũng ít vô cùng. Lúc này nhìn trộm lên, nhìn thấy người này ăn mặc giống như thị độc bên cạnh Thái tử, trông cao lớn khôi ngô, mũi thẳng miệng vuông, thập phần anh tuấn, khuôn mặt yêu kiều của nàng bất giác ửng hồng, rồi mơ mơ hồ hồ không nghe rõ bên ngoài đang nói gì.

Tuy bên cạnh Dương Lăng có hai tiểu mỹ nữ, nhưng với nhãn quang từng trãi qua mấy kiếp của mình, y không hề bị điên đảo thần hồn. Hơn nữa đến cả Hoàng đế và Thái tử cũng đã gặp qua, thân phận các nàng vị tất đã có thể làm chấn động được y. Y ra hiệu đắc tội với hai công chúa, thấy các nàng cũng không dám lên tiếng, lúc này y mới yên lòng, vểnh tai nghe động tĩnh bên ngoài. Chỉ nghe bên ngoài thấp giọng nói chuyện một lát, sau đó Hoằng Trị đế ha ha cười lớn, còn Hoàng đế và Thái tử nói gì thì y không nghe được.

Thì ra Thái tử đang thẳng thắn nhận với Hoằng Trị rằng chính mình thu nhận chứng cớ, gợi ý cho Lý Đông Dương hạch tội quốc cữu với hoàng đế. Y vẫn còn có chút nghĩa khí, không khai Dương Lăng ra. Hoằng Trị nghe xong cười ha ha, rồi mỉm cười nói:
- Hoàng nhi! Lý Đông Dương là đại học sĩ đương triều, là người rất nhạy bén, mấy chiêu nho nhỏ của con há có thể giấu được hắn? Có một số việc dù cả hai bên đều biết thực hư như thế nào, nhưng làm như thế cũng không sai.

Hoàng đế ha ha cười nói tiếp:
- Có một số việc mình không tiện mở miệng thì cứ để thần tử ra mặt nói rõ. Hoàng nhi này, quý thích vương tộc trong triều xâm phạm lợi ích dân chúng ngày càng nghiêm trọng, đâu chỉ có một nhà Thọ Ninh Hầu. Phụ hoàng và vài vị đại học sĩ đang chuẩn bị trừ bỏ một số chính sách có hại, tiến hành hạn chế một số hành vi như việc nhận đất đai do cống hiến, xâm phạm lợi ích nhân dân của hoàng thân quốc thích.

Hoằng Trị nhìn Thái tử vẻ khen ngợi, nói:
- Chỉ là trước đây phụ hoàng vẫn chưa tìm được thời điểm thích hợp để có thể ban hành chính sách mới, tránh việc bị cả hoàng tộc và công thần huân khanh phản đối; phụ hoàng cũng đang phiền lòng vì việc này. Ha ha, nếu không phải có phụ hoàng... Lý Đông Dương tuy là trung thần, cũng vị tất dám đoạt kim qua, thi triển quyền cước trên kim điện. Trẫm chỉ là mượn tay lão cho Thọ Ninh Hầu một bài học thôi.

Hoằng Trị nhíu mày than:
- Ta đối với hoàng thích luôn luôn hậu đãi rộng lượng. Nhưng đúng là gần đây hai anh em Thọ Ninh Hầu vô cùng hỗn xược, giam hắn vài ngày, mài bớt nhuệ khí của hắn cũng hay.

Chu Hậu Chiếu trố mắt:
- Thì ra phụ hoàng... Phụ hoàng đã sớm có ý trừng phạt hắn. Hài nhi nói mà, Lý Đông Dương sao lại trở nên to gan như vậy, thì ra là do ý của phụ hoàng. Chỉ là... chỉ là sao phụ hoàng lại bắt giam luôn cả Lý đại học sĩ thế?

Dương Lăng ở phía sau nghe thế cũng thầm giật mình. Bản thân mình quả thật đã coi thường Lý Đông Dương, càng coi thường vị hoàng đế hơi mập béo ụt ịt này. Bây giờ xem ra, còn không biết là ai bị ai điều khiển.

Hoằng Trị vỗ tay con, mỉm cười nói:
- Hài tử ngốc, nếu không như thế, mẫu hậu của con lại càng không chịu bỏ qua hay sao? Việc quốc gia dễ giải quyết, còn như mẫu hậu con cứ không tuân không chịu, trẫm cũng có chút đau đầu đây!

Hoằng Trì nói rồi lại cười khẽ:
- Nhưng hoàng nhi trước nay luôn ham chơi, chưa từng quan tâm tới quốc sự. Bọn Cốc Đại Dụng lại chỉ biết làm cho con vui lòng, gọi vài người diễn xiếc vào gây ồn trong đông cung, không phải là trẫm không biết. Lần này, con đột nhiên quan tâm tới khó khăn của nhân dân, lao tâm khổ tứ bày trò nhờ người can gián, đó có phải là chủ ý của Dương thị độc kia không?

Công chúa Vĩnh Phúc cũng đang dán tai vào bình phong nghe lén phụ hoàng và Thái tử nói chuyện, nghe đến đây trong lòng khẽ động, nghiêng đầu nhìn Dương Lăng. Nào ngờ nàng vừa quay đầu thì trâm ngọc vạch vào tấm bình phong phát ra tiếng “két”. Trong phòng chỉ có cha con Hoằng Trị nói chuyện, vô cùng yên tĩnh, vừa nghe thanh âm đó Hoằng Trị lập tức lạnh giọng quát:
- Ai? Dám nghe lén trẫm và Thái tử nói chuyện! Ra đây cho trẫm!

Dương Lăng nhìn hai công chúa. Chỉ thấy khuôn mặt nhỏ nhắn của công chúa Vĩnh Phúc đỏ rực lên nhìn hắn. Đôi mắt to tròn của công chúa Vĩnh Thuần đảo một vòng, thò ra một ngón tay nhỏ nhắn, chỉ chỉ vào Dương Lăng, lại chỉ chỉ ra bên ngoài. Dương Lăng rầu rĩ chỉ chỉ vào mũi mình, tiểu công chúa gật đầu vô cùng tao nhã, cười vô cùng đắc ý.

Dương Lăng chỉ còn biết nhìn công chúa Vĩnh Phúc, y thấy mặt nàng tỏ vẻ có lỗi, nhưng trong mắt cũng đầy vẻ cầu khẩn. Y đành cười khổ, thầm nghĩ: “Hai vị tiểu công chúa này cũng thiệt là… nghe lén cha nói chuyện đâu phải là việc lớn chứ! Nhiều lắm cũng chỉ bị trách mắng vài câu là cùng, hà tất bắt ta phải gánh tội thay?”

Hắn không biết Hoằng Trị đối với Thái tử vô cùng rộng lượng, nhưng quản thúc hai công chúa lại rất nghiêm khắc. Trong mắt một đứa trẻ sợ cha, bị cha la rầy đương nhiên là sự trừng phạt rất nặng. Dương Lăng bất đắc dĩ, đành phải lấy hết can đảm đi ra ngoài. Y không dám ngẩng đầu, bước vội lên vài bước, quỳ sụp xuống đất bẩm:
- Thần Dương Lăng ra mắt Hoàng Thượng! Hoàng Thượng giá đáo, vi thần tránh không kịp, đành phải vội vàng lánh vào sau bình phong, không nghĩ kinh động tới thánh giá, mong Hoàng Thượng thứ tội!


***************



Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 [/QUOTE]

Ba_Van
21-01-2011, 02:53 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 71: DỌA KHỈ, LUYỆN ƯNG



Dịch: workman

Biên dịch: |YanYan*

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Hoàng Thượng càng nói càng giận, vỗ mạnh một cái lên án thư. Dương Lăng bất giác lạnh cả người. Kẻ làm vua kỵ nhất là bầy tôi ép chủ thượng, hận nhất là dám bày mưu tính kế trước mặt vua. Tuy Hoằng Trị cũng hiểu mình thấy quyền thần xâm hại lợi ích của dân lành nên muốn giúp đỡ dân chúng, nhưng ông lại cho rằng mình xem thường Thái tử còn ít tuổi, sử dụng mưu kế để lợi dụng Thái tử, rõ ràng mình đã phạm vào điều kiêng kị của thiên tử.


------------------------

CHƯƠNG 71: DỌA KHỈ, LUYỆN ƯNG

------------------------

Hoàng đế Hoằng Trị vừa kinh vừa giận, đứng bật dậy, chỉa ngón tay vào Dương Lăng, tức giận đến nổi một hồi lâu mà vẫn không nói thành lời.

Kỳ thật ông rất tán thưởng Dương Lăng. Hoằng Trị đã từng bàn với Lưu Đại Hạ về những kiến giải quân sự của Dương Lăng mấy ngày trước đây, Lưu Đại Hạ tuy cảm thấy trong đó còn có rất nhiều chi tiết cần phải cân nhắc thương thảo, nhưng ông ta cũng khẳng định những ý kiến của Dương Lăng là cao kiến, đích xác rất độc đáo, nên cũng rất khen ngợi y.

Dương Lăng là thị độc của Thái tử nhưng không giảng về tứ thư ngũ kinh, chỉ giảng về non nước núi sông, phong tục tập quán, thậm chí cả những chuyện ở các nước xa xôi khác. Đương nhiên được tai mắt thông báo, Hoằng Trị cũng đã sớm biết những việc này rồi. Nhưng bản thân Hoằng Trị lại thích âm nhạc và hội họa, đám thần tử cũng vì chuyện này mà thường nhiều lần khuyên can, lo Hoàng đế sẽ chỉ ham mê những thú vui này mà bỏ bê việc nước. Mỗi lần nghe vậy Hoằng Trị cũng chỉ cười trừ, cho rằng đó là kiến giải của đám cùng nho, nên ông cũng không quan tâm đến việc ép Thái tử phải nghe nhiều, học lắm.

Theo Hoằng Trị suy đoán, Dương Lăng là đệ nhất tú tài Tuyên Phủ nên kiến thức tất nhiên là không kém, nhưng bây giờ y không giảng những lời của thánh nhân, lại bắt đầu giảng dạy từ bàng môn tà đạo, chắc là y cũng biết tính khí của Thái tử, cho nên mới bỏ phương pháp ”đọc vạn quyển sách” mà dùng phương pháp ”đi vạn dặm đường” để dạy Thái tử. Như vậy Dương Lăng đã khổ tâm suy tính để chọn phương án giảng dạy tốt nhất, nên ông rất tán thưởng y.

Nhưng hôm nay ông đang dạy cho Thái tử đạo làm vua, có một vài chiêu thức không muốn cho người ngoài biết lại bị Dương Lăng trốn ở gần đó nghe được. Cho dù Hoằng Trị luôn luôn cư xử rộng lượng, cũng bất giác thẹn quá hóa giận.

Ông nhìn Dương Lăng lạnh lẽo, cố nén giận hỏi:
- Dương thị độc, ngươi chỉ kinh động thánh giá sao?

Dương Lăng lắp bắp:
- Hoàng Thượng! Thần... thần không rõ ý của bệ hạ.

Hoằng Trị vỗ án thư, gằn từng tiếng:
- Dương Lăng! Hôm qua Thái tử đã xuất cung đi những đâu? Bản tấu hạch tội Trương Hạc Linh của Lý Đông Dương hôm nay có phải là chủ ý của ngươi?

Dương Lăng ớn lạnh trong lòng: “Việc này mình làm bí mật như vậy, Hoàng Thượng sao biết được? Chẳng lẽ trong Bát Hổ có tai mắt của Hoàng Thượng? Không, không phải vậy! Nếu do Bát Hổ rò rỉ tin tức, Hoàng Thượng sớm đã ngăn cản Thái tử tự ý xuất cung rồi, không đợi mọi việc đã rồi mới hay biết. Vậy là ai đã tiết lộ tin tức chứ? Đông Xưởng? Cẩm Y Vệ? Bọn họ chắc không đến nỗi tự vả vào mặt mình, vậy là ai chứ?”

Dương Lăng nghĩ một lát rồi rùng mình. Y đột nhiên nhớ tới Tây Xưởng nghe nói đã bí mật được thành lập, chẳng lẽ là do mật thám có mặt ở khắp nơi của Tây xưởng dò biết được? Việc thành lập lại Tây Xưởng vô cùng bí mật, bây giờ vẫn chưa chính thức công khai, Đốc Chủ của Tây Xưởng là ai cũng chưa rõ, phần lớn thành viên của Tây Xưởng cũng có thân phận bí hiểm. Là người của Tây Xưởng sao?

Y quỳ ở dưới mà nghĩ ngợi lung tung, Hoằng Trị tức giận quát:
- Ngươi thật to gan lớn mật, dám xúi giục Thái tử xuất cung, ghé chốn trăng hoa, đánh nhau với người của hầu phủ. Điều này thôi thì bỏ qua cũng được, nhưng thân là thần tử, hạch tội người khác mà không dám quang minh chính đại bẩm thẳng cho quân thượng, lại âm thầm thi hành quỷ kế sai khiến đại thần, lợi dụng quân thượng, thực là đáng chém!

Hoàng Thượng càng nói càng giận, vỗ mạnh một cái lên án thư. Dương Lăng bất giác lạnh cả người. Kẻ làm vua kỵ nhất là bầy tôi ép chủ thượng, hận nhất là dám bày mưu tính kế trước mặt vua. Tuy Hoằng Trị cũng hiểu mình thấy quyền thần xâm hại lợi ích của dân lành nên muốn giúp đỡ dân chúng, nhưng ông lại cho rằng mình xem thường Thái tử còn ít tuổi, sử dụng mưu kế để lợi dụng Thái tử, rõ ràng mình đã phạm vào điều kiêng kị của thiên tử.

Có câu “bạn quân như bạn hổ“ (làm bạn với vua như làm bạn với hổ). Nếu như Hoằng Trị nổi giận, xử trảm một tên thị độc nho nhỏ như mình thì có đáng gì? Dương Lăng càng nghĩ càng sợ, chỉ biết quì rạp dưới đất, chẳng biết phải giải thích như thế nào. Chu Hậu Chiếu có ý muốn xin xỏ cho y, nhưng thấy phụ hoàng giận dữ hầm hầm, nhất thời cũng không dám tùy tiện mở miệng.

Ngay lúc này, có giọng nói của Miêu Quỳ từ ngoài cửa vang lên:
- Kim phu nhân! Hoàng Thượng đang kiểm tra việc học hành của Thái tử, phu nhân hay đến hậu cung đợi đã. Đến khi Hoàng Thượng hồi cung, nhất định sẽ gặp mặt bà.

Sau đó lại nghe một giọng nữ cao ngạo vang lên:
- Cút ngay! Ta muốn gặp Hoàng Thượng bây giờ. Hoàng Thượng, thần thiếp oan uổng quá! Hoàng Thượng, nhờ ngài làm chủ cho thần thiếp!

Hoằng Trị cả giận quát:
- Chuyện gì?

Miêu Quỳ mở cửa điện, hết sức lo sợ tâu:
- Hoàng Thượng! Kim phu nhân…

Hắn còn chưa dứt lời đã bị đẩy ra, một quý phụ khoảng năm mươi tuổi xông vào. Vừa thấy Hoằng Trị, bà ta lập tức quì sụp xuống, khóc sướt mướt van vỉ:
- Hoàng Thượng! Thần thiếp oan uổng quá! Hạc Linh luôn luôn an phận thủ thường, không dám làm xằng làm bậy, sao lại có thể cưỡng chiếm nhà dân, tùy tiện mua bán muối của triều đình, cưỡng bức con gái thanh lâu chứ? Đều là do Lý Đông Dương ghen ghét Hoàng Thượng sủng ái, tin tưởng Hạc Linh nên mới vu khống. Xin Hoàng Thượng làm chủ cho thần thiếp, hu hu... Đứa nhỏ đó từ bé tới lớn chưa bao giờ ở lao ngục cả, Hoàng Thượng...

Hoằng Trị khẽ nhíu mày, giọng hòa nhã:
- Kim phu nhân, mời đứng lên! Thọ Ninh Hầu thất lễ trên kim điện, trẫm chỉ trừng phạt hắn một chút. Lúc nãy trẫm đã nói với Hoàng hậu rồi, mấy ngày nữa sẽ tha hắn ra, chớ có kinh hoảng!

Dương Lăng nhìn người đàn bà quì bên cạnh mình, nghĩ thầm: “Đây là mẹ vợ của đương kim hoàng thượng sao? Thật may, chỉ mong bị bà này chen ngang, Hoàng Thượng quên béng việc trừng trị ta mới là hay.”

Kim phu nhân vẫn không thôi, tiếp tục khóc lóc:
- Hoàng Thượng! Lý Đông Dương đuổi đánh Hạc Linh trên kim điện, Hạc Linh không nhịn được, mới đoạt chùy đánh người. Tính ra không thể trách được Hạc Linh, đứa trẻ đấy nào có lỗi gì? Hoàng Thượng muốn trừng trị, thì nên nghiêm trị Lý Đông Dương mới đúng, xin ngài tha cho Hạc Linh.

Hoằng Trị tái xanh mặt mày, thân thể mập mạp bị kích động đến thở dốc. Chu Hậu Chiếu thấy vậy vội đỡ lấy cha, lo lắng can:
- Phụ hoàng! Người thư dãn một chút, đừng kích động quá.

Thấy Kim phu nhân vẫn khóc lóc không ngừng, lòng Hoằng Trị càng thêm phẫn nộ. Đưa mắt qua thấy Dương Lăng quì ở đó, trước cửa Cốc Đại Dụng cũng thò đầu vào, ông không khỏi căm giận chỉa tay vào Cốc Đại Dụng, mắng to:
- Đồ khốn, lăn vào đây cho ta!

Kim phu nhân đang lải nhải khóc lóc, bị tiếng quát lớn nghiêm nghị của ông làm kinh sợ tới mức sững sờ, nín bặt. Cốc Đại Dụng vội bò vào trong, quì trên mặt đất. Hoằng Trị mặt nặng như chì, lạnh lùng buộc tội:
- Các ngươi thật to gan, dám xúi giục Thái tử xuất cung, để gia nhân của Thọ Ninh Hầu phủ đánh Thái tử bị thương, Trẫm đã có ý muốn lăng trì các ngươi. Nếu Thái tử có mệnh hệ gì, trẫm sẽ diệt chín họ các ngươi!.

Cốc Đại Dụng dập đầu như giã gạo, luôn mồm van xin:
- Hoàng Thượng tha mạng! Hoàng Thượng tha mạng! Thái tử xuất cung là để khảo sát dân tình, nào ngờ có tên gia nhân to gan như vậy... Lão nô đáng chết, lão nô vì bảo vệ Thái tử, liều chết xông lên cũng bị gia nhân của hầu phủ đánh mà, Hoàng Thượng!

Hắn ngẩng mặt lên cho Hoàng Thượng thấy vết thương tím bầm trên mặt. Kim phu nhân vừa nghe nói Thái tử bị gia đinh trong phủ con trai mình đánh, cũng sợ tới mức không dám lên tiếng, đờ người quỳ rạp một bên, sững sờ nhìn.

Thấy Kim phu nhân không còn ồn ào, Hoằng Trị thầm thở phào. Ông trừng mắt nhìn Cốc Đại Dụng bảo:
- Hừ! Nếu không do các ngươi xúi Thái tử cải trang rời cung, sao lại xảy ra chuyện như vậy? Nếu trẫm không trừng phạt các ngươi, không biết chừng sau này các người còn gây ra lắm chuyện lớn gì khác. Miêu Quỳ, tổng cộng có mấy người xúi giục Thái tử xuất cung?

Miêu Quỳ vội vàng bước lên một bước, khom người tâu:
- Khải bẩm Hoàng Thượng! Có thị độc Dương Lăng, nội giám Lưu Cẩn, Trương Vĩnh, Cốc Đại Dụng, Mã Vĩnh Thành, Ngụy Bân, La Tường, Cao Phượng, Khâu Tụ, tất cả chín người hôm qua cùng Thái tử rời cung, đến tối mới về!

Hoằng Trị quát:
- Đem chín tên này ra Ngọ môn...

Dương Lăng nghe thế giật mình, lại nghe Hoằng Trị nghỉ lấy hơi, phán tiếp:
- Đánh mỗi người ba mươi gậy để cảnh cáo!

Miêu Quỳ vội đáp:
- Tuân chỉ!

Hắn vẫy tay, vài tên tiểu thái giám đi vào lôi Dương Lăng, Cốc Đại Dụng ra ngoài. Cốc Đại Dụng gào khóc như mẹ chết:
- Hoàng Thượng tha mạng! Hoàng Thượng tha mạng! Nô tài không dám nữa, xin Hoàng Thượng tha mạng! Thái tử cứu nô tài với!

Dương Lăng hơi hoang mang. Đánh thì đánh chứ sao, cũng chỉ là ba mươi gậy chứ mấy? Cùng lắm là nghỉ ngơi hai ngày. Hoàng Thượng không chém đầu y, y đã thở phào rồi. Nhưng Cốc Đại Dụng từng làm trong Đông Xưởng nên biết rõ công phu dùng gậy của quan coi ngục Cẩm Y Vệ không giống như công phu dùng gậy của công sai ở nha môn. Đám người đó đều kinh qua huấn luyện nghiêm khắc, chỉ khi nào luyện đến độ đặt trên hòn đá một tờ giấy mỏng, đánh một gậy xuống mà gạch nát bấy nhưng giấy không rách mới có quyền thi hành án.

Do đó họ thi hành hình phạt đều dựa xem ý của Hoàng Thượng. Nếu như Hoàng Thượng không muốn người ta chết, vài chục gậy sẽ đánh đến mức máu thịt tung tóe, xem ra thì thê thảm vô cùng, nhưng kỳ thật chỉ cần bôi chút kim sang, nghỉ ngơi vài ngày là không việc gì. Còn nếu Hoàng Thượng không muốn cho kẻ thụ hình được sống, lúc hạ trượng thoạt nhìn rất nhẹ, da cũng không trầy, nhưng đánh rồi thì đau tới tim phổi, chỉ ba mươi trượng mà những mạch máu dưới da đã đứt từng khúc, bắp thịt nát bấy khó lành, không lâu sau chắc chắn phải chết, tuyệt nhiên không thuốc nào cứu được.

Cốc Đại Dụng không biết tâm ý Hoàng Thượng, hắn chỉ nhìn thấy mặt Hoằng Trị tái xanh, cho rằng lần này hẳn phải chết chắc nên khóc lóc van xin rất thảm thiết.

Chu Hậu Chiếu hơi bứt rứt, y vẫn cho rằng việc xuất cung hay không là chỉ theo ý của mình, đám Dương Lăng, Cốc Đại Dụng chỉ nghe lệnh làm theo thôi. Bây giờ mình thì vô sự, bọn họ lại bị đánh tơi bời, trong lòng y cũng hơi day dứt. Y ấp úng:
- Phụ hoàng, bọn họ...

Hoằng Trị phất ống tay áo, cắt ngang:
- Hoàng nhi là Thái tử của một nước, bọn chúng dám dắt hoàng nhi tự ý rời cung khiến cho hoàng nhi bị thương. Việc đại nghịch bất đạo như vậy mà không giết họ đã là thi ân rồi, hoàng nhi không cần nhiều lời!

Kim phu nhân nghe xong trong lòng run sợ, cũng không dám nhắc đến yêu cầu lập tức phóng thích Trương Hạc Linh, nghiêm trị Lý Đông Dương nữa. Nếu việc tự tiện đưa Thái tử rời cung đã bị xem là đại nghịch bất đạo, vậy gia đinh trong phủ con trai mình đánh Thái tử thì sẽ là tội gì? Việc này chưa từng nghe gia nhân nói tới, bọn chúng đánh Thái tử khi nào vậy?

Kim Phu nhân đang nghĩ ngợi miên man, Hoằng Trị lại nói:
- Kim phu nhân, xin đứng lên! Đừng quì nữa, ý trẫm đã quyết. Người đâu, truyền chỉ: Lý Đông Dương không giữ trật tự ở kim điện, phạt ba tháng lương bổng để khiển trách, tha khỏi tù; Thọ Ninh Hầu xâm phạm lợi ích của dân, chứng cớ vô cùng xác thực, giam giữ ba ngày, phạt nửa năm bổng lộc, sau này phải ước thúc gia nhân, trả lại tài sản phạm pháp. Khâm thử!

- Về chuyện Thái tử bị đánh...
Ông trừng trừng nhìn Kim phu nhân. Lúc này khí thế kiêu ngạo của Kim phu nhân đã bị dập tắt hoàn toàn, không dám cậy vào việc con gái mình được sủng ái mà lảm nhảm nữa. Bà thấp thỏm không yên nhìn Hoàng Thượng, chỉ nghe Hoằng Trị nói chầm chậm:
- Thọ Ninh Hầu trước đó cũng không biết chuyện, nếu không cũng sẽ không xẩy ra việc như vậy. Việc này cũng bỏ qua đi. Những việc xấu hổ của hoàng gia cũng không nên nói ra ngoài...

Kim phu nhân vội dạ dạ vâng vâng:
- Dạ, đúng! Hoàng Thượng thánh minh, Hoàng Thượng khai ân!

Hoằng Trị hừ khẽ, bảo:
- Nếu không có chuyện gì khác, Kim phu nhân có thể đến hậu cung gặp Hoàng hậu an ủi Hoàng hậu một chút. Trẫm phải kiểm tra việc học hành của Thái tử.

Kim phu nhân vội đáp:
- Dạ! Thần thiếp xin cáo lui, thần thiếp không quấy rầy Hoàng Thượng nữa.

Vị phu nhân này vội vàng lau những vệt nước mắt trên mặt, rầu rĩ lui ra ngoài. Bà thấy Hoằng Trị vốn tính tình luôn rất tốt mà lúc này lại nổi cơn lôi đình, trong lòng cũng hơi sợ hãi. Vốn định lập tức rời cung, nhưng bà lại sợ Hoàng hậu vẫn tiếp tục mè nheo khiến cho Hoàng Thượng tức giận nên vội vàng đi về phía hậu cung.

Chu Hậu Chiếu thấy mọi người đã lui ra, không kìm được kéo cánh tay Hoằng Trị, khẩn cầu:
- Phụ hoàng! Việc xuất cung hôm qua là chủ ý của nhi thần. Dương Lăng và Đại Dụng đều chỉ là người của hài nhi, phụ hoàng đánh tàn phế bọn họ, sau này ai còn dám theo hài nhi nữa?

Hoằng Trị nghe vậy cười hà hà, từ từ ngồi xuống, trừng mắt nhìn con trai hỏi:
- Cũng biết bảo vệ người rồi à? Hừ! Trẫm còn không biết con quậy phá cỡ nào sao? Nếu không có đám người này xúi giục, trẫm chắc con cũng không nghĩ ra được nhiều trò quậy phá như vậy. Đám Cốc Đại Dụng, Lưu Cẩn chỉ biết lấy lòng con, chỉ biết bày vài trò nhí nhố để chơi đùa, dạy dỗ bọn chúng một chút cũng đáng.

Chu Hậu Chiếu thấy giọng nói của phụ hoàng bình thản, biết mới rồi ông chỉ diễn kịch cho Kim phu nhân xem, nên không khỏi cười hì hì yên tâm. Y cũng ngồi xuống bên cạnh, bóp vai cho vua cha, hỏi:
- Vậy... Dương thị độc thì sao? Hắn ta là một thư sinh chân yếu tay mềm, cái mông trắng nõn không chịu được đòn đâu. Phụ hoàng đánh hắn tàn phế thì phải làm sao bây giờ?

Công chúa Vĩnh Phúc đứng sau bình phong nghe thấy hoàng huynh nói cái gì mà cái mông trắng nõn, không khỏi mặt ngọc đỏ bừng, nhè nhẹ thở “phì” một tiếng. Công chúa Vĩnh Thuần ít tuổi không biết gì nên không khỏi nhìn nàng kỳ dị. Công chúa Vĩnh Phúc thấy hoàng muội nhìn mình, không khỏi vừa thẹn vừa giận, bực tức trừng mắt nhìn lại hoàng muội. Công chúa Vĩnh Thuần lè lưỡi, không biết tại sao tỷ tỷ lại có dáng vẻ là lạ, hoàn toàn khác với mọi khi.

Dương Lăng nói đủ những chuyện trên trời dưới đất, quả có lực hấp dẫn Chu Hậu Chiếu không thua gì mớ ảo thuật, xiếc thú của bọn Lưu Cẩn. Đó là thế giới mà y chưa từng tiếp xúc, cho dù nằm mơ y cũng không nghĩ tới ngoại trừ Đại Minh, trên đời còn có nhiều nơi đẹp đẽ đến thế. Mặc dù quen biết không lâu, nhưng y cũng rất có cảm tình với Dương Lăng, không muốn Dương Lăng bị thương, bởi vậy nhân cơ hội này cũng cầu xin cho Dương Lăng.

Hoằng Trị giảng giải:
- Dương Lăng hả... Người này cũng là một nhân tài giỏi cả văn lẫn võ. Con đừng xem thường hắn chỉ là một thư sinh. Người thật sự có tài làm đại tướng, không cần phải đích thần cầm đao ra chiến trường. Những kiến giải về việc binh của hắn, đến cả lão tướng như Lưu Đại Hạ cũng rất tán thưởng.

Ông cười lớn:
- Người này chỉ là thị độc nho nhỏ lại dám đối nghịch với vương hầu, thật ra là một bề tôi trung thành. Hơn nữa, hắn biết mình thấp cổ bé họng, biết dựa vào Lý Đông Dương và Đông Cung Thái Tử ngươi để tấu lên trên, nên hắn không phải chỉ là một tên nhóc lỗ mãng. Trẫm rất thích hắn.

Hiện giờ thượng thư sáu bộ trong triều đều đã già rồi, các vị đại học sĩ lại càng cao tuổi hơn. Phụ hoàng cảm thấy nếu người này được rèn luyện tốt, trong tương lai tất sẽ là cánh tay đắc lực của con.

Thấy Thái tử còn có vẻ không hiểu, Hoằng Trị không khỏi bất đắc dĩ cười nói:
- Con lấy làm lạ là tại sao trẫm muốn trừng trị hắn ư? Ha ha, người này còn ít tuổi lỗ mãng, còn quá trẻ nên quậy phá, làm việc bất kể hậu quả, nếu không trải qua một phen rèn luyện, tuổi trẻ tự đắc, khó tránh khỏi việc không coi ai ra gì. Lúc đó thay vì là một cột trụ của triều đình, hắn lại trở thành một quyền thần ngang ngược kiêu ngạo, con hiểu chưa?

Chu Hậu Chiếu “A” một tiếng, nửa hiểu nửa không nói:
- Thì ra... Phụ hoàng muốn rèn giũa hắn, cũng như... cũng như nhi thần sai người luyện ưng vậy, càng muốn dùng hắn, càng phải giày vò hắn. Ha ha ha, chỉ là... việc rèn luyện này lại trước tiên bắt đầu từ mông, nên nhi thần có chút ngạc nhiên.

Hoằng Trị nghe ví dụ của Thái tử rất lấy làm hài lòng, đến khi nghe câu sau của y lại không khỏi bật cười. Đứa con trai này vẫn còn chưa biết việc.

Do bản thân mình gây tiếng động khiến cho Dương Lăng đành phải ra ngoài chịu tội, trong lòng công chúa Vĩnh Phúc cũng rất áy náy. Nghe xong những lời giải thích của phụ hoàng, nàng mới thở phào một hơi. Công chúa Vĩnh Thuần giơ ngón cái với tỷ tỷ, nháy mắt. Hai chị em nhìn nhau mỉm cười.


***************



Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
23-01-2011, 12:51 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 72: Phạt gậy mười kẻ gian



Dịch: workman

Biên dịch: Kiếp Nô

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng buông tay, ngồi phịch xuống ghế, ngây người hồi lâu, rồi y đột nhiên nhảy dựng lên hét lớn:
- Ta không tin, ta không tin! Không được, ta còn chưa chết, sao Ấu Nương có thể chết được?


------------------------

Chương bảy mươi hai Thập Gian Đình Trượng (Phạt gậy mười kẻ gian)

------------------------

Dương Lăng thường nghe trong tuồng hát có câu "lôi ra ngọ môn chém đầu", vừa rồi nghe xong câu nói hổn hển của Hoằng Trị thì sợ đến giật thót. Kỳ thật ngọ môn là cửa chính ở ngoài hoàng cung, cũng là nơi triều đình cử hành những lễ lớn trọng yếu. Triều đình mà xử trảm phạm nhân thì không chấp hình ngoài ngọ môn. Nhưng cũng không có nghĩa là nơi đó không thể giết người được. Vì đó cũng là nơi triều đình sử phạt đình trượng (*), dưới đình trượng trước đây và tương lai chẳng biết sẽ còn bao nhiêu người phải chết nữa. Hơn nữa những người đó đều bị đánh chết tươi, so với chém người giữa chợ thì còn thê thảm hơn nhiều.

(*): đình trượng là hình thức phạt đòn đối với quan lại trong triều.

Dương Lăng và Cốc Đại Dụng bị thái giám giao cho thị vệ trong cung trói lại đem ra ngoài ngọ môn. Ngoài ngọ môn sớm đã có một đám người đang đứng, viên thái giám nội quan giám hình (chấp pháp hình phạt) ngồi ngay ngắn trên ghế thủ vị. Phía sau hắn bên trái có ba mươi tiểu hoạn quan, bên phải có ba mươi Cẩm Y Vệ, phía trước là năm mươi tên ngục quan hành hình tay cầm gậy gỗ sơn son, nhìn tư thế cũng đủ cho người ta hoảng sợ, đến lúc này cả Dương Lăng cũng kinh hãi vạn phần.

Trông hình dạng viên quan thái giám giám hình ngồi xa xa, Cốc Đại Dụng không khỏi mặt mày tái nhợt, hắn nức nở nói:
- Không ổn rồi, là Ty Lễ Giám Phạm Đình Phạm công công giám hình, Dương đại nhân, chúng ta hôm nay e rằng khó mà toàn mạng.

Dương Lăng hỏi:
- Phạm Đình? Lão lợi hại lắm à?

Cốc Đại Dụng run run nói:
- Phạm công công là Ty Lễ Giám, thủ hạ đắc lực của Vương Nhạc Vương công công, nắm giữ Đông Xưởng. Lão trước nay là kẻ lòng dạ ác độc bậc nhất, chúng ta lần này toi rồi, ngươi hãy chờ xem, quy củ trong cung, phàm mũi giầy của công công giám hình thu lại vào phía trong thì dụng ý là đánh cho đến chết, ba mươi côn đủ để phạm nhân mất mạng rồi.

Dương Lăng mới nghe thì nhíu mày, vừa nghe đến xưởng công Đông Xưởng đốc hình, trong lòng đột nhiên có thêm vài phần hy vọng. Bản thân mình là người của Đông Xưởng và Cẩm Y Vệ phái đến bên cạnh Thái tử, chỉ mong vị quý nhân xưởng công này không quên việc đó, còn nhớ mình là ai, vậy lúc đánh có lẽ sẽ hạ thủ lưu tình.

Hai người bị áp giải tới trước mặt Phạm Đình, chỉ thấy trên đất sớm đã có một người đang quì dài trên đất, trên người bị vải bố quấn rất chặt, chỉ lộ ra cái đầu và bả vai, muốn động cũng không động được. Nhìn thấy hai người vừa tới, người nọ cười khổ nói:
- Dương đại nhân, Cốc công công, các ngươi cũng tới rồi à?

Cốc Đại Dụng nhìn thấy hắn, không khỏi vừa sợ vừa giận, cất giọng the thé hỏi:
- Tiền Ninh, là ngươi tố giác với Hoàng Thượng à?

Tiền Ninh cả người nằm thẳng đơ như xác ướp, hắn cố gắng rướn cổ lườm Cốc Đại Dụng, bất đắc dĩ cười gượng đáp:
- Nếu là ta tố giác, ta còn nằm ở đây à?

Hắn khổ sở rên rỉ nói:
- Ở ngoài Thọ Ninh Hầu phủ, thủ hạ ta vô ý để rơi một tấm yêu bài (*), kết quả bị Tam Pháp Ti tra ra nguồn gốc, bắt ta tới đây.

(*) thẻ bài giắt ngang lưng)

Tên tiểu thái giám đứng bên cạnh cao giọng hét:
- Im lặng, phạm nhân không được huyên náo!

Chỉ trong khoảnh khắc, bọn Lưu Cẩn, Mã Vĩnh Thành cũng mặt xám mày tro bị áp ra ngoài ngọ môn. Phạm Đình từ từ đứng dậy, tên tiểu thái giám đứng cạnh vội đưa lên một cái khay sơn son trên đặt tấm lụa vàng, Phạm Đình từ trong khay lấy ra một chiếu thư, cao giọng tuyên đọc ý chỉ của hoàng đế:
- Phụng thiên thừa vận hoàng đế chiếu viết: Dương Lăng...

Lão đọc tới tên này thì ngừng lại một chút, mắt lướt nhanh tới Dương Lăng, thấy y cũng đang nhìn mình vẻ mong chờ tha thiết, khóe miệng lão không nhịn được liền nhếch lên một nụ cười không dễ bị phát hiện.

Phạm Đình tiếp tục đọc, nhất nhất đọc đủ tên mười người, tuyên đọc xong thánh chỉ, lão lại phất tay, đám người Dương Lăng đồng loạt bị đè nằm sấp xuống đất, mỗi người đều bị một tấm vải bố quấn chặt thân thể không thể động đậy, hai chân cũng bị người ta dùng dây thừng trói chặt. Dương Lăng thấy mình chỉ bị kéo vạt áo khoác, chứ không lột trần mông, cũng hơi yên lòng.

Tiền Ninh nằm bên cạnh y, nói nhỏ:
- Yên tâm, hiệu úy chấp pháp đều là thủ hạ của ta, họ sẽ không đánh thật đâu. Chỉ là cú cuối cùng sẽ không làm giả được, đến lúc đó ráng nhịn đừng có chửi bới là được rồi.

Dương Lăng hồi hộp nói:
- Đa tạ Tiền huynh chỉ điểm, nãy giờ ta thật sự cũng hơi lo lắng.

Y nằm dài ở đó cố ngẩng đầu nhìn Phạm Đình, muốn xem mũi chân hắn đang ở thế ngoại bát tự (chĩa ra ngoài) hay nội bát tự (chĩa vào trong)(chữ bát: 八). Không ngờ từ những kẽ chân của mấy tên đại hán hành hình, chỉ thấy Phạm Đình giơ chén trà ngửa mặt nhìn trời, đôi chân bắt chéo rung rung rất thoải mái, không khỏi ngẩn người ra.

Y đảo mắt nhìn mấy người Cốc Đại Dụng, chỉ thấy mấy người này cũng mở mắt to mắt nhỏ. Đám người này đều biết quy củ đánh người của nội giám trong cung, do đó hôm nay lại thấy Phạm Đình chẳng theo sách vở gì cả, ai nấy đều không hiểu ra làm sao.

Chỉ thấy một tên tiểu thái giám tới bên người Phạm Đình, cúi xuống lắng nghe lão dặn dò vài câu, rồi đứng lên cao giọng quát:
- Hành hình!

Mười tên tiểu kỳ quan Cẩm Y vệ tay cầm gậy gỗ đi đến sau đám người Dương Lăng, giơ gậy gỗ lên cao, hét lớn một tiếng, quất xuống vù vù.

Tiếng gió từ cây gậy lạnh thấu xương, nhìn lên thấy uy thế cũng đủ kinh hãi, nhưng khi gậy quất vào mông, Dương Lăng chỉ cảm thấy hơi nhồn nhột, chứ không thấy cảm giác đau đớn bao nhiêu. Y đang kỳ quái, bên cạnh bỗng nghe tiếng gào như núi lở đá nhào, thật sự khiến cho người người rơi lệ, kẻ kẻ thương tâm.

Dương Lăng giật bắn cả người, quay đầu lại nhìn Tiền Ninh, thấy hắn méo cả miệng, mặt nhăn nhó, tiếng gào thảm còn hơn cả tiếng giết heo, nhưng đôi mắt thì dường như đang trộm nhìn y nháy mắt, ánh mắt giảo hoạt vô cùng. Dương Lăng giật mình, vội vàng cũng lớn tiếng kêu gào thảm thiết theo.

Mười tên tiểu kỳ, mỗi người đánh xong ba gậy liền lui xuống. Tên tiểu thái giám ra lệnh kia lại quát lên rất uy phong:
- Luân hình!

Năm mươi tên lính nghe vậy, năm người một tổ cầm bổng thành hàng, luân phiên tiến lên chấp hành hình phạt. Họ hô theo nhịp, kêu một tiếng: “Đánh hết sức”, rồi một gậy nện xuống, người tiếp theo lại hô: “Chú tâm đánh”, rồi gậy tiếp theo đánh xuống. Tuy Dương Lăng thấy tên lính đó tựa hồ hạ thủ lưu tình, nhưng ngoại trừ tên tiểu kỳ lúc đầu đánh ba gậy mở màn thật là nhẹ, bây giờ mấy gậy này cũng hơi đau đớn, do đó y cất kêu gào thảm thiết nửa thật nửa giả, cũng không phải là hoàn toàn giả mạo.

Bên cạnh y chợt nghe đám Cốc Đại Dụng gào lên thật thê thảm, còn cho rằng những người này quả có công phu giả vờ, nhưng khi quay đầu lại nhìn, thấy bên trái mình La Tường đầu như dập xuống đất, một gậy đánh xuống là rú thảm một tiếng, bị vải quấn chặt nên thân thể không ngừng vặn vẹo co quắp, cong lên ưỡn xuống như một con giòi, đau đến mức nước mắt giàn giụa, không thể không khiếp đảm kinh ngạc: “Bọn họ có vẻ không được đối đãi như mình, xem ra là bị đánh thật”.

Y ngẩng đầu nhìn Phạm Đình, chỉ thấy Phạm công công đang nâng chén nhấm nháp, vẻ thản nhiên tự đắc, cặp chân bắt chéo rung rung, chẳng thèm để ý tới mình. Dương Lăng thầm kêu may mắn. Xem ra Phạm Đình cũng nhớ mình là ai, nếu không phải lão hạ lệnh, mình mà chịu đủ ba mươi trượng, e rằng thật sự không chết cũng tàn phế.

Ba mươi trượng đánh xong, đám lính chống gậy gỗ, gỡ bốn góc của tấm vải bố đang trói trên người họ ra, giật xoạt một cái. Dương Lăng thấy Tiền Ninh hai mắt trợn tròn, mũi nín thở, lập tức không dám chậm trễ, cũng hít sâu vào một hơi, chỉ thấy bốn gã lính đồng loạt phát lực, quát to một tiếng, nâng cao người lên “Bịch” một tiếng thân thể đã sóng soài ra đất.

Trước mắt Dương Lăng chợt tối sầm, cơ hồ không thở được nữa. Y cố nén đau, nằm dài trên mặt đất hồi lâu thở hổn hển. Cả buổi sau y mới hồi tỉnh lại, chỉ nghe thấy hai bên vang đầy những tiếng rên rỉ, nhìn trộm qua, thấy đám Cao Phượng, La Tường ai nấy sắc mặt trắng bệch, chiếc quần trong trắng tinh thấm máu đỏ lòm, người đã ngất đi rồi.

Phạm Đình chầm chậm đứng lên, phất tay áo nói:
- Chấp hình xong, chúng ta phải trở lại cung báo cáo rồi, đi thôi!

Phạm Đình dẫn đám Cẩm Y vệ chấp hình ly khai, chỉ còn lại đám người Dương Lăng nằm ngoài ngọ môn không thể động đậy.

Cả buổi sau, mới có mấy tên tiểu thái giám của Đông Cung bước ra đỡ đám người Lưu Cẩn dậy. Tiền Ninh nãy giờ vẫn nằm dài trên đất liền thừa cơ xoay người ngồi lên. Bọn người Cốc Đại Dụng bị đánh cho bủn rủn tay chân, sớm không còn sức đâu mà chào hỏi họ nữa, được vài tiểu thái giám dìu trở về cung.

Tiền Ninh lấy từ trong lòng ra hai bình nhỏ, đưa cho Dương Lăng một bình, nói:
- Uống hết cái này, đây là thuốc chữa thương tốt nhất, cam đoan sẽ không để lại di chứng.

Dương Lăng khó khăn ngồi xuống, tên thủ hạ Cẩm Y Vệ mặc dù cũng lưu tình, nhưng ba mươi gậy đánh xuống, đương nhiên là phải đau rát vô cùng, phỏng chừng mông đã sưng vù lên, hơn nữa còn rách tóet ra.

Thủ hạ của Tiền Ninh chạy tới nâng hắn và Dương Lăng dậy, dìu đi một đoạn cho khí huyết lưu thông. Đi tới khi hai người cảm thấy tê đi không biết đau nữa, lúc này mới đỡ hai người lên xe ngựa. Trước khi Tiền Ninh chịu phạt sớm đã có chuẩn bị, trên xe trải tấm nệm dày, còn có cả thầy lang của Cẩm Y vệ ở trong xe, lập tức lột quần hai người xuống bôi thuốc.

Hai người cứ thế để mông trần nằm cạnh nhau, Tiền Ninh nói:
- Dương đại nhân, ta trước hết đưa ngươi về nhà, sau đó trở về dưỡng thương. Ối, bôi nhẹ một chút đi, mông ta đau quá.

Tiền Ninh phân phó tên lang trung một tiếng, lại hỏi:
- Dương đại nhân, thủ hạ của ta đánh mất yêu bài, bị người ta dò ra là Cẩm Y Vệ. Mẹ kiếp, Thọ Ninh Hầu quả nhiên ghê gớm. Ta đường đường là thiên hộ chưởng hình của Cẩm Y vệ đánh một tên gia đinh nho nhỏ của nhà hắn, không ngờ lại động đến thánh chỉ, bị phạt đình trượng. Nhưng việc Thái tử xuất cung thì ta chẳng nói ra lấy một chữ, các ngươi sao cũng bị giải tới đây thụ hình thế?

Dương Lăng biết Hoằng Trị nhất định có một ban nhân mã khác phụ trách việc nghe ngóng tất cả động tĩnh trong ngoài cung, mười phần thì hết tám chín là mật thám Tây Xưởng trong truyền thuyết đã bí mật được thành lập. Y không dám tùy ý nói toạc ra, chỉ bảo:
- Chúng ta hồi cung bị người ta thấy được, bẩm báo lại Hoàng Thượng, cho nên mới bắt chúng ta tới đây chịu đòn, chỉ là... liên luỵ tới Tiền đại nhân, tại hạ thật sự áy náy.

Tiền Ninh ra vẻ hào khí nói:
- Huynh đệ của mình, vốn phải là có rượu cùng uống, bị đánh cùng chịu. Một chút đau đớn da thịt đã là gì? Vì thái tử gia, có chịu chút đau khổ nữa cũng đáng giá mà.

Hắn ghé tai gần Dương Lăng, thấp giọng cười nói:
- Nghe nói buổi triều hôm nay, Lý đại học sĩ và Trương Hạc Linh đã đánh nhau trên điện Kim Loan. Hoàng Thượng trong cơn giận dữ đã hạ ngục cả lũ, ha ha, có thể làm hắn ngồi tù, trong lòng ta cũng vô cùng khoan khoái, con mẹ nó, nợ nần phải tính cho đủ, quân tử báo thù mười năm không muộn, chúng ta cứ chờ xem, ha ha ha... ối chà!

Hắn cười làm động vết thương, nụ cười không kìm được thành ra méo xệch, thực là khó coi không thể tả.

Xe tới trước cửa Dương gia tại phố Hộ Quốc Tự, Dương Lăng ngại thương thế mình bị Ấu Nương trông thấy mà lo lắng, do đó cự tuyệt hảo ý của Tiền Ninh phái người hộ tống, một mình xuống xe, cố chịu đau đi vào trong viện. Lúc này trời chiều ngả về tây, ánh mặt trời lúc chiều tà rọi vào trong viện, đập vào mắt một mảng vàng óng.

Dương Lăng phỏng chừng Ấu Nương đang ở trong nhà làm cơm, do đó khi y đi đến cửa, liền vươn thẳng người, nhìn xem không có gì sơ hở, lúc này mới yên tâm đẩy cửa đi vào. Trên bếp ngọn lửa đã dịu đi, trên đó có một ấm đất màu đen đang sôi ầm ầm, một mùi thuốc bắc nồng nặc đập vào mũi, nhưng lại không thấy bóng dáng Ấu Nương đâu.

Dương Lăng thấy thế không khỏi cả kinh, y thất thanh gọi:
- Ấu Nương, Ấu Nương?

Gọi vài tiếng mà không thấy ai trả lời, Dương Lăng vội vàng nhịn đau nhào vào phòng. Trong phòng ánh sáng mù mờ, chỉ thấy Ấu Nương đang cuộn tròn trên giường, đắp chăn không nhúc nhích.

Dương Lăng hấp tấp lao tới, nắm lấy bờ vai gầy yếu của nàng gọi:
- Ấu Nương, Ấu Nương?

Y sờ trán Ấu Nương, thấy nóng bỏng cả tay, thân thể Hàn Ấu Nương run lên nhè nhẹ, nàng nghe thấy tiếng tướng công gọi, cố gắng mở to mắt muốn nói chuyện, nhưng răng chỉ va vào nhau lập cập, đến một chữ cũng nói không nên lời.

Dương Lăng cõi lòng đau thắt, y hoảng sợ ôm lấy Ấu Nương, trong lòng vừa đau vừa hối hận. Đã nhiều ngày nay y cũng thấy Ấu Nương ăn không ngon, thần sắc rất tệ, nhưng y lại cho rằng Ấu Nương là người luyện võ, thân thể luôn luôn cường tráng, hẳn là cảm mạo bình thường, do đó không quá để ý. Lúc này thấy nàng bộ dáng tiều tụy, trái tim Dương Lăng như bị cào xé, hoảng hốt nóng ruột vô cùng.

Ấu Nương hơi giãy dụa trong lòng y, rên rỉ nói:
- Lạnh quá, tướng... công, Ấu Nương lạnh quá, ta... Thiếp khát nước quá... Thiếp muốn uống nước...

Dương Lăng vội hỏi:
- Ta đi, ta đi, đợi nhé, ta đi lấy nước cho nàng.

Y vội vội vàng vàng chạy ra gian ngoài, lục lọi cả buổi mới tìm ra cái chén, lại ngó nghiêng một lát không thấy nước để ở đâu. Trước giờ y không cần quan tâm đến việc nhà, lúc y khát, nước trà ấm lập tức được đưa đến trước mặt, lúc y đói, thức ăn nóng bốc khói nghi ngút lập tức dọn lên bàn cho y, tất cả đều vô cùng tự nhiên. Bây giờ phải chiếu cố cho Ấu Nương, y lại không tìm thấy cái gì, nhớ tới Ấu Nương chăm sóc y tận tình, trong lòng y càng thêm khó chịu.

Ấu Nương bệnh nặng thế, chẳng lẽ cho nàng uống nước lạnh ư? Dương Lăng múc một gáo nước, lại đổ vào thùng, y chạy đến trước bếp nhấc ấm sắc thuốc qua một bên, tay cầm nóng bỏng làm y phải buông tay vứt ấm đi.

Dương Lăng vội vàng hứng nửa nồi nước, để lên bếp, cho vào lò bảy tám thanh củi, thấy lửa cháy bùng lên, y mới yên tâm chạy về phòng, châm đèn lên, đem tới trước mặt Ấu Nương, sau đó ôm Ấu Nương ôm vào ngực, nhẹ giọng nói:
- Ấu Nương, ta đang nấu nước, trong chốc lát là xong, đợi một lát là có ngay.

Ngọn đèn trước mắt rập rờn. Ấu Nương khẽ nhắm mắt, nàng liếm liếm đôi môi nứt nẻ, mở mắt thất thần, ho khan một trận, mỉm cười e thẹn, nói:
- Tướng công, chàng về rồi, Ấu Nương quả là vô dụng, thiếp... đi... gặp thầy lang rồi. Ông ấy nói ta nhiễm lạnh, đem thuốc về rồi nhưng khi đang sắc thì không... không chịu được nữa.

Dương Lăng thấy nàng vừa nói tới đây, thân thể nàng lại không chịu được phải rùng mình, sắc mặt ửng đỏ, dưới ánh sáng ngọn đèn, thấy cổ nàng nổi lên những chấm đỏ lấm tấm, bộ dáng căn bản không giống cảm mạo, không khỏi kinh hoảng nói:
- Cái gì mà nhiễm lạnh. Tên lang trung chó má. Ta dẫn nàng đi gặp đại phu, tìm đại phu tốt nhất.

Y không nói gì thêm, bất chấp Ấu Nương giãy dụa yếu ớt, ôm lấy thân thể nàng lên rồi phóng ra ngoài. Cụ già gần nhà y đang chuẩn bị dọn hàng, kinh ngạc nhìn vị hàng xóm Dương đại nhân vọt tới trước mặt mình, hỏi vẻ vô cùng hoảng loạn:
- Cụ ông, xung quanh nơi này có y sĩ không? Không, không, không phải mà là có thầy lang, có đại phu không? Ta muốn tìm đại phu tốt nhất!

Cụ già lắm mồm này nghe y gọi mình là cụ ông, không khỏi được khen mà thấy sợ, nói:
- Đại nhân, thầy lang tốt nhất phố là Lưu tiên sinh ở Dã Cúc Trai, là Kim Châm Lưu nổi tiếng kinh thành. Nhưng phí chẩn trị của hắn cũng hơi ……

Nhìn thấy Dương Lăng mắt như muốn phun lửa, ông lão vội sửa lời nói
- - Đi hết phố, đến nhà thứ ba cuối đường là nó đó. Đại nhân... trong nhà lão có một chiếc xe đẩy, đại nhân muốn dùng nó đưa phu nhân đi không, đường đi cũng không gần lắm đâu.

Dương Lăng gật đầu lia lịa, cụ già vội vàng chạy về nhà lấy chiếc xe đẩy hai bánh đem ra, Dương Lăng thấy chiếc xe đẩy xưa nay chỉ dùng để đẩy hàng, hơi dơ bẩn, vội về nhà lấy đệm chăn trải lên, xong mới đặt Ấu Nương lên trên, đắp cho nàng một tấm chăn. Sau một hồi lăng xăng, nhịp hô hấp của Ấu Nương càng thêm dồn dập, hai mắt đã nhắm chặt, cả người bất tỉnh rồi.

Dương Lăng lòng như lửa đốt, kéo chiếc xe đẩy chạy một mạch về phía Dã Cúc Trai. Chỉ là bây giờ bản thân y cũng đi đứng khó khăn, cất bước lảo đảo, nhưng lại liều mạng dùng sức chạy thật nhanh, nhìn bóng hình thê lương dưới ánh trời chiều ấy khiến cho người ta thương xót không nói nên lời.
[CENTER]***

- Phu nhân tuổi còn trẻ, lại luôn luôn tập luyện, vì vậy chống chọi đến giờ mới phát bệnh. Nói ra thì việc này cũng chẳng phải là một chuyện tốt, hàn tà trong cơ thể ứ đọng quá lâu, một khi phát tác, như nhà nghiêng sắp đổ ấy, lại muốn chữa trị, ài....
Kim Châm Lưu tay vuốt chòm râu khe khẽ lắc lắc đầu.

Vị Dương đại nhân này vừa rồi thế như hổ dữ, lôi xe đến xô cửa xông thẳng vào nhà lão, lại móc ra thẻ bài Cẩm Y Vệ cưỡng ép lão tống cổ tên phú ông đang yêu cầu chữa trị việc không có con của hắn và ả tiểu thiếp thứ mười hai, rồi kéo tay lão vội tới xem bệnh cho nương tử mình.

Thấy người vừa đến là người của Cẩm Y vệ, Lưu đại phu ban đầu còn hơi sờ sợ, nhưng sau khi xem bệnh và nói về bệnh lý, bệnh nghề nghiệp phát tác, lão bắt đầu rung đùi đắc ý.

Dương Lăng suốt ruột tới mức mồ hôi trên trán nhỏ xuống ròng ròng, y nuốt khan, lo lắng nhìn Ấu Nương đang hôn mê bất tỉnh, khẩn cầu nói:
- Tiên sinh! Cầu ngài xem lại biện pháp, nương tử ta phải trị liệu sao mới khỏi được? Tiên sinh yên tâm, bất luận thuốc quí ra sao, mất bao nhiêu bạc, ta đều có thể tìm được, tiên sinh không cần phải lo.

Kim Châm Lưu cau đôi lông mày trắng nói:
- Phu nhân bị bệnh thời gian đã lâu, dương khí bảo vệ nhân thể đã hư tổn, rất dễ mắc phải hàn tà, bệnh phân chia thành ngoại hàn và nội hàn. Ta thấy tuy thân thể phu nhân cường tráng... Nhưng e rằng từng trải qua quá trình nghèo khổ lâu dài, ngoại hàn xâm nhập vào thân thể dai dẳng không tan, bây giờ nội hàn phát sinh, hàn tà là âm tà, âm thắng sẽ kết hàn. Cho nên khí huyết đông cứng, cản trở làm cho kinh lạc tắc nghẽn, không lưu thông được...

Dương Lăng nghe đến đó, nhớ tới ngày đó mình ở Dương Gia Bình, mùa đông khắc nghiệt, Ấu Nương mỗi khi đêm đến chỉ khoác chiếc áo mỏng, ngày ngày chịu lạnh chịu buốt, chẳng lẽ bệnh của nàng đã phát sinh từ lúc đó? Dương Lăng nghĩ đến những ngày tháng Ấu Nương chịu khổ sở, không khỏi lòng đau như cắt, lệ rơi lã chã, lúc này y thấy Kim Châm Lưu nói ra nguyên nhân phát bệnh, trong lòng hiện lên một chút hy vọng, vội vàng truy vấn:
- Tiên sinh, vậy xin hỏi phải làm sao mới trị liệu được?

Kim Châm Lưu cau mày trầm ngâm nói:
- Hàn khí ở lâu trong cơ thể phu nhân, gây cản trở kinh lạc, khí huyết không lưu thông, vốn thân thể từ từ cũng quen dần. Nhưng gần đây phu nhân lại ở một nơi nóng bức, khí dương oi ả quá nhiều, làm cho âm dương xung khắc, đem khí hàn tà nhanh chóng đẩy vào tỳ thận, dẫn đến tỳ không thể vận chuyển, tiêu hóa chất dinh dưỡng tạo ra sức sống và máu huyết cho cơ thể. Thận không nạp được khí làm thông suốt niệu đạo để sinh ra tủy và hơi ấm nuôi dưỡng toàn thân. Dịch thể buộc phải hòa cùng máu huyết...

- ...
Dương Lăng nghe hắn còn kể lể về âm dương ngũ hành, không thể không rùng mình, y đứng bật dật, chụp lấy áo của Kim Châm Lưu, mặt mày dữ tợn, rốt cuộc không còn chút lịch sự nào nữa, lớn tiếng gào to:
- Đừng có giảng bệnh lý với ta, ta chỉ hỏi ngươi, phải làm sao mới trị liệu được? Phải dùng thuốc như thế nào?!

Kim Châm Lưu cũng không tức giận, lão nhìn Dương Lăng vẻ thông cảm, khẽ lắc đầu nói:
- Bệnh đã lan khắp nơi, khó có thể chữa trị.

Dương Lăng buông tay, ngồi phịch xuống ghế, ngây người hồi lâu, rồi y đột nhiên nhảy dựng lên hét lớn:
- Ta không tin, ta không tin! Không được, ta còn chưa chết, sao Ấu Nương có thể chết được?

Y ôm lấy Hàn Ấu Nương hôn mê bất tỉnh, rơi lệ nói:
- Thành Bắc Kinh to như vậy, ta không tin không tìm thấy một người có thể trị liệu cho Ấu Nương!

Y vô cùng cẩn thận đặt Ấu Nương lên xe rồi đẩy đi. Vì nãy giờ y chạy một mạch nên làm rách miệng vết thương, vết máu thấm ra ngoài áo sau của y. Dương Lăng vừa đẩy xe vừa thầm nói:
- Ông trời có mắt, quyết không cho Ấu Nương chết được, quyết không chết được!

Kim Châm Lưu khẽ lắc đầu, tuy biết người trước mắt là người của Cẩm Y vệ, không thể đắc tội với y được, nhưng ảnh hưởng tới tôn nghiêm của danh y, nên đợi y ra khỏi cửa, lão len lén mắng theo:
- Trong thành Bắc Kinh, y thuật Lưu mỗ ta không dám xưng đệ nhất, nhưng bệnh mà ta trị không được... e rằng cũng không ai khác trị được. Nếu ngươi tin ta, còn có thể dùng vài thứ thuốc hồi sức, để nàng tạm thời tỉnh lại mà trăn trối, còn bây giờ... Hà hà!





Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
27-01-2011, 11:49 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 73: Tìm Thầy Khắp Kinh Sư



Dịch: workman

Biên dịch: Kiếp Nô

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng khẽ gật đầu, từ từ ôm Ấu Nương đứng lên, nói với Điền thần y:
- Xin thần y cho ta mượn xe ngựa! Ta phải đi khắp kinh thành tìm danh y, chỉ cần Ấu Nương còn một hơi thở, ta vẫn sẽ còn đi tìm danh y, tìm một phương thuốc cứu sống nàng!


------------------------

Chương bảy mươi ba: Tìm Thầy Khắp Kinh Sư

------------------------

Dương Lăng đẩy Ấu Nương đi trên đường lớn như kẻ mất hồn.

Lúc Ấu Nương còn khỏe, nàng luôn ôn hoà thuần hậu đứng sau lưng y, giống như một cơn mưa xuân ấm áp mềm mại âm thầm, chẳng những dần dà khiến người ta quên mất sự tồn tại của nàng mà ngay cả Dương Lăng cũng gần như quen với những hiến dâng lặng lẽ của nàng. Song bây giờ đột nhiên ý thức được nàng không thể vĩnh viễn như cái bóng đi theo mình, chiếu cố cho mình, làm bạn với mình, Ấu Nương cũng có ngày rời xa mình thì Dương Lăng mới giật mình phát giác sự đáng sợ của loại mất mát này.

Lúc này Dương Lăng vừa vội vừa sợ, mồ hôi thấm đẫm lớp áo dày, gió thổi ớn lạnh cả người. Máu tươi chảy đầm đìa từ mông nhưng y hoàn toàn không bận tâm. Những gì Lưu Thần Châm nói, y nghe cũng hiểu đại khái, vừa nghĩ tới lại đau lòng như cắt. Mình chỉ cảm thấy Ấu Nương tài giỏi kiên cường, sao không nghĩ tới nàng còn nhỏ tuổi, tấm vai non nớt có thể chống chọi được bao nhiêu áp lực chứ?

Một tiểu cô nương năm mười lăm tuổi gả vào nhà họ Dương, một mình khổ sở chống đỡ, không người trợ giúp, không niềm hy vọng. Áp lực tâm lý trầm trọng, cuộc sống gian khổ cơ cực, ngày tiếp ngày vất vả lo toan khiến thân thể nàng ngày càng sa sút, chỉ có thể dựa vào tinh thần cố gắng chống chọi mới giúp nàng chưa ngã gục.

Mùa đông rét lạnh mà mỗi đêm nàng chỉ đắp một cái chăn rất mỏng, không lâu sau lại tới ở trong tòa nhà của Sở Dịch, giường đất từ chỗ rất lạnh biến thành cực nóng. Hàn khí vốn đã xâm nhập tận phế phủ của nàng hoàn toàn không thích ứng được với loại biến hóa đột ngột này, lúc đó nàng đã mang mầm mống bệnh hoạn trong mình, chỉ do nàng có sức khỏe nên cố chống đỡ đến giờ mới phát bệnh.

Lúc này Dương Lăng khóc không ra nước mắt. Vừa rồi y dựa vào toàn bộ sức lực trong lúc kinh hãi đẩy Ấu Nương chạy lâu như vậy, bây giờ vừa mệt vừa đói, thật sự không còn moi ra chút khí lực nào để đi nữa.

Vừa chật vật rẽ qua một ngã tư, một chiếc xe ngựa đang từ xa lướt nhanh đến vội vội vàng vàng khựng lại trước mặt y. Người trên xe ngựa gò cương chửi ầm lên:
- Mẹ, ngươi không muốn sống nữa à? Sao đi mà không nhìn đường, nếu kinh động lão gia nhà ta, ta đưa ngươi vào nha môn ăn đòn đó!

Dương Lăng lạnh lùng nhìn gã, gằn từng tiếng:
- Ta vừa mới ăn hèo đây, chính là hèo do đương kim hoàng đế ban tặng. Ngươi có bản lãnh thì tới đây thử xem!

Gã kia làm sao tin y được, gã cười khẩy một tiếng đang muốn nói gì, Dương Lăng đã lấy ngọc bài từ trong ngực ra xỉa trước mặt gã, trầm giọng:
- Bảo lão gia nhà ngươi xuống xe! Ta là Đồng Tri Cẩm Y vệ, bây giờ cần dùng xe của ngươi!

Tên đánh xe kinh hãi biến sắc. Gã nhìn nhìn một hồi vẫn không nhận biết được thẻ bài Cẩm Y Vệ, nhưng đã liên quan tới Xưởng Vệ thì thà tin còn hơn không. Gã chần chừ một lúc rồi quay đầu lại nói với người trong xe:
- Lão gia! Ngài xem...

Rèm kiệu vén lên, một người đàn ông trung niên áo xanh râu ngắn ló đầu ra. Nhờ ánh đèn lồng treo trên khách sạn bên ngã tư quan sát rõ tấm yêu bài của Dương Lăng, hắn không khỏi thầm giật mình kinh hãi. Đã gặp qua không ít đại quan cùng quý nhân, đương nhiên hắn nhận biết yêu bài của Cẩm Y Vệ, đến cả tổ tông hắn cũng không dám trêu vào. Thầm kêu xui xẻo, hắn ngoan ngoãn bước ra khỏi xe, chắp tay chào:
- Ra mắt đại nhân! Không biết đại nhân xưng hô ra sao?

Dương Lăng ôm lấy thân thể mềm mại của Ấu Nương đặt lên xe ngựa, thở hào hển đáp:
- Ta không có thời gian nói chuyện với ngươi. Bây giờ ta cần xe của ngươi cùng với mã phu của ngươi, khi quay lại ta sẽ thả hắn về nhà.

Y nói xong tự mình trèo lên xe, đặt Ấu Nương cẩn thận trên ghế kiệu, nhè nhẹ hôn lên gương mặt nóng hổi của Ấu Nương, nghẹn ngào:
- Ấu Nương! Có tướng công ở đây, nàng sẽ không chết được đâu. Nếu nàng không sống nữa, tướng công sẽ cùng nàng đi đại náo âm tào địa phủ một trận, kiếp sau chúng ta lại làm vợ chồng.

Nói xong, quay đầu lại thấy tên đánh xe vẫn còn đờ đẫn, y không khỏi giận dữ hét lớn:
- Ngươi còn chưa đi?

Tên đánh xe giật bắn cả người, vội vàng đáp:
- Đi... Đi đâu chứ? Đại nhân ngài còn chưa bảo mà.

Dương Lăng yếu ớt xua tay, khuỵu gối bên cạnh Ấu Nương, ôm lấy thân thể nàng nói:
- Đi tìm lang trung! Ngươi là người đánh xe, hẳn biết trong kinh sư này ai là danh y, nhà cửa ở đâu. Nhanh!

Gã đánh xe ngần ngừ chỉ người đàn ông vừa bước xuống khỏi xe, nói:
- Lão gia nhà ta chính là danh y, hơn nữa lại là ngự y.

- Cái gì?
Dương Lăng vừa mừng vừa sợ, vội vàng nhảy xuống xe, gần như nằm rạp trước mặt người đàn ông trung niên kia, y kéo áo người nọ la lên:
- Tiên sinh họ gì? Xin tiên sinh chữa cho nương tử nhà ta, nàng... Nàng...

Dương Lăng cảm thấy phấn khởi, vừa muốn khóc lại vừa muốn cười, nói không ra lời.

Người nọ tuy là ngự y nhưng cũng không dám đắc tội với Cẩm Y vệ, mới vừa rồi phải nhẫn nhịn xuống xe, bây giờ thấy y từ hống hách trở nên nhún nhường, trong lòng bất giác có chút khoái chí. Hắn cười nói rất tự đắc:
- Tại hạ họ Điền, là y sĩ của thái y viện, chẳng biết tôn phu nhân khó ở thế nào? Nhưng nơi này không tiện bắt mạch, đại nhân nên theo ta về nhà, để ta có thể chẩn đoán rõ ràng hơn.

- Được được!
Dương Lăng rối rít đồng ý. Ngẫm lại mình vừa mới buộc người ta xuống xe, y chẳng biết có nên đi chiếc xe này tới nhà của người ta nữa hay không.

Vị Điền đại phu lại cười nói:
- Thôi đi! Tôn phu nhân đang bị bệnh, không cần phải xuống xe. Hàn xá ở ngay phía trước, chúng ta đi bộ về nhà cũng được.

Dương Lăng cũng chẳng cần khách sáo chi nữa, cùng cẩn thận theo vị Điền ngự y tới nhà hắn. Nhà của Điền ngự y nhìn qua có vẻ sang trọng, cạnh cửa treo cao một tấm biển vàng chóe “Hạnh Lâm Cư”. Vừa tới nơi, Dương Lăng bế Ấu Nương theo hắn đi qua sân rồi vào thẳng trong đại sảnh. Thấy trong đó treo vô số những thẻ bài to nhỏ “Y Đạo Thánh Thủ”, ”Tái Hoa Đà”, ”Đương Thời Danh Y”, Dương Lăng càng thấy an tâm hơn nhiều.

Điền ngự y rửa tay bằng nước ấm, một mặt dùng khăn tay trắng như tuyết lau sạch tay, một mặt đến gần quan sát kỹ Ấu Nương đang hôn mê trong lòng Dương Lăng. Hắn chau mày hỏi:
- Tôn phu nhân dường như bị nóng lạnh trong người, chân lông bí nghẽn, sốt cao không hạ thì phải!

Dương Lăng vội vàng gật đầu, run giọng đáp:
- Đúng, đúng, đúng! Thần y có biện pháp cứu nàng chứ?

Điền ngự y khe khẽ lắc đầu, bắt mạch Ấu Nương một lát, rồi mặt mày trầm trọng nói:
- Bệnh nóng lạnh không phải là sở trường của ta. Trong mười ba khoa của Thái Y viện thì tại hạ chuyên về bệnh trẻ em, không thạo về lãnh vực này, chỉ là... theo ta thấy... dù là thần y đúng chuyên khoa cũng khó lắm!

Dương Lăng không biết Thái Y viện Đại Minh chia làm mười ba khoa là Tim Mạch, Nhi Đồng, Phụ Khoa, Thương Hàn, Chấn Thương, Châm Cứu, Răng Miệng, Họng Hầu, Xoa Bóp, Nối Xương, Kim Thốc, Nhãn Khoa, Bùa ngãi, y còn tưởng rằng phàm là thái y đều là có thể chữa được bách bệnh. Tuy không hiểu bệnh trẻ em là cái gì, nhưng nghe lão nói không biết chữa, y không khỏi thất vọng:
- Thần châm họ Lưu cũng nói không có thuốc nào trị được, không ai có thể trị. Chẳng lẽ... chẳng lẽ ta phải mất Ấu Nương thật sao?

Vốn vẻ mặt đang ngượng ngùng, nghe y nói thế, Điền ngự y không khỏi bật thốt:
- Ngươi đã gặp Kim Châm Lưu rồi à? Hắn nói không trị được là không trị được sao? Tuy ta không giỏi ngành này, nhưng cả thành Bắc Kinh người trị bệnh nóng lạnh giỏi nhất, ngoại trừ Ngô tiên sinh Ngô Thanh Viễn đã qua đời thì chỉ còn anh của ta thôi. Nếu anh của ta ở đây, chưa chắc không trị được!

Tinh thần Dương Lăng chấn động, y vội hỏi dồn:
- Lệnh huynh ở đâu? Mau mau mời lệnh huynh xem bệnh cho nàng, chỉ cần chữa được, Dương Lăng nguyện dốc toàn bộ sự sản để cảm tạ.

Điền ngự y nhậm chức trong cung nên không được tự mình mở phòng khám bệnh, nhưng ca ca hắn vì bị què một chân, mặt mũi lại xấu xí nên không thể vào triều nhậm chức ngự y, do đó mới mở Hạnh Lâm cư này. Phòng mạch này cách Dã Cúc Trai cũng không xa, hai nhà luôn là đối thủ cạnh tranh. Nghe thần châm họ Lưu đoan chắc người bệnh không thể trị được, Điền ngự y tự nhiên không chịu phục. Lão họ Lưu đã không trị được, chỉ cần nhà mình chữa được thì việc này lan truyền ra, Thần Châm Lưu sau này đừng hòng mơ tưởng cạnh tranh với Điền gia nữa.

Vì lẽ đó, tinh thần Điền ngự y trở nên hăng hái, hắn nói với Dương Lăng:
- Đại nhân chớ sốt ruột! Anh của ta về quê ở Tam Hà thăm người thân rồi, cũng không xa đây lắm.

Hắn xoay người hạ lệnh cho gã đánh xe:
- Thiệu Đường! Ngươi lập tức đánh xe về quê Tam Hà, đón Đại lão gia nhanh nhanh trở về. Nói trong kinh có quý nhân mời người khám chữa bệnh.

- Dạ, lão gia!
Tên đánh xe vâng lệnh. Cũng may ngựa còn chưa tháo khỏi xe, gã vội vàng dắt ra khỏi cổng lớn, vung roi lên, ào ào phóng đi mất.

[CENTER]************************************

Hôm sau vào buổi triều sớm, Hoằng Trị tinh thần vui vẻ, thập phần vừa ý. Hôm qua dựa vào việc chỉnh lý bọn Dương Lăng, ông đã áp chế được sự kiêu ngạo của Kim phu nhân; cũng không biết bà ta nói với Hoàng hậu thế nào mà khi ông trở lại cung, tuy Hoàng hậu vẫn còn u sầu buồn bã, nhưng đã không dám khóc dầm khóc dề như trước nữa.

Ông có ý định phổ biến chính sách mới về hạn chế quyền lợi của hoàng thân quốc thích đã lâu, nhưng cản trở lớn nhất vẫn đến từ gia đình Hoàng hậu, hơn nữa đám quí tộc vì ích lợi có thể bị hao tổn, nhất định cũng dán mắt vào Trương gia. Một khi Trương gia không tuân theo pháp lệnh, đương nhiên người ngoài cũng sẽ học theo. Bây giờ Thọ Ninh Hầu đã bị trừng trị, lực cản đối với việc thúc đẩy cải cách nhất định sẽ giảm mạnh.

Không ngoài dự đoán của Hoằng Trị, nhân thời cơ chín muồi, vào buổi triều sớm ông đề xuất lại việc cải cách, để cho đám người Lý Đông Dương vừa được phóng thích khỏi ngục cùng Lưu Kiện và Tạ Thiên Kỷ bên xướng bên họa, thuận lợi ban bố luôn. Văn võ cả triều đều thức thời, không ai dám lên tiếng phản đối.

Hoằng Trị cảm thấy mừng rỡ, xem ra hôm nay không có việc gì quan trọng khác phải xử lý, đang muốn tuyên bố bãi triều thì lễ bộ thượng thư Vương Quỳnh bước khỏi hàng tấu:
- Thần khải bẩm Hoàng Thượng! Thần nghe nói mấy tên nội quan ở Đông cung chuyên phụng dưỡng Thái tử hay bày ra mấy trò chó ngựa mua vui, cản trở Chiêm Sĩ Phủ dạy thái tử đọc sách. Gần đây lại nghe thị độc của thái tử là Dương Lăng cũng hòa mình với bọn chúng, cấu kết nhau làm việc xấu.

Hoàng Thượng, Thái tử là người kế vị của quốc gia, bản thân quan hệ tới cả thiên hạ. Dương Lăng vốn xuất thân tú tài, được bệ hạ ân sủng, phá lệ ban danh hiệu Đồng tiến sĩ xuất thân, cho làm Đông cung thị độc. Hắn không nghĩ tới việc báo đáp hoàng ân, mà lại cùng nịnh thần cấu kết, gây náo loạn Đông cung. Thần xin bệ hạ bãi chức thị độc Đông cung, đuổi khỏi triều đình.

Hoằng Trị ngẩn người, nói vẻ không vui:
- Đó là do Ái khanh nghe nói Dương khanh hôm qua bị phạt trượng ở ngọ môn phải không? Hắn tuy cũng bị phạt trượng, trẫm cũng chỉ khiển trách nhẹ vì hắn chưa làm tròn trách nhiệm thị độc, không thể ngăn cản nội quan rủ rê Thái tử chơi bời trì hoãn việc đọc sách thôi. Hôm qua trẫm đến Đông cung khảo sát bài vở Thái tử, thấy tri thức cùng kiến thức của Thái tử đều tăng lên, việc này đương nhiên là công lao của ba vị thái phó, nhưng cũng không phải không có công phụ tá của thị độc.

Lão Vương Quỳnh không đồng ý, bẩm:
- Bệ hạ! Thị độc vốn có trách nhiệm giám sát Thái tử đọc sách, chưa tròn trách nhiệm, cũng khó xứng với chức vụ. Thần cho rằng nên tuyển một vị thị độc Đông cung có đức có tài khác. Sau khi dán thông báo vào kỳ thi mùa xuân, Hoàng Thượng tự mình tuyển một vị hiền tài tới Đông cung. Thần nắm giữ Lễ Bộ, đây là chức trách phạm vi của thần, việc này không dám không tấu.

Hoằng Trị mỉm cười nói:
- Trẫm biết sự trung trực của ái khanh, nhưng Dương Lăng làm việc ở Đông cung luôn luôn khá tận tâm, hôm qua trẫm cũng đã tiến hành khiển trách hắn rồi, cũng không cần phải...

Vương Quỳnh lập tức phục xuống đất khóc lớn:
- Hoàng Thượng nhân từ vô cùng, nhưng việc Thái tử là việc xã tắc, không thể sơ ý chút nào được. Thái giám nội cung chỉ hầu hạ thái tử sinh hoạt thường ngày, cho dù bọn chúng có hơi phi lý cũng còn có thể khoan dung. Nhưng đã là thị độc mà không thể hoàn thành chức trách thì vạn lần không thể tha thứ. Thần chưởng quản Lễ Bộ, sao có thể thấy mà không nói? Thấy mà không can? Thấy mà không gián được chứ?

Hoằng Trị chịu không nổi những tiếng gào khóc của Vương Quỳnh. Văn võ cả triều, lão là kẻ nhiều nước mắt nhất, hơi một tí là khóc lóc can gián, nhưng vị lão thần này luận về đạo đức văn chương đều thập phần xuất chúng, làm quan cũng luôn luôn thanh liêm. Hoằng Trị cũng không có biện pháp phạt lão. Thấy lão lại khóc lóc, Hoằng Trị bất lực nhìn Lưu Kiện.

Lưu đại học sĩ thông minh sắc sảo, ánh mắt Hoằng Trị đế vừa nhìn mình, lập tức bước ra nói:
- Hoàng Thượng! Thần tán thành đề nghị tuyển người làm thị độc Đông cung vào kỳ thi mùa xuân này của Vương Đại nhân. Dương thị độc thấp cổ bé miệng, tuy không phải không muốn ngăn cản nội quan bày trò, nhưng hắn cũng không thể làm được.

Về phần Dương Lăng, người này năm mười sáu tuổi đã là tú tài đầu bảng Tuyên Phủ, tài viết văn nhất định bất phàm. Mấy bữa trước hắn viết báo cáo về những thay đổi chế độ chính sách của quân đội cùng với việc cầm binh, luyện quân cũng rất là không tệ, đầy ý tưởng mới. Thần nghĩ rằng, có thể miễn chức thị độc của Dương Lăng, nhưng triều đình nên đề bạt bổ nhiệm nhân tài giỏi cả văn lẫn võ này. Không bằng Hoàng Thượng bảo hắn lên điện, tấu trình ngay trên cung đình, nếu hợp ý Thánh Thượng, có thể cho hắn nhậm chức tại triều, hoặc ra ngoài làm quan. Một khi hắn có kinh nghiệm, không chừng sẽ trở thành bầy tôi trụ cột của triều đình.

Hoằng Trị nghe vậy rất mừng. Ông vốn có ý lưu Dương Lăng lại chờ hoàng nhi đăng cơ sẽ sử dụng. Nhưng từ năm trước ông bị bệnh nặng, thân thể ngày càng sa sút. Do đó hôm nay cũng phải suy nghĩ rất nhiều để chuẩn bị cho hoàng nhi.

Đám cựu thần trong triều tuy trung thành hết mực, nhưng bảo thủ cũng có thừa, thiếu chí tiến thủ, hơn nữa bọn họ đã già thế rồi cũng không biết gắng gượng được bao nhiêu năm nữa. Nếu không thể tìm được bầy tôi tốt phụ tá cho hoàng nhi, chỉ vài năm sau đám cựu thần sẽ tàn lụi, làm sao ông yên tâm được?

Do đó nghe thấy Vương Quỳnh luôn miệng thỉnh cầu thôi chức thị độc của Dương Lăng, ông liền động tâm. Được lắm, ngươi nói hắn không xứng giữ chức thị độc, không phải là không xứng làm quan trong triều. Ta cho hắn làm quan, cũng không xem như bộ Lễ các ngươi không làm tròn bổn phận phải không? May mà Lưu Kiện có thể quan sát được ý ta, nghĩ ra biện pháp vẹn cả đôi bề như vậy.

Hoằng Trị sợ Vương Quỳnh lại phản đối gì nữa nên lập tức vui vẻ trỏ tiểu thái giám trực giấy mực bên cạnh ngự thư án, hạ lệnh:
- Ngươi đi truyền khẩu dụ của trẫm, bảo Dương Lăng lập tức lên điện.

Tên tiểu thái giám giật bắn cả người. Xưa nay việc truyền dụ đều do nhân viên của Sở biên tập phụ trách việc chấp bút rồi sai người truyền chỉ, hắn chưa bao giờ ra khỏi cung. Bị phái đi như vậy, tên tiểu thái giám hoảng hốt vâng dạ, vội vàng bước xuống một bên ngự đài. Hắn chỉ cảm thấy lâng lâng, hưng phấn tới suýt nữa hụt chân ngã tòm.

Tên tiểu thái giám vừa mới bước xuống được mấy bậc bệ ngự, Hoằng Trị đột nhiên gọi:
- Chậm đã!
Tên tiểu thái giám vội vàng xoay người. Hoằng Trị trầm ngâm một chút, mỉm cười nói:
- Lấy xe gấm trong cung mà đi. Ha ha! E rằng bây giờ hắn chẳng đi nổi nữa đâu.

Đám văn võ bá quan nhất thời ồ lên, xe gấm đón à? Đây là vinh dự như thế nào! Chỉ có mấy vị đại học sĩ và nguyên lão trong triều đôi khi tiến cung mới được đối đãi như vậy. Xem ra Vương thượng thư mờ mắt đã hớ to rồi, hoàng đế Hoằng Trị nói trắng ra mình muốn trọng dụng Dương Lăng mà.

******************************

Lúc này Dương Lăng đang mượn xe của ngự y, giục ngựa chạy như điên. Thần sắc Ấu Nương càng lúc càng kém, môi khô nứt nẻ, khí tức yếu ớt, sắc mặt xám xịt làm cho người ta vô cùng đau lòng, trái tim Dương Lăng cũng theo đó chìm xuống tận vực thẳm.

Nguyên y khổ sở đợi một đêm, tên đánh xe Điền phủ mới đem vị Hạnh Lâm cao thủ sắp mất vía trở về. Vị Điền thần y này quả nhiên cao minh hơn em mình nhiều, ông vừa tiến vào y đường, vọng (nhìn), văn (nghe), vấn (hỏi), thiết (thăm mạch) một hồi, lập tức cả quyết phán:
- Đúng là Tôn phu nhân bị bệnh thương hàn. Bệnh này đã tiềm ẩn lâu ngày đáng ra phải sớm phát tác rồi. Chỉ là tôn phu nhân khí lực cường tráng vượt xa người thường, nên luôn cố chống chọi đến giờ.

Mắt Dương Lăng đầy tơ máu, y trừng đôi mắt đỏ rực, hỏi vẻ lo sợ:
- Có thể... có thể... Có thể còn biện pháp chữa trị không?

Người này đã là hy vọng cuối cùng của y. Trong thời khắc sinh tử, khi y hỏi, khớp hàm cũng va vào nhau lập cập, thân hình cũng run lẩy bẩy.

Điền thần y khẽ cau mày nói:
- Vốn có biện pháp, “Thông Chân Cứu Khổ Đan” của ta chuyên trị thương hàn trong ngoài, là phương pháp kỳ diệu có thể làm cho thoát ngược mồ hôi, chỉ là... chà!

Ông nhìn Dương Lăng với vẻ có lỗi, nói tiếp:
- Tôn phu nhân chạy chữa quá muộn. Thuốc men thì có thể lấy Đương Quy, Xích Thược Dược, mỗi loại một phần năm lạng; Cam Thảo, Ma Hoàng Thảo, mỗi thứ bốn lạng, thêm vào nửa lạng Quan Quế, nghiền nát, lấy rượu nóng đun lên, ba ngày sau lập tức phục hồi, phối với một vài phương thuốc khác là có thể trị dứt, nhưng bây giờ... Thứ cho Điền mỗ mạo muội nói thẳng, tôn phu nhân quyết không qua hỏi hôm nay.

Dương Lăng đầu váng mắt hoa, trời đất tối sầm, y ôm thân thể Ấu Nương mà lảo đảo như sắp ngã khỏi ghế. Điền thần y thấy vậy chấn động, vội ấy trong tay áo ra một thanh ngân châm, thoáng cái đâm vào đỉnh đầu Dương Lăng. Dương Lăng mở to hai mắt, thì thầm gì đó trong họng, hồi lâu mới hít thở được.

Y định thần, cười sầu thảm:
- Không... Không cứu được à?

Huynh đệ họ Điền thấy vợ chồng y tình thâm nghĩa trọng như thế, cũng bất giác thầm cảm động. Điền thần y lặng lẽ rút ngân châm về, đồng tình nói:
- Đại nhân! Về nhà chuẩn bị hậu sự cho phu nhân đi, Điền mỗ vô năng... Chà! Kinh thành to như vậy nhưng có lẽ chỉ có viện trưởng viện Thái Y mấy năm trước là Ngô Thanh Viễn tiên sinh mới có thể có biện pháp, đáng tiếc... bảy năm trước Ngô tiên sinh đã qua đời. Ta hiểu rõ danh y kinh sư như lòng bàn tay, trừ ông ta ra e rằng không ai... không ai khác có thể ra tay cải tử hoàn sinh, trị được bệnh bộc phát tới mức này đâu.

Dương Lăng ngẩn người như khúc gỗ thật lâu. Điền thần y thấy thế kinh ngạc vô cùng, chuẩn bị đâm cho y một châm nữa, con ngươi Dương Lăng mới động đậy, hỏi một câu si ngốc:
- Không cứu được nữa sao?

Điền thần y đáp:
- Không...

Vừa thấy đôi tròng mắt đờ đẫn của y, Điền thần y bất giác chấn động mạnh, nín lặng không nói thêm gì.

Dương Lăng khẽ gật đầu, từ từ ôm Ấu Nương đứng lên, nói với Điền thần y:
- Xin thần y cho ta mượn xe ngựa! Ta phải đi khắp kinh thành tìm danh y, chỉ cần Ấu Nương còn một hơi thở, ta vẫn sẽ còn đi tìm danh y, tìm một phương thuốc cứu sống nàng!

Vốn thứ mà danh y kiêng kị nhất là bước khỏi cửa nhà hắn tìm đến thầy thuốc khác chữa trị. Nhưng huynh đệ Điền thần y lúc này không hề buồn lòng chút nào, họ vội vàng đổi tên đánh xe, giúp Dương Lăng đưa Ấu Nương lên xe. Dương Lăng mang Ấu Nương chạy loanh quanh vài vòng trên phố không mục tiêu, đầu óc rối loạn, rồi y đột nhiên nhớ đến đám hòa thượng Tây dương ở Hộ Quốc Tự, cả người chợt run lên. Thần y, ngự y đều chẳng làm gì được, còn Tây y thì sao?

Trái tim Dương Lăng như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, y vội hạ lệnh:
- Nhanh! Mau tới Hộ Quốc Tự, càng nhanh càng tốt!



Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
14-05-2011, 12:26 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 74: Thiên Tử Gọi



Dịch: workman

Biên dịch: Kiếp Nô

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng cười thê lương:
- Gặp Hoàng Thượng làm gì? Thăng quan phát tài à? Ngươi hồi cung phúc chỉ đi, ta phải đưa Ấu Nương về nhà.
Y chua xót nhìn Ấu Nương nói tiếp:
- Từ khi đến kinh thành tới nay, ta vẫn không hề chăm sóc cho nàng. Hằng ngày vẫn để nàng thui thủi một mình ở nhà, bây giờ ta phải đi về chăm sóc nàng, trở về cùng nàng.



------------------------

Chương bảy mươi bốn: Thiên Tử Gọi

------------------------



Xa phu dạ một tiếng, quay ngoặt đầu ngựa. Dương Lăng cúi đầu nhìn Ấu Nương trong lòng mình sắc mặt đã trở nên trắng bệch, áp má vào gương mặt lạnh buốt của nàng, rơi lệ nói:
- Ấu Nương! Cố kiên trì một chút, đừng bỏ tướng công, tướng công sẽ cùng nàng đi tìm thầy thuốc, nàng nhất định phải kiên trì chịu đựng! Ấu Nương! Nàng đã hứa theo ta cả đời mà...

Tuy là một hán tử hào sảng nhưng vừa nghe thế tên xa phu cũng cảm thấy đau xót, gần như rơi lệ. Hắn chớp mắt, quất mạnh roi lên lưng ngựa, quát to “Giá!”, vội vàng thúc xe phóng như bay về Hộ Quốc tự.

Lúc này tên ngự tiền tiểu thái giám lần đầu phụng thánh chỉ xuất cung làm việc dẫn theo bốn Tiểu Hoàng Môn (*), tám tên Cẩm Y vệ, lại có hai đại hán kéo xe gấm trong cung chạy theo, cực kỳ cao hứng chạy tới nhà Dương Lăng. Vừa tới, cả bọn lại thấy cổng đang khoá, đó là lão hàng xóm giúp Dương Lăng khóa cửa.
(*): một chức quan của thái giám.

Tên tiểu thái giám ngẩn người, vậy thì phải làm sao bây giờ? Hồi cung nộp chỉ à? Tiểu thái giám chưa biết làm gì, đành gõ cửa nhè nhẹ lắng nghe. Khi xe ngựa Dương Lăng vội vàng chạy về ngang phố này, hai tên Cẩm Y Vệ thấy xe phóng ào ào bèn cao giọng quát mắng:
- Đứng lại! Nội quan đang phụng chỉ làm việc, người phương nào dám giục ngựa chạy ẩu như vậy?

Dương Lăng đang vô cùng lo lắng, đầu óc mụ mị, chỉ nghĩ tới việc chạy nhanh đi tìm thầy thuốc, vừa thấy có người cản đường, y buột miệng la lên:
- Ai cản xe ta?

Lúc này, tên tiểu thái giám đã dò biết được Dương Lăng mang người thân đi cầu thầy thuốc không có ở nhà. Hắn vừa hậm hực bước ra khỏi cửa nhà lão hàng xóm nọ đã liếc mắt nhìn thấy Dương Lăng, lòng vô cùng mừng rỡ. Hôm qua hắn theo Hoàng Thượng đi đến Đông cung đã từng gặp Dương Thị Độc rồi nên đương nhiên biết mặt mũi y. Tên tiểu thái giám vội vàng hô to:
- Dương Thị Độc! Hoàng Thượng có chỉ, truyền ngài lập tức lên điện yết kiến.

Dương Lăng quýnh tới mức đổ mồ hôi, chẳng suy nghĩ gì đáp luôn:
- Không không! Mau tránh ra. Ta muốn đưa Ấu Nương đi xem bệnh!
Nói rồi y phất tay bảo xa phu:
- Đi mau, đi mau! Lập tức đi Hộ Quốc tự.

Tên xa phu líu cả lưỡi. Thánh chỉ mà cũng dám không tuân, tuy Cẩm Y vệ rất oai phong nhưng đâu có oai phong đến như vậy? Hắn không dám chậm trễ, vội vàng vung roi lên, xe ngựa xuyên qua đám thị vệ đại nội lao thẳng về phía Hộ Quốc tự.

Nhìn xe ngựa lướt đi, dân chúng đang vây quanh ngẩn cả người ra. Tám tên Cẩm Y vệ, bốn tên Tiểu Hoàng Môn đều trơ mắt nhìn tên thái giám truyền chỉ. Bây giờ hắn chính là khâm sai, đương nhiên cả bọn đều phải nghe lệnh hắn.

Tên tiểu thái giám mới mười bốn mười lăm tuổi, tuy niên kỉ còn nhỏ, nhưng hôm nay lại bất chợt bị Hoàng đế phái đi tuyên chỉ. Chuyện gì hắn cũng đã nghĩ qua, chỉ là không ngờ lại gặp phải tình huống này. Ý chỉ truyền tới nơi mà người ta không phụng chỉ, vậy phải làm gì? Việc này dường như... Dường như xưa nay chưa bao giờ nghe nói tới việc như thế này, ta nên hỏi ai đây?

Tên tiểu thái giám truyền chỉ luống cuống muốn khóc. Bây giờ Hoàng Thượng cùng bá quan cả triều đều đang ở kim điện chờ y, mình báo cáo kết quả công tác làm sao được?

Nếu là thái giám lâu năm gặp phải việc ngàn năm khó gặp như thế này thì hoặc vung phất trần lên, quay đầu hồi cung phúc chỉ để hoàng đế nổi trận lôi đình, kể cả trong chốc lát ngài có trừng trị hay diệt cả nhà y cũng không liên quan tới mình. Nếu đụng phải tên nào lòng dạ độc ác, không biết chừng hắn còn ra lệnh một tiếng, lập tức đám Cẩm Y vệ sẽ giết ngay tên bầy tôi dám kháng chỉ tại chỗ.

Nhưng tên tiểu thái giám này hoàn toàn không có chủ định, hắn chỉ nghĩ tới việc bắt Dương Lăng mang về, bằng không hoàng đế nổi giận, chưa biết chừng cái mông của hắn còn bị đánh đòn. Hắn lượn hai vòng tại chỗ, vung tay lên nói vẻ nghẹn ngào bi phẫn, tiếng kêu the thé:
- Đi! Đuổi theo Dương thị độc!

- Dạ!
Nghe khâm sai lên tiếng, đám Tiểu Hoàng Môn, Cẩm Y Vệ cùng giật cương ngựa, hai đại hán kéo xe gấm chạy theo tên thái giám truyền chỉ đuổi theo Dương Lăng.

Khắp con đường lớn, người đi đường đang lui tới tấp nập. Đám sĩ tử vừa mới thi xong kỳ đầu chuẩn bị thi tiếp buổi chiều thấy cảnh lạ lùng này đều chạy theo hỏi han những người đang bám theo sau tên tiểu thái giám xem náo nhiệt. Hiểu chuyện, bọn họ không khỏi vừa sợ hãi vừa buồn cười, thấy việc kháng chỉ của Dương Lăng thật sự quá hoang đường, nhưng đáy lòng cũng thầm bội phục dũng khí của y.

Một vài đại cô nương, tiểu cô nương càng cảm động tới nước mắt lưng tròng. Đàn ông si tình như vậy, dù trên sân khấu kịch cũng không tìm thấy được. Chỉ trong chốc lát, tin lạ về việc lục phẩm thị độc ôm vợ cầu thầy, ngay cả thiên tử hạ chiếu mà cũng dám kháng chỉ lan truyền khắp kinh thành với tốc độ kinh người.

Tên tiểu thái giám đuổi tới Hộ Quốc tự, vừa kịp nhìn thấy Dương Lăng bế người lảo đảo đá tung cửa bước ra, vài người nước ngoài mũi cao mắt lam thập thò ở phía sau, ngón tay đang múa loạn trước ngực và trên trán (BT: ý là làm dấu thánh).

Thì ra lúc đó y thuật Tây Dương chỉ khá là sở trường về ngoại khoa phẫu thuật. Vì những thứ dụng cụ như kính hiển vi, ống nghe bệnh đều chưa được phát minh nên y học về nội khoa thua xa so với ngoại khoa. Đám thầy thuốc này sở trường thuật mổ sọ, trích huyết, rửa ruột, chứ những thứ sốt cao đột ngột như Ấu Nương thì hoàn toàn bó tay.

Đám thầy tu này cũng đem theo vài dược vật trị cảm mạo của Tây Dương tới đây. Nhưng kỳ thật hiệu quả của thuốc cũng không tốt, hơn nữa vài năm qua cũng đã dùng hết rồi, do đó cũng lực bất tòng tâm với bệnh của Ấu Nương.

Tiểu thái giám đuổi kịp Dương Lăng, hưng phấn tới mức khuôn mặt đỏ rực lên, hắn vội vàng chạy tới vươn tay giữ chặt Dương Lăng cầu khẩn:
- Dương đại nhân! Hoàng Thượng đang ở kim điện chờ ngài. Ngài... ngài trước hết đưa quý nương tử đến lang trung để người ta chăm sóc còn chúng ta đi gặp Hoàng Thượng sớm đi.

Dương Lăng cười thê lương:
- Gặp Hoàng Thượng làm gì? Thăng quan phát tài à? Ngươi hồi cung phúc chỉ đi, ta phải đưa Ấu Nương về nhà.
Y chua xót nhìn Ấu Nương nói tiếp:
- Từ khi đến kinh thành tới nay, ta vẫn không hề chăm sóc cho nàng. Hằng ngày vẫn để nàng thui thủi một mình ở nhà, bây giờ ta phải đi về chăm sóc nàng, trở về cùng nàng.

Bây giờ Dương Lăng đã không còn tiếc gì nữa. Đừng nói sinh mạng y căn bản không còn lâu nữa, cho dù có thể sống lâu trăm tuổi nhưng không có Ấu Nương bên người thì còn ý nghĩa gì nữa? Lúc này mặt trời đã lên cao, nhưng lòng y lại lạnh tới xương tủy.

Tiểu thái giám chỉ ngây người đứng đực ở cửa, ngẫm nghĩ một lát rồi lại muốn đuổi theo. Mấy tên Cẩm Y thị vệ trong cung thấy đám người vây xem quá nhiều, không kìm được vội tới bên cạnh tên tiểu thái giám thấp giọng khuyên:
- Công công, hồi cung phúc mệnh đi! Nếu cứ tiếp tục đuổi theo như vậy thì còn gì thể diện hoàng gia chứ?

Tiểu thái giám hoang mang lo sợ, nhìn trời thấy đã gần trưa, sợ hoàng đế đợi lâu sốt ruột nên hắn bèn giậm chân, hổn hển:
- Đi, hồi cung! Lập tức hồi cung phúc mệnh!

Hắn để chiếc xe gấm trống không cho hai tên vạm vỡ từ từ kéo về, còn mình cùng những người khác quất ngựa như bay, lao nhanh về phía hoàng thành.

[CENTER]***************************************

Vua Hoằng Trị cùng bầy tôi lại tiếp tục bàn luận việc nước. Thấy thời gian triều sớm cũng sắp hết, ông cho văn võ bá quan trở về, chỉ lưu lại đại học sĩ Cẩn Thiên điện Lý Đông Dương, đại học sĩ Hoa Cái điện Tạ Thiên, đại học sĩ Vũ Anh điện Lưu Kiện, thượng thư bộ Lễ Vương Quỳnh và Kiến Xương hầu Trương Duyên Linh dùng bữa trong cung.

Hoằng Trị muốn mượn cơ hội ăn chung để làm dịu hiềm khích giữa đám hoàng thích và mấy vị đại học sĩ. Dù sao nếu để đám cựu thần rất được nể trọng này cứ tranh tranh đấu đấu mãi với đám hoàng thân thì quả là một việc khiến cho người ta đau đầu.

Ông đã thầm bày mưu đặt kế để lát nữa Lưu Kiện, Lý Đông Dương cầu tình cho Trương Hạc Linh trong bữa tiệc, sau đó trước mặt Trương Duyên Linh ông sẽ phóng thích Thọ Ninh Hầu, đồng thời mời họ cùng khảo sát học vấn của Dương Lăng. Có được mấy vị này đồng ý, ông sẽ ban một chức quan cho Dương Lăng, lúc đó sẽ không còn ai dám phản đối nữa. Vì là tiệc nhà, Hoằng Trị lưu tâm gọi cả hoàng hậu cùng em trai của nàng ra dùng bữa.

Hôm nay thượng triều, Trương Duyên Linh nơm nớp lo sợ trong lòng. Thấy thái độ Hoàng Thượng hiền hoà, còn mời cả hoàng hậu tỷ tỷ ra ăn cùng, lúc này hắn mới định thần. Hôm qua mẹ của hắn là Kim phu nhân về đến nhà lập tức kinh hoàng tìm hắn, nói cho hắn biết việc Thái tử bị đánh. Trương Duyên Linh nghe xong cũng giật bắn cả người. Không dám chậm trễ, hắn lập tức chạy tới phủ của ca ca truy vấn xem nguyên do của vụ ẩu đả ngày ấy.

Lúc đó Nghiêm Khoan đang gục trên giường giả chết, nghe báo Nhị Hầu gia tới, tưởng là người cùng phe nên vội vàng khom lưng, nhảy tưng tưng như tôm tới trước mặt Hầu gia kêu khóc, kể lại toàn bộ sự tình diễn ra, cầu hắn phân xử cho mình.

Kiến Xương hầu nghe gã nói xong, liền biết tên tiểu thư sinh bị hắn đánh chính là Thái tử chẳng sai. Trương Duyên Linh không khỏi ngứa cả răng, ca ca vào tù hoàn toàn là vì tên tặc tử này sinh chuyện. Gã còn dám xúi giục mình ra mặt, nếu bởi vậy mà Trương gia mất thánh quyến thì chém đầu gã cũng chẳng oan.

Trương Nhị lão gia nghe Nghiêm Khoan khóc lóc kể lể xong, không nói hai lời tung một cú thỏ đá ưng. Nghiêm Khoan lập tức kêu thảm một tiếng, bò lăn ra đất giãy dụa. Người ta nói cháu ngoại trai giống cậu, hôm nay cậu cũng học theo cháu ngoại trai. Cú đá của Kiến Xương hầu chuẩn vô cùng, đá thẳng vào nơi mà lần trước Chu Hậu Chiếu đạp trúng. Gân đùi Nghiêm Khoan lại bị trúng thêm một cước, lập tức kêu thảm một tiếng, lăn lộn trên mặt đất, đau đến mức nghẹn thở, ngất đi.

Tiểu muội của gã thấy thế lao tới khóc sướt mướt như mưa, cũng không biết một cước này của Kiến Xương hầu đã cắt mất hương hỏa của Nghiêm gia hay chưa. Trương Duyên Linh xanh mặt, chỉ vào sủng thiếp của ca ca hắn lạnh lẽo nói:
- Khóc gì mà khóc? Nếu đồ khốn đó mà chết đi thì cuộn cho gã một chiếc chiếu rồi ném ra vùng hoang dã cho chó ăn! Nếu gã mạng lớn, bảo gã sau này nhún nhường lại một chút cho ta. Buộc cái đuôi vào mông cho chặt, đừng để gã ra ngoài gây chuyện nữa.
Còn nữa, tống tờ văn tự gây rắc rối đó về tay cô ả kia càng sớm càng tốt! Mẹ nó! Dám đoạt nữ nhân của Thái tử, cụ nội nó, ngươi hiềm mình sống quá lâu à!

Hắn trợn mắt, quay về đám gia nhân đang câm như hến đứng ở đầu sân lớn tiếng quát:
- Câm miệng hết cho ta, kẻ nào đem việc này hé ra ngoài nửa lời, ta cắt lưỡi kẻ đó!

Trương Duyên Linh đánh Nghiêm Khoan xong, lại ra lệnh cho đám thợ suốt đêm gấp rút dỡ bỏ mấy căn nhà vừa mở rộng chiếm dụng đường đi và nhà dân, để miễn bị kẻ khác bưới móc. Phải làm xong ngay sáng sớm mới có hiệu quả.

Lúc này hắn thấy Hoằng Trị nói nói cười cười, cũng chưa dám đề cập tới việc huynh trưởng bị giam. Dần dần hắn yên tâm, cũng bắt đầu theo ý mà nói theo, nhất thời khách chủ vui vẻ, không khí dần dần ấm lên.

Đang lúc bọn họ trò chuyện, tên tiểu thái giám vội vàng chạy về, quỳ sụp xuống đất, khóc thút thít, bẩm:
- Hoàng Thượng! Nô tài có tội, nô tài làm việc không xong.

Hoằng Trị nghi hoặc hỏi:
- Chuyện gì mà làm không xong? Ngươi nói lại xem nào!

Tên tiểu thái giám không dám đứng dậy, vẫn quì tại chỗ bẩm:
- Nô tài đi truyền chỉ. Dương Thị Độc nghe xong ý chỉ, lại nói là phu nhân trúng phải bệnh nặng, phải đưa nàng đi khắp nơi cầu thầy, bảo nô tài về cung bẩm báo trước. Hắn... hắn kháng chỉ không tuân, nô tài không có biện pháp, đành phải trở lại một mình.

Đám thần tử trong bữa tiệc nghe vậy cùng biến sắc. Dương Lăng ăn tim gấu mật beo à? Đừng nói thê tử y bị bệnh nặng, cho dù lúc đó trời có sụp xuống, tiếp được thánh chỉ cũng phải lập tức đi yết kiến ngay. Việc hôm nay quả thực là chưa từng thấy, há Hoằng Trị có thể không nổi giận?

Cho dù rộng lượng vị tha, nhưng nghe xong những lời này sắc mặt Hoằng Trị cũng sa sầm xuống. Ông đặt mạnh đôi đũa ngà voi xuống bàn đánh cộp một tiếng, mấy vị đại thần thấy thế hấp tấp đứng dậy sụp lạy, quì dài trên mặt đất, không dám thở mạnh.

Hoằng Trị cả giận bảo:
- Giỏi cho Dương Lăng! Lá gan gã to lắm, dám can đảm kháng chiếu!

*********************************

Về đến nhà, Dương Lăng ôm Ấu Nương xuống xe. Vừa mới đi đến cửa, y chợt nghe một thanh âm trầm bổng:
- Dương thị độc! Quả là vừa khéo, tại hạ vừa mới tiến kinh, đang muốn đăng môn bái phỏng, không nghĩ tới... Ủa? Đây là... A! Tôn phu nhân làm sao vậy?

Dương Lăng quay đầu nhìn lại. Y thấy một lão nhân khuôn mặt quắc thước đi tới trước mặt, kinh ngạc nhìn Ấu Nương trong lòng mình. Dương Lăng ngơ ngác nhìn hắn hồi lâu, nhất thời thần trí vẫn chưa tỉnh lại. Lão nhân đó thấy y tinh thần hốt hoảng, vội nhắc:
- Tại hạ là thương gia mua bán thuốc Ngô Kiệt ở Kê Minh Dịch đây mà, đại nhân còn nhớ chứ?

Vì gần đó còn có một số dân chúng đang đi theo Dương Lăng xem náo nhiệt, nên Ngô Kiệt không dám nói tới thân phận chính thức của mình, chỉ dùng thân phận nhà buôn nhắc nhở y. Dương Lăng nghe xong, chợt cảm thấy rất quen thuộc, y bất giác gật đầu nói:
- Nhớ, ngươi là Ngô Kiệt.

Ngô Kiệt tần ngần nhìn Hàn Ấu Nương, hỏi:
- Dương đại nhân, tôn phu nhân bị... làm sao vậy?

Dương Lăng cười buồn bã, đáp:
- Ấu Nương bị bệnh thương hàn, bệnh nặng không thể chữa được.

- A?
Thiên hộ Cẩm Y Vệ Ngô Kiệt giật mình nói:
- Bệnh thương hàn ư? Nhưng thật ra tại hạ có một phương thuốc, đại nhân có muốn thử...

Dương Lăng khanh khách cười, thần sắc kỳ dị hỏi lại:
- Ta đã chữa chạy khắp các danh y trong kinh thành. Ai cũng bó tay, ngươi trị được sao?

Ngô Kiệt đỏ mặt, đáp:
- Tại hạ chỉ biết sơ về dược lý, nói đến chữa bệnh... Thật sự là xấu hổ, nhưng phương thuốc là do bá phụ Ngô Thanh Viễn truyền xuống, nghe nói chữa bệnh thương hàn rất tốt...

Vừa nghe nói tới mấy chữ “Ngô-Thanh-Viễn”, bảy hồn sáu phách của Dương Lăng đột nhiên trở về cơ thể. Y sải bước chặn ngay trước mặt Ngô Kiệt, trợn tròn mắt quát:
- Ngươi nói ai? Ngô Thanh Viễn sao? Viện trưởng Thái Y viện Ngô Thanh Viễn à?

Ngô Kiệt giật bắn cả người, lui lại một bước, lập cập đáp:
- Chính... Chính là ông ấy! Đúng là bá phụ ta từng giữ chức viện trưởng Thái Y viện, chỉ là bảy năm trước đã qua đời. Đại nhân nghe nói về ông ta rồi à?

Dương Lăng hớn hở, y ngửa mặt lên trời hét to một tiếng, rồi vội vàng bảo Ngô Kiệt:
- Mau mau, mau vào phòng! Nói cho ta biết phương thuốc của ngươi!

...

Cửa sổ phòng Dương Lăng đóng chặt. Ngô Kiệt và huynh đệ họ Điền đều đang đứng trong gian nhà chính, thần sắc khẩn trương đợi chờ tin tức trong phòng.

Ngô Kiệt chép lại phương thuốc xong, lập tức gọi tên xa phu đi lấy thuốc, xa phu bèn chạy về Hạnh Lâm Cư. Anh em họ Điền nghe nói phương thuốc này do diệu thủ thần y Ngô Thanh Viễn ngày xưa lưu lại, có thể trị được bệnh thương hàn cấp tính bèn lập tức tự mình hốt dược liệu tốt nhất, rồi cùng đến xem kết quả ra sao.

Phương thuốc trị bệnh thương hàn của Ngô Kiệt gọi là ”Hợp Chưởng Cao”, chuyên trị bệnh thương hàn cấp tính dẫn tới bất tỉnh nhân sự. Thuốc này không được uống, chỉ dùng Xuyên Ô, Thảo Ô, Ban Mao, Ba Đậu, Tế Tân, Hồ Tiêu, Phèn Chua, Can Khương, Ma Hoàng theo phân lượng nhất định mà điều chế, nghiền thành bột. Dùng dấm quết thành viên, cặp vào nách, khoeo chân, đốt tay người bệnh. Mặt khác, cho một người nằm phủ lên trên, hai đôi bàn tay đặt áp vào nhau, tứ chi tương hợp, đắp chăn thật dày, cho đến lúc cả người đẫm mồ hôi, lại dùng nước nê hoàng tẩy sạch là khỏi.

Trên người Dương Lăng đắp ba tầng chăn bông dày, hai tay nắm lấy đôi bàn tay lạnh buốt của Ấu Nương. Nóng quá, y đổ mồ hôi dầm dề, vì đang áp vào má Ấu Nương nên những giọt mồ hôi to tướng từ trên đầu y lăn xuống, rơi lên trán Ấu Nương.

Cảm thụ nhịp hô hấp của nàng rất khẽ, trong lòng Dương Lăng không ngừng thầm gọi:
- Ấu Nương, tỉnh lại! Ấu Nương, nàng nghe được chứ? Nhất định phải sống lại, nàng hứa sẽ theo tướng công cả đời mà...

Bên dưới, dường như Ấu Nương nghe được tiếng thầm thì trong lòng hắn, rất lâu sau đó, nàng chợt phát ra một tiếng rên rỉ như có như không...

*********************************

Trong hoàng cung, Hoằng Trị đang chắp tay đi đi lại lại, hồi lâu vẫn chưa nói lời nào. Trương Duyên Linh không nhịn được, cả giận bẩm:
- Hoàng Thượng ân sủng với Dương Lăng đến thế, y lại càn quấy như vậy, không xem vua ra gì, đại nghịch bất đạo, thật là trái đạo lý. Hoàng Thượng, phải lập tức chém đầu y, làm gương cho thiên hạ!

Thượng thư Vương Quỳnh cũng giận đến tóc bạc dựng cả lên, tâu:
- Thiên địa quân thân sư (trời - đất – vua - cha - thầy)! Uổng cho Dương Lăng đọc rất nhiều sách thánh nhân, đến cả loại đạo lý này cũng không hiểu. Không giết người này, uy nghiêm triều đình còn đâu nữa. Bệ hạ, xin hạ chỉ đi.

Bọn người Lưu Kiện tuy có lòng tiếc rẻ nhân tài, nhưng lần này Dương Lăng gây chuyện thật quá lớn. Thiên tử có chiếu mà không phụng, đó là tội giết cả cửu tộc. Ngay cả giết một mình y cũng xem như là nhẹ nhàng cho y rồi, họ còn làm sao mở miệng xin bệ hạ khai ân chứ?

Lý Đông Dương thấy bước chân hoàng đế Hoằng Trị càng lúc càng chậm lại, hai hàng lông mày từ từ nhíu chặt hệt như muốn hạ chỉ. Trong lòng lão vô cùng căng thẳng, chợt nhanh trí nghĩ ra một cách, lúc này lão cũng chẳng còn tâm trí xem xét liệu cách đó có hữu hiệu hay không, lập tức quì sụp xuống, vô cùng phẫn nộ bẩm:
- Hoàng Thượng! Đừng do dự nữa, thần cũng nghĩ rằng Dương Lăng đáng chết. Bệ hạ triệu hắn tiến cung, thánh chiếu đã ban, đó là thứ trọng yếu nhất trên đời này. Đừng nói thê tử hắn đang mắc bệnh nặng, cho dù nhà y có cháy cũng phải lập tức tiến cung, sao dám trái lẽ cương thường, không phân nặng nhẹ như thế?

Lý Đông Dương lại chầm chậm thốt từng từ:
- Hơn nữa, nếu người bị bệnh là cha mẹ y thì còn châm chước được, ít nhất còn được xem là có hiếu. Nhưng thê tử là cái quái gì? Thê tử mà mất đi, cưới một người khác là được, đại trượng phu kiến công lập nghiệp, lo gì không có vợ đẹp thiếp xinh. Tên Dương Lăng này có vợ thì quên cha, có cha lại quên vua, người ta nói: thê tử như y phục...

Lưu Kiện, Tạ Thiên nhất thời nghe mà ngơ ngác chẳng hiểu gì. Lý Đông Dương chính là một đại gia nổi tiếng của văn học đương thời, sao hôm nay nói chuyện lại thô lỗ, ngang ngược như thế? Lại nữa, rõ ràng bệ hạ có ý yêu tài, là vì chuộng tài nên mới chần chừ, khó ra quyết định xử trảm; ngươi không thương tiếc kẻ hậu bối thì thôi, sao lại hùa theo bỏ đá xuống giếng?

Hai người bọn họ còn chưa hiểu được thâm ý của lão thì Lý Đông Dương đã đứng thẳng người lên, mồm miệng leo lẻo, nước bọt bắn bay tung tóe, chê bai thê tử đến mức đừng nói là y phục, ngay cả quần lót cũng không bằng. Lão đang mắng chửi hăng say thì Trương hoàng hậu  bậc mẫu nghi thiên hạ, người đứng đầu lục cung  đã mặt ngọc đỏ bừng, đùng đùng nổi giận. Bà vỗ bộp lên bàn, mày liễu dựng ngược, mày phượng tròn xoe, cất giọng trong trẻo mắng:
- Lý Đông Dương! Ngươi câm mồm cho ta!





Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 02:30 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 75: Ân Uy Đều Dùng



Dịch: workman

Biên dịch: Kiếp Nô

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Hừ, các ngươi mà cũng hiểu được “thiên địa quân thân sư” sao! Một kẻ không rèn luyện đạo đức, bất kính với thiên địa, không xem nặng tình ý lại có thể là người quân tử trung hiếu nhân nghĩa được ư? Lúc đó mà hắn thượng triều gặp vua, là hắn kính sợ quân vương hay tham vinh hoa phú quý?



------------------------

Chương bảy mươi lăm: Ân Uy Đều Dùng

------------------------

Hoàng đế Hoằng Trị có phần sợ vợ, tuy nói rằng việc đại sự không thể hồ đồ nhưng xưa nay ông rất sủng ái hoàng hậu; lúc này thấy bà nổi giận, ông cũng không khỏi giật bắn cả người. Trương hoàng hậu căm tức nhìn Lý Đông Dương, thù mới hận cũ dâng lên trong lòng, cặp mắt như sắp phun lửa.

Ngày xưa khi mình chưa sinh hoàng tử, đám người này bèn cả ngày lên triều yêu cầu hoàng đế nạp phi. Hôm qua Lý Đông Dương còn dâng sớ hạch tội anh mình khiến anh ấy phải vào ngục. Hôm nay lão lại dám nhân chuyện của Dương Lăng mà ở trước mặt mình chỉ gà mắng chó, như thế còn thể thống gì nữa?

Trương hoàng hậu cất giọng lạnh như băng:
- Hoàng Thượng tuyển hiền tài cần chú trọng người có đức hạnh. Vợ kết tóc của Dương Lăng đang lâm trọng bệnh, tính mệnh nguy trong sáng tối, nếu lúc này Dương Lăng tiếp thánh chỉ, vứt bỏ thê tử mà vào triều gặp vua thì hắn là người như thế nào?
Đó là kẻ táng tận lương tâm, thiên địa không dung! “Thiên địa quân thân sư” hử? Hừ, các ngươi mà cũng hiểu được “thiên địa quân thân sư” sao! Một kẻ không rèn luyện đạo đức, bất kính với thiên địa, không xem nặng tình ý lại có thể là người quân tử trung hiếu nhân nghĩa được ư? Lúc đó mà hắn thượng triều gặp vua, là hắn kính sợ quân vương hay tham vinh hoa phú quý?

Trương hoàng hậu vừa nói vừa không khỏi quắc mắt nhìn tên đệ đệ bảo bối. Tên tiểu đệ thật sự hồ đồ, đám đại học sĩ quen trò ném đá giấu tay, thế mà hắn lại không nhìn ra, còn nhắm mắt hùa theo.

Trương hoàng hậu đổi giọng, quay sang Hoằng Trị đế dịu dàng nói:
- Bệ hạ! Thần thiếp biết bệ hạ tức giận Dương Lăng dám không tuân thánh chỉ. Nhưng điều này cũng nói rằng bệ hạ có tuệ nhãn tinh tường đã nhận biết được nhân tài. Từ xưa tới nay, có mấy hiền thần mà không xúc phạm tới long nhan chứ? Dương Lăng không tham quyền, không màng lợi, trọng tình trọng nghĩa, rất có phong phạm của bậc hiền giả ngày xưa.
Thưở xưa, Tống Hoằng thời Hán Quang Vũ Đế không phải cũng lấy lý do là “Tào khang chi thê bất hạ đường” (1) mà trái thánh ý sao? Thời Đường Thái tông có vợ của Phòng Huyền Linh (2) dám kháng chỉ ngay giữa triều đình, hai vị minh quân này cũng không hề bắt tội. Có thể thấy được chỉ có vua thánh ra đời, mới có bực hiền thần như vậy xuất hiện thôi.

Lý Đông Dương khẽ nhúc nhích cái chân đang quì ê ẩm, miệng chép chép như đang nếm một món ngon: “Ừm! Ta rất thích nghe những lời này của Hoàng hậu nương nương. Xem ra phụ nữ vẫn có người đọc sách, bằng không làm sao nói được những lời như thế này.”

Trương Duyên Linh bị tỷ tỷ trợn mắt một hồi, nhất thời mù tịt mãi lúc này mới hiểu được: “Ôi, hóa ra mấy lão gia hỏa đang mắng chửi bóng gió, ngầm khuyên Hoàng Thượng đừng có sủng ái chánh cung. Hừm, đám đọc sách này thật đúng là lòng dạ ngoằn ngoèo quá mà!”

Thông suốt vấn đề, Trương Duyên Linh lập tức hắng giọng bẩm:
- Hoàng Thượng! Hoàng hậu nương nương nói rất đúng, không nên giết Dương Lăng!

Hoằng Trị bị lời nói hoàng hậu lay động, ngẫm lại hoàng hậu nói cũng có lý. Nếu Dương Lăng thật sự bỏ cả người vợ kết tóc, bất chấp sinh tử của nàng mà vào triều yết kiến mình thì sau này mình còn dám dùng người như vậy không?

Đang suy nghĩ bỗng nghe quốc cữu hô lớn như vậy, ông không khỏi lấy làm lạ hỏi:
- Chẳng phải Kiến Xương hầu mới rồi đề nghị xử phạt hắn ở mức cao nhất, thông báo cho cả thiên hạ biết ư? Sao giờ lại nói là không giết nữa?

Kiến Xương hầu đỏ mặt, đáp:
- Việc này... việc này..., vi thần cũng vừa mới hiểu ra việc có nặng có nhẹ. Đương nhiên việc vua quan trọng, việc nhà không bằng; nhưng gặp vua cũng không phải là việc gấp, cứu người mới là việc không thể trì hoãn được, việc này...

Lưu Kiện nghe hắn vất vả nói mãi mà không ra lời, không kìm được vội xen vào:
- Hoàng hậu nương nương nói đúng! Hoàng Thượng là vua nhân ái mới có hiền thần tài đức xuất hiện. Dương Lăng làm được như vậy chính là nhờ công bệ hạ giáo hoá, thật là may mắn!

Lời ngọt bùi tai, tuy Hoằng Trị biết tâm tư của đám cựu thần nhưng vẫn không kìm được phải cười khẽ. Ông về ngồi lại trên án suy tư một lát, rồi cười ha ha phán:
- Đứng lên đi, đứng lên đi! Bị tên Dương Lăng náo loạn làm mất cả hứng thú của trẫm và các ái khanh. Tới đây, tiếp tục uống rượu! Việc của Dương Lăng... tạm thời gác lại, ngày mai bàn sau đi.

Hoàng đế muốn gác lại bàn sau, bằng vào tài nghiêng theo chiều gió của đám thần tử, nếu không phải kẻ mù, có ai mà không hiểu rõ ý hoàng đế chứ? Không lập tức bắt ngay mà lại bảo là ngày khác bàn sau, bàn cái gì bây giờ? Là bàn xem nên đem xe gấm đi bắt hắn hay là vác gông xiềng đi bắt hắn ư? Bọn Lưu Kiện yên tâm, vui mừng vô kể. Lúc này Trương hoàng hậu thấy mình đánh hòa được với Lý Đông Dương một ván nên cũng dương dương tự đắc. Mọi người ăn uống vui vẻ, nhất thời xuất hiện một cục diện tốt đẹp.

*********************************

Dương Lăng ôm chặt thân thể mềm oặt gần như không chút sức sống của Ấu Nương. Đang lúc y lo âu vạn phần lại chợt nghe tiếng Ấu Nương rên rỉ, lập tức cảm thấy như nghe được nhạc tiên. Y phấn khởi tới mức tiếng gọi cũng run run:
- Ấu Nương, nương tử?

Qua hồi lâu, Ấu Nương mới cố lên tiếng đáp lời. Dương Lăng mừng rỡ, xiết thật chặt bàn tay đầy mồ hôi của nàng. Thấy Ấu Nương mỏi mệt không chịu nổi, vẫn chưa mở mắt được, y sợ nàng lại mê đi như cũ, vội ghé vào sát tai Ấu Nương gọi nhỏ:
- Ấu Nương, nàng mau tỉnh lại nhanh lên! Nàng thích tướng công ôm nàng nói chuyện, chờ khi nàng khỏe hơn, mỗi tối tướng công đều ôm nàng, đều nói chuyện với nàng, được không?
Nương tử yêu dấu của ta, tướng công không nỡ xa nàng đâu. Không phải hai ngày trước nàng từng nói là muốn mua táo để trồng trong viện hay sao? Hôm nào hai ta cùng đi mua, cùng trồng táo trong viện. Nàng nói muốn nuôi gà, vậy chúng ta nuôi gà. Đúng rồi, còn nuôi thêm con chó giữ cửa nữa, có gà bay chó nhảy mới đủ náo nhiệt chứ!
Ấu Nương, kinh thành không so được với nông thôn. Nàng chỉ một mình ở nhà, lại không có gì tiêu khiển. Đợi khi nàng khỏe mạnh, ta sẽ cùng nàng sớm sinh một... à không, sinh ra một đám tiểu bảo bối, để nàng chẳng thể rảnh rỗi nữa, nàng thích không? Nàng phải sống mới có thể giúp tướng công làm những việc này, bằng không tướng công sẽ cưới một cô vợ tuyệt đẹp khác, cùng cô ta nói chuyện phiếm, cùng cô ta trồng cây, cùng cô ta nuôi...

- Không... Không được...
Thân thể Hàn Ấu Nương bỗng nhúc nhích, rồi đột nhiên nàng rên rỉ thốt. Dương Lăng khựng lại, y đờ đẫn hồi lâu mới nhấc đầu lên khỏi mái tóc ẩm ướt của Ấu Nương, dán mắt hớn hở nhìn nàng.

Dưới ngọn đèn, hai má Ấu Nương vẫn đỏ ửng màu bệnh tật, chóp mũi lấm tấm những giọt mồ hôi nhỏ, nhưng những đốm đỏ nơi cổ đã hoàn toàn biến mất. Loại thần sắc nhợt nhạt cũng không còn thấy nữa. Đôi mi thật dài của nàng rung rung hồi lâu, khẽ mở mắt ra rồi lại mệt mỏi nhắm chặt, rên rỉ nói:
- Tướng công, người ta... mệt quá, không muốn mở mắt.

Dương Lăng luôn miệng an ủi:
- Được được, không mở mắt thì không mở mắt! Nàng được như vậy là tốt rồi, như vậy là tốt rồi.

Trong phòng vô cùng yên tĩnh, chỉ nghe tiếng tim đập thình thịch của hai người. Dương Lăng cảm thấy bàn tay nhỏ bé của Ấu Nương dần dần ấm lên, áp mặt vào trán nàng đã cảm thấy hơi nóng. Y không khỏi thở phào một hơi.

Qua hồi lâu, Ấu Nương mới thở mạnh một chút, nàng nhúc nhích thân thể mềm mại, yết ớt nói:
- Tướng công, nóng quá...

Dương Lăng vội đáp:
- Đừng nhúc nhích, cẩn thận không lại trúng gió. Mớ thuốc còn chưa tan hết mà.

Ấu Nương ôn thuận ừm một tiếng, thở hào hển nói:
- Tướng công... Có thể nhẹ một chút không, Ấu Nương thở... thở không nổi.

Dương Lăng nhìn lại, mới biết Ấu Nương bị mình đè tới mức thở không nổi, vốn y còn tưởng Ấu Nương vẫn chưa đủ khí lực để nói chuyện. Dương Lăng vội vàng chống cùi chỏ xuống, khẽ khàng nhướn người lên, Hàn Ấu Nương thở gấp một lát, từ từ mở mắt. Nàng ngắm nhìn gương mặt đầy mồ hôi của Dương Lăng một lúc rồi âu yếm bảo:
- Tướng công, Ấu Nương cảm thấy khỏe nhiều rồi, chàng... chàng nghỉ ngơi đi.

Dương Lăng ừm một tiếng, nghiêng người qua một bên nằm dựa vào nàng. Ấu Nương nhắm mắt lại, một chút sau lại nói khẽ:
- Tướng công, Ấu Nương muốn nghe chàng nói chuyện nữa.

- Ừm!... Nói... Nói gì nhỉ? Thường khi đều là lúc ta ngủ, nàng ghé tai ta nói chuyện mà.
Dương Lăng ngơ ngẩn đáp.

Ấu Nương hơi thẹn thùng giục:
- Nói như... vừa rồi ấy. Ấu Nương chưa từng nghe... Tướng công nói như thế đi, thiếp thích nghe lắm...

***************************

Câu chuyện Dương Lăng kháng chỉ cứu vợ vừa lan truyền khắp thành Bắc Kinh, trong toàn kinh thành vô luận cao thấp giàu nghèo, tất cả đám ”Y phục” (ý nói phụ nữ như y phục) đều đứng về phía Dương Lăng, nhao nhao ủng hộ.

Những quan chức trong kinh cũng chia thành hai phái, tranh luận mặt đỏ tía tai mãi vẫn không phân thắng bại. Kết quả là sau buổi thiết triều cùng ngày, gã đại thần nào ở nhà có con gái thì lập tức bị oanh tạc đến mệt lả, tối đến lại bị thê thiếp ném gối vào mặt tới tấp, kẻ nào lập trường không kiên định thì lập tức phất cờ trắng, quyết định giả câm giả điếc về việc này. Phe chống đối họ Dương lập tức trở nên người đơn thế cô.

Tin tức Hoàng Thượng không lập tức hạ chỉ truy bắt Dương Lăng lại được lan truyền. Một vài vị ngôn quan có giác quan thứ sáu bắt đầu đứng về phía Dương Lăng, tra cứu lệ cũ, tham khảo hồ sơ, bắt đầu luyện võ mài thương, tìm những lý lẽ để biện minh cho hành vi của Dương Lăng.

Đám sĩ tử trong kinh cũng thảo luận ồn ào. Có tên sĩ tử Giang Tây là Nghiêm Tung còn viết một bài phú dài lan truyền khắp nơi. Trước hết gã tô vẽ hoàng đế Hoằng Trị rực rỡ như Nghiêu Thuấn tái thế, lại trích dẫn kinh điển, trắng trợn tán dương Dương Lăng đã được bệ hạ giáo hoá, vua sáng tôi hiền. Đám người khác hùa theo, như thể vua mà không thế thì không phải là minh quân, thần mà chẳng vậy thì chẳng phải trung thần.

Bản thân Dương Lăng cũng bận tới mức không thể dứt ra được. Y chỉ có thể viết một phong thư, bảo Ngô Kiệt mang về Kê Minh mời phụ tử họ Hàn lập tức tiến kinh. Y nghĩ lần kháng chỉ này không chết cũng phải ngồi tù. Bệnh Ấu Nương nặng như thế, làm sao chịu được đả kích này nên y hoàn toàn không dám kể với nàng, chỉ mong sao cha con họ Hàn có thể sớm tới kinh thành, Ấu Nương sẽ được chăm sóc chu đáo.

Thấy Ấu Nương vừa bệnh xong, thân thể còn suy yếu, Dương Lăng bèn đi mua một nha hoàn trẻ tuổi về chăm sóc nàng. Khi y tới chỗ quan phủ đăng ký giấy tờ chủ tớ thì đám người nha môn từ chủ bộ tới nha dịch đều chạy ra cửa vây tròn nhìn ngắm y. Nhiều ánh mắt kiểu “Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn” (3) nhìn y đầy vẻ luyến tiếc.

Sáng sớm hôm sau, lần đầu không cần Ấu Nương đánh thức, Dương Lăng đầy bụng tâm sự đã dậy rất sớm. Y thu dọn xong xuôi, lưu luyến nhìn thoáng qua Ấu Nương còn đang ngủ say, lặng lẽ gọi tiểu nha đầu Vân Nhi đến dặn dò một hồi, rồi chạy tới Tử Cấm thành.

Vết thương trên mông Dương Lăng vẫn chưa lành, sợ tới muộn nên y phải đi xe. Như thường lệ khi đi tới cửa hông, thị vệ Cấm Cung xét yêu bài của y, rồi cười lạnh nhạt bảo:
- Dương đại nhân! Nội cung truyền ý chỉ, nếu Dương đại nhân tới thì không cần phải đi Đông cung thị độc mà quì ngoài ngọ môn chờ thánh dụ là được.

Dương Lăng tim đập thình thịch, chắp tay đáp:
- Dạ, đa tạ tướng quân!

Y tập tễnh đến trước cửa cung. Một đám văn võ đại thần người mặc triều phục, tay cầm hốt ngà đang đứng chờ cửa cung mở để vào. Thấy một tên quan hàm lục phẩm đi tới, cả bọn không khỏi lộ vẻ kinh ngạc, đều đưa mắt tò mò nhìn y.

Dương Lăng nhìn thẳng phía trước, đi đến cửa cung nghiêm chỉnh quỳ xuống, cúi đầu không nói gì.

Đá phiến bằng phẳng, khi vừa quỳ thì không sao, nhưng quì lâu thì đầu gối lại ê ẩm. Ở cửa cung có quan chức phụ trách việc theo dõi dung nhan của văn võ bá quan. Bây giờ Dương Lăng là tội thần, không dám hành động thiếu suy nghĩ khiến cho người khác có cớ luận tội nên y đành phải cố mà nhẫn nại.

Không lâu sau, tiếng chuông du dương từ xa xa vọng đến. Ánh nắng đầu tiên trên không trung rọi lên cửa cung màu son. Cửa cung vừa mở, đủ loại quan lại bắt đầu thượng triều. Dương Lăng cúi gục đầu, chỉ nhìn thấy những đôi ủng quan lại đi qua trước người mình, phát ra âm thanh sàn sạt.

Buổi triều sớm bắt đầu rồi. Thời gian trôi qua từng giây. Hai tay Dương Lăng chống đất, đầu gối ê ẩm không còn tri giác; vì phải giữ mãi một tư thế nên cổ cũng trở nên mỏi nhừ không chịu nổi, mồ hôi từ trên trán nhỏ xuống từng giọt.

Tiếng chuông lại vang lên, một đám quan lại bãi triều nối đuôi nhau trở ra, đi qua trước mặt y. Tinh thần Dương Lăng rung lên: buổi triều sớm tan rồi, hoàng đế cũng nên gặp mình chứ. Nhưng y đợi hồi lâu mà trong cung vẫn im ắng.

Dương Lăng không khỏi tuyệt vọng. Chẳng lẽ hoàng đế muốn mình quì đến chết tại nơi này sao? Y đã chịu không nổi sự giày vò phải giữ mãi một tư thế lâu như thế này rồi. Hai tay Dương Lăng cố gắng chỏi đất, trước mắt sao bay loạn xạ, bắp thịt cổ giật giật.

Dương Lăng cũng chẳng biết làm sao mà mình có thể chống đỡ được tới khi buổi ngọ triều chấm dứt, mãi đến khi một tên tiểu thái giám đi đến trước người y cao giọng hô: “Dương đại nhân! Bệ hạ gọi ngài tiến cung!“ thì y mới tỉnh người...

Dương Lăng cố gắng một hồi mới loạng choạng đứng lên được, lom khom theo sau tên tiểu thái giám đi vào cung. Qua cầu Kim Thủy, vượt cổng Thái Hòa, qua điện Thái Hòa, điện Trung Hòa, điện Bảo Hòa, xuyên qua cổng Kiền Thanh, cuối cùng Dương Lăng được tên tiểu thái giám dẫn thẳng vào nội đình. Lúc này y đã dần dần bình tĩnh lại: “Hoàng đế gặp mình trong nội điện, ít ra mình cũng không bị họa mất đầu.”

Dương Lăng được dẫn tới trước điện, tên tiểu hoàng môn khom người xướng to:
- Bẩm Hoàng Thượng, Dương Lăng cầu kiến.

Từ trong, có một lão thái giám cất cao giọng nói:
- Bệ hạ có chỉ, tuyên hắn yết kiến!

Dương Lăng vừa bước vào cửa đã thấy hoàng đế Hoằng Trị mặc thường phục màu vàng sáng ngồi sau án đang múa bút vẽ tranh, bên cạnh là tên Đại thái giám có tên Miêu Quỳ mài mực hầu hạ. Trong ngự thư phòng ngoại trừ bọn họ ra thì không còn bất kỳ người nào khác.

Dương Lăng vội vàng tiến lên vài bước, quỳ xuống đất bẩm:
- Tội thần Dương Lăng khấu kiến Hoàng Thượng, tội thần vạn lần đáng chết!

Hoằng Trị làm như không nghe y bẩm. Ông vẫn chú tâm vào giấy vẽ, múa bút phác họa rất nhanh một hồi, sau đó hạ bút cười hỏi:
- Thế nào?

Miêu Quỳ tán thưởng:
- Nét vẽ của bệ hạ rất có lực, thần thái sống động, thực là tác phẩm của đại gia.

Hoằng Trị cười ha ha, nói:
- Ngươi thì biết gì! Ha ha! Dương thị độc! Ngươi đến xem trẫm vẽ bức này như thế nào?

Dương Lăng thấy ông cười nói an nhàn, xem ra cũng không đề cập gì tới chuyện mình kháng chỉ, không khỏi cảm thấy kỳ lạ. Y thấp thỏm không yên, đứng dậy tới trước mặt Hoằng Trị, nhìn lên ngự thư án, thấy trên giấy có vẽ một ngọn núi, trên núi cây cối rậm rạp, đỉnh núi có một cây tùng xanh thẳng tắp như muốn chọc thẳng vào mây, xa xa mờ ảo có những dãy núi chập chùng. Cả bức họa mặc dù đơn giản, nhưng tài vẽ quả nhiên bất tục.

Dương Lăng không hiểu hội họa, nhưng kiếp trước hắn giỏi thư pháp, thơ cổ nhớ rất nhiều. Mắt thấy những dòng vẽ non nước đậm nhạt thích hợp, nhưng lại không có cách nào đánh giá được, y liền khéo léo tâu:
- Bệ hạ công lực hùng hậu, càng khó hơn chính là bức tranh này ngụ ý thâm sâu, chí trùm thiên hạ. Nhìn cây tùng um tùm ở nơi cao ngàn trượng này, tuy sần sùi không vuông vức, nhưng vẫn có thể dùng để dựng nhà lớn, tất phải là trụ cột đây (4).

Trong mắt Hoằng Trị hiện lên chút dị sắc, ông cười khẽ:
- Chẳng lẽ Dương khanh chỉ nhìn một gốc tùng đơn độc này thôi sao! Ngươi phải nhìn cây cối trên cả quả núi này, có những cây mọc thẳng tắp có thể làm đòn xà, lại có những cây tráng kiện có thể làm rường cột, nhưng cũng có rất nhiều cây cong queo hình thù kỳ dị, đành phải chặt xuống làm củi đun thôi.

Ông ung dung cười, khóe môi lại mang chút lãnh ý:
- Dương khanh! Ngươi nguyện làm rường cột, làm đòn xà hay làm củi đun đây?

Dương Lăng không chút nghĩ ngợi liền quỳ xuống, lớn tiếng tâu:
- Thần nguyện làm gỗ xà ạ!

Miêu Quỳ hơi lạng người, chút nữa thì lật úp cả nghiên mực Đoan Khê trong tay. Còn Hoằng Trị tưởng rằng y sẽ phơi gan trải mật, hùng hồn trần tình một hồi, không nghĩ tới y vừa mở miệng lại phun một câu như vậy. Hoằng Trị ngẩn người hồi lâu mới kinh ngạc hỏi:
- Cái gì? Ngươi nguyện làm gỗ xà à?

Dương Lăng cúi đầu đáp:
- Dạ, thần văn không thể được như tam công Lưu, Tạ, Lý để có thể trợ giúp bệ hạ trị quốc an thiên hạ, võ không thể chỉ huy thiên quân vạn mã, chinh chiến chốn thảo nguyên hoang mạc, dương oai tứ hải. Thế nên thần xin nguyện làm gỗ xà, có thể vì bệ hạ mà giữ một làng một huyện, tạo phúc cho dân chúng một phương là thần thoả mãn rồi.

Hoằng Trị nghe xong phì cười, cảm thấy tên bầy tôi này tuy mưu lược, nhưng tính tình lại ngay thẳng đáng yêu, căn bản là một tên nông nổi. Ông thoáng nhìn thấy Dương Lăng thưa chuyện mà cặp đầu gối còn khẽ run run, cũng không biết là vì sợ quá hay vì quì lâu ngoài ngọ môn. Trong lòng ông không khỏi thông cảm: “Thôi, hôm nay cho y quì ở ngọ môn một lần trước mặt văn võ bá quan coi như là khiển trách rồi. Ta vẫn cần người này, nếu dọa y sợ hãi quá thì từ nay y làm việc sẽ ngại đầu ngán đuôi, e rằng lợi bất cập hại.”

Ông cười ha ha, bảo:
- Đứng lên đi! Ngươi cố tình so mình với các ái khanh Lưu Tạ Lý, như vậy lòng dạ cũng đã cực cao rồi. Khi họ cùng tuổi ngươi, cũng cùng thân phận như ngươi mà lên thôi. Lúc còn bình thường như ngươi, họ còn chưa có được hùng tâm như ngươi bây giờ đâu, do đó ngươi cũng không cần phải tự ti.

Ông nói rồi đi vòng qua thư án, đề bút vẽ trên bức họa một hàng chữ to như rồng bay phượng múa: ”Sâm sâm thiên trượng tùng, tuy lỗi kha đa tiết mục, dụng chi đại hạ, chung thị đống lương chi tài” (xem chú thích (4)), đưa cho Dương Lăng, bảo:
- Bức họa này trẫm ban cho ngươi, hi vọng ngươi nhớ những gì nói ngày hôm nay, luôn luôn nhắc nhở bản thân. Ha ha, ngươi lui ra đi!

Dương Lăng ngơ ngác tiếp nhận bức họa báu của Hoằng Trị, vẻ mặt hoang mang. Hoàng Thượng để mình quì ở ngoài cửa cung tới tận giờ ngọ, khi mình vào lại ban cho một bức họa, sau đó đuổi về nhà? Việc này chứng tỏ thiên uy quả thật không lường được.

Y bẩm như trút được gánh nặng:
- Dạ, thần cáo lui!

Nói rồi hai tay nâng bức họa lên khỏi đầu, y khép nép lui xuống. Hoằng Trị đế nhìn y rời khỏi ngự thư phòng, ánh mắt lộ nét cười. Ông khẽ gục gặt đầu:
- Không tự thị, tất rạng danh; không tự phụ, tất có công; không khoe khoang, tất sống lâu. Ừm, tuổi nhỏ mà có thể có được kiến giải như vậy, không uổng công trẫm một phen bồi dưỡng. Miêu Quỳ! Truyền chỉ bãi chức Dương Lăng không làm thị độc Đông cung nữa, chuyển sang làm quan trung quân ở Thần Cơ doanh.

Miêu Quỳ kinh hãi biến sắc, vội hỏi:
- Bệ hạ! Dương Lăng vừa mới bị phạt đã thăng lên chức quan trung quân, e rằng đám triều thần sẽ lại dị nghị. Hoàng Thượng, có khi nào nên cho y nhậm chức phó đô tư trước, sau này mới từ từ lên chức?

Hoằng Trị cười khổ một tiếng, lòng thầm nghĩ: “Chẳng phải trẫm không nghĩ tới việc từ từ huấn luyện, chỉ là trẫm sợ thiên mạng đã tận, không có thời gian nữa rồi. Bây giờ lục bộ trong triều, tam công nội các đều là cựu thần, chủ yếu là lão thần, già cả hết rồi. Tuy nói họ cũng rất trung thành, nhưng dù sao nếu không xây dựng bầy tôi thành một lực lượng riêng cho con ta, cân đối công thần trong ngoài, làm sao con ta cai quản vạn dặm giang sơn, văn võ cả triều cho được?”

Hoằng Trị nghĩ ngợi một lát rồi khoát tay bảo:
- Thôi, ý chỉ của ta chỉ nói bố trí y nhậm chức ở Thần Cơ doanh, còn về phần chức vụ cụ thể... Vương Nhạc quản lý mười hai đoàn doanh, luôn luôn làm việc rất ổn thoả, cứ để lão thu xếp đi.
Đúng rồi, ban thêm cho y hai bình thuốc trị thương. Ngày hôm qua Dương Lăng kháng chỉ, ôm vợ cầu thầy, hôm nay trẫm cho vợ Dương Lăng phụng chỉ rịt thuốc cho chồng, ha ha ha!






Chú thích:

(1) Câu nói trích từ điển cố Tống Hoằng thời Đông Hán. Năm ấy hoàng đế Lưu Tú muốn gả tỷ tỷ của mình cho Tống Hoằng, nên dọ ý Tống Hoằng về chuyện “Quý dịch giao, phú dịch thê” (giàu đổi bạn, sang đổi vợ) nhưng Tống Hoằng đáp: “Bần tiện chi giao bất khả vong, tào khang chi thê bất hạ đường.”, nghĩa là: “Không thể quên những người bạn từ thuở còn hèn mọn, không thể bỏ người vợ từ thuở còn nghèo khổ”. Lưu Tú nghe xong, cảm hắn tình thâm nghĩa trọng, chẳng những không trách phạt mà còn quý trọng Tống Hoằng hơn. Điển cố “Tào khang chi thê bất hạ đường” từ đó được lưu truyền đến ngày nay.
Cũng từ đó, “Tào khang” (cám bã, người nghèo khó dùng làm thức ăn) có nghĩa bóng là “vợ cả”.
Xin xem thêm:
http://baike.baidu.com/view/488922.htm

(2) Vợ của tể tướng Phòng Huyền Linh đời Đường nổi tiếng ghen tuông, ngang ngạnh, thẳng tay đuổi cổ hai vị mỹ nhân mà hoàng thượng đích thân ban tặng Phòng Huyền Linh trong một buổi tiệc rượu. Hoàng thượng biết chuyện, triệu hai vợ chồng Phòng Huyền Linh vào cung hỏi tội, bảo rằng: một là dẫn hai vị mỹ nhân về nhà, hai là ban cho rượu độc. Vợ của Phòng Huyền Linh ngạo khí ngất trời, thà chọn rượu độc chứ quyết không để chồng nạp thiếp, một hơi uống cạn chung rượu vua ban. Thế nhưng, đó thật ra là giấm chứ chẳng phải rượu độc, vua xét lại thấy người phụ nữ này kháng lệnh cũng vì quá yêu chồng nên quyết định xá tội. Từ đó, cụm từ “uống giấm” có nghĩa bóng là các bà vợ hay ghen tuông.
Xin tham khảo thêm:
http://blog.yume.vn/xem-blog/chuyen-....35A6AAEF.html

(3) Trích từ bài hát của Kinh Kha khi qua sông Dịch đến đất Tần để hành thích Tần Thủy Hoàng: “风萧萧兮易水寒, 壮士一去兮不复还" "Phong tiêu tiêu hề dịch thủy hàn, tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn".
Dịch nghĩa: Gió hiu hắt hề, nước sông lạnh; Tráng sĩ một đi hề, chẳng trở về.

(4) Nguyên văn ”Sâm sâm thiên trượng tùng, tuy lỗi kha đa tiết mục, dụng chi đại hạ, chung thị đống lương chi tài”
Nghĩa bóng: người có tài trác việt tuy có vài khiếm khuyết, nhưng tựu chung vẫn có thể gánh vác trách nhiệm trọng đại, làm bầy tôi trụ cột. (TheJoker)


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 02:35 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 76: Nhiệm Vụ Mơ Hồ



Dịch: workman

Biên dịch: Kiếp Nô

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng nghiến răng, giậm chân nói:
- Hay lắm! Ta cũng không tin trên một vạn lượng bạc mà vẫn không chuộc được người!... À!... Đúng rồi, rốt cuộc thái tử gia thích cô nào nhỉ?



------------------------

Chương bảy mươi sáu: Nhiệm Vụ Mơ Hồ

------------------------

Dương Lăng ôm bức tranh quý chưa bồi lưng của hoàng đế, ngồi xe thuê về nhà. Xuống xe, y cất bước đủng đỉnh nghênh ngang vào nhà, uy nghi chẳng kém các đại thần thượng triều. Phiền một nỗi là tiểu nha hoàn Vân nhi lanh mồm lanh miệng đã sớm cao hứng đem hành động vĩ đại của lão gia bị phạt trượng rồi kháng thánh chỉ kể cho Ấu Nương nghe, nên dù hắn làm bộ như thế vẫn không thể giấu được ai. Nghe kể xong, Hàn Ấu Nương đã lập tức đứng ngồi không yên ngóng đợi tin tức phu quân. Vừa nghe thấy tiếng của tướng công, nàng vội vàng nhảy ra khỏi phòng ôm chặt cổ y, mắt đầy lệ, vui mừng lắp bắp:
- Tướng công! Chàng đã về, … Ấu Nương lo muốn chết.

Nàng vẫn chưa chải đầu, mặt không son phấn, tóc xõa ngang vai giống hệt kiểu tóc lúc ở nhà của phụ nữ thời Hán Đường và những cô gái xõa tóc thời hiện đại, phối hợp với chiếc váy màu xanh nhạt mộc mạc càng tôn dáng người mềm mại yếu đuối. Dương Lăng thấy gương mặt vợ yêu vừa khỏi bệnh vẫn đầy vẻ nhợt nhạt nên không khỏi lo lắng:
- Nàng vừa khỏi bệnh, không phải Điền thần y đã bảo nàng phải nằm nghỉ sao! Sao lại ra đây, mau vào nằm đi! Phải rồi, nàng đã uống thuốc điều hoà thân thể mà Điền thần y cho chưa?

Tiểu nha hoàn Vân nhi bên cạnh sợ hãi thốt:
- Lão gia, nô tỳ sắc rồi, nhưng phu nhân ngại đắng không chịu uống. Người nói ngồi trên giường hít thở là được, đã hít thở hết một lúc rồi.

Dương Lăng đã thấy Ấu Nương luyện khí công, nay nghe tiểu nha đầu nói rất thú vị không khỏi phì cười. Ấu Nương lo lắng hỏi:
- Tướng công, hoàng đế không trách tội chàng chứ? Ấu Nương nghe nói chàng bị đánh ba mươi côn, vết thương có nặng không?

Hoàng Thượng đã không phạt tội nên bây giờ Dương Lăng cũng không lo Ấu Nương biết chuyện. Y cười khà khà đáp:
- Không việc gì, nàng không thấy ta khỏe lắm à? Nàng hãy chóng khỏe lại, đừng làm cho tướng công lo lắng là tốt rồi.

Nói xong, y ghé lại gần Ấu Nương thấp giọng:
- Đừng lo! Đánh không đau, chỉ như tướng công phát vào mông nàng thôi.

Vừa nghe xong Hàn Ấu Nương mặt đỏ bừng, sẵng giọng:
- Coi kìa! Còn ăn nói hàm hồ như thế nữa, có người nghe đó.

Dương Lăng chợt tỉnh ngộ trong nhà đã có thêm người mới, đâu thể so với lúc chỉ có hai người. Y ho khan một tiếng, lấy trong lòng ra một đồng tiền đưa cho Vân nhi, bảo:
- Vân nhi! Ra chợ mua vài miếng đường trắng về pha vào thuốc cho phu nhân, mau đi đi.

Vân Nhi dạ lớn một tiếng giòn tan, nhận lấy tiền rồi vội vàng đi ngay. Dương Lăng cùng Ấu Nương dìu nhau vào trong phòng. Dương Lăng thấy Ấu Nương mặc váy xanh nhạt, tay áo bó chặt, đáy quần thùng thình lộ ra thân thể gầy ốm, không khỏi lo lắng:
- Dù nàng tập luyện thân thể tốt đến mấy nhưng hôm qua mới ra mồ hôi đầm đìa, không chịu được lạnh đâu.

Ấu Nương dìu y tới giường lò, đáp:
- Bây giờ đã tháng tư rồi, mặc nhiều đồ khó chịu lắm. Tướng công! Chàng mau nằm xuống để thiếp xem thương thế cho chàng.

Hai người sớm đã gió mưa vài lần, Dương Lăng cũng không ngại phơi thân thể trước mặt nàng. Y nằm dài trên giường lò cho Ấu Nương cởi áo ra. Cũng may lúc đó còn chưa phát minh ra quần xịp, mảnh quần lót này vừa thoáng vừa rộng, cởi bỏ cũng dễ dàng.

Ấu Nương dịu dàng cởi quần lót hắn ra, nhìn thấy có một phần quần bị dính vào mông, nàng lại không dám động mạnh. Dương Lăng đành phải nhịn đau tự kéo mạnh ra. Tuy mông Dương Lăng bị đánh cho rách da thịt nhưng kỳ thật không phạm vào gân cốt, chỉ cần điều dưỡng tốt là phỏng chừng đến cả sẹo cũng chẳng có. Nhưng hai ngày nay y bôn ba nơi nơi, vết thương đã rách lại càng thêm rách, bây giờ có vài chỗ còn rỉ chút máu loãng. Vốn mông y bóng bẩy trơn mịn, mềm mại vô cùng, bây giờ đã trở nên vằn vện mất rồi.

Hàn Ấu Nương bịt miệng, nước mắt tuôn chảy. Dương Lăng cảm thấy mông hơi mát, quay đầu nhìn thấy bộ dạng của Ấu Nương rất thương tâm, y không khỏi ngạc nhiên hỏi:
- Sao vậyẤu Nương ? Tuy ta đi đường thấy cũng hơi đau, nhưng không phải là bị thương tới gân cốt đâu.

Hàn Ấu Nương sụt sịt, đau lòng nói:
- Vết thương của tướng công đã lâu chưa lành, dù chữa khỏi cũng sẽ có sẹo.

Dương Lăng buồn cười, trêu:
- Thì sao? Đâu phải là mông của nương tử ta bị thương đâu. Ha ha! Trong nhà có thuốc chứ? Trát thuốc mau lên cho chồng nào, chỉ cần không đau là được.

Hàn Ấu Nương vừa thẹn vừa tức, nàng lườm Dương Lăng, sẵng giọng:
- Tướng công miệng như bôi mỡ cả ngày, không nói lời nào dễ nghe cả.

Dương Lăng thay đổi tư thế nằm cho thoải mái, cười hềnh hệch đáp:
- Tướng công nói không dễ nghe à? Hôm qua chẳng biết là ai nằm trong lòng ta nghe đến mặt đỏ tim rộn, thần hồn điên đảo nữa.

Hàn Ấu Nương “í” một tiếng, mắc cỡ đỏ bừng mặt. Nàng vừa dứt bệnh, tim đập mạnh quá lại loạn nhịp khiến nàng khẽ thở hổn hển. Ấu Nương không chịu nổi phải nhảy xuống đất, nói:
- Tướng công, chàng nghỉ trước đi, Ấu Nương đi ra phố mua thuốc.

Vừa mới kéo cửa phòng ra, Hàn Ấu Nương chợt thấy hai tên nô bộc lực lưỡng khiêng một chiếc cáng mềm tiến vào sân, trên cáng là một người hơn ba mươi tuổi đang nằm. Phía sau còn có hai gia nhân đi theo, mang vác đồ vật lỉnh kỉnh. Hàn Ấu Nương hỏi vẻ nghi hoặc:
- Xin hỏi ngài tìm ai?

Tiền Ninh nằm trên cáng mềm, nhìn thấy một tiểu mỹ nhân thuần khiết đáng yêu như sương mai, mái tóc xõa tung, mặt đẹp như vẽ, nhưng lại không có vẻ chững chạc của người đàn bà đã lập gia đình, y cho là nha hoàn Dương Lăng vừa mua, không khỏi ngứa ngáy cả người: “Tiểu tử này thật là may mắn. Tìm được nha hoàn quá đẹp làm cho người ta phải tim đập thình thịch. Nếu mà là ta á, ta đã sớm kéo lên giường lò rồi, sao lại để nàng mời trà dâng nước chứ. Không biết hắn có chịu nhượng lại không, sau này ta phải nói chuyện với hắn, ta sẽ đem bốn nha đầu đổi lấy một người của hắn.”

Tiền Ninh ngẫm nghĩ, lộ một nụ cười hơi đê tiện, quan sát hình dáng yểu điệu động lòng người của nàng rồi cười nói:
- Lão gia Dương Lăng Dương đại nhân của nhà ngươi có ở nhà không? Ta đến thăm y đây.

Nghe thế, Hàn Ấu Nương hơi tự ti: “Ta... Ta trông giống tiểu nha hoàn như vậy sao?” Nàng cúi đầu nhìn lại trang phục, hơi có vẻ không vui, hậm hực:
- Thì ra là bạn tướng công ta, kính mời ngài vào!

Tiền Ninh kinh hãi biến sắc. Hắn lập tức thu hồi nụ cười dâm, vội hỏi:
- Thì ra là Dương phu nhân! Thất lễ thất lễ, tại hạ Tiền Ninh, là bằng hữu của Dương đại nhân.

Trong phòng, Dương Lăng nghe thế bèn cao giọng gọi:
- Ấu Nương, là Tiền đại nhân tới à? Mau mời ngài vào đi.

Tiền Ninh giữ chức chưởng hình thiên hộ của Cẩm Y vệ, dù thi hành đủ loại thủ đoạn tàn khốc hành hạ phạm nhân đến chết nhưng mắt hắn vẫn không nháy, đã từng gặp không biết bao nhiêu cảnh tượng máu me đầm đìa rồi. Thế nhưng, loại người như vậy luôn yêu quí thân thể mình tới cực điểm, ta có thể thấy được sự thật này qua sự thu xếp của hắn trước khi chịu trượng hình.

Hắn vừa về nhà liền lập tức nằm trên giường điều dưỡng. Để mông không lưu lại vết sẹo, hắn còn hoàn toàn không dám cử động. Hôm sau nghe tin Dương Lăng kháng chỉ, Tiền Ninh cho rằng lần này Dương Lăng chắc chắn sẽ chết, âm thầm tiếc hận mình vất vả mới cài được một đường dây vào Đông cung thì bây giờ lại đứt mất.

Hôm nay sau buổi triều sớm, Tiền Ninh nghe nói Dương Lăng phụng chỉ quỳ đợi ở ngọ môn. Vốn hiểu sâu sắc chuện quan trường, hắn lập tức ngửi ngay được một việc bất bình thường, tức khắc phái người tìm vị bằng hữu đảm nhiệm chức thống lĩnh cấm quân trong cung hỏi tin tức. Hắn không ngờ lại nghe được tin hoàng đế ban tặng cho Dương Lăng một bức họa.

Đã rõ Hoàng đế muốn bảo vệ cho Dương Lăng, Tiền Ninh quyết đoán ngay: dệt hoa trên gấm không bằng giúp người khi gặp nạn. Không còn thời gian chú tâm lựa chọn lễ vật, hắn vội cho người mua rất nhiều đồ vật, cũng chẳng kịp gói ghém gì, ngựa không dừng vó lập tức chạy đến nhà Dương Lăng.

Tiền Ninh được đám lính khiêng vào phòng ngủ Dương Lăng, ngồi vào ghế mềm cạnh giường lò, thấy Dương Lăng nằm trên giường lò, trên thân đắp một tấm chăn, bèn cười nói:
- Dương đại nhân! Hôm qua tại hạ sai người đến thăm hỏi, nhưng đại nhân không ở nhà. Hôm nay cũng đỡ một chút, nên ta tự mình tới đây.

Dương Lăng cười nói:
- Đa tạ Tiền đại nhân! Kể ra vẫn là ta làm liên lụy đại nhân, thế mà còn làm phiền đại nhân đến thăm ta, thật là áy náy.

Tiền Ninh cười ha ha đáp:
- Đại nhân và ta đều là đồng liêu Cẩm Y, lại cùng bị đòn trước cung, duyên phận có phải ít đâu, đừng nói loại khách khí này nữa.

Hắn nói mà ánh mắt gian tà liếc dọc liếc ngang. Thấy Dương Lăng vứt cuộn giấy Hoàng thượng ban cho trên đầu giường, hắn không khỏi thầm giật mình: “Tên Dương Lăng này có quan hệ gì với bệ hạ nhỉ? Hắn đưa Thái tử xuất cung, không tuân thánh chỉ trước mặt mọi người, chẳng những Hoàng Thượng không giận mà còn ban cho hắn một bức họa do ngài vẽ. Vô luận là Hoàng Thượng ban cho thứ gì, bất kỳ vương công đại thần nào cũng lập tức đem về nhà, nếu không lập tức gói lại bằng vải vàng, thì cũng thắp ba nén hương mà cung phụng. Đó là ân sủng và tín nhiệm của hoàng đế. Riêng hắn lại xem thường… Chà, tranh quý của hoàng đế tự tay đề bút”.

Tiền Ninh hơi đau lòng nhìn bức tranh. Hắn ra vẻ lơ đễnh nói:
- Ở trên đầu giường là... Ha ha, Dương đại nhân quả nhiên không hổ là văn nhân, ở nhà dưỡng thương cũng muốn ngâm thơ vẽ họa sao?

Dương Lăng vỗ đầu. Y vẫn luôn không mang tư tưởng quân quyền tối cao, nên vẫn thường xuyên quên mất những việc mà người khác xem là đương nhiên. Vừa rồi về nhà, y lại vui đùa với tiểu giai nhân nên quen béng mất bức họa của Hoàng đế, cứ tiện tay bỏ qua một bên. Nhưng đây là tiền chứ bộ. Chẳng những là cổ họa, hơn nữa là tranh quý của Hoàng đế, phải lưu cho con cháu đời sau của ta và Ấu Nương, tương lai sẽ giá trị biết bao nhiêu mà kể.

Dương Lăng vội vàng dặn Ấu Nương:
- Nương tử! Mau đưa bức họa này cất kỹ lên trên tủ. Ha ha, đây là vật do đương kim hoàng thượng ban tặng đó, không thể làm hư được.

Hàn Ấu Nương vừa mới bưng chén trà vào cho Tiền Ninh, nghe nói cái cuộn giấy trên đầu giường lò lại là của Hoàng đế ban tặng, nàng vội vàng cầm lấy, tìm kiếm khắp nơi, thực không biết phải đặt ở chỗ nào cho an toàn. Dù sao Hàn Ấu Nương cũng đến từ vùng thôn núi xa xôi, trong lòng nàng thì thiên tử thực sự như nhân vật trong thần thoại. Bây giờ lại thấy được thứ mà thiên tử ban tặng, cũng khó trách nàng hết sức lo sợ.

Dương Lăng cười nói:
- Gác trên tủ đi, sau này tìm người bồi lưng, làm một cái khung bọc lại sẽ không sợ trầy xước.

Tiền Ninh hỏi với vẻ cực kỳ hâm mộ:
- Hoàng Thượng ban thưởng? Ha ha, bây giờ ta an tâm rồi, nghe nói đại nhân hôm qua kháng thánh chỉ, vi huynh lo lắng lắm.

Hắn ra vẻ vô ý lại lôi kéo quan hệ. Dương Lăng cũng có ý muốn thân cận với vị Chưởng hình thiên hộ nắm trọng quyền trong tay này. Nghe hắn nói thế, y cũng cười nói:
- Tiền huynh quá lo lắng. Lời này cũng không thể lan ra ngoài được. Dương Lăng nào dám kháng lại thánh chỉ, chỉ là ái thê bị bệnh cấp tính, lúc đó đã xin công công truyền chỉ khoan dung trong khoảnh khắc mà thôi. Dân chúng ngoài phố đều nghe nhầm đồn bậy, nói năng linh tinh, rõ là chỉ sợ thiên hạ không loạn.

Tiền Ninh cười gượng hai tiếng, đang muốn tâng bốc vài câu thì có thái giám trong cung tới truyền chỉ. May mà lần này tên thái giám truyền chỉ biết quy củ, mặt nam lưng bắc, đứng trong viện mà truyền chỉ, căn bản chưa vào nhà. Dương Lăng vội vàng mặc lại quần áo, cùng với Ấu Nương đi ra, quì tiếp thánh chỉ.

Đợi Dương Lăng tiễn vị khâm sai quay vào, Tiền Ninh lại tâng bốc một hồi nữa. Thấy Ấu Nương đang cầm hai bình thuốc trị thương của vua ban chuẩn bị bôi cho tướng công, hắn liền chắp tay ngoan ngoãn cáo từ. Vừa về nhà còn chưa thay quần áo đã được người ta đưa tới một mớ lễ vật, nên để đáp lại thịnh tình của hắn, Dương Lăng tiễn ra tận cửa. Song phương đang sắp chắp tay từ biệt, bỗng thấy một cái chóp kiệu nhỏ từ xa nhấp nhô đi tới trước mặt.

Rèm kiệu vén lên, một gương mặt tái nhợt từ trong kiệu thò ra dò xét. Thấy Dương Lăng đang đứng ở cửa, người nọ không khỏi vui mùng, run giọng:
- Dương đại nhân! Chúng ta đang sợ không tìm được ngài. Ông trời thương ta rồi, ôi, rốt cuộc cũng gặp được đại nhân rồi.

Dương Lăng, Tiền Ninh chú tâm nhìn kỹ, thấy người nọ tóc hoa râm, sắc mặt nửa trắng nửa xanh, chính là Mã Vĩnh Thành, vị thái giám lo việc mua bán trong cung. Tiền Ninh thất thanh hỏi:
- Mã công công, ngài sao lại... hình dạng như vậy mà còn muốn xuất cung để mua bán?

Mã Vĩnh Thành lườm hắn với vẻ không vui, đáp:
- Mua sắm cái gì, bộ dáng ta như thế này còn có thể làm việc công được à? Mau mau, chúng ta vào trong viện nói chuyện, kẻo người ngoài nhìn thấy không tốt.

Dương Lăng và Tiền Ninh liếc nhìn nhau, mù mờ chẳng hiểu gì, cùng đi vào sân. Mã Vĩnh Thành vẻ mặt đau khổ nhìn Dương Lăng nói:
- Đại nhân tới gần đây, chúng ta thất lễ rồi. Vất vả lắm mới khiêng kiệu tới đây, nhưng ta không dám thay đổi vị trí chút nào cả. Khắp mông bị đánh nát cả rồi, mạng già của ta...

Dương Lăng biết tám vị thái giám trong cung đã chịu đòn nặng hơn mình nhiều. Thấy lão nói mà nước mắt như muốn tuôn rơi, y liền lập tức tiến lên đáp:
- Công công phải điều dưỡng cho tốt mới được, sao còn xuất cung ra đây?

Mã Vĩnh Thành cười khổ nói:
- Ai nói không muốn. Chỉ là thái tử gia...,
Lão nói tới đây liền thoáng liếc nhìn xung quanh.

Tiền Ninh hiểu ý, vội bước lên muốn ra ngoài. Mã Vĩnh Thành vội cản:
- Chậm đã chậm đã, không vội đi! Bảo bọn hạ nhân ra ngoài, Tiền đại nhân có thể lưu lại. Việc này không chừng còn cần đến ngài.

Vừa nghe Thái tử có việc muốn hắn đi làm, Tiền Ninh cảm thấy da đầu ngứa ngáy, lập tức đuổi đám hạ nhân ra ngoài, rồi tiến đến gần kiệu. Mã Vĩnh Thành ho khù khụ nói:
- Dương đại nhân, hôm nay là ngày thứ ba rồi! Lúc trước ngài khoe khoang đủ điều, thái tử gia đều tin là thật cả.
Bây giờ cũng không có người ngoài, chúng ta nói thẳng với ngài. Thái tử gia để mắt đến cô nương nhà người ta rồi, đám gia môn trong cung thật sự đang bị thái tử hành hạ. Nhưng người của Giáo Phường Tư lại là thủ hạ của Miêu Quỳ Miêu công công, chúng ta cũng không dám nhờ vả. Việc này còn phải nhờ tới ngài. Chỗ này là toàn bộ gia sản của ta, một vạn bốn ngàn lượng bạc, bất luận ngài dùng biện pháp gì cũng phải chuộc được người ra, sau đó thu xếp ngụ ở chỗ của ngài đi.

Nói rồi, Mã Vĩnh Thành đau lòng móc ra một xấp ngân phiếu đưa tận tay Dương Lăng, lại tiếp:
- Chiêm Sĩ phủ (lo việc giáo dục Thái tử) đã nhận thánh ý, bây giờ bọn họ rất chú tâm chăm sóc đặc biệt đám chúng ta, ta phải mau mau hồi cung thôi. Việc này cứ thế mà làm. Ngài giải quyết ổn thỏa rồi, ngày mai tới cửa hậu cung sẽ có tiểu thái giám gánh nước hỏi tin tức của ngài. Xong rồi, chúng ta hồi cung thôi.

Mã Vĩnh Thành bảo hai nô bộc khiêng lão ra cửa, đi nhanh như chớp. Dương Lăng nắm xấp ngân phiếu mà ngây người hồi lâu, mãi y mới quay sang Tiền Ninh nhờ vả:
- Tiền huynh! Huynh xem việc này...

Tiền Ninh vẫn chưa biết việc Nghiêm Khoan bị Trương Duyên Linh đá cho một cước gần chết, sớm không dám có chủ ý gì về việc Ngọc Đường Xuân, nên hắn cũng cho rằng sự việc có chút nhức đầu. Nhưng không dám biểu hiện ra ngoài, hắn đành phải nói:
- Việc này... Thái tử gia đã lên tiếng, có gì cần đến Tiền mỗ, Dương đại nhân cứ việc nói ra, hay là... Ta cứ cương quyết chuộc người?

Dương Lăng nghiến răng, giậm chân nói:
- Hay lắm! Ta cũng không tin trên một vạn lượng bạc mà vẫn không chuộc được người!... À!... Đúng rồi, rốt cuộc thái tử gia thích cô nào nhỉ?


Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 02:37 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 2 – Nhắm mắt vào kinh

Chương 77: Ba Mỹ Nhân Tới Nhà



Dịch: workman

Biên dịch: lht

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Ngày hôm sau, Dương Lăng dậy sớm ra cửa sau cung thành chờ người đưa tin. Đợi một lúc lâu y mới được Thái tử đáp:
- Biết rồi, không bỏ sót người của ta là tốt rồi. Thay ta chiếu cố cho Đường cô nương, có cơ hội ta sẽ đi thăm nàng. Phụ hoàng bây giờ canh ta gắt gao lắm, luôn luôn có sáu thị độc bên mình. Con mẹ nó, Vương Quỳnh rõ là lão thất phu!



------------------------

Chương bảy mươi bảy Ba Mỹ Nhân Tới Nhà

------------------------

Dương Lăng mời Tiền Ninh vào phòng cùng thương lượng đối sách. Tuy y đúng là Cẩm Y vệ, nhưng đề đốc Trương Tú thu xếp cho y nhận nhiệm vụ ở Nam Trấn Phủ. Tại kinh sư y chỉ có hai người hầu cận là Liễu Bưu, Dương Nhất Thanh nên muốn xử án cũng không có bao nhiêu người để giao việc. Hơn nữa Tiền Ninh là một nhân vật ngoan độc, có sự hỗ trợ của đám địa đầu xà này, công việc coi như đã thành công một nửa rồi.

Nếu không có người của phủ Thọ Ninh Hầu xen vào, Tiền Ninh xử lý việc này cũng dễ như trở bàn tay, không phải chỉ là đám kỹ nữ lầu xanh còn chưa bán thân tiếp khách thôi sao? Cho dù là danh kỹ nổi tiếng cả kinh sư, quan to quan bé cũng chỉ lén lút làm ân khách. Hắn muốn đòi người, ai dám đưa việc này thành công khai để chống lại hắn?

Nhưng bây giờ việc này lại dính tới triều đình. Muốn đòi người phải tính toán một chút. Điểm chết người chính là Thái tử gia đến giờ cũng chẳng thèm nói ra tên của người này, rốt cuộc phải đi chuộc ai đây chứ?

Ấu Nương nghe hai người bàn tán um sùm, cũng biết tướng công muốn giúp Thái tử đem một kỹ nữ thanh lâu về. Nàng thấy tướng công và Tiễn đại nhân nhăn mày nhíu mắt bàn chuyện, liền nhắc nhở:
- Tướng công! Thái tử thích ai thì ta theo đó mà lần đầu dây mối nhợ. Chàng kể lại tình hình lúc đó xem, có lẽ Ấu Nương có thể đoán được gì chăng.

Dương Lăng hồi tưởng một lát, rồi kể:
- Tên Nghiêm Khoan đó cưỡng ép lấy người của Nhất Xứng Kim. Lúc đó Thái tử đuổi theo xem náo nhiệt, lúc Nghiêm Khoan nói năng lỗ mãng, có một vị cô nương tên gọi là Tuyết Lý Mai mắng cho gã một trận, Thái tử rất tán thưởng nàng.

Tiền Ninh vỗ mạnh vào ghế băng mềm bên cạnh. Chiếc ghế lắc lư vài cái xém nữa lật nhào, hắn vội vàng chộp lại, sau đó cười khà khà nói:
- Đúng rồi! Tài tử giai nhân, nhất kiến chung tình, chắc chắn là nàng.

Dương Lăng cười khổ nói:
- Dường như không phải. Sau đó Thái tử bị Nghiêm Khoan đánh một quyền, máu chảy ròng ròng. Có một vị tiểu cô nương tên là Đường Nhất Tiên đưa cho người một cái khăn gấm lau máu, ta thấy ánh mắt Thái tử nhìn người ta đầy tình ý.

Tiền Ninh giật mình nói:
- Thế à! Mỹ nhân tình thâm, thép luyện trăm lần cũng chảy, điện hạ chưa hề trải qua những tràng diện phong nguyệt, lại có giai nhân che chở, khăn gấm đưa tình, thể nào lại không điên đảo? Vậy nhất định chính là vị Đường Nhất Tiên cô nương này rồi.

Ấu Nương hỏi chen:
- Tướng công! Thái tử bảo chàng trong vòng ba ngày phải đòi lại văn tự mua thiếp của Nghiêm Khoan. Văn tự mua bán đó là nói về Đường cô nương này à?

Dương Lăng lắc đầu đáp:
- Không phải! Người Nghiêm Khoan muốn mua là Ngọc Đường Xuân cô nương.

Khi vừa nói tới tên này, y không khỏi nhớ tới vị mỹ nữ trong hí khúc có cuộc đời bi thảm, tưởng chừng như thấy lại tình cảnh thiếu nữ tóc dài áo trắng như tuyết, uyển chuyển đứng lặng trong căn lầu như một bức tranh cung nữ cổ điển. Dương Lăng nói tiếp:
- Trong ba vị cô nương thì Ngọc Đường Xuân cô nương có vẻ phong tình nhất, Thái tử luôn nhớ tới việc chuộc nàng ra. Bây giờ lại muốn ta chuộc người mà Nghiêm Khoan cướp, vậy ai là người mà ngài thích đây?

Ấu Nương nghe xong cũng không khỏi cười khổ:
- Nói như thế, nhiệm vụ mơ hồ này chẳng có gì rõ ràng cả! Chẳng lẽ đem cả ba cô nương về nhà ?

Vừa nghe, Tiền Ninh bật thốt:
- Ý hay lắm! Trong ba người đó chỉ có một người bị Hầu phủ và Đông cung tranh giành, hai người khác vốn không liên quan gì. Bằng vào chức danh đứng đầu Cẩm Y vệ, ta muốn lấy ai cũng dễ như trở bàn tay. Dù sao cũng đều là người đẹp, một hay ba cũng không khác gì nhau. Mang về cả ba người thì vô luận làm sao cũng bị không lầm lẫn gì. Ha ha, đi thôi! Ta bây giờ phải đi gọi người, đại nhân cứ việc ra mặt nhận người thôi.

Rốt cuộc Tiền Ninh cũng hơi kiêng kỵ Thọ Ninh Hầu. Dù sao Dương Lăng cũng được Hoàng thượng để mắt, chỉ cần thức thời một chút, Thọ Ninh Hầu sẽ không dám đắc tội với y. Nay phải để y ra mặt mới tốt, người đứng ra nói chuyện phải là y.

Lập tức Tiền Ninh gọi gia nhân dặn dò vài câu.Tên gia nhân nghe lệnh vội vội vàng vàng đi ngay. Một lúc sau, có hơn mười người từ Bắc Trấn Phủ Ty tới, đều mặc thường phục. Những người này đang hành hạ phạm nhân trong lao, nghe nói thiên hộ đại nhân có lệnh bèn vội thay đổi thường phục tới ngay, trên người còn mùi máu tươi, ai ai cũng sát khí bức người.

Tiền Ninh ra lệnh mang đến một cái sạp gấm, trải cho thật mềm mại, mời Dương Lăng ngồi lên. Hai người được trên mười tên giáo úy mặc thường phục hộ tống cùng đến ngõ Bách Thuận.

Trời cũng sắp hoàng hôn, ngõ Bách Thuận đã có nhiều tiệm mở cửa đón khách. Để bịt tai mắt người khác, Tiền Ninh còn cho một tấm vải che trên sạp gấm, trông như một cái kiệu có nóc. Khi tới những chốn tìm hoa, ta vẫn thường bắt gặp một vài lão gia e dè che đầu che mặt đi chơi kỹ viện. Nhưng bây giờ còn sớm như vậy, làm gì có ai ở đây mà thấy. Tên đón khách vội vàng đi tới cười nói:
- Mấy vị lão gia, có cô nương quen không? Muốn tôi gọi tới cho ngài vài cô ưa nhìn một chút không?

Người đi đầu chính là tâm phúc của Tiền Ninh, một vị bách gia Cẩm Y vệ tên là Quan Long. Hắn thản nhiên nói:
- Tránh ra! Lão gia muốn vào hậu viện. Bảo Nhất Xứng Kim tới gặp lão gia!
Nói rồi gã khoát tay, đoàn người nghênh ngang đi thẳng vào hậu viện.

Trong hậu viện, ba chị em Tô Tam, Đường Nhất Tiên, Tuyết Lý Mai đang ở trong phòng ngồi chơi. Vì những khách uống rượu có kỹ nữ hầu đều tới khá muộn, nên ba người đang lười nhác vẽ mày thoa mặt.

Tuyết Lý Mai thấy Tô Tam có vẻ uể oải, không khỏi hé miệng cười trộm nói:
- Hì hì! Họ Nghiêm đã ngoan ngoãn đem văn tự trả về rồi. Tam tỷ vẫn sầu muộn không vui, chẳng lẽ... nhớ vị công tử kia à?

Tô Tam vừa nghe xong mặt đỏ lên, liếc mắt lườm nàng sẵng giọng:
- Ngươi đó, nói bậy ít thôi!
Nàng cau mày, rồi chợt thở dài nói tiếp:
- Vị công tử đó rõ là người đáng tin cậy, quả nhiên khiến cho Nghiêm Khoan phải trả lại văn tự, nhất định là một đại nhân vật có quyền có thế. Chà, sao người ta lại có thể coi trọng một nữ tử khổ sở như ta? Ta chỉ... Chỉ là thân thể hơi mệt, cho nên tinh thần mới xấu như vậy.

Đường Nhất Tiên cười, nói vẻ châm chọc:
- Có thể nói như thế này, lo lắng hãi hùng cả ba ngày rồi, bây giờ không cần lo lắng về con đại tinh tinh đó nữa. Bây giờ lại lo là lo tên ngọc diện công tử kia sao nỡ lòng không tới thăm tỷ, làm cho tâm hồn thiếu nữ đứt ra từng khúc, thể xác tinh thần đều bần thần?

Đến lúc này Tuyết Lý Mai cũng cảm thấy hứng thú hừng hực, vội xen vào nói:
- Vị công tử đó thật là tuấn dật. Đến cả muội mà cũng hơi động tâm, hắn tuy còn trẻ tuổi, nhưng ánh mắt hơn hẳn những đứa trẻ ranh khác. Làm người ta nhìn thấy là thèm được ngả vào lòng hắn.

Đường Nhất Tiên hừ một tiếng, chun mũi lại nói:
- Hai nha đầu mắt trên trán kia, động tình với trai rồi à! Chỉ nghĩ tới mấy chàng trai tuấn tú. Nếu là ta, ta chỉ nguyện được gả cho đương triều thị độc Dương Lăng Dương đại nhân thôi.

Mắt nàng sáng lên, hào hứng nói tiếp:
- Dịch cầu vô giới bảo, nan đắc hữu tình lang (bảo vật vô giá dễ cầu, nhưng rất khó tìm được tình lang). Hắn vì người yêu mà đến cả ý chỉ của Hoàng Thượng cũng dám cãi lại. Nam nhân như vậy, nếu được gả cho hắn làm thiếp thôi, thì ta ngay cả nằm mơ cũng phải cười mà tỉnh lại.

Tô Tam và Tuyết Lý Mai nhìn nàng đang mơ màng si mê, không khỏi phá lên cười. Tuyết Lý Mai nói trêu:
- Cũng chỉ có tỷ dám mơ thôi. Chúng ta là người như thế này, nếu được gả cho vị công tử tuấn tú ngày ấy đã xem như phải đốt hương cúng tạ rồi.

Dương Lăng đại nhân... Muội nghe Lễ Bộ viên ngoại lang Ninh đại nhân kể, sau khi hắn kháng chỉ, mấy trăm đại thần quì xin Hoàng Thượng giết hắn, nhưng hoàng đế lại không chịu. Sau đó Vương đại nhân, thượng thư bộ Lễ, cùng với tam công nội các chạy tới hậu cung. Mấy lão già thúi đó, hắc! Kết quả là Hoàng hậu nương nương chửi cho mấy lão già cổ hủ ấy một trận ê mặt rồi đuổi ra ngoài.

- Đó là cận thần của thiên tử mà. Đương kim hoàng thượng rất sủng ái hắn, chúng ta nào có phúc khí mà gặp được đại nhân vật như vậy?
Khi đề cập tới Dương Lăng, trong ánh mắt Tuyết Lý Mai lại dâng sóng dập dềnh, tựa như đang say đang mê.

Tô Tam nghe mà si ngốc, hồi lâu mới thở dài một tiếng nói:
- Thôi, hai vị hảo muội muội còn mơ mộng hơn cả ta nữa, mau chuẩn bị trang điểm đi, kẻo lát nữa lại bị mẹ nuôi mắng.

Đường Nhất Tiên lắc đầu không còn chìm vào mộng xuân nữa. Nàng cầm một chung rượu nhỏ uống cạn, sau đó cầm lấy tờ giấy son đỏ bôi vào môi.

Tô Tam thấy nàng lại uống cái thứ nước đó, lo lắng nói:
- Nhất Tiên, sao lại uống thạch tín? Loại này dù chỉ dùng một chút cũng ảnh hưởng thân thể đó.

Đường Nhất Tiên không đồng ý, trả lời:
- Rất nhiều người đều dùng mà. Một chút thôi, không hại đâu.
Nàng vuốt ve gương mặt tuyệt đẹp, tư lự:
- Tỷ nhìn thấy hai má muội có phải đã trắng ra rất nhiều không? Khách nhân đều nói muội bây giờ có làn da trắng như ngọc, vừa bước vào là cả phòng đều như mùa xuân. Hì hì, đợi muội đoạt lấy hạng đầu của Ngọc Đường Xuân tỷ, tỷ tỷ không được tức giận đó nha.

Tô Tam đang muốn trả lời, lại nghe trong viện vang lên thanh âm ngọt như mía lùi của Nhất Xứng Kim:
- Ủa! Mấy vị đại gia, đây là chỗ nào chứ. Mau mời các ngài lên nhà trên ngồi, chẳng biết các vị muốn gặp vị cô nương nào đây.

Tuyết Lý Mai vội hỏi:
- Mau mau thay đồ đi, có khách tới.

Nhất Xứng Kim thấy những người vừa tới đều có ánh mắt và vẻ mặt khiến người ta phải sợ hãi liền vội dẫn vào nhà trong. Bà thấy mười mấy đại hán đứng hai bên cửa, hai khách nhân trong kiệu mềm cũng không xuống kiệu mà được khiêng thẳng vào nhà. Nhất Xứng Kim mi mắt giật giật, chỉ cảm thấy kẻ đến không phải người hiền, nhìn bộ dáng những người này thì không giống người tới đây ăn vụng.

Nhất Xứng Kim do dự trong khoảnh khắc, nhìn thấy ánh mắt ăn thịt người của đám đại hán, đành phải cắn răng theo vào.

Ba người Đường Nhất Tiên đã trang điểm xong xuôi, đợi hồi lâu vẫn không thấy Nhất Xứng Kim gọi các nàng ra gặp khách, đang cảm thấy kỳ lạ, chợt nghe Nhất Xứng Kim khóc gào như cha chết:
- Ba chị em đều ra cả đi, có khách chuộc thân cho các ngươi này!

Ba người Đường Nhất Tiên nghe xong chấn động, vội vàng đi ra khỏi phòng. Ba nàng thấy trong viện có hơn mười đại hán diện mục âm trầm, hai tay khoanh lại, đứng một hàng thẳng tắp, không khỏi sợ tới mức mặt mày thất sắc. Đám đại hán này cả người lộ ra những luồng khí tức âm lãnh khát máu, làm cho người nhìn thấy rởn cả tóc gáy.

Ba tiểu mỹ nữ chẳng biết sắp sửa phải hầu hạ lão gia đáng sợ nào, dựa sát vào nhau như đàn dê con đợi mổ, đứng nép vào Nhất Xứng Kim trong gian chính.

Tiền Ninh nửa nằm nửa ngồi dựa vào kiệu gấm mềm mại, nhìn lên thấy ba mỹ nữ đẹp tuyệt trần, không khỏi hai mắt tỏa sáng. Ánh mắt tham lam của hắn cứ lướt loạn xạ trên người ba người, mãi mới thu hồi vẻ lưu luyến, rồi quay sang nói với Nhất Xứng Kim đang buồn bã:
- Được rồi, lão bản nương là người hiểu biết. Ha ha ha, không cần khóc lóc như vậy, ngươi nên cảm tạ huynh đệ ta. Bằng không... Hừ hừ, sau này có chuyện gì cứ tìm đến ta, ta thay ngươi nói một câu, đó là thứ mà ngươi bỏ bao nhiêu tiền cũng không có được.

Nhất Xứng Kim đúng là ngàn lần không, vạn lần không cam tâm. Khi vừa nhận ra Dương Lăng, mụ lập tức nịnh nọt ngàn ân vạn tạ, khen y thần thông quảng đại, sáng sớm hôm qua Nghiêm Khoan đã sai người trả giấy về, lấy bạc đi rồi.

Tiền Ninh vừa nghe Thọ Ninh Hầu chịu thua, lập tức trở nên cứng rắn. Hắn liền công khai thân phận, muốn diễu võ dương oai chỉ bỏ ra chút tiền mà chuộc cả ba cô về. Dương Lăng thấy Nhất Xứng Kim khóc lóc quá thảm thương, nghe mụ kể lể phải giáo dưỡng mấy người này từ bé, gian khó vô kể nên mềm lòng. Bất chấp Tiền Ninh cản trở, y giao cho mụ một vạn lượng bạc.

Tô Tam vừa vào cửa đã thấy Dương Lăng đang ngồi trên ghế băng mềm, trong lòng đang lo sợ lập tức hóa thành vui như mở hội, vui tới mức hai má đỏ lên, ánh mắt rốt cuộc không dời y ra được.

Tiền Ninh đợi Nhất Xứng Kim ấn ngón tay vào văn tự xong, cười hì hì nói với tên thị vệ:
- Đi tìm ba cỗ kiệu, đưa ba vị cô nương này đến phủ của Dương đại nhân! Ha ha ha, việc này xong rồi, chúng ta đi thôi.

Văn tự đã kí kết, sau này ba người Ngọc Đường Xuân là thiếp hay thị tỳ, hoàn toàn phụ thuộc vào người mua, chẳng liên quan gì tới Nhất Xứng Kim nữa. Nhất Xứng Kim nhìn thấy ba cây tiền cây bạc bay đi như vậy, trong lòng cảm thấy khó chịu nói không nên lời.

Ba người Đường Nhất Tiên được đưa tới phủ của Dương Lăng mới biết y chính là Dương Lăng lừng danh kinh sư. Lúc này cả ba cô đều vui mừng khôn xiết. Các nàng xuất thân như vậy, căn bản không trông mong được làm chính thê, nếu được một văn sĩ hoặc một vị quan to mua làm thiếp đã là tốt lắm rồi. Còn gặp phải ông quan hoặc văn sĩ già xấu, thì đành theo số phận thôi.

Bây giờ Dương Lăng có công có danh, muốn quan chức có quan chức, trẻ tuổi anh tuấn, vừa là loại người có tình danh chấn thiên hạ, quả thực thành thịt Đường tăng trong mắt các nàng rồi, cho dù nằm mơ cũng mơ không đến một kết quả tốt như vậy. Nếu được làm thiếp cho y, các nàng đã cảm ơn trời đất rồi. Nhưng sau khi Dương Lăng thu xếp ba người ở sương phòng, lại chẳng hề đề cập gì tới thân phận tương lai của các nàng, việc này khiến ba nàng không hiểu ra sao cả.

Kỳ thật Dương Lăng cũng rất khó xử. Chút thông tin ít ỏi từ Thái tử không nói rõ muốn chuộc ai, lại không nói chuộc xong thì làm gì. Thái tử cứ nhét cho y một việc như vậy, y còn có thể làm gì bây giờ?

Nếu tạm thời thu xếp các nàng làm nô tỳ, trong đó lại có người mà Thái tử thích, lẽ nào lại để cho nàng hầu hạ mình? Hơn nữa bây giờ việc này cũng chưa thể nói thẳng với các nàng, nên Dương Lăng đành phải giả ngu làm cho ba thiếu nữ thông minh tuyệt đỉnh cũng phải mù mờ không hiểu đầu đuôi.

Các nàng trong lòng đầy nghi ngờ, tuy nói là xuất thân thanh lâu, nhưng dù sao đều là thiếu nữ, chẳng lẽ các nàng có thể trơ mặt chủ động hỏi y khi nào thì nạp mình làm thiếp sao? Vì vậy ba cô nương cứ ở lại nhà Dương Lăng như vậy, không chủ không tớ, không thê không thiếp gì cả.

Ngày hôm sau, Dương Lăng dậy sớm ra cửa sau cung thành chờ người đưa tin. Đợi một lúc lâu y mới được Thái tử đáp:
- Biết rồi, không bỏ sót người của ta là tốt rồi. Thay ta chiếu cố cho Đường cô nương, có cơ hội ta sẽ đi thăm nàng. Phụ hoàng bây giờ canh ta gắt gao lắm, luôn luôn có sáu thị độc bên mình. Con mẹ nó, Vương Quỳnh rõ là lão thất phu!

Nghe xong ý chỉ hồ đồ của Thái tử, Dương Lăng lại dở khóc dở cười đi về nhà. Y vuốt cằm suy nghĩ cả buổi cũng không nghĩ được biện pháp nào đuổi hai cô còn lại đi. Khẳng định là không có cái khúc “Ngọc Đường Xuân” trong kinh kịch đời sau rồi, do đó Tô Tam gả cho ai, vận mệnh sau này ra sao, đến cả y cũng không biết.

Suy nghĩ cả buổi, y đột nhiên nhớ tới bố con họ Hàn sắp tới kinh sư. Cũng không biết hai người này đã cưới vợ chưa, nếu còn chưa... Tục ngữ nói nước phù sa không để chảy ra ruộng người ngoài mà... Dương Lăng không khỏi cười to lên rất đắc ý, đến khi thấy Ấu Nương đứng một bên đang hồ nghi nhìn mình, y mới nhớ mình còn chưa bảo cho nàng hay việc mình mời cha con họ Hàn tiến kinh.

Dù sao họ cũng sắp đến, cứ giấu hai ngày nữa đã, đến lúc đó sẽ cho Ấu Nương một niềm vui bất ngờ. Dương Lăng nghĩ vậy nên chỉ cười đểu vài tiếng, nói với Ấu Nương:
- Ta hỏi Tiền Ninh rồi, bất tất vội vã đi Thần Cơ doanh trình diện. Hai ngày này ở nhà dưỡng thương. Bảo Tiểu Vân chiếu cố cho ba vị cô nương trong sương phòng một chút, ngàn vạn lần không được đắc tội với người ta.

Ấu Nương lên tiếng đồng ý, ngẫm lại dù sao đi nữa những cô nương đó đều có thể là người của Thái Tử. Hiện tướng công đang làm quan trong triều, việc giữ quan hệ tốt với các nàng rất trọng yếu. Vì vậy nàng cũng dặn dò Tiểu Vân phải cẩn thận trong việc phục vụ ăn uống cho mấy vị cô nương này.

Mọi người đều ngụ trong viện, lại đều là những tiểu cô nương mười bốn lăm tuổi, sao lại có thể ru rú cả ngày ở trong phòng chứ? Thường xuyên qua lại thăm hỏi nhau, dần dà Ấu Nương hiểu rõ các nàng hơn. Lúc này Ấu Nương mới phát hiện các nàng khác với những điều mình đã tưởng tượng rất nhiều. Chẳng những không phải là những cô gái đầy quyến rũ, cử chỉ ướt át, mà ba người này lại có lời nói cử chỉ tự nhiên hào phóng, nhất cử nhất động đều lộ vẻ cao quý trang nhã, thập phần hấp dẫn.

Khi đó con gái nhà giàu cũng không được giáo dưỡng nhiều như kỹ nữ thanh lâu. Chỉ cần các nàng có cấp bậc cao trong thanh lâu thì chắc chắn cầm kỳ thư họa, ca múa dáng vẻ đều đã phải được dạy dỗ từ tấm bé. Phải như thế mới đào tạo được những cô gái sắc nghệ đều giỏi, mới khiến đám danh sĩ tài tử thường tới chỗ phong lưu tìm hồng nhan tri kỷ.

Ấu Nương nghe nói các nàng từ nhỏ bị cha mẹ bán vào thanh lâu, thân thế khiến người ta thương tâm, trong lòng rất cảm thông. Ba cô đều tin Ấu Nương là vợ cả của người mà mình sẽ hầu hạ nên càng cố ý phụng thị, cố ý kết giao. Qua hai ba ngày, ba người đối xử với Ấu Nương cực kỳ hoà hợp, giống như chị em.

Dương Lăng ở nhà nghỉ ba ngày, thương thế cũng gần lành cả rồi, định đến sáng sớm hôm sau đi Thần Cơ doanh trình diện. Sáng sớm, Ấu Nương hầm cho tướng công một con gà mái ghẹ. Thấy tướng công còn đang ngủ say, nàng bèn tới phòng chái tây thăm ba cô.

Ba chị em Tuyết Lý Mai quen rèn luyện vào sáng sớm, tuy bây giờ không cần mỗi ngày đều phải thổi tiêu đánh đàn, luyện tập ca múa, nhưng vẫn thức dậy rất sớm. Ấu Nương vừa vào cửa đã nhìn thấy Tô Tam vấn cao mái tóc đen huyền, đang luyện bước múa. Tuyết Lý Mai ngồi trước kính, tóc đen mặt hồng, đang trang điểm trước gương, động tác cũng xinh đẹp vô cùng, trong lòng nhất thời cảm thấy rất hâm mộ.

Lúc trước khi còn ở Kê Minh dịch, nàng từng ở cùng Mã Liên Nhi mấy ngày, khi Mã Liên Nhi trang điểm buổi sáng cũng có dáng vẻ động lòng người như vậy. Lúc đó Ấu Nương ngắm nhìn, tuy mình cũng là con gái mà vẫn thấy động tâm, cảm thấy rất hâm mộ.

Bây giờ nhìn ba người có bộ dáng giống như những tiểu thư khuê các, Ấu Nương đột nhiên nhớ tới hôm kia Tiền Ninh đến nhà đã lầm mình là nha hoàn. Nàng biết tướng công càng làm quan to, thì càng kết bạn với những người quyền quí hơn, mình dù sao cũng xuất thân từ một thôn xóm nhỏ, mặc dù xưa nay rất chú ý nhưng lời nói cử chỉ vẫn không khỏi mang chút quê mùa. Nếu có thể lãnh giáo các nàng về dáng vẻ hành động, ăn nói học vấn...

Nghĩ vậy, Ấu Nương hơi thẹn hồng mặt, cười nói:
- Ba vị muội muội đa tài, dáng vẻ đoan trang. Tỷ tỷ lại chỉ biết múa thương đánh bổng, thấy các muội như vậy cảm thấy rất hâm mộ.

Đang điều phối thạch tín, nghe Hàn Ấu Nương nói vậy, Đường Nhất Tiên bèn quăng lọ thạch tín, chạy tới giữ chặt tay Ấu Nương cười nói:
- Múa thương đánh bổng mới tốt! Tên phóng đãng nào dám khi dễ bèn cho hắn một gậy vào đầu ngay. Hay là tỷ tỷ dạy muội võ nghệ, muội đem công phu sở trường nhất dạy cho tỷ tỷ, được không?

Ấu Nương vui vẻ nói:
- Tốt lắm, muội muội sở trường nhất là gì?

Đường Nhất Tiên đắc ý nói:
- Muội muội sở trường nhất là thổi tiêu.

Ấu Nương nói:
- Ừm, chỉ là tỷ tỷ rất vụng về, không hiểu có thể học được không. Muội muội đem tiêu ra cho tỷ coi, đợi tướng công tỉnh ngủ sẽ học cũng không muộn.

Đường Nhất Tiên cười khanh khách, ôm bả vai Ấu Nương nhìn vào mặt nàng, lắc lắc đầu nói:
- Tiêu kỹ của muội lại không cần tiêu, toàn bằng vào cái miệng thôi. Tỷ tỷ muốn học, phải xem thiên phú về công phu mồm miệng của tỷ rồi.

Hàn Ấu Nương ngẩn người, tiêu kỹ không cần tiêu à? Trong lòng nàng đột nhiên nhớ tới việc tướng công muốn mình ”thổi tiêu”, cảm thấy rất khó xử, mặt đỏ bừng lên, trong lòng xấu hổ muốn chết, thầm nghĩ: ”Cái con bé này! Cái con bé này! Quả nhiên là từ thanh lâu ra! Sao việc như thế này mà cũng có thể nói ra miệng được chứ, còn... còn nói kỹ xảo cái gì, quả thật mắc cở chết người.”

Hàn Ấu Nương che gương mặt nóng bừng, vừa thẹn vừa giận, giậm chân nói:
- Đáng chết! Đáng chết! Đường gia muội tử, muội... muội... Muội ăn nói khùng điên gì thế, việc này... việc này cũng có thể nói ra được, có thể học được sao?

Đường Nhất Tiên sửng sốt. Nàng mờ mịt, kỳ lạ hỏi:
- Sao cơ? Sao lại không học được ? Bao nhiêu người đều ca ngợi muội có công phu tuyệt vời mà!

Đang soi gương chải đầu, chợt tay Tuyết Lý Mai khựng lại một chút, rồi vứt mạnh lược xuống bàn, phá ra cười ha ha. Còn Tô Tam vốn hai má trắng như tuyết lại trở nên đỏ bừng, nàng run rẩy hai vai, chảy nước mắt hồi lâu rồi đột nhiên nhào lên giường, kéo chăn trùm kín đầu, một tràng cười trong vắt từ trong chăn vọng ra.

Đường Nhất Tiên nhìn trái nhìn phải rồi đột nhiên bừng hiểu. Lúc này mặt nàng cũng nóng lên như lửa, không kìm được thẹn thùng xấu hổ kêu lên:
- Trời ạ! Ấu Nương tỷ tỷ, tỷ đang nói gì thế? Người ta không muốn sống nữa!


Chú thích:


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 02:40 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 78: Tham Kiến Tham Tướng



Dịch: workman

Biên dịch: lht

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Bào Tận Thẩm mắt vẫn nhìn thẳng, quì một chân, hai tay ôm quyền, hành đại lễ tiêu chuẩn trong quân, nói lanh lảnh:
- Ty chức nghe ý chỉ Thánh Thượng nói là Dương đại nhân cung mã thành thạo, lại văn võ song toàn, trong khi vị kia rất yếu đuối, rõ ràng là sư gia của đại nhân, còn thiếu niên anh hùng này không phải chính là Dương Lăng Dương đại nhân sao?



------------------------

Chương bảy mươi tám Tham Kiến Tham Tướng


------------------------


Một tràng tiếng tiêu khoan thai vang lên, lúc thì trau chuốt nhẹ nhàng, ngọt ngào u nhã, lúc thì phiêu dật, thê lương mà lại gần gũi, làm cho người ta như say như mê.

Khuôn mặt Hàn Ấu Nương nóng bừng lên, hận không thể tìm cái lỗ nẻ mà chui vào. Ai biết nha đầu đáng chết đó nói kỹ thuật thổi tiêu không có tiêu thật ra là khẩu kỹ. Một câu vô tình vừa rồi vốn đã đem việc khuê phòng giữa mình và tướng công nói hết cho người ta nghe, sau này làm sao không xấu hổ khi gặp lại các nàng chứ?

Tô Tam ngồi trên đầu giường, hai tay chống mép giường, đầu hơi cúi, môi cong lại, còn đang cố nín cười. Tuyết Lý Mai ngồi bên cạnh, dùng bả vai thúc khẽ vào người nàng một cái, nói nhỏ:
- Đừng cười, cẩn thận Ấu Nương tỷ ngượng quá hóa giận. Hơn nữa, việc của người đi trước, làm gương cho người đi sau... Hừ hừ, Ngọc Tỷ sắc nghệ song tuyệt, không biết có phải là càng giỏi việc thổi tiêu ngắm trăng không nữa?

Ngọc Tỷ Nhi nhất thời đỏ mặt. Các nàng mặc dù chưa tiếp khách, nhưng ở lâu nơi chốn tìm vui đó thì mấy thứ ẩn dụ này sao lại không rõ. Nàng ngẩng đầu liếc nhìn Ấu Nương, thấy nàng không chú ý, liền oán hận nhéo vào đùi Tuyết Lý Mai.

Đường Nhất Tiên quay sang thấy Ấu Nương tỏ vẻ bội phục, không khỏi rất đắc ý. Nàng đem hết sức ra khoe, tiếng tiêu lên xuống rồi chợt im bặt, rồi đột nhiên lại có tiếng hót của chim bách linh vang lên, thanh âm chợt xa chợt gần, giống như một con chim đang nhảy nhót ở đâu đây, đang cao giọng hót vang. Nhiều khi có tới hàng trăm tiếng chim xa xa gần gần, nghe như bốn phương tám hướng tràn ngập âm thanh đủ các loài chim. Rồi nghe tiếng hót lộn xộn như trăm loài chim ồn ào bay đi, rồi tiếng tiêu linh hoạt kỳ ảo thâm trầm lại vang lên như cũ.

Dương Lăng thấy tiếng tiêu dễ nghe, lặng lẽ đứng dậy mặc y phục tiến vào trong viện, lặng người lắng nghe một hồi. Mãi đến khi tiếng tiêu dứt hẳn, y mới vỗ tay khen rằng:
- Thổi tiêu hay lắm! Ngọc nhi giỏi múa, Tuyết nhi giỏi đàn. Đây nhất định là Tiên nhi cô nương thổi tiêu rồi?

Chỉ nghe trong phòng có tiếng cười híc híc, cũng không biết là ai đang cười trộm, sau đó một trận ồn ào nho nhỏ. Lập tức Tuyết Lý Mai, Đường Nhất Tiên và Tô Tam ôm lấy Ấu Nương đi ra khỏi phòng, trên mặt mấy người đều đỏ bừng, vừa nhìn thấy y đều phải cố nén cười, trong mắt hiện ra vẻ rất bối rối.

Dương Lăng nhìn thần sắc các nàng hơi cổ quái, không biết mình nói sai việc gì, lại cảm thấy hơi bồn chồn. Nha hoàn tiểu Vân từ ngoài viện đi vào, vừa thấy Đường Nhất Tiên đang đứng trong viện, vội hỏi:
- Đường tiểu thư, người muốn ta mua thạch tín, nhưng hiệu thuốc không chịu bán, nói phải có toa thuốc của đại phu, còn muốn có người ký tên mới được.

Dương Lăng nghe xong giật bắn cả người, nghi hoặc hỏi:
- Mua thạch tín làm gì?

Tô Tam xen vào nói:
- Đại nhân, Tiên nhi xin người ta viết cho một phương thuốc làm đẹp da. Phương thuốc đó chỉ dùng thạch tín để dưỡng da, nên rất có hại với thân thể đã dùng hơn nửa năm rồi, khuyên bảo kiểu gì cũng không nghe.

Đường Nhất Tiên lườm nàng, nói:
- Tỷ tỷ nhiều chuyện làm gì, muội thấy không ít người dùng phương thuốc này, cũng không thấy có hại gì cho thân thể, muội cẩn thận một chút cũng không sao đâu.

Dương Lăng nghe xong lắc đầu lia lịa, vội nói:
- Dùng độc dược dù ít tới đâu cũng là độc dược. Độc tố tích lũy lâu dài trong cơ thể, vài chục năm sau sẽ làm rụng hết răng, hai má hõm sâu, trông như bà lão, hơn nữa đầu óc cũng sẽ không bình thường, trở nên ngây ngốc, cô nương nói có đáng không? Kỳ thật có rất nhiều phương pháp có thể làm da trắng hồng tự nhiên, hà tất phải dùng độc dược nguy hại đó?

Đường Nhất Tiên chu miệng ra nói:
- Người ta biết mà. Dùng đông quả tử, quất bì, hoa đào, nghiền nhỏ thoa lên mặt, dùng tang diệp tiên rửa mặt có thể làm trắng da. Nhưng hiệu dụng không tốt lắm. Nghe nói dùng long não, đàn hương, cao ngọc trai là hữu hiệu nhất, nhưng mấy thứ đó đắt lắm. Trước kia muội thuê mấy người tiều phu ở nông thôn giúp muội bắt dơi. Máu dơi thật ra dùng tốt, nhưng vừa tanh vừa dính, rửa lại rất mất công...

Dương Lăng ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Cô nương thử qua lòng trắng trứng, mật ong chưa? Nếu không có thể dùng mướp đắng (khổ qua) hay dùng dưa chuột thái mỏng phủ lên mặt, rất nhiều... à, ta nghe nói rất nhiều người dùng đó, hiệu quả tốt lắm.

Đường Nhất Tiên ngạc nhiên nói:
- Chưa từng nghe nói về biện pháp này, dùng được chứ ? Người ta sẽ thử xem.

Dương Lăng nói:
- Đương nhiên hữu hiệu, nhưng thạch tín thì phải bỏ ngay lập tức, sau này không được dùng nữa. Những thứ đồ vật ấy thập phần hại người, cô nương vốn quốc sắc thiên hương, tội gì tự làm tổn hại mình để thay đổi dung nhan.

Đường Nhất Tiên nghe y khen mình xinh đẹp, trong lòng vui như hội, không khỏi gật lấy gật để, cười ngọt ngào hứa ngay. Dương Lăng cũng không biết nàng thật sự đã nghe lời hay chưa, chỉ còn nước sau này phải chú ý đến nàng. Y mỉm cười, nói:
- Như vậy mới tốt, được rồi. À cô nương vừa rồi thổi tiêu động lòng người, nhưng sao lại còn có cả tiếng chim hót nữa ?

Đôi mày liễu của Đường Nhất Tiên khẽ nhướng lên, đắc ý khoe ngay:
- Dương đại nhân, tiêu của người ta là không cần tiêu...

Nàng còn chưa dứt lời, Hàn Ấu Nương đột nhiên “A” một tiếng, vươn tay kéo Dương Lăng nói:
- Tướng công, muội hâm cho chàng canh gà rồi, chàng nên nhân lúc còn nóng uống một chén đi.

Một người mắc cỡ là đủ rồi, nếu hai vợ chồng cùng mắc cỡ, sau này đành phải trốn không dám gặp người khác nữa. Hàn Ấu Nương thấy mình lỡ lời, không khỏi nơm nớp lo sợ, quên mất Đường Nhất Tiên vừa mới thổi một khúc tiêu, tướng công dù ngu tới mấy, cũng không thể nghĩ ra cái thứ kia được .

Ba tỷ muội thấy Ấu Nương vội vàng lôi kéo tướng công đi nhanh vào phòng, đợi nàng đóng cửa phòng, lại không kìm được cười phá lên.

******************

Hôm sau, Tiền Ninh phái một chiếckiệu tới đón Dương Lăng, đưa y đi Đông Tập Sự Xưởng ở bắc Đông An Thành gặp Vương Nhạc. Bây giờ trong đám nội quan, đề đốc Đông Xưởng Phạm Đình, có cùng quyền thế với Cẩm Y Vệ. Miêu Quỳ giữ chức Ngự Mã Giám, chỉ huy bốn vệ doanh hộ vệ hoàng cung là Võ Tương, Đằng Tương, Tả Vệ Và Hữu Vệ.

Trong tam đại doanh Đề đốc kinh sư, Vương Nhạc, thái giám giữ ấn Nội Lễ Giám, là nội quan duy nhất có địa vị cao hơn hai người kia. Vương Nhạc làm người thẳng thắn trung hậu, không có dã tâm gì nên rất được Hoằng Trị tín nhiệm.

Lần này nhận được ý chỉ của Hoằng Trị đế, Vương Nhạc cũng thực sự phải mất khá nhiều tâm tư. Chức vị của Dương Lăng mà thấp quá thì không hợp thánh ý, cao quá thì triều thần lại bất mãn. Cuối cùng vẫn là nhờ Phạm Đình giúp lão bày mưu tính kế, khẩn cấp điều một tên tham tướng đi nhận chức phó tổng binh ở Đại Đồng, cử Dương Lăng làm tham tướng. Loại hoạt động nội bộ này không thông qua bộ Binh, bộ Lại, Nội Các, đợi bổ nhiệm xong, họ có muốn phản đối cũng đã muộn rồi.

Dương Lăng vào cửa Đông Xưởng, được một trưởng ban dẫn dắt đi vào đại sảnh phủ nha. Trên sảnh treo một tấm biển ”Bạch Thế Lưu Danh” trên cao, trên tường trái được xây làm bình phong có khắc câu chuyện về Di Thức Thổ Án(*). Đi vòng qua bức bình phong là từ đường của Đông Xưởng, thờ phụng bài vị của những Xưởng Chủ tiền nhiệm của Đông Xưởng, gian nhà nhỏ bên trái là nơi Xưởng Đốc hằng ngày xử lý công vụ.
*( năm Minh Hiến Tông Thành Hoá, trong kinh thành chợt xuất hiện một án kiện thần bí gọi là ‘Yêu Hồ Dạ Xuất’, sau đó có một yêu đạo Lý Tử Long dùng tà thuyết đầu độc lòng người, thậm chí lôi kéo rất nhiều thái giám, có ý đồ làm loạn)

Dương Lăng chầm chậm đi vào gian nhà nhỏ. Y thấy một lão thái giám hơn bảy mươi tuổi ngồi trên ghế, gầy trơ cả xương, mặt đầy nếp nhăn, thoạt nhìn chẳng có gì đáng chú ý. Bên cạnh lão có một thái giám khác đang ngồi, Dương Lăng nhận ra đây là Phạm Đình Phạm công công ngày ấy giám sát việc đánh trượng ngoài ngọ môn. Trên tường phía đông có một hương án, bên trên thờ phụng pho tượng trông có vẻ là một chân nhân, hoành phi câu đối bốn chữ là ‘Tinh Trung Báo Quốc’ (hết lòng vì nước), không cần nhìn cũng biết người được thờ phụng là Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi - ND) rồi.

Dương Lăng vào phòng đang muốn nghiêng người thi lễ, Phạm Đình cười ha ha nói:
- Miễn lễ miễn lễ, biết thân thể ngươi không khỏe, không cần hành đại lễ. Vị này chính là Vương công công của chúng ta, hai vị lần đầu gặp nhau, làm quen đi, sau này còn phải giao tiếp thường xuyên.

Lão thái giám cười ha ha, thanh âm hơi khàn:
- Ngươi chính là Dương Lăng à ? Ừm, xem ra cũng là một nhân vật tầm cỡ, việc này được Hoàng Thượng giao cho ta rồi. Ở hoàng cung chúng ta không tiện triệu ngươi đến, do đó phải bảo ngươi tới chỗ Phạm công công gặp mặt. Lát nữa để Phạm công công đi với ngươi tới doanh trại một chuyến. Ta già rồi, đi tới đi lui không nổi. Ngươi mới vào trong quân, cũng phải có người giúp đỡ. Phạm công công còn điều thêm hai người khác theo ngươi vào quân để sử dụng nữa.

Phạm công công vẻ mặt tươi cười vô hại, tiếp lời nói:
- Ngươi đã quen biết bọn họ, bọn họ vừa khôn ngoan, lại giỏi võ nghệ. Ngươi mang theo làm thân binh cũng vừa lòng hơn..

Dương Lăng vội hỏi:
- Đúng đúng, đa tạ công công.
Trong lòng y âm thầm tự nhủ phải cẩn thận một chút. Vị Phạm công công này cố tình giúp ta thật, hay sắp đặt cơ sở ngầm bên người ta? Hai người Liễu Bưu là Cẩm Y Vệ, hắn nói điều là tới ngay, xem ra vị Phạm công công này có quan hệ không bình thường với Trương đề đốc rồi.

Dương Lăng cẩn thận ngồi xuống chiếc ghế đối diện, ngẩng đầu nhìn lão thái giám. Vương Nhạc đang khom lưng, hốc mắt trũng sâu, khi nói chuyện với hắn thường có nước ứa ra khóe mắt, chắc là đã bị bệnh khô mắt hay gì đó.

Một đại nhân vật giậm chân một cái làm cả thành Bắc Kinh phải rung lên, thật ra là một lão già gió thổi cũng bay tầm thường như vậy, thật sự khác hẳn những gì Dương Lăng dự liệu. Lòng sợ hãi cũng bay đi mất. Lão Vương Nhạc nói chuyện hơi lắp bắp, nói cả buổi cũng chỉ là mấy lời nói khách sáo đại loại như Hoàng thượng đã tin tưởng, phải tận trung với cương vị công tác, đừng phụ thánh ý. May thay, Phạm Đình thấy lão công công cứ nhai đi nhai lại mà không có gì mới, thừa dịp lão uống ngụm trà, lập tức giới thiệu cho Dương Lăng tình hình trong doanh.

Đợi Vương Nhạc được hai tiểu thái giám dìu đi, Phạm Đình liền triệu hai cái quan kiệu, lính trên trăm tên, cùng Dương Lăng đi tới Thần Cơ doanh. Trong kinh sư có năm quân doanh, ba thiên doanh và cả Thần Cơ doanh, cộng lại có gần mười vạn người, lần lượt đóng quân ở bốn phía thành Bắc Kinh.

Thần Cơ doanh đóng quân ở Nam Uyển, có một doanh quan (quan chỉ huy), hai phó tướng. Trong doanh có năm quân là Trung Quân, Tả Dịch (cánh trái), Hữu Dịch (cánh phải), Tả Tiêu (bên trái ngoài cùng), Hữu Tiêu (bên phải ngoài cùng). Toàn doanh tổng cộng có hai vạn năm ngàn người. Doanh quan của Thần Cơ doanh xưa nay do vương công trong kinh đảm nhiệm, nhưng doanh quan này xem như một hư chức, có chức không có quyền, hoàn toàn không có quyền tham dự quân vụ, đại sự trong quân lại do hai vị phó tướng xử lý.

Hai phó tướng Thần Cơ doanh là Trương Xuân, Lục Thiệu Hồng sớm đã nghe nói về vị tham tướng thiếu niên đắc chí này vốn là người tâm phúc của Hoàng thượng. Hai người sành sỏi, sớm bày hương án, long trọng nghênh đón vị đốc chủ Đông Xưởng và vị tâm phúc của Hoàng thượng, chờ tuyên thánh chỉ, nhận thủ ấn.

Lúc này trên giáo trường Tả Tiêu doanh cờ bay phấp phới, toàn quân đứng trang nghiêm, tướng sĩ mỗi người đều giáp trụ sáng loáng. Trước trận có hơn mười tướng quân cưỡi chiến mã, đứng cạnh cửa đang lẳng lặng chờ đợi.

Một con hắc mã thần tuấn phát ra tiếng phì phì trong mũi, đầu lắc lắc, tên tướng quân lập tức vỗ vỗ đầu nó, an ủi vài câu. Sau đó gã ưỡn ngực, uể oải nói với vị tướng quân mặc hắc giáp đứng ở giữa nhóm: oải, :
- Bào tham tướng, nói xem chúng ta bày đại trận như vậy làm cái gì?

Vị tướng quân này toàn thân mặc giáp trụ màu đen, trông như một bức tượng bằng sắt, Gã hừ một tiếng đáp:
- Là Bào phó tham tướng, Lưu đô ty đừng vượt quy củ!

Lưu đô ty chớp mắt, cười hì hì nói:
- Bào đại ca! Tề tham tướng thăng chức, trong Tả Tiêu doanh chúng ta ngoại trừ đại ca thì ai có thể làm thống lĩnh năm ngàn binh sĩ chứ? Nghe nói vị tham tướng tân nhậm này là một thư sinh, râu còn chưa dài nữa cơ, chúng ta làm gì phải tôn trọng hắn như vậy?

Vị tướng quân mắt hổ râu đen uy phong lẫm liệt, giáp trụ oai phong, đến cả nửa bên mặt gã cũng che kín, do đó cũng không thấy rõ thần sắc. Nghe Lưu đô ty nói thế, mí mắt gã bỗng nhích động, vẫn là im lặng không nói gì.

Ở một bên kia, một tướng quân vóc người cường tráng dùng roi ngựa gạt khẽ mũ trụ che mặt, lộ ra cái trán mồ hôi ròng ròng, nôn nóng nói:
- Đúng thế, giáp trụ đầy đủ, cứ như Thánh thượng đích thân tới vậy, sắp nóng chết người ta rồi. Tôi nói Bào đại nhân nghe, tiểu tử đó dù có lai lịch gì cũng không cần nể tình như vậy đâu.

- Hắc hắc!
Một tướng quân mặt rỗ vóc người gầy đét lắc lắc đầu, mấy tua đỏ trên mũ trụ theo gió bay lật phật, hắn nhếch miệng cười nói:
- Lai lịch gì chứ? Mấy người các ngươi chẳng biết gì sao? Ta sớm đã nghe rồi. Vị tân tham tướng đại nhân này lúc trước là thị độc của thái tử. Nghe nói có quan hệ rất tốt với Thọ Ninh Hầu Trương gia nữa. Hai ngày trước y vì đi tìm đại phu cứu nương tử đến cả thánh chỉ của Hoàng Thượng cũng không tiếp. Thế mà khi y bị đương kim Thánh Thượng kêu lên kim điện lại không sao. Người của ta trong cung nói Hoàng hậu nương nương đã ra sức bảo vệ y. Chà, người so với người sao lại bất công thế. Chúng ta chinh chiến sa trường, chịu khổ nửa đời, người ta vừa chui ra khỏi bụng mẹ, đã một cước đạp lên đầu chúng ta rồi.

Tướng quân giáp đen gương mặt co lại một chút, quát khẽ:
- Liên đô ty, ngươi câm miệng cho ta!

Liên đô ty nghe gã giáo huấn, phẫn nộ ngoặt đầu ngựa tới cửa, cười lạnh với tâm phúc mình nói:
- Tề tham tướng lên chức, lão Bào còn tưởng rằng mình có thể lên chỗ khuyết này. Bây giờ hy vọng tan vỡ, lại lập tức quay sang nịnh nọt người ta, đúng là hèn.

Tên phó đô ty nhìn nhìn mọi nơi, nói:
- Đại nhân, việc này cũng chưa chắc. Người nhìn hình dáng Bào tướng quân kìa, có chỗ nào giống như đang hoan nghênh không? Ty chức thấy hình như không ổn, hắn định ra oai, đánh phủ đầu vị tham tướng tân nhậm này rồi.

Liên đô tư sáng mắt lên, cười nói:
- Nếu thực như vậy thì sắp có trò vui xem rồi. Ta nghe nói tuy Dương Lăng là một thư sinh, nhưng Lưu Đại Hạ Lưu thượng thư cũng khen y đó. Chắc cũng giống như Triệu Quát, loại thiếu niên đắc chí này không thể chịu được người khác đả kích. Y lại là người tâm phúc của Hoàng Thượng, lão Bào lại muốn đối đầu trực tiếp với y, hắc hắc hắc hắc...

Gương mặt rỗ của hắn đã đỏ ửng lên. Mấy ngày nay hắn chạy quanh chuẩn bị, xài tiền khá nhiều, nguyên đang trông chờ lão Bảo thăng chức tham tướng là hắn có thể lên chức phó tham tướng, không nghĩ tới từ đâu lại xuất hiện tên Dương Lăng. Mất trắng toàn bộ, trong lòng hắn đang rất xót xa. Nếu Bào Tận Thẩm và vị tham tướng mới được phong đối đầu nhau, bất luận là ai phải ra đi thì hắn cũng vẫn có cơ hội.

Một tràng tiếng vó ngựa vang lên. Hai vị phó tướng Trương Xuân, Lưu Thiệu Hồng mang theo vài chục thân binh, cùng Dương Lăng phi nhanh đến. Dương Lăng không dám ngồi thẳng, hai chân y cặp vào bụng ngựa, mông hơi nghiêng. Nhìn thấy tư thế y cưỡi ngựa giống như người không biết cưỡi, đám quan tướng ở cửa không khỏi khinh bỉ.

Vài chục người cưỡi ngựa cuồn cuộn tiến đến trước cửa. Trên giáo trường đã có mấy ngàn nhân mã đứng trang nghiêm, không ai dám nói gì, ngựa không hí, yên lặng không một tiếng động, cho thấy bình thường được huấn luyện cực tốt, quân kỷ nghiêm minh. Mục quang Dương Lăng lướt qua, ánh mặt trời chiếu xuống giáp trụ của binh lính lóe sáng, quân sỹ kinh sư được trang bị cực tốt, cả năm ngàn quân đều mặc chiến giáp.

Trương Xuân, Lưu Thiệu Hồng cùng Dương Lăng giục ngựa lướt nhanh qua đám tướng lĩnh trên đài, rồi quay ngựa hướng về phía toàn quân. Trương Xuân chỉ roi ngựa trong tay, dương dương tự đắc ngạo nghễ hỏi:
- Dương tham tướng, ngươi xem quân ta thế nào?

Dương Lăng thấy ba quân tướng sĩ đứng thẳng tắp, hàng lối như dệt sợi, nhìn ngang nhìn dọc đều tăm tắp, quả thực không thua gì duyệt binh ở đời sau. Y vui vẻ tán thưởng:
- Đại nhân trị quân rất đúng cách, thần binh như thế, ty chức quả chưa thấy qua ở biên quân bao giờ.

Trương Xuân nghe xong cười ha ha. Hắn xoay người xuống ngựa, lộp cộp đi lên đài Điểm Tướng, ngạo nghễ đứng thẳng. Bọn người Bào Tận Thẩm đã sớm theo tới trước trận, thấy thế lập tức xoay người xuống ngựa, giáp trụ gạt xuống đi đến trước đài Điểm Tướng quỳ xuống ôm quyền nói:
- Phó tham tướng Tả Tiêu quân Thần Cơ doanh Bào Tận Thẩm, suất lĩnh toàn quân tướng sĩ sở thuộc khấu kiến tướng quân!

Trương Xuân chỉ tay vào Dương Lăng nói:
- Bản tướng vừa tiếp chỉ ý của Thánh Thượng, Đông cung thị độc Dương Lăng cung mã thành thạo, văn hay võ giỏi, đáng được trọng dụng. Lúc này y giữ chức tham tướng Tả Tiêu quân ở Thần Cơ doanh, các ngươi cũng nên ra mắt hắn đi.

Bào Tận Thẩm ôm quyền đáp:
- Dạ!
Hắn phẩy ống tay áo đứng lên, khẽ xoay người nhìn Dương Lăng một chút, rồi dẫn theo ba tên đô ty, sáu phó đô ty, một quan ở trung quân đi đến chỗ Dương Lăng.

Dương Nhất Thanh giữ ngựa của cả ba người đứng cạnh đài Điểm Tướng, Liễu Bưu theo sau Dương Lăng đứng ở trước đài Điểm Tướng. Lúc này thấy đám lính ở Tả Tiêu quân sắp sửa tham kiến thượng quan, Liễu Bưu không dám vô lễ, vội vàng tránh qua bên cạnh vài bước.

Bào Tận Thẩm đi đến trước mặt Dương Lăng chừng một trượng, chợt dừng cước bộ, hai tay ôm quyền trầm giọng nói:
- Tả Tiêu quân phó tham tướng Bào Tận Thẩm suất lĩnh toàn quân tướng sĩ bái kiến tham tướng đại nhân.

Dương Lăng mỉm cười đưa tay muốn đỡ lấy gã. Còn chưa mở lời nói gì thì nụ cười y đột nhiên đông cứng lại. Y đưa tay đỡ nhưng trống không, Bào Tận Thẩm hơi chần chờ một chút, rồi thân hình chợt nghiêng sang một bên, đường đường chính chính quay sang Liễu Bưu cúi đầu bái dài.

Đám sĩ tốt năm ngàn quân phía dưới lại không nhận ra ai là tân nhậm tham tướng. Các đô ty còn đang do dự, bọn họ thấy phó tham tướng Bào Tận Thẩm đã bái rồi, không chút nghĩ ngợi gì liền quì một gối chào theo. Năm ngàn người động tác đồng loạt, giáp trụ vang động, chỉ nghe “roạt” một tiếng, sau đó đồng thanh hô lớn:
- Bái kiến tham tướng đại nhân!

Trương Xuân trợn ngược cả mắt lên, hắn giật mình nói:
- Bào Tận Thẩm, ngươi bái người nào thế?

Bào Tận Thẩm làm bộ giật mình, đáp:
- Ty chức phụng lệnh của đại nhân, bái kiến tân nhậm tham tướng Dương Lăng Dương đại nhân mà!

Trương Xuân nghe xong vừa sợ lại vừa giận, lạnh lùng nói:
- Sao ngươi biết người đó là Dương tham tướng?

Bào Tận Thẩm mắt vẫn nhìn thẳng, quì một chân, hai tay ôm quyền, hành đại lễ tiêu chuẩn trong quân, nói lanh lảnh:
- Ty chức nghe ý chỉ Thánh Thượng nói là Dương đại nhân cung mã thành thạo, lại văn võ song toàn, trong khi vị kia rất yếu đuối, rõ ràng là sư gia của đại nhân, còn thiếu niên anh hùng này không phải chính là Dương Lăng Dương đại nhân sao?

Trương Xuân nghe xong tức giận đến nhất thời nói không nên lời, tay Dương Lăng vẫn đưa lên cao, ngạc nhiên nhìn Bào Tận Thẩm. Thấy gã đảo con ngươi, nhìn mình vẻ coi thường, trong mắt tràn đầy ý châm biếm, Dương Lăng lập tức tỉnh ngộ.

Y nhìn Bào Tận Thẩm một lát, chờ nét kinh ngạc và giận dữ trên mặt mình bớt đi, thần sắc khôi phục lại vẻ bình tĩnh, đột nhiên cười phá lên...


Chú thích:


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 02:42 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 79: Lại Thua Một Ván



Dịch: workman

Biên dịch: lht

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Trương Xuân nhìn theo bóng lưng gã rồi khẽ lắc đầu: “Tham tướng Dương Lăng được Hoàng đế chấm, tiền đồ tuyệt không phải chỉ là chức tham tướng. Đến cả một chút nhãn lực cũng không có, ngươi còn vọng tưởng ngồi trên ghế chủ tướng sao?
Chỉ là... Bào Tận Thẩm ở lâu trong quân, cũng có vài sĩ quan quân đội cúi đầu nghe lệnh gã, xem ra gã thật sự muốn chống lại Dương Lăng rồi. Hai người này một là lão tướng trong quân, là niềm tin của mọi người, một người là sủng thần của vua, không thể đắc tội được. Mình lại bị kẹp ở giữa, sau này chắc phải đau đầu rồi.”



------------------------

Chương bảy mươi chín Lại Thua Một Ván

------------------------



Dương Lăng cười hà hà rụt tay về, bước từng bước đến trước mặt Bào tham tướng, không hề có ý giận dữ.

Mới vừa rồi đột nhiên bị Bào Tận Thẩm trêu chọc một phen, đúng là trong lòng Dương Lăng vừa thẹn vừa giận. Nhưng y cũng hiểu loại cấp trên được chỉ định từ trên trời rơi xuống rất dễ bị người cũ phản đối. Huống hồ nếu Dương Lăng không phải là người được Hoằng Trị nhắm thì y cũng không thể được thăng chức nhanh như tên bắn, ngồi ngay lên đầu vị tướng quân này. Nghĩ vậy, Dương Lăng lại trở nên bình tĩnh, thông cảm cho vị tướng quân khôi ngô trông như tháp sắt đang tràn ngập địch ý này. Y cười khà khà tiến lên nâng Bào tham tướng dậy, cầm cánh tay gã chậm rãi đi lên đài Điểm Tướng, vừa đi vừa nói với Trương phó tướng:
- Đại nhân, chẳng trách Bào tướng quân hiểu lầm. Thánh Thượng ân sủng nên có nhiều lời khen ngợi ty chức. Dương Lăng còn nhỏ tuổi, khí chất phong độ không thể so được với Bào tham tướng vốn uy phong nửa đời trên lưng ngựa.

Trương Xuân thấy y có ý hòa giải, âm thầm thở phào nhẹ nhõm. Hắn trừng mắt nhìn Bào Tận Thẩm, rồi quay sang cố cười gượng vài tiếng nói với Dương Lăng:
- Tên này quả là lỗ mãng. Về việc xông pha chiến đấu, chiến trường giết địch thì gã thật đúng là một hảo hán, nhưng không có cái nhìn tinh tường nên mới ngộ nhận như vậy. Sau này Dương tham tướng cũng nên xem gã là đồng đội, cần phải châm chước nhiều hơn.

Bào Tận Thẩm thấy mình chọc tức Dương Lăng mà y không làm gì được mình nên đang đắc ý trong lòng, nay nghe Trương phó tướng nói thế lại rất bực mình. Gã luôn tự đánh giá mình rất cao, tuy biết Trương phó tướng có ý tốt muốn gỡ tội cho mình nhưng gã vẫn không kìm được hừ lạnh một tiếng, bả vai run lên, vùng khỏi tay Dương Lăng.

Trương Xuân thấy gã mê mẩn quan chức đến nổi mất khôn không thông tình lý như thế, không khỏi biến sắc, có vẻ hơi tức giận. Dương Lăng thấy vị Bào tham tướng này không biết điều như vậy, ngay trước mọi người mà vẫn không biết nể mặt mình, trong lòng cũng hơi giận dữ. Y phất ống tay áo, hừ lạnh một tiếng, xoay người đi đến cạnh, đứng kề vai với Trương phó tướng. Lúc này, Bào Tận Thẩm một mình đứng phía sau ba bước, giáp trụ đầy đủ, sững sờ đứng đó, trông lại như một thân binh hộ vệ.

Dương Lăng chắp tay vái chào Trương phó tướng, sau đó nhìn xuống dưới đài. Trên quãng trường có năm ngàn quân lính khôi giáp sáng choang đang đứng nghiêm, không một tiếng động, chỉ nghe tiếng gió thổi tinh kỳ phần phật. Dương Lăng đảo mắt qua toàn trường, cảm thấy đám lính mặc dù đội ngũ chỉnh tề, khôi giáp sáng chói, thoạt nhìn có vẻ vô cùng uy vũ, nhưng nhìn kỹ lại thì thấy thiếu phần khí thế.

Y đột nhiên nhớ tới biên quân đóng ở Kê Minh dịch, những người này mặc dù trông có vẻ xơ xác du côn một chút, nhưng một khi xếp thành hàng chiến đấu lại có sát khí ngút trời. Khí khái tung hoành ngang dọc không để thiên hạ trong mắt này chính là do việc chiến đấu trên chiến trường rèn dũa thành. Còn những binh sỹ ở đây mặc dù xếp hàng thẳng tắp, đội ngũ vô cùng chỉnh tề, nhưng rõ ràng lại thiếu loại uy vũ hiên ngang như vậy.

Dương Lăng mỉm cười, đưa mắt nhìn qua Liễu Bưu, nói:
- Liễu Bưu, Dương Nhất Thanh, lên trước đài nghe lệnh!

Dương Nhất Thanh liền đưa cương ngựa cho thân binh của Trương phó tướng, vội vàng đi đến trước đài, cùng Liễu Bưu quỳ một gối. Dương Lăng nói:
- Hai người vốn là người hầu cận của ta, bản tướng hôm nay nhậm chức chủ tướng Tả Tiêu quân Thần Cơ doanh, từ nay hai người các ngươi cũng gia nhập quân đội, làm thân binh cho ta!

Hai người ôm quyền thi lễ:
- Ty chức tuân lệnh tham tướng!

Dương Lăng khẽ gật đầu, sải bước lên một bước, mặt nhìn xuống toàn quân tướng sĩ, nhưng lại không cho hai người đứng lên.

Để lấy lí do biện bạch cho việc làm nhục Dương Lăng, vừa rồi Bào Tận Thẩm cố ý làm ra vẻ nhận lầm người, dẫn tướng sĩ toàn quân quì làm đại lễ trước mặt Liễu Bưu. Nhưng lúc này mấy ngàn người đang đứng nghiêm trong giáo trường, người gã vừa mới bái lại quỳ gối không nhúc nhích trước mặt Dương Lăng. Gã thấy vậy trong lòng vừa thẹn vừa giận, chỉ cảm thấy Dương Lăng có ý làm nhục mình, không khỏi xiết chặt hai nắm đấm, nhìn Dương Lăng trừng trừng.

Dương Lăng đứng hiên ngang, trường sam (áo dài nam) lất phất, chắp tay cất cao giọng nói:
- Chư vị huynh đệ Tả Tiêu quân. Bản tướng vừa mới tới, chưa quen với mọi người, nói gì cho tốt đây? Ừm... nếu cứ đứng đây ra vẻ thân thiết với mọi người bàn về việc nhà việc cửa, Dương mỗ có vẻ trẻ con giả làm người lớn rồi.

Quan binh dưới đài không ngờ vị tướng quân xuất thân văn nhân này ngay câu nói đầu tiên lại đùa cợt như vậy, không thể không cười phá lên. Không khí khẩn trương ước thúc ban đầu đã hoàn toàn biến mất.

Dương Lăng cười khà khà đứng đó, đợi thanh âm ồn ảo giảm xuống, giơ hai tay ra hiệu ổn định, tiếp tục nói:
- Làm phiền tướng sĩ toàn quân phải vất vả như vậy, mặc dù là các vị hoan nghênh bản tướng, nhưng Dương mỗ vẫn cảm thấy được quá yêu mà ái ngại. Cũng nên nói mấy câu đơn giản để hiểu biết nhau một chút. Ta xin tự giới thiệu qua, ta họ Dương, tên là Dương Lăng, từng nhậm chức dịch thừa Kê Minh huyện, sau đó làm thị độc phủ Chiêm Sĩ. Bây giờ, tất cả mọi người đều biết ta là chủ tướng Tả Tiêu quân Thần Cơ doanh. Lần đầu gặp mặt, Dương mỗ xin được vấn an tướng sĩ toàn quân!

Dương Lăng nói rồi hai tay ôm quyền vái chào. Năm ngàn quan binh thấy Đại tướng quân ôm quyền hành lễ, tức thì giáp trụ loảng xoảng, lập tức quỳ gối, tới tấp đáp tạ:
- Bái kiến tham tướng đại nhân!

Dương Lăng hai tay ôm quyền, ánh mắt lẫm lẫm nhìn vào mặt mấy tên đô ty. Đô ty mặt rỗ Liên Đắc Lộc thấy vậy cũng không khỏi thấp người xuống, quỳ gối. Bành đô ty tráng kiện mập mạp nhìn phải nhìn trái, thấy Liên Đắc Lộc đã quỳ cũng vội quỳ xuống, ôm quyền thi lễ:
- Mạt tướng tham kiến Dương tướng quân!

Lưu đô ty thấy hai người bọn họ đều quì rồi, do dự nhìn Bào tham tướng một lúc, rồi cũng quỳ xuống theo nốt. Ba vị đô ty đã cúi đầu, mấy sĩ quan cấp cao phía sau nào dám chậm trễ, tất cả đều quỳ xuống đất. Đứng cạnh Dương Lăng, Trương Xuân trừng mắt lạnh lùng nhìn Bào tham tướng. Mặc dầu Bào Tận Thẩm đã dám cậy già lên mặt, giả ngu giả dại phá Dương Lăng, nhưng dù sao lúc đó gã vẫn còn có thể viện cớ là mình nhận lầm. Lúc này mọi người đều đang chăm chú nhìn gã, lại có hai vị phó tướng đại doanh ở đây, gã cũng không dám trắng trợn chống lệnh. Hơi ngần ngừ một lúc, Bào Tận Thẩm đành phải nghiến răng, lẳng lặng quỳ xuống.

Dương Lăng xem như chưa biết động tĩnh gì phía sau, y hít sâu một hơi, nói sang sảng:
- Các vị, làm tướng phải quản binh, luyện binh. Việc quản binh chính là một khi xuất lệnh, thì lệnh hạ xuống như núi. Việc luyện binh, ngoài việc luyện cung mã võ nghệ, cũng phải luyện quân kỷ hiệu lệnh. Bản tướng mới nhậm chức, đây là tướng lệnh đầu tiên muốn hiểu dụ toàn quân!
Y ngừng lại một chút đoạn cao giọng:
- Sĩ quan cấp cao trong ba ty của Tả Tiêu doanh đâu?

Liên đô ty nghe ngữ khí quả quyết khi nói chuyện của vị thị độc tiến sĩ Đông cung này, cảm thấy y cũng không phải là loại mọt sách, trong lòng cũng đã hơi sợ, nghe thế vội đáp lời:
- Đệ nhất ty Tả Tiêu quân Liên Đắc Lộc nghe lệnh!

Mấy sĩ quan cấp cao khác cũng lần lượt báo quan hàm và danh tính. Sau khi nghe xong Dương Lăng vung tay lên, lớn tiếng:
- Ba vị đô ty lĩnh quân, giờ Thìn canh ba ngày mai tập hợp ở giáo trường. Bản tướng sẽ ở đây điểm binh! Quan quân của Trung quân lưu lại, những người còn lại có thể giải tán!

Lưu đô ty hơi chần chờ nhìn thoáng lên đài Điểm Tướng. Bào tham tướng vẫn đang ôm quyền quỳ dưới đất, hoàn toàn không thể nhìn thấy sắc mặt gã. Ba vị đô ty nhìn nhau, chỉ biết lục tục dẫn quân bản bộ rời khỏi giáo trường. Chỉ trong chốc lát cả giáo trường đã trống rỗng. Ban đầu, vốn Bào tham tướng muốn trước mặt ba quân ra oai phủ đầu Dương Lăng, không nghĩ tới Dương Lăng lại sử dụng chiêu này khiến gã phải quỳ gối mãi, y thì nói mấy câu linh tinh rồi đuổi mọi người đi. Nhất thời gã nghiến chặt hàm răng, mặt xạm lại.

Dương Lăng xoay người, dường như lúc này mới nhìn thấy gã, vội vàng nâng gã dậy, rồi hớn hở phân phó đám sĩ quan chuẩn bị rượu tiệc, muốn cùng các phó tham tướng khoản đãi hai vị đại nhân Trương Xuân, Lưu Thiệu Đường để trọn tình chủ khách. Nghe thế, rốt cuộc Bào Tận Thẩm không kìm được nữa, gã liền hầm hầm ôm quyền, lớn tiếng nói:
- Chư vị đại nhân, ty chức cảm thấy không khỏe. Hôm nay Dương tham tướng nhậm chức, ty chức không thể không cố ôm bệnh mà ra nghênh đón. Tiệc rượu thì chắc không có phúc hưởng rồi, Bảo mỗ xin được cáo lui, thất lễ!

Nói xong gã cũng không đợi Dương Lăng trả lời, ôm quyền lui về phía sau ba bước, rồi quay lưng, lộp cộp đi xuống đài.

Trương Xuân nhìn theo bóng lưng gã rồi khẽ lắc đầu: “Tham tướng Dương Lăng được Hoàng đế chấm, tiền đồ tuyệt không phải chỉ là chức tham tướng. Đến cả một chút nhãn lực cũng không có, ngươi còn vọng tưởng ngồi trên ghế chủ tướng sao?
Chỉ là... Bào Tận Thẩm ở lâu trong quân, cũng có vài sĩ quan quân đội cúi đầu nghe lệnh gã, xem ra gã thật sự muốn chống lại Dương Lăng rồi. Hai người này một là lão tướng trong quân, là niềm tin của mọi người, một người là sủng thần của vua, không thể đắc tội được. Mình lại bị kẹp ở giữa, sau này chắc phải đau đầu rồi.”

Hắn nghĩ vậy, không khỏi lo lắng nhìn Lưu Thiệu Đường, vị phó tướng thứ hai này cũng nhìn hắn với vẻ mặt đau khổ. Ánh mắt hai người gặp nhau, cùng nhìn nhau thở dài, đồng thời lắc lắc đầu.

*********************************
Giờ Thìn một khắc, Dương Lăng dưới sự trợ giúp của Liễu Bưu đã đội mũ trụ, sườn đeo huyền kiếm, rời khỏi đại trướng của tham tướng.

Dương Lăng nghe Tiền Ninh cho biết mấy năm nay quốc gia yên ổn, ngoại trừ bắc cương, còn lại thì chiến sự không nhiều. Tam đại doanh trong kinh sư gần như không được dùng binh. Vì vậy quân kỷ cũng thoải mái, nếu chủ tướng có gia quyến ở kinh thì cũng không cần phải trú trong doanh trại. Dù sao thì mã trình khứ hồi giữa nhà trong thành và Nam Uyển cũng không xa lắm, y vốn định buổi tối sẽ về nhà. Nhưng hôm nay vừa vào đại doanh, Bào tham tướng đã ra mặt muốn áp đảo y nên Dương Lăng không thể về được. Do đó tối hôm qua y đã sai Dương Nhất Thanh về thành một chuyến, đem việc mình ở lại trong quân doanh thông báo cho Ấu Nương.

Dù sao lúc này Dương Lăng vẫn chưa để bụng sự vô lễ của Bào tham tướng. Quan uy cần phải qua quá trình lâu dài, dù sao mình cũng là chủ tướng mới trong quân. Lâu dần thì uy danh tự nhiên sẽ quật khởi, ảnh hưởng của Bào Tận Thẩm sẽ từ từ yếu bớt. Chỉ cần bây giờ gã không tìm đến làm phiền mình thì việc này coi như chỉ cười khẩy cho qua luôn. Hai người cùng cai quản Tả Tiêu doanh chứ không nên chống đối nhau, chẳng việc gì phải láo nháo với gã.

Lúc này trên giáo trường, đệ nhất ty của Liên Đắc Lộc đã xếp hàng chỉnh tề đợi tham tướng đại nhân duyệt binh. Tên mặt rỗ này hết lòng theo đuổi hoạn lộ, bất luận quan lại bé to gì đó, hắn đều có thể nịnh nọt được. Chỉ là lúc tặng lễ vật thì hắn chỉ tặng vượt cấp. Hắn cho rằng đối với các vị quan chỉ lớn hơn mình một cấp, cho dù mình bỏ tiền ra thì ông ta cũng sẽ không đem chiếc ghế đang ngồi tặng cho mình, do đó mình có tặng cũng chỉ là mất trắng. Nhưng giao tình miễn phí thì mình chẳng ngại gì mà cứ tặng cho ông ta. Do đó hắn đã sớm đưa một ngàn năm trăm quan binh thuộc đệ nhất ty mặc áo giáp chỉnh tề xếp hàng sẵn ở giáo trường rồi.

Quân lính đệ nhị ty của Bành Kế Tổ đang chầm chập đi vào giáo trường tập hợp. Một vài binh sĩ đang rì rầm bàn tán, thấy tham tướng đại nhân mặc áo giáp đội mũ trụ dẫn bốn mươi thân binh mặc giáp trụ màu đồng thau tiến vào giáo trường, không khỏi im lặng, vội vàng đi vào hàng ngũ.

Dương Lăng đứng uy nghi trên đài. Y mặc bộ giáp sáng choang, thật sự cũng tăng thêm vài phần oai hùng. Chỉ là mấy thứ mũ trụ đồng, chiến bào, hộ kính, quần chiến, giày chiến tạo thành vẻ oai vệ này lại nặng đến bốn mươi cân, làm Dương Đại tướng quân tuy uy vũ thì có uy vũ, nhưng nếu không nhờ có Liễu Bưu, Dương Nhất Thanh giúp đỡ, việc y lên ngựa xuống ngựa cũng rất tốn sức.

Dương Lăng nhìn chung quanh, lại ngẩng đầu nhìn trời, xoay qua Liễu Bưu thấp giọng hỏi:
- Bây giờ là giờ nào?

Liễu Bưu thấp giọng trả lời:
- Đại nhân! Đã qua giờ Thìn hai khắc rồi, còn một lát nữa là tới giờ Thìn ba khắc.

Dương Lăng khẽ gật đầu, ánh mắt nhìn vào góc giáo trường, nơi đó vốn phải có quân binh của đệ tam ty, nhưng bây giờ không có lấy một bóng người. Bành Kế Tục và Liên Đức Lộc dưới đài cũng chú ý tới tình hình này. Hai người đến gần nhau khe khẽ nói chuyện, len lén quan sát phản ứng của Dương Lăng.

Vị tham tướng đại nhân này hôm qua đã từng nói một khi ra lệnh thì lệnh hạ như núi. Lúc này cũng đã sắp giờ Thìn ba khắc, không ngờ đội quân đệ tam ty chuyên dùng pháo của Lưu Sĩ Dung lại không hề có người nào, thử xem tham tướng đại nhân này xuống đài ra sao.

Dương Lăng nổi giận thật sự. Y nắm chặt chuôi kiếm, đôi mày kiếm cũng cau lại. Lưu Sĩ Dung cũng không phải là người có gan, cũng không cần phải đắc tội với y. Chắc chắn là do Bào Tận Thẩm xúi giục. Hôm qua y đã nhìn thấy biểu hiện của mấy tên sĩ quan cấp cao. Y thấy Lưu đô ty không ít lần đưa mắt nhìn Bào tham tướng. Không nghĩ tới tên Bào tham tướng hôm qua vừa xúc phạm mình một phen trước mặt hai vị phó tướng Thần Cơ doanh, mới hôm nay đã muốn làm lại lần nữa.

Dương Lăng nén giận, khóe mắt liếc xuống đội trưởng đội thân binh đứng dưới đài Điểm Tướng, chẳng biết người nọ có phải là cũng cùng một đảng với Bào tham tướng không. Nếu đợi qua canh giờ này, ta sẽ phái hắn chấp hành quân pháp, bắt Lưu Sĩ Dung tới gặp ta. Hắn có nghe lệnh không? Hiện nay Dương Lăng chỉ chắc chắn có thể sai bảo được hai người Dương, Liễu thôi. Muốn trùng chấn quân uy mà không đủ tự tin, trong lòng y không khỏi thấp thỏm.

Một lát sau, Dương Nhất Thanh nói nhỏ:
- Đại nhân! Tới giờ Thìn ba khắc rồi.

Dương Lăng hít một hơi, thả lỏng vai nhìn xuống dưới đài, chỉ thấy ba ngàn nhân mã của đệ nhất ty, đệ nhị ty đều đứng nghiêm trang, vô số cặp mắt đổ dồn vào hắn. Mí mắt Dương Lăng giật giật, từ từ nhìn về phía cửa. Đang muốn hạ lệnh cho đội trưởng thân binh chấp hành quân pháp, chợt y nghe xa xa có tiếng người gọi ngựa hí. Một lát sau có một con ngựa trắng xông vào cửa, viên kỵ mã hò hét om sòm:
- Mau lên cho ta, lập tức xếp thành đội ngũ!

Vừa thấy hắn, Dương Lăng không khỏi lửa giận sôi lên, không kìm được quát lớn:
- Lưu Sĩ Dung! Bản tướng muốn ngươi giờ Thìn ba khắc tập hợp ở giáo trường, cớ gì tới trễ như vậy?

Lưu Sĩ Dung xoay người xuống ngựa, sải bước đi đến trước đài rồi ôm quyền thi lễ:
- Hồi bẩm tham tướng đại nhân. Đại nhân hạ lệnh giờ Thìn ba khắc tới giáo trường tập hợp, ty chức không dám tới trễ, bây giờ chính là giờ Thìn ba khắc đó!

Hắn cũng không ngẩng đầu lên, cao giọng nói sang sảng:
- Nhân mã đệ tam ty gồm một ngàn năm trăm người, trừ ba người bệnh ra, còn lại toàn bộ đã tới. Mời đại nhân duyệt!

Nhân mã đệ nhất ty, đệ nhị ty sớm đã đứng nghiêm dưới đài. Nhân mã đệ tam ty vừa ào vào, người kêu ngựa hí tạo nên tình cảnh hỗn loạn, nhất thời khiến cho giáo trường vốn nửa tháng không mưa tung bụi lên mù mịt bốn phía. Dương Lăng nhìn đám quân lính đang chạy tán loạn lung tung tựa như chưa tìm được vị trí, tức giận đến mức thân thể khẽ run lên: quan binh mỗi ngày đều điểm binh thao diễn, lí gì mà không tìm thấy chỗ của mình. Rõ ràng là có người sai sử mấy tên binh lính càn quấy, cố ý bày trò.

Thấy quang cảnh như thế, Dương Lăng lập tức biến hẳn sắc mặt!


Chú thích:


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 02:49 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 80: Phật Cũng Nổi Giận



Dịch: workman

Biên dịch: lht

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Bào Tận Thẩm vội đáp:
- Đại nhân có thể được Hoàng Thượng ân sủng xem trọng thì làm sao đến cả chút việc như thế mà cũng không xử lý ổn chứ? Ha ha, ngài quá khiêm tốn rồi. Hai ngày trước trong quân không có tướng, ty chức đành phải cố chống đỡ thôi. Bây giờ Dương đại nhân tới rồi, ty chức cuối cùng cũng có thể nghỉ ngơi, trong quân nhiều việc còn phải nhờ Dương đại nhân quan tâm tới.

Dương Lăng lập tức đứng dậy nói:
- Cũng nên thế, nên thế. Bào tướng quân chưa lành bệnh vậy rất cần nghỉ ngơi. Chuyện trong quân hà tất phải lo lắng, bản quan xin được cáo từ…



------------------------

Chương tám mươi Phật Cũng Nổi Giận

------------------------


Dương Lăng ngửa mặt lên trời cười ha hả, rồi lạnh lùng nói:
- Lưu đô ty dùng binh hay thật, quả nhiên giờ Thìn ba khắc đã tới tập hợp.

Lưu đô ty tỏ vẻ bướng bỉnh bất tuân nói:
- Quân lệnh của đại nhân như núi, đã nói giờ Thìn ba khắc tập hợp, mạt tướng tự nhiên là không dám muộn, mà cũng không dám sớm.

Dương Lăng nhìn vào ánh mắt khiêu khích của hắn một lát, trong lòng đột nhiên chấn động, lập tức thanh tỉnh. Lưu Sĩ Dung vẻ mặt không hề sợ sệt, rõ ràng là đã lợi dụng kẽ hở trong lời nói của mình, nếu hôm nay muốn dùng quân pháp trị tội hắn thì hắn tất sẽ dùng việc chấp pháp bất công mà kiện lên cấp trên. Nếu làm như vậy, kiện cáo sẽ rất lôi thôi, toàn quân cao thấp còn có ai thèm kính sợ mình? Chẳng phải sẽ theo ý đồ của chúng sao?

Dương Lăng ấn chuôi kiếm, vội hít vài hơi, ổn định tâm tình, đứng trên đài chẳng nói chẳng rằng gì. Lưu Sĩ Dung thấy hắn nghẹn lời, không khỏi hiện lên nụ cười đắc ý, hắn đứng dậy nói:
- Đại nhân, những binh sĩ này không có quy củ, để mạt tướng về bản trận chỉnh lại đội ngũ!

Hắn xoay người lên ngựa chạy về đê tam ty, roi ngựa trong tay vung lên, tiếng rít vun vút, rồi trầm giọng quát:
- Tham tướng đại nhân có lệnh, lập tức tập hợp, mau mau về vị trí, chậm trễ coi chừng ăn roi.

Còn lại quân binh hai ty thấy hắn đuổi lính như đuổi dê, không khỏi phá lên cười. Dương Lăng cười lạnh nhìn giáo trường hỗn loạn, tùy ý để Lưu Sĩ Dung náo loạn. Lưu Sĩ Dung dương dương tự đắc, nhìn thấy uy phong của tham tướng đại nhân đã bị hạ xuống, thể diện chẳng còn gì, lúc này mới ước thúc đội ngũ đàng hoàng, nghiêm trang nói:
- Khải bẩm tham tướng đại nhân, đệ tam ty Tả Tiêu quân đã tập hợp xong, xin đại nhân hạ lệnh!

Dương Lăng làm như không nghe, nhìn quan phụ trách trung quân dưới đài hỏi:
- Trung quân, Bào tham tướng đâu?

Lưu Sĩ Dung cướp lời:
- Ty chức đang muốn khải bẩm đại nhân, Bào tham tướng hôm qua thân thể không thoải mái, hôm nay lại bị nặng lên, nhờ ty chức xin đại nhân cho nghỉ.

Dương Lăng liếc nhìn hắn, cười mà như không. Lưu Sĩ Dung nhìn thấy thế trong lòng cả kinh, thầm nghĩ: “Có phải là ta đang đùa với lửa không, tiểu tử này nếu nhẫn tâm kêu người đánh giết, thật sự làm lớn chuyện này để gỡ lại thể diện thì sao đây?”

Hắn đang vô cùng cẩn thận, nhưng chỉ nghe Dương Lăng điềm nhiên như không nói:
- Vậy à! Hôm qua nghe nói Bào tham tướng có bệnh mà bản tướng vừa mới đến nhận chức, công việc bộn bề, còn chưa kịp đi thăm hắn. Lát nữa diễn võ xong, Lưu đô ty theo ta đến thăm Bào tham tướng nhé.

Y ngừng lại một chút, rồi nói:
- Hôm nay diễn võ, tướng sĩ trong quân giáp trụ thì đầy đủ nhưng tại sao trong tay lại không có binh khí? Các ngươi ngày thường luyện tập võ nghệ đều là như thế sao?

Liên Đắc Lộc trên ngựa chắp tay nói:
- Bẩm đại nhân, Thần Cơ doanh rất gần hoàng thành trọng địa, e rằng kinh động trong cung và dân chúng, do đó xưa nay luyện tập hỏa khí thì một lần mỗi tháng, kéo cả đội ngũ vào núi tập dượt, còn bình thường thì chỉ diễn luyện trận pháp, đội ngũ thôi.

Dương Lăng ngày xưa đã từng gặp qua đội hỏa súng biên quân. Cách đánh của đạo quân ô hợp đó quả là vô cùng thảm hại. Từ khi biết được mình được điều tới Thần Cơ doanh, y đã khổ công suy nghĩ rất lâu về phương pháp luyện binh, cùng với cấp bậc kỹ thuật hỏa khí bây giờ, làm sao đề cao được tốc độ xạ kích của hỏa khí.

Khắc tinh lớn nhất của hỏa khí thời đại này là là kỵ binh của địch nhân. Nếu có thể truyền phương pháp xạ kích ba quãng ba hàng cho binh sĩ, phối hợp hàng lá chắn tay và kỵ binh, tất sẽ thành một chi kỳ quân. Lúc này nghe Liên Đắc Lộc nói thế, y không khỏi nhíu mày nói:
- Thần Cơ doanh sở trường hỏa khí mà mỗi tháng chỉ luyện tập một lần, vậy binh sĩ làm sao có thể thuần thục sử dụng súng ống được? Tư Khố Quan, đi lấy súng ống hỏa pháo ra đây, toàn doanh xuất phát, bản tướng muốn vào núi huấn luyện!.

Tư Khố Quan khom người nói:
- Đại nhân, súng và hỏa pháo phải có đại nhân đóng dấu của ngài mới có thể lấy ra. Xin đại nhân ban lệnh. Còn nữa, những thứ như hỏa dược và đạn pháo do Bào phó tham tướng giữ, không có lệnh phù của ông ta cũng không động vào được, ngài xem...

Dương Lăng nghe xong từ từ lui về phía sau vài bước, ngồi vào ghế soái do thân quân thu xếp, dựa vào lưng ghế, nói:
- Nếu đã như vậy, hôm nay tạm không vào núi luyện tập nữa. Ba ty sở thuộc xưa nay huấn luyện ra sao thì cứ làm như cũ.

Trên mặt Lưu Sĩ Dung hiện lên nụ cười đắc ý, còn ánh mắt của chư tướng khi nhìn về phía Dương Lăng đều có vẻ không còn kính sợ như trước lại thêm chút khinh thường. Dương Lăng điềm nhiên như không, chỉ dụng tâm quan sát từng thuộc hạ của ba ty đang tập luyện.

Việc huấn luyện Thần Cơ doanh xưa nay chủ yếu là duyệt binh đội ngũ, tập trận pháp, những thứ này sớm đã luyện đến thuộc làu rồi. Đội ngũ đi đứng gọn gàng răm rắp, trận pháp diễn luyện ngươi công ta thủ, ngươi thủ ta công, lui lui tới tới, khiến người xem hoa cả mắt, nhưng sợ rằng chỉ để đẹp mắt mà thôi.

Đội hình quan binh mặc trọng giáp đi đứng tuyệt đẹp. Các loại chuyển đổi trận thức càng xảo diệu vô cùng, hơn nữa lại có thêm giáp tốt, bước chân mạnh mẽ, cử chỉ hài hòa với nhau, di chuyển trên giáo trường nhanh như chớp, làm bụi mù mịt nổi lên bốn phía. Người xem nhiệt huyết sôi trào, liếc mắt vừa nhìn quả thật đây là một quân đội hổ lang.

Dương Lăng nhìn cảnh này, so với cảnh loạn quân chém giết khi xưa ở Kê Minh Dịch và trong Hồ Lô cốc, càng khiến cho y có cảm giác như có hoa mà không có quả, chỉ dùng để biểu diễn duyệt binh thì cố nhiên rất đẹp, nhưng thật sự không có lực sát thương gì.

Y thấy việc diễn luyện như thế quả thật rất chán, nhưng thân là chủ tướng không thể rời đi, chỉ đành ngồi đó kiên nhẫn đợi ba ty luyện tập xong. Diễn võ chấm dứt, Dương Lăng lập tức dẫn thân binh theo Lưu Sĩ Dung cùng tới doanh trướng của Bào phó tham tướng. Lưu Sĩ Dung thấy y thần sắc hiền lành, còn cho là y bị mình hành hạ đã mềm đi rồi nên mới tới chỗ Bào đại ca làm hoà, trong lòng không còn cảnh giác nữa.

Doanh trướng Bào phó tham tướng ở giữa đại doanh, được thiết kế dựa vào núi, ở cửa có bốn thân binh gác. Dương Lăng theo Lưu Sĩ Dung vào phòng ngủ của Bào Tận Thẩm, chỉ thấy Bào phó tham tướng đang đắp chăn nửa nằm nửa ngồi, dựa vào giường lò, trên đầu để một cái khăn.

Lưu Sĩ Dung nói:
- Bào đại nhân, Dương tham tướng nghe nói ngài ốm liệt giường, nên đặc biệt tới đây thăm.

Bào phó tham tướng thấy Dương Lăng, vội vàng làm bộ muốn đứng dậy, miệng nói không ngớt:
- Một chút bệnh nhỏ thôi, sao dám để đại nhân cực nhọc. Ty chức đã nhiều ngày qua bị bệnh thấp khớp ở tuổi già tái phát, thật sự không đi được nên đành phải xin nghỉ. Đại nhân hôm nay điểm binh luyện tập, xem quân uy của doanh ta như thế nào?

Dương Lăng đỡ lấy thân thể sắp rời khỏi giường lò của hắn, đắp chiếc chăn lại cho hắn xong, mỉm cười nói:
- Ninh đại nhân và Bào đại nhân dạy binh đúng cách, quân uy nghiêm chỉnh, bản tướng đã đại khai nhãn giới rồi. Ha ha! Bản tướng nghe nói Bào đại nhân bệnh nặng, vốn nên lập tức tới thăm, nhưng ba quân đã tụ tập đầy đủ ở giáo trường cho nên không tiện bỏ việc, do đó tới chậm, Bào tướng quân đừng trách.

Bào phó tham tướng thừa cơ nằm lại trên giường, cười mà như không, nói:
- Không sao, việc quân vẫn quan trọng hơn. Đại nhân còn trẻ lại đầy hứa hẹn, Tả tiêu doanh chúng ta được đại nhân quản lí, nhất định ngày càng lớn mạnh. Mạt tướng chỉ bị bệnh già thôi, thật sự là không sao cả.

Dương Lăng cười nhạt, liếc mắt nhìn Lưu Sĩ Dung nói:
- Bản tướng dù sao cũng xuất thân văn nhân cho nên chẳng biết quy củ trong quân, còn cần phải xin lão tướng quân chỉ dạy nhiều. Lấy chuyện hôm nay làm ví dụ, hôm qua ta dặn ba ty giờ Thìn ba khắc hôm nay phải tới giáo trường đợi lệnh, kết quả nhất thời sai sót, nói thành giờ Thìn ba khắc tới giáo trường tập hợp; Lưu đô ty đến đúng giờ nhưng bị ta hiểu lầm, giáo huấn hắn một lát, bản tướng bây giờ nhớ tới vẫn còn xấu hổ.

Bào Tận Thẩm cười khẩy, liếc nhìn Lưu Sĩ Dung, vui tươi hớn hở nói:
- Đại nhân nói như vậy cũng không tính là nói sai. Ha ha, nhưng... Diễn võ cũng không phải là đại sự gì, tới muộn thì thôi, người ta nói quan mới vừa nhậm chức đốt ba đống lửa (tân quan thượng nhiệm tam bả hỏa (1)), thật ra chỉ sơ sơ là được rồi. Đám binh sĩ lưu manh này cũng không cần phải làm quá.

Dương Lăng mỉm cười nói:
- Bản quan nếu có lão tướng đức cao vọng trọng như Bào đại nhân giúp đỡ, trong quân trên dưới đồng lòng thì cần gì phải đốt ba đống lửa chứ? Do đó lão tướng quân phải mau khỏi bệnh đi thôi. Tuy nói trong quân không có chiến sự phát sinh nhưng những thứ tạp vụ thường ngày thì bản quan nhất thời xử lý tới sứt đầu mẻ trán.

Bào Tận Thẩm vội đáp:
- Đại nhân có thể được Hoàng Thượng ân sủng xem trọng thì làm sao đến cả chút việc như thế mà cũng không xử lý ổn chứ? Ha ha, đại nhân quá khiêm tốn rồi. Hai ngày trước trong quân không có tướng, ty chức đành phải cố chống đỡ thôi. Bây giờ Dương đại nhân tới rồi, ty chức cuối cùng cũng có thể nghỉ ngơi, trong quân nhiều việc còn phải nhờ Dương đại nhân quan tâm tới.

Dương Lăng lập tức đứng dậy nói:
- Cũng nên thế, nên thế. Bào tướng quân chưa lành bệnh vậy rất cần nghỉ ngơi. Chuyện trong quân hà tất phải lo lắng, bản quan xin được cáo từ…

Dương Lăng đi đến cửa, hít hít mũi, ngửi thấy trong phòng có mùi rượu liền cười lạnh rồi ngang nhiên đi ra ngoài, bỏ lại Bào Tận Thẩm và Lưu Sĩ Dung ngạc nhiên nhìn nhau.

*********************************

- Liễu Bưu, ngươi chạy về Cẩm Y Vệ ngay lập tức. Nếu Trương đại nhân về Thiên Tân vệ rồi thì tới ngay chỗ Tiền Ninh Tiền đại nhân, ngoài ra tới Đông Xưởng gặp Phạm công công mời Xưởng Vệ ra mặt. Cho dù phải đào sâu ba thước thành Bắc Kinh cũng phải tìm cho ra mấy thứ gia vị mà Bào phó tham tướng thích ăn. Nhất Thanh, đi! Chúng ta đi tìm quan Trung quân tâm sự!

- Hồ trung quân, bản tướng vừa mới nhậm chức, cũng không hiểu lắm về vai trò của chánh phó tham tướng, ngươi mau nói lại cho ta nghe.

...

- Hay lắm! Bản quan hiểu rồi. Bào phó tham tướng ốm liệt giường không thể làm việc nặng cho nên bản tướng không dám trách ai. Thầy ký, nhớ kỹ rằng từ hôm nay trở đi mọi việc trong quân đều do bản quan tiếp quản. Việc lương thảo, quân tư trọng yếu nếu không có bản quan đóng dấu thì không được chi dụng. Phát lương bổng, những chi phí đi lại nếu không có bản quan kí tên, bất luận là ai cũng không được xài. Ngoài ra, ngày mai chính là ngày phát lương phải không? Lương bổng của Đệ tam ty tạm thời không phát. Đêm qua bản quan nhận được khiếu nại nói là đệ tam ty có mấy sáo trưởng, bả tổng giả mạo lĩnh lương, để ta điều tra rõ rồi trả lời.

- Mấy tên tiểu lại cấp dưới giả mạo ăn lương khống, làm bại hoại quân kỷ, phải trừng phạt nghiêm. Sau này, việc lên chức điều động sĩ quan cỡ thập trưởng trở lên phải có bản quan gật đầu, nếu không sẽ không có hiệu lực.
Dương Lăng cười lạnh đi đến cửa, rồi quay đầu lại dặn dò:
- Giữa trưa hôm nay chuẩn bị một mâm cỗ to, ta phải mở tiệc chiêu đãi Liên đô ty.

“Tên Bành mập không phải thích làm cỏ đầu tường sao? Được, vậy trước tiên cứ ở trên đầu tường đi, đỡ phải vướng tay vướng chân.”

Quan trung quân len lén lau mồ hôi. Vị tham tướng đại nhân hào hoa phong nhã này lợi hại thật, vừa cười cợt vừa lấy sạch quyền của Bào phó tham tướng. Trước kia cũng từng thấy tướng lĩnh trong quân lục đục với nhau nhưng đều chỉ chạy loanh quanh mua chuộc lòng người, còn thường thì chỉ đọ sức võ công một phen, đâu có ai dùng chiêu nham hiểm như vậy.

Quan trung quân là chức quan phụ trách nội vụ trong quân đội. Phụ trách nội vụ vốn là công việc béo bở, hôm nay thấy thủ đoạn của Dương Lăng, Hồ trung quân sợ Dương Lăng đại nhân tận trung vì nước, cúc cung tận tụy không ngại vất vả cực nhọc lấy béng luôn cả việc của mình bèn cười nịnh, nói:
- Dạ dạ dạ, đại nhân yên tâm, ty chức lập tức thông báo cho Bào đại nhân, giữa trưa chuẩn bị một mâm cỗ tốt nhất.

Dương Lăng nghe xong nhướng mày, lạnh lùng nói:
- Không phải nói là Bào đại nhân nằm liệt giường, mọi việc không phải xin chỉ thị của hắn sao? Bản quan nói mà ngươi cũng không nghe à?

Hồ trung quân luống cuống, vội vàng nói:
- Đại nhân hiểu lầm, ty chức nói Bào đại nhân đây không phải là Bào đại nhân, không phải đâu. Ý ty chức nói là Bào đại nhân, không phải Bào phó tham tướng, là đường đệ của hắn mà. Đây là, quan phụ trách mua sắm cho Tả tiêu quân, Bào Tận Trung Bào đại nhân.

- Hả?
Dương Lăng sáng mắt lên, đập đập chiếc roi ngựa trong lòng bàn tay, trầm ngâm hồi lâu rồi mới cười khà khà nói:
- Quan mua sắm à? Vậy năm ngàn quan binh trong đại doanh chúng ta ăn tiêu, chi phí đều là do hắn phụ trách phải không?

Hôm sau, Tả Tiêu quân được phát lương, quan binh đệ tam ty một xu cũng chẳng có, tìm đến quan quân nhu hỏi thì được hắn nói là: Nửa đêm hôm qua có binh lính dùng giấy bọc đá ném vào phòng ngủ tham tướng đại nhân, báo là đệ tam ty có mấy người quản lý báo cáo láo, giả mạo lĩnh quân lương, do đó tiền lương của đệ tam ty phải đợi Tổng binh đại nhân tra ra chân tướng mới có thể phát được.

Quan quân nhu bị Lưu Sĩ Dung chửi cho một trận, lại chạy tới truy vấn tham tướng đại nhân khi nào thì mới có thể tra ra... thân binh tham tướng là Liễu Bưu trịnh trọng nói cho hắn một chuyện lạ: Tham tướng đại nhân trước mắt bận quá, đang chỉnh đốn doanh vụ, nhân vì sáng sớm hôm nay khi tham tướng đại nhân ăn điểm tâm, không ngờ ăn phải một con gián chết, tham tướng đại nhân vì thế nổi trận lôi đình, đến thức ăn của sĩ quan đã như vậy, thứ mà binh sĩ bình thường ăn còn là đồ cho người ăn sao? Do đó tham tướng đại nhân yêu binh như con đang xét xử quan mua sắm. Về phần tra có ra việc có lương khống không thì cứ về đợi tin tức đi.

Dương Lăng đã nổi giận thật sự. Dưới ánh mắt của năm ngàn quân binh dám hết lần này tới lần khác trêu vào chủ tướng ba quân, có là phật tổ thì cũng phải tức giận. Hắn nếu đã dám coi khinh đắc tội thượng quan thì phải chuẩn bị gánh chịu mọi trách nhiệm. Dương Lăng chưa từng lãnh binh nhưng y biết khi bắt tay vào chuyện gì cũng cần nắm hai việc, một là quyền quản lý nhân sự, hai là quyền quản lý tài sản, kinh nghiệm, uy vọng, đức cao vọng trọng gì thì cũng đều chỉ do mình dựng nên. Binh lính không có lương, hắn còn kính trọng ngươi nữa không? Đi theo ngươi một tên quan không tiền đồ, dù ngu tới đâu cũng không theo mãi được.

Trong ty mua bán ,Bào Tận Trung cười lạnh nói:
- Tham tướng đại nhân, năm ngàn tráng hán một mùa đông ăn bao nhiêu rau củ? Làm sao mà tính rõ được? Hơn nữa tính đến thịt cá, mấy đại nhân cũng phải ăn uống, đúng không!
Hắn quơ lấy một bao tải, chỉ vào đống sổ sách hỗn độn bên trong nói:
- Hạ quan phải mua bán hàng ngày chạy đi chạy về rất mệt mà bên người lại thiếu người giúp đỡ, biết ghi sổ đóng dấu cũng chẳng có ai thì nói gì đến tính toán rõ ràng. Mấy chuyện thu chi này ai mà tính cho rõ được chứ? Dù sao hạ quan cũng không có tham ô, đại nhân không tin thì cứ việc đi mà kiểm tra.

Dương Lăng nhìn một đống sổ sách để chật ba bao tải cũng không khỏi đau đầu. Việc tước lấy quyền quản lí, nắm quyền điều động nhân sự tất nhiên có thể áp chế được Bào Tận Thẩm nhưng không thể cướp đoạt quyền chưởng quản quân giới, súng, thuốc nổ, đây là thủ đoạn kiềm chế lẫn nhau của hoàng gia. Nếu muốn làm hắn ngoan ngoãn chịu thua để từ đó nói gì nghe nấy, phối hợp với kế hoạch luyện binh tất phải nắm được đuôi của hắn. Nếu nắm được chứng cớ chính xác hắn tham ô quân lương, chẳng phải hắn sẽ ngoan ngoãn phục tùng sao? Nhưng tìm đâu ra trợ thủ có thể tìm ra khoản này đây?

Dương Lăng đang ưu sầu bỗng có tên lính hổn hển chạy vào, kêu lên:
- Đại nhân, huynh đệ của ngài tới thăm, hạ quan không nhìn ra được thân phận nên không dám tự tiện cho vào doanh, xin đại nhân tự mình đến xem.

- Huynh đệ ta à?
Dương Lăng giật mình, chẳng lẽ là Đông Xưởng hoặc Cẩm Y Vệ lại phái một tên đao phủ chỉ biết đánh giết tới giúp mình sao? Yliếc nhìn Dương Nhất Thanh thì hắn cũng khẽ lắc lắc đầu, tỏ vẻ không biết gì.

Dương Lăng đá vào đống sổ, nói:
- Bào thu mua, ngươi không cần mạnh miệng, bản quan vị tất đã không tra được ba bao này. Nhất Thanh, ngươi ở lại đây canh chừng, bản quan ra cửa doanh xem một chút.

Bên trong hàng rào cửa doanh cao nửa người có vài tên lính đang đứng ngó nghiêng bảy tám người bên ngoài. Dương Lăng từ xa đã thấy đại hán vóc người khôi ngô chắc khỏe chính là nhạc phụ Hàn Lâm. Nhạc phụ cũng đã tới nơi này rồi vậy Ấu Nương nhất định cũng tới đây. Dương Lăng mừng quá quất một roi vào mông ngựa, giục ngựa đến cửa doanh mới ghìm cương, cao giọng quát:
- Mau mau mở cửa doanh.

Vài tên lính quay đầu lại thấy tham tướng đại nhân tới vội vàng xoay người khúm núm, cùng kêu lên:
- Tham kiến đại nhân.

Lúc này chỉ nghe ở ngoài hàng rào có một tiếng hô yêu kiều thanh thoát:
- A! Một vị tướng quân thiếu niên anh tuấn quá!

Dương Lăng nhìn lên, thấy người vừa nói chuyện chính là một tiểu thư sinh cầm quạt giấy cũng chỉ khoảng mười ba mười bốn tuổi, mặc một bộ áo dài xanh, đầu đội khăn công tử, khóe môi có một nốt ruồi mỹ nhân, bộ dáng còn yêu kiều hơn cả nữ tử tuyệt đẹp ba phần. Dương Lăng chỉ cảm thấy bộ dáng của thiếu niên thập phần quen mắt, lại nhìn chăm chú một lát, đột nhiên kêu lên một tiếng kinh hãi:
- Là ngươi?!

Tiểu thư sinh đó mới vừa rồi chỉ nhìn một bên, thấy vị tướng quân thiếu niên này mặc giáp đội mũ oai hùng bất phàm, đang mở to đôi mắt như hoa đào thích thú, nhưng vừa thấy y quay mặt lại cũng không khỏi kinh hỉ chỉ vào y gọi nói:
- A! Là... là y!

Dương Lăng lúc này mới nhìn thấy bên cạnh tiểu thư sinh đó còn có ba công tử đang đứng. Một người có vẻ tuấn tú, một người hơi mập mặc áo thư sinh màu tím nhạt, người còn lại đầu đội mũ quả dưa, mặc áo bó lưng tay hẹp, mặt mày tươi rói, đoan trang yêu kiều, chính là Hàn Ấu Nương...


Chú thích:

(1) Ý là quan viên mới lên chức thường dùng những biện pháp cải cách hay những chính sách mới.
Điển cố: Thời Tam Quốc khi Gia Cát Lượng làm quân sư cho Lưu Bị, trong một thời gian ngắn đã ba lần dùng hỏa công đánh Tào Tháo. Lần đầu hỏa thiêu sườn núi Bác Vọng làm mười vạn quân Tào của Hạ Hầu Đôn còn được vài người. Lần thứ hai ở Tân Dã dùng hỏa công, thủy yểm diệt sạch mười vạn quân của Tào Nhân, Tào Hồng. Lần thứ ba hỏa thiêu Xích Bích trăm vạn quân Tào thảm bại, rốt cuộc chỉ còn 27 người theo Tào Tháo chạy thoát. Bấy giờ người ta gọi ba lần đốt lửa này là “Gia Cát lượng mới nhậm chức đốt ba đống lửa”. Về sau thì thành “Quan mới lên nhậm chức đốt ba đống lửa”
Nguồn http://baike.baidu.com/view/350204.htm


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 02:52 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 81: Mưu Mô



Dịch: workman

Biên dịch: lht

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- Tận Trung! Chọn những huynh đệ tuyệt đối tin cẩn cho cải trang, nạy hàng rào phía sau núi, giả làm cường đạo vào trại quân ăn trộm, sau đó chạy thẳng tới phủ tham tướng giết quách bốn con đàn bà đó, đốt sạch sổ sách cho ta!



------------------------

Chương tám mươi mốt Mưu Mô

------------------------


Dương Lăng nhìn thấy ánh mắt hâm mộ của ái thê và ba thiếu nữ, máu anh hùng nổi lên ầm ầm. Y không vội xuống ngựa, mà vẫn hiên ngang ngồi ngay ngắn trên yên, đợi đám binh sĩ mở cửa rào ra mới hai tay chống yên, lắc mình uy phong lẫm liệt nhảy xuống ngựa, trông rất tiêu sái.

Đáng tiếc thay, chiến bào hắn đang mặc toàn bằng lá sắt, nặng trên bốn mươi cân, đã nhảy lên rồi cộng thêm đà rơi xuống nên càng nặng hơn. Cả người Dương Lăng lảo đảo, chút nữa ngã nhào xuống đất, may mà có hai tiểu tốt đứng cạnh vội vàng chạy tới đỡ.

Dương Lăng giơ tay chộp chiếc mũ trụ sắp rơi, cười gượng nói:
- Ắc... Vết thương trên người chưa lành hẳn. Ha ha, chưa lành hẳn.

Ngọc Đường Xuân thấy y cố sĩ diện, không kìm được phì cười, rồi vội vàng bịt miệng lại. Mặt nóng bừng, Dương Lăng không dám nhìn mặt mấy vị cô nương, luống cuống bước lên phía trước thi lễ với Hàn Lâm:
- Nhạc phụ! Tiểu tế đang mong các vị đến kinh, xin mau mau vào doanh trại ngồi chơi.

Cha con Hàn Lâm nghe Ngô Kiệt báo tin Dương Lăng không tuân thánh chỉ, đưa Ấu Nương đi khắp chín cửa thành tìm thầy thuốc, chỉ sợ vào đến Bắc Kinh thì cả nhặt xác cũng không kịp, nên lòng nóng như lửa đốt chạy cả ngày đêm, trên đường không dám nghỉ một chút nào.

Vừa vào phạm vi kinh sư, bọn họ liền nghe dân chúng loan truyền đủ loại sự tích về việc Dương Lăng kháng chỉ cứu vợ, nhưng kết cục đều như nhau: thị độc Dương Lăng có nghĩa có tình, đương kim thiên tử anh minh vô cùng. Chỉ tiếc gần đây thành Bắc Kinh vẫn chưa có mưa, nếu không việc Dương Lăng cứu vợ cảm thiên động địa nhất định cũng sẽ được dựng thành kịch trình diễn mất rồi.

Bốn cha con tới nhà Dương Lăng, lại thấy mấy cô oanh yến líu lo, e thẹn vào ra làm cho lão Hàn Lâm thật thà cả kinh chết lặng người, tưởng rằng chỉ chưa đến vài tháng mà con rể đã một hơi nạp tới bốn phòng thiếp rồi, tốc độ thật khiến cho người ta hết hồn. Mãi đến khi Ấu Nương rỉ tai lão kể lại thân phận và lai lịch của nhóm Đường Nhất Tiên, Hàn Lâm mới tỉnh ngộ.

Ba người Tuyết Lý Mai ở nhà rất buồn chán, thấy người trong gia đình Ấu Nương muốn đi thăm Dương Lăng, cũng cực kỳ hứng thú đi theo. Phụ nữ ra khỏi cửa cũng có nhiều thứ không tiện, huống chi bốn cô thiếu nữ xinh đẹp như tiên này. Ba cô từng lẻn lên phố chơi, mua mấy bộ áo công tử, áo võ sĩ, nay bèn thi nhau mặc. Đường Nhất Tiên và Ấu Nương vóc người xấp xỉ nên mặc áo công tử, đưa áo võ sĩ cho những người kia. Tám người chỉ để nha hoàn Tiểu Vân giữ nhà, còn đều tới trại quân cả.

Thấy Dương Lăng bảo họ vào doanh, Tuyết Lý Mai lặng lẽ giật giật vạt áo y, lo lắng hỏi:
- Dương đại nhân, quân đội không cho phụ nữ vào doanh trại đâu. Bọn tôi đi vào... có tiện không?

Dương Lăng không để ý lắm tới tiểu tiết. Đã là gia thuộc vào thăm thì có gì mà không cho, huống chi các nàng mặc quần áo nam nhân, cũng có thể bịt mắt thiên hạ. Dương Lăng khoát tay nói:
- Có gì đâu, có khi nào mọi người trong doanh trại lại nói chứ? Huống hồ... ha ha, các cô tới rất đúng lúc, ta đang có việc định nhờ các cô hỗ trợ. Tới đây, xin mời vào trong, chúng ta từ từ bàn lại.

Mùi son phấn của các vị cô nương quá nồng, mấy tên tiểu tốt gác cổng sớm đã biết rõ rồi, chỉ là không dám nói gì. Dương Lăng dẫn mọi người vào, đưa đến trướng tham tướng, bày rượu khoản đãi. Nói chuyện một lát y mới biết Hàn Uy đã cưới cô nương Trương gia ở Kê Minh làm vợ hơn một tháng rồi.

Vốn Dương Lăng có ý định khi anh em Hàn gia tiến kinh thì ở nhà mình chơi vài ngày. Một bên là nam nhi anh tuấn, một bên là giai nhân xinh đẹp, không biết chừng có thể lâu ngày sinh tình, ai ngờ Hàn Uy đã thành thân rồi.

Hàn Võ tuy mười tám mười chín tuổi nhưng vẫn chỉ là một chàng thiếu niên to xác. Cả ba mỹ nhân như hoa tự ngọc, cả người thơm phức, thế mà hắn cũng chẳng thèm nhìn lại mò vào đống binh khí giáp trụ trong trướng Dương Lăng, thích tới không buông tay ra được, cứ loay hoay mãi, đến cả cơm cũng chẳng ăn cho xong. Xem bộ hai bên cũng không thể phát triển được.

Ba người Ngọc Đường Xuân nghe Dương Lăng kể với Hàn Lâm về những việc phát sinh sau hai ngày vào trại nhậm chức, cũng sinh ra mối thù chung. Hơn nữa, việc đóng vai Thanh Thiên Đại lão gia quyết toán sổ sách, bắt bọn tham quan rất thú vị, nên vừa ăn cơm xong các cô liền giục Dương Lăng mau mau đem sổ sách tới, muốn thể hiện tay nghề ngay lập tức.

Dương Lăng ra lệnh thân binh dẫn người đi Thải Bạn Ty (bộ phận phụ trách mua sắm) cùng Dương Nhất Thanh đem tất cả sổ sách về soái trướng. Nơi Dương Lăng ở soái phủ dành cho tham tướng, đó là một tòa nhà dựa vào sườn núi thoai thoải, gồm ba viện nhỏ, mỗi viện đều phải leo mười bậc thang. Sổ sách mang đến được khiêng thẳng vào viện thứ ba, mang vào trong gian chính, đặt xuống nền nhà, rồi đem giấy mực mời mấy vị cô nương kiểm tra.

Ba người Ngọc Đường Xuân đã từng học về việc tính sổ. Nhìn qua là biết những sổ thu chi hỗn loạn không chịu nổi rồi, hơn nữa Dương Lăng thấy các nàng kiểm kê theo thứ tự, rồi dùng phương pháp ghi sổ liên tục. Như thế, muốn có được kết quả phân loại, thống kê, tăng giảm thu chi thì vô cùng phiền toái.

Dương Lăng bèn lấy một mảnh giấy, vẽ một cái bảng ba cột đơn giản. Muốn vài lời ngắn gọn mà giải thích rõ ràng về những nguyên lí Nợ Có cho các cô nương này là việc không thể làm được. Do đó, Dương Lăng dùng phương pháp ghi sổ thu chi đơn giản nhất, rồi làm thử một cái trên bảng, sau đó giảng giải cho các nàng một lượt.

Loại phương pháp ghi sổ này rất đơn giản dễ hiểu, ghi chép cũng rất rành mạch, hơn nữa cuối cùng lại có thể ghi số tổng cộng. Mấy vị cô nương đã có căn bản, người lại vô cùng thông minh, nghe y giảng giải một chút là thấy rõ ưu điểm của phương pháp ghi sổ này. Chỉ là Dương Lăng khi giảng còn ghi vào trong giấy những kí hiệu ngoằn ngoèo quái dị, bốn vị cô nương không ai biết được cả.

Chỉ cần nói vài lời đơn giản mà các nàng có thể nghe hiểu phương pháp ghi sổ của Dương Lăng nhưng việc dạy số Ả rập lại không dễ dàng. Không ngờ các cô nương không quen với mấy con số 12345 nên mỗi lần kết xuất một con số, các nàng luôn theo thói quen tính rồi viết bằng chữ Hán trước, sau đó mới so sánh rồi phiên dịch thành ra cái thứ số trông như gà bới đó.

Qua một lúc lâu, sau khi mỗi người kiểm tra xong một quyển, các cô mới dần dần thích ứng với loại con số đơn giản mà tân kỳ này. Tốc độ làm việc cũng nhanh hơn.

Bốn kế toán thu chi này bận mù mịt, đến cả Ấu Nương cũng hứng thú hừng hực làm việc rất hăng say, hoàn toàn không có thời gian để ý đến Dương Lăng. Sực nhớ vẫn còn để cha vợ bơ vơ ở trong đại sảnh, y liền vội vàng chạy ra tiền sảnh.

Vừa vào cửa, Hàn Mãn Thương đã hào hứng nhảy tới, níu chặt cánh tay y nói:
- Tỷ phu! Đệ và ca ca thương lượng rồi, muốn gia nhập đội quân của tỷ phu, huynh là Đại tướng quân, có thể làm được việc này không?

Hàn Võ đang kéo bảo kiếm của Dương Lăng ra thưởng thức, thích tới không buông tay ra được, lúc này cũng đưa ánh mắt nóng rực nhìn y. Dương Lăng hơi trầm ngâm, nhìn Hàn Lâm hỏi:
- Nhạc phụ! Ý cha ….

Hàn Lâm cười nói:
- Chúng đã thích, ta cũng không ngăn cản. Chỉ là chẳng biết Lăng nhi có khó xử gì không?

Lúc này Dương Lăng mới gật đầu đáp:
- Con có quyền tuyển quân nhập ngũ. Huống hồ con phải lập tức thanh lý đám ăn không ngồi rồi, phỏng chừng trong quân sẽ có không ít chỗ trống.

Mãn Thương vui vẻ:
- Vậy thì thật tốt quá. Tỷ phu là Đại tướng quân, vậy cho đệ làm sĩ quan nhé. Lúc đệ ở Kê Minh Dịch, thấy Giang bá tổng mang binh đi rất uy phong, đệ hâm mộ muốn chết luôn.

Hàn Lâm nghe thế lập tức nói:
- Việc này không được! Lăng nhi, không thể làm theo lời chúng được!

Mãn Thương trợn tròn mắt hỏi:
- Tại sao không được? Tỷ phu cai quản nhiều binh như vậy, phân cho con khoảng một trăm người để quản thì sợ cái gì? Con cũng không tin bằng vào võ nghệ của con, mấy tên lính đó dám không phục!

Hàn Lâm nói với Dương Lăng:
- Lăng nhi! Ngươi để cho chúng gia nhập quân đội thì ta không phản đối, nhưng phải đi từ binh sĩ mà lên, muốn thăng quan phải bằng vào tài năng của chính mình. Nếu chỉ dùng người thân thì chẳng phải sẽ ảnh hưởng tới ngươi sao?

Dương Lăng cười đáp:
- Lăng nhi cũng có ý như vậy. Mãn Thương, đệ nhìn tỷ phu vừa thăng quan thì chẳng biết trong quân đã có bao nhiêu tướng quân không phục rồi. Từ lính từ từ lên quan mới có thể khiến cho mọi người kính phục, mới có thể học được nhiều kiến thức, bản lãnh mới. Trong quân có rất nhiều sĩ quan không biết chữ. Đệ và hai vị huynh trưởng võ nghệ xuất sắc, lại từng đọc sách, nếu làm tốt thì tự mình có thể thăng quan. Nếu bây giờ ta lại cho đệ một chức quan, thì có gì mà vinh quang chứ?

Hàn Võ, Hàn Mãn Thương nghe y nói có lý, đều khẽ gật đầu. Dương Lăng lại nói:
- Trước mắt khi hai người vừa vào trong quân, ta thấy... trước hết quan hệ giữa chúng ta đừng để lộ ra ra ngoài. Tuy bảo rằng tiến cử cũng không ngại người thân, ta tin vào bản lãnh của các người, nhưng dù sao cũng có lắm kẻ nhiều chuyện. Còn nữa, nhạc phụ, con thấy người cũng đừng trở về Kê Minh, nhạc phụ một thân võ nghệ, không bằng cũng gia nhập quân đội. Người thấy thế nào?

Hàn Uy xen vào:
- Cha, muội phu nói có lý. Bây giờ nhị đệ tam đệ đều nhập ngũ, tiểu muội cũng ở kinh sư, người ở lại đây cũng đỡ phải lo lắng.

Hàn Lâm hơi động tâm, ngần ngừ một lúc rồi hỏi:
- Vậy... chẳng lẽ con trở về Kê Minh một mình sao?

Hàn Uy liếc mắt nhìn Dương Lăng, khuôn mặt hơi đỏ lên:
- Tuy con từng đọc sách, nhưng không có công danh. Lần này trở về cũng chỉ cả đời làm dịch tốt thôi. Nếu được nhập ngũ, không biết chừng con có thể kiến công lập nghiệp, quang vinh về quê, nhưng... thoáng cái mà bắt muội phu phải thu xếp cho nhiều người như vậy, có thể không tiện.

Dương Lăng vui vẻ đáp:
- Tiện! Sao mà không tiện? Hôm qua đệ đọc danh sách binh lính thấy có rất nhiều cặp cha con, anh em cùng đội ngũ lắm. Cứ như vậy đi! Ấu Nương một mình ở nhà, đệ cũng sợ nàng buồn. Có chị dâu tới ở với nàng, vậy cũng tốt!
Ha ha, bây giờ thì chúng ta quả thật là anh em cùng chiến đấu, cha con cùng ra trận rồi. Có các vị giúp, tú tài như ta lãnh binh cũng có thể tự tin hơn nhiều!

*********************************

Bào tham tướng ngồi trước giường lò uống rượu, mày cau tít lại.

Bào Tận Trung ngồi đối diện, lo lắng nói:
- Đại ca! Tên mặt trắng này rất âm hiểm. Thủ đoạn mềm dẻo cười cợt vui vẻ mà xuống tay thật nặng. Bây giờ hắn đem ba bao tải sổ sách đi rồi. Tuy vốn đệ không nhớ được đầy đủ trong đống hỗn độn đó có gì nhưng lỡ xui xẻo bị hắn tìm thấy chút đầu dây mối nhợ gì đó thì chúng ta làm sao bây giờ?

Bào tham tướng nghe thế rất phiền lòng. Hắn nhấc chén rượu lên uống cạn một hơi, cười lạnh nói:
- Cho hắn kiểm tra, có gì mà lo. Nếu thật sự điều tra ra thì cũng không phải chuyện lớn. Chẳng qua ngươi chỉ bị đánh vài côn rồi đuổi ra khỏi quân doanh, ta sau đó nhờ người đổi chỗ khác cho ngươi. Hừ! Mấy việc nhỏ như vậy, hai tên phó tướng họ Trương, họ Lưu còn không mở một mắt nhắm một mắt à? Ngươi cho rằng mông bọn chúng sạch sẽ lắm sao.

Bảo Tận Trung khiếp vía thốt:
- Nhưng... nhưng... Nhưng mà đệ sợ hắn tra được sự kiện đó. Nếu việc đó bị tra ra, chắc là đứt đầu đó!

Bào tham tướng nghe xong cũng chấn động. Hắn phẫn nộ hỏi:
- Cái gì! Tên ngu xuẩn này đem vật kia ghi cả vào sổ à?

Bảo Tận Trung vẻ mặt đau khổ, sợ hãi rụt rè đáp:
- Đại ca, mấy đồ vật đó... Mỗi lần chỉ có thể trộm ra từng nhóm nhỏ đưa ra ngoài, hơn nữa người giao nhận cũng rất kỹ, hàng vào tay mới chịu đưa bạc. Đệ không ghi lại vào sổ thì làm sao nhớ được?

- Khốn kiếp! Ngươi không biết lập riêng một quyển sổ cho mình à? Sao đến cả thứ đó cũng giao ra...?
Bào tham tướng nóng ruột thật sự. Nếu không phải tên em họ này luôn luôn trung thành, hắn sớm đã tát gã một cái rồi.

Bảo Tận Trung thở dài:
- Đệ chỉ định ghi để một mình mình xem thôi, nào ai biết mấy tên thân binh của Dương Lăng quả thực là đại hành gia xét nhà. Cặp mắt chúng quá độc, phòng trong phòng ngoài đi vài vòng, thứ gì có thể giấu đều bị móc ra cả. Nhưng... trong sổ đệ chỉ ghi than củi, vị tất hắn đã hiểu.

Lưu Sĩ Dung đứng lên, đi lại trong phòng vài bước, thần sắc không yên, nói:
- Bào đại ca! Nếu cứ tiếp tục như vậy, chúng ta sẽ bất lợi rồi. Bây giờ chúng ta không phát được lương, đám binh sĩ vô cùng bực tức. Ngày hôm qua hắn lại nói là muốn điều tra việc lương khống. Bây giờ một vài sĩ quan cấp cao cũng hoang mang rối loạn. Hay là chúng ta chịu thua thôi. Tiểu tử này sau lưng có thế lực, mà hắn cũng không phải loại hiền lành gì, cũng không nên trêu vào.

Bào tham tướng mặt tái nhợt, gằn giọng:
- Ngươi sợ à? Hừ, ta lăn lộn ba mươi năm trong quân, còn phải sợ một tên tiểu tử chưa ráo máu đầu như hắn à? Đấu không lại một tên non nớt như hắn sao? Hắn điều tra hả, có gì mà điều tra? Những sổ sách ấy cho dù hắn có hiểu, cũng phải tới Tết sang năm. Hơn nữa những đồ vật ấy...

Bào tham tướng cắn răng cười lạnh:
- Lượng dùng những thứ đó căn bản không có cách nào phỏng chừng. Ai biết chúng ta xưa nay luyện tập đã hao phí bao nhiêu? Cho dù hắn phát giác được số lượng sử dụng không đúng đi nữa, dù hoài nghi trong lòng thì cũng không nhân chứng, lại không vật chứng. Dựa vào vài điều nghi ngờ vu vơ, hắn có thể làm gì được một tướng quân tòng tam phẩm như ta?

Lưu Sĩ Dung do dự một chút, rồi từ từ lắc đầu đáp:
- Đại nhân! Người không chú ý sao? Hắn vừa tới đã dẫn theo hai thân binh, hiện bên người chỉ có một. Người kia chẳng biết đã ly khai khi nào. Chà, chúng ta cũng đã nghe nhiều về hắn. Ty chức bây giờ mới nhớ tới lúc hắn vừa tới, chính Phạm đốc công của Đông Xưởng tự mình đưa hắn tới. Vụ này có liên quan gì tới Đông Xưởng không?

Bào Tận Trung nghe thế hít mạnh một hơi lãnh khí. Mắt Bào tham tướng cũng không khỏi chớp lia lịa. Lúc này một tên thân binh vội vàng chạy vào, báo:
- Đại nhân, thuộc hạ vừa tìm hiểu được. Dương tham tướng lấy sổ sách không phải để tự mình kiểm tra, mà là đưa cho bốn sư gia từ ngoài vào trong doanh, bây giờ bọn họ đang làm việc trong phủ đó.

- A!
Bào tham tướng vịn án đứng dậy, mắt lóe hung quang, gằn giọng:
- Khá lắm Dương Lăng! Ngươi thật sự bỏ lắm vốn vào đây. Khinh lão Bào ta là thiện nam tín nữ à?

Thân binh lại báo tiếp:
- Đại nhân! Thật ra bốn sư gia đó là nữ cải nam trang. Mấy huynh đệ giữ cửa doanh trại đều tận mắt thấy rõ. Chắc hẳn Dương tham tướng cũng sợ nhiều người nhìn vào, nên đưa các nàng vào trong phủ tham tướng, ở tận trong viện cuối cùng lận.

Bào Tận Trung vui vẻ:
- Tốt lắm! Hắn là chủ tướng, lại đem phụ nữ vào trại quân. Ta lập tức tham tấu hắn, dẫn Trương phó tướng tới bắt hắn tại trận, xem hắn còn có gì để nói không.

Bào tham tướng nhướng mắt trả lời:
- Dám tự tiện đưa phụ nữ vào trại binh cũng không phải lỗi lớn gì, chỉ đánh hai mươi quân côn thôi. Tên tiểu súc sinh đó da mềm thịt non, vừa bị đánh ba mươi côn của Cẩm Y Vệ mà sau hai ngày đã có thể cưỡi ngựa được, rõ ràng là có người nương cho. Ngươi nghĩ rằng hai tên Trương Xuân, Lưu Thiệu Trung toàn là là đồ ngu à. Họ không biết cách thả cho hắn sao?
Với lại, đánh hắn hai mươi quân côn cũng có thể hả giận một chút, nhưng chúng ta vẫn còn bị hắn khống chế. Bây giờ hắn chuyên quyền độc đoán, lại nắm lấy đuôi của chúng ta không rời, không cho tên tiểu tử hung dữ ngạo mạn này ăn một cú thật ác, sau này hắn sẽ ngoan ngoãn được sao?

- Vậy … vậy phải làm sao bây giờ?
Bào Tận Trung nghe xong càng không có chủ kiến gì. Bào tham tướng đưa mắt lạnh lùng nhìn hắn, phất phất tay. Mấy tên thân binh hiểu ý vội rời khỏi phòng, đóng chặt cửa lại.

Bào tham tướng từ từ ngồi xuống, hai tay tựa án bảo:
- Các ngươi tới gần đây!
Đợi hai người tới gần, da mặt Bào tham tướng co rút lại, âm hiểm nói:
- Theo ý ta, một là không làm, hai là làm tới cùng. Cho hắn cá chết lưới rách luôn!

Lưu Sĩ Dung bỗng khựng người, đụng phải chén rượu ngã lăn, rượu đổ tung tóe khắp bàn. Hắn biến sắc, run giọng nói:
- Vạn lần không thể được! Đại ca, kế này không thể được. Đường đường một vị tham tướng bị ám sát trong đại doanh, nhất định mọi người sẽ chấn động, tính mạng chúng ta cũng tiêu luôn.

Bào tham tướng âm trầm cười, nói:
- Ai nói ta muốn giết hắn? Ta muốn giết bốn tên giả sư gia tới kiểm toán đó!
Hắn chỉ vào Lưu Sĩ Dung nói:
- Ngươi đêm nay mời tên họ Dương, nói là bản quan muốn giảng hoà với hắn. Ta đi dự tiệc, hắn nhất định sẽ cho là chúng ta cúi đầu chịu thua.

- Tận Trung, chọn những huynh đệ tuyệt đối tin cẩn cho cải trang, nạy hàng rào phía sau núi, giả vờ là cường đạo vào trại quân ăn trộm, sau đó chạy thẳng tới phủ tham tướng giết quách bốn con đàn bà đó, đốt sạch sổ sách cho ta!

Bào tham tướng mở to đôi mắt đỏ như máu, cười gằn nói:
- Bốn cô gái trẻ đẹp chết trong lều của hắn, dù hắn biết chính là ta làm, hắn cũng không lộ ra được. Hừ hừ, cho dù giết gà dọa khỉ vẫn không làm gì được hắn thì bấy giờ không còn sổ sách, hắn cũng không thể kiểm tra được mấy quyển sổ rối mù đó, đến lúc đó ta xem hắn có thể làm khó dễ được ta nữa không? Ha ha ha ha...

*********************************

Hàn Mãn Thương tuổi còn nhỏ nên Dương Lăng cho làm thân binh tùy tùng, sau đó cùng Hàn Lâm và hai anh vợ ra khỏi trướng soái. Trước hết y đưa họ tới đệ nhất ty. Liên Đắc Lộc thấy Dương Lăng tước binh quyền, đánh tham ô, tra lương khống, đủ mọi thủ đoạn ghê gớm, nên cũng cảm thấy kính sợ vị tham tướng trẻ tuổi này, vì vậy tự nhiên không dám chậm trễ, giải quyết ngay cho những người do y đưa tới.

Sau khi thu xếp ổn thỏa, Dương Lăng cùng Hàn Uy ra khỏi viên môn. Hai người đi dọc theo hàng liễu xanh, Dương Lăng rốt cục không kìm được nói:
- Đại ca! Sau khi trở lại xin thay đệ thăm hỏi Hoàng huyện thừa, Vương chủ bộ, Giang quản lý,...còn... Mã Liên Nhi cô nương có khỏe không?

Trong mắt Hàn Uy lóe ánh cười: “Muội phu cũng không nhịn được rồi, bây giờ y mới nhắc tới việc này.” Hắn che miệng ho nhẹ một tiếng, đáp:
- Hoàng huyện thừa mấy hôm trước đã thu xếp cho khách thương về nam chiếu cố Mã cô nương rồi. Hiện Mã cô nương đã theo thương đội trở về Kim Lăng rồi.

Chuyện Mã Liên Nhi, trong lòng cha con anh em họ đều đã đồng ý rồi. Từ khi biết Dương Lăng vì tiểu muội mà không tuân thánh chỉ, trong lòng Hàn Uy lại càng không có chút hiềm khích nào, càng cảm thấy tình cảnh vị Mã cô nương đó rất đáng thương. Hắn nhân tiện kể:
- Nghe nói Mã Ngang hứa gả em gái cho Tất đô ty làm thiếp. Ngày ấy Mã cô nương phi ngựa tiễn ngươi, Tất đô ty cảm thấy mất mặt, đã từ chối việc hôn nhân này. Mã Ngang thất sủng, trong quân không được như ý, ngươi vừa đi, hôm sau hắn đã tới dịch thự cãi nhau với Mã cô nương một trận. Anh em bất hoà, rốt cuộc ta chưa thấy Mã Ngang gặp lại nàng.

Dương Lăng bùi ngùi thở dài. Trước mặt anh vợ cũng không tiện có biểu hiện gì, y chỉ cắm cúi bước đi.

Hàn Uy liếc nhìn y, nói đầy thâm ý:
- Từ sau khi ngươi đi, Mã cô nương không mặc áo hoa, dùng lụa trắng che mặt, cũng không xuất hiện trước mặt người khác. Ta ở dịch thự cũng chỉ khi đưa rau gạo mới có thể gặp nàng.

Hắn nói rồi ngừng lại một chút, lấy từ trong lòng ra một vật nói:
- Trước khi Liên Nhi cô nương về Kim Lăng, đặc biệt có tới tìm ta, trao lại thứ này, nói là... nếu ngươi có thư về, xin tiện tay đưa cho ngươi. Ta vừa mới nhận được cách đây vài ngày, lần này có cơ hội tới kinh thành, ta mang đến cho ngươi luôn.

Dương Lăng dừng chân, nhận lấy vật. Đây là một cái túi gấm màu xanh sẫm thêu chim uyên ương, miệng túi được khâu kín bằng sợi tơ nhỏ. Hàn Uy thở dài, liên tục vỗ nhẹ lên vai y, trêu:
- Đại tướng quân quả là đa tình. Ngươi đã vì tiểu muội mà dám kháng chỉ, đại ca cũng không có ý kiến gì về việc này. Liên Nhi cô nương cũng yêu ngươi thắm thiết, nếu lúc nào tiện, ngươi nên sai người tới Kim Lăng thăm nàng, ta đi đây.

Dương Lăng nhìn theo Hàn Uy đi xa, lại cúi đầu nhìn túi thêu trong tay, mờ mịt ngồi lên tảng đá lớn ven đường.

Gió xuân thổi vi vu, những cành liễu rủ phất phơ quệt nhẹ vào vai y cũng làm rối loạn cả trái tim y.

Cảm tình với Ấu Nương giống như nước sữa hoà nhau. Mối tình khắc cốt ghi tâm này bất luận kẻ nào cũng không thay thế được. Y luôn luôn cho rằng yêu là phải chuyên nhất, phải yêu hoàn toàn. Đối với Liên Nhi tựa hồ y vừa cảm thông vừa có trách nhiệm. Nhưng khi ly khai Kê Minh dịch, y mới biết được, cô thiếu nữ đó cũng đã chiếm mất một phần tình cảm của mình.

Thế giới này, quan niệm tình yêu của mọi người khác với thời đại mình rất xa. Ở chỗ này lâu, có khi y cũng suy nghĩ không ra, rốt cuộc loại quan niệm tình yêu nào mới là chính xác. Rốt cuộc có phải bản chất tình yêu phải là chuyên nhất không? Hay vì từ bé đã được giáo dục như thế mà y có quan niệm như vậy?

Trong các loại tình cảm, loại tình cảm sâu sắc vĩ đại nhất hẳn là tình thân. Tình thân so với tình yêu lại càng có khả năng chịu đựng thử thách nhiều hơn, lại càng lúc càng sâu hơn. Nhưng tình thân có thể chia đều cho vài thân nhân, cũng không vì mình yêu quý một người mà lại làm nhạt đi tình thân với người khác, vậy tình yêu thì sao?

Y không biết. Y không biết thật. Y dám thề y rất yêu Ấu Nương. Có phải chết vì nàng y cũng sẽ không nhíu mày. Nhưng tại sao có khi trong lòng y lại hiện lên hình ảnh của một thiếu nữ khác?

Dường như Dương Lăng lại thấy thiếu nữ bạch y trắng hơn tuyết, toàn thân không chỗ nào không yêu mị đang nhẹ nhàng đi dọc theo sơn đạo tới gần mình, giống như một cây thược dược yểu điệu mông lung, yếu đuối vô cùng, đang mỉm cười ngọt ngào với y.

Y cúi đầu, lại nhìn xuống túi gấm trong tay, rút sợi tơ ra khỏi miệng túi, lấy từ trong túi gấm một cái khăn tay trắng, nhè nhẹ trải rộng. Những chữ viết đẹp đẽ, mềm mại như người đập vào mắt y:

Quân tự minh nguyệt ngã tự vụ.
Vụ tùy nguyệt ẩn không lưu lộ.
Chích duyến cảm quân nhất hồi cố.
Sử ngã tư quân triêu dữ mộ.
Hồn tùy quân khứ thiên nhai lộ.
Y đái tiệm khoan bất giác khổ.
Tích thán niên hoa như triêu lộ.
Hà thì hàm nê sào quân ốc?
Tam thập lục luân minh nguyệt hậu.
Đương vi quân tác nghê thường vũ.

Dịch nghĩa:
Chàng như trăng sáng, thiếp như sương mù
Mù theo trăng lặn mất, chỉ lưu sương lại
Cảm kích chàng từng quay đầu nhìn lại
Nên thiếp nhớ chàng suốt ngày đêm
Hồn theo chàng đi khắp muôn nơi
Y phục dần rộng, chưa thấy khổ
Chỉ tiếc tuổi trẻ dần trôi mất
Bao giờ mới xây tổ ấm (*) cùng chàng?
Sau ba mươi sáu mùa trăng nữa
Vì chàng thiếp múa khúc nghê thường!

(*): trích từ tích chim yến ngậm bùn xây tổ, ở đây ví chuyện nên vợ nên chồng (TheJoker)


Dịch thơ:

Thiếp tựa mù giăng chàng tựa trăng
Trăng lặn mù tan, đọng sương lan
Cảm lòng chàng một phen ngóng lại
Tim này nhớ ai bao ngày sang

Hồn theo chàng đến cuối chân trời
Thân gầy áo rộng lệ tuôn rơi
Xuân xanh tàn tận dường sương sớm
Khi nao hội ngộ hỡi người ơi

Ba sáu mùa trăng tỏ sẽ qua
Sẽ múa chàng khúc Nghê Thường ca...

(Hieusol)


Chú thích:


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 02:54 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 82: Gạo Vàng Gạo Trắng



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Ngọc Đường Xuân nhìn qua rồi nói:
- Đúng là hơi kỳ lạ, hơn nữa những thứ linh tinh khác đều ghi vào một quyển sổ to, tại sao chỉ có những than củi này lại được ghi riêng ở đây? Nhưng... số tiền chi tiêu ghi trên sổ cũng không lớn, mấy văn tiền này có đáng gì đâu chứ?

Đường Nhất Tiên ngồi trên ghế, rung đùi đắc ý hỏi:
- Tỷ chưa nghe chuyện “Gạo Trắng Gạo Vàng” à?



------------------------

Chương tám mươi hai Gạo Vàng Gạo Trắng

------------------------



Trước đại trướng của đệ nhất ty thuộc Tả Tiêu quân Thần Cơ doanh, sáu chiếc lồng đèn đỏ treo trên những cây trụ lớn chiếu sáng trưng mọi vật chung quanh.

Bào tham tướng và Lưu đô ty mặc giáp đội mũ đứng trước trướng, phía sau là vài tên thủ bị (*) và thiên tổng của Đệ nhất ty. Thấy xa xa có một đám người từ đại doanh phi ngựa đến, Bào tham tướng cùng Lưu đô ty lập tức ra đón, mặt nở nụ cười kính cẩn. Thấy vậy đám sĩ quan cấp cao phía sau bèn lộ vẻ hậm hực: sớm biết có ngày hôm nay, sao trước đây ngạo mạn chi vậy để sau lại phải cung kính?
((*): một chức võ quan thời Minh, là quan chánh ngũ phẩm; còn thiên tổng là quan chánh lục phẩm)

Bào tham tướng mặt mày hớn hở, không để ý gì tới ánh mắt người khác. Gã là kẻ kiêu dũng thiện chiến, nhờ công lao mà thăng chức, nhưng bụng dạ rất hẹp hòi, có thù tất báo, sao có thể chịu được việc người ngoài đối nghịch với hắn? Vừa nghĩ tới vẻ mặt khóc không ra nước mắt của Dương Lăng sau đêm nay gã cảm thấy vui sướng vô cùng, nên lúc này phải làm bộ làm tịch vẫn không lấy làm nhục.

Dương Lăng dẫn theo Dương Nhất Thanh, Mãn Thương cùng hai mươi thân binh hộ vệ chạy thẳng tới trước trướng mới nhảy xuống ngựa.

Bào tham tướng nhìn trang phục Dương Lăng cũng hơi giật mình. Hai ngày vừa qua, Dương Lăng đi khắp doanh trại, đi đến chỗ nào cũng mặc trọng giáp. Lần này gã đón ý Dương Lăng nên lúc này đám tướng lĩnh trong doanh ai cũng mặc giáp đội mũ như sắp xung phong ra trận vậy.

Thế nhưng bây giờ Dương Lăng lại mặc áo dài nho sỹ, đến cả thanh bội kiếm cũng chẳng đeo, nhẹ bước tới gần, chân không nhiễm bụi, hai dải băng của mũ nho phấp phới, anh tuấn khôn tả. Còn Bào Tận Thẩm dẫn hơn mười tướng quân mặc trọng giáp nặng nề, chiến bào giáp trụ khom người nghênh đón, giống như đang đón vương hầu tới giáo trường kiểm duyệt tam quân, khí thế đột nhiên thấp đi ba phần. Bào tham tướng cho rằng Dương Lăng cố tình chọc gã, trong lòng càng không kìm được giận.

Dương Lăng nhìn thấy đám tướng lĩnh giáp trụ đầy người, cũng hơi lấy làm lạ: ”trong quân ăn tiệc uống rượu mà phải long trọng như vậy sao! Sao không mặc thường phục nhỉ?” Y không kịp nghĩ nhiều, Bào tham tướng và Lưu đô ty đã nhanh chân bước lên chắp tay muốn bái. Dương Lăng vội bước lên một bước đở lấy, nói:
- Các vị đồng liêu, xin hãy đứng dậy! Đều là huynh đệ một nhà, ngày ngày gặp nhau, hà tất làm đại lễ như vậy?

Bào tham tướng tươi cười đáp:
- Đại nhân nhậm chức, mạt tướng cùng tướng tá trong doanh còn chưa được thiết rượu tẩy trần cho đại nhân. Đêm nay trăng thanh gió mát, đúng là thời điểm rất tốt, Lưu đô ty thiết rượu mở tiệc chiêu đãi đại nhân, chúng ta phải không say không về đó.

Dương Lăng mỉm cười, mắt thoáng nhìn Lưu đô ty. Thấy hắn thần sắc khẩn trương, cố rặn nụ cười, đôi mắt lại không ngừng nhìn Bào tham tướng, y không khỏi thầm cẩn thận vài phần.

Qua hai ngày tiếp xúc ngắn ngủi, y biết Bào tham tướng bảo thủ cố chấp, không coi ai ra gì. Bây giờ tuy thần thái Lưu đô ty mất tự nhiên, nhưng cũng phù hợp với tâm tính hắn lúc này. Còn vì sao Bào tham tướng lại nhiệt tình, bình thản, không hề bị ép mà lại cúi đầu như thế?

Xem ra bữa tiệc tối nay vị tất đơn giản như vậy. Dương Lăng quay đầu lại nhìn Dương Nhất Thanh đầy thâm ý. Dương Nhất Thanh ngầm khẽ gật đầu, vung tay lên. Hai mươi tên thân binh đứng dưới trướng, tay cầm cương ngựa, nửa bước không dời. Dương Lăng lúc này mới mỉm cười, cùng Bào tham tướng cầm tay vào trong.

**************

Trong phủ tham tướng, Ấu Nương và ba người Ngọc Đường Xuân đã kiểm kê được nửa túi sổ sách. Tuyết Lý Mai nhìn sang đống sổ sách đã xem xong, hạ bút lông xuống, xoa cổ tay cười nói:
- Ấu Nương tỷ tỷ, chúng ta nghỉ một chút đi. Xem tình hình này, sợ phải mất ba hai ngày mới xong, cũng không nóng vội làm gì.

Hàn Ấu Nương đang lục lọi đống sổ sách, nghe vậy đứng thẳng người dậy, tay đấm nhẹ vào lưng, nói:
- Thật tình, vừa mới ăn cơm xong đã làm phiền ba muội muội tới đây kiểm kê sổ sách. Tướng công nhà ta không được tinh tế, cũng không thèm đến thăm các muội, lại chạy tới chỗ Bào đại tướng quân ăn tiệc rồi. Thành thật xin lỗi!

Ngọc Đường Xuân nhanh nhẹn bày ra bốn chén trà, rót trà vào chén, không hề đổ một giọt nào. Nàng châm đầy một chén đưa cho Ấu Nương trước, rồi nửa đùa nửa thật nói:
- Muội thấy Dương đại nhân rất sợ ở cùng chỗ với chúng ta. Y đường đường là Đại tướng quân, chẳng lẽ còn sợ phụ nữ chúng ta sao?

Hàn Ấu Nương thấy nàng khẽ nhíu mày ngài, vẻ do dự băn khoăn lộ thêm vài phần u oán, trong lòng không khỏi thở dài: “E rằng ba vị cô nương này hiểu lầm rồi. Họ đối đãi với mình thường ngày hệt như tiểu thiếp đối với bà chủ, làm sao mà mình không cảm thấy chứ?
Đều do Thái tử ra lệnh không rõ ràng, bây giờ tạm thu xếp cho ba đại cô nương ở nhà mình, cũng không biết khi nào thì Thái tử mới có thể đưa cô nương Nhất Tiên vào cung. Tới lúc đó sẽ thu xếp cho hai cô nương kia như thế nào đây?”

Nàng nhận chén trà, thấy dưới ánh đèn những ngón tay nõn nà như ngó sen của Ngọc Đường Xuân mịn màng trong suốt như ngà, chẳng những da dẻ trắng mịn như ngọc, mà vẻ trí thức u nhã ấy càng làm tôn lên vẻ thanh lệ thoát tục ở nàng, khiến nàng giống như tiên tử hạ phàm. Ấu Nương bất giác hơi lấy làm lạ. Trong ba vị cô nương, nếu luận về tướng mạo, rõ ràng vị Ngọc Tỷ Nhi này hơn hẳn Tuyết Lý Mai và Đường Nhất Tiên một bậc, hơn nữa nàng có tính cách điềm đạm nho nhã, phong tư khá quý phái, sao mà Thái tử lại chỉ có tình ý với duy nhất mỗi Đường cô nương thôi nhỉ?

Thấy đôi mắt hờn trách của Ngọc Đường Xuân đang nhìn mình chằm chằm, Tuyết Lý Mai bên cạnh cũng ngóng tai lên lắng nghe, Ấu Nương đành phải lập lờ:
- Mấy vị muội muội đẹp như thiên tiên, bất kỳ nam tử nào tới gần cũng sẽ không tự chủ được. Đừng nói là tướng công nhà ta, muội không thấy nhị ca ta hôm nay đi cùng các muội tới đây, cũng không dám nhìn các muội lâu à?

Tuyết Lý Mai không nén được đỏ mặt nói:
- Bọn muội đều là nữ tử phận bạc như vôi, sao so được với tỷ tỷ có phước tốt. Dương đại nhân chưa tròn hai mươi đã là quan lớn tam phẩm của triều đình, tương lai xây dựng phủ đệ, kiến tạo nha môn, thậm chí cấp đất phong hầu cũng không phải là việc khó, đến lúc đó tỷ tỷ sẽ là nhất phẩm Cáo Mệnh rồi.
Đại nhân chuộc thân cho tỷ muội chúng tôi, cứu bọn muội thoát khỏi hầm lửa, bọn muội cảm kích tự đáy lòng, tình nguyện làm tỳ nữ nha hoàn. Nhưng đại nhân bây giờ cũng không nói gì, danh phận chủ tớ này mà không xác định sớm một chút thì bọn muội gặp đại nhân cũng không biết nên xưng hô thế nào cho phải nữa.

Nghe giọng nói của nàng rõ ràng rất muốn Ấu Nương minh xác thân phận của các nàng. Hàn Ấu Nương vừa bực mình vừa buồn cười, nàng liếc mắt nhìn tiểu nha đầu này, gắt giọng:
- Muội đó, nói thật dễ nghe, nếu không phải tướng công phụng... à thấy các người bị người ta bắt nạt, làm sao mà rước ba người về đây chứ. Làm nha hoàn gì chứ? Nhà tỷ nhiều tiền lắm à, bỏ ra một vạn lượng bạc chỉ để mua nha hoàn sao?

Bỏ số tiền lớn không phải mua nha hoàn, vậy là mua cái gì? Hàn Ấu Nương nói như vậy, Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai nghe mà vui sướng ra mặt. Hai cô nương lặng lẽ nhìn nhau, đều cảm thấy vui mừng: hôm nay cuối cùng cũng được tin chính xác của Ấu Nương, rốt cuộc không cần nửa đêm nằm trên giường thấp thỏm không yên, đoán mò xem tâm tư đại nhân nữa rồi. Trong lòng Dương đại nhân, lời nói của Ấu Nương tỷ tỷ còn hiệu nghiệm hơn cả thánh chỉ nữa đó.

Tuyết Lý Mai nâng chén trà lên, vội vàng uống cạn một hơi, rồi lập tức xắn tay áo, lộ ra cổ tay trắng ngần đầy đặn, vừa hăng hái mài mực vừa nói:
- Tỷ tỷ! Chúng ta hãy cố thêm, tranh thủ đêm nay kiểm kê luôn một bao đi. Có tìm được chứng cớ sớm thì lão gia chúng ta mới có thể trị cái lão Bào không biết điều đó.

Ngọc Đường Xuân uống nhanh ly trà, rồi nhanh nhẹn chạy tới đống sổ để trên mặt đất như một con bướm. Hàn Ấu Nương không hiểu toan tính của bọn họ, thấy chỉ có Đường Nhất Tiên vẫn không hề nhúc nhích, vội đảo mắt nhìn nàng. Chỉ thấy cô nàng ngồi trước bàn, hai hàng lông mày thanh tú nhíu lại cong vút, đang nhìn chằm chằm vào cuốn sổ trong tay với vẻ trầm tư, dường như không hề nghe các nàng nói chuyện.

Cô nàng cầm cán bút chốc chốc lại chọc vào gò má mịn màng của mình, rồi đột nhiên lắc đầu lẩm bẩm:
- Không đúng, nhất định quyển sổ này có vấn đề.

Ấu Nương nghe được vội ghé qua hỏi:
- Tiên nhi! Muội đã phát hiện ra điều gì rồi à?

Đường Nhất Tiên chỉ vào quyển sổ nói:
- Tỷ tỷ, tỷ xem quyển sổ này có gì bất bình thường không?

Hàn Ấu Nương nhìn chăm chú một chút, lấy làm lạ nói:
- Không phải là một quyển sổ ghi lại việc mua than củi à... Ồ! Đúng là không bình thường, quân doanh ở gần núi đã có củi gỗ để dùng, còn mua than củi làm gì?

Đường Nhất Tiên ”cười gian” vài tiếng, dương dương tự đắc đáp:
- Đây không phải là vấn đề. Trong doanh có những tướng tá cấp cao, việc sưởi ấm, ăn uống và nấu nướng trong trướng chắc chắn cũng cần phải có than củi. Tỷ tỷ đoán lại đi!

Nhìn kỹ một chút, Ấu Nương cũng phát hiện ra vấn đề, không khỏi hào hứng nói:
- Không bình thường, quả thật là không bình thường, quyển sổ này nhất định có vấn đề.

Ngọc Đường Xuân, Tuyết Lý Mai nghe vậy vội vàng sáp lại hỏi:
- Phát hiện được điều gì rồi sao? Cho muội xem một chút.

Hàn Ấu Nương chỉ lên trang giấy nói:
- Các muội xem, trên sổ ghi là tháng năm năm ngoái, mua năm trăm cân than củi, bên dưới là tình hình chi tiêu. Lại nhìn đây, mười bốn tháng tám, lại mua bảy trăm cân than củi.... Tại sao mùa đông mới dùng tới than củi để sưởi mà mùa xuân và hạ lại dùng nhiều như vậy?

Ngọc Đường Xuân nhìn qua rồi nói:
- Đúng là hơi kỳ lạ, hơn nữa những thứ linh tinh khác đều ghi vào một quyển sổ to, tại sao chỉ có những than củi này lại được ghi riêng ở đây? Nhưng... số tiền chi tiêu ghi trên sổ cũng không lớn, mấy văn tiền này có đáng gì đâu chứ?

Đường Nhất Tiên ngồi trên ghế, rung đùi đắc ý hỏi:
- Tỷ chưa nghe chuyện “Gạo Trắng Gạo Vàng” à?

Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai nghe xong nhất tề ồ một tiếng rồi thốt lên:
- Không sai, chuyện này cũng rất có thể.

Vụ án “Gạo Trắng Gạo Vàng” là chuyện xảy ra vài năm trước. Chuyện này chấn động kinh sư, nhà nhà đều biết. Ấu Nương không hay, nhưng ba người Ngọc Đường Xuân thì đều biết rõ.

Khi ấy tên đại hoạn quan Lý Quảng được vua Hoằng Trị tin yêu bị bệnh chết. Hoằng Trị mê tín thuật trường sinh bất lão của lão, cho Cẩm Y vệ tới phủ của lão tìm kiếm, lại tìm ra một quyển sổ, ghi lại số lượng gạo vàng gạo trắng trong nhà. Lúc đó hoàng đế Hoằng Trị không rõ ngụ ý của nó, còn không hiểu vì sao Lý Quảng cũng không có nhiều gia nhân lắm, mà lão lại cần mua nhiều gạo đến thế. Sau được đại thần giải thích, Hoàng đế mới biết số lượng đó để chỉ vàng và bạc, thế là trong lúc giận dữ đã ra lệnh cho người tịch biên gia sản của lão.

Tuyết Lý Mai phấn khởi nói:
- Không sai, không thể dùng giá tiền làm chuẩn! Một lạng cũng có thể chỉ một trăm lạng, một ngàn lạng. Nhưng than củi này rốt cuộc chỉ cái gì đây?

Đường Nhất Tiên giật quyển sổ lại, nhét vào trong lòng như bảo bối , hào hứng tới nỗi hai má đỏ bừng:
- Việc này để muội báo với Dương đại nhân! Đương nhiên đại nhân có thể điều tra được.

Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai thấy nàng giống như sợ người khác đoạt lấy công lao mình, không khỏi nhìn nhau bật cười.

Ngay lúc này, một giọng nói lạnh lẽo vang lên:
- Chỉ sợ Dương đại nhân cũng không điều tra được chuyện này đâu!


Chú thích:


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 02:57 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 83: Âm Mưu Rồi Hành Động



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Hừ! Lần này ta sẽ không lỗ mãng nữa, đánh rắn phải đánh giập đầu. Bào Tận Thẩm làm quan lâu như vậy, sẽ có không ít quan hệ cá nhân. Không nắm chắc hoàn toàn, ta sẽ không động tới hắn. Không nắm chắc hoàn toàn, sau này ta sẽ không gây thù chuốc oán với ai nữa!



------------------------

Chương tám mươi ba Âm Mưu Rồi Hành Động

------------------------


Theo giọng nói, rèm trúc chợt vén lên, một gã đàn ông mặc đồ đen, tay cầm đao thép bước vào. Trên đầu hắn quấn khăn đen che kín cả miệng mũi, chỉ lộ ra một cặp mắt hung ác.

Tuyết Lý Mai hoảng sợ thất sắc la lên:
- Ngươi là ai? Lại dám xông vào phủ tham tướng, không sợ mất đầu à!

Tên hắc y nghe vậy phá ra cười ha ha, đồng thời hai tiếng răng rắc vang lên, một cánh cửa sổ bị vỡ tan tành, lại có mấy tên cũng mặc áo đen cầm đao nhảy vào, vây các nàng vào giữa.

Ánh trăng rót vào cửa sổ, xa xa bọ kêu chim hót, gần đấy cây cối đong đưa, yên tĩnh vô cùng, nhưng trong bóng đêm im ắng này, sát khí lại tràn ngập khắp phòng.

Lại có thêm vài tên mặc áo đen lực lưỡng bước vào cửa. Tên vào trước tiên cất tiếng cười cuồng vọng, nói:
- Ta là ai, việc này chỉ sợ các ngươi cũng không biết được, cứ làm vài con quỉ hồ đồ trên đường xuống suối vàng đi.

Hắn nhìn lướt qua đống sổ sách đầy đất, trong mắt lóe lên vẻ ác độc, rồi đột nhiên xoay người ngông nghênh bước lên, chỉ vào Đường Nhất Tiên bảo:
- Đem cuốn sổ trong người ngươi giao ra đây!

Ngọc Đường Xuân thấy hắn tới gần, không chút nghĩ ngợi, vội cầm nghiên mực ném về phía hắn. Hắn lắc người né nghiên mực, bước nhanh đến gần Đường Nhất Tiên. Thấy mấy nữ tử yêu kiều nhu nhược, hắn đâu thèm để vào mắt, nên chẳng hề uý kỵ xông đến trước mặt ba người Ngọc Đường Xuân.

Lúc này Hàn Ấu Nương bất chợt áp sát lại gần, vung tay như đao chém mạnh vào cổ tay hắn. Hắn ta chỉ cảm thấy như bị sét đánh, cả cánh tay ê ẩm, đau đớn. Hàn Ấu Nương lắc mình bám theo, bàn tay nhỏ bé bóp chặt cổ tay kẻ địch, tung một cước vào mặt bên đầu gối, hắn kêu thảm một tiếng rồi khuỵu xuống đất.

Hàn Ấu Nương vốn định nhanh chóng bắt hắn làm con tin, không ngờ mấy tên sát thủ phía sau lại phản ứng cực kỳ mau lẹ. Mặc dù trong bốn cô có người biết võ nghệ là việc chúng hoàn toàn không ngờ tới, nhưng chúng vẫn phản ứng tinh nhạy, hét lớn một tiếng, vung đao chém ngay. Bốn bóng người cậy vào ánh đao mù mịt khiếp người, mang theo tiếng gió rít vù vù, vừa loé lên thì đã chém tới, thế như chớp giật.

Hàn Ấu Nương thấy ánh đao chém vào người mình, bèn không bắt tù nhân nữa mà lập tức vặn lưng, ngửa người ra sau, chân phải tung ra, vung cước đá bắn tên áo đen đó bay đi, đâm sầm vào bốn gã đại hán đang xông tới. Cùng lúc đó, vù một tiếng, một thanh đao thép lướt qua chóp mũi Ấu Nương, vút qua trước ngực. Nếu cô nàng không nhỏ con thì đã đổ máu ngay rồi.

Hàn Ấu Nương cả người toát đầy mồ hôi lạnh. Thanh đao thép chém choang một tiếng vào chiếc án thư, làm Đường Nhất Tiên sợ giật nảy người. Hàn Ấu Nương chớp thời cơ đứng thẳng dậy, đấm thẳng một quyền vào nách tên đang vung đao. Tên nọ lập tức đánh rơi đao thép, lảo đảo lùi lại vài bước, cánh tay phải xụi lơ, không cử động được nữa.

Vóc người Hàn Ấu Nương nhỏ nhắn xinh xinh, thể lực vốn không bằng nam nhân, do đó công phu mà Hàn Lâm dạy nàng đều nhằm công kích vào những chỗ yếu nhược của kẻ địch. Tên kia vừa lùi lại, Hàn Ấu Nương lập tức nhặt cây đơn đao bản hẹp, nhoáng người lao lên, đao thép mãnh liệt đỡ lấy lưỡi đao của hai tên hắc y đang chém tới. ‘Keng keng!‘ tiếng kim loại vang lên, đao của nàng chém trái bổ phải đã rất chuẩn xác ngăn chặn đao thép của đối phương.

Hàn Ấu Nương không đủ lực cổ tay, hôm nay lại không dùng Phong Hỏa côn, nên vừa đối kình với mấy tên thích khách võ nghệ xuất chúng này, hai cánh tay nàng cũng bị chấn động đến tê rần. Hàn Ấu Nương thầm giật mình, dựa vào công phu của nàng, nếu tự mình đào tẩu thì đương nhiên những kẻ này không thể ngăn cản được. Nhưng mang theo ba cô nương không biết võ nghệ gì cả thì làm sao nàng có thể cam đoan các nàng không tổn hao một cọng lông sợi tóc gì được?

Hàn Ấu Nương quýnh lên, lập tức hét dài một tiếng, vung thanh đao thép trong tay múa che kín mít, rồi sốt ruột gọi ba cô nương:
- Nhanh! Theo ta xuống phía dưới, quan binh ở tiền viện sẽ lập tức tới ngay.

Người bị Ấu Nương đá trúng chính là Bào Tận Trung. Khi Hàn Ấu Nương nằm trong vòng tay Dương Lăng thì như một đóa phù dung ngượng ngùng, e ấp yêu kiều, thật sự đáng yêu khôn tả, nhưng khi nàng đá vào ngực Bào Tận Trung lại như một quả cân nặng chịch nện vào người hắn. Bào Tận Trung phải lăn ra thật xa, cúi gập người xuống, mãi hồi lâu sau mới thở được.

Hắn phun ra một bụm máu, gầm lên:
- Không chừa lại đứa nào, chém hết! Cả căn nhà cũng đốt cho ta!

Mặc dù ba người Ngọc Đường Xuân mặt hoa thất sắc nhưng không hề đánh mất dũng khí. Mắt thấy Ấu Nương trông như cọp điên, đánh giết mở một con đường máu, các nàng vội vàng thu hết dũng khí bám sát sau lưng nàng, cùng vọt tới cửa.

Hàn Ấu Nương vung một đao chém nát vụn tấm rèm, quát:
- Đi mau!
Rồi lập tức tiện tay vơ lấy đôi đũa chưa kịp cất trên chiếc bàn cạnh cửa, vung tay phất một cái, hai cây đũa tre phóng đi như chớp.

Hai tên đuổi theo phía sau vừa thấy nàng vung tay, không chút nghĩ ngợi gì liền lập tức né người. Một thanh trúc bắn vào khoảng không, cây khác bắn sượt qua chiếc khăn đen của một gã hắc y, làm xước một vết máu.

Bào Tận Trung thấy ba cô gái ôm quyển sổ quan trọng nhất chạy trốn ra khỏi phòng, trong lòng quýnh lên, lảo đảo vịn cánh cửa, cố trằn mình đứng lên đuổi theo. Hàn Ấu Nương bị mấy tên đại hán cuốn lấy, chỉ cần nàng vụt xoay người, lưỡi đao thép lập tức liếm vào người ngay. Vì vậy tuy trong lòng sốt ruột nhưng lại không nghĩ được biện pháp cứu trợ, nàng chỉ biết vung đao khổ chiến, thầm mong đám binh sĩ trong phủ có thể nghe tiếng kêu mà chạy tới kịp.

Ba người Ngọc Đường Xuân chạy ra khỏi phòng, luống cuống kinh hoàng không thấy rõ dưới chân. Tuyết Lý Mai hổng chân một bước, hét lớn một tiếng ”ui chà” rồi lăn thẳng từ trên thềm đá xuống dưới. Ngọc Đường Xuân thấy thế vội vàng đuổi theo. Đường Nhất Tiên chạy phía sau, nhìn thấy một tên thích khách đang đuổi theo, vội vàng quơ một chậu hoa bày trước phòng ném mạnh ra sau, đồng thời hét lớn với Ngọc Đường Xuân:
- Ngọc Tỷ Nhi, mau mau dìu Tiểu Mai đi! Đi gọi người tới giúp Ấu Nương.

Không dám dẫn tên áo đen chạy về phía Ngọc Đường Xuân, Đường Nhất Tiên vòng qua hướng cửa Nguyệt Lượng* mà chạy, vừa chạy vừa không ngừng chộp những chậu hoa ném về phía Bào Tận Trung. Quyển sổ chết người đó vẫn đang được Đường Nhất Tiên giữ trong người nên Bào Tận Trung cứ như một con lừa vươn mõm về phía trước cố đớp lấy bụi cỏ, không chút nghĩ ngợi gì cứ cố bám đuổi theo nàng. (*: cổng tròn; cổng vòm)

Ngoài cửa Nguyệt Lượng là rừng núi hoang vu. Vị Ninh tham tướng tiền nhiệm mỗi sáng đều vào rừng tản bộ luyện tập, sớm đã giẫm thành một con đường mòn. Đường Nhất Tiên như một con nai nhỏ cùng đường, liều mạng chạy như điên trong rừng, may mà hôm nay nàng cải nam trang, nếu không sớm đã bị vấp ngã rồi. Dù thế, những cành lá và dây gai bên con đường mòn cũng đã cào nát quần áo của nàng, trên mặt cũng đã xuất hiện vài vệt máu.

Vì ngực bị thương nên Bào Tận Trung chạy không nhanh. Thấy nàng càng chạy càng xa, tai nghe thấy phía sau tiếng người huyên náo, đoán rằng đã bị thân binh của Dương Lăng phát hiện, lòng hắn không khỏi lo lắng. Hắn vừa truy đuổi vừa gầm lên:
- Tiểu nha đầu, giao cuốn sổ ra đây, ta tha chết cho ngươi, có nghe không? Ngươi không chạy thoát đâu.

Đường Nhất Tiên sờ quyển sổ trong lòng, tâm hồn thiếu nữ lại càng mừng vui khôn xiết.

Hắn đã quan tâm đến quyển sổ như vậy, xem ra quyển sổ này thật sự có chuyện rồi. Mấy ngày nay vào nhà họ Dương, Dương đại nhân chưa hề vào phòng các nàng, cũng chẳng nói chuyện gì nhiều với hai tỷ tỷ. Nhưng đại nhân lại luôn tươi cười chào hỏi có vẻ rất khách khí với nàng, Dương đại nhân nhất định là thích nàng rồi. Nếu đem quyển sổ này giao cho y, chẳng phải càng được y thích hơn sao?

Vừa nghĩ thế, Đường Nhất Tiên lại cảm thấy vui như trẩy hội, người như có thêm sức mạnh, càng chạy nhanh thêm. Cây cối xung quanh trại quân được bọn quan binh chặt phá khoảng trăm trượng để phòng hỏa hoạn, bởi vậy tất cả đều là một bãi đất bằng phẳng. Dưới ánh trăng sáng, cảnh vật hiện lên rất rõ, tiểu nha đầu không thể nào chạy thoát được. Bào Tận Trung thấy phía trước là cuối sơn đạo, chỗ có thể trốn được cũng không nhiều nữa, không khỏi mừng rỡ trong lòng.

Đường Nhất Tiên chạy đến thở không ra hơi, quay đầu lại thoáng nhìn, thấy đã chạy cách tên đại hán áo đen một đoạn khá xa, nhìn về phía trước thấy xuất hiện hai tảng đá to, trong bóng đêm đen kịt trông chúng như con quái vật muốn nuốt chửng người. Đường Nhất Tiên vội vàng chạy tới, vừa tới gần tảng đá, phía trước đột nhiên là khoảng không. Nàng hốt hoảng vung vẫy hai tay, hồi lâu mới đứng vững. Nàng nhìn kỹ, phía trước là một cái vực, dưới vực có ánh sáng lập lòe, dường như là một con sông.

Trước không còn đường, sau có truy binh, còn có thể chạy trốn nơi nào chứ? Đường Nhất Tiên vẫn nuôi một tia hy vọng, vội quay đầu lại nhìn, trong bóng đêm dày đặc chỉ thấy bóng đen đó đang vội vã men theo con đường nhỏ trong rừng đuổi đến. Nàng liền trở nên tuyệt vọng.

Lần đầu tiên thích Dương Lăng, nàng còn không biết y là ai! Chỉ nghe những tỷ muội trong kỷ viện kể về người thư sinh có tình có nghĩa, vì người con gái mình yêu đã dám đắc tội với cả người có sức mạnh cường đại nhất trên đời này. Trong tâm linh nho nhỏ của nàng đã khắc ghi một cái tên khiến nàng vô cùng sùng bái.

Ngọc Đường Xuân, Tuyết Lý Mai, Đường Nhất Tiên, trong ba người con gái, nàng là người lanh lợi và ngọt ngào nhất, thường ngày cũng là người có nhiều nhân duyên* nhất. Tất cả mọi người đều nghĩ rằng nàng vui vẻ và tinh nghịch nhất, ai biết kỳ thật trong ba người, người có tâm lý trưởng thành, tính cách kiên cường nhất cũng chính là nàng? *(nhân duyên có nhiều nghĩa, ở đây chỉ sự "được lòng" của khách đến kỹ viện)

Thiếu nữ ôm ấp tình cảm, ai mà không có giấc mộng giống nhau? Nam nhân dám vì người mình yêu quí mà đối kháng với cả thiên tử, chính là người trong mộng của nàng. Nàng lặng lẽ vẽ một bức họa, người thanh niên trong bức họa có vẻ mặt từng trải, khí phách ngút trời. Y đứng trên đỉnh núi cao cao, những trận gió thốc tung tấm áo bào xanh của y, nhưng chẳng mảy may lay chuyển được y.

Đó là hình tượng Dương đại nhân mà nàng tưởng tượng trong lòng. Hẳn là y có bờ vai kiên cường nhất, có thể chống đỡ cho nàng cả bầu trời, hẳn là y có một đôi mắt sâu thẳm, khiến cho con tim nàng kích động vì y.

Khi nàng chính thức gặp được Dương Lăng, lại chẳng thấy y giống như người trong mộng đó của mình. Tướng mạo y cũng khá đẹp trai, nhưng hơi yếu ớt, cả ngày cứ nằm trong phòng dưỡng thương, thỉnh thoảng ra ngoài phơi nắng thì cũng là một bộ dạng uể oải. Bộ dáng đó thực khác quá xa so với người trong mộng của nàng.

Mãi đến hôm nay, y cưỡi ngựa cao vọt, thân vận một bộ khôi giáp oai vệ nhất, nhìn từ ngoài viên môn(1) vào, bóng dáng uy vũ oai phong của y dường như che lấp cả đất trời, sau lưng chỉ còn một bầu trời xanh thẳm. Cái bóng dáng đó chính là người trong giấc mộng của nàng.

Một khắc nhìn thấy người đại tướng quân anh tuấn oai phong đó đã khiến trái tim nàng thật sự rung động, đập nhanh như chưa từng nhanh như vậy. Cái tên Dương Lăng cùng hình tượng Dương Lăng bắt đầu so khớp lên nhau trong đầu nàng, tạo thành một hình ảnh rõ rệt.

Nàng mong mỏi có ngày có được y, được người anh hùng trong tâm trí của nàng, vị tướng quân thiếu niên anh tuấn này ôm vào lòng, rồi cứ ôm mình như thế mà giục ngựa phi nhanh, dù là phi đến chân trời góc biển, dù là phi đến mãi mãi.

Nhưng bây giờ, giấc mộng vẫn chỉ là giấc mộng, không còn có thể thực hiện được nữa. Hơn nữa, tình cảm này y vĩnh viễn sẽ không bao giờ biết được. Có lẽ không bao lâu nữa, y sẽ quên mất mình thôi?

Mũi Đường Nhất Tiên cay xè, cố nén lệ trong lòng, nàng lôi quyển sổ ra nhét vào kẽ đá. Ngẫm nghĩ một lát, nàng bỗng rút quyển sổ lại, chạy về sau vài bước, rồi dấu nó vào mặt khuất ánh trăng của một tảng đá cao bằng đầu gối, sau đó nhặt một cục đá lên, nấp vào sau tảng đá to.

Bào Tận Trung thấy cái bóng của nàng từ xa, không khỏi cả mừng. Thấy nàng xuất hiện ở cạnh tảng đá to rồi biến mất, hắn vội vàng chạy tới gần. Vừa mới vòng qua tảng đá lớn, Đường Nhất Tiên đã dốc hết sức ném cục đá tới.

Bào Tận Trung hoảng hốt, hấp tấp né qua một bên, tảng đá nện vào vai hắn, dường như đập trúng vào tai. Bào Tận Trung đau đến nỗi hét thảm một tiếng, chỉ cảm thấy nửa bên mặt nóng rát, màng nhĩ lùng bùng, nhất thời không nghe được gì cả.

Bào Tận Trung phẫn nộ điên cuồng gầm lên, vung đao bổ ra, thế đao như hổ dữ có thể chém người thành hai nửa. Nhưng hắn bị trọng thương, nên độ chính xác không đủ, hơn nữa màng nhĩ lại bị ném trúng, đầu hơi choáng, nhát đao này chỉ bổ xéo vào tảng đá kêu lên một tiếng "choang".

Đường Nhất Tiên tự biết mình khó lòng toàn mạng, nên chủ tâm lôi hắn chết chung, cục đá vừa nện xuống là lập tức nhào tới ôm chặt lấy hắn, kéo mạnh về phía sau. Bào Tận Trung đứng không vững, bị người con gái nhỏ con hơn hắn nhiều kéo tới vách núi. Nhìn tới thấy vực sậu hun hút dưới vách núi, Bào Tận Trung sợ tới mức hồn phi phách tán.

Hắn vội buông cánh tay đang ôm tai trái, gót chân ghì chặt vào đá, dùng vòng sắt ở chuôi đao đập vào vai Đường Nhất Tiên. Đường Nhất Tiên đau đến độ rên lên một tiếng, nhưng vẫn nghiến răng, ra sức lôi hắn tới vách núi, muốn kéo hắn xuống vực đồng quy vu tận.

Một lần, hai lần, bả vai non nớt bị cái vòng sắt có tua đỏ gắn ở chuôi đao đập vào đến sắp gãy cả xương, máu chảy ướt đẫm cả áo. Đường Nhất Tiên đau đớn không chịu được, đột nhiên quát to một tiếng, cắn chặt vào cái áo trước ngực Bào Tận Trung. Bào Tận Trung bị nàng kéo dần tới gần vách núi, sợ tới sắp phát điên, hắn hét lớn:
- Mụ đàn bà điên, buông ta ra, đồ...!

Bào Tận Trung hung tợn vung cánh tay lên, dùng chuôi đao nện thẳng vào đầu Đường Nhất Tiên. "Ong" một tiếng, mắt Đường Nhất Tiên chợt thấy tối sầm, một dòng nước tanh mằn mặn xuôi xuống gò má chảy vào trong miệng nàng. Nàng ngẩng đầu lên, căm giận nhìn Bào Tận Trung. Thấy ánh mắt khiến cho người ta sợ hãi đó, Bào Tận Trung lại đập thêm một cú lên đầu nàng. Máu trào ra ướt đầu ướt trán, che mờ cả mắt nàng.

Đường Nhất Tiên như đằng vân giá vũ, đầu óc choáng váng, buông tay lảo đảo vài bước, chân đạp vào khoảng không rồi rơi xuống. Thân hình cuốn vào không trung, vầng trăng mờ đo đỏ dưới trời đó là cảnh tượng cuối cùng mà nàng nhìn thấy, bên trong vầng trăng đỏ tươi đó, dường như nàng lại thấy được người tướng quân trẻ tuổi anh tuấn, giáp trụ trắng toát đang phi ngựa về phía nàng, chiếc tua đỏ trên mũ trụ phất phơ trong gió.

“Chàng... chắc chắn... sẽ báo thù cho ta! Chắc chắn sẽ như thế!”
Đường Nhất Tiên mỉm cười thầm nghĩ, thân thể mềm nhũn rơi thẳng xuống sông.

************************

Sắc trời đã sáng, cả phủ đệ tham tướng đã bị đốt thành đất bằng, vài làn khói đen lượn lờ bốc lên.

Dương Lăng ngây người nhìn đống hoang tàn hồi lâu. Ấu Nương cầm một cái áo choàng nhè nhẹ bước tới, kiễng chân mặc vào cho y, ôn nhu an ủi:
- Tướng công! Chàng đã đứng cả nửa đêm rồi, như vậy cũng không phải là biện pháp, hay là trở về nghỉ ngơi một chút đi.

Dương Lăng nhìn thấy chiếc áo cổ tròn của nàng dính đầy bùn đất lem luốc, còn bị rách vài nơi, không khỏi áy náy cầm tay nàng, đáp:
- Trở về? May mà nàng không sao, bằng không... ta sẽ sẵn sàng nhảy vào đám cháy. Ôi, nàng bệnh vừa khỏi, lại lên núi xuống núi tìm người, bôn ba nửa đêm rồi, cũng nên đi nghỉ đi. Hai vị cô nương Ngọc Tỷ Nhi đang rất đau lòng, nàng cũng đi khuyên giải hai nàng một chút đi.

Ấu Nương khẽ ngả vào vai Dương Lăng, thầm thì:
- Ấu Nương vừa mới gặp các nàng rồi. Tướng công, thiếp biết trong lòng chàng khó chịu. Hôm qua chàng phi ngựa chạy về, trông như sắp phát điên vậy, cặp mắt đỏ ngầu rất đáng sợ. Ấu Nương cũng sợ gần chết.

Dương Lăng thở dài một tiếng, nói:
- Trong bữa tiệc rượu ta đã cảm thấy không bình thường. Bào Tận Thẩm không phải là kẻ độ lượng, cho dù có chịu thua, cũng sẽ không có thần thái vui vẻ như thế. Còn nữa, tên Lưu Sĩ Dung có tâm trạng rất bồn chồn. Ta đã sớm cáo từ ly khai. Trên đường trở về, nhìn thấy trên núi bốc lửa, ta sợ nàng..., Ôi, nàng đi theo ta, đến cả vào kinh đô mà cũng phải chém giết! Biết khi nào mới có thể không khiến nàng phải chịu khổ nữa đây?

Hàn Ấu Nương cảm động:
- Tướng công..., chàng đừng tự trách mình. Ấu Nương gả cho chàng thì đã là người của chàng rồi. Cả đời phú quý cũng tốt, bần cùng cũng tốt, còn có thể rời bỏ chàng sao chứ? Cho dù bây giờ chúng ta ở Dương Gia Bình, chẳng phải cũng phải ăn uống khổ sở, vẫn phải chịu cảnh khổ sao? Vẫn phải đề phòng dã thú trên núi, giặc Thát ở tái ngoại, còn phải lo lắng về thu hoạch...
Những gì tướng công làm cho thiếp đã gấp trăm lần so với những gì mà thiếp bỏ ra. Trong thiên hạ có mấy người đàn ông vì vợ mà không tuân mệnh lệnh hoàng đế? Cho dù phải chết vì chàng, dù chết một vạn lần thiếp cũng không oán trách.

Hàn Ấu Nương lau nước mắt, nói:
- Chỉ là... Liên lụy tới các cô Tiên Nhi. Ấu Nương không thể bảo vệ các muội ấy chu toàn, trong lòng rất áy náy. Bây giờ lại để tướng công khó xử trước mặt Thái tử, thiếp... thiếp...

Dương Lăng xoa tay nàng, an ủi:
- Không phải tướng công đang lo lắng về Thái tử điện hạ Ta chỉ nghĩ, nếu không phải vì ta nhờ các nàng ấy hỗ trợ, cũng sẽ không khiến họ rước lấy họa sát thân. Bây giờ cô nương Tiên Nhi mất tích, e rằng là lành ít dữ nhiều, ta...

Y mới nói được tới đây chợt nghe tiếng bước chân, quay đầu lại thì thấy Dương Nhất Thanh đi tới ôm quyền chào:
- Ty chức ra mắt đại nhân, ra mắt phu nhân.

Dương Lăng lo lắng hỏi:
- Thế nào rồi? Có tìm được Đường cô nương chưa?

Dương Nhất Thanh thưa:
- Đại nhân! Ty chức dẫn người tìm suốt hai mươi dặm dọc con sông dưới chân núi , không thấy tung tích Đường cô nương đâu cả. Ngoài mười dặm hạ du đã là vùng dân chúng sinh sống. Nhưng ty chức đi hỏi dân chúng ven đường, lại không ai biết tin tức. Bây giờ huynh đệ Mãn Thương vẫn còn đang dẫn người tiếp tục tìm kiếm, ty chức lo đại nhân đợi lâu, nên trở về báo tin.

Nghe báo không tìm thấy thi thể của Nhất Tiên, Dương Lăng không khỏi dấy lên một tia hy vọng, ra lệnh:
- Tiếp tục tìm! Nếu cần thì cầm lấy lệnh bài của ta buộc quan phủ địa phương hiệp trợ. Sống phải thấy người, chết phải thấy xác.

- Dạ, đại nhân!
Dương Nhất Thanh ôm quyền thi lễ. Dương Lăng lại hỏi:
- Bào Tận Trung như thế nào rồi?

Trên mặt Dương Nhất Thanh lộ ra một nụ cười giảo quyệt, hắn đáp:
- Ty chức đánh hắn ngất đi, cho hắn mặc y phục thân binh. Khi bọn người Bào Tận Thẩm giả vờ tới cứu hoả thì ty chức đã dẫn hơn trăm thân binh ngay trước mặt chúng công khai đưa người ra khỏi thành, hiện đã giam vào đại lao của Cẩm Y vệ.

Dương Nhất Thanh ngừng lại một chút, rồi tiếp:
- Đại nhân, người nào đã vào Cẩm Y vệ của chúng ta thì trong bụng hắn có cái gì là phải phun ra hết, cho dù bụng không có gì, muốn hắn nói gì hắn cũng phải nói theo. Tiền đại nhân nghe nói là người do đại nhân đưa tới, bèn bảo người khiêng tới tận nơi xem xét, rất hy vọng giúp được cho ngài chút việc đó.

Tuy Dương Lăng đang tràn ngập phẫn nộ và lo lắng, nghe xong những lời này cũng không kìm được nở một nụ cười, hỏi:
- Ta đã có thể cưỡi ngựa, vậy mà mông Tiền đại nhân vẫn chưa khỏi hay sao?

Dương Nhất Thanh cười gượng đáp:
- Tiền đại nhân thấy người tới tặng quà nườm nượp, sợ một khi mông khỏi, sẽ làm cho người ta không còn cơ hội biểu lộ tâm ý, do đó ông ta cũng định bệnh thêm vài ngày nữa.

Lúc này Dương Lăng mới tỉnh ngộ. Y còn tưởng rằng Tiền Ninh quí cái mông của mình, thì ra là có dụng ý khác. Y gật đầu nói:
- Ừm, việc khảo cung phải nhờ tới y, chứng cớ cũng phải tìm cho ra. Bào Tận Thẩm đường đường là một tên quan lớn tòng tam phẩm, ta không giết được hắn, Trương phó tướng cũng không giết được hắn. Ta muốn tìm chứng cứ đủ để có thể giết hắn, rồi trình lên cho người có thể giết hắn!

Dương Lăng sờ quyển sách trong người, buông từng chữ một:
- Xin nhờ Tiền đại nhân làm ơn tiếp đãi hắn thật kỹ. Một ngày chưa tìm được Đường cô nương, thì không được đánh chết hắn. Hừ! Lần này ta sẽ không lỗ mãng nữa, đánh rắn phải đánh giập đầu. Bào Tận Thẩm làm quan lâu như vậy, sẽ có không ít quan hệ cá nhân. Không nắm chắc hoàn toàn, ta sẽ không động tới hắn. Không nắm chắc hoàn toàn, sau này ta sẽ không gây thù chuốc oán với ai nữa!

Y nắm chặt bàn tay Ấu Nương, khẽ nói:
- Ta không muốn lại để người của ta phải vì ta mà nơm nớp lo sợ. Cũng không muốn lại làm cho người của ta vì ta mà bị thương. Về phần Bào Đại tướng quân, ta sẽ cho hắn tiếp tục tiêu dao mấy ngày nữa!

******************************************

Một đoàn ngựa xe rầm rộ đi trên đại lộ. Nhìn đội nghi trượng rợp bóng cờ xí, hẳn phải là thuộc loại vương hầu phô trương vào bậc nhất. Trời đã gần trưa, ánh dương gay gắt, rèm kiệu của một chiếc xe ngựa được vén lên, có tiếng người nói với tên trung quan cưỡi ngựa bên cạnh:
- Bách Thuận à! Tới gốc cây kia nghỉ một chút đi. Ta mệt rồi, muốn xuống kiệu đi lại một chút.

- Dạ, Vương phi nương nương!
Tên quan đó vội vàng cao giọng hô:
- Cho đoàn xe đỗ dưới bóng cây!

Đoàn xe từ từ dừng lại bên dưới cánh rừng bạch dương. Rèm kiệu được vén lên, một phụ nữ chừng bốn mươi, tóc đen tuyền, mặc áo dài chấm gót, khoác khăn quàng vai và mũ phượng cùng màu, bước xuống xe. Nàng nhè nhẹ vặn eo, nhìn đồng ruộng xanh mượt bên đường, nói:
- Ừm, vừa ra ngoài một chút đã thấy thoải mái hơn nhiều rồi. Lát nữa gỡ mũ phượng và khăn quàng vai cho ta đi, đường còn xa lắm, đội rất mệt.

Hai thị nữ sau lưng cúi người đáp:
- Dạ, nương nương!

Vương phi nghe thấy tiếng chim hót trên ngọn cây, không khỏi vui vẻ nói:
- Tiếng chim này rất dễ nghe! Mang Phi Nhi của ta ra, nó cũng chán lắm rồi.

Một tên thái giám cầm một cái lồng bằng tơ vàng vội vàng chạy tới. Vương phi cầm lấy lồng chim, lấy mồi chim từ tay tên thái giám dụ con chim hoạ mi, bộ dạng trông rất vui vẻ.

Lúc này một lão già lưng hơi còng đi tới. Vương phi nhìn thấy lão bèn cười nói:
- Lưu Lương, mấy con chim sáo của ta mua trong kinh thành sao rồi? Vẫn chưa nói à? Về đến nhà lão phải chăm sóc chu đáo. Lúc lột lưỡi lão phải cẩn thận một chút, đừng để chúng chết đó.

Lão Lưu Lương cười nịnh:
- Nương nương yên tâm! Nương nương thiện tâm như Quan Âm Bồ Tát, những con chim này theo bà, cũng coi như là có phước rồi.

Vương phi vừa nghe liền không khỏi cười lớn. Lưu Lương nhân cơ hội báo:
- Nương nương, cô nương mà chúng ta cứu được dọc đường giờ đã tỉnh lại rồi. Nhưng hình như bị đần độn, hỏi cô ta cái gì cũng không nhớ được, nương nương xem chúng ta nên làm sao đây?

Vương phi nghe xong khẽ chau mày, hỏi:
- Cô nương đó trông rất thông minh, sao lại đần độn được chứ? Đi, đi xem thử!

Mấy người trung quan, thị nữ và Lưu Lương cùng đi theo Vương phi đến bên cạnh một chiếc xe ngựa phía sau. Trên xe có một cô nương đang ngồi, hai tay ôm đầu gối hoảng sợ nhìn đám người đang đi tới. Trên đầu nàng băng trắng xóa, rỉ ra chút máu, khuôn mặt xinh xắn vì mất máu quá nhiều nên hơi tái nhợt.

Vương phi hỏi:
- Cô nương! Cô tên là gì, người ở nơi nào, sao lại mặc y phục nam nhân, đã gặp phải trộm cướp trên đường à?

Cô nương kinh hoảng nhìn bà ta, hỏi lại:
- Bà là ai, ta không biết bà, tại sao ta ở chỗ này?

Lưu Lương đáp:
- Đây là Lý nương nương của Vương phủ cai quản Sơn Tây. Nương nương thiện tâm, nhìn thấy cô ngất xỉu bên bờ sông, nên đã bảo ta cứu cô. Cô còn nhớ được tên mình không, là người ở đâu?

- Tên à?
Cô nương thốt lên ngây ngô, rồi đột nhiên bật khóc:
- Không nhớ! Ta chẳng nhớ rõ gì cả, ta là ai, sao ta ở chỗ này?

Vương phi khẽ nhíu mày, Lưu Lương thấp giọng nói:
- Nương nương, đầu cô nương này bị thương, bây giờ lại chẳng nhớ gì cả. Nương nương xem, có nên tới thị trấn phía trước, giao cô ta cho quan phủ không?

Vương phi ái ngại nhìn người con gái mặt đầy vẻ hoảng sợ, khom người nhỏ nhẹ hỏi:
- Cô nương! Cô cố nhớ lại đi, có thể nhớ được mình tên gì, nhà ở đâu không?

- Ta... Ta...
Cô gái chớp chớp mắt, đầu óc choáng váng, tựa hồ thấy một tướng quân thiếu niên anh tuấn bất phàm, cưỡi con ngựa trắng đang lướt tới, nét mặt nàng không khỏi lộ ra chút mừng rỡ, trong ý thức dường như bắt được một cái tên rất quan trọng. Nàng vừa muốn mở miệng gọi y, trong đầu đột nhiên lại trở nên trống rỗng, chẳng nhớ gì nữa.

Cô nương lại lắc lắc đầu, phiền muộn đáp:
- Ta không nhớ nổi, không nhớ nổi đâu...

Nàng lắc đầu lia lịa, làm động đến vết thương trên đầu, không kìm được đau đớn kêu lên một tiếng rồi ôm lấy đầu, nước mắt rơi lã chã.

Vương phi thấy cô nương này xinh đẹp vô cùng, cặp mắt đen láy như chim hoạ mi đang nhìn mình, không thể không mềm lòng, bèn nói:
- Trông cô nương này như thế, nhất định vốn là một nha đầu xinh đẹp đáng yêu, cũng không biết bị ai gây ra tai họa thành ra nông nỗi này.
Chà! Nàng ta đã không nhớ nổi điều gì, giao cho quan phủ, những người đó làm được gì chứ? Gặp kẻ táng tận lương tâm, có khi còn hại cả đời cô nương nhà người ta. Cứu người phải cứu tới cùng, tiễn phật thì tiễn đến Tây Thiên. Cô nương này chẳng nhớ được gì, vậy đưa nàng về Đại Đồng đi. Nha đầu nhỏ tuổi như vậy, ta vẫn còn nuôi được.

Đám người bên người dạ một tiếng, tên trung quan vẫn còn hỏi:
- Nương nương! Cô nương này thương thế lành rồi thì sẽ làm người hầu ở ngoại phủ hay đưa vào nội phủ?

Vương phi cầm lồng chim đưa cho Lưu Lương, đáp vẻ không vui:
- Phủ của ta còn thiếu a hoàn sai bảo à? Ta cứu người còn muốn người ta bán mình trả nợ là làm sao?

Nàng liếc mắt nhìn Lưu Lương, không khỏi vui vẻ:
- Lưu Lương! Không phải hai vợ chồng già các ngươi không có con sao? Vậy nhận cô nương này làm nghĩa nữ đi, thường ngày sẽ giúp ngươi chăm sóc cho đám bảo bối đó của ta. Không chừng khi chơi với đám tiểu gia hỏa lanh lợi đó của ta, đầu óc cô ta có thể nhớ lại một chút gì đó.

Nàng cười ha ha đi vài bước, rồi quay lại bảo:
- Cô nương xinh đẹp này, đến cả tên cũng không nhớ được, đáng thương quá. Trở về vương phủ, cần tìm lang trung giỏi khám bệnh kỹ lưỡng cho cô nương đó. Được rồi, cô ta vẫn chưa có tên, cũng không thể cứ gọi cô nương này cô nương nọ như vậy. Đã đưa vào nhà ngươi rồi, vậy gọi là... Lưu Lương Nữ* đi. (*: con gái của Lưu Lương, cũng có nghĩa cô gái ngoan họ Lưu)


Chú thích:

(1) Ngày xưa vua đi tuần ở ngoài, đến chỗ nào nghỉ thì xếp xe vòng xung quanh làm hàng rào, để một chỗ ra vào, hai bên để xe dốc xuống càng xe ngỏng lên để làm dấu hiệu, nên gọi là viên môn. Về sau cũng gọi ngoài cửa các dinh các sở là viên môn, có khi cũng gọi các dinh các sở quan là viên nữa. Các nhà trạm khi các quan đi công cán qua nghỉ chân gọi là hành viên.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 03:01 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 84 - Ngày hai mươi tám tháng tư



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: X1999_vn

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng nhìn vẻ mặt hưng phấn tin phục của họ, không khỏi thầm tiếc: “Đáng tiếc mình không ở trong quân đội, nếu không viết quyển ‘Luận ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng cơ sở quân đội', tương lai không chừng có thể truyền lại thành bản ‘Dương Tử binh pháp’ chứ chẳng chơi.”



------------------------

Chương tám mươi bốn - Ngày hai mươi tám tháng tư

------------------------


Mồng bảy tháng tư, năm Hoằng Trị thứ mười tám, quan Đề đốc Vương Nhạc của mười hai đoàn doanh và Anh Quốc công Quách Huân tới kiểm tra Thần Cơ doanh, tra ra phó Tham tướng Tả Tiêu quân Bào Tận Thẩm của Thần Cơ doanh , quan Đô ty Lưu Sĩ Dung của đệ tam ty và các tướng tá lớn nhỏ, tổng cộng mười ba người tham ô lương bổng cùng lương thực của quân đội, đút vào túi riêng, còn có những chuyện phạm pháp khác đang điều tra. Hoàng đế tức giận, sai Cẩm Y Vệ bắt chúng vào kinh chờ xét xử.

Mồng tám tháng tư, Giám sát Ngự sử Vương Lương Thần của Giám Sát viện, Cấp sự trung Trần Đình của Binh khoa tố cáo Tham tướng Tả Tiêu quân Dương Lăng của Thần Cơ doanh đem đàn bà vào trong doanh, trọ lại trong quân. Vua hạ chiếu, Dương Lăng bị phạt hai mươi quân côn, giáng một phẩm nhưng vẫn giữ nguyên chức, phạt nửa năm bổng lộc.

Ngày sau, cho vời Dương Lăng vào cung, dùng lời lẽ nghiêm khắc để dạy dỗ và khiển trách, rồi lệnh cho Đề đốc Vương Nhạc chỉnh đốn quân kỷ, ban cho Dương Lăng Song Hổ phù, dẫn quân vào núi luyện tập võ nghệ.

Dưới sườn núi, những đội sĩ binh chia thành tổ tiến hành huấn luyện bắn khi di chuyển và bắn tại chỗ trong sơn cốc phía trước. Tiếng súng đì đùng, khói thuốc súng bốc lên mịt mù. Đến hôm nay, Dương Lăng đã dẫn đại quân vào núi huấn luyện khổ cực trên hai mươi ngày.

Binh lực của ba ty Tả Tiêu doanh có tổng cộng bốn ngàn năm trăm người, cộng với số thân binh và đội Đốc chiến trực thuộc Tham tướng, tổng cộng năm ngàn người. Trong đó bộ binh là ba ngàn sáu trăm người, một nhánh nhân thủ là bộ binh sử dụng súng hoả mai; pháo binh là bốn trăm người, được trang bị một trăm sáu mươi khẩu đại bác Đại Tướng Quân dã chiến, đồng thời mỗi người còn được cấp một khẩu súng tay phòng thân; năm trăm người khác được trang bị khá nhiều súng hoả mai.

Dương Lăng được vua ban lệnh tiễn, giao cho đặc quyền toàn quyền xử lý việc diễn binh tập võ, huấn luyện toàn quân dùng hỏa khí đạn dược. Lúc chỉ bảo huấn luyện nhóm binh sỹ này, y có cảm giác dường như mình đã vượt thời không quay về thời hiện đại. Ngoại trừ đội Đốc chiến thân binh của Dương Lăng là dùng khoái mã trường đao, có thể nói là toàn bộ quân đội hoàn toàn dùng súng ống.

“Đây là quân đội của triều nhà Đại Minh sao?” Nhất là khi đã từng thấy thời Mãn Thanh với những đại đao trường mâu hoàn toàn vô tác dụng, cảm giác kích động của Dương Lăng càng mãnh liệt hơn.

Dẫu rằng súng ống bây giờ tốc độ bắn chậm, tầm bắn gần, vẫn còn có khuyết điểm chí mạng nếu đơn độc chiến đấu với một đội kỵ binh lớn, nhưng nếu có thể bảo trì được cái thế này, tương lai không lâu sau khi thời đại hỏa khí phát triển mạnh, chúng ta sẽ không tụt hậu sau thế giới. Một quốc gia tiên tiến nhất, văn minh nhất, sẽ không trở thành chủng tộc ngu muội lạc hậu trong mắt người Tây phương, mặc cho người khi dễ chèn ép.

Cho dù có những khuyết điểm này, nhưng khi chiến đấu trong thành thị và rừng núi, loại súng này cũng vẫn phát huy uy lực vượt xa đại đao và trường mâu như thường. Nó căn bản không phải thứ mà thân thể bằng da, bằng thịt và võ nghệ cá nhân có thể chống lại được.

Khi ở Kê Minh dịch, Dương Lăng đã từng chứng kiến uy lực của pháo Đại Tướng Quân. Mặc dù thua xa vũ khí hiện đại, nhưng vì hệ thống phòng ngự lúc đó cũng rất bạc nhược, do đó sức tàn phá và lực sát thương của nó cũng không kém gì đại pháo bây giờ. Hơn nữa, với rất nhiều khẩu súng hoả mai, cũng đủ để tạo thành sát thương rất lớn trong nháy mắt khi hai quân giao phong.

Loại quân đội toàn bộ được trang bị hỏa khí này trước mắt tuy không phải là lợi khí tốt nhất để hành quân xa tác chiến, nhưng lại là trợ thủ đắc lực nhất để phòng thủ và dẹp loạn kinh sư. Dương Lăng biết, dựa vào quyền lực của y bây giờ và sự bố trí quân đội này, y cũng không cần phải lo lắng về những việc lâu dài. Việc bây giờ y muốn làm là trong thời gian ngắn nhất làm cho đội quân này trở thành quân tinh nhuệ nhất trong năm đại doanh của Thần Cơ doanh, thậm chí là lực lượng cường đại nhất trong số mười vạn đại quân của mười hai đoàn doanh ở kinh sư.

Muốn làm được điểm này quả cũng khá dễ dàng. Trải qua hơn mười ngày luyện tập đội ngũ chay, bây giờ bọn lính có thể chấp hành thuần thục phương pháp ba đội đối chiến và bắn theo ba hàng (*). Tốc độ và mật độ bắn cũng nhiều hơn gấp ba lần trước đây. Đến lúc này, sức chiến đấu của Tả Tiêu quân lập tức tăng lên rất nhiều. (*: trong những đoạn cuối chương 26 có giải thích về hai phương pháp này - ND)

Thế là, những tướng lĩnh trong quân vốn còn ôm thái độ nghi ngờ về năng lực của y nhất thời hoàn toàn bái phục. Đến cả ánh mắt của Bành mập và Liên mặt rỗ khi nhìn y cũng tràn ngập kính phục. Dương Lăng cho đến lúc này mới làm rõ chế độ thăng chức và thưởng phạt trong quân. Huấn luyện năng lực tác chiến độc lập của Đội, Tiếu, Hỏa, những binh sỹ có biểu hiện năng lực xuất sắc có thể được đặc cách đề bạt, và cách chức tại chỗ đám quan quân lười nhác vô năng. Vì thế, sĩ khí quân đội lập tức dâng cao. Binh lính vốn lười nhác đều thay da đổi thịt, như beo như cọp, tinh thần hừng hực.

Dương Lăng đứng trên sườn núi quan sát đám sĩ binh diễn luyện. Hơn mười ngày huấn luyện, khuôn mặt vốn trắng trẻo của y bị sạm lại, nhưng tinh thần và khí chất lại kiên nghị và quả quyết hơn vài phần. Dương Lăng gật đầu nhè nhẹ tỏ vẻ hài lòng. Sau khi y ra lệnh bỏ đi giáp trụ nặng khoảng bốn mươi cân, tốc độ tiến lên và năng lực ứng biến của đám binh sĩ rõ ràng đã được nâng cao lên rất nhiều.

Đám tướng lĩnh vốn rất bất mãn với việc bỏ mũ cởi giáp, nhưng khi thấy đám sĩ binh phản ứng nhanh gấp đôi so với lúc đầu, cũng không thể không thừa nhận năng lực tự vệ của bọn lính tuy nhìn hơi yếu bớt, nhưng lực sát thương quân địch và cơ hội tránh né thương tổn ngược lại thực đã tăng lên không ít.

- Con mẹ nó, ta cũng theo binh nghiệp nửa đời người rồi, nhưng không nghĩ tới có thể cho binh lính xếp thành ba hàng đứng, quì, nằm? Còn lập đội ba người, một tên nạp thuốc, một tên châm lửa, một tên phụ trách bắn? Ba người một khẩu hoả mai, bắn tới mưa gió cũng không lọt, so với kiểu bắn cứ như ong vỡ tổ trước kia mạnh hơn gấp trăm lần!

Bành Kế Tổ bội phục liếc nhìn Dương Lăng, nói với y:
- Đại nhân, nắng gắt rồi, vào lều nghỉ ngơi một chút đi.

Dương Lăng khẽ gật đầu. Hai người quay về chỗ tán cây mọc ở sườn núi. Liên Đắc Lộc xoa tay nói:
- Đại nhân, hai ngày qua nhìn đám thủ hạ luyện binh, ty chức cũng hơi dằn lòng không đặng. Người làm tướng phải làm gương cho binh sĩ, tại sao đại nhân không cho chúng ta xuống dưới chỉ huy sĩ binh luyện tập hành quân đánh nhau vậy?

Dương Lăng nâng chén uống một ngụm trà, nhìn đám tướng quân ngồi trong lều, cười hỏi:
- Ồ, vậy ngươi nói cho ta hay, người làm tướng phải làm sao mới làm gương cho binh sĩ được?

Liên Đắc Lộc đáp:
- Cái đó còn phải nói sao? Muốn tăng sĩ khí, khi đánh nhau ở chiến trường, thân là quan tướng phải xung phong lên phía trước. Tướng lĩnh của một đội quân, là linh hồn của toàn quân, tướng dũng binh tất dũng. Hắc hắc, không phải trước mặt đại nhân khoe khoang, chứ mạt tướng đánh trận rất dũng mãnh. Lúc dẹp loạn Miêu Cương, mạt tướng nhậm chức Bách hộ, tự mình dẫn ba trăm binh sĩ trong đêm đánh lên núi, liên tục đánh ba trại lớn, thừa dịp hỗn loạn còn giết được động chủ Miêu Cương vốn được bọn chúng xưng là Vạn Nhân Địch đó.

Dương Lăng gật đầu cười nói:
- Không tệ, quả nhiên dũng mãnh, đủ để làm chức Bách hộ.

Liên mặt rỗ nghe xong phấn khích cười ha hả, dương dương đắc ý liếc mắt nhìn các tướng khác. Lại nghe Dương Lăng nói:
- Nếu ngươi bây giờ vẫn có ý nghĩ như thế, cả đời ngươi cũng chỉ có thể làm Bách hộ, không có cơ hội lên chức.

Tiếng cười của Liên mặt rỗ bất chợt nghẹn lại. Bành Kế Tổ cười phì một tiếng, giảo quyệt liếc gã một cái, trong lòng thầm nghĩ:
- Ta biết ngay đại nhân nhất định có ý khác, nên không chõ vào, quả nhiên là đúng.

Liên mặt rỗ lẩm bẩm:
- Sao lại... Đại nhân cảm thấy mạt tướng dũng cảm xông lên là không đúng sao?

Dương Lăng nghiêm mặt nói:
- Đúng, có điều là đúng khi ngươi đang giữ chức Bách hộ. Tướng quân xung phong xông lên phía trước, quả có thể nâng cao sĩ khí toàn quân, khiến cho ai ai cũng dũng cảm giết giặc. Nhưng bây giờ ngươi đã là quan Đô ty, thủ hạ có một ngàn năm trăm quân binh. Ta hỏi ngươi, đao thương không có mắt, nếu ngươi xung phong lên phía trước, trong loạn quân bị địch nhân giết mất, thử hỏi một ngàn năm trăm huynh đệ của ngươi sẽ do ai chỉ huy? Khi rắn đã mất đầu, toàn quân có bị tiêu diệt không?

Liên mặt rỗ tuy thấy Dương Lăng hỏi có lý, nhưng người làm tướng chẳng lẽ vì vậy mà khi lâm trận lại sợ hãi sao? Trên mặt gã không khỏi hiện lên thần sắc không phục. Đám tướng cũng phần lớn lộ vẻ mặt kì lạ, chỉ có hai ba người xem ra có điều ngộ ra, có vẻ trầm tư.

Dương Lăng chỉ vào đám dũng sĩ dưới chân núi dưới sự chỉ huy của Bả tổng (Bả tổng còn được gọi là Bách tổng), Sáo trưởng, Thập trưởng lúc thì hợp, lúc lại tách ra, và nói:
- Đây là lí do ta không cho phép các vị xuống núi, mạnh tay để quan tá cấp dưới lĩnh binh độc lập.
Trước tới nay, trong mắt các ngươi, đám sĩ quan chỉ là một đám hò hét, phụ trách truyền đạt mệnh lệnh của các ngươi, chứ không có năng lực chỉ huy tác chiến độc lập, cũng không có can đảm chỉ huy tác chiến độc lập. Do đó, nhân vật từ Đại tướng trở lên cực kỳ trọng yếu trong quân đội, vì vậy mới có câu như “lâm trận không thể đổi tướng” hay “ba quân không thể mất soái”.
Ta lại nghĩ rằng, một tướng quân chỉ dựa vào danh vọng và dũng khí cá nhân để cổ vũ sĩ khí toàn quân, là tướng quân thất bại nhất. Ngươi xem, ở trên này, liếc qua là có thể thấy hành tung, tiến thoái của các đội ngũ ngay. Ngươi thân là tướng quân, bất cứ lúc nào cũng có thể biết quân mình đang ở đâu, chỗ nào chiến thắng, chỗ nào chiến bại; bất cứ lúc nào cũng có thể phát lệnh, điều khiển hoặc điều chỉnh, phân phối sức mạnh toàn quân.
Nếu ngươi tự mình xông lên phía trước, đừng nói thân là người trong cuộc ngươi không thấy được biến hóa của cuộc chiến giữa hai phe địch ta, mà ngay cả thủ hạ của ngươi muốn xin ngươi đứng ra chỉ huy cũng không tìm thấy ngươi đâu. Một khi ngươi chết trận sa trường, toàn quân sẽ chia năm xẻ bảy, cho dù đông gấp mười lần địch quân, cũng chỉ có thể mặc cho người ta xâu xé. Đấy là do binh sĩ vô năng, hay là lỗi của tướng lĩnh?

Liên mặt rỗ lập tức nghẹn lời. Dương Lăng lại nói:
- Người làm Đại tướng, ta không cần ngươi phải “thiên nhân trảm, vạn nhân địch” (chém ngàn người, địch nổi vạn người). Chỉ cần ngươi có thể đứng giữa chỉ huy, biết cách điều động, ngươi có bản lĩnh bồi dưỡng quan tá, tiểu hiệu dưới quyền của ngươi ai nấy đều trở thành ”thiên nhân trảm, vạn nhân địch” thì đó mới là cái tài của thượng tướng, đó mới là một đội quân bách chiến bách thắng.

Những đạo lý lẽ ra rất đơn giản này lọt vào tai đám tướng lĩnh vốn chưa từng ý thức được tác dụng của bọn tiểu tốt, thật sự đã trở thành thứ đạo lý mới mẻ vô cùng. Có mấy người từ lính trơn đi lên tướng quân lĩnh hội nhanh nhất, nghe xong không ngừng gật đầu lia lịa. Dương Lăng nhìn vẻ mặt hưng phấn tin phục của họ, không khỏi thầm tiếc: “Đáng tiếc mình không ở trong quân đội, nếu không viết quyển ‘Luận ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng cơ sở quân đội ‘, tương lai không chừng có thể truyền lại thành bản ‘Dương Tử binh pháp’ chứ chẳng chơi.”

Hắn uống ngụm trà, nheo mắt lại nhìn một mảnh rừng cây bên sườn núi đối diện. Nơi đó địa thế khá là thấp, cây cối trong rừng cũng không rậm rạp, nhưng nhìn hồi lâu lại chẳng thấy trong rừng có một bóng người nào, Dương Lăng không khỏi nở nụ cười hài lòng.

Dương Lăng điều ra ba trăm người trong đám thân quân và đội Đốc Chiến của mình, sai đám Dương Nhất Thanh, Hàn Lâm, Hàn Vũ dẫn những người này vào rừng huấn luyện. Trải qua hơn mười ngày huấn luyện khổ cực, xem ra đã có hiệu quả rồi.

Bản lĩnh lục soát, ám sát, và bố trí mai phục của Dương Nhất Thanh thuộc loại nhất lưu. Cha con nhà họ Hàn võ nghệ còn cao minh hơn Dương Nhất Thanh, hơn nữa quanh năm săn bắn trong núi, quả thực chính là cao thủ trời sinh để chiến đấu ở vùng núi cây cối. Bản lĩnh làm cơ quan mai phục, lần theo dấu vết quả là xuất thần nhập hóa. Có ba người bọn họ dạy, tin rằng không được bao lâu, có thể huấn luyện ra một đội tinh binh đặc chủng.

Dương Lăng đã yêu cầu Nam Trấn Phủ ty đặc biệt cung cấp một mớ quân giới chuyên dụng của Cẩm Y Vệ dùng để lùng bắt và ám sát. Hắn dụng tâm nhìn vào vùng núi, tiếp tục nói:
- Để quân sĩ luyện tập thêm hai ngày nữa, chờ bọn họ thuần thục thêm một chút, sẽ đến lượt các vị ra tay. Đến lúc đó, các vị lĩnh một đội, dùng đối phương làm quân địch giả, luyện tập hành quân bày trận như thế nào, điều binh khiển tướng ra làm sao, để bọn họ có kinh nghiệm chiến đấu thực tế nhiều hơn một chút.
Các vị tướng quân, muốn điều binh khiển tướng, chẳng những cần quen với binh tướng thủ hạ ngươi, còn phải hiểu rõ thực lực của quân địch và bản thân. Chiến đấu chính thức trên chiến trường không thấy được rõ ràng như chỗ này đâu. Do đó, tác dụng của trinh sát là không nhỏ chút nào.
Y nhớ tới trận đại hỗn chiến tại Hồ Lô Cốc ở Kê Minh Dịch, lần đó toàn quân suýt nữa bị tiêu diệt, không khỏi vô cùng cảm khái nói:
- Một trinh sát tốt, có khi có thể đáng giá cả thiên quân vạn mã, một tin tức của họ có thể quyết định thắng bại của một trận chiến. Trên đời, loại người liệu sự như thần, nhìn thấu tiên cơ như Gia Cát Lượng cũng chỉ có thể ngộ chứ không thể cầu được.

Quan thủ bị cười nói:
- Đại nhân nói rất đúng. Huống hồ, cho dù là Khổng Minh tiên sinh, cả đời cũng có lúc tính sai. Mấy người dốt nát như chúng ta lại càng kém hơn nhiều.

Các tướng nghe xong đều cười ha hả. Lúc này, một tên binh lính lao vào. Dương Lăng quay đầu nhìn, thấy đó là anh vợ Hàn Uy của mình. Y lập tức khẽ gật đầu với mấy vị tướng tá rồi đi theo Hàn Uy ra ngoài.

Hàn Uy sau khi đưa thê tử hồi kinh cũng gia nhập quân đội. Tuy nói thời này “trai tốt không đi lính”, nhưng dù sao so với việc săn bắn hoặc làm dịch tốt thì địa vị vẫn cao hơn. Huống hồ, quân lương của doanh trại kinh sư chẳng những là cao nhất trong quân đội Đại Minh, mà chủ soái quân đội còn là em rể của y.

Dương Lăng đi theo y đến dưới một tàng cây, rồi hỏi:
- Đại ca, huynh đã nghe ngóng được gì rồi?

Hàn Uy nói:
- Chuyện này rất ư kỳ quái. Chứng cứ mà muội phu tra được có ghi Bào Tận Thẩm bán trộm súng và hỏa dược, thậm chí bán cho nhà nào, bán bao nhiêu cân lượng cũng đều ghi rõ rành rành. Rõ ràng đã trình vào cung rồi, nhưng bây giờ Bào Tham tướng và Lưu Đô ty bị giam vào ngục cũng chỉ công khai tội danh là tham ô, bọn chúng vẫn sống yên lành.

Người Dương Lăng thoáng run lên, vừa ngạc nhiên vừa phẫn nộ, nói:
- Cái gì? Chúng vẫn còn sống sao? Rốt cuộc bọn chúng đã chạy chọt cửa nào mà đến cả tội danh này cũng có thể che đậy thế?

Hàn Uy lắc đầu, nói:
- Tấu chương của muội phu là trình cho Hoàng Thượng, nhưng Ngự sử của Giám Sát viện Thập Tam Đạo và Cấp sự trung của Lục khoa chẳng biết dùng phương pháp gì mà biết được nội dung. Thế là ngươi một quyển ta một quyển, mỗi ngày đều dâng sớ, Hoàng Thượng cũng không có phản ứng gì.

Dương Lăng trầm tư hồi lâu, rồi quả quyết nói:
- Không được, ta phải hồi kinh xem sao. Đường cô nương sống chết chưa rõ, ta không thể nhìn hung thủ nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật!

Hàn Uy giật mình nói:
- Lúc này mà về kinh, muội phu lại là chủ soái, tự tiện ly khai đại doanh nếu lại để người ta biết được, coi chừng sẽ bị hạch tội đó.

Dương Lăng nói:
- Không sao, hai ngày qua cũng sắp dùng hết đạn dược rồi. Hoàng Thượng ban cho đệ Song Hổ phù, muốn điều động đạn dược là có ngay, đệ tiện đường đi tới bộ Binh là được.

***

Đêm ngày hai mươi tám tháng tư, kinh sư chìm trong cơn mưa lớn.

Đây là cơn mưa lớn đầu tiên sau đợt hạn hán kéo dài, từ buổi trưa kéo đến tận lúc màn đêm phủ xuống. Mưa như trút nước. Trên đường mù mịt không một bóng người, những tảng đá lót đường được nước mưa rửa sạch bong, phản chiếu ánh sáng lờ mờ của những ngọn đèn lồng chập chờn dưới vài ba căn gác. Hai thớt thiết kỵ chạy nhanh như gió lốc, xuyên qua màn mưa vào kinh thành.

Hai kỵ sĩ trên lưng ngựa khoác áo tơi, khẽ cúi người né làn mưa như trút, con tuấn mã khoẻ mạnh xuyên qua làn mưa lướt trên đại lộ. Những gợn sóng nước do những chiếc vó ngựa to bằng cái bát bắn lên trong nháy mắt đã bị cơn mưa lớn xóa nhòa, rào rào chảy xuống, chẳng lưu lại chút dấu vết nào.

Đông An môn, Bắc Trấn Phủ ty, Thiên hộ Vu Vĩnh đang ngồi trên ghế uống trà, cười tủm tỉm nhìn chăm chú nước mưa xâu lại thành từng dòng trút xuống mái hiên, trông như một tấm rèm. Đầu năm nay gã đã mua được ba khoảnh ruộng tốt ở gần kinh thành. Năm nay mãi mà chưa có mưa to, còn tưởng rằng lúc này muốn thất thu rồi. Ông trời quả có mắt, nhìn trận mưa dầm dề này, mặt đất khô nứt nẻ được giải khát rồi.

Hắn đang cười tủm tỉm trầm ngâm tính toán, đột nhiên hai nam tử khoác áo tơi xuyên qua màn mưa vội vã xông vào đại sảnh. Nước mưa từ người hai người chảy xuống ròng ròng, thành một dòng suối nhỏ. Vu Vĩnh ngước mắt nhìn, thờ ơ hỏi:
- Chuyện gì mà gấp vậy? Trời mưa như trút nước mà cũng không được yên à?

Dương Lăng ngẩng đầu, nhìn thấy tên Thiên hộ mặc cẩm y cầu kỳ, chân bắt chéo chính là tên hậu duệ quí tộc tóc vàng người Đức mà mình gặp lần trước. Y vừa cởi áo tơi xuống vừa cười, nói:
- Hóa ra là Vu đại nhân. Ha ha, sao hôm nay lại là đại nhân trực thế?

Vu Vĩnh thấy người vừa cởi áo tơi xuống mặc một thân y phục của binh sĩ bình thường, khuôn mặt anh tuấn gầy gò, mấy lọn tóc còn dính nước mưa, khuôn mặt bị nước mưa làm ướt nhẹp, nhưng lại nhất thời không nhớ nổi y là ai, không khỏi nghi hoặc hỏi:
- Ngươi là người của bộ Binh à? Chuyện gì mà tự tiện xông vào Trấn Phủ ty nha môn của ta vậy?

Dương Lăng cười nói:
- Vu đại nhân đúng là quý nhân hay quên mà. Huynh đệ là Dương Lăng, đại nhân còn nhớ chứ?

Vu Vĩnh “a“ lên một tiếng, thoáng cái đã nhớ ra. Nhân vật một thời phong vân gần đây, gã sao mà không nhớ chứ. Vu Vĩnh cười bồi, nói:
- Nguyên lai là Dương đại nhân. Thất lễ, thất lễ. Sao... sao đại nhân lại mặc trang phục như thế này?

Dương Lăng cười khà khà nói:
- Mặc bộ y phục này hồi kinh tiện hơn. Phải rồi, Mưu đại nhân có ở đây không?

Y hỏi chính là Bắc Trấn Phủ ty Trấn Phủ sứ Mâu Bân. Vu Vĩnh là người quen biết luồn cúi, biết người mặc trang phục binh sĩ Cẩm Y Vệ ở trước mặt là tâm phúc của Trương Đề đốc, Mâu đại nhân và chưởng hình Thiên hộ Tiền đại nhân cũng phải kính lễ ba phần, vội hỏi:
- Không may, sáng sớm Mâu đại nhân đã dẫn theo Tiền đại nhân ra ngoài, đến giờ vẫn chưa trở về. Chẳng biết đại nhân có chuyện gì sai phái, có lẽ ty chức có thể cống hiến sức lực.

Dương Lăng nghe xong hơi thất vọng. Việc này hắn không tiện nói với Vu Vĩnh, đành phải thuận miệng nói:
- À, cũng không có gì. Bản quan hồi kinh xử lý công vụ, thuận đường đến thăm hai vị đại nhân.

Vu Vĩnh cười hì hì nói:
- Đại nhân đã có lòng. Bây giờ mưa còn chưa dứt, hay là đại nhân ngồi xuống uống chén trà nóng, không biết chừng trong chốc lát hai vị đại nhân sẽ... Ồ, thật khéo, đại nhân đã trở về rồi.

Dương Lăng quay đầu lại, chỉ thấy hai chiếc kiệu đang được khiêng vào sân, mãi đến tận hành lang mới dừng lại. Hai người mặc trang phục Phi Ngư (cá chuồn) từ trong kiệu vội vã chui ra, bước nhanh vào sảnh. Dương Lăng vội tiến lên phía trước hành lễ:
- Ty chức Dương Lăng, ra mắt đại nhân.

Trấn Phủ sứ Mâu Bân thần sắc nghiêm trọng, căng thẳng sải bước đi vào, trông thấy Dương Lăng thì không khỏi ngẩn người, ngạc nhiên hỏi:
- Ngươi sao lại hồi kinh? - Rồi không đợi y trả lời, lập tức bảo:
- Về đúng lúc lắm, mau theo ta vào phòng nói chuyện.

Dương Lăng thấy Tiền Ninh đi theo phía sau Mưu Bân cũng lộ thần sắc kinh hoàng, thậm chí quên cả chào hỏi y, không biết đã xảy ra chuyện lớn gì, tâm tình cũng vì vậy trở nên khẩn trương, liền vội khoát tay bảo Hàn Uy tạm thời nán lại, rồi đi theo Mâu Bân vào thẳng thư phòng.

Mâu Bân vừa vào thư phòng lập tức cầm lấy bút đặt trên án thư vội vàng viết vài hàng chữ, lấy ấn ra đóng lên, rồi đưa cho Tiền Ninh, nói:
- Nhanh, ngươi lập tức sai người dùng khoái mã chạy tới Thiên Tân vệ, mời Trương đại nhân lập tức hồi kinh!

Tiền Ninh dạ một tiếng, tiếp nhận tờ giấy rồi vội vàng chạy ra ngoài. Dương Lăng không khỏi vội kêu lên:
- Đại nhân, rốt cuộc xảy ra chuyện gì, sao vẻ mặt lại căng thẳng như vậy?

Mâu Bân bồn chồn, lo lắng nói:
- Dương Đồng tri, tình hình cụ thể một hồi nữa sẽ nói sau. Đêm nay ngươi cần phải chạy suốt đêm về quân doanh, e rằng ý chỉ sai ngươi phải dẫn quân về kinh sẽ đến ngay đó. Hoàng Thượng... Trong lúc tảo triều, Hoàng Thượng đã ngất ngay trên triều, đến giờ mới tỉnh. Ta luôn chờ ở trong cung, xem tình hình. Lần này Hoàng Thượng người... người sợ là không hay rồi.


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 03:03 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 85 - Đưa quân vào cung



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Nàng mở to hai mắt nhìn nhìn Dương Lăng, đột nhiên mừng rỡ lao tới, nắm lấy cánh tay y kêu lên đầy hưng phấn:
- Hóa ra là Dương tướng quân! Nhanh, nhanh, nhanh theo ta đi cứu người. Hoàng huynh đang đuổi giết quốc cữu gia đó!



------------------------

Chương tám mươi lăm - Đưa quân vào cung

------------------------

Trong triều phòng*, ba vị lão thần Nội các, thượng thư sáu bộ và các đại thần túc trực đang lo lắng ngóng đợi tin tức từ Đông Noãn Các. Mưa lớn quật xuống đất ào ào như đang xát muối vào trái tim bọn họ. (*: phòng nghỉ cho quan lại trước khi thiết triều)

Đám lão thần này phần lớn tóc đã bạc trắng, ai nấy đều im lặng không nói gì, chỉ nhìn đăm đăm về phía cung Càn Thanh, mặt đầy vẻ lo âu, trong triều phòng chỉ còn tiếng mưa to gió lớn sấm vang chớp giật bên ngoài.

Đột nhiên một tiếng sấm vang nghiêng trời lệch đất, mấy vị đại nhân già cả không kịp đề phòng bị chấn động đến run rẩy cả người; lại một tia chớp nữa lóe lên rồi một bóng người chợt xuất hiện, cao giọng tuyên:
- Thánh Thượng có khẩu dụ!

Mấy vị lão thần nghe vậy cùng bật đứng lên, thượng thư bộ Lại Mã Văn Thăng kích động tới mức râu tóc run lên, hỏi dồn:
- Trương công công, Hoàng Thượng tỉnh rồi à? Hoàng Thượng sao rồi?

Đám người Lưu Kiện cũng rất kích động. Thân là người đứng đầu Nội các nên Lưu Kiện cố đè nén tâm tình, vái thái giám Ty lễ Trương công công rồi nói:
- Chúng thần tiếp chỉ .

Đám đại nhân lúc này mới tỉnh ngộ, cùng nhau vái theo. Trương công công cất giọng đọc:
- Hoàng Thượng khẩu dụ, thân thể trẫm không sao, các vị ái khanh chớ nên lo lắng. Các vị ái khanh là trụ cột của quốc gia nên không thể lao lực quá mức, phải quay về phủ nghỉ ngơi ngay, Ngự Mã Giám trong cung sẽ đánh xe đưa về. Ngày mai nghỉ chầu, mọi việc trong triều hết thảy sẽ do ba vị đại học sĩ quyết định.

Truyền ý chỉ xong, Trương công công xoay người định đi, Lưu Đại Hạ sốt ruột liền nhảy dựng lên ngăn Trương công công lại, nói:
- Trương công công, rốt cuộc long thể Thánh Thượng ra sao, thái y nói thế nào?

Lưu Đại Hạ là sủng thần của vua Hoằng Trị, Trương công công tuy là một trong bốn đại thủ lĩnh của Ty Lễ Giám nhưng cũng không dám đắc tội với ông ấy. Dù vậy, đây nào phải chuyện mà lão có thể nói tùy tiện, đành nói:
- Lưu Đại nhân, xin đừng làm khó ta, ông còn không biết những quy củ này sao?

Lưu Đại Hạ ngẩn người thất vọng, đành buông tay áo Trương công công ra, xem ra bệnh tình Hoàng Thượng không nhẹ, nếu không thì sao lại không gặp họ mà bảo về phủ nghỉ ngơi, lại phong tỏa tin tức nghiêm mật như thế?

Thấy Trương công công đã ra khỏi triều phòng, Mã Văn Thăng giậm mạnh chân, nói với hữu thị lang bộ Lại túc trực là Tiêu Phương:
- Lão Tiêu à, tối nay ông phải thường trực chờ tin tức từ Đông Noãn Các, nếu như Hoàng Thượng... Hoàng Thượng có việc gấp triệu kiến, ngàn vạn lần không thể để lỡ việc đâu đó.

Hoằng Trị đế thích dùng lão thần. Vị hữu thị lang bộ Lại Tiêu Phương này cũng là một ông già trên bảy mươi tuổi đầu tóc bạc phơ, có điều tinh thần quắc thước, thân thể rất cường tráng. Ông hiểu ý Mã thượng thư và cũng biết rõ tầm quan trọng của việc này. Nghe ông ta căn dặn xong, ông vội chắp tay đáp:
- Dạ, đại nhân cứ việc yên tâm, hạ quan sẽ luôn túc trực chờ đợi, không dám chậm trễ .

Mã Văn Thăng khẽ gật đầu, lúc này xa giá của Ngự Mã Giám đã đến trước cửa. Hoàng đế cho xe đưa về là ân sủng mà ngay cả những lão thần này trước kia cũng chưa từng có, song lúc này bọn họ nhìn thấy mà trong lòng lại chẳng vui sướng gì. Đội mưa lên xe, Lý Đông Dương đứng trên xe ngẩng đầu dõi mắt nhìn về phía cung Càn Thanh, chỉ thấy xa xa, những cung nữ, thái giám ra vào liên tục, không khí thập phần khẩn trương, ông không khỏi thở dài một tiếng.

Trương hoàng hậu, thái tử Chu Hậu Chiếu và hai công chúa Vĩnh Phúc, Vĩnh Thuần đều ở ngoài Đông Noãn Các, tuy chỉ cách một cánh cửa nhưng tình hình của người thân bọn họ, người quan trọng nhất trong lòng bọn họ như thế nào thì họ chỉ có thể thông qua thái giám và ngự y mới có được một chút tin tức, chưa được Hoằng Trị cho vào thì đến cả bọn họ cũng không được phép vào.

Trong Đông Noãn Các, Hoằng Trị đang dựa trên gối dựa, đờ đẫn nghe tiếng mưa trút rào rào bên tai không dứt. Ba người Vương Nhạc, Miêu Quỳ và Phạm Đình đang quỳ ở trước mặt, trán dán chặt trên nền đất, thở cũng không dám thở mạnh.

Năm ngoái Hoằng Trị đã gặp một cơn bệnh nặng phải dưỡng bệnh hơn một tháng mới khỏi. Còn lần này đột nhiên ngất xỉu ngay giữa triều đường, cứu trị suốt một ngày mới tỉnh. Ông tự biết thân thể của mình đã như đèn dầu sắp cạn, qua lần này thì đại hạn cũng không xa nữa.

Ông là người cực kỳ mê tín, sau cơn hạn lớn thì giờ đây ở kinh sư trời đột nhiên đổ mưa to và còn là ngay sau khi ông ngất đi không lâu cho nên ông đoán, đây là điềm báo rõ ràng nhất của ông trời dành cho ông: Trẫm là thiên tử, ông trời rơi lệ, mưa gió bão bùng, chẳng phải chính là muốn trẫm về chầu trời sao?

Ông thở dài một tiếng, trong lòng nghĩ đến đứa con luôn khiến ông không thể yên tâm. Thuở ông kế vị tuổi tác cũng không lớn hơn con ông là bao, thế nhưng bây giờ mặc dù đã mười lăm mười sáu rồi mà tính tình của đứa con ông vẫn láu táu khinh suất, lại không đủ thận trọng, quyết không phải là hình tượng quân vương hợp cách trong cảm thụ của các triều thần.

Đứa con này tinh lực dồi dào, thông minh hơn người, nhưng lại như một con ngựa hoang không chịu nổi chút câu thúc. Vốn tưởng rằng con mình lớn hơn chút nữa thì sẽ trở nên chín chắn, nhưng giờ đã đến lúc giao cả thiên hạ cho nó, nó... có thể làm được không?

Ông nhìn lướt qua ba nội quan tin yêu nhất đang run rẩy sợ hãi quỳ gối trước mặt. "Bọn họ đều trung thành với chính mình, tuyệt không dám gian dối, nhưng nếu đổi lại là thái tử tuổi còn nhỏ thì bọn họ còn trung thành được như vậy không? Hay sẽ dần dần cậy vào quyền cao chức trọng mà lấn ép chủ thượng? Trong tay bọn họ nắm ba đại doanh kinh sư tinh nhuệ nhất và tổ chức mật thám lớn nhất Đại Minh đấy."

Hoằng Trị không thể không lo lắng, Phiên Vương các nơi mặc dù sớm bị tước Tam Vệ nhưng vị tất không có dã tâm. Sổ sách tố giác Bào phó tham tướng tham ô mà Dương Lăng trình lên cho ông vài ngày trước càng làm cho ông cảm thấy phải cảnh giác. Trong triều cực kỳ hậu đãi các tướng lĩnh trong doanh trại kinh sư, một tên quan tam phẩm có thể vì chút lợi nhỏ nhoi mà cam lòng phạm vào quân pháp, vậy nếu Phiên Vương các nơi dùng châu báu mỹ nữ, chẳng lẽ không mua chuộc được ai sao?

Huống hồ việc chế tạo đạn dược và súng hỏa mai cho doanh trại kinh sư là chuyện cực kỳ cơ mật trong quân, tuyệt không phải thợ thuyền nào ở thời đại này cũng có thể tùy ý chế tạo ra được loại hỏa khí và đạn dược tinh xảo nhất. Những cường hào địa phương lấy danh nghĩa mua hỏa dược để diệt trừ giặc cướp, tự bảo vệ mình nhưng khi Cẩm Y Vệ tra ra thì tất cả đều là giả dối cả, rốt cuộc không rõ mớ đạn dược ấy đã đi đến nơi nào. Thật ra với số lượng vài hỏa khí như vậy thì không đáng lo, cái lo là lo có người tìm thợ thủ công để phỏng chế lại.

Súng hỏa mai tuy không địch lại kỵ binh phương bắc, nhưng ở phương nam nơi ruộng nước, cây cối, sơn dã thì lại là vũ khí cực tốt, và càng là sự lựa chọn tốt nhất cho những Vương gia bị tước đi Tam Vệ không thể công khai luyện binh để có thể nhanh chóng xây dựng một đội quân. Vậy kẻ mua hỏa khí có thể là ai đây? Là Sở vương, Ninh vương, hay Ngô vương? Những kẻ này đều không thể không đề phòng.

Hoằng Trị nghĩ tới xuất thần, hồi lâu mới thở dài, mệt mỏi nói:
- Soạn chỉ .

Thái giám chấp bút thuộc Ty Lễ Giám đứng chầu sau chiếc bàn dài làm bằng gỗ tử đàn vội đáp một tiếng rồi cầm cây bút lông sói lên. Chỉ nghe Hoằng Trị ho dồn dập một trận rồi mới nói:
- Ý chỉ thứ nhất, Ngụy quốc công Từ Phủ chưởng quản Thần Cơ doanh hai mươi năm song trị quân không nghiêm, quân kỷ bê bối, quan lại trong quân tham nhũng, bại hoại kỷ cương, nay cách chức quan doanh Thần Cơ doanh, hai phó tướng Thần Cơ doanh chờ hặc tội, tạm cử Anh quốc công Quách Huân chưởng lý quân vụ.

Ông ngừng một lát rồi nói tiếp:
- Ý chỉ thứ hai, bốn doanh Vũ tương, Đằng tương*, Tả vệ, Hữu vệ của Ngự Mã Giám điều ra ngoài hoàng cung, đóng giữ Cửu Thành. Tam Thiên doanh tuần tra canh gác kinh sư, Ngũ quân doanh, Thần Cơ doanh chia ra đồn trú hai bên kinh sư, điều Tả tiêu quân của Thần Cơ doanh vào đóng giữ trong cung. (*: ngựa ngẩng cao đầu phi nhanh gọi Đằng tương, ngựa ngẩng cao đầu phi nước kiệu gọi Vũ tương, ở đây chỉ tên riêng doanh trại kinh sư)

Miêu Quỳ cơ trí nghe xong liền rùng mình, thân thể càng quì thấp hơn nữa. Hoàng Thượng đột nhiên đổi nơi đóng quân, chắc chắn vì bốn doanh của Ngự Mã Giám đóng giữ cấm cung đã lâu nên đã có điều phòng bị, nhưng Hoàng Thượng lại hạ chỉ ngay trước mặt mình, hiển nhiên vẫn đang rất tín nhiệm mình, nhất thời Miêu Quỳ cảm thấy ngổn ngang trăm mối, cảm động nói không nên lời.

Hoằng Trị cảm thấy đầu óc choáng váng như thể muốn nôn, ông cố gắng gượng nói tiếp:
- Ý chỉ thứ ba, hiểu dụ cho Vệ Sở đóng quân các nơi, giữ nghiêm quan ải, toàn quân đề phòng, tất cả Phiên Vương không được tự mình ra khỏi đất phong, không được tiến kinh mà chưa có lệnh, bằng không sẽ xử theo tội mưu nghịch!

Mỗi khi ông truyền xong một ý chỉ thì tên thái giám chấp bút lại khấu đầu một cái, sau đó cầm bút lên vội vã chép lại. Hoằng Trị nghe thái giám chấp bút viết xong, đọc lướt lại một lần, ừm một tiếng rồi nói:
- Cứ như vậy đã, đi đóng dấu vào .

Nói rồi Hoằng Trị khoát tay bảo:
- Các ngươi đều lui xuống trước đi rồi gọi thái tử vào, trẫm muốn nói chuyện với nó một chút.

******************************

Dương Lăng bước vào triều phòng. Triều đường là một căn phòng rất dài, bên trong ánh sáng lờ mờ. Vì hoàng đế bệnh tình nguy kịch phải bãi bỏ họp triều, nên giờ triều phòng lạnh tanh, chỉ có một quan văn dáng vẻ lừ đừ đang nằm trên bàn quay lưng về phía y ngủ gà ngủ gật.

Dương Lăng cũng không kinh động người nọ mà đi đến một cái ghế ở góc tường ngồi xuống, dựa vào lưng ghế, chỉ cảm thấy lưng đau ê ẩm.

Ngày ấy sau khi ra khỏi Cẩm Y Vệ, Dương Lăng vốn định về thăm nhà trước một cái, nhưng khi ngựa đến phố Hộ Quốc Tự thì thấy trong viện đã tắt đèn, vì không muốn phiền nhiễu Ấu Nương nên y chạy trở vào núi suốt đêm. Cũng may là y không trì hoãn nên không lỡ ý chỉ của triều đình, y vừa vào soái trướng thì thánh chỉ đã tới ngay.

Dương Lăng lập tức dẫn đại quân về kinh, căn bản không hề được nghỉ một chút nào. Một chặng đường trở về này cực khổ và chậm hơn nhiều so với y cưỡi ngựa phi nước đại một mình. Năm ngàn quan binh đi đủ ba ngày hai đêm, đến hôm nay mới về tới kinh sư.

Dương Lăng phục thánh chỉ ở ngoài triều phòng, nhưng đợi mãi mà thái giám truyền chỉ vẫn chưa triệu y tiến kiến, y nghĩ bây giờ Hoàng Thượng đang có bệnh và xem ra chẳng biết khi nào thì mới có thể gặp mình, nên định trốn vào triều phòng nghỉ ngơi một lát trước. Y duỗi hai chân, thở phào một hơi rồi khép hai mắt bắt đầu lim dim ngủ.

Chẳng biết khi nào bỗng nghe một loạt những tiếng bước chân vang lên, Dương Lăng nửa mê nửa tỉnh mở mắt ra thấy có mấy người mình không quen biết đang đi đến. Có chừng năm sáu người đều là quan văn tam tứ phẩm, Dương Lăng thấy chẳng có ai quen nên lại nhắm mắt ngủ tiếp.

Mấy ngày qua ba vị đại học sĩ vẫn ở trong cung xử lý công vụ, các ty khi có việc cần quyết định sẽ trình vào cung. Mấy quan văn đó vừa mới trình công văn lên cho các đại học sĩ, vì trong đó có vài thứ cần chờ ý kiến phúc đáp cho nên bọn họ tạm tới triều phòng đợi.

Cặp mắt của các vị đại nhân này đều hơi kém cho nên không ai thấy ở trong góc tường mờ tối đó còn có một võ quan đang ngồi, bèn ngồi xuống băng ghế dài bàn tán công việc. Tả thị lang bộ Lại Vương Ngao lo lắng lên tiếng:
- Hoàng Thượng long thể bất an, mọi người cũng vì chuyện này mà chấn động. Đã mấy ngày rồi mà vẫn không thấy long thể tốt lên, trong khi đang có rất nhiều việc ba vị đại học sĩ lại không thể tự quyết, vậy biết phải làm sao bây giờ?

Chiêm sự Dương Phương an ủi nói:
- Vương Đại nhân chớ sốt ruột, nghe nói Hoàng Thượng đã hạ chỉ cho vời Đông cung cùng Tam công thảo luận chính sự. Thái tử là người kế vị, lúc này đây đã có thể thay bệ hạ làm chủ một số việc rồi.

Vương Ngao thở dài nói:
- Thái tử tuổi nhỏ, hãy còn chưa thấu hiểu nỗi khổi của dân gian, nếu chậm trễ một chút mới phê duyệt thì chẳng biết sẽ có bao nhiêu nạn dân gặp họa nữa .

Vị quan trực ban nghe tiếng đã tỉnh dậy, xoay người nhìn thì thấy đó là Vương Ngao, không khỏi cười nói:
- Nguyên lai là Tế Chi*, thảo nào nghe tiếng thấy quen tai . (*: Tên tự của Vương Ngao)

Vương Ngao lúc này mới thấy rõ vị quan trực ban ngủ gật trên bàn đó là Hữu thị lang Tiêu Phương, bèn vội chắp tay chào hỏi:
- Nguyên lai Tiêu đại nhân đang trực ban, long thể Hoàng Thượng thế nào rồi?

Tiêu Phương lắc đầu thở dài, vừa mở mồm định nói, chợt một thái giám già ôm một chồng sớ đi vào. Vị thái giám này chính là Lưu Cẩn - thái giám Chung Cổ ty hầu hạ Đông cung. Thái tử được lệnh thay cha phụ trách thảo luận chính sự cùng Tam công liền dẫn theo hết mấy thái giám đắc lực bên người. Đương nhiên công việc của bọn họ bất quá cũng chỉ là đưa tấu chương để ký duyệt, truyền gọi quan viên cần hỏi xin ý kiến chứ không phải là việc to tát gì.

Nhưng Lưu Cẩn vốn chỉ ở Chung Cổ Ty đánh chuông Cảnh Dương, gióng trống Ty Thần, là một thái giám vô danh, thế mà giờ đây trong tay lão lại cầm lệnh dụ của triều đình, truyền gọi đều là các đại thần trong triều, tuy chỉ làm một chân tiểu nhị sai vặt, nhưng vì những người mà lão tiếp xúc đều là những nhân vật nhất đẳng cho nên không khỏi cảm thấy đắc ý rằng ‘trời đã sinh ra ta, tất sẽ có chỗ dùng’.

Đặc biệt lúc này đây Hoàng Thượng bệnh tình nguy kịch, Đông cung đăng cơ đã là chuyện sớm muộn, Lưu Cẩn lại là người được thái tử tín nhiệm, tiền đồ tương lai của lão tất sáng sủa vô cùng. Vừa nghĩ đến đây, lòng nhiệt tình trong công việc của Lưu Cẩn nhất thời tăng vọt, chạy tới chạy lui giữa điện Cẩn Thân, điện Văn Hoa nơi ba vị đại học sĩ xử lý công vụ và triều phòng suốt ngày mà lão cũng không cảm thấy khổ cực.

Lúc này lão ôm tới chính là tấu chương của hai quan viên bộ Công và bộ Hình. Hai người kiểm nhận xong rồi mở lời cảm tạ. Lưu Cẩn cười hì hì nhận lấy như thể lão chính là người ra phê duyệt, vẻ mặt rất đỗi vinh quang.

Vương Ngao hỏi:
- Công công, Tín Dương bị lũ lụt, tấu chương xin viện trợ vẫn chưa được phê chuẩn à?

Lưu Cẩn đáp:
- Ta chỉ nhận được tấu chương của bộ Công và bộ Hình, có lẽ là ba vị đại học sĩ vẫn chưa duyệt tới tấu chương đó.

Vương Ngao giậm chân nói:
- Ta đang sốt hết cả ruột mà sao vẫn chưa phê chuẩn chứ. Tín Dương ngập lụt, dân chúng không có áo cơm thì triều đình nên lập tức miễn thuế, cứu trợ thiên tai mới phải. Nếu chậm trễ khiến dân nổi loạn thì biết phải làm sao?

Lưu Cẩn nhớ tới lần mình nghe vài đại thái giám trong cung thảo luận về những báo cáo láo về thiên tai hàng năm để thoái thác việc nộp thuế, không khỏi cười huênh hoang nói:
- Đại nhân chớ sốt ruột. Bây giờ vừa mới vào tháng năm, làm gì mà có công văn cứu trợ sớm như vậy? Có khi là được mùa mà báo sằng là mất đó, nói không chừng những quan lại địa phương câu kết với triều thần quê ở Tín Dương trong triều để lấy lòng với địa phương nhằm tranh thủ kiếm chác thanh danh cho mình. Đại nhân phải tra xét cho kỹ lại mới được .

Vừa khéo Thị lang Vương Ngao chính là người Tín Dương, nghe Lưu Cẩn nói như thế lão làm sao có thể nhẫn nhịn, nhất thời lão giận tím mặt, vỗ bàn bộp một cái, đoạn mắng:
- Công công chớ ngậm máu phun người, lũ ở vùng Tín Dương sớm đã bẩm báo, chẳng lẽ chuyện thiên tai này còn giả được sao? Đại sự trong triều, ngươi biết cái gì? Đừng ăn nói bừa bãi!

Lưu Cẩn bị lão ta mắng cho đỏ bừng mặt đã hơi nổi cáu, không khỏi vừa thẹn vừa giận cười nhạt nói:
- Ta nói cũng chỉ là nói đến mấy thủ đoạn mà đám tham quan vô lại hay sử dụng, phải thì phải, không phải thì thôi. Đại nhân không cấu kết với kẻ gian làm việc xấu hà tất giận dữ như vậy, làm người ngoài nhìn vào còn bảo là đại nhân chột dạ nữa đó .

Chiêm sự Dương Phương bên cạnh cũng là tài tử xuất thân từ Tín Dương, nghe vậy lập tức cười khẩy nói:
- Nếu làm bậy thì phải đưa ra chứng cứ xác đáng, lẽ nào chỉ dựa vào ba tấc lưỡi bẩn thỉu của ngươi mà có thể vu tội được à?

Lưu Cẩn nổi giận:
- Hừ! Ta chỉ có lòng tốt nhắc nhở các ngươi đừng bị đám quan lại địa phương lừa bịp. Các ngươi ai nấy cũng đều già gần xuống lỗ rồi, lại lớn hơn ta không biết bao nhiêu tuổi sao đều như một đám con nít lỗ mãng thế, ta đã trêu chọc gì ngươi sao?

Nhất thời lão quên mất tôn ti cao thấp, lại tức giận nói:
- Nếu sai ta đi tìm chứng cứ vậy triều đình còn cần mấy người các ngươi làm gì? Ta chỉ nói có lẽ là quan chức cấu kết chứ có nói là nhất định đâu, nếu ngươi không chột dạ thì sao lại cuống lên như bị đạp nhầm đuôi thế? Ngươi nghĩ mình là cái thá gì?

Ông già Dương Phương cả giận, đứng lên mắng to:
- Ta đường đường là quan tam phẩm của triều đình, cái tên hoạn đến cả sách thánh nhân cũng chưa đọc như ngươi là cái thá gì mà cũng dám nói chuyện với chúng ta ở triều phòng chứ hả?

Lưu Cẩn bị người ta chửi thẳng vào mặt là ”tên hoạn”, chính là phạm vào chỗ cấm kỵ trong lòng lão nên nhất thời mặt đỏ bừng, rồi lão cũng bất chấp lợi hại tiến lên vung tay, tát thẳng vào mặt ông già họ Dương. Dương Phương rú lên một tiếng, thoắt người xông lên vung tay tát lại Lưu Cẩn, trên mặt Lưu Cẩn lập tức in dấu năm ngón tay. Một thư sinh già, một thái giám già gào rú xông vào đánh nhau túi bụi.

Đám hảo hữu Vương Ngao thấy hoạn quan dám ở trong triều phòng ẩu đả với mệnh quan triều đình liền lập tức xông tới đánh hôi, cũng có mấy người không quen với Dương Phương nhưng lại là quan văn nên không khỏi cùng chung mối thù bèn tiến đến giả vờ khuyên bảo, kỳ thật hai tay lại giữ chặt lấy tay Lưu Cẩn. Dương Phương được thể đánh tới làm Lưu Cẩn lại chịu thêm vài quả đấm.

Dương Lăng ngồi ở chỗ tối sớm đã bị cuộc tranh cãi của bọn họ làm bừng tỉnh. Y cũng thấy rõ tình hình tranh cãi, tuy rằng Lưu Cẩn trong lịch sử là một đại ác nhân không thể xấu hơn được nữa nhưng hôm nay trong việc này lão vốn cũng không nói gì quá đáng. Tín Dương có thể xảy ra lũ lụt thật, nhưng việc báo cáo láo mất mùa, lấy lòng địa phương để làm vốn mưu cầu thăng quan cho mình cũng không phải là không có. Nếu nói không đúng thì không để ý tới lão ta là được rồi, hà tất phải giận dữ như thế.

Vì chút chuyện nhỏ này mà bao nhiêu lão già hiếu chiến lại bu vào đấm đá như vậy, kể ra cũng thật rảnh quá đi. Dương Lăng vừa bực mình vừa buồn cười, xông lên kéo Lưu Cẩn ra khỏi đám người.

Các vị đại nhân nhìn thấy một võ quan xông ra cứu người, không khỏi cả giận nói:
- Ngươi là ai? Tên hoạn này dụng tâm hiểm ác, ăn nói bừa bãi, phỉ báng đại thần triều đình, ngươi lại dám nhúng tay vào cứu hắn à?

Dương Lăng nghe xong hơi giận, y nhíu mày nói:
- Các vị đại nhân, việc nhỏ như vậy không cần phải chụp mũ đến thế chứ? Chuyện hôm nay chẳng qua là bởi một câu vô tâm của Lưu công công mà thôi, mọi người lui một bước nhường nhịn nhau là xong, cớ chi hùng hổ dọa người thế?

Lưu Cẩn được kéo ra, tóc tai bù xù, lúc này mới nhìn rõ người cứu lão là Dương Lăng, thế là liền như thấy thân nhân, nức nở nói:
- Dương đại nhân, đại nhân nhìn xem, đại nhân nhìn xem, làm như vậy là sao? Ta có nói gì sai đâu, bọn họ thật khinh người quá đi.

Trong lúc bên này đang ồn ào, một tên tiểu thái giám tới cửa kêu to:
- Vị nào là Dương Lăng Dương đại nhân, Hoàng Thượng triệu kiến!
Nói xong nhìn vào triều phòng, trông thấy tình cảnh này tên tiểu thái giám cũng chết lặng.

Bọn người Dương Phương nghe tên Dương Lăng đã lâu nhưng lại không nhận ra y. Lúc này vừa nghe người này chính là Dương Lăng cho nên không khỏi giật mình lui lại. Dương Lăng nhân cơ hội này kéo Lưu Cẩn với vết bàn tay đỏ lựng in trên khuôn mặt ra khỏi triều phòng, an ủi lão một chút, Lưu Cẩn mới khóc thút thít cáo từ đi tìm Chu Hậu Chiếu để tố cáo.

Dương Lăng đi theo tên tiểu thái giám vào cổng Càn Thanh tới thẳng hậu cung. Vừa mới đi qua một khúc quanh ở cổng Nguyệt Lượng, một thiếu nữ đang dẫn theo đám thị nữ vội vàng từ phía sau cửa chạy tới. Hai bên không kịp tránh nên thiếu nữ đó lỡ đà lao vào lòng y.

Dương Lăng vội vàng đỡ lấy nàng. Thiếu nữ đó úi lên một tiếng, mặt đỏ bừng nhảy ra khỏi lòng Dương Lăng, xoa nhẹ cái mũi đau của mình, khi mắt vừa chạm với ánh mắt của nam nhân trước mắt thì thiếu nữ dung mạo xinh đẹp tuyệt trần đó đột nhiên sửng sốt.

Nàng mở to hai mắt nhìn nhìn Dương Lăng, đột nhiên mừng rỡ lao tới, nắm lấy cánh tay y kêu lên đầy hưng phấn:
- Hóa ra là Dương tướng quân! Nhanh, nhanh, nhanh theo ta đi cứu người. Hoàng huynh đang đuổi giết quốc cữu gia đó!


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 03:05 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 86 - Hoằng Trị băng hà



Dịch: workman

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng khiếp đảm bừng tỉnh, hấp tấp quỳ phục xuống đất, rốt cục y đã hiểu chuyện gì vừa xảy ra: “Hoàng đế... băng hà rồi!”



------------------------

Chương tám mươi sáu: Hoằng Trị băng hà

------------------------
Chương tám mươi sáu Hoằng Trị băng hà.


Dương Lăng nhận ra thiếu nữ đó chính là công chúa Vĩnh Phúc. Vừa nghe Thái tử đang đuổi giết quốc cữu, y cũng không kịp thi lễ với công chúa, vội vàng hỏi ngay:
- Thái tử ở đâu? Xin điện hạ mau dẫn thần đi.

Công chúa Vĩnh Phúc dẫn Dương Lăng vội vàng đi vòng qua cái giá bằng gỗ tử đằng ra ngoài. Tên tiểu thái giám truyền chỉ thấy Dương Lăng lại bỏ chạy đi, không khỏi choáng váng: “Sao vị đại nhân này khoái kháng chỉ vậy ta?” Nhưng công chúa điện hạ dẫn y ly khai rồi, nhất thời hắn cũng không biết phải làm gì, đành cũng chạy theo.

Xuyên qua một hành lang, Dương Lăng thấy trên mười thái giám lẫn cung nữ đang đứng với vẻ mặt kinh hoàng. Khuôn mặt tuấn tú của Chu Hậu Chiếu đỏ bừng bừng, tay hắn cầm một thanh kiếm sắc bén đứng trước một hòn giả sơn. Bên kia hòn giả sơn là một gã đàn ông trên ba mươi tuổi đang theo dõi hành vi của Chu Hậu Chiếu qua khe hở của cái núi đá. Chu Hậu Chiếu vừa đuổi theo là gã liền chạy vòng quanh ngọn ‘núi’ đó, cực kỳ buồn cười.

Công chúa Vĩnh Phúc vội la lên:
- Dương tướng quân mau ngăn Hoàng huynh lại. Thọ Ninh Hầu vừa tới thăm phụ hoàng, Hoàng huynh liền đoạt lấy bảo kiếm của thị vệ đuổi một mạch tới tận đây.

Nghe xong, Dương Lăng sốt ruột bước lên phía trước gọi:
- Thái tử điện hạ! Không nên kích động.

Chu Hậu Chiếu quay người, quát:
- Ai dám lắm chuyện, ta giết luôn...
Hắn liếc mắt nhìn thấy Dương Lăng, bất giác giật mình, thần sắc lập tức dịu lại, vui vẻ nói:
- Dương Thị Độc! Ngươi tới đúng lúc lắm, mau giúp ta bắt tên loạn thần tặc tử này!

Thọ Ninh Hầu đứng ở phía đối diện, nghe nói y là Dương Thị Độc cũng không khỏi mừng rỡ, đây là người mà Hoàng hậu nương nương từng cứu, dù sao y cũng nên trả ân tình cho ta chứ. Gã vội vàng hô to:
- Vi thần oan uổng! Dương Thị Độc cứu ta, ta là Thọ Ninh Hầu Trương Hạc Linh.

Chu Hậu Chiếu phì một tiếng, mắng:
- Tên tặc tử, dù ai cũng không thể nào cứu được ngươi. Ngoan ngoãn để ta trảm một kiếm là xong, nếu không bản thái tử sẽ giết cả nhà ngươi!

Dương Lăng khẽ kéo áo Chu Hậu Chiếu, nghi hoặc hỏi:
- Thái tử! Đường đường một Hầu gia mà bị người cầm kiếm đuổi theo, việc này mà lan truyền ra ngoài, e rằng đám triều thần sẽ không cam tâm đâu. Rốt cuộc Thọ Ninh Hầu đã phạm phải chuyện gì?

Chu Hậu Chiếu oán hận đáp:
- Dương Thị Độc! Mới vừa rồi ta lo cho an nguy của phụ hoàng, chạy tới thăm ngài. Tên súc sinh này vẫn không thèm để tâm tới phụ hoàng, đúng là gian tặc gan lớn! Phụ hoàng ta đang mê man trên giường, hắn dám đứng ở góc điện cười đùa láo lếu với Trương Duyên Linh. Như vậy cũng thôi đi, nhưng trong lúc nói cười hắn lại dám cầm vương miện tự đội lên đầu. Hắn dám làm việc đại nghịch bất đạo như vậy, ngươi nói xem ta có nên giết không?

Dương Lăng cũng giật bắn cả người. Tuy nói chỉ là đội cái mũ lên đầu, nhưng trong thời đại hoàng quyền là tối cao, vương miện chính là một biểu tượng. Chỉ bằng việc này, nếu gán cho Thọ Ninh Hầu cái tội mưu nghịch thì cũng không quá đáng.

Dương Lăng liếc nhìn Thọ Ninh Hầu, thấy gã sắc mặt tái nhợt, hai tay vẫn còn run rẩy, liền nói với Thái tử:
- Điện hạ! Nếu luận tội thì hắn quả là đáng chết, nhưng cũng nên xử phạt theo pháp luật của triều đình mới đúng. Nếu người ở ngay trong cung mà đuổi giết một vị Hầu gia như vậy, người ngoài không biết tất nhiên sẽ đồn đại linh tinh. Huống hồ bệ hạ vẫn bênh vực Hầu gia, nếu vì vậy mà ảnh hưởng tới bệnh tình bệ hạ, thì điện hạ phải tính sao? Hiện tại nên lấy bệnh của Hoàng Thượng làm trọng chứ!

Nghe y đề cập tới hoàng đế, Chu Hậu Chiếu đột nhiên tỉnh ngộ, nói:
- Đúng rồi! Hắn thấy ta thì lập tức bỏ chạy rồi, không biết chừng việc ta đuổi theo hắn đã làm phụ hoàng kinh động. Mau mau, về thăm phụ hoàng, để phụ hoàng khỏi phải lo lắng!

Chu Hậu Chiếu nói gió là gió, nói mưa là mưa. Hắn bỏ qua Thọ Ninh Hầu đang sợ tới mức gần chết, một tay cầm bảo kiếm, một tay kéo Dương Lăng, vội vàng chạy về Càn Thanh cung.

Thọ Ninh Hầu chẳng biết Thái tử và Dương Lăng nhỏ to cái gì, thấy Dương Lăng chỉ nói vài lời linh tinh mà đã khuyên Thái tử bỏ đi, xem ra mình vốn là cậu của Thái tử mà lại không được hắn coi trọng bằng ngoại nhân. Gã ngẫm nghĩ một lát rồi phất tay áo, lao về phía Khôn Ninh cung.

********

Lúc này Thái tử làm giám quốc, không cần phải thông báo mới được yết kiến. Dương Lăng bị hắn kéo một mạch, vội vội vàng vàng xông bừa vào Đông Noãn Các. Hoàng đế Hoằng Trị đang dựa vào gối nhìn ra cửa. Dương Lăng không dám nhìn nhiều, vội vàng quỳ xuống đất, cao giọng bẩm:
- Thần Dương Lăng khấu kiến Hoàng Thượng!

Hoằng Trị vừa tỉnh lại, đúng lúc thấy Thọ Ninh Hầu và Thái tử vội vội vàng vàng ly khai. Lúc này thấy Dương Lăng yết kiến, ông cũng không vội hỏi chuyện Thái tử, mà nhìn nhìn đánh giá Dương Lăng vài lần, rồi mỉm cười nói:
- Bình thân! Dương khanh chỉ tham gia quân đội một thời gian ngắn thôi nhưng lại đã có khí phách oai hùng rồi, trẫm rất vui.

Dương Lăng khom người đáp:
- Tạ ơn bệ hạ khích lệ, thần phụng chỉ luyện binh, không dám lười biếng, chỉ là mãi đến hôm nay vẫn chưa có công trạng gì, phụ lòng thánh thượng kỳ vọng, thần thật sự xấu hổ.

Hoằng Trị cười khà khà nói:
- Dương khanh bất tất quá khiêm tốn, phương pháp luyện binh của ngươi rất hiệu quả. Chỉ trong một thời gian ngắn ngủn mà đã có hiệu quả như vậy, trẫm rất lấy làm hài lòng. Ngươi đã đến đây thì tốt rồi, Miêu Quỳ, đưa Dương khanh tiếp nhận Cấm cung đi.

Dương Lăng hơi bất ngờ. Y vốn tưởng rằng Hoằng Trị nhất định còn phải kiểm tra y một hồi, do đó trên đường đã chuẩn bị tâm lý, không ngờ hoàng đế Hoằng Trị chẳng hỏi han gì đã cho y đi luôn. Dương Lăng thấy Miêu Quỳ tới cửa rồi, liền thi lễ cáo lui, theo Miêu Quỳ đi tới Cấm cung.

Chu Hậu Chiếu đứng bên cạnh giường Hoằng Trị kỳ lạ hỏi:
- Phụ hoàng! Người nói phải đối xử với bề tôi thật tốt, còn nói Dương Thị Độc có thể làm cánh tay đắc lực của con, vì sao chỉ nói vài lời linh tinh rồi đuổi y ra ngoài?

Hoằng Trị vỗ vỗ cái sạp, ra ý bảo con ngồi xuống, rồi nói với hắn:
- Hoàng nhi! Thưởng phạt phải chừng mực thôi, thưởng quá thì họ không biết ân, trừng trị nhiều quá thì chẳng biết sợ. Dương Lăng thăng chức nhanh chóng, đã khiến trăm quan phải tròn mắt; nếu ân sủng y nhiều quá thì cũng không phải là chuyện tốt đâu.

Ông cầm tay con trai, cười khà khà nói:
- Y là cựu thần Đông cung, bây giờ là thị vệ hoàng cung, sau khi hoàng nhi đăng cơ, lại có công theo phù tá, chẳng lẽ trẫm còn phải phong y làm bầy tôi được uỷ thác giúp tân vương sao? Ha ha, y là bầy tôi của con, phần ân huệ này cứ do con ban cho y đi.

Chu Hậu Chiếu nghe phụ hoàng nói thế, không khỏi lo sợ nói:
- Phụ hoàng! Làm gì phải nói những lời ấy, thân thể của cha...

Hoằng Trị thấy hắn đau lòng, vội ngắt lời:
- Hoàng nhi! Vừa rồi trẫm tỉnh lại, thấy con vội vội vàng vàng đuổi theo quốc cữu, có chuyện gì thế?

Chu Hậu Chiếu vừa nghe thế, mặt giận tới đỏ bừng, oán hận đem việc vừa xảy ra thuật lại. Hoằng Trị nghe xong không khỏi phì cười, ông khẽ lắc đầu, nói:
- Một việc nhỏ, hoàng nhi hà tất phải để ý! Thọ Ninh Hầu nói năng tuỳ tiện như thế, có thể là người làm được đại sự sao? Họa lớn, chà, không phải ở trong triều đâu.

********

Nghe Trương Duyên Linh chạy tới báo tin, Trương hoàng hậu vội dẫn đám cung nữ lật đật chạy đi cứu người, nhưng lại thấy Trương Hạc Linh mất hết hồn vía chạy về cung, lúc này mới yên lòng. Bà về ngồi lại trên chiếc đôn gấm, bảo các cung nữ:
- Tất cả lui ra!

Trương hoàng hậu đã trên ba mươi tuổi, nhưng vốn là một mỹ nhân mặt đẹp như hoa, hơn nữa lại chăm sóc nhan sắc rất chu đáo nên tuy đã sinh hạ vài người con nhưng nhìn vẫn như hai mươi, thần thái đoan trang, dung mạo kiều mỵ. Nếu bà đứng cạnh công chúa Vĩnh Phúc thì giống như một cặp chị em.

Hoàng hậu có tình vợ chồng với Hoằng Trị gần hai mươi năm, phu thê tình thâm. Thấy Hoàng Thượng không còn sống bao lâu nữa, mấy ngày nay trong lòng bà cũng bi thương vạn phần. Bây giờ hai người anh không biết điều còn gây thêm chuyện, trong lòng bà cũng hơi giận.

Kỳ thật việc này nếu xảy ra ở nhà một người bình thường thì cũng không phải là việc lớn, chẳng phải chỉ là việc anh trai đội mũ của em vợ sao? Nhưng đối phương là Hoàng Thượng, việc này phải xem ngươi giải thích như thế nào đây.

Hai người bọn họ vốn được muội muội chỉ điểm, nên tới thăm bệnh tình hoàng đế Hoằng Trị nhằm biểu hiện mình là bầy tôi trung thành. Nhưng tinh thần Hoằng Trị rất tệ, cùng bọn họ trò chuyện một hồi liền ngủ gật. Hai người không dám gọi hoàng đế tỉnh lại, nhưng nếu chẳng nói một tiếng mà đã lui ra thì không hay, nên đành đứng ở góc cung chờ đợi, nói chuyện phiếm với nhau .

Trương Duyên Linh tới nơi thấy bệnh tình Hoằng Trị ngày càng nghiêm trọng, lo lắng sau khi ông ta băng hà, quyền thế của Trương gia sẽ bị ảnh hưởng. Trương Hạc Linh lại không thèm để ý. Hắn cho rằng cho dù hoàng đế băng hà, tân hoàng đế vẫn là cháu trai của mình. Cháu trai là hoàng đế, muội muội là Hoàng thái hậu, vậy thì có gì phải lo lắng?

Hắn cười nói với Trương Duyên Linh:
- Nhị đệ bất tất lo lắng. Nếu như Hoàng Thượng băng hà, quyền lực của anh em ta chỉ sợ sẽ lớn hơn nữa cơ. Vua nào triều thần nấy. Tân đế đăng cơ đều phải phong tước rộng rãi cho quần thần, đến lúc đó để muội muội lấy danh nghĩa Thái hậu ban cho chúng ta một chức. Không phải Thần Cơ doanh vẫn còn chưa có quan chưởng quản chính thức sao? Chúng ta sẽ đi chưởng quản Thần Cơ doanh, ta làm doanh quan, ngươi làm phó tướng, vậy là có vài vạn hùng binh trong tay ấy chứ! Hơn nữa Thần Cơ doanh luôn luôn do vương công nắm giữ, ta từ Thọ Ninh bá thăng lên thành Thọ Ninh hầu đã vài năm rồi, chẳng phải lúc đó sẽ lên chức Thọ Ninh công sao?

Trương Hạc Linh nói với vẻ hí hửng. Nhìn thấy y phục của Hoằng Trị đặt trên án, hắn thuận tay lấy vương miện đội lên đầu, cười hì hì nói:
- Đến lúc đó, trước mắt thiên hạ, ngoại trừ hoàng đế thì còn lại là ngươi và ta. Lời nói của anh em chúng ta khác gì với lời của hoàng đế chứ?

Thật khéo làm sao, đúng lúc đó thái tử Chu Hậu Chiếu vừa tới Đông Noãn Các. Thái tử thấy hai vị quốc cữu đứng ở góc điện cười nói, trong lòng đã cảm thấy không vui, lại thấy hắn đội đế miện của cha mình, lập tức nổi giận. Thái tử thấy hắn mặt mày xám xịt chạy khỏi đại điện liền lập tức rút ngay bảo kiếm của tên thị vệ đuổi theo.

Trương hoàng hậu thấy ca ca không việc gì, không khỏi oán hận bảo:
- Hai vị ca ca thật không biết cao thấp. Các người nói năng tuỳ tiện không đâu vào đâu cả, tại sao dám đội vương miện chứ? Nếu bệ hạ phát hiện nổi giận, đến cả muội cũng không thể gỡ tội cho hai người.

Thọ Ninh Hầu mặt méo xẹo đáp:
- Là ca ca không đúng! Nhưng Thái tử là con ruột của muội, thế mà dám xuống tay với cậu ruột của hắn, đến lúc hắn kế tục sự nghiệp cha mình, huynh đệ chúng ta còn có đường sống không?

Trương hoàng hậu hậm hực nói:
- Hoàng gia không có tình cảm. Loại thiên tử nhân hậu như Hoàng Thượng quả là từ cổ chí kim cũng không được mấy người đâu. Các ca... chà, bây giờ Hoàng Thượng sắp đi rồi, các ca ca sau này phải cẩn thận một chút, đừng để bị đám đại học sĩ nắm đuôi, ai sẽ là chỗ dựa cho các người đây?
Bà nói rồi lại nhớ tới bệnh tình của Hoàng Thượng, không khỏi đau lòng rớm lệ.

Thọ Ninh Hầu vội la lên:
- Hoàng hậu! Đó chẳng khác nào bảo ta phải nhón gót mà đi sao, có vương hầu nào mà không oai phong cơ chứ? Mấy ca ca phải làm người cụp đuôi, muội làm hoàng hậu còn gì là oai phong nữa? Muội tử, muội không biết Thái tử lúc đó ác độc như thế nào đâu, chẳng còn chút thân tình nào với ca ca cả, nếu không nhờ có Dương Thị Độc cứu, ca ca bây giờ đã đầu một nơi mình một nẻo rồi.

Gã nói rồi không kìm được khóc lóc kể lể:
- Hoàng hậu! Lúc này Hoàng Thượng bệnh tình nguy kịch, chỗ dựa vững chắc của Trương gia cũng sắp đổ. Thái tử từ bé đã xa cách chúng ta, đến cả với em, nó cũng không tỏ vẻ là một đứa con hiếu thảo. Đợi khi Thái tử làm hoàng đế, có thể cả nhà họ Trương chúng ta lâm vào cảnh dao treo trên đầu, chẳng biết khi nào thì rơi xuống cả.

Trương hoàng hậu nghe hắn nói thế mà rối loạn tâm thần. Ngẫm lại đứa con của mình quả thật từ bé cũng không thân cận gì với mình, đặc biệt là sau khi có lời đồn nghi ngờ mình không phải là mẹ ruột của nó, cảm tình càng ngày càng ít đi. Trong lòng bà vô cùng đau khổ, cũng không khỏi châu lệ chảy ròng ròng, thương tâm nói:
- Phúc lộc của Trương gia chúng ta đã hết rồi à? Muội chỉ có một con trai, thế mà nó lại chẳng hề hiếu thảo gì với muội cả. Nếu hắn thật sự muốn chỉnh lý Trương gia, bản cung có thể làm gì được chứ?

Con ngươi Trương Duyên Linh đảo lia lịa, hắn vỗ đầu nói:
- Muội tử! Trương gia chúng ta dựa vào gì mà phát đạt? Là vì quan hệ thông gia: muội được gả cho Hoàng Thượng, Trương gia chúng ta mới có được vinh hoa phú quý bực này. Muốn tiếp tục thân cận với hoàng đế, chúng ta phải lập quan hệ thông gia.

Hoàng hậu giật mình, nghi hoặc nói:
- Quan hệ thông gia với Thái tử? Thái hậu vẫn còn tại thế, việc chọn lựa hoàng hậu không phải do muội làm chủ đâu.

Trương Duyên Linh đáp:
- Muội tử hiểu lầm rồi! Quan hệ thông gia mà ca ca nói không phải là quan hệ thông gia với Thái tử, mà là với đại thần rất được Thái tử tin yêu.

Hoàng hậu kinh ngạc hỏi:
- Với ai cơ? Lưu Kiện? Lý Đông Dương? Hay là... Nhưng cháu của mấy tên đại học sĩ mới thích hợp chứ nhỉ?

Trương Duyên Linh bĩu môi, khinh thường nói:
- Thái tử không muốn nhìn ta, cũng chẳng thèm quan tâm tới bọn họ, quan hệ thông gia với bọn họ thì ăn thua gì? Mới vừa rồi Thái tử đuổi giết ca ca, ta vốn định khuyên giải, Thái tử lại xoay tay đâm một kiếm, suýt nữa đâm thủng tim ta. Nghe ca ca kể lại, tên Dương Lăng chỉ nói vài lời linh tinh đã có thể khuyên can được Thái tử, không phải là sủng thần của Thái tử sao? Muội muội có ân cứu mạng hắn, lôi kéo hắn cũng rất dễ.

Trương hoàng hậu nghe xong sầm mặt xuống, phất tay áo đáp:
- Lẽ nào lại như vậy! Dương Lăng đã có vợ, đường đường là công chúa, há có thể làm thiếp người khác? Cho dù là làm vợ như nhau, công chúa cũng không thể làm cái việc chia sẻ chồng chung với người khác, quả thực là chuyện cười của hoàng gia!

Trương Duyên Linh vội vàng chỉ vào mũi mình nói:
- Là ta, là ta! Ai nói là phải gả công chúa chứ? Muội là người trong gia đình nên chúng ta không khách khí, nói thật nhé, làm Phò mã Đại Minh rất là khó chịu, ai mà thèm sắm vai đó? Y bây giờ đang rất vẻ vang, muội muội đem công chúa gả cho y, chưa chắc y đã nhận. Ta vừa nói là con gái của ta cơ.

Trương hoàng hậu ngạc nhiên nói:
- Chuyện gì? Con gái của ca ca? Vậy ca gả con cho ai thì tùy, cần gì phải hỏi muội? Nhưng... con gái của ca tốt xấu gì cũng là thiên kim hầu phủ, chẳng lẽ lại gả cho y, không sợ người ta cười à?

Trương Duyên Linh cười nói:
- Con gái ta nói là con do thiếp sinh ra, đâu có chuyện gì đâu. Tuy nhiên vẫn phải giữ thể diện của Hầu gia ta mà, nếu nghe chừng không ổn, vậy bảo là Hoàng hậu nương nương ban hôn đi, thế thì trở thành một câu chuyện mọi người ca tụng. Đã có ý chỉ, không ai còn nói ra nói vào, y cũng phải đối xử như vợ (*). Việc này sẽ thể hiện được sự tín nhiệm của Hoàng hậu với Dương Lăng, mà vẫn giữ được thể diện của chúng ta, chẳng phải hai bên đều vui sao? (*: bình thê: người vợ cưới sau, nhưng được đối đãi như vợ cả)

Trương Hạc Linh nghi ngờ nhìn người em vốn chưa chín chắn. Nhìn qua thì biện pháp này quả là một trò hay. Lôi kéo sủng thần bên người của tân đế đương nhiên là biện pháp tự bảo vệ rất tốt. Hơn nữa vừa rồi y chỉ nói nhỏ vài câu, Thái tử đã theo lời đi ngay. Ngoại trừ hoàng đế Hoằng Trị ra, chẳng có mấy ai có thể chi phối Thái tử như vậy, nhưng... Chỉ nhét cho người ta một đứa con gái là có thể khiến y bán mạng cho họ Trương được sao? Mánh lới kết giao kiểu này đã được bày ra cả ngàn năm nay, thật ra có mấy người khẳng định là thành công chứ?

Trương hoàng hậu có vẻ không vui nói:
- Thôi đi! Con trai của muội sẽ làm hoàng đế lại khiến hai ca ca kinh hãi đến nổi phải đem con gái mua vui cho sủng thần của hắn, bản cung quả thật nản lòng. Ca ca tự nguyện làm như vậy, muội cũng chẳng quản được ca ca, chỉ là việc mất mặt như vậy thì muội không thể ra mặt cho ca, ca ca muốn nói thì tự mình đi đi. Nếu y đồng ý thì bản cung ra mặt ban hôn cũng được, chỉ là... tên Dương Lăng đó rất yêu vợ, dám kháng cả thánh chỉ vì vợ, nếu con gái của ca ca không phải quốc sắc thiên hương thì việc này...

Trương Duyên Linh cười nói:
- Hoàng hậu yên tâm, tuy Dương Lăng nặng tình với vợ, nhưng y vẫn còn trẻ tuổi háo sắc. Ca nghe nói y vừa nạp vài cô thiếp xinh đẹp nữa. Tuy con gái ca không phải quốc sắc thiên hương, nhưng bộ dáng cũng rất xinh đẹp. Muội đồng ý làm như vậy là tốt rồi, ca ca sẽ tìm cơ hội nói với y, nhất định mã đáo thành công.

Trương Hạc Linh âm thầm lắc đầu, thất vọng thầm nghĩ: “Nhìn tình hình này, thì tất cả đều sẽ thành công cốc thôi. Đến cả hoàng hậu mà cũng chẳng nắm chắc đối với Thái tử, vậy ai có thể làm cho hắn phải kiêng kỵ đây? Muốn giữ gìn được cơ nghiệp Trương gia, không thể dựa vào người em không có đầu óc này được, còn có cây đại thụ nào khác có thể dựa vào đây? Có lẽ... “

********

Quản một đội quân rất lạ. Ai cũng biết cường quân nhất định phải có quân kỷ nghiêm minh, còn quân kinh thành là một thứ quái thai. Họ được trang bị tốt hơn biên quân nhưng chiến lực yếu hơn biên quân, song quân kỷ nghiêm minh lại trên hẳn biên quân.

Dương Lăng bố phòng binh mã ba ty của Thần Cơ doanh chung quanh các nơi hiểm yếu quanh cung, rồi mỗi ngày đều tự mình tuần phòng qua các các con đường trong cung điện, không hề dám lười biếng chút nào. Y sợ đám quan binh vừa vào Tử Cấm thành sẽ gây nên mấy vụ trộm lặt vặt, dụ dỗ cung nữ.

May mà việc này cũng chỉ là lo xa. Đám Liên Đắc Lộc, Bành Kế Tổ bây giờ y nói gì nghe nấy. Đô ty của Đệ tam ty là người được Dương Lăng đề bạt từ phó đô ti của Đệ tam ty ngày trước. Người này tuy không giỏi lắm, nhưng lại là người rất trầm ổn kiên định, thừa hành quân lệnh không hề cẩu thả, nên tuân thủ quân lệnh của Dương Lăng, ước thúc thuộc hạ cực nghiêm. Hơn nữa sĩ quan quân đội cấp dưới trong quân cũng cực kỳ ủng hộ Dương Lăng, do đó quân lệnh của Dương Lăng hiểu dụ ba quân khi suất binh tiến cung đều được mọi quân sĩ quán triệt, không ai dám vi phạm.

Liên tiếp tuần tra hai ngày thấy bọn quan binh dưới sự ước thúc của những tướng tá đó đều rất tận tâm, theo đúng qui tắc tuần tra, bố phòng, lúc này Dương Lăng mới cảm thấy thoải mái hơn nhiều.

Ngoại trừ vấn đề quân kỷ, y cũng không phải lo lắng gì nhiều. Hoàng đế Hoằng Trị chỉ có một con trai, đám hoàng tử hoàng tôn của họ Chu sớm đã bị đuổi ra khỏi kinh rồi. Việc thái tử đăng cơ cũng không có gì phải lo lắng, hoàn toàn không xảy ra tình huống các Vương đoạt ngôi. Hoằng Trị hoán đổi binh lính cũng chỉ là thủ đoạn dự phòng bình thường khi thay đổi giữa hai đời vua thôi.

Quân kỷ không vấn đề gì, nhiệm vụ đóng giữ hoàng cung cũng đã hoàn thành hơn phân nửa rồi. Chỉ là bệnh của Hoằng Trị một ngày chưa khỏi hoặc Thái tử một ngày chưa đăng cơ, thì trách nhiệm đóng giữ vẫn chưa được giải trừ. Các cửa cung thành đều phong bế, việc đại thần dâng và nhận bản sớ đều là do những người đặc trách đứng ở cửa bên xử lý, lúc này, y là chủ soái tam quân nên tuyệt đối không ly khai được.

Dương Lăng tới cửa ngọ môn, đám quan binh đóng ở đây thấy tướng quân tới, đều tới tấp thi lễ với y. Dương Lăng gật đầu ra hiệu chào họ, đến gần cửa cung, nghe thấy bên ngoài có tiếng lao xao, trong lòng y hơi cảm khái: rõ ràng hoàng đế Hoằng Trị rất được bầy tôi kính yêu. Từ khi ông bệnh nặng đóng cửa cung tới nay, mỗi ngày đều có hàng loạt quan chức tụ ở ngoài ngọ môn chờ tin tức Hoàng Thượng, mỗi khi có một thần tử lấy bản sớ ra ngoài, đều có một đám quan viên ùa lên hỏi đông hỏi tây, hơn nủa canh giờ mới đi được.

Y lắc lắc đầu, quay người đi về phía Kim Thủy kiều. Vừa mới đi ra cửa cung thành, y thấy Kiến Xương Hầu Trương Duyên Linh được một tiểu thái giám dẫn đường tới đón, cười rộng miệng:
- Dương đại nhân? Bản hầu là Kiến Xương Hầu Trương Duyên Linh, muốn tìm đại nhân có một việc muốn nói.

Thấy tướng mạo vị Hầu gia này hơi giống Thọ Ninh Hầu, Dương Lăng cũng chắp tay chào, kinh ngạc hỏi:
- Hầu gia tìm hạ quan có chuyện gì thế?

Kiến Xương Hầu cười khà khà:
- Một việc vui! Tới đây, mời Dương đại nhân sang đây vài bước nói chuyện.
Kiến Xương lôi Dương Lăng sang bên cạnh vài bước, rồi mỉm cười nói:
- Đại nhân tuổi trẻ đầy hứa hẹn, thanh danh chấn động cả kinh sư, tiểu nữ cũng rất hâm mộ nhân phẩm học thức của đại nhân. Vì vậy bản hầu xin được trèo cao, muốn mai mối cho cuộc nhân duyên này, hai nhà chúng ta kết làm tần tấn, vậy không phải là đại hỷ sự sao?

Dương Lăng nghe thế ngạc nhiên, bật cười ha ha:
- Hầu gia lỗ mãng rồi. Dương Lăng sớm đã có vợ, sao có phúc khí để cưới thiên kim nhà Hầu gia chứ?

Kiến Xương hầu ha ha cười đáp:
- Đương nhiên ta biết việc này chứ! Dương đại nhân đưa vợ tìm thầy thuốc đã rất nổi tiếng mà. Nhưng cũng chính là vì như thế nên tiểu nữ mới hâm mộ đại nhân. Đại trượng phu ba vợ bốn nàng hầu rất bình thường, cả hai người đều làm vợ cả là chuyện tốt xưa nay, có gì sai đâu?

Dương Lăng mỉm cười lắc đầu nói:
- Cảm ơn ý tốt Hầu gia, Dương Lăng cả đời này chỉ có một vợ. Ý tốt của Hầu gia Dương Lăng chỉ biết tâm lĩnh thôi.

Kiến Xương hầu có vẻ không vui nói:
- Dương đại nhân! Hoàng hậu nương nương cũng đã gật đầu đồng ý về việc này. Nương nương rất hâm mộ ngài. Chúng ta hai nhà kết thông gia, sau này có Hoàng hậu nương nương đỡ đầu, tiền đồ của ngài không cần nói cũng biết. Nếu không theo, ta thì không sao, chỉ sợ Hoàng hậu nương nương sẽ không vui đó.

Dương Lăng khẽ nhăn mày, hỏi:
- Hả? Đây có thể xem là ý chỉ của Hoàng hậu nương nương sao?

Trương Duyên Linh nghe ngữ khí của y, trong lòng không khỏi giận dữ: “Tiểu tử này thật không biết điều. Ngươi khoe khoang dám kháng thánh chỉ nên không để ý chỉ của nương nương vào mắt nữa à?”

Trương Duyên Linh đỏ mặt đang muốn chống chế, chợt nghe tiếng chuông trống thong thả cất lên, âm thanh vang vọng khắp hoàng thành. Tiếng chuông trống đầu tiên vừa vang lên, lập tức hắn đã phát giác có điều không ổn. Lúc này không phải lúc thượng triều, tại sao lại có tiếng chuông trống, hơn nữa tiếng chuông trống không đánh lần lượt mà là đồng thời cùng đánh?

Trong lòng hắn dâng lên cảm giác có điềm xấu, không khỏi ngẩng đầu nhìn về Càn Thanh cung, chỉ nghe tiếng chuông trống liên tục không ngừng, đánh chín lần, thanh âm truyền khắp trong ngoài cấm cung.

Tất cả đám quan binh, cung nữ, thái giám đang đi lại đều lặng im, quay người về phía hậu cung. Dừng lại một lát, cả hoàng cung vắng lặng không một tiếng động, đến cả những triều thần đang ầm ĩ ngoài cửa cung cũng lập tức nín im phăng phắc. Tiếng chuông trống ngừng lại, chỉ dừng trong khoảnh khắc, rồi tiếng chuông trống lại vang lên. Đầu tiên là một người, kế tiếp là vài người, sau đó tất cả mọi người đều quay về phía Càn Thanh cung, cúi người dập đầu.

Kiến Xương hầu hơi tròn miệng, nhất thời nói không ra tiếng, rốt cuộc hai gối mềm nhũn, hoảng sợ quỵ xuống. Dương Lăng đang không biết chuyện gì xảy ra, chợt nghe từ sâu trong hậu cung sau lưng có âm thanh như tiếng mưa rào, rồi cũng không biết có bao nhiêu người như đang phát điên đập vào cánh cửa cung dày nặng, tiếng gào khóc từ ngoài xuyên qua ngọ môn vọng vào.

Dương Lăng khiếp đảm bừng tỉnh, hấp tấp quỳ phục xuống đất, rốt cục y đã hiểu chuyện gì vừa xảy ra: “Hoàng đế... băng hà rồi!”


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 03:07 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 87 - Chính Đức Ban Chiếu



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: X1999_vn

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Chính Đức Hoàng đế hơi khựng lại, thấy các quan vẫn không thuận theo, cuối cùng hắn nổi giận đùng đùng, đứng bật dậy nhảy ra khỏi ghế nói:
- Chức Hoàng đế này là ta làm hay các ngươi làm, việc này không được, việc kia cũng không được, vậy làm Hoàng đế cũng như không.

Chu Hậu Chiếu nói rồi tháo đai ngọc xuống, muốn cởi long bào, làm hai Đại thái giám Vương Nhạc và Trương Thọ vội vàng chạy lên ôm lấy hắn. Văn võ bá quan đang khóc lóc ầm ĩ, Chính Đức vừa làm như vậy, khiến cả đám đều ngẩn người.



------------------------

Chương tám mươi bảy - Chính Đức Ban Chiếu

------------------------




Dương Lăng chạy tới Đông Noãn các, đám cận thần bên cạnh Hoàng đế đã thay quần áo màu trắng.

Nhìn thấy Dương Lăng tới, Trương Vĩnh vội vàng ra đón. Trận đòn của Hoằng Trị Hoàng đế trong lần đình trượng đó, mấy người này đều bị đánh thật, phải nằm cả nửa tháng mới dám xuống giường đi lại. Do đó, bọn họ mấy hôm rồi không gặp Dương Lăng.

Hôm nay Hoằng Trị đế uống xong thuốc do thái y dâng lên thì đột nhiên chảy máu mũi, dùng mọi biện pháp cũng không cầm được. Máu chảy ướt đẫm trên mười chiếc khăn, không lâu sau thì đột ngột qua đời. Chu Hậu Chiếu nằm trên thi thể nức nở, ai khuyên cũng không nghe. Lưu Cẩn, Trương Vĩnh và mấy tên nội thị đang rất sốt ruột.

Cuối cùng, Hoàng hậu cũng phải lên tiếng, nhưng Thái tử vẫn không nghe, khăng khăng không cho phép bất cứ kẻ nào chạm tới di thể của Hoàng đế. Đám thái giám ở ngoài cung đợi lau chùi thay áo cho thi thể Hoàng thượng, nhưng do không có ai dám nghịch ý Thái tử, nên bọn họ đều đang đứng chờ.

Lúc này thấy Dương Lăng tới, Trương Vĩnh như gặp được cứu tinh, vội vàng cầm theo mớ đồ tang ra đón. Dương Lăng vừa mặc, vừa nghe Trương Vĩnh lo lắng nói:
- Dương đại nhân, điện hạ thương tâm khóc mãi, lại không cho đám nội thị được động tới thân thể của Hoàng thượng. Ta đợi mãi cũng sốt ruột, lại nghĩ không ra lời nào có thể an ủi được Thái tử, ngươi mau đi xem một chút đi.

Dương Lăng đeo xong băng tang, cầm bảo kiếm đưa cho thị vệ đứng ở cửa cung, vội vàng đi vào Đông Noãn các. Chu Hậu Chiếu ngồi quỳ trước giường, vẫn đang lặng lẽ khóc. Trương Hoàng hậu, hai Công chúa Vĩnh Phúc, Vĩnh Thuần đều mặc đồ trắng, như ba đóa hoa lê dưới mưa, rơi lệ lã chã đứng ở phía sau.

Dương Lăng nhìn thấy Hoàng hậu và hai Công chúa, vội vàng khom người xuống. Trương Hoàng hậu phất tay, sau đó đưa mắt nhìn hắn, rồi quay đầu nhìn Thái tử một cái, khe khẽ thở dài, lôi hai Công chúa rời khỏi tẩm điện.

Dương Lăng thấy Hoàng hậu và Công chúa đã đi, liền lặng lẽ đi đến bên người Chu Hậu Chiếu quỳ xuống. Chu Hậu Chiếu vẫn ngây ngốc kéo bàn tay lạnh lẽo của Hoằng Trị, chỉ im lặng khóc, không hề nhìn người bên cạnh.

Dương Lăng thấp giọng an ủi vài câu, Chu Hậu Chiếu vẫn chẳng ừ hử gì. Dương Lăng thấy hắn thần sắc ngây ngốc, coi như không nhìn thấy người khác, nghĩ thầm mời tướng không bằng khích tướng. Tiểu Thái tử tuổi còn nhỏ, bảo rằng phải nén bi thương thì cũng không ăn thua gì, không bằng để hắn phấn chấn tinh thần lên một chút. Dương Lăng ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Điện hạ, thần nhớ có giảng cho ngươi câu chuyện kể về một vị Hoàng đế rồi mà? Một đời đế vương tựa như mặt trời mọc và mặt trời lặn. Một ngày nào đó, mặt trời sẽ theo một vị đế vương vừa mất đi mà lặn xuống, nhưng lại theo tân thiên tử mà mọc lên. Quân vương mất đi hóa thành tinh tú trên bầu trời, ở trên trời nhìn người thừa kế mà chính mình lựa chọn, xem hắn có phụ lòng với sự phó thác của mình không.
Điện hạ, Hoàng thượng là một vị minh quân từ cổ chí kim khó tìm được. Ngươi là nhi tử duy nhất của Hoàng thượng, sắp trở thành đế vương của Đại Minh, trở thành tân thái dương, ngươi sẽ phụ lòng hi vọng của bệ hạ không?

Chu Hậu Chiếu nghe xong giật mình, hắn hít mạnh, nắm chặt tay Hoằng Trị, trên khuôn mặt ngây thơ hiện lên vẻ nghiêm túc, tuyên thệ nói:
- Ta quyết không phụ lòng kỳ vọng của phụ hoàng. Ta sẽ như phụ hoàng, trở thành một minh quân có đạo, một thiên tử đầy hứa hẹn.

Dương Lăng nói:
- Thần tin mỗi một triều đại, mỗi một vị Thái tử, khi hắn lên đế vị, lúc ngồi trên ngai vàng, đều sẽ nghĩ như vậy, đều từ trong tâm muốn làm một Hoàng đế tốt. Nhưng có người làm được, có người lại thành vua bình thường. Thậm chí, có người là hôn quân, là vua mất nước.

Chu Hậu Chiếu bỗng nhiên quay đầu lại, trừng mắt, phẫn nộ nói:
- Ngươi hoài nghi ta à? Ngươi nói ta không làm được sao?

Dương Lăng bình tĩnh nói:
- Thần tin lời điện hạ nói là phát ra từ bản tâm, tin rằng Thái tử không phải nhất thời tâm huyết dâng trào. Nhưng có hùng tâm tráng chí là chưa đủ, minh quân không phải chỉ nói, mà là phải làm. Dân chúng khắp thiên hạ vừa nghe mất đi một vị vua nhân hậu, đều đang trông mong để thấy tân hoàng sẽ làm gì. Nếu hắn chỉ biết khóc sướt mướt tại đây, hắn có thể trở thành một vị minh quân sao?

Chu Hậu Chiếu nghe xong sắc mặt vừa xanh lại vừa đỏ, đỏ rồi lại xanh. Hắn còn nhỏ, sao chịu được Dương Lăng kích thích như vậy, giận dữ một lát, rồi đột nhiên đứng bật dậy quát to:
- Người đâu, tẩm liệm thay đồ cho phụ hoàng.

Dương Lăng nhếch miệng, một chút tiếu ý khó nhận ra hiện lên.

Đám nội quan thái giám thiết lập linh đường, bố trí trong cung. Hỗn Đường ti (*) thì rửa ráy thay đồ cho Hoằng Trị đế, làm khăn tang, may đồ tang, nhuộm vải tang, chuẩn bị đủ thứ đồ tang cho các vương hầu công khanh, các quan chức các bộ. (*: một trong bốn ti của nhà Minh - ND)

Tướng sĩ Thần Cơ doanh trấn thủ cửa cung ở ngoài giáp trụ mặc thêm một kiện áo bào trắng, đến cả hỏa súng trong tay cũng phủ một tầng vải trắng. Đợi trong cung bố trí xong tất cả thì đã là đêm khuya, sương mù như lụa, khắp nơi trong cung điện treo cao những đèn lồng giấy trắng, đâu đâu cũng mang không khí buồn rầu thê thảm.

Linh đường dựng tại chính điện Càn Thanh cung. Trong điện nến trắng màn trắng, khói bốc lượn lờ, thập phần trang trọng. Giữa điện, bài vị Hoằng Trị đế được dựng thật cao. Khi Hoàng đế bệnh tình nguy kịch, Lễ bộ đã sớm định ra các hạng lễ nghi trình tự thiết thực cho tân hoàng. Quá trình nghe thì đơn giản, cũng chỉ là trước mặc đồ tang, rồi ban di chiếu, sau đó cử hành đại lễ đăng cơ, nhưng trong đó có đủ loại lễ nghi tạp nhạp rườm rà, làm cho người ta nghe mà hoa cả mắt.

Dương Lăng mù tịt về loại lễ nghi mai táng trong cung này, nhưng hắn cũng không cần phải lo lắng mình làm sai. Hắn tuy được tân cựu hai Hoàng thượng sủng ái, nhưng kỳ thật đến bây giờ cả những vỏ ngoài của triều đình cũng chưa được động tới, căn bản không có tư cách vào điện hành lễ khóc tang, chỉ đứng ở ngoài khống chế các ban thị vệ, duy trì cung điện là được.

Đám quan chức các bộ các đường đều lũ lượt vào Càn Thanh cung, ngay cả rất nhiều công hầu huân khanh rất ít bước vào cửa cung lúc này cũng đều lộ mặt. Dương Lăng đứng dưới điện, thấy Lục bộ Cửu khanh, ba vị Đại học sĩ từ trong cung đi ra, nhìn ra xa. Một lát sau, hai hàng thái giám vây quanh một cỗ kiệu, có người cao giọng hô:
- Hoàng Thái tử tới!

Trên mười vị cựu thần trong triều vội vàng chạy xuống đài, vén áo quỳ xuống. Lưu Kiện khóc, nói:
- Xin mời Hoàng Thái tử vào điện làm lễ!

Chu Hậu Chiếu không hiểu nhiều quy củ. Hai thủ lĩnh thái giám Tư Lễ giám là Vương Nhạc và Trương Thọ một trái một phải đỡ hắn, thỉnh thoảng nói nhỏ vài câu bên tai hắn, cách bước đi ra sao, hành lễ như thế nào, nói năng thế nào. Hoàng Thái tử Chu Hậu Chiếu thần sắc hốt hoảng, hoàn toàn không còn vẻ nghịch ngợm xưa nay, chỉ như một bức tượng gỗ, nhất nhất làm theo.

Dương Lăng đợi họ đều tiến lên điện, lúc này mới đứng lên. Một lát sau, đột nhiên nghe một tiếng khóc lóc ầm ĩ. Hàn Lâm đi đến bên người y, khẽ thở dài:
- Những đại nhân này khóc nhiều quá, nhóm quan chức không được tiến vào cửa cung tụ tập ngoài Ngọ Môn khóc nức nở. Lúc này không thể xuất hiện rắc rối, tướng quân có lẽ nên đi xem xét một chút.

Hàn Lâm dựa vào võ nghệ và thành tích tốt mà được thăng chức. Hắn làm người rất quy củ, tuy xưng hô Dương Lăng là Lăng nhi, nhưng việc công thì vẫn dùng thân phận thuộc hạ, tuyệt không vượt qua giới hạn. Dương Lăng khuyên mãi, nhưng Hàn Lâm vẫn khăng khăng không nghe, y cũng mặc kệ nhạc phụ.

Hôm nay Hoằng Trị đế băng hà, đủ loại quan lại khóc tang, túc trực bên linh cữu. Dương Lăng sợ xảy ra sơ xuất gì, do đó chỉ điều người được tín nhiệm nhất như phụ tử Hàn gia và Dương Nhất Thanh, Liễu Bưu dẫn theo trăm tên thân quân mang súng cài đao vây chặt Càn Thanh cung, phòng thủ không lọt một giọt nước. Nghe nhạc phụ nhắc nhở, Dương Lăng cũng khẽ gật đầu, thấp giọng nói:
- Nơi này nhờ nhạc phụ, Lăng nhi đi quanh thành một chút.

Trong Càn Thanh cung, xướng lễ quan của Hồng Lư tự hô xướng nghi thức. Ba đại thần được uỷ thác là Lưu Kiện, Lý Đông Dương, Tạ Thiên dìu Chu Hậu Chiếu ngồi trên ghế, các quan lại tiến lên, rồi quỳ lạy vua mới, những tiếng hô ‘Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế’ rung cả mái ngói.

Trong những tiếng hô đưa cũ nghênh mới, Dương Lăng đã rời khỏi Càn Thanh cung, hai thân vệ cầm đèn lồng đi dò xét quanh cung, chẳng biết trên đại điện đang tiến hành những lễ nghi bao đời về việc tuyên đọc di chiếu của tiên đế, tân đế hạ ân chỉ. Quy củ lễ nghi không hề thay đổi, không ngờ hôm nay lại lần đầu tiên xảy ra việc khác thường. Hắn còn chưa ra tới Ngọ Môn, trong Càn Thanh cung đã ầm ĩ như một cái chợ rồi.

Hoằng Trị biết thân thể mình khó qua nên đã an bài những việc về sau. Lúc này, chưởng ấn thái giám Tư Lễ giám Vương Nhạc đang cố cầm nước mắt đưa lên di chiếu của Hoằng Trị đế, giao cho Đại học sĩ Lưu Kiện truyền dụ di chiếu giáng đế, ban bố hỉ chiếu về tân đế đăng cơ, sau đó tuyên bố tân đế đại xá thiên hạ, khen thưởng thần tử có công.

Lưu Kiện cũng biết đương kim Thái tử khá là ngoan cố, ai biết được vị nhân huynh này chính là tổ sư của phái tùy ý sáng tạo chuyển thế, căn bản không dựa vào sách vở gì. Vị cựu thần này gạt nước mắt, trước hết tuyên bố di chiếu của tiên đế, sau đó định ra Chính Đức nguyên niên, rồi dẫn đầu văn võ bá quan ba quì chín lạy bái tân đế.

Việc này vốn đã được an bài rất tốt, nhất là ân chỉ của tân đế. Có Thái tử nào trước lúc chưa đăng lên hoàng vị mà dám bắt đầu lựa chọn những nhà lãnh đạo kế nhiệm chứ, thật ra thì cũng do Hoàng đế trước đó đã có chủ ý cho hắn rồi. Từ trước tới nay, khi thái tử đăng cơ đều theo lối như vậy cả.

Sau đó, lão mở thánh chỉ, lấy danh nghĩa tân đế đại xá thiên hạ: người nào không đáng tội chết, hết thảy những người đang đợi tra hỏi đều được đặc xá ra tù, chiếu lệnh miễn trừ nợ thuế ba năm cho nông phu, chiếu lệnh bãi bỏ những thứ dầu cá đặc biệt ngư dân phải cống nộp mà ba năm chưa nộp.

Sau khi ý chỉ biểu thị lòng nhân từ và sự sáng suốt của tân đế được tuyên xong, ân chỉ gia phong hậu cung và khao thưởng cho những thần tử đã ủng hộ và yêu mến tân đế lên ngôi - ân chỉ thứ ba - liền được ban xuống: gia phong cho ba người Lưu Kiện, Tạ Thiên và Lí Đông Dương làm Thái sư, Thái phó và Thượng quốc trụ, Thái hậu Kỷ thị tấn phong làm Thái Hoàng Thái hậu, Hoàng hậu Trương thị tấn phong làm Thái hậu, Thái Kỷ Vương thị làm Thái Hoàng Thánh phi; Kim phi, Đới phi làm Thái phi; các Mã phi, Thường phi cũng tấn phong làm Thái Hoàng phi.

Phàm là tân đế đăng cơ, những cựu thần đắc lực đều được ban thưởng như vậy, đám thần tử cũng quen rồi. Dù chức vụ rất hay, nhưng đều là những hư chức có lộc không quyền thôi, cũng không ảnh hưởng gì tới việc phân bố quyền lực của triều đình hiện nay, do đó văn võ bá quan chỉ rửa tai lắng nghe, không ai lên tiếng. Trong đại điện, trên dưới một trăm người đều lặng như tờ.

Nhưng Chính Đức Hoàng đế Chu Hậu Chiếu bị Dương Lăng kích động, một lòng một dạ muốn có biểu hiện thật tốt, mặc dù chỉ nhiệt tình ba phút thôi, nhưng ba phút cũng còn chưa qua. Hắn lắng tai nghe rất chăm chú. Hắn nghĩ thánh chỉ này được ban ra dưới danh nghĩa của mình, nên càng nghe kỹ hơn.

Khi hắn nghe tới ban cho Thọ Ninh Hầu, Kiến Xương ngàn khoảnh hoàng điền, thụ song lộc thì hầu, lập tức từ trên ghế đứng lên, hầm hầm quát:
- Lưu Đại học sĩ từ từ, hai Hầu gia Thọ Ninh, Kiến Xương tước lộc đã cao rồi, không cần thưởng thêm!

Hai vị Hầu gia Thọ Ninh, Kiến Xương đang quỳ gối phía dưới, nghe Chính Đức nói thế, mặt xanh lè rồi trắng bệch. Vẻ mặt sợ hãi, xấu hổ, phẫn nộ, đủ loại thay đổi như bị nhuộm. Bác bỏ ân chỉ trước mọi người như vậy, quả thực làm cho người ta muối mặt, sau này hai người còn làm sao thấy mặt người khác chứ. Tiểu Hoàng thượng này làm việc quả là không chừa đường cho người ta đi.

Lưu Đại học sĩ cầm thánh chỉ cũng ngẩn người. Vị Đại học sĩ thông kim bác cổ này phụng dưỡng mấy đời đế vương, chưa bao giờ nghe nói qua là khi tân hoàng đăng cơ thì ngay đương trường nuốt lời hứa, triệt bỏ ân chỉ. Sao lại bỏ chỉ của mình được, việc này quả thực là một trò đùa, cũng là đại bất kính với Hoằng Trị đế. Nếu không đáp ứng, khẩu dụ đầu tiên của tân đế mà Đại học sĩ lại cự tuyệt, vậy thì còn gì mặt mũi Hoàng đế chứ.

Lý Đông Dương thấy lão đứng lặng người, vội vàng quì một chân, tâu rằng:
- Hai vị Hầu gia Thọ Ninh, Kiến Xương là đương kim Quốc cữu, là chí thân của Hoàng thượng. Hoàng thượng hậu đãi người ngoài mà không quản người thân, không làm gương tốt cho mọi người, đám thần tử sao dám theo? Hôm nay là ngày quan trọng, ý chỉ đã hạ rồi, có rút về cũng hơi không ổn. Theo thần thấy, hai vị Hầu gia chỉ dâng biểu xin không nhận ân là hay nhất.

Hai huynh đệ Trương Hạc Linh, Trương Duyên Linh trong lòng thầm hận, bị tân hoàng ở trước mọi người làm mất mặt, còn phải chủ động xin không nhận ơn. Hoàng thượng thì có được thanh danh đối người khoan hậu, luật pháp nghiêm minh, tên Lý Đông Dương quả là biết cách nịnh nọt. Nhưng tình thế yếu hơn người, hai huynh đệ không thể làm gì được, đành phải theo ý mà làm.

Chính Đức rất kính Hoằng Trị cha mình, mắt thấy hai cậu chẳng hề bi thương trong lúc phụ hoàng sắp chết, còn cầm vương miện chơi đùa. Loại người này khiến hắn cảm giác người thân cận nhất cũng lừa mình, làm hắn căm thù hai người đến tận xương tuỷ, do đó lúc này mới ngăn cản, tước bỏ những gì ban cho họ ngay tại chỗ.

Nghe Lý Đại học sĩ an bài xong, Chính Đức cảm thấy chỉ cần không cho họ chút tiện nghi nào là được, làm gì khác cũng không quá để ý, vì vậy gật đầu nhận lời, về ngồi lại trên ghế. Các quan lại đang quỳ thấy vị tân thiên tử đưa ra ý chỉ ly kỳ, đều lộ vẻ kinh dị. Chính Đức Hoàng đế không biết là làm như vậy có gì không ổn. Cái gì kim khẩu ngọc nha, vua không nói đùa, chỉ cần cảm thấy không đúng là sửa, chẳng lẽ cứ phải giả vờ giả vịt mới là thể diện hoàng gia sao.

Lưu Đại học sĩ thấy tân hoàng sau khi có hành động kinh người đã về ghế ngồi, mới nơm nớp lo sợ đọc tiếp. Văn võ bá quan lúc này cũng đều căng thẳng, chẳng ai biết Chính Đức đế lại khai đao với ai nữa. Tiểu Hoàng đế Chính Đức nghe đọc đến cuối lại không phản đối gì nữa.

Lưu Kiện đọc xong thánh chỉ, trộm đưa tay áo lên lau mồ hôi trên trán, rồi thở phào một hơi. Chính Đức đế lại lên tiếng. Hắn cau mày, kỳ quái hỏi:
- Lưu Đại học sĩ, có phải là thiếu mất một người không?

Lưu Kiện giật mình, vội vàng trải thánh chỉ ra, đọc nhanh một lần; rồi quay đầu nhìn về phía hai thái giám của Tư Lễ giám là Vương Nhạc, Trương Thọ hỏi lại một lần, như trút được gánh nặng nói:
- Khải tấu bệ hạ, thần không thấy có chút sơ hở nào.

Chính Đức cảm thấy kỳ quái, nhớ tới phụ hoàng có nói Dương Lăng là thần tử đắc lực cho hắn, còn nói những ân huệ phải do hắn ban cho. Sao mà ân chỉ với danh nghĩa của mình ban xuống lại không có tên Dương Lăng?

Hoằng Trị đế đáng thương nếu thật sự có linh thiêng trên trời, lúc này nhất định sẽ hối hận khi mình dặn dò nhi tử về hậu sự đã không giải thích cụ thể lúc nào thì chấp hành. Chính Đức ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Không đúng, đúng là bỏ sót một người. Hắn là Dương Lăng, nguyên là Thị độc Đông cung, bây giờ là Tham tướng Thần Cơ doanh, trẻ tuổi đầy hứa hẹn, có tài lương đống. Đã là ý chỉ sót mất, vậy bổ sung thêm một ý chỉ, cho hắn là... ừm... cho hắn vào Lại bộ nhậm chức Thị lang đi.

Lưu Kiện nghe Chính Đức nói thế, chút nữa ngã lộn nhào từ trên đài xuống đất. Đưa một Tham tướng võ quan, một Đồng tiến sĩ chưa tới hai mươi tuổi vào Lục bộ làm chức Thị lang chủ nhiệm? Lưu Kiện vội vàng quì xuống, hô to:
- Hoàng thượng, vạn lần không thể!

Hai vị Đại học sĩ Tạ Thiên, Lý Đông Dương, Hộ bộ Hàn Văn, Lễ bộ Vương Quỳnh, cùng với Lưu Đại Hạ, Mã Văn Thăng và đám Thượng thư sáu bộ đồng loạt quỳ xuống. Lại bộ Thượng thư Mã Văn Thăng vội la lên:
- Hoàng thượng, thăng chức quan xưa nay là do thế tập, nạp tư, quân công, tiến cử, lang tuyển, cho tới phương pháp khoa cử. Cho dù là mặt nào Dương Tham tướng đều không đủ đức vọng, năng lực, lý lịch, đâu thể nhận chức bộ Thị lang chứ. Xin Hoàng thượng nghĩ lại!

Tả Thị lang Vương Ngao, Chiêm sự Dương Phương là mấy đại thần vài ngày trước đã gây gổ với Lưu Cẩn, nên cũng không có hảo cảm gì với Dương Lăng. Vừa nghe hắn còn trẻ tuổi mà đưa vào Lại bộ, ghế chỉ sau chỗ của Thượng thư, nhất thời đều la lên phản đối, đủ loại quan lại đều ồ lên xì xào.

Chính Đức rốt cuộc vừa mới làm vua, thấy đám thần tử phía dưới quỳ xuống hơn phân nửa, trong lòng cũng có chút luống cuống, nhưng nếu rút lại lời thì còn gì là thể diện. Chính Đức Hoàng đế đành phải nói với sắc mặt khó coi:
- Đã thế thì, ta... trẫm sẽ thu hồi đạo ý chỉ này, sửa cho Dương Lăng làm Uy Vũ Bá đi.

Lưu Kiện vừa nghe thấy Hoàng đế không phong quan cho Dương Lăng, nhưng lại sửa thành tấn tước, sao có thể đáp ứng chứ, lập tức cùng các quan quỳ xuống, liên tục dập đầu. Vương Quỳnh Vương Thượng thư đang nước mắt nhòe nhoẹt lại càng gào khóc lớn lên, đấm ngực giậm chân, liên tục nói thiên tử lạm dụng ân thưởng, sẽ làm mọi người bất mãn, các quan lại sẽ không phục.

Chính Đức Hoàng đế hơi khựng lại, thấy các quan vẫn không thuận theo, cuối cùng hắn nổi giận đùng đùng, đứng bật dậy nhảy ra khỏi ghế nói:
- Chức Hoàng đế này là ta làm hay các ngươi làm, việc này không được, việc kia cũng không được, vậy làm Hoàng đế cũng như không.

Chu Hậu Chiếu nói rồi tháo đai ngọc xuống, muốn cởi long bào, làm hai Đại thái giám Vương Nhạc và Trương Thọ vội vàng chạy lên ôm lấy hắn. Văn võ bá quan đang khóc lóc ầm ĩ, Chính Đức vừa làm như vậy, khiến cả đám đều ngẩn người.

Lý Đông Dương thấy thế vội vàng nghĩ: “Dương Lăng còn trẻ, tài cán phẩm đức cũng còn cần quan sát. Hắn làm võ tướng thì không nguy hại gì tới triều chính, phẩm trật có cao một chút cũng không có gì. Nhưng bây giờ nếu tới Lại bộ đảm nhiệm chức vụ quan trọng, với đức vọng của hắn thì há có thể làm các quan tâm phục chứ? Về phần phong tước, mặc dù qua loa một chút, nhưng cũng không phải làm hỏng tổ chế.”

Vì vậy, Lý Đông Dương vội vàng cao giọng nói:
- Dạ, thần tuân chỉ. Thần nghĩ rằng, có thể phong Dương Tham tướng làm bất thế (*) Uy Vũ Bá, ban cho cáo sách, bệ hạ nghĩ được không? (*: không truyền cho đời sau - ND)

Chính Đức thấy có đại thần ủng hộ, vội nói:
- Được lắm, được lắm, để Lý Đại học sĩ thảo chiếu.

Chúng thần nghe Lý Đông Dương nói thế, lập tức hiểu ý lão, cũng không phản đối nữa, chỉ có Vương Quỳnh nức nở mãi không dừng được.

Hóa ra Đại Minh phong tước có mấy loại như thế tập, quân công, ơn trạch, ngoại thích. Dương Lăng thuộc loại ơn trạch. Vừa rồi Lý Đông Dương lớn tiếng bảo là Dương Lăng làm bất thế Uy Vũ Bá, ban cho cáo sách, chứng tỏ Dương Lăng được tước lộc không kế thừa, hơn nữa chỉ ban cáo sách, không ban khoán sách. Nhưng cái chính là có được tước hào dễ nghe, có thêm một chút bổng lộc. Việc này không đáng để đối nghịch với Hoàng đế, vì vậy thanh âm phản đối cũng yếu đi nhiều.

Trái tim Lưu Kiện thật sự không chịu nổi mấy trò của Chính Đức, cũng may bây giờ đã gần xong việc cử hành buổi lễ rồi. Vì vậy, Lưu Kiện vội vàng an bài văn võ bá quan túc trực bên linh cữu ở Càn Thanh cung, sắp xếp người đốt vàng mã, đảm bảo không còn sai sót gì nữa.

Nội quan Vương Nhạc thấy việc tân đế đăng cơ đã xong, vội sai người đi tới Khôn Ninh cung mời Thái hậu và hai Công chúa tới Càn Thanh cung cùng túc trực bên linh cữu.

Hiện tại, Dương Lăng còn chưa biết việc gì xảy ra, chỉ đi quanh một vòng, lập tức đã thành Bá gia rồi. Y nghênh ngang tuần sát các cửa cung, tùy tiện ăn cơm với những tướng sĩ trong cung cho no bụng, lúc này đã tới canh ba.

Đi quanh hoàng thành một vòng lớn như vậy xong, Dương Lăng đau chân muốn chết, nhưng trong cung lại không thể cưỡi ngựa, y rất vất vả lết từng bước về lại Càn Thanh cung, chân gần như muốn đứt. Bây giờ, thấy Đông Noãn các hoàn toàn yên tĩnh không còn bóng người nào liền đuổi hai thân binh đi, còn mình thì vào trong sảnh ngồi xuống, cởi ủng xoa chân.

Dương Lăng mở ủng ra, xoa chân cho lưu thông máu huyết, vừa định xỏ ủng vào, đột nhiên thấy vai mình bị người vỗ một cái. Vào nửa đêm, tuy nói trong cung đèn sáng trưng, nhưng cũng sợ hết hồn nhảy dựng lên. Dương Lăng khôn ngoan lắc người qua một chút. Nhìn người đó, y càng giật mình, không thể không kêu lên một tiếng.


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 03:08 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 88 - Bốn Bề Gặp Địch



Dịch: workman

Biên dịch: lht

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- Tên nịnh thần ngươi câm miệng. Lão thần bất kính với Hoàng Thượng nên chịu sự trừng phạt của Hoàng Thượng. Ngươi dựa vào sự sủng ái mà kiêu căng lại không theo lễ bầy tôi, đầu độc đế quân, sớm muộn gì cũng sẽ bị nghiêm trị!



------------------------

Chương tám mươi tám Bốn bề gặp địch
------------------------

Dương Lăng bị vỗ vai giật thót cả người, y liền quay phắt đầu lại thì thấy Chu Hậu Chiếu mặc áo trắng mũ rơm đứng sau lưng. Dương Lăng ai chà một tiếng rồi vội vàng xỏ ủng vào đứng lên, vừa mới định quì thì Chính Đức đỡ vai hắn rồi nói:
- Nhìn bộ dáng ngươi xem ra cũng mệt mỏi lắm rồi, thôi đừng quì nữa, hôm nay ta bị người ta quì lạy mệt lắm rồi, ngay bản thân cũng quì tới ê ẩm cả lưng.

Hắn uốn lưng vặn eo vài cái rồi bày ra vẻ mày ủ mày ê, Dương Lăng ở cạnh vị thái tử bình dị gần gũi, chưa từng có quan niệm tôn ti này tùy tiện quen rồi. Nhưng bây giờ Chu Hậu Chiếu đã là hoàng đế, thấy hoàng đế mà không thi lễ như vậy thì trong lòng y cũng thật sự hơi lo sợ bất an, chỉ là tay Chu Hậu Chiếu vẫn còn đặt trên vai hắn, Dương Lăng cũng không tiện tránh ra.

Dương Lăng đành phải cười khổ nói:
- Thần vừa đi tuần tra các cung điện xong. Hoàng Thượng, bây giờ ngài đã là cửu ngũ chí tôn, cách xưng hô cũng nên sửa lại đi thôi.

Chu Hậu Chiếu cười khổ một chút nói:
- Ta... trẫm còn chưa quen lắm, dù sao không có các loại quan lại trước mặt, ngươi và ta vẫn nên xưng hô như hồi ở Đông cung mới tốt.

Dương Lăng hỏi:
- Hoàng Thượng, ngài không phải ở chính điện Càn Thanh Cung để túc trực bên linh cữu tiên đế sao? Sao lại một mình tới đây?

Chu Hậu Chiếu khoát tay nói:
- Bị mấy người ở đó làm cho phiền muốn chết. Cả đám giống như đã thương lượng trước cùng nhau đóng kịch, cứ cách một lúc thì khóc lóc một hồi. Hoàn toàn là bắt ta tới chịu khổ, ta nhân dịp đi ngoài tranh thủ trốn tới đây.

Hắn hít mạnh một hơi, lưu luyến nhìn những vật trang trí quen thuộc trong Đông Noãn Các, nhẹ giọng thở dài nói:
- Nhớ phụ hoàng quá. Lúc vừa vào phòng, ta cảm giác phụ hoàng như vẫn còn ở đây, đang ở trong phòng phê tấu sớ, nhìn thấy ta đến liền vui vẻ bảo nội thị đem mứt trà, hoa quả tới...

Hắn vừa nói vừa rơm rớm nước mắt:
- Lúc còn bé, phụ hoàng ôm ta chính ở chỗ này, tự mình dạy ta viết chữ, dạy ta vẽ tranh, có khi người bận phê duyệt tấu sớ, bảo ta ở một bên luyện viết chữ. Nhớ có một lần ta thừa dịp ngài xuất cung liền cầm bút vẽ loạn xạ vào tấu sớ. Khi phụ hoàng trở về thấy thế đành phải cố ý lật cả nghiên mực, làm nhoè hết cả những bản sớ ấy mới giấu được triều thần. Tuy vậy cấp sự của sáu khoa cũng dâng mười mấy đạo tấu chương phê phán phụ hoàng.

Chu Hậu Chiếu nói đến xuất thần:
- Có một lần, ta làm phụ hoàng cực kỳ tức giận, người phạt ta chép Tam Tự kinh ba mươi lần. Ta chỉ chép được hai lần đã chán chết, sau đó bảo mấy tên thái giám biết chữ như Lưu Cẩn, Trương Vĩnh giúp ta. Họ kiên trì giúp ta chép phạt, tuy ta biết phụ hoàng nhất định nhìn ra được nhưng ngài vẫn ra vẻ chẳng biết gì cả mà tha cho ta. Bây giờ nhớ tới việc này ta thấy rất bứt rứt, ta chỉ mong phụ hoàng phạt ta thêm một lần, khi đó ta sẽ ngồi ngoan ngoãn bên cạnh ngài, chăm chú chép lại cho ngài xem.

Chu Hậu Chiếu nói mà lệ lã chã rơi, Dương Lăng nghe xong thầm cảm động. Từ xưa tới nay, cha con anh em trong hoàng thất luôn lục đục với nhau, có được tình cảm cha con sâu nặng như vậy liệu được mấy người?

Chu Hậu Chiếu nói đến đây thì nhếch miệng cười:
- Ta quỳ trên đại điện làm theo chỉ bảo của nội thị như một con rối, lúc cần thắp hương thì thắp hương, lúc cần dập đầu thì dập đầu, cần khóc thì mới có thể khóc. Ta cũng không biết đấy là tưởng niệm tiên đế hay là diễn cho ai xem, làm cho ta chóng mặt nhức đầu, cả người lờ đờ, đã thế có kẻ còn ra vẻ khóc thương tâm hơn người khác, làm ta bực mình muốn chết.

Dương Lăng thầm nghĩ mấy lễ nghi phô trương như vậy vốn chính là để cho người khác nhìn, nói lại thì cũng khó trách tiểu hoàng đế luôn luôn miệt thị lễ nghi này không quen chứng kiến. Y động tâm nói:
- Hoàng Thượng, ngài muốn tưởng niệm tiên đế mà lại không thích những lễ nghi phiền phức ấy vậy không bằng tối nay ở chỗ này chép sách, chép Tam Tự kinh thành ba mươi bản để tiên đế ở trên trời có linh thiêng chứng giám cho lòng ngài. Dùng cách này để thương tiếc tiên đế chẳng phải còn hơn ở trên đại điện ba quì chín lạy sao.

Chu Hậu Chiếu nghe vậy rất vui vẻ, khen rằng:
- Nói rất đúng, ta chép lại những bản sách do phụ hoàng mấy năm trước phạt chép, phụ hoàng trên trời có linh, thấy ta thật tình ăn năn thì người nhất định sẽ rất vui.

Lập tức Chu Hậu Chiếu xoa tay xoa chân, ngồi vào long án, lúc này trên long án cũng trải một tầng khăn trắng. Dương Lăng lấy từ chiếc bình sứ bên cạnh chiếc án ra một tờ giấy trải ra, dùng cái chặn giấy bằng thuý ngọc đè xuống, nhè nhẹ mài nghiên mực.

Chu Hậu Chiếu vừa đặt bút xuống lại nhìn thấy Dương Lăng đứng cạnh án, nhân tiện nói:
- Ngươi cũng lấy ghế ngồi xuống đi. Ta biết ngươi đi tuần các cung điện nhất định còn mệt hơn ta nhiều.

Thấy Dương Lăng lắc đầu không chịu, Chu Hậu Chiếu lại nói:
- Ngồi đi, bất tất phải câu nệ lễ thần tử. Bây giờ phụ hoàng đã đi rồi, người mà trẫm có thể nói những lời tri kỷ cũng chỉ có mình ngươi thôi. Từ lần đầu thấy ngươi thì ta đã cảm giác ngươi khác hẳn người thường. Khi ngươi nhìn ta, ngươi không có ý sợ hãi, không có ánh mắt lấy lòng như người khác. Ta thích loại cảm giác như người bình thường này. Ngươi nên ngồi đi, vừa mài mực vừa nói chuyện với ta.

Dương Lăng nghe hắn nói như vậy liền nhìn một vòng quanh điện không có ai khác thì lúc này mới đáp ứng, kéo ghế ngồi bên cạnh Chính Đức. Chính Đức chăm chú viết những chữ bách gia chư tử, Dương Lăng đứng một bên mài mực, cẩn thận vô cùng. Chính Đức xem ra viết chữ cũng rất đẹp.

Chu Hậu Chiếu bốn chữ một câu, viết tới ‘Phong bảo sử đường’ thì đột nhiên dừng lại. Hắn nhìn lại một chút, rồi dường như nhớ tới việc gì, ngẩng đầu nói với Dương Lăng:
- À, đến bây giờ ta mới nhớ, Đường cô nương ở trong phủ của ngươi có vui không?

Dương Lăng thấy hắn nhìn chữ Đường rồi ngẩn người ra thì đã cảm thấy không ổn, lúc này lại nghe hắn hỏi, trong lòng không khỏi loạn lên. Đã nhiều ngày nay Chính Đức vẫn không hỏi gì y, tuy nhiên bây giờ xem ra không thể gạt được rồi. Dương Lăng đành phải kiên trì đem việc Bào phó tướng giết người diệt khẩu, rồi việc Đường Nhất Tiên sinh tử chưa rõ nói với Chính Đức.

Chính Đức nghe xong thất vọng nhìn chữ Đường hồi lâu mà không nói gì, ánh mắt mờ đi, xem ra rất buồn khổ. Dương Lăng nhớ tới cảnh ngày đó mình suất binh tìm tới vách núi chỉ thấy chuôi đao đầy máu tươi, lại nhớ tới mới đầu ở hoa quán gặp được nữ hài nhi khéo léo, có nụ cười ngọt ngào tươi tắn, nhất thời trong lòng cũng đau lòng đến nói không nên lời. Hai người cứ như vậy ngây ngốc ngồi đó, chỉ nghe tiếng hoa đèn nổ lách tách.

Chu Hậu Chiếu chỉ là thiếu niên mười lăm tuổi, khi gặp Đường Nhất Tiên lần đầu thì sinh ra hảo cảm và tình cảm mông lung nhưng vẫn chưa tới mức sâu sắc không thể dứt bỏ. Cho dù vậy thì đó cũng là cô gái đầu tiên mà hắn thích. Hôm nay hoàng đế Hoằng Trị băng hà, tâm tình hắn vốn đã bi thương tới cực điểm lại nghe được tin tức này, trong lòng càng thêm mất mát.

Hắn cũng không hề giận cá chém thớt lên Dương Lăng, chỉ ngây ngốc suy nghĩ hồi lâu. Nét mặt Chu Hậu Chiếu đột nhiên hiện lên một sát khí lạnh lùng, cười lạnh nói:
- Đường cô nương trọng thương rơi xuống vách núi! Bào Tận Thẩm... Lưu Sĩ Dung... Bào… Tận… Thẩm, được, tốt lắm, ta nhớ rồi....

Chu Hậu Chiếu cầm bút thật chặt, dùng sức nhấn xuống, cây bút lông sói cán gỗ lim được cung cấp đặc biệt cho hoàng cung nhấn thẳng xuống giấy. Ngay lúc này, cánh cửa điện chợt kêu rầm một tiếng, một đám người tràn vào, lập tức một thanh âm già nua khàn khàn lớn tiếng kêu lên:
- Hoàng Thượng..., ngươi... ngươi lớn mật!

Dương Lăng giật bắn cả người,tự hỏi người nào lớn mật dám mắng Hoàng Thượng như vậy? Y nhảy dựng lên nhìn ra ngoài, đã thấy tám chín đại thần mặc đồ tang đứng trước mặt. Ba vị đại học sĩ Lưu Kiện, Tạ Thiên, Lý Đông Dương cũng có trong đó, dẫn đầu là vị lão đại nhân tóc bạc râu trắng, tuổi già sức yếu, mặt đỏ rực đang trợn mắt nhìn y.

Dương Lăng lúc này mới giật mình. Vừa rồi y cùng với Chính Đức ngồi sóng vai, Chu Hậu Chiếu không quan tâm gì tới tôn ty thì không sao, nhưng các thần tử khác mà thấy sẽ nghĩ gì? Chính Đức ngẩng đầu lên nhìn thấy vẻ mặt Vương Quỳnh, vô tình nói:
- Vương thượng thư hà tất phải kinh sợ, là ta... là trẫm muốn y ngồi cạnh. Tiên đế kính trọng chư vị cựu thần, lúc trò chuyện riêng cũng cho ngồi, cho hầu trà thì trẫm sao không thể đối xử với thần tử như thế?

Chư vị đại thần Lục Bộ Cửu Khanh thấy Dương Lăng vô lễ như thế, dám kề vai ngồi cạnh hoàng đế thì ai nấy vừa sợ vừa giận. Chu Hậu Chiếu tuy dựa vào mấy việc trước kia của tiên đế mà muốn bịt miệng họ nhưng Dương Lăng thì sao có thể so được với cựu thần của Hoằng Trị chứ. Huống hồ những cựu thần ấy dù được ban cho ghế ngồi, cũng không ai dám kề vai ngồi cạnh Hoằng Trị.

Vương Quỳnh bình sinh rất trọng lễ giáo, vẫn phẫn nộ nói:
- Hoàng Thượng ban ghế, đó là long ân của Hoàng Thượng. Nhưng làm thần tử mà sóng vai ngồi ngang hàng với Hoàng Thượng thì đó là tội khi quân phạm thuợng, làm trái cương thường, quả thật như cầm thú!

Sao chỉ nói vài câu mà ta đã biến thành cầm thú rồi? Dương Lăng nghe thế không hiểu ra sao cả, trong lòng cũng hơi giận. Nhưng nhìn vị lão đại nhân tóc trắng xoá, tuổi đủ để làm ông nội y nên y đành phải nén giận nhẫn nhịn.

Hoàng đế Chính Đức bực mình hỏi:
- Vương thượng thư, ngươi rốt cuộc có chuyện gì mà tới đây tìm trẫm?

Hắn vừa hỏi, lập tức nhắc Vương Quỳnh nhớ ra. Vương thượng thư trừng mắt nhìn Dương Lăng, xoay người bái Chính Đức nói:
- Hoàng Thượng, lão thần xin mời Hoàng Thượng di giá tới chính điện Càn Thanh Cung để túc trực bên linh cữu bệ hạ.

Chính Đức chau mày nói:
- Chính điện Càn Thanh Cung nhiều người ầm ĩ, trẫm thật sự rất khó chịu. Mấy năm trước tiên đế từng ở đây tự mình dạy trẫm đọc sách viết chữ. Đêm nay trẫm muốn ở đây soạn văn chương, để tỏ lòng thương tiếc tiên đế.

Vương Quỳnh nghe xong giật mình biến sắc, bối rối nói:
- Hoàng Thượng, làm con phải tận hiếu. Vô luận là thiên tử hay thứ dân, đều phải tận tâm tận lễ. Đại sự của tiên đế, Hoàng Thượng phải dẫn đầu văn võ bá quan túc trực bên linh cữu tiên đế, đây là di chế của thánh nhân, gia pháp của tổ tông, sao có thể bỏ được? Hoàng Thượng ở đây nghĩ tới tiên đế, tuy thật sự có dụng tâm, nhưng không hợp lễ. Thần xin Hoàng Thượng lập tức tới Càn Thanh Cung túc trực bên linh cữu, thái hậu, công hầu và các quan lại đều chờ Hoàng Thượng tới.

Chính Đức cả giận nói:
- Việc trẫm thương tiếc tiên đế, tự sẽ có chủ ý của trẫm. Các ngươi đi trước đi.

Vương Quỳnh giận dữ đứng dậy, sải bước già lên vài bước, chắp tay thi lễ nói:
- Hoàng Thượng là thiên tử, một lời sẽ làm gương cho người trong thiên hạ, sao có thể tự mình sửa lễ chế chứ?

Lão liếc mắt nhìn thấy mấy chữ Chính Đức viết, tuy đã được che đi, vẫn nhận ra là thiên Bách Gia Tính, trong lòng càng giận dữ. Lão chỉ vào tấm giấy còn ướt mực nói:
- Những văn tự này mà liên quan gì tới thương tiếc tiên đế à?

Những gì liên quan tới thánh nhân lễ chế, Vương Quỳnh nhất định sẽ không chịu thỏa hiệp với Chính Đức, ngữ khí lập tức trở nên hùng hổ. Lão là thượng thư bộ Lễ, chủ trì lo việc đại lễ tang ma Hoằng Trị. Những gì về chuyện này, dù là ba vị đại học sĩ như Lưu Kiện cũng phải nghe lão. Đám Lục Bộ Cửu Khanh đứng bên cạnh tuy không nói một lời, nhưng thần thái sắc mặt hiển nhiên cùng ý kiến với lão.

Dương Lăng thấy cựu thần hùng hổ như vậy, khiến cho Chính Đức thập phần khó chịu, lại muốn phát tác cơn giận của tiểu hài tử, vội hỏi:
- Vương Đại nhân, Hoàng Thượng tưởng niệm tiên đế, bởi vậy mới đến nơi tiên đế sống. Nhìn vật nghĩ tới người, cũng không có gì phạm vào hiếu tâm với người đã khuất. Đại nhân nên về đại điện trước, đợi Hoàng Thượng viết xong thiên văn chương này, sẽ lên điện túc trực bên linh cữu thôi.

Vương Quỳnh nghe xong những lời đại nghịch bất đạo với tiên đế như vậy, không khỏi giận tím mặt. Lão chụp lấy nghiên mực trên bàn ném về phía Dương Lăng, miệng phẫn nộ quát:
- Ngươi là nịnh thần tặc tử, trước dám ngồi với hoàng đế, mục vô quân thượng. Bây giờ thân là thần tử mà không tận tâm tận lực khuyên can Hoàng Thượng, còn muốn nói lời gièm pha, ở đây đâu tới lượt ngươi vung tay múa chân chứ?

Vương thượng thư chụp xuống, lôi cả xấp giấy ném lên, quẹt vào mặt Chính Đức. Tờ giấy chưa khô mực lập tức lưu lại trên mặt Chính Đức hai vệt màu đen. Dương Lăng lắc người né qua, nghiên mực đánh bộp vào cây trụ trên điện vỡ tan, mực bắn ra bốn phía.

Hoàng đế Chính Đức thấy Vương Quỳnh luôn mồm vua tôi phụ tử, nhưng bản thân lão lại làm vẻ như thế trước mặt hoàng đế, còn gì là giữ gìn lễ nghi vua tôi, hung dữ ngạo mạn hơn bất kỳ ai, không khỏi tức giận đến run cả người.

Hoằng Trị đối xử với thần tử rất dung túng hậu đãi. Ông khi nhỏ đã bơ vơ, làm người lại hơi mềm yếu. Thời gian lâm chính dài, đám cựu thần cũng quen rồi. Chỉ cần nói có lí, thì có thể trước mặt ông nói rất hùng hồn, trước giờ đều là nói thẳng không nể mặt. Huống chi bây giờ lại đối mặt với Chính Đức tiểu hoàng đế?

Tạ Thiên thấy Hoàng đế Chính Đức mặt tái nhợt, xem ra sắp phát tác rồi, vội vàng quỳ xuống nói:
- Xin Hoàng Thượng tuân thủ lễ nghi di chế, lập tức di giá tới Càn Thanh Cung.

Lão vừa quỳ, đám thần tử khác đều quỳ xuống, trăm miệng một lời nói:
- Xin Hoàng Thượng lập tức di giá!

Lục Bộ Cửu Khanh vừa quỳ xuống, thanh thế nhất thời ép cả Chính Đức, hắn cố nén tức giận, chỉ nói:
- Chúng khanh bình thân, trẫm... trẫm đi là được rồi.

Lưu Kiện thấy hắn chịu thua, trong lòng thầm thở phào nhẹ nhõm, không ngờ Chính Đức lập tức chỉ tay vào Vương Quỳnh, hỏi:
- Vương thượng thư, ngươi luôn mồm giảng cái gì vua tôi cha con vậy mà lúc này lại kiêu ngạo ngang bướng trước mặt trẫm như thế, có tính là thất lễ không?

Vương Quỳnh giật mình, nhìn thấy vết mực trên mặt Chính Đức, tự thấy vừa rồi mình vô cùng càn rỡ, đã thất lễ nghi quân thần rồi, lão liền quỳ xuống nói:
- Thần muôn lần đáng chết, nhất thời xúc động phẫn nộ, dám thất lễ trước mặt Hoàng Thượng, xin Hoàng Thượng trị tội.

Chính Đức cười lạnh một tiếng nói:
- Chỉ thất lễ số thôi à. Mực quẹt cả vào mặt trẫm, còn không phải là lỗi đại bất kính sao?

Vương Quỳnh ngẩng cao đầu, hiên ngang nói:
- Thần có tội, nguyện chịu sự trừng phạt của Hoàng Thượng, chỉ cần Hoàng Thượng lập tức di giá về Càn Thanh Cung, thần muôn lần chết cũng không dám chối từ!

Hoàng Đế Chính Đức lớn tiếng nói:
- Được, được lắm! Ngươi nhận tội là được rồi. Dương Lăng, lập tức bắt Vương Quỳnh vào thiên lao!

Các vị đại thần nghe thế tới tấp quỳ xuống cầu tình:
- Hoàng Thượng thứ tội, Vương thượng thư vô cùng trung thành, nhất thời nói năng vô lễ, xin bệ hạ khoan dung.

Dương Lăng cũng khuyên:
- Hoàng Thượng! Ngày đăng cơ là quan trọng, sao lại bắt giam đại thần trong triều chứ? Xin Hoàng Thượng đặc xá cho Vương đại nhân đi.

Vương Quỳnh nghe xong cười lạnh nói:
- Tên nịnh thần ngươi câm miệng. Lão thần bất kính với Hoàng Thượng nên chịu sự trừng phạt của Hoàng Thượng. Ngươi dựa vào sự sủng ái mà kiêu căng lại không theo lễ bầy tôi, đầu độc đế quân, sớm muộn gì cũng sẽ bị nghiêm trị!

Chính Đức nghe thế ngượng quá hóa giận, hắn đỏ mặt chỉ vào Dương Lăng giận dữ nói:
- Ngươi cũng không tuân ý chỉ của trẫm sao?

Dương Lăng thấy hắn giận dữ, không dám tiếp tục khuyên giải nữa, chỉ có nước quay sang sai mấy tên thị vệ áp giải Vương Quỳnh xuống dưới. Chính Đức lúc này mới hừ lạnh một tiếng, cũng không để ý tới quần thần, phất tay áo đi ra ngoài cửa phòng.

Chúng thần tới tấp đứng dậy, ánh mắt nhìn về phía Dương Lăng có rất nhiều vẻ phẫn nộ.

Lý Đông Dương nhìn Dương Lăng, trong lòng thầm nghĩ: “Lúc người này thân là thị độc nho nhỏ mà đã dám vạch trần việc quyền thần ngoại thích của tiên đế phạm pháp, hẳn phải là thần tử trung thành thẳng thắn mới đúng. Tại sao khi thiên tử càn rỡ như vậy, y thân là cận thần được Hoàng Thượng sủng tín mà không mở lời khuyên can, ngược lại lại dung túng như thế? Nếu nói y tham quyền thế mà a dua theo Hoàng Thượng thì chỉ bằng vào việc y vì thê tử mà chịu tội kháng chỉ chém đầu cho thấy y cũng không phải người như vậy, rốt cuộc thì người này có tâm tư gì đây?”

Lão cố ý chầm chập đứng dậy đi cuối cùng, đợi những quần thần khác đều đi hết, mới nói với Dương Lăng vẻ thâm trầm:
- Người làm quan phải cẩn thân tu đức, phải yêu dân, thường thường tự xét lại những việc đã qua. Ngươi được đế ân rất dày, phải nghĩ đến việc trung quân đền nợ nước, chớ có kiêu ngạo tuỳ hứng mà làm hỏng tiền đồ.

Dương Lăng bất lực nói:
- Lý Đại nhân, hạ quan nào dám làm vua mê hoặc? Chà! Bây giờ Hoàng Thượng đang nổi nóng, đợi sau khi hết nóng, tìm được cơ hội, hạ quan nhất định sẽ nói vài lời cho Vương Đại nhân. Đại nhân bất tất phải lo lắng. Chẳng lẽ đại nhân đã quên đại học sĩ cầm chùy truy đánh Thọ Ninh Hầu ở kim điện rồi sao? Có lệ này từ trước, việc Vương thượng thư ở tẩm cung cầm nghiên mực ném Dương tham tướng thì đã sao?

Lý Đông Dương nghe y nhắc tới việc mình cùng Thọ Ninh Hầu đại náo kim điện, không khỏi mỉm cười, liếc nhìn y thật sâu nói:
- Như thế là tốt! Thiếu niên đắc chí, càng nên cẩn thận khiêm nhường, trung quân đền nợ nước. Dương đại nhân ngàn vạn lần phải tránh mình khỏi cùng bọn với Thọ Ninh Hầu mới tốt.

Lý Đông Dương dứt lời xoay người bỏ đi. Dương Lăng ngó theo lão, nhớ tới vừa rồi chư vị đại nhân lục bộ cửu khanh nhìn mình phẫn nộ, không khỏi cười khổ một tiếng:
- Hôm nay hoàng đế Hoằng Trị băng hà, quả là thời gian xui xẻo với ta, đầu tiên là đắc tội với với bên ngoại của vua, bây giờ lại đắc tội với Nội Các. Ngoại trừ Hoàng Thượng Chính Đức thì chỉ sợ là mình gây thù hằn khắp nơi rồi, nguy cơ trùng điệp!

Dương Lăng đang muốn bỏ đi, thì có bóng người thoáng qua ở cửa, một người lao vào trong. Vừa vào cửa đã cười nịnh y:
- Dương đại nhân thật có bản lĩnh. Lão thất phu Vương Quỳnh cậy già lên mặt, khắp nơi vung tay múa chân. Lúc chúng ta còn hầu hạ Đông cung thì lão nhiều lần dâng tấu chương cho Hoàng Thượng nói chúng ta dụ dỗ Thái tử chơi đùa, làm hại chúng ta và bọn người Trương Vĩnh, Đại Dụng bị tiên đế trách mắng. Lúc này lão lại bị bắt vào đại lao, quả thật là hả lòng hả dạ rồi!

Dương Lăng chăm chú nhìn người đứng trước mắt mặt mày hớn hở, chính là Lưu Cẩn.


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 03:09 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 89 - Lưu Cẩn thảo luận chính sự



Dịch: workman

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- Nếu gạo này thật sự hiệu quả, vậy là tuệ nhãn của Hoàng Thượng rất cao. Lúc đó thần xin dùng niên hiệu của Hoàng Thượng mà đặt tên, gọi là ”gạo Chính Đức”, như thế sẽ thiên thu muôn đời ai ai cũng đều nhớ tới Hoàng Thượng.



------------------------

Chương tám mươi chín Lưu Cẩn thảo luận chính sự
------------------------



Ngày mười tám tháng năm, hoàng đế Chính Đức thân chinh lên Thừa An Môn (tức Thiên An Môn) hạ chiếu thông báo khắp thiên hạ: tân đế lên ngôi.

Hoàng đế đặt chiếu chỉ tuyên bố nắm giữ triều chính vào miệng một con phượng hoàng ánh vàng rực rỡ, tự tay thắt dây lụa vàng vào lưng kim phượng. Chính tay thái giám thủ lĩnh Lễ Giám ty dòng kim phượng từ đầu thành xuống, những quan chức bộ Lễ quì trên mặt đất trước cổng thành, hai tay nâng quá đầu một chiếc khay vàng có trang trí đám mây tiếp chỉ. Sau đó các quan viên phóng ngựa đưa đến bộ Lễ sao chép rồi đóng dấu, bố cáo khắp thiên hạ. Chính Đức chính thức trở thành thiên tử Đại Minh. Thủ tục ban chiếu đó gọi là ”Kim phượng ban chiếu”.

Sau đó hoàng đế Chính Đức được bá quan vây quanh trở về điện Kim Loan, ngồi lên ngai vàng để các quan bái lạy. Lúc này hạ sử (sứ giả đến chúc mừng) và hạ nghi (lễ vật) của các Phiên Vương cùng bốn nước chư hầu vẫn còn trên đường đi.

Chính Đức vừa lên ngôi nắm triều chính, lập tức tuyên bố ba đạo thánh chỉ. Các bộ, các địa phương phải lập tức chấp hành tuyệt đối.

Đạo thánh chỉ thứ nhất đã được chuẩn bị từ trước bởi Vương Quỳnh, thượng thư bộ Lễ, tổng chỉ huy nghi thức tang lễ, người mà vua cũ mới mất một ngày đã bị giam vào đại lao: ”Đạt thiên minh đạo thuần thành trung chính thánh văn thần vũ chí nhân đại đức kính hoàng đế (nghĩa là vị hoàng đế đại nhân đại đức, thánh văn thần võ, thuần thành trung chính sáng rõ như trời) Hiếu Tông đã về trời, tổ chức quốc tang trên cả nước.”

Toàn thể thần dân phải để tang, mũ viền vải trắng. Sau khi dự đại lễ tân đế lên ngôi, các quan vẫn phải để tang, không được đi ủng mà phải đi giầy rơm, bỏ hai cái cánh chuồn ở mũ sa để treo hai dải băng trắng rủ xuống.

Các chùa chiền to nhỏ cùng đánh vạn tiếng chuông, ngày đêm không dứt. Trong vòng ba ngày, các quan viên từ tứ phẩm trở lên phải từng nhóm một tiến về Càn Thanh Cung cử hành việc đưa linh, ai ai cũng phải khóc than mười lăm lần, do viên ngoại lang bộ Lễ chỉ huy. Cùng một lúc tất cả người tham gia phải than lạy nhịp nhàng theo lệnh, khóc cùng khóc, dừng cùng dừng, khiến cho Càn Thanh Cung trở nên như đang diễn tấu nhạc giao hưởng.

Đạo thánh chỉ thứ hai là do hoàng đế Chính Đức và ba vị đại học sĩ cùng Cửu Khanh của sáu Bộ trao đổi mặc cả khá lâu, cuối cùng trong tình huống không chống nổi sự uy hiếp của Hoàng đế mới thông qua. Chiếu chỉ hạ lệnh cho tả thị lang bộ Lễ Lý Kiệt, giám phó của Khâm Thiên Giám là Nghê Khiêm, thái giám của Lễ Giám ty là Đới Nghĩa, tả thị lang bộ Công Lý Đạc, tham tướng Tả Tiêu quân của Thần Cơ doanh Dương Lăng cùng đôn đốc giám sát xây dựng Thái Lăng cho hoàng đế Hoằng Trị.

Mặc dù bị hoàng đế Chính Đức ép nên đám nội các đại học sĩ phải đưa Dương Lăng vào nhóm các quan viên phụ trách đôn đốc xây Đế Lăng, nhưng bọn họ lại cố ý nhét y vào cuối danh sách. Ngược lại, vốn chẳng có chí khí gì lớn (thật sự rất có lỗi với rất nhiều khổ tâm thu vén cho y của hoàng đế Chính Đức), Dương Lăng hoàn toàn chẳng để tâm đến việc này.

Đối với người khác thì việc đôn đốc xây Đế Lăng chẳng những là một công việc vô cùng quang vinh mà còn sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho con đường làm quan sau này. Nhưng Dương Lăng lại chỉ ước gì mình được chỉ huy chút đỉnh gì đó, chỉ cần chạy loanh quanh dãn chân, dãn cẳng là tốt nhất. Muốn y mỗi ngày phải chủ trì đại lễ, phải bôn ba trong nghĩa trang, không nói y không có năng lực làm việc này, mà chính từ đáy lòng y cũng chẳng hứng thú gì.

Đám Đại học sĩ muốn làm khó dễ y nhưng lại thành ra giúp đỡ y. Bây giờ Dương Lăng chỉ chịu trách nhiệm chỉ huy trên vạn quan binh cung dịch từ tam đại doanh trong Ngũ Quân Đô Đốc Phủ điều tới. Khi đám nhân viên này vừa đến, bộ Lễ, bộ Công, Khâm Thiên Giám đã bắt đầu vung tay múa chân, Dương Lăng gần như thành người thừa. Người ta không muốn gặp y, y cũng không cần phải có mặt mỗi ngày, thành ra lại tiêu diêu tự tại vô cùng vui vẻ.

Đạo chiếu chỉ thứ ba của hoàng đế Chính Đức là vung đao giết người. Hắn mang hết toàn bộ uất ức với đám quan văn giáng xuống một đám quỉ xui xẻo. Vì hoàng đế Hiếu Tông vừa uống thuốc xong lại đột nhiên chảy máu không ngừng rồi thăng luôn, những người hầu hạ hoàng đế Hiếu Tông uống thuốc là thái giám Trương Du, Viện phán của Thái Y viện Lưu Văn Thái, ngự y Cao Đình Hòa đều bị xử trảm. Cách chức Thái Y viện của Sứ Thi Khâm, còn thiếu khanh Thái Thường Tự là Lý Tông Chu và các quan chức liên quan đều bị biếm ra quan ngoại.

Một việc khiến quần thần không hiểu ra sao cả chính là việc phó tham tướng Thần Cơ doanh Bào Tận Thẩm, quan đô ty Lưu Sĩ Dung, Thải Bạn quan (quan thu mua) Bào Tận Trung và trên mười tên võ tướng lớn nhỏ liên quan cũng bị lôi ra trước chợ chém đầu. Bào tham tướng và Lưu đô ty bị áp giải từ thiên lao, còn Bào Tận Trung thì lại được người của Cẩm Y Vệ đưa tới. Khi Giám Trảm quan kiểm tra, chứng thực nhân thân của hắn thì lão vô cùng kinh hãi.

Quả thực Tiền Ninh rất quan tâm tới Bào Tận Trung nên gã không dùng những hình phạt như kéo ruột, tôi luyện, huyền tích (treo xương sống lên), oan tất (đục vỡ đầu gối), xoát tẩy (cọ rửa) với hắn, nhưng hắn cũng đã bị đánh đập thê thảm tới mức không còn nhân dạng, ngay cả đường huynh (anh họ) Bào tham tướng cũng không nhận ra hắn.

Đến lúc chém, những phạm nhân trên pháp trường ai nấy đều mặt cắt không còn chút máu, chỉ có Bào thải bạn thì lại vô cùng khẳng khái nhanh chóng đưa cổ chờ đao, lập tức được dân chúng vây xem ồ lên ủng hộ.

Miêu Quỳ phụng mật chỉ của Tiên đế bí mật tra tìm những kẻ mua súng ống cùng đạn dược, xem rốt cuộc đó là vị Phiên Vương nào. Việc này quan hệ trọng đại, hoàng đế Hoằng Trị dặn lão nếu chưa điều tra được rõ ràng thì đừng vội thông báo với Chu Hậu Chiếu, do đó Chính Đức hoàn toàn không biết gì về việc này.

Đến khi Miêu Quỳ nghe thấy chiếu chỉ của hoàng đế Chính Đức được ban bố một cách đột ngột thì lập tức phi ngựa tới pháp trường muốn hô to ”Đao hạ lưu nhân”. Đáng tiếc khi lão tới nơi thì chỉ kịp nhìn thấy thân quyến của những người chết đang khâm liệm thi thể, chuẩn bị đem đi mai táng rồi.

********
Vua mới lên ngôi, quốc sự nặng nề, ba vị đại học sĩ bận tới mức không thể giải quyết hết việc. Họ cũng không hề quên đồng liêu đang bị giam ở thiên lao, nhưng dù họ nhiều lần cầu khẩn hoàng đế Chính Đức đặc xá tội bất kính cho Vương Quỳnh, nhưng Chính Đức lại hoàn toàn không thèm để ý.

Có chư vị đại nhân Lục Bộ Cửu Khanh chiếu cố, Vương lão thượng thư không hề chịu khổ sở gì trong ngục tối, nhưng một vị cựu thần mà bị giam trong ngục hơn mười ngày như vậy, khó tránh khỏi việc đám triều thần cũng nhao nhao bàn luận. Họ không dám phỉ báng hoàng đế nhưng không khỏi giận chó đánh mèo, căm ghét Dương Lăng ra mặt. Phần lớn đám quan văn gặp Dương Lăng đều lạnh mặt làm ngơ, khiến cho Dương Lăng cảm thấy rất xấu hổ.

Thật ra Dương Lăng cũng có nói giúp cho Vương Quỳnh nhiều lần. Chỉ là Chính Đức vừa nghĩ tới việc lão gia hỏa đó hung hăng trước mặt mình, phun cả nước bọt vào mặt mình, điệu bộ cực kỳ kiêu ngạo làm cho hắn cực kỳ căm hận, nên hắn rắp tâm muốn dạy cho lão một bài học. Vì vậy, cho dù Dương Lăng cầu xin cũng không được hắn xem xét.

Lúc này, Ngự Mã Giám vừa mới phụng chỉ tiếp quản hoàng cung, Dương Lăng cùng Miêu Quỳ bàn giao cung cấm. Sau khi để năm trăm thân vệ tạm ở lại hoàng cung, những quan binh khác lập tức được cử tới Thái Lăng đôn đốc việc xây dựng hoàng lăng. Tất cả mọi việc xử lý xong xuôi, Dương Lăng chạy về Càn Thanh Cung. Vừa mới đi đến cửa điện, y đã thấy hai vị đại nhân Vương Ngao, Dương Phương từ trong cung mặt mũi nặng chịch đi tới.

Dương Lăng thấy vậy vội dừng chân chắp tay thi lễ. Hai người thấy Dương Lăng làm vậy cũng không thèm để ý tới, chỉ cười lạnh một tiếng rồi phẩy tay áo bỏ đi. Dương Lăng biết những người đối xử với mình như vậy đều là những đại thần thẳng thắn trung trinh, do ma xui quỷ khiến thế nào mà họ lại cho mình là kẻ gian nịnh. Y chỉ có thể lắc đầu cười khổ, bước vào đại điện.

Tiểu hoàng đế đang lẩm bẩm đọc, phê các bản sớ, duyệt xong là tiện tay vứt sang một bên. Lưu Cẩn cắp phất trần đứng hầu bên cạnh. Lão vừa nhìn thấy Dương Lăng liền khẽ cười, đưa tay lên muốn chào hỏi.

Mấy ngày nay ở gần với nhau đã quen, Dương Lăng cũng biết tiểu hoàng đế cực kỳ hiền hoà, bởi vậy y ra hiệu cho Lưu Cẩn im lặng, rồi lặng lẽ đi tới bên người Chính Đức.

Trong những bản tấu đã được phê đang được đặt ở trên bàn, Dương Lăng thấy một bản phê rằng:
- Tiền khuyến học cũng cần thiết. Thế nhưng muốn sao chép mọi thứ từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế tới nay à? Nếu e thừa quá nhiều giấy mực, cứ đưa bớt cho trẫm.

Một bản khác thì viết:
- Những việc nhỏ như thế này thì quan viên địa phương có thể làm. Nếu cái gì cũng cần trẫm phê duyệt, vậy các ngươi để làm gì?

Dương Lăng nhìn bản tấu chương này thấy đầy những chữ cực nhỏ dày đặc. Y đã biết cho dù là tấu chương của ai viết đi nữa, những dòng đầu cũng đều chỉ nói vài lời vấn an ca ngợi khách sáo, gần như có thể bỏ qua không cần xem nên y vội liếc xuống phía dưới. Trong bản tấu chương viết đại ý là ở khu Bách Việt, có dân chúng lấy lúa nước của An Nam lai tạo với lúa của ta, sản xuất ra một loại gạo mới, có thể chịu hạn, chống côn trùng tốt hơn, sản lượng cũng tăng lên, xin Hoàng Thượng cho nhân giống, phát triển.

Dương Lăng đọc xong tấu chương đó, vội hỏi:
- Hoàng Thượng! Dân lấy ăn mặc là quan trọng, nếu giống gạo mới có thể tăng sản lượng, dù chỉ là một mẫu tăng mười cân, thì phần tăng thêm trên đồng ruộng cả nước đâu chỉ là ức vạn? Hoàng Thượng không nên xem thường.

Chính Đức vừa quay đầu lại, nhìn thấy là y bèn vui vẻ nói:
- Ngươi trở lại rồi à! Trẫm đang muốn bảo người đi tìm ngươi. Trẫm muốn lưu Tả Tiêu quân của ngươi ở kinh sư, đám đại học sĩ không chịu. Lưu Cẩn đưa ra một ý rất hay: xung quanh kinh sư qui hoạch một ngự trang bảy tòa, nhân mã của ngươi nhậm chức thị vệ thân quân cho trẫm, đóng quân trong ngự trang. Ha ha, sau đó họ không dám nói gì nữa.

Dương Lăng nghe xong không khỏi cả kinh. Chẳng phải làm như vậy thì mình sẽ càng trở thành mục tiêu công kích sao? Quy hoạch ngự trang, dân chúng trong ngự trang sẽ nộp thuế ruộng cao hơn dân chúng bình thường vài phần. Dân chúng khổ không nói ra được, phần tội lỗi này cũng sẽ đổ lên đầu mình rồi.

Y không khỏi tức giận liếc mắt nhìn Lưu Cẩn. Lưu Cẩn đứng bên cạnh Chính Đức với vẻ mặt vô cùng đắc ý, còn cảm thấy mình đã làm một việc rất tốt cho Dương Lăng. Lão vui vẻ xem cái liếc mắt của Dương Lăng là cái nhìn cảm ơn của Uy Vũ Bá.

Dương Lăng không khỏi thở dài, bỏ qua không nói về việc này nữa, y quay sang bản tấu chương:
- Hoàng Thượng! Hẳn là nên giao bản tấu chương này cho ba vị đại học sĩ bàn bạc một chút. Gạo đã kháng côn trùng, chống hạn tốt lại có thể tăng sản lượng, thật rất có lợi cho dân chúng Đại Minh. Bệ hạ nên giao cho một địa phương nào đó trồng thí nghiệm, nếu thật sự hiệu quả như vậy, sẽ nhân rộng ra. Dân chúng nhận được ơn huệ, ai mà không cảm động ân đức của Hoàng Thượng chứ?

Y thấy Chính Đức nghe mà không để tâm lắm, không khỏi linh cơ máy động, nói luôn:
- Nếu gạo này thật sự hiệu quả, vậy là tuệ nhãn của Hoàng Thượng rất cao. Lúc đó thần xin dùng niên hiệu của Hoàng Thượng mà đặt tên, gọi là ”gạo Chính Đức”, như thế sẽ thiên thu muôn đời ai ai cũng đều nhớ tới Hoàng Thượng.

Y vừa nói như vậy, quả nhiên khiến Chính Đức cao hứng. Hắn vui vẻ phán:
- Dương khanh nói có lý. Cứ như vậy đi! Những quan lại địa phương tự mình thí nghiệm loại này. Mỗi nhà không được ít hơn hai mẫu. Khi có kết quả khả quan sẽ nhân rộng ra.

Hắn vội vàng lấy lại bản tấu chương đó, viết lại ý kiến phúc đáp lên, rồi bảo tên tiểu thái giám bên cạnh:
- Lập tức đưa cho đại học sĩ duyệt rồi làm việc.

Chuyện này đã gợi lại chuyện vẫn trĩu nặng trong lòng Dương Lăng. Y nhớ lúc mình còn ở Kê Minh dịch, Hàn Lâm từng có mấy củ khoai lạ, người phương bắc đều rất quí trọng nó. Bây giờ đã là tháng năm rồi, rốt cuộc hiệu quả của giống lúa mới như thế nào, e rằng phải qua năm sau mới biết được. Trong khi đó mình biết mấy thứ khoai lạ nhất định sẽ cho sản lượng lớn. Lưu Cẩn khuyên hoàng đế mở ngự trang tuy là một chuyện xấu, nhưng nếu ta có thể thuyết phục Hoàng đế đồng ý nhân giống loại cây đó bên trong ngự trang thì khi mọi người đều biết chỗ tốt của nó, đương nhiên dân chúng sẽ tích cực ủng hộ. Kinh sư là căn bản của thiên hạ, dân chúng nơi đây đã trồng loại lương thực này thì chẳng bao lâu loại cây này sẽ được phổ biến khắp cả thiên hạ.

Dương Lăng càng nghĩ càng cao hứng, nhưng tính toán mãi mà chưa biết làm sao mở lời. Lưu Cẩn cười nói:
- Dương đại nhân! Đội quân của ngài cư trú ở kinh thành, chúng ta có thể thường xuyên gặp nhau trước mặt bệ hạ rồi. Ha ha, vừa rồi hai người Dương Phương, Vương Ngao cầm tấu chương về việc Tín Dương lũ lụt tới gặp Hoàng Thượng, nghe nói Hoàng Thượng muốn qui hoạch một ngự trang để cho ngài đóng ở kinh thành, cả hai còn đưa lời gièm pha ngăn cản nữa.

Dương Lăng biết đây là Lưu Cẩn muốn tốt cho mình, nhưng vừa nghe chuyện Tín Dương lũ lụt, còn có người dâng lên tấu chương, y không khỏi giật mình. Đã bao nhiêu ngày qua rồi mà triều đình vẫn còn chưa xử lý, nếu có người chết đói thật, chẳng phải dồn ép dân chúng tạo phản sao? Y vội vàng truy vấn:
- Sao vẫn còn chưa phát chẩn lương thực cứu trợ nạn nhân ở Tín Dương thế?

Chính Đức trả lời:
- Lưu đại học sĩ đã hạ lệnh phân phối thuế ruộng để cứu tế rồi, nhưng bọn hắn lòng tham không đáy, còn muốn trẫm miễn thêm cho Tín Dương ba năm thuế ruộng. Lũ lụt thôi, là đại nạn nhất thời thôi, lũ lui thì đâu có sao, cũng chẳng có gì to tát, cần gì phải miễn ba năm thuế ruộng chứ? Ta vừa rồi suýt nữa bị đám đó khóc lóc nỉ non lừa bịp, may mà có Lưu Cẩn nhắc nhở, mới không mắc bẫy họ.

Dương Lăng cảm thấy hơi không ổn, vội tâu:
- Hoàng Thượng! Hà Nam lắm tai nhiều nạn, dân chúng phần lớn không còn lương thực dư thừa, việc cứu tế chỉ giải quyết việc đói lạnh nhất thời cho họ mà thôi. Huống hồ sau lũ tất có ôn dịch, dân chúng đã túng lại nghèo, rất vất vả mới qua khỏi. Nếu có thể giảm miễn một vài thứ thuế ruộng để dân chúng còn tia hi vọng, nghỉ ngơi lấy lại sức, với nước với dân đều là chuyện tốt mà.

Mặt Lưu Cẩn hơi lộ vẻ bực bội, lão đáp:
- Dương đại nhân có lòng nhân hậu, thương cho dân chúng. Nhưng những quan chức làm tổn hại triều đình, lấy lòng địa phương thật sự không ít đâu. Một khi đã làm một lần, sau này chẳng biết sẽ có bao nhiêu quan chức nhân dịp thiên tai tới xin Hoàng Thượng miễn này miễn kia, như vậy triều đình chẳng còn thuế má gì cả à?

Chính Đức vừa nghe xong gật đầu nói ngay:
- Đúng rồi, đúng rồi! Lưu Cẩn nói có lý. Ta thấy bọn hắn báo cáo rất quá đáng, một lần lũ lụt là lũ lụt cả ngàn dặm được sao? Không thể dung túng cho bọn họ.

Lưu Cẩn lại nói tiếp:
- Trước giờ vẫn không có một quy chế nào về việc triều đình kiểm tra thuế ruộng tại địa phương, việc điều tra cũng không cẩn thận. Trong kho của phủ họ có tiền có lương thực, họ cũng vẫn cứ lên triều đình khóc than. Hoàng Thượng tuổi nhỏ, không thể nào để đám bầy tôi đó che mắt. Lão nô đề nghị Hoàng Thượng thiết lập quy định, hàng năm đều phải phái người tuần tra việc thu thuế ruộng các nơi, tự mình phải có tính toán mới không bị các quan lừa.

Dương Lăng kinh ngạc liếc nhìn lão, y không nghĩ tới tên Lưu Cẩn dốt nát, chỉ biết hại người này còn có cả những ý kiến sâu sắc như thế. Đời nay thông tin phát triển, quy định kiện toàn mà còn phải có những cơ quan kiểm toán hàng năm đi thẩm tra các nơi. Đại Minh lúc này giao thông không tiện, tin tức tắc nghẽn, nếu không tăng cường quản lý tài chính các nơi thì rất bất lợi cho triều đình.

Nhưng chuyện tốt này nếu chỉ cắt cử bọn thái giám nội quan đi chấp hành, chỉ sợ bọn họ ngoài mặt lấy lòng hoàng đế, bên trong thì trung gian kiếm lời bỏ phần lớn vào túi riêng. Lúc đó lại xuất hiện một đám chuyên lột da, vơ vét, chuyện tốt cũng thành chuyện xấu. Dương Lăng vội bổ sung:
- Chủ ý này rất tốt, phải tăng cường việc khống chế của triều đình với địa phương mới có lợi. Hoàng Thượng nên bảo bộ Hộ định ra quy tắc, để họ hàng năm phái người đi chấp hành.

Lưu Cẩn thấy y đồng ý với mình, lập tức mặt đỏ lên. Lúc này lão còn chưa nghĩ tới việc mưu tìm lợi lộc gì, chỉ muốn đứng trước mặt hoàng thượng khoe khoang bản lĩnh một chút. Dương Lăng là cận thần thiên tử, là Uy Vũ Bá, thi thư giỏi hơn lão vốn chỉ vò vè vài chữ không biết bao nhiêu lần. Thấy Dương Lăng tán thành quan điểm của mình, Lưu Cẩn chợt phát hiện mình không phải chỉ là người hầu hạ kẻ khác, hóa ra mình cũng có bản lĩnh thực sự.

Lão nhất thời cao hứng, lập tức đĩnh đạc tâu:
- Nô tài còn nghĩ rằng Dương Phương, Vương Ngao tỏ vẻ tận tâm cho Tín Dương như thế, là bởi vì bọn họ là quan chức gốc Tín Dương nên thiên vị quê nhà. Quan chức trong triều mà còn như thế, chắc chắn quan viên địa phương còn quá đáng hơn nhiều. Để phòng ngừa quan hệ ràng buộc, hoà hiếu kết giao rồi nhận hối lộ, quan viên địa phương cả nước không được nhậm chức ở tỉnh của mình. Cũng cùng lý do như thế, Ngự sử thủy vận không thể để cho người Giang Nam đảm nhiệm.

Dương Lăng nhướng mày, thầm nghĩ: “Lưu Cẩn không phải là người tốt, lão dùng tâm tiểu nhân để đo lòng quân tử, xem mọi người đều nghĩ như lão. Đâu phải các người làm quan đều là một lũ mưu lợi riêng làm rối kỉ cương chứ?” Nhưng y nghĩ lại, loại phương pháp này thật sự có thể phòng ngừa việc tư thông ở một mức độ nhất định.

Dương Lăng bèn tâu:
- Lưu công công tâu rất có lý. Nhưng phần lớn người có học trong thiên hạ đều tập trung ở vài nơi. Nếu khi cử quan chức mà không cho phép nhậm chức tại tỉnh của mình, sẽ có nhiều quan chức không thể phân bổ được. Không bằng quy định để tránh hiềm nghi, quan chức tỉnh giàu có không được nhậm chức tại tỉnh của mình, như vậy mới có thể còn rộng đường lựa chọn cắt cử hơn.

Sau khi lên ngôi, Chính Đức chưa nghĩ được cao kiến gì để có thể tuyên bố chiếu thư hiển thị bản lĩnh của tân đế. Vừa nghe Lưu Cẩn đề ra hai điều mà Dương Lăng đều đồng ý cả, còn bổ sung cho hoàn thiện, hắn liền cảm thấy hứng thú. Hắn nhấc bút lên chăm chú ghi lại, biến thành hai chính sách mới được ban bố ngay khi hắn vừa nắm triều chính.

***************

Chính Đức vừa làm hoàng đế nên còn khá là chăm chỉ, nhưng những bản sớ ấy viết vừa xấu lại vừa dài, nội dung lại cực kỳ khô khan vô vị. Hắn phê một lát thì cảm thấy bực mình, bảo Lưu Cẩn cùng hắn đi chơi.

Dương Lăng một mình đi ra khỏi Càn Thanh Cung, dừng chân chốc lát dưới mái đình trước cửa cung. Bây giờ, nhân mã tứ vệ Ngự Mã Giám đã hồi cung, y không cần phải ở lại trong cung nữa. Nhưng mới vừa rồi Hoàng Thượng chưa có ý cho y rời đi, mà y cũng chưa tìm được cơ hội mở lời.

Ngẫm lại từ khi y lãnh binh vào núi cho tới lúc vào đóng quân trong hoàng cung, nay đã hơn một tháng rồi. Y và Ấu Nương có thể nói là gần nhau trong gang tấc mà cách mặt cả biển trời. Cùng ở trong thành Bắc Kinh, đường đi cũng chẳng bao xa, nhưng lại không được gặp lại nhau, thật sự trong lòng y rất nhớ nhung.

Hôm nay không tiện đi, đợi vài ngày nữa là có thể về nhà rồi. Tiểu nha đầu đó có nhớ ta không, có gầy đi không? Dương Lăng nghĩ đến bé con yêu kiều đáng yêu, thân thể không khỏi nóng lên, hận không thể lập tức bay về, ôm lấy Tiểu nương tử yêu dấu đầy xinh xắn, đầy hiểu biết vào lòng hôn hít một phen.

Đầy tình ý phấp phới, y ngẩn người nhìn vào viện. Một vị quan văn đang đi vào cung, bắt gặp y đứng đờ người trước cửa cung vội băn khoăn bước tới. Người nọ liếc nhìn y, gương mặt dày như vỏ quít mang theo nụ cười khiêm tốn, chắp tay thi lễ:
- Vị này có phải là Uy Vũ bá Dương đại nhân không? Hà hà, quả nhiên là Dương đại nhân!

Dương Lăng đang ngơ ngẩn, quay đầu lại thấy đó là một vị quan văn hơi quen mặt. Tuổi người này sợ cũng phải bảy mươi rồi, trên quan phục có thêu một con gà, xem ra là quan nhị phẩm. Dương Lăng vội chắp tay chào:
- Hạ quan thất lễ, đại nhân là...

Lão đại nhân cười khà khà:
- Lão phu là Tiêu Phương, thị lang bộ Lại.

Dương Lăng vội đáp:
- Thì ra là Tiêu đại nhân! Tiêu đại nhân... muốn vào gặp Hoàng Thượng à?


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 03:25 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 90 - Tiêu Phương Dùng Kế



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Chính Đức nghe xong, không dám tin bật thốt:
- Hà Nam là nơi cằn cỗi như thế sao? Những bảo vật nơi ấy chỉ là ... chỉ là bò cạp, ve sầu, xâu tiền sao? Đáng thương! Thật là đáng thương!



------------------------

Chương chín mươi Tiêu Phương Dùng Kế

------------------------



Tiêu Phương cười nhẹ:
- Đúng vậy! Chỉ là... hai vị đại nhân Vương Ngao và Lưu Phương vừa mới bị hoàng thượng từ chối thẳng thừng, lão phu sợ mình cũng sẽ bị đuổi cổ ra thôi. Dương đại nhân là bầy tôi đắc lực trước mặt Hoàng Thượng, có chuyện này lão phu muốn nhờ đại nhân hỗ trợ dâng lời.

Dương Lăng chợt máy động trong lòng, giật mình hỏi:
- Đại nhân cũng là vì việc Tín Dương mà tới à? Không dối đại nhân, khi nãy hạ quan cũng đã khuyên Hoàng Thượng rồi...
Dương Lăng kể lại từ đầu chí cuối việc vừa rồi cho lão nghe, rồi khẽ thở dài:
- Hoàng Thượng ít tuổi, hãy còn chưa hiểu chuyện dân gian, có một số việc chưa chắc có thể trình bày rõ ràng được với Hoàng Thượng. Hiện nay hạ quan cũng chẳng còn biện pháp gì nữa!

Tiêu Phương không giống bọn người Vương Ngao, Dương Phương chú trọng đến khí phách thư sinh. Mặc dù tuổi quá thất tuần, râu tóc bạc phơ nhưng tấm lòng nhiệt tình mưu cầu danh lợi của lão lại chẳng hề giảm bớt. Bây giờ Dương Lăng đang là nhân vật được Chính Đức coi trọng nên lão đã có ý muốn kết giao, vì vậy tuy quan chức cao hơn Dương Lăng, nhưng lão lại có thái độ cực kỳ khiêm tốn với y.

Nghe Dương Lăng nói xong, Tiêu Phương cau đôi mày bạc trắng, suy nghĩ rất lâu rồi cẩn thận nói:
- Hoàng Thượng từ bé đã ở trong cung, chẳng biết nỗi khổ của dân gian cũng là lẽ thường. Không giấu gì Dương đại nhân, lão phu là người Bí Dương, Hà Nam, quê nhà cũng đang chịu phải tai ương, khắp chốn Hà Nam lúc này nạn dân kêu khóc đòi ăn, người bị nạn nào chỉ có ở một nơi. Bạn bè thân hữu ở Bí Dương và Tín Dương đều lên kinh nhờ vả, dù thế nào lão phu cũng phải cố gắng nói một lời trước mặt hoàng thượng. Nếu đã không thể can gián trực tiếp thì lão phu nghĩ nên đi đường vòng. Có điều việc này vẫn phải nhờ Dương đại nhân giúp đỡ, mong rằng Dương đại nhân sẽ tương trợ.

- Ồ! Nếu có thể giúp đỡ cho người dân đang khốn khó, Dương Lăng sẽ không chối từ. Không biết lão đại nhân có cao kiến gì?
Dương Lăng vội hỏi.

Tiêu Phương nghe y đồng ý, lập tức vui vẻ kề tai nói nhỏ với y một hồi. Dương Lăng nghe xong ngạc nhiên nhìn lão, thầm nghĩ: “Tuy rằng hoàng đế trẻ người non dạ, nhưng cũng đã là thiếu niên mười lăm sáu tuổi rồi; tuy y rất ham chơi, nhưng liệu y lại khoái mấy thứ trò chơi con nít này sao?”

Nhưng vị lão đại nhân này đã nói thế, mình cũng không ngại giúp lão một tay, nếu có thể thành công thì quả là công đức vô lượng rồi. Dương Lăng bèn gật đầu đáp:
- Cứ như vậy đi, ty chức đi đây. Ngày mai đại nhân chuẩn bị sẵn đồ vật cho tốt chờ Hoàng Thượng triệu kiến là được.

**************************

Kết thúc buổi triều sớm, hoàng đế Chính Đức bãi giá về điện Trung Hoà. Vừa vào cửa điện, hắn đã ngáp một cái rõ to, càu nhàu với Dương Lăng đang đứng đợi:
- Ngày nào cũng khởi giá sớm như vậy, thực mệt chết đi được. Đáng ghét nhất là cái ngai vàng. Ta có thể nói kẻ chế ra cái ngai vàng này nhất định có thù oán với hoàng đế. Cái bản ghế quá cứng, ngồi rất khó chịu; lưng ghế quá sâu, không dựa lưng được; tay vịn hai bên lại quá xa, muốn dựa vào một chút cũng không xong. Rõ là muốn người ngồi trên đó mệt bao nhiêu là cho mệt bấy nhiêu.

Dương Lăng nghe xong cảm thấy hơi buồn cười, chợt nhớ Đại Minh từng có vị hoàng đế làm thợ mộc, nhưng theo trí nhớ thì dường như không phải là hắn. Nghe hắn nói rõ ràng mạch lạc như vậy, chẳng lẽ con cháu họ Chu đều có thiên phú làm thợ mộc à?

Cốc Đại Dụng thấy hoàng đế nói về mấy chuyện này bèn vội đuổi đám cung nữ thái giám ra ngoài hết. Tuy Lưu Cẩn là người tâm phúc của hoàng đế Chính Đức, nhưng chức vụ hiện nay của lão vẫn còn chưa thay đổi, vẫn là thái giám thủ lĩnh của Chung Cổ ty. Khi bên này bãi triều, lão phải chỉ huy gõ chuông giống trống ở bên kia, bận rộn vô cùng, cho nên lúc này không có thời gian chạy tới hầu hạ hoàng thượng. Còn bọn Mã Vĩnh Thành và Trương Vĩnh thì ai nấy đều có công việc riêng, do đó bên cạnh hoàng đế chỉ có mỗi mình Cốc Đại Dụng hầu hạ mà thôi.

Chính Đức ngồi xuống sau long án, lấy từ trong hộp gấm trên bàn ra một chiếc bánh ngọt xốp giòn, vừa ăn nhồm nhoàm, vừa lúng búng nói:
- Được rồi! Ngươi nói Hà Nam có nhiều bảo vật, hôm nay muốn cho người đến tiến cống vài món đồ hiếm lạ. Vậy mau lấy ra cho ta coi.

Dương Lăng mỉm cười đưa mắt ra hiệu cho Cốc Đại Dụng. Sớm được y dặn dò, Cốc Đại Dụng vội đi ra trước điện, cao giọng gọi:
- Tuyên thị lang bộ Lại Tiêu Phương vào yết kiến!

Chỉ lát sau, Tiêu Phương đầu tóc tóc bạc phơ, tay tuồn vào trong ống tay áo, chạy chầm chậm từ trước điện lại. Đến cửa điện lão thở phì phò một hồi rồi mới rảo bước qua bậc cửa, quỳ sụp xuống, hô to:
- Thần Tiêu Phương ra mắt hoàng thượng!

Chính Đức uống một ngụm trà, cười toe toét bảo:
- Tiêu ái khanh hãy đứng lên! Trẫm nghe nói Hà Nam có nhiều bảo vật, khanh có đem theo không, mau lấy ra cho ta xem thử.

Tiêu Phương dập đầu tâu:
- Khải bẩm Hoàng Thượng, vùng Hà Nam không có vàng, không có bạc, không có ngọc ngà châu báu. Cái gọi là bảo vật chẳng qua là những sinh vật hiếm khi thấy được ở những vùng khác, thần sợ sẽ làm kinh động thánh giá.

Chính Đức vừa nghe lập tức mừng rỡ. Mấy thứ vàng bạc châu báu thì có gì mà xem? Vừa nghe lão nói là có những sinh vật hiếm lạ, khó thấy được nơi khác, trong lòng y càng ngứa ngáy hơn, tâm tính thiếu niên cũng lập tức nổi lên, Y bất chấp uy nghi hoàng thượng, vỗ bàn cười, sốt ruột giục:
- Mau lên! Mau lấy ra cho trẫm xem một chút, trẫm thích mấy thứ này lắm.

- Dạ, vi thần tuân chỉ!
Tiêu Phương ngẩng đầu liếc mắt nhìn Dương Lăng. Dương Lăng mỉm cười, khẽ kín đáo gật đầu với lão, lúc này Tiêu Phương mới yên tâm.

Hôm nay lão lên đây hiến lời ngay, thực sự cũng rất phiêu lưu mạo hiểm. Nếu hoàng thượng nhìn thấy vật do lão trình lên, chẳng những không thích mà còn nổi giận, lão sẽ thành ra trộm gà không được mà còn bị ăn mất nắm gạo, không khéo phải vào thiên lao bầu bạn với Vương Quỳnh Vương đại nhân chứ chẳng chơi. Bây giờ có Dương Lăng gật đầu nhận hỗ trợ, nếu lát nữa chẳng may hoàng thượng phát hoả, có y bảo kê hẳn sẽ không sao.

Tiêu Phương lấy từ trong tay áo ra ba hộp nhỏ, cung kính dâng lên, nói:
- Quê nhà của thần không sản sinh ra bảo vật gì khác, chỉ có mấy thứ hiếm lạ này, mời hoàng thượng ngự lãm.

Chính Đức sốt ruột:
- Đưa lên đi! Mau đem qua cho trẫm xem.

Tiêu Phương đứng dậy bước tới trước, đặt ba chiếc hộp trên long án trước mặt Chính Đức rồi cẩn thận mở một hộp ra, nhè nhẹ đẩy tới trước mặt Chính Đức.

Chính Đức mở to hai mắt chăm chú nhìn. Hắn thấy trong hộp có một con vật có mấy cái chân màu vàng óng, gần như trong suốt, trên lưng là một lớp vỏ đen xì, dày cứng, cái đuôi giương cao quắp lại thành móc câu, trông như đại tướng quân uy vũ. Hắn không khỏi ngạc nhiên cười hỏi:
- Đây là con gì vậy? Trông thật thú vị!

Hắn vừa nói vừa thò tay vào định sờ, Dương Lăng vội giữ tay hắn lại, can:
- Hoàng Thượng cẩn thận! Con vật này gọi là bò cạp, là độc vật. Nếu bị cái móc trên đuôi nó chích trúng sẽ đau đớn không chịu được, chớ có đụng vào nó.

Chính Đức thích chí:
- Thì ra con vật đáng yêu này chính là bò cạp à, trông thật đẹp và oai vệ. Trẫm có nghe qua về 'Ngũ Độc'*, đáng tiếc lại chưa được thấy. Hôm nào tập hợp những độc vật này lại cùng một chỗ, cho chúng đánh nhau xem thử con nào độc hơn. Trong hộp đó còn có cái gì nữa, đem cả ra đây xem nào!
(*:gồm bò cạp, rắn, rết, thạch sùng và cóc)

Cốc Đại Dụng cầm nắp đậy cái hộp đó lại, rồi mở một cái khác ra. Trong hộp có một con gì đó trông mềm mềm, đen thui, bò tới bò lui trong hộp rất nhanh. Chính Đức thấy vậy không thích, nhíu mày hỏi:
- Đây là con gì?

Tiêu Phương đáp:
- Hồi bẩm Hoàng Thượng, con vật này tên là con xâu tiền*. Cuộc sống của dân chúng Hà Nam nghèo khổ, trên người không có tiền, nhìn thấy con vật này giống như một dây để xâu tiền, bèn dùng nó để trêu đùa, mong có ngày gia cảnh sung túc hơn.
(*: hay còn gọi là du diên, tên khoa học là Thereuonema tuberculata)

Chính Đức ờ một tiếng, nhạt nhẽo phán:
- Con xâu tiền trông chán chết! Còn hộp thứ ba là gì?

Tiêu Phương mở hộp cuối cùng. Nắp hộp vừa mở ra, chỉ nghe một tiếng vù, một con vật từ trong hộp bay ra, bay vòng quanh điện vài vòng, rồi kêu lên một tiếng bay vụt ra khỏi cửa điện.

Hoàng đế Chính Đức nhìn mà há hốc mồm, ngạc nhiên thích thú hỏi:
- Đây là vật gì, là chim à? Sao lại bay đi rồi?

Dương Lăng thấy mấy con vật bình thường như vậy mà hoàng đế Chính Đức đều chưa thấy qua, xem ra thật là đáng thương. Nhưng ngẫm lại có những đứa trẻ đô thị tới nông thôn, ngay cả cây ngô (bắp) non cũng không nhận ra, còn lấy làm lạ là tại sao lại có thứ cỏ dại trông thẳng tắp như vậy. Cho nên vị hoàng đế này không biết mấy thứ nọ cũng không có gì là lạ.

Dương Lăng bèn cười đáp:
- Hoàng Thượng! Con vật đó gọi là con ve, cũng được gọi là ve sầu. Vì tiếng kêu của nó như hai chữ 've sầu' (nguyên văn “tri liễu”). Con vật này ăn gió uống sương, lấy nhựa cây làm thức ăn.

Tuy Tiêu Phương đọc rất nhiều sách, nhưng xưa nay mọi người đều cho rằng con ve uống sương mà lớn, còn có người chuyên làm thơ phú để ca ngợi sự cao thượng của con ve. Đây là lần đầu lão nghe nói con ve hút nhựa cây nên không khỏi liếc mắt nhìn Dương Lăng, nhưng rồi lập tức phụ họa:
- Dương đại nhân nói đúng đó! Mấy năm nay Hà Nam nếu không hạn hán thì là lụt lội, đất đai không trồng trọt được lương thực, đến cả chim chóc cũng sắp chết đói, chỉ có những con vật không cần ăn gì thì mới có thể sống được.

Chính Đức nghe xong, không dám tin bật thốt:
- Hà Nam là nơi cằn cỗi như thế sao? Những bảo vật nơi ấy chỉ là ... chỉ là bò cạp, ve sầu, xâu tiền sao? Đáng thương! Thật là đáng thương!

Nhân cơ hội, Tiêu Phương bèn quỳ xuống tâu:
- Hoàng Thượng từ bi, dưới sự trị vì của tiên đế và hoàng thượng, vốn là quốc thái dân an, dân chúng an cư lạc nghiệp. Thế nhưng không hiểu sao mà mấy năm nay Hà Nam liên tiếp bị thiên tai, do đó đời sống dân chúng rất khổ cực, mặc dù chưa tới nỗi ”đổi con cho nhau để ăn”, nhưng có rất nhiều người dân không kiếm được ba bữa. Hai ngày trước, thần gặp vài người đồng hương chạy nạn tới đây, thần mới biết mức độ nghiêm trọng của tình hình thiên tai ở cố hương.

Thần là người Hà Nam, nhưng đồng thời cũng là bề tôi của Hoàng Thượng, do đó không dám thổi phồng việc này, e làm rác tai bệ hạ, đồng thời cũng không dám không báo cho Hoàng Thượng. Do đó thần mạo muội tâu lên, xin Hoàng Thượng làm chủ cho dân chúng Hà Nam.

Chính Đức lúc này mới rõ ý lão. Hắn nhìn các hộp gỗ trên bàn một lúc, rồi bật cười:
- Tiêu thị lang rất có thủ đoạn! Thôi được, trẫm sẽ chuẩn những tấu chương của những quan viên Hà Nam các ngươi, miễn thuế ruộng cho Hà Nam. Đã ban ân đức, phải ban nhiều một chút, vậy trẫm sẽ miễn... cho Hà Nam năm năm thuế khóa, khanh thấy thế nào?

Tiêu Phương vừa nghe liền mừng như điên. Lão quỳ sụp xuống đất, dập đầu lia lịa, liên thanh ca ngợi Hoàng Thượng thánh minh, rồi một loạt những từ ngữ ca ngợi thao thao bất tuyệt được tuôn ra như nước lũ tràn bờ, khiến cho cả Chính Đức nghe xong cũng chịu không nổi. Hắn bụm miệng cười ha hả rồi bảo:
- Đủ rồi! Đủ rồi! Khanh hãy lui xuống đi, lát nữa ngọ triều trẫm sẽ hạ chỉ là được.

Chính Đức đảo mắt nhìn thấy Dương Lăng đang đứng một bên cười tủm tỉm, không khỏi mỉm cười, giả vờ giận dữ trừng mắt nhìn y, nói:
- Khanh chớ đắc ý! Hôm nay trẫm tưởng có vật hiếm lạ để chơi, nhưng lại rất thất vọng. Chuyện này vẫn ở trên người khanh! Trong vòng ba ngày, khanh phải tìm mấy thứ đồ chơi thật tốt cho trẫm xem!

Dương Lăng cười hì hì vâng lệnh, rồi cùng thị lang bộ Lại Tiêu Phương dập đầu tạ ơn, cùng nhau lui ra khỏi đại điện. Tiêu Phương kéo tay Dương Lăng liên tục cảm ơn, cao hứng tới mức nói năng lộn xộn.

Dương Lăng nghe lão nói người Hà Nam nhất định sẽ đội ơn y lần này, bèn không khỏi cười nói:
- Việc này cũng không hẳn! Đại thần trong triều nhiều người hiểu lầm với hạ quan, e rằng... ngay cả hai vị đại nhân Dương Phương và Vương Ngao là người Hà Nam cũng vẫn xem tại hạ như giặc.

Tiêu Phương khoát tay khinh thường nói:
- Chớ để ý đến đám người đó. Dân chúng chỉ biết ai cho họ cơm ăn, ai cứu mạng sống của họ. Còn đám người chỉ biết lễ giáo, chẳng biết thực hành đó, đại nhân đừng để ý tới họ.

Tiêu Phương là tiến sĩ năm Thiên Thuận thứ tám. Đầu năm Hoằng Trị được điều tới Hoắc Châu làm Tri phủ, được đề bạt làm Đề học phó sứ ở Tứ Xuyên , rồi được điều tới Hồ Quảng, không lâu sau, lại thăng làm Hữu thông chánh ở Nam Kinh, sau lại được thăng làm Hữu thị lang bộ Lễ, cho đến giờ thì ngồi vào vị trí thị lang bộ Lại .

Để hiển thị tài hoa của mình, lão thường xuyên dâng thư tấu sự, đưa ra những kiến giải của mình đối với sự việc trong triều đình và địa phương, hy vọng có thể khiến cho hoàng đế Hoằng Trị coi trọng và trọng dụng.

Đáng tiếc quan viên khi ấy hoặc nhiều hoặc ít đều có địa bàn của mình. Lão lần lượt nhậm chức bộ Lễ và bộ Lại, hai thượng thư Vương Quỳnh và Mã Văn Sinh tuy rất trung thành với triều đình, nhưng về mặt đạo đức cá nhân cũng không thể thập toàn thập mỹ được: bản sớ của Tiêu Phương thường bị bọn họ gạt bỏ không trả lời. Vì phần lớn những quan viên này là người phương nam nên Tiêu Phương rất oán hận đám quan viên phương nam.

Lúc này trong triều ngoại trừ đại học sĩ Lưu Kiện, những người nắm quyền phần lớn là tài tử vùng Chiết Giang, Hồ Nam và Giang Tây. Do đó quan viên trong triều mà lão nhìn vừa mắt cũng chẳng có mấy ai.

Dương Lăng đến từ Kê Minh, là đồng hương phương bắc, lại là cận thần của thiên tử, hơn nữa vừa rồi lại giúp đỡ nhiệt tình khiến lão có thể ăn nói với các phụ lão ở quê nhà, trong lòng Tiêu Phương tự nhiên cảm kích tới rơi nước mắt.

Nghe Dương Lăng nói y bị triều thần kỳ thị, Tiêu Phương nhớ tới những bản sớ của mình bị gạt bỏ, không khỏi dâng lên mối đồng cảm, lập tức chắp tay:
- Việc thiện hôm nay của Dương đại nhân sẽ cứu sống mấy chục vạn dân chúng Hà Nam. Sau này nếu đại nhân có gì sai khiến, chỉ cần nói một tiếng, lão phu nếu có khả năng, quyết sẽ không chối từ.

Dương Lăng cười cười cám ơn, rồi chắp tay tiễn vị đại nhân này đi. Lúc này y chỉ nghĩ mạng mình có hạn, cố sống sao cho vui vẻ một chút, nếu có thể tiện tay làm chuyện tốt thì cứ làm một ít. Mặc dù đây là cơ duyên người khác cầu cả đời cũng không được, nhưng y lại không có chí lớn gì, do đó y hoàn toàn không để tâm đến lời hứa của vị “phó bộ trưởng bộ khen thưởng“ này.

Ngọ triều đã tan, Chính Đức thở phào nhẹ nhõm. Y trở lại Càn Thanh cung bỏ nghi trượng, vừa ăn chút đồ ăn vặt vừa bảo tên tiểu thái giám đi gọi mấy người Mã Vĩnh Thành tới, tìm tiếp mấy trò chơi mới mẻ giải buồn. Lúc này bên ngoài chợt có người cao giọng hô:
- Đại học sĩ Lưu Kiện của Vũ Anh điện, đại học sĩ Lý Đông Dương của Cẩn Thân điện và đại học sĩ Tạ Thiên của Hoa Cái điện cầu kiến Hoàng Thượng.

Hoàng Đế Chính Đức “a” lên một tiếng, lật đật kéo ngăn kéo, đút hộp mứt hoa quả vào. Lần trước hắn không để ý, lúc tiếp kiến Lưu Kiện vẫn còn bày trên bàn một hộp trái cây khô. Lưu Kiện trông thấy liền tức thì hùng hồn buông lời răn bảo một phen, phê phán Hoàng Thượng không quan tâm đến long thể, ăn uống lung tung, cơm nước không đúng giờ, làm cho Chính Đức lúc đó phải thề thốt đã biết lỗi, rằng sau này sẽ không ăn bậy uống bạ nữa, lúc đó Lưu Kiện mới bỏ qua. Nếu hôm nay lại bị bọn họ bắt gặp, ba vị đại học sĩ đồng loạt mở miệng thì làm sao hắn sống cho nổi?

Chính Đức giấu kỹ hộp mứt hoa quả rồi mới ngồi thẳng người dậy, bảo:
- Mời ba vị đại học sĩ vào điện!

Ngoài cửa điện, ba ông già cất tiếng đáp lời rồi đi vào điện. Hôm nay ba vị đại học sĩ cùng dắt tay nhau tới đây là vì một chuyện lớn. Tân vương kế vị, lục cung vô chủ, tuy hoàng đế tuổi tác còn nhỏ, nhưng việc này cũng phải thu xếp càng nhanh càng tốt.

Đương nhiên, việc nạp hậu là việc mà Chính Đức không tự làm chủ được. Bọn họ đến đây, cũng chỉ là theo lễ tiết xin sự đồng ý của hoàng đế, chỉ cần hắn gật đầu lập tức có người lo liệu toàn bộ, hoàng đế chỉ cần chờ vào động phòng là xong.

Việc tuyển lập hoàng hậu, sẽ là người trung cung* mẫu mực, tuân thủ điển lễ, là một việc to lớn vô cùng. Tuy tầm quan trọng không bằng việc hoàng đế tuyển chọn người thừa kế, nhưng tính công khai lại rất cao. Bậc mẫu nghi thiên hạ đứng đầu chánh cung phải do phủ Nội Vụ lựa chọn cẩn thận; sau khi chọn được ứng cử viên, nội quan, nội các cùng với Thái Hoàng thái hậu, Thái hậu tiến hành thương thảo quyết định. Diện mạo của người được chọn chỉ là thứ yếu, người đó nhất thiết phải là con nhà quan lại, thân thế trong sạch, hiền lương thục đức mới có thể làm mẫu nghi thiên hạ. (*: cách gọi khác của hoàng hậu)

Lúc này ngoại trừ chút tình cảm mơ hồ về Đường Nhất Tiên, đối với tình yêu nam nữ thì Chính Đức hoàn toàn không biết gì hết, những chuyện giường chiếu thì càng mù tịt. Do đó điều làm ba vị đại học sĩ mừng rỡ vô cùng chính là hoàng đế Chính Đức mấy ngày nay luôn luôn làm bọn họ đau đầu khi thương lượng bất kỳ chuyện gì, không ngờ hôm nay lại tỏ ra ăn ý vô cùng, không đưa ra bất cứ ý kiến phản bác gì cả.

Vốn ba vị đại học sĩ đang thẳng lưng vác một bộ mặt sẵn sàng chiến đấu, chỉ cần Chính Đức phản đối, lập tức họ sẽ phát động cuộc đại chiến nước bọt. Nay thấy hoàng đế Chính Đức đồng ý mọi thứ như vậy, ba lão thần liền vui vẻ cáo từ, lao tới phủ Nội Vụ bàn việc tuyển hoàng hậu.

Hoàng đế Chính Đức vẫn chưa hiểu việc tuyển vợ cho mình có ý nghĩa gì cho lắm. Hắn lôi hộp mứt hoa quả dưới bàn ra, nhón lấy một miếng cắn vài cái, rồi nằm dài bên cạnh bàn suy nghĩ một hồi, song vẫn không cảm thấy việc này có gì quan hệ gì với mình.

Ngẩng đầu lên, thấy Dương Lăng đang đứng trước mặt, hắn đột nhiên vỗ trán nói:
- Trẫm mới nhớ ra, hình như ngươi lâu lắm rồi chưa về nhà thì phải? Hôm nay cũng không cần phải tuần thủ trong cung, về nhà đi! Dù sao ngươi cũng không phải tảo triều, mai cũng không cần tới sớm như vậy đâu.

Ha ha, trẫm nhớ lúc phụ hoàng bãi triều đều tới thăm mẫu hậu, lần nào không đi là mẫu hậu không vui. Ngươi đi lâu như vậy rồi, Ấu Nương tỷ tỷ nhất định cũng sẽ không vui, bảo nàng không được trách trẫm đó. Này, ngươi cầm hộp mứt hoa quả này về đi, làm lễ vật ta bồi tặng cho Ấu Nương tỷ tỷ.

Dương Lăng vừa nghe Chính Đức thả y về nhà, vui tới cả người lâng lâng bay bổng. Y cũng không cần khách sáo với hoàng đế Chính Đức, vội vàng cám ơn rối rít rồi vui vẻ cất hộp mứt hoa quả. Đầu tiên y chạy đi gặp Liễu Bưu dặn dò gã quản thúc quan binh cho tốt, ít ngày nữa sẽ phải dời quân vào đóng trong ngự trang.

Sau đó y xin một thớt khoái mã, vừa ra khỏi hoàng cung là xoay người phóng lên ngựa, lao đi như tên bắn về phía Hộ Quốc Tự. Lúc này dân chúng toàn thành vẫn sinh hoạt như thường, chỉ có điều quần áo mặc trên người đều đổi thành màu trắng, trên đầu quấn khăn tang. Dọc đường đi y loáng thoáng nghe tiếng chuông trầm bổng trong các chùa chiền bồng bềnh vọng lại.

Theo quy định do Vương Quỳnh soạn, các chùa chiền lớn nhỏ đều phải đánh ba vạn tiếng chuông, ngày đêm không nghỉ. Đến hôm nay đã là ngày thứ ba, phỏng chừng số lần đánh cũng không còn nhiều. Mặc dù không ai đếm, nhưng người đánh chuông cũng phải tận tâm, không ai dám qua loa tắc trách, nghe nói có một số chùa chiền đã đánh hỏng mất vài cái chuông rồi.

Dương Lăng phi ngựa chạy vội về phố Hộ Quốc Tự. Vừa vào ngõ, y đã thấy một chiếc kiệu đang đi về phía mình. Hai gia nhân áo xanh đi bên cạnh kiệu lướt sát qua người y.

Dương Lăng xoay người xuống ngựa, phấn khởi dắt ngựa đến trước cửa nhà, đưa tay đẩy. Cửa nhà không khóa, Dương Lăng lập tức đẩy rộng cửa sân rồi dắt ngựa vào.

Y vừa vào sân, liền nhìn thấy Tuyết Lý Mai đang khom lưng đứng ở góc sân, cần cổ thanh mảnh, da thịt trắng như ngọc. Bóng dáng xinh đẹp ấy chỉ nhìn từ phía trắc diện mà đã tao nhã mê người không nói nên lời. Chỉ là mỹ nhân khí chất bất tục này lại đang mặc áo vải, đeo tạp dề xanh, trên đầu quấn một dải lụa trắng, trên chiếc eo giắt một cái gàu nhỏ, đang lụi cụi rắc thức ăn vào một cái chuồng nhỏ được dựng bằng củi ở góc sân.

Nghe thấy tiếng động, Tuyết Lý Mai liền quay đầu lại. Vừa nhìn thấy kẻ bước vào là y, nàng lập tức vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, đặt chiếc gàu xuống, phấn khởi chạy ra đón, mở miệng gọi:
- Đại... ,

Dương Lăng lập tức ra hiệu cho nàng im lặng, khẽ giọng cười:
- Đừng kêu! Ấu Nương có ở trong nhà không? Ta sẽ len lén đi vào.

Trên gương mặt vui mừng của Tuyết Lý Mai hiện lên chút hâm mộ. Nàng vội gật đầu lia lịa, dịu dàng đáp:
- Ừm! Tỷ tỷ ở trong đó. Vừa rồi có người tới gặp đại nhân, mà đại nhân không có ở nhà, hắn còn nói là hai ngày qua đại lễ tân đế đăng cơ đã xong, đại nhân sắp về thôi. Ấu Nương tỷ tỷ và chúng tôi nghe thế đều rất vui. Hì hì, không ngờ hắn vừa mới đi, đại nhân đã về thật rồi.

- Ồ?
Dương Lăng vừa cột cương ngựa vào gốc hòe to, vừa thuận miệng hỏi:
- Ai tìm ta vậy? Tìm ta có chuyện gì?

Tuyết Lý Mai ngoan ngoãn theo tới bên cạnh gốc cây, vuốt những sợi tóc mai vương trên trán, hé miệng cười đáp:
- Vị công tử đó tựa hồ có tâm sự trong lòng, nhưng lại không kể với chúng tôi. Hắn chỉ nói hắn là tam công tử của thượng thư bộ Lễ, tên là Vương Cảnh Long, còn nói ngày mai sẽ lại tới tiếp kiến.

- Vương Cảnh Long?
Tên người này nghe rất quen. Dương Lăng đột nhiên nhớ ra “chẳng phải Vương Cảnh Long chính là chân mệnh thiên tử trong lòng Ngọc Đường Xuân trong lịch sử sao?” Vương Cảnh Long đến thăm, không cần phải hỏi cũng biết, chính là vì lão Vương Quỳnh bị giam hơn mười ngày rồi, ba vị đại học sĩ xin tha cho mà hoàng đế vẫn không chịu. Nhà họ Vương bồn chồn lo lắng nên đã gõ cửa nhà y nhờ vả.

Không nghĩ tới Vương Cảnh Long và các nàng Ngọc Đường Xuân rốt cuộc vẫn gặp nhau. Nếu nói đây là số mạng, không biết đôi tình nhân vốn được định sẵn từ trước này, sẽ vẫn có duyên đến với nhau hay không? Dương Lăng nhớ trong câu chuyện nọ cuối cùng cả Tô Tam lẫn Tuyết Lý Mai đều gả cho Vương Cảnh Long, trở thành sủng thiếp của hắn.

Dương Lăng vừa nghĩ thầm, vừa dùng ánh mắt quái dị đánh giá Tuyết Lý Mai vài lần. Tuyết Lý Mai không biết suy nghĩ của y, chỉ nhận thấy ánh mắt Dương tướng công cứ nhìn mình chằm chằm. Lần này quan sát cẩn thận, Dương tướng công mà nàng đã nhiều ngày không gặp đã trưởng thành thêm vài phần, có vẻ nam nhân uy vũ, làm tâm hồn thiếu nữ của nàng không khỏi rộn lên, trong mắt bất chợt dâng lên chút ngượng ngùng, khuôn mặt ngọc ngà ửng lên một lớp phấn hồng.

Dương Lăng sực tỉnh lại, việc này có suy tính cũng vô dụng. Dù sao ngày mai Vương Cảnh Long vẫn sẽ tới, nếu như Tô Tam và Tuyết Lý Mai đúng là có duyên với hắn thì y cũng không ngại chu toàn chuyện này cho họ. Nhà họ Vương là quan lại thế gia, dòng dõi Nho học, cũng sẽ không làm khó mấy người Tuyết Lý Mai.

Nghĩ thông suốt xong, Dương Lăng liền dứt bỏ tâm sự, đưa roi ngựa cho Tuyết Lý Mai, mỉm cười với nàng, rồi rón ra rón rén đi về phía cửa phòng mình. Cửa phòng khép hờ, xộc vào mũi y là mùi thịt kho thơm phức, trong lòng Dương Lăng tràn đầy cảm giác hạnh phúc được gặp lại người mình yêu.

Y lặng lẽ thò đầu vào nhìn, thấy Hàn Ấu Nương đang quay lưng về phía mình. Nàng ngồi ở trước bếp, mặc một chiếc váy màu xanh lơ, lớp vải lót bên trong chắc hẳn đã sờn, do đó bộ đồ đơn bạc làm cho thân thể nhỏ nhắn xinh xắn trông gầy hơn so với trước, eo thon uyển chuyển uốn lượn, cặp mông nhỏ vẫn săn chắc đẫy đà.

Trong lòng Dương Lăng nóng hầm hập, y liền sải bước đi vào vươn tay ôm ngang eo Ấu Nương, vỗ mạnh vào mông nàng, rồi cất tiếng cười vang trong tiếng kêu kinh hãi của nàng:
- Tướng công về nhà mà không ra đón! Vi phu phải chấp hành gia pháp, trước hết sẽ phát vào mông ba mươi cái.


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:00 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 91 - Lập Kế Trừ Gian



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Vương Cảnh Long tinh thần chấn động, nói giọng căm hận:
- Không sai! Chúng ta có thể cho gia đinh nô bộc theo dõi hắn khắp nơi, tìm mọi chứng cớ phạm pháp của hắn. Một khi lật đổ được hắn há chẳng phải tên của bảy người quân tử chúng ta sẽ được truyền tụng khắp nơi hay sao?



------------------------

Chương chín mươi mốt Lập Kế Trừ Gian


------------------------


Dương Lăng nghe tiếng Hàn Ấu Nương la to thì cảm thấy có gì đó không hợp lý, thế nhưng đã đánh ra rồi không thu lại được. Cho nên một tiếng ‘Bốp’ vang to, quả nhiên cảm giác khác với Ấu Nương: mềm mại, tuy cũng đàn hồi nhưng lại không săn chắc được như của Ấu Nương.

Dương Lăng sững sờ, Hàn Ấu Nương tay cầm mớ hành lá xanh ngắt từ buồng trong thò đầu ra, ngạc nhiên kêu lên:
- Tướng công về rồi?
Nàng chạy ù ra, nhìn thấy tình cảnh trước mặt cũng ngây cả người.

Dương Lăng vẫn không hiểu cô gái mình đang ôm này là ai. Thiếu nữ đó gương mặt ngượng ngùng đỏ như mã não chợt xoay người lại. Dương Lăng nhìn xuống, thì ra là Ngọc Đường Xuân, mặt y cũng ửng đỏ lên, xí xóa:
- Cô nương sao lại mặc y phục của Ấu Nương, còn... còn búi tóc, việc này... lần này... ta...

Ngọc Đường Xuân mặt đỏ rực, tâm hồn thiếu nữ cũng không biết là ngượng hay giận, thấy lão gia cũng bối rối lúng túng, nàng cũng vừa không thoải mái, lại vừa hoang mang bối rối, ngượng ngùng thi lễ:
- Đại nhân đã về.

Tô Tam thi lễ xong liền ngước mắt lên, thấy Ấu Nương và tiểu Vân từ buồng trong đi ra đang nhìn mình, tức thời càng thêm khó xử. Nhớ tới mới vừa rồi Dương tướng công phát một cú vào mông kêu rất to, bây giờ bàn tọa ê ê rát rát lại hơi ngưa ngứa, nhất định là Ấu Nương tỷ tỷ và tiểu Vân nghe thấy được, nàng không kìm được ôm lấy hai má đỏ như lửa vội vàng chạy ra ngoài.

Tiểu Vân cố nhịn cười nói:
- Tiểu tỳ ra mắt lão gia!
Nói rồi nàng không đợi Dương Lăng trả lời đã vội vàng lựa dịp lẻn luôn ra ngoài.

Dương Lăng hắc hắc cười gượng vài tiếng, rồi nói:
- Sao cô nương ấy mặc áo của nàng, còn để tóc nữa, ta nhất thời...

Hàn Ấu Nương vẻ mặt là lạ nói:
- Quần áo hai vị muội tử đều có thêu hoa, không phù hợp với tang lễ của Hoàng Thượng cho nên phải thay đổi đồ của thiếp. Nàng nói sau này không cần ca múa cho người xem nữa, nên... nên cắt tóc đi.
Nàng vừa nói chuyện, vừa đi đến gần bên người Dương Lăng. Sau khi ngắm y cẩn thận, thân thể mềm mại của Ấu Nương chợt run lên rồi lập tức ào vào trong lòng Dương Lăng, run giọng:
- Tướng công, người ta... người ta rất nhớ chàng... nhớ chàng muốn chết...

Tiếng kêu này đã rung động đến tâm can khiến Dương Lăng cũng không khỏi rơm rớm nước mắt. Ấu Nương như một con chim nhỏ nép sát vào ngực y, sóng mắt yêu kiều, si mê vuốt ve hai gò má y rồi nói:
- Tướng công đen gầy đi, nhưng... cũng cường tráng lên, vẻ anh tuấn còn pha chút uy vũ nữa.

Dương Lăng nháy nháy mắt, vui vẻ:
- Đương nhiên rồi, tướng công bây giờ là Uy Vũ Bá mà.

Hàn Ấu Nương ôn nhu gật đầu:
- Ừm, thiếp biết rồi. Việc này truyền đi rất nhanh, mấy người láng giềng cũng sớm chúc mừng thiếp rồi.

Dương Lăng cau mày, kỳ quái:
- Sao mà nàng cứ thiếp thiếp mãi thế. Trước giờ nàng đều không xưng hô như vậy, nghe ra rất không tự nhiên.

Hàn Ấu Nương hé miệng cười, ôn nhu đáp:
- Tướng công bây giờ có quan có tước, trong nhà không thể không có một chút quy củ. Trước kia thiếp không hiểu việc nên phải thỉnh giáo Ngọc Nhi muội tử mới biết đó.

Dương Lăng lắc đầu cười nói:
- Tướng công không thích, nghe như nàng thấp hơn ta một cái đầu ấy. Ta thích xưng là Ấu Nương hơn ,
Y cúi người ghé vào bên tai Ấu Nương, thấp giọng:
- Nhất là lúc nàng cực khoái, luôn luôn kêu ‘Ấu Nương sắp chết đây, Ấu Nương hạnh phúc muốn chết rồi’, tướng công nghe mấy câu đó trong lòng như có cọng cỏ quẹt qua quẹt lại, cảm thấy ngứa ngáy lắm.

Hàn Ấu Nương nghe thế đỏ mặt, ngượng ngùng thốt lên:
- Tướng công, thiếp... người ta...

Dương Lăng tròn mắt, bàn tay uy hiếp từ cái eo nhỏ nhắn của nàng di chuyển xuống dưới rồi phủ xuống kiều đồn nhô cao, làm bộ khẽ vỗ vài cái. Thân thể mềm mại của Ấu Nương run lên, nói lẩm bẩm:
- Ấu Nương… Ấu Nương… Ấu Nương nhớ tướng công lắm.

Dương Lăng cười cười, ôn nhu hỏi:
- Nhớ thật không?

Hàn Ấu Nương vội vàng gật đầu cười:
- Ừ ừ ừ, nhớ… nhớ thật.

Dương Lăng khẽ nheo mắt lại, cười xấu hỏi:
- Chỗ nào nhớ tướng công?

Hàn Ấu Nương cũng không phải là người chưa trải việc, vừa nghe tướng công nói lời này gương mặt lập tức đỏ như hoa lựu, cắn môi khó xử không dám trả lời.

Dương Lăng hôn lên mặt nàng một nụ hôn dài, cười khà khà nói:
- Bảo bối của ta còn thẹn thùng gì nữa, coi như tướng công không hỏi đi.

Hàn Ấu Nương nhất thời thở phào nhẹ nhõm, không ngờ Dương Lăng lại nói:
- Vậy nàng nói xem, nàng nhớ chỗ nào của tướng công?

Hàn Ấu Nương kêu lên một tiếng rồi vùi khuôn mặt nóng đỏ vào trong lòng y, nắm nắm tay đấm lia lịa, ngượng ngùng:
- Tướng công thật xấu, tướng công vừa về đã khi dễ người ta.

Dương Lăng nâng cằm nàng lên thấy mắt nàng khép hờ, hơi thở như tơ, răng cắn nhẹ đôi môi đỏ mọng ra vẻ hết sức kiều mỵ động lòng người làm cho lòng y nhất thời nóng lên. Dương Lăng không kìm được vươn tay bế ngang Ấu Nương lên, nàng vội vàng ôm chặt cổ y, giật mình hỏi:
- Tướng công... chàng ... chàng làm cái gì thế?

Ấu Nương vừa thấy con ngươi Dương Lăng tóe lửa thì lập tức tỉnh ngộ, thân thể cũng mềm nhũn không còn sức lực nữa, thanh âm phản đối càng nói không nên lời, chỉ dám lắp bắp:
- Trời... trời còn sớm, cửa... cửa...

Ngọc Đường Xuân, Tuyết Lý Mai và tiểu Vân đứng ở trong viện hồi lâu, chỉ thấy một chiếc giầy rơm giơ ra, cạch cạch hai tiếng đóng cửa lại rồi trong khoảnh khắc chợt nghe trong buồng có tiếng kêu duyên dáng. Một lúc lâu sau lại nghe thanh âm của Đại lão gia kêu lên quái gở:
- Này, tay nàng lột tỏi hả! Nóng lắm, chặt lắm... Ừm…Ặc... Ặc...

Rồi không có tiếng động gì truyền ra nữa. Tuyết Lý Mai mặt đỏ như hơ lửa cố làm gan ghé tai Ngọc Đường Xuân đang run run, nói:
- Lão gia thật quá đáng, sao... sao lại tuyên dâm giữa ban ngày thế.

Ngọc Đường Xuân bị hơi thở dồn dập của nàng phun vào tai, còn mình cũng thở dồn dập hai má nóng bừng bừng. Nàng còn chưa nói gì, tiểu Vân đột nhiên vung vẩy đôi tay còn dính đầy bột trắng toát kêu lên:
- Hỏng rồi, hỏng rồi, bánh bao của người ta...

oOo


Dương Lăng tiễn Vương Cảnh Long khỏi cửa rồi trở lại gian chính ngồi xuống, không khỏi thở dài một hơi, mấy thứ khách sáo hư tình giả ý thật là mệt. Vị Vương tam công tử này lớn hơn y hai tuổi nhưng bản thân lại rất ngây thơ. Rõ ràng là oán hận y đầy bụng mà thần sắc cũng không hề che giấu vậy còn làm ra vẻ ăn nói khép nép xin người khác giúp đỡ, quả thật là làm khó hắn.

Bên cạnh Ngọc Đường Xuân đang giả làm tỳ nữ ngoan ngoãn đưa tới một chén trà. Dương Lăng nhận lấy uống một ngụm, rồi nhìn nàng cười nói:
- Cô nương xem vị Vương công tử này như thế nào?

Lúc Dương Lăng tiếp kiến Vương Cảnh Long đã bảo Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đều tới giả làm thị nữ, muốn xem cái nhìn của các nàng đối với Vương Cảnh Long.

Ngọc Đường Xuân hôm qua bị y vỗ một cái vào mông nên vẫn bối rối khi gặp y. Mãi đến hôm nay bị Dương Lăng gọi ra mới ngượng ngượng ngùng ngùng thò đầu ra ngoài.

Nghe Dương Lăng hỏi, nàng cúi đầu ngẫm nghĩ một lát, rồi chau mày nói:
- Vị Vương công tử này tuy là thuộc gia tộc lớn nhưng không hoài bão gì, ngôn ngữ ngây thơ, nhìn kỹ thì cũng chỉ có vậy. Tiện thiếp cảm thấy hắn cầu khẩn đại nhân cũng chẳng có thành ý gì.

Dương Lăng nghe xong cũng hơi bất ngờ. Hai người này không phải nhất kiến chung tình sao? Sao Tô Tam đánh giá hắn như vậy?

Y quên mất Tô Tam trong trí nhớ của mình gặp Vương Cảnh Long ở đâu, khi nào? Vương Cảnh Long lúc đó là một công tử bột còn trẻ nói năng tuỳ tiện chỉ có tướng tá là trông còn ngon lành, mà Tô Tam lại là kỹ nữ bán rẻ tiếng cười cho nên cơ bản là nàng không có quyền chọn lựa khách. Có thể gặp được một người trẻ tuổi lắm tiền đệ tử con nhà quan lại thế gia lại đa tình như vậy đã là phúc phận khó cầu rồi thì sao nàng không đem hạnh phúc của mình mà dựa vào người đó chứ. Bây giờ tâm tình lẫn thân phận đều khác hẳn ngày xưa cho nên góc độ nàng nhìn người tự nhiên cũng không giống.

Bên kia Tuyết Lý Mai ngọt ngào cười nói:
- Vương thượng thư có ba con trai. Đại công tử làm quan ở Kim Lăng, nhị công tử làm quan ở Hàng Châu, vị tam công tử này nhỏ hơn huynh trưởng tận ba mươi tuổi. Nghe nói là con thiếp thất của Vương thượng thư sinh ra, mà Vương thượng thư năm mươi tuổi mới sinh thằng con út cho nên cực kỳ sủng ái hắn. Vị Vương công tử này xưa nay cưỡi ngựa thưởng hoa với đám công tôn quý tử ở kinh sư cũng là một tên vung tiền như rác. Nhưng hắn cũng có tiếng là người tài hoa, tương lai không biết chừng cũng làm quan đó. Vương gia cả nhà làm quan, môn sinh bạn cũ rất nhiều, hôm nay đại nhân cho hắn thuận nước giong thuyền tất sẽ có ích với mình.

Dương Lăng cười cười, dựa lưng vào ghế nhắm mắt lại ngẫm nghĩ một lát. Vị Vương Cảnh Long này thật ra cũng tuấn tú lịch sự, tuy thần khí hơi hão huyền không thực tế nhưng đó là khuyết điểm chung của đám công tôn quý tử chốn kinh sư, xét cho cùng cũng không phải vấn đề gì lớn.

Chỉ là thấy hai cô nương nhà mình chẳng có dao động gì với hắn, vậy xem ra mấy thứ nhất kiến chung tình, nhân duyên tiền thế đều chỉ là chuyện đồn thổi. Cảm tình con người không thể suy đoán lung tung được. Gặp được vận may, rất nhiều việc sẽ không thể dùng lẽ thường mà nói được.

Dương Lăng thở dài, đứng lên duỗi vai vặn lưng. Không ngờ tay y vừa vươn ra thì Ngọc Đường Xuân như phản xạ có điều kiện né qua bên cạnh làm cho Dương Lăng vừa bực mình vừa buồn cười. Y đưa mắt thấy Tuyết Lý Mai bưng miệng cười trộm một bên, không khỏi giả vờ giận dữ trừng mắt liếc nàng, phẩy tay áo quát:
- Láo! Đi lấy quan bào mau lên, lão gia ta phải vào cung.

oOo

Vương Cảnh Long cưỡi ngựa tinh thần hoảng hốt không yên, hình ảnh hai nữ tỳ thanh tú thoát trần, xinh đẹp động lòng người ấy vẫn luôn quanh quẩn trong đầu hắn. Vừa rồi lúc còn ở Dương gia, hắn không dám ngẩng đầu lên liếc nhìn quá nhiều, lúc này khi về nhớ tới thì khắp nơi chỉ còn hình ảnh mỹ nữ nhưng lại nhớ không nổi bộ dáng rõ ràng của hai nàng.

Hôm qua hắn tới bái phỏng Dương Lăng thì chỉ gặp một tiểu nha hoàn, hôm nay trở lại quả nhiên như nguyện gặp được Dương Lăng, hơn nữa còn được hắn hứa hỗ trợ góp lời. Càng làm hắn kinh động chính là hai nữ tỳ tuyệt đẹp đứng phía sau Dương Lăng.

Hai tỳ nữ đó xinh đẹp thiên kiều bá mị, đoan trang yêu kiều, đẹp hơn phu nhân mình rất nhiều. Cái khó mà tưởng tượng chính là tuy nói hai cô nương đó đều là thị nữ nhưng vẻ mặt khí chất lại có phong phạm tiểu thư khuê các, nhìn qua thật sự làm người ta điên đảo tâm hồn. Vương Cảnh Long nghĩ tới bộ dáng yêu kiều của hai cô nương không khỏi thở dài tiếc hận: trước giờ giai nhân phối với tài tử, sao các nàng lại lạc tới Dương gia, rõ là hoa lài cắm bãi cứt trâu mà.

Phía trước người đi đường rất nhiều, Vương Cảnh Long lắc đầu dứt bỏ ý nghĩ thương hoa tiếc ngọc rồi cho ngựa chạy chậm lại. Mấy ngày nay phụ thân xảy ra chuyện khiến Vương Cảnh Long phải chạy quanh bôn ba cầu cứu những người bạn có quan chức của cha. Đám bạn xưa nay vẫn cùng ngâm thơ thưởng trăng hắn vẫn không ngó tới, nhưng hôm nay từ chối không được hắn đành đáp ứng dẫn đám hảo hữu đi ‘Túy Tiên Lâu’ ăn nhậu.

Lúc này được một quyền thần như Dương Lăng hứa sẽ hỗ trợ, cũng có nghĩa là cha mình nhất định sẽ không xảy ra việc gì, những lo nghĩ của Vương Cảnh Long cũng nhẹ đi nhiều. Hắn đi tới ”Túy Tiên Lâu”, một tên tiểu nhị tươi cười đón hắn nói ngay:
- Ủa, Vương công tử, mấy hôm rồi ngài không tới, mau mau lên lầu, vẫn là Lục Châu Các. Các công tử đều đang chờ ngài.

Vương lão thượng thư bị Hoàng Thượng hạ ngục, tiểu nhị cũng sớm nghe nói rồi. Nhưng hắn nào dám trước mặt Vương Cảnh long có biểu hiện gì, chỉ có nước làm bộ chẳng biết. Vương Cảnh Long đưa cương ngựa cho hắn, ừm một tiếng rồi đi thẳng lên lầu ba.

“Túy Tiên Lâu” ở kinh sư xem như là một đại tửu lâu hạng nhất, tổng cộng ba căn, bốn phương đều có lầu các quây quanh một sân giếng trời, trong sân có trồng rất nhiều kỳ hoa dị thảo. Bình thường từ sớm đã có người uống rượu đàm tiếu, đàn sáo nhã nhạc vang lừng, kỹ nữ mỹ lệ nhẹ nhàng múa hát, quả nhiên là thiên đường nhân gian.

Bây giờ cả nước để tang Hoàng Thượng, mặc dù khách sạn tửu lâu của Đại Minh đều có thể làm ăn bình thường, vẫn tiếp đãi khách thương nam lai bắc vãng nhưng việc chơi đàn múa hát bị cấm tuyệt đối, do đó thanh tĩnh đi rất nhiều.

Trong Lục Châu Các lầu ba, sáu vị công tôn quý tử đang uống rượu cười nói. Thấy Vương Cảnh Long đi vào, một tên công tử vỗ tay cười nói:
- Thuận Khanh, ngươi đã tới muộn, phải tự phạt ba chén mới được.

Một khi thanh niên tới hai mươi tuổi làm xong lễ thành nhân thì sau đó có thể được mang tên chữ. Tên chữ Thuận Khanh của Vương Cảnh Long chính là do cha của vị công tử Dương Lâm này là Dương Phương, giữ chức Chiêm sự đặt cho, hai nhà có quan hệ rất tốt. Vương Cảnh Long cố cười, ôm quyền thi lễ:
- Tiểu đệ trên đường có ghé qua Uy Vũ Bá Phủ, do đó trễ một chút, chư vị huynh đài hảo hữu bỏ qua cho.

Dương Lâm nghe xong đặt chén xuống nói:
- Chuyện gì? Thuận Khanh mà đi cầu tên Uy Vũ Bá à? Hừ, tên gian nịnh nói lời gièm pha mị hoặc hoàng thượng, đầu độc thánh quân, dân chúng ai không biết? Thuận Khanh mà khuất phục hắn, cầu hắn ra mặt cho lệnh tôn, một khi việc này lan truyền ra ngoài thì Vương lão thượng thư một đời tên tuổi anh hùng đều sẽ bị trôi mất.

Bên cạnh mấy vị công tử đều vội gật đầu lia lịa, công tử của thị lang bộ Hình là Triệu Ung cười lạnh:
- Nghe nói tên tặc tử đó ở bên người Hoàng Thượng cấu kết với đám hoạn quan nói lời gièm pha, ở ngay kinh sư vạch ra bảy tòa ngự trang, được chuyển sang nhậm chức thống lĩnh thân quân thị vệ của hoàng đế. Bây giờ lại cổ động Hoàng Thượng hạ chỉ, không cho quan chức các tỉnh nhậm chức ở quê quán, làm các đại thần tiếng oán dậy đất.

Một vị công tử khác cũng nói vẻ không vui:
- Mười năm gian khổ học tập, ai không muốn công thành danh toại, ăn ngon mặc đẹp để có thể có được cảnh tượng áo gấm vinh quy về làng? Ta là người Chiết Giang, chẳng lẽ nếu ta làm quan thì chỉ có thể đi tới chỗ hoang vu lạnh lẽo không thể về quê hương nhậm chức sao? Thuận Khanh kết giao với nhân vật như vậy, rõ là khiến người xem thường!

Vương Cảnh Long bị nói tới mặt ngọc đỏ bừng, xấu hổ và giận dữ nói:
- Chư vị hảo hữu, gia phụ năm nay đã già nua cao tuổi rồi. Bây giờ bị giam trong thiên lao, phận làm con sao có thể không đau xót chứ? Ta tuy bề ngoài gượng cười đến nhà cầu hắn xin giúp đỡ, kỳ thật hận không thể lột da lóc xương tên tặc tử kia, như vậy mới giải được mối hận trong lòng ta.

Dương Lâm đập bàn:
- Đây mới là khí khái của người đọc sách. Tên gian nịnh này mà không trừ, mọi người đều bất an. Bây giờ Dương Lăng căn cơ chưa ổn nên còn có cơ hội trừ bỏ hắn. Nếu cứ ngồi chờ để hắn thanh thế lớn lên, chẳng lẽ không phải tai hoạ cho thiên hạ sao?

Triệu Ung thở dài nói:
- Nói dễ vậy sao. Bây giờ hắn đang là người được bệ hạ sủng ái, ba vị đại học sĩ tuy bất mãn hắn nhưng hình như cũng không có ý diệt trừ hắn. Chúng ta chỉ là thư sinh yếu đuối, có thể làm gì được chứ?

Dương Lâm cười nói:
- Hiền đệ hà tất phải nhụt chí thế, Dương Lăng đã là tên gian nịnh, tất sẽ làm nhiều việc phạm pháp. Nếu ta dụng tâm cố công dò tìm thì cuối cùng cũng có thể bắt được đuôi của hắn. Đến lúc đó đưa chứng cớ vô cùng xác thực đến trước mặt hoàng đế thì có gì mà không trảm được cái đầu hắn? Cho dù Hoàng Thượng sủng tín hắn khiến phương pháp này không làm được thì chúng ta lại tìm cơ hội khác, chỉ bằng bảy tài tử chúng ta đầy bụng kinh luân, đọc đủ loại thi thư, chẳng lẽ không nghĩ ra biện pháp trừng trị tên tặc tử này sao?

Vương Cảnh Long tinh thần chấn động, nói giọng căm hận:
- Không sai! Chúng ta có thể cho gia đinh nô bộc theo dõi hắn khắp nơi, tìm mọi chứng cớ phạm pháp của hắn. Một khi lật đổ được hắn há chẳng phải tên của bảy người quân tử chúng ta sẽ được truyền tụng khắp nơi hay sao?


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:02 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 92 - Bão Tố ở Ngự Trang



Dịch: workman

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Lòng Dương Lăng lạnh đi: “Ta không thể cứ thờ ơ như vậy, không thể chỉ dựa vào lòng tin của Hoàng Đế; nơi an toàn nhất cũng là nơi hung hiểm nhất. Vì an toàn của những người ta yêu dấu, ta phải nghĩ biện pháp để có năng lực tự bảo vệ. Nếu có người cố tình gây bất lợi cho ta, cho dù hắn là Hoàng Đế, thì hắn cũng là kẻ thù của ta. Dương Lăng ta làm việc chỉ theo lương tâm, chứ không nói gì tới ‘vua tôi cha con’ cả!"



------------------------

Chương chín mươi hai Bão Tố ở Ngự Trang


------------------------


Dương Lăng vừa tới Càn Thanh Cung đã thấy Mã Vĩnh Thành và Cốc Đại Dụng đều ở trong điện. Cốc Đại Dụng đang đứng hầu phía sau Chính Đức, Mã Vĩnh Thành đứng trước án thưa chuyện. Thấy y tới, Chính Đức ngắt lời Mã Vĩnh Thành, quay sang cười nói với y:
- Bảo ngươi tới trễ một chút, quả nhiên ngươi tới thật trễ! Trẫm đã xong buổi triều sớm rồi ngươi mới đến.

Dương Lăng thi lễ xong, cười hì hì đáp:
- Hoàng Thượng đã dặn dò thần nghỉ ngơi nhiều hơn. Đã được Hoàng Thượng thông cảm như vậy, nếu thần vẫn cứ tới sớm thì thành ra phạm thánh ý mất rồi!

Hoàng Đế Chính Đức bĩu môi:
- Vờ vĩnh! Ngươi có nương tử bầu bạn, tự nhiên không muốn theo ta rồi.
Thấy Dương Lăng ngẩn người, hắn không khỏi phá ra cười, vỗ tay cười nói:
- Quả nhiên là ta đoán trúng. Ấu Nương tỷ tỷ cũng giống như mẫu hậu, phụ nữ trong thiên hạ đều tương tự nhau, ha ha!

Dương Lăng nghe thế dở khóc dở cười. Mã Vĩnh Thành, Cốc Đại Dụng nghe một Hoàng Đế như hắn mà không hề ý tứ cứ gọi người ta là Ấu Nương tỷ tỷ, cũng chỉ đành cười gượng, không dám chỉ trích thói quen này.

Mã Vĩnh Thành ho khan hai tiếng, cười bồi chào Dương Lăng, rồi vội vàng đổi đề tài:
- Hoàng Thượng! Sau khi lão nô tại triều phòng đem ý của ngài lộ ra, thượng thư bộ Hộ Hàn Văn lại nói: “Ngân khố quốc gia trống rỗng, quan chức quản lý tài sản không phải là đám xiếc ảo thuật do Đông cung mời tới mà có thể ảo thuật ra tiền của được. Bây giờ đang xây công sự Bát Đạt Lĩnh, Thái Lăng cũng đang thi công, hẳn Hoàng Thượng nên tiết giảm tiêu dùng mới phải”.

Chính Đức nghe xong, vỗ bàn cả giận:
- Nói thế là thế nào? Đại Minh ta luôn luôn thu thuế nhẹ để dưỡng dân, mức thu thuế vốn không cao, huống chi ta còn ra lệnh xuất trong ngân khố ra một nửa số tiền. Chỉ bảo họ tu sửa khu vườn Bắc Hải, cắt bớt cỏ dại, làm mấy chiếc thuyền nhỏ để trẫm du ngoạn khi rảnh rỗi, thế mà cũng lắm ý kiến như vậy. Mấy tên đại thần này thật!

Mã Vĩnh Thành cúi đầu khom lưng đáp:
- Dạ, đúng! Thị lang bộ Lại Tiêu Phương cũng nói: “Dân chúng bình dân cũng có những chi phí ngoài dự tính, có khi cũng du ngoạn tiết đạp thanh (tiết Thanh Minh). Nhà dân thường còn tu sửa vườn tược này nọ, huống chi là hoàng gia? Triều đình luôn luôn khoan dung, hiện nay thiên hạ nợ dồn thuế ruộng lẫn trốn thuế nhiều vô kể! Cho dù là đôn đốc thu về chỉ được một hai thành thôi, cũng không cần bảo Hoàng Thượng phải hạn chế chi phí”.

Hoàng đế Chính Đức nghe xong chuyển giận thành vui:
- Tiêu Phương? Là Tiêu Phương mà hôm qua đem mấy con vật nhỏ tới can gián trẫm à? Ha ha, phương pháp vị quan này dùng để can gián rất dí dỏm, không giống như những tên thầy đồ đó, động một tí là trách trời thương dân, làm như nếu trẫm không nghe lời mấy lão thì trời sập xuống ngay lập tức ấy! Ừm! Nghe lão nói những lời này xem ra khá là thông cảm cùng trẫm, đó là một vị quan tốt.

Mã Vĩnh Thành cười hùa nói:
- Hoàng Thượng nói rất đúng! Nhưng Tiêu đại nhân lập tức bị các vị Hàn đại nhân, Dương đại nhân, Lưu đại nhân ùa lên phê phán, ông ta sợ quá cũng không dám lên tiếng nữa.

Hoàng đế Hoằng Trị rất ít đi du lịch. Cả đời ông ta chẳng mấy khi ra khỏi Tử Cấm thành. Tuy đôi khi ông cũng mang theo con trai ra ngoài đi chơi, nhưng cũng chỉ là loanh quanh phố phường một chút, đương nhiên không hề đi thăm Hoa viên hoàng gia bao giờ. Bao nhiêu năm không tu sửa, vườn hoa Bắc Hải cũng đã hoang vu nhiều.

Lúc này Chính Đức muốn tu sửa một chút, thật ra công trình cũng không lớn, tiêu phí tiền bạc cũng rất ít. Dương Lăng trước đó cũng có nghe ý của hắn, rồi cũng phong thanh nghe nói triều thần sở dĩ kiên quyết phản đối việc này cũng chỉ là do đề phòng cẩn mật mà thôi. Họ sợ một khi chìu lòng Hoàng Thượng việc này cũng giống như mở một đột phá khẩu, sẽ khiến cái tâm ham chơi của Hoàng Thượng càng ngày càng nặng, do đó họ kiên quyết phản đối, buộc Hoàng Đế phải gò mình trong Tử Cấm thành.

Theo quan điểm của Dương Lăng, đó là một chuyện nhỏ, sửa hay không sửa thì đối với Đại Minh bây giờ cũng không có ảnh hưởng gì. Tương tự, đối với những gì y biết về lịch sử thì việc này cũng không sinh ra thay đổi gì cả. Việc nhỏ như thế còn chưa tới mức hao tài tốn của, Dương Lăng lại không ảo vọng có thể cải tạo Chính Đức thành công bộc của nhân dân, nên đương nhiên y cũng chẳng hề góp ý gì.

Chính Đức lẩm bẩm bất bình một hồi, rồi lại giống như một trái bóng cao su xì hơi, bảo:
- Cứ vậy đi! Họ không cho tiền, trẫm bỏ tiền của mình. Ngươi giúp trẫm quản chặt tiền bạc. Được rồi, bây giờ ngươi theo Dương Lăng đi ra ngoại ô, tiếp thu mấy cái ngự trang cho trẫm, khi rỗi trẫm sẽ tự mình tới đó nhìn qua.

Dương Lăng và Mã Vĩnh Thành thấy tâm tình Hoàng Thượng không ổn, vội vàng lĩnh ý chỉ rời khỏi điện, vừa lúc gặp Liễu Bưu thống lĩnh năm trăm thân quân đến. Dương Lăng gặp Mã Vĩnh Thành, nhớ tới việc lúc trước chính Mã Vĩnh Thành đưa bạc cho mình để chuộc thân Đường Nhất Tiên, rồi mình mới đưa ba vị cô nương đó về nhà. Vốn tưởng rằng cứu người ta ra khỏi hố lửa, bây giờ lại làm hại Nhất Tiên mất tích, không rõ nàng đang lưu lạc nơi đâu, trong lòng cũng hơi phiền muộn.

Mã Vĩnh Thành thấy thần sắc y có vẻ buồn bực, không khỏi làm lạ hỏi:
- Dương đại nhân! Sao đại nhân lại tâm sự trùng điệp thế, có chuyện gì à?

Dương Lăng cười gượng, đáp:
- À, không có gì! Đúng rồi! Lần trước công công đưa bạc để chuộc thân cho Đường cô nương, ta chỉ xài một vạn lượng, vẫn chưa tìm được cơ hội đem ngân lượng thừa trả lại cho công công. Chốc nữa trở về nhà, ta sẽ lấy bạc hoàn lại cho công công.

Mã Vĩnh Thành mặt mày hớn hở chối từ:
- Không cần! Không cần! Hoàng Thượng tin yêu Dương đại nhân, bên trong ngự trang còn ban cho đại nhân một tòa nhà to, sự coi trọng này quả không người nào khác có thể so sánh được. Sau này chúng ta còn cần Dương đại nhân nâng đỡ nhiều hơn.

Lão đắc ý khoe:
- Huống chi bây giờ cũng khác với ngày xưa. Chúng ta đã là chưởng quản nội khố, việc mua sắm trong cung cũng hoàn toàn giao cho chúng ta, chút ngân lượng này đã là gì?

Lúc này Dương Lăng mới hiểu được Mã Vĩnh Thành đã nắm quyền tài chính trong cung, vội vàng chúc mừng lão. Mã Vĩnh Thành hỉ hả cười rạng rỡ: trong hoàng cung có mấy vạn nhân khẩu, đương nhiên chi phí hằng ngày rất lớn. Từ một một quan thu mua nho nhỏ biến thành đại tổng quản hậu cung về tài chính, quả thực là một mông ngồi trên đỉnh núi vàng rồi, nên lão không thèm quan tâm tới vạn lượng bạc bỏ ra hồi xưa.

Cả một vùng bảy thôn trang liền kề ở Tây giao (vùng ngoại ô phía tây kinh sư) đều bị Chính Đức khoanh lại để làm ngự trang. Dương Lăng phụng chỉ ngụ ở đây. Lại nghe nói Hoàng Thượng ban cho y một tòa nhà xây dựng sẵn, lẽ nào y không về báo tin cho Ấu Nương? Do đó y nhận năm trăm thân quân, trở về kéo theo gia quyến rồi mới chạy tới Tây giao.

Tân đế đăng cơ, kinh sư đã yên ổn, đột nhiên có rất nhiều binh lính di chuyển như vậy tự nhiên không giấu được người khác, huống chi đây là việc của Dương Lăng, người gần đây danh nổi như cồn. Tin tức lập tức lan truyền khắp kinh sư. Đám Triệu Ung đang ăn nhậu trên tửu lâu cũng nghe được tin tức này, vội vàng bảo một tên gia nhân đi theo xem thử rốt cuộc là gì.

Dương Lăng dẫn quân tới Tây giao thì mặt trời đã đỏ ối, sắp lặn xuống núi rồi. Lúc này cả vùng núi xa xa như sương như khói, trước mắt đồng ruộng phì nhiêu, một khoảng hoa màu xanh mượt tít tắp, dòng suối nhỏ giống như một chiếc đai ngọc vòng quanh đồng ruộng, không khí vô cùng u nhã. Một vùng ruộng lúa xanh mượt, những tiếng ếch kêu vang vang, cả một vùng điền viên êm đềm thanh thản.

Bọn Ấu Nương, Trương thị thấy thế thầm vui mừng trong lòng. Ngọc Tỷ Nhi và Tuyết Lý Mai hiếm khi thấy được loại cảnh sắc nông thôn như thế này này, tâm thần hơi mê đắm, như tỉnh như say.

Tòa nhà ban cho Dương Lăng là tòa giàu có nhất trong bảy thôn trang. Cả thôn trang này có năm sáu mươi hộ dân, các sân nhà đều phân cách nhau bằng hàng rào cao nửa thân người, chung quanh đình viện có khe nước róc rách, liễu xanh rủ bóng. Trên những lối mòn trong thôn, vài mục đồng đang vội vã lùa trâu bò về chuồng.

Những ông già bà lão bên đường thấy đoàn nhân mã rầm rộ đều dừng chân quan sát, mắt đầy vẻ ngạc nhiên. Mặc dù những người này đều ở vùng kinh thành, nhưng lại giống như cả đời không ra khỏi mảnh đất nhà mình, có vẻ cực kỳ chất phác.

Tới địa giới, Dương Lăng vừa nhìn thấy tên của thôn không khỏi phì cười. Thôn này gọi là Cao Lão trang, cũng không biết có phải tiểu tử Ngô Thừa Ân cũng đã từng tới nơi này không.

Nhưng từ khi tới thế giới này, Dương Lăng đã biết người đời này vẫn còn chưa biết tới truyện Tây du ký. Phỏng chừng nếu không phải lão Ngô chưa sinh ra thì lão cũng còn chưa chấp bút. Nếu không phải thời trước của Dương Lăng chưa có cái thứ gọi là bảo vệ tác quyền, hơn nữa lúc này viết sách cũng không kiếm được tiền bạc gì, chưa biết chừng Dương Lăng sẽ động thủ ăn cắp bản quyền, để tên tuổi mình nằm trên bìa một trong tứ đại tác phẩm nổi tiếng lưu danh hậu thế.

Thôn trưởng đã dẫn vài thân hào trong thôn đứng đón chào ở cửa thôn. Vừa thấy Dương Lăng, bọn họ liền cung kính bước lên đón tiếp. Vị thôn trưởng có tuổi không lớn lắm, chừng hơn bốn mươi tuổi, chính là lứa tuổi còn rất khoẻ mạnh. Xem cách ông ta ăn mặc nói năng, xem ra cũng từng được đi học, gia cảnh giàu có.

Dương Lăng được họ đưa tới nhà mới của mình. Đây là một tòa nhà to, trước sau có ba viện. Đại viện nhà cao cửa rộng, trên khung cửa cao treo một tấm biển mới tinh, đen kịt: ”Uy Vũ Bá Phủ”. Phía dưới là chiếc cửa sơn son, trên cửa có vòng đồng, đang mở rộng. Vừa bước vào cửa là bắt gặp ngay một bức bình phong họa ảnh, thoạt nhìn biết ngay chủ nhân cũ là người rất hoang phí.

Thôn nhỏ khó có thể chiêu đãi nổi năm trăm thân quân của Dương Lăng. Dương Lăng sớm đã ra lệnh cho quân mình tạm thời hạ trại ở cánh rừng hạnh không xa phía sau phủ Uy Vũ Bá. Bọn chúng phải tự nấu tự ăn, vạn lần không được quấy nhiễu dân chúng địa phương. Cũng may năm trăm quân binh nói nhiều không nhiều, nói ít cũng không ít, dựng lên hơn hai mươi đại trướng là đủ để họ nghỉ ngơi.

Vừa vào nhà, ngoại trừ vài nhân vật có uy tín trong thôn cung kính chào đón, điều làm cho người ta không ngờ tới là còn có hai hàng nam nữ người hầu đứng nghiêm chờ sẵn. Dương Lăng thấy gia nhân nô lệ sắp hàng nghênh đón, mặc dù mỗi người đều áo xanh mũ quả dưa như gia nhân bình thường, nhưng khí chất thì đều có vẻ nho nhã lịch sự, không khỏi cảm thấy vui sướng trong lòng: ai bảo tiểu hoàng đế trẻ người non dạ? Hắn thật sự thể hiện món ân tình này rất tốt.

Buổi tiệc tuy mở tại phủ Uy Vũ Bá nhưng lại do thôn trưởng Cao viên ngoại và các thân hào trong thôn đóng góp chi phí. Mọi người vào nhà, đám gia nhân chuyển hòm xiểng vào trong, rồi lập tức bày bàn ghế, khai tiệc khoản đãi tân chủ nhân.

Dương Lăng và bọn người Cao viên ngoại chưa quen nhau. Đám nữ thân quyến đều ở phòng trong tự ăn với nhau. Ngoại trừ chút lời khách sáo cũng không có gì hay để nói, Mã Vĩnh Thành cũng chỉ bắt chuyện vài câu với Dương Lăng, gần như không để ý gì tới đám người quê mùa ở nông thôn này. Cao viên ngoại là một người rất khôn khéo, thấy thế, chỉ trả lời xã giao một lát rồi vội vàng cáo từ.

Dương Lăng rất khách khí tiễn bọn Cao viên ngoại ra tận ngoài cửa, rồi trở vào uống rượu nói chuyện với đám Mã Vĩnh Thành, Liễu Bưu cùng vài quan tướng trong thân quân. Mã Vĩnh Thành cơm no rượu say cũng cười hì hì cáo từ. Dương Lăng muốn lấy ngân lượng trả lại cho lão, Mã Vĩnh Thành chết sống gì cũng từ chối, bước thẳng vào tiểu kiệu, vội vàng hồi cung.

Khi Dương Lăng tiễn mấy người Liễu Bưu ra về, cả chiếc sân to lớn trở nên quạnh quẽ. Hai gia nhân đốt hai chiếc đèn lồng màu đỏ treo lên cửa tòa nhà, rồi đóng cửa chính lại. Vừa đi vòng qua bức bình phong, thấy Dương lão gia đang đứng ở giữa đám hoa tươi đang nở trong viện mà ngẩn ngơ nhìn ánh trăng, hai người vội chạy tới hầu một bên.

Dương Lăng nhẹ hít vài hơi, rồi hỏi:
- Sao có mùi thuốc men ở đâu nhỉ?

Lão quản gia vội khom người đáp:
- Lão gia! Chủ nhân cũ của tòa nhà này có trồng một ít dược liệu trong vườn. Bây giờ hoa đang nở nên phảng phất có vị thuốc.

Dương Lăng à một tiếng, hài lòng nhìn ngôi nhà mới của mình. Y lại mỉm cười nhìn sắc trời chuyển đêm, cảm thấy nhà cửa cổ kính, cảnh tượng nông thôn thuần phác u nhã làm cho người ta cảm giác rất gần gũi dân gian, huống chi những nữ chủ nhân của nó lại vô cùng đáng yêu.

Vẻ đẹp ôn nhu là phần mộ của anh hùng, hay tổ ấm hạnh phúc của anh hùng đây? Đột nhiên Dương Lăng cảm thấy nếu không phải tranh đấu gì, cứ bình thản cùng Ấu Nương ở đây như vậy, trồng đủ loại hoa cỏ, cuộc sống hạnh phúc này chẳng phải còn tiêu dao hơn cả thần tiên sao?

Dương Lăng mỉm cười thỏa mãn, quan sát hai gia nhân vẫn cung kính đứng hầu bên cạnh. Hình dáng cùng thần thái cử chỉ của lão quản gia có vẻ trầm ổn, còn người kia là một thiếu niên còn khá trẻ nhưng lại có vẻ hơi sợ hãi y. Y không khỏi ôn hòa cười nói:
- Đừng sợ! Lão gia ta không khó tính đâu. Sau này mọi người chính là người trong gia đình cả. Ta sẽ không tùy tiện trừng phạt người làm đâu.

Lão quản gia nghe xong vội vàng đáp:
- Dạ, lão gia rộng lượng, tiệc rượu ở hậu viện cũng đã xong. Lão gia vừa mới tới nhà, thân thể mệt nhọc, có vẻ bây giờ là lúc có thể an giấc rồi? Bọn nha đầu đã thu dọn xong phòng ngủ cho lão gia và phu nhân rồi.

Lão nói xong vội huých vai tên tiểu hậu sinh có vẻ lịch sự vẫn còn đứng sững bên cạnh. Tên người hầu áo xanh mũ quả dưa vội vàng thưa:
- Dạ, xin mời lão gia an giấc.

Dương Lăng kỳ lạ liếc nhìn hắn, có cảm giác tên nô bộc này hơi kỳ quái. Y còn tưởng rằng do mình vừa tới, hai bên chưa quen nên tên này hơi nhát sợ; do đó y cũng không để ý lắm, chỉ hiền hoà nói:
- Ừm! Ta đi dạo một lát, các ngươi dọn xong phòng tiệc rồi cũng sớm nghỉ ngơi đi.

Tòa nhà khá rộng. Sau bức bình phong ở tiền viện là đại sảnh, hai bên chính là hai dãy sương phòng, là nơi gia đinh nô bộc cư ngụ. Đại sảnh là phòng chính để tiếp khách gồm hai gian nhà. Một gian là thư phòng, một gian là sảnh nhỏ để tiếp khách quan trọng.

Qua phòng chính là một hoa viên, một hòn giả sơn ở giữa ao, hành lang, đình đài, dây leo quấn quanh khắp nơi. Gió thổi nhè nhẹ, phảng phất một mùi hoa tươi mát. Mặc dù vườn không lớn, nhưng lại rất tinh xảo, rất có phong vị lâm viên của vùng sông nước Giang Nam.

Dương Lăng rất vui vẻ trong lòng, bây giờ bóng đêm đang chậm buông xuống, không thấy rõ cảnh vật nữa. Ngày mai mình phải nhìn xem cho kỹ, căn nhà ở chốn nhỏ hẹp này lại giống như tiên cảnh. Y đi qua một hành lang uốn khúc, vừa mới bước qua cửa tròn tiến vào hậu viện, nơi ở của gia quyến, chợt y nghe loáng thoáng tiếng khóc vọng đến.

Dương Lăng cả kinh, vội vàng tăng tốc chạy tới chỗ có tiếng khóc. Hậu viện là một ngôi lầu nhỏ hai tầng hình cánh cung, chính giữa tầng một là một phòng khách, trước cửa có hai nữ tỳ đang đứng, thấy y tới vội thi lễ:
- Nô tỳ ra mắt lão gia!

Dương Lăng nghe tiếng khóc từ phía trong sảnh vọng ra, bèn không lý tới các nàng mà vội vàng tiến vào phòng. Y thấy Hàn Ấu Nương, Ngọc Đường Xuân, Tuyết Lý Mai cùng đại tẩu Trương Thị đều mặt mũi bi ai, còn Vân nhi đang nâng một thiếu nữ mặc áo hoa đang khóc như mưa đứng dậy.

Dương Lăng cả kinh hỏi:
- Ấu Nương! Chuyện gì vậy?

Hàn Ấu Nương thấy y, vội bước nhanh ra đón rồi giữ chặt tay y, giọng thương tâm:
- Tướng công! Nhà người này rất đáng thương. Chàng ... chàng cố nghĩ cách cứu các nàng được không?

Dương Lăng kinh ngạc hỏi:
- Nhà này à? Rốt cuộc là chuyện gì?
Y hỏi mà tim đập thình thịch. Không phải là tiểu hoàng đế bị người ta mê hoặc, rồi ban cho mình tòa nhà này để làm việc gì thương thiên bại lí chứ? Tội này mình không thể gánh chịu nổi.

Tô Tam kéo thiếu nữ áo hoa đến gần, báo:
- Vị cô nương này là thân thích của Cao lão gia, cựu chủ nhân của tòa nhà này, là cháu của Cao gia. Cao tiểu thư đem mọi sự tình kể cho đại nhân nhà chúng ta biết đi! Đại nhân nhà ta rất bản lĩnh, nhất định có thể cứu được tỷ tỷ ngươi.

Dương Lăng nhìn thiếu nữ mặc áo hoa. Y thấy thiếu nữ đó chừng mười bảy mười tám tuổi, trên mặt lấm chấm tàn nhang, dung mạo thật ra cũng khá đoan chính, nàng đang nhè nhẹ lau nước mắt.

Dương Lăng vội hỏi:
- Rốt cuộc xảy ra chuyện gì? Ngươi nói cho ta nghe!

Vốn bọn người Ấu Nương cùng ăn cơm ở phòng sau. Chuyển sang nhà mới, thấy phong cảnh trong viện như chốn thần tiên, các cô nàng không khỏi vui mừng trong lòng. Mấy nàng ngồi trong phòng khách vừa ăn vừa nói chuyện, thỉnh thoảng vui vẻ cười vang.

Có một tỳ nữ đứng hầu bên cạnh, thấy các nàng chuyện trò vui vẻ như thế, không khỏi lộ vẻ bi thương, rồi lặng lẽ xoay người lau nước mắt. Ngọc Đường Xuân đang ngồi đối diện nàng, nhìn thấy thần sắc nàng khác thường, liền gọi tới gần dò hỏi. Thiếu nữ đó lúc đầu còn bối rối cố che giấu, sau không chống được nên phải quỳ xuống tạ tội, đem mọi việc kể lại. Đám Ấu Nương nghe chuyện bi thảm cũng không khỏi mềm lòng rơi lệ.

Thì ra chủ nhân của tòa nhà to lớn này tên là Cao Đình Hòa, chính là vị thái y xui xẻo vừa bị Hoàng Đế Chính Đức cho áp giải ra chợ chém đầu mấy ngày trước. Hoàng đế Hoằng Trị vừa uống thuốc xong chợt đổ máu mũi không ngừng rồi mất. Trong cơn giận dữ, Chính Đức lôi đám thái giám cho Hoàng Thượng uống thuốc là Trương Du cùng đại nhân viện trưởng Thái Y viện Lưu Văn Thái ra chém đầu. Người thầy thuốc phụ trách việc kê thuốc cho Hoàng đế làm sao thoát chết được chứ?

Hơn nữa ông còn chịu tội nặng hơn hai tử tù kia. Để phân biệt, bộ Hình phán ba người tử tội, còn Cao Đình Hòa thì tội tăng thêm một tầng nữa: bị tịch thu nhà cửa, tài sản sung công, con trai bị chém, con gái sung vào Giáo Phường ty, những người còn lại trong nhà đều bị bắt làm nô lệ.

Trong nhà Cao thái y có rất ít người lớn, không có con trai, chỉ có một con gái tên là Cao Văn Tâm, năm nay vừa mười tám tuổi. Vốn nàng đã hứa hôn cho nhà họ Lý ở thôn bên từ lâu. Nhưng ba năm trước, lão thái thái của họ Lý mất, vị thiếu gia phải giữ đạo hiếu ba năm, nên hôn sự bị hoãn lại. Kết quả bây giờ nàng bị bắt vào Giáo Phường ty.

Thiếu nữ áo hoa tên là Cao Văn Lan, còn có một người em trai là Cao Văn Cử, chính là thanh niên lúc nãy ở tiền đình hầu hạ Dương Lăng. Anh trai của Cao Đình Hòa là Cao Đình Chính đã chết sớm, Cao thái y đem hai con của ca ca về nhà chăm sóc. Vốn lão định tháng tám năm nay sẽ cho con gái mình vu quy, sau đó nhận Cao Văn Cử làm con thừa tự cho mình. Cũng may mà muộn một chút, bằng không hương khói duy nhất của nhà họ Cao cũng bị chém đầu.

Vốn đã có một gia đình tốt đẹp, chỉ khoảng khắc mà cửa nát nhà tan, vốn mình là thiếu gia tiểu thư, nay phải ở lại chốn này để hầu hạ cho những người chiếm nhà mình. Tình cảnh ấy làm sao không khiến cho người ta thương tâm rơi lệ?

Dương Lăng nghe nàng kể chuyện xong cũng cảm thấy bùi ngùi. Hàn Ấu Nương giữ chặt tay y nài nỉ:
- Tướng công! Cô nương nhà họ Cao là tiểu thư con nhà gia giáo, có đọc sách có lễ nghĩa, bị đưa đến chốn người ta chà đạp, vậy không phải sống không bằng chết sao? Tướng công, xin chàng cứu nàng đi, được không?

Dương Lăng nghe xong không khỏi do dự. Muốn lấy người của Giáo Phường ty, với thân phận y bây giờ thì chỉ là việc nhỏ không đáng kể gì. Nhưng người này là khâm phạm, việc này không phải là việc dễ trêu vào. Tội của Cao Đình Hòa có liên quan tới cái chết của tiên đế, đâu có thể tùy tiện để người ngoài vào cứu thân quyến của lão chứ?

Đồng tình là một việc, nhưng khi gặp chuyện bất bình cũng phải xem cân lượng của mình tới đâu đã chứ! Việc này phải xem thử Hoàng Đế Chính Đức nghĩ ra sao, xem hắn có đồng ý thả người hay không.

Dương Lăng còn đang trù trừ, Cao Văn Lan thấy y do dự bèn quì sụp xuống đất, liên tục cầu khẩn:
- Đại nhân! Van người cứu muội muội tiểu nữ. Nàng đọc sách biết lễ, là người thiện lương, đã cứu không ít bệnh nhân trong vòng mười dặm quanh đây, luôn luôn làm việc thiện. Cầu xin đại nhân cứu nàng!

Cao Văn Lan dập đầu liên tục, chiếc trán mịn màng đã rớm máu. Ấu Nương thấy vậy càng thêm không đành lòng, cầu khẩn:
- Tướng công! Danh tiết thiếu nữ là chuyện lớn. Sao mà người ta lại có thể làm như vậy với một nữ hài nhi như thế. Tướng công! Chúng ta đã ở đây rồi, cũng là có duyên phận, sao lại thấy chết mà không cứu được?

Dương Lăng hít vào một hơi, lòng thầm cười khổ: “Nha đầu ngốc, tại ngươi nghĩ rằng tướng công rất có bản lĩnh. Hoàng đế Hoằng Trị tuổi thọ đã hết, ai chẳng biết mấy vị thái y chết oan. Nhưng văn võ cả triều không một ai dám ra mặt cầu tình, mấy tên ngự sử ấy còn thượng tấu chương yêu cầu nghiêm trị những người có liên quan nữa là!

Với lại, đến giờ đã qua ba ngày rồi. Nếu Cao tiểu thư không chịu khuất phục, e rằng sớm đã tự tử chết mất rồi còn đâu. Nếu nàng sợ chết khuất phục, bây giờ chẳng biết đã đem thân tiếp bao nhiêu người khách rồi, có cứu cũng đã muộn. Nếu nàng đã rơi vào hoàn cảnh như vậy, nàng còn chịu trở về gặp lại thân nhân và gia nhân cũ của mình sao?”

Dương Lăng suy tính trong lòng như thế, ngẩng đầu lên thấy Ấu Nương và Ngọc Tỷ Nhi, Tuyết Lý Mai đang tha thiết chờ đợi, ánh mắt tín nhiệm vô hạn, lại nhìn thấy thiếu nữ vẫn không ngừng dập đầu, trán đầy những vết máu loang lổ. Y không khỏi thở dài một tiếng, giậm chân liên tục nói:
- Được, được! Ta đi! Các cô ở nhà đợi, ta lập tức vào thành, đi Giáo Phường ty.

Dương Lăng vội vàng đi tới chỗ đóng quân, gọi bốn thị vệ mang đao, lên ngựa lao về phía kinh thành. Con đường trong thôn uốn lượn liên tục, ngựa không chạy nhanh được. Mất cả buổi y mới rẽ được ra quan đạo.

Phải làm sao để cứu người được? Nếu đây là thủ đoạn xuất phát từ sự trả thù của hoàng đế Chính Đức, mà mình tùy tiện cứu người ra, vậy...

Một trận gió thổi qua, Dương Lăng nghĩ tới kết quả của người nhà Cao thái y, không khỏi rùng mình. Y quay phắt đầu nhìn về phía thôn, do quá xa nên hai ngọn đèn lồng trước cửa nhà đã biến thành những điểm sáng nhạt nhòa.

Dương Lăng tự cảnh tỉnh: con đường làm quan cực kỳ hung hiểm. Hôm nay ta rất oai phong ở triều đình, nhưng vạn nhất có một ngày không ổn, sẽ thành ra kết cục gì? Nếu Ấu Nương của ta, và những nữ hài nhi luôn luôn đi theo bên người ta cũng bị đưa đến...

Lòng Dương Lăng lạnh đi: “Ta không thể cứ thờ ơ như vậy, không thể chỉ dựa vào lòng tin của Hoàng Đế; nơi an toàn nhất cũng là nơi hung hiểm nhất. Vì an toàn của những người ta yêu dấu, ta phải nghĩ biện pháp để có năng lực tự bảo vệ. Nếu có người cố tình gây bất lợi cho ta, cho dù hắn là Hoàng Đế, thì hắn cũng là kẻ thù của ta. Dương Lăng ta làm việc chỉ theo lương tâm, chứ không nói gì tới ‘vua tôi cha con’ cả!"

Không dám hành sự lỗ mãng, trước hết Dương Lăng tới chỗ Cẩm Y Vệ gặp Tiền Ninh. Nghe y nói muốn cứu khâm phạm, Tiền Ninh cũng có vẻ sợ hãi. Nhưng thằng nhãi này cũng còn có chút lương tâm, sau mấy lần khuyên can không được, gã cũng kể cho y rõ về mấy thứ quy định của Giáo Phường ty, sau đó gã mới bảo là có chuyện quan trọng cần làm rồi vội vàng chuồn mất.

Thì ra Giáo Phường ty trực thuộc bộ Lễ, có các quan chức Tả Hữu Thiều Vũ, Tả Hữu Ty Nhạc. Không chỉ quản lý quan kỹ (kỹ nữ nhà nước) mà Giáo Phường ty còn là cơ quan tổ chức lễ nhạc cho triều đình. Các tiết mục âm nhạc của đại lễ cung đình đều do Giáo Phường ty phụ trách.

Giáo Phường ty phân ra hai loại là kỹ gia (kỹ nữ) và nhạc gia (nhạc công). Trong kỹ gia, đám con trai con gái phải sống với kiếp bán rẻ tiếng cười mua vui cho thiên hạ; còn đám nhạc công trong nhạc gia thì cũng giống như nhạc kỹ bình thường. Một khi vào Giáo Phường ty, con cháu đời đời sẽ phải nam là nô lệ, nữ là xướng ca. Thậm chí hiện nay có không ít kỹ nữ Giáo Phường ty là hậu duệ của những quan lại, đại thần, vương hầu đã phạm tội cả trăm năm trước.

Tuy nói Giáo Phường ty do Tả Hữu Thiều Vũ, Tả Hữu Ty Nhạc phụ trách, nhưng vì lễ nhạc cung đình thường thường phải do Giáo Phường ty phụ trách tập luyện diễn tấu nên để tiện điều hành, trong cung còn có một vị thái giám phụ trách chỉ huy Giáo Phường ty. Người này mới là người cầm quyền chính thức của Giáo Phường ty. Trước kia Lưu Cẩn từng làm thái giám chủ quản Giáo Phường ty, sau vì bị người tố giác nhận hối lộ nên lão bị Hoằng Trị miễn chức, chuyển tới làm ở Chung Cổ ty. Mỗi ngày lão cho gõ chuông đánh trống, tuy vẫn làm công việc thuộc dòng nhạc, nhưng lại không có thực quyền như trước.

Vừa nghe thái giám trong cung phụ trách Giáo Phường ty, Dương Lăng không khỏi mừng rỡ. Hiện nay, khi y đã ra mặt, cho dù là Vương Nhạc Vương công công cũng phải nể mặt vài phần, huống chi là kẻ khác. Cho dù vì e dè Chính Đức nên nhất thời y không cứu người ra được, thì chỉ cần y xin thái giám chủ quản nói một câu, tạm thời không đưa Cao tiểu thư đi đón khách cũng đã hoãn binh được một thời gian rồi.

Dương Lăng suy tính xong, bèn không đi Giáo Phường ty nữa mà trước hết chạy tới hoàng thành. Tới ngoài cửa hoàng thành, y mới sực nhớ ra bây giờ cung điện đã đóng cửa, cho dù y có trình thẻ ngà được phép vào cung cũng đừng nghĩ tới việc kêu mở cửa cung ra được, y không khỏi tròn mắt, sững người.

o0o

Giáo Phường ty ở phía nam kinh thành. Ba bước một lầu, năm bước một viện, kỹ viện ca lâu ở kinh sư phần lớn tập trung ở đây. Bên trong Giáo Phường ty, Hữu Thiều Vũ Tư Không Minh đang bắt chéo chân thưởng thức trà nóng, mí mắt cụp xuống, hỏi người đối diện:
- Nhà họ Cao vẫn không có ai tới à?

Người đứng trước mặt lão ước chừng năm mươi tuổi, có hai hàng râu dài, mặc áo ngắn, đầu đội khăn cột góc màu xanh lá, cười bồi:
- Đại nhân! Nhà họ Cao bị tịch biên gia sản không còn gì, cả nhà hoặc chết hoặc bị bán làm nô lệ, làm gì có người bỏ tiền ra chứ.

Tư Không Minh hừ một tiếng không vui. Phụ nữ ở Giáo Phường ty có mấy loại ca kỹ, vũ kỹ, nhạc kỹ. Ý chỉ của Hoàng Thượng không nói rõ loại tiếp khách nên Giáo Phường ty có quyền an bài loại chức nghiệp cho cô tiểu thư này.

Nếu họ Cao có thể bỏ nhiều tiền nhiều bạc đút lót cho gã, mặc dù Cao tiểu thư cả đời vẫn là kỹ nữ, hơn nữa tương lai nếu lập gia đình có con có cái thì chúng vẫn tiếp tục làm nghề ca xướng, nhưng nàng không bắt buộc phải là kỹ nữ bán mình. Tư Không Minh còn tưởng mình có thể chấm mút một chút. Bây giờ nhìn lại nhà họ Cao, quả nhiên là tường đổ người chạy, rốt cuộc không còn ai có thể đỡ một tay.

Gã cầm chén trà uống rột một hơi. Nhìn thấy tên kỹ nam nón xanh vẫn còn đứng trước mặt, gã không khỏi trừng mắt ra lệnh:
- Còn đứng đó làm gì? Đi, gọi vài người tắm táp cô Đại tiểu thư đó, đêm nay treo biển hành nghề đón khách.

Tên nón xanh xoa xoa tay cười xu nịnh:
- Đại nhân! Con bé đó tính tình ghê lắm, còn chúng ta không thể đắc tội với khách được. Hay là trước hết tiểu nhân mở hàng cho nàng. Phụ nữ mà, đã có một lần, cô nàng cũng sẽ không còn gìn giữ gì nữa.

Tư Không Minh vừa nghe thế bèn phá lên cười lớn, đoạn vừa cười vừa mắng:
- Giáo Phường ty chúng ta nhiều năm rồi chưa có cô gái thanh danh cao quý nào cả. Cô tiểu thư Văn Tâm này có cha là y quan, là thái y hầu hạ Hoàng Thượng, bản thân nàng lại là một nữ thần y. Có cả hàng đàn hàng lũ mong muốn thưởng thức nàng ta lắm, không cho ngươi động vào. Chỉ cần tung ra vài lời đồn, cái giá cho lần đầu thưởng thức sẽ tăng lên rất nhiều, ha ha ha ha...


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:05 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 93 - Tính Kế Cứu Người



Dịch: workman

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Lưu Cẩn cười gian hai tiếng đáp:
- Đại nhân quả là có lòng thương người. Việc cứu người thực ra cũng không khó, việc này chỉ cần khi làm việc phải nhớ tới thể diện của Hoàng Thượng, có thể làm sao cho có vẻ Hoàng Thượng ban ơn cho bầy tôi! Ha ha, việc đặc xá một con nhóc đâu phải là chuyện gì lớn?



------------------------

Chương chín mươi ba Tính Kế Cứu Người


------------------------


Dương Lăng trở về Trấn Phủ ty thay áo choàng, ra lệnh cho bốn gã thân binh tạm ở lại đó, một mình chạy tới Giáo Phường ty ở thành nam.

Xưa nay quan chức không thể ngang nhiên ra vào nơi hoa bướm, huống chi đang lúc để tang Tiên đế. Tuy Dương Lăng không đi thăm kỹ nữ, nhưng tâm tình y cũng vẫn khẩn trương, kéo vành nón sùm sụp. Mặc dù trong thành Bắc Kinh y cũng chẳng quen biết được bao nhiêu người, hơn nữa nếu không phải là ông lão thì cũng là lão thái giám, nhưng cẩn thận vẫn tốt hơn.

Dương Lăng lén lén lút lút vào Giáo Phường ty. Y thấy có trên mười người đàn ông cũng lén lén lút lút trước sau mò vào như y, mỗi người đều mặc áo dài, đội mũ rộng vành, có người còn xòe quạt che mặt, ai nấy đều lấm la lấm lét nhìn quanh.

Tuy Tiên đế mất, nhưng dân đen hạ đẳng cũng chẳng có tư cách gì để tang cho Hoàng Thượng, nên kỹ viện cứ theo lệ thường mà mở cửa. Điều ngạc nhiên chính là không hiểu sao hôm nay những người tới chơi kỹ nữ cũng đều có vẻ lén lút như y. Dương Lăng kín đáo quan sát một hồi vẫn không phát hiện ra đám nô bộc đội mũ xanh của Giáo Phường ty, trong lòng đang cảm thấy lạ, chợt có một gã đàn ông cầm cây quạt che mặt đi tới nhìn nhìn y một hồi.

Tên che mặt thấp giọng cười nói:
- Lão đệ! Việc đấu giá tốn tiền nhiều lắm đó, ngươi cũng muốn đến nếm thử mùi vị của nữ thần y à? Hắc hắc! Ta thấy nên chờ hai ngày nữa hãy trở lại, ta cho ngươi làm ấm phòng là được.

Dương Lăng nghe hắn nói chuyện dơ bẩn, không khỏi khẽ nhíu mày ác cảm, nhưng vừa nghe hắn nói tới đấu giá, lòng chợt nhẹ nhõm: “Chẳng lẽ vị Cao tiểu thư kia còn chưa bị người ta chà đạp à?”

Y vội che giấu vẻ ác cảm, rồi giả như một khách làng chơi đáp lời:
- Nữ thần y đại danh đỉnh đỉnh, ta cũng tới mong nhờ vào vận khí, tự nhiên không so được với huynh đài tiền nhiều thế mạnh rồi.

Người nọ thấy y nói chuyện khách khí, mà hai bên không quen biết nhau nên thu cây quạt đánh xoạt, nhìn xung quanh rồi thì thào:
- Lão ca ta sớm sẽ được thôi. Giáo Phường ty bao nhiêu năm nay chưa có gia quyến của phạm quan, muốn chơi khuê nữ đàng hoàng cũng khó.

Dương Lăng nhìn lên vị nhân huynh tự xưng là lão ca này. Tóc lão tuy còn đen, nhưng mặt đầy nếp nhăn, xem bộ dáng thật sự là tiều tụy già nua rồi.

Vị nhân huynh đó vẫn đắc chí nói tiếp:
- Lão đệ! Loại việc ong bướm về những tiểu thư chưa biết sự đời này không thích hợp với ngươi đâu, ta bỏ bạc ra không phải để hưởng thụ mùi vị trên giường, biết chưa? Mà chính là ta muốn cái gia thế của nàng, đem tiểu thư của lục phẩm ngự y đương triều đặt dưới thân mình thì quả là thoải mái!

Dương Lăng nghe hắn vô sỉ như vậy, hận không thể một cước đá bay hắn ra ngoài, chỉ nghe tên “Đại ca” này vẫn trơ mặt mo nói tiếp:
- Nghe nói vừa rồi khi muốn nàng đón khách, nàng đã đập đầu vào cạnh bàn, mọi người ở Giáo Phường ty phải xông vào cứu người. Cũng không biết hôm nay thẻ bài có mở được hay không? Chậc chậc, phía dưới chưa thấy đỏ mà phía trên lại đỏ trước! (wm: Hic)

Trước mặt hai người có một gã đàn ông mặc trường bào màu xanh, mặt dài như ngựa nghe giọng nói của hắn bèn quay đầu lại nhìn. Vừa thấy rõ tướng mạo hắn, gã lập tức thấp giọng cả kinh kêu lên:
- Quản lão bản?

Vị nhân huynh này giật bắn cả người, vội vã muốn đưa cây quạt lên che mặt nhưng chậm mất rồi. Hắn nhìn thấy người nọ, cũng thất thanh buột miệng:
- Đái viên ngoại! Sao là... khụ khụ...

Lời còn chưa dứt, vị Đái viên ngoại vội xông tới che miệng hắn, thấp giọng:
- Câm miệng, chớ để người ta nghe được!
Quản lão bản gỡ tay gã, trừng mắt hỏi:
- Đã tới đây còn ai không có ý định đó chứ? Ngươi còn sợ gặp người khác hay sao?

Đái viên ngoại cười ngượng nghịu, hỏi lại:
- Ngươi không sợ? Ngươi không sợ thì làm gì phải che mặt?

Quản lão bản cười gượng đáp:
- Nàng chỉ là người giúp ta bán thuốc, Quản Bình Triều ta cũng chẳng sợ gì cả, muốn chơi thì chơi thôi. Nhưng Cao tiểu thư đã từng cứu người vô số, là nữ thần y nổi danh kinh sư, nhiều người biết tiếng. Nếu bị người ta biết được việc này thì thanh danh của ta cũng hơi bị ảnh hưởng.

Hắn liếc mắt nhìn Đái viên ngoại, khẽ cười lạnh nói tiếp:
- Nhưng Đái đại viên ngoại Đái Tiểu Lâu nhà ngươi thì không nên tới đây chứ. Không nói tới trong nhà của ngươi đã có chín bà, vợ đẹp thiếp xinh, mà Cao tiểu thư đã từng cứu mạng cho ngươi. Ngươi cũng không biết xấu hổ mà lợi dụng lúc người ta gặp khó khăn à?

Đái viên ngoại đỏ mặt, vô sỉ đáp:
- Cứu mạng thì đã sao? Hừ! Ngươi chẳng biết ta phải khẩn cầu cô ta bao nhiêu lần, cô nàng mới bằng lòng đến thăm bệnh cho ta. Ta đã tốn mất hai mươi lượng vàng, mà khi tới nhà cô ta còn phán bảo ta phải làm nhiều việc thiện, chớ để “vi phú bất nhân” (làm giàu thì không nhân đức). Đã thế, ta hôm nay sẽ cho cô nàng biết mặt, bắt cô ta nằm dưới người của ta để biết cái gì gọi là vi phú bất nhân.

Đây đúng là đồ vô sỉ! Nếu không phải Dương Lăng cũng đang lén lút không muốn người ta biết đến, nhất định y sẽ tìm cớ để tống hai tên bại hoại này tới Cẩm Y Vệ cải tạo lại. Hai tên sắc quỷ đang nói chuyện thì Hữu Thiều Vũ Tư Không Minh mặc đồng phục của nhạc nghệ quan Giáo Phường ty, tay áo thêu hồng tuyến, đầu đội khăn xanh từ hậu đường đi ra.

Tư Không Minh tiến vào đại sảnh liền vỗ vỗ tay ra hiệu, tiếng xì xào khắp nơi lập tức im bặt. Tư Không Minh cười nói với vẻ lưu manh:
- Đa tạ các vị tới cổ động. Chắc hẳn tất cả mọi người đều biết cô nương hôm nay là con gái của quan lục phẩm triều đình đã phạm tội, ngự y Cao Đình Hòa. Nàng là một thần y ngang hàng với Kim Châm Lưu của Dã Cúc Trai, Tam Chỉ Điền của Hạnh Hoa Cư, xưng là tam đại thần y kinh sư, thân phận rất cao quý. Các vị xưa nay bất luận danh phận to lớn thế nào, có bạc nhiều ít ra sao thì đến cả một đầu ngón tay của Đại tiểu thư nhà người ta cũng chẳng đụng tới được, phải không?

Bên dưới ầm ầm vang lên những tiếng hưởng ứng. Tư Không Minh cười đắc ý, nói tiếp:
- Nhưng hôm nay lại khác! Chỉ cần các vị chịu bỏ tiền ra, các vị muốn chơi vị Đại tiểu thư này ra sao thì chơi. Ha ha, cơ hội này dù đốt đèn tìm cũng chẳng thấy. Được rồi! Không nói nhảm nữa, đêm nay giá mở động đào là ba trăm lượng, các vị cảm thấy thích hợp thì cứ việc ra giá.

Hắn vừa phán ba trăm lượng, phía dưới chợt ồ lên. Tuy nói mọi người đều giàu có nhưng ba trăm lượng bạc cho một đêm với gái thì cũng quá đắt. Lập tức đã có những người thoái lui. Quản lão bản cùng Đái viên ngoại mặc dù cũng xót ruột, nhưng vừa nghĩ tới vị Đại tiểu thư xưa nay họ chỉ có thể cúi đầu khom lưng mà hôm nay có cơ hội đoạt được ngọc thể, mặc tình mây mưa ngang dọc gì cũng được, lại thật sự không đành buông tay.

Quản lão bản mất cả buổi mới dám bỏ chừng đó tiền, rốt cục nghiến răng hô:
- Ta xuất ba trăm lượng!
Đái viên ngoại liếc mắt nhìn hắn, cao giọng:
- Ba trăm lẻ một lượng!

Dương Lăng vuốt ngực, cũng hơi yên tâm. Hôm nay y lấy bạc muốn hoàn lại cho Mã Vĩnh Thành, nhưng lão không nhận, y cũng chưa trả lại cho Ấu Nương, trong ngực còn số ngân phiếu trị giá bốn ngàn lượng bạc. Y cũng không còn quá lo âu nữa: đêm nay cứ giả làm khách làng chơi bao Cao tiểu thư, rồi ngày mai tới cung tìm vị thái giám Quản Sự kia mà nhờ vả.

Sau một hồi trả giá, cuối cùng chỉ còn lại có Quản lão bản, Đái viên ngoại và một vị công tử còn đang tiếp tục đấu giá. Lúc này giá đã lên tới bốn trăm sáu mươi lượng. Dương Lăng đột nhiên cao giọng hô:
- Ta ra năm trăm lượng!

Y tăng một hơi luôn bốn mươi lượng khiến ba người kia không khỏi bất ngờ liếc nhìn y. Tư Không Minh mặt mày hớn hở:
- Tốt tốt! Mời vị công tử này bước lên phía trước.

Dương Lăng bước ra phía trước. Hai tên đểu cáng giả làm người đạo mạo và vị công tử kia đều liếc mắt nhìn y đánh giá cẩn thận. Hữu Thiều Vũ Tư Không Minh thấy y bèn cười hà hà đi đến gần. Đột nhiên hắn ngẩn người ra, lộ vẻ kinh dị; nhưng vẻ kinh ngạc chỉ chợt lóe lên rồi biến mất, hắn lập tức cười ha ha nịnh hót:
- Vị công tử này vừa gặp đã biết ngay là người phong lưu phóng khoáng, là chủ nhân thương hương tiếc ngọc. Cao tiểu thư lần đầu mây mưa cũng không chịu nổi mạnh tay, tối nay cứ giao cho công tử đi.

Đái viên ngoại vừa nghe thế vội ra giá:
- Chậm đã! Ta trả năm trăm hai mươi lượng.

Dương Lăng lập tức đáp:
- Sáu trăm lượng!

Tư Không Minh cười hắc hắc, bảo:
- Chúng ta cho phép các vị đưa giá tiền, nhưng cô nương đó giao cho ai thì do ta định đoạt. Vừa rồi trước mặt bao nhiêu người ở đây, ta đã nói là Cao tiểu thư tối nay giao cho vị công tử này, ta còn có thể nuốt lời hứa hay sao? Cứ năm trăm lượng đi. Công tử gia, mời ngài ra phía sau.

Tất cả mọi người đều sửng sốt. Vị Nhạc Quan này có bệnh à? Sao lại không quan tâm đến tiền bạc như thế! Trong lòng Dương Lăng cũng thầm thấy lạ, nhưng lúc này y cũng cố không nghĩ gì nhiều, lập tức theo vị Thiều Vũ đại nhân ra sau sảnh trong tiếng bàn luận ồn ào của mọi người.

Tư Không Minh thật sự biết mặt Dương Lăng. Mấy ngày trước, trong lễ tang tiễn Hoằng Trị lên trời, đại điển tân đế đăng cơ, Tả Hữu Thiều Vũ Giáo Phường Ty cùng phụ trách âm nhạc cung đình. Tả Hữu Ty Nhạc cả ngày quanh quẩn trong cung, còn Dương Lăng là thống lĩnh cấm quân thị vệ, luôn luôn tuần phòng trong hoàng thành. Y không chú ý tới mấy tên ca múa nhạc này, nhưng Tư Không Minh lại nhận được nhân dạng của y. Vừa rồi hắn nhận ra đây là Dương đại nhân vinh quang tột đỉnh trước mặt Hoàng Thượng, làm sao hắn có thể không cố ý lấy lòng cho được?

Tư Không Minh đưa Dương Lăng tới một tiểu lâu rường cột chạm trổ, thấp giọng cười nói:
- Tiểu nhân xin được đưa công tử tới nơi này thôi. Cao tiểu thư tính tình dữ dằn, nhưng đã bị tiểu nhân trói lại trên giường rồi, công tử gia đêm nay nhất định sẽ tận hứng.

Nữ thân quyến của phạm quan bị sung vào chốn này trước nay không cần dùng dược vật đánh mê. Bởi vì những người thích loại này phần lớn cũng thích vẻ xấu hổ và giận dữ của các nàng. Tư Không Minh nghĩ rằng Dương Lăng cũng là loại người như vậy, hắn cười nịnh:
- Mấy cái thứ thuốc Chiến Thanh Kiều, Trợ Tình Hoa quả là vô dụng với tiểu nhân. Nhưng nhìn công tử uy vũ bất phàm, chắc việc kéo cương sải vó, chỉ huy ngàn quân cũng là việc dễ dàng, huống chi chỉ điều khiển một cô gái?

Dương Lăng nghe thế rùng mình trong lòng, quay đầu nhìn hắn. Vừa bắt gặp ánh mắt y, Tư Không Minh lập tức khiêm tốn cúi đầu, rồi khẽ cười:
- Tiểu nhân là Tư Không Minh, là Hữu Thiều Vũ của Giáo Phường ty. Hôm nay có thể giúp công tử, quả là vinh hạnh của tiểu nhân. Công tử cứ việc thưởng ngoạn thoải mái, tiểu nhân xin cáo từ.

Tư Không Minh âm thầm báo cho Dương Lăng biết một ít thông tin về mình để y nhớ phần nhân tình này, rồi lặng yên lui xuống. Dương Lăng nghe trong giọng lưỡi hắn có vẻ đã nhận biết được mình, trong lòng kinh nghi vô cùng. Nhưng bây giờ đã đến trước cửa, y cũng không thể bất kể nỗi khổ của cô gái này mà quay đầu bỏ đi. Dương Lăng định thần, đẩy cửa lầu ra, bước vào phòng.

Căn lầu không rộng, trong phòng có đầy đủ bàn ghế. Trên bàn còn có một bầu rượu, vài món thịt nguội, xem ra Giáo Phường ty nhận bạc rồi chiêu đãi khách hàng cũng rất chu đáo. Phía trong là một cái giường hoa, cửa mùng được vén lên hai bên treo vào hai chiếc móc vàng, có một cô gái đang nằm trên giường. Nàng chỉ mặc quần áo lót, nhìn lên thấy có người đi vào thì sợ hãi tới mức muốn rách cả khóe mắt, lập tức hoảng sợ giãy dụa.

Nàng vừa giãy dụa, lập tức cả chiếc giường hoa đều rung lên. Lúc này Dương Lăng mới phát hiện tay chân nàng bị mấy dải băng trắng cột vào bốn góc giường gỗ. Mái tóc cô gái rối bời, trên đầu quấn đầy băng trắng, lờ mờ rỉ một ít máu, gương mặt đỏ rực, miệng cũng bị bịt bởi một dãi băng vải trắng để ngăn nàng cắn lưỡi tự tử, nàng đang điên cuồng vặn vẹo giãy dụa. Ngoại trừ vóc người uyển chuyển phổng phao, còn nếu chỉ nhìn gương mặt thì thật sự nhìn không ra là đẹp hay xấu.

Dương Lăng vội vàng đóng cửa phòng, đi đến bên người nàng. Ánh mắt cô gái đó càng thêm vô cùng lo lắng bi phẫn. Nàng càng liều mạng giãy dụa mạnh hơn, miệng ú ớ. Dương Lăng vội nói:
- Cô nương đừng sợ! Ta... chỉ muốn đến cứu cô thôi.

Cô gái nghe xong giật mình ngơ ngác, ngừng không giãy dụa nữa, ánh mắt kinh hoảng nửa tin nửa ngờ đánh giá y. Dương Lăng thấy nàng chỉ mặc áo lót, thân thể mềm mại lồ lộ, bộ ngực căng phồng như một hòn đảo nổi lên giữa hồ nước, trước mặt một thanh niên xa lạ thì hơi bất nhã, vội vàng kéo một cái áo ngủ bằng gấm đắp cho nàng, rồi nhẹ giọng:
- Tiểu thư chớ hoài nghi! Tại hạ được sự ủy thác của hai chị em Cao Văn Lan, Cao Văn Cử tới đây cứu tiểu thư.

Cao tiểu thư nghe tới tên hai người em họ của mình, lúc này mới tin. Nàng ú ớ, mắt không kìm được lệ tuôn ròng ròng. Dương Lăng vội dặn:
- Tôi mở trói cho tiểu thư, tiểu thư chớ để lộ ra. Sau đó chúng ta sẽ bàn tới cách cứu tiểu thư chạy trốn sau.

Cao Văn Tâm gật đầu lia lịa, Dương Lăng gỡ băng bịt miệng và cởi trói tay chân nàng. Cao tiểu thư vươn tay kéo tấm chăn che lên người, run giọng:
- Thiếp đa tạ đại ân của ân công cứu mạng!

Dương Lăng quay đầu đi chỗ khác, đáp:
- Cao tiểu thư không cần phải cám ơn tại hạ. Nếu có thể giúp được thì tại hạ nhất định sẽ viện thủ tương trợ. Nhưng có mấy lời khó nghe tại hạ cũng nên nói cho cô nương biết trước,…
Y hít dài một hơi, trầm giọng:
- Cô nương là khâm phạm, tại hạ không đoan chắc có thể cứu thoát được cô nương.

Cao Văn Tâm dán chặt đôi mắt sưng đỏ vào y hồi lâu, rồi buồn bã cười nói:
- Dù sao thiếp vẫn phải đa tạ công tử! Chỉ cần bản thân thiếp có thể thanh thanh bạch bạch mà chết, thiếp cũng đã vô cùng cảm kích đại ân đại đức của công tử rồi.

Dương Lăng thầm thở dài trong lòng. Y cố tươi tỉnh nói:
- Cao tiểu thư, không phải Dương mỗ vô tình. Nhưng Dương mỗ cũng có nhà có cửa, không thể làm bừa, không úy kỵ gì. Chà... Có thể đặc xá cho cô nương được hay không, tất cả đều do một câu của hoàng đế. Sáng sớm ngày mai tại hạ sẽ tiến cung, trước hết nhờ thái giám Quản Sự hoãn việc xử lý cô nương. Còn việc cứu cô nương ra ngoài... Dương mỗ còn phải tìm biện pháp khác.

Cao Văn Tâm lau nước mắt đáp:
- Thiếp không sợ chết, chỉ sợ bị mất trong sạch thôi. Nếu có thể thoát được thì đương nhiên là tốt rồi. Nếu không thể, thì thà chết cũng xong. Công tử không cần phải khó xử. Công tử hôm nay cứu thiếp, đã là ân huệ lớn lao rồi. Thỉnh giáo cao tính đại danh của công tử?

Dương Lăng quay đầu lại nhìn nàng, không che giấu chút nào đáp ngay:
- Tại hạ Dương Lăng, tham tướng Thần Cơ doanh!

Con ngươi của Cao Văn Tâm chợt mở lớn, vui mừng thốt:
- Dương Lăng Dương Thị Độc?

Cõi lòng vốn đã tuyệt vọng của nàng trong nháy mắt tràn ngập nỗi mừng rỡ vô chừng. Người này chính là thị độc Đông cung đã dám kháng chỉ, là đại thần cực kỳ tin cẩn của hai vị đế vương cũ lẫn mới. Nếu như mình thật sự có thể thoát khỏi cảnh này, ngoại trừ y ra thì còn ai có thể giúp mình được chứ?

...

Sắc trời sáng dần, Cao Văn Tâm còn đang ngủ say. Nàng đã lo lắng hãi hùng mất mấy ngày, hôm qua lại mất máu khá nhiều rồi còn bị buộc phải uống một hồ rượu mạnh, nên đến nửa đêm về sáng thì rốt cục nàng không kìm được phải ngủ thiếp đi.

Cao Văn Tâm đang ngủ say, đột nhiên cảm giác như bên cạnh có người. Mấy hôm nay nàng thường xuyên rất cảnh giác nên vô cùng mẫn cảm. Mặc dù ý thức vừa mới trở lại, nàng vẫn hơi giật mình, rồi bỗng mở to đôi mắt. Mở mắt ra đã thấy ngay một cặp mắt sáng quắc, nàng sợ hãi đến hơi co rúm cả người. Tập trung nhìn kỹ, thấy rõ đó là Dương Lăng, nàng không khỏi hấp tấp kéo chăn lên tới cằm.

Dương Lăng mỉm cười, vươn vai nói:
- Nhìn tiểu thư ngủ rất ngon, tại hạ không đành lòng gọi tiểu thư dậy, không ngờ tiểu thư đã tỉnh rồi.

Cao Văn Tâm lúng túng đáp:
- Dương đại nhân nói đùa rồi, tiểu nữ thật sự quá mức mệt mỏi...

Dương Lăng cười cười nói:
- Tại hạ biết! Bây giờ tại hạ phải vào cung rồi. Nếu mọi việc thuận lợi, có lẽ buổi chiều Giáo Phường ty sẽ phái người đưa cô nương tới một phòng riêng, tại hạ sẽ tìm cơ hội từ từ góp lời với Hoàng Thượng. Nếu chiều tối mà tại hạ vẫn không có tin tức thì...

Mặt Cao Văn Tâm trắng bệch đi, nàng cắn môi, bình tỉnh đáp:
- Thiếp hiểu. Nếu đêm nay trước lúc lên đèn, chỗ thiếp vẫn không có biến hóa gì, như vậy là sự không thể thành, thiếp sẽ tìm cơ hội để tự tử... Bất kể như thế nào, thiếp cũng vô cùng cảm kích ân huệ của đại nhân.

Dương Lăng vô lực xua xua tay, thở dài một tiếng, bước luôn ra ngoài phòng, không hề quay đầu lại.

********************

Tại nha môn Chung Cổ ty... Lưu Cẩn đang uy phong lẫm liệt chỉ huy hơn mười tên tiểu thái giám bận rộn đánh chuông gõ trống. Cảnh Dương Chung được tám tiểu thái giám dùng một chiếc vồ bằng gỗ lớn dộng vào. Đây là loại chuông không khắc toàn bộ bát quái, chỉ khắc có vài quẻ, trên đất nước Đại Minh chỉ có ba cái. Một cái ở Thiên Bồn, một cái ở Đông Nhạc miếu, một cái ở ngay chính Ngự Hoa viên này, đại biểu cho tam tài Thiên Địa Nhân.

Trong Ngự Hoa Viên có một cái Thất Bảo Đăng Lậu (đồng hồ nước, trong đó bày một cái đèn thất bảo) khổng lồ, cao một trượng sáu thước, dẫn nước chảy từ Ngự hoa viên vào chạy các linh kiện máy móc, tự động vận chuyển. Trong những linh kiện máy móc đó có bánh xe, vòng bi, cần, trục quay; ở hai đầu ống dẫn có vòi nước để điều chỉnh tốc độ nước chảy nhanh chậm. Trong Thất Bảo Đăng Lậu có mười hai cái thẻ bài tượng trưng cho các canh giờ, luân phiên báo giờ, còn có bốn khúc gỗ nhỏ lần lượt đập vào chuông, gõ vào trống để báo thời khắc.

Ngay khi tên tiểu thái giám thấy đúng thời khắc, lập tức gã ra đứng trước cửa hoa viên dùng cờ nhỏ thông báo cho thái giám chấp chưởng Chung Cổ ty là Lưu Cẩn đang đứng trên lầu Cảnh Dương Chung. Lưu Cẩn liền chỉ huy đám tiểu thái giám đánh Cảnh Dương Chung, gõ Tư Thần Cổ, tuyên cáo buổi triều sớm bắt đầu, bá quan lên triều.

Lúc này đã đánh chuông gõ trống xong, Lưu Cẩn đang bước xuống lầu, định đi tới nha môn Chung Cổ ty uống một ngụm trà, ăn chút lót dạ. Đột nhiên lão nhìn thấy Dương Lăng đi tới nên vội bước lên đón tiếp, cười nói:
- Dương đại nhân! Sao rỗi rãi tới nơi này thế?

Dương Lăng chắp tay chào:
- Lưu công công! Dương mỗ hôm nay có ý đến tìm ngài.

Lưu Cẩn ngạc nhiên hỏi:
- Dương đại nhân có chuyện gì mà tìm chúng ta? Tới đây, cùng tới Chung Cổ ty uống ngụm trà, chúng ta sẽ từ từ nói chuyện cũng không muộn.

Dương Lăng vội vươn tay giữ chặt lấy lão:
- Công công chậm đã! Dương mỗ có việc này thực sự cũng hơi gấp. Không có thời gian đi Chung Cổ ty đâu!

Y kéo Lưu Cẩn qua một bên, đem sự tình từ đầu chí cuối kể lại.

Dương Lăng cũng không hề giấu diếm lão chút nào, việc này là muốn cho Chính Đức mở lời tha người. Nếu giấu diếm, sau này để Chính Đức biết sẽ cho rằng y cố ý che giấu thiên tử. Không bằng y thản nhiên làm người tốt, lúc đó cho dù Chính Đức không bằng lòng cũng sẽ không bắt tội y.

Lưu Cẩn nghe y kể xong, cười nói:
- Ừm! Việc này mười phần thì tám chín là Hồng thượng thư vì muốn lấy lòng Hoàng Thượng mà trừng phạt nặng. Việc gia quyến các quan phạm tội bị bán vào Giáo Phường ty chắc là vạn tuế gia cũng không biết đâu.

Lão nhìn nhìn khắp nơi, lại nhỏ giọng nói:
- Chúng ta nói thực với đại nhân nhé. Hoàng Thượng giận Cao thái y chữa bệnh lại khiến Tiên đế chết nên kéo đám người liên can ra ngoài chém sạch. Nhưng sau đó điều tra mới rõ, thật ra là vì lúc Tiên đế phát bệnh, Trương Du nhất thời kinh hoảng nên lấy nhầm dược vật. Hắc! Cao thái y, Lưu viện phán đều chết oan cả. Nhưng việc này đã xảy ra rồi thì làm sao bây giờ? Đành đâm lao phải theo lao thôi!

Dương Lăng rợn tóc gáy, sững sờ: “Đường đường là thiên tử, thì ra cũng có thể khiến người ta phải chết uất ức như vậy. Chỉ một đạo ý chỉ của hắn là có thể làm cho hàng vạn hàng nghìn đầu người rơi xuống. Còn lần này, lại chỉ vì một tên tiểu thái giám nhất thời kinh hoảng nên lấy nhầm thuốc đã làm cho bao nhiêu người phải mất mạng.”

Y cau mày hỏi:
- Nếu nói như vậy, chẳng phải Cao tiểu thư càng thêm oan uổng sao? Người chết thì thôi, sao lại để người vô tội phải chịu cảnh như vậy?

Lưu Cẩn không đồng ý, đáp:
- Việc này có gì mà to chuyện? Vì thể diện của hoàng gia, cho dù chết một ngàn người, một vạn người thì cũng đâu có sao? Huống chi việc Trương Du lấy nhầm thuốc đã phong thanh lan truyền ra ngoài rồi. Nếu Hoàng Thượng tha cho nàng, chẳng phải là càng khẳng định việc này là đúng hay sao? Do đó, việc đặc xá nàng là vạn lần không thể được. Nhưng mà...

Dương Lăng vừa nghe thế vội la lên:
- Nhưng mà cái gì? Lưu công công đừng thừa nước đục thả câu nữa, xin mau mau chỉ dạy ta đi!

Lưu Cẩn cười gian hai tiếng đáp:
- Đại nhân quả là có lòng thương người. Việc cứu người thực ra cũng không khó, việc này chỉ cần khi làm việc phải nhớ tới thể diện của Hoàng Thượng, có thể làm sao cho có vẻ Hoàng Thượng ban ơn cho bầy tôi! Ha ha, việc đặc xá một con nhóc đâu phải là chuyện gì lớn?

Dương Lăng biết rõ điều Lưu Cẩn giỏi nhất chính là việc phỏng đoán tâm tư của Chính Đức, vội vàng truy vấn:
- Dương mỗ vốn định nhờ công công tiến cử tại hạ đi gặp công công Quản Sự Giáo Phường ty, không nghĩ tới công công còn có diệu kế như thế, vậy xin Lưu công công vui lòng chỉ giáo. Nếu cô gái kia thoát đại nạn, nhất định sẽ mang ơn công công rất nhiều, lập bài vị trường sinh cho người, mỗi ngày đều thắp ba nén hương.

Lưu Cẩn được y bốc thơm, cả gương mặt nở to như hoa cúc. Lão vội vàng khoát tay khiêm tốn một hồi, mãi cho đến lúc Dương Lăng sốt ruột không chịu nổi nữa, lão mới kéo tay y lại gần, ghé tai nói nhỏ một tràng.

Dương Lăng nghe xong vui vẻ chắp tay thi lễ:
- Dương Lăng nghĩ việc này khó như lên trời, công công vừa ra tay, lập tức giải quyết dễ dàng. Kế này cực diệu, chỉ cần đại công cáo thành, Dương Lăng sẽ bày tiệc rượu đáp tạ công công.

Lưu Cẩn cười tủm tỉm đáp:
- Dương đại nhân không cần khách khí. Chỉ bằng vào giao tình giữa ngài và ta, một việc nhỏ như thế này thì chúng ta còn không hỗ trợ nhau sao? Đi thôi, ta trước hết đưa ngài đi gặp Tĩnh công công của Giáo Phường ty, thu xếp ổn thoả cho cô gái kia. Tĩnh công công xưa nay gần như không để ý gì tới chúng ta. Nhưng từ khi Hoàng Thượng đăng cơ, hắn thật ra cũng tỏ ra nịnh bợ ta. Chút việc như thế này, hắn nhất định sẽ phải ưng thuận.

*****************

Buổi triều sớm đã tan, thượng thư bộ Hình Hồng Chung, thượng thư bộ Công Từ Quán trở về triều phòng, nhận lại những văn thư trình cho nội các hôm qua. Vừa vào đã thấy thượng thư bộ Lại Mã Văn Thăng đang ngồi trong triều phòng chau mày, vẻ mặt đầy ưu sầu. Hồng Chung không khỏi ngạc nhiên hỏi:
- Mã Đại nhân, cớ gì mà than thở thế?

Mã Văn Thăng thấy hai vị đồng liêu, không khỏi thở dài đáp:
- Ba vị đại học sĩ đã tới hậu cung vấn an Thái Hoàng thái hậu, thương lượng việc đại hôn của Hoàng Thượng, lão phu ở đây chờ ý kiến. Ý chỉ bổ nhiệm quan chức không được làm quan ở quê mình vừa ban thì hằng ngày cổng nhà lão phu đều có đủ thứ quan lại tới càu nhàu, than thở không dứt. Lão phu thật sự chịu không thấu rồi!

Hồng Chung cười nói:
- Đó cũng không phải là việc xấu hoàn toàn. Cũng có một số quan lại ở tỉnh hơi nghèo nàn được bổ nhiệm tới tỉnh giàu có, chẳng phải họ đều hoan hô cả sao? Nhưng đạo ý chỉ này của Hoàng Thượng quả là làm thay đổi rất nhiều. Đám đại quan ở biên giới ai mà không có bạn thân bạn cũ, về quên quán của mình mà làm quan còn có thể nâng đỡ lẫn nhau, cũng đỡ được nhiều thứ. Lúc này phải dời tới chỗ mới, sẽ không còn cơ hội nữa. Chẳng lẽ phải đưa cả gia tộc dòng họ đi cả sao?

Thượng thư bộ Công Từ Quán có người em họ làm quan ở Kim Lăng, lần này cũng phải thuyên chuyển đi chỗ khác, nghe xong hừ lạnh một tiếng, nói:
- Phương cách này vốn đã không được tính toán kỹ. Nghe nói là do tên thái giám chưởng ấn Chung Cổ ty Lưu Cẩn cùng với tên thống lĩnh Dương Lăng, cả hai tên ngu không hiểu chính sự buông lời gièm pha, làm cho bây giờ tiếng oán than dậy đất.

Mã Văn Thăng cau đôi lông mày trắng, can ngăn:
- Việc này tuy hơi lỗ mãng, nhưng thực ra không phải là không có ích. Bằng không, ba vị đại học sĩ nội các cũng sẽ không tán thành. Bây giờ thánh chỉ đã ban, chúng ta là bầy tôi thì phải nên thống nhất thi hành mới đúng. sau này đừng nói những lời như thế này nữa!

Từ Quán thấy lão không vui, cũng cười lạnh đáp:
- Đại nhân quả là lấy bụng quân tử để đo lòng tiểu nhân. Tuy Dương Lăng được tin cậy nhưng vẫn không thể nhúng tay vào việc triều chính. Rốt cuộc không phải là y muốn lấy việc công làm việc tư, tới làm quan ở một vùng thật giàu có hay sao?

Lão lấy cuộn công văn của mình rồi giận dữ ra khỏi triều phòng. Liếc mắt nhìn thấy thủ hạ tâm phúc là tả thị lang bộ Công Lý Kiệt đang vội chạy tới đón, lão không khỏi ngạc nhiên hỏi:
- Lý Kiệt! Việc đốc thúc xây dựng Thái Lăng là đại sự, sao ngươi lại tự tiện hồi kinh như vậy?

Vốn Lý Kiệt đang vô cùng lo lắng, vừa nhìn thấy lão không khỏi vừa mừng vừa sợ, vội vàng chạy tới đón, báo:
- Đại nhân! Ở lăng xảy ra chuyện lớn rồi.

Từ Quán ngập ngừng hỏi:
- Ở lăng đã xảy ra chuyện à? Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?

Lý Kiệt nhìn nhìn chung quanh, rồi tới gần lão nói nhỏ:
- Đại nhân! Huyền Cung Thái Lăng tiết khí, Kim Tỉnh phun nước rồi.

Thượng thư bộ Công Từ Quán nghe xong buột miệng ”A” một tiếng, biến sắc, cuộn văn thư đang ôm trong lòng chợt rơi xuống đất.


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:06 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 94 - Đơn Giản Như Đang Giỡn



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: X1999_vn

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Chợt nghe ‘vút’ một tiếng, cây pháo hoa đầu tiên được bắn lên không trung: lúc thì giống như cúc vàng tơ bạc nở rộ đầy trời, hồi lại như mưa sao sa, chốc lại như đèn hoa rực rỡ, sau lại như ngàn vạn con rồng lửa; màu bạc, màu đỏ tươi, xanh thẳm, màu vàng óng như liễu rủ xuống, muôn hồng nghìn tía, rực rỡ tươi đẹp vô cùng.

Dương Lăng đứng bên cạnh Chính Đức, ngước nhìn bầu trời đêm mỹ lệ lúc này đây đang làm cho người ta thất thần, trong lòng chỉ tiếc không mang theo Ấu Nương để cùng ngắm cảnh đẹp hiếm có này.



------------------------

Chương chín mươi bốn - Đơn Giản Như Đang Giỡn


------------------------

Từ Quán nghe vậy kinh hãi, kêu lên:
- Huyền Cung tiết âm khí, Kim Tỉnh phun nước. Đây là điềm xấu, phải lập tức bẩm báo Hoàng thượng, xin chỉ dời lăng.

Lão ta vừa mới xoay người, trong lòng thoạt động, dừng lại ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Việc đôn đốc xây dựng thái lăng là do bộ Lễ dẫn đầu, quan viên các bộ khác có cái nhìn như thế nào về việc này?

Lý Đạc kể rằng:
- Hạ quan phụ trách kiến tạo La thành, lúc nghe nói Kim Tỉnh phun nước, vội chạy đi xem thì nguồn suối đã bị bịt kín. Thị lang bộ Lễ, Giám phó Khâm Thiên Giám và Đới công công đang trách mắng mấy tên sĩ tốt, còn quất roi đánh một gã Thập Trưởng, nói Kim Tỉnh phun nước là chuyện bậy bạ đặt điều.
Hạ quan thấy thần sắc bọn họ hoang mang, muốn tự mình xuống Kim Tỉnh xem rốt cuộc có chuyện gì, lại bị Thị lang bộ Lễ tìm cớ đuổi trở về. Hạ quan đã phải lén hỏi tên Thập Trưởng bị ăn roi nọ mới biết được tình hình cụ thể trong đó.

Từ Quán ngạc nhiên hỏi:
- Gì cơ? Bọn họ cố ý che giấu không báo à? Tại sao lại như vậy? À! Lão phu hiểu rồi.

Từ Quán bỗng sực tỉnh, không khỏi nở một nụ cười lạnh lùng.

Lúc trước việc khảo sát đế lăng là do Thị lang bộ Lễ và Giám phó Khâm Thiên Giám phụ trách. Đầu năm nay khi tiên đế bệnh nặng, thì đế lăng đã được xác định địa điểm và bắt đầu được kiến tạo, cho tới nay đã hao tốn rất nhiều tài của. Nếu lúc này mới phát hiện ra việc khảo sát có sai sót, phong thuỷ không tốt, quan viên bộ Lễ và Khâm Thiên Giám sẽ không thể tránh bị mất quan cách chức, bọn họ đương nhiên muốn giấu diếm việc này.

Còn thái giám Ti Lễ Giám Đới Nghĩa là chủ quản chi tiêu xây dựng công trình thái lăng. Công việc béo bở bực này không phải tùy tiện có thể có được, nếu phải khảo sát lăng mới sẽ mất rất nhiều thời gian. Đến khi đế lăng một lần nữa tuyển chọn xong, chưa chắc sẽ lại đến lượt hắn giám sát kiến tạo, do đó…

Lý Kiệt thấy Từ Quán trầm ngâm không nói, lại kể:
- Hạ quan đôn đốc xây công trình vòng ngoài, nơi quan trọng trong lăng tẩm là do quan binh Thần Cơ doanh phụ trách. Hạ quan vài lần muốn trộm đi vào thăm dò, nhưng những quan binh ấy được Đới công công ra lệnh, năm lần bảy lượt ngăn cản hạ quan. Vì vậy, hạ quan mới tìm cớ chạy về kinh để bẩm báo với đại nhân.

- Thần Cơ doanh?
Từ Quán nghe xong tên đột nhiên nhớ tới Dương Lăng. Dương Lăng không phải là phụ trách điều động quan binh sao?

Trong lòng lão như có điều tỉnh ngộ, trầm ngâm hồi lâu, rồi đột nhiên mặt mày rạng rỡ, cười lớn:
- Lý Kiệt, chuyện này ngươi làm tốt lắm. Nhưng việc này liên quan đến bộ Lễ, Khâm Thiên Giám, Thần Cơ doanh, mà Đới Nghĩa lại là thân tín của nội giám Vương công công. Bây giờ mới chỉ nghe phong phanh, chúng ta không thể cứ như vậy mà bẩm báo cho Hoàng thượng. Bằng không nếu tình hình không đúng, nha môn chúng ta sẽ đắc tội với rất nhiều người.

Lý Kiệt nghe xong vội nói:
- Đại nhân, mỗi ngày có rất nhiều tiền bạc của cải đổ vào Thái Lăng như nước, nếu bây giờ không mau chóng tra rõ, không biết sẽ còn lãng phí bao nhiêu tiền nữa.

Từ Quán đưa tay cản hắn, ngữ khí hoà hoãn, ra vẻ chân thành nói:
- Lý Kiệt, tuổi ngươi mới ba mươi có lẻ đã vinh dự được chức Thị lang nhị phẩm, tuổi trẻ đầy hứa hẹn, tiền đồ rộng lớn, lão phu luôn rất xem trọng ngươi.
Ngươi phải biết rằng, con đường làm quan rất hiểm ác, những quan viên nha môn này không phải là cây đèn cho người ta rút dầu (*). Nếu không nắm được chứng cứ rõ ràng, sẽ đắc tội với rất nhiều người, con đường làm quan của ngươi cũng sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều đó. Lão phu ở triều đình chẳng còn mấy năm nữa, còn ngươi lại có tiền đồ rộng lớn, thử hỏi lão phu sao có thể lỗ mãng như thế, làm ảnh hưởng tới tiền đồ của ngươi. (*: không tầm thường, không đơn giản - ND)

Lý Thị lang chắp tay cảm kích:
- Ơn bồi dưỡng của đại nhân đối với hạ quan, hạ quan luôn ghi nhớ trong tim.

Từ Quán cười to, nói:
- Ừm, vậy hãy nghe lão phu, ngươi lập tức chạy về lăng, âm thầm điều tra việc này. Một khi có được chứng cớ xác thực, chúng ta sẽ bẩm báo cho Hoàng thượng.

Lý Kiệt thấy Từ Thượng thư cẩn thận như thế, chỉ đành chắp tay cáo từ. Từ Quán tay vuốt chòm râu, nhìn theo bóng lưng hắn mỉm cười, trong lòng tràn đầy đắc ý: “Kim Tỉnh của lăng mộ là nơi quan trọng nhất trong lăng tẩm. Để phòng người tiết lộ bố trí cơ quan bên trong, mới sai quan binh Thần Cơ doanh xây dựng.
Nếu như lời của Lý Kiệt nói là thật, mà người của Thần Cơ doanh biết chuyện nhưng không báo, vậy Dương Lăng cũng khó mà thoát được tội khi quân này. Dương Lăng ơi là Dương Lăng, ngươi được nhiều thánh quyến, muốn đánh đổ ngươi thật không dễ dàng. Nhưng bây giờ thì ‘lê gót mỏi mòn tìm không thấy, đến khi có được chẳng phí công’ rồi.”

* * *

Ngọ triều, Chính Đức ở kim điện tiếp kiến đám sứ giả Phiên Vương đầu tiên vào kinh. Lúc này, sứ giả chúc mừng tân đế đăng cơ của bốn vị Vương gia là Đại Vương, Tấn Vương, Lỗ Vương, Ninh Vương đều đã tới kinh. Không tính cái bài sớ chúc mừng bài nào cũng như bài nấy đó, thì mấy thứ cống nạp đa số chỉ là mấy vật biểu tượng như cóc vàng, ngọc như ý. Tuy là quý giá, nhưng lễ vật cũng không nhiều lắm. Chỉ có Ninh Vương ở Giang Tây khi lên điện, ngoại trừ mấy thứ ngọc ngà châu báu bình thường, còn đem theo ba mươi cái rương có đủ, nhất thời văn võ cả triều đều lé mắt.

Đừng nói là Phiên Vương địa phương không có tiền tài quyền thế, mà cho dù là vùng đất Giang Nam giàu có, Phiên Vương phú khả địch quốc, sao lại ngu xuẩn như vậy, dám khoe khoang trước mặt Hoàng đế, chẳng lẽ không sợ phạm vào điều kiêng kị của thiên tử sao? Các vị đại thần lập tức đều tò mò, không biết Ninh Vương tiến cống là lễ vật gì.

Các lễ vật trân quý mà các Phiên Vương tiến cống từng món đều phải được Xướng Nghi quan xướng tên, hiểu dụ bá quan. Nhưng những hòm rương quà tặng này thì lại không hề được công bố trong danh mục, xem ra cũng không phải là vật phẩm trân quý gì. Chính Đức ngồi trên ngai vàng, nhận tờ kê khai danh mục do tiểu thái giám trình lên, mới nhìn lướt qua thì đã không kìm được mặt mày hớn hở.

Cốc Đại Dụng bên cạnh thấy Hoàng thượng chỉ lo nhìn mấy thứ đó, vội tới gần nhắc nhở vài câu. Chính Đức mới chợt tỉnh ra, trấn an tất cả Phiên Vương một lúc, rồi bảo Hồng Lư Tự tiếp đãi cho tốt, sau đó sốt ruột không chờ nổi nói:
- Các ái khanh có tấu chương gì không? Nếu không có chuyện quan trọng, trẫm sẽ đi vấn an Thái Hoàng Thái hậu và Thái hậu hai vị lão nhân gia.

Thượng thư bộ Công Từ Quán lập tức rời khỏi hàng, tâu:
- Khải bẩm Hoàng thượng, thần có bản tấu.

Chính Đức trừng mắt nhìn tên không biết điều đó, sốt ruột hỏi:
- Chuyện gì cần tấu, ái khanh hãy nói mau.

Từ Quán khom người tâu rằng:
- Hoàng thượng lệnh cho bộ Lễ, bộ Công, Khâm Thiên Giám, Nội Vụ phủ, Thần Cơ doanh phụ trách công trình thái lăng cho tiên đế; bây giờ quan chức các bộ đều tận trung tận lực, nhưng Tham tướng Thần Cơ doanh Dương Lăng lại vẫn lần lữa ở kinh thành, thật sự phụ kỳ vọng của Hoàng thượng. Thái lăng là lăng tẩm tiên đế, Thần Cơ doanh phụ trách kiến trúc lăng mộ, bố trí cơ quan, nơi quan trọng nhất của thái lăng. Thần cho rằng cần phải cấp tốc sai Dương Tham tướng đi nhậm chức, để tránh có điều sai sót.

Chính Đức không tập trung đầu óc, nói:
- Ừm, trẫm biết rồi, hai ngày vừa rồi trẫm bảo Dương Lăng đi tiếp nhận ngự trang (thôn trang vua ban), hơi bận rộn với mấy việc vặt vãnh. Từ hôm nay trở đi trẫm lệnh hắn đi nơi lăng tẩm là được. Các vị ái khanh còn có tấu chương nào không? Nếu không có thì... Thoái triều!

Chính Đức vừa về đến hậu cung, liền réo Cốc Đại Dụng ngay:
- Nhanh lên, lấy đèn màu và pháo hoa mà Ninh Vương thúc hiến tặng ra đây cho trẫm.

Cốc Đại Dụng vội vàng sai mấy tên tiểu thái giám khiêng hai cái rương vào, mở nắp một cái rương ra, chỉ thấy trong rương xếp đầy những chiếc đèn lồng.

Lễ vật chúc mừng tân đế đăng cơ có thể sử dụng những vật có màu sắc vui tươi, nhưng đèn lồng mà Ninh Vương tiến cống lại không chọn dùng màu đỏ thẫm. Những chiếc đèn lồng với thiết kế tinh xảo, màu sắc rực rỡ, đều dùng trúc tốt lụa đẹp chế thành những hình hoa cỏ cá cua, sống động như thật, cũng không biết đã dùng bao nhiêu thợ thuyền khéo tay mới chế ra được chừng đó lồng đèn .

Những thứ lụa đẹp này đều sử dụng màu nhạt, phía trên có những hình chim thú sống động như thật, ý tưởng tinh diệu, thiết kế khéo léo. Chính Đức Hoàng đế vừa thấy lập tức tay chân múa máy, miệng há hốc ra.

Một cái rương khác được mở ra, trong đó lại có đủ các loại pháo hoa, bên trong dùng giấy lụa mỏng để ngăn cách. Mặc dù nhất thời nhìn không ra sự xảo diệu, nhưng những giấy màu bao bên ngoài mấy ống pháo hoa đều vẽ những hoa văn mô tả hình ảnh pháo hoa nổ.

Chính Đức nhìn xong càng cảm thấy ngứa ngáy, không khỏi luôn miệng khen:
- Lễ vật do các vị Phiên Vương tặng thì chỉ có Ninh Vương là hiểu tâm ý ta nhất, rõ ràng toàn là những thứ tốt.

Chính Đức đang vô cùng vui vẻ thì Lưu Cẩn cùng Dương Lăng đi vào, hai người vừa mới đi gặp thái giám quản sự Giáo Phường ty Tĩnh công công xong. Tĩnh công công tuổi chưa đầy ba mươi, trắng trẻo mập mạp, trông khá phúc hậu. Hắn vừa thấy hai người tâm phúc của Chính Đức Hoàng thượng cùng dắt tay nhau tới nhờ vả, mà việc nhờ vả lại chỉ là tạm thời trì hoãn việc xử trí gia quyến của phạm quan, thì đáp ứng ngay. Để tỏ lòng kính trọng của mình với hai người, Tĩnh công công lập tức cầm tấm lệnh bài bằng ngà của mình tự thân chạy tới Giáo Phường ty. Lúc này, Dương Lăng mới yên lòng.

Dương Lăng vừa đi tới cung Càn Thanh vừa tính toán làm sao đem kế sách của Lưu Cẩn mở lời với Chính Đức, không ngờ vừa mới bước vào Đông Noãn các, còn chưa kịp nói chuyện, Chính Đức đã kéo cánh tay y hồ hởi khoe:
- Các ngươi tới đúng lúc lắm, mau đến xem mấy thứ lễ vật do Ninh Vương hiến tặng này.

- Ninh Vương?
Dương Lăng giật mình.

Từ khi tới kinh thành, y cũng không phải không lo lắng về những tin tức ít ỏi mà mình biết được về triều đại này. Chuyện về Ninh Vương y cũng biết, nhưng việc Ninh Vương tạo phản rất không có khả năng. Dựa theo phát triển của lịch sử, nó căn bản không phải là một tai họa, do đó Dương Lăng vẫn luôn không để hắn trong lòng. Có điều, đột nhiên nghe đến tên này, y vẫn không khỏi cả kinh.

Chính Đức hớn hở nâng lên một ống pháo hoa cỡ lớn khá nặng, nói:
- Đi, chúng ta ra Ngự Hoa viên đốt pháo!

Dương Lăng thấy hắn giống như đang vác hỏa tiễn chạy khắp nơi, vội đi tới giật lấy ống pháo hoa, khuyên rằng:
- Hoàng thượng cẩn thận, trong loại đồ vật này có hỏa dược, tuyệt đối không thể sơ ý.

Cốc Đại Dụng nghe Dương Lăng nói thế cũng chợt tỉnh ngộ về sự nguy hiểm của mấy thứ đồ vật này. Vừa rồi nhất thời sơ ý, đem cả rương tới trước mặt Hoàng thượng, còn để hắn tự mình thò tay vào lấy. Nếu không cẩn thận mà đốt một quả, cho dù Hoàng thượng không việc gì, nhưng chỉ cần Hoàng thượng bị sợ hãi một chút cũng đủ khiến hắn rơi đầu rồi. Sắc mặt Cốc Đại Dụng lập tức tái nhợt, lật đật chạy tới nhận lấy ống pháo hoa trong tay Dương Lăng nhét vào rương, lại sai tên tiểu thái giám nhanh đem cất rương pháo hoa đi.
Chính Đức giương mắt nhìn theo cái rương, luyến tiếc nói:
- Đáng tiếc... Đáng tiếc, lúc này trời còn sớm, không phải lúc đốt đèn.

Dương Lăng lại xối thêm một gáo nước lạnh nữa:
- Hoàng thượng, bây giờ là trong lúc đại tang, nếu như đốt nhiều đèn màu trong Ngự Hoa viên, để quần thần biết được thì sẽ phiền phức lắm. Huống hồ, hai vị lão nhân gia Thái Hoàng Thái hậu và Thái hậu nhất định cũng sẽ không đáp ứng đâu.

Suy cho cùng, Chính Đức vẫn còn mang tính trẻ con, tuy cũng thường xuyên nhớ tới phụ hoàng, song thấy mấy thứ đồ vật mới mẻ, sao có thể nhịn mà không thử được. Nhưng sau khi nghe Dương Lăng nói xong, hắn cũng biết việc này không thể cứ theo bản tính mà làm, bèn không khỏi tiu nghỉu như có đám.

Lưu Cẩn thấy Chính Đức Hoàng đế mặt đầy thất vọng, đột nhiên lóe linh cơ, không khỏi cười khà khà mà hiến kế:
- Nếu Hoàng thượng muốn xem pháo hoa đèn màu, cũng không phải không có cách, nhưng nói ra sợ Hoàng thượng khó tránh bị ba vị Đại học sĩ trách cứ.
Chính Đức vội hỏi:
- Lão Lưu có cách gì hay? Mau nói ra xem!

Lưu Cẩn cười hì hì rồi thưa với hắn:
- Hoàng thượng đã rào bảy thôn trang, song vẫn chưa rảnh rỗi đi xem. Nếu lấy cớ đi xem xét hoàng trang một chút, đám Đại học sĩ dẫu có ý phê bình, chắc hẳn cũng sẽ không quở trách quá mức. Đến đấy chúng ta kiếm một khe núi nào đó chui vào, còn không phải muốn đốt đèn thì đốt đèn, muốn đốt pháo thì đốt sao?

Chính Đức sáng mắt lên, lập tức vỗ tay khen:
- Được, trẫm đến thôn trang của mình xem xét một chút, bọn họ còn có thể lắm mồm cản trở hay sao? Dương Lăng, ngươi mau về chuẩn bị, chiều nay trẫm muốn đến hoàng trang xem một chút.

Dương Lăng thấy Lưu Cẩn nháy mắt ra hiệu với y, trong lòng tức thì bừng tỉnh: “Lưu Cẩn quả nhiên tuyệt vời. Biện pháp của lão ta quả là một mũi tên hạ hai con chim. Vừa hợp ý Hoàng thượng, cũng giúp cho mình.”

Dương Lăng bèn bỏ ý định ngăn cản Hoàng thượng xuất cung, lập tức nói:
- Dạ, thần lập tức đi làm ngay!

* * *

Dương Lăng trở lại Trấn phủ ty, dẫn bốn gã thân binh phi ngựa chạy về Cao Lão trang, thậm chí không về nhà, mà tới đại trướng Thần Cơ doanh trước. Quan binh lúc này đang ở sau núi đốn cây chặt cỏ để xây doanh trại, năm trăm thân binh của Dương Lăng vẫn giao cho Liễu Bưu chỉ huy. Y chạy lên núi tìm Liễu Bưu, đem việc Hoàng đế muốn tới đốt pháo nói với hắn, rồi cẩn thận dặn dò một phen. Liễu Bưu lập tức tập hợp thân binh, tự mình dẫn người vào núi an bài mọi việc.

Sắp xếp ổn thỏa tất cả xong, Dương Lăng lại vội vã chạy về nhà. Cả đêm y chưa về nhà, mấy người Hàn Ấu Nương tuy không tin sẽ xảy ra chuyện gì nhưng trong lòng cũng khó tránh khỏi lo lắng cho y, một đêm cũng ngủ không ngon giấc.

Lúc này mấy người đang hóng mát dưới dàn nho trong hoa viên. Bây giờ đã sắp tháng sáu, tiết trời oi bức, cộng thêm đêm qua không ngủ ngon, tinh thần bọn họ đều uể oải, buồn ngủ.

Hàn Ấu Nương đang ngồi chống cằm, vừa vô tình ngẩng đầu, liền nhìn thấy Dương Lăng đang đi dọc theo hành lang quanh co tới, lập tức reo lên mừng rỡ:
- Tướng công về rồi!

Những người khác quay đầu lại thấy Dương Lăng, đều vui mừng đi tới đón. Dương Lăng lướt mắt, thấy chỉ có bốn người Ấu Nương, Trương Thị, Tô Tam và Tuyết Lý Mai, còn cô nương Cao Văn Lan thì không ở đây, bèn hỏi:
- Cao tiểu thư không có ở đây à?

Tuyết Lý Mai đáp:
- Chúng tôi đã mời nàng tới đây uống trà, nhưng Cao gia tiểu thư nói rằng nàng đã là nô lệ của quý phủ, đòi đứng một bên dùng lễ nữ tỳ mà hầu hạ. Ấu Nương tỷ tỷ thấy vậy không đành lòng, đành phải cho nàng ấy lui xuống rồi.

Ấu Nương vừa thấy tướng công mồ hôi đầy đầu, vội kéo y ngồi dưới hành lang, bảo:
- Tướng công, nhìn chàng chạy tới mồ hôi mồ kê kìa, uống chút trà giải khát trước đi. Văn Tâm tiểu thư bây giờ... bây giờ thế nào rồi?

Ấu Nương vừa nhắc tới vị tiểu thư Văn Tâm, mấy người con gái đều có chút khẩn trương, bốn cặp mắt đều không nhịn được mà dán vào người y. Dương Lăng nhìn quanh, thấy không có người ngoài, bèn nhỏ giọng nói:
- Đừng lo, Cao tiểu tỷ tạm thời vẫn không có chuyện gì, ta đã giao cho người của Giáo Phường ty chăm sóc rồi.

Bọn người Ấu Nương nghe xong lập tức thở phào nhẹ nhõm. Đại tẩu Trương Thị không nhịn được mà vỗ tay, vui mừng nói:
- Cám ơn trời đất, một vị cô nương tốt vô tội như vậy, may mà ông trời có mắt.

Dương Lăng thở dài nói:
- Các người đó, khâm phạm dễ cứu vậy sao? Hoàng thượng vẫn không tha thân phận khâm phạm của nàng đâu, ai dẫn nàng ta về nhà chính là tội lớn tịch thu tài sản và giết cả nhà đó!

Ấu Nương, Trương Thị đến từ nông thôn, Tô Tam và Tuyết Lý Mai cả ngày chỉ biết cầm kỳ thư họa, sao hiểu được thiệt hơn trong đó. Vừa nghe Dương Lăng nói thế, ai nấy đều biến sắc.

Tô Tam lo lắng nói:
- Việc này lại nghiêm trọng như vậy sao? Vậy... vậy có phải là vị cô nương đó không cứu được rồi không?

Dương Lăng lắc đầu nhè nhẹ, nói:
- Cũng không hẳn vậy. Thật ra tôi đã nghĩ ra một cách, nhưng vẫn chưa kịp nói với Hoàng thượng. Bây giờ Hoàng thượng muốn tới hoàng trang, đêm nay nhất định muốn dùng bữa ở nhà chúng ta. Dọc đường đi tôi đã nghĩ, nếu tối nay Ấu Nương cùng tôi đi gặp Hoàng thượng, nói không chừng sẽ có thể mã đáo thành công đó.

Ấu Nương ngạc nhiên hỏi:
- Gì cơ? Tướng công muốn thiếp đi gặp Hoàng đế?!

Dương Lăng gật đầu cười bảo:
- Theo tính tình của Hoàng thượng, nếu dùng biện pháp này, ta nắm chắc sáu thành có thể khiến Hoàng thượng tha cho Cao tiểu thư. Nếu... nàng xuất hiện trước mặt Hoàng thượng, sau đó lại làm ra vẻ bị bệnh, vậy ta nắm chắc ít nhất là chín thành. Có điều... ta lo nàng thấy Hoàng đế sợ quá không nói nên lời, nếu bị hắn nhìn ra sơ hở thì không hay đâu.

Hàn Ấu Nương nghe xong suy nghĩ một chút, rồi kiên quyết nói:
- Tướng công, cho dù thấy Hoàng đế... thấy Hoàng đế thiếp cũng không sợ, chàng nói cho thiếp biết phải làm như thế nào, thiếp nhất định sẽ làm được.

Dương Lăng an ủi:
- Nàng cũng đừng lo. Hoàng đế này không có chút dáng vẻ gì, dễ nói chuyện lắm, trước đây nàng đã từng gặp hắn rồi.

Hàn Ấu Nương giật mình thốt:
- Sao cơ? Thiếp đã gặp Hoàng thượng lúc nào?

Dương Lăng mỉm cười đáp:
- Còn nhớ lần chúng ta vừa tới kinh thành, lúc đó ta là Thị độc Đông cung không? Cái thằng nhóc to họng mà lúc thì gọi nàng là chị dâu (tẩu tử), lúc lại gọi nàng là Ấu Nương tỷ tỷ đó chính là đương kim Hoàng thượng.

* * *

Thần Cơ doanh nắm giữ hỏa khí, đám lính lác đều giỏi sử dụng súng hoả mai và pháo, bây giờ trong tay quan binh lại là một đống pháo hoa cỡ lớn do Ninh Vương ở Giang Tây tiến cống. Dương Lăng vừa về tới thôn, việc đầu tiên nghĩ đến chính là đề phòng cháy rừng, bởi vậy mới căn dặn Liễu Bưu vào núi tìm một nơi có ít cỏ cây.

Liễu Bưu trước tìm đám lính bảo vệ thôn hỏi rõ về hình dạng bề mặt mặt đất chung quanh. Dựa theo chỉ điểm của đám bảo vệ, chẳng mấy chốc đã tìm được một chỗ hẻm núi. Nơi đây cỏ cây thưa thớt, còn gần hơn một trăm cây cũng bị Liễu Bưu phái người chặt cành tước nhánh, chỉ còn lại thân cây trụi lủi.

Trời chập tối, Chính Đức dưới sự hộ vệ của đám Ngự Lâm quân tới Cao Lão trang. Đám đại hán tướng quân khiêng mười lăm cái rương đi theo sau. Ngoại trừ mười rương pháo hoa, không ngờ còn đem theo cả năm rương đèn.

Đến khi đại đội nhân mã đi dọc theo đường nhỏ trong núi, tới chỗ hẻm núi nọ, thì sắc trời đã tối đen. Dương Lăng thấy mang đến năm rương đèn màu, bèn sai người lấy hết ra, cột vào gần trăm thân cây đã được chặt trước đó. Đèn lồng trong năm cái rương đều do trúc tốt lụa đẹp chế thành, vừa được nhóm lên, lập tức liền như những đốm lửa nhỏ sáng rực đầy trời. Sơn cốc vốn hoang vu đen kịt lập tức tràn ngập một bầu không khí lãng mạn thần bí, khiến người ta ngỡ như đang đặt mình trong dải ngân hà.

Cảnh đêm mĩ lệ như vậy, không chỉ Chính Đức chưa bao giờ thấy, mà cả Lưu Cẩn, Cốc Đại Dụng cùng với đám quan binh theo đến đều cảm thấy vui vẻ thoải mái, yên lặng mà nhìn, như thể sợ sẽ quấy nhiễu tới bầu không khí thần tiên này.

Chợt nghe ‘vút’ một tiếng, cây pháo hoa đầu tiên được bắn lên không trung: lúc thì giống như cúc vàng tơ bạc nở rộ đầy trời, hồi lại như mưa sao sa, chốc lại như đèn hoa rực rỡ, sau lại như ngàn vạn con rồng lửa; màu bạc, màu đỏ tươi, xanh thẳm, màu vàng óng như liễu rủ xuống, muôn hồng nghìn tía, rực rỡ tươi đẹp vô cùng.

Dương Lăng đứng bên cạnh Chính Đức, ngước nhìn bầu trời đêm mỹ lệ lúc này đây đang làm cho người ta thất thần, trong lòng chỉ tiếc không mang theo Ấu Nương để cùng ngắm cảnh đẹp hiếm có này.

Thứ gì tươi đẹp rực rỡ luôn ngắn ngủi. Đống pháo hoa đã cần đến không biết bao nhiêu thợ thuyền khéo tay, hao phí không biết bao nhiêu ngân lượng mới chế tạo ra, rốt cục cũng đã hết. Trong sơn cốc tràn ngập mùi khói thuốc súng. Dương Lăng cố hít lấy mùi thuốc súng cay nồng, trong lòng âm thầm thề rằng, sang năm trước khi rời khỏi nhân thế, nhất định cũng phải để Ấu Nương được một lần thưởng thức pháo hoa mỹ lệ như vậy. Cảnh sắc ấy nhất định phải hoành tráng hơn, không khí càng lãng mạn hơn, để trong tim Ấu Nương mãi mãi giữ lại một giấc mơ lãng mạn.

Đến khi bước vào Uy Vũ Bá phủ, Hoàng đế Chính Đức vẫn còn hưng phấn mãi. Đối với một tiểu hài tử ở lâu trong chốn thâm cung, cảnh sắc như vậy là vô cùng lãng mạn, thật sự là một sức hút không thể cưỡng nổi, đến mức đã vào tiệc rượu thịnh soạn mà hắn vẫn hào hứng bàn về những cây pháo hoa đó không thôi.

Hoàng đế lão tử không ăn cơm, người khác sao dám động đũa? Mọi người đành phải cùng nhau nhịn cả. Chính Đức hưng phấn hồi lâu, mới quay sang nói với Dương Lăng:
- Dương Lăng, Ấu Nương tỷ... Khục khục, phu nhân của khanh đâu? Sao trẫm không thấy?

Dương Lăng mừng thầm, vội vàng đứng dậy thưa:
- Hồi bẩm Hoàng thượng, từ khi vợ thần biết Hoàng thượng muốn đến, cũng rất vui mừng. Nhưng nàng là phụ nữ, không tiện ra gặp người.

Chính Đức khoát tay bảo:
- Đâu ra mấy cái quy củ này vậy, kêu nàng ra gặp mặt chút đi. Ha ha, sớm biết chơi vui như vậy, khanh nên đưa nàng cùng đi mới đúng. Được rồi, khanh vẫn chưa nói ra thân phận ta với nàng đó chứ?

Dương Lăng vội đáp:
- Hoàng thượng đã từng căn dặn, thần nào dám trái lời? Nàng còn chưa biết Hoàng thượng chính là vị tiểu công tử kia.

Chính Đức mừng rỡ, dường như lại tìm được trò vui, liền vội vàng nói:
- Bảo nàng ra đây. Ha ha, chắc hẳn vừa thấy trẫm, nàng nhất định sẽ sợ đến giật mình.

Lúc Ấu Nương đi ra, cả Dương Lăng, Chính Đức, và Hàn Ấu Nương đều giật mình. Ấu Nương là cố ý giả vẻ khiếp sợ, song tuy rằng đã biết vị Hoàng đế này chính là tiểu công tử lúc trước gặp qua, tâm tình của nàng vẫn thập phần căng thẳng. Tuy là làm ra vẻ, nhưng cũng phải thực tới bảy tám phần.

Dương Lăng và Chính Đức thì lại giật bắn cả người. Tuy rằng Dương Lăng muốn nàng cải trang như là ốm lâu trên giường, nhưng cũng không ngờ Hàn Ấu Nương lại làm ra hình dạng này. Đầu tóc rối bù, mặt vàng như nghệ, giống như người bệnh nặng vừa mới rời khỏi giường.

Chính Đức nhìn thấy bộ dáng của nàng thì không khỏi cả kinh, chỉ vào nàng lắp bắp nói:
- Ngươi... ngươi... sao lại có bộ dáng như vậy?

Hàn Ấu Nương căng thẳng sờ mặt, cũng không biết mấy thứ Tô Tam tô vẽ có bị người ta nhìn ra sơ hở không.

Dương Lăng thấy Ấu Nương hãy còn hơi căng thẳng, vội đáp thay:
- Hoàng thượng, từ sau cơn bệnh nặng lần trước, vợ thần vẫn chưa khỏi hẳn. Thân thể càng ngày càng yếu, vi thần thật sự là... Chà! Bệnh này của nàng nếu có lang trung bên cạnh hầu hạ, từ từ điều dưỡng thì đã tốt rồi, nhưng mà… a hèm!

Chính Đức không cho là đúng, nói:
- Vậy khanh cứ tìm lang trung tốt đi, chẳng lẽ đến cả một lang trung khanh cũng không mời nổi à?

Dương Lăng mặt mày ủ ê giãi bày:
- Hoàng thượng có điều không biết, vợ thần bị là bệnh của đàn bà, huống chi còn phải luôn có người kề bên hầu hạ, nam nhân thật sự không tiện. Thần tìm tới tìm lui mà không tìm thấy một lang trung nào thích hợp, sau đó vất vả lắm mới tìm tới được một lang trung, chẳng những y thuật cao siêu, hơn nữa lại là nữ tử, thật sự là nhân tuyển thích hợp nhất. Nhưng mà nàng ta... a hèm! Thôi không nói tới nữa!

Chính Đức nghe mà không hiểu đầu cua tai nheo ra sao, bèn hỏi:
- Đã tìm được lang trung thích hợp, tại sao không đưa nàng đến chẩn đoán và điều trị? Khanh còn có nỗi niềm gì khó nói chăng?

Lưu Cẩn liếc Dương Lăng một cái, rồi vội tới trước mặt Chính Đức nhẹ nhàng ôn tồn bẩm:
- Hoàng thượng, Dương đại nhân thà để phu nhân bệnh, cũng không dám tìm nữ lang trung đó, thật sự là bởi vì... vị nữ lang trung đó là con gái của Cao Đình Hòa.

Chính Đức nghe vậy ngẩn ra, hồi lâu mới ngạc nhiên hỏi:
- Cao Đình Hòa? Cao Đình Hòa là ai? Con gái hắn giỏi lắm ư? Đã làm lang trung, tại sao lại không thể chữa cho Ấu Nương tỷ... Dương phu nhân chứ?

Lưu Cẩn nghe thế thiếu chút nữa thì sung huyết não. Lão vội hít mạnh vài hơi, rồi mới bày ra vẻ mặt quái dị đáp:
- Hoàng thượng, Cao Đình Hòa chính là... chính là thái y đã chẩn đoán và chữa bệnh cho tiên đế.

Sắc mặt Chính Đức lập tức trầm xuống. Hắn nhìn Dương Lăng và cơ thể bệnh hoạn gầy yếu của Hàn Ấu Nương, im lặng hồi lâu rồi mới chậm rãi hỏi:
- Là con gái hắn à? Trẫm nhớ hình như con gái hắn cũng bị trừng phạt, nữ tử đó bây giờ đang ở đâu?

Lưu Cẩn vội đáp:
- Hồi bẩm Hoàng thượng, Cao thái y không làm tròn bổn phận, chẩn đoán sai lầm nên đã bị chém đầu. Con gái hắn... bộ Hình đã phán ả sung vào Giáo Phường ty, trọn đời làm nô lệ.

- Hả? Giáo Phường Ty?
Chính Đức đương nhiên là biết đến nha môn này, nhưng chưa có ai nói với hắn về việc ngoại trừ mấy thứ ca nhạc cung đình thì Giáo Phường ty còn có cái gì.

Hắn không khỏi lấy làm kỳ quái hỏi:
- Đưa vào Giáo Phường ty làm nô lệ? Làm những gì ở trong đó?

Lưu Cẩn cười bồi, đáp:
- Chính là hầu rượu, nhảy múa, mua vui cho đám nam nhân.

Lưu Cẩn nói rất khéo, câu này thực chẳng hề có sơ hở nào. Đầu tiên là Giáo Phường ty đích xác có loại nhạc kỹ này, ai biết Giáo Phường ty có phải là an bài cho Cao tiểu thư làm việc này hay không, hay là làm một việc khác hèn hạ hơn. Nếu thật có người bới móc câu chữ, chỉ cần nói một câu là ‘Hoàng thượng còn nhỏ, không nên làm bẩn tai vua’ thì cũng đủ để đối phó rồi.

Chính Đức nghe xong quả nhiên rất bất mãn, bỏ qua vấn đề về ‘tiết tháo kiên trinh’ mà hắn vẫn chưa thể hiểu được, loại trừng phạt này khiến hắn có cảm giác như không phải là trừng phạt. Làm loại nô tỳ này sướng quá đi, đây là làm nô lệ hay là hưởng phúc thế?

Chính Đức vung tay áo tỏ vẻ không vui, nói:
- Lão hồ đồ Hồng Chung này, đây mà là trừng phạt gì chứ? Lưu Cẩn, ngày mai ngươi tới Giáo Phường ty, truyền khẩu dụ của trẫm, điều ả Cao... gì gì đó tới Uy Vũ Bá phủ làm nô lệ, chuyên trách chẩn bệnh cho Dương phu nhân!


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:15 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 95 - Thư Của Cử Nhân



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Mechichi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Cao Văn Tâm ngơ ngác đứng lặng hồi lâu, rồi mới buồn bã thở dài:
- Thế sự ấm lạnh, tình người như sương khói. Văn Tâm đến nông nỗi này đã khổ lắm rồi. Dương đại nhân, tội gì người lại đa sự, khiến ta phải xấu hổ thêm?



------------------------

Chương chín mươi lăm Thư Của Cử Nhân

------------------------

Sáng sớm hôm sau, nữ thần y Cao Văn Tâm tiểu thư thoát khỏi nhạc tịch*, được một chiếc kiệu nhỏ lặng lẽ đưa ra khỏi thành.
(*: chỉ thân phận kỹ nữ)

Buổi trưa, thượng thư bộ Lễ Vương Quỳnh được hoàng đế ân chỉ thả ra khỏi ngục. Vương thượng thư tóc bạc trắng vừa ra khỏi đại ngục của bộ Hình liền được đám quan viên chạy tới vây đón hỏi han ân cần như một anh hùng chiến thắng trở về. Phong thái ấy (của lão) thật là oanh liệt. Hơn phân nửa số quan viên trong triều đã kéo tới đây. Ba vị đại học sĩ mặc dù không tiện lộ diện song cũng sai người tới chúc mừng.

Phủ Thượng thư bày ra đại yến, một đám quan viên có tài văn chương không khỏi chia vần đấu thơ nghênh đón chúc mừng một phen. Rượu uống chưa mềm môi, Vương Quỳnh đã giơ cao chén, bước ra giữa đại sảnh, vòng tay nói:
- Các vị đồng liêu hảo hữu, Vương Quỳnh xúc phạm thiên nhan, bị giam vào ngục. Nhờ có các vị hảo hữu tìm mọi cách giúp đỡ, Vương mỗ mới thoát khỏi ngục tù. Vương mỗ thật sự phải đa tạ các vị. Chén rượu này, lão phu xin kính mọi người!

Vương Quỳnh dứt lời, lập tức giơ cao chén uống cạn một hơi. Lão tuy bày rượu thết đãi đáp tạ các vị đồng liêu ở nhà, song vẫn nghiêm túc tuân thủ lễ nghi: một thân quần áo hiếu (tang) phục cho tiên đế, râu trắng tóc bạc, mặt ngời chính khí. Những quan viên đến đây chúc mừng thấy thượng thư kính rượu, lần lượt đứng dậy đáp lễ.

Thượng thư bộ Lại Mã Văn Thăng cười đáp:
- Vương thượng thư phẩm đức văn chương đứng đầu, thiên hạ kính ngưỡng, thân là thượng thư bộ Lễ lại càng tận chức tận lực. Ngày ấy vì khuyên can hoàng thượng giữ lễ, nhất thời kích động phẫn nộ mà xúc phạm tới thánh giá, vốn cũng không phải là chuyện lớn gì. Cho dù chúng tôi không dâng thư xin miễn tội, hoàng thượng cũng nhất định sẽ xá tội cho đại nhân.

Vương Quỳnh nghe thiên quan* bộ Lại khen ngợi như thế, không khỏi cười vui vẻ, trở về chỗ ngồi rồi nói:
- Mã thượng thư quá khen, thượng quốc như Hoa Hạ của chúng ta là lễ nghĩa chi bang, thực lễ(1) chi quốc, thánh nhân sáng lập ra ngũ lễ(2), chúng ta phải hiểu lễ, học lễ, thủ lễ, trọng lễ. Đây là đại sự cai trị quốc gia, ổn định xã tắc, trật tự nhân dân, lợi cho con cháu. Thân là thần tử há có thể thấy vua phạm lỗi mà không nói? Nhưng có thể khuyên được hoàng thượng thủ lễ, đừng nói là ngồi tù, cho dù phải mất mạng thì đã sao?
(*: chỉ thượng thư bộ Lại)

Vương Ngao gật đầu lia lịa khen hay:
- Thánh nhân dùng lễ để soi sáng cái đức, dùng lễ để kính trọng cái đức. Có câu người mà không có lễ thì không thể sống, việc mà không có lễ thì không thành, quốc gia mà không có lễ thì không yên. Đại nhân mạo phạm thiên nhan trực ngôn can gián có thể nói là gương tốt cho bá quan. Chúng tôi dâng sớ xin thánh thượng tha tội, ấy chính là bổn phận.

Hữu đô ngự sử, thị lang bộ Binh, tổng đốc quân vụ Tuyên Hoá, Đại Đồng và Sơn Tây là Lưu Vũ Lưu đại nhân nghe vậy chợt nói:
- Theo hạ quan biết, sáng nay thống lĩnh thân quân thị vệ Dương Lăng Dương đại nhân từng xin hoàng thượng tha cho đại nhân. Y là người tâm phúc của hoàng thượng, nói không chừng lần này đại nhân được ra ngục, người góp sức nhiều nhất chính là Dương đại nhân đó.

Vương Quỳnh nghe xong phật ý không vui, cười lạnh:
- Một thằng oắt con, ỷ là cựu thần Đông cung, mới có thể ra vào triều đường. Hắn thì biết gì? Hừ! Lúc lão phu khuyên nhủ hoàng thượng quay về điện để túc trực bên linh cữu, chính hắn đã buông lời gièm pha ngăn cản. Lão phu tức giận mới lấy nghiên mực ném hắn. Sao hắn lại có thể cầu xin cho lão phu?

Dương Phương nghe vậy thưa:
- Chuyện Dương Lăng góp lời cầu xin cho Thượng thư đại nhân quả thật là có. Nhưng ... theo bản quan thấy, nhất định là hắn thấy lúc Thượng thư đại nhân vào tù, mọi người phản đối, bá quan phẫn nộ, để tránh cho mình khỏi trở thành mục tiêu công kích, mới làm bộ làm tịch như vậy!

Thị lang bộ Hình Triệu Giản Chi vỗ đùi đánh đét:
- Đúng vậy, lão đại nhân ở trong ngục mấy ngày nay chắc hẳn còn chưa biết, tên Dương Lăng đó còn dâng lời với hoàng thượng, bảo quan viên ở những tỉnh giàu có trong thiên hạ không được nhậm chức tại tỉnh nhà, lấy cái tên mỹ miều là “phòng ngừa tham ô”. Bây giờ loạn đến rối tinh rối mù cả lên.

- Cái gì?
Vương Quỳnh giận run người:
- Đạo trị thế, không dùng pháp lệnh để ép buộc, mà lấy giáo hoá làm đầu. Nếu muốn phòng tham ô, phải nói về lễ nhạc, chính bản thân phải thực hiện, phổ biến giáo hoá, tuân thủ phong tục. Thay vì dùng chế độ phòng tham ô, chi bằng lấy đạo đức để giáo hoá? Làm vậy chẳng phải là bỏ gốc lấy ngọn sao?

Thượng thư bộ Công Từ Quán nhìn thấy quan viên chung quanh bàn luận về chính sách mới do Dương Lăng đề ra, phần lớn đều không tán thành, trong lòng bèn mừng thầm, mỉm cười:
- Vương thượng thư nói đúng. Dùng pháp lệnh để cấm đoán chỉ là giải pháp nhất thời, mà giáo hoá mới là biện pháp lâu dài. Những việc trị nước này, vẻn vẹn một tên tú tài đồng tiến sĩ xuất thân như hắn có thể hiểu được sao?

Thị lang bộ Lại Tiêu Phương vốn là bộ hạ cũ của Vương Quỳnh khi còn nhậm chức ở bộ Lại, vì mặt mũi nên không thể không tới chúc mừng. Nhưng lão là người bụng dạ hẹp hòi, Vương Quỳnh vì tư tâm mà từng chèn ép lão, Tiêu Phương vẫn luôn luôn canh cánh trong lòng. Lúc này thờ ơ quan sát, thấy bọn họ đa số mang lòng đố kị với sự thăng tiến nhanh chóng của Dương Lăng, người được tân đế tin tưởng, thì trong lòng không khỏi thầm cười nhạt, lặng lẽ tự tính kế riêng của mình

Thượng thư bộ Binh Lưu Đại Hạ cau đôi mày trắng nói:
- Ừm, lão phu cũng thấy tiểu tử đó gây chuyện hơi quá đáng. Hôm qua Hoàng Thượng đột nhiên xuất cung đến hoàng trang ở tây giao, đêm đến màu sắc ngập trời trong sơn cốc tây giao, mà Thần Cơ doanh Tả Tiêu Quân phụng thánh dụ đóng quân ở nơi đó. Hôm nay trên triều, lão phu đã hỏi về việc đêm qua, hoàng thượng lại nói là quan khán diễn võ ban đêm. Theo lão phu thấy, hắc hắc...

Lưu Đại Hạ nói tới đây không nói nữa, chỉ không ngừng lắc đầu.

Vương Cảnh Long và mấy tên bạn tri giao của hắn đang ngồi chung một mâm ở phòng bên, nghe được bọn họ nói chuyện, Triệu Ung bèn cười đáp:
- Các vị, đã nghe chưa? Lúc này có nhiều bá quan trong triều đang rất bất mãn với tên gian nịnh đó. Chỉ là đáng tiếc không nắm được chứng cứ phạm pháp của hắn. Nếu chúng ta có thể lập được kỳ công này, chẳng phải sẽ sảng khoái lắm sao?

Dương Lâm lắc đầu nói:
- Khó, bá quan trong triều ai mà không tai mắt thông tỏ? Nếu hắn có gì, sớm đã bị người nắm thóp rồi.

Triệu Ung cười lạnh nói:
- Dương lão đệ, kẻ làm đại sự không câu nệ tiểu tiết. Dương Lăng gian trá giảo hoạt, làm việc cẩn thận, mới khiến người ta không nắm được nhược điểm của hắn. Tìm không được nhược điểm, chẳng lẽ chúng ta không thể tạo cho hắn một cái sao?

Vương Cảnh Long nghe xong ngạc nhiên hỏi:
- Phải làm sao mới tạo được đây? Hay là Triệu huynh có diệu kế gì? Nếu như có bằng chứng thật thì được.
Đoạn hắn thấp giọng nói:
- Nhưng ngụy tạo chứng cớ hãm hại đại thần là tội lớn đó.

Triệu Ung cười lạnh một tiếng:
- Thuận Khanh, nếu không phải vì Dương Lăng chọc giận lệnh tôn, lão đại nhân sao lại nổi giận mà kinh động thánh giá chứ? Lão nhân gia tuổi quá thất tuần, còn phải chịu cảnh lao ngục, thân là con, thù này nếu không báo, thật uổng phận làm nam tử hán hiên ngang rồi.

Vương Cảnh Long bị hắn khích đỏ bừng mặt, vội vã chống chế:
- Tiểu đệ sao lại không muốn trả thù cho gia phụ? Có điều nếu không có bằng chứng thật thì sẽ không thể làm gì được hắn đâu!

Triệu Ung cười ngạo nghễ nói:
- Biện pháp không phải là do người nghĩ ra sao? Hai ngày trước đệ từng tới Dương phủ nhờ Dương Lăng giúp cho thế bá, hôm nay mượn cái cớ này đến nhà tạ ơn, chủ động giao du với hắn. Hừ, đợi sau khi kết thân với hắn rồi, chúng ta sẽ tùy cơ mà hành sự.

Nói đoạn hắn thấp giọng thì thầm:
- Thậm chí nếu như thật sự không tìm thấy gì, vậy cứ tạo dựng vài tang chứng đổ tội cho hắn. Đến lúc đó nắm được thóp hắn, bá quan hạch tội, còn không đánh đổ được hắn sao? Chỉ cần làm khéo, hắn có chứng cớ gì mà nói là chúng ta vu oan giá họa chứ?

Cha của Triệu Ung là thị lang bộ Lại , thủ đoạn trị người của nha môn này ít nhiều hắn cũng từng nghe qua một chút. Thật ra Triệu Ung không có ân oán gì với Dương Lăng, chỉ là sớm nghe cha và thúc bá bề trên rất bất mãn với Dương Lăng, cho rằng hắn không phải là quan tốt, nên muốn làm anh hùng trượng nghĩa trừ gian.

Vương Cảnh Long nghe xong, thoạt lấy làm mừng, nhưng suy nghĩ một chút thì lại khó xử nói:
- Nhưng... ngày mai Dương Lăng đã đi đôn đốc kiến tạo đế lăng, chẳng lẽ ta phải đuổi theo tới đế lăng hay sao?

Triệu Ung vừa mới nghĩ ra một trọng tội đủ để khiến cho Dương Lăng 'rơi đài', vừa nghe vậy thì càng mừng rỡ, không khỏi hớn hở đáp:
- Hay lắm, hắn không có ở nhà, trong phủ chỉ còn lại một đám nữ quyến không kiến thức, càng tiện bề cho chúng ta hành động.

Vương Cảnh Long trợn mắt, tức giận hỏi:
- Triệu huynh, Dương phủ chỉ còn một đám nữ quyến, ta làm sao có thể đến nhà thăm viếng được?

Nghe nói thế, Triệu Ung cũng ngớ ra. Dương Lâm lại cười khà khà trả lời:
- Tiểu đệ đã có biện pháp rồi. Hôm nay không phải Hoàng Thượng đã xóa bỏ thân phận nhạc tịch cho con gái của phạm quan Cao Đình Hòa, giáng vào nhà họ Dương làm nô lệ sao? Tẩu phu nhân bị bệnh triền miên, mãi vẫn chưa tìm được lương y. Vậy Vương huynh có thể đi tới Dương phủ đáp tạ một phen, sau đó đề cập tới việc chẩn trị bệnh. Thiết nghĩ không lý nào Dương Lăng không đồng ý. Như vậy cho dù khi hắn không có ở nhà, chẳng phải là Vương huynh vẫn có thể quang minh chính đại vào nhà sao?

Triệu Ung nghe vậy cả mừng, khen rằng:
- Đúng vậy, kế này thật tuyệt. Thuận Khanh cứ theo kế mà làm, đợi khi nắm rõ nội tình trong nhà họ Dương, chúng ta sẽ từ từ mưu tính!

Vương Cảnh Long nghe xong cũng không khỏi động lòng. Chẳng biết vì sao, trong tâm trí hắn đột nhiên hiện lên hình bóng của hai nữ tỳ xinh đẹp động lòng người.


* * *

Ánh nắng rọi xuống hoa viên mang đầy vẻ phong nhã theo phong cách Giang Nam của Cao phủ, xinh tươi và rực rỡ, rồi chiếu lên cánh cửa đá đã bị rêu xanh phủ màu xanh biếc. Mỗi khi nghe có tiếng chân nhè nhẹ vang lên, đám cá vàng cá đỏ đang tung tăng bơi lội trong ao dưới bóng râm của hành lang cửu khúc đổ xuống vội lủi trốn vào trong những khóm rong.

Vô số những dây hoa tử đằng trên hòn giả sơn rũ xuống, thả lơ lửng trên ao, trông như một tấm rèm tuyệt đẹp, kéo dài tới những cây cột trên hành lang quanh co, che khuất ánh mặt trời, chỉ còn lại vô số tia nắng loang lổ xuyên qua những kẽ lá.

Cảnh sắc yên tĩnh ưu mỹ như vậy, nhưng Dương Lăng lại hoàn toàn không có lòng để thưởng thức. Đêm qua y hộ tống hoàng đế Chính Đức hồi kinh, buổi sáng phái thân binh theo Lưu Cẩn đến Giáo Phường ty truyền thánh dụ, hộ tống tiểu thư nhà họ Cao về, rồi lại phụng mệnh ở lại trong cung.

Dương Lăng còn tưởng rằng tiểu hoàng đế lại nghĩ ra trò chơi gì đó, muốn sai y đi làm. Không ngờ sau khi bãi triều, hoàng đế Chính Đức lại muốn y ngày mai tức khắc đi đến Thái Lăng vì nhiều đại thần trong triều bất mãn với việc y cứ lần lữa trong kinh thành, không chịu phụng chỉ làm việc. Dương Lăng bắt buộc phải đáp ứng.

Thân phận và địa vị hôm nay đã khiến y thỏa mãn rồi, cũng không mong mỏi thêm tiếng tăm chi. Y chỉ mong có thể dành nhiều thời gian hơn bầu bạn với Ấu Nương. Nhưng đã dấn thân vào trong giang hồ cuộc sống đã không còn do mình định đoạt nữa. Y không phải là công tử vương hầu, sinh ra đã được ngậm thìa vàng bát bạc. Muốn có được cuộc sống không lo không nghĩ thì phải xắn tay làm khi có việc. Có điều để hoàn tất công trình Thái Lăng ít nhất cũng phải bốn tháng mà hắn còn được bao nhiêu cái bốn tháng để lãng phí đây?

Dương Lăng ôm bầu tâm sự, chậm rãi đi về phía trước. Đang cảm thấy khó mà mở miệng nói việc mình sẽ rời nhà với Ấu Nương, đột nhiên nghe thấy tiếng đàn khoan thai réo rắt vang lên. Y biết đó là Tuyết Lý Mai đang đánh đàn. Dừng cước bộ lại lắng nghe một chút, trong lòng lại càng buồn hơn, Dương Lăng không khỏi thở dài, rồi tiếp tục đi về phía trước.

Trong hành lang đá thấp thoáng những hàng lá xanh, vừa vào đã có cảm giác u nhã mát mẻ. Dương Lăng vừa rẽ qua một góc, chợt thấy sau khúc quanh lộ ra một mái đình nhỏ hình lá sen được xây trồi trên mặt nước Mái đình xanh biếc, bốn cột làm bằng gỗ, toát lên vẻ cổ kính.

Dưới đình ao nước dập dờn, trên đình có một người con gái xinh đẹp đang ngồi dựa vào lan can. Nàng mặc một bộ đồ xanh, hai tay vịn vào lan can, cằm tựa lên tay, mặt soi bóng nước, mái tóc đen huyền như mực, trên trán quấn một tấm băng trắng.

Dương Lăng tự nhiên đi chậm lại. Thiếu nữ áo xanh nghe tiếng bước chân liền quay đầu nhìn. Dương Lăng thấy hình như mình chưa gặp người thiếu nữ này bao giờ, bất giác ngẩn người ra.

Thiếu nữ đó vừa quay đầu nhìn thấy y, liền vội vàng đứng dậy bước tới, yêu kiều sụp người vái chào:
- Văn Tâm chờ đại nhân đã lâu. Đại ân đại đức của đại nhân tiểu tỳ suốt cuộc đời này cũng không thể nào báo đáp được. Xin đại nhân nhận một lạy này của tiểu tỳ!
Vừa nói nàng vừa quì gối dập đầu lạy ba cái.

Dương Lăng nghe vậy tức thì tỉnh ngộ. Thì ra thiếu nữ này chính là vị nữ thần y mà mình cứu về. Y vội vàng đỡ nhẹ rồi nói:
- Xin tiểu thư hãy đứng lên, đừng xưng hô như thế. Dương Lăng thật sự rất hổ thẹn vì không thể thuyết phục Hoàng Thượng miễn xá cho cô. Nhưng thân phận nô lệ lúc này chỉ để ngụy trang ứng phó với người ngoài mà thôi. Nữ thần y danh tiếng khắp kinh sư, Dương Lăng tuyệt đối không dám đối đãi như tỳ nữ đâu.

Dương Lăng vừa nói, vừa quan sát nàng. Đêm qua trán nàng chảy máu, mặt đầy những vệt nước mắt, tóc tai bù xù, mặt mày đỏ bừng. Buổi sáng khi thức dậy cũng trông rất khó coi, lúc này trang điểm lên thực sự dễ coi hơn nhiều.

Ngũ quan nàng không phải là tuyệt mỹ, không đáng yêu như Ấu Nương, lại không quyến rũ như Liên Nhi. Nhưng đoan trang thanh khiết, khắp người từ trong ra ngoài đều khiến cho người ta có một cảm giác không nhiễm bụi trần. Vẻ tao nhã này, không phải chỉ dựa vào tướng mạo là có thể có được.

Cao Văn Tâm nhẹ nhàng đứng dậy, thấp giọng thưa:
- Cao gia gặp phải nguy nan, tiểu tỳ nhà tan cửa nát, nay đã là người tứ cố vô thân. Đại nhân đã cứu tiểu tỳ, ân đức ấy tựa như núi cao biển rộng. Huống chi thánh chỉ dễ sửa như vậy sao? Đại nhân có thể làm tới mức này, đã là kết cục mà tiểu tỳ mơ cũng không dám mơ tới rồi. Tiểu tỳ cũng không dám có suy nghĩ dại dột gì nữa, chỉ muốn làm một tiểu tỳ trong Dương phủ. Ba chữ Cao Văn Tâm này, từ nay không nhắc tới nữa cũng được.

Đêm qua lúc Dương Lăng gặp nàng, thiếu nữ này cũng như một nữ tử tầm thường: hốt hoảng, thất thố, kinh hãi, tuyệt vọng. Không ngờ bây giờ vẻ mặt lại trầm tĩnh như nước, lời lẽ tự nhiên phóng khoáng, hoàn toàn khác hẳn với đêm qua.

Dương Lăng nghe nàng nói như thế, trong lòng không khỏi thầm kêu khổ. Trong nhà có một Ngọc Đường Xuân, một Tuyết Lý Mai với thân phận không rõ ràng đã khó xử lắm rồi. Nếu lại thêm một vị nữ thần y nữa vào đây, vậy hậu hoa viên nhà họ Dương thật quá náo nhiệt rồi.

Dương Lăng vội đáp:
- Đây chỉ là một thân phận hờ mà thôi, tiểu thư hà tất để ý. Tôi biết tiểu thư đã hứa gả cho công tử của Lý viên ngoại ở lân thôn. Chút nữa tôi sẽ cử người đi tới thông báo với Lý công tử một tiếng, sớm ngày đón cô về thành hôn

Khóe miệng Cao Văn Tâm lộ ra vẻ như mỉa mai, lại như tự giễu, lạnh nhạt thưa:
- Đại nhân, nhà Lý công tử là dòng dõi thư hương, quan lại thế gia. Y lại đường đường là cử nhân Đại nhân cho rằng y sẽ cưới một đứa con gái phạm quan, một nữ nhân đã từng ở Giáo Phường ty sao?

Nói tới đây, ánh mắt vốn bình tĩnh của nàng đột nhiên nhòa đi, đau đớn nhìn Dương Lăng. Dương Lăng chợt nghẹn lời, né tránh ánh mắt nàng rồi nói:
- Tiểu thư thuộc giới nữ lưu, tai bay vạ gió từ trên trời giáng xuống, sao cô có sức kháng cự đây? Phàm là người có vài phần thiện lương, ai mà nhẫn tâm trách móc nặng nề cô chứ? Như vậy đi, tôi lập tức soạn một phong thư, sai người đưa tới Lý phủ.

Cao Văn Tâm vừa mở miệng, còn chưa kịp nói gì thì Dương Lăng đã xoay người vội vã đi luôn. Cao Văn Tâm ngơ ngác đứng lặng hồi lâu, rồi mới buồn bã thở dài:
- Thế sự ấm lạnh, tình người như sương khói. Văn Tâm đến nông nỗi này đã khổ lắm rồi. Dương đại nhân, tội gì người lại đa sự, khiến ta phải xấu hổ thêm ?

Dương Lăng không nghĩ tới việc cứu người xong còn phải giải quyết một đống chuyện rắc rối. Bây giờ nơi y ở chính là nhà của Cao gia. Dù cho Cao Văn Tâm là tiểu thư hay nha đầu, để ở đây cũng đều không thích hợp lắm.

Kỳ thật trong lòng y cũng thấp thỏm không yên, không biết vị Lý cử nhân kia có quan tâm tới việc Cao gia gặp nạn, có quan tâm tới Cao tiểu tỷ từng bị đưa vào Giáo Phường ty không? Bây giờ y cũng là hết nước đành liều đường, chỉ hy vọng có thể dựa vào thân phận và uy tín của mình, viết một phong thư giải thích những gì đã trải qua, để vị cử nhân lão gia đó tin tưởng mà thôi.

Dương Lăng trở vào thư phòng, viết gấp một phong thư, rồi giao cho lão quản gia, bảo lão lập tức tới Lý phủ một chuyến. Lão quản gia cả đời ở nhà họ Cao, tuy rằng hôm nay Cao gia mắc nạn, nhưng lão vẫn còn rất nhiều cảm tình với chủ cũ, vừa nghe Dương đại nhân muốn tác hợp cho tiểu thư cùng Lý gia, lập tức cầm lấy bức thư phấn khởi chạy tới thôn Lý gia.

Dương Lăng vừa mới sai quản gia đi, Vương Cảnh Long đã đem tứ sắc lễ(3) đăng môn bái phỏng. Dương Lăng thấy lần trước y cố nén giận ôm hận, ra vẻ mềm mỏng xuống nước nhờ vả, tưởng rằng một khi Vương Quỳnh ra tù, vị Vương công tử này cũng sẽ không đến nhà nữa. Không ngờ Vương thượng thư vừa mới được phóng thích, y đã tới tỏ lời cảm ơn.

Vương Cảnh Long có lòng ‘kết giao’, nên không còn vác bộ mặt tức giận nhưng không dám nói ra như lần trước tới nữa. Vẻ mặt và động tác lần này đã tự nhiên hơn nhiều,. Dương Lăng cũng không muốn kết thù với Vương thượng thư vốn có môn sinh bạn cũ khắp thiên hạ, thấy vị Vương tam công tử thập phần nhiệt tình, y cũng không dám thất lễ, bèn vội dâng trà đãi khách. Chuyện trò không vui không nhạt cả buổi, Vương Cảnh Long mới chuyển đề tài, nói rằng muốn đem thê tử đến đây, xin vị nữ thần y nhà họ Dương khám và chữa bệnh cho nàng.

Dương Lăng tưởng rằng y vì nguyên do này mới thay đổi thái độ từ ngạo mạn chuyển sang cung kính, vì vậy thái độ vốn mang theo vài phần đề phòng ban đầu lúc này cũng lập tức được giải trừ.

Y tính toán một chút. Nếu công tử nhà họ Lý đọc xong thư của mình mà chịu tiếp nhận Cao tiểu thư, thì để việc Ấu Nương bị bệnh không bị người ta vạch trần, mình vẫn phải thường xuyên mời Cao tiểu thư tới phủ. Ấu Nương vốn không có bệnh, việc này chỉ là thuận nước giong thuyền, thế nên y không ngại mà lập tức đồng ý luôn với Vương Cảnh Long.

Vương Cảnh Long lại đàm đạo một hồi, thấy hôm nay Dương Lăng tiếp khách, trong phòng chỉ có bốn gã gia nhân hầu hạ, không gọi hai người tỳ nữ xinh đẹp mà lần trước mình gặp ra, biết rằng hôm nay không có duyên được gặp, thế là đành thất vọng cáo từ ra về.

Dương Lăng tiễn Vương Cảnh Long xong, trở lại thư phòng ngồi một chút. Khoảng thời gian hai chén trà sau, lão quản gia đã vội vã chạy về, Dương Lăng trông thấy cả mừng, vội vàng đón lão vào nhà hỏi:
- Lão quản gia, đã đưa thư rồi à? Công tử họ Lý nói sao?

Lão quản gia tức giận đến mặt đỏ bừng bừng, căm phẫn thưa:
- Lão gia, tiểu nhân cầm thư của người chạy tới phủ Lý viên ngoại. Nào ngờ nhà họ Lý cứ như tránh ôn thần ấy, đến cả cửa cũng không cho lão nô vào, chỉ bảo lão nô nhét thư vào khe cửa. Lão nô đợi nửa canh giờ, công tử Lý gia mới viết một phong thư, lại nhét vào khe cửa chuyển ra, từ đầu đến cuối ngay cả mặt cũng không thấy.

Dương Lăng nghe lão quản gia nói xong, lòng không khỏi trầm xuống. Y vội lấy phong thư hồi âm của Lý công tử, mở ra đọc kỹ. Phong thư này là một phong thư theo thể văn ngôn điển hình, lời văn cao siêu, nội dung sâu xa, khiến vị ”tú tài dỏm” đọc bức thư văn nhã tỉa tót của gã cử nhân thật đó vất vả vô cùng.

Dương Lăng xem từng chữ cả một buổi, mới đại khái hiểu được nội dung bức thư. Thư của vị Lý công tử này tuyệt không hề đề cập tới việc nhà họ Cao gặp nạn, cũng không đề cập tới chuyện Cao tiểu thư bị đưa vào Giáo Phường ty. Trong thư, đầu tiên là nói về lễ nghĩa liêm sỉ mà một nữ tử phải tuân thủ, sau đó lại tự hào kể về sự tích làm quan vinh quang chói lọi của nhà họ Lý từ thời Ngũ Đại đến nay. Cuối cùng rất khách khí hỏi một câu rằng: đại nhân muốn cử nhân như ta đây làm phu quân của tỳ nữ nhà ngươi sao?

Dương Lăng xem xong, lập tức nghẹn họng. Trong lúc y đang ngẩn người, Hàn Ấu Nương khấp khởi chạy vào, hỏi:
- Tướng công, sáng nay thiếp làm canh mơ chua hiện đang ướp lạnh dưới giếng, chàng có muốn uống một chén không?

Dương Lăng lau mồi hôi đáp:
- Ừm... Ấu Nương à, lấy cho ta chăn nệm chiếu gối. Đêm nay tướng công sẽ không về hậu viện nữa, mà sẽ ngủ trong thư phòng này.



Chú thích:

(1) “thực lễ” là lễ nghi về ẩm thực. Lễ nghi về ẩm thực là những quy tắc chuẩn mực đạo đức và xã hội trong sinh hoạt ăn uống mà mọi người phải tuân thủ.

(2) “Ngũ lễ” chỉ năm loại lễ chế cổ đại, bao gồm:
1. Cát lễ: lễ cúng bái thiên thần (Hạo Thiên thượng đế), địa chi (Ngũ Đế) và nhân quỷ (tiên vương, tiên đế)
2. Hung lễ: lễ phúng viếng chia sẻ đau thương khốn khó
3. Quân lễ: lễ thao diễn và chinh phạt quân sự
4. Tân lễ: lễ tiếp đãi tân khách
5. Gia lễ: lễ nghi về kết nối quan hệ và tình cảm giữa người với người

(3) Chỉ bốn loại lễ vật, tượng trưng cho bốn mùa, hàm ý chúc phúc cát tường. Bốn loại lễ vật (thường là món ăn) khác biệt tuỳ theo phong tục từng vùng, ví dụ thịt, cá, gà, vịt, rượu, trà, thuốc lá…



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:17 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 96: Kim Tỉnh ở Đế Lăng



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Mechichi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng thấy vẻ mặt kinh hoảng của bọn họ thì trong lòng đã chắc mẩm tới tám chín phần. Y không khỏi cười lạnh:
- Nhị vị đại nhân! Chuyện Kim Tỉnh tươm nước Dương mỗ đã tra rõ ràng rồi, nhân chứng vật chứng đều ở trong tay tại hạ. Nhị vị còn muốn giấu tại hạ tới bao giờ đây?



------------------------

Chương chín mươi sáu Kim Tỉnh ở Đế Lăng

------------------------

Dương Lăng xem xong thư hồi âm của Lý cử nhân, xấu hổ không biết trả lời với Cao tiểu thư thế nào. Suy đi tính lại thấy lúc này mà nói với nàng thì chỉ sợ càng làm cho người ta thương tâm, trước đành gác lại việc này, rồi sau này ậm ờ nói gì cho qua là được. Y cũng không tiện đi đến hậu viện, thế là bèn ngủ tại thư phòng một đêm. Hôm sau trời vừa sáng là đi Thái Lăng luôn.

Cao Văn Tâm lòng như gương sáng*, kỳ thật sớm đã đoán biết kết cục như thế rồi. Cha nàng là người bản địa, cũng là thái y trong cung, ở quê nhà có thanh danh cực lớn. Cao Văn Tâm theo cha hiền từ nhỏ, học được một thân y thuật cao siêu. Những lúc Cao thái y làm việc trong cung mà ở nhà có thôn dân gặp phải bệnh khó trị đến gõ cửa cầu khẩn, vị đại tiểu thư này đã không màng tới thân phận mà ra mặt trị liệu cho họ. Vì vậy danh tiếng cũng vang xa. (*: ý nói lanh trí)

Do tiếp xúc với nhiều người nên Cao tiểu thư cũng nghe nói về vị tướng công mà nàng chưa từng gặp mặt. Nàng cũng hiểu Lý phủ là dòng dõi thi-lễ gia truyền, mấy đời Nho học nên phần nào hiểu rõ tác phong cư xử của vị tướng công này.

Nàng đã bị đày vào Giáo Phường ty thì dù thân thể có còn trong sạch hay không cũng không quan trọng. Cái quan trọng chính là không ai có thể tuyên bố sự trong sạch của nàng cho thiên hạ biết. Lý gia là thân sĩ địa phương có thân phận, sao có thể cưới một đứa con dâu về để người ta bàn ra tán vào? Huống hồ thân phận nàng bây giờ còn là nô lệ, Lý gia sẽ không thể vì nàng mà tự hạ thấp địa vị của mình.

Việc Dương Lăng e ngại không dám trở lại hậu viện gặp nàng càng làm nàng có cảm giác áy náy. Bây giờ Cao Văn Tâm không dám ôm hy vọng xa vời gì với tương lai của mình. Hàn Ấu Nương tuy chiếu cố nàng rất nhiều, đối đãi với nàng như khách, nhưng Cao Văn Tâm vẫn khăng khăng giữ phận tỳ nữ, thi lễ nô tỳ.

Thái Lăng nằm trên ngọn Bút Giá sơn phía tây bắc Trường Lăng. Lúc Dương Lăng mới tiếp chỉ đã tới đây hai lần. Lần này trở lại, thấy La thành với chu vi gần hai trăm trượng đã loáng thoáng có quy mô. Tuy mấy kiến trúc quy hoạch bên trong lăng viên như hương điện, sương phòng, thần trù, phụng tự(1) vẫn chưa được kiến tạo, nhưng Kim Tỉnh và Bảo Sơn thành thì đã được xây lên.

Kim Tỉnh là vị trí trung tâm nhất của lăng mộ, cũng là nơi quan trọng nhất của cả hoàng lăng. Tuy chỉ là phụ trách việc thi công mấy phòng, sẽ không có gì sai sót, song Dương Lăng vẫn sai nhân mã Tả Tiêu Quân do mình trực tiếp quản hạt phụ trách xây dựng tẩm cung Đế lăng. Phụ trách công trình bên trong Thái lăng là Phùng Đường, Đô ty mới của Đệ tam ty. Người này tính tình điềm tĩnh, cũng là người chịu khổ được.

Trên núi, cách khu vực bên ngoài lăng viên không xa, một loạt những căn nhà được cất lên. Đây là chỗ làm việc hàng ngày của quan viên các bộ như Khâm Thiên giám, bộ Công, bộ Lễ, Thần Cơ doanh.

Ở trên lăng, ba người Liên Đắc Lộc, Bành Kế Tổ và Phùng Đường nghe nói tham tướng đại nhân đã tới, bèn tuần tự chạy về bái kiến.

Bành Kế Tổ vừa thấy Dương Lăng liền cười khà khà nói:
- Đại nhân, khoảng tầm tháng nữa ngài quay lại xem thì sẽ xong thôi. Mấy người chúng tôi cũng đang trông chừng đám ranh kia làm việc. Xây đắp lăng tẩm thế nào thì đã có các nha môn khác lo, sẽ không có chuyện gì đâu.

Dương Lăng đáp:
- Ừm, thật cực khổ cho các vị tướng quân rồi. Nhưng Hoàng Thượng phái ta làm nhiệm vụ này, quan viên các bộ đều đang coi giữ trên lăng. Nếu ta cứ lần lữa không đến, sẽ khó tránh khỏi bị người ta chỉ trích. Kỳ thật bản quan cũng thấy người của chúng ta bỏ rất nhiều công sức, chỉ cần bọn quan binh không lười nhác là được. Việc kiến trúc lăng tẩm như thế nào đâu tới lượt mấy binh lính chúng ta can dự vào.

Phùng Đường khẽ cau mày, bộ dáng muốn nói lại thôi nhưng nghe Dương Lăng đáp vậy, cuối cùng không kìm được bèn thưa:
- Đại nhân! Mấy ngày trước đây lúc cơm trưa, từng có huynh đệ báo là Kim Tỉnh trong lăng thấm nước, việc này hạ quan còn chưa bẩm báo cho đại nhân.

Liên Đắc Lộc sờ gương mặt rỗ của mình, phản bác:
- Lão Phùng, ngươi cũng quá cẩn thận rồi. Việc đào lăng mộ sâu như vậy, thấm nước thì có gì là ngạc nhiên. May mà đây là trên núi, bằng không cũng phải đào được vài chục cái giếng rồi ấy chứ.

Mấy vị tướng quân này không có nhiều người biết chữ, phong thuỷ lại càng mù tịt, vốn không ai ý thức được sự nghiêm trọng trong đó. Phùng Đường được đề bạt chưa lâu, bị Liên đô tư châm chọc không khỏi đỏ mặt, vội vàng giải thích:
- Mạt tướng nghe xong cũng tưởng không có gì nghiêm trọng. Nhưng kỳ quái chính là Nghê đại nhân của Khâm Thiên giám và thị lang bộ Lễ nghe tin lại vội vàng dẫn người tới ngay, bộ dạng như gặp đại địch. Mạt tướng thấy vậy lấy làm lạ, định theo vào lăng xem một chút, nhưng bị họ ngăn trở. Nghê đại nhân lấy cớ muốn thăm dò địa lý để đoán cát hung, đuổi hết bảy tám huynh đệ trấn thủ trong đó ra. Hơn một canh giờ sau mới cho phép chúng tôi trở vào địa cung.

Dương Lăng thoáng đổi sắc mặt, nghiêng người chăm chú nhìn gã hỏi:
- Nói tiếp đi, sau đó thì thế nào?

Hai người Liên, Bành thấy vẻ mặt y hơi nghiêm trọng, cũng không dám nói đùa, chỉ nhìn Phùng Đường. Phùng Đường đáp:
- Lúc hạ quan trở về thì nhận thấy trên miệng giếng không hề có nước suối tràn ra. Sau đó, Đới công công và Lý thị lang của bộ Công nghe tin cũng chạy tới. Vừa đúng lúc nghe được một tên thập trưởng nói với người khác về việc phát hiện Kim Tỉnh tràn nước, Đới công công giận tím mặt, giật lấy roi da đánh mắng hắn một trận, rồi không cho bất luận kẻ nào đặt điều kiếm chuyện nữa. Mạt tướng thấy bọn họ cẩn thận như vậy nên mới cảm thấy nghi ngờ.

Dương Lăng chậm rãi đi lại trong phòng vài bước, rồi trầm ngâm:
- Lăng mộ là nơi bài trí và đặt quan tài tiên đế. Nếu lăng mộ bị thấm nước, đích thực là một chuyện lớn. Nhưng ... khai quật địa cung sâu như vậy, vẫn chưa từng thấy có chuyện thấm nước mà. Không phải chung quanh lăng mộ cũng dùng đất sét, bùn đặc và đá xây thành bức tường dày tới mười hai mét để chống thấm nước sao? Lần trước ta tới còn thấy Lý thị lang tự mình lắp tên bắn lớp đầm nén để kiểm tra xem tường đất có chắc không, có thể thấy được việc thấm nước khi đào lăng mộ là chuyện bình thường. Tại sao khi Kim Tỉnh thấm nước lại khẩn trương như vậy?

Y suy nghĩ hồi lâu mà vẫn chưa nắm được mấu chốt, bèn đưa mắt nhìn Dương Nhất Thanh. Dương Nhất Thanh cũng lắc đầu nhè nhẹ:
- Đại nhân! Các vị đại nhân đều là tướng quân lãnh binh chiến đấu, những chuyện xem phong thuỷ đất cát này chúng tôi không hiểu đâu. Có điều... Khâm Thiên giám và thị lang đại nhân bộ Lễ đó nhất định biết, sao đại nhân không thử hỏi họ xem?

Liên Đắc Lộc cười khẩy:
- Tiểu Dương, ngươi không thấy các vị đại nhân đó rất ghét binh lính chúng ta à? Đến cả tham tướng đại nhân mà bọn họ còn không thèm để ý tới. Nếu bọn họ chủ tâm muốn giấu, ngươi hỏi ra được ư?

Dương Nhất Thanh mỉm cười, chỉ nhìn sang Dương Lăng. Dương Lăng hiểu ý cười ha ha:
- Không nói sao? Không nói thì ta tự mình đi xem. Đi, Nhất Thanh sai người mang theo hương án, bản quan muốn tế địa lăng, sau đó vào trong xem một chút.

Dương Lăng đến Thái Lăng, long trọng đốt hương kính lăng, giương cờ gióng trống tế bái một phen. Sau đó lệnh cho tất cả lính canh trong địa lăng lui ra, rồi mới dẫn ba vị quan đô ty vào lăng mộ thăm dò. Y cố tình làm cho đình đám, sớm đã đánh động người của những nha môn khác chạy về bẩm báo với đại nhân mình.

Kim Tỉnh của địa cung chính là long huyệt của hoàng lăng. Do đó một khi đào xong, sẽ không phải ai cũng có thể tuỳ ý chạm vào. Kim Tỉnh kỳ thật chỉ là một cái hố đường kính nửa thước (tàu), sâu chừng một mét. Ngay khi được đào xong, bên trên liền cất mái che để chắn ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và các vì sao.

Hơn nữa phần đất lấy ra khi đào mộ huyệt được gọi là ‘cát thổ’ (đất lành), phải trình lên cho hoàng đế ngự lãm, sau đó bảo quản tại đại sảnh của bộ Lễ. Đợi sau này khi an táng Hoàng Thượng, sẽ được lấp cùng với những kỳ trân dị bảo khác nhằm cầu mong lăng mộ yên bình, thổ nhưỡng tốt lành. Bởi vậy có thể thấy được tầm quan trọng của nó.

Do đó nơi Kim Tỉnh này, trên lý thuyết thì chỉ có năm vị đại thần phụng chỉ mới có tư cách vào xem. Dương Lăng dâng hương, rửa tay xong, lúc này mới đi tới địa cung. Bên trên địa cung đã được đậy nắp, nhưng vẫn chưa đắp đất. Những cột điện và bệ đá to lớn bên trong lăng mộ đã bố trí xong được bảy phần, ngay giữa bệ đá nơi đặt quan tài chính là Kim Tỉnh, nơi kết nối âm dương, trao đổi linh khí.

Dương Lăng đi tới bên cạnh Kim Tỉnh, đưa tay sờ thành giếng. Mặc dù hơi man mát nhưng lại không giống như bị nước thấm, không khỏi giật mình. Phùng Đường vội thưa:
- Đại nhân, mạt tướng từng hỏi tay thập trưởng đó, nhưng hắn một mực khẳng định đã từng tận mắt nhìn thấy Kim Tỉnh phun nước. Hơn nữa lúc đó mấy huynh đệ trong địa cung cũng đều nói như vậy, chắc không phải đều nhìn nhầm cả đâu?

Dương Lăng ngẫm nghĩ một lát, nâng tảng đá chui hơn nửa người vào trong dò xét. Lần mò dưới đáy hố một hồi, cảm giác dưới đáy rất là khô ráo. Tuy nhiên miếng đất hình tròn ở chính giữa Kim Tỉnh đáng lý phải lồi lên, thì lúc này lại có vẻ như bị lõm vào. Hơn nữa hơi nhám tay, dường như đã bị thứ gì đó chọc vào.

Dương Lăng sờ soạng một hồi, rồi đứng dậy soi đèn nhìn. Bụi đất trên tay rất khô ráo, nhưng lại có dạng bột vụn, không giống loại đất nện gốc dưới đáy động. Trong lòng y bất giác dấy lên lòng nghi ngờ.

Dương Lăng mang trong lòng trăm mối nghi ngờ trở về chỗ ở của mình. Vừa mới ngồi xuống đã thấy Nghê Khiêm của Khâm Thiên giám và thị lang Lý Đạc của bộ Lễ vội vàng chạy tới. Vừa vào cửa Nghê Khiêm đã cười nói với vẻ không được tự nhiên lắm:
- Dương đại nhân vừa mới trở về đã đến địa cung xem xét ngay rồi à? Dương đại nhân từ trong kinh tới đây, không biết Hoàng Thượng có ý chỉ gì về việc kiến tạo Đế Lăng không?

Dương Lăng đứng dậy cười đáp:
- Ra là Nghê đại nhân, Lý đại nhân, xin mời ngồi. Hoàng Thượng hết sức quan tâm tới Đế Lăng, lo lắng quan binh lười biếng, dây dưa lỡ công việc, do đó sai bản quan trở về lăng đốc thúc quan binh. Bản quan vừa mới đi tế bái lăng tẩm tiên đế xong, đang định đi gặp các vị đại nhân, không ngờ hai vị đại nhân đã đến trước rồi.

Nghê Khiêm đã sai Đới công công lôi kéo thị lang Lý Kiệt của bộ Công tính toán chi phí công trình, cố quấn lấy hắn, còn mình thì vội vàng tới đây, muốn xem Dương Lăng có biết gì về tin tức địa cung thấm nước hai ngày trước hay chưa, khi nghe thấy vậy thì gượng cười:
- Công trình tiến triển thông thuận, cũng không có gì không ổn, Dương đại nhân không cần phải lo lắng.

Dương Lăng cười nhạt:
- Bản quan chỉ phụ trách an nguy Đế Lăng, đốc thúc quan binh thi công theo đúng qui định, nói thẳng ra thì không có gì phải lo lắng. Huống hồ một kẻ tay ngang như bản quan đây cho dù có muốn lo cũng chẳng lo được gì. Nhưng mà... sao bản quan nghe nói hai ngày trước Kim Tỉnh ở địa cung phun nước?

Cả người Nghê Khiêm thoáng run rẩy, lão cười gượng gạo trả lời:
- Đó chỉ do một tên thập trưởng trộm uống rượu say nên nhìn nhầm mà thôi. Những quan binh khác cũng chỉ nghe rồi đồn bậy theo, thực không đáng tin đâu!
- Vậy sao?
Dương Lăng nhìn chằm chằm vào lão:
- Bản quan nghe nói mấy vị đại nhân đã xem xét rồi, vốn cũng không tin những lời của hắn. Nhưng bản quan vừa mới tự mình đi xem. Ở đáy giếng quả nhiên rất là ẩm thấp, bùn lầy, giống như là có nước thấm ra đó.

Thị lang bộ Lễ Lý Đạc vừa nghe xong, sắc mặt liền tái nhợt, thầm nghĩ: “Suối nước đó đã được những thanh gỗ bịt rồi, lại dùng tới ba lớp đất nện nén lại rất chắc chắn mà, sao lại rỉ nước ra? Mình phải tìm cơ hội bế kín lại mới được. Nhưng Dương Lăng vừa là một trong năm đại thần có tên trong thánh chỉ, vừa là người tâm phúc trước mặt Hoàng Thượng, mình tuy có chức quan cao hơn y, sợ cũng không đuổi y được. Có y ở đây, mình làm sao động tay động chân được đây?”

Nghê Khiêm cũng sợ hãi, vội vàng thưa:
- Dưới lòng đất âm u ẩm ướt, bùn lầy cũng là việc bình thường. Chúng tôi thật sự đã xem kỹ, quả thực chưa từng thấy ... chảy nước...
Nói tới đây lão không nén được sợ hãi, giọng bắt đầu run rẩy.

Dương Lăng cười lớn:
- Không có chuyện gì thì tốt rồi. Có điều đã có lời đồn, việc này không thể qua loa được. Bản quan phải đem việc này bẩm báo với Hoàng Thượng, xin Hoàng Thượng phái cao nhân tinh thông phong thuỷ địa lý trở lại để xem rõ ngọn ngành, để bọn họ thấy là không sao. Mai sau nếu có việc gì thì cũng sẽ không can hệ gì đến chúng ta.

Hai người Nghê Khiêm nghe xong liền đồng thanh thốt lên:
- Vạn lần không thể!

Nghê Khiêm bước lên giữ chặt tay Dương Lăng lo sợ thưa:
- Xây lăng là đại sự, sao có thể chỉ vì nghe tin đồn võ đoán mà kinh động tới thiên tử, xin Dương đại nhân đừng lỗ mãng!

Dương Lăng thấy vẻ mặt kinh hoảng của bọn họ thì trong lòng đã chắc mẩm tới tám chín phần. Y không khỏi cười lạnh:
- Nhị vị đại nhân! Chuyện Kim Tỉnh tươm nước Dương mỗ đã tra rõ ràng rồi, nhân chứng vật chứng đều ở trong tay tại hạ. Nhị vị còn muốn giấu tại hạ tới bao giờ đây?

Hai người Nghê Khiêm liền giật nẩy mình. Trên trán Lý Đạc mồ hôi chảy xuống ròng ròng, sắc mặt vàng ệch, nhìn cực kỳ khó coi. Khâm Thiên giám Nghê Khiêm hai đầu gối rung lên bần bật, run rẩy hồi lâu rồi đột nhiên quì sụp xuống đất, hoảng sợ:
- Dương đại nhân! Chúng tôi cũng không còn cách nào khác mới phải làm hạ sách này, xin Dương đại nhân hãy cứu chúng tôi!

Dương Lăng đưa mắt ra hiệu với Dương Nhất Thanh. Dương Nhất Thanh hiểu ý lui ra ngoài, lặng lẽ đóng cửa phòng lại. Dương Lăng lúc này mới bước lên đỡ Nghê Khiêm dậy, nguôi giận mỉm cười nói:
- Đại nhân hà tất phải làm như thế. Có điều tình hình cụ thể bên trong như thế nào, vẫn mong đại nhân nói rõ ngọn ngành cho tại hạ nghe. Dương mỗ phải nghe hết rõ ràng, phải nắm rõ thì mới có thể quyết định làm gì!


* * *

Vương Cảnh Long ngồi trong thư phòng của Dương Lăng, tay cầm chén trà, trông như lão tăng nhập định.

Nơi này vốn là thư phòng của thái y Cao Đình Hòa. Trên tường không tranh không chữ. Nơi giá sách chỉ có mấy quyển sách thuốc (y thư), căn bản không có thứ gì để tiêu khiển.

Bảy ngày nay hắn đã tới Dương phủ bốn lần. Ngoại trừ lần đầu tiên Dương phu nhân nhờ thị nữ đỡ thân thể ốm yếu của mình ra gặp hắn và thê tử Trương Thị một lần, bắt chuyện vài câu rồi quay vào nhà trong, những lần sau đến nhà đều là do lão quản gia đang đứng chầu chực ở cửa kia mang theo hai gia nhân tới hầu hạ hắn.

Ban đầu Vương Cảnh Long cũng còn khách khí bắt chuyện với lão, nói bóng nói gió hòng nghe ngóng tình hình về Dương Lăng. Đáng tiếc những gì mà vị lão quản gia này biết về Dương đại nhân chẳng nhiều hơn hắn là bao. Do đó hắn cũng chẳng moi được gì từ miệng của lão bộc này.

Vị lão quản gia này hỏi một câu thì đáp một câu, không hỏi thì chỉ đứng yên đó, cả ngày cũng không nói một tiếng. Có khi Vương Cảnh Long ngồi đó chán quá, muốn đi lại trong phòng khách một chút, lão quản gia cũng bắt chước đi theo nửa bước không rời, khiến cho hắn hết đường xoay sở, căn bản không tìm thấy cơ hội xuống tay để gieo tang chứng.

Có điều phu nhân Trương thị của hắn vì nhiễm phải bệnh bạch đới nên ốm yếu, quanh năm nằm liệt trên giường. Bệnh này lại không tiện mời lang trung tới khám chữa kỹ cho nên càng ngày càng nặng. Từ lúc hắn tới Dương Phủ mời Cao tiểu thư chẩn đoán và trị bệnh, không ngờ lại hiệu quả. Đây cũng xem như là ”mất cái này được cái kia”(2). Vương Cảnh Long bèn dùng kế không thành, tạm thời đưa thê tử tới chữa bệnh luôn.

Chỉ là hắn mỗi ngày tới đều ngồi như ngồi thiền, thật sự rất nhàm chán. Hai người tỳ nữ xinh đẹp tuyệt sắc khiến cho người ta động tâm nọ lại chẳng hề xuất hiện cho hắn gặp một lần. Hắn vẫn cho là hai nữ tử đó là tỳ nữ trong Dương phủ, thường ngày lo liệu những việc lặt vặt trong nhà, hắn ngồi đây thể nào cũng sẽ có cơ hội gặp mặt. Không ngờ đến mấy lần mà vẫn không gặp được người. Vương tam công tử tựa như bị bệnh tương tư càng thêm nhớ nhung khuôn mặt tuyệt đẹp và tư thái phong lưu của hai mỹ tỳ ấy, cho nên người thì ở thư phòng mà trái tim đã bay tới tận hậu hoa viên nhà người ta rồi.

Vương Cảnh Long đặt chén trà xuống, xem canh giờ thấy chắc phu nhân đã châm cứu xong rồi, không khỏi thầm thở dài. Đang lúc thất vọng, đột nhiên có một loạt những tiếng bước chân vang lên, sau đó lão quản gia đang đứng ngoài cửa chợt cung kính thưa:
- Hai vị cô nương sao lại tới tiền viện vậy?
Chỉ nghe một giọng thiếu nữ trong trẻo êm tai cất lên:
- Văn Tâm tỷ tỷ hôm nay cần dùng Mai Hoa châm. Châm này đang để ở trong thư phòng, con tới lấy cho tỷ ấy.

Theo tiếng nói, hai thiếu nữ mặc đồ xanh, khuôn mặt trắng nõn thanh tú thoát trần nhanh nhẹn xuất hiện ở trước cửa thư phòng. Vương Cảnh Long vừa thấy hai người thiếu nữ xinh đẹp đó chính là đôi giai nhân mà hắn ngày đêm mong nhớ, không khỏi ngạc nhiên đứng dậy, mừng rỡ nói:
- Thì ra là hai vị cô nương .

Từ khi tiểu thư nhà họ Cao trở về, trong nhà từ trên xuống dưới không ai xem nàng là nô lệ cả. Nhưng vị Cao tiểu thư này thủy chung vẫn dùng lễ nữ tỳ mà đối đãi với Ấu Nương. Hai người Ngọc Đường Xuân vốn rất thông minh, lập tức cũng học theo cách. Chỉ là kiểu trang phục màu xanh với khuôn mặt không trang điểm này càng làm cho vẻ mỹ lệ của thiếu nữ đôi tám thêm bắt mắt, khiến cho Vương Cảnh Long nhất thời nhìn mà không thể dời ánh mắt đi.

Ngọc Đường Xuân vốn cảm thấy vị Vương công tử này là người tô vàng nạm ngọc, chỉ có mẽ ngoài. Nhưng nhiều ngày qua thấy hắn tự mình đi cùng với vợ đến cầu thầy trị bệnh, cảm thấy gã thư sinh này mặc dù tính tình hào nhoáng không thật, nhưng cũng rất chân tình với phu nhân, nên cái nhìn về hắn không khỏi có sự thay đổi lớn.

Nàng nhớ lần trước mình dùng thân phận tỳ nữ gặp Vương công tử, lúc này thấy Vương Cảnh Long đứng dậy chào, vội nghiêng người thi lễ, cười tươi thưa:
- Vương công tử! Tiểu tỳ là thân phận nô bộc, không nhận nổi lễ của quý nhân như công tử đâu. Hôm nay Văn Tâm tỷ tỷ muốn dùng châm Mai Hoa châm cứu cho tôn phu nhân thêm một lần. Tiểu tỳ lấy châm xong là đi ngay, xin công tử đợi chút nữa.

Dung mạo Ngọc Đường Xuân còn đẹp hơn Tuyết Lý Mai ba phần, áo xanh da trắng tôn lên vẻ đẹp như ngọc, nụ cười rực rỡ như hoa xuân, khiến Vương Cảnh Long trông thấy mà rạo rực trong lòng. Bất giác hắn vừa đi theo nàng đến bên cạnh giá sách vừa ghé sát người nói:
- Được được, làm phiền cô nương, đa tạ cô nương. Cô nương lan tâm huệ chất, khí chất cao nhã, Vương mỗ nào dám đối đãi như tỳ nữ. Một lễ đó là điều nên làm.

Ngọc Đường Xuân đi đến trước quầy sách, nhón chân lấy hộp châm đặt ở trên cao. Nghe thấy Vương Cảnh Long khen nàng không giống tỳ nữ, trong lòng vui mừng, không khỏi mỉm cười:
- Hi, Vương công tử nhân phẩm xuất chúng, tài hoa hơn người, là đại tài tử nổi danh khắp kinh sư. Tiểu tỳ thường nghe đại nhân nhắc tới công tử, có thể được công tử khích lệ, tiểu tỳ rất lấy làm vinh hạnh.

Tuyết Lý Mai đứng sau lưng hai người, nghe hai người tâng bốc nhau, không khỏi làm mặt quỉ với Ngọc Đường Xuân, rồi làm ra vẻ muốn nôn oẹ. Ngọc Đường Xuân thấy động tác của Tuyết Lý Mai, không nhịn được bèn bật cười ‘phì’ một tiếng, rồi lập tức biết mình thất lễ, không khỏi đỏ mặt, vội vàng vái hắn một cái:
- Công tử ngồi chơi, tiểu tỳ đi đây.

Vương Cảnh Long nhìn thấy Ngọc Đường Xuân cười với hắn rồi đỏ mặt, sau đó liền như một đám mây trắng bồng bềnh lướt đi. Hắn tưởng rằng thiếu nữ này đã bị vẻ phong lưu phóng khoáng của mình hấp dẫn, bất giác trong lòng rung động, si ngốc nhìn nhìn theo hai người biến mất khỏi cửa một hồi lâu. Dường như mùi thơm khi nàng lướt qua vẫn còn vương nơi chóp mũi.

Tuyết Lý Mai dắt tay Ngọc Đường Xuân chạy đến hành lang hậu viên mới dừng bước lại rồi cười khanh khách:
- Gớm muốn chết. Lâu rồi không thấy tỷ sử dụng thủ đoạn lừa người. Nhìn bộ dáng Vương công tử thần hồn điên đảo, sao không thấy tỷ khen lão gia như vậy?

Ngọc Đường Xuân cười khúc khích, rồi lườm nàng:
- Lão gia chúng ta mà còn cần được khen sao? Nếu có thể khen được y cũng... cũng... Tỷ mong mà không được nè. Chà! Đại nhân làm quan trong triều, thêm một bằng hữu vẫn tốt hơn là thêm một đối thủ. Nhà Vương thượng thư lại rất có thế lực. Làm vậy không phải vì lão gia chúng ta đó sao?

Tuyết Lý Mai cười:
- Không biết xấu hổ. Lão gia bây giờ không cần tỷ thương đâu. Có phải là muốn để lão gia ở trên lăng về đét yêu tỷ một cái nữa không?
Đoạn nhân lúc Tô Tam không kịp đề phòng, đột nhiên đét vào mông nàng một cái, rồi cười khanh khách chạy đi.



Chú thích:

(1) thần trù: bếp; phụng tự: nơi thờ cúng
(2) nguyên văn “thất chi đông ngung, thu chi tang du”. Đông ngung: phía đông, nơi mặt trời mọc; tang du: hoàng hôn, lúc mặt trời lặn.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:19 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 97: Lê Xích Vào Tù (phần 1)



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Nhất thời Dương Lăng không biết phải làm thế nào cho phải . Y ngẩng đầu nhìn trời, thầm suy tính: “Hoàng đế Hoằng Trị, ông là một vị vua tốt yêu dân như con. Ở trên trời có linh thiêng, ông mong người ta sẽ xây cho mình một ngôi mộ nguy nga tráng lệ, phong thuỷ tốt lành, hay mong ngàn vạn dân chúng có thể được giảm chút thuế khóa hà khắc để sống qua ngày đây?”



------------------------

Chương chín mươi bảy Lê Xích Vào Tù
(Thân mang xiềng xích, chân lê vào tù)
------------------------



Trước tiên Dương Lăng đi dạo lăng mộ một vòng, cố ý đánh động bọn họ, quả nhiên đã lôi kéo được hai vị đại nhân trong lòng có quỷ tới. Lúc này y lại dùng lời lừa gạt, Giám phó Khâm Thiên giám Nghê Khiêm, tả thị lang bộ Lễ Lý Đạc lập tức mặt xanh như tàu lá, quỳ xuống đất liên tục xin tha.

Dương Lăng nghe hai người kể sự thật về việc Kim Tỉnh bị trào nước rồi giải thích rằng theo phong thuỷ đấy là điềm không lành, thì trong lòng âm thầm kinh hãi. Y tuy không tin phong thủy, nhưng lại biết rất rõ trong lòng những người tin phong thủy điều này quan yếu đến dường nào.

Nhớ hồi nhỏ dọn đến nhà mới, việc đầu tiên mà bà nội của y làm là đem treo một cái gương nhỏ ở phía sau cửa sổ, nói là để xua đuổi tà khí ra khỏi phòng. Kết quả là một ông già ở lầu sau thấy vậy rất khó chịu, cho rằng bà y xua đuổi tà khí qua nhà lão. Bà y và ông già đó cãi nhau ầm ĩ mấy lần, hai ông bà già bèn đua nhau treo đủ các loại gương lên cửa sổ. Đại khái về sau trên cửa sổ hai nhà đều chi chít những chiếc gương nhỏ, cũng không biết nhà ai nhiều hơn ai. Bởi vì chuyện này hết sức buồn cười nên Dương Lăng vẫn nhớ kỹ đến tận bây giờ.

Người hiện đại còn mê tín như thế, huống chi người xưa? Đế Lăng lại là nơi chôn cất Tiên đế, nếu Chính Đức biết việc này, chắc chắn không phải chỉ đơn giản là tội bị mắng mỏ trách phạt bình thường đâu, mà là tội chém đầu chứ chẳng chơi.

Nghĩ tới điểm này, Dương Lăng lập tức biến sắc, vung tay nói lớn:
- Nhị vị đại nhân! Chuyện lớn như vậy mà hai vị cũng dám lừa dối Hoàng Thượng sao? Chẳng lẽ các vị không sợ bị diệt tộc tịch biên à? Thứ lỗi, Dương mỗ phải lập tức trở lại kinh thành, bẩm rõ việc này cho Hoàng Thượng, xin Hoàng Thượng hạ chỉ dời lăng.

Nghê Khiêm, Lý Đạc vừa nghe vậy thì hồn phi phách tán. Bọn họ vì nhất thời tham lam mà che giấu việc này, kỳ thật sau khi suy tính thiệt hơn cũng đã hối hận trong lòng rồi. Nhưng việc này đã khiến cho thị lang Lý Kiệt của bộ Công hoài nghi, dù bây giờ họ có thú nhận sự thật, chưa chắc tên Lý Thị Lang muốn lập được công lớn đó sẽ chịu bỏ qua. Nếu lúc đó hắn vẫn dâng sớ tố cáo bọn họ, lại thêm đám ngự sử nói ra nói vào, e rằng cho dù mấy người bọn họ chỉ mong bị phạt cách chức bãi quan cũng sẽ không được.

Hai người nghĩ tới hậu quả tịch biên diệt tộc khủng khiếp, không khỏi liên tục dập đầu, chỉ trong khoảnh khắc trán đã chảy máu ròng ròng. Tuy Dương Lăng không đành lòng nhìn, nhưng cho dù Hoàng Đế Chính Đức có yêu mến và tin tưởng y thế nào đi nữa, hắn cũng sẽ không hạ thủ lưu tình khi nghe nói bọn họ đã lừa gạt việc Đế Lăng như vậy. Y dằn lòng quyết không để ý tới hai người đang khổ sở cầu khẩn mà nhấc chân định đi ra ngoài.

Lý Đạc thấy Dương Lăng không động lòng, lập tức quì lết lên vài bước, ôm lấy đùi y gào khóc nức nở:
- Dương đại nhân đừng đi, Dương đại nhân dừng bước! Bọn tôi nhất thời vì lòng tham mà phạm vào lỗi lớn, dù có chém đầu tịch biên cũng không đáng tiếc, nhưng việc này không phải là việc tốt đối với dân chúng đâu, đại nhân!

 Dương đại nhân! Thu nhập hằng năm của Đại Minh ta chỉ có bốn trăm vạn lượng, ngân lượng bỏ vào xây Thái Lăng từ đầu tới giờ cũng phải tới hai trăm ba mươi vạn lượng rồi. Để hoàn tất toàn bộ công trình, ít nhất phải hao tốn ba trăm tám mươi vạn lượng. Cho dù khi chúng tôi phát hiện Kim tĩnh bị rỉ nước liền lập tức bẩm báo Hoàng Thượng để dời Thiên lăng, thì số bạc đã bỏ ra này cũng không thể thu lại được nữa. Đó chính là hai trăm ba mươi vạn phần lương thực trong cả một năm của dân chúng đó.

 Đại nhân! Lúc này đây Hà Nam Hà Bắc đang gặp lũ lụt liên miên, Cam Túc Thiểm Tây đã chịu phải liên tiếp ba năm hạn hán nặng. Nếu Hoàng Thượng dời lăng, không có bạc dùng, tất phải tăng thuế khóa thật nặng, đến lúc đó chẳng phải ngàn vạn dân chúng đã khổ càng thêm khổ hay sao?

 Đại nhân! Ngài đã từng thấy cha ruột đem đổi con mình với hàng xóm, để người ta làm thịt con thơ của mình ăn cho đỡ đói bao giờ chưa? Ngài có từng gặp cảnh bà lão tuổi bát tuần một ngày ba bữa chỉ có đất sét trắng để ăn, ăn đến bụng trương lên như cái trống rồi chết bao giờ chưa?

 Dương đại nhân! Thánh nhân nói: ”Quân vi khinh. Xã tắc vi trọng(*)”, cho dù đại nhân không để ý tới việc sống chết của hai người chúng tôi, chẳng lẽ ngài lại nhẫn tâm nhìn ngàn vạn oan hồn chết trong tay mình sao? Đại nhân vì tiền đồ bản thân mà bỏ mặc lê dân bá tánh trong thiên hạ hay sao? (*: vua là thứ yếu, xã tắc mới quan trọng)

Dương Lăng nghe xong những lời này thì ngẩn người, bất giác dừng chân. Vừa rồi Khâm Thiên giám Nghê Khiêm dập đầu khẩn cầu, dùng mọi lời lẽ để năn nỉ, thiếu điều đem dâng cả hai mỹ thiếp mà lão vừa nạp cho Dương Lăng, vậy mà Dương Lăng vẫn không mảy may động lòng. Lúc này thấy những lời của Lý Đạc dường như đã làm Dương Lăng chuyển ý, lão không khỏi mừng rỡ bèn cũng vội vàng quì lết tới ôm lấy chân còn lại của Dương Lăng:
- Dương đại nhân! Xây dựng địa lăng phải đào rất sâu, rỉ nước là chuyện bình thường. Nếu đổi đến một nơi khác mà vẫn bị thấm nước thì sẽ làm sao? Đến lúc đó dân chúng không kham nổi thuế nặng, nhất định sẽ khổ lắm đó. Đến lúc đó e rằng chỉ vì tòa cung điện dưới lòng đất này mà sẽ... sẽ làm lung lay cả kim loan* đó. (*: ngai vàng)

- Thật ra từ xưa việc Đế Lăng bị tươm nước cũng từng xảy ra đến bảy tám phần mười. Nếu Nghê mỗ không biết chuyện này thì sao lại biết cách dùng cây gỗ dầm đất để bịt nước chứ? Nơi bị thấm nước được bịt lại thì sẽ không đáng ngại nữa, chỉ đợi linh cữu tiên đế hạ táng, lăng mộ được đóng kín thì sẽ không còn gì nguy hiểm nữa. Vẫn mong đại nhân khai ân, cứu lấy chúng tôi, việc này đối với hai người chúng tôi là ân huệ, mà đối với dân chúng thiên hạ lại là việc thiện, chẳng những chúng tôi cảm kích rơi nước mắt, mà dân chúng trong thiên hạ cũng sẽ đội ơn đại nhân đó.

Sau khi vào kinh, Dương Lăng cũng đã nghe nói về thu nhập hằng năm của vương triều Đại Minh, vừa nghe nói Đế Lăng hao tốn tiền thuế của cả nước trong một năm, y không khỏi do dự.

Nhớ lúc còn làm sư gia ở Kê Minh, y cũng nghe nói rất nhiều người dân có gia cảnh bần cùng khốn khổ, nợ thuế nhiều năm. Nơi đó tuy chiến loạn liên miên nhưng ít thiên tai hơn nên cũng không phải là địa phương nghèo khổ nhất. Còn những nơi mà Lý Đạc vừa nêu còn khổ hơn cả Kê Minh, mình thật sự sẽ vì xây một phần mộ cho người chết mà đẩy ngàn vạn người dân vào nơi dầu sôi lửa bỏng sao?

Nhất thời Dương Lăng không biết phải làm thế nào cho phải . Y ngẩng đầu nhìn trời, thầm suy tính: “Hoàng đế Hoằng Trị, ông là một vị vua tốt yêu dân như con. Ở trên trời có linh thiêng, ông mong người ta sẽ xây cho mình một ngôi mộ nguy nga tráng lệ, phong thuỷ tốt lành, hay mong ngàn vạn dân chúng có thể được giảm chút thuế khóa hà khắc để sống qua ngày đây?”

Chao ôi! Dương Lăng trầm tư thật lâu, lòng như nghe thấy được những tiếng kêu than dậy trời khắp đất của người dân. Dân chúng đang cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm, nếu đem việc này bẩm báo với Hoàng Thượng, không cần nghi ngờ gì nữa , chắc chắn mấy vị đại thần này đều sẽ bị chém đầu, còn y nhất định sẽ lập được công to, thăng quan tiến chức.

Nhưng đến khi triều đình tăng thuế khóa, dân chúng trong thiên hạ sẽ phản ứng ra sao? Hơn một năm nữa là mình sẽ nhắm mắt xuôi tay rồi, há chẳng phải Ấu Nương ở lại trên đời sẽ phải thay mình nhận những lời thoá mạ của dân chúng ư?

Dương Lăng cắn răng xoay người, chằm chằm nhìn Nghê Khiêm gạn hỏi:
- Nghê đại nhân! Lúc tại hạ xuống xem Kim Tỉnh, dùng ngón tay có thể rờ thấy ván gỗ. Nếu dùng đèn soi, sẽ lập tức phát hiện được ngay. Để bịt kín Kim Tỉnh không cho thấm nước ra cũng chỉ có cách dùng cọc gỗ trát vôi vữa này thôi sao?

Nghê Khiêm và Lý Đạc nghe ngữ khí Dương Lăng mềm mỏng thì không khỏi mừng rỡ như điên. Nghê Khiêm ngẫm nghĩ cẩn thận một lát rồi mới đáp:
- Đương nhiên cách không chỉ có một, nhưng đó là cách nhanh nhất. Ngày ấy hạ quan sợ để người ta biết, cuống quá nên mới tòng quyền mà dùng đến cách này. Ý của đại nhân là...?

Dương Lăng lắc đầu nói:
- Chính giữa chèn bằng cọc gỗ, lâu ngày cũng sẽ mục nát, nước ngầm vẫn sẽ trào ra, đến lúc đó cho dù đã giấu được Hoàng Thượng thì tại hạ cũng không yên tâm. Đại nhân có cách gì có thể làm như tự nhiên, để người ta nhìn không thấy sơ hở, đồng thời cũng có thể hoàn toàn bịt kín những chỗ thấm nước đó không?

Nghê Khiêm mừng rỡ ra mặt, cảm kích:
- Đa tạ đại nhân cứu mạng! Chỉ cần đại nhân tương trợ tại hạ, tại hạ vẫn còn vài cách khác ổn thỏa hơn. Chỉ cần nhét thêm đá vụn vào chỗ bị rò rỉ, dùng đất đầm kỹ, rồi lấy đất sét trộn với nước gạo theo một tỷ lệ nhất định đổ vào thì sẽ bảo đảm không phải lo nữa. Hơn nữa trông rất tự nhiên, trừ phi cố tình đào ra khám đất, nếu không cho dù là thần tiên cũng nhìn không ra sơ hở. Chỉ có điều cách này hơi tốn thời gian.

Dương Lăng gật đầu bảo:
- Được! Vì dân chúng trong thiên hạ, tại hạ tin rằng Hoàng Đế dưới suối vàng có linh thiêng cũng sẽ tán thành tại hạ làm như vậy. Hôm nay tại hạ sẽ tìm cớ điều quan binh thủ vệ ở Tả Điện Kim Tỉnh dời đi, để đại nhân tự mình động thủ rút mấy cọc gỗ ra rồi bịt kín lại. Thời gian ba ngày có đủ không?

Nghê Khiêm mừng quýnh, luôn miệng đáp:
- Đủ, đủ! Thời gian như vậy là đủ rồi, tại hạ chỉ cần hai ngày là có thể làm kín như bưng ngay!


* * *

Bây giờ đã qua tám ngày. Dương Lăng đang lặng lẽ đi tuần bên trong toà cung điện ngầm đồ sộ không gì sánh nổi này. Đưa mắt nhìn qua đã thoáng thấy đại khái hình dạng kiến trúc bên trong của địa cung. Cả tòa địa cung đồ sộ không dùng cột trụ chống đỡ, chỉ toàn dùng vòm cung. Năm cung điện hoa mỹ chia làm Tiền, Trung, Hậu, Tả, Hữu đều chỉ dùng đá ròng mà xây nên, trông rất nguy nga tráng lệ.

Công trình khổng lồ như vậy, cho dù đặt vào thời hiện đại cũng hao tốn rất nhiều tài lực, huống hồ thời đó năng lực sản xuất rất thấp. Chỉ riêng việc đào đá, mài bóng, rồi vận chuyển những khối đá lớn vuông vức từ xa xôi ngàn dặm đến đây, phí tổn của nó cũng đã làm cho người ta nghẹn họng rồi. Xem ra quyết định của mình rất chính xác, thay vì lãng phí mấy trăm vạn lượng bạc vào đây, chi bằng làm chút gì đó tốt đẹp cho dân chúng.

Dương Lăng dừng lại ở Tả Điện, nền cung điện nơi đây được tạo nên bởi một quy trình công nghệ cực kỳ phức tạp. Thợ thủ công bình thường khó có thể chế những thứ ‘gạch lát’ như vậy được. Từng khối từng khối gạch lát vuông vức như những tấm gương phẳng lì. Phía cuối nền đá đá rộng rãi vuông vức là một chiếc hòm đá nạm cẩm thạch ở chung quanh, ở giữa chính là Kim Tỉnh.

Nhìn Kim Tỉnh, Dương Lăng không khỏi khẽ thở phào nhẹ nhõm. Nghê Khiêm quả là người khéo tay, lúc lão vừa bịt kín xong Dương Lăng đã kiểm tra ngay. Sau khi rút những cây cọc gỗ dùng để bít chỗ rò rỉ ở dưới hố ra, dùng đất đá trộn với nước gạo lấp lại, thì bên trong không còn rỉ nước ra nữa. Bây giờ trừ phi đào đất ra xét nghiệm, bằng không chỉ dựa vào hai tay sờ thì không thể nhận thấy bất kỳ chút sơ hở nào.

Vị thị lang bộ Công Lý Kiệt thường xuyên lấy cớ kiểm tra công trình muốn vào địa cung, song luôn bị nhóm Nghê Khiêm lấy cớ cản trở, hoặc đi cùng hắn vào lăng khiến cho hắn khó có thể kiểm tra kỹ lưỡng được. Nhưng nếu cứ che giấu như vậy sẽ khó tránh việc khiến người ta nảy tâm nghi ngờ. Do đó sau khi Nghê Khiêm bịt kín Kim Tỉnh xong, Dương Lăng liền cố ý để hắn vào lăng mộ một mình.

Dương Lăng âm thầm quan sát, thấy hắn quả nhiên không nhìn ra sơ hở gì, mấy ngày nay số lần đến lăng cũng thưa thớt dần, lúc này y mới dần bớt hồi hộp, bất an.

Đi vòng quanh lăng một hồi, y đang định xoay người đi ra thi đột nhiên Dương Nhất Thanh vội vã đi vào, thần sắc vô cùng lo lắng báo với y:
- Đại nhân, trong Thần Cơ doanh có người mất tích rồi.

Dương Lăng giật mình, hỏi ngay:
- Mất tích? Có phải là mấy tên lính địa phương không tuân quân kỷ lén trốn xuống núi không? Ở đây thì sao có thể mất tích được chứ?

Dương Nhất Thanh lắc đầu đáp:
- Bốn bề nơi đây không một bóng người, binh lính chẳng lẻn xuống núi làm gì đâu! Hơn nữa người mất tích... chính là tên thập trưởng Lục Ân Lỗ mà mấy ngày trước nói đã nhìn thấy Kim Tỉnh rỉ nước đó.

Dương Lăng nghe mà tim muốn nhảy khỏi lồng ngực, y vội vàng hạ lệnh:
- Lập tức phái người đi tìm, bằng mọi giá phải tìm được hắn, sống phải thấy người, chết phải thấy xác!

Dương Nhất Thanh gật đầu đáp:
- Dạ! Ty chức đã sai người đi tìm rồi, đã hỏi rất nhiều người, song sĩ tốt trong quân đã nửa ngày không thấy hắn rồi, mà vừa khéo chính là... sáng sớm hôm nay, Lý Đại nhân của bộ Công đột nhiên hồi kinh. Ty chức đã quan sát dấu chân kiệu phu của Lý Đại nhân, cỗ kiệu đó xem ra khá nặng...

Dương Lăng nghe mà hối hận không thôi “Lý Kiệt mỗi ngày đều lén lén lút lút muốn vào lăng kiểm tra, để mình chỉ mãi chú ý đến Kim Tỉnh này, mà quên béng mất ngoại trừ vật chứng còn có nhân chứng nữa.”

Y vội suy nghĩ một chút rồi nói:
- Lập tức điều hết bảy tên lính trong lăng đã trông thấy việc này ra ngoài, nhập lẫn vào đám quân ở trước lăng, đồng thời mật báo cho quan viên Sở ty giám sát chặt chẽ, nhất định không thể để mất bất kỳ một người nào nữa. Còn về phần tên thập trưởng đó...

Dương Nhất Thanh ngắt lời:
- Đại nhân! Ty chức đã cho người hồi kinh nhờ huynh đệ của Trấn phủ ty bí mật lo xếp việc này.
Đoạn y bước lên trước một bước, nhỏ giọng:
- Đại nhân! Bảy người đó là bảy chứng cứ sống bỏ không được, giấu không xong. Đại nhân thấy có cần.... Dương Nhất Thanh vừa nói vừa chém mạnh tay phải xuống, trên mặt mang một nụ cười lạnh lùng: Trong lăng chỉ có người của chúng ta, đại nhân cứ yên tâm, cam đoan sẽ giải quyết sạch sẽ.

Dương Lăng nghe thế chấn kinh, giật mình nhìn Dương Nhất Thanh. Dương Nhất Thanh cười nhạt, nói:
- Đại nhân! Rắn độc cắn tay, tráng sĩ chặt bỏ. Vô luận là dùng công danh lợi lộc dụ dỗ hay dùng cực hình tra khảo, thì đối với mấy tiên tiểu tốt đó đều là những thứ bọn chúng không vượt qua được. Đại nhân không thể có lòng dạ đàn bà được đâu.

Dương Lăng thấy gã nói rất đúng, nhưng y thật sự khó mà thích ứng với cái luận điệu của chính khách máu lạnh này, nên nhất thời lòng dạ rối bời, cũng không biết nên làm sao mới tốt. Do dự một hồi, thiện ác trong lòng tranh đấu thật lâu, cuối cùng y quyết định dẹp bỏ ý định giết người.

Chán nản thở dài, y cười khổ vỗ vai Dương Nhất Thanh rồi nói:
- Nhất Thanh! Huynh cũng là bộ hạ của ta. Nếu có một ngày huynh uy hiếp tới an nguy của ta, ta phải đối xử với huynh thế nào đây? Thôi đi, nói mà không có chứng cứ, cho dù bọn họ có nói hay tới đâu, cũng chưa hẳn đã có thể chứng minh được điều gì. Huống hồ đã có một tên Lục Ân Lỗ biến mất. Việc này không che giấu được đâu, thôi... đừng nhắc tới nữa.

Dương Nhất Thanh nhìn bóng lưng Dương Lăng rời khỏi, khẽ thở dài một tiếng. Vị đại nhân này cái gì cũng tốt, đáng tiếc làm việc lại không đủ quyết đoán. Thường có câu vô độc bất trượng phu, bớt một nhân chứng là bớt đi một phần nguy hiểm; việc đã tới nước này, phải quyết định thật nhanh thôi

Dương Nhất Thanh sờ cằm, bắt đầu âm thầm suy tính. Gã không phải là Cẩm Y Vệ thế tập, lại không có vận khí như Dương Lăng nên vốn rất khó thăng tiến. Nhưng gã đang là tuỳ tùng của Dương Lăng, mắt thấy y nhỏ tuổi mà tiền đồ đã như gấm, tiền đồ của y chính là tiền đồ của gã. Quan hệ thiệt hơn giữa hai người luôn ràng buộc với nhau, gã sao có thể không suy nghĩ cho Dương Lăng cơ chứ?

Huống hồ Dương Lăng là một vị thượng cấp hiếm có, vừa không chuyên quyền, lại xử sự hòa nhã. Những việc như trình công văn Nam Trấn Phủ ty lên kinh sư, nếu có thể tuỳ nghi hành sự Dương Lăng đều yên tâm giao cho gã làm. Hơn nữa phần lớn những vị quan to ở Cẩm Y Vệ đều dựa vào hai bàn tay đầy máu mà thăng tiến, cả ngày chỉ vắt óc nghĩ tới việc hại người gạt của, quả thực có thể nói thượng cấp như Dương Lăng là của hiếm trong Cẩm Y Vệ. Nếu y bị trị tội, mình đi đâu để kiếm được vị thượng cấp như vậy đây?

Dương Nhất Thanh nghiến răng, lặng lẽ rời khỏi địa cung...


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:20 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 97: Lê Xích Vào Tù (phần 2)



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Đám nha dịch phía sau Ngụy Thân mặc kệ những người quỳ trước mặt đều là quan to nhị phẩm, tam phẩm trong triều, vẫn hùng hổ xông lên. Đới Nghĩa run rẩy báo:
- Nô tài Đới Nghĩa của Ty Lễ Giám!
Vừa dứt lời, tiếng xiềng xích lào xào vang lên, liền theo đó một cái gông to quàng ngay vào cổ lão.

Lý Đạc, Nghê Khiêm, Dương Lăng lần lượt tự báo họ tên, rồi lập tức bị gông xiềng quấn chặt giải lên tù xa, đưa thẳng về kinh thành!



------------------------

Chương chín mươi bảy Lê Xích Vào Tù
(Thân mang xiềng xích, chân lê vào tù)

------------------------



Trên Kim điện, văn võ bá quan đang tụ năm tụ ba rải rác khắp triều, vẻ mặt phẫn uất.

Đã thượng triều gần nửa canh giờ rồi, nội thị vào nội cung thúc giá đã ba lần, ấy vậy mà ngai vàng vẫn trống trơn. Thời vua Hoằng Trị chưa từng xảy ra chuyện này, nhưng tới triều của Chính Đức thì lần này đã là lần thứ tư rồi.

Các quan viên đang to nhỏ thì thầm với nhau chợt một tên tiểu thái giám lật đật từ sau bức bình phong bước ra, kéo dài giọng hô:
- Hoàng Thượng thượng điện, văn võ bá quan tiếp giá!

Văn võ bá quan vừa nghe, không kịp chỉnh lại hàng ngũ, vội vàng quỳ xuống kiến giá. Có người trộm ngẩng đầu nhìn lên, thấy hoàng đế Chính Đức đầu đội mũ Dực Thiên, thân mặc long bào, từ sau bức bình phong đi ra, vừa đi vừa ngửa mặt ngáp dài.

Tiểu hoàng đế bước lên bệ rồng, đặt mông ngồi xuống ngai vàng, mặt mày khó chịu. Y nhìn thoáng qua đám quần thần, lại nhìn ra ngoài cửa điện. Lúc này mới tờ mờ sáng, mặt trời còn chưa ló dạng mà! Chính Đức bực bội díp mắt lại, bảo:
- Các ái khanh bình thân! Có bản tấu gì thì mau trình lên đi!

Ba vị đại học sĩ Nội Các cũng đang rất tức giận. Ban nãy khi bọn họ thúc giục nội thị mời Hoàng Thượng thăng điện, mới nghe nói rằng hôm qua Hoàng Thượng đã phế truất đám người hầu trực ở tẩm cung và văn thư phòng, thế này thì còn ra thể thống gì nữa? Như vậy buổi tối canh mấy Hoàng Thượng đi ngủ, bãi triều xong canh mấy Hoàng Thượng đọc sách cũng sẽ không ai biết, há chẳng phải thiên hạ đại loạn hay sao?

Ba vị đại học sĩ uất ức chuẩn bị can gián thẳng thắn một phen nên Hoàng Đế Chính Đức vừa dứt lời, Tạ Thiên lập tức bước ra khỏi hàng khải tấu. Vị lão thần này quả nhiên không thẹn với cái tên "ngay thẳng", vừa mở lời đã thao thao bất tuyệt:
- Hoàng Thượng! Mấy ngày gần đây Hoàng Thượng thiết triều quá muộn, có khi mặt trời mọc cao mới thượng điện. Đám người thị vệ và phục vụ trong triều đứng lâu mệt mỏi, cũng sẽ không tránh khỏi thất lễ. Hơn nữa quan lại và sứ thần ngoại quốc đến triều cống khi lên triều đều phải chờ đợi rất lâu, chẳng những tinh thần mệt mỏi, mà phí phạm thời gian, bỏ lỡ công việc.
- Nên biết buổi tảo triều (chầu sớm) là việc cao nhất của vua, là bộ mặt của thiên hạ. Người đã làm vua thì thân gắn liền với thiên hạ; nếu ngại tu tỉnh e rằng sẽ kém sút. Nếu vua mà bê trễ ở trên, bầy tôi xao nhãng ở dưới, thì làm sao có thể trị nước được thái bình? Thần nhận trọng thác, đứng giữa lo âu, cũng là vì lo thánh tâm (lòng vua) có điều vướng bận, phòng có gì cơ nhỡ mà liều chết trần tình. Xin bệ hạ nghĩ lại!

Chính Đức nhướng một mắt lên nhìn lão một lúc, rồi đờ đẫn đáp:
- Trẫm biết rồi!

Lưu Kiện thấy Hoàng Đế Chính Đức không hề cho đó là đúng, trong lòng cả giận. Lão lập tức cao giọng bẩm:
- Hoàng Thượng! Từ xưa tới nay, người làm vua nếu siêng năng lo nghĩ thì hưng thịnh, nếu ngạo nghễ ham vui thì thất bại. Nghe nói Hoàng Thượng đã phế truất những người hầu trong tẩm cung và văn thư phòng, thần cho rằng việc này rất không ổn. Cổ ngữ có câu: sa vào chơi bời để yên thân, chìm vào dâm dật để sung sướng, ấy là nguyên nhan chính dẫn đến suy đồi vậy. Hoàng Thượng cần lập tức khôi phục lại quy định cũ, đến tảo triều đúng giờ!

Lưu Kiện nói xong, lùi về phía sau một bước, Lý Đông Dương ở bên tay trái lão lập tức lách mình bước ra. Chính Đức thấy vậy không khỏi cuống lên, y vội vàng phán:
- Trẫm biết rồi, trẫm nhất định sẽ sửa đổi! Ờ... việc này để thương nghị sau đi. Các ái khanh còn có có tấu chương gì khác không?

Từ Quán đưa mắt ra hiệu cho tả thị lang bộ Công Lý Kiệt. Lý Kiệt hiểu ý, lập tức phấn chấn tinh thần ứng thanh bước ra, vận khí từ đan điền cất giọng oang oang tâu:
- Hoàng Thượng! Thần có bản tấu!

Chính Đức như trút được gánh nặng, vội bảo:
- Ái khanh mau nói đi!

Lý Đông Dương thấy vậy, bèn mỉm cười lui trở về.

Lý Kiệt hiên ngang bẩm:
- Hoàng Thượng! Thần phụng chỉ đôn đốc xây dựng lăng tẩm cho tiên đế. Thần cảm thấy trách nhiệm trọng đại, nên vô cùng thận trọng, như bước vào vực sâu, như đi trên băng mỏng, không dám buông lỏng chút nào...

Lý Kiệt nói cả buổi, Chính Đức nghe mà buồn chán, chỉ ờ một tiếng, hoàn toàn chẳng tỏ ý đúng sai gì. Lý Kiệt không thấy Hoàng Đế khen ngợi gì, trong lòng cũng cảm thấy hơi thất vọng đành chuyển sang trọng tâm:
- Trước đây vài ngày thần nghe nói địa khí ở Đế Lăng không ổn, huyệt mộ lạnh lẽo, huyền cung Kim Tỉnh lại trào nước, ấy là điềm chẳng lành vậy. Thế nhưng Khâm Thiên giám Nghê Khiêm, thị lang bộ Lễ Lý Đạc, Ty Lễ Giám Đới Nghĩa và Thần Cơ doanh Dương Lăng chẳng biết có lòng dạ gì mà giấu giếm không báo...

Hắn tấu tới đây, cả triều đình liền nổ tung như có sét đánh giữa trời quang. Bá quan lập tức rì rào sôi nổi. Vụ án này thoáng cái đã một hơi lôi kéo luôn năm nha môn vào, có thể xem là vụ án lớn nhất triều Chính Đức. Một khi điều tra được sự thực là vậy, chẳng biết có bao nhiêu nhân vật quan trọng rơi đầu xuống đất, bọn họ làm sao không sợ hãi cho được?

Ba người Lưu Kiện, Tạ Thiên, Lý Đông Dương cũng kinh ngạc vô cùng, đưa mắt nhìn nhau rồi đều khẽ lắc đầu tỏ ý mình không biết gì. Tạ Thiên liếc qua Lý Kiệt rồi lại dời ánh mắt sang thượng thư bộ Công Từ Quán. Thấy trong mắt Từ Quán thoáng lóe lên vẻ đắc ý, lão lập tức hiểu rõ mọi việc, không khỏi hừ thầm trong lòng.

Lưu Kiện cũng hơi không vui. Lão là người đứng đầu nội các mà gặp việc lớn như vậy, bộ Công không chịu báo trước cho lão biết mà lại vượt cấp tâu thẳng lên Hoàng Đế. Lòng tranh giành ân sủng của Từ Quán đã hiển thị quá rõ ràng rồi.

Bộ Lễ cũng là một trong những nha môn bị liên can, nhưng thần sắc Vương Quỳnh lại thản nhiên, không hề kinh hoảng chút nào. Trước đó Từ Quán đã mật nghị với lão ta, Vương Quỳnh thầm nhận định Hoàng Đế không giữ lễ nghi, bây giờ lại bê trễ triều chính, nhất định là do Dương Lăng và đám nội giám Lưu Cẩn xui khiến mà nên, chính bọn chúng là mối họa lớn của triều đình. Vì vậy vừa nghe chuyện lão liền lập tức quyết định: cho dù có mất Lý Đạc cũng phải hạ cho được Dương Lăng.

Lý Kiệt vừa bẩm xong, lão liền bước ra khỏi hàng quỳ xuống tâu:
- Hoàng Thượng! Mấy vị khâm sai phụng chỉ rất được Hoàng Thượng tin cậy mới được giao cho trọng trách lớn như vậy. Không ngờ bọn họ lại cả gan làm xằng, tội không thể tha! Thần đang là thượng thư bộ Lễ, quan viên thuộc hạ cũng tham dự trong đó, thần cũng có tội không biết nhìn người, quả thật rất hoảng sợ, xin bệ hạ giáng tội.

Từ Quán bước ra tâu:
- Hoàng Thượng! Năm trước khi nền Đế Lăng được kiểm tra, Vương thượng thư đang ở kinh thành lo kỳ thi Hội, dẫu rằng mang tội không biết, song cũng có thể thông cảm được.
Nhưng những đại thần phụng chỉ đôn đốc xây lăng gặp việc lớn tổn hại đến long mạch, thương tổn tới vận mệnh quốc gia mà lại dám khi quân không báo, cần phải lập tức bắt về xét hỏi, xử phạt mức cao nhất của luật pháp, để an ủi vong hồn Tiên đế trên cao.

Vốn Chính Đức nghe nói lăng tẩm phụ hoàng xảy ra sự cố đã vô cùng tức giận, lại nghe nói long mạch hao tổn ảnh hưởng tới vận mệnh quốc gia thì lòng càng thêm bất an. Sự mệt mỏi lập tức tan biến, y tức giận đến nhảy dựng lên, nhưng nghĩ lại cũng thấy hơi nghi ngờ, bèn hỏi lại:
- Việc này là thật ư? Các ngươi có bằng chứng cứ gì không?

Lý Kiệt lập tức đáp như chém đinh chặt sắt:
- Thần có chứng cớ! Lục Ân Lỗ là thập trưởng Thần Cơ doanh phụ trách canh gác lăng mộ, đã từng chính mắt thấy Kim Tỉnh tươm nước. Thần đã mang nhân chứng về kinh rồi!

Chính Đức nghe thế thì nổi giận thật sự, y vỗ ngự án đánh “bộp”, quát to:
- Thật đáng trừng trị! Lập tức áp giải những kẻ có liên can về kinh, giao cho bộ Hình, Đô Sát viện, Đại Lý tự tam ty hội thẩm, nếu điều tra đúng là thật...

Trong lòng y chợt nghĩ đến Dương Lăng, thoáng do dự một chút, rồi lại nghĩ mình tín nhiệm với y như thế, vậy mà cả y cũng làm rối kỉ cương, chỉ vì cầu lợi mà giấu giếm mình, thế là trong lòng vừa thương tâm vừa phẫn nộ, cắn răng phán:
- Nếu thực sự bọn chúng khi quân phạm thượng, chém!



* * *


Từ khi biết thập trưởng Lục Ân Lỗ của Thần Cơ doanh mất tích, không có đêm nào Dương Lăng ngủ được ngon giấc. Y không ngây thơ tới độ cho rằng tên thập trưởng này đã đào ngũ hay bị dã thú ăn thịt. Lý Kiệt đi một ngày một đêm không về, y đã biết được sự việc không ổn rồi.

Việc đã đến nước này, Dương Lăng chỉ đành trông chờ vào tính đặc thù của Kim Tỉnh. Kim Tỉnh theo phong thủy là nơi quan trọng của long mạch, không được tùy tiện động vào, hơn nữa Nghê Khiêm cũng bịt lại rất kín kẽ, trừ phi đào đất khám nghiệm, bằng không sẽ không thể nhìn ra chỗ này từng chảy nước. Cho dù trong triều có nhân chứng, nhưng nếu không có vật chứng thì cũng tuyệt không có cách nào xử trí nhiều đại thần như vậy được.

Nghê Khiêm, Lý Đạc nghe tin tên thập trưởng bị ăn roi nọ mất tích, thị lang bộ Công Lý Kiệt về kinh, lập tức sợ tới cuống lên, sáng sớm đã cùng với Đới Nghĩa hoảng hốt chạy tới tìm Dương Lăng để thương lượng đối sách.

Đới Nghĩa là một trong bốn đại thủ lĩnh của Ty Lễ Giám, là thân tín của thái giám chưởng ấn nội tướng (*)Vương Nhạc, trước nay luôn có giao tình thân thiết với Phạm Đình của Đông Xưởng. Lão thấy mọi người không nghĩ được biện pháp, trong mắt không khỏi lóe tia ác độc, cười gằn:
- Ta sẽ lập tức hồi kinh sai người thủ tiêu tên lính đó, để xem Từ Quán và Lý Kiệt còn có thể giở được trò gì!
(*) nội tướng: ý chỉ thái giám trong cung; chưởng ấn nội tướng: đại thủ lĩnh, quản lý tất cả thái giám trong cung.

Dương Lăng vội can:
- Không được! Nếu thật sự gã thập trưởng đã bị hắn mua chuộc mang đi, tất nhiên hắn sẽ bảo vệ gã nghiêm ngặt. Từ Quán và Lý Kiệt không phải là kẻ ngu dốt, nếu dùng gã làm mồi nhử dụ chúng ta vào bẫy thì làm sao? Không thể làm như vậy được.

Lý Đạc vặn vẹo hai tay, lo lắng hỏi:
- Vậy làm sao bây giờ? Phải làm sao đây? Chúng ta cứ ngồi chờ chết à?

Dương Lăng thầm nghĩ: “Nếu như tất cả mọi người đã mê tín phong thủy, bây giờ cũng chỉ còn cách dùng phong thủy đối phó với phong thủy thôi.” Y đang định hỏi Khâm Thiên giám Nghê Khiêm thử dùng vài phương pháp phong thủy được hay không thì đột nhiên cửa chính bị người đẩy đánh “rầm”, Bành Kế Tổ nhớn nhác xông vào, cất giọng ồm ồm kêu lên:
- Đại nhân! Đã xảy ra chuyện rồi. Cái cây cầu bạch ngọc sau Nhất Tự môn đột nhiên sụp xuống, đất hai bên cũng sụp đổ một mảng lớn. Toàn bộ mười mấy huynh đệ được điều đi đào sông ở đấy đều bị chôn sống bên dưới rồi.

- Cái gì?
Dương Lăng kinh hãi đứng bật dậy, rồi lập tức nghĩ đến bảy tên lính hôm qua bị điều ra khỏi địa cung chính là được sai đi tới dưới cây cầu để đào đất. "Sao lại trùng hợp như vậy, bọn họ vừa tới nơi liền xảy ra chuyện rồi?"

Sinh nghi, Dương Lăng lập tức quay đầu nhìn Dương Nhất Thanh. Vừa gặp ánh mắt y, Dương Nhất Thanh lập tức thoáng đưa mắt tránh đi, vẻ mặt hơi mất tự nhiên. Dương Lăng giật mình, đoán là gã đã ra tay. Y biết Dương Nhất Thanh muốn tốt cho mình, nhưng hành động này chẳng những làm hại tính mạng của bảy sĩ binh vô tội kia, mà còn liên lụy tới những người khác. Nhất thời Dương Lăng cũng không biết trong lòng mình đang có cảm giác gì.

Y hiểu ví bằng y đủ cương quyết, đủ vô tình, muốn hòng tiếp tục lăn lộn thành công trên quan trường thì y phải học cách quyết đoán kịp thời, phải luôn đặt lợi ích lên hàng đầu. Cần trừ khử người nào thì phải lập tức trừ khử ngay không chút đắn đo, phải đá văng hết những chướng ngại vật trên đường. Nhưng trên phương diện tình cảm, y thật sự không tiếp thụ nổi việc mình trở thành một tên chính khách máu lạnh.

Dương Lăng giậm chân, đành phải nói với Bành Kế Tổ:
- Đi! Mau tới trước lăng nhìn xem, tổ chức người tới cứu giúp!

Y vừa mới dẫn đám người liên can lao ra khỏi cửa phòng thì đã thấy mấy chục tên nha dịch bộ Hình, áo gai mũ đỏ đao giắt bên hông đang chạy tới. Trong nhóm có người cất cao giọng quát:
- Thánh chỉ tới! Những quan viên liên can tới việc đôn đốc kiến tạo Đế Lăng quỳ xuống tiếp thánh chỉ!

Bọn Dương Lăng nghe thấy cả kinh, lập tức đồng loạt quỳ xuống đánh xoạt. Đám nha dịch nọ chợt tách ra, một ông lão khôi ngô mặt đỏ sậm, râu hoa râm, tay áo bay phần phật bước nhanh lên phía trước. Chân vừa trụ vững, lão lập tức giở thánh chỉ ra, dùng khẩu âm Sơn Đông đọc to:
- Phụng thiên thừa vận, Hoàng Đế chiếu rằng: Khâm sai đại thần giám sát kiến tạo Đế Lăng là Nghê Khiêm của Khâm Thiên giám, tả thị lang Lý Đạc của bộ Lễ, thái giám thủ lĩnh Đới Nghĩa của Ty Lễ Giám và tham tướng Dương Lăng của Thần Cơ doanh bị nghi ngờ đã gian lận công trình, lừa dối Thánh Thượng, lập tức bắt giải về kinh để Tam Ty hội thẩm tra hỏi. Khâm thử!

Vừa dứt lời, ông ta lập tức vung tay lên quát:
- Các nghi phạm hãy tự báo họ tên để cho ta bắt!

Tả thị lang bộ Lễ Lý Đạc vừa nhìn thấy ông lão chính là tả thị lang Ngụy Thân của bộ Hình thì cả người không khỏi run lên, lập tức ngã ngồi phịch xuống đất. Ông lão mặt đỏ khôi ngô này là người Khúc Phụ, Sơn Đông, đồng hương với Khổng thánh nhân. Lão có tướng mạo như con nhà võ nhưng lại là người đọc sách chính tông, là tiến sĩ năm Thành Hóa thứ mười bảy.

Người này kiêm khiết chính trực, chỉ “nhận pháp bất nhận nhân” (không nể nang ai). Từng có kẻ giả mạo ngoại thích (thân thích của mẹ hoặc vợ vua) để lừa bịp, nha môn các ty của bộ Hình đều e ngại kẻ đó là quốc thích nên không ai dám bắt về hỏi tội. Ngụy Thân vừa tiếp nhận cáo trạng xong, không nhiều lời mà lập tức dẫn người bắt kẻ đó về ngay. Sau vụ án này danh tiếng Ngụy Thân lan truyền khắp kinh sư, đến cả tai vua. Sau đó phàm có những vụ án nào liên quan đến triều thần hoặc ngoại thích mà Hoàng Đế muốn nghiêm trị, phần lớn đều cử lão ra tay.

Dần dà, mọi người cũng đoán ra quy luật: chỉ cần Ngụy lão đầu mà ra mặt, kẻ bị bắt chắc chết đến chín thành. Vừa vặn mặt của Phán quan âm phủ trong truyền thuyết cũng màu đỏ, nên sau lưng lão mọi người bèn gọi lão là ”Ngụy phán quan”. Lý Đạc thấy lão tới, tự biết mình hẳn phải chết, lập tức thân thể nhũn ra như bún.

Đám nha dịch phía sau Ngụy Thân mặc kệ những người quỳ trước mặt đều là quan to nhị phẩm, tam phẩm trong triều, vẫn hùng hổ xông lên. Đới Nghĩa run rẩy báo:
- Nô tài Đới Nghĩa của Ty Lễ Giám!
Vừa dứt lời, tiếng xiềng xích lào xào vang lên, liền theo đó một cái gông to quàng ngay vào cổ lão.

Lý Đạc, Nghê Khiêm, Dương Lăng lần lượt tự báo họ tên, rồi lập tức bị gông xiềng quấn chặt giải lên tù xa, đưa thẳng về kinh thành!


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:22 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 98: Bàn Về Phong Thủy



Dịch: workman

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- Đại nhân! Việc đào đất thì tổn hại gì tới vận mệnh quốc gia? Những lý luận của những tên ngu ngốc đó mà ngài thật sự tin à?
Ha ha! Thuở trước vì có ít con cháu nên Tống Huy Tông nghe lời bày vẽ của thầy địa lý, hao tài tốn của xây góc thành tây bắc của Biện Lương cao gấp mấy lần, bảo là nhờ đó sẽ được con cháu đông đúc, thịnh vượng, quốc gia hưng thịnh. Kết quả là như thế nào?
Ông ta mê tín thuật phong thủy, xây dựng rầm rộ, tu đạo để thành tiên, kết quả trở thành vua mất nước. Đến nỗi con trai là Tống Khâm Tông cũng bị quân Kim bắt làm tù binh, hai vua cùng bị bắt, có thể nói là chuyện lạ trong thiên hạ. Còn có triều đại...



------------------------

Chương chín mươi tám Bàn Về Phong Thủy

------------------------


Chương chín mươi tám Bàn Về Phong Thuỷ

Thông thường chỉ khi xử lý phúc thẩm thì Tam Pháp Ty mới cùng thẩm vấn, song lần này việc Kim Tỉnh ở Đế Lăng tươm nước rất trọng đại, hơn nữa lại liên quan đến nhiều nha môn, nên ba khanh của bộ Hình, Đốc Sát Viện, Đại Lý tự được lệnh vua cùng hội thẩm vụ án này. Lập tức tiếng đồn lan truyền khắp kinh sư.

Hữu thị lang bộ Hình Ngụy Thân vừa áp tải đám Dương Lăng, Nghê Khiêm vào đại lao bộ Hình thì thượng thư bộ Công Từ Quán, thượng thư bộ Lễ Vương Quỳnh liền cùng nhau tới bộ Hình bái phỏng. Hai người tuy không nói chuyện về vụ án, nhưng lại trắng trợn nói về việc long mạch bị hao tổn rất nguy hiểm cho xã tắc, rồi Hoàng Thượng rất coi trọng việc này, v.v… Nghe thế, thượng thư bộ Hình Hồng Chung trong lòng lo sợ không an.

Những người bị giam vào đại lao liên quan tới nhiều nha môn, hơn nữa điều làm cho người ta đau đầu nhất là có cả người của ty Lễ Giám và thậm chí có cả Dương Lăng, người tâm phúc của Hoàng Thượng. Hồng Chung nhất thời cũng không dò được thánh ý rốt cuộc muốn nghiêm trị tới trình độ nào, trong lòng chưa biết phải làm sao. Bây giờ nghe hai vị Thượng Thư đại nhân nói chuyện, tựa như thấy tia sáng khi bị lạc đường giữa đêm, lập tức lão bèn hơi có chủ ý.

Ngụy Thân đem bọn Dương Lăng xuống tù xa, tự mình đưa vào đại lao, thu xếp ổn thỏa xong vừa đi ra khỏi cửa ngục liền thấy hai viên chức Cẩm Y Vệ cầm công văn đang tranh cãi với tên trưởng ngục. Ngụy Thân lập tức bước nhanh tới hỏi:
- Chuyện gì mà tranh chấp trước đại lao bộ Hình như vậy?

Viên trưởng ngục khom người bẩm:
- Ngụy đại nhân! Hai vị này là bách hộ chưởng hình Trấn Hộ ty (cơ quan bảo vệ an ninh trật tự), muốn hỏi cung nghi phạm vụ án Đế Lăng.

Ngụy Thân liếc nhìn hai vị bách hộ Cẩm Y Vệ mặc áo cá chuồn. Bọn họ vừa thấy đây là Ngụy Thân danh chấn kinh sư về tính chính trực, lập tức bao nhiêu dáng vẻ bệ vệ đối với tên trưởng ngục đều bay mất. Một tên tiến lên thi lễ:
- Hạ quan Thôi Đề ra mắt Ngụy đại nhân. Theo luật Đại Minh, phàm có án nào mạo phạm Hoàng Đế bệ hạ và liên quan tới quan chức trong triều, thì Trấn Phủ đều có quyền hỏi cung, thậm chí tra tấn. Nhưng Hoàng Thượng đã giao án này cho Tam Pháp Ty, Trấn Phủ chúng tôi không hề dám tranh giành việc thẩm vấn, nhưng chúng tôi lại phải dự thính vụ án này. Bất kể là đưa ra hỏi cung hoặc tra tấn tù phạm, cũng xin đại nhân kịp thời cáo tri cho chúng tôi biết.

Sớm đã bất mãn về sự ngang bướng của Cẩm Y Vệ, Ngụy Thân nghe thế rất giận, đáp ngay:
- Việc này tuy liên quan đến Đế Lăng và hoàng gia, nhưng lại là việc xử lý quan chức gian lận tham ô, không liên quan gì tới đại án mưu phản. Huống chi Hoàng Thượng đã giao phó vụ án này cho Tam Pháp Ty toàn quyền, Cẩm Y Vệ cũng có thể nhúng tay vào sao?

Thôi Đề cười không vui:
- Đại nhân làm theo nhiệm vụ cũng phải theo lẽ công bằng mà làm. Đây cũng là nhiệm vụ của Cẩm Y Vệ, ý chỉ Hoàng Thượng không nói là không cho Cẩm Y Vệ giám sát vụ án này mà?!

Ngụy Thân ngửa mặt lên trời cười ha hả, vuốt bộ râu dài nói:
- Đới Nghĩa là người của ty Lễ Giám. Ai chẳng biết Cẩm Y Vệ cùng nhà với Đông Xưởng và ty Lễ Giám! Xin chuyển cáo đến đề đốc Trương đại nhân và Trấn Phủ Sứ Mưu đại nhân: nên tránh khỏi hiềm nghi cho xa!

Vừa dứt lời, Ngụy Thân bèn phất tay áo bỏ đi. Hai vị bách bộ cẩm y nhìn theo hình bóng Ngụy Thân, nhất thời cũng không biết phải làm sao. Thôi Đề nhíu mày nói:
- Bộ Hình giao vụ này cho Ngụy phán quan xử lý, e rằng muốn làm khó Trấn Phủ Sứ đại nhân rồi. Lão thất phu này đến cả hoàng thân quốc thích cũng chẳng để vào mắt, há lại quan tâm tới chúng ta?

Tên bách bộ cẩm y kia là Hoàng Tử Duy cười nói:
- Thôi huynh! Diêm vương dễ gặp, tiểu quỷ khó đối phó. Lão gia hỏa Hồng Chung rất cẩn thận, cũng rất biết điều. Chúng ta đưa thẳng thiếp cho lão, chắc lão không dám không nể mặt Mưu đại nhân đâu!

Không ngờ Hồng Chung tự cho rằng mình đã hiểu được tâm ý Hoàng Thượng nên sau khi nhận được thiếp của Trấn Phủ Sứ Mưu Bân, lão trầm ngâm thật lâu rồi bảo tả thị lang bộ Hình Trình Văn Nghĩa:
- Đi! Nói cho hai tên bách hộ cẩm y đó là vụ án này rất khẩn yếu, các phạm nhân liên quan vẫn chưa bắt đủ, vì vậy chưa thể thẩm vấn. Bảo họ trở về đi.

Trình Văn Nghĩa lo lắng:
- Đại nhân! Cớ này chỉ hiệu quả nhất thời, không làm được một đời. Nếu như Cẩm Y Vệ muốn nhúng tay vào lúc thăng đường thẩm án thì chúng ta phải làm sao cho tốt đây?

Quả là một lão hồ ly gian trá, Hồng Chung chỉ cười hắc hắc đáp:
- Đến lúc Tam Ty hội thẩm, cả triều đều chăm chú nhìn, chúng ta bảo Ngụy Thân tìm bừa một cớ nào đó giữ họ ở bên ngoài, chẳng lẽ Mưu Bân dám không kiêng dè gì mà cố xông vào công đường sao?

Vốn Hồng Chung xử sự luôn luôn mềm dẻo, hôm nay lão dám chống lại Cẩm Y Vệ làm Trình Văn Nghĩa thầm ngạc nhiên. Hắn “Dạ” rồi lặng lẽ lui ra ngoài.

Hồng Chung mỉm cười thầm nghĩ: “Ta là một viên quan bộ Hình, không phải đối thủ của Cẩm Y Vệ, nhưng Tam Pháp Ty cùng thăng đường thẩm vấn, vậy Mưu Bân dám đồng thời đắc tội với công khanh của cả ba ty không? Án này mà thẩm vấn xong, đến lúc đó sợ nội tướng (*) cũng phải thay người rồi, đến lúc đó danh vọng của ta lập tức lên cao. Mưu Bân thấy vậy còn dám kiêu ngạo như thế nữa không?
(*): ở đây chỉ đại thủ lĩnh thái giám.

Trong phòng của Mưu Bân thuộc Trấn phủ ty, đề đốc chỉ huy sứ Trương Tú đang chắp hai tay sau mông, đi đi lại lại trong phòng. Một lúc sau, lão hừ một tiếng:
- Rõ là ngu xuẩn! Xây Đế Lăng vốn là một cơ hội khó cầu, chỉ cần làm tốt một chút lập tức Dương Lăng sẽ có thể tiến thêm một bước dài trên hoạn lộ, sao y lại chui đầu vào một vụ án lớn như vậy? Ta vừa mới trở lại kinh thành còn chưa biết tình hình cụ thể thế nào, thật sự trong lăng có tuôn nước à?

Mưu Bân mỉm cười đáp:
- Tuôn hay không cũng không quan trọng. Điều trọng yếu chính là khi Tiên đế còn sống thì ngài dùng nhân hậu trị thiên hạ, thanh thế của Cẩm Y Vệ chúng ta không lớn lắm. Bây giờ nếu để cho bộ Lễ, bộ Công và cái đám quan văn lật đổ nhóm thân quân (bên cạnh vua) ty Lễ Giám và Cẩm Y Vệ chúng ta, thì đám quan văn lại càng thêm uy phong rồi.

Trương Tú trừng mắt nhìn hắn, mắng:
- Nói như thế, việc này là thật à? Long mạch bị hao tổn là việc nước, việc này là đại sự trọng yếu đến mức nào? Sao ngươi dám thản nhiên như vậy, còn muốn gây rắc rối nữa à?

Tuy Mưu Bân chỉ là thống lĩnh Trấn Phủ ty Cẩm Y Vệ, nhưng vì hắn nắm giữ bộ phận quan trọng nhất của Cẩm Y Vệ nên quyền lực và địa vị không hề thấp hơn Trương Tú. Nghe Trương Tú nói như vậy, hắn không khỏi ung dung cười đáp:
- Đại nhân! Việc đào đất thì tổn hại gì tới vận mệnh quốc gia? Những lý luận của những tên ngu ngốc đó mà ngài thật sự tin à?
Ha ha! Thuở trước vì có ít con cháu nên Tống Huy Tông nghe lời bày vẽ của thầy địa lý, hao tài tốn của xây góc thành tây bắc của Biện Lương cao gấp mấy lần, bảo là nhờ đó sẽ được con cháu đông đúc, thịnh vượng, quốc gia hưng thịnh. Kết quả là như thế nào?
Ông ta mê tín thuật phong thủy, xây dựng rầm rộ, tu đạo để thành tiên, kết quả trở thành vua mất nước. Đến nỗi con trai là Tống Khâm Tông cũng bị quân Kim bắt làm tù binh, hai vua cùng bị bắt, có thể nói là chuyện lạ trong thiên hạ. Còn có triều đại...

- Đủ rồi!
Da mặt Trương Tú co rút lại, hồi lâu lão mới nói:
- Có câu nói “nhất mạng, nhì vận, tam phong thuỷ, tứ tích âm đức, năm đọc sách”. Việc này mặc dù hư vô mờ mịt, không thể tin hết, cũng không thể không tin. Bây giờ việc đã như thế này, chỉ có nước tận nhân lực rồi tùy thiên mạng thôi. Ngươi phái người liên lạc với Dương Lăng, xem y có phương cách gì không. Tính toán xem, nếu có thể cứu y ra, hãy tận lực làm. Nếu không thể, hơn nữa còn liên luỵ tới Cẩm Y Vệ ta... Ngươi hiểu chứ?

Mưu Bân khẽ gật đầu, trầm tĩnh đáp:
- Ty chức hiểu! Ty chức cử người đi làm ngay.


***

Ngụy Thân xem bọn Dương Lăng là trọng phạm của triều đình nên giam vào những phòng giam riêng, không cho trao đổi với nhau để tránh họ thông cung. Một mình Dương Lăng bị giam trong một phòng ngục rất hôi hám. Y đang ngồi ngơ ngác, chợt một tên ngục tốt dùng chuôi đao gõ gõ vào song sắt, gọi:
- Ăn cơm!
Nói rồi gã tiện tay nhét vào một bát cơm.

Từ khi bị bắt về kinh thành giam vào phòng tù mịt mù tăm tối, chỉ mới uống nước chưa được ăn cơm nên bụng Dương Lăng đói sôi lục bục. Nghe gọi, y vội đứng lên đi tới nhận bát cơm.

Tên ngục tốt hơi cúi đầu xuống, thận trọng nhìn bốn phía, rồi đột nhiên ngẩng đầu lên, thấp giọng cười nói:
- Dương đại nhân, đã lâu không gặp! Mưu đại nhân bảo ty chức căn dặn ngài vài câu, ngài cần phải lắng nghe cẩn thận.

Dương Lăng thấy gã ngẩng đầu lên, hóa ra là tên thiên hộ Cẩm Y Tiền Ninh, không khỏi vừa mừng vừa sợ, thất thanh hỏi:
- Là ngài? Sao Tiền đại nhân lại lẻn vào đây. Cẩn thận kẻo bị người ta phát hiện!

Tiền Ninh mỉm cười nói:
- Nếu ty chức không đến mà phái một huynh đệ khác, chỉ sợ ngài tưởng là bộ Hình lừa ngài nên sẽ không dám nói thật! Yên tâm đi, trong bộ Hình có người của chúng ta, không đưa ngài ra ngoài được nhưng đi vào thăm ngài một lúc lại là việc nhỏ. Mưu đại nhân hỏi ngài việc này làm có hoàn toàn kín kẽ không?

Dương Lăng chấn động trong lòng: “Mưu Bân hỏi như vậy, hiển nhiên hắn đã nhận định Đế Lăng tuôn nước là chính xác trăm phần trăm rồi. Nghe ngữ khí hắn, xem ra hắn chẳng mấy quan tâm tới thuật phong thủy gì cả.”

Dương Lăng không dám thoải mái kể lại tình hình thực tế. Y không thân với Mưu Bân, nếu Mưu Bân cố ý lừa y mà y lại nói thật thì đúng là tự mình tìm tử lộ. Do đó Dương Lăng hàm hồ đáp:
- Ty chức không rõ ý của đại nhân. Kim Tỉnh vốn không hề bị hư hỏng gì, tại sao lại có sơ hở có thể tìm ra?

Tiền Ninh giơ ngón cái, mỉm cười gật đầu nói:
- Như thế là tốt nhất, nhưng trong triều có người mưu hại, việc này luôn khó có thể nói rõ.

Gã hỏi thêm:
- Đại nhân có tính toán gì không, có thể báo cho tại hạ, tại hạ sẽ bẩm báo cho Mưu đại nhân đem toàn lực tương trợ.

Dương Lăng suy tính một lát, rồi bàn với Tiền Ninh mấy biện pháp, nhưng đều chỉ là những biện pháp gây áp lực khiến cho Tam Pháp Ty không dám quá tay, loại việc làm này cũng không thể thu được ích lợi gì nhiều.

Tiền Ninh nghe xong chau mày suy nghĩ một chút rồi nói:
- Khó! Thật sự là khó, việc này ồn ào như vậy, e rằng không dễ giải quyết đâu!

Dương Lăng cười u ám, đáp:
- Ta biết, Tiền huynh cứ làm hết sức là tốt rồi! Cổ nhân nói: “Nhân gian nói nhỏ, trời nghe rất rõ”. Dương mỗ tin rằng trên đầu ba thước có thần minh. Ta chỉ cần làm việc có thể không gì sai sót, có trời đất chứng giám là được. Việc đã đến nước này, ta cứ tận nhân lực rồi tùy thiên mạng đi! Chỉ là... Mong Tiền huynh cử người thông báo cho vợ của ta: nếu Hoàng Thượng tức giận mà liên lụy tới người nhà, bảo nàng đem vật đang được thờ cúng ở nội đường cầu Hoàng Thượng tha cho. Chỉ cần Tiền huynh truyền đạt giúp lời này, Dương mỗ có chết thì dưới suối vàng cũng vô cùng cảm kích!

Tiền Ninh nhìn y một lúc rồi thở dài nói:
- Đại nhân không nói, ty chức cũng biết nguyên do. Huynh đệ chúng tôi không phải là người tốt, nhưng Dương huynh là người như vậy, huynh đệ chúng tôi cũng rất kính trọng. Dương đại nhân yên tâm! Ty chức sẽ sai người đưa tin cho những vị đại nhân khác, để họ nghiến răng kiên quyết không thừa nhận, đại nhân tự thu xếp ổn thoả nhé.

Vừa về tới bộ Hình, Ngụy Thân lại nghĩ tới việc Cẩm Y Vệ có quan hệ mật thiết với Đông Xưởng, còn Đông Xưởng lại cùng hệ với ty Lễ Giám. Hôm nay Cẩm Y Vệ tích cực nhúng tay vào, có phải là để cứu thái giám Đới Nghĩa, thủ lĩnh của ty Lễ Giám hay không?

Nghĩ đến đây, lo ngại Cẩm Y Vệ đút lót ngục tốt tổ chức thông cung, Ngụy Thân vội vàng phi ngựa chạy trở lại đại lao bộ Hình. Lão chia ngục tốt thành từng nhóm bốn người trực trước cửa phòng giam nghi phạm, hơn nữa chính lão cũng tự mình cố thủ ở đại lao không rời nửa bước.

Tiền Ninh chân trước mới vừa đi, Ngụy Thân đã trở lại. Ở bốn cửa lao cả ngày lẫn đêm không lúc nào không có ngục tốt trấn thủ. Dù Cẩm Y Vệ chỗ nào cũng có thể nhúng tay vào nhưng nếu muốn đưa tin cũng khó như lên trời. Tiền Ninh cố thử vài lần nhưng suýt khiến cho Ngụy Thân nghi ngờ, gã đành bỏ cuộc, chỉ có nước đem những lời dặn dò của Dương Lăng về bẩm báo với Mưu Bân.

Nha môn Tam Ty đột nhiên hội thẩm hai lần, quả nhiên Cẩm Y Vệ bị gạt ra ngoài. Mắt thấy Cẩm Y Vệ quyền thế lại bị khiêu khích và bỏ qua một bên như vậy, đến cả Trương Tú cũng cảm thấy giận dữ. Lão lập tức tung mật thám Cẩm Y Vệ ra phao những lời đồn đoán, phỉ báng quan chức các bộ Lễ, Công, Hình, đồng thời thu thập những cái đuôi của họ.

Tam Pháp Ty hội thẩm hai lần. Bốn người Dương Lăng cùng nói một giọng mặc cho tên thập trưởng ra mặt làm nhân chứng. Cả bốn chỉ nói hắn vì thù oán bọn họ nên vu cáo hãm hại, khiến cho Tam Pháp Ty hết đường xoay sở.

Thượng thư bộ Hình Hồng Chung bất lực chỉ có nước tâu với Chính Đức Hoàng Đế ở phiên triều sớm:
- Khải bẩm Hoàng Thượng! Thần phụng chỉ cùng Đốc Sát Viện, Đại Lý Tự thẩm tra án Đế Lăng thấm nước. Nhân chứng đối chất với phạm quan (quan phạm tội) ở công đường, nhưng cả bốn phạm quan hoàn toàn không chịu thừa nhận, bảo là tên thập trưởng bị bệnh hoang tưởng, hoa mắt nhìn lầm, chết cũng không thừa nhận. Thần xin phép Hoàng Thượng hạ chỉ cho phép bộ Hình được phép tra tấn bốn phạm quan.

Mặc dù mấy cái thứ ưu đãi ‘Hình không áp dụng cho đại phu’, sớm bị tên Chu Trọng Bát (tức Chu Nguyên Chương, hoàng đế lập nên triều Minh) phá tan hoang rồi, nhưng ngoại trừ khi bị Cẩm Y Vệ hạ ngục, trước giờ chưa từng nghe nói bộ Hình cũng có thể dùng cực hình bức cung với quan chức. Một khi thành lệ, bộ Hình nắm quyền sinh sát trong tay lập tức có thể biến thành Cẩm Y Vệ thứ hai rồi. Bá quan nghe vậy, không khỏi trợn mắt nhìn.

Đại học sĩ Lưu Kiện lập tức bước ra khỏi hàng tâu:
- Hoàng Thượng! Việc này vạn lần không thể được. Bốn phạm quan thật sự có tội hay không, trước mắt chỉ có một nhân chứng, cũng không vật chứng. Thần nghe nói tên thập trưởng đó từng bị khâm sai Đới Nghĩa trừng phạt. Bởi vì một chút ân oán cá nhân, trước nay cũng có những người dân điêu ngoa, gian ác gan lớn bằng trời dám hãm hại đại thần triều đình rồi. Nếu các vị ấy bị cực hình mà nhận tội, thành ra bức cung, chẳng phải là oan uổng sao?

Từ Quán vội la lên:
- Hoàng Thượng! Cẩm Y thân quân cũng được thiên tử giao cho quyền tra tấn. Nhưng việc này vì có liên quan tới ty Lễ Giám, để tránh hiềm nghi, Hoàng Thượng nên đưa phạm quan cho Tam Ty thẩm vấn. Mấy tên phạm quan đó biết long mạch bị hao tổn ảnh hưởng tới vận mệnh quốc gia, hậu quả rất là nghiêm trọng; ai cũng sợ chết nên đương nhiên ngoan cố, không dùng cực hình là không chịu cung khai. Gặp sự phải tòng quyền, xin bệ hạ ân chuẩn.

Tạ Thiên bước ra, tâu:
- Người không nói loạn về thần linh. Đại Minh ta được thiên hạ, đó là nhờ vào thiên mạng. Chỉ một lần phong thủy cũng có thể có được thiên hạ, cũng có thể mất thiên hạ, chẳng lẽ đó không phải là việc bất chính, quá là hoang đường sao? Thánh nhân từ trước đến nay coi phong thủy là thuật xằng bậy, mê hoặc lòng người. Mấy năm trước, sau vụ án ”Lý Quảng” (*), tiên đế đã từng đuổi mấy ngàn tên đạo sĩ phiên tăng thuật sĩ chuyên dùng tà thuyết mê hoặc dân chúng. Bệ hạ đâu thể chỉ vì một người tố cáo như vậy mà trị tội đại thần chứ?
(*): Xem chương 82: Gạo vàng gạo trắng;
Xem thêm http://bbs.daqi.com/bbs_editor/05/724286719.html (Cám ơn StormRaider)

Đệ tử nho gia chính thống từ trước đến nay không tin phong thủy, cho rằng người có đạo là có thiên hạ, có được lòng dân là có thiên hạ. Họ cho rằng mấu chốt của vận mệnh họa phúc đều do cá nhân tu dưỡng, nếu có thể giữ được lòng lành, nhận thức được thiên tâm là có thể chuyển họa thành phúc, cải tạo vận mệnh. Do đó phần lớn văn võ bá quan trong triều đều phản đối thuật phong thủy.

Nhưng khi Hoàng Đế về trời, hoàng gia tìm một vùng đất an táng, tìm một thầy phong thuỷ tới thăm dò thì cũng không quan hệ gì lắm tới việc triều chính, do đó bọn họ luôn luôn mắt nhắm mắt mở bỏ qua. Nhưng bây giờ bộ Hình muốn dựa vào chuyện này mà lạm quyền, ba vị đại học sĩ cũng hơi bất mãn.

Hơn nữa hiện nay dân gian có lời đồn đoán, bảo là vì dời lăng Tiên đế nên triều đình sẽ phải đánh thuế nặng, phần lớn dân chúng đã hơi hoang mang, lo lắng. Không ở nhà thì chẳng biết củi gạo quý. Ba vị đại học sĩ quản lí triều chính nên biết chi phí tiền lương tuy không tới nỗi phải giật gấu vá vai, nhưng cũng không chịu nổi việc tiêu xài hoang phí như thế. Huống hồ Đại Minh đang chịu thiên tai ở vài địa phương, đã có dấu hiệu dân muốn nổi loạn, lúc này mà tăng thuế thì không khác gì lửa cháy đổ thêm dầu. Do đó ba vị đại học sĩ vốn luôn luôn cùng tiến cùng lùi, lần này nhất trí cho rằng bộ Công, bộ Lễ cứ chuyện bé xé ra to là do người khác có mưu đồ riêng; nên cả ba vị quyết tâm phải phản đối cho bằng được.


Chú thích:



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:24 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 99: Vương Tam Xúi Giục



Dịch: workman

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Mechichi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Hắn tự nghĩ nếu xúi giục được Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai phản lại Dương Lăng, biến y trở thành một tên ngụy quân tử ức hiếp người lương thiện, cưỡng đoạt mỹ nữ. Vậy hình tượng ”kháng chỉ cứu thê” tốt đẹp của y lúc trước sẽ sụp đổ ầm ầm. Chỉ cần làm được việc này, thì sẽ có thể thêu dệt ra rất nhiều điều khác để vu cáo, bôi nhọ thanh danh của y. Ai còn tin y cầu xin cho dân nữa. Danh tiếng của cha hắn cũng sẽ không chịu ảnh hưởng.



------------------------

Chương chín mươi chín - Vương Tam Xúi Giục


------------------------


Chương chín mươi chín - Vương Tam Xúi Giục

------------------------

Chính Đức không vui nói:
- Phận làm con phải lấy chữ hiếu làm đầu. Lăng tẩm của Tiên đế bị thấm nước như vậy còn chưa tính là không lành sao? Còn chưa tính là đại sự sao?

Lý Đông Dương thấy Hoàng Đế Chính Đức rất không vui, bèn vội bước ra khỏi hàng tâu:
- Hoàng Thượng! Đất bị động thổ đã là trái với lẽ tự nhiên rồi, lẽ nào còn lắm điều huyền bí như vậy? Huống hồ nói theo phong thuỷ, cũng có kiến giải rằng nhân sinh họa phúc do trời, người tài đức thì có thể được yên mạng. Vì vậy mới có câu: ”Nơi đất lành chỉ có người có đức mới được ở”. Thái Lăng vốn là đất lành, cớ chi đột nhiên vì Kim Tỉnh thấm nước báo điềm mà thành đất dữ? Tiên đế là lệnh chủ trung hưng (phục hưng?) của Đại Minh, là một minh quân xưa nay hiếm thấy. Chẳng lẽ Tiên đế không có phước được ở nơi đó sao?

Ông dùng phong thuỷ phản bác phong thuỷ, kỳ thật ý tứ cũng giống như Lưu Kiện, Tạ Thiên, vẫn cho rằng Từ Quán, Vương Quỳnh chuyện bé xé to. Mã Văn Thăng nghe xong không nhịn được nữa. Tuy lão luôn kính trọng ba vị đại học sĩ, nhưng cũng không có nghĩa là ba người nói gì thì lão cũng nghe.

Từ xưa vốn có lệ là quan viên không được làm quan tại nguyên quán, nhưng chế độ này sớm chỉ còn trên danh nghĩa. Từ lúc Dương Lăng và Lưu Cẩn góp lời cho Hoàng Đế lập lại chế đô này, Mã Văn Thăng bị đám quan viên hành cho sứt đầu mẻ trán nên rất bất mãn về việc Dương Lăng ”khuấy đảo triều chính”. Bởi vậy vừa nghe ba đại học sĩ bảo vệ đám người Dương Lăng, lão không nhịn được mà phản bác:
- Đại học sĩ nói vậy sai rồi. Người xưa có câu: ”Nhất mạng, nhì vận, tam phong thuỷ, tứ tích âm đức, ngũ độc thư”*. Đại sự này có ảnh hưởng tới sự thay đổi vận mệnh cá nhân và an nguy xã tắc của triều đình, đương nhiên phải thận trọng mà hành động, sao có thể coi thường nó?
(*: số mạng là quan trọng nhất, kế đến là vận số, thứ ba là phong thuỷ, thứ tư tích âm đức, và cuối cùng là đọc sách. Vậy là độc thư hay đọc thư?)

Thượng thư Hàn Văn của bộ Hộ trông nom ‘túi tiền’ của Đại Minh. Bấy giờ tin triều đình tăng thuế đang lan truyền đi rất nhanh. Kinh sư vốn giàu có thì không sao. Nhưng có những nơi dân chúng cơm không đủ ăn, chỉ có thể sống tạm bợ qua ngày mà thôi. Nếu triều đình thực sự ban hành chính sách này, thì lão sẽ phải đứng mũi chịu sào gặp đủ mọi điều khó xử, cho nên người sợ dời lăng nhất chính là lão ta.

Cho nên lão lập tức cũng vội vàng bước ra tấu:
- Hoàng Thượng! Thánh nhân có câu: ”Quý không ở nơi chốn, mà do thiên mạng”, Đại Minh ta thiên mạng vốn đã định, vận nước hưng thịnh. Phong thuỷ chỉ là bàng môn tiểu thuật, sao có thể xem là chính đạo?

Ba vị đại học sĩ và thượng thư bộ Hộ cùng chung ý kiến, nói về thiên mạng chính đạo, còn bốn vị thượng thư của bộ Lại, bộ Công, bộ Lễ, bộ Hình thì lại bàn tới phong thuỷ. Nhất thời cả đại điện tranh luận tới lui không ngừng nghỉ.

Chính Đức bị bọn họ tranh cãi đến đầu óc rối mù, đành bất lực quay sang hỏi Lưu Đại Hạ:
- Lưu thượng thư, khanh nghĩ thế nào?

Lưu Đại Hạ khom người bẩm:
- Bệ hạ! Thần cũng cho rằng gửi gắm vận mệnh quốc gia vào phong thuỷ là điều hết sức nực cười. Nếu nói phong thuỷ có thể quyết định họa-phước của quốc gia, vậy trị quốc bình thiên hạ cũng không cần vua hiền tôi trung hay đạo thánh nhân nữa. Nếu vậy khi xưa Đại Tống bị nhà Nguyên xâm lược, người Đại Tống chỉ cần dời lăng mộ Tiên đế tới vùng đất có phong thủy tốt, thì người Nguyên sẽ ngoan ngoãn lui binh rồi.

Văn võ bá quan nghe xong lời này không khỏi phá lên cười.

Lưu Đại Hạ đợi chúng thần bớt ồn ào mới nói tiếp:
- Do đó thần cho rằng không cần phải úy kỵ việc vọng động đến Kim Tỉnh. Nếu cần có thể sai đại thần trong triều đến kiểm tra. Nếu Kim Tỉnh có bị người ta động tay chân hay không, tự nhiên liếc mắt sẽ thấy ngay thôi.

Hoàng đế Chính Đức cũng không biết thuật phong thuỷ có đáng tin hay không, nhưng xem ra việc này thà tin còn hơn không, không tin thì không ổn. Nghe Lưu Đại Hạ nói như vậy, hắn đang muốn bảo Khâm Thiên giám lên điện hỏi để xem có kiểm tra Kim Tỉnh được không, thì thượng thư Vương Quỳnh của bộ Lễ đã lên tiếng:
- Hoàng Thượng, thần nghe nói bảy binh sĩ đứng cạnh Kim Tỉnh chứng kiến việc Kim Tỉnh trào nước bất ngờ đã bị chết khi đang xây dựng đế lăng. Đây còn không là chứng cứ lớn nhất cho việc giấu đầu hở đuôi sao? Hà tất phái người đi tới lăng kiểm tra, khiến Tiên đế dưới suối vàng không được yên ổn. Thần nghĩ rằng, cho dù nó phong thủy ảnh hưởng tới vận mệnh quốc gia là vô căn cứ, nhưng những kẻ này khi quân phạm thượng không phải giả. Theo lý nên nghiêm trị, lấy đó làm gương!

Chính Đức nghe xong bèn hạ quyết tâm, vỗ ngự án một cái phán:
- Được! Bảo bộ Hình dùng cực hình, để xem bọn chúng cứng đầu tới đâu!

* * *
Mồng hai tháng sáu, mới sáng sớm đã có hàng loạt những tiếng sấm ì ầm, nhưng mưa lại không lớn, chỉ tí tách rơi. Gần đến trưa, một chiếc kiệu nhỏ đội mưa xuất hiện trên con đường nhỏ trong thôn quê lầy lội.

Mấy ngày qua phủ Uy Vũ Bá bị bao trùm trong một bầu không khí thê lương và ảm đạm. Hàn Ấu Nương nghe nói tướng công có chuyện, sợ tới mức hồn phi phách tán. Nàng đã đi đến bộ Hình nhiều lần, nhưng nơi ấy được canh gác nghiêm ngặt, tuyệt nhiên không cho nàng vào.

Sau khi Thái Lăng xảy ra chuyện, vua Chính Đức đã cho người quản giáo Đế Lăng, không cho phép bất cứ ai xuống núi. Cha con họ Hàn cũng bị giam lỏng trên núi. Hàn Ấu Nương chỉ là một nữ tử yếu đuối, không chốn khẩn cầu. Nàng cả ngày lo lắng chạy tới ngoài cửa đại lao bộ Hình nhưng thủy chung vẫn không tìm được cơ hội để gặp mặt tướng công một lần, tâm lực tiều tụy, trong lòng vô cùng thương tâm.

May mà nàng có nghe ngóng biết được tướng công mặc dù qua hai lần thăng đường, nhưng chưa bị dùng hình (tra tấn), bốn đại thần không ai chịu cung khai nên mới yên lòng một chút. Lúc này Ấu Nương mới vừa được Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đưa về phủ. Cao Văn Tâm nghe tin vội vàng chạy tới, vừa vào cửa trông thấy sắc mặt Ấu Nương, liền biết hôm nay nàng vẫn chưa gặp được Dương đại nhân.

Cao Văn Tâm vịn cửa trầm ngâm hồi lâu, chỉ có thể than nhẹ một tiếng, rồi vào phòng lấy quần áo khoác thêm cho Ấu Nương, nhẹ nhàng an ủi:
- Phu nhân, người đừng quá lo lắng để tránh tổn hại tới thân thể. Hai ngày qua, mọi người bên ngoài đều truyền miệng nhau, nói rằng triều đình muốn gia tăng thuế khoá nên mới lấy cớ Đế Lăng không lành để nguỵ biện. Lão gia vì bá tánh Đại Minh mới phải vào tù, lòng người đều ủng hộ. Lão gia cát nhân thiên tướng, nhất định sẽ có thể chuyển nguy thành an thôi.

Hàn Ấu Nương mặt hoa u sầu, nghe vậy chỉ cố gượng cười, nước mắt lưng tròng, nói không nên lời.

Đúng vào lúc này, một tiểu tỳ áo xanh lặng lẽ đi tới cửa, khẽ nói:
- Phu nhân, tam công tử nhà Vương thượng thư đã đến rồi.
Cô nàng cũng biết hai ngày qua không khí trong nhà vô cùng căng thẳng, cho nên không dám lớn tiếng.

Tuyết Lý Mai nghe vậy, mày liễu liền cau lại, hầm hầm nói:
- Hắn tới làm gì? Lão gia nhà ta xảy ra chuyện lớn như vậy, ai có lòng thanh thản mà xem bệnh cho phu nhân hắn chứ? Đuổi hắn đi đi!

Ngọc Đường Xuân vội ngăn lại bảo:
- Khoan đã, hắn là con trai thượng thư bộ Lễ. Có lẽ có thể nhờ hắn cầu xin Vương thượng thư ra mặt xin tha cho đại nhân.

Tuyết Lý Mai cười khẩy:
- Tỷ nói xem vì sao mấy ngày nay hắn không đến nhà chúng ta? Dân chúng khắp thiên hạ đều nói bộ Lễ và bộ Công liên thủ sắp đặt tội cho lão gia. Cha hắn chính là kẻ hãm hại lão gia. Hắn sẽ cứu sao?

Tiểu tỳ áo xanh rụt rè chen vào:
- Phu nhân, các vị cô nương, Vương tam công tử... tới có một mình thôi, không hề dẫn theo phu nhân.

- Sao?
Hàn Ấu Nương và mấy người Ngọc Đường Xuân đều đưa mắt nhìn nhau, lấy làm nghi hoặc. Hàn Ấu Nương nghĩ ngợi một chút, rồi cắn răng đứng lên:
- Đám phụ nữ chúng ta ở đây cũng không nghĩ ra được cách nào. Ta đi gặp hắn, xem rốt cuộc là hắn có mục đích gì.

Cao Văn Tâm ngăn lại:
- Phu nhân khoan đã. Đại nhân gặp nạn, nhà họ Vương cũng có hiềm nghi. Phu nhân không nên trực tiếp ra mặt. Theo tiểu tỳ thấy, trước tiên hay là cho người thăm dò mục đích của hắn thì tốt hơn.

Tuyết Lý Mai nổi giận đùng đùng nói:
- Để muội đi gặp hắn. Nhà họ Vương lấy oán trả ơn, muội cũng muốn xem Vương tam công tử có gì để nói?

Ngọc Đường Xuân lườm nàng, trách:
- Với cái tính tình đó của muội, đi sẽ chỉ làm hư chuyện.
Đoạn nàng hỏi ý Ấu Nương:
- Phu nhân, hay là để tôi đi thử. Vương tam công tử đã tới nhiều lần, tiểu tỳ cũng tương đối hiểu hắn, trước hết thăm dò xem ý đồ của hắn đã rồi mới quyết định sau.

Hàn Ấu Nương khẽ gật đầu:
- Tô Tam muội muội tính tình trầm ổn, phiền muội đi một chuyến vậy.

Những tiếng sấm ì ầm vọng lại từ phía chân trời. Vương Cảnh Long đứng ở cửa phòng, đưa mắt nhìn về phía chân trời âm u, lại nhìn lão quản gia đang thõng tay đứng một bên, vẻ mặt thẫn thờ. Mặc dù hôm nay lão quản gia không mời hắn vào thư phòng, cũng không dâng lên chén trà nào, nhưng Vương Cảnh Long vẫn không khỏi mỉm cười, trong lòng lại hỉ hả không thôi.

Hắn và mấy hảo hữu vốn định lật đổ Dương Lăng, nhưng thủy chung vẫn không nắm được nhược điểm gì. Triệu Ung gợi ý bảo hắn tới Dương phủ tìm cơ hội gieo vạ hãm hại, tỷ như lúc đến nhà cầu thầy tặng lễ vật sẽ bí mật mang theo mấy thứ đồ cấm hoặc vượt khỏi quy định gì đó. Bọn chúng cho rằng, Dương Lăng là tên tú tài quê mùa ở nông thôn, chưa hẳn đã biết những thứ này, vậy còn không ngoan ngoãn chui vào rọ sao?

Thế nhưng Vương Cảnh Long cũng không ngốc. Triệu Ung bảo hắn bí mật kẹp mấy tấm vải màu vàng chói vào trong những lễ vật biếu tặng. Có điều phương pháp này quá dễ thấy, rất dễ bị người ta phát hiện. Hơn nữa một khi xảy ra chuyện hắn cũng không thoát khỏi liên can, do đó lo sợ mà vẫn chưa dám thi hành.

Mấy tên này chỉ trích tệ chính thì thao thao bất tuyệt, tựa hồ việc diệt gian trừ ác chỉ là việc trong nháy mắt. Điều nực cười chính là mấy tên công tử này giống như con chuột thiên tài muốn đeo lục lạc cho mèo (1): ý tưởng thì không tồi, nhưng khi bảo chúng đi làm thì lại không biết phải làm sao.

Sau đó Vương Cảnh Long đứng sau cửa sổ thư phòng nhìn thấy trong ao nước giữa vườn hoa có hai ngọn giả sơn nằm ở hai bên, bèn chợt nảy ra ý tưởng,. Hắn định khuyên nhà họ Dương xây thêm một ngọn giả sơn ở giữa ao. Nên biết rằng ba hòn núi trong một ao (2) chính là mô phỏng hành vi tiếm quyền đế vương. Hơn nữa đến lúc đó cũng không có chứng cớ để kéo hắn vào.

Đáng tiếc biện pháp này mặc dù xảo diệu, nhưng hắn lại không gặp được Dương Lăng. Nếu để thê tử của hắn mạo muội bàn luận về kiến trúc hoa viên với Dương phu nhân, sợ rằng sẽ khiến người hoài nghi. Mãi đến khi bọn người Vương Quỳnh đột nhiên phát động, dùng thế sét đánh không kịp bưng tai bắt được Dương Lăng, thì không cần đến hắn ra mặt nữa.

Nhưng nhiều ngày qua tin đồn trong kinh thành về việc sắp tăng thuế càng lúc càng nhiều. Dân chúng bần hàn gần như coi đám người Vương Quỳnh, Từ Quán là đám gian nịnh hút máu nhân dân, còn Dương Lăng thì lại được tiếng thanh liêm trong sạch, trở thành trung thần cứu giúp nhân dân.

Vương Cảnh Long biết được thì cực giận. Vừa khéo lúc ấy Nhất Xứng Kim của Thì Hoa quán sau khi nghe nói Dương Lăng bị bắt, nhất thời hưng phấn đem chuyện ba thanh quan nhân của mụ bị y cưỡng ép mua về kể cho viên ngoại lang bộ Lễ đang đi chơi kỹ viện nghe. Thê tử Vương Cảnh Long lắm bệnh, hắn lại không có vợ bé, nên cũng là khách hàng thường xuyên qua lại thanh lâu, cũng có chút giao tình với viên ngoại lang bộ Lễ, nghe lão kể xong nghĩ rằng đã tới lúc, bèn lập tức nảy ra ý tưởng.

Hắn tự nghĩ nếu xúi giục được Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai phản lại Dương Lăng, biến y trở thành một tên ngụy quân tử ức hiếp người lương thiện, cưỡng đoạt mỹ nữ. Vậy hình tượng ”kháng chỉ cứu thê” tốt đẹp của y lúc trước sẽ sụp đổ ầm ầm. Chỉ cần làm được việc này, thì sẽ có thể thêu dệt ra rất nhiều điều khác để vu cáo, bôi nhọ thanh danh của y. Ai còn tin y cầu xin cho dân nữa. Danh tiếng của cha hắn cũng sẽ không chịu ảnh hưởng.

Thế là cũng không bàn với mấy vị bằng hữu, Vương Cảnh Long vội vội vàng vàng chạy đến nhà họ Dương ngay. Hắn nghĩ, bằng vào tướng mạo tài hoa và gia thế của hắn, muốn gạt cho một người con gái xinh đẹp xuất thân thanh lâu, lại vốn ái mộ mình còn không dễ như trở bàn tay sao?

Ngọc Đường Xuân đi tới phòng khách, lão quản gia trông thấy vội chào:
- Tô cô nương đến sao?

Ngọc Đường Xuân khoát tay ra hiệu cho lão bộc lui ra, còn mình lặng lẽ đi đến sau lưng Vương Cảnh Long yêu kiều vái chào, nhẹ giọng nói:
- Tiểu tỳ Tô Tam ra mắt Vương công tử.

Vương Cảnh Long thoáng dừng lại, xoay người ngạc nhiên:
- Chà, là Tô tiểu thư đến, thất lễ thất lễ.

Ngọc Đường Xuân nói:
- Mời Vương công tử vào phòng khách ngồi. Phu nhân không có tới cùng với công tử sao? Lúc này nhà họ Dương đang có chuyện, Văn Tâm tỷ tỷ lại mang thân phận phạm nô do Hoàng Thượng khâm định. Nếu công tử muốn mang tỷ ấy về nhà khám bệnh cho phu nhân, phu nhân nhà tiểu tỳ không đảm đương nổi đâu.

Vương Cảnh Long đi vào phòng khách ngồi, rồi thở dài:
- Vương mỗ không phải vì bệnh của tiện nội mà đến. Dương Lăng xảy ra chuyện, Vương mỗ cũng có nghe nói. Chà! Dương Lăng được nhiều thánh sủng, tiền đồ như gấm, không ngờ lại thỏa hiệp với mấy tên tham quan lừa dối triều đình, thật khiến cho người ta đau đớn vô cùng.

Trên mặt Ngọc Đường Xuân thoáng hiện lên vẻ tức giận, nhưng đang không biết hắn đột nhiên tới đây là có dụng ý gì, bèn cố nén giận. Vương Cảnh Long thấy nàng im lặng đứng trước mặt mình, vội nói:
- Mời Tô tiểu thư ngồi.

Ngọc Đường Xuân khẽ nhún người, lãnh đạm:
- Trước mặt Công tử, tiểu tỳ nào dám ngồi.

Vương Cảnh Long khoát tay:
- Tiểu thư sao lại nói vậy? Tiểu thư đọc sách hiểu lễ, trời sinh đoan trang. Vương mỗ chưa từng xem tiểu thư là tỳ nữ.

Ngọc Đường Xuân cười nhạt, tránh chủ đề này, nói:
- Hôm nay công tử tới đây, nếu không phải xem bệnh cho phu nhân, chẳng lẽ có chuyện gì sao? Nếu là chuyện quan trọng, không tiện cho tiểu tỳ biết, tiểu tỳ đi mời phu nhân ra vậy.

Vương Cảnh Long vội vàng đứng dậy ngăn lại:
- Tiểu thư chậm đã. Tiểu thư đã hỏi, vậy Vương mỗ cũng đành mạo muội. Không dám giấu tiểu thư, Vương mỗ hôm nay đến chính là vì... Tô tiểu thư đó.

- Sao?
Ngọc Đường Xuân lộ vẻ ngạc nhiên, không dám tin hỏi:
- Vương công tử là vì... vì tiểu tỳ mà đến à?

Vương Cảnh Long thấy trong phòng không có người khác, bèn mỉm cười quỷ dị nói:
- Tiểu thư ở Dương phủ, thật sự chỉ là một tỳ nữ sao?

Ngọc Đường Xuân tròn xoe đôi mắt, đầy nghi hoặc hỏi:
- Vương công tử nói lời này... rốt cuộc là có ý gì?

Vương Cảnh Long cười khẩy nói:
- Ngụy quân tử đúng là ngụy quân tử. Nếu hắn đã thèm muốn vẻ xinh đẹp của tiểu thư, chuộc tiểu thư về nhà thì phải hết sức yêu quý tiểu thư mới phải. Đáng hận là hắn chỉ vì cái thanh danh trọng tình trọng nghĩa đẹp đẽ, sau khi mua một người con gái yêu kiều quyến rũ như cô nương về làm thiếp lại gán cho danh phận nô tỳ, thật là khiến người ta đau lòng!

Ngọc Đường Xuân nghe ngữ khí của hắn tưởng rằng mình là thiếp của Dương Lăng nhưng bình thường lại bị sai bảo như là nha đầu. Nàng không biết chuyện mình là thiếp thị hay nô tỳ có liên quan gì với với chuyện hắn đội mưa chạy tới nơi này, trong lòng kinh ngạc và nghi ngờ không thôi, nên cũng không phản bác gì.

Vương Cảnh Long thấy nàng muốn nói lại thôi, càng cho rằng phỏng đoán của mình là chính xác. Hắn đắc chí nói:
- Dương Lăng bỏ ra vạn lượng bạc chuộc cô nương ra khỏi Thì Hoa quán, nhưng lại bắt làm nô tỳ. Việc này nói ra ai chịu tin? Hắn coi người trong thiên hạ đều không có mắt sao! Hừ! Còn cố làm ra vẻ. Chỉ tiếc cho cô nương, tài hoa tướng mạo như thế, đáng lý phải được người ta che chở như châu như ngọc, lại rơi vào kết cục như vậy.

Ngọc Đường Xuân chớp chớp cặp mắt xinh, thấy vị công tử gia này tỏ vẻ đau xót, thiếu điều giậm chân đấm ngực gào khóc. Nhưng hắn nói tới nói lui, vẫn chưa nói đến điểm quan trọng, nàng đành phải lẩm bẩm:
- Vương công tử... Vì sao lại nói lời này. Thật ra đại nhân đối đãi với tiểu tỳ... đối đãi với tiểu tỳ rất tốt, cũng chưa từng ngược đãi tiểu tỳ.

Nàng nói tới đây chợt nghĩ Dương Lăng lần này đắc tội với thiên tử, không biết chừng còn bị chém đầu, tịch biên gia sản. Trái tim thiếu nữ của mình vừa có nơi gởi gắm đã lại rơi vào kết cục như vậy. Người ta nói ”hồng nhan bạc mệnh”, số phận mình đúng là bất hạnh mà. Nghĩ rồi vành mắt nàng không khỏi đỏ lên.



Chú thích:

(1) Chuyện cổ tích, kể rằng để tránh cho họ nhà chuột bị mèo ta xơi tái, chuột con bèn nghĩ ra cách đeo lục lạc cho mèo để báo động cho loài chuột biết đường mà chạy mỗi khi mèo đến gần. Nhưng ai dám đến gần mèo để đeo lục lạc? Câu chuyện châm biếm những ý tưởng “điên rồ”, “phi thực tế”. Thế nên có thơ rằng:
Quanh năm mèo bắt chuột ăn
Mỗi ngày mấy chú chết lăn vì mèo
Muốn cho thoát cảnh hiểm nghèo
Họ hàng nhà chuột họp nhau lại bàn
Suy đi nghĩ lại miên man
Không ra cách thoát muôn vàn tai ương
Chuột con lên tiếng tỏ tường:
“Giống mèo đi lại thường thường rất êm
Rình mò ăn chuột ban đêm
Chuột không phát hiện, một phen đi đời
Chỉ còn một cách này thôi
Phải đeo lục lạc vào nơi cổ mèo
Khi nào mèo đến nhạc kêu
Chúng ta kịp chạy, hiểm nghèo thoát ngay”
Nghe con chuột nhắt trình bày
Chuột già vội phán: “Mẹo này tốt thôi
Cậu đeo nhạc cổ mèo rồi
Họ hàng nhà chuột chúng tôi chịu liền!”

(2) Nguyên văn “nhất trì tam sơn”. Trong truyền thuyết cổ đại Trung Quốc, trong Đông Hải có ba ngọn núi là Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu. Trên núi mọc đầy những cây thuốc trường sinh bất lão, là nơi ở của những vị thần tiên khoái lạc trường thọ. Các vì vua phong kiến ai nấy đều ao ước được ”vạn thọ vô cương” và ”trường cửu thống trị”, cho nên bắt đầu từ thời Hán Vũ Đế đã cho xây ”Dao Trì tam tiên sơn” tại thành Trường An mang tính tượng trưng. Về sau ”nhất trì tam sơn” đã trở thành bố cục truyền thống dựng trong lâm viên hoàng gia qua các triều đại.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:26 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 100: Cứu chồng chốn pháp trường



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Ngay lúc này, nước mắt y cũng trào ra. Ngây ngốc nhìn một hồi lâu, y mới nhắm mắt lại, quát lớn:
- Ấu Nương, về đi! Đừng xem ta bị chém đầu! Tuyết Nhi muội muội! Văn Tâm cô nương! Hãy giúp ta chăm sóc Ấu Nương chu đáo. Ấu Nương! Tướng công xin lỗi nàng, không thể bầu bạn với nàng trọn đời trọn kiếp nữa. Tướng công xin lỗi nàng...

Đoạn y ngửa mặt lên trời hét lớn:
- Nhưng tướng công cũng không thể lựa chọn, tướng công không thể vừa làm liệt sỹ vừa làm Thọ tinh (ông Thọ, chỉ kẻ sống lâu); không thể vừa làm quan lớn lại kiêm ẩn sỹ. Nàng và ta đến từ Kê Minh, tướng công biết dân chúng phải chịu cuộc sống cực khổ như thế nào. Tướng công không phụ với trời đất, lương tâm, chỉ là... đã làm khổ nàng rồi, Ấu Nương!



------------------------

Chương một trăm - Cứu chồng chốn pháp trường


------------------------



Vương Cảnh Long thấy giai nhân áo xanh da trắng miệng thì nói lời "dối lòng", nhưng mắt lại ngấn lệ, chỉ tưởng rằng mình đã nói trúng chuyện thương tâm của nàng ta nhưng nàng không dám thú nhận nên lòng mừng khấp khởi. Hắn lập tức làm ra vẻ thành thật, lấy giọng điệu chân thành thuyết phục:
- Tô tiểu thư! Hôm nay Vương mỗ mạo muội đến đây chính là để cứu cô nương ra khỏi hố lửa. Cô nương không nói ra lời tự đáy lòng, thế là vẫn không tin tại hạ sao? Xin tiểu thư chớ hoài nghi tấm lòng chân thành của tại hạ. Không dám giấu Tô tiểu thư, hôm nay Tam ty hội thẩm, Nghê Khiêm của Khâm Thiên Giám không chịu nổi tra tấn nên đã nhận tội rồi. Hoàng thượng đã hạ chỉ giờ Ngọ ngày mai sẽ lôi cả bốn người Dương Lăng ra cửa chợ khai đao xử chém. Ha ha! Cô nương không cần phải sợ hắn nữa!

Lời hắn thốt ra như sấm sét giữa trời quang. Ngọc Đường Xuân lảo đảo lùi về phía sau mấy bước, mặt hoa tái nhợt, giọng run rẩy:
- Ngươi... Ngươi nói cái gì? Dương đại nhân người... Người sẽ bị chém đầu ư? Ta không tin! Không thể tin! Ta không tin!

Vương Cảnh Long thấy dáng vẻ khiếp đảm hoảng sợ của nàng càng khiến người ta thêm động lòng, bèn ra vẻ doạ dẫm:
- Vương mỗ tuyệt không nói dối! Chẳng những Dương Lăng phải chết mà e rằng cả nhà họ Dương cũng sẽ không yên ổn. Cô nương hoa nhường nguyệt thẹn, quốc sắc thiên hương, chẳng lẽ không sợ bị sung làm quan nô(*), bán vào Giáo Phường ty chịu khổ ư?
(*: nô lệ cho quan lại)

Lúc này trong đầu Tô Tam chỉ ầm ầm dội lại lời nói ngày mai Dương Lăng sẽ bị xử chém, hoàn toàn không thể mở miệng trả lời. Vương Cảnh Long thấy mặt Ngọc Đường Xuân tái mét, bờ môi run run đã đánh mất vẻ hồng hào, còn tưởng rằng lời mình nói đã dọa được nàng, liền dịu giọng an ủi:
- Tuy nhiên tiểu thư cũng không cần phải quá sợ!
Ngay khi Vương mỗ trông thấy tiểu thư lần đầu thì đã thương nhớ khôn nguôi, không thể nào quên. Sao có thể đành lòng nhìn tiểu thư chịu khổ như vậy! Tô tiểu thư, Dương Lăng lấy cô nương làm thiếp nhưng lại giấu giếm gán cho danh phận nô tỳ, thấy rõ hắn chỉ vì tướng mạo của cô nương mà chưa từng có nửa điểm chân tình với cô nương. Tiểu thư còn chưa mau chóng tỉnh ngộ sao?

Hắn thở dài một hơi, cất giọng tiêu sái hỏi:
- Nàng là giai nhân, sao lại theo giặc?

Ngọc Đường Xuân nghe vậy liền giật mình. Vị Vương công tử này hiển nhiên biết không ít nội tình, hắn nói như vậy chỉ vì muốn cứu mình ư? Nếu như Hoàng Thượng thật sự muốn tống cả nhà họ Dương vào Giáo Phường ty, hắn làm gì có cách cứu người cho nổi? Chẳng lẽ hắn còn có chủ ý gì khác?

Ngọc Đường Xuân là người như thế nào chứ? Nàng là người sống bằng nghề vui cười trước mặt người, gạt giấu lệ sau lưng, rất giỏi việc che giấu tình cảm. Nảy lòng nghi ngờ, nàng lập tức lao lên phía trước, phủ phục xuống thút thít:
- Hồng Phất dạ bôn (1), Lục Châu trụy lầu (2). Những nữ tử mạng khổ như nô tỳ chúng tôi cả đời cũng chỉ cầu có được một đấng lang quân có tình mà thôi. Dương Lăng không phải là kẻ thiện lương, mong công tử hãy xót thương mà cứu lấy tiểu tỳ!

Vương Cảnh Long mừng rỡ, vội vàng bước lên đỡ nàng dậy, an ủi:
- Tiểu thư không cần đa lễ! Vương mỗ có thể có được người ngọc như tiểu thư, chính là ôm được mộng đẹp, cầu còn không được.

Nói rồi hắn không nhịn được bèn sỗ sàng vuốt nhẹ cổ tay mềm mại của Ngọc Đường Xuân.

Ngọc Đường Xuân mặt ửng hồng, vội rụt tay về, vờ trách khẽ:
- Công tử ngàn vạn lần đừng như vậy! Nơi này là nhà họ Dương đó.

Vương Cảnh Long nghe nàng nói "nhà họ Dương", rõ ràng đã nảy ý phản bội Dương Lăng, bèn mừng rỡ ra sức thuyết phục:
- Phủ Uy Vũ Bá này chẳng bao lâu sẽ thành đống đổ nát, họ Dương cũng mau chóng không còn tồn tại nữa, tiểu thư cần gì phải kiêng dè? Chỉ cần gật đầu, tiểu thư sẽ thành người ngọc của phủ thượng thư ngay.

Ngọc Đường Xuân lộ vẻ lo lắng hỏi: - Nhưng... Dương Lăng rất được Hoàng Thượng coi trọng mà, sao có thể vừa nói giết là đã giết liền chứ? Hơn nữa, nếu như Hoàng Thượng hạ chỉ bắt cả nhà họ Dương phải làm nô bộc, công tử sẽ... sẽ cứu nô tỳ bằng cách nào?

Vương Cảnh Long thấy nàng hoài nghi, càng chắc mẩm nàng đang nóng lòng muốn thoát ra khỏi nhà họ Dương tìm một chỗ dựa khác, liền cười nói:
- Chuyện này dễ thôi! Chỉ cần nàng theo đúng xếp đặt của ta, ta cam đoan nàng sẽ bình yên vô sự.

Vương Cảnh Long biết chắc chắn ngày mai số phận Dương Lăng sẽ được định đoạt, cả nhà họ Dương còn có ai đáng để hắn kiêng dè chứ. Cho nên lần thăm viếng này hắn hết sức cuồng vọng, mục hạ vô nhân. Trong suy nghĩ của hắn, một ả con gái xuất thân từ kỹ viện chỉ biết đến thiệt hơn, nào biết đến tình ý gì? Hắn cho rằng với gia cảnh của mình, nhất định Ngọc Đường Xuân sẽ chỉ mong sao có thể trở thành nàng thiếp của hắn mà thôi.

Với vẻ kiêu ngạo đắc ý, hắn liền kể cho mỹ nhân đã dốc lòng thuần phục nghe dự định của mình. Ngọc Đường Xuân nghe xong âm thầm cắn răng căm hận, nhưng mặt lại tỏ vẻ thẹn thùng nói:
- Thế thì, Tô Tam đa tạ công tử! Hết thảy Tô Tam xin phó mặc cho công tử an bài vậy.

Trước đây nghề của nàng là mua vui chuốc cười trong chốn kỹ viện, cho dù trong lòng có uất ức hơn đi nữa vẫn luôn có thể khoác bộ mặt vui vẻ. Lúc này nàng cố ý gạt hắn, điệu bộ càng hết sức quyến rũ. Vương Cảnh Long nghe mà trong lòng lại lập tức nghĩ đến nghĩa khác của câu "phó mặc cho công tử an bài", nhất thời thần hồn bay bổng, hận không thể dẫn ngay tiểu mỹ nhân khiến cho người ta động lòng này về nhà.

Mỹ nhân thân thể mềm mại như thế này... Đúng rồi, còn có một người nữa. Vương Cảnh Long vội nói:
- Đúng rồi! Vị cô nương Tuyết Lý Mai được chuộc cùng lúc với nàng đó, không biết nàng ấy có lòng thoát khỏi hố lửa này hay không? Nếu như hai người các nàng cùng ra mặt thì sẽ càng đáng tin hơn...

Ngọc Đường Xuân thật muốn tát cho cái tên vô sỉ này một tát (ủng hộ, tát chít nó đi em - TJ), thầm nghĩ nếu như Tuyết Lý Mai, cái cô nàng không biết kiềm nén cảm xúc đó mà tới đây, khó tránh sẽ bị nhìn ra sơ hở. Ngọc Đường Xuân vội cản:
- Tuyết Lý Mai rất được Dương đại nhân sủng ái, e rằng chưa hẳn đã chịu dựa vào công tử, tiểu tỳ không nắm chắc. Nếu công tử gấp gáp như vậy, nói chuyện này với ả trước, chẳng may tiết lộ tin tức thì...

Vương Cảnh Long nghe xong vội nói:
- Tiểu thư cân nhắc rất phải, hay là đừng nói vậy. Nếu ả không biết thức thời, thì ả tự chuốc vạ vào mình thôi.

Miệng thì nói vậy, nhưng trong lòng Vương Cảnh Long lại thầm đắc ý, nghĩ rằng Ngọc Đường Xuân đang nổi lòng ghen tỵ, muốn tranh thủ tình cảm của hắn. Người con gái kia cũng yêu kiều không kém, hơn nữa còn có một vẻ đẹp lạnh lẽo như mai. Nếu đã có cơ hội đưa nàng về phủ một cách danh chính ngôn thuận, hắn thật có phần không nỡ bỏ qua. Hắn định ngày mai chờ đến lúc họ Dương tan nhà nát cửa, sẽ chia nửa phần công lao tố giác gian thần của Ngọc Đường Xuân cho nàng, tìm cách đem nàng về phủ luôn.

Vương Cảnh Long bèn đem kế hoạch hắn đã chuẩn bị kể tỉ mỉ cho Ngọc Đường Xuân nghe. Thấy lão quản gia mấy lần thập thò ở ngoài sảnh, sợ lão sinh nghi, hắn đành phải quyến luyến cáo từ, quay về đặt chuyện bêu xấu Dương Lăng.

Ngọc Đường Xuân gọi quản gia tiễn Vương Cảnh Long ra khỏi cửa, còn mình thì vội vã xoay người chạy vào nhà trong. Vừa vòng qua sảnh chính (trung đường), nàng đã thấy Tuyết Lý Mai tái mặt đứng ở phía sau. Vừa gặp mặt, Tuyết Lý Mai chẳng nói chẳng rằng đã nhào tới giáng ngay một bạt tay vào mặt nàng, khiến nàng sững cả người.

Tuyết Lý Mai cười gằn:
- Uổng công ta coi ngươi là tỷ muội bấy lâu, không ngờ tâm địa ngươi lại độc ác như vậy! Hồng Phất dạ bôn, Lục Châu trụy lầu ư? Ta khinh! Bọn họ là nữ nhân hiếm thấy trong chốn phong trần, Tô Tam ngươi mà cũng đòi sánh với họ ư?
Ngươi cút ngay! Cút đi! Nếu thật sự đại nhân không thể cứu vãn, cùng lắm thì Tuyết Lý Mai ta tự vẫn chết theo, cùng xuống suối vàng với người. Ngươi đi mà hưởng lấy vinh hoa phú quý của mình đi. Nếu muốn ở lại hãm hại đại nhân thì đừng trách ta trở mặt vô tình!

Ngọc Đường Xuân sờ dấu năm ngón tay hằn trên gương mặt mặt, cười khổ:
- Cái tính tình nóng nảy của muội đến khi nào mới chịu sửa đổi đây? May mà hôm nay người gặp tên ngụy quân tử đó là tỷ. Nếu là muội, ngay khi người ta vừa thốt lời bất lương với lão gia thì sớm đã gây gổ rồi, còn có thể moi được những tin tức này sao? Mau! Theo tỷ về hậu đường, gặp phu nhân rồi nói tiếp!

Tuyết Lý Mai bị nàng kéo chạy về hậu đường, lúc này mới hiểu được nguyên do. Ngọc Đường Xuân cũng không giải thích dài dòng, vội báo với Ấu Nương tin tức dò được từ Vương Cảnh Long. Ấu Nương vừa nghe ngày mai trượng phu sẽ bị xử trảm, suýt nữa thì ngất lịm. Cao Văn Tâm thấy nàng sắc mặt tím tái, sợ hãi vội đỡ lấy nàng, rút từ trong ống tay áo ra hai cây ngân châm chích nhanh vào sau gáy nàng vài cái.

Văn Tâm lo lắng:
- Phu nhân mà hoang mang thì không được đâu! Hôm nay đại nhân đang chờ chết như vậy, phu nhân nên cố gắng tìm biện pháp mới phải.

Tuy rằng Hàn Ấu Nương rất yêu Dương Lăng, dẫu bỏ mạng cũng không muốn y chịu tổn thương. Nhưng Hoàng Đế hạ lệnh giết người, nàng thật sự không nghĩ ra được trên cõi đời này còn người nào có thể cứu y.

Nàng có lòng dùng một thân võ nghệ của mình xông vào ngục cứu người bằng mọi giá. Mặc dù biết rõ hy vọng là mong manh, cùng lắm thì chết cùng tướng công mà thôi. Nhưng còn phụ thân và ba huynh đệ đang còn sống thì làm sao? Nếu làm như vậy há chẳng phải sẽ liên lụy bọn họ cùng chịu chết chung ư?

Hàn Ấu Nương bị xoay trong trăm nỗi ưu sầu, cảm giác lực bất tòng tâm, hai hàng nước mắt lã chã rơi xuống không ngừng.

Ngọc Đường Xuân lo sợ nói:
- Vương Cảnh Long muốn hãm hại thanh danh công tử là để cha hắn có thể hại người một cách chính đáng (lý trực khí tráng). Chuyện này chúng ta đủ sức trị được hắn, nhưng Hoàng Thượng sẽ không vì chuyện này mà tha tội cho đại nhân đâu. Chúng ta là phận gái, có thể làm được gì chứ?

Tuyết Lý Mai tức giận:
- Sao lại cứu không được! Chúng ta là người mà phủ Thọ Ninh Hầu muốn, ngay cả Cẩm Y Vệ cũng phải e sợ Thọ Ninh Hầu ba phần, chẳng phải đại nhân vẫn trị được bọn chúng, chuộc chúng ta ra đó sao? Văn Tâm tỷ tỷ là khâm phạm, ai cũng đều nói là cứu không được, thế nhưng không phải đại nhân vẫn nghĩ được biện pháp cứu tỷ ra được đó sao? Hôm nay đại nhân gặp nạn, đám phụ nữ chúng ta lại chỉ có thể ngồi đây khóc lóc chờ chết ư? Không suy nghĩ thì làm sao ra biện pháp chứ? Muội muốn học là học Lương Hồng Ngọc(3) nổi trống giúp chồng, quyết không học theo Lục Châu chỉ có thể nhảy lầu tỏ chí.

Ở trong nhà họ Dương, Tuyết Lý Mai vẫn luôn là người không giống nô tỳ, không ra thê thiếp nhất, nhưng lời này nói ra, rõ ràng nàng đã coi mình như thê thiếp của Dương Lăng. Nàng vừa nói xong, thấy ba người đều nhìn mình với ánh mắt kỳ quái, bèn đỏ mặt, ấp úng:
 Ấu Nương tỷ tỷ, mạng đại nhân chỉ còn một sớm một chiều. Muội, muội...

Hàn Ấu Nương thở dài, giọng buồn bã:
- Tâm tư muội làm sao mà tỷ không biết? Nhưng tướng công đã không thể cứu được rồi. Tỷ là thê tử của chàng, hiển nhiên phải cùng chàng đồng sanh cộng tử, không bao giờ chia lìa! Các vị ở nhà họ Dương không danh không phận, tội gì phải chịu sự liên luỵ này. Bây giờ có được tin tức sớm cũng tốt, ta đi lấy tiền bạc, các vị nhận lấy rồi mau chạy đi. Cả Văn Tâm tỷ tỷ nữa, tỷ cũng chạy đi. Lúc tướng công bị chém sẽ chính là giờ chết của Ấu Nương, muội cũng chả còn ngại đắc tội với thiên tử để thả các tỷ trốn đi.

Ngọc Đường Xuân đỏ mặt:
- Ấu Nương tỷ tỷ! Nếu tỷ nhất định ôm lòng phải chết, Tô Tam nguyện lòng... cùng tỷ đồng sanh cộng tử theo đại nhân. Có điều... không còn một chút hy vọng nào sao? Ngộ nhỡ tên thập trưởng tố cáo đó chịu phản cung thì sao?

Cao Văn Tâm lắc đầu thở dài:
- Đừng suy nghĩ hão huyền nữa! Hắn lại không điên, làm sao sẽ... Điên... điên à?
Nói đến đây lòng Cao Văn Tâm chợt máy động, nàng lẩm bà lẩm bẩm, ánh mắt có phần kỳ lạ.

Tuyết Lý Mai vội nói:
- Vậy thì mời Hoàng Thượng đến lăng điều tra đi. Hai ngày trước Tiền đại nhân đến phủ báo tin, không phải đã nói chúng ta cứ yên tâm chờ đợi, nói rằng chuyện trong lăng đã được xử lý kín kẽ, không thể tra ra chứng cứ hay sao? Chẳng lẽ triều đình lại rất e ngại đụng chạm đến phong thủy mà không cho nghiệm xét, chỉ bằng khẩu cung của một người mà đã giết người khác ư? Chúng ta hãy đi tố ngự trạng (dâng cáo trạng lên vua), yêu cầu Hoàng Thượng phái người đi Thái lăng khảo sát!

Ngọc Đường Xuân bảo:
- Đây là phương pháp duy nhất, cầu sống trong cái chết. Nhưng làm sao chúng ta có thể vào được Tử Cấm Thành, chúng ta tuyệt không gặp được Hoàng Thượng đâu!

Lúc này Cao Văn Tâm đột nhiên ấp úng:
- Nếu như để tỷ gặp nhân chứng đó, tỷ sẽ có biện pháp làm cho hắn... làm cho hắn trở nên điên điên khùng khùng, lời nói của hắn sẽ không thể làm chứng cứ được nữa. Chỉ có điều phải làm sao mới có thể gặp hắn đây? Huống chi chính ngọ ngày mai Dương đại nhân sẽ... sẽ... Không kịp nữa rồi!

Nghe bọn họ nói như vậy, tâm tư Hàn Ấu Nương trở nên linh hoạt, nàng chợt nhớ đến lời Dương Lăng nhờ Tiền Ninh chuyển lại cho nàng. Thế là tinh thần phấn chấn, nàng bèn bảo ba người Ngọc Đường Xuân:
- Những chuyện này có thể từ từ rồi tính, việc cấp bách trước mắt là ngăn cản việc hành hình. Ấu Nương đã có chủ ý, có lẽ có thể buộc được Hoàng Thượng phải phúc thẩm. Nhưng biện pháp này rất là nguy hiểm, cũng có khả năng khiến cho Hoàng Thượng phẫn nộ, chém đầu chúng ta ngay tức khắc. Các vị tỷ muội... các vị thật sự nguyện ý ở lại?

Ba người con gái đồng loạt kiên quyết gật đầu, không hề có chút do dự. Hàn Ấu Nương nén lệ đứng lên bái lạy ba người. Ba người Cao Văn Tâm thấy vậy lật đật quỳ xuống hoàn lễ. Cao Văn Tâm nói:
- Phu nhân vạn lần chớ làm như vậy, chúng tôi thật không dám nhận.

Hàn Ấu Nương ngậm lệ cười nói:
- Tuyết Nhi nói rất đúng, vì tướng công, dù chỉ còn một tia hy vọng, ta cũng phải nỗ lực tranh thủ. Tướng công vì ta mà chống lại thánh chỉ, một đứa con gái như ta lại không tố được ngự trạng sao? Ba vị ở nhà họ Dương ta gặp đại nạn mà không rời bỏ, Ấu Nương thay mặt tướng công tạ ơn các vị. Nếu không chê, Ấu Nương nguyện cùng các vị kết làm tỷ muội, từ đây đồng cam cộng khổ, họa phúc cùng chia!

Ba vị cô nương đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng dập đầu lạy theo Ấu Nương. Bầu trời đang trút cơn mưa dầm dề bỗng loé ánh chớp, liền sau đó là một tiếng sấm nổ vang rền, toàn bộ khung cửa sổ rung lên bần bật.

...

Thiên lao (ngục của triều đình) tại bộ Hình chia ra làm hai nhà ngục Nam và Bắc, có hai cửa hông Đông và Tây. Phạm nhân được phóng thích hoặc đến công đường xử án thì ra bằng cửa Đông, còn được gọi là cửa Thanh Long; phạm nhân chấp hành án tử hình thì ra bằng cửa Tây, còn gọi là cửa Bạch Hổ. Dương Lăng không biết quy tắc này, nhưng Thị lang bộ Công Lý Đạc và hai người Nghê Khiêm, Đới Nghĩa thì lại biết, cho nên khi vừa bị áp giải ra khỏi cửa Tây, sắc mặt mấy người bọn họ lập tức trắng bệch, chân cẳng mềm nhũn.

Sau khi đến đại sảnh hình đường, quỳ xuống nghe thánh chỉ, nghe quan sai lần lượt hỏi danh tính, tuổi tác, quê quán, xác minh thân phận xong, Dương Lăng mới biết đại hạn đã đến.

Đới Nghĩa và Lý Đạc đều là mẫu người cương quyết, Dương Lăng cũng biết không nhận tội thì còn có một đường sống, nhận tội thì sẽ chết không nghi ngờ gì, vì thế lúc bị tra tấn cả ba đã cắn răng chịu đựng. Cả bọn chỉ mong Cẩm Y Vệ sớm tìm ra chứng cứ uy hiếp mấy vị đại thần, đồng thời để cho những lời đồn đãi được tung ra kinh động đến tai Thánh Thượng, khiến hắn phải kiêng dè một chút.

Nhưng đó đều là những thủ đoạn kéo dài thời gian, không cứu được tình thế khẩn cấp. Nghê Khiêm của Khâm Thiên Giám không chịu đựng nổi tra tấn. Kẹp gỗ vừa xiết vào các ngón tay, lão ta đã đau đớn như thể chết đi sống lại, không chịu nổi đành phải nhận tội. Nhưng vừa ngừng tra tấn thì lão ta lập tức phản cung. Hai, ba lần như vậy, khiến cho công khanh của Tam Ty nổi điên lên. Thế là trong lúc tra tấn họ bèn bắt lão phải ký tên chịu tội lên bản cung rồi không hề phúc thẩm, trực tiếp báo cáo lên Hoàng Đế.

Hoàng Đế Chính Đức nghe nói đã có người nhận tội, những kẻ này quả nhiên khi quân phạm thượng, hắn nổi giận lôi đình lập tức hạ lệnh chém đầu cả bốn người. Đám người Lưu Cẩn thấy Chính Đức nổi giận đùng đùng nên cũng không dám cầu xin cho Dương Lăng.

Vốn Hồng Chung còn muốn khuếch trương chiến quả, kéo thêm mấy người vào rọ để chứng tỏ oai phong của bộ Hình. Nhưng thánh chỉ đã ban, lão ta đành phải tiếc nuối đưa bốn người ra khỏi đại lao. Việc này cũng khiến cho kế hoạch của Cẩm Y Vệ bị xáo trộn, các phương pháp dự tính ban đầu đều không kịp sử dụng.

Mấy trăm tay nha dịch bộ Hình vây quanh xe la nhốt bốn người chạy về phía đầu chợ. Sắc mặt bốn người nhợt nhạt, cả trên mười ngón tay lẫn cổ chân đều đã bê bết máu thịt.
Đầu khu chợ thực phẩm là nơi buôn bán sầm uất, phần lớn người vào Nam ra Bắc qua cầu Lư Câu, vào Quảng An môn, vào nội thành Bắc Kinh đều phải đi qua đây. Lúc ban sơ, nơi này gọi là chợ Củi, vị danh nhân đầu tiên bị tử hình ở đây chính là thừa tướng Văn Thiên Tường (3) của Đại Tống, người đã bị Đại Nguyên bắt giam trong ngục bốn năm, không bị lay động bởi vinh hoa phú quý, quyền lực lẫn mỹ nữ.

Bốn người Dương Lăng bị áp tải xuống xe chở tù, đẩy lên đoạn đầu đài hình chữ ĐINH (丁) dựng ngay ngã tư. Dương Lăng ngửa đầu nheo mắt nhìn về phía xa: sau cơn mưa to đêm qua, những chiếc lá trên hai hàng cây hòe giờ đã xanh tươi như mới; nhìn về phía Bắc, có thể thấy Tuyên Vũ môn nguy nga, trang nghiêm ở xa xa. Dương Lăng khẽ thở dài một hơi, khóe miệng lộ nụ cười ảo não: “xem ra có lẽ hành trình về Đại Minh của mình kết thúc sớm rồi.” Vốn cũng chỉ có thể sống thêm trên một năm, y không quá quan tâm đến sự sống chết của mình, nhưng lại lo lắng cho an nguy của Ấu Nương.

Y chưa từng hối hận về những chuyện xuẩn ngốc mà mình đã làm. Y có thể mặc kệ Đại Minh còn hay mất, mặc kệ Hoàng Đế có là hôn quân hay không, y chưa hề có cảm giác gánh vác sứ mạng lịch sử to lớn đến vậy. Thay đổi được thì y sẽ thay đổi, không được thì cứ thuận theo tự nhiên. Dẫu sao thì hưng vượng là lịch sử, mà suy bại cũng là lịch sử. Ở thời đại mà y vượt thời không tới đây, người dân Trung Quốc đã thoát ra khỏi giai đoạn gian khổ rồi.

Nhưng y không thể trơ mắt nhìn biết bao người dân đang sống cạnh mình vì y mà chết đói. Đối với y, những người dân này không chỉ là những người cổ xưa, không phải là một đoạn lịch sử bi thương trên đống sách cũ rích. Những người dân này vẫn đang sống sờ sờ trước mặt y: những người dân nghèo khổ đang sống ở dưới tận cùng của xã hội rất đáng thương. Những người dân bần cùng cả ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời để cung cấp ăn ngon mặc đẹp cho loại người như y chỉ mong sao bản thân có đủ cơm ăn mà thôi. Phàm là người có chút lương tâm, làm sao có thể làm được chuyện ép chết bọn họ, còn mình thì yên tâm thoải mái mà hưởng thụ vinh hoa phú quý được chứ? Nếu làm như vậy, y tin rằng cho dù là Ấu Nương cũng sẽ khinh thường kẻ tướng công như y.

Hôm nay những kẻ bị chém là đại thần trong triều, vụ án lại hết sức ầm ĩ, nên đích thân thượng thư bộ Hình Hồng Chung, vị đại quan nhất phẩm triều đình, làm quan giám thị xử trảm. Nhìn thấy sắp đến chính ngọ, Hồng Chung rút cây bút son trên giá bút, đánh dấu lên thẻ có ghi chữ "chém" rồi ném thẳng xuống đất, hô:
- Đã đến giờ, chém!

Dương Lăng là đại nhân vật danh chấn kinh sư, dân gian lại bảo nhau vì xin cứu dân nên y mới phải chết thảm, cho nên có rất nhiều bá tánh đã đến tiễn biệt. Vừa nghe thấy tiếng "chém", đám đông bèn náo động một hồi. Bỗng một giọng nức nở kêu to:
- Tướng công!

Thân hình Dương Lăng run lên. Nhìn vào đám đông theo hướng tiếng kêu, y thấy Hàn Ấu Nương mặc toàn đồ trắng, bị binh sỹ cầm thương ngăn lại bên ngoài đám đông. Nàng đang giằng co muốn chui vào, bên cạnh là Cao Văn Tâm và Tuyết Lý Mai đang giúp nàng đẩy trường thương ra. Môi Dương Lăng run lên lập bập, giọng run rẩy:
- Ấu Nương...

Ngay lúc này, nước mắt y cũng trào ra. Ngây ngốc nhìn một hồi lâu, y mới nhắm mắt lại, quát lớn:
- Ấu Nương, về đi! Đừng xem ta bị chém đầu! Tuyết Nhi muội muội! Văn Tâm cô nương! Hãy giúp ta chăm sóc Ấu Nương chu đáo. Ấu Nương! Tướng công xin lỗi nàng, không thể bầu bạn với nàng trọn đời trọn kiếp nữa. Tướng công xin lỗi nàng...

Đoạn y ngửa mặt lên trời hét lớn:
- Nhưng tướng công cũng không thể lựa chọn, tướng công không thể vừa làm liệt sỹ vừa làm Thọ tinh (ông Thọ, chỉ kẻ sống lâu); không thể vừa làm quan lớn lại kiêm ẩn sỹ. Nàng và ta đến từ Kê Minh, tướng công biết dân chúng phải chịu cuộc sống cực khổ như thế nào. Tướng công không phụ với trời đất, lương tâm, chỉ là... đã làm khổ nàng rồi, Ấu Nương!

Dương Lăng đã cân nhắc rất kỹ. Trọng tội của y không ai có thể tha được, nhưng cái báu vật cất ở trong nhà ấy lại đủ để bảo vệ cho Ấu Nương không bị liên lụy. Hôm nay đóng thêm màn kịch này, thanh danh của vị quan tốt thương dân như con của y nhất định sẽ được lưu truyền, cho dù có người muốn rắp tâm sàm tấu hãm hại Ấu Nương, y cũng chẳng cần phải lo lắng nữa.

Hàn Ấu Nương nức nở:
- Tướng công! Chàng chưa từng có lỗi với thiếp, chàng là người đàn ông quang minh lỗi lạc. Đó mới là phu quân tốt trong lòng Ấu Nương!

Người dân bên cạnh thấy Ấu Nương bị chặn ở bên ngoài, lập tức nhao nhao la lên:
- Cho phép phu thê bọn họ thấy mặt một lần đi. Đại nhân, để phu thê người ta thấy mặt một lần đi mà!

Thấy quần chúng ồn ào, Hồng Chung sốt ruột quát:
- Chém! Lập tức chém! Chém hết bọn chúng!

Đao phủ mặc áo đỏ, phanh ngực hở bụng vác quỷ đầu đao bước lên đài, đến trước mặt bốn tử tội rồi quỳ một gối, cất giọng hết sức khách khí:
- Tiểu nhân ra mắt các ngài, thỉnh đại nhân về trời!

Đó là đặc quyền của quan lại, dân chúng bình thường không được đối đãi như vậy. Vừa nghe “lập tức xử trảm”, lòng Hàn Ấu Nương như có lửa đốt. Bất chấp quan binh ngăn trở, nàng vung hai tay chụp cây thương quấn tua đỏ trước mặt, co chân đá hai bên trái, phải. Hai quan binh bị đá trúng bắp đùi, lảo đảo lui về. Hàn Ấu Nương lập tức phóng về phía trước, búng chân nhảy lên đài cao, quỳ sụp xuống trước mặt Dương Lăng, ôm lấy y khóc nấc lên từng hồi.

Dương Lăng gượng cười bảo:
- Ấu Nương không khóc, đừng khóc, tướng công... tướng công...,
Giọng y run rẩy, không nói được thành lời.

Hồng Chung vừa sốt ruột vừa tức giận. Lão đứng phắt dậy, chỉa tay vào đám quan binh đứng cạnh, quát:
- Mau kéo người xuống cho ta, lập tức chém đầu!

- Khoan đã!
Hàn Ấu Nương hét lớn, quỳ gối xoay người cất cao giọng:
- Tướng công nhà ta bị oan, xin đại nhân thăng đường xử lại! Tướng công nhà ta bị oan!

Nghê Khiêm nghe vậy lập tức gân cổ rống lên:
- Oan quá, oan quá! Ta bị tra tấn thê thảm nên phải nhận bừa. Ta bị oan mà!

Đới Nghĩa, Lý Đạc thấy có cơ hội, cũng vội vàng kêu la oan uổng. Dân chúng chung quanh nghe thấy thế bèn xôn xao một hồi, có kẻ lớn tiếng:
- Có người kêu oan, theo luật phải dừng hình phạt để tái thẩm!

Dương Lăng chỉ đành cười khổ, thấp giọng khuyên:
- Ấu Nương ngoan, người vợ đáng yêu của ta, đừng chọc giận đại nhân nữa. Chỉ khi nào nàng tiếp tục sống tốt, tướng công mới... mới có thể thanh thản ra đi.

Y không cho rằng việc bọn Lý Đạc kêu oan trên pháp trường sẽ thu được ích lợi gì. Ngay cả phương pháp bịt trám chỗ rò rỉ cũng đã bị Nghê Khiêm khai báo, Hoàng Đế chỉ cần sai người đào đất kiểm tra thì sẽ lập tức biết thật giả ngay. Lúc này mà kêu oan thì còn có tác dụng gì. Nhưng y lại không biết khi đã ngấp nghé bên bờ tử vong, cơn sợ hãi khủng khiếp sẽ khiến cho người ta cố hết sức tranh thủ tìm đủ mọi lý do để có thể kéo dài mạng sống.

Hồng Chung cười khẩy:
- Nét mực trên khẩu cung còn chưa khô, các ngươi đã muốn phản cung sao?
Quan giám ngục! Mang người lôi những kẻ gây náo loạn đi, kẻ nào còn dám càn quấy nữa thì bắt lấy cho ta. Lập tức hành hình!

- Ai dám giết tướng công ta?
Hàn Ấu Nương quỳ sát ngay bên Dương Lăng, nếu thanh đao của gã đao phủ đang giơ cao trên không trung mà vung xuống, Ấu Nương liền sẽ bị chém cùng với Dương Lăng ngay.

Hồng Chung giận đến tím mặt, ra lệnh cho quan bảo vệ hiện trường là tả thị lang bộ Hình Trình Văn Nghĩa:
- Ta phụng thánh chỉ giám sát xử trảm, kẻ nào ngăn cản sẽ chịu chung tội. Bắt lấy Dương Hàn Thị ngay cho ta!

Trình Văn Nghĩa vẫy tay, dẫn bốn tay đao thủ ngang nhiên bước lên đoạn đầu đài. Khi nãy gã đã thấy Hàn Ấu Nương xông vào pháp trường, búng một phát đã nhảy lên đài cao, biết người con gái này võ nghệ không tồi, cho nên phải dẫn theo bốn tay cao thủ của Lục Phiến môn (5).

Trình Văn Nghĩa cầm đao đến trước mặt Ấu Nương, cười nhạt bảo:
- Dương phu nhân! Mời phu nhân lập tức rời khỏi pháp trường, bản quan sẽ không truy cứu phu nhân tội quấy nhiễu. Bằng không... phu nhân biết hậu quả rồi đó!

Dương Lăng nóng lòng đến độ hai mắt trợn tròn. Y bị đao phủ đè vai không thể động đậy, đành chỉ cuống quýt dùng bả vai đẩy Ấu Nương đi, sốt ruột:
- Đi mau, đi mau, chết cùng ta thì có ích gì chứ? Ấu Nương, nàng đừng cố bướng nữa, Ấu Nương à!

Vẫn quỳ gối, Hàn Ấu Nương vòng tay ra sau lưng, rút từ trong chiếc túi to ra một cuộn giấy, hai tay cầm lấy giơ cao trên đầu rồi từ từ mở ra, bóng râm của tờ giấy che lên đầu nàng và Dương Lăng. Nàng trừng cặp mắt quật cường, cất cao giọng:
- Tướng công nhà ta bị oan, chàng bị bức cung mà nhận tội. Hôm nay trên pháp trường, dân nữ trình ngự trạng, chỉ cầu xin Hoàng Thượng xử lại. Nếu như dân nữ vu cáo, nguyện cùng phu quân chịu tội!

Trình Văn Nghĩa thấy nàng lấy ra một bức tranh sơn thuỷ, không khỏi thấy hơi lạ. Đến khi cuộn giấy hoàn toàn được giở ra, gã chăm chú nhìn kỹ, thấy bên phải lạc khoản (6) có đóng một dấu ấn nhỏ màu đỏ thắm, Trình Văn Nghĩa liền thất kinh. Gã lúng túng, hoảng hốt một hồi, rồi chợt quỳ "cộp" xuống đất, khấu đầu hô lớn:
- Vi thần Trình Văn Nghĩa, khấu kiến Ngô hoàng (7) vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!



Chú thích:

(1) Hồng Phất dạ bôn (tạm dịch Hồng Phất chạy trốn trong đêm) là một câu truyện kể về một người con gái. Nàng vốn là người của Dương Tố, một kẻ vô cùng giàu có. Về sau nàng gặp được Lý Tĩnh (sau là đại thần nhà Đường), một kẻ nghèo kiết xác, tiền đồ mờ mịt, nàng đã chọn y. Trong đêm tối nàng trốn ra ngoài cùng theo y chịu khổ, lang bạt, cuối cùng cũng đổi được một cuộc sống tốt đẹp.

(2) Lục Châu trụy lầu (tạm dịch Lục Châu nhảy lầu) là một câu truyện cổ kể về số phận một ca kỹ nổi danh thời Tấn. Tán kỵ thường thị Thạch Sùng trên đường đi sứ trở về thì gặp một đám cường đạo đánh cướp mẹ con Lục Châu. Sùng hạ lệnh cho quân sỹ đánh đuổi cường đạo, cứu mẹ con Lục Châu, đồng thời đưa Lục Châu về Lạc Dương. Tôn Tú là thuộc hạ của Phan Nhạc, theo Phan đi đón Sùng, thấy vẻ đẹp của Lục Châu sỗ sàng khen ngợi, bị mắng cho. Tôn thẹn quá hoá giận, nhờ vả Tư Mã Luân, rình cơ hội đoạt lấy Lục Châu. Tư Mã Luân muốn soán vị đã lâu, nhưng lại sợ Tư Mã Duẫn sẽ đối đầu với mình, nên sau đó dùng kế của Tôn Tú, giết chết Tư Mã Duẫn. Tôn Tú thừa cơ tấu lời sàm ngôn, giết chết Thạch Sùng, Phan Nhạc, rồi bao vây Kim Cốc viên, lùng bắt Lục Châu. Bị cưỡng ép, Lục Châu đã nhảy lầu tự tử.

(3) Lương Hồng Ngọc, người Sở Châu, Hoài An, sinh vào niên hiệu Sùng Ninh, đời Tống Huy Tông (1102), mất năm 1153. Nàng xuất thân trong một gia đình cả cha và ông nội đều là những võ tướng kiệt xuất của Đại Tống, vì dẹp loạn Phương Lạp thua trận nên bị tội chém đầu, khiến cảnh nhà lâm vào túng quẫn. Nàng phải bán thân, nhưng với tinh thần quật khởi, đã trở thành một nữ tướng duy nhất xuất thân từ kỹ nữ, thành phần được coi là thấp kém trong xã hội phong kiến. Nàng lấy chồng là Hàn Thế Tung, một danh tướng nhà Tống, cùng thời với Nhạc Phi.
Xem thêm:
http://tintuc.xalo.vn/00-400325269/T...anh_tuong.html

(4) Văn Thiên Tường (6/6/1236 - 9/1/1283), người Cát Châu, Lô Lăng (nay là huyện Cát An, Giang Tây), là anh hùng dân tộc Trung Hoa. Ban đầu có tên Vân Tôn, tự Thiên Tường, sau khi được tiến cử vào triều, đổi thành Thiên Tường, tên tự thành Lữ Thiện, sau khi đỗ trạng nguyên lại đổi tên tự thành Tống Thuỵ. Sau vì cư trú ở Văn Sơn, nên lại có hiệu là Phù Hưu đạo nhân. Văn Thiên Tường trung liệt danh truyền hậu thế. Sau khi ông bị bắt làm tù binh, Nguyên Thế Tổ (Hốt Tất Liệt) lấy cao quan hậu lộc dụ dỗ khuyên hàng, Văn Thiên Tường thà chết không chịu khuất phục, ung dung chấp nhận hy sinh, được hậu thế khen ngợi. Ông cùng với Lục Tú Phu, Trương Thế Kiệt được sử Tàu xưng làm "Tống mạt tam kiệt" (ba bậc hào kiệt thời mạt Tống).

(5) Lục Phiến môn (nha môn cửa xanh) là một nha môn nằm gần cửa Tây trong thành Bắc Kinh phồn hoa, là nơi làm việc của các thư lại (quan đưa chuyển công văn). Tương truyền "Lục Phiến môn" được bộ Hình lập nên nhằm giải quyết các thế lực tàn dư và cường hào lục lâm, là trại huấn luyện bí mật, chuyên huấn luyện những thiếu niên khoẻ mạnh làm tay sai.

(6) Lạc khoản (trong thư pháp cũng gọi là khoản thức) là dòng chữ nhỏ để tên họ và ngày tháng ở trên các bức hoạ hay bức đối trướng.

(7) Ngô hoàng ở đây nghĩa "vua của chúng ta" chứ không phải là vua nước Ngô. Trong Hán ngữ, "Ngô hoàng" hay "Ngô vương" chỉ danh xưng của các vị hoàng đế phương Bắc nói chung. Có ý kiến cho rằng, vì người sáng lập ra triều đại nhà Minh, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, sau khi đánh chiếm Tập Khánh (Nam Kinh ngày nay), được Tiểu Minh vương Hàn Lâm Nhi tiến phong làm Ngô Quốc công, cho nên các vị vua triều Minh sau đó được gọi là Ngô hoàng. Dân ta khi xưa chống quân xâm lược phương Bắc cũng gọi chúng là giặc Ngô (ví dụ như Bình Ngô Đại Cáo).


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:29 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 101: Chiếu Chỉ Khám Lăng



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Trương Vĩnh vừa nghe liền bẩm ngay:
- Hoàng Thượng! Đúng là Thái Lăng vốn không thể tuỳ tiện động thổ, nhưng nay Hoàng Thượng muốn dời lăng, vậy là bỏ nơi đó rồi. Đừng nói là khảo sát một chút thôi, cho dù là khai quật mọi thứ lên cũng chẳng hề gì. Chi bằng Hoàng Thượng hãy phái người đi xem xét một chút; nếu chứng cứ xác thực, thì trong triều trên dưới cũng sẽ không ai có ý kiến gì nữa. Nếu như không có vấn đề gì, nếu phong thủy ở đó chưa từng bị phá hủy, mà chỉ mới động chạm một chút, không chừng mọi người sẽ nghĩ được một biện pháp nho nhỏ liền có thể tu bổ lại, vẫn có thể tiếp tục dùng làm Đế lăng. Lúc đó, Hoàng Thượng cũng sẽ không cần phải ra lệnh tăng thuế khiến cho bá quan khó xử nữa.



------------------------

Chương một trăm linh một - Chiếu Chỉ Khám Lăng


------------------------


Trên kim điện, Hoàng Đế Chính Đức ngồi trên ngai vàng mà lòng dạ rối bời. “Lúc này chắc hẳn ở đầu chợ đã khai đao xử chém rồi thì phải?” Nghĩ đến đây, Chính Đức không khỏi cảm thấy phiền não.

Tiểu hoàng đế còn nhỏ, chưa có nhiều tâm cơ đế vương cho lắm. Cho nên y chỉ phản ứng đơn thuần về mặt tình cảm: y không thể nào chấp nhận được sự phản bội của Dương Lăng. Vừa nghe Dương Lăng cũng tham dự vào chuyện che giấu tin xấu về lăng tẩm của phụ hoàng mà y rất kính trọng, Chính Đức hận không thể tự tay giết chết gã bầy tôi mà y hết lòng đối đãi chân thành này.

Nhưng dù hận, y vẫn nhớ khi mình còn làm Thái Tử, rồi làm Hoàng Thượng, y luôn là một kẻ cô đơn, mãi cho đến khi Dương Lăng xuất hiện. Trong ánh mắt hắn nhìn y không có sự sợ hãi và nịnh nọt mà y thường thấy trên gương mặt của những kẻ khác, mà là một sự quan tâm chân thành. Do đó y cũng luôn coi Dương Lăng như một người bạn.

Nhưng... người bạn duy nhất của y lại đã phản bội y. Nghĩ đến đây, Chính Đức không nén được tiếng thở dài.

Ngự sử Lục Trọng Côn thấy Hoàng Đế không nghiêm túc nghe lão phát biểu, bèn cất cao giọng gọi lớn:
- Hoàng Thượng!

- Hả? Cái gì?
Chính Đức ngây người một chốc, thu lại ánh mắt lơ đễnh, ngạc nhiên nhìn lão ngôn quan ngự sử đã ê a dài dòng nửa ngày mà y vẫn chưa biết lão muốn nói cái gì.

Lục Trọng Côn cố nén giận, bẩm:
- Giờ đang là đại tang của Tiên đế, giỗ đầu (1) chưa lâu, mới bắt đầu kỷ nguyên của Hoàng Thượng, mà người đã ham mê lạc thú, thỉnh thoảng lại đến dự tảo triều muộn, ngọ triều thì trễ đến xế chiều; sinh hoạt vô thường, ăn ngủ trái bữa, khiến cho tinh thần bị tổn hao, hại lỡ chính sự. Đó không phải là việc làm của minh quân đâu. Thần nghe đêm qua mưa lớn sấm vang, đánh vỡ mỏ diều hâu (*) của điện Phụng Thiên và con thú trên nóc Thái Miếu, cây cối trong thành bị gãy hơn trăm gốc. Hoàng Thượng nên lấy cái tai hoạ do trời gây ra ấy mà cảnh tỉnh.
(*: vật trang trí hai đầu nóc nhà kiểu Trung Quốc)

Chính Đức thờ ơ đáp:
- Biết rồi! Trẫm đã phái Khâm Thiên giám nghiệm tính cát hung.

Lục Trọng Côn cảm khái:
- Hoàng Thượng! Chiếu theo thông lệ của triều trước, hễ gặp thiên địa kịch biến, đế vương phải giảm bữa bớt vui, hạ chiếu tự ngẫm. Hoàng Thượng nên lệnh cho bá quan văn võ dâng tấu thảo luận khuyên ngăn, chỉ điểm tệ nạn đương thời mới phải.

Hoàng Đế Chính Đức thoáng nhướng mày, thầm nổi giận trong lòng: "Thật là quá vô lý! Mưa to gió lớn thổi ngã vài gốc cây, sấm sét đánh vỡ mấy con thú đá trên mái điện cũng muốn nói vòng nói vo để trút lên đầu trẫm. Cái gì mà 'đó không phải là việc làm của minh quân' chứ! Chẳng lẽ ta là hôn quân sao?"

Nhưng đã là ngôn quan, nghĩa là có thể tấu mà không bị hạch tội; cho dù là cha y, vị hoàng đế Hoằng Trị mẫu mực ấy, cũng từng có lúc bị bọn ngự sử tấu đến chịu không nổi. Vì vậy Chính Đức đành nén giận, bảo:
- Vậy thì hạ chiếu, lệnh cho bá quan vào can gián đi!

Chính Đức ho một tiếng, nói tiếp:
- Các vị ái khanh! Hôm nay nghịch thần dối gạt chuyện Đế Lăng bị tươm nước đã bị giải đến pháp trường xử tử. Việc dời lăng của Tiên đế đã là chuyện bắt buộc. Có thể tháo dỡ một phần vật liệu từ chỗ cũ để xây dựng lại lăng mới, như thế ước tính hao tốn khoảng ba trăm vạn lượng. Trẫm muốn trưng thu thêm một chút thuế khóa, các vị ái khanh có kiến nghị gì để điều trần không?

"Quả nhiên là đến lúc rồi đây!" Ba vị đại học sỹ không khỏi đưa mắt nhìn nhau. Hôm qua sau khi Chính Đức rời khỏi ngọ triều, Từ Quán đã vào cung bẩm báo chuyện khâm phạm đã cung khai nhận tội. Trong cơn giận ngất trời, Hoành Đế Chính Đức đã hất đổ bàn ngự (ngự trác), la hét ỏm tỏi muốn lập tức nghiêm trị đám nghịch thần tặc tử này. Ba vị đại học sỹ biết tin liền biết rằng chuyện dời lăng của Tiên đế đã ngã ngũ. Nhưng phí tổn khổng lồ này sẽ lấy từ đâu ra?

Kẻ khác có thể không biết tường tận, nhưng bọn họ còn chẳng biết mấy năm nay vì thiên tai liên miên không ngớt, tài chính của Đại Minh đã túng quẫn đến mức nào ư? Còn bọn Vương Quỳnh, Từ Quán, Hồng Chung chỉ hô hào giữ gìn bảo vệ vận mệnh Đại Minh nhằm để cho địa vị lẫn quyền thế bọn chúng sẽ tăng thêm một bậc; còn những uy hiếp trực tiếp khác đến địa vị lẫn vương quyền, bọn họ chỉ xem là thứ yếu.

Không còn cách nào khác, Lý Đông Dương đành liều mạng bước ra khỏi hàng tâu:
- Hoàng thượng! Thu nhập hằng năm của triều đình là bốn trăm vạn lượng, vừa đủ chi tiêu. Lăng tẩm tiên đế đã dùng hết ba phần tư, bộ Hộ đã cạn kiệt tiền bạc gom góp bấy lâu. Nếu di dời Hoàng Lăng, tất phải gia tăng thuế khóa. Dân chúng sẽ không chịu nổi cái khổ đâu.

Chính Đức nghe thế cả giận gắt:
- Bách tích Đại Minh có ức vạn (trăm triệu) người, chỉ thu mỗi người thêm một phần thuế, khanh không cần phải buông lời doạ nạt như vậy!?

Lý Đông Dương vội bẩm:
- Hoàng Thượng bớt giận! Hoàng Thượng có điều không biết, những năm gần đây thiên tai liên tiếp, Hà Nam Hà Bắc bị lũ lụt gây họa, Cam Túc Thiểm Tây hạn hán không mưa, ngay cả ở Giang Nam giá gạo cũng đã rất đắt đỏ, khiến cho khắp nơi đạo tặc hoành hành. May vì Tiên đế nhân từ, lấy thuế thấp nuôi dân, yêu thương dân chúng, trăm họ mới có thể miễn cưỡng vượt qua khó khăn. Nhưng dân chúng ở những vùng đất nghèo khổ đã phải mỗi ngày chỉ một bữa sống lay lắt qua ngày, nếu tăng thêm thuế má, sợ rằng sẽ gây nên biến loạn.

Lý Đông Dương chỉ lo Chính Đức không nghe lời khuyên can, gấp đến độ toát cả mồ hôi. Nếu không phải vì thời đó Đại Minh còn chưa biết đến truyện ngụ ngôn "Cọng rơm cuối cùng làm gãy lưng con lạc đà", lão cũng sẽ bắt chước Tiêu Phương đi đường vòng khuyên nhủ rồi.

Tạ Thiên lập tức bước ra tâu:
- Hoàng Thượng! Hôm nay rợ Miêu không ngừng nổi loạn gây hại cho hậu phương. Thát Đát đang vì Tiên đế về trời mà đang lom lom nhìn ngó Đại Minh chúng ta như hổ đói. Trong nước tổn hao, lũ lụt hạn hán dồn dập, dự trữ biên phòng thiếu hụt, thật sự không thể gây thêm tai hoạ nữa đâu.

Chính Đức đập bàn đánh "chát", quát:
- Thái Lăng không tốt, chẳng lẽ muốn Tiên đế vẫn an táng ở nơi đó ư? Hay đường đường là thiên tử Đại Minh ta lại phải nằm lại trong áo quan cả chục năm không thể nhập thổ an nghỉ, chờ cho dân chúng nghỉ ngơi lấy lại sức sao?

Uy danh Hoằng Trị trong đám quần thần cực cao, Chính Đức lại dùng tôn nghiêm của đế vương và đạo hiếu của người làm con mà lý sự, nên mặc dù trong quần thần có khối người phản đối tăng thuế nhưng nhất thời cũng đành cứng họng.

Dưới điện im lặng một hồi lâu, Lưu Kiện hiên ngang bước ra khỏi hàng, quỳ phục xuống đất tâu:
- Thần liều chết nói thẳng! Hoàng Thượng ở trong cung rộng rèm xinh có hay dân đen nhà củi lều tranh khó chống được bão giông? Hoàng thượng ăn ngon mặc đẹp, có hay dân đen cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm? Tiên đế được khâm liệm về lăng, nghi lễ có định chế, bầy tôi như thần nào dám xem nhẹ. Thế nhưng việc cũng phân nặng, nhẹ, gấp rút và thư thả. Mạnh Tử nói: ”Dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc giang sơn vi trọng (*)”, Đại Minh giữ nước là thuận theo thiên mệnh, thiên mệnh tức là bách tính. Đại Minh thuận theo thiên mệnh thì thuật phong thủy cỏn con sao đáng để e dè. Xây dựng Thái Lăng đã hao tốn của cải quốc gia, sao có thể dễ dàng nói hủy là hủy? Tiên đế nhân đức yêu thương con dân, tin rằng Tiên đế trên trời có linh, cũng sẽ xem trọng nhân dân chứ không xem nặng phong thuỷ. Cúi mong bệ hạ suy nghĩ kỹ lại.
(*: nguyên văn "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" nghĩa là, trong một nước quý trọng nhất là dân, kế đó là đất đai và lúa gạo (xã tắc), còn vua thì chỉ được xem nhẹ. Bởi do vua là do dân đặt ra chứ không phải vua đặt ra dân.)

Nói rồi Lưu Kiện úp mặt quỳ sấp tại chỗ. Lời của lão tuy rằng rất khách khí, thật ra cũng không ngoài việc nói bách tính mới là gốc rễ của xã tắc giang sơn, thuyết phong thủy là vô căn cứ, không thật. Còn về phần Tiên đế thì cứ an táng ở Thái Lăng là được rồi, đừng phung phí tiền bạc một cách mù quáng.

Trên kim điện, văn võ bá quan nghe vậy đều nín thở. Cái tính nết mưa nắng thất thường của vị tiểu hoàng đế này bọn họ đã sớm thưởng thức qua. Nếu như y nổi giận, kêu người lôi Lưu đại học sỹ xuống đình trượng (phạt gậy)(*), không phải ông già cao tuổi như vậy sẽ bị đánh chết tươi sao?
(*: đình là triều đình, trượng là gậy dùng để đánh người. Phàm là chuyện ở trong cung thì gọi là đình, như đình nghị, đình đối)

Bọn người Vương Quỳnh, Từ Quán có lòng ra mặt tranh luận giùm Chính Đức, nhưng dân gian đã xôn xao truyền miệng tin triều đình tăng thuế rồi, hơn nữa còn chỉ thẳng chính là do bọn họ sàm tấu, thành thử danh tiếng của bọn họ đã sa sút lắm rồi. Lúc này bọn họ ra mặt há chẳng phải xác nhận chuyện xấu đó sao? Thế là bọn họ cũng không dám bước lên phát ngôn bừa bãi.

Chính Đức nhìn ngó một hồi, thấy văn võ bá quan không ai ra mặt phụ họa tán đồng y, không ngờ y lại cảm thấy vừa bực vừa buồn cười: “Cái đám đại thần chết tiệt này! Hôm qua còn ông ổng bảo vừa là ảnh hưởng đến quốc vận vừa tổn hại cho hạnh phúc mai sau. Thế mà hôm nay ba vị đại học sỹ vừa lấy nhân dân ra ngăn cản thì không có lấy một người giúp ta. Rốt cuộc các ngươi là trung quân hay là yêu quý cái danh tiếng của bản thân các ngươi?”

Chính Đức đang chống hai tay lên ngự án, bất chợt đứng thẳng dậy chỉ vào Lưu Kiện, vừa định mở miệng nói, bỗng nhiên tướng quân giữ điện hối hả chạy vào, quỳ xuống hô to:
- Khải tấu Hoàng Thượng! Thượng thư bộ Hình Hồng Chung cho người phi ngựa về báo. Người vợ của phạm quan (quan phạm tội) Dương Lăng là Hàn thị xông vào pháp trường, tay cầm tranh vẽ của Tiên đế che trên đầu phạm quan Dương Lăng. Hồng Chung không dám tự ý hành hình, sợ tổn hại đến di vật của Tiên đế. Khẩn xin Hoàng Thượng định đoạt!

Bá quan bèn rào rào sôi nổi bàn tán. Có lẽ vì những buổi họp triều hằng ngày quá khô khan nhàm chán, cho nên vừa nghe tin vợ của Dương Lăng cầm tranh vẽ của Tiên đế xông vào pháp trường cứu chồng, văn võ bá quan liền như uống phải thuốc kích thích.
Đang quỳ sấp mặt ở dưới đất, Lưu Kiện nghe vậy cũng không khỏi mừng rỡ. Lão to gan nói thẳng, thật ra trong lòng cũng thấp tha thấp thỏm, tin vừa rồi đánh lạc sự chú ý của Chính Đức, lão sẽ không bị sao nữa. Lưu Kiện thầm thở phào, đưa ống tay áo lên lau mồ hôi lạnh trên trán.

Chính Đức nghe vậy thì đứng ngây tại chỗ, một lúc lâu mới lẩm bẩm lặp lại:
- Ngươi nói Ấu Nương, vợ của Dương Lăng xông vào pháp trường? Nàng cầm thủ bút của phụ hoàng đã ban thưởng cho nhà họ Dương từ đời nào rồi à? Trên đó vẽ gì?

Y lẩm bẩm với bản thân, âm thanh rất nhỏ, chỉ có tiểu thái giám ở trước bàn nghe được. Nhưng chưa được Chính Đức ra hiệu, hắn cũng không dám lớn tiếng hỏi thay cho y.

Chính Đức ngây người một hồi, rồi bắt đầu chậm rãi cất bước đi lại trên bệ rồng. Tất cả bá quan chăm chú dõi theo động tác của y, thấy Chính Đức lúc thì nghiến răng nghiến lợi, lúc thì lại ngơ ngẩn xuất thần. Mãi một lúc sau y mới quát:
- Truyền dụ! Sai Ngự mã giám Trương Vĩnh đến đó tra hỏi trước, thu hồi thủ bút của Tiên đế đưa cho trẫm xem. Bãi triều!

Ở đầu chợ, Hồng Chung hổn hà hổn hển đi đi lại lại trên đài hành hình. Mặt trời hừng hực trên cao, chói loà, nhưng lão vẫn không nhận ra mặt mình đã đầm đìa mồ hôi. Tuy vật mà Ấu Nương cầm không phải là thánh chỉ, và bức thư họa đó cũng không hề liên can gì đến vụ án này, nhưng đó chính là bức họa do tự tay Tiên đế vẽ. Ở trước mặt bao người, cướp thì không cướp được, làm hư hại cũng không xong, lão đành phải đực mặt đứng ở đây.

Chợt lão giậm chân quát:
- Hàn thị! Ngươi nghĩ kỹ đi, xông vào pháp trường cản trở hành hình chính là tội chém đầu. Chồng ngươi Dương Lăng vi phạm pháp lệnh, khi quân phạm thượng, là kẻ ác không thể dung tha. Hoàng Thượng chỉ giết một mình hắn là đã quá khai ân rồi. Ngươi tuổi hãy còn nhỏ, chẳng lẽ không tiếc mạng sao?

Đã nâng bức thư họa đến mỏi nhừ cả tay, Hàn Ấu Nương ngẩng đầu liếc xéo Hồng Chung rồi bảo:
- Ông không phải là người tốt!

- Cái gì?
Hồng Chung kinh ngạc sửng sốt, giận dữ quát:
- Dương Hàn thị, ngươi dám phỉ báng mệnh quan triều đình ư?

Hàn Ấu Nương quật lại:
- Tướng công ta là một nam nhi đầu đội trời, chân đạp đất, là vị quan tốt vì nước vì dân. Ông nói tướng công ta không phải là người tốt, vậy ông nhất định không phải là người tốt.

Dân chúng bu quanh xem náo nhiệt phần lớn là những kẻ quanh năm nghèo khổ, dựng sạp buôn bán sống qua ngày, vì chuyện tăng thuế nên đã hận mấy người Hồng Chung đến thấu xương, vừa nghe Hàn Ấu Nương nói vậy lập tức đồng loạt reo hò. Có kẻ lớn mật còn chen vào trong đám đông thừa cơ chửi lão ta, khiến Hồng Chung giận đến tím mặt.

Lão phất ống tay áo hầm hầm:
- Chỉ là đám tiểu nhân và đàn bà khó dạy, lão phu không thèm so đo với ngươi!

Hồng Chung giận đến líu lưỡi. Ngay vào lúc này, một người cưỡi khoái mã phi đến pháp trường, kỵ mã vận trang phục thái giám trong cung. Khoái mã chạy theo thông đạo tạo bởi hai sợi dây thừng bện bằng cỏ đến trước đài. Không ngờ lúc phóng người xuống ngựa, thân thủ người đó lại rất mạnh mẽ.

Dương Lăng biết Chính Đức có tình cảm quấn quýt như trẻ con quấn chị với Ấu Nương, vốn nghĩ rằng Chính Đức sẽ không vì chuyện của mình mà trút giận sang nàng. Nếu vẫn không ăn thua thì với tình cảm của Chính Đức đối với Tiên đế, khi thấy bức thư hoạ đó thì hắn cũng sẽ bỏ qua cho nàng. Nhưng hôm nay nàng đã gây ra chuyện náo loạn pháp trường, Dương Lăng thật không đoán được với tính nết bốc đồng, mưa nắng thất thường của hắn thì Chính Đức sẽ xử trí như thế nào.

Lúc này vừa thấy khoái mã trong cung chạy đến, tinh thần của y không khỏi phấn chấn hẳn lên. Hàn Ấu Nương cũng tròn mắt, căng thẳng dõi theo người vừa đến. Bốn bề tĩnh lặng, Trương Vĩnh phi thân xuống ngựa, bước lên đoạn đầu đài cao nửa thân người. Dương Lăng nhận ra lão, buột miệng gọi:
- Trương công công!

Trương Vĩnh bước đến gần nhưng không đáp lời Dương Lăng. Lão ra vẻ nhìn chăm chú bức thư hoạ một hồi, rồi cũng quỳ xuống đất cung kính bái lạy một lúc. Hồng Chung và Trình Văn Nghĩa trố mắt nhìn lão thong thả thi lễ xong xuôi, Hồng Chung mới không nhịn được bèn hỏi:
- Vị công công này, xin hỏi Hoàng Thượng có gì căn dặn?

Lúc này Trương Vĩnh đã gia nhập Ngự mã giám, chỉ huy Tả Tương mã, là một trong tứ đại thủ lĩnh dưới trướng Miêu Quỳ, chỉ là vẫn chưa có duyên gia nhập vào Tây Xưởng, lực lượng trung tâm của Miêu Quỳ. Nhưng thân phận và địa vị lão đã khác xa lúc trước, nói chuyện trước mặt Hồng thượng thư cũng có vài phần tự tin. Nghe Hồng Chung ra vẻ bề trên, Trương Vĩnh mỉm cười đáp:
- Đại nhân yên tâm chớ nóng! Chúng ta phụng thánh dụ hỏi Dương Hàn Thị mấy lời.

Nói rồi lão bước lên một bước, điềm đạm hỏi Ấu Nương:
- Dương Hàn Thị! Hoàng Thượng hỏi ngươi: Dương Lăng phạm tội khi quân phạm thượng, lý nên xử chém, ngươi thân phận nữ lưu lại xông vào pháp trường là muốn làm gì?” (TJ: là để cứu chồng bà, rõ thế mà cũng hỏi?!)

Hàn Ấu Nương phản đối:
- Tướng công ta bị nhục hình mà nhận, xin Hoàng Thượng hãy cho về xét xử lại.

Trương Vĩnh gật gù nói:
- Hiểu rồi! Các ngươi đợi đi, bức thư hoạ này của Tiên đế, ta muốn thỉnh về kinh đưa cho Hoàng Thượng xem qua. Dương Hàn Thị, xin hãy đưa bức thư hoạ đó cho ta.

Vốn Hàn Ấu Nương dựa cả vào bức thư hoạ này mới tạm thời bảo vệ được tướng công, nghe Trương Vĩnh nói vậy thì không khỏi chần chừ. Trương Vĩnh cười ha hả nói:
- Dương Hàn Thị! Ta đang phụng ý chỉ của Hoàng Thượng, chẳng lẽ còn có thể gạt ngươi sao?

Dương Lăng bèn trấn an nàng:
- Ấu Nương! Giao bức tranh vẽ của Tiên đế cho Trương công công đi, không cần phải hoài nghi.

Nghe y nói vậy, Hàn Ấu Nương mới nâng cao hai tay, cung kính dâng bức thư họa lên. Trương Vĩnh cẩn thận nhận lấy bức thư họa đã được bồi giấy trang trọng, cuộn lại, nhét chéo vào trong ngực rồi quay lại thượng thư Hồng Chung:
- Hồng đại nhân! Hoàng Thượng có khẩu dụ tạm thời đình chỉ hành hình, ở pháp trường chờ lệnh!

Nói đoạn lão xoay người bước xuống đài, nhảy lên ngựa phóng băng băng.


Trong điện Bảo Hoà, Chính Đức cầm bức vẽ nhẩm đọc: "Cây tùng trăm trượng um tùm, dẫu rằng sần sùi xấu xí, nhưng là vật liệu chính để xây nhà to." ("Sâm sâm bách trượng tùng, tuy lỗi kha đa tiết, dụng chi đại hạ, chung thị đống lương chi tài.")

Chính Đức đọc xong liền giận dữ đập bàn:
- Phụ hoàng! Người nghĩ rằng Dương Lăng lỗi nhỏ, trông đợi vào y rất nhiều. Thế nhưng hôm nay y phạm đại tội, còn có thể xem là một chút lỗi vặt sao?

Trương Vĩnh chợt đảo khoé mắt. Lão cẩn thận quan sát vẻ mặt Chính Đức rồi bẩm:
- Hoàng Thượng! Nô tài ngu dốt, nghĩ mãi không thông. Hoàng Thượng tín nhiệm Dương Lăng có thừa, tên Dương Lăng này có thể nói là tiền đồ như gấm, cớ gì chỉ đi xây lăng vỏn vẹn có mấy ngày mà đã ngu ngốc phạm vào tội lớn tày trời như vậy? Nô tài ít học, nhưng cũng biết nếu một kẻ phạm tội, thì nhất định là do kẻ ấy hám lợi. Nếu là tội khi quân thì món lợi càng phải lớn. Vậy thứ Dương Lăng mưu cầu chính là cái gì chứ?

Chính Đức chợt đổi sắc mặt, quay đầu nhìn lão nói:
- Lão Trương! Có gì thì nói, không cần quanh co với trẫm. Có phải khanh nói Dương Lăng không có lý do gì để khi quân?

Trương Vĩnh cười hùa đáp:
- Lão nô thật sự không dám nói như vậy. Có điều theo lý mà nói, cho dù công trình xây lăng có món lợi để y mưu cầu, cũng không thể tốt bằng đứng ra tố cáo chuyện này. Dương Lăng sao lại ngu xuẩn đến như vậy, lão nô thật nghĩ không thông.

Chính Đức hừ lớn một tiếng, nói:
- Có nhân chứng ở lăng chính miệng làm chứng, còn có những kẻ khác biết sự tình bị chết một cách kỳ lạ, như vậy vẫn chưa đủ để chứng minh sao? Huống chi bọn họ cũng đã nhận tội rồi.

Trương Vĩnh cười nịnh lấy lòng:
- Đúng đúng đúng! Cho nên lão nô mới nói mình ngu dốt. Kể ra mấy kẻ bọn họ thật chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, khi bị bắt giải về kinh không chịu nhận tội để bị phạt cho xong, phải đợi đến lúc bị dùng đến đại hình (tra tấn nặng) mới khai. Đấy chẳng phải là đê tiện sao?

Chính Đức nghe lão vẫn có hàm ý bọn Dương Lăng vì bị bức cung nên nhận tội, bèn quay sang liếc lão một cái. Đoạn y lại quay về xem xét tỉ mỉ bức thư hoạ của phụ hoàng thật lâu, nhớ lại lời ngày đó phụ hoàng đã nắm tay y dặn dò: "Hoàng nhi! Trong triều toàn là các vị lão thần, không thể trợ tá hoàng nhi cả đời. Dương Lăng là người trọng tình trọng nghĩa, có cái nhìn rất độc đáo về chính trị lẫn quân sự. Tôi luyện thật kỹ một phen, không chừng y sẽ có thể trở thành bề tôi đắc lực cho con đó.”

Chính Đức nhớ đến đây, cảm thấy nụ cười và dáng điệu của phụ hoàng tựa như đang ở trước mặt, liền không kềm nén nổi đau thương. Y lưỡng lự một hồi lâu rồi mới bảo:
- Đáng tiếc Kim Tỉnh ở Đế Lăng không thể tùy tiện động thổ. Bằng không trẫm thật muốn sai người đến khảo sát qua, xem thử Dương Lăng có thật sự đã lừa gạt trẫm hay không.

Trương Vĩnh vừa nghe liền bẩm ngay:
- Hoàng Thượng! Đúng là Thái Lăng vốn không thể tuỳ tiện động thổ, nhưng nay Hoàng Thượng muốn dời lăng, vậy là bỏ nơi đó rồi. Đừng nói là khảo sát một chút thôi, cho dù là khai quật mọi thứ lên cũng chẳng hề gì. Chi bằng Hoàng Thượng hãy phái người đi xem xét một chút; nếu chứng cứ xác thực, thì trong triều trên dưới cũng sẽ không ai có ý kiến gì nữa. Nếu như không có vấn đề gì, nếu phong thủy ở đó chưa từng bị phá hủy, mà chỉ mới động chạm một chút, không chừng mọi người sẽ nghĩ được một biện pháp nho nhỏ liền có thể tu bổ lại, vẫn có thể tiếp tục dùng làm Đế lăng. Lúc đó, Hoàng Thượng cũng sẽ không cần phải ra lệnh tăng thuế khiến cho bá quan khó xử nữa.

Chính Đức vừa nghe xong bất chợt vỗ trán, buột miệng:
- Đúng thật! Trẫm cứ mãi nhớ là nơi đó không thể động thổ, lại quên mất bây giờ không giống khi trước nữa. Trương Vĩnh! Khanh hãy mau đi truyền chỉ áp giải đám người Dương Lăng trở về thiên lao, trẫm phải sai người thân cận đến Thái Lăng xét nghiệm.

Chính Đức nói xong cảm thấy vô cùng thích chí. Hôm nay trên triều ba vị Cố mệnh lão thần cùng lên tiếng phản đối, phê phán việc tăng thuế một cách nghiêm trọng như vậy, Chính Đức vẫn chưa thật sự có gan áp chế Tam công, cưỡng ép ban chỉ. Hơn nữa đã thấy nét bút của phụ hoàng, lại nghe được lời của Trương Vĩnh, trong lòng y cũng bắt đầu hoài nghi. Nếu thật quả như lời Trương Vĩnh nói, há chẳng phải cả nhà sẽ đều vui ư?

- Lão nô tuân chỉ!
Trương Vĩnh cười hì hì đáp lời, rồi xoay người vội vàng đi ra.

Lão vừa bước ra khỏi cửa liền thấy mấy vị đại thần Lưu Kiện, Tạ Thiên, Từ Quán, Tiêu Phương, Lưu Vũ, Dương Phương đi đến điện Bảo Hoà. Vì vội đi truyền chỉ nên Trương Vĩnh cũng không quan tâm nhiều đến bọn họ, vẫn vội vã bước đi.

Lý Đông Dương và Tạ Thiên đến là vì việc trưng thuế. Có vài lời không tiện nói thẳng trên triều nên cả hai muốn đến hậu điện lý luận kỹ thêm với Hoàng Đế. Còn đám người Từ Quán thì lại đến để khuyên Hoàng Đế tăng thuế. Có điều bọn họ đã nghĩ ra một biện pháp dung hoà, đó là trưng thu thuế theo vùng, vùng nghèo thì tăng thuế ít, vùng giàu có thì tăng nhiều. Như vậy, thuế má của vùng giàu có năm nay sẽ phải tăng gấp đôi, nhưng vùng nghèo chỉ tăng ba phần. Mặc dù vẫn sẽ gây ra tiếng oán than, song chỉ là sẽ làm cho vùng giàu nghèo đi, vùng nghèo nghèo thêm, biện pháp này dù sao vẫn tốt hơn là tăng thuế đều khắp cả nước.

Không ngờ bọn họ vừa mới bước vào điện, Chính Đức đã vui vẻ bảo:
- Các vị ái khanh đến thật tốt! Trẫm đang muốn sai người đi đến Thái Lăng khám nghiệm, để thẩm tra xem có phải đám người Dương Lăng đã khi quân phạm thượng hay không. Các khanh thấy phái ai đi thì ổn?

Vị tiểu hoàng đế này luôn có những ý nghĩ kỳ quặc quái đản, mỗi khi có một ý tưởng gì thì chỉ làm được một nửa liền vất qua một bên để làm cái khác, những đại thần này sớm đã quen rồi. Tuy rằng đám lão thần này vẫn chưa bắt kịp lối tư duy của Chính Đức, nhưng cũng đã có thể tùy cơ ứng biến, điềm tĩnh giải quyết rồi.

Lý Đông Dương thoáng ngây ra rồi lập tức nói ngay:
- Thần tình nguyện đến Thái Lăng một chuyến.

Từ Quán biết lão phản đối tăng thuế, còn nghe Vương Quỳnh kể lão ta từng trực ngôn phản đối, bảo vệ Dương Lăng ở trước mặt vua Hoằng Trị; lão già này lại không tin phong thủy, không chừng sẽ vì tư tâm mà gỡ tội cho Dương Lăng. Vì vậy Từ Quán liền lập tức lên tiếng phản đối:
- Không được! Đường đường là đại học sỹ đương triều lại đi làm quan khám nghiệm sao?

Tạ Thiên phản bác:
- Từ thượng thư nói vậy là sai rồi! Chuyện của Thái Lăng, cho dù chúng ta không bàn đến phong thủy, nhưng lúc này liên quan đến việc tăng thuế cũng thật sự đã là chuyện can hệ đến vận mệnh quốc gia. Đó là chuyện trọng đại cỡ nào chứ? Lão thần cũng muốn xin Hoàng Thượng cho phép được đi.

Từ Quán là người tố cáo vụ án Đế Lăng thấm nước, để tránh hiềm nghi, đương nhiên lão không thể xin đi khám nghiệm được. Lão sốt ruột, vội nói:
- Đã là như vậy, chuyện này càng phải nên cẩn thận. Theo lão thần thấy, Hoàng Thượng nên tuyển chọn những triều thần không hề có lợi ích và thiệt hại gì với vụ án này đi đến đó mới ổn thoả.

Tiêu Phương bèn hỏi:
- Vậy theo Từ thượng thư, chúng ta nên cử ai đi?

Từ Quán thoáng trầm ngâm rồi bảo:
- Không bằng như vầy: Chọn một vị huân thích (hoàng thân quốc thích có công lao), một vị triều thần, một vị Hàn Lâm. Ba người cùng đi, lấy đất về đối chiếu với đất Kim Tỉnh mà bộ Lễ đã niêm phong cất giữ, có nhầm lẫn hay không liếc mắt sẽ thấy ngay. Ba bên kiềm chế giám sát lẫn nhau, cũng hết sức công bằng.

Lão tin chắc rằng Kim Tỉnh đã bị người động tay động chân, cho nên không chút lo sợ. Trong ba người được đề cử, một người là bầy tôi trong triều, một người là huân thích chỉ có công danh lợi lộc mà không hề có thực quyền, một người là quan dự khuyết, chưa từng can dự triều chính, nên đương nhiên là thoả đáng nhất.

Dương Phương nghe vậy cười nói:
- Đã như vậy, thần xin đề cử Thành quốc công Chu Cương. Quốc công tuổi cao đức trọng, công chánh vô tư, đã là huân khanh, lại là quốc thích, có thể nói là nhân tuyển thích hợp nhất.

Hoàng Đế Hiến Tông từng nạp con gái của Thành quốc công làm phi, cho nên Dương Phương mới nói như vậy.

Tiêu Phương rất có hảo cảm với Dương Lăng, mà kẻ muốn "hạ" Dương Lăng lại là Vương Quỳnh, tử thù của lão, nên hiển nhiên lão rất muốn bênh vực Dương Lăng. Có điều Tiêu Phương không dám mạo hiểm tiến cử chính bản thân. Lão chợt nhớ khi Dương Lăng chờ xét xử tội kháng chỉ, từng có một sỹ tử thi Hội viết một bài văn chương gấm vóc lên tiếng ủng hộ y. Đại thần trong triều biết chuyện này không nhiều, nhưng Tiêu Phương thích nhất là sưu tập những bài kỳ văn chốn phường chợ, nên lại biết rất rõ việc này. Tiêu Phương thầm nghĩ: "Sỹ tử này chắc hẳn là có chút giao tình với Dương Lăng. Nay hắn đã được vào Hàn Lâm Viện, tuy chưa chắc hắn sẽ chịu xả thân vì Dương Lăng, nhưng đến lúc xét nghiệm Kim Tỉnh ở Đế Lăng, chỉ cần hắn có thể tiện tay làm qua loa, nhất định sẽ tạo thuận lợi cho Dương Lăng.”

Nghĩ vậy Tiêu Phương vội tâu:
- Thần xin tiến cử Nghiêm Tung. Người này là tân khoa tiến sỹ năm nay, đã trúng tuyển làm Thứ cát sỹ Hàn Lâm Viện. Người này tài văn xuất chúng, lại đỗ đạt tiến sỹ tân khoa, chưa từng bước chân vào triều đình, có thể làm Khâm sai.

Chính Đức gật đầu nói:
- Được, vậy là hai người này đã được xác định. Còn trong các triều thần sẽ cử ai đi đây?

Mọi người đưa mắt nhìn nhau, nhất thời không ai dám lên tiếng. Sau khi tân đế đăng cơ, vụ án này đã trở thành võ đài để Lục Bộ thậm chí là Tam Công phân phối lại quyền lực và đấu đá lẫn nhau. Chỉ cần nhúng tay vào nhất định sẽ đắc tội với một bên, ai dám tùy tiện trả lời chứ?

Chính Đức thấy không ai lên tiếng, bèn nhìn vào từng người một. Bộ Lễ, Bộ Công, Bộ Hình, mấy nha môn này đều có liên quan đến vụ án, không dùng được. Chính Đức lắc đầu. Đột nhiên y nhìn thấy Thị lang bộ Binh Trần Hồng Mạc, bèn mừng rỡ nói:
- Bộ Binh không hề có liên can đến vụ án này, đại thần trong triều hãy do Trần khanh đại diện vậy.

Trần Hồng Mạc vừa nghe liền giật thót mình, lão nào có thể nhận nhiệm vụ làm kẻ đắc tội người ta này chứ. Lão cuống quýt thoái thác:
- Thần tạ ơn Hoàng Thượng tin cậy! Nhưng thần không dám giấu, tiến sỹ Khâm Thiên giám Hoa Phó là thân nhân của vi thần, mà vụ án này lại liên quan đến Khâm Thiên giám, thần nên lánh đi để tránh hiềm nghi mới phải.

Lão thấy Chính Đức lộ vẻ không vui, vội vàng nói thêm:
- Tuy nhiên vi thần xin tiến cử một người. Người này cũng là quan viên bộ Binh, thường ngày rất là cẩn trọng, hơn nữa hoàn toàn không có liên can gì đến vụ án này. Chỉ là quan chức hơi thấp kém một chút.

Chính Đức sốt ruột gắt:
- Trẫm muốn phái người đi, chỉ là muốn tìm vài người không liên can đến vụ án này để giúp trẫm kiểm tra rõ ràng mà thôi. Quan chức lớn hay nhỏ chẳng sao, người khanh nói là ai?

Trần Hồng Mạc vội đáp:
- Chủ sự bộ Binh Vương Thủ Nhân. Người này xưa nay có tiếng là người hiền, có thể đảm nhận trọng trách!



Chú thích:

(1) Nguyên văn “tiểu tường”: giỗ đầu.
Thời cổ, sau khi Hoàng đế, Hoàng thái hậu, Hoàng hậu mất 12 ngày thì cúng tiểu tường.
Từ thời Hán Văn Đế, để giảm nhẹ tang kỳ, triều đình sử dụng một ngày thay cho một năm, nên sau 12 ngày xem như đã đủ năm, sẽ cúng tiểu tường; sau 24 hoặc 25 ngày thì cúng đại tường, giải tang cho quan lại.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:33 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 102 - Dương Minh Giấu Trời (1)



Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: X1999_vn

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Nếu muốn không tăng thuế thì chỉ có cách không dời lăng, nếu muốn không dời lăng thì chỉ có cách chứng minh Kim Tỉnh chưa từng bị người động tay chân. Hết cách, Lý Đông Dương đành mời bạn thân là Vương Hoa, nói rõ vì đại nghĩa quốc gia, cùng ông ta lập ra một kế hiểm: "Man thiên quá hải điều bao kế! (*)" (*: Giấu trời vượt biển để đánh tráo)

Dạng đất như dưới Kim Tỉnh có hiện đang được giữ trong bộ Lễ, mà Vương Hoa là quan lớn nhất chỉ đứng sau Vương Quỳnh ở bộ Lễ, nên mặc dù đất Kim Tỉnh này được trông coi rất nghiêm ngặt, nhưng với thân phận của Vương Hoa, muốn đánh tráo ít nhất cũng nắm chắc bảy phần.



------------------------

Chương một trăm linh hai - Dương Minh Giấu Trời (1)


------------------------


Lý Đông Dương rảo bước ra khỏi cửa điện. Vừa chui vào trong kiệu, lão lập tức vén rèm, gọi một gia nhân lớn tuổi đi cùng lại, bảo:
- Nhanh, đến bộ Lễ một chuyến, mời Vương Hoa Thị lang đại nhân đến phủ của ta uống rượu thi thơ.

Thị lang bộ Lễ Vương Hoa, cha của Chủ sự bộ Binh Vương Thủ Nhân, là Trạng nguyên Thành Hoá năm Tân Sửu, là Thị giảng học sỹ Đông Cung thời tiên đế Hoằng Trị còn làm Thái tử, danh tiếng và địa vị không hề thua kém Vương Quỳnh.

Nếu không phải gặp lúc chiến sự thì bộ Binh là nha môn nhàn nhã nhất trong Lục Bộ. Ty phủ khố (đơn vị quản lý ngân khố một phủ) nằm ở dãy nhà thứ hai phía tây. Ngày hè hừng hực nắng, đóng cửa sổ thì không khí ngột ngạt oi bức thở không ra hơi, mở cửa sổ thì mặt trời lại chói chang gay gắt; rất nhiều sỹ tốt, tạp dịch đã trốn ra khỏi phòng, ngồi trên hành lang dưới mái hiên phe phẩy quạt hương bồ (*) tán gẫu. (*: loại quạt làm bằng lá cây hương bồ; quạt tròn dẹt, giống như cây mà Tế Công cầm.)

Một tên dịch tốt chỉ mặc áo cộc đang văng nước miếng tứ tung kể về cái việc lạ lùng xảy ra ở đầu chợ ngày hôm nay:
- Nghe nói Dương đại nhân của Thần Cơ doanh là con cháu của Dương gia tướng trung thần Bắc Tống đó. Phải nói con gái nhà họ Dương này còn lợi hại hơn cả đàn ông. Đoạn đầu đài cao bằng thân ngựa, ở ngoài một trượng còn ngăn bởi dây thừng, thế mà vị Dương phu nhân này chân đạp tiễn bộ thoắt một cái đã nhảy lên trên đài rồi, nhẹ nhàng hơn cả một con báo nữa. Hồng Thượng thư cả giận, đích thân lên đài sai chém. Hây! Dương phu nhân nọ liền mở một bức vẽ, là bức vẽ mà Hoằng Trị Hoàng thượng tự mình đề bút, kê trên đầu trượng phu. Đó là đồ vật do tiên hoàng ban thưởng, bất luận ngươi là vương hầu công khanh, đã có phúc trông thấy đều phải cung cung kính kính dập đầu, ai dám chém chứ? Cứ như vậy, bốn gã đao phủ đành giương mắt ếch ra mà nhìn.

Một tên binh sỹ nghe thấy thú vị bèn chen miệng vào, hỏi:
- Ồ, nhưng mấy vị đại nhân khác đâu có mặc bảo (bức vẽ thư pháp) hộ thân, Dương phu nhân lại không bảo vệ bọn họ, tại sao không chém họ trước nhỉ?

Gã hán tử mặc áo cộc trợn mắt lên, nói:
- Ngươi nói coi? Đó là vì sợ vô lễ với mặc bảo của tiên đế. Đâu phải là hạ thánh chỉ đặc xá cho một mình Dương đại nhân đâu, ai dám một bên nặng một bên nhẹ, chém một nửa chừa lại một nửa chứ? Người nhà của mấy phạm quan khác sẽ chịu bỏ qua sao? Người trong thiên hạ sẽ nghĩ như thế nào? Thượng thư bộ Hình còn không mất sạch mặt mũi à?

Bị quở trách một trận, binh sỹ kia đành ngượng ngập cười trừ không nói nữa. Bọn họ ngồi quanh một chiếc bàn vuông nhỏ, trên bàn đặt một ấm trà lớn và sáu bảy bát trà. Hán tử nọ nói đến chỗ cao hứng, bê một bát trà lên nốc ừng ực mấy ngụm mới phát hiện ra là mình đã cầm nhầm, bèn quay sang người bên cạnh, áy náy nói:
- Úi, xin lỗi Vương đại nhân, tiểu nhân đã cầm nhầm bát của ngài rồi.

Vị Vương đại nhân đó chính là Chủ sự Ty phủ khố của bộ Binh - Vương Thủ Nhân, tuổi chừng hơn ba mươi, mày trơn mặt nhẵn, tướng mạo có vài phần giống người phương Nam, cặp mắt tuy không to nhưng rất có thần.

Nghe hán tử xin lỗi, y xua tay, cười bảo:
- Uống thôi mà, có gì to tát chứ.

Nói rồi, cầm lấy ấm rót cho hán tử đó một bát nữa.

Vị Chủ sự này cũng mặc mỗi áo cộc, trông không giống dáng vẻ của một Tiến sỹ. Vị nhân huynh này và Đại Minh Thất Tử (bảy tài tử của Đại Minh), cầm đầu là Lý Mộng Dương, thường hay ngâm thơ vẽ tranh, nghiên cứu thơ văn cùng nhau, quan hệ rất thân thiết. Cho dù là gặp những kẻ bán dạo, bán rong, tạp dịch, nô bộc y cũng có thể chuyện trò rất là hợp ý. Các nha dịch cùng y đều đã rất quen với nhau, chưa từng coi y như quan viên cao cao tại thượng.

Vương Thủ Nhân cầm ấm rót đầy nước trà, mỉm cười liếc mọi người rồi từ tốn nói:
- Hoàng thượng long nhan đại nộ chính là vì phong thuỷ đế lăng không tốt, có thể tổn hại đến quốc vận. Nghe nói Hoàng thượng đã quyết chí dời lăng, vậy ắt muốn trưng thu thêm thuế. Hôm nay trên triều, ba vị Đại học sỹ tuy có thể tạm thời ngăn cản việc này, nhưng chuyện long mạch bị tổn hại còn nằm ở đó, e rằng tăng thuế cũng là việc bất khả kháng.

Một nha dịch nói:
- Đúng vậy! Chuyện phong thuỷ này sao có thể làm qua loa chứ! Long mạch liên quan đến vận mệnh Đại Minh, nếu thật bị tổn hại vậy không phải sẽ rất nguy ư?

Một nha dịch khác nghe vậy, tức giận chen vào:
- Phong thuỷ gì chứ! Bây giờ lão bá tánh sống còn không qua nổi ngày, còn lo nghĩ đến chuyện mấy trăm năm sau sao? Huynh đệ ta mở hiệu đánh ngựa (mã hành) nho nhỏ chuyên đi con đường kinh sư và Thông Châu này, y cũng nghèo lắm, tiền kiếm được mỗi năm chỉ có thể miễn cưỡng sống qua ngày. Lần này tăng thuế, thu nhập lại ít đi. Hơn nữa, thuế tăng mà lãi có hạn, thương nhân bộ hành chịu thuê ngựa tất nhiên cũng sẽ giảm bớt. Huynh đệ ta đang sầu não làm thế nào để sống qua ngày đây này, nói gì đến những bá tánh bình dân kia chứ.

Có nha dịch đang phe phẩy quạt hỏi:
- Nghe nói Dương đại nhân chính là vì để cho người dân trăm họ có con đường sống nên mới giấu chuyện đế lăng rỉ nước. Nói cho cùng đó cũng là vị quan tốt vì nước vì dân, nhưng mà chuyện phong thuỷ này cũng không thể làm qua loa lấy lệ. Vương Chủ sự, ngài thấy thế nào?

Vương Thủ Nhân thoáng trầm tư rồi nói:
- Theo ta thấy, thế gian vạn vật đều có đạo lý tồn tại của nó. Phong thuỷ là một loại tồn tại, bá tánh cũng là một loại tồn tại, cho nên phong thuỷ có đạo lý của phong thuỷ, mà bá tánh có đạo lý của bá tánh. Nếu nói chút đất đai bị hư hại sẽ ảnh hưởng đến quốc vận, vậy mạng sống của ngàn vạn bá tánh chẳng phải sẽ càng ảnh hưởng đến vận mệnh quốc gia ư? Chu Tử nói: 'Khử nhân dục, tồn thiên lý' (2). Ký thác hết thảy hoạ, phúc, thịnh, suy lên phong thuỷ, đó chẳng phải là ‘nhân dục’ sao? Vì ‘nhân dục’ mà bất chấp sinh tử của bá tánh, ấy là làm trái với 'thiên lý'. Đem hai thứ lên cân, bỏ cái nhỏ lấy cái to, đương nhiên sự sống và cái chết của bá tánh mới là đạo lý.

Mọi người nghe xong gật đầu lia lịa. Một nha dịch cười, nói:
- Vương Chủ sự đọc nhiều sách, lời nói ra cũng khiến người tin phục. Đúng là phong cách của kẻ đọc sách 'nhìn cây trúc bảy ngày', chúng ta không thể so bì.

Đám sai dịch nghe xong thì cười ầm lên. Nguyên là Vương Thủ Nhân thuở nhỏ hiếu học, thời niên thiếu sùng bái "tòng Đạo ngộ lý" (hiểu Đạo thì sẽ ngộ ra mọi lẽ), từng mời đạo sỹ đến nhà xin chỉ giáo. Nhưng các đạo sỹ đó nào có học hành gì, ngoài biết niệm mấy câu vô nghĩa trong kinh kệ ra, quả thật không nói được chữ nào khác chứ đừng nói gì đến học vấn.

Đạo giáo của Lão Tử là một trong Cửu lưu (3) xa xưa, tề danh tam giáo, là đại gia triết học chân chính. Nhưng những đạo sỹ hôm nay tuy là phụng thờ Lão Tử làm thuỷ tổ, thật ra đa số là có quan hệ sư đồ với Trương Đạo Lăng của Ngũ Đấu Mễ Giáo (4) thời Hán, đạo nghĩa hoàn toàn khác với của Lão Tử.

Vương Thủ Nhân học không có kết quả, về sau lại theo nhà đại nho là Lâu Lượng du học, bắt đầu tin vào thuyết ‘cách vật tri lý’ (5) của Chu Hy, đã từng đối mặt với một cây trúc ở trong nhà ngộ bảy ngày bảy đêm. Kết quả chưa ngộ ra được đạo lý thì đã nhiễm phong hàn ngã bệnh. Chuyện này được truyền thành chuyện cười trong kinh sư, ai nấy đều biết, vì thế mọi người nghe xong câu trêu đùa ấy đều hiểu ý cười rần. Vương Thủ Nhân tính tình phóng khoáng, không câu nệ, không thủ lễ một cách cứng nhắc, vả lại chuyện này đã nhiều lần bị người lôi ra trêu nên nghe xong y cũng cười to theo, không hề vì thế mà mất vui.

Chờ cho tiếng cười của mọi người ngưng lại, một tên quan sai nói:
- Nói như vậy là Vương Chủ sự tán thành với Dương Lăng Dương đại nhân rồi. Nghe nói ba vị Đại học sỹ trong Nội các cũng bảo vệ y. Nếu như khi đó Vương Chủ sự cũng đụng phải chuyện như vậy, ngài sẽ làm như thế nào?

- Ta ư?
Vương Thủ Nhân ngẩn người, rồi bắt đầu trầm tư.
- Quân vương, bá tánh, phong thuỷ, xã tắc.

Như đèn kéo quân, những hình ảnh này bắt đầu chuyển động trong đầu y. Qua một hồi lâu, ánh mắt khó xử của Vương Thủ Nhân dần dần trở nên kiên định. Tuy rằng đám quan sai nha dịch đang yên lặng trông chờ đáp án không nghe thấy lời đại nghịch bất đạo thốt ra từ trong miệng y, nhưng hiển nhiên đã nhìn thấy được câu trả lời. Trong nhất thời, bọn họ đã thu lại nét mặt cười đùa, vẻ mặt mọi người đều trở nên trang trọng.

Tin Dương Lăng vào ngục, đưa lên pháp trường, Nghiêm Tung đều đã nghe được từ trong miệng đám đồng liêu. Tuy hắn rất cảm kích Dương Lăng, nhưng lòng mang công danh lợi lộc của hắn rất nặng. Vụ án phong thuỷ của đế lăng biết bao trọng thần trong triều đều không thể chen miệng vào, hắn bất quá chỉ là một tên vô danh tiểu tốt, cho dù dâng sớ cũng không cứu nổi Dương Lăng, có khi còn liên luỵ đến tiền đồ của chính mình. Những chuyện ‘không cần chí tiến thủ, chỉ cầu khí phách thư sinh’ hắn sẽ không làm. Bởi vậy, khi nghe nói Dương Lăng bị xử chém, mặc dù cảm thấy cực kỳ khó chịu, nhưng hắn lại thức thời, thậm chí không bén mảng đến pháp trường.

Nhưng tin tức về việc Hàn Ấu Nương dùng mặc bảo của tiên đế cản trở hành hình, Hoàng thượng giam giữ Dương Lăng để thẩm vấn lại vừa truyền ra, đầu óc của Nghiêm Tung liền trở nên linh hoạt. Cách đây ít lâu Dương Lăng kháng chỉ cứu thê, Hoằng Trị chậm chạp không bắt giam Dương Lăng, Nghiêm Tung đoán rằng thánh ý có lòng muốn gỡ tội cho y, vì vậy nên đã vội viết một bài văn chương tạo ra thanh thế lớn cho y.

Lần này Hoàng thượng ngưng hành hình để tái thẩm, hạ chỉ khám lăng, chẵng lẽ lại có thâm ý gì đó ở bên trong? Nghiêm Tung tiếp ý chỉ xong lập tức đóng cửa không ra, suy xét kỹ lưỡng đạo lý bên trong đó. Hắn nhíu mày ngồi ở trước bàn, ánh mắt bất động, trầm ngâm thật lâu. Phu nhân vừa được đón vào kinh của hắn là Âu Dương thị trông thấy phu quân hôm nay về sớm, vừa vào nhà liền ngồi đó chẳng nói chẳng rằng, bèn vội châm chén trà đem đến, nhẹ giọng hỏi:
- Tướng công, hôm nay đã gặp phải chuyện gì khó xử à?

Nghiêm Tung rất kính trọng vị thê tử kết tóc này. Thấy thê tử châm trà mang đến, vội vàng đưa hai tay ra đón rồi nhìn thê tử, gượng cười, nói:
- Ờ, không có gì. Hôm nay Hoàng thượng hạ chỉ khảo sát thái lăng, phái ba vị khâm sai, vi phu cũng là một trong ba người được Hoàng thượng khâm điểm. Ta chỉ cảm thấy kỳ quái, ta là quan viên mới vào làm quan, lúc thi Đình lại không có biểu hiện gì xuất sắc. Trong Hàn Lâm viện tài tử như mây, vì sao Hoàng thượng chỉ định mỗi ta?

Âu Dương thị nghe xong không khỏi hé miệng cười, trách:
- Chàng đó, lúc chưa làm quan thì nghĩ đến việc làm quan, làm quan rồi lại nghĩ đến thăng quan. Bây giờ Hoàng thượng trọng dụng chàng, chàng lại đi nghĩ quàng nghĩ xiên.

Nghiêm Tung liền lắc đầu, nói:
- Phu nhân không biết đó thôi, oai vua khó dò lắm. Nếu không đoán ra được thánh ý, Hoàng thượng muốn bảo nàng đi bên trái, nàng lại đi bên phải thì làm sao có ngày được vang danh chứ.

Âu Dương thị nghe trượng phu nói nghiêm trọng như vậy, cũng không khỏi nhíu mày. Thị trầm ngâm rồi hỏi:
- Tướng công, nghe nói hôm nay Dương Hàn thị cứu chồng nơi pháp trường là nhờ vào một bức tự hoạ của tiên đế. Không lẽ Hoàng thượng cũng biết được chàng và Dương đại nhân có giao tình, nên mới đem việc này giao cho chàng, ý bảo chàng gỡ tội cho y sao?

Nghiêm Tung giậm chân, nói:
- Chính vì vi phu không dò ra được có phải thánh thượng có ý này hay không nên mới hết sức khổ não. Nếu nói Hoàng thượng có ý để ta trợ giúp Dương đại nhân, nhưng người truyền chỉ lại không hề có chỉ bảo gì, truyền chỉ xong liền trở về cung ngay. Ta đã suy nghĩ đi suy nghĩ lại về ý chỉ nhiều lần, nhưng nghĩ không ra trong đó có ngụ ý gì. Nếu như Hoàng thượng có ý gỡ tội cho y, ít nhiều cũng nên chỉ rõ chút gì đó cho ta mới phải chứ.

Âu Dương thị nói:
- Thiếp không hiểu việc nước, chỉ suy nghĩ từ phương diện tình lý. Chàng nói xem, một vị quan lớn giận một người, tìm tội danh để phạt gậy hắn ta. Nhưng hắn và cha của vị quan này có giao tình và thư từ qua lại. Vị quan này, vốn là một người con hiếu thảo, cho ngưng phạt gậy rồi kêu người tra lại vụ án. Vậy vị quan muốn gỡ tội hay là vẫn muốn trị tội hắn ta?

Mắt Nghiêm Tung chợt sáng lên, nhưng hắn lại lập tức lắc đầu, cười nói:
- Ví dụ này không ổn, bức hoạ đó của tiên hoàng không thể so với thư từ. Tiên đế nhân hậu, những thần tử được ban thưởng lễ vật rất nhiều, lại không chỉ một mình Dương đại nhân. À! Không đúng, quả thực không giống nhau.

Nghiêm Tung chợt nhớ lại lời Thị lang Trình Văn Nghĩa đã nói qua, bức hoạ đó là vẽ vách núi và cây tùng hùng vĩ, trên bức vẽ có chữ đích thân tiên hoàng viết lên: ‘Cây tùng trăm trượng um tùm, dẫu rằng sần sùi xấu xí, nhưng là vật liệu chính để xây nhà to.’ Đây rõ ràng là một sự tín nhiệm mà tiên đế ủy thác, kỳ vọng Dương đại nhân sẽ trở thành bề tôi đắc lực mà.

Nghiêm Tung nắm lấy tay Âu Dương thị, hưng phấn nói:
- Vi phu ngu dốt, may mà có hiền thê nhắc nhở, giờ ta đã rõ thánh ý. Chỉ là... ba vị khâm sai, một vị là Chủ sự bộ Binh, còn một vị là Thành Quốc công đương triều, quan chức và địa vị đều hơn xa ta. Xét về công hay về tư, vi phu đều nên giúp Dương đại nhân mới phải, nhưng chỉ e một cây làm chẳng nên non.

Âu Dương thị cười hì hì, nói:
- Phu quân tốt của thiếp à, nếu như Hoàng thượng đã có ý gỡ tội cho Dương đại nhân, há sẽ chọn chàng làm chủ chuyện này, nói không chừng Quốc công gia và Chủ sự bộ Binh người ta đã sớm được mật chỉ của Hoàng thượng rồi. Chuyện chàng và Dương đại nhân từng có giao hảo tuy trong triều kẻ biết không nhiều, nhưng Hoàng thượng có Cẩm Y Vệ, có Đông xưởng, Tây xưởng; nghe nói bọn thám tử đó chỗ nào cũng nhúng tay vào, rất ư là lợi hại, Hoàng thượng có thể không biết sao? Chọn chàng chỉ là để bịt miệng đám đại thần đó mà thôi. Chuyến đi này, thiếp thấy chàng chỉ cần giả vờ câm điếc, sắm vai ông bồ tát bằng đất sét thì coi như đã hợp với thánh ý rồi.

- Bồ tát bằng đất sét à?
Nghiêm Tung cũng cảm thấy thê tử mình nói rất có lý. Có điều, nghĩ đến lý do Hoàng thượng dùng mình vốn chỉ vì hắn có giao hảo với Dương Lăng, không hề có điều xem trọng hắn, hắn không nén được có chút mất mát thất vọng. Niềm vui dò đoán ra được thánh ý lập tức phai nhạt đi nhiều.

oOo

Bên ngoài Ngọ Môn, đội nghi trượng của khâm sai đã xếp thành hàng ngũ chỉnh tề. Vương Thủ Nhân và Nghiêm Tung vì không quen biết nhau, cho nên gặp mặt chỉ chuyện trò vài câu rồi mỗi người ôm suy nghĩ riêng đứng đó chờ Thành Quốc công Chu Cương.

“Tình hình bây giờ, di dời đế lăng thì tăng thuế, bá tánh thì khổ mà xã tắc lại bất an. Năm xưa, Phương Hiếu Nhu (6) vì muốn duy trì chính thống bị tru di thập tộc mà không hề hối hận. Hôm nay, Vương gia ta vì giang sơn xã tắc chẳng lẽ lại tiếc đầu này?!” Lời của phụ thân Vương Hoa lại vang bên tai, Vương Thủ Nhân nghĩ đến kế hoạch đó, trong lòng chợt hơi khẩn trương.

Từ nhỏ y đã đam mê binh pháp, ham thích võ học, nhưng vẫn chưa từng ra trận giết địch, trải nghiệm chém giết; mà việc sắp làm ngày hôm nay, chẳng khác gì lấy kê trong lửa, phải đối mặt với nguy hiểm to lớn. Một khi thất bại, thì cả nhà Lý Đông Dương và Vương Hoa do mưu đồ chuyện này đều có thể sẽ bị xử chém. Với định lực của Vương Thủ Nhân, nghĩ đến chuyện này cũng không tránh khỏi thấp thỏm trong lòng.

Nếu muốn không tăng thuế thì chỉ có cách không dời lăng, nếu muốn không dời lăng thì chỉ có cách chứng minh Kim Tỉnh chưa từng bị người động tay chân. Hết cách, Lý Đông Dương đành mời bạn thân là Vương Hoa, nói rõ vì đại nghĩa quốc gia, cùng ông ta lập ra một kế hiểm: "Man thiên quá hải điều bao kế! (*)" (*: Giấu trời vượt biển để đánh tráo)

Dạng đất như dưới Kim Tỉnh có hiện đang được giữ trong bộ Lễ, mà Vương Hoa là quan lớn nhất chỉ đứng sau Vương Quỳnh ở bộ Lễ, nên mặc dù đất Kim Tỉnh này được trông coi rất nghiêm ngặt, nhưng với thân phận của Vương Hoa, muốn đánh tráo ít nhất cũng nắm chắc bảy phần.

Khó khăn nhất lại là Vương Thủ Nhân. Y là con của Vương Hoa, đồng thời cũng không phải là gã hủ nho, mê tín phong thuỷ. Lý Đông Dương dự liệu rằng để Vương Hoa ra mặt nhất định sẽ có thể khuyên được y đồng loã vào chuyện này, nhưng khó là khó ở chỗ khâm sai khám lăng có tới ba người mà không phải chỉ một mình Vương Thủ Nhân; muốn một tay che trời, tráo đổi đất lấy từ thái lăng về quả thực là việc cực kỳ khó khăn.

Lý Đông Dương bàn bạc cùng Vương Hoa, muốn để Vương Thủ Nhân tuỳ cơ hành sự, mang theo bên người một bao đất, đợi khi lấy được loại đất dưới Kim Tỉnh của đế lăng xong sẽ tìm cơ hội tráo đổi chúng, sau đó báo tin cho gia nhân thân tín trong phủ âm thầm đi theo cưỡi khoái mã gấp rút chạy về trước hồi báo cho Lý Đông Dương và Vương Hoa. Chỉ cần hai người nghe thấy tin Vương Thủ Nhân đắc thủ sẽ lập tức chạy đến bộ Lễ, Lý Đông Dương cầm chân Vương Quỳnh, còn Vương Hoa sẽ phụ trách tráo đất. Nơi đặt đế lăng lại không xa, có thể đi về trong ngày, nhưng thời gian cũng chưa hẳn sẽ dư dả.

Vì vậy, nhiệm vụ của Vương Thủ Nhân không những nguy hiểm mà còn vô cùng gian nan. Tình hình bên trong đế lăng rốt cuộc ra sao, ngay cả tài tử thông thái như Lý Đông Dương và Vương Hoa cũng không nắm rõ. Thời đó không cho phép tham quan đế lăng, lại không cung cấp bản vẽ để người ta tham khảo và nghiên cứu; cho nên, có thể tạm thời nghĩ ra được biện pháp này, Lý Đông Dương đã là cơ trí lắm rồi, thật không cách nào lập ra được kế hoạch tỉ mỉ hơn.

Nghĩ đến đây, Vương Thủ Nhân không nén được thở dài. Thành Quốc công cả nhà trung liệt, từ triều Hồng Vũ đến nay đã có ba vị Quốc công sau khi mất đi được phong vương, rất được vua yêu mến. Thành Quốc công đời này tuổi tác tuy đã cao, nhưng không hề hồ đồ mà là một ông già thông thái, Vương Thủ Nhân quả thực không dám đảm bảo có thể qua mặt lão. Có điều, nếu như lão Quốc công không chịu làm ngơ cho qua, hy vọng thành công sẽ vô cùng mờ mịt. Thậm chí vị Hàn Lâm thân gầy như cây trúc ở trước mặt này, qua cử chỉ và ngôn từ của hắn, dường như cũng không phải là nhân vật đơn giản.

Vương Thủ Nhân nghĩ đến đây không khỏi quay đầu liếc trộm Nghiêm Tung một cái, không ngờ Nghiêm Tung cũng đang nhìn y. Ánh mắt hai người vừa chạm, bọn họ lập tức chột dạ, mỗi người đều ôm tính toán riêng của bản thân.

Chính vào lúc này, một chiếc kiệu lớn tám người khiêng đong đưa kẽo kẹt đi đến Ngọ Môn, theo sau là tám tên thị vệ. Kiệu được đặt xuống đất, quản gia liền vén rèm kiệu lên, dìu một lão già đầu tóc bạc phơ, người mặc áo mãng bào (7), lưng đeo đai ngọc, bước một bước thì lảo đảo đến ba lần, run run rẩy rẩy. Vương Thủ Nhân trông thấy vậy không khỏi thất kinh.

Tết năm nay y từng theo phụ thân viếng thăm vị lão công gia này. Khi ấy huyền tôn (cháu cố) thứ mười bốn của Chu lão công gia đốt pháo ở trong lầu các, ông già nổi giận cầm cây chổi lông gà đuổi đứa cháu chạy khắp đại viện, bước chân thật sự là rất dẻo dai. Làm thế nào mà mới có nửa năm lão đã già yếu đến nông nỗi này rồi?

Vừa nghi ngờ vừa kinh ngạc, Vương Thủ Nhân vội bước lên phía trước vái sâu một lễ:
- Thủ Nhân bái kiến Chu lão công gia. Thân thể lão công gia gần đây vẫn khoẻ chứ ạ?

- Hả?
Giọng vang như sấm, giọng nói của lão công gia thế mà lại khá lớn:
- Đừng có lí nhí như muỗi thế, lão nhân gia ta nghe không rõ! Úi chào, tuổi tác già rồi, năm nay cũng xấp xỉ tám mươi, mắt cũng đã mờ, lỗ tai cũng nghễnh ngãng cả. Giờ thì nhìn cũng nhìn không rõ, nghe cũng nghe không được... Này! Ngươi là con cháu nhà ai thế?

“Lão già này thậm chí không nhận ra cả mình à?" Vương Thủ Nhân ngạc nhiên ngước mắt nhìn Thành Quốc công. Chỉ thấy trong mắt lão già chợt loé lên sự giảo quyệt, nhìn kỹ lại, vẫn là một đôi mắt đùng đục già nua đang ngỡ ngàng nhìn y.

Vương Thủ Nhân thấy vậy trong lòng mừng rỡ: “Đại sự được định rồi!”

Mặt y vừa lộ vẻ vui mừng, chợt liếc thấy Nghiêm Tung đang đăm đăm quan sát vẻ mặt của bọn họ, Vương Thủ Nhân vội vàng thu lại tâm trạng, ngầm hiểu ý thi lễ lần nữa rồi lớn tiếng nói:
- Thủ Nhân hành lễ với lão công gia! Lão công gia vẫn luôn mạnh khoẻ chứ ạ?




Ghi chú của tác giả: Vương Thủ Nhân là người trùm nhất trong ba trăm năm lịch sử triều Minh, qua các triều đại đã được thần thánh hoá. Vân Trung Nhạc có thể nói là chuyên gia về sử Minh, viết mấy chục quyển tiểu thuyết đều lấy triều Minh làm bối cảnh vậy mà mỗi Vương Thủ Nhân là sót lại không dám viết, chỉ dám mượn miệng kẻ khác để đề cập sơ những chuyện liên quan đến ông chứ không dám viết theo ý mình. Tiểu Quan muốn tránh cũng không được, đành thấp thỏm không thôi. Nếu muốn chửi xin quý vị cứ chửi đi, tại hạ quyết sẽ không màng!



Chú thích:

(1) Dương Minh là tên hiệu của Vương Thủ Nhân; "man thiên" trích từ kế "man thiên quá hải" (giấu trời qua biển), lợi dùng tình thế (hoặc thời tiết) để gạt người.

(2) Trừ bỏ Vọng tâm thì sẽ có được Chân tâm.

(3) Cửu lưu thập gia là các trường phái học thuật chủ yếu trong thời kỳ Chiến Quốc ở Trung Quốc. Các trường phái này bao gồm: Nho gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tung Hoành gia, Tạp gia, Nông gia và Tiểu Thuyết gia. Trong đó, chín trường phái đầu được gọi chung là Cửu lưu.

(4) Trương Lăng (hay Trương Đạo Lăng) tự là Phụ Hán (trợ giúp nhà Hán) (34-156) được xem là người đã khai sáng giáo phái Ngũ Đấu Mễ Đạo (Đạo năm đấu gạo) trong Đạo giáo Trung Quốc. Ngũ Đấu Mễ Đạo, cũng gọi là Thiên Sư Đạo, là một giáo phái ra đời trong giai đoạn đầu của Đạo giáo, tức cuối đời Đông Hán (25-220). Từ đời Đông Tấn trở đi, Ngũ Đấu Mễ Đạo được gọi là Thiên Sư Đạo, từ đời nhà Nguyên trở đi gọi là Chính Nhất Đạo. (theo wiki)

(5) Nguyên là "cách vật trí tri". Cách là suy xét, tìm tòi. Vật là sự vật. Trí là tới cùng và Tri là hiểu biết. Cách vật trí tri là suy xét cho thấu suốt về sự vật để hiểu biết đến tận cùng cái lý của nó. (theo Cao Đài)

(6) Phương Hiếu Nhu (1357 - 1402), người Ninh Hải Chiết Giang, là đại thần triều Minh, và là nhà học giả, văn học, tản văn (văn xuôi) và tư tưởng trứ danh. Ông tự là Hy Trực, hiệu Tốn Chí, từng lấy tên "Tốn Chí" đặt cho thư phòng. Thục Hiến vương đổi lại thành "Chính Học", nên đời gọi ông là "Chính Học tiên sinh". Trong giai đoạn "tĩnh nan chi dịch" (cuộc chiến do Minh Thành Tổ Chu Lệ phát động nhằm chiếm ngôi của cháu là Kiến Văn Đế), ông đã cự tuyệt chiếu thư đăng ngai mà Yến vương Chu Lệ soán vị thảo ra. Cương trực bất khuất, hết lòng đơn độc cứu nước, ông bị tru di mười họ.

(7) Mãng bào: Lễ phục của quan viên thời cổ, thêu hình mãng xà, nay không còn. Còn gọi là "hoa y", "mãng phục". Phụ nữ được thụ phong cũng có thể mặc.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:36 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 103 - Dương Lăng Vượt Biển (1)



Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: nguyenthai

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



- Minh quân! Minh quân! Tai trẫm nghe đến sắp chai hết cả rồi. Ông luôn miệng nói vạn thừa chi tôn, thế nhưng Hoàng thượng ta đây lại mặc cho ông khoa tay múa chân, chưa từng làm chủ được chuyện gì! Thiên hạ này là của ông hay là của ta hả?



------------------------

Chương một trăm linh ba - Dương Lăng Vượt Biển


------------------------
Chương 103 - Dương Lăng vượt biển

Trước đó, vì đã được vợ nhà nhắc nhở nên Nghiêm Tung càng xác định rằng Hoàng thượng có ý gỡ tội cho Dương Lăng, như vậy có nghĩa là người đứng đầu trong ba vị khâm sai nhất định cũng đã sớm nhận được mật dụ, cho nên từ lúc lão công gia vừa xuống kiệu, Nghiêm Tung đã nhìn lão chằm chằm không chớp mắt. Lão hồ ly đó cũng không ngờ lớp trẻ ngày nay thật là đáng sợ, thần sắc mới chỉ hơi khác thường một chút thôi mà đã bị Nghiêm Tung nhìn thấy hết.

Lúc này Nghiêm Tung càng tin chắc rằng mình đoán không sai. Nhưng thật ra, nếu Hoàng đế Chính Đức muốn giúp Dương Lăng thoát tội, với tính tình của y, y sẽ không quan tâm đến kẻ khác nghĩ như thế nào mà sẽ miễn xá thẳng luôn, cần gì mà phải lòng vòng mấy thứ này. Vả lại lão công gia cũng chưa hề nhận được mật chỉ của Hoàng Đế.

Thật ra, việc Lý Đông Dương vừa rời khỏi cung liền gấp rút hẹn Vương Hoa gặp mặt hôm qua đã sớm bị vị Thành quốc công này biết được. Sở dĩ như vậy là vì trong số những người mà Lý Đông Dương hẹn, có một người tên là Vương Tự Văn, y là học sỹ Hàn Lâm được lão công gia mời đến làm thầy giáo cho mấy đứa cháu. Khi Vương Hàn Lâm đến phủ Thành quốc công thì vô tình đã để lộ một ít tin tức.

Thành quốc công có thể đứng sừng sững trong vương triều họ Chu vốn rất nặng tính đa nghi, nhưng lão lại bao đời nhận được quốc ân, đương nhiên là vì lão tự có bí quyết riêng. Những người đứng đầu họ Chu ai nấy đều có "trái tim bảy lỗ" (2), nhưng bề ngoài phần lớn lại giống như những kẻ võ biền thô lỗ không hề có cơ trí; hơn nữa bọn họ còn giỏi về quan hệ xã giao.

Đừng cho rằng Thành Quốc công không thượng triều mà nghĩ lão không biết gì, ngược lại, bất kể việc lớn việc nhỏ gì trong triều cũng đều không giấu được lão. Cộng với vô số sự tình phát sinh ở triều đình và trong dân chúng hai ngày nay, tuy rằng Thành quốc công đoán không chính xác trong đó có ẩn ý gì nhưng cũng không sai biệt lắm. Vì vậy, lão đã nghi ngờ việc Lý Đông Dương hẹn gặp Vương thị lang và việc Vương Thủ Nhân được chọn làm khâm sai tất có liên quan với nhau.

Nghĩ thông suốt điểm này, Thành quốc công không khỏi thầm bội phục lòng son dạ sắt của Lý Đông Dương và Vương Hoa. Mấy thần tử Đại Minh này, vì giang sơn xã tắc và bá tánh lê dân, dám bất chấp nguy hiểm có thể bị tịch biên gia sản, chém đầu cả họ. Nhưng phủ Thành quốc công bây giờ có hơn ngàn người, lão nhân gia không thể tự mình ra trận được nữa nhưng bản lĩnh giả ngây giả ngô thì lão vẫn còn. Thế là lão già có thể nhìn một con muỗi bay qua trước mặt thì biết ngay nó là cái hay đực này liền biến thành ông già mờ mắt nghễnh tai, đi đứng lảo đa lảo đảo.

Vương Thủ Nhân thấy Thành quốc công đồng ý âm thầm tương trợ, trong lòng cũng yên tâm hơn nhiều. Vậy là cả ba người lên kiệu quan đến Thái Lăng, lúc này thái giám tổng quản của Ngự Mã Giám kiêm xưởng đốc Tây xưởng Miêu Quỳ và Tả thị lang bộ Công Lý Kiệt vội vàng ra chào đón, sau đó cùng ba vị khâm sai bước vào Đế Lăng.

Vương Thủ Nhân vừa đi vừa rờ bao đất vàng lớn nhét ở phía sau hông rồi trộm liếc lão công gia. Chỉ thấy Thành quốc công được quản gia dìu đỡ, vừa run run rẩy rẩy bước về phía trước vừa oang oang trò chuyện với Miêu Quỳ, như thể sợ người ta không biết lão vừa mù vừa điếc.

Vừa vào đến cửa điện bên trái, Miêu Quỳ liền dừng bước mỉm cười rồi quay sang Thành quốc công hành lễ, nói:
- Thành quốc công lão nhân gia! Ty chức sẽ đợi ngài ở đây.

Thành quốc công liếc y một cái có ý tán thưởng, hổn hển đáp một tiếng rồi đi vào. Riêng Lý Kiệt là công thần đứng đầu tố cáo vụ án này, nếu hắn lật đổ được bốn vị khâm sai kia thì hắn sẽ có công lớn giúp cho xã tắc, còn nếu như thất bại, thì nhẹ nhất cũng bị khép vào tội mưu hại đồng liêu, cho nên cũng mặc kệ lão công gia bất mãn, hắn vẫn lập tức bám sát theo sau, không rời nửa bước.

Ba vị khâm sai dừng lại ở trước bậc đá của Kim Tỉnh, Vương Thủ Nhân nói to:
- Lão công gia! Ngài đã cao tuổi rồi, xin mời ngài cứ đứng ở đây giám sát đi. Việc lấy đất này hãy giao cho chúng con, được không ạ?

Nói rồi y nhìn qua Nghiêm Tung. Kế hoạch mà Vương Thủ Nhân lập ra là, lấy đất xong, trên đường đi bọn họ sẽ đánh tráo. Nhưng hôm nay có Lý Kiệt đứng đó quan sát, bên cạnh còn có Nghiêm khâm sai, e rằng bọn họ sẽ khó lòng mà ra tay được. Chi bằng mình ra vẻ hào phóng, nhường cho Nghiêm Tung đi lấy đất sẽ không khiến người ta nghi ngờ.

Lúc này, Nghiêm Tung đứng gần Kim Tỉnh nhất. Khi nãy thông qua ánh sáng đèn, hắn liếc nhìn vào trong Kim Tỉnh trước, vừa nhìn thấy hình dạng của Kim Tỉnh, hắn liền không khỏi giật mình. Thì ra hình dạng Kim Tỉnh là như vậy, nếu muốn ra tay quả nhiên rất dễ dàng.

Hừ! Chỉ đáng tiếc cơ hội lập công như vậy lại đem biếu không cho vị Chủ sự Bộ Binh này. Nghiêm Tung trong lòng máy động, thầm cười khẩy nghĩ: “Để ta giả làm Bồ Tát bằng đất sét cũng được, nhưng không thể xem ta như thằng ngốc. Mưu kế của bọn họ mình đã đoán ra rồi, nếu như mình có thể nghĩ biện pháp nói cho họ biết, không lo bọn họ sẽ không thiếu mình một phần nhân tình nữa.”

Nghĩ đến đó, Nghiêm Tung vội vàng khách khí nói:
- Đúng đúng đúng! Xin lão quốc công cứ đứng đây đôn đốc, công việc lấy đất này hãy giao cho vãn bối chúng con là được. Vương đại nhân, mời ngài, học sinh sẽ ở một bên coi giữ.

Vương Thủ Nhân nghe y nói xong cũng không khách khí nữa, lấy một cái xẻng con lúc vào lăng đã mang theo ra rồi bước lên chiếc giường bạch ngọc. Lý Kiệt lập tức trừng to hai mắt, nhìn chằm chằm vào động tác của y không chớp. Thành quốc công cũng không biết Vương Thủ Nhân sẽ lấy đất như thế nào để che giấu việc Đế Lăng thấm nước, nhưng lão thấy Lý Kiệt đứng đó như một con ưng già, hai tay căng thẳng quắp đến độ sắp biến thành móng vuốt.

“Dưới cặp mắt chằm chằm như hổ đói này, tiểu Vương sẽ hành động như thế nào đây?”
Lão công gia nhíu hàng mày trắng, thong thả đến bên cạnh Lý Kiệt, vỗ vai lão ta rồi cười lớn nói:
- Ngươi chính là Thị lang Bộ Công Lý Kiệt hả? Ừ, trông được đấy. Ngay cả việc lăng mộ tiên hoàng xảy ra vấn đề mà cái đám tặc tử đó cũng cả gan dám che giấu, tội không thể tha à. Nếu không phải nhờ ngươi, toàn thể triều đình đều đã bị giấu gạt rồi.

Lý Kiệt cười bồi nói:
- Lão công gia quá khen rồi, đó đều là bổn phận phải làm của thần tử.

Nói thì vẫn nói, nhưng cặp mắt lão vẫn nhìn chằm chằm vào Kim Tỉnh không chớp, chỉ lo có người sẽ giở trò.

Nghiêm Tung nhìn thấy lão như vậy thì trong lòng cả mừng. Cái tên thối tha không biết điều này thực đã giúp mình không ít. Gã đang băn khoăn không biết làm sao để Thành quốc công biết mình cũng là bảo vệ Dương Lăng, tên này lại tạo cho ông Bồ Tát bằng đất sét mình đây cơ hội lập công.

Hai chữ "kim tỉnh" này, nhiều người đã nghe đến nó, nhưng chưa tận mắt thấy thì không ai biết thật ra nó trông như thế nào Trong dân gian có vài công tượng (thợ thủ công) vì ôm lòng hư vinh đã tiết lộ đôi chút, song đại đa số cũng thổi phồng sự tráng lệ của Kim Tỉnh, cho nên đây là lần đầu tiên mấy vị này được nhìn thấy diện mạo thật sự của nó.

Vương Thủ Nhân lúc này đang quỳ trên bệ đá, đánh giá cái động đất có đường kính rộng nửa xích, sâu chừng một thước đó. Y lấy tay thăm dò một lát, bốn vách là hoàng thổ bị dính ẩm, nhưng khi sờ đến đáy, thì thấy đất đai nơi đó thấm nước gạo nhưng lại khô ráo bóng nhẵn. Vương Thủ Nhân giật bắn người thầm nghĩ: “Quả nhiên bọn họ đã động tay chân vào rồi”.

Vương Thủ Nhân mới vừa nghĩ đến đây, câu nói bóng gió như lời độc thoại đó của Chu lão quốc công lọt vào tai y. Ngay lập tức, trong lòng Vương Thủ Nhân liền loé lên một ý nghĩ, khoé mắt y nhanh chóng liếc qua bên cạnh, chỉ thấy Lý Kiệt đang trừng hai mắt quan sát nhất cử nhất động của mình, thế là y cực kỳ thất vọng.

Không ngờ ngay vào lúc này, thân thể cao ráo gầy gò của Nghiêm Tung bỗng chợt xoay lại, lách đến trước mặt Lý Kiệt cúi người thi lễ, bộ dạng vô cùng kính cẩn:
- Học sinh thân là con dân Đại Minh, cũng nên tạ ơn đại nhân. Xin đại nhân hãy nhận của học sinh một lạy!

Cái "cây sậy" gầy đét này cao phải hơn một thước tám, vừa xoay người là chắn hết mọi thứ, thậm chí khi gã cúi xuống hành lễ cũng đã che khuất Lý Kiệt khiến lão ta không nhìn thấy gì. Lý Kiệt có ý muốn lách người tránh gã, nhưng sợ làm như vậy sẽ quá lộ liễu, rõ ràng là có ý bất kính với gã và có lòng nghi ngờ Vương Thủ Nhân. Nhân lúc lão chỉ mới hơi chần chừ, Nghiêm Tung liền kéo tay thân mật nịnh nọt lão:
- Bộ Hình dùng đại hình bức được khẩu cung, bá quan bất phục, cho nên bây giờ mới đem về phúc thẩm. Nếu bộ Hình có được bực trí giả như đại nhân đây, dùng lời nói bóng gió, dăm ba câu chữ nhất định sẽ có thể khiến cho mấy tên phạm quan đó cung khai!

Ngay đúng lúc này, chỉ nghe thấy tiếng xẻng sắt xúc đất sột soạt truyền nhanh lên trên, đúng vào lúc vừa hết thời gian một khắc thì nghe tiếng của Vương Thủ Nhân reo vui:
- Đã lấy được đất của Kim Tỉnh, hãy mau mang hộp vàng đến đựng đất!

...

Vương Quỳnh thong thả tản bộ bên trong thư phòng một lúc lâu, bỗng dừng chân cười nhạt nói:
- Đám nghịch thần gian xảo đó không chịu ngồi yên, ngông cuồng vọng tưởng dám lấy đất khám nghiệm. Hừ hừ, cái tên Thập trưởng nhỏ nhoi đó nếu không phải đúng sự thật há dám phỉ báng ư? Binh khoẻ trong quân nếu không có nội tình gì sao lại đột nhiên chết đi chứ? Ta đã sai người giữ hộp vàng đựng đất và huỷ hết mọi chìa khoá, chỉ còn chừa lại một chiếc này của ta. Chỉ cần đất trong hộp vàng không việc gì, để xem bọn chúng còn có thể giở được trò gì!

Từ Quán mừng rỡ nói:
- Khâm sai chắc hẳn cũng đã trở về rồi chứ nhỉ? Thắng bại được thua đều ở một lần hành động này đây! Tam Công trong nội các bao che tội phạm, chỉ vì chút lợi cỏn con mà không đếm xỉa gì đến việc long mạch bị tổn thương, vì vậy nhất định Hoàng Thượng sẽ không vui. Vụ án này kết thúc rồi, tiền đồ của bọn họ cũng sẽ tận thôi.

Vương Quỳnh chau mày nói:
- Từ thượng thư! chúng ta làm như vậy chính là vì giang sơn xã tắc của Đại Minh, không phải là vì tiền đồ cá nhân. Tam Công trong nội các đều là công thần vì nước, bọn họ lo lắng chuyện tăng thuế cũng là vì nghĩ cho triều đình Đại Minh ta, Từ công sao có thể nói những lời như vậy được?

Từ Quán vội cười bồi đáp:
- Phải phải phải, Vương thượng thư nói rất phải.

Song trong lòng lại thầm rủa: “Lão thất phu, nếu như ông quang minh chính đại, vì nước vì dân, sao lại xúi giục con mình đến bộ Hình tố cáo để chém đầu người ta và bôi nhọ thanh danh người ta chứ?”

Hồng Chung nói:
- Vương đại nhân, không bằng chúng ta hãy vào cung ngay, đem chuyện Dương Lăng phạm pháp bẩm báo cho hoàng thượng. Đợi đến khi hoàng thổ của Kim Tỉnh về rồi, chân tướng rành rành, sẽ có đủ lý do giết hắn!

Vương Quỳnh thoáng trầm ngâm rồi mỉm cười lắc đầu bảo:
- Chuyện này không cần nhọc đến ông và ta ra mặt, làm vậy chẳng phải sẽ thành chuyện bé xé ra to sao? Bảo Thị lang bộ Hình Trình Văn Nghĩa dâng sớ, lấy danh nghĩa sỹ tử tố cáo dâng lên cho Hoàng Thượng là được.

Trong cung Càn Thanh, hoàng đế Chính Đức đang nghe đại học sỹ Tạ Thiên lải nhải với một tâm trạng bất an. Hôm nay y mượn cớ vấn an Thái hậu và Thái Hoàng Thái hậu nên đã miễn Ngọ triều, cả ngày ở trong cung chờ tin tức. Vừa vặn đúng lúc Lưu Kiện và Tạ Thiên có việc liên quan đến đại hôn của hoàng đế muốn bẩm báo và hội ý, nghe nói y muốn đi thỉnh an Thái hậu, thế là cũng vội vã theo vào.

Nào ngờ tiểu hoàng đế vốn không hề có lòng đi thăm Thái Hoàng Thái hậu và Thái hậu, hai vị đại học sỹ cũng biết thời gian rất quý giá, nên không chút lãng phí, lập tức ra sức khuyên can Hoàng Đế đừng sa đà vào chơi bời, đừng đi lại trong cung mà không mang thị vệ, đừng bỏ ra quá ít thời giờ đọc sách, đừng không mở Kinh Diên, tận tình khuyên bảo một phen khiến hoàng đế Chính Đức nhức hết cả đầu.

Khi Chính Đức đang bắt đầu mất kiên nhẫn thì một tên tiểu thái giám hấp tấp chạy vào bẩm báo:
- Khải bẩm Hoàng Thượng, Thị lang bộ Hình Trình Văn Nghĩa khẩn cấp dâng sớ, sự tình có liên quan đến vụ án Đế Lăng thấm nước.

Nghe vậy, hoàng đế Chính Đức giật mình, vội vàng bảo:
- Dâng sớ lên!

Chính Đức nhận sớ, giở ra xem. Trên sớ Trình Văn Nghĩa viết lưu loát hơn ba ngàn chữ, bỏ những câu sáo ngữ ra, đại khái ý nói phát hiện ra Dương Lăng bề ngoài tỏ vẻ thanh liêm, nhưng trong tối lại tham ô xa xỉ, bỏ ra nhiều tiền mua thiếp, hà hiếp tăng lữ vân vân, xin Hoàng Thượng cho phép thẩm tra cùng với vụ án Đế Lăng thấm nước một lượt.

Giống như con bạc đang đợi chờ con bài tẩy được lật lên, không biết hoàng thổ được mang từ Đế Lăng về rốt cuộc có bị người giở trò không, nhưng vừa nhìn thấy tấu chương này, lòng Chính Đức liền nguội đi một nửa. Vốn dĩ Trương Vĩnh vẫn nói Dương Lăng không có lý do tham ô, nhưng giờ đã có chứng cứ, sau khi xem những tội danh được liệt kê xong, Chính Đức cũng không còn tâm tư để xem tiếp những nội dung sau đó nữa.

Y tức tối vứt tấu chương lên long án, cơ mặt giần giật. Ngồi ngây ra trên ghế một hồi lâu, y bỗng nhảy phắt dậy, giận dữ quát:
- Mang tất cả những phạm nhân có liên can đến đây cho trẫm! Trẫm muốn đích thân xét xử vụ án này!

Lưu Kiện nghe thấy liền vội vã can ngăn:
- Khải bẩm bệ hạ, việc này vạn vạn lần không thể. Luật pháp có cơ quan hành xử riêng, hoàng thượng là vạn thừa chi tôn (3), há có thể vượt quyền can thiệp? Đế vương tự cổ trừ Hiến Văn Đế không biết tự trọng ra, thần vẫn chưa từng nghe nói có vị minh quân cao quý nào hạ cố đến đại sảnh bộ Hình ngồi cả.

Chính Đức nghe vậy nổi giận đùng đùng, đanh mặt chỉ lão ta hét:
- Minh quân! Minh quân! Tai trẫm nghe đến sắp chai hết cả rồi. Ông luôn miệng nói vạn thừa chi tôn, thế nhưng Hoàng thượng ta đây lại mặc cho ông khoa tay múa chân, chưa từng làm chủ được chuyện gì! Thiên hạ này là của ông hay là của ta hả?

Lưu Kiện nghe thế mặt mày tái mét, quỳ sụp dỡ mão run rẩy nói:
- Hoàng Thượng sao lại nói lời như vậy. Lão thần một lòng thành tâm tận sức, có trời đất chứng giám, nếu như lời của lão thần vô lễ xúc phạm đến Hoàng Thượng, thần nguyện xin Hoàng Thượng giáng tội!

Tạ Thiên thấy vậy vội lên tiếng giảng hoà:
- Hoàng Thượng, lấy địa vị đế vương đi thẩm tra xử lý phạm nhân, đích thực có điều không hợp lý. Hoàng Thượng thân là quân chủ của cả thiên hạ, đâu lại có đạo lý Hoàng Đế tự thân xử án chứ? Song nếu như Hoàng Thượng muốn nghe xét xử vụ án này, chi bằng ngồi phía sau đại sảnh của Hình Đường dự thính, Hoàng Thượng thấy thế nào?

Hoàng đế Chính Đức phất tay nói:
- Được! Nghe thẩm vấn thì nghe thẩm vấn, theo trẫm đến đại sảnh bộ Hình, ta muốn xem thử rốt cuộc y đã làm những chuyện xấu xa nào làm tổn thương đến lòng dạ của trẫm như vậy! Phái người báo cho Đô Sát Viện, Đại Lý Tự, khâm sai khám lăng, đợi khi thổ nhưỡng Kim Tỉnh đến kinh, lập tức tới ngay bộ Hình, Tam đường hội thẩm!

Hoàng Đế Chính Đức hùng hùng hổ hổ mang hai vị đại học sỹ và ba gã thái giám tâm phúc là Trương Vĩnh, Lưu Cẩn và Mã Vĩnh Thành "đánh thẳng" đến Bộ Hình, khiến cho bọn Ngụy Thân và Trình Văn Nghĩa bị doạ đến nhảy dựng. Hai người lật đật phái người đến bộ Lễ mời Hồng Chung về. Vương Quỳnh, Từ Quán nghe tin cũng vội vã đến theo.

Hoàng Đế Chính Đức không nén được sự sốt ruột, Hồng Chung vừa trở về, y lập tức hạ lệnh thăng đường xử án. Bởi vì vụ án này chỉ liên quan đến một nhà Dương Lăng, cho nên Ngụy Thân chỉ dẫn Dương Lăng, Hàn Ấu Nương, Tuyết Lý Mai và Cao Văn Tâm lên sảnh đường, giải Lý Đạc, Nghê Khiêm, Đới Nghĩa và nhân chứng Thập trưởng nọ xuống dưới sảnh đường, chờ nghe Tam ty hội thẩm. Đám người Hàn Ấu Nương lại không phải vừa khéo mà tới, bọn họ vì tự ý xông vào pháp trường, cho nên trước khi chuyện Đế Lăng được tra rõ, bọn họ cũng là người đợi xét xử tội, vì vậy hôm qua cũng bị giải vào nữ lao (ngục dành cho nữ) đợi sau án Đế Lăng sẽ xử lý tiếp.

Bên nguyên cáo chính là bảy văn sỹ bọn Dương Lâm, Triệu Ung, Vương Cảnh Long và nhân chứng Ngọc Đường Xuân.

Ngọc Đường Xuân vừa lên đến sảnh đường, đôi mắt tựa nước hồ thu liếc nhanh qua Dương Lăng, thấy y toàn thân vận đồ trắng, loang lổ vết máu, ngón tay bị cùm bê bết máu me, trong ánh mắt không nén được vẻ đau xót.

Sợ bị người khác nhìn ra sơ hở, nàng vội cụp mắt, rụt rè quỳ xuống phía trước, cất tiếng nhỏ nhẹ:
- Dân nữ Tô Tam, khấu kiến đại nhân!

Hồng Chung vuốt râu mỉm cười, ôn tồn bảo:
- Nhân chứng Tô Tam chớ nên sợ hãi, ngươi vốn là gia tẩu phủ họ Dương, nay có sỹ tử Trình Huy nói Dương Lăng dùng quan uy bức người, cưỡng bách Thì Hoa quán cưới ngươi về, hơn nữa khi chủ quán Nhất Xứng Kim không đáp ứng, Dương Lăng đã bỏ ra vạn kim. Ngươi hãy nói cụ thể và chi tiết ra đi.

Ngọc Đường Xuân theo sự phân phó của Vương Cảnh Long, ra vẻ chân thật đem chuyện Dương Lăng cưỡng ép Thì Hoa quán mua bọn họ về Dương gia, mang tiếng là tì nữ, thực chất là làm thiếp thị nói ra một lượt. Từ Quán và Vương Quỳnh ngồi sau sảnh nghe mà mở cờ trong bụng. Khi ấy Dương Lăng mới vừa vào kinh, nhiều lắm chỉ là Đông cung thị độc, vậy vạn lượng bạc trắng có được từ đâu?

Như vậy, số bạc này nhất định có lai lịch bất chính. Hơn nữa, nếu y đã vung tiền vô độ, thì nhất định ở Đế Lăng đã bị người khác cám dỗ, hiển nhiên cũng có lý do tham gia che giấu chuyện Đế Lăng thấm nước.

Nhưng Hoàng Đế Chính Đức càng nghe lại càng thấy buồn bực và khó hiểu. Vừa rồi ở trong cung xem tấu chương, y chỉ thấy Dương Lăng dùng số tiền lớn mua thiếp, nhưng lại không biết mua thiếp gì, bây giờ mới biết rõ đầu đuôi. Có điều lời khai này của Ngọc Đường Xuân có nhiều chỗ không thật. Vì để làm nổi bật sự ngang ngược vô sỉ của Dương Lăng, Vương Cảnh Long sai người chỉ dẫn cho Ngọc Đường Xuân thổi phồng thêm một chút. Vì vậy, Chính Đức nghe xong không khỏi lấy làm hoài nghi mà liếc sang Mã Vĩnh Thành.

Thấy vậy, Mã Vĩnh Thành vội kề tai Chính Đức, đem sự tình kể lại tường tận một lượt. Đích thân Chính Đức đầu têu vụ này nên hiển nhiên tin người của mình hơn một chút. Đừng nói Dương Lăng không hề cường quyền ép người, không hề bởi vì Nhất Xứng Kim không chịu bán mà sai người đánh đập doạ dẫm, cho dù có thật sự phạm pháp như vậy, cũng e rằng đó là bởi Dương Lăng vì mình mà ra sức làm việc.

Vừa nghe Ngọc Đường Xuân đổi trắng thay đen như vậy, Hoàng Đế Chính Đức mặt đỏ phừng phừng, cảm giác như là đang nói y, thật sự không nhịn được, bèn thẹn quá hoá giận mà nhảy dựng lên quát:
- Lời khai của nữ tử nhà ngươi có đúng mỗi câu đều là thật? Ngươi nên biết vu khống đại thần triều đình thì sẽ bị đánh chết đấy. Ngươi còn chưa chịu nói thật?

Ở phía trước, ngoài Hồng thượng thư, Ngụy Thân và Trình Văn Nghĩa ra, những người khác đều không biết phía sau còn có Hoàng đế Chính Đức đang ngồi. Đột nhiên nghe thấy có tiếng người quát bèn giật nảy mình, ngay cả đám sai dịch đang chống Thuỷ Hỏa côn cũng vậy.

Lúc này Chính Đức đã qua khỏi thời kỳ vỡ giọng, đám người Ngọc Đường Xuân không quen biết y, nên không nhận ra được tiếng của y cũng là chuyện bình thường, nhưng Dương Lăng và Hàn Ấu Nương thì lại nghe ra. Phu thê hai người không khỏi đưa mắt nhìn nhau, trong mắt đồng thời hiện lên vẻ mừng rỡ. Có ông chủ nghe được vở kịch hay này, hai người lại càng có thêm chút hy vọng thoát hiểm rồi.

Ngọc Đường Xuân thất kinh hỏi:
- Đại nhân, phía sau sảnh đường là người nào hỏi vậy?

Nói đoạn nàng liếc nhanh đôi mắt ngọc nhìn qua phía Hàn Ấu Nương, đôi mắt to tròn biết nói ấy cũng tràn ngập sự nghi hoặc.

Kế sách mà hai người thương lượng ban đầu với nhau là đợi đến khi Ấu Nương phản bác thì nàng mới giả vờ "cùng đường đuối lý", hoang mang sợ hãi, nên nói ra sự thật, như thế mới càng dễ lấy được sự tín nhiệm của người khác. Nhưng bây giờ sau sảnh đường đột nhiên có người cất tiếng hỏi, hơn nữa ngữ khí rõ ràng không tin lời nàng nói, cho nên Ngọc Đường Xuân còn ngỡ là một ngày này không có liên lạc, Ấu Nương đã tìm thêm được người giúp đỡ rồi.

Hồng Chung nghe thấy Hoàng đế Chính Đức ở sau lưng lên tiếng, người trên sảnh, nhân chứng, phạm nhân lẫn ba nhóm nha dịch đều kinh ngạc như vậy thì lấy làm khó xử, bèn nói:
- Phía sau... phía sau sảnh là một vị lão đại nhân đang nghe dự thẩm, ngươi không cần hỏi nhiều, cứ trả lời thành thật là được.

Ngọc Đường Xuân thấy Hàn Ấu Nương đưa mắt ra hiệu thì trong lòng đã tỏ, nàng sợ sệt quỳ ở đó, bộ dạng xinh đẹp động lòng người, lo lắng nói:
- Đại nhân, dân nữ không dám trả lời. Sợ vị lão đại nhân đó sẽ dùng hình với dân nữ.

Thấy người con gái xinh đẹp này không hiểu biết, Hồng Chung vội mỉm cười an ủi:
- Chỉ cần ngươi lời ngay nói thật, thành thật trả lời, lão đại nhân sẽ không trách đánh ngươi đâu, thậm chí bổn đại nhân cũng sẽ làm chủ cho ngươi.

Lão liếc Dương Lăng một cái, rồi cười nhạt nói tiếp:
- Bất kể kẻ đó quyền cao chức trọng đến đâu, đã đến trước sảnh đường này đều phải nghe theo bổn quan... à không, nghe theo vị lão đại nhân đằng sau bổn quan xử trí. Ngươi có oan uất bất bình gì thì hãy cứ nói ra hết, có bổn quan và vị lão đại nhân đó làm chủ, không ai có thể làm hại đến ngươi đâu!

Ngọc Đường Xuân nghe đến đây vội vã dập đầu kêu:
- Đa tạ đại nhân, đa tạ lão đại nhân, dân nữ bị oan, dân nữ bị oan quá!

Hồng Chung mỉm cười bảo:
- Chớ nên sợ hãi, bổn quan tự sẽ làm chủ giải oan cho ngươi. Tô Tam, ngươi cứ việc mạnh dạn nói ra đi.

Ngọc Đường Xuân liền chỉ Vương Cảnh Long lớn tiếng khóc rống:
- Dân nữ bị oan, sở dĩ dân nữ hãm hại chủ cũ, đều là vì bị vị Vương tam công tử này đe doạ. Vị Vương tam công tử này nói đại nhân nhà dân nữ đã bị giam vào trong ngục, nếu dân nữ không làm theo lời hắn, hắn sẽ bán dân nữ vào ty Giáo Phường.

Ngọc Đường Xuân khóc như mưa, không ngớt nghẹn ngào nói:
- Vương tam công tử còn nói không tới mấy ngày, họ Vương nhà hắn sẽ chỉ dưới một người mà trên vạn kẻ. Nếu dân nữ chịu theo hắn, hắn sẽ mua dân nữ về phủ làm thiếp, hưởng mọi vinh hoa phú quý. Dân nữ chỉ là một đứa con gái yếu đuối, gia chủ chịu oan, bơ vơ không nơi nương tựa, do đó bất đắc dĩ mới hãm hại vu cáo chủ cũ, thật không phải là ý nguyện của dân nữ đâu. Xin đại nhân làm chủ cho dân nữ...

Ngọc Đường Xuân còn chưa dứt lời, hơn chục người trước và sau sảnh đường khi nãy còn không ngớt cười mỉa tất cả nghe vậy đều biến sắc!

Ngay vào lúc này, nghi trượng của ba vị khâm sai đã tiến vào trong kinh thành, mà Lý Đông Dương và Vương Hoa vẫn còn ngồi ở trong nhà, từ đầu chí cuối không thấy gia nhân hồi âm, đoán biết là chuyện đã không thể thực hiện được, thế là hai ngươi chỉ đành im lặng ngồi nhìn nhau, thất vọng thở dài.

Ngay đúng lúc này, gia nhân được phái đến Đế Lăng thám thính tin tức đã vội vội vàng vàng trở về, Vương Hoa vội vã nhảy dựng lên, run rẩy hỏi:
- Thủ Nhân bên đó đã có tin tức rồi ư?

Gia nhân đáp:
- Lão gia, lão bộc đuổi theo rất lâu, thuỷ chung không thấy công tử gia ra hiệu, bây giờ nghi trượng khâm sai đã về đến ngọ môn, nhưng chỉ ngừng lại một chút rồi đi đến thẳng bộ Hình. Lão bộc đành phải trở về báo tin.

Vương Hoa và Lý Đông Dương ngạc nhiên nhìn nhau: khâm sai không đến hoàng cung trả chỉ mà lại đi thẳng đến bộ Hình? Chẵng lẽ...

Lý Đông Dương vội nói:
- Mau, chuẩn bị kiệu... Không! Chuẩn bị ngựa, chúng ta lập tức chạy đến bộ Hình!

Hai vị đại nhân lật đật rời khỏi phủ môn, gia nhân vừa dắt ngựa đến, hai người đã vội vàng lên ngựa ra sức dồn roi phóng thẳng đến đại sảnh bộ Hình. Vừa chạy đến cổng sảnh đường, chỉ thấy một chiếc kiệu đặt chếch bên dưới cổng, trong kiệu chui ra một lão nhân độ năm mươi, dáng bộ đắc ý. Lý Đông Dương vẫn chưa xuống ngựa, trông thấy người đó không khỏi lấy làm kinh ngạc hỏi:
- Mạt giám chính (4), ông đến bộ Hình làm gì?

Giám chính Khâm Thiên giám ngẩng đầu, vừa thấy đó là Đại học sỹ Lý Đông Dương và Thị lang Bộ Lễ Vương Hoa thì vội chắp tay cười bồi nói:
- Ra mắt hai vị đại nhân. Hoàng thượng lệnh cho hạ quan nghiệm đoán báo hiệu của lôi kích (sét đánh), hôm nay đã có kết quả, hạ quan đến là để bẩm báo cho hoàng thượng.

Lý Đông Dương nghe vậy cả kinh hỏi:
- Hoàng thượng quả nhiên đã đến bộ Hình. Chẳng lẽ... chẳng lẽ Hoàng Thượng muốn ngự giá đích thân xét xử sao?



Chú thích:

(1) Trích từ kế "man thiên quá hải". Chương trước Dương Minh giấu trời, chương này Dương Lăng vượt biển.

(2) nguyên văn "thất xảo linh lung tâm" hay "trái tim của Tỷ Can", trích trong Phong Thần truyện, chỉ người thông minh.

(3) thừa: xe tứ mã; tôn: tôn quý. Vạn thừa chi tôn chỉ sự tôn quý khác xa người thường của các bậc đế vương và vương hầu.

(4) chức quan trông coi Khâm Thiên giám.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:37 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 104 - Hoàng Đế Phát Biểu



Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: Mechichi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Hoàng đế Chính Đức bước lên công đường, sắc mặt xám xịt, cũng chẳng quản ba vị quan chủ thẩm đang lật đật quỳ sụp xuống nghênh đón, y giành lấy vị trí chủ thẩm, chộp lấy phách gỗ đập loạn một trận, rống họng quát:
- Giải hắn đi, đỡ y dậy, dẫn bọn họ lên, ngươi cút xuống cho ta!

Đám đại thần ở bên dưới cũng không hiểu là Hoàng Thượng đang nói ai với ai. Vì thế trên công đường bỗng chốc trở nên náo loạn.



------------------------

Chương 104 - Hoàng Đế Phát Biểu


------------------------
Quyển ba - Vừa lên ngôi đế - Chương 104 - Hoàng đế phát biểu
------------------------

Vương Cảnh Long vừa kinh ngạc vừa giận dữ. Hắn ngỡ rằng mình tướng mạo tuấn nhã, nhân phẩm phong lưu, gia thế so với một võ tướng lại cũng cao hơn rất nhiều. Mỹ nhân Ngọc Đường Xuân xinh đẹp tựa như tranh vẽ và hắn chính là một đôi tài tử giai nhân, châu liên bích hợp. Cho nên hắn không hề nghĩ rằng nàng lại phản cung ở ngay trước mặt mọi người.

Vương Cảnh Long căm hận chỉ vào Ngọc Đường Xuân mắng:
- Con tiện tỳ nhà ngươi, bổn công tử có lòng cứu ngươi, ngươi lại vu tội cho ta. Ta đường đường là công tử của thượng thư bộ Lễ, sao có thể làm ra chuyện này? Ngươi nghĩ phản cung thì có thể hại được ta ư?

Vương Cảnh Long rút từ trong ống tay áo ra tờ giấy chuộc thân lấy từ chỗ Nhất Xứng Kim, cười khẩy nói:
- Trên đời này thực có chuyện bỏ ra vạn lượng bạc trắng mua con gái về làm tỳ nữ sao? Nếu nói Dương Lăng không hề đụng chạm đến ngươi, ai sẽ tin chứ?

Nhìn người con gái dung nhan kiều diễm không gì sánh được này, trong lòng mọi người đều hết sức tán đồng. Trừ phi vị Dương đại nhân kia đột nhiên mắc phải bệnh kín, nếu không thì làm gì có chuyện bỏ ra một vạn lượng bạc mua tiểu mỹ nhân xinh đẹp yêu kiều như vầy về chỉ để làm tỳ nữ.

Ở phía sau sảnh đường, Hoàng đế Chính Đức lại đang vô cùng cảm động. Nếu không phải vì vụ án Đế lăng thấm nước giống như một cái gai lúc nào cũng đâm vào lòng y, y thực muốn lập tức hạ chỉ miễn xá cho Dương Lăng. Đây mới là bề tôi trung thành này! Làm việc cho mình, gánh chịu ô danh thay cho mình, cho dù phải bị chém đầu cũng không hề hé lộ chân tướng. Người như vậy không phải là trung thần thì ai mới là trung thần?

Từ Quán vội ghé đến cạnh Chính Đức nói:
- Xin Hoàng thượng chớ tin lời nói bậy của nữ tử đó. Hoàng thượng người thử nghĩ xem, cho dù thượng thư đại nhân và tam công tử muốn thêu dệt tội danh cho Dương Lăng, cấu kết với tỳ nữ này để vu cáo hắn nhưng làm sao có thể nói ra lời phạm húy "dưới một người trên vạn kẻ" với một tỳ nữ mới mua về chứ?

Lời như vậy gần như là phản nghịch. Cho dù Vương Quỳnh thực có dã tâm cũng sẽ không nhắc với bất kỳ ai, đừng nói là Ngọc Đường Xuân biết được. Cho nên chẳng những Từ Quán, Hồng Chung không tin, ngay cả đám người Lưu Kiện và Tạ Thiên cũng không tin. Những người này đã lăn lộn trên quan trường lâu năm, mấy nữ tử như Hàn Ấu Nương và Ngọc Đường Xuân sao có thể qua mắt được bọn họ.

Nhưng mấy vị này không tin, tự có người khác tin. Hoàng Đế Chính Đức chính là kẻ đứng sau giật dây chuyện chuộc người này . Vừa rồi Ngọc Đường Xuân được Vương Cảnh Long bày mưu đặt kế gán tội cho Dương Lăng, lời kể tội đó có quá nhiều chỗ không thật. Chính Đức nghe xong những "tội trạng" đổi trắng thay đen "hùng hồn" ấy thì nào còn có thể tin được lời này của Từ Quán nữa.

Hoàng đế Chính Đức liếc xéo Từ Quán và Vương Quỳnh, trong mũi phát ra một tiếng cười gằn không nhỏ, thậm chí không thèm tiếp chuyện.

Ngay vào lúc này, bên ngoài huyên náo một trận. Viên ngoại lang bộ Hình Quách Duy Thông chạy xồng xộc vào trong bẩm báo:
- Các vị khâm sai đại nhân Thành quốc công Chu Cương, Chủ sự bộ Binh Vương Thủ Nhân và Thứ cát sỹ Hàn Lâm Viện Nghiêm Tung phụng chỉ đã lấy được đất mẫu của Kim Tỉnh, nay đã đến đại sảnh bộ Hình...

Vì Chính Đức bí mật mặc thường phục đến, chưa công khai thân phận, cho nên vị Viên ngoại lang này ngỡ rằng ở đây chức cao nhất là hai vị Đại học sỹ và mấy vị thượng thư đại nhân. Lưu Kiện phất tay bảo:
- Biết rồi. Lui xuống đi!

Đợi cho tay Chủ sự đó lui xuống, lão xoay người về phía Chính Đức nói:
- Hoàng Thượng, người xem...

Vừa nghe nói đất mẫu ở Kim Tỉnh đã đến, Chính Đức bình tĩnh lại. Suy cho cùng, chuyện này mới là trọng yếu. Y liếc sang Đại Lý Tự khanh và Tả đô ngự sử, bảo:
- Vụ án này tạm gác sang một bên. Lập tức thăng đường Tam ty hội thẩm.

Vương Quỳnh đang âm thầm oán giận vì bị người ám chỉ tham quyền nhưng lại vô pháp thanh minh. Vừa nghe khâm sai đã về, lão tất nhiên là cao hứng vạn phần. Chỉ cần vụ đại án này được chứng thực, còn ai sẽ để ý đến những lời hồ ngôn loạn ngữ của Ngọc Đường Xuân chứ?

Lão liền mừng rỡ tâu với Chính Đức:
- Khải tấu hoàng thượng, thần đã ban xuống nghiêm lệnh, nếu không phải là đích thân vi thần, bất cứ ai cũng không thể đụng đến hộp vàng giữ đất đó. Cho nên thần phải lập tức trở về bộ Lễ, lấy đất mẫu được niêm phong của Kim Tỉnh.

Hiện tại Chính Đức nhìn Vương Quỳnh thế nào cũng không thấy vừa mắt. Y vẫn cảm thấy hai cha con người này không thành thật, cho nên nghe xong chỉ hừ nhạt một tiếng rồi bảo:
- Tạ đại học sỹ, khanh hãy đi theo Vương Quỳnh đến bộ Lễ lấy hộp vàng giữ đất, đi nhanh về gấp.

Tạ Thiên gấp rút rời đi cùng với Vương Quỳnh. Đằng trước Hồng Chung lệnh cho người dẫn một đám phạm nhân, nhân chứng, kẻ tố cáo đến hạ sảnh, rồi tự thân nghênh đón ba vị khâm sai vào công đường. Vương thủ nhân tay ôm hộp vàng đi theo sau Thành quốc công, Thị lang bộ Công Lý Kiệt cũng về kinh sư, theo sát bên y một tấc không rời.

Ba vị khâm sai theo Hồng Chung xuống hậu đường để bái kiến hoàng đế xong, chúng quan viên bộ Hình mới hiểu ra người thiếu niên vận cẩm bào ngồi sau sảnh đường đó chính là đương kim Thiên tử. Hoàng đế đích thân thẩm án, xưa nay hiếm thấy. Đám quan viên nha dịch ai nấy đều thấp thỏm lo âu, chỉ sợ thất thố lễ nghi, không ngờ ngược lại khiến cho tình hình càng trở nên hỗn loạn.

Vương Quỳnh đã cầm hộp vàng trở về. Thượng thư bộ Hình, Tả đô ngự sử, Đại Lý Tự khanh ngồi trên vị trí chủ thẩm. Hồng thượng thư cao giọng quát:
- Dẫn phạm nhân!

Đang bị hoàng đế thân lâm làm cho khiếp sợ đến lóng ngóng chân tay, gã quan quản lý ty vụ nghe vậy liền không dám chậm trễ, chạy vù đi áp giải toàn bộ bảy tên quân tử cùng đám mỹ nữ có liên quan đến bốn phạm quan Dương Lăng, Lý Đạc và gã nhân chứng Lục thập trưởng lên.

Hồng thượng thư thấy vậy thì giận tái mặt. Hôm nay thẩm vấn chính là vụ án đế lăng, giải đám người không có liên can lên sảnh đường thì phải làm thế nào? Hồng Chung nén giận nói:
- Giải những kẻ không có liên quan xuống. Bây giờ bổn quan và Đốc Sát Viện, Đại Lý Tự xét thẩm vụ án Đế lăng thấm nước.

Cao Văn Tâm trông thấy bên trái phía dưới Túc Tĩnh bài (1) có một võ quan đang đứng. Nàng nhận ra trang phục võ quan đó là trang phục Thập trưởng trong quân. Văn Tâm tức thì hiểu ra gã chính là tay tiểu quan đã tố giác Dương đại nhân. Nàng vội ghé tai Hàn Ấu Nương nói:
- Muội muội, tên võ quan đó chính là gã Thập trưởng đã tố giác đại nhân. Muội nghĩ cách tiếp cận hắn, tỷ sẽ có biện pháp khiến hắn không thể làm nhân chứng!

Hàn Ấu Nương nghe nói gã võ quan ấy chính là tên ác nhân hại cho tướng công mình thiếu chút nữa thì đã đầu rơi xuống đất, đôi mắt ngọc trợn trừng nhìn hắn cơ hồ muốn toé lửa. Nhưng những nhân chứng, phạm nhân, kẻ tố cáo trên sảnh đường đông lúc nhúc, bọn họ thì bị dồn lại ở tận rìa phải, phải làm sao để có thể tiếp cận hắn mà không gây ra động tĩnh nào đây?

Hàn Ấu Nương sốt ruột không yên. Tuyết Lý Mai thấy cơ hội sắp như bóng câu qua cửa, trong lúc cấp bách nàng vội kề vào bên tai Ấu Nương bày kế:
- Tỷ tỷ, khóc đi!
Nói đoạn nhảy bổ về phía tên Thập trưởng nọ, vừa khóc vừa mắng:
- Tên gian tặc ngươi, cớ gì lại vu cáo đại nhân nhà ta?

Hàn Ấu Nương liền tỉnh ngộ, lập tức cũng lao lên. Bị bất ngờ không kịp phòng bị, Lục Ân Lỗ bị bọn họ lôi kéo đến thảm hại. Nhưng hắn là nam nhân, lại không tiện tung ra quyền cước, đành phải lấy tay che chắn mặt mũi tránh né khắp nơi.

Quan quản lý ty vụ thấy mấy nữ phạm lôi kéo nhân chứng khóc lóc mắng chửi, bèn vội dẫn mấy tay nha dịch xông lên bắt lại. Thấy sự chú ý của đám người đều bị Hàn Ấu Nương và Tuyết Lý Mai thu hút, Cao Văn Tâm lập tức rút từ trong tóc ra ba chiếc châm bạc bỏ vào trong ống tay áo, rảo bước nhanh qua vờ khuyên bảo:
- Phu nhân, đừng làm đại nhân nổi giận, chúng ta hãy lui xuống hạ sảnh đi.

Tuyết Lý Mai và Hàn Ấu Nương vung hai ống tay áo thùng thình, trông như phụ nữ bình thường đang đánh nhau. Mười ngón tay thanh mảnh không vung lên thì đập xuống, khiến cho người khác cũng không thấy rõ mặt mũi của Lục thập trưởng. Cao Văn Tâm nhân cơ hội lật tay vung lên ba chiếc châm bạc, hết sức nhanh lẹ đâm vài châm vào mấy huyệt đạo sau gáy tên Lục thập trưởng.

Cây châm bạc mỏng như sợi tóc ấy một khi đâm trúng huyệt đạo thì chỉ cảm thấy hơi tê tê. Lục thập trưởng lại đang bị hai người Hàn Ấu Nương đánh đập, mặt mũi đau rát, nên càng không hề có cảm giác dị thường.

Cao Văn Tâm một tay y thuật xuất thần nhập hoá, bình sinh chỉ dùng để chữa bệnh cứu người. Đây là lần đầu nàng hại người cho nên trong lòng cũng vô cùng căng thẳng. May thay, tuy trong lòng hoảng loạn, song công phu dò huyệt kích huyệt lại không hề bị ảnh hưởng gì. Chiếc châm bạc này của nàng mảnh nhỏ như tơ, phá huỷ huyệt đạo kinh lạc trên đỉnh đầu xong, đối phương tạm thời sẽ không xuất hiện dị trạng. Nhưng kinh lạc bị máu huyết ứ đọng làm cho tắc nghẽn, chỉ sau thời gian ba chén trà, ngũ thức (chỉ năm giác quan) của kẻ đó sẽ bị huỷ hoại, thính thị mơ hồ, thần trí ngu si.

Đắc thủ xong Cao Văn Tâm vội vàng đưa mắt ra hiệu cho Hàn Ấu Nương và Tuyết Lý Mai. Hai người hiểu ý, giả vờ vừa khóc vừa mắng để đám quan quản lý ty vụ và nha dịch áp giải xuống.

Ở bên trên, Thành quốc công ngồi bó ống tay áo tủm tỉm cười xem náo nhiệt. Thấy ba người con gái và Vương Cảnh Long bị giải xuống hạ sảnh, lão mới chuyển ánh mắt lên mặt Hồng Chung, căng cổ nói lớn:
- Hồng đại nhân, xin hãy khai đường xử án thôi. Lão phu nhận ý chỉ của hoàng thượng, cùng hai vị khâm sai đã lấy được đất mẫu của Kim Tỉnh về. Mời thượng thư đại nhân nghiệm chứng ở công đường, lão phu còn phải báo cáo với Hoàng Thượng!

Hồng Chung khom người cười bồi đáp:
- Lão công gia nói rất phải, bổn quan sẽ khai đường xử án ngay!

Lão quay về ghế ngồi, rồi quay sang bốn người Đới Nghĩa và Dương Lăng cười nhạt nói:
- Các ngươi vì mưu cầu lợi ích của bản thân, giấu diếm chuyện Đế lăng bị thấm nước. Sau khi nhận được tố giác, bổn quan cùng với Đốc Sát Viện và đại nhân của Tả đô ngự sử, đại nhân của Đại Lý Tự khanh Tam ty hội thẩm. Giám phó Khâm Thiên giám Nghê Khiêm vốn đã sợ pháp mà cung khai, không biết các ngươi may mắn thế nào, lại được vợ của phạm quan họ Dương là Hàn Thị kêu oan nơi pháp trường...

Chính Đức hoàng đế ở sau sảnh đường nghe đến ba chữ Khâm Thiên giám, đột nhiên nhớ ra ban nãy lúc đám quan mất trật tự hành lễ với y, hình như Giám chính Khâm Thiên giám cũng đến. Chính Đức đưa mắt nhìn quanh, vừa thấy vị Giám chính Khâm Thiên giám Mạc Đạo Duy đang thậm thà thậm thụt lấp ló đằng sau đám thượng thư, y liền chỉ hắn bảo:
-Khanh, qua đây. Khanh đến đây để làm gì?

Giám chính Mạc Đạo Duy thấy Hoàng Đế Chính Đức gọi mình, bèn vội vã ba chân bốn cẳng chạy đến quỳ xuống, tâu:
- Hoàng Thượng lệnh cho vi thần nghiệm toán chuyện sét đánh tượng thú trên mái điện xem thiên ý có điềm báo gì, vi thần nghiệm toán xong, hôm nay đã có kết quả...

Mạc Đạo Duy vừa nói đến đây, trên sảnh đường Hồng thượng thư đã cao giọng nói:
- Mạng người quan trọng, Hoàng Thượng nhân đức, đã có ý lệnh cho ba vị khâm sai đại thần đi đến Đế lăng lấy đất, giờ sẽ đối chiếu với đất mẫu được cất giữ ở bộ Lễ. Nếu như đất mẫu có khác biệt, tội khi quân của các ngươi sẽ tăng thêm một bậc, chiếu theo luật sẽ bị xử lăng trì!

Hoàng đế Chính Đức nghe thấy sắp chứng nghiệm đất mẫu của Kim Tỉnh liền khẩn trương quát:
- Im lặng!
Nói rồi bỗng đứng lên khỏi ghế, hồi hộp đi đến bên vách tường ngăn phía sau sảnh đường, dỏng tai lắng nghe.

Vị Giám chính của Khâm Thiên giám đó đang há miệng thì thấy hoàng thượng đã chạy đến bên bức tường, đành phải ngậm miệng lại. Nhưng Hoàng Đế không kêu y đứng lên, y lại không dám động đậy, nên chỉ đành quỳ ở đó lắng nghe.

Theo mệnh lệnh của Hồng Chung, Tả hữu Thiêm đô ngự sử của Đốc Sát Viện mỗi người tay ôm một hộp vàng tiến lên thượng sảnh. Nhìn thấy hộp vàng, thân thể đám người Nghê Khiêm, Đới Nghĩa không kiềm được mà run lên từng chập. Lúc đầu ở trên pháp trường đao sắt kề trên đầu, bọn họ hận không thể tìm hết lý do mong sao có thể kéo dài mạng sống thêm một giờ nửa khắc. Nhưng bây giờ nghĩ đến hậu quả đáng sợ sống không bằng chết của việc phản cung kêu oan mà bị tra ra và chứng thực phán quyết ban đầu, sắc mặt xám ngoét như tro.

Ba người Hồng thượng thư, Tả đô ngự sử Đốc Sát Viện và Đại Lý Tự khanh đứng dậy, kính cẩn vái chiếc hộp vàng ba lạy. Sau đó Tả đô ngự sử bóc niêm phong, mở chiếc hộp vàng cất giữ ở bộ Lễ đó ra. Đại Lý Tự khanh cũng mở chiếc hộp vàng mà ba vị khâm sai đem từ thái lăng về, rồi đẩy hai chiếc hộp đó đến trước mặt Hồng thượng thư.

Trong nhất thời, trên sảnh dưới đường là cả một mảng trang nghiêm yên tĩnh, đến độ một chiếc kim rơi cũng cơ hồ có thể nghe được. Nhìn thấy đám người Nghê Khiêm mặt vàng như nghệ, Hồng Chung không khỏi mỉm cười. Lão có chủ tâm đùa bỡn, nên không hề vội vã lấy đất ra ngay. Lão bưng chén trà lên hớp một ngụm trước, sau đó chậm rãi đặt xuống, đưa hai tay ra, mỗi tay bốc lấy một nắm đất, rồi cầm quan sát kỹ lưỡng ở trên tay.

Đám người Đới Nghĩa và Nghê Khiêm căng thẳng nhìn chằm chằm vào sắc mặt của lão, vẻ mặt cực kỳ hoảng sợ. Nhưng một lúc lâu sau, chỉ thấy cặp mắt Hồng thượng thư càng lúc càng trợn tròn, sắc mặt cũng bắt đầu tái nhợt lại. Vẻ tươi cười khi nãy đã ngưng lại trên khuôn mặt, trong mắt biểu lộ vẻ kinh ngạc không dám tin.

Hồng thượng thư ngây ra một hồi lâu rồi mới khó nhọc cất tiếng:
- Thổ nhưỡng Kim Tỉnh này... này... này...
Thành quốc công đột nhiên đưa một tay lên che sau vành tai, cả tiếng:
- Hồng thượng thư, loại đất này đã kiểm nghiệm ra rồi chứ?

Cánh tay Hồng Chung thoáng run lên, đất vàng thuận theo kẽ hở ngón tay mà rơi xuống bàn. Hai chân mềm nhũn, lão ngồi phịch xuống ghế. Tả đô ngự sử và Đại Lý Tự khanh phẩm tước kém hơn lão, vốn đều đang đợi lão tuyên bố, lúc này thấy lão ngồi ngây ra trên ghế như người mất hồn, Tả đô ngự sử đành phải đằng hắng một tiếng rồi nói:
- Bẩm Thành quốc công gia, loại đất Kim Tỉnh này không hề có gì khác biệt...

Ông ta vừa nói đến đây, Hồng Chung đột nhiên như sực tỉnh đứng phắt dậy, cầm lấy phán gỗ đập "bốp" một tiếng, khiến cho Tả đô ngự sử sợ run cầm cập, nửa câu sau kia tức thời lại bị nuốt vào trở lại. Chỉ thấy Hồng Chung vung tay chỉ vào Lục thập trưởng, không nén được cơn giận quát:
- Lục Ân Lỗ thật to gan! Không phải ngươi nói chính mắt ngươi thấy Kim Tỉnh thấm nước sao? Ngươi có biết hãm hại mệnh quan triều đình, đó là tội lớn như thế nào không?

Lão vì nóng giận vung tay đột ngột, ống tay áo hất chén trà văng xuống đất "choang" một tiếng, vỡ tan tành.

Từ lúc Hồng thượng thư nói chuyện với bốn phạm quan vừa rồi thì gã Lục thập trưởng đáng thương đó đã cảm thấy buồn nôn từng đợt, cảnh vật trước mắt bay tới bay lui, giống như bị uống say. Lúc này nghe Hồng thượng thư quát to một tiếng, gã quýnh quáng trong lòng, chỉ muốn lớn tiếng biện bạch. Nhưng khí huyết vừa vọt lên, trong đầu bỗng "ầm" một cái, cả người chợt thấy lâng lâng, đầu óc quay cuồng, vừa loạng choạng mấy bước thì đã ngã nhào xuống đất.

Ngã xong, thần trí gã đã hoàn toàn mơ hồ, gò má va xuống đất bị mảnh vỡ của chén trà cắt phải, máu chảy khắp mặt mà gã cũng không cảm thấy đau đớn gì. Môi vừa chạm vào nước trà trên nền gạch xanh, gã lại hết sức hưng phấn bò dậy, hai tay cố vốc lấy vết nước trên nền gạch trong vô vọng, phấn khởi kêu lên:
- Đại nhân, ta không có nói bừa, ta không có nói bừa. Ngài xem, ngài xem nè, thật nhiều nước, nước ở khắp nơi. Ha ha ha... Ta muốn thăng quan nè, ta muốn phát tài nè. Lý đại nhân, ta tìm ra nước rồi, tìm ra chứng cứ này. Hoàng Thượng đâu? Không phải ngài nói Hoàng Thượng sẽ thăng quan cho ta sao?

Hồng Chung thấy vậy sững ra một lát rồi lại ngã phịch xuống ghế: lần này xong hết rồi. Sớm không điên muộn không điên, thế mà lúc này hắn lại sợ quá hoá điên. Nhưng ai mà tin là bây giờ hắn mới điên chứ? Đường đường là thượng thư bộ Hình, tin vào lời nhảm nhí của một tên điên, bức cung khiến bốn trọng thần triều đình phải khai bừa. Việc này...

Lục thập trưởng điên điên khùng khùng ôm cứng Đới Nghĩa, xem y là Lý Kiệt đang đứng ở một bên. Có điều vì không ngừng xin quan đòi tiền, trong đầu hắn chợt ảo tưởng ra cảnh sau khi thăng quan phát tài, cưới về mấy cô vợ xinh đẹp như mấy mỹ nhân lúc nãy. Thế là hắn liền ôm lấy lão thái giám, vừa hôn vừa cắn, ngây ngô cười nói:
- Tiểu nương tử, đừng theo Dương Lăng nữa. Hắn đã bị Hoàng Thượng chém đầu rồi. Hoàng Thượng đã thăng quan cho ta, nàng hãy làm vợ của ta đi.

Đới Nghĩa bị hắn cắn dính đầy nước dãi, không chịu nổi bèn xô hắn ra, rồi thẳng lưng nhìn về phía Lý Kiệt cười lớn, bộ dạng trông cực kỳ đắc ý. Tuy lão không biết là ai đã ra tay, nhưng biết rằng cửa ải nghiệm thổ lần này đã vượt qua an toàn. Khí thế ngang tàng kiêu ngạo khi còn ở ty Lễ Giám ngày trước đó tức thời lại đã quay về với lão.

Đầu mướt đầy mồ hôi, mặt vàng như nghệ, Lý Kiệt lẩm bẩm:
- Sao lại như vậy? Chuyện này sao lại như vậy?

Lục thập trưởng bị Đới Nghĩa xô ra nhưng vẫn lầu bầu:
- Tiểu nương tử thật là thô lỗ. Nàng không tin hoàng thượng đã thăng quan cho ta sao? Hoàng thượng? Hoàng thượng, ngươi nói cho tiểu nương tử nghe, có phải là đã thăng cho ta làm đại quan hay không? Hi hi hi...

Ở phía sau, Hoàng Thượng Chính Đức đã sớm giận đến bốc khói: giỏi cho một đám thần tử, không ngờ lại xem lời của tên điên là thật, hại ta suýt phải giết hại trung thần, di dời Đế lăng, khuấy đảo khiến triều thần phản đối, bá tánh bất an. Những tội danh ngu muội này hết thảy đều đã đổ lên người trẫm.

Chính Đức nổi cơn tam bành. Vừa nhảy xuống ghế bước ra mấy bước, thấy vị Giám chính Khâm Thiên giám nọ vẫn còn quỳ ở trước mặt, y bèn cả giận quát:
- Ngươi thậm thà thậm thụt quỳ ở đây làm cái gì? Có chuyện gì quan trọng cần tâu?

Mạc Đạo Duy vắt hết óc nghĩ ra được một lời quẻ tuyệt diệu, không kém hơn câu "Đào nguyên tam kết nghĩa, cô độc nhất chi" (2) dùng để đoán số cho người bao nhiêu. Lời bình tám chữ của lão là "Lôi kích cung đình, ứng tại thái lăng" (3). Giờ đây tình tiết vụ án đã rõ, "thầy bói" họ Mạc liền tuỳ cơ ứng biến, lập tức tâu rằng:
- Khải bẩm Hoàng Thượng, ban đêm thần xem thiên tượng, suy diễn ra được mười sáu chữ phê rằng ‘Lôi kích cung đình, ứng tại Thái lăng, vô đoan đình công, cự sanh thiên tượng’. (4)

Chính Đức nghe xong sắc mặt tím lại, y nghiến răng kèn kẹt, rồi xông thẳng như bay ra tiền sảnh. Đám quan viên thấy vậy vội vã nối gót theo sau.

Hoàng đế Chính Đức bước lên công đường, sắc mặt xám xịt, cũng chẳng quản ba vị quan chủ thẩm đang lật đật quỳ sụp xuống nghênh đón, y giành lấy vị trí chủ thẩm, chộp lấy phách gỗ đập loạn một trận, rống họng quát:
- Giải hắn đi, đỡ y dậy, dẫn bọn họ lên, ngươi cút xuống cho ta!

Đám đại thần ở bên dưới cũng không hiểu là Hoàng Thượng đang nói ai với ai. Vì thế trên công đường bỗng chốc trở nên náo loạn.



Chú thích:

(1) Túc: nghiêm trang; Tĩnh: yên lặng. Chỉ tấm biển cấm đoán kẻ không phận sự lớn tiếng ồn ào.

(2) kiểu câu đoán mệnh hài hước như "sinh con đầu lòng không gái thì trai" của các ông thầy bói. Câu này tạm dịch thành "vườn đào ba cây kết nghĩa, lẻ loi/đi một cây", nghĩa là: nếu đối phương là con một thì thầy bói sẽ nói là trong mệnh y lẽ ra là có ba anh em, nhưng hiện giờ chỉ có một mình, vậy nên "cô độc nhất chi" (lẻ loi một cây). Nếu đối phương có anh hoặc em, hai người, vậy thầy bói sẽ nói rằng huynh đệ ba người "cô độc" (lẻ đi) hết một cây, cho nên chỉ còn lại hai... Cứ như vậy, bất luận đối phương có bao nhiêu anh em thì cứ dùng câu này mà "cô độc" bớt cho đủ số.

(3) nghĩa là "việc sét đánh cung đình ứng nghiệm với chuyện xảy ra ở đế lăng".

(4) nghĩa là "việc sét đánh cung đình ứng nghiệm với chuyện xảy ra ở đế lăng, vì dừng thi công vô cớ nên mới sinh ra thiên tượng" (thiên tượng là hiện tượng của đất trời).



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
14-05-2011, 05:44 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 105 - Chính Đức Xử Án



Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: vandai79

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Đoạn y vui vẻ nói tiếp:
- Lần trước ở trong núi bắn pháo hoa trông thật đẹp, trẫm vẫn luôn mong muốn có thể xem lại. Chờ đến ngày đại hôn của trẫm sẽ không còn ai có thể mượn cớ ngăn trẫm nổi lửa đốt pháo nữa. Ha ha ha!!! Trẫm thật sự đã trông đợi lễ đại hôn này lâu lắm rồi. Ừm, đêm đại hôn của trẫm, khanh hãy vào trong cung giúp trẫm đốt pháo cho thoả thích.

Y vung tay, cười nói:
- Trẫm phải xem pháo hoa cả đêm, thâu đêm suốt sáng...



Sau khi Hoàng Đế Chính Đức chỉ trỏ loạn xạ một trận, có kẻ vội vã dập đầu hành lễ, có người thì muốn lấy lòng nhưng lại không biết Hoàng Thượng muốn dẫn ai lên, lôi ai xuống. Đang trong lúc hỗn loạn, Nghiêm Tung chớp được thời cơ, đột ngột đứng lên quát lớn:
- Tất cả yên lặng!!!

Tiếng quát này so với thanh âm Chính Đức đập phách gỗ "bộp bộp" còn có tác dụng hơn. Đám người đang chạy nháo nhào đều lập tức dừng lại, chỉ có gã Lục Ân Lỗ điên điên khùng khùng vẫn ôm cứng một vị Kiểm hiệu (1) của bộ Hình mà cười hì hì hà hà, la hét thăng quan phát tài.

Lúc trước Dương Lăng vẫn không kịp để ý tới mấy vị khâm sai đại nhân. Bây giờ thấy cái vóc cao kều, gầy gò của Nghiêm Tung thì y mới chợt nhớ ra hắn, liền nghĩ đến chuyện mình đã an toàn vượt qua vụ việc “nghiệm thổ đế lăng” một cách kỳ lạ, trong lòng Dương Lăng thấy ngạc nhiên và ngờ vực mãi.

Hoàng Đế Chính Đức đưa mắt nhìn Nghiêm Tung, tán thưởng:
- Khanh làm tốt lắm! Người đâu! Mau dọn chỗ cho bốn vị ái khanh Dương Lăng. Bốn vị ái khanh, giờ đây chân tướng đã rõ, bốn vị ái khanh quan phục nguyên chức, đợi sau khi kết thúc hãy về phủ dưỡng thương, rồi tiếp tục đảm đương trách nhiệm kiến tạo Đế Lăng. Về phần những kẻ vu cáo hãm hại...

Chính Đức chỉ gã Lục Ân Lỗ vẫn đang nói cười lảm nhảm, lạnh lùng nói:
- Lôi cái tên điên này đi cho trẫm. Dẫn toàn bộ tất cả các nhân chứng, phạm nhân lên công đường. Hôm nay trẫm sẽ đích thân xử án!

Hoàn Thượng sắm vai quan Chủ thẩm lâm thời, bên dưới nào dám không ra sức tuân theo. Thế là lập tức có mấy nha dịch ba chân bốn cẳng khiêng gã điên đó ra, quăng cái "thịch" vào trong phòng hậu thẩm (2) đầu tiên, lại có người dẫn bảy vị công tử nổi danh kinh thành đang run lập cập cùng nhóm Hàn Ấu Nương và những kẻ có liên quan lên công đường.

Ba tốp nha dịch lấy sức hô vang "uy vũ" (3). Chính Đức ngồi thẳng trên chính đường, trước mặt là hai hộp đất vàng, bắt đầu tự mình thẩm án. Thị lang bộ Công là Lý Kiệt vừa thấy Chính Đức nhìn về phía lão, thân thể liền như thấp đi một nửa. Lão khóc lóc tâu:
- Hoàng Thượng, là thần nhất thời hồ đồ. Tên điên đó thường ngày vẫn nói năng tỉnh táo rành mạch, vi thần trong phút chốc đã không xem xét kỹ, lại do chuyện Đế Lăng trọng đại, quan hệ đến vận mệnh hưng thịnh của quốc gia...

Lão cũng biết bây giờ mà còn biện bạch thêm thì đơn giản là tìm chết, chi bằng cứ thẳng thắn nhận tội, dùng Đế Lăng để chứng minh rằng lão xem trọng lăng tẩm của Tiên đế. Một khi Hoàng Thượng mềm lòng thì tội trạng lão sẽ nhẹ đi nhiều.

Hắn nào biết vừa rồi ở hậu đường "thầy bói" họ Mạc đã bịa ra mấy câu đoán mò. Thế nên vừa nhắc đến Đế lăng, Chính Đức chợt nhớ lại mười sáu chữ "lôi kích cung đình, ứng tại Thái lăng, vô đoan đình công, cự sanh thiên tượng". Lời đó vừa thốt ra, trong lòng Chính Đức tức thì dấy lên sự oán ghét. Y vung ống tay áo, phách gỗ liền biến thành ám khí, bay “vèo” một phát về phía Lý Kiệt.

Lý Kiệt bị phách gỗ đập trúng trán kêu "bốp", bầm ngay thành cục, đau quá phải "ui da" một tiếng. Chính Đức mắng:
- Đế lăng, Đế lăng!!! Ngươi hại khiến Đế lăng phải đình công, thiên lôi cảnh báo đánh xuống hoàng cung của trẫm, giờ còn dám nhắc tới Đế lăng sao? Lột áo quan, tước mũ mão của hắn!

Lập tức có hai sai dịch nhanh nhẹn kéo Lý Kiệt lại, lột áo quan và mũ mão của hắn rồi đạp sau gối bắt quỳ xuống. Dương Lăng thấy vậy hơi có chút bất an. Dẫu gì thì Kim Tỉnh Đế lăng đích thực đã bị giở trò, Lý Kiệt không hẳn đã đổ oan cho y. Y lại lo lão ta bị ép đến cùng đường, chó cùng rứt giậu, một mực quả quyết Kim Tỉnh thấm nước là thật, không chừng sẽ mang phiền phức đến cho mình.

Thị lang bộ Lễ là Lý Đạc thấy mặt y có vẻ không nỡ liền rỉ tai nhắc khẽ:
- Dương đại nhân không thể mềm lòng. Cậu cho rằng hắn sẽ vì vậy mà cảm kích bỏ qua sao? Đánh rắn không chết sẽ hậu hoạn vô cùng!

Bình thường nếu nói ra câu này, Dương Lăng tất sẽ không để trong lòng. Nhưng vừa rồi mới dạo một vòng ở Quỷ Môn quan nên y đã rút ra được kinh nghiệm xương máu, hiểu được vài điều về sự nguy hiểm trên chốn quan trường “cười nói chuyện trò mà trên thân lăm lăm đao kiếm”. Sau khi nghe Lý Đạc nói xong thì y khẽ gật đầu, nhớ lại vì chuyện này mà thiếu chút nữa y và Ấu Nương hai người đã âm dương chia cắt, ánh mắt không tự chủ tìm về phía nàng.

Hàn Ấu Nương vẫn xinh đẹp như vậy, chỉ có đôi mắt vốn trong veo như nước đã hơi sưng đỏ. Nhưng đôi mắt dịu dàng đó vẫn nhìn y chăm chú với một tình cảm nồng nàn. Dương Lăng cố mỉm cười trấn an.

Hàn Ấu Nương cũng nhoẻn miệng cười đáp lại, khuôn mặt xinh xắn ấy ngập tràn niềm hân hoan và thoả mãn. Dương Lăng nhìn thấy Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai ở sát bên cạnh Hàn Ấu Nương, nghĩ đến hai người con gái này trọng tình trọng nghĩa, thấy mình gặp phải đại nạn, không những bỏ mặc mà còn giúp đỡ Ấu Nương. Y lấy làm cảm kích liền gật đầu cảm tạ.

Không nghĩ tới Dương Lăng vừa gật đầu tỏ ý thì gò má hai người con gái lại bất chợt ửng đỏ lên, thẹn thùng nhìn đi chỗ khác khiến y không khỏi có chút lấy làm kỳ lạ. Dương Lăng vẫn chưa biết ngày đó vì cảm kích, Hàn Ấu Nương đã cùng tam nữ kết bái, thề rằng "đồng thuyền hợp mạng, họa phúc cùng chia".

Đồng chiếc thuyền nào? Đương nhiên là "chiếc thuyền" mang tên Dương đại lão gia này rồi. Hai nha đầu đó thông minh lanh lợi hơn người, nghe xong đã sớm hiểu được tâm ý của Ấu Nương. Chỉ có điều lúc đó bọn họ cũng ôm lòng tin chắc đại sự sẽ không thành, quyết tâm lấy thân phận thê thiếp của Dương Lăng mà cùng chết theo, thật sự không có mấy hy vọng sẽ cứu được y. Bây giờ Dương Lăng chết đi sống lại, phần tâm tư kia trỗi dậy, trong lòng mới thẹn thùng như thế.

Chính Đức trừng mắt nhìn Lý Kiệt, nhất thời không nghĩ ra được phải xử trí như thế nào, nhịn không được bèn quay sang Hồng Chung để hỏi:
- Hồng Chung! Lý Kiệt vu cáo đại thần, mưu hại khâm sai, bịa đặt chuyện Đế lăng thấm nước thì đáng xử tội gì?

Lúc trước Chính Đức quát Hồng Chung một câu, dọa cho Hồng lão thượng thư luôn biết thời biết thế này phải ngoan ngoãn lui xuống hạ đường, chạy đi trốn sau lưng Mạc Đạo Duy. Bây giờ vừa nghe Hoàng Thượng đích thân hỏi, Hồng Chung liền "thụ sủng nhược kinh" (được quan tâm mà nơm nớp lo sợ), còn tưởng rằng Hoàng Thượng không truy cứu tội của lão nữa.

Thế là lão lật đật chạy lên vài bước, tâu:
- Thần khải bẩm Hoàng Thượng, theo luật Đại Minh, nếu một khi bị tra ra sự thật thì kẻ vu cáo sẽ chịu phản tọa (4).

Chính Đức mất kiên nhẫn, giục:
- Bớt nói lời thừa thãi đi, rốt cuộc xử trí như thế nào?

Hồng Chung vội đáp:
- Hoàng Thượng minh giám, vu cáo bị phản tọa chính là, quan viên mà hắn vu cáo phải chịu hình phạt gì thì hắn sẽ chịu hình phạt ấy.

Hồng Chung nói tiếp:
- Quan viên mà hắn vu cáo bị phán tội “chém không tha”. Người đâu, lôi hắn xuống, chém không tha!

Lý Kiệt quýnh quáng lên. Hắn còn tưởng Hồng Chung có thể cứu vớt, nào ngờ lão ta lại "giậu đổ bìm leo". Lý Kiệt chỉ mặt Hồng Chung mà mắng:
- Hồng thượng thư! Ta vu cáo đại thần ư? Nếu không phải do ông xin thánh dụ dùng hình thì há sẽ có chuyện bức cung mà khai sao?

Hồng Chung lật lọng, mỉa mai:
- Nếu không phải vì ngươi cố ý hại người thì lẽ ra sau khi nghe được tin tức sẽ phải bẩm báo với Hoàng Thượng để xin người kiểm tra, cớ gì lại tìm một tên điên giả làm nhân chứng chứ? Ta đã bị ngươi dối gạt mà thôi!

Lý Kiệt tức khí, hổn hển mắng:
- Ta cùng mấy vị đại nhân không thù không oán, cớ gì phải hại bọn họ? Ta nghe thấy chuyện Đế lăng thấm nước đã bẩm báo cho Từ thượng thư. Là do Từ thượng thư bảo ta chưa được công khai mà cần thu thập nhân chứng, vật chứng nên ta mới tạm thời không nói. Thượng thư đại nhân, có phải là vậy không?

Từ Quán vừa nghe hắn muốn kéo mình theo, lập tức lắc đầu quầy quậy:
- Nói xằng! Lão phu chỉ kêu Đế lăng thấm nước là chuyện lớn vô cùng, sao có thể tố cáo bừa bãi, cần sai ngươi điều tra sự thật rồi báo cáo tiếp chứ ai bảo ngươi thu thập nhân chứng, vật chứng? Ngươi và các vị đại nhân không có thù, chẵng lẽ lão phu lại có hay sao?

Mấy người Lưu Kiện, Tạ Thiên vốn còn muốn xin tha cho bọn họ, vừa thấy bọn họ vào thời khắc nguy cấp chỉ cố đùn đẩy trách nhiệm, không khỏi lộ vẻ khinh bỉ. Vương Quỳnh xem trò hề của ba người mà giận dữ đến cùng cực, quát lớn:
- Đủ rồi!!!

Lão quát ngăn ba người bọn họ cãi nhau xong, liền xoay người quỳ thẳng xuống đất, cất giọng lẫm liệt:
- Hoàng Thượng, hạ thần không tra xét kỹ, tố cáo sai lầm, có tội ngộ cáo, chỉ xin thánh thượng ân giảm!

Vương Quỳnh dỡ mũ mão đặt sang một bên, khấu đầu không dậy. Chiêu "lấy tiến làm lùi" này của lão thực cao minh hơn nhiều so với ba người Hồng Chung. Đầu tiên là cải biến tội danh thành "giám sát thiếu trách nhiệm và ngộ cáo", sau đó cột toàn bộ ba thượng thư và một thị lang chung vào một con thuyền, tin rằng tân hoàng mới đăng cơ, ngôi vị còn chưa ổn, liệu có dám tùy ý xử trí nhiều trọng thần như vậy không?

Chính Đức thấy bốn kẻ đang quỳ lại có đến ba người là thượng thư, thực sự có chút lúng túng. Y đưa mắt nhìn sang mấy vị đại học sỹ cầu cứu. Lưu Kiện thừa dịp liền tâu:
- Hoàng Thượng, thần cho rằng Hồng lão thượng thư lạm dụng trọng hình, bức cung ép khai, hại bốn vị khâm sai suýt trầm mình nơi tử địa. Hơn nữa, tin tức triều đình muốn dời Đế lăng truyền ra khiến dân tâm bất an, quả thực là có tội. Nhưng Hồng thượng thư cũng chỉ vì bị kẻ khác che giấu nên xử án không thoả đáng chứ không phải vì ham muốn cá nhân. Thần cho rằng bắt ông ta... bắt ông ta bãi quan hồi hương là được!

Hồng Chung nghe vậy bủn rủn cả người. Lão vất vả gian nan lắm mới leo lên vị trí quan nhất phẩm, giờ đây chỉ một câu nói mà hết thảy liền đã trở thành hư không. Cực khổ mấy mươi năm, không ngờ lại như giấc mộng.

Còn Lý Kiệt nghe mà ruột gan lại như muốn đứt rời. Lưu Kiện nói vậy là muốn "thí tốt" để "giữ tướng", ngay cả lão là người đứng đầu nội các mà cũng còn mang suy nghĩ như vậy thì hắn còn có thể sống được sao?

Chính Đức nghe xong, gật đầu bảo:
- Vậy làm theo lời tấu của đại học sỹ đi, Hồng Chung bộ Hình sẽ bị bãi chức hoàn hương.

Lưu Kiện lại nói:
- Thượng thư bộ Công là Từ Quán, nghe thấy công trình Đế lăng có sự cố nhưng lúc đó vì quá thận trọng, biết chuyện mà không báo, sau lại chưa tra thực hư mà đã tố cáo đại thần, quá đỗi trù trừ lười nhác, đã phụ chức phận. Thần thấy rằng nên cho...

Lưu Kiện vừa muốn nói "giảm lương phạt bổng" (bổng ở đây là bổng lộc), nhưng Chính Đức đã tự cho mình thông minh, cướp lời luôn:
- Được, cho bãi quan luôn đi.

Lưu Kiện tức thời nghẹn họng, mãi một hồi lâu không nói được gì. Chính Đức lấy làm ngạc nhiên, bảo:
- Kiến nghị của Lưu ái khanh rất có lý, khanh hãy nói tiếp đi.

Lưu Kiện hít sâu một hơi, nói tiếp rất nhanh:
- Thượng thư bộ Lễ là Vương Quỳnh, lấy thi lễ giáo hoá thiên hạ, đức cao vọng trọng, tài đức vẹn toàn, khiến cho lòng người cảm động (5). Ông ta vốn không liên quan đến vụ án này, chỉ bởi tin lầm lời người, vì muốn thanh trừng lại trị (6) nên mới giục xin Hoàng Thượng xử phạt quan viên tham ô, tội có thể tha thứ. Nhưng Vương Quỳnh không phải là ngôn quan lại đi nghe lời đồn mà dâng tấu, cũng nên bị trừng phạt, có thể phạt ba năm bổng lộc để cảnh cáo.

Lão sợ Chính Đức giữa chừng sẽ lại chen miệng vào, cho nên lần này nói vừa nhanh vừa gấp, rào rào như rang đậu. Chính Đức không vui, nói:
- Vương Quỳnh lạm quyền vượt quá chức vụ của mình, suýt nữa đã gây ra tội lớn. Lỗ mãng như vậy thì sao cai quản việc khoa cử, tế tự, lễ nghi, bang giao được? Phạt bổng lộc có phần quá nhẹ, vậy... chuyển làm thượng thư bộ Lễ ở Nam Kinh đi.

Tạ Thiên, Lý Đông Dương nghe xong đang muốn bước lên cãi lẽ cho Vương Quỳnh, không ngờ lão nghĩ rằng mình một lòng vì nước mà Hoàng Thượng lại hồ đồ không hay, không biết nên trong lòng tràn ngập bi thương cùng phẫn uất, dập đầu nói:
- Hoàng Thượng thương cảm lão thần, lão thần cảm kích không thôi!

Chính Đức nghe giọng điệu phẫn uất của lão thì cả giận, quát:
- Ngươi vẫn không phục sao? Ngươi cai quản bộ Lễ, giáo hoá thiên hạ, thế mà ngay cả con mình cũng dạy không xong. Hắn bức bách tỳ nữ người khác hãm hại gia chủ, đó cũng là việc mà đường đường phủ thượng thư bộ Lễ có thể làm sao?

Rồi y cười gằn, quay sang thị lang bộ Hình là Ngụy Thân hỏi:
- Ngụy thị lang! Dân tố quan, bịa chuyện hãm hại thì đáng bị phạt gì?

Nguỵ Thân vốn thiết diện vô tư, trong mắt chỉ có vương pháp không có nhân tình, nghe lời lập tức khom người, đáp:
- Hồi bẩm hoàng thượng! Dân tố quan, bịa chuyện phỉ báng, một khi tra ra sự thật thì tước công danh, đày đi biệt xứ. Song theo thần thấy, nghi án Đế lăng tuy rằng không đúng nhưng việc tố cáo Dương Lăng cưỡng ép mua tỳ nữ, nếu chỉ dựa vào lời nói từ phía nàng ta thì vẫn chưa đủ tin cậy, cần cho kiểm chứng mới có thể khép tội.

Chính Đức ngửa mặt lên trời cười ha hả, rồi lại cười nhạt nói:
- Không cần tra nữa, việc này trẫm biết rõ ngọn ngành. Chuyện này bắt nguồn bởi gia nhân của Thọ Ninh hầu ỷ thế hiếp người, mưu đoạt ba cô gái của Thì Hoa quán. Khi ấy trẫm vẫn còn là thái tử Đông cung, sau khi nghe chuyện đã sai thị độc Dương Lăng cứu giúp bọn họ. Số bạc của y cũng không phải tham ô mà có, mà là của trẫm cấp cho. Ngươi không phải là vẫn muốn tra xem lời trẫm nói là thật hay không đó chứ?

Nguỵ Thân lật đật quỳ xuống, thưa:
- Thần không dám. Nếu hoàng thượng đã làm chứng cho Dương Lăng, vậy tội danh vu cáo này đã xác thực.

Vương Quỳnh nghe Hoàng Thượng muốn tước bỏ công danh của con mình rồi lưu đày biệt xứ thì sắc mặt lập tức trắng bệch, cũng không còn dám ương bướng chống cãi nữa, chỉ dập đầu xin tha cho con. Mấy công tử hào phú cũng hoàn toàn mất sạch vẻ kiêu ngạo, chỉ quỳ mọp dưới đất mà run rẩy.

Lý Đông Dương nghe xong thì rất lo ngại. Bảy cậu công tử này tuy không tính là nhân vật gì, nhưng sau lưng mỗi người đều có cha già là trọng thần trong triều. Hôm nay Lục Bộ nhoáng một cái đã bãi chức một nửa quan viên, trong triều lòng người đã bất ổn, nếu như lại có thêm mấy vị đại thần ôm hận bất mãn thì bọn họ sẽ quản lý triều chính như thế nào đây?

Vụ án Đế lăng đã vứt bỏ một Lý Kiệt để giữ lại ba vị thượng thư. Hôm nay xem ra vụ án Dương Lăng cưỡng đoạt dân nữ chỉ có thể thí bỏ Vương Cảnh Long, cứu lấy sáu người còn lại thôi. Lý Đông Dương quyết định dứt khoát, lập tức nhanh miệng tâu:
- Hoàng Thượng! Mua chuộc nữ tỳ Dương phủ, hãm hại Dương đại nhân chỉ có một mình Vương Cảnh Long, những thư sinh khác nhỏ tuổi không hiểu chuyện, chỉ là ham muốn hư vinh, hùa theo náo nhiệt, không nên xử nặng.

Đám người Tạ Thiên, Lưu Kiện, Vương Hoa biết rõ nếu trừng phạt quá nặng sẽ không có lợi cho triều đình, vì vậy lần lượt quỳ xuống cầu xin. Chính Đức bực bội nói:
- Thôi được, sáu tên hùa theo trẫm có thể không so đo tính toán. Nhưng cái tên Vương Cảnh Long thêu dệt tội danh, nếu tha cho hắn thì thể diện triều đình vứt đi đâu? Lột bỏ công danh kẻ này, lưu đày Quý Châu, cả đời không được tuyển dụng!

Vương Quỳnh nghe thấy thế thì hoàn toàn tuyệt vọng. Vương Cảnh Long quỳ dưới đất mà như kẻ mất hồn, cuộc đời này của hắn coi như đã xong rồi. Một lúc lâu sau hắn mới dần tỉnh lại, tựa hồ nghe thấy Hoàng Thượng đã phán Lý Kiệt tội chết, sai người giải đi.

Vương Cảnh Long cười thê lương “Tội chết ư? Thà cũng phán mình một tội chết, còn hơn là đày đoạ như vậy. Mình vốn là con nhà thế gia, tiền đồ rực rỡ, nếu không phải do bị con tiểu tiện nhân đó lừa gạt thì sao có thể đến nông nỗi sống không bằng chết thế này?” Trong lòng Vương Cảnh Long đột nhiên nảy sinh một ý niệm ác độc “Tiểu tiện nhân! Không phải ngươi xu nịnh tên Dương Lăng đó mà tính kế ta sao, cho dù ta bị lưu đày đến Quý Châu thì cũng sẽ mua chuộc đám trộm cướp cố làm nhục ngươi cho đến chết, khiến ngươi phải hối hận về việc đã làm...”

Thái giám của ty Lễ Giám là Đới Nghĩa thấy Hoàng Thượng đã khâm phán xong vụ án mà Vương Quỳnh vẫn chưa chịu từ bỏ, vẫn còn quỳ ở đó để tận lời, kiệt sức cầu khẩn cho con trai của mình thì vội bước ra khỏi ghế, quỳ xuống tâu:
- Hoàng Thượng! Quý Châu hoang vu cằn cỗi, cách đó lại là quan ải trùng trùng, chướng khí khắp nơi, lưu đày đến nơi đó quả thực khó lòng sống được. Theo nô tài thấy, nếu các vị đại nhân đã thỉnh cầu, chi bằng Hoàng Thượng hãy đày hắn đến Thái Lăng làm một tên khổ dịch, sửa lăng lót đường cho Tiên đế để chuộc lấy tội nghiệt, vừa là trừng phạt hắn mà lại vừa thể hiện sự nhân hậu của hoàng thượng.

Vương Cảnh Long đang thầm cân nhắc cái ý nghĩ ác độc thì nghe người ta muốn đưa hắn đi Thái Lăng làm khổ dịch, mặc dù khổ thì có khổ một chút, nhưng dẫu sao nơi đó vẫn gần kinh sư. Phụ thân hắn tuy bị đày đi Kim Lăng làm quan nhưng môn sinh, bạn cũ còn rất nhiều, đến lúc đó hắn tìm người ra tay một chút thì còn sợ không được việc hay sao?

Nhưng lúc hắn vừa ngẩng đầu thì vừa vặn trông thấy Đới Nghĩa đang nhìn mình cười nham hiểm. Thấy nụ cười không có ý tốt lành đó, Vương Cảnh Long liền như bị dội một thau nước lạnh từ đầu đến chân, trái tim lập tức trở nên lạnh ngắt.

Chính Đức vui vẻ nói:
- Tốt lắm, cứ làm vậy đi!

Vương Quỳnh biết rõ con mình đi Thái Lăng nguy hiểm còn hơn đi Quý Châu bội phần, lo lắng đến độ muốn phát điên. Mấy người Lưu Kiện cùng lão làm việc chung với nhau đã lâu năm, thấy vậy trong lòng không nỡ, đành phải bước lên dìu dậy, sau khi nhỏ giọng nhận lời chiếu cố cho Vương Cảnh Long thì Vương lão phu tử mới rơi lệ lui xuống công đường.

Sau khi Chính Đức đuổi tất cả mọi người đi hết chỉ giữ lại một nhà Dương Lăng, hắn mới ngại ngùng đến bên người y, nói:
- Dương thị độc! Trẫm... trẫm suýt nữa đã phụ khanh rồi.

Trong lòng Dương Lăng cũng khá hậm hực. Y không tin phong thuỷ quan trọng hơn ngàn vạn tính mạng của bá tánh nên giúp bọn Đới Nghĩa che giấu chuyện Đế lăng thấm nước. Nhưng dù sao cũng đã giấu chuyện với tiểu hoàng đế này nên y vội khom người vái, đáp:
- Hoàng Thượng chớ nói như vậy. Bất luận lấy thân phận vua một nước hay con của Tiên đế thì người xử trí như vậy đều là làm theo trách nhiệm. Thần không lời oán hận.

Chính Đức cười thẹn nói:
- Ái khanh! Khanh hãy bớt muộn phiền mà dưỡng thương cho thật tốt, đợi khi thương thế lành lặn thì trẫm sẽ trọng dụng khanh. Khanh hãy trở về trước, ba lão già lắm chuyện đó vẫn còn đang chờ trẫm ở bên ngoài, khi nào về trẫm sẽ trốn đến phủ thăm khanh.

Dương Lăng vội nói:
- Đa tạ Hoàng Thượng quan tâm. Xin Hoàng Thượng hãy đừng tuỳ tiện rời cung kẻo ba vị đại học sỹ biết được sẽ lại dâng tấu sớ lên can gián. Giờ vi thần về đây.

Tuy y đã được tháo bỏ cùm tay, xích chân nhưng hai mắt cá chân vẫn bầy hầy máu thịt, muốn bước ra khỏi công đường dài dằng dặc này cũng đau như xát muối, đâm kim. Y được Hàn Ấu Nương và Ngọc Đường Xuân một trái một phải dìu, lại thêm Tuyết Lý Mai cùng Cao Văn Tâm đi theo bên cạnh, sau khi hành lễ với Hoàng Đế xong liền xoay người bước đi.

Chính Đức thấy khuôn mặt xinh đẹp của Hàn Ấu Nương nghiêm lại, tuy chưa thất lễ nhưng không hề thân thiết như lúc trước đã đối đãi với mình. Trong lòng hơi cảm thấy khó chịu, Chính Đức bất chợt gọi giật lại:
- Khoan đã!

Dương Lăng ngạc nhiên quay người, chỉ thấy Chính Đức vừa bước tới vừa nói:
- Nếu không nhờ Ấu Nương tỷ tỷ cầm bức vẽ của phụ hoàng ngăn cản, trẫm suýt nữa đã mất đi một vị trung thần. Ấu Nương tỷ tỷ có công với xã tắc, trẫm nên phong thưởng.

Y hơi trầm ngâm rồi nói:
- Trẫm muốn hạ chỉ, khâm phong Ấu Nương tỷ tỷ làm “Cáo Mệnh phu nhân”(7), Ấu Nương tỷ tỷ đừng giận trẫm nữa nhé?

Hàn Ấu Nương thấy đường đường là thiên tử lại nhận lỗi với mình, cũng không dám được voi đòi tiên, vội cúi mình vái một vái rồi nói:
- Thần thiếp nào dám giận Hoàng Thượng chứ? Đa tạ Hoàng Thượng ban thưởng.

Thân phận là mối tâm bệnh của Hàn Ấu Nương. Khi trượng phu là tú tài, nàng vẫn luôn cảm thấy một cô con gái của gia đình thợ săn như mình đã không xứng với người ta. Bây giờ có được lệnh phong của Hoàng Thượng, trong lòng sao mà không vui chứ.

Thấy chân mày Hàn Ấu Nương hiện lên chút hân hoan, Chính Đức mới yên tâm, vui vẻ cười nói:
- Trẫm không những muốn thưởng tỷ tỷ, còn muốn thưởng Dương thị độc nữa. Chẳng phải là Vương Cảnh Long nói khanh bỏ ra vạn lượng bạc trắng mua tỳ nữ là không hợp tình hợp lý sao? Ha ha, số bạc đó là của trẫm bỏ ra, vậy coi như trẫm mua về tặng khanh làm thiếp là được rồi. Phủ nội vụ đã xác định Hoàng Hậu cho trẫm, còn tuyển chọn ra hai Hoàng Phi. Ừm... (hiện) đang định ngày đại hôn của trẫm. Đến ngày đó trẫm sẽ hạ chỉ ban thưởng hai người bọn họ làm thiếp của khanh rồi động phòng thành thân.

- Hả?
Dương Lăng nghe xong giật mình thất kinh, Hàn Ấu Nương cũng khá bất ngờ, còn Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai thì ngạc nhiên pha lẫn mừng rỡ. Ánh mắt hai người vừa chạm nhau liền lập tức dời đi, gò má không kìm được mà đỏ lựng, nhưng trong đôi mắt trong veo lại đầy vẻ thẹn thùng và vui sướng không nói thành lời.

Cao Văn Tâm chỉ hơi cụp mi, thần sắc bình tĩnh, nhìn không thấy vẻ gì khác thường. Tuy rằng Hàn Ấu Nương đã ngầm chấp thuận cho phép chung chồng, nhưng nàng tự biết thân phận nô tỳ khó bỏ, trước giờ chưa từng ôm vọng tưởng này nên không suy tính thiệt hơn với hai người Ngọc Đường Xuân.

Tiểu hoàng đế vỗ vai Dương Lăng một cái, trịnh trọng nói:
- Ngày trẫm thành hôn sẽ chính là ngày khanh thành hôn. Trẫm nguyện thề cùng khanh cùng vui tiệc chúc, cả đời tin nhau, từ nay về sau vừa là vua tôi, vừa là bạn tốt.

Đoạn y vui vẻ nói tiếp:
- Lần trước ở trong núi bắn pháo hoa trông thật đẹp, trẫm vẫn luôn mong muốn có thể xem lại. Chờ đến ngày đại hôn của trẫm sẽ không còn ai có thể mượn cớ ngăn trẫm nổi lửa đốt pháo nữa. Ha ha ha!!! Trẫm thật sự đã trông đợi lễ đại hôn này lâu lắm rồi. Ừm, đêm đại hôn của trẫm, khanh hãy vào trong cung giúp trẫm đốt pháo cho thoả thích.

Y vung tay, cười nói:
- Trẫm phải xem pháo hoa cả đêm, thâu đêm suốt sáng...

Cao Văn Tâm nghe xong cái mệnh lệnh hồ đồ này, thiếu chút nữa thì đã cười phì. Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai liếc mắt nhìn nhau, khoé miệng đang cười cũng không khỏi ngầm mang một nỗi thất vọng...



Chú thích:

(1) chức thẩm tra đối chiếu lời khai với sự thật.

(2) phòng chờ thẩm vấn.

(3) "wèi... wù..." tiếng hô kéo dài của nha dịch khi bắt đầu thăng đường xử án. Xem Bao Thanh Thiên sẽ rõ.

(4) phản tọa là thuật ngữ chỉ việc lấy tội danh và hình phạt của người bị vu cáo ghép cho kẻ vu cáo

(5) nguyên văn "đào lý thành hề" trích từ câu "đào lý bất ngôn, hạ tự thành hề". Đào và mận không cần biết nói để thu hút người khác (đào lý bất ngôn), nhưng hoa thơm quả ngọt của chúng đủ lôi cuốn người ta nườm nượp tới lui, tạo thành một con đường nhỏ dưới gốc của chúng (hạ tự thành hề). Câu thành ngữ này xuất xứ từ "Sử ký Lý tướng quân liệt truyện" này ví von rằng, chỉ cần là người chân thành và trung thực thì sẽ có thể cảm hoá người khác.

(6) tác phong và uy tín của quan lại.

(7) Người nào là vợ quan cũng được gọi là "phu nhân” cả, nhưng đó là "phu nhân danh phận", dựa theo chồng, không oai bằng tước "phu nhân" do vua ban thưởng. "Cáo Mệnh phu nhân" là tước do vua ban cho phụ nữ có công, tước này có bổng lộc, không có thực quyền.
Theo http://baike.baidu.com/view/597131.htm
thì từ ngũ phẩm trở lên mới gọi là "cáo", từ lục phẩm xuống cửu phẩm gọi là "sắc".



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
14-05-2011, 06:54 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 106 - Giai Nhân Hầu Rượu



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Trên giường bổ dưa uống rượu, bên suối liễu rũ nghe đàn, nâng chén giơ đũa, mỹ nữ hầu quanh, người nào người nấy dung nhan xinh đẹp, có tình có ý với y. Đối với đám lão tử phong lưu ngày xưa, có phải đây là cuộc sống đáng mơ ước nhất không? Vậy đối với đàn ông hiện đại thì sao?





Chương thứ 106 - Giai nhân hầu rượu
------------------------

Ven con suối là liễu, du hòe, long lão mọc lẫn vào nhau. Do mấy ngày nay vừa phải hứng chịu cơn mưa lớn nên dấu vết cơn lũ vừa quét qua còn in rất rõ. Dòng suối đổ vào một con sông nhỏ nay đã cạn nước, còn rải rác vài thân cây khô, những búi rễ sần sùi của một vài gốc cây già ở mép sông trơ cả ra ngoài.

Bên gốc thùy dương liễu (*) là một tảng đá xanh nghiêng nghiêng chìm một nửa vào nước. Dưới tảng đá, nước sông trong vắt dồn về thành dòng chảy xiết, sâu hơn một đầu người, rộng khoảng bốn trượng. Trên triền núi bên trái là doanh trại do năm trăm thân quân của Tả tiêu doanh dựng lên. Từ sơn đạo có thể nhìn khắp cả Cao gia trang, thấy rõ từng đình đài lạc viện trong vườn nhà.
(*:loại liễu rủ, lá dài; khác với cây dương ở vùng biển có lá ngắn hơn.)

Cảnh vật thôn làng vốn vẫn u nhã tĩnh lặng nhưng đã vào trung tuần tháng sáu, khí trời oi ả lẫn tiếng ve sầu ra rả suốt ngày khiến người ta khó lòng an giấc. Lúc này, trên một chiếc giường tre làm bằng trúc Tương phi(1) đặt bên cạnh con sông nhỏ, Dương Lăng thảnh thơi nằm như một lão thái gia, ánh dương quang loang lổ vương rắc lên người khiến y lim dim muốn ngủ.

Hai tay hai chân y đều được quấn băng trắng, một chiếc cần câu dựng thẳng trước người, chiếc phao nhẹ đung đưa trên mặt nước, cá đã sớm thoát câu nhưng chẳng có ai thay mồi.

Từ kinh sư trở về được mươi ngày, những ngón tay bị nẹp gỗ kẹp nát, cẳng chân bị gông xiềng cứa bầm dập của Dương Lăng được sự chăm sóc tận tình của nữ thần y Cao Văn Tâm nên cũng sớm hồi phục được bảy tám phần. Tuy nhiên các cô nương Hàn Ấu Nương và Ngọc Đường Xuân không dám chủ quan, thấy cổ tay lẫn mắt cá chân của y mới lên da non, sợ bị bong tróc nên vẫn quấn băng vải dày cộm bắt nghỉ ngơi tử tế.

Chiếc giường tre y đang nằm là lễ vật do Nghiêm Tung biếu tặng. Nơi quê nhà, gia đình họ Nghiêm cũng được xem là một tiểu địa chủ, nhưng ở kinh thành thì thực không có gì đáng để tự hào. Đã không thể biếu được lễ vật hậu hỉ, thôi thì gã cứ tặng chút nhã vật hợp thời, ấy vậy mà lại rất hợp lòng dạ Dương Lăng.

Đối với chuyện vì sao đất lấy từ Đế Lăng về lại khớp với đất do bộ Lễ đang giữ, Dương Lăng vẫn luôn ôm mối hoài nghi trong lòng.

Khi Nghiêm Tung đến viếng thăm, y đã quanh co dò hỏi thử. Vốn Nghiêm Tung luôn cho rằng Thành quốc công và Vương Thủ Nhân mới là những người phụng chỉ hành sự, không chừng Dương Lăng cũng biết rồi, mà gã lại không dám khoe công, nên ban đầu không dám kể sự thật, cứ quanh co vờ vịt một hồi.

Nhưng sau gã nghĩ mình đã phát hiện được bí mật, trong lòng lại đâm ra ngứa ngáy khó chịu, e rằng người ta không biết mình cũng đã góp sức giúp đỡ nên trong lời nói không khỏi để lộ một số tin tức.
Dương Lăng nghe biết được ba người Thành quốc công, Vương Thủ Nhân và Nghiêm Tung liên thủ giúp y vượt ải khó, đương nhiên đầy lòng cảm kích khó tả bằng lời.

Mấy ngày qua, hầu hết những người có giao tình và quan hệ với y như Tiền Ninh, Vu Vĩnh của Cẩm Y Vệ, phó quan ở Tam Ty và Thần Cơ Doanh, Lưu Cẩn và Mã Vĩnh Thành của nha môn nội cung đều đích thân đến thăm; những ai không đi được cũng sai người đến tặng hậu lễ.

Những người này vung tay nào chỉ ngàn vàng. Dương Lăng ăn phải trận đòn, ra đến đầu chợ lại biểu diễn xuất sắc vai viên quan thanh liêm nên không những danh tiếng trung thành và nhân ái của y lan truyền khắp dân gian mà còn kiếm được vàng bạc tràn bồn đầy chén. Chẳng những mấy người Đới Nghĩa, Lý Đạc, Nghê Khiêm chẳng thể bì được mà bọn họ còn phải mua lễ vật đến nhà thăm hỏi Dương Lăng. Đến nước này, bọn họ cũng biết mình thoát chết là hoàn toàn nhờ vào Dương Lăng; do đó bọn họ đến thăm tất nhiên là để tạ ơn, chẳng qua trong lòng ai nấy đều rõ nhưng không nói ra thôi.

Dương Lăng từng nhậm chức đông cung thị độc, chịu sự cai quản của phủ Chiêm Sỹ(2), thế nên theo lễ tục thông thường, phủ Chiêm Sỹ cũng đã phái người đến thăm hỏi y. Giờ đây Dương Lăng đang là sủng thần của nhà vua, vuốt mặt cũng phải nể mũi cho nên phủ Chiêm Sỹ không dám qua loa chậm trễ, phái ngay một vị Hàn Lâm học sỹ đến thăm viếng.

Dương Lăng là tú tài trẻ tuổi nhất Tuyên phủ, mười sáu tuổi đã có công danh. Vị học sỹ được phủ Chiêm sỹ phái tới này lại càng không hề kém cạnh. Vị này là Thị giảng học sỹ của vua Chính Đức tên Dương Đình Hoà, mười hai tuổi đã là thần đồng nổi tiếng khắp Ba Thục. Vì học lực vượt trội đồng sinh (*) nên từ tú tài lão được thi thẳng lên cử nhân. Mười tám tuổi đỗ tiến sỹ, đến năm hai mươi tám tuổi được tuyển vào Hàn Lâm. Học bạ của Dương Lăng đem so với cái lý lịch chói lọi huy hoàng này thực như đom đóm so với ánh mặt trời.
(*): tên gọi thư sinh chưa thi tú tài hoặc chưa đậu kỳ thi tú tài, chữ đồng 童 nghĩa là nhỏ.

Được cái vị Dương học sỹ tuổi ngũ tuần này tính tình hết sức hiền hoà, bình thường trò chuyện cũng tuyệt đối không vì mình đọc nhiều Kinh Thư mà mở miệng ngậm miệng sặc điều hủ lậu. Hai người vừa chuyện trò một hồi, Dương Lăng bỗng nảy sinh hảo cảm với vị Thị giảng đại học sỹ này.

Vốn nể mặt mũi Hoàng Đế nên Dương Đình Hoà mới theo lệnh của phủ Chiêm Sỹ đến thăm hỏi sức khoẻ Dương Lăng. Trong lòng lão cũng xem thường vị sủng thần của Hoàng Đế thăng tiến như hoả tiễn nhưng lại có xuất thân tú tài này.

Song vừa mới bắt chuyện, Dương Đình Hoà đã phát hiện tuy vị tú tài này nói năng lung tung, không hề có một quan niệm mang tính hệ thống về các loại sự việc, nhưng mỗi khi y mở miệng, nếu không trúng vào trọng tâm thì cũng nói ra được lợi và hại trong đó. Còn như khi đưa ra cách giải quyết vấn đề, tuy rằng vài nhận xét và tư tưởng của y quá cấp tiến, chưa hẳn đã thích hợp để triều đình áp dụng, nhưng những kiến thức hiện đại hơn người này của y có rất nhiều bậc túc nho đầy bụng kinh thư cũng không thể nghĩ tới. Thỉnh thoảng y thờ ơ buông một câu tưởng chừng vô thưởng vô phạt, nhưng lão ngẫm nghĩ kỹ thì lại thấy rất có lý. Dương Đình Hoà không khỏi nhìn y bằng một con mắt khác, vẻ hờ hững lập tức không còn.

Cũng may Dương Lăng không hề biết uy danh lừng lẫy của vị "đồng tộc" (cùng họ) này, nên trong lúc chuyện trò y mới bạo gan nói thẳng những suy nghĩ của mình mà không hề kiêng dè gì cả. Tuy học vấn của y không sánh được với Dương Đình Hoà, nhưng thỉnh thoảng y thuận miệng nói một câu lại là những kết luận mà các bậc nhân sỹ có kiến thức ở đời sau quan sát các giai đoạn lịch sử sau đó mới đúc kết lại được. Vì vậy trong con mắt của Dương Đình Hoà, đương nhiên Dương Lăng là người nhìn xa trông rộng, kiến thức bất phàm.

Điều này cũng giống như là một thằng bé tinh quái và một võ lâm cao thủ. Mỗi lời nói, mỗi cử động vô tình của thằng bé đều chứa đựng cái gì đó chí lý, tuy rằng bản thân nó mù tịt không hay biết gì, nhưng trong mắt của người thạo nghề, đó lại là những gợi ý rất thích hợp.

Dương Đình Hoà cũng không ngờ là những quan điểm và kiến thức trước giờ lão chưa hề nghe tới, khiến cho người nghe phải giật mình tỉnh ngộ mà Dương Lăng phát biểu một cách không hệ thống đó, ngay cả bản thân Dương Lăng cũng không thấu đáo nội tình bên trong. Lão chỉ tưởng rằng y không chịu nói sâu, nói rõ thêm thôi.

Nhưng học vấn của lão vô cùng sâu rộng, chỉ cần tiếp thu những gợi ý này, kết hợp với học thức và kinh nghiệm của bản thân, đương nhiên lão có thể lập tức suy diễn, biến hoá thành những chính sách trị nước có thể được triều đình thi hành. Đến lúc này Dương Đình Hoà đã không còn xem Dương Lăng là kẻ viết không hay, nắm cày không thạo nữa, mà cho rằng y là người thâm tàng bất lộ, trong lòng không khỏi khâm phục và kính nể y.

Dương đại học sỹ là người không hề đố kỵ kì tài, từ đó về sau khi nhắc đến Dương Lăng lão đều không ngớt lời tán tụng. Dương Đình Hoà là tài tử cực kỳ có danh vọng trong Hàn Lâm viện, được lão khen ngợi cộng thêm việc gã Nghiêm Tung mới vào viện không tiếc lời tâng bốc, đám người Hàn Lâm vốn đọc sách bao năm mà vẫn phải lãng phí thời gian trong viện vẫn luôn bất mãn với việc Dương Lăng thăng chức vượt cấp ào ào cũng không còn dám quá ngông cuồng nữa. Những kẻ vốn thường xuyên công khai chỉ trích việc Dương Lăng chỉ xuất thân tú tài khó lòng đảm đương việc lớn cũng lập tức giảm bớt chê bai, biếm nhẽ rất nhiều. Chuyện tốt này khiến cho Dương Lăng rất đỗi bất ngờ.

Thực ra mấy người Lý Đạc và Đới Nghĩa đến thăm Dương Lăng xong thì hôm sau liền trở về Thái lăng ngay. Không phải vì thương thế của bọn họ khỏi nhanh hơn Dương Lăng, mà bọn họ còn ước gì ngày đó bị Hồng Chung đánh tàn nhẫn thêm một chút để bọn họ phải được khiêng về Thái lăng làm việc, có như vậy mới biểu lộ được sự trung thành của bọn họ với triều đình.

Lúc này Dương Lăng cũng đã khôn ra, y không dám chậm trễ việc công để người ngoài đàm tiếu nên cũng muốn theo về Thái lăng. Đới Nghĩa lại nghĩ là y chưa "yên tâm" với vị tam thiếu gia họ Vương đã vu cáo y, nên vội vỗ ngực tỏ ý trung thành, ra vẻ "ta đã làm thì cậu cứ yên tâm".

Thế nhưng nhìn cái vẻ cười gian của lão, vốn không muốn kết mối thâm thù với Vương Quỳnh, Dương Lăng lại càng không yên tâm. Vừa đúng lúc này, ân chỉ của đương kim Hoàng Đế Chính Đức lại đến.

Ý chỉ này trước hết tặng lại bức vẽ dốc núi và cây tùng do vua Hoằng Trị đã ban tặng cho Dương Lăng. Phỏng chừng Chính Đức cũng biết dù sao đi nữa thì trình độ hội họa của y cũng không thể bì được với Tiên đế, cho nên y cũng không dám tô vẽ, ghi chữ đề thơ gì gì lung tung lên bức hoạ đó, nhưng y lại đóng một cái ấn to đùng lên. So tranh chữ thì không thể hơn người cha quá cố, vậy so xem ấn của ai lớn hơn đi! Cái ấn của Chính Đức to gần bằng ngọc tỷ (ấn vua), một cái ấn lớn vuông vưng vức nằm chình ình chói lọi trên một bức tranh sơn thủy rất đẹp, trông như thế nào cũng chẳng ra ngô ra khoai gì cả!

Tiếp đó trên ý chỉ lệnh phong Hàn Ấu Nương làm tam phẩm Cáo Mệnh phu nhân, căn dặn Dương Lăng dưỡng thương thật tốt, ở yên trong nhà đợi ý chỉ an bài. Thế là Dương Lăng, vốn không thật sự muốn đi sửa mồ sửa mả, đã có lý do chính đáng để ở lại trong nhà hưởng phúc.

Bận rộn đón đưa khách khứa hết mấy ngày, hôm nay yên tĩnh, Dương Lăng liền kêu người mang chiếc giường tre cùng Ấu Nương đến bên nơi khe sông hẻm núi này hóng mát, câu cá. Thấy tướng công mệt mỏi thiu thiu ngủ, Hàn Ấu Nương bèn khẽ rút bàn tay xinh xắn mềm mại ra khỏi tay y, kéo chiếc áo mỏng ở cạnh đắp lên người tướng công rồi lặng lẽ nhón chân rời khỏi.

Cử động nhẹ nhàng của nàng khiến cho Dương Lăng vốn chỉ hơi lim dim liền tỉnh dậy. Y nheo mắt, gạt nhẹ nhành cây nhìn theo Ấu Nương. Ấu Nương rón ra rón rén di chuyển một lát mới đi đứng bình thường trở lại. Nàng đứng dưới một gốc cây xoay hai vòng, ngửa mặt quan sát một hồi rồi lại lấm la lấm lét ngoái đầu nhìn về phía Dương Lăng.

Dương Lăng nổi lòng hiếu kỳ, không biết Hàn Ấu Nương định làm gì. Vừa thấy nàng quay đầu, y liền nhắm mắt vờ ngủ. Thấy Dương Lăng đã ngủ, Hàn Ấu Nương lại nhìn quanh thêm mấy lần, sau đó nàng vén nhanh vạt váy nhét vào hông, xoắn hai ống tay áo, nhổ nước bọt vào bàn tay, rồi hai tay bám vào thân cây trèo soàn soạt lên cao. Nàng di chuyển nhanh nhẹn như một con khỉ lanh lợi, cặp mông tròn lẳn lắc lư.

Dương Lăng cả kinh. Ban đầu y còn sợ Hàn Ấu Nương té ngã, nhưng khi thấy thân thủ nàng khoẻ khoắn như vậy, y cũng không khỏi thán phục. Đứng trên cây, vẻ mặt Hàn Ấu Nương rất là hoan hỉ, như thể nàng đã không được chơi trò này từ rất lâu rồi.

Đây là một cây đào cổ thụ, cành cây bên dưới đã bị tiều phu chặt bỏ, chỉ để lại vài nhánh cây bén nhọn. Trong những tán lá xum xuê tươi tốt che giấu rất nhiều quả đào xanh, lông mềm, vị chát, to cỡ quả óc chó.

Hàn Ấu Nương nhón chân ngắt vài quả, lấy trong người ra một chiếc khăn tay bọc lại, nhét vào trong người rồi trèo xuống. Nàng chạy đến bên bờ sông mang quả đào xanh ra rửa, cắn rộp một quả ăn ngon lành, cũng mặc kệ quả đào đó chua hay chát.

Dương Lăng lặng lẽ đứng dậy, chậm rãi bước tới gần. Cổ chân y quấn băng vải dày nên đi đứng không được linh hoạt, y không cẩn thận đạp phải một cục đá. Một tiếng "sột" vang lên khiến cho Hàn Ấu Nương vừa mới đứng dậy giật thót mình. Nàng nhảy bắn người lên, một chân đạp xuống nước.

Ấu Nương cuống quýt rút chân lên. Quay đầu nhìn thấy tướng công đang đứng cạnh mình mỉm cười, nàng xấu hổ đứng yên, rụt cổ như một đứa trẻ đang đợi bị trách phạt, trong chiếc miệng xinh xắn còn đang ngậm một miếng đào xanh mang vị thơm chát.

Dương Lăng thấy Hàn Ấu Nương đứng ngây người tại chỗ, váy quấn trên eo, một chiếc giày thêu sũng nước, tay trái cầm khăn bọc sáu bảy quả đào xanh, tay phải cầm một quả đang cắn dở, khuôn mặt hơi ngăm đen thanh tú đỏ bừng, trên chóp mũi thẳng tắp xinh xắn còn lấm tấm vài giọt mồ hôi, thì không nhịn được bật cười phì, hỏi:
- Tam phẩm Cáo Mệnh phu nhân của ta ơi, nàng đang làm chuyện xấu gì đó hử?

Hàn Ấu Nương vẫn luôn dịu dàng hiền thục, suýt chút nữa Dương Lăng quên mất tuổi tác của nàng. Giờ thấy hình dáng này của nàng, y mới sực nhớ nàng là một cô nhóc từ nhỏ đã quen với cuộc sống hoang dã nơi núi rừng, bây giờ cùng lắm mới mười sáu tuổi, đang là tuổi tinh nghịch ham chơi, thế mà lại đã giúp chồng tề gia, sắm vai vợ hiền. Cũng may mà nàng có thể kiềm nén lâu như vậy.

Thấy Hàn Ấu Nương vẫn đứng nguyên tại chỗ, dáng điệu cực kỳ ngây thơ lẫn vẻ mặt ngốc nghếch hiếm thấy, Dương Lăng mỉm cười kéo xoã váy xuống hộ nàng, rồi nhẹ vuốt tóc bên má nàng, âu yếm:
- Thích ăn quả xanh thì về bảo gia nhân đi mua là được rồi. Trái dại như vầy hơi chát, ăn không được đâu!

Vốn tính tinh nghịch hiếu động, từ lúc cưới ông tú tài này thực không rõ Hàn Ấu Nương đã phải kiềm chế biết bao lâu. Hôm nay trở lại vùng rừng núi quen thuộc, trong lúc quá vui nàng đã trèo cây hái quả. Là một người phụ nữ đã có chồng, hơn nữa còn là Cáo Mệnh phu nhân, mà lại không giữ phong thái như vậy, nàng thực lòng lo ngại Dương Lăng sẽ quở trách. Đến khi thấy gương mặt đầy vẻ cưng chiều của y, Hàn Ấu Nương mới cảm thấy nhẹ nhõm. Nàng vội vã nuốt miếng đào trong miệng, vứt quả đào đã cắn một nửa trong tay đi, rồi nắm chéo áo y bẽn lẽn:
- Tướng công, thiếp... thiếp... xin lỗi...

Dương Lăng cười, không đồng ý:
- Chỉ là trèo cây thôi mà! Trèo thì trèo thôi, nhà chúng ta không có những quy định lộn xộn kia.
Đoạn y choàng vai Ấu Nương đi đến giường tre, vừa đi vừa bảo:
- Nàng đừng có nghĩ ngợi quá nhiều! Mấy ngày nay ở nhà, ta chỉ thấy nàng ngồi luyện khí, công phu côn bổng đã lâu không đụng tới rồi. Ấu Nương! Luyện võ có thể cường thân kiện thể, tịnh không phải là hành vi thấp hèn gì. Cáo Mệnh quý phụ thì sao chứ? Nàng đừng quá để ý đến thái độ của người khác. Đừng quên là ngoài chợ ngoài phố hiện đang đồn rằng tướng công là con cháu Dương Gia Tướng. Con gái nhà họ Dương võ nghệ cao cường là điều đương nhiên. Ha ha! Trở về ta sẽ bảo lính dọn miếng đất ở hậu viên, sau này mỗi ngày nàng vẫn phải luyện võ, tướng công cũng sẽ theo nàng học võ.

Y ngồi lên giường tre, thuận tay kéo nhẹ, Hàn Ấu Nương liền ngã lên đùi y. Hàn Ấu Nương bẽn lẽn vùng vằng lấy lệ một chút rồi cười ngượng ngùng không lên tiếng nữa. Dương Lăng ôm chiếc eo thon của Ấu Nương, bàn tay xấu xa "tập kích" bộ ngực mềm mại của nàng, kề tai thì thầm:
- Ấu Nương! Chỗ này đã to lên không ít à.

Hàn Ấu Nương vừa qua tuổi trăng rằm, thân thể vẫn đang phát triển, ngực đã dần dần nẩy nở. Bộ ngực bé như chồi non muốn nở đằng sau chiếc yếm lót căng lên thấy rõ. Ban ngày ban mặt ở trên núi bị tướng công bạo gan sờ nắn như vậy, Hàn Ấu Nương ngượng đến nỗi mặt nóng hầm hập. Nàng giữ tay Dương Lăng, không nén được xấu hổ van nài:
- Tướng công! Đừng mà! Mình đang ở bên ngoài đó.

Dương Lăng cười khà khà (TJ: cười gian bỏ mẹ), không nỡ nhìn nàng khó xử bèn thuận thế bỏ tay xuống. Tay chạm đến những quả đào xanh đẫm nước, trong lòng Dương Lăng chợt máy động. Y kinh ngạc xen lẫn vui mừng kêu thất thanh:
- Ấu Nương! Có phải nàng đã cấn thai không? Sao lại... sao lại thích ăn đào chua vậy?

Nói rồi y không tự chủ rờ tay lên bụng dưới phẳng lì của Ấu Nương. Hàn Ấu Nương ngượng ngùng đẩy tay y ra:
- Không có mà, không có mà! Từ nhỏ người ta đã thích ăn đào xanh rồi.
Đoạn nàng quay mặt lại, sợ hãi hỏi:
- Tướng công! Có phải là Ấu Nương không thể sinh con không?

Dương Lăng bật cười:
- Sao lại thế được!? Chúng ta cứ tiếp tục cố gắng rồi sẽ có thôi. Vả lại, nếu như không có con được thì cũng chưa chắc là đã do nàng.

- Hở?!
Hàn Ấu Nương lấy làm lạ lùng khó hiểu. Không phải là phụ nữ sinh con sao? Nếu sinh không được không phải là lỗi của phụ nữ vậy thì lỗi của ai đây?

Dương Lăng không muốn giải thích những thứ quá phức tạp với nàng. Trông thấy mắt ngọc xoe tròn, bộ mặt đáng yêu đang kinh ngạc nhìn mình, y không nhịn được hôn lên má nàng một cái rồi cười nói:
- Lại đây, cởi giày ra đi! Mang giày thấm nước không thoải mái đâu.
Nói rồi y giúp Ấu Nương cởi giày cởi vớ, để lộ đôi chân nhỏ nhắn trắng phau.

Chân của phụ nữ không thể để người khác thoải mái nhìn. Cho dù đó là tướng công của mình nhưng đang ở ngoài trời ban ngày ban mặt nên cũng khiến Hàn Ấu Nương rất ngượng. Nàng vội co chân lên giường, kéo chiếc áo khoác mỏng che phủ bản chân. Nàng vẫn bận lòng về vẻ mặt tràn đầy thất vọng của trượng phu vừa rồi: "Quả thực cũng đã gần nhau được bốn tháng rồi, sao cái bụng này lại không biến hóa gì vậy nhỉ?"

Cô nàng xoa bụng, không còn chút hứng thú ăn đào nào. Trề môi suy nghĩ một hồi lâu, nàng bỗng lắp bắp hỏi:
- Tướng công! Khi nào Hoàng Thượng làm lễ đại hôn vậy?

Dương Lăng giật thót mình, buông chiếc giày vừa mới cởi ra, ngập ngừng khó trả lời. Ngày đại hôn của Hoàng Thượng cũng chính là lúc mà y sẽ nạp thiếp, còn là phụng chỉ nạp thiếp, làm sao cự tuyệt đây?

Từ kinh trở về, y đã cố tránh không bàn đến chuyện này, nhưng người trên kẻ dưới trong phủ ai nấy đều đã thích ứng, cho rằng việc lão gia nạp thiếp là chuyện hết sức tự nhiên. Nhất là lão gia được Hoàng Thượng ban thưởng, nô bộc trong phủ khi ra ngoài kể chuyện với người khác đều đầy vẻ tự hào. Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai cũng sớm đã tự học dùng lễ thiếp mà hầu hạ y và Ấu Nương, bắt đầu gọi Ấu Nương tỷ tỷ, dường như cũng có ngụ ý khác.

Dương Lăng thoáng thừ người, ấp úng đáp:
- Hoàng Đế ban thưởng, tướng công cũng không biết phải cự tuyệt như thế nào nữa. Ngọc nhi, Tuyết nhi đều là những cô nương tốt, nhưng nàng cũng thấy đấy, quan trường hiểm ác, lần này mất đi ba vị thượng thư, trong triều không biết bao nhiêu đại thần bất mãn với ta. Đi theo ta... chưa hẳn đã là phúc đâu.

Hai tay ôm lấy gối, Hàn Ấu Nương bật cười như tiếng suối reo:
- Tướng công lúc nào cũng buồn lo vô cớ, Ấu Nương thật không biết rốt cuộc tướng công lo lắng về cái gì? Tướng công đừng trách Ấu Nương lớn mật, nhưng theo chàng thì phải đối đãi với bọn họ thế nào thì bọn họ mới sẽ vui vẻ, bọn họ mới sẽ hạnh phúc?

Rồi nàng thở dài, giọng xa xăm:
- Tướng công! Chàng không biết chứ, sau khi Hoàng Thượng hứa chuyện thành thân, trong lòng bọn họ rất là vui sướng, thiếp có thể cảm nhận được điều đó. Có lúc thiếp đã nghĩ, người ta đã bước vào nhà chúng ta, nếu không thể như vậy thì còn có thể làm thế nào đây? Ấu Nương biết tướng công thương thiếp, nhưng nếu để Ấu Nương mang tội ghen tỵ, Ấu Nương... thật sự sẽ không vui đâu. Đối với các cô Ngọc Nhi và Tuyết Nhi, được đi theo tướng công chính là phúc khí của bọn họ. Tuy rằng bọn họ xuất thân đê hèn, nhưng trọng tình trọng nghĩa, lúc chúng ta lâm nạn đã chịu vứt bỏ mạng sống mà theo cùng.

Tướng công càng làm quan thì chức vị càng lớn, thê thiếp khắp nhà là việc mà Ấu Nương đã dự liệu. Nếu như thật sự phải đón vài tỷ muội vào nhà, Ấu Nương tình nguyện đón bọn họ. Phải nói thật sự Văn Tâm tỷ tỷ nặng ân tình với tướng công nhất. Nếu không phải tên Thập trưởng đó đã bị tỷ ấy ra tay, mấy vị Thượng thư đại nhân tuyệt sẽ không dễ dàng nhận tội như vậy đâu, không biết tướng công sẽ còn phải chịu bao trắc trở nữa mới thoát được.

Hàn Ấu Nương thấy y suy nghĩ đến nhập thần, còn tưởng tướng công hơi động lòng, bèn vừa thẹn thùng vừa "thêm dầu vào lửa":
- Ngọc Nhi muội muội bảo tướng Văn Tâm tỷ tỷ mắn con lắm đó! Không chừng tỷ tỷ sẽ sinh được thất lang bát hổ (bảy sói tám cọp, đại khái đông con cái khoẻ mạnh) nữa đó...

- Ừm! Hả?...
Dương Lăng định thần lại, không biết Hàn Ấu Nương đang nói gì. Y đang muốn hỏi lại thì từ trong bụi cỏ cao cỡ đầu người dưới khe suối phát ra một tràng tiếng cười trong trẻo, hai cô gái xinh đẹp hiện ra trên con đường nhỏ. Nhìn thấy hai người, bọn họ mừng rỡ kêu lên:
- Lão gia! Ấu Nương tỷ tỷ!

Dương Lăng ngước mắt nhìn, nhận thấy Tuyết Lý Mai và Ngọc Đường Xuân đang tươi cười bước tới. Tuyết Lý Mai mặc một bộ đồ xanh, tay ôm một cây cổ cầm (2). Ngọc Đường Xuân cũng ăn mặc như thị tỳ, xách một chiếc giỏ. Do tập vũ nhạc nên tuy mặc trang phục thị tỳ, bước chân nàng vẫn nhẹ nhàng uyển chuyển, như thể đong đưa theo gió, dáng bộ hết sức dịu dàng.

Sau lưng hai người, Cao Văn Tâm vừa mới bước qua khỏi bụi cỏ, mái tóc đen được cột bằng khăn xanh, thần thái nhã nhặn trầm tĩnh.

Hai người Ngọc Đường Xuân đến trước mặt nhún người thi lễ với Dương Lăng. Hàn Ấu Nương vội vàng xỏ vớ, giày, bước xuống giường kéo tay Tuyết Lý Mai hỏi:
- Sao các cô đến đây vậy?

Tuyết Lý Mai cười đáp:
- Ngọc tỷ tự tay chuẩn bị rượu và thức ăn đưa đến cho lão gia và tỷ tỷ. Tiểu tỳ nghĩ lão gia câu cá buồn chán, nghe một vài bản nhạc cũng vui nên tiện thể ôm đàn đi theo luôn.

Ngọc Đường Xuân đặt chiếc giỏ bên cạnh giường, hơi thở có phần hơi gấp. Dương Lăng thấy nàng xách giỏ đi hơn hai dặm đường núi, trên khuôn mặt yêu kiều li ti những giọt mồ hôi thì buột miệng:
- Ngọc Nhi! Ta chạy đến đây hóng mát lại nhọc các nàng chạy đến chạy lui. Thật sự đã mệt cho nàng rồi.

Ngọc Đường Xuân đỏ mặt liếc y, khoé miệng mang theo một nụ cười ngọt ngào, nhỏ nhẹ nói:
- Lão gia không cần khách khí, đó là việc tiểu tỳ nên làm.

Cao Văn Tâm bước đến, dịu dàng chỉnh đốn trang phục thi lễ:
- Lão gia! Xin để tiểu tỳ xem lại thương thế của người một chút.

Nàng cẩn thận ngồi bên giường, gỡ băng vải quấn trên tay chân Dương Lăng xuống, nhẹ nhàng quan sát chỗ bị thương một lúc. Thấy lần này y lên núi mà vết thương không bong, da thịt non nơi bị kẹp nát đã bắt đầu dần dần cứng cáp lại, nàng không khỏi nở một nụ cười hài lòng.

Nàng lấy từ trong người ra một bao vải bày lên trên giường, rút ra một cây kim châm mỏng. Ngón tay trắng nõn ấn lên chân Dương Lăng vài cái, tìm trúng huyệt đạo rồi đâm xuống.

Chỗ da non mới mọc của Dương Lăng vốn đã ngứa, bị nàng vê kim châm, lúc đầu chỉ cảm thấy chân tê tê, sau đó vừa mỏi lại vừa ngứa, thế là theo phản xạ có điều kiện chợt duỗi thẳng chân ra, đá trúng vào đùi Cao Văn Tâm.

Dương Lăng cảm thấy đầu mũi chân chạm vào bắp đùi rất mềm dẻo của cô nương người ta, vội xấu hổ rụt lại, ngượng nghịu tìm một chủ đề nói lảng:
- Tiểu thư! Có phải chính cây kim châm nhỏ xíu này đã khiến cho Lục thập trưởng điên đảo thần hồn... Á! A, không phải, là mất thần trí không?

Tuyết Lý Mai phì cười, hào hứng trêu:
- Lão gia nói sai rồi! Lục thập trưởng là bị ba cây ngân châm khiến cho mất thần trí. Còn cây kim châm điên đảo thần hồn này... hình như là để dành cho người khác đó!

Cao Văn Tâm vẫn thờ ơ như không nghe thấy. Một mặt nàng chăm chú vê kim châm, một mặt khẽ giọng giải thích:
- Tiểu tỳ dùng cây kim châm này để kích thích huyết mạch, chỗ bị thương của đại nhân sẽ có thể mau lành hơn. Không phải hôm qua Thị lang bộ Lại Tiêu đại nhân nói vì thu xếp thượng thư của Lục Bộ nên trong triều quần thần đang không ngừng tranh chấp sao? Theo tiểu tỳ thấy, đại nhân sẽ không hưởng thụ được mấy ngày bình yên rồi.

Tuyết Lý Mai thu vẻ mặt của hai người vào mắt, không nhịn được bèn giả mặt quỷ, cười hi hi với Hàn Ấu Nương nói:
- Muội đã được kiến thức thần châm của Văn Tâm tỷ tỷ, chỉ không hiểu được có phải thật là y thuật có thể khiến cho người ta điên đảo thần hồn hay không. Nếu trên đời thật sự có công phu này, con gái trong thiên hạ đều nên đi học một chút. Gặp được đấng lang quân mình cảm mến liền đưa tay lên đâm một cái, ha ha ha...

Cao Văn Tâm đang vê kim châm, sắc mặt vẫn bình tĩnh như không. Nhưng Tuyết Lý Mai vừa nói "gặp được đấng lang quân mình cảm mến liền đưa tay lên đâm một cái", không hiểu sao tay nàng lại rối lên.

Dương Lăng cảm thấy đùi chợt nhói lên. Lúc ngẩng đầu nhìn, y thấy Cao Văn Tâm đang khẽ cúi đầu, cần cổ thanh tú tao nhã, da dẻ như ngọc, có điều hô hấp dồn nhanh, hơi thở thơm ngát như lan, thần sắc trong ánh mắt như mặt nước hồ lấp lánh, cũng không biết là đang thẹn thùng hay đang hờn giận.

Thấy vậy Tuyết Lý Mai le lưỡi, ôm hộp đàn đến bên cạnh, lấy đàn ra đặt trên đùi. Ngón ngọc khẩy đàn, tiếng đàn du dương ngân lên, nghe như một ca khúc có làn điệu cổ xưa.

Dương Lăng nghe không hiểu, nhưng trong bụng Cao Văn Tâm nào chỉ là y thuật, nàng biết ca khúc đó là "Khúc tương tư xưa". Nét mặt cố tạo ra vẻ bình tĩnh thật lâu kia rốt cuộc đã không kiềm nén nổi ửng lên một đám mây hồng. Dương Lăng cảm thấy đùi lại nhói lên, bất giác nhăn mặt khổ sở:
- Cô nương nhẹ một chút... đau...

Cao Văn Tâm cắn môi, đôi mắt đen láy khẽ nguýt y. Khuôn mặt thanh tú đỏ bừng chợt như tràn trề mùi vị quyến rũ của nữ nhân. Nàng mất tự nhiên đưa tay vén mái tóc che lấp hoàn toàn khuôn mặt đỏ bừng của mình, giữ chặt lấy bắp đùi của Dương Lăng không ngừng vê kim. Nửa bên người Dương Lăng đau tê không thôi, nhưng y lại không dám la lên nữa, trong lòng không khỏi thầm kêu khổ.

Cuối cùng Cao Văn Tâm kịp thời tỉnh lại, nhìn thấy đùi Dương Lăng đang run rẩy như đang kìm nén đau đớn, nàng liền vội vàng rút châm, đổi qua chân kia. Đợi nàng châm xong, Ngọc Đường Xuân mới xách giỏ qua mời Dương Lăng và Ấu Nương dùng bữa.

Khó trách vì sao Ngọc Đường Xuân lại mệt đổ mồ hôi. Chiếc giỏ đựng một quả dưa hấu, bốn món ăn bắt mắt, hơn mười miếng bánh kẹo ngọt ăn nhẹ, dùng khăn bọc mấy cục đá lạnh đè giữ hũ sứ, thật chứa không ít đồ.

Trời tháng sáu uống Trúc Diệp Thanh ướp đá! Dĩ nhiên cách thưởng thức rượu này là do Cao Văn Tâm nói lại; cho dù Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai vốn vẫn thết đãi rượu ở Thì Hoa quán cũng chưa hề cầu kỳ như vậy. Người cha già của Cao Văn Tâm mê rượu nên trong nhà bố trí hầm trữ băng, bây giờ Dương Lăng hoàn toàn được hưởng lợi.

Trên giường bổ dưa uống rượu, bên suối liễu rũ nghe đàn, nâng chén giơ đũa, mỹ nữ hầu quanh, người nào người nấy dung nhan xinh đẹp, có tình có ý với y. Đối với đám lão tử phong lưu ngày xưa, có phải đây là cuộc sống đáng mơ ước nhất không? Vậy đối với đàn ông hiện đại thì sao?

Dương Lăng cầm đũa lên nhìn quanh, lòng dạ rối bời. Ài! Có phải việc mình quyết tâm tận tình hưởng thụ mọi thứ có được hiện nay mới là chân thực đối mặt với cuộc sống, và cũng là để mình và những người bên cạnh vui vẻ vượt qua không? Bất kể đó có phải là ý định ban đầu của mình hay không, nhưng hết thảy mọi thứ này đều đã đến bên mình. Địa vị như là một lực từ trường, khi anh thăng tiến đến một độ cao nhất định nào đó thì mặc kệ bản thân anh có muốn hay không, cái gì phải tới thì chắc chắn cũng sẽ tới.

Hàn Ấu Nương ngồi đối diện với Dương Lăng, chiếc miệng nhỏ nhắn cắn chiếc bánh nướng thơm mềm, ngọt ngào gắp thức ăn cho y. Ngọc Đường Xuân vén tay áo xanh biếc lên, rót đầy chén cho y. Rượu trong chén óng ánh sắc vàng lẫn xanh biếc, hương thơm nức mũi. Cao Văn Tâm đứng cạnh giường tre nói khẽ:
- Lão gia! Trong Trúc Diệp Thanh đã cho thêm sa nhân, tử đàn, lục quy, trần bì và đường phèn, lòng trắng trứng, có công dụng cân bằng và làm ấm dạ dày, thông máu bổ huyết, rất có ích cho thương thế của lão gia.

Trong tiếng đàn du dương tao nhã, Ngọc Đường Xuân hai tay nâng chén, ngọt ngào ngâm:
- Điền gia túc nhàn hạ, sĩ hữu tạm lưu liên. Tam xuân trúc diệp tửu, nhất khúc côn kê huyền (4).
Mời lão gia uống hết chén này!

Chịu hết nổi rồi! Chịu hết nổi rồi! Dương Lăng cả người mất tự nhiên. Loại cuộc sống "sa đoạ trụy lạc" của bọn sỹ phu phong kiến này cũng không phải là thứ mà những người chưa từng được "bồi dưỡng" và "rèn luyện" như y có thể chung sống thản nhiên với nó à!

Y đón lấy chén rượu, nét mặt căng thẳng. Vừa đang tính đáp lời, y bỗng nghe xa xa có người cao giọng gọi lớn:
- Dương đại nhân! Dương đại nhân có ở đó không? Ta là Cốc Đại Dụng, nếu nghe được thì đại nhân hãy trả lời một tiếng đi!

"Cốc Đại Dụng?" Hai ngày trước Mã Vĩnh Thành xuất cung mua sắm đã đến thăm y. Còn Cốc Đại Dụng theo hầu nhà vua, không dễ gì rời khỏi cổng cung. Nếu gã đã đến, vậy Hoàng Thượng...

Dương Lăng nghĩ đến đây liền vội vàng từ trong chốn hương sắc dịu dàng nhảy lên, vội vã mang giày vào. Y vừa mới đứng dậy đã thấy hơn chục gã đàn ông lực lưỡng mặc áo xanh bó ống (5) từ con lộ khuất sau bụi cỏ chợt hiện ra, phía sau là một công tử nhà giàu đang thong thả bước. Công tử này mặc một bộ đồ bó ống thêu hoa màu nhạt, bên dưới mặc quần rộng ống xanh, ống quần nhét cẩu thả vào trong đôi giày da dê cổ ngắn, trông như cái đèn lồng. Đây là trang phục phong lưu nhất của giới quần là áo lượt trong kinh sư tháng này.

Vị công tử có diện mạo trông rất tuấn tú, tay đeo một cây roi ngựa nhọn đầu đen sì. Từ xa trông thấy Dương Lăng y liền cười ha hả, nói to:
- Dương thị độc! Trẫm bày chút kế mọn thì đã chạy thoát ra khỏi cung rồi. Thương thế của khanh đã khá hơn chưa?

Dương Lăng vội chạy đến trước mặt làm lễ nghênh đón rồi hỏi:
- Sao Hoàng Thượng lại đến vậy? Làm bệnh thần không biết, không kịp nghênh đón từ xa...

Hoàng Đế Chính Đức cười hì hì giơ cây roi ngựa lên khẽ đánh lên vai y, vờ mắng:
- Bớt khách sáo với trẫm đi!

Đoạn hắn nhìn lướt ra đằng sau vai Dương Lăng, rồi tặc lưỡi nói tiếp:
- Trẫm thật hâm mộ khanh đó! Khanh muốn câu cá thì câu cá, muốn ăn dưa thì ăn dưa, muốn chạy lên trên này ngủ cũng có người khiêng giường trúc đến. Trong khi đó ở trong cung trẫm muốn làm gì cũng đều có người ỉ ôi can gián, bị người ta quản đến nỗi thở không ra hơi. Ài! Khổ quá, thật muốn đổi với khanh một chút để thư thái hưởng thụ mấy ngày.

Dương Lăng nghe xong giật thót mình. Tuy là Chính Đức nói đùa, nhưng từ dạo suýt ăn đao lần trước, Dương Lăng đã không còn dám bất cẩn với những tiểu tiết mà xưa nay y không hề đề ý đến. Y không để ý, Chính Đức không để ý, thì có kẻ khác để ý. Trong mắt một số người thì những thứ này lại là những nghi lễ mà quân thần phụ tử nhất thiết phải tuân theo, nếu không thì sẽ là bất quân bất thần, bất trung bất nghĩa. Dương Lăng thực không dám để cho kẻ khác mượn cớ hạch tội nữa.

Y vội cười theo rồi nói:
- Hoàng Thượng là vua của một nước, bá quan dĩ nhiên hết sức trông mong vào Hoàng Thượng. Bọn họ làm vậy cũng là vì muốn tốt cho Hoàng Thượng thôi.

Chính Đức hậm hực hừ một tiếng. Lúc này Cốc Đại Dụng đi đến bờ sông giặt một chiếc khăn tay, chạy về đưa cho Chính Đức. Chính Đức cầm lấy lau khắp mặt, sau đó kéo tay Dương Lăng lại nhìn nhìn ngó ngó, rồi vui vẻ bảo:
- Ái khanh đã khoẻ, vậy thì tốt, thật tốt! Trẫm khó có được dịp rời cung, mấy cái chuyện rộn tâm này không ai nói với các lão, khanh cũng không cần giả vờ khuyên ngăn nữa. Trẫm biết khanh không giống mấy con mọt sách đó, ha ha... Đi thôi! Đi du ngoạn một chuyến với trẫm cho thật thoải mái, trở về trẫm còn có đại sự muốn thương nghị cùng khanh.

Dương Lăng quay đầu lại nhìn, nhanh chóng đưa mắt ra hiệu cho đám người Ngọc Đường Xuân rời khỏi, sau đó ngần ngừ hỏi:
- Vậy..., nếu Hoàng Thượng không ngại thì cùng đi nghe đàn uống rượu, cùng nhau câu cá có được không?

"Danh tiếng" háo sắc của vị Hoàng Đế Chính Đức trong lịch sử quá "lẫy lừng" đi. Tuy Dương Lăng không thông thuộc chính sử nhưng đã đọc không ít giai thoại dã sử. Trong những giai thoại về Chính Đức, có giai thoại nói rằng ban đêm Hoàng Đế dạo chơi Tuyên phủ, thấy một hộ gia đình liền đi vào, tự mình kêu mấy nữ quyến vừa ý vào buồng, bảo đàn ông của gia đình đó chờ ở trong sân; sau khi chơi đã lại đi đến nhà khác chơi tiếp. Lúc Dương Lăng đọc đến đoạn cố sự này, ngoại trừ có đôi chút hoài nghi về quan điểm thẩm mỹ "bụng đói vơ quàng" và năng lực "siêu khoẻ" của Hoàng Đế Chính Đức, y không hề nghi ngờ tính thật giả về sự háo sắc của nhà vua. Dẫu sao thì lịch sử cũng là do "nhiều miệng một lời" mà ra.

Từ lúc khéo duyên quen biết Hoàng Đế Chính Đức đến nay, tuy trước mắt vẫn chưa thấy chút dấu hiệu háo sắc nào của hắn, nhưng hoàn cảnh hôm nay, tư tưởng này, ờ... thật sự rất dễ khiến cho người ta "no cơm ấm cật, dậm dật linh tinh" lắm. Hơn nữa Chính Đức đang dần trưởng thành, cũng đã sắp kết hôn, ngộ nhỡ đụng vào con gái rồi "đầu óc mở mang" thì sao? Không thể không đề phòng à nha!

Dương Lăng hơi cảnh giác, cho nên muốn điều nữ nhân rời xa, dụ Chính Đức đi câu cá. Không ngờ Hoàng Đế Chính Đức nghe xong cau mày, mất kiên nhẫn:
- Nghe nhạc, câu cá thì có gì hay mà chơi chứ? Đi! Nếu khanh đã khoẻ, đi điều thân quân của khanh đến, cùng trẫm đi vào trong núi diễn võ. Xem binh sỹ đánh trận, như vậy chơi mới vui.

Số thân quân hiện giờ Dương Lăng có thể cung ứng thao luyện chỉ có năm trăm người, nhân số tuy ít nhưng tinh, đạn dược cũng rất là sung túc, cho nên theo yêu cầu của Dương Lăng, hằng ngày vào núi luyện quân là chuyện bình thường. Dương Lăng không ngờ Chính Đức nói muốn đi chơi lại là chơi súng ống đạn pháo. Cái này thì dễ xử. Y thở phào một hơi, vội tâu:
- Nếu như Hoàng Thượng muốn xem luyện binh, vậy thì dễ. Có điều long thể quý trọng, khi lên núi Hoàng Thượng cần phải ở trong công sự quan sát, không nên khinh suất hiện thân.

Chính Đức mừng rỡ đáp:
- Điều này có gì là khó chứ! Đi, đi, đi!

Nói rồi hắn không nhẫn nại lôi tay Dương Lăng, quay về phía Ấu Nương gọi:
- Ấu Nương tỷ tỷ! Trẫm và Dương thị độc đi xem luyện quân đây, các người tự câu cá nghe nhạc đi nhé.

Mắt cá chân Dương Lăng mới lên da non nên y không dám đi quá nhanh. Y vẫy tay chào Hàn Ấu Nương rồi theo Chính Đức đang vui mừng khấp khởi đi trên con đường nhỏ trong núi. Thuận tay y ngắt một nhánh ngải xanh đậm mùi đưa lên mũi ngửi, thoải mái hỏi:
- Hoàng Thượng có đại sự gì muốn thương nghị cùng thần vậy? Là muốn thần đi đôn đốc kiến tạo Thái Lăng sao?

Chính Đức vẫn bước đi phía trước, thuận miệng đáp:
- Chuyện của Thái Lăng khanh cử một người nào khác đi là được. Hiện giờ mấy người Đới Nghĩa ra sức rất nhiều, trong triều cũng không thấy còn ai ồn ào nữa, những chuyện này không cần khanh bận tâm. Khanh không biết chứ, bây giờ Lục Bộ đã khuyết mất vài viên quan, trẫm không muốn lại dùng mấy lão già tóc bạc, muốn bổ nhiệm khanh làm thượng thư bộ Hình. Nhưng đám lão già không chịu, nói là uy đức và tài trí của khanh không đủ để đảm nhận trách nhiệm to lớn như vậy, làm trẫm tức mà không biết phải làm sao. Không ngờ Đại Dụng thông minh, đã hiến một biện pháp hay cho trẫm.

Vừa nghe mấy vị thái giám đại ca này lại đề xuất biện pháp giúp y, tim Dương Lăng không khỏi đập thình thịch. Y lại nghe Chính Đức hùng hồn nói tiếp:
- Không phải bọn họ nói khanh không đủ tài trí, không kham nổi trọng trách ư? Trẫm cho phép khanh tham dự Kinh Diên (6), khiến cho đám lão già đó phải chấn động. Đúng rồi... khanh biết Kinh Diên chứ?

Từ sau khi Chính Đức kế vị, bá quan không ngừng dâng sớ thỉnh cầu Hoàng Đế mở lại Kinh Diên, Dương Lăng sớm đã nghe qua, sao lại không biết Kinh Diên này là cái gì chứ? Y vừa nghe Chính Đức cho phép y tham dự Kinh Diên, đi đàm kinh luận đạo, nghị luận điển chương văn học, đại sự triều chính với những văn võ bá quan đầy bụng kinh thư, vị Dương tú tài mạo danh thế thân, hữu danh vô thực này liền sợ đến nỗi trong ngực lập tức như có mấy trăm con ếch ở trong giếng đang nhảy "bà thùm, bà thùm, bà thùm".






Chú thích:

(1) Trúc Tương phi: trúc đốm. Tương truyền Vua Thuấn đi tuần ở Thương Ngô rồi băng hà, hai vợ Vua Thuấn là Nga Hoàng và Nữ Anh thương chồng than khóc ở khoảng giữa hai sông Trường Giang và Tương Giang. Nước mắt hai bà vẩy lên cây trúc, từ đó da trúc có đốm.

(2) phủ Chiêm Sỹ là cơ quan phụ trách trợ giúp Thái tử thời Minh. Phủ được bố trí một Chiêm sỹ hàm Chánh tam phẩm, một Thiếu chiêm sỹ hàm Chánh tứ phẩm, một Phủ thừa hàm Chánh lục phẩm. Phủ Chiêm Sỹ lập Tả hữu xuân phường, cục Tư Kinh, và ty Chủ Bộ.

(3) Cổ cầm: một loại đàn cổ. Theo truyền thuyết, cây đàn cổ cầm được sáng chế vào thời Nghiêu Thuấn, và chỉ có năm dây thôi nên được gọi là "ngũ huyền cầm". Về sau, mỗi vị hoàng đế Văn và Võ thêm dây vào làm thành cây đàn bảy dây hay "thất huyền cầm". Hai dây thứ sáu và thứ bảy được gọi là dây Văn và dây Võ.

(4) đây là những câu thơ trong bài "Xuân nhật li hợp" (Chia ly ngày xuân) của nhà văn học Dữu Tín (513-581) thời Bắc Chu.
Nguyên văn:
田家足闲暇,士友暂流连。
三春竹叶酒,一曲鹍鸡弦

Dịch nghĩa:
Cuộc sống nhà nông khá nhàn hạ,
Bạn bè lưu luyến đến chơi.
Ba tháng xuân ngồi uống rượu Trúc Diệp,
đàn một khúc tỳ bà.

Dịch thơ:
Nhà nông cuộc sống an nhàn,
Bạn thân lưu luyến hàng ngày sang chơi.
Ngày xuân rượu Trúc đem mời,
Đàn ca một khúc tỳ bà thêm vui.

(5) nguyên văn là "tiễn y" hay "tiễn tụ y", là loại trang phục mà ống tay áo được sít chặt. Xem hình http://imgsrc.baidu.com/baike/pic/item/b9d8b7018e2b29151d95831c.jpg

(6) nơi Hoàng Đế nghe quần thần đàm luận kinh sử gọi là "Kinh Diên". Xem hình http://imgsrc.baidu.com/baike/pic/item/109eb7ecc265ae1962d09f92.jpg





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

mechichi
23-05-2011, 02:05 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 107 - Mở lại Kinh Diên



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: mechichi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Vì lẽ đó, Dương Lăng thân mặc khôi giáp, anh tuấn bất phàm, hai chân đứng nghiêm sừng sững, hai mắt tựa khép mà không khép, nét mặt trầm tĩnh như mặt hồ. Nếu lắp thêm một bộ râu xồm vào, thoạt nhìn nhất định sẽ tưởng rằng ai đó đã khiêng tượng đất của ông thánh Quan Công lên điện.


Quyển ba - Vừa lên ngôi đế
Chương 107 – Mở lại Kinh Diên

------- -----------------

Dương Lăng chưa từng thống lĩnh quân đội. Tuy nhiên tướng lĩnh dưới trướng y đều là những kẻ kinh qua chiến trận mà lên chức. Dương Lăng chỉ cần truyền thụ cho họ những lý luận kiến thức nửa vời của mình rồi kết hợp với kinh nghiệm tác chiến của bọn họ vào mà thôi.

Từ khi thủ hạ chỉ còn năm trăm thân quân, y đã có thể tự mình đối phó. Để huấn luyện năm trăm thân quân này, Dương Lăng không sử dụng phương pháp huấn luyện binh sỹ mà dựa theo phương pháp huấn luyện quan quân (sĩ quan).

Trong những người này không thiếu nhân tài có năng lực quân sự khá cao. Được tướng lĩnh truyền thụ và sự ủng hộ mạnh dạn của Dương Lăng, bọn họ đã sử dụng nhuần nhuyễn các phương cách chiến lược và chiến thuật tiến công, phòng thủ, triệt thoái, mai phục, vu hồi (1), biến đội quân bên trong thành đội quân bên ngoài, bao vây bọc sườn, lấy hoả khí làm chủ …

Tuy nhiên với tuổi tác của Hoàng Đế Chính Đức hiện nay, tạm thời hắn chưa thể lĩnh hội được nhiều đến như vậy. Trong thâm tâm, tiểu Hoàng đế hận không thể tự thân xông trận cầm đao giết giặc. Chơi như vậy mới đã. Quân đội của y hiện tại đang dùng hoả khí nên Dương Lăng sao dám để Hoàng đế mạo hiểm. Tuy nhiên tận mắt chứng kiến từng đợt tiếng súng, tiếng pháo nổ rền trời cũng khiến cho vị Hoàng đế chưa từng thấy cảnh này phải xoa tay, không kìm được hào hứng phán:

- Sau đại hôn trẫm muốn diễn võ trong cấm cung. Hoả khí quả thật lợi hại. Lúc đó điều lính đao thương ra, trẫm sẽ cùng khanh đối chiến.

Dương Lăng ậm ờ vâng dạ. Để tiểu hoàng đế tinh lực dồi dào này tập võ luyện binh chưa hẳn đã là chuyện xấu. Có lẽ lúc đầu phần lớn thời gian sẽ chỉ là nghịch phá, song lâu ngày chầy tháng hắn nhất định sẽ hiểu thêm vài điều về lĩnh binh, dụng binh. Lúc đó nếu mình lại cố ý đánh bại hắn mấy lần, với tính cách cứng đầu của tiểu hoàng đế, chắc chắn hắn sẽ nghiêm túc nghiền ngẫm binh thư.

Đột nhiên Dương Lăng lại suy tưởng lung tung nhưng bị chuyện Kinh Diên đè nặng trong lòng nên hiện giờ y không còn tâm tình nghĩ ngợi nhiều như vậy nữa.

Để mình tham gia Kinh Diên ư? Mình sẽ nói gì đây? Nếu anh biết thế giới năm trăm năm sau sẽ ra sao, liệu anh có dám đứng trên bục giảng đại học Thanh Hoa mà vung tay múa chân trước mặt đám giáo sư không?

Dương Lăng tạm nén mối lo âu này lại, cố nặn bộ mặt tươi cười tiễn vị Hoàng Đế Chính Đức đang rất cao hứng ra về rồi mới chau mày nhíu mặt quay về phủ. Lúc y bước vào hoa đình ở hậu viên, hai tỳ nữ trông thấy lão gia đã về liền vội vàng bước tới làm lễ. Tâm tư đang đặt ở nơi khác nên Dương Lăng hờ hững gật đầu rồi đưa mắt nhìn quanh, hỏi:
- Phu nhân đâu?

Cô thị tỳ này là Cao Văn Lan, nguyên là tiểu thư cháu nhà họ Cao, Dương Lăng cũng không nỡ để nàng làm mấy công việc nặng nhọc thấp hèn nên giữ lại nội viện làm Tổng quản thị tỳ. Nàng vội vã trả lời:

- Phu nhân và cô nương Tuyết nhi cùng tỷ tỷ Văn Tâm đã ra hậu viên hái rau, một lúc nữa sẽ quay về.

Hàn Ấu Nương không chịu an nhàn. Phía sau nội viên nhà họ Cao có mảnh đất trống, Ấu Nương thấy tiếc nên đã khai phá một mẫu để trồng trọt nhiều loại rau củ mới. Lúc đầu nàng cũng chỉ dám đứng ngoài chỉ trỏ, sau thấy Dương Lăng có ý làm ngơ như không thấy, thế là nàng liền thay bộ đồ thô, xắn tay áo tự thân "xông trận".

Trong việc đồng áng, nàng còn tinh thông hơn cả mấy nha đầu trong phủ. Dưới sự trông nom và làm việc chuyên chú của nàng, rau củ trên mảnh đất này phát triển rất tốt. Những rau củ tươi xanh trong phủ dùng mỗi ngày đều là mấy loại tự trồng.

Dương Lăng ờ một tiếng rồi bước vào thư phòng. Ngồi xuống nghế, nhìn những quyển sách đóng bằng chỉ (2) trên giá, y chợt nghĩ đến hai chồng bí tịch võ công dầy cộp mà khi Vi Tiểu Bảo tiến cung Trần Cận Nam đã bắt gã học.… “Giống như mình bây giờ!” Dương Lăng không khỏi cười khổ.

Ngoài cửa thấp thoáng một bóng áo xanh, tựa như có người nhẹ nhàng lướt qua, Dương Lăng cũng không chú ý. Ngay sau đó người nọ chợt quay lại, kinh ngạc mừng rỡ kêu lên:
- Lão gia về rồi!

Dương Lăng ngẩng đầu nhìn. Người thị tỳ xinh đẹp vận áo xanh đang đứng trước cửa chính là Ngọc Đường Xuân. Dường như nàng mới vừa đi phơi quần áo xong, tay áo vén lên một nửa để lộ hai cánh tay trắng muốt như ngó sen. Khuôn mặt trắng thuần chưa trang điểm nhưng vẫn đẹp ngời ngời.

Trông thấy Dương Lăng vẫn còn mặc giáp trụ, khuôn mặt không chút tươi cười, nàng lanh trí vội bước đến hỏi thăm:

- Lão gia đang có tâm sự phải không?

Làm sao Dương Lăng dám nói thật mình sắp đi thi chứ, doạ chết người à? Y vội gượng cười đáp:

- Ờ, không có gì! Vừa rồi lên núi hầu Hoàng Thượng diễn binh nên hơi mệt thôi.

Lúc này Ngọc Đường Xuân mới thư thái trở lại, không nhịn được cười yêu kiều một tiếng rồi nhẹ nhàng bước đến, nói:

- Thân thể lão gia khoẻ thật, cứ mặc khôi giáp nặng như vầy mà lên núi, thảo nào …!

Vốn dĩ Dương Lăng phải quay về doanh trại thay khôi giáp. Chỉ vì trong lòng có tâm sự, vả lại đưa tiễn Chính Đức xong về nhà gần hơn cho nên y đã đi thẳng về nhà.
Ngọc Đường Xuân nói:

- Lão gia, để tiểu tỳ cởi giáp trụ cho người nghỉ ngơi một chút nhé.

Dương Lăng đứng dậy, nhíu mày bảo:

- Đã bảo không cần tự xưng là tiểu tỳ, sao vẫn cứ gọi như vậy?

Ngọc Đường Xuân đang giúp y cởi dây đai lụa (ti thao) trên giáp, nghe thấy thế khuôn mặt xinh xắn không hiểu sao chợt đỏ bừng. Nàng thẹn rũ rèm mi, lúng túng:
- Tiểu tỳ vẫn chưa... vẫn chưa... Hoàng Thượng còn chưa tổ chức đại hôn mà!

Cô nàng xấu hổ không dám nói thẳng ra bèn chuyển sang nhắc chuyện đại hôn của Hoàng Đế. Dù sao thì hiện giờ ai cũng đều biết đại hôn của hoàng đế chính là đại hôn của Dương Lăng. Dương Lăng nghe xong ngượng nghịu không nói thành lời.

Khôi giáp của y được chế tạo tinh xảo, không những oai vệ, tinh tế mà còn rất nặng. Trên các ngăn giữa của kệ sách đều là sách vở, Ngọc Đường Xuân tháo xong kiễng chân định để khôi giáp lên ngăn trên, song không đủ sức bèn ngồi xuống đặt nó ở dưới.

Dương Lăng nhìn bóng lưng nàng, đường cong lung linh, kiều diễm động lòng người, bộ đồ thị tỳ màu xanh vừa vặn ôm khít thân hình. Lúc này nàng ngồi xổm xuống, thấy rõ bờ mông tròn trịa đầy đặn như vẽ bằng com-pa, mê người khôn tả. Dương Lăng chột dạ, vội dời mắt, về chỗ mình ngồi rồi cầm bừa một quyển sách lên xem.

Chợt cảm thấy vai hơi trĩu xuống, Dương Lăng ngẩng đầu lên, chỉ thấy hai bàn tay thon thả đang đặt trên vai nhẹ nhàng xoa bóp cho mình, y bỗng nghĩ tới vận mệnh éo le của Tô Tam. Nguyên số mệnh đã định sẵn Tô Tam phải lưu lạc chốn phong trần. Đầu tiên là gả làm thiếp thương gia, trải qua họa lao tù, cuối cùng gả cho Vương Cảnh Long. Còn về phần sau khi trở thành thiếp thất của Vương Tam nàng có được hạnh phúc hay không là chuyện không thể biết được. Dù sao thì câu chuyện này cũng có một kết cục viên mãn.

Còn bây giờ thì sao? Ma xui quỷ khiến thế nào mà người con gái thông minh xinh đẹp này lại đến bên mình, Vương Cảnh Long thì gặp họa bị đày đi Thái lăng. Vận mệnh của nàng rồi sẽ như thế nào? Tương lai rồi sẽ lại lưu lạc nhà ai?

Dương Lăng bỗng cản bàn tay nàng lại, khẽ hỏi:

- Tô Tam, năm nay cô bao nhiêu tuổi?

Bị bàn tay y chặn lên mu bàn tay mình, Ngọc Đường Xuân không khỏi đỏ mặt, đáp:
- Lúc Nhất Xứng Kim mua tiểu tỳ về, khi đó tiểu tỳ mới bảy tuổi, bây giờ tiểu tỳ đã mười lăm tuổi rồi.

"Mười lăm...", Dương Lăng trong lòng máy động, liền hỏi:

- Người nhà của cô... Cô còn nhớ không? Nếu như có cơ hội gặp lại...

Ngọc Đường Xuân nhanh chóng ngắt lời y:

- Tiểu tỳ không có người thân!

Dương Lăng không nói được gì, lúc này mới ngẫm lại: "Nàng bị cha mẹ vì mấy trăm văn tiền mà bán cho kỹ viện, lúc đó nàng đã bảy tuổi, làm sao lại không nhớ chuyện đó? Làm sao có thể bảo trong lòng không hề oán hận được?"

Ngọc Đường Xuân dựa sát một chút, giọng khe khẽ:

- Tiểu tỳ xuất thân hàn vi, lại lưu lạc chốn phong trần, sớm đã quên mình đến như thế nào và sẽ đi về đâu. Từ khi vào nhà họ Dương, gặp được lão gia và phu nhân, tiểu tỳ như đã đến được chốn tiên, một ngày trôi qua còn vui vẻ hơn cả một năm. Hôm nay nhà họ Dương chính là nhà của tiểu tỳ, người và phu nhân chính là người thân của tiểu tỳ.

Nàng vừa dựa người lại gần, Dương Lăng chợt cảm thấy bờ vai đang khoác một lớp áo mỏng của mình có một cảm giác kỳ dị, loại cảm giác đàn hồi mà lại mềm mại tuyệt vời. Dương Lăng lập tức hiểu đó là bầu ngực của nàng. Tim y không kềm được bắt đầu đập thình thịch, dây thần kinh xúc giác trên khắp người trong nhất thời tựa hồ đều tập trung lên vai phải.

Y thả sức cảm thụ cảm giác mỹ diệu tiêu hồn, thứ cảm giác mềm mại, có tính đàn hồi đó. Nàng ấy mới mười lăm tuổi a! Chẳng lẽ vưu vật trời sinh đều phát dục sớm thế này ư?
Hình như trời càng lúc càng nóng, những con ve sầu ngoài cửa sổ đã kêu đến phát phiền. Sao lại chẳng có một tí gió nào thế nhỉ?

Ngọc Đường Xuân càng nói càng xúc động, như thể đang kể chuyện trong vô thức:
- Ấu Nương tỷ tỷ đã từng kể cho chúng tiểu tỳ về nỗi lo âu của người. Lão gia, người suy nghĩ sâu xa cho chúng tôi đến như vậy, tiểu tỳ và Tuyết Nhi trong lòng cảm kích không biết bao nhiêu mà kể. Từ trước đến nay kẻ khác chỉ thích tướng mạo của chúng tiểu tỳ, nào có ai lo nghĩ cho chúng tiểu tỳ nhiều như vậy đâu chứ?

Dương Lăng cảm thấy mu bàn tay mát lạnh, từng giọt nước mắt trong vắt đã nối đuôi nhau lã chã rơi xuống:

- Cuộc đời như là một giấc mơ. Ngọc Nhi chỉ hy vọng rằng mình khổ lâu như vậy rồi sẽ có thể kết thúc bằng một giấc mơ đẹp. Mộng dài hay ngắn, ai có thể so đo chứ. Chẳng phải có câu 'Kim phong ngọc lộ nhất tương phùng, tiện thắng khước nhân gian vô số' (đã chú ở chương 44) đó sao? Sao lão gia lại có thể có suy nghĩ kỳ quái như vậy? Lão gia không biết trái tim của Ngọc Nhi đã trao cho lão gia từ lâu rồi sao?

Được người đẹp như hoa như ngọc nỉ non bên tai như vậy, ai còn có thể giữ vững được "lòng son dạ sắt"? Dương Lăng đã tạm thời vứt bỏ cái bí mật phiền não chôn sâu tại đáy lòng, chỉ muốn quay người lại an ủi nàng mấy câu. Song y vừa cựa vai, Ngọc Đường Xuân phát giác mình kề sát như vậy thành quá đỗi ám muội, buột miệng kêu lên một tiếng thánh thót rồi rụt người lại.

Dương Lăng quay đầu lại, chỉ thấy mỹ nhân nổi danh trong lịch sử đang nồng nàn nhìn mình với một đôi mắt đẫm lệ, song trên khuôn mày ửng hồng thẹn thùng lại nở một nụ cười ngọt ngào như đường như mật, có một một vẻ dịu dàng đôn hậu như thể tuỳ tiện là có thể chiếm được.

Trong lòng Dương Lăng bùng lên hào khí nam nhân “Mỹ nhân lưu truyền thiên cổ này cũng có thể bị mình chinh phục, mình còn sợ gì nữa chứ? Chẵng lẽ Kinh Diên thì sẽ rất đáng sợ sao? Chẵng lẽ mình không chinh phục nổi mấy lão già cổ hủ ư?”

Y bỗng đứng phắt dậy, nắm lấy hai tay Ngọc Đường Xuân. Tay Ngọc Đường Xuân bị y nắm chặt, cặp mắt lập tức trở nên say đắm mông lung như đang ngấn nước. Chiếc miệng nhỏ nhắn đo đỏ cong cong cũng nửa khép nửa hở, toàn thân đã sắp nhũn ra.

Dương Lăng nắm lấy đôi bàn tay búp măng của nàng, gọi một cách thâm tình:
- Ngọc nhi...

Con tim Ngọc Đường Xuân đập thình thịch, một hồi lâu mới phát ra một tiếng rên rỉ từ cổ họng:
- Dạ? Lão... lão gia...

- Đi! Giúp ta soạn hết tất cả sách sử ra, lão gia ta hôm nay phải đọc sách thâu đêm!

Dương Lăng bừng bừng ý chí.

Ngọc Đường Xuân: "..."

...

Cuối cùng Kinh Diên đã được mở lại.

Những Hàn Lâm học sỹ, Đốc sát ngự sử mà hàng ngày dâng sớ tận lực can gián, thiếu điều viết cả huyết thư đều tung hô chúc tụng, vui mừng khôn xiết: một Hoàng Đế mà không mở Kinh Diên thì sao có thể gọi là Hoàng Đế tốt? Hôm nay thần phật khắp cõi trời đều đã bị tinh thần của bọn họ cảm hoá, cuối cùng thì thiên tử đã quay về với con đường chính đạo của minh quân rồi.

Thế nhưng tin tức tham tướng Dương Lăng của Thần Cơ doanh cũng muốn tham gia Kinh Diên lại khiến cho bọn họ kinh ngạc đến ngây người. Kinh Diên là nơi mà văn võ bá quan và Hoàng Đế giảng kinh luận đạo. Tuy Đại Minh chưa từng có quy định võ tướng không thể tham dự Kinh Diên, nhưng từ trước đến nay chưa từng có một võ tướng nào chủ động tham gia. Cho dù Dương Lăng là một nho tướng (3) đi, song mớ học thức ấy đủ tư cách để thi triển bản lĩnh ở Kinh Diên sao?

Hoàng thượng muốn trao binh quyền cho y, muốn tin yêu trọng dụng y, những thứ đó đều có thể nhẫn nhịn. Nhưng Kinh Diên này là thánh địa của quan văn chúng ta, thứ người như y mà cũng có thể đến sao? Đây chính là một sự khiêu khích nghiêm trọng bậc nhất!
Đây lại là hội Kinh Diên đầu tiên mà Hoàng Đế Chính Đức mở lại, vì vậy mọi con mắt đều đổ dồn vào nó.

Hàn Lâm viện, Đốc Sát viện, Chiêm Sỹ phủ, bao gồm tất cả quan văn trong triều đều như lần đầu vào kinh dự thi: trích dẫn kinh điển, tụng chữ thâu đêm, trải qua bao đắn đo rồi lại cân nhắc, xoá bôi rồi lại bôi xoá, sau cùng viết nên một bài văn chương gấm hoa rực rỡ, thuộc đến làu làu, quyết phải cất tiếng kinh nhân, khiến cho Dương Lăng thấy mà ủ ê chán nản.

Trên điện Văn Hoa, chưa đến giờ mà bá quan đều đã tụ tập, còn náo nhiệt hơn cả lúc thượng triều. Dẫu sao Hoàng Đế Chính Đức cũng đã mở kim khẩu: tất cả bá quan văn võ đều có thể tham gia Kinh Diên lần này, cho nên những kẻ không có việc gì cũng chạy đến xem náo nhiệt.

Ngày hôm nay Kinh Diên được mở lại, ba đại học sỹ của nội các rất xem trọng. Ba người Lưu Kiện, Tạ Thiên và Lý Đông Dương được cử làm Đồng tri Kinh Diên sự. Thượng thư bộ Lại Mã Văn Thăng, Thượng thư bộ Binh Lưu Đại Hạ, Thượng thư bộ Hộ Hàn Văn, Thượng thư bộ Lễ tân nhiệm Luân Văn Tự, tất cả đều có mặt. Giảng quan (4) là Chiêm Sỹ phủ Dương Đình Hoà, Triển thư quan (5) là Hàn Lâm viện Luân Văn Tự.

Hội Kinh Diên này có thể nói là xa hoa chưa từng có.

Đại thái giám ty Lễ Giám Vương Nhạc tự thân dẫn hai thủ lĩnh thái giám, tám tên tiểu thái giám (tiểu hoàng), bưng Kinh, Sử, Tử, Tập (6) đến đặt lên ngự án và giảng án (7). Vào đến điện Văn Hoa, trông thấy rất đông võ tướng, lão Vương Nhạc liền giật thót mình. Tuy lão đã theo hầu hạ bốn đời Hoàng Thượng mà chưa từng thấy đông đảo võ tướng đến tham gia Kinh Diên như thế này. Thực tế trong đám người này nhiều người chỉ có thể viết được mỗi tên mình, bọn họ chạy đến đây tụ tập náo nhiệt để làm gì?

Mặc dù Vương Nhạc này quyền cao chức trọng, đứng đầu Nội tướng (8), trong tay nắm giữ Đông xưởng và Tây xưởng, nhưng lại không hề có dã tâm, một lòng trung thành tận tụy. Tuy Đới Nghĩa là thân tín của lão, song sau khi nghe nói lão ta che giấu chuyện lăng tẩm Tiên đế bị thấm nước, Vương Nhạc đã phẫn nộ không kém gì vua Chính Đức. Cho nên đường đường là thủ lĩnh thái giám ty Lễ Giám bị hạ ngục nhưng lão lại không nghe không hỏi, thuỷ chung không hề đếm xỉa đến việc đó. Bởi vì lão có thái độ này, cho nên Đông xưởng Phạm Đình là người có giao hảo với Đới Nghĩa cũng không dám manh động, khiến cho Trương Tú cũng trở nên sợ bóng sợ gió trong việc cứu giúp Dương Lăng.

Giờ đây Đới Nghĩa thoát khỏi ngục tù, lão đã thầm ghi hận việc Vương Nhạc khoanh tay đứng nhìn vào trong lòng. Chỉ là lão già Vương Nhạc này tuy là tổng đầu lĩnh đặc vụ, song không ngờ tính tình lại rất trung thực nên không mảy may nhận thấy điều đó.

Điện Văn Hoa vốn là thế giới của quan văn, nhưng lần đầu kể từ khi Đại Minh lập quốc cho đến nay số lượng võ tướng trong kinh đến tham dự lại không kém hơn bọn họ. Vì thế văn võ bá quan liền theo quy củ thượng triều: quan văn đứng bên trái điện, quan võ đứng bên phải điện.

Phía quan văn tôn Lưu Kiện đứng đầu, bên võ tướng sắp Lưu Đại Hạ làm thủ lĩnh, nhưng lại đưa tham tướng tam phẩm nhỏ nhoi là Dương Lăng đứng ở trước điện. Tất cả võ tướng bất luận phẩm tước cao hay thấp hơn y đều ngầm lui về sau nửa bước, vây quanh y như sao quanh trăng sáng.

Thật xúc động! Thật vinh quang! Hôm nay võ tướng rốt cuộc đã có thể ưỡn ngực thẳng lưng mà bước vào điện Văn Hoa rồi. Còn về phần học vấn của Dương tham tướng... đừng nghĩ rằng những võ tướng này dốt chữ mà vô tri nhé. Trước đó bọn họ đã sớm nghe ngóng rồi. Thần đồng lão tử đại học sỹ Dương Đình Hoà cũng đã từng khen ngợi y, thế thì sao có thể kém cỏi được?

Dương Lăng vững vàng đứng đó, quyết định “nói nhiều không bằng nói ít”, cái gì không hiểu kiên quyết sẽ không nói, bắt được cơ hội thì sẽ nói bừa. Nếu bàn luận về Sử, Điển, Đính (đính nghĩa là luận bàn) của Khổng Tử, y một khiếu chẳng thông, ngoại trừ vài câu kiểu "Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên" (9), "Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ" (10) ra thì y cũng chẳng thuộc được mấy câu. Đấu văn không được, huyên thuyên cả buổi cũng được mà!

Vì lẽ đó, Dương Lăng thân mặc khôi giáp, anh tuấn bất phàm, hai chân không xiên không vẹo đứng nghiêm sừng sững, hai mắt tựa khép mà không khép, nét mặt trầm tĩnh như mặt hồ. Nếu lắp thêm một bộ râu xồm vào, thoạt nhìn nhất định sẽ tưởng rằng ai đó đã khiêng tượng đất của ông thánh Quan Công lên điện.

Lúc trước mấy người thái giám Lưu Cẩn bị Dương Lăng lừa gạt, nghe y kể huyên thuyên về mấy kiến thức nước ngoài, đã thật sự tưởng rằng kiến thức học tập của y bao gồm cả Trung - Tây, không thứ gì không biết. Cho nên bọn họ đã tự tin đề ra chủ ý bao đồng này, làm Hoàng đế Chính Đức mù quáng nghe theo. Không ngờ vừa nghe thời điểm Kinh Diên mở, lần đầu tiên y lại tràn trề hứng thú lên thượng điện nghe giảng.

Hoàng đế Chính Đức bước lên điện ngồi, bá quan ba quỳ chín lạy xong, thị vệ mang đao (đái đao thị vệ) khiêng giảng án đến trước ngự án thư của Chính Đức, quan Hồng lư (11) truyền chỉ khai giảng. Vì đây là lần đầu vua Chính Đức mở Kinh Diên, cho nên Luân Văn Tự và Dương Đình Hoà không kể tràng giang đại hải mà chỉ kể về ý nghĩa quan trọng của việc vua Hồng Vũ mở ra Kinh Diên, đế vương lấy bá quan làm thầy mà học tập kinh điển Nho gia, rồi mỉm cười lui sang một bên, giao chiến trường lại cho bá quan văn võ.

Thượng thư tân nhiệm của bộ Công là lão thần Dương Tuỳ Thủ lập tức bước ra khỏi hàng, bắt đầu bàn về Tứ Thư Ngũ Kinh. Bài luận của lão đã được nghĩ ra từ sớm, bắt đầu nói liền trích dẫn kinh điển, trầm bổng du dương, mỗi khi nói đến chỗ hay, đám quan văn liền nở gan nở ruột, không ngớt lời khen.

Đám võ tướng đang giương to mắt trâu chờ xem đánh trận lại ngáp lên ngáp xuống, thậm chí hai mắt Hoàng Đế Chính Đức cũng dại đi.

Vương lão tiên sinh (tức Vương Ngao, Tả thị lang bộ Lại) lại quyết "truy đuổi tàn binh", đọc làu làu một bài văn bát cổ, thao thao bất tuyệt, khiến cho ngay cả Dương Lăng đang vểnh tai lên hòng moi ra chút đề tài trong đó nghe mà cũng thấy chán nản.

Dương Lăng bèn thầm thở dài một hơi: mấy cái 'hồ' với 'dã' của những người này, nói ra toàn bộ đều coi văn chương là nhất, thỉnh thoảng mới có điểm có thể liên quan đến những sự việc thực. Nhưng bố cục thế giới và phân bố thế lực mà thánh nhân của cả trăm, nghìn năm trước đối diện đã rất khác biệt so với hôm nay, sao chép một cách máy móc thực không có chút ý nghĩa. Cái gọi là Kinh Diên, thật sự cực kỳ nhàm chán, làm khó cho con cháu của lão Chu gia rồi. Làm sao mà bọn họ có thể chịu đựng được hơn cả trăm năm nay nhỉ?

Vương Ngao nói xong lui xuống, Dương Phương lại đã "mình trần xông lên". Con của y là Dương Lâm, cùng hội với Cảnh Long hãm hại Dương Lăng. Mặc dù có tam đại học sỹ cầu xin, nói rằng con y nhỏ tuổi không hiểu chuyện, ham mê hư vinh, hùa theo gây rối, cho nên Chính Đức cũng không trừng phạt, song đã hạ chỉ mắng nhiếc Dương Phương thậm tệ một trận.

Ai mà không tin con mình chứ? Huống chi Dương Phương vốn cho rằng Dương Lăng nịnh hót nhà vua, là một tên tiểu nhân văn dốt võ dát. Lạnh lùng trộm liếc Dương Lăng đang đứng thẳng hiên ngang, mắt chỉ nhìn thẳng, Dương Phương cau hai hàng lông mày lại, cất cao giọng:

- Vừa rồi Dương đại nhân và Vương đại nhân đã nói về Tứ Thư Ngũ Kinh và đạo thánh nhân. Kinh điển ấy đã kể xong, nay thần xin kể đến lịch sử một chút.

- Bệ hạ, từ xưa các bậc quân vương trị thiên hạ đều lấy đạo đức giáo hoá bốn phương, lấy văn võ làm cánh tay trị vì bách tính, thế nên tuyển hiền chọn đức, dụng kẻ anh tài, gần gũi hiền thần, xa lánh tiểu nhân, ấy mới thành thánh nhân; mà thân cận tiểu nhân, lánh xa hiền thần thì sẽ ham vui khoái lạc, bỏ bê chính sự, khiến cho tiểu nhân lộng quyền, triều chính hủ bại. Xưa Hán Linh đế mù quáng tin bọn Thập thường thị (12), Lương Vũ đế mê tín đạo Phật, Ninh Huy Tông sủng tin Đồng Quán, Thái Kinh mà sa vào ăn chơi, triều chính bị một đám gian thần lộng quyền nắm giữ, đổi trắng tay đen (lược dịch "âm mạo vu dương", đổi âm thành dương), tôi thần khi quân, tiểu nhân chuyên quyền, dưới thì phản trên, khiến cho nước mất nhà tan, đó nên là tấm gương cảnh báo cho đời sau.

Hoàng đế Chính Đức hả miệng ngáp to, cặp mắt lờ đờ bảo:
- Trẫm không mở Kinh Diên, các người la khóc đòi mở. Trẫm mở Kinh Diên rồi, chẳng lẽ để các ngươi kể lể những thứ gọi là kinh sử này sao?


(1) Vu: đi, Hồi: về. Thuật Vu hồi để chỉ một cách đánh vòng lại (sau lưng hoặc trước mặt), công thủ đều dùng được. Thuật này phụ thuộc vào địa hình, là một chiến thuật thường được áp dụng trong quân sự (và cả kinh doanh).

(2) một kiểu đóng sách truyền thống của Trung Quốc, sợi chỉ lộ rõ ra bìa ngoài. Xem hình: http://imgsrc.baidu.com/baike/pic/it...27349bf7c0.jpg

Hiện nay, những tiệm cho thuê sách vẫn đóng sách như thế.

(3) thường võ tướng thời ấy dốt chữ, nên những kẻ biết chữ thì được gọi là "nho tướng"

(4) vị quan giảng giải, thuyết minh trong hội Kinh Diên

(5) quan giở sách (trong Kinh Diên)

(6) "Kinh, Sử, Tử, Tập" là Kinh điển, Lịch sử, Chư tử, Văn tập

(7) bàn của Giảng quan

(8) Chỉ tất cả thái giám.

(9) nghĩa đen: trong ba người cùng đi ắt có một người là thầy ta. Nghĩa bóng chỉ sự quan trọng của tập thể.

(10) nghĩa là: học mà thực hành theo điều mình học há chẳng vui sao?

(11) hay còn gọi là "Tự khách", là quan trông coi lễ tân.

(12) chỉ bọn hoạn quan thao túng chính quyền thời Linh đế nhà Đông Hán.

Ba_Van
26-05-2011, 06:18 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 108: Suýt Rơi Vào Bẫy



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Vandai79

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng nói một hồi xong, ai dám phản bác y chính là phản lại Đại Minh, phản Chu Nguyên Chương, phản tất cả người Hán! Nếu mở miệng không khéo, tương lai sẽ có thể trở thành đầu đề câu chuyện cho người ta. Kinh nghiệm quan trường của những người này phong phú biết dường nào, lời nói của Dương Lăng đâu đâu cũng là bẫy, ai lại nguyện ý chui vào.



------------------------

Chương 108 - Suýt rơi vào bẫy
------------------------


Đồng Quán là một trong số "Lục tặc" thời Bắc Tống (1). Dương Phương nói Hán Linh đế tin sủng Thập thường thị, Lương Vũ đế mê tín đạo Phật, đều không hề nêu ra danh tính của bọn gian nịnh đó, duy chỉ khi nhắc đến thời Tống Huy tông thì mới nêu đích danh ra, lại còn đem đặt đại tướng quân Đồng Quán lên trước quyền tướng Thái Kinh, rõ ràng là có ngụ ý. Các võ tướng “dốt nát ngây ngô” nghe không hiểu, nhưng các quan văn đã sớm to nhỏ thì thầm ở bên dưới.

Dương Phương thấy mình khổ tâm một phen mà Hoàng Đế Chính Đức lại không hiểu ý, nên cũng không cố dùng lời ám dụ nữa, đành phải quỳ xuống tâu:
- Đọc sử chính là để răn dạy người sau, Hoàng Thượng nên thông hiểu đạo đức văn chương, chăm thờ quang minh chính nghĩa, kính thiện trọng đức, báo đáp công ơn, thì dù có chắp tay giũ áo (bỏ mặc không làm gì) mà vẫn khiến thiên hạ vẫn thái bình. Giờ đây Hoàng Thượng ham mê bắn cung, cưỡi ngựa, xao nhãng đọc sách. Nghe nói Hoàng Thượng đã nhiều lần tự ý rời khỏi hoàng cung đi Tây giao (ngoại thành phía tây) xem võ. Cứ trầm mê vào những trò vặt này thì không phải là việc làm của một vị vua tài đức đâu.

Dương Phương vừa dứt lời, trên điện chợt có một giọng nói ung dung cất lên:
- Hoá ra ham mê bắn cung cưỡi ngựa thì không phải là quân vương tài đức. Đại nhân đọc sách sử thật hay! À, hoá ra vua Tần và Hán Vũ cho diễn võ trong cấm cung, mở mang bờ cõi, đều không phải là những vị vua tài đức sao?

Dương Phương liền xoay người, thấy kẻ đáp lời là Dương Lăng thì lập tức nói ngay:
- Khổng Tử nói: ...

Dương Lăng lại nghe là "Tử viết (Khổng Tử nói)(*)" thì lập tức cướp lời luôn:
- Tử viết: “Ngươi đừng có nói câu nào cũng đều trích của ta hết!”
(*)Viết: từ cổ, nghĩa là nói.

- Ha ha ha ha...!
Lần này không những đám võ tướng không quản Hoàng Thượng đang ngồi trên, buột miệng lớn tiếng cười vang, thậm chí rất nhiều quan văn cũng không nhịn được mà che miệng cười. Về sau bọn võ tướng lấy câu "danh ngôn" này của Dương Lăng làm vũ khí có tính sát thương hữu hiệu để đối phó với quan văn, khiến cho một nửa số quan văn thường ngày luôn dùng "Tử viết" đành nghẹn họng, trợn trắng cả mắt.

Lý Đông Dương vội ho khan vài tiếng, giấu vẻ buồn cười, nghiêm giọng:
- Dương đại nhân! Trên triều đường, trước mặt Hoàng Thượng, không thể đem thánh nhân ra làm trò đùa!

Dương Lăng lia mắt nhìn, quả nhiên thấy rất nhiều quan văn đang vô cùng tức giận, bất mãn, liền quay sang Lý đại học sỹ cười nói:
- Đại học sỹ thứ tội! Hạ quan chỉ cảm thấy thời của Khổng thánh nhân là từ thời Xuân Thu chiến quốc. Bố cục, tình thế, nhân văn, triều chính và kinh tế của các nước thời ấy so với hiện tại hoàn toàn bất đồng. Qua nghìn năm bể dâu, người và vật đều đã không còn. Thánh nhân dạy mọi người "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín", tất nhiên lúc nào cũng đúng, thiên thu không đổi. Nhưng quan điểm và nhận định của thánh nhân đối với triều chính lại chỉ nhắm vào nền chính trị đương thời. Nếu như người thời nay cứ trích dẫn lung tung, khăng khăng không sửa đổi, giả danh thánh hiền để nói xàm nói bậy, chẳng những sẽ hại nước hại dân mà còn bôi nhọ danh dự thánh nhân.

Thật ra, chỉ cần bước ra làm quan, chân chính tách rời khỏi đám văn nhân ôm sách vở, các quan viên nhà ta khi thực thi triều chính đều đã sớm cảm thấy nếu chỉ dựa vào thành tích học tập thánh nhân sẽ không đủ để trị thiên hạ, nên "Nửa bộ Luận Ngữ trị thiên hạ" chẳng qua chỉ là câu nói "tự sướng" mà thôi. Các đại hiền thần đều xưng là môn đồ của Khổng - Mạnh, nhưng phương châm quản lý triều chính đã sớm bóp nặn theo học phái của Hoàng lão rồi (3). Bọn họ ngoài miệng thì nói chuyện xúc động lòng người, nhưng trong lòng cũng không tin chỉ bằng mấy câu lưu truyền của thánh nhân là đã có thể giải quyết hết thảy mọi vấn đề.

Chính vì vậy, sau khi nghe y giải thích xong, Lý Đông Dương không nói gì tiếp. Dương Lăng quay sang Dương Phương hỏi:
- Dương đại nhân nói chỉ cần thông thạo đạo đức văn chương thì có thể chắp tay giũ áo trị thiên hạ, còn diễn binh tập võ lại là trò vặt. Vậy hiện nay Miêu Cương gây loạn, Thát Đát như hổ đói rình mồi, đây là hoạ lớn trước mắt cả trong lẫn ngoài Đại Minh, phải chăng chỉ dựa vào giáo hoá thì có thể bình ổn? Chỉ trọng giáo hoá, không trọng dân sự, không trọng quân sự, quốc gia có thể ổn định lâu dài sao?

Dương Phương nghe vậy thì khinh thường đáp:
- Một đám lưu vong gây loạn bất quá chỉ là thứ bệnh ghẻ mà không phải là cái hoạ của xã tắc. Người Thát Đát cậy vào địa thế hiểm trở của man hoang, không hề có chí lớn, sao đáng để lo. Chuyện bé xé to, bất quá chỉ là lớn tiếng hù dọa mà thôi.

Dương Lăng vỗ tay, cười nói:
- Diệu thay! Dòng nước lũ Trần Thắng và Ngô Quảng chỉ là thứ bệnh ghẻ, bọn người man dã Nguyên Mông không đáng để lo. À! Hẳn là Đại Tống năm xưa đã có rất nhiều “hiền thần” có suy nghĩ như ngài đấy.

Dương Phương đỏ mặt, giận dữ nói:
- Trần Thắng, Ngô Quảng phản bội là do sự bạo ngược, vì bạo Tần không am hiểu việc giáo hoá, hà khắc với dân, nên dân chúng mới nhất hô bá ứng cùng nhau nổi dậy.

Dương Lăng vặn hỏi:
- Vậy nhà Nguyên diệt Tống thì sao? Người Nguyên là nước chính nghĩa sao? Người Nguyên không đáng để lo sao?

Vương Ngao nhảy ra đáp:
- Đó là chuyện khác! Giờ đây người Nguyên chia năm xẻ bảy, chỉ đóng ở nơi hoang vắng, giống như dã nhân, có gì đáng sợ?

Dương Lăng phản bác:
- Vốn người Nguyên đến từ quan ngoại, không phải đã vào làm chủ Trung Nguyên sao? Nay họ lại quay về quan ngoại, vậy việc ngăn người Nguyên vẫn ở quan ngoại thì không đáng quan tâm à?

Thượng thư bộ Công là Dương Thủ Tuỳ bước khỏi hàng nói:
- Nay đã khác trước, giờ đây bốn bể yên bình, quốc thái dân an, vì vậy chỉ cần thực thi chính sách nhân đức cho dân là đủ. Người Thát Đát sinh sống ở vùng đất bần hàn, lấy du mục để sinh tồn, thông thạo cưỡi ngựa bắn cung, không sở trường về nông canh như ta, so võ với họ là không khôn ngoan. Cho nên chỉ cần lấy một đội quân ngăn bọn dã man này ở ngoài biên cương là đủ. Nội loạn không phát sinh thì bọn họ làm sao có thể thừa cơ?

Dương Lăng giơ một ngón tay lên, nói:
- Thứ nhất, “bốn bể yên bình, quốc thái dân an”, nói một chút cho sướng miệng cũng không phải là không được, nhưng làm bề tôi thờ chúa, lúc nào cũng phải có ý thức lo toan. Không phải có câu nói “sống phải lo toan, chết mới được an nhàn” đó sao? Lúc này nền chính trị nhân từ của Đại Minh ta rất được lòng dân nhưng đáng tiếc mấy năm nay thiên tai không dứt, trong nước thỉnh thoảng có những kẻ cùng đường tụ tập làm bừa. Những chuyện này không chịu tâu cho Hoàng Thượng biết, ngài lại luôn miệng nói “bốn bể yên bình, quốc thái dân an” ở trước mặt Hoàng Thượng là có ý gì?

Dương Thủ Tuỳ giận vểnh cả chòm râu hoa râm. Câu nói đó của lão chính là kiểu nói sáo rỗng, kẻ nói không có tâm, người nghe không để ý, vậy mà Dương Lăng lại dùng nó để xoi mói câu chữ khiến cho ông lão này giận đến run người.

Dương Lăng lại giơ thêm một ngón tay, nói tiếp:
- Thứ hai, ngài nói “nay đã khác trước”, như vậy cũng thừa nhận việc thực thi chính sách nên thay đổi tuỳ thời, tuỳ nơi, tuỳ tình thế đúng không? Vậy nếu cứ ôm khư khư lấy quy tắc cũ, không biết biến hóa thì cũng là điều mà thánh nhân dạy ngài đấy ư?

- Thứ ba!!!

Dương Thủ Tuỳ vừa tính mở miệng, Dương Lăng đã quát to một tiếng, chặn ngay lão lại. Nếu để lão già này thuyết một hồi tràng giang đại hải, Dương Lăng nào phải là đối thủ. Thừa lúc ở đây toàn các bô lão, đầu óc không nhanh nhạy bằng thanh niên, hơn nữa mỗi câu nếu không phải đỡ hộ Hoàng Thượng thì cũng đỡ hộ cho các vị Hoàng Đế các triều dựng nước, mất nước. Các vị lão gia này nói chuyện vốn cẩn thận, e sợ phạm huý, chỉ cần chần chừ để sắp xếp lại từ ngữ một chút, là y có thể nói tiếp.

Dương Lăng giơ ngón thứ ba lên, cất giọng đĩnh đạc:
- Chỉ cần nội chính thái bình thì không lo ngoại địch ư? Làm sao ngài biết được nội chính của giặc ngoài không thể phát triển, tiến bộ và thái bình như chúng ta chứ? Đang yên ổn mà vẫn phải lo nguy, cũng chỉ có hoàng đế Thái tổ, Thành tổ mới hùng tài đại lược như vậy. Những vị quân chủ anh minh có mắt nhìn xa trông rộng như thế mới có thể mấy lần dấy binh chinh phạt người Nguyên, phòng ngừa bọn họ ở quan ngoại phát triển lớn mạnh.

Dương Thủ Tuỳ, Dương Phương, Vương Ngao tức giận đến muốn sung huyết não. Y lôi Thái tổ, Thành tổ ra trợ chiến thì làm sao mà tranh biện đây? Kẻ này cũng vô sỉ quá đi!

Những bá quan khác có lòng trợ giúp cũng không dám ra mặt, có người cũng đã không nhớ nổi chủ đề lúc nãy là gì, bàn luận như thế nào mà lại nhảy qua vấn đề quân sự và đối ngoại rồi.

Dương Lăng không dám cho bọn họ thời gian suy nghĩ, lại nói tiếp:
- Thứ tư!

Chính Đức nghe mà sướng rơn. Hắn quay đầu nhìn khắp nơi, không khỏi có phần hối tiếc đã không dẫn bọn Lưu Cẩn, Cốc Đại Dụng, mấy nhân tài có mắt nhìn người đó đến đây. Nghe Dương thị độc nói chuyện thật sướng tai, dễ nghe hơn cái thứ kinh thư mà bọn kia tụng nhiều.

Dương Lăng bước lên một bước, quay đầu nhìn đám võ tướng đang nghe đến nhập tâm, y không khỏi cảm thấy hơi xấu hổ "Tri thức này của ta cũng chỉ gạt được cái đám quê mùa các ông thôi," rồi xoè ngón tay ra:
- Thứ tư! Ngài nói người Nguyên thiện xạ, mà người Trung Nguyên ta không lấy võ lực làm sở trường, vậy ngài giải thích thế nào về thời Hán, Đường nhiều lần đánh bại Hung Nô, Đột Quyết, những dân tộc du mục cực kỳ hùng mạnh đây? Truyền thuyết nói rằng quân Kim (là Nữ Chân) không đủ vạn người, nếu quá vạn người thì không ai địch lại, thế nhưng người Kim giáp mặt với quân đội của dân tộc nông canh của Nhạc gia lại liên tiếp chiến bại, phải hoảng sợ mà thốt lên rằng "Lay đổ núi dễ, xô ngã quân Nhạc gia khó!" Điều này giải thích như thế nào? Tạ An (Tạ An Thạch) lấy tám vạn người phương Nam đánh bại hai mươi bảy vạn kỵ binh cùng hơn sáu mươi vạn bộ binh của Phù Kiên nhà Tiền Tần phương Bắc thì giải thích như thế nào?(4) Thái tổ hoàng đế và Thánh tổ hoàng đế của bổn triều mấy lần chinh Bắc, đánh cho người Nguyên vừa nghe tiếng đã chuồn, có lúc đại quân vừa đến, bọn chúng đã chạy mất bóng, điều này giải thích ra sao? Tôi nói cho ngài biết, thời Đông Hán, người Hán ta chỉ phái ra một cánh quân lớn thì đã diệt hết nửa số quân Hung Nô, đuổi chạy nửa còn lại. Thậm chí đám tàn binh bại tướng này trên đường tháo chạy về hướng Tây đã liên tục chinh phục người Ca Đặc (Visigoth), Nhật Nhĩ Man (Đức) gì đó… khiến cho đế quốc của một lãnh thổ quốc gia khổng lồ xa xôi ở phương Tây phải diệt vong. Ông có thể tưởng tượng võ công người Hán ta năm xưa oai phong cỡ nào!

Dương Lăng cũng không biết những lão già này có bao nhiêu lý lẽ muốn luận bàn với y, nhưng tóm lại y sợ lôi đứa trẻ chăn bò Chu Trùng Bát (5) và tên đồ tể Chu Lệ tiêu diệt thập tộc vẫn chưa đủ, cho nên cứ lôi tất cả người Hán vào. Chủ nghĩa dân tộc thời đó so với bây giờ còn phải mãnh liệt hơn gấp trăm lần nên y vừa nói xong thì các võ tướng sôi trào nhiệt huyết liền hô to:
- Hay!!!

Còn Chính Đức như thể đang nghe kể chuyện, mặt tươi roi rói, vung tay múa chân.

Dương Lăng nói một hồi xong, ai dám phản bác y chính là phản lại Đại Minh, phản Chu Nguyên Chương, phản tất cả người Hán! Nếu mở miệng không khéo, tương lai sẽ có thể trở thành đầu đề câu chuyện cho người ta. Kinh nghiệm quan trường của những người này phong phú biết dường nào, lời nói của Dương Lăng đâu đâu cũng là bẫy, ai lại nguyện ý chui vào.

Thế nhưng... nếu không phản bác, vậy không phải sẽ đại biểu cho việc y đã chiến thắng sao?

Nhiều đại thần lặng lẽ lục lọi lại những bài văn chương mà bọn họ đã chuẩn bị cả đêm, rồi thở dài ảo nảo. Tài liệu mà bọn họ chuẩn bị đều là những đạo đức và lý tưởng viển vông, xa rời thực tế, căn bản không dính dáng tới những thứ mà người ta đang nói.

***

Dương Đình Hoà nhìn xung quanh, chỉ thấy các võ tướng thích chí xoa tay, Lưu Đại Hạ lấm lét đưa mắt nhìn, các văn thần nhìn nhau ngơ ngác, ba vị học sỹ im lặng không nói gì, còn Chính Đức ngồi sau ngự án thì khoái chí đến ngả nghiêng, không có chút dáng vẻ của hoàng đế... nên y quyết định cho qua.

Ba vị Kinh Diên sự không mở lời, thân là giảng quan, Dương Đình Hoà đành phải ra mặt phát biểu tổng kết. Lão hắng giọng, mỉm cười nói:
- Chỉ giữ mà không buông, không thể đương văn võ; chỉ buông mà không giữ, văn võ chẳng thể làm; vừa giữ lại vừa buông, ấy đạo văn võ vậy. Lý luận trị nước phải có văn có võ, có chính trị có kinh tế, đích thực không thể dùng một phương cách mà thông hiểu mọi chuyện. Có điều... theo như lời của Dương đại nhân, không lẽ cho rằng việc binh có thể quyết định hết thảy hay sao?

Dương Lăng nghe vậy mừng lắm, Dương Đình Hoà đang muốn y phát biểu tổng kết đây. Rốt cuộc cơ hội đã tới, y vội vàng mỉm cười, vòng tay đáp:
- Không phải! Như lời các vị đại nhân khi nãy đã nói, quyết định mọi thứ vẫn là nội chính. Chính lệnh được thông suốt, lại trị thanh liêm, dân chúng giàu có, thì mới bàn đến cường quốc cường binh. Những ví dụ mà hạ quan đã nêu lên, những quốc gia đó không đâu không có vua tài tôi giỏi, quốc gia giàu có mới có thể luyện ra hùng binh. Nhưng làm kẻ quân vương chớ nên xem thường quân sự. Hạ quan chỉ vì nghe Dương Phương Dương đại nhân có điều thiên vị, nên mới to gan nói thẳng. Việc binh luôn phải sẵn sàng, ấy gọi là “nuôi quân nghìn ngày, dùng quân một lúc”. Việc binh là bổ sung và bảo đảm cho sự cầm quyền, bình thường không thể bỏ bê, đợi đến nước đến chân mới nhảy. Hạ quan là võ tướng, cho nên trong quân nói việc lính, luận đàm cũng chỉ là chút quốc chính mà thôi. Ha ha!!! Kinh Diên mà, chính là rộng đường ngôn luận, không bó buộc theo một khuôn mẫu nào. Còn về phần nói có đúng hay không, có thể dùng được hay không, đó không còn là việc của hạ quan nữa.

Dương Đình Hoà mỉm cười đang tính nói thì Chính Đức đã vỗ bàn, khoái chí kêu:
- Hay lắm, rất hợp ý trẫm! Trẫm cũng mệt mỏi rồi, còn phải đi thỉnh an Thái Hoàng Thái Hậu và Thái Hậu nữa. Dừng lại ở đây thôi!

Dương Đình Hoà khom người tuân lệnh, rồi tuyên bố Kinh Diên kết thúc. Bá quan lui xuống điện. Chính Đức đứng lên, thấy Dương Lăng bị các võ tướng vây chung quanh, vội cất cao giọng gọi:
- Dương ái khanh! Khanh hãy trở về Đông Noãn các, trẫm có chuyện muốn nói cùng khanh.

Hoàng Thượng ra lệnh xong, đám võ tướng cũng không dám dây dưa quá lâu. Một lúc sau, Dương Lăng bị lắc, bị vỗ đến tê cả hai vai cũng đã rời khỏi điện Văn Hoa, chạy đến cung Càn Thanh.

Cung Càn Thanh là chính điện của cung đình, bề ngang có chín phòng, phía trong năm phòng, hai đầu là Đông Noãn các và Tây Noãn các. Vì Hoàng Đế Hoằng Trị trước đây thường xử lý tấu chương, giải quyết chính sự ở Đông Noãn các nên sau khi kế vị Chính Đức cũng thường làm việc ở đây.

Dương Lăng đi theo ngự lộ trước chính điện cung Càn Thanh, vừa tính vòng sang Đông Noãn các, đột nhiên Kim Đình Tử kêu "két" lên một tiếng, hai tiểu thái giám đẩy cửa điện, một hàng người từ bên trong bước ra ngoài.

Hai bên sân trước cung Càn Thanh dựng hai mái đình đúc đồng mạ vàng nằm trên bục đá, gọi là “Giang Sơn Xã Tắc Kim Điện” (đúng hơn là Đình) (6). Bốn mặt đình mỗi mặt lắp bốn cánh cửa ngăn, đặt trên mái hiên kiểu hình tròn chóp nhọn này là bảo đỉnh đúc đồng tao nhã, tượng trưng giang sơn xã tắc nằm chắc trong tay hoàng đế. Người trong cung đều gọi nó là Kim Đình Tử.

Nơi này xưa nay không cho phép người vào ngoại trừ thái giám quét dọn. Dương Lăng không khỏi chú ý liếc mắt nhìn. Y thấy hai tiểu thái giám cầm phất trần bước ra khỏi điện, đứng ở hai bên, theo sau là hai cung nữ phò tá một mỹ nhân thanh tú từ trong điện thong thả bước ra. Mỹ nhân này trán rộng eo thon, đôi mắt tinh xảo vừa vặn nhìn tới một thân quân phục của Dương Lăng.

Vừa nhìn thấy Dương Lăng, mỹ nhân vận cung trang đó liền ngẩn ra, sau đó trong ánh mắt loé lên một sự vui mừng, cặp mày ngài nhẹ tựa vầng trăng non trong phút chốc cũng nhướng cong lên. Dương Lăng nhận ra đây là Vĩnh Phúc công chúa, vội vàng bước lên một bước, đứng dưới thềm khom người bẩm:
- Thần Dương Lăng ra mắt công chúa điện hạ!

Hiện giờ hoàng huynh của Vĩnh Phúc công chúa đã làm Hoàng Đế, theo lễ nghi thì phải đổi lại gọi là trưởng công chúa nên Dương Lăng mới xưng hô như vậy. Trái tim của công chúa Vĩnh Phúc đập nhanh hơn. Nàng vốn giữ trong lòng một thứ tình cảm diệu kỳ với người thanh niên có thể xem là người đàn ông đầu tiên ở ngoài cung mà nàng gặp mặt này. Sau khi vào kinh Dương Lăng không bao giờ yên tĩnh, tin tức của y luôn được đám tiểu thái giám truyền vào hậu cung, rồi lại thông qua bọn cung nữ nhanh mồm nhanh miệng bên người nói cho nàng biết, cho dù muốn quên cũng không thể quên.

Những ngày trước, nghe nói vì vụ án đế lăng mà y phải vào ngục, công chúa Vĩnh Phúc thật sự hao tốn không ít tâm tư lo lắng. Chỉ có điều bất luận từ phương diện nào, nàng cũng không tiện và cũng không thể ra mặt nói lời cầu xin, chỉ có thể thầm mong ông trời phù hộ, có thể giữ lại tính mạng của y. Về sau Dương Lăng quả nhiên đại nạn không chết, thực khiến tiểu cô nương này vui sướng rất lâu.

Không ngờ hôm nay lại có thể gặp được người vốn nghĩ rằng khó có thể thấy mặt. Công chúa Vĩnh Phúc ngây ra một lát, rồi mới vui vẻ nở một nụ cười tươi, nói:
- Hoá ra là Uy vũ bá Dương đại nhân. Miễn lễ, bình thân!

- Tuân lệnh!
Dương Lăng đứng thẳng người lên, bộ dạng cung kính, không dám ngẩng đầu nhìn nàng. Công chúa Vĩnh Phúc thấy vậy trong lòng hơi mất mát. Gặp rồi thì sao chứ? Hai người tuy gần trong gang tấc nhưng lại như xa cách tận chân trời. Niềm vui trong mắt Vĩnh Phúc bất chợt ảm đạm đi một chút.

Ngay lúc này, một đạo sỹ bước ra sau lưng công chúa Vĩnh Phúc. Tiểu đạo sỹ này cùng lắm mới mười sáu mười bảy tuổi, ấy vậy mà mặc đạo bào của quan lại, đó là áo quan của triều thần có phẩm tước. Trên búi tóc đạo sỹ cài một chiếc móc bằng gỗ tử đàn, đầu đầy tóc đen như nhuộm, dung mạo thanh tú bất phàm, nhưng vì trẻ tuổi khôi ngô, nên trông không có chút vẻ tiên phong đạo cốt.

Gã vừa bước ra, sau lưng lại có một tiểu đạo đồng bước theo, trông nhỏ hơn gã tầm hai tuổi, mũi hình trái mật treo (7), mắt sáng như sao, xinh đẹp một cách kỳ lạ. Có điều y lại chỉ mặc đạo bào bình thường màu xanh tro.

Đạo sỹ lớn tuổi hơn liếc thấy dưới thềm là một vị tướng quân đang đứng thì cười mỉm dò hỏi:
- Vĩnh Phúc điện hạ, vị tướng quân đây là...?

Công chúa Vĩnh Phúc vội đáp:
- Vị này là Thống lĩnh thị vệ thân quân của hoàng thượng, Dương Lăng Dương đại nhân. Dương tướng quân, vị này là Hoằng Chiêm chân nhân.

Thấy công chúa Vĩnh Phúc đối đãi với gã thiếu niên này có phần cung kính, Dương Lăng vội khom người nói:
- Mạt tướng Dương Lăng ra mắt chân nhân.

Nhưng trong lòng y lại không khỏi lầm bầm “Chẳng phải từ sau khi hoàng đế Hoằng Trị xua đuổi phiên tăng, thuật sỹ thì đã không còn tin vào Phật lẫn Đạo nữa sao? Ai còn kiếm ra tên tiểu tử ranh này về giả thần giả quỷ thế nhỉ? Không ngờ dám đi thẳng vào nội cung, cùng công chúa đi vào Kim Đình Tử, xem ra rất được sủng ái.”

Công chúa Vĩnh Phúc thấy vẻ mặt Dương Lăng bình thản, biết y vẫn chưa biết thân phận người thiếu niên này, không nén được mỉm cười. Nàng khẽ nâng váy, thong thả bước xuống. Hai đạo sỹ, tiểu thái giám và đám cung nữ liền đi theo sau xuống thềm đá.

Công chúa Vĩnh Phúc đến trước mặt Dương Lăng, cất giọng mềm mại:
- Dương tướng quân! Vị chân nhân này là Chính Nhất Tự Giáo Trí Hư Xung Tĩnh Thừa Tiên Hoằng Chiêm chân nhân, chưởng quản việc đạo giáo của thiên hạ, là đại Thiên sư thứ bốn mươi tám của Long Hổ sơn. (8)

Dương Lăng giật thót mình “Hoá ra là quốc sư, thảo nào công chúa Vĩnh Phúc lại trọng đãi như vậy.”

Y không ngờ đường đường là quốc sư mà lại trẻ như vậy, thế là lại vội vàng quay sang Quốc sư làm lễ.

Sau lưng Quốc sư, tên tiểu đạo sỹ mặt như dát ngọc đó chen vào đứng cạnh công chúa Vĩnh Phúc, dùng cặp mắt đen láy tò mò đánh giá Dương Lăng trên dưới một lượt, sau đó nhíu cặp mày cong có phần giống như con gái, ngờ vực hỏi:
- Ngươi tên là Dương Lăng à? Là Dương Lăng kháng chỉ cứu vợ phải không?

Vị Hoằng Chiêm chân nhân tuổi tuy không lớn, song lại rất có khí thế. Y khẽ nhíu mày, mắng:
- Phù Bảo, lui xuống! Không được vô lễ.

Tiểu đạo sỹ nọ thè lưỡi, rồi lại thoắt lui về sau lưng y. Dương Lăng thấy tên tiểu đạo sỹ tên là Phù Bảo đó tùy ý đến gần cạnh công chúa, mà công chúa Vĩnh Phúc lại không hề tỏ vẻ tức giận thì không khỏi thầm lấy làm lạ. Thực ra, tuy vị thiên sư này phẩm quan không cao, cũng như ba vị đại học sỹ nội các đều là quan ngũ, lục phẩm nhưng quyền lực lại lớn vô cùng, không phải là những người có thể đắc tội bừa.

Y vội cười đáp:
- Đúng vậy! Kháng chỉ thì không dám, chỉ là dân gian đồn đại bừa bãi mà thôi. Điện hạ! Hoàng Thượng triệu kiến, muốn thần đi Đông Noãn các gặp người, thần phải đi đây.

Trong mắt công chúa Vĩnh Phúc vụt loé chút bịn rịn. Nàng hơi gật đầu, nhìn theo bóng lưng Dương Lăng rời đi, có phần ngẩn ngơ. Thế nhưng không ngờ vị Trương thiên sư kia nhìn theo bóng lưng Dương Lăng cũng đứng ngẩn ra, lông mày nhíu lại, dường như có chút đăm chiêu.

Công chúa Vĩnh Phúc rất nhanh phát giác ra sự thất thố của mình, khuôn mặt như bạch ngọc ấy không tự chủ nổi lên một áng mây hồng. Nàng chợt xoay người nói:
- Thiên sư đã cầu phúc xong rồi, có phải trở về hậu cung gặp mẫu hậu không?

- A?
Thiên sư Trương Ngạn Thạc đang gập ngón tay trong ống tay áo bấm đốt, nghe thấy công chúa Vĩnh Phúc dò hỏi, vội đáp:

- Không! Đến ngày đại hôn của Hoàng Thượng, tiểu đạo sẽ lại vào cung cầu phúc, hôm nay đến kinh sư đã lập tức đến bái kiến Hoàng Thượng và Thái Hậu trước rồi. Tiểu đạo muốn nhân dịp đi đến phủ Thành quốc công thăm viếng.

Đại thiên sư thứ bốn mươi bảy là Trương Nguyên Khánh phụng thánh dụ cưới con gái của Thành quốc công, được khâm thưởng mãng bào (9) đai ngọc, bản thân đã là quốc sư, lại là hoàng thích. Vị tiểu thiên sư này là con một của Trương Nguyên Khánh, cháu ngoại của Thành quốc công, cho nên đã đến kinh sư đương nhiên y sẽ phải đi thăm ông ngoại một phen.

Công chúa Vĩnh Phúc duyên dáng cười nói:
- Nếu đã như vậy, bổn cung sẽ về vậy. Tiểu An Tử, tiễn quốc sư rời cung.

Hoằng Chiêm chân nhân chắp tay vái công chúa Vĩnh Phúc, rồi đi theo một thái giám ra ngoài. Tiểu đạo sĩ tên là Phù Bảo nọ chạy lên sánh vai với gã, nhỏ giọng nói:
- Ca ca! Huynh vừa mới bấm đốt tính gì vậy? Có phải là tướng mạo của tên Dương Lăng đó có chút cổ...?

Hoằng Chiêm chân nhân bất chợt dừng chân, bịt lấy miệng y, nghiêm mặt trừng mắt, thấp giọng mắng:
- Im miệng, hoạ từ miệng mà ra đó!

Y nhìn lướt tên tiểu thái giám ở đằng trước, thấy gã không chú ý, mới thở phào một hơi, đoạn bỏ tay ra nói:
- Về rồi hẵng nói! Muội còn tiếp tục gây chuyện, huynh sẽ không dẫn muội ra ngoài nữa đâu!

Nói rồi y vội vã đuổi theo tên tiểu thái giám đi về phía trước.

Phù Bảo đứng ngây ra, bấm đốt ngón tay một lát, gãi gãi đầu ra vẻ khó hiểu rồi bước vội đuổi theo.

-----------





Chú thích:

(1) chỉ lục đại gian thần những năm cuối Bắc Tống, bao gồm: Thái Kinh, Vương Phủ, Đồng Quán, Lương Sư Thành, Chu Miễn, Lý Bang Ngạn, trong đó Thái Kinh đứng đầu.
(2) nguyên văn "nhân vật lưỡng phi"
(3) học phái Hoàng lão (Hoàng lão chi học) xuất hiện vào giữa thời Chiến quốc, là một học phái của Tắc hạ học cung ở nước Tề, với đại biểu là "Lão tử", kết hợp đạo gia và pháp gia.
(4) Dương Lăng muốn nói đến trận Phì thủy (Phì thủy chi chiến), một trận đánh nổi tiếng, đại diện cho tình thế dùng quân số ít đại thắng đội quân đông hơn.
Xem thêm http://vi.wikipedia.org/wiki/Trận Phì Thủy
(5) tên của Chu Nguyên Chương thuở nhỏ
(6) xem hình để rõ thêm http://img8.zol.com.cn/bbs/upload/8484/8483619_0800.jpg (mất rồi!)
(7) trong tướng pháp, đàn bà mũi trái mật treo (huyền đảm tị) có tướng vượng phu ích tử, thành danh và có tài quyền. Ở đây ý chỉ mũi đẹp.
(8) theo tra cứu, vị này hẳn là Trương Ngạn Vũ (trên wiki ghi là Trương Ngạn Phiến, nhưng phiên âm là yu3, không phải shan, pian, hay fan phải đọc Vũ chứ nhỉ), tự Sĩ Chiêm (1490 - 1550). Năm 1501, được Minh Hiếu Tông ban hiệu Chính Nhất Tự Giáo Trí Hư Xung Tĩnh Thừa Tiên Hoằng Hoá Đại Chân Nhân. Năm 1526, được Minh Thế Tông gia phong là Chính Nhất Tự Giáo Hoài Huyền Bão Chân Dưỡng Tố Thủ Mặc Bảo Quang Lý Hoà Trí Hư Xung Tĩnh Thừa Tiên Hoằng Hoá Đại Chân Nhân.
(9) một loại áo bào thêu con vật giống rồng nhưng chỉ bốn vuốt, kém rồng một vuốt. Xem hình http://a0.att.hudong.com/57/29/01300...98571535_s.jpg



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
29-05-2011, 02:23 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 109 - Chuyện Nhà Của Đế Vương



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Công chúa Vĩnh Thuần chợt chụp hộp mứt ném úp về phía Mã Vĩnh Thành, giậm chiếc hài cong giận dữ la lên:
- Được, được lắm! Huynh là Hoàng Thượng, huynh giết ta đi!
Nói rồi nàng nâng váy định lao ra ngoài.



------------------------

Chương 109 - Chuyện nhà của đế vương
------------------------
Trương Thiên sư đến từ Long Hổ sơn, mang theo ba mươi sáu đệ tử.

Một cỗ xe ngựa to lớn dừng bên ngoài cổng cung, Trương Ngạn Thạc leo lên xe, tiểu đạo đồng cũng tót lên theo. Vừa vào trong xe gã liền hạ rèm kiệu, dỡ mũ đạo sỹ ra, một mái tóc đen nhánh mượt mà trút xuống như thác, khuôn mặt anh tuấn lập tức tăng thêm vài phần dịu dàng xinh đẹp.

Vị tiểu đạo đồng này mắt như thu thuỷ, mày tựa tranh vẽ, tóc dài buông xoã, thì ra là một thiếu nữ.

Nàng căng thẳng nhìn anh trai, thấp giọng:
- Ca ca! Gã Dương Lăng đó có vấn đề à nha! Xem tướng mạo y là kẻ bạc phước chết yểu, thế nhưng giờ đây chẳng những hợp với mệnh cách cao sang khôn cùng, thọ phước còn rất cao, há chẳng kỳ quái ư?

Thiên sư Trương Ngạn Thạc cười khan vài tiếng rồi nói:
- Làm gì có chuyện đó? Có thể muội đã tính sai, hoặc cũng có thể là y đã làm được việc thiện nào đó khiến cho vận mệnh thay đổi. Bảo Nhi, chuyện này không nên nhắc đến nữa!

- Ồ?
Bảo Nhi đảo cặp mắt tròn xoe, ánh mắt quái dị mà đắc ý:
- Ý ca ca là đạo thuật mà cha truyền lại có vấn đề à? Thiên sư đạo của chúng ta đã được truyền lại hơn nghìn năm, chẳng lẽ đều là gạt người hay sao?

- Bảo Nhi!
Trương Ngạn Thạc nén giận, quắt mắc rầy em gái:
- Đừng khoe khoang chút đạo thuật đó của muội! Đại đạo thanh hư, thuật pháp tiểu kỹ (ý nói đại đạo rộng lớn khôn cùng, thuật pháp chỉ là tài vặt mà thôi). Thuật pháp của chúng ta chỉ dùng để tìm lành tránh dữ. Bậc minh triết (người thông thái, sáng suốt) hãy còn chưa thể tự bảo vệ mình; cải thiên nghịch vận, nhận biết quốc thế càng là việc xưa nay không thể làm được. Muội nhìn vị Dương tướng quân đó mắt sáng lòng trong, tuyệt không phải là kẻ gian nịnh, vậy là đủ. Nếu thật sự có người nghịch thiên cải mệnh, duyên thọ tăng phúc (1) cho y, loại đạo hạnh đó muội và huynh có thể đối phó được sao? Không lẽ muội còn muốn cầm Đào Mộc kiếm (2) xông vào hoàng cung tróc nã yêu ma ư?

(1) duyên thọ tăng phúc nghĩa là kéo dài tuổi thọ và tăng thêm sự tốt lành.
(2) Kiếm trừ ma quỉ làm bằng gỗ đào. Người Trung quốc tin cành đào có thể trừ được điều bất tường nên đến tết, nhà nhà đều cắm cành đào trước cửa.

Tuổi tuy chưa cao, song tính tình Tiểu thiên sư lại hết sức thận trọng, y nén giọng bảo tiếp:
- Ta vốn là người nhàn tản giang hồ, cần gì chứ? Được vua ban thưởng ư? Họa phước không hình không tướng, tự người tác nghiệt mà ra (3). Chuyện của hoàng gia không cần phải chen vào, cũng không cần nhắc đến, đó không phải là thứ mà chúng ta chạm đến được.
(3) nguyên văn "hoạ phúc vô môn, vi nhân tự triệu" hay "hoạ phúc vô môn duy nhân tự chiêu" trích trong "họa phúc vô môn, duy nhân tự triệu; thiện ác hữu báo, như ảnh tùy hình" (thiện ác đáo đầu, như bóng với hình)

Vương triều họ Chu trước nay khắc nghiệt vô cảm. Chu Nguyên Chương dựa vào tôn giáo lập nghiệp, rất sợ người khác cũng học theo cho nên lão ta rất kiêng kị hai giáo phái đạo, tăng.

Bất kể là người nào chiếm giữ được giang sơn đều rất là kính trọng Trương Thiên sư của Long Hổ sơn và Khổng thánh nhân của Khúc Phụ (*). Chu Nguyên Chương cũng không dám phá lệ, nhưng lại thi hành quốc sách hạn chế hai nhà Phật, Đạo phát triển thế lực. Do lo ngại thế lực bọn họ phát triển, đến cả quyền phát hành độ diệp (4) của Long Hổ sơn cũng bị đưa về Đạo Lục ty ở kinh thành quản lý. Tiểu thiên sư nào dám huênh hoang?

(*) Khúc Phụ là quê hương của Khổng Tử, nằm ở tỉnh Sơn Đông.
(4) thẻ chứng nhận là tăng lữ do nhà chùa phát hành, hoặc chứng nhận là đạo sĩ do đạo quán phát hành.

Huống chi chuyện quỷ thần thực sự rất mù mờ. Kẻ làm Hoàng Đế luôn luôn mong muốn người khác đều tin vào quỷ thần, như vậy mới có lợi cho y ngồi vững trên ngai vàng. Nhưng y lại không hề muốn có một người thật sự biết phép thuật xuất hiện ngay trước mặt, đó là thứ sức mạnh mà ngay cả vương quyền cũng không thể quản thúc, nên tất nhiên y sẽ nghĩ cách để loại trừ. Lý luận này dòng dõi Trương thiên sư đã sớm nằm lòng, cho nên bọn họ cố hết sức làm ra vẻ cầu phúc cho hoàng gia. Bọn họ không sợ bị Hoàng Đế khám phá việc mình cầu phúc là giả, nhưng lại không dám để cho ông ta phát hiện được chút bản lĩnh thật của mình.

Hơn nữa, tuy bọn họ có thể biết được vận mệnh của một người, nhưng cũng chưa hẳn là đã có thể thao túng được vận mệnh của kẻ đó. Mà vận mệnh quốc gia lại càng có nhiều biến số, quyết không phải là thứ mà đạo thuật có thể trộm biết được thiên cơ. Không ngờ người có tướng mạo quái dị như Dương Lăng lại xuất hiện trong triều đình, ai biết là họa hay là phước? Đương nhiên cứ tránh đi cho lành.

Bọn họ sống trên Long Hổ sơn ở Giang Tây. Mấy năm nay, Ninh Vương ở Giang Tây từng nhiều lần sai người đem ngày sinh tháng đẻ của con lên núi xin Trương thiên sư bói quẻ, tính toán vận mệnh cho con trai mình. Ninh vương là Vương gia thế tập, con y dĩ nhiên cũng là Ninh Vương, còn đoán số làm quái gì? Mặc dù sứ giả của Ninh Vương luôn miệng giải thích là con y từ nhỏ bệnh nhiều, bản thân làm cha vô cùng lo lắng nên phải mời thiên sư bói toán, nhưng dã tâm của y lại không qua mắt được vị tiểu thiên sư này.

Nếu không phải vì Dương Lăng mặt mày chính khí, Trương Ngạn Thạc cũng đã hoài nghi y là thám tử của vị Phiên Vương nào đó sai vào kinh. Tuy y là thiên sư, nhưng cũng không biết đám mây nào sẽ có mưa. Năm xưa Yến Vương Tĩnh Nan không phải đã thành công đó sao (5)? Ai biết bây giờ Dương Lăng thực sự là người của nhà nào! Đối với loại sự việc này, giả vờ ngu ngơ không dính vào là tốt nhất.

(5) tích xưa kể rằng Yến Vương Chu Đệ giả điên, âm thầm chiêu binh mãi mã để đánh lạc hướng Kiến Văn Đế, sau tuyên bố khởi binh, lật ngôi Chu Doãn Văn Kiến Văn Đế.

Có điều y rất yêu thương đứa em gái này. Thấy giọng điệu nghiêm khắc của mình đã gây nên không khí nặng nề, y vội vàng hoà nhã an ủi mấy câu.

Lại nói đến Trương Phù Bảo, tuy là con gái, lại do vợ lẽ của Trương thiên sư sinh ra, thế nhưng địa vị của nàng ở Long Hổ sơn rất là đặc biệt.

Đại thiên sư đời thứ bốn mươi sáu là Trương Vô Cát từng bị người ta tố cáo gây hại ở địa phương, cậy thế ức hiếp chiếm đoạt dân nữ, bị Hoàng Đế đày đi tha hương. Kế thừa chức vị của anh mình, Trương Nguyên Khánh luôn hành sự khiêm tốn, tuân thủ pháp luật, không dám làm bừa, cũng không dám khoe khoang tiên thuật, chỉ thật thà an phận đảm trách chức vị thiên sư.

Nhưng vào năm Hoằng Trị thứ tư, Hoàng Đế sai thái giám đến Long Hổ sơn ban ấn thưởng phù. Vị thái giám nhất thời cao hứng, mượn lời thánh dụ yêu cầu Trương Thiên Sư cầu cho tuyết rơi, hạc bay đầy trời để làm điềm cát tường. Muốn gọi trăm hạc đến lượn quanh, thiên sư tự có biện pháp của mình, nhưng nếu muốn trời đổ tuyết thì thật sự có phần làm khó lão.

Bất chấp khó khăn, Trương thiên sư chọn ngày lành tháng tốt, tổ chức lễ đàn niệm chú vẽ phù cầu khấn một phen. Cũng không biết là do lão biết khí tượng hay là do may mắn mà quả nhiên hôm đó trời đổ tuyết lớn, thật là nở mày nở mặt.

Đến khi lão trở về Triều Thiên cung, mới hay người vợ lẽ thứ tư là Lưu Thị vừa mới hạ sinh một bé gái. Trương Nguyên Cát cho rằng đứa bé gái này đã mang may mắn cho lão nên hết sức yêu thương đứa con gái do vợ lẽ sinh ra này, đặt tên là Phù Bảo (nghĩa là bảo bối mang đến điềm tốt), thường xuyên dẫn theo bên mình, địa vị khác xa những đứa con vợ lẽ khác. Nàng và người anh trai này chơi thân với nhau từ nhỏ cho đến lớn, vì vậy rất quý mến nhau.

Nhưng lần này Trương Phù Bảo thấy anh trai mình nghiêm mặt mắng nàng không biết điều, chuyện này xưa nay chưa từng xảy ra nên Trương Phù Bảo cũng phát hoảng, không dám nói bậy bạ nữa.

Xe đến trước phủ Thành quốc công, sớm đã có người chạy đi báo tin trước. Trương Ngạn Thạc là cháu ngoại của Thành quốc công, tuy hắn là quốc sư nhưng lại dùng thân phận thân thích đến viếng thăm, không có lý bề trên lại ra nghênh tiếp, nên lão cử hai người anh họ của hắn là Chu Hạ Nghĩa và Chu Hạ Lễ làm đại diện ra đón.

Thành quốc công càng già càng dẻo càng dai nên tuổi tác con cái chênh lệch nhau rất nhiều, người lớn nhất cũng đã sáu mươi còn đứa nhỏ nhất chỉ mới mười bốn. Con gái gả cho Trương thiên sư năm nay mới vừa ba mươi ba.

Hai vị biểu ca nghênh tiếp huynh muội thiên sư vào phủ, vừa đi vòng qua bức bình phong đã thấy một người đàn ông mặt mày đỏ au nồng nặc mùi rượu, được người dìu thất tha thất thểu bước ra, suýt nữa đâm sầm vào người Trương Ngạn Thạc.

Chu Hạ Nghĩa chau mày, hỏi người đàn ông trạc ba mươi đang dìu gã say đó:
- Lục ca! Tiết huynh lại uống say nữa à?

Vị Lục ca "À" một tiếng rồi cười nói:
- Lúc nào y về mà chẳng say? Không cần lo đâu, ta sẽ đưa y về.

Nhìn thấy huynh muội Trương Ngạn Thạc bận đạo bào, biết là biểu đệ và biểu muội vừa tới, y bèn tươi cười:
- Huynh đưa vị bằng hữu này về phủ, biểu đệ biểu muội hãy lên chính sảnh, gia gia đang chờ gặp hai người đó.

Trương Ngạn Thạc chắp tay mỉm cười, đưa mắt tiễn hai người bọn họ. Trương Phù Bảo đưa tay vào chậu hoa cạnh bờ tường ngắt một đoá hoa to bằng cái chén lên ngửi, rồi hỏi:
- Biểu ca! Ông ngoại là võ tướng nên những người mà các huynh kết giao cũng đều thật là hào sảng đó. Mỗi lần bạn bè các người đến phủ đều uống đến say bí tỉ như vậy sao?

Chu Hạ Lễ bật cười đáp:
- Tiết huynh không phải là võ tướng, mà là tiến sỹ Đầu Giáp (6) năm Hoằng Trị thứ sáu, là một đại tài tử.
(6) Đầu giáp là đệ nhất giáp. Tiến sỹ sau khi thi Đình chia ra làm ba loại là Đệ Nhất Giáp, Nhị Giáp và Tam Giáp. Đệ Nhất Giáp chỉ có ba người Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa, được gọi là "Tam khôi".

Chu Hạ Lễ vừa nói vừa lắc đầu một cách bất đắc dĩ, đoạn thở dài nói:
- Chỉ là từ dạo cưới Ninh Thanh công chúa, làm Đô uý phò mã, than ôi... Thôi không nhắc đến chuyện này nữa! Vào thôi!

Huynh muội Trương Ngạn Thạc kinh ngạc nhìn nhau, rồi nối gót bọn họ vào trong.

* * *

Dương Lăng vào đến Đông Noãn các. Cốc Đại Dụng tinh mắt, vừa thấy y đến vội vàng cười hềnh hệch ra đón:
- Dương đại nhân đến rồi! Hoàng Thượng đang chờ đại nhân đó, nhanh lên nhanh lên!

Cái chủ ý để Dương Lăng tham dự Kinh Diên là do lão đưa ra. Quả nhiên hôm nay Dương Lăng đã làm cho một đám quan văn rúng động, khiến Hoàng Thượng Chính Đức khoái chí mặt mày tươi rói, đương nhiên lão cũng hết sức phấn khởi, mình cũng được thơm lây vậy.

Chính Đức vừa thấy Dương Lăng, khuôn mặt anh tuấn liền đỏ bừng hào hứng. Y hồ hởi:
- Dương thị độc! Đến đây, đến đây, ban cho ngồi. Ha ha ha, hôm nay trẫm thực là vui, thấy mấy lão già ngày thường như một đám ruồi nhặng bâu trước mặt trẫm nay lại không nói được một câu nào, thực sự khiến trẫm mắc cười gần chết. Lần này trẫm muốn thăng quan cho khanh, ta xem còn ai dám phản đối.

Dương Lăng mỉm cười làm lễ với Hoàng Thượng rồi đáp:
- Nhờ hồng phúc của Hoàng Thượng, vi thần cũng chỉ là may mắn vượt ải mà thôi. Hoàng thượng yêu mến vi thần, vi thần ghi khắc trong lòng. Nhưng thần trẻ tuổi, kiến thức hạn hẹp, nếu cứ thăng bừa làm công khanh ở Lục Bộ, quả thực sẽ như trò đùa. Chỉ dựa vào một hội Kinh Diên thôi, các đại thần sẽ không chịu phục. Cho dù là thần tiếp nhận đi chăng nữa, cũng không dám khẳng định mình cáng đáng nổi trách nhiệm này.

Y vừa nói xong, chẳng những Chính Đức mà cả Cốc Đại Dụng, Mã Vĩnh Thành và Lưu Cẩn, ba người hầu bên cạnh Chính Đức cũng sững người. Lưu Cẩn dẫu gì cũng đọc qua dăm ba quyển sách, vội vàng lên tiếng khuyên nhủ:
- Cam La mười hai tuổi đã được bái làm Thượng khanh, sao Dương đại nhân không thể làm thượng thư bộ Hình chứ? Có đương kim hoàng thượng hộ giá cho đại nhân, chỉ mấy quan văn phản đối thì có gì mà phải sợ?

Cày cuốc ôn luyện cả đêm, thực sự Dương Lăng đã thu được không ít tiến bộ về tri thức lịch sử này, biết câu chuyện về "Cam La bái tướng" (7). Y thầm nhủ: "Cam La mười hai tuổi được bái Thượng khanh à? Y mười hai tuổi bị chém đầu thì có. Ông đưa ví dụ này ra khiến ta không thoải mái tí nào."
(7): Cam La bái tướng: Tích thời Đông Châu Liệt Quốc (xem Đông Châu Liệt Quốc, chương 104). Cam La 12 tuổi đã được phong thượng khanh (thời đó, chức thượng khanh gần bằng Thừa Tướng nên mới có câu “Cam La (được) bái tướng”), sau đó không bệnh mà mất sớm.
Nhưng lại có thuyết Cam La bị giết trong một vụ biến loạn cung đình.

Đối với việc được tùy tiện tấn phong làm Thượng khanh, Dương Lăng vẫn lo lắng do dự. Hôm nay thấy rõ thái độ của văn võ bá quan trên triều, y càng kiên quyết giữ vững ý mình.

Nếu chỉ luận thanh danh, Dương Lăng giờ đây thật như mặt trời đứng bóng. Hơn nữa trong đại nội có Hoàng Thượng, ngoài cung có Cẩm y vệ làm hậu thuẫn, giờ lại chiếm được sự tin cậy của một đám võ tướng, Dương Lăng cho rằng dù bản thân có chết đi, được những mối quan hệ giao tiếp này chiếu cố, có bổng lộc của Uy vũ bá, cũng đủ để Ấu Nương... và hai người Tuyết Nhi, Ngọc Nhi mà y phụng dụ cưới về không phải lo lắng cái ăn cái mặc nữa.

Nhưng nếu như thật sự làm thượng thư, y liền sẽ bị cuốn vào giữa vòng tranh chấp quyền lực cùng đám quan văn. Qua một năm, quan hệ cũng vừa thiết lập xong thì mình cũng ra đi rồi, Ấu Nương sẽ làm sao đây? Người cầm bút không phải đều là hạng thiện lương, nếu khi đó lại có kẻ đến đâm bị thóc chọc bị gạo, thánh quyến (*) có còn được như xưa không?
(*) được vua yêu quý thì gọi là thánh quyến

Mang nỗi lo canh cánh trong lòng, Dương Lăng đã quyết định bất kể Kinh Diên hôm nay biện luận hay dở ra sao, y phải kiên quyết từ chối không nhận chức vụ thượng thư bộ Hình.

Từ khi tân hoàng đăng cơ, tiếng tăm và quyền lợi của đám người Lưu Cẩn đều đã cao hơn lúc trước rất nhiều. Mấy tên vốn không có chí lớn này cũng đã rất là thoả mãn. Có điều chặn ngang trên đầu bọn họ là một lão già Vương Nhạc. Thấy bọn họ bầy trò mua vui khiến cho Hoàng Thượng hư hỏng, thỉnh thoảng lão lại đi mắng bọn họ một trận, thành ra bọn họ rất khó chịu.

Cả bọn thầm tính nếu như được một người ngoài cung có quan hệ mật thiết với bọn họ như Dương Lăng làm Thượng khanh, giữ chức thượng thư, cuộc sống của bọn họ cũng có thể dễ thở hơn. Cho nên vừa nghe Dương Lăng không muốn làm quan thì cả bọn lập tức nhao nhao lên khuyên bảo không ngừng; thật khớp với câu ngạn ngữ "Hoàng Đế còn chưa vội, thái giám đã quýnh lên".

Không thể nói rõ những tính toán của mình, Dương Lăng đành phải làm ra vẻ thành thật tâu với Chính Đức:
- Hoàng Thượng! Người vừa lên ngôi báu, lúc này nên nghĩ cách giành lấy sự ủng hộ của bá quan mới phải. Trước đây Hoàng Thượng vì vi thần mà đã giáng chức ba vị thượng thư. Chỗ tốt là nhờ thế Hoàng Thượng đã lập uy, chỗ xấu là Hoàng Thượng vừa mới lên ngôi chí tôn, liền đã giáng chức đại thần, khó tránh bá quan không phục. Giờ đây nếu lại phá lệ đề bạt vi thần, các đại thần sẽ nghĩ sao? Không chừng bọn họ sẽ lo rằng Hoàng Thượng muốn đổi hết toàn bộ cựu thần, như vậy sẽ bất lợi cho triều chính đó.

Chính Đức nghe Dương Lăng nói hợp tình hợp lý như vậy, trong lòng vô cùng cảm động: "Phụ hoàng quả nhiên mắt sáng như sao (nv: tuệ nhãn như cự), Dương thị độc này không hề có chút dã tâm. Mang đến cho y chức quan lớn như vậy mà y cũng không đoái hoài, chỉ một lòng một dạ lo nghĩ cho trẫm."

Tâm tính trẻ con là vậy, ai đối xử tốt với nó, đương nhiên nó sẽ nóng lòng muốn trao hết tất cả lợi ích cho người ta. Dương Lăng vừa nói xong, hắn càng cảm thấy nếu không phong cho y chức quan thật to thì sẽ không khỏi có lỗi với trung thần của mình. Nhưng Dương Lăng nói cũng rất có lý, vậy trao cho y chức quan nào mới thích hợp đây?

Đang lúc Chính Đức nhíu mày suy nghĩ cân nhắc, một tiểu cô nương xinh đẹp mặc váy xanh đã nổi giận đùng đùng xông vào, không thèm liếc xem người đứng ở bên là ai, nàng chỉ sấn sổ nói với Chính Đức:
- Hoàng huynh! Ai đời Công chúa Ninh Thanh bị một tên gia nô ức hiếp phải khóc lóc không ngừng, thực đâu lại có chuyện như vậy được!?! Hoàng huynh không thể bàng quan với cái kết cục đáng xấu hổ này được!

Vừa nhìn thấy người con gái váy xanh lỗ mãng xông vào chính là công chúa Vĩnh Thuần, Dương Lăng vội vàng bước lên làm lễ, mấy người Lưu Cẩn cũng thi nhau quỳ xuống. Khuôn mặt xinh xắn đang đỏ bừng vì giận, công chúa Vĩnh Thuần cũng không thèm để ý đến bọn họ, cặp mắt tròn xoe đầy uất ức nhìn chằm chằm vào Chính Đức không rời.

Chính Đức rất yêu mến người ngự muội tinh nghịch hoạt bát này. Thấy nàng giận đến thở hổn hển thì hắn vội vàng đứng dậy cười ha hả, nói:
- Công chúa Ninh Thanh à? Đã xảy ra chuyện gì vậy? Xem muội giận kìa! Lại đây, hoàng huynh mới có mức táo Kim ti của Thương Châu vừa dâng tới, muội lại nếm thử đi! Có gì thì từ từ hãy nói.

Bản thân Hoàng Đế Chính Đức không có điểm nào ra dáng hoàng đế, tiểu công chúa Vĩnh Thuần cũng không giác ngộ mấy về thái độ của thần tử đối với người hoàng huynh vừa mới đăng cơ này. Nàng dẩu cái miệng xinh xắn, hầm hầm bước qua ngồi lên chỗ cao hơn vị trí của Chính Đức (*), rồi vỗ bàn nói:
- Ninh Thanh cô cô từ nhỏ đã rất yêu thương chúng ta, bây giờ hoàng huynh đã làm tới Hoàng Đế, phải đỡ lưng cho người.
(*) Theo lễ nghi, người có vai vế thấp hơn phải ngồi ở phía dưới.

Hôm nay Tiết phò mã vào cung thăm hoàng cô, không ngờ bị nữ quan phủ công chúa đuổi đi, khiến cho cô cô giận đến trào nước mắt. Nhưng khi người tìm đến Thái hoàng thái hậu kể khổ, Thái hoàng thái hậu lại mắng người không biết giữ lễ. Muội thật tức quá đi.
Kể xong, Công chúa Vĩnh Thuần nhón lấy một miếng mứt táo ở trong hộp cho vào miệng tức tối nhai.

Mã Vĩnh Thành nay đã làm tổng quản đại nội, nghe công chúa Vĩnh Thuần kể lại như vậy xong, sắc mặt lão không khỏi có chút hoảng sợ. Lão liền đảo mắt, ghé bên tai Chính Đức nói nhỏ mấy câu.

Chính Đức nghe xong bèn góp ý với công chúa Vĩnh Thuần:
- Ờ... Hoá ra chuyện là như vậy! Trong cung có quy củ của trong cung, cho dù là phò mã cũng không thể phá bỏ quy củ được, nếu không sao Thái hoàng thái hậu lại có thể trách mắng hoàng cô chứ? Đúng là chuyện bé xé ra to.

Công chúa Vĩnh Thuần đứng phắt dậy, chỉ tay vào Chính Đức, giọng run rẩy:
- Huynh... huynh...
một hồi, rồi trào nước mắt không nói thành lời.

Mã Vĩnh Thành ở bên cạnh đằng hắng một tiếng, giọng âm hiểm:
- Điện hạ! Hoàng Thượng là hoàng huynh của người, cũng là quân thượng của người, mong người hãy để ý đến lễ nghi của thần tử.

Công chúa Vĩnh Thuần chợt chụp hộp mứt ném úp về phía Mã Vĩnh Thành, giậm chiếc hài cong giận dữ la lên:
- Được, được lắm! Huynh là Hoàng Thượng, huynh giết ta đi!
Nói rồi nàng nâng váy định lao ra ngoài.

Thấy Mã Vĩnh Thành mặt mũi dính đầy mứt hoa quả, trên đầu còn đội mấy miếng mứt, cặp lông mày và đôi ngươi Chính Đức đảo tới đảo lui, cố nén không cười thành tiếng. Hắn thấy tiểu hoàng muội giận đến run người, vội hoà giải:
- Được rồi, được rồi! Để hoàng huynh giúp muội, được chưa?

Ngoái đầu nhìn thấy Dương Lăng, hắn không khỏi mừng rỡ gọi:
- Dương thị độc! Khanh cùng đi với hoàng muội một chuyến, xem thử đã xảy ra chuyện gì. Chỉ cần làm cho hoàng muội vui vẻ là được, để nàng ấy khỏi phải ném đồ của trẫm nữa.

Dương Lăng giật mình, vội đáp:
- Vi thần là ngoại thần, đây hình như là tránh nhiệm của phủ Nội Vụ mà?

Chính Đức bực mình phán:
- Không sao đâu, không sao đâu! Dù sao trẫm cũng đã bẩm với Thái hoàng thái hậu rồi. Đại hôn của trẫm sẽ do bộ Lễ và phủ Nội Vụ cùng tổ chức, việc tuyển dụng nhân sự này sẽ do Hồng Lư Quan, Ôn Tắc An của bộ Lễ và khanh đảm nhiệm. Bây giờ khanh sẽ phải thường xuyên ra vào đại nội hoàng cung đó.

Nói đến đây như chợt nhớ ra điều gì, Chính Đức bèn tháo chiếc ngọc bội hình rồng giắt ở bên hông xuống đưa cho y, rồi bảo tiếp:
- Nội cung không như ngoại cung, thẻ bài bình thường không thể vào được. Trước tiên khanh hãy mang miếng ngọc bội này của trẫm đã.

Công chúa Vĩnh Thuần vẫn chưa khô nước mắt, bờ mi mượt mà, cặp mắt to tròn trong veo chớp chớp nhìn Dương Lăng một hồi, rồi chợt kêu lên:
- Ta nhận ra ngươi rồi! Sao ngươi lại mặc khôi giáp vào cung Càn Thanh vậy?

Tiểu công chúa Vĩnh Thuần chỉ cao tới ngang ngực Dương Lăng. Cũng không biết là vì tuổi còn nhỏ chưa hiểu cái gì là nam nữ cách biệt hay là vì bị người cha tốt bụng đó của nàng chiều hư, không ngờ nàng đến sát trước mặt Dương Lăng rờ rờ mảnh giáp trên ngực y một hồi, rồi tặc lưỡi khen:
- Nhìn không ra, thật là rắn chắc, chịu hai mươi gậy nhất định sẽ không sao. (B_V: Chà, hai mươi gậy không sao, còn ba mươi gậy??!:012:)

Tiểu cô nương vừa đến sát bên, hương thơm mê người liền ùa tới, Dương Lăng không khỏi lúng túng lui lại một bước. Cốc Đại Dụng há hốc miệng ra, vừa tính nhắc nhở "Vĩnh Thuần điện hạ hãy chú ý đến khuôn phép của công chúa", nhưng nhìn thấy miếng mứt khô trên đầu Mã Vĩnh Thành, còn vị Hoàng Đế ca ca nóng tính của nàng cứ như là một kẻ bàng quan, vẫn bình chân như vại không hề phản đối, lão bèn thức thời không lên tiếng nữa.

Lần trước Dương Lăng bị chính cô nhóc này ép chui ra làm con dê thế tội cho công chúa Vĩnh Phúc, bị Hoàng Đế Hoằng Trị nổi trận lôi đình kéo ra ngọ môn đánh cho ba mươi gậy. Nay hoàng đế "già" đã đổi thành hoàng đế "trẻ", vị tiểu công chúa này lại càng không kiêng nể ai; nhìn thấy cô nhóc ranh này, thật sự y cảm thấy hơi sợ.

Công chúa Vĩnh Thuần duỗi tay ấn lên ngực y một cái, hài lòng:
- Tốt lắm! Ngươi hãy mặc bộ đồ liền thân này, cùng bổn công chúa đến phủ Thập vương dạy dỗ cái đám gia nô càn quấy đó.

Chính Đức đưa cây quạt tròn lên che miệng, ho khan hai tiếng, nháy mắt với Dương Lăng, ra hiệu y mau đưa tiểu sát tinh này đi, song khoé miệng lại ậm ờ nói:
- Sự việc quan hệ đến thể diện hoàng gia, đi xem thử chuyện gì đã xảy ra, mọi việc đã có trẫm làm chủ.

Rốt cuộc ở phủ của vị công chúa Ninh Thanh này đã xảy ra chuyện gì thế?

Thì ra sau khi lấy chồng, công chúa triều Minh không được ở cùng một chỗ với chồng mà phải dời vào phủ Thập vương ở trong cung, một mình một điện. Hoàng Đế chỉ phái một nữ quan trong cung phụ trách ăn uống ngủ nghỉ cho công chúa, cho dù công chúa muốn gặp phò mã cũng phải được sự đồng ý của vị nữ quan này, bằng không đừng hòng phò mã bước qua được cửa cung.

Vì viên nữ quan này do Hoàng Đế sai phái, đồng nghĩa với việc phụng chỉ khâm sai, nên cho dù là công chúa cũng không dám đắc tội với ả, lại càng không tiện đi nói với Hoàng Đế là mình muốn gặp trượng phu. Cho nên khi chưa kết hôn thì công chúa là một cánh phượng hoàng, nhưng một khi đã cưới phò mã rồi thì lại phải chịu rất nhiều uất ức. Để phu thê có thể gặp nhau được một lần, rất nhiều công chúa phò mã phải bỏ ra rất nhiều vàng ròng bạc nén hối lộ nữ quan, thành thử nữ quan càng lúc càng kiêu ngạo.

Vào thời Minh, bất luận anh có học vấn cỡ nào, một khi cưới công chúa trở thành phò mã, anh sẽ phải chấp nhận từ bỏ mọi chức quan mà sống một mình tại phủ phò mã. Một số còn có thể được nhận làm công việc lặt vặt ở phủ Tông Nhân (8), nhưng đại đa số lại chỉ có thể lĩnh bổng lộc mà không được chức quan nào. Thực là sống như kẻ goá vợ: đã không được nạp thiếp lại không dám ra vào chốn lầu xanh (không phải lauxanh.us a hèm:045:).
(8) phủ Tông Nhân (Tông Nhân phủ) là tên một phủ trong cung đình, chuyên quản lý gia phả dòng họ hoàng thất.

Hơn nữa, một khi công chúa qua đời, hoàng gia sẽ thu hồi toàn bộ tài sản và phủ đệ đã ban tặng. Quyền thế của những vị phò mã này thậm chí không bằng của một tên quan nhỏ, mà phần lớn những nữ quan đó lại thường xuyên biếu tặng tiền tài cho những đại thái giám có quyền trong cung, được người chống lưng, thế nên phò mã cũng không làm gì được bọn họ.

Mã Vĩnh Thành đã nhận tiền đút lót của nữ quan phủ công chúa Ninh Thanh. Lão biết nữ quan này chê tiền đút lót của vợ chồng công chúa ít nên cố ý làm khó việc phu thê người ta gặp nhau, vì vậy vừa nghe công chúa Vĩnh Thuần muốn tìm nữ quan đó kiếm chuyện, lão liền nói nhỏ với Chính Đức mấy câu. Lão bảo Tiết phò mã thường xuyên chưa được phép đã tự tiện ra vào hoàng cung, làm tổn hại đến thể diện hoàng gia, rằng nữ quan nọ chỉ làm theo luật lệ, khuyên Hoàng Đế không cần xen vào chuyện giữa những người phụ nữ trong cung này.

Vĩnh Thuần tính tình tinh quái, sao lại không hiểu ý tứ trong lời hoàng huynh. Nàng chun mũi, cũng chẳng phản bác, vừa thầm nghĩ cách vừa hừ nhạt một tiếng, nói:
- Đi thôi! Theo bổn công chúa đến phủ Thập vương.

Dương Lăng không thể thoái thác, đành phải đi theo nàng xử lý chuyện nhà hoàng đế. Công chúa Vĩnh Thuần bước ra khỏi cung Càn Thanh, uyển chuyển men theo hành lang uốn khúc đến một nơi vắng vẻ. Nàng đưa mắt khẽ liếc chung quanh rồi chợt dừng chân, xoay người lại, nhìn Dương Lăng mỉm cười, hỏi:
- Bổn công chúa nghe nói... mấy ngày trước suýt nữa thì ngươi đã bị hoàng huynh chém đầu hả?

Nhìn thấy vẻ mặt của cô nàng, Dương Lăng không nhịn được phải cẩn thận lui lại một bước, thận trọng đáp:
- Dạ, vi thần bị người hãm hại, nhất thời không cách nào biện bạch. May mà Hoàng Thượng thánh minh, vi thần mới có thể thoát ngục.

Công chúa Vĩnh Thuần chắp tay sau lưng, gật gù ra vẻ bà cụ non:
- Ừ, tự cổ có câu ”làm bạn với vua như đùa với hổ”, Dương đại nhân giờ chắc hẳn đã có thể lĩnh hội sâu sắc rồi nhỉ?!

Dương Lăng cảm thấy vẻ mặt của vị công chúa Vĩnh Thuần này hơi hơi kỳ quái, trong lòng lờ mờ cảm nhận mối nguy. Loại con gái được nuông chiều từ bé này vốn không dễ hầu hạ, mà cô nhóc này lại là công chúa. Dương Lăng thật sự nhức đầu khi giao tiếp với loại con gái như vầy.

Công chúa Vĩnh Thuần đảo tròn đôi mắt, đoạn chậm rãi nheo mắt lại, trên khuôn mặt ngây thơ hiện rõ chữ "ta muốn hãm hại ngươi", ranh mãnh hỏi:
- Bị người ta hãm hại đáng sợ lắm phải không? Mùi vị bị lôi ra đầu chợ có dễ chịu không?

Vĩnh Thuần cười gian xảo nói tiếp:
- Ngươi nghĩ rằng ta không hiểu được ý tứ vừa rồi của hoàng huynh ư? Ta nói cho Dương đại nhân hay, nếu như ngươi không giúp cô cô ta trút giận, ta không cần đưa ngươi ra đầu chợ, bổn công chúa sẽ trực tiếp gọi Cẩm y vệ bắt ngươi chém đầu tại chỗ!

Dương Lăng cười gượng gạo đáp:
- Công chúa điện hạ! Dù thế nào cũng phải để vi thần biết rõ nguyên nhân hậu quả mới đưa ra quyết định chứ? Vi thần chết không đáng tiếc, nhưng lạm sát đại thần, thật sẽ gây trở ngại đến tiếng thơm của công chúa đó.

Miệng thì nói vậy, nhưng trong lòng Dương Lăng không khỏi thầm kêu khổ: "Thật đúng là anh em ruột cùng cha cùng mẹ mà. Anh của cô nàng xách bảo kiếm đuổi giết Thọ Ninh hầu khắp cung, bây giờ vị tiểu công chúa này lại muốn truy sát Dương tham tướng mình hay sao?"

Công chúa Vĩnh Thuần chợt cười "phì" một tiếng như hoa xuân nở rộ. Tuy cô nàng tuổi còn nhỏ, nhưng lúc này đắc ý cười, trông lại hết sức tao nhã, cử chỉ cũng cực kỳ đáng yêu. Cô nàng cười mím chi hỏi lại:
- Trở ngại cái gì mà trở ngại? Nếu như ta bảo ngươi gan lớn trùm trời, vô lễ với bổn công chúa, ngươi nghĩ xem có đủ tội chém đầu không?

Dương Lăng vừa nghe liền giận tím mặt. Đột nhiên thấy Dương Lăng quắc mắt, khí thế giận dữ bộc phát ngút trời, cô nàng tiểu công chúa sợ hãi phải lui lại một bước. Nàng biết Dương Lăng quan hệ thân thiết với những nội quan nọ, e rằng y sẽ hành động theo tư tâm nên mới giả bộ doạ nạt y. Nào biết vừa nói lời này, Dương Lăng đã xem cô nàng như mỹ nhân độc địa coi mạng người như cỏ rác.

Cố dằn cơn giận, Dương Lăng khép hờ mắt, điềm nhiên đáp:
- Công chúa điện hạ là lá ngọc cành vàng, con rồng cháu phượng. Vi thần đã là gì chứ? Hoàng thượng đã phái thần đi làm chuyện này, vi thần đương nhiên sẽ xử lý công bằng. Nếu như lẽ phải không nằm bên phía điện hạ, chỉ mong công chúa điện hạ có thể lượng thứ cho vi thần.

Công chúa Vĩnh Thuần thấy Dương Lăng điềm nhiên như vậy, không khỏi có phần ngượng nghịu, nói:
- Ta... ta cũng không phải là kẻ không biết lý lẽ, đương nhiên là ta có lý nên mới yêu cầu ngươi giúp ta trút giận...

Nàng thấy Dương Lăng tuy cung kính hành lễ đứng nghiêm, nhưng cặp mắt lại nhìn thẳng xuống chân, không thèm liếc nàng lấy một cái, thế là cũng không kiềm được cơn giận của thiếu nữ, thầm nghĩ: “Ta đường đường là một công chúa Đại Minh, dựa vào cái gì mà phải xuống giọng khép nép giải thích với ngươi như vậy chứ?”

Nàng phất tay áo, nghiêm mặt nói:
- Hãy nhớ lấy lời ngươi nói: xử lý công bằng! Bằng không, ta cũng sẽ không bỏ qua cho ngươi đâu, hừ!

Nói đoạn nàng xoay người, đùng đùng bỏ đi.
* * *


Trong cung Càn Thanh, thái giám Ti Lễ phụ trách công trình Thái lăng là Đới Nghĩa vừa mới long đong mệt mỏi chạy về.

Mấy người Lưu Cẩn, Cốc Đại Dụng địa vị thấp kém, ở trước mặt lão vốn chỉ có thể vâng vâng dạ dạ. Nhưng từ khi nảy sinh hiềm khích với Vương Nhạc, Đới Nghĩa cũng biết, luận quan hệ hay địa vị lão đều không bì được với Vương Nhạc, trong khi đám người Lưu Cẩn tuy hiện giờ có thế lực mà không có thực quyền, nhưng lại là những thái giám đang được đương kim hoàng thượng vô cùng tin tưởng và thương yêu, do đó lão nảy tâm muốn kết nạp bọn họ. Cho nên lúc gặp mặt, lão cũng tỏ ra vui vẻ hoà nhã, thực khác xa với vẻ coi rẻ trước kia, khiến bọn người Lưu Cẩn vui sướng không thôi.

Chính Đức trông thấy Đới Nghĩa liền bảo:
- Đới Nghĩa! Trẫm có một chuyện muốn trao đổi với khanh cho nên mới vội gọi khanh về gấp.

Đới Nghĩa vừa mừng vừa lo, vội tâu:
- Hoàng Thượng có chuyện gì chỉ việc phân phó, nô tài nào dám không nhận lời?

Chính Đức trầm ngâm rồi hỏi:
- Chi phí cho công trình Thái lăng thế nào rồi? Có còn thiếu bạc không?

Từ khi vụ án Đế Lăng thấm nước kết thúc, dù sao thì sổ sách chi tiêu ở Thái Lăng đã ít nhiều được triều thần chú ý hơn. Hiện giờ, Đới Nghĩa không dám vơ vét nhiều bạc trong đó nữa mà thật sự dốc rất nhiều công sức, coi nó như công trình điểm cho sự nghiệp của chính mình, cho nên số bạc triều đình phân bổ dành cho việc chi tiêu công trình khá là dư dả. Nghe Chính Đức hỏi, Đới Nghĩa vội đáp:
- Hồi bẩm Hoàng Thượng! Chi phí của công trình Thái lăng đã đủ dùng rồi.

Chính Đức gật đầu nói:
- Ừm, vậy là tốt rồi! Đã sắp đến đại hôn của trẫm, số bạc cần cho đại hôn và tặng thưởng là một trăm tám mươi vạn lượng. Trẫm yêu cầu bộ Hộ xuất kho, Hàn Văn lại muốn trẫm lấy trong nội khố (kho nội cung) để chi trả. Nhưng Mã Vĩnh Thành nắm giữ nội khố, sau khi kiểm tra qua, lão cho biết bây giờ trong kho cũng không dư dả, nhiều nhất chỉ có thể lấy một trăm vạn lượng, tám mươi vạn lượng còn lại thì không cách nào thu xếp được. Trẫm hỏi thêm tám mươi vạn lượng nữa, cuối cùng bộ Hộ đã phải chấp thuận, nhưng Hàn Văn chỉ chịu cấp cho trẫm ba mươi vạn lượng, số còn lại y muốn trẫm dùng bạc giấy (nguyên văn: ngân sao) để ban thưởng thay cho ngân lượng. Hừ! Trẫm nhất thời hồ đồ suýt nữa thì đã nhận lời, may nhờ Lưu Cẩn nhắc nhở, trẫm mới vỡ lẽ ra. Lễ đăng cơ và đại hôn của trẫm cùng cử hành trong một năm, đó là song hỷ lâm môn, muốn trẫm phân phát bạc giấy cho bầy tôi và tướng sỹ canh giữ biên cương, đây không phải là làm xấu mặt trẫm à? Vì vậy...

Chính Đức nhìn Đới Nghĩa, trong lòng hơi lưỡng lự: "Ta bảo Đới Nghĩa giả vờ báo số bạc dành cho công trình Thái Lăng không đủ để đòi bạc với triều đình, làm như vậy có phải là quá bất kính với Phụ Hoàng hay không?"

Đới Nghĩa thấy vẻ mặt Chính Đức do dự, lại tưởng rằng Hoàng Thượng muốn "vắt" bạc từ công trình Thái Lăng ra. Lúc này lão đang rất muốn lấy lòng Chính Đức nên bèn tính toán nhanh trong bụng: nếu kiểm soát chặt chẽ hơn nữa, không cho phép bất kỳ đốc công nào vơ vét bòn rút, lúc mua sắm vật liệu cũng dè sẻn lại một ít, thì hẳn sẽ có thể cố gắng tích góp được bốn năm chục vạn lượng bạc.

Tính toán xong, Đới Nghĩa vội quỳ xuống tâu:
- Hoàng Thượng yên tâm! Vốn công trình Thái Lăng được dự toán là ba trăm tám mươi vạn lượng bạc. Nô tài và mấy vị đại nhân làm việc cho Hoàng Thượng không dám lười biếng sơ suất, tiến độ công trình cũng rất mau, phỏng đoán ba trăm ba mươi vạn lượng đã đủ để chi dùng. Vậy năm mươi vạn lượng còn thiếu đó, Hoàng Thượng hãy lấy từ Thái Lăng ra chi dùng đi.

Chính Đức nghe vậy cả mừng, không nhịn được đứng bật dậy hỏi:
- Gì hả? Công trình Thái Lăng có thể nhín ra năm mươi vạn lượng à?

Y thoáng trầm tư, rồi tái mặt nghi hoặc hỏi:
- Không lẽ ngươi vì lấy lòng trẫm, muốn ăn bớt ăn xén lăng tẩm tiên vương hay sao?

Đới Nghĩa vừa nghe vội bẩm ngay:
- Hoàng Thượng, nô tài nào dám làm vậy chứ! Thật sự là khi đưa ra khái toán, áng chừng nguyên liệu đã có dư. Bây giờ công trình đã hoàn thành được một nửa, nô tài đã tính kỹ qua: chỉ nội cung lăng (cung của lăng tẩm) trên mặt đất xây xong thôi hẳn đã có thể tiết kiệm được mười mấy vạn lượng bạc. Nô tài không dám giấu giếm, vốn đã muốn bẩm báo với Hoàng Thượng, vừa may Hoàng Thượng cần dùng bạc, nô tài nào dám không vì Hoàng Thượng mà lo nghĩ chứ?

Lúc này Chính Đức mới chuyển giận thành mừng, nói:
- Vậy thì tốt, vậy thì tốt! Chỉ cần không tổn hại gì đến lăng tẩm của phụ hoàng là được. Trẫm vì chuyện này mà đã ưu sầu lâu nay rồi. Vương Nhạc nắm giữ cung điện to như vậy mà trẫm hỏi ý kiến của lão ta, lão lại chẳng có biện pháp gì, không ngờ khanh lại có bản lĩnh giúp trẫm tháo gỡ lo âu.

"Vương Nhạc?" Đới Nghĩa là một kẻ "có thù tất báo". Vốn lão một lòng trung thành với Vương Nhạc, nhưng khi lão nằm ngục chờ chết thì Vương Nhạc lại khoanh tay đứng nhìn nên bây giờ Đới Nghĩa hận Vương Nhạc đến thấu xương. Lão đưa mắt nhìn quanh, thấy trước mặt chỉ có ba người Lưu Cẩn, Cốc Đại Dụng và Mã Vĩnh Thành, đều là những thái giám mà Vương Nhạc không sao ưa thích. Đới Nghĩa bèn lấy dũng khí cười nịnh tâu:
- Đương nhiên rồi! Cho dù có biện pháp, e rằng Vương công công cũng sẽ không nỡ đưa ra đâu.

- Hử?
Vừa hiểu ẩn ý trong lời, Chính Đức không khỏi ngờ vực liếc mắt nhìn lão, hỏi:
- Nói rõ ra đi! Ngươi hãy thành thật nói cho trẫm biết!

Đới Nghĩa lật đật dập đầu bẩm:
- Nô tài không dám, nô tài không dám! Vương công công nắm quyền Đông xưởng, Tây xưởng. Nô tài mà nói một câu khiến cho ông ấy không vui, ông ta muốn nô tài chết thì lập tức sẽ nghiền nát nô tài như một con kiến, nô tài thực không dám nói.

Chính Đức vừa nghe liền phẫn nộ, đập bàn "bốp" một cái, giận dữ quát:
- Chẳng lẽ Vương Nhạc còn lợi hại hơn cả trẫm ư? Ngươi sợ Vương Nhạc thì không dám nói thẳng với trẫm sao?

Hiểu ẩn ý trong lời nói của Đới Nghĩa, Lưu Cẩn bèn cười nham hiểm:
- Đới công công! Ở đây trừ Hoàng Thượng ra chính là ba nô tài bọn ta, đều một lòng trung với Hoàng Thượng, có chuyện gì cứ việc nói với Hoàng Thượng đi! Bất kể đúng hay không, Hoàng Thượng biết là được rồi. Trừ mấy người chúng ta trong điện ra, tuyệt đối sẽ không để người ngoài biết được.

Đới Nghĩa mừng thầm trong bụng, vội tâu:
- Đúng rồi! Phải phải! Nô tài đã hồ đồ rồi! Nô tài không dám nói, không phải là vì không sợ Hoàng Thượng mà thực ra là lời nói vu vơ, không chứng không cứ, sợ sẽ khiến cho Hoàng Thượng phiền lòng không đáng.

Lão vừa tâu vừa thấp thỏm ngẩng đầu lên:
- Hoàng Thượng! Đông xưởng giám sát bá quan và Cẩm y vệ, quyền lực ngút trời, bình thường chỉ riêng số bạc biếu tặng đã nhiều không biết bao nhiêu. Còn như Tây xưởng, giám sát Đông xưởng ấy, lợi ích càng thêm ngất ngưỡng, tiện tay bóp ra một chút cũng sẽ không để Hoàng Thượng phải lo sầu đến như vậy đâu.
Hơn nữa, Đông xưởng và Tây xưởng này là do ai cai quản chứ? Thái giám Ty Lễ Vương công công đó! Toàn bộ thuế giám (giám sát thuế), quặng giám (giám sát khai mỏ), diêm giám (trông coi muối ăn), châu giám (giám sát việc khai thác ngọc trai) trên cả Đại Minh đều do Vương công công phái ra từ ty Lễ Giám. Những giám sát nội cung này được quyền tự thiết lập nha môn trưng thu thuế má. Dân gian có câu: " Bộ Hộ chiếm ba phần quyền thu thuế, ty Lễ Giám lại đến bảy phần”. Nếu nói ty Lễ Giám không xoay sở được chút bạc, vậy thực rất đáng ngạc nhiên.

Đúng là “thà đắc tội quân tử, chớ đắc tội tiểu nhân”. Tuy đúng là Vương Nhạc nắm quyền ty Lễ Giám, và trong các triều đại, chính các đời Đại Minh cũng có vô số giám sát nội cung bị gọi là "Bác bì" (lột da), nổi danh khắp nơi, nhưng ở triều đại Hoằng Trị, bọn giám sát này vẫn còn tương đối an phận thủ thường.

Tuy rằng Vương Nhạc cũng ngăn cấm không nổi những chuyện bóc lột lớp lớp bên dưới (dù sao tai mắt lão cũng không thể linh hoạt đến mức ấy), nhưng số bạc mà lão nộp lên kinh phần lớn là đủ, đúng theo sổ sách kiểm tra chéo với bộ Hộ và nội khố; số dư trong tay lão quả thực không nhiều.

Nhưng bây giờ Đới Nghĩa lại nói như vậy, mặc dù tất cả đều là "có thể", "biết đâu", "phỏng chừng", thực chất vẫn chưa đủ trọng lượng để truy cứu, nhưng đã khiến Chính Đức nổi lòng nghi ngờ. Chính Đức nghe xong, vừa phẫn nộ vừa kinh ngạc kêu lên:
- Vương Nhạc dám lừa dối trẫm như vậy sao? Lời khanh nói có đúng không?

Đới Nghĩa vội vã dập đầu đáp:
- Hoàng Thượng đã hỏi tới, nô tài chỉ theo việc mà luận bàn, căn cứ theo lẽ thường để phỏng đoán mà thôi, thật sự không có bằng chứng.

Lưu Cẩn cũng sớm bất mãn với Vương Nhạc, nhưng Vương Nhạc là nguyên lão bốn đời, trong cung tai mắt cũng rất đông, nếu không nắm chắc lão thật chẳng dám mở mồm nói bậy. Lúc này, được cơ hội hết sức hiếm có, lão bèn thừa cơ tâu:
- Những chuyện này nếu thật sự có người rắp lòng tư lợi, làm sao Đới công công có thể biết được chứ? Mật thám giỏi thì chỉ có ở Đông xưởng và Tây xưởng, nhưng hai xưởng này lại đều dưới quyền của Vương công công, ai dám nói ra nói vào?

Nghe thế, nghi vấn trong lòng Chính Đức càng thêm sâu. Nhịn không được, y cả giận bảo:
- Tiên hoàng tin yêu Vương Nhạc, giao phó hết Đông xưởng và Tây xưởng cho lão ta, từ lúc trẫm lên nắm quyền cho tới nay cũng chưa từng hỏi đến. Vương Nhạc nắm giữ hai xưởng đã lâu năm, e rằng toàn bộ dây mơ rễ má đều là thân tín của lão ta, đương nhiên sẽ không lộ cho trẫm biết tin tức. Hừ! Xem ra trẫm phải tra xét bọn chúng thật kỹ một phen.

Đới Nghĩa mừng rỡ ra mặt, song lại cố làm ra vẻ lo lắng, nhíu mày tâu:
- Đông xưởng và Tây xưởng đều do Vương công công nắm giữ, Cẩm y vệ lại vốn chịu sự quản thúc của Đông xưởng. Nay Hoàng Thượng muốn tra xét, sợ cũng không tra ra được gì đâu!

Chính Đức đập bàn "bốp" một cái, không phục:
- Đông xưởng và Tây xưởng còn không phải là do Hoàng Đế cho bọn chúng thiết lập ư? Đông xưởng, Tây xưởng đều là người của lão ta à? Hừ! Chẳng lẽ trẫm không thể lập thêm một xưởng nữa sao... Đúng rồi! Trẫm sẽ thiết lập thêm một Nội xưởng, do trẫm đích thân cai quản. Đông xưởng, Tây xưởng, Cẩm y vệ, văn võ bá quan đều sẽ nằm dưới sự giám sát của Nội xưởng của trẫm, xem còn ai dám giấu gạt trẫm nữa không!

Bốn người Đới Nghĩa, Lưu Cẩn, Mã Vĩnh Thành và Cốc Đại Dụng vừa nghe, tim đập một phát nhảy tót lên tới cổ họng. Hoàng Đế đích thân cai quản hả? Nói như đùa, Hoàng Đế làm gì có thời gian mà quản lý xưởng vệ, còn không phải chỉ là đứng tên rồi kiếm kẻ khác làm thay à!

Miếng bánh từ trên trời rơi xuống đó nha, nói không chừng bộp một cái liền rơi giữa bốn người bọn mình! Giám sát Đông xưởng, Tây xưởng, Cẩm y vệ, văn võ bá quan, ôi trời đất ơi...

Ngay khi bốn người đang nín thở đến độ ù cả tai vì thiếu dưỡng khí, thiên tử Chính Đức chợt vỗ bàn, phán ra một câu kinh thiên động địa:
- Đi gọi Dương Lăng về, bảo y tổ chức Nội xưởng cho trẫm!

- A!!!

Đám người Lưu Cẩn vừa nghe xong liền choáng váng mặt mày. Lâu nay các xưởng (Đông xưởng, Tây xưởng, nay thêm Nội xưởng) vẫn luôn do hoạn quan chấp chưởng, xưa nay chưa từng dùng ngoại thần, không lẽ Hoàng Thượng Chính Đức muốn Tiểu Lăng tử tiến cung(*) hay sao?
(*): ý là vung đao tự…:013::013::013:





Chú thích:




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
03-06-2011, 08:45 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 110 - Phó Sứ Đại Hôn



Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: Mechichi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng biết buổi tối bọn họ thường thích hóng mát ngoài hành lang cong ở vườn hoa. Y men theo giàn nho bước được mấy bước, chợt nghe phía sau góc quanh hành lang có một giọng khe khẽ ngâm nga:
- Lão gia - lão gia thiếp yêu chàng, mong trời phật chở che cho chàng, cầu chàng có được một thân thể tốt, khoẻ mạnh và xinh đẹp...



------------------------
Quyển ba - Vừa lên ngôi báu
Chương 110 - Phó sứ Đại hôn

------------------------

Dương Lăng theo sau công chúa Vĩnh Thuần đi thẳng đến Thập Vương phủ. Cấm cung của nội cung vô cùng nghiêm ngặt. Ngoài cung, tuy y được công chúa Vĩnh Thuần dẫn theo, thị vệ trong cung vẫn bước đến ngăn lại. Chỉ đến khi thấy được ngọc bội hình rồng của Hoàng Đế thì mới kinh hoảng thi lễ lui ra.

Dương Lăng đang mặt mày ủ dột lẽo đeo theo sau cô nàng tiểu công chúa, đột nhiên nhìn thấy trước ao nước nơi có ngọn giả sơn ở phía xa hiện ra một bóng dáng màu vàng nhạt. Y nhận ra đó là công chúa Vĩnh Phúc đang dẫn hai cung nữ rắc đồ ăn xuống nước sau lan can mái hiên, trong lòng không nén được mừng rỡ. Như thấy được cứu tinh, y rảo bước nhanh tới, đứng cách thật xa cất tiếng gọi lớn:
- Vi thần Dương Lăng tham kiến trưởng công chúa điện hạ.

Công chúa Vĩnh Phúc kinh ngạc quay người, trông thấy Dương Lăng, đầu tiên lộ vẻ hân hoan, tiếp đó ngơ ngác hỏi:
- Dương tướng quân, sao ngươi lại ... vào hậu cung?

Nàng liếc sang hoàng muội, cả kinh thốt lên:
- Là muội dẫn Dương tướng quân vào ư? Còn không mau... mau đưa Dương tướng quân về đi. Chốn cung cấm này sao có thể tuỳ tiện bước vào.

Vĩnh Thuần đắc ý nói:
- Muội đến chỗ hoàng huynh cáo ngự trạng dùm Ninh Thanh cô cô. Là hoàng huynh sai Dương Lăng đến giúp cô cô trút giận đấy, Có phải vậy không Dương đại nhân?

Công chúa Vĩnh Phúc nhìn muội muội, lại ngó bộ dáng liên tục cười gượng của Dương Lăng, không khỏi vừa bực mình vừa buồn cười. Vị hoàng huynh này của nàng luôn làm việc cẩu thả. Bây giờ chuyện riêng của hoàng gia không giao cho phủ Tông Nhân xử lý lại phái vị tướng quân đến tra án. Không phải muốn đánh giặc chứ?

Công chúa Vĩnh Phúc lại nghĩ đến cảnh ngộ sau khi kết hôn của những công chúa trong hoàng gia, không khỏi thở dài, cất giọng xa xăm:
- Ôi, thanh quan khó xử việc nhà, quy củ tổ tiên truyền xuống thì ai có thể thay đổi được? Muội cần gì phải làm khó Dương tướng quân như vậy?

Công chúa Vĩnh Thuần ngạc nhiên nói:
- Sao tỷ tỷ lại nói vậy? Chẳng phải tỷ đã nói với muội tình cảnh hoàng cô hôm nay sẽ là tương lai của tỷ và muội sau này. Đến khi đó một mình đơn độc trong thâm cung, như chim trong lồng, đừng nói là nghĩ đến trời cao biển rộng, thậm chí ban đêm gối chiếc đơn côi khó bề nhắm mắt, ngay cả một người tri kỷ bầu bạn trò chuyện bên giường cũng không có đó ư? Giờ muội tìm hoàng huynh trút giận giúp cô cô, áp chế sự kiêu căng của bọn chúng, tránh có một ngày chúng ta cũng sẽ chịu những cơn cáu giận vô lối của chúng thì có gì là không phải?

Lời tâm sự riêng của con gái, giờ để cho cái “loa kèn nhỏ” lắm điều này rêu rao như vậy, công chúa Vĩnh Phúc vừa giận vừa thẹn. Nàng oán giận giậm chân, chỉ muội muội u uất nói:
- Muội... muội...

Dương Lăng nhìn hai tỷ muội cãi nhau, nén cười ho khan vài tiếng rồi thưa:
- Công chúa điện hạ, hoàng thượng lệnh cho vi thần đi đến chỗ của Ninh Thanh công chúa để thẩm tra sự tình. Nhưng... suy cho cùng đây là chuyện hoàng gia, vi thần thật sự không tiện xen vào. Nếu như công chúa thấy tiện, vi thần muốn mời công chúa đi đến đó làm chứng, vi thần cũng dễ bề thưa lại với hoàng thượng.

Công chúa Vĩnh Phúc liếc mắt nhìn Dương Lăng, thấy ánh mắt y ngó vội Vĩnh Thuần rồi nháy máy ra hiệu với mình, trong lòng lập tức hiểu ra mấy phần. Nàng cắn môi thoáng nghĩ ngợi, rồi giãn mày cười nói:
- Được thôi, bản công chúa cũng đang muốn đi gặp cô cô một lát, tiện thể đi cùng tiểu muội vậy.

Vừa nói nàng vừa bước đến kéo tay Vĩnh Thuần, quay đầu mỉm cười với Dương Lăng rồi đi trước dẫn đường. Có công chúa Vĩnh Phúc đi cùng, Dương Lăng không khỏi thở phào nhẹ nhõm. Tính tình của vị tiểu công chúa điêu ngoa giống hệt như người anh của nàng, bốc đồng lỗ mãng, bất chấp hậu quả. Nếu làm cho cô ả phiền lòng, có khi thật sự sẽ bị hãm hại cũng không chừng. Có công chúa Vĩnh Phúc đi cùng suốt hành trình, thật sẽ an toàn hơn nhiều.

Công chúa Vĩnh Thuần nắm tay tỷ tỷ hiên ngang đi vào cung điện của công chúa Ninh Thanh trong phủ Thập Vương. Vừa vào đến chính điện nàng liền lạnh giọng quát đám thị nữ ra đón:
- Gọi tổng quản ra gặp ta!

Công chúa Vĩnh Thuần rất có tình cảm với công chúa Ninh Thanh, thường hay qua lại phủ đệ nên người trong phủ công chúa đều nhận ra nàng. Vừa thấy tiểu công chúa đến, tất cả đều hoảng sợ hành lễ. Chỉ một lát sau, nữ quan phủ công chúa Ninh Thanh nhận được tin liền thong dong bước ra nghênh đón. Từ xa nhìn thấy hai vị công chúa, mụ liền vội bước lên mấy bước, nhanh nhẹn quỳ sụp xuống hô:
- Nô tỳ bái kiến Đại trưởng công chúa, trưởng công chúa điện hạ. Hai vị điện hạ muốn gặp Ninh Thanh công chúa phải không?
Động tác đi đứng, bái lạy của nữ quan này liền mạch lưu loát, tựa nước chảy mây trôi, tư thế gọn gàng nhanh nhẹn, lộ vẻ tự nhiên tao nhã, hết sức dễ coi.

Vĩnh Thuần hừ mũi một tiếng, hất cằm xẵng giọng:
- Không cần vội gọi cô cô ra, bản công chúa hôm nay đến đây là để gặp ngươi.

Vị nữ quan đó vừa đứng dậy, nghe thế không khỏi kinh ngạc nói:
- Công chúa điện hạ muốn gặp nô tỳ? Điện hạ sao có thể nói lời này. Người có chuyện gì, chỉ việc gọi một tiếng, nô tỳ còn không vội vã chạy đến ư, nào dám nhọc công người. Nô tỳ thực không đáng được như vậy.

Vĩnh Thuần ngồi lên đôn gấm, cười gằn một tiếng nói:
- Ngươi có gì mà không dám chứ? Ngươi đuổi phò mã gia ra khỏi phủ, còn dám chạy đến chỗ Thái hoàng thái hậu cáo trạng công chúa, hại hoàng cô chỉ có thể nuốt lệ vào lòng. Bản lĩnh lớn như vậy ta nào dám gọi ngươi?

Dương Lăng vốn nghĩ vị nữ quan phủ công chúa này nhất định là một bà già xấu xí xảo trá. Nhưng nhìn vị nữ quan này, tuổi tác bất quá chỉ khoảng bốn mươi, da dẻ chăm sóc rất tốt, nõn nà khoẻ khoắn thướt tha, trông vô cùng đoan trang thanh tú, khi cười thì hoà nhã chân thành, không hề có chút ác độc xảo trá, bất giác hơi cảm thấy bất ngờ.
Nữ quan vừa nghe Vĩnh Thuần nói vậy thì hé môi cười, duyên dáng đáp lời:
- Nô tỳ đang lấy làm kỳ quái, công chúa điện hạ sao lại như đang bực bội ai, hoá ra là vì cho rằng nô tỳ lấy phận nô tài lấn át chủ.

Nói đoạn nữ quan thu lại nụ cười, quỳ xuống khấu đầu, mặt đầy vẻ oan ức:
- Nô tỳ năm tuổi vào cung, tập lễ nghi vũ nhạc cung đình, hầu hạ Thái hoàng thái hậu lão nhân gia người. Khi Ninh Thanh công chúa gả cho phò mã, tiên đế Hoằng Trị đã khâm mệnh cho nô tỳ nhậm chức nữ quan phủ công chúa, coi sóc cuộc sống thường ngày của công chúa, xử lý các sự vụ trong phủ. Nô tỳ quả thực đã chăm sóc cho công chúa từng li từng tí. Nói đến phò mã, chuyện của thiên tử gia nô tỳ vốn không nên lắm lời. Nhưng quy củ của người thực không thể đem so với dân gian. Hoàng thượng còn có Kính Sự phòng trông nom mọi việc, lẽ nào phủ công chúa có thể qua loa hay sao? Phò mã gia chưa được cho phép đã thường xuyên vào cung. Hơn nữa còn hay say rượu mà về. Nếu rêu rao ra ngoài, bị những thần tử nhìn vào há chẳng sẽ mất thể diện hoàng gia ư? Nô tỳ tuy là phận nữ lưu, nhưng cũng là phụng thánh dụ. Tiên đế người đã tín nhiệm, giao cho nô tỳ chức vụ này, nô tỳ cũng biết đây là chức vụ đắc tội với mọi người, trong ngoài đều không ưa. Nhưng cho dù bị đánh chết cũng không dám giả câm giả điếc, nhắm mắt làm ngơ. Tiểu tỳ hầu hạ Thái hoàng thái hậu, lại hầu hạ Ninh Thanh điện hạ, vẫn luôn cẩn thận kỹ lưỡng, không dám qua loa chuyện gì. Nếu công chúa điện hạ cho rằng nô tỳ làm sai, vậy hãy đánh chết nô tỳ đi.

Nữ quan này vừa nói vừa rơi lệ, quay đầu nói với đám thái giám và cung nữ trong điện:
- Đi, lấy roi ra. Nô tỳ đã mạo phạm công chúa điện hạ Vĩnh Thuần, hôm nay hãy để công chúa điện hạ đánh chết đi. Thể diện hoàng gia quan trọng, các ngươi không được ra ngoài rêu rao bậy bạ.

Đám cung nữ thái giám đó nghe xong lập tức quỳ xuống, cầu xin không ngừng:
- Xin công chúa điện hạ tha mạng. Lư tổng quản một lòng hầu chủ, chúng nô tài đều tận mắt nhìn thấy, xin công chúa điện hạ hãy khai ân!

Công chúa Vĩnh Thuần nghe xong giận không nói nên lời. Vị Lư nữ quan này luôn miệng liến thoắng 'Thái hoàng thái hậu' và 'tiên hoàng', điệu bộ giống hệt như thủ đoạn của Dương Lăng trên Kinh Diên, khiến cho công chúa Vĩnh Thuần không tài nào gây được khó dễ cho mụ.

Dương Lăng vừa nhìn tướng mạo bộ dạng, lời nói ngữ khí của mụ, vốn thật sự tin mụ một lòng gìn giữ lễ nghi hoàng gia. Nói không chừng vị phò mã gia nọ thật sự có điều quá đáng. Đáng tiếc vị nữ quan này mặc dù trông thấy Dương Lăng, lại nghĩ đó là Cẩm y vệ do Vĩnh Thuần kiếm tạm đến để xử lý ả, mà không biết thân phận thật của y, thành thử diễn hơi quá lố.

Dương Lăng tỏ vẻ lạnh lùng thờ ơ quan sát, thấy ánh mắt của đám cung nữ và thái giám khi nhìn về phía nữ quan luôn mồm liến thoắng “nô tỳ” này “nô tỳ” nọ còn khiếp sợ hơn lúc nhìn công chúa Vĩnh Phúc, trong lòng y đã hiểu ra vài phần.

Y mỉm cười, chậm rãi bước đến trước mặt nữ quan họ Lư, cúi người nói:
- Xin Lư tổng quản hãy đứng dậy đi. Chỉ vì công chúa điện hạ nhìn thấy Ninh Thanh công chúa đau lòng, cho nên nhất thời nóng nảy. Ngươi vâng theo ý chỉ của tiên đế, giữ gìn tôn nghiêm, chẳng những không có tội, mà còn có công. Có điều... ngươi một lòng vì chủ, song cách làm lại hơi quá quyết liệt, sao không khiến Ninh Thanh công chúa mất thoải mái chứ? Trở về ngươi vẫn nên thỉnh tội với công chúa mới phải.

Lư tổng quản vốn tính làm bộ làm tịch, ra vẻ nô bộc trung thành để mắng vị quan quân Cấm quân này không biết tôn ti, tranh phát biểu trước mặt công chúa. Song khi nghe giọng điệu y dường như lại nói đỡ cho mụ, thế là nở ruột nở gan, vội nói:
- Đại nhân là thị vệ trong cung sao? Đại nhân nói rất phải, nô tỳ sợ Tiết phò mã phá hỏng quy củ, nhất thời nóng lòng nên đã kiên quyết đuổi người ra khỏi cung, thật đã làm tổn hại thể diện của công chúa điện hạ. Nô tỳ sẽ hướng tới công chúa điện hạ thỉnh tội ngay.
Nói rồi cũng không đợi công chúa Vĩnh Thuần cho phép, liền thuận thế đứng lên.

Khi mụ ta đứng lên, Dương Lăng ngửi thấy trên người mụ thoang thoảng có mùi rượu. Nhưng y cũng không vạch trần mụ ngay mà thẳng lưng lên, một mặt đưa tay ra sau lưng xua xua, ra dấu bọn họ đừng lên tiếng, một mặt nói:
- Bổn quan là Dương Lăng, Tham tướng Tả tiêu quân Thần Cơ doanh, không phải là thống lĩnh thị vệ trong cung. Hoàng thượng nghe nói việc này nên sai bổn quan đến tra rõ mà thôi.

Lư tổng quản nghe y xưng là Dương Lăng, không khỏi vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Quả nhiên là người mình. Nghe đâu quan hệ giữa mấy vị công công Mã tổng quản, Cốc tổng quản và y hết sức tốt đẹp. Hoàng thượng phái một ngoại thần như y đến tra xét chuyện này, khẳng định là vì Mã tổng quản đã dâng lời lên hoàng thượng rồi. Ha ha, có y nói đỡ cho mình trước mặt hoàng thượng, Thái hoàng thái hậu thì chỉ nghe lời phiến diện từ phía mình, cho dù có thêm bảy, tám công chúa nữa đến thì làm được gì?

Lư tổng quản không giấu được sự đắc ý trong lòng, liếc nhìn hai vị tiểu công chúa với ánh mắt khiêu khích. Công chúa Vĩnh Thuần thấy vậy lửa giận bốc lên ngùn ngụt, thiếu chút nữa đã bộc phát. Công chúa Vĩnh Phúc ở bên cạnh khẽ ngắt hông nàng một cái, lúc này Vĩnh Thuần mới sực tỉnh, nén giận hừ một tiếng.

Vừa rồi công chúa Vĩnh Phúc nhìn thấy Dương Lăng dùng tay ra hiệu, lại nghe y nói thì biết y ắt có dụng ý, nên sớm đã âm thầm căn dặn muội muội chớ nên hành động khinh xuất. Rõ ràng tất cả mọi người trên dưới phủ công chúa đã bị Lư tổng quản mua chuộc và khống chế, cho dù hoàng đế đích thân đến đi chăng nữa, e rằng cũng sẽ không có ai nói giúp cho công chúa Ninh Thanh. Vụ kiện cáo mơ hồ này căn bản là không thể thắng, nói không chừng vị Dương tham tướng này thật sự có biện pháp cũng nên.

Dương Lăng cười càng thêm tươi, chắp tay nói với Lư tổng quản:
- Hoàng thượng phái đến tra hỏi nên mong tổng quan đem đầu đuôi sự tình nói cho bản quan, bản quan cũng dễ bề thưa lại với hoàng thượng.

Lư tổng quản vốn không phải là kẻ cả tin như thế. Nhưng Dương Lăng và đám người Mã Vĩnh Thành có quan hệ rất tốt với nhau là chuyện mà trong triều ngoài phố ai ai cũng biết. Chuyện nhà Hoàng đế lại phái ngoại thần đến điều tra càng là chuyện xưa nay chưa từng có. Trừ phi vì hai vị công chúa cáo ngự trạng cho nên Mã Vĩnh Thành đã dâng lời trước mặt hoàng thượng, bằng không loại chuyện kỳ lạ này nói nghe không lọt. Cộng vào ngữ điệu lời nói của Dương Lăng lại công khai thiên vị cho mụ, Lư tổng quản đã sớm vứt sạch nghi ngờ. Thế là bèn thêm mắm thêm muối kể lại một lượt chuyện phò mã gia không giữ quy củ trong cung thế nào, thường xuyên ra vào cung đình khi chưa được ả cho phép ra sao. Thậm chí mụ còn dám bịa chuyện phò mã vào cung mượn rượu giả say đùa bỡn cung nữ trước mặt hai vị công chúa.

Dương Lăng nghe mà thầm cười nhạt: ngoại trừ vị phò mã gia này chán sống lắm rồi chứ khó khăn lắm mới được gặp thê tử một lần thì làm gì có tinh thần mà trêu ghẹo mấy cung nữ tầm thường bên cạnh vợ mình. Không lẽ ngoài cung không có gái đẹp sao?

Dương Lăng nén giận nghe mụ nói xong, lập tức cười bảo:
- Hoá ra là như vậy. Giờ bản quan sẽ về bẩm lại với Hoàng thượng. Có điều Lư tổng quản tận trung chức vị, cũng nên chú ý đến cách làm. Hoàng thượng trăm công nghìn việc, bận rộn vô cùng, đại sự triều chính còn chưa xử lý xuể, về sau đừng để mấy chuyện này làm cho công chúa nổi giận, khiến Hoàng thượng phải lao tâm theo.

Lư tổng quản hiểu ý liền cười, vội đáp ngay:
- Dạ, dạ, dạ, đại nhân cứ việc yên tâm.

Dương Lăng khoan thai xoay người, nháy mắt một cái thật nhanh với công chúa Vĩnh Phúc, sau đó hành lễ nói:
- Hai vị điện hạ, vi thần đã tra hỏi xong, giờ sẽ quay về bẩm báo với Hoàng thượng.

Công chúa Vĩnh Thuần tuy đầy bụng nghi hoặc, song khi nghe vậy vẫn giận tím mặt. Nàng đỏ bừng mặt la lên:
- Ngươi tra hỏi cái... cái... Ngươi chỉ nghe lời phiến diện của mụ ấy liền đã quay về bẩm báo với hoàng huynh sao?

Dương Lăng trừng mắt với nàng một cái, rồi vội quay sang nháy mắt với công chúa Vĩnh Phúc, nhếch nhếch môi, sau đó ra vẻ tự tin hùng hồn nói:
- Hoàng thượng phái vi thần đến tra xét việc này. Việc tra hỏi đương nhiên là hỏi người của phủ công chúa, vi thần sao dám mời Ninh Thanh công chúa ra đối chất? Bây giờ cung nữ, thái giám hầu hạ công chúa điện hạ đều là nhân chứng, sao có thể nói là lời phiến diện của Lư tổng quản chứ? Điện hạ, Hoàng thượng vẫn đang chờ vi thần, vi thần xin cáo lui.

Nói rồi Dương Lăng liền bước ra khỏi điện. Lư tổng quản thấy Dương Lăng không thèm để ý đến hai vị công chúa, trong lòng càng thêm đắc ý. Dương Lăng vừa ra khỏi điện, khuôn mặt thanh tú khoan thai nọ của mụ liền lộ ra vẻ mỉa mai. Mụ vờ kính cẩn nói:
- Công chúa điện hạ thực muốn gặp Ninh Thanh công chúa sao? Ôi chết, hai vị công chúa vừa vào cửa thì đã xông lên hỏi tội nô tỳ, nô tỳ hoảng quá, quên cả dâng trà cho hai vị điện hạ mất rồi. Mau, mau, cái thứ không biết điều chúng bây, mau đi dâng trà cho người!

Lần này thì ngay cả người hiền hoà là công chúa Vĩnh Phúc cũng nổi giận. Nàng phất tay áo, hừ một tiếng, rồi kéo tay muội muội mình bảo:
- Chúng ta đi!

Hai người xoay người ra khỏi đại điện, Lư tổng quản nhanh nhẹn như mây bay nước chảy đuổi theo đến cửa, quỳ xuống làm lễ thưa:
- Nô tỳ kính tiễn hai vị công chúa điện hạ, công chúa điện hạ đi thong thả.

Công chúa Vĩnh Thuần ức muốn rách phổi, vừa ra khỏi phủ Thập Vương lập tức ngóng mắt khắp nơi hét lên:
- Cái tên khốn khiếp Dương Lăng kia đâu? Cái tên khốn khiếp Dương Lăng kia đâu?

Phía sau một cánh cổng vòm, Dương Lăng bỗng ló đầu ra, cười đáp:
- Dương Lăng ở đây!

Công chúa Vĩnh Thuần giật ra khỏi tay tỷ tỷ, lao qua đốp ngay:
- Rốt cuộc vừa rồi ngươi nhấp nháy mắt với tỷ tỷ ta là có ý gì? Mau nói ngay! Nếu như ngươi thật sự dám giúp mụ Lư tổng quản đó hãm hại cô cô ta, bản công chúa quyết sẽ không tha cho ngươi.

Dương Lăng ló đầu nhìn ra phía sau bọn họ, ở trong phủ Thập Vương kín cổng cao tường này không chỉ có một vị công chúa, Lư tổng quản không thể phái người đuổi theo rình trộm, nhưng Dương Lăng vẫn cảnh giác bảo:
- Đi, chúng ta vừa đi vừa nói.

Dương Lăng bước cạnh hai vị công chúa, vừa đi vừa phân tích:
- Số bạc chi tiêu hàng tháng của toàn bộ phủ công chúa đều do Lư quản gia nắm giữ phải không? Ừm, thảo nào có thể khống chế cả phủ trong tay. Trong vụ này, bây giờ khắp phủ công chúa đều là nhân chứng của mụ ta, còn công chúa và phò mã thì ngay cả một người chịu nói lời công đạo cho bọn họ cũng không có. Lư quản gia lại cứ luôn mồm đưa ra quy củ tổ tiên và tiên hoàng, xử lý mụ ta thế nào đây? Cho dù hai người cầu xin để hoàng thượng đổi quản gia cho phủ công chúa, điện hạ cho rằng sẽ có thể tốt hơn chăng? Lợi ích của bọn họ vốn được xây dựng từ việc gây khó dễ cho công chúa. Vì vậy ở điểm này bọn họ tất nhiên sẽ 'cùng chung kẻ thù'.

Công chúa Vinh Phúc nhớ lại khi nãy Lư tổng quản mở lời thì vâng vâng dạ dạ, thật ra thái độ lại cực kỳ kiêu ngạo, trong lòng không khỏi nguội lạnh. Nàng buồn bã nói:
- Vậy... vì lẽ gì Dương tướng quân lại khua tay ra ý bảo chúng ta đừng mở miệng chứ?
Rồi nàng chợt dừng bước ngóng nhìn Dương Lăng hỏi:
- Tướng quân nhất định đã có biện pháp hay rồi phải không?

Dương Lăng khẽ cười đáp:
- Điện hạ thật là anh minh sáng suốt. Ha ha, quả thực vi thần đã có chủ ý, chẳng qua nhất thời vẫn chưa nghĩ thấu triệt tới như vậy.

Y thấy Vĩnh Thuần lại sắp sốt ruột, vội nói tiếp:
- Cách làm thì thần đã nghĩ ra rồi, nhưng thần vẫn chưa nghĩ ra làm sao để trước lúc đó không lâu có thể cho Hoàng thượng biết. Song biện pháp chỉnh đốn loại tiểu nhân tham lợi này thì thần vẫn có...

Dương Lăng thấp giọng giải thích tỉ mỉ một lượt, sau đó cười nói:
- Hai vị công chúa vốn thường hay ra vào phủ công chúa Ninh Thanh, cho nên thích hợp để làm chuyện này nhất. Vả lại dẫu gì cũng chỉ là một nô tỳ, cho dù bại lộ Hoàng thượng cũng sẽ không nổi giận.

Công chúa Vĩnh Phúc nhìn y bằng cặp mắt long lanh như nước thật lâu không chớp, rồi chợt cười phì một tiếng, yêu kiều nói:
- Phương pháp này của Dương tướng quân thật là... thật là... ờ... nhất định hữu hiệu.

Nét giận dữ trên khuôn mặt của công chúa Vĩnh Thuần đã sớm tan biến, nàng hớn hở gật đầu phụ hoạ:
- Đúng vậy, đúng vậy. 'Ác nhân phải lấy ác nhân trị'. Bây giờ bản công chúa đã bắt đầu tin lời Trương quốc cữu nói với mẫu hậu rồi. Cái tên nhà ngươi thật sự là một đại đại ác nhân!

************

“Đại ác nhân” Dương Lăng giúp hai đại, tiểu công chúa đề ra "chiêu thức" hại người xong, vô cùng đắc ý trở về cung Càn Thanh. Chẳng ngờ Hoàng đế Chính Đức đã sớm quên béng chuyện phái y đi điều đình việc nhà của công chúa, vừa thấy y liền hào hứng nói ra kế hoạch điên rồ của mình. Dương Lăng nghe xong lập tức ngây ra như phỗng.

Y đờ người một hồi lâu, nhìn bốn người Lưu Cẩn đang đỏ mắt vì hâm mộ, lại thấy Thiên tử Chính Đức mũi hất lên trời, bèn lấy làm kinh ngạc hỏi:
- Hoàng thượng muốn vi thần thành lập nội tập sự xưởng sao? Không phải Nội tập sự xưởng trước nay vẫn luôn do ty Nội Quan đảm nhiệm ư?

Chính Đức cười nói:
- Không hẳn. Chẳng qua đúng là vào thời Tĩnh Nạn nội quan đã dốc ra nhiều sức cho Vĩnh Nhạc đại đế cho nên Đông xưởng mới do nội quan nắm giữ. Vì vậy về sau khi thiết lập tiếp Tây xưởng cũng theo lẽ đó mà để nội quan nhậm chức xưởng đốc. Nhưng trẫm lại muốn thay đổi cách làm, ngoài mọi dự liệu. Như vậy mới có thể xuất thần nhập hoá, chiến thắng bất ngờ.

Hắn đắc ý:
- Nếu như nội xưởng của trẫm lại cử nội quan làm xưởng đốc, chẳng phải sẽ vẫn quy về dưới sự cai quản của Vương Nhạc ư? Hiện tại Cẩm y vệ là ngoại thần thân quân, được giám sát bởi Đông xưởng của Ti lễ giám, mà Tây xưởng thuộc ty Lễ Giám lại giám sát Đông xưởng. Nay trẫm lại điều ngoại thần thiết lập nội xưởng, giám sát ty Lễ Giám, như thế sẽ liền mạch không chút sơ hở. Cho nên nhất thiết phải dùng ngoại thần. Trẫm tin tưởng nhất là khanh, đương nhiên sẽ để khanh làm. Khanh không muốn làm thượng thư bộ Hình, trẫm đã phê chuẩn nên việc này không cho phép khước từ nữa.

Dương Lăng khổ sở nói:
- Nhưng mà thần... thật sự không có kinh nghiệm gì cả.

Y nghĩ bụng: mặc dù những kẻ đứng đầu hai xưởng một vệ mà không có được cái chết yên lành thực ra không nhiều, nhưng thanh danh vệ, xưởng thật sự không được tốt đẹp cho lắm. Hơn nữa Cẩm y vệ kết hợp với Đông xưởng hết lòng nâng đỡ mình như vậy, chính là sợ mất đi thánh quyến. Giờ đang tốt lành, mình lại thoát ly khỏi bọn họ tự lập môn hộ, Trương Tú và Phạm Đình liệu có chịu ngậm bồ hòn làm ngọt không?

Chính Đức lại không nghĩ vậy, y nói:
- Trẫm làm Hoàng thượng cũng chưa có kinh nghiệm đây, khanh xem trẫm chẳng phải đã làm rất tốt ư? Có trẫm chống lưng cho khanh, khanh còn sợ gì chứ?

Dương Lăng hít sâu một hơi, xấu hổ hỏi:
- Vậy... chẳng hay Hoàng thượng muốn thần thiết lập nội xưởng ở nơi nào? Nhân lực đó lấy từ đâu ra? Xây dựng nha môn phủ đệ, bố trí phòng ốc, mua gì cũng phải có bạc đúng không? Bộ Hộ chịu bỏ ra sao? Chức trách chủ yếu của nội tập xưởng là gì?

Chính Đức nghe thế ngẩn ra, một lúc sau mới nói:
- Việc này... việc này cũng phải hỏi trẫm sao? Nơi chốn thì khanh tự lựa lấy cho mình. Nhân lực thì khanh tự tuyển chọn. Bạc thì...
Hoàng đế Chính Đức nghĩ ngợi một chút, dường như có chút nhức đầu:
- Khanh thử nghĩ xem có thể lấy bạc từ đâu rồi nói cho trẫm nghe, trẫm chuẩn tấu được. Còn về phần chức trách, điều chủ yếu chính là thay trẫm trông coi hai xưởng một vệ, còn cái khác... Phải rồi, bạc… Quyền giám thuế của ty Lễ Giám nhất định phải thu hồi lại.

- Ừm...
Hoàng đế Chính Đức lại nghiêm túc nghĩ ngợi một lát, rồi nhún vai nói:
- Trẫm tạm thời chỉ nghĩ ra bấy nhiêu, nếu khanh nghĩ ra được gì thêm thì hãy nói với trẫm.

Dương Lăng trố mắt nhìn Chính Đức một hồi lâu, rồi mới thưa:
- Vậy... không phải là vi thần phải tham dự chủ trì đại hôn của Hoàng thượng sao? Hay là đợi sau đại hôn hãy xúc tiến được không? Bằng không vi thần e sẽ không cách nào để phân chia thời gian ạ.

Chính Đức cười:
- Chuyện này được thôi. Thế thì sau đại hôn của trẫm hãy tuyên bố thành lập nội xưởng vậy. Trước hết khanh hãy đến bộ Lễ, nghe nói quy củ của bọn họ rất là nhiều. Khanh là sứ thần thiên tử do trẫm đích thân tuyển chọn, chớ làm mất mặt trẫm đấy.

Dương Lăng đành phải đáp ứng:
- Dạ, vi thần tuân chỉ.

Y vừa mới rời khỏi cung Càn Thanh được mấy bước, Lưu Cẩn đã đuổi theo sau lưng, vừa đuổi đến nơi liền vội kêu lên:
- Dương đại nhân, thiết lập nội xưởng là việc vô cùng trọng đại, sao ngài không sốt sắng vậy. Nếu để hai xưởng một vệ biết được, nói không chừng sẽ ngấm ngầm thọc gậy bánh xe đó. Chuyện này phải nên nắm chắc mới được.

Chính Đức đã mở miệng rồng, nói rõ nội xưởng sẽ giám sát thái giám hai xưởng Đông Tây cho nên kiên quyết không dùng thái giám. Lưu Cẩn cũng đã hết hy vọng. May mắn thay vị xưởng đốc nội xưởng tân nhiệm này lại là huynh đệ tốt của lão, 'không cá thì tép tôm' cũng tốt. Dù sao cũng hơn là để người ngoài làm. Cho nên khi trông thấy bộ dạng thờ ơ hờ hững của y thì lão rất đỗi sốt ruột.

Dương Lăng thấy hoàng đế Chính Đức này làm việc bộp chà bộp chộp, sớm nắng chiều mưa, trong đầu còn mong sau lễ đại hôn thì hắn sẽ quên đi ảo tưởng về việc thiết lập nội xưởng, cho nên lần lữa được thì cứ lần lữa. Còn việc phòng bị hai xưởng một vệ, đơn giản là chuyện đùa. Việc này sao có thể sánh được với việc Hoằng Trị bí mật mở ra Tây xưởng, có ty Lễ Giám phối hợp, lại dùng Ngự mã giám làm nòng cốt thuyên chuyển tinh anh mà xây nên, cho nên mới có thể che giấu được nhất thời.

Trong khi mình, cần người chẳng có người, cần tiền thì không có một xu, cần chỗ thì không có chỗ, một chút cơ sở cũng không có. Chỉ cần bên này vừa khởi động, tin tức được giữ kín nhất định sẽ lập tức truyền đến tai hai xưởng một vệ. Thay vì giấu giếm khiến bọn họ nghi kỵ, chi bằng đến lúc mở ra cứ công khai cho bọn họ có thời gian chuẩn bị.

Dương Lăng nghĩ đến đây, trong lòng chợt máy động nổi lên một ý nghĩ: nòng cốt của Cẩm Y vệ là thân quân Cẩm Y năm đó. Lịch sử của Đông xưởng lâu đời, nha sai và bộ đầu phần lớn được chiêu nạp từ dân gian, Tây xưởng thì lại lấy Ngự mã giám làm cơ sở. Nếu quả thực muốn thành lập nội xưởng, vậy năm trăm thân quân của Thần Cơ doanh, thậm chí là toàn bộ nhân mã của Tả tiêu quân mà mình đích thân mang ra...

Vừa nghĩ đến đây, Dương Lăng trong lòng tràn ngập hưng phấn. Vốn còn mù tịt chẳng biết phải làm sao, bây giờ ngược lại y đã hạ quyết tâm. Nếu lấy thân quân của mình làm thành viên nòng cốt, thì cả nhân thủ lẫn địa bàn đều đã có cả, nói là thành lập chẳng qua chỉ là treo biển hợp thức hoá thôi.

Chẳng phải Hoàng thượng đã nói cần người nào thì cho người ấy sao? Hoàng Kỳ Dận - huyện thừa Kê Minh, Thiên hộ Ngô Kiệt - Cẩm Y vệ trước giờ vẫn không được toại ý. Những người này đều là quan lại có kinh nghiệm phong phú nhưng quan trường lận đận. Nếu lôi kéo bọn họ vào, có bọn họ bày mưu vạch kế, chẳng phải mình sẽ có thể tiếp tục bon chen sao?

Nghĩ đến đây, Dương Lăng hớn hở vỗ vai Lưu Cẩn. Lần đầu tiên thấy y có động tác thân mật như vậy, Lưu Cẩn sững người ra, lại nghe Dương Lăng mỉm cười nói:
- Lưu công công quan tâm đến Dương mỗ, Dương mỗ trong lòng biết rõ. Có điều việc này có giấu cũng sẽ không giấu nổi. Vậy cứ để tự nhiên cho bọn họ biết đi. Có ý chỉ của thánh thượng, còn ai dám gây phiền toái sao? Ha ha ha...

Lúc này Dương Lăng đột nhiên cảm thấy trong lòng thoải mái, thầm nghĩ nếu Hoàng thượng khăng khăng muốn mở nội xưởng, không bằng tung tin này ra trước, lấy tĩnh chế động, xem thử phản ứng của hai xưởng một vệ. Vả lại mình trù trừ không hành động, thế nào cũng khiến bọn họ nghĩ năng lực mình có hạn, trầy trật tính toán tổ chức, cho dù thật sự có người nổi lòng kiêng kị, ắt cũng sẽ vì thế mà đâm ra xem thường. Khi đó chớp nhoáng thành lập nội xưởng, những trở ngại ngầm nhất định sẽ giảm đến mức tối thiểu.

Vì thế, Dương Lăng gạt bỏ tâm sự, hết sức phấn khởi chạy đến bộ Lễ làm người chủ trì hôn lễ. Lưu Cẩn vẫn đứng ngây ra ở đó thật lâu chưa tỉnh.

***********

Dương Lăng vẫn chưa biết trong đại hôn của hoàng đế thì kẻ chủ trì như mình đây phải làm những gì. Dù sao cũng có bộ Lễ và phủ nội vụ ở đó, mình chắc chủ yếu là thu xếp châm đèn đốt pháo đêm đại hôn là được. Ai ngờ lễ nghi đại hôn của Hoàng đế phức tạp rườm rà, thủ tục nhiều như lá mít. Tuy tác dụng của y ở trong đó có hạn, nhưng những chuyện cần tham dự thật sự cũng không ít.

Hiện nay thượng thư bộ Lễ là Vương Hoa. Vương Hoa lại không có thành kiến gì với y, nhất là khi Vương Hoa nghĩ rằng trong vụ án Đế Lăng Dương Lăng vì muôn dân trăm họ nên mới liều chết không dâng tấu, là trung thần có tâm huyết, vì vậy đối đãi với y cực kỳ khách khí. Thị lang bộ Lễ Lý Đạc và y thì lại “chung một giàn”, vì thế quan văn trên dưới bộ Lễ không ai dám gây khó dễ cho y.

Hồng Lư Quan kiên nhẫn giảng giải tỉ mỉ từng bước một cho Dương Lăng về nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ, thân nghênh (1), nghi lễ sắc phong hậu, phi, song song cùng với phương pháp "Tam thẩm" (Ba lần kiểm tra) dùng để tuyển nạp cung nữ mới, khiến Dương Lăng nghe đến độ hoa mắt nhức đầu.

Đến lúc cuối cùng Dương Lăng chỉ nhớ những hậu, phi này đều là các tiểu thư quan lại đọc sách hiểu lễ, thân thế thanh bạch. Có điều quá trình tuyển chọn so với việc sỹ tử vào kinh thi cử còn nghiêm khắc và quyết liệt hơn.

Các cô nương mà bọn thái giám tuyển chọn chẳng những phải được quan sát dung mạo, nghe giọng nói, còn phải được cung nữ kiểm tra kỹ lưỡng tóc tai, thân thể, ngũ quan của bọn họ. Bất cứ chỗ nào không hợp mắt đều là không hợp cách. Lúc "nhị thẩm" lại lấy thước đo cánh tay, eo, chân và vóc người, không đủ cân đối cũng không được. Đến "tam thẩm", nữ quan trong cung sẽ cởi đồ ra kiểm tra, nếu cơ thể có mùi, da dẻ trên thân có chỗ nào có sẹo cũng không xong. Tiếp đó dựa trên cơ sở này lại kiểm tra tiếp phong thái, dáng vẻ, rồi còn phải ở lại trong cung học phép tắc lễ nghi, quy củ trong cung. Trong quá trình này nếu phát hiện dáng ngủ bất nhã lại đuổi về một nhóm lớn. Sau cùng những tinh anh còn lại mới được Thái hoàng thái hậu, Hoàng hậu và phủ Nội vụ tiến hành tuyển chọn nhân tài.

Dương Lăng nghe xong âm thầm tặc lưỡi, quá trình tuyển chọn này còn nghiêm ngặt hơn cả tuyển chọn hoa hậu Hồng Kông, đủ biết nữ nhân được chọn ra sẽ đẹp đến cỡ nào rồi. Y không nhịn được bèn buột miệng hỏi:
- Có phải đã chọn được nhân tuyển làm Hoàng Hậu rồi không?

Hồng Lư Quan cười nói:
- Đúng vậy. Thái hoàng thái hậu và Hoàng thái hậu đã chọn trúng trưởng nữ của Đô đốc đồng tri phủ Hạ Nho Hạ đại nhân làm Hoàng hậu. Đồng thời cũng đã chọn ra hai người con gái của kinh quan làm phi tử, ngày đại hôn sẽ đồng thời nhập cung. À đúng rồi, ngày kia đại nhân sẽ phải đi nạp thái, vấn danh cùng với hạ quan. Đại nhân hẳn chưa quen với những lễ tiết này, cầm tạm những quyển sách này về xem một chút vậy.

Cầm lấy hai chồng sách dày cộp, Dương Lăng không khỏi trợn mắt hỏi:
- Những... những thứ này đều ghi chép nội dung đại lễ sao?

Hồng Lư Quan nói:
- Đúng vậy. Trong đó là những nội dung có liên quan mà ngài phụ trách. Đại nhân nhất định phải cẩn thận một chút, làm sứ giả cho thiên tử, chớ để mất lễ nghi.

Dương Lăng chỉ biết gật đầu vâng dạ rồi ôm lấy hai chồng sách lên kiệu chạy về nhà. Trong kiệu y tuỳ ý mở ra xem một chút. Những chữ li ti đều là viết dọc từ trên xuống dưới, ngay cả dấu chấm câu cũng không có. Ngày thường xem vài công văn còn có thể cố kiên nhẫn chứ mấy thứ cổ ngữ xem vốn đã choáng mắt, kiệu lại lắc tới lắc lui, Dương Lăng mới nhìn một chút liền thấy nhức cả đầu, thật sự không xem tiếp được nữa.

Dương Lăng ôm đống sách trở về đến phủ thì trời đã quá chiều. Để sách vào trong thư phòng, thấy mấy người Ấu Nương không có ở trong phòng, y hỏi tỳ nữ mới biết mọi người đều đã ra hậu viên, bèn thay thường bào rồi lững thững bước ra hậu viên.

Sân này không nhỏ, chu vi vây quanh chừng ba mẫu, vốn không có dùng để làm gì, ngoại trừ mấy cây ăn quả, khắp nơi đều là cỏ dại. Nay được Dương Lăng phân phó, gian đầu của hậu viên đã được san bằng thành một mảnh đất chuẩn bị dùng làm diễn võ trường. Trên mặt đất được dãy cỏ còn chất vài gò đất vàng, xem chừng vẫn chưa làm xong.
Đi tiếp vào trong, bên phải chính là vườn rau mà Ấu Nương chăm bón. Đầu tiên là một dãy những giàn đậu mắc cao hơn đầu người, vào trong nữa là giàn dưa leo, sau cùng mới là các loại rau dưa hành tỏi.

Dương Lăng bước qua giàn đậu. Vừa bước qua hai giàn dưa leo liền trông thấy một bóng người đang khom nửa lưng xuống ruộng chăm bón mầm dưa non. Nhìn kỹ hoá ra là Ấu Nương. Y liền khấp khởi cúi người chui vào. Đám dưa này được chăm bón rất tốt, đã cho ra rất nhiều trái dưa leo mọng nước, trên đầu trái còn nở những đoá hoa rất đẹp.

Ấu Nương nghe thấy tiếng lá xào xạc, ngoái đầu nhìn thì thấy tướng công đã về, liền vội ngẩng đầu cười thật tươi:
- Tướng công, chàng đến đây làm gì? Đừng làm dơ quần áo đó.

Dương Lăng trông thấy Ấu Nương đã thay một bộ áo vải thô, tay cầm kéo, chắc hẳn đang cắt tỉa dưa non, thì cười:
- Nàng nhé, trời nóng như vầy, chui vào trong ruộng dưa kín mít không gió để bị nóng như vậy. Giờ đây tướng công đã có thân phận vương hầu rồi, nàng lại có phúc mà không hưởng.

Hàn Ấu Nương đưa ống tay áo lên quệt mồ hôi trên mặt, tươi roi rói nói:
- Ở không cũng khó chịu lắm. Tướng công bây giờ là tước gia chứ không phải là vương hầu. Chúng ta ở đây nói thế thì không sao, nhưng ở bên ngoài chàng ngàn vạn lần đừng nói như vậy, tránh để đám tiểu nhân bươi móc khuyết điểm của chàng.

Dương Lăng trừng mắt với nàng, trách:
- Ta chính là có ý như vậy đó, không nói vương hầu chẵng lẽ nói là công hầu, bá hầu à?
Nói đoạn y cũng không nén bật cười bảo:
- Nếu ta thật sự thăng đến công hầu, nàng chẳng phải sẽ là mẫu hầu (khỉ cái) đó ư?

Hàn Ấu Nương phát ngượng, không thèm nghe nói:
- Tướng công lại nói bậy nữa, lúc nào cũng thích trêu người ta.

Lúc này nàng bước tới phía trước. Dương Lăng sợ đụng phải dưa leo mà luống ruộng dưới chân lại xốp nên y đứng không vững, vừa ôm lấy người Ấu Nương liền "úi da" một tiếng, té phịch mông xuống bờ ruộng, đè dập mất một mầm dưa.

Hàn Ấu Nương bèn trách:
- Tướng công, nhìn chàng kìa. Chàng đó, trời sinh đã không phải là người vào ruộng rồi.

Dương Lăng đã ngồi bệt dưới đất, cũng không vội đứng lên. Y kéo tay Ấu Nương để nàng ngồi trên đùi mình, rồi cảm khái than:
- Ài, tướng công cũng biết, trong phủ nàng cũng không có chuyện gì làm. Nhưng với thân phận của tướng công bây giờ, đừng nói là nàng ra ngoài tìm việc, cho dù tuỳ ý đi lại trên đường cũng không dễ, cả ngày nằm dí trong phủ cũng thật khó chịu. May mà có mấy người Ngọc Nhi, bằng không nàng sẽ còn buồn hơn.

Nói rồi y mới sực nhớ là mình vẫn chưa thấy mấy người Ngọc Nhi, Tuyết Nhi và Cao Văn Tâm đâu, lấy làm lạ hỏi:
- Mấy người bọn họ đâu rồi?

Hàn Ấu Nương đáp:
- Bọn họ không cắt tỉa nên đã lên phía trước hái rau rồi.

Dương Lăng ừm một tiếng rồi hôn phớt lên vành tai Ấu Nương, nói:
- Nếu chúng mình có con sớm một chút thì đã tốt rồi. Con nít đứa nào cũng nghịch ngợm cả ngày không để ai nghỉ, như vậy cô vợ của ta sẽ không phải buồn nữa.

Khuôn mặt Hàn Ấu Nương thoáng đỏ lên, trong lòng lại hơi bất an. Nàng có chút chán nản liếc sang Dương Lăng, rụt rè nói:
- Tướng công thích có con, nhưng Ấu Nương giờ vẫn chưa...

Dương Lăng thấy đã chạm vào tâm tư của nàng, liền vội an ủi:
- Không gấp, không gấp, nàng còn nhỏ, vả lại...
Y kề sát vào tai Ấu Nương thủ thỉ:
- Chúng mình mới chung chăn gối bốn tháng mà, nương tử nhà ai lợi hại vậy chứ, một tên có thể trúng đích ngay? Ha ha.

Hàn Ấu Nương nghe vậy lúng túng vặn vẹo bờ vai, có phần mắc cỡ. Dương Lăng thấy vẻ ngượng ngùng của nàng, không khỏi hơi động tình. Nhìn quanh thấy không có ai, y bỗng kề sát vào tai Ấu Nương khẽ hát:
- Bà xã ơi bà xã ta yêu nàng, cầu trời phật chở che cho nàng, mong nàng có được một thân thể tốt, khoẻ mạnh và xinh đẹp. Bà xã ơi bà xã ta yêu nàng, cầu trời phật chở che cho nàng, mong nàng mọi sự đều như ý, chúng mình mãi không chia ly. Tình yêu của ta, chính là nàng, nàng có biết, ta yêu nàng lắm không... (2)

Vào thời đó, bài hát như thế bảo đảm có thể coi như bài dân ca ở thôn quê, nhưng ca từ của nó lại chan chứa cảm xúc ấm áp và ngọt ngào khiến Hàn Ấu Nương nghe mà hai mắt sáng rỡ. Nàng thích thú kéo tay Dương Lăng hỏi:
- Bài ca này nghe hay quá. Tướng công nghe được ca khúc hay như vậy từ đâu thế?

Dương Lăng cười:
- Nghe hay không? Tuy 'bà xã' là cách xưng hô dân dã, nhưng ta cảm thấy so với cách xưng 'nương tử' văn nhã nó càng tỏ rõ tình yêu của tướng công với nàng hơn. Chỉ cần đem đổi chữ này thành ông...

Dương Lăng chợt sực nhớ chữ "ông xã" hình như cũng là một cách gọi thái giám (trong tiếng Trung 'lão công' cũng có nghĩa là thái giám, như 'công công'), liền vội sửa lời:
- Chỉ cần đem đổi chữ này thành tướng công, nàng cũng có thể hát cho tướng công nghe. Tướng công dạy nàng, nàng hát cho tướng công nghe có được không?

Hàn Ấu Nương xấu hổ nói:
- Tướng công, người ta... người ta chưa hát bao giờ, sợ hát không hay đâu.

Dương Lăng khó có dịp ngồi cùng một chỗ với Ấu Nương chuyện trò thân mật như thế này, nên cũng không nề hà trong vườn oi bức ngột ngạt, y nắm lấy tay nàng nói:
- Dễ lắm, lại đây, ta sẽ hát trước vài lần, nàng nghe bài này nhiều lần sẽ quen thôi.

***********

Ăn tối xong, Dương Lăng chui vào thư phòng chăm chỉ xem nửa ngày trời. Hai chồng sách đều là nói chi tiết về những khâu nạp thái, vấn danh, nạp trưng, thỉnh kỳ. Từng hạng mục, cử hành giờ nào, đội nghi trượng cần bao nhiêu thái giám, bao nhiêu cung nữ, mấy chuyện vặt vãnh như chủ sứ giả và phó sứ giả ai cầm ấn tín, ai cầm chiếu thư vân vân, nhìn hoa cả mắt.

Dương Lăng thấy trong hai quyển sách dày như vậy, những thứ mà mình cần chú ý đến không nhiều lắm, nếu như chọn lọc chép ra cộng với ghi nhớ thì sẽ dễ hơn rất nhiều, bèn nghĩ đến chuyện đi tìm mấy người Ngọc Nhi, Tuyết Nhi đến giúp.

Dương Lăng biết buổi tối bọn họ thường thích hóng mát ngoài hành lang cong ở vườn hoa. Y men theo giàn nho bước được mấy bước, chợt nghe phía sau góc quanh hành lang có một giọng khe khẽ ngâm nga:
- Lão gia - lão gia thiếp yêu chàng, mong trời phật chở che cho chàng, cầu chàng có được một thân thể tốt, khoẻ mạnh và xinh đẹp...

Dương Lăng nghe xong suýt tý nữa thì đã té xỉu. Hồi chiều ở trong vườn dưa dụ dỗ cỡ nào Ấu Nương cũng không chịu mở miệng ra hát, không ngờ bây giờ lại chạy ra chỗ không người học hát, "bà xã" sửa lại thành "lão gia" coi như không tính đi, lại còn... "khoẻ mạnh và xinh đẹp"...

Dương Lăng dở khóc dở cười, vội vã chạy vòng qua. Trông thấy một bóng hình xinh đẹp đang ngồi bên lan can, tay cầm hòn đá nhỏ vứt xuống ao một cách nhàm chán, miệng vẫn đang ngâm nga, y vội đi tới gọi:
- Ấu Nương...

Bóng người đó vừa nghe thấy tiếng động liền giật bắn người như thỏ trúng tên, thét lên một tiếng chói tai, sau đó định thần lại mới run rẩy nói:
- Lão... lão gia?

Dương Lăng vừa nghe giọng nói, nhìn kỹ lại một lượt, thấy vị cô nương chúc mình "khoẻ mạnh và xinh đẹp" này không ngờ lại là Tuyết Lý Mai, thế là cũng không khỏi sững người.

Hồi chiều Tuyết Lý Mai bận rộn đến khát khô cả họng nên đã chạy qua vườn dưa hái dưa leo ăn, đúng lúc nghe được lão gia đang dạy phu nhân hát ở ngoài bờ ruộng. Vì y hát đến nhập tâm, âm thanh lại lớn, bị nàng nghe hai lượt đã nhớ hết. Bây giờ nhàn rỗi không gì làm nên thuận miệng hát một chút, không ngờ bị lão gia bắt gặp tại chỗ khiến nàng không khỏi ngượng chín cả người, hận không thể quay người lại nhảy ùm xuống ao chết phứt cho xong.

Xa xa trong góc đình, Hàn Ấu Nương, Ngọc Đường Xuân và Cao Văn Tâm nghe thấy tiếng thét vội vàng chạy lại, vừa thấy Dương Lăng và Tuyết Lý Mai đang đứng đó, Tuyết Lý Mai thì vẫn còn rụt rè sợ hãi, không khỏi lấy làm nghi ngờ hết nhìn người này một chút, lại ngó người kia một tẹo.

Dương Lăng thấy thế thì biết đã hỏng bét, sợ mấy người con gái này sẽ hiểu lầm, vội ho một tiếng nói:
- Ta đang có chuyện cần các nàng giúp đỡ cho nên đi hơi vội, không ngờ Tuyết Nhi cô nương đang đứng ở đây, nên đã doạ cho cô ấy giật mình.

Hàn Ấu Nương nghe xong mới thư thái trở lại, song Ngọc Đường Xuân lại không tin. Nhìn Tuyết Lý Mai trong đêm cả người đỏ bừng như sắp bốc lửa, còn lâu nàng mới tin đó là do bị doạ. Trong lòng cô bé này không khỏi dấy lên một sự chua xót. “Có phải là lão gia thích Tuyết Nhi hơn mình? Không lẽ... mình không đủ đẹp ư?”

Cao Văn Tâm liếc nhanh mấy vị cô nương đang mang những tâm trạng khác hẳn nhau này một cái, đoạn chỉnh đốn trang phục, hành lễ, rồi điềm đạm nói:
- Lão gia có gì phân phó cho tiểu tỳ làm sao?

Dương Lăng thở phào một hơi, vội nói:
- Là như vầy, Hoàng thượng sai ta làm sứ giả cho đại hôn, cầm chiếu thư đi đến phủ của Hoàng Hậu vừa tuyển để làm lễ nạp thái và vấn danh. Nhưng sách lễ tiết thật sự quá hỗn tạp, ta muốn sắp xếp những việc mà phó sứ của thiên tử cần chú ý và làm ở trong đó, ngày mai sẽ học cho thuộc, để tránh đến lúc đó lại xảy ra chuyện.

Mấy nữ tử vừa nghe có việc để làm, lập tức vứt chuyện vừa rồi qua một bên rồi theo Dương Lăng đến thư phòng. Loại sách đóng chỉ đó dễ tháo, Dương Lăng tháo ra thành bốn phần chia cho bọn họ sắp xếp lại, còn bản thân thì pha trà thảnh thơi nhấm nháp ngồi chờ.
Qua một hồi, Tuyết Lý Mai lại kinh hãi kêu lên một tiếng, ánh mắt mấy người không khỏi tập trung trên người nàng. Dương Lăng vốn còn hơi mất tự nhiên vì chuyện ban nãy thấy vậy không khỏi cả mừng. "Ha ha, thì ra cô ấy có tật như vậy. Lần này Ngọc Đường Xuân sẽ không vừa chép sách vừa ngó mình như ngó đặc vụ nữa đó chứ?"
Hàn Ấu Nương không nhịn được bèn cười hỏi:
- Tuyết Nhi, sao hôm nay lúc nào muội cũng kêu hoảng hốt lên thế, đang chép sách mà cũng bị hù dọa à?

Tuyết Lý Mai đỏ mặt, ngượng ngập đáp:
- Tỷ tỷ, muội... muội chỉ không ngờ phó sứ của thiên tử còn... còn phụ trách những thứ này, cho nên nhất thời ngạc nhiên...

Hàn Ấu Nương, Ngọc Đường Xuân và Cao Văn Tâm nghe vậy đều lấy làm hiếu kỳ sáp gần lại. Không ngờ mới xem một chút, Cao Văn Tâm đã khẽ mỉm cười, trở về bên bàn chép tiếp phần của nàng. Hàn Ấu Nương và Ngọc Đường Xuân chớp mắt xem một hồi, cũng đỏ bừng mặt mà lẩn ra.

Dương Lăng nổi tính tò mò, liền vội đứng dậy, hứng thú chen cổ qua hỏi:
- Có gì cần ta làm à? Để ta xem thử nào.

Dương Lăng giành lấy quyển sách ngó vào, chỉ thấy trên đó ghi "Phần nhân luân (luân lí làm người): trên phụng dưỡng tông miếu, dưới kế tục đời sau." Tiếp đó lại là mấy bức xuân cung đồ.

Phim cấp ba "súng thật ống thật" Dương Lăng cũng đã coi rồi nên thứ đồ "con nít" này đương nhiên không để vào mắt. Y khinh thường xem tiếp, nội dung hoạt động bên dưới lại nói đến việc thờ cúng trong cung có thờ Hoan Hỉ phật (3) có thể chuyển động được. Vào ngày nào tháng nào đó, phó sứ lễ đại hôn sẽ đi cùng thái tử đến đại điện thờ Hoan Hỉ phật, rồi dựa theo sự biểu thị của tượng phật, phó sứ sẽ giảng giải cho thái tử kiến thức về giao hợp.

Dương Lăng xem xong không khỏi cười lớn nói:
- Hoá ra là mấy thứ này. Dào, tưởng là thứ gì, cái này có gì đáng dạy chứ. Ai mà chẳng biết thứ này, nhớ hồi ta mười ba tuổi... ớ...

- Hử?
Bốn cặp mắt mang những vẻ mỹ lệ bất đồng lập tức đổ dồn lên người Dương Lăng. Bốn ánh mắt đều tràn ngập sự tò mò "hiếu học". Mặt Dương Lăng nóng bừng, y cố tạo ra vẻ uy nghiêm của lão gia, ho khan vài tiếng rồi cất giọng khô khốc:
- Sắc trời chưa tối, chúng ta không nói chuyện phiếm nữa. Ta thấy mọi người nên mau chóng sao chép cho tốt đi.








Chú thích:
(1) Cưới hỏi theo văn hoá Trung Quốc thời cổ đại có sáu bước (lục lễ), được phân ra như sau:
Lễ nạp thái: sau khi nghị hôn, nhà trai mang sang nhà gái một cặp "nhạn" để tỏ ý đã kén chọn ở nơi ấy.
Lễ vấn danh: là lễ do nhà trai sai người làm mối đến hỏi tên tuổi và ngày sinh tháng đẻ của người con gái.
Lễ nạp cát: lễ báo cho nhà gái biết rằng đã xem bói được quẻ tốt, nam nữ hợp tuổi nhau thì lấy được nhau, nếu tuổi xung khắc thì thôi.
Lễ nạp trưng (hay nạp tệ): là lễ nạp đồ sính lễ cho nhà gái, minh chứng cho sự hứa hôn chắc chắn.
Lễ thỉnh kỳ: là lễ xin định ngày giờ làm rước dâu tức lễ cưới.
Và sau cùng là lễ thân nghinh (tức lễ rước dâu hay lễ cưới): đúng ngày giờ đã định, họ nhà trai mang sính lễ đến để rước dâu về.
(2) những câu này được trích từ bài hát "Bà xã ơi bà xã anh yêu em" (老婆老婆我爱你) rất nổi tiếng. Mời nghe http://www.youtube.com/watch?v=PPLtKcmEjM0
(3) xem hình http://baike.baidu.com/image/5beeba0fb1c518d4ab6457dd





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
05-06-2011, 05:05 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 111 - Cảnh Long Vượt Ngục



Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: X1999_vn

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Miêu Quỳ nhướng hàng chân mày, cười ha hả, nói:
- Tốt, lão phu đã không nhìn lầm người, Dương đại nhân quả nhiên sảng khoái. Như vậy chúng ta coi như một lời đã định.

Miêu Quỳ vừa nói vừa đưa tay lên, kích nhẹ ba chưởng với Dương Lăng lập thệ.

Và thế là, kế hoạch hợp tác lâu dài của Xưởng công Tây xưởng Miêu Quỳ và Xưởng đốc Nội xưởng Dương Lăng đã được thiết lập trong nhà xí của đương kim Hoàng Hậu như thế.



------------------------
Quyển ba - Vừa Lên Ngôi Báu
Chương một trăm mười một - Cảnh Long Vượt Ngục
------------------------
Đã đến ngày Nạp thái và Vấn danh. Vừa đến chính điện cung Càn thanh, Dương Lăng đã thấy người của Giáo Phường ty đang diễn tấu lễ nhạc trên thềm rồng. Ở chính điện, một đám thái giám và cung nữ đang bận rộn bài trí; trong điện đặt tạm hai cái bàn, được trải bằng vải gấm màu vàng đỏ; trên một chiếc bàn đặt "Tiết"(*), trên chiếc bàn còn lại đặt chiếu thư cho “Vấn danh”, bên cạnh đều là lễ vật được chuẩn bị để đưa đến phủ Ngũ quân Đô đốc của Đô đốc Đồng tri Hạ Nho Hạ đại nhân. (*: kiểu ấn tín của sứ giả ngày xưa, dùng trong lễ hoàng tộc)

Hôm nay là đại hôn của Hoàng Đế, đám người không vai không vế như bọn Lưu Cẩn đương nhiên không có cơ hội để lộ diện. Không tìm thấy mấy đại nhân quen thuộc, Dương Lăng bèn đứng yên ở dưới điện. Đợi đến khi Giám chính Mạc Đạo Duy của Khâm Thiên Giám trong bộ dạng đắc ý và ngạo nghễ tuyên bố giờ lành đã đến, Dương Lăng mới nhìn thấy Hoàng Đế Chính Đức với trang phục chỉnh tề long trọng xuất hiện trong tiếng nhạc được nội quan, thị vệ, thái giám vây quanh, bước vào chính điện cung Càn Thanh ngồi xuống.

Những bá quan văn võ có tư cách đến dự lễ liên tục chúc mừng, vương công đại thần quỳ gối dập đầu bái lạy, hô to vạn tuế. Quan tuyên chế phụng chiếu thư đứng trên mé đông thềm rồng cao giọng tuyên chiếu, bổ nhiệm hai vị Chính và Phó sứ giả đến phủ Hạ đại nhân làm lễ Nạp thái và Vấn danh.

Những trình tự này đã được Dương Lăng học thuộc làu làu, cạnh bên lại có Hồng Lư Quan của bộ Lễ để y bắt chước theo, tư thế tiến lui cũng đã ra hình ra dáng. Phụng thánh chỉ xong, Hồng Lư Quan của bộ Lễ làm Chính sứ cầm “Tiết”, Dương Lăng làm Phó sứ bê chiếu thư “Vấn danh”, đội nghi trượng và trống nhạc đi trước mở đường, xuất phát từ cung Càn Thanh. Ngọ môn được mở ra, dòng người cuồn cuộn tiến về Hạ phủ.

Thống lĩnh thị vệ của nội quan phụ trách bảo vệ đội nghi trượng là Miêu Quỳ. Trên đường, hai Chính và Phó sứ giả đi song song, ở phía sau Miêu Quỳ tự dẫn đầu Ngự Mã Giám và đội nghi trượng. Khi đoàn người đến phủ của Hạ đô đốc, Hạ đại nhân quỳ xuống tiếp sứ giả, sau đó giao nộp "Biểu" (biểu tấu) ghi họ tên, lý lịch sơ lược, ngày sinh tháng đẻ, vân vân của con gái cho Chính sứ giả. Đến lúc thết tiệc long trọng chiêu đãi sứ thần của thiên tử, Miêu Quỳ mới có thể ngồi chung bàn với Dương Lăng; còn đội nghi trượng, cổ nhạc và thị vệ, chỉ có thể ngồi xổm trong sân ôm lấy bát to kèm cơm rau cố ăn một ít lót dạ.

Dương Lăng không quen chuyện trò với quan viên lạ, nhưng tuy là Phó sứ, y lại là ngoại thần mà đương kim Hoàng thượng tin yêu nhất, nội quan hầu cạnh Hoàng đế lại đều có giao hảo với y. Mặc dù sắp làm Quốc trượng, Hạ Nho cũng biết rõ con gái nếu muốn được Hoàng thượng sủng ái, không thể thiếu sự phối hợp của nội thần và ngoại thần được tin sủng nhất, do đó đối đãi với Dương Lăng hết sức nhiệt tình.

Đám người Dương Lăng Nạp thái, Vấn danh xong còn phải về cung phục chỉ, cho nên nhà họ Hạ chuẩn bị đều là rượu nếp Giang Nam có nồng độ khá nhẹ, trong hương thơm thoang thoảng có vị ngọt của gạo nếp. Khí trời oi bức, thứ rượu này giải khát rất tốt, Dương Lăng không tránh khỏi uống liền mấy chung.

Thừa lúc Hồng Lư Quan và Hạ Đô đốc trò chuyện, y gọi một gã đầy tớ của Hạ phủ lại, hỏi chỗ đi vệ sinh, rồi đứng dậy cáo lỗi các vị đại nhân cùng bàn, xoay người đi về phía nhà xí.

Gã đầy tớ đó ân cần dẫn y đến sân bên hông, chỉ rõ chỗ rồi lui ra. Hôm nay Hạ gia trang trí nguy nga tráng lệ, gấm hoa rực rỡ, thậm chí trước cửa nhà xí cũng treo đèn lồng đỏ to đùng. Nhà xí của nhà họ Hạ được xây như khuê phòng, trồng mấy cây anh đào để che cửa. Từng chùm hoa anh đào rũ đầy cành trông như những viên mã não đỏ chót.

Dương Lăng gạt một cành chìa ra, rồi vào đi giải, vừa chuẩn bị đi ra thì Miêu Quỳ cũng đã lách mình bước vào. Dương Lăng nghĩ đến Miêu Quỳ là thái giám, lúc đi giải mà mình đứng ở bên cạnh hẳn sẽ có phần khiến lão khó xử, liền vội cười nói:
- Miêu công công, hạ quan trở lại bàn tiệc trước đây.

Miêu Quỳ lùi lại một bước, cản đường y, hơi thò đầu ra ngoài liếc một cái, rồi mới cười ha hả, nói:
- Khoan đã, Dương đại nhân. Ta đến là muốn bắt chuyện kết giao với Dương đại nhân, tạo lợi ích cho đại nhân và ta.

Trong lòng Dương Lăng máy động, y điềm tĩnh hỏi:
- Miêu công công sao lại nói lời này? Mong ngài có thể nói rõ cho Dương mỗ hay.

Miêu Quỳ mỉm cười, đoạn nói:
- Ta đây thuộc loại người không thấy phật thật không thắp hương (*), hành động hôm nay quả thực là tấm lòng thành. Chẳng lẽ Xưởng đốc đại nhân vẫn không thể tin ta sao? (*: ý nói chưa thấy tận mắt thì chưa tin)

Dương Lăng cả kinh, suy nghĩ đầu tiên của y là: “Trong Bát Hổ nhất định đã có người thông đồng với Miêu Quỳ. Thiết lập Nội xưởng là chuyện Hoàng đế Chính Đức ngày đó nhất thời nảy ý. Khi ấy, trong điện không hề có tiểu thái giám nào hầu hạ, cho dù hai xưởng một vệ có cao thâm thế nào cũng không thể nhúng tay sâu đến mức như vậy được. Trừ phi trong bốn người Lưu Cẩn, Cốc Đại Dụng, Mã Vĩnh Thành với Đới Nghĩa có kẻ là tâm phúc của Miêu Quỳ.”

Tuy trong lòng kinh hãi âm thầm tính toán, song y lại khoác lên vẻ tươi cười, nói:
- Ồ, thì ra là Miêu công công nói đến chuyện này. Ha ha ha, Dương mỗ không dám giấu diếm. Hoàng thượng bỗng nhiên hạ ý chỉ này, Dương mỗ cũng đang không hiểu đầu cua tai nheo thế nào, tính rằng qua mấy ngày không chừng tâm tư Hoàng thượng sẽ phai nhạt, cho nên chuyện chưa có gì là chắc chắn như vầy cũng không dám phô trương ra ngoài, không biết “tiện lợi” mà Miêu công công nói đến là...

Miêu Quỳ hơi híp đôi mắt ti hí của mình lại, cười hắc hắc, nói:
- Ta phụng ý chỉ của tiên đế mở lại Tây xưởng vẫn chưa lâu, chuyện này ít nhiều cũng có kinh nghiệm. Nói ra giờ đây đại nhân và ta đều là những kẻ phục vụ cho Hoàng thượng, nếu như công việc xúc tiến Nội xưởng của Dương đại nhân có chỗ nào gặp khó khăn, chỉ cần nói một câu, ta nhất định sẽ dốc toàn lực hỗ trợ.

Dương Lăng cười hờ, nói:
- Đội ơn Miêu công công quan tâm. Nếu muốn nói từ đầu, Đông xưởng từ lúc mở ra đến nay đã có năm có tuổi, Tây xưởng cũng đã có tiền lệ từ trước. Dương Lăng cho dù phụng thánh chỉ thành lập Nội xưởng, đó mới bất quá là môn hộ cỏn con, không tài không cán, nói ra thật không thể lo liệu được gì, không dám nhọc tâm công công.

Miêu Quỳ vốn cũng chẳng trông mong Dương Lăng sẽ đáp ứng, nghe y nói xong, lão thu lại vẻ tươi cười, nghiêm sắc mặt, nói:
- Dương đại nhân, đối với Xưởng vệ của chúng ta, ngoại triều (ý chỉ các quan viên không phải là hoạn quan) không hề có chút hảo cảm. Còn nội bộ Xưởng vệ của chúng ta, Đông xưởng và Cẩm Y vệ mặc chung một quần. Tuy nói Tây xưởng có chức trách giám sát Đông xưởng và Cẩm Y vệ, nhưng bọn họ căn cơ bền vững, thực lực hùng hậu, cho nên ta đã ăn phải không ít quả đắng từ tay Phạm Đình và Trương Tú.
Ta làm Xưởng công của Tây xưởng này, ai ai nhìn vào cũng cho rằng tiền đồ vô hạn; nhưng mỗi ngày ta đều thấp tha thấp thỏm, lo sợ bị bọn họ nắm bắt được sai sót gì đó, nào có dễ chịu như vẻ bề ngoài. Một khi Dương đại nhân lập ra Nội xưởng, chẳng những sẽ có quyền ngăn trở bọn họ, mà còn đoạt lại quyền giám thuế của ty Lễ Giám vào tay mình, quả thực là cắt đứt con đường tiền tài của bọn họ. E rằng... đến lúc đó nha sai và Cẩm Y vệ của Đông xưởng trên khắp thiên hạ đều sẽ vắt óc để tìm ra khuyết điểm của đại nhân đấy.

Đoạn, lão cười nham hiểm, nói:
- Kẻ ngăn cản con đường tiền tài của bọn họ xưa nay chỉ có một con đường chết, Dương đại nhân không lo mai kia sơ sẩy lật thuyền trong mương sao? Một trăm tám mươi cực hình của Cẩm Y vệ như bỏ vào vạc sôi, rút ruột, cưa chân, giã cột sống, đổ chì vào miệng, “chải đầu rửa mặt” (1); loại nào loại nấy đều là những cực hình ma quỷ nghe đều phải rùng mình, hơn nữa còn liên luỵ gia đình đại nhân. Cho dù thánh quyến đang thịnh, cũng khó mà ngăn nổi khi Cẩm Y vệ và Đông xưởng đã có lòng bày mưu lập kế.
Tây xưởng này của ta là lấy Ngự Mã Giám làm nòng cốt. Nếu như ta đoán không sai, Dương đại nhân thành lập Nội xưởng hẳn sẽ lấy thân tín trong Thần Cơ doanh để tổ chức. Đại nhân và ta cùng xuất thân trong quân, đôi bên có thể nói là rất có quan hệ, cho nên ta mới mạo muội tỏ lời, chẳng hay Dương đại nhân nghĩ sao?

Dương Lăng nghe xong mới bừng tỉnh, y thầm tính toán một phen thật nhanh. Bản thân tuy có quan hệ mật thiết với Cẩm Y vệ, nhưng một khi phát sinh xung đột về lợi ích, cho dù Trương Tú chịu bỏ qua cho mình, tầng lớp quyền lực của Cẩm Y vệ cũng tuyệt đối sẽ không chịu buông tha. Mà Đông xưởng, thậm chí là ty Lễ Giám phía sau Đông xưởng, bị cướp mất quyền giám thuế, càng tuyệt đối sẽ không bỏ qua cho mình.

Miêu Quỳ thẳng thắn như vậy, chính là vì đã liệu cục diện mà mình nhất định sẽ gặp phải, vốn không có lựa chọn khác. Xem ra việc mở lại Tây xưởng, chia cắt quyền lực của bộ phận Đông xưởng và Cẩm Y vệ đã ngầm đụng phải sự chèn ép của Đông xưởng và Cẩm Y vệ, cho nên Miêu Quỳ mới vội vã muốn lôi kéo mình làm đồng minh.

Đối với mình, đây là cơ hội hiếm có, chuyện này nếu kết hợp thì đôi bên cùng có lợi, chia tách thì chỉ có hại. Nếu như mình thật sự bị đẩy lên con đường đó, thì không còn sự lựa chọn nào khác. Dương Lăng nghĩ đến đây, liền quyết định dứt khoát:
- Từ lúc phụng thánh chỉ đến nay, trong lòng Dương mỗ cũng thấp thỏm không yên. Nếu như có Miêu công công chỉ điểm giúp đỡ, đó là phúc khí của Dương mỗ rồi. Đôi bên hợp tác, Dương mỗ cầu còn không được đó chứ.

Miêu Quỳ nhướng hàng chân mày, cười ha hả, nói:
- Tốt, lão phu đã không nhìn lầm người, Dương đại nhân quả nhiên sảng khoái. Như vậy chúng ta coi như một lời đã định.

Miêu Quỳ vừa nói vừa đưa tay lên, kích nhẹ ba chưởng với Dương Lăng lập thệ.

Và thế là, kế hoạch hợp tác lâu dài của Xưởng công Tây xưởng Miêu Quỳ và Xưởng đốc Nội xưởng Dương Lăng đã được thiết lập trong nhà xí của đương kim Hoàng Hậu như thế.

oOo

Trên Thái Lăng, một đám tù nhân tóc tai bù xù, áo quần rách rưới, chân trần đeo chiếc cùm sắt phát ra những tiếng kêu loảng xoảng đang cố sức kéo mấy chục sợi dây thừng buộc quanh một con rùa đá rất to được lót trên một bè gỗ nhỏ về phía công trường dưới sự chỉ huy hô hào của Giám ngục.

Nhưng những tù nhân này chỉ có thể phụ trách mấy loại nhiệm vụ công trình trên mặt đất và dọn dẹp chung quanh đường sông, trồng trọt cây ăn quả, nơi trọng yếu tuyệt đối không cho phép qua tay bọn họ. Nếu như cần những tù nhân này vào địa cung làm việc, vậy chỉ có một khả năng, bọn họ sẽ phải bồi táng theo lão Hoàng đế.

Lúc này, con rùa đá đang được vận chuyển đến công trường. Trên mai rùa là một bia đá khắc thánh hiệu được điêu khắc cả khối, vì vậy cả con rùa đá nặng vô cùng. Trong đám tù nhân đang nghiêng người về phía trước gần như thành một góc ba mươi độ so với mặt đất, dây thừng trên vai của một phạm nhân bất chợt bị đứt, người đó không kịp đề phòng, ngã cắm đầu xuống đất, mồm ngoạm đầy đất, lập tức hàm dưới đầm đìa máu tươi.

Gã bị đau chưa kịp kêu lên, mấy đòn roi của Đốc công đã đổ ập xuống đầu, quất rách quần áo, lộ cả da thịt đằng sau vai; chỗ bị roi quất đã tróc da chảy máu, đau khiến gã run lên lập cập. Gã chợt xoay đầu ác độc trừng mắt nhìn gã Đốc công đó.

Tên Đốc công này cũng là tù phạm, nhưng có quan hệ khá tốt với Quản đốc, mới vớ bẫm công việc nhàn hạ. Hắn vốn là nhân vật cùng hung cực ác, bị người ta nhìn nhiều một chút là cũng có thể hung hãn động đạo. Thấy phạm nhân mặt mũi thanh tú này không ngờ dám không phục, hắn không nhịn được cười khẩy, nói:
- Thằng chó đẻ, còn dám nhìn lão tử à?

Vừa nói, roi dài lại đã rít lên một tiếng "chát", quất cho phạm nhân đó giật nảy người, trên cổ lập tức đầm đìa máu me.

Tù nhân bị đòn roi này chính là con trai của Thượng thư bộ Lễ Vương Quỳnh. Tên Đốc công sớm nhận được lời căn dặn của Đới công công là phải "tận tình săn sóc" gã tù nhân mới đến này; ngày thường có việc gì khó nhọc, bẩn thỉu thì cứ an bài cho hắn đi làm; ăn tối thì cho ăn sau cùng, ngủ thì để nằm kế bên cầu tiêu.

Những tên phạm nhân này vốn đã thích bắt nạt người mới, nhìn thấy hành động của Đốc công, càng muốn lấy lòng hơn. Gã thư sinh mặt mày sáng sủa, nhất biểu nhân tài này luôn bị bọn chúng dày vò, khổ sở không nói nên lời.

Nhưng gã thư sinh vừa nhìn thì thấy là kẻ quần là áo lụa không biết làm việc, mới đến thì nhút nhát sợ sệt hệt như con thỏ, song dần dần lại như được thoát thai hoán cốt, càng ngày càng trở nên kiên cường. Những công việc cực nhọc kham khổ ngay cả phạm nhân vốn xuất thân khuân vác cũng than trời than đất không thôi này, ấy vậy mà hắn vẫn cắn răng cố gắng vượt qua.

Tối hôm trước, có một tù nhân đồng tính thừa lúc hắn mệt lử không chịu nổi ngủ say, tính cởi quần hắn để giở trò với gã thư sinh da dẻ mềm mại này. Hắn bừng tỉnh lại liền như dã thú rống lên một tiếng, bổ chồm tới cắn tai tên đó không buông; sau cùng bị người khác kéo ra, hắn lại cắn đứt luôn cả lỗ tai tên đó, toác miệng nuốt xuống luôn, trên mép máu me đầm đìa như ma quỷ.

Lần đó đã làm đám tù nhân đó bị chấn động, phạm nhân bình thường từ đó không còn dám tuỳ tiện ức hiếp gã thanh niên thoạt trông nho nhã yếu đuối đó nữa. Khi Vương Cảnh Long bị giải từ đại lao bộ Hình đến Thái Lăng, thư tay của ba vị Đại học sỹ đã theo tới. Ba người này cho dù là thủ lĩnh nội quan như Vương Nhạc cũng không dám không nể mặt mấy phần, huống chi là Đới Nghĩa, cho nên y không thể không vứt bỏ ý niệm khiến cho Vương Cảnh Long cực khổ mà chết; nhưng đã là khâm phạm, cho hắn chịu chút cực khổ thì ba vị Đại học sỹ cũng không thể nói gì.

Vương Cảnh Long của hôm nay đã không còn hình tượng công tử bảnh bao phong lưu văn nhã của ngày đó, đầu bù tóc rối, hôi thối nồng nặc, không hề khác gì những tù nhân kia. Tên Đốc công thấy hắn chịu một roi nhưng không hề khiếp sợ, trừng đôi mắt đỏ ngầu như dã thú nhìn mình chằm chằm, không khỏi thẹn quá hoá giận, cây roi dài trong tay lại quật xuống chan chát, nạt:
- Muốn chết à? Còn không mau làm việc, tưởng lão tử không dám đánh chết ngươi ư?

Lúc này, hai chiếc xe la đưa rau từ bên cạnh lắc lư đi qua. Trên xe, ông chủ bán rau nhìn thấy có người đang ăn đòn thì không khỏi cười, nói:
- Ôi chao, đại gia ngài nhẹ tay một chút đi. Cây roi này chơi thì đã tay đấy, nhưng không cẩn thận một chút là mũi roi nó móc mất mắt tiểu nhân như chơi.

Ông chủ bán rau này nói chuyện dí dỏm, lại mở miệng nịnh nọt gọi tên phạm nhân Đốc công đó là đại gia khiến hắn cảm thấy rất có thể diện, bất giác cười ha hả rồi thu tay về, dương dương tự đắc, nói:
- Sợ quái gì, roi này của ta ngoài hai trượng chỉ có thể vụt tắt nến, còn có thể quất lên tới mặt ngươi sao? Ha ha ha, đi qua đi, đi qua đi.

Vương Cảnh Long cảm kích nhìn ông chủ bán rau, ánh mắt vừa dời đến đột nhiên sững ra, trong mắt hiện lên vẻ vui mừng khôn xiết, nhìn chằm chằm vào người đầy tớ ngồi cạnh ông chủ bán rau không chớp.

Người đó tuổi trạc hơn tứ tuần, mặt mũi tầm thường, trông ra không có gì thu hút, nhưng Vương Cảnh Long vừa liếc mắt liền nhận ra lão là quản sự Vương Bình của Nội thư phòng đã theo bên phụ thân hơn ba mươi năm. Vương Bình một lòng trung thành với phụ thân, đừng nói hiện tại nhà họ Vương vẫn chưa suy sụp, cho dù họ Vương suy bại đến mức phải ăn xin đầu phố, y cũng sẽ không bỏ rơi chủ cũ. Nay phụ thân đã đi Nam Kinh nhậm chức, y giả làm dân trồng rau đi đến lăng tẩm làm gì?

Tim Vương Cảnh Long không khỏi đập thình thịch. Vương Bình trông thấy tiểu thiếu gia bị đày đoạ đến gần như không ra hình dáng con người, suýt nữa thì đã rơi lệ. Lão vội chớp mắt, thoắt quay đầu đi, thừa lúc người khác không để ý gạt lệ trên khoé mắt.

Vương Cảnh Long hiểu ý, ngoan ngoãn về chỗ buộc chặt lại dây thừng rồi theo sự hô hào của đốc công cố sức kéo con rùa đá. Lúc này đây toàn thân hắn sôi trào nhiệt huyết, dường như tràn trề sức lực dùng không hết. Phụ thân chưa quên hắn, không ngờ vì hắn mà phụ thân đã dám mạo hiểm mất đầu, phái người đến cứu hắn ra.

Công danh bị tước, Vương Cảnh Long đã không thể ra làm quan được nữa, ngay cả thân phận khâm phạm này cũng không biết năm nào Hoàng thượng mới sẽ vui vẻ miễn xá cho. Hết thảy mọi thứ đều "nhờ ân huệ" Ngọc Đường Xuân ban cho. Hắn hận Ngọc Đường Xuân đến mức có thể lột da rút xương, ăn tươi nuốt sống mới có thể hoá giải được cừu hận vô biên này.

Nhờ có cừu hận vô cùng vô tận này, hết thảy mọi giày vò tủi nhục hắn đều ngấm ngầm chịu đựng vượt qua. Tiền đồ đã không còn, cuộc đời bị huỷ hoại, mục tiêu duy nhất trong lòng hắn chính là giày vò Ngọc Đường Xuân đến chết mới cam tâm. Giờ đây rốt cuộc đã có cơ hội, Vương Cảnh Long sao có thể không vui sướng như điên chứ.

Sau khi rùa đá được kéo đến nơi, đám tù nhân lại bị đuổi đến bên hông đế lăng trồng cây ăn quả. Vương Cảnh Long bị sắp xếp cho gánh hai thùng phân, đi đến chỗ "Ngũ Cốc Luân Hồi" (*) để gánh những thứ bài tiết của đám quan binh và thợ thuyền. Hai vai Vương Cảnh Long sớm đã bị lở loét chịu không nổi, chưa hề có cơ hội để lành hẳn, giờ gánh đòn gánh khiến hắn đau như thể kim châm muối xát. (*: phiếm chỉ nhà xí, đây là cụm từ được trích trong tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân)

Hắn đang gánh hai thùng phân loạng choạng đi qua một bụi cây, bên tai đột nhiên có tiếng gọi vọng lại:
- Tam công tử!

Dứt lời, quản sự Vương Bình từ trong bụi cây chợt chui ra, lấm lét nhìn quanh một vòng rồi ôm chầm lấy Vương Cảnh Long, tuôn lệ như mưa, nói:
- Công tử, làm sao mà người bị đày đọa ra nông nỗi này rồi?

Lão nhìn Vương Cảnh Long tóc tai bẩn thỉu, mắt cá chân trần loang lổ vết máu, thân thể bị roi quất không còn ra hình dáng gì, không khỏi thương tâm rơi lệ.

Vương Cảnh Long vội buông gánh phân, lạnh lùng nạt khẽ:
- Giờ không phải là lúc khóc lóc. Nói mau, có phải là phụ thân kêu ngươi đến không?

Vương Bình lau nước mắt, vội gật đầu, rối rít nói:
- Lão gia biết nhà chúng ta đã đắc tội với mấy vị đại thần xây lăng, công tử gia đến đây nhất định sẽ cửu tử nhất sinh, do đó lúc gần đi đã an bài hết thảy. Tiểu nhân sẽ dốc lòng cứu người ra.

Vương Cảnh Long vô cùng sốt ruột, hỏi:
- Làm sao có thể chứ? Bên ngoài đế lăng có quan binh trấn giữ, ngươi xem bộ dạng hiện giờ của ta, lại đeo xích chân, chạy chưa được bao xa thì sẽ bị người ta bắt về rồi.

Vương Bình vội nói:
- Thiếu gia chớ gấp, lão gia đã có kế sách vẹn toàn rồi.

Lão ngẩng đầu nhìn chung quanh một chút, đoạn đạp đổ thùng phân, kéo tay Vương Cảnh Long nói:
- Mau! Theo tiểu nhân.
Vừa nói vừa kéo Vương Cảnh Long chui vào trong bụi cây.

Vương Quỳnh vì đứa con bảo bối của mình đã lao tâm khổ tứ. Trước lúc bị đày đi đã an bài gia bộc trung thành nhất là Vương Bình ở lại trong kinh, trước tiên tìm đến một gã quản sự mà năm đó lão tiến cử, nhờ hắn giúp đỡ mua chuộc một đám tội phạm liều mạng trợ giúp. Sau khi điều tra ra gia đình đưa rau đến đế lăng, đã yêu cầu bọn họ bán lại cửa hàng rau này. Sau đó chế ra chiếc xe la có ván lật lõm vào có thể giấu người, chuẩn bị cứu con mình ra.

Có điều, trong kế hoạch này thiếu mỗi thi thể có thân hình tương tự, vì vậy mới lần lữa đến giờ này. Mãi đến hôm qua, Vương Bình nghe ngóng được tú tài của một hộ gia đình đã qua đời, tuổi tác và thân hình tương tự với Vương Cảnh Long, nên mới thừa lúc đêm hôm đào mộ, trộm lấy thi thể chạy đến thái lăng.

Khi nãy đến công trường bốc dỡ rau dưa xong, thừa lúc kẻ khác không đề phòng Vương Bình đã cùng người của y mang thi thể đó đến một sơn cốc hẻo lánh, đeo cùm sắt lên, thay y phục tù nhân rách nát đã được phỏng chế vào, đập nát khuôn mặt rồi mới chạy về cứu thiếu gia.

Vương Bình dẫn Vương Cảnh Long đến chiếc xe la đang đậu bên bụi cây, mấy kẻ được dùng khoản tiền lớn mua chuộc đang đứng quanh xe, trông như thể mới vừa đi giải về, quan sát tình hình chung quanh. Vương Bình vội vã lên xe, dỡ một tấm ván gỗ ra, để lộ một máng lõm vỏn vẹn cho một người nằm, gấp gáp nói:
- Thiếu gia, mau nằm vào đi.

Vương Cảnh Long cũng không cố chuyện trò nữa, vội vã leo lên xe nằm vào máng. Vương Bình đậy kỹ tấm ván gỗ lại, lúc này mới buông lơi tâm tình căng thẳng, lại thoắt co giò ngồi lên xe. Đầu lĩnh trong mấy kẻ được thuê là một hán tử râu ria xồm xoàm, thấy chuyện đã ổn thoả, hắn phun cọng cỏ ngậm trong miệng ra, nhảy lên xe khẽ giậm chân lên tấm ván gỗ, nói:
- Ông chủ Ngưu, đây là huynh đệ ngươi à? Chuyện đã ổn thoả, chúng ta mau về thôi, nửa số bạc còn lại đó...

Vương Bình cười theo, nói:
- Hoàng lão đại cứ yên tâm, ta đã kêu người chuẩn bị tốt bạc rồi. Chỉ cần huynh đệ ta rời khỏi thái lăng đến nơi an toàn, bảy trăm lạng bạc còn lại lập tức sẽ được dâng lên bằng hai tay.

Hoàng lão bản mặt đầy râu ria nhe chiếc răng cửa vàng khè cười hài lòng, gọi:
- Các huynh đệ lên xe, đi nào.

Vương Cảnh Long nằm dưới đáy xe, nín thở, tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Chiếc xe rời khỏi công trường thái lăng, quan binh trấn giữ bên ngoài thấy đó là hai chiếc xe la đưa rau hàng ngày thì chỉ ngó sơ trên chiếc xe trống một chút rồi vẫy tay cho qua.

Cả người Vương Cảnh Long căng cứng, như thể bất cứ lúc nào cũng có thể bật dậy. Nghe gã quan quân đó quát ra lệnh cho qua, hắn mới như bị rút hết gân cốt nằm bẹp ở trong, lúc này mới phát hiện toàn thân đã ướt đẫm mồ hôi lạnh.

Nằm dưới đáy xe, hắn nghiến răng cười gằn, phát thệ trong lòng: "Ta đã trở về rồi, Ngọc Đường Xuân! Ngươi cứ chờ đi, Vương Cảnh Long bị ngươi hại thảm đến như vầy, ta sẽ không tham sống sợ chết mà mai danh ẩn tích. Ta muốn ngươi chết! Nhất định sẽ bức ngươi phải đau khổ không nói lên lời mà chết! Ha ha ha ha!"

oOo

Trước lầu Vũ Hoa phía tây bắc hoàng cung, hai tên tiểu thái giám mở cửa điện. Dương Lăng và Hoàng đế Chính Đức mặc thường phục, hai người một trái một phải đứng đưa mắt nhìn nhau, chần chừ một hồi lâu mới mang sắc mặt quái lạ bước vào.

Trong điện thờ cúng năm tượng phật, mỗi tượng đều cao đến đầu người, cố lắm mới nhìn ra được tất cả tượng phật đều là cảnh một nam một nữ quấn lấy nhau, chỉ là vóc dáng và tướng mạo hơi quái dị một chút.

Bốn tên tiểu thái giám theo vào, tay bê khay. Dương Lăng lấy trong khay ra ba cây nhang. Tiểu thái giám chạy qua, thắp hương nến trên bàn thờ của tượng phật chính. Dương Lăng dùng lửa nến thắp nhang, vung tay cho tắt lửa, rồi đưa cho Chính Đức.

Chính Đức bước tới trước ngắm nhìn năm tượng phật hình thù kỳ quái nọ, sau đó giơ tay vái ba vái, cắm nhang vào lư hương. Bốn tên tiểu thái giám thấy vậy lặng lẽ lui ra khỏi cửa cung rồi khép cửa lại.

Lúc này Dương Lăng mới ho khan một tiếng, nói:
- Hoàng Thượng, nhân luân đại sự, trên cúng tế tông miếu, dưới nối tục đời sau. Đại hôn Hoàng Thượng sắp đến, nên có hiểu biết về chuyện này mới là điều phải. A hèm, xin hãy nhìn chỗ này...

Y bước đến trước pho tượng phật thứ nhất, ngồi xổm xuống tìm cơ quan mà trên sách lễ tiết có thuyết minh, dùng sức xoay mấy vòng, tiếng “lầm rầm” vang lên, tượng phật nam nữ ôm nhau đó bắt đầu thực hiện động tác giao hợp một cách cứng nhắc. Dương Lăng lúng túng chỉ vào vị trí giao hợp, nói:
- Hoàng Thượng, người hãy nhìn chỗ này. Bậc tiên hiền cũng nói, “ăn uống và quan hệ nam nữ là dục vọng lớn nhất trong bản năng sinh tồn của con người (2)”. Người sau khi trưởng thành, sẽ cưới vợ thành thân. Phu thê ấy mà, sẽ làm chuyện giao hợp này, giống như vầy... vầy...

Hoàng đế Chính Đức thấy vậy mặt trắng bệch, hết hồn nói:
- Dương Thị độc, ngươi nói, là... là... là như vậy à? Trẫm và Hoàng Hậu cũng phải như vầy ấy ư?

Dương Lăng trông thấy bộ dạng khiếp vía của hắn, không khỏi cười khổ: “Hình như lúc trước mình đã suy nghĩ hơi quá đơn giản rồi. Rốt cuộc phải làm thế nào mới có thể khiến hắn cảm thấy hứng thú đây? Có thể nào kể cho hắn truyện tiếu lâm mặn không? Cho dù kể truyện tiếu lâm mặn thì hình ảnh và âm thanh phối hợp này cũng ảnh hưởng đến hứng thú à."

"Thầy giáo" họ Dương cố gắng suy nghĩ: "Chỉ cần không để hắn nảy sinh tâm lý khiếp sợ là được, cho dù mình thật sự dạy không rõ... Không phải sau khi học khoá lý thuyết này xong, Hoàng Thượng còn phải làm chuyện sinh hoạt phòng the với tám vị cung nữ được tuyển ra từ Ti môn, Ti trướng và Ti tẩm sao? Có những cung nữ trưởng thành làm tình với hắn, hắn còn có thể không hiểu sao? Người thầy như mình đây... hay là cứ dạy bừa cho có vậy..."






Chú thích:
(1) Ái chà! Đây không phải là kiểu chải chuốt, rửa ráy, trang điểm của phụ nữ; đơn giản là trói phạm nhân vào cột, dùng bàn chải đinh sắt cào da thịt mặt phạm nhân ra cho đến khi lòi xương, tắt thở thì thôi.

(2) Nguyên văn "ẩm thực nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên", trích từ phần Lễ vận trong Lễ ký (bộ Kinh Lễ, một trong Ngũ Kinh do Khổng Tử biên soạn hoặc hiệu đính).



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332


Đang đợi 112 của DarK_Blood, các bạn réo hắn đi!

Ba_Van
12-06-2011, 11:48 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 112 - Khởi Động



Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Dương Lăng vuốt chiếc mũi xinh xắn của nàng một cái, đáp:
- Thông minh đó! Hai ngày này tướng công sẽ không cần làm việc vất vả nữa, ngược lại Hoàng Thượng...,
Nghĩ đến tám vị nữ quan mỹ lệ đầy vẻ quyến rũ kèm với ánh mắt như muốn "ăn thịt" người ta đó, y không khỏi cười khổ nói tiếp:
- Ngược lại hai ngày này e là Hoàng Thượng sẽ phải chịu khổ rồi, cũng không biết ngài có vượt qua nổi hay không, hà hà...



------------------------

Chương 112 - Khởi Động

------------------------

Một thi thể bầy hầy máu thịt được lôi đến trước mặt Đới Nghĩa, Lý Đạc và Nghê Khiêm.

Đới Nghĩa tới gần quan sát kỹ một hồi, khi thấy cùm sắt, quần áo, hình dáng hoàn toàn không sai biệt, lão buột miệng cười lớn, nói:
- Các vị đại nhân! Tên Vương Cảnh Long này không chịu nổi lao dịch khổ sở, tính trốn khỏi Đế Lăng, không cẩn thận đã bị ngã xuống sơn cốc mà chết, không hề can hệ gì đến chúng ta. Nếu đám đại học sỹ có hỏi tới, vẫn mong các vị có thể làm chứng cho nhau.

Vương Cảnh Long tự tìm đến cái chết, Đới Nghĩa là người vui vẻ nhất. Vừa có thể tránh khỏi liên can, lại có thể lấy lòng xưởng đốc Nội xưởng sắp tân nhậm, sao có thể không vui chứ? Lý Đạc, Nghê Khiêm nghe xong gật đầu lia lịa. Song Dương Nhất Thanh lại đi quanh thi thể mấy vòng, mặt đầy vẻ nghi ngờ, khẽ lắc đầu nói:
- Không đúng! Các vị đại nhân, chuyện này hơi lạ.

Dương Nhất Thanh là người thân tín của Dương Lăng. Giờ đây Dương Lăng thăng chức như thuỷ triều dâng cao, không ai dám tiên đoán tiền đồ của Dương Nhất Thanh sẽ ra thế nào. Đới Nghĩa nào dám xem nhẹ gã, nghe vậy vội vàng khách khí hỏi:
- Dương hiệu úy có cao kiến gì?

Dương Nhất Thanh chỉ vào thây ma nói:
- Xin các vị đại nhân hãy nhìn xem! Mặc dù thi thể này dính đầy bùn đất, nhưng đều do lăn từ trên sườn dốc, bụi bặm cỏ dại trên quần áo lại không nhiều, hơn nữa trên mắt cá chân cũng không có dấu vết xây xước, trên người không có vết roi. Không lẽ Vương Cảnh Long chỉ té ngã mà mọi vết thương trên người đều mất sạch sao?

- A!
Một đốc công đang đứng cúi đầu khom lưng bên cạnh xác chết đột nhiên kêu lên một tiếng kinh ngạc, vội nói:
- Đúng rồi! Đúng rồi! Trước đây không lâu tên khốn này vừa mới ăn roi, trên cổ và vai đều có dấu roi.
Gã vừa nói vừa nhảy lại xé áo thi thể ra. Mọi người đều thấy rõ trên lưng và trên cổ tử thi, ngoại trừ những vết trầy xước do va chạm ra, những chỗ khác hoàn toàn không bị tổn thương gì.

Đới Nghĩa vừa kinh ngạc vừa giận dữ la lên:
- Thay mận đổi đào? Tên nhãi này đã trốn thoát rồi sao? Vậy thi thể này... trên núi nhất định đã có người giúp y trốn thoát. Thôi chết rồi, để khâm phạm này trốn thoát, ta phải quay về bẩm báo sao với Hoàng Thượng đây? Làm sao để Dương đại nhân biết đây? Giờ phải làm thế nào cho ổn đây?

Dương Nhất Thanh thoáng trầm ngâm suy nghĩ, rồi vội nói:
- Trừ chỗ vách núi đó ra, quanh Thái Lăng đều nằm dưới sự canh tuần, giam sát của quan binh Thần Cơ Doanh. Ti chức nhớ là giữa khoảng thời gian này nhân viên ra vào không nhiều. Đới công công, ti chức sẽ lập tức dẫn người truy đuổi trước. Xin công công điều tra bên trong Thái Lăng, không chừng tên thư sinh đó vẫn chưa kịp trốn đi.

Thị lang bộ Lễ Lý Đạc cười lạnh, nói:
- Giỏi cho Vương Quỳnh! Bản thân lão thì đã chạy đến Nam Kinh làm quan, cho dù Vương Cảnh Long có chạy trốn lão cũng sẽ không bị hiềm nghi. Tuy nhiên dám liều lĩnh bất chấp cái giá phải trả để cứu Vương Cảnh Long, ngoài lão thất phu đó ra thì còn ai nữa chứ? Đới công công, môn sinh bạn cũ của Vương Quỳnh ở trong kinh rất nhiều, đối với chuyện lão ta bị giáng chức đều có lòng bất mãn. Vương Cảnh Long trốn thoát, rất có thể hắn sẽ xuôi nam đến Kim Lăng, hoặc trốn đến chỗ huynh trưởng của hắn ở Chiết Giang. Vẫn còn một khả năng khác là... chính là to gan liều lĩnh đi đến nơi mà hắn không nên đến...

Đới Nghĩa giật mình, buột miệng thốt:
- Kinh sư?
Đoạn lão nghiến răng nói với Dương Nhất Thanh:
- Dương hiệu úy! Hãy nhanh chóng tra hỏi những kẻ khả nghi đã ra vào Đế Lăng hôm nay. Lý đại nhân! Nghê đại nhân! Làm phiền hai vị mang người kiểm tra tất cả quan binh thợ thuyền và các địa điểm trọng yếu của công trường có thể ẩu náu được.

Lão vẫy tay gọi một tiểu thái giám thân tín lại rồi dặn:
- Mau cầm lấy tấm thiệp của ta đến Đông xưởng một chuyến, mời Phạm công công sai người kiểm tra mọi con đường dẫn đến các giao lộ lớn nhỏ của Kim Lăng và Giang Chiết, cũng phải chiếu cố kỹ những nhân vật trong kinh có quan hệ mật thiết với Vương Quỳnh.

Kinh sư nằm dưới chân thiên tử. Đới Nghĩa tuy kiêu ngạo cũng không dám điều động kinh quân (quân đồn trú trong kinh - ND) và Ngũ Thành binh mã ty(1) lục soát khắp thành giống như thời Thọ Ninh hầu được vua Hoằng Trị sủng ái, nên lão chỉ điều động những bọn đầu sỏ mà Đông xưởng khống chế âm thầm gia tăng chú ý. Lão thoáng trầm ngâm rồi nói tiếp:
- Còn nữa! Báo với Dương đại nhân một tiếng, bảo y đề phòng cẩn thận.

...

Tám thiếu nữ, mỗi người thướt tha mỗi vẻ , khuôn mặt xinh xắn đỏ rực đang đứng trước mặt Dương Lăng. Phó sứ lễ đại hôn chỉ phụ trách chỉ điểm lễ tiết lúc hầu hạ Hoàng Đế, còn chuyện quan hệ nam nữ đã có nữ quan nội cung truyền thụ. Dương Lăng thở phào một hơi nhẹ nhõm, nếu không sợ rằng đến lúc đối diện với Chính Đức sẽ còn khó xử lắm đây.

Những âm thanh kẽo cà kẽo kẹt không ngừng của năm pho tượng Bồ Tát trong lầu Vũ Hoa như vẫn còn vọng lại bên tai y, hàm răng vẫn còn ê buốt. Dương Lăng cắn răng, nghiêm mặt nhìn thẳng vào một cây cột trạm trổ rồng uốn lượn trong điện rồi nói:
- Mỗi ngày bốn người vào hầu, hai lượt liên tục. Vào tẩm cung của Hoàng Thượng, phải nghiêm ngặt tuân thủ quy củ...

Dương Lăng càng nói càng cảm thấy không được thoải mái. Nếu biết ngoài việc làm người chủ trì cho nghi thức hôn lễ, phó sứ của thiên tử còn phải làm mấy trò này, y sớm đã mượn cớ xin khước từ rồi. Đâu đến nổi như hiện nay, cho dù y có nói thế nào cũng vẫn cảm thấy mình giống như là đại tổng quản của Kính Sự phòng (2) vậy.

Tám mỹ nữ mi thanh mục tú động lòng người đó tuy không nén được chút xấu hổ trên khuôn mặt khi nghe mấy chuyện nam nữ này, nhưng trong ánh mắt bọn họ lại là niềm thích thú và hưng phấn, thậm chí là... lửa dục!

Rõ ràng đây là những mỹ nhân yểu điệu, nhưng trong ánh mắt ấy của mỗi người lại bùng lên một ngọn lửa... một ngọn lửa dục vọng đủ để thiêu đốt đàn ông thành tro. Dương Lăng chỉ liếc một cái thì đã không khỏi rùng mình mấy lượt.

Một khi vào cung, những cung nữ này sẽ phải ở lại nơi đây cả đời, tận đến khi tiêu phí hết thanh xuân, rồi bị người ta quẳng vào trong giếng hỏa táng thành tro bụi. Cho dù gặp được Hoàng Đế có lòng hảo tâm thải những cung nữ lớn tuổi về quê, lúc đó bọn họ cũng đã quá ba mươi tuổi, còn có thể lấy ai được chứ?

Giờ đây may mắn được tạo điều kiện để hầu hạ Hoàng Đế, từ nay về sau bọn họ sẽ là nữ quan có thân phận, mặc dù không thể được phong làm phi, nhưng mỗi tháng có thể nhận được kha khá bổng lộc, không cần phải làm việc cực nhọc nữa. Có được cơ hội này, bọn họ thật sự đã thoát ly bể khổ, một bước lên trời rồi. Vả lại e rằng đây sẽ là cơ hội đầu tiên và là duy nhất trong đời bọn họ tiếp xúc với nam nhân, tuy vì ngại ngùng không dám biểu hiện ra, nhưng trong lòng sao không mừng điên lên được chứ?

Dương Lăng ngâm nga một cách vô vị:
- Sau khi tắm rửa, không được mặc lại y phục, công công kiểm tra xong sẽ lấy chăn gấm quấn các người lại, đưa vào tẩm cung Hoàng Đế. Các người nhớ kỹ, Hoàng Thượng nằm trên giường, chỉ để lộ hai chân ra ngoài. Sau khi công công lui ra khỏi phòng, các người phải từ bên phía “long trảo” (tay vua - ND) đưa ra mà chui vào chăn, sau đó cùng vua giao hợp. Không được nhầm vị trí.

Dương Lăng khịt mũi, đoạn nói tiếp:
- Công công sẽ chờ ở bên ngoài, khi đến giờ sẽ gọi các người, các người phải lập tức lui ra. Nếu như Hoàng Thượng giữ lại, cũng không thể quá hai lần gọi của công công. Nhớ kỹ, không được xoay lưng về phía Hoàng Thượng, phải bò ngược xuống giường...

Nói đến đây, Dương Lăng trộm nhìn những mỹ nữ thân thể dịu dàng xinh đẹp, mỗi người một vẻ trước mắt, không khỏi thầm lắc đầu: "Rốt cuộc thì làm Hoàng Đế có gì hay chứ? Ngay cả chuyện này cũng có người quản, lắm quy củ thối hoắm như thế! Hoàng Đế nằm trên giường như vậy, ngoài dục vọng với nữ nhân làm sao còn tự do để vuốt ve trò chuyện yêu đương nữa? Tiểu Chính Đức đáng thương, chỉ mong sao chú có thể thích ứng được với loại sinh hoạt này...

. . .

Lúc này Chính Đức đang hết sức cao hứng chỉ huy đám tiểu thái giám treo đèn màu do Ninh vương dâng trong các cung Khôn Ninh, Càn Thanh, và Ngự Hoa Viên. Còn ba ngày nữa là đại hôn, tuy bây giờ chưa được đốt pháo hoa nhưng y đã không thể chờ nữa mà cho treo đèn lồng lên luôn. Khi đêm đến, Chính Đức vẫn bồi hồi lưu luyến trong biển đèn lồng rực rỡ như ngân hà, không ngủ được vì cao hứng.

Hồng Lư Quan của bộ Lễ không ngừng lẽo đẽo theo sát bên Chính Đức không rời dù chỉ một khắc, hổn hển báo cáo với hoàng đế về tiến độ thu xếp các hạng mục, khiến y bực mình khoát tay bảo:
- Đừng nói mấy chuyện này với trẫm. Thái hoàng thái hậu, Thái hậu và ba vị đại học sỹ đồng ý là được rồi.

- Dạ dạ dạ! thần tuân chỉ.
Hồng Lư Quan với mái tóc bạc phơ vội vã đáp lời, song vẫn đuổi theo sau mông y bẩm tiếp:
- Ngày đại hôn, lúc Hoàng Hậu nương nương và Hoàng Thượng giao bái thiên địa, tuyên lễ thành thân, phải có bốn vị Cáo Mệnh phu nhân bên cạnh phụ giúp. Phụng ý chỉ của Thái hoàng thái hậu và Thái hậu, thần đã tuyển chọn ra bốn vị nhất, nhị phẩm Cáo Mệnh phu nhân của Thành Quốc công, Phụ Quốc công, Thọ Ninh hầu và Lâm Hoài hầu, Hoàng Thượng có vừa ý không?

Chính Đức đang ngắm nghía một chiếc đèn lồng hình con cá có vảy bằng giấy dát vàng, nghe vậy bèn suy nghĩ một chút rồi nói:
- Bỏ phu nhân của Thọ Ninh hầu đi, thay bằng... Ừ, thay bằng phu nhân của Uy Vũ bá. Ha ha, đó là vị Cáo Mệnh phu nhân đầu tiên mà trẫm phong hiệu từ lúc đăng cơ đến nay đó.

Hồng Lư Quan lộ vẻ khó xử, lão bẩm:
- Hoàng Thượng! Bốn vị Cáo Mệnh phu nhân này đều là những người con đàn cháu đống, một năm gần đây đã chiếm được sự yêu mến của nương nương, sẽ phù hộ Hoàng Thượng có lắm con nhiều cháu. Còn phu nhân của Uy Vũ bá phẩm hàm đã thấp, lại không con nối dõi, hình như không thích hợp lắm. Vả lại Thọ Ninh hầu là đương kim quốc cữu, nếu thay phu nhân của quốc cữu đi, bên thái hậu sẽ...

Chính Đức cả giận nạt:
- Lúc trước nói tới những chuyện này, trẫm không để ý đến thì ngươi cứ muốn đến hỏi trẫm, giờ trẫm đã có quyết định, ngươi lại đưa ra một đống lý do để ngăn cản trẫm! Hừ! Có phải là ngươi đang đùa bỡn thiên tử không?

Hồng Lư Quan lật đật quỳ sụp xuống tâu:
- Thần không dám! Thần thật sự không dám, xin Hoàng Thượng bớt giận.

Hoàng đế Chính Đức cười nhạt:
- Sợ cái rắm ấy! Sắp đến đại hôn của trẫm rồi, nghĩa là trẫm đã sắp trưởng thành, các ngươi vẫn còn coi trẫm như con nít ư? Hừ, nghĩ là trẫm không nhìn ra à? Các ngươi làm ra vẻ như chuyện gì cũng phải thông qua sự đồng ý của trẫm, thật ra trong lòng sớm đã quyết định. Cứ tự cho là mình thông minh! Hừ! Ngươi không làm phiền trẫm, trẫm cũng lười chẳng để ý đến ngươi, nếu ngươi đã hỏi, thì trẫm sẽ ra quyết định. Phu nhân Uy Vũ bá phẩm hàm thấp hử? Thấp thì khâm phong làm nhất phẩm Cáo Mệnh đi! Nàng ấy không có con nối dõi hử? Được, câu này trẫm cũng gửi lại cho ngươi, chờ khi phu nhân Uy Vũ bá mang thai, trẫm sẽ xử ngươi tội khi quân!

Hồng Lư Quan mặt vàng như nghệ, dập đầu lia lịa:
- Dạ dạ dạ, thần sẽ theo ý Hoàng Thượng, nhưng mà những người này... Thái hoàng thái hậu và Thái hậu đã quyết định, nếu lại thay thì sợ rằng không thoả đáng. Chi bằng... chi bằng thần chọn lựa thêm một vị tam phẩm Cáo Mệnh phu nhân vào cung cùng với phu nhân của Uy Vũ bá, sửa “tứ Cáo Mệnh” thành “lục Cáo Mệnh”, Hoàng Thượng thấy sao ạ?

Lúc này Chính Đức mới đổi giận thành vui, liếc lão ta một cái rồi đắc ý nói:
- Coi như ngươi thông minh, đi truyền chỉ đi.

Hồng Lư Quan nghe xong như được đại xá. Đi mời mấy nữ khách quý cho Hoàng Thượng mà suýt nữa biến thành mời đầu mình rời khỏi cổ, lão nào còn dám lải nhải nữa. Lão liền vội bò dậy lủi nhanh như chớp về ty Lễ Giám, sai người đi truyền chỉ.

Gian nan vất vả mãi, Dương Lăng mới dặn dò hết mấy chục quy củ "lên giường cùng Hoàng Đế" cho tám cô cung nữ mỹ lệ đầy ắp xuân tình. Sau khi ra khỏi điện, y rút từ trong ngực ra một tờ giấy xem một lát. Bây giờ việc còn lại cần y làm chỉ là vào ba ngày sau sẽ đi nghênh đón một vị Hoàng Hậu và hai vị Hoàng Phi vào cung thôi.

Xem xong, bất giác Dương Lăng thở phào nhẹ nhõm. Mấy ngày nay có quá nhiều lễ nghi cần phải chuẩn bị, có lúc bận đến tận khuya, y đành phải ngủ đỡ trong triều phòng (3), đã hai ngày rồi chưa về nhà. Cuối cùng bây giờ cũng đã "đến hồi kết".

Y đi đến cung Càn Thanh trước. Khi nghe nói Hoàng Đế Chính Đức đang tự mình chỉ huy bố trí treo đèn trong Ngự Hoa viên, y bèn vội thừa cơ rời khỏi hoàng cung. Y cũng không ngồi kiệu mà chỉ cưỡi một thớt khoái mã, đem theo bốn thị vệ tùy thân chạy về Tây giao (vùng ngoại ô phía tây kinh thành).

Vừa vào trong phủ Uy Vũ bá, Dương Lăng đã thấy trong phủ giăng đèn kết hoa, khắp nơi tràn ngập không khí vui vẻ.

Lúc này đã qua hai mươi bảy ngày chịu tang (*) cho vua Hoằng Trị, trên xà ngang của tòa tam tiến viện(**) đều được đều được treo đèn đỏ, dọn dẹp rực rỡ hẳn lên. Khắp sân bươm bướm tung tăng bay lượn quanh những khóm hoa tươi, khiến người ta nhìn mà lòng khoan khoái. (*: nguyên văn là "tam cửu thủ hiếu kỳ", ba lần chín hai bảy ngày)
(**): xem video http://v.youku.com/v_show/id_XODIzNzQxNTY=.html)

Dương Lăng thấy vậy lấy làm kỳ lạ, hỏi lão quản gia đang bước tới nghênh đón:
- Cao quản gia! Vì sao đại hôn của Hoàng Thượng mà nhà chúng ta cũng phải bố trí như vậy? Mọi nơi cùng ăn mừng sao?

Cao quản gia bật cười đáp:
- Chắc lão gia ở trong cung bận rộn quá mà đã quên mất chuyện lớn của chính mình rồi? Sao người lại quên ngày đại hôn của Hoàng Thượng cũng chính là ngày vui của người chứ. Phải nói nha, đây chính là chuyện mừng do Hoàng Thượng ban thưởng. Tuy rằng nó không phải là ngày lão gia cưới đại phu nhân vào nhà, nhưng ngày cưới hai vị tiểu phu nhân vào nhà cũng không thể làm qua loa, cho nên phu nhân đã sớm cho thu xếp chuẩn bị cả rồi.

- À!
Dương Lăng chợt dừng bước. Hai ngày nay bận tối mày tối mặt, thật sự y đã quên mất chuyện của chính mình. Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai gả vào nhà ư? Sắp làm vợ mình rồi ư?

Dưới ánh dương tươi đẹp, lọt vào tầm mắt là một khu vườn rực rỡ, xộc vào mũi là những hương thơm dịu nhạt. Trong nhất thời trong lòng Dương Lăng ngổn ngang trăm mối cảm xúc, chợt nhớ lại tình huống lần đầu tao ngộ hai cô. Lúc đó mình chưa hề nảy sinh tình cảm gì với bọn họ, vốn chỉ là lữ khách tình cờ gặp nhau. Ai biết được thoắt một cái đã lại biến thành người đầu gối tay ấp bên nhau trọn đời.

Ngẩn ngơ, y dường như lại nhìn thấy Tuyết Lý Mai mặc chiếc áo lụa mỏng thêu hoa, váy dài xanh màu lá mạ oán hận từ trong Tú lầu bước ra, khuôn mặt xinh xắn đang đanh lại bắt bẻ Nghiêm Khoan. Còn có Ngọc Đường Xuân mang theo tiếng thở dài dằng dặc như tiếng sáo chợt xuất hiện trong lầu gác, y phục trắng như tuyết, mái tóc dài lượn quanh, khi chăm chú nhìn như một vầng trăng sáng.

Còn có... còn có... còn có Đường Nhất Tiên xinh xắn hoạt bát với giọng nói ngọt ngào ấy nữa...

Nghĩ đến Đường Nhất Tiên giờ đây chưa rõ sống chết, lòng Dương Lăng chợt trở nên u ám. Sau khi Đường Nhất Tiên mất tích, Cẩm Y vệ và quan phủ địa phương dưới sự nhờ vả của y quả thực đã ra công dốc sức tìm kiếm kỹ lưỡng, nhưng thuỷ chung vẫn không tìm thấy tung tích của nàng. Tuy trong lòng Dương Lăng đã có chín phần xác tín nàng vẫn chưa chết, nhưng... vì sao đến giờ nàng vẫn chưa hiện thân?

Dương Lăng lo lắng nhất chính là, mặc dù nàng đã được cứu, nhưng kẻ cứu nàng lại thấy nàng đẹp mà nổi lòng hưu dạ vượn, đem nàng giam cầm. Một người con gái yếu ớt cô độc lại không thể phản kháng, vậy sẽ có một kết cục gì? Mỗi khi nghĩ đến chuyện này trong lòng y lại hết sức bất an, cho nên y luôn cẩn thận né tránh không nghĩ đến nó. Nhưng hôm nay câu "cưới hai vị tiểu phu nhân vào nhà" đã lại chạm vào nỗi đau trong tim y.

Dương Lăng lặng lẽ khoát tay, một mình bước vào nhà trong. Bốn người Hàn Ấu Nương, Cao Văn Tâm cùng với vị đại tẩu Trương Thị kiệm lời đều đang cười nói trong phòng khách. Trên bàn bày ba bộ gấm bào rực rỡ và ba chiếc mũ trân châu có đính kim thoa ngọc bích đang khẽ rung rinh theo gió.

Vừa bước vào trông thấy vậy, Dương Lăng lấy làm lạ hỏi:
- Đây là gì vậy? Trang trí nhiều châu báu quá! Là trọng lễ của ai đưa đến thế?

Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai thấy y đã về, thẹn thùng yêu kiều kêu lên một tiếng, vội vàng chạy đến mỗi người ôm lấy một bộ gấm bào đỏ thẫm và mũ trân châu, đỏ mặt nhún người chào "Lão gia!" rồi bỏ chạy mất.

Cao Văn Tâm nén cười, hành lễ:
- Tiểu tỳ ra mắt lão gia. Hai bộ đồ khi nãy không phải của người ta tặng, mà là khăn choàng và mũ phượng. Có điều chúng đều là đồ phỏng chế, là... là của Tuyết Nhi cô nương và Ngọc Nhi cô nương chuẩn bị để mặc lúc xuất giá ạ.

Vào thời Thái Tổ, được Mã hoàng hậu ân điển, nhân dân trăm họ được phép phỏng chế khăn choàng và mũ phượng. Phụ nữ trời sinh đã thích đồ đẹp, giờ thấy khăn choàng và mũ phượng này, bọn họ quây lại cùng nhau sôi nổi tán chuyện một hồi, thậm chí còn đề cập đến một số chuyện trong khuê phòng cũng là điều bình thường. Khó trách sau khi thấy mình thì các nàng đã xấu hổ bỏ chạy.

Dương Lăng rờ mũi, có chút ngài ngại. Nhìn thấy trên bàn còn một bộ gấm bào, y không khỏi thất kinh hỏi:
- Sao vẫn còn một bộ? Bộ... bộ này lại là của ai đây?
Y vừa hỏi vừa không kiềm lòng nhìn sang Cao Văn Tâm.

Không dưới một lần Hàn Ấu Nương đã nhắc đến tình nghĩa Cao Văn Tâm đối với nhà họ Dương và thân thế đáng thương của nàng, thỉnh cầu tướng công đồng ý thực hiện lời hứa của nàng khi cùng bọn họ kết bái (lời hứa mọi người cùng ngồi chung thuyền Dương Lăng), nhưng mà y vẫn chưa ưng thuận. Lúc này nhìn thấy khăn choàng mũ phượng y còn tưởng Hàn Ấu Nương tự nghĩ tự làm, muốn gả luôn Cao Văn Tâm cho y.

Cao Văn Tâm là người con gái lanh lợi cỡ nào, bốn mắt vừa chạm liền lập tức hiểu ngay Dương Lăng đang nghĩ những gì, khuôn mặt nàng tức thì đỏ lên như quả táo chín, cả người cũng bắt đầu thấy mất tự nhiên.

Hàn Ấu Nương nhìn thấy vậy cũng không biết là hiểu hay không hiểu, chơp chớp mắt rồi cười duyên dáng nói:
- Bộ này là của thiếp mà! Nè, chàng xem, trên gấm bào của hai cô vừa rồi thêu phượng hoàng, còn bộ của thiếp là thêu chim công. Đây là bộ áo bào tam phẩm Cáo Mệnh mà Hoàng Thượng ban thưởng, tướng công lại nghĩ là của ai chứ?

Hàn Ấu Nương vừa nói lời này, Cao Văn Tâm càng ngượng không dám ngẩng đầu lên. Nàng đưa tay giật mép áo của Trương Thị, hỏi khẽ:
- Trương phu nhân! Có phải hai ngày nay ve kêu rền rĩ khiến cho người ngủ không được ngon không? Tiểu tỳ đi pha thuốc thanh thần dưỡng khí cho người dùng đây.

Là người từng trải, Trương Thị cũng nhìn ra bầu không khí nhuốm vẻ ám muội. Đương nhiên nàng ta không nói toạc ra là mình ăn rất tốt, ngủ rất ngon, bệnh gì cũng không có, liền vội đáp lời, theo Cao Văn Tâm rời khỏi.

Dương Lăng ngượng nghịu hỏi:
- Hoàng Thượng ban thưởng bộ quan phục này, không phải là nàng vẫn luôn tiếc không lấy ra mặc sao? Sao giờ lại lấy ra rồi...?

Hàn Ấu Nương hớn hở đáp:
- Tướng công vẫn chưa biết hay sao? Người trong cung đã đến truyền chỉ: Hoàng Thượng nói muốn Ấu Nương vào bầu bạn với Hoàng Hậu đó.

Nói rồi nàng ôm lấy tay Dương Lăng líu lo:
- Cuối cùng lần này Ấu Nương đã có thể kiến thức phong cảnh của hoàng cung rồi. Nơi ở của chân long thiên tử đó nha!

Nghe nàng nói vậy, Dương Lăng bật cười đáp:
- Vậy là quá tốt! Ngày đại hôn của Hoàng Đế, ta làm người chủ trì, nàng làm cô phù dâu, chỉ là không biết Hoàng Thượng có lì xì cho chúng ta phong bao thật dày không nhỉ, khà khà khà...

Ấu Nương không hiểu ý nghĩa của "người chủ trì" và "bao lì xì", còn tưởng đó là một trong những danh từ nghi lễ trong đại hôn của hoàng đế, nàng mỉm cười hỏi:
- Tướng công trở về sớm như vậy, chẳng lẽ hai ngày này có thể nhàn hạ rồi ư?

Dương Lăng vuốt chiếc mũi xinh xắn của nàng một cái, đáp:
- Thông minh đó! Hai ngày này tướng công sẽ không cần làm việc vất vả nữa, ngược lại Hoàng Thượng...,
Nghĩ đến tám vị nữ quan mỹ lệ đầy vẻ quyến rũ kèm với ánh mắt như muốn "ăn thịt" người ta đó, y không khỏi cười khổ nói tiếp:
- Ngược lại hai ngày này e là Hoàng Thượng sẽ phải chịu khổ rồi, cũng không biết ngài có vượt qua nổi hay không, hà hà...

Ngọc Đường Xuân ôm bộ đồ tân hôn của mình đỏ mặt chạy về khuê phòng. Tim nàng vẫn còn đang đập thình thịch. Thường ngày nàng chỉ mong sao được gặp lão gia nhiều hơn một chút, nhưng mắt thấy ngày bước vào nhà họ Dương càng lúc càng đến gần, nhi nữ hoài tình, ý nghĩ xấu hổ đó cũng càng lúc càng tăng.

Nàng thu xếp quan phục lại gọn gàng, chờ khuôn mặt bớt nóng, mới rón rén rời khỏi phòng sau. Vừa mới bước vào sảnh chính, đúng lúc Cao quản gia từ ngoài sảnh bước vào, vừa nhìn thấy nàng thì mừng ra mặt, thưa:
- Tô tiểu thư, cô đến thật đúng lúc quá! Đây là phong thư, lão nô đang muốn đưa cho cô đây.

- Thư? Có người đưa thư cho ta ư?
Ngọc Đường Xuân ngạc nhiên hỏi lại.

Lão quản gia cười hùa, đáp:
- Phải, ờ... là một người thân của tiểu thư đó.

Lấy làm lạ, Ngọc Đường Xuân hỏi:
- Người lão nói đâu rồi?

Lão quản gia cười đáp lời:
- Người đó đưa thư xong thì bỏ đi ngay, bảo là trong thư sẽ nói rõ, còn những thứ khác lão thật sự không biết.

Vừa nói lão vừa thầm nghĩ: “vị cô nương này đã sắp trở thành thiếp nhà Uy Vũ bá rồi, trong nhà đột nhiên lòi ra tên thân thích nghèo đến làm tiền, bị hạ nhân như mình biết được thì mất mặt biết dường nào chứ? Thôi thì mình cứ làm ra vẻ hồ đồ vậy.” Lão quản gia thông thạo sự đời, nói xong liền trao thư rồi kiếm cớ rời đi.

Kinh ngạc nhận lấy thư xong, thần sắc Ngọc Đường Xuân đầy vẻ mờ mịt. Người thân ư? Người thân của mình ở đâu ra?

Nàng ngập ngừng bước vào ngồi trong thư phòng của sảnh chính rồi mở phong thư trong tay ra. Chỉ vừa lướt mắt nhìn qua chữ ký dưới phong thư, nàng liền đứng bật dậy, cả người run lẩy bẩy như thể đang gặp phải một nỗi khiếp sợ dị thường.

Chu Ngạn Hưởng, Chu Ngạn Hưởng! Không ngờ người cha ruột của nàng lại từ trên trời rơi xuống xuất hiện trước mặt nàng, khúm núm ghi thẳng tên với con gái của chính mình. Cái tên này gắn liền với nỗi đau và nước mắt của nàng đã chôn vào đáy lòng quá lâu quá xa, giờ chợt xuất hiện khiến lòng nàng bị chấn động mạnh, đầu óc quay cuồng. Nàng vội vã vịn vào bàn, nước mắt không kiềm được đã rơi xuống từng dòng lã chã: "Tại sao là ông ta? Tại sao lại là ông ta? Ông ấy còn đến tìm mình để làm gì?"

Ngọc Đường Xuân cố ép mình phải quên, nhưng trước giờ nàng chưa bao giờ thật sự quên được, chưa quên được cái tên này, chưa quên được người cha ruột đã mang đến cho nàng thân tình và tình thương của người cha, vừa lại nhẫn tâm đẩy nàng vào nơi hố lửa, chưa quên được kẻ đọc sách nghèo khó vô lương, ăn uống chơi bời này.

Từ khoảng khắc nàng lưu lạc vào trốn phong trần ấy, nàng đã quyết định quên hết mọi thứ về con người đó, thậm chí quên cả cái tên gốc của chính mình, cái tên thật đẹp mà nàng đã không xứng đáng có: Chu Ngọc Khiết.

Ngọc Khiết, băng thanh ngọc khiết (ngọc ngà trong trắng - ND), người con gái lưu lại chốn phong trần còn xứng được gọi cái tên này sao? Nàng được gọi là Ngọc Đường Xuân, gọi là Tô Tâm, là Ngọc Tỷ Nhi. Giờ đây, khi nàng đã rửa sạch phấn son, chuẩn bị trọn đời trọn kiếp bầu bạn với lang quân của nàng, truy tìm hành phúc của chính mình thì tại sao ông ấy lại tìm đến cửa chứ?

Hai mắt đẫm lệ, Ngọc Đường Xuân cầm phong thư lên, thút thít đọc...




Chú thích:
(1) Năm Vĩnh Niên thứ hai (tức năm 1404), triều đình thiết lập ty chỉ huy quân đội Bắc Kinh. Sau khi đóng đô ở Bắc Kinh phân ra lập thành ty binh mã Ngũ thành (Ngũ thành binh mã ty), tức năm thành Trung, Đông, Tây, Nam, Bắc. Chỉ huy ty binh mã Ngũ thành là quan có hàm Chánh lục phẩm. Mỗi ty thiết lập một chỉ huy, bốn phó chỉ huy và một tiểu lại phụ trách trị an các loại, tương đương với khu cảnh vệ Bắc Kinh và cục công an bây giờ.
(2) giống phòng hành chính và tài vụ, tạp vụ.
(3) phòng nghỉ cho quan lại trước khi thiết triều


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332


Sẽ bù!

Ba_Van
14-06-2011, 11:27 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 113 - Phần 1
Không Làm Quân Tử



Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: ThuỷChi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Hắn không ngừng cao hứng cười điên cuồng:
- Đến lúc đó, mắt ngươi không thể nhìn, tai không thể nghe, miệng không thể nói, tay chân không có, bẩn thỉu dơ dáy như heo, chỉ mong Dương Lăng sẽ vẫn thương ngươi, yêu ngươi, ha ha ha ha...





------------------------
Quyển ba - Vừa lên ngôi báu
Chương 113 - Không Làm Quân Tử
------------------------
Vương Bình với bộ dạng thư sinh thảm hại còng lưng rời khỏi phủ Uy Vũ bá. Khi đến chỗ mấy gốc dương liễu rủ gần đầu cầu qua suối, hắn lập tức thẳng lưng rảo bước.

Từ sau khi Dương Lăng vào ngục, chúng nữ ngăn cản pháp trường, mọi người đều biết đến thân thế của Ngọc Đường Xuân. Vương Cảnh Long và Vương Bình định lợi dụng chuyện này làm cớ. Vì thể diện của tiểu phu nhân, Cao quản gia nhất định sẽ lặng lẽ giao thư đến tận tay nàng, như vậy kế hoạch đã thành công được một nửa.

Theo kế hoạch của Vương Quỳnh lúc đầu, sau khi Vương Cảnh Long được cứu ra sẽ lập tức phóng ngựa đưa hắn đến Giang Nam. Nhưng Vương Cảnh Long đã bị thù hận làm mê muội đầu óc, thà ngọc nát đá tan, cũng quyết không trộm kiếp sống thừa; bất đắc dĩ Vương Bình đành phải phối hợp với kế hoạch của hắn.

Hai người đàn ông mặc áo xám đội mũ trúc rộng vành bước vòng ra từ sau một đống rơm khô chất trên sân phơi. Một người khoảng chừng ngoài hai mươi tuổi dán mắt vào Vương Bình đang bước vội trên con đường ven sông đầu thôn cười nói:
- Mấy kẻ xuất thân từ Xưởng Vệ ra đều ngu xuẩn như vậy sao? Chẳng lẽ hắn không thể đợi ra khỏi thôn rồi mới thẳng lưng lên được à?

Người áo xám còn lại trạc ba mươi cẩn thận liếc chung quanh một chút rồi nói:
- Không thể trách hắn, cho dù là phủ đệ của vương hầu công khanh, ai mà rảnh đi bố trí người giám sát ở ngoài cửa chứ? Ngươi đi theo hắn, ta quay về bẩm báo với Bả tổng.

Dương Lăng biết chuyện chuẩn bị thành lập Nội Xưởng sớm muộn gì cũng sẽ "ngửa bài" với Cẩm Y vệ và Đông Xưởng. Trong Cẩm Y vệ, Liễu Bưu chỉ là một hiệu uý cỏn con luôn hết mực trung thành với mình, trong thời gian y bị giam trong ngục cũng đối đãi với Ấu Nương rất cung kính. Hơn nữa kế hoạch thành lập Nội Xưởng của y cũng thật sự thiếu người, nên thẳng thắn ngỏ lời với Liễu Bưu. Muốn Liễu Bưu giết quan tạo phản thì gã không dám làm, nhưng đi theo Dương Lăng thăng quan phát tài, gã có lý do gì mà không đồng ý đây?

Thế là Liễu Bưu một lòng quyết tâm theo Dương Lăng ra đi. Để đề phòng Đông Xưởng và Cẩm Y vệ có người to gan lớn mật gây chuyện bất lợi cho người thân, Dương Lăng đã cẩn thận dặn dò Liễu Bưu canh phòng nghiêm ngặt. Đương nhiên Liễu Bưu cũng dốc hết sức mình.

Năm trăm thân quân này đều là những kẻ lực lưỡng được tuyển lựa ra từ trong quân trinh sát, lại trải qua sự huấn luyện đặc biệt của bọn Hàn Lâm và Liễu Bưu trong núi, cho nên ai nấy đều là cao thủ ẩn nấp, theo dõi và ám sát. Liễu Bưu đã bí mật bố trí mấy chục người ngày đêm theo dõi canh chừng chung quanh Dương phủ. Thôn trang nhỏ này vốn ít có người ngoài, giờ cho dù có con ruồi lạ bay vào sợ rằng cũng đừng hòng qua mắt bọn họ.

Dương Lăng trông thấy Liễu Bưu vào trong phòng khách, nghe gã bẩm báo xong thì nghi hoặc hỏi lão quản gia:
- Vừa rồi có một thư sinh trung niên ghé qua phủ phải không?

Cao quản gia thưa:
- Lão gia, đúng là có người như vậy. Người đó nói là bà con xa của Tô tiểu thư, nghe được Tô tiểu thư gả vào nhà chúng ta, muốn xin tiểu thư tiếp tế một chút. Lão nô nghĩ đây cũng không phải là chuyện vinh dự gì, sợ Tô tiểu thư bị mất thể diện, nên đã lén giao phong thư của người thân tiểu thư cho người rồi, cho nên chưa thưa bẩm với lão gia, mong lão gia thứ tội.

Dương Lăng nghi ngờ hỏi:
- Họ hàng của nàng ấy ư? Làm gì có đạo lý đến nhà làm tiền mà đưa thư xong lại vội vã rời khỏi chứ?

Liễu Bưu bổ sung:
- Không chỉ là vậy, khi đến kẻ đó là một thư sinh gù lưng, nhưng vừa ra khỏi cổng thôn liền thẳng lưng vội vã rời đi. Nếu là họ hàng nghèo khó đến nhà sao lại phải lén lút như vậy, chuyện này nhất định có điều mờ ám.

Dương Lăng lo là Tô Tam quả thật có ẩn tình riêng, đang cân nhắc xem có nên đi hỏi nàng hay không thì một gia bộc chạy đến báo:
- Lão gia, có người đưa tin của Đới công công muốn gặp lão gia.

Dương Lăng vội kêu người đưa tên tiểu thái giám đưa tin vào sảnh, nhận lấy thư mật của Đới Nghĩa, mở ra xem một hồi lâu, đột nhiên xoa tay vo tròn phong thư lại, nhếch miệng cười.

*********************

Chùa Diệu Ứng, còn gọi là chùa Bạch Tháp, nằm gần cổng thành trên con phố lớn phía bắc kinh sư. Hai cỗ kiệu nhỏ đến trước cổng chùa, rèm kiệu vén lên, hai mỹ nhân xinh đẹp như tranh bước ra.

Hai mỹ nhân này, tóc đen như gỗ mun, cùng vận áo cánh màu xanh biếc, váy lụa màu xanh nhạt, hài cong khẽ di chuyển, nếp váy chậm rãi đong đưa, lượn lờ như làn nước, càng hiện rõ phong thái thướt tha, phiêu diêu như làn sóng xanh trong vắt. Hai người con gái mỹ lệ tức thì lôi cuốn ánh mắt của đám khách hành hương.

Tuyết Lý Mai buồn chán đã lâu, hôm nay lần đầu được cùng Ngọc Đường Xuân ra khỏi nhà cho nên tâm tình hết sức vui vẻ. Nàng cũng không chú ý đến vẻ do dự không muốn cất bước của Ngọc Đường Xuân, lập tức chạy thẳng vào đại điện, tranh lấy bồ đoàn rồi gọi Ngọc Đường Xuân:
- Tỷ tỷ, đến đây. Chúng ta bái Phật Tổ trước.

Ngọc Đường Xuân gượng cười, bước đến bên cạnh nàng rồi quỳ xuống. Tuyết Lý Mai khẽ nhắm mắt lại, thành kính bái lạy Phật Tổ, khoé miệng toát lên sự thỏa mãn và ngọt ngào, cũng không biết đã cầu nguyện điều gì.

Tâm tình Ngọc Đường Xuân lại thấp tha thấp thỏm. Oán hận bao năm, nhưng khi đọc lá thư thuật lại nỗi bi thảm và đáng thương của người cha ruột, cùng đường bí lối mới phải đến nhà cầu xin nàng nhưng lại không có mặt mũi gặp nàng vì sợ bị trách mắng, chỉ cầu xin nàng nếu như chịu giúp đỡ, hôm nay hãy đến tháp lâm (1) chùa Diệu Ứng để gặp một lần, rốt cuộc đã lay động được lòng thương hại của nàng.

Cho dù ông ta đáng hận thế nào, tấm thân và sinh mạng này của mình cũng là do ông ấy ban cho, giúp ông ta một lần này cho trọn nghĩa cha con vậy. Ngọc Đường Xuân âm thầm thở dài một tiếng, tờ ngân phiếu đang cất trong người là toàn bộ số tiền dành dụm của nàng.

Trong đám người ngoài điện, mấy người đàn ông nhàn nhã đứng bên chiếc lư đồng lớn hương khói lượn lờ, nheo mắt nhìn theo bóng lưng hai nàng, như thể đang theo dõi con mồi. Một gã đàn ông trên mặt có vết sẹo nhìn quanh một lúc, không thấy có người ngoài, thắc thỏm hỏi:
- Hoàng đại ca, chuyến này chúng ta vào kinh làm mấy cuộc mua bán đã đủ kiếm vạn lạng bạc rồi, có cần thiết phải mạo hiểm vậy không?

Gã râu quai nón được gọi là Hoàng đại ca kia chính là kẻ đã giúp Vương Cảnh Long vượt ngục, nghe thấy vậy thì cười nhạt, hỏi ngược lại:
- Thế nào, sợ rồi à?

Gã mặt sẹo đáp:
- Đại ca, không phải tiểu đệ sợ, mà là... Nữ quyến này là nữ nhân của Uy Vũ bá, nghe nói vì những kẻ bần cùng như chúng ta đây mà y đã can ngăn hoàng thượng tăng thuế, thiếu chút nữa bị chém đầu. Đụng vào nữ nhân của y...

Hoàng đại ca cười một cách cay nghiệt, khinh thường nói:
- Bọn cẩu quan đó có kẻ nào là người tốt? Hắn làm vậy còn không phải vì lấy tiếng thơm cho chính mình sao? Ruộng đất của chúng ta vẫn bị đám nhà quan và vương hầu chiếm đoạt như thường, hằng năm vẫn bị triều đình ép nuôi ngựa như thường. Mụ nội nó chứ, ngựa giống mà chết thì nộp tiền, ngựa giống không đẻ ra được ngựa con cũng phải nộp tiền, biết bao người bị bức bách đến nỗi nhà tan cửa nát rồi hả? Cái thiên hạ này, rốt cuộc đã đến hồi kết thúc rồi. Hổ ca chiêu binh mãi mã, hiện tại thiếu hụt chính là bạc, chúng ta kiếm thêm chút nữa rồi quay về. Hà, chờ khi Hổ ca dựng cờ khởi nghĩa đánh xong thiên hạ, ngươi và ta sẽ là khai quốc nguyên lão.

Một gã khác nghe vậy nóng lòng mong mỏi, không nhịn được hỏi:
- Lão đại, người nói Hổ ca thật sự có thể thành công sao? Nếu mà không thành, vậy... sẽ bị tội chém đầu đó.

Hoàng lão đại trừng mắt với gã, thấp giọng mắng:
- Chuyện nhảm nhí, hiện giờ chúng ta có thể tiếp tục sống sao? Không phải Lưu thần tiên đã xem tướng cho Hổ ca sao? ”Bá châu Dương Hổ, Tử Vi chuyển thế” (2). Hổ ca có tướng đế vương, rất được ông trời che chở.

Rồi dường như không muốn nói nhiều về vấn đề này, hắn chuyển đề tài nói:
- Lát nữa, sau khi cái tên họ Ngưu nọ dẫn hai đứa con gái đến tháp lâm, lập tức đi theo bắt người rồi đi ngay.

Cơ mặt gã mặt sẹo thoáng giần giật, hắn nói:
- Đại ca, đệ thấy kẻ họ Ngưu này không phải là người bình thường, bằng không sao dám đối đầu với Uy Vũ bá chứ? Hơn nữa y vung tay hào phóng, chúng ta trói người rồi đi theo y tìm nơi bọn họ náu thân, có muốn... hề hề, tóm cả bọn luôn không?

Hoàng lão đại buông giọng kiên quyết:
- Không được, trộm cướp cũng có đạo đức của trộm cướp! Không thể phá bỏ quy tắc đạo đức, bằng không sau này còn ai dám tìm chúng ta để làm ăn nữa? Nhận bạc của bọn họ xong chúng ta lập tức chạy đến Thanh Phong quán ở Tây Sơn, trốn tránh vài ngày chờ mọi sự yên ắng rồi sẽ quay về Bá châu. Tự mỗi người bọn họ sẽ có mệnh trời an bài thôi.

Tuyết Lý Mai và Ngọc Đường Xuân đang sóng vai bái lạy. Tuyết Lý Mai nhích gần sang Ngọc Đường Xuân, hai tay chắp lại, hỏi khẽ:
- Ngọc Tỷ Nhi, tỷ cầu gì vậy?

Ngọc Đường Xuân đang ngơ ngẩn xuất thần, vừa bị hỏi một cái không khỏi hoảng hốt:
- Hả? Cái gì? Đâu... đâu có cầu gì đâu.

Tuyết Lý Mai bĩu môi trêu:
- Vậy tỷ hoảng hốt như vậy làm gì? Còn dám giấu muội, hứ, có lão gia rồi thì không thèm thân với muội muội này nữa. Nhưng muội không sợ nói cho tỷ hay, muội... muội cầu... cầu xin Phật Tổ phù hộ, năm sau sinh cho lão gia một đứa con trai, một đứa con gái...

Ngọc Đường Xuân tuy lòng đầy tâm sự, nhưng vẫn bị nàng trêu phì cười một tiếng, mắng yêu:
- Muội đó, thật không biết xấu hổ, có đại cô nương nhà ai cầu nguyện như vậy chứ?

Tuyết Lý Mai vểnh môi lên nói:
- Không thì làm sao đây? Muội không so được với phu nhân, lại không đẹp bằng tỷ, nếu không giành sinh con trước các người, lão gia có thể cưng muội ư?

Ngọc Đường Xuân thở dài:
- Cô bé ngốc, phụ nữ còn phải coi trọng đức hạnh, muội xem phu nhân hiền lành như vậy, lão gia kính trọng người biết bao. Dùng sắc đẹp với người, sao có thể bền vững chứ? Muội đó, cứ tiếp tục ở đây mà mơ mộng viễn vông đi.

Nói rồi nàng đứng lên bóp gối, Tuyết Lý Mai cũng đứng lên theo, hỏi:
- Tỷ đi đâu vậy? Nghe nói quẻ trong chùa này linh lắm đó, chúng ta đi bói một quẻ đi.

Ngọc Đường Xuân lắc đầu đáp:
- Muội đi đi, tỷ muốn... tỷ muốn đi vệ sinh, lát nữa sẽ quay lại.

Ngọc Đường Xuân đưa ra lý do đối phó, bước ra khỏi điện giả vờ muốn ra khỏi chùa đi vệ sinh. Đi một hồi, thấy không có ai chú ý nàng bèn lẻn vào con đường nhỏ trong rừng tùng bách vòng về hướng tháp lâm ở trung điện.

Có chừng hơn trăm tòa bảo tháp trắng toát, trên những ngọn tháp đều buộc một chiếc chuông đồng nho nhỏ, khi gió thổi qua phát ra tiếng leng keng vui tai. Ngọc Đường Xuân nâng váy, vội vã bước vào tháp lâm, đưa mắt ngó quanh.

Do phần lớn người đi bái phật đều là người bản địa, sớm đã ngắm chán tháp lâm này rồi, vì thế trong tháp lâm không có nhiều người, thỉnh thoảng mới thấy được vài người đi đường xa xa. Ngọc Đường Xuân đi vòng qua mấy tòa bảo tháp, đang nhìn ngó chung quanh, đột nhiên một giọng nói lạnh lùng từ sau lưng cất tiếng gọi:
- Chu Ngọc Khiết!

Ngọc Đường Xuân giật mình, quay nhanh người lại. Chỉ thấy một thư sinh mặc áo bào xanh, sắc mặt âm u đang lạnh lùng nhìn nàng. Ngọc Đường Xuân lập tức phát hoảng, biết là đã trúng gian kế người ta, nàng lui lại mấy bước, thất thanh kêu lên:
- Vương Cảnh Long, là ngươi... Ngươi đã trốn khỏi Thái Lăng rồi sao?

Vương Cảnh Long không giấu được sự thù hằn và đắc ý ngập tràn trên khuôn mặt, cười nham hiểm:
- Đại khuê bất trác, mỹ kỳ chất dã (3), cho dù là kinh hoàng Chu tiểu thư cũng vẫn quyến rũ như vậy.

Hắn hưng phấn áp sát tới, rít lên:
- Con ranh con, ngươi hại ta rất thảm, hôm nay ở ác gặp ác, ta xem ngươi còn có thể trốn đi đâu? Ha ha ha, ngươi yên tâm, ta sẽ không giết ngươi đâu, ta sẽ mang ngươi đi, trị cái con ranh con ngàn kẻ chơi vạn người cưỡi nhà ngươi thật sướng một phen rồi sẽ đưa về bên Dương Lăng.

Hắn không ngừng cao hứng cười điên cuồng:
- Đến lúc đó, mắt ngươi không thể nhìn, tai không thể nghe, miệng không thể nói, tay chân không có, bẩn thỉu dơ dáy như heo, chỉ mong Dương Lăng sẽ vẫn thương ngươi, yêu ngươi, ha ha ha ha...

Ngọc Đường Xuân nghe hắn mô tả hình dạng sống không bằng chết đó, sợ đến nỗi mặt mày trắng bệch. Nàng rùng mình, vội xoay người chạy. Vừa rồi khi Vương Cảnh Long đi vào tháp lâm, mấy người Hoàng lão đại đã lặng lẽ theo sau, lúc này nghe thấy tiếng bước chân ở phía sau mình thì hắn không khỏi ôm bụng cười to:
- Ngươi có thể chạy đi đâu chứ? Ha ha ha, bắt lấy nó cho ta, lập tức đưa nó ra khỏi thành.

Sau lưng, một giọng nói theo tiếng đáp lại:
- Tiểu nhân không dám, tiểu nhân lại không điên, nào dám chạm vào nữ nhân của Dương đại nhân chứ?

Vương Cảnh Long ngạc nhiên xoay người, lập tức trông thấy một quả đấm to đùng đánh tới mặt, "bộp" một tiếng, quả đấm đã nện vào ngay sống mũi của hắn.

*********************

Xin được một que xăm thượng thượng, Tuyết Lý Mai vui sướng hân hoan chạy ào ra điện, tính khoe với Ngọc Đường Xuân. Vừa bước ra khỏi điện, nàng chợt thấy trong sân có tiếng huyên náo, mười mấy gã đàn ông lực lưỡng mặc đủ loại trang phục đang lôi mấy người từ trong rừng tùng bách bước ra, không khỏi cảm thấy hơi ngạc nhiên.

Ngay sau đó lại thấy hai hòa thượng đầu trọc lôi một người như lôi một con chó chết bước nhanh ra, theo sau là một thanh niên mặc đồ xanh đang mỉm cười, phía sau nữa là Ngọc Đường Xuân đang được sáu bảy người vây vào giữa như những vì sao vây quanh trăng sáng bước tới.

Tuyết Lý Mai nhìn thấy người đàn ông mặc đồ xanh đó, nhận ra y là thống lĩnh thân quân của Dương Lăng, lại nhìn sang Ngọc Đường Xuân ở phía sau, không khỏi ngạc nhiên bước lên đón đường hỏi:
- Liễu đại nhân, Ngọc Tỷ Nhi, chuyện này... chuyện này là thế nào?

Liễu Bưu ôm quyền định trả lời, một gã đàn ông bỗng chạy lại nói với Liễu Bưu:
- Bẩm báo đại nhân, trong tốp giặc cướp này có một tên võ nghệ hết sức cao cường, hắn đã trúng một phi tiêu của tiểu nhân, thấy tình hình không ổn đã leo tường trốn thoát rồi.

Liễu Bưu giận dữ quát:
- Mấy chục người bắt không được mấy tên cướp, thật là một đám ăn hại, mau đuổi theo.

Lúc này bên ngoài cổng chùa, bốn hiệu úy thân quân đao giắt bên hông, vây quanh Dương Lăng ăn mặc giản dị hông giắt bội kiếm bước vào. Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai trông thấy vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ. Dương Lăng lại chỉ quét hờ mắt qua phía bọn họ một cái, sau đó tươi cười rảo bước quay sang đón tri khách tăng (4) đang bước tới, chắp tay làm lễ nói:
- Hôm nay có thể bắt được những tên giặc cướp này, phải cảm ơn đại sư đã tạo thuận lợi cho.

Tri khách tăng mập mạp đó cười tươi như phật Di Lặc, mở miệng cười lấy lòng với vị thống lĩnh ngự tiền thân quân này:
- Nào có nào có, tướng quân vạch kế trừ gian, biểu dương chính nghĩa, bần tăng theo lý nên hỗ trợ.

Dương Lăng cười ha hả. Ngay lúc đó, hai nhân viên ty binh mã của Ngũ thành hay tin chạy đến, hùng hùng hổ hổ xông lại, vừa bước đến cổng chùa liền lớn tiếng kêu ầm lên:
- Kẻ nào chưa được ty binh mã cho phép đã tùy tiện bắt người?

Bọn họ đưa mắt nhìn, trông thấy trang phục cấm quân của đám người Dương Lăng, còn chưa nhìn ra được phẩm hàm của Dương Lăng, hai "thành quản (5)" đã chùn xuống ba phần, giắt đao và xiềng xích vào hông gật đầu chắp tay thi lễ với mọi người:
- Tiểu nhân là Tiêu Vũ và Kinh Qua, bộ khoái ty binh mã của Ngũ thành, ra mắt các vị quân gia, ơ... quân gia đang bắt đám giặc nào vậy?

Dương Lăng bước đến nói:
- Bản quan là Dương Lăng! Kẻ bị bắt chính là bọn cướp có ý đồ bắt cóc nữ quyến của bản quan. Ha ha, các ngươi đến thật đúng lúc, hãy đưa bản quan đến gặp ngự sử đại nhân của các ngươi một chút.

Thân quân hoàng đế tuy quyền cao chức trọng, song lại không có quyền tùy ý bắt người trong kinh thành. Dương Lăng không muốn tạo cớ cho người ta nói y tự lập công đường, cho nên đương nhiên muốn giao phạm nhân cho ty binh mã của Ngũ thành xử lý. Ngọc Đường Xuân thấy từ lúc lão gia bước vào cổng chùa thì không thèm nhìn tới nàng, trong lòng vừa tủi thân vừa sợ hãi. Nàng dè dặt bước tới, thấp giọng gọi:
- Lão gia...

Dương Lăng giận nàng có chuyện mà không bàn bạc cùng mình. Tuy y vẫn chưa biết vì sao Ngọc Đường Xuân bị Vương Cảnh Long dụ ra ngoài, nhưng nếu không phải vì mình đề phòng Xưởng Vệ, và được Đới Nghĩa kịp thời báo tin, lúc này nàng ấy há không phải đã bị người ta bắt đi làm nhục không ngừng rồi ư? Cho nên trong lòng y bực bội, thấy nàng bước tới, mặt liền nghiêm lại, hừ lớn một tiếng nói:
- Có gì về nhà sẽ nói, theo ta đến ty binh mã Ngũ thành.

Hai bộ khoái là Tiêu Vũ và Kinh Qua thấy vị tâm phúc của hoàng thượng này phối hợp như vậy, cảm động đến rơi lệ, liền vội theo sau lưng y, không ngừng quát tháo dân chúng đang xem náo nhiệt tản ra. Do trời nóng, viên ngự sử tuần thành vừa cởi áo quan ra uống trà, nghe nói Dương Lăng đến, vội vàng mặc trở lại, hối hả chạy ra.

Lúc này Dương Lăng đang ngồi trên một chiếc ghế dựa, diễn vở "Thuần thê ký" (ý nói dạy dỗ vợ). Ngọc Đường Xuân quỳ trước mặt y, tủi thân ấm ức đem đầu đuôi câu chuyện mình bị lừa kể lại một lượt. Dương Lăng hừ nhạt nói:
- Thế là cô liền tự mình quyết định, bịa ra lý do muốn vào chùa dâng hương để trốn ra hả? Nếu không phải ta có được tin tức trước đó, cô thử tự nghĩ xem bây giờ sẽ có kết cục gì?

Dương Lăng quay sang nháy mắt với Tuyết Lý Mai, song vẫn ra vẻ quan lại oai phong ra lệnh:
- Đứng lên đi, về phủ sẽ tính tiếp với cô.

Tuyết Lý Mai thấy y đưa mắt ra hiệu, hiểu ý chạy qua dìu Ngọc Đường Xuân dậy, kéo nàng ra sau giá cờ, cười khúc khích bên tai nàng nói:
- Được rồi được rồi, lão gia thương tỷ nên mới nổi giận mà, đừng sợ nữa, trở về giở ra thủ đoạn quyến rũ lão gia thật tốt vào, khiến lão gia nhìn thấy phải bủn rủn chân tay, tự nhiên sẽ tha cho tỷ thôi.

Ngọc Đường Xuân bị Dương Lăng dọa cho hoảng lên, lại còn nghe nha đầu đó nói mấy lời điên khùng, trong lòng vừa giận vừa thẹn. Nhưng suy nghĩ một chút, nếu không phải hôm nay Dương Lăng bố trí mai phục ở đây từ trước, sai thân binh hóa trang làm khách dâng hương thăm chùa, bán rong và tăng lữ, kịp thời bắt giữ đám giặc cướp đó, hậu quả thật không thể tưởng tượng nổi.

Cho nên bất kể lão gia có trách phạt nàng thế nào, nàng cũng không thể nói gì được hết. Ngọc Đường Xuân thắc thỏm không yên, nghĩ: chỉ là không biết gia pháp của lão gia là gì, nghe nói vài gia đình quan lại quất roi đánh nô tỳ và thê thiếp, không dùng roi thì dùng gậy gỗ, chỉ mong lão gia sẽ không nhẫn tâm như vậy.

Vị ngự sử tuần thành nọ lật đật chạy ra, trông thấy trên đại sảnh nhà mình, Dương đại nhân người ta lại đang giở quan uy ra giáo huấn bà vợ nhỏ nhà y, gã không tiện chen miệng vào, chỉ đành khúm na khúm núm đứng chờ ở một bên, lúc này khó khăn lắm mới có cơ hội, thế là vội bước lên làm lễ chào:
- Hạ quan ngự sử tuần thành Hồ Chu, tham kiến Dương đại nhân.

Thật ra Dương Lăng không phải cố ý làm ra vẻ ngạo mạn trước mặt lão ta, mà là trước đó Liễu Bưu đã nhắc nhở y, biết vị ngự sử tuần thành Hồ đại nhân này cũng là quan viên được Vương Quỳnh đề bạt. Tuy Vương Quỳnh không nắm bộ Lại, nhưng làm thượng thư bộ Lễ lâu năm, rất nhiều kẻ lên kinh thi cử làm quan đều đã được lão ta đề bạt khi nhậm chức quan sát hạch, theo quy củ đều xem như là học trò của lão. Cho dù cái chức "thầy giáo" béo bở này làm rất dễ, nhưng rất nhiều quan lại cũng thực sự cảm kích cái ơn nâng đỡ của lão. Dương Lăng lo Hồ Chu sẽ nể mặt Vương Quỳnh mà làm theo cảm tính, cho nên cố ý ra oai phủ đầu lão ta.

Lúc này thấy lão cung kính làm lễ, Dương Lăng mới đứng dậy nói:
- Hồ đại nhân, kẻ trên công đường đây là con của thượng thư bộ Lễ ở Nam Kinh, Vương Quỳnh, là phạm nhân do hoàng thượng tuyên án. Hắn chạy trốn khỏi Thái lăng, cấu kết với một đám trộm cướp, rắp tâm mưu hại gia quyến bản quan, may nhờ thị vệ bản quan tóm được, xin đại nhân hỏi tội.

Tuy nói Vương Quỳnh đã bị "hạ đài", nhưng trong kinh quan hệ rộng rãi, một ngự sử tuần thành cỏn con như Hồ Chu thực không thể đắc tội. Nhưng vị Dương đại nhân ở trước mặt này, lão ta lại càng không thể đắc tội. Hồ Chu đành phải gượng đáp lời một tiếng rồi thăng đường xử án.

Nha dịch bê chậu nước đến, hắt "ào" một cái cho Vương Cảnh Long tỉnh lại. Vương Cảnh Long yếu ớt mở mắt, trông thấy Dương Lăng ngồi nghiêm nghị một bên, Ngọc Đường Xuân thanh tú đứng sau lưng y thì biết chuyện đã bại lộ, không khỏi căm hờn rống lên một tiếng, cặp mắt đỏ ngầu, bổ nhào tới.

Tuy Vương Cảnh Long là thư sinh nho nhã yếu đuối, nhưng lúc này khí thế điên cuồng khiến người ta nhìn mà lạnh sống lưng. Dương Lăng bị hù giật nảy người, không kìm được đứng phắt lên. Hai nha dịch phản ứng cực nhanh, đuổi theo điểm hai cây phong hỏa côn vào đầu gối Vương Cảnh Long một cái, Vương Cảnh Long liền khuỵu xuống đất đánh "cộp", lập tức bị hai nha dịch bẻ ngoặt hai tay khống chế.

Vương Cảnh Long không thể động đậy, lại cố vươn cổ ra ngoạm chặt lấy vạt áo của Dương Lăng, cặp mắt như muốn ăn tươi nuốt sống người ta trợn trừng nhìn y không rời. Ánh mắt thù hận vô tận đó khiến Dương Lăng lạnh cả người, lông tóc bỗng chốc đều dựng đứng lên.

Vương Cảnh Long muốn báo thù y, chuyện đó y có thể lý giải, nhưng tại sao hắn lại hận mình đến mức như vậy? Không lẽ loại người này không hề có chút lý trí sao? Không thèm cân nhắc nguyên do sự tình, không thèm nghĩ lúc mình hại người nếu thành công sẽ tạo ra biết bao tổn thương đối với người khác hay sao?





Chú thích:
(1) Quần thể mộ hình tháp của những người tu hành, thường toạ lạc gần chùa chiền
(2) Nghĩa "Dương Hổ ở Bá châu chính là sao Tử Vi chuyển thế". Dương Hổ, không rõ năm sinh, mất năm 1511, người Giao Hà (nay thuộc tỉnh Hà Bắc). Ban đầu đi theo Bạch Anh, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa của nông dân khu vực kinh đô và vùng lân cận, liên tục chiến đấu khắp vùng Sơn Đông và Lâm Thanh. Về sau kết hợp cùng quân khởi nghĩa của Lưu Lục và Lưu Thất.
(3) Câu này được trích trong Lễ Ký, tạm dịch "ngọc khuê không mài vẫn đẹp bởi bản chất sẵn có của nó". Ngọc khuê là ngọc trên nhọn dưới vuông, thiên tử phong chư hầu thì ban cho ngọc đó.
(4) Vị sư tiếp khách
(5) Nhân viên quản lý trật tự trị an trong thành



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332


Phần bù!:025:

Ba_Van
15-06-2011, 08:20 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 113 - Phần 2
Không Làm Quân Tử (tiếp theo)



Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: ThuỷChi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






"Có lẽ mình vẫn chưa đủ nhẫn nại! 'Quân tử, có thể dễ bị gạt'. Nhưng hắn... không phải quân tử..."





------------------------
Quyển ba - Vừa lên ngôi báu
Chương 113 - Không Làm Quân Tử (phần 2)
------------------------
Dương Lăng tự biết mạng mình ngắn ngủi, cho nên người khác có gây tổn hại gì đến y, y cũng đều không coi trọng, nhưng y tuyệt đối không thể tha thứ cho kẻ nào làm tổn thương đến người nhà của y. Đó là lập trường duy nhất mà y giữ vững, lập trường duy nhất mà y quyết không nhượng bộ.

Lúc này, thấy ánh mắt như rắn độc của Vương Cảnh Long, y rốt cuộc đã hiểu, thù hận hai nhà căn bản đã không thể hòa giải: khi thân ở trên cao y có thể suy nghĩ bỏ qua cho kẻ khác, lại chưa hề nghĩ chuyện làm tổn hại người nhà kẻ khác, nhưng nếu y rơi vào tay kẻ khác, liệu kẻ đó sẽ bỏ qua cho y sao? Sẽ bỏ qua cho người nhà vô tội của y sao?

Dương Lăng vừa kinh hãi vừa giận dữ nói:
- Hồ đại nhân, phạm nhân này vượt ngục chạy trốn, mua chuộc kẻ ác hại người, trên công đường còn điên cuồng ngang ngược như vậy, ông đã thấy chưa?

Hồ Chu nghiến răng, nạt lớn:
- Người đâu, lôi phạm nhân xuống, đánh mạnh bốn mươi gậy, rồi tiếp tục giải lên công đường xét hỏi!

Lại có thêm hai nha dịch xông tới, bốn người túm lấy Vương Cảnh Long lôi xuống dưới. Vương Cảnh Long lại trừng cặp mắt ngập tràn căm thù nhìn Dương Lăng không rời, cắn chặt hàm răng không chịu nhả. Mấy tên nha dịch lập tức nổi giận, bọn họ nào quản ngươi là ai, tức thì có nha dịch buông tay ra, rút ở bên hông ra cây thước gỗ vả miệng, nhắm vào hai má hắn quất mạnh "bộp bộp bộp" mấy cái, khiến cả hai má Vương Cảnh Long đều tê dại, mép hắn ứa máu, thậm chí răng cũng đã long ra.

Đám nha dịch thừa cơ dùng sức kéo mạnh, áo bào của Dương Lăng bị kéo rách một mảnh. Mấy người vừa lôi Vương Cảnh Long ra khỏi bậc cửa, một nha dịch lật đật chạy vào thưa:
- Khải bẩm đại nhân, ba đại học sỹ của Nội các, thượng thư bốn bộ Lễ, Công, Lại, Hộ và mấy vị đại nhân trong triều đã đến.

Vương Cảnh Long nghe vậy liền há ngoác miệng đầy máu điên cuồng cười to. Hồ Chu nghe báo lại giật nảy người, đứng bật dậy, vội vàng chỉnh lại mũ ô sa rồi nói:
- Mau mau, áp giải phạm nhân vào lao, tạm thời thoái đường.

Dương Lăng nghe nói nhiều nhân vật tai to mặt lớn như vậy đã đến cũng không khỏi kinh ngạc, liền vội khoát tay bảo Tuyết Lý Mai và Ngọc Đường Xuân lui ra ngoài công đường, Tam ban nha sai (6) lui xuống. Hai người vừa bước đến cửa, liền thấy một đám nguyên lão trong triều đầu tóc bạc phơ đang vội vội vàng vàng đi đến.

Thì ra Vương Cảnh Long mua chuộc mấy tên giặc cướp nọ định bắt cóc Ngọc Đường Xuân ra khỏi thành để trút hận, Vương Bình đánh xe ngựa chờ bên ngoài chùa, không ngờ thấy kiệu của Dương phủ đến không lâu thì Dương Lăng đã dẫn một đám thân quân bước vào, lập tức biết là không ổn, thông báo cho thiếu gia cũng đã muộn, thế là y lập tức bỏ xe trốn vào con hẻm kế bên.

Cũng may mấy tên trộm cướp đó cũng có nghĩa khí, sau khi bị bắt không ai khai ngoài chùa còn có đồng bọn tiếp ứng. Y thấy mấy người này cùng với thiếu gia đã hôn mê bất tỉnh bị mang đến ty binh mã của Ngũ thành thì lập tức theo đường tắt chạy đến Ngọ môn.

Mấy người Lưu Kiện, Tạ Thiên và Vương Quỳnh thường ngày cũng là bạn bè thường xuyên uống rượu họa thơ. Với tư cách là quản sự thư phòng trong phủ thượng thư, Vương Bình rất quen thuộc với bọn họ, ngay cả quản gia và kiệu phu của bọn họ cũng nhận ra. Đến Ngọ môn, y vừa tìm được kiệu phu của mấy vị đại nhân, đúng lúc đám đại nhân này cũng vừa tan ngọ triều đi ra.

Vương Bình vừa thấy mấy vị đại học sỹ lập tức lao tới dập đầu, chỉ nói thiếu gia ở Thái lăng bị bọn người Đới Nghĩa rắp tâm hành hạ, muốn dồn y vào chỗ chết. Thiếu gia không chịu nổi khổ nhục, đã trốn về kinh dưới sự giúp đỡ của y, tính xin triều đình ban cho con đường sống, không ngờ lại bị Dương Lăng vu oan hãm hại, bắt đến ty binh mã của Ngũ thành.

Tuy trước đó ít lâu đám lão thần này có ít nhiều bất mãn với Vương Quỳnh, nhưng suy cho cùng, là đồng liêu bạn tốt lâu năm, giờ đây con trai Vương Quỳnh bị đày lên Thái lăng, bản thân lão thuyên chuyển về Kim Lăng, nói ra cũng đủ thê thảm rồi, nên đám đại thần nghe vậy đều nổi lòng thương xót. Trong đó, những đại quan sớm không hài lòng với Dương Lăng càng tức giận chỉ trích Dương Lăng quá đáng, nên cùng đến theo.

Trông thấy đại học sỹ cùng các vị thượng thư và đám người Dương Phương, Vương Ngao, Dương Lăng và Hồ Chu vội vàng cúi người làm lễ. Mấy người Lưu Kiện và Lý Đông Dương còn giữ được bình tĩnh, đám người Dương Phương, Vương Ngao và Dương Thủ Tùy thấy Dương Lăng thì lửa giận bốc lên ngùn ngụt, phất tay áo hầm hầm đi vào công đường.

Hồ Chu vội vã xếp ghế mời các vị đại nhân ngồi, ngước mắt nhìn, ai nấy đều cao hơn lão ta ba cấp, Hồ Chu đáng thương đành phải làm lễ với từng người. Dương Phương đẩy trà nóng nha dịch dâng lên, nhìn thẳng vào Dương Lăng nạt lớn:
- Dương đại nhân, cả nhà Vương thượng thư bị ngươi hại còn chưa đủ thảm sao? Vương Cảnh Long là một cử nhân tài giỏi, nay bị tước đi công danh thành tù nhân, vì sao ngươi vẫn không chịu bỏ qua cho y?

Dương Lăng vịn kiếm điềm nhiên đáp:
- Từ đâu truyền ra lời ấy? Dương Lăng hôm nay lên công đường, là với thân phận người bị hại, không phải lấy thân phận đại thần trong triều ép Hồ ngự sử xử án. Vương Cảnh Long vạch kế lừa người nhà trong phủ Dương mỗ ra ngoài, muốn trả thù làm hại Dương mỗ, vật chứng là phong thư lừa gạt nội quyến của bản nhân, nhân chứng có một đám giặc cướp mà hắn đã mua chuộc. Nhân chứng vật chứng đủ cả, sao trở ngược thành Dương mỗ hại người rồi? Đại nhân đừng đổi trắng thay đen!

Lưu Kiện thấy bọn họ cãi nhau, nhíu mày quay sang Hồ Chu hỏi:
- Hồ ngự sử, chuyện này rốt cuộc là như thế nào?

Hồ Chu lúng túng đáp:
- Hạ quan vừa mới thăng đường xử án, tình hình cụ thể vẫn chưa rõ lắm, có điều….có điều phong thư đó và giặc cướp bị bắt ở hiện trường quả thực là có.

Tạ Thiên và Lý Đông Dương nghe xong không khỏi liếc mắt nhìn nhau. Dương Lăng trước đây chưa từng dây dưa với nhà họ Vương, giờ sẽ càng không ngu xuẩn đến mức lợi dụng lúc đại hôn của hoàng đế mà chèn ép đối phương. Lời nói của Vương Bình mười phần có tám chín phần là tráo trở. Nhưng dù biết rõ là như vậy, không lẽ có thể trơ mắt khoanh tay đứng nhìn đứa con của bạn cũ gặp nạn?

Tạ Thiên vuốt râu trầm ngâm một lát rồi nói:
- Chúng ta nghe gia nhân Vương phủ khẩn cầu, nhất thời không biết chuyện ấy, chỉ vì có quan hệ đến con trai của bạn cũ, cho nên chạy đến xem kết cục, không phải có ý trở ngại ty pháp. Bản quan cũng tin tưởng thái độ đối nhân xử thế của Dương đại nhân, có điều tục ngữ nói 'oan gia nên giải không nên kết, bậc quân tử lấy cái đức sâu dày để nâng đỡ mọi vật'. Cùng là đại thần trong triều, Dương đại nhân có thể tha cho y một con đường hay không?

Dương Lăng nhớ lại cặp mắt tràn ngập sự thù hận của Vương Cảnh Long và hành động điên cuồng cắn chặt lấy áo y, miệng đầy máu mà vẫn không nhả, trong lòng không khỏi ớn lạnh, bèn nói một cách kiên quyết:
- Các vị đại nhân có biết Vương Cảnh Long lừa người thân Dương mỗ ra ngoài, là muốn báo thù như thế nào không? Thủ đoạn ấy thật sự khiến con người và thánh thần cùng căm phẫn! Thường nói 'vương tử phạm pháp cùng tội với thứ dân'. Dương mỗ cũng là quan, nếu chỉ vì người hắn muốn hãm hại là người nhà của ta, ta liền rút lời buộc tội, để tỏ cái đức sâu dày của bậc quân tử. Vậy nếu người mà hắn muốn hại là dân chúng bình thường thì sao? Đấy há chẳng phải là vì tư bỏ công, vì người buông luật đó sao?

Mấy vị đại nhân nghe vậy không khỏi nghẹn họng, Lý Đông Dương thoáng do dự, rồi đứng dậy đi đến bên cạnh Dương Lăng mỉm cười nói:
- Dương đại nhân, bước ra ngoài nói chuyện nhé.

Dương Lăng khá có thiện cảm với vị Lý đại học sỹ này, thấy thái độ lão hòa nhã, liền cất bước đi theo. Lý Đông Dương nhẹ giọng thành khẩn:
- Dương đại nhân, lão phu mượn tuổi già, gọi cậu một tiếng hiền điệt. Ân ân oán oán của cậu và nhà họ Vương, hôm nay tạm thời không bàn đến, lão phu chỉ suy nghĩ từ phương diện của cậu. Vương Cảnh Long cuộc sống được nhiều ưu đãi, không hiểu sự đời, đột nhiên gặp phải nạn to, khó tránh mang lòng oán hận, tâm tính thất thường, may mà y vẫn chưa làm tổn hại đến cậu. Cậu tha y một con đường sống, sẽ chỉ có lợi đối với cậu, tuyệt không có hại. Hôm nay các vị đại nhân đang thay mặt Vương thượng thư thỉnh cầu một vãn bối như cậu. Nếu như hiền điệt nể phần thể diện này, sau này làm quan trên triều, sẽ luôn thuận lợi hơn. Thời điểm này là đại hôn của hoàng thượng, làm mấy chuyện không vui, cậu cũng biết là không thích hợp mà, huống gì nếu cậu lấy đức báo oán, Vương thượng thư tất nhiên sẽ cảm kích trong lòng. Vương Cảnh Long chẳng qua là một kẻ thư sinh, cho dù hận thấu trời xanh, thì có năng lực gì hại người? Y hành hung chưa được, có nhiều lão thần như vậy thay mặt Vương thượng thư cầu xin cho y, hoàng thượng quyết sẽ không phán y tội chết, sao cậu không thuận nước đưa thuyền, lợi cho người, cũng là lợi cho mình?

Những lời này của Lý Đông Dương thấu tình đạt lý, khiến cho Dương Lăng không khỏi lưỡng lự. Lý Đông Dương mỉm cười đợi y trả lời. Dương Lăng do dự một hồi lâu, nhìn thấy đám lão thần trên công đường đều đang nhìn y chằm chằm, rốt cuộc hạ quyết tâm. Y hít sâu vào một hơi, rồi nói:
- Lý đại học sỹ, hạ quan muốn nói chuyện với Vương Cảnh Long một chút đã!

Lý Đông Dương vui vẻ gật đầu nói:
- Được! Hồ đại nhân, hãy để Dương đại nhân gặp Vương Cảnh Long một chút, để bọn họ trò chuyện riêng một chút đi.

Hồ Chu vội đáp:
- Dạ dạ dạ, hạ quan sẽ thu xếp ngay đây.

Dương Lăng bước vào phòng giam, chỉ thấy Vương Cảnh Long đang ngồi trên ghế, trên người bị trói mấy vòng dây thừng, bị hai nha dịch giữ chặt. Vừa thấy y bước vào, Vương Cảnh Long lập tức dùng ánh mắt thù hằn nhìn y chòng chọc.

Dương Lăng khoát tay nói:
- Các ngươi ra đi, đóng cửa phòng lại, ta muốn chuyện trò cùng Vương công tử một chút!

Hai tên nha dịch vâng lời lui ra, khép nhẹ cửa phòng lại. Dương Lăng bước đến trước mặt Vương Cảnh Long, kéo ghế ngồi xuống, nhìn y chăm chú một hồi lâu. Mới có một tháng mà đã không còn thấy cậu công tử phong thái văn nhã, ra vẻ lịch sự đó nữa. Vương Cảnh Long của hiện tại hai má hóp lại, sắc mặt tái nhợt, xem ra thật đã chịu không ít đau khổ.

Dương Lăng thở dài, nói:
- Vương công tử, có biết lần đầu huynh và ta gặp nhau, ta có cảm giác gì không?

Vương Cảnh Long vẫn nhìn chòng chọc đầy thù hận, không nói lời nào. Dương Lăng tự trả lời thay:
- Đó là cảm giấc rất kỳ diệu. Vừa thấy huynh, ta đã nghĩ rằng sẽ tình nguyện xem huynh là bạn bè, thậm chí còn nghĩ... Ha ha, không biết sao lệnh tôn đại nhân dường như rất có thành kiến với Dương mỗ, dường như Vương huynh cũng có nhiều hiểu lầm. Huynh từng sắp đặt hại ta, cho dù là vậy ta cũng không hận huynh, huynh tin không? Ta căn bản chưa từng hận huynh.

Vương Cảnh Long nhếch khoé môi đang chảy máu cười khẩy, hiển nhiên không hề tin lời y. Dương Lăng bất đắc dĩ nói:
- Ta biết huynh không tin, nhưng lời ta nói là sự thật. Ta thậm chí còn nghĩ, để qua mấy ngày sẽ cứu huynh ra, đưa huynh về Kim Lăng. Tại sao huynh cứ khăng khăng phân chia thù địch với ta vậy?

Vương Cảnh Long cười gằn:
- Bởi vì ngươi... Dương Lăng ngươi là quốc tặc! Có đại nhân các bộ trong triều bảo vệ ta, ngươi giết không được ta có phải không? Cho nên đến đây lấy lòng, đồ tiểu nhân!

Dương Lăng phiền não nói:
- Giữa chúng ta rốt cuộc có thù hận gì? Điều này không phải kỳ lạ sao? Huynh đừng quy hết lỗi lầm đổ lên đầu người khác. Ta thật sự muốn hòa giải với huynh. Ta không truy cứu chuyện huynh hôm nay âm mưu làm hại đến người nhà ta, đưa huynh trở lại Thái lăng. Qua ít thời gian, đợi sau đại hôn của hoàng đế, ta sẽ nghĩ tiếp biện pháp bảo lãnh huynh ra. Thậm chí công danh của huynh... Nếu như hoàng thượng nói một câu, cũng không phải không thể đặc xá, huynh có thể đừng cố chấp mối thù này nữa được không?

Vương Cảnh Long cười gằn ác độc nói:
- Có thể, đương nhiên là có thể. Chỉ cần ra khỏi cửa này, ta sẽ khóc lóc đổ lệ nhận lỗi với các vị trưởng bối bạn thân của phụ thân, đau đớn ăn năn hối lỗi, ngoan ngoãn thành thật làm một phạm nhân. Lần này ta báo thù quá lỗ mãng rồi, lần sau, ta sẽ cẩn thận hơn!

Trong tiếng cười gằn, hắn ác độc tiếp:
- Ta sẽ luôn nhẫn nại, nhẫn đến một ngày thấy ánh mặt trời. Dương đại nhân ngươi quyền bính thông thiên, chắc cũng không thể cả ngày điều động nhân mã bảo vệ người nhà của ngươi chứ nhỉ? Ta sẽ không từ thủ đoạn nghĩ ra biện pháp hại ngươi, cho dù nữ nhân ngươi vĩnh viễn trốn trong nhà không bước ra, cũng có thể đột nhiên bị một mũi tên bắn lén xuyên tim ả...

Trong lòng Dương Lăng âm thầm nổi lên một luồng sát khí, Vương Cảnh Long lại vẫn không hay không biết ngông cuồng nói:
- Sau này ngươi sẽ cần phải cẩn thận dè chừng hơn cả hoàng thượng, bởi vì trái cây rau quả mà ngươi mua về sẽ phải cho người khác nếm rồi mới dám dùng. Đến khi ngươi có con trai, ngươi còn phải trông chừng nó cho kỹ, bằng không, mấy mươi năm sau, có thể sẽ có một tên ăn mày tay chân tàn phế đến gõ cửa nhà ngươi xin ăn, mà nó chính là đứa con ruột của vị Dương đại nhân quyền cao chức trọng ngươi đấy!
Hoặc giả là, ngươi có con gái, ngươi đoán thử xem nó sẽ có kết cục gì? Ha ha ha, ngươi sợ rồi hả? Tại sao sắc mặt lại tái nhợt thế, tại sao cả người đều run rẩy thế? Ta là tù nhân của ngươi mà không phải sao? Ngươi sợ ta làm gì chứ? Ha ha ha, ta chính là muốn ngươi sợ, để ngươi cả đời phải sống trong sợ hãi!

Đoạn hắn cất cao giọng quát:
- Dương Lăng, tên gian tặc nhà ngươi, ngươi hại cha ta phải đi Kim Lăng, ngươi hại mất tương lai của ta, ta đường đường là một cử nhân, nay biến thành một tù nhân mặc người lăng nhục! Những điều ngươi hại ta, ta sẽ bắt ngươi trả lại gấp ngàn, gấp vạn lần!

Ánh mắt biểu lộ sự điên cuồng, hắn nói như mê sảng:
- Ta sẽ dùng bất kỳ thủ đoạn nào để đối phó với ngươi, ta muốn ngươi vĩnh viễn phải sống trong sợ hãi, ta muốn ngươi... a...

Hắn vừa nói đến đây đột nhiên nghẹn lại, trong chớp mắt đồng tử kinh hãi giãn ra, giữa cổ một dòng máu tươi men theo mũi kiếm chầm chậm chảy xuống.
Dương Lăng đứng dậy, nói khẽ với Vương Cảnh Long:
- Vương Cảnh Long, ngươi nghĩ là ngươi dọa được ta ư? Ngươi vẫn chưa đủ tư cách! Lời ngươi nói chỉ có thể khiến ta nổi sát ý mà thôi!

Y nén giận, giọng mỉa mai:
- Vương Cảnh Long, ngươi thật là một tên công tử bột không ra hồn, trước đã vậy, bây giờ vẫn vậy. Ngươi không nên chọc giận ta, càng không nên lấy người mà ta coi trọng nhất ra dọa ta, đồ ngu!

Như con gà trống bị cắt tiết, Vương Cảnh Long phát ra tiếng kêu khùng khục, nhưng dây thanh đới của hắn đã không còn phát ra những lời nguyền rủa ác độc được nữa. Hắn tuyệt nhiên không ngờ có nhiều trưởng bối bạn thân của cha hắn tìm tới cửa để nói giúp cho hắn như vậy mà Dương Lăng lại dám lạm dụng tư hình, giết chết hắn.

"Như vậy cũng tốt, tuy mình là phạm nhân nhưng cũng không phải muốn giết thì giết. Dương Lăng, ta dùng mạng của mình để trả thù ngươi!" Ánh mắt đang trắng dã dần của Vương Cảnh Long đột nhiên phủ lên một vẻ khoái trá bệnh hoạn.

Nhưng hắn lập tức nhìn thấy Dương Lăng bước đến bên cạnh cởi dây thừng quấn trên người hắn ra, sau đó trở tay đâm một kiếm vào cánh tay mình, thét lớn:
- Người đâu đến mau, Vương Cảnh Long muốn giết ta!

"Có lẽ mình vẫn chưa đủ nhẫn nại! 'Quân tử, có thể dễ bị gạt '(7). Nhưng hắn... không phải quân tử..."



Chú thích:

(6) Phiếm chỉ các loại nhân viên các cấp trong nha môn
(7) Nguyên văn "quân tử, khả khi chi dĩ phương" xuất phát từ truyện “giáo nhân phanh ngư” (người hầu nấu cá) của Mạnh tử. Câu cuối có nguyên văn là “quân tử khả khi chi dĩ phương, nan võng dĩ phi kì đạo”. Ý là đối với chính nhân quân tử có thể dùng phương pháp hợp lý để lừa gạt họ, khó mà dùng cách không hợp lý để gạt họ. Có người tặng cá cho Tử Sản nước Trịnh, Tử Sản bảo người hầu bỏ xuống hồ nuôi, nhưng người hầu nấu cá ăn mất, sau đó lại nói với Tử Sản là bỏ cá xuống hồ cá đã bơi đi mất rồi. Tử Sản nói “Đã tới nơi cần tới”. Người hầu đi ra nói “Ai nói là Tử Sản thông minh, cá đó ta đã ăn mất rồi”. Quả là quân tử có thể dùng cách hợp lý để gạt.
http://zhidao.baidu.com/question/747...ex=3&fr2=query




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332


Phần bù!:025:

Ba_Van
16-06-2011, 08:49 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 114 - Phần 1
Đại Gian Như Trung


Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: ThuỷChi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






- Bố láo! Tên tiểu nhân này rõ ràng không muốn bỏ qua cho Vương Cảnh Long. Không ngờ y lại giả vờ bằng lòng, cố ý giết người, thật quá nham hiểm!

Hàn Văn cười gượng một tiếng, dùng những chữ khi nãy Dương Thủ Tùy đã viết cho mình đáp lại: "Chuyện trong phòng kín, không có chứng cứ".





------------------------
Quyển ba - Vừa lên ngôi báu
Chương 114 - Đại Gian Như Trung (phần 1)
------------------------


Hai nha dịch chờ ngoài phòng giam đang rỗi hơi cãi vã, bỗng nghe trong phòng có tiếng thét, không khỏi giật mình hốt hoảng, ba chân bốn cẳng đạp tung cửa phòng nhìn vào. Chỉ thấy hai chiếc ghế đổ sang một bên, tên tù nhân nọ đã thoát khỏi dây trói, đẩy Dương đại nhân ngã xuống đất.

Hai người bọn họ vội lao tới bẻ quặt tay Vương Cảnh Long lại, phát hiện thân thể hắn đã mềm nhũn không còn chút sức lực, Dương Lăng ở bên dưới dính đầy máu tươi, cũng không biết bị thương chỗ nào, không khỏi sợ run ra đấy.

Dương Lăng hổn hển nói:
- Mau kéo hắn ra, tên này... tên này bị điên rồi, vùng khỏi dây thừng rồi nhảy bổ tới, cướp lấy bội kiếm của bản quan, suýt nữa đã giết chết ta rồi.

Hai tên gác ngục thấy Dương đại nhân vẫn có thể nói được, lúc này mới yên lòng, vội lật xác Vương Cảnh Long qua một bên, vừa lật đật dìu y dậy, vừa quay ra bên ngoài la lớn:
- Người đâu mau lên, tù nhân thoát trói, hành thích Dương đại nhân rồi!

Trên công đường, các vị đại nhân cao tuổi đang sốt ruột chờ đợi. Đám người Dương Phương, Vương Ngao vốn đã rất có thành kiến với Dương Lăng, nghe lời nói một phía của Vương Bình, chỉ nghĩ Dương Lăng mượn việc công để trả thù riêng, muốn lợi dụng cơ hội xây Thái lăng để hành hạ Vương Cảnh Long, đó là chuyện thường thấy trên quan trường, cho nên hoàn toàn tin tưởng.

Vương Cảnh Long không thể cầu cứu, chỉ có thể vượt ngục vào kinh tố cáo để cứu sống chính mình, cũng thật sự đáng thương. Bọn họ nhất thời động lòng thương xót, chỉ sợ Dương Lăng lợi dụng quyền thế áp bức ngự sử tuần thành dùng hình phạt đánh chết Vương Cảnh Long, cho nên vội vã chạy lại. Không ngờ đến nơi này lại thấy Vương Cảnh Long thuê kẻ ác để báo thù, Dương Lăng nhân chứng vật chứng đều có, tức thì ngẩn người.

May mà những lời thấu tình đạt lý của Lý Đông Dương đã lay động được Dương Lăng. Chỉ cần y không truy cứu, với ảnh hưởng của mọi người, Hoàng Thượng nhất định sẽ không dám tăng thêm tội danh cho Vương Cảnh Long, cũng coi như có thể ăn nói với bạn cũ. Lưu Kiện nhấp ngụm trà, do dự quay sang Lý Đông Dương hỏi:
- Tân Chi (1), ông nghĩ Dương Lăng có chịu mắt nhắm mắt mở cho qua không?

Lý Đông Dương vuốt râu cười đáp:
- Đại nhân yên tâm, Dương Lăng tuyệt không phải là loại người lòng dạ độc ác, y sẽ không làm chuyện đuổi tận giết tuyệt đâu. Huống hồ tam công lục bộ cầu xin cho phạm nhân, ngay cả Hoàng Thượng cũng phải nể mặt mấy phần, huống gì Dương Lăng tuy là khổ chủ, nhưng trên thực tế chưa bị tổn hại gì.

Vương Ngao lạnh lùng "hừ" một tiếng, tức tối nói:
- Mặt mũi y thật không nhỏ, vào kinh chưa được một năm, mỗi tháng đều phải gây ra một ít chuyện. Nhắc đến vụ án Đế lăng, Vương thượng thư chỉ là bị kẻ khác lừa dối, mới tán thành yêu cầu trừng phạt nghiêm khắc Dương Lăng, cùng lắm phạt lương bổng nửa năm cũng đã đủ rồi, giờ lại bị đuổi đến Kim Lăng. Vương Cảnh Long trong lúc hồ đồ, vì muốn giải vây cho phụ thân nên mới tố cáo y ép mua kỹ nữ làm thiếp, theo luật Đại Minh, luận tội phản tọa, cho dù tội tăng thêm ba bậc, hình phạt cao nhất cũng chẳng qua là đánh trăm gậy, đi đày ba ngàn dặm. Hơn nữa hắn đã bị tước đi công danh, cũng có thể đền tội rồi. Không may hắn lại xui xẻo gặp phải Hoàng Thượng đích thân nghe xử, làm thân khâm phạm thật đúng là oan uổng. Nếu mấy lão già chúng ta ngay cả một thế điệt (2) cũng cứu không nổi, chuyện hôm nay để truyền ra ngoài thì thực đúng là mất hết thể diện.

Thượng thư bộ Lễ Vương Hoa cười ghẹo:
- Từ khi Đại Minh dựng nước đến nay, khâm phạm không phải là quan lại được tam công lục bộ cùng lúc ra mặt xin tha, ngoại trừ Thẩm Vạn Tam (3) thời Hồng Vũ ra, đại khái cũng chỉ có một mình Vương Cảnh Long. Không lẽ mặt mũi Dương Lăng còn lớn hơn cả hoàng đế Thái Tổ sao?

Nghe ông ta nói như vậy, thần sắc trên mặt mọi người lập tức hòa hoãn trở lại. Nói vậy cũng đúng, Thẩm Vạn Tam nhiều lần trái ý quân vương, cuối cùng hoàng đế Hồng Vũ không phải vẫn phải nể mặt quần thần, thu hồi thánh chỉ, sửa tội chết thành đi đày đó sao? Hôm nay quan viên ngồi trên công đường đây có ai mà phẩm hàm không cao hơn Dương Lăng chứ? Chẳng qua chỉ là muốn y nể mặt bỏ qua, tránh đẩy Vương Cảnh Long vào chỗ chết, y dám khăng khăng làm theo ý mình à?

Thượng thư bộ Hộ Hàn Văn quét mắt nhìn mọi người một cái, thấy mấy người Dương Phương, Vương Ngao mặt mày kiêu ngạo đắc chí, không khỏi thầm lắc đầu. Với thể diện của bọn họ, lão đúng là không tin Dương Lăng dám làm gì Vương Cảnh Long, lão chỉ lo Vương Quỳnh nóng lòng thương con, bất chấp vương pháp, quả nhiên đã sai người cứu Vương Cảnh Long trốn thoát. Nếu không phải vì Vương Cảnh Long xui xẻo trở thành khâm phạm, với thế lực nhà họ Vương, tội vu cáo này cũng không có gì đáng phải lo. Nhưng giờ hắn đã là khâm phạm, cứu hắn thoát ra chính là coi thường quân chủ, tội này mới thật không nhẹ.

Lão nghĩ một chút, nhìn thấy Hồ Chu cũng đang trên công đường, lại không tiện nói ra lo nghĩ trong lòng. Dương Thủ Tùy ngồi bên cạnh, thấy sắc mặt lão, biết lão có lo lắng trong lòng, không khỏi mỉm cười, đưa một ngón tay ra viết nhanh lên vạt áo lão mấy chữ: "Gia nhân tự ý, không có bằng chứng".

Hàn Văn nhìn thấy khẽ "a" lên một tiếng. Phải rồi, trong triều Vương Quỳnh không có kẻ thù, chỉ cần lấy cớ này làm qua loa cho có lệ, ai lại lựa gió bẻ măng, truy cứu tới cùng hành vi cứu con của một ông lão tuổi đã bảy mươi chứ? Làm vậy há không khiến người ta cảm thấy vô liêm sỉ sao?

Ông quay sang Dương Thủ Tùy mỉm cười, đang muốn tỏ ý, chợt nghe dưới công đường vọng đến tiếng la “tù nhân hành thích”. Mấy vị đại nhân không khỏi đứng bật dậy, vừa ngạc nhiên vừa ngờ vực nhìn ra ngoài. Chỉ thấy một tên nha sai chạy như bay vào báo:
- Kính bẩm đại nhân, tên tù nhân kia thoát khỏi dây trói, ý đồ hành thích Dương đại nhân.

- Cái gì? Dương đại nhân (phạm nhân kia) thế nào rồi?
Hồ Chu bất chấp bản thân chức quan nhỏ, cũng tranh hỏi cùng Dương Phương. Dương Phương hỏi là hỏi sự sống chết của Vương Cảnh Long, còn lão lại lo lắng cho tính mạng của Dương Lăng. Nếu Dương Lăng xảy ra chuyện ở chỗ lão, bãi quan cuốn gói ra đi sẽ là điều không thể tránh.

Mặt như đưa đám, tên nha sai thưa:
- Dương đại nhân bị thương, cả người đầy máu, cũng không biết nghiêm trọng đến mức nào, tù nhân kia đã bị Dương đại nhân trở tay đâm chết rồi.

Lưu Kiện giậm chân, dẫn mấy vị đại nhân vội vã chạy tới phòng tạm giam phạm nhân chờ thẩm vấn ở dưới công đường. Vào trong phòng, Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai sớm nghe tin chạy tới đang ôm lấy Dương Lăng khóc lóc sướt mướt. Mấy vị đại nhân trông thấy Dương Lăng cả người đầy máu, cũng không biết đó là máu của Vương Cảnh Long vấy lên, quả thực đã bị dọa giật thót mình.

Nói cho cùng đây là lần đầu Dương Lăng giết người. Mặc dù nghe xong ý đồ độc ác đó của Vương Cảnh Long, y không nén được cơn giận, song dẫu sao trong lòng vẫn rất sợ, thêm vào một kiếm tự đâm cũng quả thực rất đau, cho nên sắc mặt trắng bệch, vẻ kinh hoàng không giống như giả bộ. Lại nhìn Vương Cảnh Long đang nằm dưới đất, nụ cười nham hiểm ác độc nọ vẫn còn hiện trên khuôn mặt, trông dữ tợn khác thường, tình hình xem ra thực đúng như lời tên nha dịch vừa rồi đã nói.

Khuôn mặt Lý Đông Dương thoáng hiện vẻ kinh hãi, thương xót lẫn hoài nghi, ông chạy qua đỡ Dương Lăng hỏi:
- Dương đại nhân, thương thế cậu sao rồi?

Dương Lăng thấy ông ta không hề hỏi về chuyện đã xảy ra, song cặp mắt lại nhìn chằm chằm vào mình như thể muốn tìm ra sơ hở từ trong đó, trong lòng cũng hơi run, may mà sắc mặt y vốn tái nhợt, không ai phát hiện được vấn đề gì. Y đáp:
- Đại nhân, hạ quan cũng có lòng muốn tha cho hắn, không ngờ hắn thù hận quá sâu, đột nhiên vùng thoát khỏi dây trói đoạt lấy bội kiếm của hạ quan rồi đâm vào tay hạ quan một kiếm, may mà hắn không đủ sức lực, hạ quan cướp lại kiếm, đâm ngược lại giết chết hắn. Hạ quan... thương thế hạ quan cũng không nghiêm trọng.

Lý Đông Dương không nhìn ra sơ hở, thất vọng đứng dậy, ngơ ngơ ngẩn ngẩn một hồi lâu rồi mới thở dài một tiếng, mệt mỏi khoát tay nói:
- Dương đại nhân không có trở ngại gì lớn thì tốt. Mau băng bó cho Dương đại nhân một chút rồi đưa đến chỗ đại phu chẩn đoán chữa trị thật tốt.

Dương Lăng thấy bọn họ người nào người nấy mắt sáng quắc như đuốc, sợ nói chuyện lâu sẽ để lộ ra sơ hở, vội cố gượng đứng lên nói:
- Hạ quan đã băng bó sơ rồi, chỉ là chảy máu quá nhiều, có hơi váng đầu, thật sự không thể gắng gượng lâu. Các vị đại nhân, kết cục hôm nay thật sự nằm ngoài ý nghĩ của hạ quan... Ài, hạ quan... hạ quan xin cáo lui trước.

Mấy người Lưu Kiện nhìn y được Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai mỗi người dìu một bên, loạng choạng rời đi. Một lúc sau Dương Thủ Tùy giận dữ gào lên:
- Bố láo! Tên tiểu nhân này rõ ràng không muốn bỏ qua cho Vương Cảnh Long. Không ngờ y lại giả vờ bằng lòng, cố ý giết người, thật quá nham hiểm!

Hàn Văn cười gượng một tiếng, dùng những chữ khi nãy Dương Thủ Tùy đã viết cho mình đáp lại: "Chuyện trong phòng kín, không có chứng cứ".

Trong số các vị đại nhân tại hiện trường, ngoại trừ Vương Hoa tin lời Dương Lăng, Lý Đông Dương có chỗ nghi ngờ, những người khác không một ai tin Vương Cảnh Long có thể thoát trói giết quan. Đó chẳng phải là tự tìm đường chết sao? Vì thế họ vô cùng căm phẫn. Nhưng chuyện này thật sự không thể điều tra được chứng cứ xác thực, lại không thể nào chất vấn Dương Lăng.

Tạ Thiên cười khổ một tiếng, thở dài:
- Chỉ là... Lúc trước chúng ta hết lòng thề thốt sẽ bảo vệ cho Vương Cảnh Long, nay thật sự hổ thẹn với bạn cũ rồi.

Lưu Kiện lúc này đã định thần lại, khẽ lắc đầu nói:
- Nói nhiều vô ích, ôi! Đợi khi ty binh mã kiểm tra thi thể xong, lão phu sẽ sai người đến giúp hắn thu liệm thi thể. Tân Chi, chuyện này thật sự khó mà mở miệng, phiền huynh viết một phong thư, báo cho Vương thượng thư vậy.

Lý Đông Dương lặng lẽ gật đầu, rồi quay lại nói với Hồ Chu:
- Giao đám phạm nhân cho bộ Hình thẩm vấn, nói với bọn họ, tiến triển của vụ án phải luôn sẵn sàng trình lên!

Hiện nay vị trí thượng thư bộ Hình vẫn còn để trống, tạm thời do đại học sỹ Lý Đông Dương quản lý. Vụ án này vừa liên quan đến khâm phạm, lại có dính dáng đến mạng người, ty binh mã ngũ thành cỏn con rõ ràng không có quyền can dự. Hồ Chu nghe xong như được đại xá, lật đật vâng dạ.

Dương Lăng ngồi trong kiệu ngựa, Ngọc Đường Xuân, Tuyết Lý Mai cũng không ngại hiềm nghi ngồi sát mỗi người một bên. Vương Cảnh Long chỉ muốn khoái trá trong chốc lát, tuôn ra những lời lẽ ác độc khiến Dương Lăng trong cơn giận điên người (nv: nhất phật xuất thế, nhị phật thăng thiên chỉ sự luân hồi, chết đi sống lại, nghĩa bóng chỉ sự hiếm có), sát khí dâng trào đã giết chết hắn. Nhưng y tự đâm mình một kiếm lại không quá sâu, máu trên người chủ yếu là của Vương Cảnh Long vấy lên.

Có điều nói là vậy, nhưng thấy y sắc mặt tái nhợt, lúc này ngoài áo đẫm máu, trên người vẫn còn mùi máu tanh, hai người con gái sao có thể không sợ? Ngọc Đường Xuân nước mắt lưng tròng thút thít:
- Lão gia, đều do tiểu tỳ không tốt, tiểu tỳ tự ý làm chủ, liên lụy lão gia bị thương. Tiểu tỳ nguyện bị lão gia trách phạt.

Trong lòng Dương Lăng nhớ lại những lời nguyền rủa ác độc nọ của Vương Cảnh Long, nghe xong không khỏi cười gằn một tiếng:
- Tên súc sinh đó, không biết kiểm điểm mình, chỉ biết đổ lỗi cho người khác, như thể cả thiên hạ đều thiếu nợ hắn không bằng, đáng chết!

- Dạ?
Ngọc Đường Xuân tâm tư lanh lợi cỡ nào, nghe xong lời này lập tức kinh ngạc nhìn y, mặt đầy vẻ nghi hoặc. Dương Lăng thoáng chột dạ, tuy nói hai người con gái này sẽ không hại y, bí mật này vĩnh viễn vẫn không nên để lộ thì hơn. Y nhẹ bớt giọng, chuyển hướng:
- Ta có lòng muốn tha cho hắn, hắn lại đâm ta một kiếm, còn không đáng chết sao?

Tuyết Lý Mai hậm hực:
- Lão gia nói đúng đó! Chúng ta lại không mắc nợ họ Vương nhà hắn cái gì, toàn là bọn chúng tìm sơ hở của chúng ta, ỷ cha mình làm quan lâu năm, trong triều nhân sự hùng hậu, hết lần này đến lần khác khinh người quá đáng. Hắn không hiểu đạo lý vua nào thần nấy à? Chết là đáng!

Dương Lăng hơi mỉm cười, cô bé này khá đơn thuần, lại yêu ghét rạch ròi, quả là rất dễ dỗ dành. Ngọc Đường Xuân thấy sắc mặt y đã hòa hoãn trở lại, trong lòng nhẹ nhõm hơn. Dương Lăng quay đầu lại nhìn, không khỏi lại nghiêm mặt trách:
- Cô đừng có mà đắc ý, gây ra tội lớn như vậy, ta không phạt cô, người trong phủ còn không làm loạn hết à? Cho dù cô lầm tưởng là người cha ruột đến cửa cầu xin giúp đỡ, không lẽ chuyện này không nên để ta biết sao?





Chú thích:

(1) tên tự của Lý Đông Dương, ông hiệu là Tây Nhai, Thiệu Văn Chính
(2) chỗ quen biết nhau gọi là "thế", "thế điệt" chỉ hàng con cháu người có qua lại với mình
(3) Thẩm Vạn Tam (1330-1379), tên thật Thẩm Phú, tự Trọng Vinh, người đời gọi là "Vạn Tam", người huyện Trường Châu, vùng Bình Giang. Theo truyền thuyết dân gian, nguyên nhân Thẩm Vạn Tam làm giàu là nhờ có "tụ bảo bồn" (chậu châu báu), kể rằng Thẩm Thị nhặt được một cái tụ bảo bồn, đem bỏ bất cứ thứ gì vào cũng sẽ hoá thành châu báu.





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
17-06-2011, 08:58 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 114 - Phần 2
Đại Gian Như Trung


Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: ThuỷChi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Ngọc Đường Xuân quỳ xuống, đau lòng nói:
- Cho dù nói thế nào, chuyện này đều do tiểu tỳ gây ra. Vả lại... vả lại lão gia đã bảo tiểu tỳ tìm phu nhân để nhận lấy gia pháp, tiểu tỳ sao dám không nghe?

Hàn Ấu Nương vội vàng đỡ nàng dậy, lấy làm kỳ lạ nói:
- Nói sao đây nhỉ, nhà chúng ta không có gia pháp gì cả. Gia pháp... ớ... "gia pháp"...





------------------------
Quyển ba - Vừa lên ngôi báu
Chương 114 - Đại Gian Như Trung (phần 2)
------------------------



Ngọc Đường Xuân nghe y trách mắng, chợt thấy xót thương cho cảnh đời của mình, không nhịn được ngân ngấn nước mắt. Nàng được Dương Lăng chuộc thân mua về, định sẵn là tài sản riêng của người ta, cho dù là làm nô tỳ hay tiểu thiếp, đều không thể thay đổi mối quan hệ lệ thuộc này. Cho dù là cha sinh mẹ đẻ cũng không quyết định được chuyện gì của nàng.

Giờ đây nàng giấu lão gia lấy tài sản tích góp được tặng cho cha ruột, Dương Lăng chỉ cần báo quan một tiếng, lôi nàng ra công đường loạn côn đánh chết cũng sẽ không ai thương xót nàng. Tuy nàng đoan chắc Dương Lăng sẽ không làm vậy với nàng, nhưng thấy vẻ mặt Dương Lăng nghiêm khắc như vậy, trong lòng vừa hoảng vừa sợ. Nàng vân vê góc áo cúi đầu không dám nhìn y, chỉ rụt rè lí nhí:
- Tiểu tỳ biết lỗi rồi. Lão gia muốn đánh muốn giết, tiểu tỳ cũng không dám oán thán một lời.

Dương Lăng trông thấy bộ dạng sắp khóc đến nơi của nàng, cũng không nỡ ép quá, y quay đầu đi nói:
- Biết sai thì tốt, về nhà tự mình nhận lấy gia pháp của phu nhân!

Tuyết Lý Mai đời nào chịu tin Dương Lăng nỡ lòng trách phạt bọn họ. Giờ nghe y bảo Ngọc Đường Xuân tìm Ấu Nương nhận gia pháp. Phu nhân là người tốt như thế, đối đãi với bọn họ như tỷ muội, sao lại nỡ lòng trách phạt, lão gia rõ ràng có ý bỏ qua. Nấp sau lưng Dương Lăng, nàng le lưỡi, vòng qua lưng Dương Lăng kéo tay áo Ngọc Đường Xuân, làm mặt quỷ với nàng.

Dương Lăng về nhà dưới sự bảo vệ của thân quân. Hàn Ấu Nương nhận được tin, mặt trắng bệch như tuyết vì căng thẳng. Nàng hoảng hốt nâng tay y, lại không dám tự tháo băng quấn vết thương trên tay y, chỉ sốt ruột giậm chân nói:
- Mau, mau đi mời Văn Tâm tỷ tỷ đến.

Ngọc Đường Xuân thấy bộ dạng phu nhân, vừa sợ vừa xấu hổ, cúi đầu đứng một bên không dám hé miệng lên tiếng.

Mấy ngày nay không biết Cao Văn Tâm đang bận rộn làm gì mà chuyển một chồng lớn sách thuốc vào trong phòng mình, khi không có việc gì làm liền ở trong phòng ghi ghi chép chép. Hàn Ấu Nương thấy nàng có việc bận bịu, bình thường cũng không kêu người quấy rầy nàng. Lúc này Cao Văn Tâm đang ở trong phòng lật xem sách cổ, bỗng dưng bị Tuyết Lý Mai và một tiểu nha hoàn kéo tay lôi vào phòng phu nhân, nàng ngẩn ngơ không biết đã xảy ra chuyện gì.

Người con gái này một khi bắt đầu nghiên cứu tìm tòi tri thức thì cũng hơi lôi thôi luộm thuộm giống như đàn ông vậy. Cao Văn Tâm điềm tĩnh nhã nhặn, hệt như một tiểu thư khuê các, cộng thêm khí chất ung dung, dáng người dong dỏng, vóc người lại thành thục hơn Hàn Ấu Nương và Ngọc Đường Xuân, cho dù ngày thường ăn mặc quần áo thị tỳ, khí chất đó cũng không giống người con gái hầu hạ người khác.

Lúc này nàng bị kéo thẳng từ phòng mình ra ngoài, chỉ mặc độc áo cánh trong nhà, một chiếc quần ống chẽn, tóc mai xõa tung, dáng thiếu nữ thành thục ấy quyến rũ khôn tả. Đặc biệt là vóc người đầy đặn, thân dưới thon dài, mặc chiếc quần vải mềm ôm sát thân, phơi bày đường cong đẹp đẽ của cơ thể, hết sức mê người.

Đây mới là lần đầu Dương Lăng nhìn thấy con gái mặc quần, nhất là trên người nàng lại mặc áo đuôi ngắn. Từ lúc đến thời đại này đến nay, y thấy mặc váy quá nhiều, nên giờ đột ngột nhìn thấy y cảm thấy rất thân thiết. Cao Văn Tâm bị y nhìn chằm chằm, mặt lập tức ửng đỏ, liền vội đến bên y, xem xét vết thương trên người, không dám đón lấy ánh mắt của y.

Tuy rằng loại quần ống chẽn đó là thường phục mặc nhà, song lại được phát triển từ loại quần vải bông, chỉ có thể mặc ở nhà trong, lúc cần đi ra bên ngoài vẫn sẽ mặc váy lụa, sao nàng có thể không ngượng khi bị Dương Lăng nhìn lom lom chứ? Cao Văn Tâm mặt nóng bừng bừng giúp y tháo chiếc khăn băng bó qua quýt trên cánh tay. Xắn tay áo kiểm tra vết thương xong, nàng không khỏi thở phào mỉm cười nói với Hàn Ấu Nương:
- Phu nhân không phải lo lắng! Vết thương của lão gia không sâu, giờ máu cũng đã ngưng chảy, không có gì đáng ngại. Đợi tiểu tỳ lấy ít bạch dược (bột thuốc trắng để rịt lên vết thương) đắp lên là được.

Hàn Ấu Nương nghe xong mới thở phào một hơi, rồi quở trách Dương Lăng:
- Tướng công mang theo nhiều người đi như vậy, sao còn để mình bị thương? Sớm biết vậy Ấu Nương đã đi theo chàng rồi. Vừa rồi thật là dọa chết người ta đi.

Tuyết Lý Mai nhanh nhảu tức tối kể lại chuyện Vương Cảnh Long ý đồ bắt cóc Ngọc Tỷ Nhi, bị tóm xong lại lấy oán trả ơn, mưu toan đâm lão gia, khiến Hàn Ấu Nương nghe xong cũng cực kỳ phẫn nộ. Cao Văn Tâm nghe vậy đảo mắt, ánh mắt nhìn về phía Dương Lăng lại có điểm nghi ngờ, khác lạ.

Chỉ thấy Cao Văn Tâm chần chừ một lát rồi nói:
- Lão gia, vết thương này tuyệt không đáng ngại, có điều... lâu dài sẽ khó tránh để lại vết sẹo khá lớn, để tiểu tỳ thử dùng dao châm được không? Lão gia yên tâm, tiểu tỳ đắp thuốc tê lên, tuyệt sẽ không đau đâu.

Dương Lăng lại không nghĩ vậy, cười nói:
- Việc gì mất công như vậy chứ? Vết thương lại không phải ở trên mặt, có vết thương này... ơ... thôi được.

Đang nói, y ngẩng đầu thì thấy Cao Văn Tâm nháy mắt ra hiệu, trong đó có vài phần là đã biết tỏng, vài phần xảo quyệt. Dương Lăng tuy không phải là tú tài chân chính, song vừa thấy ánh mắt quai quái này, lập tức sực tỉnh: chẳng lẽ vết thương kiếm đâm này là do tự đâm hay người khác đâm, người thời này có thể kiểm tra ra sao? Đúng rồi, góc độ, sức lực đều có khác biệt, nếu là người có nghiên cứu về vết thương, khó tránh khỏi sẽ bị nhìn ra manh mối. Cao Văn Tâm muốn giúp mình xử lý đây.

Hàn Ấu Nương nghe xong lại trở nên lo lắng, vội hỏi:
- Tỷ tỷ, không phải tướng công không có gì đáng ngại sao? Sao... sao còn phải dùng đến dao kéo?

Dương Lăng và Cao Văn Tâm nhìn nhau một cái, ngầm hiểu trong lòng. Duơng Lăng không khỏi cười nói:
- Ấu Nương, nàng vẫn không tin y thuật của nữ thần y sao? Ta có nghe nói, đây mới là y thuật cao minh, vết thương sẽ càng mau lành hơn. Nàng không cần lo, giờ không phải ta có thể đi có thể chạy sao? Ha ha ha...

Dương Lăng mỉm cười đứng dậy, nói:
- Ta đi được rồi, nàng đừng đi theo, tránh phải thấy máu thịt để rồi lại hốt hoảng lo sợ.

Trong mắt Cao Văn Tâm loé lên vẻ triết gia. Thấy y đi trước ra khỏi cửa, nàng mới khẽ mỉm cười, nói với Ấu Nương:
- Đừng lo, chỉ cần thời gian hai chén trà tỷ tỷ cam đoan sẽ trao trả một tướng công nguyên vẹn lại cho muội ngay.

Hàn Ấu Nương đỏ mặt, vờ trách:
- Ấu Nương xem tỷ như chị ruột, giờ tỷ lại bắt chước bọn Tuyết Nhi trêu muội. Rồi sẽ có một ngày... hừm hừm, người ta sẽ không thèm uống trà tỷ dâng đâu.

Cao Văn Tâm liền đỏ bừng mặt, vừa thẹn vừa hoảng, tính mở miệng song lại không dám chối bỏ. Nàng hờn dỗi giậm chân rồi vội vã chạy đi.

Tuy rằng Hàn Ấu Nương thấy cử chỉ của trượng phu mình tự nhiên, và cũng hết sức tin tưởng y thuật của Cao Văn Tâm, song vẫn muốn đi theo giúp đỡ một tay. Nhưng nàng mới vừa đi ra vài bước, Ngọc Đường Xuân đã rụt rè kéo áo khoác ngắn của nàng, tủi thân nói:
- Phu nhân, lão gia bị thương là do tiểu tỳ gây ra, xin phu nhân hãy trách phạt tiểu tỳ.

Hàn Ấu Nương dở khóc dở cười, nói:
- Ai ngờ được Vương Cảnh Long có thể vùng thoát khỏi dây trói mà hành hung làm người bị thương chứ? Muội đừng làm phiền thêm nữa.

Ngọc Đường Xuân quỳ xuống, đau lòng nói:
- Cho dù nói thế nào, chuyện này đều do tiểu tỳ gây ra. Vả lại... vả lại lão gia đã bảo tiểu tỳ tìm phu nhân để nhận lấy gia pháp, tiểu tỳ sao dám không nghe?

Hàn Ấu Nương vội vàng đỡ nàng dậy, lấy làm kỳ lạ nói:
- Nói sao đây nhỉ, nhà chúng ta không có gia pháp gì cả. Gia pháp... ớ... "gia pháp"...

****************

Ngày thứ hai, Hữu thị lang bộ Hình Ngụy Thân trình báo kết quả thẩm tra xử lý vụ án lên Lý Đông Dương, quá trình thẩm tra vụ án diễn ra hết sức thuận lợi, căn bản chưa cần dùng đến cực hình, Vương Bình đã cung khai: được sự căn dặn của lão gia ở lại kinh thành chăm sóc công tử, vì thấy công tử chịu đọa đày nơi lăng tẩm nên gã mới tự ý quyết định thuê người cứu hắn ra, nay trái lại thành hại thiếu chủ nhân mất mạng, chỉ mong được chết.

Những tên trộm cướp kia đều đã sớm có chuẩn bị phòng khi bị bắt, tên nào cũng nói là cuộc sống nghèo khổ, chui nhủi khắp nơi xin miếng cơm manh áo, bị vàng ròng bạc nén của Vương Bình cám dỗ nên mới giúp y trộm xác cứu người, bắt cóc người thân nhà người ta.

Ngụy Thân điều tra một phen, thấy tình huống đúng là như vậy, còn về thân phận đám giặc cướp đó, có thể nói trời nam đất bắc nơi nào cũng có, cho nên lấy được lời khai xong cũng không phái người rong ruổi ngàn dặm xa xôi thu thập chứng cứ mà giao ngay hồ sơ vụ án cho Lý đại học sỹ.

Lý Đông Dương thấy vụ án không liên lụy đến Vương Quỳnh, trong lòng mừng lắm. Đừng nói không thể tra ra được Vương Quỳnh là chủ mưu, cho dù có chỗ hoài nghi, bạn già đã bị cách chức điều tới Kim Lăng, con thơ lại bị chết thảm, ông cũng không thể làm ra chuyện giậu đổ bìm leo nữa.

Thấy phán quyết của Ngụy Thân khá là công bằng, theo luật Đại Minh, bày mưu cướp ngục, kẻ bày mưu thì treo cổ, tòng phạm đi đày ngàn dặm, bày mưu bắt cóc không thành, kẻ chủ mưu bị giam mười năm, tòng phạm phạt đánh trăm gậy, giam một năm. Gộp chung hai tội, phán Vương Bình tội chém ngang lưng, mấy tên giặc cướp phạt một trăm gậy, đi đày ba ngàn dặm, bắt tới trạm trung chuyển Tạp Mộc Khẩu ở Lương Châu làm phu xe, cho vận chuyển quân nhu.

Lý Đông Dương cầm một thẻ tre lên, nâng bút suy nghĩ một chút rồi viết lên đó: "Xét thấy hình phạt công bằng, thiết nghĩ có thể cho phép. Nhưng đại hôn hoàng thượng sắp đến, khắp chốn mừng vui, không nên thấy máu, thiết nghĩ nên treo cổ thủ phạm chính, miễn phạt gậy tòng phạm, đày chúng đi Lương Châu. Thần Lý Đông Dương, đại học sỹ điện Cẩn Thân. Ngày hai mươi bảy tháng sáu”.

Viết xong hai hàng chữ khải nhỏ đẹp, trơn tru tròn trịa nhưng vẫn cứng cáp, Lý Đông Dương cầm thẻ tre lên thổi thổi, phết lên một chút hồ, rồi dán nhẹ lên một góc hồ sơ.


Ông nhíu mày ngó tập hồ sơ đó một hồi, đột nhiên lấy một tờ giấy ra, nâng bút viết nhanh hai chữ "Dương Lăng" thật to trên tờ giấy, bên dưới lại viết hai hàng chữ "Thiện Ác Trung Gian" nho nhỏ. Ngắm nghía một lát, ông cầm bút gạch một cái, xoá chữ "Ác" đi, đầu cây bút lông sói lơ lửng dừng trên hai chữ "Trung" và "Gian" một hồi lâu, khó mà hạ bút.

Ông thở dài một tiếng, khẽ gác bút, rồi cất giọng xa xăm:
- Đại trung giống như gian, đại gian giống như trung, bề ngoài gian thực tế lại trung, bề ngoài trung thực tế lại gian. Lão phu cả đời đã thấy nhiều người, nhưng không hiểu sao... vẫn không nhìn thấu được cậu...






Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
21-06-2011, 08:54 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 115 - Mỗi Người Đều Có Nỗi Niềm Riêng


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Y rờ mũi, ngập ngừng:
- Ờm... Hoàng Thượng bớt sầu, chỉ là chuyện nhỏ, đừng quá để tâm. Nếu như Hoàng Thượng không muốn gọi thái y, vậy... vậy thì lấy ít nước muối rửa sạch, nghỉ ngơi vài ngày là được.



------------------------
Quyển ba - Vừa lên ngôi báu
Chương 115 – Mọi người đều có nỗi niềm riêng

------------------------

Ngày mai chính là ngày hoàng đế nạp một hậu hai phi, phủ họ Dương cũng giăng đèn kết hoa khắp từ trong nhà ra ngoài sân. Bên phải nội viện, hai căn phòng vừa được sơn quét, ngăn cách bởi một gian nhỏ dùng làm nhà kho cất giữ những đồ lặt vặt, chính là phòng tân hôn mà Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai sắp sửa bước vào; phòng được trang hoàng rực rỡ, tràn đầy không khí hoan hỷ.

Khuê phòng của hai nàng tuy không lớn nhưng rất tinh tế. Phòng ngoài của Ngọc Đường Xuân treo đầy những bức thư hoạ, còn của Tuyết Lý Mai lại là cầm, sắt và tỳ bà (1) được đặt ngay ngắn chỉnh tề. Nội thất của hai người đơn giản hơn nhiều, giường thêu hoa lệ, căn phòng đỏ rực, một khóm hoa tươi được cắm trên bàn trang điểm. Một khi đã bước vào phòng, mùi hương dịu êm nức mũi lại thêm mỹ nhân muôn vẻ yêu kiều thực là cảnh sắc tiêu hồn khiến người ta mê đắm.

Giường thêu hoa lệ của hai người được khâu ngay ngắn chỉnh tề, trên giường không nhiễm chút bụi trần, ngay cả bản thân bọn họ cũng không nỡ ngồi lên, dĩ nhiên sẽ không để bọn nha hoàn chạm vào giúp đỡ. Tất cả những thứ này đều do hai cô hao phí nửa ngày trời chuẩn bị.

Làm chuyên sứ cho Thiên tử cần phải xử lý rất nhiều việc, Dương Lăng mới nghỉ ngơi được một ngày thì đã không thể tiếp tục cáo bệnh nữa, đêm nay y sẽ phải chạy vào cung chuẩn bị. May mà vết thương của y không sâu, lại rất mau lành nên không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường.

Trong thư phòng, Dương Lăng ghi nhớ cẩn thận một lượt những quy trình cần làm vào ngày mai rồi trở về phòng viện của mình. Hai tiểu nha hoàn đang giăng đèn kết hoa trong sảnh, một người đứng trên ghế, một người đỡ ở bên dưới. Trông thấy lão gia, bọn họ định làm lễ, thấy bọn họ đang bận bịu, Dương Lăng vội khoát tay ngăn lại, tự mình bước vào trong phòng.

Lặng lẽ đi đến cửa phòng, vừa tính mở cửa, y chợt nghe tiếng Hàn Ấu Nương từ trong phòng vọng ra:
- Sao muội càng nghĩ càng cảm thấy không thích hợp đó. Tướng công nạp đồng thời hai nàng thiếp về nhà, như vậy có tốt không?

Lòng Dương Lăng chìm xuống: “Thôi rồi! Ngoài miệng Ấu Nương không nói gì nhưng quả nhiên trong lòng không vui rồi. Tuy nhiên nàng cũng biết kiềm nén vứt bỏ lòng ghen đáng xấu hổ của phụ nữ đi, cho dù Hoàng Đế ban thưởng cho một cặp ma lem thì cũng không thể cự tuyệt đâu à...”

Hai người Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai muôn vẻ yêu kiều, nhìn là muốn yêu, sớm chiều gặp mặt, sao có thể không nảy sinh chút cảm tình nào? Nhưng nếu Hàn Ấu Nương công khai tỏ ý buồn phiền, Dương Lăng thực sẽ không "được voi đòi hai bà Trưng", bởi vì việc đó sẽ khiến nàng không hạnh phúc.

Tuy y có gan vì sự sống chết của Ấu Nương mà kháng lại thánh chỉ, nhưng lại không có dũng khí vì chuyện như vậy mà đắc tội với Hoàng Đế. Nghe thấy câu nói của ái thê, trong lòng thấy bất an, Dương Lăng không dám cất bước vào phòng.

Y lại nghe tiếng Cao Văn Tâm trong phòng khẽ cười nói:
- Rốt cuộc muội muội lo lắng chuyện gì chứ? Chỉ thấy muội ấp a ấp úng nửa ngày trời, tỷ tỷ vẫn chưa hiểu là chuyện gì nè.

Hàn Ấu Nương lắp ba lắp bắp:
- Ai da, sao tỷ tỷ ngốc vậy chứ. Muội muốn nói là... là tướng công một đêm phải động phòng hai lần. Muội sợ chàng... sợ chàng... sợ chàng chịu không nổi thôi...

Cao Văn Tâm không nhịn được cười phì một tiếng, trong phòng vẳng ra những tiếng trêu đùa, sau đó y nghe Cao Văn Tâm cười khúc khích, thở dốc:
- Hoá ra... hoá ra muội đây là thương xót cho tướng công, hi hi, a ha, ha ha!!!

Không nghe được tiếng Ấu Nương nói trong phòng, Dương Lăng chỉ có thể tưởng tượng ra vẻ dẩu miệng yêu kiều của nàng, trong lòng không khỏi ngứa ngáy. Y lại nghe tiếng Cao Văn Tâm rối rít xin lỗi:
- Được rồi! Được rồi! Tỷ nhận lỗi, tỷ xin lỗi! Cáo Mệnh phu nhân của ta, đừng lo lắng! Hai tỷ muội chúng ta sẽ đóng cửa nói chuyện riêng tư một chút.

Tuy là thầy thuốc, nhưng bản thân cũng là thiếu nữ chưa chồng, nói tới mấy chuyện này mặt Cao Văn Tâm cũng nóng ran, nàng ngượng nghịu:
- Muội muội, ”buông thả dục vọng tổn hại sức khoẻ” chỉ là lời thầy đồ khuyên răn người ta đừng trầm mê nữ sắc, chứ trong y đạo không có quy tắc như thế. Chỉ cần không dùng thuốc thang tráng dương quá độ gây tổn hại đến thân thể, thì cho dù... cho dù mỗi ngày làm chuyện phòng the một lần cũng không đáng ngại. Nếu ngày thường chú ý điều dưỡng, chuyện này... ngược lại sẽ có ích cho thể xác lẫn tinh thần.

Hàn Ấu Nương ngạc nhiên hỏi:
- Không sao ư? Nhưng mà... nhưng mà chẳng phải nói là ”một giọt tinh bằng mười giọt máu”, tinh khí cơ thể con người nếu tiêu hao hằng ngày thì sẽ bị khô kiệt, tổn hại sức khoẻ sao? À... muội... muội chỉ là đọc một ít sach thuốc phổ thông ở thôn quê, tỷ tỷ đừng cười muội.

Cao Văn Tâm đáp:
- Tinh khí hoá huyết đều là những lời nói vu vơ, không hề có căn cứ. Ừm... nói thế này vậy, không phải bây giờ mỗi ngày muội đều tập võ buổi sáng hay sao? Chuyện phòng the còn không hao tổn thể lực bằng việc muội luyện võ, làm sao lại quá kỳ bí như thế?

Dương Lăng nghe mà thầm kinh ngạc, y thuật của Cao Văn Tâm quả nhiên cao minh. Y học hiện đại dùng thiết bị hoá nghiệm mới biết cái gọi là "tinh huyết" chỉ là lời nói vô căn cứ, suy đoán chủ quan của người xưa. Không ngờ nàng tuy chưa hẳn đã biết rõ ràng đến như vậy, song cũng đã nói đúng đến tám chín phần.

Hàn Ấu Nương thở ra một hơi, nhẹ nhõm:
- Vậy thì muội yên tâm rồi. Trước đây thân thể tướng công yếu ớt, quanh năm bệnh tật, nằm ẹp trên giường, suýt nữa thì đã... Muội chỉ lo cho sức khỏe chàng, tỷ tỷ tinh thông y đạo, tỷ nói như vậy thì muội yên tâm rồi. Ôi, ngày mai lại phải lo chuyện cưới hỏi. Tướng công luôn muốn có con, nhưng muội lại không cố được, chỉ mong hai muội muội có thể sớm sinh con cho nhà họ Dương.

Cao Văn Tâm nghe xong sắc mặt hơi đổi, nói:
- Muội muội! Nếu như lão gia muốn có con nối dõi, e rằng... e rằng sẽ hơi khó.

Hàn Ấu Nương trong phòng và cả Dương Lăng đang ở ngoài phòng nghe vậy đều cả kinh. Hàn Ấu Nương nắm chặt tay Cao Văn Tâm, căng thẳng hỏi:
- Sao tỷ tỷ lại nói vậy?

Cao Văn Tâm an ủi:
- Muội muội đừng quá lo lắng, muội hãy nghe tỷ nói. Tỷ quan sát khí sắc của lão gia, vốn có vài phần hoài nghi. Gần đây tỷ xem vài cuốn cổ tịch, hôm qua lại bắt mạch cho lão gia, chỉ cảm thấy nội thể lão gia hư tổn nghiêm trọng, vốn còn không biết vì sao, bây giờ mới biết thì ra lão gia từng bị bệnh liệt giường liệt chiếu triền miên nên mới ra cớ sự. Thân thể tráng kiện và nội thể hư tổn là hai chuyện khác nhau, muội đừng thấy bây giờ thân thể lão gia khoẻ mạnh mà lầm, nó không giống nhau. Muốn chữa khỏi cho lão gia, trong dùng thuốc điều trị, ngoài châm thạch (2) phụ trợ. Nếu để tỷ ra tay, ước chừng nửa năm tỷ sẽ có thể chữa khỏi cho đại nhân.

- A!
Vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, Hàn Ấu Nương vội hỏi dồn:
- Tỷ tỷ! Vậy phải chữa trị như thế nào?

Thấy sự việc liên quan đến chính mình, trống ngực Dương Lăng cũng đập dồn dập. Y không có cái suy nghĩ "kế tục hương hoả", "vô hậu vi đại" (3), nhưng lại rất muốn cùng Ấu Nương mến yêu của mình sinh ra một kết tinh của tình yêu, để nàng có mục tiêu và dũng khí tiếp tục cuộc sống sau khi y qua đời.

Vốn còn tưởng vì Ấu Nương tuổi hãy còn nhỏ, không ngờ lại là chính thân mình mang bệnh ngầm, phỏng chừng một loại bệnh suy thận hư khí do lâu ngày nằm liệt trên giường nào đó. Nhất thời mình mềm lòng cứu giúp Cao tiểu thư, lần này thật đúng là "có lòng tốt ắt gặp báo đáp". Bằng không hai năm sau mình trả mạng về trời, thậm chí con nối dõi cũng không có, cho dù Ấu Nương có dũng khí sống tiếp, nhất định nàng cũng sẽ áy náy cả đời.

Nghe thấy hai người to nhỏ thì thầm, bắt đầu bàn tới những biện pháp chữa trị, y bèn lặng lẽ lùi ra ngoài cửa. Sau một lát, Dương Lăng cất cao giọng nói với cô nữ tỳ bên ngoài:
- Ừ! Được rồi! Không cần phải treo nhiều đèn như vậy đâu, dán thêm chữ HỶ lên cửa sổ là được rồi.

Nghe tiếng Dương Lăng, Ấu Nương vội mở cửa phòng, thấy y ăn mặc chỉnh tề, nàng bèn hỏi:
- Tướng công, chàng muốn đi ra ngoài sao?

Thấy Cao Văn Tâm trốn trong phòng không ra, Dương Lăng bèn cười nói với Ấu Nương:
- Đúng vậy! Sớm mai ta phải đến phủ của Hạ đại nhân, đêm này còn nhiều thứ phải làm, giờ ta phải chạy vào trong cung. Đêm nay nàng cũng nghỉ ngơi sớm một chút đi, sáng sớm mai còn phải chạy vào hoàng cung hộ tống loan giá (xe) của Hoàng Hậu đó.

Hàn Ấu Nương vẫn luôn tưởng mình hiếm muộn, trong lòng thường hay thấp thỏm bất an. Hôm nay tuy trong lòng nhẹ nhõm, nhưng biết được vấn đề là do tướng công, nàng lại sợ y biết rồi sẽ xấu hổ buồn phiền nên cũng không dám kể những lời của Cao Văn Tâm cho y nghe. Nàng tiễn Dương Lăng ra khỏi cổng, thấy tướng công đã cưỡi ngựa đi xa mới lật đật trở vào sân, vội vã chạy đến chỗ Cao Văn Tâm xin lĩnh giáo y thuật.

*****

Vào trong cung, Dương Lăng thấy trong ngoài hoàng cung cũng đã được bố trí trang hoàng lộng lẫy. Tử Cấm Thành nguy nga tráng lệ, hiển nhiên còn lâu nhà Dương Lăng mới thể sánh được. Có lẽ do cung điện to lớn nên khí thế của bầu không khí lo liệu cho ngày cưới càng oai phong hơn mấy phần.

Không biết hiện giờ hoàng thượng Chính Đức đang ở đâu, Dương Lăng chạy đến lầu Đông Noãn cung Càn Thanh, nơi Chính Đức vẫn thường hay làm việc. Y bất ngờ phát hiện Chính Đức đang ngồi ngay ngắn bên long án, Cốc Đại Dụng và Mã Vĩnh Thành đứng hầu ở sau lưng, quỳ phía trước là một vị quan lại y không quen biết, tay bê một chồng sớ lớn. Dương Lăng vội bước đến làm lễ với hoàng đế Chính Đức.

Trông thấy y, sắc mặt Chính Đức có chút cổ quái. Hắn vẫn ngồi tại chỗ, hơi vặn vẹo thân thể rồi cười nói:
- Ngươi đến thật đúng lúc, lát nữa đi cùng trẫm đến Ngự Hoa viên. Vương ngự sử! Khanh có chuyện gì hãy mau nói đi, trẫm còn có việc quan trọng đây.

Vị Vương ngự sử nọ nghe thấy Dương Lăng tự báo danh tính, lúc đầu hơi giật mình, sau đó lại kiên quyết tâu:
- Dạ, Hoàng Thượng! Bảy mươi tư vị ngự sử của Ngự sử đài tố cáo Dương... Dương Lăng bố trí treo đèn khắp cả nội cung, chuẩn bị pháo hoa, xa xỉ vô độ, còn e có thể dẫn tới hoả hoạn trong cung.

Dương Lăng nghe xong liền liếc vị ngự sử, cười thầm trong bụng: "Tố cáo tòng phạm với chủ mưu, e rằng vị đại nhân ngự sử này đụng phải cây thiết bảng rồi."

Quả nhiên, Chính Đức ngồi trên ghế ra sức ngoáy ngoáy mông, vẻ mặt nóng nảy:
- Dân gian thành thân còn phải bày vẽ tiệc mừng, nay đại hôn của trẫm bắn một tí pháo hoa thì có sao đâu? Không phải đã đưa cục Thuỷ Long (*) vào trú trong hoàng cung rồi sao? Không sao đâu! Chuyện này trẫm đã chuẩn tấu rồi. Khanh còn chuyện gì nữa, nói nhanh nhanh đi!
(*) tương tự như cục Phòng Cháy Chữa Cháy ngày nay

Vị ngự sử giám sát đó vội tâu tiếp:
- Dạ dạ dạ! Ngoài ra còn có mười bốn vị ngự sử tố cáo Dương Lăng mượn việc công để báo thù riêng, bày kế giết hại phạm nhân Vương Cảnh Long, mong Hoàng Thượng hạ chỉ điều tra. Hai mươi mốt vị ngự sử tố cáo thượng thư bộ Lễ tại Nam Kinh dung túng gia nô đánh cướp khâm phạm, mong Hoàng Thượng hạ chỉ điều tra. Một trăm linh ba vị ngự sử tố cáo ba vị đại học sỹ của Nội các, lãnh đạo bốn bộ Lại, Lễ, Công, Hộ và mấy vị đại thần trong triều cùng nhau đến ty Binh Mã Ngũ Thành can thiệp việc thẩm án, mong Hoàng Thượng hạ chỉ tra kỹ. Sáu vị Cấp sự trung tố cáo mấy vị Khâm sai đốc suất kiến tạo Thái Lăng là Đới Nghĩa, Dương Lăng lạm dụng tư hình, ngược đãi tù nhân, khiến cho phạm nhân vượt ngục, mong Hoàng Thượng hạ chỉ tra kỹ...

Vừa nghe đến Đốc sát viện tố cáo Nội các, Dương Lăng liền cảm thấy ngạc nhiên không thôi. Lăn lộn bấy lâu, y sớm biết được đám "ngôn quan" là ai, bọn họ trong triều thấp cổ bé họng mà sao lại có thể đứng ngoài cuộc tự tạo thành một thể? Đó là do bọn họ chính là "cơ quan ngôn luận" và "công cụ tuyên truyền" của Nội các. Nay tam công lục bộ chưa kết bè kết phái, hai bên như cùng một nhà, quân tiên phong của bọn họ lại có thể tố cáo lãnh tụ quan văn của chính mình ư?

Đang cảm thấy bất ngờ, Dương Lăng lại nghe tiếp những ngôn quan ngự sử này, trái một phách, phải một gậy, tố cáo tứ tung cả lên mới giật mình tỉnh ngộ: bọn họ đang đánh Mê Tung quyền (4), lấy tiến làm lùi để "hộ giá" cho Nội các và Vương Quỳnh.

Quả nhiên Hoàng đế Chính Đức vừa nghe tâu đã chán ghét cau mày phán:
- Tra kỹ, tra kỹ, tra kỹ... Đúng là bọn họ chỉ nghe đồn đãi mà viết tấu chương, toàn là những lời tố cáo vô căn cứ. Vụ án này Lý đại học sỹ đã trình lên cho trẫm, tóm tắt vụ án rõ ràng, nghi phạm đều đã xử lý rồi, đâu ra lắm chuyện phiền phức như vậy?

Cái gì mà tam công lục bộ cùng đến ty Binh Mã? Bọn họ lúc thì nhao nhao lên hôm nay cứu kẻ này, ngày mai cứu kẻ kia, còn bận bịu hơn cả người của cục Thuỷ Long. Nếu ngay cả chút việc này cũng giao cho trẫm xử lý, vậy giữ lại Nội các để làm gì. Không phải chính phạm đã chết rồi sao? Vậy thì cho qua đi, vụ án này từ đây kết thúc. Không cần nhắc tới nữa, ngươi lui xuống đi!

Vị ngự sử giám sát đó vâng vâng dạ dạ, khom lưng cúi đầu lui ra. Vừa ra khỏi điện, khoé miệng lão liền không che giấu được một nụ cười nhẹ nhõm. Chính Đức đợi gã rời khỏi mới thở dài một hơi, đứng dậy lắc đầu ngao ngán nói với Dương Lăng:
- Nuôi đám người rảnh rang này… Cả ngày chỉ biết đâm bị thóc chọc bị gạo, như thể thiên hạ chưa đủ loạn. Thật bọn họ làm phiền trẫm chết được!

Đi, chúng ta đến Ngự Hoa viên xem một chút! Lưu Cẩn đã gợi cho trẫm một ý hay. Đêm mai khi đốt pháo ta sẽ cho lực sỹ tung những cuộn dải lụa đã được xé nhỏ lên không trung, để chúng tung bay phất phơ rồi từ từ rơi xuống mới thích mắt. Trẫm đã sai người chuẩn bị rất nhiều tấm lụa màu rồi, ngươi đi xem thử nhé.

Dương Lăng nghe xong thì giật nảy mình. Pháo hoa bắn đầy trời mà lại tung hàng trăm, hàng ngàn dải lụa lên không trung, vậy có không muốn xảy ra hoả hoạn cũng khó. Cho dù không cháy tới cung điện, nhưng đến khi đó bá quan văn võ cùng nhau hặc tội, mình cũng sẽ phải gánh vài phần. Huống hồ đem xé tơ lụa trân quý ra thành từng mảnh chỉ để chơi, cho dù là gia tộc đế vương cũng không thể xa xỉ như vậy.

Dương Lăng vội can:
- Hoàng thượng! Chuyện này vạn vạn lần không thể được. Hàng ngàn hàng vạn dải lụa bay lên, một khi chạm vào lửa pháo, thật sự sẽ rất nguy hiểm, chi bằng... chi bằng sai người chuẩn bị ít giấy thếp vàng bạc, cắt thành mảnh nhỏ cuộn bắn lên không trung. Khi ấy khắp trời lấp lánh ánh vàng ánh bạc, dưới pháo hoa sẽ trông như vầng sao dày đặc, vừa an toàn lại rất đẹp mắt, trông sẽ đẹp hơn thứ dải lụa kia nhiều.

Chính Đức khoái chí:
- Hay đó, ý tưởng này hay! Mã Vĩnh Thành! Mau đi bảo bọn họ không cần chuẩn bị tơ lụa nữa, đổi lại dùng giấy thếp vàng bạc đi.

Là người chưởng quản nội khố cấm cung (là người quản lý về tiền bạc, chi tiêu trong hoàng cung), Mã Vĩnh Thành đang xót lòng vì cái ý tưởng vừa tệ hại vừa tốn một đống tiền khổng lồ của Lưu Cẩn. Vừa nghe ý tưởng không hao phí bao nhiêu tiền này của Dương Lăng, lão không khỏi mừng rỡ vội đáp lời rồi chạy tót đi.

Hôm nay Dương Lăng vào cung gặp Chính Đức, kỳ thực trong lòng cũng hơi hiếu kỳ, không biết tay Thiên tử phong lưu có tiếng trong lịch sử này lần đầu được cảm thụ mùi vị hoan lạc, lại còn "ngự" đến tám nữ trong hai ngày, sẽ có loại chuyển biến gì. Nhưng giờ y thấy hắn dường như chẳng có gì khác biệt so với mọi ngày; vẫn là ham chơi, hứng thú với những trò mới lạ, không khỏi thấy hơi dị thường.

Đi được một chút, y chợt phát hiện hôm nay tướng đi của Chính Đức có đôi chút là lạ, bước chân thì ngắn, hai chân khép sát vào nhau, tướng đi lắc qua lắc lại hơi giống con gái. Dương Lăng nhìn thấy mắc cười, không nhịn được bèn hỏi:
- Sắp đến đại hôn của Hoàng Thượng, thân thể người có gì không thoải mái à?

Chính Đức nghe thế liền đỏ mặt, hơi mất tự nhiên đáp:
- Đâu có... đâu có gì không thoải mái. Trẫm không phải đang khoẻ lắm sao?
Miệng thì nói như vậy, song bước chân lại ngập ngừng, vẻ như trong lòng tràn đầy lo âu phiền muộn.

Qua một lúc lâu sau hắn bỗng bảo Cốc Đại Dụng:
- Đại Dụng! Trẫm và Dương thị độc có chuyện muốn bàn, ngươi hãy đi đến Ngự Hoa viên trước chờ trẫm.

Chờ Cốc Đại Dụng đi xa, Chính Đức mới dừng chân nhìn ngang nhìn dọc, rồi ngập ngừng nói với Dương Lăng:
- Dương thị độc! Trẫm rất tín nhiệm ngươi, hôm nay có chuyện muốn hỏi, ngươi nghe xong thì thôi, không được nói cho bất cứ người nào hết.

Dương Lăng thấy vẻ mặt y trịnh trọng, liền vội đáp:
- Dạ, thần tuân chỉ. Chuyện Hoàng Thượng nói, thần tuyệt đối sẽ không nói với bất cứ người nào. Không biết Hoàng Thượng muốn hỏi chuyện gì?

Chính Đức ho khan vài tiếng, lúng túng:
- Trẫm... mai là đại hôn của trẫm rồi, à... ờm...hai ngày qua trẫm cũng đã biết “lễ vợ chồng”, “nhân luân đại sự”, ờm... Chuyện nam nữ đó tuy không thú vị bằng tạp kỹ xiếc thú, song quả... quả nhiên cũng khá diệu kỳ. Chỉ là...

Y nói đến đây, đột nhiên trừng hai mắt lên, đỏ bừng mặt rồi nói tiếp:
- Lời trẫm sắp nói với ngươi đều là lời tự đáy lòng của trẫm, trẫm chỉ nói với mỗi mình ngươi, người vạn vạn lần không được nói cho người khác nghe! Bằng không... bằng không trẫm tuyệt đối sẽ không tha cho ngươi!

Cảm thấy khó hiểu nhưng Dương Lăng vẫn giơ tay thề thốt một hồi lâu, Chính Đức mới đỏ mặt xấu hổ nói lí nhí:
- Đêm hôm trước, Kính Sự phòng tiến ngự bốn cung nữ. Lúc... lúc trẫm bắt đầu thật sự sung sướng khó tả, nhưng mà sau đó... sau đó thật sự hết sức nhạt nhẽo. Đến người con gái thứ ba thì trẫm đã cảm thấy cực kỳ vô vị, chỉ muốn kết thúc cho nhanh, song lại ngại bị người ta chê cười. Ài! Đâu còn thể nói là sung sướng gì? Dương thị độc! Ngươi là người đã thành thân, trẫm muốn hỏi ngươi, có phải là trẫm... trẫm tuổi hãy còn nhỏ, cho nên mới bất lực như vậy không?

Dương Lăng thiếu điều suýt cắn lưỡi, lắp bắp đáp:
- Hoàng Thượng! Kính Sự phòng tiến ngự bốn nữ chỉ là bởi vì bọn họ cũng... cũng không hiểu chuyện nam nữ lắm, hy vọng bốn cô có thể phối hợp với Hoàng Thượng, tuyệt không có quy định một đêm Hoàng Thượng phải lâm hạnh (5) cả bốn cô. Cho dù... cho dù là tráng niên vạm vỡ, liên tục ngự bốn nữ không ngơi nghỉ cũng chịu không nổi mà. Không lẽ... không lẽ lúc tới giờ Kính Sự phòng không kêu bọn họ ra sao?

Vốn Dương Lăng cũng cảm thấy việc một đêm tiến dâng bốn mỹ nữ khá kỳ lạ, chẳng lẽ Kính Sự phòng muốn vắt kiệt sức Hoàng Thượng hay sao? Vì vậy y đã hỏi thăm Hồng Lư Quan của bộ Lễ, mới biết cho bốn nữ hầu hạ Hoàng Đế một đêm là bởi suy cho cùng, Hoàng Đế thích loại mỹ nữ nào, bọn thần tử tuyển chọn cũng không biết rõ. Mỗi cô trong bốn mỹ nữ phong tình quyến rũ đều có một đặc điểm riêng, khi Hoàng Thượng nhìn trúng một cô, những cô khác chỉ cần hầu hạ ở một bên là được.

Nay nghe tiểu hoàng đế nhỏ tuổi chưa hiểu chuyện đời nói vậy, phỏng chừng hắn đã bị những thiếu nữ xinh đẹp rạo rực xuân tình đó "nhún lắc" cho một trận, song vẫn cắn răng "chung hưởng mưa móc". Một đêm "bóc tem" bốn người, hai đêm đương nhiên sẽ hưởng trọn tám mỹ nữ rồi. Loại tinh thần và thể lực này quả thực là trâu bò.

Chính Đức nghe xong trợn tròn mắt:
- Nếu không phải vậy, sao còn đưa vào cung để làm cái gì? Bây giờ Kính Sự phòng do Nguỵ Bân nắm giữ, hắn chỉ chờ ở bên ngoài, căn bản chưa từng gọi trẫm gì cả. Thậm chí tối qua... tối qua trẫm thật sự đau đớn chịu không nổi, đành phải lớn tiếng gọi hắn, hắn mới xông vào quấn bốn cô gái đó lại rồi vác đi. Cái tên nô tài đáng hận!

Dương Lăng nghe xong mà dở khóc dở cười. Cái tên Nguỵ Bân dốt nát xin xỏ Chính Đức được công việc tổng quản béo bở ở Kính Sự phòng, chắc chắn vì thấy tiểu hoàng đế ở trong phòng không lên tiếng, tưởng rằng hắn lưu luyến nữ sắc, muốn lấy lòng Hoàng Đế nên mới không gọi cung nữ ra đúng giờ.

Tiểu hoàng đế tuy nhỏ, nhưng lòng tự tôn của nam nhân lại không hề bé. Còn nếu mấy nữ quan xinh đẹp đó chỉ được mỗi dáng vóc, họ cũng sẽ không chộp được "công việc ưu đãi" này. Bọn họ người nào người nấy miệng ngọt như mía lùi, chỉ cần cất lời đường mật đón ý tâng bốc mấy câu, tiểu hoàng đế Chính Đức không biết nội tình còn không vì mặt mũi nam nhân mà cúc cung tận tụy phục vụ bốn cô, dốc hết sức lực ra "chiến đấu" à?

Chính Đức bực bội:
- Trẫm nào biết nguyên do trong đó, còn sợ bị người ta chế nhạo. Tối qua... tối qua chỉ sủng hạnh ba nữ tử, sáng nay trẫm đã cảm thấy không có mặt mũi gặp ai rồi. Cái tên Nguỵ Bân đáng chết đó!

Y giậm giậm chân một hồi, rồi ngượng ngùng:
- Chỗ... chỗ đó của trẫm sưng đỏ, ngứa ngáy, khi đi phải chà xát một chút mới thoải mái. Trẫm vừa sợ, lại vừa không tiện kêu thái y chẩn bệnh và chữa trị. Nó... nó sẽ không sao chứ?

Hiện giờ Chính Đức nào giống một vị Hoàng Đế? Rõ ràng chỉ là hành vi, cử chỉ của một thiếu niên mới biết về tình dục, lo lắng không yên đang thỉnh giáo người từng trải. Tám vị nữ quan được tuyển chọn kỹ lưỡng, trong ngoài không biết đã được kiểm tra bao nhiêu lần, quyết không thể mang bệnh ngầm gì. Dương Lăng vừa nghe liền đoán Chính Đức lần đầu "nếm mùi đời" lại chiến đấu nhiều lần, ma sát quá độ cho nên bao quy đầu sưng tấy mà thôi.

Đáng tiếc, bốn tấm thân ngọc ngà mỹ diệu trinh nguyên "bày thế xông trận", "đòi thứ ta cần", vốn là chuyện đẹp bao kẻ mơ cũng chẳng được, lại trở thành cơn ác mộng vô cùng thê thảm của hoàng đế Chính Đức. Tuy cảm thấy chuyện này thật quá mắc cười nhưng Dương Lăng nào dám biểu lộ chút cười cợt? Hoàng đế Chính Đức trông thấy thế mà không thẹn quá hoá giận, phát cuồng lên mới lạ.

Y rờ mũi, ngập ngừng:
- Ờm... Hoàng Thượng bớt sầu, chỉ là chuyện nhỏ, đừng quá để tâm. Nếu như Hoàng Thượng không muốn gọi thái y, vậy... vậy thì lấy ít nước muối rửa sạch, nghỉ ngơi vài ngày là được.

Chính Đức nghe xong thở phào một hơi, mừng rỡ:
- Trẫm cũng lo lắng cả ngày rồi. Nhanh nhanh! Chúng ta lập tức về lầu Đông Noãn, bây giờ trẫm đi đứng cũng không thoải mái. Chà! Tạ thái phó nói đúng thật, đúng là hồng nhan họa thuỷ mà!

Dương Lăng bị Chính Đức lôi trở về lầu Đông Noãn, đuổi cổ tên tiểu thái giám ra rồi y chạy đến Ngự Thiện phòng xin ít muối, sau đó lấy chậu vàng đổ nước sạch vào. Mấy tên tiểu thái giám tò mò đi theo liền bị đuổi ra khỏi điện, không cho bất kỳ ai bước vào một bước.

Dương Lăng đổ muối ăn vào trong nước ấm rồi khuấy lên một lúc. Muối chưa kịp hoà tan hoàn toàn, Hoàng Đế Chính Đức đã xắn tay áo bưng chậu nước chạy vội vào trong noãn các (buồng sưởi ấm).

Đế vương, tầng lớp thần thánh cao cao tại thượng, xa xôi vời vợi ấy, một khi tháo chiếc khăn che mặt thần bí xuống, thật ra có gì khác biệt với dân chúng? Không phải cũng chỉ là một con người bình thường sờ sờ đó sao?

"Rầm" một tiếng, cửa điện đã đóng lại. Tham tướng Thần Cơ doanh, Thống lĩnh thân quân thị vệ, xưởng đốc Nội xưởng Dương đại nhân Dương tướng quân đứng bên ngoài cửa điện, chung quanh không một bóng người, oai phong lẫm liệt. Y đứng canh một hồi, đột nhiên cười phá lên: “Tối mai là ngày đại hôn của Chính Đức rồi. Hai ngày qua hắn đã chịu đựng bao ‘tàn phá’, không biết đêm động phòng hoa chúc sẽ như thế nào đây?”





Chú thích:
(1) tên ba loại đàn, đàn cầm dài ba thước sáu, căng bảy dây; đàn sắt hai mươi lăm dây; đàn tỳ bà bốn dây.
(2) loại thuốc chữa dùng đá để tiêm vào người chữa bệnh.
(3) "không người nối dõi là tội bất hiếu hàng đầu" (theo Mạnh Tử)
(4) hay Yến Thanh quyền là một bộ quyền pháp dựa trên sự biến ảo (Mê nghĩa là biến ảo, Tung nghĩa là dấu vết). Nghĩa bóng chỉ sự tấn công mà không để lại dấu vết.
(5) chỉ việc Hoàng Đế qua đêm cùng các loại phi tần.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
26-06-2011, 04:55 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 116 - Một Hậu Hai Phi


Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: thuỷchi

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Dương Lăng nghe nói đến bắt trộm, chợt nhớ đến ý tưởng mà mình đã đề xuất với Vĩnh Phúc và Vĩnh Thuần, trong lòng không khỏi thầm nhủ: “Chẳng lẽ bọn họ chọn ngày hôm nay để hành động? Hai nhóc bịp bợm này thật khéo chọn thời điểm, đại hôn của Hoàng Thượng mà bọn họ còn làm loạn thêm à!”



------------------------

Quyển ba - Vừa lên ngôi báu
Chương 116 - Một Hậu Hai Phi
------------------------

Sáng sớm, công thần công khanh, vương hầu quan tướng đã tập trung vào hoàng cung. Các cung điện chính đã được chuẩn bị bánh pháo, chữ Song Hỷ (囍) đỏ thếp vàng, nến to, thảm đỏ trải dài trên sân rồng (ngự lộ).

Đội Trung Hoà Thiều nhạc(1) được bố trí trước điện Thái Hoà còn bệ đỏ rực của dàn đại nhạc được bố trí bên trong điện Thái Hoà. Đội nghi trượng rước dâu được sắp xếp bên ngoài Ngọ môn, trong đó có một chiếc kiệu lễ hoàng hậu, hai chiếc kiệu lễ hoàng phi. Trong ba chiếc kiệu ấy chỉ có chiếc kiệu của hoàng hậu phủ màn bằng gấm màu vàng đỏ, phía trên dùng kim tuyến thêu phượng hoàng.

Đội "nữ nhạc"(2) được bố trí riêng đằng sau cung Càn Thanh và trước điện Giao Thái. Tại điện Thái Hoà, đám vương công đại thần đủ tư cách góp mặt đang hớn hở đứng trên thềm rồng và trong đình viện. Hồng Lư Quan của bộ Lễ và Dương Lăng với vai trò là Chính và Phó sứ giả đứng ở hàng đầu. Dương Lăng thấy hai bên đều là nữ quyến của quan lại ngoài triều, ai nấy đều vận lễ phục Cáo mệnh, y liếc trộm vài cái, lại không tìm thấy Ấu Nương trong tầm mắt.

Khoảnh khắc sau, hoàng đế Chính Đức giá lâm điện Thái Hoà, văn võ bá quan, công khanh Cáo mệnh lập tức đồng loạt rào rào quỳ xuống thực hiện "ba quỳ chín lạy" chúc mừng hoàng thượng. Trông khí sắc của Chính Đức hôm nay cũng rất tốt, y mỉm cười ngồi lên ngai vàng, bảo văn võ bá quan đứng dậy. Thượng thư bộ Lễ mới nhậm chức Vương Hoa tay ôm sắc vàng, ấn vàng, bước ra chính giữa đại điện cao giọng tuyên đọc lễ sắc phong, ấn phong cho Hoàng Hậu và Hoàng Phi của Hoàng Đế. Hồng Lư Quan và Dương Lăng tiếp nhận Tiết, sắc, ấn xong liền tiến thẳng ra Ngọ môn đi nghênh đón hoàng hậu.

Hôm nay hoàng đế Chính Đức cảm thấy thân dưới vẫn không thật thoải mái, song đã không còn có cảm giác tưng tức nữa. Nghe lời chỉ dẫn của Dương Lăng, lại gạt đi tâm sự con trai, cho nên hôm nay ngồi trên điện nhìn thấy trong cung náo nhiệt như vậy, trong lòng y cũng hết sức hưng phấn.

Chính Đức hoàn toàn không cảm giác được hôm nay y mới là chú rể, ngồi bên trên ngó đám người lúc nhúc mà vui mừng khôn tả. Lão Vương Nhạc với vẻ vui mừng tràn ngập khuôn mặt già nua ngó thấy cũng sắp đến giờ, vội lập cập bước đến trước mặt Chính Đức, khom người thưa:
- Hoàng thượng, đã đến giờ rồi, mời hoàng thượng khởi giá đến cung Càn Thanh chờ Hoàng hậu nương nương yết kiến.

Chính Đức "ờ" một tiếng, mỉm cười đứng dậy. Y vừa định trở về cung Càn Thanh, chợt liếc mắt trông thấy trong đám Cáo mệnh phu nhân ấy có một bóng người quen thuộc. Y đứng trên thềm rồng nên nhìn thấy rõ, không khỏi mừng rỡ chỉ vào đám người kêu lên:
- Ấu... Dương phu nhân, mau gọi Dương phu nhân lên đây gặp trẫm.

Đám phu nhân nọ đều là Cáo mệnh phu nhân nhất phẩm, nhị phẩm, đầu đội đầy châu ngọc, khăn choàng bào rộng, song phẩm hàm càng cao thì màu sắc của những khăn choàng đó càng nhạt. Hàn Ấu Nương và một vị tam phẩm Cáo mệnh phu nhân đứng ở sau cùng, tuổi lại nhỏ nhất, ăn vận lại tươi sáng nhất, cho nên phía trên chỉ cần liếc mắt là thấy ngay.

Hoàng Đế đột nhiên dừng chân chỉ vào đám vợ quan kêu ầm lên, lập tức kinh động văn võ bá quan đang ân cần hỏi han lẫn nhau. Mọi người kinh ngạc nhìn về phía đám nữ quyến đó, cùng thấy một người con gái xinh đẹp vận trang phục Cáo mệnh tam phẩm bước nhanh về phía trước, quỳ dưới bậc thềm, thưa:
- Thần thiếp Dương Hàn Thị tham kiến Hoàng Thượng.

Trong triều, tam phẩm Cáo mệnh trẻ tuổi như vậy có thể đếm được trên đầu ngón tay, còn là họ Dương, lập tức có mấy vị đại nhân đã đoán ra thân phận của nàng. Cho dù những vị quan văn này có thái độ đối với Dương Lăng như thế nào, phần lớn đều có cảm tình đối với người con gái dám xông vào pháp trường cứu chồng này.

Chính Đức cười lớn nói:
- Đứng lên, đứng lên, việc trẫm chính miệng ban hôn, nếu không phải vì thấy phu nhân, suýt nữa đã quên rồi. Vương Nhạc, lập tức sai Ty lễ giám ban chỉ cho phủ Uy Vũ bá, khâm thưởng Ngọc... ớ... tên thì chốc nữa khanh hỏi Dương phu nhân một chút là được. Khâm thưởng hai người con gái này làm vợ của Dương Lăng. Hôm nay ngày đại hôn của trẫm, trẫm cũng cho khanh hưởng lây chút không khí vui, tấn phong cả hai cô làm Thất phẩm Cáo mệnh.

Ban thưởng tước lộc có thể dựa theo công lao, cũng có thể dựa vào thánh quyến, cho dù bên cạnh có người không phục cũng không nói được gì. Nhưng Vương Nhạc nhìn thấy sắc mặt một số đại thần có vẻ không vui, bèn hỏi khẽ:
- Hoàng Thượng, hai người thiếp thất (vợ nhỏ) cũng phong Cáo Mệnh, hình như...

Chính Đức bực bội đáp:
- Không phải là mới phong thất phẩm thôi à? Dương Lăng sắp đảm nhiệm Xưởng đốc Nội tập sự xưởng rồi, khanh nói thiếp thất của y có nên phong thất phẩm Cáo mệnh không?

Chính Đức nói xong phất tay áo ngang nhiên bỏ đi, Vương Nhạc đứng ngây ra đó, há mồm trợn mắt: “Cái gì? Nội tập sự xưởng? Tây xưởng mới mở lại vài ngày mà, sao lại muốn mở thêm... Nội xưởng?". Nhất thời Vương Nhạc cũng cuống lên, không truy cứu tiếp chuyện phong Cáo mệnh cho thiếp thất nữa, vội vã gọi một tên tiểu thái giám tới sai đi hỏi Dương Hàn Thị tên họ của hai người thiếp, còn mình thì đuổi theo Chính Đức.

Lúc nãy hai người nói nhỏ, đa số quan viên bên dưới không nghe thấy, chỉ nghe được Hoàng Đế khâm thưởng vợ nhỏ cho Dương Lăng, còn ban thưởng phong hiệu Cáo mệnh cho hai cô, trong lòng không khỏi vừa đố kỵ vừa hâm mộ. Xem thánh quyến người ta như vậy, mình sao thể so được, thật đúng là quân nịnh thần!

Đám Cáo mệnh phu nhân nhìn thấy Hoàng Đế đi rồi thì lại thở phào một hơi. Cho dù chó mèo nhà họ Dương có được phong quan tấn chức cũng không liên quan đến bọn họ. Lão già ở nhà vốn đã sủng ái đám tiểu hồ ly tinh, nếu một ngày nào đó Hoàng Thượng cao hứng rồi phong thưởng cho toàn bộ bọn chúng, có thân phận Cáo mệnh phu nhân rồi, mình sau này há không phải sẽ càng không trị được chúng ư?

Dương Lăng và Hồng Lư Quan mang sắc vàng, ấn vàng đặt trong "Long đình"(3), hai người cưỡi hai con ngựa cao lớn thắt lụa đỏ hoa đỏ dẫn đội nghi trượng, cổ nhạc, quan viên rước dâu, thái giám, cung nữ và thị vệ ra khỏi Ngọ môn, kết hợp với nghi trượng của Hoàng Hậu, khiêng hàng đống lễ vật, cả đoàn người ngựa với đủ màu sắc sặc sỡ nối dài hàng dặm. Chuyện nhà thiên tử quả nhiên có khí thế khác thường.

Dân chúng kinh sư sớm đã chen chúc đứng chật ních dọc hai bên đường, còn có mấy trăm người dân và trẻ con nối đuôi đi theo. Đội nghi trượng hoành tráng vừa đến trước phủ của Hạ đại nhân, Hạ Nho đã mặt mày rạng rỡ dẫn một đám già trẻ ra ngoài nghênh đón. Hồng Lư Quan xuống ngựa cao giọng tuyên đọc thánh chiếu, sau đó mỉm cười đỡ đương kim quốc trượng dậy. Trước cổng phủ đệ lập tức “tiếng pháo nổ vang giòn khắp phố, cổ nhạc kia inh ỏi khắp trời".

Đám quân tướng lực lưỡng khiêng liễn phượng của Hoàng Hậu, khiêng kiệu lễ và Long đình vào tiền viện, rồi lại do thái giám, cung nữ khiêng đến trước "Tú lâu" (lầu hoa) ở hậu viện. Giám chánh Mạc Đạo Duy của Khâm thiên giám lúi cúi chạy trước đoàn người vung tay múa chân chỉ đạo thái giám đặt kiệu đúng theo hướng may mắn.

Lập tức có thủ lĩnh thái giám dẫn cung nữ bưng lễ phục, khăng choàng và mũ phượng của Hoàng Hậu vào trong hầu hạ Hoàng Hậu thay y phục. Mắt thấy con gái mình đã "vượt long môn", trở thành Hoàng Hậu mẫu nghi thiên hạ, Hạ Nho cười tươi như hoa, nắm tay Hồng Lư Quan và Dương Lăng cảm ơn không ngớt.

Chỉ một lát sau, Hoàng Hậu nương nương đã mặc xong khăn choàng mũ phượng, khoan thai bước theo bốn cung nữ ra khỏi Tú lâu, quỳ gối tiếp nhận sắc vàng, ấn vàng. Hoàng Hậu đầu đội mũ phượng, không dùng vải đỏ trùm đầu, bọn quan viên đi theo ai nấy đều kiễng chân hòng xem mặt mũi vị Hoàng Hậu nương nương này.

Vị hoàng hậu này tuổi trạc mười lăm mười sáu, diện mạo thanh tú đoan trang, rèm châu trên mũ phượng rủ xuống càng làm tăng thêm mấy phần ý vị. Có điều tuy da nàng trắng ngần như ngọc, nhưng trên khuôn mặt hai gò má lại đỏ rực nổi bật, trông hết sức buồn cười. Hạt châu trên mũ rủ xuống hai chòm tóc mai, hàng mi cong vút, thoạt nhìn trông giống như một ma-nơ-canh không có sức sống.

Dương Lăng trông thấy vô cùng thất vọng. Người con gái này tuy nhìn không thấy khuyết điểm, nhưng lại thiếu thứ cá tính thu hút người ta. Nhất là cái khí chất điềm đạm nho nhã ấy, hoàng thượng Chính Đức sẽ thích sao?

Y đâu thể ngờ vị Hoàng Hậu này đã xin không biết bao nhiêu bậc cao nhân chỉ bảo cho cách trang điểm này. Đêm qua vị Hoàng Hậu này lại còn tắm rửa cả đêm, khiến mấy nha đầu nhóm lửa sắp mệt gãy lưng rồi.

Cả cơ thể của hoàng hậu nương nương được dùng bột đậu xanh và phấn thơm xát lên tạo nên lớp mặt nạ, tiếp đó lại dùng mật ong và cánh hoa giã ra thành bột để rửa, cuối cùng bôi một lớp mỡ dê và hương liệu thơm; thoa phấn sáp lên mặt, kẻ chân mày, đánh nền mắt, tô mày đen, quết môi đỏ. Cho dù là cô nàng Hàn Ấu Nương bé bỏng, sau một hồi trang điểm như vầy, thoạt nhìn cũng nhất định sẽ giống búp bê bằng sứ, y có thể nhận ra được hay không cũng thật khó nói.

Dương Lăng không dám nhìn lâu. Chờ Hồng Lư Quan tuyên đọc thánh chỉ xong, y vội vàng trao sắc vàng ngọc vàng, sứ giả rước dâu nghênh đón Hoàng Hậu lên kiệu khởi giá. Đến khi đội ngũ khổng lồ rời Hạ phủ trở về Ngọ môn hoàng cung, qua cổng Thái Hoà thẳng tiến đến cung Càn Thanh, sáu vị Cáo mệnh phu nhân bước lên nghênh đón loan giá của Hoàng Hậu, Dương Lăng mới nhìn thấy Ấu Nương. Chỉ thấy Ấu Nương vận trang phục Cáo mệnh đỏ thẫm thêu công vàng, dịu dàng đoan trang, cực kỳ xinh đẹp, khiến Dương Lăng vừa thấy mắt liền sáng rỡ.

Trông thấy ánh mắt thưởng thức của tướng công, lòng Hàn Ấu Nương vui phơi phới, nàng thực đã không làm mất mặt tướng công. Lần này vào cung nàng được Cao Văn Tâm, Ngọc Nhi và Tuyết Nhi tận tình giúp đỡ trang điểm. Nàng vểnh môi mỉm cười, đang định đưa mắt với tướng công, chợt thấy các bà cô Cáo mệnh già ai nấy trang nghiêm cặp mắt nhìn thẳng, mặt mày nghiêm túc, không khỏi trộm le lưỡi, vội bắt chước ưỡn ngực, bước kiểu "nhất bộ tam diêu"(4) đi theo sau phượng liễn về cung Khôn Ninh. Trông thấy vậy, Dương Lăng bật cười phì.

Lúc này đại lễ mới chính thức bắt đầu. Dương Lăng và một đám quan viên của bộ Lễ và phủ Nội vụ lẽo đẽo theo sau hoàng thượng đến cung Khôn Ninh bái đường thành thân, đến Thái miếu bái tế liệt tổ liệt tông, đến tẩm cung của Thái hoàng thái hậu và Hoàng thái hậu yết kiến hai vị trưởng bối, rồi lại đến Ngọ môn tiếp kiến hai vị Hoàng phi. Bận rộn từ lúc canh tư đến lúc mặt trời đã lên cao ba con sào, lưng y đã mệt mỏi rã rời.

Chính Đức cũng đã mệt đến sắp phát điên. Niềm cao hứng hăng hái khi mới bắt đầu lễ cưới đã hoàn toàn mất sạch. Nhìn ba "bà vợ" không có chút sinh khí, trông như những con búp bê bằng sứ, Chính Đức lại càng không còn chút hứng thú. Dề dà mãi mới đến tiết mục Hoàng Hậu dẫn hai vị Hoàng phi làm lễ bái kiến phu quân trong cung Càn Thanh, Chính Đức vội vội vàng vàng tuyên bố kết thúc lễ đại hôn, bảo Hoàng Hậu, Hoàng phi đi đến hậu cung ra mắt dòng họ hoàng thất, còn mình thì ba chân bốn cẳng chạy đến điện Thái Hoà, thưởng tiệc khoản đãi văn võ bá quan và công thần công khanh đến chúc mừng.

Dương Lăng đã đói đến hoa mắt, nhưng mà bá quan đã ngồi vào chỗ, vị quan chủ trì là y còn phải đứng ở góc điện bận rộn chỉ huy mời ngồi, dâng đồ ăn lên. Dương Lăng thật sự đã không chịu nổi nữa, trong lúc bận rộn y chạy đến trước một cái bàn, chụp lấy một cái bánh hỷ xếp hình hoa văn gì đó mà y không hiểu ý nghĩa, quấn mấy miếng thịt rồi trở về đứng ở góc điện len lén ăn.

Dương Lăng vừa ăn lót bụng vừa quan sát chung quanh, đột nhiên nhìn thấy ở một góc khác của đại điện đặt mỗi một bàn rượu, ngồi trước bàn là vị Trương thiên sư trẻ tuổi, chếch bên chỉ có vị tiểu đạo đồng xinh xắn ngồi cùng. Tiểu đạo đồng ngồi ở đó vừa vặn đối diện với y, đang nhìn y ăn vụng đồ ăn một cách thú vị.

Quai hàm Dương Lăng đang nhai lên nhai xuống, bộ dạng đó quả thật có chút xấu hổ, y không khỏi hơi lúng túng bèn trừng mắt với tiểu đạo đồng. Tiểu đạo đồng đó lại không hề sợ hãi, hai hàng lông mày xinh xắn nhướng lên, trừng lại khiêu khích, sau đó gắp đồ ăn cho vào miệng với vẻ đắc ý.

Dương Lăng thấy vẻ trẻ con của gã thì không khỏi khẽ bật cười. Y quay đầu không để ý đến tiểu đạo đồng đó nữa, nhân lúc người khác không để ý lại vội vã cắn một miếng thịt.

Trong lúc vô tình Trương Phù Bảo bắt gặp y đang đứng ở góc đối diện, mặc dù đã bị huynh trưởng khiển trách nên không dám phô trương đạo thuật lung tung để tránh rước hoạ vào thân, nhưng nàng vẫn cảm thấy rất hứng thú với gã tướng quân tướng mạo cổ quái, dường như đã đoạt xá (mượn xác hoan hồn) này. Lúc nãy trông thấy y cười cợt, Trương Phù Bảo cho rằng y không thèm để ý đến mình, thế là không khỏi tức tối nên trừng mắt lại với y.

Lúc đó Thành quốc công cũng cười khà khà bước tới, kêu cháu ngoại cùng mình đi kính rượu Hoàng Thượng. Trương Phù Bảo cũng đứng dậy, đi theo anh về phía nhà vua. Thành quốc công đang trò chuyện cùng Chính Đức, một cung nữ áo xanh bỗng vội vã bước vào điện, chạy đến quỳ xuống trước ngự án.

Trong đại điện đang có Hoàng Thượng, tuy rằng rất đông văn võ bá quan đang tụ tập song bọn họ ăn uống lại hết sức nho nhã. Đột nhiên có một cung nữ chạy thẳng đến trước mặt vua, dưới điện lập tức tĩnh lặng, không ít người nhìn về phía Hoàng Đế.

Chỉ thấy cung nữ đó nói mấy câu gì đó, hoàng đế Chính Đức thoáng chau mày, đặt đũa xuống vẫy tay gọi Dương Lăng lại. Dương Lăng không biết có chuyện gì liền vội đi qua. Y đi tới nơi, Chính Đức lại không nói chuyện với y mà vẫn quay đầu tiếp tục mỉm cười trò chuyện với Trương thiên sư, nghe nội dung thì vừa là về tiên vừa là về phật, Dương Lăng đành phải đứng chờ ở một bên.

Trương Phù Bảo thấy y đứng bên cạnh mình, không khỏi nhướng mắt nhìn, nói nhỏ:
- Đường đường là đại tướng quân mà lại ăn vụng đồ ăn, thật không biết xấu hổ.

Giọng gã giòn tan, nhưng ở độ tuổi này giọng nói còn trẻ con nên việc khó đoán được là giọng nam hay giọng nữ cũng rất bình thường. Dương Lăng cũng chẳng để ý, mỉm cười đáp:
- Bản quan là người trần mắt thịt, thực không thể so với tiểu thần tiên ăn sương uống gió, không đụng đến thực phẩm nhân gian.

Trương Phù Bảo nghe xong mặt liền ửng đỏ. "Tiểu thần tiên" nàng nào chỉ đụng đến thực phẩm nhân gian, thịt đã ăn rồi, rượu cũng đã uống, cái tên đáng ghét này chẳng phải là đang châm biếm mình sao? Nàng nhếch môi, chế giễu lại:
- Ngươi làm đại tướng quân thật là đáng thương, không như tiểu đạo đồng ta đây tiêu diêu tự tại. Cẩn thận đừng để Hoàng Đế bắt gặp ngươi ăn vụng mà đánh đòn ngươi đó.

Dương Lăng hừ một tiếng rồi nói:
- Nhóc kia, ngươi cứ đi nói xằng nói xiên với Hoàng Thượng xem, để xem Hoàng Đế sẽ tin ta hay là tin ngươi. Tám chín phần kẻ bị đánh đòn sẽ là ngươi đấy.

Trương Phù Bảo nhướng đôi mày xinh đẹp, bực bội đáp:
- Ngươi chỉ mới hơn ta có mấy tuổi, không được gọi ta là nhóc.

Dương Lăng thấy Thành quốc công và Hoàng Thượng đã nói chuyện xong, đang muốn kéo Trương thiên sư rời khỏi, mà tiểu đạo đồng này nói chuyện lại rất thú vị nên không khỏi nổi lòng trêu chọc, y vội cười nói:
- Ngươi theo Trương thiên sư đi khắp thiên hạ, hẳn phải có chút đạo hạnh chứ? Bây giờ ta muốn tặng ngươi một món lễ vật, ngươi đoán thử xem là cái gì?

Trương Phù Bảo ngạc nhiên hỏi:
- Cái... cái gì? Ngươi muốn tặng lễ vật cho ta?

Dương Lăng đưa tay ra bảo:
- Cho ngươi, cầm lấy.

Có ống tay áo rộng thùng của y che đi, người khác mà nhìn vào cũng chỉ thấy tay áo nhô lên một chút, cũng không thấy được thứ mà y đưa ra. Trương Phù Bảo rất đỗi tò mò, không tự chủ được đưa tay ra, vừa chạm với ngón tay dưới ống tay áo của y, liền cảm thấy tay mình bị nhét một vật mềm mềm vào. Dương Lăng mỉm cười bước tới một bước, nghênh đón hoàng thượng Chính Đức, khom người hỏi:
- Không biết Hoàng Thượng có gì căn dặn?

Hoàng đế Chính Đức nói vẻ bất lực:
- Trẫm cũng không biết hoàng muội lại gây ra chuyện gì, nghe nói là muốn giúp công chúa Ninh Thanh bắt trộm, nói là lần trước ngươi làm việc cẩn trọng, muốn nhờ trẫm mời ngươi. Ài... tính tình của hoàng muội trẫm cũng chịu không xiết, đành phiền ngươi chạy đến đó một chuyến vậy.

Dương Lăng nghe nói đến bắt trộm, chợt nhớ đến ý tưởng mà mình đã đề xuất với Vĩnh Phúc và Vĩnh Thuần, trong lòng không khỏi thầm nhủ: “Chẳng lẽ bọn họ chọn ngày hôm nay để hành động? Hai nhóc bịp bợm này thật khéo chọn thời điểm, đại hôn của Hoàng Thượng mà bọn họ còn làm loạn thêm à!”





Chú thích:
(1) Theo ghi chép, đế vương các triều đại Trung Hoa có đội ca múa cúng tế, gọi là Trung Hoà Thiều nhạc. Nhạc Thiều hay còn gọi là "nhạc Thuấn" chỉ chung các loại cổ nhạc.
(2) Chỉ nô lệ ca múa
(3) "đình" ở đây không phải là đình trạm mà là một loại kiệu, hình vuông, chung quanh để trống (hoặc có màn che thì màn cũng vén rộng), trên đỉnh có chóp nhọn.
(4) Có hai cách giải thích: một là do tục bó chân thời xưa, phụ nữ đi đứng khó khăn, bước một bước thì đong đưa vài ba lần mới bước tiếp; cách giải thích khác là nghĩa bóng chỉ tướng đi thong dong nhàn nhã




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
28-06-2011, 11:11 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 117 - Đến Hậu Cung Bắt Trộm


Dịch: TheJoker

Biên dịch: lht

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Công chúa Vĩnh Phúc giậm chân, giải thích:
- Cô cô bị mất hết thể diện rồi, còn mặt mũi nào mà sống nữa chứ? Thái hoàng thái hậu cũng không dễ tha thứ cho cô cô đâu. Nhưng không phải cô cô cố ý lừa gạt Hoàng Hậu, sự thật là vì đồ thật đã bị hoàng muội Tú Đình đánh tráo rồi.



------------------------



Quyển ba - Vừa lên ngôi báu
Chương 117 - Đến Hậu Cung Bắt Trộm

------------------------

Dương Lăng không dám chậm trễ, vội đáp:
- Dạ! Thần lập tức đi ngay.
Nói đoạn y vái một lễ rồi vội vã bước ra khỏi điện. Mã Vĩnh Thành đứng sau lưng hoàng đế Chính Đức, cặp mắt ti hí đảo tới đảo lui nhìn y đi khỏi, thần sắc lộ vẻ lo lắng.

Mắt thấy bóng Dương Lăng đã khuất ngoài cung, Mã Vĩnh Thành không nhịn được, vội vàng thưa với Chính Đức:
- Hoàng Thượng! Nô tài quản việc mua sắm của phủ Nội vụ, nếu như trong nội cung có nô tỳ ăn cắp vặt, mất mát thứ gì nô tài chỉ cần liếc mắt là sẽ nhận ra ngay! Chi bằng nô tài cũng đi xem một chút nhé.

Chính Đức "ừm" một tiếng, cũng không mấy an tâm đến chuyện đó chỉ khoát tay cho phép, Mã Vĩnh Thành lật đật chạy ra. Đứng sau lưng Chính Đức, Cốc Đại Dụng trông thấy bộ dạng lo sợ của lão ta, khoé miệng không khỏi hiện lên một nụ cười nhàn nhạt.

Có ai mà không thèm nhỏ dãi cái chức tổng quản mua sắm phủ Nội vụ béo chảy mỡ này chứ? Khi ấy Cốc Đại Dụng cũng rất thèm thuồng cái vị trí này, có điều Mã Vĩnh Thành vốn đã giữ chức mua sắm cho phủ Nội vụ nên mới "gần chùa được ăn oản", nhanh chân đến trước mà thôi.

Từ khi nắm giữ được cái chức vụ này, lão ta dần trở nên rất thân thiết với xưởng công(*) Miêu Quỳ của Tây xưởng. Một khi đã leo lên đến cành cao này thì lão cũng không còn quá để mắt đến mấy người như Cốc Đại Dụng. Ngoài miệng tuy không nói, nhưng trong lòng Cốc Đại Dụng đã không vui, biết chuyện hôm nay có liên quan tới Mã Vĩnh Thành, lão không khỏi có chút hả hê.
(*: xin nhắc lại xưởng công là thủ lĩnh của xưởng, như Đông xưởng, Tây xưởng,…)

Trương Phù Bảo không biết Dương Lăng đưa cho nàng thứ gì, bóp nhẹ cảm thấy là lạ, nàng vội vã trở về chỗ ngồi, tò mò giơ lên xem. Ống tay áo vừa tuột xuống, không ngờ vật đang cầm trong tay lại là một chiếc bánh nướng quấn thịt lớn, trên đó hình như còn có dấu răng, Trương Phù Bảo không khỏi khóc dở mếu dở.

Trương thiên sư thấy vậy bèn chau mày, ra vẻ đàn anh trách em gái:
- Muội bao nhiêu tuổi rồi? Là quỷ đói đầu thai hử? Một đại cô nương đi gặp Hoàng Thượng còn không nỡ bỏ bánh xuống! Mặt mũi của Long Hổ sơn bị muội làm mất sạch hết rồi!

- Muội... muội...,
Trương Phù Bảo giận đến phùng mang trợn má, song lại không thể thốt được ra lời.

Vừa theo cung nữ nọ ra khỏi cung, Dương Lăng đã thấy công chúa Vĩnh Phúc dẫn theo một thị nữ nhỏ tuổi đang duyên dáng đứng dưới cột hè. Trông thấy Dương Lăng đi ra, nàng không khỏi mừng rỡ bước đến đón. Vừa bước được mấy bước, sực nhớ tới thân phận của mình, nàng lại lúng túng dừng bước, nhưng vẻ lo lắng hiện giữa đôi hàng chân mày lại không hề suy giảm.

Hôm nay là đại hôn của Hoàng Thượng, công chúa Vĩnh Phúc cũng đã thay đổi y phục. Nàng vận cung trang thêu màu, áo choàng đỏ, ống tay lớn thêu hoa mẫu đơn diễm lệ, cạp váy nhẹ nhàng đong đưa mang theo mấy phần thong thả và quý phái, cả người cũng toát lên sắc nước hương trời tựa đoá mẫu đơn. Dương Lăng vội vàng bước lên làm lễ:
- Vi thần ra mắt trưởng công chúa điện hạ. Nhưng mà hậu cung... hậu cung...

Công chúa Vĩnh Phúc khoát tay, bảo hai thị nữ tùy tùng:
- Các ngươi đi trước! Dương tướng quân, chúng ta vừa đi vừa nói chuyện.

Khi hai tiểu cung nữ kia đã cách một đoạn, khuôn mặt công chúa Vĩnh Phúc lập tức hiện đầy vẻ hốt hoảng:
- Dương tướng quân! Bản công chúa không có ai có thể thương lượng, đành phải cố nhờ tới tướng quân. Bây giờ hoàng tộc chí thân trong hậu cung đều biết chuyện xấu này hết rồi, tướng quân nói phải làm sao đây?

Dương Lăng ngạc nhiên hỏi:
- Đã xảy ra chuyện xấu... chuyện lớn gì vậy?

Y thầm nhủ: "Lẽ nào chuyện trộm cắp trong hậu cung gì đó đều là gạt Hoàng Thượng sao? Nàng ấy có chuyện xấu gì chứ? Tiểu cô nương đoan trang tú lệ như vầy, chắc không phải đã vụng trộm gì chứ?" Thoáng quan sát khuôn mặt thơ ngây thành thật của công chúa Vĩnh Phúc, Dương Lăng lập tức xua tan cái ý nghĩ xấu xa đó.

Công chúa Vĩnh Phúc giậm chân nói:
- Hoàng tẩu dẫn hai vị Hoàng Phi bái phỏng hậu cung, các vị công chúa đã xuất giá cũng đến cung Từ Ninh để chúc mừng. Hoàng cô Ninh Thanh đem cặp xuyến "bàn long" (*) bằng ngọc bích mà tiên hoàng thưởng cho cô tặng lại cho hoàng hậu nương nương.
(*: vòng đeo tay hình rồng cuộn khúc làm bằng ngọc bích)

Dương Lăng ngớ người chen miệng hỏi:
- Sao chứ? Chẳng lẽ không được phép tặng lại vật do tiên hoàng ban thưởng ư?

Công chúa Vĩnh Phúc trợn mắt lên, bực tức đáp:
- Nếu không được phép tặng lại, hoàng cô sao dám vượt qua phép tắc? Nhưng mà... nhưng mà cặp xuyến bàn long đó là giả, công chúa Phụng An là người rất rành về châu báu, nên đã nhận ra được thật giả. Cô ta xưa nay vẫn luôn bất hoà với Ninh Thanh cô cô, thế là nói thẳng trước mặt mọi người, hại Ninh Thanh cô cô đòi sống đòi chết. Ngươi nói giờ phải làm thế nào đây?

Dương Lăng ngượng ngùng nói:
- Nếu công chúa Ninh Thanh đã tiếc không muốn đem tặng người khác thì cũng không nên dùng đồ giả để gạt người mà, để giờ bị người ta nhìn thấu. Dù sao thì cũng đã mất mặt rồi, có gì to tát đâu chứ?

Công chúa Vĩnh Phúc giậm chân, giải thích:
- Cô cô bị mất hết thể diện rồi, còn mặt mũi nào mà sống nữa chứ? Thái hoàng thái hậu cũng không dễ tha thứ cho cô cô đâu. Nhưng không phải cô cô cố ý lừa gạt Hoàng Hậu, sự thật là vì đồ thật đã bị hoàng muội Tú Đình đánh tráo rồi.

Nếu không phải vì Vĩnh Phúc nóng lòng buột miệng thốt ra, e rằng cả đời Dương Lăng cũng sẽ không biết được quý tính của công chúa Vĩnh Thuần. Lúc này nghe nói cô nàng đó lại trộm châu báu của công chúa Ninh Thanh, y không khỏi giật mình hỏi lại:
- Đánh tráo? A! Có phải vì lời thần nói ngày trước...

Công chúa Vĩnh Phúc liếc nhìn y rồi đáp:
- Đúng vậy! Nữ quan quản lý phủ của cô cô không coi ai ra gì, nhưng trên dưới cả phủ đều đã bị mụ ta mua chuộc, tất cả đều giúp mụ ấy nói gạt Thái hoàng thái hậu. Hoàng muội nghĩ... nếu đã muốn vu oan cho mụ ấy, thì cần tìm một cái cớ đủ để trục xuất mụ ta đi, nên... nên đã lén tráo xuyến ngọc của cô cô. Ai ngờ Hoàng cô lại đem tặng xuyến ngọc cho Hoàng Hậu chứ!

Dương Lăng nghe xong cũng vừa giận vừa lo, nói:
- Công chúa Vĩnh Thuần sao lại... sao lại làm bừa như vậy chứ! Nhét đại thứ nào đáng giá một chút cũng được rồi, làm sao mà bảo vật giá trị liên thành cũng trộm làm tang vật kia chứ.

Công chúa Vĩnh Phúc đáp bằng giọng ai oán:
- Đâu có dễ như vậy! Đám phụ nữ chúng ta tuy là dòng dõi hoàng tộc nhưng có khi còn không bằng một con hầu. Nữ quan đó đã hầu hạ Thái hoàng thái hậu gần ba mươi năm, được sủng ái hơn cả Ninh Thanh cô cô.

Cho dù mụ ấy có trộm bảo bối mà tiên hoàng ban thưởng đi chăng nữa, cũng cùng lắm bị đánh đòn một trận, giáng xuống làm người hầu cục Trữ y, tướng quân nói đồ vật bình thường sẽ trị được mụ ấy sao? Cô cô không biết chân tướng nên cứ khóc lóc đòi sống đòi chết, cho rằng trong phủ có người đã trộm bảo vật của người, nhờ Thái hoàng thái hậu tra soát kỹ phủ công chúa để trả lại sự thanh bạch cho người.

Dương Lăng suy nghĩ một hồi rồi đề nghị:
- Nếu đã như vậy, thay vì chờ Thái hoàng thái hậu nổi giận, chi bằng tiên phát chế nhân! Không phải lúc ban đầu công chúa đã muốn trị mụ nô tài gian xảo đấy ư? Tuy là hơi chệch so với kế hoạch, nhưng bây giờ cũng đành phải thuận gió bẻ măng vậy.

Công chú Vĩnh Phúc ngượng ngùng đáp:
- Nhưng mà... nhưng mà chúng ta vẫn chưa có cơ hội bỏ cặp xuyến ngọc ấy vào phòng nữ quản gia, cho dù đi lục soát cũng sẽ không tra ra gì đâu.

Dương Lăng vội hỏi:
- Vậy cặp xuyến đó đang ở đâu? Xin hay mau đưa cho thần.

Gương mặt xinh xắn của công chúa Vĩnh Phúc thoáng ửng đỏ, xấu hổ đáp:
- Ở... ở trên người ta.

Không tiện thò tay vào ngực áo lấy đồ trước mặt nam nhân, nhìn thấy ở phía trước có một hòn giả sơn, công chúa Vĩnh Phúc vội chạy đến mấy bước, trốn sau cây tử đằng của hòn giả sơn, vội vã rút cặp xuyến ngọc ra.

Cặp xuyến ngọc này là bảo vật giá trị liên thành, vì sợ làm hỏng nên công chúa Vĩnh Phúc đã dùng khăn gấm bọc lại rồi giấu kỹ trong người. Nàng lấy chiếc bọc nhỏ ra đưa cho Dương Lăng, Dương Lăng không thèm liếc lấy một cái cất luôn vào trong ngực.

Công chúa Vĩnh Phúc há hốc miệng, rồi cắn môi không nói gì. Chiếc khăn gấm đó là vật tuỳ thân của nàng, trên đó còn thêu quý tính của nàng, sao có thể dễ dàng để người khác cất mang đi cho được. Nàng đang chần chừ không biết phải mở miệng đòi lại thế nào, từ xa giọng của Mã Vĩnh Thành đã gọi vọng lại:
- Dương đại nhân! Dương đại nhân, chờ ta với...

Vừa nghe, công chúa Vĩnh Phúc bèn bỏ ý định đòi lại chiếc khăn, vội vàng nhắc nhở:
- Dương tướng quân hãy cẩn thận với tên Mã Vĩnh Thành đó. Lão nắm giữ phủ Nội vụ, cùng nữ quan đó có quan hệ không tầm thường đâu. Ta... ta đi trước đây...

Dương Lăng dừng bước, thấy Mã Vĩnh Thành tay vén áo bào đang thở hổn hển đuổi tới. Nhìn thấy Dương Lăng từ xa, Mã Vĩnh Thành không khỏi thở phào, vội đuổi theo cười nói:
- Dương đại nhân! Hoàng Thượng sai ta đi cùng đại nhân điều tra rõ ràng đây.

Vừa mới nghe công chúa Vĩnh Phúc nhắc nhở nên Dương Lăng thản nhiên cười đáp:
- Tốt lắm! Có công công ra mặt thì sẽ danh chính ngôn thuận rồi, bằng không bản quan cứ can dự mãi vào chuyện trong hậu cung, thật cũng không thích hợp lắm.

Mã Vĩnh Thành liền hớn hở mỉm cười:
- Xưa nay trong hậu cung nếu xảy ra vụ án gì không tiện để nương nương ra mặt thì đều sẽ do phủ Nội vụ và hoàng thân quốc thích ra mặt tra vấn. Dương đại nhân được giao chuyện này là đã được sự sủng tín vô bờ của Hoàng Thượng đấy.

Lão nhướng mày liếc Dương Lăng, thấy y không hề có vẻ bối rối, áy náy, nhất thời đoán không ra tâm tư của y, đành phải nói bóng nói gió:
- Có thể Dương đại nhân chưa biết, thật ra trong cung này, điện to nhiều của, thỉnh thoảng bị mất vài thứ là chuyện hết sức bình thường. Mọi người cũng cứ mắt nhắm mắt mở mà thôi.
Phải nói quản gia phủ đệ của công chúa Ninh Thanh ấy, ta cũng quý mến lắm. Cô ta hết sức để tâm dạy dỗ nô tỳ cả phủ, theo lý không thể có kẻ nào dám phạm quy củ. Ài! Làm nô tài không dễ đâu, thỉnh thoảng sẽ phải chịu oan ức vì người. Dương đại nhân, chúng ta nên đồng cảm với bọn họ.

Vị nữ quan đó ngoài thì thân thiện, trong lại chua ngoa, Dương Lăng rất ghét mụ ấy. Nghe Mã Vĩnh Thành nói vậy, trong lòng y càng thêm xác định. Xem ra, e rằng vị nữ quan đó đã thật sự trộm không ít đồ, có điều vẫn chưa dám chạm đến những thứ quốc bảo được ghi trong sổ sách mà thôi. Nếu chuyến này có thể lục soát tìm đồ vật của công chúa trong phòng mụ, thừa lúc hỗn loạn bỏ cặp xuyến này vào, có thật có giả, ai lại hoài nghi là có người vu oan chứ?

Đã quyết định trong lòng, Dương Lăng mỉm cười đáp:
- Bản quan phụng chỉ hành sự, nào dám tuỳ tiện vu oan người tốt! Chúng ta cứ tra xét một chút cho lấy có, chỉ cần có thể ứng phó công việc, không để Hoàng Thượng trách hỏi là được rồi. Xin công công cứ việc yên tâm!

Mã Vĩnh Thành nghe xong cảm thấy yên lòng. Theo suy đoán của lão, bất luận thế nào, lão là tổng quản mua sắm phủ nội vụ, cũng là tâm phúc hầu hạ bên cạnh Hoàng Thượng, sẽ mang lại nhiều trợ giúp trên con đường làm quan cho Dương Lăng hơn là một cô công chúa đã xuất giá. Dương Lăng không thể không lấy lòng lão.

Trong cung Từ Ninh, công chúa Ninh Thanh vẫn đang quỳ dưới đất, khuôn mặt đẫm lệ, không chịu đứng dậy. Nàng có lòng muốn đem tặng bảo vật yêu thích của mình cho tân Hoàng Hậu, nào ngờ lại xảy ra chuyện xấu hổ đến như vậy, còn gì là thể diện. Thường ngày nàng nhiều lần bị nữ quan nọ hoạnh hoẹ, bây giờ lại bị người ta tráo đồ, nàng lập tức nghĩ đến khả năng đã bị nữ quan đó lấy trộm, do đó khăng khăng yêu cầu Thái hoàng thái hậu tra xét kỹ phủ công chúa, trả lại sự thanh bạch cho nàng.

Đồ dâng tặng cho Hoàng Hậu lại là hàng "tây bối"(*), nay bị nhiều hoàng tộc chí thân bóc trần như vậy, Thái hoàng thái hậu cũng giận tím mặt. Nghe kẻ hầu cận báo lại Hoàng Thượng đã phái tổng quản mua sắm của phủ Nội vụ và thống lĩnh thị vệ thân quân đến điều tra vụ án này, Thái hoàng thái hậu không khỏi thở phào một hơi.
(*: "tây bối" viết là 西贝, ghép lại thành chữ "cổ" 贾, cũng đọc như chữ "giả" 假, nên "hàng tây bối" nghĩa là hàng nhái, hàng giả)

Trong phòng vị nữ quan đó có không ít món vật dụng đáng giá lấy từ phủ công chúa, song cặp xuyến ngọc đó đích thực mụ không dám đụng đến. Còn cho rằng đám thị nữ dưới trướng có kẻ lớn mật dám giấu mụ trộm xuyến ngọc, mụ đang nổi ác tâm định bụng sau khi trở về sẽ dùng nghiêm hình, lôi hết mấy nha đầu trong nhà tra khảo một lượt. Nay lại nghe Hoàng Thượng phái người đến tra xét kỹ, nếu lục ra được đồ ăn trộm trong phòng mình, há chẳng sẽ "cổng thành bị cháy một khi, ao cá bỗng bị vạ lây bất ngờ" sao? Thế là lập tức mụ sợ đến nỗi mặt mũi trắng bệch.

Vốn Thái hoàng thái hậu hoàn toàn không tin thị nữ tâm phúc hậu hạ mình nhiều năm lại có thể là ác nô phạm thượng dối chủ, trộm cắp bảo vật trong phủ, nhưng thấy bộ dạng chột dạ của mụ ta, bà lại không khỏi nổi lòng nghi ngờ.

Mới vừa tiến cung thì đã nhận phải lễ vật giả, trong lòng vị tân Hoàng Hậu cũng rất ngượng, chỉ mong người do Hoàng Thượng phái đến sẽ điều tra được đích thực đã có người trộm bảo vật. Vì dẫu sao trộm đồ còn dễ nói, nếu như quả thực Hoàng cô dùng đồ giả gạt nàng, nàng sẽ bị mất hết mặt mũi.

Trong cung Từ Ninh nhất thời yên tĩnh lại, ai nấy đều mang tâm tư riêng trong lòng, đợi phủ Thập Vương đưa tin tức đến.

Dương Lăng và Mã Vĩnh Thành đến phủ đệ công chúa Ninh Thanh, đuổi sạch thị tỳ thái giám trong phủ ra sân, rồi vào từng phòng tiến hành tra khám. Trong phòng của cung nữ và thái giám bình thường thật sự không có mấy thứ đáng giá, nhưng trong phòng của nữ quan đó lại có rất nhiều món đồ tốt. Dương Lăng không biết cái nào là của nữ quan đó cái nào của công chúa, thế là bèn lôi hết những thứ nào trông đáng tiền ra rồi bày lên đầy bàn.

Mã Vĩnh Thành thấy y lôi tất tần tật mọi trang sức và đồ dùng có giá trị đang được giấu kỹ trong phòng ra, mặt không khỏi càng lúc càng dài, rốt cuộc không nhịn được tức giận, giọng u ám:
- Dương đại nhân! Phòng của nữ quan này không hề có xuyến ngọc, lôi ra mấy thứ linh tinh này để làm gì? Hoàng Thượng bảo chúng ta tìm xuyến ngọc, hay là chúng ta đừng cố bày vẽ thêm chuyện nữa?

Dương Lăng liếc y một cái, rồi mỉm cười nói:
- Nếu đã thấy đáng ngờ thì nên tra hỏi một chút, bằng không làm việc qua loa đối phó, ngộ nhỡ Hoàng Thượng hỏi tới, chúng ta sẽ đối đáp ra sao? Ồ... đúng rồi, cũng chỉ trong phòng nữ quan lục ra nhiều thứ như vầy, bản quan lại không phân biệt được. Công công xem có nên bảo đám thái giám và cung nữ vào nhìn qua thử không, xem thử mấy thứ này có phải là đồ vật của công chúa hay không?

Nghe vậy Mã Vĩnh Thành mừng thầm trong bụng, vừa nãy còn lo Dương Lăng không chịu làm theo lẽ riêng, thì ra là y quá cẩn thận. Y muốn lấy lòng mình, lại sợ phải gánh vác trách nhiệm. Nếu bây giờ mọi người trong phủ công chúa đều khai nhận những thứ này là vật phẩm cá nhân của nữ quan, y lại không phân biệt được, vậy sau này cho dù có sai sót gì đi nữa, cũng sẽ hoàn toàn không can hệ gì đến y.

Nghĩ đến đây, Mã Vĩnh Thành không khỏi vui vẻ cười đáp:
- Phải phải phải! Đúng là nên gọi người đến hỏi một chút, Dương đại nhân cứ việc yên tâm.

Đáp rồi, lão hăng hái bước nhanh ra ngoài cửa gọi thái giám quản sự tới thấp giọng căn dặn một hồi.

Bởi lão là tổng quản mua sắm cho hậu cung, toàn bộ tiểu tổng quản, tiểu thái giám của hai mươi tư cục trong Lục cung đều sống nhờ vào lão, đương nhiên chỉ nghe theo mỗi mệnh lệnh của lão. Mã Vĩnh Thành căn dặn xong, dẫn đám cung nữ và thái giám nọ vào phòng. Thái giám quản sự đó nhìn qua loa các món đồ bày ở trên bàn, rồi cuối đầu khom lưng tranh nói trước:
- Phúc đáp đại nhân, công công! Trong sổ của phủ công chúa không hề ghi lại những thứ này, không phải là đồ của phủ.

Gã đã mở miệng, nào ai còn dám nói trái, đám thái giám và cung nữ cũng lắc đầu lia lịa, nói không nhận ra. Mã Vĩnh Thành đắc ý liếc nhìn Dương Lăng, Dương Lăng cười nói:
- Ừm, không có thì tốt thôi! Bản quan và Mã công công cũng là phụng chỉ hành sự, nếu không làm tử tế sẽ khó tránh khỏi sự trách mắng của Hoàng Thượng!

Y vừa nói vừa tiện tay cầm một hũ sứ Thanh Hoa lên ngắm, nói tiếp:
- Đây chắc là đồ từ năm Thành Hóa nhỉ? Thực đúng là sứ tốt, ừm, để ta xem thử có đúng không?

Y lật hũ sứ Thanh Hoa lại xem dấu đóng dưới đáy, không ngờ miệng hũ vừa chúc ngược, từ trong hũ bỗng rơi xuống hai chiếc xuyến ngọc. May mà trên bàn đều là đồ vật do y lục soát ra, chỗ chúng rơi xuống được đặt bốn cuộn lụa gấm Nam Kinh thêu hoa vân nổi, hai chiếc xuyến rơi xuống đống tơ lụa nảy lên mấy cái nhưng không hề bị vỡ.

Dương Lăng đặt hũ sứ Thanh Hoa xuống, cầm đôi xuyến lên xem mấy lượt, liếc mọi người trong phòng đang ngây ra như phỗng, mỉm cười hỏi:
- Hai chiếc xuyến này bản quan cũng không nhận ra! Các ngươi nhìn xem có phải là đồ vật của công chúa không vậy?




Chú thích:




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
03-07-2011, 10:54 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 118 - Nguy Hiểm Trùng Trùng


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo Vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Nghĩ đến ánh mắt hung tàn của Mã Vĩnh Thành, nghĩ đến nụ cười lạnh lùng đầy ác cảm của Phạm Đình, nhớ đến đám ngoại thần xem mình như kẻ gian nịnh, giờ nội quan cũng lại nổi sát ý với mình, Dương Lăng không khỏi rùng mình sởn gai ốc: "Bây giờ quả thực nguy hiểm trùng trùng, quỷ gọi hồn đang rình rập khắp nơi, mình phải làm thế nào đây?"




------------------------

Quyển ba - Vừa lên ngôi báu
Chương 118 - Nguy Hiểm Trùng Trùng

------------------------

- Nô tì bị oan, Mã công công! Nô tì thật sự chưa từng trộm lấy xuyến ngọc của công chúa, là có người hại nô tì mà! Mã công… cô…ôông!

Bên ngoài cung Từ Ninh, ả nữ quan dung mạo xinh đẹp đang nằm sấp trên băng ghế, bốn tiểu thái giám giữ chặt tay chân của ả, còn hai tên khác mỗi tên một bên đang vung gậy đánh mạnh xuống cặp mông căng đầy của ả nghe kêu "bôm bốp".

Mã Vĩnh Thành mặt mày xám xịt, môi mím chặt lại như một đường chỉ. Lão vừa căm hận Dương Lăng đã làm mất mặt lão, lại vừa oán giận ả nữ quan dám to gan lớn mật ăn trộm bảo vật do tiên hoàng ban thưởng cho công chúa.

Lẽ ra tội trộm đồ trong cung nặng lắm cũng chỉ bị phạt vài chục gậy, sau đó bị đưa đi làm lao dịch. Nhưng hôm nay Hoàng Hậu mới vào cung, chuyện vừa xảy ra đã khiến hoàng gia mất sạch thể diện; trong cơn thịnh nộ, Thái hoàng thái hậu cũng không còn tâm tư đâu mà thương tiếc ả thị tỳ đã hầu hạ mình nhiều năm, hạ ý chỉ sai Cốc Đại Dụng kêu tiểu thái giám đánh ả chết tươi.

Mã Vĩnh Thành vừa sai người thực hiện hình phạt vừa nghĩ làm sao để cứu ả. Nghĩ tới nghĩ lui, lão cảm thấy chỉ khi nào Thái hoàng thái hậu nhất thời mềm lòng, xá tội chết cho ả thì mới xong. Nhưng bọn họ là nô tài, khi được sủng ái tất nhiên thế nào cũng được, đến khi thất sủng rồi nếu còn vô lễ, một câu của chủ nhân sẽ quyết định sự sống chết của bọn họ ngay. Lão cũng không cách nào đến cầu xin Thái hoàng thái hậu, chỉ đành cố gắng chờ ở đây, mong Thái hoàng thái hậu sẽ hồi tâm chuyển ý, hoặc có vị nương nương, công chúa nào ở trong chịu ra mặt cầu xin cho ả kia.

Ả nữ quan đã bị đánh đến tróc thịt trầy da nhưng thấy Mã Vĩnh vẫn đứng đó không nói tiếng nào. Ả nào biết tâm tư của Mã Vĩnh Thành lúc này, còn cho rằng lão muốn giết người diệt khẩu, không khỏi khóc rống lên, mắng chửi:
- Mã Vĩnh Thành, ngươi thực muốn đánh chết ta sao? Ngươi thấy chết không cứu, ta phải tố cáo ngươi với Thái hoàng thái hậu. Ta đã biếu tặng ngươi...

Mã Vĩnh Thành vừa nghe đến đây bèn đột nhiên bước nhanh tới một bước, giật cây gậy trong tay tên tiểu thái giám, vung lên "vù" một tiếng rồi đập vào mang tai nữ quan, khiến đầu ả rung lên, trong lỗ tai từ từ chảy ra một bãi máu đen. Hai mắt nữ quan đó trợn tròn, nhìn chằm chằm vào Mã Vĩnh Thành, cơ thể co giật dữ dội, rồi từ từ quắp lại trên băng ghế, không còn động tĩnh gì nữa cả.

Hai mắt Mã Vĩnh Thành hiện rõ vẻ hung ác, lão đưa cây gậy lại cho tên tiểu thái giám, lạnh lùng nói:
- Còn đứng ngây ra đó làm cái gì?! Mau đi bẩm báo với Thái hoàng thái hậu rằng ả tiện tỳ trộm bảo vật đó chịu hình không nổi đã chết rồi, xin Thái hoàng thái hậu mở lòng từ bi cho phép an táng.

Dương Lăng thấy Mã Vĩnh Thành mặt mày dữ tợn, vẻ hung tàn đó so với bộ dạng ôn hoà dễ bảo thường ngày như thể thuộc về hai con người khác nhau, không khỏi rùng mình kinh sợ. Mã Vĩnh Thành giận tím tái mặt mày nhìn Dương Lăng, cố nén lòng thù hận mãnh liệt đang dâng trào trong lòng, nói:
- Dương đại nhân! Ả tiện tỳ này khiến công chúa và Hoàng Hậu nương nương đều mất hết thể diện, đáng phải chịu trừng phạt như vậy. Bây giờ nhiệm vụ đã hoàn thành, chúng ta trở về phục chỉ thôi!

Mặc dù ả nữ quan này nham hiểm xảo quyệt song tội không đáng chết, giờ có thể nói đều do ý tưởng tồi tệ của y làm hại người, trong lòng Dương Lăng áy náy không yên. Không lòng dạ nào nhìn cái thi thể chết không nhắm mắt với đôi mắt vẫn đang mở trừng trừng, y bèn lặng lẽ đi theo Mã Vĩnh Thành rời khỏi hậu cung.

Chính Đức nghe nói ả nữ quan trộm cắp đã bị đánh chết, cũng không quan tâm chút nào. Việc uống rượu cộng thêm hai đêm liên tục chưa hề được ngủ ngon đã khiến y thật sự hơi mệt mỏi, nói chuyện một hồi thì thiếp đi luôn.

Chuyện hôm nay cũng vì vô tình mà gây nên tai họa. Vốn Dương Lăng chỉ muốn trị ả nữ quan đó một trận, để ả nô tài đáng ghét đó bị báo ứng, nào ngờ lại xảy ra cơ sự dường này. Chủ ý là do y đề ra, chỉ muốn cứu giúp công chúa nhưng khi không đã hại chết một người. Mặc dù người đó không phải tốt lành gì, song trong lòng y cũng hơi cắn rứt. Lúc này y thấy Mã Vĩnh Thành vẻ mặt u ám đứng cạnh giường Chính Đức, tuy lão không dám phát tiết với mình, nhưng rõ ràng là cực kỳ oán hận mình. Y cũng không có cách nào làm dịu quan hệ đôi bên, chỉ đành thở dài một tiếng, lẳng lặng đi ra.

Cốc Đại Dụng lặng lẽ đi ra theo, thấy y đang ngồi buồn rầu, bèn ngồi sát lại cạnh bên, biết rồi song vẫn hỏi:
- Dương đại nhân! Hôm nay Hoàng Thượng ban thưởng cho đại nhân hai người thiếp xinh đẹp. Ân sủng như thế là ao ước của không biết bao nhiêu đại thần trong triều, cớ sao đại nhân còn phiền muộn không vui vậy?

Dương Lăng thở dài một hơi, rồi nhặt nhạnh những gì có thể nói ra trong chuyện hồi nãy kể lại một lượt. Cốc Đại Dụng nghe xong không khỏi bật cười khanh khách, không đồng tình:
- Chết một ả nô tỳ thì tính là gì? Trong hậu cung, chuyện phi tần bẳn tính chỉ vì vài lỗi nhỏ nhặt mà tàn nhẫn đánh đập thị tỳ đến chết có rất nhiều. Những thị tỳ biết bợ đỡ ỷ vào quy định mà ức hiếp chủ nhân, khiến những vị công chúa cành vàng lá ngọc không dám lên tiếng, ta cũng thường nghe kể rất nhiều. Chuyện hôm nay sẽ có không biết bao nhiêu công chúa âm thầm vỗ tay khen hay đó, Dương đại nhân hà tất phải tự trách mình!

Dương Lăng cười gượng, hiển nhiên y không tiện nói rõ kẻ gợi ý cho hai vị công chúa trị nữ quan đó là mình. Việc nữ quan đó ức hiếp chủ nhân là thật, trộm cắp cũng là thật, nhưng ả không có gan ăn trộm bảo vật do tiên đế ngự ban.

Cốc Đại Dụng thấy y không hé lời, bèn liếc vào trong điện một cái rồi kềm giọng nói nhỏ:
- Có điều... Chuyện ngày hôm nay đại nhân hãy nên để ý cẩn thận! Ta thấy sắc mặt của Mã công công hết sức không vui đó.

Dương Lăng gật đầu nói:
- Bản quan biết nữ quan đó và Mã công công giao tình không nhạt, chuyện hôm nay quả thực đã đắc tội với lão rồi.

Cốc Đại Dụng nghiêm mặt:
- Nào chỉ là đắc tội? Dương đại nhân à, Mã công công là kẻ có thù tất báo, huống hồ hôm nay đại nhân đã khiến cho lão mất hết sức mất mặt, lão còn không hận đại nhân đến thấu xương ư? Chẳng qua đại nhân đang được Hoàng Thượng sủng ái, lại sắp nhậm chức xưởng đốc Nội xưởng, lão lại đuối lý sẵn, cho nên không dám đắc tội với đại nhân mà thôi.

Dương Lăng nghi hoặc hỏi:
- Tuy rằng nữ quan đó và y có chút quan hệ, nhưng hẳn lão sẽ không đến mức... không đến mức vì chuyện này mà để bụng mãi chứ?

Cốc Đại Dụng đáp:
- Dương đại nhân! Chuyện này thực không phải là chuyện nhỏ đối với lão đâu. Hôm nay lão không che chở nổi cho cô nữ quan này, mai này kẻ khác làm sao còn tin lão có thể bảo vệ được mình chứ? Lão vừa mới nhậm chức tổng quản Nội cung, làm sao để lập uy với người ta đây? Các nô tài trong cung chỉ biết đến lợi ích, người của Nhị thập tứ nha môn trong Lục cung lại đều đang nhìn vào, mà Mã công công vừa leo lên cao; lão nhận quà cáp của người ta song lại không thể bảo vệ chu toàn cho người ta, thử hỏi sau này ai còn chịu biếu quà lấy lòng lão chứ?

Khi xưa ta từng theo Lý Quảng Lý công công kiếm miếng ăn trong Đông xưởng, cho nên chuyện trên quan trường đều nhận biết rõ ràng. Có khi hai phe đánh nhau đến trời long đất lở, khiến cho cả thiên hạ đều biết đến; nhưng song phương đấu đá ầm ĩ một phen xong, cuối cùng bao giờ cũng ngưng chiến, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, chỉ bởi vì trong ấy không hề có một chữ "lợi" nào. Nhưng đôi khi chỉ một chuyện nhỏ, thoạt nhìn không đáng để mắt tới, lại là mầm hoạ khôn cùng, chỉ bởi vì nó có liên quan đến lợi ích mà thôi.

Đại nhân làm lão mất mặt là chuyện nhỏ, nhưng chặt đứt con đường tiền tài của lão, đại nhân nói lão có nên hận đại nhân không nào? Quyền thế và địa vị của lão không bằng đại nhân, cho dù lão hận đại nhân thấu xương thì đại nhân cũng không phải e sợ. Nhưng đại nhân sắp lãnh đạo Nội xưởng, đến lúc đó sẽ tiếp nhận việc giám sát thuế, phải tranh lợi cùng Đông xưởng, đại nhân nói đám công công của ty Lễ Giám và Đông xưởng sẽ thế nào đây? Dương đại nhân, ngài nhiệt tình giúp đỡ mọi người, nhưng đừng xem người khác đều là hạng thiện lương. Ngài không có lòng hại người, nhưng người ta lại có ý hại ngài đó!

Dương Lăng nhìn Cốc Đại Dụng với vẻ ngạc nhiên và nghi ngờ. Cốc Đại Dụng thấy y lắng nghe mình nói, đang tính dâng thêm vài lời, đột nhiên bên ngoài có một đại thái giám bước vào, hỏi:
- Hoàng Thượng đâu?

Vừa trông thấy đó là Phạm công công của Đông xưởng, Cốc Đại Dụng vội đứng dậy, khúm núm thưa:
- Phạm công công! Hoàng Thượng uống hơi quá chén, đang nghỉ ngơi ạ.

Phạm Đình "ồ" một tiếng, xoay người tính đi, chợt trông thấy Dương Lăng lão bèn dừng lại, nhếch miệng cười nhạt, nói:
- Dương đại nhân! Hôm nay ta nghe nói Hoàng Thượng sắp mở Nội tập sự xưởng, giám sát hai xưởng một vệ, tiếp nhận quyền giám sát thuế, mà xưởng đốc của Nội xưởng này chính là các hạ. Chậc chậc chậc, thủ đoạn giỏi đấy, quả là hậu sinh khả úy! Hầy, nói thế nào ấy nhỉ, đúng rồi, đây gọi là dẫn sói vào nhà!

Dương Lăng biết Vương Nhạc không hề tham quyền, nhưng hai viên đại tướng dưới trướng lão - Phạm Đình của Đông xưởng và Miêu Quỳ của Tây xưởng - mỗi người đều mang dã tâm riêng. Khi xưa Phạm Đình và Trương Tú tìm cách đưa y vào cung chỉ là để bên cạnh hoàng đế tương lai sẽ có người của phe mình được sủng ái. Ai dè sủng tới sủng lui, cuối cùng lại trở thành đại hoạn tâm phúc của bọn lão, bảo sao lão chẳng sinh lòng phẫn nộ?

Dương Lăng ra vẻ yếu thế, nhún nhường:
- Phạm công công! Hạ quan cũng chỉ là bất đắc dĩ phải nhận chức vụ này. Thật ra đã có hai xưởng một vệ, nào cần mở thêm Nội xưởng? Hạ quan vừa không có người vừa không có tiền, nhiều lắm chỉ làm được một thứ cỏn con; không chừng một ngày nào đó Hoàng Thượng nhìn không vừa mắt sẽ dẹp bỏ đi. Công Công hà tất phải để tâm!

Thực lực của Đông xưởng quá hùng hậu. Đến Miêu Quỳ nắm giữ Tây xưởng và Ngự Mã giám, có nhiệm vụ giám sát Đông xưởng vậy mà cũng không dám khinh xuất, nhiều lần ăn phải quả đắng trong tay Đông xưởng. Dương Lăng thực không muốn đắc tội với nhân vật ghê gớm như vậy.

Chẳng ngờ lời đó của y lại chạm đúng vào nỗi đau thầm kín của Phạm Đình. Phạm Đình cười khẩy một tiếng, nói bằng giọng quái dị:
- Dương đại nhân có tiền đồ hơn Miêu Quỳ nhiều. Lần này đại nhân nhậm chức sẽ đoạt lấy quyền giám sát thuế, số bạc chạy vào tay mỗi năm có thể chất thành núi, sao lại nói là không tiền? Có điều những kẻ giám sát thuế ở ngoại tỉnh đều không phải là bọn đèn cạn dầu, nếu Dương đại nhân muốn bọn họ ngoan ngoan phục tùng thì sẽ phải tốn chút tâm tư rồi.

Dứt lời, Phạm Đình phất ống tay áo bỏ đi. Cốc Đại Dụng nói khẽ:
- Dương đại nhân! Thế nào? Đây chính là một chữ “lợi” đấy. “Nhân tại giang hồ thân bất do kỷ” (1), triều đình chính là danh lợi, chính là giang hồ. Lăn lộn trong cái giang hồ này, ai không cẩn thận sẽ phải chịu cảnh đao sắc kề cổ. Phạm công công đã có ý kiêng kị ngài, cho dù ngài muốn né tránh thì để diệt trừ hậu hoạn, lão cũng sẽ không cho ngài thêm cơ hội để trở mình đâu.

Một khi tin tức về việc thành lập Nội xưởng được lan ra, ngài lập tức sẽ như ngồi trên lưng cọp. Nội xưởng này lập thì phải lập, không lập cũng phải lập, đã lập thì phải lập thật nhanh. Đại nhân không mau chóng xây dựng lực lượng chống chọi với lão, chẳng lẽ muốn chờ lão từng bước thu thập ngài ư?

Nghĩ đến ánh mắt hung tàn của Mã Vĩnh Thành, nghĩ đến nụ cười lạnh lùng đầy ác cảm của Phạm Đình, nhớ đến đám ngoại thần xem mình như kẻ gian nịnh, giờ nội quan cũng lại nổi sát ý với mình, Dương Lăng không khỏi rùng mình sởn gai ốc: "Bây giờ quả thực nguy hiểm trùng trùng, quỷ gọi hồn đang rình rập khắp nơi, mình phải làm thế nào đây?"

Cốc Đại Dụng vẫn không ngừng lải nhải:
- Dương đại nhân! Năm xưa Đại Dụng đã từng làm việc trong Đông xưởng, nay đại nhân thành lập Nội xưởng, nếu có chỗ nào cần dùng đến lão, xin đại nhân cứ việc cho biết. Cốc Đại Dụng tuy không dám nói là tài năng hơn người, nhưng thật lòng muốn vì đại nhân vạch mưu vẽ kế, ra sức ngựa trâu!

Nhưng tâm trí Dương Lăng sớm đã bay tới nơi nào khác, hoàn toàn không nghe lão nói gì cả.






Chú thích:
(1) Nghĩa là người đã ở trong chốn giang hồ, cuộc sống sẽ không còn do bản thân quyết định nữa.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
06-07-2011, 08:27 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 119 - Thảo Luận Thiết Lập Nội Xưởng


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo Vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:

Post trước một hôm!:uong2::uong2::uong2:







Dương Lăng yên lòng, cười nói:
- Chuyện này dễ thôi! Khi bắt đầu chúng ta sẽ không lấy danh nghĩa Nội xưởng hành động, tránh việc bọn họ lo sợ khách mạnh lấn át chủ nhân; chỉ cần nói là người của Nội xưởng muốn kiếm chút lợi lộc, hợp tác đôi bên cùng có lợi với bọn họ là được.




------------------------
Quyển ba - Vừa lên ngôi báu - Chương 119 Thảo Luận Thiết Lập Nội Xưởng

------------------------

Từ sáng sớm, Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đã bắt đầu đứng ngồi không yên, bởi lẽ hôm nay chắc hẳn Dương Lăng sẽ về nhà. Tuy hôm qua là ngày vui hai người phụng chỉ thành hôn, nhưng đến chiều chỉ có phu nhân trở về, còn lão gia phải ở lại trong cung hầu thiên tử bắn pháo hoa. Điều khiến hai người vạn phần ngạc nhiên và mừng rỡ là không những trong cung truyền chỉ ban hôn mà còn phong cho bọn họ làm Thất phẩm Cáo Mệnh, khiến bọn họ vui đến nỗi mất ngủ cả đêm.

Hôm nay lang quân của mình sắp sửa trở về, nghĩ đến chuyện cần phải trải qua trong buổi tối hôm nay, nhớ tới việc phong lưu thường nghe những hồng quan nhân (*) kể lúc còn ở tại Thì Hoa quán, trong lòng bọn họ không khỏi bồi hồi mãi. Hai cô nàng rạo rực xuân tình, đứng ngồi không yên, cứ liên tục ngồi trước gương chải chuốt trang điểm, chỉ lo có thiếu sót gì khiến lão gia nhìn thấy sẽ không vui.
(*)Xin nhắc lại: Trong chốn hoan trường, Thanh quan nhân chỉ những phụ nữ chỉ bán nghệ, không bán thân; còn Hồng quan nhân chỉ những phụ nữ vừa bán nghệ vừa bán thân.

Hai người suy tính thiệt hơn, bồn chồn nôn nóng song vẫn cố kiềm nén bản thân, e ngại bị người ta nhìn thấu tâm trạng của mình. Cả hai không hề hay biết rằng dáng vẻ điên đảo thần hồn đó đã lọt vào mắt đám nha đầu quen thuộc hằng ngày, khiến bọn họ cười thầm không thôi.

Lúc này, một tiểu nha hoàn ngồi trong phòng Ngọc Đường Xuân, đang không thể nhịn cười kể cho nàng nghe tin mình mới vừa nghe được: Đêm đại hôn, đương kim thiên tử bắn pháo hoa xong bỗng nhiên tuyên bố muốn làm minh quân của đời, chuẩn bị thức trắng đêm trong cung Càn Thanh để phê duyệt tấu chương của mấy ngày này dồn lại, khiến đám đại học sỹ của Nội các mặt ủ mày chau, râu tóc sắp bị vò bứt sạch.

Ngọc Đường Xuân thấy tức cười quá, không nén được tò mò bèn hỏi:
- Đương kim Hoàng Thượng đã mười sáu tuổi, cũng không nhỏ mà, sao... sao đêm động phòng lại muốn trốn đi phê duyệt tấu chương thế nhỉ? Vậy... vậy sau khi phê hết tấu chương, y vẫn vào động phòng chứ?

Tiểu nha đầu che miệng cười đáp:
- Ban đầu những đại thần đó năn nỉ cầu xin, khuyên can ngăn giải, quỳ xuống đất khấu đầu không ngừng, thiếu điều muốn trói Hoàng Thượng lại tống vào động phòng, nhưng Hoàng Thượng vẫn không chịu. Thái hoàng thái hậu và Hoàng thái hậu phải bước ra khuyên giải, Hoàng Thượng vẫn không nghe. Song không biết lão gia nhà chúng ta đã nói với Hoàng Thượng mấy câu gì mà Hoàng Thượng liền phấn khởi vứt tấu chương đi vào động phòng ngay.

Phu nhân, người biết không? Hiện giờ chuyện cười này đã lan truyền khắp kinh thành rồi, rất nhiều người đang đoán già đoán non xem lão gia đã nói cái gì mà lại có thể dỗ cho thiên tử chịu vào động phòng. Hừ hừ, tiếc là không một ai biết vì sao Hoàng Thượng không chịu vào động phòng, và vì sao lại chịu vào động phòng.

Vừa nói xong, cô ả cũng cảm thấy rối rắm, không nhịn được thế là lại phá ra cười khanh khách.

Ngọc Đường Xuân nghe xong cũng không khỏi bật cười. Nàng đang định vòng vo dò hỏi chút tin tức về lão gia, một tiểu nha hoàn chợt chạy ào vào, reo lên:
- Lão gia về rồi, lão gia về rồi!

"A!" Ngọc Đường Xuân vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ đứng bật dậy khỏi ghế, cuống quýt ngồi vào trước chiếc gương đồng hình bông hoa để xem lại tư dung của mình. Mới ngắm nhìn vài lượt, nàng chợt nhớ ra trong phòng còn có hai tiểu nha hoàn, hành động vừa rồi đã bị bọn họ nhìn thấy cả, nàng không khỏi ngượng chín cả mặt.

Nàng ngượng ngùng xoay người lại, vờ ra vẻ bình thường, thản nhiên hỏi:
- Lão gia có đi về phía hậu viện không? Đến đâu rồi?

Nha hoàn nọ lắc đầu đáp:
- Không... Lão gia vừa về đến phủ liền kêu người lên núi tìm Liễu bả tổng tới rồi vào trong phòng khách, hai người đang trò chuyện gì đấy.

Bờ vai Ngọc Đường Xuân thoáng trùng xuống, khuôn mặt nhỏ nhắn không giấu được vẻ thất vọng. Tiểu nha hoàn thấy vậy vội nói:
- Phu nhân đừng nóng ruột! Để nô tì đến phòng khách xem thử xem sao.

***

Không biết có chuyện khẩn cấp gì mà Dương Lăng gọi mình đến gấp, Liễu Bưu vội vàng bước vào phòng khách, thấy Dương Lăng đang ngồi trên ghế dựa, mặt trầm ngâm, bèn vội ôm quyền hành lễ. Dương Lăng thấy gã đến mới sực tỉnh, vội vàng chỉ vào chiếc ghế đối diện bảo:
- Ngồi đi!

Liễu Bưu ngồi xuống ghế, mỉm cười:
- Ti chức chúc mừng đại nhân nạp được hai vị phu nhân xinh đẹp như tiên. Đại nhân vừa mới về phủ, không biết gọi gấp ti chức đến có gì căn dặn?

Dương Lăng nói:
- Ta vốn muốn đợi sau đại hôn của Hoàng Thượng mới tính đến chuyện thành lập Nội xưởng, nhưng đêm qua Hoàng Thượng đã công khai việc này giữa triều đình. Hai xưởng một vệ tỏ ra rất kiêng kị, nếu trì hoãn lâu e sẽ xảy ra nhiều chuyện không hay. Cho nên việc này đã trở nên vô cùng cấp bách, ta tìm huynh đệ đến chính là để bàn bạc về việc Nội xưởng.

Một khi Nội xưởng thành lập, Liễu Bưu là thân tín của Dương Lăng, thế lực và quyền bính đương nhiên là hơn hẳn cái chức bả tổng cỏn con hiện giờ, thậm chí còn hơn hẳn việc được thăng làm tham tướng nữa. Cho nên vừa nghe Dương Lăng chuẩn bị thành lập Nội xưởng, Liễu Bưu không khỏi hớn hở mặt mày, hăng hái thưa:
- Đại nhân! Người chuẩn bị làm như thế nào, xin cứ hạ lệnh, ti chức nhất định sẽ theo lệnh mà làm.

Dương Lăng khoát tay:
- Không vội, tất cả cứ phải từ từ. Đêm qua ở trong cung ta đã cẩn thận suy tính một hồi, cũng được vài ý tưởng, hôm nay đã xin được Hoàng Thượng chuẩn y. Chúng ta thành lập Nội xưởng, thiếu nhất là gì? Thiếu địa bàn, thiếu người, thiếu tiền, cái gì cũng thiếu! Nhưng để thành lập Nội xưởng, triều đình sẽ không phân bổ tiền bạc cho chúng ta, hiện giờ nội khố của Hoàng Thượng cũng trống không, chúng ta chỉ có thể tìm biện pháp khác.

Ta đã xin được Hoàng Thượng chấp thuận gộp toàn bộ năm ngàn nhân mã của Tả tiêu doanh vào Nội xưởng, như vậy, quân lương, binh sỹ, doanh trại hiện có tất cả sẽ thuộc về chúng ta một cách danh chính ngôn thuận. Có điều nơi trú quân ban đầu của Thần cơ doanh còn cách kinh thành quá xa, ta quyết định dời nó về đây, đặt ngay bên ngoài Tây Trực môn.

Liễu Bưu xoa tay phấn khởi:
- Tốt! Trong quân lính khoẻ thiện chiến, hơn xa những kẻ mà sắp tới chúng ta có thể chiêu mộ, loáng cái đã có được năm ngàn nha sai, chúng ta có thể so vai với hai xưởng một vệ rồi.

Dương Lăng bật cười:
- Thiện chiến cái gì? Huynh đệ muốn đánh nhau sao? Cho dù Nội xưởng là cái gai trong mắt của xưởng vệ, hồi tranh đấu này cũng không đến nỗi ầm ĩ đâu, bọn họ chỉ dám giở ra chút trò vặt, âm thầm dùng thủ đoạn ngáng đường; chẳng lẽ dám vung tay đánh đấm trước mặt mọi người? Chúng ta chớ nên chủ động gây sự để người ta mượn cớ.

Liễu Bưu vội vâng vâng dạ dạ đồng ý. Dương Lăng nhíu mày, nói tiếp:
- Trách nhiệm của xưởng vệ đều là tuần tra truy bắt. Ta đã tính rồi, Cẩm Y vệ chủ yếu dựa vào mật thám rải rác các nơi và bọn dịch tốt của trạm dịch địa phương để thu thập tình báo. Thành phần xuất thân của nha sai bên phía Đông xưởng thì vô cùng phức tạp, phần đông là giang hồ hảo hán được thu nạp, thành thử Đông xưởng thường lợi dụng các bang phái địa phương để dò la tin tức. Thế lực của Tây xưởng hiện giờ chủ yếu vẫn chỉ quanh quẩn trong khu vực kinh sư, do bị Đông xưởng và Cẩm Y vệ chèn ép nên vẫn chưa có công trạng gì. Nếu như chúng ta không thể có chiêu gì mới lạ, thì dù có lập nên Nội xưởng cũng sẽ chỉ có kết cục như Tây xưởng mà thôi. Huynh đệ có cách nào hay không?

Liễu Bưu nghe xong bèn nhíu mày, trầm ngâm thật lâu song cũng nghĩ không ra cách hay nào cả: "Muốn chiêu nạp thêm người đương nhiên không khó, khó là ở chỗ nhất định phải có tiền; bằng không mấy chuyện như mua chuộc nhân thủ, truyền tin tình báo này nọ cũng đừng hòng thành công. Tây xưởng lần lữa không thể vươn dài vòi ra khắp chốn không phải là vì quyền bính không bằng Đông xưởng, mà là bởi vì tiền bạc không đủ. Bây giờ Nội xưởng còn nghèo mạt hơn cả Tây xưởng, có thể có cách gì được đây?"

Dương Lăng thấy gã do dự hồi lâu vẫn không đưa ra được cách nào, bèn hỏi:
- Thực ra ta đã nghĩ ra một cách, có điều... hiểu biết của bản quan về nơi phố chợ có hạn, cho nên không biết cách này có thể thực hiện được hay không!

Liễu Bưu nói:
- Xin đại nhân hãy nói ra nghe thử, ti chức sẽ bẩm hết những gì mình biết.

Dương Lăng chậm rãi:
- Biện pháp này của ta là gộp chung thu thập tình báo, xoay sở tiền bạc, truyền đạt tin tức lại thành một, hơn nữa... ta đã được Hoàng Thượng cho phép chúng ta làm, có điều thật không biết hiệu quả thế nào.

Liễu Bưu nghe mà ngứa ngáy trong lòng song lại không dám thúc giục, đành phải kiên nhẫn chờ nghe. Dương Lăng nói tiếp:
- Bản quan từng ở tại sở Dịch Thừa vài ngày, biết được sở Dịch địa phương không được nhận công việc từ chốn thường dân, cho nên các nơi trên toàn quốc đều có cửa hàng kinh doanh ngựa xe, chuyên vận chuyển người và hàng hoá. Những cửa hàng này thường bị hạn chế bởi vốn liếng, nhân lực và phạm vi hoạt động, quy mô cũng không tính là lớn nên dễ điều hành, nhưng cũng vì thế mà tác dụng có hạn.

Trong truyền tin tình báo, quan trọng nhất chính là tốc độ, những cửa hàng ngựa xe làm sao nhanh bằng dịch trạm được? Mà dựa vào bọn họ, tin tình báo có thể thu thập cũng có hạn, nhưng trước mắt để thiết lập Nội xưởng, dường như... cũng chỉ có cách dùng bọn họ làm người báo tin mà thôi, như thế công năng mới có thể miễn cưỡng đạt đến mức tương tự như sở Dịch, vỏ bọc của Cẩm Y vệ được.

Dân chúng Đại Minh muốn hành tẩu bốn phương đều phải có giấy giới thiệu, giấy thông hành, hơn nữa những địa phương giấu giếm triều đình đặt ra các loại thuế hà khắc cũng nhiều. Chúng ta không có tiền, nhưng chúng ta có quyền; nếu như hợp tác cùng những cửa hàng ngựa xe này, bọn họ góp tiền góp vật, chúng ta góp người, trạm gác các nơi nhất định sẽ không dám làm khó, cũng không dám thu nhiều loại thuế phụ thu.

Hơn nữa, càng ở gần thiên tử, càng không nghe ngóng được tin tức gì. Dựa vào những cửa hàng ngựa xe này, chúng ta có thể vươn tay đến các khu vực, địa phương ngoài kinh thành, dù sao vẫn hơn Tây xưởng bị vây khốn trong kinh thành làm kẻ mù, kẻ điếc. Vả lại như thế còn có thể tạo hiện trường giả cho Cẩm Y vệ và Đông xưởng thấy là chúng ta không dám đối đầu trực diện với họ trong kinh thành, giảm thiểu sự cảnh giác của bọn họ. Có điều... không biết đến khi thực hành có khó khăn hay không? Những cửa hàng ngựa xe đó sẽ chịu hợp tác cùng chúng ta chứ?

Liễu Bưu vỗ đùi đánh đét đáp:
- Có thể được! Tuyệt đối có thể được! Đại nhân! Đại đa số những kẻ mở cửa hàng ngựa xe đó đều là những nhân vật có chút thế lực tại địa phương, nhưng chỗ dựa lại không đủ vững chắc. Để kiếm sống, bọn họ phải bỏ bạc cho bạch đạo (trỏ quan viên triều đình) để mở đường, cả hắc đạo (trỏ giặc cướp) cũng vậy, họ phải bỏ bạc ra mua bình an; đi khắp nơi đều phải tươi cười, dọc đường còn bị người ta hoạnh hoẹ. Nếu như có người của chúng ta ngồi lên xe bọn họ, treo cờ hiệu của Nội xưởng lấy danh nghĩa giải quyết việc công hành tẩu bốn phương, mang nhiều lợi ích cho bọn họ, bọn họ há lại không đồng ý sao? Có điều... Chỉ sợ bọn họ lo chúng ta thôn tính bọn họ nên không dám hợp tác cùng chúng ta.

Dương Lăng yên lòng, cười nói:
- Chuyện này dễ thôi! Khi bắt đầu chúng ta sẽ không lấy danh nghĩa Nội xưởng hành động, tránh việc bọn họ lo sợ khách mạnh lấn át chủ nhân; chỉ cần nói là người của Nội xưởng muốn kiếm chút lợi lộc, hợp tác đôi bên cùng có lợi với bọn họ là được. Tiếp đó chúng ta sẽ cùng bọn họ ký kết khế ước, vậy là có thể khiến bọn họ yên tâm được rồi. Để cho ổn thoả, khi bắt đầu chúng ta chỉ làm với một cửa hàng thôi, như thế tin tức lan ra cũng không nhiều; đợi sau khi bọn họ đã nếm được trái ngọt, không cần chúng ta đi tìm, các cửa hàng ngựa xe và thuyền bè khác nghe được tin tức cũng sẽ chủ động tìm đến cửa yêu cầu hợp tác thôi.

Liễu Bưu nghe xong cũng vui sướng gật đầu.

Trước mắt Dương Lăng cũng không có nhiều người thân tín có thể dùng được. Mặc dù rất tin cậy cha con nhà họ Hàn, nhưng thanh danh của xưởng vệ quả thực không tốt lành gì; xuất phát từ tư tâm, Dương Lăng không muốn lôi bọn họ vào cuộc. Y đã sai người đến Thái Lăng triệu Dương Nhất Thanh lập tức về kinh, trước mắt người này và Liễu Bưu có thể nói là cánh tay phải và cánh tay trái của y.

Dương Lăng nghĩ đến việc một khi Nội xưởng được thành lập, ắt sẽ cần có vài nhân thủ đắc lực trợ giúp, mà hiện tại hai người Liễu, Dương tuy một lòng trung thành, song dẫu sao lúc trước cũng chỉ là Hiệu úy, vị tất đã có năng lực quản lý toàn cuộc, nhưng nhân tài thì có thể đi đâu để tìm đây?

Chợt nhớ đến Ngô Kiệt, người y nợ một cái ơn lớn và cũng đã hứa sẽ giúp điều ông ta về kinh, Dương Lăng bèn quay qua hỏi Liễu Bưu:
- Liễu Bưu! Trong Cẩm Y vệ có vị Thiên hộ tên là Ngô Kiệt, quanh năm phụ trách thu thập tin tức ở tái ngoại. Dường như ông ta không được thỏa chí trong Cẩm Y vệ lắm. Huynh đệ thử nói xem... ta muốn điều ông ta về Nội xưởng, ông ta có chịu làm việc cho ta không?




Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
10-07-2011, 06:20 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 120 - Thần Tài Phương Tây


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Vo Vong

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:









- Đây mới chỉ là một điều mà thôi! Chúng ta còn có thể mang lương thảo đến biên ải, đưa muối ăn về Hoài Dương, bán vải vóc cho vùng Ngô Việt, đem trà vào Thục Xuyên, chuyển đồ sứ tới Giang Hoài… Vào Nam ra Bắc, đầy ắp các loại ngựa xe. Ngựa xe đi đến nơi nào là sẽ có một dòng sông bạc chảy qua nơi đó.

Vả lại mở cửa hàng ngựa xe, chở hàng chở khách, đi đường bọn họ phải ăn phải uống phải ngủ phải nghỉ chứ gì? Vậy tửu lâu khách sạn không cần thiết sao? Chúng ta có thể tự xây cất khách điếm dọc đường, tránh để “nước tốt chảy vô ruộng người”. Dọc đường bọn họ cần tìm kỹ nữ, cần đánh bạc chứ gì? Vậy thanh lâu sòng bạc chúng ta cũng đừng bỏ qua. Có tất cả những thứ tửu sắc tài vận này, muốn thu thập tin tức tình báo kiểu gì mà không được? Ha ha ha...



------------------------
Chương 120 - Thần Tài Phương Tây

------------------------

Liễu Bưu cười nói:
- Đại nhân! Trong Cẩm Y vệ có trên hai mươi thiên hộ, đại khái ti chức cũng biết một ít. Nếu nói bất đắc chí nhất thì có hai người, một người là vị Ngô thiên hộ này, người còn lại chính là vị Thiên hộ người Sắc Mục tên Vu Vĩnh cả ngày gác cổng Trấn phủ ty đó.

Ngô Kiệt không phải là thân tín của Trương chỉ huy sứ và Mâu trấn phủ sứ cho nên luôn luôn bị gạt qua một bên. Nếu đại nhân trọng dụng ông ta, nhất định ông ta sẽ trung thành với đại nhân.

Hơn nữa... theo ty chức thấy, chúng ta xung đột cùng Đông xưởng chủ yếu bởi vì chúng ta có quyền quản chế Đông xưởng, lại đoạt quyền giám sát thuế của bọn họ; đây là nguồn tiền bạc lớn nhất của đối phương nên sẽ không thể tránh khỏi phát sinh xung đột với họ.

Nhưng Cẩm Y vệ lại khác! Cẩm Y vệ theo chế độ quân quản, được triều đình trích bạc ra nuôi, xưa nay bọn họ hết sức hợp tác với Đông xưởng là bởi Đông xưởng có quyền giám sát thuế, tiền lắm của nhiều, hứa hẹn rất nhiều lợi ích cho Cẩm Y vệ. Chỉ cần chúng ta có thể thu thập thành công những gã Thuế giám được cử từ ty Lễ Giám đến mọi nơi, khiến bọn họ nghe theo lệnh của đại nhân thì khi đó muốn chia rẽ xưởng vệ cũng không khó.

Do đó, cho dù Ngô thiên hộ trung thành với Cẩm Y vệ, đại nhân cũng không cần lo lắng. Nếu như Trương chỉ huy sứ biết chúng ta không hề có ý làm khó ông ta, có lẽ ông ta sẽ thoát ly khỏi Phạm công công mà giao hảo với đại nhân đó.

Dương Lăng nghe xong liền bừng hiểu. Mối quan hệ giữa Cẩm Y vệ và Đông xưởng được kết dính bởi tiền bạc, ta có thể đánh một phe và lôi kéo một phe. Chỉ cần mình khống chế được các viên quan Thuế giám các nơi, nắm chắc con đường tiền bạc này, đồng thời hứa hẹn lợi ích nhất định cho Cẩm Y vệ thì ít ra cũng có thể khiến cho Cẩm Y vệ giữ vị trí trung lập.

Dương Lăng vui mừng bảo:
- Được! Ngày mai ta sẽ xin Hoàng Thượng hạ chỉ điều Ngô thiên hộ qua Nội xưởng. Ngoài ra còn có huyện thừa Hoàng lão của trạm Kê Minh, ông ấy có ơn tri ngộ với ta. Huynh đệ và Nhất Thanh đều là cao thủ xông phong hãm trận, song hai người bọn họ lại thạo xử lý tin tức tình báo và quản lý nội chính hơn. Phải có bốn người các vị, cái Nội xưởng này của ta mới có thể đứng vững được.

Y đang nói đến đây chợt lão quản gia từ ngoài cửa ló đầu vào, vẻ mặt cổ quái thưa:
- Lão gia! Ngoài cửa có vị... có vị đại nhân của Cẩm Y vệ muốn cầu kiến người ạ.

Dương Lăng ngẩn ra, buột miệng hỏi:
- Có phải là vị đại nhân đó họ Tiền không?

Lão quản gia cười bồi đáp:
- Vị đại nhân đó nói hắn họ Vu, có điều diện mạo của ông ta không giống chúng ta, là người Sắc Mục.

Người Sắc Mục! Vu Vĩnh? Vừa mới nhắc đến gã, không ngờ gã đã xuất hiện rồi. Gã đến đây làm gì nhỉ? Dương Lăng nhìn Liễu Bưu với vẻ hồ nghi. Liễu Bưu cũng không xác định được ý đồ của Vu Vĩnh, hắn suy nghĩ một chút rồi nói:
- Đại nhân ! Bởi vì vị Thiên hộ Vu Vĩnh này là người Sắc Mục, cho nên ở trong Cẩm Y vệ mọi việc của ông ta đều không được như ý. Nghe nói ba người con gái của ông ấy đều là mỹ nhân dị quốc tóc vàng mắt xanh. Trưởng nữ gả cho cháu của Vương Nhạc công công làm vợ, do nể mặt Vương công công nên Trương chỉ huy sứ mới cho ông ta một chức quan nhàn tản có lộc không quyền. Ty chức đoán không phải do Trương chỉ huy phái ông ta đến. Có điều người này chỉ biết so đo chút lợi nhỏ, tuy ở trong quân song lại giống như con buôn, không có tài cán gì. Đại nhân hãy cứ thử thăm dò ý tứ của ông ta rồi tìm cớ đuổi đi là xong.

Dương Lăng gật đầu:
- Ừm! Huynh đệ hãy đến phòng khách đối diện chờ ta đã, đợi ta thăm dò được ý đồ của ông ta rồi tính tiếp.

Quả thực Vu Vĩnh mạo muội đến nhà Dương Lăng là vì muốn nương nhờ y. Trong Cẩm Y vệ gã vẫn luôn là "đồ trang trí" có chức không quyền, bị người ta cười thầm gọi là “Thiên hộ gác cổng” nên trong lòng vẫn luôn không thoải mái.

Hôm nay gã nghe nói Dương Lăng sắp thiết lập phủ nha, nhậm chức xưởng đốc Nội xưởng. Thế là sau khi cân nhắc trù tính một phen, gã cảm thấy nếu như nương nhờ Dương Lăng và được trọng dụng, chỉ cần Nội xưởng đứng vững, gã sẽ trở thành công thần, hô mưa có mưa, gọi gió có gió. Nếu như Nội xưởng địch không lại Đông xưởng và sụp đổ, gã cũng có chỗ dựa vững chắc là Nội tướng(*) Vương Nhạc, tối thiểu cũng sẽ không bị liên luỵ gì. Loại mua bán một vốn bốn lời như vậy thật là một cơ hội hiếm có.
(*: Xin nhắc lại: Nội tướng là người cầm đầu toàn bộ hoạn quan)

Phàm đã kính Phật, đương nhiên phải đốt một bó nhang trước, còn bây giờ muốn thể hiện thành ý của bản thân, đương nhiên cũng phải chọn khi tiền đồ Dương Lăng còn chưa rõ ràng. Nếu như đợi đến lúc người ta phát đạt rồi, chỉ sợ dù có đưa con gái đến nhận họ nhận hàng thì cũng chỉ có thể được làm đại thủ lĩnh gác cổng của Nội xưởng mà thôi. Dựa trên nguyên tắc làm ăn thấy được thì phải chịu bỏ vốn liếng, Vu thiên hộ không chờ được đã vội vã đến nhà Dương Lăng.

Hai mỹ nhân Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai nghe nha hoàn báo lại có khách đến, hơn nữa còn là người Sắc Mục tóc vàng mắt xanh thì cảm thấy phát hoảng. Lão gia vừa mới về nhà liền đã liên tiếp gặp gỡ hai người khách, chẳng lẽ Hoàng Thượng lại giao cho y công việc gì bắt y phải xa nhà hay sao?

Tiểu hoàng đế này đêm tân hôn không lo động phòng mà lại chạy đi đốt pháo hoa rồi phê duyệt tấu chương, trước giờ làm chuyện đều không hề tính toán; nếu không thì y cũng không ban hôn xong rồi lại bảo lão gia hầu y đốt đèn đốt pháo, hại chúng ta gối chiếc phòng không. Đáng ghét! Hoàng Thượng lại bị động kinh rồi à? Hai cô con gái oán hận trong lòng, hoàn toàn quên sạch lòng cảm kích vô hạn với Chính Đức khi vừa nhận được thánh chỉ hôm qua.

Gặp mặt Dương Lăng, Vu Vĩnh chỉ hỏi han vài câu liền đi thẳng vào vấn đề, nói rằng muốn gia nhập Nội xưởng. Dương Lăng thấy vậy cũng không khỏi âm thầm lắc đầu: "Làm gì có chuyện vừa gặp mặt, chưa thăm dò rõ nội tình của đối phương mà đã huỵch toẹt ra như vậy nhỉ? Tốt xấu gì gã cũng đã lăn lộn trong Cẩm Y vệ nhiều năm như vậy rồi, không ngờ kinh nghiệm quan trường còn non hơn cả mình! Quả nhiên người này không dùng được.”

Mặt lạnh như tiền, Dương Lăng thờ ơ đáp:
- Dương mỗ đa tạ sự thưởng thức của Vu đại nhân! Không phải Dương mỗ muốn cự tuyệt đại nhân, nhưng thật sự Dương mỗ không đành làm lỡ tiền đồ của đại nhân đâu! Vu đại nhân! Hiện tại ngài đường đường là thiên hộ trong Cẩm Y vệ, mà Nội xưởng này của ta, cần người không người, cần tiền không tiền, nào có tiền đồ gì?

Vu Vĩnh sớm đã biết được thanh danh của mình vốn không tốt, không mấy người coi trọng mình, da mặt gã đã được trui rèn từ lâu. Nghe xong gã không hề nản chí, đang muốn biểu hiện lòng trung thành thêm một phen thì Dương Lăng đã ngắt lời:
- Vu đại nhân! Nội xưởng rất nghèo túng, không so được với Cẩm Y vệ có trạm dịch địa phương để cung cấp thêm chi dụng. Ta đang tính thu mua vài cửa hàng ngựa xe từ dân gian để đảm nhận công việc thu thập tình báo và thông tin, học theo Đông Thi (1) làm trò cười cho thiên hạ. Ngài đến gia nhập Nội xưởng nào có tiền đồ gì?!

Nghe xong, Vu Vĩnh không khỏi ngạc nhiên rồi lập tức tiu nghỉu nói:
- Đại nhân không cần khách khí nữa. Than ôi! Thì ra Dương đại nhân cũng đã nghĩ đến biện pháp này rồi. Vu mỗ biết Hoàng Thượng không phát bạc cho đại nhân, nên đã vắt óc nghĩ ra kế sách này, định hiến cho đại nhân để biểu lộ thành ý. Giờ thì... thôi vậy.

Nói rồi gã chán nản chắp tay cáo từ. Dương Lăng nghe thế rất lấy làm kỳ lạ, vội cản lại hỏi:
- Sao? Vu đại nhân cũng nghĩ đến ý tưởng mở cửa hàng ngựa xe rồi ư?

Vu Vĩnh lắc đầu thở dài:
- Vu mỗ biết những người đọc sách các ngài đều xem thường thương nhân, tưởng ngài chưa hẳn sẽ nghĩ ra được chủ ý đưa buôn bán vào chính trị. Mỗ tưởng rằng chỉ có mình mình mới nghĩ ra được nước cờ độc đáo này thôi, nào ngờ đại nhân đã... Thật hổ thẹn!

Trong lòng Dương Lăng thầm máy động, y bèn bảo:
- Xin Vu đại nhân cứ trình bày ý tưởng của ngài, hai chúng ta cùng kiểm chứng một chút đi! Nếu như ngài và ta ý kiến tương đồng, chỉ cần đại nhân thật sự coi trọng Dương mỗ, Dương mỗ nguyện sẽ làm việc cùng đại nhân.

Vu Vĩnh nghe vậy mừng rỡ hỏi lại:
- Lời của Dương đại nhân là thật ư? Ha ha, vậy ta xin thẳng thắn nói hết. Vừa rồi đại nhân có kể qua loa, nói cái gì mà cửa hàng ngựa xe nghèo kiết, có phải là sợ tin tức bị lộ sẽ đưa đến sự kiêng kị của xưởng vệ không?

Dừng một chút, gã hớn hở nói tiếp:
- Hạ quan một lòng chân thành với đại nhân, đại nhân hẳn sẽ không cần dối gạt ta nữa chứ? Đây là một ý tưởng tự thân sinh lợi, một vốn bốn lời tuyệt diệu, nhưng đám người của Đông xưởng và Cẩm Y vệ chỉ biết bóc lột đó lại không nghĩ ra.

Mở cờ trong bụng, Vu Vĩnh giải thích rõ:
- Đại nhân! Cửa hàng ngựa xe do dân gian trăm họ lập nên nhiều lắm chỉ là để kiếm miếng ăn qua nhày. Còn nếu do đại nhân mở ra thì với quyền thế của Nội xưởng, chắc chắn đi khắp nơi không hề gặp trở ngại gì, nhất định sẽ tiền vô như nước. Ngày nay Đại Minh sản vật phong phú, cái còn thiếu là cái gì? Đó chính là phương tiện vận chuyển.

Đại nhân cũng thấy đó, Đại Minh đất đai phì nhiêu, giao thông vô cùng tiện lợi, đường từ hai kinh (chỉ kinh sư và kinh đô) thông đi khắp mọi nơi, vận chuyển người hay vật đều không thành vấn đề; dọc theo bờ Nam, Bắc Vận Hà, bao nhiêu thành trì đã mọc trên những vùng đất hoang vu? Thanh Giang, Tế Ninh, Lâm Thanh, Thiên Tân, Hà Tây, có nơi nào không hưng vượng nhờ đường vận chuyển sông nước?

Dân chúng bình thường mà mở cửa hàng ngựa xe, thường là không đi được xa, chẳng có bao nhiêu động lực, còn bị quan phủ bóc lột dọc đường và khống chế nên không thể phát triển mạnh được. Song nếu là Nội xưởng mở ra, vậy thì lại khác. Nói ví dụ, Hồ Nam Hồ Bắc dư thừa chì trắng, một gánh (50kg) hai lạng bạc, vận chuyển đến Quảng Đông có thể bán được sáu lạng mỗi gánh, giá cao gấp ba lần; nếu còn được cho phép vận chuyển từ bản địa ra hải ngoại, mỗi gánh chì trắng có thể tinh luyện và lấy ra được mười tám lạng bạc trắng, gấp chín lần; vận chuyển phần chì trắng đã trải qua tinh luyện về Quảng Đông, mỗi gánh còn có thể thu được sáu lạng bạc trắng. Như vậy, một gánh chì trắng đi một vòng, sẽ lời ròng được chừng tám lạng bạc (*). Với năng lực của Nội xưởng, một chuyến buôn nào chỉ ngàn gánh vạn gánh? Đó là biết bao nhiêu bạc chứ? Nếu dựa vào năng lực của Nội xưởng để mời chuyên gia tinh luyện từ hải ngoại về, tự mình tinh luyện lấy, lợi nhuận đó còn phải gấp mấy lần.
(* Ba_Van: Nguyên văn là thế. Mình cũng chả hiểu Nguyệt Quan tính toán làm sao mà thành ra lời tám lạng!!!):10::10::10:

Vu Vĩnh nói hăng đến độ nước bọt văng tứ tung, Dương Lăng nghe mà há mồm trợn mắt. Vu Vĩnh tưởng mình đã nói trúng tâm sự của y, không khỏi đắc ý cười nói:
- Đây mới chỉ là một điều mà thôi! Chúng ta còn có thể mang lương thảo đến biên ải, đưa muối ăn về Hoài Dương, bán vải vóc cho vùng Ngô Việt, đem trà vào Thục Xuyên, chuyển đồ sứ tới Giang Hoài… Vào Nam ra Bắc, đầy ắp các loại ngựa xe. Ngựa xe đi đến nơi nào là sẽ có một dòng sông bạc chảy qua nơi đó.

Vả lại mở cửa hàng ngựa xe, chở hàng chở khách, đi đường bọn họ phải ăn phải uống phải ngủ phải nghỉ chứ gì? Vậy tửu lâu khách sạn không cần thiết sao? Chúng ta có thể tự xây cất khách điếm dọc đường, tránh để “nước tốt chảy vô ruộng người”. Dọc đường bọn họ cần tìm kỹ nữ, cần đánh bạc chứ gì? Vậy thanh lâu sòng bạc chúng ta cũng đừng bỏ qua. Có tất cả những thứ tửu sắc tài vận này, muốn thu thập tin tức tình báo kiểu gì mà không được? Ha ha ha... Đại nhân, đây thật đúng là diệu kế đấy, không biết suy nghĩ của Vu mỗ có giống với tâm ý của đại nhân không?

Dương Lăng lau nước bọt dính đầy mặt, lắp bắp:
- Ơ... Ta đúng là đang nghĩ như vậy đấy, không ngờ anh hùng sở kiến lược đồng, Vu huynh quả là... quả là thương nhân thiên tài!

Vốn Vu Vĩnh không cho nghề buôn là hổ thẹn nên được Dương Lăng khen ngợi, gã lấy làm vui sướng trong lòng, không khỏi cười lớn:
- Đó là lẽ đương nhiên! Hạ quan xuất thân từ gia tộc bá tước Phùng Y Cống Phú Nhĩ Tư Thái Bá Cách, nghe bà nội ta nói tổ tiên nhà ta đều là những vị thiên tài về kinh doanh đó!

Dương Lăng vừa nắm chặt tay gã, vừa mừng rỡ nói:
- Ngày mai nhân tiện bản quan có việc vào cung, nhất định sẽ xin Hoàng Thượng điều đại nhân gia nhập Nội xưởng. Có được Phùng... Y... Cống... Vu Vĩnh đại nhân, quả thực là may mắn của Nội xưởng!





Chú thích:
(1) nguyên văn "Đông Thi hiệu tần", dựa tích nàng Tây Thi xinh đẹp mỗi khi đau bụng thường hay nhăn mặt, nhưng sự nhăn mặt đó càng làm cho nàng thêm hấp dẫn. Cùng xóm có cô Đông Thi, thấy vậy cũng bắt chước ôm bụng nhăn mặt, nhưng càng nhăn thì mặt càng thêm xấu xí. Do đó có điển tích "Đông Thi hiệu tần", nghĩa là Đông Thi bắt chước nhăn mặt.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
14-07-2011, 10:57 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 3 – Vừa lên ngôi báu

Chương 121 - Động Phòng Rồi Lại Động Phòng
(hết quyển ba)


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:









Ăn tối xong, lúc đầu y chần chừ đứng ngoài cửa phòng đã đóng chặt của Hàn Ấu Nương một lúc, rồi chạy đến trước cửa phòng Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai, cuối cùng lại lủi thủi đến thư phòng ngồi uống trà.



------------------------
Chương 121 - Động Phòng Rồi Lại Động Phòng

------------------------

Tiễn vị Phùng cái gì Cống tài thần ấy về rồi mà Dương Lăng vẫn còn đứng ngây người trong sảnh đường cả nửa buổi. Ông trời thật sự quá chiếu cố mình rồi! Thật đúng là “một khi vận khí lên hương, tràn như nước lũ thành tường khôn ngăn”, bỗng dưng cho mình gặp được một kỳ tài trời sinh về thương mại đến như vậy. Nếu không phải vì ở thời đại này thương nhân bị xem là tiện dân, e rằng Vu Vĩnh đã sớm bỏ quan trường theo thương nghiệp rồi.

Quả thực ý tưởng của Dương Lăng không được hay ho như của Vu Vĩnh. Nhưng ngay khi Vu Vĩnh đưa ra ý tưởng sáng tạo và lập được kế hoạch tầm cỡ như vậy, lại khiến y nghĩ đến mục đích còn cao xa hơn nữa.

Vu Vĩnh nói rất phải! Chỉ cần một thời gian ngắn, lợi dụng quyền lực và phương tiện của Nội xưởng, đích thực tài nguyên sẽ chảy về cuồn cuộn đồng thời có thể xây dựng một mạng lưới tình báo khổng lồ vươn đến mọi ngõ ngách. Nhưng ý nghĩa sâu xa hơn chính là:

Nếu thật sự xây dựng được mạng lưới giao thông thuận tiện khổng lồ đến như vậy thì tài nguyên của cả nước bắt đầu được huy động, những vùng có nhu cầu cấp thiết về những vật tư này sẽ có thể phát triển một cách nhanh chóng. Trong khi đó, vì lưu thông thuận lợi, các vùng miền vốn chỉ dựa vào việc cung cấp tài nguyên để đầu cơ trục lợi sẽ dần dần mất đi ưu thế của mình. Khi đó, bị thôi thúc bởi lợi ích kinh tế, dân chúng sẽ tự động mưu cầu thủ đoạn kiếm lời hoành tráng và lợi hại hơn.

Chính sự phát triển của thương nghiệp có tác dụng lớn nhất trong sự thúc đẩy phát triển công nghiệp. Dựa vào chuỗi phản ứng dây chuyền tác động bởi giao thông thuận lợi, vô hình chung việc giao thông thuận lợi sẽ thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá của Đại Minh.

Đây không phải là một quá trình có thể thấy ngay kết quả trong một ngày một tháng. Nhưng trong cái quá trình diễn biến một cách chậm rãi, nó lại có thể sản sinh ra một sức mạnh khổng lồ: kết nối lợi ích của nó với đông đảo nhân vật thuộc tầng lớp quý tộc, quan viên cao cấp. Như vậy không lo gì bộ phận cản trở sự phát triển kinh tế của thể chế chính trị hiện hữu không bị cải biến. Đến lúc đó cho dù là Hoàng Đế cũng không có cách nào ngăn trở trào lưu này.

Lý tưởng mà mình hằng mơ ước há không phải đã có thể thực hiện rồi sao? Đây đúng là “đạp phá thiết hài vô mịch xử, đắc lai toàn bất phí công phu’ (đi mòn gót sắt nhưng chẳng thấy, đến khi tìm được lại chẳng tốn bao công sức). Ai có thể nghĩ được rằng trong hoàn cảnh hiện tại, sự cải cách hàng loạt về văn hoá, kinh tế và chính trị vốn không thể thực hiện được lại có thể được bắt đầu từ cái nghề đánh ngựa đánh xe này chứ?

Một khi đã biến toàn bộ giai cấp thống trị trở thành những kẻ được hưởng lợi nhiều nhất trong nền kinh tế kiểu mới, để bọn họ cảm nhận được cái "vị ngọt" của nó rồi thì bọn họ còn trở thành chướng ngại vật của lịch sử không? Hay bọn họ sẽ trở thành lực lượng tích cực thúc đẩy sự phát triển của lịch sử?

Trong quá trình phát triển của lịch sử, bao giờ cũng có những kẻ vốn thuộc giới tinh anh nhưng rốt cuộc không theo kịp sự phát triển của xã hội nên dần dần biến thành trở lực cho sự tiến bộ của xã hội. Như vậy, tạm thời ta có thể dẹp bỏ những kẻ quá sùng tín Nho học sang một bên. Nếu mình đi trước một bước, lôi kéo được đám cường hào có danh vọng và đám hoàng thân quốc thích trọng lợi hơn trọng danh gia nhập vào đại quân thương nhân kiến tạo nhà máy, công xưởng, vậy thì... những hoàng thân quốc thích, thân hào nhân sĩ này sẽ ảnh hưởng đến bao nhiêu người? Những gia tộc cường hào danh tiếng đó có bao nhiêu con cháu đang làm quan làm tướng sẽ chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi vô tri vô giác của gia tộc bọn họ?

Vừa nghĩ đến đây, lòng Dương Lăng hào hứng hẳn lên. Đương nhiên những chuyện này không thể thực hiện được một cách nhanh chóng. Ngay cả việc xây dựng Nội xưởng trở thành tập đoàn lưu thông lớn nhất toàn quốc cũng không phải là chuyện có thể hoàn thành trong sáu tháng, một năm.

Nhưng Dương Lăng biết rằng, nếu như có người biết rõ phương hướng phát triển xã hội như y thúc đẩy, thì tốn một năm làm giao thông, ba năm "lôi kéo hủ bại"; chắc chắn sau mười năm trong triều đình và dân chúng sẽ hình thành một tập đoàn quyền lực mới, đủ sức để chống chọi ngang ngửa với những thế lực thủ cựu.

Hơn nữa, đến lúc đó lực lượng này đã không còn có thể bị tiêu diệt bởi bất cứ ai. Theo sự phát triển của thời gian, tất nhiên mặt tiên tiến của nó sẽ khiến nó càng lúc càng chiếm thêm được nhiều ưu thế quyền lực. Lịch sử, sẽ vì thế mà thay đổi.

Nhưng... nếu không còn mình nữa thì sao? Dương Lăng thong thả tản bộ đến ngồi bên một luống hoa. Y nhìn mê mẩn mấy chú ong mật cần cù đang loay hoay trên những nhụy hoa một hồi lâu, ánh mắt dần dần sáng lên: "Hoa nở hoa tàn tự có quy luật, không lẽ sự phát triển của lịch sử không có quy luật của nó ư?"

Cho dù lịch sử không còn sự tồn tại của y, thì thứ gì nên xuất hiện vẫn cứ sẽ nảy sinh. Mình không phải là nhà phát minh, mà chỉ là người phát hiện sớm cái quy luật vốn dĩ tồn tại này mà thôi. Chỉ cần trong những ngày còn sống, mình cố hết sức thúc đẩy cho quy luật đó phát triển, như vậy, sẽ giống như mình cắm một cột mốc phương hướng mới lên trên quỹ đạo phát triển nguyên bản của lịch sử; mở ra một con đường mới, chôn một hạt giống chứa đựng những quan niệm vô cùng khác lạ vào trong thế lực quan liêu thủ cựu. Khi đó, cho dù không có “nhà tiên tri” mình ở đây, lợi ở đâu thì người ta sẽ bu đến đó, sẽ có những người nối gót mình tiếp bước thúc đẩy quy luật phát triển tự nhiên của xã hội, cứ thế cho đến khi nó hội tụ thành dòng thác lũ khổng lồ không gì cản nổi.

Do sự xuất hiện của y, quá trình này sẽ càng diễn ra sớm hơn và nhanh hơn. Dương Lăng có thể tưởng tượng được, nhờ sự xuất hiện của mình, phao tiêu của chiếc tàu khổng lồ cồng kềnh Đại Minh này sẽ nảy sinh một sự biến đổi nho nhỏ. Sự biến đổi vô cùng nhỏ bé này sẽ đẩy bánh lái của con tàu khổng lồ chệch một chút, khiến hướng đi của nó thay đổi vô cùng to lớn.

Sai một ly đi một dặm. Sau khi con tàu khổng lồ này tiếp tục chạy qua con sông dài mấy mươi năm lịch sử, nó sẽ xảy ra biến hoá long trời lở đất như thế nào đây?

Nghĩ đến đây, ân oán được mất của cá nhân đã bị Dương Lăng vứt bỏ sạch. Y biết, với sức lực của một người, nếu gây thù chuốc oán với cả thiên hạ chắc chắn sẽ không có cách nào hoàn thành được mục đích này. Chiếc bánh ngọt này một mình Dương Lăng ăn không trôi, Nội xưởng nuốt không nổi, vậy phải liên lạc với tất cả lực lượng có thể lôi kéo được để cùng tham dự vào.

So với quan viên triều đình, Đông xưởng, Tây xưởng và Cẩm Y vệ dễ tiếp nhận quan niệm tập đoàn quyền lực này hơn. Nếu lôi kéo bọn họ về phía mình, ba xưởng một vệ liên thủ cũng đủ để chống chọi với tập đoàn quan văn rồi. Huống chi, vị tất tập đoàn quan văn toàn đều là những kẻ ngu muội cổ hủ.

Muốn đoàn kết ba xưởng một vệ, phải đấm trước xoa sau. It ra thì loại người như Vương Nhạc và Phạm Đình sẽ không thể nào hiểu được ý tưởng này của y, cũng sẽ không thể tiếp nhận quan niệm này. Phải áp chế đám người này, thay bằng một đám người "thấy lợi là làm". Hiện giờ Đại Minh không thiếu những tài tử tự kiêu tự mãn nhưng lại thiếu những nhân tài dã tâm bừng bừng. Chính bọn họ sẽ phát huy tác dụng to lớn trong việc thay đổi lịch sử.

Dương Lăng càng nghĩ càng hào hứng, thậm chí Liễu Bưu đã đến trước mặt mà y vẫn không hay. Trông thấy đại nhân đang ngồi trên thềm đá, nhìn chằm chằm vào một đoá hoa tươi, ngẩn ngơ như một kẻ si tình, lúc thì mỉm cười rạng rỡ, lúc thì nhíu mày trầm tư, Liễu Bưu không dám quấy rầy, chỉ bước đến bên cạnh chờ đợi.

Đang suy nghĩ đến nhập tâm chợt thấy có người đến gần, ngẩng đầu nhìn thấy là Liễu Bưu, Dương Lăng không khỏi vui vẻ cười nói:
- Liễu Bưu! Bây giờ ngươi hãy trở về doanh trại, bắt đầu chuẩn bị thu xếp. Ngày mai ta sẽ thỉnh cầu Hoàng Thượng điều Tả tiêu doanh từ Thái Lăng về, mở phủ lập nha môn, càng nhanh càng tốt.

Liễu Bưu thấy y hăng hái, trong lòng cũng cực kỳ hào hứng, gã vội vâng một tiếng rồi cấp tốc trở về quân doanh.

Hàn Ấu Nương nghe nói tướng công đã về, thấy trời đã quá trưa, sợ y vẫn chưa ăn gì, vội buộc váy xắn tay tự mình xuống bếp làm một bát bánh canh, chần bốn quả trứng, điểm chút dầu mè khô rồi đợi. Nhưng chờ một hồi lâu mà vẫn không thấy y quay về, nàng sai tiểu nha hoàn đến phòng chính xem thử, mới hay tướng công vẫn đang bận việc công. Thế là nàng bèn ngồi trong phòng chờ.

Ngoài cửa sổ, tiếng ve sầu vẫn đang ra rả không biết mệt. Tuy cửa sổ phòng ngủ đều mở rộng nhưng khí trời oi bức không một gợn gió. Canh ba hôm trước Hàn Ấu Nương lại phải dậy sớm đến hoàng cung, đến đêm trở về lại bận bịu với lễ nghi đón hai vị muội muội vào nhà nên ngủ trễ. Hiện giờ nàng cũng đã mệt mỏi lắm rồi, chống cằm chờ được một lát thì bất giác ngủ thiếp đi.

Dương Lăng vui vẻ quay về phòng ngủ, nhìn thấy chỉ có Ấu Nương đang ngồi trong phòng, hai tay chống cằm, rèm mi cụp xuống, bộ dáng trông thật hồn nhiên rất đáng yêu. Y liền vội rón rén, từ từ bước đến trước mặt nàng.

“Xuân xanh đôi tám yêu kiều, như bông thược dược mỹ miều dáng tiên”. Tuy đã xuất giá lấy chồng, song Hàn Ấu Nương trông vẫn như một cô bé to xác. Nàng ngủ khép chặt hàng mi, đôi môi đầy đặn đỏ hồng trề ra quyến rũ lòng người, như thể đang lặng thầm mời mọc tướng công.

Dương Lăng lặng lẽ hôn trộm lên môi nàng. Đang mơ mơ màng màng ngủ, bỗng nhiên Hàn Ấu Nương cảm thấy miệng mình bị người ta hôn một cái nhẹ. Đây nào phải chuyện đùa, nàng kinh hoảng mở bừng mắt, nắm tay nhỏ nhắn vung lên theo phản xạ có điều kiện.

Sớm biết vị Cáo Mệnh phu nhân của mình có sức sát thương như thế nào rồi, nên vừa tập kích thành công, Dương Lăng đã lập tức lách mình về phía sau, chạy về phía cửa cười nói:
- Đừng đánh! Đừng đánh! Đánh bản lão gia bị thương thì người đau lòng sẽ là nàng đó.

Nhận ra tướng công, Hàn Ấu Nương không khỏi thở phào một hơi. Nàng quẹt môi, cằn nhằn:
- Xem chàng kìa! Có chút nào dáng vẻ lão gia đâu chứ? Người ngoài trông thấy sẽ cười cho!

Dương Lăng cười đáp:
- Sợ gì? Kẻ nào trước mặt vợ nhà mà vẫn còn ra bộ tịch lão gia mới là người có bệnh.

Y sáp lại ngồi cạnh Ấu Nương, nói tiếp:
- Ấu Nương! Tướng công có ít chuyện muốn thương lượng cùng nàng.

Hàn Ấu Nương đẩy một chiếc bát lại, mở nắp, đưa y đôi đũa:
- Còn nóng đấy, tướng công ăn trước một miếng đi! Trong nhà có chuyện gì mà không do chàng làm chủ? Chuyện gì mà còn phải thương lượng vậy?

Dương Lăng cầm đũa gắp miếng trứng chần nóng hổi thơm phức lên cắn một miếng, rồi úp mở:
- Chuyện này nên báo cho nàng biết một tiếng. Ấu Nương! Tả tiêu doanh sắp được rút về kinh, toàn bộ sẽ được bố trí gia nhập Nội tập sự xưởng(*), ta không muốn mấy người nhạc phụ làm việc trong xưởng vệ.
(*: gọi tắt là Nội xưởng; có nhiệm vụ giám sát Đông xương, Tây xưởng, Cẩm y vệ)

Hàn Ấu Nương nghe vậy liền trở nên căng thẳng, vội vã hỏi:
- Tướng công! Nhưng mà... Nhưng mà cha và đại ca làm việc không chăm chỉ sao?

- Hả? Vớ vẩn! Cái đầu ngốc nàng suy nghĩ gì vậy?
Dương Lăng giơ đũa cốc yêu lên đầu Ấu Nương một cái, giải thích:
- Ấu Nương! Đối với dân gian, xưởng vệ là loại người "giậm chân một cái, bốn bề run rẩy". Nàng nói nó oai phong cũng đúng, nhưng thanh danh thật sự không tốt. Ta không muốn để các vị ấy giao thiệp với đám người đó của xưởng vệ.

Hơn nữa... Đại tẩu hiền như cục bột, khó mà hoà hợp với các nàng, cả ngày ngồi mãi trong nhà như vậy chẳng khác nào bị cầm tù. Đại ca có gánh nặng gia thất, bôn ba bên ngoài cũng bất tiện. Chốc nữa ta sẽ nhờ Tiêu đại nhân ở bộ Lại kiếm giúp cho anh ấy một chức quan trong nha môn bộ Hình, vừa có thể tiếp tục ổn định trong kinh mà phu thê cũng có thể ở chung một chỗ.

Nhị ca bản tính mê võ, thích ở lại trong quân, ta chuẩn bị điều anh xuôi nam xuống Trực Lệ. Về phần nhạc phụ và tiểu đệ, ta định không để hai người có bất cứ liên hệ gì với triều đình. Nàng yên tâm, tướng công làm vậy là có dụng ý, là vì lo liệu cho mọi người đó, hiểu không?

Hàn Ấu Nương nửa hiểu nửa không, song nghe Dương Lăng giải thích xong, nàng tin y đích thực là có ý tốt với cha và anh.

Dương Lăng chuẩn bị dốc hết vốn liếng tất tay một phen, đương nhiên muốn thu xếp đường lui cho cẩn thận. Y để đại ca đến nha môn, nhị ca ở trong quân đội, nhạc phụ và tiểu đệ thì thu mua ít quán rượu và khách sạn để họ Hàn cũng có sản nghiệp ở địa phương. Như vậy cho dù y có thất bại trên con đường làm quan, miễn không phạm vào những trọng tội như phản nghịch thì người nhà và thân quyến sẽ không bị liên lụy. Nỗi khổ tâm này đương nhiên y không tiện nói rõ cho Ấu Nương nghe.

Dương Lăng vừa ăn vừa chuyện trò với Ấu Nương. Lúc này Cao Văn Tâm bưng chiếc khay từ bên ngoài bước vào, đặt lên bàn, quay sang vái chào Dương Lăng rồi nói:
- Lão gia về thật đúng lúc! Tiểu tỳ dựa theo phương thuốc xưa đã bào chế được bài thuốc cường thân kiện thể, đang chờ người về đây. Lão gia bận bịu việc công cả ngày, hằng ngày dùng thuốc này sẽ rất bổ ích cho thân thể. Mời lão gia tranh thủ dùng nóng.

Dương Lăng biết cái gọi là “cường thân kiện thể” nhất định là bài thuốc nàng dùng để trị chứng vô sinh của mình. Y cầm lấy bát thuốc, vừa uống một ngụm vào thì suýt nữa phun hết cả ra. Y nhăn nhó:
- Mỗi ngày đều phải uống thứ thuốc nước đắng nghét như vầy sao? Có thể bào chế thành thuốc viên để ta nuốt cả viên được không? Như vầy thực đắng quá đi!

Cao Văn Tâm cố nén cười, đáp:
- Là tiểu tỳ hồ đồ rồi! Hôm nay vội vã bào chế cho nên vẫn chưa kịp chế thành thuốc viên, lão gia ráng chịu khó dùng trước vậy. Lần sau tiểu tỳ sẽ làm.

Dương Lăng đành phải miễn cưỡng uống hết bát thuốc đắng nghét, rồi vội vàng súc miệng ngay. Cao Văn Tâm lại lôi ra một cuộn vải bày lên trên bàn, trên cuộn vải cắm chi chít những cây ngân châm. Cao Văn Tâm hơi mất tự nhiên nói:
- Xin lão gia nằm sấp trên giường, cởi áo ra... để trần phần lưng, tiểu tỳ còn phải châm cứu cho người một lát.

Vốn Dương Lăng không ngại trần truồng trước mặt bác sỹ nữ, nhưng phong tục thời này không giống với thời hiện đại, y không thể không kiêng kị. Y không khỏi ngại ngùng hỏi:
- Chuyện này... có bất tiện không? Chỉ uống thuốc thôi không được sao? Ta lại không có bệnh gì, cùng lắm... cùng lắm thì thân thể của người đọc sách hơi yếu một chút thôi.

Cao Văn Tâm mỉm cười nói:
- Đương nhiên lão gia không có bệnh, nhưng bệnh không kị thuốc đâu à. Lão gia yên tâm, sẽ không đau chút nào đâu.

"Ơ... không có bệnh... bệnh không kị thuốc?" Dương Lăng nghe mà thấy lùng bùng, may mà Ấu Nương cũng ở trong phòng nên đỡ lúng túng hơn. Y đứng dậy đến bên giường nằm sấp xuống, vén áo bào và áo trong lên, để trần lưng và hông. Cao Văn Tâm ngồi bên cạnh, nhón lấy ngân châm, châm một cây vào phần lưng y, mỗi lần rút ra liền dùng ngón tay day nhẹ lên huyệt vị một lát.

Lúc nàng châm cứu Dương Lăng không hề cảm giác đau nhức chút nào. Nhưng khi nàng dùng ngón tay day lên huyệt vị, y lại có cảm giác tê nóng. Một lúc sau y nghe Cao Văn Tâm nói với Hàn Ấu Nương:
- Phu nhân! Xin... xin cởi giúp quần áo của lão gia xuống... xuống thêm một chút.

"Hả?"
Không đợi Dương Lăng phản đối, sớm được nghe Cao Văn nói đến việc châm cứu huyệt đạo nên Hàn Ấu Nương đã kéo tuột quần của y xuống. Hai cái mông “bầu bĩnh” tròn tròn mềm mại được "bảo dưỡng tốt" của Dương đại tú tài liền lộ hẳn ra, khiến Dương Lăng nằm đờ tại chỗ, căng thẳng đến độ rắm cũng không dám đánh. Ừm... thực sự là không dám đánh!

Khuôn mặt trắng trẻo như ngọc của Cao Văn Tâm cũng đỏ tía, có nguy cơ sắp vỡ mạch máu. Nàng vội hít một hơi, khẩn trương cầm cây ngân châm ngắm trúng vị trí, vê tròn cắm vào đốt xương cụt, rồi quay mặt đi nói với Hàn Ấu Nương:
- Phu nhân, xin hãy vê nhẹ ngân châm, đến khi nào lão gia cảm thấy... cảm thấy khó chịu thì ngừng.

“Cảm thấy khó chịu thì ngừng là cái gì vậy?” Dương Lăng đang khó hiểu, Hàn Ấu Nương đã rụt rè bảo:
- Muội... muội không dám hạ thủ. Cha nói huyệt vị không thể đụng bậy vào, chỗ đó nhẹ thì tàn phế, nặng thì vong mạng. Tỷ tỷ, hay là tỷ cứ làm đi!

Cao Văn Tâm đành phải xoay người lại dùng hai ngón tay giữ lấy cây ngân châm, ba ngón tay còn lại khẽ rung theo quy luật.

Dương Lăng chỉ cảm thấy nơi bị châm tê tê, cả người lại vô cùng thoải mái, tựa như được mát-xa. Liền sau đó một luồng khí nóng từ xương cụt ở đáy xương chậu xông thẳng lên dương căn (gốc dương vật). Mới đầu y còn cố kiềm chế được, song chỉ lát sau “thằng nhỏ” đã dựng thẳng lên. May mà y nằm sấp trên giường nên cái vật xấu xa ấy được che khuất. Lúc này Dương Lăng mới hiểu nghĩa cái gì gọi là “cảm thấy khó chịu”, y vội kêu cuống lên:
- Khó chịu rồi, khó chịu rồi! Tướng công khó chịu rồi! Ừ ừ! Lão gia cảm thấy khó chịu rồi.

Cao tiểu thư không nén được xấu hổ bèn rút châm ra. Thực sự Hàn Ấu Nương không dám qua loa chuyện quan trọng hàng đầu này của nhà họ Dương, nàng thấy hình như còn thiếu một trình tự gì đó, liền vội hỏi dồn:
- Văn Tâm tỷ tỷ, không cần xoa bóp à?

Cao Văn Tâm ngập ngừng:
- Xoa bóp thì vẫn phải xoa bóp! Chuyện này không có gì nguy hiểm cả, chỉ cần nhìn nhận đúng huyệt đạo là được. Hay là phu nhân... phu nhân làm đi!

Lúc này Hàn Ấu Nương mới nhớ ra là để người ta xoa bóp cho tướng công mình thì thực sự là làm khó người ta nên không khỏi che miệng cười, nói với Dương Lăng:
- Tướng công đừng động đậy! Ấu Nương xoa bóp cho chàng một chút rồi hẵng nói.

Dương Lăng nào dám động đậy? Cái chỗ đó của y vẫn không ngừng "lắc đầu vẫy đuôi", bảo y đứng dậy y cũng không dám nữa là. Y nghiêm chỉnh nằm sấp tại chỗ, nghĩ thầm trong bụng: "Trị liệu mỗi ngày? Ý... sau này... bản lão gia phải tắm rửa mỗi ngày, nhất định phải tắm rửa mỗi ngày!!"

*****************

Không khí oi ả đã hoàn toàn tan biến. Đến hoàng hôn, trời bỗng nổi gió to rồi trút xuống một trận mưa như thác. Cơn mưa này tới mau, đi cũng mau, tuy rằng mưa như trút nước nhưng chỉ nửa canh giờ sau thì đã dứt. Mây tan mưa tạnh, trên bầu trời xanh thẳm chỉ còn lại ráng chiều rực rỡ.

Những cánh sen trong ao nước nhà họ Dương trông như những chiếc mâm ngọc mới được gột rửa, vài chú ếch ngồi xổm bên trên cao hứng ca hát. Từng hạt nước trong vắt đọng trên nụ sen xinh tươi nhỏ xuống mặt ao tạo nên những gợn sóng lăn tăn. Một tầng sương mù mỏng manh bọc quanh những lá sen vươn cao, tỏa hơi nước mát rượi.

Hai tiểu nha hoàn đang ngồi tán gẫu trên thành lan can bằng đá đã được lau khô nơi hành lang uốn khúc, chân đong đưa trên mặt nước. Một nha hoàn áo xanh nói:
- Đêm nay lão gia sẽ động phòng. Nếu thời tiết vẫn nóng đến độ đi đứng cũng đổ mồ hôi, cho dù Ngọc phu nhân và Tuyết phu nhân xinh đẹp tựa thiên tiên, sợ rằng lão gia cũng chẳng có hứng thú động đậy gì đâu. Muội xem, ông trời liền trút ngay một trận mưa đúng lúc, ta phải nói thực, lão gia của chúng ta là Phúc thần* từ thiên giới hạ phàm, không ai sánh bằng.
(*: vị thần mang lại điều tốt)

Tiểu cô nương có khuôn mặt tàn nhang cười khúc khích đáp lời:
- Nè, cái gì mà động đậy với không động đậy đó? Hình như chuyện gì Thúy Nhi tỷ cũng biết cả nhỉ. Mau khai ra, sao tỷ lại biết mấy chuyện này?

Thị tỳ áo xanh nọ "ý da" một tiếng, tuy mắc cỡ nhưng vẫn tiếp tục đùa nghịch không thôi:
- Chỉ có muội mới không biết à? Muội không hiểu thì sao ta nói muội hiểu ngay được? E rằng muội đã động xuân tình, nên mới xoi mói lời của ta. Muội nói đi, lúc nằm mơ có nghĩ đến không? Hử... hử...

Tiếng cười đùa khúc khích của hai thị tỳ đã kinh động đến "ngài tướng quân" ếch đang phồng bụng một cách oai phong lẫm liệt. Nó trừng cặp mắt ếch dè dặt nhìn quanh, đạp mạnh cặp chân sau, "ộp" một tiếng rồi nhảy tùm xuống ao.

Lúc này, vị Phúc thần Dương đại lão gia được trời giáng xuống trần đang ngồi uống trà trong thư phòng. Ngay sau buổi ăn tối, Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đã thẹn thùng vái lão gia, dâng trà rồi trốn về phòng chờ đợi, còn Dương Lăng vẫn ngồi ỳ uống trà trong thư phòng nhỏ. Tối nay y đã uống hết hai ấm trà, vào nhà xí đến sáu lần.

Ăn tối xong, lúc đầu y chần chừ đứng ngoài cửa phòng đã đóng chặt của Hàn Ấu Nương một lúc, rồi chạy đến trước cửa phòng Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai, cuối cùng lại lủi thủi đến thư phòng ngồi uống trà.

Cưới một lúc hai cô gái vào nhà đã là một sự thật không thể chối cãi. Dương Lăng chần chừ do dự không phải là vì muốn làm bộ làm tịch cho Ấu Nương xem, mà vì trong lòng y tuy đã tiếp nhận sự thật này, nhưng sự giáo dục và ảnh hưởng được tiếp thu từ tấm bé đã ăn sâu vào tâm thức y. Muốn phá bỏ lớp phòng ngự này của con tim, yên tâm thoải mái hưởng thụ niềm hạnh phúc "thê thiếp đầy nhà", nào phải là chuyện tỉnh bơ, dễ dàng như không?

Ngoài trời đã tối. Đã cưới về nhà, trở thành vợ của mình rồi, còn có thể tiếp tục ra vẻ khác người hay sao? Dương Lăng gom hết dũng khí đến trước phòng hai người, ngó trái, nhìn phải như một tên trộm, lưỡng lự không biết nên đột nhập vào phòng ai trước. Bỗng y nghe thấy trong phòng Ngọc Đường Xuân vang lên một tiếng "coong".

Dương Lăng bèn thừa cơ đi tới đẩy cửa ra nhìn. Y thấy một chiếc gương đồng đang lăn lông lốc trên mặt đất, Ngọc Đường Xuân đang đuổi theo sau. Thấy y bước vào, thoạt tiên nàng lộ vẻ mừng rỡ, kế đó đỏ bừng hai má, bối rối thẹn thùng đứng ỳ tại chỗ.

Dương Lăng lượm chiếc gương đồng lên đưa cho nàng, ngạc nhiên hỏi:
- Làm sao mà... đánh rơi cả gương xuống đất thế?

Vừa rồi Tô Tam ngó qua khe cửa thấy lão gia đứng bên ngoài lượn qua lượn lại như u hồn bất tán nhưng thủy chung không dám bước vào phòng nào, thế là nàng nhất thời lanh trí nghĩ đến biện pháp "lấy gương dụ người" này. Không dám nói thật, nàng vội e thẹn cầm lấy chiếc gương, khẽ đáp:
- Nô gia... Nô gia nhất thời sơ ý...

Cũng không biết tiểu cô nương này vô tình hay cố ý, lúc đưa tay ngọc đón lấy chiếc gương, bàn tay thuận thế khẽ chạm vào tay Dương Lăng. Bàn tay nhỏ nhắn của nàng mịn màng mềm mại, ngón tay thon dài linh hoạt trơn nhẵn như ngọc chuốt, khiến Dương Lăng nhìn mà tim đập thình thịch.

Ngọc Đường Xuân bẽn lẽn bước tới khép cửa lại, lúng túng chận tay lên cửa, cố trấn tĩnh lại rồi nói:
- Mời lão gia ngồi, để nô gia châm trà cho người.

Dương Lăng vội ngăn:
- Ngọc Nhi! Không cần đâu. Ta... ta đã uống trà cả đêm ở thư phòng rồi.

Nghe thấy thế Ngọc Đường Xuân bật cười, khuôn mặt trắng ngần lập tức ửng đám mây hồng. Nàng nhẹ nhàng rút tay về, mỉm cười nói:
- Vậy thì... Lão gia, sắc trời... sắc trời cũng không còn sớm nữa. Để nô gia cởi áo cho người nghỉ ngơi nhé.

Trên bàn trang điểm là một cặp nến "HỶ" đỏ đang cháy sáng, Ngọc Đường Xuân vận quần áo lụa đào giản dị, khi nàng bước đi, dáng người uyển chuyển trông như một bức tranh mỹ lệ.

Hàn Ấu Nương non nớt thuần khiết, tươi mát trẻ trung tựa như cô bé láng giềng, còn khí chất cổ điển của Ngọc Đường Xuân lại khiến nàng trông giống như người ngọc trong tranh, mờ ảo không thật. Hai người sở hữu hai vẻ đẹp hoàn toàn khác biệt.

Dương Lăng nhìn mà trong lòng nóng ran, cầm lòng không được bèn ôm choàng lấy nàng. Ngọc Đường Xuân vừa mới cởi dây thắt lưng giúp y thì bị y ôm lấy, bộ ngực mềm mại nhởn nhơ vừa lọt vào tay y, đôi mắt lóng lánh như mặt nước hồ lập tức trở nên mờ mịt, cả người mềm nhũn tựa vào lòng y.

Dương Lăng "khám phá kỹ lưỡng" người ngọc trong lòng. Ngọc Đường Xuân ở trước mặt và hình tượng vai đào đeo cùm lê xích trên sân khấu hát khúc "Tô Tam đã rời khỏi huyện Hồng Động"(1) kia thay đổi luân phiên, thuỷ chung không cách nào hợp chung lại thành một hình ảnh trong lòng Dương Lăng.

Đúng vậy, bọn họ không giống nhau. Ngọc Đường Xuân trên sân khấu là một cô gái số khổ rơi vào chốn phong trần, còn số mạng của người con gái xinh đẹp mê người y đang ôm vào lòng đây đã biến đổi lớn. Trừ cái tên ra, nàng và cô Ngọc Đường Xuân đó đã không còn chút quan hệ nào. Nhưng nàng sẽ hạnh phúc không? Hay là sẽ lại đón nhận một nỗi bi hoan ly hợp khác?

Trong lòng Dương Lăng dâng lên một niềm yêu thương kèm ray rứt. Tô Tam được y ôm vào lòng, cõi lòng dạt dào niềm vui và sự e thẹn, nhắm mắt đón chờ giây phút hạnh phúc. Nhưng chờ mãi mà không thấy phu quân có động tĩnh gì, nàng ngạc nhiên mở mắt nhìn.

Thấy nam nhân mà sau này mình sẽ hầu hạ cả đời dường như không hề hứng thú gì, tâm tư lơ đãng tận đâu đâu, trong lòng Ngọc Đường Xuân không khỏi dâng lên một nỗi niềm u uất pha lẫn không cam lòng: “Chẳng lẽ dung mạo của mình không thể khiến phu quân vừa ý sao?”

Nàng cắn môi, ai oán liếc Dương Lăng rồi lùi lại vài bước, đưa tay rút cây trâm ngọc cài sau đầu. Mái tóc mềm mại lập tức trút xuống khiến khuôn mặt thanh tú của nàng đột nhiên tăng thêm vài phần quyến rũ. Thấy thế, Dương Lăng liền lập tức hoàn hồn.

Ngọc Đường Xuân mỉm cười duyên dáng hài lòng, dịu dàng bước đến bên giường, cởi đôi hài cong. Nàng lên giường, tháo tấm màn mắc hai bên chiếc giường hoa xuống, cả người như bị nhốt vào trong một vầng sương mù đỏ tươi.

Bóng dáng mỹ lệ bên trong vầng sương đỏ hiện rõ những đường cong xinh đẹp. Dương Lăng nhìn nàng sau tấm màn đang gỡ nhẹ vạt áo, từ từ trút bỏ áo lót, quỳ lên cởi váy lụa. Mỗi cái vươn tay, ưỡn ngực đều toát lên vẻ đẹp dịu dàng, u nhã. Trong ánh sáng mờ ảo, thân thể mềm mại của nàng khiến người ta phải phát cuồng thấp thoáng hiện ra, cong có cong, tròn có tròn, vun cao có vun cao...

Dưới ánh nến đỏ nhạt, làn da mịn màng trơn nhẵn của nàng nổi lên một quầng sáng nhàn nhạt. Hình ảnh mỹ lệ đằng sau tấm màn thực khiến người ta hít thở không thông. Ngọc Đường Xuân với hai tay ra sau đầu, hất mái tóc dài lên, rồi như một ma nữ quyến rũ, nàng nhanh nhẹn ngả người xuống giường, kéo tấm chăn gấm phủ lên người, cất tiếng dí dỏm:
- Hôm trước nô gia đã phạm khuôn phép. Đêm nay xin đại lão gia hãy chấp hành gia pháp!

Dương Lăng bước tới trước giường, vén rèm lên. Trên mặt chăn gấm hồng thêu uyên ương xanh biếc là một tấm thân mềm mại như dòng suối quyến rũ lòng người. Mái tóc dài đen nhánh xoã trên lưng như một đám mây, bên dưới lờ mờ lộ ra làn da trắng ngà như ngọc, cặp đùi ngọc tròn trịa đã bị chăn gấm che đi. Đập vào tầm mắt và không hề bị che đậy chỉ có một bờ mông thơm uốn lượn, tròn lẳn và trắng ngần, tựa như mảnh ruộng màu mỡ phì nhiêu ấy...

Dương Lăng nhìn đến hoa mắt, mất cả tự chủ. Cuối cùng dục vọng trong lòng đã lấn át một chút do dự và thương cảm còn lại trong lòng, y phóng người lên giường hoa.

Bóng nến đong đưa sắc hồng. Trên chiếc giường hoa bằng gỗ tử đàn chạm trổ tinh tế, tấm màn run rẩy như dòng suối uốn lượn. Những tiếng rên rỉ thỏ thẻ và yêu kiều theo nhau tuôn ra từ trong màn hoa. Từng vần từng tiếng tựa như dòng suối mát chảy róc rách.

- Lão... lão gia..., chàng thương tình chút đi mà. Nô gia mới là lần đầu, chịu không nổi lão gia trừng phạt...
Từ bóng người nhấp nhô uyển chuyển, tiếng nỉ non của Ngọc Đường Xuân nghe như một cơn gió dịu dàng, mơ hồ kèm theo tiếng thút thít.

Giọt nến hoá thành màu đỏ sặc sỡ, rực rỡ và tươi đẹp hệt như người con gái trên giường. Không biết qua bao lâu, tiếng rên rỉ nỉ non khe khẽ ấy bỗng nhiên trở nên gấp gáp và vui sướng. Cuối cùng, chim hót suối reo, róc rách rồi ngừng, giường hoa đã yên tĩnh trở lại...

Thì thầm an ủi một lúc, qua một lúc sau, có lẽ do trong màn oi bức, Dương Lăng kéo tấm màn bên giường lên. Trên chiếc giường hoa xuân sắc vô biên, thân ngọc Ngọc Đường Xuân nằm ngang, cánh tay ngó sen duỗi nhẹ dưới cổ Dương Lăng, khuôn mặt xinh xắn mướt mồ hôi ngập tràn niềm vui sướng và thoả mãn. Nàng nép vào ngực Dương Lăng, thì thầm trong hạnh phúc:
- Lão gia, Ngọc Nhi rất yêu chàng, chàng đã khiến Ngọc Nhi lên mây rồi... Ơ... Đừng cử động mà, người ta muốn ôm chàng, ôm chàng...

Âm thanh càng lúc càng nhỏ. Sau khi triền miên lên đỉnh, Ngọc Đường Xuân đang uể oải nép vào lòng Dương Lăng, trên môi còn mang theo nụ cười ngọt ngào, tựa chừng đã hơi mỏi mệt. Dương Lăng đét lên bờ mông căng tròn của nàng một cái, cô nàng chỉ dùng giọng mũi phát ra một tiếng kháng nghị mê hồn, thân thể rã rời, ngay cả ngón tay cũng lười chẳng muốn cử động.

Nàng vùi đầu vào lòng Dương Lăng, mái tóc mượt mà như mây phủ lên tấm lưng trần trơn như thoa mỡ. Đen có, trắng có, rất nhạt mà lộng lẫy. "Ôi! Có hiền thê mỹ thiếp như vầy, có cho vương hầu cũng không đổi." Nghe tiếng thở nhẹ nhàng như của chú mèo nhỏ từ trong vòng tay mình từ từ vang lên, Dương Lăng hài lòng suy nghĩ.

Nến đỏ cũng đã cháy hết, tim nến nổ lốp đốp, thoạt mờ thoạt tỏ. Trong trời đêm tĩnh mịch, không biết từ đâu đột nhiên vọng đến những tiếng than khẽ. Đang đắm chìm trong cảnh bồng lai, vừa định gối mỹ nhân say giấc nồng, tim Dương Lăng liền đập đánh thịch, y sực nhớ đêm nay vẫn còn một lần động phòng nữa...

(Hết quyển ba)







Chú thích:
(1) Trích từ một hí khúc về Ngọc Đường Xuân (Tô Tam). Lời rằng:
苏三离了洪洞县,
将身来到大街前。
未曾开言心好惨,
过往君子听我言。

Hán Việt:
Tô Tam li liễu Hồng Động huyền,
Tương thân lai đáo đại nhai tiền。
Vị tằng khai ngôn tâm hảo thảm,
Quá vãng quân tử thính ngã ngôn。

Đến năm 1920, tại huyện Hồng Động, tỉnh Sơn Tây vẫn còn lưu hồ sơ vụ án Tô Tam.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

vandai79
17-07-2011, 09:27 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 122: Xưởng đốc ra quân

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: vandai79

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:









Phạm Đình hào hứng vỗ bàn khen:
- Hay! Kế này thật tuyệt. Chúng ta sẽ không tốn công sức bao nhiêu mà lại có thể khiến Dương Lăng biết được lợi hại của chúng ta. Vương công công! Đừng chần chừ thêm nữa, tiên hạ thủ vi cường đó!



------------------------
Chương 122: Xưởng đốc ra quân

------------------------

Không biết từ khi nào, ngoài trời lại đổ một cơn mưa nhỏ. Mưa tí tách rơi, đáp xuống những tàu lá chuối dưới khung cửa sổ phát ra âm thanh lộp bộp. Bỗng hai tiếng đàn gảy "tính tang" vang lên cùng một giọng hát ngọt ngào khẽ ngân nga trong đêm mưa sâu thẳm:

Nén nhìn bướm lượn hiên bên,
Run cành sẽ hỏi thệ nguyền biết không?
Nương tràn tâm ý gió đông
Vì ai nên bệnh, nên lòng ủ ê.
Gió đưa bướm mối mai về,
Mà nơi phòng kín áo thề chửa may.
Bàng quan mấy kẻ đâu hay
Chờ ai giải khối tình này người ơi!
Hieusol dịch

Lần đầu khoác chiếc áo cưới ngồi ngóng đợi bên giường, thấy sắc trời càng lúc càng tối mà lão gia dường như không muốn đến, trong lòng Tuyết Lý Mai thực sực đã hốt hoảng. Nàng với Tô Tam vốn có tình thân như thủ túc nên không hề muốn tranh sủng. Nhưng dù xinh tươi quyến rũ thì nét đẹp hoa thơm cỏ lạ ấy của nàng sao có thể sánh với vẻ tuyệt sắc nhân gian vạn người không một của Ngọc Đường Xuân đây?

Cho dù địa vị không bằng Ấu Nương, nhan sắc không bằng Tô Tam thì tiểu cô nương cũng không lo lắm mà chỉ sợ Dương Lăng vì bị lệnh vua ép buộc mới nạp nàng về chứ thực ra trong lòng không hề thích. Ngồi cô quạnh cho đến khi nến hồng cháy hết, Tuyết Lý Mai thương xót cho bản thân mình, cầm lòng không được bèn ôm lấy đàn, vừa khẽ gảy vừa hát, nghe tiếng mưa rả rích bên ngoài cửa sổ mà trong lòng đau khổ không thôi.

Ngọc Đường Xuân tỉnh dậy từ trong mộng đẹp, nghe tiếng ca của Tuyết Nhi mà thấy thẹn muốn chui xuống đất, vội vàng ngọ nguậy tính ngồi lên để giúp lão gia vận quần áo. Vốn Dương Lăng sớm đã ngồi dậy mặc y phục xong, thấy nàng lần đầu đón nhận cơn mưa móc, dáng vẻ mệt mỏi yêu kiều, bèn vội giữ lấy bờ vai thơm mềm, kéo tấm chăn mỏng khoác lên cho nàng, rồi nhẹ giọng bảo:
- Trời mưa rồi, đừng để nhiễm lạnh, nghỉ ngơi sớm chút đi.

Ngọc Đường Xuân đang lõa phơi dáng ngọc, thấy ngồi dậy cũng hơi mất ý tứ bèn nghe lời nằm xuống. Dương Lăng quan tâm như vậy khiến nàng cảm thấy ấm áp trong lòng. Nàng hé cánh môi đào mỉm cười thật ngọt ngào, thẹn thùng gật đầu.

- Nén nhìn bướm lượn bên hiên...
Tiếng ca lại cất lên trong đêm. "Con bướm hái hoa" Dương Lăng vội vàng cuống quít mở cửa phòng đi ra...

***

Một đêm hai lần điên cuồng, đáng lý nên ngủ không dậy mới phải, song trời vừa tờ mờ sáng thì Dương Lăng đã tỉnh giấc, có lẽ do khoảng thời gian này y đã quen với việc dậy sớm vào chầu. Trong khi đó, Tuyết Lý Mai vốn quen với việc thức khuya dậy sớm lại đang ngủ say sưa. Dáng ngủ của nàng thật sự không được tốt. Quấn lấy nhau cả đêm khiến cả tấm chăn mỏng bị nàng cuộn hết lên người, chỉ để lộ một làn da trắng mịn, trên khuôn mặt được trang điểm nhẹ vẫn lờ mờ hai vệt nước mắt vừa khô.

Tuyết Lý Mai tự biết tư sắc và phong thái không bì được với Ngọc Đường Xuân. Để lấy lòng lão gia, tuy là lần đầu phá thân nhưng nàng đã nén sự xấu hổ mà rụt rè dốc sức giở mọi thủ đoạn quyến rũ mà nàng nghe được ở Thì Hoa Quán. Chỉ mong lão gia sung sướng vui vẻ mà trong tim có thể dành một vị trí cho nàng.

Trong ấy tuy vẻ kiều diễm không diễn đạt được thành lời nhưng chỉ riêng tinh thần "cần cù", "hết lòng cầu thị" của tiểu nha đầu này đã đủ khiến cho tất cả dâm thần phải cảm động rồi. Nếu không chú ý đến vệt máu đỏ và vẻ mặt non nớt lúc giao hoan mà chỉ nhìn vào các tư thế thay đổi không ngừng của nàng thì Dương Lăng có lẽ đã tưởng nàng là kẻ thạo nghề trong chốn phong nguyệt.

Thân thể Tuyết Lý Mai mềm mại, eo thon uyển chuyển gọn gàng, da dẻ mịn màng… đặc biệt là làn da ngọc ngà trắng mịn ấy như đang ửng ráng mây hồng, tinh khôi không tì vết. Lúc động tình, nàng nhíu hàng chân mày, hân hoan như chực khóc. Khuôn mặt thuần khiết khi đó phơi bày một nét quyến rũ lạ thường khiến Dương Lăng sinh ra một loại khoái cảm muốn ức hiếp, lăng nhục. Đêm phong lưu này quả là sung sướng!

***

Nên khai nụ thì đã khai nụ, phải khai trương cũng sẽ khai trương.

Nội xưởng được thành lập, mọi con mắt trong và ngoài triều đều dồn về nó. Thế nhưng nha môn Nội xưởng nằm ngoài Tây Trực môn không bỏ tiền ra mua đất mà lại tổ chức cho quan binh Tả Tiêu doanh - vốn vừa mới phục dịch ở Thái lăng nay lại lắc mình biến thành những binh sỹ nha sai - tự lực cánh sinh xây dựng nha môn trong sơn cốc phía sau Cao Lão trang, thật khiến người ta cười rụng rớt quai hàm.

Đông xưởng lo Dương Lăng sẽ lập tức tiếp nhận việc thuế giám, thế là Phạm Đình và bốn đại thủ lĩnh thái giám của ty Lễ Giám cùng ngồi lại với nhau, nghĩ ra đủ loại phương kế để định gây khó dễ, nhưng chờ mãi vẫn không thấy Dương Lăng đến tìm. Quá đỗi ngạc nhiên, bọn họ bèn phái người đi nghe ngóng thì được biết Dương Lăng đã chiêu nạp gã "Thiên hộ giữ cổng" người Sắc Mục bất tài vô dụng trong Cẩm Y vệ là Vu Vĩnh làm Nhị bộ đầu, hiện đang dẫn một đám binh sỹ liên lạc với hàng xe, hàng ngựa vận chuyển đường dài khắp nơi để hợp tác, thành lập cơ cấu tình báo cho Nội xưởng.

Nghe xong tin này, Phạm Đình suýt cười đến tắt thở, bao sự trọng thị và e dè với Dương Lăng tức thì tan theo mây khói. Nếu không phải hai bên đang ở thế đối lập với nhau thì lão cũng muốn thông cảm cho Dương Lăng, hành động lần này đã thật sự làm mất hết mặt mũi của xưởng vệ. Nếu Dương Lăng tạm thời không dám tìm đến cửa để tiếp nhận ty Thuế Giám thì mình cũng không cần e ngại mà “hào phóng” một chút. Phạm Đình bèn hạ lệnh, bảo nha sai Đông xưởng tạm thời không cần gây phiền phức cho Nội xưởng, để xem thử Dương Lăng có thức thời hay không rồi sẽ tính tiếp.

Bọn quan văn nghe nói ngoài Đông xưởng, Tây xưởng và Cẩm Y vệ, không ngờ bây giờ Hoàng Thượng lại lập thêm Nội xưởng, thế là nhao nhao yêu cầu Tam đại học sỹ thừa lúc Nội xưởng chưa đứng vững mà phát động tất cả quần thần trong triều "lấy ngòi bút làm vũ khí", thúc giục Hoàng Thượng loại bỏ xưởng này.

Tạ Thiên nghe vậy thì hơi động lòng, bèn ngầm hẹn Lưu Kiện và Lý Đông Dương để thương nghị. Khi Lưu Kiện nghe nói đến hành động yếu ớt của Dương Lăng, cũng không cảm thấy Nội xưởng có thể trở thành mối hoạ lớn, nhưng nếu có thể phát động lực lượng thần tử của triều đình diệt nó tận gốc, ắt sẽ có thể khiến cho hai xưởng Đông, Tây và Cẩm Y vệ có điều cố kỵ, không dám can dự làm loạn triều chính nên cũng vui vẻ tỏ ý tán thành.

Nhưng Lý Đông Dương lại trầm ngâm thật lâu, kề cà không nói lời nào. Tạ Thiên không nhịn được bèn cảm khái nói:
- Tân Chi, tôi biết ông rất có hảo cảm với Dương Lăng đó, thậm chí có rất nhiều kỳ vọng vào y.

- Chúng ta đều đã già rồi, còn có thể tận tâm, tận lực cho triều đình bao năm nữa chứ? Nếu như có vài vãn bối đủ tài lẫn đức có thể hết lòng phò tá Hoàng Thượng, đám lão thần chúng ta cũng không phụ lòng tiên đế, không phụ lòng với bá tánh lê dân rồi. Nhưng mà, Dương Lăng và đám lộng thần bên cạnh Hoàng Thượng xưng bạn xưng bè, nay lại mưu cầu lãnh đạo Nội xưởng, rõ ràng lòng lang dạ thú, chẳng lẽ ông còn tin y sẽ là kẻ trung lương ư?

Lưu Kiện cũng không vui, nói:
- Tân Chi, tôi biết ông trông đợi vào y rất nhiều. Tuy tài cán y không bằng Dương Đình Hoà, Dương Nhất Thanh, nhưng lại là kẻ được Hoàng Thượng tin sủng nhất. Nếu như y một lòng vì nước, chúng ta đương nhiên không ngại mà nâng đỡ cho y, nói không chừng bản triều có thể giống như "Tam Dương nắm quyền"(1) thời Tuyên Đức, lại sản sinh ra thêm "Tam Dương tài giỏi"(2). Nhưng nay nghe lời nói, xem hành động của y, người này tuy chưa hẳn đại gian đại ác, song tuyệt không giống như bề tôi trung hiền. Ông đừng làm việc theo cảm tính nữa.

Lý Đông Dương mỉm cười nói:
- Hai vị đại nhân cho rằng tôi không nỡ cắt đứt tiền đồ của y sao? Ha ha ha, tôi đang nghĩ, trong triều có Nội xưởng và không có Nội xưởng thì cái nào có lợi hơn.

Tạ Thiên không đồng ý, nói:
- Tân Chi, ông hồ đồ rồi sao? Ông nói xem, xưởng vệ đã làm được việc gì có ích cho triều đình, cho dân chúng rồi? Chẳng lẽ có hai xưởng một vệ tranh quyền đoạt lợi còn chưa đủ, còn muốn đẻ thêm một con ác hổ sao?

Lý Đông Dương khẽ cười nói:
- Chẳng lẽ Tạ đại nhân đã quên nơi mà con hổ Nội xưởng này chằm chằm giương mắt vào chính là ty Thuế Giám sao?

Lưu Kiện và Tạ Thiên nghe xong, ánh mắt chợt sáng lên, Tạ Thiên buột miệng nói:
- Hai hổ tranh đấu...

Lưu Kiện do dự một chút rồi nói:
- Tôi thấy Dương Lăng né tránh khắp nơi, không giao tranh cùng Đông xưởng. Giao ty Thuế Giám cho Nội xưởng là khẩu dụ của Hoàng Thượng, có thánh chỉ trong tay mà y cũng không dám đi mở miệng với Vương Nhạc, chẳng phải Tân Chi đã quá trông đợi ở y rồi sao?

Lý Đông Dương cười lớn rồi nói:
- Lão đại nhân à, ông thấy Dương Lăng ngày thường hành sự, tuy được vua sủng ái mà vẫn biết khiêm tốn. Nhưng ông quên phần kiến thức, tâm cơ nọ của y tại Kinh Diên đã khiến những vị đại nhân của cả triều muốn làm khó y một phen cũng phải cứng họng à? Tâm cơ và kiến thức của người này đủ thấy y không phải người thường. Sở dĩ tôi đây hiểu không thấu y là bởi vì y rất được ơn vua, vốn không cần cúi đầu để gia nhập Thần Cơ doanh.

- Đương nhiên nếu như y lòng nhiều dã tâm, muốn đoạt lấy hoặc được bổ ra vùng biên ngoại làm quan to hay tướng soái, chúng ta sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Lạ là lạ ở chỗ dường như y lại gặp sao yên vậy, không hề có dã tâm.

- Nếu y vốn ẩn nhẫn như vậy, đã không lộ tài năng mà giờ lại khua chiêng gióng trống, sốt sắng với việc thiết lập Nội xưởng nên tôi mới không tin y sẽ bỏ qua vật sờ tay vào là bỏng như cái Thuế Giám này.

Sau đó ông ta mỉm cười, như đã định liệu trước, nói:
- Hãy chờ mà xem, nếu cặp mắt già này chưa mờ, cái ý nghĩ kỳ lạ đi kết hợp Nội xưởng với hàng xe, hàng ngựa gì đó làm do thám cho Nội xưởng, tám chín phần mười là cố ý tỏ ra yếu thế. Đợi khi thế lực ổn định, y nhất định sẽ tranh đoạt miếng thịt Thuế Giám béo bở này với Đông xưởng.

Tạ Thiên vỗ tay khen:
- Hay đây! Thuế của thiên hạ ba phần quy về bộ Hộ, bảy phần chảy vào ty Lễ Giám. Quyền tài chính nằm trong tay nội triều (ý chỉ các hoạn quan) chung quy không làm người ta an tâm. Vương Nhạc tuổi tác đã cao, một khi tạ thế, chuyện tương lai khó bề lường trước. Nếu như Nội xưởng và Tây xưởng tranh quyền đoạt lợi, lưỡng bại câu thương, chúng ta liền có thể thừa thế phát động việc đem trả quyền thu thuế về tay bộ Hộ.

Lưu Kiện nhíu hàng mày trắng, nói:
- Suy nghĩ của Tân Chi thực ra không tệ, nhưng mà Đông xưởng rễ sâu gốc lớn, thế lực bao trùm khắp thiên hạ. Chỉ dựa vào ơn vua và Nội xưởng không nên hồn nên vía, Dương Lăng có tư cách khiêu chiến với ty Lễ Giám, khiêu chiến với Đông xưởng sao?

Lý Đông Dương cười lớn:
- Không thể được! Cho nên chúng ta không những không thể tâu xin Hoàng Thượng triệt bỏ Nội xưởng, mà trước mắt còn phải âm thầm giúp đỡ bọn họ nhiều hơn. Thực lực Nội xưởng càng mạnh, dã tâm của y cũng sẽ càng lớn. Nhưng cho dù lớn mạnh thế nào, y cũng không thể giáng cho Đông xưởng một kích trí mạng, trừ phi chúng ta tạo cho y một hình tượng giả: ngoại triều (*) đang đứng về phía y!
(*: các quan, tướng không phải là hoạn quan)

Lưu Kiện vỗ tay khen:
- Hay! Lão Tạ, báo cho Đốc Sát, bảo bọn ngôn quan của Ngự Sử đài không cần gây phiền phức cho Nội xưởng nữa. Trước mắt vẫn phải mở rộng cánh cửa thuận lợi, để Nội xưởng có thực lực tranh đoạt quả đào trong tay Đông xưởng. Hà hà hà, vì lợi, hai đào sẽ có thể dễ dàng đoạt lấy ba mạng (3)!

Gần hai mươi năm từ triều đại Hoằng Trị cho đến nay, ngoại triều vẫn luôn chèn ép phe nội quan. Có lẽ vì vậy mà tam đại học sỹ đã quên rằng trên đời còn có một câu ngạn ngữ rằng: dưỡng hổ di hoạ (nuôi ong tay áo)!

***

Hai tháng, chỉ vẻn vẹn hai tháng, thế lực của Nội xưởng đã phát triển vượt xa dự đoán của chính bản thân Dương Lăng. Vốn y dự tính một khi Nội xưởng khai trương, lập tức ty Lễ Giám, Đông xưởng, Cẩm Y vệ và bọn quan văn ngoại triều quyết sẽ không bỏ mặt làm ngơ, ắt khó khăn trắc trở sẽ ùn ùn kéo tới.

Vì vậy y dùng khoái mã khoẻ mạnh mời Ngô Kiệt và Hoàng Kỳ Dận về kinh, tự mình bổ nhiệm làm quan Nội xưởng. Ngô Kiệt làm Đại bộ đầu, Hoàng Kỳ Dận và Vu Vĩnh làm Nhị bộ đầu, ba vị quan đô ty Liên Đắc Lộc (*) làm Tam bộ đầu, Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh làm Chưởng hình thiên hộ, những người còn lại đều chiếu theo Bách hộ, Ty phòng, nha dịch, nha sai mà thay đổi toàn bộ thể chế. An bài mọi thứ ổn thoả xong xuôi, mỗi ngày y đều theo bên cạnh hoàng đế, chuẩn bị dựa vào gốc cây to này để ứng phó với các loại công kích có thể xảy đến. ( *: hai người còn lại là Lưu Sỹ Dung và Bành Kế Tổ)

Không ngờ đợi mãi mà phía Đông xưởng không thấy tăm hơi, quan văn trong triều và Ngự Sử đài cũng không hề có động tĩnh gì khiến Dương Lăng uổng công lo lắng một phen.

Mấy năm trở lại đây, tuy Ngô Kiệt không được xem trọng trong Cẩm Y vệ nhưng vẫn luôn cố hết sức đảm trách công tác thu thập tình báo nên có thể nói kinh nghiệm của lão về phương diện này rất phong phú.

Không những Dương Lăng điều lão về kinh mà còn cho lão một bước lên trời, nhậm chức Đại bộ đầu, chỉ đứng sau quan Tổng đốc Nội xưởng khâm sai của y. Hơn thế, Dương Lăng hoàn toàn không hề uý kỵ xuất thân Cẩm Y vệ của lão, mọi việc đều mạnh dạn giao cho lão làm.

Chịu đủ ghẻ lạnh nhiều năm, Ngô Kiệt vốn đầy lòng nghi kỵ và ghen tức của ngày trước giờ đây cảm động đến rơi lệ, hơn nữa lão đã cứu mạng Dương phu nhân, tự nhận mình đã có quan hệ vô cùng thân mật với nhà họ Dương nên có thể nói lão hết lòng, tận sức tận lực vì Nội xưởng. Dưới sự chỉ dạy của lão và hai vị Thiên hộ Liễu, Dương, đám quan binh đã qua huấn luyện tốt của Thần Cơ doanh đã nhanh chóng hoà nhập vào vai trò mới.

Nhận thánh chỉ vào đến kinh thành, Hoàng Kỳ Dận nghe nói Dương Lăng muốn điều lão đến Nội xưởng nhậm chức. Lão phu tử này tuy bị triều đình chèn ép nhiều năm, nhưng khí phách kiên cường ngạo nghễ của vị ngự sử nhiệt huyết năm xưa vẫn còn nên đã cự tuyệt thẳng thừng. Dương Lăng đã sớm chuẩn bị, y mời lão phu tử vào mật thất, thành thật cùng lão chuyện trò đại khái về mục đích của việc tạo phước cho lê dân của mình một phen.

Dù sao Hoàng Kỳ Dận đã không còn là thiếu niên vừa “trúng cử” đã được giữ lại làm ngự sử ngôn quan ở Đốc Sát viện, không biết nỗi khổ của dân gian năm xưa nữa, cũng không còn khí phách kiểu thư sinh, quý trọng danh tiếng cá nhân bên ngoài. Trong lòng lão, nếu có thể vì dân chúng mà làm những chuyện này đến nơi đến chốn, cho dù ở lại Nội xưởng có tổn hại đến danh dự cá nhân cũng không tính là gì. Huống hồ ở kinh sư bây giờ còn ai nhớ đến người thời tuổi trẻ đắc chí đã bị gán tội đày đến vùng đất hoang vu nghèo khó gần ba mươi năm như lão nữa?

Hai tháng thời gian, Nội xưởng không những đã trụ vững tại kinh sư, mà còn lấy nó làm trung tâm, ngày ngày không ngừng vươn ra khắp bốn phương, tốc độ phát triển đáng kinh ngạc này rốt cuộc đã dẫn tới sự chú ý và khiếp sợ của Đông xưởng và ty Lễ Giám.

Tốc độ lan tràn nhanh như ôn dịch này ngay cả Dương Lăng cũng không ngờ tới. Y vốn nghĩ rằng trước tiên khai thông một tuyến đường giao thông vận tải đường thuỷ và đường bộ từ kinh sư đến Giang Nam, đợi đến cuối năm có nhiều lợi nhuận, làm gương cho những thương nhân khác, sẽ lại thừa thế mở rộng phạm vi thế lực của Nội xưởng một cách toàn diện.

Cho dù là vậy, trong lòng y cũng không dám lạc quan. Thường thì thương nhân khi giao thiệp cùng quan lại luôn luôn ở thế yếu, bọn họ không thể không mảy may nghi ngờ mà yên tâm hợp tác cùng Nội xưởng. Nội xưởng lại không thể dùng quyền thế ép buộc bức bách bọn họ công tư hợp doanh (4). Muốn tạo dựng danh dự và uy tín với những thương nhân vốn trời sinh đa nghi và cẩn thận này, nói dễ vậy sao?

Thế nhưng Vu Vĩnh - hậu duệ của đế quốc La Mã thần thánh đến từ sông Rhine - quả thực là thiên tài về kinh doanh. Gã cho người thăm viếng mấy cửa hàng thuyền bè, cửa hàng ngựa xe vào loại lớn nhất, đưa ra những điều kiện mà không một chủ hàng nào có thể cự tuyệt: “Nội xưởng chúng ta giúp các người vận chuyển tiền bạc hàng hoá, lữ khách bán buôn. Bây giờ các người hãy kết toán lại rồi tính lợi nhuận bình quân hằng năm của các ngươi trong năm năm vừa qua. Nếu sau khi chúng ta tham gia, lợi nhuận thấp hơn con số này, chúng ta sẽ không lấy một văn tiền, nếu cao hơn con số này, dù cao hơn bao nhiêu chúng ta đều lấy một nửa. Năm nay ấy à? Nửa cuối năm nay chúng ta sẽ không lấy một văn tiền nào, coi như giúp không cho các người.”

Đám chủ hàng thuyền, hàng xe trước giờ chịu đựng nỗi khổ bị bóc lột trái pháp luật nhưng lại không nơi mà tố cáo, sao không biết lợi nhuận khổng lồ ẩn chứa bên trong đó chứ. Điều kiện của Nội xưởng hào phóng đến độ cho dù nằm mơ cũng có thể cười vang, sao bọn họ lại có thể từ chối được?

Vu Vĩnh chỉ chạy đến bốn nhà thì không cần phải tiếp tục đi nữa. Trên con đường làng nhỏ hẹp dẫn vào chốn bồng lai tiên cảnh của Cao Lão trang, tới lui nườm nượp đều là những chủ nhân lớn nhỏ của các hàng vận chuyển khắp nơi nghe tiếng mà đến. Chỉ chưa quá nửa tháng, toàn bộ hàng ngựa, xe, thuyền của cả kinh sư và thậm chí những thành trì lân cận đều đã ký khế ước cùng Nội xưởng. Như khối tuyết lăn, thế lực của Nội xưởng xuôi theo sông đào và quan đạo lăn một mạch đến mọi nơi trong thiên hạ.

Hay tin, Dương Lăng hớt ha hớt hải chạy đến chất vấn Vu Vĩnh:
- Quân lương triều đình chỉ phát đến cuối tháng bảy, trong năm tháng cuối năm, mấy ngàn con người của Nội xưởng sẽ ăn gì uống gì mà sống?

Vu Vĩnh cúi đầu khom lưng, ra vẻ con buôn nói:
- Khải bẩm đốc chủ, người của chúng ta dùng ngựa xe của bọn họ, hẳn sẽ không đi tới đi lui tay không chứ? Tôi đã bảo người mang theo đặc sản của kinh sư, thẳng đường đi đến Hồ Châu, không cần nhờ thương nhân khác bán thay, khi đến nơi thì một ngàn lạng có thể lãi được năm trăm lạng rồi.

- Tiếp tục lấy một ngàn năm trăm lạng bạc này đặt tơ lụa ngay ở Kim Lăng, vận chuyển về kinh rồi tung ra bán, sẽ lại có thể lãi tám trăm lạng. Đi về một vòng mất một tháng, một ngàn lạng bạc biến thành hai ngàn ba trăm lạng. Đó là đốc chủ ngài đã căn dặn không được trốn thuế đấy, bằng không chỉ cần động chút tay chân, lúc qua trạm thuế, hai rương gộp lại thành một, ba rương báo thành hai, biết đâu có thể kiếm thêm được ba trăm lạng nữa. Một tháng sau triều đình mới ngưng phát quân lương, chúng ta đã dùng số tiền của một tháng này đẻ ra số tiền lương của ba tháng rồi. Đại nhân không cần lo lắng.

Dương Lăng nghe xong, rắm cũng không dám đánh, xoay người đi luôn. Trông thấy Hoàng đại bộ đầu chủ quản nội chính, y chỉ thòng đúng một câu:
- Hoàng lão chỉ cần trông coi tài vụ cho tốt, chi tiêu tiền lương hãy để Vu Vĩnh lo hết đi.

***

Trong ty Lễ Giám, tại phòng của công công Vương Nhạc, bốn đại thủ lĩnh thái giám và Phạm Đình đang ngồi ở ghế dưới, mỗi người một vẻ mặt, không khí trong phòng ngột ngạt lạ thường. Vương công công đưa ngón tay chấm chút nước sạch day day khoé mắt khô khốc, run rẩy nói:
- Mấy người các ngươi đâu cần phải lo lắng như vậy chứ? Phải nói, dù sao Dương Lăng này và chúng ta đều có chung cội nguồn. Tuy rằng thế lực hiện tại của y phát triển rất mạnh, nhưng thuỷ chung không có ý đụng chạm với Đông xưởng và ty Lễ Giám chúng ta, có phải các người hơi phóng đại không?

Từ sau lần hút chết trong "vụ án phong thuỷ của Đế Lăng", Đới Nghĩa đã hận Vương Nhạc đến thấu xương và cũng đã sớm nảy sinh hiềm khích với hảo hữu khi xưa là Phạm Đình. Lão và Dương Lăng cùng là đại thần đốc tạo Thái Lăng, đôi bên đã có chút giao tình. Quan trọng hơn chính là, giữa bọn họ còn có một bí mật trọng đại cùng ảnh hưởng đến sống chết của hai người. Dựa vào cái bí mật này, lão đã có thể ngồi với Dương Lăng trên cùng một con thuyền, cùng y có phước cùng hưởng, có hoạ... thì xin cho miễn đi nhé.

Cho nên, việc Dương Lăng bắt đầu xây dựng thế lực riêng cho mình, hơn nữa phát triển nhanh chóng dị thường, đứng vào vị trí của lão mà xét thì chỉ có lợi mà không hề có hại. Vì vậy, vừa nghe Vương Nhạc phản đối, Đới Nghĩa lập tức theo đuôi, chế nhạo:
- Nói đúng lắm, có phải lão Phạm đã bắn tiếng doạ nạt quá rồi không? Ông nhìn cái đám người mà y dùng xem, ngoài mấy tên lính to đầu không biết chữ ra, còn có kẻ tài ba nào chứ?

- Cũng chỉ có một huyện thừa già bất đắc chí, một Ngô thiên hộ quanh năm ở tái ngoại thu mua hàng da, còn có gã Vu Vĩnh đó nữa... Ha ha. Nghe nói con gái hắn tóc vàng mắt xanh, rất là xinh đẹp, Vu Vĩnh muốn gả hai đứa con gái của gã cho Dương Lăng làm thiếp mới kiếm chác được chức Nhị bộ đầu ở Nội xưởng. Người mà Dương Lăng dùng, Ngô Kiệt thì xuất thân từ Cẩm Y vệ, Vu Vĩnh và Vương công công lại có quan hệ thân thích, ông nói Dương Lăng sẽ gây bất lợi cho chúng ta sao?

Trương Thọ cười thâm độc, nói:
- Đới công công! Cũng bởi chính vì chúng ta nghĩ như vậy nên mới bỏ qua cơ hội tốt nhất để áp chế y. Giờ đây y đã mọc đủ lông đủ cánh, ta thấy dã tâm của y rất lớn, tuyệt không giống nhân vật yên phận thủ thường. Ty Thuế Giám khống chế bảy thành thuế của triều đình, một khi nắm giữ được nó, chẳng những lập tức sẽ dưới một người, trên vạn kẻ, thậm chí cũng sẽ có một phần thế lực ngoại triều phải khuất phục dưới trướng của y.

- Chỉ cần ông đứng nơi đầu ngọn sóng của con đường quyền lực này, cho dù bản thân không muốn, cũng sẽ phải lên tới nơi cao hơn, bằng không ông chỉ có nước chìm xuống, thậm chí mọi thứ hiện có cũng giữ không nổi. Dương Lăng có thể không động tâm với ty Thuế Giám sao? Khà khà, tuổi trẻ đắc chí, vận khí đang rất tốt, ông cho rằng y sẽ đi ngược dòng nước chảy xiết ư? Đợi đến khi y đã gom góp đủ lực lượng rồi, đám lão già sợ chuyện chúng ta sẽ bị y coi như cái gai trong mắt cần phải nhổ sạch đi!

Phạm Đình nói với Vương Nhạc:
- Công công! Trương Thọ nói thực không sai. Khi Hoàng Thượng bổ nhiệm thái tử, mấy tên Lưu Cẩn và Cốc Đại Dụng chỉ biết hầu hạ, nói chuyện rất có chừng mực. Khi tân Hoàng vừa kế vị, bọn chúng vẫn yên phận thủ thường, thế mà hôm nay cũng đã dần dần nổi tâm tư.

- Khi Mã Vĩnh Thành nhậm chức tổng quản mua sắm phủ Nội vụ, Nguỵ Bân nắm giữ Kính Sự phòng, Trương Vĩnh vào Ngự Mã giám thì Lưu Cẩn và Cốc Đại Dụng thấy vậy thèm thuồng, suốt ngày xúi giục Hoàng Thượng cho bọn chúng cái chức tốt đấy. Lòng tham con người vô đáy, đừng thấy bọn chúng bây giờ chưa nên trò trống gì mà xem thường, trước tiên muốn tiền rồi sau đó sẽ muốn quyền, có được quyền rồi sẽ lại muốn quyền to hơn, có rất nhiều người đang nhòm ngó mấy chiếc ghế của ty Lễ Giám này lắm đó. Bọn chúng và Dương Lăng giao tình thắm thiết nên tôi vẫn luôn e ngại rằng, Dương Lăng lần lữa không hành động có phải là vì y muốn cùng bọn chúng nội ứng ngoại hợp hay có mưu toan gì đây.

Vương Nhạc nghe vậy thì hơi động tâm. Lưỡng lự một chút, ông ta quét mắt nhìn từng khuôn mặt của mấy người thân tín rồi hỏi:
- Sao? Thực sự có kẻ dám hất đổ mâm cơm của chúng ta hay sao? Ừm... vậy các ngươi nói, ta phải làm sao đây? Chúng ta đều làm việc cho Hoàng Thượng, mấy người các ngươi và Miêu Quỳ cứ đấu đá nhau suốt, ta thấy mà phiền lòng. Không lẽ lại ra tay với Dương Lăng nữa sao?

Lý Vinh nãy giờ vẫn không hé môi bỗng chậm rãi lên tiếng:
- Vương công công! Bây giờ chúng ta không ra tay, người ta sẽ ra tay trị chúng ta đó. Lão nhân gia người trực tâm nhân hậu, chúng tôi cũng không muốn tranh đấu sống chết với Nội xưởng, khiến ngoại triều nhìn vào cười nhạo chúng ta. Tôi đã nghĩ được một biện pháp có thể kìm nén nhuệ khí của Dương Lăng, khiến y không dám mặc sức phô trương như vậy nữa. Không biết công công thấy sao?

Vương Nhạc mừng rỡ:
- Vậy thì tốt, vậy thì tốt! Mau nói ra nghe thử xem.

Lý Vinh lấy từ trong ống tay áo một phong hàm, cười nói:
- Công công! Biện pháp của tôi rất đơn giản: “lạt mềm buộc chặt!”

Phạm Đình sốt ruột giục:
- Thôi ông đừng làm khó nhau nữa! Mau nói đi, thế nào là lạt mềm buộc chặt?

Lý Vinh từ tốn giải thích:
- Giao ty Thuế Giám cho Dương Lăng.

Lời vừa thốt ra, Phạm Đình và mấy thủ lĩnh thái giám liền giật nẩy mình, ngay cả Vương Nhạc cũng ngạc nhiên trợn trừng cặp mắt già nua. Lý Vinh giảo quyệt nói tiếp:
- Các ông không phát hiện sau khi tin tức ty Thuế Giám sẽ do Nội xưởng quản lý được truyền ra, sự hiếu kính của bọn thuế giám trấn thủ các nơi đã giảm đi một nửa, thậm chí cả tiền thuế thường ngày nộp lên cũng ba lần bảy lượt thoái thác, chần chừ không chịu giao hay sao?

Hà Trường Xuân phẫn nộ:
- Đám tiểu nhân nịnh hót đó, nếu không phải nhờ chúng ta tiến cử, bọn chúng có thể kiếm được công việc béo bở này sao? Bây giờ bọn chúng thấy gió buông buồm, kẻ nào cũng đều đứng xem chừng, thật đáng băm vằm trăm mảnh!

Lý Vinh cười hắc hắc nói:
- Bọn chúng còn có thể chần chừ do dự với chúng ta, huống hồ là một tên Dương Lăng không biết gốc rễ. Tên trấn thủ Thuế giám Bốc Đắc Nghĩa mà chúng ta cắt cử ở Gia Hưng có trao cho tôi một phong mật hàm, nói rằng ba vị thuế giám trấn thủ ở Tô Hàng (Giang Tô, Tô Châu và Hàng Châu - ND) lén trưng thu gấp đôi thuế quan, toàn bộ cất cho bản thân dùng, hơn nữa hình như bọn chúng còn có những hành vi phạm pháp khác. Tôi vốn định răn đe bọn chúng một chút rồi thôi, nhưng chi bằng bây giờ chúng ta lấy sự việc này ra mà sử dụng.

Lão thấy mọi người đều có vẻ hơi khó hiểu, bèn vội giải thích:
- Chúng ta lập tức giao ty Thuế Giám ra, chỉ cần y vừa tiếp nhận, lập tức nhờ ngoại thần trình bức hàm này lên cho Hoàng Thượng. Y làm tổng quản ty Thuế Giám, vậy y có xử vụ án này hay không? Xử ư, thuế giám trong thiên hạ ai mà không giở trò phạm pháp. Mọi người sẽ đều e sợ, chúng ta chỉ cần xúi giục thêm một chút thì y sẽ không thu được thuế. Năm nay tiền bạc của triều đình tiêu hao như nước, thu không được thuế, triều đình sẽ không có bạc, không có bạc thì làm được chuyện gì đây?

- Y không quản nổi ty Thuế Giám, lúc ấy sẽ xử làm sao? Ha ha ha... nếu như công công của nội triều vi phạm pháp luật, ty Lễ Giám có quyền vạch trần tố giác. Vậy y không cai quản, dung túng cho mấy kẻ đó phạm pháp thì quan viên ngoại triều cũng không thể đứng nhìn. Chỉ cần chúng ta đệ trình chút chứng cứ, y sẽ tự xử trí thế nào? Huống chi... tôi nghe nói, ba đại thuế giám trấn thủ Tô Hàng đều giao du mật thiết với Thục Vương. Chỉ cần Dương Lăng dây vào...

Thục Vương - Chu Nhượng Hủ là người giàu có nhất trong số những phiên vương, đất Thục trù phú mà tám chín phần mười ruộng nương đều tập trung vào tay y. Vị phiên vương lắm tiền nhiều của này, Dương Lăng trêu nổi sao?

Phạm Đình hào hứng vỗ bàn khen:
- Hay! Kế này thật tuyệt. Chúng ta sẽ không tốn công sức bao nhiêu mà lại có thể khiến Dương Lăng biết được lợi hại của chúng ta. Vương công công! Đừng chần chừ thêm nữa, tiên hạ thủ vi cường đó!

***

Trên dòng sông nước chảy cuồn cuộn, một bầy nhạn lướt cánh bay qua nơi chân trời mênh mông. Hoa màu đã bắt đầu chín tới trên đôi bờ bình nguyên, những người nông dân cần cù đang phơi tấm lưng trần ngăm đen vung cào xới ruộng. Từng giọt, từng giọt mồ hôi của họ đang nhỏ xuống mảnh đất phì nhiêu.

Gió khẽ thổi qua khiến những bọt sóng nhảy lăn tăn trên mặt nước. Từng tiếng ca vang vọng hòa cùng thanh âm vui vẻ nói cười của những ngư dân đang tung lưới xuống sông.

Đại Vận Hà(5) có bờ Bắc ngăn kinh sư, bờ Nam kéo dài đến Hàng Châu. Song bởi hướng chảy vô thường, Đại Vận Hà này cũng không phải thẳng dòng từ Nam đến Bắc mà là nối liền hệ thống sông ngòi các nơi, cho nên dòng chảy quanh co uốn khúc, khi thì hướng Nam lúc thì hướng Đông.

Có chiếc khoái thuyền một cột, thân thuyền được sơn đỏ đang ngược dòng chạy lên. Thuyền chạy cực nhanh. Đây là một chiếc dịch thuyền (thuyền của trạm dịch) chở được khoảng sáu mươi người, đồng thời có khoang hàng để chở thêm một số vật phẩm trọng yếu. Loại dịch thuyền này khi thuận gió thì giương buồm, nghịch gió thì dùng chèo, trên thuyền có chuẩn bị từ tám đến mười hai mái chèo; dân gian thường gọi nó là "thuyền thoi con rết".

Trên sông nước, phàm là thuyền chài, thuyền buôn trông thấy con thuyền thoi màu đỏ của trạm dịch đều phải mau chóng tránh sang một bên. Quy định của quan phủ là mọi thuyền bè vận chuyển trên sông đều phải nhường đường cho khoái thuyền chuyên trách của trạm dịch.

Khoái thuyền chạy qua một cái ghềnh hình tam giác, chợt có người la lên:
- Dịch thừa đại nhân! Phía trước có ba chiếc thuyền lớn, mau báo đáy thuyền (những tay chèo ngồi ở đáy thuyền) giảm tốc nhường đường!

Đang rót rượu độc ẩm trong khoang, dịch thừa vận chuyển đường sông của Đức Châu, Sơn Đông là An Đạt Sung - An đại nhân nghe tiếng lật đật chạy lên đầu thuyền, cười mắng:
- Thấy ma cái con mẹ ngươi rồi à, thuyền chúng ta là thuyền gì chứ? Còn nhường đường cho người khác cái con mẹ gì, rắm cái con mẹ ngươi cứ đánh mãi thế.

Tên dịch tốt đứng đầu thuyền nọ đỏ mặt đáp:
- Đại nhân, nhưng mà thuyền này, chúng ta... chúng ta phải nhường đường cho người ta ạ!

- Hả?
An đại nhân vội vã vịn vào mạn thuyền, giương cặp mắt say xỉn lờ đờ nhìn về phía trước. Lão thấy trên mặt nước bao la, ba chiếc thuyền bốn buồm to lớn, một trước hai sau, giăng đủ mười hai cánh buồm, căng gió lướt đến. Sau thuyền là một dải sóng bạc, từ xa nhìn lại thấy khí thế thật kinh người.

Thuyền lớn chạy nhanh hơn chiếc khoái thuyền của trạm dịch gấp ba lần. Chiếc đầu tiên mới vừa rẽ qua khúc cong phía trước, trên thuyền trang trí hoa lệ, hai bên mạn thuyền cao lớn mở ra chi chít mấy chục ô cửa nhỏ chống chèo. Đầu thuyền dựng ba cột cờ cao sừng sững, chính giữa là một lá cờ thêu hoa văn hình rồng cuộn màu vàng óng ánh.

An Đạt Sung giật thót mình, men rượu lập tức vơi đi mấy phần. Long kỳ màu vàng cao quý của thiên tử, chỉ có nhân viên hoàng thất Đại Minh hoặc khâm sai phụng chỉ mới có quyền treo. Đây là thuyền của ai đến vậy?

Lại thấy hai bên long kỳ mỗi bên treo một lá cờ, bên trái là cờ tam giác lớn, đỏ thẫm như máu, chính giữa là hình phi hổ thêu bằng tơ đen, trông giống quân kỳ nhưng lại hơi khác một chút. Trên cột cờ bên phải là một lá cờ lớn màu xanh sẫm, trên viết một chữ “Dương" to bằng cái đấu.

An đại nhân tuy không biết người đến là ai, song lại biết quyền uy của đối phương vượt xa dịch thuyền của mình. Hắn khiếp sợ co chân đạp mông tên dịch tốt một cái, mắng:
- Con mẹ ngươi, còn không mau xuống dưới bảo giảm tốc à? Bay đâu! Bay đâu, mau xoay bánh lái nhường đường!

Khoái thuyền con rết vội vàng lái sang một bên. Chiếc thuyền lớn ấy chạy lướt qua bên cạnh làm dậy sóng khiến cho chiếc khoái thuyền con rết lắc lư không ngừng, An Đạt Sung đứng bên mạn thuyền thắc mắc nhìn theo lẩm bẩm:
- Đến hành cung(6) à? Là thần thánh phương nào rời kinh vậy?

Trên chiếc thuyền thứ nhất, chiếc rèm cửa khoang được vén lên, một công tử tuấn tú, hoạt bát mặc trường bào màu vàng lợt, đầu đội khăn công tử bước ra. Mặt y như thoa ngọc, mày đen mắt đẹp, trên đai ngọc bên hông đeo một chiếc miếng ngọc bội như ý, lắc lư theo bước chân y. Phong thái như cây ngọc trước gió, nổi bật hơn người.

Hai bên đầu thuyền là hơn chục nha sai mũ nhọn áo đen, hông đeo phác đao(*) trông thấy y bước ra lập tức sụp gối quỳ xuống hô:
- Tham kiến xưởng đốc đại nhân!

(*: một loại binh khí cũ, lưỡi dài, hẹp, cán ngắn, sử dụng bằng hai tay)

Vị đại nhân này chính là Dương Lăng, xưởng đốc Nội xưởng quyền thế ngút trời. Y mở rộng lồng ngực, đón một làn gió mới trong lành thổi tới, không khỏi phấn chấn tinh thần. Dương Lăng khoát tay cho bọn họ đứng dậy, đoạn hỏi:
- Đã đến đâu rồi?

Một nha sai bước lên chắp tay thưa:
- Xin đáp xưởng đốc đại nhân, phía trước ba mươi dặm là đến mười hai liên thành của Đức Châu. Khi nãy chỉ huy sứ Lưu đại nhân của Đức Châu vệ đã được quân dịch báo tin, Lưu chỉ huy sứ đã đến bên tàu cung nghênh đại nhân rồi ạ.

Rèm khoang lại được vén lên, một thị nữ vóc dáng cao gầy, mặc quần áo màu xanh sẫm từ trong khoang bước ra. Gió mát lướt nhẹ qua thổi ống tay áo nàng phất phơ, áo khoác sau vai càng khiến nàng như sắp bay lên. Người thị nữ này chải mái tóc búi chẽ đôi đại biểu rằng hoa kia chưa chủ, chiếc eo thon được buộc chặt có vẻ như mảnh mai dễ vỡ trước cơn gió mạnh. Chiếc áo mỏng bị gió thổi ép sát vào người, lộ ra đường cong chắc nịch và ưu mỹ của song nhũ.

Mặc dù mặc đồ thị nữ, nhưng dáng đi của cô con gái này nhẹ nhàng uyển chuyển. Với dáng đi và cử chỉ ấy, khí chất phong tình, trang nghiêm lẫn tao nhã ấy, e rằng nhiều tiểu thư khuê các cũng tự thẹn không bằng.

Nàng mang một chiếc áo khoác dài màu đen có viền đỏ trên khuỷu tay, bước đến cạnh Dương Lăng, khoác lên vai y, nhẹ giọng nói:
- Đại nhân! Sắp xế chiều rồi, gió to và lạnh, đừng đứng ở đầu thuyền, tránh nhiễm phong hàn.

Dương Lăng quay đầu nhìn nàng. Từ lúc rời kinh, dọc đường đi phong cảnh tự nhiên nối tiếp nhau không dứt khiến người con gái chưa từng rời kinh sư này nhìn mà không kìm được vui thích. Lúc này trong đôi mắt sáng trong hiền lành của nàng vẫn còn thấp thoáng niềm hân hoan.

Dương Lăng cười nói:
- Không sao! Trong khoang nóng nực, chơi cờ lại toàn thua cô, ra ngoài xem phong cảnh tươi đẹp này cũng vui vẻ thoải mái hơn. Có điều cô mặc đồ hơi phong phanh, hay là cô vào khoang đi. Ta bệnh còn có cô chữa trị, nếu cô bệnh ta thực sẽ không biết phải làm sao đây.

Cao Văn Tâm nghe vậy thì cười duyên, chỉ lấy hai bàn tay mảnh mai siết chặt áo khoác lại, vẫn đứng sau lưng y. Dương Lăng nhìn hoàng hôn nơi chân trời đã biến thành sắc vàng óng ả, thở ra một hơi thật dài rồi nói:
- Còn có ngày để rong chơi ư? Vùng Giang Nam giàu nhất thiên hạ, thuế trong nước sáu, bảy phần mười là ở nơi này, không ngờ ba đại thái giám trấn thủ đồng thời bị người ta tố cáo bất tài tham ô, lại đúng một ngày sau khi ta tiếp nhận ty Thuế Giám. Rõ ràng đây là một nan đề ty Lễ Giám đã đưa ra cho ta. Chỉ mong chuyến đi này có thể giải quyết được chuyện này. Bằng không... Giang Nam không ổn định thì làm sao ta nắm vững được ty Thuế Giám đây?

---



Chú thích:

(1) Tam Dương chỉ Dương Sĩ Kì, Dương Vinh và Dương Phổ, ba vị đại thần của vua Minh Anh Tông, phụ trách toàn bộ công việc nội các trong thời gian đầu.

(2) Ám chỉ Dương Đình Hoà, Dương Nhất Thanh và Dương Lăng.

(3) Lấy từ thành ngữ "Nhị đào sát tam sỹ" trích từ một điển cố thời Xuân Thu. Xin xem thêm ở đây http://www.tangthuvien.com/forum/showpost.php?p=1029281&postcount=138

(4) Liên doanh giữa nhà nước và tư nhân

(5) Con kênh đào dài nhất thế giới

(6) Cung thất bên ngoài kinh đô, để cho vua chúa trọ khi vi hành.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
21-07-2011, 08:33 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 123: Nghe Tiếng Sóng Đùa, Bóc Cua Thưởng Thức

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Đau lòng quá, thật nhớ những ngày đã qua quá đi. Dương Lăng vẫn cứ cảm thấy nụ cười mà nàng nhìn mình đã hơi khác với khi xưa, nhưng y đành chịu thôi: phụ nữ mà, xa cách với họ thì họ khiêm nhường, gần gũi với họ thì họ không cung kính. Cả ngày phơi mông cho người ta sờ tới sờ lui, y đâu còn vẻ tôn nghiêm để ra vẻ đại lão gia nữa?!



------------------------
Chương 123: Nghe tiếng sóng đùa, bóc cua thưởng thức(1)

------------------------

Rời kinh lần này Dương Lăng dẫn theo ba trăm thân vệ(*), tất cả đều là những sỹ tốt kiêu dũng và thiện chiến trong quân doanh. Mỗi một người đều đeo phác đao, chủy thủ (dao ngắn); ba trăm người lại chia làm ba đội, mỗi đội đều trang bị nỏ liên hoàn, súng ngắn và cung dài. Trừ phi có binh biến, bằng không chỉ cần dựa vào ba trăm người này cũng đừng hòng ai đụng được đến một cọng lông măng của Dương Lăng.
(* Xin nhắc lại: thân vệ, thân binh là binh lính thuộc đội quân bảo vệ tướng lĩnh, gần như là gia binh)

Đây đều là những thị vệ do đích thân đại bộ đầu Ngô Kiệt của Nội xưởng tuyển chọn. Dương Lăng là linh hồn của Nội xưởng, tiền đồ của toàn bộ mấy ngàn người gắn liền với y, làm sao Ngô Kiệt dám lơ là?

Nếu không phải vì Dương Lăng cảm thấy như thế là huy động quá nhiều người, thực tình Ngô Kiệt muốn điều một ngàn nhân mã và lắp thêm mấy khẩu đại pháo lên thuyền của y.

Sử dụng hai chiếc chiến thuyền to lớn chở ba trăm quân, chiếc chiến thuyền thứ ba này là để chở hàng hóa của đám hào phú trong kinh đến phương Nam. Vương công quý tộc trong kinh sư nhiều vô số kể, những đại gia tộc này ít thì mấy trăm người, nhiều thì hơn ngàn người; ngoại thành Bắc Kinh có được bao nhiêu đất đai có thể nuôi sống được bọn họ chứ? Những gia đình này đã âm thầm bắt tay tham gia vào mậu dịch thương mại từ lâu, hơn nữa còn lợi dụng thế lực của gia tộc thường xuyên lên những con thuyền ”xuôi gió”(*) của triều đình.
(*: hàm ý là thuyền công, không bị tra xét dọc đường, chỉ giương buồm theo gió chạy thẳng (giống xe công, nhỉ?))

Hai ngày trước lúc khởi hành, con trai của Thành quốc công Chu Cương là Chu Hạ Nghĩa và phò mã Tiết Hoàn đã tìm đến nhà mời Dương Lăng vận chuyển hàng hóa dùm, đến nơi sẽ có gia nhân của phủ Thành quốc công tại chỗ tự tiếp nhận. Thành quốc công từng có ơn giúp đỡ Dương Lăng, cho nên yên tâm phái con mình đến, đoán y sẽ nể chút ân tình.

Còn Tiết Hoàn, từ sau khi nữ quan phủ công chúa Ninh Thanh bị đánh chết, nữ quan tân nhiệm lấy bài học đó làm gương, đã không dám quá khắt khe với phu thê hai người. Hai vợ chồng gặng hỏi nô bộc trong phủ nên biết Dương Lăng đã bênh vực giúp đỡ bọn họ, trong lòng lấy làm cảm kích, cho nên đưa hàng lên thuyền xuôi gió kiếm lợi chỉ là thứ yếu, cái chính là biểu đạt lòng biết ơn, kết thêm giao tình.

Dương Lăng nghe vậy đương nhiên đáp ứng ngay, hơn nữa việc này gợi cho y nhớ đến kế hoạch lôi kéo những kẻ quyền quý trong kinh. Y bèn chủ động gợi ý với các vị huân thần công khanh trong kinh rằng mình có thể giúp đỡ bọn họ chuyên chở hàng hóa. Thậm chí cả hai huynh đệ Thọ Ninh hầu và Kiến Xương hầu cũng mê tít cái lợi hậu hĩ mà một chuyến tuần sát phương Nam do chiếc chiến thuyền lớn có thể mang lại, đã mặt dày đưa đến năm xe đặc sản phương Bắc mà phương Nam đang khan hiếm.

Dương Lăng cũng không hề làm khó dễ bọn họ, vui vẻ tiếp nhận toàn bộ. Huynh đệ họ Trương thấy y không hề so đo những hiềm khích trước đây nên rất lấy làm cảm kích. Đương nhiên Dương Lăng có tư tâm, càng có nhiều người ràng buộc chung quyền lợi với y thì sẽ càng có ích cho kế hoạch sau này của y, những người này còn có thể vì thế mà sẽ trở thành ô dù cho y. Cùng với hoàng thân quốc thích, huân thần công khanh tạo dựng quan hệ là một chuyện vô cùng có lợi đối với y.

Hiện tại đám ngôn quan của Ngự sử đài giống như là đã ngủ đông, cả ngày không có chút động tĩnh gì. Nhưng Dương Lăng lại không vì vậy mà xem thường. Y đã cẩn thận bẩm báo trước cho thiên tử Chính Đức biết chuyện này, nói thẳng luôn là mình cũng vận chuyển lậu một ít hàng hóa, nhằm kiếm được một món tiền để mang ít vật quý hiếm ở phương Nam về dâng Hoàng Thượng để bày tỏ tâm ý.

Chính Đức nào biết Dương Lăng "nham hiểm" như vậy, nghe y bộc bạch tâm ý xong, dĩ nhiên cao hứng vô cùng. Dương Lăng dụ dỗ được Hoàng Đế làm đại thủ lĩnh của tập đoàn buôn lậu xong, bản thân cũng yên tâm, như vậy y không sợ lúc rời kinh sẽ bị người đâm lén sau lưng nữa.

Chiêu bài mà Dương Lăng sử dụng là mang danh nghĩa vừa lên nắm quyền ty Thuế Giám, phụng chỉ tuần tra nam Trực Lệ. Chuyện ba vị đại thuế giám của đạo(*) Giang Nam tham ô không được nhiều đại thần trong triều biết đến, nhưng y nghi ngờ rằng nhất định đã có người mật báo cho ba vị thái giám trấn thủ này. Ba vị đại thái giám giống như những ông vua ở bản xứ, sợ rằng bọn họ sớm đã vận sức thủ thế chờ đợi y, phải đối phó với bọn họ thế nào cho ổn thỏa đây? Hiện giờ Dương Lăng chẳng biết gì về tình hình cụ thể nên y cũng chẳng thể nào nghĩ ra được quyết sách cần thiết.
(*: đạo: đơn vị hành chính xưa, như là tỉnh hiện nay)

Chuyến đi Giang Nam lần này so với việc tranh chấp triều chính trong kinh sư càng phức tạp hơn. Nơi đó y lạ nước lạ cái, ba đại thái giám trấn thủ Giang Nam đã lâu năm nên chắc chắn có rất nhiều tai mắt, thực lực lớn mạnh. Dương Lăng vẫn chưa quên việc đường đường một công chúa mà vẫn bị một nữ quan cỏn con mua chuộc nô bộc cả phủ đùa bỡn trong tay như thế nào. Cho nên y không dám đợi đến khi mình đến tận nơi, để ba đại thái giám chuẩn bị sẵn sàng rồi mới bắt đầu điều tra mà đã phái mật thám ngày đêm gấp rút chạy xuống Giang Nam giám thị hành tung của ba đại thái giám trấn thủ trước.

Cao Văn Tâm đứng một bên lặng lẽ quan sát Dương Lăng đang trầm tư. Cánh mũi y thẳng tắp, bờ môi rõ nét, lông mày tuấn tú thẳng tắp, vóc người cân đối. Ánh mắt của y lúc trầm tư toát lên một vẻ thâm trầm không cân xứng với tuổi tác của y, khiến người khác nhìn vào tim liền đập thình thịch.

Y có một ánh mắt và khí chất khác biệt so với những kẻ cùng lứa. Nhưng khi nghĩ đến bộ dạng ngại ngùng xấu hổ lúc mình châm cứu cho y, khóe môi của Cao Văn Tâm bất giác hé một nụ cười: sự ngượng ngùng của Dương Lăng đã khiến cho sự bối rối của nàng hoàn toàn biến mất. Bây giờ châm cứu đã trở thành tiết mục truyền thống biểu diễn sự xấu hổ của đại đô đốc Nội xưởng mà nàng thưởng thức mỗi ngày.

Ba mươi dặm đường thủy đã mau chóng bị vận tốc của những con tàu khổng lồ rút lại trong phút chốc. Đứng trên đầu tàu, Dương Lăng đã nhìn thấy bến thuyền cạnh hành cung phía xa xa. Trên bến thuyền còn có mấy chiếc thuyền nhỏ hơn một chút đang từ từ rời bến. Ngược lên những bậc thềm đá dọc bến thuyền không xa là một tòa hành cung nguy nga tráng lệ.

Ven con sông đào, cứ cách khoảng một ngày lộ trình đều phải xây một tòa hành cung để Hoàng Đế ngủ trọ mỗi khi rời kinh sư xuống Nam Kinh tuần hành. Thiên tử đi tuần đương nhiên không thể tùy tiện tìm bừa một quán xá nào đó mà nghỉ lại.

Tuy nhiên, những hành cung dọc đường này ngốn không ít tiền của: phải cử quân đóng giữ bên ngoài, bên trong phải có nô bộc chăm nom,… Chỉ riêng chi phí tu bổ mỗi năm đã rất kinh người, nhưng lại không được dùng vào việc gì.

Trừ đại đế Vĩnh Lạc năm xưa từng trọ lại nơi này, các đời hoàng đế về sau đều bị ràng buộc bởi những luật lệ oai nghiêm của thiên tử do chính mình lập ra nhằm phô trương thanh thế, đành bụng làm dạ chịu, cả đời phải tự giam mình trong Tử Cấm Thành như một chú chim hoàng yến bị nhốt trong lồng.

Người ta thường nói khắp dưới gầm trời không chỗ nào không phải đất của vua, nhưng mà ông vua này lại không có quyền tuần du giang sơn của mình. Hành cung cứ bỏ không như vậy, xây rồi sửa, sửa rồi lại sửa thêm, mỗi hành cung sẽ tồn tại hơn trăm năm. Cách hành cung không xa có xây mấy dịch quán. Người của hoàng gia, của các vương phủ lẫn các khâm sai đại thần vãng lai các nơi đều lợi dụng vị thế của bến thuyền này để đỗ thuyền và nghỉ ngơi tại đây.

Dương Lăng xoay người lại, Cao Văn Tâm thấy vậy lập tức thu lại nụ cười trên môi, nhún nhường cúi chiếc cổ thanh tú nho nhã như thiên nga xuống. Dương Lăng đã sớm tinh mắt nhìn thấy nụ cười nơi khóe môi của nàng. Trước đây vị đại cô nương này không hề dám chuyện trò đùa giỡn cùng y, nhưng kể từ lúc để nàng trị bệnh đến nay, ánh mắt lo sợ, cung kính thuở quen biết ban sơ ấy giờ đã dần không còn thấy nữa.

Đau lòng quá, thật nhớ những ngày đã qua quá đi. Dương Lăng vẫn cứ cảm thấy nụ cười mà nàng nhìn mình đã hơi khác với khi xưa, nhưng y đành chịu thôi: phụ nữ mà, xa cách với họ thì họ khiêm nhường, gần gũi với họ thì họ không cung kính. Cả ngày phơi mông cho người ta sờ tới sờ lui, y đâu còn vẻ tôn nghiêm để ra vẻ đại lão gia nữa?!

Dương Lăng hừ thầm một tiếng, nói với Cao Văn Tâm:
- Đi thôi, thu xếp mấy vật tùy thân một chút, chuẩn bị xuống thuyền rồi.

- Dạ, lão gia!
Cao Văn Tâm đáp một tiếng, vừa định xoay người, chợt nghe một tiếng “bình”, thân thuyền chợt lắc lư dữ dội, nàng kêu ối một tiếng rồi ngã nhào vào lòng Dương Lăng. Vốn Dương Lăng đã đứng không vững, lại bị nàng nhào vào lòng, thế là cả hai lập tức cùng ngã xuống sàn.

Không ít nha sai trên thuyền nhất thời không chú ý cũng ngã lăn, nhưng vừa ngã xuống, bọn họ liền lập tức búng người dậy, rút phác đao sáng choang ra một tiếng "keng", nhảy tới bên mạn thuyền quát lớn:
- Kẻ nào dám tập kích thuyền của xưởng đốc đại nhân?

Lúc này năm sáu tay nha sai khác cầm đao xoay người lại, dùng thân làm khiên vây hai người Dương Lăng vào giữa, cẩn thận nhìn khắp nơi. Dương Lăng thầm thất kinh: "Chẳng lẽ là Đông xưởng phái người đến ám toán mình?" Y căng thẳng quát lên:
- Đừng hoảng! Mau xem thử đã xảy ra chuyện gì?

Nằm sấp trong lòng Dương Lăng, Cao Văn Tâm giật mình phát hiện tay y đang đặt lên bộ ngực săn mẩy cao vút của mình, không khỏi vừa giận vừa thẹn. Nàng hơi tức giận trừng mắt nhìn lên nhưng lại thấy Dương Lăng đang ngước mặt lên trời ra vẻ xưởng đốc oai phong, chẳng những không có chút phản ứng gì với việc đang ôm nàng vào lòng, mà dường như y thậm chí cũng không ý thức được rằng bàn tay của y đang đặt lên bộ ngực căng tròn của cô nương nhà người ta. Trong lòng Cao Văn Tâm bỗng nhiên vô cớ lại dâng lên một nỗi thất vọng.

Quả bồ hòn này xem như là phải ngậm trọn làm ngọt rồi. Cao Văn Tâm hận ngứa cả răng nhưng lại không dám lên tiếng, đành vội cuống quýt lồm cồm bò ra khỏi người y. Lúc này chiếc thuyền lớn đã thăng bằng trở lại, một bách hộ đứng trên đài quan sát nhìn thấy tình hình phía dưới, sắc mặt khẩn trương tan đi, lập tức quát lớn:
- Đui mắt chó của ngươi rồi à, sao không biết nhường đường? Cũng không nhìn xem ai đang ở trên thuyền, làm đại nhân kinh hoảng, ta muốn lấy cái đầu của ngươi!

Bách hộ của Nội xưởng vừa dứt lời, liền nghe thấy bên dưới thuyền một giọng thổ âm Sơn Đông còn to gấp đôi gã hét lên:
- Con mạ mi, tay ta nọ sắp rách toác ra rồi ni. Ôi đau quá! Mi mù răng, lái thuyền kiểu chi rứa? Hở! Ôi mạ nó, Thiên sư mô? Trương thiên sư rơi đi mô rồi?

Giọng hắn khá to, Dương Lăng nghe rõ mồn một. Vừa nghe ba tiếng "Trương thiên sư" y cũng giật nảy mình, vội vàng bò dậy. Chạy đến bên mạn thuyền nhìn xuống, y thấy một chiếc thuyền hai cột cỡ nhỏ đã bị đụng vỡ nát đuôi, nước sông đang tràn ùng ục vào trong khoang thuyền, phần đuôi thuyền đã bắt đầu chìm xuống nước, mũi thuyền đang nhổng lên không.

Vài thuyền phu lực lưỡng như cột sắt đang chạy cuống cuồng khắp nơi trên thuyền tìm kiếm cái gì đó, nhất thời cũng không nhìn ra được ai là kẻ chửi bới vừa rồi. Chỉ thấy một văn nhân vóc người gầy gò, ăn mặc văn nhã đang ôm cột buồm kêu gào:
- Đừng tìm nữa, Thiên sư rơi xuống sông rồi, mau xuống dưới tìm đi!

Một thuyền phu có vẻ như là người cầm đầu đét mạnh đùi một cái, quát:
- Mả cha mi, mau nhảy xuộng!

Mấy đại hán thậm chí không thèm cởi bỏ y phục thi nhau nhảy "ùm" xuống nước.

Mấy tay thuyền phu tìm khắp bên đuôi thuyền bị chìm và đầu thuyền bị nhổng lên nhưng đều tìm không thấy. Dương Lăng dựa người vào đầu thuyền mình nhìn kỹ, thấy dưới mặt nước ở đầu thuyền nổi lên một búi tóc, liền vội kêu to:
- Ở đầu thuyền, ở đầu thuyền, mau lên, ai biết bơi? Mau nhảy xuống cứu người!

Tuy nha sai trên thuyền đều là người phương Bắc nhưng cũng có mấy gã bơi lội không tệ, chúng liền vội vứt phác đao, búng người phóng xuống nước, chỉ một lúc sau hai tay giỏi bơi lội đã lôi một người lên. Dương Lăng mừng rỡ hỏi:
- Tìm được Thiên sư rồi à?

Người được cứu mặc đạo bào màu xanh, mũ đạo sỹ không biết đã trôi đi đâu mất, mái tóc dài rối bù nhiễu nước ròng ròng che lấp khuôn mặt, hình như là đã hôn mê. Hai tay nha sai mỗi người một bên đang đạp nước dìu gã, gã thì lại không hề cựa quậy. Một tay nha sai lau nước trên mặt nói:
- Đại nhân! Người này là nữ, không phải là Thiên sư gì đâu.

Dương Lăng nghe vậy thì giật thót mình. Trước kia y từng nghe nói có đạo sỹ tà phái dùng nữ nhân làm lư đỉnh để luyện thái âm bổ dương gì đó, không lẽ đường đường Trương thiên sư cũng là loại rác rưởi này à?

Mấy phu thuyền rất giỏi bơi lội nghe thấy bên này hô lên, bèn ào ào bơi lại rồi cùng lặn xuống đáy sông. Rốt cuộc sau một hồi, ngoài ba trượng có một phu thuyền kéo một người mặc áo xanh lên, lớn tiếng gọi:
- Chộ ni, chộ ni!

Không kịp nghĩ ngợi nhiều, Dương Lăng liền vội kêu người ném dây thừng, trước tiên buộc Trương thiên sư và nữ đạo sỹ đã hôn mê bất tỉnh vào rồi kéo lên, sau đó lại kéo những người còn lại lên thuyền. Lúc này trên bến thuyền, Lưu chỉ huy của Đức Châu từ xa cũng đã trông thấy hai thuyền đụng nhau, vội vàng đích thân cưỡi thuyền chạy đến cứu viện.

Giờ đã biết tiểu đạo đồng bên cạnh Trương thiên sư là gái, hiển nhiên không tiện cấp cứu trước mặt người khác, Cao Văn Tâm vội kêu người ôm cô ta vào trong khoang, tự tay cứu chữa.

Lưu chỉ huy lên thuyền Dương Lăng, đại lễ cũng bỏ bớt, vội vã ra mắt Dương Lăng. Hai người cùng quây quanh Trương thiên sư mặt mày trắng bệch đang hôn mê bất tỉnh. Truyền thuyết Trương thiên sư lên trời xuống đất không gì làm không được, rất là thần thông quảng đại, ở tiên cung cũng có phẩm tước, nào ngờ Long Vương sông này lại chẳng thèm nể mặt gã, cứ thế mà cho gã uống nước no căng bụng. Dương Lăng và Lưu chỉ huy ngồi xổm một bên xem nha sai đang ấn bụng gã để cấp cứu, trong miệng gã không ngừng ộc ra từng ngụm nước trong.

Một lúc sau, Chính Nhất Tự Giáo Trí Hư Xung Tĩnh Thừa Tiên Hoằng Chiêm Chân Nhân Trương Nhạc Thạc mới yếu ớt tỉnh lại. Dương Lăng và Lưu chỉ huy sứ thấy vậy không khỏi thở phào nhẹ nhõm.

Vừa mở mắt ra, dường như cũng cảm thấy chuyện Thiên sư rơi xuống sông phải nhờ mấy thuyền phu vừa đè vừa ấn cứu mạng hơi mất mặt nên tuy lờ mờ chưa nhìn rõ người ở trước mặt, tiểu chân nhân đã cười ha hả nói:
- Bần đạo sớm đã bói được trong tháng chín sẽ gặp nạn nhập thuỷ, thì ra là ứng vào hôm nay. Ha ha ha...

Dương Lăng rờ mũi, trong lòng chửi thầm một câu: "Đồ bịp bợm!"

Y chợt nhớ tới trong khoang còn có một tiểu đạo cô xinh đẹp tên là Phù Bảo, không khỏi bồi thêm một câu: "Đồ dâm tặc!"

***********

Màn đêm sắp buông xuống, Trịnh bách hộ bước vào trong khoang thuyền. Nhìn thấy xưởng đốc đại nhân đang cùng Trương thiên sư ngồi đánh cờ tướng, hắn bèn vội đứng nghiêm một bên khom người đợi. Dương Lăng đang nhíu mày, căng mắt nhìn bàn cờ trước mặt, trầm ngâm thật lâu, như thể đang do dự.

Trịnh bách hộ lén đưa mắt nhìn, chợt phát hiện người thị tỳ dáng người cao thon, khuôn mặt xinh đẹp đang đứng duyên dáng sau lưng xưởng đốc hơi rướn người tới phía trước, như thể cũng rất hứng thú theo dõi bàn cờ, nhưng cánh tay ngọc ngà thon thả lại đang lặng lẽ viết chữ lên lưng đại nhân.

Ngón tay trắng nõn của Cao Văn Tâm viết lên lưng Dương Lăng không nhanh, hơn nữa nét viết không nhiều, Trịnh bách hộ nhìn thấy rõ mồn một là chữ "pháo hai bình một". Cô nương này vừa viết xong, liền thấy xưởng đốc đại nhân nhướng mày như mới vừa nghĩ được một nước cờ hay, nhặt pháo lên đập xuống cái chát, nước cờ quả nhiên linh hoạt, gọn gàng, định liệu trước mọi nước.

Trịnh bách hộ thầm đổ mồ hôi, liền vội chuyển ánh mắt để đại nhân đỡ xấu hổ. Nào ngờ hắn vừa chuyển mắt đi, lại trông thấy vị văn sỹ tuổi hơn ba mươi, thân hình gầy còm nhỏ thó đang mỉm cười đứng bên cạnh Trương thiên sư cũng đang đưa một tay viết chữ lên lưng Thiên sư. Trịnh bách hộ không khỏi ngạc nhiên nhìn Dương xưởng đốc và Trương thiên sư, không hiểu hai "con rối" này thực sự đang cố sức làm gì.

Mỗi khi đánh cờ thắng tay mê cờ nhưng kém cỏi như Dương Lăng, Cao Văn Tâm đều vui vẻ rất lâu, dường như nàng rất hả hê với việc khiến Dương Lăng nếm mùi thất bại. Nếu muốn nàng giả bộ thua Dương Lăng một ván để y vui lòng, còn lâu nàng mới đồng ý. Nhưng lần này mắt thấy Dương Lăng liên tục thua vào tay Trương thiên sư, vị đại cô nương này thực thấy khó chịu trong lòng. Cảm giác đó giống như con mình thì mình đánh được, chứ người ngoài thì dựa vào cái gì? Thế là nàng bèn giúp Dương đại lão gia ăn gian.

Trương thiên sư bị đánh cho tơi bời hoa lá suốt mấy ngày, sau khi rút ra kinh nghiệm xương máu, kỳ nghệ đột nhiên tăng vượt bậc. Cao Văn Tâm đoán là vị Liêu quản sự bên cạnh y đang âm thầm giúp đỡ, thế là lần này nàng cũng so tài cùng hắn, rốt cuộc thành: Dương xưởng đốc và Trương thiên sư minh tranh, còn tiểu thị nữ và Liêu quản sự ám đấu.

Cao Văn Tâm thấy đối phương đi nước cờ ấy, lập tức viết lên lưng Dương Lăng "mã hai thoái bốn", khoé miệng lộ ra một nụ cười, "song mã ẩm tuyền(2)"! Tập kích thành công rồi! Trong ba nước liên tục kế tiếp, nhất định có thể dồn chết đối phương. Quân của Trương thiên sư đang bị con pháo kềm chế nên không thể rút về cứu viện.

Liêu quản sự trợn mắt nhìn một hồi lâu, đoạn nhìn Cao Văn Tâm khẽ thở dài, không hề nói tiếng nào. Trương thiên sư hiểu ý, cười ha hả nói:
- Ta thua rồi!

Dương Lăng liếc Cao Văn Tâm một cái, nàng nháy mắt đáp lại. Dương Lăng phá ra cười to, lúc này mới quay sang hỏi Trịnh bách hộ:
- Chuyện gì vậy?

Giả vờ không nhìn thấy những cái liếc mắt qua lại giữa đại nhân và tiểu tỳ, Trịnh bách hộ khom người đáp:
- Đại nhân! Thuyền đã đến trấn Thượng Hải, đêm nay có cập bến ở đây không ạ?

- Hả? Đến Thượng Hải rồi à?
Dương Lăng ngạc nhiên, vội vàng vén rèm nhìn ra ngoài. Y thấy trên trời đầy sao, bên dưới một mảnh hoang vu, đan xen dọc trên bờ sông chỉ có lác đác vài quán rượu, nhìn ra xa xa cũng chẳng có mấy hộ gia đình, hoàn toàn không giống như thành phố phồn hoa trong ấn tượng của y chút nào. Dương Lăng không khỏi thất vọng hỏi:
- Nơi này chính là Thượng Hải à?

Liêu quản sự còn tưởng vị xưởng đốc đại nhân này chê nơi này nghèo kiết, bèn mỉm cười nói:
- Đại nhân! Tuy thôn trấn này nhìn hơi hoang vắng, nhưng thức ăn cũng khá là phong phú và đặc sắc. Chi bằng chúng ta cập thuyền lên bờ đi bộ một chút, cũng là giải lao cho thân thể đỡ mỏi mệt.

Dương Lăng đồng ý:
- Được, lên bờ đi bộ chút vậy.
Y nhìn quanh rồi hỏi Trương thiên sư:
- Lệnh muội đâu? Mời nàng ấy cùng đi ăn uống chút đi.

Trương thiên sư lắc đầu:
- Muội ấy đã nói hôm nay không khoẻ lắm, chúng ta không cần để ý đến muội ấy. Trở về ta mang chút thức ăn cho muội ấy là được rồi.

Sau lễ đại hôn của hoàng đế, vị Trương thiên sư đã lưu lại trong kinh thăm viếng thân hữu. Thân bằng quyến thuộc của Thành quốc công đông không kể xiết, mỗi nhà dự một bữa tiệc cũng mất hơn nửa tháng, hơn nữa Thiên sư hiếm khi đến kinh thành nên những thân hữu này không khỏi muốn mời y coi giúp phong thủy một chút, xem tướng một tẹo, lần lữa mất xấp xỉ gần hai tháng trời.

Trước ngày y lên kinh, phú hào ở Ngô Trung là Ngô Tế Uyên đã sớm phái quản sự trong nhà đi theo khẩn thiết mời thiên sư sau chuyến đi kinh sư sẽ đến Tô Châu một chuyến để cầu phúc cho Ngô lão thái gia. Nhà họ Ngô tuy cách xa Long Hổ sơn nhưng đã là tín đồ thành kính của Thiên Sư đạo. Hơn trăm năm trước, vào thời Chu Nguyên Chương khống chế Đạo giáo và Phật giáo cực kỳ nghiêm khắc, trên Long Hổ sơn nhang khói ảm đạm, đời sống gian nan, nhà họ Ngô đã lén phái người đến cúng dường tiền bạc và dầu mỡ tài trợ cho mấy trăm đệ tử Long Hổ sơn vượt qua khó khăn, có thể nói gia tộc họ là người có ơn rất lớn với Thiên Sư đạo.
(Ba_Van: tuy tác giả không nói rõ nhưng qua mạch truyện, chúng ta đoán biết vị quản sự của Ngô Tế Uyên chính là Liêu quản sự)

Đã có ngọn nguồn như vậy, tiểu thiên sư khó lòng từ chối tấm thịnh tình, đành phải đi theo hắn. Ai dè vừa mới rời khỏi bến thuyền của hành cung tại Đức Châu liền đã bị thuyền lớn của Dương Lăng đâm hỏng. Dương Lăng cũng thấy áy náy không thôi, thế là mời bọn họ lên thuyền đi cùng.

Nha sai hò lớn ra lệnh cho lái thuyền cập bến, bắt ván lên bờ. Cả bọn cùng xuống thuyền, chọn lấy một khách điếm nho nhỏ. Quả nhiên khách điếm nhỏ này có phong vị đặc sắc riêng: quán rượu lại là một chiếc thuyền be bé neo bên bờ sông, khẽ lắc lư theo nhịp vỗ của sóng.

Ở nơi này, trong thời tiết như vậy, muốn thưởng thức đặc sản đương nhiên là phải ăn cua. Liêu quản sự gọi bà chủ thuyền mặt mày niềm nở hâm cho hai bình rượu, rồi cười nói:
- Gió tây thổi, cua ngứa chân. Giờ là cuối thu, trời trong gió mát, chính là thời tiết để thưởng thức cua. Dương đại nhân! Thiên sư! Mời nếm thử đặc sản nơi này.

Tháng chín ăn cua mái, tháng mười ăn cua đực. Những chiếc khay bà chủ thuyền bê lên đều chất đầy cua mái lớn. Trước đây khi ăn cua, Dương Lăng đều chặt ra rồi cầm đũa chọc bừa một trận, nào biết phương pháp kỹ xảo gì? Mắt thấy Trương thiên sư và Liêu quản sự cầm cả con cua lên ăn một cách có quy trình hẳn hoi, bất giác y hơi lưỡng lự.

Tâm tư tinh tế, nhận thấy thần thái của lão gia khác thường, lập tức Cao Văn Tâm lanh trí cầm lấy một con cua, bóc mai, tách chân, khạy bỏ bọng và tai đi, lại dùng chân cua nhọn khảy bỏ yếm và ruột, đặt khối thịt cua trắng tinh thơm phức vào trong bát, trao cho Dương Lăng và mời:
- Lão gia! Món này không cần phải chấm dấm gừng, mùi vị nguyên chất càng thơm hơn, mời lão gia nếm thử một miếng.

Liêu quản sự thấy nàng thức thời hiểu chuyện như vậy, không khỏi tán dương:
- Đêm thanh hoa tỏ ý, canh vắng rượu rót đầy, đại nhân thật là tận hưởng trọn ý vị của đời người rồi!

(Nguyên văn: “深得个中三味”, “thâm đắc cá trung tam vị”. Trong văn hóa Phật Giáo, khi hiểu sâu sắc một sự việc hoặc một loại tình cảm thì được gọi là thâm hiểu một trong tam vị;
Tam vị có ý nghĩa thay đổi theo từng tôn giáo, từng nền văn hóa nhưng thường có nghĩa là linh thiêng, hoặc là tổng thể của vạn vật.)

Lời của Liêu quản sự tuy là khen ngợi, nhưng lại hơi lập lờ thân phận của Cao Văn Tâm(3). Cao Văn Tâm nghe vậy cảm thấy hơi bị khinh bạc, mặt không khỏi đỏ lên, có phần tức giận.

Dương Lăng thấy vậy liền vội lái qua chuyện khác, bảo:
- Khi nãy đánh cờ lại quên uống trà, bây giờ thấy khát khô cổ rồi. Nhà đò! Châm dùm ấm trà với.

Cao Văn Tâm nghe vậy bèn nhắc khẽ:
- Lão gia! Tuy cua có mùi vị thơm ngon, nhưng là thức ăn hàn, chốc nữa gọi bà chủ thuyền đem canh gừng pha mật đường uống mới tốt, vừa giải khát lại bổ người. Hay đừng uống trà vậy?!

Liêu quản sự lại cười nói:
- Đại nhân là người phương Bắc, cũng không thích rượu mà thích trà sao? Uống một chút cũng không sao đâu.
Vừa nói hắn vừa cẩn thận lôi từ trong ngực ra một chiếc túi vải, cười nói:
- Tiểu nhân mời đại nhân thưởng thức món trà ngon cực phẩm này. Một túi trà đây vẻn vẹn chưa tới một lạng (50gr - ND), mà trị giá bốn lạng bạc, tiểu nhân còn phải năm lần bảy lượt thỉnh cầu mới kiếm được. Hề hề, đúng thật là đồ tốt có tiền chưa chắc đã mua được à!

Nói đoạn hắn gọi chủ thuyền bảo đem chén tới, rồi nhón từng dúm nhỏ bỏ vào từng chén một.

Một lạng bạc đủ để một gia đình nông dân tiêu dùng suốt cả năm. Một lạng trà này lại có trị giá tới bốn lạng bạc, còn là nhờ vào quan hệ xin xỏ mới có được, vậy bình thường để mua được cần phải tốn bao nhiêu tiền bạc đây? Dương Lăng nghe mà kinh hãi, bất giác hỏi:
- Đây là trà gì vậy? Không ngờ lại mắc đến như vậy!

Liêu quản sự đáp:
- Đây là trà xuân (*) Long Tĩnh chánh gốc của Tây Hồ. Không giấu gì đại nhân, tiểu nhân hầu hạ ở Ngô phủ cũng tích góp được chút gia sản, có điều cho dù tiểu nhân chịu bỏ tiền, loại trà ngon cực phẩm này cũng khó cầu lắm cơ.
(*): loại trà tươi, được hái trước tiết Cốc Vũ (bắt đầu vào ngày 20 hoặc 21 tháng 4 dương lịch, kết thúc vào ngày 5 hay 6 tháng 5 dương lịch- Ba_Van)

Dương Lăng nhớ hình như ở đời sau, trà Long Tĩnh được bán đầy đường, không lẽ hiện tại vì trồng trọt quá ít, cung cầu chênh lệch nên mới đắt như vậy sao? Bị Vu Vĩnh lây nhiễm nên bây giờ trong bụng y cũng là một bồ "thương nhân", vừa nghe có thứ có thể kiếm ra món lợi kếch sù, y liền hết sức chú tâm.

Dương Lăng lập tức mừng rỡ ra mặt, hỏi:
- Thứ này trồng quá ít hay khó trồng vậy? Liêu quản sự là người địa phương Tô Hàng, thế mà cũng khó mua sao?

Liêu quản sự cười đáp:
- Cho dù là phú thương bản địa ở Hàn Châu cũng đến tám chín phần mười cầu mà không được đó. Ha ha, Mạt Thanh Hà Mạt công công đã cho người suốt ngày trấn giữ vườn trà, một chỉ (5gr - ND) trà cũng không được phép mang ra. Phàm kẻ nào trộm hái lá trà đều bị đánh năm mươi gậy, cùm xích ba ngày thị chúng. Ngài nghĩ xem, còn ai uống được nữa chứ?

Mạc Thanh Hà? Mạc công công chủ quản thuế má cung ứng trà và thóc gạo lương thực? Đây chẳng phải là một trong ba thái giám trấn thủ mà mình muốn điều tra lần này sao? Lão ta chỉ phụ trách thuế má, cho dù trà này là trà cống phẩm thì cũng phải do Tri phủ Hàng Châu phụ trách trông nom và cai quản chứ nhỉ?! Sao lão ta lạm quyền, trực tiếp sai người đến tiếp quản vườn trà vậy?

Sinh nghi, nhưng mặt không hề đổi sắc, y ra vẻ bình thản hỏi:
- Trà Long Tĩnh tiến cống không phải do tri phủ Hàng Châu quản lý sao? Thì ra... Mạc công công cũng có quyền giám sát.

Liêu quản sự đắc ý đáp:
- Vườn trà sản xuất ra trà Long Tĩnh chính gốc chỉ có ở mấy vùng đồi núi như Tiên Nhân Xung, Hoàng Khê Giản, Ô Mai Tiêm và Mông Độ Loan, tổng cộng chỉ có mười mấy mẫu, một năm sản xuất được không đến ba bốn trăm cân, chỉ riêng dùng làm cống phẩm cũng đã không đủ rồi. Long Tĩnh được bán trên chợ đều là sản phẩm của mấy huyện lân cận Hàng Châu, giả mạo trà Long Tĩnh chính gốc, mùi vị thật sự kém hơn rất nhiều.

Mạc công công lo có người hám lợi, trộm trà tiến cống bán ra ngoài nên đã sai người giám sát những vườn trà này, ngay cả tri phủ Hàng Châu cũng không được dây máu ăn phần. Bây giờ mỗi năm toàn bộ trà xuân Long Tĩnh cực phẩm đều được dùng để dâng lên cho kinh sư và vài vương phủ. Qua mồng tám tháng tư, mới cho phép phủ Hàn Châu đem trà đặc sản ra bán để thu thuế. Cháu của tiểu nhân là quản sự thân tín dưới trướng Mạc công công, biết tiểu nhân thích uống trà nên khéo lời cầu xin Mạc công công, Mạc công công mới đưa cho bấy nhiêu. Mặc dù đây cũng không được tính là hàng cực phẩm của vua chúa, nhưng cũng chẳng thua kém bao nhiêu, mời đại nhân nếm thử.

Dương Lăng cười nhạt, trong lòng không để ý lắm. Nghe hắn khoác lác đến trời, làm như túi trà của hắn là vật thế gian khó cầu lắm ấy? Ở Đông Noãn các tại cung Càn Thanh y cũng đã uống không ít các loại trà xuân cực phẩm được dùng làm cống phẩm, so với loại trà này còn hơn một bậc, song đương nhiên y không cần phải khoe khoang những lời này với Liêu quản sự làm gì.

Y hờ hững tiếp lấy chén trà, mở nắp ra, dưới ánh đèn chỉ thấy nước trà trong vắt, màu sắc xanh biếc, bên trong trôi nổi vài lá trà. Một mùi thơm dịu nhạt bay lên thấm thẳng vào trong tim phổi. Ban đầu mùi hương thơm mát đó khiến cho người ta cảm thấy thanh nhã, sau lại cảm thấy mùi hương u nhã đó vấn vương không dứt, tuy không nồng nàn, nhưng lại giống như mùi thơm dịu của hoa cỏ đồng nội trong tiết xuân, lưu luyến mãi không rời.

Mặc dù màu sắc của chiếc lá trà trong chiếc chén thô kệch này và của loại cực phẩm trong cung giống hệt nhau, nhưng mùi hương lại hoàn toàn không thể so sánh. Cầm chén trà trên tay, bất giác Dương Lăng ngây người.





---



Chú thích:

(1) đây là một phong tục vùng Giang Nam, ngồi thuyền nhỏ trên sông, câu cua, hấp chín, lột cua ra ăn giữa trăng thanh gió mát, nghe sóng vỗ rì rào.

(2) hai Mã cùng uống nước suối, chỉ sức tấn công phối hợp của hai quân Mã - cũng là một đòn rất lợi hại

(3) chữ hoa trong câu thơ ám chỉ người con gái đẹp hoặc kỹ nữ; đó là lý do tại sao Cao Văn Tâm lại nổi giận.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
25-07-2011, 12:11 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 124: Quỷ Quyệt Khó Biết (phần 1)

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Thiên sư vừa cười vừa mở chiếc khăn tay ra. Nhìn thấy cành hoa mai cổ xưa dưới góc bên phải hơi có chút kỳ lạ, chàng ta nâng khăn lên nhìn cẩn thận. Đột nhiên phát hiện ra ý nghĩa sâu sắc trong đó, Trương thiên sư giật nảy cả người, suýt nữa buông tay khiến chiếc khăn bay đi theo gió.




------------------------
Chương 124 Quỷ quyệt khó biết (phần 1)

------------------------

Liêu quản sự thấy Dương Lăng cầm chén trà có vẻ đăm chiêu, vội thấp thỏm dò hỏi:
- Đại nhân! Phải chăng... phải chăng loại trà này không hợp với khẩu vị của ngài?

- Hả? Ồ! Đâu có, đâu có! Loại trà ngon cực phẩm này lúc ở trên kinh sư bản đốc cũng chưa từng được thưởng thức. Thật là hương thơm nức mũi, toàn thân thư thái!

Dương Lăng thấy hắn hỏi dò, vội lấy từ trong ngực ra một chiếc khăn gấm trải lên bàn, giả vờ thèm thuồng nói:
- Liêu quản sự có thể san sẻ chút trà ngon cực phẩm này cho bản đốc ta được không? Uống xong nước trà này của huynh, khẩu vị của bản đốc đã bị nâng lên rồi, trà thường thật sự là nhạt nhẽo vô vị.

Y nói xong đưa mắt ra hiệu cho Cao Văn Tâm, Cao Văn Tâm vội lấy ra một thỏi bạc nhỏ không ít hơn mười lạng đặt lên bàn.

Liêu quản gia nghe y khen, bất giác có cảm giác được yêu mến mà áy náy. Hắn vui vẻ móc túi lấy túi trà nhỏ đó ra, hai tay đưa qua:
- Đại nhân nói như vậy hẳn là đại nhân rất thích loại trà này. Là người Hàng Châu, tiểu nhân cũng được vinh dự lây vậy! Ha ha, chút trà này chỉ là tâm ý nhỏ nhoi không tỏ được lòng tôn kính, xin đại nhân vui lòng nhận dùng tạm dọc đường. Đợi đến nơi rồi, chỉ sợ Mạc công công sẽ còn có phần lễ vật lớn cho ngài đó.

Dương Lăng âm thầm cười khẩy trong lòng: "Mạc Thanh Hà dối trên lừa dưới, dùng kém trám tốt, cả gan đánh tráo cả trà tiến cống cực phẩm. Hắn lại dám đưa trà tiến cống cực phẩm cho mình thấy ư?"

Liêu quản sự ra sức từ chối không nhận bạc của y, Dương Lăng đành kêu Cao Văn Tâm cất bạc lại, rồi nhận lấy túi trà trong tay hắn.

Một cơn gió ùa đến, thổi tung chiếc khăn tay của y đang đặt trên bàn . Liêu quản sự tinh mắt, liếc mắt nhận thấy đó là lụa cực phẩm Tô Châu, không khỏi vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ kêu lên:
- Chiếc khăn tay này của đại nhân thực đúng là cực phẩm à nha!

Hắn vừa nói vừa nhẹ nhàng nhặt chiếc khăn tay lên, quan sát cành hoa mai thêu màu rực rỡ bên trên, khen ngợi:
- Thêu thật khéo! Thiếu nữ Giang Nam tính tình đặc biệt dịu dàng, thông minh khéo léo, sở trường nhất là đường thêu bay bướm, ăn nói tế nhị. Nhưng muốn nắm vững thuần thục loại kỹ thuật thêu thùa này, có rất nhiều cô nương cho dù dốc sức cả đời cũng chưa chắc đã có thể nắm bắt được. Chiếc khăn lụa này thật sự là tác phẩm của bậc thầy chân chính, có tiền cũng chưa chắc mua được, không dễ kiếm đâu!

Chiếc khăn tay đó là của công chúa Vĩnh Phúc dùng để bọc cặp xuyến ngọc Bàn Long bị Dương Lăng thuận tay nhét vào ngực khi y vào hậu cung bắt trộm. Ban đầu y có ý định sẽ trả lại cho công chúa, nhưng chờ mấy ngày mà cũng không có cơ hội gặp lại nàng.

Dương Lăng chợt nhớ đến một minh tinh nổi tiếng ở thời hiện đại mà đã có không biết mấy trăm bộ giầy dép và quần áo, huống chi là đường đường một công chúa Đại Minh? Chắc chắn người ta cũng sẽ chẳng quan tâm đến một chiếc khăn tay, thế là y thuận tay cất trên người luôn. Nếu không phải vì chiếc khăn này là do y thuận tay vớ được mà lấy mang đi tặng Ấu Nương thì thực thẹn với lòng thì y đã sớm mượn hoa kính phật rồi.

Lúc này nghe Liêu quản sự nhận định chiếc khăn gấm bé xíu này quý giá như vậy, y lại hơi hối hận vì đã không đem nó tặng cho Ấu Nương. Nghe thế, Trương thiên sư nổi lòng hiếu kỳ bèn cầm lên quan sát kỹ rồi nói:
- Đúng rồi! Quả nhiên là vật phẩm chất lượng tốt nhất trong số lụa Tô Châu. Ha ha, có điều màu hoa này hơi loè loẹt quá, Dương đại nhân mang theo người không thích hợp cho lắm!

Thiên sư vừa cười vừa mở chiếc khăn tay ra. Nhìn thấy cành hoa mai cổ xưa dưới góc bên phải hơi có chút kỳ lạ, chàng ta nâng khăn lên nhìn cẩn thận. Đột nhiên phát hiện ra ý nghĩa sâu sắc trong đó, Trương thiên sư giật nảy mình, suýt nữa buông tay khiến chiếc khăn bay đi theo gió.

Màn đêm u ám, ánh đèn mờ nhạt, người khác không quá để ý đến đoá hoa mai ở góc khăn. Nhưng Trương thiên sư cả ngày nghiên cứu bùa chú, những cổ tịch đạo gia trên Long Hổ sơn hầu hết đều là vật trân quý từ thời thượng cổ, văn tự ghi trên đó đều là những thứ cực kỳ cổ xưa cho nên Trương Ngạn Thạc rất am tường về chữ triện cổ.

Chàng ta thấy hoa mai trên góc khăn đó không ngờ là bốn chữ triện thêu thành, tiếp đó lấy bốn chữ tiểu triện hình hoa mai hợp lại thành một bức hình hoa mai, nếu không biết những chữ đó thì thực sẽ không nhận ra. Quả nhiên là hao phí tâm tư, khéo léo vô cùng.

Nhìn kỹ chữ thêu đó thì lại là bốn chữ "Vĩnh Phúc Tú Ninh". Công chúa Vĩnh Phúc khuê danh là Chu Tú Ninh, lúc Trương thiên sư lập đàn cầu phước cho hoàng thất trong cung đã biết được tên nàng; lúc này nhìn thấy trên chiếc khăn tay có cả hai chữ Vĩnh Phúc và Tú Ninh, làm sao chàng ta không đoán được đây là vật kề thân của công chúa chứ?

Trương thiên sư kinh hãi đến tim đập thình thịch. Đừng nói là Dương Lăng đã cưới thê nạp thiếp, cho dù hiện giờ y chưa vợ cũng không được phép cùng công chúa ngầm tặng tín vật, thầm trao tâm tình. Chẳng lẽ... chẳng lẽ Dương xưởng đốc gan lớn trùm trời, dám tư tình với công chúa sao?

"Người khôn phải biết giữ mình, người khôn phải biết giữ mình!" Từ khi bá phụ bị lưu đày, Trương Ngạn Thạc và phụ thân đều cùng dè chừng cẩn thận mọi lúc mọi nơi, chỉ sợ sẽ chạm vào vảy ngược(1) của hoàng thất. Phát hiện chuyện bê bối này của hoàng thất, chàng ta lập tức ra vẻ điềm nhiên như không đưa trả lại khăn lụa, trong lòng âm thầm phát thệ: "Đời này tuyệt sẽ không để cho người khác biết được mình nhận ra các chữ triện hoa mai này!"

Mặc dầu đã đến thời đại này được một khoảng thời gian, cũng biết được chút ít cấm kỵ, nhưng Dương Lăng nào có thể gặp chuyện gì cũng lo trước tính sau giống như đang đi trên băng mỏng, cho nên y hoàn toàn không hề để ý gì cả. Y thoải mái cầm lấy chiếc khăn tay nhét vào trong người rồi cười nói:
- Đã vậy, bản đốc xin cảm tạ Liêu quản sự!

****************

Trương Phù Bảo mượn cớ thân thể không khoẻ, tắm rửa thay đồ, nhập định trọn một canh giờ mới cảm thấy tinh thần sảng khoái. Thấy mình hơi có linh cảm, nàng vội cầm lấy công cụ bói toán tự bói cho mình một quẻ. Đạo hạnh của nàng có hạn, bói mãi nhưng chỉ mới ra được câu đầu, lại giống hệt với lời bình mà phụ thân đã cho nàng. Trong lòng tiểu cô nương càng bứt rứt hơn.

Nàng biết đạo hạnh của anh trai cao thâm hơn mình một chút, cũng từng có ý muốn nhờ y bói toán nghiệm chứng cho mình. Nhưng cho dù quẻ bói này can hệ đến cả đời nàng đi chăng nữa, một tiểu cô nương mười ba mười bốn tuổi nào lại có da mặt đủ dày nôn nóng đi tìm anh trai bói tìm lang quân trong mộng tương lai cho mình chứ?

Trương Phù Bảo hai tay chống cằm, chơm chớp đôi mắt tròn xoe, trầm ngâm lẩm bẩm: "Bán luân minh nguyệt nhất giang thủy, bạch cốt sơn thượng địch hồng tiêu. Binh qua khởi thời xuân ảnh động, Lão Quân tượng tiền hứa lương nhân*."

*Tạm dịch:
Nửa vầng trăng sáng, một dòng sông
Trên Bạch Cốt sơn rửa lụa hồng*
Dáng xuân lả lướt thời chinh chiến
Hẹn chàng trước tượng Lão Quân trông.
*(lụa hồng) cũng chỉ người con gái đẹp

Đọc đi đọc lại mấy lần nhưng ngẫm mãi không thông, Trương Phù Bảo căm tức vỗ bàn cằn nhằn:
- Cha thật đáng ghét! Con gái của mình mà cũng giả thần giả quỷ. Bói không ra thì thôi, bói ra được thì nói thẳng với mình cho xong, hại mình phải đoán tới đoán lui!

Nàng chán nản nhảy xuống giường, đẩy cửa sổ, ngước nhìn vầng trăng sáng tỏ trên bầu trời, hai con ngươi sáng ngời phản chiếu ánh trăng lấp lánh. Nàng si mê ngơ ngẩn hồi lâu, trong lòng thầm nghĩ: "Không thể là y, nhất định không thể là y. Y đã có thê tử, Bảo Nhi mình sao có số làm thiếp người ta được?

Cho dù y có tài ba hơn nữa mình cũng không thể gả cho y được, nhất định là mình nghĩ ngợi lung tung rồi. Nửa cái bánh nướng thế nào cũng không thể tính là nửa vầng trăng tỏ chứ? Vả lại mình ngã là ngã xuống sông đào, chứ đâu phải ngã xuống sông lớn, ngụ ý(2) đâu phải là ngụ ý theo kiểu này. Hơn nữa ba câu sau cũng không khớp với y mà!"

Nghĩ đến đây, dường như Trương Phù Bảo hơi yên tâm, nhưng lại nghĩ đến việc xảo hợp này có thể không liên quan đến y, không hiểu vì sao nàng lại cảm thấy hơi buồn. Nàng giậm chân, tự vả vào mặt mình, xấu hổ tự mắng: "Mi bao tuổi rồi mà lại đi bận tâm mấy cái chuyện này? Đồ nha đầu không có triển vọng!"

Nàng buồn bực mở cửa thuyền, thấy có một nha sai đang xỉa răng đi ngang qua, lúc này mới cảm thấy bụng đang trống rỗng, vội hỏi gã:
- Này, ăn tối rồi sao?

Bây giờ người trên thuyền đều biết nàng là con gái, cũng biết nàng là em gái của Trương thiên sư. Người ta là em gái của quốc sư, đám nha sai thực không dám vô lễ. Tên nha sai đó liền vội làm lễ rồi đáp:
- Vâng thưa tiểu thư, xưởng đốc đại nhân và thiên sư đã xuống thuyền đến ven sông dùng tối rồi ạ!

Nghe nói bọn họ xuống thuyền mà lại không gọi mình, Trương Phù Bảo không khỏi tức giận hừ một tiếng rồi nói:
- Dẫn ta đi. Ta cũng đói bụng rồi.

Ban đầu Cao Văn Tâm đứng cạnh Dương Lăng hầu cơm nhưng rồi bị Dương Lăng bắt ép ngồi xuống cạnh mình. Lúc này nàng vừa nhã nhặn ăn gạch cua, vừa nhanh nhẹn liên tục lóc thịt và gạch cua, kịp đưa cho Dương Lăng đang ngốn lấy ngốn để như bò nhai cỏ.

Lúc uống trà, Dương Lăng lại nhỏ nhẹ nhấp miệng uống từng hớp bát canh gừng pha mật đường nóng hôi hổi. Con thuyền nhỏ khẽ lắc lư, tiếng sóng vỗ rì rào như có như không, cả miệng ngát hương ngào ngạt, quả nhiên sảng khoái vô cùng.

Trương Phù Bảo bước xuống thuyền lớn, được tay nha sai nọ dẫn đến bên chiếc thuyền nhỏ, nhìn thấy bộ dạng nhàn nhã của mọi người, trong lòng càng thêm tức giận. Thế là cũng không thèm đợi bọn họ gọi xuống thuyền, nàng liền không hề khách khí mà chọn lấy một chỗ rồi phịch mông ngồi xuống.

Nàng vẫn mặc một bộ đạo bào nhưng mái tóc dài xõa tung, xinh đẹp thướt tha, trông hồn nhiên và đáng yêu vô cùng. Song khi nàng cầm lấy một con cua lớn lên ăn, tướng ăn lại giống hệt như Dương Lăng.

Chỉ nghe Liêu quản sự cười nói:
- Cho nên có câu “giọng Tô Giang dịu dàng”, vừa ngọt ngào vừa êm ái, lại nghe rất hay. Phụ nữ Tô Hàng nói chuyện luôn luôn nhẹ nhàng, ngọt ngào êm tai. Có người còn bảo, nghe bọn họ cãi nhau cũng là một loại hưởng thụ đấy!

Dương Lăng cười nói:
- Thế à! Ha ha, Hàng Châu ta đã đến một lần, có điều đó là rất rất nhiều năm về... À... về trước, vì đi vội nên chưa thưởng thức được phong thổ lẫn nhân tình nơi phố phường này.

Đang gặm cua, Trương Phù Bảo nghe bọn họ nói chuyện hào hứng sôi nổi, thậm chí anh trai mình cũng như đang thả hồn bay xa, không khỏi hừ một tiếng:
- Nghe nói khâm sai đại nhân điều quân ồ ạt xuống Giang Nam, chắc là có việc công cần làm chứ? Đại nhân ngồi đây ăn uống, trên bờ đã có mấy chục tên vệ sĩ lăm lăm vũ khí rồi. Chẳng lẽ ngài định đến Tô Hàng sẽ dẫn theo cả trăm người vào ngõ hẻm nghe cô nương người ta nói chuyện phiếm ấy à?

Dương Lăng nghe vậy hơi cảm thấy xấu hổ, Cao Văn Tâm thì lại mỉm cười.

Liêu quản sự thấy tình thế không ổn, liền vội đổi đề tài:
- Tiểu nhân nhiều chuyện rồi! Thực ra đại nhân đã đến đó thì đương nhiên là phải nhìn ngắm, thưởng thức phong cảnh vùng sông nước Giang Nam một chuyến. Nói đến phong cảnh, ngày mai chúng ta đến Hàng Châu rồi, những nơi phong cảnh đặc sắc ở Hàng Châu rất nhiều, đứng đầu chính là “Tây Hồ thập cảnh”(3). Phong cảnh ở Tây Hồ còn có rất nhiều câu truyện truyền thuyết, nổi danh nhất chính là về tháp Lôi Phong.

Liêu quản sự thấy vị đại tiểu thư Trương Phù Bảo này xuất hiện thì không còn dám nói về những nét đặc sắc của người con gái vùng Giang Nam nữa mà chuyển sang kể những câu truyện thần thoại. Đương nhiên Dương Lăng cũng biết câu truyện về tháp Lôi Phong nhưng không ngờ câu truyện mà Liêu quản sự kể lại không giống với những gì mà y đã biết.

Theo lời hắn kể, vào năm Thiệu Hưng đời Tống, trong Tây Hồ có yêu quái Bạch xà tu luyện ngàn năm và hầu gái do Thanh ngư (cá trắm đen) hoá thành, trong mưa gặp được một người mở tiệm thuốc tên là Hứa Tiên, hai người vì thế nảy sinh tình cảm, kết làm phu thê. Nhưng Bạch xà và Thanh ngư đều là yêu tinh hoá thân nên không biết lễ nghi nhân gian, thường xuyên làm mất thể diện Hứa Tiên, khiến y khó xử không thôi.

May mắn có vị cao tăng giỏi pháp thuật của Kim Sơn tự là Pháp Hải nhìn thấu nguyên hình của hai con yêu, ông đưa cho Hứa Tiên một chiếc bình bát có pháp thuật. Nhân lúc bọn họ không đề phòng, Hứa Tiên chụp chiếc bát lên đỉnh đầu hai yêu, hai yêu hiện nguyên hình và bị Pháp Hải bắt giữ. Thanh ngư định chạy trốn, bị Pháp Hải huỷ hết pháp thuật phải hiện nguyên hình. Bạch xà bị vị cao tăng đè dưới tháp Lôi Phong, vĩnh viễn không thể siêu sinh.

Liêu quản sự kể xong thì cười nói:
- Hoà thượng Pháp Hải còn từng để lại lời kệ rằng: “Tây Hồ thuỷ kiền, giang hồ bất khởi, Lôi Phong tháp đảo, Bạch xà xuất thế*.” Nước của Tây Hồ làm sao có thể cạn được chứ? Cho nên Bạch xà yêu cũng chỉ có thể vĩnh viễn bị đè dưới tháp Lôi Phong, nhận chịu hết mọi dày vò mà thôi.
* Tạm dịch:
Nước Tây Hồ mà cạn thì giang hồ sẽ không yên.
Khi tháp Lôi Phong sụp đổ cũng sẽ là lúc Bạch xà xuất hiện.

Chàng Hứa Tiên đó được cao tăng cứu giúp, từ đó một lòng hối cải, hành thiện tích đức. Về sau lại cưới vợ sinh con, con trai còn đỗ Trạng Nguyên, cũng xem như gia đình tích thiện rồi.

Trương Phù Bảo tính tình chất phác, nghe xong tức giận nói:
- Cái tên Hứa Tiên đó thực quá vô tình. Tuy Bạch xà là yêu tinh, nhưng đôi bên đều có tình cảm với nhau, lại chưa từng hại hắn. Hắn không quen với hành vi của người ta thì cũng nên niệm tình phu thê mà để người ta ra đi, cớ sao lại giúp tên hoà thượng ác độc khiến thê tử mình chịu khổ dưới tháp Lôi Phong? Bản thân thì lại bỏ vợ, cưới người khác, rồi còn con đàn cháu đống gì đó, hưởng hết vinh hoa phú quý! Như thế còn có thiên lý hay sao?

Chẳng ngờ kể câu truyện này cũng bị nàng mắng, Liêu quản sự không khỏi cứng mồm, đờ cả người. Trương thiên sư thấy vậy cười trách:
- Phù Bảo! Chẳng qua chỉ là một truyện thần thoại thôi, muội so đo làm gì?

Dương Lăng không ngờ câu truyện Bạch xà của thời này lại là một phiên bản như vậy, thế là y nhất thời cao hứng kể câu truyện mà mình được biết. Câu truyện về Thanh xà Bạch xà xuất thế, gặp Hứa Tiên trên cây cầu gãy, lên Nga Mi trộm thuốc cứu chồng, dâng lũ nhấn chìm Kim Sơn, đánh cho Pháp Hải bỏ chạy, được Dương Lăng rù rì kể lại, cảm động lòng người hơn câu truyện của Liêu quản sự gấp không biết bao nhiêu lần. Không những Trương Phù Ngọc nghe say sưa mà cả Cao Văn Tâm cũng lắng nghe đến mê mẩn.

Trương Phù Bảo nghe đến kết cục phu thê đoàn tụ, cùng bay về cõi tiên thì mặt mày rạng rỡ, khen:
- Câu truyện này mới hay.

Rồi nàng cầm một con cua lên, dương dương đắc ý nói:
- Vị Thanh Thanh cô nương đó dùng tam muội chân hoả đốt Pháp Hải, vậy là thần kỹ của đạo gia ta rồi. Ha ha, Pháp Hải bị đuổi đến lên trời xuống đất đều không xong, là trốn trong vỏ con cua này sao?

Dương Lăng lấy làm lạ: "Chẳng lẽ người thời này còn chưa phát hiện đường vân trong mai cua giống hình hoà thượng à?” Y vội cầm một con cua lên, bóc mai ra, quả nhiên vẫn nhìn thấy đường vân giống như hoà thượng đang tĩnh tọa, hình dáng thần thái đây đủ cả, kỳ diệu vô cùng.

Dương Lăng cười đưa cho Trương Phù Bảo nói:
- Cô xem này, lão Pháp Hải đó trốn trên thân con cua đã lâu, giống như Đạt Ma diện bích(4) nhiều năm, để lại cái hình này. Cô xem xem có phải là hoà thượng hay không?"

Trương Phù Bảo cầm lấy đưa lên ánh đèn nhìn kỹ, không khỏi vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ kêu lên:
- Quả nhiên có hoà thượng, quả nhiên có hòa thượng! Ca ca! Thì ra đây không phải là truyện thần thoại, nhất định trước đây thực sự đã có việc này đó!

Trương thiên sư, Liêu quản sự và Cao Văn Tâm ai nấy đều hết sức kinh ngạc tự bóc cua ra quan sát, nhìn thấy mà tấm tắc kêu lạ kỳ. Liêu quản sự cũng khoái chí nói:
- Không ngờ trên đời lại có chuyện kỳ lạ như vậy, trong mỗi con cua lại có một vị hòa thượng. Sao trước nay không ai chú ý nhỉ? Ha ha, thực là thú vị. Tiểu nhân là người Hàng Châu mà cũng chưa từng nghe qua chuyện này. Trở về đem chuyện này kể cho người ta nghe, nhất định trong chốc lát sẽ lan truyền khắp chốn.

Dương Lăng nghe vậy thì giật mình. Câu truyện này đã trải qua không biết mấy thế hệ bổ sung và hoàn thiện, rồi miễn cưỡng ráp vào một ít kỳ văn cổ tích mới trở thành phiên bản của đời sau. Mình nhất thời buột miệng kể ra, hắn lại muốn "xuất bản trước hạn"!

Cao Văn Tâm cũng chưa từng nghe câu truyện này, nhất thời cũng say sưa chìm trong câu truyện tình của Bạch xà và Hứa Tiên. Nàng cảm khái một hồi, dựa vào bóng khuất của ánh đèn lặng lẽ ngắm nhìn vẻ anh tuấn tiêu sái của Dương Lăng, trong lòng thầm nghĩ: "Bạch xà cảm động và ghi nhớ ơn cứu mạng của tiều phu, dám hoá thân thành người, gả làm vợ hắn. Mình... mình thân phận là nô tỳ, song thậm chí cả yêu tinh cũng không bằng, so ra cũng chỉ có thể xem như thị tỳ Thanh xà kia, vác khổ thay người, lo tới lo lui, rốt cuộc vẫn không thành chánh quả."

Cao Văn Tâm nghĩ đến đây, thầm mắng mình một tiếng: "Xì! Mi đang nghĩ bậy nghĩ bạ gì thế, Thanh xà người ta chưa từng có ý với tướng công nhà nàng ấy mà."

Nàng thấy không ai chú ý đến vẻ mặt của mình, không khỏi lại suy nghĩ tiếp trong lòng: "Thanh xà đó ra sức trả công không lời than oán như vậy, thật sự chỉ xuất phát từ tình cảm tỷ muội ư? Nàng ấy... nàng ấy có bao giờ thích vị công tử Hứa Tiên đó không? Nếu nàng ấy thổ lộ tình ý với Hứa Tiên, tiểu thư lại có tình như thủ túc với nàng, Hứa Tiên có sẽ... có sẽ cưới nàng về hay không?" (TheJoker: nếu là mềnh mềnh cưới ngay! Kết em này sau mỗi Ấu Nương thoai hix)

... ... . . .

Đêm đã khuya, gió đã trở lớn, mặt nước nổi lên những bọt hoa sóng trắng, từng đợt từng đợt vỗ vào con thuyền cá nhỏ bé. Dòng cảm xúc của Cao Văn Tâm cũng bắt đầu giống như con thuyền nhỏ trên sóng, dập dềnh chao đảo.

Vầng trăng như lụa, sóng khẽ vỗ bờ, gió thu nhẹ thổi, ánh mắt mông lung. Con tim không rượu cũng say.

****************

Xa giá nghênh đón quan khâm sai đã đợi trên bến thuyền từ lâu. Mặt trời còn chưa xế núi, thái giám trấn thủ lương trà* Mạc Thanh Hà, thái giám trấn thủ dệt may Tô Hàng kiêm chưởng quản ngự dụng long y** Lý Đại Tường cùng thái giám trấn thủ thuế quan thủy bộ Viên Hùng đã dẫn đầu đám người ra sông đón đợi.
(*: lương thực và trà
**: quần áo hoàng thất)

Dương Lăng là xưởng đốc Nội xưởng, chuyện y xuôi Nam tuần tra trưng thu thuế má không can hệ với Tam ty lắm, nhưng thân phận của Dương Lăng hiện tại không thể coi thường. Vì vậy Bố chánh sứ, Án sát sứ và Đô chỉ huy sứ của Chiết Giang cũng chạy đến nghênh đón. Tri phủ Hàng Châu Dương Vu Anh là chủ nhà song lại bị chen lấn, đẩy dạt sang một bên.

Do sứ giả mau mồm mau miệng rao truyền tin Trương thiên sư cưỡi thuyền quan của Dương đại nhân cùng đến Hàng Châu, đám đạo trưởng của mấy đạo quán lớn ở địa phương cũng rất cao hứng đến bến thuyền chờ đón tổ sư gia, chen lấn đứng cùng đám danh nhân thân sỹ của địa phương.

Điển sứ, tuần kiểm mặt mày căng thẳng đang chỉ huy hơn trăm nha sai duy trì trật tự.

Đoàn long kỳ màu vàng sậm vừa đập vào mắt, đám người liền bắt đầu nhốn nháo. Ba đại thái giám trấn thủ và các vị quan lại vén áo bào chậm chậm bước xuống thềm đá, đi đến đầu bến. Thuyền lớn vừa cập bờ, đội chiêng trống do đám thân sỹ tổ chức liền nổi nhạc ầm lên, pháo nổ đì đùng không dứt, khắp nơi nhất thời mịt mù khói pháo.

Đạp ván xuống thuyền, hai bách hộ dẫn hơn trăm tay nha sai bước xuống thuyền trước, chia thành hai hàng hình cánh nhạn. Dương Lăng và Trương thiên sư vừa sánh bước xuất hiện, lập tức trên bến thuyền tiếng tung hô loạn lên:
- Hoan nghênh đề đốc nội xưởng, thị vệ thân quân khâm sai Dương đại nhân!
- Vô lượng thiên tôn, đệ tử cung nghênh thiên sư pháp giá quang lâm!

Trông thấy cảnh hỗn loạn đó, Trương thiên sư và Dương Lăng không khỏi nhìn nhau cả cười. Trương thiên sư lần này đến Hàng Châu với thân phận cá nhân nên không muốn dây dưa với phía quan lại lắm; thiên sư chỉ chào hỏi chuyện trò cùng các vị quan lại đến nghênh đón một lúc rồi dẫn em gái mình đến gặp đạo nhân và tín đồ của các đạo quán ở địa phương.

Trước mặt Dương Lăng là một đám quan viên đang khúm na khúm núm túm tụm vây quanh y. Thuế giám lương trà Mạc Thanh Hà Mạc công công đi đầu bước lên phía trước, mỉm cười thi lễ:
- Khâm sai đại nhân đi đường mệt nhọc, thật vất vả rồi. Ty chức Mạc Thanh Hà cùng Lý Đại Tường, Viên Hùng và quan viên của Tam ty cung nghênh đại nhân.

Dương Lăng quan sát hắn. Vị đại thái giám Mạc Thanh Hà này tuổi trạc tứ tuần, vóc người cao to, dáng vẻ đường đường. Mặc dầu hắn là công công trấn thủ địa phương, phẩm hàm không bằng đám công công của ty Lễ Giám trong kinh, nhưng có lẽ bởi không phải hầu hạ dưới chân thiên tử nên ngực hắn ưỡn cao, không như đám thủ lĩnh Ty lễ giám đầy quyền lực nhưng lưng vai lúc nào cũng quen khom cúi; khí chất phong độ ấy trông thật bất phàm.

Hai thái giám phía sau lại không bằng anh bằng em. Thái giám trông coi dệt may Lý Đại Tường da thịt trắng bủng, mày đen mắt híp, thực có mấy phần ẻo lả. Còn Viên Hùng cai quản ty thuế quan, kiêm nhiệm giám quân sứ giám sát mấy ngàn quân của Long Sơn vệ lại gầy gò nhỏ thó, cằm nhọn má hóp, mặc bộ quan bào rộng thùng thình, như thể gặp gió thổi liền sẽ bay lên trời vậy.

Hai người cũng vội vàng bước lên ra mắt Dương Lăng. Không những Dương Lăng là khâm sai, là xưởng đốc Nội xưởng, mà sau này còn là lãnh đạo trực tiếp của ba người. Ba ông chúa đất địa phương này dĩ nhiên sẽ khom lưng uốn gối ra sức bợ đỡ y rồi.

Đợi ba người vỗ mông ngựa một trận xong, Bố chánh sứ ty Ngưu đại nhân mới cùng hai vị đại nhân khác bước lên, cười nói với Dương Lăng:
- Cung nghênh khâm sai đại nhân! Dương đại nhân đi đường vất vả, chúng tôi đã bày tiệc rượu ở lầu Túy Tiên tiếp đãi tẩy trần cho đại nhân rồi. Mời đại nhân sang ngồi kiệu, chúng ta đến nơi sẽ nâng chén kính lời, thỏa sức no say.

Tuy các vị quan to địa phương này không sánh bằng mấy vị thái giám nọ, nhưng Dương Lăng cũng không dám vô lễ với bọn họ, y bèn vội ôm quyền từ tạ:
- Bản đốc phụng chỉ tuần tra, các vị đại nhân trăm bề bận rộn mà vẫn đến nghênh tiếp, thực khiến tại hạ sợ hãi. Thật ra tại hạ đi đường mệt mỏi, lúc này mong muốn nhất là được tắm rửa một hồi, nghỉ ngơi cho khoẻ, thật sự không muốn làm phiền đến các vị đại nhân.

Mạc Thanh Hà nghe vậy vội cười nịnh:
- Xưởng đốc đại nhân! Lầu Túy Tiên nằm ngay dưới chân núi Cô Sơn*, cách hành dinh khâm sai của ngài chỉ có một dặm đường. Các vị đại nhân đều có lòng tốt, xin xưởng đốc đại nhân chớ nên khước từ.
(* thực ra chữ “sơn” đã là núi rồi, nhưng nhóm dịch vẫn giữ nguyên “Cô sơn” để đọc khỏi thấy trỏng trỏng, giống như vẫn giữ “sông Hoàng Hà” vậy)

Dương Lăng nghe hắn nói vậy cũng không tiện từ chối quá mức. Chén tạc chén thù trên quan trường vốn là chuyện nể mặt mũi nhau, nếu như anh không đi, mặc dù tiết kiệm được tiền bạc cho người ta nhưng chắc chắn trong lòng người ta cứ vẫn không vui. Y đành mỉm cười đáp:
- Nếu như thế thì làm phiền các vị rồi.

Mạc công công vui vẻ kêu người lên thuyền đưa hành trang của Cao Văn Tâm và Dương Lăng về hành dinh, còn mình và các vị đại nhân và những nhân vật danh tiếng địa phương đi cùng Dương Lăng. Chỉ kiệu quan không đã là mấy chục cái, phía trước có đoàn gõ chiêng dẹp đường, đoàn người cuồn cuộn thẳng hướng đến lầu Túy Tiên mà đi.

Lầu Túy Tiên là tửu lâu nổi tiếng và xa hoa nhất Hàng Châu, nằm ngay dưới chân núi Cô Sơn. Tuy những tửu lâu xa hoa của kinh sư cũng rường cột chạm trổ, nguy nga lộng lẫy như thế, nhưng luận về ý cảnh sẽ không thể nào sánh được với nơi này. Dương Lăng bước vào tửu lâu mà như đang đi vào một lâm viên. Hành lang bên trong đình viện rộng lớn uốn lượn khúc khuỷu quanh co, hoa thơm chim hót. Trong sân có vài căn gác nhỏ tinh xảo độc đáo, thi thoảng vẳng ra những tiếng đàn du dương.

Hàng người đi qua ba khu lạc viện, men theo con đường nhỏ rải đá trắng tinh, vượt qua một chiếc cầu nhỏ nên thơ, xuyên qua một khu rừng trúc mới đến một căn gác nhỏ. Những cây trúc cao lớn che chắn làm nổi bật căn gác nhỏ màu hồng trong đó. Trúc xanh đong đưa giam hờ căn gác trong sự thanh tao tĩnh mịch, khiến người ta cảm thấy vui vẻ thoải mái. Dương Lăng vừa trông thấy, thân thể đang mệt mỏi lập tức phấn chấn lên.

Khi nãy trong kiệu y vẫn chưa kịp ngắm cảnh sắc Giang Nam, giờ chỉ cần nhìn thấy một góc này quả nhiên đã tựa như tiên cảnh. Mọi người bước vào gác, phân ngôi chủ khách an tọa. Còn chưa kịp chuyện trò, một hàng thiếu nữ váy trắng vải xanh, tà áo tung bay đã bưng trái cây và trà thơm lả lướt đi tới.

Váy áo tung bay, dáng người tha thướt, mắt như thu thủy, mày tựa núi xa. Những người con gái này dung mạo tịnh không phải tuyệt sắc thượng thừa, song hiếm thấy chính là ngũ quan đều tinh xảo như nhau. Từng cái nhíu mày, mỉm cười, mỗi bước đi, dừng lại đều mang theo sự ung dung dịu dàng đặc trưng của người con gái miền sông nước.

Nếu nói lâm viên nhìn thấy khi nãy là một phong cảnh thoát tục, thì những người con gái thướt tha như liễu lay trong gió này há chẳng phải cũng u nhã như vậy ư?

Dương Lăng nhìn mà không khỏi lộ ánh mắt tán thưởng. Mạc Thanh Hà trông thấy bèn đưa mắt nhìn sang Viên Hùng ngồi đối diện mỉm cười, rồi nâng chén lên mời:
- Xưởng đốc đại nhân từ phương Bắc đến, tất nhiên tửu lượng không tầm thường. Rượu Giang Nam có vị nhạt tinh thơm, mời đại nhân uống cạn ba chén trước! Hôm nay chúng ta không say không về!



---



Chú thích:

(1) Rồng là một vật có thể đùa bỡn, thậm chí có thể cưỡi. Nhưng ở dưới cái cổ của nó có cái vảy ngược dài một thước ta (3 tấc). Ai động đến thì bị nó giết ngay. Các vị vua chúa cũng có cái vảy ngược, kẻ du thuyết không sờ phải cái vảy ngược của vua chúa thì mới có thể là người giỏi. (trích ký lục Tư Mã Thiên)
(2) nguyên văn Cơ Phong, là thuật ngữ thiền lâm, còn gọi là thiền cơ, là lời nói mang ngụ ý sắc bén, thâm ảo.
(3) Mười cảnh đẹp của Tây Hồ (西湖十景-Tây Hồ thập cảnh), được hình thành vào thời Nam Tống, chủ yếu nằm rải rác xung quanh Tây Hồ, thường được mô tả như sau:
Tô đê xuân hiểu: Buổi sáng mùa xuân trên đê Tô (do Tô Đông Pha đắp)
Liễu lãng văn oanh: Chim oanh hót trong bụi liễu
Hoa cảng quan ngư: Xem cá tại ao hoa
Khúc viện phong hà: Hương sen thổi nhẹ tại sân cong
Nam Bình vãn chung: Chuông chiều ở núi Nam Bình
Bình hồ thu nguyệt: Trăng mùa thu trên hồ yên bình
Lôi Phong tịch chiếu: Tháp Lôi Phong trong ánh sáng buổi chiều
Tam đàm ấn nguyệt: Ba đầm nước phản chiếu ánh trăng
Đoạn kiều tàn tuyết: Tuyết còn sót lại trên cầu gãy
Song phong sáp vân: Hai ngọn núi đâm vào mây (theo wiki)
(4) theo truyền thuyết, Đạt Ma sư tổ diện bích (quay mặt vào tường) tham thiền nhập định chín năm rồi viết nên Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh làm nên nền tảng võ thuật Thiếu Lâm, thế nên có câu "cửu niên diện bích" là vậy. Dương Lăng mượn câu nói này.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
28-07-2011, 11:49 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 124: Quỷ Quyệt Khó Biết (phần 2)

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng nghe thế suýt nữa thì cắn phải lưỡi. Thái giám cũng có thể lấy vợ sao? Hơn nữa còn công khai táo bạo như vậy nữa? Đây là thế giới gì vậy trời?

Y lại nhìn vị mỹ nữ áo xanh tươi cười xinh đẹp, rồi nghĩ đến ông chồng thái giám của nàng ta, trong nháy mắt tất cả mọi linh phụ kiện trong đầu đều tan vỡ.




------------------------
Chương 124 Quỷ quyệt khó biết (phần 2)

------------------------

Hành dinh của khâm sai nằm bên trong một trang viện. Cơ ngơi rộng lớn này là dinh thự của thuế giám Mạc Thanh Hà, chiếm gần một khoảnh (100 mẫu, khoảng 6,7 héc-ta), chia làm tiền viện và đông, tây khóa viện*. Bây giờ tây khóa viện đã được dọn dẹp sạch sẽ, tạm thời dùng làm hành dinh của khâm sai. (*: từ điển giải nghĩa khóa viện là nhà ngang, ta có thể hiểu là một dãy phòng nằm ở hướng đông và một dãy khác nằm ở hướng tây)

Cơ ngơi này vốn là một kiến trúc lâm viên trang nhã và tinh mỹ, khắp nơi đều là giả sơn, hành lang uốn khúc, ao cá, hoa cỏ. Chuyến đi này Dương Lăng chỉ mang theo một thị tỳ là Cao Văn Tâm, còn lại toàn bộ đều là nha sai nội xưởng. Mạc Thanh Hà hào sảng mang nửa số nhân viên phục dịch trong phủ mình như nha hoàn, bà hầu, đầu bếp, vân vân đẩy sang hầu hạ y, có thể nói là dốc đủ vốn liếng với vị khâm sai đến từ kinh đô này.

Hai chiếc kiệu được khiêng về Mạc phủ, dừng lại dưới hành lang trước gian thứ nhất. Hành lang uốn khúc kiểu kiến trúc Giang Nam này được xây theo kiểu chật hẹp nên dưới hành lang hơi có vẻ âm u, trên tường thỉnh thoảng có vài cửa vào nhỏ hẹp xây thẳng lên đến nóc, sơn cùng màu với bức tường. Nếu không để ý nhìn có thể sẽ không biết bên cạnh còn có một cửa ra vào, đẩy cửa mở ra sẽ xuất hiện một thế giới khác ở bên trong.

Dương Lăng và Mạc Thanh Hà lần lượt ra khỏi kiệu, lúc này bên ngoài đang lất phất mưa phùn. Mưa thu rả rích thấm ướt những chiếc lá của cây cỏ dưới hành lang khiến chúng sáng óng ánh. Mặc dù ngắm nhìn và lắng nghe tiếng mưa rơi tí tách, thấu được ý nghĩa sâu xa của trời thu mát mẻ tự nhiên ta sinh ra một cảm giác cô quạnh, nhưng quang cảnh này lại không hề mang vẻ điêu linh của cái thu sắp sang đông.

Mạc Thanh Hà cười nói với Dương Lăng:
- Đại nhân! Mời ngài về nghỉ ngơi tạm cho khỏe, ngày mai ty chức sẽ báo cáo với đại nhân về tình hình thuế má vùng Giang Nam.

Lúc tiếp rượu, Dương Lăng đã bị đám quan viên thân sỹ chuốt cho mấy chén, nay y đã cảm thấy đầu óc quay cuồng, chỉ muốn leo lên giường uống chén trà xanh rồi nghỉ ngơi. Huống chi lúc y lên bờ đã dặn người bắt liên lạc với đám người Liễu Bưu vốn đã được phái đến nơi đây trước, cho nên nghe vậy y vội vàng gật đầu.

Đúng vào lúc này, một tràng cười êm tai vọng đến. Bên hành lang đối diện, một cánh cửa hẹp cao đến nóc có cùng màu sơn với tường đột nhiên mở rộng, một người con gái mặc áo xanh đang xoè cây dù bằng giấy dầu khom người nhanh nhẹn lách mình bước ra. Theo sau nàng ta là hai cô gái mặc áo hồng cũng đang cất tiếng cười đùa cùng bước ra.

Dương Lăng liếc mắt nhìn, y thấy đằng sau cửa hông đó lại là một hoa viên. Chỉ liếc nhìn qua khe cửa mà đã cảm thấy phong cảnh thật hữu tình, tinh tế và xinh đẹp tuyệt luân, tựa như cõi bồng lai.

Y lại nhìn ba người con gái nọ. Cả ba đềunđẹp đến nín thở khiến y ngẩn ngơ. Màu áo đỏ bắt mắt hơn, nhưng chỉ liếc một cái, ánh mắt của mọi người đều sẽ chỉ dừng trên thân mình của người con gái mặc áo xanh. Người con gái đó thực khiến người ta phải choáng ngợp.

Tường trắng cao cao, đường lát đá xanh màu đen nhạt, dây bìm bìm mọc dài dọc trên kẽ hở hành lang như thể đã im lìm tồn tại từ rất lâu về trước. Người con gái áo xanh hài đỏ một tay cầm cây dù giấy dầu màu vàng, một tay vén váy, mỉm cười duyên dáng từ trong vẻ cổ kính ấy lướt nhẹ ra.

Vẻ mỹ lệ, ống tay áo, con hẽm nhỏ. Độ sâu sắc ấy, sự tĩnh lặng của khung cảnh ấy cô đọng và súc tích tựa Đường thi, thanh nhã và thâm thúy như Tống từ. Có nàng nhẹ nhàng lướt qua, phong cảnh cổ kính dường như cũng hoà vào sự khẽ khàng, kiều diễm, mềm mại và ngọt ngào của nàng, bất giác trở nên ấm áp say lòng người.

Trông thấy kiệu quan, người con gái vui mừng kêu lên:
- Lão gia đã về rồi à?

Nàng thong dong đưa mắt nhìn sang. Trông thấy Dương Lăng, thoạt tiên nàng hơi ngẩn người, sau đó nàng vẫn vén váy, cầm dù đi giữa sắc xanh của những bồn cảnh chậu kiểng bước đến gần.

Giọt nước trên ngọn cỏ xanh lăn xuống theo bước chân êm ái của đôi hài đỏ. Trong khoảnh khắc ấy, Dương Lăng có ảo giác dường như nàng là một người ngọc bằng nước mặc y phục cũng bằng nước, đang bước trên dòng nước trong vắt.

Người con gái đi thẳng tới, đôi mắt sáng ngời như sóng nước thoáng hiếu kỳ liếc nhìn vẻ tự nhiên phóng khoáng của Dương Lăng, sau đó nhún người mỉm cười duyên dáng chào Mạc Thanh Hà:
- Lão gia!

Giọng của nàng trong như tiếng suối vỗ đá, êm ái, giòn tan. Khi nàng khẽ cười, dung nhan mỹ lệ chói ngời tựa ánh mặt trời, khiến cho hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

Không ngờ thế gian lại có người như vậy! Dương Lăng không khỏi kinh ngạc tán thán tự đáy lòng.

Xét về sắc đẹp, Liên Nhi và Ngọc Nhi tuyệt không thua kém người con gái này, thậm chí còn hơn một bậc, nhưng vẻ phong tình của hai cô đem so với nàng, quả chỉ như những con nhóc ranh chưa đủ lớn. Khí chất thùy mị thành thục ấy của nàng do được hun đúc qua năm tháng, giống như ruợu ngon tinh chất, tuyệt không phải là sắc đẹp vốn có hay được huấn luyện mà có thể hình thành.

Người con gái Giang Nam dáng người cao thon, dung nhan thuần khiết như nước này, tuổi tác xem ra khoảng chừng hai bảy, nhưng sinh cơ và sức sống ấy lại khiến nàng trẻ đi ít nhất mười tuổi. Ngũ quan xinh xắn, cử chỉ dịu dàng của nàng khiến cho người ta không khỏi nghĩ tới vẻ đẹp của thiếu nữ giặt lụa, sóng xanh nước biếc, em bé hái sen(5).

Lúc đối diện với Dương Lăng, Mạc Thanh Hà luôn khoác lên vẻ mặt siểm nịnh và khôn khéo, nhưng khi nhìn thấy người con gái này, trong mắt hắn lại tràn trề sự dịu dàng và hạnh phúc. Hắn âu yếm:
- Trời đang mưa mà nàng nghịch ngợm trong vườn như con nít vậy. Mau ra mắt khâm sai Dương đại nhân đi!

Người con gái mỉm cười, đôi mắt tràn đầy sức sống lướt nhanh trên khuôn mặt anh tuấn của Dương Lăng một vòng, nhỏ nhẹ chào:
- Tiện thiếp bái kiến đại nhân!

Dương Lăng vội chắp tay, đưa mắt nhìn sang Mạc Thanh Hà, không biết nên xưng hô thế nào. Mạc công công cười lớn giới thiệu:
- Đây là tiện nội. Ngày thường ty chức quá cưng chiều nàng nên cô ta không biết nề nếp gì cả, lại khiến đại nhân chê cười rồi!

Dương Lăng nghe thế suýt nữa thì cắn lưỡi. Thái giám cũng có thể lấy vợ sao? Hơn nữa còn công khai táo bạo như vậy nữa? Đây là thế giới gì vậy trời?

Y lại nhìn vị mỹ nữ áo xanh tươi cười xinh đẹp, rồi nghĩ đến ông chồng thái giám của nàng ta, trong nháy mắt tất cả mọi linh phụ kiện trong đầu đều tan vỡ. Y cố gượng cười chào hỏi:
- Thì ra là Mạc phu nhân, thất kính thất kính. Ờm... bản quan đã hơn mệt rồi, bây giờ... bây giờ sẽ về phòng nghỉ ngơi.

Dương Lăng vội vã hàn huyên mấy câu, rồi lơ mơ đi theo gia đinh băng qua một cửa hông khác. Sau lưng vọng lại tiếng Mạc công công không thể chờ được nữa bắt đầu "dạy dỗ" vợ:
- Tiểu Lâu! Trời mưa mà nàng còn chạy nghịch trong sân, chẳng nết na gì cả, khiến khâm sai đại nhân chê cười kìa.

Tiếp sau đó là một tràng cười hờn mát rung động đến tâm can:
- Lão gia! Người ta có một mình buồn quá hà. Người tốt ơi, chàng về thì hay rồi, mau cùng người ta về phòng trò chuyện nào.

Dương Lăng tưởng tượng cảnh cánh tay ngọc ngà của nàng ta nhẹ nhàng thong thả quấn quanh cổ Mạc Thanh Hà, làm ra vẻ nũng nịu quyến rũ. Khi nãy còn thánh khiết như một dòng suối mát, thoắt cái đã có thể hoá thân thành một bát canh mê hồn*, khiến y càng cảm thấy khó hiểu: "Mạc Thanh Hà thực ra dáng vẻ đường đường, nhưng hắn... suy cho cùng là một thái giám mà. Thái giám cưới vợ, hai vợ chồng còn rất đằm thắm nữa, chuyện này là sao vậy nhỉ. Lẽ nào chuyện này không trái với chế độ sao? Ừm... quay về hỏi thử Văn Tâm cái đã." (*: thuốc lú)

Trong tiền viện, Mạc Thanh Hà dắt tay ái thê về phòng, đóng cửa lại. Nàng lập tức châm trà, hay tay bê đến trước mặt hắn, yêu kiều nói:
- Lão gia, mời dùng trà. Y chính là người lão gia nói do trong kinh phái đến điều tra đó sao? Hi hi, thật là một vị khâm sai trẻ tuổi.

Mạc công công đón lấy chén trà, thuận tay kéo bàn tay ngọc của nàng. Người con gái liền kêu lên một tiếng yêu kiều, nhẹ nhàng sà xuống ngồi lên đùi hắn, hai tay choàng qua cổ hắn.

Khuôn mặt xinh xắn của nàng khẽ ửng hồng, hơi thở cũng trở nên gấp gáp, nàng thỏ thẻ với Mạc công công:
- Đáng ghét! Lão gia mới vừa trở về lại muốn... lại muốn làm chuyện xấu gì đó?

Sắc mặt trầm tĩnh, trong mắt không hề chứa chút dục vọng, Mạc công công khoan thai nói:
- Tiểu Lâu! Người này niên kỷ tuy nhỏ, nhưng ta không thể xem thường. Trong triều đình, nội triều thì có mấy vị công công Vương Nhạc, Phạm Đình và Miêu Quỳ, ngoại triều có mấy vị đại học sỹ Lưu Kiện, Tạ Thiên và Lý Đông Dương, vậy mà chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi y đã có thể táo bạo nổi lên, đồng vai đồng vế với bọn họ. Người này có thể đơn giản sao?

Vị mỹ nữ tên gọi Tiểu Lâu dựa sát vào tay y hớp một ngụm trà, đoạn áp môi mình vào môi hắn dùng miệng làm chén mớm trà, sau đó vui vẻ cười nói:
- Nô gia chỉ tán thưởng dũng khí kháng chỉ cứu thê của y, chỉ tiếc cuối cùng y còn nạp thêm hai người thiếp đẹp về nhà. Nô gia nghe nói bên tây khoá viện còn có một vị cô nương xinh đẹp vào ở. Hừ! Y chỉ là một tên ngụy quân tử mua danh cầu tiếng!

Mạc công công cười nhạt, véo mạnh mông nàng một cái, nói:
- Nếu y thật sự là dạng người đó, vậy lại dễ xử. Phu nhân xinh đẹp của ta ra tay, còn không khiến y thần hồn điên đảo, xương cốt rã rời, mũ giáp tả tơi, ngoan ngoãn cúp đuôi về phủ ư!

Tiểu Lâu cố ý kêu lên một tiếng ngọt ngào, cắn chiếc môi đầy đặn hấp dẫn, bộ ngực cao vút phập phồng:
- Lão gia... chàng lại muốn người ta tiếp... tiếp...

Mạc công công nắm chặt cổ tay trắng ngần của nàng, thở dài:
- Tiểu Lâu! Nàng biết ta... ta không thể cho nàng... Ôi! Chỉ cần con tim nàng ở bên ta, những chuyện vui người vui mình, ta sẽ không ngăn cản nàng.

Miệng nói như vậy, song sâu thẳm trong đôi mắt hắn lại chợt lóe lên một sự đau thương sâu sắc.

Tiểu Lâu ôm lấy người hắn, nói:
- Lão gia! Đều do Tiểu Lâu nói sai rồi. Trong lòng Tiểu Lâu chỉ có một mình lão gia, mãi mãi vẫn vậy. Bất luận lão gia muốn Tiểu Lâu làm gì, chỉ cần có lợi cho lão gia, Tiểu Lâu... Tiểu Lâu đều vui lòng!

Mạc công công che dấu nỗi thống khổ, khoác lên bộ mặt vui vẻ rồi véo một cái lên bộ ngực mềm mại nẩy nở mê người của nàng, cười nói:
- Đương nhiên là nàng chịu rồi, tiểu tử đó vừa trẻ tuổi lại anh tuấn. Cái tuổi như sói này của nàng lại gặp con sói trẻ khôi ngô xuất chúng như vậy, còn không sướng như tiên ư?

Vẻ mặt của hắn rõ ràng là hết mực sủng ái người con gái áo xanh này, tình yêu đó tuyệt đối xuất phát từ chân tâm, tuyệt không giả tạo. Nhưng khi nói về việc nàng ta đi tiếp nam nhân khác, vẻ mặt hắn lại vẫn hết sức thản nhiên, thể như đã hoàn toàn chia tách tình yêu và dục vọng thành hai bộ phận bất đồng.

Tình cảm của người con gái tên là Tiểu Lâu ấy đối với hắn cũng như vậy; nghe hắn bàn chuyện để mình, là người vợ của hắn, đi quyến rũ người ngoài giao hoan như thế nào mà cứ như là giao tiếp uống rượu làm thơ bình thường, hoàn toàn không hề e ngại. Cặp vợ chồng có tình cảm kỳ lạ này thực sự khiến người ta không thể hiểu được.

Hai người trêu đùa một hồi, Tiểu Lâu lo lắng nhíu mày hỏi:
- Nhưng mà... lão gia khẳng định vị khâm sai này ít kinh nghiệm, không lo y đang giả heo ăn thịt hổ sao? Nghe nói ở trong kinh y phạm vào đại tội khi quân, nhưng sau cùng chẳng những bình yên vô sự mà còn hạ bệ được ba vị thượng thư nữa. Như thế, làm sao y là người không có chút thủ đoạn cho được?

Giờ y mới lên làm xưởng đốc, tiếp quản thuế giám các nơi khắp cả nước. Lần này y đến Giang Nam, không biết chừng chính là để giết người lập oai. Lão gia vẫn nên cẩn thận là hơn.

Mạc Thanh Hà mỉm cười ấm áp, đáp:
- Đó là lẽ đương nhiên. Giết người tuy có thể lập oai, nhưng trấn thủ sứ các thành các trấn trên thiên hạ ai ai đã không từng giết mấy mạng người? Ta thấy y vừa nhậm chức liền tìm đến chúng ta, ba đại trấn thủ sứ Nam Trực Lệ giao nộp nhiều thuế khóa nhất nước, sẽ không phải là vì chúng ta chậm giao thuế má, mà là muốn giở chút thủ đoạn vừa đấm vừa xoa. Chỉ cần ba người chúng ta bị y hàng phục, ty thuế giám ở khắp nơi trong nước sẽ tự xuôi theo chiều gió.

Tiểu Lâu lấy làm lạ hỏi:
- Nếu Hoàng Thượng đã hạ chỉ giao ty Thuế Giám cho y, sao lão gia không nương nhờ y sớm một chút, còn muốn đọ sức cùng y một phen là vì cái gì thế?

Mạc Thanh Hà cười ha hả đáp:
- Người đẹp ngoan của ta ơi! Đi nương nhờ người sớm thì đương nhiên có thể được trọng dụng, nhưng y có phải là người chủ có thể nương nhờ hay không? Nếu như nương nhờ nhầm người thì... Nàng thử nghĩ khi ty Thuế Giám trở về lại tay ty Lễ Giám, mấy vị công công trong kinh đó ăn chay sao? Cứ xem thử trước đi đã. Tuy thấy chúng ta ở địa phương muốn gió có gió, cầu mưa được mưa, quan lớn địa phương đều chỉ có thể lấm lét mà nhìn, nhưng trong mắt của đám quan lớn trong kinh này, chúng ta không phải chỉ là một con kiến có thể bị bóp chết bất cứ khi nào ư? Không thể không cẩn thận đâu...

Hắn thở dài một hơi, rồi phấn chấn tinh thần lại, ôm chặt lấy bờ eo thon của mỹ nhân trong lòng, cười nói:
- Mưa xuân nghe vẳng đêm lầu nhỏ, hoa hạnh rao dần sớm ngõ xa (6). Có nhân vật phong lưu đệ nhất Giang Nam như nàng đây, cho dù vị Dương xưởng đốc này thật sự là kẻ lợi hại, lão gia ta còn sợ y không chịu thu nhận ta hay sao? Ha ha ha, chỉ dựa vào đôi mắt làm say lòng người, thân thể quyến rũ này đây của nàng, trong thiên hạ có nam nhân nào mà không yêu thương say đắm nàng kia chứ?

Cùng với sự chòng ghẹo của hắn, trong căn phòng cất lên tiếng thở yêu kiều nhè nhẹ. Trong chốc lát, những tiếng rên khe khẽ lay động con tim từ trong phòng vọng ra, khiến cả cơn mưa thu giăng đầy trời cũng mờ mịt mang theo ý xuân.

Mãi đến lúc lên đèn, Mạc công công mới mở cửa phòng, quay đầu lại cười nói:
- Ta còn hẹn người khác gặp mặt. Bảo bối của lòng ta, nàng hãy mau thức dậy rồi tắm rửa thay đồ đi, giường bị nàng làm ướt hết rồi.

Một chiếc hài thêu hoa ném tới một cách yếu ớt, đập bộp lên cửa, đi kèm với tiếng rên rỉ liên tục khiến lòng người run rẩy là một giọng nói vô cùng quyến rũ cất lên:
- Quỷ tha chết chàng đi, bỏ rơi người ta dở lỡ, thật là khó chịu. Người ta vẫn còn muốn mà, hãy đổi cái giác tiên sinh* đi..." (*: dương cụ giả)

Mạc công công cười lớn rồi đáp:
- Cô nàng lẳng lơ ơi, một cục sắt cũng có thể bị nàng làm chảy không còn một mẩu đó.

Hắn vừa nói vừa đóng cửa phòng lại. Cửa phòng vừa đóng, nụ cười trên khuôn mặt hắn cũng như bị đóng lại, lập tức biến mất. Hắn đứng lặng im một hồi, nghe thấy trong phòng không có tiếng động gì, lúc này mới hài lòng mỉm cười, lặng lẽ xuống lầu, vòng trái rẽ phải, đi một hồi lâu mới vòng vào một phật đường.

Phòng ốc ở Giang Nam, cho dù là gia đình giàu có, cũng thường xây nhiều nhà nhiều cửa. Toàn bộ phòng sảnh,đình, lầu, bệ, gác nối với nhau bởi những dãy hành lang uốn khúc quanh co, khúc khủy. Nếu không quen nhà quen cửa, đi loanh quanh một hồi lâu chắc chắn sẽ bị lạc đường, thậm chí đến cửa ra vào cũng tìm không được.

Trong phật đường, trên hương án đốt hai cây đèn cầy, trên bồ đoàn có một người mặc đồ đen ngồi xếp bằng, hai tay đặt trên gối như đang nhập định.

Mạc công công vừa vào cửa, người áo đen lập tức búng người dậy, thân thủ cực kỳ linh hoạt. Mạc công công đóng cửa lại, mừng rỡ nói:
- Ngươi đến thật đúng lúc.

Âm điệu Giang Nam của người đó có vẻ hơi cứng, gã đáp cộc lốc:
- Nhận được lệnh Mạc gia triệu đến, ta lập tức khởi hành, một khắc cũng không trễ. Không biết Mạc gia muốn ta chạy đến ngay tức khắc là có gì dặn bảo?

Mạc công công ngoắc tay kêu người đó đến gần, to nhỏ thì thầm một hồi. Người đó nghe xong do dự nói:
- Y là khâm sai, làm như vậy có sẽ làm sự việc ầm ĩ lên không? Chỉ sợ đối với ngài và ta đều bất lợi.

Mạc Thanh Hà cười gian trá đáp:
- Ta chỉ muốn ngươi đề phòng chuyện chằng may. Nếu như Dương Lăng quả thật có chút thủ đoạn, đáng để ta theo, vậy ta tận tâm hiến sức cho y cũng không sao. Có điều ý đồ đến của y thực sự khó dò. Đây chỉ là đề phòng ngộ nhỡ, nếu y có lòng muốn bắt giết ta, vậy thì... Ngươi cũng nên biết, nếu như không có ta ở đây bảo vệ, chiếu cố, các ngươi khó mà sinh sống qua ngày. Cả vùng duyên hải còn có thể để cho các ngươi kiếm sống sao?

Người mặc đồ đen nọ chần chừ một lát, rồi nói:
- Được! Trong khoảng thời gian này chúng ta sẽ bày trận chờ địch. Nếu như Mạc gia cần đến, chỉ cần ngài ra lệnh một tiếng, bọn ta sẽ lập tức đem quân giết tới.

Mạc Thanh Hà nghe vậy cười lớn:
- Rất tốt! Các ngươi là nước cờ cuối cùng của ta. Nếu như Dương Lăng thức thời, vậy thì tốt cho ngươi, cho ta và cho mọi người. Nếu như y khinh người thái quá, các ngươi cứ việc mạnh dạn mà làm, cục diện hỗn loạn sau đó đương nhiên sẽ do ta thu dọn!

****************

Dương Lăng loạng choạng bước vào phòng ngủ, ngã vật xuống giường ợ một tiếng rồi nói với những gia bộc đưa y về:
- Được rồi, ta muốn nghỉ ngơi một lúc, các ngươi lui ra đi.

Hai gia nhân vâng vâng dạ dạ rồi lui ra, nhẹ nhàng đóng cửa phòng lại. Dương Lăng cảm thấy chăn đệm mềm mại lại thêm mùi thơm nhàn nhạt, khiến cho người nằm bên trên chỉ muốn say sưa.

Y khoan khoái rên lên một tiếng, áp gò má nóng hổi lên chiếc chăn bông mịn màng trơn truột. Rời khỏi cái giường cứng ngắc trên thuyền mà y vừa nằm ngủ, vốn y đã hơi choáng váng rồi, huống hồ y lại uống thêm mấy ly rượu nên giờ thật sự y chỉ muốn cứ vậy mà nằm ngủ.

Dương Lăng vừa muốn chợp mắt, chợt cánh cửa két một tiếng, mở ra. Dương Lăng hé mắt nhìn thấy Cao Văn Tâm bưng một cái khay bước vào, thế là y rên một tiếng, nhăn nhó khổ sở.

Cao Văn Tâm nhẹ nhàng đặt khay lên bàn, trở lại đóng chặt cửa, sau đó quay lại cúi xuống nhìn y. Người Dương Lăng đầy mùi rượu, Cao Văn Tâm không khỏi nhíu đôi mày thanh tú, dường như không quen với mùi rượu lắm. Nàng khẽ gọi:
- Lão gia, lão gia, dậy uống thuốc đi!

Dương Lăng rên một tiếng, nói:
- Văn Tâm tốt bụng ơi, tha cho tôi đi! Tôi váng đầu lắm, cô để tôi ngủ một lát, ngày mai hãy uống nhé, để mai hãy uống.

Dương Lăng trước nay chưa từng gọi thẳng tên nàng, Cao Văn Tâm nghe mà khuôn mặt xinh xắn đỏ bừng, lòng ngọt ngào như được rót mật. Dương Lăng xuống nước cầu xin khiến nàng nghe mà lập tức mềm lòng, hận không thể đáp ứng mọi chuyện với y được.

Nhưng mà liều thuốc này cũng là bài thuốc mà nàng khổ công tham khảo cổ tịch phối chế ra, nếu như tùy ý ngừng sử dụng, nàng cũng không biết có ảnh hưởng đến hiệu quả trị liệu hay không, nên đành phải cứng lòng, nghiêm mặt lại nói:
- Không được! Phu nhân đã căn dặn kỹ càng, tiểu tỳ phải hầu lão gia dùng thuốc, một ngày cũng không thể bỏ lỡ. Lão gia... người... người mau dậy đi mà.

Cao Văn Tâm nhỏ nhẹ dỗ dành khiến Dương Lăng nghe vậy, hết cách đành định bò dậy. Nhưng vừa rồi y nằm xuống đã thả lỏng toàn thân, nay thật sự là không muốn cựa quậy chút nào. Cao Văn Tâm thấy bộ dạng lười nhác của y, thở dài một tiếng, không biết làm sao đành ngồi bên giường nâng một chân của y lên, bắt đầu cởi giày cho y.

Trước giờ Dương Lăng không hề sai bảo Cao Văn Tâm như nô tỳ thật sự, nay thấy nàng làm như vậy liền vội giãy giụa ngồi dậy nói:
- Cứ để tôi tự làm cho, làm vầy coi sao được?

Cao Văn Tâm lườm duyên y, đáp:
- Cái gì mà được với không được. Lão gia nằm đi! Nhìn cái dáng vẻ của lão gia là đủ biết rồi, lão gia chịu uống thuốc sao?

Cao Văn Tâm cởi hai chiếc giày của y ra, lại tháo giây buộc vớ, giúp y cởi vớ, rồi nâng y ngồi dậy. Dương Lăng ngượng ngùng ngồi yên, Cao Văn Tâm quay về rót một chén nước mát, rồi đem mấy viên thuốc qua. Dương Lăng cầm thuốc nuốt ực, ghé qua tay nàng uống mấy ngụm nước, sau đó cởi áo ngoài rồi ngoan ngoãn leo lên giường nằm sấp.

Cao Văn Tâm bĩu môi mỉm cười hài lòng. Nàng đặt chén xuống, cầm châm lên, Dương Lăng đã tự giác kéo chiếc áo lên cao, để lộ phần dưới hông. Cao Văn Tâm ngồi bên mép giường, vừa vo ngân châm vừa nói khẽ:
- Lão gia! Lúc người đi dự tiệc, có một vị tự xưng là Hải Ninh Diêm Vận phó sứ Mẫn đại nhân đến hành dinh khâm sai này tìm, nói là bạn cũ của người. Vì lão gia không có ở đây, tiểu tỳ đã mời ông ta ngày mai quay lại rồi.

- Mẫn đại nhân? Ồ! Là Mẫn huyện lệnh!
Dương Lăng mửng rỡ, không kiềm lòng được bèn thẳng lưng lên. Cây châm trong tay Cao Văn Tâm thoáng cong lên, cũng không biết đâm trúng y chỗ nào tức thì bắn ra vài giọt máu. Cao Văn Tâm hoảng sợ, cầm cây ngân châm nhỏ máu, luống cuống chỉ biết kêu lên:
- Đâm vào chỗ nào rồi? Đâm vào chỗ nào rồi? Sao lão gia lại cử động lung tung vậy. Giờ biết làm sao đây? Giờ biết làm sao mới được đây?

Dương Lăng lại không cảm thấy đau mấy. Cảm thấy sau lưng lành lạnh, ythuận tay vuốt nhẹ, thấy máu dính đỏ cả tay, lúc này y mới giật mình. Nhưng khi thấy miệng Cao Văn Tâm dẹt ra, vẻ như sắp khóc đến nơi, Dương Lăng vội cười an ủi:
- E hèm! Xem cô kìa, chắc là không cẩn thận nên đâm trúng mạch máu rồi. Châm mỏng thế này, không có gì đáng lo đâu. Tôi đè mạnh một hồi sẽ lập tức ổn thôi.

Cao Văn Tâm hoảng hốt vất châm, cuống quýt lấy tay đè lên vết thương của y, vừa sợ hãi vừa lo lắng:
- Xem lão gia đó! Đang châm cứu mà sao lại cựa quậy chứ, ngộ nhỡ có mệnh hệ gì thì biết làm sao?

Dương Lăng cười nói:
- Vị Mẫn đại nhân đó là cố nhân của tôi lúc còn ở huyện Kê Minh, có ơn đề bạt tôi. Tôi nghe ông ta đến, trong lòng vui mừng quá cho nên có phần sơ ý đó mà. Ha ha, cô đừng sợ, không có gì đáng ngại đâu.

Y nói rồi mới nhớ rằng huyện lệnh Mẫn Văn Kiến của Kê Minh giờ làm quan ở Hải Ninh, có lẽ cách Hàng Châu cũng không xa. Lúc này nhớ đến lão ta, y không khỏi lại nhớ đến Tất Đô ty, Mã Ngang, còn Mã Liên Nhi nữa, không phải bọn họ đều ở gần đây sao?

Có nên đi thăm Mã Liên Nhi không nhỉ? Lòng Dương Lăng xao động, rồi y lập tức lại cứng rắn dằn lòng: “Thôi thì đừng đi vậy! Một con ma đoản mệnh như mình đã phụ ba vị cô nương tốt rồi. Nếu còn quyến luyến không quên người khác nữa thì cũng hơi quá vô sỉ đó!”

Dương Lăng đang trầm tư, Cao Văn Tâm đã cất giọng u uẩn trách móc:
- Gì mà không đáng ngại chứ! Về sau khi tiểu tỳ dùng châm, không cho phép lão gia cựa quậy nữa. Huyệt đạo dưới hông này là chỗ bình thường sao? Nếu đâm trật vào chỗ... chỗ đó...

Dở câu, vị cô nương như nàng không tiện nói tiếp nên đành chỉ nói đến đó rồi nuốt phần còn lại vào.

Dương Lăng cười ruồi vài tiếng, cũng không đáp lời, trong phòng nhất thời yên tĩnh trở lại. Sau một hồi, Cao Văn Tâm nhẹ nhàng dời tay, thấy không còn chảy máu nữa mới thở phào, đổi lấy cây ngân châm mới, rồi bắt đầu nhẹ nhàng se se trên huyệt đạo của y.

Dương Lăng nằm sấp tại chỗ, do dự một hồi chợt nhớ đã sớm phái Liễu Bưu dẫn người đến Tô Hàng nghe ngóng nội tình của ba vị thái giám trấn thủ, đến giờ vẫn chưa thấy gã xuất hiện, không nhịn được bèn hỏi:
- Đúng rồi! Hôm nay Liễu Bưu có đến không? Tôi phái y nghe ngóng sự tình mà không biết như thế nào rồi?

Cao Văn Tâm mắng yêu:
- Lão gia à! Đi đường thủy nửa tháng trời mà thân thể người không biết mệt sao? Bây giờ nghỉ ngơi trước đi đã, điều tra xử án không phải là chuyện một ngày nửa buổi đâu. Liễu Bưu đến thì đã đến rồi, đang lẫn vào trong đám thân vệ của người. Tiểu tỳ báo hôm nay lão gia tiếp rượu xã giao nhất định sẽ mệt mỏi, bảo y mai hãy bẩm báo tin tức với lão gia rồi.

Hôm nay trên buổi tiệc rượu Dương Lăng đã gặp ba vị thái giám trấn thủ và quan viên địa phương, ai nấy đều giống như kẻ khẩu phật tâm xà, khoe khoang việc cai quản ở Tô Hàng cũng giống như phong cảnh của nó, tất cả đều trở thành thiên đường của nhân gian. Trong cả bữa tiệc ngoại trừ uống rượu ăn thịt, ghi nhớ tướng mạo và danh tính của mấy viên danh quan đó ra, y chẳng thu hoạch được chút tư liệu có ích gì, một chút manh mối để xử án cũng không có nên y đang sốt ruột trong lòng.

Lúc này nghe thấy Liễu Bưu đã đến, y không khỏi hưng phấn, chợt thoáng nhổm người dậy, sốt sắng la lên:
- Như vậy sao được? Cô mau gọi y đến gặp ta!

Lưng y vừa nhổm lên, kim châm trong tay Cao Văn Tâm lại cong lên, may mà lần đâm này không hề chảy máu.

Vừa gấp vừa giận, Cao Văn Tâm quên luôn cả tôn ty trật tự, tính khí nữ thần y và đại tiểu thư quen được người ta nuông chiều thuở xưa lập tức phát tác. Nàng xếch ngược đôi mày liễu, vung tay ngọc vỗ mạnh một cái "chát" lên mông Dương Lăng, miệng quát khẽ:
- Lại cử động lung tung rồi! Lão gia nằm yên cho tôi coi!

---



Chú thích:

(5) đây đều là hình ảnh đẹp trong những bức tranh sơn thuỷ: cảnh hoa nở trên đá, suối ngọc nước chảy, ông già câu cá, thiếu nữ giặt lụa và em bé hái sen.
(6) “tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ, thâm hạng minh triêu mại hạnh hoa”. Đây là hai câu thơ trong bài “Lâm an xuân vũ sơ tễ” của Lục Du tự Vụ Quan hiệu Lục Phóng Ông (1125-1210), được xem là nhà thơ vĩ đại nhất Nam Tống. (Xin xem http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A5c_Du)
Lưu ý Tiểu Lâu chính là tên vợ Mạc công công.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
31-07-2011, 10:51 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 125 - Trong Hỏi Ngoài Tra (phần 1)

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Liễu Bưu nghe vậy bật cười giải thích:
- Đại nhân! Chỉ huy sứ của vệ sở Long Sơn chính là Tất Xuân. Thật ra khi Nam quân được điều lên phía Bắc, để phòng ngừa triều đình nhìn ra sơ hở, quân sĩ được điều động thông thường đều là quân tinh nhuệ được điều động từ vệ sở các nơi bù vào cho đủ số. Vì việc này có lợi cho quân vệ sở mọi nơi ở Giang Nam, cho nên những tướng lĩnh ở đây cũng đều ủng hộ hết lòng. Đội quân của Tất Xuân mà đại nhân thấy nhất định là do vài đội quân vệ sở có sức chiến đấu mạnh nhất chắp vá lại.




------------------------

Chương 125 - Trong Hỏi Ngoài Tra

------------------------

Thấy y cứ cựa quậy mãi, Cao Văn Tâm không khỏi vừa giận vừa cáu, nhất thời lỡ tay vỗ mạnh, một tiếng "chát" giòn giã vang lên khiến chính nàng cũng sững sờ. Dương Lăng há hốc mồm, quay đầu ngạc nhiên nhìn nàng, một lúc lâu Cao Văn Tâm mới sực tỉnh. Nàng vội vàng quỳ xuống đất thưa:
- Tiểu tỳ vô lễ, xin lão gia trách phạt!

Đừng nói nàng chỉ là thị tỳ của Dương Lăng, cho dù là thê thiếp của y, bất kể là thân mật với trượng phu như thế nào cũng không được phép đánh vào mông của y, đó là hành vi cực kỳ vô lễ. Khi còn giúp người chẩn bệnh, Cao Văn Tâm từng nghe kể có vị cử nhân lớn tuổi đuổi vợ với tội danh là phẩm hạnh kém. Thực ra là vì trong lúc vui vẻ với trượng phu, người vợ hơi thất thố, bị cử nhân lão gia cho là bất kính nên đuổi đi, hại nàng ta xấu hổ nhục nhã mà tự vận.

Dương Lăng lại không có loại giác ngộ mà đại nam nhân nên có này, y chỉ bị hành động đột ngột của nàng làm cho ngây người ra thôi. Lúc này trông thấy nàng sợ đến độ môi trắng bệch, bản thân y lại cảm thấy áy náy, thế là y đành cười lớn rồi bảo:
- Là do tôi không phải, đột nhiên nhổm người nên cô trở tay không kịp. Ờm, lần sau khi xoa bóp, cô nhẹ tay một chút là được rồi.

Cao Văn Tâm thấy y hoàn toàn không hề nổi giận, còn vì mình mà bào chữa thành “xoa bóp” mới yên tâm. Nàng bẽn lẽn đứng dậy tiếp tục châm cứu cho y. Đến khi kéo quần lót y xuống để châm cứu, nhìn thấy mông y bị vỗ đỏ ửng cả một vùng, Cao Văn Tâm không khỏi lén le lưỡi. Không biết là cố ý hay vô tình mà mu bàn tay nàng xoa nhẹ vài vòng lên “vết thương”. Bàn tay ngọc ngà trơn nhẵn chạm vào thực là cực kỳ dễ chịu khiến Dương Lăng lâng lâng đắc ý.

Châm cứu xong, Dương Lăng lập tức chỉnh đốn lại y phục rồi bảo:
- Nha hoàn và nô bộc trong phủ hiện nay đều là người của Mạc công công, không thích hợp để tôi xử lý công vụ thường ngày cho lắm. Có cô ở bên cạnh tôi là đủ rồi, không cần người khác hầu hạ nữa. Ngôi nhà này nhất định phải hoàn toàn nằm dưới sự khống chế của người chúng ta. Cô bảo Trịnh bách hộ mang đám nha sai tiếp quản tòa nhà, đưa toàn bộ người của Mạc phủ rời khỏi đây, sau đó kêu Liễu Bưu đến gặp tôi.

Cao Văn Tâm thấy sắc mặt y nghiêm nghị, đích xác y có việc công cần làm nên không dám ngăn trở thêm, bèn vội đáp lời. Nàng ra ngoài được khoảng uống cạn một tuần trà thì đám nha sai bắt đầu đứng gác rải rác khắp nơi trong dãy nhà, đuổi tất cả nha hoàn, nô bộc của Mạc công công ra khỏi căn dinh thự độc lập này, cả trong lẫn ngoài bố trí đầy thị vệ của Nội xưởng. Sau đó, cửa phòng mở ra, một người ăn mặc như nha sai bình thường chợt lặng lẽ đi vào.

Dương Lăng ngồi bên bàn, mới vừa rót đầy hai chén trà. Sau khi bị “đày đọa” một phen, men rượu của y đã vơi đi mấy phần, ánh mắt cũng đã tỉnh táo lại. Trông thấy Liễu Bưu bước vào, y khoát tay bảo:
- Không cần khách sáo, đến đây! Ngồi xuống rồi hãy nói!

Liễu Bưu chắp tay thưa:
- Dạ! Ty chức ra mắt xưởng đốc đại nhân.
Rồi bước nhẹ nhàng đến ngồi đối diện với Dương Lăng. Gần nửa tháng xa cách bỗng nhiên gặp lại Dương Lăng, nét mặt của hắn hơi lộ vẻ vui mừng.

Dương Lăng đẩy một chén trà qua, bảo:
- Những ngày qua vất vả cho Liễu thiên hộ quá! Huynh nghe ngóng được thế nào rồi?

Liễu Bưu thưa:
- Đại nhân! Ty chức vừa xuống tới Giang Nam liền lập tức tung mạng lưới thám thính, cho người giả làm người bán dạo và du khách dò thám tin tức xung quanh. Ba vị thái giám trấn thủ nắm giữ thuế má Giang Nam đã nhiều năm, tuy đâu đâu cũng có thế lực, nhưng cũng bởi vậy bọn họ không thể nào che giấu được những hành vi, công việc của mình.

Hắn nói đến đây, hiển nhiên hết sức tự hào với thành tích của bản thân cho nên vẻ mặt có phần tự kiêu. Hắn cầm chén trà lên nhấp một ngụm thấm họng rồi lôi trong ngực ra một quyển sổ nhỏ, nâng hai tay trao cho Dương Lăng:
- Đại nhân! Những gì ty chức điều tra được đều ghi ở trong này.

Trước tiên ty chức sẽ nói qua về viên trấn thủ thuế quan kiêm giám quân Long Sơn vệ sở Viên Hùng. Nhiệm vụ của Viên Hùng là lập trạm thu thuế trên những con đường vận chuyển thủy bộ giữa những quan ải và thành trấn trọng yếu. Ví dụ như trên tuyến vận chuyển đường sông, cách mỗi bốn mươi dặm lại cắt cử thuế sứ (nhân viên thu thuế - ND) ngăn sông chặn thuế, một chiếc thuyền đi ba bốn trăm dặm ít nhất phải bị chặn thu thuế năm sáu lần. Nhiều cửa tiệm tơ lụa, tạp hoá địa phương có quy mô nhỏ không kham nổi gánh nặng thuế khóa đã phải đóng cửa.

Dương Lăng nghe xong nhíu mày: "Thuế khoá quá nặng, nhìn ngắn hạn thì số thu có phần dồi dào, nhưng đây chỉ là cái lợi trước mắt, thực tế lại chèn ép sự phát triển của công thương nghiệp, về lâu dài sẽ rất có hại cho dân chúng và quốc gia. Viên Hùng cứ cách bốn mươi dặm lại lập một trạm thu thuế, rõ ràng đã vượt quá quy định của triều đình.

Có điều những phương sách này nhất định cũng đã được sự đồng ý của ty Lễ Giám, ta không thể dùng sai sót này để trừng trị hắn. Huống hồ chính là nhờ những món thuế khoá hà khắc phạm pháp và hợp pháp này cho nên mô hình vận chuyển của Nội xưởng mới được lan rộng, Nội xưởng mới phát triển nhanh chóng như vậy. Muốn hoàn thành mục tiêu cao xa hơn của mình, đành phải có những hy sinh tạm thời như thế này vậy!"

Y trầm ngâm hồi lâu, âm thầm tính toán một hồi rồi nói:
- Ừ, bản đốc đã ghi nhớ chuyện này. Hắn còn hành vi phạm pháp nào khác có thể buộc tội không?

Liêu Bưu mỉm cười, dường như sớm biết việc đó không đủ để trị tội Viên Hùng. Hắn trả lời như đã liệu trước:
- Có. Ty chức phái người đóng giả làm tiểu thương buôn bán rượu thịt, giao thiệp với quan binh của vệ sở Long Sơn. Trong lúc tửu hậu có nghe bọn họ cằn nhằn rằng quân lương bộ Hộ phân phát chỉ có bốn thành rơi vào tay bọn họ, số còn lại đều bị Viên giám quân và đám quan viên chỉ huy vệ sở tham ô cả.

Hơn nữa, trước đây quan binh vệ sở ai nấy cũng đều có đất đai của riêng mình, nhưng những năm gần đây đã sớm bị cường hào và tướng tá dùng thủ đoạn ép mua ép bán chiếm đoạt lấy. Việc này khiến cho rất nhiều quan binh vì cuộc sống của người nhà mà đành phải đào tẩu lưu vong.

Vệ sở Long Sơn vốn phải có 6500 người trú đóng, nhưng con số quan binh thực có hiện tại chỉ là 2800 người, vả lại đa số đều là quân già lính yếu; số còn lại đều bị lĩnh khống tiền lương lẫn trang bị. Thậm chí khí giới lại càng ít đến thảm thương, rất nhiều chiến thuyền đã không thể sử dụng được từ lâu, khi sắp có thượng quan đến kiểm tra sẽ trưng dụng tạm thuyền đánh cá bổ sung vào cho đủ. Đến lúc giặc Oa(1) tập kích thì chỉ có thể nghe thấy tiếng đã phải chạy dài. Tuyến phòng thủ bờ biển dài mấy ngàn dặm hầu như chỉ tồn tại trên giấy.

Dương Lăng nghe xong không nén được lửa giận, đập bàn chát một tiếng mắng:
- Không ngờ việc quân đội nội địa lại buông thả như vậy! Chẳng trách lúc ở kinh sư ta nghe nói cho dù chỉ vẻn vẹn mấy trăm tên giặc Oa cập bờ cũng có thể xông vào tập kích khắp nơi như chốn không người...

Nói đến đây y chợt nhớ đến một chuyện, lấy làm lạ hỏi:
- Có điều... Khi ta còn ở huyện Kê Minh, lúc giặc Thát đến tập kích, quân sỹ phương Nam được điều đến cứu viện đều đầy đủ quân số, vũ khí trang bị cũng không tệ, hình như... Liễu Bưu, huynh xác định tin tức do thám không nhầm lẫn chứ?

Liễu Bưu ngạc nhiên, đáp:
- Ty chức điều tra hết sức kỹ lưỡng, sẽ không có nhầm lẫn đâu. Vì phương Nam không bị cường địch như giặc Thát uy hiếp, giặc Oa có lên bờ cướp bóc một phen xong cũng đi ngay, hoàn toàn không dám ở lâu, cho nên việc phòng bị luôn luôn lỏng lẻo. Không biết quân phương Nam điều lên Bắc mà đại nhân nói đến là do ai chỉ huy vậy?

Dương Lăng trả lời:
- Ờ... Ta cũng không biết bọn họ thuộc đội quân của ai. Song ta nhớ đô ty dẫn binh tên gọi là Tất Xuân.

Liễu Bưu nghe vậy bật cười giải thích:
- Đại nhân! Chỉ huy sứ của vệ sở Long Sơn chính là Tất Xuân. Thật ra khi Nam quân được điều lên phía Bắc, để phòng ngừa triều đình nhìn ra sơ hở, quân sĩ được điều động thông thường đều là quân tinh nhuệ được điều động từ vệ sở các nơi bù vào cho đủ số. Vì việc này có lợi cho quân vệ sở mọi nơi ở Giang Nam, cho nên những tướng lĩnh ở đây cũng đều ủng hộ hết lòng. Đội quân của Tất Xuân mà đại nhân thấy nhất định là do vài đội quân vệ sở có sức chiến đấu mạnh nhất chắp vá lại.

Dương Lăng nghe xong ngẩn người một lát, rồi mới giận dữ mắng:
- Thủ đoạn giỏi lắm! Chuyện khác ta còn có thể tạm thời ẩn nhẫn, nhưng bọn họ tự hủy trường thành (ý là hủy hoại quân đội, lực lượng chính bảo vệ đất nước) thì chuyện này ta không thể nhẫn nhịn được. Ta sẽ khai đao với hắn trước, giết gà doạ khỉ, để vệ sở duyên hải bớt phóng túng một chút. Huynh hãy tiếp tục thu thập tình báo của bọn chúng, chú ý đừng bứt dây động rừng.

Liễu Bưu hào hứng đáp:
- Ty chức tuân mệnh! Lại nói về vị thứ hai, trấn thủ thuế giám dệt may Lý Đại Tường. Ngành dệt tơ của Tô Hàng được phân công cực kỳ chặt chẽ, hiện có các loại thợ chuyên môn như thợ sợi bông, thợ vải đoạn, thợ dệt; những đại phú thương mở phường dệt may còn thuê hàng loạt thợ thủ công nữ chuyên phụ trách kéo sợi, nhuộm màu, sửa máy*, thêu hoa.
(*: chắc chỉ là sửa chữa các dụng cụ dệt cổ xưa)

Tính tình của Lý Đại Tường lại không quá kiêu căng, nhưng dệt may Tô Hàng vang danh thiên hạ, thu lợi rất nhiều. Hắn ngầm sai thân tín đội lốt thương nhân, lợi dụng chức quyền ép giá thu mua, đầu cơ trục lợi nên kiếm được món lãi kết xù. Phú hào cả vùng Tô Hàng đều oán giận mà không dám nói ra.

Như dân chúng phủ* Tùng Giang, đa số đều theo nghề phụ là dệt vải, mỗi ngày được một xếp (cuộn); sản lượng vải vóc do ngàn vạn bá tánh sản xuất nội trong một ngày đã đủ hoàn thành kế hoạch. Tiểu dân vùng Gia Thiện lấy nghề kéo sợi làm kế sinh nhai, sản lượng càng lớn vô cùng. Nơi này có câu rằng “vải Tùng Giang mua hoài không hết, sợi Ngụy Đường thu mãi vẫn còn”. Toàn bộ những thứ vải vóc tơ sợi này đều bị hắn độc quyền ép giá thu mua, rồi lại tập trung chuyển bán khắp nơi. Bởi có thể thu được món lợi kếch sù từ trong đó rồi cho nên hắn tự nhiên không cần vơ vét đến nỗi bị người người căm ghét như Viên Hùng.
*phủ: đơn vị hành chánh trên huyện

Vả lại vùng Hồ Châu trồng dâu nuôi tằm, phần đông dân chúng Sơn Đông và Hà Nam trồng trọt cây bông vải. Bởi dệt may Tô Hàng cần rất nhiều nguyên liệu từ những địa phương này vận chuyển vào, mà Viên Hùng lại nắm giữ thuế quan, cản trở vận chuyển những món hàng này nên cực kỳ bất lợi cho sự phát tài của Lý Đại Tường, vì vậy giữa hắn và Viên Hùng có mâu thuẫn rất sâu.

Dương Lăng âm thầm gật đầu. Thật ra tập trung thu mua, tập trung vận chuyển, tập trung buôn bán đều có ích, ví bằng sự bóc lột của Lý Đại Tường không quá hà khắc, có thể chừa lại con đường sống cho dân chúng thì không cần thiết phải so đo với hắn về chuyện này trong giai đoạn hiện tại.

Suy cho cùng, tuy bản thân Dương Lăng nắm quyền thuế giám, nhưng không ai có thể tự thân trấn thủ mọi nơi trong cả nước, cuối cùng y vẫn cần phải dựa vào những người này làm việc cho mình. Nếu như triều đình không thể hoàn mỹ về mặt pháp chế và chế độ thì cho dù đổi cả một đám quan lại cũng chưa chắc những người mới đã liêm chính hơn bọn cũ. Muốn chính trị trong sạch, không phải là chuyện chỉ trù tính mà thành. Cho dù không có đám thuế giám chuyên quyền này đi chăng nữa, nhưng sờ sờ trước mắt là những món lợi to có thể kiếm chác dễ dàng như vậy, lẽ nào thay một đám quan tham thì sẽ hết tham quan?

Dương Lăng nghĩ đến đây bèn gật đầu nói:
- Ừ, người này mặc dù tham ô, nhưng tâm địa không tính là quá xấu, là người có thể lung lạc được. Đúng rồi, còn vị Mạc công công này thì thế nào?

Liễu Bưu cười thưa:
- Trong ba vị thái giám trấn thủ, người có thanh danh tốt nhất chính là vị Mạc công công này. Thuế ruộng Giang Nam được quy thành ngân lượng. Những năm đầu khai quốc, bản triều đã quy định bốn thạch thóc gạo phải nộp một lạng bạc; về sau tỷ suất quy đổi thay đổi lớn, mỗi thạch thóc gạo bị trưng thuế một lạng bạc. Thuế nông nghiệp nơi đây chẳng khác nào đã bị tăng thêm ba lần.

Dân chúng nói rằng:
"một mẫu ruộng công bảy đấu thâu,
trước đem sáu đấu nộp Hoàng châu,
chỉ chừa một đấu chờ khi cưới,
dân chúng lo âu đến bạc đầu".
Như vậy ta có thể thấy sự hà khắc của thuế khoá như thế nào! Nếu không phải Giang Nam trù phú, gạo cá được mùa, dân chúng đã sống không nổi từ lâu.

Bởi dân chúng phải vận chuyển lương thực ra ngoài bán đổi lấy ngân lượng mới có thể nộp thuế, vốn đã bị hao hụt khi vận chuyển lại còn bị tên Viên Hùng đánh thuế không ngừng, cho nên vận chuyển ra ngoài năm đấu, bọn họ có thể cầm tiền của ba đấu về đã coi như tương đối tốt đẹp rồi.

Sau khi Mạc công công trấn thủ Giang Nam, mỗi năm đến mùa thu hoạch hắn đều phái người dùng ghe thuyền quan phủ chủ động đến tận nhà dân thu mua. Tuy rằng hắn thu mua thấp hơn giá chợ một chút, nhưng so với thuế khóa và hao tổn dọc đường, bá tánh vẫn được lợi hơn là tự mình vận chuyển đến chợ bán, thành thử ai nấy đều vui vẻ bán cho hắn. Vì vậy thanh danh của Mạc công công rất tốt, dân chúng Giang Nam gọi hắn là thiện nhân.

Ngày đó trên thuyền Dương Lăng thấy Mạc công công gan lớn trùm trời, thậm chí cả trà tiến cống dâng cho hoàng thượng cũng dám đánh tráo, y cho rằng hắn chỉ là một tên hoạn không sợ chết, trong mắt chỉ có tiền mà thôi. Nào ngờ lại nghe báo hắn tốt bụng như vậy, y không khỏi lấy làm lạ hỏi:
- Nói như vậy, hắn là thanh quan ư?

Liễu Bưu cười ha hả đáp:
- Không thể xem là thanh quan! Suy cho cùng hắn làm như vậy cũng là vì muốn trục lợi cá nhân mà thôi. Lương thực nhiều như vậy, nếu mỗi thạch lương thực hắn đều kiếm chác được sơ sơ thì gom góp lại cũng đã được một ngọn núi vàng rồi. Có điều, cho dù nói thế nào đi chăng nữa thì dân chúng cũng được hưởng lợi. Những người dân này mặc kệ ngươi tham ô hay không tham ô, chỉ cần lúc cần kíp ngươi có thể chiếu cố bọn họ một chút, bọn họ đã cảm kích không thôi rồi.

Vả lại... Vì Mạc công công trông giữ cực nghiêm những loại vật phẩm quý hiếm, có giá cao như trà, hương liệu, dược phẩm, muối ăn, … thậm chí chịu trách nhiệm tổ chức dân công đi xây dựng công trình cũng không ít, cho nên phần ngân lượng hắn thu được cũng phong phú vô cùng. Chỉ là trong ba người, Mạc công công được xem là kẻ rộng rãi nhất. Nếu gặp năm tai ương, hắn còn thường xuyên dựng lều thí cháo cứu sống không ít nhân mạng, cho nên thanh danh cực tốt.

Dương Lăng đứng dậy, bước chậm rãi trong phòng vài bước, trầm tư hồi lâu rồi mới quả quyết ra lệnh:
- Được! Sáng sớm ngày mai huynh hãy điều động người của huynh đến chỗ Viên Hùng, điều tra hắn kỹ càng lại cho ta. Còn về phần ta thì... ha ha, bản đại nhân du hành Giang Nam chỉ phụ trách du sơn ngoạn thủy, những thứ khác sẽ không phụ trách. Ngày mai ta sẽ đến Sư Tử thôn uống trà.

Là tâm phúc của Dương Lăng nên Liễu Bưu đã sớm biết kế hoạch của y, nghe vậy bèn đứng dậy hỏi:
- Đây là đại nhân muốn đánh Viên, lôi kéo Lý, Mạc chăng?

Dương Lăng cười nói:
- Ha ha! Dù sao cũng không thể một gậy đánh giết hết thảy được. Nếu làm thế tất cả thái giám trấn thủ trong cả nước đều dở quầy cất sạp, triều đình không còn bạc để dùng, há chẳng phải sẽ lại đẩy ty Thuế Giám về tay ty Lễ Giám ư?

Tuy là nói như vậy, nhưng chuyện Mạc Thanh Hà tráo trà tiến cống vẫn đeo nặng trong lòng y, cho nên y muốn ngày mai đến thôn Long Tỉnh trên núi Sư Tử tự mình thị sát. Vào thời tiết này đương nhiên không có trà ngon gì, lần này y đi kiểm tra, một là muốn để ba đại thái giám trấn thủ bớt lo âu, cho rằng y cũng chỉ là hư trương thanh thế chứ tịnh không có ý xử lý bọn họ, hai là để bóng gió thăm dò ý tứ của Mạc Thanh Hà.

Liễu Bưu cười đáp một tiếng, vừa tính quay người lui ra, Dương Lăng chợt nhớ đến chuyện kỳ lạ mình vừa chứng kiến khi nãy, vội giữ y lại, hỏi:
- Liễu Bưu! Có chuyện này ta muốn hỏi huynh. Thái giám Đại Minh chúng ta... cũng có thể cưới vợ sao?

Liễu Bưu ngẩn người ra. Hắn đã âm thầm điều tra kỹ càng ba vị thái giám trấn thủ nên hiển nhiên biết rõ chuyện gia đình bọn họ như lòng bàn tay. Vì vậy, hắn chỉ hơi ngẩn người liền sực tỉnh, cười đáp:
- Phải chăng đại nhân đã gặp mặt phu nhân của Mạc công công rồi?

Dương Lăng kinh ngạc:
- Huynh cũng biết? Chẳng lẽ... Mạc công công vốn sau khi xuất gia... à… sau khi lập gia đình rồi mới tiến cung sao?

Liễu Bưu bật cười đáp:
- Đại nhân hiểu lầm rồi. Thật ra trong nội cung, việc thái giam cùng cung nữ kết làm phu thê cũng không phải là ít, có điều bọn họ không gọi là phu thê, mà gọi là "Đối thực" và "Thái hộ"(2), giữa khác giới có, giữa cùng giới cũng có nữa, chuyện này đã có từ xưa. Thời hoàng đế Hồng Vũ bản triều đã từng cấm đoán một đoạn thời gian, về sau rồi cũng buông trôi bỏ mặc. Bây giờ cho dù Hoàng Thượng, Hoàng Hậu có nghe nói đến cũng sẽ không can dự vào.

Những công công địa phương có quyền có thế không những có thể cưới vợ nhận con nuôi, mà vợ cưới về còn thường là con gái ngoan của những gia đình quan lại. Nhưng vị phu nhân của Mạc công công lại có xuất thân phong trần, nghe nói trước đây là đệ nhất danh kỹ của "Lầu Xuân Vũ" ở Giang Nam.

Dương Lăng nghĩ đến phong tình tuyệt thế của vị mỹ nữ ấy, không khỏi bật cười nói:
- Ta nói thật nhé! Hôm nay gặp cô ta mà ta giật cả mình, còn tưởng là đó là người vợ Mạc công công cưới về trước khi nhập cung, bằng không làm sao hắn có gan dám công nhiên dùng thân phận thái giám để cưới vợ như vậy!

Y vừa nói vừa nghĩ đến người con gái Giang Nam muôn vẻ phong tình ấy lại gả cho một tên thái giám, không khỏi lắc đầu thở dài, rất lấy làm tiếc rẻ.

Liễu Bưu thưa:
- Đại nhân! Ngài đừng thấy bọn họ là giả phượng hư hoàng(3) mà coi khinh, so với người thường thì những cặp vợ chồng thái giám này càng mặn nồng hơn nhiều. Về những cặp “thái hộ” trong cung, thường là một khi đôi lứa nên duyên thì sẽ kính trọng và yêu thương nhau cả đời không đổi. Nếu ngẫu nhiên có thái giám hoặc cung nữ thay lòng đổi dạ, đối phương thường sẽ đau khổ không thiết sống, thậm chí vì vậy mà thắt cổ tự vẫn, chuyện đắng cay này trong cung chẳng lạ lùng gì.
Đa số bọn họ nếu như có một người chết trước, đối phương cũng cả đời không kết duyên lần nữa mà sẽ đặt linh vị của đối phương trong phòng mình, mỗi khi đến ngày giỗ cũng đều thường khóc thương thảm thiết, khóc đến chết đi sống lại. Tình cảm của bọn họ... thật không phải là thứ mà người thường chúng ta có thể lý giải.
Có điều cưới vợ ngoài cung cũng có thể mặn nồng được như vậy hay không thì ty chức không biết.

Quả thật lúc ban đầu Dương Lăng cũng hơi khinh rẻ chuyện thái giám cưới vợ, nhưng nghe Liễu Bưu nói xong, y mới tỉnh ngộ. Những người đó mặc dù về mặt sinh lý đã không thể được gọi là đàn ông, nhưng về mặt tâm lý họ lại muốn hưởng cuộc sống của người bình thường; lòng mong muốn đó còn bức thiết hơn hẳn những người đàn ông bình thường. Kể ra cũng thật khiến người ta đồng tình.

Dương Lăng bỗng bật cười nói:
- Nghe được một câu của huynh còn hơn đọc sách mười năm, bản quan đã lĩnh giáo. Chỉ cần người ta đôi bên đều tình nguyện, chúng ta quả thực không nên vì hắn là thái giám mà ba lời bốn ý làm gì.




Chú thích:

(1) thời xưa người Nhật Bản thấp bé nên bị gọi là người lùn (oa nhân), giặc Oa là giặc lùn, chỉ hải tặc Nhật Bản.
(2) "Đối thực" chỉ cung nữ, "Thái hộ" chỉ thái giám
(3) Phương giả, hoàng dối. Cụm từ này xuất xứ từ Hồng Lâu Mộng, chỉ mối quan hệ vợ chồng hữu danh vô thực. Phượng là chim đực, hoàng là chim cái.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

TheJoker
04-08-2011, 09:51 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 125 - Trong Hỏi Ngoài Tra (phần 2)

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Bồi hồi, y dường như nhìn thấy một người con gái xinh đẹp mặc đồ trắng thướt tha mờ ảo, yểu điệu mảnh mai như một đoá thược dược nhẹ nhàng bước ra từ trong nước, khuôn ngài ẩn chứa mối thâm tình, đang bước về phía y. Dáng đi thong thả ấy, cử chỉ không chỗ nào không quyến rũ ấy, khiến cho người ta phải thất thần.



------------------------

Chương 125 - Trong Hỏi Ngoài Tra

------------------------

Ngày hôm sau, quan viên bản xứ và thân sỹ địa phương lần lượt đến chính thức thăm viếng khâm sai đại nhân, nhất là những quan lại và thân sỹ hôm qua không có tư cách tham dự tiệc tẩy trần khoản đãi Dương khâm sai.

Đương nhiên tất cả những người đến viếng thăm đều không thể đi tay không: hoặc ngân phiếu, hoặc châu báu thư họa, hoặc đặc sản địa phương; dược liệu trân quý các loại cũng không ít. Dương Lăng cố ý tạo hình tượng một viên quan tham tiền hám lợi vô trách nhiệm, cho nên y không khước từ một ai.

Cao Văn Tâm không biết rõ nội tình, nàng không thích lão gia nhà mình biến thành kẻ cơ hội như vậy. Trong lòng bực bội song lại không tiện phát tiết, cho nên mặc dù được Dương Lăng sai ngồi làm "kế toán viên", nàng lại chẳng thèm đếm xỉa đến những kẻ biếu quà.

May mà những người này đều sớm hay rằng Dương Lăng lần này đến đây chỉ mang theo một cô tỳ nữ xinh đẹp này, hơn nữa nghe nói mỗi tối nàng thường xuyên len lén chui vào phòng khâm sai. Ai còn dám đối đãi với nàng như thị nữ chứ?

Giang Nam là địa phương đông đúc và giàu có nhất thiên hạ. Những phú hào đó đều có gia tài ức vạn, đến thăm viếng xưởng đốc Nội xưởng có quyền lực khuynh đảo triều đình nào dám tặng lễ vật tầm thường? Tuy không dám nói là kỳ trân dị bảo nhưng những món quà biếu tặng cũng đều đắt giá vô cùng.

Cao Văn Tâm đang ghi chép từng hạng mục, bỗng nhiên nha sai dẫn một thương nhân buôn muối vào. Không ngờ người này đem tặng bốn mỹ nữ gồm hai người Cao Ly và hai người Đông Doanh. Bốn nữ tử này dáng điệu tuy không xinh đẹp bằng Cao Văn Tâm, nhưng vẻ phong tình ngoại quốc ấy lại quả thực rất mới mẻ.

Cao Văn Tâm thật sự đã nổi giận, nàng mang bút lông xông thẳng vào phòng khách. Dương Lăng vừa mới tiễn một thương nhân buôn trà về, thấy nàng đang cầm bút lông, dáng điệu tức giận trông rất xinh đẹp, không khỏi cười hỏi:
- Sao vậy? Ai lại chọc cô giận à?

Cao Văn Tâm chua chát đáp:
- Lễ vật người ta tặng, tiểu tỳ đều sai người đưa vào trong kho. Giờ có người đến tặng bốn món vật sống, tiểu tỳ không biết có nên đưa lên giường lão gia hay không, cho nên phải đến xin ý kiến lão gia.

Dương Lăng đảo tròng mắt rồi cười nói:
- Đưa lên giường tôi à? Ha ha, có phải có người đến tặng mỹ nữ không? Đi đi đi, ra ngoài xem thử.

Y còn tưởng có người tặng mỹ nữ Giang Nam cho mình, khi ra ngoài nhìn thì lại là bốn nữ tử nước ngoài, đương nhiên nhận ra người đeo bọc vải nhỏ trên lưng là người Nhật Bản, bất giác ngẩn ra.

Đang cung kính chờ đợi khâm sai đại nhân triệu vào gặp, vị thương gia buôn muối trông thấy bốn tay nha sai đang vây quanh một vị công tử thiếu niên vận cẩm bào đai ngọc đi ra, vị mỹ nhân ghi chép sổ sách nọ đang cầm cây bút lông đi theo sau, môi cong như thoa mỡ, thì biết người đi trước chính là khâm sai đại nhân. Gã không khỏi có cảm giác được yêu mến mà lo sợ, bèn quỳ xuống cười nịnh nọt thưa:
- Thảo dân Đỗ Sách bái kiến khâm sai đại nhân!

Dương Lăng nói:
- Bản quan xuôi Giang Nam chỉ là tuần tra tình hình thuế khoá địa phương thôi, thực không muốn làm phiền đến danh lưu thân sỹ địa phương. Đỗ tiên sinh đang bao bộn bề lo toan mà vẫn đến thăm viếng, bản quan thẹn không dám cáng đáng.

Tay thương gia buôn muối Đỗ Sách đó cười bồi đáp:
- Nào có nào có! Thảo dân may mắn gặp được đại nhân, đó vận tốt của thảo dân. À... thảo dân nghe nói đại nhân đi đường mệt mỏi, ngay cả nha đầu để sai vặt bên người cũng không có, cho nên đã cố công mua bốn thị tỳ tặng đại nhân để hầu hạ hằng ngày, xin đại nhân vui lòng nhận cho.

Đứng bên cạnh, Cao Văn Tâm ho khan hai tiếng. Dương Lăng nghe thấy trong lòng cười thầm, y cũng không tính sẽ xuống Giang Nam đem theo một đám mỹ nữ về biến nhà mình thành Đại Quan viên(4). Đang tính mở miệng từ chối khéo, y chợt nghe một giọng cười nói oang oang cất lên:
- Thì ra ông chủ họ Đỗ cũng đến rồi à? Chạy còn nhanh hơn ta! Ha ha ha, ông có tặng mỹ nhân thì cũng nên tặng cực phẩm một chút mới được! Nhớ khi xưa có vị tuyệt sắc giai nhân, đến ta thấy mà còn mê mẩn, âm thầm trao lòng cho Dương đại nhân mà Dương đại nhân vẫn năm lần bảy lượt từ chối khéo, sao đại nhân có thể để mắt đến mấy cô gái này?

Lời vừa dứt, liền thấy một vị quan văn râu ria xồm xoàm, hai tay chắp sau lưng, ưỡn bụng bước dài đến nơi. Dương Lăng ngước mắt nhìn, trông thấy đúng là huyện lệnh Mẫn Văn Kiến một đao chém chết vương tử Thát Đát ở Kê Minh khi xưa, liền vội chạy lên mấy bước, nắm chặt tay lão mừng rỡ chào:
- Mẫn đại nhân!! Đã mấy tháng không gặp, thật nhớ ông muốn chết.

Mẫn Văn Kiến vẫn trực tính như xưa, chỉ là bụng đã bự hơn một chút, lão vội cựa khỏi tay y, quỳ xuống làm lễ:
- Hạ quan Mẫn Văn Kiến ra mắt...

Dương Lăng ngăn đỡ lão dậy, trách:
- Mẫn đại nhân của ta ơi! Đến Giang Nam rồi, nhìn đại nhân nói chuyện cũng đã ra vẻ nho nhã, sao lại còn chú trọng đến những thứ lễ nghi rườm rà này nữa? Nếu không có ơn tri ngộ của đại nhân, sao có tại hạ hôm nay. Đại nhân cũng đừng khách khí như vậy nữa.

Mẫn Văn Kiến đứng thẳng người lên cười nói:
- Lễ nghi nào nên chú trọng vẫn cần phải chú trọng chứ! Ha ha ha! Từ lúc đại nhân đến kinh sư, thường có những tin tức khó tin lan truyền đến Giang Nam, Mẫn mỗ nghe kể xong lúc thì thấp thỏm lo lắng, khi lại vui sướng không thôi. Vốn dĩ còn tính chạy chọt khắp nơi để điều đại nhân đến Giang Nam. Giờ thực tốt quá, rốt cuộc đại nhân đã đến, nhưng lại không phải do Mẫn mỗ điều động, ha ha ha...

Thương gia Đỗ Sách bước tới cười nói:
- Hoá ra Diêm vận sứ đại nhân và khâm sai đại nhân là cố giao à! Thất kính thất kính.

Mẫn Văn Kiến nheo cặp mắt tròn như đậu xanh nhìn hắn rồi cười nói:
- Sao? Có phải là cảm thấy kính nể bản quan rồi không?

Lão lại liếc mắt sang bốn mỹ nhân ngoại quốc nọ, nói tiếp:
- Đừng bảo bọn họ ở đây nữa! Ngươi cũng được xem như là một nhân vật khôn khéo, không lẽ chưa từng nghe nói chuyện đương kim thiên tử hạ chỉ ban thiếp sao? Dương đại nhân có tầm mắt như thế nào? Mấy nha đầu non nớt này lọt được vào mắt đại nhân ư?

Dương Lăng bật cười nói:
- Mẫn đại nhân! Đại nhân đến Giang Nam mới có mấy tháng mà giờ đã xuất khẩu thành thơ rồi. Thật sự khiến người ta phải rửa mắt mà nhìn.

Mẫn Văn Kiến nghe vậy thì cười lớn:
- Không còn cách nào khác, không còn cách nào khác! Cả ngày nghe bọn họ nói những từ ngữ này nên lỗ tai ta cũng quen rồi, thế nào cũng phải nhớ được mấy câu.

Dương Lăng vừa chuyện trò cùng lão, vừa mời hai người vào phòng khách, rồi kêu người dâng trà tiếp đãi.

Thật ra vị thương nhân buôn muối nọ còn buôn bán thứ khác. Lần này hắn đến Hàng Châu là để tiếp nhận một lượng hàng hóa lớn từ trong kinh do thuyền quan Dương Lăng vận chuyển. Mắt thấy người đẹp mà mình đem tặng không hợp tâm ý của khâm sai đại nhân nhưng cũng không thể cứ đến tay không một chuyến như vậy. Phải biết rằng bấu víu được vào gốc cây to này, sau này có chuyện gì, chỉ cần đại nhân thuận miệng nói một câu thì hắn cũng được ích lợi không biết đến dường nào.

Nghĩ đến đây, ông chủ họ Đỗ lấy từ trong ngực ra một đôi khuyên tai trân châu, vốn là món quà lão mua từ Kim Lăng chuẩn bị tặng cho người thiếp xinh đẹp mà lão sủng ái nhất, hai tay dâng lên thưa:
- Là thảo dân lỗ mãng rồi! Bốn cô gái này chốc nữa thảo dân sẽ dẫn đi. Đôi khuyên tai trân châu này chính là chút lễ mọn, thật sự không tỏ được lòng kính trọng, đại nhân nhất định phải nể mặt cho.

Đôi khuyên tai trân châu đó được chế tạo xinh đẹp tinh xảo, trân châu bóng tròn chắc mẩy, kích cỡ đều đặn, màu sắc và ánh sáng thu hút người ta, đặt trong lòng bàn tay tỏa ra ánh sáng mượt mà thăm thẳm, vừa nhìn liền biết ngay nó là châu báu đắt giá vô cùng. Dương Lăng thuận tay nhận lấy rồi đưa cho Cao Văn Tâm, thấy nàng còn cầm bút, liền cười nói:
- Không cần ghi đâu, đôi khuyên tai này tặng cho cô đó.

Cao Văn Tâm đỏ mặt liếc y một cái rồi nhanh nhẹn xoay người đi ra. Vẻ vui mừng e thẹn hiện lên bất chợt ấy cực kỳ rung động lòng người. Ông chủ họ Đỗ bừng tỉnh, thầm nhủ: "Thì ra khâm sai đại nhân mê luyến người con gái này, khó trách y không nhận mỹ tỳ mình tặng. Tư dung của vị cô nương này quả thực hơn bọn chúng không chỉ là một bậc."

Hai người và Dương Lăng chuyện trò một hồi về chuyện nhà chuyện cửa. Tâm ý đã tặng xong, biết rõ rằng khâm sai đại nhân và Mẫn đại nhân xa cách lâu ngày mới gặp ắt có nhiều chuyện muốn thổ lộ, cho nên Đỗ Sách ngồi một lát thì đứng dậy cáo từ.

Tiễn Đỗ Sách về xong, Dương Lăng và Mẫn Văn Kiến quay lại chỗ ngồi. Mẫn Văn Kiến mời:
- Đại nhân! Lần này xuôi Nam nhất định ngài phải tranh thủ đến Hải Ninh một chút đấy. Khoảng cách không quá xa, đến khi ấy để ta cũng được tận lễ chủ nhà.

Dương Lăng cười đáp:
- Nếu có cơ hội, tại hạ nhất định sẽ đi. Mẫn đại nhân ở Hải Ninh mọi thứ vẫn tốt chứ?

- Vẫn tốt, sự giàu có và sung túc nơi đây còn lâu phương Bắc mới sánh bằng, có điều quân đội nơi này so với biên quân của chúng ta thực thua kém quá xa. Nghe nói bây giờ phía bên kia biển, chư hầu các nơi của Nhật Bản đang làm loạn, thường có một vài võ sỹ và lãng nhân(5) thất thế không chốn nương thân bèn cấu kết với một số thuyền buôn đi đến chỗ của chúng ta cướp bóc khắp nơi.

Con bà nó chứ! Không ngờ là còn có một đám gian thương, cường hào, lưu manh, hải tặc của địa phương mật báo tin tức cho bọn chúng, dẫn đường cho bọn chúng, thậm chí còn trực tiếp tham gia cướp bóc.

Ta vừa đến Hải Ninh gặp đúng lúc phải giặc Oa đến tập kích quấy rối. May mà bản thân Diêm vận ty có đội ngũ hộ tống hơn ba trăm người, sức chiến đấu còn phải mạnh hơn quan binh một chút. Bọn giặc Oa đó lại không đông, bị ta dẫn người ra sức giáo huấn những tên ranh đó một trận, một cây Đại Khảm đao đã chém chết hơn hai chục tên. Hiện không còn thấy bọn chúng dám đến Diêm vận ty của ta sinh sự nữa.

Dương Lăng lại một lần nữa nghe đến hai chữ "giặc Oa" này, không kiềm lòng được bèn chú ý hỏi:
- Thế lực của những tên giặc Oa này lớn mạnh lắm sao?

Mẫn Văn Kiến cười khinh thường:
- Sức chiến đấu không bằng giặc Thát, nhân số lại chỉ là một đám giặc lang thang. Có điều đường bờ biển quá dài nên khó đề phòng cho xuể; hơn nữa quân đội nơi đây quá yếu, thông thường một đám giặc Oa khoảng trăm tên đổ bộ thì đã đủ để tung hoành ngang dọc rồi.

Ta nghe nói chư hầu các nơi ở Nhật Bản đang đấu đá tranh quyền lẫn nhau, trong tay đều thiếu bạc, cũng có chư hầu từng muốn thông thương buôn bán với Đại Minh chúng ta. Đáng tiếc số lượng bến cảng thương mại và hàng hoá giao dịch mà chúng ta cho phép lại quá ít, không thể thoả mãn nhu cầu của bọn chúng.

Bọn chúng chó cùng rứt giậu, bèn tổ chức luôn nhân mã rồi cấu kết với đám thương gia phạm pháp âm thầm buôn lậu. Nhược bằng bị thuỷ quân truy đuổi không buôn bán được thì đổi nghề chuyển sang làm cường đạo. Bọn chúng đến rồi đi ngay, trốn vào biển khơi, chúng ta thật không làm gì được bọn chúng.

Dương Lăng máy động trong lòng, thầm nghĩ: "Thì ra trong những hải tặc này có kẻ vì muốn làm ăn buôn bán hợp pháp không được mới đổi nghề làm hải tặc. Trước kia chỉ nghe nói giặc Oa tham lam tàn bạo, thường xuyên cướp bóc dân chúng vùng duyên hải chứ chưa hề được nghe ai nói đến nguyên nhân này.”

Dương Lăng lặng lẽ gật đầu, suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Muốn giải quyết những vấn đề này, xem ra phải thực hiện song song việc khơi thông và ngăn chặn mới được. Một mặt tăng cường sức mạnh quân sự, khiến bọn chúng phải e dè, không dám tuỳ tiện xâm phạm; mặt khác còn phải mở cảng thông thương hợp pháp, chủ động làm ăn buôn bán với chúng, đôi bên cùng có lợi, có gì là không tốt

Những hải tặc đó chỉ dựa vào cướp bóc thì có thể cướp được bao nhiêu thứ từ trong tay dân chúng chứ? Đa số chỉ đủ trám miệng bọn chúng mà thôi. Nếu thấy rõ những ích lợi có thể kiếm được, ắt những kẻ này sẽ lắc mình biến thành thương nhân ngay...

Nói đến đây, Dương Lăng chợt ngậm miệng: Chỉnh đốn quân đội là việc Nội xưởng làm được sao? Mở cảng thông thương? Văn thần trong triều không gật đầu, chính sách này có thể được thực hiện à? Chỉ quyền lực và quan hệ không thì không đủ, còn phải thay đổi tư tưởng và nhận thức của mọi người, còn quá nhiều điều kiện chưa chín muồi, cho nên toàn bộ những thứ này dứt khoát không phải là những điều mà hiện giờ y có thể làm. Y có cơ hội và thời gian đi làm mấy việc này sao?

Mẫn Văn Kiến nghe nhưng không hiểu những thứ này, thấy y nhíu mày lo lắng cho dân chúng Giang Nam, bèn vội cười nói:
- Đại nhân không phải lo lắng. Giặc Oa phần lớn đến từ biển, từ biển muốn đổ bộ ắt phải dựa vào sức gió; cho nên mùa nào nổi gió gì, lúc nào giặc Oa lên bờ, phần lớn đều phải theo qui luật, có muốn thay đổi cũng không được.

Chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng thì bọn chúng sẽ không dấy lên được bao sóng gió đâu. Cùng lắm chúng chỉ cướp đoạt ít làng chài, cũng không có bao bản lĩnh. Ờ... thông thường là giữa tháng tư, tháng năm và tháng chín, tháng mười hằng năm là những tháng thích hợp để đi thuyền vượt biển, lúc đó giặc Oa sẽ chạy đến cướp bóc. Trước khi đến thăm đại nhân ta đã sai quan binh Diêm vận ty tăng cường phòng bị, chỉ cần qua hai tháng này, bọn chúng có muốn đến nữa cũng phải đợi đến tháng tư năm sau thôi.

Dương Lăng và Mẫn Văn Kiến đang tán gẫu, Trịnh bách hộ chạy vào thưa:
- Khải bẩm xưởng đốc đại nhân, Mạc công công đã chuẩn bị xong kiệu xe, mời đại nhân cùng đến núi Sư Tử khảo sát.

Dương Lăng nghe vậy đứng lên, áy náy bảo:
- Mẫn đại nhân! Đại nhân và tại hạ xa cách từ lâu mới gặp lại, đáng lý tại hạ nên bày rượu cùng đại nhân chuyện trò cho thỏa thích một phen. Chỉ là hôm nay tại hạ đã cùng Mạc công công thoả thuận sẽ cùng đến núi trà tuần tra. Không biết Mẫn đại nhân trọ ở nơi nào, đợi tối nay tại hạ trở về sẽ lại cho người mời đại nhân đến, chúng ta cùng nhau nâng chén, không say không về.

Mẫn Văn Kiến cười hào sảng đáp:
- Với giao tình của hai ta, đại nhân còn nói những lời khách sáo này làm gì? Có điều đại nhân đường sá xa xôi đến đây, muốn gặp mặt một lần không dễ, cho nên ta mới tranh thủ thời gian chạy đến. Cha già bệnh tình nguy kịch, Diêm vận sứ đại nhân đã xin phép nghỉ về quê; ta thực không dám gác lại công việc quá lâu, cho nên hôm nay sẽ phải chạy về rồi. Nếu đại nhân có thể đến Hải Ninh tuần tra, chúng ta sẽ lại uống thoả thích một phen.

Dương Lăng hồ hởi:
- Được! Khó có dịp đến Giang Nam một chuyến, tại hạ nhất định sẽ đến Hải Ninh.

Mẫn Văn Kiến chợt nhướng mày, cười giảo quyệt:
- Đã biết khó có dịp đến Giang Nam một chuyến, vậy... có đi Kim Lăng không?

Dương Lăng ngẩn ra:
- Nam Kinh? Lần này tuần thị thuế khoá Giang Nam, hình như không cần đi Nam Kinh thì phải?

Y vừa đáp vừa thầm nghĩ trong lòng: "Đi đến đó làm gì nhỉ? Vương Quỳnh đang ở Nam Kinh, tuy rằng lão già ấy hận mình đến thấu xương nhưng thực ra bản tính không tệ, mình cũng không muốn làm khó lão, nhưng nếu đi đến đó khó tránh phải chạm mặt cùng lão. Con trai lão chết trong tay mình, đến lúc gặp lão cũng không biết sẽ xảy ra chuyện gì đây. Còn về phần Mã Liên Nhi... chậc!”

Mẫn Văn Kiến cười hắc hắc đáp:
- Lộ trình không xa quá, thật ra nhín chút thời gian đại nhân cũng có thể đi thăm Kim Lăng một lúc.
Lão mỉm cười nói tiếp:
- Lúc ta vận chuyển muối đến Nam Kinh, đã từng tình cờ gặp ái nữ của Mã dịch thừa. Cô nàng đó thực sự là nghĩa nặng tình sâu với đại nhân à! Nếu đại nhân phụ người ta, ngay cả ta cũng sẽ nhìn không vừa mắt đâu.

Lão vừa nói vừa rút từ trong ống tay áo một tờ giấy đã được gấp lại, nhét vào trong tay Dương Lăng:
- Đây là nơi ở của nàng ấy. Ha ha, ta đã hết lời trong chuyện này rồi, đi hay không đại nhân hãy tự quyết định.

Xử lý xong việc này, dường như Mẫn Văn Kiến hết sức vui vẻ, toét miệng cười đắc chí.

Dương Lăng tiễn lão ra khỏi cổng, trông thấy trước cổng đã có hai kiệu ngựa đang đậu, Trịnh bách hộ dẫn theo một ít nha sai, còn có thuế lại (nhân viên thu thuế) và một ít nô bộc của Mạc phủ đang đứng bên ngoài.

Dương Lăng cáo từ Mẫn Văn Kiến, dõi theo chiếc kiệu của lão từ từ đi xa. Y đứng dưới bức tường xanh mọc đầy dây leo, ngắm nhìn liễu xanh sông biếc cạnh bờ tường, ngẩn ngơ vuốt ve miếng giấy trong tay thật lâu.

Bồi hồi, y dường như nhìn thấy một người con gái xinh đẹp mặc đồ trắng thướt tha mờ ảo, yểu điệu mảnh mai như một đoá thược dược, nhẹ nhàng bước ra từ trong nước, khuôn ngài ẩn chứa mối thâm tình, đang đi về phía y. Dáng đi thong thả ấy, cử chỉ không chỗ nào không quyến rũ ấy, khiến cho người ta phải thất thần.

"Quân tự minh nguyệt ngã tự vụ,
Vụ tùy nguyệt ẩn không lưu lộ,
Chích duyên cảm quân nhất hồi cố,
Ngã tiện tư quân triều dữ mộ.
Hồn tuỳ quân khứ thiên nhai lộ,
Y đái tiệm khoan bất giác khốc,
Tích thán niên hoa như triều lộ,
Hà thời hàm nên sào quân ốc...
Tam thập lục luân minh nguyệt hậu,
Đương vi quân tác nghê thường vũ..."

Dịch thơ:

Thiếp tựa mù giăng chàng tựa trăng
Trăng lặn mù tan đọng sương lan
Cảm lòng chàng một phen ngóng lại
Tim này nhớ ai bao ngày sang

Hồn theo chàng đến cuối chân trời
Thân gầy áo rộng lệ tuôn rơi
Xuân xanh tàn tận dường sương sớm
Khi nao hội ngộ hỡi người ơi

Ba sáu mùa trăng tỏ sẽ qua
Sẽ múa chàng khúc Nghê Thường ca... (hieusol)

Dương Lăng khẽ ngâm hết câu thơ cuối cùng, nghĩ đến ba mươi sáu mùa trăng tỏ sau, mình và Mã Liên Nhi sớm đã người, ma hai ngả, đôi đường li biệt, trong lòng không khỏi dâng lên một nỗi bi ai. Y dằn lòng, vo chặt mảnh giấy ghi nơi ở của Mã Liên Nhi lại, đang định thuận tay vứt xuống sông, chợt nghe bên cạnh có tiếng người vỗ tay khen:
- Thơ hay! Thơ hay! Nếu như ty chức đoán không sai, đây hẳn là của một vị cô nương đa tình tặng cho đại nhân thì phải.

Dương Lăng quay đầu lại nhìn, thấy Mạc Thanh Hà đang đứng bên cạnh vỗ tay mỉm cười, vị phu nhân xinh đẹp muôn vẻ phong tình cũng đứng cạnh bên, ánh mắt đầy vẻ kỳ lạ, hiển nhiên tán thưởng vô cùng.

Phong tục tập quán Giang Nam cởi mở, khác xa với kinh thành phương Bắc, vị phu nhân này của Mạc Thanh Hà cũng không quá kiêng kị. Lão gia nhà mình muốn đi đến núi Sư Tử, nàng ta liền tiễn ra đến cổng. Vừa nghe thấy Dương Lăng ngâm thơ, nàng không khỏi tán thưởng, cười nói với Mạc Thanh Hà:
- Lão gia! Từ sau khi nghe được bài thơ "Đào Hoa am" do tài tử Đường Dần(6) của Tô Châu sáng tác ở biệt viện Đào Hoa am vào tháng sáu năm nay, thiếp thân đã không còn nghe được bài thơ hay nào có ý cảnh như vậy nữa. Nếu như Dương đại nhân không chê, có thể cho phép thiếp thân chép bài thơ này lại hay không?

Mạc Thanh Hà chau mày vờ trách:
- Chớ nên vô lễ! Sao lại để cho đại nhân khó xử như vậy?

Dương Lăng cười nói:
- Việc này không sao!
Y vừa nói vừa thuận tay cất miếng giấy nọ vào ngực, rồi tiếp:
- Đợi bản đốc và Mạc đại nhân từ trên núi trở về, sẽ đọc lại cho phu nhân nghe là được.

Trước mặt vị "thái giám có vợ" này, Dương Lăng không tiện gọi hắn là công công, bèn đổi gọi thành đại nhân. Vợ chồng Mạc Thanh Hà nghe xong trên mặt lập tức lộ vẻ vui mừng. Mạc Phu Nhân tươi cười duyên dáng nói:
- Khi nãy thiếp thân chỉ chú ý đến ý cảnh trong thơ, chưa nhớ hết lời. Chỉ cần đại nhân ngâm lại một lượt, thiếp thân liền sẽ nhớ ngay.

Dương Lăng kinh ngạc nhìn nàng ta, không ngờ người con gái này học thức uyên bác, có khả năng xem qua là nhớ, thế là y liền đọc lại bài thơ một lượt. Mạc phu nhân chăm chú lắng nghe, sau đó không nén được vui mừng vỗ tay:
- Thiếp thân đã nhớ rồi, giờ thiếp thân sẽ về chép lại.

Nói đoạn cũng không cáo biệt, nàng dịu dàng như hoa xuyên liễu phớt, hạnh phúc dẫn hai nha hoàn quay trở vào phủ.

Mạc Thanh Hà chỉ biết cười nhìn theo bóng lưng nàng, rồi nói với Dương Lăng:
- Tiện thiếp trước giờ vẫn luôn không biết lễ phép, khiến đại nhân chê cười rồi.

Dương Lăng nói:
- Thẳng tính mà làm, ấy là chân nhân*. Tôn phu nhân tính tình bộc trực, không hề có tâm cơ, như vậy có gì là không tốt? Ha ha, bản quan phải tiếp với mấy vị khách nên ra hơi trễ, đã phiền đại nhân phải đợi lâu. Giờ chúng ta đến núi Sư Tử đi dạo thôi.
*(chân nhân vừa nghĩa là người đắc đạo vừa nghĩa là người sống thật)

Mạc Thanh Hà nghe y nói "đi dạo" núi Sư Tử, không khỏi cười lớn. Hai người cùng lên kiệu ngựa, Dương Lăng dẫn theo một trăm hai mươi nha sai, Mạc Thanh Hà cũng mang theo bốn mươi viên thuế lại, cùng chạy về phía núi Sư Tử.

Hàng Châu có Tây Hồ trong veo trang nhã, có bờ Phú Xuân trong xanh gợn sóng, có dòng Tiền Đường thủy triều lên thủy triều rút, có núi Nam Ngô, Bắc Cô, phong cảnh rất nhiều. Thật ra quang cảnh của Hàng Châu chủ yếu nằm ở những lâm viên và cảnh quan nhân văn của vùng Giang Nam êm dịu; có rất nhiều cảnh vật tự nhiên nhưng mang nặng dấu ấn của con người, nếu bỏ lớp ý cảnh đó đi thì cũng sẽ không còn gì hay ho nữa.

Chẳng hạn như ngôi mộ của Tô Tiểu Tiểu bên cạnh Tây Hồ. Nếu không phải vì nàng là danh kỹ Giang Nam phong lưu thiên cổ, có nhiều câu thơ ưu mỹ như:

"U lan lộ, như đề nhãn. Vô vật kết đồng tâm, yên hoa bất kham tiễn.
Thảo như nhân, tùng như cái. Phong vi thường, thuỷ vi bội..."*

được văn nhân mặc khách lưu lại, thì chỉ nhìn phần mộ đó thôi cũng sẽ chẳng thấy ý vị gì.

*Lan đọng sương, như giọt lệ, lấy gì kết đồng tâm. Trăng hoa đâu nỡ dứt?
Cỏ như tơ, thông che bóng. Gió là áo, nước điểm trang...

Quang cảnh Hàng Châu vốn không phải theo kiểu "nhìn núi ra thơ", núi Sư Tử lại hết sức tầm thường. Trong con mắt của người đã quen nhìn những ngọn danh sơn trên thế giới như Dương Lăng, nó càng cực kỳ nhạt nhẽo vô vị. Nhưng chính trên mỏm núi trông hết sức tầm thường này, lại sản xuất ra thứ trà ngon Long Tỉnh vang danh thiên hạ.

Ở Tô Hàng, núi Hổ Khâu vì suối mà có tiếng, ngọn Phi Lai vì Linh Ẩn tự mà nổi danh. Ngọn Sư Tử sơn này chính là nhờ trà Long Tỉnh mà vang danh thiên hạ.

Khi kiệu quan vừa lên núi, sớm đã có viên thuế giám phụ trách trông coi núi này dẫn người chạy vội ra nghênh đón, đưa hai vị đại nhân vào trong một căn nhà gỗ được xây dựa sườn núi.

Dương Lăng ngồi xuống chiếc ghế dựa bằng tre, cười ha hả:
- Tháng này, nếu ở phương Bắc thì sớm đã có gió thu hiu hiu, cây cối điêu linh rồi. Nơi này lại vẫn cỏ cây xanh ngát, hơn nữa khí trời vẫn còn thiêu đốt như vậy!

Mạc Thanh Hà đáp:
- Ở Giang Nam sông nước hãy coi như còn mát mẻ, xuôi Nam vào trong nội địa một chút sẽ càng nóng bức hơn. Người đâu rồi, mau dâng trà ngon lên cho đại nhân giải nhiệt coi!

Dương Lăng nghe hai chữ "trà ngon", không khỏi âm thầm cười nhạt. Y rờ bọc trà nhỏ cất trong người, chỉ đợi nước trà được bưng lên, nếm thử tư vị liền sẽ hỏi rõ Mạc Thanh Hà trước mặt mọi người. Có điều y có ý định thu phục Mạc Thanh Hà nên cũng không muốn làm quá, chỉ muốn răn đe áp bức hắn một chút, khiến hắn thần phục là được.

Một người con gái hái trà mặc áo màu xanh ngọc, váy vải hoa bằng sáp nhạt màu, eo thon thắt dây đai màu đen, tóc buộc khăn vải, trên gương mặt mang một nụ cười dịu dàng, nhẹ bước vào phòng, nhanh nhẹn pha một ấm trà, rồi dâng cho Dương Lăng và Mạc Thanh Hà mỗi người một chén.

Dương Lăng nâng chén trà lên, thấy lá trà vẫn đang xoay tròn trong nước như lưỡi con chim sẻ. Y liếc Mạc Thanh Hà, rồi thong thả ung dung đưa chén lên mũi ngửi thử, không khỏi lại ngẩn ra.

Mùi vị của trà này thơm nức mũi, giống hệt như mùi vị của loại cực phẩm hoàng gia mà lúc ở trấn Thượng Hải y đã thưởng thức. “Mạc Thanh Hà giấu riêng trà ngon, trà cung phụng cho cung đình so với thứ này kém hơn rất nhiều. Hôm nay ở trước mặt vị khâm sai từ trong kinh đến để điều tra như mình mà hắn lại không hề biết kiêng kị, thản nhiên dâng lên loại trà này. Chẳng lẽ hắn không sợ mình phát giác ra sự khác thường, hạch hắn tội khi quân sao?”

Dương Lăng thoáng ngẩn ra, ngước mắt nhìn Mạc Thanh Hà đang mỉm cười chờ y thưởng thức mùi vị, không dằn lòng được bèn hỏi:
- Mạc đại nhân! Trà này của đại nhân mùi hương ngào ngạt, thấm tận tâm can tỳ phế, quả thực là cực phẩm. Có điều... khi ở trong kinh bản đốc cũng đã từng uống ngự trà trong cung, trà tiến cống mà Hoàng thượng uống so với trà này của ngài kém hơn không chỉ một bậc. Không biết Mạc đại nhân giải thích thế nào đây?




Chú thích:

(4) Đại Quan viên là ngôi biệt thự do Giả Phủ xây dựng dùng làm hành cung cho quý phi thăm viếng trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần, được dùng để ví như chốn Bồng Lai.
(5) tiếng Nhật là Ronin, nghĩa là "con người trôi dạt", một thuật ngữ chỉ những samurai vô chủ. (trích wiki)
(6) Đường Dần (1470 - 1523) là một danh hoạ, một nhà thơ nổi tiếng đời nhà Minh. Đường Dần tự là Tử Uý, Bá Hổ (nên còn được gọi là Đường Bá Hổ), hiệu là Lục Như cư sĩ, Đào Hoa am chủ, tự xưng là Minh triều Giang Nam đệ nhất phong lưu tài tử.
Bài Đào Hoa am

Đào hoa ổ lý đào hoa am
Đào hoa am lý đào hoa tiên
Đào hoa tiên nhân chủng đào thụ
Hựu trích đào hoa hoán tửu tiền

Tửu tỉnh chỉ tại hoa tiền tọa
Tửu túy hoàn lai hoa hạ miên
Bán tỉnh bán túy nhật phục nhật
Hoa lạc hoa khai niên phục niên

Đãn nguyện lão tử hoa tửu gian
Bất nguyện cúc cung xa mã tiền
Xa trần mã túc quý giả thú
Tửu trản hoa chi bần giả duyên

Nhược tương phú quý tỉ bần giả
Nhất tại bình địa nhất tại thiên
Nhược tương bần tiện tỉ xa mã
Tha đắc khu trì ngã đắc nhàn

Biệt nhân tiếu ngã thái phong điên
Ngã tiếu tha nhân khán bất xuyên
Bất kiến Ngũ Lăng hào kiệt mộ
Vô hoa vô tửu sừ tác điền.

Dịch thơ:
Lũng Ðào Hoa

Lũng Ðào hoa, am hoa một mái,
Trong hoa am tự tại tiên hoa.
Tiên hoa trồng cội đào hoa,
Chiết cành ta lấy đổi ra rượu nồng.

Khi tỉnh rượu ung dung kề cận,
Uống say nằm ngủ khểnh dưới hoa.
Tỉnh say ngày lại ngày qua,
Hoa tươi hoa rụng la đà tháng năm .

Chốn ngựa xe chẳng cần luồn cúi,
Ước nguyền rằng chết với rượu hoa.
Bụi xe dấu ngựa cao xa,
Cành hoa chén rượu cùng ta duyên nghèo.

Đem phú quý so đo đạm bạc,
Một đất bằng một ngất trời xanh.
Ngựa xe đem sánh thanh bần,
Người toan bận rộn, ta phần thong dong.

Người cười ta cuồng ngông khờ khạo,
Ta cười người điên đảo ngược xuôi.
Ngũ lăng phần mộ san rồi,
Không hoa không rượu cũng thời ruộng sâu. (Người dịch: Hạt Cát)

Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

fishscreen
10-08-2011, 01:16 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển 4 - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 126 - Thủ thế chờ “bung”

Dịch: TheJoker

Biên dịch: fishscreen

Biên tập: fishscreen

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Cao Văn Tâm đảo mắt, chỉ thấy Dương Lăng cười một cách xấu xa, Trịnh bách hộ và mấy tay nha sai đứng sau đều mím chặt môi, trông thì hết sức nghiêm túc, thế nhưng mặt người nào người nấy đều lộ vẻ kỳ dị, thế là không khỏi ngượng chín người, cả cổ cũng đỏ ửng lên.



----------------------------------------------
Chương 126 - Thủ thế chờ “bung”
----------------------------------------------

Mạc Thanh Hà kinh ngạc nói:
- Khâm sai đại nhân đã từng uống loại cực phẩm hoàng gia rồi ư? À, đúng rồi, Dương đại nhân là thần tử đắc lực bên cạnh hoàng thượng, đương nhiên là có cơ hội thưởng thức trà tiến cống cực phẩm rồi. Ha ha ha!

Hắn nói xong bèn mỉm cười khoát tay ra hiệu cho cô gái hái trà và đám thuế lại, trà giám của đỉnh Sư Tử lui hết ra ngoài.

Trịnh bách hộ chần chừ đưa mắt nhìn Dương Lăng. Dương Lăng lại không tin Mạc Thanh Hà sẽ vì chuyện này mà dám công nhiên gây bất lợi cho mình, huống hồ những người mà mình dẫn theo ai nấy đều võ nghệ siêu quần, nhân thủ cũng hơn xa số người của Mạc thuế giám, vì thế y tuỳ ý khoát tay lệnh cho Trịnh bách hộ dẫn người đi ra.

Mạc Thanh Hà cầm chén trà lên, thong thả thổi những hoa trà đang trôi nổi trong chén tản ra, chậm rãi hớp một ngụm trà tỉnh rồi mới mỉm cười nói:
- Trà này của ty chức so với loại cực phẩm hoàng gia được tiến cống kỳ thật còn ngon hơn một bậc, khó trách đại nhân nếm xong lại sinh nghi. Có điều đây cũng không phải là bí mật gì, người trong nghề đa phần đều biết chuyện này.

- Ồ?
Dương Lăng xoay nhẹ chén trà, nghi hoặc hỏi:
- Trà tiến cống chẳng phải là loại trà ngon nhất à? Vì sao trà Long Tĩnh của Tây Hồ cung phụng hoàng gia đại nội lại không bằng loại trà mà ông giữ lại vậy?

Mạc Thanh Hà cười lớn đáp:
- Đại nhân có điều không biết, trà này chỉ có sản xuất ở mấy ngọn núi gần đây mới là trà cực phẩm chính tông. Lá trà ngon nhất bị ảnh hưởng rất lớn bởi khí hậu. Cho dù năm nay mưa thuận gió hòa, khí hậu thích hợp, có thể sản xuất ra một ít trà ngon cực phẩm, nhưng vận chuyển đường dài gặp phải mưa dầm liên miên, mùi vị cũng sẽ chịu nhiều ảnh hưởng.

Hắn ngừng một chút rồi nói tiếp:
- Bởi vậy loại trà dâng cho hoàng thượng uống cần phải có mùi vị ổn định, phẩm chất như nhau. Trà tiến cống không yêu cầu phải ngon nhất, chỉ cần ổn định nhất là được. Bằng không nếu như năm nay hoàng thượng uống thấy mùi vị khác biệt, năm sau mùi vị lại hơi khác đi, cho rằng kẻ dưới làm việc không tốt, truy cứu xuống thì có đem chém toàn bộ người ở vườn trà này cũng sẽ không sinh ra trà mới đâu.

Hắn lại tiếp tục giải bày:
- Đây không phải là kẻ dưới bất kính với hoàng thượng, mà thực sự là không có biện pháp giải quyết. Trong kinh thỉnh thoảng vẫn có người dùng nhận thấy sự khác biệt giữa hai loại trà này, nhưng cũng chỉ cho rằng do trà mới được hái nên có mùi vị ngon hơn, sẽ không vì vậy mà sinh nghi. Ty chức hết sức kính ngưỡng Dương đại nhân, do đó không dám giấu giếm. Đương nhiên… danh tiếng thương cảm cho bá tánh của Dương đại nhân ty chức đã nghe từ lâu, cho nên cũng không đành che giấu.

Dương Lăng nghe mà ngỡ ngàng. Y cứ tưởng Mạc Thanh Hà giấu giếm trà ngon làm của riêng là vì trục lợi cá nhân, không ngờ bên trong lại có lý do này.

Mạc Thanh Hà cười khổ nói:
- Đại nhân à, những kẻ hầu hạ bên dưới như chúng tôi đây dựa vào thân phận sai dịch cho hoàng thượng để diễu võ giương oai, người người đều cảm thấy oai phong vô cùng, nào có ai biết muốn bình an vô sự chúng tôi cũng phải lao tâm khổ tứ chứ.

Hắn lại thở dài một hơi rồi nói:
- Nhưng cũng không còn cách nào khác. Ngoài việc không dám tiến cống trà không biết được phẩm chất ngon hay kém do bị ảnh hưởng của thời tiết, chúng tôi thực không dám giấu làm của riêng. Ngân lượng chúng tôi có được từ việc bán loại trà ngon cực phẩm này đều dựa theo số lượng mà nộp lên kinh sư. Đương nhiên… cũng không tránh được phải trích ra một ít biếu tặng cho quan trên, Vương công công và mấy vị thủ lĩnh của Ty Lễ Giám trong kinh. Mỗi năm ty chức đều phải hiếu kính chục cân trà ngon. Giờ đây ty chức thuộc sự quản hạt của đại nhân, thành thật bẩm báo, vẫn mong đại nhân thể nghiệm và quan sát tình hình bên dưới, thông cảm với những khó khăn của đám nô tài chúng tôi đây.

Dương Lăng nghe vậy cười khổ không thôi. Vốn tưởng là một vụ án khi quân to tát, hoá ra lại là một quy củ lớn được ước định mà thành trên quan trường: phàm là cống phẩm không thể bảo đảm chất lượng để cung ứng, thà giảm yêu cầu chất lượng của nó cũng không cung phụng cho đại nội, tránh để mặt rồng nổi giận ngược lại sẽ không hay.

Có điều Mạc Thanh Hà thẳng thắn bẩm báo như vậy cũng khiến y có nhiều hảo cảm hơn. Bất luận Mạc Thanh Hà giả vờ thật thà hay tâm tư bộc trực, ít nhất cũng chứng minh rằng hắn xác thực có ý muốn dựa vào mình. Dương Lăng cười ha hả, nâng chén hướng về phía Mạc Thanh Hà nói:
- Đa tạ Mạc đại nhân thẳng thắn nói cho hay, tháo gỡ nghi hoặc trong lòng tại hạ. Dương mỗ cũng hầu hạ quân chủ, đương nhiên hiểu được nỗi khổ của các vị đại nhân, nay đã biết được đầu đuôi trong đó, dĩ nhiên sẽ không trách móc.

Sau khi nghe xong tình hình do Liễu Bưu báo cáo, Dương Lăng đã quyết định sẽ khai đao lập oai với thuế giám trấn thủ Viên Hùng, chỉ là vụ trà tiến cống của Mạc Thanh Hà vẫn luôn là mối tâm bệnh vướng mắc trong lòng y. Nay đã biết được tường tận tình hình, y cảm thấy vô cùng thoải mái. Hai người uống trà trò chuyện, cảm tình đôi bên cũng thân thiết hơn không ít.

Sau khi đi hai vòng trong vườn trà trên sườn núi, xem như đã hoàn thành sứ mệnh thị sát, lúc hai người lên kiệu xuống núi, Mạc Thanh Hà bỗng đưa tay lên vẫy, thuế giám trông coi vườn trà vội vàng dẫn mấy người khiêng hai chiếc rương nhỏ sang. Dương Lăng nghi hoặc hỏi:
- Đây là…?

Mạc Thanh Hà cười nịnh nói:
- Đại nhân, trên núi này ngoại trừ lá trà thật sự không có thứ gì đáng giá cả. Trong một chiếc rương này là mười cân trà xuân Long Tĩnh cực phẩm, xin đại nhân cầm về thưởng thức. Nếu vụ thu hoạch trà năm sau gặp phải thời tiết không tốt, đại nhân sẽ không thể uống được thứ trà ngon như vậy đâu.

Dương Lăng biết nếu bây giờ đem loại trà xuân cực phẩm chân chính như vậy ra chợ bán cho phú hào Giang Nam, một lạng trà phải có giá mười lượng bạc. Một rương trà cỏn con này là cả ngàn lượng bạc, uống một ngụm e phải bằng phần ăn cả một tháng của bá tánh bình thường, thật sự là hơi quá xa xỉ.

Có điều nếu trước đây mọi người của Ty Lễ Giám đều đã quen tiếp nhận, bây giờ Mạc Thanh Hà vẫn chưa quy thuận, nếu như không nhận khó tránh sẽ khiến hắn sinh nghi, thế là y bèn tủm tỉm gật đầu.

Mạc Thanh Hà xoa tay nói:
- Còn chiếc rương này bên trong là bốn chiếc gối uyên ương. Lá trà trong gối tuy không phải là loại trà xuân cực phẩm hoàng gia, nhưng cũng là loại trà ngon hạng nhất. Một khi gối lên, mùi trà sẽ lan toả khắp người, lòng thanh mắt sáng, giúp ngủ ngon tốt nhất. Ha ha, xin tặng cho đại nhân và phu nhân.

Dương Lăng nghe nói là gối trà thì rạng rỡ mặt mày. Gối trà này hương thơm nức mũi, ba nha đầu trong kinh nhất định sẽ thích lắm, nhưng vừa nghe nói đến số lượng thì lại thoáng ngẩn ra: “Nếu là gối uyên ương, vậy Ấu Nương, Ngọc Nhi và Tuyết Nhi cộng lại mới có ba người, hắn tặng bốn cái là ý gì? Chẳng lẽ việc này cũng coi trọng ‘tặng lễ theo cặp’(1) ư?”

(1) Nguyên văn “hảo sự thành song”. “Thành song” ở đây nghĩa là “theo đôi, theo cặp”. Theo phong tục Trung Hoa, phàm tặng lễ mừng cho chuyện vui nào đó, lễ vật thường được tặng theo đôi, kị tặng đơn lẻ.

Dương Lăng ngước mắt nhìn, thấy trong mắt Mạc Thanh Hà ngậm cười, mặt bèn chợt nóng lên, biết rằng hắn đã nhận định Cao Văn Tâm sớm muộn gì cũng sẽ được mình cưới về làm thiếp. Y cũng không có cách nào giải thích, chỉ đành ậm ờ ưng thuận, sai người nhận lấy hai chiếc rương, sau đó hai người khởi kiệu rời khỏi núi Sư Tử.

Rời khỏi miệng núi, đầu tiên phải đi qua một thôn nhỏ mới có thể rẽ sang đường lớn về thành. Dương Lăng đang ngồi trong kiệu chợt nghe phía trước có tiếng người quát mắng, vội vén rèm kiệu lên nhìn. Chỉ thấy hai tên thuế lại đang giơ roi đuổi đánh một đứa bé ăn mặc rách rưới, nhìn cũng chỉ khoảng mười tuổi, liền giận dữ quát một tiếng:
- Dừng tay!

Hai tên thuế lại kia đang say sưa quất roi, hoàn toàn không nghe thấy. Trịnh bách hộ đi bên cạnh kiệu liền phóng tới một bước, chụp lấy roi da trong tay tên thuế lại, đẩy một cái khiến cho hắn lảo đảo, quát lên:
- Đại nhân có lệnh, ngươi không nghe thấy à?

Tên thuế lại đó quay đầu lại, nhìn thấy Dương Lăng đã xuống kiệu, bộ mặt hung thần ác sát lập tức đổi thành vẻ mặt tươi cười siểm nịnh, gật đầu khom lưng đứng sang một bên. Mạc Thanh Hà cũng xuống kiệu ngựa, vội vã chạy qua hỏi:
- Đại nhân, đã xảy ra chuyện gì vậy?

Dương Lăng thấy đứa bé đó đã lùi về bên một sạp trà. Trông nó hết sức ốm yếu, thân thể gầy gò để lộ một cái đầu hơi quá khổ, đôi mắt to hiện lên vẻ lanh lợi cứng cỏi, có điều quần áo lại rách rưới, thân thể và mặt mũi trông rất bẩn thỉu.

Dương Lăng bước tới ngồi xổm xuống, đặt tay lên vai thằng bé, chỉ cảm thấy da bọc xương, gầy đến thảm thương. Y ôn hoà hỏi:
- Tiểu huynh đệ, đệ không phải là người bản địa à? Người nhà đệ đâu rồi?

Dương Lăng vừa bước tới phía trước, Trịnh bách hộ đã dẫn bốn tay nha sai đuổi theo sau. Thằng bé đó trông thấy năm đại hán oai phong lẫm liệt tay cầm đơn đao sau lưng Dương Lăng thì co rúm người lại không dám trả lời. Dương Lăng quay đầu lại nhìn, nhíu mày nói:
- Chỉ là một đứa bé, còn sợ bản quan bị hành thích sao? Đừng doạ thằng bé, các người lui ra chút đi!

Trịnh bách hộ vội dẫn người lùi ra mấy bước. Mạc Thanh Hà cũng bước qua, ngồi xổm xuống, ôn tồn cười nói:
- Nhóc con, vị đại nhân này là người tốt, đại nhân hỏi thì ngươi phải trả lời đàng hoàng, đại nhân mà cao hứng sẽ thưởng ngươi mấy văn tiền để mua mấy cái bánh bao thịt lớn ăn đó.

Thằng bé vừa nghe nói đến bánh bao thịt, cặp mắt liền sáng lên. Nó nuốt một ngụm nước bọt rồi mới ấp úng nói:
- Đại lão gia, cháu tên là Ôn Tiểu Hoa, là người ở trấn Tư Khẩu. Khi nãy đói bụng, trông thấy cây bên đường có quả dại nên định hái mấy trái xuống ăn. Vị đại gia đó… ông ta lấy roi đánh cháu.

Dương Lăng nhìn sang Mạc Thanh Hà. Mạc Thanh Hà nhướng mày nói:
- Trấn Tư Khẩu à? Đó là địa giới Tô Hàng mà, đứa nhỏ như ngươi một mình chạy đến nơi này sao? Người nhà của ngươi đâu?

Thằng bé rụt rè gật đầu đáp:
- Ừm! Người nhà cháu đều chết cả rồi, cháu phải đi ăn xin khắp nơi để sống qua ngày, đi hoài đi mãi thì đến nơi này.

Dương Lăng hỏi:
- Thế nào mà người trong nhà đều không còn vậy? Nơi đó đã xảy ra ôn dịch sao?

Mạc Thanh Hà lắc đầu nói:
- Chưa từng nghe nói có ôn dịch. Đứa nhỏ, nói cho ta biết người trong nhà ngươi làm sao mà chết hết vậy?

Thằng bé chớp đôi mắt to, rụt rè đáp:
- Ruộng nhà cháu ở kế bên sông, tháng năm nổi lụt ngập hết cả ruộng. Cha cháu bán nhà vào thành làm chút buôn bán nhỏ, nhưng mà vào thành cũng bị thu thuế. Cha… cha lén trèo tường nên té bị thương, mẹ cháu mới bán ruộng để chữa thương cho cha, nhưng bọn người lùn lại kéo đến, cướp tiền và đồ nhà cháu, giết chết cả cha mẹ cháu. Cháu phải… phải ăn xin khắp nơi.

Dương Lăng nghe mà cảm thấy xót xa trong lòng. Lúc này ông già mở quán trà bên đường nhận ra Mạc Thanh Hà, không nén được mừng rỡ kêu lên:
- Ngài là Mạc gia? Mạc đại thiện nhân!

Mạc Thanh Hà ngẩn ra, hỏi ngược lại:
- Ông nhận ra ta à?

Lão hán đó hưng phấn reo lên:
- Nhận ra chứ, nhận ra chứ. Mùa đông năm ngoái, Mạc gia bố thí cháo trong thành, lão đây đã từng đến trước phủ ngài xin miếng ăn đó. Cái đứa nhỏ không cha bị Trương quả phụ thôn chúng tôi tái giá bỏ rơi, đứa nhỏ tên là Thuỷ Sinh không có ai nuôi đó, không phải Mạc gia đã nhận nuôi sao? Ha ha, lão đây còn nhớ ngài mà. Đứa nhỏ này thật là đáng thương, lại có vẻ lanh lợi, không bằng Mạc gia ngài rủ lòng thương thu nhận nó đi.

Dương Lăng nhìn Mạc Thanh Hà, lấy làm bất ngờ nói:
- Mạc đại nhân thật không hổ được gọi là thiện nhân, hóa ra không chỉ bố thí cháo cứu người mà còn thu dưỡng cô nhi.

Mạc Thanh Hà còn chưa kịp nói mấy câu khiêm tốn, ông già nọ đã cướp lời nói tiếp:
- Mạc gia là người tốt, thành Hàng Châu ai mà không biết chứ? Mạc gia đã thu dưỡng mấy chục đứa nhỏ bơ vơ không nơi nương tựa. Thằng bé này hôm nay gặp được ngài thật đúng là phước đức tổ tiên à.

Mạc Thanh Hà nghe lão ta khen ngợi mình trước mặt Dương Lăng, dường như hơi không được thoải mái lắm, vội nói:
- Được rồi được rồi, cái ông lão này!

Hắn quan sát thằng bé tên là Ôn Tiểu Hoa mấy lượt, rồi khẽ gật đầu nói:
- Được rồi, ngươi hãy đi theo ta, thế nào? Ta sẽ tìm một chỗ cho ngươi, có ăn có uống, còn có thể học chút nghề.

Thằng bé rất lanh lợi, nghe xong vội vàng quỳ xuống, vui mừng phấn khởi đáp:
- Tạ ơn đại lão gia! Chỉ cần có miếng ăn, ngài sai cháu làm gì cũng được.

Mạc Thanh Hà không ngại nó bẩn thỉu, vừa cười lớn vừa xoa đầu nó, sau đó quay đầu gọi quản gia:
- Lão Lý, mang thằng bé này theo! Có mang theo thứ gì ăn không? Cho nó một chút lót dạ đi!

Dương Lăng vừa cùng hắn trở về, vừa nói:
- Mạc đại nhân đã thu nhận mấy mươi cô nhi à? Đây… đây thật là việc đại thiện đó. Có điều trong phủ nuôi dưỡng nhiều con nít như vậy cũng thật khó khăn cho đại nhân rồi.

Mạc Thanh Hà hơi đỏ mặt nói:
- Đại nhân quá khen rồi. Chúng ta… chà, chúng ta là người gì hẳn đại nhân cũng rõ, chỉ muốn làm chút việc thiện, kiếp sau có thể được báo ứng tốt mà thôi. Ty chức chỉ là giúp đỡ những đứa nhỏ này kiếm miếng ăn, cũng không giữ lại trong phủ mà nhờ người đưa đến hộ dệt bản địa làm ít việc vặt, đồng thời học chút tay nghề. Cũng vì nể mặt ty chức nên những hộ dệt đó không dám làm khó bọn chúng, cho bọn chúng một con đường sống mà thôi.

Đến đây Dương Lăng quả thật đã cảm thấy kính nể người thái giám này. Bất kể hắn có thật muốn tích âm đức để cầu thiện báo hay không, những việc làm và hành động ấy đã hơn biết bao kẻ đọc sách cả ngày ra rả vì nước vì dân, song lại chỉ biết nói suông. Tuy hắn không hiểu nhiều đạo lý lớn, nhưng lại thật sự làm được rất nhiều việc tốt.

Mặc dầu, lợi dụng sự tiện lợi của chức quyền hắn cũng thu được không ít chỗ tốt, nhưng hắn có thể nghĩ đến việc cứu tế dân chúng cùng khổ, đây đã là chuyện rất đáng quý rồi.

Tất cả hộ dệt của bản địa đều thuộc sự cai quản của thái giám dệt may Lý Đại Tường. Các hộ dệt may tập trung ở Tô Châu, cho nên nha môn của Lý Đại Tường cũng đặt tại Tô Châu. Dương Lăng và Mạc Thanh Hà trở về thành, không quay thẳng về phủ mà đến một cửa điếm nhỏ đặc sắc của địa phương. Hai người ngồi dưới gốc thuỳ dương, khoan thai đối ẩm, vui vẻ bình phẩm phong cảnh Giang Nam. Sau đó còn chưa dứt chuyện thì lại quyết định đi đến hộ dệt bản địa để quan sát.

Dương Lăng nhớ lúc nhỏ đọc sách, có nghe nói vào thời Minh hộ dệt Giang Nam thuê mướn thợ thuyền, đã có quy mô khá lớn, có hình thức ban đầu của chủ nghĩa tư bản. Hộ dệt mà y đến tham quan lần này là một trong mười mấy hộ dệt lớn của Hàng Châu, tuy không lớn bằng hộ dệt Tô Châu nhưng cũng có mấy chục khung cửi, thuê mướn gần hơn trăm thợ nữ. Dạo một vòng bên trong, Dương Lăng có cảm giác rất giống với xưởng sản xuất dây chuyền công nghiệp hiện đại, không khỏi vô cùng hưng phấn.

Khi sắp ra khỏi cửa, y chợt nhìn thấy một thằng bé mập mạp độ mười một mười hai tuổi vác một bao sợi trắng đi vào. Vừa trông thấy có người ngoài, nó bèn đứng một bên cửa, đưa tay áo lên quệt mồ hôi đầy trán, chỉ đứng đó cười ngây thơ.

Mạc Thanh Hà cười chỉ vào thằng bé đó, nói:
- Thằng nhỏ này cũng không cha không mẹ, ty chức thấy tội nghiệp nên đã thu nhận rồi đưa đến đây. Ừm, đó là chuyện của mùa hè năm ngoái rồi.

Hắn lại cười nói:
- Ha ha! Không sợ đại nhân chê cười, người do ty chức đưa đến những hộ dệt này còn không dám không nể mặt. Bọn họ quyết sẽ không ngược đãi chúng, cho nên ty chức cũng chưa bao giờ đến thăm. Ty chức nhớ được thằng nhỏ này cũng bởi cái bướu to đấy của nó, bằng không quả thật không thể nhớ nổi.

Dương Lăng bèn đưa mắt nhìn, thấy thằng bé đó thân thể khoẻ mạnh rắn chắc, xem ra cuộc sống nơi đây quả nhiên không tệ. Có điều cổ nó vừa thô lại ngắn, bên cổ lại mọc ra một cái bướu thịt to dễ sợ màu đỏ tía, khiến người ta trông thấy liền có ác cảm.

Mặc dù Dương Lăng biết thân thế thằng bé này đáng thương, nhưng nhìn xong trong lòng cũng có cảm giác dị dạng, đừng nói là người khác. Nếu không vì Mạc Thanh Hà rủ lòng thương, phỏng chừng thằng bé này có muốn kiếm chút miếng ăn một cách chính đáng cũng sẽ không có ai dùng nó, chỉ có thể ăn xin cả đời. Đối với việc làm vĩ đại của Mạc Thanh Hà, trong lòng y không khỏi càng sinh ra một sự ngưỡng mộ.

Nhưng kỳ quái chính là, sao thằng nhóc đó gặp Mạc Thanh Hà mà vẻ mặt lại bình thường, không có vẻ gì như gặp được ân nhân vậy? Dương Lăng hơi động nghi ngờ, song lập tức nhớ ra thằng nhóc mập này mới chỉ gặp Mạc Thanh Hà một lần, trải qua lâu ngày một đứa bé làm sao nhớ rõ như vậy được, thế là lòng nghi ngờ lập tức tan biến.

Thằng bé mập mạp đó chỉ nhìn mấy vị khách cười ngây thơ, cũng không bước lên chào hỏi. Hộ dệt Cao Minh cười mắng:
- Tiểu tử ngốc, nhìn gì mà nhìn, mau mang đồ vào đi, đừng che mắt đại nhân!

Thằng bé mập đó nghe thấy liền vội vác bao sợi lên rồi chạy vụt vào.

oOo

Dương Lăng mặt đỏ như gấc đi vào Tây khoá viện. Cao Văn Tâm ngồi dí trong nhà cả ngày, nghe nói y trở về liền tung tăng ra đón, trông thấy vẻ mặt Dương Lăng quái dị, không khỏi ngẩn ra. Dương Lăng lúng túng đưa một cuộn giấy qua nói:
- Văn Tâm, đem cất cái này cẩn thận đi!

Cao Văn Tâm ngạc nhiên hỏi:
- Lại có người tặng lão gia thư hoạ của danh nhân gì sao?

Nàng vừa mở cuộn giấy ra nhìn, sắc mặt lập tức trầm xuống, chua chát nói:
- Thiếp tựa mù giăng chàng tựa trăng… Quả là một bài thơ tình hay. Không ngờ lão gia nhà chúng ta còn là nhân vật hết sức phong lưu nữa, đến vùng Giang Nam sông nước không biết đã khiến bao nhiêu người con gái phải điên đảo thần hồn rồi.

Dương Lăng dở khóc dở cười bao biện:
- Bài thơ này… là tôi nghe được lúc ở cố hương. Mạc phu nhân thấy hay nên đã phỏng chép ra hai cuộn, cuộn này là tặng lại cho tôi. Cô đừng có nghĩ ngợi lung tung! Đúng rồi, cô thấy thư pháp của vị Mạc phu nhân này thế nào? Thật là khéo tay hay chữ nhỉ.

Cao Văn Tâm nào tin lời nói dối của y. Nếu như thật sự đường hoàng như vậy, cớ gì khi nãy sắc mặt lại lúng túng? Nàng nhìn thư pháp ấy một chút rồi hừ giọng nói:
- Chữ thì không tệ, nhưng cũng không thấy đẹp hơn chữ tiểu tỳ. Trái lại bài thơ này… ý nặng tình thâm, chẳng lẽ là của Ấu Nương tỷ tỷ tặng lão gia?

Dương Lăng đằng hắng hai tiếng, không đáp lời nàng. Khi nãy vừa trở về phủ, Mạc phu nhân liền hưng phấn cầm hai cuộn tranh ra. Nàng ta đã chép bài thơ thành hai phần giống nhau, một phần tặng cho Dương Lăng để tạ ơn.

Chuyện này vốn không có gì to tát, chỉ là không biết vì con gái Giang Nam phóng khoáng như vậy, hay vì Mạc phu nhân lăn lộn chốn thanh lâu nhiều năm, không biết chừng biết mực, lại chẳng hề kiêng kị áp sát đến trước mặt Dương Lăng, mở tranh thư pháp ra, duyên dáng tươi cười, chỉ chỉ trỏ trỏ.

Nếu như cử chỉ đó được đặt vào thời nay thì cũng không tính là gì, nhưng Dương Lăng ở niên đại này đã lâu mà vẫn chưa từng thấy phu nhân người nào không biết tránh hiềm nghi như vậy, cứ kề sát lại gần. Chỉ ngửi thấy làn gió thơm rười rượi, hơi thở như lan đã khiến y trở nên khó chịu bất an, thế mà Mạc Thanh Hà không hề cho đó là ngỗ ngược. Vì vậy y càng không thể nổi giận được.

Cuối cùng khi Mạc phu nhân thu cuộn tranh về, buộc lại rồi đặt vào tay y, ngón tay ngọc thon thả lại thuận thế lẳng lơ khều nhẹ lòng bàn tay y một cái, làm Dương Lăng sợ giật nảy tim. Y ngước mắt nhìn, đúng lúc trông thấy cặp mắt khiến cho hồn xiêu phách lạc của Mạc phu nhân liếc sang: yêu kiều, quyến rũ, răng trắng cắn khẽ môi hồng, tuy vẻ phong tình chỉ hiển lộ ra trong chớp mắt, nhưng lại như hòn đá ném xuống mặt nước yên ả, khiến lòng người nổi lên từng gợn sóng. Lúc này Dương Lăng mới hiểu được không phải nàng ta không câu nệ tiểu tiết mà là có ý quyến rũ mình.

Vẻ phong tình của mỹ nữ này, phong lưu mà không thấp hèn, tuy ở trước mặt trượng phu mình quyến rũ người khác, nhưng sức mê hoặc đặc biệt đó lại khiến người ta không thể nảy sinh chút ác cảm nào. Dương Lăng chỉ cho rằng nàng cưới phải ông chồng thái giám, khao khát xuân tình, đột nhiên có người đàn ông trẻ tuổi vào ở nơi này, mới khiến nàng ta suy nghĩ vẩn vơ. Thế là y không dám ngồi lâu, trò chuyện vài câu với Mạc Thanh Hà xong liền vắt giò lên cổ mà chạy.

Chuyện khó xử như vậy y đương nhiên không thể kể cho Cao Văn Tâm nghe. Nhìn thấy nàng vẫn còn chút giận dỗi, Dương Lăng vội cười ruồi nói:
- À… Văn Tâm này, chúng ta có phải nên uống thuốc châm cứu không?

Cao Văn Tâm duyên dáng lườm y một cái, nói:
- Không được, hay là lão gia người đi gặp Liễu thiên hộ trước đi rồi hẵng bàn! Đừng để khi châm cứu lại kêu ầm lên, đến lúc đâm cho cái lưng ngài thành cái sàng, trở về Ấu Nương tỷ tỷ mà không đòi mạng tiểu tỳ mới lạ đó.

Dương Lăng buột miệng cười nói:
- Vậy thì không sợ, chỉ sợ tôi kêu la trong phòng, bị đám nha sai nghe được lại hiểu lầm chúng ta…

Y nói đến đây chợt ngậm miệng lại, hối hận đến suýt nữa thì đã vả vào miệng mình: “Thằng khốn nạn này, rõ ràng không muốn gánh thêm nợ tình, sao còn ngứa miệng nhiều chuyện vậy! Mày nghĩ đây là đang trong công ty tám chuyện với đồng nghiệp nữ sao? Phụ nữ thời này chung tình lắm đó.”

Y còn ngượng ngùng xấu hổ, Cao Văn Tâm sao không thẹn đến đỏ bừng cả mặt. Thế nhưng nàng lại không hề có chút vẻ giận hờn nào, ánh mắt hết sức phức tạp, cũng không biết đang nghĩ gì. Nàng liếc Dương Lăng một cái thật sâu rồi nhẹ giọng nói:
- Tiểu… tiểu tỳ sẽ đi mời Liễu thiên hộ vào.

Trong khoảnh khắc, ngữ khí ấy càng mê ly và thuỳ mị không nói nên lời.

oOo

Quả thật phụ nữ mỗi khi ăn mặc trang điểm lại có một diện mạo khác. Cao Văn Tâm mặc một bộ phục sức phổ thông của con gái vùng Giang Nam, vẻ ung dung sang trọng hoàn toàn biến mất mà lại hơi giống như một cô con gái cưng vậy. Nàng vội vã chạy lên lầu, tay cầm vạt váy màu xanh lá, giậm mạnh đôi hài thêu màu đỏ, bực bội liếc Dương Lăng một cái rồi nói:
- Lần sau lão gia đừng tìm tiểu tỳ nữa, còn muốn người ta cười với hắn một cái, thật muốn ói quá!

Cao Văn Tâm dáng người thon cao, dung mạo trong veo như nước, lúc này giậm chân hờn dỗi, cả người toát lên phong thái xinh đẹp khiến người ta phải động lòng. Dương Lăng nhìn mà hai mắt sáng rực, liền vội gật đầu nói:
- Đương nhiên, đương nhiên, yên tâm, yên tâm, nếu không phải sợ đánh rắn động cỏ, tôi cũng không nỡ… A hèm, cô lánh ra sau một chút đi, để tôi xem thử tên háo sắc ngửi mùi mà tới này trông như thế nào.

Cao Văn Tâm hừ một tiếng, xoay người lánh ra phòng sau. Chỉ nghe ngoài cửa có tiếng một gã đàn ông cười ha hả:
- Không tệ, không tệ. Ngươi không có gạt ta, cô gái này quả nhiên có mùi vị. Nhưng nói đến chuyện trước mắt, tiền quà cáp lão tử chỉ có thể chi ra mười lượng. Trong tay ngươi đã có thóc gạo, lát nữa ta về kêu quan ty vụ thu mua với giá cao là được. Lợi nhuận của ngươi không ít được đâu, ha ha ha…

Theo giọng nói, một gã quan quân mặt cáo, râu ngắn đen đúa đang cười híp mắt cùng với Liễu Bưu đóng giả thành một thương nhân đầu cơ tiến vào phòng. Hắn nhìn thấy trong phòng lại không phải khuê phòng thiếu nữ như trong tưởng tượng mà là một gian phòng khách không lớn, một công tử trẻ tuổi vận đồ trắng, thắt lưng xanh lam đang mỉm cười ngồi trên nghế dựa nhìn hắn, đứng sau lưng gã công tử đó là bốn hán tử mặc đồ đen, thân hình nhanh nhẹn dữ dằn, vẻ mặt âm trầm thì không khỏi sững sốt, lập tức đưa tay mò cán thanh đao giắt bên hông.

Dáng vẻ thương nhân của Liễu Bưu lập tức biến mất, y giơ chân đá một cái vào sau gối hắn, tiếp đó một thanh chuỷ thủ sáng choang đã kề lên cổ. Hắn chỉ nghe kẻ tự xưng là thương nhân có thóc gạo để bán, muốn dùng mỹ sắc để dâng tặng này lạnh lẽo quát:
- Ngồi bên trên chính là đề đốc nội xưởng, thống lĩnh thân quân thị vệ đại nội, khâm sai phụng chỉ kiểm tra thuế phú Giang Nam, Dương Lăng Dương đại nhân, còn không khấu đầu làm lễ!

Gã quan quân đó cảm thấy hồ đồ, khi nghe nói không phải là cường đạo giặc cướp, mối nguy hiểm mất mạng giảm đi nhiều, hắn mới trút bỏ được một nửa gánh nặng. Nhưng đường đường quan tổng đốc nội xưởng, khâm sai đại nhân, muốn gặp hắn không phải chỉ nói một câu là được sao, thần thần bí bí như vậy để làm gì? Nghĩ đến những chuyện vi phạm pháp luật và kỷ cương mà mình đã làm, hắn không kìm được mà túa mồ hôi lạnh, hoảng hốt bổ nhào về phía trước, run giọng nói:
- Hạ quan thiêm sự Đinh Lâm chỉ huy Long Sơn vệ, bái kiến Dương… Dương đại nhân…

Dương Lăng cúi người cười nói:
- Đinh thiêm sự, bản đốc mạo muội mời ngươi đến đây, ngươi có biết là vì chuyện gì không?

Thiêm sự Đinh Lâm chỉ huy Long Sơn vệ trán mướt mồ hôi hột, thần sắc hoảng sợ đáp:
- Hạ… hạ quan không biết.

Nội xưởng thành lập chưa lâu, có những thủ đoạn lợi hại gì hắn vẫn không biết, nhưng cực hình của Đông xưởng, Tây xưởng và Cẩm Y vệ thì đã sớm có nghe qua. Nghe nói nội xưởng còn có chức trách đốc sát hai xưởng một vệ, vậy thủ đoạn có thể ít sao? Đinh Lâm đã làm ra không ít trò phạm pháp, cho nên vừa nói vừa không nhịn được run lên lập cập.

Dương Lăng thẳng lưng lên phất áo một cái, bắt chéo chân qua. Chiếc giày trắng như tuyết đung đưa trước trán Đinh Lâm. Y khoan thai nâng chén trà lên nói:
- Trịnh bách hộ, đọc cho hắn nghe!

- Ty chức tuân mệnh!
Trịnh bách hộ kính cẩn đáp một tiếng rồi bước lên một bước, liệt kê ra từng hành vi phạm pháp của Đinh Lâm như: ép mua ruộng đất của quan binh vệ sở, tham ô quân hưởng, thông dâm cùng thê tử của binh sỹ.

Đinh Lâm nghe mà mặt vàng như nghệ, Trịnh bách hộ còn chưa đọc hết, hắn đã bò lên phía trước, bi ai cầu khẩn:
- Hạ quan có tội, hạ quan đáng chết, xin đại nhân thứ tội, xin đại nhân khai ân cho!

Vừa nói hắn vừa dập đầu bồm bộp.

Dương Lăng đặt chén trà xuống, khẽ mỉm cười nói:
- Đinh thiêm sự, những việc này ta đều tra ra chứng cứ xác thực, tin rằng nếu cần nhân chứng, những quan binh được ngươi “đối đãi tốt” như vậy cũng sẽ vui vẻ đứng ra làm chứng. Bất cứ một điều nào trong đây đều đủ để lấy đầu ngươi, ngươi có gì để nói không?

Đinh Lâm run rẩy van xin:
- Dạ dạ, hạ quan biết, hạ quan đáng chết, xin đại nhân…

Dương Lăng ngắt lời hắn:
- Thường nói “xin người chi bằng tự xin mình”, nếu như Đinh đại nhân muốn đoái công chuộc tội, vẫn phải dựa vào bản thân mới được à!

Đinh Lâm nghe ra ẩn ý trong lời nói của y, hai mắt không khỏi sáng lên, vội ngẩng mặt sốt sắng nói:
- Xin đại nhân hãy chỉ điểm bến mê, hạ quan sẽ nghe theo tất thảy!

Dương Lăng bảo:
- Thật ra bản quan cũng biết, trong sáu huynh đệ ngươi chỉ có ngươi là theo nghề binh, gia tộc đông đúc hoàn toàn đều dựa vào một mình ngươi nuôi dưỡng, chỉ với chút bổng lộc đó quả thật không đủ để dùng. Còn về phần ngươi thông dâm với thê tử của sĩ tốt, âu cũng là đôi bên tình nguyện, mặc dầu tội không thể tha nhưng cũng có thể niệm tình. Nếu như ngươi chịu giúp bản quan làm ít việc, những tội lỗi này ta sẽ giúp ngươi thay đổi một chút, tự nhiên có thể chuyện lớn hoá nhỏ, chuyện nhỏ hoá không.

Đinh Lâm mừng rỡ nói:
- Đa tạ đại nhân khai ân! Không biết đại nhân muốn hạ quan làm… làm những việc gì?

Dương Lăng tập trung ánh mắt lại nói:
- Ta nghe nói chỉ huy sứ Tất Xuân Tất đại nhân của Long Sơn vệ thường hay mưu hại sĩ tốt vi phạm quân quy, sau đó bức ép sĩ tốt tướng vệ khoanh tay phục tùng, cùng với giám quân Viên công công chiếm dụng làm của riêng. Ngoài ra định mức trong quân là sáu ngàn năm trăm người, nay chỉ còn một phần ba, lại đều là người già yếu bệnh tật. Tất Xuân và Viên Hùng giấu giếm không báo, gạt chiếm quân hưởng, thậm chỉ ngay cả ngân lượng trích cấp để đóng thuyền cũng chảy vào trong hầu bao mỗi người. Giờ đây quân giới cũ hỏng, không thể sử dụng được. Thực có chuyện này không?

Đinh Lâm tuy là thiêm sự chỉ huy, nhưng quyền bính đều nằm trong tay Tất Xuân; Tất Xuân lại cấu kết cùng Viên Hùng, một tay che trời, căn bản không hề để hắn vào mắt. Hắn chỉ có thể vơ vét được một ít lợi trong đó, cho nên trong lòng sớm đã bất mãn với Tất Xuân. Nghe khẩu khí vị khâm sai này dường như muốn trị Tất Xuân và giám quân Viên công công, hắn không khỏi mừng thầm trong bụng.

Nhưng do lâu năm bị chèn ép dưới oai, hắn nhất thời vẫn không dám thổ lộ thật tình, cho nên không khỏi do dự. Dương Lăng thấy vậy hừ nhạt một tiếng, bảo:
- Nếu ngươi đã không thể thành thật với bản quan, vậy bản quan cũng chẳng muốn cứu ngươi nữa. Ngươi về đi!

Đinh Lâm không còn thời gian để suy nghĩ thêm nữa, lật đật nói:
- Đại nhân đừng trách, hạ quan thú nhận ngay đây!

Ngay sau đó Đinh Lâm lôi tất cả những chuyện xấu của Viên Hùng và Tất Xuân mà mình biết được lần lượt kể hết ra. Càng khiến người ta thêm căm phẫn chính là, ngoại trừ hơn năm trăm binh sĩ trong thân binh doanh của Tất Xuân là tinh nhuệ, còn lại toàn bộ đều không có sức chiến đấu. Vì thế lúc giặc Oa kéo đến, hắn cùng thân binh liền mỗi người một ngả, cố ý tránh né giặc Oa, để mặc cho bọn chúng cướp bóc.

Nếu luận năng lực chỉ huy và dũng cảm, Tất Xuân thực ra là một viên tướng kiêu hùng, bằng không lúc tập trung mấy tinh binh vệ sở chống giữ biên giới phía Bắc ngày đó, hắn đã không có gan chiến đấu trực diện với giặc Thát. Nhưng lần này nếu liều mạng chống chọi với giặc Oa, kẻ chết sẽ đều là quân tinh nhuệ của hắn. Xuất phát từ tư tâm, hắn thân mang trọng trách giữ đất nhưng lại để mặc giặc Oa cướp bóc, đợi đến khi bọn chúng rút lui mới gióng trống khua chiêng truy đuổi. Mỗi khi chạy không kịp, giặc Oa bèn vứt lại rất nhiều của cải cướp được, khi ấy Tất Xuân liền thừa cơ thu lượm bỏ vào trong túi mình. Tướng quân Đại Minh mà lại làm “bá vương hôi của”.

Dương Lăng nghe mà giận sôi lên. Đợi Đinh Lâm nói xong, một nha sai cúi đầu hí hoáy ghi chép ở góc phòng liền cầm một tờ giấy cung khai còn ướt mực đi qua. Đinh Lâm bất đắc dĩ phải lăn tay. Lúc này mới nghe Dương Lăng cười nhạt nói:
- Rất tốt, kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt, hy vọng Đinh đại nhân có thể chân thành hợp tác với bản đốc. Những chuyện đại nhân vừa khai nhận bản đốc đã ghi chép vào văn kiện. Việc này còn phải nhờ Đinh đại nhân lợi dụng quan hệ để thu thập nhiều chứng cứ hơn, lúc đó bản đốc bắt người cũng hợp lý hợp lẽ.

Đinh Lâm nghe vậy thì ngẩn ra: “Hoá ra vị xưởng đốc đại nhân này đang gạt mình. Tuy y nghe nói có những chuyện này, song lại căn bản không có chứng cứ!”

Đinh Lâm hơi hối hận, nhưng hắn vừa mới lăn tay ký tên, giờ đã lên thuyền giặc, nếu muốn xuống, chỉ cần dựa vào tờ cáo trạng này Dương Lăng đã có thể bắt hắn vào nội xưởng tra khảo.

Lòng người như sắt, phép quan như lò, ai còn có thể giữ được bí mật dưới cực hình của xưởng vệ chứ? Cho dù Viên công công và Tất Xuân chịu cứu hắn, đến lúc ra được thì người cũng đã tàn phế. Đến nước này Đinh Lâm chỉ đành ảo não đáp ứng mà thôi.

Dương Lăng lại không phải là người dựa vào doạ dẫm để khiến người ta làm việc cho mình, thấy Đinh Lâm đã đáp ứng vội mỉm cười đỡ hắn lên, hứa hẹn phong quan một phen, vẽ ra cho hắn một tiền đồ đầy gấm vóc, đến khi Đinh thiêm sự đang ủ rũ lấy lại tinh thần mới thả hắn đi.

Đợi hắn đi khỏi, Liễu Bưu hơi thắc mắc hỏi:
- Đại nhân, xưởng vệ chúng ta bắt người, chỉ cần có chút manh mối thì không cần xin ý chỉ vẫn có thể bắt loại quan như Tất Xuân và Đinh Lâm này về tra khảo. Huống chi chúng ta ít nhiều cũng đã có chút chứng cứ xác thực, đại nhân cần gì phải phí công lợi dụng tên này cho phức tạp thêm?

Dương Lăng thản nhiên cười nói:
- Liễu Bưu này! Đinh Lâm… không đáng sợ. Tất Xuân… không đáng sợ. Viên Hùng… cũng không đáng sợ. Có điều, huynh cho rằng kẻ địch của chúng ta thật sự là bọn chúng sao?

Nói đoạn y lắc đầu, mỉm cười nói:
- Không đâu, đối thủ chân chính của chúng ta đang ở trong kinh đó. Thay vì nói mấy kẻ này là người mà chúng ta cần đối phó, nói chúng là một món vũ khí thì đúng hơn. Những kẻ ở trong kinh đang dùng bọn chúng để đối phó với chúng ta, chúng ta cũng đang dùng bọn chúng để đối phó với trong kinh. Ha ha, cho nên chứng cứ càng xác thực càng tốt, nếu như nhân chứng vật chứng đều vững chắc, cho dù bọn chúng muốn đặt điều thị phi cũng không có cớ mà vịn lấy.

Liễu Bưu nghe vậy khiếp đảm thất kinh:
- Phải rồi, sao lại quên lý do chúng ta đến Giang Nam nhỉ? Đây vốn là một ván cờ của Ty lễ giám và Đông xưởng lập ra, bọn chúng có thể ngồi yên nhìn Dương đại nhân đến giải ván cờ này sao? Giờ đây đối phó với mấy tên thái giám trấn thủ này thật ra là đánh một trận chiến, thắng thì sẽ giành được sự ủng hộ của mấy trăm vị thuế giám trong thiên hạ, làm yếu đi thực lực của Ty lễ giám và Đông xưởng, thua thì không chỉ mất một ty thuế giám, mà đến lúc đó thuế giám các nơi sẽ dùng mọi cách để gây khó dễ, e rằng con đường tiền tại và thế lực hiện giờ cũng sẽ đi tong.

- Đại nhân càng ngày càng có tâm kế à.
Liễu Bưu nhìn Dương Lăng một cách khâm phục, cung kính nói:
- Vậy thì chúng ta phải chờ Đinh thiêm sự lấy được bằng chứng rồi mới xử lý bọn chúng sao?

Dương Lăng lắc đầu nói:
- Không! Bây giờ cung đã lắp tên, không thể không bắn. Ba đại thái giám trấn thủ Giang Nam đích thực có hành vi phạm pháp, nếu như một tên cũng không xử lý kỹ thì vẫn sẽ tạo cớ cho người ta. Tên Viên Hùng này nhất định phải bắt, có điều cái cớ của chúng ta không can hệ gì đến thuế phú, mà là bại hoại quân kỷ. Thân làm khâm sai, ta có trách nhiệm thuận tiện khảo sát, chưa phụng chỉ thì chưa thể xử lý được.

Y lại nói tiếp:
- Bây giờ cần lập tức phái người vào kinh đem sự tình bẩm rõ với hoàng thượng, xin chỉ lập tức bắt người. Việc này căn bản không che mắt được xưởng vệ, cho nên chỉ có thể xem ai nhanh hơn. Huynh hãy chọn mấy người cơ trí lập tức hồi kinh, trước tiên đến gặp Ngô đại bộ đầu, sau đó vào cung diện kiến thánh thượng.

- Vâng!
Liễu Bưu đáp một tiếng rồi vội xoay người đi ra.

Cao Văn Tâm từ sau vách tường nhẹ nhàng bước ra, chớp chớp mắt hỏi:
- Đại lão gia chuẩn bị quan binh bắt giặc à? Vậy… ngày mai huynh muội Trương thiên sư mời lão gia đến Tô Châu du ngoạn, lão gia có đi hay không?

Duơng Lăng duỗi lưng nói:
- Đi, tại sao không đi, tin tức trong kinh chuyển về nào nhanh như vậy chứ? Nơi này có Liễu Bưu trông coi tôi cũng rất yên tâm.

Trông thấy Cao Văn Tâm trong trang phục con gái Giang Nam, hai mắt y không khỏi sáng lên, giãn mày cười nói:
- Đẹp quá, mặc bộ quần áo này vào, trông thật giống giai nhân vùng sông nước. Tôi thấy cô cũng không cần thay nữa, ngày mai cứ mặc quần áo như vầy, kéo ống quần, để chân trần, chúng ta đến Thái Hồ chèo thuyền hái ấu. Học… học…

Đoạn y vỗ trán nói:
- Học ai ấy nhỉ?

Cao Văn Tâm thấy y không nhớ, nhịn không được bèn buột miệng nói:
- Là Tây Thi Phạm Lãi.

Dương Lăng vỗ tay nói:
- Đúng rồi, là Tây Thi Phạm Lãi.

Không phải là y cố ý dụ Cao Văn Tâm nói ra, mà vì y không biết cách phát âm chữ “Lãi”(2) của vị Phạm đại phu đó. Cao Văn Tâm vừa nói ra, y mới phát giác ví dụ này hơi không thích hợp. Ví quan hệ giữa mình và Cao Văn Tâm như Tây Thi Phạm Lãi, vậy thành ra cái gì đây? Cho nên nói xong y nhịn không được bèn bật cười.

(2) Chữ 蠡 (lãi) có hai cách phát âm là “lǐ” (thanh 3) và “lí” (thanh 2). Tên của Phạm Lãi là thanh 3.

Cao Văn Tâm đảo mắt, chỉ thấy Dương Lăng cười một cách xấu xa, Trịnh bách hộ và mấy tay nha sai đứng sau đều mím chặt môi, trông thì hết sức nghiêm túc, thế nhưng mặt người nào người nấy đều lộ vẻ kỳ dị, thế là không khỏi ngượng chín người, cả cổ cũng đỏ ửng lên.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
15-08-2011, 05:58 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 127 - Ngoại Thành Cô Tô

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Năm xưa, khi y đọc lịch sử đã phát hiện quả thật người Trung Quốc xưa rất "đần", thà cầu danh chứ không cầu lợi. Nếu nước khác chịu tự nhận là bề tôi thì cho dù có đưa đến một sọt cỏ cũng hận không thể ban thưởng số hoàng kim gấp mười lần để biểu đạt sự khẳng khái lẫn hào phóng của thiên triều thượng quốc. Nhưng nếu đối phương không chịu xưng thần, thì cho dù có cuộc mua bán trăm lợi mà không hại thì cũng quyết không chịu giao dịch cùng, xem như là mình trừng phạt đối phương.




------------------------
Chương 127 Ngoại thành Cô Tô

------------------------

Từ khi nhà thơ Trương Kế thời Đại Đường thi rớt về quê, đêm cập bến Phong Kiều sáng tác bài "Phong Kiều dạ bạc"(1) nổi tiếng được mọi người yêu thích, tháp cổ Hàn Sơn cũng vì thế mà vang danh thiên hạ. Đã đến Tô Châu, thì sao có thể không đến chùa Hàn Sơn một chuyến chứ?

Phú ông Ngô Tế Uyên đất Tô Châu cung thỉnh Trương thiên sư đến phủ chúc phúc cho lão thái gia. Huynh muội họ Trương cũng mới đến Giang Nam lần đầu, nghe danh phong cảnh Thái Hồ đã lâu, có ý muốn ngoạn hồ, chèo thuyền hái ấu một chuyến nên đặc biệt sai người đến Hàng Châu mời Dương Lăng. Ba đại thái giám trấn thủ Giang Nam quyền cao chức trọng, mà Dương Lăng lại đang trọ tại Mạc phủ, đương nhiên Ngô Tế Uyên sẽ không thể không đoái hoài gì đến vị Mạc công công trấn thủ Giang Nam này, vì vậy lão cũng mời vợ chồng Mạc công công đi cùng.

Thuyền quan rẽ sóng dọc theo con kênh cổ xưa. Khi đi qua chùa Hàn Sơn, huynh muội Trương thiên sư và Ngô Tế Uyên đã chờ sẵn trên bến Phong Kiều. Hôm nay Dương Lăng đổi sang mặc quần áo chẽn, nếu không phải vì cái đám nha sai đeo cung cầm đao bên cạnh là cái chiêu bài sống của y, thì với tướng mạo và cách ăn mặc bình dị này nhất định y sẽ bị người khác lầm tưởng là một vị công tử nho nhã phong độ.

Tuy sớm đã nghe nói vị khâm sai này tuổi còn rất trẻ, song khi trông thấy diện mạo của y, Ngô Tế Uyên vẫn không khỏi lộ vẻ kinh ngạc. Vị phú ông Tô Châu này tuổi trạc ngũ tuần, tướng mạo hiền lành tao nhã. Mặc dù nhà họ Ngô mấy đời buôn bán nhưng sở hữu đất đai trong khu vực Tô Hàng cũng rất nhiều, con cháu Ngô gia cũng nhiều người thi đỗ làm quan, cho nên có thể xem họ Ngô là thế gia vọng tộc, hào phú đất Giang Nam.

Hôm nay Trương thiên sư là chủ, vị khách mời quan trọng nhất chính là khâm sai đại nhân; nhưng nói đến quen biết thì Mạc Thanh Hà và Ngô Tế Uyên quen biết hơn. Thế là Mạc Thanh Hà lập tức giới thiệu Dương Lăng với Ngô Tế Uyên, Ngô Tế Uyên thì giới thiệu huynh muội Trương thiên sư với Mạc Thanh Hà. Một đoàn người vui vẻ nói cười bước vào trong chùa Hàn Sơn.

Hôm nay Mạc Thanh Hà cũng đổi sang mặc một bộ thường phục. Hắn có vóc người cao lớn, dáng vẻ đường đường, thật không còn thấy bộ dáng của một thái giám. Hắn đứng cạnh Mạc phu nhân chan chứa phong tình, quyến rũ mê người thực cũng khiến cho người ta có cảm giác đó là một cặp trai tài gái sắc.

Nghe nói hôm nay khâm sai đại nhân từ kinh đô và thái giám trấn thủ Mạc công công muốn đến chùa tham quan, phương trượng chùa Hàn Sơn không dám sơ suất chút nào, sớm đã ra đứng đón ngoài cổng chùa. Lão hoà thượng tuổi quá bát tuần, râu tóc bạc phơ, sắc mặt hồng hào, thân thể rất là tráng kiện.

Lão hòa thượng khoác cà sa màu đỏ thẫm, dẫn theo các trưởng lão, tri khách tăng và mười mấy tiểu sa di trong chùa cung kính nghênh đón nhóm người Dương Lăng. Tuy thanh danh vang dội nhưng thật ra chùa Hàn Sơn này rất nhỏ, đi hết một vòng cũng không mất bao thời gian. Vừa bước vào cổng chùa, đập vào mắt mọi người là một chiếc lư hương lớn, hương hoả cực thịnh, cắm đầy những cây nhang to bằng hai ngón tay do các tín đồ kính dâng, từ rất xa đã ngửi thấy mùi nhang khói nồng nặc.

Tuyệt đối không vì có khâm sai đại nhân quang lâm mà nhà chùa đuổi những khách hành hương khác ra ngoài. Có điều trông thấy đám nha sai xông thẳng vào chùa, đứng canh ở khắp nơi thì ai cũng biết là có nhân vật tai to mặt lớn đến, cộng thêm lão phương trượng ngày thường không dễ ra gặp khách lại đích thân tháp tùng giới thiệu cảnh chùa, những tín đồ nọ sớm đã thức thời mà tránh sang một bên.

Chủ yếu Dương Lăng chỉ tò mò về cái chùa Hàn Sơn này. Tuy nói rằng đến Tô Châu thì Viên Lâm(2) và chùa Hàn Sơn là những nơi phải tham quan, song trong tâm trí Dương Lăng thì Yến Tử Ổ(3) mới là nơi đáng đến nhất. Trương thiên sư có thân phận là bậc chí tôn của đạo gia, đến nơi thánh địa của Phật gia này cũng cảm thấy có phần bất tiện, còn Mạc Thanh Hà và Ngô Tế Uyên lại đã viếng thăm nơi này chán chê, nên tuy là lão phương trượng vô cùng ân cần, mọi người đều không cảm thấy hào hứng lắm.

Do đó mọi người chỉ cưỡi ngựa xem hoa, ngôi chùa vốn không lớn đi càng mau hết, mới nửa canh giờ, Dương Lăng đã đi đến sau chùa. Lúc vòng qua các tượng phật được cung phụng trong lầu gác ở đằng trước, y chợt trông thấy hai tăng lữ đang chắp tay quỳ trên bồ đoàn bái lạy. Ban đầu Dương Lăng còn tưởng đó là tăng nhân trong chùa đang tham thiền tụng kinh lễ Phật, nên bèn vội dừng bước. Song thấy bọn họ lại quỳ lạy phía sau tượng Phật, y lại cảm thấy có chút quái lạ.

Phương trượng vốn không nghĩ rằng khâm sai đại nhân sẽ đi đến hậu viện nhanh như vậy, cho nên không kịp gọi những tăng nhân ở hậu viện này tránh đi. Lúc này thấy bọn họ làm ảnh hưởng đến hứng thú tham quan của đại nhân, lão bèn vội vẫy tay ra hiệu tri khách tăng đuổi hai hoà thượng áo xám này ra ngoài.

Dương Lăng thấy tăng y hai hoà thượng đó mặc hơi khác với những tăng lữ khác trong chùa, sau lưng hai người lại đều đeo mũ rộng vành, tựa như đi đường xa mà đến, nhìn chung vừa cảm thấy hơi là lạ vừa lại cảm thấy hơi quen quen. Y nhíu mày suy nghĩ ngợi một lúc, chợt nhớ ra những tăng lữ mà y thấy trong truyện tranh Nhật Bản cũng ăn vận như vầy, y lấy làm lạ hỏi:
- Phương trượng đại sư, hai vị cao tăng này có phải là tăng nhân của quý tự không vậy?"

Phương trượng cung kính đáp:
- Khâm sai đại nhân! Hai vị tăng lữ này đến từ chùa Thập Đắc ở Nhật Bản, đến bản tự để chiêm ngưỡng và thỉnh kinh Phật, tượng Phật.

Ngô Tế Uyên đứng bên cười nói:
- Đại nhân! Trong những năm Trinh Quán thời Đường chùa này có hai vị cao tăng đắc đạo, tên là Hàn Sơn và Thập Đắc. Về sau hoà thượng Thập Đắc đông độ (đi truyền đạo về phía đông đến) Nhật Bản, đã dựng nên một ngôi chùa "Thập Đắc" ở Nhật Bản, truyền đạo dạy kinh, rất được người bản xứ kính trọng. Vì vậy nếu có tăng lữ hoặc tín đồ Nhật Bản đến Đông Thổ, phần lớn đều sẽ đến chùa Hàn Sơn thăm viếng.

- Ồ?
Dương Lăng thấy phương trượng chùa Hàn Sơn và Ngô Tế Uyên bàn luận về Nhật Bản mà thần sắc lại thong dong, không hề có vẻ gì là phẫn hận, thì hơi lấy làm ngạc nhiên, song sau đó liền nhớ ra rằng lúc này Nhật Bản vẫn chưa gây ra tội ác tày trời với Trung Quốc*. Mặc dù giặc Oa làm nhiều điều ác ở vùng duyên hải, song đám hải tặc đó cũng là phường vô lại phạm pháp ở Nhật Bản. Huống hồ trong đó còn xen lẫn rất nhiều hải tặc Trung Quốc, cho nên người dân lúc này vẫn chưa vì vậy mà oán hận người Nhật. Thế là y cũng thoải mái tươi cười.
(*: tác giả nhắc đến những chuyện trong Thế Chiến thứ hai chăng?)

Y cất bước đến trước mặt hai hoà thượng Nhật Bản đang định lui ra điện nọ để chào hỏi. Nhìn trên tường, y thấy treo một bức tranh đã mờ, niên đại xem ra rất xưa, vẽ chân dung hai hoà thượng trông rất chấc phác, thậm chí có phần khôi hài. Phương trượng đại sư đi đến gần tươi cười:
- Đại nhân! Đây chính là chân dung của hai vị cao tăng Hàn Sơn và Thập Đắc đó.

Dương Lăng gật nhẹ, nhìn thấy bên trái bức tranh có hai hàng chữ. Hai câu đối thoại này rất nổi tiếng, y đã từng được nghe qua, có điều vẫn không biết xuất xứ từ đâu, lúc này trông thấy thì mới biết là lời của Hàn Sơn và Thập Đắc.

Y thuận miệng đọc:
- Người đời phỉ báng tôi, khi dễ tôi, làm nhục tôi, chê cười tôi, khinh rẻ tôi, căm ghét tôi, lừa gạt tôi, thì tôi phải xử trí thế nào?

Bên cạnh lập tức có người tiếp lời:
- Chỉ cần nhịn họ, nhường họ, mặc họ, tránh họ, chịu đựng họ, kính họ, không để ý đến họ, rồi chờ ít năm nữa ông hãy nhìn họ xem.

Dương Lăng kinh ngạc quay đầu, trông thấy đó là một trong hai vị tăng nhân Nhật Bản trẻ tuổi nọ đang chắp tay trả lời y. Dương Lăng không khỏi cười nói:
- Hoà thượng! Đúng là ông nhớ thật kỹ.

Được y khen ngợi, mặt vị tăng nhân Nhật Bản đó không khỏi lộ vẻ vui mừng, nói:
- Đa tạ đại nhân khen ngợi! Bần tăng Viên Nhân, là tăng lữ chùa Thập Đắc ở Nhật Bản. Bần tăng còn nhớ Hàn Sơn đại sư từng hỏi: “Còn có bí quyết gì có thể tránh họ được không?” Thập Đắc đại sư đáp: “Bồ tát Di Lặc từng có bài kệ rằng: ‘có người mắng lão khờ, nói lão khờ còn tốt; có người đánh lão khờ, lão khờ tự ngủ khì. Phun nước miếng vào mặt, để nó tự khô luôn, mình cũng đỡ phí sức, họ cũng khỏi não phiền’..."

Bài kệ đó hơn ba trăm chữ, thế mà vị hoà thượng này nhớ rõ mồn một, đọc rõ ràng từng câu từng chữ, du dương trầm bổng. Phương trượng đại sư nghe xong vui vẻ vỗ tay khen:
- Thiện tai! Thiện tai!

Viên Nhân mỉm cười, cẩn thận chắp tay vái phương trượng, rõ ràng cũng có phần tự đắc. Ngô Tế Uyên đứng cạnh cười ha hả nói:
- Thập Đắc đại sư đông độ truyền kinh, quả nhiên thu được nhiều tín đồ, thật là công đức vô lượng.

Dương Lăng nhìn vị hoà thượng miệng đọc kệ ngữ cao tăng, mặt mày hoan hỷ, bèn nhớ đến đời sau cả nước bọn họ hoá thân thành cường đạo, đến Trung Thổ làm ra những hành vi phóng hoả đốt nhà giết người cướp của. Y không khỏi cười nhạt hỏi:
- Lời nói đó của Thập Đắc đại sư quả thực bao hàm phật lý diệu huyền, đại sư quả nhiên thuộc làu. Vậy ta hỏi đại sư, những gì đại sư thuộc... đại sư có làm được hết không?

Viên Nhân thoáng ngẩn ra, trầm ngâm một hồi lâu rồi mới cung kính đáp:
- Bần tăng không làm được.

Dương Lăng lại hỏi:
- Thế... quý quốc là quốc gia thờ Phật, chẳng hay có bao nhiêu người làm được?

Viên Nhân trầm ngâm thật lâu, mồ hôi túa đầy trán, song thuỷ chung vẫn không nói được tiếng nào. Dương Lăng mỉm cười ung dung nói:
- Cho dù có thuộc làu từng quyển kinh Phật, "Phật" đó bất quá chỉ là lời nói đầu môi. Khi nãy đại sư vừa nói... "ngộ đắc chân thường lý, nhật nguyệt vi lân bạn"(4). Lẽ chân thường ấy là ngộ ra như vậy ư?

Hoà thượng Viên Nhân trầm mặc một lát đoạn gập người vái sâu, rồi thản nhiên đáp:
- Từng chữ của đại nhân như lời cảnh tỉnh, bần tăng xin thọ giáo, đa tạ đại nhân chỉ điểm.

Dương Lăng cười nói:
- Không dám, ta chỉ nói bừa mà thôi. “Ngộ ra lẽ chân thường, lấy nhật nguyệt bầu bạn”! Ha ha, nhật nguyệt là ánh sáng, nếu như quý quốc thật sự giúp mọi người làm điều tốt, thì ánh sáng nhật nguyệt ấy... Triều đình Đại Minh(*) ta há không phải chính là bạn tốt láng giềng của quý quốc đấy ư?
(*): Dương Lăng chơi chữ: Chữ Minh明 gồm chữ nhật日 và chữ nguyệt 月 tạo nên.

Hoà thượng Viên Nhân nghe vậy bèn ngẩng đầu nhìn y, cảnh giác hỏi:
- Đại nhân nói vậy... có phải bởi vì quý quốc gặp nạn hải tặc mà trút giận sang nhân dân đất nước của bần tăng không?

Dương Lăng cười nói:
- Đại sư dám khẳng định trong đám "hải tặc" đó không có quân đội do các Mạc chúa hám lợi đen lòng phái ra, giả hải tặc làm ác ư?

Những chuyện này là bí mật được công khai, triều đình Đại Minh có rất nhiều người biết chứ đừng nói là Viên Nhân vốn đến từ Nhật Bản. Viên Nhân nghe vậy thì đỏ mặt, không dám mở miệng phản bác. Nhà sư suy nghĩ một chút rồi bảo:
- Nhưng... quý quốc đã có bao giờ từng biểu thị thiện ý không? Đất nước của bần tăng muốn chung sống hảo hữu cùng quý quốc, hỗ trợ cho nhau, nhưng quý quốc lại vô lý yêu cầu nước bần tăng phải dùng lễ bề tôi mà tiếp kiến.
Nếu dùng lễ bề tôi, thì quý quốc sẽ không tiếc ban thưởng. Mà tăng lữ nước bần tăng cũng phải thường xuyên vượt biển đến đây, mang theo bên người về được một ít, mất bao trắc trở vẫn không thể thoả mãn đủ yêu cầu của các tín đồ. Thế nhưng khi chúng tôi tình nguyện đưa ra nhiều tiền mua sắm, quý quốc lại cho rằng nước của bần tăng không chịu dùng lễ bề tôi mà gây khó dễ. Nếu không phải vì quý quốc hà khắc như vậy, chúng tôi... chúng tôi...

Nói đến đây, mặt nhà sư đỏ lên, rõ ràng cũng tự cảm thấy việc người ta không chịu mua bán với mình mà mình liền ra tay đánh cướp cũng quá vô sỉ, cho nên không thể nào nói xong cái lý do này.

Đương nhiên Dương Lăng cũng biết những nguyên nhân ấy. Năm xưa, khi y đọc lịch sử đã phát hiện quả thật người Trung Quốc xưa rất "đần", thà cầu danh chứ không cầu lợi. Nếu nước khác chịu tự nhận là bề tôi thì cho dù có đưa đến một sọt cỏ cũng hận không thể ban thưởng số hoàng kim gấp mười lần để biểu đạt sự khẳng khái lẫn hào phóng của thiên triều thượng quốc. Nhưng nếu đối phương không chịu xưng thần, thì cho dù có cuộc mua bán trăm lợi mà không hại thì cũng quyết không chịu giao dịch cùng, xem như là mình trừng phạt đối phương.

Y thấy hoà thượng Viên Nhân tuy trong lời nói có ý tức giận bất bình, nhưng mặt lại hiện vẻ xấu hổ, rõ ràng là hổ thẹn với hành vi của người nước mình thì bất giác có mấy phần hảo cảm với hắn. Y giãn mặt mỉm cười rồi nói:
- Lời đại sư nói, bản quan cũng biết một phần. Những việc này ta sẽ bẩm rõ với Hoàng thượng, cầu xin Hoàng thượng cho phép mở hải cảng thông thương, tăng cường giao lưu qua lại giữa hai nước. Chỉ có điều... những hải tặc đó của quý quốc, bất kể vì lý do gì, chỉ cần bọn chúng tới, chúng ta sẽ đập nát chúng ngay.

Nói xong, Dương Lăng lại thâm thúy nhìn chăm chú hoà thượng Viên Nhân dường như đang có điều đăm chiêu. Sau đó y cùng nhóm người Trương thiên sư và Mạc Thanh Hà chậm rãi quay về. Trông thấy Ngô Tế Uyên dường như có điều nghĩ ngợi, Dương Lăng không nhịn được bèn hỏi:
- Ngô tiên sinh vẫn còn đang nghĩ đến lời vị hoà thượng đó sao?

Ngô Tế Uyên giật mình thất kinh, liền vội chắp tay đáp:
- A! Phải... à không phải... thảo dân...

Dương Lăng cười nói:
- Ngô tiên sinh không cần phải kinh hoảng. Ngài là phú ông đất Tô Châu, có đất đai, có xưởng dệt và còn có cửa hàng, chắc hẳn hiểu những chuyện này hơn. Lần này bản quan đến Giang Nam chính là để kiểm tra việc thuế khóa. Không những bản quan chỉ tra xét sự thanh liêm của thuế lại mà cũng muốn hiểu rõ hơn về nguồn gốc thuế khóa và phương pháp gia tăng thuế khóa nữa. Tiên sinh cứ việc nói thẳng, bản quan quyết sẽ không trách tội.

Ngô Tế Uyên nhìn Trương thiên sư hỏi ý, thấy y gật đầu khích lệ mới bèn lấy hết dũng khí đáp:
- Đại nhân! Theo thảo dân thấy, thật ra... nếu như triều đình chịu mở cảng thông thương với Nhật thì chẳng những lợi cho bá tánh, mà thuế khóa của triều đình nhất định cũng sẽ tăng lên rất nhiều.
Hiện nay trong nước Nhật Bản chiến loạn liên miên, rất nhiều thứ bị thiếu hụt, ví dụ như tơ sống, vải bông, lụa gấm, thủy ngân, thậm chí là cây kim, dây xích, nồi sắt, đồ sơn mài, đồ sứ, thảm len, và cả dược liệu, đồ gia vị, vân vân,… đặc biệt là sách vở kinh điển của Phật giáo. Nhu cầu này rất cao, nếu bán được cho bọn họ, chúng ta có thể thu về lợi nhuận gấp mười lần đó.

Tuy Dương Lăng biết thông thương nhất định mang lại lợi ích cho đất nước, nhưng y cũng không ngờ những thứ không đáng giá này mang sang Nhật Bản lại được lãi lớn như vậy. Nếu như một số lượng lớn những vật dụng hằng ngày này được Nhật Bản tiêu thụ, vậy chẳng phải tiền bạc của Nhật Bản sẽ chảy như nước vào Đại Minh ư? Dương Lăng vẫn chưa quên việc xe hơi cùng đồ điện Nhật Bản tràn ngập thị trường Trung Quốc. Thì ra trong lịch sử cũng có lúc bọn họ điên cuồng theo đuổi hàng hoá Trung Quốc à. Cơ hội này sao có thể bỏ qua?

Dương Lăng nửa ngạc nhiên nửa hào hứng hỏi:
- Lại được lợi nhuận lớn như vậy sao? Ngô tiên sinh hãy nói rõ hơn một chút đi!

Ngô Tế Uyên thấy y mừng rỡ ra mặt thì càng tăng thêm dũng khí. Lão nghĩ ngợi một chút rồi đáp:
- Đại nhân đừng cho rằng thảo dân nói bừa. Thảo dân lấy ví dụ như nuôi tằm, lấy tơ, dệt lụa. Từ nuôi tằm con thành thành tằm có thể kéo tơ phải mất một năm, sau đó là sản xuất tơ sống, một cân chỉ có thể bán được năm sáu phân tiền. Trừ chi phí tiền vốn và thuế, phần còn lại phải cố gắng lắm mới có thể sống tạm qua ngày mà thôi.
Nhưng nếu vận chuyển được tơ sống sang Nhật Bản sẽ có thể bán được năm sáu lạng bạc, chênh lệch gấp cả chục lần đấy! Cho dù một cây kim ở đây mang sang bên chỗ bọn họ cũng có thể bán được bảy phân tiền, đúng là một vốn bốn lời à. Đương nhiên, bên đó bọn họ cũng có đồ tốt mà chúng ta cần, tỉ như đồng, hưu huỳnh, gỗ vang (tô mộc, danh pháp khoa học: Caesalpinia sappan, lõi rất cứng), vân vân… Chúng ta mua về gia công chế tạo một tí rồi bán lại cho bọn họ, lại kiếm thêm một khoản nữa.

Dẫu sao Ngô Tế Uyên cũng là thương nhân, nói một hồi thì sự sợ sệt e dè hoàn toàn tan biến, mặt mày lão hớn hở hẳn lên. Dù Dương Lăng nghe như thế nào cũng thấy giống như một phiên bản tình hình kinh tế hai nước Trung - Nhật vào khoảng thời gian nào đó ở đời sau, chỉ có điều là thịnh vượng hơn và cung cầu của song phương được đảo ngược lại, bèn không khỏi bật cười nói:
- Người Nhật cũng không ngu. Những Mạc chúa, tướng quân đó hối hả buôn bán với chúng ta như thế, không phải chỉ vì nhu cầu của người dân mà họ để tâm như vậy, đúng không?

Ngô Tế Uyên cười lớn nói:
- Đó là lẽ đương nhiên. Bình phong, quạt, hộp, nghiên mực của bọn họ được chế tạo tinh mỹ, phú ông bên chúng ta cũng vui vẻ trả giá cao để mua về. Nếu thông thương qua lại, triều đình còn có thể nhập một lượng lớn đao kiếm từ chỗ bọn họ. Chất lượng đao Nhật tốt hơn đao của chúng ta, bán lại ít nhất phải lời gấp ba lần.

Dương Lăng nghe xong lặng lẽ gật đầu. Đến lúc rời khỏi cổng chùa Hàn Sơn, y bỗng dừng bước, trịnh trọng nói với Ngô Tế Uyên:
- Làm phiền Ngô tiên sinh việc này. Không biết liệu ông có thể ghi cặn kẽ những việc mà ông biết, càng chi tiết càng tốt. Khi hồi kinh bản quan sẽ trình báo những việc này lên cho Hoàng thượng.

Ngô Tế Uyên trợn tròn cặp mắt nhìn y, mãi lúc sau mới hào hứng kêu lên:
- Đại nhân... Đại nhân nói thật đấy chứ? Đại nhân tự nguyện vì chuyện ích lợi của thương nhân này mà dâng lời lên Hoàng thượng sao?

Dương Lăng lắc đầu, nghiêm túc đáp:
- Đây không phải là chuyện ích lợi của thương nhân. Đây là việc quốc gia đại sự!

Ngô Tế Uyên nghe vậy, ánh mắt chợt lóe lên, đoạn lão vái Dương Lăng một vái thật sâu, trịnh trọng:
- Có câu này của đại nhân, Ngô mỗ nếu biết sẽ không tiếc lời, nếu nói sẽ nói ra hết. Thảo dân nhất định sẽ trong thời gian sớm nhất nhanh chóng thuật lại tỉ mỉ những gì mình biết để đưa cho đại nhân.

Dương Lăng gật đầu nhè nhẹ, trong lòng cũng âm thầm quyết định. Về đến kinh thành bất kể thế nào y cũng phải tâu chuyện này cho Chính Đức, thuyết phục hắn thông thương giao lưu. Y cũng biết đám đại thần thủ cựu xưa nay vẫn một mực cho rằng thiên triều thượng quốc có thể tự cung tự túc, lấy thân phận bình đẳng mà thông thương cùng mọi rợ ngoại bang là việc làm mất mặt thượng quốc nên nhất định sẽ ra mặt can thiệp. Nhưng y cũng biết rõ tầm quan trọng và tất yếu phải xảy ra của việc mở cửa thông thương. Việc này nhất định phải làm. Chỉ cần làm tốt, để triều đình và bá tánh nếm chút lợi lộc của nó, đến khi nó phát triển lớn mạnh rồi thì không ai có thể ngăn cản được nó nữa.

Ngô Tế Uyên đứng thẳng lưng lại, vui vẻ cười nói:
- Thảo dân nói chuyện cả buổi, vất vả cho đại nhân phải nói đến việc công rồi. Hôm nay đại nhân tới để giải sầu, chuyện này để chốc nữa hẵng nói tiếp. Thảo dân đã đoán biết đại nhân nếu đã đi du ngoạn, điểm dừng đầu tiên phải là ngôi chùa cổ Hàn Sơn này rồi. Gần đây có một tiệm ăn chay Hàn Sơn, hương vị độc đáo, thảo dân đã đặt trước tiệc rượu, mời đại nhân đến đó thưởng thức trước một tí, sau đó chúng ta sẽ đi du ngoạn Thái Hồ ngắm cảnh thu tiếp nhé!

Mạc Thanh Hà thoáng ngẩn ra rồi bảo:
- Hôm nay đại nhân dùng thân phận cá nhân du ngoạn Tô Châu cho nên bản quan không thông báo cho tri phủ Tô Châu. Có điều bản quan đã thông báo cho Lý Đại Tường thết tiệc tẩy trần cho đại nhân ở lầu Sư Tử. Đại nhân xem...

Dương Lăng thoáng suy nghĩ rồi đáp:
- Thôi, bỏ đi! Vào thành chạy tới chạy lui sẽ lại lãng phí thời gian, hơn nữa đoàn người đông đảo này cũng không tiện phô trương thanh thế. Đi Thái Hồ xong, tối nay chúng ta hãy trọ lại một đêm rồi phải trở về Hàng Châu. Thôi đừng làm phiền hắn nữa.

Thật ra Dương Lăng định đi nhanh về sớm là muốn khi trở về sẽ đến Hải Ninh gặp Mẫn Văn Kiến một lúc. Song nếu nói cho Mạc Thanh Hà biết trước, nhất định hắn ta sẽ thông tri quan phủ Hải Ninh rằng có khâm sai giá đáo; bọn họ lại rầm rầm rộ rộ chuẩn bị tiếp đón tất sẽ khiến cho cái huyện Hải Ninh bé xíu loạn cả lên.

Cái cảm giác bị cả đoàn người tiền hô hậu ủng, mất hết tự do như lúc này đã khiến Dương Lăng nhức đầu không thôi rồi, y không mong khi đến Hải Ninh thì những người ở nơi ấy sẽ lại bày vẽ chiêu đãi như thể sắp lâm đại địch, cho nên không hề nói cho Mạc Thanh Hà hay. Mạc Thanh Hà nghe y nói muốn nhanh về Hàng Châu, ngẫm nghĩ nếu mình tỏ ý ngăn trở thì ngược lại sẽ giống như sợ y điều tra mình ở Hàng Châu vậy, nên hắn không nói gì thêm.

Tiệm cơm chay Hàn Sơn phía tây nhìn bến Phong Kiều, nam dựa chùa Hàn Sơn, Bắc kề dòng Phong Tân, tựa vào lan can uống rượu, lên lầu trông về phía xa, thoả sức thưởng lãm vẻ tú lệ của Cô Tô. Các món ăn như Phật Thiên Thủ, Công Đức Kim Thối, La Hán Trai, Bát Trân Hoà Hợp, Phỉ Thuý Cầu, Cua Xào Chay do nơi đây làm rất chú trọng đến việc chọn lựa nguyên liệu, màu sắc và mùi vị đều tuyệt vời, hương vị của nó đủ để "mượn giả làm thật".

Nơi ấy cũng không xa, đoàn người không ngồi kiệu, vừa nói vừa cười cuốc bộ mà đi. Ngô Tế Uyên dẫn mọi người đến tiệm cơm chay Hàn Sơn, đang tủm tỉm mời vào thì Liêu quản sự chờ sẵn ở đó chợt hổn hển chạy ra thưa:
- Lão gia! Xảy ra chuyện rồi. Tiểu nhân đã bao hết tiệm ăn này chờ khâm sai đại nhân quang lâm, nào ngờ lão gia Lý Quý câu cá ven sông trở về, khăng khăng đòi thưởng thức khẩu vị nơi đây một chút. Tiểu nhân đã nói rõ với hắn là nơi này đã được lão gia bao, song hắn vẫn không nghe...

Ngô Tế Uyên nghe vậy thì thoáng sững người, lão không ngờ đến đây mà còn chạm phải oan gia đối đầu là Lý Quý. Nhưng mà... Liêu quản sự này cũng thật không biết làm việc gì cả, chỉ cần nói mình bày tiệc là để chiêu đãi khâm sai đại nhân và Trương thiên sư, thì cho dù tên Lý Quý đó có to gan hơn nữa cũng lại dám ở đây sinh sự sao?

Ngô Tế Uyên hầm hầm nhìn Liêu quản sự. Lão vừa định cất lời trách mắng thì đột nhiên chú ý thấy Liêu quản sự vừa nói với lão vừa không ngừng nhìn sang Dương Lăng, lúc này mới sực hiểu ra ý tứ của hắn ta. Lão cười thầm trong bụng, lập tức đổi thành vẻ mặt khó xử nói:
- Vậy... tiệm này đã bị Lý Quý bao rồi à? Nếu vậy thì hơi có chút rắc rối rồi.

Nguyên lai họ Ngô đã cư ngụ ở nơi này hơi một trăm sáu mươi năm, sáu mươi năm trước đã trở thành phú hộ giàu có nhất Tô Châu. Mà cái tên Lý Quý này, lại là một vị nhà giàu mấy năm gần đây đột nhiên phất lên, là một phú hộ mới nổi chuyên cho vay nặng lãi, đầu cơ trục lợi.

Không ai biết lai lịch xuất thân của tên Lý Quý này, chỉ biết dường như khi hắn đến đã có sẵn nguồn vốn rất hùng hậu rồi. Mỗi khi gặp phải thiên tai nhân hoạ, nhất là sau mỗi lần giặc Oa đến cướp bóc, có mấy nông dân trả nổi nợ nần chứ? Khi đó, cùng đường bí lối, những người nông dân nghèo khổ đói khát này buộc lòng phải cầm cố đất đai mà trả nợ, từ nông dân trở thành tá điền cho hắn, một số người thì trở thành dân lang thang không nghề không ngỗng được các xưởng thủ công làm giấy, dệt tơ thuê mướn; một số thì vì tuổi già sức yếu không cách mưu sinh đành phải đi ăn xin, lang bạc khắp nơi.

Dựa vào thủ đoạn này, chỉ trong vòng vài năm ngắn ngủi Lý Quý đã mua gom được một lượng lớn đất đai của hai vùng Tô-Hàng, giờ đây nghiễm nhiên trở thành địa chủ lớn nhất hai châu Tô-Hàng. Gia nô tôi tớ của gã phải dùng con số hàng ngàn mà tính, nhà ở thì lầu cao cửa rộng, ra đường thì quần áo lụa là, thanh thế có vẻ đã vượt trội nhà họ Ngô.

Hành vi của gã hiển nhiên khiến thân sĩ Tô Châu khinh thường, cộng thêm người dân địa phương cũng có tâm lý bài ngoại, cho nên những thân sĩ này bèn tố cáo những việc làm xấu xa của Lý Quý với quan phủ. Nhưng không biết tên Lý Quý đó rốt cuộc có lai lịch thế nào, mà nha môn tri phủ tiếp nhận cáo trạng xong lại nhắm mắt làm ngơ.

Thế gia hào phú với mạng lưới quan hệ rộng lớn như nhà họ Ngô bèn phản ánh sự tình với Bố chánh sứ cùng nha môn ti Án Sát sứ, không ngờ cũng không hề có kết quả. Lúc này mấy đại gia tộc địa phương mới hiểu chỗ dựa của tên Lý Quý này nhất định vô cùng vững chắc. Bọn họ lật gã không đổ, lại sợ bị gã trả thù nên đành phải căn dặn người trong nhà bình thường bớt qua lại với tên ác nhân này.

Lý Quý làm mưa làm gió ở Tô Châu, gia nghiệp nhà họ Ngô lại khổng lồ, cho dù có muốn tránh cũng chẳng thể nào tránh hết được, cho nên không ít tôi tớ và quản sự trong nhà bị gã hà hiếp lắm lần. Gần đây Lý Quý lại bắt đầu dòm ngó đến sản nghiệp họ Ngô, quan hệ hai nhà như nước với lửa. Liêu quản sự cố ý không nói rõ khâm sai đại nhân muốn đến dùng bữa, chính là muốn mượn tay Dương Lăng để trút nỗi bực tức này.

Mạc Thanh Hà đứng bên cạnh nghe được chuyện, da mặt liền hơi dúm lại, không nén được giận bước lên cả tiếng:
- Lý Quý? Là cái tên thân hào địa phương không đáng giá đó à? Hừ! Bình thường ỷ vào mấy đồng tiền mà đã ngang tàng hống hách, lần này lại dám bày trò trước mặt cả khâm sai đại nhân!

Dương Lăng nghi hoặc hỏi Ngô Tế Uyên:
- Lý Quý này là ai vậy?

Tuy thân phận thấp kém, nhưng Liêu quản sự từng ngồi cùng thuyền với Dương Lăng, quan hệ còn thân hơn cả lão gia của hắn, nên bèn vội tranh bước tới mấy bước, thêm mắm thêm muối kể lại thái độ đối nhân xử thế của Lý Quý. Dương Lăng nghe mà liên tục nhíu mày.

Mạc Thanh Hà cười ha hả nói:
- Trong số những kẻ giàu có ở vùng Tô Châu thì tên Lý Quý này là kẻ vi phú bất nhân nhất. Tuy gã chưa từng làm chuyện thương thiên hại lý gì, song chỉ mỗi bộ mặt nhà giàu mới nổi đó đã khiến người ta thấy ghét rồi. Hôm nay gã lại dám động chạm đến đại nhân, bản quan đang muốn nhân cơ hội này dạy dỗ gã, cũng là để khiến gã an phận một chút vậy.

Tuy Dương Lăng cảm thấy ghét Lý Quý, nhưng gã chưa hề có hành vi xấu xa trắng trợn gì, cho vay nặng lãi lại không phạm pháp, nếu chỉ vì gã va chạm với mình mà mình lại nghiêm khắc trừng trị gã, đến khi đám ngôn quan biết được, nhất định bọn họ sẽ dâng tấu hạch tội mình, cho nên y không muốn đa sự. Có điều nghe lời nói của Mạc Thanh Hà, Dương Lăng biết hắn ta sẽ không làm gì quá mức, nên chỉ cười cười không nói.

Mạc Thanh Hà thấy y cho phép, bèn quay đầu ra lệnh cho quản gia của lão:
- Lão Lý! Đập cái tên không biết điều đó một trận cho ta, bảo gã sau này bớt phóng túng lại mộ chút. Ngươi lôi gã ra xa xa đi, đừng làm mất khẩu vị của đại nhân.

Lý quản gia mỉm cười đáp một tiếng. Hắn vừa khoát tay mang theo mấy người bước tới trước cửa, cửa phòng chợt mở ra, một gã tráng niên tầm hơn ba mươi, mặt mày to béo đen đúa, chắp tay sau lưng, hất hàm ngạo mạn nói:
- Ngô lão gia mời nhân vật nào ăn chay thế? Thật ngại quá, hôm nay bản lão gia đã bao quán này rồi.






Chú thích:

(1) Phong Kiều dạ bạc (dạ: đêm, bạc: cập bến), tạm dịch "Đêm cập bến Phong Kiều", là bài thơ rất nổi tiếng của Trương Kế (张继). Tác giả sống vào khoảng trước sau năm 756 - đời vua Đường Túc Tông. Bài thơ Phong Kiều dạ bạc về sau đã được Khang Hữu Vi đời nhà Thanh khắc trên tấm bia lớn dựng trong chùa Hàn Sơn để cho người đời sau qua đây thưởng lãm.

Hán Việt:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bản dịch của Tản Đà:
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
(2) Tô Châu Viên Lâm hay còn gọi là Cô Châu là một kiến trúc lâm viên ở trong nội thành của Tô Châu, lấy khuôn viên tư gia là chủ đạo, bắt đầu từ thời Xuân Thu (514 trước Công Nguyên), hình thành thời Ngũ Đại, hoàn thành thời nhà Tống, hưng thịnh thời nhà Minh. Đến cuối thời nhà Thanh thì Tô Châu đã có hơn 170 vườn cây cảnh đặc sắc, hiện nay có hơn 60 nơi được bảo tồn hoàn chỉnh, có 19 nơi là vườn cây cảnh mở.
(3) tạm dịch "tổ én", là nơi cư ngụ của nhà Mộ Dung trong Thiên Long Bát Bộ.
(4) hiểu ra được lẽ chân thường (chân lý), mặt trời mặt trăng sẽ quây quần làm bạn, ý nói một khi hiểu ra lẽ phải thì anh sẽ tìm được ánh sáng (mặt trời và mặt trăng tượng trưng cho ánh sáng).





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332

Ba_Van
18-08-2011, 11:05 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 128 - Chèo Thuyền Du Ngoạn Thái Hồ

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Y nói lời này tự đáy lòng, nhưng Cao Văn Tâm lại hiểu lầm thành ý khác. Nghe y nói muốn đem tranh vẽ mình làm báu vật gia truyền, để lại cho con cháu đời sau, cái ẩn ý đó... Vừa nghĩ đến đây, con tim nàng liền nhảy thình thịch như trống trận, thế là nàng vui vẻ đồng ý ngay.




------------------------- Chương 128 Chèo thuyền du ngoạn Thái Hồ

------------------------

Gã hán tử mập lùn, da dẻ đen đúa dương dương đắc ý nói xong, tròng mắt mới dần khôi phục lại vẻ bình thường. Chợt nhìn thấy quản gia của Mạc phủ đang đứng trước mặt, gã không khỏi thất kinh, mặt lập tức biến sắc.

Lý quản gia cười khà khà:
- Lý đại lão gia thực là oai phong! Lão gia nhà ta cũng định nếm thử đặc sản của quán Hàn Sơn này, xem ra sẽ uổng công một chuyến rồi.

Lúc này Lý Quý mới nhìn thấy ngoài cửa còn có mấy người đang đứng, trong đó gã chỉ nhận ra được Ngô Tế Uyên và Mạc Thanh Hà, vẻ mặt hai người đều như nhau, miệng mỉm cười, điềm nhiên quan sát.

Lý Quý chửi thầm trong bụng, biết mình đã trúng kế của Ngô Tế Uyên, hôm nay khó tránh bị mất sạch thể diện rồi. Nhưng Mạc Thanh Hà chủ quản việc thu thuế gạo thóc, mà gã là địa chủ đứng đầu hai vùng Tô – Hàng; có thể nói Mạc Thanh Hà tha cho gã một phần, ấy là được vạn gánh thóc gạo, căng với gã một phần, ấy là mất đi một số bạc lớn, cho nên gã không dám đắc tội với vị thần tài này chút nào.

Lý Quý lật đật bước ra khỏi cửa, cúi đầu khom lưng thưa:
- Mạc gia! Lão nhân gia ngài cũng đến à! Úi chao, tiểu nhân không biết là lão nhân gia ngài, mời ngài vào! Tiểu nhân đã lâu không gặp ngài rồi, muốn hiếu kính ngài cũng không có cơ hội nữa. Thực khó có dịp lão nhân gia ngài đến Tô Châu, xin để tiểu nhân thết tiệc tẩy trần cho ngài.

Mạc Thanh Hà nở nụ cười nhàn nhạt, đáp:
- Ăn đồ chay phải chú trọng đến ý cảnh, lời của Lý viên ngoại thực không thích hợp lắm.

Vị Lý đại viên ngoại này nhìn như kẻ thô kệch nhưng lại không thiếu thông minh. Gã hiểu ý Mạc Thanh Hà giễu gã người đầy mùi tiền, mặt không khỏi lúc trắng lúc đỏ, ngượng ngập nói:
- Phải phải phải! Tiểu nhân không biết Mạc gia còn mời khách, mời các ngài vào, tiểu nhân lập tức đi ngay. Khoản tiền này ngàn vạn lần lão nhân gia ngài hãy để tiểu nhân lo liệu, xem như nể mặt tiểu nhân vậy.

Thấy bộ dạng ảo nảo của gã Lý Quý đang hoành hành khắp phủ Tô Châu, trong lòng Ngô Tế Uyên hết sức hể hả. Lão thấy Lý Quý vẫn đang lấy lòng Mạc Thanh Hà bèn chen miệng vào:
- Không cần nhọc Lý viên ngoại tốn phí. Ngô mỗ đây đã mời các vị đại nhân đến du ngoạn Tô Châu, chút tiền này vẫn có thể trả được.

Lý Quý thấy Ngô Tế Uyên mở tiệc thết đãi Mạc Thanh Hà, hiển nhiên quan hệ đôi bên không nhạt, bên cạnh còn có một vị công tử tôn quý và một đạo nhân trông cũng không phải nhân vật tầm thường, nên càng không dám lộ vẻ kiêu ngạo. Mấy tên tay sai của gã tay áo xắn cao, mặt mày bặm trợn trong quán trà hùng hổ đi theo ra lúc này cũng đã phải rón ra rón rén. Lý Quý thấy Mạc Thanh Hà không thèm nhìn mình, vội ngượng nghịu khom lưng, mãi đến khi Ngô Tế Uyên mỉm cười mời đám người Dương Lăng vào quán xong, gã mới vội vã rời đi.

Lý quản gia được Mạc Thanh Hà căn dặn, nào dám dễ dàng bỏ qua cho gã, sớm đã mỉm cười theo sau. Đương nhiên "dạy dỗ" mà Mạc Thanh Hà nói không phải là sai người tẩn gã một trận; phỏng chừng khi đuổi tới nơi, sợ rằng Lý quản gia sẽ nả gã một món lớn, chưa khiến gã đau thịt buốt xương ba ngày thì chưa thôi.

Ngô Tế Uyên đưa mấy người vào nhã phòng, áy náy xin lỗi:
- Thảo dân không biết tên Lý Quý này sẽ đến, đã quấy rầy nhã hứng của các vị đại nhân, thật có lỗi quá.

Dương Lăng thấy trong quán ngoài đường đều có tuỳ tùng đứng gác, ngay cả ông chủ và tiểu nhị của quán cũng trở nên sợ sệt, y hơi nhíu mày nói: "Hôm nay chúng ta chỉ lấy cương vị cá nhân du ngoạn ngắm cảnh, làm to chuyện như vầy quả thật cũng không ổn. Tại hạ nghĩ... có thể hay chăng phiền Ngô tiên sinh chuẩn bị vài bộ y phục của bá tánh phổ thông, lát nữa chúng ta đến Thái Hồ du ngoạn, cứ đồ xe đơn giản là được. Về phần người của tại hạ thì chỉ cần chọn ra vài người đi theo là được, những người khác chờ trên thuyền. Có điều... phải phiền huynh muội thiên sư thay đổi y phục rồi."

Tuy lần này Trương thiên sư đi với tư cách là người tu đạo, song thật ra đó không phải là lễ nghi trọng đại gì, sau khi lập đàn tế tự thì thiên sư ăn mặc cũng không khác người thường là bao, cho nên không dị nghị gì về việc này. Trịnh bách hộ nghe Dương Lăng giao việc xong, bản thân đảm trách an nguy cho Dương Lăng nên gã không dám qua loa, liền vội tìm Liêu quản gia bảo hắn nhanh chóng thu xếp, còn bản thân gã chọn trong đám nha sai được hơn hai mươi người thân thủ cao cường, thông minh tháo vát, hỏi rõ Liêu quản sự về lộ trình du ngoạn, rồi chạy đến Thái Hồ chuẩn bị trước.

Mạc phu nhân nhẹ nhàng cởi áo khoác ngoài ra, thị nữ đứng bên cầm lấy rồi đứng hầu sau lưng nàng. Nàng cười duyên dáng ngồi xuống cạnh Mạc Thanh Hà, dịu dàng:
- Lão gia, đã lâu thiếp thân không đến Tô Châu, thiếp muốn ghé thăm Bố chánh sứ phu nhân một chút. Vả lại, không được ngồi trên thuyền lớn thiếp lại thấy chóng mặt, thiếp sẽ không đi Thái Hồ đâu.

Nàng vừa nói vừa đưa mắt nhìn sang Dương Lăng và Trương thiên sư cười áy náy. Dương Lăng luôn cảm thấy hơi mất tự nhiên trước mặt nàng, giờ nghe nàng nói không cùng điđến Thái Hồ, trong lòng lại nhẹ nhỏm hẳn. Mạc Thanh Hà khẽ gật đầu, vỗ nhẹ tay nàng, nhẹ giọng bảo:
- Được, nàng cũng không cần về gấp, trên đường về ta sẽ cho người đi đón nàng.

Đoạn hắn quay đầu, nhỏ nhẹ nói với Dương Lăng:
- Chuyết nội (vợ nhà) và như phu nhân (vợ lẽ) của Bố chánh sứ Ngưu đại nhân rất thân thiết, đến Tô Châu mà không ghé thăm thì không tiện tí nào. Hơn nữa chúng ta chèo thuyền du ngoạn Thái Hồ, nếu đi thuyền lớn thì mất hết ý vị, còn nếu đi thuyền nhỏ thì cô nàng lại hay chóng mặt, thôi không đi cũng được.

Dương Lăng nghe vậy bèn gật nhẹ đầu, thầm nghĩ: "Nghe nói vị Mạc phu nhân này là danh kỹ Giang Nam, không biết vị thiếp của Bố chánh sứ Ngưu đại nhân có phải cũng là nhân vật trên chốn phong lưu không nữa."

Y vừa nghĩ vừa không khỏi ngẩng đầu liếc nhìn Mạc phu nhân, không ngờ cặp mắt sắc lẹm của Mạc phu nhân cũng đang "ngầm đưa tình" với y, thấy vậy Dương Lăng liền nổi da gà.

Vị Mạc phu nhân này tuy xuất thân từ chốn thanh lâu, nhưng lại không khiến cho người ta có cảm giác quyến rũ yêu mị, mỗi cái nhăn mày, mỗi một nụ cười của nàng đều vô cùng xinh đẹp thanh nhã. Hôm nay nàng vận váy lụa trắng thuần, càng tôn lên vẻ đẹp như đoá phù dung nổi trên mặt nước; mày ngài tựa núi xuân, mắt như đọng thu thủy, quyến rũ mê người.

Lúc cặp mắt như biết nói đó thuỳ mị nhìn người khác, cho dù không hề có ý khêu gợi sắc tình, cũng khiến người ta suy nghĩ vẩn vơ, càng huống chi ngày đó Dương Lăng từng bị nàng âm thầm trêu ghẹo, sao không chột dạ chứ?

Vừa lảng mắt tránh đi, lại trông thấy Cao Văn Tâm đang đứng đối diện, cặp mắt sáng ngời ấy cũng đang chằm chằm nhìn y không chớp. Cả người Dương Lăng càng mất tự nhiên hơn, như thể đã bị nàng nhìn trúng chỗ uý kị trong lòng.

Hôm nay Cao Văn Tâm quả nhiên mặc bộ đồ màu xanh biếc mà hôm qua Dương Lăng đã khen. Quần áo của con gái bình dân tràn trề phong thổ nhân tình của vùng Giang Nam sông nước khoác lên tấm thân thiếu nữ phương Bắc mang đậm khí chất thanh cao điềm tĩnh của nàng, càng toát lên một ý vị khác. Dẫu rằng tuyệt nhiên không thể đánh đồng với khí chất muôn vẻ phong tình như nước của Mạc phu nhân, song nó lại mang một nét đẹp thanh tao ngọt ngào khác hẳn.

Dương Lăng bất giác nhẹ giọng nói với nàng:
- Văn Tâm! Bản quan không cần người hầu hạ, cô cũng mệt rồi. Liêu quản sự, xin ông hãy bố trí một bàn tiệc rượu khác, để nàng ta... à... và hai vị thị nữ của Mạc phu nhân cùng ăn uống rồi nghỉ ngơi vậy.

Khâm sai đại nhân ngồi ghế đầu còn chưa mở lời nói câu chào hỏi hình thức nào mà đã sai người an bài cho thị nữ của y dùng bữa nghỉ ngơi trước rồi! Người thị nữ này thật sự là thị nữ đấy ư?

Ngô Tế Uyên nghe Dương Lăng dặn dò vậy, bèn quan sát kỹ lưỡng Cao Văn Tâm vài lượt. Tuy Cao Văn Tâm ăn mặc như một thị nữ nhưng đứng chung với hai tiểu tỳ của Mạc phu nhân nàng lại toát ra khí độ ung dung khuê các mà bọn họ thua kém cả vạn phần. Lão máy động trong lòng, không khỏi thầm nghĩ: "Phong độ và khí chất của vị cô nương này thật sự không giống nữ tỳ. Khâm sai đại nhân yêu mến nàng ta như vậy, chẳng lẽ bọn họ...?"

Ngô Tế Uyên nghĩ ngợi một chốc, cảm thấy không ổn thoả, hình như hậu lễ chuẩn bị ban đầu đã tính sót một phần, liền vội gọi Liêu quản sự lại, chum tay căn dặn khẽ thêm mấy câu.

**********************************

Trên Thái Hồ, non xanh nước biếc, phong cảnh hoàn toàn tự nhiên. Cảnh sơn thủy này dung hoà vẻ u nhã thanh tú cùng sự bao la hùng vĩ. Nước biếc bao la, khói sông bát ngát, núi non ẩn hiện, muôn hình vạn trạng.

Bốn người Dương Lăng, Mạc Thanh Hà, Ngô Tế Uyên và Trương thiên sư hoá trang thành thư sinh ngoạn cảnh hồ. Trương Phù Bảo cũng thay một bộ quần áo thị nữ nhỏ nhắn, tóc bới ba búi, theo sau với dáng vẻ lanh lợi hoạt bát.

Tướng mạo nàng vốn đã vô cùng xinh xắn dễ thương, nay đổi mặc trang phụ nữ nhi, vẻ mặt thanh tú vui buồn đều đẹp ấy liền trông như tranh vẽ. Ngay cả Ngô Tế Uyên mấy ngày qua quen nhìn nàng vận trang phục đạo sỹ cũng sáng rỡ hai mắt.

Trịnh bách hộ mang theo bốn tay nha sai giả trang làm gia đinh, trong ngực thủ sẵn dao nhọn, trên vai gánh hộp đồ ăn, cảnh giác quan sát chung quanh. Thỉnh thoảng có nha sai cải trang làm du khách hoặc thuyền phu lặng lẽ đưa tay làm vài động tác, ra hiệu không có gì khả nghi.

Lúc này đã là buổi chiều, mặt trời không còn khốc liệt nữa mà đã hơi ửng đỏ. Cỏ lau lay động theo gió, bóng cỏ múa lượn đong đưa. Thi thoảng có cơn gió mát rượi thổi qua mặt hồ mang theo mùi vị tươi mát sảng khoái lùa phớt qua khuôn mặt âm ấm do ngà ngà men rượu của đám người Dương Lăng, khiến cho bọn họ cảm thấy toàn thân thư thái.

Đám nha sai do Trịnh bách hộ phái đến trước đã cải trang phân tán rải rác gần hồ chuẩn bị thuyền hái ấu. Tuy trên hồ có vài du khách, nhưng cũng đều là hai ba người chèo một con thuyền nhỏ, cử chỉ tiêu dao tự tại, nhìn không ra bộ dáng khả nghi nào.

Lúc này đang là mùa ấu nổi rộ, phía trước là mấy khoảnh sen, lá sen xanh biếc bát ngát bao trùm, thỉnh thoảng thấp thoáng những cánh sen trắng nõn hoặc phấn hồng và những củ ấu đã trưởng thành. Lá sen xanh biếc không hề có chút dấu hiệu khô héo điêu tàn, sắc xanh tràn trề một mảng. Có những chiếc lá sen xanh biếc làm nền, những đoá sen gần như bị che khuất lại càng thêm phần xinh đẹp.

Ngô Tế Uyên dẫn đoàn người đến ngồi nghỉ chân dưới một mái đình nhỏ, cười nói:
- Đại nhân thích yên tĩnh du ngoạn hồ, cho nên thảo dân cũng không dám quá khoa trương. Thảo dân đã kêu Liêu quản sự an bài vài chiếc thuyền lá* nhỏ. Hôm nay chúng ta chèo thuyền hái ấu, dập dờn trong sóng biển sen này một lát, đợi trở về bờ, chúng ta sẽ lại lột ít ấu tươi, nhắm rượu thoả thích một phen. Đại nhân thấy thế nào?
(*: thuyền thon hình chiếc lá)

Trong đám người này Dương Lăng có thân phận và địa vị cao nhất, đương nhiên trên mâm tiệc mọi người không ngừng kính rượu với y, cho nên mặc dù năm lần bảy lượt thoái thác, y vẫn phải uống đến gần say, ngực cũng hơi tưng tức, buồn nôn. Vừa nghe lên bờ rồi còn phải uống tiếp nữa, y không khỏi cười khổ sở không thôi.

Những khóm sen nơi đây mọc lan tới cả sát bờ. Trên bờ trồng một hàng cây dương liễu, hơn chục chiếc thuyền nho nhỏ được buộc vào đó. Liêu quản sự đã dẫn vài người đứng dưới gốc cây, thấy mấy vị đại nhân đã đến, hắn liền sai người tháo dây thừng buộc thuyền ra.

Ngay lúc này, từ trên hồ bỗng cất lên một giọng ca trong trẻo ngọt ngào, hát rằng:
- Đào hoa hồng lai dương liễu thanh,
Thanh thủy đường lý chủng hồng lăng,
Muội chủng hồng lăng ca chủng ngẫu,
Hồng lăng khiên đáo ngẫu ti căn.

Tạm dịch: Hoa đào đỏ cho liễu thêm xanh, trong ao nước biếc trồng ấu đỏ, em trồng ấu đỏ anh trồng sen, ấu đỏ nối gốc với sen anh.

Tiếng hát ngọt ngào đắm say lòng người, ca từ trong sáng tao nhã, mấy người Dương Lăng nghe xong bất giác đưa mắt nhìn ra hồ, thấy một chiếc thuyền hoa (thuyền trang hoàng rực rỡ để đón đưa du khách) đang lắc lư tiến về phía bờ bên này. Ở đầu thuyền là một người con gái thướt tha áo đỏ váy đỏ, thắt đai lưng màu hồng phấn, cặp chân trần trắng muốt như tuyết, đang vừa múa vừa hát.

Ở đuôi thuyền, thuyền phu đã ngưng chèo, đầu thuyền rẽ biển sen đỏ lá xanh như cắt ngang một tấm gương, khoan thai rẽ sóng vào bờ. Từ trong khoang thuyền, một thư sinh trẻ tuổi mặc áo chẽn xanh nhạt tay cầm chén rượu lảo đảo bước ra, cười nói với thiếu nữ áo đỏ :
- Bài hát thật hay, quả hợp để uống rượu. Chỉ là không biết Liên Nhi cô nương nối tình ấu đỏ là cho vị công tử nào vậy nhỉ?

Người thiếu nữ xinh đẹp áo đỏ như lửa cười khúc khích, giơ tay ném một hạt sen qua chàng công tử, cất giọng thân mật:
- Đương nhiên là Từ công tử chàng rồi, còn có thể là người nào chứ?

Khuôn mặt của vị công tử đã đỏ bừng, rõ ràng y đã say túy lúy. Nghe nàng nói xong y cất tiếng cười to, mắt lờ đờ ngoái đầu vào trong khoang thuyền bảo:
- Xem Liên Nhi cô nương thực biết nói nhiều câu hay. Có điều đã mở miệng hứa với ta, sao đêm qua ngủ trên giường hoa của nàng lại là Tử Úy huynh thế?

Vốn Cao Văn Tâm nghe giọng hát nọ rất lấy làm thích, nhưng nghe đoạn đối đáp này của bọn họ, nàng biết là mấy thư sinh phong lưu đang mời kỹ nữ thanh lâu du ngoạn trên hồ, không khỏi hơi nhíu mày, mặt lộ vẻ chán ghét.

Lúc này trong khoang lại có một người mặc áo xanh bước ra, tay cầm một chiếc quạt, tuổi độ bốn mươi. Trên nước da trắng trẻo đã lờ mờ có nếp nhăn, mặt ông tuy tươi cười, nhưng dường như từ trong nội tâm vẫn toát ra ngoài một dáng vẻ cô độc.

Ông cười phóng đãng hỏi:
- Sao thế, Xương Cốc mới ngủ với Linh Lung Nhi chưa được một tháng mà đã có ý với Liên Nhi của ta rồi sao?

Thiếu nữ áo đỏ tên gọi Liên Nhi chợt xoay eo thon, nhẹ nhàng lách khỏi bên thư sinh áo xanh nhạt rồi như én về rừng sà vào lòng thư sinh áo xanh, cười ngọt ngào:
- Nói đúng đó, Từ công tử thật không có lương tâm, uổng cho Linh Lung muội muội của thiếp nặng tình với y. Xem khi về thiếp mà không tố cáo y với Linh Lung mới lạ đó...

Thư sinh áo xanh ôm lấy eo nàng ta cười lớn. Lúc quay đầu nhìn lên bờ, vừa trông thấy Cao Văn Tâm, mặt thư sinh nọ chợt ngẩn ngơ. Ánh mắt của vị thư sinh áo xanh tuổi trạc tứ tuần này mờ mịt vì men rượu, nhưng khi ông nhìn kỹ người khác lại vẫn hết sức có thần.

Ánh mắt ông nhìn chằm chằm vào Cao Văn Tâm đang đứng trong đình, quan sát từ trên xuống dưới mấy lượt, trên mặt liền lộ vẻ thích thú, tán tụng:
- Đã lâu chưa từng gặp được cô gái có khí chất u nhã hơn người như vậy. Úi chà, còn là một thị nữ sao? Phủ Tô Châu này người nào lại dùng được thiếu nữ như vậy làm tỳ nữ thế nhỉ?

Ông đập quạt vào tay liên tục, mặt đầy vẻ tiếc hận, thiếu điều sắp đấm ngực giậm chân kêu gào một phen.

Trong khoang nghe tiếng khen ngợi, lập tức lại có hai thư sinh nhào ra. Đi đầu là một người râu ria xồm xoàm, mặc một trường bào màu xanh, chòm râu đen đúa dài chấm ngực, tay y cầm một chén rượu lớn, đủ để so với một chiếc bát con.

Hai người nhìn thấy Cao Văn Tâm, hai mắt lập tức sáng rỡ, thay nhau nói:
- Tử Úy có pháp nhãn, người được khen tất phải bất phàm. Úi chà, quả nhiên đoan trang xinh đẹp, có ý vị khác, đáng để cạn một chén to.

Cao Văn Tâm nghe bọn họ bình phẩm mình từ đầu tới chân, đôi mày lớn không khỏi cau lại. Nếu không vì trước mặt có tới mấy nhân vật có uy tín và danh tiếng, thân là tỳ nữ mà tùy tiện mở miệng sẽ làm mất mặt Dương Lăng thì nàng đã sớm phát tác với mấy thư sinh này rồi.

Ngô Tế Uyên thấy sắc mặt nàng không vui, trong lòng liền trở nên thận trọng. Khi nãy tại tiệm ăn chay Hàn Sơn lão đã tận mắt thấy khâm sai đại nhân cưng chìu nàng như thế nào. Ngô Tế Uyên không sợ nữ tỹ xinh đẹp này không vui mà sợ bọn họ chọc ghẹo khiến khâm sai đại nhân nổi giận. Lão liền vội bước lên một bước quát lớn:
- Hi Triết vô lễ! Không được ăn nói quàng xiên.

Thấy lão gọi thẳng tên tự người đó, xem ra đôi bên đã từng quen biết. Người râu rậm nghe thấy có người gọi mình, liền vội đưa tay lên che trán nheo mắt nhìn kỹ đối phương, đoạn khoái trá cười lớn:
- Hóa ra trước mặt là Ngô ông! Vậy thì tốt rồi, vậy thì tốt rồi! Trưng Trọng, mau lấy hộp tranh của huynh ra, ta muốn vẽ người con gái này, Ngô ông nhất định phải cho phép vãn sinh đấy nhé. Cùng lắm ta về tặng ông một bức tranh sơn thủy là xong.

Ngô Tế Uyên xấu hổ nói với Dương Lăng:
- A hèm... Dương đại nhân! Mấy vị đó là tứ đại tài tử của đất Ngô Trung, ngày thường quen thói phóng đãng, mong đại nhân chớ trách. Vị vận áo xanh tên là Đường Bá Hổ (*), thường ngày buôn tranh bán chữ để mưu sinh. Người này giỏi nhất là vẽ tranh mỹ nữ, có điều tầm mắt rất cao, thường luôn nuối tiếc không có nhân vật đáng để y đặt bút. Cho nên hôm nay trông thấy thị nữ của đại nhân phong tư xuất chúng, hắn nhất thời vui quá nên mới thất lễ, để thảo dân đuổi bọn họ đi là được.
(*) Xem thêm http://home.thuhoavn.com/?p=671
Ba_Van: Có lẽ tác giả nhầm; kẻ rau rậm tỏ ý muốn vẽ tranh là Chúc Chi Sơn chứ nhỉ!

Dương Lăng vừa nghe ba chữ Đường Bá Hổ, toàn thân không khỏi chấn động. Đường Bá Hổ! Nhân vật thanh danh hiển hách này không ngờ lại đang đứng sờ sờ trước mặt y, Dương Lăng vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Nghe Ngô Tế Uyên muốn đuổi bọn họ đi, y liền vội kéo lại, vui vẻ bảo:
- Không sao, không sao! Ngô tiên sinh mau mời... mời mấy người bọn họ lên đây. Dương mỗ nghe danh tứ đại tài tử Giang Nam đã lâu, hôm nay được gặp mặt thật là có phước. Nếu đuổi bọn họ đi như vậy, thật sẽ tiếc lắm.

Ngô Tế Uyên không ngờ Dương Lăng cũng đã nghe danh của bốn tài tử Ngô Trung, nghe y tán thưởng như vậy, bản thân là người đồng hương, lão cũng có chút vẻ vang lây, bèn vội cao hứng gọi Liêu quản sự cho mời bốn người Đường Bá Hổ lên.

Bốn vị tài tử này bước vào đình, ra mắt Ngô Tế Uyên trước. Trong bốn người thì Chúc Chi Sơn lớn tuổi nhất, gia cảnh cũng giàu có nhất, qua lại với Ngô phủ rất thân mật, cho nên thoải mái nhất, đi tới chỉ cười hì hì làm lễ một cái, vẫn nâng chén rượu to đùng của y uống không ngừng. Văn Trưng Minh và Từ Trinh Khanh thì tương đối câu nệ hơn.

Dương Lăng quan sát kỹ bốn đại tài tử nổi tiếng gần xa này, nhận thấy Đường Bá Hổ mà y muốn kết giao nhất, khi nãy mặc dù vui quá mà không câu nệ hành vi và thái độ, nhưng sau khi bước vào đình, vừa nghe nói thị nữ đó không phải tỳ nữ của Ngô phủ mà là của vị công tử sang trọng mà ngay cả Ngô Tế Uyên cũng phải cung kính lễ độ, vẻ mặt ông liền lập tức trở nên cẩn trọng. Thần thái đó thật sự không giống với Giang Nam đệ nhất tài tử phong lưu phóng đãng như trong tưởng tượng của y, khiến Dương Lăng vốn mong được gặp "phong thái Đường Giải Nguyên"(1) một lần bèn cảm thấy thất vọng không ít.

Y không biết vị Đường Bá Hổ này trong truyền thuyết dân gian tuy là nhân vật phong lưu phóng đãng, không câu nệ lễ pháp, nhưng thật ra trong số tứ đại tài tử thì Đường Bá Hổ là người có số phận long đong nhất, cuộc sống vô cùng nghèo khổ. Trong lòng ông tuy ngông cuồng cao ngạo, căm ghét thế tục, nhưng do cuộc sống bức bách nên vẫn phải thường xuyên cúi đầu với người ta, nào còn phóng túng gì nổi chứ?

Vị Đường Giải Nguyên mười sáu tuổi đỗ tú tài, vừa vặn cùng độ tuổi mà Dương Lăng đỗ tú tài, nhưng vận mệnh lại kém xa. Mười chín tuổi ông cưới vợ là Từ Thị, trong nhà mở một quán rượu, sinh hoạt cũng thoải mái.

Thế nhưng về sau tai họa lại theo nhau ập đến. Đầu tiên phụ thân y trúng gió qua đời, mẫu thân vì quá đau buồn nên cũng ra đi theo, không lâu sau em gái lại chết ở nhà chồng. Tiếp đó vợ ông sau khi sinh xong thì sốt cao, vì bệnh mà qua đời, con trai ra đời được gần ba ngày thì cũng theo mẹ mà đi.

Liên tục gặp đả kích như thế, dưới sự giúp đỡ của những bạn bè tốt khó khăn lắm Đường Bá Hổ mới gắng gượng vui sống trở lại, cưới vợ mới là Hà Thị, lao tâm đọc sách. Nhưng khi ông vào kinh thi cử lại bị người ta vu cáo tội đút lót chủ khảo, bị đày vào đại lao. Tuy về sau được thả vì không tra được chứng cứ, song ông lại bị buộc cả đời không được làm quan.

Vị đại tài tử đa tài đa nghệ này dường như chịu phải lời nguyền của thần vận mệnh, gặp đả kích liên miên khiến ông cửa nát nhà tan, nghèo túng thất vọng, người vợ cũng chê nghèo mà bỏ đi, người em thì lại chạy ra ở riêng chỗ khác.

Đường Bá Hổ tán gia bại sản, thân không của nả, lang thang khắp nơi. Đến thời điểm này ông mới trở về Tô Châu được chưa đầy hai năm, cuộc sống mới vừa có chút khởi sắc. Ông tái giá với một kỹ nữ thanh lâu tên Thẩm Cửu Nương, mưu sinh bằng cách buôn tranh bán chữ.

Dương Lăng nghe ông nói muốn vẽ tranh cho Cao Văn Tâm, không khỏi vui mừng hết đỗi. Y nghĩ, được Đường Bá Hổ vẽ tranh cho là vinh hạnh tới dường nào, nên lập tức không ngần ngại mà đồng ý ngay.

Vốn Đường Bá Hổ thấp thỏm lo lắng y sẽ không chịu đáp ứng, lúc này thấy y gật đầu Đường Bá Hổ cũng lộ rõ vẻ vui sướng trên mặt. Sợ Dương Lăng đổi ý, ông liền vội vui vẻ gọi Văn Trưng Minh mang hộp vẽ tới, rồi lập tức trải sạp để vẽ cho Cao Văn Tâm.

Cao Văn Tâm thấy bọn họ cùng đi chơi kỹ nữ, trong lòng vốn đã không có hảo cảm, giờ lại bảo nàng đứng yên ở đó để người ta vẽ. Trong mắt người con gái xuất thân là tiểu thư khuê các này, việc đó tuyệt không phải là việc vinh dự gì, thế nên trong thâm tâm nàng cực kỳ không bằng lòng.

Dương Lăng thấy thần sắc nàng không vui, bèn bước đến gần nói nhỏ:
- Văn Tâm, chỉ là để người ta vẽ dung mạo thôi, có gì không vui vậy? Tranh vẽ của vị Đường công tử này rất là nổi tiếng đó. Hôm trước tôi đã có được thư pháp của Giang Nam đệ nhất danh kỹ, hôm nay nếu có thể có được tranh vẽ của đệ nhất tài tử Giang Nam này, tương lai sẽ có thể làm báu vật gia truyền. Dung mạo khí chất của cô, vạn người không có lấy một, đành phiền cô chịu khó đứng yên trong chốc lát để ông ta vẽ tranh. Nhiều năm sau lấy ra xem lại, sẽ có ý vị khác đó.

Y nói lời này tự đáy lòng, nhưng Cao Văn Tâm lại hiểu lầm thành ý khác. Nghe y nói muốn đem tranh vẽ mình làm báu vật gia truyền, để lại cho con cháu đời sau, cái ẩn ý đó... Vừa nghĩ đến đây, con tim nàng liền nhảy thình thịch như trống trận, thế là nàng vui vẻ đồng ý ngay.

Chúc Chi Sơn chỉ biết đứng ở một bên vuốt râu uống rượu. Hành động của vị tài tử luôn đóng vai nhân vật gây cười trong những truyền thuyết về Đường Bá Hổ trông cũng hết sức bình thường, không hề có vẻ gì điên điên khùng khùng cả.

Có điều tửu lượng của hắn thật sự kinh người, ban đầu còn thỉnh thoảng gọi thuyền phu lên thuyền rót thêm rượu cho, sau cùng cứ thế mà bê cả vò rượu lên, ngồi bên thành lan can tự rót tự uống.

Đường Bá Hổ đã sớm trải sạp ra, bắt đầu chăm chú vẽ chân dung Cao Văn Tâm. Văn Trưng Minh, Từ Trinh Khanh và nhóm người Dương Lăng cùng Mạc Thanh Hà cũng đều đứng sau lưng ông hiếu kỳ theo dõi. Trương Phù Bảo lại chê chán, kéo anh nàng cùng ra bờ sông chơi.

Bên này Đường Bá Hổ vừa mới phác thảo vài nét, Chúc Chi Sơn chợt như nghĩ đến điều gì, đột nhiên bỏ chén rượu, nhảy xuống thành lan can la lên quái gở:
- Hỏng rồi, hỏng rồi! Sao ta lại cũng tham dự theo chứ nhỉ? “Thập mỹ đồ” đó thật sự sắp hoàn thành rồi!
Rồi hắn giậm chân la lên:
- Ba trăm lạng ơi là ba trăm lạng! Tính sai rồi! Tính sai rồi! Lần này lão Chúc ta phải đền tiền rồi.

Đường Bá Hổ chỉ ngẩng đầu cười lớn một tiếng rồi lại cúi đầu tiếp tục vẽ tranh, vẻ mặt hơi đắc ý. Dương Lăng phảng phất nhớ dường như có cái "Cửu mỹ đồ"(2) gì đó liên quan đến Đường Bá Hổ, không khỏi lấy làm tò mò hỏi:
- "Thập mỹ đồ” gì vậy?

Văn Trưng Minh cười lớn:
- Hôm nay du ngoạn trên hồ là ý tưởng của lão Chúc. Chuyến đi du ngoạn hồ này hao mất ba trăm lạng, y thật sự đã tính sai rồi.

Thấy thân phận Dương Lăng dường như cực kỳ cao quý, nhưng tính tình ôn hoà, không hề có phong thái cao kỳ của con cháu thế gia quyền quý, hắn bèn cười cười giải thích:
- Dương công tử! Hi Triết huynh và Tử Uý huynh đã đánh cuộc, chỉ cần trong vòng một năm Tử Uý huynh có thể vẽ được mười bức tranh mỹ nữ, hơn nữa phải là mỹ nữ mà bốn người chúng ta đều công nhận, thì Hi Triết huynh sẽ thua Tử Uý huynh ba trăm lạng bạc.
Chỉ là mười mỹ nữ này thực khó kiếm à nha! Chùa Huyền Diệu ở Tô Châu có nhiều thiếu nữ tới lui nhất, Đường huynh thường hay đến nơi đó ngồi canh chừng, nhìn thấy tuyệt sắc giai nhân chân chính nào liền ghi nhớ kỹ trong lòng, sau đó vẽ lại. Nhưng mà tin tức này dần dần bị tiết lộ, nhà ai có nữ quyến định đến chùa dâng hương đều sai người đuổi vị đại tài tử này đi trước.
Kết quả là sau bảy tháng đầu tiên, Tử Uý huynh đã có thể vẽ được chín mỹ nữ, nhưng người thứ mười lại tìm mãi không thấy. Chúng tôi cứ tưởng rằng lần này Tử Uý huynh sẽ thua rồi, nào ngờ hôm nay lại có duyên gặp được vị cô nương của quý phủ đây. Ha ha, đây cũng xem như là ý trời, muốn Hi Triết huynh đưa bạc cho Tử Uý huynh tiêu dùng.

Dương Lăng nghe vậy cũng cảm thấy mắc cười, thì ra đám tài tử này cũng giống như những người bình thường khác, lúc ăn không ngồi rồi cũng lấy mỹ nữ ra làm đề tài câu chuyện, không ngờ còn dùng nó để đánh cuộc.

Y ngồi xổm bên cạnh Đường Bá Hổ, thấy bút pháp tuyệt diệu của ông hất lên móc xuống, bức tranh trong tay đã vẽ được sáu phần, tuy mắt mũi ngũ quan vẫn mới chỉ được hoạ phác đơn giản, vẫn cần phải chấm phá thêm, nhân vật cũng hãy còn chưa tô màu, nhưng một mỹ nữ sinh động như thật đã dần hiện ra trên trang giấy. Thấy vậy y không khỏi ngợi khen:
- Nhân vật của Đường huynh vẽ quả nhiên giống như đúc, bút lực quả thực bất phàm.

Đang vẽ say sưa, Đường Bá Hổ nghe vậy mặt liền tươi rói, đáp:
- Dương công tử quá khen! Mỹ nữ tập trung thiên địa linh khí, bản thân đã là một bức tranh sáng đẹp tuyệt luân, tại hạ chẳng qua chỉ lấy bút trong tay vẽ một phần vạn nét phong tình của họ mà thôi. Cái tĩnh của mỹ nữ thì thanh nhã u khiết, còn cái động của mỹ nữ lại bay bổng như hạc. Mái tóc, chân mày, cặp mắt, đôi môi, làn da, cần cổ, tấm eo, đôi chân, không chỗ nào không thể vẽ nên tranh. Vẻ đẹp ấy có thể họa vào thơ, có thể nhập vào trong tranh vẽ, có thể hoà vào rượu, còn có thể bước vào mộng nữa thay.

Dương Lăng không ngờ vị đại tài tử này nói đến mỹ nữ lại cũng có bài bản như vậy. Văn Trưng Minh cũng là cao thủ về hội hoạ, có nhận thức bất phàm về hội hoạ nên có thể lý giải được cái ý trong lời Đường Bá Hổ, vả lại hắn cũng cực kỳ sùng bái kỹ xảo vẽ chân dung của Đường Bá Hổ.

Lúc này thấy Dương Lăng tràn đầy thích thú, trong lòng hắn có cảm giác như gặp người đồng đạo, liền hào hứng nói với Dương Lăng:
- Dương công tử hãy đợi một chút, trên thuyền hoa có một bức tranh tuyệt diệu mà Tử Uý mới vẽ đêm qua, để tôi lấy cho công tử xem!

Đường Bá Hổ phong lưu phóng khoáng. Tuy ông đã cưới người bạn thân thiết chốn khuê phòng của Liên Nhi cô nương là Thẩm Cửu Nương làm vợ, nhưng vẫn thường lưu luyến chốn thanh lâu. Những cô nương này cũng mến tài nghệ của ông nên cũng chưa từng đòi tiền qua đêm, vị Liên Nhi cô nương này cũng là một người ái mộ ông.

Nàng mắt to môi đỏ, da trắng như mỡ, cũng là một mỹ nhân, tuy nhiên hôm nay Đường Bá Hổ vừa thấy Cao Văn Tâm liền miệng khen không ngớt, Liên Nhi tự thấy tư sắc thua người nên vẫn luôn đứng một bên, trề môi vẻ không vui lắm. Bây giờ nghe Văn Trưng Minh nói muốn lấy bức vẽ đêm qua, tuy tức giận, nhưng nàng vẫn không nén khỏi đỏ mặt, hung hăng trừng mắt với hắn, dường như có chút ngượng ngùng.

Văn Trưng Minh hấp tấp chạy về thuyền hoa lấy một cuộn tranh. Hắn trở vào trong đình, mới vừa giở cuộn tranh vẽ ra một nửa, một cơn gió lùa tới suýt nữa thổi rách bức vẽ. Văn Trưng Minh liền kéo Đường Bá Hổ nói:
- Tử Uý huynh ngừng một chút đi! Để Dương công tử kiến thức bức tranh phong nguyệt mà huynh vẽ ngày hôm qua một chút.

Văn Trưng Minh nói xong, liền đoạt lấy bàn vẽ trong tay Đường Bá Hổ, giở cuộn tranh trong tay ra đặt lên trên. Dương Lăng vừa nhìn thì thấy bức tranh đó tịnh không phải là tranh đen trắng, mà dùng thuốc màu sơn lên. Trong tranh vẽ một mỹ nữ khỏa thân dáng vóc nẩy nở rung động lòng người, người con gái đó nửa quỳ trên chiếc giường nhỏ, một dải lụa đỏ vắt ngang eo, một tay che chỗ xấu hổ, eo thon hơi trũng xuống, cặp mắt yêu kiều ngoái nhìn ra sau, trong nét mặt đó có thể lờ mờ nhìn ra người thiếu nữ chính là vị Liên Nhi cô nương nọ.

Phía sau là một nam tử đang nằm chồm sấp trên mông nàng trong trạng thái giao hợp, cạnh bên có lưu hai hàng chữ như rồng bay phượng múa: "Bán liêm thanh phong, nhất tháp minh nguyệt, bán tự hàm tu bán thôi thoát, hồi đầu đinh ninh khinh ta cá, bất tỉ tầm thường lãng phong nguyệt"*. Không ngờ bức tranh này lại là một xuân cung đồ kiều diễm mê người.
(* Tạm dịch: nửa mành gió mát, một mảnh trăng thanh, nửa như e ấp nửa như khước từ, ngoảnh đầu dặn nhẹ cho em, không như cảnh sắc gió trăng tầm thường)

Dương Lăng chưa từng nghe nói đại tài tử Đường Bá Hổ vẽ tranh xuân cung, y ngẩn người nhìn chằm chằm vào bức tranh, vừa chỉ tay vào vừa lắp bắp hỏi:
- Đây... đây là của Đường huynh vẽ sao?

Văn Trưng Minh cười đáp:
- Đúng vậy! Nét vẽ tinh tế tỉ mỉ, nhân vật sinh động có thần, tranh xuân cung mà Đường huynh vẽ không dưới trăm bức, song đây là bức vẽ mà tại hạ thích nhất, nên đã xin y. Tại hạ và Dương công tử tuy vừa gặp mặt nhưng như đã quen lâu, nếu như công tử thích, tại hạ xin tặng cho công tử, không biết công tử thấy thế nào?

Dương Lăng cười gượng:
- Ơ... Đệ nhất tài tử Giang Nam cũng vẽ loại tranh này sao? Ha ha, đúng là nằm ngoài dự liệu của tại hạ.

Từ Trinh Khanh cười nói:
- Nghe khẩu âm của công tử, đoán là người đến từ phương Bắc nên không biết tập tục phương Nam. Vẽ tranh này cũng không có gì cả, thật ra rất nhiều tiểu thư khuê các cũng sao đi vẽ lại tranh xuân cung này đấy. Có điều những bức được chính tay Tử Uý huynh vẽ ra đều có thể gọi là trân phẩm, khắp phố phường đều tranh giành đấy!

Đường Bá Hổ dường như cũng rất là hài lòng với bức tranh này, ông lấy bản vẽ lại, xoa nhẹ lên bức tranh cười nói:
- Nào chỉ ở phương Nam, cho dù vùng phụ cận kinh sư cũng học theo tập tục này đấy chứ. Đa số nữ tử khéo tay của Thiên Tân vệ đều tinh thông môn này, chẳng những thường ngày vẽ tranh, mỗi khi đến cuối năm còn vẽ tranh xuân cung đem ra chợ bán, bản địa gọi họ là "Nữ nhi xuân". Dương công tử đến từ phương Bắc, chẳng lẽ không biết chuyện này ư?

Cao Văn Tâm ngồi nghiêng trên lan can mái đình, nhìn chăm chăm vào khói sông trên Thái Hồ theo sự hướng dẫn của Đường Bá Hổ để cho ông ta vẽ. Nàng đã ngồi yên một hồi lâu nên cảm thấy vai và cổ hơi mỏi, vừa quay đầu cho mau huyết lưu thông đột nhiên nhìn thấy Dương Lăng và mấy thư sinh đang chỉ chỉ trỏ trỏ vào bức tranh, thậm chí Ngô Tế Uyên và Mạc Thanh Hà cũng đang đứng sau đám người kiễng chân lên xem.

Nàng tưởng bức chân dung đã vẽ xong rồi nên mừng rỡ đứng dậy, đi lại gần mọi người, vui vẻ hỏi:
- Đường công tử đã vẽ xong rồi à?

Cao Văn Tâm vừa hỏi vừa cúi đầu nhìn bức tranh, mặc dù nhìn ngược xuống, nhưng tổng thể bức tranh vẽ gì nàng vừa liếc mắt liền nhận ra ngay. Khuôn mặt xinh xắn của nàng liền thoáng trắng bệch, mặt cắt không còn giọt máu, liền tiếp đó lại đột nhiên đỏ bừng, cả người cũng phát run lên.

Nàng vạn lần không ngờ kẻ này lại dùng tướng mạo của nàng để vẽ ra một bức tranh sỉ nhục như vậy. Cao Văn Tâm giận đến choáng váng mặt mày, không chút nghĩ ngợi nàng vung tay tát bốp một bạt tai vào mặt Đường Bá Hổ, giận dữ mắng:
- Đồ vô sỉ!

Cao Văn Tâm mắng xong, hai hàng lệ đã không nén được mà trào ra. Điều khiến cho nàng đau lòng khôn xiết chính là: Dương Lăng chẳng những không nổi giận, mà không ngờ... không ngờ cũng hùa với người ngoài chỉ chỉ trỏ trỏ lên bức tranh. Nếu như y thật sự thích mình, xem mình như nữ nhân của y, sao y lại có thể đối xử với mình như vậy, mặc cho mình bị người ta khinh thị?

Nghĩ đến đây, Cao Văn Tâm đau lòng như cắt. Hai tay ôm mặt, nàng xoay người lao về phía bờ hồ.







Chú thích:

(1) vì Đường Bá Hổ đỗ giải Nguyên (đỗ đầu trong kỳ thi Hương) nên được gọi là Đường "Giải Nguyên"

(2) "Cửu mỹ đồ" kể về chuyện tình giữa Đường Bá Hổ và Thu Hương





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
21-08-2011, 06:48 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 129 - Oan Gia Cưỡi Sóng Tới (phần 1)


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Sau đó, do gốc liễu che khuất tầm mắt nên cả bọn chỉ có thể nhìn thấy nửa bóng lưng của hai người. Họ thấy rõ phần bóng lưng của khâm sai Dương đại nhân - xưởng đốc Nội xưởng, thống lĩnh thân quân phụng chỉ tuần sát - thoạt khom thoạt thẳng như đang cúi người vái lạy, không ngừng xin tha thứ. Trước cảnh ấy, lòng đám nha sai Nội xưởng chợt cảm thấy như bị kim chích, lập tức không hẹn mà cùng xoay người đi vờ như không thấy.




Chương 129: Oan Gia Cưỡi Sóng Tới
------------------------

Ai nói phụ nữ "chân yếu tay mềm"? Cú tát của Cao Văn Tâm vừa giáng xuống tức thì má trái của Đường Bá Hổ lập tức "nở hoa". Đã bị người ta đánh còn bị mắng là bỉ ổi, đệ nhất tài tử Giang Nam phong lưu đa trí như ông cũng bị đòn đến sững người.

Dương Lăng trông thấy bộ dạng của ông ta như vậy, không khỏi thầm kêu may mắn trong lòng: may mà chỗ ngày đó Văn Tâm đánh chỉ là cái mông của mình, chứ nếu mặt mình bị ăn cái tát như vậy thì e rằng suốt ba ngày cũng đừng hòng gặp ai!

Điều Cao Văn Tâm đau lòng nhất chính là không ngờ nàng bị chính người nàng luôn quan tâm trong tâm tưởng đã quá khinh rẻ và sỉ nhục nàng đến thế. Lệ tuôn đầy mặt, nàng lao về phía bờ hồ, chỉ muốn trầm mình vào dòng khói sóng mênh mông cho kết thúc mọi chuyện từ đây.

Những thuyền phu đang kéo thuyền bên bờ hồ có một nửa là nha sai nội xưởng hoá trang. Vừa thấy người tỳ nữ luôn như hình với bóng với xưởng đốc đại nhân ôm mặt chạy tới, còn Dương khâm sai vừa đuổi theo vừa kêu to cứu người, lập tức có hai gã tráng niên cải trang thành ngư phủ sóng vai bước tới trước cản Văn Tâm lại, cười nói:
- Cô nương, xin dừng bước!

Cao Văn Tâm quát:
- Tránh ra cho ta!
Vừa quát vừa đưa tay đẩy. Tay còn chưa chạm ngực hai nha sai đó, eo thon chợt bị siết chặt, cả người đã bị nhấc bổng lên.

Cao Văn Tâm vừa sợ vừa giận, vùng vẫy kêu la:
- Thả ta ra, ngươi thả ta ra!

Ngoái đầu trông thấy chính Dương Lăng đang ôm eo mình nhấc bổng lên, lập tức hành động vùng vằng của nàng tức thì yếu đi vài phần, hai chân vốn đang dãy đạp về phía sau cũng buông lỏng xuống.

Thừa thế Dương Lăng bước thêm vài bước vòng ra sau một gốc liễu xù xì thấp bé đoạn đặt Cao Văn Tâm xuống, nói vội:
- Đại tiểu thư của tôi ơi! Cô gây náo loạn quá chừng rồi! Đã hiểu lầm rồi, hiểu lầm rồi!

Đám người Mạc Thanh Hà, Ngô Tế Uyên và tứ đại tài tử đang đứng ở trong đình nhìn về phía cây liễu trông thấy mỹ nhân đáo để nọ chợt ló đầu ra dường như muốn bỏ chạy đi, ngay lúc đó hai cánh tay đột nhiên vươn ra, ôm lấy eo cô nàng kéo trở lại.

Sau đó, do gốc liễu che khuất tầm mắt nên cả bọn chỉ có thể nhìn thấy nửa bóng lưng của hai người. Họ thấy rõ phần bóng lưng của khâm sai Dương đại nhân - xưởng đốc Nội xưởng, thống lĩnh thân quân phụng chỉ tuần sát - thoạt khom thoạt thẳng như đang cúi người vái lạy, không ngừng xin tha thứ. Đám nha sai Nội xưởng thấy vậy, lòng chợt cảm thấy như bị kim chích, lập tức không hẹn mà cùng xoay người đi vờ như không thấy.

Vị tài tử râu dài họ Chúc cũng không uống rượu nữa. Hắn vuốt chòm râu dài, cố sức rướn cổ nhìn, chỉ thấy hai bóng người sau gốc cây ban đầu thì xô xô đẩy đẩy, tiếp đó càng lúc càng nhích gần lại nhau, cuối cùng trừ hai gót chân ra, cả bóng lưng cũng không nhìn thấy được nữa.

Bỗng một cơn gió thổi tới, hắn mới thấy một dải thắt lưng lụa tung bay sau gốc cây, áo choàng Dương Lăng khẽ lay động, bèn không khỏi đảo mắt nhướng mày, chớp mắt nói to:
- Đường Giải Nguyên mau lấy bút ra ! Lão Chúc thấy hình như sắp diễn xuân cung trực tiếp rồi.

Văn Trưng Minh huých khuỷ tay vào người y, mắng khẽ:
- Lo uống thứ rượu vàng quí hóa(*) của huynh đi. Ngô ông và khách quý của phủ ông ấy cũng đang ở đây đó.
(*):nguyên văn là “hoàng thang” (rượu vàng), cụm từ này được sử dụng với hàm ý chê trách người say sưa.

Từ Trinh Khanh cũng gượng cười nói:
- Vị tỳ nữ đó tuy không phải thiên kim thế gia vọng tộc nhưng xem ra cũng cực kỳ tự trọng tự ái. Lão Chúc hãy cẩn thận cái miệng, kẻo lại bị như Đường huynh...

Đường Bá Hổ nghe vậy bèn xoa cái má đang đau rát mà cười khổ một hồi. Xem ra mình đã ăn không cái tát này một cách oan uổng rồi, còn e rằng mấy bằng hữu to mồm không có lòng dạ này sẽ mang chuyện đi rêu rao khắp chốn một phen. Có điều bọn họ là người phóng đãng không chịu gò bó, tạm thời xảy ra một chuyện phong lưu ân ái cũng không thấy mất thể diện gì.

Dương Lăng vừa giải thích vừa dỗ dành. Hồi lâu, cũng không biết do chưa hết giận hay Cao Văn Tâm vẫn muốn được hưởng cảm giác dựa vào lòng y, bị Dương Lăng ôm chặt, nàng nép sát vào người y như một chú chim nhỏ, lại thút thít một hồi, rồi mới uất ức nói:
- Cho dù bọn họ và lão gia vừa gặp như đã quen lâu, cũng không có lý gì... đem tranh vẽ trộm rêu rao khắp nơi. Vị Liên Nhi cô nương đó xuất thân thanh lâu thì bọn họ sẽ phơi bày nàng ta với người khác một cách tuỳ tiện sao? Chỉ là ngang ngạnh phóng đãng thôi ư? Đó còn không phải là sỉ nhục người ta à? Con đường làm quan của bọn họ không thuận lợi nên mới vờ mượn tiếng phong lưu mà khinh nhờn thế tục, chung quy vẫn là khinh bạc, không giữ đức hạnh, không tuân thủ khuôn phép. Trong triều hiện đang có không biết bao nhiêu kẻ đang nhìn chòng chọc vào lão gia, muốn bươi móc tìm kiếm khuyết điểm của lão gia. Lão gia thật sự không nên kết giao thân thiết với bọn họ quá.

Lời Cao Văn Tâm nói rất có lý. Những hành vi phóng đãng của mấy tài tử này nếu đặt ở đời sau thì mọi người sẽ chỉ cảm thấy đó là sự phản kháng đối với lễ giáo phong kiến; ai nấy chỉ hăng say bàn về những chuyện phong lưu mà bọn họ mơ mộng, cho rằng ông trời ghen ghét bậc kỳ tài, khiến họ chịu phải cảnh bất công; mà không biết hành động sa ngã của bọn họ, tuy trong mắt người đương thời cũng tạo được những câu chuyện thú vị để mọi người say sưa bàn tán nhưng bọn họ cũng đã tự tuyệt hoạn lộ rồi: có đủ loại "kiến thức" này, làm sao còn có thể gặp mặt triều đình?

Nói trắng ra, hành vi của bọn họ là khoe mẽ, là hình ảnh không tao nhã. Mọi người có thể dùng nó làm đề tài chuyện trò trong những lúc trà dư tửu hậu, song không ai coi kiểu "minh tinh" này là rường cột của xã hội cả.

Tâm tình bị kích động lúc mới gặp tứ đại tài tử đã hơi bình phục, Dương Lăng đột nhiên tỉnh ngộ. Ví như mình si mê thanh danh đời sau của bọn họ mà đàng đúm cùng bọn họ, vậy há chẳng phải mình đang tạo cơ hội cho những kẻ đang nhìn mình chằm chằm như hổ đói muốn dồn mình vào chỗ chết sao?

Dương Lăng thở dài một hơi rồi nắm chặt cổ tay Văn Tâm, chân thành:
- Văn Tâm, cô nói đúng! Bất luận thế nào, với thân phận của tôi mà cùng bọn họ công khai thảo luận những thứ này như vậy thì quả là đã hơi khinh xuất mất rồi. Đến Giang Nam một khoảng thời gian, thoát khỏi những chuyện minh tranh ám đấu trong triều, tôi thật sự đã có hơi sơ ý rồi.

Cao Văn Tâm được y vừa dỗ dành vừa khuyên giải, biết rằng mình đã hiểu lầm, nộ khí trong lòng sớm đã tan đi, lại nghe y nói với giọng chân thành, ngược lại hơi cảm thấy áy náy trong lòng. Nàng đỏ mặt rụt tay về, mắng khẽ:
- Bị lão gia nắm đau quá đi! Tiểu tỳ đã không tính nhảy xuống hồ nữa, người còn kéo tiểu tỳ làm gì?

Dương Lăng bật cười ha hả, buông tay ra nói:
- Đi thôi, trở về thôi! Mấy người Mạc công công và Ngô tiên sinh nhất định đang lo lắng lắm đây.

Cao Văn Tâm cúi đầu, di di chiếc giày thêu trên mặt đất, ngượng nghịu:
- Tiểu... tiểu tỳ ngại lắm! Lão gia muốn du ngoạn hồ thì tiểu tỳ chờ lão gia ở đây là được rồi.

Dương Lăng cười nói:
- Loại thuyền nhỏ đó một chiếc chở được hai người. Hôm nay tôi chèo thuyền để cô rong chơi vui vẻ một ngày, có được không?

Cao Văn Tâm ngẩng đầu, mừng rỡ nhìn y, rồi lập tức chần chừ:
- Lão gia, tiểu tỳ chỉ là hạ nhân, lão gia... lão gia không cần phải khách sáo với tiểu tỳ như vậy.

Dương Lăng thở dài một hơi, đoạn cười trêu:
- Cao đại tiểu thư à, từ khi đón cô vào nhà đến giờ, cô nói xem, tôi có từng xem cô như tỳ nữ chưa? Còn dùng kiểu nói này với tôi nữa, cô sẽ tự thẹn với lòng thôi.

Khuôn mặt xinh xắn của Cao Văn Tâm thoáng đỏ lên, nàng khẽ hé môi nhưng lại không nói được lời nào. Dương Lăng mỉm cười, xoay người đi về phía mái đình.

Dương Lăng cao đầu ưỡn ngực bước vào trong đình. Ngô Tế Uyên lật đật bước lên hỏi han:
- Đại... Dương công tử, à... Cao cô nương đã hết giận chưa?

Dương Lăng khoát tay, ra vẻ bất cần:
- Phụ nữ ấy mà, thật không hiểu ra sao cả! Bị tại hạ dạy dỗ cho một trận, giờ cô ta đã ngoan ngoãn hơn nhiều rồi.

Mạc Thanh Hà bật ho khan vài tiếng, cố nhịn cười, sau đó quay đầu đánh xoạt một cái về phía Thái Hồ, chắp hai tay sau lưng ra vẻ đang thưởng thức phong cảnh.

Dương Lăng vẫn không hay bộ dạng trốn sau gốc cây cúi đầu thi lễ của mình đã sớm bị người ta thu vào trong mắt, y quay sang Đường Bá Hổ cười áy náy:
- Đường huynh! Thật xin lỗi, tiểu đệ quản giáo không nghiêm, để tỳ nữ đó ra tay tổn thương Đường huynh, thật rất lấy làm hổ thẹn.

Đường Bá Hổ cười khan hai tiếng, đáp:
- Không sao không sao! Nếu không được tặng một cái tát này, Đường mỗ còn hòng thấy hình ảnh mê người như vậy được ư?

Dương Lăng ngạc nhiên hỏi:
- Hình ảnh gì? Đường huynh đã lại vẽ một bức tranh sao?

Đường Bá Hổ vội vàng nhoẻn cười đáp:
- Không dám không dám, không có không có, ờ... Có điều bức Thập mỹ đồ này, tại hạ đã có ý tưởng mới rồi, song cần phải chỉnh sửa một chút. E rằng khó có thể hoàn thành trong hôm nay...

Dương Lăng vội nói:
- Không vội không vội! Không biết Đường huynh vẽ tranh, một bức ra giá bao nhiêu? Huynh cứ việc về nhà vẽ, trở về tại hạ sẽ cho người đến lấy, ngân lượng văn tiền không thành vấn đề.

Đường Bá Hổ liền đáp:
- Dương công tử! Tuy bức tranh này mượn ý từ cô tỳ nữ của phủ công tử, nhưng nó lại là của tại hạ. Thập mỹ đồ này tại hạ quyết sẽ không bán lẻ, mong công tử lượng thứ.

Thời ấy còn chưa có bản quyền tranh chân dung, Đường Bá Hổ nói một cách đầy lý lẽ khiến Dương Lăng cũng không cảm thấy có gì không đúng. Y nghĩ tranh của Đường Bá Hổ giá trị liên thành, vậy nếu y muốn lấy cả bộ Thập mỹ đồ thì không biết phải tiêu tốn hết bao nhiêu bạc cho đủ? Nhưng y lại không muốn để bức tranh của Cao Văn Tâm bị kẻ khác mang đi.

Dương Lăng không khỏi do dự:
- Như vậy những bức Thập mỹ đồ này, không biết Đường huynh muốn giá bao nhiêu mới chịu bán ra?

Nhìn bộ dạng cung kính mà Ngô Tế Uyên đối đãi với y, Đường Bá Hổ đã sớm kết luận người này hẳn là công tử tôn quý rất có thân phận. Có thể khiến phú hộ số một Tô Châu kính cẩn nghe lời như vậy, nói không chừng y còn là hào phú kinh sư, cho nên ông nảy ý muốn kiếm chác một mớ. Đường Bá Hổ vừa chăm chú nhìn thần sắc của Dương Lăng, vừa ngập ngừng nói:
- Việc này à... Tập hợp Thập mỹ đồ rất ư không dễ, Đường mỗ cũng đã hao tốn gần một năm trời, cho nên giá bán ra so với bán lẻ từng bức tranh có đắt hơn một chút. Ít nhất cũng phải năm... năm...

Những bức mà Đường Bá Hổ dày công ra vẽ cùng lắm cũng chỉ rao giá hai mươi lạng. Mặc dầu Thập mỹ đồ khó kiếm, nhưng đòi đến năm trăm lạng thì bản thân ông cũng cảm thấy có phần quá cao rồi. Nhưng hiếm khi gặp phải một kẻ không tiếc bỏ tiền như thế này, nhìn Dương Lăng cưng yêu người tỳ nữ xinh đẹp nọ như vậy, khẳng định là một công tử phú gia thương hoa tiếc ngọc. Cơ hội này thật sự khó mà có được.

Ông vừa ngập ngừng đang muốn nói giá thì Ngô Tế Uyên nghe được, trong lòng đã sáng tỏ. Gần đây lão bị gã phú hộ mới nổi Lý Quý chèn ép kịch liệt, vậy mà Bố chánh sứ và tri phủ Tô Châu bình thường vẫn nhận của lão từng món bạc lớn ấy lại vẫn ngoảnh mặt làm ngơ, nếu như lão có thể bấu víu vào cái gốc cây cao như Dương Lăng này, ai còn dám khi dễ Ngô phủ nữa chứ?

Nếu như Đường Bá Hổ ra giá thấp thì dù lão có mua tặng cho Dương Lăng cũng chẳng biểu lộ được lòng thành, thế là lão vội lật đật cướp lời:
- Năm ngàn lạng? Được, Đường Giải Nguyên hãy mau vẽ Thập mỹ đồ đi, ta sẽ lấy năm ngàn lạng bạc mua nó.

Nói xong lão cười nịnh với Dương Lăng:
- Đợi tôi nhận Thập mỹ đồ này rồi, sẽ cho người đem đến phủ tặng cho công tử.

Nghe vậy rất mừng rỡ, Đường Bá Hổ giơ bức tranh trong tay lên, nói:
- Được, vậy Đường mỗ sẽ tặng miễn phí bức “Nguyệt Dạ Hậu Đình Hoa”* này, đến lúc đó nhất định sẽ đưa đến quý phủ.
(*tạm dịch: Khúc nhạc Hậu Đình Hoa trong đêm trăng; Hậu Đình Hoa cũng là một vở kịch nổi tiếng, có nhiều phiên bản)

Dương Lăng nghe mà không biết nên khóc hay nên cười. Y gãi nhẹ mũi, ngắm bức tranh một lúc lâu rồi hỏi:
- Bức tranh này của Đường huynh là... Hậu Đình Hoa à? Ha ha, vị nhân huynh trong tranh che thật đến kín, thật sự là không nhìn thấy được gì.

Đường Bá Hổ vừa nghe Dương Lăng khơi ra khuyết điểm của bức tranh mình vẽ liền có phần nôn nóng, ông ra vẻ nghiêm túc nói:
- Vẽ là phải chú trọng đến cái đẹp của hàm súc, cái thần của ý cảnh. Công tử không thấy một tay của mỹ nhân che chỗ xấu hổ đó ư? “Có người ngư phu đến hỏi, Đào Nguyên giờ ở chốn nào?” Công tử còn chưa hiểu rõ ý sao?

Chúc Chi Sơn và hai người đàn ông háo sắc còn lại nhất tề đắc ý cười dâm, phụ họa:
- Chí phải, chí phải! Huống chi còn có câu này: “Quay đầu dặn nhẹ cho em, nào như trăng gió phong lưu bình thường...”, chính là kỹ thuật điểm mắt(1) đấy nhé!

Dương Lăng nghe vậy, trong lòng phát lạnh: "Đây là những đại tài tử của lòng mình à, thần tượng lớn đấy ư? Mấy người cũng... cũng thật... Khó trách sao mấy người không làm quan cho nổi, thì ra có bao nhiêu tài hoa mấy người đều dùng vào khía cạnh này hết cả rồi.”

***

Một mảng sen xanh bồng bềnh gợn sóng. Thấp thoáng gần xa, vài chiếc thuyền nhỏ đang chèo trong những khóm lá sen xanh biếc cao tới gối trên mặt nước mà nếu không đứng lên thì sẽ khó thấy được nhau.

Trịnh bách hộ và hơn hai mươi tay nha sai chèo trên những con thuyền nhỏ ra xa, bao quanh vùng này lại, đề phòng du khách xâm nhập. Huynh muội thiên sư một thuyền, Mạc Thanh Hà và Ngô Tế Uyên một thuyền còn Dương Lăng quả nhiên đã thực hiện lời hứa, tự chèo một chiếc thuyền nhỏ cùng Cao Văn Tâm dập dờn trong những con sóng sen liên miên bất tuyệt.

Cao Văn Tâm vui vẻ ngồi ở đầu thuyền, vốc nước hồ trong vắt rót lên những chiếc lá sen xanh ngát. Nước hồ chảy tràn, phần nước còn lại dần dần ngưng tụ lại thành những giọt nước nhỏ tròn trĩnh, xinh xinh. Thuyền trôi nhẹ về phía trước, những chiếc lá ấu rậm rạp gặp phải áp lực nước, tự động rẽ sang hai bên.

Từng đoá hoa ấu trắng tinh lung linh xinh xắn điểm xuyết giữa những bông sen đỏ lá xanh, trang nhã mà tươi mát. Cao Văn Tâm bươi gốc ấu ra, vui thích tìm từng trái ấu đỏ hồng, ngắt lấy bỏ lên váy, đã gom được hai vốc lớn.

Bỗng nhiên, một con cá lớn bị kinh động nhảy vọt lên khỏi mặt nước, vẽ thành một hình cung ngay dưới mắt Cao Văn Tâm, rồi quẫy đuôi đánh "ùm" xuống nước, bụi nước bắn lên tung toé một mảng, làm cho nàng giật nảy mình. Dương Lăng thấy vậy không nhịn được bèn cười to.

Cao Văn Tâm yêu kiều lườm y, nét mặt cực kỳ quyến rũ. Mái tóc đen mướt như gương trên trán hơi bị rối xoà, bọt nước trong vắt óng ánh thấm trên gò má trắng ngần diễm lệ, như thể từ trong da thịt tiết ra. Dương Lăng thấy vậy hai mắt sáng rực, y vừa tính mở miệng khen nàng nhưng lại kịp thời ngậm miệng lại.

Trông thấy vẻ mặt của y, khoé mắt Cao Văn Tâm thấp thoáng một tia hờn oán. Nàng cầm một củ ấu đỏ lên, cúi đầu ngâm khẽ:
- Lăng nhi cá cá tương y sanh, thu thủy hữu tình tổng giác lãnh. (- Tạm dịch: Ấu kia mỗi củ nương tựa vào nhau mà sống, làn thu thủy có tình mà sao vẫn thấy chán chường.)
Dịch thơ: Ấu kia sống tựa vào nhau, mắt ai sóng sánh mà sao đượm buồn. (TheJoker)

Miệng ngâm thơ, khoé mắt nàng lại trộm ngắm Dương Lăng.

Dương đại lão gia chân thành phối hợp, liền vội ra sức vỗ tay bôm bốp khen hay:
- Thơ hay, thơ hay...

Cao Văn Tâm hơi thất vọng: "Lão gia đang giả vờ hay thật sự không hiểu vậy? Không phải mười sáu tuổi y đã đỗ đầu kỳ thi tú tài của Tuyên phủ hay sao?"

Dương Lăng lại không hay biết Cao Văn Tâm đang mượn thơ khêu tình. Y vỗ tay xong nhưng thấy Cao Văn Tâm vẫn hơi phiền muộn không vui, bèn ngượng ngập buông tay nói:
- Chèo nãy giờ cũng hơi đói rồi. Tới đây, chúng ta ăn tí gì trước đi.

Cao Văn Tâm ngoan ngoãn đồng ý, gom mấy củ ấu lại, bước đến giữa thuyền ngồi xuống, đưa tay qua cầm lấy hộp đồ ăn sơn màu sáng bóng. Hộp đồ ăn tổng cộng có bốn tầng, nàng lấy từng món bên trong ra, đặt lên chiếc bàn nhỏ ở giữa.

Đáy loại hộp đồ ăn này của Ngô phủ làm bằng sắt, bên trong đặt than nóng, bên trên là một tầng cách thủy, cho nên để lâu như vậy mà đồ ăn trong hộp vẫn nóng hổi. Người miền Nam ăn uống luôn chú trọng đến sự tinh tế, mỗi loại đồ ăn trong hộp không nhiều, đại khái chỉ đủ vài miếng, song lại rất đa dạng. Đĩa đầu tiên là một miếng thịt vuông vức, dày cộp, thơm phức, béo ngậy, miếng da lợn lại óng ánh sắc vàng, khiến người ta vừa trông thấy đã phát thèm. Đó chính là một miếng thịt Đông Pha(2).

Món thứ hai là Tôm Bóc Vỏ Động Đình, dùng đặc sản "Hách Sát Nhân Hương"(3) của Động Đình Hồ nấu chung với tôm sông mà thành, sắc, hương, vị tuyệt cả. Giống như Chè Khoai Môn Hương Quế, Chả Giò Rán, Đậu Hũ Chiên Giòn, Bánh Bao Hấp, Vịt Kho, Lương Bung, món này thể hiện rõ đặc điểm văn hóa Đông Ngô: tinh, nhã, tế (tỉ mỉ), xảo (khéo).

Thuyền dập dờn trên sóng, hái sen giữa rừng hoa, cao lương mỹ tửu, lại có áo hồng thêm hương, cho dù không uống cũng say. Huống hồ chung quanh lá sen cao vút trên mặt nước, giữa nơi đây lại chỉ riêng mình cùng một mỹ nhân xinh đẹp khéo cười bầu bạn.

Nghĩ đến dáng vẻ giận dữ của Cao Văn Tâm khi nãy, Dương Lăng thầm nổi lòng "xấu xa", muốn "dạy dỗ" nàng một phen, nên y bèn giở điệu bộ lão gia ép nàng cũng phải uống mấy chén.

Cao Văn Tâm không thoái thác được, đành phải uống vài chén rượu. Rượu thuần thấm vào bao tử, hai má nàng ửng lên một màu đỏ xinh đẹp, thấy vậy Dương Lăng thầm đắc ý trong lòng. Nhưng đã ép người ta uống rượu, y cũng không thể không uống, kết quả là rượu trong chiếc bình bằng thiết đã được uống sạch trơn. Dương Lăng đã cảm thấy đầu nặng chân nhẹ mà Cao đại tiểu thư nhà người ta, mặc dù màu da như được phết thêm một lớp son, đôi mắt lại càng lúc càng sáng, lại không hề có vẻ gì là say. Lúc này Dương Lăng mới biết tửu lượng Cao đại tiểu thư khá cao, thế là y không khỏi ngầm kêu khổ.

Đây là lần đầu Cao Văn Tâm ở riêng cùng một chỗ với Dương Lăng, lần đầu cùng y chung bàn uống rượu, lần đầu được y ôm vào lòng, cũng là lần đầu được y dùng những lời lẽ ngọt ngào để dỗ dành. Thiếu nữ ôm ấp mối u tình này hạnh phúc không thể tả, sau khi uống rượu vào, lòng càng thêm vui vẻ.

Nàng cầm chiếc bình bằng thiết đã cạn lên, nhoẻn miệng cười duyên dáng với Dương Lăng:
- Lão gia mười sáu tuổi đã đạt công danh, là tài tử phương Bắc, hôm nay rượu đã cạn bầu, nô tỳ và lão gia dùng câu đối thế rượu, không biết ý lão gia thế nào? Ở đây nô tỳ có một vế trước (thượng liên), mời lão gia đối lại một câu nhé: Đề tích hồ, du Tây Hồ, tích hồ lạc Tây Hồ, tích hồ, tích hồ!* Lão gia, mời người đối lại.
*: chữ 'tích' (vật làm bằng thiết), 'Tây' (phía Tây) và 'tích' (luyến tiếc) đều có một âm đọc là 'xī'. Tạm dịch: Cầm bình thiết, dạo Tây Hồ, bình thiết rơi xuống Tây Hồ, tiếc thay cái bình, tiếc thay cái bình!

Dương Lăng vừa nghe phải đối câu đối thì giật nảy mình, người hiện đại có mấy ai học qua cái thứ này? Đến lúc nghe nàng tay nói mấy cái gì mà 'tích hồ', 'Tây Hồ', rồi 'tích hồ', y lại càng cảm thấy nhức đầu. Tuy y chưa từng nghe câu đối này, nhưng cũng nghe hiểu được cái khó của câu đối chính là cả ba từ đều đồng âm của từ 'Tây Hồ'.

Y không biết rằng năm xưa có người đã dùng câu đối này làm khó đại học sỹ Tô Đông Pha, khi ấy chính Tô Đông Pha cũng đã từng bị bắt bí. Y còn tưởng rằng đây là câu đối do Cao Văn Tâm nghĩ ra nên trong lòng bội phục không thôi.

Nghĩ ngợi thật lâu, cuối cùng y cũng nghĩ ra ba từ có phát âm na ná nhau, miễn cưỡng có thể lắp thành một câu, bèn nói với Cao Văn Tâm:
- Ờ... Tôi vừa nghĩ được một câu, song nếu so ý cảnh với vế trên của cô, thật sự kém hơn nhiều lắm. Bây giờ tôi đọc, cô không được cười đó.

Cao Văn Tâm nghe vậy trên mặt không khỏi lộ vẻ kinh ngạc. Câu đối này từ khi ra đời đến nay đã mấy trăm năm, đã có không biết bao nhiêu tài tử hao tổn tâm tư tìm câu đối lại, kết quả cũng chỉ vì quá truy cầu từ phát âm tương đồng mà miễn cưỡng ghép thành một vài hạ liên (vế sau), song không có câu nào có được ý cảnh ưu mỹ như vế trước.

Lão gia nhà mình chỉ trong chốc lát đã có thể nghĩ ra vế đối, như vậy đã là vô cùng quý hoá lắm rồi, còn mong gì đến ý cảnh nữa.

Cao Văn Tâm vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, liền nói:
- Xin lão gia hãy mau đọc ra, tiểu tỳ rửa tai cung kính lắng nghe đây.

Dương Lăng cắn răng, rồi quyết đoán đọc:
- Hảo tỷ phu, sính tiết phụ, tỷ phu thất tiết phụ, ta phu, tỷ phu.
*Tạm dịch: Anh rể tốt, cưới tiết phụ, anh rể phản bội tiết phụ, ôi chồng, anh rể!
Ba chữ 'tỷ' (jiě), 'tiết' (jié) và 'ta' (jiē) đọc na ná nhau.

Cao Văn Tâm trợn tròn mắt, đôi môi xinh há ra, ngạc nhiên nhìn y thật lâu, không nói câu nào. Dương Lăng không khỏi ngượng ngùng:
- Cô thấy đó, tôi nói rồi, ý cảnh kém lắm...

Cao Văn Tâm đột nhiên xoay người lại, tựa người vào mạn thuyền, đưa ống tay áo lên che mặt, rồi đôi vai nàng rung lên bần bật không ngừng, con thuyền nhỏ cũng theo đó mà lắc lư qua lại. Sau cùng vị tiểu thư khuê các lâu nay vẫn luôn chú trọng đến phong thái này rốt cuộc cũng không đếm xỉa gì đến hình tượng nữa mà bắt đầu cất tiếng cười to.

Dương Lăng cứng người nhìn nàng, mặt lúc trắng lúc đỏ, sau một hồi lâu mới hậm hực nói:
- Cô xem! Đang uống rượu vui vẻ lại đòi đối này đối nọ cho bằng được, thật làm mất cả vui.

Cao Văn Tâm thấy y giận, vội vàng ngồi ngay ngắn lại, đôi môi mím chặt ra sức nhịn cười, nước mắt cứ ứa ra, người run lên bần bật như trúng sốt rét. Dương Lăng không khỏi giận quá hoá thẹn, đứng bật dậy, gắt:
- Cười đi, cười đi, cười cho chết tôi thì thôi.

Cao Văn Tâm thấy y đã thật sự giận dữ bèn không dám cười nữa, lật đật đứng dậy, nhỏ nhẹ dỗ dành:
- Lão gia! Nô tỳ xin nhận lỗi, lão gia đừng giận nữa.

Chiếc thuyền nhỏ vốn đã đang tròng trành, Dương Lăng đứng lên đột ngột, con thuyền lại càng nghiêng sang bên trái. Do Cao Văn Tâm đứng lên vội nên chân không vững, thiếu chút nữa đã ngã xuống sông.

Dương Lăng tuy tức giận nhưng thật ra là bởi câu đối của mình quá kém. Khi nãy y cho rằng có thể nghĩ ra ba từ gần âm, trong đó còn có một thán từ giống như chữ "tích hồ" (tiếc thay cái bình) là nhanh trí lắm rồi, như vậy đã là hiếm có lắm rồi.

Cho nên khi thấy Cao Văn Tâm bật cười lớn, y mới cảm thấy thật mất mặt. Giờ y thấy Cao Văn Tâm cuống cuồng nên đứng không vững chực ngã xuống sông, bèn vội đưa tay đỡ lấy. Cao Văn Tâm hốt hoảng nhào vào lòng y, mãi đến khi con thuyền chầm chậm ổn định lại, mới đỏ mặt mắc cỡ rời khỏi lòng y.

Lúc này Cao Văn Tâm vừa uống rượu xong, mặt ngọc đỏ bừng, tóc mây tán loạn, mày như liễu mảnh che lấp một mảng xuân quang, mắt sáng như trăng nằm nhởn nhơ trong nước hồ thu. Nhất thời Dương Lăng ngẩn ngơ nhìn ngắm.

Cao Văn Tâm đã đứng vững lại, nhìn thấy ánh mắt y, không khỏi khẽ cụp hàng mày đen mướt, thẹn thùng cúi đầu, song lại không nhịn được mà ngước lên liếc y một cái thật nhanh.

Một cái cụp mày, tình ý khôn kể xiết, mê ly hơn cả lời tỏ tình. Mày ngài nhướng trộm, ngầm tỏ ý đàn lang(4), lại là vẻ lay động hồn phách người ta biết dường nào. Biết rõ là không nên song Dương Lăng lại không thể dằn lòng, y nhịn không được bèn hôn trộm môi nàng một cái thật nhanh.

Bờ môi đỏ thắm của Cao Văn Tâm vốn đầy đặn và mềm mại, chỉ vừa được y hôn nhẹ, môi nàng lập tức trở nên ẩm ướt, cặp mắt sáng ngời của nàng cũng chợt sâu thẳm phảng phất như biến thành hai hũ rượu lâu năm, tinh thuần không gì sánh được.

Chiếc thuyền mui đen thong thả đong đưa, gió đưa đến hương sen thơm ngát, tuy chưa hề uống say song lúc này nữ thần y lại lờ mờ như muốn say, tựa như gởi tới Dương Lăng lời mời tình cảm nồng nàn.

Dương Lăng hôn xong, từ trong mỹ sắc bừng tỉnh lại, cuống quýt buông thỏng đôi tay:
- Văn Tâm! Tôi thật không phải. Chúng ta không thể... tôi thật không nên.

Sau khi say rượu, người ta khó tự kiềm chế tình cảm của mình. Giờ đây hôn xong một cái thoả thê, y mới giật mình phát giác đã phạm sai lầm lớn. Tình ý của Cao Văn Tâm với y, trong lòng y sớm đã biết rõ, và cũng đã luôn cảnh tỉnh mình đừng lún vào quá sâu. Nhưng trên chặng đường xuôi Nam này, bất tri bất giác lưới tình miên man của nàng lại sớm đã trói chặt lấy y.

Cho đến lúc này đây, Dương Lăng mới phát hiện thì ra con tim mình cũng đã thích nàng từ lâu, nhưng bởi nỗi khổ tâm của chính mình, y chỉ có thể giống như con cá mắc vào trong lưới, khổ sở vùng vẫy, khổ sở trốn chạy...

Dương Lăng trở về chỗ ngồi, cầm chén rượu lên, lòng ngổn ngang trăm mối, song lại phát hiện chén rượu đã cạn khô. Y không dám ngẩng đầu nhìn ánh mắt ai oán và thất vọng của Cao Văn Tâm đang ngồi đối diện, lòng chỉ thầm nghĩ: “Không thể lại gây thêm nợ tình nữa. Văn Tâm hiểu chuyện hơn mấy người Ngọc Nhi, mình... Không bằng tiết lộ cho nàng một ít chuyện của mình, cắt đứt ý niệm của nàng ấy vậy.”

Dương Lăng nghĩ đến đây, ngẩng đầu tính mở lời, phía trước bỗng nhiên có một giọng nói giòn dã yêu kiều vọng đến:
- Í, vừa mới thấy đứng ở gần đây mà? Ca à, đi tới trước chút nữa đi, này này, mấy người đâu rồi?

Dương Lăng nghe thấy tiếng nước cùng lá sen lay động, huynh muội Trương thiên sư đã chèo thuyền trôi tới, bèn nuốt lời định nói ngược vào bụng. Y thấy Cao Văn Tâm đang cúi đầu vân vê góc áo, dáng vẻ rất đáng thương, bèn vội nói với nàng:
- Văn Tâm! Tôi tự có nỗi khổ của mình, tuyệt không xem nhẹ thân phận của cô. Ôi... đợi đến lúc về đến Hàng Châu, tôi sẽ nói bí mật của tôi cho cô nghe thì cô sẽ rõ hết thảy.

***






Chú thích:

(1) trích từ thành ngữ "điểm mắt cho rồng" (hoạ long điểm tình), là kỹ thuật làm nổi bật nét chính của bức tranh (hoặc bài viết) khiến cho nó phong phú, sinh động hơn. Tích rằng Trương Tang Do vẽ bốn con rồng nhưng không vẽ mắt, vì lo rằng nếu vẽ mắt thì rồng sẽ bay mất. Mọi người không tin. Nhưng khi Trương lấy bút điểm mắt cho một con rồng thì sấm sét nổi lên, bức vách lung lay và con rồng có mắt bay vút lên, ba con kia vẫn ở yên chỗ cũ.
(2) một món ăn nổi tiếng trên thực đơn trong các nhà hàng ở Tô Châu, do nhà thơ nổi tiếng Tô Đông Pha chế biến.
(3) tên cổ của loại trà "Bích Loa Xuân" nổi tiếng. Vì trà được hái vào dịp tiết Thanh Minh, tiết Cốc Vũ nên có tên gọi là “Bích La Xuân “ và được liệt vào là một trong những vật cống phẩm.
(4) chỉ Phan An đời Tấn, sau được người con gái dùng gọi người con trai tuấn tú mà mình ái mộ.





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
25-08-2011, 06:57 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 129 - Oan Gia Cưỡi Sóng Tới (phần 2)


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng và Trương thiên sư đứng trên đình trông thấy mà sững sờ. Bọn họ há hốc mồm kinh ngạc nhìn cảnh tượng kỳ lạ này. Mãi lâu sau hai người mới đưa mắt nhìn nhau, sau đó đồng loạt nhảy dựng lên như thể bị lửa đốt mông, la lớn:
- Sao lại như vậy được! Chẳng lẽ bọn người Oa đều đao thương bất nhập sao?




Chương 129: Oan Gia Cưỡi Sóng Tới
------------------------
Người ta nói có qua có lại mới toại lòng nhau. Vui chơi thoả thích xong, khi đoàn người quay trở về, Mạc Thanh Hà cũng nhiệt tình mời huynh muội thiên sư đến Hàng Châu một chuyến. Lúc trước, khi vừa mới đến Hàng Châu, hai anh em này chỉ được những người ở các đạo quán nghênh tiếp một hồi rồi lại ngồi kiệu xe của Ngô phủ đi đến Tô Châu nên chưa hề được dạo chơi Tây Hồ, vì thế cả hai đều vui vẻ nhận lời đi ngay.

Dọc đường nhàn rỗi, Trương thiên sư và Mạc công công bèn ngồi trong khoang đánh cờ vây. Chớ thấy cờ tướng của Trương thiên sư kém cỏi mà lầm, cờ vây của y cao siêu vô cùng. Không biết đánh cờ vây, Dương Lăng nhìn một hồi cảm thấy nhàm chán bèn ra trước khoang ngắm nhìn phong cảnh một lát rồi trở về khoang mình.

Cao Văn Tâm đang ngồi một mình trong khoang đắm mình trong tâm sự, vừa thấy y trở về nàng liền vội đứng lên. Từ lúc dạo Thái Hồ trở về, hai người luôn cảm thấy không được tự nhiên khi ở chung một chỗ với nhau. Dương Lăng cười gượng gạo, nói:
- Tôi ngồi lâu ở bên ngoài nên cảm thấy hơi mệt, định vào khoang trong nghỉ ngơi một lát.

Cao Văn Tâm vẫn luôn mang nghi vấn trong lòng, không biết rốt cuộc y có bí mật gì (phụ nữ tò mò LOL) mà đã có thể tiếp nhận Ngọc Nhi và Tuyết Nhi, lại có tình cảm với mình, thế mà lại khăng khăng không chịu tiếp nhận mình. Nàng rất muốn hỏi y ngay bây giờ, nhưng bản thân là con gái nên không tiện tỏ ra bức thiết quá mức. Thấy Dương Lăng vén rèm định vào trong, rốt cuộc nàng nhịn không được bèn mở miệng:
- Lão gia...

Dương Lăng dừng bước, quay đầu lại hỏi:
- Hử? Có chuyện gì vậy?

Mặt Cao Văn Tâm thoáng đỏ lên, nàng lắp bắp:
- A... không có gì, chúng ta... chúng ta về thẳng Hàng Châu à?

Dương Lăng lắc đầu đáp:
- Không, về đến Hàng Châu thì trời cũng khuya quá rồi. Chúng ta sẽ dừng lại giữa đường, đến Hải Ninh trọ lại một đêm, mai sẽ lại về Hàng Châu.

- Ồ...,
Cao Văn Tâm nghe đêm nay không thể nghe được bí mật mà mình rất muốn biết không khỏi thất vọng hỏi:
- Lão gia đến Hải Ninh có phải là vì muốn thưởng thức thủy triều Hải Ninh vang danh thiên hạ phải không?

Dương Lăng ngạc nhiên hỏi:
- Hải Ninh có thuỷ triều đáng xem sao? Tôi chỉ có nghe nói đến thuỷ triều sông Tiền Đường vang danh thiên hạ thôi.

Khoé miệng Cao Văn Tâm hơi nhếch lên song nàng lại không dám cười nữa, chỉ nói khẽ:
- Thuỷ triều Hải Ninh... chính là thuỷ triều sông Tiền Đường mà...

Dương Lăng hơi ngẩn ra, rồi cúi đầu ủ rũ:
- Thôi đi! Lão gia tôi coi như là đã mất sạch thể diện trước mặt cô rồi. Thuỷ triều sông Tiền Đường không gọi là thuỷ triều sông Tiền Đường mà lại gọi là thủy triều Hải Ninh gì đó, thật là mất mặt.

Mặc dù bụng đầy tâm sự nhưng Cao Văn Tâm vẫn bị y trêu đến bật cười phì, nàng vội khoan thai giải thích:
- Lão gia là người phương Bắc, lúc ở kinh sư cũng không rảnh nghe ngóng những chuyện đâu đâu này nên không biết cũng là thương, có gì mất mặt chứ? Có điều nên đi xem thủy triều sông Tiền Đường vào mười tám tháng tám, lúc ấy thủy triều mới tráng lệ; tuy bây giờ cũng có thủy triều nhưng kém hơn nhiều.

Dương Lăng đáp:
- Tiện thể ngắm xem một chút cũng được rồi. Chủ yếu tôi đi Hải Ninh là để thăm viếng Mẫn đại nhân một phen. Ông ấy là thượng cấp cũ của tôi. Tôi vừa đến Giang Nam ông ấy đã đến thăm tôi, tôi không ghé thăm lại ông ta thì khó tránh có lỗi với cố nhân.

Nói đến đây, y hơi ngừng lại rồi dịu dàng nhìn Cao Văn Tâm nhẹ giọng bảo:
- Tôi đi ngủ một lúc đây, không cần kêu người hầu hạ. Nếu cô mệt rồi thì cũng nghỉ ngơi đi.

Đột nhiên Cao Văn Tâm nhớ đến một chuyện định kể cho Dương Lăng hay. Nhưng nghĩ lại chuyện này không có quan hệ gì với Dương Lăng và mình, hơn nữa một người con gái lại đi kể những chuyện này thực cũng khó mở miệng, thế là bèn gật nhẹ đầu. Đưa mắt tiễn Dương Lăng về phòng xong, bản thân nàng cũng thu vén y phục rồi nằm lên giường, mở mắt nhìn lên mui thuyền, không ngờ lại nhớ đến việc kỳ lạ nọ.

Hôm nay Mạc phu nhân trở về từ nha môn của Bố chánh sứ, dáng điệu và vẻ mặt hơi khác thường. Mặc dầu người thường không thể nhận thấy sự khác biệt nhưng Cao Văn Tâm lại nhìn ra nguyên do. Nàng thấy vị Mạc phu nhân đó hai má đỏ bừng, mày mềm như nước, dáng đi dịu dàng mềm mại, không khỏi cả kinh trong lòng.

Với sự hiểu biết y học về cơ thể con người, nàng biết rõ khi dáng đi và vẻ mặt của một người phụ nữ đột nhiên xuất hiện dị trạng như vậy chắc chắn là cô nàng vừa mới trải qua một cuộc mây mưa.

Mạc công công là người đã bị hoạn, hắn lại đã cùng Dương Lăng chèo thuyền dạo Thái Hồ. Mạc phu nhân đi một mình từ nha môn Bố chánh sứ về, mặt mày tràn trề lạc thú giống như mới vừa giao hoan với người khác, chẳng lẽ thị ta không giữ đạo làm vợ, lén chồng vụng trộm hay sao?

Cao Văn Tâm vắt tay lên trán ngẩn ngơ suy nghĩ một hồi, rồi mới thở dài u uẩn: "Bỏ đi! Tuy rằng việc này tổn hại lễ giáo nhưng đó chỉ là chuyện riêng nhà người ta. Mình muốn kể cho lão gia nghe cũng ngượng mở miệng. Chuyện mình còn chưa đủ lao tâm sao, còn quản chuyện đâu đâu của người ta làm gì chứ?"

"Chao ôi... lão gia rõ ràng cũng... cũng có tình ý với mình, vì sao không chịu tiếp nhận mình vậy? Bởi vì mình đang là nô tì ư? Không! Không phải! Y không phải là người như vậy. Y nói là có bí mật, rốt cuộc y có bí mật gì mà lại khiến y không chịu tiếp nhận mình nhỉ?"

Cao Văn Tâm nằm trên giường, tai nghe tiếng nước rì rào, sóng lòng cũng dâng trào theo. Suốt chặng đường dài nàng cứ trằn trọc băn khoăn suy nghĩ không ngừng đến vấn đề này, thuỷ chung khó lòng yên giấc.

. . .

Dương Lăng đang khoác hờ chiếc áo khoác dài đen màu mực đứng trong đình Quan Triều (trạm xem thủy triều) dưới gò Trấn Hải, trấn Diêm Quan, huyện Hải Ninh. Cao Văn Tâm duyên dáng đứng sau lưng y; Mạc Thanh Hà, Mạc phu nhân, huynh muội Trương thiên sư, Diêm vận sứ Mẫn đại nhân cùng Chủng thiên hộ trú đóng tại đây và mấy diêm thương lớn của địa phương cùng đứng bên cạnh.

Mẫn Văn Kiến đứng nghênh sóng, há miệng cười to:
- Dương đại nhân! Thủy triều lớn ở Hải Ninh thời tháng tám cao đến mấy trượng, tiếng sóng như sấm rền, vô cùng hoành tráng, bây giờ ngài đến xem thì thủy triều không thể sánh bằng. Tuy nhiên hiếm khi đại nhân ghé thăm một chuyến nên thế nào ngài cũng phải xem một chút mới được.

Tuy rằng Mẫn Văn Kiến không hề có ý nghĩ bám vào quyền quý, nhưng giao tình hai người không nhạt. Hôm nay cố nhân đã làm quan lớn đến như vậy trong kinh sư lại đặc biệt đến đây thăm mình, trong lòng lão cảm thấy vinh hiển vui sướng cũng là thường tình, cho nên mặt mày rất là hớn hở.

Đến thăm Hải Ninh lần này, ngoài việc viếng thăm Mẫn huyện lệnh có ơn tri ngộ với mình ra, thật sự Dương Lăng còn có tính toán khác. Y đã phái người về kinh bẩm báo với Hoàng thượng về hành vi phạm pháp của Chỉ huy sứ Tư Tất Xuân của Long Sơn vệ và thuế quan trấn thủ Viên Hùng.

Thuở trước, lúc còn ở Kê Minh dịch y đã gặp Tất Xuân, biết rõ kẻ này tuyệt không phải là người dễ đối phó. Đặc biệt là đội thân binh bảo vệ gần hai trăm người của gã, ai nấy đều kiêu dũng thiện chiến và còn hết lòng trung thành với Tất Xuân. Về phần Viên Hùng, hắn đặt trạm thu thuế khắp nơi, dưới tay có một đám lưu manh trộm cướp, cũng không thể nào là kẻ bó tay chờ chết. Tội danh hai kẻ này một khi được xác lập thì sẽ là đại tội tử hình, cho nên không thể không đề phòng bọn chúng chó cùng rứt giậu.

Lúc Dương Lăng chưa rời kinh đã nghe Ngô Kiệt báo cáo ở vùng Giang Chiết từng có quan tướng phạm vào tội chết bèn liều mình dẫn thân quân giết quan tạo phản, cướp quân nhu khí giới trốn ra biển gia nhập hải tặc. Nếu như Hoàng đế hạ chỉ giao Dương Lăng bắt người, y cũng không biết tướng lĩnh vệ sở phụ cận có phải cùng một giuộc với Tất Xuân hay không, cho nên để không rò rỉ tin tức, đương nhiên y không thể dùng người của bọn họ.

Nếu chỉ mang ba trăm thân quân của y tấn công vào đại doanh có gần ba ngàn người của Tất Xuân, vạn nhất Tất Xuân cả gan cương quyết chống lại thì chắc chắn y không đàn áp nổi mà e rằng còn bị cắn trả. Cho nên lúc trước khi nghe Mẫn Văn Kiến nói nơi đây có đội “hộ diêm binh” (quân bảo vệ việc vận chuyển muối; đồng thời kiểm tra, giám sát việc buôn lậu muối) khoảng chừng hơn ba trăm người, sức chiến đấu so với lính vệ sở bình thường còn cao hơn một chút, Dương Lăng liền lưu ý ngay.

Y phái Liễu Bưu nghe ngóng, biết được còn có một Thiên hộ sở đồn trú nơi này. Nói là Thiên hộ, thật ra cũng chỉ có hơn năm trăm người, quân số thiếu mất một nửa; nhưng lúc nguy cấp y vẫn có thể xin thánh chỉ giành quân đoạt soái của nó, để Mẫn Văn Kiến nắm đội quân này trong tay, phối hợp với y bắt Tất Xuân và Viên Hùng.

Lần này đến đây, Dương Lăng mượn cớ duyệt binh, yêu cầu Mẫn Văn Kiến và Chủng thiên hộ điều toàn bộ ba trăm hộ diêm binh và năm trăm quan binh vệ sở đến bên sông. Y dự định sau khi xem thủy triều xong sẽ cho bọn họ diễn tập, xem thử sức chiến đấu của bọn họ như thế nào.

Dương Lăng có trách nhiệm đốc sát văn võ bá quan, lại là thống lĩnh thân quân thị vệ của Hoàng đế, nên dẫu rằng chưa xin thánh chỉ thì việc khảo sát chiến lực quân đội với quy mô nhỏ như vậy cũng không bị xem là vượt quá phép tắc.

Mạc công công bó ống tay áo đứng một bên, có phần không hào hứng gì. Lần này Dương Lăng đột nhiên thay đổi lộ trình, ghé Hải Ninh thăm viếng bạn bè mà không hề thông báo cho hắn biết trước nên trong lòng hắn ít nhiều có phần không vui; cộng thêm thủy triều tháng mười thua xa thủy triều tháng tám rất nhiều nên hắn cũng không có hứng thú để xem, vì thế hắn lui về phía sau tránh gió chứ không đứng ở phía trước.

Mấy diêm thương lớn đều nằm dưới sự cai quản của hắn, dĩ nhiên phải cùng đứng cạnh hắn, không ngừng chào hỏi Mạc gia này nọ. Mạc Thanh Hà cũng chỉ tiếp chuyện qua loa.

Người địa phương không có hứng thú mấy với thủy triều sớm của tháng mười. Nhưng mà lần này gần ngàn quan binh đang đứng thẳng tắp bên bờ sông chờ đợi kiểm binh. Đây đúng là cảnh tượng hiếm có, cho nên không ít người dân lẫn phú hộ trong trấn cũng chạy đến bờ sông tụ tập xem náo nhiệt. Trong chốc lát, khí thế ấy thực giống như lúc xem thủy triều tháng tám.

Gió mạnh dần lên, Mẫn Văn Kiến phấn khởi tinh thần, nói:
- Đại nhân xem kìa, thủy triều đến rồi.

Dương Lăng nheo mắt nhìn ra xa, từ chân trời phương đông của dòng sông mênh mông mơ hồ vọng đến âm thanh dồn dập. Nơi cuối tầm mắt có một đường kẻ trắng, theo âm thanh rì rầm mỗi lúc một to, đường kẻ trắng hoá thành một dải lụa trắng vắt ngang sông, cuồn cuộn kéo tới gần. Những tiếng rầm rầm như sấm nổ vang lên liên miên không dứt.

Mẫn Văn Kiến căng họng át tiếng thủy triều trên sông, cả tiếng:
- Dương đại nhân, Trương thiên sư! “Bảo Tháp Nhất Tuyến Triều”(5) ở Diêm Quan này hùng tráng lắm đó. Tiếc rằng hôm nay thủy triều hơi nhỏ, không đủ hùng tráng.

Lão nói hôm nay thủy triều hơi nhỏ, nhưng chỉ trong chốc lát nước sông đã dâng cao mãnh liệt. Trong khoảnh khắc, dải lụa sóng lớn màu trắng biến thành một bức tường nước sừng sững cao hơn mấy mét. Tiếng thủy triều như hàng vạn con ngựa tung vó phi nhanh, như sấm bên tai. Trông thấy cảnh tượng đặc sắc chưa bao giờ thấy qua này, Dương Lăng và Trương thiên sư đều vui vẻ hào hứng, khen không ngớt miệng.

Đỉnh triều đập vào đê, tung bọt sóng lên cao ngất. Đầu sóng trắng xoá như tuyết, tựa như núi tuyết non băng, khiến cho lòng người rúng động. Lúc triều sông vỗ vào trước đê, một tiếng sét gầm vang, đầu con sóng triều bất ngờ dựng thẳng, trong nháy mắt bụi nước ngập trời, ngọn gió mang chúng ào đến mọi người, đem đến một luồng không khí ẩm ướt, dễ chịu sảng khoái. Trương Phù Bảo thích thú chen đứng đằng trước thế là hứng trọn bụi nước, không khỏi nhếch nhác lui về phía sau khiến Dương Lăng và Trương thiên sư lớn tiếng cười to.

Trương Phù Bảo hậm hực hừm một tiếng, lấy ống tay áo của anh mình lau mặt, song lòng hứng thú xem thủy triều lại không hề giảm. Một khi sóng trước rút về, nó sẽ trở thành vật cản đối với sóng sau; từng cơn sóng triều va vào nhau, sóng trước bị ngăn, sóng sau lại bung lên, sóng này cao hơn sóng kia. Tuy không có sóng cả mạnh nhất làm rung động lòng người, nhưng cũng là những đỉnh sóng thẳng đứng, hùng dũng tung trào.

Dương Lăng thấy mặc dù sóng không cao lắm, nhưng hôm nay gió lớn thổi xuôi, luôn bắn những bụi nước li ti tới, y bèn cố ý đứng chếch phía trước Cao Văn Tâm, che chắn hơi nước cho nàng. Cao Văn Tâm nhận thấy tâm ý của y, trong lòng không khỏi cảm thấy ngọt ngào.

Triều dâng tuy nhanh, nhưng rút đi cũng chóng. Mấy người ở vùng khác như Dương Lăng chưa từng thấy thủy triều sông Tiền Đường nên xem còn chưa đã mắt, thủy triều đã bắt đầu có dấu hiệu rút đi.

Lúc này Trương Phù Bảo mới quay đầu cười nói:
- Dương đại nhân! Nhớ lúc ở trấn Thượng Hải đại nhân từng nói Bạch Nương Tử hô phong hoán vũ, nước ngập Kim Sơn. Khi ấy tiểu nữ vẫn không tưởng tượng ra cảnh tượng đó phải hùng tráng như thế nào. Hôm nay được thấy thủy triều như thế này, mới xem như trong lòng tiểu nữ có chút hình dung.

Dương Lăng nghe xong cười lớn:
- Nào chỉ vậy, nào chỉ vậy! Sóng ấy có thể ngập cả chùa Kim Sơn, đỉnh sóng há chẳng phải còn cao hơn núi ư? Cô hãy tưởng tượng trên đầu ngọn sóng còn có rất nhiều binh tôm tướng cá, con thì cầm giáo, con thì cầm chùy, đứng trên đầu ngọn sóng...

Y vừa chỉ vào nước triều sông vừa cười nói. Đang nói hăng say, nụ cười trên khuôn mặt y bỗng dưng cứng lại. Y kinh ngạc chỉ tay về phía xa hỏi:
- Đó là gì vậy?

Nhìn theo hướng ngón tay y, mọi người cùng thấy phía cuối dòng thủy triều liên miên đang lờ mờ xuất hiện vài chấm đen. Trương Phù Bảo kinh ngạc cười nói:
- Lạ quá, lạ quá! Chẳng lẽ thật sự có binh tôm tướng cá đến sao?

Nhờ thủy triều và gió lớn, những chấm đen đó di chuyển rất nhanh, trong chốc lát đã thấy rõ điểm đen to nhất là một chiếc thuyền buồm. Có cảm giác chiếc thuyền nọ hơi vuông, trên thuyền căng cánh buồm đen rất to.

Mạc Thanh Hà trông thấy thất kinh, vừa sợ vừa giận kêu lên:
- Thật đáng giận! Cờ Bát Phan Đại Bồ Tát, đó là thuyền biển của bọn người Oa, mau hộ tống đại nhân rời khỏi đây!

Lúc này Mẫn Văn Kiến cũng đã nhìn rõ ký hiệu trên thuyền, cả kinh kêu to:
- Quả nhiên là giặc Oa đến. Bà mẹ bọn nó, lần này lại có nhiều giặc đến như vậy! Mau lên, bảo hộ khâm sai đại nhân và thiên sư rời khỏi nơi này!

Bọn họ đứng trên cao nên nhìn được xa, những người dân đứng trên bờ đê dưới lầu chỉ thấy có hơn hai mươi chiếc thuyền từ xa xa đi tới, họ chưa nhìn rõ ký hiệu trên thuyền nên vẫn không vội không hoảng mà vẫn đứng bên bờ sông.

Dương Lăng thấy vậy, nào chịu tự mình bỏ chạy. Huống chi hôm nay y vừa khéo đã điều cả quan binh ty Diêm vận lẫn vệ sở đến để duyệt binh, mọi người đều cầm sẵn vũ khí. Mặc dù trong ba trăm thân quân của mình có hai trăm người đã theo thuyền quan về Hàng Châu, nhưng tùy thân cũng còn một trăm quân tinh nhuệ, sức chiến đấu giờ đây gần sánh với ngàn người. Đối phương có hơn hai mươi chiếc thuyền, lớn có, nhỏ có, lớn có thể chứa ba trăm người, nhỏ thì cũng bốn năm chục, áng chừng nhân số tổng cộng cũng không quá nhiều, chưa hẳn đã không thể đánh một trận.

Dương Lăng lập tức quát lớn:
- Không được hoảng loạn! Tất cả dân chúng và diêm thương trong đình lui xuống. Mẫn đại nhân, Chủng thiên hộ, lập tức ước thúc toàn quân, lập trận chặn địch. Trịnh Bách hộ, lập tức sơ tán bá tánh trên bờ.

Vị Chủng thiên hộ này cả người mặc khôi giáp sáng choang, vốn hôm nay gã định biểu lộ tài năng trước mặt đại nhân, nào ngờ lại gặp phải chuyện này. Trước kia chỉ có ba đến năm trăm tên giặc Oa đến bờ sông cướp bóc đã xem như rất nhiều giặc rồi. Lần này xem ra lại có cả ngàn tên giặc cướp trở lên, khiến gã sợ đến xanh mặt nhưng lại không dám tỏ ra sợ hãi, gã lật đật dạ một tiếng rồi xuống đình chỉnh đốn và tập hợp đội ngũ.

Mẫn Văn Kiến là tên lính điên do Tổng binh Đại Đồng - lão Đỗ điên - một tay nặn ra, thấy đánh nhau là hưng phấn khôn thôi. Khi xưa lão dám đơn thương độc mã đánh vào trong quân doanh Thát Đát, chém chết thân vương gia của bọn họ, thì làm sao thèm để ý đến mấy tên lùn này.

Lão cười ha hả:
- Mụ nội nó! Đã nói phải diễn võ cho khâm sai đại nhân xem, giờ đã biến thành động đao động thương thật rồi. Mỗ lập tức xuống dưới. Dương đại nhân hãy xem oai phong của đại đao ta đây!

Vừa nói lão vừa chạy thình thịch xuống lầu. Mạc Thanh Hà mặt mày tái mét, miệng méo xệch:
- Diệt trừ giặc Oa không phải là trách nhiệm của đại nhân. Đại nhân nên mau lánh khỏi đây một chút đi. Nếu đại nhân có mệnh hệ gì, ti chức vạn lần không đảm đương nổi đâu.

Dương Lăng liếc sang Cao Văn Tâm, bảo:
- Văn Tâm! Cô hãy cùng Mạc phu nhân và Trương tiểu thư mau chạy về trấn trước. Nếu như thủ không được, chúng ta sẽ lập tức dùng khoái mã rời khỏi đây.

Cao Văn Tâm ưỡn ngực đáp:
- Lão gia ở đâu, tiểu tỳ ở đó. Tiểu tỳ không đi!

Dương Lăng giậm chân quát:
- Làm chuyện vô nghĩa, chỉ là ngu xuẩn thôi! Cô ở lại thì có tác dụng gì? Cô xông trận giết giặc được sao?

Cao Văn Tâm hiên ngang đáp:
- Đại nhân là nho sĩ, chẳng lẽ xông trận giết giặc được sao? Người lâm trận không lui là vì muốn trấn định lòng quân. Còn tiểu tỳ là nữ nhân, lâm trận không lui, là vì muốn cùng... cùng đại nhân đồng sanh cộng tử!

Dương Lăng nghe thế sững người, nhất thời không đáp lại được. Mặc dù mặt hoa tái nhợt nhưng Trương Phù Bảo nghe Cao Văn Tâm nói như vậy, lại thấy tuy anh mình mặt mày căng thẳng nhưng cũng không có ý định đào tẩu, thế là cô bèn nổi dũng khí:
- Đại nhân không đi, ta cũng không đi. Trấn này có rất nhiều tín đồ của Thiên Sư đạo ta. Đêm qua khi chúng ta đến trấn, bọn họ đã quỳ lễ cầu phước với Thiên sư, vô cùng tôn kính. Nếu như hôm nay chúng ta lùi bước thì còn mặt mũi gặp lại bọn họ sao?

Lúc này, theo tiếng hò hét kêu gọi của nha sai Nội xưởng, dân chúng bên bờ sông đã biết xảy ra chuyện gì nên bắt đầu dìu già dắt trẻ, kêu cha gọi mẹ, vừa la vừa khóc tranh nhau xuống đê, chạy thục mạng về trấn.

Chủng thiên hộ triệu tập binh sĩ của gã lại, tập hợp phía bên phải bờ đê. Mẫn Văn Kiến vẫn mặc trang phục quan văn (xem ra lão này thích mặc đồ quan văn đánh giặc), vác cây đại đao vốn là chiêu bài của lão, dẫn một đám diêm binh ăn mặc lộn xộn đứng mé trái phía trước đê.

Những chiếc thuyền của người Oa nương theo nước sông đi thẳng vào bờ. Bọn chúng vừa hò hét vừa nhảy xuống thuyền, tụm ba tụm năm thành từng nhóm lao lên bờ. Dương Lăng thấy trang phục của bọn giặc Oa này hết sức hỗn tạp, có tên mặc Oa phục, có tên mặc Hán phục, có tên mặc áo bào văn sĩ, nhưng lại nhét vạt áo trong thắt lưng. Thậm chí còn có mấy tên mặc cả đồ phụ nữ, đủ thấy cuộc sống lăn lộn trên biển của đám giặc Oa này cũng chẳng tốt đẹp gì.

Mặc dù áo quần không đồng bộ, vũ khí trong tay cũng đủ loại mẫu mã, nhưng những tên hải tặc tạp nham này ai nấy đều hung hãn dũng mãnh, hành động cũng nhanh nhẹn vô cùng.

Nha sai nội xưởng chỉ có trăm người, trong đó có hai mươi cung tiễn thủ, toàn bộ đều đang đứng dưới đình Quan Triều không dám rời khỏi. Dù sao toàn bộ những nhân vật quan trọng nhất đều đang ở trên lầu, nếu lỡ có sơ suất gì thì bọn họ đều sẽ rơi đầu. Bây giờ đang có quân đội của vệ sở ở đây, bọn họ vui lòng lui về vị trí hậu bị, chỉ bảo hộ đại nhân.

Không ngờ giặc Oa mới vừa xông lên bờ, quan binh vệ sở đã có người hét lên một tiếng, không xông lên mà lại quay đít bỏ chạy.

Đứng trên đình thấy thế, lỗ mũi Dương Lăng thiếu chút nữa xịt khói. Lúc này số giặc Oa vừa đổ bộ không đông, chỉ cần một trận loạn tiễn chăm sóc hoặc giả trực tiếp đưa quân tập kích phủ đầu, đều có thể chiếm được tiên cơ. Chút đạo lý hiển nhiên này cũng không hiểu, đây là thứ quan binh gì vậy?

Không nén được giận dữ, Dương Lăng đập tay mạnh xuống thành lan can, lạnh lùng quát xuống đình:
- Kẻ nào lâm trận bỏ chạy, giết không tha!

- Dạ! Kẻ nào lâm trận bỏ chạy, giết không tha!
Trịnh bách hộ vung tay, mấy tay nha sai lập tức giương cung lắp tên, bắn thẳng vào phía tên quan binh vệ sở tranh chạy trước tiên. Loại tên do những nha sai này dùng đều là Nhiếp Hồn Hưởng tiễn (tiếng tên khiếp hồn), là loại tên mà Dương Lăng kiếm được từ chổ Cẩm Y vệ lúc y huấn luyện thân quân. Khi tên được bắn ra sẽ phát nên tiếng rít sắc bén, có hiệu quả chấn nhiếp hồn vía người ta.

Mấy cung tiễn thủ này đều là thần tiễn thủ trăm người chọn một, tên bay người ngã, khiến đám quan binh vệ sở đang chạy theo tên nọ đều sững sờ khiếp sợ. Đến khi nghe nha sai Nội xưởng giống như hung thần ác sát quát tháo bọn họ:
- Kẻ nào lâm trận bỏ chạy, giết chết không luận tội!
Cả bọn đành phải sợ sệt quay trở về.

Lúc này Mẫn Văn Kiến đã dẫn diêm binh xông lên tiền tuyến. Diêm binh của lão không có cung tên, chỉ có thể giao chiến trực diện với giặc Oa. Giặc Oa lập thành nhóm hai ba tên phối hợp rất ăn ý: trong lúc vờn quanh, chúng thường xuyên thừa lúc đối phương không đề phòng cả bọn cùng đột nhiên ra tay tấn công mãnh liệt.

May mà những diêm binh này chuyên hộ tống diêm đội, trèo non lội suối, thường hay chiến đấu cùng giặc sông cướp núi nên cũng giỏi quần công. Mặc dù sát khí tàn bạo hơi kém đối phương, nhưng có Diêm vận sứ Mẫn đại nhân vung cây đại khảm đao nặng mấy chục cân xông lên phía trước như một con mãnh hổ nên nhuệ khí cũng dâng cao vô cùng, do đó bọn họ vẫn có thể chống đỡ ngang ngửa với giặc, không hề lùi bước.

Thấy những quan binh vệ sở mặc dù đã quay trở lại nhưng vẫn co cụm sợ sệt, không dám tiến lên phía trước, Dương Lăng giận sôi máu. Lúc này lại không phải là lúc chỉnh đốn quân đội, y chỉ đành hô gọi Trịnh bách hộ:
- Trịnh bách hộ! Dẫn người của ngươi xông lên cho ta, bảo Chủng thiên hộ bắn tên yểm trợ!

Trịnh bách hộ nghe thế vội thưa:
- Đại nhân! Chức trách của ti chức là bảo vệ đại nhân, trước mắt bên cạnh đại nhân chỉ có hơn trăm thân binh này, ti chức không dám rời xa!

Dương Lăng cả giận, gắt:
- Nếu ngươi không đi, ta sẽ tự đi!

Hết cách, Trịnh bách hộ đành hậm hực giậm chân, giữ hai mươi cung tiễn thủ ở lại bảo vệ đình Quan Triều, còn bản thân bạt đao dẫn tám mươi tay lính khoẻ xông lên trước.

Vị Chủng thiên hộ đang đứng đực ở đó, nay nghe Dương Lăng truyền lệnh bắn tên mới như từ trong mơ bừng tỉnh lại, ra lệnh cho quan binh lập tức bắn tên.

Bọn họ bày trận phía rìa cùng bờ bên phải. Chỗ đó gần bờ có mấy tảng đá to, nước sông lại khá thấp nên chiến thuyền của người Oa không cập bến ở chỗ bọn họ. Hơn nữa bọn họ không hề chủ động công kích nên đám giặc Oa xông lên bờ chỉ tấn công diêm binh của Mẫn Văn Kiến và thân quân của Dương Lăng, tạm thời còn chưa "chiếu cố" đến bọn lính này.

Vì vậy bọn quan binh vệ sở dư dả thời gian chuẩn bị cung tên. Chỉ thấy mấy ông lính này dù đang căng thẳng song vẫn ung dung giương cung, lắp tên, kéo dây, bắn tên. Một tiếng "tách" vang lên, tên bắn ra hàng loạt, một trận mưa tên ùn ùn kéo đến bắn vào đám giặc Oa đang ào ào nhảy khỏi thuyền.

Ở trong đình, Dương Lăng thấy vậy cười to. Trận mưa tên này thể nào cũng có thể bắn chết và bị thương khoảng trăm tên giặc Oa, có thể gọi là "Cập Thời Tiễn Vũ"(6) rồi.

Cơn mưa tên đó bắn khắp các thuyền, ít nhất có một nửa bắn trúng người giặc Oa. Nhưng khi tên nhọn vừa chạm vào người chúng thì lại trượt xuống quần áo, có mấy mũi bắn trúng nón rộng vành của người Oa, cắm đong đưa trên đó mà chẳng hề gây thương tổn gì tới người. Phóng mắt nhìn khắp trận tuyến, dường như trận mưa tên này không làm cho tên giặc Oa nào bị thương cả.

Dương Lăng và Trương thiên sư đứng trên đình trông thấy mà sững sờ. Bọn họ há hốc mồm kinh ngạc nhìn cảnh tượng kỳ lạ này. Mãi lâu sau hai người mới đưa mắt nhìn nhau, sau đó đồng loạt nhảy dựng lên như thể bị lửa đốt mông, la lớn:
- Sao lại như vậy được! Chẳng lẽ bọn người Oa đều đao thương bất nhập sao?




Chú thích:

(5) do thủy triều tại đoạn đê biển phía Đông Nam trấn Diêm Quan huyện Hải Ninh là điểm đẹp nhất, thủy triều giăng thành một đường kẻ đặc sắc, nên mới có tiếng khen là 'Hải Ninh Bảo Tháp Nhất Tuyến Triều'.
(6) Trong tác phẩm Thuỷ Hử, Tống Giang có biệt hiệu là Cập Thời Vũ (mưa thuận, hay mưa đúng lúc). Ở đây tác giả mượn chữ để mô tả trận mưa tên đúng lúc.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
29-08-2011, 08:55 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 130 - Đại Chiến Ven Sông Tiền Đường


Dịch: |YanYan*

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng chẳng thể nghe thêm được nữa, quay người bước vội về phía cửa. Y vừa bước đến cửa, Trương Phù Bảo từ trong phòng đã phẫn nộ hét lớn:
- Giết hết bọn chúng! Họ Dương kia! Nếu như ngươi còn định giữ mạng sống cho bọn chúng, ta… ta… ta ngày ngày sẽ vẽ bùa đọc chú trù yểm nhà ngươi!




CHƯƠNG 130: Đại Chiến Ven Sông Tiền Đường

Trận mưa tên của vệ quân không những hoàn toàn không hề có lực sát thương chút xíu nào mà ngược lại còn kích thích hung tính của giặc Oa[1] bộc phát. Hơn hai chục tên giặc Oa hò hét xông vào đám quan binh vệ sở[2]. Cầm đầu là một tên giặc Oa có thân hình khá thấp nhưng sức bật nhảy lại vô cùng kinh người, trên bãi sông cát lún mà gã vẫn nhảy nhót như bay.

Gã cầm trên tay một thanh Oa Đao[3] dài, đơn thương độc mã xông vào giữa đám quan binh kia, hống to một tiếng rồi bỗng nhảy bật lên, ánh đao như nước chảy bổ thẳng xuống. Đối mặt gã là một tên quan binh cầm thương, nhưng tên này không giơ thương lên để đâm, cũng không hoành thương để đỡ, mắt vừa thấy tên người Oa[4] đang xông đến này vô cùng hung hãn, hắn đã hét to một tiếng rồi vứt thương quay người tháo chạy.

Nhát đao của tên giặc Oa kia chém thẳng xuống từ vai đến lưng, bổ chéo tên binh sĩ muốn tháo chạy kia thành hai mảnh. Tiếp đó gã lại giống như một con ếch, vừa nhảy vừa tung người tả xung hữu đột giữa đội ngũ vệ quân, vung đao nhá trên phạt dưới, nhất thời chém giết làm trận tuyến của đám quan binh nhát gan kia rối loạn cả lên.

Lúc này đám giặc Oa cầm các loại vũ khí xếp thành một hàng dài rồng rắn từ phía sau cũng xông đến. Chủng Thiên tổng đứng ở phía sau vung đao quát lớn:
- Xông lên!

Thế nhưng khí thế đám quan binh đã bị đoạt mất. Bọn chúng hoàn toàn không còn ý chí chiến đấu, vừa thấy có người bị giết chết thì nhất tề hét to, đồng loạt quay người bỏ chạy về trấn, cuốn Chủng Thiên Tổng và mấy tên thân binh lùi về phía sau một khoảng.

Đám diêm binh ở phía kia chẳng qua chỉ ba trăm người, nhưng cũng chiến đấu ngang sức ngang tài với đám giặc Oa có cùng quân số. Còn năm trăm quân chính quy ở bên này chỉ phải đụng độ với hai mươi tên giặc nhưng chỉ vừa mới giao chiến với địch một hiệp, chỉ bị giết một tên lính thì cả bọn đã tháo chạy! Trong lòng Dương Lăng – người hoàn toàn không hiểu gì về quân đội Giang Nam - chỉ cảm thấy phẫn nộ, kinh ngạc đến cực điểm: “Sao có thể như vậy? Năm trăm người chiến đấu với hai mươi người thôi, dù đè cũng đè bọn chúng đến chết, mà chỉ giao phong một hiệp thì toàn quân đã tan tác tháo lui?”

Huyệt Thái Dương của Dương Lăng giật thình thịch, gân xanh trên trán cũng nổi lên, lúc này lòng hận thù với giặc Oa cũng không bằng sự phẫn nộ vì người của mình chẳng có chí khí. Dương Lăng quay người định xông xuống đình, Mạc Thanh Hà nhanh tay kéo y lại, vội vàng cản:
- Đại nhân! Quân tâm của vệ quân Giang Nam luôn rời rạc mà người Oa lại hung ác tàn bạo, cho nên mỗi khi gặp địch, thường thường vừa nhìn thấy địch thì họ đã sợ, không chiến đấu mà chỉ tháo chạy. Bây giờ vệ quân đã tháo lui, hoàn toàn không kịp chỉnh đốn đội ngũ, đại nhân tuyệt đối không được xông lên phía trước, nếu như ngài có mệnh hệ gì thì chúng tôi thật sự đi đời.

Dương Lăng nghe vậy thì đầu óc tỉnh táo trở lại, nhớ tới những lời mình giảng giải với chúng tướng khi mình dẫn quân luyện tập trong núi. Bây giờ bản thân mình đã làm chủ soái, thủ ở đây chỉ huy còn có tác dụng hơn hẳn việc làm một tên sĩ tốt xung phong đi đầu giết địch. Hơn nữa nếu như quả thật bản thân mình bị giết chết thì chí ít thân binh mà mình dắt đến cũng sẽ không còn tiếp tục tử thủ không lùi nữa.

Nghĩ đến đây Dương Lăng dừng bước lại, lao lên phía trước đình quát đám sai nha đang lắp tên vào cung sẵn sàng đợi địch ở phía dưới:
- Tất cả các ngươi lên đây cho ta!

Ở phía kia, hơn hai chục tên giặc Oa đang đuổi theo năm trăm tên vệ binh giống như thủy triều lên. Nhìn thân thủ của bọn chúng thì cũng chỉ có tên giặc Oa đánh tiên phong lúc nãy là võ nghệ cao cường, còn bọn ở phía sau đều bình thường, nhưng đám vệ quân sợ vỡ mật đều có ý nghĩ để người khác chịu chết còn mình thì tháo chạy. Rõ ràng là bọn lính chỉ cần lấy hết dũng khí quay lại chiến đấu thì đủ để lấy ưu thế số đông tiêu diệt đám giặc Oa này, nhưng bọn họ chỉ biết ôm đầu tháo chạy.

Làm cho Dương Lăng hơi ngạc nhiên là Chủng Thiên tổng thoạt nhìn có vẻ nho nhã kia lại không thoái lui. Gần hai chục tên thân quân do gã thống lĩnh bị quan binh quân mình xông vào làm rối loạn đội hình nên bất ngờ không kịp đề phòng bị bọn giặc Oa đuổi đến chém chết vài người. Nhưng tiếp đó gã lại vung đao dẫn quân xông lên.

Dương Lăng thấy vậy thần sắc không khỏi lộ ra vẻ vui mừng: Còn may, tuy rằng đám binh lính này không có chí khí, vị Chủng Thiên tổng kia cũng không biết chỉ huy tác chiến, nhưng ít ra còn biết tận trung làm tròn chức trách.

Do Dương Lăng được cử thẳng một lèo lên chức Tham tướng, hoàn toàn không phải từ cơ sở thăng tiến dần dần mà lên, nên y làm sao biết được vị Thiên tổng đáng thương này quyết chiến không lùi, nguyên nhân thực sự không phải là muốn làm tròn trách nhiệm gì, mà là bởi vì Dương Lăng – quan khâm sai - còn tọa trấn ở đây.

Quan binh của vệ sở vốn có trách nhiệm giữ đất, nếu như lâm trận tháo chạy thì còn có thể nói dối bên trên rằng thế địch quá mạnh, không thể không lùi. Nhưng hôm nay lại có một vị khâm sai đến đây, hơn nữa vị khâm sai này lại thủ ở phía trước không đi; nếu như Chủng thiên tổng bỏ quan khâm sai lại mà tháo chạy thì chắc chắn gã phải bị chém đầu cách chức.

Lùi cũng chết, không lùi cũng chết (trong lòng Chủng Thiên tổng vốn không cho rằng mình là đối thủ của đám giặc Oa hung tàn này), nhưng ít ra không lùi thì còn được tiếng tốt, người nhà cũng không bị liên lụy. Bởi vì vậy nên thần sắc Chủng thiên Tổng rất bi phẫn, gã vừa chửi thầm tám đời tổ tông của Dương Lăng trong bụng, vừa vung đao liều mạng với đám quỷ tử[6].

Còn nguyên nhân mà thân binh của gã cũng không lùi thì lại cũng giống như của gã. Theo luật pháp Đại Minh, nếu như tướng lĩnh chiến đấu hy sinh mà thân binh không việc gì thì tên thân binh đó cũng bị chặt đầu. Cho nên hai chục tên thân binh này cũng vừa chửi thầm tám đời tổ tông của Chủng thiên tổng vừa liều chết kháng cự.

Lúc nãy năm trăm quân bị hai chục tên giặc Oa lao vào đánh cho tan tác phải tháo chạy thục mạng, còn bây giờ hai chục chiến đấu với hai chục, trong lúc nóng lòng liều mạng, bọn họ lại có thể địch được với đám giặc Oa kia.

Dương Lăng thấy vậy trong lòng cũng hơi yên tâm, đợi hai chục tên sai nha lên trên đình, Dương Lăng chỉ về phia trước, hạ lệnh:
- Muốn bắt giặc, trước hết phải bắt tướng! Các người đừng có hoảng, nhìn thật kỹ cho ta, chọn đám người Oa cầm cờ, cầm quạt mà bắn cho ta.

Dương Lăng đứng ở trên cao, chỉ trong chốc lát y đã phát hiện đám giặc Oa lập thành từng nhóm ba hay năm người xông vào đội ngũ của đám Diêm binh chém giết, thoạt nhìn có vẻ hỗn loạn không ra chương pháp nhưng thực ra đằng trước luôn có một người cầm cờ có hình dáng kỳ quặc hoặc một người một tay cầm đao một tay cầm quạt. Chỉ cần bọn chúng vung cờ hoặc quạt lên, đám tiểu đội người Oa đều nhất tề hét lớn, thanh thế kinh người đồng thời múa tít vũ khí tấn công, đến lúc hơi mệt thì cùng chuyển sang đánh cầm chừng, vờn quanh thủ thế đợi hồi phục sức lực.

Đám sai nha nghe lệnh tiến lên phía trước đình, chuyên chọn những người có vẻ là thủ lĩnh của người Oa để hạ thủ. Ám tiễn của bọn chúng vừa chuẩn vừa độc, đám tiểu đầu lĩnh của giặc đang lớn tiếng hò hét vừa giết người vừa chỉ huy, thường thường không kịp đề phòng thì đã bị một mũi tên bắn trúng. Vốn tin pháp thuật, lúc nãy Trương Thiên Sư thấy cảnh đám người Oa bị trúng tên nhưng không hề bị thương tích gì thì kinh sợ vô kể. Bây giờ lại thấy đám người Oa cũng chỉ là người trần mắt thịt, cũng có thể bị giết chết như người thường, Thiên sư mới thở phào.

Lúc nãy Dương Lăng cũng giật mình sợ hãi, nhưng trong lòng y hoàn toàn không tin đám người Oa này biết thuật đao thương bất nhập gì. Nếu như bọn chúng thật sự biết loại công phu này thì hà tất còn phải mưu sinh trên biển nữa? Bọn chúng sớm đã có thể đánh thốc một mạch chiếm cả thiên hạ rồi.

Lúc này thấy đám thân quân của mình quả nhiên từng phát tên đoạt mạng bọn chúng, Dương Lăng càng tin vào phán đoán của mình. Chỉ là tại sao những phát tên của quan binh vệ sở lại không giết được bọn chúng thì y vẫn không thể hiểu được, thế nhưng lúc này cũng chưa có thể điều nghiên gì được.

Đầu lĩnh của đám giặc Oa này là một võ sĩ Nhật Bản sa sút tên Phì Tiền Thọ và một tên cướp biển Trung Quốc tên Trần Đông.

Đám giặc Oa này mỗi khi đến dịp xuân thu lại hóa thân thành hải tặc đến duyên hải cướp bóc, các mùa khác thì mua hàng từ những thương nhân phạm pháp Đại Minh vận chuyển về các vùng như Nhật Bản, Lã Tống[7]để kiếm chác những món lời lớn.

Gần một năm nay, chiến tranh tại đất Nhật Bản ngày càng kịch liệt, những lãnh chúa cần gấp một lượng hàng hóa và tiền bạc lớn để ổn định địa bàn của mình. Nhưng kể từ khi tướng quân Mặc Phủ Túc Lợi không còn xưng thần với Đại Minh, Đại Minh đã không còn khám hợp giao dịch[8] với Nhật Bản nữa. Các lãnh chúa, tướng quân bèn chỉ thị tay chân tham gia buôn lậu và làm hải tặc, cho nên bọn hải tặc thật sự đã bị giành mất mối làm ăn, khiến cho việc sinh nhai của bọn chúng ngày càng sa sút. Do vậy hai cánh hải tặc này bèn sát nhập với nhau để tăng cường lực lượng.

Kỹ thuật chế tạo thuyền chiến của bọn chúng vô cùng lạc hậu. Những chiếc thuyền đó đều dùng gỗ lớn đẽo thành hình vuông, khi đóng lại với nhau thì không dùng đinh sắt mà dùng các miếng sắt, không dùng các sợi đay và dầu trẩu để vá mà dùng rơm cỏ để chặn các khe hở, hoàn toàn không thể chống cự được thuyền lớn của quân Minh. Đặc biệt là chỉ cần thuyền Phúc[9] hay thuyền Quảng[10] tông nhẹ vào thì thuyền bè của bọn chúng sẽ vỡ tan như xác pháo. Không có ưu thế ở trên biển, bọn chúng chỉ biết lợi dụng đường duyên hải rộng lớn của Đại Minh để đi lại khắp nơi, lên bờ cướp giật.

Đây là chuyến ăn hàng lớn đầu tiên sau khi hai cánh đạo khấu này sát nhập. Vốn chúng nghĩ rằng lợi dụng thủy triều tấn công bất ngờ thì có thể cướp sạch Hải Ninh, không ngờ thuyền vừa mới cập bờ thì phát hiện quân Minh đã sẵn sàng chờ địch. Phì Tiền Hải và Trần Đông cũng thầm thất kinh, cho rằng âm mưu của mình đã bị lộ nên dừng thuyền chiến của hai người lại ở phía sau cùng, trước sau không dám dốc toàn bộ quân binh vào trận chiến để đề phòng bị trúng mai phục của quân Minh.

Hai người đứng trên đầu thuyền quan chiến, nhận thấy quân số của quân Minh trên bờ không nhiều, cách ăn mặc cũng không phải là quân đội chính quy, trong đám binh lính ăn mặc giống như Diêm binh còn có một người múa may một thanh đao lớn. Đại đao trên tay gã giống như cối xay gió, chỉ cần bị gã áp sát vào thì lập tức đao qua người chết, giống như hổ giữa bầy dê, tới đâu quét sạch giặc tới đó.

Phía trước Quan Triều Lầu có một nhóm quân binh áo xanh mũ nhỏ, toàn bộ dùng phác đao (đao thân dài hẹp bản, chuôi hơi dài, sử dụng bằng hai tay). Đám binh lính này tuy ít người nhưng ai ai cũng kiêu dũng thiện chiến, hơn nữa cả đội ngũ xếp thành một hình tam giác nhọn, giống như một mũi tên cắm thẳng về phía trước. Phương thức chia thành từng nhóm năm ba người quấy nhiễu, phá hoại đội hình địch mà bọn giặc Oa thường dùng hoàn toàn không còn tác dụng khi đối kháng với đội quân này. Thỉnh thoảng binh lính ở phía bên trong tam giác lại thò ra một khẩu hỏa khí nòng ngắn để giết địch, loại hỏa khí này không phải là thứ hỏa khí mà binh lính vệ sở duyên hải được trang bị.

Binh khí chủ yếu của giặc Oa là đao và cung, thỉnh thoảng cũng có vài hỏa khí tầm thường thô sơ. Nhưng đám hải tặc này tương đối nghèo khó. Trên biển ẩm ướt, bảo dưỡng cung tên không dễ, hơn nữa độ chính xác và lực sát thương của các mũi tên thô sơ cũng không cao, mà gỗ và đầu mũi tên của loại tên thượng hạng cũng tương đối đắt đỏ, cho nên bọn này cũng không được trang bị nhiều cung tên. Nhưng trường đao của bọn chúng lại vô cùng lợi hại. Trường đao Nhật Bản mà bọn giặc Oa sử dụng dài khoảng một mét bốn, gần như là dài gần bằng chiều cao của bọn người lùn. Chiều dài và trọng lượng của loại đao này gần như gấp đôi bội đao mà quân Minh thường dùng, hơn nữa còn có thể dùng hai tay để sử dụng. Đơn đao của quân Minh chỉ có thể dùng một tay sử dụng, nên sức mạnh, tốc độ và độ dài đều thua xa hẳn. Hơn nữa đao Nhật bản được chế tạo bằng kỹ thuật bọc thép của Đường đao[11], còn quân Minh thì do giá của đao bọc thép đắt đỏ, ngoại trừ sĩ quan ra thì đao được trang bị cho binh lính chỉ có phần lưỡi được bọc thép mà thôi. Khi thực lực của hai bên ngang bằng thì dù chưa đánh cũng có thể biết được ngay ai thắng ai thua.

Tuy nhiên, hôm nay bọn chúng không may gặp phải thân binh của Dương Lăng đều sử dụng phác đao chuôi dài, bọc thép toàn bộ. Phác đao dài một mét ba, hầu như không ngắn hơn đao của bọn chúng, hơn nữa người dùng đao đều là quân lính tinh nhuệ của kinh thành trải qua huấn luyện của cao thủ dùng đao từ Thiếu Lâm Tự và Cẩm Y vệ.

Đám sai nha này hoàn toàn không thèm để ý đến sự khiêu khích dụ dỗ của bọn giặc Oa, nhiệm vụ của bọn chúng là bảo vệ Dương Lăng cho nên tuyệt đối không thể phân khai. Trận hình do tám mươi người xếp thành giống như một mũi tên nhọn, tám mươi thanh đao lúc lên lúc xuống, đao trận di chuyển không ngừng, xông xáo dọc ngang giống như một chiếc máy xay thịt trên bãi cát trước Quan Triều đình, chỉ cần lại gần là bị loạn đao chém chết. Có tên giặc Oa cầm trường đao định lấy dài để chống ngắn, nhưng còn chưa kịp lại gần, một tên sai nha ở phía trong đội hình đã rút súng ngắn bắn cho hắn “nở hoa khắp mặt”. Đám sai nha này mỗi khi di chuyển một vòng thì phía trong lại biến thành phía ngoài, vòng ngoài lại biến thành vòng trong. Sai nha ở phía trong thu đao đổi súng, vừa hồi phục thể lực vừa nhồi đạn dược sử dụng hỏa khí. Chính vì vậy bọn giặc Oa vốn chỉ được trang bị rất ít cung tên lập tức bị biến thành giống như quân Minh vệ sở mà trước đây bọn chúng từng đồ sát, hoàn toàn ở hẳn vào thế chịu đòn. Cho dù bọn hải tặc vốn dũng mãnh không sợ chết nhưng cũng không khỏi nảy ý định thoái lui.

Lúc này hai chục tên Thần xạ thủ bên cạnh Dương Lăng cũng phát huy hết mức tác dụng của những tay bắn tỉa. Bọn chúng vững vàng đứng ở nóc đình chỉ chú ý quan sát những tên giống như thủ lĩnh của giặc Oa, ngắm thật kỹ rồi mới bắn một phát tên. Bị mất thủ lĩnh, không chỉ chiến pháp của bọn giặc Oa hỗn loạn mà sự trấn áp về mặt tâm lý còn hơn hẳn sự sợ hãi với cái chết. Không đợi đại thủ lĩnh hạ lệnh, bọn chúng đã dần dần bắt đầu dồn dập thoái lui.

Tính đa nghi của người Oa vốn nặng, không chỉ Phì Tiền Thọ nghi thần nghi quỷ, mà đến hải tặc sinh trưởng tại Trung Quốc như Trần Đông cũng thầm sinh nghi, không rõ đám quan binh này có lai lịch như thế nào?

Phì Tiền Thọ thấy sức sát thương của viên quan văn cầm đại đao trong đội ngũ Diêm binh thực sự kinh người, quân Minh lại có ám tiễn bắn ra không ngừng, liền vẫy tay kêu người mang một cây cung cứng đến. Gã lắp tên vào cung, ngắm chuẩn Mẫn Văn Kiến, cũng muốn dùng ám tiễn bắn chết tướng lĩnh quân Minh.

Nhóm xạ thủ đứng trên đình thấy trên bãi cát không còn thủ lĩnh giặc Oa để ngắm bắn nữa bèn dần dần chuyển dịch mục tiên lên trên thuyền. Một tên chưởng ban (đội trưởng đứng đầu đám sai nha) quan sát thấy bọn giặc vây quanh hai người trên một con thuyền lớn đậu phía sau cùng, trong đó có một người đang giương cung lắp tên ngắm vào đám quân Diêm binh. Lập tức tên chưởng ban gọi một tên tiểu đội trưởng (dịch trưởng) lại, đổi lấy Bách Biến cung trên tay hắn. Loại cung này không phải là vũ khí trang bị cho quân đội phổ thông mà là một loại lợi khí do Cẩm Y vệ nghiên cứu chế tạo được: loại cung này có thể tùy ý tăng giảm dây cung, điều chỉnh sức mạnh của cung. Đổi lấy Bách Biến cung xong, tên chưởng ban lập tức điều chỉnh cung thành cung tam thạch[12], lắp một mũi tên lông điêu. Sử dụng hết sức lực toàn thân để kéo cung, hắn nhắm chuẩn vào trước ngực của tên đầu lĩnh người Oa đang giương cung kia bắn đi.

Tam thạch cung này rất hao tốn sức lực. Tuy đứng ở trên đình không bị bất kỳ uy hiếp gì nhưng cả hai chục người đều đã trải qua một thời gian dài phải cẩn thận ngắm chuẩn các tên thủ lĩnh người Oa rồi mới bắn tên nên lúc này cả bọn đều đã mệt đến mức tứ chi bải hoải, cả người rã rời. Tên chưởng ban này tuy trời sinh thần lực nhưng mũi tên vừa được bắn ra, cung cũng đã buông rơi xuống đất, cánh tay cũng rã rời.

Thanh đao trong tay của Mẫn Văn Kiến nặng đến bốn mươi cân, khi vung lên thì sức mạnh không phải chỉ có một hai trăm cân nữa. Nếu như triển khai thế đao mượn lực dùng lực thì đở phải tốn nhiều sức, cho nên để không bị bó chân bó tay cũng như để tiện sử dụng đao, lão vừa xông vào đám giặc Oa thì lập tức kéo dãn cự ly với đám Diêm binh thủ hạ của mình, tha hồ vung đao di chuyển chém giết. Cả bộ quan phục sớm đã bị vấy đầy máu tươi.

Phì Tiền Thọ đứng ở đầu thuyền giương cung nhắm tên vào Mẫn Văn Kiến. Nhưng Mẫn Văn Kiến đang xông pha chém giết không ngừng, thỉnh thoảng lại có tên người Oa chạy qua chạy lại chắn trước mắt hắn, cho nên rốt cuộc mũi tên của hắn vẫn còn chưa bắn đi được thì mũi tên của tên chưởng ban đã bắn tới. Vốn được ngắm vào ngực trái của Phì Tiền Thọ, nhưng khi tên rời khỏi dây cung thì hơi bị chấn động nên mũi tên liền bị mất độ chính xác, cắm thẳng vào vai của hắn.

Phì Tiền Thọ đang cảm thấy bả vai không còn sức để giương cung nữa bỗng một luồng lực lớn đẩy lùi hắn lại vài bước, lưng tông thẳng vào cột buồm một tiếng “bùng”. Lúc này hắn mới cảm nhận được một cơn đau thấu tim gan, nhìn lại thì thấy một mũi tên sắc cắm vào vai phải xuyên qua phía sau vai, chỉ còn lại một đoạn lông điêu ở trước ngực.

Phì Tiền Thọ đau đớn la to “Ay da”, tưởng chừng như ngất đi luôn. Trần Đông thấy vậy cũng hãi hùng, hoảng sợ ngồi thụp xuống, vội quát lớn:
- Mau, mau rút quân! Quân Minh đã đề phòng sẵn, lập tức rút binh.

Bọn giặc Oa xung quanh cũng giật mình kinh hãi. Chúng không ngờ khoảng cách xa như vậy mà quân Minh lại có thể bắn tên trúng đích, hơn nữa lực bắn lại uy mãnh bá đạo, có thể xuyên qua cơ thể con người, chứ không còn hời hợt như đám mưa tên lúc ban đầu. Hai tên lâu la vội vàng giơ ốc biển, nằm mọp trên mạn thuyền thổi lên “Tu tu”.

Sớm đã có ý rút lui nên vừa nghe tiếng ốc biển vang lên, bọn giặc Oa trên bờ cảm thấy như được đại xá, lập tức quay người tháo chạy, hộc tốc trèo lên thuyền, hạ buồm, thả mái chèo xuống, vội vội vàng vàng khua chèo trốn chạy.

Hai chục tên giặc Oa đuổi theo bọn vệ quân bỏ chạy khi nãy đã chiến đấu hồi lâu với bọn người Chủng thiên tổng, chém giết đến sức cùng lực kiệt, bị thương lẫn chết chỉ còn lại bảy tám tên, còn Chủng thiên tổng dẫn theo ba tên thương binh vừa chiến vừa lùi. Đến lúc gió truyền tiếng ốc biển thu quân đến, bọn giặc Oa định quay người tháo chạy thì thấy chiến thuyền lớn bên sông đã đi đến giữa sông.

Bây giờ đã là lúc thủy triều xuống, nước đang rút nên thuyền đi khá nhanh, hơn nữa bọn giặc trên thuyền cũng đang dốc hết sức lực để chèo, cho dù bọn chúng có chạy đến bên sông thì cũng không thể đuổi kịp để lên thuyền. Lúc này từ trong trấn lại vang đến tiếng reo hò inh ỏi. Thì ra đám diêm thương lớn trong trấn biết rằng nếu như giặc Oa mà đánh được lên bờ thì những người bị tổn thất lớn nhất chính là bọn họ, nay lẵng lặng quan sát một hồi thì thấy quân Minh có thể chống đỡ được giặc Oa liền dẫn theo gia đinh, người hầu mang côn, gậy, cuốc, xẻng… chạy ra bờ sông trợ chiến.

Tên giặc Oa kiêu dũng nhất kia giết được năm, sáu tên thân quân, trên người cũng bị trúng hai đao. Tuy gã bị thương không nặng nhưng lại không được băng bó nên mất máu quá nhiều, đầu óc sớm đã choáng váng, lúc này vung đao lên giống như vờn múa, không còn thấy cái vẻ uy phong giống như sát tinh khi mới xông lên bờ. Gã bị bọn gia bộc của đám diêm thương vây quanh dùng đòn gánh, cuốc xẻng đồng loạt đánh ngã. Nếu như Dương Lăng không muốn giữ lại vài tên còn sống, cho người đến ngăn lại thì gã đã bị đập chết tươi.

Đầu tiên Dương Lăng dẫn người ra bãi cát xem xét. Ngoại trừ xác chết và thương binh khắp nơi, ở trên bờ còn có hơn bốn mươi tên người Oa bị thuyền giặc bỏ lại, bị tám mươi thanh đao thép kiềm chế, hoàn toàn không còn sức lực để kháng cự.

Dương Lăng nhặt một mũi tên mà quan binh vệ sở đã bắn lên quan sát. Nhận thấy mũi tên đó nhẹ tênh không đầy một lạng, y mới chợt hiểu tại sao những mũi tên này hoàn toàn không thể khiến giặc bị thương. Đám quan binh của vệ sở thường ngày chểnh mảng luyện tập, không kéo nổi cung, không bắn được tên nên để đánh lừa người khác, bọn chúng chỉ còn cách chế loại tên nhẹ tênh này. Tên thì bắn xa được rồi, nhưng lại quá nhẹ nên hoàn toàn không có lực, hơn nữa bên bờ sông lại có gió thổi mạnh, nói là bắn tên thì không bằng nói là thổi xuống, làm gì có sức sát thương cơ chứ?

Coi như đã biết được khả năng chiến đấu của vệ quân Giang Nam, Dương Lăng chỉ còn biết lắc đầu. Y căn dặn thuộc hạ quét dọn chiến trường rồi đích thân dẫn mấy tên thân binh vội vàng đi về phía Chủng Thiên tổng. Lúc này Chủng thiên tổng mũ giáp xô lệch đang đứng ỳ một chỗ giống như đang nằm mơ, bắp tay bị trường thương đâm trúng, cả cánh tay nhuốm máu hồng nhưng tựa như gã không hề có cảm giác gì.

Từ trước đến nay, quan binh ở duyên hải sợ giặc Oa như sợ cọp. Sự sợ hãi đó phát xuất từ tận tâm can, vừa thấy bọn chúng thì thật là hồn bay phách tán, hoàn toàn không còn dũng khí để chiến đấu. Hình ảnh hai trăm tên giặc Oa đuổi hai nghìn quan binh chạy loạn khắp rừng khắp núi giống như sói đuổi đàn dê cũng không phải là cảnh hiếm thấy gì. Hôm nay, nhân số tương đương nhau lại có thể chiến đấu ngang sức với bọn chúng lâu như vậy, còn đích thân giết chết bốn tên giặc Oa, xem ra bọn chúng cũng chẳng phải tài giỏi gì, dũng khí và tự tin của Chủng thiên tổng lập tức tăng cao vùn vụt. Cũng đến lúc này gã mới bực tức nghĩ đến năm trăm tên binh lính khiếp nhược chỉ biết ăn chứ chẳng biết đánh chác gì của mình.

Dương Lăng đi đến trước mặt mấy tên người Oa bị đánh đến rách đầu chảy máu, nhìn chòng chọc vào tên người Oa một đao chém chết binh lính Minh, một mình xông vào trong đội hình của quân Minh, hỏi:
- Có biết nói tiếng Hán không? Thủ lĩnh của các ngươi là ai?

Tên giặc Oa khắp mặt đầy máu kia chỉ hung hãn lườm Dương Lăng, đứng ngạo nghễ không trả lời. Một tên gia bộc của đám diêm thương thấy gã ương ngạnh bèn vung cuốc đập mạnh vào sau đầu gối gã, quát:
- Không nghe thấy lão gia hỏi gì sao?

Cuốc đập vào sau đầu gối khiến một gối của tên người Oa đó dập mạnh xuống đất, nhưng gã lại lập tức nhẩy bật lên, cái chân cong lại hơi run rẩy, hiển nhiên là bị thương không nhẹ nhưng vẫn gắng gượng không quỳ. Dương Lăng giơ tay ngăn cản người dân vẫn còn muốn đánh gã, hạ lệnh:
- Trói bọn chúng lại, trở về tìm một người biết tiếng Oa đến, ta có điều muốn hỏi bọn chúng.

Lúc này Mẫn Văn Kiến mồ hôi nhã nhễ nhại vác thanh đại đao đã bị cong lưỡi chạy lại, hào hứng cười lớn:
- Sảng khoái, sảng khoái! Tháng năm vừa rồi, ta thống lĩnh ba trăm Diêm binh đánh lùi hai trăm tên giặc Oa đã cảm thấy mình uy phong lẫm liệt lắm rồi, không ngờ ngài vừa mới đến thì ta đã dùng ít thắng nhiều, ha ha ha… quả nhiên là phúc tướng của ta.

Lão nói đến đây bỗng chợt nhớ hiện giờ chức tước của Dương Lăng cao hơn mình rất nhiều nên không khỏi nhếch miệng cười miễn cưỡng. Dương Lăng quay về phía lão chắp tay vái, thán phục:
- Nếu như nói về xông trận giết địch, tôi thế nào cũng không thể bì được với uy phong của Mẫn đại nhân. Bảo đao của đại nhân hôm nay quả thật là đại khai sát giới rồi. Bọn giặc còn lại bên bờ sông đã được bắt giữ rồi, phải không?

Mẫn Văn Kiến trừng đôi mắt tròn như đỗ xanh, ngạc nhiên hỏi:
- Bắt giữ làm gì? Ta đã sai người giết hết bọn họ rồi, những ai vẫn còn chưa chết hẳn thì chém thêm một đao, nếu không phải sợ làm thối nước sông thì đã ném toàn bộ chúng xuống sông cho cá ăn. Trói mấy tên này làm gì? Mau chóng giải quyết luôn cho xong chuyện.

Nghe vậy, Dương Lăng sững sờ chẳng biết nói gì. Lúc nãy khi y đi đến đây, đám giặc Oa không kịp lên thuyền rút lui vẫn còn khoảng bốn mươi người, cộng thêm đám người bị thương ngã xuống đất chưa chết thì cũng không dưới một trăm người. Dương Lăng vốn định sai người bắt giữ toàn bộ, không ngờ Mẫn Văn Kiến tự thị sai người giết sạch. Dương Lăng đến từ hậu thế nên y cảm thấy ngược đãi tù binh là không nhân đạo, cho nên nghe vậy không khỏi lộ ra vẻ bất nhẫn, không hài lòng.

Trong đám diêm thương dẫn gia đinh, kẻ hầu chạy lại trợ giúp có một người trung niên tên Mai Xuân An. Đám diêm thương này ngoại trừ một số ít được kế thừa gia sản từ tay cha ông, phần lớn đều là dân khốn khó dần dần làm giầu từ buôn bán muối lậu, trở thành thương nhân đại lý cho triều đình bán muối, cho nên phần lớn đều khỏe mạnh, biết võ nghệ. Tuy Mai Xuân An có cái tên nho nhã nhưng lại có thân hình dũng mãnh uy vũ, nét mặt hung tợn.

Gã thấy Dương Lăng có ý không hài lòng, liền giả lả cười:
- Đại nhân nhân hậu, nhưng đám người Oa này tham lam thành bản tính, không biết hối cải. Thảo dân có nghe trưởng bối kể lại, trước đây khi bắt được giặc Oa đầu hàng, chúng ta cũng thả chúng đi, kết quả là bọn chúng trở về vẫn kéo đến chà đạp người dân của chúng ta rồi đánh cướp tài vật chở về nước, còn dẫn thêm càng nhiều người Oa đến gây tội ác. Cho nên bây giờ, bắt được người Oa đều phải giết chết. So với quân đội ôn hòa văn minh, quân đội dũng mãnh hung tàn càng khiến cho người ta phải kính sợ hơn.

Dương Lăng nhớ đến người Mỹ thả bom hạt nhân đồ sát hai thành phố Nhật Bản khiến cho người Nhật Bản sợ đến tận bây giờ; còn người Trung Quốc rộng lượng, thả phạm nhân chiến tranh của bọn họ về nước, đến bây giờ dù tóc bạc đã đầy đầu, phần lớn những người đó vẫn cổ vũ chủ nghĩa quân quốc, kích động hận thù, làm tổn hại người Trung Quốc. Y không khỏi cười khổ.

Mạc Thanh Hà chưa bao giờ thấy quân Minh anh dũng như vậy, lúc này cũng không khỏi nhìn nhận sức chiến đấu của thân quân của Dương Lăng với con mắt hoàn toàn khác hẳn. Hắn mỉm cười nói với Dương Lăng:
- Lần này Dương đại nhân đích thân chỉ huy, quân ta giành được thắng lợi hoàn toàn, tiêu diệt hơn bốn trăm tên tặc khấu. Ít ngày nữa tấu trình về Kinh Sư, tên tuổi của đại nhân sẽ vang dội khắp nơi, thật đáng vui mừng. Hạ chức xin chúc mừng đại nhân trước.

Mẫn Văn Kiến nghe vậy cũng rất phấn khởi. Lần này đích thân Dương Lăng tọa trấn, y là khâm sai, công lao này chẳng còn ai có thể giật mất. Thế nhưng lão hiểu rất rõ phẩm hạnh của Dương Lăng, biết rằng Dương Lăng quyết không tham công, anh hùng chống Oa lần này cũng sẽ có phần của mình. Lão không khỏi khấp khởi vui mừng:
- Đúng vậy! So với quân lính chính quy của chúng ta, vệ quân ở duyên hải kém rất xa, trước giờ chỉ biết bại trận chứ chưa hề biết thắng trận. Lần này đại nhân vừa đến thì nghịch chuyển càn khôn, công lao thật to lớn. Ái à, Chủng đại nhân! Không phải ta nói ngài đâu! Coi ngài thường ngày nho nhã, quan văn như ta trông giống võ tướng, còn võ tướng như ngài lại giống quan văn, nói một câu thật tâm, trong lòng lão Mẫn ta vẫn coi thường ngài. Thế nhưng hôm nay xem ngài thật là một tay hảo hán, lão Mẫn ta bội phục vô cùng!

Chủng thiên tổng nghe Mẫn Văn Kiến nói đến đỏ mặt, ngượng ngùng đáp:
- Mẫn đại nhân quá khen rồi. Mạt tướng… hổ thẹn quá. Binh lính dưới tay toàn là một đám vô dụng, vừa thấy giặc Oa đã hoảng sợ, thật là hổ thẹn.

Dương Lăng thấy nửa người hắn còn nhuốm đầy máu tươi nên cũng không nỡ khiển trách, đành phải an ủi:
- Bổn tướng khi còn ở phương bắc từng gặp một viên mãnh tướng họ Giang, đối mặt với đám thát tử còn lợi hại hơn bọn giặc Oa này mà y cũng có thể lấy một địch mười. Y từng nói lần đầu tiên ra chiến trường y cũng sợ đến hồn bay phách tán, phải nhờ vị thập trưởng[13] cứu y ra khỏi vòng vây. Qua lần chiến đấu này ngươi cũng nhìn thấy đấy, đám giặc Oa này cũng chả có gì lợi hại, chỉ cần không nhát gan sợ chiến thì bọn chúng cũng chả chiếm được ưu thế gì. Chỉ là… đám quân lính của ngươi … thật sự cần phải luyện tập cho tốt.

Chủng thiên tổng ngượng đến đỏ cả mặt, vâng vâng dạ dạ đáp:
- Vâng vâng vâng! Mạt tướng xin thọ giáo, mạt tướng xin tuân lệnh.

Mẫn Văn Kiến lưu lại một số quân binh quét dọn chiến trường; đám diêm thương cũng tự tổ chức dìu đám binh lính bị thương vào trấn trị thương. Sau khi thống kê, đám diêm binh kiêu dũng thiện chiến và hơi du côn kia do vũ khí không bằng người nên tử thương quá nửa, hoàn toàn không thương tổn gì chỉ còn lại một trăm bốn mươi người.

Về phía giặc Oa, ngoại trừ phải bỏ lại bốn mươi người và hơn trăm tên thương binh, còn có hai trăm sáu mươi người chết ngay tại chỗ, trong đó sáu phần là chết dưới đao, súng và cung tên của sai nha. Nhưng tám mươi tên kiện tốt xung phong đi đầu cũng tử thương gần ba mươi người làm cho Dương Lăng cảm thấy vô cùng hối hận. Nếu biết có chuyện như vậy, y đem toàn bộ ba trăm thân quân đến thì chiến công há chỉ có chừng đó.

Dương Lăng quay lại dinh thự lâm thời do thị trấn sắp sẵn, tìm được một người hiểu tiếng Oa. Y đang chuẩn bị đi đến căn phòng nhỏ phía tây – nơi nhốt bọn tù binh người Oa - để tìm hiểu tình hình của hải tặc thì mấy vị trưởng giả trong trấn được người dìu tìm đến. Vừa thấy Dương Lăng thì các vị lập tức dập đầu cảm tạ, cảm ơn khâm sai đại nhân đã tấn kích mạnh mẽ bọn giặc Oa, trừ hại cho nhân dân trong trấn; tiếp đó liền khóc sướt mướt yêu cầu khâm sai đại nhân làm chủ cho dân, xử tử hết tất cả giặc Oa.

Dương Lăng thấy mấy vị trưởng giả này đều đã bảy tám chục tuổi mà còn dập đầu vái lạy y, nên liền vội vàng đỡ bọn họ dậy. Nhưng muốn y đích thân ra lệnh giết chết tù binh, quả thực y không thể thốt ra lời được nên chỉ biết khó xử đưa mắt nhìn Trương Thiên sư. Những người già này đều tin phật tin đạo, nếu như Trương thiên sư ra mặt khuyên giải một hồi, có lẽ có thể khuyên được bọn họ ra về.

Trương thiên sư hội ý, tiến lên trước cúi đầu chào mấy vị lão nhân, nói:
- Các vị lão nhân gia, trời có đức hiếu sinh. Bây giờ những tên giặc Oa này đã thúc thủ chịu trói, nếu như nhất loạt xử tử bọn chúng thì không tránh khỏi tổn thương hòa khí của trời đất. Bọn chúng làm nhiều điều ác, Dương đại nhân sẽ không tha cho bọn họ. Để bọn chúng chịu tội trong lao ngục, có gì mà không được chứ?

Tuy Trương Thiên sư còn ít tuổi, nhưng quả nhiên mấy vị lão nhân gia này đều vô cùng tôn kính chàng, không dám thất lễ. Một ông lão khóc kể:
- Thiên sư! Đám giặc Oa này không còn nhân tính, cho dù có xử lăng trì cũng không thể chuộc được tội của bọn chúng, bọn chúng giết người phóng hỏa, đào mồ quật mả, việc xấu xa gì cũng làm. Năm trước giặc Oa đổ bộ, chính là ở Lão Diêm Thương[14], chúng đã ném một đứa bé mới tám tháng tuổi lên giường, dùng nước nóng để tưới, nghe tiếng nó khóc để mua vui, Thiên sư ơi…

Nghe vậy, một luồng khí lạnh từ chân bốc lên đỉnh đầu Dương Lăng. Vì sinh sống hay vì cầu tài mà giết người thì y còn miễn cưỡng chấp nhận; cường đạo mà, bạn còn mong bọn chúng phát lòng từ tâm sao? Nhưng hành vi mất hết nhân tính này, hoàn toàn là để thỏa mãn một loại dục vọng biến thái không còn nhân tính. Tưới nước sôi lên người một đứa trẻ vô tội chỉ để nghe tiếng nó khóc làm vui hay sao?

Da đầu Dương Lăng như muốn nổ tung, Cao Văn Tâm và Trương Phù Bảo nghe vậy đã tràn nước mắt. Ngay cả Trương thiên sư luôn miệng thiên đạo, nhân tâm cũng dựng đứng đôi chân mày, sát khí bừng bừng trong mắt, không còn chút nào hình dáng của một người tu đạo.

Một lão nhân khác lại kể:
- Không chỉ có thế! Buổi trưa bọn chúng ăn cơm ở một hộ gia đình, khi đi giết toàn bộ gia đình người ta, lấy máu ngâm rượu, nói là rất bổ cho cơ thể. Gia đình đó có một phụ nữ có thai, bọn chúng đánh cuộc là trai hay gái rồi mổ bụng lấy thai nhi để kiểm tra. Còn có một phú hộ ở đó, bị bọn chúng bắt cóc đòi tiền chuộc, tiền bạc trong nhà gom không đủ số lượng thì chúng cưa người thành từng mảnh trả về.

Sắc mặt của Dương Lăng tái xanh, run giọng:
- Không cần nói nữa, không cần nói nữa!

Ông lão trước lại kể lể tiếp:
- Đại nhân! Chúng ta coi bọn chúng là con người, nhưng bọn chúng không coi chúng ta là con người. Bọn chúng cướp của cải thì thôi, chứ giết người phóng hỏa như vậy, ngài nói xem không phải súc sinh thì là gì? Bọn chúng còn thích nhất là bắt sống đàn bà và trẻ em đẹp đẽ, ép buộc bọn họ làm những việc xấu xa, đến như lão già ta cũng không thể kể ra được à!

Dương Lăng chẳng thể nghe thêm được nữa, quay người bước vội về phía cửa. Y vừa bước đến cửa, Trương Phù Bảo từ trong phòng đã phẫn nộ hét lớn:
- Giết hết bọn chúng! Họ Dương kia! Nếu như ngươi còn định giữ mạng sống cho bọn chúng, ta… ta… ta ngày ngày sẽ vẽ bùa đọc chú trù yểm nhà ngươi!

Dương Lăng dậm mạnh chân, không hề quay đầu lại mà bước nhanh ra khỏi đại sảnh.

Trong một căn phòng nhỏ phía tây, mấy tên giặc Oa bị trói vào cột nhà, Dương Lăng sắc mặt âm trầm bước vào. Trịnh bách hộ và mấy tên sai nha thấy vậy vội đứng lên thi lễ:
- Đại nhân!

Dương Lăng gật gật đầu:
- Ừ, hôm nay nhờ có các ngươi. Ngươi nhớ thu nhặt cho kỹ thi thể của các tướng sĩ vì nước quên thân. Khi trở về kinh, bổn quan nhất định trợ cấp trọng hậu, các huynh đệ tham chiến hôm nay cũng nhất loạt được trọng thưởng.

Y nói xong quay đầu lại, ánh mắt quét qua người mấy tên giặc Oa kia, cuối cùng nhìn vào một gã đàn ông mặc một bộ quần áo phụ nữ người Hán, ánh mắt của hắn chạm vào mắt Dương Lăng thì run rẩy né tránh một hồi. Dương Lăng liền đến trước mặt hắn, hỏi:
- Thủ lĩnh của các ngươi là ai? Có bao nhiêu người? Thường ngày hoạt động ở đâu?

Người hiểu tiếng Oa do Dương Lăng gọi đến vội dịch sang tiếng Oa, tên đó nghe xong vẫn không nói một lời. Dương Lăng cười nhẹ, hỏi tiếp:
- Ngươi cho rằng bọn ta không biết dùng thủ đoạn lợi hại gì để đối phó ngươi phải không? Tưới nước nóng ư?
Ánh mắt lạnh lẽo của Dương Lăng đảo trên người hắn một lúc, nói tiếp:
- Nếu như lấy nước sôi tưới lên người ngươi, rồi dùng bản chải sắt sát muối chà qua xát lại, ngươi sẽ cảm thấy thế nào? Hay là lấy miếng sắt nung nóng chọc vào chân ngươi…

Những thứ mà Dương Lăng vừa nói đều là thủ đoạn đối phó phạm nhân của Cẩm Y vệ. Người đứng bên cạnh còn chưa kịp dịch thì trên trán của tên mặc quần áo phụ nữ đã nhễ nhại mồ hôi lạnh, bỗng nhiên khàn giọng hỏi:
- Nếu như ta khai báo, đại nhân có tha chết cho ta không?

Dương Lăng sững người rồi tiếp đó nổi giận đùng đùng, lạnh giọng quát hỏi:
- Ngươi là người Hán?

Nghe Dương Lăng quát lớn, tên đó giật mình run rẩy một hồi, nhưng vẫn ngoan cố đáp:
- Đó là do tôi không còn cách gì để sống nên mới đi theo con đường này. Mấy người bọn chúng đều là người Oa thực sự, sẽ không chịu khai đâu. Nếu đại nhân đồng ý tha cho tôi, tôi mới chịu khai.

Ánh mắt của Dương Lăng đập vào chiếc áo phụ nữ mầu xanh nhạt trên người hắn. Y vân vê vạt áo của chiếc áo đó một hồi rồi hỏi:
- Bộ y phục này do ngươi ăn cướp? Chủ nhân của nó… cô nương kia thế nào rồi?

Sắc mặt của tên này biến đổi hẳn. Chiếc áo này là lúc lên bờ cướp bóc ở Phúc Kiến vào năm trước hắn đã lột từ trên người một thiếu phụ, người con gái đó… người con gái đó… Nhớ đến hình dạng khủng khiếp vào phút cuối của nàng thiếu phụ có dung mạo tương đối đẹp đẽ đó, hắn bất giác run sợ rùng mình.

Thấy hắn ấp úng định nói dối, Dương Lăng phải quay người đi, cố dẹp bỏ ý tưởng muốn bóp cổ hắn vừa thoáng qua trong đầu. Một lúc sau y mới gằn từng chữ từng chữ:
- Ngươi khai thật, ta sẽ để ngươi chết một cách thoải mái! Đây là điều kiện duy nhất! Ngươi không còn sự lựa chọn thứ hai!

Tên đó đờ người ra, nghiền ngẫm lại một lần lời nói của Dương Lăng, lúc này mới ngộ được ý nghĩa trong lời nói của Dương Lăng, ánh mắt bất giác lộ vẻ sợ hãi. Dương Lăng lành lạnh nói tiếp:
- Ngươi quyết định chưa? Ta không nhất thiết phải biết tình hình của các ngươi, nếu như ngươi không khai, ta sẽ không cho ngươi cơ hội thứ hai nữa đâu!

Mắt thấy Dương Lăng từng bước tường bước đi ra khỏi cửa, rốt cuộc tên hải tặc đã từng dùng nhiều cách kỳ lạ cổ quái để hành hạ người khác làm vui không nén được kêu lớn:
- Đại nhân dừng bước, tôi khai, tôi khai hết! Chỉ xin đại nhân cho tôi được toàn thây.

Tên đó đem những tình hình hắn biết lần lượt khai rõ ra hết. Thực ra thì tin tức hắn cung cấp cũng không có giá trị to lớn gì, đám giặc Oa này lẩn trốn khắp nơi, không có nơi ở cố định. Hiện giờ thủy sư nhà Minh cũng không đủ thực lực để ra biển vây bắt, nên muốn đối phó với bọn chúng, chủ yếu vẫn phải đợi bọn chúng vào đất liền cướp bóc để nghiêm trị, hơn nữa còn có thể dự đoán được: “Bọn chúng nhất định sẽ đến.”

Thế nhưng làm cho Dương Lăng ngạc nhiên là từ miệng người này y còn biết được nhiều điều liên quan đến nội tình của Nhật Bản. Mạc Phủ ngày càng suy yếu, đã không thể khống chế các lãnh chúa ở các nơi; hơn nữa các lãnh chúa, võ sĩ, thủ lĩnh ở các nơi cũng vô cùng mong muốn được giao dịch với Đại Minh để khuếch trương thực lực của bản thân.

Có một số thế lực có con đường bí mật riêng để buôn lậu từ Đại Minh cho nên cũng phản đối giặc Oa hoành hành gây ảnh hưởng xấu đến việc làm ăn của bọn họ. Hơn nữa những tập đoàn buôn lậu do chính phủ tổ chức này không những giao dịch ngầm với thương nhân duyên hải Đại Minh, mà còn cùng với Lã Tống, Nam Dương tìm được một tuyến giao dịch đường biển. Những thông tin này hiện giờ vẫn còn chưa dùng đến nhưng chưa chắc sau này sẽ không dùng đến, Dương Lăng đều thầm ghi nhớ cả trong lòng.

Càng làm cho Dương Lăng ngạc nhiên là tiền tệ thông dụng của Nhật Bản lại là tiền đồng của Đại Minh. Nhật Bản đã từng thử tự chế tạo tiền tệ, nhưng tiền đồng do bọn họ chế tạo lại có chất lượng rất kém, dùng không bao lâu thì đã bị mài mòn, nứt gãy, trở thành một đám bột đồng. Cho nên chỉ có thể lấy tiền tệ của Đại Minh làm tiền tệ thông dụng của nước Nhật Bản.

Sau khi gia tộc Túc Lợi không còn xưng thần với Đại Minh thì hai nước đã đoạn tuyệt giao dịch. Nhật Bản cần gấp một lượng lớn tiền đồng, nhưng không có cách gì để đạt được, mà một quốc gia không có tiền tệ thì tình hình thật là tệ hại không thể tưởng tưởng nổi, cho nên chính phủ chỉ có thể buôn lậu, thậm chí là làm hải tặc.

Dương Lăng nghe vậy sửng sốt một hồi. Y không ngờ tiền tệ khi ấy của Trung Quốc lại có thể hoàn toàn thay thế thay thế tiền tệ của một quốc gia khác. Sự hận thù và căm ghét đối với bọn giặc Oa hoàn toàn không còn nhân tính kia không làm Dương Lăng mất đi lý trí; y không cho rằng chỉ có chém giết mới là thủ đoạn duy nhất để giải quyết triệt để đám gieo họa trên biển.

Dương Lăng nghĩ thầm: “Giặc Oa trên biển nhất định cần phải đánh, nhất định phải nghĩ ra cách tiêu diệt bọn chúng. Nhưng không nhổ bỏ tận gốc mầm mống tai họa này thì tiêu diệt hết đám này sẽ lại tiếp tục xuất hiện một đám khác. Cần phải ổn định lâu dài, nhất định cần phải tiến hành cả khơi thông lẫn ngăn ngừa.”

Vốn Dương Lăng không nắm chắc sau khi về kinh sẽ thỉnh cầu được Hoàng thượng cho thông thương với Nhật Bản, bởi vì y không tự tin đủ sức kiềm chế sự cản trở từ trong triều đình, đặc biệt là ba vị đại thần trong Nội các. Y lờ mờ nhớ rằng trong lịch sử, khi Lưu Cẩn nắm quyền thì quyền lực của lão khuynh đảo triều đình. Nếu như triều đình do lão làm chủ, thì tên bất tài vô học chỉ biết thu gom tiền bạc này nhất định sẽ không cản trở giao thương hai nước, thế nhưng Dương Lăng không thể nhớ chính xác khi đó là lúc nào, y cũng không còn thời gian để đợi nữa. Nhưng bây giờ y lại có chút chắc chắn, nếu như dùng thủ đoạn kinh tế như thông thương để tiếp nối thủ đoạn chính trị, đám quan văn kia còn phản đối sao? Thông thương có thể làm cho hai nước hợp lực đả kích hải tặc, khống chế bọn chúng từ kinh tế. Hơn nữa để nỗ lực duy trì địa vị lãnh chúa, tướng quân bọn chúng sẽ không nảy sinh dã tâm nhòm ngó trung nguyên. Nếu như tiền tệ của bọn họ đều xuất phát từ tay của chúng ta thì một khi thật sự nảy sinh tranh chấp, chỉ cần ngầm chế tạo một lượng lớn tiền tệ đưa vào đất nước bọn chúng thì còn sợ chính phủ đối địch kia không sụp đổ sao?

Còn về tương lai sau này, bọn chúng có khả năng chế tạo tiền tệ của mình hay không, thậm chí kinh tế có phát triển mạnh hơn nữa hay không thì cũng không còn nằm trong những suy tính của Dương Lăng. Người ta không thể chỉ dựa vào lão tổ tông để hưng thịnh nhiều đời, bậc tiền bối xây dựng nên nền móng tốt cho ngươi, những việc còn lại tự nhiên hậu bối phải quan tâm.

Kinh sư như thế nào rồi, đã rời kinh được một tháng, mọi việc trong triều đều bình thường chứ? Đợi người được phái đi Kinh sư quay về thì sẽ biết. Dương Lăng cảm thấy hiện giờ mình có quá nhiều việc cần phải chạy đua với thời gian, hận rằng không thể lập tức kết thúc mọi việc lúc này, mau chóng về kinh thành, thế nhưng… có thể sao? Không thể xử lý mọi việc ở đây thì không thể hàng phục được Cẩm Y vệ của Đông Xưởng, không hàng phục được Cẩm Y vệ của Đông Xưởng thì làm gì có thực lực để kháng cự lại với ngoại triều, nhanh chóng thực thi chính sách?

Dương Lăng dừng bước, thở dài một tiếng, đưa chân bước ra khỏi cổng. Bỗng y dừng lại ra lệnh:
- Cho tên này chết một cách thoải mái, những người khác thì giao cho người dân trong trấn xử lý!








Chú thích:

[1]giặc Oa: (tức giặc lùn)chỉ hải tặc Nhật Bản quấy nhiễu cướp bóc duyên hải TQ thế kỷ 14-16.
[2]Vệ sở: Quân đội triều Minh thực thi biên chế “Chế độ Vệ Sở”, tổ chức quân đội có hai cấp Vệ, Sở. Một Phủ thì thiết lập Sở, nhiều Phủ thì thiết lập Vệ. Vệ thiết lập chỉ huy sứ, thống lĩnh binh sĩ năm nghìn sáu trăm người. Dưới Vệ có Thiên hộ sở (một nghìn sĩ binh), dưới Thiên hộ sở thiết lập Bách hộ sở (một trăm binh sĩ ).
[3]Oa Đao: Chỉ một loại đao Nhật bản được sử dụng từ cuối nhà Minh đến nhà Thanh. Loại đao này có ưu thế bổ, chém, công thủ đều được, có thể sử dụng bằng hai tay.
[4]người Oa: chỉ người Nhật Bản.
[5] nha sai(phiên tử) : phụ trách truy bắt tội nhân.
[6]Quỷ tử: cũng chỉ người Nhật Bản.
[7]Lã Tống: Chỉ đảo Lữ Tống thuộc quần đảo Philippin. Thời Tống Nguyên, các thương thuyền thường đến đây buôn bán. Thời Minh gọi đảo này là Lã Tống.
[8]Khám hợp tức giấy phép; thời Minh, nhằm chỉ việc nước ngoài đến TQ tiến hành triều cống, giao dịch. Sau khi sơ Minh thực hiện “hải cấm”, chỉ cho phép nước ngoài và triều đình tiến hành triều cống giao dịch theo quy định về địa điểm và thời gian. Thương thuyền của nước ngoài chở cống phẩm và thổ sản của mình đến TQ, sau khi triều đình nhà Minh thu nhận cống phẩm, thu mua thổ sản, họ dùng hình thức “Quốc gia ban tặng” để ban trả các vật phẩm TQ mà các lái thương nước ngoài cần. Thời hạn cống của các nước từ 3 đến 5 năm. Đối với Nhật Bản thì quy định 10 năm. Các thuyền cống nhất định phải có khám hợp do triều đình nhà Minh cấp phát.
[9]Thuyền Phúc: Một loại thuyền biển nổi tiếng trong “tứ đại cổ thuyền” của TQ xưa. Thuyền có đặc điểm: phía đầu nhọn, phần đuôi rộng, hai đầu vểnh lên. Hai bên mạn thuyền hướng ra ngoài, hai bên đều có ván bảo vệ. Đặc biệt đầu thuyền cao, kiên cố, có thể xung kích, thích hợp làm thuyền chiến.
[10]Thuyền Quảng: Một loại thuyền biển nổi tiếng trong “tứ đại cổ thuyền” của TQ xưa. Sản xuất ở Quảng Đông. Đặc điểm cơ bản: thuyền dài, đầu thuyền nhọn, trên rộng dưới hẹp.
[11]Một loại đao thời Đường. Là một trong hai loại đao nổi tiếng thế giới khi ấy cùng với Đao Damascus của Ả rập.
[12]Đơn vị trọng lượng, một thạch bằng 60 kg. Chỉ lực kéo cung, càng nhiều thạch thì càng cần nhiều sức lực.
[13] Thập trưởng: Một loại quân hàm thời cổ. Năm người có lập một ngũ trưởng, hai mươi người lập một thập trưởng, trăm người lập một bách phu trưởng, năm trăm người lập tiểu đô thống, một nghìn người lập đại đô thống, ba nghìn người lập chánh, thiên tướng, năm nghìn người lập chánh, thiên nha tướng, một vạn người lập chính, phó tướng quân.
[14]Lão Diêm Thương: Tên gọi của một vùng đất thuộc Hải Ninh.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
01-09-2011, 06:49 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 131 - TÊN ĐÃ LÊN DÂY


Dịch: |YanYan*

Biên dịch: lht

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Cao Văn Tâm nghĩ đến đây, cắn răng lẳng lặng rút một mũi kim châm từ trong búi tóc ra cầm trên tay. Dương Lăng đang cúi đầu thoa nhẹ cổ chân cho nàng, gáy ở ngay trước mắt nàng, chỉ cần nhè nhẹ châm một cái thần không hay quỷ không biết thì con người vô tình này đêm nay có thể trở thành lang quân của mình.



CHƯƠNG 131: TÊN ĐÃ LÊN DÂY

Dương Lăng ở lại Hải Ninh năm ngày, mỗi ngày đều đích thân cùng Cao Văn Tâm bôi thuốc trị thương cho đám diêm binh và thân quân của mình, hơn nữa phái đám người Trịnh Bách hộ giúp đỡ Chủng Thiên tổng huấn luyện vệ quân.

Đao của vệ quân không bằng đao của giặc Oa mà tạm thời lại không có cách nào để giải quyết vấn đề này, Trịnh Bách hộ đành dốc hết tinh thần và sức lực để vệ quân tăng cường trang bị cho lực lượng cung thủ và lính đánh thương, cho dù huấn luyện nhất thời không thể thấy hiệu quả nhưng dù sao cũng đã dạy bọn họ phương pháp rồi, chỉ cần kiên trì luyện tập thì lâu ngày tự nhiên có thể thấy được hiệu quả.

Việc đám vệ quân này không chịu nổi một đòn thì nguyên nhân quan trọng nhất là lòng quân rời rạc, bây giờ Chủng Thiên tổng dựa vào việc dùng hai mươi người chiến đấu không thua đám giặc Oa có số lượng tương đương thì lòng tự tin trong chốc lát tăng lên nhiều, sau khi tiếp thu kinh nghiệm xương máu đã chỉnh đốn quân đội vô cùng nghiêm ngặt. Các biện pháp như thưởng phạt phân minh xem ra không đáng chú ý nhưng lại đang dần dần từng bước thay đổi đạo quân này.

Mấy ngày này, đám quan viên của Tam ty[1] và Tri phủ của hai vùng Tô Hàng cùng với danh sĩ thân hào nườm nượp kéo đến Hải Ninh để an ủi quan binh khiến vệ quân bỗng chốc tiếng thơm vang dội. Đây là trận đánh giặc Oa đặc sắc nhất hoành tráng nhất của các tỉnh khu vực duyên hải Giang Chiết Mân Lỗ[2], năm trăm quân binh chiến đấu với số giặc Oa đông gấp đôi mà làm cho giặc Oa để lại bốn trăm thi thể, kết quả chiến đấu này làm cho vệ, sở khắp nơi phải nhìn với con mắt khác mà dân chúng và đám phú thương chịu đủ nỗi khổ bị hải tặc quấy rối cũng được mở mày mở mặt.

Đám diêm binh kia đã được sự khao thưởng của Bố Chánh sứ, Chỉ Huy Sứ ty, đám con buôn đến thăm viếng này đều có gia tài bạc tỉ, ra tay cũng hào phóng, luôn miệng gọi tráng sĩ, động cái là rút túi tặng vạn lượng bạc ròng mà Dương Lăng không lấy một đồng, Mẫn Văn Kiến cũng không phải là tham quan ăn chặn cho nên mỗi một quan binh đều gom góp được một phần tài sản không nhỏ.

Tính lưu manh của đám diêm binh này rất nặng, bình thường trộm gà bắt chó cũng bị nhân dân bản địa chửi bới không ít nhưng lúc này lại thành anh hùng trong mắt của dân chúng, đi đến chỗ nào chỉ cần nói là quan binh của ty Diêm Vận thì dân chúng đều hết lòng kính nể, cho dù đến cửa hàng ăn bữa cơm thôi chủ quán cũng không chịu lấy tiền. Tình cảnh này lọt vào mắt đám quan binh vệ quân làm họ thật là vừa xấu hổ vừa thẹn. Chịu sự kích thích sâu đậm đó, bọn họ chỉ hận không thể làm đám giặc Oatháo chạy kia quay lại một lần nữa, để có cơ hội làm cho dân chúng biết bọn họ cũng là đàn ông, cũng không phải là đồ sợ chết.

Bố Chánh sứ đã sai người đem tin chiến thắng báo về kinh thành, Dương Lăng cũng bí mật viết một bản tấu chương, đem tình hình duyên hải hiện tại kể lại tỉ mỉ một lần rồi nhanh chóng chuyển về kinh thành. Y không lập tức bẩm báo với Chính Đức về dự định kia của mình bởi vì vị tiểu hoàng đế này thường làm việc mà không nghĩ đến hậu quả, nếu như tiểu hoàng đế thấy kiến nghị của Dương Lăng rồi lập tức vội vã thi hành rồi vạn nhất bị bách quan trong ngoài triều ngăn cản thì sau này Dương Lăng đề ra sẽ mất đi hiệu quả bất ngờ.

Cho đến tận ngày thứ năm, Dương Lăng chuẩn bị hai mươi cỗ xe lớn, dự định mang theo thương binh trở về Hàng Châu, Ngô Tế Uyên lúc này cũng phái Liêu Quản sự đến để động viên quan binh. Hắn đã đem cái lợi-hại, được-mất của việc giao dịch đối với nước ngoài ghi lại kỹ càng, cùng đưa tới còn có cả Thập Mỹ Đồ của Đường Bá Hổ. Dương Lăng đón Liêu Quản sự vào phòng khách rồi vui vẻ mở bức Thập Mỹ Đồ đã nghe danh từ lâu này ra thưởng thức.

Chín bức tranh khác trong Thập Mỹ Đồ đều là do vị đại tài tử họ Đường này nhìn trộm dung mạo các mỹ nữ Tô châu rồi vẽ nên. Thẩm mỹ của vị Đường Nguyên giáp này quả nhiên không tầm thường, chín người đẹp này muôn vẻ rạng ngời, tươi đẹp như hoa tựa nguyệt, ai ai cũng kiều diễm đến rung động lòng người.

Bức tranh thứ mười vẽ Cao Văn Tâm quả nhiên đã được sửa, trong bức tranh là một mĩ nhân nhỏ nhắn đứng dưới gốc liễu, lau sậy chập chờn quanh đó, khói sóng mênh mông ngoài xa, bên cạnh gốc liễu phía sau người hiện ra một cánh tay ôm lấy bờ eo nhỏ nhắn của nàng, mĩ nhân quay đầu lại nhìn, vẻ kinh ngạc trên khuôn mặt còn chưa tan biến thì sự vui mừng đã trào dâng, biểu cảm e thẹn dễ thương được khắc họa sinh động như thật.

Nhìn dáng vẻ như giận như vui, nửa kháng cự nửa nghênh đón thì rõ ràng nhân vật chỉ lộ ra một cánh tay trên bức tranh là tình lang mà nàng đã mến mộ từ lâu. Có thể khắc họa nhân vật sinh động như vậythì kỹ năng vẽ tranh của Đường Bá Hổ quả thật xuất thần nhập hóa, Dương Lăng thích đến không muốn rời tay liền lấy hai sợi tơ buộc lại để làm kí hiệu.

Ngoại trừ Thập Mĩ Đồ, tất nhiên còn bao gồm bức "Nguyệt Dạ Hậu Đình Hoa" mà lão Đường tặng miễn phí, tuy đây là một bức Xuân Cung đồ (tranh khiêu dâm) nhưng lại được vẽ bởi Đường Bá Hổ, Dương Lăng sao nỡ lòng thiêu hủy nên chỉ vội vội vàng vàng nhìn thoáng qua rồi cũng buộc lại, đặt vào trong đống tranh kia.

Liêu Quản sự cười tủm tỉm nói:
- Khâm sai đại nhân, lão gia nhà tôi nói đại nhân chống Oa giành toàn thắng ở đây, giúp nhân dân Giang Nam trút được nỗi oán giận, thực là đáng vui mừng, cho nên sai tiểu nhân mang lợn, bò và tiền bạc tặng cho thân quân của đại nhân và diêm binh chống Oa, xin đại nhân kiểm tra và thu nhận.

Dương Lăng vội vàng xua tay nói:
- Liêu Quản sự, Ngô tiên sinh tặng những lễ vật này cho bản quan đã quá hậu hĩ, nếu lại làm cho Ngô tiên sinh tốn kém thì bản quan thực là thấp thỏm không thể yên lòng, những thứ kia có lẽ xin Liêu Quản sự mang về cho, ý tốt lần này của Ngô tiên sinh bản quan xin ghi nhớ trong lòng.

Liêu Quản sự không đồng ý, nói:
- Đại nhân, lão gia nhà tôi nhà to nghiệp lớn, có vô số sản nghiệp ở hai vùng Tô, Hàng. Oa nhân lộng hành khiến Ngô gia mỗi năm đều phải chịu ít nhiều tổn thất, hiện giờ đại nhân đả kích mạnh mẽ giặc Oalàm lão gia nhà tôi cũng được lợi không ít, các chiến sĩ ở tiền phương dùng sinh mạng đánh đổi thì biếu tặng một chút tiền tài cũng là phải, đại nhân không cần khách khí. Hơn nữa, các thân hào danh sĩ có tiếng ở hai vùng Tô, Hàng đều có bày tỏ rồi, huống chi mấy đời lão gia nhà tôi sinh sống ở Giang Nam nếu không bày tỏ gì với tướng sĩ há chẳng phải là bị dân chúng mắng chửi là làm giàu bất nhân, keo kiệt vô lương tâm sao? Tiểu nhân chịu sự sai khiến của lão gia, nếu như đại nhân không nhận thì tiểu nhân cũng chẳng có cách gì trình bày với lão gia, xin đại nhân hãy thành toàn cho tiểu nhân.

Dương Lăng bất đắc dĩ đành phải cùng y ra ngoài tiếp nhận lễ vật và bức hoành mà Ngô gia biếu tặng. Mới ra khỏi đại sảnh vừa hay thấy Cao Văn Tâm mới sắc thuốc và băng bó cho tướng sĩ bị thương trở về, Dương Lăng vội dừng bước, nói:
- Văn Tâm, Liêu Quản sự mới mang đến cho ta vài bức tranh, nàng hãy thu dọn chúng vào hòm, hôm nay sẽ khởi hành quay về Hàng Châu. Mấy bức tranh đó là tác phẩm lớn của Giang Nam tài tử Đường Dần, nàng đừng có làm hỏng chúng.

Cao Văn Tâm “dạ” một tiếng rồi trở vào đại sảnh thấy hơn mười cuốn họa quyển (tranh cuốn) xếp trên mặt bàn, nàng nghĩ tới trong mười bức Thập Mỹ Đồ kia có một bức tranh vẽ bản thân, cũng không biết cái người tự xưng là Giang Nam đệ nhất tài tử kia vẽ nàng thành hình dáng thế nào nữa liền vội vàng mở từng bức ra xem. Các cô nương trong Thập Mỹ Đồ đều là những người đẹp vạn người mới có một, mỗi người một vẻ, đoan trang dịu dàng, xinh đẹp hết mực.

Cao Văn Tâm nảy ra ý so sánh, thấy dung mạo bất phàm của các mỹ nữ kia khiến nàng càng thêm hồi hộp khi mở thêm một bức tranh nữa, thì ra là bức Xuân Cung Đồ mà nàng hiểu nhầm là cợt nhả nàng hôm đó, Cao Văn Tâm không kìm nổi đỏ mặt tía tai "xì" một tiếng, vội vội vàng vàng quăng nó vào trong đống tranh.

Khi nàng tìm thấy bức tranh vẽ mình, thấy dáng vẻ trong tranh dường như căn cứ vào tình cảnh Dương Lăng và nàng sau gốc liễu mà vẽ thành, nhất thời khuôn mặt thanh tú nổi hai áng mây hồng. Bức tranh này ngoài vẻ diễm lệ tuyệt luân còn làm cho người ta hồi tưởng liên miên, khắc họa kĩ càng hết mức thần thái thướt tha rung động lòng người của nàng. Nếu như luận dung mạo thì chín mỹ nữ kia chưa chắc kém hơn nàng, thế nhưng trong bức tranh có thêm cánh tay cùng với thần thái cúi đầu dịu dàng của nàng liền khiến cho bức tranh này vượt lên chín bức kia.

Cao Văn Tâm thấy vậy trong lòng vui mừng, cũng không khỏi nảy sinh một chút thiện cảm với tên thư sinh bất lương vẽ bức Xuân Cung Đồ kia, nàng mỉm cười rồi cẩn thận buộc lại bức tranh, quay sang chỗ khác lại nhìn thấy bức Xuân Cung Đồ vội vàng nhét vào đống tranh khi nãy kia vẫn còn chưa buộc lại liền đem hai sợi dây còn lại trên bàn buộc vào.

Nàng nghĩ tới lão gia của mình bình thường đàng hoàng chững chạc thì ra cũng thích những thứ như thế, trong lòng không khỏi vừa bực vừa buồn cười. Đáng thương cho vị đại tài tử họ Đường chỉ vẽ Xuân Cung Đồ mà chịu một cái tát oan uổng còn vị Dương lão gia này cất giữ bức tranh đó lại nhận được nụ cười thẹn thùng, nhưng ai bảo y là người trong lòng của mĩ nhân yêu kiều này nên đối xử mới một trời một vực như thế.

Cao Văn Tâm cầm bức Xuân Cung Đồ trong tay nghĩ tới vẻ hoan lạc vô biên mà khi nãy thoáng thấy trong bức tranh, liên tưởng nếu như mình có một ngày cùng lão gia… cõi lòng nàng run rẩy một hồi, tựa như bức tranh đó chính là vẽ bản thân và Dương Lăng liền không khỏi giống như bị bỏng tay mà vội vàng quăng bức tranh đó ra. Tình cảm ấp ủ của người con gái như thơ như mộng. Những cô gái mười tám, mười chín thời này phần lớn đã trở thành vợ, thành mẹ người từ lâu. Nữ thần y giống như trái đào đã chín mọng này làm sao không ngẫm mình xót phận, lòng xuân dập dềnh chứ.

***

Dương Lăng vừa mới quay lại Hàng Châu, Liễu Bưu đã vội vội vàng vàng tới gặp y. Khi chuyện chống Oa ở Hải Ninh đã truyền đến tai hắn liền làm cho hắn sợ đến hồn bay phách lạc, hai tên Bách hộ dẫn binh theo quan thuyền lớn quay về Hàng Châu bị y chửi rửa một trận thậm tệ. Nếu không phải khi tin tức truyền đến tình hình chiến đấu đã có kết quả, Đô Chỉ Huy sứ ty cũng đã nhanh chóng tăng cường phái quan binh của hai Vệ khống chế gắt gao cửa biển Hải Ninh để đề phòng bất trắc xẩy ra lần nữa thì hắn thật muốn vứt bỏ để tất cả lập tức đi Hải Ninh.

Bây giờ Dương Lăng đã quay trở về, việc cần hắn xử lý cũng đã có manh mối nên hắn vội vã từ Long Sơn quay về, gặp Dương Lăng rồi lại quan sát tỉ mỉ một hồi, thấy đại nhân quả nhiên không việc gì hắn lúc này mới yên tâm. Ở cùng với nhau lâu như vậy, con đường làm quan của Dương Lăng lên lên xuống xuống hắn đều ở bên cạnh, bây giờ không chỉ bởi vì tiền đồ của cá nhân đều buộc chặt trên người Dương Lăng mà hắn cũng thật sự rất có cảm tình với vị thượng quan này.

Dương Lăng qua chuyến đi Tô Châu, Hải Ninh này càng muốn kết thúc công việc ở Giang Nam sớm để mau chóng quay về kinh thành cho nên vừa mới thấy Liễu Bưu thì lập tức hỏi:
- Liễu Bưu, việc ta cần ngươi làm như thế nào rồi?.

Liễu Bưu nói:
- Đại nhân, Chỉ Huy Thiêm Sự Vệ Long Sơn Đinh Lâm đã lấy được chứng cứ quan trọng, thế nhưng tên tiểu tử này dường như khi ấy lại có ý hối hận, chần chừ không chịu giao ra, hạ quan nói với hắn rằng chứng cứ của hắn chẳng qua cũng chỉ thêu hoa trên gấm, chỉ cần binh lính của Vệ Long Sơn không đủ một nửa định mức, Tất Xuân tham ô bao năm nay số lương lộc thừa ra cũng đủ để chúng ta trừng trị hắn, tên tiểu tử này mới giao chứng cứ ra.

Nói rồi hắn lôi một bọc vải từ trong lòng ra, đưa cho Dương Lăng, nói:
- Đại nhân, đây là chứng cứ phạm pháp của Tất Xuân và Viên Hùng mà Đinh Lâm ghi lại, tất cả thời gian, địa điểm, những người có liên quan đều ghi rõ trong hồ sơ. Ngoài ra mật chỉ của kinh thành cũng đã đến tối qua.

Dương Lăng vừa nghe nói kinh thành có mật chỉ không kìm nổi bỗng dưng đứng bật dậy, hỏi vội:
- Ở đâu, mau đưa cho ta xem.

Liễu Bưu lật tay áo, cởi mảnh vải được bí mật buộc trên cánh tay, lấy ra một mảnh lụa vàng mềm mại, Dương Lăng vội vàng nhận lấy, mở ra để xem, không kiềm được mỉm cười, nói:
- Hoàng thượng trước nay luôn chuộng võ, ta đã đoán được rằng khi Hoàng thượng nghe nói Vệ, Sở bất tài hủ bại như vậy nhất định sẽ nổi giận đùng đùng, ha ha, Hoàng thượng muốn ta tùy cơ ứng biến, phụng chỉ trong thời gian thay vua đi tuần tra xét được toàn quyền xử lý mọi việc phạm pháp ở Giang Nam, có đạo thánh chỉ này thì chúng ta có thể danh chính ngôn thuận bắt người.

Dương Lăng vui mừng thu thánh chỉ lại, suy nghĩ một hồi, hỏi:
- Động tĩnh của Viên Hùng và Tất Xuân thế nào? Có phát giác ra hành động của chúng ta không?

Liễu Bưu cười nhẹ, nói:
- Chuyến đi Tô Châu này của đại nhân náo động ầm ĩ, cho dù bọn chúng có chút ngờ vực, lúc này cũng đã xóa bỏ dè chừng. Vậy đó, nếu nói về việc thu thuế má thì hắn xếp cuối trong ba tên Trấn Thủ Thái Giám, đại nhân đi kiểm tra Hàng Châu trước rồi lại đi Tô Châu đã thể hiện rằng đại nhân coi trọng nguồn gốc thuế má của lương thực, trà, hàng dệt hơn. Thế nhưng từ sau khi đại nhân đến đây thì Viên Hùng có phần giảm bớt bóc lột, hiện nay đã bãi bỏ bớt bốn phần trạm thu thuế, gần đây cũng luôn thu mình an phận thủ thường tại Vệ Long Sơn.

Dương Lăng cười lạnh một tiếng, nói:
- Đợi ta vừa mới rời khỏi, số bạc thiệt thòi trong những ngày an phận thủ thường này lại vơ vét gấp bội từ dân chúng về, hừ! Nhưng cũng không thể không quan tâm đến hắn, xa lánh hắn quá thì không khỏi làm hắn ngờ vực, nói cho hắn biết, năm ngày sau bản quan sẽ đến tuần thị Vệ Long Sơn.

Liễu Bưu hội ý, cười nói:
- Vâng, đại nhân cho hắn uống viên Định tâm hoàn này thì đảm bảo hắn sẽ yên tâm đợi đại nhân. Thế nhưng… khi nào thì chúng ta động thủ?.

Ánh mắt của Dương Lăng chăm chú, nói:
- Bắt đầu từ ngày mai, bổn quan muốn mở tiệc ba ngày đáp lễ quan viên, thân sĩ của Hàng châu để tặng cho y thêm một viên Định tâm hoàn nữa. Ngươi ngay trong đêm đi đến Hải Ninh, kế hoạch vạch ra trước đây thay đổi một chút, không cần phải tước đi binh quyền của Chủng Thiên tổng nữa, qua mấy ngày tiếp xúc bản quan cảm thấy người này còn có thể dùng được, chỉ cần giám thị chặt chẽ một chút là được. Sau ba ngày nữa, triệu tập vệ quân và diêm binh khởi hành lúc mặt trời lặn, ngay trong đêm đến Vệ Long Sơn, đến canh bốn bản quan muốn bọn họ xuất hiện ở đại doanh của Vệ Long Sơn!.

Liễu Bưu phấn chấn nói:
- Vâng, ty chức tuân mệnh, nếu như đại nhân không còn việc gì khác, ty chức xin được cáo lui.

Dương Lăng nghĩ một lát, bỗng nhiên hỏi:
- Đúng rồi, ta sai ngươi về kinh thành nhân tiện dò xét chút hành tung Nội đình và Ngoại đình, thế Ty Lễ Giám và Nội Các có động tĩnh gì khác thường không?

Liễu Bưu vỗ trán một cái, nói:
- Ty chức chỉ biết vui mừng suýt nữa quên mất việc này, ha ha, đại nhân yên tâm được rồi, đám quan viên trong triều hiện nay chẳng thể để ý đến đại nhân nữa, Đại Đương Đầu nói, hiện giờ Hoàng thượng đã bỏ buổi chầu trưa, chầu sớm cũng thường đến muộn khiến ba vị Đại học sĩ Nội Các vì việc này mà dẫn đầu văn võ bá quan can gián suốt ngày, thường xuyên nảy sinh tranh chấp với Hoàng thượng. Hoàng thượng sau khi kết hôn, đối với hoàng hậu và hai vị quý phi nương nương thập phần lạnh nhạt, thường xuyên lén lút chuồn đến Báo Phòng (phòng nuôi báo) chơi đùa, Hoàng thượng kêu bọn người Cốc Đại Dụng thu gom mười con báo nuôi ở đấy, phái ba trăm võ sĩ phụ trách nuôi dưỡng huấn luyện, các chi phí nuôi dưỡng khác không tính, riêng thịt nuôi báo mỗi ngày đã chi dùng sáu mươi cân, bởi vì chuyện này, Ngự Sử đài và Hàn Lâm viện mỗi ngày đều liên tục dâng tấu, triều đình cũng đau hết cả đầu vì việc Hoàng thượng xao lãng triều chính, chơi đùa lãng phí.

Dương Lăng lấy làm kinh hãi, nghi hoặc hỏi:
- Ta mới rời kinh thành chưa đầy một tháng, tại sao lại xảy ra nhiều việc như vậy? Hoàng thượng tuy rằng ham chơi nhưng nếu không có người xúi giục dụ dỗ thì cũng không thể hoang đường lệch lạc đến như vậy, Thế nhưng… Nội đình còn có đám người Vương Nhạc, Phạm Đình, bọn Lưu Cẩn và Cốc Đại Dụng cũng thuộc sự cai quản Ty Lễ Giám, sao dám làm xằng như vậy?

Liễu Bưu nhủ thầm: "Có một người bạn Xưởng Đốc của Nội Xưởng đang lên như mặt trời giữa trưa như ngài, bọn họ có gì mà không dám làm chứ?", thế nhưng hắn không dám nói ra lời nói này.

Dương Lăng cau mày nghĩ ngợi một lát, luôn cảm thấy trong một thời gian ngắn như vậy bọn người Lưu Cẩn dám to gan như vậy có chút không bình thường. Dương Lăng biết có đám người Vương Nhạc đè trên đầu, bọn Lưu Cẩn không có dã tâm thăng quan tiến chức nhanh, bình thường bọn chúng dỗ Hoàng thương chơi đùa chẳng qua cũng chỉ làm cho Hoàng thượng vui vẻ để kiếm chác chút lợi ích mà thôi, bây giờ bọn chúng làm như vậy chắc chắn sẽ dẫn tới sự căm ghét của các ngoại thần, bọn chúng không có to gan như vậy hay ít ra bây giờ là tuyệt đối không có, việc này nhất định có mờ ám.

Dương Lăng nghĩ đến đây, quả quyết nói với Liễu Bưu:
- Thông qua mạng lưới thông tin của chúng ta nói với Đại Đương Đầu, chú ý cặn kẽ mọi tin tức Nội đình và Ngoại đình, có bất kỳ động tĩnh nào đều phải kịp thời trình báo cho ta.

Liễu Bưu thấy sắc mặt của Dương Lăng nghiêm trọng cũng không dám cười đùa nữa liền vội vàng “dạ” một tiếng, thấy Dương Lăng dường như đang có tâm sự, bấy giờ mới cáo từ lui ra ngoài, sau khi xắp đặt xong mọi việc lập tức đi Hải Ninh.

Hiện giờ Dương Lăng đã không còn là dịch thừa Kê Minh non nớt nữa, cũng đã ít nhiều hiểu rõ một số âm mưu thủ đoạn đả kích đối thủ chính trị như ném đá giấu tay, gắp lửa bỏ tay người ở trong triều. Khi y rời Kinh thành thì lo lắng Nội đình và Ngoại đình[4] sẽ gây bất lợi với mình, bây giờ nghe nói hành vi khác thường của Chính Đức nhất thời cũng không đoán được nguyên do trong đó cũng không khỏi ngấm ngầm nảy ý cẩn thận, chỉ sợ rằng đây là âm mưu do đối thủ bày ra. Ban đầu, Dương Lăng muốn mau chóng trở về Kinh, bây giờ có sự cảnh giác này lại trở nên cẩn thận không dám manh động, sợ dẫm vào cái bẫy do đối phương bày ra.

Dương Lăng đợi cho Liễu Bưu rời khỏi, ngồi yên lặng đem những việc mình đã làm từ khi xuống Giang Nam đến nay để cân nhắc kỹ càng lại một lần, không phát hiện ra chỗ nào có thể để người khác tố cáo hãm hãi y, sự lo lắng trong lòng mới dần lắng xuống.

Lúc này bức rèm châu vang lên đinh đang, một thân hình thanh tú lặng lẽ tiến vào, Dương Lăng quay đầu lại chỉ thấy Cao Văn Tâm đứng ở bên cửa, liền cười nhẹ rồi nói:
- Mới sáng sớm đã phải châm cứu rồi sao?.

Cao Văn Tâm u oán liếc y môt cái, vị đại lão gia này quả thật không coi nàng như người hầu nhưng lại xem nàng như thầy thuốc tư nhân, lẽ nào không phải vì trị bệnh thì bản thân không thể đến gặp y sao?

Dương Lăng đứng dậy duỗi mình một cái, nói:
- Được rồi, mỗi ngày một lần châm cứu, bây giờ một ngày mà không châm cứu ta cũng thấy không quen. Ha ha, đúng rồi, cách trị liệu Khư Hư Kiện Thể này nhất định cần nửa năm sau mới phát huy tác dụng sao?

Tuy nói là có bàn tay ngọc mềm mại của Cao Văn Tâm xoa bóp cũng coi là một sự hưởng thụ, thế nhưng mũi châm cuối cùng trong mỗi ngày kia đều châm y thành "một cột chống trời", làm Dương Lăng phải nằm sấp ở đó yên lặng chờ "nhị đệ" tâm bình khí hoà, một ngày hai ngày còn có thể chịu đựng được, chứ ngày nào cũng vậy, lại không có mấy cô gái nhỏ như Ấu Nương, Tuyết nhi ở đây, điều này giống như uống một cốc Xuân dược, sau đó lại dùng nước lạnh tạt vào, ngày tháng dài lâu quả thật là có chút khổ sở không thể nói thành lời.

Khuôn mặt của Cao Văn Tâm ửng hồng, nàng nói dối Dương Lăng là phương thuốc làm khỏe cơ thể cho Dương Lăng thực ra là phương thuốc dùng để chữa trị bệnh vô sinh, dùng đến phương thuốc này thì chắc có chút tác dụng, còn như bây giờ có hiệu quả hay không thì cho dù nàng có là thần y cũng nhìn không ra được, liếc trộm vẻ mặt không tình nguyện của Dương Lăng, nàng chỉ biết bất đắc dĩ nói:
- Bẩm lão gia, đúng vậy, phương thuốc này không dùng đủ nửa năm thì hoàn toàn không có hiệu quả, cho nên lão gia nhất định phải kiên trì uống thuốc châm cứu mới được.

Dương Lăng bất đắc dĩ, nói:
- Được rồi, vào phòng trong dùng châm nào.

Dương Lăng nằm sấp trên giường, nhận thấy dáng vẻ muốn nói lại thôi của Cao Văn Tâm không nhịn được cười, nói:
- Ta nói mà, hôm nay sao lại châm cứu sớm như vậy, có phải nàng có điều gì muốn nói với ta không?

Cao Văn Tâm sững người, tiếp đó lại cúi đầu nói:
- Thị tỳ.... Thị tỳ không có điều gì muốn nói với lão gia... Thế nhưng... Có phải lão gia quên mất nói điều gì nói với thị tỳ?

Dương Lăng lấy làm ngạc nhiên hỏi:
- Ta có điều gì… A! Nàng nói là…

Y nằm sấp một lát, mới bất đắc dĩ nói:
- Đợi lát nữa châm cứu xong, nàng thay trang phục rồi cùng ta ra ngoài dạo chút nhé. Đến đây lâu như vậy, đi đến đâu cũng nói ngắm cảnh nhưng thực ra cũng chỉ là đón tiếp tiễn đưa người đến thăm. Cùng nàng chèo thuyền ngắm sen có lẽ là việc vừa ý nhất của chuyến xuống Giang Nam lần này, tý nữa chúng ta cùng đi dạo hẻm nhỏ ở Hàng Châu, khi ấy… ta nói cho nàng nghe.

Các hẻm nhỏ ở Hàng Châu, thực giống như các tài nữ dòng dõi thư hương của Giang Nam, làm cho bạn mới nhìn thoáng qua thì sững sờ về vẻ đẹp của nó, thế nhưng có đi lại bao nhiêu lần bên cạnh nó bạn cũng không thể nào đoán ra được bí mật u nhã, thần bí ẩn chứa trong đó. Vừa mới bước vào hẻm nhỏ, tựa như thoáng cái từ đô thị phồn hoa bước vào giấc mộng mờ ảo. Sự u nhã tĩnh lặng của nó làm cho bước chân của người đi đường không tự chủ được thả lỏng một chút.

Dương Lăng và Cao Văn Tâm cải trang giống như sĩ tử dạo bước trên con đường đá xanh, chầm chậm thong thả đi vào hẻm nhỏ, ánh mặt trời sau buổi trưa nhè nhẹ rơi rụng trên mái hiên ở hai bên. Ở hai bên hẻm, từng căn nhà tường trắng ngói xám lẳng lặng đứng sững sững. Những viên ngói xám đã nếm đủ sự xâm nhập của mưa gió, hiện ra một vẻ buồn bã tang thương.

Trong hẻm nhỏ rất yên tĩnh, thỉnh thoảng người đi đường qua lại cũng rất thong dong, nhàn nhã. Bốn gã hộ vệ cải trang thành người qua đường ở phía trước, cách nhau khoảng mười bước chân đang cẩn trọng quan sát khách qua đường mở lối cho bọn họ, đằng sau cũng có bốn gã giữ khoảng cách như vậy chậm rãi đi theo.

Đến được địa vị như ngày hôm nay của Dương Lăng thì nếu như muốn một mình ra ngoài đi dạo và hưởng thụ không gian riêng tự do tự tại luôn là điều vọng tưởng mà tình cảnh như bây giờ đã là sự nhượng bộ lớn nhất của Trịnh Bách hộ rồi, con người ta đạt được cái này thì phải mất đi cái khác.

Giữa dãy nhà tường trắng ngói xám có mấy cửa tiệm nhỏ, hoặc là tiệm may, hoặc là quán mỳ, hoặc là tiệm tạp hóa, phần lớn chủ nhân trong tiệm đều đang ngủ gật. Đằng sau dãy nhà bên trái của hẻm nhỏ là một con sông nhỏ êm đềm, những căn nhà này đều xây dựng tựa vào sông, cửa sổ phía sau trông ra chính là dòng nước chảy róc rách, bên ngoài bức tường thấp phía sau dãy nhà bên phải là một con đường cái, có vẻ đẹp kiều diễm khác lạ của "Tường lí thu thiên tường ngoại đạo, tường ngoại hành nhân, tường lí giai nhân tiếu". (bên trong tường là xích đu, bên ngoài tường là đường cái, ngoài tường có người đi lại, bên trong giai nhân cười)

Bước qua một cây cầu nhỏ thấp thoáng dưới gốc cây Du nghiêng ngả là một hàng hiên dài, sát bên trái là sông, bên phải đều là tửu lầu. Tửu lầu đều không lớn nhưng phong cách lại rất cao nhã, dường như là các quán xưa mấy trăm tuổi, các cột hiên trước cửa đều đã phai hết sơn mạ, các chấn song cửa sổ chạm trổ mang phong cách cổ xưa.

Dương Lăng dừng bước trước một tòa tửu lầu, nói với Cao Văn Tâm – đã cải trang thành một công tử tuấn tú:
- Đi nào, chúng ta lên lầu ăn một chút đồ.

Cao Văn Tâm cùng Dương Lăng vai kề vai đi dạo trong hẻm nhỏ tĩnh mịch, trong lòng vô cùng an nhàn chỉ muốn cùng Dương Lăng như vậy đi mãi, nghe Dương Lăng nói muốn lên lầu uống rượu nàng mỉm cười rồi dịu dàng gật đầu.

Trong tửu lầu không có khách, mà thực sự thì lúc này cũng ít có người ra vào các tửu lầu, ông chủ và tiểu nhị đều úp mặt ngủ gật trên bàn, sự nhàn nhã đó thật là làm cho người khác ngưỡng mộ. Tửu lầu ở ngay sát bên sông, trong lầu lúc này vẫn chưa có khách, hai người đi lên lầu hai rồi ngồi xuống vị trí gần cửa sổ, trước cửa sổ bày hai chậu cúc vàng nở rộ rực rỡ, ở phía trên treo một chiếc lồng chim trong có hai chú anh vũ đang hót véo von.

Dương Lăng kêu ông chủ giới thiệu vài món ăn, chỉ một lát rượu và thức ăn được bưng lên, thức ăn tinh xảo đẹp mắt như thịt chó hấp tương, cá tươi áp chảo, chân giò ninh măng, hạt sen chưng đường, hai vò hoàng tửu ấm, Dương Lăng chỉ biết vùi đầu ăn uống, Cao Văn Tâm có tâm sự trong lòng nên không ăn được, nàng chỉ nếm qua rồi thôi. Đôi mắt đẹp nhìn Dương Lăng chằm chằm, đợi y nói ra điều bí mật to lớn kia.

Dương Lăng thấy không thể tránh được nên đành phải bỏ đũa xuống, than nhẹ một tiếng, nói:
- Thức ăn ở đây tinh xảo, phong cảnh u nhã, lại có một người con gái tâm đầu ý hợp như nàng làm bạn, thật giống như thiên đường ở trần gian, chỉ tiếc là… thời gian mà ta có thể hưởng thụ không còn nhiều nữa.

Cao Văn Tâm cau hàng lông mày thanh tú lại, nghi hoặc hỏi:
- Lão gia, ngài… lời này của ngài có ý gì?.

Dương lăng cười bất dắc dĩ một cái, nhẹ giọng nói:
- Bởi vì .... tuổi thọ của ta chỉ còn lại một năm, một năm sau hồn về địa phủ, khi đó thế gian sẽ không còn ai là Dương Lăng nữa.

Cao Văn Tâm há đôi môi anh đào kinh ngạc sững sờ một lúc lâu, bất chợt nắm lấy cổ tay y. Bình thường nàng chỉ cần một ngón tay là đủ xem mạch cho người khác, lúc này người trong lòng nói ra những lời kinh hãi thế nên quan tâm quá tất loạn, trong lúc lo lắng mà dùng đến ba ngón tay.

Dương Lăng để mặc cho nàng nắm lấy cổ tay, ôn nhu nói:
- Nàng là một người con gái tốt, tình ý của nàng đối với ta, Dương mỗ chẳng phải là tượng đất tượng gỗ nên trong lòng sao lại không biết? Với thân phận cao quý của nàng, nếu như không phải trong nhà bỗng nhiên gặp phải điều bất trắc mà trầm luân thành tôi tớ thì cho dù nàng và ta có duyên gặp mặt cũng chẳng thể nảy sinh tình ý, điều này há không phải là ý trời sao?.

Rốt cuộc Dương Lăng cũng thẳng thắn thừa nhận nảy sinh tình cảm với nàng, nếu như đổi thành khi khác nói ra thì Cao Văn Tâm không biết phải vui mừng đến thế nào, nhưng bây giờ nàng chỉ muốn biết Dương Lăng có ám tật trí mạng nào nên phảng phất giống như không nghe, chỉ ngưng thần lắng nghe mạch đập của Dương Lăng.

Dương Lăng khe khẽ nói:
- Nếu như nàng đồng ý... ta và nàng kết thành huynh muội khác họ được không? Sau khi về kinh thành ta sẽ xin hoàng thượng xóa bỏ nô tịch cho nàng, nàng lớn hơn bọn người Ấu Nương mấy tuổi, biết nhiều hiểu rộng lại lanh lợi hơn nhiều, sau khi ta qua đời xin nàng trông nom bọn họ nhiều hơn.

Cao Văn Tâm kinh hãi nhìn y chằm chằm, run giọng nói:
- Ngài… mạch đập của ngài ổn định có lực, tuyệt không có bất kỳ chứng bệnh gì, tại sao lại nói như vậy?.

Cao Văn Tâm nhà tan cửa nát, từ sau khi mến mộ Dương Lăng đã coi y thành người thân nhất, là người duy nhất có thể nương tựa, lúc này kiểm tra không ra Dương Lăng có bệnh trên người nhưng y lại nói vô cùng nghiêm túc, tuyệt đối không giống như nói đùa làm Cao Văn Tâm lo lắng sợ hãi, trên trán đã toát mồ hôi.

Dương Lăng thấy vậy không nhẫn tâm, trở tay nắm lấy bày tay nhỏ ấm áp của nàng, khóe miệng nở một nụ cười khổ bất đắc dĩ:
- Không phải kiểm tra nữa, ta không có bệnh, đây là số mạng, nàng hiểu không? Diêm La kêu người ta canh ba chết, ai có thể sống đến canh năm? Văn Tâm, nàng được xưng là thần y, nhưng đã gọi là y thì chỉ chữa đuợc bênh thôi còn vận mệnh thì làm sao mà chữa đuợc.

Cao Văn Tâm lắp bắp nói nói:
- Lão gia, ngài... ngài nói mình chỉ còn một năm tuổi thọ, là .... là có người xem bói cho ngài? Thuyết tướng số có nhiều chỗ huyễn hoặc, ngài... ngài quá hồ đồ rồi , làm sao lại tin vào những thứ đó? A! Chẳng nhẽ là Trương Thiên sư bốc quẻ xem bói cho ngài?

Trên thế gian này ngoài trừ Trương Thiên sư thì còn ai khi xem bói dám nói thẳng tuổi thọ của người khác là như thế nào? Hơn nữa còn làm cho người ta tin tưởng không nghi ngờ? Cao Văn Tâm bỗng nhiên đứng bật dậy, định đi tìm Trương Thiên sư hỏi cho rõ ràng, Dương Lăng vội vã đứng lên, kéo lấy tay nàng:
- Không liên quan đến Trương Thiên sư, tóm lại là… đạo hạnh người này còn lợi hại gấp trăm lần Trương Thiên sư, muộn nhất tháng mười năm sau chính là lúc thọ chung của ta. Ba người Ấu Nương bọn họ ta đã thấy mặc nợ quá nhiều, nàng nói đi… ta làm sao lại có thể nhẫn tâm làm hỏng tuổi thanh xuân của nàng?.

"Sao lại có thể chứ?" Cao Văn Tâm nghe vậy vừa giận vừa lo, người xưa tuy rằng nói là tin vận mệnh nhưng cũng chưa nghe ai dám xem bói nói tuổi thọ của người khác còn lại mấy năm, nếu thật có người xem bói như vậy đoán chừng sẽ từ đại sự biến thành lừa đảo rồi bị quan phủ coi là "yêu ngôn hoặc chúng" mà đánh chết.

Lão gia rõ ràng là rất khỏe mạnh nhưng lại cứ khăng khăng tin tưởng vào những lời nói xằng bậy đó, thì ra lão gia không tiếp nhận nàng không phải là ngại tuổi tác của nàng lớn, cũng không phải ngại nàng có thân phận gia nô mà hóa ra là... hóa ra là… Cao Văn Tâm hận là không thể ngay lập tức tìm thấy người đã nói Dương Lăng chỉ còn lại một năm tuổi thọ để giáng cho y một cái tát thật đau.

Nàng bực tức giậm chân, nói:
- Không được, ta đi tìm Trương Thiên sư, nếu như ngài thật có mệnh hệ gì thì Trương Thiên sư sao có thể ngoảnh mặt làm ngơ? Đây rõ ràng là có người hồ ngôn loạn ngữ, cố ý ăn nói hù dọa.

Lúc này nàng cải trang thành con trai nhưng nhíu mày dậm chân thì lại là dáng vẻ yêu kiều của con gái, xem ra vô cùng dễ thương. Dương Lăng kiên quyết lắc đầu, nói:
- Nha đầu ngốc, ta là người dễ tin những lời không căn cứ sao? Không cần phải đi tìm Trương Thiên sư nữa, cho dù là y cũng chưa chắc đã xem ra được. Những lời ta nói đều không phải giả dối cho nên… ta quyết không thể tiếp nhận tình ý này của nàng.

Dương Lăng thấy nàng lo lắng đến sắp chảy nước mắt, vội cười đùa cợt nhả dỗ dành, nói:
- Hay là chúng ta đánh cược, ngày này năm sau nếu như ta chết rồi thì nàng phải cùng ta kết bái huynh muội trước linh vị của ta rồi sau đó yên phận xuất giá, nếu như ta không chết thì là ta đã dối lừa nàng, lúc đó… thì ta sẽ gả cho nàng được rồi, ha ha ha.

Cao Văn Tâm thấy dáng vẻ cợt nhả cười đùa của y cũng không biết là y nói thật hay giả. Nếu lời y nói là thật thì cái dáng vẻ vô lại muốn bị ăn đòn kia quả thực không giống. Còn nếu nói là giả… nhưng rõ ràng trong ánh mắt kia ẩn chứa một sự bi ai sâu đậm, sao mình lại thích một người như vậy?

Dương Lăng hít một hơi dài, lấy lại tinh thần, nói:
- Chúng ta bây giờ như thế này, làm một đôi hồng nhan tri kỷ có gì là không tốt? Chẳng mấy khi nàng cùng ta đơn độc đi dạo, nàng xem chỗ này… ý?

Dương Lăng chỉ ra ngoài cửa sổ, ngạc nhiên mở to mắt, sau đó đi tới vin vào cửa sổ nhìn xuống dưới. Cao Văn Tâm không hiểu ra sao, cũng vội đi theo. Chỉ thấy ở phía dưới của sổ là một con sông nhỏ nước chảy chầm chậm. Lúc này đang có một con thuyền Ô Bồng chầm chậm trôi đến. Trên đầu thuyền có một đứa trẻ mới lớn dáng vẻ chất phác khỏe mạnh. Chỉ là nhìn từ phía trên xuống thì trên gáy đứa trẻ đó có một cái bướu thịt lớn mầu tím đỏ, nếu như nhìn tỉ mỉ sẽ làm cho người thấy dựng hết tóc gáy.

Lúc này đứa trẻ đó đứng dậy, kêu lớn về phía sau:
- Cha, khi nào cậu từ Quảng Đông về? Cậu nói khi nào quay về sẽ mang cho con nhãn và vải, bây giờ đã ba tháng rồi mà còn chưa thấy quay về?

Người đàn ông khua chèo ở phía sau cười ha ha:
- Đứa nhóc ngươi chỉ biết thèm ăn, lớn như vậy rồi cũng nên hiểu chuyện đi, mẹ của con ở phường dệt nhà Cao lão gia rất vất vả, đừng có luôn cứ quấn lấy mẹ đòi mua quà vặt cho con ăn.

Dương Lăng hít một hơi lạnh.
"Đứa trẻ này… cũng không cha không mẹ, ta trông thấy đáng thương nên thu giữ nó lại đưa đến đây… à đúng, đó là việc mùa hè năm ngoái". Câu nói này của Mạc Thanh Hà giống như tiếng sét vang lên bên tai, Dương Lăng sững sờ nhìn theo con thuyền nhỏ nhè nhẹ trôi xa, trong lòng chỉ nghĩ: "Tại sao hắn lại lừa ta? Chẳng qua chỉ là thu giữ một đứa bé, ta lại không nói đến chuyện đi thăm những đứa trẻ đó, tại sao hắn lại phải tìm một thiếu niên đến giả vờ là đứa trẻ y thu nhận để lừa ta? Sợ ta nảy ý nghi ngờ như vậy, rốt cuộc hắn đã làm cái gì?’.

Dương Lăng bỗng nhiên bừng tỉnh quay người chạy xuống lầu, Cao Văn Tâm không biết đã xảy ra chuyện gì liền vội vàng đuổi theo người y nhưng chỉ mới xuống hai bậc cầu thang thì Cao Văn Tâm kêu một tiếng “ái a”, dẫm hụt một chân làm cổ chân bị trẹo, nàng đau đến sắc mặt tái nhợt phải dựa vào tay vịn mà đôi môi cũng run lên lẩy bẩy.

Dương lăng thấy thế vội vàng quay lại đỡ lấy nàng, tám gã nha sai khi nãy thấy lầu hai không có người liền chiếm lấy hai bàn ở lầu một, gọi đồ nhậu rồi canh gác, khi này thấy đại nhân vội vã chạy xuống lầu thì vội vàng bỏ đũa xuống rồi tiến lên trước nghênh đón.
Dương Lăng hạ thấp giọng nói:
- Nhanh, cử hai người đi theo con sông ở phía đằng sau kia, đuổi theo một con thuyền. Trên thuyền có một đứa bé trên gáy có mọc bứu thịt, đi theo họ về nơi ở và tra xét rõ mọi thứ về họ, mau đi.

Hai gã sai nha mau chóng dạ một tiếng rồi quay người chạy khỏi tửu lầu. Dương Lăng đỡ lấy Cao Văn Tâm hỏi:
- Nàng thế nào rồi?.

Vẻ mặt của Cao Văn Tâm đau khổ, nói:
- Đau quá, cổ chân trẹo rồi, thị tỳ… thị tỳ không đi được nữa.

Hai gã sai nha thấy đại nhân đỡ người đi xuống cầu thang không tiện nên muốn đỡ lấy Cao Văn Tâm từ tay của Dương Lăng, Cao Văn Tâm làm sao chịu để bọn chúng lại gần người mình, Dương Lăng bất đắc dĩ phải cúi người luồn một tay nâng hai gối của nàng rồi bế ngang nàng lên, hai tay của Cao Văn Tâm thuận thế ôm chặt lấy cổ y, tuy rằng chân đau như kim đâm vào tim nhưng khóe miệng đã khe khẽ nở một nụ cười ngọt ngào.

***

Nếu như người bạn gái của bạn bị trẹo cổ chân, bạn giúp nàng cởi giày tháo tất, xoa một chút rượu thuốc rồi sau đó sẽ như thế nào?

Đáp án rất đơn giản, không phát sinh bất kỳ việc gì hết, nàng ta sẽ thoải mái nói tiếng cảm ơn rồi sau đó lại thoải mái giơ tay ra cho bạn để bạn dìu nàng ta đi gọi xe, đợi cho nàng vào trong nhà thì không còn việc gì của bạn nữa.

Nếu như tại một thời đại đối với người con gái chân còn quan trọng hơn danh tiết, trinh tiết, nhiều người con gái đến thân thể đều trao cho đàn ông nhưng lại coi bàn chân của mình là bộ phận riêng tư không cho phép đàn ông chạm vào mà nói thì nàng ta chịu ngồi ở trên giường để cho bạn tháo giầy cởi tất, xoa nhẹ bàn chân nhỏ như bông sen, vậy điều đó có nghĩa gì?

Cao Văn Tâm biết điều đó có nghĩa gì cho nên nàng nhìn Dương Lăng lặng lẽ đưa tình, hé răng cắn nhẹ làn môi đỏ, đôi mắt phượng xinh đẹp quyến rũ khép lại như một sợi tơ.

Dương Lăng đang cúi đầu chăm chú giúp nàng xoa chân thì không biết, y chưa từng nghe qua câu nói "Đầu của đàn ông, chân của phụ nữ, chỉ được nhìn không được sờ", cho nên Dương Lăng không những sờ mà còn sờ tương đối tỷ mỉ.

Trong lòng Cao Văn Tâm, bắt đầu từ giây phút này, nàng đã hoàn toàn là người của Dương Lăng, cả đời cả kiếp này, không còn có thể gả cho người đàn ông thứ hai, còn Dương Lăng lại ngậm ngùi trong lòng: Bàn chân của Cao Văn Tâm thật đẹp, đây là đôi chân đẹp nhất mà y từng thấy, người phụ nữ có thân hình đẹp không dễ tìm, người phụ nữ có khuôn mặt đẹp càng khó tìm, còn người phụ nữ có đôi chân đẹp…”

Hai bàn chân của của Cao Văn Tâm nhỏ nhắn, gọn gàng, làn da trắng như tuyết, lóng lánh, hiện lên vẻ nhẵn bóng, thật là giống như vẻ trơn tru như ngọc, nét mềm mại như lụa, màu da trên mu bàn chân tựa như trong suốt, móng chân của mười ngón chân đều hiện màu hồng nhạt, giống như mười cánh hoa nhỏ.

Tào Thực có viết: “Lăng ba vi bộ, la miệt sinh trần” (nhẹ nhàng đạp sóng, áo phất bụi hồng - ND); Lý Bạch viết: “Phúc thượng túc như sương, bất chiếu Nha Đầu miệt" (bàn chân trắng trên đôi guốc gỗ, không đi vớ Nha Đầu- ND); đến như suốt ngày vì nước vì dân lo lắng âu sầu như Đỗ Phủ cũng từng viết: "La miệt hồng tảo diễm” (áo lụa màu đỏ tươi - ND), nếu như chưa từng thấy qua mỹ nữ có bàn chân thanh tú mềm mại mảnh mai đến thế thì sợ rằng cũng chẳng thể phát ra được cảm khái như vậy?

Cao Văn Tâm bị y xoa nhẹ đến rạo rực cả người, lòng xuân dập dềnh lại nhớ tới Dương Lăng năm lần bảy lượt khước từ tuyệt tình, coi tình cảm chân thành của mình như không có gì chỉ bởi vì một lý do đáng cười như thế làm nàng không khỏi lại có chút bực bội. Người con trai này, tại sao mình lại cứ khăng khăng thích y, thế nhưng nếu như đó chỉ là lý do vu vơ vậy không phải có nghĩa là chung thân đại sự của mình có hi vọng rồi sao?

Nàng cắn môi, không thoải mái vặn vẹo nửa người dưới, định hỏi hai người họ đã đến nước này rồi vậy khi nào y cưới mình về nhà, thế nhưng lời nói vừa đến miệng đã lại biến thành:
- Lão gia, thị tỳ… thị tỳ đỡ nhiều rồi, không phải lão gia nói Mạc công công là người biết điều nhất trong ba vị Trấn Thủ Thái Giám sao? Tại sao… Ái, có phải là hắn đem những đứa trẻ kia lừa bán cho người khác?

Dương Lăng nhè nhẹ lắc đầu, nói:
- Không phải, sự bóc lột của hắn tuy rằng không lợi hại nhưng ở Giang Nam này cũng có thể coi như là tiền vào như nước, lừa bán mấy đứa trẻ có thể kiếm được bao nhiêu tiền chứ? Ta thấy kỳ lạ là ở chỗ này, hắn không nhất thiết tính toán mấy đứa cô nhi, nhưng bây giờ xem ra, tung tích những đứa trẻ mà hắn thu dưỡng kia đích thực có vấn đề, thoạt nhìn việc này cũng nhỏ nhưng y ra sức che đậy, tất có chuyện lớn, ta nhất định phải tra xét kỹ càng việc này.

Cao Văn Tâm im lặng một lát, gắng sức hít một hơi vào lấy hết dũng khí quyết tâm nói:
- Lão gia, phần lớn giang hồ đạo sĩ cố ý nói bừa nói bậy để gạt tiền người ta thôi, một năm tuổi thọ cái gì chứ, làm sao mà tin tưởng được, thị tỳ… ngài.

Dương Lăng cười khổ nghĩ thầm chân tướng sự việc kia đích thực là kinh thế hãi tục, nếu như nói toàn bộ ra không chừng Cao Văn Tâm sẽ coi y thành yêu quái mượn xác hoàn hồn nên y làm sao dám nói ra, đành phải ậm ờ:
- Ta không phải là một người hồ đồ, nếu như không chắc chắn mười phần thì ta cũng sẽ không nói vậy. Văn Tâm… sinh mệnh của ta quả thật không còn nhiều nữa .... Ài, những rối rắm ở trong đó không nhắc đến cũng được.

Y nói rồi ngẩng đầu nhìn một cái thấy Cao Văn Tâm đỏ mặt, trong đôi mắt dưới hàng lông mi dài kia đầy vẻ tủi thân và u oán lại vội vàng cúi đầu xuống, thế nhưng vừa mới cúi xuống thì chiếc áo dài mềm mại dán sát vào người chậm rãi hiện ra cặp đùi thon dài tươi mọng kia của Cao Văn Tâm, chóp mũi còn thoảng mùi hương thiếu nữ nhè nhẹ, động tác hai tay nắm lấy bàn chân ngọc nõn nà kia của y cũng không khỏi trở nên ngập ngừng.

Cao Văn Tâm thấy y vẫn khờ dại tin vào lời nói của đạo sĩ chấp mê bất ngộ, trong lòng bực bội vô cùng: “Lão gia ngốc nghếch nói thì đường đường chính chính, được rồi, nguyên phối là Ấu Nương, ngài cưới rồi, Ngọc Nhi, Tuyết Nhi là Hoàng thượng ban cho, ngài cũng cưới rồi, hiện giờ ngài còn… ngài còn… còn nói kết nghĩa kim lan, kêu ta gả cho người khác gì chứ, ta còn gả cho người khác được sao?”

Cao Văn Tâm nghĩ đến đây, cắn răng lẳng lặng rút một mũi kim châm từ trong búi tóc ra cầm trên tay. Dương Lăng đang cúi đầu thoa nhẹ cổ chân cho nàng, gáy ở ngay trước mắt nàng, chỉ cần nhè nhẹ châm một cái thần không hay quỷ không biết thì con người vô tình này đêm nay có thể trở thành lang quân của mình.

"Có nên châm xuống hay không?" Cao Văn Tâm tự hỏi, bàn tay nắm đuôi kim cũng khẩn trương toát mồ hôi ướt đẫm, lòng dạ nàng ngổn ngang đấu tranh không ngừng, trăm nghìn ý nghĩ xoay vòng trong đầu, bàn tay cầm kim châm kia run rẩy rốt cuộc không nhấc lên được.






Chú thích:

[1] Tam ty gồm Thừa tuyên bố chánh sứ ty, đề hình án sát ty, đốc chỉ huy sứ ty.
[2] Giang Chiết Mân Lỗ: Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến, Sơn Đông.
[3]Nội đình- Ngoại đình: là hai chế độ chính trị kìm chế lẫn nhau với quyền lực quân chủ là hạt nhân thời Minh.
Nội đình: tập đoàn chính trị với thành phần là hoạn quan (thái giám), gồm 12 giám, 4 ty, 8 cục. Trong đó, ty Lễ Giám là trung tâm quyền lực.
Ngoại đình: chỉ tập đoàn quan văn do Nội các, lục bộ thái thú, tuần phủ địa phương hợp thành. Trong đó, Nội các là trung tâm quyền lực.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
04-09-2011, 07:35 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 132 - Niềm Vui Của Cá


Dịch: |YanYan*

Biên dịch: lht

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Ty chức sợ rằng chỉ dùng kiểu thân phận này sẽ làm người khác hoài nghi, lại dùng các thủ đoạn mua chuộc để hỏi thăm các hộ dệt khác. Vô cùng kỳ lạ là đám trẻ đó ở chưa đầy một tháng thì đều bị người khác mua mất, càng kỳ lạ hơn nữa là người mua chỉ là một người, tên gọi là Lý Quý.




CHƯƠNG 132: Niềm vui của cá [1]

Mũi châm run rẩy lẳng lặng tiến đến sát gáy của Dương Lăng. Cao Văn Tâm biết là mũi châm này vừa đâm xuống, Dương Lăng sẽ chỉ hơi cảm thấy tê ngứa giống như bị sợi tóc lướt qua nhè nhẹ, chắc chắn y không phát hiện có điều khác lạ, sau đó trong tình trạng tinh thần mê ảo, y có thể phát khởi dục tính mạnh mẽ. Sau khi đã quyến luyến một đêm xuân phong ngọc lộ, y còn có thể vịn cái cớ nực cười kia để từ chối bản thân mình sao?

Đáng thương cho nữ thần y, từ khi học được châm pháp "Kim Phụng Ngọc Điệp" tổ truyền của Cao Gia, nàng luôn dùng đến để cứu nhân độ thế. Lần phá lệ duy nhất là vì Dương Lăng, nàng đã thi triển tuyệt học làm cho người bình thường biến thành kẻ điên. Bây giờ nàng định phá lệ lần thứ hai muốn từ thiếu nữ biến thành thiếu phụ vẫn là bởi vì y, cũng không biết kiếp trước nàng đã thiếu nợ y bao nhiêu tiền chưa trả.

Thế nhưng lần này... cảm giác tội lỗi thật là nặng, trái tim của nàng đập như ngựa phi, mũi châm đó run lẩy bẩy, nếu cứ như vậy mà cũng có thế châm trúng huyệt đạo thì thật là quái lạ. Ngay lúc đó bỗng nhiên Dương Lăng thở dài nhẹ một hơi. Tuy tiếng thở dài này rất nhẹ nhưng Cao Văn Tâm vừa nghe thấy đã lập tức thu châm vào trong tay áo đánh "soạt" một tiếng, chột dạ hỏi:
- Lão gia... lão gia thở dài gì vậy?

Dương Lăng lại đổ một chút rượu thuốc vào lòng bàn tay, nhè nhẹ xoa bóp cổ chân cho nàng, mỉm cười nói:
- Chân của cô thật là đẹp! Tuy nhiều người là mỹ nữ, thế nhưng đôi chân cũng không bằng một phần vạn của cô. Đôi chân nhỏ nhắn rung động lòng người này nếu như ở... các nước phương Đông hải ngoại thì có thể tiền vào như nước.

Cao Văn Tâm là tiểu thư khuê các gia phong rất nề nếp, lại từng ở ty Giáo Phường cho nên sợ nhất là bị người khác so sánh với kỹ nữ. Nàng nghe vậy không khỏi biến sắc, cắn chặt môi, lúc sau mới cười một tiếng bi thương, sùi sụt:
- Tuy thị tì đã từng ở ty Giáo Phường, nhưng cũng biết tự tôn tự trọng, may mắn được lão gia cứu khỏi hầm lửa. Bằng không, nếu như thị tì bị kẻ khác lăng nhục thì tuyệt đối cũng không chịu sống tạm bợ trên đời nữa, sao lão gia lại dùng việc này để làm nhục thị tì?

Dương Lăng kinh hãi, cuống quít giải thích:
- Cô hiểu lầm rồi, đó là... phong tục tập quán của quốc gia đó không giống với Đại Minh, phơi bày bàn chân đẹp cũng giống như làm thơ vẽ tranh hiện giờ, ồ... Đó là việc có thể kiếm tiền một cách đường đường chính chính, trong lòng ta tuyệt không có ý làm nhục cô.

Làm thơ vẽ tranh để kiếm tiền? Giống như Đường Bá Hổ vẽ tranh xuân cung? Cũng chẳng phải là hạng người thấp hèn dùng để bán sao? Nghe y giải thích như vậy, Cao Văn Tâm càng thêm đau buồn trong lòng, không kiềm được vặn người nằm úp mặt lên đệm khóc rống lên. Dương Lăng không biết nên khóc hay cười, những người thời đại này đều có bệnh gì vậy nhỉ? Khen chân nàng đẹp mà cũng gặp nhiều rắc rối như vậy.

Y đứng dậy ra vẻ lão gia, hung dữ nói:
- Đừng khóc nữa! Ta chỉ thấy đôi chân tự nhiên của cô tuyệt đẹp, khen ngợi vài câu tận đáy lòng. Cô thanh cao thuần khiết, không ngại lấy cái chết để tỏ lòng, người khác không biết thì thôi chứ ta còn không rõ sao? Sao lại có thể coi thường cô chứ? Thật là...

Cao Văn Tâm vẫn còn đau buồn, nghe thấy Dương Lăng khen nàng thanh cao thuần khiết, một nỗi hổ thẹn bỗng dưng trào dâng từ nơi sâu thẳm của trái tim thiếu nữ: "Sao ta lại như vậy? Nếu dùng cách này để lừa gạt lão gia, sau này lão gia nổi lòng nghi ngờ thì sẽ coi ta là người như thế nào? Những người đàn bà ngoại tình trong tộc đều bị thả rọ trôi sông, ta làm như thế này há chẳng phải là nữ tặc hái hoa, không bằng cả cô ả hạ tiện kia sao?

Không! Ta cần phải tìm Trương Thiên sư, xin hắn đoán vận mệnh cho đại nhân. Dù có thích lão gia đến thế nào chăng nữa cũng cần phải đường đường chính chính, trong trong sạch sạch gả vào nhà họ Dương, không thể dùng loại thủ đoạn đê tiện này."

Dương Lăng thấy tiếng khóc của nàng đã yếu nhưng vẫn chưa dừng hẳn, hai vai y chùng xuống, mặt mày rầu rĩ đổi sang vẻ cầu khẩn, nói:
- Cô nãi nãi của tôi ơi, xin nàng nhỏ nhẹ một chút, người khác nghe thấy lại tưởng ta làm gì nàng!

Lúc này Cao Văn Tâm nằm sấp ở trên giường, chiếc áo khoác công tử kia dính sát vào người nổi bật cặp mông căng tròn chắc nịch. Câu nói "nhỏ nhẹ một chút"(*) vừa mới thoát khỏi miệng Dương Lăng, y đột nhiên nhớ tới cảnh Giang Nam tứ đại tài tử cười dâm đãng: "Quay đầu dặn nhẹ cho em" (*), không khỏi lén ngắm bờ mông vểnh cao của nàng.
(*) nguyên văn: “khinh ta cá”, mời xem lại chương 128

Cao Văn Tâm nghe y mềm giọng cầu xin, tuy trong lòng thất vọng vì y không hề ôm mình, nhưng cũng không dám vì được cưng chiều mà kiêu ngạo. Nàng quay đầu lại định nói chuyện, thì vừa kịp bắt gặp ánh mắt Dương Lăng đang lén lút ngắm nhìn thân thể mình, khuôn mặt ngọc không khỏi ửng đỏ. Dương Lăng thu ánh mắt, phát hiện đang bị người ta bắt gặp tại chỗ, y ngượng ngùng:
- Ta... ta xem... ta xem cổ chân của cô có sưng nhiều lắm không. Cô nghỉ ngơi cho tốt, ta ra ngoài trước, nếu như... nếu như quả thực là không tiện, để ta kêu Mạc Thanh Hà phái hai tì nữ đến chăm sóc cô.

- Đừng...!
Cao Văn Tâm vội vã ngồi dậy, quệt vội vệt nước mắt trên má:
- Ai biết Mạc công công có chủ ý gì, tốt nhất là không để người của hắn đến căn nhà ngang phía tây này, thị tì... thị tì không… không sao cả.

Dương Lăng "ừ" một tiếng, nói:
- Được, vậy cô nghỉ ngơi đi, chút nữa ta kêu người đem bữa tối vào phòng.
Nói rồi y không đợi Cao Văn Tâm trả lời, ỉu xìu xìu tháo chạy ra ngoài.

Cao Văn Tâm đờ đẫn nhìn bức rèm châu ở cửa phòng lay động không ngừng, một lúc sau mới thở dài thất vọng, nàng lấy cây kim châm từ tay áo ra, chầm chậm cắm vào búi tóc. Nghĩ tới ánh mắt nóng bỏng Dương Lăng nhìn mình khi nãy, trong lòng nàng không khỏi vừa mừng vừa ngượng. Phụ nữ vì người mình thích mà điểm trang, nếu như sớm biết y đang nhìn... nhìn mình, thì mình quay đầu lại muộn một chút để y nhìn cho thỏa.

Vừa nghĩ như vậy, Cao Văn Tâm cảm thấy lòng bàn chân được Dương Lăng sờ qua lúc nãy bắt đầu ngứa, một luồng khí nóng từ lòng bàn chân chầm chậm chạy lên tim, đến trái tim cũng bắt đầu ngứa. Bất giác, một nét thẹn thùng đã lặng lẽ phủ lên hàng chân mày, khuôn mặt của nàng…

***

Ngày hôm sau, Khâm sai đại nhân Dương Lăng mời đáp lễ danh lưu thân sĩ của Hàng Châu. Dương Lăng làm chủ, Tri phủ Hàng Châu Dương Mạnh Anh và Trấn thủ thái giám Mạc Thanh Hà bồi tiếp, bày tiệc rượu lớn tại "Lư viên" Tây Hồ, tức là một trong Tây Hồ thập cảnh: "Hoa cảng quan ngư".

Ba ông lớn cùng nhau mời khách, thật là thể diện biết bao, thân sĩ danh lưu của Hàng Châu cùng tụ tập lại, đều đáp lại lời mời mà đến. Dương Lăng mặt mày vui vẻ, nâng cốc chúc rượu từng bàn, nghe bọn họ nịnh hót công lao dẹp giặc Oa bảo vệ dân chúng của mình, trong vẻ khiêm tốn còn mang theo dáng vẻ đắc ý lâng lâng. Thỉnh thoảng có người hỏi thăm y về lộ trình, Dương Lăng đều đáp sau khi tuần sát xong vệ sở Long Sơn thì sẽ lập tức quay về kinh sư, do đó tiến hành bày tiệc cảm tạ sự khoản đãi thịnh tình của thân sĩ Hàng Châu trước.

Đang chúc rượu, đột nhiên Dương Lăng cảm thấy hình như có người đang nháy mắt ra hiệu với mình ở phía đối diện. Dương Lăng nhìn kĩ lại thì thấy đó là Hoàng Chi Ninh - chưởng ban thân vệ tùy thân của mình. Hôm qua hắn đi điều tra đứa trẻ đáng nghi kia, theo dấu đuổi đến một gia đình, dùng chút thủ đoạn nghe ngóng hàng xóm xung quanh, hắn dò xét được gia đình đó đã ở vùng này nhiều đời, phụ thân của đứa bé đó họ Triển, kiếm sống bằng việc dẫn khách du lịch, mẫu thân làm thợ dệt tại hộ dệt của Cao Minh phủ. Đứa trẻ này tuy có khuyết tật nhỏ nhưng lại là hậu duệ duy nhất của nhà họ Triển, cho nên hai vợ chồng đều nuông chiều bé vô cùng.

Vốn Dương Lăng còn ôm mối hy vọng mỏng manh rằng đứa bé đó có lẽ đã được người nhận nuôi sau khi được đưa vào phường dệt Cao phủ, bây giờ đã hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa. Y lập tức ra lệnh cho Hoàng Chưởng ban dẫn người tìm cách điều tra cho rõ những cô nhi mà Mạc phủ đã thu nhận còn ở trong những phường dệt đó hay không?

Vốn đám người Hoàng chưởng ban được đề bạt lên từ thân quân của Dương Lăng và từ trong Xích Hầu doanh. Trước đây bọn họ đã từng học qua các kỹ thuật, phương pháp điều tra từ Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh, sau khi trở thành nha sai lại được Ngô Kiệt huấn luyện thêm nên bây giờ đều là cao thủ trong nghề này.

Cho dù Mạc Thanh Hà có thủ đoạn thông thiên đi nữa, nếu như có người thật sự muốn điều tra tung tích của những đứa trẻ kia thì hắn cũng không thể che giấu được mấy chục người còn sống sờ sờ kia, chẳng qua là trước đây không có ai hỏi han gì đến đám cô nhi đó mà thôi. Bây giờ Dương Lăng đã có ý điều tra thì chẳng mất bao công sức, bọn Hoàng Chi Ninh đã lấy được tin tức chuẩn xác, vội vã quay về bẩm báo với Dương Lăng.

Dương Lăng đưa mắt ra hiệu cho hắn, kêu hắn đợi ở trên cây cầu gấp khúc (khúc kiều) gần đó, còn y lại tiếp tục chúc rượu vài bàn. Thấy Mạc công công và Dương Tri phủ đang bị đám người quen biết kéo lại trò chuyện, y liền lặng lẽ đi lại chiếc cầu.

Đình, đài, lầu, các, hoa cỏ trong Lư viên sum suê, hoa tươi chập chờn khắp nơi, các khóm Mẫu đơn quý báu như "Quý phi túy tửu", "Kiều dung tam biến" nở ra những bông hoa tươi to bằng bát cơm, tỏa ra mùi hương thoang thoảng. Nước ở dưới cây cầu trong như gương, cá chép vảy vàng đông nghìn nghịt, chỉ cần có người bước tới, lập tức từ bốn phương tám hướng chen nhau đến, ào ào nhảy ra khỏi mặt nước, con này nhảy lên, con khác rơi xuống, giống như có người đang giặt một tấm vải hồng trên mặt nước.

Dương Lăng bước lên trên cầu, dựa vào lan can nhìn xuống nước, dáng vẻ tựa như say rượu cần nghỉ ngơi một lúc. Hoàng Chưởng ban cũng rất tinh tế, hắn giả bộ đi đến đỡ lấy y, sau đó nói nhỏ:
- Đại nhân! Theo điều tra của ti chức, Mạc công công trấn thủ Giang Nam đã năm năm. Nghe nói ba năm trước, sau khi hắn cưới đệ nhất danh kĩ của "Xuân vũ Hạnh hoa lâu" làm vợ, nghe theo sự khuyên nhủ của vợ đã làm nhiều việc thiện, xây đường đắp cầu, xây lán phát chẩn, còn thu nhận cô nhi đưa đến các phường dệt để làm thuê. Tính cho tới bây giờ, cộng thêm đứa trẻ vừa rồi thì đã thu nhận ba mươi lăm em rồi.

Dương Lăng gật đầu, hỏi:
- Bây giờ đám trẻ đó còn làm thuê tại các hộ dệt kia không?

Hoàng Chưởng ban lắc đầu, nhẹ giọng đáp:
- Tất cả đều không thấy nữa!

Dương Lăng giật mình, quay đầu lại, hỏi vội:
- Người đi đâu?

Hoàng chưởng ban báo cáo:
- Ti chức nghe ngóng tình hình của một đứa trẻ, đóng giả làm cậu họ xa của đứa trẻ đó từ Hiệp Bắc đến thăm nom, đến hộ dệt kia hỏi thăm. Theo như hộ dệt đó nói, đứa trẻ đó đến chưa đầy một tháng thì được người khác mua mất. Bởi vì đám trẻ đó chưa bán thân cho hộ dệt, hộ dệt đó sợ ti chức kiện bọn họ lừa gạt buôn người, liền nói số bạc đó chỉ là tiền ăn ở trong thời gian thu nhận đứa trẻ. Một phú thương Tô Châu vừa ý đứa trẻ đó, nói nó thông minh lanh lợi nên đưa về phủ làm bộc đồng, so ra còn tốt hơn việc mưu sinh tại hộ dệt nhiều.

Ty chức sợ rằng chỉ dùng kiểu thân phận này sẽ làm người khác hoài nghi, lại dùng các thủ đoạn mua chuộc để hỏi thăm các hộ dệt khác. Vô cùng kỳ lạ là đám trẻ đó ở chưa đầy một tháng thì đều bị người khác mua mất, càng kỳ lạ hơn nữa là người mua chỉ là một người, tên gọi là Lý Quý.

- Lý Quý? Cái tên này nghe quen quen...
Nghĩ ngợi một hồi, bỗng nhiên Dương Lăng nhớ tới tên Lý Quý đã gặp ở Hàn Sơn tự tại Tô Châu, không khỏi nảy lòng nghi ngờ. Gia tài của Lý Quý hàng vạn, tôi tớ hơn nghìn, gã muốn mua vài bé cô nhi cũng chẳng có gì là lạ, nhưng đáng nghi là tại sao lại trùng hợp như vậy, những đứa trẻ Mạc Thanh Hà nhận nuôi đều bị gã mua tất, hơn nữa tất cả đều là trong vòng một tháng. Gã kiếm tiền chủ yếu từ cho vay nặng lãi và kinh doanh đất đai, không có liên quan gì đến nghề dệt vải, dù cho mỗi tháng đều đến Hàng Châu một lần, nhưng cũng chẳng có lý do gì mà lần nào cũng đến các hộ dệt thu thập đám cô nhi không người chú ý kia.

Hơn nữa..., hôm đó thấy gã vô cùng kính sợ Mạc công công. Gã dùng lương thực để cho vay, dùng đất để siết nợ, nếu muốn phát tài thì đương nhiên phải chịu sự quản lý của Mạc Thanh Hà, cho nên bợ đỡ nịnh nọt hắn cũng không có gì là lạ. Nhưng nếu như vì gã muốn lấy lòng Mạc Thanh Hà nên mới thu nhận đám cô nhi do Mạc Thanh Hà thu nuôi thì cũng không có lý nào mà đã ba năm rồi vẫn còn chưa báo cho Mạc Thanh Hà biết!

Lại liên tưởng đến việc cố ý dùng cô nhi giả để giải thích lòng dạ mình của Mạc Thanh Hà, trong lòng Dương Lăng không khỏi chấn động, một ý nghĩ nảy nên: "Bất kể trong này có điều cổ quái gì, chắc chắn là Mạc Thanh Hà đã biết chuyện này từ lâu. Hơn nữa hắn cũng không dám để cho ta biết chuyện này, cho nên trên đường quay về hắn mới vội vã sai người tìm một em bé giả làm cô nhi trong hộ dệt. Chẳng trách sau khi về đến thành, chính hắn chủ động đề xuất mời ta đi xem xét tình hình dệt vải ở Tô Châu...”

Nghĩ đến đây, Dương Lăng lại hỏi Hoàng Chưởng ban:
- Tai mắt của chúng ta đã giăng đến Tô Châu chưa?

Hoàng Chưởng ban tự hào đáp:
- Bẩm đại nhân, mạng lưới tình báo của chúng ta phát triển nhanh chóng vô cùng. Ngài vừa xuống Giang Nam, thì Vu đương đầu liền lấy Giang Nam làm trọng điểm phát triển, hiện giờ mấy thành lớn ở Giang Nam đều đã có người của chúng ta đóng ở đấy.

Dương Lăng nghe vậy trong lòng rất vui mừng, y suy nghĩ một lát rồi cười lạnh:
- Được, lập tức tra xét tên Lý Quý kia! Không những điều tra tung tích của những đứa trẻ kia, mà còn cần phải điều tra lai lịch của Lý Quý. Chỉ trong thời gian vài năm ngắn ngủi mà tiền tài và quyền thế của gã đã đuổi kịp Ngô Tề Uyên - người giầu nhất đất Ngô có cả trăm năm lịch sử - xem ra có điều khả nghi.

Phần lớn các hào phú địa phương đều cấu kết với quan phủ, Ngô gia cũng không ngoại lệ. Nhưng tiền tài và quyền thế của Lý Quý bây giờ còn chưa sánh được với họ Ngô, mà hôm đó gã đã dám vô lễ như thế với Ngô Tề Uyên, chắc chắn sau lưng gã có chỗ dựa còn lớn mạnh hơn của Ngô gia. Cho nên ngươi cần phải cẩn thận khi điều tra gã, có bất kì tin tức gì đều phải lập tức báo cho ta biết.

Hoàng Chưởng ban gật đầu tuân lệnh. Đúng lúc này Mạc Thanh Hà mỉm cười bước đến, hỏi:
- Dương đại nhân, có phải ngài đã say?

Dương Lăng khoát tay ra hiệu Hoàng Chưởng ban rời khỏi, sau đó "ha ha" cười nói với Mạc công công - người làm cho y càng lúc càng không thể đoán được lòng dạ:
- Quả nhiên Hoa Cảng Quan Ngư đẹp hết chỗ nói. Lúc nãy bản quan uống rượu hơi vội, nay đã nghỉ ngơi được một lát, bây giờ cũng cảm thấy đở hơn rồi.

Mạc Thanh Hà nhìn lướt qua, thấy tên sai nha đỡ Dương Lăng lúc nãy đã lùi xuống nhưng không rời khỏi, vẫn đứng ở đầu cầu, hình như là tùy tùng phụ trách bảo vệ Dương Lăng. Nét nghi ngờ trong mắt lúc này mới tan biến, hắn vui vẻ đến bên Dương Lăng, vung tay rải một vốc thức ăn cá xuống nước. Đầu cá nhấp nhô, giống như một cơn sóng hồng dâng lên, đám cá đó chen nhau đến một chút nước cũng không nhìn thấy, nếu như thò tay vớt thì cũng có thể dễ dàng bắt được vài con cá chép.

Mạc Thanh Hà không kềm được than thở:
- Cá đã từng bị mắc câu thì sẽ không dễ bị lừa, nhưng cá nuôi trong ao, chỉ biết sự nuôi dưỡng của con người, hoàn toàn không hề cảnh giác với con người. Ở nơi giống như thiên đường này mà cởi trần bắt cá sẽ làm hỏng mất phong cảnh; bằng không hạ quan gần như muốn xuống dưới đó bắt vài con để nhắm rượu rồi.

Dương Lăng mỉm cười:
- Người chết vì tiền, chim chết vì mồi, đám cá bị trói buộc trong ao này rồi, thực ra muốn chạy cũng không chạy thoát được. Đã là như vậy, chi bằng tự vui với mình; suy nghĩ cho lắm lại là tự tìm phiền não.

Vừa nghe câu "người chết vì tiền, chim chết vì mồi", nụ cười trên mặt Mạc Thanh Hà không khỏi đông cứng lại. Vốn hắn đang định vung tay rải một vốc thức ăn cho cá, cánh tay hơi khựng lại, phần lớn thức ăn rơi thẳng xuống mặt cầu.

Dương Lăng nhìn thấy tất, nhưng vẫn ung dung thản nhiên nhìn đám cá đang vội bơi đến kia, dường như cảm khái vô cùng, nói tiếp:
- Đời người một kiếp, cỏ cây một mùa, không tính những năm tháng trẻ tuổi và thời gian xế chiều, thời gian dùng để ăn chơi đàng điếm, hưởng thụ vinh hoa còn có được bao nhiêu? Cho nên mới nói: “Đời người khi đắc ý thì cần phải vui sướng hết mình!”

Mạc Thanh vui mừng vô cùng, hắn cười vui vẻ tán thành:
- Lời nói của đại nhân làm thức tỉnh người trong mộng, ti chức thọ giáo rồi. Nghe nói đại nhân đi Long Sơn vệ xong thì sẽ quay ngược về kinh ngay; ti chức vốn định chuẩn bị một chút thổ sản để đại nhân mang về kinh, nhưng nghe nói đại nhân đã mua một ít rồi, trong nhất thời ty chức cũng không biết mua gì nữa. Một chút lễ mọn này xin đại nhân vui lòng nhận cho, dọc đường nếu đại nhân thấy thích thứ gì thì mua thứ đó, coi như là chút tâm ý của ti chức.

Dương Lăng đón lấy, thấy đó là một xấp ngân phiếu dầy cộm, đều là giấy bạc có hạn ngạch cao nhất – một vạn lượng bạc trắng. Y không khỏi cả kinh, đây là một hậu lễ rất to lớn, những đồ vật cao nhã mà đám thân sĩ danh lưu tặng cho, nhiều nhất cũng chỉ hơn vạn lượng, không bằng số lẻ của hắn biếu mình.

Lễ vật trọng hậu như vậy, nếu như trước ngày hôm nay thì Dương Lăng không dám nhận, nhưng lúc này y lại thản nhiên nhận lấy, vội vội vàng vàng đút vào trong tay áo, mặt mày hớn hở:
- Chuyến đi Giang Nam lần này, bản quan thấy Mạc đại nhân là người thanh khiết nhất trong ba vị Trấn Thủ, vì quốc gia thu thuế, không tiếc sức mình cúc cung tận tụy, bản đốc vô cùng hài lòng. Bản đốc trấn thủ Kinh sư, còn ở các địa phương khác phải nhờ cậy vào các vị trấn thủ. Giang Nam là vựa thóc của thiên hạ, là vùng đất trù phú giầu có và đông đúc, về sau còn phải nhờ vả đại nhân rất nhiều.

Những ngày này Mạc Thanh Hà cũng chẳng hề nhàn rỗi. Hắn đã nắm được thông tin về việc Nội Xưởng mở một con đường riêng, dùng vận chuyển đường biển, đường bộ để khai thác tiền tài, tin tức; nay thế lực Nội xưởng đã trải khắp khắp thiên hạ. Qua trận chiến Hải Ninh, hắn còn tận mắt thấy được sự lợi hại của Nội Xưởng và năng lực của Dương Lăng nên trong lòng đã quyết ý trung thành, cống hiến sức lực cho Dương Lăng, từ giờ sẽ đi theo hẳn Dương Lăng.

Chỉ là tất cả các quan lại giám sát việc thuế khóa trong cả nước, không có ai là không tham ô, có khác biệt cũng chẳng qua là tham ô nhiều hay ít mà thôi. Dương Lăng vừa mới rời khỏi Kinh sư thì hắn đã nghe ngóng được lúc trước Dương Lăng là thị độc của Thái tử, mỗi ngày đều đi bộ vào cung, làm quan cũng rất thanh liêm, sau này dân chúng kinh sư lại lan truyền rằng Dương Lăng vì dân chúng mà bị rơi vào tử lao, cho nên trong lòng hắn luôn kiêng dè Dương Lăng.

Dương Lăng vừa mới đến Giang Nam thì hắn thấy y mang theo một thuyền đầy hàng lậu, việc này đã khiến cho hắn rất đỗi kinh ngạc; sau đó lại thấy Dương Lăng thu nhận lễ vật, thu mua đặc sản Giang Nam, hình tượng Dương Lăng trong lòng hắn bị đảo lộn hoàn toàn. Hôm nay lại nghe thấy những lời kiến giải về tận hưởng lạc thú trước mắt này, hắn lập tức dâng hậu lễ chuẩn bị từ trước lên nhằm bày tỏ lòng trung thành.

Vừa nghe thấy lời nói có ý lôi kéo này của Dương Lăng, Mạc Thanh Hà lập tức lộ nụ cười, nói:
- Đại nhân quá khen! Ti chức đã ngưỡng mộ uy danh của đại nhân từ lâu, bây giờ lại là thuộc hạ của đại nhân, tự nhiên ti chức sẽ tận hết toàn lực, tận trung vì nước, đem sức lực phục vụ đại nhân, mong đại nhân cất nhắc nhiều hơn.

Dương Lăng cười "ha ha", vỗ nhẹ vào vai hắn, bóng gió:
- Điều này tất nhiên rồi! Chỉ cần Mạc công công đối đãi thành thật với Dương Lăng ta, vậy thì... Chỉ cần có Dương mỗ ta thì không thể thiếu Mạc công công ngài được.

Mạc Thanh Hà được y vỗ vai, thoáng chốc người đã nhẹ như bông, hắn cười nịnh:
- Đại nhân yên tâm! Đại nhân phong nhã hào hoa, tiền đồ tựa gấm, ti chức cam lòng làm lính hầu cho đại nhân, từ bây giờ cùng đại nhân vui buồn có nhau, phúc họa cùng chịu.

Hắn chỉ cá chép ở trong nước, nói tiếp:
- Hôm nay nói chuyện gan ruột với đại nhân, ti chức nhìn lại đám cá bơi lội trong nước này cũng cảm thấy khác biệt so với trước. Người khác cảm thấy con cá này ngu dại, thì ra bọn chúng mới thật sự hiểu ý vị của nhân sinh. Ha ha, ta không phải cá, sao biết được niềm vui của cá.

Dương Lăng mỉm cười tiếp lời:
- Ngài không phải tôi, sao biết được niềm vui của tôi?

Hai người cùng nhìn nhau, đồng loạt cất tiếng cười to...




Chú thích:

[1] Nguyên văn "Quan Ngư Chi Nhạc"
Xuất phát từ điển cố: “Bác không phải cá, sao biết được niềm vui của cá?”

Trang Tử cùng Huệ Tử dạo chơi trên cầu sông Hào.
Trang Tử nói: “Cá ra chơi thong thả, đó là niềm vui của cá.”
Huệ Tử hỏi: “Bác không phải cá, sao biết được niềm vui của cá?”
Trang Tử hỏi lại: “Bác không phải tôi, sao biết tôi không biết niềm vui của cá?”
Huệ Tử đáp: “Tôi không phải bác nên không biết bác đã đành. Nhưng bác vốn không phải cá, thì hẳn là bác không biết được niềm vui của cá.”
Trang Tử nói: “Xin nói lại từ đầu. Bác hỏi tôi sao biết được niềm vui của cá, thế là bác đã biết tôi biết rồi mà hỏi tôi. Tôi thì biết điều đó ở trên sông Hào nầy.”


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:


Chương 133 do Shandian biên tập. Các bạn đợi Shandian nhé!
15g ngày 8/9: Bạn Shandian bận rồi, khoảng thứ bảy sẽ có!:grin::grin:

Ba_Van
10-09-2011, 01:33 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 133 - Đàn Ông Thật Khổ


Dịch: VoVong

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Mạc phu nhân nghe xong bèn lộ một nụ cười quỷ dị, vừa nâng chén trà lên miệng vừa nói:
- Sở dĩ trà này khác với trà thường, đó là bởi nó phải uống như thế này này!




Chương 133 - Đàn Ông Thật Khổ


Cao Văn Tâm đưa mắt quan sát Trương Phù Bảo đang mặc đạo bào nhưng lại để xõa mái tóc dài mượt mà đang đứng trước mặt. Nhận thấy đôi mày cô ta đẹp như tranh vẽ, khuôn mặt tràn ngập một vẻ đẹp non nớt ngây thơ, rõ ràng là một nha đầu còn chưa lớn hẳn, nàng dở khóc dở cười hỏi:
- Cô… liệu có ổn không? Chuyện này quan trọng, không biết Bảo Nhi cô nương có thể đưa ta đi gặp Thiên sư được chăng?

Trương Phù Bảo đang rảnh đến phát ốm, khó khăn lắm mới kiếm ra việc để làm, đời nào nàng chịu đưa Cao Văn Tâm đi gặp ca ca? Huống chi hiện giờ ca ca đã được một vị tín đồ giàu có là thương nhân bán trà Mai lão tiên sinh mời đi rồi.

Ngồi nghiêm trang trên ghế, cô nàng bày đầy các dụng cụ bói toán lên bàn, ra vẻ già dặn:
- Có gì mà không ổn? Đạo hạnh của tôi so với gia huynh cũng chẳng hề thua kém chút nào, hơn nữa… Thiên sư không tùy tiện gieo quẻ cho người khác đâu. Nếu tỷ tin tôi, tôi sẽ bói cho tỷ một quẻ, chúng ta quen nhau cũng là duyên phận, tiền quẻ khỏi phải trả. Còn nếu như không tin tôi… Vậy xin Văn Tâm cô nương hãy về đi. Cho dù tỷ gặp được gia huynh, huynh ấy cũng không chịu ra tay đâu.

Thấy Cao Văn Tâm có vẻ thẫn thờ ngẩn ngơ, Trương Phù Bảo chợt nở một nụ cười tinh quái để lộ hai chiếc răng khểnh đáng yêu, nói tiếp:
- Tỷ tỷ muốn bói nhân duyên hay sao? Ồ… Tuổi tác tỷ tỷ như vậy cũng sớm nên lấy chồng rồi, có điều nhìn vẻ mặt tỷ lại không giống như là sắp có chuyện mừng. Tỷ tỷ hãy đưa sinh thần bát tự cho tôi đi, để tôi bói thử một quẻ xem sao. Có điều phải thanh minh trước, tôi chỉ có thể bói được đại khái ngày giờ tỷ gặp hỷ sự chứ không xác định được người đó là ai đâu.

Cao Văn Tâm thẹn đến đỏ bừng cả mặt vì sau lưng nàng đang có hai gã nha sai theo hộ vệ. Lần này nàng đã cố sống cố chết nhất định đòi đi ra ngoài, nếu để bọn họ tưởng là vì nguyên nhân này, há chẳng phải nàng sẽ bị người ta cười đến chết mất sao?

Thì ra nàng thấy Dương Lăng bày tiệc tại Lư Viên để mời các bậc danh sỹ có tiếng ở chốn này bèn muốn lẻn ra khỏi phủ đi tìm Trương thiên sư hỏi quẻ xem sao. Tuy cổ chân nàng đã bị trẹo nhưng rượu thuốc do nàng tự chế lại rất hiệu quả, sau một đêm chân đã hết sưng, chỉ cần đi nàng đi chầm chậm là sẽ ổn.

Những người ở lại canh giữ Mạc phủ có ai mà không biết vị cô nương xinh đẹp này mỗi lúc đêm khuya vắng lặng đều thường ra vào phòng ngủ của Xưởng đốc đại nhân, nếu nói giữa hai người bọn họ không có quan hệ gì ám muội thì ai mà chịu tin chứ? Trong lòng những người này đều sớm đã coi cô thị nữ xinh đẹp như hoa ấy là tứ phu nhân. Nàng ta nằng nặc đòi đi gặp Trương thiên sư, người trấn giữ dinh thự là Hạ bách hộ ngăn cản hồi lâu mà chẳng được, chỉ đành phái một chiếc kiệu nhỏ cùng với hai thủ hạ đắc lực đi sát theo bên cạnh nàng.

Thấy vị Bảo Nhi cô nương này cứ khoác lác mãi, một mực vỗ ngực tự xưng là đã được chân truyền từ Thiên sư đời trước, Cao Văn Tâm đành ngồi xuống, ngoảnh đầu thấp giọng bảo hai gã nha sai:
- Phiền hai vị hãy ra ngoài cửa đợi ta, ta muốn… mời nữ chân nhân bói cho ta một quẻ.

Hai gã nha sai cho rằng vị đại cô nương này mong lập gia đình, nóng lòng muốn qua cửa để làm Xưởng đốc phu nhân. Mà con gái vốn e thẹn, bản thân mình đứng bên cạnh quả thực không thích hợp nên hai gã bèn y lời mà lùi ra ngoài cửa, đứng chờ ở hành lang.

Cao Văn Tâm lấy từ trong ngực ra một mảnh giấy, nàng còn chưa kịp nói gì thì Trương Phù Bảo vốn nóng lòng muốn khoe tài đã giật lấy, đưa tay ngăn không cho nàng lên tiếng, vẻ mặt ngạo nghễ bảo:
- Không cần phải nói! Thiên sư biết thiên cơ, mười phần cũng đúng được tám chín, đợi tôi nhất nhất bói ra cho tỷ.

Cô nàng có tâm khoe mẽ. Vốn chỉ cần dùng một loại công cụ chuyên bói việc nhân duyên là được, nhưng lúc này nào là tiền đồng, thẻ trúc, mai rùa, la bàn (đây là loại la bàn phong thủy dùng để bói toán, không phải la bàn chỉ hướng thông thường – ND.),… tất cả đều được cô nàng lần lượt lôi ra sử dụng, động tác thuần thục đẹp mắt, khiến Cao Văn Tâm nhìn mà nhức mắt choáng đầu nhưng lòng tin thì tăng lên vùn vụt.

Trương Phù Bảo càng tính động tác lại càng chậm lại, cuối cùng do dự nói không ra lời. Cao Văn Tâm không kìm được hỏi:
- Thế nào? Có gì không ổn sao?

Trương Phù Bảo ngẩng đầu lên, cặp mắt to tròn trong veo lấp lánh lén liếc nhìn Cao Văn Tâm, bụng nhủ thầm: “Hỏng rồi! Lần này thì thật mất mặt quá, hôm nay quẻ bói không linh. Rõ ràng người ta ngồi ngay trước mặt mình, nếu mình nói theo số mệnh thì tỷ tỷ này đã phải chết từ lâu rồi mà tỷ ấy không tát cho mình mấy cái mới là lạ.”

Trương Phù Bảo cười khan đáp:
- Hơ… Chuyện này… Hì hì hì! Tỷ muốn đoán việc nhân duyên phải không? Chuyện nhân duyên này là do trời định, duyên phận chưa tới biết cũng vô dụng, duyên phận tới rồi thì nửa kia khắc sẽ tìm đến cửa. Tùy tiện tiết lộ thiên cơ chỉ e vận mệnh sẽ vì thế mà biến đổi mất.

Cao Văn Tâm không kìm được trừng mắt bực bội, hơi bất mãn:
- Không phải cô đã nói thứ gì cũng đều có thể bói được hay sao? Sinh thần bát tự này không phải là của ta, mà là của Dương đại nhân, ta muốn... muốn nhờ cô bói xem đại nhân còn hưởng được bao nhiêu năm dương lộc.

Trương Phù Bảo cả kinh, cô nàng chợt nắm chặt lấy la bàn đứng bật dậy nhìn chằm chằm Cao Văn Tâm, khiến Cao Văn Tâm không khỏi thầm bủn rủn, cũng lật đật đứng dậy.

Sinh thần bát tự của Dương tú tài đã từng được đưa đến nhà họ Hàn khi hai bên hợp hôn (Một nghi lễ trong quá trình kết hôn ngày xưa, hai bên trao đổi sinh thần bát tự để xem có hợp với nhau không - ND.), do đó trong tay Hàn Ấu Nương vẫn còn giữ sinh thần bát tự của phu quân mình. Cao Văn Tâm tìm được phương thuốc chữa chứng “nội hư bất dục” của Dương Lăng trong thư tịch cổ, dựa theo yêu cầu của phương thuốc thì cần biết sinh thần bát tự của bệnh nhân.

Thời thượng cổ y thuật và thuật phù thủy vốn không được phân chia rõ ràng, do vậy trong y thuật thường xen lẫn một số pháp thuật bừa bãi, có một số thì cần căn cứ vào sinh thần bát tự để quyết định lượng thuốc và thời gian chữa trị. Cao Văn Tâm cũng không biết là việc đó có linh hay không, nhưng bốc thuốc cho người mà mình cực kỳ coi trọng thì tất nhiên nàng không dám sơ xảy. Do đó nàng cứ y theo sách mà làm, lén hỏi Ấu Nương về sinh thần bát tự của Dương Lăng.

Từ lúc vừa gặp Dương Lăng, nhìn tướng mạo của y, Trương Phù Bảo đã đoán định được rằng mệnh tướng của người này quái dị, nhất định là được người nào đó có đạo thuật cực cao đoạt xá tục mệnh (mượn xác hoàn hồn ) giúp cho. Nay có sinh thần bát tự của y trước mắt, cô nàng càng tin chắc vào nhận xét khi xưa của mình.

Nếu người bình thường mà nghe được chuyện này, nói không chừng sẽ coi kẻ được mượn xác hoàn hồn là yêu quái. Nhưng Trương Phù Bảo xuất thân từ Long Hổ sơn, cả ngày toàn nghiên cứu mấy chuyện về thần với quỷ. Nghe nói Gia Cát Lượng thời Tam Quốc đã từng dùng đèn thất tinh để cầu kéo dài dương thọ, đáng tiếc là bị Ngụy Diên xông vào trong lều, vô tình đá đổ ngọn đèn thất tinh nên ông thất bại trong gang tấc. Những chuyện như thế này Bảo Nhi cô nương đã từng được nghe nói rất nhiều.

Do đó Trương Phù Bảo không coi Dương Lăng như quái vật. Nàng chỉ ngạc nhiên vì không ngờ trên đời này lại có vị cao nhân thực hiện được môn pháp thuật trong truyền thuyết mà ngay cả cha nàng cũng không làm được như vậy.

Trương Phù Bảo nhìn Cao Văn Tâm hồi lâu, nhớ đến việc ca ca đã từng nói Dương Lăng quyền cao chức trọng, hơn nữa sau lưng còn có một vị đạo nhân đạo hạnh cao siêu, Long Hổ sơn không dây đến được. Nàng bèn vội xoa xoa khuôn mặt sớm đã cứng đờ, đổi sang bộ mặt tươi tỉnh ngọt ngào, cười híp mắt:
- Tỷ… Tỷ muốn tính thọ lộc của Dương đại nhân phải không? Mệnh cách của y quý lắm, còn về thọ lộc…

Cao Văn Tâm căng thẳng hỏi:
- Thọ lộc thế nào?

Trương Phù Bảo buồn bực ngồi trở lại ghế, đáp:
- Thọ lộc cực cao, chắc chắn sẽ sống rất thọ. Có điều tuổi tác cụ thể như thế nào thì chẳng ai có thể tính ra được.

Vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, Cao Văn Tâm vội hỏi lại:
- Cô chắc chắn chứ? Không có sai sót gì chứ?

Trương Phù Bảo bực bội đáp:
- Cụ thể thì tôi tính không ra, không phải đã nói mười phần thì đúng được tám chín rồi sao? Trên thế gian này ngoài chính phúc chính thọ ra thì còn có tai bay vạ gió, mệnh tướng chỉ có thể tính ra được cái chính phúc chính thọ ấy thôi. Vậy nên mới có câu thiên cơ khó đoán, lỡ có tai vạ bất ngờ xảy ra thì tôi cũng không dám đảm bảo.

Dương Lăng nắm quyền bình trong tay, đi đến đâu cũng có thị vệ bao quanh trùng trùng, có thể gặp phải tai vạ bất ngờ gì chứ?

Vốn Cao Văn Tâm cũng chẳng tin vào mấy lời quỷ quái của Dương Lăng, luôn cho rằng có người giả thần giả quỷ lừa gạt y. Bây giờ nghe được lời của Trương Phù Bảo, lập tức nàng giống như được uống thuốc an thần, cứ ngồi đó ngẩn ngơ thích thú một hồi lâu, hồn phách bay về nơi xa tít tắp, chẳng biết là đang nghĩ gì.

Đến khi tỉnh táo trở lại, nhìn thấy Trương Phù Bảo đang hai tay chống cằm, chớp chớp đôi mắt to tròn tò mò nhìn mình đang thả tâm hồn bay tận đâu đâu, nàng mới đỏ mặt nói:
- Vậy Bảo Nhi cô nương… Cô có thể theo ta trở về giải thích với đại nhân chuyện này được không? Đại nhân… Đại nhân không biết là nghe gã lừa đảo nào nói bậy, cứ luôn tin rằng bản thân chẳng còn sống được bao lâu nữa…

Trương Phù Bảo thầm nghĩ: “Y nghĩ như vậy thì lại càng đúng rồi! Chắc hẳn là vị cao nhân đã thi triển phép đoạt xá tục mệnh giúp y kia cũng không hoàn toàn tin tưởng vào đạo thuật của mình, không biết chuyện nghịch thiên cải mệnh có thể thành công hay không, do đó y mới có suy nghĩ này. Ồ… Con người y cũng không tồi, nhìn chẳng đáng ghét chút nào cả! Chà, cả ngày y cứ phải lo lắng như thế cũng thật đáng thương. Chỉ cần ta không vạch trần bí mật của y, cứ bịa bừa mấy câu rằng y phúc thọ song toàn, sống lâu trăm tuổi chắc là cũng không sao đâu. Nhưng không biết liệu ca ca có đồng ý hay không…”

Nghĩ đến đây, Trương Phù Bảo bèn cười nói với Cao Văn Tâm:
- Được rồi! Phần tôi thì không vấn đề gì cả, nhưng ca ca đã đi làm khách ở bên ngoài, đợi huynh ấy trở về tôi hỏi lại huynh ấy đã.

Đã biết được sự thực, Cao Văn Tâm cũng không ngại phải đợi thêm một thời gian. Nàng bèn đứng dậy tươi cười thi lễ:
- Đa tạ Bảo Nhi cô nương, vậy tôi xin cáo từ đây, hôm khác sẽ lại đến bái phỏng.

***

Có những người dù ở cạnh nhau cả đời cũng không thể trở thành bằng hữu cho dù giữa bọn họ chẳng có mâu thuẫn gì, đó là bởi giữa bọn họ thiếu một thứ mà cả hai cùng cảm thấy có hứng thú. Còn những người cùng chung chí hướng thì rất nhanh sẽ trở thành bạn bè tri giao của nhau.

Sau khi hai con người “cùng chung chí hướng” là Dương Lăng và Mạc Thanh Hà từ “Lư viên“ (Chính là “Hoa cảng quan ngư”, một trong Tây hồ thập cảnh) trở về Mạc phủ, bọn họ đã trở thành một cặp hảo hữu tri giao. Giữa hảo hữu với nhau thì chuyện gì cũng đều có thể mang ra bàn luận một cách vui vẻ, hai người nói từ phong tục Hàng Châu cho tới chốn quan trường ở kinh sư, nói từ đám mây trên trời cho tới bụi hoa bên đường, rồi lại nói tới những nữ nhân xinh đẹp…

Hì hì… Nếu vị thái giám lão huynh kia đã chủ động nói đến chuyện này rồi, sao còn phải xấu hổ làm gì nữa chứ?

Hiển nhiên Dương Lăng đã say, khuôn mặt anh tuấn đỏ bừng mang theo bảy phần tửu ý. Còn Mạc Thanh Hà thì cũng đã có mấy phần say, nhìn cái vẻ loạng choạng lảo đảo của hắn, dường như nếu không có vị quản gia họ Lý ở bên cạnh dìu đỡ thì chỉ e hắn đã đâm đầu ngay xuống rãnh rồi.

Vừa mới bước vào khu nhà Mạc phủ cổ kính, Dương Lăng đã dừng ở tiền sảnh cười bảo Mạc Thanh Hà:
- Hôm nay dốc gan dốc ruột đàm luận với Mạc đại nhân một phen, lại được cùng đại nhân đối ẩm, quả nhiên là sảng khoái vô cùng. Hiện giờ bản đốc đã chẳng thể uống thêm, xin phép được trở về nghỉ ngơi. Ngày mai còn có một lượt khách khác cần khoản đãi, Mạc đại nhân cũng nên chú ý nghỉ ngơi đi!

Dường như ngay cả mắt cũng không mở ra được nhưng Mạc Thanh Hà vẫn khoác lác:
- Ùi, Dương đại nhân, chúng ta nói chuyện đang vui, sao lại đi ngủ ngay thế chứ? Nào nào nào, hãy đến nội thư phòng của hạ quan ngồi chơi một chút, hạ quan có trà ngon cực phẩm dâng lên.
Nói đoạn bèn kéo tay Dương Lăng bước đi luôn.

Dương Lăng vừa đi vừa tò mò hỏi:
- Còn có trà ngon ư, chẳng lẽ lại ngon hơn cả loại trà cực phẩm mà ngài tặng ta lần trước à?

Mạc Thanh Hà cười khà khà đáp:
- Đại nhân chớ trách! Không phải là hạ quan không chịu dâng lên cho đại nhân, quả thực là trà này… trà này quá hiếm. Hạ quan cũng chỉ thỉnh thoảng mới uống thôi, nếu mà đem tặng cho đại nhân thì cũng chỉ tặng được một tí tẹo, không khỏi có vẻ bủn xỉn quá.

Dương Lăng nảy lòng tò mò, không kìm được hỏi gặn:
- Trà gì mà lại hiếm có như vậy?

Mạc Thanh Hà ghé sát tới bên tai y, nhỏ giọng:
- Trà này cũng là loại Long Tỉnh cực phẩm trước mưa, có điều… nó không phải là dùng tay hái. Hạ quan đã chọn ra những người trẻ tuổi xinh đẹp nhất từ trong số các vị cô nương hái trà, kêu bọn họ dùng răng và đầu lưỡi để hái búp trà, sau đó lại mời trà sư chế biến sơ qua một chút rồi đựng vào trong túi, cuối cùng thì đặt những cái túi đó vào trong ngực các cô nương kia để hong khô. Hà hà, cực phẩm đấy! Dùng miệng để hái trà nên suốt cả ngày cũng chẳng hái được bao nhiêu, do đó loại trà này ít đến đáng thương.

Lão thái giám này, thật biết hưởng thụ quá thì phải?

Kêu các thiếu nữ mười bốn mười lăm tuổi dùng cái miệng nhỏ xinh để hái trà, sau đó lại hong khô trà trên những bộ ngực thơm tho ấy. Tuy công nghệ này chưa chắc đã tạo ra được loại trà ngon hơn trà do các vị trà sư điều chế, nhưng mỗi khi uống trà lại nhớ đến những công đoạn kia, cái ý cảnh ấy thật là…

Cũng như người ta đồn rằng Churchill thích hút xì gà Cu Ba là bởi vì ông ta đã từng tận mắt chứng kiến những cô gái làm ở xướng sản xuất xì gà vén váy lên, quấn xì gà trên những chiếc đùi trắng nõn gợi cảm đến mê người, do đó ông mới say mê cái thứ xì gà mang theo mùi vị lãng mạn ấy. Mà là đàn ông, ai có thể kháng cự được sự lãng mạn kiểu này cơ chứ?

Dương Lăng không kìm được liếc nhìn Mạc Thanh Hà, vẻ mặt tràn ngập ngưỡng mộ:
- Mạc đại nhân thật lợi hại… thật lợi hại… Trà ở đâu vậy? Mau đưa bản quan đi xem thử một phen!

Hai người đi qua sân trước, sảnh giữa, sân sau, cuối cùng đi tới một ngôi lầu trang nhã, dọc đường hoa cỏ khắp nơi chẳng khác gì chốn tiên cảnh.

Giữa hồ giả sơn cao vút, đặc sắc tinh xảo, một ngọn tựa sư tử, một ngọn tựa chim ưng; quanh bờ hồ là những lùm trúc xanh biếc, xen lẫn bên trong là những khóm hoa trà rực rỡ sắc màu…

Trên bức tường chắn trước sân sau có khắc bốn chữ “Hoa Trúc Di Tĩnh”, bốn phía xung quanh bức tường gạch là những hàng mai lan trúc cúc được cắt tỉa gọn ghẽ, hàng lối thẳng tắp, tinh tế vô cùng.

Loại trang viện của nhà giàu này hai bên đâu đâu cũng có cửa, cũng chẳng rõ là rốt cuộc có bao nhiêu gian phòng, giữa trang viên thì đầy những ao hồ giả sơn, còn đá tảng kỳ dị trông như tổ ong thì nơi nào cũng có. Tùng la hán với những tán cây hình tròn cong mình uốn khúc leo cao, trên mặt nước là những lá sen xanh biếc, cùng kết hợp với những ngọn giả sơn tạo ra một khung cảnh an lành thảnh thơi vô hạn.

Tại tầng một của tòa lầu là một đại sảnh bọc lấy một tiểu sảnh, bố trí trang nhã hoa lệ; kề đỉnh phòng gần như là chen chúc những ô cửa sổ được trang trí tinh tế tỉ mỉ, toàn bộ đều được làm bằng hồng mộc đắt tiền.

Sát với bức tường trong tiểu sảnh có kê một chiếc giường nhỏ, trên giường có chăn, xem ra có lúc Mạc công công cũng ngủ lại đây. Đằng trước tấm bình phong là một chiếc bàn bát tiên cùng một chiếc bàn tròn, hai người đang ngồi trước chiếc bàn tròn đó. Mạc Thanh Hà gọi một người tì nữ xinh đẹp mặc bộ quần áo màu hồng đến, dặn dò mấy tiếng, người tì nữ đó bèn vội vàng đi pha một ấm trà.

Dương Lăng có dáng vẻ như đã ngà ngà say, nhưng từ khi y tình cờ nhìn thấy đứa bé kia thì quả thật đã nảy lòng cảnh giác với vị Mạc công công này. Hiện giờ y không biết đối phương mời trà rốt cuộc là có ý đồ gì nên trong lòng cũng thầm nhắc bản thân phải cẩn thận.

Lúc này Lý quản gia đã bước vào, đứng ở ngoại sảnh cung kính thưa:
- Lão gia, đợt bạc thuế đầu tiên đang chuẩn bị khởi hành vận chuyển đến kinh thành. Áp vận sứ đại nhân mời lão gia đến kiểm tra dấu niêm phong, ngài xem…

Dường như Nội thư phòng này của Mạc Thanh Hà có rất nhiều quy định, người tì nữ pha trà kia sau khi đưa trà vào liền lập tức rời đi, hiện giờ vị Lý quản gia mà hắn tín nhiệm nhất cũng chỉ có thể đứng ở ngoài chờ lệnh, không dám tùy tiện bước vào. Mạc Thanh Hà hơi chau mày, sau đó vỗ đầu với vẻ như chợt giật mình hiểu ra:
- Ái chà! Ta quên mất, hôm nay bắt đầu khởi hành hay sao?

Rồi hắn quay sang cười nói với Dương Lăng:
- Đại nhân! Ngài xuống phía nam tuần tra việc thu thuế, hạ quan cũng không thể làm đại nhân mất mặt được, bạc thuế năm nay đợt đầu tiên hạ quan sẽ giao đủ tám phần. Bây giờ thuyền sắp khởi hành, do thuyền bạc đi chậm nên cần đi trước một bước, đợi khi đại nhân vừa về đến kinh thì thuyền bạc cũng vừa kịp tới đó, hà hà…

Dương Lăng nghe vậy vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, đây đúng là dấu hiệu tốt. Hiện giờ Thuế giám khắp nơi trong thiên hạ đều đang chờ đợi quan sát động tĩnh ở Giang Nam. Chỉ cần mở được một đột phá khẩu ở Giang Nam này, Thuế giám khắp nước sẽ cho rằng thế lực Đông xưởng đã mất, không còn ảnh hưởng gì nữa. Lần này bản thân mình xuống phía nam coi như là đã làm được một chuyện lớn. Không cần biết Mạc công công là người như thế nào, hành vi này của hắn rõ ràng là để tỏ ý muốn đi theo mình; chỉ cần thuyền bạc ấy được vận chuyển đi, tình thế sẽ thay đổi hẳn, đến khi đó dù hắn có hối hận cũng không kịp nữa.

Dương Lăng vội đứng dậy nói:
- Hay lắm, vậy thì mau đi làm đi, à nầy… Mạc đại nhân đã có việc công, vậy hôm khác chúng ta hãy lại uống trà tán gẫu, bản quan xin về Tây viện trước đây.

Mạc Thanh Hà vội cản:
- Đừng vội, đừng vội! Trà này tươi ngon lắm, pha rồi mà để lâu sẽ kém hương vị đi mất! Hà hà, xem ra đây là khẩu phúc của đại nhân rồi, bây giờ hạ quan lại phải ra ngoài, ờ…
Hắn do dự một chút, khi đi đến cửa thì chợt ngẩng đầu lên phía lầu trên gọi:
- Phu nhân! Mau mau xuống đây thay ta tiếp đãi đại nhân!

Dương Lăng sợ đến giật nảy mình, vội vàng đứng dậy thối thác:
- Mạc đại nhân còn có việc công phải làm, ta cứ tạm rời đi là được, Ơ… Trong tòa lầu này không có người nào khác, chỉ còn nữ quyến tiếp đãi thì e không được thỏa đáng lắm.

Mạc Thanh Hà ra vẻ khó xử:
- Bây giờ mà đại nhân rời đi, há chẳng phải là khiến hạ quan không làm tròn đạo đãi khách ư? Đại nhân bất tất phải đề cao thị, nói là phu nhân, nhưng chẳng lẽ đại nhân còn không biết hạ quan là người thế nào sao? Tiểu Lâu vốn là danh kỹ Giang Nam, cưới thị về nhà chẳng qua chỉ là để khoe mẽ với bên ngoài, có tính là phu nhân gì đâu chứ? Không có gì đáng ngại đâu…

Trong khi hắn đang nói, từ trên lầu chợt nghe một âm thanh trong trẻo yêu kiều vọng xuống:
- Lão gia, ngài phải ra ngoài hay sao?

Kế đó một đôi giày thêu màu đỏ nhẹ nhàng xuất hiện ở chỗ ngoặt trên cầu thang, chiếc váy xanh biếc đung đưa khe khẽ, một bóng người yểu điệu mỹ miều chậm rãi đi xuống lầu, chính là vị Mạc phu nhân tràn đầy quyến rũ.

Dương Lăng không khỏi ngượng ngập cung tay chào:
- Mạc phu nhân…

Nhìn thấy y, dường như Mạc phu nhân hơi ngẩn ra, sau đó cặp mắt hớp hồn cứ nhìn chăm chăm vào y không chớp, thị mỉm cười:
- Không biết Dương đại nhân tới đây, thiếp thân đã thất lễ rồi.
Vừa nói vừa nhẹ nhàng nhún người thi lễ.

Mạc Thanh Hà bảo:
- Phu nhân! Ta phải tới nha môn Thuế giảm để kiểm tra số bạc thuế chuẩn bị vận chuyển đến kinh sư. Ấm trà ngon vừa pha kia đang định dùng để giúp đại nhân giải rượu, nàng hãy ngồi lại đây cùng với đại nhân một lúc. À, Dương đại nhân bất tất phải gò bó quá, hạ quan đi trước đây.
Nói đoạn hắn bèn vội vàng theo Lý quản gia đi khỏi.

Dương Lăng nhớ đến chuyện Mạc phu nhân trêu ghẹo mình lần trước, trái tim không kìm được đập nhanh hơn, thầm nghĩ: “Không phải là Mạc Thanh Hà muốn dùng mỹ nhân kế với mình chứ? Nhưng hôm nay hắn đã hoàn toàn yên tâm về mình, quả thực không cần mình cắm giúp cho hắn một cái sừng to tướng như thế. Hắn là thái giám, vợ lại xuất thân là danh kỹ hàng đầu, chẳng lẽ hắn thật sự chỉ coi vợ như một món đồ trang trí nên mới không tôn trọng vợ như vậy?”

Mạc phu nhân thấy y đang ngẩn ngơ bèn khẽ đưa tay gạt nhẹ mấy sợi tóc vương trên trán, dáng vẻ thật sự là quyến rũ động lòng người đến cực điểm. Bàn tay thon đưa lên, ống tay áo xanh biếc trượt xuống để lộ ra một đoạn cổ tay trắng ngần.

Thấy Dương Lăng nhìn mình, Mạc phu nhân đung đưa lúng liếng ánh mắt, cười tươi:
- Đại nhân, hãy vào nhà ngồi đi! Trà này lão gia quý lắm đấy, nói là cái gì mà cực phẩm trong cực phẩm, bủn xỉn đến nỗi thường ngày không hề cho tiện thiếp uống thử. Hôm nay may được nhờ phúc của đại nhân.

Vừa nói thị vừa cất bước khoan thai đi thẳng tới. Đang đứng ở cửa, Dương Lăng cảm thấy một làn hương thơm cao nhã ập thẳng vào trong mũi nên vội lùi lại hai bước, đành xoay người ngồi trở lại ghế.

Mạc phu nhân đi tới bên cạnh y, nhẹ nhàng rót hai chén trà. Lẳng lặng liếc thấy Dương Lăng đang mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim tựa như một vị lão tăng nhập định, khóe miệng thị hơi nhếch lên, một nụ cười quyến rũ mà tà dị thoáng qua rồi chợt tắt. Thị yểu điệu nâng chén, hai tay dâng lên:
- Đại nhân, xin hãy nếm thử trà này xem mùi vị thế nào?

Thấy chén trà đã được đưa tới trước ngực mình, Dương Lăng đành phải dùng hai tay đón lấy. Y nhất thời không đoán được tâm tư của Mạc Thanh Hà, tuy biết đối phương chưa chắc và cũng không cần thiết phải hạ độc hại mình nhưng vẫn phải cẩn thận đề phòng, chỉ khẽ nhấp một ngụm nhỏ ra vẻ như đang thưởng thức.

Cặp mắt lãng đãng tràn ngập ý xuân của Mạc phu nhân cứ nhìn chằm chằm vào y, dường như đang chờ y bình phẩm, ngụm trà này lại chẳng thể nhổ ra, còn có thể ngậm đến lúc nào đây? Dương Lăng đành phải bấm bụng liều nuốt xuống. Trong bụng cũng không phát sinh cảm giác gì khó chịu, y mới thấy yên tâm.

Mạc phu nhân thấy vậy cũng nâng chén lên, nhưng đôi mắt hút hồn lại vẫn nhìn Dương Lăng không chớp, cặp môi hồng khẽ hé ra nhấp một ngụm trà rồi dịu dàng cười nói:
- Quả nhiên là trà ngon, chỉ là mùi vị này… cũng không có gì đặc biệt cả, đúng không Đại nhân?

Thị vừa mới cười, vẻ quyến rũ liền lan tỏa khắp nơi. Nụ cười này thật sự là lẳng lơ đến thấu tâm can, tựa như có thể câu hồn hút phách; lại kết hợp với giọng nói trong trẻo yêu kiều mang theo một chút vẻ dịu dàng kia, thật càng có vẻ ngọt ngào vô hạn.

Dương Lăng cũng không thể không thừa nhận nữ nhân này thật đúng là một vưu vật bậc nhất trên đời. Trong số các cô gái mà y từng gặp, có lẽ chỉ có Mã Liên Nhi khi lớn thêm một chút, phong vận thành thục thêm một chút là có thể so được với thị. Còn những cô gái khác đẹp thì có đẹp, nhưng lại căn bản không thể so được với cái vẻ quyến rũ trời sinh tỏa ra từ tận trong xương tủy kia.

Dương Lăng cười khan, đáp:
- Đúng vậy, trà này… thực ra…

Mạc phu nhân khom người xuống, thân hình càng lúc càng sáp đến gần Dương Lăng, cặp mắt câu hồn cứ nhìn chăm chăm vào y, khẽ cất tiếng:
- Thực ra trà này đích thực có một phong vị đặc biệt riêng, chỉ là cách uống của đại nhân không đúng. Đại nhân có muốn biết trà này cần phải uống như thế nào không?

Dương Lăng hơi thẳng người ra phía sau, đáp:
- Hiểu biết của Dương mỗ về loại trà này có hạn, mong Mạc phu nhân hãy chỉ giáo cho!

Mạc phu nhân nghe xong bèn lộ một nụ cười quỷ dị, vừa nâng chén trà lên miệng vừa nói:
- Sở dĩ trà này khác với trà thường, đó là bởi nó phải uống như thế này này!

Dứt lời, thị ngậm một ngụm trà trong chiếc miệng nhỏ xinh, đặt chén trà xuống, chậm rãi xoay eo thon, đột ngột ngồi ngay vào lòng Dương Lăng, tay phải ôm lấy cổ y, bờ môi tươi tắn động lòng người ghé sát tới môi y.

Dương Lăng sợ đến giật nảy người. Nhưng cặp mông căng tròn mềm mại đã ngồi xuống đùi y, trước mắt y lại là một cặp nhũ phong đầy đặn cao vút, nếu muốn đẩy ra thì phải đẩy vào đâu đây? Y chỉ đành vội vàng quay đầu né tránh:
- Mạc phu nhân, xin hãy tự trọng!

Tuy nữ nhân này cực kỳ xinh đẹp quyến rũ nhưng lại quá đê tiện. Nếu không phải Dương Lăng còn chưa biết được rốt cuộc Mạc Thanh Hà có phạm tội ác tày trời gì hay không nên chưa tiện trở mặt, lúc này y sớm đã phất tay áo đứng dậy, đẩy thị ra rồi.

Mạc phu nhân cũng không miễn cưỡng, thị tự nuốt ngụm trà, kế đó vòng nốt tay trái qua ôm lấy cổ Dương Lăng, giọng yêu kiều:
- Dương đại nhân! Ngài đang lo rằng khinh nhờn vợ của quan cấp dưới sẽ bị người ta tố cáo hay sao?

Thị thở ra một hơi buồn bã, hai hàng lông mi dài trĩu xuống, nói tiếp:
- Đại nhân! Ngài còn không biết lão gia… lão gia muốn ta đến hầu hạ đại nhân là có ý gì sao?

Thị đưa mắt liếc nhìn Dương Lăng, dáng vẻ nhu mì quyến rũ:
- Tiện thiếp vốn là nữ tử ở chốn trăng hoa, ngoài chút nhan sắc này ra thì chẳng còn sở trường gì khác. Lão gia… lão gia cưới tiện thiếp về chẳng qua chỉ là cho có mà thôi, nào có từng coi tiện thiếp như người vợ bao giờ! Ông ấy thành tâm muốn thân cận với đại nhân nên mới muốn tiện thiếp đến hầu hạ ngài, tuyệt đối không dám có ý đồ gì bất lợi với ngài đâu.

Mạc phu nhân vừa nói, vừa không ngừng cọ sát đôi mông căng tròn đầy đặn vào thân thể Dương Lăng. Tuy người thị rất nhẹ nhưng đôi mông mỹ miều đang ngồi trên đùi Dương Lăng dường như lại nặng đến lạ thường, từ đùi y không ngừng truyền lên cái cảm giác mềm mại mà đầy vẻ đàn hồi ở những nơi được cọ sát.

Nếu không phải cặp mông đầy đặn kia cách chỗ yếu hại còn xa và nếu không phải Dương Lăng đang ngồi khép đùi thì e rằng lúc này y đã phải lâm vào cảnh xấu hổ rồi.

Không thể nhẫn nhịn được nữa, Dương Lăng vươn người đứng dậy đẩy thị ra khỏi lòng, lạnh lùng nói:
- Xin phu nhân hãy tự trọng! Phu nhân là vợ yêu của Mạc đại nhân, Dương mỗ sao có thể làm những chuyện như thế này được? Cáo từ!

Dương Lăng chẳng phải là kẻ ngốc. Nếu Mạc công công không làm chuyện gì xấu thì lôi kéo được hắn đương nhiên là chuyện tốt. Nhưng nếu phải dùng phương thức hưởng thụ thê tử của hắn để thể hiện ý liên minh, cho dù không có điều kiêng kị gì về mặt đạo đức thì ít nhất cũng sẽ bị người ta nắm lấy điểm yếu; sau này khó tránh khỏi sẽ bị Mạc công công đem ra uy hiếp. Hơn nữa, trong nhà y còn có ba vị vợ đẹp thiếp xinh nên y vẫn chưa đến mức đói khát phải ăn vụng bừa bãi bên ngoài như thế này.

Lấy vẻ quyến rũ vô ngần của mình làm vũ khí, trước giờ Mạc phu nhân chưa từng gặp phải chuyện gì bất lợi, hoàn toàn không hề có người đàn ông nào có thể kháng cự được sự quyến rũ của thị cả. Hiện giờ Mạc Thanh Hà đã ngầm tỏ ý bảo thị hãy lên giường với Dương Lăng, nhất định là hắn sớm đã thăm dò kỹ càng về Dương Lăng rồi, y không phải là loại quan viên tham tiền háo sắc mới là lạ. Nhưng tại sao… y lại vẫn cứ giả bộ cự tuyệt mình như thế cơ chứ?

Mạc phu nhân hơi bất ngờ, đồng thời cũng nảy lòng háo thắng. Thị chợt bước tới chắn trước cửa, cười yêu kiều:
- Đại nhân là sủng thần của Hoàng thượng, là tổng đốc Nội xưởng, một tay che trời thì còn sợ cái gì chứ? Thiếp muốn cùng ngài nam hoan nữ ái triền miên một đêm, đó tuy cũng là một cách biểu hiện thành ý của lão gia nhà thiếp với đại nhân nhưng thực ra thiếp… thiếp cũng…

Thị cắn chặt môi, liếc nhìn Dương Lăng với vẻ thẹn thùng vô hạn, khuôn mặt ửng hồng:
- Một công tử trẻ tuổi anh tuấn bất phàm, phong lưu tiêu sái như đại nhân đây, tiện thiếp mới lần đầu nhìn thấy đã thầm ghi tạc vào lòng rồi. Đại nhân… ngài hãy thành toàn cho nô gia đi…

Vừa nói Mạc phu nhân vừa nhẹ nhàng đưa tay lên kéo dải áo, chiếc váy lụa màu xanh tựa như một bóng chim hồng lướt đi trên mặt nước, dán sát vào tấm thân mỹ miều vô hạn của thị trượt xuống dưới. Không ngờ trên người thị chẳng còn mảnh vải nào khác cả.

Bờ vai thon gọn mịn màng kia, bầu ngực đầy đặn rung rinh kia, cái eo thon không đầy một vòng ôm kia, cặp đùi trắng nõn thon dài thẳng tắp được khép chặt lại không để lộ ra khe hở nào ở giữa kia, còn cả chiếc gót ngọc đẹp đẽ kia nữa…

Trên tấm thân nõn nà mà mịn màng ấy nổi bật lên những đường cong nhấp nhô lên xuống chết người. Tuy thân thể thị đang trần trụi nhưng vẫn tràn ngập nét phong tình, tự nhiên cởi mở, cặp mắt như mọng nước đang nhìn Dương Lăng với những tình cảm chứa chan, khóe miệng hơi nhếch lên để lộ một nụ cười yêu kiều quyến rũ còn phảng phất mang theo một ít vẻ lẳng lơ…

Đằng sau một cái lỗ xuyên tường bí mật đang có một đôi mắt chăm chú quan sát thân thể hoàn mỹ không chút tì vết nào của thị. Ánh mắt dần trở nên nóng bỏng, đó chính là đôi mắt của Mạc Thanh Hà.

Một phụ nữ đẹp xiết bao, thật đúng là tác phẩm hoàn mỹ nhất của tạo hóa! Hơi thở của hắn dần trở nên dồn dập. Hắn rất muốn xách thương lên ngựa đích thân xông pha chiến trường nhưng lại không làm được, do đó hắn mới rất thích nhìn lén phu nhân của mình gian díu với người khác, và đây đã dần trở thành sở thích lớn nhất của hắn.

Khi nhìn người khác hoan hảo với Tiểu Lâu, hắn có thể tưởng tượng mình chính là kẻ đó, hắn có thể nhìn thấy cảnh xuân sắc vô biên khi người phụ nữ lẳng lơ đến tận xương tủy kia uyển chuyển rên rỉ dưới thân thể mình, lập tức… hắn sẽ lại có thể nhìn thấy, hắn sẽ có thể cảm nhận niềm vui sướng khi làm đàn ông.

Bởi vì hắn tin rằng tuyệt đối không có chính nhân quân tử nào có thể kháng cự được thân thể và dung nhan tuyệt thế của vị đệ nhất danh kỹ chốn Giang Nam. Loại quan viên áo mũ chỉnh tề như Bố chánh sứ đã không kháng cự được, loại quan viên tự xưng thanh liêm không yêu tiền tài như Án sát sứ cũng không kháng cự được thì loại quan viên mà nhà đã có ba thê thiếp, cả ngày chỉ nghĩ đến chuyện buôn lậu kiếm tiền như Dương Lăng lại có thể kháng cự được sao?

Lúc này Dương Lăng đã ý thức được rằng đây là một cái bẫy, một cái bẫy rất lớn! Y không biết rốt cuộc Mạc Thanh Hà có ý đồ gì? Rõ ràng mình đã nhận tiền hối lộ của hắn, tại sao hắn còn vội vàng dâng thê tử lên cho mình chứ?

Những đứa trẻ đã biến mất một cách kỳ quái kia, tên hào phú Lý Quý đất Giang Nam đột nhiên quật khởi kia, còn cả ánh mắt yêu thương sủng ái đầy vẻ chân thành của Mạc Thanh Hà khi nhìn Mạc phu nhân lúc y vừa mới đến Mạc phủ kia nữa… Bao nhiêu bức tranh thoáng qua trong óc y, nhắc nhở y rằng chắc chắn có một âm mưu to lớn trong chuyện này.

Nên làm thế nào đây? Cự tuyệt với vẻ đầy chính nghĩa, sau đó phất tay áo rời đi? Như thế hình tượng tham quan mà mình tốn công tạo dựng còn có thể khiến Mạc Thanh Hà tin tưởng được không?

Xuôi thuyền theo nước mà tiếp nhận thị? Thị vốn là nữ tử chốn trăng hoa, cũng chẳng có cái gì gọi là trinh thao danh tiết; một vưu vật tuyệt thế như vậy quả thực là có một mị lực khiến người ta không cách nào kháng cự nổi. Nhưng cho dù không bận tâm đến cảm giác của các vị phu nhân nhà mình thì chẳng lẽ từ nay mình lại phải trở thành con rối cho Mạc Thanh Hà thả sức giật dây hay sao?

Phải làm thế nào để đối phương không hoài nghi mà đồng thời vẫn có thể an toàn thoát thân đây? Thân thể yêu kiều quyến rũ của Mạc phu nhân đã tới gần, trông thật hấp dẫn vô cùng. Khuôn mặt thị nở một nụ cười ngọt ngào tự tin khiến người ta say đắm, cánh tay đã giang rộng tự lúc nào…

Đột nhiên, Dương Lăng chợt nảy ra một kế. Khuôn mặt tỏ ra vô cùng đau khổ, y xoay người lại vỗ mạnh lên bàn khiến cốc đĩa lung lay kêu vang không ngớt, sau đó nghiêm giọng quát to:
- Đứng lại! Đừng có tới đây!

Mạc phu nhân vạn vạn lần không ngờ được Dương Lăng lại có hành động như vậy. Thị cũng từng gặp những vị quan có tiếng thanh liêm hơn y nhiều rồi. Như vị ngự sử Giang Nam kia, một lão già tuổi quá lục tuần, dáng vẻ đạo mạo như một chính nhân quân tử, nhưng vừa thấy tấm thân trần trụi của thị rồi cũng chẳng giống như một con chó đực mà nhào tới sao?

Y… Y thật sự đứng đắn như vậy sao? Không phải lão gia đã từng điều tra về y rồi sao? Y tham tiền háo sắc, còn xưng huynh gọi đệ với một gã vẽ xuân cung đồ, y thật sự là chính nhân quân tử được sao?

Thị ngạc nhiên đứng lại, buột miệng hỏi:
- Đại nhân, ngài... ngài không thích ta? Chẳng lẽ Tiểu Lâu không xứng được quyến luyến với ngài một phen hay sao chứ?

Dương Lăng đau khổ chau mày lại, chậm rãi ngoảnh đầu đi, khóe miệng thoáng hiện một nụ cười nhăn nhó:
- Ta có một thị tì xinh đẹp theo hầu bên cạnh. Có phải phu nhân cho rằng giữa ta và cô ấy có điều gian díu gì, phải không?

Mạc phu nhân không biết vì sao y lại đột nhiên hỏi tới chuyện này, không kìm được ngạc nhiên há hốc miệng. Một mỹ nhân đang lõa thể mà khuôn mặt lại như thế, nhìn thật là vừa cổ quái vừa tức cười.

Thị hơi ngẫm nghĩ một lúc rồi lắc đầu đáp:
- Tiện thiếp đã gặp vị cô nương đó mấy lần. Cô ấy... gáy thẳng eo ngay, lông mày tụ mà không tan, còn cả tư thái khi bước đi nữa... Tiểu Lâu nhìn người đã nhiều, vị cô nương đó hẳn vẫn còn nguyên tấm thân xử nữ.

Nói đến đây thị chợt bụm miệng cười, yêu kiều cất tiếng:
- Đại nhân đã có ba phòng thê thiếp rồi mà còn sợ phải nạp thêm một phòng nữa sao? Cớ gì không tiếp nhận luôn vị cô nương ấy? Tư sắc của cô ta quả thực không tồi.

Dương Lăng đột nhiên ngẩng đầu lên trời cười ha hả một tràng dài. Tràng cười này không phải là giả mà là thật sự phát ra từ nội tâm: “Thật đúng là trời giúp ta rồi. Vốn còn tưởng Mạc phu nhân đã hiểu lầm giữa ta và Văn Tâm có gì nhơ nhuốc, ta không tránh khỏi phải mất công miệng lưỡi một phen. Nhưng giờ thị đã nhận ra Văn Tâm vẫn còn là xử nữ, như vậy lý do mà ta bịa ra sẽ càng đáng tin hơn rồi.”

Tràng cười như bị thần kinh của Dương Lăng khiến Mạc phu nhân ngẩn người, lắp bắp hỏi:
- Đại nhân… Đại nhân cười cái gì vậy?

Dương Lăng cười lạnh một tiếng, khóe miệng hơi co giật (vì nén cười), sau đó mới buồn bã giải thích:
- Phu nhân tưởng ta không muốn sao? Đại trượng phu ai mà chẳng muốn tam thê tứ thiếp, con cháu đầy nhà? Ôi, Mạc phu nhân…

Y ra vẻ “tham lam” liếc nhìn tấm thân mê người của Mạc phu nhân, nhưng ánh mắt lại không dám nhìn xuống chỗ hấp dẫn quá độ bên dưới, rồi vội vàng rời ánh mắt đi, ngẩn ngơ nhìn về ô cửa sổ nói tiếp:
- Hôm nay ta và phu nhân đã đứng với nhau ở đây thế này, quyết sẽ không bao giờ kể chuyện giữa chúng ta với người khác, do đó chuyện xấu này của ta cũng chẳng ngại nói cho phu nhân nghe. Phu nhân tưởng ta muốn nạp thiếp sao? Nếu không phải là Hoàng thượng ban hôn, ta sao chịu để bọn họ qua cửa chứ? Phu nhân có biết tại sao ta vì thê tử mà dám kháng chỉ không? Đó là vì ta có lỗi với cô ấy, cô ấy gả cho ta đã được hơn một năm nhưng vẫn còn nguyên tấm thân xử nữ vậy mà cô ấy chẳng hề oán hận ta chút nào. Sao ta có thể không yêu không thương cô ấy chứ?

Mạc phu nhân cả kinh trợn tròn mắt, đưa tay chỉ về phía y, lắp bắp:
- Ngài… Ngài… Thân thể ngài có tật kín…
Thị vừa nói vừa lùi lại, đột ngột nhặt chiếc váy dưới đất lên khoác vào người.

Một phụ nữ giống như thị, lại trải qua những chuyện như thế, căn bản không sợ bị nam nhân nhìn thấy tấm thân lõa lồ của mình, thậm chí là hy vọng được nhìn thấy dáng vẻ thần hồn điên đảo của nam nhân khi nhìn vào tấm thân ấy. Nhưng thị lại không muốn để cho một nam nhân không phải là đàn ông thực thụ nhìn ngắm mình.

Dương Lăng gật gật đầu đầy vẻ đau đớn, u sầu đáp:
- Phải! Cô nữ tì mà ta mang theo bên người đó vốn là con gái của Cao thái y bị chém khi tiên đế băng hà. Ta đã cứu cô ấy, mang theo cô ấy bên người chỉ vì muốn cô chữa giúp ta khỏi cái bệnh không tiện nói ra kia, nhưng… đến bây giờ vẫn chưa tiến triển chút nào. Ta… Ta…

Nói tới đây y chợt xoay người lao qua bên cạnh Mạc phu nhân, dáng vẻ hổ thẹn hoang mang chạy trốn ra khỏi đại sảnh.

Mạc phu nhân nắm chặt chiếc váy trên người, ngẩn ngơ đứng yên tại chỗ, một hồi lâu sau mới chợt khom người ôm bụng cười vang. Thị cười đến nỗi chảy cả nước mắt, không biết là đang cười Dương Lăng hay là cười chính bản thân mình.

Mạc công công đứng phía sau lỗ bí mật trên bức tường đang chờ xem kịch hay cũng ngây dại cả người. Thảo nào… thì ra là thế…, đáng thương, thật là đáng thương! Mình là một thái giám hàng thật giá thật, lẽ nào y lại không phải?

Là người chung cảnh ngộ, rốt cuộc Mạc công công đã hiểu được vì sao Xưởng đốc Nội xưởng vừa mới nhậm chức đã bắt đầu vừa nhận hối lộ vừa đi buôn lậu, liều mạng kiếm tiền như thế rồi.

Đúng thế, loại đàn ông không hoàn chỉnh như chúng ta thì ngoài việc nắm lấy tiền bạc, ngoài việc dùng tiền bạc để chứng tỏ mình là một kẻ có thể khiến người ta phải tôn kính ra thì còn có thể làm được gì khác nữa?

Đằng sau bức tường, hắn không kìm được cũng bật cười. Ban đầu là cười khe khẽ, sau đó cất tiếng cười rộ, tiếng cười pha lẫn nước mắt…




Chú thích:






Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
13-09-2011, 11:40 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 134 - Giương Cung Phải Trái


Dịch: VoVong

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Chiếc bút lông đang xoay tròn trong tay Dương Lăng chợt dừng lại. Y đưa mắt liếc nhìn vị tướng quân giáp trụ đường hoàng đang quỳ trước mặt kia, chợt nhớ lại cái ngày mùa đông lúc hai người lần đầu gặp mặt.

Khi đó y đang ở giếng nước ven đường múc nước uống, nước giếng lạnh băng, trong gàu còn có những mảnh băng phập phù trôi nổi; một vị tướng quân khôi giáp chỉnh tề cưỡi chiến mã đi đến bên cạnh y, vênh mặt hất hàm chỉa roi ngựa vào mặt y mà hò hét.



Chương 134 - Giương cung phải trái (Làm vài việc một lúc)

Dọc dường y đi, đám gia đinh nô bộc kinh ngạc liếc nhìn khâm sai đại nhân đang vội vã trở về khu nhà ngang ở phía tây với vẻ mặt đầy bi phẫn, không biết là đã xảy ra chuyện gì.

Vừa bước vào trong sân, vẻ mặt Dương Lăng chợt trở lại bình thường như làm ảo thuật. Nghĩ đến nét kinh ngạc, thương hại, khinh thường lẫn chán ghét trong đôi mắt của vị Mạc phu nhân quyến rũ vô ngần kia, y muốn cất tiếng cười lớn.

Dương Lăng vừa mới bước vào trong sảnh với nụ cười xấu xa trên mặt thì Cao Văn Tâm đã giống hệt như một con chim én vui vẻ lao vụt tới nghênh đón, hớn hở gọi to:
- Lão gia!

Dương Lăng kinh ngạc liếc nhìn nàng, tò mò hỏi:
- Chân cô khỏi rồi sao? Cớ gì lại vui vẻ như vậy?

Cao Văn Tâm hai tay nắm chặt, cười tươi đáp:
- Dạ! Chân đã hết sưng rồi, cũng không có gì vui vẻ cả, hì hì hì…

Dương Lăng nhìn khuôn mặt rạng rỡ của nàng lại nhớ đến cái khổ nhục kế của mình khi nãy, cũng không kìm được bật cười mấy tiếng, sau đó căn dặn Cao Văn Tâm:
- Văn Tâm! Nếu có người dò hỏi cô về tình hình sức khỏe của ta, cô hãy trả lời qua loa, mơ hồ một chút. Cô nói như thế nào không quan trọng, nhưng hãy tỏ ra ngập ngùng ấp úng, càng thần bí càng tốt.

Cao Văn Tâm ngẩn người, ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao? Ai muốn dò hỏi về sức khỏe của lão gia vậy?

Dương Lăng cười hà hà đáp:
- Thiên cơ không thể tiết lộ. Chưa chắc y đã dám hỏi, có điều không thể không đề phòng. Ôi… Hôm nay đi dự tiệc uống cũng hơi nhiều rồi, tôi đi nghỉ đây. Đúng rồi, hãy pha giúp tôi một bình trà nhé!

Vừa bước được hai bước, chợt y dừng chân cười hì hì liếc nhìn cái miệng đỏ tươi nhỏ nhắn của Cao Văn Tâm, hỏi:
- Cô có biết nên uống loại trà cực phẩm trong cực phẩm như thế nào không?

Tròng mắt hơi xoay chuyển, nàng đáp:
- Về trà đạo thì… nô tì cũng hơi hiểu biết, có điều quan trọng là sự chuẩn bị và quá trình pha chế, còn về cách uống… dường như chẳng được nhắc đến nhiều lắm. Không phải là đều dùng miệng uống sao?

Dương Lăng khẽ cười, nói:
- Không có gì! Cứ pha nhạt một chút, tôi về phòng trước đây.

Dương Lăng vừa đi vừa nghĩ: “Cách này cũng hay thật, khi trở về mình phải tìm Ấu Nương thử xem sao. Nàng hay xấu hổ nhất nên trêu đùa mới càng thú vị.”

Nghĩ đến đây, y lại bất giác nhớ lại dáng vẻ tràn ngập phong tình của vị Mạc phu nhân kia, trái tim không kìm được cơn rung động: ”Không thể không thừa nhận, nếu chỉ xét đến phong vận, ả thật sự là tuyệt thế vô… Không đúng, còn có một người, đó chính là Liên Nhi…
Liên Nhi không những tướng mạo xinh đẹp, mà ngay cả thân hình cũng không có chỗ nào là không quyến rũ, nếu nàng lớn thêm chút nữa…
Ôi! Không biết bây giờ nàng có khỏe không? Ta đến Giang Nam gây ra những sự kiện chấn động lớn như vậy, nhất định nàng đã nghe nói tới rồi, liệu nàng có trách ta vì sao chưa đến thăm nàng không?”

Nghĩ đến đây, bước chân Dương Lăng bất giác trở nên nặng nề, sự vui vẻ vừa rồi lập tức tan biến sạch.

***

Ba ngày liền liên tục bày tiệc đãi khách, Mạc Thanh Hà một mực đi theo bên cạnh Dương Lăng. Từ sau lần thăm dò cuối cùng đó, Mạc Thanh Hà đã thật sự yên tâm hoàn toàn nên sáng sớm hôm sau đã bắt đầu cho chuyển bạc thuế về kinh thành.

Đội thuyền chở bạc khổng lồ khởi hành đi về kinh sư, cờ xí rộn ràng lại có quan binh hộ tống nên chẳng mấy chốc tin tức đã lan truyền đi khắp đất nước. Vị thái giám quản lý việc dệt may ở Tô Châu là Lý Đại Tường vừa được khoái mã báo tin, lập tức dứt khoát sai người vận chuyển bạc thuế đến kinh sư, tốc độ đội thuyền của Tô Châu còn nhanh hơn Hàng Châu một chút. Việc nịnh hót đã chậm hơn Mã Thanh Hà rồi, thuyền bạc nhất định phải đến kinh sư sớm hơn mới được, như vậy cũng coi như là gã đã tỏ rõ lòng trung với xưởng đốc đại nhân rồi.

Đến ngày thứ ba, mượn cớ mấy ngày nay uống rượu quá nhiều nên tửu lượng suy giảm, trên bàn tiệc Dương Lăng chỉ uống chút ít mà thôi. Mọi người đều biết ba ngày nay y liên tục thết tiệc đãi khách nên cũng chẳng nghi ngờ gì, vì vậy phần lớn mọi người đều chỉ kính rượu Mạc công công và Dương tri phủ, chuốc cho hai người say mèm.

Dương Lăng về phủ, chờ cho đám người Lý quản gia khiêng Mạc công công vào trong xong y mới đi nhanh về phía khu nhà ngang của mình. Vừa vào cửa gặp Cao Văn Tâm y đã hỏi:
- Liễu Bưu đã về chưa?

Cao Văn Tâm hơi ngớ người, đáp:
- Liễu thiên hộ vẫn chưa về. Có điều Hoàng chưởng ban đã từ Tô Châu trở về rồi, vẫn đang đợi lão gia đấy.

Dương Lăng hơi bất ngờ:
- Nhanh vậy sao? Tốt lắm, hãy đưa hắn tới gặp ta!

Dương Lăng đi đến cạnh chiếc chậu đồng ở góc phòng rửa tay rửa mặt. Đang lúc y lau rửa, hai hán tử mặc áo xanh đội mũ nồi theo lối nha sai chợt bước vào, quỳ một chân thưa:
- Tham kiến Xưởng đốc đại nhân!

Dương Lăng ngoảnh đầu lại, nhìn thấy một người là Hoàng chưởng ban còn người kia là Liễu Bưu, bèn bật cười:
- Khéo thật đấy, vừa mới trở về sao?

Liễu Bưu đáp vâng một tiếng. Đợi Cao Văn Tâm đón chiếc khăn bông từ trong tay Dương Lăng rồi bưng chiếc chậu đồng ra ngoài, hắn mới bước tới cười nói:
- Đại nhân, mọi việc đều ổn thỏa. Mẫn đại nhân nghe nói ngài muốn ông ấy cầm quân đi bắt người, lập tức vỗ vai thuộc hạ mà khen đại nhân nghĩa khí, có việc tốt thế này liền nghĩ tới ông ấy ngay.

Dương Lăng bật cười:
-Chắc hẳn Mẫn đại nhân làm quan văn rất đau khổ nên vừa thấy có đánh trận là lập tức hào hứng như vậy. Hà hà, chỗ Chủng thiên tổng thì sao?

Liễu Bưu đáp:
- Nhóm diêm binh đi theo đại nhân đánh thắng giặc đều được lợi rất nhiều, sớm đã khiến đám quan binh vệ sở kia thèm đến đỏ mắt. Tuy rằng tin tức hiện giờ chỉ có Mẫn đại nhân và Chủng thiên tổng biết, nhưng chắc hẳn tối nay sau khi hạ lệnh xuống, vệ quân sẽ không có ai là không vui mừng cả.

Hiện giờ nhuệ khí bọn họ cao vọt. Tuy rằng việc huấn luyện còn nhiều thiếu sót, đối phó với đám cướp biển khát máu thiện chiến kia có lẽ chưa được nhưng dùng để đối phó với đám quan binh Long Sơn vệ cũng bất tài y như thế thì nhất định là không có vấn đề gì.

Dương Lăng cười cười:
- Chớ nên sơ suất! Ta từng gặp Tất đô ty rồi, người này quả thực là một tướng tài, tuy rằng quân của y rất đỗi hủ bại, chiến lực thấp kém, nhưng thân binh của y ai nấy đều kiêu dũng thiện chiến, hơn nữa gần như là tư binh của y, tuyệt đối trung thành đối với y. Những người lính này tuy nhân số chưa đầy ba trăm, nhưng nếu để bọn chúng chó cùng rứt giậu gây ra tổn thất nặng nề thì cũng không phải là chuyện hay.

Liễu Bưu gật đầu đáp:
- Vâng! Ti chức cũng đã nghĩ tới điều này, nên mặc dù Mẫn đại nhân ba lần xin đánh, nhưng ti chức đều nói với ông ta rằng diêm binh và vệ binh chỉ phụ trách việc bao vây để dọa dẫm và gây uy hiếp với quan binh ở vệ sở Long Sơn. Còn về thân binh của Tất Xuân… đã có ba trăm nha sai của chúng ta, việc đó còn chẳng phải là dễ như chẻ tre sao?

Dương Lăng nhớ lại cái khí thế không gì sánh nổi khi tám mươi tay đao kia càn quét trên bờ biển, không khỏi gật gật đầu, ngay sau đó lại nghiêm nghị hỏi:
- Đúng rồi! Trong vệ quân có tên nặng không? Đã giao cho diêm binh sử dụng chưa?

Thể lực của vệ quân thông thường đều rất yếu, hoàn toàn không thể kéo căng được cung cứng nên tên nặng thì chẳng bắn nổi ra xa, do đó bọn họ mới dùng đến cái loại tên nhẹ tênh để dối gạt cấp trên khi diễn tập.

Diêm binh không giỏi bắn tên, nhưng cả ngày phải xông pha nam bắc ứng phó với đám giặc cướp trên sông trên núi, do đó sức chiến đấu khá mạnh. Giao cung tên cho bọn họ thì cũng chẳng cần họ phải bắn chuẩn gì cả, cứ bắn tràn ra một lượt. Để đối phó với đám thủ hạ liều mạng của Viên Hùng thì nhất định loạt tên bắn bừa này cũng sẽ có hiệu quả đặc biệt.

Cũng khó trách Dương Lăng cẩn thận như vậy. Vốn y tưởng rằng bắt Tất Xuân sẽ khá khó khăn, còn Viên Hùng chẳng qua chỉ là đề đốc thái giám quản lý việc thuế quan ở Giang Nam, đến lúc đó cứ trực tiếp đến tận cửa bắt người là được. Chẳng ngờ tin tình báo do Liễu Bưu thăm dò được lại khiến y cả kinh.

Thủ hạ của Viên Hùng có tất cả là bao nhiêu người? Đến tận năm nghìn! Ngoài đám tay chân được phái đi khắp các nơi, lũ ngồi không kiếm miếng cơm trong nha môn thuế giám cũng còn lại tới hai nghìn, hơn nữa phần lớn đám này đều là dân lưu manh vô lại hoặc là tội phạm đang lẩn trốn, trong lòng căn bản chẳng có triều đình, cũng chẳng có vương pháp. Do vậy việc bắt giữ Viên Hùng đâm ra còn khó hơn cả bắt Tất Xuân.

Cho nên Dương Lăng mới muốn lặng lẽ giải quyết Tất Xuân, sau đó thì toàn lực đối phó với Viên Hùng.

Nhớ lúc xưa vị tổng giám thuế quan này rời kinh chỉ mang theo mười gã tùy tùng. Hắn muốn nắm quyền thu thuế nhưng lại không thể sử dụng người của quan phủ, vì thế chỉ đành chiêu binh mãi mã, thu nạp một đám côn đồ vong mạng vào dưới trướng.

Mười người mà hắn đem tới mỗi người chiêu nạp chừng hơn trăm tên thủ hạ, mỗi tên thủ hạ lại có ít nhất năm gã tùy tùng. Cứ tựa như là quả cầu tuyết càng lăn càng lớn, tất cả đám lưu manh vô lại, cướp của giết người ở vùng Tô Châu đều được bọn hắn thu nạp. Dù sao bọn chúng cũng là khâm sai, “miệng hô luật pháp, tay nắm kỷ cương”, nên quan lại địa phương cũng chẳng làm gì được.

Liễu Bưu gật đầu đáp:
- Tên quân dụng thì có, chỉ là trong vệ quân ngoài thân binh của Chủng thiên tổng ra chẳng còn mấy ai có thể sử dụng được; thuộc hạ đã kêu y đem cung tên phát hết cho người của Mẫn đại nhân rồi, đại nhân bất tất phải lo lắng nữa! Theo ti chức thấy, Viên Hùng vị tất đã dám phản kháng, người của hắn đều do hắn dùng tiền thu nạp lại, ai lại chịu thật lòng bán mạng cho hắn chứ? Chỉ cần một loạt tên bắn ào tới, hiểu được sự lợi hại của chúng ta thì bọn chúng sẽ tan vỡ ngay thôi.

Dương Lăng trầm ngâm:
- Mong là như vậy! Sáng sớm ngày mai giải quyết Tất Xuân xong sẽ lập tức đưa quân đi bao vây nha môn thuế giám.
Dứt lời y lại quay đầu qua hỏi Hoàng chưởng ban:
- Chuyện ở Tô Châu tra xét thế nào rồi?

Hoàng chưởng ban vội đáp:
- Đại nhân! Ti chức đã điều tra kỹ càng về Lý Quý. Những cô nhi đó sau khi rời khỏi thành Hàng Châu thì chẳng rõ tung tích, chưa từng xuất hiện tại Tô Châu, tựa như là đã hoàn toàn biến mất khỏi thế gian này, không còn ai biết bọn chúng đang ở đâu.

Hắn liếc nhìn ánh mắt của Dương Lăng, lại kể tiếp:
- Ti chức phụng mệnh điều tra lai lịch của gã Lý Quý kia, nhưng lại chẳng ai có thể nói ra rõ ràng. Ti chức hết cách chỉ đành phải công khai lộ diện, mượn cớ rằng có nha sai do Nội Xưởng chiêu mộ tại địa phương đã mang bạc bỏ trốn, sau đó đến chỗ quan phủ tra rõ tình hình hộ tịch, ngầm đọc tài liệu về Lý Quý… Lý Quý có nhà có đất, còn có một hãng thuyền buôn dùng để vận chuyển lúa gạo mua thấp bán cao, có lúc còn thay triều đình vận chuyển gạch vàng để tu sửa hoàng cung và đế lăng, lợi nhuận thu được khá lớn. Mà chủ nhân thật sự của tất cả những thứ ấy đều không phải là Lý Quý, mà là đại phú thương Đỗ Thanh Giang ở Kim Lăng.

Dương Lăng ngớ người:
- Thì ra là phú hào Kim Lăng muốn phát triển sản nghiệp tại Tô Châu sao? Vậy hắn hà tất phải giấu đầu hở đuôi, phái một con rối ra ứng phó với người đời như thế?

Hoàng chưởng ban thưa tiếp:
- Chuyện này có rất nhiều điều kỳ lạ. Khi đó ti chức đã lập tức phái người đến Kim Lăng điều tra, vừa hay người của chúng ta từ kinh sư tới đã đứng vững được ở Kim Lăng, nắm rõ tình hình của người này.

Việc làm ăn của Đỗ Thanh Giang cực lớn, nào là tiệm tơ lụa, tiềm cầm đồ, tiệm vàng bạc, tiệm lương thực, còn có mấy hãng xe ngựa và đội thuyền buôn lớn. Thậm chí ngay đến việc vận chuyển lương thực cho triều đình, vận chuyển các loại vật phẩm cấm kị để xây dựng hoàng cung và đế lăng như gạch vàng…, tất cả cũng đều thường tìm đến nhờ hắn vận chuyển.

Người của chúng ta đã từng thử liên lạc để bắt tay làm ăn với bọn họ. Có điều thế lực của Đỗ gia khá lớn, khi vận chuyển bọn họ hoàn toàn không phải lo lắng bị quan binh làm khó dễ nên họ cũng chẳng cần người của chúng ta ra mặt; do đó bọn họ bèn lên tiếng cự tuyệt thẳng thừng.

Nghe nói đại nhân muốn tra hỏi về căn cơ của Đỗ gia, người ở Kim Lăng bèn lập tức điều tra kỹ càng về Đỗ gia. Vị Đỗ Thanh Hà này vốn nghèo rớt mùng tơi, thời thiếu niên từng làm thuê tại một tiệm vịt muối, sau đó cưới người con gái tàn tật của chủ tiệm nên cuộc sống mới đở hơn một chút, có điều tại Kim Lăng vẫn chưa thể được coi là một nhân vật thực sự.

Về sau Đỗ Thanh Hà đột nhiên trở nên giàu có, mua nhà mua đất phát triển cực nhanh. Mọi người đồn rằng Đỗ Thanh Hà đã đào được bảo tàng mà năm xưa Thẩm Vạn Tam chôn giấu nên mới phát tài.

Tuy nhiên, có một lần Đỗ Thanh Hà mở tiệc sinh nhật mời các bậc danh lưu ở đất Kim Lăng, nhưng Nam Kinh tả đô ngự sự Kim đại nhân đã trả lại thiệp mời và không đến dự. Đỗ Thanh Hà thẹn quá hóa giận, trong lúc uống rượu đã mở miệng mắng lớn, vô ý lỡ lời, tiết lộ rằng huynh đệ của hắn ở ti Lễ Giám ghê gớm như thế nào, chỉ là quan lớn một tỉnh mà cũng dám không nể mặt hắn, Kim lão thất phu hiếp người quá đáng, sau này nhất định phải khiến cho lão ta biết mặt. Từ đó ở Kim Lăng mới bắt đầu lưu truyền rằng hắn có một người anh em ruột, là công công nắm quyền trong ti Lễ Giám.

Ti chức đã điều tra về hộ tịch của Đỗ Thanh Giang, lại tìm được người vợ cũ tàn tật đã bị Đỗ Thanh Giang bỏ, được biết hắn ta còn có một người anh em, năm mười hai tuổi vì gia cảnh bần hàn nên người này đã tự thiến mình nhập cung. Vì việc này mà người đó cảm thấy xấu hổ với liệt tổ liệt tông, nên chỉ giữ tên mà không giữ họ, đổi thành họ Mạc, chính là Mạc Thanh Hà!

Dương Lăng nghe đến đây thì lập tức ngẩn người ra, hồi lâu sau mới hỏi với giọng khó tin:
- Mạc Thanh Hà? Thái giám nắm quyền ở ti Lễ Giám? Mạc Thanh Hà… Chính là Mạc Thanh Hà này… Thì ra là thế… Thì ra là thế…

Liễu Bưu biết rõ rằng lần này Dương Lăng tới Giang Nam chính là để giải quyết việc ba đại thái giám trấn thủ đất này, khiến các thuế giám trong thiên hạ nhìn thấy rõ thủ đoạn của Nội Xưởng, cũng là cho bọn họ một viên thuốc an thần.

Hôm nay vừa trở về gã liền nghe nói về việc Mạc Thanh Hà đã cho vận chuyển bạc thuế về kinh, hiển nhiên hắn đã ngả về phía Dương Lăng rồi. Nếu quá hà khắc với hắn, thuế giám các nơi sẽ cho rằng Xưởng đốc khắt khe quá đáng, nhất định sẽ có người nảy dị tâm, do đó Liễu Bưu vội khuyên:
- Đại nhân! Thực ra quan viên và thuế giám các nơi lợi dụng chức quyền để mưu lợi cho gia tộc cũng là lẽ thường tình. Có câu rằng “nước quá trong thì không có cá”, thêm vào đó hắn còn cố gắng che giấu, lại cũng không phải loại người ngông nghênh kiêu ngạo, không biết nặng nhẹ. Chỉ cần hắn thành tâm làm việc cho đại nhân, đại nhân bất tất phải suy nghĩ quá nhiều làm gì!

Dương Lăng chậm rãi ngồi trở lại ghế, cười cay đắng:
- Hắn chỉ muốn kiếm tiền thì ta có thể không tính toán, nhưng còn những người kia thì sao? Những đứa nhỏ kia đã đi đâu mất rồi? Chuyện này mà không tra rõ, ta khó mà yên lòng được…
Nói tới đây y đột ngột nhảy bật dậy, hỏi Hoàng chưởng ban:
- Đứa nhỏ mấy hôm trước đâu? Chính là đứa nhỏ được đưa từ vườn trà về Cao phủ vào mấy hôm trước ấy, bây giờ nó thế nào rồi?

Hoàng chưởng ban gian nan nuốt một ngụm nước bọt, ngập ngọng:
- Đại nhân! Hôm trước ti chức đã báo cáo rồi… Những đứa nhỏ mà Mạc công công thu nhận hiện giờ đều đã biến mất, đứa nhỏ kia cũng…

Dương Lăng vỗ bàn đánh bộp, cười lạnh:
- Thật là to gan! Nếu không phải ngày đó bản quan ra ngoài tình cờ gặp được đứa nhỏ kia, có lẽ sẽ chẳng nghi ngờ chút nào. Rốt cuộc hắn đã làm gì những đứa cô nhi không cha không mẹ, không có ai hỏi đến kia chứ?

Liễu Bưu và Hoàng chưởng ban cùng đưa mắt nhìn nhau, nhưng chẳng ai có thể trả lời.

Cho dù Dương Lăng là kẻ ngốc thì cũng biết rằng chuyện này nhất định là có quan hệ với Mạc Thanh Hà, y chỉ tay về phía Hoàng chưởng ban hạ lệnh:
- Hơn ba mươi mạng người! Tung tích của hơn ba mươi đứa nhỏ chưa thể làm rõ, bản quan làm sao mà yên lòng bỏ qua cho Mạc Thanh Hà được đây? Ngươi hãy tìm người đóng giả họ hàng xa của đứa nhỏ đó, làm khổ chủ tố cáo Lý Quý, lấy đó làm nguyên cớ để tra xét hắn.

Liễu Bưu do dự một hồi, cung tay thưa:
- Đại nhân đã quyết ý muốn tra xét, vậy xin hãy nghe lấy một lời của ti chức chứ cứ thế này mà tra xét nhất định sẽ chẳng tra ra được gì đâu. Nếu Lý Quý cứ một mực khẳng định rằng đã đem bán đứa nhỏ ấy cho người khác, sau đó lại khai bừa ra mấy vùng đất hoang vu. Chúng ta muốn tìm chứng cứ thì phải cần tới mấy tháng, mà nếu đến lúc đó người chúng ta tìm được kia lại dùng lại kế cũ thì chẳng biết phải tra xét đến năm nào tháng nào đây…

Vừa nghe, Dương Lăng lập tức nhớ đến kế kéo dài thời gian mà khi xưa mình đã bày cho Mẫn huyện lệnh để đối phó với bọn chủ tiệm nhạc khí Vương Đại, Vương Nhị. Tuy rằng khá thô thiển, nhưng trong thời đại giao thông bất tiện này lại rất hữu hiệu. Y không khỏi chau mày hỏi:
- Vậy ngươi có kế hay gì không?

Liễu Bưu hơi nhếch miệng, cười lạnh:
- Gạch vàng của triều đình đều được sản xuất tại thôn Ngự Dao, trấn Nguyên Hòa ở ngoài thành Tô Châu, hãng thuyền của Đỗ gia chẳng phải chuyên môn thay triều đình vận chuyển thứ nguyên liệu cấm kị này sao? Vụ làm ăn này sao có thể thiếu phần của Lý Quý chứ? Chúng ta hãy phái người đến thôn Ngự Dao kiếm lấy một viên gạch mẫu về đây, sau đó trực tiếp đến lục soát Lý phủ, nói rằng có người tố cáo hắn cất giấu vật cấm. Nếu mà tìm được đứa nhỏ thì thôi, còn nếu không tìm được thì hãy vứt viên gạch kia vào trong nhà hắn, vu cho hắn tội khi quân. Trọng tội đó là phải chém đầu, đến khi ấy hắn lại chẳng ngoan ngoãn mà khai toàn bộ chân tướng sao?

Dương Lăng nghe vậy thì hơi do dự. Y chắp tay sau lưng chậm rãi đi lại trong phòng một lát, nhưng nhớ đến đứa nhỏ gầy khô như que củi nhưng lại thông minh đáng yêu mình đã gặp kia, cuối cùng y nghiến răng gật đầu quyết định:
- Hoàng chưởng ban hãy cứ làm như vậy đi! Không hành động thì thôi, hành động thì phải nhanh, phải độc! Mạc Thanh Hà là địa đầu xà ở đây, Viên Hùng có thể có đến năm ngàn nanh vuốt sao Mạc Thanh Hà lại chịu kém được? Không thể để hắn kịp phản ứng!

Kế đó y ngoảnh đầu qua bảo Liễu Bưu:
- Đêm nay sẽ xuất binh bắt giữ Tất Xuân, Viên Hùng. Khi trở về cần lấy cớ đề phòng nanh vuốt của hai kẻ này nổi loạn, tăng cường phòng vệ khu nhà ngang phía tây, không phải người của Nội xưởng quyết không cho phép tiến vào, đặc biệt phải phòng bị…

Y liếc nhìn qua phía Liễu Bưu, gã hiểu ý gật gật đầu, ôm quyền bẩm:
- Ti chức xin vâng lệnh!

***

Đội diêm binh và vệ binh Hải Ninh hành quân cực nhanh, dãy đuốc dài liên miên như rồng rắn uốn lượn. Thỉnh thoảng khi đi qua thôn trấn bọn họ lại gặp những phu tuần điểm canh hay là gã sắc lang vừa từ trong kỹ viện đi ra đang nheo mắt hồi tưởng cảm giác tiêu hồn vừa nãy, có lúc còn gặp con bạc bị đá ra khỏi sòng bạc. Tất cả bọn họ đều ngây người nhìn đại đội binh mã đeo cung cầm đao đang giơ cao ngọn đuốc lặng lẽ đi qua bên cạnh mình, một mảng sát khí ập thẳng vào mặt.

Nam quận có rất ít đội kỵ binh hoàn chỉnh, muốn gom đủ ngựa quân dụng thì khó vô cùng nhưng để kiếm được mấy trăm con ngựa mà cưỡi thì chỉ cần mượn từ phủ của các đại phú hào, đại diêm thương là được.

Mẫn Văn Kiến vừa chỉ huy toàn quân hành quân vừa ngầm chú ý hành vi của Chủng thiên tổng. Dương Lăng đã gửi mật thư nếu Chung thiên tổng lâm trận mà có hành động khả nghi thì lập tức giết không tha. Nhưng dọc đường ông thấy Chung thiên tổng có thần thái ung dung, dường như gã cảm thấy được làm việc cho khâm sai đại nhân là một điều cực kỳ vinh dự, còn hăng hái, hào hứng hơn ông mấy phần, gần như chẳng thể nhìn ra có gì khác lạ.

Lúc này Mạc Thanh Hà vốn say túy lúy vừa mới tỉnh lại trong Mạc phủ. Hắn vươn vai, day day cái trán vẫn còn hơi nằng nặng rồi ngồi dậy, vừa lúc một đôi tay nõn nà đưa tới một chén trà. Ngẩng đầu nhìn lên, đôi mắt kia vẫn nguyên nét dịu dàng như làn nước mùa xuân; chỉ cần nữ nhân này muốn, bất cứ lúc nào thị cũng có thể nở một nụ cười quyến rũ khiến nam nhân phải động lòng.

Mạc Thanh Hà cười bảo:
- Đã lâu lắm rồi chưa uống say đến mức này! Mấy ngày nay giải được nỗi lo, uống rượu cũng thấy sảng khoái.

Hắn đón lấy chén trà. Lúc này trà đã hơi lành lạnh, có điều đối với tình trạng khô miệng nóng người của hắn lúc này thì vừa hay có thể giải khát. Mạc phu nhân dịu dàng:
- Phu quân thì sảng khoái uống say túy lúy. Nhưng chàng có biết sắc trời vừa tối Dương đại nhân đã không từ mà biệt, vất vả dẫn hết đám nha sai đi mất, hiện giờ trong khu nhà ngang phía tây ngoài một tì nữ và hai mươi nha sai thì đã chẳng còn người nào khác nữa không?

Mạc Thanh Hà lập tức bị sặc trà. Hắn ho mấy tiếng, sau đó mới ngẩng đầu lên bừng bừng giận dữ hỏi:
- Khâm sai đại nhân đi đâu vậy? Chuyện lớn như vậy, sao nàng không gọi ta dậy chứ?

Mạc phu nhân chẳng hề sợ hãi, ả khẽ nở nụ cười, nháy nháy mắt với Mạc Thanh Hà, làm bộ tinh nghịch nói:
- Thiếp thân vốn cũng muốn hỏi y, chỉ là sợ vị khâm sai đại nhân đó không dám gặp thiếp… Thiếp kêu người nhà đi xem thử rồi, y dẫn người ra khỏi cổng thành phía tây, sát khí đằng đằng. Do đó thiếp nghĩ… tin tức này… Đợi sau khi lão gia tỉnh rượu nghe được liệu có phải là càng sảng khoái hơn không?

Mạc Thanh Hà lặng yên một lát rồi đột nhiên ngẩng đầu lên trời cười rộ. Hắn phát mạnh lên bờ mông đầy đặn của Mạc phu nhân, cười ha hả:
- Người hiểu ta chính là Tiểu Lâu! Ừm… Ta và Viên gia cộng sự nhiều năm, không thể không niệm tình xưa. Nàng hãy kêu người đi thu dọn phòng chứa củi ở nhà sau đi, trước khi khâm sai đại nhân về kinh chúng ta cũng phải tìm cho Viên gia một chỗ ở chứ, ha ha ha ha…

Khi cưỡi ngựa tới trấn Phong Diệp ở trước thung lũng Long Sơn, Mẫn Văn Kiến hạ lệnh cho toàn quân dập đuốc đi vòng qua trấn. Rời khỏi trấn đi tiếp ba dặm chính là thung lũng Long Sơn, bên trong thung lũng chính là nơi đóng trại của Long Sơn vệ sở. Cửa vào thung lũng có hình chữ “chi” (Tương tự chữ Z - ND.), Liễu Bưu đã qua lại nơi này nhiều lần, lại có viên chỉ huy thiêm sự Đinh Lâm làm nội ứng, sớm đã biết khi rẽ đến lần thứ hai thì mới có trạm gác, hơn nữa bình thường người ở bên trong đều không ra ngoài, do đó thân vệ của Dương Lăng vẫn ung dung yên lặng chờ đợi ở chỗ rẽ thứ nhất.

Sắc trời lúc này đã biến thành màu trắng đục. Khi Mẫn Văn Kiến và Chủng thiên tổng dẫn theo sáu trăm binh sỹ đến nơi, các nha sai mặc áo xanh đội mũ đỏ, hông mang đao dài, lưng đeo trường cung sớm đã xếp thành ba phương trận (đội ngũ hình vuông). Bọn họ đứng nghiêm chẳng hề động đậy tựa như bị đinh ghim xuống đất, hơn nữa lưng mọi người đều thẳng tắp.

Hạng mục biểu diễn sở trường của những quan binh vốn là người của Thần Cơ doanh này chính là xếp hàng bày trận biễu diễn; bây giờ đã có kinh nghiệm chém giết trên chiến trường thì đội hình của bọn họ càng oai phong lẫm liệt, uy nghiêm vô cùng.

Sự trang nghiêm lạnh như băng sương, sự huấn luyện khiến toàn thể đội hình chỉnh tề như nhất này lập tức khiến khoảng không giữa bọn họ lan tràn những luồng sát khí đằng đằng, tuy nhìn không thấy nhưng lại có thể cảm giác được.

Đám diêm binh lưu manh sớm đã được thấy thủ đoạn lạnh lùng tàn khốc như tay đồ tề của tám mươi đao thủ nên lập tức thu lại dáng vẻ cười đùa cợt nhả, trở nên nghiêm túc vô cùng. Diêm binh bị tử thương nặng nề trong trận chiến vừa rồi, trước mắt vẫn chưa kịp bổ sung thêm người, nên ngoại trừ một bộ phận ở lại giữ nhà, lần này bọn họ chỉ phái ra một trăm người.

Một trăm diêm binh này đã được rèn luyện qua cuộc tử chiến với giặc lùn ở bên bờ sông Tiền Đường, tuy rằng thần thái bước đi vẫn còn hơi lỏng lẻo nhưng đã có được loại sát khí kinh người mà chỉ các chiến sỹ thường xuyên chinh chiến ở vùng biên giới phía bắc mới có.

Không khí trang nghiêm ấy cũng làm ảnh hưởng tới cả vệ quân, sắc mặt bọn họ đều trở thành nghiêm trọng. Trong thung lũng lúc này tập trung chừng chín trăm quan binh nhưng lại tĩnh lặng vô cùng, chỉ thỉnh thoảng mới có tiếng thở nhẹ của chiến mã vang ra.

Mẫn đại nhân và Chủng thiên tổng bước tới gặp gỡ khâm sai đại nhân trong bộ quan bào xưởng đốc, hai bên khẽ rì rầm với nhau vài câu. Sau đó ba trăm nha sai liền giữ nguyên hàng ngũ tiến vào thung lũng, ai nấy đều im lặng, chỉ nghe thấy tiếng bước chân loạt xoạt vang lên.

Tướng lĩnh các cấp lần lượt truyền xuống mệnh lệnh của xưởng đốc:
- Hai mươi người ở lại trông coi ngựa, những người khác hãy bám theo, không được phát ra âm thanh nào.

Trước trạm gác, bốn viên binh sỹ trực đêm đang đứng thẳng tắp, chỉ là khóe mắt lại lén liếc nhìn về phía thiêm sự đại nhân đang không ngừng đi đi lại lại, trong lòng cảm thấy hơi kỳ lạ.

Quân doanh này được đặt trong thung lũng, hơn nữa bây giờ không phải là thời chiến nên quyết không thể nào xảy ra việc quân địch tập kích được. Gọi là trạm gác chẳng qua cũng chỉ là cho có mà thôi, tối đến các binh sỹ trực gác đều chỉ ở trong nhà gỗ ngủ hoặc trò chuyện. Nhưng hôm nay còn chưa tới canh tư thiêm sự Đinh Lâm lại đột nhiên xuất hiện nói kiểm tra việc canh gác gì gì đó rồi lại còn không chịu rời đi, hại bọn họ cứ phải ngoan ngoãn đứng yên tại chỗ.

Đúng lúc đó, ngay chỗ rẽ trước mặt đột nhiên xuất hiện một đội nhân mã, một binh sỹ kinh hãi buột miệng kêu lên:
- Kẻ nào? Đứng lại! Không được đi tiếp!

Hai viên binh sỹ bên cạnh hoang mang cầm trường thương lên, một người khác thì đưa tay vớ lấy chiếc kèn lệnh bên hông. Lúc này sắc trời đã hơi sáng, vừa nhìn thấy lối ăn mặc của các binh tốt đang tiến đến Đinh thiêm sự không khỏi thở phào một hơi, gã cuối cùng cũng có thể yên tâm được rồi.

Đinh Lâm lập tức nghiêm giọng quát bảo:
- Hoang mang cái gì? Tất cả đứng trở lại cho ta, đây là binh mã của Dương đại nhân - thống lĩnh thân quân thị vệ của Hoàng thượng, tổng đốc Nội xưởng, phụng chỉ khâm sai. Bản quan đã nhận được mệnh lệnh nên tới đây nghênh đón, các ngươi chớ có vô lễ!

Một loạt quân hàm khiến bốn binh sỹ đó ngây ra, tướng lĩnh cao cấp trong quân đã nói như thế rồi, chẳng lẽ còn sai được sao? Thế là bọn họ chỉ đành chĩa mũi thương xuống đất, tránh qua một bên.

Đinh Lâm vội vàng bước tới nghênh đón, quỳ một chân xuống thực hiện quân lễ với Dương Lăng:
- Hạ quan Đinh Lâm khấu kiến khâm sai đại nhân.

Dương Lăng vội vàng bước lên phía trước đỡ lấy gã, mỉm cười bảo:
- Đinh thiêm sự đúng là người đáng tin, rất tốt! Hôm nay ngươi giúp bản khâm sai bắt được lũ quan lại phạm pháp, sau khi về kinh bản quan nhất định sẽ bẩm báo với thánh thượng, xin ngài ban thưởng cho ngươi.

Đinh Lâm đã nghe nói về sự tích Dương Lăng đánh bại giặc lùn nên cực kỳ tin tưởng sức chiến đấu của đội thân quân của y. Lúc này gã vừa thấy đội quân trước mặt có tới mấy trăm nha sai Nội xương, đằng sau lại còn có một lượng lớn quan binh không biết là được điều từ đâu tới nữa, không khỏi cảm thấy hoàn toàn yên tâm, thần sắc cũng trở nên ung dung hơn nhiều.

Gã mừng rỡ trả lời:
- Đại nhân khoan hồng đại lượng, cho ti chức có cơ hội lập công chuộc tội làm sao ti chức dám không dốc hết toàn lực chứ.

Dương Lăng chỉ khẽ mỉm cười, cũng không khách sáo với y nữa mà đi thẳng vào việc:
- Tình hình trong quân thế nào?

Đinh Lâm đáp:
- Đại nhân đi tuần tra phương nam chủ yếu là vì vấn đề bạc thuế. Tuy Viên Hùng kiêm nhiệm chức giám quân Long Sơn vệ nhưng đại nhân lấy đó làm lý do đi thanh tra Long Sơn vệ thì không khỏi hơi khiên cưỡng, hạ quan vốn còn lo Tất đô… Tất Xuân nghi ngờ. May mà tin đại nhân ở Hải Ninh dựa vào tám mươi tay đao đại chiến với hơn ngàn tên giặc lùn, còn năm trăm vệ quân tại địa phương thì lại hoang mang bỏ chạy đã lan ra khắp nơi. Tất Xuân cho rằng đại nhân giận dữ vì sức chiến đấu của vệ quân quá kém nên mới tới thanh tra, chẳng hề nghi ngờ gì cả.

Đã tới bên cạnh Dương Lăng, Chủng thiên tổng nghe thấy lời của Đinh Lâm thì cảm thấy xấu hổ vô cùng nhưng đồng thời cũng cảm thấy còn may mắn: “Khi vệ quân tan vỡ bỏ chạy có bao nhiêu đôi mắt nhìn vào, hoàn toàn chẳng thể che giấu ai được. Tuy bản thân mình dẫn theo thân quân tử chiến không lùi nhưng cũng chẳng bù được cái tội trị quân không nghiêm, sau này ti đô chỉ huy sứ nhất định sẽ truy cứu chuyện này. Hôm nay có thể đi theo Dương đại nhân tới bắt Tất Xuân, Viên Hùng, lập được công lao, có Dương đại nhân nói giúp cho mình một câu thì nhất định sẽ có thể biến nguy thành an.”

Dương Lăng gật gật đầu hỏi:
- Ngươi đã thu xếp ổn thỏa cả rồi chứ?

Đinh Lâm đáp:
- Vâng, vì sợ rò rỉ tin tức nên ti chức không dám dùng quá nhiều người. Ti chức chỉ tìm tới năm người đều do một tay ti chức đề bạt; trong đó có hai người còn là thân thích của ti chức, tuyệt đối đáng tin.

Dương Lăng gật đầu nói:
- Tốt, lát nữa cứ y kế hành sự! Kêu người của ngươi dẫn nhân mã của Chủng thiên tổng khống chế vòng ngoài, bắt lấy binh sỹ trong tất cả các trạm gác, gây áp lực với sỹ tốt trong quân, đề phòng sinh biến! Ta sẽ phái hai trăm thân quân và một trăm diêm binh tập kích trung quân, nhân lúc đám quan binh trong năm cái lều lớn còn ngủ say chưa tỉnh mà tước vũ khí rồi bắt giữ bọn chúng! Ngươi thì theo ta dẫn một trăm thân quân tiến thẳng vào lều soái, đi gặp người bạn cũ kia!

Dứt lời y lại liếc nhìn bốn viên binh sỹ đứng không xa sau lưng Đinh Lâm, hỏi:
- Bọn họ là người của ngươi sao?

Đinh Lâm vội lắc đầu đáp:
- Bọn họ không phải là người của ti chức. Vì sợ kẻ khác hoài nghi, ti chức không dám dẫn người tới. Có điều bọn họ đều đang đợi ở gần đây, ti chức có thể gọi bọn họ ra dẫn đường bất cứ lúc nào.

Dương Lăng gật gật đầu, đưa mắt ra hiệu cho Trịnh bách hộ. Trịnh bách hộ lập tức dẫn theo bốn người bước tới, cười hì hì bảo:
- Bốn vị huynh đệ vất vả rồi. Trước mắt nơi này đã có bọn ta tiếp quản, các ngươi có thể đi nghỉ ngơi một chút rồi!

- A?
Bốn binh sỹ đó nghe thế thì ngẩn người, còn chưa kịp trả lời thì trên cổ đã bị một thanh đao sáng loáng kề sát. Nụ cười trên mặt Trịnh bách hộ thu lại, hắn lạnh lùng hạ lệnh:
- Trói lại, vứt qua một bên!

Tất đô ti vốn đã đón người mỹ thiếp được sủng ái nhất tới an bài tại trấn Phong Diệp ở phía trước, thường ngày đều ngủ lại trong trấn. Vì nhận được tin trong vài ngày nữa khâm sai Dương Lăng sẽ tuần tra Long Sơn vệ nên gã mới dọn trở vào ngủ trong doanh trại.

Dương Lăng chính là viên dịch thừa nhỏ bé ở trạm Kê Minh khi xưa, chuyện này tất nhiên gã sớm đã biết. Ngày đó tại Kê Minh mọi người đều biết gã vừa ý con gái của Mã dịch thừa, nhưng Mã Liên Nhi lại chẳng thèm để ý tới thể diện của gã, giục ngựa đuổi theo Dương Lăng đang phụng chỉ tiến kinh, khiến gã mất hết mặt mũi. Không những gã vô cùng căm ghét Mã Liên Nhi mà đồng thời còn cực kỳ thù hận Dương Lăng nữa.

Tiếc rằng trời chẳng thỏa lòng người. Sau khi vào kinh Dương Lăng liền đi theo bên cạnh thái tử, nhân cơ duyên này mà trở thành tân sủng bên cạnh thánh thượng, hiện giờ đã như mặt trời chính ngọ, trở thành đề đốc Nội xưởng. Ngoài việc thầm căm hận trong lòng ra thì gã cũng chẳng còn cách nào khác, chỉ đành thở dài than rằng trời cao không có mắt.

Có điều gã cũng chưa từng nghĩ rằng Dương Lăng sẽ gây bất lợi gì cho bản thân gã. Dương Lăng tới đây là để tra xét việc bạc thuế, chẳng liên quan gì tới gã, hơn nữa hai người vốn không thù không oán. Gã làm sao có thể nghĩ tới việc giám quân của hắn - đồng thời cũng là thái giám trấn thủ thuế quan Giang Nam Viên Hùng - phạm tội, do vậy mà đối phương mò ra việc tham ô của hắn.

“Tu… Tu tu…” Tiếng kèn hiệu đột nhiên vang lên, sau đó là tiếng trống vang trời. Tất đô ti từ trong mộng giật mình tỉnh dậy, bừng bừng nổi giận:
- Ai gõ trống thổi kèn vậy? Chán sống rồi hay sao?

Thân binh Trịnh Đại Bằng vốn ngủ tại phòng ngoài, nghe thấy tiếng gầm của Tất đô ti liền hoang mang bò dậy, vội khoác áo chạy ra ngoài xem thử.

Lều soái ở trung quân là một khu vuông vắn, bốn phía được bao quanh bởi hàng rào gỗ cao bằng nửa thân người, ba phía phải, trái, sau bên ngoài hàng rào là năm ngôi lều lớn bao quanh lều soái tựa như quần tinh ủng nguyệt, ở trong đó là ba trăm thân quân được Tất Xuân đích thân đề bạt, tận bên ngoài nữa mới là nơi ở của các binh sỹ bình thường.

Trịnh Đại Bằng thấy năm cái lều lớn đều không có động tĩnh gì, còn đám binh sỹ canh gác xung quanh lều soái ở phía trước lều riêng của đô ti đang đứng trước ánh dương đầu tiên từ đằng đông chiếu tới mà chẳng hề động đậy, xem ra cũng chẳng có vấn đề gì. Hắn bèn vội vàng chạy vào báo:
- Bẩm đô ti đại nhân, bên ngoài không có dị trạng gì, binh sỹ trước lều soái vẫn canh gác cẩn mật…

Lời của hắn còn chưa dứt, đội trưởng đội thân binh Quan Thụ Anh đã vội vàng từ bên ngoài chạy vào. Lúc này Tất Xuân đang mặc quần áo, thấy hắn tiến vào bèn hừ lạnh một tiếng, vừa khoác chiến bào lên người vừa giận dữ trừng cặp mắt tam giác lên quát bảo:
- Đám khốn kiếp đó cả ngày ăn không chờ chết, ngay cả một chút kỹ luật quân đội cũng không hiểu nổi phải không? Không phải ta đã nói ngày kia khi khâm sai đại nhân tới thì mới có thể thổi kèn hiệu, gõ trống trận tập trung binh mã sao? Lũ khốn ngủ nhiều quá thành bệnh rồi chắc?

Quan Thụ Anh sắc mặt trắng bệnh thưa:
- Đại nhân, khâm sai đại nhân đã tới rồi.

- A?
Tất Xuân cả kinh, chiếc áo giáp vừa cầm lên rơi đánh bộp xuống đất, gã nghi ngờ hỏi:
- Y đến lúc nào? Sao ta lại không nghe thấy chút tin tức nào thế? Bây giờ y đang ở đâu?

Quan Thụ Anh đáp:
- Thuộc hạ cũng không biết y tiến vào quân doanh từ lúc nào, hiện giờ y đang ở trong soái trướng chờ đại nhân đấy!

Trong mắt Tất Xuân thoáng qua thần sắc kinh ngạc, sau đó gã chậm rãi khom người nhặt chiếc áo giáp lên, cẩn thận mặc vào người, trầm giọng cất tiếng:
- Tập hợp thân quân, xếp hàng chờ đợi trước lều soái, giờ bản quan sẽ đi gặp vị Dương đại khâm sai này.

Quan Thụ Anh cười nhưng còn khó coi hơn khóc, lắp bắp:
- Đại nhân! Khâm sai đại nhân dẫn người tới, không cho phân bua gì cả đã tước hết vũ khí của các huynh đệ, bây giờ mọi người đều bị giam giữ trong lều, ai dám phản kháng đều giết không tha. Dương… Dương đại nhân còn nhận ra thuộc hạ, do đó mởi thả cho ra, nói là kêu thuộc hạ đi mời đại nhân đến lều soái gặp mặt.

Tất Xuân tức giận đến nỗi sắc mặt lúc xanh lúc trắng, nghĩ bụng: “Mình tốt xấu gì cũng là chủ tướng trong quân, Dương Lăng làm vậy là có ý gì chứ? Muốn thể hiện oai phong? Có cần phải làm lớn như vậy không? Muốn bắt mình? Tội danh gì chứ?”

Tất Xuân căng thẳng suy nghĩ một lúc lâu. Tất nhiên bản thân gã đã từng làm những chuyện phi pháp, hơn nữa còn không ít, nhưng Dương Lăng phụng chỉ xuống Giang Nam không phải là để điều tra việc bạc thuế sao? Vệ sở ở Giang Nam vốn đã tệ như vậy rồi, y dựa vào cái gì mà đem gã ra khai đao, lại dựa vào cái gì mà vượt quyền làm vậy chứ?

Tất Xuân suy nghĩ hồi lâu mà vẫn chẳng thể nào hiểu rõ được vấn đề, thanh đao bên hông đeo lên rồi lại bỏ xuống, bỏ xuống rồi lại đeo lên. Đang lúc gã hoang mang lo lắng, bên ngoài cửa đã có người hô lớn:
- Ti chức là bách hộ Trịnh An Đức của Nội xưởng phụng lệnh khâm sai đại nhân kính mời Tất đô ti đến lều soái gặp gỡ!

Tất Xuân nghiến răng, vứt thanh đao lại lên bàn, rảo bước ra ngoài.

Trước lều soái là hơn hai mươi tướng tá ăn mặc chỉnh tề, khôi giáp mới tinh đang băn khoăn do dự từ từ đi vào lều soái, trong mắt bọn họ lúc này lều soái cứ tựa như là một con mãnh hổ đang há cái miệng to như chậu máu ra. Vừa bước vào, nhìn thấy mấy chục người ăn mặc theo lối nha sai của xưởng vệ đang đặt tay trên cán đao sát khí đằng đằng, người người đều không khỏi cảm thấy run sợ.

Họ thấy những nha sai đang tay giữ cán đao đó đều mang trường cung trên lưng hoặc là súng ngắn bên hông, có người còn có cả nỏ liên hoàn, loại Gia Cát thần nỗ có thể bắn ra năm phát liên tiếp, ở cự ly gần chắc hẳn không thể tránh nổi.

Năm thân tín mà Đinh Lâm tìm tới đều là những quan chức cấp thấp trong quân. Tuy phẩm hàm của họ không cao nhưng so với đám binh sỹ phải đứng gác đêm thì vẫn cao hơn nhiều; có bọn họ dẫn đường, đội quân của Dương Lăng tiến dễ như chẻ tre, tất cả mọi trạm gác đều bị xóa sạch. Đợi đến khi có tiếng kèn lệnh, trống lệnh tập hợp vang lên, các tướng sỹ hoang mang bò dậy thì những binh sỹ lạ mặt có trang phục giống hệt bọn họ đã canh giữ chắc chắn bên ngoài mỗi ngôi lều rồi.

Cùng là binh sỹ, nhưng lại có thể quát bảo ra lệnh cho đội quân khác kể cả một số viên quan chỉ huy, khiến đám sỹ tốt thuộc vệ sở Hải Ninh đều cảm thấy đắc ý vô cùng. Bọn họ không tin rằng đám sỹ tốt và tướng tá kia lúc này đã ở vào thế kém rồi mà còn dám tạo phản làm loạn, nên lại càng oai phong vô cùng, chẳng để ai vào trong mắt. Cái loại khí thế đó lại càng khiến người ta chẳng thể nhìn ra thực lực và gốc gác của bọn họ thế nào, lại càng khiến không ai dám khinh động.

Vệ quân Hải Ninh vừa tuần tra vừa cao giọng tuyên bố mệnh lệnh của khâm sai:
- Tất cả sỹ tốt phải ở trong lều chờ lệnh; những sĩ quan từ cấp bả tổng trở lên phải lập tức đến lều soái nghênh đón đại giá của khâm sai đại nhân. Kẻ nào dám không tuân lệnh, giết! Sỹ tốt nào dám tự tiện rời lều, giết! Kẻ nào dám phản kháng bỏ chạy, giết!

Đến khi vệ quân hô tới lần thứ ba, bắt đầu có những tướng tá lớn mật ăn mặc chỉnh tề lục tục bước ra ngoài lều, có điều để tránh hiểu lầm tất cả đều không dám mang theo binh khí. Khi hô đến lần thứ năm thì tất cả mọi tướng tá đều đã tập trung đến trước hành dinh của đô ti ở trung quân, dựa theo quan chức cao thấp mà run rẩy bước vào trong lều khấu kiến khâm sai đại nhân.

Trong lều soái bắt đầu từ chỗ soái án, mỗi bên đứng một hàng nha sai gồm bốn chục người, vươn dài xuống hai bên theo hình cánh nhạn, bao quanh khâm sai đại nhân đang ngồi sau soái án vào giữa. Giữa các nha sai là hai hàng người, hai vị tướng lĩnh đứng đầu là Lục Quý Vân, chỉ huy phó sứ Long Sơn vệ và chỉ huy thiêm sự Đinh Lâm.

Lục Quý Vân là người thân tín của Tất Xuân, hắn không biết khâm sai đại nhân sáng sớm đến tập kích, khống chế tam quân rồi tập trung tất cả các tướng tá vào trong lều soái là có ý gì, trong lòng cực kỳ sợ hãi. Đinh Lâm thấy đại cục đã định, cả doanh trại đã nằm trong sự khống chế của khâm sai đại nhân nên trên mặt đầy vẻ đắc ý, còn mang theo nét cười nhàn nhạt.

Trên soái án có bày văn phòng tứ bảo, nơi góc bàn còn có một cái hộp làm bằng gỗ đàn hương, bên trong có cắm hai mươi cái hỏa bài lệnh tiễn.

Khâm sai đại nhân phong lưu anh tuấn đang ngồi trên chiếc ghế sau soái án, nghịch ngợm chiếc bút lông trong tay. Y không nói gì, trong lều soái cũng vô cùng tĩnh lặng. Hơn sáu chục người ở trong lều soái mà chỉ nghe thấy có những tiếng hô hấp nặng nhọc do bị kềm nén vang lên, khiến áp lực trong lòng mỗi người càng lúc càng nặng nề.

Đúng vào lúc này, bên ngoài lều soái có người hô vang:
- Bẩm khâm sai đại nhân, chỉ huy sứ Long Sơn vệ là Tất Xuân đô ti đã đến!

Lời vừa mới dứt, một vị tướng lĩnh mặc giáp nghiêm trang rảo bước vào, ngang nhiên đi tới trước soái án. Khi gã chỉ còn cách soái án không xa, hai viên nha sai ở bên cạnh lập tức bước ra giơ đao ngăn cản, miệng quát lớn:
- Phải hành lễ, chờ lệnh; không được đến gần!

Cơ thịt trên đôi má gầy khô của viên tướng lĩnh khẽ co giật, đôi mắt tam giác nhiều lòng trắng ít lòng đen hơi nhướng lên, dường như gã đã bừng bừng nổi giận. Đôi mắt ấy vừa nhướng lên gặp cặp mắt ung dung của Dương Lăng thì không khỏi run sợ cúi xuống. Sau một lúc do dự, gã bèn đưa tay kéo vạt dưới của chiến bào qua một bên, quỳ gối làm lễ:
- Hạ quan Tất Xuân, khấu kiến khâm sai đại nhân!

Chiếc bút lông đang xoay tròn trong tay Dương Lăng chợt dừng lại. Y đưa mắt liếc nhìn vị tướng quân giáp trụ đường hoàng đang quỳ trước mặt kia, chợt nhớ lại cái ngày mùa đông lúc hai người lần đầu gặp mặt.

Khi đó y đang ở giếng nước ven đường múc nước uống, nước giếng lạnh băng, trong gàu còn có những mảnh băng phập phù trôi nổi; một vị tướng quân khôi giáp chỉnh tề cưỡi chiến mã đi đến bên cạnh y, vênh mặt hất hàm chỉa roi ngựa vào mặt y mà hò hét.

Thời gian thấm thoắt thế sự vô thường, vừa chia tay chẳng bao lâu thì hiện giờ gã đã phải quỳ xuống dưới chân mình rồi. Dương Lăng cảm khái thở dài một tiếng, chậm rãi đứng dậy:
- Xin Tất tướng quân đứng dậy. Ngày đó chia tay ở Kê Minh, vốn tưởng ngài và ta sẽ chẳng có ngày gặp lại, không ngờ hôm nay trùng phùng lại ở trong hoàn cảnh thế này.




Chú thích:






Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
15-09-2011, 11:22 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 135 - Cái Khó Ló Cái Khôn


Dịch: VoVong

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Viên Hùng giậm chân một cái, dùng giọng the thé gào lên:
- Thủy tặc giả mạo quan binh định đánh cướp ti thuế quan, chúng bay đâu, phóng hỏa cho ta, thiêu chết cái lũ khốn kiếp ấy!



Chương 135 - Cái Khó Ló Cái Khôn



Tất Xuân chậm rãi đứng dậy, đôi mắt hơi cụp xuống, hờ hững nói:
- Hạ quan xin chúc mừng đại nhân một bước lên mây, quyền cao chức trọng. Nghe nói đại nhân muốn thị sát Long Sơn vệ, ti chức không dám sơ suất chút nào, đang cố gắng chỉnh đốn việc quân chờ đại nhân đến. Có điều không biết vì sao đại nhân còn chưa thông báo mà đã vào doanh khống chế thân quân của ti chức rồi sau đó mới triệu ti chức đến gặp là có ý gì?

Dương Lăng liếc nhìn qua hai bên chỉ thấy hơn hai chục vị tướng tá đứng nghiêm ở đó, ngay cả thở mạnh cũng không dám nhưng người người đều dỏng tai lên, hiển nhiên là rất quan tâm đến ý đồ của y khi đến đây lần này.

Y nở nụ cười mỉm, hôm nay tập kích Long Sơn vệ nhờ có Đinh thiêm sự làm nội ứng, lại ra tay trong lúc đối phương không đề phòng do đó chẳng cần động đến đao thương đã có thể giải quyết được Tất Xuân, trái tim vốn căng thẳng như đeo đá của y cũng nhẹ nhõm hơn nhiều, do đó thần thái cực kỳ ung dung. Dương Lăng thản nhiên liếc nhìn qua phía Liễu Bưu, Liễu Bưu lập tức hiểu ý bước lên trước một bước, cao giọng hô:
- Xưởng đốc Nội xưởng kiêm khâm sai đại thần Dương đại nhân phụng chỉ tuần tra Giang Nam, nhận được sự tố cáo của chỉ huy thiêm sự Long Sơn vệ là Đinh tướng quân, tra xét việc chỉ huy sứ của Long Sơn vệ là Tất Xuân cùng đồng bọn là phó sứ Lục Quý Vân cắt xén quân lương, cưỡng chiếm đồn điền, báo sai quân số, để khí giới hư tổn lại nhiều lần gian dối nhằm nhét đầy túi riêng khiến lòng quân oán hận, sỹ tốt khổ sở vô cùng, tội chứng xác thực. Trong thời gian khâm sai đại nhân tuần tra, tất cả những hành vi phi pháp về quân sự và chính trị ở Giang Nam đều quyền hỏi tới. Giờ xin vâng theo thánh dụ, lập tức bắt giữ Tất Xuân và Lục Quý Vân, mấy hôm nữa sẽ áp giải về kinh lĩnh tội.

Đám tướng tá phía dưới lập tức trở nên nhộn nhạo. Bọn họ sớm đã cảm thấy việc khâm sai đại nhân hôm nay đột nhiên vào doanh rồi lại động can qua như thế tuyệt đối chẳng phải là chuyện tốt gì, không ngờ lại đúng là muốn bắt người, hơn nữa còn là bắt cả chính và phó chỉ huy sứ.

Lục Quý Vân nghe xong không khỏi run lên, hắn và Tất Xuân vừa kinh hãi vừa tức giận. Chỉ huy thiêm sự Đinh Lâm không ngờ Liễu Bưu lại nói ra tên mình ở ngay trước mặt mọi người như thế, sắc mặt không khỏi lúc trắng lúc đỏ: rõ ràng là khâm sai muốn giải quyết Tất Xuân, vậy mà lại nói là nhận được sự tố cáo của y rồi mới điều tra, lần này dù y có nhảy xuống sông Hoàng Hà cũng chẳng rửa được hết tội rồi.

Tất Xuân vừa kinh hãi vừa tức giận nói:
- Đại nhân cớ gì lại nói như vậy? Hạ quan một lòng trung với triều đình, đây rõ ràng… rõ ràng là Đinh Lâm và hạ quan bất hòa, cố ý trả thù, ngậm máu phun người. Đại nhân chớ nên nghe lời nói từ một phía của y!

Đinh Lâm nghe thế cũng chỉ đành hạ quyết tâm, nhảy ra nói:
- Tất đô ti, ngài đã từng làm những chuyện gì thì tự ngài rõ, việc ngài và Lục phó sứ đồng lõa với nhau tham ô quân lương chẳng phải là sự thực sao? Quân lương theo luật thì phải do vị quan thiêm sự ta quản lý, ngài dựa vào cái gì mà một tay nắm hết chứ? Khi ngài đi lên phía bắc thì quyền quản lý lại được giao cho gã họ Lục, sợ ta dính dáng vào…

Dương Lăng khoát tay ra hiệu cho y dừng lại, nói:
- Bản quan được nhiên sẽ không nghe lời từ một phía mà trị tội ai cả, ngươi muốn có chứng cứ sao?

Y vươn người đứng dậy, nói:
- Người đâu, đưa chứng cứ vào đây!

Lập tức có bốn viên nha sai bước vào trong lều, hai người bưng theo một chồng công văn rất dày, hai người còn lại thì khiêng một cái rương lớn, Dương Lăng chỉ tay vào một cuốn sổ nói:
- Đây là sổ ghi chép danh sách quan binh, bên trên ghi nhân số là 6539 người. Bây giờ bản quan sẽ kiểm tra thử, nếu nhân số không chênh lệch quá một trăm người, bản quan sẽ không tính là ngươi ghi khống để cắt xén quân lương.

Tất Xuân nghe xong lập tức mặt vàng như đất, chênh lệch một trăm người? Chuyện đùa, ngàn người còn là ít ấy chứ! Triều đình chính là dựa vào số lượng này để phát quân lương, Dương Lăng làm sao mà biết được? Làm sao lại có vẻ chắc chắn như thế?... Nhất định là tên cẩu tặc Đinh Lâm kia mật báo rồi! Vừa nghĩ hắn vừa hằn học trừng mắt nhìn Đinh Lâm một cái, dáng vẻ tựa như thể chỉ muốn xông lên cắn chết đối phương ngay.

Dương Lăng lại chỉ tay vào một cuốn sổ khác nói:
- Trong quân mỗi một binh sỹ được giao cho một suất ruộng, do quan phủ cung cấp trâu cày, nông cụ và hạt giống, đồng thời trưng thu lương thực theo từng suất, đây là chế độ đồn điền vệ sở. Hiện giờ phần lớn đất đai đều đã bị đám tướng tá cao cấp các ngươi phân chia, chỉ có một số đất cằn cỗi hoang vu là được giao vào tay binh sỹ, các ngươi cưỡng ép tước đoạt như thế, khiến các binh sỹ khó mà sống nổi nên không thể không đào ngũ, lưu lạc tha hương, đây cũng là Đinh tướng quân vu cáo sao? Có cần bản quan phải lần lượt chỉ ra từng chứng cứ không?

Tất Xuân sắc mặt trắng bệch, hai tay run rẩy, khí chất vững vàng đúng mực vốn có đã biến mất hoàn toàn. Dương Lăng thở dài khoát tay một cái, hai nha sai bưng công văn sổ sách liền đứng qua hai bên phải trái, hai nha sai phía sau thì đặt chiếc rương xuống đất, lấy ra một tấm lá chắn, tấm lá chắn đó vốn được làm bằng gỗ cứng rồi bọc sắt bên ngoài, nhưng hiện giờ nhìn mặt ngoài của nó đã rỉ sét, màu sắc thì cũ kỹ, bên trên còn hơi ẩm ướt và có rêu xanh, chẳng biết là đã bao lâu chưa được quét sơn và bão dưỡng rồi. Hai người giống như biểu diễn, một người cầm lá chắn, người kia rút thanh đao bên hông ra, một người chém một người đỡ, đao vừa chém xuống lá chắn liền vỡ tan, hệt như cắt rau vậy.

May mà hai người đã sớm có chuẩn bị, lực dùng đao vừa phải, lá chắn vừa bị chém vỡ là người cầm lá chắn liền thu tay lại ngay, sau đó lại thuận tay lấy từ trong chiếc rương ra một quả địa lôi. Dương Lăng cười lạnh nói:
- Hỏa khí trong quân nhất định phải bảo dưỡng hợp lý, ngươi đem bạc mà triều đình phát cho để duy tu xây dựng phòng chứa hỏa khí đi đâu rồi? Trong mười quả Thần Nha Hỏa Lôi này liệu có tới hai quả có thể nổ được không?

Tất Xuân ngẩng đầu lên trời thở dài một tiếng, nhắm hai mắt lại chẳng nói năng gì, Lục phó sứ tựa như con gà trống bị cắt tiết, ú ớ chẳng biết phải nói gì, sau đó đột nhiên quỳ đánh bộp một cái xuống đất, run rẩy chẳng nói lên lời.

Dương Lăng thở dài một tiếng, ngoảnh đầu lại bảo:
- Ngoài đội thân binh của ngươi, cánh quân này của Đại Minh ta có khác gì với một đám ăn mày chứ? Càng đừng nhắc đến ngươi… Ngươi khi đối địch với lũ giặc lùn thì còn đục nước béo cò… có vô số hành vi táng tận lương tâm!

Y khoát tay một cái, lập tức có bốn nha sai xông vào, ấn Tất Xuân và Lục Quý Vân xuống đất, trói thật chặt rồi lôi ra bên ngoài. Trong lều lúc này vô cùng tĩnh lặng, một số tướng lĩnh có chia phần trong việc này thì đều run lẩy bẩy, sắc mặt trắng bệch.

Sắc mặt Dương Lăng hòa hoãn hơn một chút, nói với chúng tướng:
- Ta biết các ngươi ít nhiều đều có chút hành vi phi pháp, có điều phần lớn là tình thế bức ép, sợ quan trên ghét bỏ nên không thể không vào hùa theo. Hiện giờ bản quan đã trừ bỏ kẻ thủ ác, những người bị bức ép phạm pháp bản quan cũng không truy cứu nữa.

Hơn hai mươi tướng tá nghe vậy đều mừng rỡ vô cùng, lập tức quỳ cả xuống đất, dập đầu tạ ơn:
- Bọn mạt tướng xin cảm tạ Dương đại nhân đã khai ân!

Dương Lăng khẽ mỉm cười, đưa mắt nhìn Đinh thiêm sự nói:
- Đinh tướng quân!

Đinh Lâm thân hình chấn động, vội bước ra nói:
- Có mạt tướng!

Dương Lăng nói:
- Trong quân không thể một ngày không có tướng, hiện giờ trong vệ sở Long Sơn phẩm hàm của ngươi là cao nhất, nhiệm vụ nặng nề này ngươi hãy tạm thời đảm nhận đi, đợi sau này trong kinh có thánh dụ ban xuống thì sẽ trở về chức cũ.

Đinh Lâm mừng rỡ vô cùng, vội quỳ xuống nói:
- Mạt tướng tuân lệnh!

Dương Lăng gật gật đầu, đưa ngón tay ra nói:
- Đại tội của Tất Xuân chính là đại công của ngươi. Hắn cắt xén quân lương, báo sai quân số, cưỡng chiếm đồn điền, để khí giới tổn hại, ngươi biết nên làm thế nào rồi chứ?

Đinh Lâm hơi ngẩn ra, ngẩng đầu lên nhìn thấy ánh mắt sắc bén của Dương Lăng, trong lòng không khỏi run lên, vội trả lời:
- Mạt tướng hiểu, mạt tướng sẽ lập tức đem quân lương bị cắt xén phát cho sỹ tốt, đo đạc lại đồn điền lần lượt trả về cố chủ, sau đó điểm lại nhân số báo cho ty đô chỉ huy sứ, chỉnh đốn lại tác phong quân đội, đồng thời cho duy tu sửa chữa các loại khí giới…

Dương Lăng tựa cười mà chẳng phải cười nói:
- Rất tốt, sau này bản quan sẽ phái người trở lại xem ngươi làm thế nào. Nếu có người dám cản trở hay gây khó dễ, bản quan nhất định sẽ làm chủ cho ngươi. Nhưng chỉ làm những chuyện này thôi vẫn chưa đủ, ngươi còn phải cầm quân cho tốt, khi giặc lùn tới thì có thể đại chiến một phen, đuổi bọn chúng trở về biển cả làm tôm cá. Đừng học theo Tất Xuân chỉ biết đi theo sau đít người ta mong nhặt lấy chút tài vật do đối phương vứt lại, đó đều là mồ hôi nước mắt, là nguồn sống của trăm họ, làm thế thật thất đức lắm!

Đinh Lâm và hơn hai chục viên tướng tá phía dưới đều mặt mũi đỏ bừng, mồ hôi tuôn ra cuồn cuộn nói:
- Vâng vâng vâng, mạt tướng tuân lệnh!

Dương Lăng đứng dậy nói:
- Đinh tướng quân, ngươi hãy ước thúc quân đội của mình cho tốt. Được rồi, bản quan phải lập tức đưa phạm nhân về thành.
Trước khi quyết định ra tay Dương Lăng đã phái người đi thương nghị với Đinh Lâm, chỉ cần Tất Xuân và Lục Quý Vân bị bắt thì trong tình huống như rắn không đầu, cho dù thân quân của Tất Xuân nhất thời không phục thì cũng không có dũng khí công khai phản kháng, huống chi Đinh Lâm ít nhiều cũng có một số thân tín, y tự tin rằng mình có thể giải quyết ổn thỏa chuyện này.

Dương Lăng cũng từng nghĩ đến việc điều quân ở Long Sơn vệ đi tiễu trừ Viên Hùng, nhưng nếu bây giờ sử dụng đến đội quan binh vốn lòng quân chưa vững này, trong loạn quân liệu thân tín của Tất Xuân có ngầm giở trò hay không thật sự là khó nói, do đó để cho an toàn, Dương Lăng quyết định chỉ cần Long Sơn vệ có thể giữ được sự ổn định là đã tốt lắm rồi, không dám hy vọng rằng bọn họ có thể có tác dụng gì khác cả.

Các tướng tá của Long Sơn vệ vội vàng lùi qua hai bên, bốn mươi nha sai bảo vệ Dương Lăng ở giữa nối đuôi nhau bước ra ngoài. Chỉ thấy hai người bạn cũ là Quan Thụ Anh và Trịnh Đại Bằng đang ngẩn ngơ đứng ngay ngoài cửa, trên hai chiếc xe tù tạm thời được trưng dụng là Tất Xuân và Lý Quý Xuân bị trói nghiến vào, vẻ mặt mịt mờ khôn tả, nhìn thấy Dương Lăng bước ra mới chợt cúi đầu xuống hằn học trừng mắt nhìn y, ánh mắt như thể muốn ăn tươi nuốt sống y vậy. Dương Lăng ngày trước từng xưng huynh gọi đệ với Quan Thụ Anh và Trịnh Đại Bằng, giờ đây thấy bộ dạng bọn họ như thế, trong lòng có chút bất nhẫn, do đó mới dừng chân lại, nhưng cũng không tới nói chuyện với bọn họ, chỉ nhỏ giọng bảo Đinh Lâm vốn đi ra theo sau mình:
- Trong vệ sở Long Sơn sức chiến đấu của đội thân quân của Tất Xuân là mạnh nhất, nên vỗ về chứ không nên đàn áp, đừng làm khó bọn họ quá, nên dùng ân đức để thu phục lòng người, bọn họ nhất định sẽ trở thành cánh tay đắc lực cho ngươi.

Đinh Lâm nào dám không theo, vội vàng lên tiếng:
- Vâng vâng, đại nhân yên tâm, lòng dạ hạ quan tuy không so được với đại nhân, nhưng cũng không đến nỗi không chứa nổi mấy tên thân binh, quyết sẽ không làm khó bọn họ.

Dương Lăng gật gật đầu, chậm rãi rời khỏi trung quân, Mẫn Văn Kiến và Trịnh bách hộ dẫn ba trăm sỹ tốt đi theo sau, bên cạnh những ngôi lều ở hai bên, binh sỹ của Chủng thiên tổng vẫn cầm đao cầm thương cẩn thận phòng bị. Đúng vào lúc này trong một ngôi lều ở phía xa có người hô lớn:
- Ta muốn gặp khâm sai đại nhân, ta muốn gặp khâm sai đại nhân.

Dương Lăng ngoảnh đầu nhìn lại, chỉ thấy trong một ngôi lều có một người binh sỹ chạy ra, vệ quân Hải Ninh đã ngăn y lại, mấy binh sỹ nóng tính còn đá y ngã lăn ra đất, sau đó đấm đá một trận. Không khí xung quanh lập tức trở nên náo động, thân quân dưới trướng Dương Lăng đều cẩn thận đề phòng, những binh sỹ có nỏ liên châu trong tay đều đã giơ cây nỏ lên ngang người, hướng đầu mũi tên về phía trước.

Dương Lăng lạnh lùng bảo:
- Chẳng qua chỉ là một người, còn sợ y làm phản chắc? Đưa y tới đây!

Tuy bị vệ quân Hải Ninh đánh cho một trận, nhưng người đó không dám phản kháng, sợ bị người ta hiểu lầm là thích khách mà giết chết, chỉ đành ôm đầu bảo vệ chỗ yếu hại, lớn tiếng kêu lên:
- Ta và đại nhân vốn có giao tình, chớ có đánh ta!

Nghe thấy thân quân của Dương Lăng lớn tiếng quát, đám lính Hải Ninh đó mới chịu dừng tay nhấc người kia lên, bẻ quặt tay y ra phía sau mang lại gần. Dương Lăng vừa nhìn thấy người đó, tuy mặt mũi đã sưng vù nhưng vẫn có thể nhận ra là Mã Ngang, không khỏi cả kinh. Y phải lo nghĩ việc bắt giữ Tất Xuân, Viên Hùng, bố trí người ngầm quan sát Mạc Thanh Hà, có nhiều việc phải quan tâm, không ngờ lại quên mất việc Mã Ngang đang ở trong quân của Tất Xuân.

Dương Lăng vội vàng bước lên hai bước, ra lệnh:
- Mau thả y ra! - Dứt lời liền đi tới nắm lấy tay Mã Ngang, nhìn khắp trên dưới bảo - Mã huynh, quả nhiên là huynh.

Mã Ngang vừa bị đánh cho một trận, nhưng thấy Dương Lăng đối với mình cực kỳ thân thiết, trong cơn mừng rỡ không khỏi quên hết nỗi đau đớn trên người, vội cười bồi nói:
- Khâm sai đại nhân, ta… tiểu nhân…

Dương Lăng vội cất tiếng:
- Mã huynh chớ nên nói như vậy, chúng ta quen biết đã lâu, xưa nay vốn xưng huynh gọi đệ, bây giờ huynh xưng hô như thế thật khiến tiểu đệ áy náy lắm!

Mã Ngang nghe y nói như vậy, lập tức mừng rỡ vô cùng. Xem ra Dương Lăng vẫn chưa quên em gái mình, bây giờ em rể mình đã là xưởng đốc Nội xưởng rồi, hà hà, lần này thì đúng là một bước lên trời.

Thì ra sau lần Mã Liên Nhi đắc tội với Tất Xuân, việc nạp thiếp không thành, Tất Xuân liền không thèm gặp y nữa. Y vốn là thân binh đắc sủng nhất, hơn nữa còn đã được thăng làm thập trưởng nhưng sau đó lại bị Tất Xuân tìm cớ giáng xuống làm tốt đen, cuối cùng thì bị đuổi đi nuôi ngựa.

Trở thành một binh sỹ nhỏ nhoi, lại rời xa tầm mắt của Tất Xuân, Tất Xuân cũng chưa từng làm khó gì y cả. Nhưng y vốn tâm cao khí ngạo, lại từng đọc qua thi thư, có một thân võ nghệ vậy mà giờ phải ở cùng với mười mấy người nuôi ngựa vốn chẳng biết chữ nhất bẻ đôi, suốt ngày bị người ta sai đi gọi lại, cuộc sống thật chẳng dễ chịu chút nào. Về sau dần dà nghe kể Dương Lăng ở kinh sư thăng quan tiến chức vùn vụt, Mã Ngang vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, em gái nhà mình quả nhiên là biết nhìn người, Dương Lăng này thật chẳng phải vật trong ao. Vốn dĩ y cảm thấy em gái mình tướng mạo tài năng đều thuộc vào hàng tuyệt phẩm, làm thiếp cho một tên dịch thừa không những thiệt thòi cho em gái mình mà hơn nữa còn làm mất hết mặt mũi của nhà họ Mã, nhưng bây giờ thì lại suốt ngày lo lắng thiệt hơn, sợ Dương Lăng sau khi vào kinh trở thành nhân vật ở trên muôn người, tầm mắt cũng cao hơn, sẽ không còn thích em gái mình nữa. Y vốn dự định đợi khi Dương Lăng đến tuần tra thì sẽ xin cầu kiến, thử thăm dò xem ý tứ Dương Lăng thế nào.

Nhưng hôm nay Dương Lăng không ngờ lại đột ngột xuất binh, sau khi khống chế xong Long Vệ quân mới vào trong lều soái, y cứ một mực chờ đợi cho tới bây giờ nhưng lại thấy Tất Xuân và phó chỉ huy sứ Lục đại nhân bị trói vứt trên xe, Dương Lăng thì chuẩn bị rời đi rồi. Mã Ngang sợ bỏ lỡ lần này thì sẽ không còn cơ hội gặp lại Dương Lăng nữa, bèn dứt khoát kêu lớn mà xông tới. Dương Lăng thấy làn da màu đồng cổ của Mã Ngang trở nên càng đậm hơn, nhưng khí thế hiên ngang ngày trước thì đã biến mất hoàn toàn, quần áo… cũng quả thực có chút mộc mạc, không kìm được ngạc nhiên hỏi:
- Mã huynh, không phải huynh được làm thân binh ở trong quân sao? Thế này là…?

Đinh Lâm thấy một tên tiểu tốt trong quân của mình không ngờ lại quen biết khâm sai đại nhân, trong lòng kinh ngạc vô cùng, nhưng Mã Ngang vừa mới vào Long Sơn vệ đã là phu nuôi ngựa, y căn bản chưa từng gặp bao giờ, cũng chẳng thể gọi ra tên nên không khỏi tò mò nhìn ngắm hai người.

Mã Ngang thấy chỉ huy thiêm sự Đinh Lâm cung kính đứng sau lưng Dương Lăng mà vị đại nhân bên cạnh kia bản thân cũng nhận ra được, không ngờ lại là Kê Minh huyện lệnh Mẫn đại nhân khi xưa, bèn thừa cơ lớn tiếng nói:
- Đại nhân, từ sau khi xá muội ngầm tự định chung thân với ngài, Tất Xuân trút giận sang ta, còn chưa tới Long Sơn vệ đã giáng ta xuống làm phu nuôi ngựa và làm nhục đủ điều. Hôm nay được gặp ngài ở đây, ta rốt cuộc cũng có lối thoát rồi, xá muội từ sau khi từ biệt đại nhân đến bây giờ vẫn đang ở nhà cũ tại Kim Lăng chờ đợi ngài…

Dương Lăng không khỏi đỏ bừng mặt, vội vàng ngắt lời y lại, nói:
- Mã huynh, Mã huynh, hiện giờ Tất Xuân đã bị bắt, chẳng bao lâu sau sẽ bị ta áp giải về kinh, Đinh tướng quân đã tạm thay chức chỉ huy sứ, ta nghĩ Đinh tướng quân nhất định sẽ không bạc đãi huynh đâu.

Đinh Lâm nghe nói đây là anh vợ của khâm sai đại nhân, lập tức nở nụ cười tươi rói, vội vàng nói:
- Chính thế, chính thế, mạt tướng đang thiếu một vị thân quân đội trưởng, còn chưa tìm được người nào thích hợp, nếu…
Mã Ngang nghe thế thì có chút sốt ruột, Dương Lăng và Tất Xuân không giống nhau, nước lên thì thuyền lên theo, đường đường là xưởng đốc Nội xưởng sao có thể để anh vợ làm một thân quân đội trưởng nhỏ nhoi ở vệ sở chứ? Y bèn vội nói:
- Đại nhân, nghe nói Nội xưởng vừa mới thành lập còn đang thiếu người, hiện giờ chiến sự ở biên cương phía nam cực ít, dốc sức trong quân chẳng bằng…

Mẫn đại nhân vội ngăn lời y lại, nói:
- Đại nhân, diêm binh hiện giờ tổn thất nặng nề, ba bả tổng dưới trướng ta chỉ còn lại một, đang rất thiếu người. Mã Ngang văn võ kiêm toàn mà ta cũng hiểu khá rõ về y, chi bằng xin đại nhân hãy giúp cho một chút để Mã Ngang tới dưới trướng của ta được chăng?

Dứt lời ông ta bèn bước lên phía trước, kéo tay Mã Ngang cười bảo:
- Lâu ngày không gặp hiền điệt, trông ngươi lại càng cường tráng hơn nhiều rồi - Kế đó lại kề sát đến bên tai y nhỏ giọng bảo - Đồ ngốc, ở trước mặt bao nhiêu người như thế ngươi bảo đại nhân làm sao có thể làm việc theo tình riêng được chứ? Trước tiên hãy tới trong quân của ta, chỉ cần lệnh muội không chạy ra khỏi cửa nhà họ Dương thì ngươi còn phải lo cái gì chứ?

Mã Ngang ngẩn ra, tới lúc này mới phát giác mình đã quá nôn nóng, y vừa chỉ rõ thân phận của Dương Lăng ra rồi, lại kêu Dương Lăng thu vén cho mình ở ngay trước mặt mọi người quả thực là không thích hợp, bèn vội ngậm miệng lại.

Dương Lăng thở phào một hơi, quay sang phía Đinh Lâm bảo:
- Mã Ngang là người quen của ta, y văn võ toàn tài, làm một mã phu quả không thích hợp, Mẫn đại nhân dốc sức cho triều đình mấy lần giết địch, trước mắt nhân mã đã tổn thất quá nửa, sỹ tốt thì dễ kiếm nhưng tướng tá khó tìm, Đinh tướng quân có bằng lòng buông người không?

Đừng nói là chỉ một Mã Ngang, cho dù có mang hết người hết ngựa đi Đinh Lâm cũng không dám không đồng ý, y liền vội vàng nói:
- Tất nhiên tất nhiên, vậy thì… Mã huynh đệ xin hãy theo Mẫn đại nhân tới Hải Ninh trước đi, thủ tục điều động hạ quan sẽ làm sau!

Mã Ngang có một thân võ nghệ, văn tài cũng tạm ổn nhưng bây giờ còn chưa chính thức nhậm chức, diêm binh cũng chẳng nhận ra y nên Dương Lăng không tiện để y tham ra vào việc bắt giữ Viên Hùng, bèn phái ra ba mươi quan binh vệ sở để y thống lĩnh, lệnh cho áp giải hai chiếc xe tù chậm rãi đi ở phía sau, còn bản thân thì dẫn theo đại đội nhân mã tiến nhanh về phía nha môn thuế quan.

Lúc này trời đã sáng rõ, ánh dương rạng rỡ vô cùng. Gần ngàn quan binh được điều động đã chẳng thể giấu được tai mắt người ta, bọn họ chỉ đành tiến thật nhanh hầu đạt được hiệu quả xuất kỳ bất ý.

Nha môn thuế quan của Viên Hùng cách Long Sơn vệ không xa, rời khỏi thung lũng đi qua trấn Phong Diệp chừng mười dặm về phía bên trái sẽ tới một nơi có tên là bến Lạc Nhạn, rộng chừng mấy chục dặm. Nơi này vốn chỉ có một bến đò, phía trước là hồ nước mặn, trong hồ có vô số hòn đảo, nước hồ thông thẳng tới biển rộng.

Viên Hùng đã xây dựng nha môn thuế quan ở trên bến Lạc Nhạn này, hiện giờ đám tay chân đi theo hắn càng lúc càng đông, xung quanh nha môn không ngừng được xây dựng thêm phòng ốc, đã dần dần hình thành một thôn trấn độc lập. Ngoài một con đường lớn ra, xung quanh toàn là những cây lau sậy cao đến đầu người. Viên Hùng bỏ thành trì không ở, chạy đến nơi này tự lập làm vương, thật cũng tiêu dao tự tại.

Đại quân vừa mới tiếp cận bến Lạc Nhạn lập tức tỏa ra theo hình cánh quạt rồi tiếp tục tiến đến gần nha môn thuế quan, đội ngũ cầm cung nỏ đi đầu, những người cầm đao thương đi sau. Bãi lau sậy này có diện tích cực lớn, từ xa nhìn lại rậm rạp như rừng, gần ngàn binh sỹ tỏa ra lập tức mất hết tung tích.

Bốn phía xung quanh nha môn thuế quan đều là lau sậy, nhưng lại có ba mặt giáp với đất liền, mặt còn lại thì chính là bến đò xuyên qua giữa bãi lau sậy. Dương Lăng sớm đã phái năm mươi nha sai cưỡi khoái mã tiến thẳng đến bên đò, mục đích chỉ có một, đó là phá hỏng tàu thuyền, như vậy cho dù Viên Hùng có ý chạy trốn thì cũng không thể dùng đường thủy nữa.

Dương Lăng dẫn theo mấy chục thân binh đi giữa bãi lau sậy, mùi thơm nhàn nhạt như mùi bánh theo làn gió ẩm ướt bay tới, khiến người ta đắm say.

Trong bãi lau sậy thỉnh thoảng cũng có dòng sông, nước sông rất nông, khi đại quân đi qua thỉnh thoảng lại làm lũ vịt trời, cò trắng sợ hãi bay vụt cả lên trời, còn có mấy con thỏ hoang, cáo chạy loạn khắp nơi, nhìn rất thú vị. Nhưng mọi binh sỹ đều biết rằng nha môn thuế quan có binh lực gấp đôi bản thân, ai nấy đều rất cẩn thận, do đó cũng chẳng có người nào còn tâm trạng mà ngắm nhìn.

Dương Lăng từng nghĩ đến việc bày tiệc rượu mời khách, giải quyết Viên Hùng mà không phải đổ máu chút nào, nhưng từ sau khi nảy lòng đề phòng với Mạc Thanh Hà thì chủ ý này liền bị bỏ qua. Y quả thực không thể nhìn thấu tâm tư của người này, nếu bản thân mà bày tiệc trong Mạc phủ thì Mạc Thanh Hà là nhân vật nhất định phải mời. Nếu chuyện này bị hắn phát giác mà hắn lại có quan hệ với Viên Hùng, thì chuyện nhất định sẽ thất bại, cho dù có bắt người thành công chỉ e hắn cũng sẽ phái người đi thông báo cho Tất Xuân, vậy là để lọt mất một nhân vật quan trọng rồi, còn nếu muốn đồng thời mời cả Viên Hùng và Tất Xuân thì lại không có cái cớ nào thích hợp.

Nếu xua quân tiến thẳng vào đại doanh của Viên Hùng, hắn nghe theo chỉ ý không phản kháng thì còn đỡ, nhưng nếu phản kháng mà người của bản thân bị bao vây hết trong đó thì khi ấy ai thắng ai bại thật là khó nói.

Do đó Dương Lăng quyết định lặng lẽ chỉ huy đại quân bao vây nha môn thuế quan, đám tay sai kia thường ngày phụ trách thu thuế, truy bắt những thương nhân bỏ trốn, trong tay có đao có thương nhưng không có cung tên, bao vây bọn chúng từ bên ngoài, có tên sắc trong tay, tuy người của đối phương nhiều, nhưng phần thắng ít nhất cũng đạt bảy thành trở lên.

Đại quân chậm rãi áp sát, từ xa đã có thể nhìn thấy nóc phòng của nha môn thuế quan, đúng vào lúc này chợt nghe có người quát lớn:
- Kẻ nào? Đứng lại cho ta, không được đến gần!

Dương Lăng nghe vậy thì ngẩn ra, lập tức nghĩ thầm:
- Chẳng lẽ tin tức đã bị tiết lộ rồi? Nếu không ty thuế quan sao lại đặt trạm gác bên trong bãi lau sậy này như thế chứ?

Y khoát tay một cái, thấp giọng bảo:
- Mau tăng tốc độ, tiêu diệt trạm gác kia!”

Đội nhân mã dàn hàng chữ nhất tăng nhanh tốc độ xông thẳng về phía trước, đúng vào lúc này chợt nghe “bùm” một tiếng vang lên, trong bụi lau sậy truyền ra âm thanh như tiếng chổi quét nhà, ngay sau đó lại có người kêu lên:
- Ôi chao, bọn chúng có súng, ta bị bắn trúng rồi.

Liễu Bưu kinh hãi đẩy Dương Lăng xuống đất, cao giọng hô lên:
- Nằm xuống, nằm xuống hết cho ta, bọn chúng sẽ không nhìn thấy chúng ta, cứ bò về phía trước, phải xông ra khỏi bãi lau sậy ngay rồi sau đó lập tức dùng cung tên hầu hạ bọn chúng!

Nghe thấy tiếng súng thì nằm sấp xuống đất, bò về phía trước chính là thủ đoạn phòng thủ mà khi ở trong quân Dương Lăng đã dạy cho y, lúc này vừa hay có thể dùng. Dương Lăng vừa kinh hãi vừa tức giận, lúc này đại quân chỉ cần xông về phía trước thêm hai trăm mét nữa là tới được nha môn thuế quan rồi.

Xung quanh nơi đó có hơn trăm mét được chặt sạch để làm dải đất trống phòng lửa, chính là tầm bắn hữu hiệu của cung tên. Chỉ cần đại quân bao vây được nơi đó, Viên Hùng chỉ còn nước bỏ tay chờ chết, vậy mà lúc này lại thất bại trong gang tấc, hắn rốt cuộc đã nghe được tin tức từ đâu đây? Không ngờ lại có sẵn an bài thế này. Trời ạ, nếu hắn đã sớm có chuẩn bị, vậy… đội quân tinh nhuệ được phái tới bến đò liệu còn có hiệu quả của kỳ binh không?

Vừa nghĩ như vậy, Dương Lăng lập tức lo lắng đến toát mồ hôi hột, nếu không phải có Liễu Bưu đang ra sức đè y, y đã lập tức nhảy ra ngay rồi. Thực ra Viên Hùng cũng chẳng phát giác ra được hành tung của y, chuyện này chỉ là trùng hợp ngãu nhiên, người cầm súng kia là một tay thuế quan đắc lực dưới trướng Viên Hùng, hắn ta dẫn theo mấy tên thân tín đi săn vịt hoang trong bãi lau sậy.

Không ngờ vừa mới đi được không xa, hắn đã nhìn thấy vịt hoang, cò trắng bốn phía bay lên tới tấp, dưới chân thì có thỏ hoang và cáo sợ hãi chạy tán loạn, nhìn thấy người liền hoang mang chạy qua hướng khác. Vị thuế quan này không phải kẻ ngốc, lập tức đoán được có người đang lén đến gần, hơn nữa nhìn thanh thế này còn không chỉ có một người, không kìm được kinh hãi bèn lớn tiếng hô lên.

Có một số binh sỹ dễ kích động thấy kẻ địch bắn súng thì lập tức bắt đầu bắn tên bừa bãi, những mũi tên ấy tuy không bắn trúng được tay thuế quan kia, nhưng lại dọa cho hắn sợ gần chết.

Súng của ty thuế quan không nhiều, tổng cộng chỉ có không quá năm mươi cây, mấy tên thủ hạ mà hắn mang theo có ba cây súng, lập tức bắn khắp bốn phía, ngăn cản người trong bãi lau sậy tiến về phía trước. Người của Dương Lăng ở trong bãi lau sậy chẳng nhìn thấy gì, đặc biệt là phần lớn quan binh đều không phải là quan binh của Thần Cơ doanh vốn đã được trải qua sự huấn luyện của Dương Lăng, nghe thấy tiếng súng bèn lập tức ngồi xổm xuống đất không dám tiến đi nữa.

Trong tình cảnh địch ta đều chẳng thể thấy nhau thế này, không có biện pháp bảo vệ nào hữu hiệu nên Liễu Bưu tuyệt đối không dám để Dương Lăng mạo hiểm. Dương Lăng hết cách, chỉ đành ra lệnh cho quan binh hô vang rằng khâm sai phụng chỉ đến bắt người, chỉ bắt kẻ thủ ác là Viên Hùng, những người khác không được phản kháng.

Tay thuế quan đó vội vã phái người trở lại nha môn, đem chuyện này bẩm báo cho Viên Hùng. Viên Hùng dẫn người xông ra, nghe nói là khâm sai đại nhân thì sắc mặt không khỏi biến đổi hẳn. Có người đưa lên một mũi tên được bắn ra từ trong bụi lau sậy, Viên Hùng vừa nhìn, quả nhiên là tên dùng trong quân, sắc mặt lại càng tái hơn. Hắn từng làm bao nhiêu chuyện ác trong lòng đương nhiên biết rõ, thấy Dương Lăng dùng đến quân đội lặng lẽ tiến đến đây, nhất định là đã có chứng cứ xác thực, bản thân dựa vào cái gì mà chống lại khâm sai cùng với quân đội chứ?

Viên Hùng sắc mặt trắng bệch, hồi lâu sau mới run rẩy ra lệnh:
- Đừng… Đừng bắn súng làm đối phương bị thương, đón khâm sai ra đây, ta muốn hỏi khâm sai đại nhân xem y dựa vào cái gì mà bắt người?

Trong lòng hắn còn ảo tưởng rằng có thể mua chuộc Dương Lăng, cứ tặng tiền tài và mỹ nữ nhiều một chút, chỉ cần khâm sai chịu buông tay vậy là chẳng phải mọi chuyện đều ổn sao?

Một gã thuế quan thân tín bên cạnh nghe vậy thì lo lắng vô cùng. Kẻ này có họ kép là Đông Phương, vốn là tam công tử của Đông Phương viên ngoại ở Tang Mộc trang bên bờ Thái Hồ, bởi vì thông gian với đại tẩu bị huynh trưởng phát hiện liền dứt khoát giết chết huynh trưởng rồi chạy đến Thái Hồ làm cướp. Hắn từng đọc sách lại có tâm kế, rất nhanh đã leo lên được chức đầu lĩnh.

Về sau vì quan binh càn quét quá dữ, hắn chẳng còn cách nào chỉ đành đi theo Viên Hùng. Người này hung tàn thành tính, ép người ta nộp thuế cực giỏi, rất được Viên Hùng tin tưởng. Cái gã cường đạo có giấy phép này hiện giờ sống rất ổn, bất luận là làm bao nhiêu chuyện ác thì quan phủ đều không dám bắt hắn, ngay đến nha sai nhìn thấy hắn cũng đều phải cung kính gọi một tiếng Đông Phương tam thiếu gia.

Ở nơi này không những kiếm được nhiều bạc hơn khi làm cướp, hơn nữa một số người nợ tiền thuế quá nhiều bị hắn bức ép cho chẳng còn cách nào chỉ đành đưa vợ và con gái tới cho hắn làm nhục, hiện giờ trong nhà hắn còn có một thiếu phụ khá có nhan sắc đã bị hắn giam giữ chơi đùa nhiều ngày, cuộc sống thế này cho dù đổi làm thần tiên hắn cũng chẳng chịu.

Cái tay khâm sai chó má gì đó mang người tới mà chẳng thông báo trước, lén lút mò đến cửa, trong giới thủy tặc ở Thái Hồ loại hành vi này rõ ràng là đã trở mặt ngươi chết ta sống, sao có thể cho đối thủ có cơ hội trở mình? Nếu bây giờ mà chịu nhận thua, Viên Hùng bị bắt thì bản thân coi như là chẳng còn gì.

Hắn lập tức kêu lên:
- Viên gia, ngàn vạn lần không được! Cái tên khâm sai gì đó lén lút mang người đến đây, hiển nhiên là chẳng có ý đồ gì tốt đẹp, thù này coi như đã kết rồi, nếu Viên gia mà chịu nhận thua thì chắc chắn sẽ trở thành cá thịt trên thớt của hắn thôi.

Đừng thấy thường ngày Viên Hùng diễu võ dương oai, trông ghê gớm vô cùng nhưng thực ra tâm kế và bản lĩnh so với rất nhiều tên tay sai vẫn còn kém xa, nghe vậy lập tức thẫn thờ nói:
- Nhưng… Nhưng y là khâm sai, hiện giờ y mang quân đến bắt ta, ta còn có thể làm gì được chứ?

Đông Phương tam thiếu gia cười gằn một tiếng, nói:
- Viên gia, hắn nói hắn là khâm sai, ai nhìn thấy chứ? Chúng ta chỉ nhìn thấy có một đám thủy tặc định tới đánh cướp nha môn thuế quan, chỉ cần giết sạch bọn chúng, hà hà, không phải Viên gia đã nói các công công ở kinh sư rất bất mãn với hắn sao? Đến lúc đó tặng cho các vị ấy một chút bạc, chúng ta lại đã giúp họ trừ một mối họa lớn, bọn họ lại chẳng bảo vệ cho chúng ta ư?

"Giết khâm sai?" Viên Hùng sợ đến giật nảy mình, việc này và giết quan tạo phản thì có gì khác biệt? Nhưng Đông Phương tam thiếu gia nói vậy cũng có đạo lý. Hắn tỉ mỉ suy nghĩ hồi lâu, ánh mắt dần hiện nét hung tàn. Đúng thế, các công công ở ty Lễ Giám coi gã họ Dương như cái gai trong mắt, căn cơ của hắn trong triều đình còn nông, chỉ cần giết chết hắn, có ty Lễ Giám và Đông xưởng chống lưng, thìcho dù là Hoàng Thượng đi chăng nữa cũng chẳng lẽ lại chịu vì một người đã chết mà trở mặt với tiền bạc sao?

Hắn do dự một chút rồi bảo:
- Ngươi có cách chứ? Không biết khâm sai mang bao nhiêu người tới đây, giết khâm sai là tử tội, lỡ mà không thành…

Đông Phương tam thiếu gia cười hà hà một tiếng, nói:
- Viên gia yên tâm, đây là bọn chúng tự tìm đường chết, chúng ta chẳng cần phí một binh một tốt nào cả cũng có thể đưa hết bọn chúng xuống đáy hồ làm bạn với tôm cá.

Lúc này những tên tay sai cầm súng còn đang bắn bừa bãi đi khắp bốn phía, Đông Phương tam thiếu gia chỉ tay vào bãi sau lậy bảo:
- Viên gia, chúng ta hãy phóng hỏa đốt con bà nó một cái, lau sậy xung quanh chỉ cần có lửa là sẽ cháy ngay, đến lúc đó bọn chúng tuyệt đối chẳng còn đường sống!

Viên Hùng nhìn bãi lau sậy rậm rạp kia, hơi có chút do dự, Đông Phương tam thiếu gia lại nói:
- Viên gia, dạ nhỏ há phải người quân tử, không độc đâu xứng bậc trượng phu, hãy làm đi thôi!

Viên Hùng giậm chân một cái, dùng giọng the thé gào lên:
- Thủy tặc giả mạo quan binh định đánh cướp ti thuế quan, chúng bay đâu, phóng hỏa cho ta, thiêu chết cái lũ khốn kiếp ấy!

Mấy người Dương Lăng đang ở trong bụi lau sậy, chợt thấy có khói bay tới, ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy khói đã mịt mờ, kèm với đó là những tiếng nổ lốp bốp loáng thoáng vang lên ở phía trước. Liễu Bưu thất thanh kêu lên:
- Không hay, Viên Hùng phóng hỏa rồi! Đại nhân, làm thế nào đây?

Dương Lăng cũng sợ đến giật nảy mình, vừa nghe tiếng súng đã dừng lại bèn vội vàng đứng dậy, nhưng y vừa mới đứng lên lại càng bị khói hun nhiều hơn, chỉ thấy ngọn lửa ở một trăm mét phía trước đã cháy bùng lên cao tới hơn trượng, lúc này gió lại đang từ mặt hồ thổi về hướng này, ngọn lửa có thể tràn thẳng tới.

Bãi lau sậy dày đặc thế này mà bốc cháy, sức người há có thể cản nổi? Dương Lăng không ngờ việc mình lợi dụng bãi lau sậy để áp sát nha môn thuế quan lại bị người ta phát giác, kế đó Viên Hùng lại dám phóng hỏa, vội vã kêu lên:
- Mau, mau rút lui, lập tức lùi lại phía sau!

Bọn họ đã đi vào bãi lau sậy này không dưới năm dặm, đi bộ làm sao có thể thoát ra được, khi lửa còn chưa cháy tới thì khói đã tràn đến rồi, làn khói dày đặc đó có thể hun cho người ta bất tỉnh, đợi khi lửa nóng cháy đến…

Các quan binh chỉ mới chạy ra được chừng ba trăm mét, khói đã theo gió cuồn cuộn tràn đến rồi, khiến mọi người bị sặc phải ho lên sù sụ, lập tức không chạy nổi nữa. Rất nhiều người đều dừng chân lại với tâm trạng tuyệt vọng, ngay cả một người trước giờ luôn lắm mưu nhiều kế dũng mãnh không sợ chết như Liễu Bưu cũng phải dừng lại, khuôn mặt đầy vẻ thê lương.

Dương Lăng gập người ho lên liên hồi, sau đó liền cắn chặt răng, tuyệt vọng nhìn trời, trong lòng thì hối hận không thôi: Bãi lau sậy liên miên này vốn là chỗ yểm hộ tốt nhất, nhưng bây giờ lại trở thành cái lưới chết chóc không cách nào tránh khỏi, nên làm thế nào đây? Gần ngàn mạng người chẳng lẽ vì sai lầm của mình mà phải vùi thân ở đây sao? Nhưng mình đâu phải thần tiên, chẳng lẽ còn có thể thay đổi hướng gió?

Hướng gió? Hướng gió! Dương Lăng ngẩn ngơ suy nghĩ một lát, chợt kêu lớn một tiếng, khuôn mặt đầy vẻ vui mừng nhảy lên bảo:
- Tất cả mọi người nghe đây, lập tức chặt lau sậy, làm thành một dải đất trống ngăn lửa cho ta, mau lên! Hãy lấy con sông nhỏ này làm ranh giới, lập tức động thủ!

Liễu Bưu tuyệt vọng nói:
- Đại nhân, ngài không biết sự lợi hại của ngọn lửa này, cho dù có chặt ra được một dải ngăn lửa rộng mấy chục trượng thì cũng vô ích, chỉ dựa vào đám khói kia cũng đủ hun chết chúng ta rồi.

Dương Lăng cười ha hả nói:
- Gió cần phải có lửa thổi tới, không có gió thì chúng ta tất nhiên sẽ sống được. Các ngươi mau mau động thủ làm ra một dải ngăn lửa đi, càng rộng càng tốt, bản quan tự sẽ có cách mượn gió đông!

Liễu Bưu bán tín bán nghi, nhưng thấy thần sắc trấn tĩnh của Dương Lăng, lập tức bị cảm nhiễm, lòng tin cũng khôi phục lại mấy phần, nhưng dù y có tin, gần ngàn quan binh kia liệu có chịu tin không?

Liễu Bưu chợt nghĩ ra một kế, lập tức rút đao ra hướng về phía hai bên phái trái hô vang:
- Mọi người lập tức chặt lau sậy, làm ra một dải ngăn lửa, khâm sai đại nhân từng học phép mượn gió ở chỗ Trương thiên sư, nhất định sẽ cứu được mọi người.

Nếu bây giờ hạ một đạo thánh chỉ xuống nói với những quan binh này rằng họ sẽ không chết, chưa chắc đã có người chịu tin, nhưng các nha sai với quan binh này vừa nghe nói khâm sai đại nhân đã từng học phép thuật ở chỗ Trương thiên sư, có thể mượn gió cứu người, lập tức không còn hoài nghi gì nữa. Còn chẳng phải sao, mấy ngày trước khi đại chiến với giặc lùn ở Hải Ninh, khâm sai đại nhân và Trương thiên sư đã đứng sánh vai bên nhau trên đài Quan Triều, thiên sư thần thông quảng đại, nếu đã từng dạy khâm sai đại nhân pháp thuật, mượn gió há lại chẳng dễ như trở bàn tay?

Tất cả mọi người đều liều mạng chặt lau sậy, mỗi người khống chế một mảng lau sậy rộng chừng một trượng xung quanh mình, các quan binh phía trước thì ra sức chặt, quan binh phía sau ôm những cây lau sậy đã bị chặt sát gốc tới chất thành một đống.

Khi chặt ra được một dải ngăn lửa rộng chừng sáu mươi mét, khói đã càng lúc càng nồng, càng lúc càng khó chịu, chui vào mũi vào cổ họng mọi người, khiến bọn họ chẳng còn sức mà chặt lau sậy nữa.

Dương Lăng chỉ tay vào một phía có lửa cháy bảo:
- Chỉ còn thiếu một bước cuối cùng nữa thôi, đem những cây lau sậy đã bị chặt đổ chất hết qua bên này, sau đó châm lửa đốt, bản khâm sai sẽ thi triển pháp thuật ngay đây.

Các quan binh đã chẳng còn tâm trí mà suy nghĩ xem vì sao mình lại phải châm lửa, làm như thế liệu có khiến bản thân chết nhanh hơn không, bọn họ dốc hết chút sức lực cuối cùng, nheo đôi mắt đã bị khói hun cho cay sè lại, liều mạng chất lau sậy tới chỗ mà Dương Lăng chỉ, sau khi châm lửa đốt thì bèn vội vàng chạy ngược trở lại.

Cổ họng của Dương Lăng cũng đã trở nên khản đặc, y cất giọng khàn khàn hô lớn:
- Mau truyền mệnh lệnh, tất cả mọi người cứ nằm sấp xuống, dùng nước sông thấm ướt quần áo rồi đưa lên bịt mũi miệng khi lửa chưa tan thì chớ có đứng lên!

Các quan binh khi chặt lau sậy sớm đã xé rách vạt áo nhúng nước rồi bịt mũi bịt miệng rồi, lúc này lại chạy tới bên bờ sông nhúng nước lại lần nữa, sau đó nằm sấp cả xuống bên bờ sông.

Có một số quan binh không yên tâm còn gắng kìm nén nước mắt mà ngẩng đầu lên nhìn, chỉ thấy đống lau sậy vừa bị đốt cháy lửa bốc lên cao ngút trời, làn khói nồng đậm tràn đến lại càng khiến người ta khó thở. Nhưng tình hình này chỉ kéo dài trong khoảnh khắc, sau đó ngọn lửa không còn tràn về phía bên này nữa.

Hiện giờ tuy vẫn có gió nhẹ thổi về phía quan binh nhưng khói và lửa nóng lại đã tràn về phía ngược lại, dường như hai ngọn lửa có sức hấp dẫn đối với nhau, lập tức khiến khói ở nơi này nhạt đi không ít.

Người thời đó không biết mối quan hệ giữa sự lưu động của không khí và nhiệt độ, thấy hiện tượng quái dị này thì không kìm được vừa kinh ngạc vừa tò mò. Tuy vị khâm sai đại nhân kia cũng đang dùng vải che mặt mà nằm sấp xuống bên bờ sông, căn bản không giống như đang thi triển pháp thuật nhưng tất cả mọi người đều tin rằng khâm sai đại nhân thật sự đã thi pháp cứu mình, lòng tin cũng theo đó mà tăng vọt.

Viên Hùng đứng bên ngoài ty thuế quan thấy ngọn lửa nuốt chửng tất cả đang tiến về phía trước thì không kìm được cười lên ha hả. Xung quanh nha môn của hắn tuy có dải ngăn lửa nhưng một khi cả bãi lau sậy này đều bốc cháy thì cũng không thể kháng cự được những ngọn khói nồng đậm kia, may mà xung quanh bãi Lạc Nhạn này rất hoang vu, hơn nữa cũng chưa từng xảy ra tình trạng bốn phía đều bốc cháy do đó cũng không phải lo lắng tới điều này. Hiện giờ ba mặt đã cháy cả chỉ còn lại phía bên này là nơi đầu gió, đám quan binh kia ẩn nấp trong bãi lau sậy liệu còn có thể sống được sao?

Đúng vào lúc này, những ngọn khói nồng đậm đột nhiên bay tới cuồn cuộn, dọa cho Viên Hùng sợ giật nảy mình, hắn vội vã kêu lên:
- Chuyện gì thế này? Gió đổi hướng rồi sao?

Một tên tay sai bật cao người nhảy lên, hoang mang kêu lớn:
- Hỏng rồi hỏng rồi, Viên gia, chuyện lớn không hay, phía bến đò cũng đã bốc cháy, ngọn lửa đang tràn về phía bên này.

Viên Hùng cả kinh, vội vàng ngoảnh đầu lại nhìn, còn chẳng phải sao, một ngọn lửa nóng bỏng đang từ phía bến đò tràn thẳng tới với thanh thế kinh người. Lau sậy ở phía đó mọc tại nơi bùn lầy, nước ngập quá mu bàn chân do đó rất ẩm ướt, vừa bị đốt cháy liền bốc khói lên rất nhiều khiến người ta cay xè hai mắt, lửa vẫn còn ở xa nhưng cái cảm giác nghẹt thở thì đã tràn thẳng đến rồi…






Chú thích:






Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
19-09-2011, 08:08 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 136 - Bứt Dây Động Rừng


Dịch: VoVong

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Giọng nói của ả toát ra vẻ lạnh lẽo đến thấu xương:
- Lén buôn lậu hàng hóa với người Oa, vẽ bản đồ và thông báo trước tình hình đóng quân cho bọn chúng, dẫn bọn chúng vào đánh cướp, sau đó lại bán chịu lương thực cho những gia đình đã bị cướp bóc sạch trơn, thừa cơ cướp đoạt ruộng đất của bọn họ. Chỉ một điều trong đó thôi cũng là tử tội rồi, huống chi còn có việc ăn óc của bọn trẻ kia nữa, hơn ba mươi mạng người đấy…





Chương 136 - Bứt Dây Động Rừng



Lửa cháy ngợp trời, khói tràn khắp đất. Khu vực này toàn là lau sậy nên tuy rằng đốt vội nhưng lửa cháy lan cũng rất nhanh. Cái nóng trên mặt đất đủ để khiến người ta rát da rát thịt, gió nhẹ thổi qua, từng mảng từng mảng khói xoay tròn giữa không trung, chui vào mũi vào mắt người ta khiến nước mắt nước mũi giàn dụa.

Năm mươi nha sai Nội xưởng chậm rãi bước đi qua những chỗ bùn lầy, lau sậy đã bị đốt sạch, bên trên mặt nước nông được bao phủ bởi một lớp tro đen. Lúc này đám lau sậy trước mặt đã bị cháy sạch, biến thành một bãi đen ngòm, phía xa xa chỉ còn mấy trăm căn nhà của nha môn thuế quan là vẫn đứng sừng sững.

Trịnh bách hộ và mấy chục viên nha sai đều dùng khăn bịt mặt để tránh khói bụi, chỉ để lộ ra đôi mắt. Tuy trong chốn bùn lầy nhưng do mọc đầy lau sậy, gốc rễ bám chặt vào bùn đất, nên giày bọn họ bước trên những gốc rễ đó cũng không quá khó khăn, cuối cùng cả bọn cũng đến được chỗ đất rắn, phía trước đã gần sát với hàng rào bao quanh ty thuế quan. Trịnh bách hộ cầm đao đứng trước hàng rào cẩn thận quan sát bốn phía một vòng, từ trong đôi mắt đen lánh thoáng toát lên vẻ lo lắng khôn cùng.

Hắn quan sát một hồi rồi khẽ hô lên:
- Võ Dũng! Bọn bên trong chắc đã bị hun cho bất tỉnh cả rồi, ngươi hãy dẫn ba mươi người tiến vào trong, kẻ nào còn động đậy được thì hãy tiễn về trời luôn cho gọn!

Một người bịt mặt bên cạnh đáp lại một tiếng, sau đó lại do dự hỏi:
- Vậy… xưởng đốc đại nhân…

Trịnh bách hộ thở dài bảo:
- Ta sẽ dẫn người đi tìm thử xem sao, e là… e là lần này đại nhân lành ít dữ nhiều rồi…

Người bịt mặt đó giậm giậm chân cho những mảng bùn đất nặng nề trên chân rơi xuống, sau đó đột ngột rút đao, nghiêm giọng quát lớn:
- Ba mươi người theo ta vào trong! Ty thuế quan giết quan tạo phản, tội không thể tha, kẻ nào dám phản kháng: giết không luận tội!

Sau một tiếng “rõ” vang lên như sấm động, ba mươi tay tráng niên đồng thời rút đao, sát khí đằng đằng chém bung hàng rào, xông thẳng vào bên trong. Trịnh bách hộ biết nếu bọn hắn cứ tiến vào như thế này thì e rằng rất nhiều người vốn đang hôn mê bất tỉnh cũng vẫn sẽ bị giết chết, bèn há miệng ra định ngăn cản nhưng lời đến bên miệng lại nuốt trở vào. Nếu thật sự đại nhân đã vùi thân trong biển lửa, y há lại không hận chẳng thể giết sạch toàn bộ đám người trong ty thuế quan kia hay sao?

Trịnh bách hộ hừ lạnh một tiếng, vung chân đá bay một cây cọc gỗ vốn đã bị chém đứt, sau đó rảo bước đi vào, hai mươi tay nha sai còn lại theo sau y, đi xuyên qua dãy phòng ốc dày đặc xông thẳng về hướng đối diện. Dọc đường gặp phải những kẻ đã bị khói hun cho mặt mũi đen xì nằm hôn mê trên mặt đất, bất luận là có còn hơi thở hay không, các nha sai đã đỏ ngầu hai mắt đều tặng cho một đao gọn nhẹ, Trịnh bách hộ chỉ coi như chẳng thấy gì.

Trước đó Dương Lăng đã cho người đóng giả làm thương nhân đến nộp thuế, từng đến ty thuế quan thám sát hai lần. Nơi này bốn bề hoang vu vắng lặng nên nếu dùng phương thức khác tùy tiện đến gần, một khi bị người của ty thuế quan phát hiện thì khó tránh khỏi việc khiến người ta sinh nghi. Cũng chỉ có cách giả làm thương nhân mới an toàn hơn một chút.

Qua một phen điều tra tỉ mỉ, bọn họ phát hiện người của ty thuế quan thường ngày sau khi thu thuế về chỉ tụ tập ở bên trong mà đánh bạc chơi gái. Mười mấy con thuyền thu thuế trên bến đò chỉ để cho vài người giữ thuyền ở lại canh giữ, chỉ cần một số ít quan binh đột ngột tập kích cũng đủ sức phá hoại hết những chiếc thuyền nọ.

Quả nhiên, công tác chặt đứt đường đối phương rút lui của Trịnh bách hộ tiến hành rất thuận lợi. Sau khi phá hoại hết cột và cánh buồm xong, Trịnh bách bộ cho quân giữ chặt quanh bến đò. Vì trước mặt là một bãi lau sậy lớn nên nếu hắn vượt qua bãi lau sậy đến tập kích ty thuế quan thì người từ ty thuế quan trốn ra chỉ cần ẩn nấp hết vào trong bãi lau sậy, lúc đó năm mươi người của hắn hoàn toàn không thể lục soát hết được. Do đó hắn muốn chờ đợi ở bến đò để bắt những con cá lọt lưới, đồng thời phái thân tín là Võ Dũng đi tới ty thuế quan quan sát động tĩnh.

Võ Dũng ẩn nấp trong bãi lau sậy lẻn đến gần ty thuế quan, vừa kịp nhìn thấy cảnh thủ hạ của Viên Hùng nổ súng, sau đó còn phóng hỏa đốt người. Trong cơn kinh hãi gã bèn vội trở về hồi báo. Vốn Trịnh bách hộ nhờ tiêu diệt giặc cướp đắc lực, tích lũy quân công nên mới được làm quan tại Thần Cơ doanh, kinh nghiệm dã chiến mười phần phong phú. Sau khi trù tính một lúc, hắn bèn đưa ra mệnh lệnh chiến đấu hợp lý nhất: “Địch đã phóng hỏa, chúng ta ở phía đầu gió so với kẻ địch, chúng ta cũng phóng hỏa!”

Hiện giờ mấy chục người bọn y căn bản không thể nào cứu được tính mạng của Dương Lăng, cách duy nhất có thể làm bây giờ là lấy hỏa trị hỏa tiêu diệt Viên Hùng. Bằng không, đợi đến lúc Viên Hùng dẫn người đánh tới, chỉ e rằng ngay cả người báo thù cho xưởng đốc cũng chẳng có.

Nhóm Trịnh bách bộ xông đến dãy ngăn lửa ở phía bên kia, bắt gặp trên mặt đất nằm ngổn ngang rất nhiều người. Bởi vì khói tràn tới quá nhanh, vốn xưa nay ty thuế quan chỉ ra vào bằng đường thủy lại chẳng có ngựa mà dùng, do đó những người này không có đường thoát; bất luận là trốn vào trong phòng hay là trốn đến góc tường khe rãnh, phần lớn đều bị khói hun đến hôn mê.

Các nha sai đã giết đến đỏ cả mắt đang xách những thanh đao nhơm nhớp máu tươi định lần lượt chém chết bọn người đang nằm lăn trước mặt, Trịnh bách hộ đột nhiên kêu lớn:
- Dừng tay hết cho ta! Các ngươi nhìn… Các ngươi nhìn đằng kia kìa…

Trong giọng nói khàn khàn của Trịnh bách hộ toát ra một nỗi mừng rỡ đến điên cuồng, thậm chí giọng đã hơi run run. Vốn hắn đoán rằng đại nhân gần như không có hy vọng sống sót. Nhìn ngọn lửa vừa rồi, nếu người ở trong đó còn sống được thì quả thực là kỳ tích trong kỳ tích, do đó tuy vẫn mang theo một chút hy vọng mong manh mà xông tới nơi này, nhưng hắn đã chuẩn bị tinh thần sẵn sàng cho tình huống xấu nhất.

Nhưng khi đến đây y mới kinh ngạc phát hiện mảng lau sậy ở cách xa hơn một dặm vẫn còn chưa cháy. Tuy rằng trong lúc bị gió thổi đung đưa, những bông hoa lau theo gió bay lên trời đều có màu đen xì, còn mảng lau sậy kia trông chẳng khác gì một bức tranh thủy mặc, nhưng đó quả thực là một mảng lau sậy.

Không ngờ mảng lau sậy đó vẫn còn chưa cháy, vậy đại nhân…? Trịnh bách hộ lê đôi giày nặng nề lao thẳng vào trong khoảng lau sậy đã bị thiêu cháy ra tro trong tâm trạng mừng rỡ điên cuồng, làm cuộn lên một mảng tro đen. Sau khi vất vả chạy tới bên cạnh mảng lau sậy chưa cháy nhưng đã bị hun khói thành đen ngòm, hắn thấy bên cạnh dòng sông nhỏ phía trước nằm dày đặc toàn người là người, nhìn trang phục thì rõ ràng là người của nha sai Nội xưởng và quan binh vệ sở.

Trịnh bách hộ tiện tay lật một người lên, gỡ chiếc khăn ẩm trên mặt y xuống. Người đó khắp người khắp mặt đều đầy tro đen, đầu tóc với lông mày đã chẳng thể nhìn rõ nữa, phần bên dưới chiếc khăn ẩm tuy sạch sẽ hơn một chút nhưng trong lỗ mũi cùng toàn là tro đen. Trịnh bách hộ đưa tay dò thử thấy vẫn còn hô hấp không khỏi lòng tin tăng vọt, hắn bỏ viên quân binh vệ sở đó xuống đất, đứng bật dậy gầm lớn:
- Lập tức tìm, lập tức tìm cho ta! Tìm được xưởng đốc đại nhân sẽ được trọng thưởng!

Không đợi hắn ra lệnh, các nha sai khác đã vội vã tìm kiếm khắp xung quanh. Nhóm người của Dương Lăng nhờ có ngọn lửa cháy ngược trở lại, khói cũng theo đó cuộn ngược trở về nên tình trạng bị hun khói còn nhẹ hơn người của ty thuế quan một tí. Tuy rằng cũng có người bị hôn mê, nhưng chỉ cần được gọi to một tiếng hay vỗ vỗ vào má vài lượt là đã dần dần tỉnh dậy, rồi kế đó họ bèn rửa mặt luôn bên dòng sông nhỏ kia, hồi phục lại thể lực rất nhanh.

Trịnh bách hộ đang tìm kiếm với tâm trạng vô cùng lo lắng, chợt một nha sai ở đằng xa điên cuồng kêu to:
- Ta tìm được xưởng đốc đại nhân rồi, ha ha ha ha, đại nhân vẫn còn sống!

- Ở đâu? Ở đâu?
Trịnh bách hộ cả mừng bèn cùng mấy viên nha sai ở gần đó vội vàng chạy tới. Tên nha sai đó đang ôm một người trong lòng, tuy rằng đã bị hun đen thui giống như ông táo, nhưng nhìn quần áo và tướng mạo kia thì vẫn còn có thể nhận ra được Dương Lăng.

Trịnh bách hộ đưa tay thử thấy vẫn còn hơi thở, bèn vội vàng xé vạt áo của mình ra nhúng xuống dòng sông, lau bừa trên mặt Dương Lăng một lượt. Nhờ có sự kích thích của nước, Dương Lăng từ từ tỉnh lại, y muốn mở miệng nói chuyện, nhưng lại cảm thấy cổ họng mình nóng như thiêu như đốt, không kìm được ho lên mấy tiếng dữ dội, rồi y bèn gạt lớp tro tàn nổi trên mặt nước ra mà vục lấy hai ngụm nước uống cho mát họng. Sau khi đưa tay lau sơ qua đám tro đen trên mặt và bên khóe mắt một chút, y mới đứng dậy đưa mắt quan sát tình hình xung quanh một vòng, hỏi:
- Sao ngươi lại đến đây? Người của Viên Hùng đâu?

Trịnh bách hộ mừng khấp khởi đáp:
- Đại nhân ở hiền gặp lành, vừa rồi thực khiến ti chức sợ chết khiếp. Đại nhân yên tâm, Viên Hùng phóng hỏa, hạ quan cũng phóng hỏa. Người trong ty thuế quan đều đã bị hun cho bất tỉnh cả rồi, dù còn có người tỉnh táo thì cũng chẳng phản kháng gì được.

Tinh thần phấn chấn, Dương Lăng vội hạ lệnh:
- Mau, dội nước cho tất cả mọi người tỉnh lại! Đến khống chế nha môn thuế quan nhanh lên, chớ để kẻ nào chạy thoát.

Đội quan binh da đen do Dương Lăng cầm đầu vội vàng đến ty thuế quan, ngăn cản ba mươi nha sai đang chém giết đến đỏ cả mắt kia lại, lệnh cho bọn họ cùng mọi người đi tịch thu vũ khí của đối phương, sau đó trói nghiến cả lại, đi tiếp nhận ngân khố. Bọn họ bất ngờ phát hiện trong số những người bị khói hun bất tỉnh còn có mấy chục phụ nữ. Sau khi dội nước cho tỉnh lại rồi tra hỏi một phen mới biết ngoài mấy kỹ nữ được bỏ tiền ra đưa về, còn lại đều là phụ nữ nhà dân bị ép phải dùng thân trả nợ hoặc là bị người của ty thuế quan dùng vũ lực cướp về. Như thế trong tờ cáo trạng dành cho Viên Hùng sẽ lại có thêm một tội lớn.

Khi lục soát ty thuế quan, tuy không ai dám động đến ngân khố nhưng đám tay sai gian ác của ty thuế quan có kẻ nào mà không vơ vét được một đống tài sản chứ? Những quan binh kia khi đi lục soát từng nhà đều tiện tay dắt dê nhét vào người không ít thứ. Dương Lăng đều nhìn thấy cả, nhưng đối với quân đội thời bấy giờ thì có thể yêu cầu cao đến đâu cho được? Thêm nữa họ lại đều là những người vừa mới vào sinh ra tử với mình nên Dương Lăng cũng chỉ đành nhắm mắt làm ngơ.

Không còn ty thuế quan chống lưng, án cũ án mới của lũ người gian tà thất đức này đầy ra cả rổ, tất nhiên sẽ có quan phủ lần lượt xét xử phán quyết.

***

Bên trong Mạc phủ, Dương Lăng tắm đi tắm lại bốn lượt, rốt cuộc màu của nước tắm cũng trong hơn nhiều. Da của y đã bị hun nóng đến nỗi chuyển thành màu đỏ rực, y cứ thế ngồi trong thùng nước, thoải mái nhắm hai mắt lại.

Phen bắt người lần này tuy gian nan nhưng gần như không bị tổn thất gì, dù sao cũng không phải động đến binh đao. Tuy đám Viên Hùng suýt nữa đã khiến bọn y toàn quân bỏ mạng, nhưng may mà ở trong tuyệt cảnh bọn y lại tìm được đường sống, thành ra không phí một binh một tốt mà đã bắt được Viên Hùng và toàn bộ lũ tay sai gian ác kia. Lúc này Dương Lăng đang suy nghĩ xem nên giải quyết những chuyện còn lại như thế nào.

Bởi vì hiện giờ đã nảy lòng nghi ngờ với Mạc Thanh Hà, Dương Lăng không dám đem nhốt Tất Xuân và Viên Hùng vào trong Mạc phủ. Vừa về đến Hàng Châu y bèn lập tức hạ lệnh cho chiếc thuyền quan vốn chở đầy hàng hóa và tiền tài áp giải hai gã phạm nhân này lên đường về kinh luôn. Hành động này của y đã khiến cho công công Mạc Thanh Hà vốn đầy hào hứng chờ được nghênh đón vị oan gia đối đầu Viên công công vô cùng thất vọng.

Hiện giờ Dương Lăng có quá nhiều việc cần làm, hơn nữa mỗi việc đều phải tùy cơ ứng biến, trước khi có thêm tin tình báo thì không có cách nào ra quyết định được. Rốt cuộc y vẫn còn chưa biết Mạc Thanh Hà có âm mưu gì không, nếu cứ tùy tiện ủy thác việc thu thuế ở Giang Nam cho hắn, mà người này lại không phải là hạng có thể nhờ cậy thì địa bàn khó khăn lắm mới giành được này coi như là đã giao lầm vào tay quân ác. Do đó nếu chưa điều tra rõ về Mạc Thanh Hà thì y không cách nào yên lòng về kinh.

Người của Viên Hùng đã bị một lưới bắt gọn nhưng ty thuế quan nhất định vẫn phải thiết lập. Trả lại nó cho bộ Hộ ư? Hoàng đế Chính Đức sẽ không đồng ý, tất cả những thuế giám khác cũng sẽ vì việc này mà coi y như kẻ thù. Như vậy thì phái ai đến trấn thủ thuế quan đây? Chuyện này nhất định phải suy nghĩ cho thật kỹ càng trước đã, hiện giờ bản thân mình đang nắm giữ ty thuế giám trong tay nên nhất định không thể giao quyền bố trí nhân sự cho kẻ khác.

Còn cả tình hình của Hoàng thượng gần đây. Có thể ảnh hưởng tới Hoàng thượng thì ngoài bản thân mình ra chỉ còn đám Bát Hổ, bọn họ có hành động kỳ lạ như thế là vì cái gì chứ? Là vì bản thân nắm giữ quyền cao cho nên nảy lòng ham mê chức tước, muốn nịnh nọt Hoàng đế để kiếm lấy một chức quan rồi dựa theo xu thế của lịch sử mà trở thành tám đại gian thần nhiều năm lũng đoạn triều chính, hay là còn có âm mưu gì khác nữa? Tại sao ty Lễ Giám lại ngồi yên không quản bọn chúng?

Dương Lăng suy nghĩ đến nỗi đau đầu, không kìm được khẽ thở dài một hơi, đột nhiên bên cạnh đưa tới một giọng nói dịu dàng:
- Lão gia, nước nguội chưa vậy? Có cần thêm nước nóng không?

Dương Lăng sợ đến nhảy dựng. Vừa mở mắt ra y đã thấy Cao Văn Tâm xắn hai ống tay áo để trần đôi tay trắng nõn đang đỏ bừng mặt đứng ở bên cạnh nhưng đầu nàng lại cúi gằm xuống đất, hoàn toàn chẳng dám nhìn y.

Dương Lăng vội vàng giật chiếc khăn bông vắt bên thùng nước tắm quấn nhanh qua eo, lắp bắp:
- Cô… Cô vào đây làm gì vậy? Để tự ta tắm lấy là được rồi.

Vốn Cao Văn Tâm đã hơi ngượng ngập. Dương Lăng vẫn đang ngồi trong thùng nên nàng cũng chẳng nhìn thấy gì cả, nhưng Dương Lăng luống cuống càng che càng hở như thế lại càng khiến nàng cảm thấy xấu hổ hơn.

Cao Văn Tâm thẹn thùng đáp:
- Nô tì… vốn phải hầu hạ đại nhân tắm rửa thay quần áo. Tỳ nữ đứng ở bên ngoài, đám nha sai múc nước đi ra đi vào thấy vẻ thanh nhàn của tỳ nữ đều ra vẻ rất kỳ lạ, hay là… để nô tì giúp lão gia cọ lưng nhé.

Dương Lăng cười khan:
- Không có gì, không sao cả đâu ! Quan tâm đến bọn họ làm gì chứ? Kẻ nào dám ăn nói linh tinh nào? Ta chẳng phải là thiếu gia xuất thân ở gia đình giàu có nên thực không quen với việc để phụ nữ hầu hạ tắm rửa. Cô… hãy đợi ta ở bên ngoài là được.

Cao Văn Tâm đang đỏ bừng hai má, nhìn vẻ mặt dường như nàng còn căng thẳng hơn cả Dương Lăng. Vừa nghe y nói như vậy nàng bèn lập tức thở phào một hơi, vội vàng thưa:
- Vậy… nô tì ra ngoài đây.

Mới đi được mấy bước, như chợt nhớ đến điều gì nàng bèn quay trở lại, ngoảnh đầu qua hướng khác mà vội vàng rắc một nắm linh tinh vào trong thùng gỗ.

Nhìn bộ dạng của nàng thật khiến người ta phải cảm thấy khó hiểu. Mỗi ngày nàng đều nhìn thấy cái mông của Dương Lăng một lần mà cũng chẳng hề sợ hãi, không biết tại sao lúc này Dương Lăng chỉ để lộ phần ngực và phần vai bên trên mặt nước thôi mà lại khiến nàng xấu hổ và thẹn thùng đến vậy.

Dương Lăng nhìn chăm chăm vào cái thứ nhòn nhọn đang trôi nổi phập phù giữa làn hơi nước mù mịt, tò mò hỏi:
- Đây là thứ thuốc gì vậy?

Cao Văn Tâm đáp:
- Đây không phải là thuốc mà là lá trà. Bỏ một chút vào… mùi sẽ thơm.

Dương Lăng khẽ cười, khoát tay bảo:
- Tốt lắm, lá trà vừa mát vừa thơm, vừa hay có thể trị được cái thân thể đang tràn đầy hỏa khí này của ta. Hà hà, đợt lát nữa tắm xong sẽ châm cứu nhé, hôm nay đã bôn ba cả ngày lại kinh sợ đến suýt chết, lâu lắm chưa có cảm giác thân thể rã rời như thế này rồi. Tiếc là Ngọc nhi không ở đây, cô ấy xoa bóp* tài lắm.
(nay là massage, còn gọi là đấm bóp)

Vốn Cao Văn Tâm một mực thẹn thùng không dám ngẩng đầu nhưng nghe y nói thế thì lại chợt ngẩng đầu lên, có vẻ không phục:
- Nô tì… Nô tì cũng biết xoa bóp, tay nghề của ngự y chuyên việc xoa bóp trong thái y viện cũng không so được với nô tì. Giờ nô tì đi chuẩn bị sẵn, đợi lát nữa sẽ xoa bóp cho lão gia.

***

Dương Lăng nằm sấp trên giường, được Cao Văn Tâm xoa bóp nên đầu óc y cứ mơ mơ màng màng. Trong phòng có đốt hương, ngửi vào rất dễ ngủ. Một cô gái xinh đẹp đáng yêu đang dịu dàng xoa bóp bả vai và tứ chi cho y.

Tuy nói là Ngọc Đường Xuân xoa bóp, nhưng thực ra gọi là mơn trớn vuốt ve thì càng xác đáng hơn, còn Cao Văn Tâm mới thật sự là tinh thông môn này. Trước tiên nàng dùng một chiếc lược ngọc nhẹ nhàng cạo thẳng một đường qua lớp áo mỏng từ gáy Dương Lăng cho tới tận chỗ thắt lưng, giúp cho mạch máu thêm thông thuận, sau đó mới nhẹ nhàng xoa bóp huyệt đạo và các đường kinh lạc. Dương Lăng cảm thấy toàn thân đều thoải mái, lâng lâng phiêu đãng tựa thần tiên.

Thời Minh chính là lúc thuật xoa bóp đạt tới đại thành, mà Cao Văn Tâm lại là cao thủ của môn này, Dương Lăng không kìm được khép hờ đôi mắt mơ màng, hàm hồ cất tiếng:
- Thoải mái quá, thế mà ta lại chẳng hay biết gì… Sau này mỗi lần châm cứu xong cô hãy xoa bóp cho ta một chút, được không?

Cao Văn Tâm đưa ống tay áo lên khẽ lau mồ hôi trên trán, mỉm cười:
- Được, nô tì còn biết nhiều loại thủ pháp lắm, vừa rồi… nếu lão gia để nô tì cọ lưng, nô tì cũng còn một bộ công phu học được từ trong Đạo Dẫn Đồ (Tên một cuốn sách dạy thuật dưỡng sinh bằng tranh vẽ - ND.), vừa hay có thể thi triển thân thủ.

Dương Lăng cười hà hà đáp:
- Nữ nhân thì làm gì mà có sức cọ lưng cho nam nhân chứ, nếu đổi lại thì còn nghe được… Ặc… À… Nếu dùng chân cọ thì còn nghe được.

Cao Văn Tâm đã nghe rõ y muốn nói gì nên không khỏi đỏ bừng hai má, nghĩ bụng: “Vị lão gia này cũng thật là… Nếu bảo y lớn gan thì không dúng, mới nói để tì nữ của mình hầu hạ tắm rửa mà đã có vẻ sợ hãi đến vậy; còn nếu bảo y nhát gan thì lại có những lúc y cứ hay nói linh tinh, cứ trêu ghẹo khiến cho người ta lòng dạ nhộn nhạo.
Nam nhân cọ lưng cho nữ nhân sao? Y… Y cọ cho mình…”

Cao Văn Tâm vừa nghĩ đến đây, ngón tay đang ấn xuống lập tức trở nên mềm nhũn chẳng còn chút sức lực nào, tựa như đã bị rút mất gân. Dương Lăng thấy ngón tay trên lưng mình đã trở nên mềm nhũn đâm ra cảm thấy nhồn nhột, không kìm được cười hà hà, hơi vặn người rồi bảo:
- Thấy chưa, ta đã nói nữ nhân sức yếu rồi mà… Được rồi, cô xoa bóp thế này càng lúc ta càng buồn ngủ, thôi ta ngủ đây.

Cao Văn Tâm hậm hực trừng mắt nhìn y, đưa tay làm động tác véo một cái sau lưng y, sau đó mới đứng dậy nhẹ nhàng buông rèm cho Dương Lăng. Khi đi đến trước bàn nàng chợt quay đầu lại hỏi:
- Lão gia! Bây giờ đám Viên công công đã bị bắt cả rồi, Có phải… có phải là chúng ta chuẩn bị về kinh ngay không?

Dương Lăng quay sang nàng, ngáp dài rồi đáp:
- Sao vậy? Muốn về nhà sao? Sắp rồi, sắp rồi! Có lẽ… mấy ngày nữa là sẽ có thể trở về thôi.

Cao Văn Tâm hơi do dự một lúc rồi hỏi:
- Vậy, mấy ngày này chắc không có việc gì chứ? Lão gia có cần… mời huynh muội Thiên sư đến phủ làm khách một chuyến không?

Dương Lăng hơi ngẩn người, sực tỉnh:
- A! Cô nói đúng, dạo gần đây huynh muội Thiên sư đều bị tín đồ của bọn họ mời đi làm khách, ta cũng quên mất chuyện này. Không mời lại bọn họ một lần thì quả là thất lễ, ừm! Lát nữa cô hãy phái người mang thiếp mời của ta đến gặp Thiên sư, xem y có lúc nào rảnh thì mời đến phủ hàn huyên một lúc.

Cao Văn Tâm mừng khấp khởi đáp:
- Vâng, đại nhân! Nô tì ra ngoài đây, lão gia hãy nghỉ ngơi cho khỏe!

***

- Ngươi nói cái gì? Người của Nội xưởng đã bắt Lý Quý?
Vốn hai ngày nay Mạc Thanh Hà luôn tràn đầy hưng phấn, mặt mũi tươi cười nhưng lúc này sắc mặt đã trở nên tái xanh, trong cặp mắt lấp loáng vẻ hung hãn. Hắn đưa tay túm chặt cổ áo Lý quản gia, gằn giọng hỏi.

- Đúng… Đúng vậy, lão gia! Nội xưởng bắt người, quan phủ địa phương cũng không thể hỏi tới. Tri phủ Tô Châu, thậm chí là Bố chính sứ đại nhân cũng đã phái người đi dò hỏi nhưng đều bị nha sai của Nội xưởng đuổi về, hiện giờ tình hình Lý Quý như thế nào chúng ta hoàn toàn không hề hay biết tí gì. Bọn họ cứ một mực khẳng định Lý Quý lén giấu vật cấm, một viên gạch vàng to tướng bày ngay ra đó, thật sự là trăm cái miệng cũng chẳng cãi nổi.
Lý quản gia mặt mày ủ rũ đáp.

- Bốp!
Một cái tát nặng nề giáng thẳng vào mặt Lý quản gia khiến cho gã xiêu người suýt ngã. Mạc Thanh Hà chỉ thẳng tay vào mặt gã mắng to:
- Khốn khiếp! Thường ngày em trai ngươi hung hăng kiêu ngạo, hoành hành khắp nơi; ta đã bảo hắn phải an phận một chút cho ta rồi mà vẫn không chịu nghe. Gạch vàng đó là vật cấm, thứ đồ như thế mà hắn cũng vơ vét về nhà như đồ quý hiếm là sao? Thế này còn chẳng phải là vác họa về cho ta hay sao chứ?

Lý quản gia ấm ức đáp:
- Lão gia! Đúng là có một số người thích vật hiếm lạ, người thu thập gạch vàng cũng không phải là không có, nhưng em trai tiểu nhân… ngoài vàng bạc ra thì nó chẳng thích cái gì khác, sao có thể đem cái thứ đó về nhà cơ chứ? Tiểu nhân cho rằng người của Nội xưởng cũng giống như Đông xưởng đang tìm cớ đổ tội cho nhà giàu để vơ vét tiền tài, nhưng đưa tiền đến nơi… tiền thì bọn họ nhận đủ nhưng người thì lại không chịu thả!

Mạc Thanh Hà giận dữ nhấc chân lên định đá gã, Mạc phu nhân chợt tha thướt bước đến ngăn hắn lại rồi bảo:
- Lão gia bớt giận, chuyện này có lẽ đúng là oan cho Lý Quý. Hiện giờ Nội xưởng vừa mới thành lập, xưởng đốc lại đang tuần sát Giang Nam chúng ta, cho dù người của Nội xưởng muốn vơ vét tiền tài của nhà giàu, liệu có dám làm ở ngay Giang Nam này không? Không có sự đồng ý của Dương Lăng, cho bọn chúng mười lá gan cũng chẳng dám!

Cặp mắt Mạc Thanh Hà lóe sáng, ánh mắt âm trầm nhìn ả một hồi, khuôn mặt dần trở nên đỏ rực:
- Ý nàng là… Dương Lăng đang có ý đồ với ta? Không thể nào, chuyện này không thể được! Dạ dày của y lớn đến đâu được chứ? Muốn một miếng nuốt trọn cả ba thái giám trấn thủ ở đất Giang Nam này sao, đến lúc đó còn ai chịu bán mạng cho y?

Mạc phu nhân cười lạnh:
- Y đi chơi Tô Châu, ngắm cảnh Hàng Châu, đến đâu cũng chỉ du sơn ngoạn thủy không màng chính sự, lão gia đã từng thấy y tra xét gì Viên Hùng chưa? Nhưng bây giờ Viên Hùng đang ở đâu rồi? Dưới tay hắn có năm ngàn tên tay sai không sợ chết, trời không thu đất chẳng quản, ai thấy mà chẳng đau đầu? Vậy mà chỉ trong một đêm, trước tiên Dương Lăng dùng kế rút củi đáy nồi bắt sống Tất Xuân, sau đó lại tập kích ty Thuế Quan, dùng một ngàn người đối phó với kẻ địch đông gấp mấy lần, dạ dày ấy liệu có lớn không?

Nghe xong, sắc mặt Mạc Thanh Hà trở nên trắng bệch, trên khuôn mặt xinh đẹp của Mạc phu nhân cũng hiện nét băng giá:
- Còn cả việc y đột nhiên đi tuần tra Hải Ninh nữa, trước đó lão gia có biết không? Người này nhìn bề ngoài thì rất tùy tiện, hình như chuyến đi Giang Nam chỉ là để ứng phó cho có mà thôi, nhưng ai biết trong lòng y rốt cuộc có ý đồ gì chứ? Bây giờ nghĩ lại… Nếu không phải là y đã nảy lòng đề phòng lão gia, tại sao Viên Hùng và Tất Xuân đều chẳng giữ lại ngày nào mà đã lập tức đưa ngay về kinh thành như thế chứ?

Mạc Thanh Hà sắc mặt lúc xanh lúc đỏ, hồi lâu sau mới giật dữ quát to:
- Ta đã quyết ý quy thuận y, y còn muốn dồn ta vào chỗ chết sao?

Mạc phu nhân khoát khoát tay, Lý quản gia vội biết điều lui ra ngoài. Mạc phu nhân đi tới bên cạnh Mạc Thanh Hà, thấp giọng hỏi:
- Lão gia, gã Lý Quý này có đáng tin không?

Mạc Thanh Hà hừ một tiếng, đáp:
- Kêu hắn đi vơ vét tiền tài thì còn được, nhưng bảo hắn liều mạng giữ bí mật cho người khác thì thà kêu lợn leo cây còn hơn. Có điều… cho dù Dương Lăng muốn đối phó với ta, nhưng không bằng không cứ thì y dám làm gì người của ta chứ?

Mạc phu nhân cười lạnh:
- Lý Quý là người của lão gia sao? Khâm sai đại nhân người ta nào có biết, y chỉ biết người này lén giấu vật cấm, phạm trọng tội đáng chém đầu. Còn đám người dưới tay lão gia, hừ! Có tên nào chịu đựng nổi sự tra tấn của xưởng vệ không?

Mạc phu nhân vừa nói tròng mắt vừa xoay chuyển một cách giảo hoạt, sau đó lại tiếp:
- Đám người trên biển kia… thế nào rồi? Nếu thực sự không được…
Đôi mày lá liễu của ả nhíu chặt lại, đưa bàn tay thon thanh tú lên cạnh cổ ra dấu chặt đầu.

Thân hình Mạc Thanh Hà đột nhiên run lên, hắn đưa tay bám vào chiếc bàn, ngay đến chiếc bàn đó cũng run lên theo. Mạc phu nhân cả kinh, vội bước tới đỡ hắn:
- Lão gia, lão gia sao vậy?

Mạc Thanh Hà phá lên cười ha hả, nhưng tiếng cười nghe thê thảm vô cùng, thần thái có chút điên cuồng. Hắn vừa cười vừa ngồi xuống ghế, chụp lấy một bình trà đập mạnh xuống đất, nghiến răng chửi bới:
- Hai nhóm hải tặc Phì Tiền Thọ, Trần Đông khốn khiếp ấy ta sớm đã nên tiêu diệt rồi mới phải! Chỉ vì có bọn chúng ở đó mới có thể giúp ta lừa gạt người đời nên ta mới tha cho bọn chúng. Không ngờ chuyện lớn của chúng ta lại bị hỏng trong tay bọn chúng…

Mạc phu nhân tò mò hỏi:
- Hai đám hải tặc chẳng ra gì ấy thì có liên quan gì với chúng ta chứ? Người của Tiểu Thôn Thứ Lang đâu? Kêu bọn chúng mang người giết thẳng vào Hàng Châu, có chúng ta làm nội ứng, chỉ cần giải quyết Dương Lăng ở trong đám loạn quân…

Đôi hàng lông mày thanh tú của ả nhướng lên, ả nở một nụ cười quyến rũ ôm lấy Mạc Thanh Hà cất giọng ngọt ngào nói tiếp:
- Dương Lăng mà chết thì Nội xưởng sẽ chẳng là gì nữa, đến lúc đó chúng ta lại giúp Đông xưởng trừ bỏ bớt thực lực của Nội xưởng. Lão gia… địa vị của ngài tại ty Lễ Giám còn có thể tăng thêm một bậc nữa đấy.

Mạc Thanh Hà mặt vàng như đất thở dài nói:
- Muộn rồi, muộn rồi, đúng là ý trời! Đây là trời muốn hại ta!

Hắn cười nhăn nhó đưa mắt nhìn phu nhân bên cạnh, nói:
- Người của Tiểu Thôn Thứ Lang không thể vào được nữa rồi. Ta chỉ để tâm tới việc ước thúc Tiểu Thôn Thứ Lang, nào ngờ đám hải tặc Phì Tiền Thọ bất tài ấy lại đi tập kích Hải Ninh vào lúc này, lại còn gặp phải khâm sai đại nhân nữa.

Từ sau khi xảy ra chuyện này, Đô chỉ huy sứ ti(1) đã cho một lượng lớn thủy quân đi phòng thủ tại tất cả các cửa biển đề phòng việc người Oa lại tới quấy nhiễu, khiến cho khâm sai về kinh sẽ vạch tội hắn phòng thủ bờ biển bất lực. Bây giờ muốn Tiểu Thôn Thứ Lang mạo hiểm tính mạng như thế để giúp ta sao?
Dứt lời hắn lại không khỏi lắc lắc đầu tuyệt vọng.

Vốn Mạc phu nhân rất điềm tĩnh, mãi cho tới khi nghe tới đây sắc mặt mới biến đổi hoàn toàn. Ả ngẩn người hồi lâu, sau đó mới khẽ nói:
- Lão gia, vậy chúng ta nên làm thế nào? Nhất định phải sớm trù tính sẵn kế hoạch mới được. Không có ai đến tra xét thì không sao, nhưng Dương Lăng đã động thủ rồi, Lý Quý lại là người không giữ được bí mật, những chuyện đó của lão gia… nhất định y sẽ biết được rõ ràng.

Giọng nói của ả toát ra vẻ lạnh lẽo đến thấu xương:
- Lén buôn lậu hàng hóa với người Oa, vẽ bản đồ và thông báo trước tình hình đóng quân cho bọn chúng, dẫn đường cho bọn chúng vào đánh cướp, sau đó lại bán chịu lương thực cho những gia đình đã bị cướp bóc sạch trơn, thừa cơ cướp đoạt ruộng đất của bọn họ. Chỉ một điều trong đó thôi cũng là tử tội rồi, huống chi còn có việc ăn óc của bọn trẻ kia nữa, hơn ba mươi mạng người đấy…

Mạc Thanh Hà đột nhiên nhảy bật lên, phần thịt trên hai má co giật liên hồi, nắm lấy tay ả nói:
- Tiểu Lâu ! Chi bằng nhân lúc sự tình còn chưa bại lộ, chúng ta hãy đi thôi, trốn đến nơi nào đó thật xa. Dù Dương Lăng có thần thông quảng đại đến cỡ nào đi chăng nữa thì cũng làm gì được ta chứ?

Mạc phu nhân ngớ người, ngạc nhiên hỏi:
- Trốn? Trốn đến đâu đây? Khắp thiên hạ này, có chỗ nào không phải là đất của nhà vua, chẳng lẽ lại trốn đến một chốn thôn quê bần cùng hoang vắng, giấu họ giấu tên mà sống hay sao?...

Mạc Thanh Hà lắc đầu:
- Không, chúng ta vượt biển trốn đến Nhật Bản. Với số tiền bạc đã tích lũy được, bất luận đi đến đâu chúng ta cũng có thể sống một cách tốt đẹp. Ở đó chúng ta sẽ giàu ngang vương hầu, Đại Minh còn có thể đuổi theo tới đó mà bắt ta được sao?





Chú thích:

(1): Đô chỉ huy sứ ti là thủ lĩnh quân sự tối cao của một địa phương lớn (ở kinh đô thì gọi là Chỉ Huy Sứ ti). Cùng bố chính sử ti, án sát ti gọi là tam ti, chia nhau lãnh đạo quân sự và chính trị, dân chính, hình ngục của địa phương.
Thời Minh có 13 Đô chỉ huy sứ ti.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
22-09-2011, 08:40 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 137 - Xương Trắng Phật Đường


Dịch: VoVong

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Đại Lâu Nhi cười lạnh một tiếng, bên khóe miệng là một nét cười đầy vẻ giễu cợt:
- Đây chính là ông yêu tôi sao? Ông yêu tôi, do đó mới đem tôi tặng cho người khác để mưu cầu lợi ích cho ông sao? Người tôi ngủ cùng quả thực là quá nhiều rồi, ông cũng chẳng nói ra được là ai đúng không? Ha ha ha, tôi vốn là kỹ nữ, làm phu nhân của ông rồi, tôi vẫn là một kỹ nữ!

Vừa nói ả vừa đẩy Mạc Thanh Hà ra với vẻ đầy căm hận, lạnh lùng nói tiếp:
- Bất luận y là ai, chỉ cần ông biết y có hai chuyện hơn ông là được rồi. Y thích tôi, sẽ không đem tặng tôi cho người khác đùa giỡn! Không những y thích tôi mà còn có thể thực sự âu yếm tôi!



Chương 137 - Xương Trắng Phật Đường



Mạc phu nhân nghe thế vội lùi lại hai bước, lắc đầu nói:
- Không, thiếp không đi. Nơi đó chiến loạn liên miên, Tiểu Thôn Thứ Lang là võ sỹ thân tín của Liễu Điền Đại Danh vậy mà lại phải mang quân đội ra biển đóng giả làm cường đạo, một nơi chiến tranh loạn lạc lại nghèo khổ vô cùng như thế, làm sao mà so được với Đại Minh của chúng ta? Chúng ta sao có thể đến cái nơi tồi tệ đó chứ? Hơn nữa… khi bọn họ có việc nhờ đến lão gia, lão gia nói gì họ cũng nghe cả, nhưng giờ đây chúng ta thất thế, lão gia không sợ họ nảy ý xấu, cướp đoạt hết tiền tài của chúng ta sao? Đến lúc đó thì cả tiền và mạng đều mất hết.

Mạc công công nghe xong chỉ biết giậm chân đấm ngực, đi đi lại lại tựa như con kiến bò trong chảo nóng, rồi đột nhiên hai mắt hắn sáng lên, bước tới nắm lấy đôi tay Mạc phu nhân vui mừng nói:
- Ta có cách rồi, chỉ huy sứ Hoàng Ứng Long say mê nàng đến thần hồn điên đảo, nàng đi cầu xin hắn, kêu hắn điều quân đội đi, như vậy người của Tiểu Thôn Thứ Lang chẳng phải sẽ có thể đánh vào Hàng Châu rồi sao?

Mạc phu nhân lẳng lặng nhìn hắn, nơi khóe miệng dần hiện lên một nét cười mang theo đôi phần giễu cợt và thương hại:
- Lão gia, đây là cách của ông sao? Thường ngày kêu Hoàng Ứng Long buông lơi cho thuyền buôn lậu của chúng ta thì y còn có thể làm chủ, nhưng bây giờ kêu y dùng cái mũ ô sa của mình để giúp cho chúng ta bình an, y chịu sao? Chỉ dựa vào việc tôi ngủ cùng với hắn... ha ha ha ha …

Tiếng cười giễu cợt đó khiến Mạc công công nổi giận bừng bừng, y vung tay tát cho Mạc phu nhân một cái thật mạnh khiến tiếng cười theo đó mà biến mất. Mạc phu nhân bị đánh cho ngã sấp xuống bàn, khóe miệng từ từ rỉ ra một dòng máu tươi.

Mạc công công thấy vậy thì không kìm được lộ vẻ bất nhẫn, vội bước tới ôm lấy Mạc phu nhân vào lòng, xót xa nói:
- Xin lỗi, Tiểu Lâu, ta không nên… Ta không khống chế được, ta không nên trách nàng, nhưng bây giờ chúng ta phải làm thế nào đây? Chúng ta phải làm thế nào đây?

Mạc phu nhân nhẹ nhàng đưa tay lên lau vết máu bên khóe miệng, trong mắt thoáng qua một nét lạnh lùng, rồi ngay sau đó trên mặt lại xuất hiện một nụ cười tươi tắn như hoa mùa xuân, dịu dàng nói:
- Lão gia, ông cũng bất tất phải lo lắng quá, thực ra nếu cứ liều mạng đến cùng, cũng chưa chắc đã không có cách nào.

Đôi mắt Mạc Thanh Hà lập tức sáng lên, vội vàng cất tiếng:
- Mau nói ra đi, Tiểu Lâu trước nay thông minh tuyệt đỉnh, chính là Gia Cát trong giới nữ nhi, cách của nàng nhất định có thể thực hiện, hãy mau nói cho vi phu được biết.

Mạc phu nhân chỉnh lại quần áo một chút, ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, rót một chén trà nhẹ nhàng đưa đến bên môi, cười lạnh nói:
- Người còn quyền còn, người mất quyền mất, nhân lúc hắn còn chưa biết rõ ràng mọi tình huống hãy giết hắn luôn. Nội xưởng? Hừ, tường nghiêng rồi người ta chẳng tranh nhau vào xô đổ ấy chứ, chúng ta còn có gì nguy hiểm nữa đây?

Mạc Thanh Hà thất vọng nói:
- Sao có thể chứ? Mấy ngày nay khu nhà phía tây canh phòng cực nghiêm, Dương Lăng lại đóng cửa chẳng ra ngoài bao giờ. Người của hắn khi áp giải Viên Hùng, Tất Xuân về kinh đã đi mất một trăm, nhưng bây giờ vẫn còn tới hai trăm nha sai đấy. Khi ở Hải Ninh nàng cũng thấy rồi, thân binh của hắn chỉ tám mươi người mà có thể chặn được mấy trăm tên giặc lùn hung hãn, cho dù ta có gọi đủ được nhân thủ đến thì cũng chẳng thể giết vào bên trong. Hơn nữa cho dù có giết được vào bên trong thì thanh thế lớn như vậy còn có thể giấu được ai cơ chứ?

Mạc phu nhân nở một nụ cười yêu kiều, nói:
- Tại sao phải giấu người khác chứ? Chúng ta không những không thể giấu, còn phải làm cho thanh thế thật lớn, người biết càng nhiều thì chúng ta lại càng an toàn.

- Sao? - Mạc Thanh Hà nhìn Mạc phu nhân bằng ánh mắt nghi hoặc. Mạc phu nhân ghé sát đến bên tai hắn rì rầm một hồi, Mạc Thanh Hà nghe xong thì vừa kinh hãi vừa nhi ngờ nói:
- Kế này liệu có được không? Y chịu tin ta sao chứ? Nếu mà có sai sót gì, chúng ta… chúng ta ngay cả thời gian để bỏ trốn cũng không có.

Bờ môi tựa như cánh hoa của Mạc phu nhân hơi nhếch lên, như cười mà chẳng phải cười nói:
- Đương nhiên là được rồi, chúng ta đã nhìn nhầm hắn, vậy hắn cũng không phải là loại người trong dự liệu của chúng ta. Hai trăm cận vệ của hắn có thể chặn được một ngàn người Oa, nhưng vị tất đã địch lại hơn ngàn kỳ binh này của thiếp! Chỉ cần… Lý Quý một ngày không khai, hắn sẽ không có lý do gì không tin chúng ta!

***

Dương Lăng lơ ngơ mời huynh muội Trương thiên sư vào trong sảnh rồi dâng trà tiếp đãi. Vốn đã hẹn sẵn là ngày mai sẽ mời thiên sư đến dự tiệc nhưng hôm nay Trương thiên sư lại đột ngột đến thăm, Dương Lăng chỉ đành mời bọn họ vào nhà mà vẫn chưa đoán được họ đến đây là có ý đồ gì cả.

Trương thiên sư cười nói:
- Khâm sai đại nhân thịnh tình nồng hậu, vốn bần đạo muốn ngày mai sẽ đến cửa bái phỏng nhưng Long Hổ sơn lại phái người tới, chuyển lời của gia mẫu kêu huynh muội bần đạo mau chóng trở về, do đó hôm nay bần đạo mới mạo muội đến đây nói lời từ biệt với Dương đại nhân, sáng sớm ngày mai bần đạo phải cùng xá muội về núi rồi.

Dương Lăng dường như có chút tâm thần thảng thốt, nghe vậy bèn vội nói:
- Mấy ngày trước may được thiên sư dẫn đi dạo chơi khắp Tô Châu, nhưng bản quan vì công vụ rắc rối, mãi mà không có thời gian mời lại thiên sư, ôi, thật là xấu hổ!

Trương thiên sư cười hà hà nói:
- Sông núi còn có lúc tương phùng, chúng ta sớm muộn sẽ có ngày gặp lại thôi. Đại nhân là rường cột nước nhà, việc công mới là quan trọng. Sau này nếu đại nhân có tới Giang Tây xin hãy tới Long Hổ sơn của ta, bần đạo nhất định sẽ gắng tròn cái phận chủ nhà.

Cao Văn Tâm vốn đứng sau lưng Dương Lăng, nghe khẩu khí của Trương thiên sư dường như là đến đây gặp mặt nói lời từ biệt xong rồi sẽ lập tức rời đi ngay, bèn lo lắng đến nỗi chẳng để ý tới lễ nghi quy củ gì nữa, đứng đó chỉ tay về phía Trương Phù Bảo, rồi lại chỉ vào Dương Lăng, ra hiệu cho Trương Phù Bảo mau nói với Dương Lăng về chuyện đã thương lượng từ trước.

Trương Phù Bảo vốn đã nhắc chuyện này với huynh trưởng, Trương thiên sư nhìn thấy bộ dạng đỏ bừng hai má của Cao Văn Tâm, bất giác có chút tức cười, y hắng giọng hai tiếng, đang định bịa ra vài câu an ủi Dương Lăng, chợt Dương Lăng đã đứng dậy nói:
- Được được được, nếu bản quan có cơ hội đến Giang Tây, nhất định sẽ đến Long Hổ sơn bái phỏng. Lần này không thể cùng thiên sư du ngoạn Tây Hồ thật là đáng tiếc, đến lúc đó nhất định phải cùng dạo chơi Long Hổ sơn để bù đắp mới được, ha ha ha.

Trương thiên sư ngẩn ra, nghĩ bụng: “Vị Dương đại nhân này sao nôn nóng thế nhỉ? Ta còn chưa nói muốn đi cơ mà, y đã định tiễn khách rồi sao?”

Trương thiên sư dở khóc dở cười đứng dậy, nhìn thấy Cao Văn Tâm đang ở sau lưng Dương Lăng chắp tay niệm a di đà phật, chỉ đành dày mặt cười nói:
- Vậy thì tốt, à… bần đạo trước khi đi còn có mấy lời xin dâng, nghe nói đại nhân tin vào mấy lời vô căn cứ của kẻ thuật sỹ chốn giang hồ, cho rằng thọ lộc của bản thân đã…

Y vừa mới nói đến đây, chợt nghe bên ngoài vang lên một loạt những tiếng huyên náo, một nha sai vội vàng chạy vào, ôm quyền hành lễ báo:
- Bẩm Xưởng đốc đại nhân, bên ngoài có một đám loạn dân xông vào, nói là đại nhân muốn tăng tiền thuế Giang Nam thêm ba phần, còn nói đại nhân mượn cớ bạc ở ty thuế quan đã bị Viên Hùng tham ô hết, muốn kiếm các thương nhân thu lại một phen, bọn họ xông vào là tìm đại nhân là để lý luận.

Dương Lăng cả kinh, vội vàng xách áo chạy ra ngoài đại sảnh. Chỉ thấy lúc này cửa sân đã bị người ta đẩy ra, trăm họ mặc quần áo đủ mọi màu sắc tựa như nước thủy triều tràn vào, lớn tiếng kêu lên:
- Vốn tưởng y là quan tốt, nào ngờ so với Viên Hùng còn tham lam hơn, bọn ta chẳng thể sống tiếp nữa rồi, gã họ Dương kia ở đâu?

Các nha sai Nội xưởng nghe tin chạy đến nhìn thấy cảnh này thì vội vàng chặn trước người Dương Lăng, soạt một cái rút ra những thanh đao sáng loáng, hướng về phía trăm họ đang ào ào tràn vào trong sân quát bảo:
- Hành dinh của khâm sai, kẻ nào dám tự tiện xông vào đều là tội chết! Lũ điêu dân các ngươi, không muốn sống nữa sao?

Cũng thật có kẻ không muốn sống, trong đám người sục sôi, luôn có mấy gã chen giữa mọi người không thể nhìn rõ mặt mũi lớn tiếng kêu lên:
- Bọn ta bị ép cho không còn đường sống nữa rồi, thà bị một đao chém chết còn hơn là phải đói đến chết, muốn thu thuế tăng thuế chính là bởi tên cẩu quan Dương Lăng kia dâng lời gièm pha lên hoàng thượng, hãy giết hắn rồi xin hoàng thượng khai ân giảm thuế đi!

Dương Lăng giậm chân quát lớn:
- Là kẻ nào tung tin đồn nhảm thế? Bản quan không hề nói sẽ tăng thuế, các ngươi chớ có để kẻ xấu lợi dụng!

Đang lúc quần chúng bạo động thế này, có người chịu tin y mới là chuyện lạ, huống chi trong đàm người còn có kẻ không ngừng hét lớn:
- Chớ nghe hắn nói bậy, hắn đang muốn kéo dài thời gian, sau đó phái quân đội tới bắt chúng ta đấy, mau đánh chết tên cẩu quan này! Luật pháp chẳng phạt số đông, hoàng thượng sẽ không giết hết trăm họ ở Giang Nam đâu.

Đang lúc nói đã có kẻ dùng gạch đá ném tới, các nha sai Nội xưởng cả giận, có người giơ đao định chém, Dương Lăng vội kêu lên:
- Không được giết người, những người này rõ ràng là bị người ta lừa gạt nên mới tới đây, bên trong có không ít phụ nữ và trẻ nhỏ, giết người sẽ bị kẻ khác kiếm cớ nói càn. Người của Nội xưởng đao không được dính máu, nhất quyết chớ có giết người nào!

Những người dân kia vừa nghe vậy thì lại càng chẳng sợ hãi gì, dưới sự xúi dục của một số kẻ xấu bèn ào ạt tràn đến. Hai trăm nha sai trong sân toàn lực bước đến ngăn cản, nhưng người xông đến nào phải chỉ có một ngàn, ép cho bọn họ phải lùi lại liên tục, căn bản không thể cản trở.

Dương Lăng giậm giậm chân, mệnh lệnh cho mấy người nha sai:
- Mau, đi bảo vệ cho huynh muội thiên sư, tìm đường cho bọn họ rời khỏi nơi này, mau lên!

Đám người tràn đến đã đánh tan được sự ngăn cản của các nha sai, bắt đầu xông bừa vào trong chạy đi khắp nơi phá hoại, có người lao về phía Dương Lăng, có người thì lại thừa cơ chạy vào trong phòng cướp bóc tiền của.

Huynh muội Trương thiên sư vẫn còn đang ngây ra đó, mấy người nha sai vội vã bước tới, bảo vệ bọn họ vào giữa nói:
- Thiên sư, mau lên, chúng ta hãy tạm nấp đến phía sau!

Cao Văn Tâm thấy Dương Lăng đang chạy ngược trở vào trong, sợ hãi đến nỗi hoa dung thất sắc, vội chạy về hướng Dương Lăng mà kêu lên:
- Đại nhân, các ngươi mau đến bảo vệ đại nhân! Lão gia mau chạy đi!

Hoa cỏ mẫu đơn trong sân đã bị giẫm cho tan nát, đâu đâu cũng là người, nhưng trong lúc hỗn loạn thế này Dương Lăng lại càng an toàn hơn. Vừa rồi còn có người nhận ra Dương Lăng, nhưng lúc này thì chẳng ai có thể tìm ra y được nữa.

Cao Văn Tâm thấy Dương Lăng chạy dọc theo vườn hoa đến bên dưới mấy gốc tử đinh hương ở một góc, vừa mới đuổi theo được mấy bước, chợt thấy trước mặt có bóng người, bản thân bị một đại hán cầm đao chặn lại. Cao Văn Tâm thấy người đó là Trịnh bách hộ, vội vàng kêu lên:
- Trịnh đại nhân, mau đến bảo vệ khâm sai đại nhân đi!

Trịnh bách hộ khẽ mỉm cười, đưa tay ra kéo ống tay áo Cao Văn Tâm bước nhanh đi, nói:
- Đại nhân lệnh cho ti chức bảo vệ cô nương rời khỏi nơi này, xin cô nương hãy nhanh lên, đại nhân tự có các huynh đệ khác bảo vệ!

Sau lưng Trịnh bách hộ còn có bốn nha sai khác, trên đường bọn họ tay đấm chân đá đánh lui chín người cầm cuốc và gậy gỗ, bảo vệ Cao Văn Tâm vội vàng rời đi. Cao Văn Tâm bị Trịnh bách hộ kéo ống tay áo, nếu dùng sức giãy ra, chỉ e cả cánh tay ngọc sẽ bị lộ ra ngoài, hết cách chỉ đành đi theo phía sau y, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại, cho đến khi bị kéo qua góc nhà không còn nhìn thấy bóng dáng Dương Lăng nữa mới thôi.

Huynh muội Trương thiên sư cứ thế lơ nga lơ ngơ để mấy viên nha sai bảo vệ chạy đến hậu đường, trong đám dân chúng phẫn nộ kia xen lẫn rất nhiều tên tráng hán vẻ mặt quỷ dị, chuyên cổ vũ xúi giục mọi người làm loạn. Mấy nha sai thấy có người dân cầm theo gậy gỗ và cuốc đuổi tới, bèn vội vàng quay trở lại ngăn cản, chỉ là bọn họ võ công tuy cao, nhưng xưởng đốc lại đã hạ lệnh không được giết người, trong tình trạng bị bó tay bó chân như thế làm sao mà cản nổi đối phương, chẳng bao lâu sau liền có một nha sai ngoảnh đầu lại hô lớn:
- Mau bảo vệ thiên sư rời đi, đừng để lũ loạn dân làm bị thương!

Ngay sau đó bèn có một nha sai chạy tới kéo tay Trương thiên sư chạy đi, Trương thiên sư vội vàng ngoảnh đầu lại hô lên:
- Bảo nhi, mau đi theo ta, ngàn vạn lần chớ để bị lạc nhau đấy!

Trương Phù Bảo vâng một tiếng, vừa mới xoay người lại định đi, chợt nhìn thấy Dương Lăng đang đứng sau một ngọn giả sơn, đang thấp giọng dặn dò mấy người ăn mặc theo lối gia đinh bình thường trong phủ. Mấy người đó sau khi chắp tay hành lễ liền rời đi ngay, Dương Lăng đưa mắt nhìn quanh bốn phía, vẻ mặt như cười mà chẳng phải cười, vô cùng quỷ dị.

Trương Phù Bảo lập tức nảy lòng nghi ngờ, thần sắc của vị Dương đại nhân này căn bản chẳng có vẻ gì là hoang mang sợ hãi, rốt cuộc y đang giở trò gì chứ? Trương đại tiểu thư gan lớn bằng trời, lòng hiếu kỳ cũng lớn, vừa nảy lòng nghi ngờ bèn không cách nào kìm được. Nàng chạy theo huynh trưởng vài bước, thấy nha sai kia kéo huynh trưởng đi xuyên qua một cái sân, dù có ngoảnh đầu lại cũng không nhìn thấy mình được nữa, Trương Phù Bảo bèn lập tức chạy ngược trở lại, đuổi theo hướng Dương Lăng vừa nãy.

Mạc Thanh Hà cho người loan tin ở khắp nơi, nói là Dương Lăng muốn tăng thêm tiền thuế. Một hai người nói mọi người còn không tin, nhưng mấy trăm người đều nói như vậy liền khiến rất nhiều người dân nổi giận. Anh hùng chống giặc lùn thì tất nhiên là đáng kính, nhưng nếu y không để cho trăm họ có một con đường sống thì trăm họ cũng vẫn phải tạo phản. Dưới sự xúi giục của những kẻ xấu không ngờ lại có tới một ngàn năm sáu trăm người tụ tập lại rồi tràn đến Mạc phủ nói lý lẽ.

Trong số bọn họ không thiếu những người chỉ là muốn đến hỏi rõ chân tướng hoặc là cầu xin khâm sai đại nhân khai ân, nhưng sau một phen cổ vũ xúi giục của những kẻ xấu xen lẫn trong đó, tình hình hiện giờ đã chẳng người nào có thể khống chế được, cả khu nhà ngang phía tây đều trở nên hỗn loạn vô cùng.

Mục đích của Mạc Thanh Hà là dùng những người này dọa cho Dương Lăng phải rời khỏi phạm vi bảo vệ của quan binh, căn bản không hy vọng những người dân ở đại sảnh kia có thể giết được Dương Lăng, do đó ngay từ đầu đã hạ lệnh phải gắng sức phá hoại, càng hỗn loạn càng tốt.

Nhân lúc đại loạn, Mạc Thanh Hà mặc thường phục mang theo mấy tên thân tín lẻn vào bên trong. Những kẻ được Mạc Thanh Hà phái đến từ trước ở lẫn trong đám người để quấn lấy các nha sai và phân tán sự chú ý của bọn họ không ngừng lén đưa tay ra hiệu với hắn, chỉ điểm hướng đi của Dương Lăng. Mạc Thanh Hà cứ theo đó mà tìm tới, Lý quản gia đột nhiên hô lên:
- Lão gia, Dương đại nhân ở kia!

Mạc Thanh Hà vừa nhìn, quả nhiên thấy ngay Dương Lăng đang dẫn theo hai thân binh vội vã chạy trốn men theo vườn hoa. Mạc Thanh Hà lập tức dẫn người bước tới, vẻ mặt đầy lo lắng bảo:
- Ôi chao đại nhân, thật là dọa chết khiếp ti chức, đám loạn dân này không biết nghe được tin đồn thất thiệt từ đâu, không ngờ lại dám xông vào trong phủ của ti chức để quấy nhiễu đại nhân, may mà đại nhân không việc gì.

Dương Lăng hậm hực nói:
- Nhất định là dư đảng của tên Viên Hùng đó tung tin đồn nhảm, sau khi về kinh bản quan quyết phải nghiêm trị hắn mới được.

Mạc Thanh Hà ngây ra, sau đó bèn vội gật đầu nói:
- Đúng đúng, nhất định là người của Viên Hùng làm loạn. Đại nhân mau đi theo ta, phía sau vườn hoa này có một cửa ngách thông đến căn phòng ở sau nhà của ta, thường ngày chẳng có mấy ai chú ý đến, nhân lúc đám loạn dân kia đang cướp bóc tiền tài, đại nhân hãy mau theo ta đến đó tạm tránh một chút.

Dương Lăng cả mừng, vội vàng chạy theo mấy người Mạc Thanh Hà trốn đi. Trên đường dù có người dân nhìn thấy quần áo của bọn họ, biết bọn họ là người trong phủ, nhưng phần lớn mọi người đều chỉ để ý đến việc cướp lấy cái bình này lọ kia, chẳng ai để tâm tới bọn họ cả, cho dù có mấy người đến sinh sự cũng bị thủ hạ của Mạc Thanh Hà và Dương Lăng đánh cho tơi bời.

Vừa mới đi qua vườn hoa, một gã hộ vệ đi phía sau của Mạc Thanh Hà đột nhiên túm lấy một người mà quát bảo:
- Ngươi là ai, tại sao lại lén lút bám theo sau bọn ta như vậy?

Dương Lăng ngoảnh đầu lại nhìn, chỉ thấy người đó mi thanh mục tú, ăn mặc theo lối đạo đồng, không khỏi cả kinh, vội vàng hô lớn: - Dừng tay, đó là người của Trương thiên sư! - Dứt lời bèn bước tới bảo:
- Không phải đã kêu cô và Trương thiên sư đi trước rồi sao, sao cô lại chạy đến đây vậy? Thiên sư đâu?

Trương Phù Bảo nào dám nói rằng mình thấy y khả nghi nên mới bám theo, nàng ấp a ấp úng đáp:
- Tôi… Thiên sư được nha sai cứu đi rồi, tôi bị loạn dân làm lạc mất, do đó… do đó mới trốn đến đây.

Dương Lăng còn đang định lên tiếng, Mạc Thanh Hà đã vội vã bảo:
- Đại nhân mau lên một chút, nếu có kẻ phát hiện và đuổi theo thì không hay đâu! - Nói đoạn hắn lại nhìn sang phía Trương Phù Bảo, cười nói: - Trương cô nương hãy đi theo bọn ta luôn đi!

Cánh cửa ngách đó thường ngày vốn luôn khóa chặt, chẳng biết là thông đến đâu. Lúc này Lý quản gia vừa mở cửa ra, chỉ thấy giữa hai ngôi nhà cao có một con đường nhỏ, bên trong quanh năm không thấy ánh mắt trời, âm u ẩm ướt, có điều cũng không có gì bẩn thỉu.

Đoàn người tiến vào trong con đường đó, Lý quản gia thì quay ngược trở lại khóa chặt cửa, Mạc Thanh Hà nói:
- Đại nhân, đám loạn dân đó biết tin đại nhân ở tại khu nhà phía tây, thế là chạy hết đến đó làm loạn, nơi này cũng coi như là yên tĩnh, để ti chức đưa ngài đến phật đường tạm tránh một chút đã. Ti chức đã phái người đi thông báo cho quan phủ rồi, đợi người của quan phủ tới đại nhân sẽ được an toàn rồi.

Ra khỏi con đường nhỏ đó, lại rẽ vòng vèo qua mấy căn nhà, Mạc Thanh Hà đẩy cửa một căn nhà ra, bước vào bên trong rồi ngoảnh đầu lại nói:
- Đại nhân mau vào đây đi!

Khu nhà phía đông mười phần yên tĩnh, bốn phía xung quanh chẳng có âm thành nào, loáng thoáng có thể nghe thấy tiếng ồn ào vẳng lại từ khu nhà phía tây. Dương Lăng đứng ngoài bục cửa quan sát tình hình một chút, thấy đây là một tòa phật đường, phía trước hương án bên trong có đặt một bức tượng Thích Ca cao bằng thân người.

Phật đường bình thường đều không xây thêm tầng hai ở bên trên, dù sao thì cũng không thể đi lại trên đầu phật đúng không nào? Nhưng một góc của tòa phật đường này lại có cầu thang, xem ra bên trên còn có tầng hai, trông thật có chút kỳ quái.

Hai gã gia đinh mà Mạc Thanh Hà mang theo cùng với Lý quản gia đã bước vào trong, còn Dương Lăng thì lại ung dung đứng ngoài bục cửa, tò mò ngẩng đầu lên thưởng thức kiến trúc ở tầng trên, Mạc Thanh Hà thấy thế thì lo lắng giậm chân nói:
- Đại nhân, mau vào đây đi, chớ để người khác nhìn thấy! Lỡ đại nhân có sơ xảy gì, ti chức không đảm đương nổi đâu.

Dương Lăng cười hà hà nói:
- Sợ cái gì chứ, bản quan thấy lũ loạn dân kia chẳng khác gì một lũ nhặng không đầu, vào trong phủ chỉ để tâm đến việc cướp bóc, còn có lòng nào mà đến hại ta chứ? Mạc đại nhân bất tất phải lo lắng quá!

Dứt lời y bèn cất bước vào trong, vừa vào liền tò mò đi đến chỗ cầu thang rồi bảo:
- Lạ thật, Mạc đại nhân đã thờ phật ở tầng một này, cớ gì lại còn xây thêm một tầng nữa? Không sợ bất kính với phật tổ hay sao?

Một cánh tay của Mạc Thanh Hà tựa như vô ý vịn vào một cái chân nến, nhưng thấy Dương Lăng sau khi vào không đi về phía trước mà lại chạy qua xem cầu thang, không khỏi có chút lo lắng, gượng cười đáp:
- Ồ, trên lầu chỉ xây một căn phòng nhỏ ở mé bên, chủ yếu là làm nơi để một chút hương nến mà thôi.

Dương Lăng ngoảnh đầu lại đưa mắt nhìn, hai viên thân binh vừa mới đi vào bèn lập tức xoay người, mang theo cả Trương Phù Bảo đi vòng tới sau lưng y. Mạc Thanh Hà đưa mắt ra hiệu cho Lý quản gia, hắn lập tức hiểu ý đi tới đóng cửa phòng lại.

Mạc Thanh Hà thấy Dương Lăng vẫn còn đang ngắm nghía cái cầu thang được điêu khắc tinh tế kia, bèn đi đến trước hương án nhặt một chiếc bồ đoàn lên khẽ phủi phủi bụi, đoạn cười bảo:
- Đại nhân, nơi này không có ghế, đại nhân hãy ngồi tạm xuống chiếc bồ đoàn này nghỉ ngơi một chút đi!

Dương Lăng chắp tay sau lưng xoay người lại, ánh mắt lạnh lùng nhìn hắn. Mạc Thanh Hà bị nhìn đến nỗi nụ cười trên mặt dần dần đơ ra, tới lúc này Dương Lăng mới chợt cười bảo:
- Hà tất phải ngồi trước phật chứ? Lẽ nào chiếc bồ đoàn này của Mạc đại nhân có gì đặc biệt hay sao?

Sắc mặt Mạc Thanh Hà biến đổi hẳn, không kìm được lùi về sau hai bước, gượng cười bảo:
- Ngồi trước phật cũng không tính là thất lễ, huống chi đại nhân còn thay thiên tử đi tuần. Chỉ là một chiếc bồ đoàn thay ghế mà thôi, có thể có gì đặc biệt được đây chứ?

Dương Lăng lắc đầu cười bảo: - Ta cũng không biết, có điều cũng có thể đoán… - Y vừa mới nói đến đây, Trương Phù Bảo đã tò mò đi tới nói:
- Hai người đang làm cái gì vậy, một chiếc bồ đoàn thôi mà cũng phải dùng đến ẩn dụ(*) như vậy sao?
(*: lời nói khi Thiền sư truyền đạo, truyền tâm ấn)

Sắc mặt Dương Lăng chợt biến đổi hẳn, vội nhào tới nghiêm giọng quát: - Chớ có đến đó! - Trương Phù Bảo bị tiếng quát lớn của y làm giật nảy mình, sợ đến nỗi ngây người tại chỗ.

Mạc Thanh Hà thấy Dương Lăng lao tới thì cả mừng, lập tức vứt chiếc bồ đoàn trong tay đi, chạy đến trước hương án ra sức kéo cái đế nến kia, chỉ nghe “cạch” một tiếng vang lên, trước hương án nứt ra một cái cửa hầm, hai miếng ván trượt hẳn xuống hai bên. Nơi Trương Phù Bảo đang đứng vừa hay là mép của miếng ván kia, chiếc ván vừa trượt xuống, nàng lập tức sợ hãi kêu ré lên một tiếng, cả thân hình cứ thể lăn xuống cái hố phía dưới.

Dương Lăng nhào tới chụp lấy cái cổ tay thon nhỏ của nàng, bản thân cũng bị nàng kéo lê đi trên mặt đất. Lúc này cả người Trương Phù Bảo đã rơi xuống hố, Dương Lăng thì bị kéo đi trên mặt đất hơn một thước ta rồi mới ghìm lại được, cánh tay kia đã bị cạnh sắc của cái hố cứa cho rách da rách thịt, máu tươi ròng ròng chảy dọc theo cổ tay của Trương Phù Bảo thấm đẫm cả ống tay áo của nàng.

Dương Lăng lúc này đã đau đến thấu tâm can, hai nha sai thấy vậy thì kinh hãi kêu lớn: - Đại nhân cẩn thận! - Nói rồi bèn lao nhanh tới.
Mạc Thanh Hà lúc này chợt điên cuồng kêu lên:
- Mau giết, giết hết bọn chúng cho ta! Giết một kẻ thưởng vạn lạng bạc!

Hai gã gia đinh tung người lao tới, ngay giữa không trung đã lấy ra hai thanh đoản kiếm sáng lấp loáng từ trong ống tay áo. Hai kẻ này tuy ăn mặc theo lối gia đinh nhưng đều là người trong giang hồ do Mạc Thanh Hà mời về, nếu xét tới võ nghệ thì nha sai Nội xưởng dưới trướng Dương Lăng sao có thể là đối thủ? Vừa mới giao chiến, hai tên nha sai đã lúng túng vô cùng, bị đánh cho phải lùi lại liên tục.

Đúng vào lúc này, phía sau phật đường chợt vang lên một tiếng thở dài khe khẽ, một nữ tử mặc áo trắng như tuyết, mặt đẹp tựa Quan Âm lẳng lặng bước ra, thướt tha đi tới trước mặt Mạc Thanh Hà. Mạc Thanh Hà nhìn thấy là ả thì vui vẻ cười lớn:
- Diệu kế của phu nhân quả nhiên đã thành công rồi, đợi giết xong Dương Lăng chúng ta sẽ đem vứt hắn về phía khu nhà phía tây, sau đó lại giết chết một vài tên loạn dân coi như giặc cướp, ha ha ha… Có ai biết được là ta chứ…

Lời của hắn còn chưa dứt, chỉ nghe hai tiếng súng “pằng pằng” vang lên, hai gã cao thủ giang hồ sắp đắc thủ đến nơi ôm ngực ngẩn ngơ lùi lại, máu tươi chảy ra từ giữa kẽ ngón tay.

Trên cầu thang xuất hiện hai người cũng ăn mặc theo lối gia đinh, mặt mũi cực kỳ xa lạ, mỗi người cầm một khẩu súng ngắn vội vàng đi xuống, họng súng vẫn còn đang bốc khói. Phía sau tiếp tục vang lên tiếng súng, lại thêm mấy người cầm súng xông xuống dưới.

Hai gã cao thủ kia thấy tình thế không hay thì nào còn để ý tới Mạc Thanh Hà nữa, lập tức tung người lao về phía cửa sổ. Hai kẻ này tuy đã bị bắn trúng nhưng thân thể vẫn rất linh hoạt, cú lao này lập tức khiến chấn song cửa sổ vỡ tan, nhưng sau khi lao ra ngoài và vừa mới đứng dậy, bọn chúng đã nhìn thấy trước mặt có một hàng người, bên tai vang lên tiếng xé gió “chíu chíu chíu” liên tiếp, mười mấy mũi tên đã găm vào trong cơ thể chúng rồi.

Mạc Thanh Hà thấy biến cố đột ngột xảy ra này thì cả kinh kêu lớn:
- Chuyện gì thế này? Lầu trên sao lại…
Hắn còn chưa kịp xoay người chất vấn, chợt cảm thấy bên hông truyền lại một cơn đau đến thấu tâm can.

Mạc Thanh Hà kinh hãi cúi đầu xuống, chỉ thấy một cánh tay thon thả mịn màng như ngọc, chính là cánh tay đã từng vô số lần mơn trớn vuốt ve hắn, lúc này đang nắm chặt một thanh đoản đao, đao đã đâm sâu vào hông hắn.

Mạc Thanh Hà trợn trừng mắt nhìn ả với vẻ khó tin, đưa tay nắm chặt vai ả, cất giọng khàn khàn nói:
- Tại sao? Tại sao?

Trong đôi mắt mỹ lệ như ngợp trong một làn nước mùa xuân đó lúc này lại toát ra một vẻ lạnh lùng mà xa lạ khiến trái tim hắn rét run.

Đại Lâu Nhi khẽ cất tiếng:
- Bởi vì… trốn đi theo lão gia, thực ra mới là con đường sống duy nhất. Nhưng tiện thiếp không muốn theo lão gia đến cái nơi quỷ quái đó sống một cuộc sống như bị lưu đày! Còn bởi vì… tiện thiếp không nắm chắc có thể khiến hắn trúng kế, hắn không chết lão gia nhất định phải chết, lão gia không muốn chết tiện thiếp đành đưa ngài đi chết.

Nét kinh ngạc trong mắt Mạc Thanh Hà dần dần biến thành lửa giận bừng bừng, hắn phẫn nộ gầm lên:
- Lão Lý, giết con tiện nhân này cho ta, giết ả cho ta!

Đại Lâu Nhi nắm chắc thanh đao, cổ tay xoay mạnh một cái. Mạc Thanh Hà kêu thảm một tiếng, thân hình đau đớn khom hẳn xuống, thở dốc từng hơi, nhưng đôi tay vẫn giữ chặt lấy hai vai của Đại Lâu Nhi, đôi mắt thì lại tràn đầy kinh ngạc liếc nhìn qua phía Lý quản gia trước nay vốn một mực nghe lời mình.

Tròng mắt Lý quản gia co rúm lại không dám nhìn hắn, nhưng vẻ hờ hững trên mặt lại hiển hiện rõ ràng. “Đây chính là Lý quản gia đã theo ta nhiều năm, một mực trung thành với ta đó sao?” Nghĩ tới đây Mạc Thanh Hà chợt nhìn chằm chằm vào Đại Lâu Nhi lạnh giọng:
- Ngươi… Ngươi đã mua chuộc gã rồi sao?

Đại Lâu Nhi đắc ý cười yêu kiều nói:
- Ông không phải là nam nhân mà còn có thể yêu ta, gã là nam nhân, tại sao lại không thể chứ?

Mạc Thanh Hà hét lớn một tiếng, hai tay đột nhiên bóp chặt lấy cổ họng Đại Lâu Nhi. Đại Lâu Nhi tuy là nữ nhân, nhưng so với nam nhân còn tàn nhẫn hơn nhiều, lập tức nhấc chân lên thúc mạnh đầu gối vào háng hắn.

Lý quản gia vừa rồi còn có chút sợ hãi lúc này cũng đột nhiên nhào tới, dốc sức gỡ đôi tay của Mạc Thanh Hà ra. Mạc Thanh Hà cười thảm nói với Đại Lâu Nhi:
- Được được được, ta cứ tưởng ngươi một lòng một dạ với ta, không ngờ… ngươi lại thích cái hạng thế này, ha ha ha…

Đại Lâu Nhi yêu kiều mỉm cười, ghé đến sát bên tai hắn nói:
- Không phải gã, tôi cho gã thân thể của tôi, gã trung thành với tôi chỉ là một cuộc giao dịch công bằng mà thôi. Ông dựa vào cái gì mà cho rằng tôi thật lòng yêu ông chứ? Nực cười, một nữ nhân nếu đã giao thân thể mình cho nam nhân khác rồi, còn có thể giao trái tim cho ông được sao?

Đồng tử Mạc Thanh Hà đã có chút rời rạc, hắn cố gượng cầm cự, oán hận truy hỏi:
- Vậy hắn ta là ai? Bố chính sứ? Chỉ huy sứ? Lưu tri phủ? Hay là Tào vận tổng đốc Hạ… Hạ…

Đại Lâu Nhi cười lạnh một tiếng, bên khóe miệng là một nét cười đầy vẻ giễu cợt:
- Đây chính là ông yêu tôi sao? Ông yêu tôi, do đó mới đem tôi tặng cho người khác để mưu cầu lợi ích cho ông sao? Người tôi ngủ cùng quả thực là quá nhiều rồi, ông cũng chẳng nói ra được là ai đúng không? Ha ha ha, tôi vốn là kỹ nữ, làm phu nhân của ông rồi, tôi vẫn là một kỹ nữ!

Vừa nói ả vừa đẩy Mạc Thanh Hà ra với vẻ đầy căm hận, lạnh lùng nói tiếp:
- Bất luận y là ai, chỉ cần ông biết y có hai chuyện hơn ông là được rồi. Y thích tôi, sẽ không đem tặng tôi cho người khác đùa giỡn! Không những y thích tôi mà còn có thể thực sự âu yếm tôi!

***

Đại Lâu Nhi đã lén hẹn gặp Dương Lăng, đem kế hoạch định lợi dụng dân biến rồi thừa cơ giết y của Mạc Thanh Hà báo cho y biết. Ban đầu Dương Lăng cũng không tin lắm, bởi vì Đại Lâu Nhi kiên quyết không chịu đem các tội trạng mà Mạc Thanh Hà phạm phải nói ra, lý do của ả là Mạc Thanh Hà vây cánh rất nhiều, nếu Dương Lăng không thể trừ bỏ hắn, hoặc là lỡ để hắn trốn mất, một nữ tử yếu đuối như ả nhất định phải suy nghĩ cho sự an toàn của mình. Lý Quý ở Tô Châu vẫn còn ôm ảo tưởng rằng Mạc Thanh Hà có đủ bản lĩnh cứu mình ra nên tạm thời vẫn chưa thể lấy được khẩu cung của gã. Vì vậy Dương Lăng không biết Mạc Thanh Hà rốt cuộc đã phạm phải trọng tội gì, không thể xác định được liệu hắn có thật sự bí quá hóa liều hay không, do đó cứ do dự không quyết.

Vì thế Đại Lâu Nhi bèn đề nghị y tương kế tựu kế, chờ Mạc Thanh Hà tự bộc lộ rõ mưu mô thì sẽ có lý do bắt người. Chỉ cần Mạc Thanh Hà bị bắt, Đại Lâu Nhi sẽ dâng tội chứng lên.

Dương Lăng đồng ý với chủ ý của ả, bèn lệnh cho người đóng giả làm gia đinh, khi Mạc Thanh Hà chạy đến dụ y vào chỗ mai phục thì người của y cũng đã được Mạc phu nhân dẫn đến phật đường tiêu diệt hết đám sát thủ mai phục ở đó rồi, sau đó đổi thành người của y.

Vừa rồi Trương Phù Bảo nhìn thấy có người nói chuyện với Dương Lăng ở vườn hoa, chính là đang bẩm báo với y rằng tất cả đều đã được xử lý ổn thỏa, do vậy Dương Lăng mới yên tâm theo Mạc Thanh Hà đến đây.

Nào ngờ huynh muội Trương thiên sư lại đến bái phỏng trước một ngày như thế, mà nha đầu nghịch ngợm này lại bám theo sau y. Dương Lăng sớm đã nghe Mạc phu nhân nói giữa phật đường có cơ quan bí mật, do đó mới cố ý đi vòng qua, nhưng Trương Phù Bảo đột ngột đến đây thì căn bản chẳng hay biết nội tình, do đó mới tùy tiện bước tới, vì cứu Trương Phù Bảo, cánh tay phải của Dương Lăng lúc này đã bị thương, máu tươi nhuốm đỏ cả áo trong áo ngoài của Trương Phù Bảo.

Nền đất phẳng chẳng có chỗ nào để bám vào, cánh tay phải lại đau đớn cực độ, Dương Lăng chỉ có thể miễn cưỡng nắm chặt lấy Trương Phù Bảo, căn bản chẳng có sức mà kéo nàng lên. Trương Phù Bảo bị treo giữa miệng hố, khi cơn kinh hãi vừa bớt đi một chút thì lại chợt phát giác phía dưới có một luồng khí hôi thối nồng nặc khiến người ta muốn ói bốc lên.

Trương Phù Bảo vội ngẩng đầu lên, chợt lại cảm thấy trên mặt ươn ướt mà nong nóng, chỉ thấy ống tay áo của Dương Lăng lúc này đã chuyển thành màu đỏ, rõ ràng là máu tươi của Dương Lăng vừa rơi xuống mặt nàng.

Máu tươi của Dương Lăng chảy dọc theo cánh tay nàng xuống dưới, nó âm ấm ươn ướt, đi qua nơi cổ, rồi lại tới bầu ngực vừa mới nhú lên, tiếp đó thì tới vùng bụng dưới, Trương Phù Bảo vừa xấu hổ vừa sợ hãi, đồng thời còn tràn đầy lòng cảm kích đối với Dương Lăng.

Nàng thấy cánh tay Dương Lăng đang run lên, xem ra đã không cầm cự được bao lâu nữa, bèn vội vàng đưa mắt nhìn quanh, muốn xem xem có chỗ nào có thể đặt chân rồi trèo ra ngoài được không. Nào ngờ nàng vừa mới cúi đầu, chợt phát hiện chỗ gần một trượng phía dưới loáng thoáng có những khúc xương trắng hếu, tuy rằng ánh sáng bên dưới rất mờ, nhưng người học đạo như nàng đối với thứ này vốn chẳng xa lạ, cái đầu lâu trên cùng của đống xương trắng kia còn được ánh sáng chiếu vào, mảng xương trắng hếu như toát ra ánh sáng lạnh ngắt đáng sợ kia hiện ra rất rõ ràng.

Trương Phù Bảo chỉ là một tiểu cô nương mười ba mười bốn tuổi, vừa nhìn thấy cảnh tượng đáng sợ thế này thì thân hình lập tức mềm nhũn. May mà lá gan của nàng còn đủ lớn, tuy rằng trong lòng sợ hãi nhưng cũng không đến nỗi giãy giụa và kêu ầm lên, bằng không thì e Dương Lăng sẽ chẳng thể giữ nổi.

Hai thân vệ bên cạnh Dương Lăng là những người có võ công cao nhất được đặc biệt chọn ra từ trong các nha sai, chẳng ngờ khi gặp phải cao thủ giang hồ thật sự lại kém cỏi như vậy, căn bản không có sức hoàn thủ. Nếu không phải Liễu Bưu mai phục ở trên lầu nhìn ra có điều không ổn, không đợi Dương Lăng hạ lệnh đã xông xuống dưới, chỉ e mạng của hai nha sai này đã nguy rồi.

Lúc này đã giải quyết được hai tên cao thủ theo bên cạnh Mạc Thanh Hà, Liễu Bưu lập tức chạy tới đưa tay kéo Trương Phù Bảo lên. Trương Phù Bảo thấy mình toàn thân đều là máu, cũng không biết Dương Lăng có bị làm sao không, không kìm được lấy khăn tay từ trong ngực ra, vốn muốn băng bó cho y một chút, nhưng vừa nhìn thấy chiếc khăn tay đó cũng đã thấm đẫm máu tươi, lập tức sợ hãi vứt chiếc khăn tay đi, cất tiếng khóc lớn.
(Ba_Van: Mời độc giả xem lại bài thơ đoán lang quân của Phù Bảo, chương 124)

Liễu Bưu chẳng rảnh mà để ý đến nàng, vội vàng buộc chặt vết thương trên tay Dương Lăng, kế đó quay về phía đám thủ hạ tay cầm nỏ cứng vừa từ bên ngoài xông vào mà quát lớn:
- Mau đi đón Cao tiểu thư đến đây, con mẹ nó, các ngươi xông vào đây thì có ích gì?

Mấy nha sai đó không biết bên trong còn có bao nhiêu sát thủ, vừa mới bước vào trong cửa với vẻ thần dũng vô song, lập tức bị Liễu thiên hộ mắng đuổi ra ngoài, bèn hoang mang chạy đi tìm Cao Văn Tâm.

Mạc phu nhân thấy Dương Lăng và Trương Phù Bảo đã được các nha sai cứu lên, không kìm được liếc nhìn về phía Mạc Thanh Hà lúc này ánh mắt đã đờ đẫn vô thần, con ngươi nở to, nhưng vẫn đứng cứng đơ ra đó rồi nở một nụ cười quyến rũ mà hắn yêu thích nhất.

Thật nhẹ nhàng, thật dịu dàng, ả khẽ nói bằng giọng mà chỉ bản thân mới có thể nghe được:
- Lão gia, tiệp thiếp biết ngài ghét nhất là ăn óc người, vì tiện thiếp, thật sự đã khổ cho ngài rồi! Đáng tiếc… đã ăn ba mươi lăm bộ óc rồi mà vẫn chẳng có chút tiến bộ nào cả, xem ra cái phương thuốc này của tiện thiếp thật sự không có tác dụng rồi, may mà… lão gia cũng không cần dùng đến nữa.

Ả nhìn vào người chết, khẽ nói với giọng yêu kiều quyến rũ vô hạn:
- Giờ đây, xin lão gia hãy làm một chuyện cuối cùng cho tiện thiếp đi, tất cả mọi tội lỗi ngài sẽ gánh vác giùm tiện thiếp cả nhé!





Chú thích:

(1): Đô chỉ huy sứ ti là thủ lĩnh quân sự tối cao của một địa phương lớn (ở kinh đô thì gọi là Chỉ Huy Sứ ti). Cùng bố chính sử ti, án sát ti gọi là tam ti, chia nhau lãnh đạo quân sự và chính trị, dân chính, hình ngục của địa phương.
Thời Minh có 13 Đô chỉ huy sứ ti.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
25-09-2011, 10:51 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 138 - Hiến Kế Mong Đắc Sủng



Dịch: VoVong

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Đại Lâu Nhi cố nén nhịn nỗi xung động muốn cười vang: “Đây chính là quan sao? Người đời đều nói ta ti tiện, nói nữ tử thanh lâu bọn ta ti tiện, loại nam nhân này không ti tiện sao? Chỉ mới hoài nghi ta bám vào được một tên quan to hơn hắn, biểu hiện của hắn với ta liền lập tức ti tiện hơn cả ả kỹ nữ ta đây. Bọn chúng bán còn triệt để hơn bọn ta nhiều!..."



Chương 138 - Hiến kế mong đắc sủng



Gã gia đinh mà Mạc Thanh Hà phái đi dựa theo lời lão gia dặn, đợi đến kha khá lâu mới vội vàng làm bộ hoang mang sợ hãi chạy đến nha môn tri phủ báo tin.

Dương tri phủ vừa nghe nói trong phạm vi quản hạt của mình mà có người dám tấn công hành dinh khâm sai lập tức sợ đến hồn phi phách tán, tức đến suýt hộc máu tươi: Cái lũ điêu dân đáng chết này, thế này chẳng phải là muốn hại ta sao?

Kế đó vị tri phủ đại nhân thi thư đầy bụng này lập tức vứt cây bút lông trong tay xuống bàn, giật lấy cây gậy đánh chó trong tay một gã nha dịch đứng gác rồi đích thân dẫn người xông tới Mạc phủ. Người đọc sách thời Minh đều tập bắn cung cưỡi ngựa, tuy phần lớn chỉ để khoe mẽ bên ngoài nhưng công phu cơ bản thì vẫn có. Dân chúng Hàng Châu thấy tri phủ đại nhân tay cầm gậy gỗ dẫn hết đám nha dịch trong nha môn chạy đi, dáng vẻ vội vã như một đám chó đói giành xương, cảnh tượng thế này thực là hiếm có liền không khỏi cảm thấy kinh ngạc vô cùng.

Dương tri phủ làm như thế này thực ra cũng có dụng ý, lỡ mà đám loạn dân làm khâm sai hoặc Mạc công công bị thương thì cái chức tri phủ Hàng Châu này e rằng hắn khỏi cần làm nữa, và lại có thể giữ được chức quan hay không cũng còn khó nói vô cùng. Hiện giờ bao nhiêu người nhìn thấy hắn đi trước sỹ tốt, hăng hái đến ứng cứu khâm sai đại nhân thì triều đình làm sao có thể phạt nặng được?

Người mà Dương tri phủ mang tới cũng thật không ít, nha sai, bộ khoái, dân binh, thậm chí cả những người làm việc viết lách trong nha môn cũng được kéo đi hết, tổng cộng phải tới gần ngàn người.

Hai hôm trước đây, sau khi Dương Lăng giao cho Dương Mạnh Anh hơn ba trăm tù phạm, dân chúng nghe nói Viên Hùng bị bắt xong bèn chạy đến nha môn tri phủ dâng cáo trạng kêu oan không ngừng.

Khâm sai còn ở đây chưa đi thì Dương Mạnh Anh tất nhiên không dám lười biếng. Mấy ngày nay tiếng trống kêu oan trước công đường chưa bao giờ dừng, giấy cáo trạng đã xếp cao mấy đống, có một số văn nhân bất đắc chí chuyên viết cáo trạng thay người ta còn dứt khoát dọn đến cổng nha môn làm việc.

Đám phạm nhân trái một nhóm, phải một tốp không ngừng được đưa lên giải xuống. Để đề phòng sơ sẩy, Dương tri phủ bèn tìm hết tất cả những người có thể dùng đến, cho canh gác tại nha môn và nhà ngục, do đó sau khi nhận được tin tức mới có thể mau chóng gom được nhiều người như thế.

Người của nha môn tri phủ vừa mới đến Mạc phủ bèn lập tức hò hét bắt người khắp nơi, thực đúng là vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Các nha sai Nội Xưởng khi đánh trận vốn có thể lấy một địch mười sau khi nghe thấy mệnh lệnh không được giết người bèn lập tức bó tay bó chân, chẳng có cách nào với những người dân này, nhưng người của nha môn tri phủ đối phó với dân chúng thì lại cực kỳ dễ dàng gọn ghẽ.

Nhất thời gậy roi không ngừng vung lên đánh xuống, xích sắt cùm gỗ lấp lánh sáng choang. Những người dân kia lập tức như chuột thấy mèo, người thì bỏ chạy người thì đầu hàng, chẳng mấy chốc cục diện đã được khống chế.

Chỉ vỏn vẹn trong một thời gian ngắn, cả khu nhà phía tây đã bị phá hoại tả tơi. Tri phủ dẫn theo tuần kiểm, điển hình (lính canh ngục?) hoang mang xông vào trong hậu viện, đang lúc tìm kiếm khâm sai khắp nơi thì viên nha sai được Liễu Bưu phái đi tìm Cao Văn Tâm cũng đã tới rồi.

Tuy vết thương của Dương Lăng không chí mạng nhưng vì mất máu quá nhiều nên sắc mặt y trắng bệch, mà cái bộ dạng nửa người thấm đẫm máu tươi đó quả thực có chút ghê người. Bọn Liễu Bưu đã đỡ Dương Lăng vào trong một ngôi nhà nhỏ gần đó, Cao Văn Tâm hay tin bèn lập tức mang theo thuốc vội vã chạy đến đây, lúc này đã chạy vào trong băng bó cho y. Liễu Bưu dẫn người canh gác chặt chẽ xung quanh ngôi nhà, không cho bất cứ người nào vào thăm.

Vốn đến để bắt loạn dân, kết quả là đến nơi rồi thì lại thành ra trấn thủ thái giám muốn hành thích khâm sai. Cái hố sâu đen ngòm trong phật đường kia, luồng khí hôi thối mà lạnh lẽo bốc lên kia khiến nơi này thật chẳng khác gì cánh cửa địa ngục, lại còn cả một đống xương trắng nữa khiến Dương tri phủ nhìn mà không khỏi sởn hết gai ốc.

Mạc phu nhân thấy quan phụ mẫu địa vừa tới, lập tức bước đến kể lại mọi chuyện, biến bản thân mình thành một người chẳng hay biết gì bị Mạc Thanh Hà lừa dối, trong lúc vô tình nghe thấy hắn và quản gia bàn bạc muốn gây bất lợi với khâm sai đại nhân, vì thế mới tìm Lý quản gia tới giảng giải đại nghĩa cho nghe, khiến Lý quản gia tỉnh ngộ đến tố giác với khâm sai chuyện này, qua đó cứu được tính mạng của khâm sai.

Quản gia Lý Phủ ở bên cạnh lập tức đứng ra chứng thực, hai kẻ bắt đầu người hứng người tung. Vốn dĩ mọi việc quả thực đều do Mạc Thanh Hà chủ mưu, hai người lại ra sức phóng đại công lao của mình, đem những lần trợ giúp Mạc Thanh Hà làm việc ác kể lại hết sức giản lược, đẩy mọi tỗi lỗi lên người Mạc Thanh Hà đã chết và Lý Quý đã bị bắt, nhờ thế thành ra công cao hơn tội rồi.

Thực ra quản gia Lý Phú cũng mới bị Đại Lâu Nhi mua chuộc hai ngày nay, sau khi cảm thấy cái cây lớn Mạc Thanh Hà đã biến thành một sợi dây mây có thể quấn chết người, Đại Lâu Nhi lập tức hạ quyết tâm dâng cho hắn “diệu kế” để dụ hắn bước vào con đường không có lối về này.

Muốn thực hiện những kế hoạch này, ả cần có một trợ thủ đắc lực giúp đỡ và người được ả chọn chính là Lý Phú. Tuy Lý Phú đã đi theo Mạc Thanh Hà nhiều năm, tỏ ra hết mực trung thành, nhưng Đại Lâu Nhi lại có thể nhìn thấu sự hèn nhát, tham lam của hắn ẩn giấu đằng sau cái lớp vỏ ngoài là một gã nô bộc trung thành ấy.

Ngày đó sau khi bày kế cho Mạc Thanh Hà, ả bèn đi tìm Lý Phú, dùng đạo lý để thuyết phục, dùng động tác để dọa dẫm, dùng tiền tài để hứa hẹn, cuối cùng còn không tiếc dùng nữ sắc để dụ dỗ, hoàn toàn nắm chắc tên thân tín đắc lực nhất này của Mạc Thanh Hà vào trong lòng bàn tay, sau đó mới bí mật cầu kiến Dương Lăng.

Ả có thể thấy rất rõ ràng lần này Dương Lăng đã hạ quyết tâm, Lý Quý quyết không thể cứu được nữa rồi, việc gã phải khai thật sau khi bị tra tấn là chuyện chẳng chóng thì chầy. Thay vì đồng quy vu tận với Mạc Thanh Hà, chẳng bằng ả ngả về phía Dương Lăng trước khi Lý Quý khai ra mọi chuyện.

Khi xưa lúc Đại Lâu Nhi vẫn còn vang tiếng gần xa ở Xuân Vũ lâu, Dương tri phủ cũng là khách trong màn của ả. Về sau Đại Lâu Nhi bị Mạc Thanh Hà nhanh tay rước trước về phủ, trong lòng Dương tri phủ vẫn lấy làm nuối tiếc vô cùng. Lúc này nhìn thấy ả khép nép yếu đuối, khóc lóc sầu thảm, Dương tri phủ nhìn mà xương cốt mềm nhũn, có lý nào lại không tin ả?

Mọi người ở chung quanh nghe nói Mạc Thanh Hà tư thông với giặc lùn, lợi dụng giặc lùn gây họa cho dân chúng rồi nhân cơ hội cho vay nặng lãi để chiếm lấy hơn mười vạn khoảnh ruộng tốt của dân; càng khiến người ta ghê sợ là hắn không ngờ lại ăn sống óc của mấy chục đứa nhỏ, làm cho ai nấy đều tái mặt.

Những bộ xương trắng hếu đầy rẫy bên dưới phật đường chính là hài cốt của hơn ba chục đứa cô nhi bị Mạc Thanh Hà hại chết. Bên bờ tường dưới đáy hố còn có một thi thể máu thịt bầy nhầy chưa bị chuột ăn hết, chính là xác của đứa cô nhi đáng thương được Mạc Thanh Hà mang về từ vườn trà. Viên ngỗ tác mà Dương tri phủ gọi tới để khám nghiệm tử thi khi nhìn thấy thảm trạng đó cũng không kìm được ghê tởm đến nỗi nôn mửa không ngừng.

Mạc Thanh Hà trong lúc làm trò chồng vợ giả với Đại Lâu Nhi, vô tình nghe ả nhắc đến việc ăn óc trẻ con có thể mọc lại cái thứ kia thì cho là thật. Hiện giờ hắn quyền cao chức trọng, nhưng mỗi khi nhắc đến khả năng của nam nhân thì hắn liền cảm thấy mình cũng chẳng bằng một tên hầu chuyên gánh phân. Nếu trên đời này thật sự có một phương thuốc kỳ diệu như thế, cho dù chỉ có cơ may thành công một phần vạn thì hắn vẫn không tiếc mọi giá mà thử một phen.

Đại Lâu Nhi trước đây là đệ nhất danh kỹ đất Giang Nam, là kỹ nữ hàng đầu của Xuân Vũ Hạnh Hoa lâu, tài tử danh sỹ tranh nhau tìm đến; lúc đó ít nhất ả còn có thể dựa vào thân phận hoa khôi mà lựa chọn nam nhân. Từ sau khi gả cho Mạc Thanh Hà, ả liền bị hắn dâng cho đám quan viên có quyền có thế để mua vui, so với lúc làm kỹ nữ còn cảm thấy nhục nhã hơn nhiều. vì vậy ả cũng mong cái phương thuốc cổ kia hiệu quả, nhờ đó ả không còn bị hắn cứ đưa đi đón về nữa.

Nhưng phương thuốc ấy quả thực rât thương thiên hại lý, Mạc Thanh Hà rất sợ bị oan hồn đòi mạng, do đó mới xây dựng tòa phật đường quái lạ này. Hắn đem thi thể của tất cả những cô nhi bị ăn óc vứt xuống dưới hố, bên trên xây dựng phật đường để siêu độ cho những vong hồn này.

Hắn lại sợ hành vi khiến người và thần đều căm phẫn này bị trời cao biết được, do đó mới xây thêm một tầng nữa bên trên phật đường, bố trí những thứ pháp khí loạn xạ mà chẳng biết là hắn thỉnh về từ đâu để ngừa trời cao tỏ tường mọi chuyện. Với sự tinh minh của Mạc Thanh Hà mà không ngờ cũng có thể thực hiện những chuyện ngu xuẩn và đầy mâu thuẫn như vậy, có thể thấy hắn tuy táng tận lương tâm, không sợ lòng dân phép nước nhưng vẫn còn biết sợ hãi quỷ thần.

Trương Phù Bảo ngẩn ngơ đứng trước ngôi nhà Dương Lăng đang ở, khuôn mặt trắng bệch chẳng còn hột máu. Trương thiên sư còn tưởng muội muội mình sợ hãi quá độ, không kìm được thở dài một hơi, nhẹ nhàng bước tới khẽ lau đi mấy giọt máu dính bên má nàng, dịu giọng bảo:
- Bảo nhi, quần áo muội đều dính máu cả rồi, chi bằng để ta kêu nha hoàn trong phủ đưa muội đi thay bộ quần áo khác nhé!

Trương Phù Bảo nghe xong bèn lắc đầu lia lịa, nói:
- Không! Muội… Muội ở đây đợi y, Dương đại nhân… vì cứu muội nên mới bị thương… Muội sao có thể yên tâm mà đi chứ?

Trương thiên sư bật cười nói:
- Vết thương của đại nhân chỉ là mất máu quá nhiều, không nguy hại đến tính mạng, muội lo cái gì chứ? Ồ… Cũng tốt, đại nhân đã bị thương, e rằng còn có vụ án của Mạc Thanh Hà phải xử lý, đợi lát nữa chúng ta hãy tới chào Dương đại nhân rồi đi, sau khi trở về rồi thay quần áo vậy.

Y cho rằng muội muội lớn rồi, ngại việc thay quần áo ở phủ của người khác, do đó mới đổi ý. Nhưng nào ngờ tiểu cô nương này đang lòng dạ rối bời, vừa thấy kinh sợ, vừa thấy lo lắng, đồng thời còn có một ý nghĩ mà nàng vừa không dám nghĩ tới lại vừa một mực không kìm được cứ muốn nghĩ tới cứ luẩn quẩn trong đầu: “Nam nhân này sẽ là phu quân mà mình bầu bạn cả đời sao?”

Nàng đã nhận ra được vị phu quân mà vận mệnh đã an bài cho mình. Nhưng người đó vẫn còn chưa hay biết, hơn nữa y lại đã có ba phòng thê thiếp rồi, bản thân quả thực không muốn gả đến phủ của y, nhưng không biết tại sao vận mệnh lại an bài như vậy, nàng có thể không hoảng loạn được sao?

Trong lòng Trương thiên sư cũng đang thở dài, Vì cứu muội muội mình nên Dương Lăng mới bị thương, tuy rằng không nguy hiểm gì đến tính mạng nhưng nếu ngày mai đi ngay thì dù thế nào đi chăng nữa cũng không hợp lẽ. E rằng phải để mẫu thân đợi thêm mấy ngày nữa vậy.

Lúc này Trịnh bách hộ đã từ trong phòng bước ra, mọi người thấy thế bèn vội vây lấy y mà hỏi han. Trịnh bách hộ ôm quyền chào khắp một vòng nói:
- Thiên sư, các vị đại nhân, khâm sai đại nhân mất máu quá nhiều nên thân thể hư nhược cần phải nghỉ ngơi một phen, do đó không thể gặp hết mọi người. Mời thiên sư và tri phủ đại nhân hãy vào trong nói chuyện.

Dương tri phủ chỉnh đốn lại quần áo, cung kính mời Trương thiên sư đi trước một bước, rồi bản thân đi theo sau. Hai người đã vào trong ngôi nhà ấy, Đại Lâu Nhi đứng một mình cạnh ngọn giả sơn bên bờ hồ, trong lòng có chút căng thẳng.

Ả lại suy nghĩ kỹ càng từ đầu chí cuối mọi việc một phen. Những việc mà Mạc Thanh Hà làm thì ngoài mấy tên thân tín ra chẳng có bao nhiêu người được biết, còn việc bản thân có tham gia và bày mưu vạch kế cho Mạc Thanh Hà hay không thì ngay đến Lý Phú cũng không hay biết, hiện giờ Mạc Thanh Hà đã chết rồi, chẳng còn chứng cứ gì khác, vậy đừng hòng có ai lôi được mình vào chuyện này. Ngẫm nghĩ tỉ mỉ thấy không còn sơ hở gì cả, lúc này ả mới thấy yên tâm.

Nghĩ tới khối tài sản khổng lồ của Mạc Thanh Hà, trong lòng ả lại có chút đau xót. Ruộng đất nhà cửa của Thanh Hà chắc chắn sẽ bị quan phủ tịch thu. Ngay cả đến chỗ của Đỗ Thanh Giang… Ai mà biết người của xưởng vệ có lần mò ra được gì không chứ? E là cũng chẳng giữ được rồi, đó là một gia sản khổng lồ đến cỡ nào cơ chứ

Đại Lâu Nhi thầm thở dài nghĩ bụng:
- Xem ra chỉ có hai mươi sáu vạn lạng ngân phiếu giấu trong hộp châu ngọc của mình là còn có thể giữ lại. Giờ đây Mạc Thanh Hà đổ rồi, sau này ta phải dựa vào ai đây?

Tuy Đại Lâu Nhi lắm mưu nhiều kế, thủ đoạn còn cao minh hơn Mạc Thanh Hà nhiều nhưng cho dù ả có lợi hại hơn đi chăng nữa thì cũng chỉ có thể đi theo sau lưng nam nhân. Thế giới này vẫn còn chưa cho phép nữ nhân được xuất đầu lộ diện, trừ phi ả cam chịu sống nốt phần đời còn lại trong bình lặng, cứ thế này mua lấy một ngôi nhà rồi ẩn cư.

Đại Lâu Nhi nghĩ tới hoàn cảnh của mình lúc này, không khỏi có chút mờ mịt: Bố chính sứ, chỉ huy sứ đều là quan lớn một tỉnh, bọn hắn tuy say mê mình nhưng có kẻ nào chịu thật sự bỏ ra cái gì chứ? Thân phận của mình bây giờ còn hèn mạt hơn cả lúc là danh kỹ Giang Nam, hiện nay là vợ của thái giám, mà gã thái giám đó còn là một tên ác ma ăn óc người.

Nếu bây giờ mà lén đến bái phỏng những đại nhân này thì bọn hắn chắc vẫn vội vã kéo mình lên giường chứ nhỉ? Nhưng khi ở trước mặt người khác thì sao, chỉ e lũ ngụy quân tử ấy sẽ tránh mình như tránh ôn dịch, Đại Lâu Nhi này chẳng lẽ phải cam chịu kiếp sống bình lặng từ đây sao? Có lẽ nửa năm, có lẽ một năm… sẽ chẳng còn ai nhớ đến mình nữa rồi.

Đại Lâu Nhi khẽ đưa tay vuốt ve bờ má vẫn còn mịn màng sáng bóng của mình, đột nhiên cảm thấy vinh hoa phú quý cũng giống như vẻ trẻ trung xinh đẹp này vậy, nhìn bề ngoài thì vẫn tràn đầy hào quang, nhưng bất tri bất giác đã trôi đi mất rồi, có muốn giữ lại cũng không được.

“Vậy đấy, đi theo Mạc Thanh Hà nhìn bề ngoài thì vinh quang vô hạn, nhưng mình đã có lúc nào được vui vẻ chưa? Mình cũng không còn trẻ nữa rồi, cứ nên tìm lấy một nơi sơn thanh thủy tú, tìm lấy một nam nhân tri kỷ hiền lành, hai người đuổi gió gọi trăng, gãy đàn ca hát cho đến hết kiếp này thôi.”

Đại Lâu Nhi cố gắng thuyết phục bản thân mình, đang lúc tâm thần hoảng hốt thì Trương thiên sư và Dương tri phủ đã đi ra khỏi ngôi nhà nhỏ kia. Dương tri phủ đi tới trước mặt ả, mỉm cười gọi:
- Phu nhân, phu nhân!

- Hả? - Ánh mắt Đại Lâu Nhi ngẩn ngơ trong chốc lát, rồi lại lập tức trở nên trong veo như thường, ngạc nhiên hỏi:
- Đại nhân đã ra rồi sao? Khâm sai đại nhân vẫn khỏe chứ?

Thân hình Dương tri phủ so với ả còn lùn hơn một chút, ánh mắt tham lam hau háu cứ nhìn chăm chăm vào hai ngọn đồi cao vút kia, nuốt một ngụm nước bọt rồi mới nói:
- Đại nhân là người tốt được trời trợ giúp, không có mối lo về tính mạng, chỉ là mất máu quá nhiều, hiện giờ không có tinh lực để gặp gỡ khách khứa. Vừa rồi khâm sai đại nhân đã lệnh cho bản quan tiếp nhận vụ án này, điều tra việc… tôn phu bán nước thông đồng với địch, tàn hại nhân mạng. Trong vụ án này còn nhiều điều đáng nghi, không biết có thể mời phu nhân đến nha môn một chuyến để bản quan hỏi kỹ mọi chuyện không?

Hắn thấy Đại Lâu Nhi hơi ngẩn ra một chút, vội cất tiếng an ủi:
- Phu nhân vì đại nghĩa diệt thân, cứu được khâm sai đại nhân, công lao rất lớn, tuy là gia quyến của người phạm pháp, nhưng cũng sẽ không bị trị tội, bản quan chỉ hỏi về các tình tiết trong vụ án mà thôi.
Dứt lời cặp mắt hắn lại không kìm được liếc về phía bờ eo thon kia của Đại Lâu Nhi.

Đại Lâu Nhi nhìn thấy cái vẻ lén lút ấy của hắn, không khỏi cảm thấy tức cười: Đám người này thật giống như một đàn chó, còn mình, chỉ cần nhan sắc chưa phai tàn, sẽ chẳng khác gì khúc xương trong miệng bọn chúng để bọn chúng giành đi giành lại. Hiện giờ Mạc Thanh Hà vừa mới chết, con chó ghẻ vốn không dám đến gần này lại chạy tới giành xương rồi.

Trong lòng ả vô cùng căm hận, hận không thể một dao đâm chết gã lùn bỉ ổi này giống như vừa rồi đâm Mạc Thanh Hà, nhưng trên mặt ả lại dần hiện nên một nụ cười ngọn ngào và vô cùng quyến rũ.

Đại Lâu Nhi lẳng lặng đưa tay lên, nhẹ nhàng gạt lọn tóc mai ra phía sau vành tai trắng ngần đẹp đẽ như đĩnh bạc nguyên bảo, dáng vẻ đoan trang tao nhã đến cực cùng. Nhìn làn da cổ mịn màng như ngọc của giai nhân, cặp mắt Dương tri phủ bất giác trở nên ngơ ngẩn.

Đại Lâu Nhi tới lúc này mới yêu kiều cười nói:
- Được chứ, vậy xin đại nhân hãy đợi một chút, tiện thiếp đi gặp Dương đại nhân xong sẽ lập tức theo đại nhân về phủ.

Dương tri phủ cười bảo:
- Không cần đâu, khi bản quan đi ra Liễu thiên hộ đã dặn dò nha sai, khâm sai đại nhân cần tĩnh dưỡng, không tiếp khách nữa.

Đại Lâu Nhi nói:
- Tiện thiếp biết chứ, có điều Dương đại nhân không gặp người khác chứ sao lại không gặp… Ôi chao… - Ả khẽ kêu lên một tiếng, đưa tay lên che miệng, dường như vừa nói lỡ lời, trong đôi mắt to đen láy thoáng qua một nét thẹn thùng mà hoảng loạn.

Dương tri phủ thấy dáng vẻ muốn nói lại thôi của ả thì lập tức nảy lòng nghi ngờ, cái bộ dạng ngạo nghễ đã rất lâu rồi chưa dám chưng ra trước mắt Đại Lâu Nhi kia được thu lại ngay. Rồi hắn nở một nụ cười ngượng ngập, còn hơi mang theo chút vẻ nhún nhường nói:
- Ồ… Khâm sai đại nhân còn có chuyện muốn hỏi phu nhân sao? À… Chuyện này… Đã như vậy, bản quan xin về phủ trước đây, nếu vụ án còn có chỗ nào không rõ, bản quan sẽ tới phủ hỏi han sau.

Đại Lâu Nhi cố nén nhịn nỗi xung động muốn cười vang: “Đây chính là quan sao? Người đời đều nói ta ti tiện, nói nữ tử thanh lâu bọn ta ti tiện, loại nam nhân này không ti tiện sao? Chỉ mới hoài nghi ta bám vào được một tên quan to hơn hắn, biểu hiện của hắn với ta liền lập tức ti tiện hơn cả ả kỹ nữ ta đây. Bọn chúng bán còn triệt để hơn bọn ta nhiều!
Ta không cam tâm, dựa vào cái gì mà ta phải bị người khác ức hiếp? Ta có bản lĩnh để đứng ở trên người khác, tâm kế, dung mạo của ta cũng có mấy ai sánh kịp đây? Ta là Đại Lâu Nhi, ngoảnh đầu mỉm cười đủ khiến đất Giang Nam mưa xuân tràn khắp, Dương tri phủ chẳng phải cũng nhìn ta mà thèm nhỏ dãi đó sao? Trước giờ ta chưa từng thất bại… chưa từng… Duy có… Không, lần đó không thể tính là ta thua được, y thân thể có tật, nếu không…”

Một ý nghĩ vốn không muốn nghĩ tới lúc này lại đột nhiên xuất hiện trong lòng ả: “Lời của y có phải là thật không đây? Bề ngoài y vỗ về Mạc Thanh Hà, bên trong thì lại ngầm phái người đi bắt Lý Quý, lời mà y nói với ta liệu còn có thể là thật được ư?”

Càng là người tự ti thì lại càng khao khát vượt hơn người khác, Đại Lâu Nhi bị Dương tri phủ kích thích, trái tim vừa rồi vốn đã có chút ủ rũ nay lại lập tức bừng lên khát vọng về quyền lực và địa vị, ả bình tĩnh trở lại, khẽ mỉm cười nói:
- Đại nhân công vụ bận rộn, nếu còn có chuyện gì không rõ, chỉ cần phái nha dịch tới gọi một tiếng là được, tiện thiếp sao dám không tới phủ nha chứ? Còn bây giờ, tiện thiếp phải đi gặp Dương đại nhân trước đã… À, là khâm sai đại nhân!

Đại Lâu Nhi nói xong bèn ưỡn ngực ngẩng cao đầu, rảo bước thướt tha đi tới trước ngôi nhà kia, yêu kiều mỉm cười nói với Trịnh bách hộ:
- Xin đại nhân hãy vào bẩm giùm một tiếng, nói rằng Đại Lâu Nhi có chuyện quan trọng muốn trực tiếp bẩm rõ với khâm sai đại nhân.

Trịnh bách hộ biết kế hoạch khiến Mạc Thanh Hà tự hiện nguyên hình hôm nay toàn là nhờ công của Đại Lâu Nhi, ả nói có chuyện quan trọng cẩn bẩm báo thì y cũng không dám hàm hồ, bèn khách sáo cung tay nói:
- Phu nhân đợi một lát, ta đi bẩm với đại nhân ngay đây.

Dương tri phủ đứng cạnh ngọn giả sơn, thấy Đại Lâu Nhi thướt tha đi tới, chỉ khẽ nói có hai câu mà viên Trịnh bách hộ kia đã phải quay vào trong bẩm báo thì không khỏi cả kinh, ý nghĩ muốn ngầm độc chiếm Đại Lâu Nhi lập tức tan biến hoàn toàn.

Hắn vừa dẫn người quay trở về vừa thầm chửi rủa: “Con đàn bà lẳng lơ này, nói không chừng khâm sai đại nhân vừa mới tới thì đã bị ả câu dẫn, thảo nào ả lại không để ta vào trong mắt.” Nghĩ tới đây hắn lại bất giác nhớ đến kết cuộc của Mạc Thanh Hà, không khỏi rùng mình một cái: “Vị khâm sai đại nhân này điều tra Mạc công công chắc không phải là vì… Hồng nhan họa thủy, hồng nhan họa thủy, tránh đi thì hơn.”

Dương Lăng không biết Đại Lâu Nhi có tin tức gì quan trọng, bèn vội nói:
- Mời Mạc phu nhân vào đây.

Lúc này y đang để trần thân trên, tay phải đã được băng bó lại, nghe nói phải gặp khách nữ, Cao Văn Tâm vội cầm lấy chiếc áo dài khoác lên cho y, sau đó lại khoác cho y thêm chiếc áo choàng nữa vào và buộc cái nút trước ngực lại.

Đại Lâu Nhi bước vào phòng thấy Dương Lăng đang ngồi cạnh bàn, trên bàn còn nguyên một đống khăn vải dính đầy máu và hồ lô thuốc, bèn vội nhún người hành lễ, dịu giọng nói:
- Thân thể đại nhân vẫn tốt chứ? Vừa rồi còn sợ đại nhân thật sự xảy ra chuyện gì, tiện thiếp lo chết mất thôi.

Đại Lâu Nhi cử chỉ tao nhã đứng đắn, nhưng khi lọt vào trong mắt Cao Văn Tâm thì lại khiến nàng cảm thấy có chút giả dối. Đại Lâu Nhi từ nhỏ đã học những thủ đoạn này, cử chỉ phong thái đều chẳng khác gì những vị tiểu thư con nhà gia giáo. Nhưng một đằng khi học thì ôm lòng mua vui cho người khác, một đằng thì quả thực là khí chất tự nhiên, giữa hai bên vẫn có chút khác biệt, tuy người khác nhìn không ra nhưng chuyện này lại không giấu được đôi mắt của Cao Văn Tâm.

Nàng không kìm được lén bĩu môi nghĩ bụng: “Mặc kệ cô ta có phải là người ác hay không, nhưng tướng công nhà mình chết thì không lo, chạy tới lo cho lão gia nhà ta làm gì chứ? A… Đúng rồi, lúc ở Tô Châu…”

Đôi mắt Cao Văn Tâm hơi xoay chuyển một chút, nhủ thầm: “Nữ nhân này lẳng lơ như thế, nếu ả dám câu dẫn lão gia nhà ta thì ta sẽ đem việc nhìn thấy ở Tô Châu nói lại với lão gia. Nữ nhân này quyết chẳng phải là người tốt, dính vào chắc chắn sẽ xui xẻo.”

Dương Lăng cười bảo:
- Bản quan đang bị thương nên không tiện đứng dậy nghênh đón, thực là thất lễ! Phu nhân cũng bất tất phải khách sáo, đây là nhà của phu nhân, ta mà phản khách vi chủ há chẳng phải là nực cười lắm sao? Phu nhân mau mau ngồi đi, nếu không bản quan thật không biết phải chui xuống đâu cho hết thẹn!

Đại Lâu Nhi nhoẻn miệng cười, nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh, cặp mắt mỹ lệ ngước lên, vừa hay nhìn thấy Dương Lăng như đang có điều suy tư đưa mắt nhìn mình. Ả không kìm được giật mình đánh thót, có chút không được tự nhiên cười nói:
- Tiện thiếp có chỗ nào thất lễ chăng? Sao đại nhân lại… lại nhìn tiện thiếp như vậy?

Dương Lăng cười bảo:
- Ồ, chỉ là ta thấy phu nhân thân thể mảnh mai, vận quần áo trắng, tựa như bông hoa lê sau mưa, không ngờ lại dám giết người… Cho dù là nam tử cũng chưa chắc đã có được sự quyết đoán như phu nhân, thực khiến người ta có chút bất ngờ.

Đại Lâu Nhi nghe thế vành mắt lập tức đỏ hoe, nước mắt lưng tròng nói:
- Đại nhân đang trách tiện thiếp… trách tiện thiếp không giữ lại nhân chứng sống, hay là hiềm nghi tiện thiếp lòng dạ tàn độc, tự tay giết chết phu quân?

Dương Lăng nhìn bộ dạng ấm ức của ả không giống như đang giả bộ, tuy cảm thấy nói khóc là khóc thế này có chút không chân thực nhưng vẫn đưa tay ra theo phản xạ:
- Phu nhân hiểu… Ối chao…

Y đưa tay phải ra vốn là theo thói quen, không ngờ lại động vào vết thương, nhất thời đau đớn nhíu chặt đôi mày. Cao Văn Tâm hoang mang bước lên trước một bước, đỡ lấy cánh tay y nhẹ nhàng đặt xuống, cất tiếng quở trách:
- Lão gia… Nhìn ngài kia…
Nàng vốn còn muốn trách móc thêm vài câu nhưng đột nhiên nghĩ tới việc Mạc phu nhân vẫn còn ngồi ở đó nên lập tức dừng lời lại.

Nhưng giọng điệu động tác của nàng đều vô cùng thân mật đã không phải là thái độ của một nô tì với chủ nhân, với nhãn lực của một cao thủ chốn ong bướm như Đại Lâu Nhi có lý nào lại không nhìn ra chứ?

Cô ta chính là vị tiểu thư nhà họ Cao nổi danh nữ thần y ở chốn kinh sư? Cô ta phụ trách chữa trị tật kín của đàn ông cho Dương Lăng? Nếu Dương Lăng cũng là một nhân vật giống như Mạc Thanh Hà, giọng điệu và động tác của nữ tử này đối với y liệu có ngập tràn tình ý như thế không?

Đại Lâu Nhi lập tức hiểu ra mình đã bị Dương Lăng lừa rồi, không khỏi ngầm có thêm mấy phần cảnh giác: Người này còn nhỏ hơn mình sáu bảy tuổi ấy chứ, vốn còn tưởng y có thể ngồi lên chức xưởng đốc Nội xưởng hoàn toàn là nhờ thánh ân, bây giờ xem ra khả năng ẩn nhẫn của y quả thực hơn hẳn người thường, không thể coi nhẹ được.

Trong lòng Đại Lâu Nhi bắt đầu ngầm tính toán, kế đó bèn ngẩng đầu lên đưa mắt nhìn Dương Lăng, nói:
- Đại nhân, Mạc Thanh Hà đối với ngài thế nào, đối với tiện thiếp thế nào, ngài cũng không phải là không biết, lần trước chúng ta… lần trước chúng ta…
Nói tới đây khuôn mặt xinh đẹp của ả bất giác ửng hồng, dường như đang nhớ đến tình cảnh hai người trận trụi bên nhau, dáng vẻ thẹn thùng vô hạn.

Rồi ngay sau đó ả lại khẽ thở dài buồn bã:
- Tiện thiếp đối với hắn chỉ có một sự căm hận đến thấu xương, sao có chút tình ý nào được chứ? Tiện thiếp cũng không ngờ hai tên thị vệ theo bên cạnh hắn lại có võ công cao cường như vậy, sợ rằng đại nhân gặp sơ sảy gì, khi đó tiện thiếp cũng lâm vào cảnh vạn kiếp bất phục, do đó mới lỗ mãng ra tay, may mà thân quân của đại nhân cơ trí, lúc ấy cũng xông xuống dưới lầu…

Ả đã đem đảo lộn trình tự trước sau một chút, nhưng khi đó Dương Lăng chỉ để tâm đến việc chụp lấy Trương Phù Bảo đã rơi xuống hố còn thân binh của y thì vừa mới xông xuống dưới lầu, chỉ chú ý tới hai tên hộ vệ võ công cao cường kia mà toàn bộ sự tình lại chỉ xảy ra trong khoảnh khắc, một đao đó của ả là đâm vào trước hay đâm vào sau nào có ai nhìn thấy được, ai mà có thể nói ra rõ ràng đây?

Dù sao cũng từng trần như nhộng trước mặt đối phương rồi, chẳng cần phải giả bộ thục nữ nữa, Đại Lâu Nhi lớn mật nhắc tới chuyện kia, khiến Dương Lăng không khỏi đỏ mặt. Cao Văn Tâm nghe giọng điệu của Đại Lâu Nhi có chút ám muội, không khỏi nảy lòng nghi ngờ đưa mắt nhìn qua ngó lại hai người này, không biết lần trước bọn họ… bọn họ đã thế nào rồi.

Dương Lăng vội nói lảng sang chuyện khác:
- Bản quan chỉ cảm thấy hiếu kỳ vì phu nhân là một nữ tử yếu đuối mà lại có được lòng gan dạ như thế, không hề có ý gì khác, phu nhân chớ trách! Không biết lúc này phu nhân vội vã tới gặp ta là có chuyện gì quan trọng đây?

Đại Lâu Nhi nghe vậy liền ngây ra, ả vốn hận Dương tri phủ vừa thấy mình mất đi chỗ dựa đã lập tức muốn dùng quyền thế bức ép mình hầu hạ, do đó mới tùy tiện kiếm cớ, chẳng qua chỉ muốn dùng quan uy của Dương Lăng để thay mình trút cơn giận này mà thôi, nào có chuyện gì quan trọng muốn bẩm báo với y chứ?

Ả vội vã suy nghĩ một chút, sau đó đó tùy tiện kiếm cớ:
- Trong mật thất của Mạc Thanh Hà có giấu một lượng lớn tiền đồng, vì Oa quốc thiếu thốn tiền mặt, do đó hắn mới dùng bạc đổi lấy tiền đồng để đem đi trao đổi hàng hóa với người Oa, ở Đại Minh một ngàn văn tiền bằng một lạng bạc, nhưng đem đến Oa quốc mua hàng thì có thể mua được một lượng hàng trị giá một lượng hai. Tiện thiếp sợ đại nhân còn chưa biết hắn cất giữ một lượng lớn tiền đồng trong kho như thế là có ý gì, cho nên…

Dương Lăng cười hà hà nói:
- Đây cũng không phải chuyện gấp gì, sau này khi quan phủ kiểm kê tự nhiên sẽ phát hiện ra thôi, phu nhân nói với Dương tri phủ là được rồi, hà tất…

Đại Lâu Nhi lúc này chợt nảy ý đồ với Dương Lăng. Mỹ sắc đã không thể khiến y thần hồn điên đảo, vậy tất nhiên mình phải thể hiện một chút tài năng, sao có thể để y coi nhẹ mình được chứ?

Trầm ngâm trong chốc lát ả đã nghĩ ra được một lý do, bèn hé miệng cười nói:
- Đại nhân dạy rất phải, thực ra tiện thiếp đến đây… là muốn hiến kế cho đại nhân.

Dương Lăng hơi ngẩn ra, thu nụ cười lại hỏi:
- Hiến kế? Ý của phu nhân là…

Đại Lâu Nhi nói:
- Tiện thiếp biết đại nhân mới nhậm chức xưởng đốc, căn cơ ở kinh sư chưa vững, lần này tới Giang Nam chính là để có thể thuận lợi tiếp nhận ty thuế quan. Thuế khóa Giang Nam chiếm tới sảu bảy phần mười của thiên hạ; bình định được Giang Nam tất sẽ ổn định được đại cuộc. Hiện giờ ba đại thái giám trấn thủ đất Giang Nam đã mất hai người, tất nhiên thái giám trấn thủ các nơi sẽ lòng dạ xao động, nếu vì thế mà dẫn đến việc thuế khóa không ổn định thì triều đình tất sẽ loạn, người bất mãn với đại nhân e là sẽ nhân cơ hội này mà công kích.

Ả đưa cặp mắt mỹ lệ liếc nhìn Dương Lăng, thấy y nghe đến nhập thần, không khỏi tinh thần phấn chấn, tiếp tục nói:
- Tiện thiếp ngụ tại Giang Nam đã lâu, thường ngày lại hay nghe Mạc Thanh Hà nhắc tới một số chuyện về thuế khóa, do đó… cũng có một số kiến thức ít ỏi muốn nói với đại nhân, có lẽ là sẽ có chút tác dụng.

Từ sau khi bắt Viên Hùng thì Dương Lăng bắt đầu rầu rĩ vì không biết tìm đâu ra một trấn thủ thái giám thích hợp. Tùy tiện tìm một người thì không khó, nhưng tiền thuế ở nơi này liệu có thể thu được đúng thời hạn và đủ số lượng hay không lại khó nói vô cùng. Bây giờ còn bắt liền một mạch hai người, điều cần suy nghĩ không chỉ là chọn người nữa, mà còn có lòng người.

Thuế giám các nơi nghe được tin tức này e là đều hoang mang sợ hãi, thời đại này lại chẳng có ti vi hay điện báo gì cả thì làm sao vỗ về bọn họ đây? Tiền thuế mà không thu về được, đừng nói là ty thuế quan sẽ quay trở về tay ty Lễ Giám mà e là ngay đến Nội xưởng cũng sẽ bị triệt bỏ.

Với tác phong nhổ cỏ nhổ tận gốc của Đông xưởng, bọn họ không thừa cơ đánh cho bản thân mình vĩnh viễn không thể trở mình mới là chuyện lạ. Làm sao có thể vỗ về thuế giám các nơi, làm sao để chọn ra hai người đảm nhận chức vị tối quan trọng này, đây là những vấn đề cấp bách mà y cần giải quyết ngay trước mắt.

Tìm ra chứng cứ để bắt bọn họ tuy khó nhưng lại chẳng có nhiều hậu quả cần phải suy nghĩ. An bài thuế giám mới tuy dễ nhưng động một chút là có thể ảnh hưởng đến toàn cục, lỡ mà xử lý không khéo thì công lao trừ gian diệt ác trước đó sẽ lập tức bị gạt bỏ ngay. Do đó Dương Lăng nghe ả nói xong bèn không kìm được dỏng tai lên truy hỏi:
- Ồ? Mạc phu nhân có diệu kế gì sao? Mau nói ra đi!

Đại Lâu Nhi yêu kiều nói:
- Thực ra hai chuyện này là một mà hai, hai mà một, giải quyết được vấn đề chọn người thì cũng sẽ giải quyết được vấn đề vỗ về lòng người. Thuế giám trấn thủ mới nhất định cần có năng lực tiếp quản thuế vụ, đồng thời còn phải tuyệt đối trung thành với đại nhân, vừa có tác dụng vỗ về thuế giám khắp nơi trong thiên hạ nữa, hơn nữa lại cần làm bật được tác dụng của việc đại nhân trừ gian lập oai lần này. Phải được một hòn đá trúng bốn con chim như thế thì chuyến đi Giang Nam này của đại nhân mới coi như là công đức viên mãn.

Dương Lăng vội cầm lấy chén trà đưa lên bên miệng, vui mừng nói:
- Dương mỗ mong được nghe rõ, xin phu nhân hãy chỉ giáo cho!

Đại Lâu Nhi nghe giọng y thân thiết hoàn toàn khác hẳn với thái độ vừa rồi thì cho rằng mình đã nhận được sự tán thưởng và lòng yêu thích của y, không kìm được mừng rỡ vô hạn, cười tươi nói:
- Chuyện này thì dễ thôi, đại nhân có thể điều thuế giám thuế quan, thuế lương từ các nơi nhỏ bé như Gia Hưng, Lệ Thủy tới, để bọn họ đổi sang trấn thủ nơi yếu địa Tô Châu, Hàng Châu. Bọn họ ở Giang Nam đã lâu, thông thuộc tình hình nơi này, chỉ cần nhậm chức là sẽ có thể thuận lợi tiếp nhận mọi việc, sẽ không ảnh hưởng gì tới tiền thuế năm nay đâu. Những người này một mực không được đề bạt, lúc này đột nhiên được thăng lên làm thuế giám trấn thủ vùng Giang Nam trọng địa thành ra đại nhân đối với bọn họ có cái ơn tiến cử, thêm vào đó Viên Hùng là cái gương của kẻ không nghe lời, chẳng lẽ bọn họ không trung thành với đại nhân mà đi trung thành với lũ người ở ty Lễ Giám sao?

Còn về những chỗ trống bỏ lại sau khi điều bọn họ đi thì cũng không thể sử dụng người ở kinh sư nữa, thứ nhất là thời gian không kịp, đợi đại nhân trở về kinh sư chọn người xong, rồi bọn họ lại đến đây nhậm chức, chiêu binh mãi mã, làm quen với tình hình, tất cả cứ tuần tự tiến hành e rằng cần phải tới tháng sáu năm sau mới xong. Hơn nữa phần lớn thái giám ở kinh sư đều là người của ty Lễ Giám, đại nhân không biết rõ gốc gác của bọn họ, một khi chọn nhầm người, chẳng phải là giao quyền bính lại cho ty Lễ Giám sao? Thuế giám của Đại Minh vốn đều do các công công đảm nhận, nhưng công công thì không phải chỉ kinh sư mới có…

Hai mắt Dương Lăng lập tức sáng rực lên, buột miệng thốt:
- Kim Lăng!

Hai mắt Đại Lâu Nhi nheo lại như hai vầng trăng khuyết, mỉm cười nói:
- Chính vậy! Do đó… việc chọn thuế giám này… đại nhân có thể lấy người từ Kim Lăng. Thái giám ở Kim Lăng toàn là người rảnh rỗi, bọn họ trước đây tranh sủng ở kinh sư thất bại nên mới bị đuổi đến đó dưỡng lão, ai nấy đều bất đắc chí, u uất vô cùng. Bọn họ có thể làm được việc lại quen thuộc phong thổ nhân tình chốn Giang Nam, một khi có cơ hội đi ra khỏi tòa cung điện mà bản thân vốn phải ngồi chờ chết ở trong đó kia, lại được nếm chút lợi lộc, nhất định sẽ một lòng làm việc cho đại nhân.

Việc đại nhân dùng người ngay tại chỗ để đảm nhận chức thuế giám sẽ giống như là một viên thuốc an thần đối với thuế giám trấn thủ các nơi, khiến bọn họ biết rằng chỉ cần ngoan ngoãn nghiêm túc làm việc, đại nhân sẽ trọng dụng bọn họ. Điều người từ Kim Lăng tới có thể giải quyết vấn đề trung thành của thuế giám mới nhậm chức, đồng thời còn là một lời cảnh cáo với thuế giám các nơi, nếu bọn họ cứ chân trong chân ngoài thì vẫn còn có rất nhiều người khác chờ đi theo làm việc và tận trung với đại nhân. Một khi được như vậy, đại nhân chẳng cần đích thân bôn ba khắp nơi mà vẫn có thể nắm chắc các thuế giám trong thiên hạ vào lòng bàn tay. Giang Nam mà ổn định, cục diện thiên hạ cũng sẽ ổn định thôi!

Dương Lăng mặt mày phấn chấn, nói chuyện với Đại Lâu Nhi càng lúc càng hợp, thật có cảm giác hận rằng gặp nhau quá muộn. Đại Lâu Nhi vốn có tài ăn nói lại cố ý lấy lòng, thần thái quyến rũ kia của ả khiến Cao Văn Tâm nhìn mà lòng dạ chua loét, hậm hực vô cùng, chỉ hận không thể móc cặp mắt cứ như thể đang bay đi bay lại kia của ả.

Cuối cùng Dương Lăng không ngờ còn mang theo vết thương mà đứng dậy đích thân đưa Đại Lâu Nhi ra ngoài cửa, nhìn ả đã thướt tha đi hẳn rồi mới trở lại trong phòng. Cao Văn Tâm lập tức không kìm được nói:
- Đại nhân, sao ngài lại đối xử với cô ta… Thân phận của cô ta… Nếu ngài mang theo cô ta bên cạnh, thanh danh sẽ…, hơn nữa ngài còn không biết, khi ở Tô Châu cô ta… Ôi ôi, tôi không nói được, dù sao cô ta cũng không phải người tốt!

Dương Lăng thấy Cao Văn Tâm trước giờ vốn luôn điềm đạm tao nhã mà lúc này cũng phải mặt mũi đỏ bừng, ngay đến cái cổ cũng như được nhuốm màu đỏ son, không kìm được cười hà hà nói:
- Sao cứ như là lão gia ta sắp rơi vào miệng hổ thế, có đáng sợ như vậy không? Có phải là vì nhìn thấy người ta xinh đẹp hơn cô không vậy? Ha ha ha!

Thấy bộ dạng chẳng hề bận tâm của y, Cao Văn Tâm không kìm được giậm giậm chân, lo lắng đáp:
- Ôi lão gia của tôi ơi, sao ngài lại hồ đồ như thế chứ? Vô duyên vô cớ mà lại xun xoe ân cần nếu không phải kẻ gian thì cũng là trộm cướp. Tiểu tỳ thấy đó không chỉ là miệng hổ thôi đâu!

Cao Văn Tâm thấy y vẫn cứ cười hì hà như cũ, không kìm được ngoảnh mặt đi, hậm hực lẩm bẩm: “Đúng là làm ơn mắc oán, người ta được mỹ nữ để ý đến, trong lòng vui mừng còn chưa kịp nữa kìa, mình thật là ngốc, hoàng đế không lo mà thái giám đã lo.” Nói một hồi nàng bất giác cảm thấy ấm ức, nước mắt không kìm được rào rạt tuôn rơi.

Không ngờ chỉ mới trêu chọc một chút thôi mà đã khiến giai nhân rơi lệ, Dương Lăng vội vàng bước tới hoang mang dỗ dành:
- Văn Tâm đại tiểu thư của ta ơi, cô được làm bằng nước hay sao vậy? Đừng khóc nữa đừng khóc nữa, ta chỉ trêu cô một chút thôi mà! Cô tưởng lão gia ta là kẻ ngốc hay sao, cô ta có phải là người tốt hay không thì liên quan gì đến ta chứ? Chỉ cần cô ta có ý kiến tốt là được rồi, đúng không hả nữ thần y có đôi tuệ nhãn của ta?







Chú thích:

(1): Đô chỉ huy sứ ti là thủ lĩnh quân sự tối cao của một địa phương lớn (ở kinh đô thì gọi là Chỉ Huy Sứ ti). Cùng bố chính sử ti, án sát ti gọi là tam ti, chia nhau lãnh đạo quân sự và chính trị, dân chính, hình ngục của địa phương.
Thời Minh có 13 Đô chỉ huy sứ ti.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
29-09-2011, 04:56 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 139 - Trường Can Hành



Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Dương Lăng hít thật sâu, rồi thở dài một hơi dằng dặc: "Đến Tô-Hàng mà không đi gặp nàng thì còn có thể miễn cưỡng giải thích được. Nhưng nếu đến Kim Lăng mà còn không đi thăm nàng ấy, Liên Nhi nàng ấy... có sẽ đuổi đánh đến tận nhà không đây?"

Dương Lăng khổ não vỗ nhẹ lên mạn thuyền lẩm bẩm: "Sợ là không thể không đi được rồi. Chậc! Xóm Trường Can ơi xóm Trường Can..."



Quyển bốn - Chương 139: Trường Can Hành(1)

------------------------

Câu chuyện ở Tô-Hàng đã đi đến hồi kết.

Viên Hùng bị bắt, ty thuế quan bị trừ tận gốc rễ, năm ngàn tên thuế lại trong chớp mắt biến thành những kẻ nổi loạn giết quan tạo phản, bị tống vào trong ngục tối.

Mạc Thanh Hà vừa bị giết, tam đại phú hào đất Giang Nam là Mạc phủ đất Hàng Châu, Lý Quý của Tô Châu và Đỗ Thanh Giang vùng Kim Lăng cùng bị đám nha sai Nội xưởng không biết từ đâu chui ra một mẻ hốt sạch.

Không ai có thể ngờ rằng Dương Lăng mới vừa tiếp nhận ty Thuế Giám, căn cơ chưa vững mà lại dám tung ra một mẻ lớn như vậy, lại có thủ đoạn sét đánh như thế.

Lý Đại Tường hay tin sợ mất mật, lập tức đóng cửa không ra ngoài, lấy cớ thân mang trọng bệnh. Nhưng hắn vốn là ông chủ hệ thống cửa hiệu vải Lý Ký lớn nhất vùng Tô-Hàng, là nhà thu mua vải, sợi, tơ lụa lớn nhất vùng, mặc dầu bình thường hắn vẫn hay ép giá thu mua nhưng dân chúng cũng đã hình thành nên thói quen có hàng tất phải bán. Nay hắn đột nhiên ngưng mọi hoạt động khiến cho những người dân đã quen bán vải vóc cho cửa hiệu tơ lụa Lý Ký nhất thời chưa kịp thích ứng.

Những người dân kéo sợi dệt vải đợi hết mấy ngày nhưng những cửa hiệu tơ lụa Lý Ký vốn luôn mở cửa khắp nơi đều im lìm đóng kín. Bọn họ đành phải bảo đàn ông trong nhà gánh từng bao tải đến từng hộ dệt và cửa hiệu tơ lụa khác để chào hàng.

Nghe kể chuyện về Lý Đại Tường, Dương Lăng muốn khóc dở mếu dở. Không lẽ bây giờ sai người kêu hắn đến gặp mình? Vấn đề là cái mông của vị Lý công công này cũng chẳng "sạch sẽ" gì, sợ rằng thư mời vừa gởi đến, hắn không cuốn gói bỏ chạy thì cũng sẽ thắt cổ tự tử thôi, dám đến Hàng Châu mới là lạ!

Bằng không... hay là mình chủ động đi gặp hắn vậy? Có vết xe đổ của Viên Hùng, Tất Xuân và Mạc Thanh Hà, áng chừng kết quả cũng sẽ như vậy thôi. Nhưng bây giờ hai quan thuế giám mới vẫn chưa nhậm chức, nếu Lý Đại Tượng cũng "nửa đường đứt gánh" thì chẳng phải thế cuộc ở Giang Nam sẽ nguy hay sao?

Dương Lăng đang rầu rĩ, chợt có Trương thiên sư đến thăm để cảm tạ và từ biệt. Trông thấy Thiên sư, y lập tức nảy ra một ý hay, bèn thổ lộ tâm ý của mình với chàng ta và yêu cầu Thiên sư trên đường quay về nhà hãy dừng chân nghỉ tạm tại Tô Châu rồi cùng với phú ông Ngô Tế Uyên đến thăm Lý công công, bày tỏ chút thiện chí của mình muốn ban thưởng cho người có công.

Dương Lăng cũng không nói văn vẻ gì nhiều, đại ý là "lãnh đạo rất hài lòng với công tác thu thuế của Lý công công, có ý định đề xuất biểu dương và khen thưởng; còn chuyện hắn mở cửa hiệu lụa tơ này nọ, miễn là đừng hà khắc với bá tánh quá thì vẫn có ích cho sự phát triển kinh tế Giang Nam; đồng thời cũng hy vọng Lý công công chớ nên kiêu ngạo nóng nảy mà hãy nỗ lực không ngừng để trở thành tấm gương mẫu mực cho các thái giám thu thuế vùng Giang Nam."

Nói nhăng nói cuội khiến người ta tin tưởng chính là sở trường của Trương thiên sư. Chàng ta vừa nghe thì hiểu ngay vị Dương khâm sai này đã lập oai hơi bị quá đà khiến cho thuộc hạ cóng cả chân tay, bây giờ đã đến lúc y phải phong quan tước và phủ dụ thuộc hạ, bèn nén cười mà gật đầu chấp thuận.

Dương Lăng nói chuyện gạt Lý công công xong thì đến lượt Trương thiên sư mở lời gạt y.

Theo ngữ khí của Trương thiên sư thì tướng mạo Dương Lăng cực kỳ tốt đẹp, quan to lộc hậu, cả đời may mắn, … thật giống hệt mấy lời tán dương của những ông thầy bói mù. Mặc dù lời được thốt ra từ miệng Trương thiên sư song Dương Lăng vẫn hoàn toàn chẳng để tâm.

Trương thiên sư không dám tiết lộ cái bí mật đoạt xá tục mệnh của y. Thấy y cười cười tiếp nhận song mặt lại không hề tỏ vẻ tán thành, chàng ta do dự một lúc, cuối cùng đành phải đế thêm mấy câu:
- Bất kể đại nhân có muốn hoặc có nghĩ đến hay không, nhưng trong mạng của đại nhân đã được định trước là không ngừng có can qua, mà lộc phước và lộc thọ của người bị chết bất đắc kỳ tử sẽ dời sang người đại nhân, tăng phước thêm lộc cho đại nhân; đây gọi là số cưỡng lộc đoạt phước. Vận mệnh của con người là thứ kỳ diệu nhất, không thể tin tưởng hoàn toàn song cũng không thể không tin đâu.

Dương Lăng nghe vậy thì giật mình: "Lời này là có ý gì? Sao nghe giống như những câu ‘giẫm lên vai người khác mà đi’ và ‘lấy máu kẻ khác nhuộm đỏ mái nhà mình’ dùng để chỉ trích những tay gian thần như thế nhỉ? Cưỡng lộc đoạt phước?"

Vừa nghĩ đến đây, trong lòng Dương Lăng chợt máy động: "Từ lúc mình đến thời đại này, ít nhiều mình cũng đã làm thay đổi số phận của những người chung quanh. Nếu như mình không đến, Ấu Nương có đập đầu vào quan tài mà chết không? Dân chúng của Kê Minh Dịch có phải chết không? Bọn Lý Đạc và Đới Nghĩa sẽ còn có thể sống không? Những người Mã dịch thừa, Bào tham tướng, Vương Cảnh Long, Mạc Thanh Hà sẽ thế nào? Vương Quỳnh, Hồng Chung có sẽ bị giáng chức bãi quan không? Tất Xuân, Viên Hùng có sẽ lê thân xiềng xích vào ngục không?"

“Có người thì vì mình mà sống, vì mình mà chết, có người thì do mình mà phát tài, vì mình mà gặp nạn, chẳng lẽ mình thật sự có số cưỡng lộc đoạt phước ư? Nghĩ cẩn thận lại một chút, từ khi đến thế giới này, cho dù không phải ý muốn của mình, song quanh người mình lúc nào cũng có phong ba nổi lên không ngừng, mỗi lần có người gặp xui xẻo hay thậm chí là phải chết đi thì quan chức và phúc lộc của mình lại tăng thêm một tí. Đó là số cưỡng lộc đoạt phước sao?"

Dương Lăng nghe xong thì lấy làm kinh hãi và nghi ngờ nên chột dạ nhìn Trương thiên sư, chỉ sợ người này thật sự thần thông quảng đại đã phát hiện ra chân tướng của mình.

Còn Trương Phù Bảo vẫn đang ngồi một bên lắng nghe chuyện, ra vẻ nhã nhặn không nói tiếng nào. Nhưng kẻ nói vô tâm người nghe cố ý, câu "không ngừng có can qua" vừa lọt vào tai, nàng bèn chợt nhớ đến câu "binh qua khởi thời xuân ảnh động"* trong bài thơ đoán lang quân, mặt lập tức ửng lên một áng mây hồng. (*: dáng xuân lả lướt thời chinh chiến)

Hôm nay Trương Phù Bảo định mượn cớ trong người không khoẻ để khỏi đến viếng Dương Lăng, nhưng y bị thương là vì nàng, nàng không đến tỏ lời cảm tạ thì coi sao được? Tuy Trương thiên sư tuổi còn nhỏ nhưng thân là Thiên sư trên Long Hổ sơn, trong việc đối nhân xử thế thì lễ tiết được xem trọng hàng đầu nên tuy rất mực yêu thương cô em gái mình nhưng chàng ta vẫn lôi nàng đi cho bằng được.

Hiện tại Trương Phù Bảo quả thật có phần hơi sợ gặp mặt Dương Lăng, hận không thể tránh y càng xa càng tốt. Nàng có phần mất tự nhiên hơi co người lại, trộm liếc Dương Lăng: "Cái tên này... chức quan đã to, người lại anh tuấn, nói chuyện cũng không thấy ghét lắm, nếu làm tướng công của người ta thì cũng không xem là thiệt thòi cho mình.

Nhưng mình là em gái của quốc sư, sao có thể làm thiếp của người khác cho được? Mỗi lần mẹ mình gặp mẹ cả đều phải nhún nhường cười bồi, phải để ý theo dõi ánh mắt, nét mặt của mẹ cả. Cái vẻ bị ức hiếp đó... Thế nào đi nữa thì mình cũng không thèm, dù y có tốt thế nào mình cũng sẽ không cần!"

Trong khi Dương Lăng vẫn mãi trầm tư: "Nếu như lời thiên sư nói là thật, vậy chẳng phải nói bởi mình đến đây thay đổi quá nhiều thứ, cho nên ngay cả quỷ thần cũng không cách nào nắm được vận mệnh của mình sao? Nếu như vậy... một năm sau mình có phải chết bất đắc kỳ tử không?"

Nghĩ đến điểm này, nhớ tới Trương thiên hết lòng thề thốt nói y sẽ phước lớn lộc to, mặc dù Dương Lăng vẫn còn bán tín bán nghi nhưng cũng giống như tâm lý của người sắp chết đuối bỗng vớ được cọng rơm, y thà tin rằng có còn hơn là tin rằng không.

Dương Lăng mừng rỡ nói:
- Nhờ lời tốt lành của thiên sư, nếu thật như lời thiên sư nói, Dương mỗ nhất định sẽ tự thân đến Long Hổ sơn, bái lạy Thái Thượng Lão Quân, kính dâng hương hỏa để tạ ơn.

Trương Phù Bảo vừa nghe đến bái lạy Thái Thượng Lão Quân liền bật nhổm dậy ra khỏi ghế như một quả bóng cao su, cuống quít xua hai tay phản đối:
- Ngươi đừng đi, ngươi đừng đi, không thể bái, không thể lạy, .... A?... A... a ha. Ha ha ha...

Trương Phù Bảo thấy Dương Lăng và anh đều kinh ngạc nhìn mình, bèn cười gượng gạo mấy tiếng rồi ngượng ngập lúng túng chống chế.

Trương thiên sư trợn mắt thầm nghĩ: "Xem ra hôm nay em gái mình bị bệnh thật rồi, mà bị bệnh không nhẹ à! Nếu tổng đốc nội xưởng đến làm lễ tạ thần linh thì sẽ được biết bao nhiêu là tiền bạc hương hỏa kia chứ? Đại gia đình Long Hổ sơn đều cần mình phụng dưỡng đó! Cái con nha đầu ngốc này, có chỗ tốt mà còn đưa cho người khác."

Trương thiên sư tức giận trừng mắt nhìn em gái, đoạn xoay người cười nói với Dương Lăng:
- Tiểu đạo biết đại nhân bộn bề công vụ, hơn nữa lần này tiểu đạo xa nhà quá lâu, gia mẫu đã thúc hối huynh muội tiểu đạo trở về núi rồi, cho nên sẽ không quấy rầy thêm nữa, nay phải cáo từ. Chỉ mong ngày khác có thể cung kính đón đợi đại nhân.

***

Tiễn huynh muội Trương thiên sư xong, Dương Lăng liền lập tức bắt tay vào giải quyết vấn đề chọn người trấn thủ lương thuế (thuế nông nghiệp) và quan thuế (thuế thương nghiệp). Dương Lăng không quen biết những thái giám trấn thủ ở các địa phương lân cận nên y vốn có ý muốn hỏi qua Tiểu Lâu. Nhưng kể từ sau ngày từ biệt ấy, ngoại trừ những lúc phối hợp cùng quan phủ kê biên tài sản thì nàng ta lộ diện một chút, còn những lúc khác Tiểu Lâu đều ru rú trong nhà, quyết không bước chân nửa bước vào nơi cư ngụ được trọng binh trấn giữ của Dương Lăng.

Ngày ấy khi thấy nàng ta phô vẻ nhu mì quyến rũ trước mặt Dương Lăng hệt như một thiếu nữ đưa tình, Cao Văn Tâm còn tưởng nàng ta sẽ không biết xấu hổ mà vẫn đến cám dỗ đại nhân. Hôm nay Dương Lăng đang làm khách trọ ở tây viện, nàng ta lại là chủ nhân duy nhất của đông viện, cái cớ để cho hai người tiếp xúc quả thật rất nhiều, khó mà đề phòng cho đặng, ngờ đâu nàng ta lại không xuất hiện nữa.

Dương Lăng đành phải sai người đi thỉnh giáo nàng, nhưng Tiểu Lâu không đến mà lại gửi một tờ hoa tiên* thơm ngát, trên đó liệt kê danh tính, tính tình và năng lực của hơn chục vị thái giám trấn thủ ở những vùng lân cận, như thể nàng sớm biết Dương Lăng sẽ hỏi chuyện này vậy. (*: loại giấy viết thư khổ nhỏ, có vẽ màu; được dùng để viết thư từ cho lịch sự)

Dương Lăng cũng không sao tin được nàng ta. Tuy rằng biện pháp mà Tiểu Lâu đề ra đích thực sẽ giải quyết được tình hình Giang Nam trước mắt, là biện pháp tốt nhất để tránh ty Lễ Giám mượn cớ công kích y. Nhưng sự điềm tĩnh ngày đó của nàng ta thật sự không giống với vẻ yếu ớt sợ sệt khiến người ta phải động lòng mà nàng ta biểu hiện ra bên ngoài.

“Tự cổ thanh lâu đa kỳ nữ.” Cho dù nàng ấy là nữ trung hào kiệt, nhưng khi đã lo sợ Mạc Thanh Hà trả thù, nàng ta ắt sẽ luôn nấp sau hậu trường, bởi vì ngày ấy đã cho thấy rõ ràng Mạc Thanh Hà không hề hoài nghi nàng ta.

Tại sao nàng ta lại muốn xung phong đứng ra đích thân bày binh bố cục từ đầu cho đến khi giết chết Mạc Thanh Hà? Biểu hiện của nàng ta quá ư là tích cực, hơn nữa không hề có đủ lý do để phải làm như thế. Nghĩ không thông được nguyên do trong chuyện này nên từ đầu chí cuối Dương Lăng vẫn cảnh giác với nàng ta.

Nhưng những biểu hiện trước mắt của Tiểu Lâu thì lại không thể chỉ trích gì được: nàng ta ru rú trong nhà không gặp người ngoài, lại còn chủ động hiến kế lấy lòng khâm sai, bày mưu vạch kế cho y. Nó cũng phù hợp với cảnh ngộ gia quyến phạm quan hiện tại của nàng ta: luôn phải cẩn thận lo lắng mọi bề, chỉ mong có thể tự bảo vệ mình.

Vì là quan khâm sai tiếp nhận mật báo từ nàng ta, thế nên dù trong lòng có nghi ngờ gì chăng nữa thì lúc này chẳng những Dương Lăng không thể chất vấn mà còn phải ra sức bảo vệ, thu xếp chỗ ở ổn thoả cho nàng ta để không bị kẻ khác lên án.

Sau khi nhận được ý tưởng của Tiểu Lâu, Dương Lăng cũng đã sai người đến các huyện phủ phụ cận âm thầm dò hỏi. Mặc dù tin tức đưa vội tạm thời chưa có những sự việc và nội dung chi tiết mà nàng ta đã nêu trong thư, song tham khảo một chút thì thấy có vẻ như Tiểu Lâu không hề nói dối.

Sau khi cân nhắc một hồi, Dương Lăng chọn trong danh sách ra hai vị thuế giám, sai người đến đó truyền lệnh hai người phải lập tức đến Hàng Châu nhậm chức. Thái giám của ty Thuế Giám trên danh nghĩa là khâm sai do Hoàng đế tự thân cắt cử, song trên thực tế đều do người phụ trách ty Thuế Giám điều phối, chọn lựa. Thuế khoá Giang Nam không thể bỏ trống lâu ngày được, do đó hiển nhiên y có quyền tiến hành an bài trước rồi mới về kinh xin thánh chỉ xác nhận sau.

Hai vị thuế giám tân nhiệm này sướng như lên mây, chạy không ngừng nghỉ tới Hàng Châu. Sau khi đưa thiếp đến phủ xin viếng thăm ông chủ mới là Dương Lăng xong, bọn họ lập tức bắt tay vào giải quyết ngay công việc: kiểm kê danh mục và các khoản thuế, lọc ra các loại thuế phụ thu, chiêu mộ nhân thủ,…làm việc hết sức ra đầu ra đũa. Tuy rằng hai người cố ý lấy lòng nên hơi có vẻ biểu diễn nhưng năng lực làm việc đích thực cũng không tệ.

Lý Đại Tường đang nhắm mắt chờ chết thì nhận được tin do Trương thiên sư mang đến, liền giống như ăn được tiên đơn hồi sinh, ba hồn bảy vía đều trở về. Có hai tấm gương một chết một sống là Mạc Thanh Hà và Viên Hùng trước mắt, còn có bọn thuế giám các phủ huyện lân cận giương mắt hổ nhìn chằm chằm, Lý Đại Tường quả thật không hề dám có chút ý niệm chần chừ quan sát nữa, mà quyết dốc lòng ra sức làm việc cho Dương Lăng.

Về phần Lý Quý, sau khi hay tin Mạc Thanh Hà đã chết, mất đi chỗ dựa cuối cùng hắn đành ngoan ngoãn cung khai tất cả, có điều khẩu cung của hắn đã không còn quan trọng nữa. Có những bằng chứng rõ ràng như Mạc Thanh Hà mưu sát khâm sai nên đã bị giết tại chỗ, phát hiện hàng đống xương trắng trong Phật đường, … đã đủ để trừ tận gốc thế lực Mạc Thanh Hà, không lưu lại một chút hậu họa nào.

Thấy cục diện Giang Nam đã ổn định, lúc này Dương Lăng mới hoàn toàn yên tâm. Hiện giờ người y phái về kinh dò thám động tĩnh trong triều đình vẫn chưa truyền tin về, y bèn ghi tỉ mỉ những chuyện xảy ra ở Giang Nam sai người đưa tin về kinh thành lần nữa, thưa rõ với hoàng đế Chính Đức rằng mình sẽ đi Kim Lăng trước, chọn bổ sung hai thuế giám xong rồi sẽ lập tức về kinh. Đồng thời y căn dặn người đưa tin sau khi về kinh nếu có bất kỳ động tĩnh gì cũng đều phải bẩm báo lại ngay.

Thu xếp mọi thứ xong xuôi, lúc Dương Lăng đang chuẩn bị lên đường đến Kim Lăng thì vị phu nhân Tiểu Lâu nhiều ngày không xuất hiện nọ bỗng lại lộ diện, xin cầu kiến khâm sai đại nhân. Dương Lăng sắp rời Mạc phủ nên cũng đang định gặp qua Mạc phu nhân, nghe nói nàng ta đến bèn vội nghênh đón vào phòng.

Tiểu Lâu lả lướt bước vào, cúi người thi lễ Dương Lăng. Hôm nay nàng ta mặc một bộ đồ bằng lụa gấm màu đen, mái tóc mượt mà đen nhánh chỉ cài một chiếc trâm bạch ngọc càng làm tôn thêm khuôn mặt tươi sáng và làn da như tuyết, nõn nà như vải tươi.

Bước chân nàng ta vốn nhẹ nhàng uyển chuyển, dáng đi như phiêu du trên sóng, như lăng ba vi bộ không nhiễm bụi trần. Nhớ đến hình ảnh nàng ta đạp cỏ trong mưa, duyên dáng ngó quanh lúc y mới đến Mạc phủ lần đầu, Dương Lăng không khỏi cảm thấy hơi ảo nảo: tuy rằng Mạc Thành Hà đáng tội chết nhưng hết thảy cũng đều do mình đến đây nên mới thành ra cớ sự như ngày hôm nay. Khi đó đón mình vào trong phủ, nhất định là Mạc Thanh Hà hoàn toàn không ngờ đến sẽ có ngày hôm nay. Nếu không nói đến công đạo thị phi, thiện ác đáo đầu thì mình thật sự có phần giống sao Quả Tạ (*).
(nguyên văn “tảo bả tinh”: sao chổi, ý mang điềm xấu)

Thấy Tiểu Lâu làm lễ với mình, Dương Lăng bèn đỡ hờ dậy, cười điềm đạm:
- Mời phu nhân ngồi. Vài hôm nữa bản quan sẽ phải lên đường, đi qua Kim Lăng để trở về kinh sư nên đang định đến chào từ biệt phu nhân.
Y vừa nói vừa vung tay về phía cửa gọi:
- Người đâu, dâng trà!

Lúc này Cao Văn Tâm đang thu thập dược liệu ở sau nhà nên không ở cạnh Dương Lăng. Đúng vậy, nàng đang thu thập dược liệu. Khâm sai đại nhân bị thương, thế thì quan viên, thân sĩ, danh sĩ địa phương đều phải bày tỏ thành ý một chút, phải không? Thế là các loại dược liệu ùn ùn không ngừng được đưa tới đủ để mở cả một hiệu thuốc, có điều chỉ có thể là một hiệu thuốc đặc biệt kỳ quặc thôi.

Những danh sĩ phú hào đó có ai biết về y thuật? Trong nhà cứ có dược liệu cổ quái nào tương đối hiếm thấy và có giá cao mà có thể mang ra biểu thị thành ý đều được sử dụng. Bọn họ chả quan tâm Dương Lăng bị thương chỗ nào, vướng phải bịnh gì, cho nên thuốc trị thương, thuốc bổ, thậm chí còn có cả xuân dược đều được mấy tay tài chủ địa phương dốt học mang đến tặng. Nói chung là muôn màu muôn vẻ, đa dạng đủ kiểu.

Trong mớ đó không thiếu những dược liệu trân quý hiếm thấy, dưới con mắt của thần y diệu thủ chân chính như Cao Văn Tâm, quả thực là có vô số "món vũ khí sắc bén" cầu được ước thấy. Nàng sao cam lòng để đám nha sai không thông thạo thu xếp loạn xạ cho được, thế là đành tự mình thu dọn.

Trong phòng khách chỉ có hai người, ngồi cách nhau bởi một chiếc bàn tròn. Hai người khẽ nghiêng mặt nhìn đối phương, ánh mắt vừa chạm nhau liền lập tức dời đi, vẻ mặt có phần lúng túng.

Hôm nay một mình trong phòng cùng với Tiểu Lâu, Dương Lăng chợt nhớ đến tình huống nàng lõa thân cám dỗ mình ngày ấy nên trong lòng không được thoải mái lắm. Tiểu Lâu cũng không hề giả vờ. Nếu đối diện với nàng là loại đàn ông dâm đãng vô sỉ thì nàng cũng sẽ không có gì phải cảm thấy lúng túng, nhưng hiện tại đối mặt với Dương Lăng, phàm là người còn có một chút liêm sỉ thì sao có thể thản nhiên như không được chứ?

Dương Lăng hai tay ôm gối, mắt dán về phía trước nói:
- Bản quan... ngày mai sẽ phải lên đường... Phủ đệ này là của cải bất nghĩa của Mạc Thanh Hà, cho nên... Một khi bản quan đi rồi, phủ Hàng Châu sẽ tịch biên luôn. Ờm... phu nhân đã có công tố giác với bản quan, cho bản quan biết được âm mưu hãm hại bản quan của Mạc Thanh Hà. Về tình về lý bản quan đều nên thu xếp chu đáo cho phu nhân rồi mới có thể đi. Không biết phu nhân có tính toán gì không?

Tiểu Lâu khẽ quay đầu sang, áo đen như màu tóc, cần cổ trắng mềm, trắng đến chói mắt. Nàng cười một tiếng hời hợt, khẽ đáp:
- Tiện thiếp còn phải đa tạ đại nhân quan tâm. Nhờ có lệnh của đại nhân, châu báu nữ trang và đồ trang điểm riêng tư của tiện thiếp mới không bị quan phủ tịch thu. Của cải tích góp... quả thật cũng được một con số không ít. Sau này... ha ha, nói chung không phải lo cơm ăn áo mặc là tốt rồi.

Lúc này có một nha sai đi vào, cũng không thèm dùng khay mà hai tay gã cầm hai chén trà đặt đại lên bàn, thưa:
- Mời xưởng đốc đại nhân dùng trà!
Nói xong, gã quay người đi ra luôn.

Thực ra không phải là gã bất kính với xưởng đốc, mà do những ông lính mù chữ này đều được điều từ bên Thần Cơ doanh qua, uống trà thì là uống trà, chứ có biết kiểu cách bên trong nó như thế nào đâu?

Dương Lăng thấy vậy thì dở mếu dở cười. Vừa mới nâng chén trà định làm động tác mời Tiểu Lâu thì chợt thấy dáng trang điểm nhạt, vẻ thanh cao của nàng, y liền nghĩ thầm: "Cô ta sẽ chịu chạm môi vào cái chén trà đã bị tên lính cầm ư?"

Ánh mắt Tiểu Lâu chợt loé lên. Nhìn thấy thần sắc của Dương Lăng, nàng không khỏi nhoẻn miệng cười, nhón lấy chén trà nhấp nhẹ một ngụm rồi bảo:
- Ha ha! Đại nhân đừng cho rằng tiện thiếp luôn ăn ngon mặc đẹp. Tiện thiếp đã từng ăn cơm thừa canh cặn của đám tửu khách ở lầu Xuân Vũ mười năm, thật sự không có nhiều quy củ như vậy đâu.

Dương Lăng thấy nàng không hề ngại ngùng nhắc lại những việc từng trải qua khi còn ở lầu xanh, tuy hình như là kể về những trải nghiệm thời thơ ấu chứ không phải là chuyện phong lưu ướt át một thời oanh liệt của nàng, nhưng y cũng không tiện bàn tiếp bèn "ờ" một tiếng rồi mượn cớ uống trà lảng tránh đề tài này.

Tiểu Lâu trộm liếc y. Hôm nay Dương Lăng mặc áo dài bằng lụa màu xanh thẫm, vạt áo và cổ thêu hình cây tùng, mái tóc đen mượt búi cao được thắt lại bằng dây lụa; mày đen mắt sáng, mày như tô mực. Dù là nàng là người lịch duyệt cũng hiếm khi gặp được nhân vật phong lưu như vậy, nàng không khỏi thầm khẽ thở dài: "Nếu như mình có thể trẻ thêm chục tuổi, lúc mới xuất đạo liền gặp được thiếu niên đắc chí, công tử văn nhã nhân phẩm xuất chúng như vậy, chắc hẳn đã tốt hơn nhiều nhỉ? Giờ thì...

Mình lớn hơn y sáu bảy tuổi, xuất thân thanh lâu đã đành, lại còn gả cho thái giám. Ngày đó mình dùng mỹ sắc dụ y nhưng y không mảy may rung động, tuy cũng vì do y kiêng kị Mạc Thanh Hà nhưng qua đó cũng có thể thấy được tầm mắt của y. Với thân phận của y, mình với tới được sao?”

Dương Lăng nhấp một ngụm trà, thấy nàng vẫn cầm chén trầm tư dường như có điều tâm sự bèn hỏi:
- Phu nhân đã tìm được chỗ ở chưa? Hôm nay cổng phủ có nha môn tri phủ trông coi, một khi bản quan đi rồi sợ rằng sẽ không thuận tiện ra vào nữa. Nếu như đã có chỗ ở mới, bản quan có thể sai người giúp phu nhân dọn đến.

Lúc này Tiểu Lâu mới sực nhớ mục đích đến đây của mình lần này, bèn vội đặt chén trà xuống cất giọng u uẩn:
- Tiện thiếp đến lần này chính là vì... chính vì việc này. Phủ Hàng Châu... tiện thiếp đã không thể yên ổn ở lại được nữa. Sau khi chuyện Mạc Thanh Hà ăn óc người lan truyền ra khắp nơi, dân chúng phố phường càng lúc càng ngoa truyền, giờ đây họ nói cứ như Mạc phủ là âm tào địa phủ không bằng.
Than ôi, trẻ Mạc Thanh Hà đem về đây đều là cô nhi, ngỗ tác nghiệm thi rõ ràng chỉ có ba mươi lăm bộ hài cốt, nhưng có mấy nhà mất con hiện nay đều một mực khẳng định là do Mạc phủ gây ra. Nếu không phải có quan phủ canh gác thì sớm đã có người xông vào phủ gây chuyện rồi.

Dương Lăng giật mình đánh thót. Loại hành vi như ác ma đó cũng đã khiến y căm ghét đến tận xương tủy. Nếu như Mạc Thanh Hà cả tin vào tà thuật, lầm nghĩ rằng ăn óc người có thể mọc lại dương cụ, vậy có phải Tiểu Lâu đã sớm biết chuyện này rồi không? Mạc Thanh Hà gây ra chuyện khiến cả người và trời đều căm phẫn như vậy, nhất định hết sức tin tưởng thứ tà thuật này. Vậy hắn sẽ giấu mà không đem khoe khoang với Tiểu Lâu sao?

Không hề đổi sắc mặt, Dương Lăng ung dung hớp một ngụm trà rồi khẽ thở dài:
- Đồng loại tương tàn, người ăn thịt người, thật sự là mới nghe lần đầu, đúng là khiến người và thần đều phẫn nộ à. Lúc bản quan nghe nói cũng sởn cả da gà. Trái lại phu nhân hiểu sâu biết rộng, thật sự đã điềm tĩnh hơn bản quan hơn nhiều.

Tiểu Lâu bật cười "phì" một tiếng, nói:
- Đại nhân đúng thật là văn nhân chỉ biết đọc sách thánh hiền, đương nhiên không thèm để ý đến những chuyện ghê rợn này rồi.

Tự cổ chí kim những chuyện này đâu phải là ít? Tạm khoan nói đến chuyện ăn thịt người để sinh tồn, Tề Hoàn công thời Xuân Thu là vua một nước, chỉ vì chán các món sơn hào hải vị mà ăn thịt trẻ con, lý do cũng chỉ để thoả mãn cho cái ham muốn của cái miệng mình. Người và thần đều căm phẫn ư? Thế mà ngay cả Khổng thánh nhân cũng khen ngợi Hoàn công là kẻ xứng đáng xưng bá chư hầu, khiến cho thiên hạ từ loạn đổi sang trị đấy.

Rồi nàng buông tiếng thở dài, nói tiếp:
- Thời mạt Tùy, Gia Cát Ngang và Cao Toản thi giàu, một kẻ thì giết đồng tử song sinh, một người thì giết chết mỹ thiếp hầu hạ của mình để ăn thịt. Vũ Ninh tiết độ sứ Trường Tòng Giản thời mạt Đường và hoàng thân Vương Kế Huân nhà Tống không kẻ nào ăn thịt dưới trăm người. Về phần bản triều...

Những chuyện ăn thịt người đầy tai tiếng có liên can đến hoàng thất bản triều mặc dù ai nấy đều biết nhưng dù sao thì trước mặt khâm sai triều đình Tiểu Lâu vẫn phải uý kị vài phần, lời định nói ra bèn lại nuốt trở vào, miệng khẽ nhếch một nụ cười nhạt. Nàng tiếp:
- Còn như từ xưa đến nay những kẻ quang minh chính đại "ăn thịt người" mà không ăn thịt người thì càng đếm không xuể(*). Tiện thiếp xuất thân vi hàn, chuyện kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu đã gặp quá nhiều rồi.
(*: ý là cướp bóc, bóc lột tàn tệ đồng loại, đưa đồng loại vào chỗ chết)

Trông thấy khuôn mặt vốn xinh đẹp cao ngạo như tiên của nàng chợt hiện lên một nỗi căm hận, Dương Lăng không khỏi cả kinh. Phát tiết sự căm phẫn xong, Tiểu Lâu mới giật mình phát hiện mình có phần thất thố liền vội vén tóc nhoẻn miệng cười, trông mỹ lệ vô ngần, nói tiếp:
- Những kiến thức này của tiện thiếp đều tích góp được từ trong cuộc sống bị người ta đọa đày ức hiếp mà ra. Sau khi nghe xong lời của đại nhân, nhất thời trong lòng có phần xúc động nên thật sự đã thất lễ.

Dương Lăng thấy nàng che giấu vẻ hỉ nộ của mình nhanh như trở bàn tay, một khi đã kiềm chế tâm tình thì nội tâm lại kín như bưng, tuy biết rằng đó là tay nghề nàng rèn luyện được khi còn ở thanh lâu song trong lòng vẫn thấy sợ. Y gượng cười đáp:
- Ờ... những người đó hoặc vì hư vinh hoặc vì hiếu kỳ, hoặc vì thèm muốn, đích thực càng đáng giận hơn so với mục đích của Mạc Thanh Hà. Chao ôi... chuyện vô lý như vậy mà cũng...

Y liếc nhìn Tiểu Lâu, không biết làm sao để mở miệng thảo luận về đề tài ông chồng thái giám của nàng có thể "đâm chồi" lại được hay không nên bèn đổi đề tài:
- Nếu như có dân chúng trút giận lây sang phu nhân, thật sự không thích hợp để ở lại bản xứ nữa hẳn là phu nhân muốn dời đi xứ khác?

Tiểu Lâu gật đầu đáp:
- Dạ! Tiện thiếp là giới nữ lưu lại không có thân nhân để nương nhờ, chỉ có thể rời khỏi chốn thị phi này lánh về nơi tha hương. Nay... tiện thiếp cũng không thể nuôi được nhiều nô bộc như cũ, nhưng nếu chỉ mang theo mấy tỳ nữ bên mình thì thuyền xe mệt mỏi cũng không sợ, e rằng chỉ sợ trên đường lại gặp phải kẻ xấu...

Vừa nói nàng vừa liếc ánh mắt long lanh về phía Dương Lăng. "Nếu như nàng ấy lúc nào cũng có biểu tình như vậy với người khác thì quả thật có không muốn gặp phải kẻ xấu cũng khó." Dương Lăng nhìn thấy mà hơi nổi da gà, trong lòng lờ mờ cảm thấy có điểm không ổn.

Y chưa kịp mở lời, Tiểu Lâu đã tranh nói trước:
- Kim Lăng là vùng đất phồn hoa, cường đạo trộm cướp cũng ít, nơi ấy lại không ai biết tiện thiếp. Tiện thiếp muốn dời đến Kim Lăng, cho nên… nếu có thể mượn quan uy của đại nhân, theo đội thuyền của đại nhân một chuyến thì mới có thể giảm bớt đi nhiều gian khổ.

Nói xong, Tiểu Lâu nhìn chằm chằm vào mắt của Dương Lăng, căng thẳng chờ đợi câu trả lời của y.

Tuy Tiểu Lâu chỉ nói là đi Kim Lăng song thật ra mục đích thật sự của nàng lại là đi kinh sư, nhưng chỉ sợ một khi nói thực mục đích của mình thì y sẽ cự tuyệt. Nàng đã suy tính kỹ mấy ngày nay: "Thân phận của mình hôm nay đã không như xưa, cho dù chỉ muốn làm thiếp của quan to đi chăng nữa cũng sợ rằng người ta vẫn sẽ rất uý kị, tìm mọi cách chối từ.

Mặt khác, khi Mạc Thanh Hà còn sống đã đắc tội với không ít quan viên. Lúc hắn còn sống thì những kẻ đó chẳng dám làm gì, thế nhưng nay hắn đã chết rồi, nếu như mình rơi vào tay những kẻ đó thì bọn chúng sẽ chà đạp mình ra sao?

Càng huống hồ vì lôi kéo Lý Phú, mình đã ước định dùng sắc đẹp để bồi đáp, hứa hẹn rằng chỉ cần diệt trừ được Mạc Thanh Hà thì mình sẽ cùng giường chung gối mà hầu tiếp hắn. Nay Mạc Thanh Hà vừa mới chết, khắp Đông viện vẫn đầy người của Nội xưởng, thế mà cái thứ không biết sống chết đó lại đòi mình lập tức "thực hiện lời hứa", hoàn toàn không sợ sẽ bị lộ ra sơ hở. Khước từ lấy lệ mấy lần, không ngờ hắn lại bắt đầu uy hiếp mình."

Tiểu Lâu là người tâm cao khí ngạo. Tuy Mạc Thanh Hà là thái giám, nhưng đã làm vợ của hắn thì nàng cảm thấy mình cũng được coi như là phu nhân chính thống, không còn là kỹ nữ thấp hèn nữa. Mỗi lần bị hắn ép đi "lấy lòng" đám quan to nàng đều cảm thấy rất là nhục nhã, bây giờ làm sao mà nàng chịu chiều theo tâm ý của Lý Phú chứ?

Huống chi kẻ này lại đần như vậy, sớm muộn cũng sẽ làm hư chuyện. Lý Quý bị lật đổ nên Lý Phú không còn thân nhân nào nữa, nàng đành mượn cơ hội lên Bắc để âm thầm tránh né cái mầm họa này. Đến nơi đất khách quê người nàng sẽ không khiến cho người khác chú ý, cũng không sợ "khổ chủ" xuất hiện đòi nợ.

Ngoài những dự tính này ra thì hy vọng lớn nhất của Tiểu Lâu chính là lúc đi cùng với Dương Lăng lên bắc, nàng sẽ có thể lấy lòng được vị tổng đốc nội xưởng nhân phẩm tuấn nhã, địa vị cao trọng này. Cho dù là hữu danh vô thực, không được thân phận gì đi chăng nữa thì so với những năm tháng phong trần mua vui đón cười như một con rối trước đây cũng đã khác nhau một trời một vực rồi.

Còn nếu như không thành công, thì với món nhân tình mà Dương Lăng đã nợ nàng, chỉ cần nàng bám theo cạnh y thì y sẽ không thể bỏ mặc làm ngơ. Có y chiếu cố mình sẽ có thể bình yên dời đến phương bắc. Về phần sau đó thế nào thì chỉ có thể từ từ rồi tính.

Dương Lăng nghe xong thì chần chừ một lát rồi bảo:
- Ừm... phu nhân muốn dời đến Kim Lăng à? Việc này... thuyền của bản quan nếu chở thêm phu nhân e rằng rất bất tiện. Hiện nay Nội xưởng đã thành lập cửa hàng thuyền và xe ở Tô Châu, bản quan có thể viết một mẩu giấy, phu nhân cầm lấy rồi đến tìm bọn họ, bọn họ nhất định sẽ có thể hộ tống phu nhân đến Kim Lăng an toàn.

Tiểu Lâu nghe y né tránh như vậy, trong lòng không khỏi có phần thất vọng nhưng vẫn cố cầu may, gượng cười nói:
- Từ đây đến Kim Lăng nhiều lắm chỉ mất hai ngày thuyền. Lúc này tiện thiếp chỉ muốn mai danh ẩn tích sống nơi tha hương, thật sự không muốn xuất đầu lộ diện. Hơn nữa... tiện thiếp cũng sẽ không ngồi thuyền của đại nhân mà chỉ thuê một chiếc thuyền khác theo sau đội thuyền của đại nhân. Đến Kim Lăng rồi... đến Kim Lăng rồi tiện thiếp sẽ không dám làm phiền đại nhân nữa. Như vậy có được không?

Dương Lăng thoáng do dự một chút, rồi gật mạnh đầu:
- Thôi được, Dương mỗ sẽ hộ tống phu nhân đi Kim Lăng! Phu nhân muốn thuê một chiếc thuyền phải không?

Tiểu Lâu thấy y đồng ý, mặt lập tức lộ vẻ mừng rỡ lộ ra một hàm răng đều tăm tắp, cười nói:
- Thưa phải! Đa tạ đại nhân thành toàn, vậy bây giờ tiện thiếp sẽ về sửa soạn hành trang.

Nàng hớn hở vái một lễ, bước được mấy bước chợt quay đầu lại cười nói:
- Đúng rồi, tiện thiếp vốn không tên không họ, lần này lên phương bắc cũng không thể dùng nghệ danh Tiểu Lâu được nữa. Tiện thiếp đã chọn cho mình một cái tên, gọi là Thành Khởi Vận, xin báo cho đại nhân được hay!

Lúc nàng quay đầu lại cười như có ánh nắng lướt qua, như khói hoa trong chớp mắt, sự rực rỡ trong chốc lát ấy làm cho người ta phải hoa mắt.

Dương Lăng thoáng cụp mắt, chắp tay, lúc ngẩng đầu lên thì nàng ấy đã đi xa rồi.

Khoé miệng Dương Lăng thoáng mím xuống, y lẩm bẩm: "Thành Khởi Vận... Thành... Khởi Vận. Thi thành khởi vận tam thiên thủ, linh lung tâm sự đãi thiên thành(1). Chỉ mong bài thơ này của cô không phải là loại thơ hư cỏ độc. Bằng không tôi sẽ không tiếc ra tay tàn độc diệt hoa đâu!" (tạm dịch: Ba ngàn bài thơ nên ý đẹp, long lanh tâm sự tùy ơn trời)

***

Thuyền vẫn đang rẽ sóng trên sông nhưng ban đêm con thuyền đi chậm hơn rất nhiều. Phía trước là một chiếc thuyền lớn mở đường, con thuyền của Dương Lăng nằm ở giữa, phía sau là một chiếc thuyền chở hàng nho nhỏ; mỗi đầu và đuôi thuyền đều treo hai dãy đèn đỏ để dò sông nước trong đêm.

Đứng bên mạn thuyền, Dương Lăng lặng lẽ nhìn lên bầu trời đêm, dịu dàng sờ chiếc đai ngọc y đang đeo trên người.

Chiếc đai ngọc đó là do Ngọc Đường Xuân tự tay may cho y trước ngày y xuống Giang Nam. Buộc dưới miếng ngọc bội vuông vức màu xanh da trời xinh đẹp đeo trước bụng là ba lọn tóc đen.

Đó là vật mà Hàn Ấu Nương mang đến căn dặn Ngọc Đường Xuân nhất định phải buộc vào ngọc bội. Ngọc Đường Xuân chỉ tưởng đó là tình ý mà Ấu Nương tỷ tỷ xưa nay luôn thẹn thùng e lệ biểu đạt với phu quân sắp đi xa của mình. Nhưng nội tình trong đó thì chỉ có Dương Lăng và Ấu Nương mới hiểu được.

Lúc này, một vầng trăng sáng treo trên không trung, mặt nước trông im lìm và tĩnh mịch, ánh đèn trên mấy con thuyền đánh cá lập loè hắt bóng bên bờ.

Gió mát thổi lướt qua mặt, dưới thuyền sóng vỗ rì rào, Dương Lăng dường như lại nhìn thấy chiếc áo tơi màu xanh thẫm bay phần phật trong gió, một thớt ngựa đỏ từ đằng xa dần dần phóng lại như ráng mây chiều, bên tai dường như vẫn còn văng vẳng tiếng ngân của mũi tên rung...

Dương Lăng hít thật sâu, rồi thở dài một hơi dằng dặc: "Đến Tô-Hàng mà không đi gặp nàng thì còn có thể miễn cưỡng giải thích được. Nhưng nếu đến Kim Lăng mà còn không đi thăm nàng ấy, Liên Nhi nàng ấy... có sẽ đuổi đánh đến tận nhà không đây?"

Dương Lăng khổ não vỗ nhẹ lên mạn thuyền lẩm bẩm: "Sợ là không thể không đi được rồi. Chậc! Xóm Trường Can ơi xóm Trường Can..."

Phía sau chợt có một tiếng cười khẽ:
- “Khi tóc vừa buông trán, hái hoa trước cổng chơi, chàng cưỡi ngựa tre đến, quanh giường tung trái mai. Trường Can cùng chung xóm, cả hai đều thơ ngây...” Lão gia là người phương Bắc, chưa từng bao giờ đến Kim Lăng, xóm Trường Can có thanh mai trúc mã(*) nào mà đợi người! Hẳn là lão gia đang nhớ... nhớ tới Ấu Nương muội muội, hay là bọn Ngọc Nhi và Tuyết Nhi vậy?
(*: chỉ đôi trai gái quen biết nhau từ thuở ấu thơ; cụm từ này xuất phát từ bài thơ Trường Can hành của Lý Bạch)

Dương Lăng quay đầu lại nhìn. Dưới bầu trời đầy sao sáng trong bóng tối mênh mang, Cao Văn Tâm đang cầm một chiếc đèn lồng yêu kiều khoan thai bước đến...






Chú thích:

(1) "Trường Can hành" (khúc Trường Can) là tên một trong hai bài thơ tình nổi tiếng của Lý Bạch.

Thiếp phát sơ phúc ngạch
Chiết hoa môn tiền kịch
Lang kỵ trúc mã lai
Nhiễu sàng lộng thanh mai
Đồng cư Trường Can lý
Lưỡng tiểu vô hiềm sai
Thập tứ vi quân phụ
Tu nhan vị thương khai
Đê đầu hướng ám bích
Thiên hoán bất nhất hồi
Thập ngũ thủy triển mi
Nguyện đồng trần dữ hôi
Trường tồn bão trụ tín
Khởi thượng vọng phu đài
Thập lục quân viễn hành
Cù Đường , Diệm Dự đôi
Ngũ nguyệt bất khả xúc
Viên thanh thiên thượng ai
Môn tiền cựu hành tích
Nhất nhất sinh dục đài
Đài thâm bất khả tảo
Lạc diệp thu phong tảo
Bát nguyệt hồ điệp hoàng
Song phi tây viên thảo
Cảm thử thương thiếp tâm
Tọa sầu hồng nhan lão
Tảo vãn há Tam Ba
Dự tương thư báo gia
Tương nghênh bất đạo viễn
Trực đáo Trường Phong Sa




Khi tóc vừa buông trán
Hái hoa trước cổng chơi
Chàng cưỡi ngựa tre đến
Quanh giường tung trái mai
Trường Can cùng chung xóm
Cả hai đều thơ ngây
Mười bốn, về làm vợ
Thiếp còn e lệ hoài
Cúi đầu vào vách tối,
Gọi mãi, chẳng buồn quay
Mười lăm, mới hết thẹn
Thề cát bụi không rời
Bền vững lòng son sắt
Há lên Vọng phu đài
Mười sáu, chàng đi xa
Cù Đường, Diễm Dự đôi
Tháng năm không đến được
Vượn buồn kêu trên trời
Trước cổng vết chân cũ
Rêu xanh mọc um đầy
Rêu nhiều không quét hết
Gió thổi, lá vàng rơi
Tháng tám bươm bướm vàng
Trên cỏ vườn bay đôi
Cảnh ấy đau lòng thiếp
Má hồn buồn phôi pha
Khi chàng xuống Tam Ba
Nhớ gởi thư về nhà
Thiếp sẽ mau đi đón
Đến thẳng Trường Phong Sa

Hiện nay, chữ “sàng’ trong “Nhiễu sàng lộng thanh mai” được giải thích là một loại ghế dài. Trúc Khê có bản dịch như sau:

Tóc em mới kín trán
Trước cửa bẻ hoa đùa
Chàng cưỡi ngựa trúc lại
Quanh ghế tung mơ chua
Cùng ở xóm Trường Can
Đôi trẻ vui tha hồ
Mười bốn làm vợ chàng
Thơ ngây em hổ thẹn
Bên vách cúi gầm đầu
Mặc dầu chàng gọi đến
Mười lăm mới bạo dạn
Quấn nhau không muốn rời
Ôm cột nguyền giữ ước
Vọng phu chẳng lên đài
Mười sáu chàng đi xa
Tháp Cồ , hòn Diệm Dự
Nước lớn đang tháng năm
Vượn kêu buồn lắm nữa
Vết giày in trước cửa
Xanh xanh rêu mọc đầy
Rêu nhiều không thể quét
Lá rụng gió thu bay
Tháng tám bươm bướm vàng
Bay đôi trên áng cỏ
Xúc cảm em đau lòng
Héo già thương má đỏ
Chàng sớm rời Tam Ba
Báo thư trước về nhà
Đón chàng em há quản
Đến tận Trường Phong Sa


(2) Hai câu được lượt trích trong bài "Khởi Hoài" (ý đẹp) của Hoàng Cảnh Nhân 黄景仁 (1749~1783), tự Trọng Tắc, nhà thơ đời Thanh. Ông xuất thân nghèo khó, sau được bổ làm Huyện Thừa nhưng chưa kịp nhậm chức thì vì nghèo bệnh chết nơi đất khách quê người ở tuổi 35.

自遇屏间俏面容,相思入梦梦惺忪。
每步沉鱼荷底怨,常寻落月柳前踪。
诗成绮韵三千首,人在珠帘第几重?
一醉疏狂君莫怪,今生为怕不相逢。

几度风仪入梦轻,此怀谁可诉分明。
灵犀能到何伤远?红叶飞来每触情。
寂寞诗肠逢雨断,玲珑心事待天成。
金铃动处为君卜,夜夜长听檐下声。

不写情词不写诗,一方素帕寄心知。
心知接了颠倒看,横也丝来竖也丝, 般心事有谁知?


Tự ngộ bình gian tiếu diện dung, tương tư nhập mộng mộng tinh chung.
Mỗi bộ trầm ngư hà để oán, thường tầm lạc nguyệt liễu tiền tung.
Thi thành khởi vận tam thiên thủ, nhân tại châu liêm đệ kỷ trùng?
Nhất túy sơ cuồng quân mạc quái, kim sanh vi phạ bất tương phùng.

Kỷ độ phong nghi nhập mộng khinh, thử hoài thùy khả tố phân minh.
Linh tê năng đáo hà thương viễn? Hồng diệp phi lai mỗi xúc tình.
Tịch mịch thi tràng phùng vũ đoạn, linh lung tâm sự đãi thiên thành.
Kim linh động xử vi quân bặc, dạ dạ trường thính diêm hạ thanh.

Bất tả tình từ bất tả thi, nhất phương tố mạt ký tâm tri.
Tâm tri tiếp liễu điên đảo khán, hoành dã ti lai thụ dã ti, giá bàn tâm sự hữu thùy tri?




Từ khi thấy nàng cười sau rèm, tương tư trong mộng cả đêm dài;
Trách từng quảng cá lặn đáy sông, vẫn thường tìm kiếm dấu trăng rơi
Ba ngàn bài thơ nên ý đẹp, người trong rèm ngọc gặp mấy lần?
Say rượu hơi cuồng người chớ trách, e rằng kiếp này không gặp lại.

Mấy lần gió thổi vào trong mộng, ai có thể nói rõ ta đang nhớ gì?
Sừng tê có thể gặp, sao phải bi thương, lá đó rợp trời khiến vấn vương
Ý thơ tịch mịch vì mưa nên đứt, tâm sự mong manh đợi ơn trời
Chuông vàng lay động do người bói, hằng đêm dưới hiên mỏi mòn đợi nghe tiếng
Không viết từ, chẳng viết thơ tình, chỉ một vuông khăn gửi tấm lòng
Đón nhận tấm khăn nhìn hoảng loạn, ngang cũng là tơ, dọc cũng tơ, tâm sự của ta ai thấu hiểu?






Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
02-10-2011, 05:54 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 140 - Người Đẹp Chốn Tam Ngô




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Công tử trẻ tuổi giậm chân, chụp lấy cái chén sứ trên bàn lên, nốc sạch một hơi chén rượu trong veo thơm ngát vào miệng, rồi dằn mạnh chén rượu xuống bàn, hừ một tiếng nói:
- Dương khâm sai, Dương đại nhân! Quan uy thật lớn, bản lãnh thật to, ta thật muốn xem coi lúc nào thì huynh mới chịu tới gặp ta. Hừ!






Chương 140 - Người Đẹp Chốn Tam Ngô (1)

------------------------

Cố đô của lục triều (2) đã ở ngay trước mắt, con thuyền quan đã theo con kênh đào rẽ vào Trường Giang.

Dương Lăng bước lên đầu thuyền, dõi mắt nhìn ra xa. Trong ánh dương quang chói lọi nước sông dập dềnh vỗ tới, hai bên bờ hoa đỏ cỏ xanh, một khung cảnh tràn trề sức sống.

Bỗng có một tiếng sáo từ đâu đấy vọng đến. Tiếng sáo khi thì phấn chấn dồn dập như chim ca vượt hót, lúc thì trầm bổng du dương như lời thì thầm của người tình triền miên không dứt. Tiếng sáo thoạt có thoạt không, du dương êm ái tựa như đang quấn quít bên tai, thật khiến cho người ta có cảm giác vấn vương mãi.

Dương Lăng hướng mắt trông theo tiếng sáo thì thấy một thư sinh áo trắng đang đứng hiên ngang trên mũi đuôi thuyền, tay áo phất phơ theo gió, mắt cúi nhìn sáo, mím môi mà thổi, tuy không trông thấy rõ mặt nhưng gió sông phẩy qua, tay áo tung bay, phong thái phóng khoáng hơn người.

Dương Lăng thoáng ngẩn người, rồi lập tức sực tỉnh, bật cười nói:
- Vị Mạc phu... Thành cô nương này cũng thật là thức thời, cô ta cải nam trang sẽ giảm bớt rất nhiều lời ra tiếng vào cho ta. Liễu Bưu!

Liễu Bưu bước qua ôm quyền thưa:
- Đại nhân.

Dương Lăng nói:
- Nhiều nhất là một canh giờ nữa thì sẽ vào đến thành Kim Lăng rồi. Khi đến kênh đào vào thành thì huynh hãy sai người hộ tống thuyền nhỏ của Thành cô nương đi trước một bước. Để cho cô ta đi trước đi, chúng ta đợi một lát hẵng vào thành.

Liễu Bưu 'dạ' một tiếng, Cao Văn Tâm đưa mắt về sau liếc xéo vị 'công tử' đứng ở đầu thuyền nọ một cái, khoé môi không khỏi khẽ nhếch lên.

Trông thấy vẻ khinh thường của nàng, Dương Lăng cũng thầm hiểu, y biết nàng từ nhỏ đã được dạy dỗ thành tiểu thư khuê các chân chính, nếu không phải vô cớ gặp phải đại nạn trở thành tỳ nữ thì nàng và người con gái Tiểu Lâu kia quả thật như trời với đất, xa cách không biết bao nhiêu bậc. Trong lòng nàng quyết sẽ không có khả năng coi trọng loại con gái như Tiểu Lâu.

Quyền thế của Cao thái y tuy kém xa Mạc Thanh Hà nhưng ông lại có thân phận cao quý và thanh bạch. Cho dù Mạc Thanh Hà giàu nhất thiên hạ, quyền khuynh triều chính cũng không thể bằng được một phần nghìn ông ta chứ đừng nói đến người có thân phận đê tiện hơn như Tiểu Lâu.

Mà thôi, đằng nào thì vào thành rồi sẽ đường ai nấy đi, sẽ không còn cơ hội gặp mặt nhau nữa. Văn Tâm có khinh bỉ và coi thường nàng ta hay không, y cũng lười mà đi khuyên nhủ.

Thật ra danh kỹ thanh lâu như Tiểu Lâu, ngoài tướng mạo xuất chúng thì phần lớn đều tinh thông một nghệ thuật nào đó: hoặc thạo về thơ ca, hoặc giỏi về hội họa, hoặc thiện về âm nhạc, hay giỏi tài hùng biện. Thậm chí có người còn thuộc làu cả chiến sách binh thư.

Trình độ ấy so với rất nhiều tài tử đỗ cử nhân thì cũng không thua kém là bao. Thân là kỹ nữ thấp hèn nhất song lại tài hoa như vậy, nếu không phải vì Dương Lăng thủy chung vẫn nghi ngờ nàng ta có thể đã biết ít nhiều về những việc ác của Mạc Thanh Hà từ lâu, thậm chí rất có thể cũng đã tham dự vào trong đó để lấy lòng hắn thì với tính cách của mình y sẽ không kiên quyết chỉ đáp ứng hộ tống nàng ta đến Kim Lăng mà ít nhất cũng sẽ quan tâm an bài nơi ở cho nàng ấy. Nói cho cùng thì nàng ta là phụ nữ, xuất đầu lộ diện nhiều cũng có điều bất tiện.

Dương Lăng thở dài một hơi rồi đi đến bên mạn thuyền. Đang vịn vào mạn thuyền được ánh mặt trời sưởi ẩm, y chợt trông thấy phía trước có bảy nhánh sông đào thẳng tắp thông thẳng vào lòng Trường Giang, bảy nhánh sông này cũng không cách xa nhau lắm.

Dương Lăng lấy làm lạ bèn hỏi:
- Bảy nhánh sông đó là chỗ nào vậy? Sao ở nơi gần nhau như vậy mà lại đào đến bảy nhánh sông?

Liễu Bưu cũng không rõ nguyên nhân, vội ngoắc tay gọi gã hoa tiêu lái thuyền do phủ Hàng Châu phái tới. Gã lái thuyền nghe hỏi, vội cung kính thưa:
- Hồi bẩm đại nhân, đó không phải là sông mà là bờ đê, trong mảng rừng lớn phía sau chính là xưởng đóng thuyền Long Giang. Bảo thuyền (*)vượt biển viễn dương của Đại Minh chúng ta chính là được chế tạo ra từ nơi ấy đấy ạ.
(*) thuyền báu, ý xưng tụng

Dương Lăng kinh ngạc cả mừng, bèn vội hạ lệnh:
- Dừng thuyền, dừng thuyền, mau cập bến, bản quan muốn đến xưởng đóng thuyền xem một chút.

Lái thuyền lập tức liên lạc với thuyền lớn ở phía trước. Ba con thuyền lớn từ từ dừng lại bên sông hạ ván lên bờ, Dương Lăng chạy vội lên bờ đê. Liễu Bưu dẫn theo hơn hai mươi nha sai cùng theo xuống thuyền. Dương Lăng gọi gã lái thuyền ban nãy lại hỏi:
- Ngươi có quen thuộc nơi này không? Phía trước còn bao xa, có thể dẫn bản quan đi xem một chút hay không?

Lái thuyền đáp:
- Tiểu nhân thường hay đi thuyền ngang đây, tuy rằng chưa từng qua bên ấy nhưng nghe nói tiếp tục đi xuôi theo con đường này chỉ chừng một dặm sẽ đến xưởng đóng thuyền thôi. Nếu như đại nhân muốn đi xem, tiểu nhân dẫn ngài đi xem một chút là được.
Lúc này, một công tử áo trắng cầm cây quạt xếp đi đến, đứng cách hai trượng chắp tay hỏi:
- Có phải đại nhân muốn nghỉ ngơi ở đây một lát không?

Dương Lăng vừa liếc mắt nhìn, bất giác ngẩn người ra. Khi nãy trên thuyền y cho rằng người đứng trên đuôi thuyền thổi sáo(*) phía sau tất phải là Tiểu Lâu cải trang, vóc người cũng cực giống, nhưng bây giờ đứng ngay trước mặt nhìn kỹ lại thì thấy người công tử trẻ tuổi này đầu đội mũ bạch ngọc, mặt sáng như tranh, áo nhẹ kiểu công tử màu trắng bạc, lưng giắt ngọc bội hoa sen màu lục, ngoài ra không có bất kỳ trang sức nào khác.
(*) ở đây tác giả ghi tiêu nhưng hẳn nên là sáo theo như mô tả ở đoạn trên. TheJoker

Tuy vị công tử ấy môi đỏ răng trắng, trông vô cùng khôi ngô tuấn tú nhưng mày thanh mắt sáng, nào có mùi son phấn? Người này rõ ràng là đàn ông mà.

Dương Lăng chợt nhớ Tiểu Lâu có nói nàng muốn chuyển nhà đi xa, ngay cả gia bộc nam cũng không tiện mang theo, sao trên thuyền lại có nam nhân trẻ tuổi này? Chẳng lẽ bọn họ...

Y hoài nghi quan sát người con trai này, rồi chắp tay nói:
- Công tử từ trên chiếc thuyền sau mới xuống à? Không biết cao danh quý tánh...?

Vị công tử nọ bỗng tròn xoe đôi mắt phượng kinh ngạc nhìn y, sau đó bật cười, nhịn không được mà nói:
- Thảo dân họ Thành, nhờ được đại nhân quan tâm lại khẳng khái nhận lời mang thảo dân cùng đi đến Kim Lăng, sao đại nhân mới đi hơn một ngày đã... đã thành bậc quý nhân hay quên thế?

Dương Lăng nhìn nụ cười quyến rũ mê người của 'gã', nếu mà là nam nhân thì đã thành 'gay' mất rồi, lúc này mới sực tỉnh ngộ. Tiểu Lâu này thực là lợi hại, hơn nữa đây tuyệt không phải là thuật dịch dung gì. Sau khi nhận ra thân phận nàng, y quan sát lại dung mạo khuôn mặt, mặc dù khôi ngô tuấn tú nhưng diện mạo vẫn giống Tiểu Lâu đến tám phần.

Không ngờ nàng chỉ thay đổi cách ăn mặc, khéo léo chải chuốt và trang điểm một chút thì khuôn mặt và khí chất đã không còn nhìn ra chút vẻ phụ nữ nào, cho nên rõ ràng chưa thay đổi dung nhan song đã thấy như thể hai người khác biệt, ngay cả giọng nói cũng thay đổi rất nhiều, khiến cả mình cũng nhìn lầm.

Dương Lăng nghe nàng dùng giọng đàn ông nói chuyện liền ngạc nhiên cười nói:
- Thì ra là Thành công tử, thật trí nhớ kém quá, trí nhớ kém quá. Công tử mặc... ờm, thay vào bộ quần áo này, khiến cho bản quan nhất thời trông lầm, ha ha. À phải rồi, trên đường đi thuyền cũng hơi mệt rồi, bản quan nghe nói phía trước là nơi chế tạo bảo thuyền mà Trịnh Hoà sử dụng vượt biển phía Tây(*) năm xưa, cho nên muốn đi xem một chút ấy mà.
(*) nguyên văn “hạ tây dương”: đến đại dương phía tây

Cặp mắt thu thủy sáng ngời của Tiểu Lâu chăm chú nhìn y, vẻ rất hứng thú. Nàng nhìn Dương Lăng một cách đầy thân thiết nói:
- Đại nhân có hứng thú với xưởng đóng thuyền như vậy, chẳng lẽ cũng thích cuộc sống giương buồm đi xa, tung hoành trên biển ư?

Không đợi Dương Lăng trả lời, cặp mắt của nàng lại liếc về phía rừng cây xanh um rậm rạp nọ, rồi nói:
- Thảo dân có biết một ít chuyện về bảo thuyền của Trịnh Hoà, chẳng hay có thể kể cho đại nhân không?

Dương Lăng quả thực không muốn đi cùng với nàng, nhưng với cảnh đời mà y đã từng trải đến nay y vẫn chưa hình thành nên thái độ cao cao tại thượng, ỷ thế hiếp người, không hề quan tâm đến thể diện kẻ khác. Nay Tiểu Lâu đã chủ động đề xuất, y cũng không tiện cự tuyệt chỉ đành gật gù:
- Được, bản quan cũng chỉ đi xem cho biết một chút, nếu như Thành... công tử ngồi trên thuyền buồn chán, không bằng đi cùng bản quan vậy?

Tiểu Lâu mở chiếc quạt xếp trong tay ra đánh 'soạt' rồi lại thong thả gấp lại, nhướng mày mừng rỡ nói:
- Có thể được đi cùng với đại nhân, đó là điều hết sức vinh hạnh. Đại nhân, mời!

Dương Lăng nhẹ gật đầu, chỉ đành nhìn sang mấy người Liễu Bưu và Trịnh Bách hộ. Mấy gã thân tín này đều biết thân phận của Tiểu Lâu nên vừa thấy đại nhân nhìn về phía mình thì bọn họ lập tức rất không nghĩa khí mà đều ngoảnh mặt đi ngó trời ngó đất ngó cảnh quan chứ không nhìn vào mắt y.

Dương Lăng vốn chỉ trông mong bọn họ có thể 'âm thầm lặng lẽ' ngăn cách mình đi cạnh Tiểu Lâu, nay trông thấy 'phẩm chất đạo đức' đó của bọn họ thì không khỏi chửi thầm trong bụng rồi cắn răng bước qua kề vai sánh bước cùng Tiểu Lâu trên con đê bên cạnh bờ ruộng.

Tiểu Lâu sánh vai cùng Dương Lăng mà đi, dáng đi và cử chỉ không hề lộ ra chút phong thái nữ nhân. Dáng người mềm mại như nước trong lần đầu gặp gỡ nọ đã hoàn toàn không thấy nữa. Có thể thay đổi tướng đi và cử chỉ một người đến mức này, tuy biết là nàng nhất định đã được huấn luyện ở thanh lâu song trong lòng Dương Lăng vẫn cảm thấy kinh ngạc không thôi.

Tiểu Lâu vừa đi vừa nói:
- Đại nhân, năm xưa Trịnh công công bảy lần hạ tây dương, đi qua các phiên quốc như Cổ Lý, Lưu Sơn, Ma Lâm, Lạt Tát, Thiên Phương (3). Sự tích của ông ấy người Giang Nam chúng tôi khi nói đến đều có thể kể rõ như lòng bàn tay.

Dương Lăng gật đầu, nhìn hai hàng cây thân vừa người ôm cao ngất trời, tuổi đời ít nhất cũng phải đến mấy chục năm, hàng rừng cây mênh mông bát ngát song lại cách nhau tăm tắp như được con người trồng nên, thì không khỏi lấy làm lạ: người xưa cũng biết trồng cây gây rừng sao?

Tiểu Lâu thấy y chăm chú nhìn mấy gốc cây thì lập tức hiểu ý, nói:
- Những gốc cây ấy đều là do triều đình trồng vào năm Hồng Vũ, ban đầu định trồng cây trăm tuổi để sau này có thể dùng làm vật liệu đóng thuyền sẵn tại chỗ, song giờ lại mặc cho chúng sinh trưởng, không ai ngó ngàng đến nữa. Nghe nói xưởng đóng thuyền Long Giang hiện nay chỉ đóng mấy con thuyền hai cột và bốn cột nho nhỏ, vả lại nhu cầu về thuyền bè của triều đình có hạn, những thợ đóng thuyền gia truyền không sống nổi, đa số đều tìm kế mưu sinh khác ở ven sông...

Dương Lăng không khỏi lắc đầu thở dài nói:
- Đáng tiếc, thủy quân của Đại Minh ta năm ấy có thể xưng danh đứng đầu thiên hạ, thế mà bây giờ... Ôi! Lúc ở Hải Ninh ta thấy đám giặc Oa cưỡi vài con thuyền cũ kỹ mục nát mà vẫn từ ngàn dặm xa xôi đến cướp bóc, nếu như chúng ta có một đội thuỷ quân lợi hại thì nào còn có chỗ cho bọn chúng hung hăng?

Tiểu Lâu thấy y tỏ vẻ thất vọng, không khỏi cười mỉm, nói:
- Bây giờ Đại Minh cũng có thuỷ quân mà, chỉ có điều... có điều dùng để bình định lãnh hải, truy đuổi và tiêu diệt ngư dân và thương nhân phạm cấm lệnh rời bến ra khơi, thuyền đó chỉ có thể tuần tra ven biển, không chịu được sóng gió giữa biển cả đâu.

Dương Lăng nhớ lại thái độ của Ngô Tế Uyên đối với việc thông thương trên biển, dường như phong tục tập quán của thân sĩ và dân chúng vùng Giang Nam khá cởi mở, ý thức tiên tiến cho nên đa số đều có thái độ ủng hộ hủy bỏ lệnh bế môn tỏa cảng.

Sau khi trở về kinh, nếu như mình kiến nghị với hoàng thượng cho thông thương thì phỏng chừng trong triều sẽ gặp phải cản trở không nhỏ. nhưng nếu các tầng lớp giai cấp vùng Giang Nam giữ thái độ ủng hộ hủy bỏ lệnh bế môn tỏa cảng thì sẽ có thể tăng thêm sức thuyết phục cho mình.

Phần lớn người Tiểu Lâu tiếp xúc là danh sĩ Giang Nam, nhất định là rất hiểu biết về việc này. Hỏi thăm nàng ta để biết thêm một chút, việc thuyết phục hoàng thượng cũng nắm chắc hơn một phần.

Tuy nhiên y thấy Tiểu Lâu nói chuyện cẩn thận, rõ ràng có ý xem thường năng lực thuỷ quân Đại Minh nhưng lại không dám không kiêng dè mà nói thẳng; có lẽ chỉ khi nào mình tỏ rõ thái độ trước nàng ta mới sẽ thẳng thắng nói ra.

Nghĩ đến đây, Dương Lăng bèn nói:
- Đúng vậy, nếu mở cửa thông thương trên biển thì sẽ dân giàu nước mạnh, đồng thời mọi lúc đều có thể nắm được tình hình nước khác, tai mắt triều đình cũng sẽ không bị bưng bít. Như lúc này đây, con dân Đại Minh ta bị kềm hãm trong lục địa, rợ ngoại tuần tiễu trên biễn, đến khi thuyền biển của rợ ngoại có năng lực vẫy vùng ngàn dặm rồi thì hải phận kéo dài ngun ngút như rãnh trời của Đại Minh sẽ bị biến thành ngõ cụt thôi. Biên thùy phương bắc quanh năm bị giặc Thát quấy nhiễu, khó mà đề phòng cho đặng. Bờ biển dài dằng dặc này nào chỉ gấp mấy lần biên giới phía Bắc? Nếu như trên biển có giặc kéo vào thì dù có bố trí bao nhiêu quân đội cũng không thể nào bảo vệ được.

Tiểu Lâu cười nói:
- Đại nhân nhìn xa trông rộng, muốn đất nước giàu mạnh, không thể không để ý đến hải dương. Tài phú lấy từ trong biển, nguy hiểm cũng từ biển mà ra.

Dương Lăng kinh ngạc dừng bước, nhìn nàng nói:
- Hay! Nói rất hay! Một lời trúng đích - Y nói quanh co nửa ngày trời chẳng qua là muốn biểu đạt cái ý này, không ngờ người con gái này lại chỉ nói một câu giản dị mà ý lại sâu xa, trúng ngay điểm cốt yếu.

Tiểu Lâu mỉm cười nói:
- Đó không phải là lời của thảo dân. Thảo dân là phụ nữ... nào có kiến thức như vậy? Đó chính là lời mà Trịnh Hoà Trịnh công công năm xưa từng nói.

Dương Lăng nghe Tiểu Lâu nói trăm năm trước Trịnh Hoà đã có kiến thức và tầm nhìn xa như vậy thì không khỏi bội phục vị thái giám Tam Bảo này không thôi. Tuy ông ta là hoạn quan nhưng chỉ với phần kiến thức này thôi thì bao nhiêu học giả uyên thâm có thể sánh bằng ông ấy đây?

Đi qua rừng cây um tùm, mọi người thấy nơi nối tiếp bờ đê hiện ra vài xưởng đóng thuyền. Mỗi xưởng rộng từ mười đến ba mươi trượng không đồng đều, sâu vào độ một trăm sáu đến trăm bảy mươi trượng. Bên trong xưởng đóng thuyền trống không, cả một chiếc thuyền cũng không có. Trên xưởng có đập nước, cầu gỗ, thành đá, tuy nhiên nhìn khắp nơi đều là cỏ dại mọc um tùm, hoang vắng cô liêu, cả một bóng người cũng không có.

Dương Lăng thấy mà sững sờ, không dám tin bèn hỏi:
- Đây là xưởng đóng thuyền Long Giang à? Nơi đóng ra những chiếc bảo thuyền dài cả trăm mét đó ư? Không lẽ nơi này đã bị dỡ bỏ rồi sao? Sao ngay cả một người cũng không có?

Trịnh Bách hộ nghe vậy vội vàng dẫn theo mấy người tìm kiếm chung quanh, không lâu sau liền phát hiện một ông già tóc hoa râm đang ngồi xổm câu cá ở dưới xưởng. Trịnh Bách hộ vui mừng quá đỗi vội gọi lão ta lại.

Dường như đã lâu lắm rồi không thấy quan viên đến, ông già nọ trông thấy Dương Lăng được tiền hô hậu ủng rầm rộ, đoán hẳn phải là quan rất to, thế là ông lão sợ đến suýt ngất, vội vàng vất cần câu, lập tức chạy ù sang nghênh đón.

Dương Lăng nhíu mày hỏi:
- Ông lão, ông là người của xưởng đóng thuyền này à? Ta hỏi ông, xưởng đóng thuyền này có phải là đã dỡ bỏ rồi không? Sao không có lấy người nào đóng thuyền, cũng không thấy thợ thuyền nào cả?

Lão hán gật đầu khom lưng đáp:
- Đại nhân, tiểu nhân là quản đốc phường dây thừng, thợ đóng thuyền thế tập (gia truyền). Xưởng đóng thuyền này của chúng tôi không hề bị dỡ bỏ, nhưng nha môn Đô Thủy ty của bộ Công gần hai năm nay đã không có mệnh lệnh đóng thuyền nào. Đám thợ thuyền không có thuyền đóng, không có tiền công, mà dù thế nào vợ con cũng phải sống nữa. Cho nên... bình thường không có việc gì làm thì chở mấy chuyến đò, làm thuê làm mướn, phụ nữ con nít thì vào rừng trồng rau trồng cải thả dê. Nhưng chúng tôi cũng không dám tuỳ tiện bỏ bê xưởng đóng thuyền này, cho nên tiểu nhân đã cùng mấy quản sự của phường bánh lái, phường gỗ, phường buồm, phường mạn thuyền, phường thừng chão luân phiên trông chừng. Hôm nay đến phiên tiểu nhân cai quản, không biết đại nhân đây là...?

Nghe ngữ khí của lão, xưởng đóng thuyền này được phân công khá là tỉ mỉ, thậm chí thừng chão, buồm đều có xưởng chuyên môn phụ trách, đủ thấy quy mô không nhỏ. Có điều nhìn xưởng đóng thuyền giờ đây bỏ phế hoang vu, khắp nơi cỏ leo mọc rậm, trong xưởng có thể câu cá, nào còn bóng dáng xưởng đóng thuyền từng hạ thủy hạm đội Tam Bảo khổng lồ giương buồm rong ruổi vạn dặm?

Dương Lăng thấy lão quản đốc khúm núm khom lưng, áo quần cũ kỹ, đôi giày vải lộ cả ngón chân cũng không nỡ khiển trách lão. Y thở dài một hơi, thất vọng nhìn xưởng đóng thuyền to lớn đồ sộ, nhất thời không còn hứng thú dạo chơi nữa.

Lão quản đốc nọ không biết y có lai lịch như thế nào, thấy y thừ người như vậy cũng không dám mở lời, chỉ ngoan ngoãn đứng một bên. Dương Lăng định vào trong thành đá xem một chút, nhưng đi được vài bước, y bỗng dừng chân rồi quay người nói:
- Không cần nữa, bản quan đi đến nơi này chỉ là tùy ý ghé qua xem một chút. Giờ thì đi thôi.

Dương Lăng dẫn người lên đường quay về, lặng lẽ không nói tiếng nào, vẻ mặt hơi nghiêm trọng. Tiểu Lâu trộm quan sát thần sắc của Dương Lăng, rồi suy xét về thái độ của y, dần dần lần ra được chút manh mối.

Nàng dò hỏi:
- Thật ra vùng duyên hải chỉ có vài đám giặc Oa gây loạn, chưa đủ làm lay động đến căn cơ Đại Minh. Những tiểu quốc rợ ngoại trong bốn biển đó cũng không có thực lực xâm phạm giang sơn Đại Minh ta. Cớ chi đại nhân lại phiền lòng?

Tuy Tiểu Lâu có kiến thức, nhưng dẫu sao nàng cũng không thể nhìn xa đến như vậy. Nàng nào biết mấy mươi năm sau những phiên bang tiểu quốc không đáng lo trong mắt nàng đó sẽ bắt đầu không chút kiêng dè mà kẻ trước người sau nườm nượp kéo đến muốn thôn tính cái thị trường Trung Quốc này.

Nay dùng mọi biện pháp bọn họ cũng không thể đạt được giao lưu thương nghiệp với thiên triều thượng quốc. Sự xuất hiện đúng lúc của thuyền to pháo lớn sẽ tạo ra cho bọn họ cơ hội có được sức mạnh quân sự, khiến cho những quốc gia bé nhỏ này có thể xưng bá trên biển và bắt đầu xưng bá thế giới.

Đạo lý này phải đến mấy trăm năm sau, từ trong hàng loạt những bài học mất nước nhục nhã thì Trung Quốc mới hiểu ra được. Bây giờ ngoài Dương Lăng đến từ đời sau ra thì còn ai biết được bài học đó nó đau thương như thế nào, và cái giá phải trả to lớn biết bao nhiêu?

Xưởng đóng thuyền Long Giang mà hơn trăm năm trước đã đóng ra đại hạm đội xưng bá thế giới giờ đây chỉ còn lại một đống hoang tàn. Qua một hai trăm năm sau, một Trung Nguyên bừng bừng sức sống bây giờ có phải rồi cũng sẽ bước vào cảnh hoang vu lạc hậu hay không?

Dương Lăng sớm biết lệnh cấm biển của nhà Minh sẽ trực tiếp khiến cho sức mạnh trên biển của Trung Quốc suy yếu nghiêm trọng, gián tiếp tạo ra sự trì trệ về phát triển khoa học và kinh tế của cả quốc gia. Nhưng nhìn thấy cảnh tượng ngày hôm nay, y mới biết được rằng sự tình trước mặt đã nghiêm trọng đến mức độ nào.

Thêm mấy năm nữa, không chỉ xưởng đóng thuyền suy tàn mà e rằng ngay cả thợ thuyền có năng lực cũng sẽ tìm không ra. Những thợ thuyền gia truyền này lại không theo học trường lớp chuyên nghiệp, tay nghề của bọn họ đều là cha truyền cho con, con truyền cho cháu, từng đời truyền xuống. Nếu như không có thuyền để đóng, nếu như học đóng thuyền còn không kiếm đủ cơm ăn thì còn có ai mà dạy mà học nữa?

Suy nghĩ một chút về lịch sử mà mình biết, nếu không phải vì bây giờ triều đình cấm đi biển, cấm đóng thuyền thì Trung Quốc vẫn có thể tiếp tục xưng hùng vùng biển Đông Á, vậy sẽ có thể luôn đảm bảo được sự văn minh tiên tiến thông qua tiếp xúc và va chạm với các quốc gia khác, không đến nỗi mấy trăm năm sau bỏ ra vô vàn ngân lượng mua chiến hạm thiết giáp mà vẫn bị Nhật Bản đánh chìm.

Nếu như hải quân Trung Quốc bây giờ đủ mạnh, chủ động khai thác mậu dịch hải ngoại và thuộc địa, vậy còn dám nói mấy trăm năm sau mấy quốc gia mà diện tích gộp lại còn không bằng Nam Trực Lệ (4) sẽ trở thành bá chủ trên biển không? Còn có chuyện dùng pháo đài thô sơ trên đất liền nghênh tiếp những cuộc công kích không chống đỡ được của chiến hạm hải quân nước ngoài không?

Hiện nay không chỉ triều đình tự mãn bảo thủ mà đại đa số các thương nhân và thân sĩ trong dân gian có chút tầm nhìn xa khi ra biển cũng không chủ trương mở rộng ra nước ngoài. Thật ra lực lượng này khá lớn, cho dù mình là hoàng đế, muốn thay đổi tình hình này e cũng gặp phải trùng trùng khó khăn, huống hồ hiện giờ ngay cả triều chính mình cũng không có tiếp xúc bao nhiêu.

Tuy mình biết kết quả phát triển của lịch sử nhưng điều đáng buồn chính là, cho dù là biết rõ song nhiều khả năng là mình sẽ chỉ có thể trơ mắt đứng nhìn bài học và tai ương diễn ra một lần nữa, nhìn cái thảm cảnh quốc gia dần dần trở nên suy nhược, máu chảy thành sông xuất hiện. Mình có thể nào ngăn chặn được nó không?

Dương Lăng vừa đi vừa nghĩ ngợi, tâm trạng càng thêm nặng nề, cũng không còn tinh thần ngắm cảnh và trò chuyện cười đùa cùng Tiểu Lâu.

Tiểu Lâu tưởng rằng y vẫn là vì cái họa giặc Oa vùng duyên hải mà ưu sầu, nào biết được tâm tư người này đang trôi đến tận mấy trăm năm sau. Nàng thở dài một tiếng nói:
- Tục ngữ có câu 'dựa núi thì sống nhờ vào núi, giáp biển thì sống nhờ biển', muốn ép buộc dân chúng duyên hải đoạn tuyệt với biển cả là điều không thể.
Triều đình không cho phép, nhưng vì món lợi kếch sù, tất sẽ vẫn có phú thương dân gian tự lập đội nhóm giao dịch với ngoại bang. Nhưng thương nhân các nước hải ngoại đều có quân lực bảo hộ, hơn nữa đi biển rất không an toàn, những thương nhân đi biển này giao dịch cùng ngoại bang mà không có vũ khí sẽ không cách gì tự bảo vệ, nếu thành lập lực lượng vũ trang thì sẽ lại bị triều đình vì kiêng kị mà vây diệt. Kết quả... triều đình càng cấm biển, trừ biển, thương nhân đi biển chịu bao khốn đốn trong ngoài mà ra khơi làm giặc sẽ càng nhiều. Duyên do nhân quả trong đó, vốn là một nút thắt không thể gỡ, khó trách đại nhân cảm thấy khó xử.

Dương Lăng lắc đầu nói:
- Cũng không hẳn là vậy. Nếu như chúng ta không cấm buôn bán bằng đường biển, nếu không trói buộc thủy quân quanh quẩn trong nội địa, lại mở đường vượt biển thì có thể tháo gỡ được cái nút thắt đó không?

Tiểu Lâu giật mình, buột miệng hỏi:
- Làm vậy sao được?

Dương Lăng nhướng mày, trông như cười mà không phải cười, nói:
- Tại sao lại không được? Nếu cái nút thắt này là do con người thắt lại thì chỉ có thể do con người tháo gỡ nó. Vả lại cái nút thắt này sớm muộn cũng phải tháo ra, chỉ là nếu đợi đến ngày bị buộc phải tháo ra thì không biết sẽ có bao nhiêu người dân chịu phải tai ương. Dương mỗ nhận lộc của vua, san sẻ lo âu với vua, tại sao lại không thể thử tháo gỡ nó ra sớm chút nhỉ?

Sau khi Tiểu Lâu trở về thuyền của mình, thân hình và dáng điệu mới trở lại dáng vẻ nữ nhân.

Nàng bước vào khoan thuyền ngồi, khẽ thở dài một hơi. Một tỳ nữ xinh đẹp mặc đồ đỏ dâng lên chén trà, nhẹ nhàng đấm vai cho nàng, yêu kiều cười nói:
- Sao tiểu thư lại thở vắn than dài thế? Đều tại chính tiểu thư thôi, Giang Nam đệ nhất giai nhân thì không làm, khi không lại muốn cải trang thành nam nhân, vậy làm sao mà khiến y mê tiểu thư đây? Tiểu tỳ thấy tiểu thư là thấy một vị công tử anh tuấn tiêu sái, thiếu niên đầy triển vọng nên hơi bị choáng váng đầu óc rồi.

Tiểu Lâu khẽ lắc đầu, ánh mắt có phần mê mang:
- Nếu như y chịu mê ta, thì đã mê từ lâu rồi, còn đợi đến hôm nay ư? Nha đầu ngốc này, nếu ta thật sự ăn mặc nữ trang, y không lánh xa ta ngàn dặm mới lạ đó. Đạo hạnh của ngươi còn kém lắm.

Đúng lúc này, chợt có một người tiểu tỳ áo đỏ hầm hầm bước vào trong khoang nói:
- Tiểu thư, cái tên khâm sai đó thật không khách khí chút nào. Hắn vừa mới hạ lệnh cho thuộc cấp, một khi vào thành liền lập tức hộ tống chúng ta đi trước một bước. Hừ, nếu không phải nhờ tiểu thư giúp đỡ hắn thì chuyện ở Giang Nam hắn có thể được thuận lợi như vậy sao? Thật là đồ vong ơn bạc nghĩa.

Tiểu Lâu cười chua chát, thở dài nói:
- Thôi đi, người ta không ném đá xuống giếng, không mượn gió bẻ măng thì đã là chính nhân quân tử hiếm có rồi. Nếu đổi lại là người khác, hừ, cho dù trong lòng hắn chỉ mong sao nuốt trọn được ta thì trước mặt người khác còn không biết giả vờ muốn tránh xa để chứng tỏ mình trong sạch ư.

Nàng đảo mắt, suy nghĩ một chút rồi nói:
- Sở Yến, bảo nhà thuyền rằng, sau khi vào thành thì vượt lên thuyền quan của đại nhân mà vào thành trước. Còn nữa... đợi ta tạ ơn khâm sai đại nhân, nói không cần nhọc y sai người đưa tiễn nữa.

Tỳ nữ xinh đẹp tên là Sở Yến đó ngạc nhiên nói:
- Tiểu thư, không lẽ tiểu thư không tính... tính... có muốn tiểu tỳ dò hỏi hành dinh của y không?

Tiểu Lâu mỉm cười đáp:
- Không cần hỏi, Nam Kinh lục bộ, Vương Quỳnh đứng đầu. Bọn họ sẽ không ra nghênh đón khâm sai đâu. Nghênh đón Dương đại nhân hẳn sẽ là thái giám trấn thủ Nam Kinh Phùng công công. Phùng công công có tư dinh ở ngõ Ô Y, nghênh đón thượng quan tới tư dinh mình, đó là cơ hội đón tiếp lấy lòng. Cho nên... y hẳn sẽ trọ ở ngõ Ô Y.

Sở Linh cười hì hì nói:
- Vậy chúng ta cũng dọn đến ngõ Ô Y, để làm ra vở tài tử giai nhân ngẫu nhiên tương phùng.

Tiểu Lâu trừng mắt với cô nàng một cái, nói:
- Không, đừng chuốc phiền cho người ta. Chúng ta sẽ dọn đến phố Trường Can. Phố Trường Can cũng nằm ở phía nam thành, cách ngõ Ô Y lại không xa. Mấy năm trước ta nghe người ta nói rằng, nơi đó có một thuyền vương từng tung hoành trên biển đang ẩn cư, ta muốn đến tìm người này một chút.

Sở Yến lấy làm lạ hỏi rằng:
- Thuyền vương gì chứ? Còn không phải là hải tặc quy ẩn à. Mấy kẻ này kị nhất có người dò hỏi về quá khứ bọn họ, tiểu thư không phải tính dọn đến phương bắc sao, tìm hắn làm gì. Chẳng lẽ... lại muốn ra biển ư?

Tiểu Lâu thoáng cười nhạt, đứng dậy bước đến bên cửa sổ khoang thuyền nhìn ra dòng sông cuồn cuộn, khóe miệng hơi nhếch lên, nửa cười nửa không nghĩ thầm: “Lúc mi dùng sắc đẹp mê hoặc người, mi cảm thấy mình tâm cao khí ngạo, lấy đó làm sỉ nhục. Bây giờ người này không mê sắc đẹp của mi, thì phải xem thử mi có tài cán gì hay không. Xem ra y rất xem trọng việc dỡ bỏ lệnh cấm biển và bình định giặc Oa, nếu như mình có thể giúp y giải quyết cái vấn đề nan giải này... Ái chà, lâu rồi không động não, mới nghĩ một chút đã nhức đầu rồi. Từ từ mà nghĩ... từ từ mà nghĩ, mình không tin mình nghĩ không ra...”

* * *

"Lục đại đế vương quốc, Tam Ngô giai lệ địa." (Vùng đất xinh đẹp Tam Ngô, đất nước của sáu đời vua chúa)

Con thuyền quan của Dương Lăng đã đến ven bờ sông Tần Hoài. Thái giám trấn thủ Nam Kinh Phùng Thừa Thực cùng quan thủ bị Nam Kinh Quan Kiến Công, trấn phủ sứ Nam trấn phủ ty của Cẩm Y Vệ là Thiệu Tiết Vũ dẫn một đám quan viên thân sĩ đứng ở bến thuyền chờ đón.

Thuyền vừa vào thành Dương Lăng liền đã nhận được bẩm báo trấn phủ sứ đại nhân của Nam trấn phủ ty cũng đến bến thuyền chào đón. Tin tức này khiến y suy đoán cả nửa buổi.

Chuyến đi đến Nam Kinh của y và Cẩm Y Vệ không có liên quan với nhau. Tuy thế lực của Nam trấn phủ ty kém xa Bắc trấn phủ ty nhưng cũng là nha môn quan trọng trong Cẩm Y Vệ, nếu không được chỉ huy sứ Trương Tú của Cẩm Y Vệ gợi ý thì Thiệu trấn phủ với thân phận mẫn cảm như vậy sao dám đến nghênh đón chứ?

Tri thức quan trường của người Trung Quốc thật sự rất nhiều, phải bày một chiếc ghế như thế nào, rót một chén rượu ra làm sao, kính một chén trà như thế nào đều có thể hàm ẩn ngụ ý sâu xa. Đường đường trấn phủ sứ hạ mình đến đón, có phải đại biểu rằng vị đề đốc Cẩm Y Vệ Thiên Tân Trương đại nhân đó có ý với mình không?

Nghĩ đến đây, Dương Lăng cũng hơi nóng lòng muốn biết. Nếu có thể tranh thủ được Cẩm Y Vệ, vậy đúng là thắng lợi thêm một việc nữa. Hiện giờ quá cần quyền lực đi, cần quyền lực tuyệt đối, cần rất nhiều người mang tâm nguyện của y bôn ba khắp nơi, ngấm ngầm thay đổi. Từ từ thay đổi đương nhiên là tốt nhất, nhưng lời của Trương thiên sư cũng không biết là thật hay giả. Nếu như bây giờ có thể làm thêm một việc vậy thì có lẽ nên làm cho tốt một chút.

Chiếc thuyền quan đầu tiên nhẹ nhàng chạy qua, đập vào mắt là lá cờ rồng màu vàng sẫm của thiên tử và là cờ to có chữ Dương cắm sừng sững trên đuôi thuyền. Thuyền quan cập bến, trên thuyền lần lượt đặt ván xuống bến thuyền, thuyền phu ném thừng xuống liền tự có bộ dịch chạy đến nhặt lên, buộc chặt vào cọc đá trên bến.

Thái giám trấn thủ Nam Kinh Phùng Thừa Thực tươi cười cùng Quan thủ bị và Thiệu trấn phủ bước tới đón. Người của ty tuần kiểm bố trí vừa âm thầm lẫn công khai rất nhiều người ở gần đó để đề phòng bất trắc.

Trong các thân binh do Quan thủ bị dẫn đến có một vị tướng tá cũng đang nhìn chằm chằm vào đầu thuyền, khi trông thấy bóng Dương Lăng, hắn không khỏi nở một nụ cười thân thiết.

Người này cao lớn rắn chắc, da dẻ ngăm đen, mặt mày sáng sủa, trông anh tuấn bất phàm, chính là huynh trưởng của Hàn Ấu Nương - Hàn Vũ. Lúc Dương Lăng còn chưa rời kinh đã an bài cho y đến phương nam nhận chức trong quân đội. Y là người do Xưởng đốc Nội xưởng tiến cử, mà phẩm hàm ban đầu lại không cao khiến cho quan viên địa phương thật sự khó xử.

Nếu an bài cho chức quan nhỏ tức là địa phương thu xếp không tốt, vậy là làm mất mặt Dương Lăng. Nhưng nếu đề bạt y làm quan to thì sẽ khó khiến cho nhiều người im miệng. Suy nghĩ kỹ một phen, Đô chỉ huy sứ bèn đưa y đến chỗ Thủ bị Kim Lăng là Quan Kiến Công làm thủ hạ. Tuy chỉ là một chức bách hộ nhưng làm quan ở cái chốn này lợi lộc không nhỏ, chắc hẳn cũng sẽ hợp với tâm ý của Dương Xưởng đốc.

Kim Lăng không giống với những nơi khác. Thái giám trấn thủ Nam Kinh, Nam trấn phủ sứ và Dương Lăng không có quan hệ thuộc chức, hơn nữa tuy rằng ở trước mặt Hoàng thượng có sự khác biệt về đối đãi thân sơ song địa vị lại ngang nhau cho nên Dương Lăng cũng không dám thất lễ. Sớm đã đứng trên đầu thuyền, ván thuyền vừa hạ y liền tươi cười đi đến nghênh đón ba người.

Lúc này phía sau bến thuyền, trên lầu ba của một tửu lâu rộng lớn khang trang hoa lệ, trong một căn phòng trang nhã phủ rèm bông màu xanh biếc, trên chiếc bàn cạnh cửa sổ bày biện các món ăn tứ sắc, bên cạnh là một bầu Trúc Diệp Thanh, một công tử trẻ tuổi khôi ngô tuấn tú đang ngồi.

Chàng ta mặc một bộ quần áo trắng tinh màu trăng non, thân thể cao thon mảnh dẻ, mái tóc đen mượt chỉ dùng trâm gỗ khảm vân hoa đính dây tua màu trắng tinh cài lên. Tuổi tác trông chỉ chừng mười sáu mười bảy, mặt như ngọc sáng, mắt tựa suối trong, chiếc mũi cao tinh xảo như ngà, còn có bờ môi hơi vểnh, dường như lúc nào cũng mang một vẻ tươi tắn nửa cười nửa không, trong vô ý liền có thể lộ ra một vẻ đẹp lả lướt làm say lòng người. Chàng trai xinh đẹp như thế, thật không biết sẽ làm say mê biết bao đại cô nương.

Trông thấy chiếc thuyền quan mang lá cờ lớn chữ Dương từ xa xa rẽ vào, chàng ta bỗng đứng bật dậy, dán người vào khung cửa sổ phủ rèm hồi hộp mở to cặp mắt ra nhìn. Thuyền đã cập bến, mỏ neo được thả xuống, chàng đã trông thấy Dương Lăng, Dương Lăng đang mỉm cười bước xuống thuyền.

Đã nửa năm không gặp... bỗng nhiên trông thấy, cảm giác như đã cách xa cả đời. Y đã khôi ngô tuấn tú hơn thuở trước, giữa hàng lông mày đã hiện lên thêm mấy phần thành thục và uy nghiêm, còn nữa... người y đã cao hơn, vóc người cũng săn chắc hơn, nhưng mặt mũi dung mạo lại vẫn quen thuộc với mình.

Người công tử trẻ tuổi chớp chớp hàng mi cong, một lớp sương mù nhanh chóng phủ trước cặp mắt trong veo. Từ từ, chầm chậm, lớp sương mù tụ lại thành hai giọt nước mắt long lanh trong suốt, từ trong cặp mắt đẹp như trăng nhỏ xuống, chầm chậm xuôi theo gò má trắng ngà không chút tì vết lăn xuống chiếc cằm thon rồi rơi xuống bàn.

Chàng ta khịt mũi, cố nén không để nước mắt trào ra thêm, ánh mắt đã hơi nhòe đi, lại cách bởi một lớp rèm, con người đang ở trong mắt cũng đã trở nên lờ mờ, giống như bóng dáng mà chàng ta đã vô số lần nhìn thấy trong mơ.

Có điều... người ấy khi đó nhìn không có rõ như bây giờ. Người ấy trong mơ nhìn không rõ tướng mạo, nhìn không rõ trang phục, chỉ nghe được hơi thở của y, mình nằm dựa vào lòng y, cuộn mình trong hố tuyết lạnh buốt nhưng tai, mặt, đều ép sát vào ngực y đến nóng bừng.

Người ấy bây giờ đã có thể nhìn thấy thật rõ ràng, y mặc chiếc áo vạt mở màu hồng cánh sen, bên trên chiếc đai ngọc giắt một miếng ngọc bội, ngọc bội khẽ đong đưa theo từng bước chân của y. Dưới chiếc áo dài lộ ra đôi giày đen đế mềm thêu hoa văn kim tuyến. Thật là một vị công tử anh tuấn phong lưu, thật khiến người ta động lòng, yêu thích...

Đợi chút, đằng sau là ai thế? Mỹ nữ áo xanh có dáng người xinh đẹp, cử chỉ nhàn nhã đó là ai thế?

Con mắt sáng ngời của người công tử trẻ tuổi giận dữ dời sang người Dương Lăng. Dương Lăng đang cười, đang hướng mặt về phía những kẻ ra đón mà mỉm cười, nụ cười của y... khuôn mặt của y... quần áo của y, sao nhìn lại muốn đập thế cơ chứ?

Một đám quan viên quây lại, che cái bản mặt đáng đánh đó của y vào trong.

Cao, thấp, mập, béo, trong chớp mắt một đám người đã bao phủ lấy bóng dáng của Dương Lăng. Vốn không muốn ngó cái bản mặt đáng ghét đó của Dương Lăng nữa nhưng khi không thấy được y, người công tử trẻ tuổi chợt trở nên nôn nóng. Chàng ta kiễng chân dán người vào rèm cửa để nhìn, nhưng ngoại trừ mấy cái đầu người ra, không còn thấy diện mạo của y nữa. Sau đó những cái đầu người đó vây quanh y đi về phía hàng kiệu quan đặt trên bến thuyền.

Công tử trẻ tuổi giậm chân, chụp lấy cái chén sứ trên bàn lên, nốc sạch một hơi chén rượu trong veo thơm ngát vào miệng, rồi dằn mạnh chén rượu xuống bàn, hừ một tiếng nói:
- Dương khâm sai, Dương đại nhân! Quan uy thật lớn, bản lãnh thật to, ta thật muốn xem coi lúc nào thì huynh mới chịu tới gặp ta. Hừ!





Chú thích:

(1) Tam Ngô: địa danh, thay đổi theo các đời Tống, Đường,... Phiếm chỉ vùng hạ du sông Trường Giang
(2) chỉ Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần

(3) 古里: Kozhikode: thành phố miền tây nam Ấn độ.
溜山: quần đảo Maldives nam Ấn Độ dương, tiếng hoa nay gọi là 马尔代夫. 溜山 có lẽ phiên từ tên cũ Lakshadweepa.
麻林: Malindi: thành phố nằm trên bờ biển nước Kenya, Phi châu.

天方: Mecca, thánh địa hồi giáo ở Saudi Arabia. Tên tiếng hoa là Mạch Gia (麥加). Thiên Phương có nghĩa là hướng thiên đàng, theo tín ngưỡng hồi giáo.

Đoán mò:
刺薩: tên đầy đủ: 蘇刺薩儻那: Surestan/suristan: tên xưa của vùng đất nay thuộc về Syria.

Cám ơn bạn Mumo về chú thích này.:grin::grin::cute::cute:

(4) thời kỳ nhà Minh Trung Quốc gọi những địa khu lệ thuộc trực tiếp dưới kinh sư là Trực Lệ. Gọi khu vực Trực Lệ thuộc Bắc Kinh là Bắc Trực Lệ, thuộc Nam Kinh là Nam Trực Lệ.





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
06-10-2011, 07:11 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 141 - Người Đẹp Như Trăng Bên Bếp Lò




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Thấy y hơi sa sút tinh thần, Hàn Vũ bèn vỗ vai y cười nói:
- Huynh chỉ muốn đệ nghĩ thoáng một chút thôi! Thật ra những việc mà đệ đã làm vừa qua thực không tệ à, những chuyện oanh liệt này mà lan truyền về kinh thì đệ nghĩ Ấu Nương nghe xong sẽ vui hay không? Cái gì mà “tiếc hối chồng đi kiếm tước hầu” (1), phụ nữ mà, là như vậy đó! Chứ nếu đệ cứ cả ngày bám rịt bên người nó, nó sẽ chê là người chồng của mình sao không có bản lĩnh, không xuất chúng hơn người. Đến lúc làm quan rồi, nó lại trách đệ bận rộn công vụ, lạnh nhạt với nó. Đệ có thể thăng tiến, Ấu Nương sẽ không cao hứng sao? Đệ thử nói trong lòng Ấu Nương, đệ của bây giờ và một ông tú tài cả đời ru rú trong Dương Gia bình, ai sẽ khiến nó tự hào hơn?







Chương 141 - Người Đẹp Như Trăng Bên Bếp Lò

Nền đường Kim Lăng đều được lát bằng đá xanh, trông rất gọn gàng ngăn nắp. Các con phố lớn đều được quy hoạch chỉnh tề, hàng quán bên đường được dựng lên nề nếp và trật tự, rất náo nhiệt phồn vinh nhưng vẫn trong khuôn khổ.

Nếu chỉ đơn thuần so về độ phồn hoa, Kim Lăng (Nam Kinh) thật sự hơn hẳn kinh sư (Bắc Kinh).

Ngõ Ô Y nơi Dương Lăng đang ở là chỗ doanh trại Cấm Vệ Quân Thạch Thành của Tôn Quyền năm xưa đóng quân, bởi vì các binh sĩ này đều mặc y phục màu đen nên mới tạo nên tên ngõ. Từ khi danh tướng Tạ An và Vương Đạo thời Đông Tấn sống ở đây, rất đông quý tộc các đời sau đã dọn về ở nơi này, lầu cao đua nhau mọc lên san sát, vì vậy ngõ Ô Y nổi danh khắp thiên hạ.

Có điều bản thân con ngõ hẻm này không rộng lớn là bao, hơn nữa do những người cư ngụ ở đây đều là cao quan vọng tộc nên mặc dù không ai cấm nhưng dân thường vẫn tự giác lánh đi, do đó người qua kẻ lại trong con hẻm hẹp dài tĩnh mịch này càng thêm thưa thớt.

Dương Lăng và Hàn Vũ sánh vai ra khỏi con hẻm, đi dọc bờ sông Tần Hoài đến trước miếu Phu Tử. Dương Lăng vừa đi vừa kể lại chi tiết những chuyện đã xảy ra trong chuyến đi Giang Nam lần này.

Hàn Vũ nghe mà phấn khích không thôi, lúc nghe đến đoạn chống giặc Oa ở Hải Ninh hắn không khỏi nắm chặt nắm tay mà thở dài than tiếc:
- Tiếc quá! Nếu lúc đó mà huynh cũng có thể đứng trước thủy triều sông Tiền Đường thi triển thân thủ thì hay biết bao nhiêu.

Dương Lăng cười nói:
- Huynh làm quan ở cái nơi sung túc, trù phú như Kim Lăng này mà đã lên chức Bách hộ như vầy thì còn gì mà không tốt? Bây giờ đệ thân mang chức trọng, chẳng biết có bao kẻ nhiêu đang có ý đồ xấu với đệ. Điều chuyển các huynh đi để các huynh có thể yên thân gởi phận ở nơi khác, như vậy cho dù ngộ nhỡ có xảy ra chuyện gì thì đệ cũng yên tâm hơn.

Hàn Vũ chau mày bảo:
- Quan lộ hung hiểm, cái đó huynh biết chứ, tuy nhiên cùng lắm thì bãi quan cách chức, có mấy ai thật sự bị tịch biên diệt tộc đâu? Tuy rằng sống trong yên ổn vẫn lo nghĩ đến ngày gian nguy là tốt, nhưng đệ thường xuyên suy tính lo âu, lúc nào cũng nghĩ lỡ như thế này lỡ như thế nọ, em gái huynh trông thấy sẽ vui sao? Nếu đã như vậy, huynh thà thấy đệ làm quan viên không phẩm tước nhưng vẫn sống vui vẻ như lúc làm dịch thừa ở Kê Minh còn hơn.

Dương Lăng thở dài bùi ngùi: “Đúng rồi, lúc trước sống ở thành Kê Minh, dù chỉ ăn rau dầm tương, cơm canh đạm bạc nhưng nào phải lao tâm lo nghĩ nhiều chuyện như vầy? Lúc rỗi rãi thì châm trà, bế Ấu Nương lên đùi, tóc mai kề sát vành tai, tâm sự chút chuyện nhà chuyện cửa. Ngày đó thật là ấm áp và hạnh phúc, còn bây giờ thì sao?”

Dương Lăng dừng chân trước cầu Chu Tước, rầu rĩ nhìn dòng nước chảy dưới cầu. Bây giờ muốn rút chân từ bỏ sự nghiệp, điều đó còn có thể sao?

"Khi nghèo chỉ biết lo thân, giàu rồi lo cả thân nhân, mọi người." Câu này mình đã nghe từ lúc còn rất nhỏ, nhưng chưa bao giờ có cảm xúc sâu sắc như lúc này. Nếu như mình không hề có cơ hội rời khỏi Kê Minh, có lẽ mình sẽ an phận ở lại trong toà sơn thành đấy, cùng người con gái yêu thương của mình sống một cuộc sống tạm ổn cho riêng mình. Nhưng giờ đã bước lên vị trí này, có cơ hội để thay đổi lịch sử mà chẳng lẽ mình đành bỏ qua, lùi bước ư?!

Dương Lăng thở dài, ngại ngùng đáp:
- Đúng vậy! Từ khi vào kinh, thời gian đệ ở cạnh Ấu Nương càng lúc càng ít. Chỉ mong lần này về kinh rồi, đệ sẽ không phải bôn ba tứ xứ nữa.

Thấy y hơi sa sút tinh thần, Hàn Vũ bèn vỗ vai y cười nói:
- Huynh chỉ muốn đệ nghĩ thoáng một chút thôi! Thật ra những việc mà đệ đã làm vừa qua thực không tệ à, những chuyện oanh liệt này mà lan truyền về kinh thì đệ nghĩ Ấu Nương nghe xong sẽ vui hay không? Cái gì mà “tiếc hối chồng đi kiếm tước hầu” (1), phụ nữ mà, là như vậy đó! Chứ nếu đệ cứ cả ngày bám rịt bên người nó, nó sẽ chê là người chồng của mình sao không có bản lĩnh, không xuất chúng hơn người. Đến lúc làm quan rồi, nó lại trách đệ bận rộn công vụ, lạnh nhạt với nó. Đệ có thể thăng tiến, Ấu Nương sẽ không cao hứng sao? Đệ thử nói trong lòng Ấu Nương, đệ của bây giờ và một ông tú tài cả đời ru rú trong Dương Gia bình, ai sẽ khiến nó tự hào hơn?

Dương Lăng cười lớn:
- Nhị ca cùng đừng chỉ nói người khác! Bây giờ nhị ca cũng đã ổn định rồi, bao giờ mới rước vợ về đây? Giang Nam người đẹp như mây, chẳng lẽ không có ai lọt vào mắt huynh à?

Hàn Vũ cười nói:
- Huynh vẫn còn hứng thú với việc xông pha chiến trường, kiến công lập nghiệp mà! Nữ nhân ấy... đâu có đáng yêu như bảo đao bảo kiếm đâu. Chuyện lấy vợ đợi khi nào huynh muốn có con rồi hẵng nói đi.

Hắn vừa nói vừa vỗ vỗ vào cây bội kiếm giắt bên hông, nói tiếp:
- Nói thật nha, đệ thử nghĩ cách gì điều huynh ra cửu biên (2) hoặc duyên hải đi, chỉ cần có đánh đấm là được. Ở đây riết xương cốt mục hết cả rồi.

Dương Lăng nghe vậy trong lòng chợt máy động, bèn đáp:
- Được, nếu như huynh đã có ý nguyện này, đệ sẽ thành toàn cho huynh. Có điều cũng không cần phải vội làm ngay, chuyện này đợi sau khi đệ về kinh rồi hãy nói tiếp.

Dương Lăng sực nhớ sau khi về kinh, nếu xin được phép Hoàng thượng giải trừ lệnh cấm biển và thông thương với nước khác rồi, ngay sau đó nhất định sẽ cần đến một lực lượng thủy quân cường đại. Hàn Vũ văn võ song toàn nên hẳn là học kỹ thuật chiến đấu trên biển cũng không khó. Điều hắn vào thủy quân đào tạo bài bản, nói không chừng tương lai hắn sẽ trở thành một danh tướng thủy quân.

Nhưng mà ăn nói với Hoàng thượng thì dễ, cái khó chính là làm sao để bá quan gật đầu đây. Những đại thần trong triều không có mấy kiến thức về biển cả vẫn coi nó là thứ có cũng được không có cũng chẳng sao; bọn họ khinh thường hải dương, coi rẻ thông thương, xem trọng mặt mũi thiên triều thượng quốc hơn bất cứ thứ gì khác. Với quan niệm và ý thức của những bá quan văn võ thời này, có mấy ai có thể lý giải và tiếp thu những lý luận mà đời sau ai ai cũng biết chứ?

Có rất nhiều việc để làm thì không khó, nhưng khó là khó ở chỗ không ai muốn bắt tay vào làm. Cho dù có người muốn làm, những kẻ bảo thủ cũng sẽ dùng mọi thủ đoạn ngăn cản không cho anh làm, thậm chí trong lòng họ còn cho rằng mình đang giữ gìn chính nghĩa, đang làm điều tốt vì nước vì dân. Vừa nghĩ đến tình huống mà mình phải đối mặt sau khi hồi kinh, Dương Lăng không khỏi có cảm giác vô lực.

Chung quanh y luôn có mấy nha sai vận thường phục lặng lẽ đi theo sau. Liễu Bưu cải trang làm văn sĩ đột nhiên hiện thân phía trước, ngầm ra dấu với y. Dương Lăng hiểu ý, gật nhẹ đầu với gã.

Hiện nay y đang trọ ở tư dinh của thái giám trấn thủ Kim Lăng Phùng Thừa Thực. Tuy Phùng Thừa Thực rất cung kính lễ phép với y, nhưng trên danh nghĩa Phùng công công là người trực thuộc ty Lễ Giám ở Kinh sư, cũng được xem như là thân tín của Vương Quỳnh, cho nên Dương Lăng không thể không uý kị lão ta.

Vốn lần này y đi đến Kim Lăng không có chuyện gì quan trọng, cũng không có gì phải giấu giếm lão ta, nhưng việc Nam trấn phủ ty Thiệu đại nhân của Cẩm Y Vệ ghé bước nghênh đón khiến hy vọng liên minh cùng Cẩm Y Vệ của y tăng thêm mấy phần.

Nếu Cẩm Y Vệ có ý định muốn tiếp xúc với y, tất cũng sẽ tránh mặt Phùng công công Cho nên y mượn cớ mới trùng phùng anh vợ đã xa cách lâu ngày nên tự mình đưa tiễn xa như vậy chính là để có cơ hội tiếp xúc với Cẩm Y Vệ.

Ví bằng Cẩm Y Vệ đích thực có lòng kết minh cùng y, nhất định sẽ phái người âm thầm chú ý đến hành tung và chủ động bắt liên lạc với y. Việc ra dấu của Liễu Bưu vừa rồi đã chứng thực phán đoán của y.

Sau khi tiễn Hàn Vũ qua cầu Chu Tước, Dương Lăng chắp tay cáo từ. Liễu Bưu đi đến bên cạnh báo:
- Đại nhân! Nam trấn phủ ty phái người đến gặp đại nhân. Ty chức đã kiểm tra yêu bài (thẻ bài giắt lưng) của hắn, nhân thân có thể tin được.

Dương Lăng gật đầu rất nhẹ, hỏi:
- Thiệu đại nhân đang ở đâu?

Liễu Bưu mỉm cười, trỏ cán cây quạt xếp vào một chiếc thuyền đỏ dưới cầu. Dương Lăng hiểu ý, nở nụ cười:
- Ai cũng nói là cảnh sắc Tần Hoài rất đẹp. Đi thôi, chúng ta cũng đi mở mang kiến thức một chút.

***

Trường Can Lý nằm chếch phía nam thành, là nơi quan dân sinh sống xen kẽ, đồng thời cũng là địa điểm cuối đất Kim Lăng để những thân sĩ danh tiếng đón tiếp và tiễn đưa tân khách. Vì vậy đầu hẻm có vài quán rượu lẫn khách sạn, bán buôn rất tốt.

Trong hẻm còn có một vài người bán rong dựng quầy dựng sạp bán đặc sản Kim Lăng. Thương gia xuôi nam ngược bắc đến Kim Lăng rất đông, trước khi rời đi cũng muốn mang về nhà ít đặc sản, cho nên đời sống tiểu thương nơi đây rất là sung túc.

Nói chung, đây là nơi rồng rắn lẫn lộn, thành viên tương đối phức tạp. Đi vào sâu trong con hẻm là một ngõ cụt nhỏ bé, có một ngôi nhà tường trắng ngói tro, cửa sân sơn son chói lọi, xem ra là một hộ gia đình khá giàu có.

Lão Trương mở sạp bán đá ngồi trước ngõ hẻm, có lẽ đã lâu không có mối nào đến nhà nên đang thả người dựa tường phơi nắng. Đột nhiên lão trông thấy có hai người con gái áo đỏ, dáng người thướt tha đi tới. Dáng vẻ xinh đẹp của hai người lập tức cuo16n hút ánh mắt của lão.

Đó là một phu nhân và một tỳ nữ. Vị phu nhân đi trước có dung nhan cực kỳ xinh đẹp, mái tóc đen huyền, da trắng hơn tuyết, toàn thân váy đỏ, khoác hờ một chiếc áo choàng đơm hình hoa mai, dáng người thướt tha lả lướt, bước chân nhẹ lướt như tiên.

Lão Trương không nhịn nổi đánh ực nuốt một ngụm nước bọt: "Chậc chậc, ngày nào cũng mở sạp ở con hẻm này nhưng không biết đây là tiểu nương tử nhà ai, thật giống như tiên nữ hạ phàm vậy. Nếu mà bà nhà mình bằng được một nửa nàng ta thì mình thật sự đã sướng hơn tiên rồi."

Ông lão tiểu thương không dám dán mắt nhìn lâu vào mặt phu nhân người ta nên luyến tiếc cụp mắt xuống, chăm chú nhìn vào đôi hài cong nhẹ nhàng di chuyển, làn váy tung bay, đôi gót chân sen khẽ khàng lướt qua trước mắt.

Nhân cơ hội này, ông chủ sạp lại ngước mắt liếc nhìn một cái thật nhanh. Nhận thấy nước da trên khuôn mặt ấy mịn màng sáng bóng, còn sáng hơn cả đá vũ hoa (1) đang nằm chờ bán trong hộp của lão đến mấy phần. Vẻ đẹp đó, nhất là vẻ phong tình ấy, quả là hiếm thấy trên đời. Có lẽ cũng chỉ có Mã cô nương của quán rượu Trường Đình mới có thể phân cao thấp với vị giai nhân tuyệt thế này...

Hai người con gái áo đỏ đi đến trước căn nhà gạch xanh ngói nhỏ nọ. Nơi này trông đã cũ kỹ, rêu mọc xanh mướt khắp những nơi âm u trên bức tuờng mã đầu (2).

Người tỳ nữ áo đỏ bước lên đập chiếc vòng khoá vào cổng kêu mấy tiếng thùng thùng, liền theo đó có một gia bộc hé cửa ghé đầu ra hỏi. Lão Trương ngóng từ phía xa, thấy gia đinh nọ đối đáp mấy câu rồi đón tiếp hai mỹ nhân vào nhà.

Sau khi báo danh tính của mình là Thành Khởi Vận xong, Tiểu Lâu bình thản đứng trước bức bình phong chờ gia nhân chạy vào bẩm báo. Khi nhìn từ bên ngoài vào, căn trạch viện gạch xanh ngói nhỏ tường thấp này dường như không lớn lắm, song khi đứng trong sân nhìn vào tiếp thì lại thấy đình viện sâu hun hút, phía sau hình như có đến mấy dãy sân thông lại với nhau thành một cái sân dài.

Tỳ nữ áo đỏ xinh đẹp là Sở Linh, nàng lo lắng nhìn quanh một lát rồi khẽ giọng:
- Tiểu thư! Nhìn trạch viện này dường như đã cũ lắm rồi, vị Bành lão thái gia này thật sự là Sa Ngư vương tung hoành bốn bể à?

Thành Khởi Vận tự tin đáp:
- Muốn chứng minh cũng dễ thôi! Chỉ cần lão nghe xong cái tên ta bịa ra mà chịu ra mặt gặp ta thì chắc chắn là không sai rồi.

Sở Linh khẽ rúm người lại, hơi khiếp sợ:
- Tiểu thư, chúng ta... có phải là đã hơi lỗ mãng rồi không? Nếu như... nếu như chúng ta mời Dương đại nhân phái người đến thì sẽ ổn thoả hơn. Đây đều là những giang hồ hảo hán lưu vong, chúng ta... Chúng ta lại không có chỗ dựa nào.

Thành Khởi Vận cười nhạt một tiếng, đáp:
- Dương Lăng có thể sẽ hồi kinh bất cứ lúc nào, chúng ta không còn thời gian để bày kế nữa. Em đừng lo lắng, không có chỗ dựa cũng là một lợi thế. Con cá mập (sa ngư là cá mập) này giờ đã có con có cháu, đã mang gánh nặng gia đình. Em cho rằng lão trú ở nơi này khá lâu rồi, đã khổ tâm phát triển kinh doanh lại sẽ đành lòng tùy tiện vứt bỏ mọi thứ mà lưu lạc tha hương lần nữa ư? Không nắm rõ lai lịch của chúng ta, lão sẽ không dám làm gì chúng ta đâu. Nhất định phải giành được sự giúp đỡ của ông vua hải tặc này thì biện pháp của ta mới có thể thực hiện suôn sẻ được. Tuy lão ấy chưa hẳn đã tin một phụ nữ như ta, song cáo mượn oai hùm mà, lão đã bị ta nắm thóp (ý nói biết lão già là Sa Ngư vương) thì sẽ phải ngồi xuống hòa đàm thôi. Dù ta chỉ là một con tiểu hồ ly thì một con cá mập mắc cạn như lão cũng phải ngoan ngoãn hợp tác với ta thôi.

Trông thấy tên gia đinh nọ lật đật chạy trở ra, mặt mày cung kính, Thành Vận Khởi thoáng nhíu chiếc mũi nhỏ xinh, nhoẻn miệng cười khẽ, quả nhiên giống như một con tiểu hồ ly.

Bành lão thái gia có một cái tên rất tầm thường, gọi là Bành Phú Quý. Nghe nói lão vốn là người Kim Lăng, lúc lão còn chưa ra đời thì lão đã cùng cha mình dọn đến Đại Lý. Thoáng cái đã qua bảy mươi năm, dựa vào kinh doanh trà ngựa mà lão đã phát tài to, thế là bèn dẫn đám con đàn cháu đống áo gấm về làng, mua căn trạch viện ở Trường Can Lý này.

Xa nhà lâu như vậy, đương nhiên lão không còn bạn bè hàng xóm gì nữa, cho nên Bành lão thái gia chỉ ru rú trong nhà làm lão phú ông, rất ít khi qua lại với xóm giềng.

Bành lão thái gia đang cầm chùm nho trêu đùa cháu trai ở hậu viện, nghe gia bộc báo có hai vị nữ khách đến nhà cầu kiến thì không khỏi nhíu mày, kinh ngạc hỏi:
- Ở đâu lại có kiểu nữ nhân đoan chính tùy tiện đến nhà người khác bái phỏng! Có phải là lão tứ lại trêu hoa ghẹo nguyệt gì ở bên ngoài để người ta tìm tới cửa không?

Gia bộc đáp:
- Vị phu nhân đó nói… cô ta nhận sự nhờ vả của họ hàng xa của lão thái gia, có bức thư tay muốn tự thân trao cho lão thái gia ạ!

- Ủa?
Bành Phú Quý bỏ chùm nho vào khay, đưa đứa cháu cho gia nhân ở bên cạnh trông nom, ánh mắt loé lên vẻ lạnh lùng hỏi lại:
- Họ hàng xa, họ hàng xa nào?

Bành lão thái gia râu trắng tóc bạc, tuổi chừng bảy mươi, khuôn mặt đỏ bầm, nhưng vóc người vẫn còn tráng kiện, chân tay to chắc, động tác lúc đứng lên vẫn còn rất linh hoạt, vóc người cao lớn có khí thế uy mãnh vô cùng.

Tuy gã gia bộc này vẫn thường xuyên gặp Bành lão thái gia nhưng vẫn không khỏi mất tự chủ phải lui về sau một bước, bối rối đáp:
- Vị phu nhân đó nói người đó là cháu họ xa của ngài, tên là Bành Sa Vương.

Khuôn mặt đỏ bầm của Bành lão thái gia thoáng giật giật, đột nhiên hiện ra vẻ mừng rỡ xen lẫn ngạc nhiên như sực tỉnh ra, bảo:
- A!... À, thì ra là nó, đã lâu rồi không có tin tức gì, không ngờ đứa cháu trai này lại dò la được nơi ở của ta. Mau mời vào, mời vị khách quý đó vào thư phòng cho ta.

Bành lão thái gia không phải là kẻ đọc sách nên trên giá sách chỉ bày mười mấy gốc san hô trân quý mỹ lệ. Người con gái áo đỏ cực kỳ xinh đẹp nọ nhẹ nhàng bước vào trong phòng, làn thu ba tập trung lên người Bành lão thái gia, nhìn kỹ một chốc rồi mới nhoẻn miệng cười duyên dáng, đoạn chỉnh sửa trang phục rồi làm lễ:
- Tiện thiếp Thành Khởi Vận, ra mắt Bành lão thái gia.

Bành lão thái gia kinh ngạc quan sát nàng. Mặc dù đã nghe nói là một nữ nhân, nhưng lão lại không ngờ lại là một vị mỹ nữ yểu điệu như vậy. Đồng đạo ngày nay có nữ nhân trẻ tuổi phù hợp với dáng vẻ này sao?

Lão phất tay ra hiệu cho gã gia bộc lui ra rồi tự đi tới đóng chặt cửa. Lúc lão xoay người lại, ánh mắt bỗng trở nên dữ tợn dị thường, lạnh lùng nhìn chằm chằm vào vị khách không mời mà đến này.

Thành Khởi Vận vẫn giữ sắc mặt bình tĩnh, khoé miệng mang một nụ cười nhàn nhạt, đôi mắt không hề tỏ chút khiếp sợ dưới cái nhìn chăm chăm lạnh lẽo của vị vua hải tặc tay đầy máu tanh này, nàng còn chớp mắt làm duyên với lão.

Bành lão thái gia quan sát nàng kỹ càng một lượt rồi đột nhiên cười to. Lão trở về bên bàn ngồi xuống, nói:
- Mời cô nương ngồi. Nếu cô nương đã dò la được nội tình của ta, chúng ta cũng không cần phải giấu giếm gì nữa. Mọi người đều là giang hồ đồng đạo, lý ra nên giúp đỡ trông chừng lẫn nhau. Phải chăng cô nương đang thiếu tiền lộ phí? Nếu chỉ dăm ba trăm lượng bạc thì lão đây còn gom góp được, nhưng nếu là món tiền lớn thì, ha ha, cô nương, cô nghĩ rằng cô đã tìm được chứng cứ chứng minh ta là Sa Ngư Vương ư?

Thành Khởi Vận mỉm cười lắc đầu, đáp:
- Lão gia tử! Ông thấy ta có giống người đến nhà mượn danh để kiếm tiền không? Hôm nay ta đến đây nhưng không cần tiền của ông, ngược lại, ta đến là để đưa tiền cho ông. Chỉ cần ông giúp ta một việc, có lẽ... tương lai không lâu sau, lão gia tử ông sẽ có thể trở thành kẻ phú hộ giàu nhất Kim Lăng. Không biết món quà ra mắt này có đủ lớn hay không?

Bành lão thái gia nghe xong thì ngạc nhiên nhìn nàng một hồi lâu, rồi mới cười nhạt nói:
- Rốt cuộc cô là đồng đạo nơi nào? Lão phu tuổi tác đã cao, chỉ mong có được cuộc sống an nhàn. Mua bán càng lớn, cái giá phải trả càng cao. Cô muốn làm cuộc mua bán lớn gì, lão già đây không muốn nghe. Cô có lai lịch gì, lão già đây cũng không quan tâm, cô hãy về đi.

Thành Khởi Vận thu lại nụ cười trên mặt, điềm nhiên:
- Lão gia tử quá cẩn thận rồi. Ông yên tâm, việc này không hề có bất kỳ nguy hiểm gì. Tiện thiếp lần này đến thật sự là rất thành ý, ông chưa nghe nói rõ mục đích mà đã muốn đuổi khách đi sao? Ha ha, nếu không phải gần đây tiện thiếp muốn lên phương bắc, kỳ thực sẽ không vội vã đến gặp ông như vầy đâu...

"Lên phương bắc?" Bành lão thái gia giật mình, lão liếc nhìn trang phục của Thành Khởi Vận, váy áo đỏ rực, bên ngoài khoác áo tơi trắng tinh, đường cong lung linh trên thân người bốc lửa, bầu ngực cao vút cùng tấm lưng ong cực kỳ mê người, khuôn mặt kiều mị mỉm cười ấy, tuổi tác xem chừng tối thiểu cũng phải hai mươi. Lão chợt nhớ đến một người bèn đứng bật dậy, nghiêm mặt hỏi:
- Phải chăng cô nương do họ Dương phái đến?

Vừa đang định nói rõ mục đích lần ghé thăm này, Thành Khởi Vận nghe xong câu hỏi nhất thời không kịp phản ứng, nàng cũng chợt giật nảy mình, ngạc nhiên hỏi:
- Ông nói cái gì? Sao ông biết ta đến cùng với y?

Bành lão thái gia nghe vậy bèn ngửa mặt lên trời cười to. Lão vung bàn tay to như của Cự Linh Thần (5) vỗ mạnh lên bàn một cái bộp, mặt bàn vừa lật nghiêng, một cặp hổ trảo sắc bén ở bên dưới đã được rút ra. Lão lạnh lùng cười hắc hắc:
- Nương tử nhà họ Dương kia! Lão đây lăn lộn trên biển bất quá chỉ vì kiếm miếng cơm manh áo, cùng đám anh hùng lục lâm muốn lật đổ triều chính, khởi binh tạo phản các người như nước sông không phạm nước giếng! Lão phu nói lại một câu cuối cùng: ngươi đi con đường Dương Quan (6) của ngươi, ta qua cây cầu độc mộc của ta, chúng ta coi như hôm nay chưa từng gặp mặt. Bằng không, chúng ta hãy cùng phân cao thấp để Sa Ngư Vương ta lĩnh giáo công phu thật sự của Dương Khoá Hổ Hồng nương tử ngươi!

Thành Khởi Vận nghe xong nhất thời ngẩn người tại chỗ. Nàng vốn đã cân nhắc lời thuyết phục rất kỹ lưỡng, cho rằng Bành lão thái gia có điều kiêng dè nên quyết sẽ không dám động thủ đả thương nàng, còn điều kiện hậu đãi của nàng cũng nhất định sẽ có thể thuyết phục được lão thủ lĩnh hải tặc này.

Nhưng giờ trông thấy bộ dạng giương cung bạt kiếm sắp sửa động thủ của lão, nàng không khỏi ngạc nhiên hỏi lại:
- Nương tử nhà họ Dương nào? Rốt cuộc ông tưởng ta là ai?

***
Lư biên nhân tự nguyệt, hạo oản ngưng song tuyết, liễu diệp mi gian phát, đào hoa kiểm thượng sanh. (Người ở bên lò sáng tựa trăng, tay trắng như lê dáng chị Hằng, mày liễu đong đưa bao say đắm, mặt hoa ngàn vẻ lặng hồn anh).

Có ai không biết đệ nhất mỹ nữ của Trường Can Lý là Mã Liên Nhi của quán rượu Trường Đình chứ?

Quán rượu Trường Đình nằm sát rìa ngoài cùng của ngõ hẻm Trường Can Lý. Cách cửa quán không xa về phía trước là Trường Đình, chốn cỏ mọc xanh rì như nệm, là nơi đưa tiễn tân khách của Kim Lăng. Địa điểm tốt cho nên việc buôn bán của quán rất thịnh vượng.

Từ mấy tháng trước, sau khi cháu gái của ông chủ họ Mã từ phương Bắc quay về quê nhà thường xuyên đến quán phụ giúp, việc buôn bán của nhà họ Mã cũng càng lúc càng phất lên.

Không phải có câu “ngắm người đẹp, không ăn uống vẫn no” (7) hay sao! Mỹ nhân mặt xoan má đào, dáng người nhỏ nhắn như trăng, dù chỉ mặc áo vải váy thô vẫn trông xinh đẹp mê người, muôn phần dịu dàng tha thướt, khiến người ta nhìn mà thoả lòng vui mắt. Dùng sắc để nhắm rượu, rượu càng thêm nồng! Làm sao mà khách nhân không đổ xô vào quán như bầy ong?

Người Kim Lăng rất thích ăn thịt vịt. Vịt Quế Hoa* da trắng thịt mềm, béo mà không ngấy, hầu như quán rượu nào cũng đều có món vịt Quế Hoa ướp bằng hương vị độc đáo riêng của mình, xắt thành từng lát mỏng, ăn đến ngọt miệng thơm môi.

Lúc này, Mã Liên Nhi đang vận một bộ đồ xanh nhạt, bên chiếc eo thon mềm mại buộc tấm tạp dề xanh lam, cánh tay trắng muốt nõn nà cầm một con dao nhỏ sáng bóng như tuyết đang đứng trước quầy xắt từng lát thịt vịt một cách thành thạo rồi nhanh nhẹn cho vào trong chiếc dĩa trang trí hình những đóa hoa bằng men màu lam.

Đôi mắt xinh đẹp của nàng dán mắt vào con vịt muối (diêm thủy áp) đang biến nhỏ dần. Con dao nhỏ vung lên thoăn thoắt, như thể con vịt là gã thư sinh tiêu sái anh tuấn, quần áo trắng tươm đang đứng trước mặt.

- Liên Nhi, đã lâu không gặp.
Gã đàn ông đằng hắng, ngượng ngập mở lời.

- Xin lỗi, ta họ Mã! Làm ơn hãy gọi ta là Mã cô nương.

- Ờ.. ừm... Mã cô nương, chúng ta... đã lâu không gặp rồi nhỉ?

- Lâu lắm rồi sao? Sao ta chẳng cảm thấy vậy?

- Đương nhiên là lâu, đương nhiên là lâu. Tôi... tôi... tôi một ngày không gặp cô như cách ba thu đó.

Một tiếng cười "phì" phát ra như hoa đào hé nụ, khiến gã công tử đứng trước mặt lòng như dậy sóng, không kiềm lòng được mà định chạm vào tay nàng. Song cặp mắt thanh tú như mảnh trăng khuyết nọ chỉ khẽ liếc gã một cái, tay gã lập tức liền rụt lại, ngượng ngập nói:
- Liên Nhi, tôi... tôi...

"Cộp"! Con dao nhỏ bén ngọt chém xoạt xuống cái bàn gỗ một nhát, rung lên bần bật, khiến cho gã công tử giật nảy cả mình, không tự chủ được phải thối lui mấy bước. Mã Liên Nhi đanh mặt lại, giọng lạnh nhạt:
- Quan công tử! Ta đã nói rồi, đừng gọi ta là Liên Nhi. Ai còn dám gọi ta là Liên Nhi, ta sẽ cho kẻ đó được đẹp mặt đó!

Mã Liên Nhi vừa dứt lời, ngoài cửa chợt có người mặc trường bào màu cánh sen, chân mang giày đen đế mềm, khoan thai bước vào cất tiếng nhỏ nhẹ gọi:
- Liên Nhi, đã lâu không gặp!





Chú thích:

(1) Nguyên văn “hối giáo phu tế mịch phong hầu”, trích trong bài thơ Khuê Oán của Vương Xương Linh.
Mời xem lại chú thích chương 45.

Ôn Như Hầu Đặng Trần Côn lấy nguyên văn hai câu đầu trong khổ thơ:
Hồi thủ trường đê dương liễu sắc
Hối giáo phu tế mịch phong hầu
Bất thức ly gia thiên lý ngoại
Quân tâm hữu tự thiếp tâm phầu.

Được nữ sĩ Đoàn thị Điểm dịch:
Lúc ngoảnh mặt ngắm màu dương liễu
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
Chẳng hay muôn dặm ruổi rong
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng? (Chinh Phụ Ngâm)

(2) Cửu biên: Xin nhắc lại đó là tên gọi chín điểm quân sự cần trấn giữ ở vùng biên tái bắc bộ thời Minh.
Sau khi nhà Minh được thành lập, quân Nguyên lẩn trốn ở biên tái phía bắc vẫn không ngừng quấy nhiễu, uy hiếp nghiêm trọng đến sự thống trị của nhà Minh. Để củng cố biên phòng khu vực bắc bộ, Minh thái tổ Chu Nguyên Chương nhiều lần phái tướng bắc chinh, đồng thời phân đất phong hầu cho các con là Chu Lệ, Chu Quyền đem trọng binh trú thủ biên tái bắc bộ. Minh thành tổ Chu Lệ vừa xuất quân ra sa mạc phía bắc, vừa bố trí trấn giữ vùng biên duyên, phái binh trấn thủ. Ban đầu thiết lập bốn cứ điểm trấn giữ ở Liêu Đông, Tuyên Phủ, Đại Đồng, Diên Tuy, kế tiếp lập trấn ở Ninh Hạ, Cam Túc, Kế Châu, rồi lại lập hai trấn ở Sơn Tây, Cố Nguyên, ấy là cửu biên.

(3) một loại đá tròn nhỏ, sáng bóng, có vân và màu sắc sắc sỡ, có nhiều ở Nam Kinh

(4) nguyên văn "mã đầu tường" hay còn gọi là "tường phòng lửa", "tường chắn lửa", được thiết kế nhằm ngăn lửa lan từ mái nhà này sang mái nhà khác. Do lối thiết kế có hình đầu ngựa nên gọi là "mã đầu tường"
Xem hình http://hi.baidu.com/kikasa617/album/item/cd8630887eec6d86a5c272ce.html

(5) Cự Linh Thần: tên một vị thần trên thiên đình, chiến tướng dưới trướng Thác Tháp Thiên Vương Lý Tịnh, có thân hình cực kỳ cao lớn.

(6) nghĩa bóng chỉ tiền đồ thênh thang xán lạn.

(7) nguyên văn "tú sắc khả xan", nghĩa là vẻ đẹp có thể khiến người ta thưởng thức đến no nê.





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
09-10-2011, 08:32 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 142 - Hay Không Thể Tả




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Dương Lăng sững người, giận mắng:
- Cô nói gì vậy?! Lấy sắc dụ người?! Thật đâu ra cái lý này, chẳng lẽ cô chỉ có thể nghĩ ra được cách đó sao? Dùng sắc chiêu dụ lấy một đổi một, mỗi bên có mưu cầu, dầu rằng có thể thành công nhưng bất quá chỉ là lợi dụng lẫn nhau, một khi gặp phải nguy nan thì phủi tay liền tan rã. Cô cho rằng mình có thể mê hoặc khiến người ta vứt bỏ cả tính mạng mình sao? Huống chi loại hành vi hèn hạ này tuyệt đối không được phép xuất hiện trong Nội Xưởng của bản quan. Bản quan không phải là Mạc công công, Thành cô nương nhớ kỹ.






Chương 142: Hay Không Thể Tả

------------------------

Quan công tử vừa nghe có kẻ khác gọi "Liên Nhi", trong lòng không khỏi mừng rỡ. Từ lúc đưa tiễn khách đến Trường Đình trông thấy diện mạo của Mã Liên Nhi vào tháng trước, vị Quan công tử này lập tức như thấy người trời, từ đó thường xuyên chạy ngược từ phía bắc thành về nam thành để ngắm nàng. Về sau hắn lại dò hỏi được vị cô nương này không cha không mẹ, hiện đang ở nhà của bác mình nên hắn càng thấy tiền đồ rộng mở, thế là dứt khoát đuổi người vợ đang bụng mang dạ chửa của mình về bên ngoại để an dưỡng, một lòng một dạ chạy đến đây theo đuổi giai nhân.

Trong số những tên háo sắc cả ngày si mê quấn quýt trong quán rượu Trường Đình mong mỏi được một lần nhìn thấy nhan sắc giai nhân thì tên họ Quan là kẻ tích cực nhất, giáp mặt cũng nhiều lần nhất, nên hiển nhiên biết rõ lợi hại của mỹ nhân điêu ngoa này.

Chỉ là đoá hồng này tuy nhiều gai song lúc nổi đoá thì dáng vẻ thật mười phần hấp dẫn nên càng khiến y vui vẻ mà chịu đựng và vẫn ôm lòng si mê. Hôm nay trông thấy vị mỹ nhân đang nổi sùng, không biết là tên háo sắc nào sắp bị xui xẻo rồi, nói không chừng từ đây sẽ giảm bớt một đối thủ cạnh tranh thì Quan đại thiếu gia sao không mừng ra mặt?

Quả nhiên cơn giận của Mã đại tiểu thư hôm nay khác xa lúc trước, con mắt của nàng trợn to, vành mắt giận đến đỏ bừng, cặp mắt đen láy đó lại càng lúc càng sáng lên. Hình như... hình như đã giận đến sắp khóc, khiến Quan đại thiếu gia hắn thấy mà đau nhói lòng.

Dương Lăng cũng đang ngẩn ngơ nhìn Mã Liên Nhi. Dáng vẻ thon thả của nàng vẫn mê người như vậy: bộ đồ xanh nhạt như màu lá, tôn khuôn mặt xinh xắn của nàng lên như một đoá hoa bách hợp thuần khiết, lung linh tươi mát, một viên ngọc sáng không tì vết.

“Nữ đại thập bát biến” (1), mới có nửa năm, nàng đã trở nên xinh đẹp hơn, lung linh như tiên nữ giáng trần. Nếu nói trước kia nàng là nụ đào chớm nở, thì giờ đây cánh hoa tươi mát đã thấm hơi sương lộ ra một chút sắc hồng, nhàn nhã và thành thục hơn trước mấy phần.Khuôn mặt xinh đẹp trắng mịn mang đầy vẻ si mê và thùy mị. Đây chính là người con gái phóng ngựa trên phố, cất tiếng cười vang khi xưa đó sao?

Dương Lăng muốn gặp nàng, lại sợ gặp nàng. Vốn còn nghĩ sẽ hơi mất tự nhiên, song đứng trước vẻ đẹp rạng rỡ của Liên Nhi y liền như người tuyết gặp phải lửa, chảy tan thành nước. Y xúc động sải lên một bước, nhẹ giọng gọi:
- Liên Nhi...

Cơ hội ra mặt vì mỹ nhân đã đến. Quan công tử sải lên một bước, xòe cây quạt thếp vàng ra rồi lại gấp lại, gõ lên vai Dương Lăng một cái, hết sức tiêu sái nói:
- Lão đệ à, khuê danh của Mã cô nương là để cho người ngoài tuỳ tiện gọi sao? Xin ngươi hãy tự trọng!

- Ngươi là ai? - Dương Lăng hỏi, song mắt vẫn nhìn về phía Liên Nhi. Miệng nàng thoáng dẹt lại, hình như sắp khóc, Dương Lăng trông thấy mà mềm lòng. Có những người con gái thật sự sinh ra đã có tướng mạo khiến cho chúng ta thấy là xót thương, khiến người ta nhìn là cảm thấy đau lòng.

Quan công tử ưỡn ngực, bung quạt đánh xoạt che trước ngực, ngạo nghễ nói:
- Bản công tử họ Quan, tên Quan, là chữ Quan trong quan quan thư cưu, tại hà chi châu.

Liễu Bưu có nghe Mã Ngang nói đến Mã Liên Nhi, lúc này vừa trông thấy người con gái này có nhan sắc vượt trội ba người thê thiếp xinh đẹp của Xưởng đốc đại nhân, và lại có dáng vẻ mờ ám tình chàng ý thiếp thì sao còn không đoán ra thân phận hai người. Gã nháy mắt với Trịnh bách hộ, hai người một trái một phải bước lên kẹp vị công tử tên là Quan Quan này nhấc bổng kéo ra ngoài cửa. Liễu Bưu cười hoà nhã nói:
- Quan Quan huynh, đã lâu không gặp nhỉ. Đi nào, chúng ta ra ngoài trò chuyện một chút.

- Này này, đừng có mà vin cớ kiếm giao tình với ta. Các ngươi là ai vậy? Tiểu Quan ta không nhận ra. Ta nói cho các ngươi biết, cha ta chính là Quan đại nhân thủ hộ Kim Lăng đó!

Ngoài cửa vọng lại tiếng cười của Trịnh bách hộ:
- Vậy thì khéo quá, sáng hôm nay chúng ta mới cùng uống rượu chung với Quan đại nhân. Đi nào, tìm một quán lớn, chúng ta uống tiếp mấy chén.

Mã Liên Nhi cắn môi, gọi một tên tiểu nhị lại:
- Tiểu Thất, trông quầy một chút.

Làm tiểu nhị có ai mà tai không nghe tám hướng, mắt không nhìn sáu phương (tai mắt tinh thông)? Tiểu Thất sớm đã nhận ra quan hệ giữa hai người không tầm thường, vị công tử này lại không giống như cái đám háo sắc đến quán gây loạn, hắn vội ngoan ngoãn đáp một tiếng.

Mã Liên Nhi cụp mắt, quay người lấy khăn lau tay rồi sau đó đi vòng qua cánh cửa mắc rèm ở phía sau. Dương Lăng đưa tay lên, song lại vội hạ xuống, trong lòng chỉ nghĩ: "Liên Nhi trách mình lâu như vậy mà cả tin tức thư từ cũng không báo cho nàng sao?"

Mã Liên Nhi thong thả bước đi, eo thon khẽ đưa, cái nhịp điệu khẽ khàng mà mê người đó như một nhành liễu nhẹ phất phơ trong gió xuân khiến người ta não lòng. Ánh mắt Dương Lăng không tự chủ mà bám theo.

Mã Liên Nhi đi đến cửa, đưa một tay lên vén rèm cửa bỗng lại cắn môi ngoái đầu nhìn một cái, ngọn gió thổi qua căn phòng đung đưa vài sợi tóc mai mềm mại, vuốt nhẹ gò má trắng ngần láng mịn của nàng. Đôi mắt ấy cũng sáng ngời như sao.

Dương Lăng thở dài, không tự chủ mà bước theo sau. Sau cửa là một hành lang dài, xuyên qua nó là một mảng cỏ xanh và bờ giậu be bé quây lại thành một cái sân con nằm sau căn phòng, mấy con gà con vịt đang nhàn hạ lang thang trong sân.

Mã Liên Nhi đứng dưới gốc phù dung, khắp người không chỗ nào không đẹp, giành hết vẻ tươi đẹp của những đoá hoa đỏ nở khắp trên cây.

Dương Lăng hít sâu vào một hơi. Với kiến thức của y và sự quen thuộc với Liên Nhi, mỗi lần trông thấy vẻ đẹp đấy vẫn đều rung động tâm tình, không kiềm chế được cõi lòng. Người con gái này thật xứng được gọi là "vưu vật tuyệt thế".

Y chậm rãi bước qua, một cơn gió thổi tới, ngọn cây lay động, vài đoá phù dung to bằng chiếc bát lào rào rơi xuống đất. Mã Liên Nhi vén váy lụa, xổm người nhặt nó lên, đặt vào trong bàn tay thanh mảnh trắng ngần.

Nhìn si mê một lúc, nàng mới nhẹ thở dài một tiếng, hỏi:
- Muội... thư muội nhờ Hàn đại ca gởi cho huynh huynh có nhận được không?

- Ừm! - Dương Lăng gật đầu lia lịa.

Mã Liên Nhi lại hỏi:
- Nghe nói... Hoàng Thượng ban thưởng cho huynh hai người thiếp, đẹp chứ?

- Ừm!... Ờ... có điều, không đẹp bằng muội - Dương Lăng ngập ngừng đáp.

- Sao lại thế được? Của Hoàng Thượng ban thưởng mà, Hoàng Thượng ban thưởng mà huynh còn chê ư?(*)
(*) Câu này có nhiều nghĩa tuỳ theo ngữ cảnh. Đây là câu mà Chí Tôn Bảo nói với Tử Hà lúc hai người ở chợ. Đại khái Chí Tôn Bảo nói là lương duyên ông trời sắp đặt thì còn sợ gì.

- A... - Đây là câu Dương Lăng dạy cho nàng lúc kể cho nàng nghe "Đại Thoại Tây Du", nghe nàng nhắc lại, y cảm thấy mình như chợt quay về cái đêm đông ấy, hai người tự nguyện dựa sát vào nhau, kể chuyện cho nhau nghe để chống đỡ cái giá lạnh trong hố tuyết. Một cảm giác ấm áp chợt ùa vào lòng, cảm giác xa cách và ái ngại lập tức tan biến, y không kiềm được liền mỉm cười vui vẻ.

Mã Liên Nhi lại không cười, tiếng cười Dương Lăng chưa dứt, nàng lại chợt hỏi:
- Huynh đến Giang Nam có ghé qua Tô Châu phải không?

- Ừm, có ghé, du lịch qua vài nơi.

- Hình như Tô Châu cách Kim Lăng không xa lắm thì phải nhỉ? Dương đại nhân.

- Ặc...- Dương Lăng bỗng cảm thấy người nóng ran, trán muốn túa mồ hôi.

Mã Liên Nhi chậm rãi ngẩng đầu, cặp mắt to tròn xinh đẹp hơi nheo lại:
- Huynh đến Kim Lăng mang theo một cô nương xinh đẹp, chắc không phải là thu nhận ở Tô Hàng đó chứ? Tô Hàng thật đúng là nơi sản sinh ra mỹ nữ nhỉ.

Dương Lăng thở phào, liền vội giải thích:
- Nàng ấy là lang trung của huynh, là người chữa bệnh cho huynh - Trừ Mã Liên Nhi ra, những người con gái bên y không ai dám nói chuyện thẳng tuồn tuột với y như thế này.

Có lẽ đây là thói quen nàng có được do lớn lên ở biên tái, song Dương Lăng nghe xong lại cảm thấy thân thiết vô cùng, có cảm giác như được tắm trong gió xuân. Nhưng mà cái cảm giác nguy hiểm trùng trùng khi nãy thật khiến y thiếu chút hít thở không thông. Cuối cùng thì hôm nay cũng đã có cơ hội để chứng tỏ sự trong sạch.

- Gì cơ? - Mã Liên Nhi không nỡ bức hiếp y nữa. Nàng không thèm đoái hoài gì đến hình tượng nữa mà chạy bổ qua, nắm lấy tay y, mở to đôi mắt nhìn y từ trên xuống dưới, lo lắng hỏi:
- Huynh bị bệnh hả? Bao lâu rồi, sao lại bị bệnh chứ? Huynh bị bệnh gì, mau nói cho muội nghe.

- À... ờ... việc này... ha... ha... - Dương Lăng khó xử, chỉ đành xấu hổ cười trừ. Tuy rằng cá tính của vị đại cô nương trước mặt này không giống cô nương tiểu thư con nhà người ta, nhưng cũng không cách nào giải thích chuyện này cho nàng ấy.

Mã Liên Nhi bỏ tay y ra, trừng mắt oán giận nói:
- Chắc là bị mắc bệnh của vua chúa(*) rồi chứ gì?
(*) ND không rõ ý của Mã Liên Nhi nhưng đoán cô nàng trêu Dương Lăng hoang dâm vô độ nên chỗ ấy bị bệnh

Không biết phải giải thích thế nào, Dương Lăng đành đỏ mặt ấp úng "nhận tội". Tuy Mã Liên Nhi ăn nói bạo dạn thẳng thắn, nhưng cũng không khỏi có phần xấu hổ, nàng ngẩng đầu liếc Dương Lăng một cái, rồi lại cúi xuống thật nhanh, thỏ thẻ:
- Vị nữ thần y đó nói... nói là trị khỏi được chứ?

Dương Lăng trả lời cứng nhắc:
- Ừm... Nàng ấy nói sau hai tháng thì sẽ có thể... à không phải, không phải... là sẽ bình thường.

Mã Liên Nhi liền đỏ mặt, vờ như không hiểu sự mập mờ trong lời nói cải biên của y. Nàng vân vê đai lưng, quấn nó quanh ngón tay mình, rồi lí nhí nói:
- Có phải là muội ngang ngược lắm không? Thật ra... thật ra sau khi nghe được chuyện huynh vì Ấu Nương muội muội mà kháng chỉ bất tuân, muội đã biết... biết rằng mặc dù huynh làm quan to nhưng con người huynh tịnh sẽ không thay đổi. Đêm đó muội đã khóc rất nhiều, khóc đến... muội vui, rất vui, muội biết muội đã không chọn lầm người. Những kẻ trong thiên hạ dù có yêu thê tử đến mấy thì cũng chẳng có ai xem trọng thê tử mình hơn cả Hoàng đế? Muội... muội thật sự rất nhớ huynh, ngày nào cũng mơ thấy huynh.

Nàng sụt sịt mũi, nước mắt đã chảy xuống thành dòng:
- Muội chỉ giận huynh, huynh làm quan to như vậy ở trong kinh, thông qua trạm dịch gửi thư đi khó lắm à? Huynh đã đến Giang Nam, còn đến Tô Châu chơi, mà lại không thể đến Kim Lăng gặp muội một chút sao?

Nàng ngẩng đầu lên, hai mắt đẫm lệ, run run hỏi:
- Dương đại ca, muội chỉ muốn biết, trong lòng huynh có Liên Nhi không?

Nàng căng thẳng nhìn vào khuôn mặt anh tuấn quen thuộc của Dương Lăng, chiếc đai lưng thít ngón tay đến tím tái, đầu ngón tay đã đỏ bầm.

Mắt nàng nhoè đi, bóng hình y cũng trở nên mơ hồ. Người con trai mơ hồ đó đột nhiên cởi đai lưng, khiến cho Mã Liên Nhi đang tràn ngập bi thương giật nảy mình. Nàng lùi về sau mấy bước, khiếp đảm trợn tròn cặp mắt đẫm lệ, giọng hốt hoảng:
- Huynh... huynh làm gì vậy?

Dương Lăng cởi đai lưng ra, tháo miếng ngọc bội quấn trên đó xuống, rút ba lọn tóc đen được thắt lại bằng một sợi dây đỏ ở mặt sau ra, cười gượng gạo. Hiện tại y vẫn không biết rốt cuộc lời nói của Trương thiên sư có thật hay không nên lần này đến gặp Liên Nhi, y định bụng sẽ cố giữ chút khoảng cách để cô nương nhà người ta không lún quá sâu vào hố tình. Nhưng nào ngờ... lời yêu thương không tiện nói ra, lời làm người ta tổn thương thì có đánh chết y cũng không dám nói, thế mà mới chớp mắt y đã bị chìm vào tình cảm dịu dàng và những giọt nước mắt của Liên Nhi.

Mã Liên Nhi dụi mắt, nhìn kỹ ba lọn tóc dài ấy, song lại không cầm lấy mà chỉ cúi đầu bẽn lẽn.

- Quân tự minh nguyệt ngã tự vụ, vù tuỳ nguyệt ẩn không lưu lộ. Chích duyên cảm quân nhất hồi cố, sử ngã tư quân triều dữ mộ… Liên Nhi, thật ra Dương đại ca... Dương đại ca...

Mã Liên Nhi vẫn cúi đầu, song khoé môi đã không nén được mà nhoẻn một nụ cười ngọt ngào. Nàng đột nhiên lao vào lòng Dương Lăng, ngượng ngùng nói:
- Muội biết, muội biết, muội biết cả rồi, huynh không cần phải nói ra.

Dương Lăng cứng người, Mã Liên Nhi tựa vào ngực y, cánh tay mềm mại siết chặt eo y. Sau thoáng do dự Dương Lăng ôm lấy vòng eo yêu kiều nhỏ nhắn của nàng. Một cảm giác "hoa nở trong đêm" mập mờ nhanh chóng bao phủ lấy con tim hai người.

Thật lâu sau, Mã Liên Nhi mới thở dài, nũng nịu hỏi:
- Dương đại ca, lần này đến Kim Lăng huynh ở lại được bao lâu?

Dương Lăng đáp:
- Huynh... bố trí hai thuế giám xong thì phải chạy về kinh ngay nên cũng chỉ ở hai ngày này thôi. Trong triều... xa cách hơn một tháng đã xảy ra rất nhiều chuyện rồi. Huynh không thể không... không sớm quay về.

- Ừm! - Dường như chỉ dựa vào lòng y thôi thì Mã Liên Nhi đã vô cùng hạnh phúc rồi, nàng ngoan ngoãn ngật đầu, khẽ thỏ thẻ:
- Liên Nhi hiểu rồi, Liên Nhi thích được ôm huynh, được nghe huynh kể những câu chuyện ly kì, nhưng muội cũng thích nghe người ta kể chuyện huynh kháng chỉ cứu thê, kể chuyện huynh khẩu chiến với đám hủ nho, kể chuyện huynh ngăn việc dời lăng, kể chuyện huynh bình định giặc Oa, trừ gian thần lộng quyền, mỗi lần nghe xong muội đều cảm thấy rất vui, chỉ bởi vì... đó chính là nam nhân của muội.

Đoạn nàng ngẩng đầu, ánh mắt chứa đựng tình ý miên mang, giọng xa xăm:
- Nam nhi tốt có chí tại bốn phương. Phu quân của Liên Nhi không phải là một nam tử hán chỉ biết khoe tài anh hùng chốn quê nhà yên ả. Liên Nhi sẽ không cản trở huynh. Có điều... có điều còn hai năm nữa mới có thể ở chung với huynh...

Mã Liên Nhi lưu luyến ngắm đôi mày y, mắt y, môi y, rồi si mê nói:
- Liên Nhi không tiện đến Kinh sư thăm huynh. Nếu... nếu được, mỗi năm huynh có thể đến thăm muội một lần thì cũng đủ rồi. Dù không đến được thì một phong thư của huynh là đủ rồi.

Dương Lăng đã bị "hạ gục" bởi ánh mắt chứa đầy cảm xúc ấy, không tự chủ mà gật đầu:
- Huynh đáp ứng muội, nếu có cơ hội huynh sẽ đến thăm muội. Nếu không thể rời kinh, vậy thì... huynh sẽ sai người đưa thư cho muội.

Mã Liên Nhi đảo làn thu ba, ánh mắt loé lên vẻ mê hoặc, ngón tay đặt nhẹ lên môi Dương Lăng, trong lòng thầm nghĩ: "Bên người huynh có Ấu Nương muội muội, còn có hai con hồ ly tinh do tên Hoàng đế xấu xa nọ ban thưởng cho. Hai năm đằng đẵng, nếu bên cạnh huynh lại xuất hiện thêm mấy nữ nhân, huynh có sẽ quên muội không? Mã Liên Nhi mình cắt tóc tỏ lòng, dùng ba mũi tên đính ước, lang quân hiếm có như vậy, còn lâu mới khoanh tay nhường lại cho đám chim oanh chim yến đó. Mình phải... mình phải... phải có được huynh ấy trước."

Dương Lăng ngắm khuôn mặt xinh xắn của nàng. Mọi đường nét ngũ quan trên khuôn mặt Mã Liên Nhi đều được phân chia rõ ràng: má đào trơn bóng như ngọc đẹp, cặp mắt trời sinh quyến rũ, hàng mày đen cùng mi cong hình cánh quạt hiện rõ đường cong ưu mỹ, đẹp khiến người ta nín thở. Dương Lăng lại không để ý thấy vẻ kì lạ bỗng loé lên trong mắt nàng.

- Di di(*) không biết xấu hổ, đi ôm nam nhân - Mã Liên Nhi vừa tính mở miệng nói chuyện, một giọng nói trẻ con chợt cất lên. Hai người giật nảy mình, lật đật tách nhau ra rồi cùng quay lại thì chỉ thấy một bé gái độ bảy tám tuổi đang đứng ở cửa sân hiếu kỳ vỗ tay cười.
(*) dì.

Cô bé trông trắng trẻo xinh xắn, tóc búi hai bên(2), buộc lại bằng tua chuỗi ngọc màu đỏ, còn thõng thêm hai cái đuôi sam, trông đáng yêu vô cùng. Nó mặc chiếc áo gấm xinh màu hồng nhạt, chân mang đôi giày nhung trẻ con thêu hình đầu cọp ở hai bên.

Mã Liên Nhi đỏ mặt, đi tới cúi xuống bế đứa cháu gái lên, dọa dẫm:
- Còn nói bậy, nói bậy nữa là di di sẽ không mua đường (kẹo) cho con ăn nữa.
Áo nàng tuy rộng, song lúc hai tay cử động, y phục bị kéo căng khiến vòng eo nhỏ xíu mềm mại và đường cong tuyệt mỹ của bộ ngực hiện rõ mồn một, khiến Dương Lăng nhìn mà gợn sóng lòng, bèn vội dời ánh mắt đi.

Ánh dương quang của buổi chiều tà ấm áp chiếu lên làn da trắng mịn ửng hồng của nàng khiến nó được phủ lên một quầng sáng nhàn nhạt. Nàng cười khúc khích trêu đứa bé, rồi chợt quay đầu, khuôn mặt trái xoan trắng mịn được phớt lên những vầng đỏ hây hây, ánh mắt đong đưa. Nàng nói:
- Bá phụ vẫn chưa biết thân phận huynh, muội... bây giờ muội cũng không tiện nói. Hôm nay gặp được huynh, muội thấy rất vui. Huynh... ngày mai có thể đến thăm muội nữa không? Muội muốn cùng huynh lên núi một lần nữa. Lần đó là núi tuyết, lần này là Tê Hà(3), lên núi Tê Hà xem lá phong, chỉ có... muội và huynh, được không?

***

Trên tường mã đầu (*), một khóm tường vi khẽ lay trong gió thoảng, trong mái đình tám cạnh, một lão già râu trắng vận trường bào màu đen tuyền đang nhìn về phía dãy căn lầu gác gạch xanh ngói nhỏ nối nhau chập trùng, ngón tay vuốt râu của lão hơi run rẩy.
(*): Đã chú thích ở chương trước.

Cư ngụ bên trong chốn trạch viện cách một con phố dài đó là kẻ thù giết con của lão, cái tên gian nịnh dùng lời ngon ngọt mua chuộc lòng người, thao túng nội đình, mê hoặc quân thượng ấy. Lão thực muốn lập tức chạy qua chém chết cái tên gian thần đó, trừ hại cho triều đình, báo thù cho nhi tử lắm nhưng lão không thể manh động vì hiện giờ còn chưa phải lúc; với quyền thế và địa vị Dương Lăng lúc này, ai có thể giết được hắn chứ?

Một gia bộc lặng lẽ đi đến. Vương Quỳnh quay đầu lại, điềm nhiên hỏi:
- Hắn về rồi à?

Lão bộc vội đáp:
- Dạ, đầu tiên hắn đến sông Tần Hoài, lên thuyền hoa của cô nương hồng kỹ(*) tên Khả Khanh, mãi đến trưa mới trở ra, sau lại đến một quán rượu ở Trường Can Lý. Sau khi hắn rời khỏi, tiểu nhân đã nghe lỏm được khách nhân trong quán tán gẫu, hình như quán rượu đó có vị cô nương vô cùng xinh đẹp. Sau khi hắn vào liền dẫn cô nương đó ra hậu viện, nghe nói công tử của quan thủ bị cũng thích vị cô nương này đã bị thủ hạ của hắn dùng quan uy doạ dẫm, kết quả thậm chí nhà cũng không dám về, mà chạy thẳng tới nhà nhạc phụ hắn để "tránh gió".
(*) kỹ nữ bán thân, như hồng quan nhân

Vương Quỳnh cười khinh miệt một tiếng, lạnh lùng nói:
- Nguỵ quân tử mua danh chuộc tiếng, cái đồ háo sắc quái đản. Hừ! Tìm cớ đến Kim Lăng, còn chẳng phải để vơ vét tiền tài ư - Đoạn lão phất tay nói:
- Lui xuống đi, không cần phái người theo dõi hắn nữa.

Vương Quỳnh xoay người lại, trông về phía tư dinh của Phùng công công cười khẩy: kẻ này tuổi trẻ, dựa vào xum xoe nịnh nọt, quyền bính lại càng lúc càng nhiều, trong triều lại kết giao với một đám tiểu nhân nịnh bợ. Kẻ này tương lai nhất định sẽ là mối họa của Đại Minh.

Chỉ tiếc là ba đại học sỹ nuông chiều kẻ ác, không nhân lúc tên gian nịnh này còn chưa mọc đủ lông cánh mà trừ khử hắn, làm ngơ nhìn lực lượng của hắn càng lúc càng lớn thể nào cũng có ngày nhất định bị nó hại. Nay Hoàng thượng bị hắn làm cho u mê, bá quan lại không nhận ra được khuôn mặt thật của hạng Vương Mãng (4) này, mình cũng chỉ đành ép dạ cầu toàn kết minh với nội đình, mượn lực lượng của chúng để đối phó với hắn thôi.

"Ha ha ha, Dương Lăng à Dương Lăng, ngươi cứ ngang ngược càn rỡ thêm mấy ngày đi, lão phu đã bố trí tử cục cho ngươi ở trong kinh rồi. Mọi việc đều đã chuẩn bị, chỉ chờ ngươi về kinh chịu chém thôi!" Vê râu nhìn dãy lầu gác trong tư dinh của Phùng công công, Vương Quỳnh không khỏi đắc ý mà cười.

Trong tư dinh của Phùng công công, Dương Lăng đang kinh ngạc nhìn Thành Khởi Vận bỗng dưng mạo muội đến nhà, lấy làm kỳ lạ hỏi:
- Mạc... Thành cô nương, mới một ngày không gặp, tay cô sao lại bị thương rồi?

Thành Khởi Vận nhìn cánh tay trái bị băng trắng của mình cười khổ, nơi đó vẫn còn đau âm ỉ, nàng cau đôi mày lá liễu, yếu ớt nói:
- Cũng may là chỉ bị thương, nếu không phải tiện thiếp kêu lên kịp thời thì sợ rằng bây giờ đã biến thành thây ma rồi.

Dương Lăng cả kinh hỏi:
- Trị an Kim Lăng kém đến thế sao? Có bắt được tên côn đồ không? Có muốn bản quan phái người giúp cô không?

Thành Khởi Vận thở dài đáp:
- Không thể bắt được, người này đối với đại nhân vô cùng quan trọng. Không phải là đại nhân luôn suy nghĩ tìm cách huỷ bỏ lệnh cấm biển, tăng cường thuỷ quân ư? Có điều muốn thuyết phục triều đình thay đổi quốc sách, sợ rằng chỉ với oai của đại nhân, mặc dù rất được vua yêu mến, quyền cao chức trọng, chắc cũng không dễ phải không?

Dương Lăng máy động thần sắc, cảnh giác hỏi:
- Thành cô nương nói vậy là ý gì, chẳng lẽ cô có biện pháp?

Thành Khởi Vận mỉm cười quyến rũ đáp:
- Tiện thiếp chỉ biết chọc cho nam nhân vui, có chút bí quyết đầu cơ trục lợi, có điều... Hi hi, nói lời khó nghe, xin đại nhân chớ trách, triều đình Đại Minh thực giống như một nam nhân to xác thích được nữ nhân chiều chuộng. Ở xưởng đóng thuyền Long Giang tiện thiếp thấy đại nhân đau lòng khổ não, lo lắng u sầu nên có lòng san sẻ lo âu với đại nhân. Sau khi trở về thuyền cân nhắc suy nghĩ, thiếp quả có nghĩ ra một biện pháp để thuyết phục triều đình. Đại nhân muốn biết không?

Dương Lăng cả mừng, y chớm bước tới một bước, chợt nghi hoặc dừng lại, nhìn Thành Khởi Vận hỏi:
- Khoan hãy nói biện pháp của cô có dùng được hay không, cô giúp ta như vậy, là có dụng ý gì?

Thành Khởi Vận tập trung ánh mắt chứa đầy tình ý miên man lên người Dương Lăng, dịu dàng đáp:
- Từ dạo loã thân gặp đại nhân đó, tiện thiếp đã không còn dám đùa giỡn trước mặt đại nhân nữa, đành nói lời ngay tiếng thật với đại nhân vậy. Từ lúc gặp được đại nhân, thiếp đã khắc mối thâm tình với đại nhân rồi, mặc dù quá khứ của thiếp nghĩ lại thấy thẹn, nhưng hôm nay thật lòng muốn đi theo đại nhân. Cho dù không danh không phận, chỉ cần có thể đi theo bầu bạn lâu dài, vậy đã quá mãn nguyện rồi. Tận tâm tận lực như vầy, bất quá là vì lấy lòng đại nhân mà thôi.

Dương Lăng nhíu mày, không vui nói:
- Thành cô nương, xin đừng nói đùa nữa. Cô nương hao phí bao tâm sức, tất có mưu đồ. Nếu không nói rõ, Dương mỗ thể nào tin được cô nương?

Thành Khởi Vận bật cười, trao y một ánh mắt quyến rũ, rồi cười thật tươi nói:
- Trong những vị quan mà tiện thiếp từng gặp, đại nhân là nhỏ tuổi nhất, song điệu bộ làm ra vẻ ông cụ non này thì lại không ai bì được. Đại nhân hỏi thiếp có mục đích gì ư?

Đoạn nàng thu lại vẻ tươi cười, ánh mắt mê mang, cất giọng xa xăm nói:
- Nói trắng ra, tiện thiếp cũng không biết. Tiện thiếp cũng không biết là mình sống vì người khác hay là sống vì mình nữa. Nếu nói là vì người khác, thật ra còn không phải vì để mình có được cuộc sống tốt hơn sao? Nếu nói là vì mình, sao chuyện gì làm cũng để lấy lòng kẻ khác, bản thân sao lại vẫn vui vẻ thế? Tiện thiếp còn nhớ, khi ở Xuân Vũ lâu, thiếp hận nó, song cũng phụ thuộc vào nó, vì nó mà dùng mọi cơ mưu để mê hoặc người khác. Theo Mạc công công rồi, thiếp hận hắn, song vẫn phải dựa dẫm vào hắn, vì hắn mà ép mình tươi cười. Tiện thiếp thấy mình rất kiên cường, nhưng bây giờ khi thật không còn nơi nương tựa nữa, thì lại rất sợ, không biết mình nên làm gì mới phải. Thiếp... thiếp nói vậy đại nhân nghe có hiểu không?

Dương Lăng nhìn nàng một cách tò mò. Người con gái dung nhan tuyệt sắc, mưu cao kế lắm, tự tin kiêu ngạo có thể thoải mái nói chuyện cười đùa trước mặt nam nhân này vậy mà lại có loại tâm lý kỳ lạ này.

Có điều y lờ mờ có thể giải thích được, sự kiên cường và mưu trí của người con gái này phải luôn được đặt trên nền tảng của sự lệ thuộc thì mới phát huy được hết mức. Giống như một dây leo nở đầy hoa tươi, khi nó trèo bám vào một thân cây khô, mọi người chỉ để ý đến vẻ mỹ lệ và tác dụng của nó, như thể thứ mà nó dựa dẫm vào căn bản không đáng nhắc đến. Song một khi không còn thân cây khô đó nữa, nó sẽ chỉ có thể ngã bò trên đất, bị giày xéo và coi thường, không ai chú ý đến sự hấp dẫn của nó nữa.

Người con gái này đã quen với cuộc sống như vậy, cũng đã quen có chỗ dựa, làm khách lấn chủ để bộc lộ hết vinh quang. Nhưng nếu thực dứt nàng ra khỏi chỗ dựa đó thì nàng sẽ không biết phải làm thế nào.

Loại tâm lý lệ thuộc này hình như y đã có nghe giảng trên lớp tiếp thị. Một người có mạnh mẽ hơn đi nữa, một khi đã hình thành loại hành vi giống như ám thị tâm lý thì sẽ rất khó để thoát ra.

Giống như một ví dụ mà thầy giáo y đã kể: có một người khi nhỏ từng trải qua cuộc sống vô cùng khổ cực, luôn phải chịu đói, về sau sau khi trở thành tỷ phú, trong nhà y khắp nơi lúc nào cũng đầy ắp đồ ăn. Y đi đến đâu, du thuyền, máy bay, hay xe hơi, đều muốn những nơi mà y nhìn thấy phải bày đầy đồ ăn. Chỉ có như vậy y mới có cảm giác an toàn, mặc dù với sự giàu có của y căn bản y không phải lo đến vấn đề này.

Người thường rất khó giải thích loại hành vi không phù hợp với lý trí thông thường này. Có lẽ có thể gọi nó là một loại tâm lý biến thái? Nhưng quả thật có một số người trông càng thành công, càng thành đạt hơn so với người thường lại càng có trạng thái tâm lý trông hết sức đần độn này, hơn nữa còn ảnh hưởng đến hành vi và lựa chọn của bọn họ.

Thành Khởi Vận nói xong thì bản thân nàng cũng giật mình. Muốn làm cho Dương Lăng tín nhiệm thì nàng có thể tuỳ tiện bịa ra cả trăm lý do khiến y tin, sao đột nhiên lại nói ra lời này. Nói dối dễ khiến người ta tin hơn, giờ đi nói thật, y chịu tin mới lạ.

Nàng cảm thấy hơi hối hận, hỏi:
- Đại nhân... có phải là không tin lời thiếp?

Dương Lăng định thần lại, đáp:
- Lý do của cô thật khó mà tin được, có điều chính bởi nó quá khó tin, cho nên bản quan tin lời cô nói là thật lòng. Được rồi, nói biện pháp của cô cho bản quan nghe đi. Nếu đã nhận ân tình này của cô, về sau nếu như có yêu cầu, chỉ cần không phạm phép nước, không trái công đạo, Dương Lăng nhất định sẽ đáp ứng.

Thành Khởi Vận đang hối hận, nghe được lời này thì mừng đến nhảy cẫng lên. Nàng nhướng cao chân mày, ánh mắt lộ vẻ ngạc nhiên, nói:
- Lời này là thật ư? Đại... đại... đại nhân thật khác với những kẻ khác đó.

Dương Lăng bật cười nói:
- Sao lại không thật? Đại trượng phu nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.

Thành Khởi Vận thấy y đã đáp ứng với mình, đang rất vui mừng, nghe nói vậy không nhịn được mà cắn môi liếc xéo, lộ ra vẻ quyến rũ đến thấu xương, nũng nịu trêu chọc:
- Đại nhân không phải là có bệnh kín à? Còn chỗ nào xem là đại trượng phu chứ?

Dương Lăng nghe mà mặt nóng rần, thẹn quá hoá giận nói:
- Thành cô nương, thân phận của cô bây giờ đã không như trước nữa, nói chuyện xin hãy tự trọng. Dương mỗ không thích thấy loại - nữ - nhân - này!

Thành Khởi Vân lập tức thu lại vẻ mặt phóng đãng, khoát lên một vẻ mặt nghiêm túc và thuần khiết, kính cẩn nói:
- Dạ, đại nhân, vậy tiện thiếp sẽ nói ý tưởng của mình cho đại nhân nghe thử, xin đại nhân nghiên cứu xem có thể thực hiện hay không.

Khi nàng giở vẻ mặt dâm tà thì lẳng lơ đến thấu xương, còn khi nghiêm mặt lại thì lại thực trong sáng thuần khiết, khiến ngay cả Dương Lăng vốn biết bản tính của nàng mà cũng không thể nhìn ra chút sơ hở. Y không khỏi cảm thấy dở khóc dở cười, nói:
- Cô... Thành cô nương, cô thực là...

Thành Khởi Vận bật cười khanh khách, rạng rỡ như hoa xuân, nàng cảm thấy dường như trêu chọc Dương Lăng là một chuyện vô cùng thú vị. Nàng ngồi đó, vui vẻ khôn xiết, nói:
- Không phải đại nhân muốn bộ dạng này sao? Xin nói cho đại nhân biết, biểu lộ vẻ mặt như vậy, không đại biểu nữ nhân đó là nữ tử như vậy. Vừa nãy... vẻ mặt vừa nãy chẳng lẽ lại không mê người à?

Đối với nữ nhân như vậy, làm mặt nhà quan không được, làm mặt quân tử cũng không xong, Dương Lăng đành bực bội hừm một tiếng, nói:
- Mau nói ra biện pháp của cô cho bản quan nghe đi. Có phải là còn muốn ký khế ước với bản quan hay không?

Thành Khởi Vận khéo cười duyên dáng nói:
- Tiện thiếp không dám, phương pháp của thiếp thực chất còn phải nhờ cậy tới lực lượng của đại nhân. Chỉ có điều, thời khắc quan trọng, cho một đội kỳ binh thình lình xuất hiện sẽ thu được hiệu quả, kế sách này...

Dương Lăng nghe xong kế sách đó không khỏi ngỡ ngàng nhìn nàng thật lâu mà không nói gì. Thành Khởi Vận bị y nhìn cho trở nên thấp thỏm không yên. Tuy rằng nàng tự nhận mình đa mưu túc trí nhưng suy cho cùng chưa bao giờ tham dự vào đại sự triều đình. Biện pháp mà nàng tự cho là nhất định có thể thực hiện nhưng bây giờ Dương Lăng nghe xong lại có bộ dạng như vậy, chẳng lẽ thật sự rất hoang đường, rất trẻ con ư?

Dương Lăng nhìn nàng một hồi, nhắm hai mắt lại không nói lời nào. Thành Khởi Vận cũng không dám cười đùa nữa, ngẩn ngơ nhìn vào khuôn mặt của y. Dương Lăng nhắm mắt suy nghĩ đủ thời gian một nén nhang tàn, vẫn không lộ biểu tình gì, một lời cũng không nói.

Trên khuôn mặt của một Thành Khởi Vận luôn ẩn nhẫn tài năng xuất chúng dần lộ ra vẻ lo lắng sốt ruột. Nàng đang định mở miệng, đột nhiên trông thấy khóe môi Dương Lăng nhếch lên. Dần dà, y đột nhiên bật cười ha hả:
- Ha ha ha, không ngờ Thành cô nương lại nhìn thấu triệt như vậy. Đứng ngoài cục nhìn vào, chính trị chính là một vở kịch, diễn cho người coi, diễn cho mình coi, diễn cho bá tánh thiên hạ coi. Ha ha ha ha, vở kịch này của cô trông có vẻ hoang đường, kỳ thật cái lý do cấm biển cấm buôn, vứt bỏ bờ biển chạy dài ngàn dặm ra khỏi quốc thổ hiện tại chẳng lẽ lại không hoang đường à?

Y bỗng mở bừng hai mắt, hỏi:
- Cô xác định, việc này có thể làm được sao?

Thành Khởi Vận đang ngơ ngác nhìn y, không tự chủ mà hỏi ngược lại:
- Đại nhân cảm thấy có thể làm được không?

Dương Lăng gật đầu:
- Hay không thể tả.

Thành Khởi vận nghe xong, khuôn mặt cũng tràn trề niềm vui, nàng vui sướng nói:
- Nếu đại nhân có thể làm, vậy thiếp sẽ dễ thôi. Có đại nhân chống lưng, thiếp đứng ra làm trung gian thì tin rằng việc này sẽ dễ như trở bàn tay. Chỉ cần làm được việc này, trong triều cũng có thể thực hiện được trôi chảy.

Dương Lăng lắc đầu nói:
- Không, không cần cô làm trung gian, việc này bản quan không tiện xuất hiện. Cô quen thuộc Giang Nam, lại đa mưu túc trí, bản quan phái người cho cô dùng, do cô xử lý, thế nào?

Thành Khởi Vật trỏ vào mũi mình, cả kinh nói:
- Thiếp? Thiếp là nữ nhân mà.

Dương Lăng không đồng ý:
- Nữ nhân thì sao chứ? Hiện tại bản quan thật sự đang thiếu nhân thủ, trong tay trừ một đám binh sĩ chỉ biết hô đánh hô giết, chỉ có hai người có thể dùng được, đáng tiếc thật sự không thể để bọn họ rời kinh. Còn về chuyện nữ nhân không thể xuất đầu lộ diện, nếu cô cảm thấy không tiện thì cứ dịch dung mà làm là được rồi. Cho dù người ta nhận ra cũng không sao, ai sẽ bóc mẽ chuyện này chứ? Ở hải ngoại và tương... ừm, rất nhiều nữ nhân cũng có thể đảm đương công việc như nam nhân. Không phải là cô muốn bản quan chống lưng cho cô sao? Đại sự có bản quan làm chủ, cô còn sợ gì? Chẳng phải hôm nay một con cá mập mà không biết bao nhiêu hán tử mày râu trông thấy phải e sợ ba phần cũng đã bị cô khuất phục đó sao? Chỉ không biết Thành cô nương có nguyện ý chịu khuất thân vào Nội xưởng không?

Thành Khởi Vận ngơ ngẩn nhìn y một hồi lâu, đoạn cúi đầu nâng trà nhấp một ngụm, khoé môi lộ một nụ cười nhàn nhạt, khẽ giọng đáp:
- Nếu như đại nhân đã tin tưởng tiện thiếp, tiện thiếp không thể không theo.

Dương Lăng cười bảo:
- Tốt, có điều đây chỉ là mở đầu, theo ước đoán của bản quan, cho dù kế này thực hiện trôi chảy, triều đình cũng sẽ không bỏ dỡ hoàn toàn lệnh cấm, chúng ta cần phải nắm lấy chổ hở Giang Nam này, giống như Hoàng Hà thoát đê, khoét cho nó càng lúc càng lớn, để cuối cùng không thể vãn hồi, không ai có thể cứu vãn. Do đó, bản quan để cô lại Giang Nam, chính là chờ sau khi triều đình cho phép, với lợi thế quen thuộc Giang Nam, lợi dụng chút thủ đoạn, lôi kéo từng danh sĩ, thân sĩ và quan viên Giang Nam về..

Đang cúi đầu cười nhẹ, Thành Khởi Vận vừa nghe câu này sắc mặt bỗng trắng bệnh, bàn tay cầm chén trà chợt siết chặt lại, một lúc lâu sau mới thả lỏng ra, khoác lên một nụ cười quyến rũ, chầm chậm ngẩng đầu đáp:
- Dạ, tiện thiếp chỉ có tấm thân nhơ nhuốc này, vẫn có thể dốc sức vì đại nhân, lôi kéo một đám háo sắc được...

Dương Lăng sững người, giận mắng:
- Cô nói gì vậy?! Lấy sắc dụ người?! Thật đâu ra cái lý này, chẳng lẽ cô chỉ có thể nghĩ ra được cách đó sao? Dùng sắc chiêu dụ lấy một đổi một, mỗi bên có mưu cầu, dầu rằng có thể thành công nhưng bất quá chỉ là lợi dụng lẫn nhau, một khi gặp phải nguy nan thì phủi tay liền tan rã. Cô cho rằng mình có thể mê hoặc khiến người ta vứt bỏ cả tính mạng mình sao? Huống chi loại hành vi hèn hạ này tuyệt đối không được phép xuất hiện trong Nội Xưởng của bản quan. Bản quan không phải là Mạc công công, Thành cô nương nhớ kỹ.

Khuôn mặt cắt không còn giọt máu của Thành Khởi Vận bỗng đỏ bừng, mãi một lúc sau nàng mới ấp úng nói:
- Tiện thiếp... đã hiểu nhầm ý đại nhân rồi. Vậy ý của đại nhân là...?

Ánh mắt Dương Lăng máy động, y trầm tư nói:
- Theo bản quan nghĩ, kế này tuy hay, bất quá chỉ có thể đánh cho bọn họ trở tay không kịp. Nếu như bọn họ nghĩ thông suốt thì khó tránh việc họ sẽ quay lại cắn trả, mở rồi cấm lại cũng không phải là không thể. Cho nên một khi được triều đình cho phép thì cần phải khai sáng đám thân sĩ, danh sĩ xã hội và quan viên đó, thu hút bọn họ, cho bọn họ được chút lợi lộc trước. Phần lớn thân sĩ giàu có Giang Nam cho dù trong nhà ruộng vườn vạn khoảnh thì đều kiêm cả nghề buôn bán cho nên họ sẽ là những đối tượng dễ tiếp nhận nhất. Có bọn họ lôi kéo, lòng trục lợi của đại gia tộc của những thân sĩ ấy sẽ dần dần được dẫn dắt từ ruộng đất chuyển sang mậu dịch thông thương. Kẻ làm quan ngày nay mấy ai không phải xuất thân từ thế gia quyền thế? Cả gia tộc bọn họ bị cột chung với chúng ta, bọn họ còn có thể phản đối à?

Thành Khởi Vận ngó y một hồi, trên mặt dần nở ra một nụ cười. Nàng nhẹ nhàng đứng dậy, bước tới một bước, sụp lạy Dương Lăng:
- Cao kiến của Đại Nhân, ty chức xin được tuân mệnh!





Chú thích:

(1) tạm dịch “Gái lớn mười tám lại đổi thay”, chỉ sự phát dục chính thức của phụ nữ giai đoạn trưởng thành lần hai (lần đầu là từ 13-15 tuổi).
(2) giống con Pucca (xem hình: http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSWSjuACTPsEXTqd18q245klPqOTd-dxv2egOWLU9NBudY34BnZ-BIrdsk)
(3) Núi Tê Hà cùng Hương Sơn- Bắc Kinh, núi Nhạc Lộc- Hồ Nam và núi Thiên Bình -Tô Châu, là bốn thắng cảnh thưởng thức lá phong đỏ nổi tiếng của Trung Quốc. Ở Nam Kinh có một câu nói "Xuân Ngưu Thủ, Thu Tê Hà", chỉ hai địa điểm đạp thanh, mùa xuân đến núi Ngưu Thủ, còn mùa thu thì đến núi Tê Hà. Vào cuối thu, rừng phong bạt ngàn ở Tê Hà nhuộm một màu đỏ rực, do màu lá đỏ như ráng chiều nên người ta mới đặt tên như vậy. (theo baidu)
(4) Vương Mãng (45 TCN - 6 tháng 10 năm 23) là vị Hoàng đế duy nhất của nhà Tân (新朝) trong lịch sử Trung Quốc. Từ vai trò ngoại thích trong triều đình nhà Hán, Vương Mãng đã từng bước lên nắm những chức vụ cao nhất, thao túng việc triều chính và cuối cùng cướp ngôi nhà Hán. Tuy nhiên chỉ sau 16 năm, triều đại nhà Tân mà ông sáng lập đã sụp đổ cùng cái chết của ông. (theo wiki)




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
12-10-2011, 07:20 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 143 - Dưới Cây Phong Lá Đỏ




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Mã Liên Nhi vừa cười thẹn thùng vừa liếc y, giọng đầy thâm ý:
- Đó là tự huynh nói đấy nhé, Dương đại nhân! Không được nuốt lời đâu.

Trên mặt đấy là lớp lá rụng dày xốp đã tích tụ lâu năm. Chậm rãi đi dạo trong khu rừng đỏ rực, ấm áp và ôn hoà, bên cạnh là một mỹ nhân thanh tao xinh đẹp, toàn thân toát ra mùi thơm dìu dịu. Đó là sự thoải mái dễ chịu biết dường nào? Dương Lăng không khỏi khẽ gật đầu, vui vẻ đồng ý.






Chương 143 - Dưới cây phong lá đỏ.

Cứ vậy, Dương Lăng cùng Thành Khởi Vận lại nghiên cứu kỹ càng kế sách do nàng đưa ra một hồi. Sắp xếp và sửa đổi một số chi tiết cùng thời gian thực hiện, sau đó Dương Lăng gọi Liễu Bưu vào, bảo gã rút một phần nhân lực ở cửa hàng ngựa xe của Nội Xưởng đặt tại Kim Lăng ra giao cho Thành Khởi Vận chỉ huy, nếu thiếu thì rút người ở những nơi khác về bổ sung.

Dương Lăng cười nói với Thành Khởi Vận:
- Thành cô nương! Bắt đầu từ hôm nay, tôi bổ nhiệm cô làm Nhị đáng đầu(1) của Nội xưởng. Trước mắt tôi tạm thời phân trước cho cô hai mươi người, cô tự thành lập ty Hải Vận, do chính cô phụ trách. Trước khi triều đình đồng ý giải trừ lệnh cấm biển, số người này cũng đủ cho cô dùng. Sau này, khi lệnh cấm biển được giải trừ ắt cô sẽ cần nhiều người hơn, đến khi đó cô có thể chiêu mộ thêm từ Nội xưởng hoặc ngay tại Giang Nam.

Tuy Dương Lăng hâm mộ tài năng của Thành Khởi Vận, nhưng hai bên biết về nhau quá ít. Nhưng nay nếu y âm thầm cài người thân tín bên cạnh nàng ta để giám sát hoặc quản thúc nàng quá chặt thì với sự thông minh lanh lợi của mình, nhất định nàng ta sẽ phát hiện, khi đó nội bộ khó tránh khỏi lục đục.

Thay vì làm như vậy, tốt nhất là y cứ thật tâm tin tưởng nàng ta, buông tay để nàng ta tự làm. Hiện giờ thực lực Nội xưởng chủ yếu rải rác ở các cửa hàng ngựa xe, tài nguyên và thu thập tình báo đều tập trung ở đây. Ty Thuế Giám mới rơi vào tay y, người trợ giúp chính cho y sau này vẫn sẽ là thuế giám các nơi, chỉ cần bọn họ thành tâm quy thuận thì y sẽ có thể nhanh chóng tiếp nhận một nguồn lực lượng khổng lồ có sẵn.

Nắm được hai lực lượng này trong tay, y sẽ có thể nắm chắc Nội xưởng trong tay mình. Hiện tại Thành Khởi Vận, Vu Vĩnh và Hoàng Kỳ Dận đều là Nhị đương đầu, nhưng quyền lực lại không giống nhau. Nếu tự gầy dựng nên ty Hải Vận thì lực lượng nàng ta nắm trong tay cũng chỉ giới hạn chừng đó thôi.

Như vậy, chỉ khi nào ty Hải Vận được thành lập và đủ lớn mạnh thì thực lực của nàng ta mới lớn mạnh hơn. Mà ty Hải Vận không có quyền lực chính trị, quyền tư pháp lẫn quyền bắt người, sẽ hình thành riêng một hệ thống khác với thủy quân. Điều này sẽ bảo đảm rằng Thành Khởi Vận phải dựa vào Nội xưởng thì quyền lợi của nàng ta mới được bảo vệ, do đó sẽ trói buộc nàng ta vào cùng y trên cùng chiếc chiến xa này.

Thành Khởi Vận cũng rõ dụng ý của Dương Lăng. Có điều nàng mới vừa quy thuận làm môn hạ của y mà Dương Lăng đã chịu trọng dụng nàng như vậy, trao cho nàng tránh nhiệm lớn như vậy là đủ chứng minh rằng y rất xem trọng nàng rồi. Còn về phần y có tâm đề phòng nàng thì thật ra nàng thấy đó là cũng là lẽ bình thường, vì vậy không hề mảy may phật lòng.

Dương Lăng lôi trong người ra một lệnh bài giắt hông bằng ngà trao cho Thành Khởi Vận rồi bảo:
- Không phải Sa Ngư vương vẫn còn nghi ngờ cô đó sao? Thành đáng đầu cứ cầm tín vật của bản quan mau chóng liên hệ cùng lão ta, chuẩn bị mọi việc. Bản quan sẽ ở lại Kim Lăng thêm vài ngày, đợi có tin tức chính xác của cô xong mới sẽ hồi kinh.

Có Liễu Bưu ở bên cạnh, Thành Khởi Vận cũng trở nên nghiêm túc, cung kính giữ lễ, không dám nói cười ngả ngớn nữa. Nàng bước lên một bước, nén đau đưa tay tiếp nhận lệnh bài từ trong tay Dương Lăng rồi cung kính đáp:
- Ty chức tuân lệnh. Bây giờ ty chức sẽ trở về chuẩn bị, quyết không phụ kỳ vọng của xưởng đốc đại nhân.

Trong căn phòng yên tĩnh, Dương Lăng trở lại ngồi vào ghế, nhắm mắt ngẫm nghĩ kỹ lưỡng lại những sự việc hôm nay một lần nữa: biện pháp do Thành Khởi Vận đề ra cùng với tin tức mà y nghe được từ Trấn thủ sứ Nam trấn phủ ty Triệu Tiết Vũ và những diễn biến trong kinh. Những việc này, tuy có người cung cấp tin tức cho y, có người bày mưu vẽ kế cho y, nhưng người đưa ra quyết định cuối cùng chỉ có thể là y. Một khi phán đoán sai lầm, cái giá phải trả sẽ là muôn đời không gượng dậy nổi, sao y dám không cân nhắc đắn đo, suy nghĩ cho cẩn thận chứ!

Y chợt ngửi thấy một mùi thơm nhè nhẹ, hai vai lập tức hơi trĩu xuống, một đôi tay thon thả ấm áp đang nhẹ nhàng xoa bóp cho y. Dương Lăng thở dài thườn thượt, song lại không mở miệng nói gì.

Cao Văn Tâm không khỏi lo lắng hỏi:
- Lão gia, có phải là người mệt lắm không? Có muốn lên giường nghỉ ngơi để nô tỳ xoa bóp một lát không?

Dương Lăng khẽ lắc đầu đáp:
- Đợi đến tối châm cứu xong rồi hãy tính đi.

Y trầm mặc hồi lâu, ngẫm nghĩ kỹ càng về những lời mà Thiệu trấn phủ đã nói trên chiếc thuyền hoa hôm nay, cuối cùng bèn đưa ra quyết định. Y vỗ nhẹ lên mu bàn tay Cao Văn Tâm, cao giọng:
- Gọi Trịnh bách hộ vào gặp bản quan.

Trịnh bách hộ lật đật chạy vào đại sảnh, thi lễ:
- Đại nhân cho gọi ty chức?

Dương Lăng gật nhẹ đầu, đứng dậy bảo:
- Phái người thông báo cho Thiệu trấn phủ sứ rằng bản quan muốn gặp y, vẫn tại chỗ cũ.

Dương Lăng dõi theo bóng lưng Trịnh Bách Hộ đang vội vã rời đi, không nhịn được thở dài sườn sượt: "Đúng là thế sự khó lường. Trương đại nhân ơi Trương đại nhân! Lúc trước ông lựa chọn rồi đề bạt tôi vào Cẩm Y Vệ, nhất định sẽ không nghĩ rằng hôm nay tôi lại sắp trở thành đối thủ của ông phải không?"

***

- Cái gì? Nhị đáng đầu! Tiểu thư người... người lại có thể làm quan ư? Tiểu thư không nói chơi đó chứ?
Sở Vân và Sở Linh, hai cô nàng mỹ nữ Giang Nam, đồng thanh kinh ngạc ồ lên, chiếc miệng anh đào há to thật to.

Thành Khởi Vận ngồi nghiêm chỉnh trên ghế hai chân giạng ra như đàn ông, chiếc lưng ưỡn thẳng, oai nghiêm lườm bọn họ, lạnh giọng mắng:
- Tiểu thư gì? Dám vô lễ với bản quan như vậy sao? Người đâu rồi, lôi bọn chúng xuống đánh nát mông ra cho ta!

Nói xong nàng bật cười khanh khách, rút chiếc lệnh bài Dương Lăng đưa ra lắc lắc trước mặt hai thị nữ, cười nói:
- Các ngươi nghĩ đây là giả hử? Ta cũng tưởng rằng đang nằm mơ. Phụ nữ làm quan, vị Dương khâm sai này... ta thật sự nhìn không thấu.

Sở Vân và Sở Linh mừng rỡ chạy đến bên nàng, sờ mó chiếc lệnh bài. Sở Vân vui sướng nói:
- Thật hả? Phụ nữ cũng có thể ra mặt làm việc, cũng vào triều làm quan được à? Dương đại nhân đúng thật là giỏi, nghĩ đến thứ người khác không dám nghĩ, làm điều kẻ khác không dám làm. Thảo nào tiểu thư lại coi trọng y như vậy.

Sở Linh đảo cặp mắt đen lúng liếng, cười hì hì trêu:
- Tiểu thư! Có phải là khâm sai đại nhân tuấn tú đó đã bị người mê hoặc rồi không? Tiểu thư có thể khiến y sung sướng như tiên, đương nhiên y mặc cho tiểu thư muốn làm gì thì làm rồi!

Thành Khởi Vận thoáng đỏ mặt, hơi giận, trách móc:
- Hai người các ngươi tuy xuất thân thanh lâu, thân phận thấp hèn, nhưng dẫu gì thân thể vẫn còn trong sạch. Kiểu nói đùa như vậy sau này không được thốt ra nữa!

Sở Linh không biết tại sao hôm nay tiểu thư lại thay đổi thái độ đối với những lời tiếu lâm mặn vốn trước đây nàng ta không hề kiêng kị gì. Cô ta bèn lè lưỡi, ngoan ngoãn dạ một tiếng.

Sở Vân hỏi:
- Tiểu thư! Có phải người đã đem chuyện Dương Hổ mưu phản báo cho Dương đại nhân hay nên y mới trọng dụng tiểu thư như vậy?

Thành Khởi Vận lắc đầu nhè nhẹ, mày ngài hơi nhíu lại, thở dài xa xăm:
- Dương Hổ muốn tạo phản, hiện đang chiêu binh mãi mã, ra sức tích trữ tiền bạc và lương thực. Đây không phải là việc có thể hoàn thành trong một sớm một chiều. Hiện tại không vội, đợi giải quyết xong việc cấm biển hẵng báo vậy.

Thật ra hôm nay khi đi gặp Dương Lăng, nàng đã không định báo chuyện này cho y hay. Nàng nghĩ nam nhân trên đời chỉ có hai loại, một là thứ gọi là chính nhân quân tử coi thường thân phận nàng, hai là loại mê rượu mê gái thèm muốn nhan sắc nàng.

Nàng vẫn cho rằng mình dựa dẫm vào Dương Lăng cũng chỉ là lợi dụng lẫn nhau. Nàng vốn xem việc tay lục lâm thảo khấu Dương Hổ ở phương bắc âm mưu tạo phản là một vốn cược quan trọng, hoàn toàn không định báo cho Dương Lăng ngay. Việc Dương Lăng cảm khái giao trọng trách cho nàng đã nằm ngoài dự liệu của nàng, trong lúc xúc động nhất thời nàng cũng từng định thố lộ tất cả. Nhưng cuối cùng lòng đa nghi đối với nam nhân cũng giúp lý trí của nàng chiến thắng, khiến nàng nuốt cái bí mật này vào lòng. Dương Lăng có phải là kẻ mà nàng có thể gởi gắm hay không, nàng vẫn cần phải quan sát thêm mới biết được.

Thành Khởi Vận suy tính một hồi, đoạn đứng dậy dặn dò:
- Linh Nhi giúp ta thay thuốc, Vân Nhi đi lấy bộ y phục nam nhân kia lại. Bây giờ dẫn theo một đám nam nhân bên người, thực không tiện lấy thân phận phụ nữ để gặp người khác. Ta phải lập tức đi gặp Bành lão thái gia một chút, phải mau chóng giải quyết xong chuyện này.

***

Tình hình căng thẳng của một hồi phong ba sắp kéo đến trong kinh sư, phỏng chừng chỉ có tiểu Hoàng Đế đang ham chơi đến quên ngày quên tháng mới không cảm nhận thấy. Nội xưởng tuy mới vừa được thành lập, song há lại không có tai mắt? Chẳng qua Ngô Kiệt hành sự cẩn thận, chưa nhận được tin tức tình báo chính xác, lão quyết không dám báo những tin tức vô căn cứ cho xưởng đốc, vì vậy lão đang cố gắng tăng cường nhân lực, dò bắt mọi động tĩnh trong triều.

Dương Lăng dùng thủ đoạt sét đánh lật đổ ba đại thái giám trấn thủ Giang Nam, thuế giám các nơi trong thiên hạ tự cảm thấy đã không thể dựa dẫm vào Đông xưởng được nữa, hiện đang lần lượt bày tỏ thái độ thuần phục Dương Lăng, tiền thuế bị các nơi khất lại mấy tháng nay đã bắt đầu lên đường vận chuyển về kinh. Trông thấy tình hình này, Phạm Đình của Đông xưởng và Trương Tú của Cẩm Y Vệ đứng ngồi không yên. Vừa khéo lúc này Vương Quỳnh lại chủ động liên lạc với bọn họ, hiến cho bọn họ một "tuyệt hậu kế"(1). Hai người liền coi đó như là của báu, lập tức theo kế mà làm, bí mật lên kế hoạch chuẩn bị trong kinh sư.

Nhưng Bắc trấn phủ sứ Mâu Bân lại không cùng tư tưởng với Cẩm Y Vệ đề đốc Trương Tú. Tài năng và quan hệ của hắn không dưới Trương Tú nên vốn có phần không phục gã. Hiện giờ Trương Tú lại hạ lệnh cho Cẩm Y Vệ phối hợp toàn diện, hết lòng phục tùng Đông xưởng, càng khiến hắn ta hết sức bất mãn.

Miêu Quỳ của Tây xưởng sớm đã nhìn thấu dã tâm của hắn nên cũng từng thử lôi kéo hắn ta. Nhưng Mâu Bân biết rõ thế lực Tây xưởng kém xa Đông xưởng cho nên vẫn luôn thản nhiên ung dung, không cự tuyệt mà cũng chẳng đồng ý. Mãi đến khi Miêu Quỳ rốt cuộc đành phải lật bài tẩy ra, tiết lộ Tây xưởng đã liên thủ cùng Nội xưởng, thì sau khi cân nhắc một hồi, Mâu Bân mới quyết chí liên minh với Tây xưởng và Nội xưởng chung tay diệt Trương trừ Phạm.

Hắn cũng không biết tường tận về kế hoạch đối phó Dương Lăng của Phạm Đình và Trương Tú, nhưng từ hành động của hai người hắn cũng thấy được bọn bọ đang nhắm vào Dương Lăng. Vì vậy liên minh vừa được lập, hắn liền lập tức liên lạc với hảo hữu của hắn là Nam trấn phủ sứ Thiệu Tiết Vũ hiện đang bất mãn với địa vị của mình, hứa hẹn rằng chỉ cần mình ngồi lên vị trí Đề đốc liền sẽ đề bạt hắn lên làm Bắc trấn phủ sứ.

Hai nhà có dã tâm nên kết hợp với nhau rất ăn ý, nhưng kế hoạch này đương nhiên không thể thiếu người có thực lực mạnh nhất là xưởng đốc Nội xưởng Dương Lăng. Để tránh tai mắt Đông xưởng, hắn và Miêu Quỳ không dám xuôi nam để liên lạc với Dương Lăng mà thông qua những con đường bí mật của mình, mỗi bên tự trao thư tay cho Thiệu Tiết Vũ, bảo hắn cấp tốc tiếp xúc với Dương Lăng.

Lần trước Dương Lăng được Thiệu Tiết Vũ hẹn gặp, nghe hắn nói ý định liên minh cùng điều kiện lật đổ họ Trương của Mâu Bân, y nhất thời còn hơi do dự. Y có ngày hôm nay, có thể nói toàn bộ đều nhờ vào việc Trương Tú cho y làm Bách hộ của Cẩm Y Vệ từ lúc y bắt đầu nhậm chức dịch thừa. Tuy rằng Trương Tú có dụng tâm riêng, song suy cho cùng thì lão cũng có ơn đề bạt y. Không có lão ta, thì không có ngày mình thăng quan tiến chức vùn vụt như hôm nay.

Mãi đến khi Thành Khởi Vận chạy tới gặp y, đề ra kế sách thuyết phục triều đình giải trừ lệnh cấm biển thì y mới cảm thấy nhiệm vụ cấp bách hiện giờ là phải nắm giữ quyền lực thật lớn, mà chướng ngại số một hiện nay chính là Đông xưởng và Cẩm Y Vệ. Mâu thuẫn giữa đôi bên đã không thể hòa giải được nữa nên y mới đành đưa ra quyết định.

Y bí mật hẹn Thiệu Tiết Vũ, âm thầm lập ra “kế phản công” để ba nhà Tây xưởng, Nội xưởng và Bắc trấn phủ ty liên thủ đối phó với Đông xưởng và Cẩm Y Vệ. Giờ đây Đông xưởng và Cẩm Y Vệ đang khua chiên gióng trống chuẩn bị đối phó y, y cũng hạ lệnh cho Nội xưởng chuẩn bị thật tốt để ứng biến, đồng thời ngấm ngầm rút tay chân đắc lực các nơi về kinh. Tây xưởng và Bắc trấn phủ ty cũng đang âm thầm chuẩn bị hết thảy. Một hồi phong ba bão táp sắp nổi lên, mà nhân vật then chốt dấy lên hồi phong ba này chính là Dương Lăng. Tất cả mọi người và mọi bố trí đều đang đợi y, đợi y hồi kinh.

***

Sáng sớm, Dương Lăng mặc áo chẽn đi giày vải, chỉ mang theo mấy tay nha sai cưỡi hai chiếc kiệu xe chạy đến quán rượu Trường Đình đón Liên Nhi cùng du sơn trên ngọn Tê Hà. Từ sớm tinh mơ, Liễu Bưu đã phái một đám nha sai thám xét toàn bộ núi Tê Hà một lượt, sau đó vây quanh dưới chân núi. Lần du sơn này, trừ phi có người từ trên trời rơi xuống, bằng không Dương Lăng cũng đừng hòng tìm thấy bóng ai khác.

Núi Tê Hà có ba ngọn, Phượng Tường là ngọn cao nhất, đỉnh núi chọc trời. Ngọn phía đông tên gọi Long sơn, ngọn phía Tây trông như hình con cọp đang nằm. Trên núi, rừng phong rừng bách nối nhau mọc thành dãy bạt ngàn.

Dương Lăng và Mã Liên Nhi ngồi xe đi đến chân ngọn phía tây. Ngửa mặt lên nhìn, chỉ thấy khắp núi phủ một màu lá đỏ, từng gốc cây phong dựa sát vào nhau như những ngọn lửa đang bùng cháy, khiến cho người ta nhìn mà thanh thản tinh thần.

Mã Liên Nhi có ý trung nhân bầu bạn, suốt đường vui sướng khôn thôi. Nàng nhảy xuống xe, lấy một hộp thức ăn ở trên xe xuống, rồi kéo tay Dương Lăng:
- Dương đại ca! Ngọn núi này không cao, phong cảnh lại rất đẹp, chúng ta lên núi tìm một chỗ có phong cảnh tao nhã cùng uống rượu ngắm lá phong được không?

Dưới chân núi, hai người cải trang làm tiều phu khẽ đưa tay ra hiệu với Dương Lăng, Dương Lăng nhìn thấy thì khẽ mỉm cười, đoạn bảo Trịnh bách hộ:
- Các người tạm thời hãy chờ dưới núi. Bản quan sẽ cùng Liên Nhi cô nương lên núi du ngoạn một chút.

Sơn đạo quanh co khúc khuỷu, hai bên là rừng phong rậm rạp đan xen cao thấp, lập loè sắc đỏ, lộ ra muôn vẻ phong tình. Lá đỏ như ráng chiều, như gấm tía, hoà lẫn vào bóng nâu cam của những gốc bách, trông càng thêm rực rỡ muôn màu.

Dương Lăng xách hộp đồ ăn của Mã Liên Nhi, vừa chậm rãi leo núi vừa cùng nhau chia sẻ những chuyện trải qua sau khi hai người chia tay. Lúc này mặt trời đã chói lọi lên cao. Lá phong đỏ kết hợp với ánh dương quang chiếu rọi càng trở nên rực rỡ chói loà. Sắc đỏ thắm phủ hết nửa bầu trời xanh. Mã Liên Nhi ngắm nhìn cảnh đẹp rực rỡ như ráng chiều, nhất thời ngơ ngẩn.

Dương Lăng mỉm cười liếc nhìn nàng. Hôm nay Liên Nhi mặc váy và áo tuyền một màu xanh nhạt, đầu tết ba búi được buộc bằng ba vòng hoa màu xanh lá, tuy nàng trang điểm giản dị song trông càng quyến rũ.

Dương Lăng trông thấy vẻ vui sướng hạnh phúc của nàng, trong lòng cũng cảm thấy ấm áp. Thật sự là cô nàng điêu ngoa khả ái này có được bao ngày không lo không nghĩ, có cuộc sống vui tươi hạnh phúc? Có thể khiến cho nàng vui được như vậy, chuyến đi Kim Lăng này của mình cũng xem như không uổng.

Mã Liên Nhi ưỡn bộ ngực căng tròn đón lấy cơn gió dịu dàng, vẻ mặt như cũng đã ngà say. Giai nhân mười sáu xuân xanh bắt đầu chớm có bộ dạng của phụ nữ trưởng thành. Váy áo may vừa khít với người, đai lưng trắng tinh thít chặt eo thon, ngực nàng trông cũng đã đầy đặn hơn. Dương Lăng nhìn "cảnh đẹp" trước mắt mình, dằn lòng không được phải cầm lấy tay nàng, một cảm giác dịu dàng êm nhẹ len lỏi vào trong tim.

Mã Liên Nhi quay đầu lại, yêu kiều:
- Dương đại ca! Chúng ta vào rừng, ngồi uống rượu ngắm lá phong đi.

Dương Lăng mỉm cười nói:
- Được, hôm nay hết thảy đều nghe theo Liên Nhi tiểu thư an bài vậy.

Mã Liên Nhi vừa cười thẹn thùng vừa liếc y, giọng đầy thâm ý:
- Đó là tự huynh nói đấy nhé, Dương đại nhân! Không được nuốt lời đâu.

Trên mặt đấy là lớp lá rụng dày xốp đã tích tụ lâu năm. Chậm rãi đi dạo trong khu rừng đỏ rực, ấm áp và ôn hoà, bên cạnh là một mỹ nhân thanh tao xinh đẹp, toàn thân toát ra mùi thơm dìu dịu. Đó là sự thoải mái dễ chịu biết dường nào? Dương Lăng không khỏi khẽ gật đầu, vui vẻ đồng ý.

Đằng sau tảng đá to bị che khuất, vài gốc phong đỏ rậm rạp vây lại thành một vùng riêng tư nho nhỏ. Mã Liên Nhi vén váy chui vào bên trong, cầm lấy hộp đồ ăn từ trong tay Dương Lăng, lấy ra một tấm lụa trắng tinh gấp ngay ngắn trải lên thảm lá xốp mềm, rồi duyên dáng ngồi lên.

Dương Lăng nhìn phong cảnh xinh đẹp chung quanh một vòng, khom người bứt một cọng cỏ xanh rồi mỉm cười:
- Lúc ở Ngũ Sách Lĩnh, chúng ta chui vào một hố tuyết sưởi ấm. Lúc đó tối như bưng, rét căm căm, phong cảnh hôm nay lại giống như thiên đường. Ý vị thật không thể nào so sánh được.

Mã Liên Nhi đang bày rượu và từng món đồ ăn trong hộp ra, nghe thấy lời này thì nhẹ nhàng đáp:
- Dương đại ca, trong lòng Liên Nhi lại vẫn nhớ mãi không quên cái đêm hôm ấy... Chỉ cần có huynh bên cạnh, cho dù ở đâu Liên Nhi cũng cảm thấy như ở thiên đường.

Dương Lăng xúc động lặng lẽ đưa mắt nhìn nàng. Người con gái Liên Nhi dịu dàng xinh đẹp thẹn thùng đó đang nhìn y với ánh mắt chan chứa thâm tình. Làn da nàng như bông tuyết chớm rơi, hàng mày liễu như núi xa trong bóng chiều. Bị Dương Lăng nhìn chằm chằm, khuôn mặt trắng nõn dần dần ửng đỏ.

Nàng quay đầu để che giấu sự thẹn thùng, lấy từ trong hộp ra hai chén rượu, rót thứ rượu Trúc Diệp Thanh xanh nhạt mà thơm ngát vào chén rồi khẽ khàng đặt lên trên nắp hộp.

Hai người ngồi đối diện nhau, Mã Liên Nhi cúi đầu nâng chén. Chén rượu tinh xảo bằng gốm trắng làm tôn lên bờ môi đỏ mọng của nàng. Dòng rượu xanh nhạt chầm chậm trôi qua cặp môi đỏ trông kiều diễm vô cùng, khiến Dương Lăng nhìn mà trong lòng gợn sóng. Rượu chưa uống mà y đã ngấm mem say.

Mề vịt xào măng khô, vịt muối, Thủy Bát Tiên*, đậu hũ rán mỡ, từng món ăn ngon miệng tinh xảo được bày ra. Rượu uống chưa mềm môi, đôi gò má Liên Nhi đã nhuốm màu hồng đào. (*: món rau củ hấp truyền thống vùng Giang Tô, gồm có củ niễng non, củ sen, cần tây, hạt súng, củ từ, mã thầy, rau nhút, củ ấu. Xem hình minh hoạ: http://www.takungpao.com/upload/2010-12-12/zm-43.jpg)

Nàng mở ngăn dưới cùng, thận trọng lấy ra một chiếc bánh mật, tình tứ nói với Dương Lăng:
- Dương đại ca, huynh có biết không... Muội... muội không biết nấu món bánh gì cả. Bởi vì huynh đến cho nên muội... muội đã học làm bánh mật. Định là để dành nó đến Tết mới ăn. Nhưng Tết đến muội sẽ không thể ở cạnh huynh, bỏ nó đi thì không nỡ. Sang năm mới, khi huynh và Ấu Nương muội muội ăn Tết bên nhau, hãy coi như... muội cũng đang ở bên cạnh, được không?

Nói đến đây, mắt nàng đã rơm rớm nước. Cảm động với tâm ý của Liên Nhi, Dương Lăng cầm lấy chiếc bánh, cắn một miếng thật to.

Liên Nhi hồi hộp nhìn y, hỏi:
- Mùi vị có được không?

Cái món bánh mật này chỉ cần dùng đúng nguyên liệu, đạp bột thật kỹ thì mùi vị đã không tệ rồi, còn gì mà lại ngon với chả không ngon? Nhưng Dương Lăng nào nỡ làm phật ý mỹ nhân mà gây chuyện mất vui chứ?

Y nuốt miếng bánh xuống, lại cắn thêm một miếng nữa, ậm ờ khen:
- Ừm, mùi vị rất thơm. Liên Nhi quả nhiên thông minh khéo tay. Muội học từ ai vậy?

Liên Nhi vui sướng đáp:
- Ừm ừm, muội hỏi nơi các chị dâu, rồi chạy về... Tối qua muội làm cả đêm, nghe nói phải đạp kỹ bột hấp thì ăn mới ngon được, thật mệt chết muội luôn đó. Huynh thích ăn là được rồi, ha ha.
Vừa nói nàng vừa đấm nhẹ chân mình, cặp mắt vui vẻ híp cong lại như vầng trăng.

Dương Lăng cười lớn:
- Nghe muội nói hình như là đã làm không ít hả? Đạp thứ này đúng là mệt thật.

- Huynh cũng biết làm bánh mật sao? Đúng đó đúng đó! Nguyên cả một cái bồn to, thứ bột đó lại dính nữa, dính chặt vào chân, muội muốn nhấc lên cũng nhấc lên không nổi, thật sự mệt đổ cả mồ hôi. Sau nửa đêm mới tắm rửa được, rồi lại mất thêm nửa ngày để rửa chân.

- Ờ? Hả? Ừm...
Cảm thấy hơi khó hiểu, Dương Lăng dè dặt hỏi:
- Muội làm như thế nào vậy? Không phải là lát một tấm vải bố sạch bên trong bồn gỗ, sau đó đổ bột hấp lên trên, quấn lại, rồi mới mang ủng vào đạp sao? Sao lại dính chân?

- Ớ?
Mã Liên Nhi do dự đưa một ngón tay lên miệng, thắc mắc:
- Lát vải bố gì? Muội... muội chỉ đổ bột vào trong bồn gỗ, sau đó đi chân trần vào đạp... Giày... giày bao cái gì(*)?
(*)Nguyên văn “sáo hài”: ủng, MLN không hiểu, tưởng là giày được bao bằng vật gì đấy.

Dương Lăng cười phì một tiếng phun cả miếng bánh mật trong miệng ra. Y cười thất thanh:
- Ôi trời ơi, muội để chân trần mà đạp thẳng lên bột bánh mật hả? A ha, ha ha, ha ha ha...

Mã Liên Nhi lập tức đỏ bừng mặt:
- Muội... muội đâu biết... Nhưng mà muội... chân muội đã được rửa rất sạch trước đó, rất rất sạch!
Nàng ngượng ngùng phân bua.

Dương Lăng liền vội gật đầu:
- Đương nhiên rồi, đương nhiên rồi! Chắc chắn sẽ không có mùi gì đâu. Huynh ăn cũng chẳng thấy có mùi, thật đó.

Mã Liên Nhi quýnh lên, nhân có men rượu nàng co hai chân lại, cởi giày thêu ra, lột đôi vớ lụa trắng tinh, để lộ một đôi bàn chân nhỏ nhắn mềm mại trắng phau, duỗi ra trước mắt Dương Lăng nói:
- Huynh xem, thật sự là sạch lắm lắm. Muội đã mất cả đêm, huynh... huynh đừng chê muội nhé? Cùng lắm thì, muội... hôm nay muội sẽ về làm lại.

Chân của Liên Nhi thon thả xinh xắn, bàn chân trắng hồng nhẵn mịn, năm ngón chân tinh xảo khép vào nhau, mu bàn chân mềm mại, mắt cá chân tròn trịa xinh xinh, da thịt trắng phau, óng ánh.

***

Nàng không dám nhìn Dương Lăng trong khi nói chuyện, khuôn mặt nóng bừng ấy đang hồi hộp kề sát vào Dương Lăng, hơi thở còn thoang thoảng chút men rượu. Dương Lăng giật mình kinh hoảng, liền vội la lên:
- Muội nói gì vậy? Muội uống say rồi à Liên Nhi? Không được đâu, muội sẽ hối hận đó, nhất định sẽ hối hận đó.

Mã Liên Nhi cố lấy hết dũng khí run run thổ lộ tâm tình:
- Phải, muội hối hận, hối hận vì đã không sớm trao thân cho huynh. Muội... muội không muốn đợi lâu đến hai năm như vậy. Sau khi huynh quay về, huynh sẽ có thể cùng Ấu Nương muội muội sinh em bé mà muội lại phải đợi huynh thêm hai năm. Muội muốn trao cho huynh, muội muốn có huynh, ngay bây giờ...

Vòng hoa buộc ba búi tóc trên đầu được giật nhẹ xuống, lập tức suối tóc đen nhánh và bóng mượt tuôn xuống. Mã Liên Nhi bất chợt trở mình ngồi dậy, sà vào ngồi trong lòng Dương Lăng, dũng cảm nhìn thẳng vào mắt y, ánh mắt trong vắt như trăng rằm:
- Liên Nhi yêu huynh. Ông trời đã đưa huynh đến Giang Nam, nếu muội còn phải uất ức khổ sở đợi chờ huynh thêm hai năm nữa, lúc đó muội mới sẽ thật sự hối hận!

Nàng bỗng rút tuột chiếc đai lưng, kéo hai vạt áo ra hai bên. Loáng cái, trước mắt Dương Lăng hiện ra đôi gò tuyết trắng ngần, đính lên hai nụ đào hồng xinh xắn. Như một nữ vương cao cao tại thượng, Mã Liên Nhi cúi đầu, buông từng chữ:
- Dương Lăng, đừng để muội hận huynh. Muội muốn huynh yêu muội ngay bây giờ!

Cặp nhũ hoa nàng không lớn, nhưng hình dáng ưu mỹ tựa búp măng, căng tròn vừa tay, mịn màng mà trơn láng như gốm sứ. Đầu nhũ hoa săn chắc đính hai nụ anh đào mềm mại chực nở. Khuôn mặt nàng đo đỏ, cặp mắt long lanh như được phủ bởi một lớp sương mù.

Hồn phách Dương Lăng như nổ tung, dục vọng của nam nhân bị dồn nén từ lúc rời kinh đến nay bị dáng vẻ diễm lệ mê người của nàng làm cho bừng tỉnh. Ý chí của y cũng bị sự dũng cảm và cương quyết của Liên Nhi phá vỡ trong chớp mắt. Khoái cảm của thị giác lập tức ùa vào trong lòng như sóng vỗ dập dờn, khiến lửa dục trong y bừng cháy phừng phừng, hạ thể đã cứng lên như sắt.

Dương Lăng lập tức ôm choàng thân hình yêu kiều động lòng người trước mặt, lật nằm đè lên trên. Thân thể mảnh mai của Liên Nhi ngã lên mặt cỏ mềm mại. Một khóm cỏ xanh cùng vài mầm lá non kế bên khuôn mặt trắng ngần khẽ lay động vì hơi thở từ đôi môi hồng của nàng.

Ánh dương quang len qua những tán phong đỏ rực chiếu xuống, gió thổi bóng lay, ánh nắng rực rỡ vuốt ve thân hình thướt tha mê người của nàng. Cặp tuyết lê xinh tươi trắng ngần như ngọc bị Dương Lăng xoa nắn đã bắt đầu căng lên, hai nụ đào nhỏ ửng hồng săn lại, mềm mại vô cùng.

Mã Liên Nhi nhìn y trong sự thẹn thùng vô hạn. Khi Dương Lăng đưa tay cởi bỏ xiêm áo của nàng, nàng hơi căng thẳng chụp lấy tay y, rồi lập tức bỏ tay ra, quay mặt đi để che giấu ánh mắt của mình.

Da thịt nàng thơm ngát, trơn nhẵn như ngọc, tấm thân ngọc ngà được phơi bày trọn vẹn trong tiếng rên rỉ thẹn thùng. Cặp chân trắng phau ngượng ngùng quíu lại. Nhìn thấy dáng vẻ trêu ngươi này, mọi kiên trì của Dương Lăng đều biến sạch trơn.

Có lẽ y sẽ hối hận, nhưng nếu bây giờ y còn có thể đứng dậy bỏ đi thì không biết y có sẽ hối hận hơn không?

Đường cong của tấm thân mỹ lệ ấy uyển chuyển mượt mà, đẹp đến mê người. Liên Nhi ngượng vô cùng, nàng chợt rên lên một tiếng, thoáng lật người lại, mái tóc đen tuyền tú lệ xoã tán loạn trên cần cổ mịn màng và bờ vai trơn truột của nàng. Vòng eo thon thả làm nổi bật đường cong mỹ lệ của bờ mông nở nang mềm mại đến tột cùng. Khe rãnh hình cung tao nhã giữa hai bờ mông tròn cao ngất khiến cho lòng người ngất ngây, như thể đấy là chốn bồng lai có thể đưa người ta bay vào tiên cảnh.

Ánh mắt Dương Lăng bắn ra lửa tình ngùn ngụt, giọng y khàn khàn:
- Liên Nhi, muội không hối hận chứ?

Liên Nhi chợt xoay người lại ôm ghì lấy người y, mắt nhắm nghiền, gật mạnh đầu, giọng chan chứa yêu thương:
- Liên Nhi hối hận, hối hận là huynh đã đến sớm hai tháng, không thể để Liên Nhi... để Liên Nhi hoài thai em bé cho tướng công mình. Muội yêu huynh, muội còn muốn huynh cho muội... cho muội một đứa con. Đứa con của huynh và của muội...

- Ôi...! Liên Nhi...

Hai thân thể vuốt ve mơn trớn nhau dần dần tự nhiên tạo nên một tư thế thích hợp nhất, cứ như nước chảy sẽ thành dòng. Một tiếng rên kèm theo hơi thở run rẩy cất lên, hai chân của Liên Nhi bỗng căng cứng, ngón chân quắp vào trong lòng bàn chân, cặp đùi thoáng run rẩy kịch liệt, rồi lại chầm chậm thả lỏng.

Nàng nhắm mắt lại, hàng mi dài hoảng sợ rung rung, hai tay bấu chặt lấy lưng Dương Lăng, miệng thở không ra hơi, song trên khuôn mặt lại tuôn tràn hạnh phúc: cuối cùng nàng đã trở thành nữ nhân của Dương đại ca, sẽ không còn ai có thể thay đổi mối quan hệ này.

Nàng bỗng cắn răng, ôm chặt lấy lưng Dương Lăng. Dương Lăng hơi không đành lòng, nhưng vẫn từ từ hoàn toàn tiến sâu vào trong thân thể tình nhân trong tiếng kêu rên yêu kiều của nàng...

Rất, rất lâu sau, trong sự dịu dàng của Dương Lăng, qua khỏi cơn đau, Liên Nhi dần có một cảm giác vô cùng kỳ diệu. Eo thon của nàng bắt đầu chuyển động phối hợp với động tác của y...

Rất, rất lâu sau, trong tư thế nửa quỳ, Dương Lăng gác đôi chân trắng nõn của nàng lên vai, đôi bàn chân mảnh dẻ khẽ đong đưa trên không trung; cảnh tượng ấy còn rực rỡ hơn lá phong phủ đầy trên núi.

Một cơn gió thoảng qua, vài chiếc lá đỏ nhẹ lay theo gió rơi xuống, phủ lên đôi mắt đang nhắm nghiền của nàng, che đi sự xấu hổ, phủ lên ngọn đồi mơn mởn của nàng, che đi nụ anh đào tươi thắm.

Dưới cây phong lá đỏ, một tấm thân trắng như tuyết chìm trong màu đỏ tươi diễm lệ; loáng thoáng nghe được tiếng rên rỉ du dương...





Chú thích:

(1) Đáng đầu: cấp chỉ huy trong xưởng, vệ. Nhân viên cấp thấp gọi là “phiên tử”, có vai trò tương tự như “nha sai” dưới quyền quan phủ, quan huyện. Phiên tử báo cáo và nhận lệnh từ đáng đầu, như đội trưởng. Trong Nội xưởng, chức "đáng đầu" lại khá to, những viên Thiên hộ cũng chưa được xem là đáng đầu.

Hiện nay, bản dịch đang dịch “phiên tử” là nha sai, chúng tôi sẽ thu xếp chỉnh lại.

(2) Kế tuyệt hậu: đây là một kế sách thâm hiểm và ác độc, khiến cho đối thủ tuyệt tử tuyệt tôn, lực lượng đối thủ bị tiêu diệt sạch.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
19-10-2011, 11:48 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 144 - Thượng, trung, hạ sách




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Nhìn thấy cử chỉ của y Thành Khởi Vận không khỏi khẽ thở dài, trong lòng hơi thất vọng song lại có chút nhẹ nhõm. Trên lý trí, nàng rất hy vọng Dương Lăng là một người quyết đoán, tàn nhẫn vì đạt mục đích mà không từ thủ đoạn. Chỉ có người như vậy mới có tiền đồ, mới đáng để nàng theo phò.

Nhưng có một loại tình cảm kỳ diệu trong lòng lại khiến nàng thà nguyện Dương Lăng là người có tình có nghĩa, hơi khờ dại chịu thiệt về mình. Chính nàng cũng không thể giải thích được tại sao mình lại có loại tâm lý mâu thuẫn này.




Chương 144 - Thượng, trung, hạ sách

---

Cơn gió khẽ thoảng qua, dịu dàng lướt nhẹ lên cánh tay tình nhân, ánh mặt trời rộn ràng và ấm áp như dải lụa bao phủ lấy đôi tình nhân đang mê say trong sự dịu dàng của nó.

Mã Liên Nhi kiệt sức nằm cuộn tròn lên người y, tay chân lười chả buồn động đậy, xiêm áo đắp bừa trên người, làn da trắng nõn lờ mờ ẩn hiện.

Một chiếc váy lưới che trên đầu hai người, bên trong là một mảng mông lung. Hai người xa nhau rồi lại gần nhau, cả thân thể cũng gần gụi đến hoà vào nhau. Đôi bên không trông thấy rõ dung mạo đối phương, mập mờ như cái đêm trên ngọn núi tuyết đó.

Mùi đất hoà lẫn với mùi thơm cỏ xanh bị dập nát chậm rãi len lỏi vào trong cánh mũi. Dương Lăng nhẹ nhàng vuốt ve bờ mông đầy co dãn của Mã Liên Nhi. Nơi ấy bị nhành cỏ cấn vào, hằn những dấu vết hồng nhạt. Làn da trắng ngần cùng những vết tích ấy làm cho người ta hết sức say mê.

Liên Nhi nằm trong lòng Dương Lăng, thở yếu ớt, mãi lâu sau mới như tỉnh lại từ trong mơ nũng nịu nói:
- Phu quân, cuối cùng Liên Nhi đã trở thành người của huynh rồi. Huynh... huynh còn ở lại Kim Lăng được bao lâu? Lúc này đã nỡ bỏ rơi người ta rồi sao?

Dương Lăng khẽ thở dài nói:
- Không đâu, huynh định... huynh có thể ở lại thêm năm sáu ngày nữa!

- Lâu vậy à? - Liên Nhi mừng rỡ reo lên, sung sướng ôm chặt lấy Dương Lăng sau đó rúc đầu vào lòng y mà thẹn thùng cười khúc khích.

Bộ ngực mềm mại non nớt khẽ rung rinh, cạ vào người y khiến Dương Lăng cảm thấy ngực mình nhồn nhột. Y vô thức chộp lấy quả tuyết lê vươn cao ấy khiến cho Liên Nhi lại rên lên một tiếng.

Dương Lăng thấp giọng hỏi:
- Muội cười cái gì?

Mã Liên Nhi nũng nịu:
- Dương đại ca không có lương tâm gì hết. Lúc đầu thì vội vã đòi về kinh, bây giờ... bây giờ như vầy rồi thì lại có thời gian nhàn rỗi.

Giọng nói trêu đùa dịu dàng đáng yêu đó khiến Dương Lăng cảm thấy nao nao trong lòng, song lại không muốn giải thích cho nàng. Y vốn thương tiếc cho nàng, cảm thấy mắc nợ nàng, tuy rằng Trương thiên sư đã có nói trước nhưng giờ đây hai người đã phát sinh ra mối quan hệ này, y vẫn có cảm giác hơi sợ và lo lắng. Có cơ hội làm cho nàng vui lên một chút như vậy cũng tốt, cho dù nàng nghĩ rằng mình ở lại là vì nàng.

Dương Lăng vuốt ve thân thể nàng, nhỏ nhẹ hỏi:
- Chuyện của huynh và muội, bá phụ có biết chưa?

Mã Liên Nhi gật đầu "ưm" một tiếng rồi đáp:
- Lúc đầu thì chưa biết, nhưng hôm qua huynh vừa đi thì bá bá đã đến hỏi muội, nghe muội nói ra thân phận của huynh xong, lại biết muội đã từng đính ước chung thân với huynh từ trước người chỉ thở dài, cũng không nói gì thêm.

Dương Lăng cũng thở dài rồi nói:
- Bây giờ muội và huynh thực chất đã là phu thê, sau khi quay về huynh sẽ mang sính lễ đến nhà muội. Hiện giờ muội chưa thể thành thân vậy xác định danh phận trước cũng tốt.

Mã Liên Nhi cất giọng u uẩn:
- Hay là... đợi thêm một ít lâu đi. Cho dù anh muội có xấu xa hơn đi chăng nữa thì suy cho cùng huynh ấy vẫn là người thân duy nhất của muội. Vì việc của muội mà huynh ấy... huynh ấy đã bị Tất đô ty trừng trị rất thảm. Huynh ấy có gửi thư nói về chuyện được huynh đề bạt, trong lòng huynh ấy cũng rất hối hận về chuyện trước đây. Muội tính... đợi huynh ấy về sẽ để huynh ấy tiếp nhận sính lễ. Huynh trưởng như cha mà.

Dương Lăng ừm một tiếng. Hai người nhất thời không nói gì, chỉ có hơi thở phả nhẹ lên làn da của đối phương.

Một lúc sau, bỗng có người gọi inh ỏi:
- Xưởng đốc đại nhân! Dương đại nhân, đại nhân đang ở đâu vậy?

Dương Lăng giật nảy mình, hoảng hốt ngồi bật dậy:
- Bọn họ lên núi làm gì vậy?

Y vừa ngồi dậy, váy lưới che trên đầu liền bị kéo ra, Mã Liên Nhi bị ánh nắng chiếu vào liền nhắm mắt lại. Một cơn gió khẽ thoảng qua mang đến một cảm giác mát rượi, nàng mới phát hiện người mình không có một mảnh vải, thế là không kiềm được xấu hổ trách:
- Á! Xem huynh kìa, mau quay mặt đi, không được nhìn. Muội... để muội mặc quần áo đã.

Cần cổ trắng ngà của Liên Nhi quyến rũ lạ thường, vẻ thẹn thùng khẽ trách càng mang muôn sắc phong tình. Tiếc rằng lúc này Dương Lăng cũng không có thời gian mà thưởng thức, y vội chộp lấy áo bào tròng vào. Liên Nhi nén đau ngồi dậy, cố chống người mặc lại quần áo vào.

Hai người trộm đưa mắt nhìn nhau. Trông Dương Lăng còn đỡ, Mã Liên Nhi thì tóc tai toán loạn, mặt như thoa sáp hồng, đuôi mày khoé mắt chan chứa xuân tình, đôi mắt đào long lanh ánh nước. Chỉ cần không phải là người mù thì ai cũng sẽ nhìn ra chuyện gì vừa xảy ra.

Mã Liên Nhi hoang mang lo lắng, chén đĩa cũng không màng đến chỉ cuộn tấm lụa trắng lấm tấm vết đỏ lại, vội vã nhét vào trong hộp đồ ăn rồi cầm lên.

Dương Lăng cố lấy can đảm kêu to:
- Ta đang ở đây, đã xảy ra chuyện gì?

Vừa nói y vừa ngoắc tay gọi Mã Liên Nhi rồi bước ra trước dẫn đường.

Liễu Bưu đang dẫn theo mấy người tìm kiếm loạn khắp nơi như một đám nhặng cụt đầu, trông thấy y hiện thân thì mới yên tâm.

Mã Liên Nhi thẹn thùng bước ra theo sau, Liễu Bưu lại như không thấy, y vội vã bước đến bên Dương Lăng bẩm:
- Đại nhân, đại đáng đầu chạy cả đêm từ trong kinh đến, nói có chuyện cực kỳ quan trọng muốn gặp đại nhân. Khi nghe nói đại nhân đang ở trên núi Tê Hà, ông ấy liền chạy đến đây ngay một khắc cũng không đợi, hiện cũng đang tìm đại nhân khắp núi đó.

Dương Lăng nghe xong, mặt liền biến sắc. Hiện nay Nội xưởng phát triển nhanh chóng, Ngô Kiệt tọa trấn kinh sư quả thật không thể rời nơi đó một khắc, ông ta đột nhiên lại chạy đến đây thì trong kinh nhất định đã xảy ra chuyện lớn rồi.

Dương Lăng lập tức nói:
- Mau, ta ở đây đợi huynh, lập tức tìm ông ta cho ta.

Liễu Bưu và mấy tay phiên tử chia nhau ra chuyển sang tìm kiếm Ngô Kiệt. Liên Nhi trông thấy sắc mặt của Dương Lăng, vội bước tới hỏi:
- Dương đại ca, đã xảy ra chuyện lớn gì à?

Dương Lăng nghiêm sắc mặt gật đầu, đoạn áy náy nói:
- Liên Nhi, đại đáng đầu từ trong kinh chạy suốt đêm đến đây, e rằng phải có sự tình trọng đại. Huynh...

Mã Liên Nhi lập tức hiểu ý, nàng cúi đầu vén mái tóc mai tán loạn, ngọt ngào mỉm cười nói:
- Sao vậy? Hiện tại không thể cùng người ta đầu gối tay ấp, tỏ lời đường mật thì cảm thấy áy náy rồi à? Có việc công thì cứ đi làm, (huynh coi) Liên Nhi là đứa con gái không hiểu chuyện sao?

Mặc dù Dương Lăng hơi lo lắng song nghe lời này cũng không nhịn được mà bật cười. Y nhẹ nhàng ôm lấy Liên Nhi, khẽ nói:
- Không hổ là phụ nữ của Dương Lăng huynh. Huynh vẫn còn mấy ngày mà, đợi lo xong công việc thì mỗi ngày sẽ đến bầu bạn với muội.

Mã Liên Nhi đỏ mặt gật đầu, trong lòng ngọt ngào đê mê. Lúc này từ xa có người kêu lên:
- Đại nhân, ty chức đến rồi.

Dương Lăng quay đầu lại thấy Ngô Kiệt chân đi như chạy, Liễu Bưu thoải mái bước sát theo sau, những phiên tử khác cũng chạy chậm theo sau.

Ngô Kiệt tuy đã ngũ tuần song lại giỏi võ, chạy vội lên núi mà mặt vẫn không đỏ, hơi thở không loạn. Ông chạy đến trước mặt y, trông thấy Mã Liên Nhi ánh mắt không khỏi chăm chú lại.

Ngô Kiệt quanh năm bôn ba tái ngoại, là thủ lĩnh tối cao Cẩm Y vệ ngoài quan ngoại nên bản lĩnh ghi nhớ và nhận biết người hết sức siêu phàm. Cho dù một người có tướng mạo tầm thường nhất, chỉ cần để ông ta gặp qua một lần thì mấy năm sau cũng đừng hòng thoát khỏi ánh mắt ông ta huống hồ là mỹ nhân như Mã Liên Nhi đây.

Có điều mặt lão lo lắng, trong lòng rõ đang có việc quan trọng nên lúc này cũng không khách sáo với Mã Liên Nhi nữa. Ngô Kiệt vội vòng tay bẩm với Dương Lăng:
- Đại nhân, ty chức chạy từ trong kinh đến đây là có việc quan trọng muốn bẩm với đại nhân...

Dương Lăng hiểu ý, y quay lại nói với Mã Liên Nhi:
- Liên Nhi, huynh kêu người đưa muội về trước, xử lý công việc xong huynh sẽ đi gặp muội.

Mã Liên Nhi ngoan ngoãn đáp lời, đoạn đi theo hai tay phiên tử xuống núi trước. Dương Lăng kéo tay Ngô Kiệt ngồi xuống một tảng đá, hỏi:
- Lão Ngô, trong kinh đã xảy ra chuyện gì?

Ngô Kiệt xua tay, phiên tử chung quanh lập tức tản ra. Lúc này Ngô Kiệt mới nghiêm giọng nói:
- Xưởng đốc đại nhân, sau khi đại nhân rời kinh, đám người Lưu Cẩn, Mã Vĩnh Thành và Cốc Đại Dụng nếu không phải là tìm mấy món đồ lạ về mê hoặc hoàng thượng thì là đưa hoàng thượng du ngoạn khắp nơi, xao nhãng chính sự. Đầu tiên là ngừng Kinh Duyên và ngọ triều, sau đó cả tảo triều cũng bị gián đoạn. Đám đại học sỹ Nội các và bá quan trọng triều vì chuyện này mà không ngừng dâng sớ. Bởi vì đại nhân có quan hệ rất tốt với những thái giám này, trong phố phường đã bắt đầu truyền miệng rằng mấy thái giám đó đều là do đại nhân xúi giục cố ý mê hoặc Hoàng thượng, khiến Hoàng thượng bỏ bê chính vụ, còn nói đại nhân mang đầy dã tâm, làm vậy là để tiếm mưu đoạt quyền.

Ty chức lấy làm lạ bèn mua chuộc một tên tiểu thái giám bên cạnh Hoàng thượng thì mới dò la được gần đây trong cung có một đám thái giám nương dựa vào tám người bọn họ, cả ngày khuyên dụ bọn họ rằng Dương đại nhân là bề tôi tin tưởng của Hoàng thượng giờ đã trở thành thần tử có địa vị cực cao, hưởng mọi vinh hoa phú quý. Mấy người bọn họ cũng là người được Hoàng thượng tin yêu, chỉ cần làm cho hoàng thượng vui vẻ một chút thì cũng sẽ có thể mò vét được một tước vị oai phong.

Mấy kẻ này ham lợi mờ mắt không ngờ lại tin đó là thật, cả ngày vắt óc đi tìm trò vui lấy lòng Hoàng thượng, nay đã bị văn võ cả triều coi như cái gai trong mắt phải nhổ đi thì mới thoải mái. Bọn họ bị dao nhọn kề cổ rồi mà vẫn không hay. Kỳ quái là, những thái giám này đều là những chấp sự trong cung, quyền lực không thua gì đám người Lưu Cẩn, nếu muốn nương dựa vào bọn họ thì sớm đã dựa dẫm vào rồi, sao lại trùng hợp đúng lúc đại nhân vừa rời kinh bọn chúng liền lập tức cùng nhau nương nhờ, còn cùng nhau làm ra hành động này? Đây rõ ràng là...

Trong lòng Dương Lăng đã nhẹ nhõm bớt, y cười nhạt một tiếng, tiếp lời:
- Đây rõ ràng là thượng ty giơ tay, hạ quan uống rượu(1), Hạng Trang múa kiếm, ý tại Bái Công(2).

Ngô Kiệt thoáng ngẩn người một chút, rồi mới vui mừng cười nói:
- Đại nhân đã nhìn ra rồi à? Từ xưa đến nay trong triều tranh đấu, rất ít ai nhắm trực tiếp vào mục tiêu cuối cùng mà ra tay để lộ thực lực và mục đích của mình. Thủ đoạn thường dùng của những quan viên này là đầu tiên tìm cách ra tay với những tiểu nhân vật có quan hệ mật thiết với đối phương mà lại không quá nổi bật, lấy đó làm cái cớ. Đến khi sự tình càng lúc càng nghiêm trọng, đến khi đối thủ chân chính phát hiện ra được nguy hiểm thì cả triều đình và dân chúng cũng đã ở vào tình thế không thể nghịch chuyển, lúc này mới là lúc chân tướng được vạch trần.

Mà Đông xưởng và Cẩm Y vệ lại không thông thạo thủ đoạn này. Bọn họ xưa nay dùng thế ép người, cường hoành bá đạo, cùng lắm là dùng mấy thủ đoạn vu cáo hãm hại. Trước giờ ty chức đều hết sức quen thuộc với thủ đoạn hại người của bọn họ cho nên căn bản không nghĩ loại thủ đoạn thâm hiểm quanh co thận trọng này có thể được bọn họ nghĩ ra. Ty chức lo rằng trong triều có kẻ khác muốn gây bất lợi cho đại nhân nên luôn bí mật cho điều tra chuyện này.

Mấy ngày trước có mấy phiên tử phát sinh xung đột với người của Đông xưởng trong quán rượu bị người của chúng bắt đi, tung tin nói là không thấy Đại đáng đầu của Nội xưởng ra mặt nhận lỗi thì tuyệt sẽ không thả người. Bởi đại nhân vắng mặt cho nên ty chức nguyện đa sự, hay tin liền đã tự thân chạy đến. Không ngờ... trong lúc tranh cãi, vị Đới Nghĩa Đới công công đứng ra điều đình cùng ty chức đó lại lén nhét một cuộn giấy cho ty chức. Ty chức trở về xem, thì ra nội dung viết bên trong chính là việc Đông xưởng và Cẩm Y Vệ âm thầm hợp tác tính kế đại nhân. Nội dung trong thư này cùng với âm mưu mà ty chức đoán ra không ngờ lại trùng hợp, ty chức cũng không dám có chút chậm trễ nên mới vội chạy đến đây gặp đại nhân.

Dương Lăng ngẩn ra một hồi lâu, rồi mới lẩm bẩm:
- Đới Nghĩa? Ồ... lão ta sớm đã bất mãn với Vương Nhạc và Phạm Đình, tin tức tiết lộ hẳn không phải là giả, vả lại lão ta cũng không có lý do gì mà gạt ta. Trong thư lão ấy nói những gì?

Ngô Kiệt đáp:
- Nguyên văn trong thư của Đới Nghĩa ty chức vẫn còn nhớ kỹ. Đới Nghĩa nói rằng: "Kế của Đông xưởng và Cẩm Y Vệ là: dụ đám người Lưu Cẩn và Trương Vĩnh làm ác, kích động mọi người giận dữ mà đổ tội cho Dương Lăng. Dương Lăng hồi kinh, bá quan dâng sớ xin chém, hoàng thượng tất sẽ không cho. Bèn lại xin bỏ tù Dương Lăng đợi tra xét, hoàng thượng tất sẽ cho. Đến lúc Cẩm Y Vệ phụng chỉ bắt người, cho tinh nhuệ của xưởng vệ mai phục trong ngoài, lấy cớ Dương Lăng kháng cự mà giết gấp, đồng thời chặt bỏ vây cánh. Cậy thế mà diệt tiếp tám tên thái giám Lưu, Mã, Trương. Nội đình trừ gian, ngoại đình tạo thế, thì đế vương chi tôn cũng không thể phán tội được, thiên hạ sẽ được yên ổn vậy."

Dương Lăng nghe xong liền đứng bật dậy bước tới mấy bước, giận đến trán nổi gân xanh. Ngô Kiệt lẳng lặng đi theo không nói tiếng nào. Dương Lăng nhìn mảng rừng phong đỏ bừng như lửa ở trước mặt, ngực phập phồng kịch liệt một trận rồi mới dần dịu lại.

Có gì mà tức giận chứ? Bản thân đã đến thời đại này thì phải tuân thủ quy tắc của trò chơi hiện tại. Bọn họ tàn nhẫn nhổ cỏ tận gốc, mình cảm thấy nó ác độc nhưng trong mắt bọn họ nó lại là thủ đoạn hết sức đương nhiên.

Triều đại như vậy, chẳng lẽ còn mong có thể "bỏ phiếu dân chủ" cho những bất đồng về chính trị như trong xã hội dân chủ hiện đại sao? Muốn đánh đổ đối thủ thì phải quyết một trận sống mái. Cái gọi là quan lộ hiểm ác, há chẳng phải chính vì nguyên do này ư?

Y thở dài thườn thượt, đoạn bình tĩnh nói:
- Đại đáng đầu đi đường mệt mỏi, đi thôi, chúng ta về phủ uống tạm vài chén rồi tiếp tục thương thảo kỹ lưỡng.

Trong mắt Ngô Kiệt thoáng loé lên vẻ tán thưởng, đoạn chắp tay đáp:
- Dạ, ty chức tuân mệnh.

Trong sảnh nhỏ, hai người đối ẩm, Liễu Bưu ngồi tiếp rượu ở cuối bàn. Hai người này đều là nhân vật thượng tầng của Nội xưởng, gã không khỏi có điều uý kỵ.

Dương Lăng cầm đũa chau mày, trầm tư thật lâu, đồ ăn trong miệng nhạt thếch: kế này của Đông xưởng không thể nói là không độc à. Chuyện Bát Hổ giao hảo với y ai nấy đều biết, còn về phần Bát Hổ có phải bị y xúi giục hay không căn bản không cần chứng cứ xác thực. Tin đồn nơi phố chợ đã tương đương với kỹ xảo định hướng dư luận của đời sau rồi, chỉ cần y không đưa ra được chứng cứ phản bác là đủ rồi.

Nếu như bá quan trong triều và thân sĩ danh tiếng đều đứng về phe đối lập với y vậy Đông xưởng và Cẩm Y Vệ sẽ đột ngột thừa lúc y hồi kinh, chưa phát hiện ra kế hoạch của bọn họ mà bất ngờ ra tay, trong một đêm trừ tận gốc tinh nhuệ của Nội xưởng. Cho dù sau đó hoàng đế biết được sự tình cũng sẽ không thể xoay chuyển tình thế, càng vô pháp giáng tội một người nào.

Khó xử nhất chính là trong nhất thời khó mà nghĩ ra được cách để phá giải kế sách này. Dư luận nằm trong tay ai? Chính là nằm trong tay kẻ đọc sách, mà quan văn trong triều lại là thành phần cốt lõi của những kẻ đọc sách. Cái thứ vũ khí làm gì cũng thuận lợi này lúc nào cũng nằm trong tay bọn họ, ngay cả hoàng đế cũng sợ nó như sợ cọp. Mình đi biện bạch với ai đây? Nực cười! Cho dù y có miệng dẻo mua được lòng người (3) thì sao đấu lại trăm ngàn cái miệng chứ?

Không thể giải trừ hiểu lầm của bá quan thì về mặt đạo lý y sẽ luôn rơi vào thế hạ phong. Đừng nói là về kinh đề xuất chính sách giải trừ cấm biển, thông thương lợi dân, ý đồ thay đổi vận mệnh Đại Minh sợ rằng sau này làm gì cũng khó khăn, lúc nào cũng phải nơm nớp lo sợ.

Dương Lăng thở dài, trông thấy Ngô Kiệt và Liễu Bưu cũng mặt mày nặng trĩu, không khỏi mỉm cười an ủi:
- Không cần quá lo lắng, bọn chúng vẫn còn xem thường lực lượng của chúng ta, không biết ty Lễ Giám có người của chúng ta, lại không biết nội bộ Tây xưởng và Cẩm Y vệ cũng có người liên kết với chúng ta. Bọn chúng muốn dùng thế sét đánh mà đánh trộm chúng ta? Bây giờ chúng ta đã biết việc này còn bọn chúng biết mình mà không biết người thì liệu nắm được mấy phần thắng chứ?

Ngô Kiệt gật đầu nói:
- Ty chức hiểu rồi, giờ đây chúng ta đã biết kế hoạch của bọn họ lại nắm trong tay lực lượng mà bọn họ không biết, vậy họ muốn bất ngờ tập kích tiêu diệt tinh nhuệ của Nội xưởng thì đó thật là chuyện nực cười. Nhưng mà hiện tại chúng ta đã rơi vào thế bất lợi, trừ Đông xưởng và Cẩm Y vệ ra thì quan viên thù địch với chúng ta cũng càng lúc càng nhiều. Nếu không giải quyết việc này thì về sau nó sẽ trở thành một mối hoạ vô cùng lớn. Xưa nay chỉ có đạo lý ngàn ngày làm giặc, nào có đạo lý ngàn ngày phòng giặc đâu.

Dương Lăng gượng cười, lại hỏi:
- Văn võ bá quan nói sao? Chẳng lẽ bọn họ dễ dàng đứng hết về phía nội đình sao?

Ngô Kiệt suy nghĩ một chút, trên mặt lộ ra chút an ủi, đáp:
- Cũng không hẳn vậy, Lục Bộ trong triều thì chí ít có bộ Lễ và bộ Hộ bảo trì trung lập, phần lớn võ tướng cũng có khuynh hướng nghiêng về phía Xưởng đốc. Ngoài ra, sau khi chuyện Xưởng đốc đại nhân lấy sức một địch mười đẩy lui giặc Oa trước Hải Ninh triều được truyền về kinh, lại có thuế giám các nơi kịp thời giao nộp thuế khoá triều đình lên kinh thì một số quan văn ở Ngự sử đài và Hàn Lâm viện cũng rất tán dương đại nhân. Lực lượng này tuy quá bé để có thể ảnh hưởng đến thế cuộc song rõ ràng cũng đã sinh ra tác dụng nhất định. Theo tình hình mà ty chức quan sát thấy thì ý kiến của ba vị đại học sỹ cũng không thống nhất. Đại học sỹ Lý Đông Dương dường như vẫn chờ đợi, không như hai vị đại nhân Lưu, Tạ bày tỏ rõ thái độ căm ghét đại nhân.

Trong lòng Dương Lăng dấy lên một tia hy vọng. Lý Đông Dương rất có uy danh, bá quan trong triều có đám người chỉ nghe theo ông ta như là thiên lôi sai đâu đánh đó. Nếu ông ta không tán thành với việc đối phó mình, vậy thì mình có thể tách từ trong "tập đoàn quan văn" ra một phần lực lượng. Tuy rằng không thể chuyển hoá phần lực lượng này thành sự trợ giúp cho mình nhưng chỉ cần bọn họ bảo trì trung lập thì như vậy áp lực dồn lên hoàng thượng sẽ giảm đi rất nhiều. Lợi dụng tình thế tế nhị này cộng thêm lực lượng tiềm ẩn mà mình nắm trong tay hẳn sẽ có thể cùng Đông xưởng phân cao thấp.

Đúng vào lúc này, một phiên tử chợt chạy đến bên cửa, chắp tay báo:
- Bẩm Xưởng đốc đại nhân, có Nhị đáng đầu xin cầu kiến.

Ngô Kiệt ngạc nhiên đứng dậy, kinh ngạc hỏi:
- Nhị đáng đầu? Là Hoàng lão hay là Vu Vĩnh? Không phải là ta đã bảo bọn họ nghiêm thủ kinh thành không được tự ý rời khỏi nửa bước sao? Lại đã có chuyện gì xảy ra rồi?

Dương Lăng cười nói:
- Ngô lão chớ kinh hoảng, đây là một vị thuộc hạ mà bản đốc mới vừa thu nhận, đang giúp bản quan xử lý một việc lớn. Có điều bây giờ xem ra nếu không thể giải quyết mối họa ngầm trong kinh thì việc này cũng chỉ có thể trì hoãn lại.

Y thở dài một tiếng, đặng bảo:
- Cho mời Thành nhị đáng đầu vào.

Thành Khởi Vận đội khăn tím, đeo đai xanh, vận áo dài lụa màu xanh, cải trang làm một thư sinh tuấn tú như thoa ngọc khoan thai sải bước vào đại sảnh. Đang định hành lễ với Dương Lăng thì nàng chợt trông thấy trong phòng còn có hai người đang đứng liền không khỏi ngẩn ra.

Liễu thiên hộ thì nàng nhận ra song lão già diện mạo quắc thước, mắt ẩn thần quang nọ thì lại rất lạ mặt. Thành Khởi Vận tò mò trộm liếc lão một cái, ánh mắt khẽ cụp xuống. Trông thấy người này đang đứng sau lưng Dương Lăng lại đứng còn cao hơn Liễu thiên hộ nửa bước, trong lòng lờ mờ có điều hiểu ra. Nàng mỉm cười chắp tay nói:
- Ty chức tham kiến đại nhân. Vị này là...

Dương Lăng đang trọng dụng nàng, Ngô Kiệt lại không phải là người không thể gặp, nếu cứ giấu giấu giếm giếm, thì sau này biết gặp nhau thế nào? Cho nên y thoải mái mỉm cười nói:
- Thành đáng đầu, vị này chính là Ngô Kiệt Ngô đại đáng đầu, chính là thượng cấp trực tiếp của đáng đầu, mau bước lên ra mắt đi.

Thành Khởi Vận thầm nghĩ: "Hóa ra là ông ta. Người mà Dương đại nhân chọn quả nhiên bất phàm, cho dù không có ý gì với mình nhưng đàn ông lần đầu gặp mình mà ánh mắt bình tĩnh lãnh đạm như vậy quả thật là hiếm thấy."

Trước đây nàng tiếp xúc phần lớn là đám háo sắc, đã thấy nhiều những vẻ mặt thèm thuồng của những kẻ đó, cũng đã quen mỗi khi gặp đàn ông thì sẽ xem xem đối phương có để ý đến tướng mạo của mình hay không trước rồi từ đó đoán ra tính cách người đó.

Nàng lại quên lúc này nàng đang mang diện mạo đàn ông. Mặc dù Ngô Kiệt liếc mắt liền nhận ra ngay nàng là phụ nữ có dung nhan không tầm thường nhưng dung nhan rất có quan hệ với việc vận trang phục nam hay nữ và có trang điểm hay không. Với kiến thức của Ngô Kiệt đương nhiên sẽ không cảm thấy kinh ngạc với tướng mạo hiện tại của nàng.

Thành Khởi Vận bước lên trên, dùng lễ hạ quan để bái kiến lão, tác phong và cử chỉ lại rất có phong độ nam nhi. Ngô Kiệt mỉm cười đỡ nàng dậy song lại liếc mắt sang Dương Lăng một cái đầy thâm ý.

Người con gái này có tài năng gì thì lão vẫn chưa được chứng kiến nhưng quan sát kỹ lưỡng thì thấy người con gái này tuy ra sức cải trang song ánh mắt lanh lợi, ngũ quan tinh xảo, rõ ràng là một mỹ nhân.

Tuy rằng quan viên Nội xưởng không nằm trong quan chế (biên chế) của triều đình nhưng cũng chưa từng nghe nói có phụ nữ nào làm quan. Dương Lăng trọng dụng một người con gái như vậy làm lão không tránh khỏi hơi có suy nghĩ lệch lạc.

Thành Khởi Vận làm lễ ra mắt xong, mỉm cười lui về hai bước đoạn cất tiếng thưa với Dương Lăng:
- Đại nhân, ty chức may mắn không làm nhục mệnh. Điều kiện của chúng ta hậu hĩnh, họ Bành lại không phải mạo hiểm gì cho nên sau khi trông thấy lệnh bài của đại nhân thì đã khẳng khái đồng ý đáp ứng trợ giúp việc này. Theo lời lão ta, nội trong một tháng sẽ có thể chuẩn bị xong xuôi, còn cụ thể chừng nào lên kinh thì vẫn do đại nhân quyết định ạ.

Vừa nói nàng vừa đưa tay vào trong áo rút ra tấm lệnh bài ngà voi nọ, cung kính dâng lên hai tay. Dương Lăng cầm lấy lệnh bài đã nằm êm ấm trên người Thành Khởi Vận, trên đó còn vương chút hương thơm nhàn nhạt.

Dương Lăng không khỏi thoáng do dự, y trao lại lệnh bài cho nàng, nói:
- Hiện thời cũng không làm kịp lệnh bài cho đáng đầu, Thành nhị đáng đầu cứ tạm thời cầm lấy lệnh bài này, rồi sau sẽ thông cáo hiểu dụ Nội xưởng nói rằng đó là tín vật của Thành nhị đáng đầu là được.

Thành Khởi Vận vui sướng nhận lấy lệnh bài nhét trở vào trong người. Dương Lăng trầm ngâm một chút rồi nói:
- Việc chuẩn bị hãy cứ để lão ta tiếp tục làm, có điều việc vào kinh tạm thời chưa vội. Bây giờ trong kinh đang có chuyện lớn, việc này ta tạm thời cũng chưa thể lo tới được.

Thành Khởi Vật cả kinh, sắc mặt tươi cười lập tức biến mất, nàng chần chừ một lúc, đoạn hỏi:
- Tìm lý do bảo lão ta từ từ chờ thì không thành vấn đề. Có điều... sắc mặt đại nhân nghiêm trọng như vậy phải chăng trong kinh đã xảy ra việc lớn gì rồi sao? A! Ty chức lỗ mãng rồi, nếu không tiện... - nàng vừa nói vừa trộm liếc nhanh Dương Lăng một cái.

Với tính đa nghi của nàng nếu không để nàng biết rõ chân tướng thì nàng sẽ ngứa ngáy trong lòng cho nên nàng cũng không suy nghĩ gì liền hỏi ngay, lời ra đến cửa miệng thì mới sực nhớ rằng mình vừa gia nhập Nội xưởng, chức vị tuy cao song chưa lập được công gì mà trước mắt còn khó lấy được sự tín nhiệm của Dương Lăng. Nếu thật sự có việc lớn gì thì Dương Lăng không tiện nói với nàng cũng là lẽ thường, hỏi như vậy chẳng phải tự làm bẽ mặt mình ư?

Dương Lăng lại có suy nghĩ khác. Vừa rồi y đã phân tích thực lực của đôi bên trong triều, phe mình thân đơn thế cô, tuy ở vào thế yếu nhưng hơn ở chỗ là đã biết được kế hoạch của đối phương mà đối phương lại không biết thực lực tiềm ẩn của mình, hơn nữa bá quan văn võ lại không hề đồng lòng. Nếu Đông xưởng và Cẩm Y vệ không được ngoại thần toàn lực ủng hộ trên mặt đạo nghĩa và dư luận thì sẽ không dám động võ mà mạo hiểm tội "tạo phản".

Y đã chuẩn bị thông tri cho Tây xưởng và Bắc trấn phủ ty âm thầm phòng bị, trước khi vào kinh y sẽ rêu rao âm mưu của xưởng vệ ra ngoài. Chỉ cần làm lớn chuyện này để mọi người đều biết, âm mưu biến thành dương mưu thì bọn họ có muốn mượn cớ giết người cũng sẽ phải cân nhắc miệng lưỡi thế gian.

Cho nên ngoại trừ chuyện của Tây xưởng và Trấn phủ ty tạm thời không thể nói, những chuyện khác cũng không có gì phải giấu giếm, hơn nữa lúc này lại vừa vặn cần đến sự thông thạo của Thành Khởi Vận.

Y nhìn sang Ngô Kiệt, mỉm cười nói:
- Ngô lão, ông nói cho Thành đáng đầu nghe đi. Thành đáng đầu đa mưu túc trí, nói không chừng sẽ có thể nghĩ ra cách hay để ứng phó đó.

Thế là mọi người lại quay trở về bàn ngồi, Ngô Kiệt thuật lại tình hình trong kinh cho vị Nhị đáng đầu này một lượt. Thành Khởi Vận nghe mà mắt loé sáng kỳ lạ, khẽ nghiêng đầu trầm tư thật lâu không nói lời nào.

Dương Lăng thấy vậy, không nhịn được bèn chồm người về phía trước, trầm giọng hỏi:
- Đông xưởng và Cẩm Y Vệ như hổ đói rình mồi, tình thế nguy cấp, không biết Thành đáng đầu có đối sách gì không?

Thành Khởi Vận khẽ mỉm cười, đưa mắt liếc Dương Lăng một cái, dịu dàng đáp:
- Nếu như đại nhân không hay không biết mà cứ thế về kinh, vậy đúng là cửu tử vô sinh. May mắn có chuyến đi Kim Lăng này thành ra tìm lành tránh dữ. Bây giờ nếu như ta đã biết căn nguyên của bọn họ vậy có gì mà nguy cấp đây?

Dương Lăng không những đã thấy nàng trong trang phục phụ nữ mà cả tấm thân nàng cũng đã thấy sạch trơn, vì vậy ở trước mặt Dương Lăng nàng vô thức không cảnh giác đề phòng, cho nên vừa rồi mới không kìm lòng được mà lộ ra vẻ quyến rũ của nữ nhi.

Dương Lăng ngượng ngùng rờ mũi. Thành Khởi Vận mỉm cười duyên dáng định nói tiếp chợt thấy ánh mắt kỳ dị của Ngô Kiệt và Liễu Bưu mới sực tỉnh. Nàng hơi lúng túng ho khan vài tiếng rồi nói:
- Chắc hẳn đại nhân đã có sẵn tính toán trong lòng. Ty chức nghĩ ra được ba kế, có lẽ chỉ là vẽ rắn thêm chân, nói ra thực sẽ bêu xấu trước mặt hai vị đại nhân mà thôi.

Ngô Kiệt cả kinh, thất thanh thốt lên:
- Cái gì? Lại có những ba kế? Thành đại nhân xin hãy mau nói thẳng.

Thành Khởi Vận nheo mắt lại, cất giọng nham hiểm:
- Nó bất nhân, ta bất nghĩa, ngăn cách ở giữa là một ty Thuế Giám giàu nứt đố đổ vách. Chúng ta và Đông xưởng không còn khả năng nói chuyện hoà bình vậy tại sao không lấy đạo nó trả lại cho nó? Thế nên thượng sách này của ty chức chính là tiên phát chế nhân (4)!

Nàng trầm ngâm một chút, đoạn nói tiếp:
- Ở trước mặt Hoàng thượng, đại nhân thì gần mà Đông xưởng thì xa cho nên bọn chúng dùng thế, cậy thế bá quan lấy thế lớn mà ép chí tôn, vì vậy bất lợi thuộc về đại nhân. Chúng ta có thể thừa lúc thế chúng chưa thành, bí mật lẻn vào kinh gặp mặt thánh thượng, tiên phát chế nhân đoạt thế của chúng. Thậm chí... có thể mạo hiểm hơn chút nữa. Nội xưởng có chức trách đốc sát Đông xưởng và Cẩm Y Vệ, tại sao bỏ nó mà không dùng? Chúng ta có thể không cần nhận thánh chỉ mà trực tiếp đến Đông xưởng xét người, bắt người!

Dương Lăng và Liễu Bưu nghe xong không khỏi thất kinh. Liễu Bưu đã thất thanh nói:
- Không được, dốc hết toàn lực, trao quyền cho người khác như vậy há chẳng khéo quá hoá vụng ư?

Thành Khởi Vận bật cười nói:
- Đương nhiên không phải là làm ầm ĩ lên. Hiện nay bọn chúng đang bí mật tính kế Xưởng đốc thì trong lòng tất sẽ có quỷ, chỉ cần chúng ta khiến bọn chúng sinh ra ảo tưởng rằng đại nhân muốn xuống tay trước với chúng thì có thể ép chúng động thủ trước để tạo cho chúng ta một cái cớ.

- Về phần tội danh...- Thành Khởi Vận mỉm cười rồi nói:
- Năm xưa khi Lý Quảng tại triều, muốn được điềm lành thì điềm lành bỗng không ngừng xuất hiện ở khắp nơi. Giờ đây Đông xưởng đổ rồi, tin rằng đại nhân chỉ cần nói bóng gió một tiếng thì thuế giám các nơi nắm giữ tội chứng liên quan đến Đông xưởng nhất định cũng sẽ đua nhau trình lên. Thậm chí... chúng ta có thể tìm gán luôn cho Đông xưởng hàng loạt những tội chứng mưu phản. Có thì là có, không có vẫn là có. Một khi đã có tội chứng vậy mọi chuyện sẽ do Nội xưởng quản, bá quan văn võ còn có thể nói gì đây? Nếu không sợ rơi vào cái vũng lầy Đông xưởng ấy thì cứ việc lao đầu vào đi.

Dương Lăng nghe xong mà hít một hơi khí lạnh, nổi da gà: "Người phụ nữ này thật thâm độc quá đi. Tim đủ đen, thủ đoạn cũng đủ ác độc. Nếu nàng ta mà là đàn ông thì đã có thể gia nhập triều chính rồi. Chậc! Người nào mà đối địch với nàng ta nhất định sẽ không có được cuộc sống yên bình."

Dương Lăng biết rằng nương tay nhân từ cũng phải tuỳ thời tuỳ lúc. Hiện giờ người ta đã mài dao xoèn xoẹt, mình mà còn mang lòng dạ đàn bà thì khi đó không những tự hại mình mà còn hại cả mấy ngàn huynh đệ cực khổ theo mình.

Đến lúc ấy đối thủ sẽ khâm phục lòng nhân từ của mình à? Sợ rằng sẽ chỉ cười mình ngu xuẩn. Chẳng lẽ mình muốn học Viên Sùng Hoán (5), cả thịt cũng để cho lão bá tánh ăn để rồi mai sau đổi lấy một tiếng thở dài, một lời sám hối của bọn họ? Huống hồ có ai mà hiểu được lý tưởng của mình? Biết đâu, sợ sau khi chết đi rồi ngay cả sự thanh bạch cũng không được trả lại.

Nhưng nếu như làm theo cách của Thành Khởi Vận, trong mắt quan văn thì mình sẽ là tên gian thần lộng triều chính gốc, dù có thêm lý do gì nữa cũng không thay đổi được. Hôm nay trong triều vẫn còn một bộ phận quan viên có khuynh hướng nghiêng về phía mình, liệu rằng cũng sẽ đẩy bọn họ ra luôn ư? Đã đến lúc phải đi nước này rồi sao?

Y do dự một lát, rồi khẽ lắc đầu, hỏi:
- Thế còn trung sách thì sao?

Nhìn thấy cử chỉ của y Thành Khởi Vận không khỏi khẽ thở dài, trong lòng hơi thất vọng song lại có chút nhẹ nhõm. Trên lý trí, nàng rất hy vọng Dương Lăng là một người quyết đoán, tàn nhẫn vì đạt mục đích mà không từ thủ đoạn. Chỉ có người như vậy mới có tiền đồ, mới đáng để nàng theo phò.

Nhưng có một loại tình cảm kỳ diệu trong lòng lại khiến nàng thà nguyện Dương Lăng là người có tình có nghĩa, hơi khờ dại chịu thiệt về mình. Chính nàng cũng không thể giải thích được tại sao mình lại có loại tâm lý mâu thuẫn này.

Nàng cắn nhẹ môi, nói tiếp:
- Trung sách, chính là lấy tiến làm tiến. Nhược bằng đại nhân chịu cắt đứt giao tình với Tám thái giám thì sau khi vào kinh phải lập tức tạo nên thanh thế lớn, tốt nhất là làm cho ai ai cũng biết, công khai can gián, ra sức xin Hoàng thượng thuận theo bá quan, chém gian nịnh, chỉnh triều cương, diệt trừ tám vị thái giám mê hoặc quân thượng. Bọn họ không quyền không thế, lại không được ân sủng như đại nhân nên hành động này nhất định có thể giải quyết xong trong một lần.

Huống hồ còn có văn võ bá quan trong triều, bọn họ há dám vì tư lợi mà không đứng ra ủng hộ đại nhân trong thời khắc này ư? Vì vậy, tội danh mà văn võ bá quan và Đông xưởng và Cẩm Y vệ khổ tâm gán ghép cho đại nhân ngược lại sẽ trở thành công tích của đại nhân. Đại nhân trở thành người vì bá quan mà xin lệnh vua, cho dù bọn họ biết rõ trong lòng thì trên danh nghĩa ít ra cũng phải cùng tiến thoái với đại nhân, trong thời gian ngắn sẽ không cách nào công khai ra mặt hãm hại đại nhân được. Có điều kế này tuy ổn thoả hơn thượng sách song lại chỉ có thể giải nạn trong nhất thời. Chừng nào còn lưu mối lo lớn là Đông xưởng bên mình thì chừng ấy vẫn sẽ là một tai họa.

Liễu Bưu chợt chen miệng vào nói:
- Đại nhân!

Dương Lăng ngước mắt lên, chỉ thấy Liễu Bưu thoáng đỏ mặt, hơi ngượng ngập nói:
- Ty chức cảm thấy... cảm thấy thượng sách của Thành đại nhân rất đáng để mạo hiểm thử!

Dương Lăng bình tĩnh nhìn y, thoáng trao đổi ánh mắt với Ngô Kiệt rồi thản nhiên hỏi tiếp:
- Ồ, vậy... còn hạ sách thì thế nào?

- Hạ sách... - Thành Khởi Vận cười gượng một tiếng, lấy làm bất đắc dĩ nói:
- Hạ sách à, vậy chỉ có thể tới nước nào thì hay nước đó thôi. Hạ sách này chính là trước khi đại nhân hồi kinh liền công bố âm mưu của Đông xưởng ra ngoài. Bọn chúng kiêng kị miệng lưỡi mọi người, lại không biết đại nhân có đối sách gì cho nên kế hoạch trừ khử đại nhân của chúng sẽ không thể thực hiện được nữa, do vậy đại nhân sẽ có thể an toàn hồi kinh. Tuy nhiên một khi kế hoạch này không thành thì bọn chúng ắt sẽ tìm cách khác để đả kích đại nhân. Quan hệ giữa tám thái giám và đại nhân nhập nhằng không rõ, cái ô danh này sẽ vẫn là một cái cớ để chúng uy hiếp đại nhân. Hơn nữa sĩ khí và lực lượng trong triều ngoài triều lại không hề hao tổn gì, như vậy hậu quả về sau thế nào sẽ khó mà lường trước được.

Hoá ra diệu kế mà mình nghĩ ra trong mắt của Thành Khởi Vận lại chỉ là hạ sách mà thôi. Dương Lăng không khỏi âm thầm cười khổ. Y đứng dậy, nặng nề cất bước đi lại trong phòng.

Lý trí và tình cảm, lợi hại lẫn thiệt hơn không ngừng được y tính toán và cân nhắc trong lòng: "Trong triều tối thiểu vẫn còn một vị đại học sỹ, hai vị thượng thư, một đám quan văn và đại bộ phận võ tướng là đứng về phía trung lập. Để tự bảo vệ mình thì không thể không theo đuổi quyền lực lớn mạnh hơn nữa, nếu như thật sự dùng đến thượng sách của Thành Khởi Vận thì khi ấy bọn họ sẽ nhìn mình với con mắt như thế nào? Có thật đã đến nước đường cùng phải sử dụng đến bạo lực rồi không?”

Dương Lăng suy nghĩ, lưỡng lự. Ngô Kiệt, Thành Khởi Vận và Liễu Bưu nín thở hồi hộp nhìn y chằm chằm, chờ đợi y đưa ra một quyết định.

Dương Lăng dừng lại trước tấm bình phong, ngắm cảnh non xanh nước biếc như tiên cảnh trên đó mà lòng lại rối bời như canh hẹ, nhất thời cũng chẳng lần ra được manh mối gì.

Ngay lúc này, ngoài cửa đột nhiên có một phiên tử áo đen mũ đỏ chạy xộc vào khuỵu một gối xuống đất, cất cao giọng tâu:
- Khải bẩm Xưởng đốc, thượng thư bộ Lễ Kim Lăng Vương Quỳnh Vương đại nhân sai người đến cầu kiến!



Chú thích:

(1) đây là trò oẳn tù tì uống rượu. Khi uống rượu, hai người cùng giơ ngón tay ra cùng lúc rồi đoán số, ai nói đúng là được, nói sai bị phạt uống rượu, cả hai người đều nói sai thi hoà. Câu này dùng chỉ thủ đoạn sử dụng kẻ trung gian để kiềm hãm đối phương.

(2) nguyên văn "Hạng Trang vũ kiếm, ý tại Bái Công". Hạng Trang là một võ tướng, em của Hạng Vũ. Còn "Bái Công" là Lưu Bang. Ý của câu thành ngữ này chỉ trong bữa tiệc Hồng Môn, Hạng Trang mượn tiếng ra múa kiếm trợ hứng, và muốn nhân cơ hội này giết chết Lưu Bang. Nay thường dùng để ví về người bề ngoài thì có lý do chính đáng, nhưng thực tế lại có dụng ý khác.

(3) nguyên văn "thiệt xán liên hoa" chỉ kẻ mồm mép lanh lợi, nói lời hay chữ tốt làm cho người ta vui. Điển cố này trích từ sự tích về cao tăng Phật Đồ Trừng dâng hương niệm chú khiến chậu nước nở sen, mang đến hân hỉ cho mọi người.

(4) đánh phủ đầu để kiềm chế đối phương

(5) Viên Sùng Hoán (tên tự: Viên Tố và Tự Như; 6 tháng 6 năm 1584 – 22 tháng 9 năm 1630) là một danh tướng chống Mãn thời Minh. Tuy xuất thân là một văn thần, đỗ Tiến sĩ, nhưng người ta biết ông nhiều với tư cách là một chỉ huy quân sự, từng nhiều lần đánh bại quân Hậu Kim đầu thế kỷ 16. Ông bị Vương Vĩnh Quang cùng đồng đảng dâng tấu biểu vu cáo cấu kết và tư thông với giặc Kim và xử tử tội. Đau đớn nhất cho ông là kể cả những người dân chúng kinh thành mà ông hết lòng bảo vệ, cũng cho rằng Viên Sùng Hoán cấu kết và dẫn đường cho giặc Kim vào xâm lược nên ai cũng hận ông đến tận xương tủy. Sau khi ông thọ hình trước cổng thành, nhiều người đã tranh giành thân xác ông như muốn ăn tươi nuốt sống để thỏa nỗi thù hận. Nỗi oan của Viên Sùng Hoán kéo dài hơn 100 năm. Trớ trêu thay, vị vua công bố sự thật và xuống chiếu minh oan cho ông lại là con cháu của đối thủ không đội trời chung: Hoàng đế Đại Thanh Càn Long, cháu năm đời của Hoàng Thái Cực. (trích từ wiki)



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
20-10-2011, 06:07 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 145 - Tức Nước Vỡ Bờ




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Tưởng Khâm ngoái đầu nhìn lại, lão thấy hai mắt Vương Quỳnh mở trừng trừng nhìn thẳng về phía trước, cơ mặt thoáng co rút, cặp mắt già nua đùng đục bị ánh đèn hắt vào, trong mắt lão như có hai ngọn lửa đang bùng cháy. Giữa cổ họng lão... giữa cổ họng lão đã bị một mũi tên đen sì, nhọn hoắc cắm vào.



Chương 145 - Tức Nước Vỡ Bờ

------------------------

Nếu như sông Tần Hoài là cảnh sắc êm ả dịu dàng thì bến Đào Diệp chính là chiếc giường thêu cẩm tú trong cảnh sắc dịu dàng ấy. “Bến đò Đào Diệp nước mênh mang, trên bờ lầu gác dưới thuyền ngang. Kẻ đến người đi tranh nhau tới, thuyền hoa ca hát khúc an nhàn.” (Hán Việt: Đào diệp độ đầu thủy du du, ngạn hạ du thuyền ngạn thượng lâu; quy khách hành nhân tranh độ cấp, ca thuyền họa phảng mãn trung lưu.)

Nơi đây tiếng sênh ca (1) từ những tửu lâu, kỹ quán vọng lại quanh quẩn khắp bên tai khiến cho người đi ngẩn ngơ nhung nhớ. Trên mặt nước du thuyền lui tới như thoi đưa, đèn đóm sáng choang. Trong thuyền hoa (thuyền vẽ hình, trang trí dùng để đưa du khách ngoạn cảnh) có giai nhân Giang Nam, có nhạc công thượng đẳng, khiến cho du khách ai nấy đều mê mẩn quên hết trời trăng tháng ngày.

Tuy trời đã tối, trên bến đò những người bán rong vẫn cất cao tiếng rao mời rượu nhạt, đồ chín và các món ăn vặt. Nơi đây có thể gọi là một trung tâm giải trí thương nghiệp thành thị.

Từ đầu những năm Hồng Vũ, từ khi Chu Nguyên Chương hạ lệnh xây dựng mười sáu lầu quán mang những cái tên Đạm Yên, Kinh Tùng, Trọng Trạch, Lai Tân… và phổ biến việc nuôi dưỡng quan kỹ (2) cho đến nay, Kim Lăng luôn nồng mùi son phấn trăng hoa: luyến đồng (3) cợt nhả khách làng chơi, kỹ nữ tài giỏi tranh nhau đua tài khoe sắc. Những quan lại cùng thân sĩ, danh sĩ "chơi gái không quên lo việc nước, lo nước không quên kiếm gái chơi" cũng chạy theo xu thế này.

Trên lầu Đạm Yên, Nam Kinh cấp sự trung Đới Tiễn chau mày hỏi khẽ:
- Vương đại nhân! Dương Lăng chịu đến sao?

Vương Quỳnh cười nhạt, đưa mắt nhìn mọi người chung quanh rồi bảo:
- Hôm nay có các đại quan của Nam Kinh Lục Bộ, các vị đồng liêu ở Ngự Sử đài, Bố chánh ty và Thủ bị doanh liên danh* mời y đến dự tiệc, nếu y còn làm bộ làm tịch không tới thì đó không phải là Dương Lăng nữa rồi. (*cùng ký tên)

Từ khi bị giáng khỏi kinh sư, tóc lão đã bạc thêm mấy phần, nếp nhăn trên mặt cũng nhiều hơn nhưng thần sắc lại trầm ổn và kiên quyết hơn trước. Khi "đạo đức lễ giáo" mà lão xưa nay vẫn luôn cho là có thể giải quyết mọi vấn đề lại không thể đẩy tên gian nịnh vào chỗ chết, thậm chí còn không nhận được sự hưởng ứng của đông đảo quan viên triều đình thì lão mới biết giờ đây lễ nhạc suy đồi, đã không thể chỉ vẻn vẹn dựa vào di huấn của thánh nhân là có thể "trị quốc bình thiên hạ" được nữa.

Người lão phái đi nghe ngóng tin tức trong kinh đã trở về. Lão đã biết Dương Lăng kết giao với huân thần (bề tôi có công) lẫn công khanh và những bậc quyền quý trong kinh, giúp bọn họ chuyển lậu hàng hoá; nghe nói hắn còn vận chuyển một số lượng lớn vật phẩm tinh xảo của dị quốc về kinh dâng cống cho Hoàng thượng. Kẻ này nếu không phải là phường gian nịnh thì cớ chi phải lao tâm khổ tứ như vậy?

Kẻ này vừa mới thành lập Nội xưởng liền bắt đầu kết giao với quyền thần, vơ vét tiền tài; nhìn thủ đoạn ở Giang Nam và trước mặt Hoàng thượng của y là biết y là kẻ dã tâm bừng bừng. Kẻ làm đại sự thì không câu nệ tiểu tiết, vì đại nghĩa tiếc chi chút nghĩa khí nhỏ nhặt? Vì tập thể tiếc gì bản thân? Nếu lúc này mà không trừ khử y, đợi y mọc đủ lông đủ cánh thì đại thế đã mất rồi.

Mượn sức Đông xưởng chỉ là việc bất đắc dĩ. Nhưng nếu muốn không để chúng mượn thế vùng lên thì bá quan trong triều phải nhận lĩnh vai trò chủ đạo trong quá trình trừ gian. Nhưng lúc này bá quan văn võ lại không thể đồng tâm hiệp lực, rất đông quan viên thậm chí ngay cả Lý đại học sỹ vẫn bàng quan đứng ngoài nhìn, mà kế sách của mình đã như tên lắp nỏ, không thể không bắn. Từ khi nghe người trở về báo tình hình trong kinh, lão đã quyết định phải gặp Dương Lăng một lần. Lúc này không thể không đặt thêm một quả cân cuối cùng lên trên bàn cân được nữa.

Ngự sử Nam Kinh là Tưởng Khâm hừ một tiếng, giọng không vui:
- Đạo bất đồng bất tương vi mưu (4). Tuy Dương Lăng quyền cao chức trọng, nắm quyền tuần sát Giang Nam, song chúng ta không cần thiết phải để ý tới hắn. Nếu không phải là nể mặt Vương lão đại nhân thì Tưởng mỗ quyết sẽ không đến.

Bạc Ngạn Huy cùng là Ngự sử với Tưởng Khâm, nghe vậy thì giật nhẹ tay áo lão, khẽ trách:
- Luận chính nghĩa, chẳng lẽ ông so được với Vương thượng thư? Luận thù riêng, chẳng những Vương đại nhân vì Dương Lăng nên bị giáng khỏi kinh sư, mà con của đại nhân còn bởi Dương Lăng mà bỏ mạng, không lẽ lại không căm hận Dương Lăng như chúng ta? Ngày nay nội thị làm loạn, có thể thuyết phục được Hoàng thượng cũng chỉ có Dương Lăng. Vương thượng thư dẹp bỏ ân oán cá nhân, thiết rượu khoản đãi y còn không phải là vì giang sơn xã tắc, bá tánh lê dân ư? Ông xem đó, lòng dạ ông không bằng phần vạn của thượng thư đại nhân mà còn ở đây nói xằng nói bậy.

Tưởng Khâm bực bội hừ một tiếng, thấy mọi người trên bàn tiệc đều không nói gì thì lại khẽ đáp:
- Nói là nói vậy, nhưng Tưởng mỗ nghe nói đám nội thị được xưng là Bát Hổ và Dương Lăng vốn là bè lũ, thậm chí việc mê hoặc thánh thượng cũng là ý của Dương Lăng, việc này trong kinh ai nấy đều sớm đã biết. Vương đại nhân muốn thuyết phục Dương Lăng trừ gian, há chẳng phải là bảo hổ lột da ư?

Bạc Nhan Huy thở dài một hơi, đáp:
- Thật ra... Tôi cũng không ôm hy vọng gì, mọi chuyện cứ thuận theo số trời vậy.

- Khâm sai Dương đại nhân đến!

Dương Lăng leo vội lên lầu, liếc nhanh thì thấy ngoài quan thủ bị Nam Kinh là Quan đại nhân ra, những người còn lại y đều không nhận ra, song nhìn vào quan phục của những vị quan ngồi đầy trên bàn tiệc thì rõ ràng đều mang dáng dấp "quan chức cấp cao của chính phủ", bèn vội mỉm cười ôm quyền nói:
- Các vị đại nhân đợi đã lâu, Dương mỗ tới trễ, xin thứ lỗi, thứ lỗi!

Y đích thực đã đến hơi trễ. Ngay khi nhận được thiếp Vương Quỳnh mời y đến dự tiệc, quả thực Dương Lăng đã lưỡng lự một lúc lâu. Vương Quỳnh vì y mà bị giáng chức, vì y mà mất con, có thể nói bất luận là công hay tư hai người đều có thù sâu như biển; lão mời mình đến dự tiệc là muốn diễn tuồng gì đây?

Liễu Bưu đã quen với những thủ đoạn mưu sát, hãm hại và vu khống nên ý kiến đầu tiên của gã là y vạn lần không thể đi. Vương Quỳnh rõ ràng đã bày Hồng Môn yến (5), chắc lão già đó kiên quyết đồng quy vu tận, nói không chừng sẽ cho thủ hạ ẩn nấp để lóc thịt xưởng đốc đại nhân đây.

Ngô Kiệt xin xem thiếp mời, thấy mặt sau ghi chi chít tên một đám quan viên, thì cũng đoán không ra dụng ý của Vương Quỳnh. Ở trước mặt đông đảo quan viên như vậy mà hành thích khâm sai ư? Cho dù Vương Quỳnh không sợ chết, nhưng mưu sát khâm sai là tội lớn tru di cửu tộc, lão ta dám sao? Trừ phi lão ta muốn tạo phản.

Tương tự, Thành Khởi Vận cũng không rõ trong bình hồ lô của Vương Quỳnh có chứa thứ thuốc gì. Nhưng hôm nay những người liên danh mời Dương Lăng một cách gấp gáp thế này là toàn bộ quan lớn của cả Kim Lăng, nếu như y không đi thì chẳng khác nào đắc tội với hết thảy quan viên thành Kim Lăng cả. Sự phát triển của Dương Lăng trong tương lai sẽ lấy phương nam làm nền móng, mà những người này ngoại trừ Lục Bộ không gánh vác trách nhiệm gì lớn còn những quan viên khác đều nắm thực quyền ở Nam trực lệ, y sao có thể không đi?

Cuối cùng bọn họ thỏa thuận lập tức cho phiên tử chạy gấp đến Đạm Yên dò xét kỹ trong ngoài một lượt, xác định hoàn toàn không có mai phục gì. Lúc đó họ mới dám phái mười người thông minh tháo vát, võ nghệ siêu phàm lén giấu dao nhọn, cải trang làm kiệu phu và tùy tùng theo y đến dự tiệc.

Kinh sư Lục Bộ lấy bộ Lại làm đầu. Nam Kinh Lục Bộ đều là những chức quan nhàn hạ, nên phải dựa theo lai lịch và danh vọng mà sắp chỗ ngồi. Dương Lăng là khâm sai, Vương Quỳnh thì đức cao vọng trọng, đương nhiên hai người bọn họ cùng ngồi vào vị trí chủ tọa của bàn trên.

Dương Lăng miễn cưỡng ngồi cùng một bàn với Vương Quỳnh. May mà các quan viên khác cũng biết ân oán cá nhân giữa hai người nên tiệc rượu vừa được dọn ra, bọn họ bèn lôi kéo Dương Lăng cùng tham gia nói chuyện phiếm.

Những đại nhân già này bụng đều đầy thi thư, nói chuyện gió trăng cũng không thô tục như người bình thường. Tuy rằng Vương thượng thư rất coi trọng lễ giáo, nhưng là chú trọng đến triều cương và nhân luân. Còn chơi gái là chuyện phong lưu ân ái, không tổn hại gì đến đạo đức cá nhân, bản thân lão Vương còn có năm thê thiếp, nhỏ nhất mới chỉ hai mươi hai, cho nên bọn họ đương nhiên không kiêng kị gì. Do đó bầu không khí dè dặt cẩn trọng ban đầu tự nhiên nhanh chóng biến mất.

Dương Lăng không biết dụng ý của Vương Quỳnh nên trong tiệc không dám uống nhiều. Uống đã ngà ngà, Dương Lăng mới nói với mấy vị đại nhân cùng mâm:
- Lần này Dương mỗ xuôi nam là để xử lý chút việc nhỏ của ty Thuế Giám, vốn không dám làm phiền các vị lão đại nhân. Hôm qua tại hạ cùng Phùng công công trấn thủ Nam Kinh đã thỏa thuận xong quyết định điều động nhân sự, đang định mấy ngày tới đây sẽ lặng lẽ trở về kinh thành, song không ngờ lại làm nhọc công các vị đang bộn bề trăm công nghìn việc đến uống rượu. Dương mỗ xin kính tiếp mọi người một chén.

Tuy rằng phần lớn các quan viên đều khinh thường y nhưng quan trường là vậy, nói chuyện với bạn thân hảo hữu ở sau lưng thì vẻ mặt đầy căm phẫn nhưng lúc giáp mặt thì lại tươi rói như hoa. Ai trèo lên đến vị trí cao như vậy cũng không dễ, dám vì đại nghĩa mà đắc tội với tâm phúc của Hoàng đế thật sự có được mấy người? Vừa thấy Dương Lăng nâng chén, mọi người liền vội nâng chén đáp cùng.

Vương Quỳnh nhấp nhẹ một ngụm, hờ hững cười nói:
- Đại nhân lần này xuôi nam có thể nói là công đức viên mãn à nha! Đã khuất phục được ba vị thái giám trấn thủ Giang Nam, ty Thuế Giám cũng đã là đồ trong túi của đại nhân rồi, trong triều đã có thể tự mình giở quyền cước.
Còn trong quân đội, vốn đại nhân đã rất có uy danh. Lại thêm lần này ở Hải Ninh chống giặc Oa, quân chính quy không địch lại giặc Oa hung hãn mà Dương đại nhân chỉ dựa vào gần trăm vệ binh đã chống lại ngàn quân, như thể bọn chúng dâng tặng hậu lễ cho đại nhân vậy. Trong chớp mắt thanh danh đại nhân vang dội, có thể nói là danh tướng của Đại Minh rồi.
Theo lão phu thấy, tương lai đại nhân tay nắm binh mã thiên hạ giữ cõi chống giặc, đảm đương triều chính, hàng phục bốn rợ (6) cũng không phải là việc khó, tiền đồ không thể lường nổi đâu à.

Dương Lăng cười gượng gạo, rồi bình tĩnh đáp:
- Đại nhân khen nhầm rồi, diệt trừ mấy viên thái giám trấn thủ phạm pháp cũng không tính là thành tích gì. Vả lại tinh nhuệ của Đại Minh ta chính là mười hai đoàn doanh kinh sư, nha sai của Nội xưởng vốn xuất thân từ Thần Cơ doanh nên đương nhiên việc đối phó một đám giặc Oa trên biển là việc không khó rồi.

Vừa nói y vừa trộm liếc Vương Quỳnh một cái thật sâu: "Vương Quỳnh đang khen mình à? Bề ngoài thì giống như khen mình văn võ song toàn, nhưng nói mình vừa đương văn lại đương võ, còn hàng phục bốn rợ, sao câu nào câu nấy đều như đâm chọc thế nhỉ?"

Vương Quỳnh cười ha hả:
- Dương đại nhân quá khiêm nhường rồi. Thân là cận thần của thiên tử, lại có tài cán như vậy, thì có gì mà khó? Tuy nhiên...,

Ánh mắt lão chợt ngưng lại, thần sắc trở nên lạnh lùng, nghiêm nghị:
- Thiên tử tuổi nhỏ, gần đây trong triều có một đám bề tôi gièm pha mê hoặc Hoàng thượng, khiến Hoàng thượng lơ là công việc triều chính, xao nhãng việc học. Bá quan trong triều ai nấy đều lo âu, lê dân thiên hạ cũng hoang mang thấp thỏm. Dương đại nhân rất được Hoàng thượng tin yêu, không biết sau khi về kinh, đại nhân sẽ định liệu việc này như thế nào?

Lão vừa hỏi câu này, bốn bề lập tức im phăng phắc, rất nhiều người vểnh tai lên chờ nghe câu trả lời của Dương Lăng. Dương Lăng thấy ánh mắt Vương Quỳnh sáng quắc, trong lòng không khỏi ngơ ngác. Chẳng lẽ hôm nay Vương Quỳnh vứt bỏ thù xưa, hy vọng mình có thể khuyên bảo Hoàng thượng sao?

Dương Lăng thoáng suy nghĩ rồi đáp:
- Thân là bề tôi, Dương mỗ tự có trách nhiệm khuyên nhủ Hoàng thượng. Hồi kinh rồi, Dương Lăng đương nhiên sẽ dùng lý lẽ nói cho Hoàng thượng hiểu, xin Hoàng thượng quan tâm đến việc triều chính hơn.

Vương Quỳnh cười lạnh:
- Lục khoa, Thập tam đạo (7), thậm chí là ba vị đại học sĩ Nội các không biết đã dâng bao nhiêu bản sớ mà có khuyên được Hoàng thượng hồi tâm đâu? Chỉ là mấy tên nội thị nhỏ nhặt không đáng kể, đại nhân đang nắm quyền bính trong tay, chẳng lẽ không thể diệt trừ gian nịnh, thanh lọc bề tôi nhơ bẩn bên cạnh thánh thượng sao?

Nghe xong lời thẳng thắn như vậy, Dương Lăng không khỏi giật mình thất kinh. Nhưng suy đi nghĩ lại, nếu trong tấu chương đám ngôn quan và đại thần nội các còn dám trực ngôn yêu cầu Hoàng thượng giết Bá Hổ, thậm chí còn đang âm thầm bày kế tiền trảm hậu tấu nhằm giết chết tên "quyền thần" là mình đây, thì trên bàn tiệc này, Vương Quỳnh dám công khai xúi giục mình diệt trừ Bát Hổ cũng không có gì là lạ.

Nếu y theo kế Vương Quỳnh, ấy chính không bàn mà hợp với trung sách của Thành Khởi Vận, chẳng qua cấp tiến hơn một chút mà thôi. Có điều... y nhớ rất rõ, trong lịch sử đám người Lưu Cẩn rất có tiếng tăm, mình có thể giết được bọn họ không? Hơn nữa bá quan văn võ sẽ vì việc này mà từ bỏ ý niệm tiêu diệt mình sao?

Chỉ với mớ kiến thức và lý luận tiên tiến vượt thời đại của mình thì đừng hòng mơ mộng đả thông được tư tưởng những kẻ cầm quyền ở thời đại này. Từ xưa đến nay đã bao giờ thiếu những kẻ ngoài lòng thì vờ vịt thương tiếc nhau, trên triều thì lại là đối thủ sống mái đâu? Nếu thật sự mình giết Bát Hổ rồi, Hoàng đế tất sẽ sinh ác cảm với mình, thế lực thù địch trong cung thì không chút bị tổn hại, mà ngoài cung thì những kẻ nắm đại quyền sẽ vẫn là trở lực, khi đó bốn bề thọ địch, muốn tự bảo vệ mình cũng khó.

Dương Lăng cười khổ một tiếng, không biết trả lời thế nào, đành nói:
- Đại nhân! Hoàng thượng tuổi nhỏ, ham chơi vốn dĩ tính trời, tại hạ cho rằng chỉ cần hướng dẫn đúng đắn, để Hoàng thượng giảm thiểu vui chơi cũng được rồi. Huống hồ quốc có quốc pháp, Dương mỗ sao có thể xông vào trong cung diệt trừ Bát Hổ chứ? Tạo phản ư?

Vương Quỳnh cười lạnh:
- Thế thì có khó gì? Một phạm nhân bị cùm xích vào ghế không thể cựa quậy mà còn có thể vì mưu đồ hành thích quan viên mà bị giết, chết rất quang minh chính đại, không oan không uổng, thế mà đại nhân lại không có biện pháp xử chết mấy tên nội thị đó sao?

Dương Lăng đứng bật dậy, mặt tím tái, trong lòng thầm nghĩ: "Chẳng lẽ việc mình giết Vương Cảnh Long đã bị lão phát hiện manh mối rồi sao? Không đúng, hiểu con không ai bằng cha, đứa con trong lòng lão vẫn là một thư sinh văn nhã, cho dù không nắm được chứng cứ trong tay, lão cũng vẫn cứ cho rằng mình đã sắp đặt giết chết con của lão."

Khó khăn lắm Dương Lăng mới mở miệng được:
- Vương đại nhân nói vậy là có ý gì? Cái chết của lệnh công tử đã sớm có kết luận của bộ Hình. Nếu không phải vì đại nhân và lệnh công tử tận lực bức bách thì sao đến nông nỗi này?

Mọi quan viên biết hôm nay Vương Quỳnh muốn thuyết phục Dương Lăng hồi kinh trừ gian, tuy cảm thấy suy nghĩ của lão hơi ngây thơ, nhưng thực cũng hy vọng lão có thể thành công. Nào ngờ vừa nhắc đến cái chết con mình, Vương Quỳnh lại liền không giữ được bình tĩnh như vậy.

Thượng thư bộ Công ngồi bên vừa đứng dậy định khuyên giải vài câu, Vương Quỳnh đã chậm rãi đứng lên, cười gằng nói:
- Lão phu vốn vẫn không tin, nay xem ra lời đồn trong kinh rằng Bát Hổ bị ngươi xúi giục quả nhiên không giả. Đương nhiên là ngươi không nỡ diệt trừ tai mắt của mình rồi!
Tuổi nhỏ ham chơi? Thiên tử là vua của một nước, sao có thể giống những kẻ tầm thường khác chứ? Ngươi dụ dỗ Hoàng thượng ham mê những bàng môn kỹ xảo, rõ là có dị tâm, nhằm mưu quyền loạn chính. Bề tôi gian nịnh như ngươi, chỉ cần ngày nào lão phu còn một hơi thở, thề sẽ khuyên bảo bá quan đồng loạt trừ khử tên gian nịnh nhà ngươi và đám Bát Hổ đó!

Nói đoạn Vương Quỳnh vung tay lên, một cái bạt tai rõ to giáng mạnh vào mặt Dương Lăng. Bạt tai này rất mạnh, mũ mão của Dương Lăng bị đánh văng đi, bàn tiệc lập tức trở nên hỗn loạn.

Khuyên giải, can ngăn, hả hê, nhất thời mọi thứ trở nên náo loạn. Đám phiên tử nãy giờ vẫn canh giữ chặt chẽ dưới lầu nghe tiếng huyên náo ở trên lật đật xông lên mới tách hai bên ra được. Đám Ngự sử Tưởng Khâm vội vã cáo lỗi rồi kéo Vương Quỳnh ra về.

Đám người Đới Tiễn và Tưởng Khâm đi theo kiệu quan Vương Quỳnh thẳng đến trước phủ của lão. Vương Quỳnh bước xuống kiệu, cơn giận trong người dường như vẫn chưa nguôi, trông thấy mấy vị hảo hữu đang lo lắng nhìn mình, lão không khỏi cười lớn trấn an:
- Các vị lão hữu không cần phải lo, cho dù Dương Lăng có tài giỏi thế nào đi nữa thì y có thể làm được gì lão phu chứ? Y dám giết lão phu sao?

Đới Tiễn cười gượng:
- Lão đại nhân nói rất đúng, nhớ năm xưa đại học sĩ Lý Đông Dương cầm roi ngựa vụt quất Thọ Ninh Hầu Trương Hạc Linh là hoàng thân đang rất được ân sủng ở ngay đầu phố kinh sư. Chỉ có điều... Ôi! Chúng tôi sớm biết khuyên bảo Dương Lăng hướng thiện chẳng khác nào bảo hổ lột da, làm nhọc đại nhân kết thêm thù mới với y. Với quyền lực của tên gian nịnh này, nếu y ôm hận trả thù, đại nhân thật sẽ khó lòng mà đề phòng đấy.

Vương Quỳnh cười ha hả:
- Lão phu tuổi đã quá thất tuần, tiền đồ và tính mạng đều đã ở cuối bờ, cớ chi phải tiếc đắc tội với một tên gian thần lộng quyền? Sợ nó làm gì! Nào nào nào, chúng ta vào phủ cùng nhau uống trà làm thơ!

Vương Quỳnh vừa kéo Đới Tiễn, Tưởng Khâm, vừa cười ha hả với Bạc Ngạn Huy, cất bước đi về phía cổng phủ. Bốn chiếc đèn đỏ chói treo dưới cạnh cổng chiếu sáng choang. Vừa mới ngước đầu, chợt Tưởng Khâm thấy có một vệt màu đen vụt lướt qua khoé mắt, mang theo tiếng gió rít sởn người; Vương Quỳnh đi bên cạnh lão đã đứng sững lại.

Tưởng Khâm ngoái đầu nhìn lại, lão thấy hai mắt Vương Quỳnh mở trừng trừng nhìn thẳng về phía trước, cơ mặt thoáng co rút, cặp mắt già nua đùng đục bị ánh đèn hắt vào, trong mắt lão như có hai ngọn lửa đang bùng cháy. Giữa cổ họng lão... giữa cổ họng lão đã bị một mũi tên đen sì, nhọn hoắc cắm vào.

Tưởng Khâm hơi kinh ngạc, rồi lập tức cùng Đới Tiễn đồng thanh la lớn:
- Vương đại nhân!... Vương đại nhân? Bắt thích khách, mau bắt thích khách!

Thị vệ hay tin chạy lập tức bạt đao xông về phía góc tường. Trong ngõ trống trơn, nơi đó chẳng có đến nửa bóng người.

***

Đám người Quan thủ bị trông thấy yến tiệc hôm nay đã trở nên nông nỗi này, ai nấy cũng cảm thấy mất sạch thể diện, trừ những kẻ quen biết hoặc muốn dựa dẫm vào Dương Lăng, phần lớn đều ngượng ngập cáo từ ra về.

Tuy rằng Dương Lăng tuổi trẻ bốc đồng, nhưng Vương Cảnh Long quả thật bị y bày kế giết chết. Trông thấy Vương Quỳnh râu tóc bạc phơ, tuổi quá thất tuần, mặc dù bị lão tát đến chảy máu môi nhưng y lại không hề có ý nghĩ muốn trả thù; tuy vậy y cũng không còn mặt mũi nào mà ở lại nơi này nữa. Thấy Quan thủ bị và mấy quan viên bu lại khuyên giải, Dương Lăng bèn gượng cười đối đáp bọn họ vài câu rồi vội vã xuống lầu đánh kiệu về phủ.

Ngô Kiệt, Thành Khởi Vận và Liễu Bưu vẫn đang chờ trong sảnh đợi tin tức của y, trông thấy đại nhân vác một bên má sưng vù trở về thì sợ giật nảy cả mình. Cao Văn Tâm đang chờ trong hậu sảnh nghe tin cũng vội chạy ra. Thời này không có đá cục chườm lạnh để mau tan vết sưng bầm, Cao Văn Tâm bèn dùng khăn nóng đắp lên mặt, nhẹ nhàng hóa giải vết bầm. Trông thấy nàng đau lòng như vậy, nếu bên cạnh không có đám người Ngô Kiệt đang đứng chờ e rằng Vương Quỳnh đã bị y chửi mắng té tát rồi.

Đường đường tổng đốc Nội xưởng mà bị người ta tát ngay trước mặt đám đông, chỉ sợ ngày mai chuyện này sẽ lan truyền khắp Giang Nam, biến thành trò cười cho cả thiên hạ. Chuyện mất hết mặt mũi như vậy, sao hai nhân vật chóp bu của Nội xưởng là Ngô Kiệt và Liễu Bưu không phẫn nộ cho được?

Dương Lăng kể lại chuyện vừa xảy ra xong, thấy bọn họ giận đến tím mặt, y đang định an ủi vài câu thì lại thấy Thành Khởi Vận đang khom lưng nhìn mình, trong mắt thoáng vẻ khôi hài, vừa thấy y chuyển ánh mắt sang, nàng mới thoạt dời mắt đi. Nhưng bờ môi cong cong vênh vểnh chưa kịp thu về vẫn đã để lộ ý định ban đầu của nàng.

Dương Lăng thấy vậy không khỏi trừng mắt nhìn nàng. Thành Khởi Vận hé miệng cười nói:
- Chỉ mong cái tát này có thể khiến cho đại nhân tỉnh ngộ. Nếu như ai cũng có thể dùng đạo lý để giải thích cho thông suốt thành kiến của con người, thì trên đời này đã bớt được biết bao chuyện thị phi rồi. Tự cổ chí kim, những bề tôi danh tiếng muốn có thành tựu cao ai mà không hết lòng đàn áp đối thủ của mình? Lẽ nào bọn họ không muốn được mọi người tin tưởng phục tùng, vạn dân yêu mến ủng hộ rồi mới đi thực hiện sách lược của bọn họ à? Không phải là họ không mong muốn như vậy, mà thật sự không thể thực hiện được thôi.
Còn nếu muốn dùng lý phục người, lấy đức phục người thì cứ ngoan ngoãn ở nhà mà đọc sách đi. Không xắn tay vào làm thì có nói mấy trăm năm cũng vẫn có người không hiểu như thường. Thay vì như vậy, khi nắm quyền lực trong tay thì cứ ra sức thực thi, chỉ cần đại nhân thật sự làm việc có hiệu quả, lúc đó người không tin phục cũng sẽ dần tin tưởng và nghe theo, kẻ vẫn không phục cũng sẽ không thể không thuận theo xu thế, vậy là đủ rồi.
Giờ đây cùng lắm chỉ là một cái tát, có diệu thủ của Cao cô nương, một hai ngày rồi cũng sẽ hết. Nếu đó là một đao kề cổ thì đại nhân sẽ làm thế nào? Ba kế sách của ty chức, vẫn mong đại nhân suy nghĩ kỹ.

Dương Lăng cười khổ một tiếng, thầm nghĩ: "Mình là ai? Trong triều không có căn cơ, ngoại thần thì coi mình như dị loại, nội đình hục hặc với nhau, bên trên còn có Hoàng đế, mình có thể mặc sức làm càn sao? Muốn kiến tạo đặc khu mà dùng thực tiễn để nói chuyện à? Căn bản không có cái thuyết địa lí chính trị (8) đấy đâu. Muốn dùng thượng sách của cô, trừ khi tôi nắm hết quyền lực trong tay, thanh tẩy lại toàn bộ thế lực triều đình. Làm như vậy sẽ gây ra biến động lớn tới cỡ nào?"

Dương Lăng còn chưa trả lời, ngoài cửa một tên "mũ đỏ" lại hối hả chạy vào bẩm:
- Xưởng đốc đại nhân, có Quan đại nhân thủ bị Kim Lăng cầu kiến!

Nghe báo, Dương Lăng ngẩn cả người. Quan Kiến Công mới vừa rồi còn dự tiệc cùng mình nay sao đột nhiên lại chạy đến làm gì?

Dương Lăng đưa mắt ra hiệu cho Ngô Kiệt và Thành Khởi Vận, hai người hiểu ý lánh ra sau bức bình phong. Chỉ sau khoảnh khắc, phiên tử đã đưa Quan thủ bị vội vã chạy vào. Khi nãy trên bàn tiệc vị tướng quân này còn bận thường phục bằng tơ lụa, thế mà loáng cái lại đã khôi giáp chỉnh tề.

Dương Lăng thấy vậy, biết đã xảy ra chuyện lớn liền vội nghênh đón:
- Quan đại nhân, đại nhân là...?

Quan thủ bị lật đật hành lễ, rồi báo:
- Ty chức đang dẫn doanh thủ bị, Ngũ thành binh mã ty và Tuần kiểm ty lục soát toàn thành. Tiện đi qua quý phủ cho nên tự thân đến thông báo một tiếng, rất mong đại nhân ước thúc thủ hạ, hôm nay chớ nên ra đường.

Dương Lăng cả kinh hỏi:
- Lục soát toàn thành? Đã xảy ra chuyện gì?

Quan thủ bị nhìn y thật sâu, đoạn khẽ giọng:
- Vương đại nhân, Lễ Bộ thượng thư Vương Quỳnh, khi nãy trong lúc hồi phủ đã gặp phải thích khách.

- Cái gì?
Dương Lăng ngỡ ngàng, mãi một lúc sau mới hỏi:
- Vương thượng thư... Ông ta hiện ra sao rồi?

Quan thủ bị cụp mắt khẽ thở dài một hơi, đáp:
- Một mũi tên xuyên họng! Vương đại nhân... ông ấy đã chết rồi.

Quan thủ bị còn căn dặn thêm vài điều gì đó nhưng Dương Lăng đã hoàn toàn không nghe thấy gì nữa. Song cái liếc mắt đầy thâm ý của lão trước lúc rời khỏi lại giống như một mũi kim đâm vào tim y. Vương Quỳnh đã chết, mà lại là ngay sau khi vị khâm sai đại nhân có thù cũ hận mới này đến Kim Lăng, mới vừa phát sinh xung đột với lão xong thì lão chết!

Ngô Kiệt và Thành Khởi Vận đã bước ra khỏi bình phong, đứng hai bên nhìn y. Ngây người một hồi lâu, Dương Lăng mới lạnh lùng bảo:
- Trịnh bách hộ đâu, gọi hắn đến gặp ta!

Trịnh bách hộ bước vào đại sảnh, mù mờ hỏi:
- Đại nhân, đại nhân có gì căn dặn?

Dương Lăng lao qua túm áo gã, tím mặt gặng hỏi:
- Chính ngươi phái người giết Vương Quỳnh phải không?

Trịnh bách hộ hộ tống y đến lầu Đạm Yên. Nếu Vương Quỳnh đã chết, có đến tám chín phần là đám binh sĩ này thấy y chịu nhục, muốn trút giận cho y mà đã ám sát Vương Quỳnh. Đúng là quá vô pháp vô thiên rồi.

Trịnh bách hộ hoảng đến giật thót mình, run sợ kêu:
- Vương Quỳnh chết rồi? Sao lại thế được? Không phải vừa rồi ông ta còn... còn... Đại nhân, ty chức luôn theo cạnh đại nhân, không có mệnh lệnh của đại nhân làm sao ty chức dám ám sát đại thần trong triều? Tổng cộng mười người chúng tôi cùng theo đại nhân trở về, không thiếu một người. Chắc chắn Vương Quỳnh không phải do người của chúng ta giết!

Dương Lăng buông tay ra, ngơ ngơ ngẩn ngẩn:
- Là ai? Là ai muốn giết Vương Quỳnh?

Thành Khởi Vận chưa từng thấy vẻ mặt này của y. Tuy biết y vốn nóng tính nhưng bình thường nàng còn dám đùa cợt một tí với y, còn lúc này thấy y giận dữ đến thế nàng cũng cảm thấy rét trong lòng. Chần chờ một chốc, rồi nàng mới khẽ nhắc nhở:
- Đại nhân! Ai muốn giết Vương Quỳnh thì tự có nha môn Kim Lăng điều tra, chuyện này không liên quan đến chúng ta. Vương Quỳnh đã chết, tin tức sẽ mau chóng đưa về kinh sư, chúng ta phải làm thế nào? Lúc này đại nhân không thể không nhanh chóng quyết định được đâu!

Dương Lăng chấn động trong lòng. Không sai, một khi Vương Quỳnh chết đi, hết thảy quan viên vẫn đang đứng ngoài quan sát đều sẽ cùng chung kẻ thù địch là y. Lúc này cho dù mình có tài của Tô Tần (9) ba hoa xích thố đến như thế nào, cho dù nói cho Giang Hà* chảy ngược cũng sẽ không có mấy ai chịu tin. Bây giờ tất cả mọi đường lui đều đã bị chặn kín, trừ một ngọn núi đao đó ra, mình đã không còn con đường nào khác để đi.
(*Trường Giang và Hoàng Hà, chỉ sông lớn)

Chống lại Đông xưởng và Cẩm Y Vệ thì thế nào? Chống lại toàn bộ văn võ triều đình thì đã sao? Bây giờ mình còn đường lui ư? Mình phải ứng chiến! Không thể không chiến!

Thần sắc Dương Lăng dần dần trở nên bình tĩnh. Y quay đầu lại, đôi mắt dưới ánh sáng của ngọn nến trông như hai đóm ma trơi âm u. Y cất giọng lạnh lẽo sai bảo:
- Trịnh bách hộ! Căn dặn thuộc hạ: đêm nay toàn bộ huynh đệ không được phép rời khỏi cổng phủ một bước, chuẩn bị thật tốt để ly khai bất cứ lúc nào.
Ngô lão, Thành nhị đáng đầu, Liễu thiên hộ! Theo ta vào thư phòng!






Chú thích:

(1) các sênh ngày xưa được làm bằng quả bầu, khoét 13 lỗ, trong có máng đồng, thổi thành tiếng. Sênh ca là loại nhạc cụ này.

(2) kỹ nữ phục vụ quan chức.

(3) đĩ đực

(4) Câu này có xuất xứ trong Luận Ngữ, chương Vệ linh Công, nguyên văn như sau: "Tử viết: Đạo bất đồng bất tương vi mưu" (子曰:‘道不同,不相为谋’ ), ý nói người không cùng chí hướng, tư tưởng và nghề nghiệp thì không thể cùng đàm đạo hay mưu nghiệp được.

(5) xem chú thích về "Hạng Trang múa kiếm, ý tại Bái Công" ở chương trước.

(6) Thói “đại bá” của người Hoa: nguyên văn "Tứ di", biếm chỉ "nam Man tây Nhung đông Di và bắc Địch", bốn nước cạnh Trung Quốc; sau chỉ chung các nước lân bang.

(7) Lục khoa chỉ sáu khoa Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình và Công. Thập Tam đạo thuộc Giám Sát viện.

(8) Thuyết Địa lí Chính trị là học thuyết chính trị xuyên tạc các tư liệu của khoa học địa lí để luận chứng cho chính sách đối ngoại của chủ nghĩa đế quốc nhằm bành trướng và thống trị thế giới. Ở thế kỉ 17, có tư tưởng cho rằng đời sống xã hội được quyết định bởi môi trường địa lí [Môngtexkiơ (C. de Montesquieu), Tuyêcgô (A. R. J. Turgot)]. Tư tưởng ấy phần nào có tác dụng tiến bộ vì chống lại quan niệm tôn giáo cho rằng Thượng đế quyết định tất cả. Nhưng từ giữa thế kỉ 19, thuyết địa lí đã thoái hoá thành TĐLCT. Những đại biểu chính của thuyết này trong thế kỉ 20 là Haoxhôfơ (K. Haushofer) ở Đức, Mackinđơ (H. J. Mackinder) ở Anh, Xpychmen (Spykman) ở Hoa Kì. Kết hợp với chủ nghĩa chủng tộc, TĐLCT làm cơ sở tư tưởng cho chủ nghĩa phát xít đòi "không gian sinh tồn cho dân tộc Đức" ở Châu Âu, đòi thiết lập "khu vực thịnh vượng chung" lấy đế quốc Nhật làm trung tâm ở Châu Á.

(9) Tô Tần cùng với Trương Nghi là hai nhà thuyết khách nổi tiếng thời Chiến Quốc, tương truyền cả hai đều là học trò của Quỷ Cốc tử, là đông môn của Tôn Tẫn, Bàng Quyên.
Tô Tần đưa ra thuyết hợp tung để chống Tần, còn Trương Nghi đưa ra thuyết liên hoành để phá thế hợp tung, đặt cơ sở cho nhà Tần thống nhất Trung quốc.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
22-10-2011, 06:05 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 146 - Nếu Muốn Tương Tư Chớ Giết Người




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Đôi mắt đen lay láy của Thành Khởi Vận lộ ra một tia mỉa mai, nàng nói:
- Đám đại nhân đó không có cha mẹ vợ con à? Không mong thăng quan tiến chức sao? Muốn bọn họ cầm bút trợ oai, ai nấy đều là trung thần, nếu thật sự muốn bọn họ quên mình vì nghĩa, vậy thì ít lắm, ít lắm. Tự cổ thắng làm vua thua làm giặc, đừng thấy lúc này đây số người dâng sớ động tí là một trăm, hai trăm người. Hừ! Sau khi sự việc thành công rồi, cho dù đại nhân bãi miễn cả ba đại học sĩ, số kẻ chịu dâng sớ bảo vệ bọn họ quyết sẽ không quá ba mươi người. Ty chức dám lấy đầu ra đảm bảo.




Chương 146 - Nếu muốn tương tư chớ giết người

Không ngờ vị Xưởng đốc đại nhân xưa nay luôn do dự thiếu quyết đoán này đến lúc phải cương quyết lại hạ quyết tâm tàn nhẫn như vậy, xem ra khó tránh một hồi gió tanh mưa máu rồi. Thân là đại đương gia Nội xưởng, ngoài việc cùng tiến với Dương Lăng lão cũng không còn đường lui. Nếu đã bị người ta ép đến mức kẻ sống người chết, vậy thì... ngươi chết, ta sống đi!

Ngô Kiệt cung kính chắp tay nói:
- Dạ! Ty chức tuân mệnh, đêm nay Ngũ thành binh mã ty khoá thành truy bắt hung thủ, tuy ta có thể rời khỏi nhưng sẽ thu hút tai mắt kẻ khác. Kim Lăng là thành buôn đông đúc, lão ta sẽ không giam hãm được quá lâu đâu. Sáng sớm ngày mai, ty chức sẽ nghĩ cách rời khỏi, lập tức chạy về kinh chuẩn bị.

Dương Lăng gật đầu, díp mắt trầm tư và nói:
- Hoàng thượng tuổi trẻ bốc đồng, muốn thuyết phục người tịnh không khó. Những quan viên đó không dám điều binh, có thể dùng được bất quá chỉ có xưởng vệ. Muốn đối phó bọn chúng...

Dương Lăng cười tự tin, nói:
- Lấy cố tình đánh vô ý, lấy có phòng bị đánh không phòng bị, muốn dập bọn họ sẽ dễ như trở bàn tay. Chỉ cần Hoàng thượng gật đầu thì sẽ không bị chỉ trích là phản loạn. Ta không sợ làm lớn chuyện, nếu phải nói khó, chính là khó ở chỗ không thể để cho thiên hạ hỗn loạn. Nếu sau thủ đoạn lôi đình mà không thể làm cho mưa tan gió dịu, mau chóng ổn định thế cuộc thì sự phản công của bọn chúng sẽ đủ biến chúng ta từ kẻ thắng lợi trở thành tù nhân.

Thành Khởi Vận nghe xong kế hoạch của y, hai má không khỏi đỏ lên, như thể tranh chấp quyền lực và giết chóc khiến nàng nghe cảm thấy hưng phấn vô cùng.

Nàng nhìn Dương Lăng cười nói:
- Đại nhân, nói đến lòng người, đại nhân không hiểu thấu bằng ty chức. Ty chức vốn lo lắng rằng tiêu diệt mấy vạn nhân mã xưởng vệ sẽ muôn phần gian khó, nếu như để cho bọn họ đắc thủ trước, (khi ấy) hoàng thượng một cây khó chống, sẽ không vì mấy người chết mà đắc tội thêm với toàn bộ văn võ triều đình. Nếu như đại nhân đã có thủ đoạn đối phó với xưởng vệ, vậy trong triều đình lại không cần phải lo.

Đôi mắt đen lay láy của Thành Khởi Vận lộ ra một tia mỉa mai, nàng nói:
- Đám đại nhân đó không có cha mẹ vợ con à? Không mong thăng quan tiến chức sao? Muốn bọn họ cầm bút trợ oai, ai nấy đều là trung thần, nếu thật sự muốn bọn họ quên mình vì nghĩa, vậy thì ít lắm, ít lắm. Tự cổ thắng làm vua thua làm giặc, đừng thấy lúc này đây số người dâng sớ động tí là một trăm, hai trăm người. Hừ! Sau khi sự việc thành công rồi, cho dù đại nhân bãi miễn cả ba đại học sĩ, số kẻ chịu dâng sớ bảo vệ bọn họ quyết sẽ không quá ba mươi người. Ty chức dám lấy đầu ra đảm bảo.

Thành Khởi Vận không hài lòng, nói tiếp:
- Phú quý phải mưu cầu trong nguy hiểm. Chúng ta có bảy phần thắng, còn hối hận gì chứ? Thật ra việc này có thành công hay không, mấu chốt nằm ở hai điểm: thứ nhất là Hoàng thượng, và thứ nhì là xưởng vệ. Cho dù một mình đại nhân thuyết phục không được Hoàng đế, có Bát Hổ trợ giúp, hoàng thượng cũng không thể không gật đầu, không phải đại nhân nói hoàng thượng tín nhiệm nhất là chín người đại nhân sao? Có hoàng thượng cho phép rồi, chúng ta sẽ liều sức với xưởng vệ. Biện pháp vừa rồi của đại nhân, ty chức đã suy tính kỹ rồi, chỉ cần không để lộ ra sơ hở gì, trong một đêm sẽ tóm gọn Đông xưởng và Cẩm Y vệ, vậy thì đại sự sẽ định thôi.

Nàng khẽ mỉm cười, thở dài một tiếng nói:
- Lúc ấy đại nhân còn lo lắng gì nữa? Bá quan trong triều ư? Vũ khí của bọn họ chính là một cái miệng, một cây bút. Bây giờ ty chức xem như đã hiểu rõ cái gì gọi là "tú tài tạo phản, ba năm không thành" rồi.

Dương Lăng khoan thai nhìn nàng. Hiện tại y đã không còn là một dịch thừa nho nhỏ ở Kê Minh nữa, khi y trèo lên đến đỉnh cao của quyền lực, tự nhiên chung quanh y sẽ hình thành nên một lực lượng khá vững mạnh, một đám người để y sai bảo. Dựa theo quyền lực và ảnh hưởng của y, loại lực lượng này tất nhiên sẽ không ngừng khuếch đại.

Y lo lắng chính là quan viên trong triều. Bọn họ đã hình thành một đoàn thể quyền lợi, cũng giống như Ngô Kiệt, Vũ Vĩnh và mình vậy. Cho dù hai người này không theo mình cũng vị tất đã được đối phương tiếp nhận, nên cả hai chỉ có thể một lòng theo mình làm mà thôi.

Cũng như vậy, nếu như Tam Công, Lục Bộ, Cửu Khanh và toàn bộ văn võ cả triều đều đồng lòng, nếu đồng loạt gạt bỏ đi hết thảy vậy thì triều chính sẽ do ai quản lý đây? Với quan hệ và uy danh trong triều của ba đại học sĩ, nếu bọn họ kiên trì phản đối chính mình thì liệu sẽ chỉ có hai ba mươi người theo bọn họ đến cùng sao? Lời ấy của Thành Khởi Vận y thật sự không dám tin.

Thành Khởi Vận thấy y vẫn lo lắng về triều đình, bèn lên tiếng:
- Một năm trước đại nhân vẫn còn là một tú tài ở Kê Minh, nói đại nhân có tài thống lĩnh Nội Xưởng, phò tá đế vương, đại nhân có tin không? Muốn đảm nhiệm thái giám trấn thủ Giang Nam thì phải có thủ đoạn, có năng lực. Đại nhân điều hai người vốn là thái giám trấn thủ địa phương nhỏ đến nỗi ngồi ở đằng đông huyện có thể thấy rõ đằng tây huyện, không phải hai người này vẫn quản lý đâu ra đấy, không kém gì bọn Viên Hùng đó ư? Không phải không có người tài, mà là không cho hắn cơ hội thì ai biết hắn có tài cán gì?

Yến Vương Tĩnh Nan có được thiên hạ, vẻn vẹn chỉ dùng một trợ tá của vương phủ mà thay thế toàn bộ bá quan văn võ cả triều mà Hồng Vũ đại đế để lại cho Kiến Văn đế, vậy thì bọn họ không thể trị được thiên hạ sao? Đại nhân thật sự tin rằng không có ba đại học sĩ thì trời sẽ sập sao? Thời kỳ phi thường thì giở thủ đoạn phi thường, nếu như đại nhân cứ nhìn trước ngó sau, mang dạ đàn bà thì chi bằng lập tức hồi kinh, từ quan hồi hương vậy. Tin rằng số quan viên muốn đuổi tận giết tuyệt đại nhân sẽ không quá ba mươi người, ty chức cũng lấy đầu ra đảm bảo điều này.

Đúng vậy! Lời nói của Thành Khởi Vận khiến cho y sáng tỏ, cho dù người phản đối nhiều hơn con số mà cô ta nói, thì tình thế cũng không hẳn sẽ quá nghiêm trọng. Đã bao giờ thấy trên chính quyền trung ương thay đổi quyền lực, thì thị trưởng, huyện trưởng cũng "sục sôi chính nghĩa" mà từ chức hoặc tạo phản theo? Yến Vương Tĩnh Nan đoạt được giang sơn, những kẻ đọc sách đó có thể dày mặt mà tiếp tục làm quan địa phương cho ông ta, vậy mình tiêu diệt Đông xưởng, bãi miễn mấy triều thần lại không phải là ngoại tộc vào nắm quyề, thì có thể có bao nhiêu người chịu đứng ra phản đối?

Dương Lăng nghe xong cảm thấy sảng khoái, không khỏi cất tiếng cười to, cười xong y chỉnh đốn lại y phục rồi nói:
- Được! Đã như vậy, tiền đồ của Nội xưởng và tính mạng của Dương Lăng sẽ giao cho các vị vậy! Ngô lão, Thành đáng đầu y kế hành sự. Sáng sớm ngày mai Liễu thiên hộ giúp bản quan liên lạc với Thiệu trấn phủ, trước khi đi bản quan muốn gặp y một lần, bây giờ các người đi nghỉ đi.

Đưa mắt tiễn ba người lần lượt rời khỏi phòng, Dương Lăng lập tức thu lại nụ cười trên mặt, lặng lẽ đứng yên thật lâu, sau đó mới phất tay tắt nến trên bàn rồi chậm rãi đi đến phòng mình.

Cao Văn Tâm đang ngồi trên đầu giường chờ y. Nàng cũng nhìn ra tình hình không thích hợp, trông thấy Dương Lăng vác bầu tâm sự đi vào liền rụt rè đi tới giúp y cởi quan phục hệt như một cô vợ hiền dịu.

Châm cứu, xoa bóp, Cao Văn Tâm làm càng nhẹ nhàng, càng quan tâm hơn trước song thuỷ chung không dám mở lời. Mãi đến khi nàng mệt đến hơi thở càng lúc càng nặng, Dương Lăng mới chợt xoay người lại, nắm lấy cổ tay nàng. Cao Văn Tâm khẽ kêu "a" lên một tiếng rồi ngã người ngồi lên đầu giường.

Nàng không biết Dương Lăng có dụng ý gì không khỏi vừa thẹn vừa sợ, trống ngực bỗng đập liên hồi. Dương Lăng trở mình ngồi dậy, lại trầm ngâm một lát, rồi mới áy náy nói:
- Văn Tâm, tôi biết một thân y thuật của cô từ trước đến nay đều là trị bệnh cứu người. Thật đã làm khó một người con gái như cô vì tôi mà lại phá lệ.

Cao Văn Tâm không biết y nhắc đến chuyện này để làm gì, không khỏi lắp bắp nói:
- Lão gia, người... sao người lại nói vậy? Tiểu tỳ làm vậy là vì cứu lão gia...- Nói đến đây, nàng chợt nhớ lại lần đầu hai người chạm mặt cũng là ở trên giường, khi đó mình chỉ mặc áo lót váy lót, tấm thân ấy cũng bị y thấy cả liền không khỏi đỏ mặt lên.

Ngừng một chút, nàng mới cúi đầu, thấp giọng nói:
- Tiểu tỳ không biết những đạo lý to lớn ấy, và cũng không muốn biết. Tiểu tỳ chỉ biết, lão gia là... là người quan trọng nhất trong lòng tiểu tỳ, vì lão gia... cho dù phải lên núi đao, xuống biển lửa, cho dù sau khi chết đi có bị đày xuống mười tám tầng địa ngục thì tiểu tỳ cũng cam tâm tình nguyện.

Dương Lăng nhẹ nhàng nắm lấy tay nàng, người Cao Văn Tâm thoáng run rẩy, đôi mắt long lanh ngước lên nhìn y với vô vàn tình ý. Dương Lăng khẽ nói:
- Tôi biết, cô là người mà tôi tin tưởng nhất, cho nên... tôi muốn giao cho cô làm một việc.

Ánh mắt y loé lên, đoạn nói tiếp:
- Sau khi tôi rời kinh, đã có người ở trong kinh bày kế hiểm hòng đối phó với tôi. Lẽ ra... vẫn có một bộ phận văn võ bá quan trong kinh là nghiêng về phía tôi, cho nên tôi vốn định nhân nhượng để khỏi phiền. Nhưng mà Vương Quỳnh vừa chết đi, tôi có biện bạch cũng không thể biện bạch, có tránh cũng không thể né được, đã không thể hòa bình với bọn họ nữa.

Tim Cao Văn Tâm thoáng run rẩy mãnh liệt, đôi mắt có phần mờ mịt: "Lão gia muốn mình đi hạ độc giết người sao? Trời ơi... nhiều người như vậy... Nhưng mà... Bọn họ thì có liên quan gì đến mình chứ? Lúc cha mình bị chém đầu đã có ai đứng ra cứu giúp không? Lúc mình bị tống vào ty Giáo phường có ai giúp đỡ mình không? Lão gia muốn giết người, nhất định là do bất đắc dĩ, người bị người ta bức đến đường cùng mà thôi."

Cao Văn Tâm cắn răng, nén lệ gật đầu dứt khoát, rồi ưỡn ngực nói:
- Lão gia, người cứ yên tâm, vô luận người sai tiểu tỳ đi làm gì, cho dù người muốn tiểu tỳ đi giết Hoàng đế thì tiểu tỳ cũng sẽ không hề do dự. Nếu trốn không thoát... thì tiểu tỳ sẽ nuốt độc tự sát, tuyệt không liên luỵ đại nhân.

Dương Lăng ngẩn người, nhìn nàng hồi lâu rồi chợt ôm lấy chiếc eo mượt mà nhỏ nhắn kéo nàng vào lòng. Cao Văn Tâm cảm nhận được tâm ý của Dương Lăng, y ôm nàng thật chặt, không giống như lần đầu ôm nàng trong bụi liễu ở Thái Hồ lần trước.

Trong lòng Cao Văn Tâm cảm thấy rất ngọt ngào, nàng mơ màng nghĩ: "Vì người mình yêu, cho dù xương tan thịt nát thì có là gì? Có điều... có lẽ mình sẽ không được ôm chàng nữa. Thật muốn để chàng ôm mình, thật muốn gọi chàng một tiếng tướng công. Đáng tiếc..."

Lòng nàng dậy sóng rồi cũng vòng tay ôm chặt lấy Dương Lăng. Thật lâu sau Dương Lăng mới đè nén tâm tình, kề tai nàng nói:
- Chuyện này giao cho người khác chỉ sợ sẽ chùn lòng, huynh chỉ có thể để muội đi làm. Bắt đầu từ ngày mai, muội sẽ giúp huynh để ý tới Tiểu Lâu. Muội chỉ là một nữ tử yếu đuối, sẽ không khiến cô ta hoài nghi. Nếu cô ta có dị động gì thì với châm pháp của muội, muốn giết cô ta thật dễ như trở bàn tay.

- Gì cơ? - Cao Văn Tâm kinh hãi rời khỏi lòng y "người muốn giết không ngờ lại là... cô ta?" Cao Văn Tâm kinh ngạc nói:
- Lão gia, người... lúc nãy người... muốn giết là ả sao?

Dương Lăng gật nhẹ đầu, nói:
- Không phải là nhất định phải giết, chỉ là muốn muội theo cạnh cô ta, chú ý đến mọi hành động của cô ta. Ngày mai, cô ta sẽ giúp huynh làm một chuyện lớn nhưng cô ta mới vừa gia nhập Nội xưởng, vốn lại từng cùng một giuộc với Mạc Thanh Hà, huynh thật không biết cô ta có mấy phần thành ý và thực lòng. Chỉ cần cô ta hơi khởi dị tâm thì đại sự của huynh sẽ hỏng. Giao chuyện này cho người của Nội xưởng làm sẽ không tránh khỏi khiến thuộc hạ chùn lòng. Huống hồ... cô ta thật sự là một mỹ nhân, nếu có lòng dụ dỗ, đám đàn ông đó... có thể vì sắc mà phản bội không thì có trời mới biết, vì vậy đành phải phiền muội vậy.

Cao Văn Tâm mừng rỡ khôn nguôi: "Chàng... giao chuyện này cho người ngoài, sợ sẽ làm chùn lòng thuộc hạ, mà không sợ chùn lòng thị nữ như mình ư? Trong lòng chàng đã coi mình là người gì rồi?"

Cao Văn Tâm vừa mừng vừa thẹn liếc y một cái, rồi khẽ gật đầu.

Lúc này Dương Lăng mới nói:
- Vương Quỳnh vừa chết, lúc này vội vã ly khai cố nhiên sẽ khiến người hoài nghi. Nhưng nếu chúng ta không đi thì điều nhơ danh này huynh cũng sẽ không thể nào rửa sạch. Sáng sớm mai, huynh sẽ bí mật đi gặp Thiệu trấn phủ sứ trước, sau đó lập tức lên đường hồi kinh. Kế hoạch của huynh là...

***

Khâm sai sắp hồi kinh rồi!

Thậm chí vẻ mặt của Phùng công công và Quan thủ bị chạy đến tiễn y đi cũng mang vẻ lạ thường. Nhưng Dương Lăng không có thời gian để quản, y vẫn giữ vẻ thản nhiên. Không phải là vì những lời an ủi vô nghĩa kiểu "thanh giả tự thanh, trọc giả tự trọc" (1) mà bởi vì y biết, tin tức Vương Quỳnh bị ám sát nhất định sẽ được sớm truyền đến kinh thành, đám quan văn đó không làm ầm lên mới lạ.

Y vốn đã không có ấn tượng tốt trong lòng bọn họ. Sau khi đảm nhiệm chức Xưởng đốc, vừa mới ra khỏi kinh sư liền đã tịch biên gia sản của Mạc Thanh Hà, tiêu diệt năm ngàn nhân mã của Viên Hùng, người như vậy sẽ tạo cho người ta một ấn tượng gì? Dù rằng chuyện này được khen nhiều hơn chê nhưng hình tượng Dương Lăng dám nghĩ dám làm, ra tay tàn nhẫn đồng thời cũng đi sâu vào lòng người, lại cộng thêm thù cũ hận mới với Vương Quỳnh, đám người đó không làm ầm lên mới lạ.

Cho nên y nhất định phải chạy đua với thời gian, chạy về kinh với tốc độ nhanh nhất. Bằng không chỉ sợ y vừa về đến kinh thành, còn chưa kịp làm gì thì thánh chỉ đã đến rồi.

Song người ngoài nhìn vào thì lại thấy dường như Dương Lăng có chỗ dựa cho nên không sợ gì, hoặc do ngu xuẩn nên không nghĩ đến ảnh hưởng của việc này đối với y. Sau khi cùng Phùng công công và Quan thủ bị nói lời tạm biệt, y ung dung trở về thuyền quan, hai chiếc thuyền lớn khoan thai hướng về phương bắc...

***

Quán rượu Trường Đình.

Vừa đến ngọ liền đã có khách nhân đến quán uống trà bàn tán về chuyện thượng thư Vương Quỳnh của bộ Lễ bị người ta hành thích. Hiển nhiên, thứ mà những bá tánh bình dân này quan tâm đến hơn cả chính là sự ly kỳ và giật gân của việc quan to triều đình bị giết, ngay cả mấy kẻ đọc sách tuy cố ý tỏ ra vẻ thở than tiếc nuối, trên mặt cũng lờ mờ lộ ra sự hưng phấn trong lúc kể truyện truyền kỳ tự bịa này

Rõ ràng trong mắt bọn họ, danh sĩ và trung thần còn không được người ta yêu mến bằng một huyện lệnh tốt, thanh liêm có thể mang đến ý nghĩa thực tế cho quê nhà và cuộc sống của bọn họ. Thật ra việc này cũng không có gì là lạ, sự hiểu biết của dân chúng về triều đình chẳng qua là dựa vào những lời truyền miệng, mà truyền miệng đương nhiên cũng là về những giai thoại thú vị, chứ một kẻ chỉ rập theo khuôn phép của học phái Đạo Lão như Vương thương thư thì được bao nhiêu người dân đen quen tiếng biết tên?

Dưới ngòi bút của sử quan, cảnh đời của những vị thanh quan chết oan được vạn dân than khóc ấy đại để không khác mấy so với những tác phẩm tuyên truyền về hoa sen(*), đơn giản chỉ là sự ảo tưởng. Trừ phi vị thanh quan đó thật sự lăn lộn khắp đầu đường xó chợ, từng trải qua nhiều sự việc thực tế.
(*) ý nói tô vẽ mọi thứ toàn một màu hồng, che đi các việc không tốt .

Con dao trong tay Mã Liên Nhi gọt chậm lại, nàng lắng tai nghe lời trò chuyện của mọi người, khẽ nhíu mày.

Ngũ thành binh mã ty khống chế tin tức rất chặt chẽ, quan viên các bộ ở Nam Kinh cũng không phải là ngốc, không ai rêu rao chuyện xảy ra ở bữa tiệc đêm qua ra ngoài để khiến cho phố phường mò đoán lung tung. Thành thử ngoại trừ huyên thuyên nào là tên thích khách nọ tiễn pháp như thần ra sao, lấy một địch trăm, thoát khỏi tay của Ngũ thành binh mã ty như thế nào như thể bọn họ đã tận mắt chứng kiến, thì đám sĩ tử văn nhân này không hề kể ra được thứ gì có giá trị cả.

Nhưng Mã Liên Nhi nghĩ đến hận cũ giữa Vương Quỳnh và Dương Lăng, trong lòng không khỏi thầm nhủ: "Mặc kệ Vương Quỳnh chết vì cái gì, e rằng những quan viên thích bắt gió bắt bóng trong kinh đó sẽ lại ào ạt viết sớ làm khó Dương đại ca thôi."

Nàng mím môi, cuối cùng đưa ra quyết định. Nàng bỏ dao xuống, kéo tạp dề lên lau tay, rồi gọi lớn:
- Đại bá, con ra ngoài một chút, đại bá kêu người trông quầy nhé.

Bên trong đáp lại một tiếng. Mã Liên Nhi đang định đi, thì thấy trước cửa xuất hiện một người đàn ông mặc quần áo chẽn. Người thời đó đều mặc áo dài, áo đuôi ngắn và quần dài. Đa số những người mặc áo cộc tay đều là những người buôn bán nhỏ như bán dạo hoặc buôn ngựa.

Liên Nhi vốn không để ý, không ngờ sau khi người đó vào quán, nhìn quanh mấy lượt, thì lại đi thẳng đến chỗ nàng, lúc đến gần gã nhỏ giọng nói mấy câu:
- Mã cô nương, Dương đại nhân muốn gặp cô trong rừng thông.

Mã Liên Nhi thoáng ngẩn ra, nhìn hán tử đó, song lại không nhận ra gã. Người nọ mỉm cười nói: "Quân tự minh nguyệt ngã tự vụ", nói đoạn đưa mắt nhìn quanh vài lượt, rồi như thể quán rượu này cao cấp quá, không nỡ bỏ tiền dùng bữa, bèn ngượng ngập lui ra.

Mã Liên Nhi thầm lấy làm lạ: "Sao Dương đại ca lại mờ mờ ám ám như vậy, lúc này không tiện đến gặp mình sao? Trong rừng thông... trong rừng..." Mặt nàng hơi nóng lên, đoạn chùi sạch tay, cởi chiếc tạp dề xanh rồi lặng lẽ lách ra khỏi quán rượu.

Vờ dạo lung tung một hồi, thấy không có ai chú ý, Mã Liên Nhi bèn bước nhanh hơn, rảo nhanh đến mé tây Trường Đình. Đi đến bên một bụi thông thấp lùn, nàng thấy hơn mười người bán dạo vóc người vạm vỡ trong trang phục kỵ mã đang ngồi trên cỏ, cạnh bên là mười mấy thớt ngựa được buộc dưới gốc cây đang khoan thai gặm cỏ. Mã Liên Nhi thoáng lưỡng lự. Tuy rằng người đó đã nói ra bí mật mà chỉ có nàng và Dương Lăng mới biết song đột nhiên gặp gỡ một người con trai tại một nơi bí ẩn thì sao mà không sợ?

Lúc này trong rừng chợt có người cất tiếng gọi:
- Liên Nhi, lại đây!

Giọng nói này rất quen thuộc với nàng, Mã Liên Nhi mừng rỡ ngẩng đầu trông thấy Dương Lăng đang đứng trong rừng gọi nàng, tức thời mừng rỡ khôn nguôi, nàng vội chạy vào trong rừng, nhìn thấy Dương Lăng vận áo chẽn thô sơ thì không khỏi cười trìu mến nói:
- Huynh... sao lại ăn mặc như vậy?

Đầu nàng chợt loé linh quang, sực tỉnh:
- Huynh... sắp hồi kinh ư?

Dương Lăng im lặng gật nhẹ đầu, nói:
- Lần trước ra đi, huynh không nói cho muội biết. Lần này, bất luận thế nào huynh cũng phải gặp muội một lần trước.

Mã Liên Nhi thoạt chau hàng mày đen, lo lắng hỏi:
- Trong kinh đã xảy ra chuyện lớn sao? Có người gây bất lợi cho huynh, phải không?

Dương Lăng giật mình. Y vốn còn định giải thích một phen, nào ngờ nàng thấy trang phục của mình liền đã đoán ra hết thảy. Ánh mắt Mã Liên Nhi càng lộ vẻ lo lắng, nhịn không được bèn kéo tay y, run giọng nói:
- Huynh... huynh cải trang như vậy, sự tình đã nguy cấp đến dường nào rồi?... Muội...

Sự tình liên quan đến an nguy của Dương Lăng, giọng nói của nàng đã bắt đầu hơi run rẩy.

Dương Lăng nhìn nàng, có người vợ vừa thông minh lại xinh đẹp như vậy nói chuyện thật dễ. Y vốn định giấu diếm một chút, tránh khiến nàng lo âu nhưng giờ thì không tiện nói dối rồi.

Dương Lăng thở dài một tiếng, nói thẳng:
- Trong kinh có một số đại thần sớm đã muốn gây bất lợi cho huynh, hôm qua Vương Quỳnh bị người ta ám sát, chuyện này thể nào cũng sẽ đổ lên đầu huynh tình thế hết sức căng thẳng. Nội xưởng vừa được lập, nếu huynh không trở về ắt sẽ khiến lòng người không yên, trên dưới há sẽ chịu ra sức cống hiến? Huống hồ hiện tại trừ huynh ra cũng không ai có thể chủ trì đại cuộc. Cho nên... chậc, vốn đã đáp ứng với muội, giờ lại sẽ thất hứa rồi.

Mã Liên Nhi cười trách:
- Huynh còn nói dông dài làm gì, cần phải đi nhanh. Binh quý thần tốc, cướp được một phần tiên cơ là thêm được một phần thắng, lúc này còn dây dưa chậm trễ vậy là Liên Nhi hại huynh rồi.

Dương Lăng hớn hở gật đầu, bỗng y thò tay vào trong người, nghe có tiếng leng keng vui tai y đã lấy ra hai chiếc lắc (vòng tay) màu vàng đen khảm chuỗi ngọc xanh rồi nắm lấy bàn tay trắng ngần của Mã Liên Nhi, giúp nàng mang hai chiếc lắc vào.

Ánh mặt trời chiếu lên cổ tay nàng, chiếc lắc lấp lánh ánh đen càng tôn lên làn da như sương như tuyết. Chuỗi ngọc xanh rạng ngời chói lọi, chỉ với tay áo màu xanh biếc được kéo lên non nửa để lộ cổ tay thon thả trắng ngần, mà đã đẹp khiến người ta hồn xiêu phách lạc.

Mã Liên Nhi cắn môi, trân trọng vuốt ve chiếc lắc ấy, đoạn nàng chợt xoay người nói:
- Đúng rồi, chuyện trong triều đình, Liên Nhi không giúp được huynh, nhưng cũng không thể làm hại huynh được! - Nói rồi, một dòng nước mắt còn óng ánh sáng ngời hơn kim cương thuận theo gương mặt ngọc ngà của nàng rơi xuống.

Theo quy định của triều Minh, phụ nữ làm thiếp không được đeo lắc, xuyến. Cha của Mã Liên Nhi vốn là tiểu lại không phẩm tước, nay lại là một giới bình dân. Dương Lăng đeo cho nàng cặp lắc, mặc dầu chưa đưa đại lễ đến hỏi, điều đó đã tỏ rõ tấm lòng, thừa nhận nàng là phu nhân của Dương Lăng rồi. Danh phận của nàng rốt cuộc đã được xác định, trong lòng sao lại không vui?

Dương Lăng đứng trầm mặc một chút rồi chợt xoay người rảo bước ra khỏi rừng, nhún mình lên ngựa. Kỵ sĩ thấy vậy bèn tháo dây cương lần lượt nhảy lên yên, nhất thời móng ngựa gõ kêu lộp cộp, tiếng ngựa hí vang.

Dương Lăng đưa tay xuống bên yên ngựa lấy chiếc mũ dưa đội lên đầu rồi kéo vành mũ sụp xuống thật thấp, tay trái cầm cương, tay phải cầm lấy roi, quay đầu nhìn vào trong rừng một lần nữa.

Chỉ thấy trong rừng thông, Mã Liên Nhi như đóa hoa đào rực rỡ đã lau nước mắt, mỉm cười rạng rỡ:

"Phúc trung sầu bất nhạc, nguyện tố lang mã tiên. (Trong lòng sầu não không vui, nguyện làm roi ngựa cho chàng.)

Xuất nhập hoàn lang tí, điệp toạ lang tất biên. (Được nằm trong tay chàng, ngồi kề bên gối chàng.)

Thiếp chúc phu quân kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công! Chớ để tương tư lại giết người."

Dương Lăng lòng tràn dâng hào khí, chỉ nhìn Liên Nhi thật sâu một lần nữa, đoạn quay đầu vụt mạnh roi lên đùi ngựa, dẫn hơn mười thiết kỵ tung vó phóng đi.

"Nếu tương tư không được giết người vậy thì Dương mỗ sẽ giết tương tư! Kinh sư, Dương Lăng ta trở về đây!"






Chú thích:

(1) thanh cao hay hèn hạ là tự mình biết và người khác biết, không cần phải tạo vẻ.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
23-10-2011, 08:24 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 147 - Cuộc Chiến Bên Ngoài




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Thành Khởi Vật bật cười khúc khích. Tâm tư vừa lo lắng vừa bảo vệ cho người trong lòng của người con gái ở trước mặt này nàng sao mà nhìn không ra? Chậc! Lúc mình còn trẻ… lúc nào không phải là "lúc còn trẻ"? Nàng lặng lẽ nhìn Cao Văn Tâm, rầu rĩ thầm nghĩ: "Mình thật sự đã già rồi sao? Như nàng ta đã nói, mình còn bao nhiêu xuân xanh và mỹ mạo để lãng phí đây? Vân Nhi và Linh Nhi sớm muộn rồi cũng sẽ gả cho người ta, đến lúc mình từ từ già đi, sẽ cô độc lẻ loi một mình...”




Chương 147 - Cuộc chiến bên ngoài

Thân là đại tổng quản phủ Nội vụ, những công việc mua sắm bình thường đã không còn cần Mã Vĩnh Thành phải tự thân xuất hiện; nhưng hôm nay việc mua bán hơi lớn, hôm qua tiệm lụa Thành Ký lớn nhất kinh thành xưa nay luôn cung ứng nhu cầu về tơ lụa cho đại nội hoàng cung lại đột nhiên đưa tin muốn nâng giá do chi phí vận chuyển tăng.

Như vậy một năm sau số tiền chiết khấu mà Mã Vĩnh Thành chắt bóp ra từ trong đó nào sẽ chỉ giảm đi vạn lượng? Điều này làm cho lão Mã giận đến sôi gan. Nhưng ông chủ thật sự chống lưng cho cửa tiệm này là Thành quốc công Chu Cương, Mã Vĩnh Thành có tiền mà không có quyền cho nên thực không dám gây sự với lão ta, vì vậy sáng sớm đã lên kiệu chạy đến Thành Ký định bụng dò hỏi hàm ý của nhà họ Chu.

Mã Vĩnh Thành xuống kiệu, ngạo nghễ bước vào trong tiệm. Lão là khách hàng lớn nhất của Thành Ký cho nên tuy có câu nói rằng “tiệm lớn ép khách” nhưng ông chủ tiệm cũng không dám chậm trễ, vội vã mỉm cười đón lão vào phòng khách nội sảnh.

Mã Vĩnh Thành ngồi trên ghế mũ quan (1), bắt chéo chân, nâng chén hớp một ngụm trà thơm, rồi cười nhạt hỏi:
- Thành chưởng quỹ, ta và ông làm ăn cũng không phải mới một ngày hai ngày, sao giá cả nói đổi là đổi vậy? Chúng ta thẳng thắn với nhau nhé, lượng tơ lụa này hẳn là do thuyền quan của Dương đại nhân ở Nội xưởng giúp ông mang về đúng không? Ta đã tính sơ cho ông, e rằng phí vận chuyển chẳng những không cao, mà thậm chí còn bớt được ít nhất năm vạn lượng đấy, vậy việc tuỳ tiện nâng giá này là từ đâu mà ra vậy? Không biết là ý của Chu lão công gia hay là chưởng quỹ ông tự chủ trương nhỉ?

Thành chưởng quỹ cười nịnh nọt đáp:
- Lão Thành tôi nào có lá gan đó chứ? Từ lúc hoàng hậu nương nương và hai vị quý phi tiến cung, nhờ Mã gia chiếu cố mà buôn bán của cửa tiệm chúng tôi càng lúc càng lên, lão Thành nhờ vả ngài còn không kịp, nào dám tuỳ tiện nâng giá chứ?

Rồi lão ta nén giọng, nói nhỏ:
- Nâng giá chẳng qua chỉ là cái cớ, thật ra có người muốn gặp Mã gia cho nên mới nói như vậy, làm phiền Mã gia cực khổ một chuyến, tiểu nhân quả thực áy náy.

Nói đoạn Thành chưởng quỹ nhét vào lòng bàn tay Mã Vĩnh Thành một tờ giấy. Mã Vĩnh Thành nhìn kỹ, thấy đó là tờ ngân phiếu ba ngàn lượng, lập tức vui vẻ cười ha hả:
- Xem ông kìa, có chuyện gì thì cứ gọi một tiếng không phải là được rồi à. Không nể mặt ông thì ta cũng không dám không nể mặt mũi Chu lão công gia mà. Ha ha ha, là ai muốn gặp ta vậy? Nếu là cống dâng vào trong cung thì cũng dễ xử lý, ta gật đầu một cái là được thôi. Có điều ta phải cảnh cáo trước, những đồ dâng lên cho các vị nương nương dùng nếu là đồ không đáng giá thì đừng làm mất mặt ta.

- Ha ha ha. Mã công công, không biết ta thì có đáng giá hay không? - Rèm cửa chợt được vén lên, Dương Lăng mỉm cười bước ra.

Mã Vĩnh Thành kinh ngạc đứng bật dậy, nước trà vẩy cả lên người. Lão kinh ngạc kêu lên:
- Dương... Sao ngài... Không phải là ngài vẫn đang ở Giang Nam sao?

Dương Lăng khoát tay với Thành chưởng quỹ, Thành chưởng quỹ hiểu ý bèn khom lưng nói:
- Hai vị thong thả trò chuyện, lão Thành ra ngoài tiếp khách đây.

Thành chưởng quỹ vừa rời khỏi phòng, Dương Lăng liền sầm mặt, cười nhạt với Mã Vĩnh Thành và nói:
- Ta đang ở Giang Nam sao? Nếu như ta về muộn hơn vài ngày thì chỉ có thể chờ dọn xác ông rồi. Mã Vĩnh Thành, ông chết đến nơi rồi mà còn không hay biết họa lớn đã ập đến rồi ư?
***

- Dương Lăng đã đến đâu rồi? - Phạm Đình hỏi một tên phiên tử đứng trước mặt, trên mặt có vẻ hào hứng.

Trương Thọ nghe phiên tử trả lời xong thì không khỏi sững ra:
- Thiên Tân vệ? Hắn muốn dừng thuyền ở Thiên Tân vệ ư? Khốn kiếp, thuyền quan của hắn đã rẽ vào nội hải tại sao không bẩm báo sớm một chút? Phạm công công, ông nói Dương Lăng đang có ý gì vậy, chẳng lẽ... hắn đã có cảnh giác với hành tung của chúng ta?

Phạm Đình cười lớn nói:
- Nội xưởng cũng có tai mắt mà, nếu như không có phát hiện ra gì thì mới là lạ đó. Nhưng vậy thì đã sao? Cái tên ngu xuẩn này trong triều không hề có căn cơ, chỗ dựa duy nhất là Hoàng thượng thế nhưng hắn không cấp tốc hồi kinh xin Hoàng thượng cứu giúp mà lại bày đặt giương đông kích tây, bày kế nghi binh này nọ, thật đúng là tự tìm đường chết.

Đới Nghĩa vờ cúi đầu uống trà, trong lòng lại hơi lo lắng: "Dương đại nhân đang làm cái quỷ vì vậy? Chẳng lẽ Ngô đại đương gia không truyền tin tức của mình cho y sao? Mình đã nói là Cẩm y vệ và Đông xưởng hợp mưu mà y còn chạy đến quê nhà của Cẩm y vệ, chẳng phải là tìm chết ư? Không đúng, Dương Lăng đâu có ngu ngốc đến vậy..."

Trương Thọ thấy sắc mặt lão nặng nề, bèn hỏi:
- Đới công công cũng cảm thấy có gì không đúng à?

Đới Nghĩa thoáng giật mình, bèn vội đáp:
- Đúng vậy, một người gặp phải nguy hiểm thì phản ứng đầu tiên chính là tìm đến người đáng tin cậy và có khả năng giúp đỡ hắn nhất mới phải. Hắn lại thủng tha thủng thỉnh chạy đến Thiên Tân vệ để làm gì?

Trương Thọ lắc đầu đoạn vỗ tay một cái, một đáng đầu rón rén bước vào. Trương Thọ hỏi:
- Người phái đi theo dõi phủ Uy Vũ bá có phát hiện ra điều gì lạ thường không?

Đáng đầu nọ cung kính đáp:
- Bẩm Trương gia, không hề có động tĩnh gì. Ty chức chẳng những cho tăng cường chú ý đến người ra vào Dương phủ và toàn bộ đám người trong ấy, mà ngay cả rau thịt mà Dương phủ mua về cũng đã phái người mỗi ngày tra hỏi. Nếu như Dương Lăng về phủ, cho dù hắn che giấu giỏi cỡ nào thì toàn bộ Dương phủ cũng không thể không để lộ bất cứ dấu vết gì.

Trương Thọ gật nhẹ đầu, trầm ngâm một chốc rồi nói:
- Bất luận hắn có về phủ hay khong, nếu hắn dùng kế kim thiền thoát xác lặng lẽ hồi kinh, nhất định sẽ vào cung để gặp Hoàng thượng. Người được phái đến cửu môn (*) phải tăng cường phòng bị, chú ý tất cả những ai ra vào hoàng cung. Còn nữa, bảo mấy tên nhãi hầu bên Hoàng thượng phải gia tăng chú ý lên mười hai vạn lần, bất kể là Hoàng thượng gặp ai, nói những gì, đều phải lập tức hồi báo.
(*) chỉ chín cổng thành Bắc Kinh.

- Dạ! - Đáng đầu nọ đáp một tiếng, rồi vội vàng lui ra.

Vương Nhạc đang nằm dựa hờ trên đầu giường. Do tuổi đã cao, tinh thần cũng không tốt, nãy giờ lão đã ngủ được một lúc.

Lão Vương Nhạc dụi mắt, run rẩy ngồi dậy nói:
- Xem bộ dạng như lâm đại địch của các ngươi kìa, chẳng phải là Vương Quỳnh đã bị y giết hay sao? Lúc này toàn bộ ngoại đình hẳn là cũng đã nhận được tin rồi, sẽ còn có ai đứng về phía hắn chứ? Khi tiên đế còn tại thế, ngài sợ nhất là phải nghe lời can gián của bá quan. Đương kim Hoàng thượng còn nhỏ lại không có chủ kiến, còn có thể chống đỡ nổi tấu chương đè xuống như núi ư? Chỉ cần Hoàng thượng hạ ý chỉ thì Dương Lăng còn không bó tay chịu trói sao.

Vị Vương công công này không tài không cán, lại không có dã tâm, nhưng cũng chính vì vậy mới được vua Hoằng Trị uỷ thác trọng trách. Lão cư xử độ lượng không hề chuyên quyền, có đầu lĩnh trên danh nghĩa như lão toạ trấn ở trên, đám người ai nấy có dã tâm riêng như Phạm Đình và Trương Thọ mới có thể sống chung hoà thuận không tranh chấp với nhau, cho nên những người này rất mực kính trọng lão.

Nghe Vương Nhạc nói vậy, Phạm Đình cười lớn nói:
- Không thể không cẩn thận đâu à lão gia, đương kim Hoàng thượng thật không thể so được với tiên đế. Tiên đế chỉ mới tảo triều trễ có hai lần đã bị bá quan trách mắng cho một trận phải vâng dạ mà hạ chiếu tự trách. Nhưng đương kim Hoàng thượng thì sao? Ngừng Kinh Diên, bỏ ngọ triều, tảo triều thích thì đi không thích thì dẹp. Bá quan khuyên nhủ tới tấp như tuyết rơi, Hoàng thượng lại nhắm mắt làm ngơ bỏ hết ngoài tai, có bao giờ để ý tới đâu.

Lão vừa nói vừa nheo mắt lại, rồi cười nham hiểm nói:
- Về phần bá quan trong triều thì...Chỉ có đám mọt sách Ngự Sử đài và Hàn Lâm viện mới thật sự tin vào cái “diệt trừ gian nịnh”, “duy trì chính nghĩa” gì đó thôi. Thứ mà đám lão già lăn lộn lâu năm trên quan trường đó thật sự quan tâm đến là một khi bọn họ không còn gây được ảnh hưởng với Hoàng đế, không khống chế được Hoàng đế nữa thì rất có thể những quốc sách và và chính sách mà bọn họ tự cho là đúng ấy sẽ bị Hoàng thượng vì nghe theo những lời của đám tân sủng này mà bãi bỏ. Đáng tiếc là bọn họ lại không thèm kết giao với đám người mới (tân sủng) này cho nên mới phải nghĩ cách trừ khử chúng đi.

Trương Thọ mỉm cười phụ hoạ:
- Đúng vậy! Trong đám nội thị, kẻ lôi kéo Hoàng thượng ăn chơi không chỉ có Bát Hổ và Dương Lăng. Tuy bọn chúng chỉ cần nịnh hót dù chưa lập được tấc công lao gì mà đã một bước lên mây nhưng cũng chưa từng làm chuyện gì quá ác. Cho dù bọn chúng ác thì liệu có ác hơn loại như Mạc Thanh Hà và Viên Hùng không? Ngoại đình vắt óc ra trăm phương ngàn kế như vậy là bởi bọn chúng phát giác rằng Dương Lăng không phải là bạn đồng hành của bọn chúng, và Hoàng thượng cũng không còn bị bọn chúng khống chế được nữa. Cho nên bọn họ muốn diệt trừ Dương Lăng và Bát Hổ không phải vì chúng làm quá nhiều điều xằng bậy mà là để phát ra một tín hiệu cảnh cáo: Những kẻ có dã tâm muốn lật đổ quan văn và gây ảnh hưởng đến Hoàng đế đều phải cút xa, để Hoàng đế kiến thức được lực lượng của chúng mà ngoan ngoãn đi làm một Hoàng đế "tốt" theo sự an bài của chúng.

Kiến thức của hai người Lý Vinh và Hà Đại Xuân thua xa Phạm Đình và Trương Thọ, nghe xong những lời phân tích này thì cảm thấy rất sốt ruột. Lý Vinh nói:
- Quan tâm đến việc bọn chúng xuất phát từ mục đích gì làm gì, chỉ cần chúng cùng chung mục tiêu với chúng ta là được rồi. Hiện nay Dương Lăng đã nắm ty Thuế Giám, đám thủ hạ của chúng ta biết ăn gì, uống gì đây? Chỗ lão Phạm còn đỡ chứ chỗ của ta quả thực càng lúc càng túng quẫn, chỉ cần sớm thu thập được cái tên ranh con này là mọi chuyện ổn thỏa.

Phạm Đình cười giễu cợt nói:
- Tầm nhìn hạn hẹp! Ông còn chưa hiểu sao? Nếu như lấy chúng ta làm phụ, lấy bá quan làm chủ khiến Hoàng thượng hạ chỉ chém Dương Lăng và Bát Hổ thì ngoại đình sẽ có thể phô trương thanh thế, Hoàng đế sẽ hoàn toàn nằm trong tay bọn chúng rồi. Khi đó Dương Lăng và Bát Hổ sẽ trở thành tấm gương cho chúng ta, chúng ta sẽ thành như một cây đao đã qua sử dụng, bất cứ lúc nào bọn chúng cũng có thể vứt bỏ vào kho, giải giáp quy điền (*). Nếu như ...khà khà... Dương Lăng chết ở trong tay chúng ta trước, vậy thì sẽ khác.
(*) cởi giáp về quê, ý nói thiên hạ thái bình, mọi thứ đã xong xuôi)

Lúc này Hà Đại Xuân mới hiểu ý, bèn nói:
- Như vậy xem ra bất luận ngoại đình có xin được Hoàng thượng hạ thánh chỉ hay không thì chúng ta đều phải tranh tiêu diệt Dương Lăng và Bát Hổ trước rồi.

Phạm Đình gật đầu nói:
- Đúng vậy, ngoại đình lợi dụng chúng ta, chúng ta cũng không phải không đang lợi dụng ngoại đình. Không có bọn chúng hăm doạ và chống đỡ, nếu chúng ta tự ý giết chết Dương Lăng và Bát Hổ thì sẽ phải dè chừng bị Hoàng thượng trừng trị, song giờ thì không phải lo về vấn đề này nữa. Ông xem, tin Vương Quỳnh bị giết vừa truyền vào kinh thì ba đại học sĩ cũng không thể đàn áp được sự kích động và phẫn nộ của đám ngôn quan Hàn Lâm. Bọn họ vốn định chờ thời cơ tốt nhất mới ra tay, đường đường chính chính trở thành công thần lớn nhất diệt trừ gian nịnh. Nhưng những bá quan vốn luôn theo sau nghe bọn họ sai bảo giờ lại muốn thúc giục bọn họ phải lập tức xin hạ chỉ giết người rồi. Ha ha ha...

Vương Nhạc thấy lão ta đắc ý cười to, chợt kinh hãi thốt lên:
- Phạm Đình! Không phải Vương Quỳnh là do ngươi giết đó chứ?

Phạm Đình trông thấy mọi người dùng ánh mắt nghi ngờ nhìn lão thì không khỏi biến sắc la lên:
- Công công, lời này cũng chỉ có chúng ta nói cho nhau nghe trong phòng này thôi, nếu để truyền ra ngoài là chết đó. Nếu nô tài có gan ám sát Vương Quỳnh, chi bằng trực tiếp sai người ám sát Dương Lăng, hà tất còn phải mượn sức của ngoại đình để trấn áp, để tránh bị Hoàng thượng giáng tội làm gì?

Vương Nhạc yên tâm nói:
- Vậy thì tốt, vậy thì tốt, vạn lần không thể làm ra chuyện đó. Công phu lần ra manh mối của đám ngoại đình đó không giống như nha sai chúng ta đâu, nếu để chúng nắm được sơ hở thì... Nhớ năm xưa Lý Quảng rơi đài, toàn bộ những nội quan mà ngoại đình nhìn không vừa mắt đều bị quy là bè đảng của Lý Quảng hết. Chậc! Phải nói là một mẻ hốt sạch sành sanh.

Đúng vào lúc này, một đáng đầu vội vã chạy vào bẩm báo:
- Bẩm công công, thám mã thứ bốn mươi tám chuyển cấp báo về.

Phạm Đình lộ vẻ kích động nói:
- Mau lấy cho ta xem!

Lão tháo xi niêm phong trên tin báo, xem lướt qua một lượt, rồi cười khẩy nói:
- Dương Lăng quả nhiên không ngu, hắn dùng kế minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương (2). Theo tin mới nhất thì thuyền của hắn đi được nửa đường rồi cập vào bờ lúc nửa đêm, hơn bốn mươi người xuống thuyền rồi chạy thẳng đến kinh thành bằng đường bộ, hiện đã đến địa phận Thương Châu rồi.

Lý Vinh vội hỏi:
- Xác định chứ? Có tận mắt trông thấy Dương Lăng không? Hay đó cũng là kế nghi binh của hắn?

Phạm Đình do dự một chút rồi nói:
- Kiệu Dương Lăng ngồi đích thị là kiệu tám ngựa (3), tốc độ chậm hơn so với cưỡi khoái mã mấy phần. Thám mã chưa từng thấy Dương Lăng xuống xe, có điều thấy hắn thi thoảng dừng chân nghỉ ngơi và mua đồ ăn tại thị trấn ven đường. Người của chúng ta xác nhận từng nghe trong xe có người phân phó hành động. Vẻ mặt của đám người đi theo âm thầm bảo vệ đó cung kính tự nhiên, nếu tùy tiện tìm một tên tiểu tốt giả mạo, thì đám phiên tử mới rời khỏi quân doanh không lâu, kẻ nào kẻ nấy đều ương bướng dữ dằn đó, sẽ không lý nào không để lộ chút sơ hở.

Đới Nghĩa âm thầm thất kinh, lão cầm lấy phong thư xem một chút rồi nói hộ cho Dương Lăng:
- Vậy cũng chưa chắc. Nghe nói Dương Lăng biết cách dùng binh, quân kỷ nghiêm minh, lúc chống giặc Oa tại Hải Ninh đã lấy một chọi trăm. Những binh sĩ đó nếu đã nhận nghiêm lệnh của hắn thì ai dám vì trong xe không có Xưởng đốc mà sẽ tuỳ ý làm càn chứ? Nếu như tên thiên hộ và hai bách hộ mà Dương Lăng tín nhiệm nhất đều ở trên thuyền vậy thì khả nghi lắm. Nếu hắn thật sự bỏ thuyền dùng xe thì sao có thể không mang thân tín theo bên mình?

Phạm Đình cười nói:
- Nữ tỳ lúc nào cũng như hình với bóng của hắn cũng ở trong xe, nghe nói nữ tỳ xinh đẹp đó có quan hệ mờ ám với hắn, hằng ngày thường hay ra vào phòng hắn. Chiếc kiệu xe bé xíu đó chỉ có thể ngồi sát với nhau, hắn nỡ để người con gái yêu mến của mình và người đàn ông khác kề tai áp má hơn chục ngày sao?

Đới Nghĩa nghe vậy không khỏi kinh ngạc, Hà Đại Xuân sốt sắng nói:
- Như vậy không phải tốt lắm sao? Nay Vương Quỳnh chết đi, Dương Lăng đã bị bao người chỉ trích, bá quan trong kinh không còn ai dám bảo vệ cho hắn nữa thì hiện tại phải mau chóng sai người chặn đường, thừa lúc hắn đang thân cô thế bạc mà tiêu diệt là tốt nhất!

Ánh mắt Trương Thọ chợt loé lên, lão nói:
- Chính vì không có gì khả nghi nên mới càng đáng nghi. Nếu hắn đã có cử động này, vậy rõ ràng đã cảm giác được hành động của chúng ta. Hắn xuất thân là tú tài, có gan chỉ vẻn vẹn dẫn mấy mươi tên hộ vệ hồi kinh ư?
Theo ta thấy, người thì vẫn nên phái đi, tuy nhiên mặt khác cũng nhờ Trương Tú về Thiên Tân vệ chuẩn bị trước, hai bên quăng lưới thể nào cũng sẽ bắt được con cá to thôi. Còn về phần trong kinh thì... cứ giao cho bá quan trong triều làm khổ hắn đi.

***

Bá Châu của Hà Bắc, vùng đất kế bên thiên tử mà lại lắm đạo tặc.

Ba bốn chục kỵ mã bảo hộ một chiếc kiệu xe tám ngựa đang phóng băng băng trên đồng không mông quạnh. Lúc này sắc trời chạng vạng, những con ngựa hồng hộc thở ra hơi thở nóng rực, hiển nhiên trong đêm đã không biết đi hết bao nhiêu con đường. Trên vùng hoang vu mọc đầy cỏ lau nhưng thưa thớt hơn bãi Lạc Nhạn rất nhiều.

Kiệu xe không lớn, ngựa phóng nhanh khiến nó không ngừng lắc lư nhưng trên chỗ ngồi đều lót đệm dày nên tuy rằng xóc nảy song lại không đến nỗi khiến người ta bị xóc đến rã người. Cao Văn Tâm và Thành Khởi Vận cải nam trang đang ngồi đối diện với nhau.

Thành Khởi Vận vận trang phục giống hệt Dương Lăng, khuôn mặt được trang điểm anh tuấn văn nhã, cặp mày, nhìn từ xa trông giống Dương Lăng đến năm phần. Trên nóc kiệu xe treo một ngọn đèn dầu (dầu cá). Đặt giữa hai người là một bàn cờ đá nam châm, hai người đang bày ra bố cục, đã đánh được hai trăm mười bốn nước.

Cao Văn Tâm cầm quân đen đi trước, hai bên đều đã đặt bố cục Tinh Tiểu Mục (4). Lúc đầu Cao Văn Tâm còn thủ vững đánh chắc đủ đấu một trận, đáng tiếc trong ván nàng thấy rồng lớn (5) của đối phương khó tránh kiếp nạn thì mừng rỡ khổ tâm vắt óc bày ra một nước hay hòng giết sạch rồng lớn của đối phương. Kết quả rồng lớn vận cao, nàng chỉ lo để mắt đến nó mà không nghĩ đến những nước khác, thế là rồng lớn còn chưa giết được mà thế cờ đã loạn.

Cao Văn Tâm trông thấy quân mình đã hoàn toàn tan rã, ở góc trái bên dưới cờ đen mất đi cơ sở, bên trên cờ sống đang bị chèn ép, bên phải tuy có thể đánh một trận nhưng nếu phát triển nơi đó thì con rồng lớn mà mình vất vả vùng vẫy trong ván sẽ bị Thành Khởi Vận nuốt mất, thật sự không còn sức để đánh thắng. Nàng nhìn một hồi lâu đành phải đẩy bàn nhận thua.

Cao Văn Tâm tự xưng kỳ nghệ cao minh nhưng dọc đường lên bắc đánh với Thành Khởi Vận mấy chục hiệp mà chưa từng thắng được một ván, quả thực trong lòng có phần chán nản.

Thành Khởi Vận đắc ý cười nói:
- Đời người như cờ, phải biết nhìn xa. Ta thấy cô nương đánh cờ thường hay lấy giết rồng làm vui, thật ra đó là sự cố chấp. Đánh cờ là để thắng chứ không phải là ham muốn khoái lạc nhất thời. Kỳ nghệ của cô vốn không tệ, có điều chưa từng suy xét toàn cục, thường vì để đánh ra một nước cờ hay mà không tiếc mọi giá thành ra vì ngọn mà bỏ mất gốc đi.

Tuy Cao Văn Tâm khinh bỉ hành động và việc làm trong quá khứ, thậm chí là hành vi liếc mắt đưa tình với Dương Lăng của Thành Khởi Vận, song dọc đường trong xe chỉ có hai người, nàng không thể lúc nào cũng xụ mặt.

Huống hồ việc Thành Khởi Vận bí mật lên bắc lấy thân làm mồi toàn bộ đều là vì Dương Lăng; mà Văn Tâm lại có trách nhiệm giám sát nàng ta nên nếu lúc này mà gây chuyện bất hoà thì quá coi nhẹ đến đại cuộc rồi, cho nên ngoài mặt vẫn khách khí với nàng ta, nghe Thành Khởi Vận chỉ điểm xong nàng chỉ hừ một tiếng không phục mà cũng không đáp lại. Nàng đấm nhẹ lên tấm lưng đã mỏi nhừ rồi dựa lên đệm lót.

Thành Khởi Vận mỉm cười nói:
- Vào thị trấn ở phía trước nghĩ ngơi tiếp vậy. Hôm qua chúng ta đột nhiên chạy cả đêm, qua trấn mà không vào, nếu có kẻ truy đuổi thì lúc này hẵn đã bỏ rơi bọn chúng rồi.
Chợt nghe ở đằng trước có tiếng người quát:
- Dừng lại, nha môn tuần kiểm tra xét những kẻ buôn lậu muối. Dừng xe xuống ngựa, trình giấy thông hành, tiếp nhận kiểm tra!

Hai người ngã chúi về phía trước, bánh xe rít lên ken két kéo lê thành một vệt dài trên đường. Thành Khởi Vận liền vén tấm rèm kiệu dầy cộp lên, một cơn gió tươi mát lùa vào, mang theo cái hơi lạnh đìu hiu của tiết thu.

Ánh nắng của buổi sớm tinh mơ tựa như phủ lên khuôn mặt trắng ngần không tì vết của nàng một lớp sương lạnh, Thành Khởi Vận quát:
- Kẻ nào đó?

Một nam tử áo xám đeo cung cầm cương chạy đến trước xe cúi người bẩm:
- Đại nhân, là nha sai xét muối của ty tuần kiểm. Chúng ta sẽ đưa yêu bài đuổi chúng đi hay là đút chúng ít bạc ạ?

Thành Khởi Vận nghe vậy trong mắt liền loé lên sự lạnh lùng, lập tức dấy lòng nghi ngờ. Mạc Thanh Hà đốc sát thuế khoá trà lương gạo muối cho nên nàng hiểu đám thuế lại này vô cùng. Nha sai của ty muối phần lớn là phường lưu vong, không khác mấy với những tên thuế lại ức hiếp lương dân bá tánh vậy mà sáng sớm tinh mơ chúng lại chịu chạy đến nơi dã ngoại hoang vu bố trí mai phục để tra xét buôn lậu muối ư?

Nàng đẩy cửa kiệu rồi khom lưng nhìn ra bên ngoài, chỉ thấy trước bụi lau khoảng mười trượng về phía trước có hơn mười tên thuế lại đang đứng, trông trang phục, côn bổng, binh khí quả thực là thuế lại đúng chuẩn, hơn nữa tên nào tên nấy đang nhàn nhã chuyện trò, có tên thậm chí vứt cả đao và côn trên mặt đất, nói là tra xét muối lậu nhưng đại khái cũng không thấy nhiều người cho lắm, Thành Khởi Vận khẽ thở phào một nhẹ nhõm. Nàng vừa quay đầu định căn dặn thủ hạ mấy câu thì khoé mắt đột nhiên loé lên, nàng bất chợt quay đầu lại phóng mắt vào trong đám lau sậy. Ánh nắng từ sau lưng chiếu tới hắt về phía trước, trong bụi lau chợt lấp loé mấy tia sáng.

Thành Khởi Vận lập tức khom người rút vào trong kiệu, quát:
- Cẩn thận mai phục, quay đầu về hướng tây, thông qua Bảo Định chạy đến hồ Bạch Dương.

Chưa dứt lời, hai mũi tên nhọn hoắc đã cắm "phập, phập" lên cửa xe cạnh nàng. Thành Khởi Vận sợ hãi, đứng không vững mà ngã bệt xuống cạnh Cao Văn Tâm, ngây ra đó một hồi, sắc mặt mới thoắt một cái đã biến thành trắng bệch.

Tuy nàng rất có khí phách của đại tướng nhưng nói cho cùng nàng cũng chưa từng xông pha chiến trường, hai mũi tên nhọn hoắt bay sát qua người khiến nàng thoạt đầu giật mình, về sau nghĩ tới mới thấy sợ.

Cao Văn Tâm cuống quýt chồm tới kéo cửa kiệu lại, bên ngoài liên tục có tiếng thét mắng, tiếng ngựa hí vang, chiếc xe chợt quay đầu, xốc nảy khiến hai người con gái ngã chúi vào nhau, rồi rầm rập phóng điên cuồng về hướng tây.

May mà Thành Khởi Vận kêu lên sớm, bốn mươi người mà nàng dẫn theo này vốn đều là thân quân, nhanh nhạy cơ cảnh, thạo nhất là hộ vệ và phản kích, vừa nghe nàng kêu lên liền đã lăm lăm cung trên tay, lúc này vừa phóng ngựa về hướng tây vừa giương cung bắn tên vào trong rừng sậy để áp chế mai phục. Mười tên "thuế lại" cầm đao thương ở phía trước căn bản đuổi theo không kịp khoái mã, không hề mang đến tí uy hiếp nào cho bọn họ, cho nên bọn họ cũng không thèm để ý.

Chỉ trong chớp mắt nhánh nhân mã này đã nhanh chóng biến mất trong rừng lau mênh mông. Một mảng lau sậy phát ra tiếng xào xạt, có hơn sáu mươi người từ trong đó bước ra. Một tên đáng đầu đội mũ nhọn mặc quân phục toàn xanh, mang giày quan thắt dây nhỏ màu trắng đưa mắt nhìn theo chỗ xe ngựa đã biến mất, sắc mặt lo lắng.

Một tên đóng giả thuế lại sợ sệt nói:
- Cầu đáng đầu, ti chức nghe bọn chúng nói chạy đến hồ Bạch Dương, chúng ta có đuổi theo hay không?

Cầu đáng đầu trừng mắt với hắn bảo:
- Xông vào đám lau sậy này còn nhìn thấy được ai sao, đi đâu mà đuổi? Hừ, bên đó cũng đã bố trí thiên la địa võng, để tên họ Dương hắn chui đầu vào đi.

Tên đóng giả thuế lại ngượng ngập nói:
- Lúc nãy rõ ràng bắn trúng mấy tên thế mà tên lại rơi xuống đất, xem ra phiên tử Nội xưởng chúng đều mặc giáp dệt bằng tơ vàng. Nhìn thuật cưỡi ngựa của bọn chúng, tiễn thuật lại bất phàm liệu người bên đó có đối phó nổi không?

Cầu đáng đầu cười gằn nói:
- Càng tiếp cận kinh thành thì người của chúng ta càng đông. Lần này phái ra hai vạn nhân mã, các con đường lớn nhỏ và cửa ải hiểm yếu vào kinh toàn bộ đều đã bị phong toả, cho dù họ Dương hắn biết rõ là đầm rồng hang cọp thì sao có thể không xông vào? Chỉ có bấy nhiêu người, có tài giỏi hơn chăng nữa thì cũng có ích rắm gì. Ha ha ha ha...

***

Đội kỵ mã ra khỏi hơi mười dặm, Thành Khởi Vận đã khôi phục lại sắc mặt, nàng giở bản đồ ra nhìn một hồi rồi bỗng vén rèm lên nói:
- Dừng lại, quay về Tiểu Chúc Trạch, nghỉ ngơi một canh giờ rồi đi tuyến Ngọc Mã Đài.

Cao Văn Tâm nhìn vào tấm bản đồ một chút rồi nói:
- Đi về hướng tây liệu có khiến bọn chúng nghi ngờ không?

Thành Khởi Vận yêu kiều đáp:
- Có hết sức cẩn thận thì bọn chúng mới cho rằng đại nhân đang ở trên xe. Đường vào kinh có hàng ngàn hàng vạn, tưởng dễ chặn chúng ta vậy sao? Sau khi Đông xưởng nhận được tin tức thì đã không ngừng điều động nhân mã từ trong kinh ra, điều động càng nhiều, đại nhân càng dễ hành sự. Bọn chúng có bày quân khắp nơi cũng không tạo thành uy hiếp gì với chúng ta. Nếu thật sự đến lúc bất khả kháng chúng ta sẽ quay đầu chạy ngược trở về Thạch Gia trang.

Cao Văn Tâm thấy nàng nói một cách hào hứng, như thể rất thích cái cảm giác vênh mặt hất hàm, nắm trong tay quyền lực to lớn này, thì không khỏi nhìn nàng bằng một ánh mắt kỳ quái.

Thành Khởi Vận nói đến say sưa. Nói xong trông thấy vẻ mặt quái dị của Cao Văn Tâm thì bất giác ngẩn ra hỏi:
- Cô nhìn ta làm gì vậy?

Cao Văn Tâm hỏi:
- Cô thích cái cảm giác này lắm à?

Thành Khởi Vận hỏi ngược lại:
- Như vậy thì có gì là không tốt?

Cao Văn Tâm hít vào một hơi rồi khẽ thở dài đáp:
- Thế giới này chưa từng có nữ nhân nào ra ngoài làm việc. Cô có thể làm quan được bao lâu đây? Đến lúc cô năm mươi, sáu mươi rồi thì cô sẽ chuẩn bị như thế nào? Không có người đàn ông nào, không có đứa con nào, cô sẽ sống dựa vào quyền lực và đống tiền vàng lạnh lẽo cả đời sao?

Thành Khởi Vận mờ mịt nhìn nàng, trong mắt dần dần hiện lên một sự sợ hãi, giống như có một món đồ nào đó nàng cần phải nắm bắt mà bây giờ mới bàng hoàng phát hiện rằng nó đã mất rồi. Có điều vẻ mê mang đó chỉ thoáng xuất hiện trong chớp mắt, nàng đã liền khôi phục lại vẻ thông minh và giảo hoạt trước đây.

Nàng mỉm cười duyên dáng với Cao Văn Tâm và nói:
- Ta biết cô luôn mang lòng cảnh giác với ta. Ta càng có biểu hiện tài giỏi, càng có dã tâm thì cô càng kiêng kị. Cô đang lo hôm nay ta lập đại công, chiếm được sự tín nhiệm của Dương đại nhân thì sẽ được đằng chân lân đằng đầu, sau sẽ lại có ý nghĩ quá phận, thậm chí... một ngày nào đó sẽ đối phó với Dương đại nhân giống như đối phó với Mạc Thanh Hà vậy; cho nên cô mới khuyên ta hãy sớm ngày yên phận nữ nhân đi, đúng không?

Cao Văn Tâm lạnh lùng nhìn nàng, không nói gì.

Thành Khởi Vận khẽ thở dài, dùng ánh mắt khiêu khích nhìn Cao Văn Tâm, khoé môi mang theo nụ cười cô độc, nói:
- Trước giờ ta luôn đóng kịch, bắt đầu từ khi hiểu chuyện thì đã diễn kịch rồi, với người khác cũng vậy mà với Mạc Thanh Hà cũng vậy, ta có từng coi hắn là người thân bao giờ? Chỉ vì hắn treo cái tấm biển "trượng phu của ta" thì ta sẽ phải một lòng một dạ với hắn sao?

Cao Văn Tâm truy vấn:
- Vậy cô tận hiến sức lực với lão gia nhà ta thì sao? Cũng là đóng kịch ư?

Thành Khởi Vận hé môi, mắt chợt sáng lên, vẻ mặt rạng ngời ấy khi cười mang theo chút dịu dàng và xinh đẹp, đôi mày kiếm được tô như của nam nhân vẫn không thể ngăn trở vẻ dịu dàng như nước được phơi bày.

Cao Văn Tâm không khỏi rũ rèm mi để tránh nhìn nàng. "Người con gái này, đóng giả nam nhân rồi mà vẫn có thể mê người như vậy sao?"

Chóp mũi Thành Khởi Vận hơi chun lại, tựa như làn sóng biếc lăn tăn trong gió xuân, đôi môi cắn chỉ phả ra một hơi khoan thai, lả lơi nói:
- Nô gia đang bán mạng cho đại nhân đây này, cô nói có phải là ta đang đóng kịch không?

Khi nãy Cao Văn Tâm nhất thời bộc lộ cảm xúc, lúc này đã cảm thấy hối hận. Người con gái này coi đời người như trò đùa, lấy việc trêu đùa làm cuộc sống, lời nói ra lúc hư lúc thật thì ai mà nhìn ra được chân ý của nàng ta. Nếu như lúc này đây mình nói nặng lời, ép nàng ta dứt bỏ ý niệm, gây bất lợi cho lão gia thì chẳng phải mình sẽ khóc không kịp ư?

Thế là nàng chợt máy động linh cơ, cố làm ra vẻ ghen tuông nói:
- Hừ! Cô đẹp lắm sao? Lão gia nhà ta mới không thèm để ý đến cô đó.

Thành Khởi Vật bật cười khúc khích. Tâm tư vừa lo lắng vừa bảo vệ cho người trong lòng của người con gái ở trước mặt này nàng sao mà nhìn không ra? Chậc! Lúc mình còn trẻ… lúc nào không phải là "lúc còn trẻ"? Nàng lặng lẽ nhìn Cao Văn Tâm, rầu rĩ thầm nghĩ: "Mình thật sự đã già rồi sao? Như nàng ta đã nói, mình còn bao nhiêu xuân xanh và mỹ mạo để lãng phí đây? Vân Nhi và Linh Nhi sớm muộn rồi cũng sẽ gả cho người ta, đến lúc mình từ từ già đi, sẽ cô độc lẻ loi một mình...”

Chính vào lúc này, ngoài xe chợt có tiếng ngựa hí, có người la lên:
- Xưởng đốc đại nhân, phía trước có người chặn đường, là phiên tử(*) Đông xưởng. Hai, tám, chỉ có mười bốn tên, có muốn giết sạch bọn chúng không?

Trong khoảnh khắc Thành Khởi Vận đã lại khôi phục vẻ mặt lạnh lùng tàn nhẫn coi mạng người như cỏ rác. Nàng nghiêm giọng quát:
- Không chừa một tên, giết!

Đáng thương cho mười mấy tên phiên tử đó, bọn chúng vốn không phải là chủ lực của Đông xưởng mà chỉ là nhân viên ngoại vi được phái trấn thủ ở phụ cận, do chỉ để đề phòng chuyện vạn nhất mà bọn chúng tạm bị bắt đến đây canh giữ mấy con đường nhỏ hiếm có khả năng có người chạy qua này.

Sáng sớm nhận được nghiêm lệnh từ trong kinh, dịch trưởng Triệu Tứ Nhi bị ép phải chui ra khỏi chăn êm nệm ấm của quả phụ Lạc thị dẫn người chạy đến nơi đường núi hoang vu này. Đang ngoác miệng chửi mắng thủ hạ, hắn chợt nghe thấy tiếng vó ngựa vang lên như sấm, trong rừng lau đột nhiên có một đội nhân mã lao ra. Bởi khoảng cách đôi bên gần như vậy, cho nên cái câu "Xưởng đốc đại nhân" mà người đi đầu cao giọng kêu lên lẫn cái câu "không chừa một tên" của một giọng nói lạnh lùng không chút dung tình trong khoang xe phát ra nọ hắn đều nghe rõ mồn một.

Triệu Tứ Nhi rùng mình một cái. Hắn vừa giơ thanh Cửu Hoàn Cứ Xỉ(*) Đại Khảm Đao lên,, một thớt ngựa đen đã lao đến trước mặt. Trên ngựa, một khuôn mặt đằng đằng sát khí đang chòng chọc nhìn hắn.
(*) Khảm đao răng cưa chín lỗ; nguyên văn Ngưu Nhĩ, tra mãi chả hiểu là gì, thấy có cái Cứ Xỉ là răng cưa nên đoán chắc nó. Xem hình: http://daoyj.com/Storage/FCKPro/Files/九环锯齿大砍刀.jpg)

Ánh đao xoay một vòng như dải lụa trắng, đầu người bay lên không trung, máu nóng bắn tung toé lên bụng ngựa, bốn chiếc vó ngựa đã đạp lên thân thể hắn lướt qua.

Đây thuần túy là một cuộc đồ sát một phía. Đám phiên tử lủi trốn vào trong đám lau sậy hai bên bị những tử thần trên lưng ngựa này chém giết từng mống một. Hai tên phiên tử cuối cùng khiếp sợ, vừa la hét vừa chạy như điên về phía triền núi đá trụi lủi ở bên trái.

Nơi đó chiến mã khó leo, nhưng tiếng cung vang lên lanh lảnh, trong khoảnh khắc hai tên nọ đã bị tên cắm đầy mình như con nhím, thân người ngã xuống, mũi tên lại gài vào trong khe đá, giữ cho cái xác không tài nào lăn xuống.

Trong khoảnh khắc, ba mươi thớt khoái mã đằng trước xe lao như cuồng phong về trước, không hề dừng nghỉ.

Lúc kiệu xe chạy qua, thân thể nát bấy của Triệu Tứ Nhi đã bị những cái vó ngựa to bằng cái bát đạp lún vào trong đất bùn, là phẳng như mặt đất. Cao Văn Tâm không trông thấy cảnh tượng thảm khốc đó, nàng chỉ thấy hai "con nhím" nhuốm đầy máu trên triền núi nọ thì đã không nén nổi cảm giác buồn nôn rồi.

Rèm xe liền bị nàng vội vã kéo xuống, Thành Khởi Vận bĩu môi khinh thường, cười nhạo:
- Nếu cô mà rơi vào tay bọn chúng thì sẽ không chỉ chết đơn giản như vậy đâu, chuyện gì xảy ra hẳn là cô có thể tưởng tượng được mà. Nếu hôm nay đổi lại là cô thì cô sẽ không đưa ra mệnh lệnh như vậy à?

Cao Văn Tâm giận dữ la lên:
- Giết thì cũng giết rồi, tại sao phải ra tay tàn khốc như vậy. Bọn họ là binh sĩ lão gia mang ra ngoài, ta biết bọn họ không có ác độc như vậy, có phải là do cô gợi ý không?

Thành Khởi Vận cụp hờ mí mắt, hời hợt đáp:
- Đương nhiên rồi! Bởi vì bản quan muốn lập oai.

Đoạn nàng đưa một ngón tay thon thả trắng ngà ra vẽ một vòng trên tấm bản đồ da bò, điềm nhiên nói:
- Ta muốn biến nơi này thành chiến trường trục lộc(6), hấp dẫn càng nhiều người trong kinh càng tốt. Khi đông người thì ta sẽ chạy, ít người thì ta sẽ giết.

Rồi nàng khẽ mỉm cười, cất giọng say sưa:
- Tuy nhiên, chiến trường quyết định thắng bại không phải là ở nơi này mà là kinh sư. Bên phía Dương đại nhân lúc này đây hẳn là còn đặc sắc hơn nữa...










Chú thích:

(1) vì hình dạng loại ghế này rất giống như chiếc mũ của quan lại nên mới có tên ấy. Xem hình: http://www.9tiancao.com/UploadFiles/...1342324369.jpg
(2) trích trong Tam thập lục kế. Tích rằng Hàn Tín vờ sai người đi sửa đường sạn đạo, vốn mất rất nhiều công sức thời gian, khiến Tam Tần yên trí rằng quân Hán còn lâu mới ra được cửa ải. Nhưng thực ra Hàn Tín dẫn đại quân đi theo đường Trần Thương đi qua huyện Cố Đạo đánh úp Ung Vương Chương Hàm. Nghĩa bóng chỉ ngoài mặt thì làm việc này, nhưng lại lén lút thực hiện việc khác.
(3) nguyên văn bát kí (tám con ngựa kí); ngựa kí ngày đi ngàn dặm mà không mệt, chỉ chung ngựa tốt.
(4) một bố cục của cờ vây, gọi là hoshi-komoku (hoshi là tám điểm đen quanh bàn cờ, gọi là sao; komoku là các điểm nằm kế bên sao và gần biên, tiểu mục là điểm 4-3, tinh là điểm 4-4). Xem hình và chú thích: http://wiki.igo.is/diag/e0d93b3561ae...4e8909c6b7.png
- san san: đánh vào tọa độ 3 3 (điểm c)
- komoku: đánh vào tọa độ 4 3 (điểm a)
- hoshi: đánh vào tọa độ 4 4 hay chính là đánh vào các sao đó bạn (điểm b)
- mokuhazushi: đánh vào tọa độ 5 3 (điểm d)
- takamoku: đánh vào tọa độ 5 4 (điểm e)
(5) nhiều quân cờ gom lại gọi là rồng, vì vậy khi bị mất một số quân lớn người ta gọi là "chết rồng".
(6) trục lộc là đuổi theo hươu, chỉ nơi mà thiên hạ cùng nhau tranh giành. Người xưa dùng hươu để chỉ giang sơn (Tích từ thời Hán-Sở tranh hùng)




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
26-10-2011, 11:02 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 148 - Khoác Vỏ Tiểu Nhân




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Từ dưới bóng râm cửa cung, Dương Lăng lách người bước ra, rảo bước về phía trước. Y vừa vén áo bào định nghiêng người quỳ xuống, Chính Đức đã ôm chầm lấy y, giọng run run mừng rỡ:
- Dương thị độc, Dương thị độc! Khanh thật đã trở về rồi. Trẫm bị bọn họ ức hiếp đến khổ, có khanh ở đây trẫm không phải sợ nữa.





Chương một trăm bốn mươi tám - Khoác Vỏ Tiểu Nhân

Bến cảng Thiên Tân.

Nhìn từ xa đã có thể thấy được lá long kỳ màu vàng sẫm của thiên tử.

Phương bắc vào tháng mười một đã rất lạnh. Hôm nay tiết trời âm u, mây đen giăng kín, lá cờ phần phật trong gió táp. Nhìn lá cờ chữ "Dương" to lớn ở xa xa, khoé miệng Trương Tú thoáng lộ một nụ cười chua chát.

Kẻ này được mình một tay nâng đỡ, vốn nghĩ rằng có thể gây dựng cho Cẩm Y vệ và Đông xưởng một người thân tín bên cạnh tân đế. Nào ngờ vận làm quan của y lại thuận lợi phi thường, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi mà y đã "phản khách vi chủ", uy hiếp đến quyền lợi của mình. Mình có thể lệ thuộc vào Đông xưởng, nhưng sao có thể khom lưng uốn gối trước mặt thuộc hạ cũ chứ?

Lão đưa mắt nhìn quanh, trên hai chiếc tàu chiến lớn cập trên bến tàu là bốn khẩu hỏa pháo được phủ kín bằng vải bố dầy cộp, chuẩn bị một khi Dương Lăng tháo chạy sẽ bắn tan thuyền của y. Đằng sau bức tường sau lưng lão là bốn mươi tay Cẩm Y vệ cầm nỏ, mười tay cầm súng đang mai phục, chỉ cần Dương Lăng vừa lộ diện bọn chúng sẽ lập tức đồng loạt khai hoả, cho dù y có bản lĩnh cỡ nào cũng đừng mong sống sót. Còn như hai ngàn tên Cẩm Y Vệ tinh nhuệ mai phục ngoài bến cảng là nhằm chuẩn bị vin tội danh phản loạn để tiêu diệt hai trăm thị vệ của Dương Lăng.

Những việc còn lại sẽ là chuyện của đám quan văn triều đình. Lão có thể tưởng tượng được khi mình đưa hơn hai trăm thi thể đã thối rữa không còn nhìn ra hình dạng về kinh, đám quan viên đó sẽ gán bao nhiêu tử tội cho Dương Lăng, kẻ có miệng mà đã không thể giải bày này.

Trương Tú thở ra một hơi thật dài. Trong lòng lão căm ghét cái đám quan văn này không thôi. Cảm giác này hình thành từ sự bất đồng về lập trường và lợi ích đôi bên, tuyệt đối sẽ không vì đôi bên có việc cùng hợp tác mà thay đổi.

Thuyền đã cập bờ, Trương Tú cười nhạt, chắp tay sau lưng nhìn tấm ván trên thuyền đang chầm chậm hạ xuống: rốt cuộc kẻ tự tìm cái chết đã đến.

Lão là thượng cấp cũ của Dương Lăng, nay tuy không còn quan hệ bề trên và thuộc hạ song địa vị lão cũng không hề thấp hơn y. Thấy lão đến đón chào, nhất định Dương Lăng sẽ chủ động xuống thuyền nghênh tiếp. Chỉ cần y vừa đạp chân xuống đất, hai trăm thanh nỏ thép sẽ găm đầy người y.

"Cộp", tấm ván hạ xuống đất, cơ thịt Trương Tú thoáng rút lại, giống như trông thấy Dương Lăng cả người đầy máu, trố mắt kinh ngạc nhìn lão rồi ngã lăn quay xuống đất.

Trên đầu thuyền xuất hiện một bóng người chạy "cộp cộp" xuống thuyền. Từ thật xa người đó đã chợt quỳ một gối xuống đất, ôm quyền thi lễ:
- Ô kìa, Trương đề đốc sao lại đến vậy? Hạ quan Liễu Bưu bái kiến đại nhân.

Trương Tú vốn cảm thấy người này rất quen mặt, vừa nghe gã tự báo tên họ mới nhớ ra đây là một tên hiệu uý nho nhỏ trong Cẩm Y Vệ, nay lại đã trở thành Thiên hộ của Nội xưởng. Lão đưa tay đỡ hờ, hỏi:
- Thì ra là ngươi à? Đứng lên đi! Dương đại nhân đâu, sao không thấy y?

Liễu Bưu tươi cười bước tới nghênh tiếp, rồi gật đầu khom lưng đáp:
- Dương đại nhân phải vội vào kinh gặp Hoàng thượng, giữa đường đã xuống thuyền đi đường bộ rồi. Ha ha ha! Đại nhân không phải người ngoài, hạ quan cũng không sợ ngài biết, có vị đại nhân nào làm việc mà không tiện đường mang theo chút hàng lậu chứ?
Trên thuyền toàn bộ đều là hàng hoá phương nam, mấy ngày trước đã chuyển vào kinh một thuyền rồi. Nếu lại đưa mấy thứ này vào kinh nữa, sẽ rất dễ khiến cho người khác chú ý cho nên mới đỗ ở bến Thiên Tân. Chốc nữa tiểu nhân sẽ thông báo cho thương gia bản địa đến nhận hàng trước, nghỉ lại hai ba ngày rồi mới sẽ về kinh.

Trương Tú thầm nghĩ: "Quả nhiên y giương đông kích tây, âm thầm đi đường bộ." Lão lướt mắt nhìn, thấy trên thuyền lưa thưa lớt thớt cũng không thấy mấy người, Trương Tú cười nhạt, khoát tay nói:
- Nếu đã như vậy thì ngươi đi làm việc đi! Bản đốc cùng Dương đại nhân lâu ngày không gặp, ta vốn định đãi rượu để chuyện trò, giờ đành phải đợi vào kinh mới nói tiếp vậy.

Liễu Bưu nhìn theo bóng lưng lão, cũng thở dài tự đáy lòng: "Tai ách do Trời thì còn tránh được(1). Trương đại nhân ơi Trương đại nhân! Ông vội vã hồi kinh đưa tiễn tiền đồ tính mạng của mình như vậy, ấy là tự làm tự chịu, đừng trách ti chức không độ lượng nhé.”

Đi khỏi một hồi, Trương Tú ám thị cho cung tiễn thủ mai phục hai bên rút lui. Chỉ huy thiêm sứ Hạ Lạc thấp giọng hỏi:
- Đại nhân! Không thừa cơ xử lý bọn chúng à?

Trương Tú trừng mắt:
- Để bọn chúng buôn bán đồ vật của chúng đi. Dương Lăng không có mặt trên thuyền, xử lý mấy tên tôm tép này thì có ích gì? Mà ngược lại còn bị người ta nắm thóp cho!

Lão suy nghĩ một lúc, rồi quay đầu nhìn đám phiên tử nhàn nhã trên thuyền, thấp giọng căn dặn:
- Nhiều người rối mắt. Ta mang hai ngàn người chia làm bốn tốp về kinh tụ hợp với nhân mã của Bắc trấn phủ ty. Chỉ cần Dương Lăng vừa chết, sẽ lập tức xin thánh chỉ san bằng Nội xưởng. Nơi này giao cho ngươi, chú ý động tĩnh trên thuyền.

* * *

Rốt cuộc tin tức ngay sau khi Vương Quỳnh đấu khẩu cùng Dương Lăng trên bàn tiệc thì gặp phải độc thủ cũng được dịch trạm truyền vào kinh sư. Quan viên Đốc Sát viện, Hàn Lâm viện và Lục Bộ khí thế sục sôi, ùn ùn tề tụ trong phủ đại học sĩ Lưu Kiện.

Chiếc kiệu nhỏ của Lý Đông Dương dừng trước cửa phủ. Vừa bước vào sân, quan viên các bộ liền đã vây quanh ông, nhao nhao kêu gào:
- Lý đại học sĩ! Dương Lăng xem thường vương pháp, không kiêng nể ai; giống hung bạo này không trừ, triều đình sẽ không yên đâu. Lý đại nhân, ngài phải chủ trì công đạo cho Vương lão thượng thư à!

Mặt nặng như chì, Lý Đông Dương liên tục chắp tay vái chào mọi người, chân vẫn bước thẳng đến thư phòng của Lưu Kiện, trông thấy ngoài thư phòng đã có Lục Bộ Cửu Khanh đang ngồi. Những người này lại vẫn bình tĩnh, thấy lão chỉ hơi gật đầu.

Lý Đông Dương gật đầu chào rồi bước vào trong thư phòng. Lưu Kiện và Tạ Thiên đang buông thõng hai tay ngồi đối diện nhau, không ai mở miệng nói một lời nào.

Thấy ông bước vào, Lưu Kiện mới chậm rãi lên tiếng:
- Tân Chi, ông nghe nói rồi chứ?

Lý Đông Dương gật đầu nhè nhẹ, đáp:
- Có nghe, nhưng mà... Cho dù Dương Lăng có ngang ngược hơn đi nữa, liệu y sẽ vì tranh cãi mà hành hung giết người, mưu hại trọng thần triều đình không?

Tạ Thiên cười khổ một tiếng, nói:
- Ai sẽ thanh minh cho y đây? Là ông, hay là tôi? Kẻ này vốn là hạng người chúng ta cần phải loại trừ, giờ đây mọi người khí thế bừng bừng, chúng ta vốn là kẻ đứng đầu bá quan, nếu như lúc này dừng lại hoặc thay đổi phương hướng thì chính chúng ta cũng sẽ bị bọn họ giẫm dưới chân thôi! Tình hình... đã không còn do chúng ta khống chế được nữa.

Trong mắt Lý Đông Dương loé lên hai đốm lửa nhàn nhạt, ông trầm giọng:
- Đông xưởng còn nóng lòng muốn giết Dương Lăng hơn cả ông và tôi. Tôi chỉ hoài nghi...

Lưu Kiện kiên quyết:
- Vương lão thượng thư bị giết đã là sự thật không thể chối cãi, hung thủ không phải Dương Lăng thì là Đông xưởng. Nhưng lúc này đây, thời và thế như vậy, chúng ta còn có thể khai chiến với Đông xưởng sao? Huống hồ ai sẽ thuyết phục bá quan đây? Nếu như áp chế bọn họ, làm cho mọi người nổi giận thì e rằng ông và tôi... đều sẽ tự rước lửa thiêu mình đấy.

Lý Đông Dương không nói gì. Ông cũng biết mặc kệ là ai đã giết Vương Quỳnh, một người muốn làm nên đại sự đều phải thuận theo thời thế mà diệt trừ Dương Lăng trước. Về phần Đông xưởng... một khi Dương Lăng bị diệt trừ, quyền thế ngoại đình sẽ lên cao, sau đó từ từ thu thập bọn chúng cũng không muộn. Lúc này mà muốn khai chiến với cả hai mặt thì thật không khôn ngoan chút nào.

Tạ Thiên vịn bàn nói:
- Khi nãy, tôi cùng Lưu đại nhân đã bàn bạc qua với Lục Bộ Cửu Khanh. Chỉ cần ông cũng đồng ý, chúng ta sẽ liên danh dâng sớ cầu xin hoàng thượng giết Dương Lăng, trừ Bát Hổ. Ý ông thế nào?

Lý Đông Dương trầm ngâm hồi lâu rồi cười khổ sở, giọng yếu ớt:
- Giờ đây, chúng ta còn có thể lựa chọn phương cách khác hay sao?

* * *

- Hoạn quan, hoạn quan! Chẳng lẽ triều đình đều do hoạn quan gây hại sao? Xưa nay số triều thần gây chuyện xấu xa chiếm đến sáu bảy phần, vậy mà lúc nào cũng lôi hoạn quan ra nói!
Chính Đức đang ngồi trên long án, vừa giở một bức tấu chương ra xem sơ một lượt thì đã giận dữ quẳng đi. Rải rác khắp thư phòng toàn là những bức tấu chương đã mở. Ở trên hắn ném, ở dưới hai tiểu thái giám quỳ mọp sát đất, trán mướt mồ hôi.

Lúc này, một tên tiểu thái giám run rẩy khẽ giọng:
- Hoàng... Hoàng thượng, đại học sĩ nội các có tấu chương khẩn.

- Trình lên đi!
Chính Đức đỏ mặt hổn hển, nghe nói lại có tấu chương thì hắn không khỏi phẫn nộ vỗ bàn đánh bộp.

Tấu chương vương vãi đầy trên mặt đất. Tên tiểu thái giám nọ cũng không dám sơ ý đạp lên, đành phải lập tức nhón chân lách qua lách lại như múa đến bên cạnh Hoàng thượng, trình lên một quyển tấu chương dày cộm.

Chính Đức vừa giở ra xem, liền không khỏi sững người. Đại học sĩ Hoa Cái điện, đại học sĩ Cẩn Thân điện, đại học sĩ Vũ Anh điện, các bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Công, Hình, còn có Đô Sát viện, Thông Chánh sứ, Đại Lý tự, Lục Bộ Cửu Khanh, ngự sử của Lục khoa thập tam đạo... phía sau là một dãy các loại tên tuổi bút tích. Chính Đức đã không thể tiếp tục xem được nữa.

Trước mắt hắn dường như đang có mấy trăm cái đầu chen chúc, kêu gào với hắn:
- Giết Dương Lăng, trừ Bát Hổ, thanh lọc bầy tôi bên cạnh vua! Bằng không chúng ta sẽ giũ áo từ quan, giao cho ngươi cái giang sơn to đùng như vầy để ngươi tự đi mà quản lý lấy!

Chính Đức đặt mông ngồi phịch xuống ghế, buồn rầu nhìn về phía trước. Trong điện, mấy tên tiểu thái giám nhận thấy thần sắc Hoàng thượng không tốt, lập tức hành động đã nhẹ lại càng nhẹ nhàng hơn, thậm chí thở cũng không dám thở mạnh.

Khuôn mặt béo tròn tươi cười của Cốc Đại Dụng ở ngoài cửa nhìn vào một lúc, sau đó lão rón rén bước vào, vẫy tay ra hiệu cho mấy tên tiểu thái giám trong điện. Như được đại xá, mấy tên này lật đật lui ra.

Cốc Đại Dụng bước đến bên cạnh Chính Đức, nhún nhường mỉm cười hỏi:
- Hoàng thượng lại vì chuyện trong triều mà ưu sầu à? Không phải là còn có đám lão thần của Lục Bộ Cửu Khanh sao? Bọn họ đều là thần tử mà tiên hoàng để lại cho người, một lòng trung thành. Hoàng thượng tuổi còn nhỏ, có việc gì cứ giao cho bọn họ làm là được rồi. Đã ăn bổng lộc của triều đình, có lý nào lại không san sẻ lo âu cho vua chứ?

Chính Đức ngơ ngác đưa mắt nhìn lão:
- Đại Dụng, ngươi đến rồi à?

Cốc Đại Dùng khom lưng thưa:
- Dạ, lão nô đã sai người ở Báo phòng (phòng nuôi báo) thuần phục thêm được hai con báo, định để khi Hoàng thượng lo phiền về quốc sự có thể đến đó tìm vui...

Đoạn lão trộm liếc nhìn những tấu chương chưa được nhặt lên, khoé mắt thoáng giần giật, rồi đổi giọng:
- Từ nhỏ, Hoàng thượng đã được lão nô hầu hạ, khi đó mỗi khi thấy người cười, trong lòng lão nô như có hoa nở vậy. Giờ đây mắt thấy người lên làm Hoàng thượng rồi, là thiên tử Đại Minh, chủ của cả thiên hạ, ấy vậy mà lại không vui vẻ gì, trong lòng lão nô...

Lão vừa nói mà vừa không nén được lệ rơi, bèn vội quẹt nước mắt, tự trách:
- Lẽ ra lão nô phải làm cho người vui, thế nào lại khóc rồi. Lão nô đáng chết, lão nô đáng chết!
Vừa nói lão vừa vả mạnh vào miệng mình mấy cái.

Chính Đức nhìn thấy, bỗng nhiên đứng bật dậy khóc lớn. Thấy vậy, Cốc Đại Dụng vội vã quỳ mọp xuống đất dập đầu lia lịa:
- Lão nô đáng chết! Lão nô đã làm cho Hoàng thượng không vui!

Chính Đức kéo lão dậy, khóc nấc:
- Đại Dụng, đứng lên cho trẫm. Trẫm còn nhớ, lúc trẫm còn nhỏ nghịch ngợm trèo cây, ngươi đứng dưới gốc cây cầu xin ta leo xuống, sợ đến túa cả mồ hôi. Trẫm vừa trượt tay ngã xuống là ngươi đã lao tới đỡ cho trẫm. Giày của trẫm cào một vết dài trên cổ ngươi, máu chảy ròng ròng, thế mà ngươi chỉ cố ôm trẫm mà kêu lên "Thái tử gia bình an vô sự". Trẫm... trẫm...

Rồi hắn lại khóc rống lên, đập bàn gào lên như một con thú bị nhốt trong cũi:
- Nghĩ ra mấy trò chơi cho trẫm, làm cho trẫm vui, sao lại thành gian thần thập ác bất xá(2) chứ hả?

Nước mắt giàn giụa, tiểu hoàng đế lại than trách:
- Còn Dương thị độc nữa, bọn họ nói y tham quyền tự quyết, dã tâm bừng bừng, ta khinh! Bọn họ mù hết rồi hay sao, công việc đó không phải là trẫm kiên quyết phái cho y sao? Thậm chí là đường đường chức thượng thư mà y cũng không chịu làm, còn nói y dã tâm bừng bừng?

Chính Đức kể tiếp, giọng nhão nhoẹt:
- Trẫm muốn dùng người của mình, lại không để y can dự triều chính, vậy mà cũng không được sao? Vậy mà cũng không được sao? Bọn họ ức hiếp trẫm như vậy, hở một tí là dọa bãi quan không làm. Rốt cuộc bọn họ muốn trẫm phải như thế nào đây?

Khoé mắt Cốc Đại Dụng giần giật, lão cười nịnh:
- Hoàng thượng đừng khóc! Hoàng thượng đừng gào thét! Người là thiên tử, mọi người trong thiên hạ đều phải nghe người. Nếu bị nhìn thấy há sẽ chẳng khiến người ta chê cười ư?

Lão chưa dứt lời, lời nói của lão nào chỉ như dầu châm vào lửa, Chính Đức vừa nghe liền lập tức nổi giận quát:
- Ai nghe trẫm chứ? Ai nghe trẫm chứ? Toàn là trẫm phải nghe bọn họ, trẫm giao toàn bộ quốc sự cho bọn họ, vậy mà vẫn chưa đủ.
Trẫm muốn ăn gì, mặc gì, lúc nào thì ngủ, lúc nào thì dậy đều phải nghe theo bọn họ. Ngươi nói thiên hạ là của trẫm ư? Ngay cả ở trong cung đây, bọn họ cũng quy định nơi nào trẫm có thể đi, nơi nào không thể đi. Thiên hạ này rốt cuộc là của ai?

Thấy Chính Đức nổi cơn tam bành, Cốc Đại Dụng cũng không dám khích thêm, bèn rụt rè tâu:
- Hoàng thượng bớt giận. Bọn họ dâng tấu chương cũng không phải là một lần hai lần, người cứ phong hoàn(3) lại cũng được rồi, chớ để tổn hại đến thân thể mình.

Chính Đức lau nước mắt, rồi cầm quyển tấu chương trên bàn lên, cười như mếu:
- Phong hoàn? Lần này Tam công của Nội Các, Lục Bộ Cửu Khanh, bá quan văn võ bức trẫm đến thoái vị đến nơi rồi, ngươi muốn trẫm phải làm sao đây?

Ngoài cửa, đám người Lưu Cẩn sớm đã lặng lẽ đứng chờ ở đấy. Nghe đến đây, rốt cuộc cả bọn đã tin việc văn võ cả triều có ý định chém đầu tất cả bọn họ mà Dương Lăng kể là thật, và việc mình được những thái giám quản sự nọ tâng bốc quả thật chính là gian kế của Đông xưởng.

Trước đó Dương Lăng cùng Mã Vĩnh Thành ngồi chung một kiệu bí mật vào cung, hẹn mời Bát Hổ bàn về việc này. Không ngờ tám tên thái giám kiêu ngạo quyền lực ngút trời trong lịch sử này lại nhát như cáy, vừa nghe mình đã khiến cho mọi người phẫn nộ liền sợ cụp cả đuôi. Mấy ngày nay mặc cho đám thái giám quản sự nọ ba hoa khoác lác ra sao, bọn họ cũng không dám xúi giục Chính Đức rời cung nữa, chỉ mong sao các triều thần có thể tha mạng cho bọn họ.

Giờ nghe nói thậm chí cả Tam công và Lục Bộ Cửu Khanh đều ra mặt, tuy rằng bọn họ không có học nhưng cũng biết rõ mức độ nghiêm trọng của tình hình. Bọn họ bèn giở chiêu "chúi nhủi" bò vào, rồi theo cách Dương Lăng dạy cho mà vừa tru khóc vừa kể lể, nào là đã hầu hạ mọi việc ỉa đái của Chính Đức từ lúc hắn còn bú tí thế nào, rồi tận tâm tận lực làm cho hắn vui ra sao.

Tên nào tên nấy khóc lóc kể lể như đỗ quyên than mất nước, thực khiến kẻ thấy đau lòng, người nghe rơi lệ. Hoàng đế Chính Đức cũng không thèm nghĩ vì sao bọn họ lại hay tin mà chạy đến đây, hắn nghe mà chỉ thấy đau lòng, càng khóc lớn: trừ Tiên hoàng ra, có thể nói những kẻ trước mặt này là những người gần gũi với hắn nhất. Đám đại thần kia nói bọn họ giống như là yêu ma quỷ quái mặt xanh nanh vàng thì làm sao mà vị thiên tử trẻ tuổi này chịu tin kia chứ?

Dương Lăng lặng lẽ đứng bên ngoài, thấp giọng hỏi Miêu Quỳ:
- Đã khống chế hết mọi người rồi chứ?

Miêu Quỳ gật nhẹ đầu, đáp:
- Dương đại nhân yên tâm. Bắt đầu từ bây giờ, những người bên cạnh Hoàng thượng đều đã có thân tín của Ngự Mã giám bố trí theo dõi sít sao, đừng hòng có ai tiếp cận với bọn chúng. Có điều... nếu như Hoàng thượng vẫn không đưa ra quyết định thì làm thế nào? Chúng ta đã ra tay, nếu lại xếp cờ dẹp trống* tất sẽ khiến cho bọn chúng chú ý.
(*: ý nói đình chỉ mọi hoạt động)

Dương Lăng khẽ thở dài một hơi rồi đáp:
- Hoàng thượng còn nhỏ, phải dựa vào văn võ cả triều để trị vì giang sơn. Muốn người mạo hiểm chấp thuận lời từ quan của tất cả bá quan, quả thực là làm khó cho người.

Rồi y thoáng nhếch môi cười nhạt:
- Tuy nhiên... Dương mỗ cũng là người sớm đã lăn lộn trên quan trường. Ngoại trừ quyền lực thì quan trường lớn và quan trường nhỏ cũng chẳng có gì khác biệt. Bọn họ có thể xin từ quan, Hoàng thượng có thể không đồng ý.

Nghĩ đến hiện trạng những học sinh cực khổ đọc sách mười năm vào kinh thi cử, nhớ đến khung cảnh Nghiêm Tung vì để vào được trường thi mà dập đầu như giã tỏi, Dương Lăng khẽ nhếch mép khinh thường:
- Công danh và lợi lộc không dễ có. Ta thấy số người biết thời biết thế ở lại tiếp tục làm quan chắc chắn sẽ chiếm đa số, tiếp theo sẽ lung lạc bọn họ thêm một chút nữa. Chỉ cần chúng ta cầm chân được những người làm việc cụ thể, trực tiếp xử lý công việc thì khi đó mấy vị thượng thư, mấy vị học sĩ có muốn đi thì cứ để bọn họ đi đi thôi.

Lúc này Lưu Cẩn thấy Hoàng thượng chỉ lo khóc rống mà không có vẻ gì là có biện pháp để chống lưng cho bọn họ, bèn lau nước mắt bẩm:
- Hoàng thượng! Việc trong cung của người, sao ngoại thần lại biết tận tường như vậy? Đó là vì có ty Lễ Giám, Đông xưởng và Cẩm Y Vệ chống lưng đằng sau đó. Bọn họ vốn phải là tai mắt của người, nhưng lại đi làm thám tử cho ngoại thần, đem kể toàn bộ những chuyện của người cho bọn họ biết, kích động ngôn quan làm khó Hoàng thượng!

Nguỵ Bân vội hùa theo:
- Phải đó Hoàng thượng! Nô tài đích thân nghe thấy Vương Nhạc Vương công công nói với ba vị đại học sĩ rằng: ”Hoàng thượng nhỏ tuổi, các vị tiên sinh thấy Hoàng thượng có chỗ nào không đúng thì cứ nói thẳng, không cần phải sợ.”

Chính Đức vừa nghe thì giận đến run người:
- Tên... tên nô tài to gan!

Mã Vĩnh Thành vì vụ đánh chết nữ quan nọ mà sinh ra hiềm khích với Dương Lăng. Song đó chỉ là việc nhỏ, giờ đây đã cùng ngồi trên một con thuyền, nếu chìm thì cùng chìm, nếu vượt qua được thì sẽ cùng vượt qua, cho nên lão cũng cật lực phối hợp mọi người, kể tội:
- Hoàng thượng! Phạm công công của Đông xưởng thường kêu nô tài đi hỏi Hoàng thượng mua những thứ gì, sau đó kể lại cho ngoại đình. Ngay cả nội khố (4) là của riêng Hoàng thượng mà bọn họ cũng nhúng tay vào, bọn họ còn để Hoàng thượng vào trong mắt không?

Sắc mặt Chính Đức trắng bệch, hắn lạnh lùng nói:
- Thường có câu "một đời vua một đời thần". Nhưng từ lúc trẫm kế vị đến nay có đụng đến chúng không? Các ngươi theo trẫm lâu năm, thế mà đến giờ cũng chưa từng ngồi lên chức vị quan trọng nào trong nội đình. Trẫm chỉ có mỗi Dương Lăng là quan viên trẫm tự thân đề bạt, lại là lập ra Nội xưởng mới, cũng chưa từng đoạt quyền của chúng. Bọn chúng lại đang làm cái gì vậy?

Trong đám người này thì Trương Vĩnh là kẻ đọc sách nhiều nhất, trông thấy Hoàng thượng sắp mất kiên nhẫn, lão bèn ôn tồn tâu:
- Hoàng thượng! Người còn nhớ vở kịch đèn chiếu mà lão nô và Khâu Tụ diễn cho người xem không? Bọn họ đang liên kết đại thần trong triều, khi dễ Hoàng thượng nhỏ tuổi, muốn biến Hoàng thượng thành con rối gỗ đó.
Bọn họ dắt tay người, thì người sẽ động tay, bọn họ dắt chân người, thì người sẽ động chân. Tóm lại, bọn họ muốn Hoàng thượng làm cái gì, Hoàng thượng sẽ phải làm...

"Bộp!" Một quyền đấm mạnh lên mặt bàn, sắc mặt Chính Đức đã từ đỏ chuyển thành tím ngắt, ngực hắn phập phồng lên xuống, gân xanh hằn rõ trên trán, hơi thở hổn hển như ống bễ lò rèn. Một lúc lâu sau, hắn mới cất giọng khàn khàn nói:
- Lòng dạ ấy thật đáng chém! Các ngươi nói thử xem trẫm phải làm sao đây?

Nghe đến câu này, Dương Lăng khép hờ mắt: "Cuối cùng Hoàng thượng đã bị thuyết phục rồi. Một câu này đã hỏi ra, hồi phong ba lớn sẽ không thể tránh nữa, mình cũng đã bị quy kết là gian thần lộng quyền, còn ai hiểu cho mình đây?
Nhưng... sao mình lại nhất định phải làm cho người ta hiểu chứ? Kỳ hưng dã bột yên, kỳ vong dã hốt yên(5), mình cũng chỉ là một quân cờ bị vận mệnh sắp đặt đến nơi này mà thôi. Mình phải giở thủ đoạn chớp giật nhưng vẫn giữ tâm địa Bồ Tát, chỉ cần mình không thẹn với lòng còn mặc kệ người khác nhìn mình như thế nào!"
Nghĩ đến đây, Dương Lăng bèn mở mắt, ánh mắt trở nên kiên nghị.

Lưu Cẩn vừa nghe Chính Đức nói vậy, tinh thần bất giác phấn chấn, bèn vội bò tới phía trước tâu:
- Thân khuyển ưng chó ngựa sao có thể tổn hại đến chính sự chứ? Xưởng vệ là do Hoàng thượng người lập ra, muốn dùng ai loại ai, còn không phải bởi một câu của người ư?

Nghĩ đến một dãy tên dài dằng dặc trên quyển tấu chương nọ, dũng khí xuất phát từ sự phẫn nộ khi nãy của Chính Đức không khỏi vơi đi mấy phần. Hắn lo sợ:
- Nhưng mà... Bọn họ nắm giữ mười hai đoàn doanh, sẽ gây bất lợi với trẫm không? Hơn nữa... những quan viên ngoại đình đó, nếu thật sự đều giận trẫm mà đi, vậy... vậy trẫm sẽ phải làm sao?

Trương Vĩnh mỉm cười đáp:
- Hoàng thượng yên tâm! Dương Lăng Dương đại nhân nhận lệnh của người, đốc sát (quản lý và giám sát) bá quan, vẫn luôn tận trung với chức vị, không dám có chút lơ là. Nghe nói nội đình và ngoại đình liên thủ bức bách Hoàng thượng, y đã chạy suốt đêm ngày về kinh, xả thân hộ giá. Dương đại nhân tất có kế hay.

Vừa nghe, liền như có được phương cách giải quyết vấn đề, Chính Đức kinh ngạc mừng rỡ reo lên:
- Dương thị độc hồi kinh rồi à? Y đang ở đâu? Mau! Mau gọi y vào gặp trẫm!

Từ dưới bóng râm cửa cung, Dương Lăng lách người bước ra, rảo bước về phía trước. Y vừa vén áo bào định nghiêng người quỳ xuống, Chính Đức đã ôm chầm lấy y, giọng run run mừng rỡ:
- Dương thị độc, Dương thị độc! Khanh thật đã trở về rồi. Trẫm bị bọn họ ức hiếp đến khổ, có khanh ở đây trẫm không phải sợ nữa.

* * *

Bắc trấn phủ ty.

Hoàng hôn vừa buông xuống, Trương Tú đã dẫn năm trăm tên Cẩm Y Vệ chạy về đến nơi. Mâu Bân vội vã ra nghênh đón:
- Đại nhân! Sao muộn thế này mà đại nhân còn chạy từ Thiên Tân vệ đến đây vậy?

Trương Tú thấy lão vận quân trang thì không khỏi thoáng ngẩn ra, hỏi:
- Không phải là ngươi thường hay mặc thường phục trong nha môn sao? Mới vừa đi ra ngoài à?

Ánh mắt Mâu Bân thoáng lóe lên, lão đáp:
- Đâu có! Mấy ngày nay tình hình căng thẳng, ti chức nào dám lơ là. Từ lúc đại nhân đến Thiên Tân vệ để chờ thuyền của Dương Lăng, trong kinh ti chức lúc nào cũng gối giáo mà chờ. Thế nào rồi ạ, có bắt được Dương Lăng không?

Trương Tú khoát tay, ra hiệu cho năm trăm tên Cẩm Y vệ nọ giải tán vào trong các phòng xá sau hậu viện nghỉ ngơi, rồi vừa bước vào trong phòng vừa thở dài:
- Ngươi xem ta giống như đã bắt được y lắm sao? Y chọn đi đường bộ, có điều Đông xưởng đã phái ra gần hai vạn năm ngàn người bày thiên la địa võng dọc đường. Y muốn vào kinh, trừ khi lắp cánh mới bay về được thôi!

Trương Tú đã quen thuộc từng ngóc ngách trong thư phòng của Mâu Bân cho nên không chút câu nệ bước thẳng vào, rồi đi ra sau bàn ngồi. Thấy Mâu Bân bước theo vào nhưng lại đứng cạnh cửa, lão không khỏi cười lớn:
- Không phải là ngươi chưa từng làm đại sự, không cần phải căng thẳng như vậy. Đâu phải chúng ta chưa từng bắt quan lớn nhất nhị phẩm đâu? Huống gì đây chỉ là con chó nhà có tang Dương Lăng!

Mâu Bân cười nói:
- Quan lớn nhất nhị phẩm của triều đình, ti chức đương nhiên đã từng bắt, nhưng ti chức lại chưa từng bắt Đề đốc Cẩm Y vệ bao giờ, sao có thể không căng thẳng chứ?

Trương Tú nghe vậy lập tức đứng bật dậy, không chút suy nghĩ liền chụp lấy thanh bội kiếm treo trên tường. Chỉ nghe một tiếng "choang", lưỡi kiếm ngân lên, tiếng ngân dằng dặc rung lên còn chưa dứt, Trương Tú đã cầm kiếm búng người phóng qua chiếc bàn, nhẹ nhàng như én lượn trên mặt nước.

Ngẩng đầu nhìn lại, Tiền Ninh đã từ ngoài cửa lách vào, trên tay cầm hai cây nỏ thép, mỉm cười nhìn lão. Nỏ đã lên dây, trên nỏ lắp một loạt những mũi tên đen nhánh. Lúc này bức bình phong bên trong cũng đổ rầm xuống, bốn tay Cẩm Y Vệ cầm nỏ đang đứng phía sau. Trương Tú thấy vậy thì không khỏi chán nản buông tay.

Mâu Bân dằn đao cười nói:
- Kẻ thức thời là trang tuấn kiệt. Đại nhân rốt cuộc cũng đã thức thời. Huynh đệ một nhà cả, đừng động đao động thương làm tổn thương hoà khí là tốt nhất. Lúc này ti chức chỉ hy vọng người của Đông tập sự xưởng cũng biết thức thời, bằng không sẽ khiến người của ngoại đình nhìn vào chê cười.

Trương Tú vừa kinh hoảng vừa giận dữ, quát to:
- Mâu Bân, ngươi muốn tạo phản hay sao? Dám bắt giữ bản quan! Trong Đông tập sự xưởng lúc này đang có tám ngàn phiên tử đồn trú, chỉ với một ngàn nhân mã của ngươi mà cũng dám lấy trứng chọi đá ư?

Mâu Bân tặc lưỡi:
- Đại nhân! Ti chức vừa khen ngài thức thời, sao giờ lại đã hồ đồ rồi. Đông xưởng ấy à, dĩ nhiên tự có vị Dương đại nhân lắp cánh bay về kinh đi bắt quân phản nghịch đó rồi. Ti chức nào dám tranh công đầu với y chứ?

Trương Tú lùi về sau mấy bước, kinh hãi thốt lên:
- Y... y đã về kinh rồi?

Mâu Bân nhìn lão ta bằng ánh mắt thương hại:
- Không biết mình không biết người thì sao có thể thắng được đây? Ti chức cũng mới vừa biết đây thôi. Dương đại nhân đổi ngựa không đổi người, cải trang làm thương nhân buôn ngựa từ Kim Lăng đi vội suốt ngày đêm, đã về kinh được năm hôm rồi!

Trương Tú nghe vậy, sắc mặt lập tức trắng bệnh. Mâu Bân thở dài một tiếng rồi quay người thong thả bước ra khỏi phòng, khoan thai:
- Tiền Ninh! Tuyên khẩu dụ của thánh thượng đi!

Mâu Bân bước ra khỏi phòng khách, nghe tiếng của Tiền Ninh vẳng lại bên tai:
- Điều tra được Đề đốc chỉ huy sứ Trương Tú của Cẩm Y vệ cấu kết với ty Lễ Giám và Đông xưởng mưu hại đại thần, có ý đồ làm loạn. Nay hạ lệnh lập tức bắt giữ, chờ ngày thẩm vấn!






Chú thích:

(1) nguyên văn "Thiên tác nghiệt, do khả hoạt" trích trong Kinh Thư "Thiên tác nghiệt, do khả vi. Tự tác nghiệt, bất khả hoạt". Ý nói "hoạ do ông trời gây ra thì mình còn tránh được, chứ tội do mình gây nên thì mình sẽ phải gánh lấy (chết)."
(2) nguyên chỉ mười tội ác không thể tha thứ thời phong kiến. Bao gồm: mưu phản, đại nghịch, phản quốc, ác nghịch, bất đạo (tàn ác, hung bạo...), đại bất kính (trộm đồ, dối gạt vua), bất hiếu, bất mục (mưu giết, bán người thân), bất nghĩa, loạn luân. Sau chỉ chung các tội ác tày trời.
(3) niêm phong trả lại thì gọi là phong hoàn. Thường dùng cho chiếu, sắc.
(4) nội đình có kho riêng, để vua trực tiếp chi dụng, gọi là nội khố
(5) tạm dịch "nơi ấy bỗng dưng hưng thịch, nơi ấy bất chợt diệt vong", ý nói sự thay đổi giữa thịnh vượng phồn vinh và diệt vong mất nước luôn không ngừng thay đổi. Câu này được trích từ trong "Tả truyện", chép rằng: "Vũ, Thang tội kỷ, kỳ hưng dã bột yên; Kiệt, Trụ tội nhân, kỳ vong dã hốt yên." (tạm dịch: Vua Vũ vua Thang tự trách bản thân, nơi ấy bỗng chốc thịnh vượng phồn vinh; vua Kiệt vua Trụ trách tội người khác, nơi ấy đột ngột suy tàn diệt vọng."




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
31-10-2011, 09:29 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 149 - Chém Đầu Đoạt Doanh




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Hà Lục Bảo đảo mắt tìm cách để có thể thoát ra, nhưng vừa ngước mắt nhìn thì cánh cổng thứ hai cũng đang chậm rãi đóng lại. "Ầm" một tiếng, cổng đã được đóng chặt, một tia nắng chiều tà chiếu lên cánh cổng màu đỏ thẫm khiến cho những ụ đồng trên cánh cổng loé lên những tia sáng âm u và lạnh lẽo. Gã không khỏi thở dài một hơi rồi tuyệt vọng đi đến chỗ nhà xí ở góc tường.





Chương 149 - Chém đầu đoạt doanh

------------------------

Lúc này, kế hoạch phản kích đã chính thức bắt đầu.
Kế hoạch đó đã được Dương Lăng cùng nhà thiên tài về mưu mô là Tiểu Lâu và nguyên Thiên hộ của Cẩm y vệ là Ngô Kiệt bàn bạc suốt một đêm, lại được Nam trấn phủ ty Triệu trấn phủ và Xưởng công Tây xưởng Miêu Quỳ giúp cho hoàn thiện.

Cao Phượng và La Tường đã âm thầm báo tin cho Thái hậu, Hoàng hậu, các Quý phi và các công chúa, các nhân vật quan trọng của hoàng thất, mượn danh nghĩa Thái hoàng thái hậu triệu kiến xem kịch mà tập trung toàn bộ vào trong Từ Ninh cung. Ba trăm quan binh Đằng Tương doanh của Ngự Mã giám rút đao, lắp cung, thương kích rợp trời, vây quanh bảo hộ Từ Ninh cung.

Trong Tây Noãn các ở cung Càn Thanh, cứ cách ba bước lập một trạm, năm bước xếp một đội, hoàng đế Chính Đức ngoài mặc long bào, trong khoác nhuyễn giáp ngồi ngay ngắn. Mắt thấy binh tướng trang nghiêm nhất nhất tuân theo mệnh lệnh do mình đưa ra, lòng hiếu chiến trong máu hắn đã chiến thắng nỗi khiếp sợ. Hắn vỗ về thanh bảo kiếm khảm rồng nạm vàng trên long án, khuôn mặt anh tuấn hào hứng đến đỏ bừng, vô cùng khoái chí chỉ huy ngàn quân ra chiến trường giết địch.

Tướng chỉ huy của bốn vệ doanh Đằng Tương, Vũ Tương, Tả Vệ và Hữu Vệ thuộc Ngự Mã Giám phụng tướng lệnh của Miêu Quỳ lần lượt chạy đến bốn cổng thành. Miêu Quỳ tự thân cầm ba trăm người chạy đến ty Lễ Giám.

Tuy ty Lễ Giám khống chế nội đình, quản thúc Đông xưởng, Cẩm y vệ và mười hai đoàn doanh nhưng trong đại viện lại chỉ có khoảng trăm tay thái giám tay không tấc sắt. Vũ lực trong cung hoàn toàn nằm trong tay Miêu Quỳ. Hoằng Trị an bài như vậy là để giúp cân bằng nội hoạn (nội quan, thái giám), nay quả nhiên đã phát huy tác dụng.

Lúc trời vừa nhá nhem, do phiên tử Đông xưởng đang trắng trợn lùng bắt Dương Lăng ngoài kinh thành nên để thu được tin tức kịp thời thì đám đại thái giám Trương Thọ và Lý Vinh đều đã tề tụ trong phòng Vương Nhạc.

Trương Thọ đang hào hứng kể:
- Quả nhiên ngoại đình đã liên danh dâng sớ, bức Hoàng thượng giết Dương Lăng, trừ Bát Hổ, hiện vẫn chưa có tin tức gì đưa ra song số tấu chương mà bá quan trình lên sau buổi tảo triều phỏng chừng đã đủ khiến Hoàng thượng luống cuống tay chân rồi. Một khi tấu chương của Lục Bộ Cửu Khanh được dâng lên thì Hoàng thượng không hoang mang lúng túng mới lạ. Đợi Dương Lăng chết đi, chúng ta sẽ lập tức thông tri cho ba đại học sĩ cùng Phạm Đình đồng loạt vào cung, dâng cái đầu người bê bết máu lên tất đại sự sẽ định. Vương công công, ngài xem đến lúc đó ta sẽ xử lý Nội xưởng như thế nào đây? Ty Lễ Giám đã có mấy vị công công khác giúp đỡ nên cũng sẽ không có chuyện gì lớn. Chúng ta không thể lại trao cái “thanh đao” Nội xưởng sắc bén đó cho người ngoài đâu à.

Lý Vinh vừa nghe liền lấy làm không vui:
- Trương công công túc trí đa mưu, sao có thể rời khỏi bên cạnh Vương công công chứ? Vương công công, chi bằng cái Nội xưởng này hay là giao cho ta đi, lão gia nói sao?

Mặc dù Vương Nhạc hiền lành nhưng cũng nghe biết được mấy thân tín này lại đang tranh quyền đoạt thế. Lão nhíu mày mắng:
- Bây giờ tranh cái gì mà tranh hả? Dương Lăng còn chưa chết mà, đến lúc đó rồi hẵng nói...

Lão thấy Lý Vinh như đang có điều muốn nói, bèn bảo:
- Nội xưởng cũng như là Đông xưởng, là cơ hội để qua lại với ngoại đình bên ngoài nhiều hơn. Trương Thọ có kiến thức và nhãn lực hơn, biết ăn nói, ta thấy hay là giao Nội xưởng cho Trương Thọ đi. Về phần ngươi... thì qua Tây Xưởng vậy.

Lý Vinh giật mình buột miệng thốt:
- Tây xưởng? Ý công công là cũng muốn tóm cả Miêu Quỳ ư?

Vương Nhạc "ừm" một tiếng, nói:
- Miêu Quỳ lâu nay vẫn luôn an phận, chưa từng gây ra chuyện gì, ban đầu ta vốn còn không cảm thấy Tây xưởng của hắn có tác dụng gì, nên không đụng đến hắn. Lần này thu thập Dương Lăng, Đông xưởng đã phái ra hơn hai vạn người, thế mà đến giờ vẫn chưa bắt được hắn ta. Ta mới nghĩ, nếu như Tây xưởng nằm trong tay chúng ta thì chúng ta có còn phải động đến can qua như vậy không? Chỉ cần hắn vừa bước vào trong cung, chúng ta liền sai Ngự Mã giám chém hắn không phải là xong ngay sao? Cho nên, hay cứ giao cho Miêu Quỳ chức quan nhàn nhã nào đó để dưỡng lão đi. Nhân mã của bốn vệ này trong cung vô cùng quan trọng, phải thu về tay.

- Ha ha ha ha... - Một tràng cười quái gở truyền vào, Miêu Quỳ luồn tay vào trong tay áo, ngang nhiên sải bước tiến vào, cặp mắt díp lại thành một đường, loé lên vẻ lạnh lùng sắc lẹm, cười mà như không cười, nói:
- Ai nói Vương công công già cả hồ đồ chứ? Đầu óc ấy vẫn còn minh mẫn lắm.

Hà Đại Xuân từ bên giường nhảy xuống, giận dữ mắng:
- To gan! Ngươi dám nói với Vương công... - Vừa nói đến đây tròng mắt lão đột nhiên trợn trừng, âm thanh nghẹn lại trong cổ không thốt ra được nữa.

Mấy người ngồi khuất trong nhìn không thấy bên ngoài, song lão vừa nhảy xuống giường đã trông thấy ở trước cửa hai tên tiểu thái giám vốn đang canh cửa giờ đang nằm dưới đất, một quan binh của Vũ Tương vệ đang lau lưỡi đao bê bết máu lên thân thể tên tiểu thái giám đó. Trong phòng ngoài có bảy tám người đang đứng, tất cả đều là binh sĩ Ngự Mã giám tay cầm đao, mặt đằng đằng sát khí.

Hà Đại Xuân không khỏi hoảng sợ lùi lại mấy bước, lắp ba lắp bắp:
- Ngươi... ngươi... ngươi làm gì vậy?

Miêu Quỳ mỉm cười nói:
- Làm gì? Đưa quân đến dâng cho Vương công công đó! - Đoạn lão sầm mặt, lạnh lùng quát:
- Người đâu, bắt tất cả lại!

Bảy tám gã quan binh như hổ như báo xông vào đè bốn đại thủ lĩnh thái giám xuống đất, ngay lập tức có người cầm dây thừng trói bọn họ lại. Miêu Quỳ phủi áo thi lễ với Vương Nhạc đang kinh hãi đến nỗi mặt vàng như nghệ rồi mỉm cười nói:
- Vương công công, phụng khẩu dụ của Hoàng thượng, ty Lễ Giám khi quân phạm thượng phải lập tức bắt tất cả. Xin công công hãy giao Hổ phù ra.

Vương Nhạc giận đến run người, vừa trỏ Miêu Quỳ vừa thở hổn hển mắng:
- Ngươi... ngươi nói láo! Cái đồ lá mặt lá trái nhà ngươi, bình thường ở trước mặt ta thì khúm na khúm núm như con như cháu... Là ai chống lưng cho ngươi mà lại dám bắt ta?

Miêu Quỳ ưỡn lưng, lạnh lùng cất tiếng:
- Chống lưng cho ta... là đương kim Hoàng thượng!
Vương Nhạc đang ngồi bên trong giường, không mặc áo dài bên ngoài, Miêu Quỳ nhìn thấy trên thắt lưng của chiếc áo dài màu xanh nhạt của lão đeo một xâu chìa khoá bèn bước tới giật xuống rồi vứt nó cho một tên binh sĩ.

Vương Nhạc gầy nhom còm cõi, đi đứng cũng đã lẩy ba lẩy bẩy, bị Miêu Quỳ vốn xuất thân quân đội giật một cái liền té sấp xuống giường. Miêu Quỳ trỏ vào cái tủ đồng thau được lau chùi bóng loáng ở đầu giường rồi bảo:
- Mở nó ra cho ta!

Tên sĩ tốt nọ cầm xâu chìa khoá tới, tra thử mấy cái, "tách" một tiếng chiếc tủ đã mở ra. Hắn lấy từ trong tủ ra một chiếc hộp gấm bọc vải sa tanh vàng, bê đưa cho Miêu Quỳ. Miêu Quỳ vội vã đón lấy nó, cẩn thận tháo tấm vải bọc rồi mở ra. Chỉ thấy bên trong là một cái ấn vàng vuông vức, Miêu Quỳ cầm lên xem qua rồi lại đặt về chỗ cũ, buột chặt lại, cẩn thận nhét vào trong người.

Cái gọi là Điều Binh Hổ phù, chỉ là cách gọi ấn tín điều binh trong thời cổ đại, hình dạng của nó đã sớm bị đổi thành ấn tín, mà không phải là Hổ phù hai mảnh ghép lại nữa.

Thượng Bảo giám nắm giữ ngọc tỉ, ty Lễ Giám nắm giữ ấn tín điều binh của mười hai đoàn doanh và kinh doanh. Đây là một lực lượng hùng hậu, cho dù trong đó chỉ có một ít người thề tận trung với ty Lễ Giám thì hành động điều binh của bọn Vương Quỳnh vẫn sẽ khiến cho nhóm Dương Lăng lâm vào một cuộc khổ chiến chênh lệch về lực lượng.

Hơn nữa việc ty Lễ Giám có được sự ủng hộ của ngoại đình hoặc có thánh chỉ hay không nhiều lắm cũng chỉ để cho việc điều binh có thêm lý do chính đáng về mặt pháp chế mà thôi. Cho dù Hoàng đế cương quyết không chịu hạ chiếu thì ty Lễ Giám vẫn có thể điều binh, vẫn có thể dựa theo nguyện vọng của mình để thanh lọc cận thần, diệt Bát Hổ, giết Dương Lăng mà viết nên đoạn lịch sử này như thường. Cho dù là Hoàng đế cũng không thể không chấp nhận sự thật này.

Mà Nội xưởng và Tây xưởng lại nằm ở thế bất lợi về mặt chính trị, vì không có thánh chỉ nên bọn họ phải đề phòng việc bị ngoại đình mượn chuyện này làm cái cớ để phản công. Bây giờ bắt giữ các thủ lĩnh của ty Lễ Giám, giành lại Điều Binh Hổ phù, thì mới tính là đã hoàn thành "hành động chặt đầu". Bước tiếp theo là phong tỏa cung điện nghiêm ngặt.

Thở ra một hơi dài, Miêu Quỳ quát thân tín:
- Áp giải tất cả bọn chúng đi, canh giữ nghiêm ngặt!

Đám thị vệ lôi mấy vị đại thái giám mặt vàng như nghệ ra ngoài. Thân binh được Miêu Quỳ dặn dò từ trước nên cố ý trói Đới Nghĩa lại thật chậm, đợi khi mấy người kia bị đẩy đi ra ngoài rồi mới đỡ lão dậy.

Miêu Quỳ khoát tay ra hiệu cho mấy tên sĩ tốt lui ra ngoài trước, sau đó mỉm cười nói:
- Đới công công, oan ức cho công công rồi. Dương Xưởng đốc bảo ta biểu thị lòng cảm kích với công công.

Lúc này Đới Nghĩa mới biết Dương Lăng đã nhận được mật tín của mình, vậy thì hành động hôm nay nhất định xuất phát từ mưu kế của Dương Lăng rồi. Lão không khỏi hân hoan:
- Xưởng công đã biết thân phận của ta rồi à? Vậy thì tốt quá, sao... ông cũng trói ta lại vậy?

Miêu Quỳ khẽ cười, nói:
- Hiện tại Đới công công vẫn phải đóng giả làm tù phạm một chút, tảo triều ngày mai công công phải...

* * *

Kỳ quan Hà Lục Bảo bước lộp cộp xuống chỗ tường giấu quân (1), ngâm nga một giai điệu dân gian, hắn đang muốn đi giải. Vừa mới rẽ xuống, hắn chợt thấy cánh cổng cung vừa dày vừa nặng trịch đang được đóng lại, phát ra âm thanh két két. "Ầm" một tiếng, cổng đóng sập lại, cầu treo hạ xuống, đập nước đóng lại, Hà Lục Bảo thấy vậy thì không khỏi giật mình buột miệng hỏi tướng quân giữ cổng Triệu Minh Đạt:
- Triệu tướng quân, lúc này mới đầu canh (*), sao đã đóng cổng cung lại rồi?
(*) Đêm 5 canh, ngày sáu khắc; mới đầu canh là mới chạng vạng
Triệu Minh Đạt nghiêm trang nói:
- Phụng thánh dụ, khoá chặt cổng cung, không có đặc chỉ của Hoàng thượng thì ngoại thần không được đi vào, nội quan không được đi ra, những chuyện khác ngươi không cần phải biết, trở về vị trí của ngươi đi!

Tim của Hà Lục Bảo đập "thịch" một cái - "Hoàng thượng hạ chỉ đóng khoá cung điện lại? Đang xảy ra chuyện gì thế?” - Gã nhìn cánh cổng cung đóng chặt trên đập nước, biết rằng đã không cách nào để truyền tin cho người của Đông xưởng nữa. Không biết bên ty Lễ Giám...

Gã gượng cười, trên khuôn mặt mang theo chút hoảng loạn, nói:
- Ồ, ta đi tiểu tiện một chút, sẽ trở về ngay!

Triệu Minh Đạt mỉm cười rồi khoát tay, bốn thị vệ cầm đao tức thì xuất hiện. Triệu Minh Đạt cười nói:
- Hà huynh, thánh dụ đã có dặn, bản quan không thể không cẩn thận hành sự. Bốn người các ngươi đi theo Hà tướng quân, sau đó cùng Hà tướng quân quay về.

Hà Lục Bảo đảo mắt tìm cách để có thể thoát ra, nhưng vừa ngước mắt nhìn thì cánh cổng thứ hai cũng đang chậm rãi đóng lại. "Ầm" một tiếng, cổng đã được đóng chặt, một tia nắng chiều tà chiếu lên cánh cổng màu đỏ thẫm khiến cho những ụ đồng trên cánh cổng loé lên những tia sáng âm u và lạnh lẽo. Gã không khỏi thở dài một hơi rồi tuyệt vọng đi đến chỗ nhà xí ở góc tường.


Ty Lễ Giám soạn chỉ, nếu Hoàng thượng đồng ý đóng ấn lên thì gọi là thánh chỉ, nếu Hoàng thượng tự thân soạn chỉ, sau đó đóng chồng quốc tỉ lên thì được gọi là đặc chỉ. Hoàng đế Chính Đức cầm cây bút lông sói soạn ra ba thánh chỉ rồi dùng ngọc tỉ đóng lên, sai rằng:
- Trương Vĩnh, Đại Dụng, hai người các ngươi mỗi người cầm một thánh chỉ chạy nhanh đến chỗ Thành quốc công và Tào quốc công truyền chỉ, bảo hai vị quốc công lập tức tiếp quản doanh kinh sư, sẽ do hai người các ngươi làm giám quân.

Cái "khúc xương cứng" Đông xưởng này khó mà gặm nổi, tuy rằng phiên tử chủ lực đã bị dụ ra khỏi kinh nhưng Đông xưởng vẫn còn mấy ngàn nhân mã. Nếu không thể đoạt lấy doanh kinh sư, đến lúc bắt Đông xưởng ngộ nhỡ có tướng lĩnh lòng mang dị tâm trực tiếp tham chiến hoặc có kẻ mượn chiêu bài tham gia trấn áp bạo loạn mà đục nước béo cò thì rất có thể sẽ từ chính biến thành binh loạn.

Mấy ngàn phiên tử cộng thêm mấy vạn binh sĩ ở kinh thành đủ khuấy cho thành Bắc Kinh long trời lở đất. Nếu như trong hỗn chiến lại có mấy tên loạn binh thừa cơ xâm nhập vào trong phủ đệ của vương hầu công khanh cướp của giết người thì bất kể Dương Lăng có thành công hay không cũng sẽ khó tránh được cái tội tày trời ấy.

Hai vị Thành quốc công và Tào quốc công một lòng trung thành, lúc còn trẻ lại đều từng lĩnh quân, rất có uy danh trong quân đội. Hơn nữa hai người này xưa nay giữ thân trong sạch, không qua nhiều lại với bá quan trong triều.

Để bọn họ ra mặt nắm quyền tiếp quản doanh kinh sư, có thêm Trương Vĩnh và Cốc Đại Dụng làm giám quân sẽ đủ để trấn nhiếp nhân mã của kinh doanh. Dương Lăng cũng không quá hy vọng đám nhân mã trước kia vốn thuộc về ty Lễ Giám sẽ có thể mau chóng quy thuận rồi ra mặt tiêu diệt Đông xưởng hộ. Chỉ cần bọn họ án binh bất động, bảo đảm kinh sư không loạn vậy thì đã đại công cáo thành rồi.

Có điều y lại không ngờ Hoàng thượng tự cho mình là thông minh lại sai Trương Vĩnh và Cốc Đại Dụng làm giám quân, nghe xong tuy hơi kinh ngạc nhưng rồi cũng cảm thấy bình thường. Hoàng thượng vừa mới lên ngôi, lại chẳng hề quen với hai vị lão thần đó, nếu không phái thân tín bên mình trông coi thì trong lòng hắn nhất định sẽ không yên.

Về phần chia một bát canh cho Bát Hổ trong chuyện này, đó âu cũng là chuyện bất đắc dĩ. Lúc này nếu ôm hết mọi quyền lực về mình gạt Bát Hổ ra khỏi vòng tròn quyền lực như vậy thì rất không sáng suốt và hoàn toàn cũng là chuyện không thể được.

Toàn bộ tinh nhuệ của Nội xưởng đều đã sớm trở về ngoại thành phía tây chờ lệnh. Vừa về kinh, Ngô Kiệt đã dựa theo kế hoạch của Dương Lăng an bài mọi thứ. Một khi bên này (Miêu Quỳ) đoạt được binh quyền của kinh doanh vào tay thì Dương Lăng liền sẽ phát động cuộc chiến cuối cùng với Đông xưởng.

Trận chiến này vô cùng quan trọng. Nếu như Dương Lăng thất bại thì Phạm Đình thế nào cũng quyết dẫn quân đi ép vua, và lựa chọn duy nhất của Chính Đức sẽ là phóng thích đám người Vương Nhạc, ngoan ngoãn làm theo yêu cầu của ngoại đình và Đông xưởng: diệt trừ Bát Hổ. Đã bị dằn mặt như vậy, sau này mọi thứ chỉ có thể phó mặc cho bọn chúng an bài.

Chính Đức biết cuộc chiến này sẽ không dễ dàng như đối phó với ty Lễ Giám và đoạt lại binh quyền của kinh doanh. Hắn cầm thánh chỉ, song lại lo lắng nhìn Dương Lăng nói:
- Dương thị độc, Phạm Đình của Đông xưởng trẫm giao cho khanh đó. Đáng giận là doanh kinh sư và mười hai đoàn doanh bị ty Lễ Giám quản lý lâu năm, trẫm không dám dùng quân của bọn chúng. Chỉ với năm ngàn binh mã của khanh, trẫm lo là... khanh có đối phó được với tám ngàn nha sai Đông xưởng không?

Cung đã giương không thể rút tên lại, lúc này chỉ có đánh một trận, còn có lựa chọn thứ hai sao? Nhưng sao y có thể nói với Hoàng thượng những lời nhụt chí này? Dương Lăng đành tự tin mỉm cười nói:
- Hoàng thượng yên tâm, vi thần đã có tính toán. Đêm nay xông pha lâm trận tuyệt không phải lo, có điều ngày mai tảo triều chỉ có một mình Hoàng thượng đơn độc chiến đấu ngàn quân, vi thần lo rằng...

Hoàng đế Chính Đức nhướng cao mày, lạnh lùng hừ một tiếng rồi nói:
- Ái khanh yên tâm, trẫm không sợ bọn họ!

Hắn ngừng lại một chút, rồi ngượng ngập nói:
- Nhưng mà... ái khanh phải trở về sớm một chút đó!

Vì sự tình cấp bách, Hoàng thượng đặc chỉ cho phép cưỡi ngựa trong cung. Trương Vĩnh và Cốc Đại Dụng cất đặc chỉ do hoàng đế Chính Đức tự tay viết, dẫn tám thị vệ đeo đao lập tức lên ngựa rời cung. Từng cánh cổng cung đóng chặt sau lưng bọn họ, trong hoàng cung là một khung cảnh đầy sát khí.

Sau khi rời khỏi hoàng cung, Trương Vĩnh và Cốc Đại Dụng liền gọi thuộc hạ một tiếng, rồi dẫn sáu người chia nhau chạy đến phủ đệ của Thành quốc công và Tào quốc công. Dương Lăng đã cải trang làm thị vệ lẫn vào trong nhóm, nay dẫn một tay thân binh nhanh chóng đi đến Bắc trấn phủ ty.

Đối với bố cục kiến trúc và phân bố binh lực bên trong Đông xưởng, Cẩm y vệ rõ như lòng bàn tay. Trong mật thất, Mâu Bân cầm một tấm bản đồ có ghi chú chi tiết mọi kiến trúc bên trong Đông xưởng đang giải thích rõ cho Dương Lăng thì nghe người tấu rằng Đề đốc Trương Tú đã dẫn người chạy đến kinh sư.

Dương Lăng nghe xong thì hơi lấy làm ngạc nhiên. Trong kế nghi binh của Dương Lăng có sắp đặt thêm một tầng nghi binh hư hư thật thật khiến cho Cẩm y vệ và Đông xưởng không thể không chia quân ra hai hướng, với hy vọng sẽ đẩy Trương Tú ra ngoài, đợi đến khi đại cuộc trong kinh sư đã định thì lão ta cũng sẽ không thể giở được trò gì ở Thiên Tân nữa.

Dương Lăng lại không lo lắng cho an nguy của đám người Liễu Bưu lắm. Ngô Kiệt và Liễu Bưu hiểu rất rõ về Trương Tú, Trương Tú này xưa nay luôn mang lòng kiêng kị quan văn ngoại đình, hai bên có thành kiến rất sâu. Hôm nay hợp tác làm đồng bọn nhưng ngày mai có thể thành tử địch trên chính trường. Tuy là lần này bọn họ vì diệt trừ Dương Lăng mà tạm thời liên thủ nhưng lão quyết sẽ không bằng lòng để ngoại thần nắm được điểm yếu, cho nên chỉ cần Dương Lăng không ở trên thuyền, không có cớ thì lão quyết không dám giết hơn trăm nha sai trên thuyền.

Nhưng theo lý mà nói, bên kinh sư có mấy vạn nhân mã của Đông xưởng cũng không kém gì lão, cho dù lão có nghi ngờ Dương Lăng dùng thuyền quan để che mắt và đi đường bộ cũng không có lý gì ngay trong hôm ấy lão đã trở về kinh sư rồi.

Mâu Bân mỉm cười nói:
- Lạ lắm phải không? Chắc là Đề đốc đại nhân lo rằng sau khi Đông xưởng lấy được đầu của đại nhân rồi, lúc xun xoe ton hót với đám quan văn sẽ giảm bớt đi phần công lao của mình - rồi lão nhanh chóng mặc giáp trụ vào, nói:
- Bản quan đi nghênh tiếp Trương đề đốc, xin Dương đại nhân chờ trong chốc lát.

Dương Lăng đưa mắt tiễn lão đi, sau đó cẩn thận nhìn lại tấm bản đồ nọ một hồi, rồi ngước đầu hỏi:
- Đã phái người quay về rồi chứ?

Một thân binh bèn đáp:
- Dạ, đến lúc chong đèn chắc sẽ đến nơi, có điều... chưa vào Cao Lão trang mà Đông xưởng đã thiết lập rất nhiều trạm gác. Bình thường bọn thuộc hạ ra vào đều phải tìm cớ để lọt qua nhiều lần thẩm tra. Bây giờ bọn chúng đã không hề nể nang mà lùng bắt đại nhân ở ngoài kinh cho nên sợ rằng bọn chúng sẽ trực tiếp ngăn cản, không biết người của chúng ta có thể trở về núi hay không?

Dương Lăng mỉm cười nói:
- Việc đó không cần phải lo lắng, ta và đại đáng đầu sớm đã thương định kế sách...

Y vừa nói đến đây, Mâu Bân đã bước trở vào. Dương Lăng đứng dậy cười hỏi:
- Trương đại đề đốc đã tự chui đầu vào lưới rồi à?

Mâu Bân cười đáp:
- Không hề đổ máu!

Rồi lão nhìn vào đồng hồ nước và nói:
- Lão ta dẫn về năm trăm hiệu úy vừa vặn có thể cho ta sử dụng. Nha môn trấn phủ ty này đêm nay người không lầu trống, Xưởng đốc đại nhân có thể rảnh rang tay chân rồi.

Dương Lăng gật nhẹ đầu, nói:
- Tốt! Một khi người của bản quan bắt đầu, xin đại nhân theo kế mà hành sự, nhớ phải để ý đến các vị quan viên, không để bọn họ trao đổi tin tức còn phải đề phòng có người đến phủ của bọn họ làm loạn. Nhân thủ của đại nhân có hạn, vẫn nên cẩn thận mới được.

Mâu Bân cười nói:
- Không sao, nhân mã của bản quan vẫn còn dư sức trông chừng những đại thần đó. Đêm nay cho dù bên Đông xưởng có chém giết rầm trời thì bản quan vẫn có thể bảo đảm Lục Bộ Cửu Khanh và văn võ cả triều đều sẽ biến thành kẻ đui, người điếc!

Trăng sáng trên cao rắc xuống thứ ánh sáng bàng bạc như lụa mỏng, mặt đất như được lát bởi một lớp sương mờ.

Tây giao kinh thành, hơn mười thớt khoái mã đang phi băng băng đến, vó ngựa như sấm.

Lúc này sắc trời mờ mịt, khó mà thấy rõ cảnh vật, thấy ngựa phi nhanh như vậy, đám mật thám mai phục bên ngoài Cao Lão trang không khỏi giật mình. Mắt thấy ngựa phi càng lúc càng gần, sắp sửa xông vào trong thôn trang, một tên đáng đầu liền lập tức quyết định dứt khoát, lớn tiếng quát:
- Ngăn bọn chúng lại!

Hai tên phiên tử lập tức vung đao chặt đứt hai sợi giây thừng. "Rào rào", một cây đại thụ bị đốn từ trước đổ rầm xuống đường. Tên đáng đầu Đông xưởng nọ cầm đao bước lên, quát:
- Ai đó? Đêm khuya phóng ngựa định đi đâu? Đông xưởng phụng mệnh làm việc, hãy mau mau xuống ngựa chịu tra xét!

- Ha ha ha ha... - một kị sĩ trên ngựa cất giọng cười lớn, đoạn cầm cương quay ngựa tại chỗ mấy vòng, rồi đột nhiên thò tay vào ngực, sau đó chỉ nghe vang lên mấy tiếng "chát chát", liền thấy trong tay gã kị sĩ loé lên mấy đốm lửa, tên phiến tử đứng đằng trước không khỏi hoảng sợ lùi về mấy bước.

Một ngọn lửa được nhóm lên, theo sau đó, chỉ thấy đóm lửa loé lên, trong ánh lửa đỏ lập loè, tên phiên tử thấy rõ một "cây gậy ngắn" xù xì trong tay gã kị sĩ đó bỗng kêu "phụt" một tiếng, một vệt lửa phóng thẳng lên bầu trời đêm, rồi phát ra tiếng nổ lớn trên không trung. Cả bầu trời rực rỡ những màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng, như loài thu cúc xinh đẹp nở bừng trong không trung.

Mấy tên phiên tử đều ngẩng đầu nhìn lên, sắc màu rực rỡ và tươi đẹp ấy từ từ biến mất, trong mắt bọn chúng còn sót lại vẻ sáng rực của ngọn lửa ấy, nhất thời nhìn không rõ bầu trời đầy sao. Chợt lại nghe trong màn trời đêm tĩnh mịch nổ vang một tiếng "đùng", một ngọn hoa lửa tuyệt đẹp từ trong Cao Lão trang bay vút lên trời. Tiếp theo, trên đỉnh núi phía xa lại loé lên một tia sáng, song bởi cách quá xa cho nên thoạt trông chỉ thấy giống như những ngôi sao lớn nhỏ không còn vẻ diễm lệ nọ.

Tên đáng đầu thoáng ngẩn ra, rồi liền kêu lên thất thanh:
- Pháo bông truyền tin!

Kỵ sĩ trên ngựa mỉm cười nói:
- Đúng vậy!

Đáng đầu đó liền giơ đao hét lớn:
- Mau! Giết bọn chúng rồi về bẩm báo... - Lời còn chưa dứt, cổ họng hắn bỗng run lên, khí lực toàn thân trong nháy mắt dường như bị người ta rút đi hết, cả người ngã oặt xuống đất.

Kỵ sĩ trên ngựa lạnh lùng quát lớn:
- Chỉ bằng mấy tên tiểu nhân vật chuyên chặn đường thẩm tra như các ngươi ư? Tất cả đừng có mà lộn xộn, bằng không Gia Cát thần nỏ của ông đây sẽ không dung cho các ngươi đâu! Quay đầu mở to cặp mắt chó của các ngươi ra mà nhìn đi!

Nhân số của đám phiên tử mai phục này có hạn lại không đông bằng những kỵ sĩ dạ hành này, lúc này thấy đối phương cũng không chút nể nang gì mà đã ngang nhiên động thủ, trong lòng tự nhiên là khiếp sợ, nghe xong liền ngoan ngoãn quay lưng lại nhìn. Chỉ thấy phía xa trên núi, một hàng người di chuyển uốn lượn như một con rồng lửa. Con rồng đỏ rực ấy đang lao xuống núi với một tốc độ cực nhanh.

Ngô Kiệt mặc áo đen mũ đỏ, vận y phục của đại đương gia còn mấy người Bành Kế Tổ và Liên Đức Lộc thì lại vận một thân giáp trụ chỉnh tề của Thần Cơ doanh khi xưa. Năm ngàn tinh binh ngoài đao kiếm cung nỏ và súng hoả mai thì phần lớn mỗi người còn đeo một cái túi căng phồng, cũng không biết là dùng để làm gì.

Đại quân tác phong nghiêm chỉnh, hàng ngũ chỉnh tề, ai cũng cầm đuốc, thần sắc lẫm liệt, sát khí đằng đằng, ngựa thồ đi phía sau cùng còn kéo theo mười khẩu pháo nhỏ. Những người này cầm thánh chỉ yêu cầu mở cổng Tây thành, băng ngang qua con đường lớn của kinh sư rồi tiến thẳng về phía Đông tập sự xưởng.

Mấy ngày nay, phiên tử Đông xưởng không ngừng gây hấn khiến người của Nội xưởng mỗi khi ra vào đều chịu đủ lăng nhục ức hiếp. Nếu không phải vì mấy người Ngô Kiệt, Hoàng Kỳ Dận, Vu Vĩnh và Dương Nhất Thanh nhiều lần trấn áp, những binh sĩ cao ngạo bất thuần này đã sớm xung đột với Đông xưởng rồi.

Nay phụng lệnh diệt trừ Đông xưởng, những quân tinh nhuệ Thần Cơ doanh mắt đặt ở trên đầu này ai nấy đều dâng trào sĩ khí. Bọn họ xuất thân là quân chính quy lại được trang bị vũ khí tiêu chuẩn đầy người nào thèm đặt cái đám nha sai Đông xưởng chỉ oai phong vô cùng khi hà hiếp bá tánh kia vào mắt chứ. Đông xưởng có chuẩn bị hay không trong mắt bọn họ đều chẳng khác gì đàn gà đàn chó. Con rồng lửa mang theo sĩ khí ngất trời cuồn cuộn đánh thẳng đến Đông An môn.





Chú thích:

(1) nguyên văn "tàng binh tường", chỉ nơi quân sĩ có thể ẩn náu trên tường thành.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
03-11-2011, 12:50 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 150 - Công Tôi Anh Hưởng




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng khẽ gật đầu ra hiệu, Bành Kế Tổ vẫy một tên phiên tử đến gần, lấy cung của gã bắn một phát tên lệnh, mũi tên xé gió lao đi mang theo tiếng còi sắc nhọn.





Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam - Chương 150: Công Tôi Anh Hưởng

------------------------

Bên trong đại sảnh vắng vẻ và trống trải của Bắc trấn phủ ty, Dương Lăng đang ngồi nghiêng người trên chiếc ghế vịn bằng vàng lót da bạch hổ bên dưới bức mãnh hổ hạ sơn. Mười tay thiết vệ đã hộ tống y vào kinh đang đứng sừng sững ở hai bên, bất động như núi.

Khẽ nhấp một ngụm trà Vũ Tiền cực phẩm do những thiếu nữ hái trà vùng Giang Nam dùng lưỡi ngắt xuống rồi dùng ngực mềm hong khô, Dương Lăng mãn nguyện ngồi vắt chéo chân. Tuy y luôn âm thầm cảnh tỉnh mình phải đề phòng tính nóng nảy, ngăn ngừa lòng ích kỷ, nhưng cái cảm giác nắm đại quyền trong tay thực rất thoải mái.

Chẳng phải đúng như câu "tỉnh ta cầm kiếm giết người, say ta ngã gối kề đùi mỹ nhân" ư? Nhắc tới mỹ nhân, đang ngồi chống cằm trên chiếc ghế da hổ mềm mại Dương Lăng chợt nhớ đến Tiểu Lâu và Cao Văn Tâm. Hai cô chỉ mang theo bốn mươi tay hộ vệ lại phải thu hút hơn hai vạn bốn ngàn phiên tử như cọp như sói của Đông xưởng, sẽ không xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn đấy chứ?

Trong lòng y có chút bất an. Nhưng nghĩ đến những con đường lớn nhỏ dẫn đến kinh sư có đến hơn ngàn nhánh, Đông xưởng lại không thể sử dụng đến quan phủ và quân binh địa phương nên số quân chia ra canh gác mỗi nơi cùng lắm cũng chỉ vài chục người. Bốn mươi vệ sĩ được tuyển ra từ trong trăm người đó hẳn có thể bảo vệ hai cô được bình an vô sự, huống hồ còn có Thành nhị đáng đầu túc trí đa mưu có thể tuỳ cơ ứng biến.

Nếu thật sự khó khăn, cả bọn vẫn có thể lui về Thạch Gia trang, nơi đang có một vệ binh mã trấn giữ, Thiên hộ trưởng lại là em vợ của Nam trấn phủ sứ Thiệu Tiết Vũ. Hiện tại hai xưởng đang ngầm sống mái với nhau nhưng đều không được quyền sử dụng quân đội, hơn nữa Tiểu Lâu đang mang tín vật của Thiệu trấn phủ bên người, nếu rút về cố thủ trong Thạch Gia trang thì bọn họ sẽ vẫn có thể được che chở. Một khi đại cục trong kinh đã định, đám phiên tử Đông xưởng sẽ phải rủ nhau “đi ngắm cảnh” (về vườn, về hưu - ND) tất cả, bọn họ sẽ không còn gặp nguy hiểm gì nữa. Nghĩ đến đây, Dương Lăng bình tĩnh trở lại.

Người thị vệ báo tin thứ tư lại chạy vào trong sảnh, thực hiện quân lễ rồi báo:
- Bẩm xưởng đốc đại nhân, Đại đáng đầu đã dẫn quân tiến vào Đông An môn.

Ánh mắt Dương Lăng loé lên, y đưa chén trà sang một bên, một phiên tử vội đưa tay đón lấy. Dương Lăng ngồi thẳng lưng dậy, trầm giọng hỏi:
- Bên Đông xưởng có động tĩnh gì không?

Thị vệ thưa:
- Lúc vừa lên đèn thì phiên tử ra vào hãy còn đông, nhưng trong vòng nửa canh giờ sau bọn chúng đã đóng chặt cổng lớn, không thấy động tĩnh gì nữa.

Dương Lăng suy nghĩ một chút rồi hỏi tiếp:
- Đám mật thám do Đông xưởng phái đi giám sát Cao Lão trang thì sao? Không có ai trở về sao?

Thị vệ nọ mỉm cười, đáp:
- Dạ! Nhân mã của Đại đáng đầu hành động thần tốc, toàn bộ đám thám tử Đông xưởng phát hiện thấy tình thế không ổn định quay về báo tin đều đã bị người của chúng ta âm thầm xử lí sạch sẽ rồi ạ!

Dương Lăng gật đầu nhè nhẹ. Ngoài cửa vang lên tiếng giày lộp cộp, Ngô Kiệt và Bành Kế Tổ sải bước tiến vào. Dương Lăng mừng rỡ, không đợi hai người bái kiến liền vội chạy tới đỡ dậy hỏi luôn:
- Ngô lão! Bành huynh! Mọi việc ổn thoả chứ?

Ngô Kiệt cung kính đáp:
- Dạ! Mọi thứ đã thu xếp theo đúng bố trí của Xưởng đốc đại nhân, hai vị đô ty Liên Đắc Lộc và Phùng Đường đang bày binh bao vây Đông xưởng.

Bành Kế Tổ cười tươi roi rói:
- Đại nhân! Từ khi đại nhân rời kinh, chúng tôi thực đã nếm không ít đau khổ từ đám nhãi nhép đó, trong khi đó chúng ta lại nắm quyền quản lý và giám sát chúng nó. Đừng nói là chúng binh sĩ, ngay cả ti chức cũng tức muốn rách phổi đây. Rốt cuộc lần này đã có thể thu thập bọn chúng rồi.

Dương Lăng mỉm cười, hỏi:
- Những thứ đó đã chuẩn bị ra sao rồi?

Bành Kế Tổ phình bụng ưỡn ngực đáp:
- Dạ! Đã sai người chất vào trong sân rồi. Ti chức đã giữ lại ba trăm người để nghe lệnh. Có điều... phiên tử Đông xưởng bình thường chỉ phụ trách thu thập tình báo, phụng lệnh bắt người, vũ khí phần lớn là đao và thương, thậm chí cung nỏ cũng chẳng được mấy cây. Ai cũng nói Đông xưởng có rất đông người giang hồ giỏi khinh công. Bọn chúng có phi thân giỏi cỡ nào, chẳng lẽ có thể địch lại trường cung nỏ cứng, hoả súng đại pháo của chúng ta sao? Đại nhân chuẩn bị những thứ này để làm gì?

Dương Lăng cười bảo:
- Hiện tại Đông xưởng vẫn còn tám ngàn phiên tử, trong đó có không ít hảo hán được chiêu mộ từ trong chốn giang hồ. Nếu chúng muốn trực tiếp chiến đấu cùng với quân đội chúng ta thì đúng là lấy trứng chọi với đá, nhưng nếu bọn chúng thừa lúc hỗn loạn đào tẩu thì cũng không dễ chặn lại. Chúng ta phải vây chặt bọn chúng ở trong Đông xưởng, không thể để chúng tẩu thoát, trốn chạy ra khắp nơi.
Hơn nữa, chiến tranh mà, dĩ nhiên thương vong càng ít càng tốt. Binh vô thường hình, dĩ quỷ trá vi đạo(1), không nhất định phải liều mạng chém giết!

Y vừa vỗ vai Bành Kế Tổ, vừa cười lớn nói tiếp:
- Hôm nay diệt trừ Đông xưởng, bản đốc sẽ dùng "Hoá học chiến", "Hoả khí chiến", "Công tâm chiến", và "Tuyên truyền chiến" là chính. Cất cây đại đao của huynh đi, theo bản đốc lên nóc nhà xem náo nhiệt một chút!

Bành Kế Tổ thấy khó hiểu bèn hỏi:
- Hoá học, tuyên truyền gì vậy? Sao ti chức cầm quân đã nửa đời người mà chưa bao giờ nghe nói tới?

Lúc ở Kim Lăng, mới nghe nói đến mấy danh từ này Ngô Kiệt cũng thấy lạ cho nên đã hỏi qua Dương Lăng, nay lão cười giải thích với Bành Kế Tổ:
- Ngươi đã thấy Phi Thiên Thần Hoả Độc Long thương trong quân rồi đúng không? Hoá học chiến mà đại nhân nói cũng có hiệu quả thần kì như Độc Long thương vậy.

Phi Thiên Thần Hoả Độc Long thương mà quân Minh phát minh có khi buộc thêm hoả tiễn dưới mũi thương (giáo), lúc lâm địch sẽ châm hoả tiễn, phóng tên giết giặc. Nếu như quân địch trốn trong hang động, nhà cao, còn có thể buộc thêm cái loại thuốc hun cay, đốt xong ném vào khiến kẻ địch bên trong hôn mê hoặc phải chạy ra ngoài. Được Ngô Kiệt giải thích xong, Bành Kế Tổ mới vở lẽ.

Tuy nhiên công dụng của loại vũ khí này không nhiều, uy lực không lớn, cho nên theo thói quen Bành Kế Tổ không hề nhớ đến trận chiến này là chiến đấu trong thành, rất thích hợp để sử dụng loại vũ khí này, tránh xung đột trực tiếp quy mô lớn.

Dương Lăng có được sáng kiến này xuất phát từ chuyện y bị khói hun cho mụ người ở bãi Lạc Nhạn lần trước. Lần đó y bị sặc đến chết đi sống lại nên vẫn nhớ như in. Lần này y để binh sĩ mỗi người mang theo một bao lớn, chẳng những chứa đầy rất nhiều thứ dễ bốc khói, cay sặc người, mà còn nhờ Cao Văn Tâm kê đơn thuốc, chuẩn bị thêm rất nhiều dược liệu gây choáng váng tinh thần, khiến người ta bủn rủn chân tay, trở nên yếu ớt.

Dương Lăng leo lên trên nóc nhà. Các căn nhà bình thường phương bắc đều có nóc chĩa lên, căn này cũng không ngoại lệ, về sau vì bọc nóc của Tứ Hợp viện lại mới hình thành một cái sân thượng gỗ. Trên con phố lớn này chỉ có hai tòa nhà là Bắc trấn phủ ty và Đông tập sự xưởng, không có ai nguyện làm hàng xóm láng giềng với bọn họ nên con phố hết sức vắng vẻ trống trải, thích hợp cho nhân mã Nội xưởng ra tay.

Hai tòa nhà được ngăn cách bởi một khoảng đất trống. Ánh trăng mông lung như nước, Dương Lăng lờ mờ nhìn thấy rất đông quan binh đã bao vây chung quanh Đông xưởng. Nội xưởng ít người mà sân trong của Đông xưởng lại rất rộng, nếu bọn họ cứ khiên cưỡng đánh vào chắc chắn vòng vây sẽ xuất hiện khe hở. Còn nếu cứ thủ bên ngoài như vầy thì sẽ kín như bưng, đảm bảo chắc chắn không một ai lọt thoát ra ngoài.

Dương Lăng khẽ gật đầu ra hiệu, Bành Kế Tổ vẫy một tên phiên tử đến gần, lấy cung của gã bắn một phát tên lệnh, mũi tên xé gió lao đi mang theo tiếng còi sắc nhọn. Phía Dương Lăng đang thuận gió, rất đông quan quân bắt đầu châm lửa lên các bao tải đã được mang đến chất đầy trong sân, bưng chúng chạy lên vứt qua bức tường cao hơn một trượng. "Hoá học chiến" bắt đầu.

Trong căn phòng nhỏ bên trái đại sảnh, Phạm Đình đang ngồi dưới tấm hoành phi khắc bốn chữ "Tinh Trung Báo Quốc", mặt nặng như chì không nói tiếng nào. Toàn bộ bảy đại đáng đầu đều ngồi phía dưới. Trước mặt Xưởng công, những tên ác quan giết người không chớp mắt này lại trông ngoan ngoãn như những con mèo, hoàn toàn không còn vẻ ngang tàng hung ác của ngày thường.

Phạm Đình trầm lặng thật lâu rồi mới u ám nói:
- Trong cung hạ đập kéo khoá sớm trước hai canh giờ, chúng ta đã phái ra bốn toán nhân mã, thế mà cũng không thám thính được chút tin tức gì. Các ngươi nghĩ xem rốt cuộc trong cung đã xảy ra chuyện gì vậy?

Đại đáng đầu Tống Sĩ Tuấn do dự một lúc rồi đáp:
- Xưởng công! Hôm nay Tam công Cửu khanh cùng hơn trăm quan viên cùng liên danh dâng sớ ép Hoàng thượng diệt trừ Dương Lăng và Bát Hổ, hoàng cung lại đột ngột bị phong toả, có phải là vì Hoàng thượng hoảng sợ, nhất thời lại không biết nên ứng phó thế nào, nên mới...

Cặp mắt ti hí của Nhị đáng đầu Ba Long loé hung quang, hắn không hề khách khí mà ngắt lời lão đại:
- Đại đáng đầu, sợ rằng không phải thế đâu! Cho dù Hoàng thượng phong toả cung điện, người của ty Lễ Giám cũng không thể không có cách gì truyền tin ra ngoài. Huống hồ phòng nào cung nào trong hoàng thành cũng có người của chúng ta bố trí.
Hiện tại trong hoàng cung không hề có động tĩnh gì. Người của chúng ta ở khắp bốn cổng đã dùng mọi cách để liên lạc, vậy mà bên trong không hề cất tiếng đám lời. Theo ti chức thấy, e rằng không phải là ty Lễ Giám không có tin tức truyền ra, mà là có muốn cũng không đưa ra ngoài được.

Quan viên của Tập sự xưởng không được sắp xếp theo phẩm hàm và tước vị trong triều đình mà toàn bộ đều do Xưởng chủ tự thiết lập. Phạm Đình không lập chức đáng đầu ngang cấp, mà sắp xếp trước sau theo đúng thứ tự tên gọi. Tứ đáng đầu Cam Kính Đường nghe vậy thì chột dạ, không dám tin bèn hỏi:
- Sao có thể như vậy được? Hoàng thượng có gan lớn như vậy sao? Nội đình và ngoại đình đã liên thủ, ngài còn dám bất chấp mà bắt giam các vị công công ty Lễ Giám sao? Hơn nữa... ngài có quân để dùng sao? Miêu Quỳ của Tây xưởng cũng không phải là kẻ ngốc, há sẽ chịu nghe lệnh hành sự?

Phạm Đình có phần đăm chiêu:
- Thiên tử trẻ tuổi, tâm cao khí ngạo, cũng không phải là không thể có hành vi bất chấp hậu quả. Nếu ngài hạ nghiêm lệnh, Miêu Quỳ lại không phải là đồng bọn của chúng ta, lão ta dám không phụng chỉ à?
Ờ..., để đề phòng bất trắc, lập tức phái thêm một ít thám mã quan sát động tĩnh trong kinh, những người khác đều phải ở lại phòng thủ trong xưởng, không được manh động.

Lão cười lạnh một tiếng rồi nói tiếp:
- Cho dù Hoàng thượng nắm giữ cung thành thì sao chứ? Đến sáng sớm mai nếu cổng cung vẫn không mở, chúng ta sẽ lấy danh nghĩa dẹp biến loạn trong cung mà dùng vũ lực xông vào.

Lục đáng đầu Chu Khởi Phượng lưỡng lự:
- Xưởng công! Có phải là Bát Hổ đã nghe tin, cảm thấy cùng đường bí lối cho nên xúi giục Hoàng thượng phong toả cung điện không? Hay là... Dương Lăng đã bí mật hồi kinh rồi?

Phạm Đình thoáng ngẩn ra, trầm ngâm một chốc rồi lắc đầu:
- Không có đâu! Chúng ta vừa nghe nói Vương Quỳnh bị giết liền đã lập tức ngầm bố trí nhân thủ, nếu như Dương Lăng hồi kinh, bấy nhiêu mật thám ở chỗ Nội xưởng, phủ Uy Vũ Bá và cả bên trong hoàng cung há đều có thể bị qua mặt hết ư? Hơn nữa, Nội xưởng bị chúng ta khiêu khích mấy ngày nay đều chùn lại, không hề có động tĩnh gì, cũng không giống như đã có chủ định gì cả...

Miệng thì nói vậy, song thần sắc lão vẫn hơi có chút bất an, không đợi nói xong thì bỗng đứng dậy ra lệnh:
- Cấp tốc hạ lệnh triệu hồi toàn bộ nhân mã đã phái ra ngoài kinh về. Còn nữa, Khởi Phương! Ngươi hãy lập tức đi đến Trấn phủ ty một chuyến, xin Trương đề đốc và Mâu trấn phủ điều động Cẩm Y Vệ các trấn chung quanh hồi kinh. Hôm nay chúng ta lấy thế Thái Sơn để áp đảo, chẳng cần phải quản nhiều như vậy, hãy cứ để Dương Lăng tự bước vào chốn đầm rồng hang hổ này đi.

Chu Khởi Phượng đứng dậy đáp:
- Dạ, ti chức tuân lệnh!

Hắn vừa dứt lời, bên ngoài bỗng vọng vào một loạt tiếng huyên náo, có người vừa ho vừa la to:
- Cháy rồi! Đi lấy nước! Đi lấy nước! Khói nhiều quá, khụ khụ khụ...

Phạm Đình nạt lớn:
- Cháy ở đâu? Mau đi xem thử!

Hai đáng đầu liền vội đứng bật dậy xông ra ngoài. Ra đến đại sảnh, trong không khí dần tràn ngập một mùi khói nhàn nhạt. Khói tuy nhạt song lại cay xé mũi, Thất đáng đầu Sa Hồng Húc bịt mũi chạy ra ngoài. Gã thấy một đám phiên tử đang chạy ngược chiều gió về phía nơi khói bay đến, bèn vội hỏi:
- Cháy ở đâu vậy? Khụ khụ khụ...

Lúc này gã đã bị khói xông cho nước mắt đầm đìa, sặc ho một trận, đầu óc choáng váng. Vốn xuất thân là hải tặc, thỉnh thoảng Sa Hồng Húc cũng đi hái hoa, lén lút trộm hương cướp ngọc. Nay đã lâu không đụng đến nghề cũ nên hơi sơ ý, lúc này gã mới phát hiện khói này quả thực không giống như hoả hoạn, mới chợt cảnh giác la lớn:
- Không xong! Có người thả khói độc, hãy mau phòng bị, đề phòng... khụ khụ... có người đánh... khụ... vào...

Trên con đường lớn trước cổng Đông An, phía bên kia đường là mười khẩu đại pháo dàn thành hàng ngang. Nòng pháo đen ngòm đang chĩa vào cổng chính của Đông xưởng. Nhị đáng đầu Phùng Đường vẫn mặc quân phục giống như lúc còn trong Thần Cơ doanh, trầm tĩnh nhìn cánh cổng đóng chặt trước mặt, quát lớn:
- Đại pháo chĩa ngang, lắp Thực Tâm* đạn, thuốc súng mười thành! (*: loại đạn đặc ruột)

Đạn thủ (người phụ trách lắp đạn vào pháo - ND) ôm quả cầu sắt to đùng lắp vào trong nòng pháo. Hoả d4ược thủ (người phụ trách nhồi thuốc súng- ND) dùng cây chày gỗ dài dầm thuốc súng. Pháo thủ điều chỉnh đại pháo, châm lửa, mười tiếng nổ dữ dội liên tiếp phát ra. Viên đạn sắt đen xì và nặng trịch được bắn đi, gỗ vụn, gạch vụn vỡ văng tung toé. Cánh cổng sừng sững cao lớn của Đông xưởng ở trước mặt đổ sầm, tường gạch hai bên cũng sụp quá nửa.

Một nửa cánh cổng lớn bằng gỗ lê dày nặng bị bắn tung lên trời, rơi xuống con hẻm vắng vẻ cách nửa dặm bên ngoài vỡ tan tành. Hai con sư tử đá ngồi chồm hổm cũng bị ảnh hưởng, bị đập trúng biến dạng hoàn toàn.

Loại đạn đặc ruột này có tầm bắn xa, lực sát thương trực tiếp nhỏ, vốn chuyên dùng trong công thành chiếm đất, là thứ vũ khí lợi hại để xuyên phá công sự tường thành. Ở cự ly gần như vậy, uy lực của nó càng được phát huy kinh người hơn. Khói bụi mù trời, song lờ mờ đã có thể thấy một đám phiên tử đang đứng đờ người ở phía trước và trong đại sảnh của Đông tập sự xưởng.

Cung nỏ thủ ở hai bên chỉa những mũi tên nhọn dày đặc vào trong tập sự xưởng, song lại không thấy ai xông ra. Đám phiên tử Đông xưởng giết người không chớp mắt đấy chưa từng thấy uy lực của thứ trọng pháo này, càng không nghĩ rằng sẽ có ngày dùng thân thể bằng xương bằng thịt của mình để đối diện với sự uy hiếp của nó. Phơi mình trước họng của những khẩu đại pháo, đám phiên tử quên cả việc chạy trốn, cứ đứng đực người ra đó mà nhìn.

Đối với tình huống trước mắt, Phùng Đường vẫn làm như không thấy, vẫn tiếp tục chấp hành cẩn thận mệnh lệnh Đại đáng đầu giao cho, cao giọng quát:
- Đại pháo chĩa lên, lắp Phích Lịch Khai Hoa đạn*, thuốc súng chín thành!"
(*: tên gọi của loại đạn nhồi các mảnh vụn kim loại. Xem hình tại http://image5.club.sohu.net/54/88/ca36f13fbbd190c12f681c1acbf5d245_640_480.jpg)

Mặt đất run chuyển, mười viên đạn Phích Lịch Chấn Thiên như tiên nữ tán hoa bay qua những tên phiên tử đang đứng ngẩn người, đập trúng các nơi trong xưởng, phát ra những tiếng nổ long trời. Lúc này đám phiên tử đứng trước cổng mới như tỉnh giấc mơ, cùng thét lên một tiếng rồi lập tức chạy tán loạn, vừa gào khóc vừa tìm đường thoát thân trong đám khói cay sặc sụa.

Dưới mệnh lệnh của Phùng Đường, dàn pháo lại chĩa ngang lần nữa. Đạn bắn lần này là "Cuồng Phong Bạo Vũ". Loại đạn trái phá mà tầm bắn xa nhất chỉ có một dặm này là món vũ khí hỏa pháo có sức sát thương kinh khủng nhất của Đại Minh, với vô số những viên bi hợp kim mạ sắt nhỏ được nhồi vào trong nòng pháo. Nếu có giang hồ hảo hán như "Vân Trung Hạc" hay "Phiên Thiên Diêu Tử" gì đó dám can đảm xông ra, gã không bị biến thành con "chim lửa" ngay tức khắc mới lạ.

Sau khi Tả Tiêu quân Thần Cơ doanh được đổi lại thành quan binh Nội xưởng, không những bọn họ không còn được phân phối hoả khí tác chiến cỡ lớn, mà còn phải trả lại những vũ khí hạng nặng như trọng pháo. Lúc còn làm thân quân của Hoàng đế, Tả Tiêu quân đã đưa trọng pháo đến Cao Lão trang. Không lâu sau đó Tả Tiêu quân được đổi lại thành Nội xưởng, nhưng Dương Lăng lại đang bận "mở mang bờ cõi" nên cũng không rảnh giao trả lại những vũ khí hạng nặng. Thần Cơ doanh vì ngại thân phận của y trước mặt Hoàng thượng cho nên cũng không dám chủ động gõ cửa để đòi, vì vậy lúc này trọng pháo đã phát huy tác dụng rất lớn.

Có điều đây đã là số đạn dược cuối cùng, lúc diễn võ trong núi đã hao phí quá nửa.

Song sau phen uy hiếp này, đã không còn ai dám có ý định chạy trốn bằng cổng chính nữa.

Trong khoảnh khắc cổng chính bị phá huỷ, đám người Hồng Sa Húc đã dìu Phạm Đình vội vã chạy trốn, tập hợp một đám tàn binh chạy về chỗ khói bốc dày đặc. Những loại thuốc Trung y có tác dụng gây mê đã bị lửa đốt nóng nên dược tính giảm đi rất nhiều, đã không thể khiến đám người này bị hôn mê nhưng ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sự linh mẫn của bọn họ, cộng thêm những dược liệu gây cay mắt rát họng kia. Một đám phiên tử đầm đìa nước mắt nước mũi, ho đến rách phổi còn chưa tìm được nơi phát ra đám cháy thì đã bị đám phiên tử Nội xưởng leo lên đầu tường dùng loạn tiễn bắn lui trở về.

Đó là nghiêm lệnh của Dương Lăng: cố gắng tối đa giảm thiểu mức tử thương của quân ta tới mức thấp nhất, cố hết sức tránh giáp chiến trực tiếp, không cho bọn chúng cơ hội để chạy thoát.

Một trận đại pháo bắn tan cổng chính của nhà mình, ngay sau đó là một trận mưa tên khiến cho phe ta tử thương vô số, song ngay cả bộ dáng của đối phương thế nào bọn chúng cũng không nhìn thấy. Khói cay càng lúc càng dày, song bọn chúng lại không biết kẻ địch là ai, không biết kẻ địch có bao nhiêu người, không biết mục tiêu của kẻ địch là gì.

Vũ khí không bằng người, sĩ khí kém hơn xa, lần đầu tiên đám phiên tử Đông xưởng ngang tàng luôn cho rằng thiên vương lão tử là nhất, còn mình là nhì này phát hiện nếu như có người dám vượt qua quyền uy của bọn chúng thì bọn chúng sẽ hoàn toàn không chịu nổi một đòn.

Phạm Đình vừa dùng khăn ấm che mũi miệng, vừa khom lưng run rẩy hỏi:
- Đã xảy ra chuyện gì vậy? Chẳng lẽ Hoàng thượng đã điều binh đến rồi ư? Là Kinh doanh hay Đoàn doanh? Cái đám Tổng binh và Tham tướng vô sỉ đó ăn đồ chúng ta, lấy đồ chúng ta, thế mà lại động thủ thật rồi.

Ba Long vội hiến kế:
- Xưởng công! Chúng ta tập trung nhân mã đánh từ phía nam ra ngoài, con hẻm đó rất hẹp, đi xuyên qua rừng cây, chỉ cần ra khỏi khu rừng là sẽ vào nơi dân cư. Khụ khụ khụ... cho dù quân đội chúng có đông hơn cũng đừng hòng bắt được chúng ta.

Bên trong Đông xưởng còn tám ngàn tên phiên tử, nhưng trận chiến này Dương Lăng lấy tâm lý chiến làm chủ, chỉ công kích kịch liệt, không một người nào để lộ thân phận và ý đồ, điều này đã gây ra áp lực tâm lý nặng nề cho đám người Phạm Đình, khiến bọn họ chỉ có thể nghĩ đến điều xấu mà không có bất kỳ ý định phản kháng nào.

Tống Sĩ Tuấn vừa nghe liền luôn miệng khen hay, nói thêm:
- Xưởng công! Hiện tại khói dày đặc khắp nơi, muốn tổ chức nhân mã phản kích cũng không được, hay là tập trung càng nhiều người càng tốt để xông ra ngoài trước rồi hẵng tính tiếp đi.

Trên quan trường Phạm Đình quỷ kế đa đoan nhưng lại không có kinh nghiệm ứng phó với tình cảnh này, trong lòng lão đã không có biện pháp gì, nghe vậy vội vàng gọi các đáng đầu cấp tốc chỉnh đốn nhân mã, trong chốc lát đã tập hợp được hơn ba ngàn người, cầm đao kiếm xông về phía tường viện phía nam.

Khói lan đến nơi đây đã nhạt dần, đám phiên tử lèm nhèm nước mắt liền phấn chấn tinh thần. Dưới tường viện phía nam có ba cửa, ngày thường đều được khoá chặt, chỉ cần chém đứt khoá sắt xông ra khỏi con hẻm nhỏ là sẽ có thể "tái sinh".

Một khoảng đất trống, vốn là diễn võ trường của phiên tử Đông xưởng, song lúc này lại xuất hiện một dãy đuốc cháy chỉnh tề. Đuốc cháy nằm trên tay người. Gần trăm người ăn mặc kỳ quái đứng nghiêm trước mắt bọn chúng, ánh lửa soi sáng khuôn mặt lạnh lùng và nghiêm nghị của bọn họ.

Đám phiên tử từ xa chạy đến đã thấy một hàng người cầm đuốc trên tay, kẻ nào kẻ nấy đều có thể hình to béo cồng kềnh, một người mà to bằng ba. Chạy đến ngoài trăm mét mới phát hiện những kẻ đó đầu đội mũ sắt, trên lưng đeo một cái thùng lõm mặt, thân thể lắp vừa khớp vào chỗ lõm ấy.

Phía bắc có tên nhọn, cổng chính có hoả pháo, bọn họ vốn cũng không hy vọng cổng nam sẽ không có phục binh, nhưng chạy ra khỏi đây sẽ là ngõ hẻm rừng cây, là con đường sống có hy vọng nhất để thoát khỏi tay đám sát thần đáng sợ này. Đám phiên tử mắt đỏ lè giơ đao sắt trong tay, liều mạng hò hét xông về phía chỉ có khoảng trăm người đó.

Khoảng cách càng lúc càng gần, gần trăm người cầm đuốc nọ đột nhiên đồng loạt xoay lưng lại. Trong sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng xen lẫn niềm vui sướng không thể diễn tả thành lời, đám phiên tử Đông xưởng chen nhau điên cuồng xông tới.

Không biết từ đâu chợt loé lên một ánh lửa, rồi ánh lửa thứ hai, rồi thứ ba. Hàng trăm, hàng ngàn hoả tiễn dày đặc, đuôi phun lửa như sao băng, thẳng có, vòng có, nghiêng có, từ các góc độ khác nhau ùa tới như bầy ong vỡ tổ.

Trong bóng đêm, sao băng rợp trời, đó là cảnh sắc lãng mạn và huy hoàng cỡ nào?

Nhưng sự huy hoàng ấy lại đến để đoạt lấy mạng người. Những tên xông pha lên đầu đứng mũi chịu sào lập tức bị loạn tiễn xuyên thân, thân thể bị mấy chục mũi tên bắn trúng. Do đuôi hoả tiễn vẫn không ngừng đẩy về phía trước cho nên những thân thể từng xông lên phía trước bị đẩy bay ngược về phía sau.

Một tên phiên tử đang cầm đao sắt, trợn tròn mắt nhìn đồng bọn bên cạnh mình buổi sáng còn cùng nhau ức hiếp người, buổi trưa còn cùng nhau chơi gái, buổi tối còn cùng nhau uống rượu, nay mắt, miệng, cổ họng, bụng chỗ nào cũng cắm những mũi tên đang cháy phừng phừng bay ngược về sau. Tiếng thét vỡ mật còn chưa kịp thốt ra khỏi miệng, một mũi hoả tiễn đã bay vòng cắm xuyên vào huyệt thái dương của gã rồi xuyên ra ngoài.

Một cái thùng gỗ hết sức bình thường, nguyên liệu có thể lấy ngay trên núi, sai thợ thuyền trong quân chế tạo, đằng trước là một tấm phản ngăn đục lỗ. Đây là loại hoả tiễn được Dương Lăng lấy cảm hứng từ "Bách Hổ Tề Bôn tiễn"(*) của quân đội lúc luyện binh ở hậu sơn Cao Lão trang cải tiến thành. Giá thành rẻ, dễ chế tạo, dễ mang theo, dùng xong thì bỏ đi, đơn giản là loại vũ khí "dùng một lần rồi bỏ". (*: xem hình http://www.ljhis.com/uploads/allimg/100613/1355103195-3.jpg)

Mặc dù hoả tiễn giải quyết được khuyết điểm nhồi thuốc chậm của súng hoả mai, song số lượng hoả tiễn mang theo có hạn, tầm bắn không xa, độ chuẩn xác lại càng không đáng nói tới. Tính luôn khả năng mang vác của binh sĩ, mỗi thùng chỉ được trang bị 75 mũi tên, song đó lại là món vũ khí cực kỳ lợi hại dùng trong những trận loạn chiến như vầy.

Đợt hỏa tiễn vừa xong, hơn một ngàn tên ngã xuống mặt đất, trên xác của một số phiên tử vẫn còn hoả tiễn đang cháy lập loè. Đám phiên tử vốn có thể cầm thanh sắt nóng rực đâm vào chân phạm nhân, nhìn người ta gào thét điên cuồng, nhìn mỡ người chảy nhỏ từng giọt mà vẫn cười nói tự nhiên nay đã kinh hoảng đến ngây người rồi; bọn đao phủ thích nhất là lấy nước sôi rưới lên người phạm nhân rồi dùng bàn chải sắt chà cho tróc thịt lòi xương nay đã kinh sợ đến ngây người rồi.

Nỗi sợ hãi tột độ ngược lại sẽ làm cho con người ta mất đi mong muốn trốn chạy. Khi những cặp mắt đờ đẫn trông thấy những kẻ cầm đuốc nọ bỏ rương xuống đất, vất đuốc rồi chạy vào trong bóng đêm, chủ nhân của chúng chợt thét lên một tiếng hét thảm khốc, càng lao nhanh về phía trước hơn.

Những tên phiên tử đáng thương đó giống như người phụ nữ bị một con sâu nhỏ dồn ép vào đường cùng, trong lòng tuy vô cùng hoảng sợ, hận không thể lập tức tránh xa nó, song lại không tự chủ được mà điên cuồng đạp bẹp dí nó.

Song, dưới bóng đen của bức tường cao trước mặt, một dãy đuốc khác lại cháy bừng lên, đám người vội vã chạy về đã nấp vào trong chỗ tối. Đứng nghiêm trước mắt bọn phiên tử là một hàng người sắp thành hình chữ ĐINH (丁) khác, trên lưng của mỗi người cũng đeo một cái thùng.

Rốt cuộc đám phiên tử Đông xưởng đã suy sụp tinh thần, bọn chúng lập tức quay đầu chạy ngược về. Nếu như có người cho dù chỉ hơi cản đường bọn chúng, cản trở bước chân tháo chạy của bọn chúng, những cây đao sẽ điên cuồng chém về phía trước. Bọn chúng không có dũng khí ngoái đầu lại, nhưng trong đầu vẫn hiện lên những hình ảnh hàng vạn mũi tên cùng bắn, là những bóng người bị tên nhọn bắn nát người nát mặt, bắn cho chết không toàn thây.

Nỗi sợ hãi lan nhanh như ôn dịch, tốc độ chạy trở về của đám phiên tử còn nhanh gấp đôi lúc bọn họ xông lên. Những đám phiên tử khác nghe tin cùng trốn chạy đến phía nam còn chưa kịp thấy gì thì đã bị bộ dạng trông như ma quỷ và những tiếng kêu la quái dị không phát ra thành tiếng của bọn họ hù cho sững người, bèn cũng điên cuồng chạy ngược trờ về.

Vào lúc này, vô số âm thanh từ bốn bề đồng loạt quát to:
- Tuân thánh dụ, Nội xưởng bắt người, không giết những kẻ đầu hàng!

Phiên tử Nội xưởng xông vào Đông xưởng bắt người chỉ vẻn vẹn có bốn trăm tên. Hơn sáu ngàn phiên tử Đông xưởng mặt cắt không còn hột máu, như những con cừu non ngoan ngoãn nghe lời. Một người Nội xưởng bắt giữ mấy chục, thậm chí hơn cả trăm phiên tử Đông xưởng, thế mà không tên nào có ý niệm kháng cự.

Dương Lăng ngồi thẳng người trên sân thượng nha môn Cẩm Y Vệ nghe Liên Đức Lộc chạy lại hào hứng bẩm báo chiến quả.

Bàn Kế Tổ cười lớn:
- Đại nhân! Ti chức cũng lường trước bọn Đông xưởng không phải là đối thủ của chúng ta, song không ngờ bọn chúng lại không chịu nổi một đòn như vậy. Mẹ nó, đừng thấy Đông xưởng hô hào hung hãn, thật giống mụ đàn bà trói gà không chặt quá đi, đàn ông muốn ra sao thì sẽ ra sao, bọn chúng chỉ có thể hứng chịu.

Thấy Dương Lăng hết sức hài lòng với chiến quả, Liên Đắc Lộc bèn cũng góp vui:
- Chỉ có thể “hứng chịu”? Chỉ có thể hứng chịu thì chỉ có thể hứng chịu cái tốt, ít nhất thì người ta không cần phải lo lắng cho cái sự “bất lực” của chính mình. Ha ha ha ha..., lão Bành ông cũng đừng có đắc ý, nếu không nhờ diệu kế của Xưởng đốc đại nhân, chỉ dựa vào một trận “cày bừa” của ông, không chừng chỉ làm trò cười cho cái đám đàn bà Đông xưởng rồi đấy.

Hai người nói xong thì ôm bụng cười ngặt nghẽo. Dương Lăng nuốt không nổi kiểu nói đùa thô tục này bèn đứng dậy, quay sang bảo với Ngô Kiệt nãy giờ yên lặng đứng một bên:
- Ngô lão! Việc còn lại giao cho ông, mọi thứ đều ngầm chuẩn bị đầy đủ rồi chứ?

Ngô Kiệt gật đầu đáp:
- Đại nhân yên tâm! Chắc chắn sẽ để người của Đông xưởng thấy nó được lục lấy ra từ phòng của Phạm Đình.

Dương Lăng gật đầu, siết chặt chiếc áo khoác trên người và nói:
- Tốt! vậy việc ở Đông xưởng sẽ giao cho ông, bây giờ ta sẽ đi về tụ hợp với Thành nhị đáng đầu.

Ngô Kiệt khẽ cười hỏi:
- Lúc đại nhân "trọng thương" hồi kinh, có muốn thông báo để các phu nhân đến nghênh đón không?

Dương Lăng dừng bước, suy nghĩ một chút rồi cười đáp:
- Khỏi đi, không cần phải diễn vở kịch đó, già quá sẽ hoá non.

Bành Kế Tổ và Liên Đắc Lộc sớm đã được Ngô Kiệt căn dặn sau khi diệt trừ xong Đông xưởng, đại nhân còn phải bí mật rời kinh, cho nên vừa thấy Dương Lăng đứng dậy bèn vội đến gần đưa tiễn. Dương Lăng dặn dò:
- Bành huynh! Liên huynh! Đêm nay dẫn quân trú đóng ở Đông xưởng, sự vụ trong kinh sẽ phải phiền đến các người rồi.

Dương Lăng đang bước xuống thang gác, chợt nghe Bành Kế Tổ trên sân thượng tàn bạo hạ mệnh lệnh xuống cho thân quân bên cạnh:
- Đi! Theo lão tử đến Đông xưởng, chú ý đến ánh mắt của ta mà hành sự. Kẻ nào đáng biến mất thì khiến cho hắn biến mất luôn, làm gọn ghẽ một chút!

Dương Lăng dừng bước vịn lan can, ngẩng đầu nhìn vầng trăng tỏ trên trời, thở dài dằng dặc: "Thật chết tiệt! Cuối cùng vẫn phải vung đao giết người. Sống trong chốn quan trường này mà muốn được yên ổn, nói dễ vậy sao?"





Chú thích:

(1) “Binh vô thường hình” chỉ việc dùng binh không phải là việc một khi đã hình thành thì không thể thay đổi, mà phải vận dụng tuỳ theo hoàn cảnh. “Binh vô thường hình, dĩ quỷ trá vi đạo” nghĩa trong chiến tranh tình huống luôn thay đổi, vận dụng sự xảo trá mới là lẽ phải. Trích trong “Tôn Tử - Kế”



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
07-11-2011, 07:58 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 151: Kẻ Nhàn Ngoài Cuộc




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Đã lâu Dương Lăng không nghe nàng dùng giọng nói ngọt ngào như vậy, mà quả thực y cũng không hiểu nàng đang nói gì.

Y cảm thấy không được thoải mái bèn vặn người, chợt nghĩ đến cái kỳ hạn một năm mà chính mình lúc này cũng đang rất mơ hồ, thế là lại thở dài một hơi.

Tiếng thở dài của Dương Lăng vừa dứt, vầng trán sáng mịn của Tiểu Lâu đã dựa lên vai y, thở hắt ra một hơi dài rồi nhẹ nhàng nói:
- Đại nhân, ty chức cũng rất mệt rồi, xin mượn vai người dùng một chút.





Chương 151: Kẻ nhàn ngoài cuộc

------------------------

Trong kinh, an nhàn và ít bị ảnh hưởng bởi hồi náo loạn này hơn cả là những người dân không liên quan; khi bọn họ nghe thấy tiếng súng giật mình chạy ra khỏi nhà thì lại bị bọn Cẩm y vệ đột nhiên xuất hiện khắp phố lớn ngõ nhỏ đuổi về như đuổi vịt. Chờ hơn nửa canh giờ không thấy có thêm động tĩnh gì, bọn họ liền yên tâm cởi quần áo leo lên giường ngủ tiếp.

Thế nhưng, tuy đêm nay không có người gõ mõ, không có tiếng trống canh thúc giục người ta dậy sớm chầu triều vậy mà số quan viên có thể ngủ lại chẳng có mấy ai.

Đại học sĩ Lưu Kiện đầu đội mão quan, lưng thắt dây đai, quan phục chỉnh tề ngồi lẫm liệt trong phòng khách, hai cây nến đỏ thếp vàng đã cháy hết, tim nến chập chờn như ông lão gần đất xa trời, thoạt mờ thoạt tỏ, có thể chìm vào trong chiếc chén đồng đầy sáp bất cứ lúc nào.

Rất lâu sau, từ cánh cửa đóng chặt bỗng vang lên mấy tiếng gõ "cốc cốc". Lưu Kiện mở bừng hai mắt, quát:
- Không phải ta đã nói không được đến quấy rầy ta rồi sao? Có phải là Cẩm y vệ đến bắt người không? Bảo bọn chúng tự đến mà gọi ta!

Lão quản gia ngoài cửa rụt rè khẽ giọng đáp:
- Lão gia, Cẩm y vệ trên đường phố đều rút đi hết rồi. Bây giờ... đã đến lúc chầu triều rồi ạ.

Lưu Kiện thở phào nhẹ nhõm, ngỡ ngàng đứng dậy: "Cẩm y vệ đã rút đi rồi à? Không ai đến bắt mình ư?"

Đêm qua nghe tiếng pháo nổ đùng đoàn ở Đông An môn, Lưu Kiện cả kinh liền leo lên lầu gác trong nhà trông về phía xa, vừa đúng lúc loạt đại pháo thứ hai của Phùng Đường phát xạ, mấy căn phòng bị đạn bắn tung, bốc cháy.

Lưu Kiện trông thấy Đông tập sự xưởng xảy ra chuyện thì vội bảo gia nhân ra ngoài quan sát song lại bị Cẩm y vệ đuổi về. Lưu Kiện nghe vậy liền biết không hay, bèn lập tức mũ áo chỉnh tề ngồi trang nghiêm trong phòng khách chờ Hoàng thượng đến bắt người. Không ngờ lúc ánh dương ló dạng, Cẩm y vệ lại rút đi.

Chuyện gì xảy ra vậy? Chẳng lẽ không phải Hoàng thượng bị tấu chương can gián của bá quan làm cho nổi giận mà ngang tàng bắt giết trung lương ư?

Lưu Kiện cảm thấy mù mờ hồi lâu, lòng tự tin dần quay trở lại: "Thiên tử tuy tuổi còn nhỏ, song cũng biết lấy giang sơn xã tắc làm trọng. Y há dám lỗ mãng như vậy? Cho dù pháo lửa oanh kích Đông xưởng là Hoàng thượng bắt người thì nhất định cũng chỉ là giết gà doạ khỉ, lấy đó để đe doạ bá quan. Ta thân là người đứng đầu trong ba đại học sĩ đương triều, là trọng thần được tiên đế uỷ thác lại há có thể so đo công danh lợi lộc cá nhân mà không đoái hoài đến giang sơn Đại Minh? Hoàng thượng có thể không có Đông xưởng nhưng không thể không có những người như chúng ta, bằng không lấy ai giúp ngài gánh lấy giang sơn đây? Quyền lực của ngài có thể đối phó Đông xưởng nhưng có thể đối phó với lòng son dạ sắt của văn võ cả triều không? Ta phải lập tức chạy vào cung tập hợp bá quan dâng tấu trừ gian. Thành bại được thua, hoạn lộ và vận nước đều sẽ phụ thuộc vào lần hành động này."

Lưu Kiện ưỡn ngực, khôi phục lại vẻ uy nghiêm trước đây, đằng hắng một tiếng, rồi cao giọng quyết đoán:
- Lấy cái hốt(*) của lão phu, chuẩn bị kiệu vào chầu!
(*) thẻ bằng ngà, bằng ngọc hoặc bằng tre của quan lại, khi vào chầu sẽ cầm hốt bằng hai tay

***

Bậc ngọc thềm rồng, ngói vàng mái đỏ, cột đá cẩm thạch có đôi rồng quấn quanh. Cổng chào chạm rồng trổ phượng nguy nga sừng sững lộ ra cung điện uy vũ và trang nghiêm. Lúc tia nắng ban mai đầu tiên rọi lên nóc điện Phụng Thiên son vàng lộng lẫy cũng là lúc bá quan vào chầu.

Trên cầu Kim Thuỷ, dẫn đầu là ba vị đại thần tóc bạc phất phơ, áo dài ống rộng, tay cầm hốt ngọc hiên ngang cất bước. Ở hàng thứ hai là Lục bộ Cửu khanh đầu đội mũ ô sa vuông, bận quan phục đỏ thắm. Tiếp đó là những quan viên mặc áo bào xanh lá và xanh lam. Từng hàng người trang nghiêm tiến thẳng vào trong cung điện.

Chỉ sau một khoảng thời gian trao đổi ngắn ngủi ngoài Ngọ môn, tập hợp tin tức mỗi bên có được thì các quan viên đã biết đại khái tình hình cụ thể về những gì xảy ra ở Đông xưởng và trong cung, trong lòng ai nấy đều hiểu được vị Hoàng đế trẻ tuổi xưa nay chỉ biết bướng bỉnh ham chơi đã giành động thủ trước rồi.

Thiên tử nổi giận, vậy thì đã sao? Hoàng thượng dù bắt một đám tôi tớ của xưởng vệ cũng chẳng phải không dám động đến một cọng lông măng của bá quan văn võ đó ư? Kẻ sĩ chính là chỗ dựa của xã tắc. Hôm nay tảo triều, bá quan đồng tâm hợp lực nhất định phải ra sức khuyên can, không trừ được gian nịnh thề không bỏ qua.

Trên điện Kim Loan, đối mặt với cái ngai vàng trống rỗng, bá quan trang nghiêm đứng yên, sĩ khí dâng cao, đón đợi tiểu hoàng đế thăng triều...

Mặt trời đã lên cao ba con sào, bá quan nãy giờ đang kiềm nén lửa giận nay đã chờ đợi mệt mỏi lắm rồi, đội ngũ đã mất đi sự chỉnh tề, không ít người lặng lẽ đổi tư thế đứng để gót chân đỡ đau. Khí thế dần lặng tiêu tán.

Đám người bắt đầu trở nên mất trật tự, Tạ Thiên bực mình lớn tiếng nói với thái giám đứng hầu:
- Đã quá giờ tảo triều rồi, xin giục Hoàng thượng mau chóng thăng điện!

Như thể đã đợi bá quan sốt ruột phải giục mình từ lâu, Ngự tiền thái giám Điền công công đáp một tiếng, bước ra từ sau điện, chậm rãi bước lên thềm rồng, hất cây phất trần, từ tốn đưa mắt nhìn bá quan trên điện một vòng rồi cao giọng tuyên:
- Hoàng thượng thăng điện, bá quan tiếp giá!

- Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn vạn tuế! - Tiếng hô vang rền rung chuyển ngói điện như thật lòng muốn ra oai phủ đầu Hoàng thượng.

Trong vòng một đêm, niềm tin đánh tan thế lực cường đại vốn không biết phải đối phó thế nào của vua Chính Đức càng thêm vững chắc, y càng thêm tin tưởng lời phán đoán và căn dặn của Dương Lăng trước khi ra đi. Cái khí thế biển gầm núi lở đó chẳng những không thể khiến y chùn bước mà ngược lại còn khơi dậy ngạo khí của y.

Trai muốn đẹp thì mặc đồ đen (1). Hôm nay bá quan đến đông đủ như vậy, vua Chính Đức lại mặc một bộ thường phục rồng lượn màu đen làm tôn lên khuôn mặt anh tuấn của y.

Y khoan thai bước ra, tự nhiên điềm tĩnh bước lên thềm rồng trong ánh mắt dò xét của bá quan. Nhìn các bá quan đang khấu đầu quỳ gối trên đại điện, lần đầu tiên y thật sự cảm thấy mình đứng trước mặt bọn họ mà không cần phải sợ miệng lưỡi sắc bén của bọn họ.

Hoàng đế Chính Đức bước ra đằng sau long án, thong thả ngồi xuống, chậm rãi quét cặp mắt sáng ngời một vòng rồi hất hàm với Điền công công, khoé môi nở nụ cười nhẹ.

Điền công công hiểu ý bèn bước lên trước một bước, cao giọng tuyên:
- Bá quan bình thân. Mời ba vị đại nhân của Đô Sát viện, Đại Lý tự và Thông Chánh ty bước lên nghe chỉ!

Các vị đại thần đứng dậy. Quan viên Tam ty trong Cửu khanh thoáng ngẩn ra, ngỡ ngàng bước lên phía trước, vén áo bào quỳ xuống và hô:
- Thần tiếp chỉ!

Điền công công tuyên:
- Thánh dụ, Vương Nhạc của ty Lễ Giám và các thái giám thủ lĩnh đố kị người tài, vì mưu đoạt ty Lễ Giám mà bịa đặt phỉ báng, hãm hại đại thần. Phạm Đình của Đông xưởng tiết lộ cơ mật, sau lại mưu đồ gây loạn, Hoàng thượng đã hạ chỉ lệnh cho Tây xưởng, Nội xưởng và Ngự Mã giám dẹp loạn. Nay giao phạm nhân cho Tam ty thẩm vấn, Tây xưởng, Nội xưởng giám sát thẩm tra. Khâm thử!

Bá quan nghe vậy bèn xôn xao cả lên. Điền công công lạnh nhạt đảo mắt, quát lớn:
- Yên lặng! Kẻ nào còn ồn ào vô lễ, sai võ sĩ điện tiền trục xuất khỏi cung!

Quan viên các viện Tam ty đưa mắt nhìn nhau. Hoàng thượng bất thình lình hạ chỉ sai bọn họ đi xét án, bọn họ lại không thể thương nghị với các vị quan viên trên kim điện, bèn đành phải tuân theo:
- Chúng thần tiếp chỉ!

Điền công công lại tuyên:
- Thánh dụ, đám người Lưu Cẩn và Cốc Đại Dụng của Nội giám có công tố giác và dẹp loạn. Lập tức phái Lưu Cẩn nắm giữ ty Lễ Giám kiêm Đề đốc binh mã Đoàn doanh, Cao Phượng làm thái giám giữ ấn, La Tường làm thái giám chấp bút, Khâu Tụ và Nguỵ Bân làm thái giám chấp hành, Trương Vĩnh làm Đề đốc binh mã Kinh doanh, Cốc Đại Dụng nắm giữ Đông tập sự xưởng, Mã Vĩnh Thành nắm giữ phủ Nội vụ. Nay hiểu dụ bá quan!

Lý Đông Dương vừa nghe thì lòng liền trĩu xuống, Hoàng thượng đã hốt hết quan viên Nội đình trong một mẻ.

Ngoài tội hãm hại vu cáo đại thần trong triều, không ngờ còn gán thêm tội danh mưu phản không thành, tách biệt bọn chúng và chuyện diệt trừ Dương Lăng cùng Bát Hổ ra hoàn toàn. Cho dù có người muốn cầu xin gỡ tội cho bọn chúng cũng sẽ phải suy nghĩ thật kỹ thiệt hơn trong đó.

Đáng lo hơn là toàn bộ Đề đốc ty Lễ Giám và tứ đại thủ lĩnh thái giám đều đổi thành người trong đám Bát Hổ, Kinh doanh và Đoàn danh cũng nằm trong tay bọn chúng. Ty Lễ Giám này cai quản tất cả những việc lễ nghi, luật phát và canh phòng gác cổng trong hoàng thành.

Quan trọng hơn nữa là bọn chúng coi quản tấu chương trong ngoài và ngự tiền khám hợp (2), so với việc "Phê hồng" (3) những phiếu nghĩ (*) của Nội các, thực quyền của nó còn lớn hơn cả Thủ phụ (người đứng đầu) Nội các. Bây giờ muộn hạch tội bọn chúng đã là chuyện không thể.

(*) Phiếu nghĩ là tấu chương mà quan lại các nha môn trung ương và địa phương được Nội các căn cứ theo những điều luật điển chương và pháp quy có liên quan thay mặt xử lý sơ bộ, để chuẩn bị cho vua tham khảo. Xem hình http://a1.att.hudong.com/53/86/01300...1865047877.jpg

Từ lúc nào mà thủ đoạn của Hoàng thượng lại cay độc như vậy? Dựa vào mấy tên Bát Hổ ngu đần đó có thể nghĩ ra được biện pháp này sao? Lý Đông Dương cùng Tạ Thiên và Lưu Kiện lặng lẽ đưa mắt nhìn nhau, không hẹn mà cùng nghĩ đến một người.

Đã không thể trừ Bát Hổ, hôm nay chỉ có thể tránh mũi nhọn, công kích một cá nhân của bọn chúng, chỉ cần tạo ra một kẽ hở thì mọi chuyện vẫn rất có hy vọng. Lưu Kiện quyết định dứt khoát, cũng không kịp bàn bạc với Tạ Thiên và Lý Đông Dương đã lập tức bước ra khỏi hàng tâu luôn:
- Hoàng thượng, thần có tấu! Dương Lăng của Nội xưởng phụng chỉ tuần sát phương nam, dùng thuyền quan trữ riêng hàng hoá để chuyển bán kiếm lời, lại còn thu nhận đút lót vô tội vạ. Để che đậy tội lỗi, y nguỵ tạo xảo trá, mang lòng dâm ô, lại còn lạm sát đại quan triều đình mà y ghét. Nay y đã hồi kinh, xin Hoàng thượng cũng giao Dương Lăng cho Tam ty trừng phạt để diệt trừ mầm hoạ.

Hoàng thượng Chính Đức nhếch mép, nghĩ bụng: "Mấy tên này quả nhiên chưa từ bỏ ý định", y thoáng yên lặng một chút, rồi từ tốn phản bác:
- Lưu đại học sĩ, Dương Lăng tiện đường thay phủ Nội vụ khuân chuyển một ít vật phẩm hoàng gia mua sắm mà thôi, việc này đã bẩm báo cho trẫm từ lâu, cớ sao lại nói trữ riêng hàng hoá, chuyển bán kiếm lời? Còn về phần thu nhận đút lót thì đó đều là để che mắt phạm quan đang bị điều tra. Những thứ đó hiện đều đã được nộp vào đại nội rồi. Chuyện Dương Lăng dùng diệu kế vạch trần Mạc Thanh Hà và Viên Hùng hai thái giám trấn thủ bại hoại triều cương tội ác tày trời, khanh không thể không biết chứ? Đại học sĩ là người đứng đầu Nội các, nói phải có chứng cứ mới được.

Lưu Kiện nghe vậy thì hơi cứng họng. Số lượng hàng hoá trên ba chiếc thuyền đó của Dương Lăng thật sự khổng lồ, mới chuyển có một thuyền vào trong kinh mà đã chất biết bao xe lớn xe nhỏ, cuồn cuộn đưa vào phủ của ai thì lão biết rõ rành rành. Nhưng đó đều là hoàng thân quốc thích, công thần huân khanh, chẳng lẽ có thể nêu tên cả đám ra à? Về phần đồ lậu mà Dương Lăng tự mang riêng cho bản thân y, nếu Hoàng thượng muốn che giấu cho y thì còn tra xét ra được sao?

Tạ Thiên lập tức rời khỏi hàng tâu:
- Hoàng thượng! Thần nghe nói Vương thượng thư bộ Lễ của Kim Lăng vừa tranh cãi với Dương Lăng thì liền bị mưu sát ngay trong đêm đó. Dương Lăng rất đáng bị hiềm nghi, nên lập tức bắt y truy vấn, tra rõ sự thật mới phải.

Vua Chính Đức mặt tựa cười mà không phải cười, y khẽ thở dài một tiếng rồi nói:
- Nghe nói? Lại là nghe nói! Ở đây trẫm lại có bằng chứng, rằng một đám nô tài của ty Lễ Giám vì hãm hại Dương khanh nên lập kế sát hại Vương thượng thư rồi giá hoạ cho Dương khanh. Chuyện này có khẩu cung của Đới Nghĩa ở ty Lễ Giám và phong thư lục xét ra được từ chỗ của Phạm Đình. Trẫm đang muốn Tam ty cùng tra vụ án này một lượt, nếu Tạ ái khanh hứng thú chi bằng cũng đi dự thẩm án vậy.

Lại là một đòn trời giáng, Tạ Thiên cũng cứng họng đứng ngây ra đó. Trong lòng lão vốn cũng hoài nghi đó là độc kế Đông xưởng nhằm lôi kéo được nhiều quan viên hơn, có điều vì tình thế cấp bách cho nên lão không thể không vịn theo.

Lòng mang nặng quan niệm bảo thủ, Tạ Thiên hiển nhiên hết sức tin tưởng lời nói này của Chính Đức, thế là trong nhất thời cũng không biết nên che giấu lương tâm, hy sinh Vương Quỳnh mà tiếp tục hãm hại Dương Lăng để bảo toàn đại nghĩa, hay là nên báo thù cho vị đồng liêu chết oan này cho tận nghĩa riêng.

Bá quan trên điện thì như bùng nổ, bất chấp thất lễ trước mặt quân vương. Không ngờ từng là đồng minh lại chính là hung phạm lập mưu hãm hại Vương thượng thư. Không lẽ những lời đồn đãi liên tục đó thật sự là gian kế của Đông xưởng? Một bộ phận quan viên bắt đầu đã bị dao động, cái khí thế kiên cường thề trừ gian diệt nịnh đó đã mất sạch sành sanh.

Lý Đông Dương cụp mắt lại, hít một hơi rồi ghìm giọng hỏi:
- Hoàng thượng! Đông xưởng cách xa ngàn dặm, sao có thể biết Vương thượng thư sẽ bày tiệc mời Dương Lăng trước đó? Sao lại biết đôi bên sẽ trở mặt trên bàn tiệc? Việc này quá sức lạ kỳ, chỗ đáng ngờ trong đó rất nhiều, có thể tuyên triệu Dương đại nhân lên điện để hỏi một chút chăng?

Hoàng thượng Chính Đức chau cặp mày kiếm, khuôn mặt tuấn mỹ chợt bùng lên một sự phẫn nộ, y cao giọng:
- Chỗ đáng ngờ rất nhiều? Tại sao Trương Tú của Cẩm y vệ lại bày mai phục ở Thiên Tân vệ? Tại sao Đông xưởng lại phái ra hơn hai vạn phiên tử chặn mọi nẻo đường về kinh? Bọn chúng năm lần bảy lượt ngăn cản Dương khanh hồi kinh, rõ là vì trong lòng có quỷ nên sợ điều ác mình làm bị bại lộ!

Đoạn y đập bàn, cả giận quát:
- Dương khanh hiện vẫn còn đang trên đường về kinh, vừa nãy trẫm đã hạ chỉ lệnh cho Lưu Cẩn dẫn quan binh Thần Cơ doanh đi trước để tiếp ứng. Nếu như Dương khanh có gì sơ xuất, trẫm nhất định sẽ bắt đám nô tài đó đền mạng!

"Dương Lăng vẫn chưa hồi kinh?" Lý Đông Dương nghe mà cả kinh. Bắt giữ một đám quan viên Nội đình quan trọng của ty Lễ Giám, bí mật điều binh tiêu diệt Đông xưởng, đàn áp các Doanh của cả Cửu thành, chẳng lẽ một loạt những hành động vừa thận trọng vừa hiểm độc này đều là chủ ý của đương kim Hoàng thượng?

Kế hoạch mà ty Lễ Giám và bọn họ ngầm thoả thuận là trong khi Dương Lăng đang trên đường về kinh thì bá quan sẽ dâng sớ can vua, kế tiếp lấy tội danh chống lại lệnh bắt giữ mà giết chết Dương Lăng. Đông xưởng đột nhiên thay đổi kế hoạch, tận sức tận lực ngăn cản Dương Lăng hồi kinh, chẳng lẽ thật sự bởi vì trong lòng có quỷ ư?

Lý Đông Dương là Thái phó của hoàng đế Chính Đức nên biết rất rõ tính tình của vị tiểu hoàng đế này. Tiểu hoàng đế thông minh dũng cảm, nhưng tuyệt đối không có loại cơ trí này, sẽ không thể có thủ đoạn này.

Nếu như Dương Lăng vẫn chưa vào kinh vậy thì hành động đêm qua ắt phải xuất phát từ gợi ý của Bát Hổ. Chẳng lẽ tám cái tên hoạn quan chỉ biết gièm pha nịnh hót này lại giả chó để ăn hổ: đầu tiên cố ý kích cho bá quan phẫn nộ, kế đó dẫn dụ Đông xưởng giá hoạ Dương Lăng để di dời ánh mắt của bá quan, đồng thời ép Dương Lăng phải ngồi cùng thuyền với bọn chúng, sau cùng đến lúc mọi người không để ý đến tác dụng của bọn chúng nữa thì đột ngột ra tay đoạt lấy quyền hành?

Lý Đông Dương thạo về bày mưu vạch kế cho nước mà lại kém về tính kế cho bản thân, nào có thể nhìn rõ được âm mưu quỷ kế vô cùng tinh tế này. Lão càng nghĩ càng cảm thấy có lý.

Kẻ có lợi nhất trong hồi biến cố này chính là Bát Hổ. Dương Lăng chẳng những không được chút lợi lộc nào mà dưới sự vây bắt của hơn hai vạn nhân mã, có thể sống trở về hay không vẫn còn khó nói đây. Lẽ nào Dương Lăng và chúng ta đều đã bị lợi dụng, trở thành con cờ trên bàn cờ mặc cho người ta bố trí rồi sao?

Rồi như thể chưa nguôi cơn giận, Chính Đức hổn hển đứng dậy, nói:
- Hôm qua ty Lễ Giám gây loạn trong cung, hai vị lão nhân gia Thái hoàng thái hậu và Hoàng thái hậu cũng bị hoảng sợ, trẫm phải đến hậu cung thăm viếng. Nếu như các khanh có chuyện quan trọng thì để sớ lại chờ duyệt đi. Thoái triều!

Cũng không đợi đám quan dập đầu bái lạy, hoàng đế Chính Đức bèn bước xuống ngự thềm rồi lách vào sau bình phong mất dạng.

Lưu Kiện ngạc nhiên quay người lại, lão thấy mấy trăm ánh mắt đều tập trung lên người đợi lão đưa quyết định. Lão là lãnh tụ của bá quan, bày ra trận địa to lớn như vậy nếu chỉ tố cáo một tiếng rồi bỏ qua thì uy tín của lão sẽ rớt sâu ngàn trượng, thanh danh trong giới học sĩ quan trường cũng sẽ mất sạch.

Nội đình bị san bằng với tội danh gây loạn, không hề liên can gì với tội danh mà bọn họ cáo buộc cho Dương Lăng và Bát Hổ. Lão đã không thể tiếp tục bước trên con đường "trừ gian" này được nữa.

Nhưng hiện tại Bát Hổ nắm quyền lớn trong tay, mất đi sự phối hợp của Nội đình liệu lão còn có thể buộc tội được sao?

Từ trong ánh mắt của rất nhiều quan viên, lão đã nhìn thấy một sự xa lạ, đã không còn đó sự tín nhiệm mù quáng, một người hô trăm kẻ dạ, cùng tiến cùng lùi nữa. Thái độ của rất nhiều người đối với Dương Lăng đã bị dao động.

Công khai lên án Dương Lăng dường như khó mà có được lý lẽ chính đáng nữa. Lên tiếng phê phán Bát Hổ đang bừng bừng khí thế, quyền bính trong tay, có công xả thân dẹp loạn lại là một quyết sách chính trị hết sức ngu xuẩn, bảo lão làm sao làm đây?

Lưu Kiện lộ một nụ cười chua chát nơi khoé môi: sức mạnh là con dao hai lưỡi, nếu không thể làm người bị thương tất kẻ bị thương sẽ là mình. Lão dựa vào phẩm chất và uy đức mới có được sự tín nhiệm của bá quan. Muốn bảo vệ phẩm chất và uy đức này thì lão sẽ không thể "biết khó mà lùi" chỉ bo bo giữ mình được.

Sức mạnh từng khiến lão có thể hô mưa gọi gió một thời giờ lại đang đẩy lão, đẩy lão lên một vực thẳm chính trị mà đạo nghĩa không cho phép quay đầu...

Mỹ tửu hà bạn hiểm tượng sanh, sầu sát nhân, tiền vô tiến lộ, hậu vô thối lộ...(*)
(*) trích trong bài "Dải cờ đỏ trên trái đất" của nhà thơ cách mạng Nguỵ Nguy 魏巍. Tạm dịch: Đang uống rượu ngon bên sông bỗng gặp phải cảnh hiểm nguy, lo đến chết lòng người, phía trước không lối đi, đằng sau không lối thoát...

***

Dương Lăng cùng Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm đang trên đường hồi kinh.

Y rời kinh ngay trong đêm song không ngờ lại không theo kịp tốc độ truyền loan của tin tức Đông xưởng bị tiêu diệt mà sáng sớm ngày hôm sau mới bắt đầu truyền ra khỏi kinh. Đám phiên tử Đông xưởng vừa hay tin liền hoang mang lo lắng không biết phải làm sao, thế là cái đám phiên tử Đông xưởng vừa ra khỏi kinh thành diễu võ giương oai, ngông cuồng tự đại bèn cúp đuôi ảo não chạy về.

Giữa đường, đám người giang hồ vừa được thu nạp gần đây bắt đầu lén bỏ đi, lại chui vào núi rừng (*) để kiếm ăn.
(*) nguyên văn Tam sơn Ngũ nhạc, thành ngữ phiếm chỉ các ngọn danh sơn hoặc các nơi

Lúc Dương Lăng tìm được bọn họ, bốn mươi tay thị vệ chỉ còn lại hai mươi sáu người, quá nửa đã bị thương. Chiếc xe ngựa vốn cực kỳ hào hoa và chắc chắn cũng long tróc trật trẹo, lắc lư sắp rã, cắm vương vãi khắp trên mui xe là những mũi tên lông đuôi diều hâu, có thể suy ra bọn họ đã trải qua bao nhiêu trận chiến tàn khốc.

Trông thấy vậy tim Dương Lăng muốn nhảy khỏi lồng ngực, cuống quýt nhảy xuống ngựa chạy đến bên xe. Cưỡi ngựa suốt một ngày một đêm, đi được đến đây y cũng đã không còn chút sức lực, vừa thấy Cao Văn Tâm nghe tiếng chạy ra khỏi xe và bình an vô sự, y liền gần như thoát lực mà khuỵu xuống.

Cao Văn Tâm lật đật chạy tới, cũng mặc kệ đang có nhiều người xung quanh như vậy bổ nhào vào lòng Dương Lăng, không cầm được mà nước mắt tuôn đầy hai má. Nàng không sợ vì Dương Lăng mà chết, song có thể sống để gặp lại y đã khiến nàng mừng đến rơi lệ.

Thành Khởi Vận cũng hờ hững bước tới mấy bước rồi mới mỉm cười dừng lại, môi hé mở, khuôn mặt hiện lên một nụ cười dịu dàng nhàn nhạt. Thì ra cái cảm giác suýt chết lại được trùng phùng khiến người ta xúc động như vầy.

Kế hoạch của bọn họ vốn rất chu đáo, duy chỉ quên có một điểm: đó là chiếc xe ngựa. Tiểu Lâu và Cao Văn Tâm đều không biết cưỡi ngựa, hơn nữa ngồi trong xe kín đáo chắc chắn cũng an toàn hơn. Nhưng mà một chiếc xe ngựa chắc bền lại do bảy tám con ngựa kéo phóng băng băng tròng trành xóc nảy cả ngày trong đồng không mông quạnh, không đường không lối thì tuổi thọ của nó còn được bao nhiêu chứ?

Vì cái sơ suất nhỏ xíu này nên thiếu chút nữa tính mạng của bọn họ đã bị chôn vùi. Chạy chầm chậm thì bánh xe còn quay được, song khi phóng nhanh thì bánh xe thực sự không quay kịp, chiếc xe chẳng khác nào bị tám thớt ngựa kéo trượt trong bùn đất. Chỉ cần cứ tiếp tục như vậy khoảng chừng hai dặm nữa thì cả chiếc xe sẽ bị long ra.

Ban đầu Tiểu Lâu hạ lệnh rút quân, lui vào gia nhập với quan binh vệ sở ở Thạch Gia trang, giữa đường lại không thể không dừng lại, bị phiên tử ở mấy lộ tập hợp đồng loạt truy đuổi theo đến, thế là hai bên triển khai giáp chiến.

Khó khăn lắm bọn họ mới vừa đánh vừa lui về được đến nơi này, cách vệ sở còn có năm dặm bỗng nghe từ xa lại có tiếng vó ngựa dồn dập, còn tưởng lại có đại quân nha sai Đông xưởng đuổi đến, nhìn kỹ lại thì thấy là nhân mã của Dương Lăng nên không khỏi mừng như điên.

Dương Lăng cũng đã mệt mỏi đến rã rời, buộc lòng phải chui vào trong chiếc xe ngựa mà đi đường cứ lắc qua lắc lại như múa ương ca (*) đó, chuẩn bị đến thị trấn phía trước mới đổi xe mới.
(*)ương ca: loại hình vũ đạo dân gian lưu hành chủ yếu ở vùng nông thôn miền bắc Trung quốc, có vùng còn biểu diễn câu chuyện, dùng chiêng trống đệm nhạc, có vùng cũng biểu diễn câu chuyện nhưng giống như hình thức ca vũ kịch

Hai mươi sáu tay thị vệ sức tàn lực kiệt, ai nấy trên người ít nhiều đều mang thương tích, nhưng có như vậy thì sau khi về kinh mới thích hợp để "triển lãm" cho người ta xem. Dương Lăng đành phải nhẫn tâm mang bọn họ cùng gấp rút lên đường, đợi khi về kinh rồi mới nghỉ ngơi dưỡng thương thật tốt.

Mấy ngày đêm qua dù có lúc tạm thời thoát ly khỏi sự truy đuổi của địch, tránh được vào vùng hoang dã nhưng Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm vẫn chưa hề được ngon giấc, cặp mắt đã thâm quầng. Dương Lăng nhìn thấy mà đau lòng, bèn ôm lấy vai Cao Văn Tâm, nhẹ giọng bảo:
- Văn Tâm, dựa vào vai huynh nghỉ một chút đi, đợi đến thị trấn phía trước đổi xe lớn rồi muội nghỉ ngơi cho khoẻ.

Cao Văn Tâm kề sát y như vậy, lại được y dịu dàng quan tâm như thế chỉ cảm thấy mọi cực khổ trải qua đều xứng đáng cả, lúc đầu nàng chỉ dựa vào vai Dương Lăng để nghỉ ngơi nhưng dần dần bị chiếc xe đong đưa qua lại, cơn buồn ngủ kéo đến, nàng từ từ ngã vào lòng y mà ngủ một cách ngon lành.

Thành Khởi Vận ngồi bên kia Dương Lăng, thấy y cẩn thận từng li từng tí ôm Cao Văn Tâm vào lòng, che chở vỗ về thì trong mắt không khỏi hiện lên vẻ hâm mộ. Đến khi Dương Lăng quay đầu qua, vẻ mặt của nàng lại thoắt cái đã khôi phục sự bình tĩnh.

Dương Lăng mỉm cười nói với nàng:
- Nhị đáng đầu cũng nghỉ ngơi một chút đi, ba dặm tới sẽ có một thị trấn nhỏ, đến nơi đó chúng ta sẽ nói chuyện tiếp.

Được người ta xưng hô bằng chức quan vốn là một việc mãn nguyện biết dường nào, nhưng lúc này đây Thành Khởi Vận lại không cảm thấy vui tai chút nào, trong lòng hơi có chút mất mát. Nàng gượng cười, lại nghĩ rằng Dương Lăng đã chạy được đến nơi này vậy đại cuộc trong kinh tất đã định, lòng thích công danh lợi lộc của nàng thoáng lại đã chiếm thượng phong.

Nàng phấn khởi hỏi:
- Đại nhân, đại cuộc trong kinh có phải đã định rồi không?

Dương Lăng gật nhẹ đầu đáp:
- Ừm, những kẻ nào có thể động tay đều đã bị chặt mất tay đi, còn những kẻ có thể động mồm mép đó cũng không đáng lo, sau khi trở về kinh chậm rãi tiêu khiển là được.

Thành Khởi Vận nghe xong lời nói dí dỏm của Dương Lăng thì không khỏi nhoẻn miệng tươi cười. Nàng đưa những ngón tay búp măng như ngọc tháo mũ quan ra, búi mớ tóc mai xoã rối khi trốn chạy lên rồi nhét vào lại trong mũ.

Do thói quen lâu năm, tuy rằng mới vừa trải qua cuộc huyết chiến sinh tử, thân thể lại mệt mỏi rã rời song lúc ngửa cần cổ cao vút trắng mịn, cử chỉ ấy vẫn vô cùng ưu nhã, động tác của mười ngón tay cũng tao nhã tựa hoa lan.

Đang đội mũ quan lại, trong lúc ánh mắt di chuyển nàng chợt thấy Dương Lăng đang nhìn động tác của mình, khuôn mặt liền nóng rần rồi vội mỉm cười che giấu:
- Đại nhân, ty Lễ Giám có quyền "Phê hồng", ngày trước mỗi khi Mạc Thành Hà nhắc đến chức quan của ty Lễ Giám thì hâm mộ không thôi, vị trí cao quý đó sẽ đủ để đối chọi với ngoại đình, cũng là vị trí quan trọng nhất mà lần hành động này bỏ trống. Lúc đại nhân hồi kinh không hề bàn bạc và xác định những nhân tuyển cho vị trí này, vậy bây giờ do ai làm vậy?

Dương Lăng nói:
- Là một nội giám hầu hạ bên cạnh Hoàng thượng lúc người còn làm thái tử, tên là Lưu Cẩn, lúc rời cung ta và Hoàng thượng đã bàn bạc và quyết định chuyện này. Tiêu diệt Đông xưởng xong sẽ do lão ta đảm nhiệm chức ấy.

Thành Khởi Vận vui mừng nói:
- Ồ? Là người thân cận từng theo hầu khi Hoàng thượng còn làm thái tử à? Vậy là người đắc lực rồi, chúng ta có một người như vậy bên cạnh Hoàng thượng, sau này hành sự sẽ dễ dàng hơn nhiều.

Dương Lăng suy nghĩ một chút rồi lắc đầu nói:
- Người này... cũng không hẳn là người của chúng ta.

Thành Khởi Vận vừa nghe liền sốt sắng, buột miệng hỏi:
- Sao chứ? Như vậy sao được? Một khi quyền rơi vào tay, nếu như lão cũng bừng dã tâm cùng chúng ta tranh quyền thì làm sao? Lẽ ra đại nhân phải nên nắm ty Lễ Giám trong tay mới phải.

Dương Lăng nhướng mày nói:
- Vậy trừ khi bản quan lập tức vung đao tự thiến.

Thành Khởi Vận tuy không sợ "đồ mặn" song nghe vậy cũng hơi ngượng ngùng mắc cỡ, nàng đỏ mặt nói:
- Ý ty chức là... đáng lẽ đại nhân nên giao ty Lễ Giám vào tay một người chịu nghe lời người mới phải.

Dương Lăng thở dài rồi đáp lại:
- Ta còn không hiểu cái lý lẽ này sao? Nhưng trong nội giám ta vốn không quen biết mấy người, nếu đề xuất bừa một ai đó thì cô nghĩ Hoàng thượng sẽ chịu để gã đảm nhiệm chức vụ trọng yếu như vậy ư? Vị trí quyền lực bị bỏ trống, mấy kẻ hầu hạ cận kề Hoàng thượng đó nhất định sẽ muốn lấp vào, nếu cùng chúng tranh quyền đoạt lợi sẽ khiến chúng biết chúng ta đang đề phòng, cho nên thà cố tỏ ra hào phóng vậy.

Thành Khởi Vận không nói gì, một hồi sau mới hỏi:
- Sau khi đại nhân vào kinh dường như đã lo nghĩ chu toàn, kế hoạch lại đã thay đổi một chút, vậy Đoàn doanh và Kinh doanh thì sao? Chắc cũng không nằm trong tay người mà đại nhân có thể khống chế hoàn toàn phải không?

Nghe trong ngữ khí của nàng mang theo chút quở trách, Dương Lăng giải thích:
- Những người này ít nhất trước mắt sẽ không làm khó chúng ta, tương lai nói không chừng cũng sẽ có tác dụng lớn. Không phải là ta không muốn khống chế mà hoàn toàn là không có người thích hợp để tiến cử.

Đoạn y khẽ thở dài một hơi, giọng xa xăm:
- Lúc bản quan và Hoàng thượng thương nghị về những nhân tuyển này, ta mới đột nhiên phát hiện ra rằng ta vốn không có bao nhiêu người có thể dùng được. Ta thăng tiến quá nhanh, giống như một gốc cây mọc lên vội vã. Trong khoản thời gian ngắn ngủi này ta vốn không kịp tạo ra mạng lưới quan hệ cho chính mình. Rễ của ta quá nông vẫn chưa thể bám chặt vào đất, cành của ta cũng quá yếu vẫn chưa thể chịu được phong ba. Nếu ôm hết thảy quyền lực vào trong tay mình thì vinh quang vô tận của ngày hôm nay chưa hưởng được mấy đã biến thành dao sắc kề cổ.

Ánh mắt chợt loé lên, y khẽ giọn:
- Cây cao gió cả (4). Chỉ có biến những kẻ này thành một khu rừng thì chúng ta mới có thể an toàn ẩn nấp trong đó rồi từ từ phát triển.

Dương Lăng nói xong thấy Tiểu Lâu không đáp lại thì quay đầu nhìn nàng, chỉ thấy nàng đang dùng ánh mắt thú vị nhìn y, bèn hỏi:
- Cô nhìn gì vậy?

Tiểu Lâu nhoẻn miệng cười duyên, ngọt ngào nói:
- Đại nhân nói phải đó, đầu năm đại nhân mới bắt đầu làm quan, cuộc sống vẫn còn rất dài mà. Ty chức... không nên nóng vội như vậy.

Đã lâu Dương Lăng không nghe nàng dùng giọng nói ngọt ngào như vậy, mà quả thực y cũng không hiểu nàng đang nói gì.

Y cảm thấy không được thoải mái bèn vặn người, chợt nghĩ đến cái kỳ hạn một năm mà chính mình lúc này cũng đang rất mơ hồ, thế là lại thở dài một hơi.

Tiếng thở dài của Dương Lăng vừa dứt, vầng trán sáng mịn của Tiểu Lâu đã dựa lên vai y, thở hắt ra một hơi dài rồi nhẹ nhàng nói:
- Đại nhân, ty chức cũng rất mệt rồi, xin mượn vai người dùng một chút.





Chú thích:

(1) nguyên văn "Nam yếu tiếu, nhất thân tạo". Màu đen là màu của sự oai nghiêm, nên thường được dùng trong trang phục đàn ông.
(2) đối chiếu hợp ấn. Thời xưa, công văn được đóng dấu ở chính giữa, xé đôi, đương sự mỗi người giữ một nửa, gọi là khế, đến khi cần dùng thì sẽ ghép lại, đối chiếu mối ghép con ấn, làm bằng chứng.
(3) Công văn của quần thần tấu lên do hoàng đế đích thân phê duyệt, những thứ khác thì do quan viên Ty lễ giám mô phỏng theo nét bút trên tấu chương của Nội các mà sao chép, hoặc phụng chỉ sửa đổi, rồi dùng bút đỏ phê lên, gọi là "Phê hồng" (phê bằng bút đỏ).
(4) nguyên văn "Mộc tú vu lâm, phong tất tồi chi": cây trong rừng mà quá nổi bật thì sẽ bị gió thổi gãy. Ý nói một người mà xuất chúng thì sẽ bị ghen ghét và đố kị.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
10-11-2011, 11:00 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 152 - Ngài Bá Tước Về Nhà




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Hắn "nổi giận đùng đùng" quát mắng đám Cửu khanh Lục bộ vừa đưa tiễn Lưu Kiện và Tạ Thiên về:
- Các ngươi xem đi, trẫm phái Dương khanh tuần thị thuế khoá Giang Nam. Dương khanh tận trung chức vị, chẳng những thuế khoá các nơi nộp lên kịp thời, so với thời điểm này năm ngoái còn nhiều hơn một thành, mà mấy tên thuế giám phạm pháp cũng đã bị trừng trị. Trung thần như vậy mà là gian nịnh ư?

Đoạn Chính Đức bước vòng qua long án, đi đến bên Dương Lăng căn dặn:
- Dương khanh hãy về phủ nghỉ ngơi cẩn thận! Khỏi hẳn rồi hãy lại tiếp tục ra sức làm việc cho trẫm!



Chương 152 - Bá gia hồi phủ ("Ngài" bá tước về nhà)

Vì Dương Lăng đã đến nên Thành Khởi Vận không cần phải mặc y phục của xưởng đốc nữa. Do nàng không biết cưỡi ngựa, lại thêm dáng vóc và tướng mạo của nàng dù cải trang thế nào cũng khó thể giống mấy tên thị vệ thô kệch dũng mãnh nên nàng đành phải mặc một bộ quần áo của Cao Văn Tâm, cải trang làm tỳ nữ được thuê để hầu hạ cho Dương Lăng đang bị thương.

Áo thị tì màu xanh ống bó, khoác thêm áo chẽn* màu hồng phấn bên ngoài, hai búi tóc đen nhánh xoã ra sau vai, trước trán mềm mại một lọn tóc ngắn. Tuy không son phấn, song nàng vẫn duyên dáng xinh đẹp tuyệt trần. Dáng người yểu điệu, dung mạo yêu kiều, cặp mắt như nước mùa xuân rung động lòng người, thuần túy là một người con gái mười tám mười chín tuổi. Tuổi tác của những người phụ nữ đẹp vốn rất khó đoán, huống chi nàng lại là vưu vật trời sinh cực kỳ xinh đẹp và quyến rũ.
(*: Xem hình: http://img6.itiexue.net/892/8928246.jpg)

Khắp người Dương Lăng quấn băng trắng tinh, chỗ nào cũng có vết máu. Quả thực Cao Văn Tâm đã hóa trang hơi quá, khiến người ta vừa nhìn không thể nào biết y bị thương nặng cỡ nào.

Thành Khởi Vận mỉm cười bôi phấn lên mặt Dương Lăng, rồi nghiêng đầu hài lòng quan sát. Ừm... khuôn mặt tiều tuỵ, sắc mặt trắng bệch, thêm cái thân băng trắng bê bết máu, thực khiến "mình trông thấy mà đau lòng" quá đi.

Nàng khẽ cười, má phải hiện lên lúm đồng tiền be bé, rồi trêu Dương Lăng:
- Đại nhân mà vác bộ dạng này lên kim điện, chắc chắn sẽ khiến không ít bá quan trông thấy mà hả giận. Nhưng nếu để vậy mà hồi phủ, chắc chắn phu nhân sẽ đau lòng lắm đó.

Hai má của Mã Liên Nhi khi cười đều có lúm đồng tiền xinh xinh, còn Thành Khởi Vận thì chỉ có má phải mới có. Tư sắc của hai người đều là tuyệt sắc trong số những mỹ nữ mà Dương Lăng đã từng gặp, duyên dáng yêu kiều, khi cười muôn phần xinh đẹp.

Nhưng vẻ xinh đẹp quyến rũ của Mã Liên Nhi thể hiện rõ ràng qua từng lời nói, nét mặt, hơn nữa phong thái cử chỉ trời sinh đã quyến rũ, ngay chính nàng cũng không thể che giấu được.

Cho dù là lúc nàng ôm lòng đau thương, lệ châu lã chã, dung mạo ngũ quan vẫn mang một vẻ vô cùng quyến rũ. Vì tướng mạo như thế nên khi nàng thổ lộ bi thương với người không biết rõ tính tình của nàng thì sẽ rất khó khiến cho người ta tin được sự thành tâm của nàng. Lúc mới quen biết, cũng bởi hình dáng yêu kiều đó mà Dương Lăng không coi trọng lắm những lời thổ lộ thâm tình của nàng.

Thành Khởi Vận thì lại muôn vẻ phong tình: xinh tươi có, nhàn nhã có, thuần khiết có, ngây thơ có, khờ khạo có, quyến rũ mê người có. Bất luận hoá trang thành bộ dáng gì, các loại thần thái sắc mặt ấy đều chẳng những rất giống, mà còn rất thật.

Có điều một người phụ nữ dù có ngụy trang thế nào đi chăng nữa, nhưng nếu cô ta đã từng đứng trước mặt một người đàn ông trong tư thế lõa lồ thì có lẽ ấn tượng sâu đậm nhất trong lòng người đàn ông ấy vẫn là vẻ tiêu hồn đó. Những vẻ mặt khác tuy vẫn có thể che mắt người đàn ông song sẽ rất khó có thể khiến con tim bị mê hoặc. Cho nên Dương Lăng không hề bị lung lạc.

Y ngước cặp mắt "vô thần" lên, hỏi:
- Thế nào? Giống không? Mấy lão gia hỏa đó đều là những kẻ sõi đời trên chốn quan trường, có thể gạt được các lão ấy không?

Thành Khởi Vận yêu kiều đáp:
- Ti chức hóa trang đại nhân như thế đủ để che tai mắt người ta rồi. Mấy vết thương do bàn tay khéo léo của Cao cô nương tạo ra càng giống in như thật. Có điều... ti chức thấy đại nhân lo lắng quá rồi, khi đại nhân hồi kinh sẽ không có tên quan nào dám bắt đại nhân cởi áo khám nghiệm vết thương đâu. Ai mà dám không thức thời như vậy chứ?

Dương Lăng khẽ chau mày, lo lắng:
- Hiện tại ta không lo Hoàng thượng có thể chống đỡ với áp lực của bá quan hay không! Theo lý mà nói, Hoàng thượng nắm giữ Đoàn doanh, Kinh doanh và Nội đình, lại đổ cái vụ án phức tạp không đầu không mối đó cho Đông xưởng. Khí thế của bọn họ đã yếu, nội bộ ắt cũng bắt đầu có kẻ nảy sinh dị tâm, rất khó mà đồng tâm hiệp lực. Ta sợ là sợ Ngoại đình thấy dịp mà lui, từ đó tạm ngừng công kích, tìm cơ hội khác. Lúc này quyền lực chính đang nằm bên phía Hoàng thượng, Ngoại đình lại có quyền lực về ngôn ngữ. Nếu như thực lực của bọn họ không hề bị tổn hại thì sau này Nội đình và Ngoại đình có thực lực tương đương; lúc đó hai bên sẽ không ngừng tranh đấu, đó cũng không phải là việc ích nước lợi dân.

Thành Khởi Vận thoáng nở một nụ cười chế nhạo:
- Đại nhân yên tâm! Đám quan đó trong lòng đều tự cho mình là môn đồ của thánh nhân, đừng thấy bọn họ cả ngày mồm miệng lúc nào cũng là giang sơn xã tắc mà lầm, bọn họ yêu tiếc cái danh lợi cá nhân còn hơn rất nhiều. Những quan viên khác vẫn có thể lựa chọn tiến hoặc lui, nếu ba đại học sĩ cứ cố sống cố chết đòi can gián thì bọn họ sẽ mất hết thanh danh thôi.

Nàng nói đến đây bỗng chợt nhớ đến điều gì, bèn khéo cười duyên dáng liếc Dương Lăng rồi khe khẽ nói tiếp:
- Người đọc sách mà biết tuỳ cơ ứng biến, không ngại phải thích ứng, không so đo danh dự cá nhân cũng chỉ có một mình Dương đại nhân ngài thôi.

Nghe giọng điệu của nàng có vẻ mềm mỏng, bất giác Dương Lăng ngước mắt lên nhìn. Y thấy Thành Khởi Vận đang tủm tỉm cười như đố, chân mày khoé mắt toát lên vẻ quyến rũ của phụ nữ trưởng thành, gò má màu bông tuyết thơm tho như được phết lên một lớp son phấn dịu nhẹ, làn thu ba lưu chuyển đang chăm chú nhìn mình, bèn chợt hiểu ra nàng đang ám chỉ điều gì, thế là khuôn mặt cũng bất giác nóng rần.

Đang tạo vết thương giả trông rất thật trên đùi Dương Lăng nhưng nãy giờ Cao Văn Tâm vẫn chú ý đến cuộc đàm thoại của hai người. Trông thấy vẻ mặt kỳ lạ của bọn họ, nàng cảm thấy dường như giữa hai người có một điều bí mật không thể tiết lộ cho người ngoài, ánh mắt nàng không khỏi lộ vẻ kỳ quái.

Nhưng nàng vẫn khôn khéo quay đầu đi, không nói gì cả. Tuy nàng vụng về, không cơ mưu trí trá nhưng cũng biết lần này lão gia nhà mình được bình an vô sự là phần lớn dựa vào mưu kế của Thành Khởi Vận.

Vả lại trong trận đánh quan trọng nhất, nhờ có Thành Khởi Vận lấy thân làm mồi thu hút hơn hai vạn phiên tử Đông xưởng rời kinh, mới bảo đảm cho Dương Lăng giải quyết Đông xưởng một cách gọn gàng sạch sẽ, không gây nên đại loạn trong kinh sư; tránh tạo cơ hội cho Ngoại đình nắm thóp.

Mấy ngày đêm vừa qua nàng ấy ăn uống kham khổ, Cao Văn Tâm đều để ý thấy hết. Lấy thân làm mồi, bọn họ mấy lần suýt lọt vào vòng vây trùng điệp của phiên tử Đông xưởng nhưng đều nhờ Thành Khởi Vận bình tĩnh chỉ huy chạy đông chạy tây trên mảng bình nguyên này, đùa bỡn với thiên quân vạn mã, đến khi người ngựa mệt nhoài, không còn sức chiến đấu nữa thì mới hạ lệnh rút về vệ sở.

Nay tình thế trong kinh biến hoá lạ kỳ, nguy hiểm của lão gia vẫn chưa được giải trừ, Tiểu Lâu tài hay kế giỏi gặp được dịp này như cá gặp nước, trợ giúp cho lão gia rất lớn, sao mình có thể bất chấp đại cuộc mà hẹp hòi ôm lấy thành kiến cá nhân chứ?

Một người con gái thông minh rất khó vứt bỏ thành kiến cá nhân để tiếp nhận một người con gái khác, song sẽ có thể vì người đàn ông trong trái tim mình mà ép lòng giao hảo với người ta.

Lưu Cẩn dẫn ba ngàn Kinh quân tiếp đón Dương Lăng ở Cố An. Mặc dầu sớm biết Dương Lăng bình an vô sự, song khi vừa chui ra khỏi xe trông thấy bộ dạng Dương Lăng, lão vẫn bị hù cho nhảy dựng. Dương Lăng đang nằm bên trong một chiếc xe ngựa, Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm cưỡi một chiếc xe ngựa khác, những thương binh khác cũng đều xuống ngựa đổi sang ngồi xe, ai nấy đều ngủ say như lợn chết.

Dương Lăng ngồi dựa lên chiếc đệm dựa, trông thấy Lưu Cẩn vận một bộ áo bào màu xanh da trời của đại thái giám, mặt mày rạng rỡ, dáng vẻ hân hoan, thì không khỏi mỉm cười hỏi:
- Trong kinh mọi thứ ổn thoả cả chứ?

Lưu Cẩn đáp:
- Khắp nơi bên ngoài kinh sư đều là loạn binh của Đông xưởng, Hoàng thượng lo đại nhân mang theo ít người, ngộ nhỡ xảy ra chuyện gì không hay, cho nên sáng sớm vừa nhận được tin liền đã lệnh cho ta dẫn quân rời kinh để đón đại nhân, lúc đó bá quan vẫn chưa thượng triều đâu. Có điều ta bảo bọn người Khâu Tụ bất cứ khi nào có tin tức gì đều phải truyền báo ngay. Vừa nãy mới có tin tức đưa đến, nói rằng đại học sĩ nội các Lưu Kiện và Tạ Thiên đã lại dâng sớ xin chém đầu ta và bọn người Đại Dụng, bằng không sẽ từ quan. Khà khà... Hoàng thượng không nói nhiều lời, đã chấp thuận rồi! Ha ha ha...

Cũng có thể nói dâng sớ can gián xin từ quan cũng giống như bưng trà tiễn khách vậy. Bưng trà lên không phải là để kính trà, mà là ngầm tỏ ý mời khách ra về. Xin từ quan cũng không phải là có ý muốn từ quan, mà là nhằm biểu đạt quyết tâm của mình, giống như cò cưa trả giá, là một sự mặc cả giữa Hoàng thượng và đại thần, cố gắng đạt được một quyết định chung. Nào ngờ tiểu hoàng đế Chính Đức quá có cá tính đi, thậm chí cả thông lệ quan trường là giữ lại một lần y cũng bỏ qua, cho chuẩn tấu luôn!

Lưu Cẩn mặt tươi roi rói, rõ là đắc ý vô cùng, cười xong mới nghiêm mặt lại, cảm kích nói với Dương Lăng:
- Dương đại nhân! Ta và đám người lão Trương, lão Mã, và Đại Dụng rất là cảm kích ngài đó. Dương đại nhân chẵng những đã cứu mạng chúng ta, mà hôm nay chúng ta thăng tiến như diều gặp gió cũng đều nhờ vào sức lực của đại nhân, thật sự cảm kích không thôi.

Bọn họ đảm nhiệm chức vụ gì, Dương Lăng không hề có ý kiến gì cả, chẳng qua lúc Chính Đức hỏi tới thì gật đầu tán thành mà thôi. Y nhớ rằng trong lịch sử mấy vị nhân huynh này hình như đều không được chết tử tế cả. Hôm nay mình đề cử bọn họ tuy có thể mua được chút giao tình, song ai biết ngày sau có sẽ bị liên lụy hay không?

Có điều là tám tên tù mù về chính trị ấy rõ biết văn võ cả triều dâng sớ can gián muốn giết bọn họ, song lại vẫn ù lì tưởng rằng đám quan văn chỉ dọa dẫm, có Hoàng thượng sủng ái mình thì sẽ bình an vô sự. May là có Dương Lăng hiến chút kế mọn: ngoại đình can gián giết Dương Lăng không thành, thế nào cũng lùi bước mà quay sang khai đao với bọn họ. Nay tính mạng không lo, còn bởi vậy mà được quyền cao chức trọng, đích thực là nhờ ơn huệ Dương Lăng ban cho.

Dương Lăng nghe nói Lưu Kiện và Tạ Thiên can gián bị cho bãi quan, lập tức hỏi tới:
- Vậy Lý Đông Dương thì sao?

Lưu Cẩn dương dương tự đắc:
- Lý Đông Dương vừa nghe nói ta làm Nội tướng, cai quản Đoàn doanh, thì rắm cũng không dám đánh nữa là. Kẻ nhát gan như vậy, có gì mà phải sợ?

Lý Đông Dương là kẻ nhát gan?! Ông ta mà nhát gan thì đã không dám chặn kiệu của đại ca hoàng hậu là Thọ Ninh hầu Trương Hạc Linh đang rất được ân sủng rồi rút roi quất hắn rồi. Dương Lăng khẽ lắc đầu, nghĩ ngợi một chút rồi mới hỏi tiếp:
- Bá quan trong triều có phản ứng gì?

Lưu Cẩn trợn mắt:
- Phản ứng gì hả? Chuyện này thì ta cũng không được nghe nói gì cả, chắc hẳn... là sẽ đưa tiễn bọn họ thôi.

Dương Lăng nghe mà dở khóc dở cười. Y biết rằng gã Lưu Cẩn này tuy là người có tâm kế song lại là "lính mới" chốn quan trường, kiến thức về chính trị vẫn không bằng Cốc Đại Dụng đã lăn lộn trong Đông xưởng một khoảng thời gian. Chưa từng trải qua tôi luyện cho nên kinh nghiệm quan trường vẫn còn rất ấu trĩ, mình có cùng lão thương lượng cũng chẳng ra được gì.

Y bèn dịch chiếc đệm dựa lên một chút, rồi ngẩng đầu trầm tư:
- Hai vị đại học sĩ nội các từ quan, chỗ trống này do ai trám vào vậy?

Lưu Cẩn lúng túng:
- Thiên hạ có nhiều quan viên như vậy, còn lo không có người để làm à? Đại nhân hà tất phải vì chuyện này mà lo lắng!

Dương Lăng thở dài:
- Hiện nay nội đình đang nằm trong tay công công, nhưng ngoại đình thì sao? Nếu như nội các không có ai chịu nói chuyện với chúng ta, đại học sĩ tân nhiệm vẫn cứ đối địch với chúng ta, chẳng lẽ sẽ lại kêu Hoàng thượng loại bỏ thêm một đám người nữa sao?

Lưu Cẩn lập tức thông suốt, liền ngộ ra lợi và hại trong đó, không nhịn được bèn hung hãn bảo:
- Không sai! Đây là cơ hội tốt, là dịp để đuổi hết đám lão già nhìn chúng ta không vừa mắt đó đi! Còn Lý Đông Dương nữa, phải cho lão ta từ chức luôn, toàn bộ đổi thành người của chúng ta hết.

Dương Lăng lắc đầu:
- Phải giữ Lý Đông Dương lại, trung tâm triều đình không có một lão thần có kinh nghiệm thì sao mà vận hành? Chỉ cần an bài thêm vài nhân tuyển thích hợp mà sẽ không làm khó chúng ta thì Lý đại học sĩ cũng sẽ chẳng làm gì được.

Thật ra Dương Lăng còn có suy tính khác. Giờ đây Lưu Kiện và Tạ Thiên đã từ chức, tuy Lý Đông Dương bị tổn hại thanh danh nhưng dưới tình huống không còn chọn lựa khác thì bá quan văn võ trong triều vẫn sẽ phải tôn ông làm lãnh tụ, những người khác đều không đủ tư cách cho nên không ai có thể đảm đương nổi trách nhiệm này.

Có Lý Đông Dương kiềm chế ngoại đình thì nội đình và ngoại đình mới có thể cân bằng, ngăn ngừa một nhà độc đoán, và mình cũng mới thể hiện giá trị của mình, tranh thủ lấy gạo trong đám lửa (ý nói chớp thời cơ trong khi loạn lạc, nhiễu nhương). Hơn nữa, chính sách của mình mong muốn ban hành thì thúc ép cũng được mà thuyết phục cũng tốt, chỉ khi nào có được sự ủng hộ của Lý Đông Dương thì mới có thể bảo đảm đám quan viên chấp hành sẽ không bằng mặt không bằng lòng mà dở trò mà làm trái đi.

Lưu Cẩn không đoán được nguyên nhân và hệ quả trong đó, nghe y nói xong thì gật gù:
- Đại nhân nói đúng! Có điều... sợ là về kinh rồi Hoàng thượng sẽ hỏi nên để người nào tiếp nhận chức đại học sĩ đó. Dùng ai mới ổn đây?

Hai người bốn mắt nhìn nhau, vẻ mặt đều có phần khó xử.

Những người mà Lưu Cẩn quen biết thì ngoài thái giám ra cũng chỉ có thái giám. Đúng rồi, quê nhà ở Thiểm Tây còn có một người anh biết làm ruộng. Còn Dương Lăng, người mà y quen biết không ít, song lại không có mấy giao tình, kẻ đủ tư cách làm đại học sĩ càng hiếm. Đến lúc cần dùng thì lại có ít người quá.

Những gian thần khác đều là một đám người đầy dã tâm, muốn loại trừ trung thần để mưu quyền đoạt vị, cài người thân tín vào chỗ trống. Còn hai gian thần này thì lại vì việc giao chiếc ghế trống cho ai mà phát sầu.

Hai người nhất thời không nói gì, chỉ nghe tiếng bánh xe lộc cộc, tiếng ngựa hí vang. Dương Lăng vờ như đang nhắm mắt dưỡng thần, trong đầu lần lượt lọc những nhân tuyển có thể nghĩ ra. Lưu Cẩn lại hết sức tin rằng "không có lợi không dậy sớm" (*), rất mau thôi sẽ có một đám người quây đến bên mình.
(*): có chức quyền sẽ có người xu nịnh.

Dương Lăng nói rất đúng, khó khăn lắm mình mới leo lên đến vị trí Nội tướng (thủ lãnh tất cả quan chức xuất thân là hoạn quan), không thể tạo cho người ta cơ hội chèn ép mình lần nữa. Nhất định phải mau mau đề bạt thân tín, gom hết toàn bộ hai mươi bốn giám của Nội đình vào trong tay.

***
Tại trường đình tiễn khách bên ngoài cổng bắc kinh sư, Mã Văn Thăng, Hàn Văn, và Vương Hoa cùng gần trăm quan viên bày rượu tiễn hai vị đại học sĩ Lưu Kiện và Tạ Thiên hồi hương. Thể theo chế độ triều Minh, bất luận quan to thế nào, một khi bãi chức thì không thể tiếp tục ở lại trong kinh thành được nữa.

Có điều đại thần hồi hương cũng rất được triều đình ưu đãi, ban sắc yên ủi, cho phép gia quyến dùng trạm dịch công để về quê, quan địa phương chiếu theo qui định mà cung cấp lúa bạc và phu dịch hằng tháng. Hoàng đế Chính Đức không hề bủn xỉn, cũng chiếu theo thường lệ mà ban thưởng những ưu đãi này cho hai vị đại thần về quê.

Gió thu quạnh hiu, đồng nội điêu linh, Lưu Kiện nhìn khung cảnh thê lương trong cánh đồng bát ngát, vuốt râu cười với các vị đồng liêu hảo hữu đến đưa tiễn, nói:
- Lúc tháng ba lão phu còn cùng gia nhân đi đến nơi này đạp thanh(*), thế mà nay đã là một mảnh khô vàng rồi."
(*)Thanh Minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh (Nguyễn Du)

Các đại thần lặng lẽ nhìn thủ phụ (người đứng đầu) nội các mặc áo vải bình dân, ủ rũ không nói gì. Tạ Thiên bùi ngùi thở dài:
- Mặt đất thê lương còn có ngày xuân về, mắt thấy giang sơn xã tắc không biết suy đồi trong tay kẻ nào, gian nịnh đương quyền, triều chính tàn suy. Lão phu có lỗi với sự ủy thác của tiên đế, thực rất xấu hổ và ân hận.

Mọi người nghe vậy không khỏi lặng lẽ thở dài. Đô thiêm sự Lữ Xung oán giận đấm vào lòng bàn tay mình một cái rồi nói:
- Than vãn suông thì có ích gì chứ, chi bằng liên lạc bá quan, can gián lần nữa, cùng lắm thì chúng ta cùng từ quan về quê mà thôi. Mọi người thấy thế nào?

Ánh mắt sáng quắc của Lữ Xung quét quanh, có quan viên xoa tay phụ hoạ, có người lại giả bộ ngó lơ hoặc vờ nâng chén uống rượu để tránh ánh mắt lão. Lữ Xung thấy vậy thì giận lắm.

Lão đang định nói tiếp, Lưu Kiện đã mỉm cười bảo:
- Thôi, thời gian chính là mệnh trời, có lẽ Đại Minh ta phải trải qua kiếp nạn này. Thiện ác ắt có báo ứng, ông trời có mắt, bốn mùa xoay chuyển tuần hoàn, cho dù tuyết có che hết màn trời thì cuối cùng vẫn sẽ có ngày xuân về. Đám gian nịnh đó có thể càn rỡ làm liều được bao lâu chứ?

Một vị đại thần diện mạo đen đúa, tinh thần quắc thước bước lên một bước nói:
- Thủ phụ đại nhân, Lữ đại nhân nói đúng đấy. Bá quan chúng ta dâng sớ can gián lần nữa, chưa hẳn đã không có sức đánh một trận, cớ sao hai vị đại nhân lại dâng sớ một mình, để cho gian nịnh chèn ép?

Lưu Kiện đưa mắt nhìn, thấy người đó là Dương Nhất Thanh lúc trước quản lý mã chính(1) ở Thiểm Tây, mới được mình điều về kinh thăng chức lên làm Hữu đô ngự sử được nửa tháng, thì không khỏi lấy làm an ủi mà cười bảo:
- Ứng Ninh* có chí hướng như vậy, trong lòng lão phu an ủi vô cùng. Nay bát hổ thế mạnh, lão phu và Tạ lão thân ở địa vị đó, biết rõ không thể nhưng cũng phải làm. Mọi người hãy nên giấu bóng ẩn mình, tích góp lực lượng, đợi khi bệ hạ giác ngộ thì hãy ra tay tóm hết một lượt, đừng bắt chước hai người lão phu nhé.
(*: tên tự của Dương Nhất Thanh, ông lấy hiệu là Thúy Am)

Dương Nhất Thanh mới ở Thiểm Tây về, không hề có ấn tượng gì với Dương Lăng, sự tích về quan viên triều đình mà dân gian bá tánh truyền tụng đa phần chỉ là giai thoại. Dương Lăng vào kinh chưa được một năm, chuyện khiến người ta kinh ngạc nhiều không sao kể xiết, tuy y có lắm tiếng xấu trong giới học sĩ nhưng ấn tượng trong chốn dân gian lại rất tốt. Trước nay Dương Nhất Thanh không hề có kiểu cách nhà quan, ông* thường hay hoà mình cùng bá tánh, cho nên cảm nhận về y cũng không tệ.
(*: Chính Đức kế vị năm 1506, tính ra Dương Nhất Thanh cũng được hơn 52 tuổi, lớn hơn Dương Lăng nhiều, nên gọi ông vậy)

Nghe xong lời của Lưu Kiện, ông không khỏi thở dài tiếc nuối, thầm nghĩ:
- Lúc bát hổ gây hoạ trong kinh, Dương Lăng ở tận Giang Nam, nếu nói y sai khiến thì không khỏi có phần hơi gượng ép. Nay xem mưu kế vững chắc của bát hổ, cùng với khẩu cung của Đới Nghĩa ở ty Lễ Giám và thư tín lục ra được từ trong phòng của Đông xưởng Phạm Đình, có thể thấy Dương Lăng cũng là bị người ta lợi dụng mà thôi. Nếu như bá quan trong triều dốc toàn lực công kích bát hổ, lôi kéo Dương Lăng đang nắm quyền Nội xưởng làm trợ thủ, thì đâu đến nỗi thất bại thảm hại thế này?

Những lời oán trách này đương nhiên ông không tiện thốt nên lời. Ngay vào lúc này, chợt có ba thớt khoái mã lướt nhanh từ trong cổng thành ra. Ngựa phi đến gần, vị quan văn cưỡi trên con ngựa đi đầu chính là Lý đại học sĩ Lý Đông Dương, hai người đi sau là hộ vệ của ông.

Hôm nay hai vị bạn tri giao cáo lão về quê, ông cũng muốn đến sớm một chút để đưa tiễn, nhưng hiện tại toàn bộ công việc Nội các đều đổ lên đầu ông. Mãi đến lúc này mới vừa xử lý xong một số công văn quan trọng, ông bèn lập tức xin phép nghỉ để rời cung, phóng nhanh ngựa tới.

Một số quan văn võ vốn bản thân không dám mạo hiểm bị bãi quan để dâng sớ can vua thế mà khi trông thấy Lý đại học sĩ thì lại lộ ra vẻ khinh nhờn. Lý Đông Dương trông thấy song không hề để tâm, ông đi xuyên qua đám người bước thẳng vào trong đình, thở gấp:
- Lưu đại nhân! Tạ đại nhân! Tôi đã đến trễ một bước.

Lưu Kiện châm ba chén rượu, cười nói:
- Tân Chi đến thật đúng lúc, hiện nay gánh nặng đè trên người mỗi một mình ông, tôi còn lo ông không được rỗi rãi nữa đấy. Nào nào nào, ba người chúng ta cùng uống chén này, sau này có muốn ngồi chung uống rượu, e rằng sẽ không còn mấy cơ hội nữa đâu.

Lý Đông Dương nâng chén lên, thương cảm:
- Hai vị đại nhân là rường cột của nước nhà, Đông Dương vốn còn hy vọng cùng hai vị đại nhân phò trợ ấu chủ cho vẹn ơn uỷ thác của tiên đế. Nào ngờ nay mới được nửa năm, hai vị đã phải rời khỏi kinh sư, chỉ còn lại mỗi mình Đông Dương, nhìn tình cảnh mà thật xót thương cho thân phận mình.

Tạ Thiên cầm chén lên nhưng lại trút rượu xuống đất, cười khẩy:
- Có gì mà xót thương chứ? Nếu như ông không tham luyến quyền thế, cứ cùng hai người chúng tôi nhất tề dâng sớ, không phải đã có thể cùng nhau ra đi sao?
Nói rồi ông xoay người, chắp tay nhìn cánh đồng hoang vu ngoài trường đình mà không thèm ngoảnh đầu nhìn lại một lần.

Sắc mặt Lý Đông Dương thoáng trắng bệch, ông không ngờ nỗi khổ tâm của mình chẳng những không được nhiều đại thần hiểu, mà ngay cả người bạn già như Tạ Thiên đây cũng hiểu lầm mình tham mê quyền lực. Cho dù có lòng muốn giãi bày thì biết bắt đầu từ đâu đây?

Gió thổi lộng vào trong đình, lòng nặng trĩu u sầu, Lý Đông Dương gượng cười chua chát đưa chén rượu lên uống cạn. Bá quan chung quanh cùng quan sát ba vị đại học sĩ trước đây luôn cùng tiến cùng lui bằng ánh mắt phức tạp, mỗi người mang một cảm nhận riêng.

Lý Đông Dương đặt chén rượu xuống, quệt mép râu dính rượu, cười một tiếng bi thương, đang định nói thêm với Tạ Thiên mấy câu trong lòng thì một loạt tiếng vó ngựa dồn dập bỗng vang lên. Hơn ba mươi tay kỵ sỹ cưỡi khoái mã phóng như bay từ trong kinh thành đến, nhìn trang phục của người trên ngựa thì chính là thị vệ thân quân của Ngự Lâm quân.

Lữ Xung không kiềm được hưng phấn reo lên:
- Không lẽ Hoàng thượng đã ân hận, muốn giữ lại hai vị đại học sĩ rồi sao?

Bá quan nhôn nháo một hồi. Thậm chí điềm tĩnh như Lưu Kiện và Tạ Thiên vậy mà hơi thở cũng bắt đầu gấp lên. Song Ngự lâm quân ruổi ngựa đến gần lại không hề dừng lại mà chạy thẳng qua luôn. Bá quan không khỏi tiu nghỉu như đưa đám.

. . .

Cuối cùng hai vị đại học sĩ cũng phải lên đường, ngựa của trạm dịch kéo xe đến trước mặt, gia quyến cùng gia nhân đều đã lên xe, Lưu Kiện và Tạ Thiên đưa tay tạm biệt các vị đồng liêu, hai bên đang bịn rịn lưu luyến thì hơn ba mươi tay binh sĩ Ngự lâm quân cưỡi ngựa nọ lại chạy rì rì về, phía sau cờ bay phấp phới.

Trong đám cờ xí ấy, ngoại trừ quân kỳ của Kinh doanh, mặc dù đa phần là được chế tạo tạm thời song ngọn cờ rồng màu vàng sẫm của thiên tử và ngọn cờ to mang chữ Dương trong tay những người cầm cờ rõ ràng biểu thị rằng khâm sai phụng chỉ Dương Lăng đã về kinh.

Bá quan đưa ánh mắt phức tạp nhìn chăm chăm vào đội ngũ ấy. Chiếc xe đi đầu là xe ngựa của Lưu Cẩn, lão vén rèm kiệu, ngồi nghiêm trang hào sảng, mắt không ngó nghiêng, mép môi nhếch một nụ cười khinh miệt.

Chiếc xe ngựa thứ hai chính là kiệu xe của Dương Lăng. Dương Lăng đã nghe quan binh Ngự Lâm quân đến nghênh tiếp bẩm báo rằng phía trước đang tiễn đưa hai vị đại nhân Lưu, Tạ rời kinh. Do dự lần lữa nhiều lần, bản thân y thật sự không có lập trường để xuống kiệu gặp mặt hai người. Tay y giơ đến bên bức rèm rồi lại thả xuống, miệng mở ra rồi lại ngậm vào. Trong lúc trù trừ, xe ngựa đã chầm chậm chạy qua trước mặt mọi người. Dương Lăng thở dài chán nản rồi chậm rãi nhắm mắt lại.

Học sĩ Lư Sĩ Thâm của Hàn Lâm viện nhìn chằm chằm vào chiếc kiệu xe của Lưu Cẩn rời xa, đột nhiên bước ra khỏi đám người, quét mắt vào chiếc kiệu xe của Dương Lăng vừa mới chạy ngang, cao giọng mắng:
- Kẻ gian nịnh kia! Trước hổ thẹn với tiền nhân, kế xỉ nhục với chính mình, dẫu có qua trăm đời, vẫn sẽ bị mắng thậm tệ. Trời trăng sáng tỏ, lòng dân như gương, làm người thì hãy tự suy ngẫm lấy cho cẩn thận!

Dương Lăng nghe xong, khoé miệng nở một nụ cười khổ sở: "Mượn danh chính nghĩa thì có thể tuỳ tiện gán tội cho người khác, động tí là dâng sớ hặc cho tội danh ‘có lẽ có’(*) để giết người ta sao? Ngoại đình và Nội đình mấy người cứ vì ‘Đạo nghĩa’ với ‘Lẽ phải’ mà cãi nhau đi, tôi xin kiếu. Miễn là tôi làm tốt việc của mình, không có lỗi với lịch sử và lương tâm là đủ."
(Nhắc lại: thời Tống, Trung Quốc, gian thần Tần Cối đang giữ chức Thừa Tướng vu Nhạc Phi là mưu phản, Hàn Thế Trung bất bình bèn hỏi Tần Cối buộc tội có căn cứ gì không, Tần Cối trả lời "có lẽ có". Về sau cụm từ này được dùng theo ý nghĩa bịa đặt, không có căn cứ)

Tạ Thiên nhìn theo đoàn xe nối nhau liên miên không dứt, đoạn ngửa mặt lên trời thở dài sườn sượt:
- Một triều vua một triều thần(*). Thôi, chúng ta đi thôi!
(*: Ý là vua mới dùng người mới)

Đội xe dịch cùng Kinh quân xen lẫn vào nhau dần rời xa, bá quan lặng lẽ đứng im bên ngoài trường đình, dõi mắt theo hướng đoàn xe đi cho đến khi nó mất hẳn nơi chân trời.

Từ đó, hai nhân vật phong vân của triều đại Hoằng Trị rút lui khỏi võ đài chính trị, nhóm quyền lực mà vua Hoằng Trị để lại cho Chính Đức đã bắt đầu tan rã...

Người dân trăm họ thì hào hứng truyền bá nhau về cuộc chiến đặc sắc giữa Đông xưởng và Nội xưởng, chỉ có người trong giới học sĩ mới quan tâm đến việc ra đi của hai vị đại học sĩ và cơn sóng ngầm bắt đầu nổi trong triều đình, cho nên bọn họ cũng chú ý đến việc Dương Lăng trở về hơn.

Dương Lăng được khiêng vào điện Bảo Hoà, bộ dạng thê thảm trông như sắp chết của y đã xua tan lòng nghi ngờ của đông đảo quan viên đối với y. Thường ngày hoàng đế Chính Đức rất thích xem đào kép diễn kịch, lúc này thấy mình giống như đang hoá trang lên sân khấu bèn nổi tính trẻ con, hăng hái nhập vai mà diễn.

Hắn "nổi giận đùng đùng" quát mắng đám Cửu khanh Lục bộ vừa đưa tiễn Lưu Kiện và Tạ Thiên về:
- Các ngươi xem đi, trẫm phái Dương khanh tuần thị thuế khoá Giang Nam. Dương khanh tận trung chức vị, chẳng những thuế khoá các nơi nộp lên kịp thời, so với thời điểm này năm ngoái còn nhiều hơn một thành, mà mấy tên thuế giám phạm pháp cũng đã bị trừng trị. Trung thần như vậy mà là gian nịnh ư?

Đoạn Chính Đức bước vòng qua long án, đi đến bên Dương Lăng căn dặn:
- Dương khanh hãy về phủ nghỉ ngơi cẩn thận! Khỏi hẳn rồi hãy lại tiếp tục ra sức làm việc cho trẫm!

Hắn vừa nói vừa cuối người tự quan sát "thương thế", song lại lén bấu tay Dương Lăng, nói khẽ:
- Mấy ngày nay ái khanh không tiện vào chầu, chốc nữa ta sẽ lại đến thăm khanh, nhớ kể cho ta nghe chuyện đánh hải tặc tiếp.

Dương Lăng ngước mắt nhìn, thấy Chính Đức đang tinh nghịch nháy mắt với y, bèn vội ho khan mấy tiếng để che vẻ buồn cười. Rồi sợ dây dưa hồi lâu sẽ bị người ta phát hiện, y bèn vờ ra vẻ yếu ớt đáp:
- Dạ, vi thần tuân chỉ! Vi thần xin cáo lui trước.

Dương Lăng bị ngăn trở ở ngoài thành, nên hiển nhiên mọi chuyện xảy ra trong kinh không liên can gì đến y. Y về nhà nghĩ dưỡng, nhìn bộ dáng thoi thóp như thể có nằm nửa tháng một tháng cũng không dậy nổi đó, sẽ khó mà gây được ảnh hưởng gì đến việc thay đổi nhân sự và đấu đá quyền lực trong triều.

Trong chính trị không có chuyện vô duyên vô cớ mà đi công kích người ta. Dõi mắt nhìn hai tướng quân vạm vỡ khiêng Dương Lăng ra khỏi đại điện, sự chú ý của các đại thần đã hoàn toàn đặt vào Nội đình đang nắm quyền "Phê hồng" và "chiếc ghế trống quyền lực" mà hai vị đại học sĩ ra đi để lại. Còn "kẻ đầu têu" Dương Lăng đã an ổn tránh khỏi trung tâm cơn bão, lui vào sau hậu trường.

Xe đến trước phủ Uy Vũ bá, Dương Lăng không dằn nổi sự kích động trong lòng, mấy lần muốn nhảy xuống xộc vào trong nhà. Nơi đó là nhà của y, nơi có những người con gái mà y yêu thương nhất. Nhất là Ấu Nương, khi mở mắt ra, nàng là người đầu tiên mà y nhìn thấy, người con gái nhỏ nhắn mặc cho phú quý bần cùng hay sinh lão bệnh tử cũng đều nguyện trọn đời gắn bó cùng y.

Chẳng lẽ bởi "gần quê nên lòng bỗng sợ"(2)? Con tim Dương Lăng đập thình thịch, ngực nóng rần, chỉ muốn lập tức gặp ngay mấy người con gái yêu kiều còn kiên cường hơn cả mình nhưng lại coi mình như trời đất của họ.

Đến khi Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm đều đã xuống xe, đứng thướt tha dưới bậc thềm đá, ngoái đầu nhìn y, Dương Lăng mới tỉnh dậy khỏi cơn mê, liền vội la ầm lên:
- Mau, mau khiêng ta xuống xe!

Lúc này bên người tuy đều là người của mình, nhưng dầu gì thì cũng đông người nhiều mắt, ngộ nhỡ chuyện mình tự bước xuống xe mà bị người ta nhìn thấy rồi lan truyền ra thì sẽ rất phiền phức. Vở kịch này vẫn phải diễn cho đến khi vào trong nhà mới được.

Thành Khởi Vận chỉ đi một mình theo đến kinh sư, hai người thị nữ thân cận tình như tỷ muội đã không biết cưỡi ngựa, cũng không rành võ nghệ nên đã ở lại Kim Lăng.

Tuy nàng là Nhị đáng đầu của Nội xưởng, song để cho một người con gái một mình vào ở trong quân doanh sẽ có nhiều bất tiện. Hơn nữa bản thân y đã yên ổn hồi kinh, còn phải cùng nàng bàn tính đại sự, cho nên Dương Lăng thu xếp cho nàng ở trong nhà mình, chuẩn bị ba ngày sau sẽ sai người hộ tống nàng trở về Kim Lăng để chuẩn bị thuyết phục bá quan đồng ý giải trừ lệnh bế môn tỏa cảng.

Móc khoá cổng được mở ra. Khi lão quản gia trông thấy Cao tiểu thư của chủ cũ, sắc mặt liền lộ vẻ vui mừng, nhưng khi thấy Dương Lăng nằm dài trên sạp gỗ, thì không khỏi thất kinh chạy qua hỏi thăm:
- Lão gia, người bị sao thế này?

Thấy một đám dân làng và con nít đang tò mò đứng xem ở đằng xa, Dương Lăng bèn xua tay bảo:
- Đi! Đi vào trong rồi hẵng nói!

Mấy ngày trước Đông xưởng giám sát quanh đây rất nghiêm, Nội xưởng đã phái một lượng lớn nhân thủ âm thầm bảo hộ, hơn nữa còn căn dặn người trong phủ không được tuỳ tiện ra ngoài. Do ngại ba vị phu nhân lo lắng, bọn họ đã phong toả tin tức về Dương Lăng hết sức nghiêm ngặt, cho nên người trong phủ Uy Vũ bá chỉ biết Nội xưởng và Đông xưởng trở mặt, đại nhân vẫn đang tuần tra ở Giang Nam, còn chuyện hỗn loạn đến long trời lở đất trong kinh thì bọn họ lại không hề hay biết gì.

Dương Lăng gọi hai thị vệ thân tín khiêng y vào phòng khách. Vào đến cổng tròn dẫn vào hậu viện nơi nữ quyến ở, y mới nhảy tót xuống, vừa cởi mớ băng vải quấn kín mít trên người vừa cười nói:
- Lão quản gia chớ nên lo lắng! Lão nhớ căn dặn người trong phủ, bảo bọn họ kín miệng một chút. Nếu như có ai hỏi thì nói là lão gia ta bị trọng thương, những chuyện khác đừng kể bậy bạ.

Lão quản gia sống lâu thành tinh, tuy không biết rõ nội tình nhưng cũng hiểu lão gia an bài như vậy tất có dụng ý. Lão là người đã từng trải qua cảnh tan cửa nát nhà, hơn nữa từ khi làm quản gia phủ Uy Vũ bá, quyền thế và địa vị đã khác xa khi xưa cho nên vô cùng trân quý cuộc sống hiện tại.

Mấy ngày qua, biết có người làm khó nhà họ Dương, bụng lão cũng rất lo lắng không yên, nay thấy lão gia bình an về nhà, trong lòng lão vui sướng khôn thôi. Lão bèn rối rít vâng dạ, rồi lật đật chạy đi căn dặn nhà bếp hôm nay chuẩn bị vài món ăn thịnh soạn.

Trong lúc Dương Lăng tháo vải băng ra, Cao Văn Tâm cũng sớm đã mở bọc quần áo mang theo, lấy ra một bộ đồ xanh (đồng phục của thị tỳ), đứng trong cổng tròn mặc vào, sau đó dẫn hai người vào trong sân.

Cả ba vừa vòng qua một hành lang uốn khúc thì một thị nữ đang bê chậu nước cũng vừa vặn đi tới. Trông thấy Dương Lăng đi tới trước mặt, cô nàng mừng rỡ há hốc miệng, rồi quăng chiếc chậu bằng đồng xuống cái rầm, đoạn quay người chạy vụt đi. Một tràng tiếng la chói tai "Lão gia về phủ rồi!" trong nháy mắt đã vang vọng khắp hậu viện.

Dương Lăng thoáng ngẩn người, nhìn thấy bộ dáng vui mừng đến thất thố của người tỳ nữ đó, y không khỏi lắc đầu cười khổ. Nhưng thật sự, cái cảm giác được kẻ hầu người hạ của phủ mình có cảm giác thân thiết với mình cũng rất ấm áp.

Thành Khởi Vận đi theo sau, kinh ngạc nhìn cái cảnh này, hàng mày đen khẽ nhíu lên: hạ nhân Dương phủ sao lại không có phép tắc gì hết thế này? Cho dù là những hộ gia đình lớn bình thường ở Giang Nam cũng rất xem trọng lễ nghi, có hạ nhân nhà ai dám càn rỡ như vậy chứ? Thực đáng phải trừng trị một phen.

Dương Lăng bước tới lượm chiếc chậu đồng lên. Mới vừa bước được mấy bước đến dưới hành lang treo đầy những chùm nho tím đỏ, bóng một người con gái xinh đẹp áo màu xanh biếc đã lướt nhanh đến:
- Tướng công! Tướng công...

Trong lòng Dương Lăng dâng trào hạnh phúc. Mặc dù rời kinh đã gần hai tháng, nhưng giọng nói ấy vẫn thân thuộc biết dường nào. "Tướng công", đó là lối xưng hô độc nhất của Ấu Nương với mình, chỉ có nàng ấy mới gọi mình như vậy.

Dương Lăng giang hai tay ra, chiếc chậu đồng lại rớt choang xuống đất lăn sang một bên. Một thân thể mềm mại cùng một mùi thơm nhàn nhạt bổ nhào vào lòng y.

Thành Khởi Vận lại ngơ ngác một lần nữa: cô ta đường đường là tam phẩm Cáo Mệnh phu nhân, phong thái, cử chỉ, lời ăn tiếng nói đều phải chú ý đến lễ nghi, sao lại như vậy được... Thật đáng... thật là... thật sự là... khiến người ta cảm động. Trong lòng nàng chợt có phần hâm mộ.

Khuôn mặt xinh đẹp vừa hờn vừa vui, cái miệng chúm chím đầy đặn lúc nào cũng vênh vểnh, đôi mày cong đen nhánh mê người, cặp mắt quyến rũ như sao trời đang tuôn trào những giọt lệ châu trong vắt. Trên khuôn mặt thanh tú tràn ngập niềm vui lẫn hạnh phúc vô bờ.

Dương Lăng tham lam ngắm nhìn khuôn mặt xinh xắn của nàng, nhẹ nhàng vuốt ve gò má mịn màng:
- Ấu Nương... vợ của ta...

Lại một tiếng thì thầm khắng khít yêu thương như chim yến nỉ non: "Tướng công...", tiếng gọi còn chưa ngưng, Dương Lăng đã ôm chặt lấy bờ eo thon của nàng, hôn lên cánh môi nàng một cái thật nồng nàn. Một tiếng "ưm" khẽ cất lên, âm thanh hết sức ngọt ngào, dịu dàng thật lòng.

- Lão gia!
Trong tiếng gọi yêu kiều, hai mỹ nhân tựa như tiên tử trong mây đang nâng tà váy trắng tinh dịu dàng chạy tới. Trông thấy hai người đang ôm nhau hôn, bọn họ tức thì dừng lại, nhẹ nhàng bước đến gần, khẽ gạt những giọt nước mắt hạnh phúc rơi trên gò má. Đằng sau nữa là một đám tỳ nữ mừng rỡ hân hoan...

"Trời ạ, y đường đường là Bá tước, là Tổng đốc nội xưởng oai phong lẫy lừng mà! Cho dù có sủng ái thê tử, cũng không nên trước mặt đông người..." Thành Khởi Vận nhìn sang Cao Văn Tâm. Cao Văn Tâm cũng đang cười, cười khe khẽ, mắt lấp lánh.

Thành Khởi Vận cắn môi, nhẹ nhàng khom người nhặt chiếc chậu đồng đang lăn lốc lên đặt cẩn thận dưới giàn nho, chợt như cắn phải một quả nho chua chua ngòn ngọt, nước nho trôi theo cuống họng thấm vào lòng, mùi vị thực khó tả.





Chú thích:

((1) Chức quan quản lý việc chăn nuôi, huấn luyện và mua sắm ngựa cho triều đình
(2) Nguyên văn "cận hương tình khiếp". Người xa quê lâu năm, bặt vô âm tín, đến khi trở về, càng về đến gần, lòng càng nóng vội, chỉ lo quê nhà đã xảy ra chuyện không hay. Thành ngữ này dùng để chỉ tâm trạng phức tạp của người xa quê lúc trở về.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
16-11-2011, 04:03 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển bốn - Dương Lăng xuống Giang Nam

Chương 153 - Tình Ý Ngọt Ngào




Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Rèm cửa vừa được vén lên thì thấy trong phòng có một mỹ nhân yêu kiều, tóc xoã ngang lưng, hai tay giơ cao, cổ tay trắng ngần đưa lên không trung thành một tư thế kỳ quái, chiếc eo thon mảnh khảnh như cành dương liễu khẽ lượn theo một tư thế uyển chuyển lạ kỳ, trông vô cùng quyến rũ.

Eo nàng được quấn bởi sợi dây bằng vàng ròng nọ, những viên đá mắt mèo lấp lánh mê người, những chiếc lá vàng phát ra tiếng kêu vui tai, càng khiến bờ eo trắng ngần và mềm mại đang đong đưa của nàng trông mê hồn khôn tả. Vẻ đẹp đến choáng ngợp ấy thoạt trông thực giống như một yêu nữ lấy nước làm da, lấy rắn làm xương vậy.



Chương 153 - Tình ý ngọt ngào

Vào thời Đại Minh, có người đàn ông nào dám biểu đạt tình ý của mình với người yêu bằng một nụ hôn thật dài, thật triền miên trước ánh mắt chăm chăm của thiên hạ chứ; ngay cả Thành Khởi Vận nhìn thấy mặt cũng đỏ bừng, tim đập thình thịch. Lúc này Dương Lăng mới quyến luyến rời khỏi đôi môi mềm mại và mọng nước của Hàn Ấu Nương.

Ấu Nương đáng thương bị phu quân của mình ôm hôn cuồng nhiệt, đôi môi mềm non nớt đã hơi sưng lên; mắt hạnh mê li, má đào ửng đỏ, cả người nhũn ra. Thường nói "tiểu biệt thắng tân hôn", từ sau khi hai người thật sự "đôi lứa yêu nhau" thì đây là lần đầu tiên bọn họ chia cách nhau lâu như vậy, tất cả mọi tương tư và lưu luyến đều đã được bồi đáp bằng nụ hôn dài này.

Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai nhìn vẻ hạnh phúc và mỹ lệ đến cực điểm ấy của Ấu Nương tỷ tỷ mà hâm mộ vô cùng. Niềm vui mừng khôn xiết khi hay tin phu quân trở về đã dần được khống chế, hai người kiềm nén khát vọng muốn được Dương Lăng ôm chặt vào lòng, chỉnh đốn lại trang phục, nhún người làm lễ rồi khẽ giọng thưa:
- Thiếp thân ra mắt lão gia.

Dương Lăng mỉm cười, rảo bước đi qua. Ngọc Đường Xuân vừa ngước ánh mắt kinh ngạc của mình lên thì Dương Lăng đã ôm lấy vòng eo thon của nàng hôn đánh "chụt" lên đôi môi như cánh hoa của nàng một cái, sau đó cũng ôm Tuyết Lý Mai vào lòng hôn môi nàng một cái rõ to.

Hai người con gái yêu kiều dễ thương tròn xoe đôi mắt. Bọn họ là thiếp à nha, hơn nữa trước lúc Dương Lăng rời kinh cho dù có lén lút thân mật hơn thì vẫn thờ ơ bày ra dáng vẻ lão gia khi có mặt Ấu Nương. Lúc nào mình cũng đã có phước được lão gia... được lão gia sủng ái như thế vậy?

Trong chớp mắt, cặp mắt như thu thủy đã ứa đầy những giọt lệ hạnh phúc. Rốt cuộc bọn họ đã dám vượt khỏi thân phận thiếp thất ở trước mặt chính thất và đám tỳ nữ rồi. Bọn họ lấy dũng khí ôm Dương Lăng, hôn nhẹ lên má y một cái rồi mới đỏ mặt lui lại, vừa thẹn thùng vừa sung sướng nhìn đấng lang quân yêu mến của mình.

Lần này Dương Lăng rời kinh đã nhiều lần lấy thân mạo hiểm, bốn lần thoát hiểm cầu sinh nên càng thêm yêu quý mọi thứ thuộc về mình. Nay đã trở về đến nhà, trông thấy những người đã cùng mình chăn gối triền miên, sáng chiều chung sống, cuối cùng cũng gỡ được mối khúc mắc sau cùng.

Mặc kệ y chỉ còn một năm thọ mệnh hay không, mặc kệ chướng ngại tâm lý một vợ một chồng của y, bọn họ đều là thân nhân của y, là những người vợ mà tính mạng và hạnh phúc cả đời đều gởi gắm vào y. Đã đến cái thời đại này thì phải vứt bỏ những quan niệm giá trị mà trước đây y bị ràng buộc. Y có trách nhiệm làm cho người thân của y được hạnh phúc.

Y cất tiếng cười vang:
- Đi, cả nhà chúng ta đi vào rồi trò chuyện tiếp!

Cả nhà đi vào rồi trò chuyện tiếp? Cao Văn Tâm cắn nhẹ môi, bước chân trở nên nặng nề. Thành Khởi Vận liếc thấy thần sắc của nàng, thầm nghĩ: "Dù sao cả hai cũng đều giả trang làm thị tỳ, nàng ta đi thì mình cũng đi, nàng ta bất động mình bất động là được."

Tuy bản thân Hàn Ấu Nương vẫn chỉ là một tiểu cô nương mười sáu tuổi nhưng những ngày qua lo liệu, giải quyết và quản lý sự vụ trong phủ, nàng đã rất có phong phạm của nữ chủ nhân. Trông thấy Văn Tâm tỷ tỷ do dự, nàng không khỏi vừa giận vừa mừng liếc người tướng công có phần thất thố của mình một cái rồi bước tới kéo tay Cao Văn Tâm, mỉm cười duyên dáng:
- Tỷ tỷ trở về rồi à? Muội muội nhớ tỷ lắm. Vị tỷ tỷ này là...?

Ánh mắt nàng vừa đảo qua, trông thấy diện mạo hết sức xinh đẹp của Thành Khởi Vận thì trong mắt cũng không kiềm được một sự kinh ngạc và ái mộ: “Người con gái thật đẹp, hình như... chỉ có Liên Nhi tỷ tỷ mới sánh được với cô ta. Chẳng lẽ là...?”

Ánh mắt nàng loé lên, nhìn sang phu quân dò hỏi. Thành Khởi Vận thông minh biết dường nào liền gập người thi lễ, mỉm cười đáp:
- Hạ quan Thành Khởi Vận, bái kiến đại phu nhân, hai vị phu nhân.

- Hạ quan? - Ba người Hàn Ấu Nương, Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai cùng kêu lên, kinh ngạc nhìn lấy cử chỉ trang nhã của nàng, nhất thời không nói nên lời.
- Trừ thời Võ Tắc Thiên lên làm vua thì trong triều khi nào có con gái làm quan vậy? Cô ta nói là hạ quan?

Dương Lăng cười giải thích:
- Vị Thành cô nương đây là Nhị đáng đầu của Nội xưởng ta. Chức quan của Tập sự xưởng là do Xưởng đốc lập ra, nhân viên là do Xưởng đốc bổ nhiệm, không bị hạn chế bởi phẩm tước của quan viên triều đình. Thành cô nương rất có tài thao lược, lại băng tuyết thông minh cho nên ta mời đến Nội xưởng làm quan, cũng là cánh tay đắc lực của ta. Ha ha, Ấu Nương, tướng công suýt bị kẻ gian bày kế sát hại ở Giang Nam, nếu không nhờ Thành cô nương đây tiết lộ tin tức thì e rằng hôm nay ta và nàng đã không thể gặp nhau rồi.

Hàn Ấu Nương, Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai nghe mà giật mình kinh sợ, cũng vì vậy mà hết sức cảm kích Thành Khởi Vận. Hành động của Dương Lăng tại Giang Nam được đám thương nhân đi lên phương Bắc truyền bá đã trở nên vô cùng kì diệu: chống Oa ở Hải Ninh triều, đoạt quân doanh Long Sơn vệ, mượn gió trên ghềnh Lạc Nhạn, từng câu từng chuyện gần như đã biến Dương Lăng thành thánh thần.

Có điều chuyện trong phủ họ Mạc người ngoài không biết rõ, tin tức sau khi Dương Lăng đến Kim Lăng hiện vẫn chưa được truyền đến, bọn họ cũng không biết đã gặp phải đại nạn gì, nói chung nay thấy y bình yên vô sự trở về thì tâm tình thấp thỏm lo âu cuối cùng đã vơi đi.

Vừa nghe người con gái xinh đẹp làm quan này là ân nhân cứu mạng tướng công thì Hàn Ấu Nương lập tức bước tới nhún người thi lễ, nói:
- Hàn thị cảm tạ ân đức của đại nhân với nhà họ Dương của thiếp thân.

Thấy Ấu Nương thi lễ, Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai cũng vội vàng nhún mình theo ở phía sau. Thành Khởi Vận vận đồ nữ tỳ màu xanh song lại được gọi là đại nhân, nhất thời cũng không biết nên đáp lễ quan hay đáp lễ thị nữ, do dự một chút nàng mới chắp tay đáp lễ:
- Dương phu nhân khách sáo rồi.

Một đàn "oanh yến" ríu rít vây quanh Dương Lăng đi vào. Vào đến phòng khách ở nhà sau, y nói với Ấu Nương:
- Ấu Nương, Thành đại nhân là thân nữ nhi, ở trong quân doanh có rất nhiều bất tiện, mấy ngày nữa còn phải trở về Kim Lăng làm một việc quan trọng mà ta có vài chi tiết còn phải thương nghị cùng cô ta, chốc nữa nàng hãy sắp xếp chỗ ở cho Thành đại nhân nhé.

Hàn Ấu Nương mỉm cười dịu dàng đáp:
- Vâng, vậy để Thành đại nhân chịu khó ở tạm trong căn phòng ngủ tại thư phòng ở gian trong nhé, cũng tiện để mọi người bàn việc công.

Đang nói, nàng bỗng trông thấy đám nha hoàn và thị vệ cũng túm tụm đi vào trong phòng, bèn phì cười bảo:
- Chạy cả vào làm gì? Văn Lan, tỷ hãy mang người bố trí căn phòng cho Thành đại nhân một chút.

Cao Văn Lan tươi cười đáp một tiếng, rồi bảo đám thị nữ:
- Đi ra hết đi, lão gia vừa mới về phủ, còn phải nghỉ ngơi một lát.

Đám thị tỳ cười hì hì lui ra ngoài, Cao Văn Tâm liếc Dương Lăng một cái thật sâu rồi cũng lặng lẽ lui ra. Hàn Ấu Nương trông thấy tính mở miệng gọi nàng, sực nhớ Thành Khởi Vận còn ở trong phòng thì ngậm miệng lại, nói với Dương Lăng:
- Tướng công! Mấy ngày nay nghe nói Đông xưởng và Nội xưởng xảy ra tranh chấp. Bắt đầu từ ba hôm trước, số người ẩn nấp quanh phủ chúng ta càng đông hơn, thiếp thật lo cho chàng.

Có người ngoài ở đây, cho nên nàng không tiện tự xưng là "Ấu Nương", bất quá Dương Lăng cũng đã nói nhiều lần rằng nàng không cần phải tự xưng là "thiếp thân" gì cả, nên Hàn Ấu Nương bèn ngoan ngoãn sửa lại thành "thiếp".

Dương Lăng biết mấy ngày nay nhân thủ tăng cao, nhất định là vì Nội xưởng lo lắng có người gây bất lợi cho người trong phủ nên âm thầm tăng cường phái người bảo vệ. Ấu Nương không biết nội tình, mấy ngày nay chắc lo cho mình hết sức thì áy náy nắm tay nàng, nhẹ nhàng bảo:
- Không phải tướng công đã về rồi đó sao, đừng lo lắng nữa. Lần này tướng công xuôi nam nhắc đến thực là kinh tâm động phách, tối nay tướng công sẽ kể rõ cho nàng. Chẳng phải nàng thích nhất là nghe tướng công kể chuyện sao?

Hàn Ấu Nương thích nhất là được nghe y kể chuyện, nghe y rủ rỉ rù rì kể những mẩu chuyện ly kỳ, nhất là sau lúc hai người thân mật. Thường ngày Hàn Ấu Nương chăm sóc chu toàn cho Dương Lăng, duy chỉ sau mỗi lúc hai người yêu đương, biết rõ là y buồn ngủ rã rời song vẫn không thể kiềm lòng mà thích được nép vào trong lòng y như một chú mèo, trò chuyện câu được câu chăng.

Lúc này vừa nghe tướng công nói như vậy thì khuôn mặt Hàn Ấu Nương không khỏi nóng rần, nàng thoáng rụt tay về, chột dạ liếc mắt nhìn về phía Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai. Hai cô bé ấy tuy sớm biết lão gia có tình ý sâu đậm với phu nhân nhất, đêm nay trở về đoán chắc sẽ muốn ngủ cùng giường với nàng song vẻ mặt vẫn không kiềm được chút thất vọng và hờn oán.

Dương Lăng xuôi theo ánh mắt Ấu Nương trông thấy vậy thì không khỏi ho khan mấy tiếng rồi nói:
- Ừm... lần này về, tướng công tạm thời không cần phải vào triều đình giải quyết việc công, ít nhất sẽ ở nhà một tháng.

Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai vừa nghe, ánh mắt thoáng chốc liền sáng rỡ.

Thành Khởi Vận ngồi một bên, nhìn thấy biểu tình của gia đình này thì nàng chỉ nén cười như thể cảm thấy rất là thú vị.

Tỳ nữ dâng trà lên, Hàn Ấu Nương tự tay châm cho Thành Khởi Vận một chén, rồi lại rót dâng cho tướng công một chén. Dương Lăng nhấp một ngụm trà, chợt trông thấy ở góc phòng có chất mấy chiếc rương to, bèn ngẩn ra hỏi:
- Đó là gì vậy?

Hàn Ấu Nương cười đáp:
- Thiếp cũng không biết nữa, là của Liễu Thiên hộ vận chuyển từ Thiên Tân vệ về, vừa mới đưa đến sáng nay. Nghe nói có thư hoạ châu báu, dược liệu gấm tơ, có một số thứ là để dâng lên cho Hoàng thượng. Thiếp vẫn chưa kịp cất vào trong kho nên chất tạm để đó.

Dương Lăng ờ một tiếng, đoạn đặt chén trà xuống rồi bước qua xem. Cao Văn Tâm rất cẩn thận, trên mỗi tờ niêm phong ở mỗi rương đều ghi chép tỉ mỉ chủng loại đại khái vật phẩm trong rương. Nhìn thấy trên chiếc rương trên cùng ghi chữ "châu báu", Dương Lăng bèn thuận tay xé niêm phong, mở nó ra, thấy một chiếc rương nhỏ được đặt ngay chính giữa, bên trong đều là báu vật trân quý được lựa chọn kỹ lưỡng, y liền bê nó lên bàn rồi mở ra.

Ánh sáng lấp lánh rực rỡ lập tức thu hút ánh mắt mọi người. Bên trong chiếc rương này đều là châu báu do Mạc Thanh Hà biếu tặng, hơn nữa Thành Khởi Vận nay có thể nói đã là thuộc hạ thân tín của y, Dương Lăng đương nhiên không cần phải che giấu. Y lấy ra một chiếc vòng đeo cổ bằng bảo thạch óng ánh màu lam nhàn nhạt và đôi khuyên tai cùng màu đưa cho Ngọc Đường Xuân và nói:
- Bộ trang sức này nghe nói là từ Thiên Trúc, vì da nàng rất trắng, cho nên ta cố ý chọn nó tặng cho nàng.

Khuôn mặt Ngọc Đường Xuân thoáng hiện lên một sự vui mừng, nàng nhận lấy chiếc vòng đeo tay rực rỡ sắc lam và cặp khuyên tai đó, đôi mắt phượng miên man tình ý thẹn thùng liếc Dương Lăng một cái, khẽ giọng nói:
- Tạ ơn lão gia.

Chiếc vòng đeo tay bằng bảo thạch rực rỡ sắc lam thăm thẳm ấy chẳng những có kiểu dáng tinh xảo mà chất liệu làm vòng hiển nhiên cũng cực kỳ đắt giá. Ngọc Đường Xuân dung mạo diễm lệ, nước da như ngọc, dáng người lại thướt tha, eo thon như nguyệt, lúc ở Thì Hoa quán từng được vinh là "giai nhân nhất xuất, mãn thất sanh xuân" (*). Cặp bảo thạch màu lam rực rỡ như thế quả nhiên tôn nàng lên nhất. Chỉ là khi đeo lên tay, làn da mịn màng liền toát ra một màu lam nhàn nhạt khiến cho bàn tay ấy tựa như trong suốt.
(*) người đẹp bước ra, cả phòng xuân nở.

Phụ nữ ai chẳng thích châu báu, đặc biệt là trang sức đeo vào làm tăng thêm vẻ đẹp như vậy. Ngọc Đường Xuân lòng liền nở hoa, mừng vui khôn xiết. Tuyết Lý Mai khẽ mím môi, tuy biết rõ trong hộp châu báu này đương nhiên cũng có phần của mình song nàng vẫn như một đứa bé, cặp mắt xinh xắn nhìn về phía phu quân như ai như oán.

Dương Lăng lại lấy ra chiếc vòng đeo cổ. Chiếc vòng bằng bảo thạch đỏ như mã não, nhỏ như anh đào, châu tròn ngọc sáng khiến người ta nhìn mà mờ mắt. Chính giữa chiếc vòng không ngờ lại treo một viên hồng ngọc hình trái tim rất to. Nếu đeo lên cổ, hồng ngọc hình trái tim xinh đẹp loá mắt ấy lót nền giữa khe ngực muốt như tuyết thì sẽ quyến rũ biết dường nào?

Tuyết Lý Mai nhất thời nhìn đến ngẩn ngơ. Dương Lăng mỉm cười nói:
- Hoa mai trong tuyết (*), nay có thể nói là đúng với tên rồi nhỉ?
Nghe vậy, mặt Tuyết Lý Mai lập tức đỏ bừng.
(*) Tuyết Lý Mai nghĩa là hoa mai mơ trong tuyết, mai mơ có màu đỏ, thuộc giống hồng.

Nàng trời sinh tướng Bạch Hổ(1), chỗ ấy trắng mịn đến mê người, khe ấy đỏ tươi chói lọi, hai bắp chân tròn lẳng như ngọc trụ lại trắng như tuyết non, mềm như đậu hũ. Lúc trong khuê phòng Dương Lăng thường lấy câu "hoa mai trong tuyết" ra trêu nàng.

Lúc này nghe Dương Lăng lấy cái bí mật riêng tư giữa hai người ra trêu mình, nàng không khỏi quýnh cả lên vội chộp lấy chiếc vòng hồng ngọc ấy, cũng không thèm cảm ơn lão gia mà lại vừa mừng vừa ngượng lườm y một cái song trong ánh mắt trong veo lại chứa chan sự ngọt ngào.

Lời ân ái giữa hai người đương nhiên chỉ có thể hiểu ngầm, không thể nói ra, người ngoài dĩ nhiên không hiểu được. Dương Lăng bị vẻ thẹn thùng của nàng kích thích khiến cho con tim gợn sóng, trong lòng cũng nóng lên. Y cười bảo:
- Trong rương còn có mấy bộ áo chẽn, áo ghép và váy lụa, đều là vân hoa nổi Tô Châu và gấm Tứ Xuyên thượng phẩm. Ta mua cho Ấu Nương và các nàng mỗi người một bộ, các nàng đi lấy đi.

Sắc mặt của Tuyết Lý Mai quả nhiên đỏ rực như hoa mai trong tuyết, nàng yêu kiều “dạ” một tiếng rồi thong thả đi đến chỗ chiếc rương nọ. Phòng ngủ vẫn chưa được thu dọn xong, Thành Khởi Vận đành phải ngồi trong sảnh, mắt thấy Dương Lăng chia tặng lễ vật cho hai người thiếp thất nên không tiện đặt ánh mắt lên bàn liền lảng nhìn sang chỗ khác.

Hàn Ấu Nương không biết rằng vì Thành Khởi Vận cũng từng tặng lễ vật cho Dương Lăng cho nên Dương Lăng mới không e ngại gì. Nàng thấy tướng công mở hộp báu trước mặt Thành Khởi Vận, thầm nghĩ: "Vị cô nương này là ân nhân cứu mạng của tướng công, lại là thuộc hạ đắc lực của chàng, nhưng nàng ấy là thân nữ nhi nên tướng công đương nhiên không tiện tặng lễ vật cho nàng ấy. Thân là phu nhân mình nên bày tỏ ý với thuộc hạ thân tín của trượng phu một chút."

Hàn Ấu Nương lấy một sợi dây chuyền trong hộp ra. Đây là một sợi dây chuyền bằng vàng ròng, trên đính trang sức bằng vàng hình lá liễu, mỗi chiếc lá liễu bằng vàng được khảm một viên đá mắt mèo, mỗi khi lắc nhẹ trông rất mê người. Hàn Ấu Nương mỉm cười nói:
- Tỷ tỷ, về công tỷ là thuộc hạ của tướng công nhà muội; về tư, chúng ta chỉ lấy thân phận tỷ muội kết giao, sợi dây này hãy xem là lễ vật muội đây tặng cho tỷ tỷ, mong tỷ tỷ nhận cho.

Dương Lăng thấy sợi dây đó phải dài hơn dây chuyền đeo cổ bình thường một chút, kiểu dáng lại khá hoang dã, nghĩ rằng đó là trang sức đến từ ngoại bang dị vực. Mặc dù y rất thích viên đá mắt mèo hấp dẫn đó song vẫn cảm thấy không thích hợp để đeo lắm, chỉ xem nó như một món châu báu có giá trị nên cất giữ mà thôi. Lúc này thấy Ấu Nương định đem tặng nó cho Thành Khởi Vận, y nghĩ bụng: "Với tầm mắt của vị cô nương này, chưa hẳn đã để ý đến món châu báu này đâu, song dù sao Ấu Nương cũng có lòng tặng cô ta, mình cũng không tiện hoán đổi."

Y vội cười bảo:
- Đúng đó, Thành cô nương đừng khách sáo, chỉ là một món trang sức mà thôi, cô nương hãy nhận đi.

Thành Khởi Vận vốn định khước từ, nghe Dương Lăng nói như vậy, bèn mỉm cười, đưa hai tay nhận lấy sợi dây vàng, nói với Ấu Nương:
- Ty chức tạ ơn phu nhân.
Nói xong liếc ánh mắt quyến rũ về phía Dương Lăng, thầm nghĩ: "Thả hỉ thả ưu tam nguyệt kiều, tá phong kinh đãng tiểu man yêu(*). Vị đại nhân này và phu nhân đây có biết nó là đồ trang sức đeo trong người mà chỉ khi trong khuê phòng mới bày ra tặng cho con gái người ta hay không, sao lại tặng cho mình đồ như vậy?"
(*) tạm dịch “khấp khởi mừng lo ba tháng trọn, yêu kiều mượn gió đẩy eo thon”.

Lúc này Cao Văn Lan nhẹ bước tiến vào, khẽ giọng báo:
- Lão gia, phòng của Thành cô nương đã thu dọn xong rồi ạ.

Dương Lăng duỗi người rồi nói:
- Đi đường vất vả quả thật cũng hơi mệt rồi, cô cũng về phòng nghỉ ngơi trước đi. Khi nào đến bữa ta sẽ bảo mấy người Ngọc Nhi tiếp cô uống mấy chén. Ngủ ngon nhé.

Thành Khởi Vận uyển chuyển đứng dậy, Hàn Ấu Nương liền nói:
- Thiếp đưa cô nương về phòng nhé. Văn Lan, sai người đun nước chưa vậy? Chốc nữa đưa vào trong phòng lão gia và phòng của Thành cô nương nhé.

Thành Khởi Vận sinh tại vùng sông nước Giang Nam, lại rất ưa sạch sẽ, mấy ngày nay không được tắm rửa, cả người đang cảm thấy khó chịu, nghe vậy thì không khỏi mừng rỡ nói:
- Đa tạ phu nhân. Đại nhân, vậy Ty chức xin phép về phòng trước.

Dương Lăng gật đầu, thấy Ấu Nương đưa Thành Khởi Vận cùng rời khỏi, bên kia Tuyết Lý Mai đã lôi ra được mấy bộ đồ tinh mỹ khéo may, chất liệu thượng thừa ở trong rương, thích đến không nỡ rời tay, cười nói:
- Các kiểu hoa văn lão gia chọn thật khéo, màu sắc của bộ y phục này rất là đẹp.

Dương Lăng cười nói:
- Vốn định mua vải chất liệu tốt về may nhưng Văn Tâm đã biết vóc người của mấy nàng cho nên mời thợ may Tô Hàng may tạm mấy bộ luôn. Nàng đem qua đây, bên trên có ghi họ đó, lát nữa về phòng thử mặc xem như thế nào.

Tuyết Lý Mai ôm đống quần áo ra, hỏi:
- Lão gia, những bức tranh cuộn này là do cổ nhân đời trước vẽ ra sao?

Niềm đam mê thư hoạ của Ngọc Đường Xuân hơn xa Tuyết Lý Mai, nghe vậy thì không khỏi mừng rỡ chạy lại nói:
- Có thư hoạ của cổ nhân sao? Cho tỷ xem với.

Lúc này Dương Lăng mới chợt nhớ đến "Thập Mỹ Đồ" và bức tranh xuân cung nọ của Đường Bá Hổ. Hai người con gái này đều là người đầu kề gối ấp với mình, trong phòng lại không có người ngoài nên y bước tới vỗ bốp lên bờ mông mềm mại mà vểnh cao của Ngọc Đường Xuân một cái. Ngọc Đường Xuân kêu "á" lên một tiếng, ôm mông quay mặt lại, cặp mắt nóng bỏng ngượng ngùng liếc Dương Lăng.

Dương Lăng hôn lên gò má thơm của nàng một cái rồi cẩn thận lấy từ trong rương ra hơn mười cuộn tranh vẽ, dương dương đắc ý nói:
- Những bức thư hoạ này tuy không phải là đại tác phẩm của danh hoạ trong sử sách cổ đại song người này lại là Giang Nam đệ nhất tài tử, mấy trăm năm sau ắt sẽ trở thành một đại danh hoạ. Bức thư hoạ này ấy à...

Đoạn y cười khà khà, đưa mắt ngắm hai người ái thiếp như hoa như ngọc của mình, rồi cười gian xảo nói:
- Bức thư hoạ này là "Thập Mỹ Đồ" do vị Đường đại tài tử nọ phỏng theo mỹ nữ mà vẽ ra. Còn có một bức... hề hề hề, hai nàng cầm về phòng xem đi, dăm bữa nữa lão gia và mấy nàng cũng thử làm giống vậy, nhỉ?

- Thập Mỹ Đồ? - Hai cô nàng tiểu mỹ nhân nghe vậy lập tức lấy làm không phục. Chẳng lẽ mỹ nữ Tô Hàng hơn xa chúng ta sao? Hơn nữa lão gia nói chuyện thần bí như vậy, rốt cuộc là thứ gì vậy nhỉ.

Thậm chí Tuyết Lý Mai đang nóng lòng muốn thử mấy bộ đồ chất liệu mới nọ cũng vất chúng sang một bên, tò mò ghé lại. Hai người giở một bức tranh ra, chỉ thấy trong tranh vẽ một người con gái áo hồng, mắt nhìn xinh đẹp sống động như thật, như muốn xé tranh bước ra.

Hai người con gái không khỏi kinh ngạc tán thán một hồi. Phải biết thời đó tranh vẽ truyền thần (2) rất nhiều song rất ít người có thể vẽ được nhân vật giống hệt người thật. Lối vẽ tranh tinh vi (3) không nhiều, nhân vật được vẽ chi tiết tỉ mỉ và sống động như vậy lại càng hiếm. Hai người bọn họ không biết người con gái trong tranh có phải vốn có bộ dáng như vậy hay không song vẽ tướng mạo giống hệt người thật như vậy đã là hiếm thấy rồi.

Quan sát cẩn thận thêm một lát, vị mỹ nữ đó tuy vô cùng diễm lệ nhưng không hề xuất sắc hơn hai người, thậm chí còn kém một phần, bọn họ không khỏi thấy nhẹ nhõm trong lòng.

Dương Lăng quay về ngồi trước bàn, vừa hớp trà vừa tủm tỉm cười chờ bọn họ giở đến bức xuân cung. Nghĩ đến "mảnh ruộng" trắng hồng như gò tuyết của Ngọc Đường Xuân, tim y liền đập thình thịch, không nhịn được mà có ý nghĩ xấu xa: "Mấy cô nàng này đều vẫn còn quá ngây thơ, chỉ mới xuất giá, mình lại xót các nàng ấy không chịu nổi "thảo phạt", nên vẫn chưa thử cái mùi vị khác lạ ấy. Giờ trêu bọn họ một chút, nói không chừng..."

Dương Lăng đang gian giảo nghĩ ra những ý tưởng xấu xa, Ngọc Đường Xuân bỗng lẩm bẩm:
- Bức tranh này sao lại buộc hai sợi dây vậy, lại còn khoá lại nữa, mở không ra.

Dương Lăng vừa nghe, trong lòng liền máy động. Bức tranh được buộc hai sợi dây đó là vẽ y và Cao Văn Tâm. Y bèn lật đật đứng dậy đưa ngón tay lên xuỵt một tiếng bảo:
- Nhỏ một chút, tháo móc khoá ra, bức đó là... e hèm, là do Đường đại tài tử Giang Nam nhất thời đa sự đã vẽ lão gia và Văn Tâm. Ừm... chỉ là tác phẩm được vẽ ra trong lúc nhàm chán thôi, đừng để Ấu Nương thấy.

- A! Vẽ lão gia và Văn Tâm tỷ tỷ? - Hai người con gái liền vội tháo móc khoá, chậm rãi giở bức tranh ra. Hai người đứng đối diện với chiếc rương cho nên Dương Lăng cũng không thấy thần sắc hai người. Đợi một hồi thấy hai người chẳng nói chẳng rằng thì gượng cười nói:
- Bức tranh này là trên đường đi Thái Hồ gặp được tứ đại tài tử Giang Nam, sau đó Đường Dần nhìn trộm bọn ta, nhất thời cao hứng mà vẽ ra.

Giọng Ngọc Đường Xuân khẽ run run hỏi:
- Bức tranh này thật sự là vẽ... vẽ lão gia và Văn... Tâm tỷ tỷ?

Dương Lăng đáp:
- Đúng vậy, có phải không thấy rõ mặt bên không? Ta vẫn thấy khá rõ mà.

Tuyết Lý Mai lý nhí hỏi:
- Người phía sau... phía sau này đúng là lão gia ư?

Nhớ tới cái tát mà Cao Văn Tâm cho Đường Bá Hổ ăn nọ, Dương Lăng liền cười bảo:
- Không phải ta thì còn ai vào đây? Nếu đổi lại là người khác thì đã bị nàng ấy tát cho lộn nhào từ lâu rồi.

Hai người con gái nhìn bức tranh xuân cung đó, vừa muốn nhìn lại vừa không dám nhìn. Thân thể của người thiếu nữ trong tranh yêu kiều phơi phới; vẻ thành thục và dáng vẻ ấy thực có mấy phần giống Cao Văn Tâm. Người thiếu nữ ấy để loã nửa thân, ngang eo vắt một dải lụa hồng, tuy thoạt trông không giống lắm, có lẽ vì bút lực của người vẽ có hạn song sắc xuân dạt dào nơi mi mắt ấy lại sống động như thật.

Hai người con gái từng nghe nói đến "Hậu đình hoa", cũng đã từng trông thấy tranh xuân cung, nghĩ thầm: "Trời ạ, Văn Tâm tỷ tỷ sao lại... lớn gan như vậy. Tuy rằng phu nhân đã chấp thuận song tỷ ấy vẫn chưa gả vào mà, thế mà dám cùng với lão gia như vậy... như vậy... Chẳng những bị người ta nhìn lén, còn vẽ ra nữa. Thật ngượng chết đi."

Hai người mặt đỏ bừng, tai nóng rần, tròn mắt nhìn bức tranh hồi lâu. Tuyết Lý Mai lặng lẽ xem câu đề mục "ngoảnh đầu dặn nhẹ cho em, không như cảnh sắc gió trăng tầm thường" (*) mà tim đập thình thịch: "Lão gia nói muốn cùng chúng ta thử làm một phen... Thì ra lão gia thích tư thế này ư?"
(*) xem lại nguyên văn ở chương 128.

Hàn Ấu Nương thu xếp cho Thành Khởi Vận xong, bèn trở về phòng khấp khởi thông báo:
- Tướng công, nhà bếp đã đun nước rồi, chàng hãy về phòng tắm rửa một chút đi.

Hai người Ngọc Đường Xuân nghe thấy tiếng của Ấu Nương vội cuống quít cuộn bức tranh lại rồi vất vào trong rương. Lúc quay đầu lại nhìn Dương Lăng thì má đào đỏ ửng một vùng, mày ngài mịn màng cong vút, trong mắt lờ mờ sương nước.

Dương Lăng tuy cảm thấy hai người vợ bé nhỏ của mình có vẻ kỳ lạ nhưng vẫn nghĩ rằng bọn họ giúp mình giấu Ấu Nương cho nên trong lòng không yên; nhưng mà bức tranh ấy đốt bỏ đi thì không nỡ, giữ thì lại sợ Ấu Nương sẽ lại hối y cưới Cao Văn Tâm mà không hề nghĩ đến điểm khác.

Y đứng dậy, nháy mắt với hai người đẹp bé bỏng của mình:
- Hai người các nàng đều giỏi nấu nướng, hãy xuống bếp làm mấy món khoái khẩu cho lão gia đi. Đã hai tháng rồi không ăn đồ trong nhà, quả thật hơi thèm rồi.

Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đưa mắt nhìn nhau, lật đật dạ một tiếng rồi nối bước líu ríu ra ngoài.

Ấu Nương thở dài cười nói:
- Lúc tướng công không có nhà, ngày nào bọn họ cũng nhắc đến chàng. Nay đã về rồi sao lại giống như là sợ gặp chàng ấy nhỉ?

Dương Lăng đi tới ôm lấy chiếc eo mềm mại của nàng, trìu mến bảo:
- Vậy còn nàng thì sao? Nhớ ta như thế nào, là nhắc đến ta, hay là nhớ ở trong lòng?

Hàn Ấu Nương vẫn chưa quen âu yếm ở bên ngoài, ngoại trừ khi nãy mới gặp tướng công nhất thời thất thố quên mất lễ nghi thì lúc này nàng đã khôi phục lại vẻ đoan trang e thẹn, nàng thấp giọng nói:
- Tướng công...

Bàn tay dịu dàng của Dương Lăng lần trên người này dần dần lên đến bộ ngực săn mẩy. Y kề tai thủ thỉ:
- Có phải là lúc nào cũng giữ trong lòng mà không chịu nói ra, sợ mấy người Ngọc Nhi chê cười phải không, cô vợ bé bỏng của ta?.

Hàn Ấu Nương khẽ kêu lên một tiếng ngã vào trong lòng rồi ôm chặt lấy eo y, thì thầm nỉ non:
- Ừm... ừm... nhớ lắm, lúc nào cũng nhớ, vừa ngóng đợi những việc vẻ vang chàng làm, vừa mong mỏi chàng sớm trở về. Tướng công, người ta nhớ chàng muốn chết thôi, chàng có nhớ người ta không?

Những lời bộc bạch mộc mạc và thâm tình của Hàn Ấu Nương là những lời xúc động lòng người nhất, khiến người nghe rung động đến tâm can: "Phải rồi, mình chính là chỗ dựa của nàng ấy, là ông trời trên đầu nàng ấy, nếu như lần này không sống được để trở về, nàng ấy hẳn sẽ đau lòng muốn chết. Mình sợ chết nên không hề nương tay với những kẻ muốn đẩy mình vào chỗ chết cũng chẳng phải là vì không muốn người mình yêu thương đau lòng ư?"

Y ôm chặt lấy Ấu Nương, hôn nhẹ lên đôi môi nàng, rồi khẽ bảo:
- Đi, giúp tướng công tắm rửa được không?

Mặt Hàn Ấu Nương nóng bừng như lửa đốt, liền vội lắp bắp nói:
- Tướng công, thiếp... thiếp chỉ giúp chàng chà lưng có được không? Đợi đến tối... đến tối mới... có được không? Bằng không mấy người Ngọc Nhi sẽ cười đó.

Dương Lăng biết lúc ở nhà cha con Hàn lão thường hay tận tâm dạy bảo nàng, rằng con gái phải có dáng dấp phụ nữ trưởng thành, đừng mang lối sống hư hỏng vào trong nội viện. Nay ông bố vợ đã mang ông con út đến Tuyên phủ song những lời ấy lại đã đóng rễ trong lòng Hàn Ấu Nương.

Y cũng không muốn làm khó ái thê của mình liền giả vờ nổi giận vỗ vào bờ mông tròn trĩnh đẫy đà đầy đàn hồi của nàng một cái rồi mới kề tai trêu ghẹo:
- Được, vậy thì đợi đến tối vậy. Bảo bối nhớ tướng công hai tháng, đêm nay tướng công sẽ trao hết tương tư của hai tháng đấy cho nàng, mong rằng nàng sẽ có thể nhận hết.

Trong chớp mắt, đôi mắt thuần khiết ấy của Hàn Ấu Nương dừng như cũng trở nên mơ màng, toát ra vẻ phong tình của thục nữ, nàng khẽ cắn môi, xấu hổ cúi đầu. Không ngờ nàng lấy dũng khí gật đầu, sau đó phì cười rồi bụm mặt chạy ra ngoài.

***

Dương đại lão gia chưa bao giờ kêu thị nữ giúp y tắm rửa, hôm nay vốn định kêu vợ yêu của mình tắm rửa cho, tiếc là thân thể y dẫu sao cũng đã bị cấm dục lâu ngày, đôi bàn tay nhỏ nhắn mềm mại ấy vừa mới chạm vào người thì y đã chịu không nổi. Cuối cùng y chỉ đành kêu Hàn Ấu Nương đỏ mặt lắp bắp cười thẹn ra ngoài rồi mới yên phận chui vào trong thùng tắm.

Dương Lăng tắm rửa thoải mái xong, chỉ cảm thấy cả người nhẹ nhõm. Từ lúc trở về thời cổ đại, y cũng đã quen với việc để tóc dài, thả cho mái tóc dài đen nhánh rũ ra sau vai, mặc một bộ đồ lót trắng tinh đặt ở trên giá, khoác thêm một chiếc áo dài mới toanh màu tím, xỏ đôi giày mỏng đế mềm vào rồi sảng khoái bước ra khỏi phòng.

Hàn Ấu Nương đang ngồi chờ ở gian ngoài, trông thấy tướng công bước ra nàng liền vội tiến đến đón. Thấy trên trán y có mấy giọt nước lăn xuống, nàng bèn đưa tay lau nhẹ cho y, rồi nói:
- Tướng công, sao không nằm nghỉ một tí đi, chàng chạy về kinh một mạch như vậy nhất định là đã mệt.

Dương Lăng cười đáp:
- Không nằm đâu, rời nhà lâu như vậy thật sự là rất nhớ nàng. Chúng mình đi dạo chung quanh chút đi, chỗ đất ở hậu viện vẫn chưa trồng gì hết phải không? Ở nhà không có gì để tiêu khiển, nàng có buồn không?

Da của Dương Lăng vốn trắng nõn anh tuấn bất phàm, mới tắm thay quần áo xong nên da ửng hồng, mũi cao mắt sáng, môi đỏ răng trắng hệt như một vị công tử tiêu sái. Hàn Ấu Nương vừa si mê nhìn dáng vẻ anh tuấn của tướng công mình vừa dịu dàng cười nói:
- Dạ không, thời tiết này không trồng được hoa màu gì nên Ấu Nương và mấy người Ngọc Nhi ngồi trong nhà học cầm kỳ thi hoạ. Nhưng bất kể là làm gì thì trong lòng lúc nào cũng cảm thấy trống trải.

Nàng cầm lấy tay Dương Lăng, áp nhẹ lên gò má bóng loáng của mình, khẽ nói:
- Cái cảm giác ấy thực không giống với khi có chàng ở trong nhà. Cho dù chàng cả ngày dậy sớm đi chầu nhưng người ta biết tối đến chàng lại sẽ về, trong lòng cũng bình thản. Khi chàng không còn ở trong kinh nữa, người ta vừa nghĩ đến thì trong lòng lại cảm thấy mất mát rối bời, hại người ta học gì cũng đều bị bọn Tuyết Nhi chê cười là ngốc.

Dương Lăng an ủi bảo:
- Ừm, tướng công cũng vậy, không có nàng ở bên cạnh tuy rằng bận bịu bao việc song vẫn như thiếu mất thứ gì. Nếu lần sau tướng công có phải rời kinh thì nhất định sẽ nghĩ cách mang nàng theo để nàng cùng ở cạnh ta.

Hàn Ấu Nương vui sướng gật đầu, ngọt ngào thỏ thẻ:
- Bánh cảo tiễn người đi ngược gió. Để thiếp đi làm cho chàng một bát ăn trước lót dạ. Đêm nay có khách, chàng đừng uống rượu ngay sẽ làm hại dạ dày.

Dương Lăng mỉm cười ừ một tiếng, rồi chợt nhớ mớ châu báu nọ vẫn còn để trong phòng khách, y vội nói:
- Nàng kêu người đem rương cất vào trong kho đi, chốc nữa ta sẽ lựa ra lễ vật tặng Hoàng thượng rồi nàng gói lại cẩn thận.

Hàn Ấu Nương đã bước đến cửa, cười vâng một tiếng rồi nói:
- Biết rồi đại lão gia, thiếp đã kêu Văn Lan đưa vào kho rồi. Chàng hãy nghỉ ngơi cho khoẻ đi, chốc nữa thiếp sẽ trở lại.

Dương Lăng sực nhớ Thành Khởi Vận được thu xếp một căn phòng ngủ đặt trong thư phòng ở gian trong, y là chủ nhân nên đi thăm một chút mới phải đạo, thế là cũng đi theo ra, tiến thẳng vào thư phòng ở gian trong.

Băng qua phòng khách, nội sảnh, xuyên qua sân vườn, vừa mới đi đến cổng sân bên phải y liền trông thấy bốn nha hoàn đang gánh thùng tắm đi ra. Dương Lăng cười hỏi:
- Thành cô nương đâu, tắm rửa thay đồ xong chưa?

Hai thị tỳ thấy là lão gia đến vội đáp:
- Dạ, lão gia, Thành cô nương đang xem sách trong thư phòng ạ.

Dương Lăng ồ một tiếng, rồi đi vào thư phòng phía trong. Chỉ thấy trong phòng không có người, trên bàn được đặt một quyển sách, y vừa đi vào vừa gọi:
- Thành cô nương...

Rèm cửa vừa được vén lên thì thấy trong phòng có một mỹ nhân yêu kiều, tóc xoã ngang lưng, hai tay giơ cao, cổ tay trắng ngần đưa lên không trung thành một tư thế kỳ quái, chiếc eo thon mảnh khảnh như cành dương liễu khẽ lượn theo một tư thế uyển chuyển lạ kỳ, trông vô cùng quyến rũ.

Eo nàng được quấn bởi sợi dây bằng vàng ròng nọ, những viên đá mắt mèo lấp lánh mê người, những chiếc lá vàng phát ra tiếng kêu vui tai, càng khiến bờ eo trắng ngần và mềm mại đang đong đưa của nàng trông mê hồn khôn tả. Vẻ đẹp đến choáng ngợp ấy thoạt trông thực giống như một yêu nữ lấy nước làm da, lấy rắn làm xương vậy.

Nàng đang múa ở trong phòng, trên người chỉ mặc đồ lót màu lụa đào, nơi giữa bụng thấp thoáng một làn da trắng nõn. Dương Lăng vội vã buông rèm ra đứng ngoài cửa, tiến không được mà lùi cũng không xong. Do dự một hồi lâu, y mới ngập ngừng cất tiếng:
- Thành cô nương, ta có thể vào không?

Rèm cửa được vén lên, Thành Khởi Vận đã mặc bộ váy đơn màu xanh vào, má hơi ửng đỏ bước ra. Ở khu nhà riêng này ngoài Dương Lăng thì chỉ có phụ nữ, nàng vốn không ngờ Dương Lăng sẽ đến gặp nàng vào lúc này. Sau khi tắm xong, nàng cầm sách thuốc xem bừa một chốc cảm thấy hết sức nhàm chán, chợt nhớ đến sợi dây thắt lưng quý báu mà Dương phu nhân tặng cho liền trở về phòng ngủ đeo vào múa thử một lúc.

Nàng chưa bao giờ đeo loại dây lưng nọ song lúc đi cùng Mạc Thanh Hà đến dự tiệc tại phủ của một vị đại phú thương thì thấy vũ kỹ mà phủ người nọ trả giá cao mua về đã đeo sợi dây lưng đó múa kiểu múa gợi tình kỳ lạ của dị quốc.

Vốn múa giỏi, Thành Khởi Vận chỉ nhìn một lần liền đã nắm thuộc lòng những động tác chính của điệu múa đó. Nàng cũng không biết sợi dây lưng này có phải là của vị phú thương nọ vì muốn lấy lòng mà tặng cho Dương Lăng hay không. Nay vật đã qua tay nhiều người rồi rơi vào tay nàng, khó tránh khiến nàng nổi tính trẻ con rồi tự nhảy tự múa trong phòng như một đứa trẻ; đang cảm thấy động tác hơi không được tự nhiên, không được ăn khớp lắm thì không ngờ lại bị Dương Lăng nhìn thấy.

Vóc người uyển chuyển ấy đã được che bởi bộ đồ xanh ống bó, song vầng ửng đỏ trên khuôn mặt dỗi hờn của nàng vẫn chưa tan, cái nhìn khẽ hờn khẽ giận trong ánh mắt long lanh như sóng nước ấy khiến vẻ phong tình của nàng càng thêm rung động lòng người. Nàng lúng túng hất mái tóc, hé đôi môi nho nhỏ cười mỉm:
- Đại nhân và phu nhân đã lâu không gặp, ty chức không ngờ đại nhân lại tới đột ngột, thật sự đã thất lễ.

Dương Lăng cười khổ nói:
- Việc này... là ta mạo muội thất lễ mới đúng. Ừm... sợi dây đó, thì ra là đeo trên hông à?

Thành Khởi Vận đỏ mặt quở giọng:
- Đại nhân còn nói nữa! - Lời vừa thốt ra nàng mới giật mình phát hiện ngữ điệu ấy lại giống như đang làm nũng với người ta, thế là không khỏi giận chính mình. Nàng đến bên bàn đọc, đổi ngôi mình từ khách sang chủ, mời:
- Mời đại nhân ngồi.

Dương Lăng ngồi xuống ghế đối diện, chỉ thấy Thành Khởi Vận mặt không thoa phấn, miệng chúm chím anh đào, nhớ đến vẻ khêu gợi của nàng ban nãy thì không dám ngước mắt nhìn thẳng mà chống tay lên gối, đưa mắt nhìn lên giá để sách cổ nói:
- Vẫn chưa đến giờ cơm tối, nên ta định đến thăm cô một chút, thuận đường dẫn cô đi dạo trong vườn luôn.

Dường như đang nén cười, Thành Khởi Vận nói:
- Ty chức là thuộc hạ của ngài, không thể xem như khách, đại nhân không cần khách sáo như vậy."

Thấy Dương Lăng câu nệ, vẻ mất tự nhiên của nàng cũng tan biến, nàng lấy hai ngón tay nhặt quyển sách trên bàn rồi cười mỉm, trên má lại hiện lên cái lúm đồng tiền xinh xinh, nói:
- Đại nhân quả là học rộng, thậm chí "Động Huyền Tử" cũng đã xem qua, lại còn đánh dấu nhiều chỗ nữa. Bội phục bội phục.

Dương Lăng nào có biết "Động Huyền Tử" là cái quỷ gì, có điều vừa nghe tên sách cũng biết ắt phải là điển tịch của Đạo gia liền gượng cười ra vẻ lành nghề bảo:
- Ồ, thỉnh thoảng xem một chút mà thôi. Nhà Phật thuyết giảng về tu kiếp sau, kiếp sau hư vô mờ ảo, cho dù có tái sinh thì ký ức vẫn không trở lại, theo ta thấy cũng chỉ là một người xa lạ có chung cái xác mà thôi, cho nên ta vẫn thờ tu kiếp này của Đạo gia hơn. Ha ha ha...

Thành Khởi Vận nghe y ngồi đó nói năng lung tung, rõ ràng là đọc một trong tứ đại bảo điển của nghệ thuật phòng the thế mà dám phán bậy phán bạ là tu kiếp này kiếp nọ gì đó thì không khỏi phì cười. Nàng che miệng nín cười, làm ra vẻ nghiêm trang rồi gật đầu phụ hoạ:
- Đại nhân đang tuổi thiếu niên, Động Huyền tam thập kỹ lấy hoan lạc làm chủ, quả hợp với tôn chỉ "tu kiếp này" của đại nhân đấy. Nếu mà lớn hơn chút nữa thì phải nên đọc "Tố Nữ Kinh", Tố Nữ cửu pháp thì lại lấy dưỡng sinh làm chủ đó.

Dương Lăng giật mình, "Động Huyền Tử" thì y chưa từng nghe nói đến song "Tố Nữ Kinh" thì quá nổi tiếng rồi, sao y có thể chưa nghe, chẳng phải đó là thuật phòng the đấy ư? Chẳng lẽ quyển "Động Huyền Tử" này cũng là ... chết cha, Cao lão thái gia học cái gì vậy, để cái thứ này trên giá sách làm gì?

Y nào biết mọi thứ đều là do Cao Văn Tâm vì để chữa dứt chứng vô sinh của y, nên đã mang một trong những cổ tịch đến để đọc tham khảo. Sau khi suy nghĩ tỏ tường, y liền nhấp nhổm như ngồi phải đống lửa. Đang không biết nên trả lời thế nào, Cao Văn Lan chợt chạy vào bẩm:
- Lão gia, thì ra là người đang ở đây. Trong thành có vị đại nhân già đến thăm người đó.

Dương Lăng ngớ người hỏi:
- Là ai vậy?

Cao Văn Lan đáp:
- Là Thị lang bộ Lại tên Tiêu Phương đang đợi lão gia tại phòng chính, còn mang theo một phần hậu lễ nữa. Lão quản gia nói người đó là quan to lão không dám tuỳ tiện khước từ nên bảo tiểu tỳ nhanh chóng đi báo cho lão gia.

Dương Lăng giật mình thất kinh, vội nhổm dậy hỏi:
- Là Tiêu đại nhân ư? Ta sẽ đến phòng chính gặp ông ta ngay.

Thành Khởi Vận chợt ho khan một tiếng, buông giọng chậm rãi:
- Đại nhân, ngài đang bị trọng thương không dậy nổi đó.






Chú thích:

(1) nữ nhân mà nơi ấy không có lông thì gọi là Bạch Hổ.
(2) "truyền thần" theo tiếng Hán có nghĩa là truyền lại cái thần của người được vẽ, cái "thần" đó chính là cảm xúc, là sự tinh tường trong từng nét vẽ của họa sĩ.
(3) lối vẽ chú ý về miêu tả chi tiết bức vẽ



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
19-11-2011, 09:39 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 154 - Lợi Ích Trên Hết


Dịch: Votinh90

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng ngạc nhiên hỏi lại:
- Nhưng sao bản quan nghe nói…Triều đình cấm xuôi tây dương là vì tài chính cạn kiệt, cho nên bá quan mới đồng loạt phản đối?

Tiêu Phương cười kín đáo, ánh mắt loé sáng:
- Thời Vĩnh Lạc, trong nước thì xây dựng thành Bắc Kinh, đối ngoại thì Nam chinh Giao Chỉ, Bắc phạt Mông Nguyên, dụng binh khắp nơi, tiêu tiền khắp chốn, nhưng dân chúng vẫn ấm no, kho đụn vẫn dư dật, những điều này đều được ghi lại trong sử sách. Ngoài ra tơ lụa Giang Nam, đồ sứ trấn Cảnh Đức, thậm chí in ấn, trà lá, tàu thuyền, lâm nghiệp đều hưng thịnh nhờ đó, sao nói là cạn kiệt?

Mà sau khi dừng xuôi tây dương thì ngược lại, quốc khố gặp khó khăn đủ bề. Thời Anh Tông, chỉ hơi hạn hán thì đã khó điều động tiếp tế cho dân rồi. Trước đây khi dấy binh chinh phạt hay kiến tạo một toà thành trì đều dư dả, nay xây một toà đế lăng đã tiêu hao hơn một nửa thu nhập của quốc gia, điều đó giải thích thế nào?




Quyển 5 – Quần Ma Loạn Vũ (Bát Hổ gây loạn)
Chương 154 – Lợi Ích Trên Hết


Dương Lăng nằm trên giường, Cao Văn Tâm ngồi cạnh lau mặt cho y bằng khăn nóng. Dẫu sao thì y cũng mới tắm xong, hai má ửng đỏ, da dẻ hồng hào, nhìn thế nào cũng chẳng giống như đang “thoi thóp” nên đành phải giả bộ như vừa lấy khăn ấm lau mặt xong.

Tiêu Phương ngồi cạnh bàn, thủng thỉnh vuốt râu, miệng cười tủm tỉm, nếu không phải đôi lúc ông ta để lộ nụ cười gian xảo thì trông rất nhân từ. Vị nhân huynh này đã 71 tuổi rồi, nhưng ngũ quan vẫn còn tinh tường, râu tóc trắng như cước, thân thể khoẻ mạnh, tướng mạo đường đường.

Trên đường về kinh, trong lúc suy tính tìm người cử vào vị trí nhập các* Đại học sĩ, Dương Lăng cũng đã từng cân nhắc đến vị quan văn có quan hệ khá tốt với mình này. Vị Tiêu thị lang này đỗ tiến sĩ năm Thiên Thuận thứ tám, liên tục nhậm chức Thứ cát sĩ, Biên tu, Thị giảng, sau lại đến nơi khác làm Đồng tri, Tri châu, Đề học phó sứ, Thông chính, Thái thường thiếu sư, Hữu thị lang bộ Lễ, hiện làm đến Tả thị lang bộ Lại.
(* gia nhập vào Nội các, tham dự giải quyết những sự vụ quan trọng, cơ mật trong triều)

Có thể nói chức danh kỹ thuật và chức vụ hành chính của ông ta từ thấp đến cao đều có đủ, còn năng lực và kinh nghiệm quan trường cũng có thể nói là vào bậc nhất. Lúc nhập các, phẩm quan của ba vị đương kim đại học sĩ đều nhỏ hơn ông ta, cho nên Tiêu thị lang là người có tư cách thăng chức vị đại học sĩ nhất.

Hơn nữa Dương Lăng từng giúp đỡ ông ta, còn lúc Dương Lăng vào ngục vì vụ an Đế lăng thì Tiêu Phương cũng đã nói tốt vài câu giúp y, cho nên Dương Lăng rất có hảo cảm với lão, xếp ông ta vào diện có khả năng làm ứng cử viên. Y từng phái Ngô Kiệt ngấm ngầm điều tra tình hình của người này, không ngờ mình còn chưa biết có nên liên lạc với ông ta hay không thì ông ta đã sớm tìm đến.

Dương Lăng uể oải khoác tay, bảo:
- Văn Tâm, cô lui ra trước đi! Ta muốn nói chuyện cùng Tiêu đại nhân.

Cao Văn Tâm thấy y giả bộ như sắp chết, không khỏi hờn dỗi lườm y một cái rồi mới uyển chuyển đứng dậy, dịu dàng đáp:
- Dạ! Thân thể lão gia còn yếu, đừng quá sức kẻo mệt, tiểu tì cáo lui.

Đoạn nàng lùi hai bước, hành lễ với Tiêu Phương rồi mới nhẹ nhàng lui ra, thuận tay đóng cửa phòng.

Dù bận rộn nhưng Tiêu Phương vẫn thong dong nhấp một ngụm trà, rồi vuốt râu bảo:
- Nghe nói đại nhân bị ám toán trên đường về kinh nên bị trọng thương, thậm chí hôm nay lúc vào triều gặp vua cũng không thể dậy nổi. Bản quan ở Lại Bộ nghe được tin rất lấy làm lo lắng, đứng ngồi không yên nên đành vội vàng xin nghỉ, mang ba cây nhân sâm ngàn năm đến thăm sức khỏe đại nhân.

Dương Lăng đoán không ra mục đích đến đây của lão, cho nên cũng giả vờ chấp nhận:
- Đã phiền lão đại nhân nhọc lòng rồi! Chỉ là một chút thương tích nhỏ, không sao cả đâu.

Tiêu Phương chợt hít hít mũi, rồi nói đầy hàm ý:
- Ừm! Hôm nay thấy đại nhân khí sắc vẫn còn tốt, bản quan cũng yên tâm.

Dương Lăng thấy bộ dạng của lão, thầm nhủ: “Tiêu rồi! Nếu mình được bôi thuốc kim sang (thuốc trị thương) thì sao lại không nghe mùi chứ, lão già này đúng là tinh ranh.” Y cười khan:
- Đại nhân bận rộn nhiều bề mà còn vội vã đến đây thăm hỏi, bản quan rất lấy làm cảm kích!

Tiêu Phương than thở:
- Đại nhân là rường cột của nước nhà, hiện nay chèo chống trong triều chỉ còn lại mỗi mình Lý đại học sĩ, lòng người bất an. Lúc này đang cần đại nhân ngăn cơn sóng dữ, ổn định lòng người, cho nên lão phu thật lòng mong đại nhân sớm khỏi bệnh.

Dương Lăng mỉm cười, giả vờ nâng chén trà lên uống, cúi đầu ngẫm nghĩ: “Lấy lai lịch và chức quan của vị Tiêu đại nhân này mà còn đến thăm nom mình, rồi lại nói những lời nịnh nọt như vậy, chắc chắn là có ý kết giao với mình rồi.
Có điều mình giả bộ bị thương, rút khỏi trường phong ba này để giữ lấy tấm thân, không ngờ lại bị lão già này nhìn ra, quả là tinh tế một cách đáng sợ. Người này sẽ trở thành đồng minh trên chính trường của mình ư?”

Như có điều trầm ngâm nghĩ ngợi, y cầm chén trà uống cạn một hơi. Y vừa ngẩng đầu đặt chén trà lên bàn, Tiêu Phương đã tiếp lấy, rót đầy rồi đẩy nhẹ về phía y.

Thấy thái độ kính cẩn của vị quan lớn tam phẩm bộ Lại râu tóc bạc phơ này, Dương Lăng đã có quyết định trong lòng. Y nghĩ ngợi một chặp, rồi cười nặng nề nói:
- Lão đại nhân khách sáo rồi! Dương mỗ thăng tiến nhanh khiến người ta hâm mộ, nhưng đó đều là theo đường bàng môn, chưa hề tham dự vào đại sự triều đình. Nếu luận kiến thức và kinh nghiệm thì hãy còn kém xa đại nhân, so với rất nhiều triều thần khác thì cũng chẳng bằng.

Y trầm tư một lát, rồi từ tốn nói tiếp:
- Được Hoàng thượng ưu ái, kẻ làm thần tử đương nhiên phải vì người mà san sẻ lo âu. Lần này xuôi nam tuần tra thuế má, Dương mỗ được tai nghe mắt thấy nhiều điều, trong lòng thực ra đã có vài ý tưởng, chỉ là không biết có nông cạn buồn cười hay không, cho nên cũng không dám bẩm tấu lên Hoàng thượng. Lão đại nhân đến vừa đúng lúc, bản quan đang muốn thỉnh giáo, mời đại nhân xem xét hộ cho. Không biết ý đại nhân thế nào?

Tiêu Phương nhếch mày, trong mắt loé lên vẻ vui mừng: "Lời vừa rồi của Dương Lăng chính là có ý chấp nhận mình. Lời nói của kẻ này rất được Hoàng thượng tôn trọng, hiện mấy vị thái giám chưởng quản nội đình cũng răm rắp nghe theo lời y, chỉ cần y chịu đề bạt chiếu cố cho thì mình cần gì phải chịu sự chèn ép của đám người Mã Văn Thăng nữa?

Chẳng qua tuy y còn trẻ tuổi nhưng xuôi nam tuần tra thì giải quyết được các vị thái giám trấn thủ, về kinh thì dẹp yên được sự công kích của quần thần nội ngoại đình; là người suy trước tính sau, thủ đoạn cực kỳ lão luyện, không biết y muốn kiểm tra ta những gì?

Mình phải có chút kiến giải độc đáo khiến y thưởng thức, nhưng phương châm thì phải thống nhất với y về cơ bản mới được, cơ hội khó kiếm, mình phải cẩn thận ứng phó đây."

Tiêu Phương nghĩ đến đây, tinh thần phấn chấn như năm nào vào kinh ứng thí, bèn kéo dịch ghế về phía trước một tí, hơi khom người, tập trung tinh thần:
- Không biết đại nhân có cao kiến gì, lão phu xin lắng nghe.

Dương Lăng nói:
- Lần này bản quan xuống Giang Nam, chủ yếu là tuần tra vùng duyên hải. Ở đó cướp biển hoành hành, theo như bản quan thấy thì người dân và lái buôn vì bị bế quan tỏa cảng mà phải đi buôn lậu. Buôn lậu và cướp biển, những thứ này có cấm cũng chẳng được, cho nên bản quan đến giờ vẫn nghĩ không thông: có câu “lấp không bằng thông”, vì sao triều đình không thể bãi bỏ lệnh cấm biển, khuyến khích người dân thông thương? Chỉ riêng thuế má thu nhập hàng năm há chỉ ngàn vạn.

Trên đường về kinh, bản quan có ghé qua xưởng đóng thuyền Long Giang, hiện nay nơi đó hoang vu tiêu điều, cảnh tượng phồn hoa khi Tam Bảo thái giám giong thuyền xuôi tây dương năm xưa đã không còn nữa. Nghe đâu là vì việc đó hao tốn rất nhiều tiền bạc, sức nước khó mà chịu nổi, cho nên bản quan nghĩ rằng…

Dương Lăng liếc nhìn khuôn mặt đầy nếp nhăn của Tiêu Phương rồi nói tiếp:
- Nếu như triều đình cho rằng dùng hải vận để tuyên dương uy danh quốc gia là việc lợi không bằng hại thì cũng đâu cần phải cấm dân gian thông thương. Tuy rằng triều đình lấy nông nghiệp làm gốc, nhưng cũng không nên chèn ép thương nghiệp quá đáng, bá quan trong triều chẳng lẽ không thấy được ích lợi của việc thông thương với các nước ư? Bản quan hoàn toàn không hiểu, đại nhân có thể giải đáp giúp ta không?

Tiêu Phương nhíu mày, chăm chú nhìn y, thầm nhủ: “Thì ra Dương đại nhân cũng không chịu nhàn cư, y muốn chọn bãi bỏ lệnh cấm thông thương để làm chính tích (thành tích chính trị, để người ta ghi nhớ) cho mình à? Việc này khó đây.”

Dương Lăng thấy lão vuốt râu nghĩ ngợi hồi lâu mà không nói gì thì có vẻ hơi mất kiên nhẫn. Tiêu Phương thấy thế vội đáp:
- Lão phu và đại nhân rất là hợp ý, cho nên có đôi lời thật lòng muốn bẩm cáo đại nhân. Nếu có gì không phải, xin đại nhân nghe xong bỏ qua. Có một số chuyện… dù mọi người trong lòng đều biết rõ, nhưng thực sự không tiện lấy ra thương nghị.

Dương Lăng hồ hởi:
- Đương nhiên, đây là vãn bối thỉnh giáo lão đại nhân. Chuyện riêng giữa hai ta sẽ không có người thứ ba biết được.

Tiêu Phương nghe vậy thì yên tâm, ngẫm nghĩ một lát rồi chậm rãi nói:
- Đại nhân thật sự cho rằng đám sĩ tử đọc sách cổ hủ, không thấy được lợi ích của việc thông thương với các nước sao? Ha ha, đó chỉ là bề ngoài thôi. Khoan hãy nói dân gian thông thương thu được ích lợi to lớn thế nào, chỉ tính năm đó Trịnh Hoà xuôi tây dương dù tốn kém vô cùng nhưng tham quan được nhiều nước, cũng không phải là mất nhiều hơn được.

Dương Lăng vẫn luôn nghe quan điểm cho rằng Đại Minh giong thuyền xuôi tây dương thuần tuý là truyền bá uy danh quốc gia, quốc khố hao hụt rất nhiều nhưng không có thu nhập tương ứng mới khiến bá quan phản đối, nên khi nghe Tiêu Phương nói thế thì hơi ngạc nhiên, vội hỏi:
- Sao đại nhân lại nói vậy?

Tiêu Phương mỉm cười đáp:
- Lúc lão phu nhậm chức ở bộ Lễ đã từng xem qua điệp báo về việc qua lại với các nước vào những năm Vĩnh Lạc, còn nhớ mang máng một số chuyện. Triều đình Đại Minh không thông thương với nước ngoài không có nghĩa là không cần những thứ mà trong nước không có, chẳng qua là lấy phương thức cống nạp của các nước để tiến hành giao dịch mà thôi.

Trong đó có rất nhiều hàng hoá vì sự khác biệt về lãnh thổ mà cung không đủ cầu, cho nên giá cả đắt đỏ. Lão phu lấy ví dụ thế này, Đại Minh cần hồ tiêu, nhưng trong nước không sản xuất mà do quốc gia hải ngoại tiến cống, nên giá đắt như vàng, gấp hai mươi lần giá gốc.

Năm Vĩnh Lạc thứ năm, lần đầu tiên Trịnh Hoà xuôi tây dương trở về, giá mỗi cân hồ tiêu trong nước giảm mười lần. Đến năm Tuyên Đức thứ chín, lần cuối cùng Trịnh Hoà xuôi tây dương trở về, giá hồ tiêu càng hạ xuống một cân 100 quan tiền, triều đình mỗi năm nào chỉ cần vạn cân hồ tiêu, chênh lệch giá cả nghĩ đã thấy sợ rồi. Mà lúc đó hàng hoá giao lưu giữa Trung -Tây đã đến hàng vạn loại, tiền tài dự trữ trong quốc khố nhiều không kể xiết, trừ hao phí tổn do Thiên triều ban thưởng cho các nước và xuôi tây dương, thì vẫn kiếm được rất nhiều…

Dương Lăng ngạc nhiên hỏi lại:
- Nhưng sao bản quan nghe nói…Triều đình cấm xuôi tây dương là vì tài chính cạn kiệt, cho nên bá quan mới đồng loạt phản đối?

Tiêu Phương cười kín đáo, ánh mắt loé sáng:
- Thời Vĩnh Lạc, trong nước thì xây dựng thành Bắc Kinh, đối ngoại thì Nam chinh Giao Chỉ, Bắc phạt Mông Nguyên, dụng binh khắp nơi, tiêu tiền khắp chốn, nhưng dân chúng vẫn ấm no, kho đụn vẫn dư dật, những điều này đều được ghi lại trong sử sách. Ngoài ra tơ lụa Giang Nam, đồ sứ trấn Cảnh Đức, thậm chí in ấn, trà lá, tàu thuyền, lâm nghiệp đều hưng thịnh nhờ đó, sao nói là cạn kiệt?

Mà sau khi dừng xuôi tây dương thì ngược lại, quốc khố gặp khó khăn đủ bề. Thời Anh Tông, chỉ hơi hạn hán thì đã khó điều động tiếp tế cho dân rồi. Trước đây khi dấy binh chinh phạt hay kiến tạo một toà thành trì đều dư dả, nay xây một toà đế lăng đã tiêu hao hơn một nửa thu nhập của quốc gia, điều đó giải thích thế nào?

“Về phần dương thương tổn nông(1), càng là lời vô căn cứ. Triều đại nhà Tống, diện tích đất đai không bằng Đại Minh, sản lượng trồng trọt cũng không bằng, tô thuế nặng hơn nhiều, nhưng bách tính lại vẫn có thể chịu được, sinh hoạt và thực phẩm đều dồi dào hơn Đại Minh.

Còn nay thu nhập một năm của Đại Minh không quá 400 vạn lượng, chỉ bằng một phần mười thời Nam Tống, dù hạ thuế để an dân, nhưng sinh hoạt của bách tính vẫn khó khăn. Ngoại trừ tô thuế chính thức ra còn có lắm tệ nạn, chẳng phải cấm hải cấm thương chính là nguồn gốc tai họa đó sao?

Dương Lăng nghe mà ngơ ngẩn. Đúng vậy, những chuyện này sao trước đây mình không hề nghĩ tới nhỉ, chỉ dựa vào những bài chỉ trích bằng văn chương cẩm tú mà đã có thể biến việc giong buồm xuôi tây dương thành việc làm sai trái, đám quan văn cầm cán bút đó quả thật đã cho mình thấy rõ sự lợi hại của bọn họ. Nếu lần này về kinh bị Đông xưởng giết chết, mình chẳng phải sẽ bị quy chụp đủ tội danh, muôn đời sau cũng bị coi là kẻ gian nịnh ư? Lẽ nào trong chuyện này còn có nguyên nhân khác?

Dương Lăng hào hứng đến suýt nữa ngồi bật dậy, vừa nhổm người thì mới sực nhớ ra, thế là lại vội vàng nằm xuống, thành khẩn và kích động:
- Không giấu lão đại nhân! Theo bản quan thấy bế quan toả cảng thật là hại nước hại dân, bãi bỏ lệnh cấm thông thương, tiêu diệt cái nguồn họa hải tặc từ gốc rễ, thế mới ích nước lợi dân, mới dẹp yên lãnh hải, giúp Đại Minh ta hiểu rõ về các nước hải ngoại, mở mang kiến thức, thật sự là lợi ích vô cùng. Cho nên bản quan mới có lòng muốn can gián Hoàng thượng, thế nhưng mấu chốt chuyện này là thế nào thì rốt cuộc lại không thể hiểu được. Đại nhân có thể giải thích rõ ràng cho bản quan được không?

Tiêu Phương thấy bộ dạng hào hứng đến độ quên luôn cả việc mình đang giả bị thương phải nằm trên giường của y, thì trong lòng cũng thầm buồn cười. Tuy lão cũng không lạc quan lắm về việc bãi bỏ lệnh cấm thông thương, nhưng nếu có thể nêu ra quan điểm độc đáo của mình mà lại hợp ý Dương Lăng, thì dù cho kế sách không thành y cũng nhất định cũng sẽ xem lão là người tâm phúc. Thế là Tiêu Phương cũng hăng hái tinh thần, chậm rãi nói rõ ngọn ngành.

Từ lúc Trịnh Hoà xuôi tây dương đến nay, ban đầu nhập khẩu phần lớn là xa xỉ phẩm, theo thời gian việc giao lưu tăng dần, một lượng lớn hàng hoá tuồn vào, giá cả không ngừng hạ xuống, vật dụng hàng ngày cũng bắt đầu xuất hiện nhiều lên, việc này Dương Lăng có thể hiểu được: Lúc đời sau mới cải cách mở cửa, những thứ nhập khẩu từ nước ngoài vào cũng đều là sản phẩm chất lượng cao mà trong nước còn thiếu.

Có điều thời đó tiên tiến nhất chính là triều đại nhà Minh, những vật phẩm xa xỉ nhập vào đều là hàng quý hiếm, dần dần bắt đầu nhập khẩu nhiều nguyên liệu, xuất khẩu các loại tơ lụa, đồ sứ tinh xảo, còn kích thích phát triển thủ công nghiệp trong nước. Ngành công nghiệp nặng như đóng tàu, luyện kim cũng nhờ nhu cầu gia tăng mà phát triển, có thể nói là lợi ích vô cùng, sao lại chết yểu trong sự phản đối gay gắt như vậy nhỉ?

Đáp án của Tiêu Phương khiến Dương Lăng rất ngạc nhiên, y vốn cho rằng tư tưởng tiểu nông (cá thể) của nhân sĩ đời Minh khiến bọn họ chèn ép thương nhân, khinh thường tác dụng của thương nghiệp, không ngờ nguyên nhân trong đó lại phức tạp như vậy. Xem ra sách lược mà y vốn chuẩn bị để vào cung can gián hoàng đế Chính Đức phải sửa đổi lại rồi.

Dương Lăng lúc này thật sự là cảm kích Tiêu Phương vô cùng, nếu cứ ôm lấy nhận thức ban đầu, trên triều đường chỉ trích bá quan thiển cận, ca ngợi ích lợi của việc bãi bỏ lệnh cấm thông thương, chỉ sợ sẽ bị mắng cho té tát mà quay về rồi.

Tương tự, được Dương Lăng gợi ý sẽ đề cử nhập các, Tiêu Phương cũng cảm thấy chuyến đi này không tệ. Vị quan già nhiều lần tỏ ý muốn gia nhập Nội các, cùng Dương Lăng tương trợ lẫn nhau trong triều, đến lúc cáo từ ra về lòng cảm kích đến rơi lệ.

Bốn người Hàn Ấu Nương và Cao Văn Tâm, Ngọc Đường Xuân, Lý Tuyết Mai đang chờ ở sảnh ngoài, thấy Dương Lăng bước ra liền vội đi tới đón. Thấy y có tâm sự, Hàn Ấu Nương lo lắng hỏi:
- Tướng công có việc gì ư?

Dương Lăng không muốn nàng lo lắng, bèn tạm thời nén tâm sự cười đáp:
- Làm gì có? Mì còn đang nóng, để tướng công ăn mì do mấy vị hiền thê làm mới được.

Y đến trước bàn, vội vàng ăn sạch bát mì thơm phưng phức, rồi lau miệng nói:
- Xong rồi, tướng công đã ăn no. Ta vào vườn đi dạo đây.

Cao Văn Tâm mở miệng tính giữ y lại, song nghĩ ngợi một tí rồi lại thôi. Nàng khẽ thở dài tự nhủ: “Thôi vậy, cũng dừng mấy ngày rồi, cũng chẳng phải chỉ lúc này.”

Lúc này Hàn Ấu Nương mới sực nhớ còn có một việc quan trọng khác, bèn lo lắng hỏi:
- Tỷ tỷ! Tướng công và tỷ chia tay nhau vào kinh, đến nay chỉ sợ đã mười ngày rồi đúng không? Mười ngày chưa châm cứu, không biết có bị gì không?

Cao Văn Tâm phì cười đáp:
- Chắc là không sao, thật ra trị liệu lâu như vậy đến giờ, có lẽ bệnh đã khỏi hẳn rồi. Chỉ là lần đầu tỷ tỷ chữa chứng bệnh này, do muốn chắc ăn nên mới kéo dài thêm một thời gian.

Dù sao thì ba người trước mặt đều là thê thiếp của Dương Lăng, cùng là chị em kết bái với mình, không có gì phải e dè nên nàng cười khúc khích nói tiếp:
- Lần này lão gia đi công tác hơn hai tháng mới trở về, theo tỷ thấy lõa gia luôn vì muội mà thủ thân như ngọc nè, trải qua sự trị liệu của tỷ, lại có thêm đợt nghỉ dưỡng này, nói không chừng…

Nàng giảo hoạt cười nói:
- Hì hì, nói không chừng tối nay có thể “một phát trúng đích”, làm cho muội mang cốt nhục của Dương gia đó.

Hàn Ấu Nương nghe mà đỏ mặt, nàng xấu hổ đấm nhẹ vào vai Cao Văn Tâm, chợt nghĩ đến “các kiểu thế đa dạng” của tướng công trong khuê phòng, tim lại nhảy lên thình thịch.

“Cốt nhục của tướng công, bảo bối của ta và tướng công…” Nàng kích động nhìn xuống bụng, cắn nhẹ môi, khuôn mặt phơi phới xuân quang, cặp mắt đen lay láy toát ra vẻ mê mẩn.

Cao Văn Tâm cười khanh khách, bỗng nàng quay đầu, trông thấy Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đang nhìn phía sau lưng mình với vẻ mặt cổ quái, bèn sờ dưới mông, rồi lại liếc sang hai vai, thắc mắc hỏi:
- Sao vậy? Có dính gì à?

Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai lắc đầu, mặt cười mà lại như không, liếc nhìn nhau rồi cắn môi quay đi. Cao Văn Tâm ngơ ngác, nào biết hai cô đang nghĩ đến điều gì.

Ngọc Đường Xuân chợt nghĩ nếu như phu quân khỏi bệnh, mình được chàng sủng ái rồi không chừng người có thai trước lại là mình, Ấu Nương tỷ tỷ chưa chắc đã có trước, tim không khỏi đập rộn lên.

Nàng ta bỗng quay đầu liếc nhìn Tuyết Lý Mai, chỉ thấy tiểu nha đầu dường như cũng đang nghĩ ngợi điều gì, đang cúi đầu tiu nghỉu, chau mặt nhíu mày, bộ dạng chán nản không nói nên lời, thầm biết mấy ngày này nàng ta đang đến kỳ kinh nguyệt, thế là không khỏi mừng ra mặt.

Tuy nói bốn người kết bái, tình như tỷ muội, thế nhưng những chuyện như thế này thì phụ nữ bao giờ cũng có lòng riêng, há Ngọc Đường Xuân có thể rộng lượng nhiều đến thế?

Dương Lăng thong thả tản bộ về đến thư phòng, Thành Khởi Vận đang ngồi cạnh bàn uể oải xem cổ tịch. Nàng đã trang điểm gọn gàng, chẳng biết nghĩ ngợi điều chi mà lại đổi y phục nữ thành bộ trường bào màu trắng của nam nhân, cổ áo và ống tay thêu hoa văn màu tím, làn da mới tắm trong suốt như ngọc, mũi như túi mật treo, môi đỏ răng trắng. Nếu nàng ta là đàn ông thì khí chất phong lưu nho nhã đó cũng đủ để hạ bệ Dương Lăng rồi.

Như thể sớm biết Dương Lăng tiếp kiến Tiêu thị lang xong sẽ đến gặp mình, nàng đặt sách xuống, nở một nụ cười tươi tắn:
- Y thư trong giá sách của đại nhân còn nhiều gấp đôi Kinh, Sử, Tử, Tập(2). Nhìn những chỗ mà đại nhân đánh dấu chú thích, thực ra những chỗ làm ra vẻ thần bí rất nhiều… Đáng tiếc ba ngày sau ti chức phải về Kim Lăng, nếu không sẽ dâng lên thuật âm dương truyền từ Tôn Tư Mạc(3), có thể dưỡng sinh luyện khí mà ti chức có ở đây cho đại nhân.

Dương Lăng sửng sốt, sau đó mới ngộ ra ý tứ trong đó, hiểu được nàng ta nói bóng nói gió thuật âm dương gì đấy thực ra là muốn nói đến thuật phòng the, không khỏi cau mày trách:
- Ta nhìn trúng cô là ở tài học của cô, cớ gì lại quy mình vào phường đạo sĩ?

Thành Khởi Vận giật mình, bèn đứng dậy cung kính thưa:
- Đại nhân dạy dỗ phải lắm, ti chức sai rồi.

Thành Khởi Vận dáng người yểu điệu, vận bộ đồ công tử màu trắng, đai tím khăn vuông, da trắng dáng thon, quả thật là thanh lệ thoát tục, tựa như cây ngọc đứng trước gió. Dương Lăng lại hừ một tiếng, biết nàng ta giả thần như thần, giả quỷ như quỷ, điệu bộ lời nói không thể tin được.

Y ngồi vào bàn, khẽ chau mày nói:
- Sợ là trong ba ngày tới cô không thể về Kim Lăng được rồi. Bản quan vốn cho rằng nguyên nhân hải cấm quá đơn giản, hôm nay nghe Tiêu thị lang nói mới nhận ra rắc rối trong đó, một lời khó nói hết.

Thành Khởi Vận thoáng nhíu đôi mày liễu, kinh ngạc hỏi:
- Là nguyên nhân gì vậy? Ti chức thấy vị đại nhân đó chắc là có nhãn quan hơn người, đã nhận ra lần này đại nhân mới là cao thủ đứng sau việc hoá giải sự chất vấn của nội đình và ngoại đình lần này, cho nên có ý dựa giẫm. Hay là ông ta muốn được đại nhân thưởng thức mà cố ý tung chuyện doạ người?

Dương Lăng lắc đầu:
- Thì ra ta đã nghĩ về cổ nhân …à không…kẻ đọc sách chịu sự dạy dỗ của cổ nhân quá đơn giản rồi. Bọn họ hầu hết không phải là những kẻ ngốc chỉ biết ôm khư lấy lời dạy dỗ của thánh nhân như trong tưởng tượng của ta, ít ra thì đa số những kẻ lăn lộn trên chốn quan trường đều không phải là loại người như thế.

Thành Khởi Vận hé môi cười:
- Đó là đương nhiên. Những kẻ đọc sách tự cho là thanh cao, cứng nhắc bảo thủ dù có vào chốn quan trường thì chẳng mấy chốc rồi cũng sẽ như sóng cồn xô cát, cuối cùng bị người ép đi chốn núi rừng ẩn dật mà ngâm gió ngợi trăng thôi. Đã trụ lại được có ai là kẻ đơn giản, đại nhân cớ chi phải cảm khái?

Dương Lăng khẽ than thở:
- Đại Minh cấm biển, bởi rất nhiều nguyên do, không phải chỉ là một cái lý do đơn giản. Nếu chúng ta không có biện pháp thích hợp, chỉ bằng diệu kế của cô, bá quan trong triều chưa chắc đã hưởng ứng.

Vẻ mặt Thành Khởi Vận nghiêm túc hẳn lên. Nàng lật hai chén trà lên, đoạn cầm ấm rót cho Dương Lăng một chén rồi nói:
- Hiện nay trong triều vừa xảy ra đại biến, vì e sợ tiền đồ của mình nên nhiều quan lại chưa chắc dám làm khó đại nhân. Huống chi nội đình nằm trong tay đại nhân, lại được Hoàng thượng tin tưởng nghe theo, đó là đã nắm trong tay hơn nửa thế lực, chỉ cần sắp xếp thêm mấy người đắc lực ở ngoại đình để chia rẽ bọn họ, chuyện này sẽ rất có triển vọng. Xin đại nhân hãy thong thả kể rõ những lý do gì, chúng ta cùng phân tích tỉ mỉ, lần lượt đưa ra đối sách.

Dương Lăng khẽ gật đầu, bỗng dưng bật cười đáp:
- Bản quan nghĩ chuyện gì mính cũng đều không lo được mà cứ lo thua, cẩn thận quá đáng, trong khi cô thì lại lạc quan hơn ta rất nhiều.

Y trầm ngâm một chốc, rồi mới chậm rãi nói:
- Lý do thứ nhất của việc cấm hải, là đến từ tranh đấu giữa các phe cánh trong triều đình.

Y cười khổ:
- Cuộc đấu tranh phe cánh này là giữa quan văn và hoạn quan. Nội hoạn nắm quyền vận chuyển đường biển, có binh có tiền, quyền lực cực lớn, văn thần e ngại nội hoạn được thế sẽ tổn hại triều cương. Bọn họ cho rằng Thiên triều thượng quốc có thể tự cung tự cấp, không giao dịch buôn bán với nước khác cũng chẳng hề gì, những nước nhỏ càng không có năng lực phá hủy giang sơn Đại Minh, mà nội hoạn nắm quyền lại có thể khiến thiên hạ đại loạn, vì thế mà cật lực phản đối việc hải vận, là lực lượng chủ đạo của hoạn quan, và kết quả là… đã thắng.

Dương Lăng thở dài:
- Vật đổi sao dời, hiện tại muốn giải trừ lệnh bế môn tỏa cảng có lẽ ta phải dựa vào sự tương trợ của nội đình, không biết quan văn ngoại đình sẽ thấy thế nào?

Thành Khởi Vận nhíu mày, muốn nói lại thôi, hỏi tiếp:
- Thế còn lý do thứ hai?

Dương Lăng đáp:
- Lý do thứ hai, là do sự khống chế và cân bằng quyền lực của đế vương. Ngày nay quan văn lĩnh quân, bộ Binh, Ngũ Quân đô đốc phủ kiềm chế lẫn nhau chẳng qua là đề phòng tướng lĩnh nắm giữ binh quyền mà thôi. Muốn buôn bán đường biển thì phải có thuỷ quân mạnh mẽ mới được, mà thuỷ quân hùng mạnh cũng giống như là một quốc gia trên biển, ngộ nhỡ khống chế không được thì làm thế nào? Cho nên lấy đảm lược và sự quyết đoán của Vĩnh Lạc đại đế, cũng chỉ dám kiên trì cho thái giám thống lĩnh hạm đội. Bởi lẽ thái giám vốn không có con cái nối dõi nên cũng chẳng có tâm tranh quyền, hơn nữa bọn họ cũng rất khó để lập được uy quyền tuyệt đối với binh sĩ, cho nên ngài mới yên tâm mà dùng bọn họ, vậy mà đám quan văn vẫn cứ kiêng dè.

Y nhấp một ngụm trà rồi nói tiếp:
- Lý do thứ ba mới là quan điểm ban đầu của ta, nho sinh nắm quyền, chú trọng nào là “Cha mẹ ở nhà, con cái không được đi xa”(4), “Chỉ có tiểu nhân mới hám lợi”, kinh thương là đường cùng, không giúp ích gì cho quốc kế dân sinh, lại cho rằng Thiên triều ở trung nguyên, man di ngoại quốc đều không đáng nhắc đến, không chịu thông thương không phải là không thể mà là không muốn thôi.

Còn lý do thứ tư…

Thành Khởi Vận sửng sốt hỏi:
- Cái gì, còn có lý do nữa à?

Dương Lăng gượng cười đáp:
- Lý do cuối cùng, lý do cuối cùng!
Lý do này, ngay cả ta trước đây cũng không ngờ đến.

Y ngẫm nghĩ một lát rồi nói tiếp:
- Buôn bán với nước ngoài, cái lợi ích to lớn của nó khiến cho người ta phát thèm, dân chúng ít nhiều đều lén buôn lậu kiếm lời, việc Trịnh Hoà xuôi tây dương tuy là khuếch trương giao thương, ừm… nhưng vẫn là lũng đoạn hiểu không? Thực ra lợi ích đều vào tay triều đình. Các gia tộc nhân sĩ quan lại ở các thành thị lớn nhỏ ven biển có làm gì đi chăng nữa cũng không thể cạnh tranh được với hạm đội to lớn của triều đình Đại Minh. Bọn họ làm quan trong triều có nhiều quan hệ, tự nhiên tìm được đủ lý do, viện cớ cầu xin cho dân chúng để che mắt và lôi kéo nhiều triều thần dâng sớ can gián. Đất đai vùng ven biển vốn cằn cỗi, tầng lớp nhân sĩ quan lại ở đây đều dựa vào giao dịch đường biển để lập nghiệp. Từ sau khi cấm biển, mà trên thực tế là cấm nhưng không ngăn, ngay cả tô thuế cũng không cần phải nộp cho nên bọn họ thu lợi càng nhiều. Vì vậy giặc Oa càng làm loạn, bọn họ càng sung sướng; tuy hô hào ầm ĩ phải chống Oa dẹp Oa nhưng đến khi thật sự có người muốn dẹp yên lãnh hãi, quét sách tất cả thế lực buôn lậu thì bọn họ lại lờ đi, gây khó dễ trong triều. Vì vậy việc cấm biển lại trở thành thủ đoạn để gia tộc bọn họ mưu lợi.

Thành Khởi Vận nghe vậy cũng ngây người. Nàng ngẫm nghĩ một lát rồi lấy một tờ giấy trắng, cầm bút lông, mở nghiên chấm mực viết bốn dòng chữ, ghi lại vắn tắt bốn nguyên nhân, rồi nhíu mày trầm tư suy nghĩ.

Dương Lăng vừa kể bốn nguyên nhân vừa suy nghĩ đối sách ứng phó, trong lòng dần hình thành dự định. Suy tính một lúc, y thấy nếu bá quan trong triều đã phân hóa, mỗi kẻ đều có mưu toan riêng thì nếu như y có những hành động thích hợp thì coi bộ còn dễ thành công hơn là ra sức thuyết phục đám quan lại với một đống quan niệm tư tưởng bảo thủ lạc hậu. Nghĩ thế trong lòng y không khỏi càng thêm quyết tâm.

Trong lòng đã có chủ kiến, y vui vẻ hẳn lên, nhìn sang thấy dáng vẻ chăm chú suy tính của Thành Khởi Vận, không nhịn được cười khe khẽ. Thành Khởi Vận đang nhíu mày trầm tư, nghe thấy tiếng cười liền ngẩng đầu ngạc nhiên hỏi:
- Đại nhân cười gì vậy?

Dương Lăng cười đáp:
- Ta thấy cô giống như đang thi ở khoa trường vậy, ha ha, có phải còn muốn thừa đề, phá đề(5)?

Thành Khởi Vận đảo cặp mắt lúng liếng, mỉm cười đáp:
- Đúng vậy! Thi đỗ Trạng nguyên, đến khi nhập các bái tướng*, sẽ lại góp sức cho đại nhân.
(* thời Minh bãi bỏ chức danh tể tướng, cho nên “bái tướng” không phải thật sự là làm tể tướng mà cũng là chỉ gia nhập Nội các làm đại học sĩ)

Dương Lăng hừ một tiếng:
- Chỉ sợ Thành cô nương thực sự làm tể tướng, sẽ chẳng thèm đặt Dương mỗ vào trong mắt nữa.

Thành Khởi Vận hiếm khi thấy y nói đùa với mình, không khỏi lấy làm rất mừng, nàng vừa định nói: “Ta muốn làm hoàng đế, đem ngươi nạp vào hậu cung làm hoàng hậu, coi ngươi còn dám xem thường ta không.” Lời vừa đến cửa miệng lại cảm thấy thật sự là đại nghịch bất đạo, Dương Lăng là đại quan triều đình, không chừng nghe xong sẽ nổi giận, bèn nuốt xuống ngay.

Dương Lăng thấy nàng muốn nói lại thôi, bèn hỏi:
- Sao vậy? Có gì muốn nói à?

Thành Khởi Vận mỉm cười quyến rũ:
- Bất cứ việc gì đại nhân cũng đều lo bại rồi mới lo thành, nay biết rõ nguyên nhân cấm biển là rất phức tạp, nhưng vẫn có lòng đùa giỡn, phải chăng trong lòng đại nhân đã có kế sách?

Dương Lăng vui vẻ:
- Ha ha, quả nhiên là thông minh! Không giấu gì cô nương, nếu bá quan trong triều thật sự chỉ là đám hủ nho, chỉ biết tuân theo di huấn thánh nhân, còn Dương mỗ chỉ là một gã dân quê dốt nát thì sao nói lý lại bọn họ? Chỉ sợ ta có nói hộc máu thì bọn họ cũng cho là ta đang nói những lời tà thuyết mê hoặc lòng người thôi. Còn nếu như đa số đều đặt lợi ích làm đầu, dù là vì triều đình hay là vì gia tộc, thì cũng không phải là khó đối phó nữa.

Ánh mắt Thành Khởi Vận sáng lên, nàng vội vàng hỏi:
- Đại nhân có diệu kế gì?

Dương Lăng đứng dậy, xoay người thản nhiên đi ra ngoài, nói với lại:
- Hôm nay vừa mới về, ta thật muốn nếm chút cơm nhà, mời Thành cô nương. Về phần đối sách, ta vẫn cần tìm thêm mấy người, đến lúc đó hẵng thương nghị.

Thành Khởi Vận tức giận vô cùng, cố rướn mắt nhìn theo bóng lưng y sẵng giọng:
- Oai lắm sao? Đợi ta nghĩ ra chủ ý rồi xem ta có nói cho ngươi không!

Lời vừa thốt ra, nàng chợt thấy má nóng lên: “Trước đây ta cáu gắt giận dỗi, chẳng qua là làm bộ cho vui, hôm nay sao thế nhỉ? Đứng trước mặt hắn sao mình càng ngày càng khó điềm tĩnh như thế này?“








Chú thích:

Chú thích:
(1) Dương thương tổn nông: Khuyến khích làm thương nghiệp mà bỏ bê nông nghiệp
(2) Kinh, sử, tử, tập: Trung Quốc cổ đại chia đồ thư làm 4 bộ, tức “Kinh, sử, tử,
tập”, cụ thể:

Kinh bộ: chỉ học thuyết của nhà nho. Kinh thư của nho gia ban đầu có năm bộ, gồm thi, thư, dịch, lễ, xuân thu, xưng là “Ngũ Kinh”. Từ đời nhà Đường đến nhà Tống, hình thành thập tam kinh, gồm dịch, thư, thi, chu lễ, nghi lễ, lễ kỷ, tả truyện, công dương truyện, cốc lương truyện, luận ngữ, hiếu kinh, nhĩ nhã, mạnh tử.
Sử bộ: là sách sử ghi chép hưng suy loạn lạc, các nhân vật cho đến các chế độ trong lịch sử.
Tử bộ: thư tịch ghi lại học thuyết của chư tử bách gia.
Tập bộ: phàm là tán văn, biền văn, thi, từ, khúc và bình luận văn học đều quy làm tập bộ.

(3) Tôn Tư Mạc: Tôn Tư Mạc sinh ra trong triều đại Tây Ngụy, được người đời tôn xưng là Dược Vương và Tôn Thiên Y, là một thầy thuốc nổi danh thời cổ đại của Trung Hoa. Ông cũng là người áp dụng khí công trong thuật dưỡng sinh.
(4) “Phụ mẫu tại, bất viễn du”: xuất xứ từ Luận Ngữ, nguyên văn: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương”, ý nói cha mẹ còn sống, con cái không được đi xa, phải ở bên cạnh hầu hạ thủ hiếu. Nếu muốn đi thì phải có mục đích rõ ràng và phải báo cho cha mẹ yên tâm.
(5) Một bài "Kinh nghĩa" viết theo thể bát cổ (bát: tám, cổ: vế; tức là một đoạn văn gồm tám vế, không có vần nhưng có đối) gồm hai phần lớn: A - Phần đầu là "phát đoan" (mở đầu) gồm ba phần nhỏ: 1. Phá đề: gồm hai câu mở bài, nói về mặt chữ và nghĩa của đề. 2. Thừa đề: nối theo đoạn phá vài ba câu, nêu rõ ý đồ của phá đề. 3. Khởi giảng: nói khai mào đại ý của đề mục. Ở toàn bộ phận phát đoan, về thể văn: không có yêu cầu về vần và đối (tức là văn ở đây không phải là văn biền ngẫu), về ý: các phần phá đề và thừa đề được coi là lời người viết bài nói; các phần từ khởi giảng về sau, người viết phải thay lời người xưa mà nói. B - Phần sau là "nghị luận" gồm 4 phần nhỏ: 4. Khởi cổ (hoặc khai giảng - mở ý đề bài, cuối đoạn này có một câu hoàn đề nhắc lại câu đề bài) 5. Trung cổ (giải thích rõ nghĩa của đề bài) 6. Hậu cổ (bàn rộng về ý của đề bài) 7. Mạt cổ (hoặc kết cổ, kết tị - đóng lại ý của đề bài, cuối đoạn này có một vài câu thắt đầu bài lại, gọi là thúc đề hoặc thúc kết)





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

TheJoker
24-11-2011, 09:13 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 155 - Hội Nghị Gian Thần Mở Rộng

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





- Nàng thích thì tốt rồi. Đi đường vất vả, thật sự ta đã mệt rồi. Ừm... thôi mau đi ngủ đi.

- Ớ?
Hàn Ấu Nương tròn xoe cặp mắt đen láy động lòng người, kinh ngạc nhìn Dương Lăng đang khép hờ mắt, một hồi sau mới lắp bắp cất tiếng:
- Tướng công... muốn... muốn ngủ à?

Dương Lăng nhắm mắt ừ một tiếng, rồi ậm ờ:
- Mới uống rượu xong, mệt rồi, mau ngủ đi thôi!



Quyển năm - Bát Hổ gây loạn - Chương 155 Hội nghị gian thần mở rộng

------------------------

Quyển năm - Bát Hổ gây loạn - Chương 155 Hội nghị gian thần mở rộng

------------------------

- Mấy bữa nay đại ca có ghé qua không?
Dương Lăng vừa đi về phòng ngủ vừa hỏi. Y mới uống vài chén rượu, khuôn mặt anh tuấn đã ngà ngà say.

- Dạ, có ghé! Thiếp nghe lão quản gia kể rằng còn chưa vào cửa thì đại ca đã gặp Dương thiên hộ đứng đón. Hai người đứng dưới cửa hiên hàn huyên một hồi, rốt cuộc khi vào trong nhà thì huynh ấy chỉ nói là đến thăm thiếp, còn khi thiếp hỏi đến tình hình của tướng công thì huynh ấy lại thoái thác không biết gì.

Nói xong nàng buông giọng u uẩn:
- Thật ra... càng như vậy, thiếp càng lo hơn. Thiếp biết bọn họ đều giấu thiếp như thế thì nhất định tướng công đã gặp phải chuyện lớn gì đó ở phương nam. Lúc đó thiếp thật chỉ muốn đi tìm chàng. Nhưng nếu Ấu Nương thật sự đi tìm chàng thì nhất định sẽ chỉ làm rối chân chàng thêm. Ngày thường trong nhà thiếp vẫn phải vờ như không có việc gì, vì nếu thiếp mà hoảng hốt thì gia nhân sẽ càng bồn chồn không yên hơn.

Dương Lăng nghe vậy thì dừng chân, nắm lấy bàn tay nhỏ bé của nàng. Chiếc đèn lồng đỏ treo dưới hiên không ngừng đong đưa trong cơn gió thu hiu quạnh. Ánh sáng chợt mờ chợt tỏ khiến cho khuôn mặt xinh xắn thanh khiết của Ấu Nương như được phủ một quầng sáng mê ly.

Dương Lăng nhẹ nhàng ôm tấm thân mềm mại của nàng vào lòng, hít mùi hương nhàn nhạt trên người nàng rồi êm giọng bảo:
- Ấu Nương của ta đã lớn rồi.

Mỹ nhân trong lòng, tay thon trong tay, bốn mắt nhìn nhau. Nhìn thấy tình ý dịu dàng trong mắt Ấu Nương, trong phút chốc Dương Lăng chỉ mong thời gian và cảm giác như vậy sẽ kéo dài mãi mãi. Thật lâu sau, y mới mỉm cười nói khẽ:
- Có điều... là tâm tư của nàng đã lớn, chứ thân thể của Ấu Nương vẫn là một tiểu cô nương đang dậy thì, khiến tướng công vừa thấy thì đã không nhịn được mà muốn nuốt chửng nàng.

Hàn Ấu Nương bị ánh mắt của tướng công làm cho con tim tan chảy, hồn phách phiêu du không biết đang ở nơi nào, chợt nghe y trêu đùa, sắc mặt bèn ửng đỏ. Nàng thoáng cụp mắt, thỏ thẻ:
- Vậy thì tướng công cứ nuốt đi, Ấu Nương chỉ mong sao có thể chui vào trong bụng chàng, để lúc nào cũng có thể ở cạnh tướng công.

Dương Lăng cười gian:
- Vậy thì hơi khó à! Nếu nàng "nuốt" tướng công vào trong bụng thì còn miễn cưỡng có thể được.

Nghe vậy lập tức mặt Hàn Ấu Nương nóng rần, nàng ôm mặt quẫy vai vùng vằng quở trách:
- Tướng công lại nói năng bậy bạ rồi.

Dương Lăng cười hềnh hệch:
- Nói năng bậy bạ hả? Hình như Ấu Nương của ta thích nhất là nghe tướng công nói năng bậy bạ à nha.

Một cơn gió thu lướt nhẹ qua, mang theo cái cảm giác se lạnh. Thấy Ấu Nương ăn mặc hơi phong phanh, Dương Lăng bèn dắt tay nàng bảo:
- Đi, chúng mình về phòng!

Sau khi đóng cửa phòng, Ấu Nương đi vào gian trong thắp đèn rồi bước ra sau bức bình phong cởi bỏ áo ngoài. Nhìn bóng người yểu điệu phản chiếu từ trên bức bình phong, Dương Lăng bỗng sực nhớ ra một chuyện, vội nói:
- Đợi ta một chút, ta đi lấy cái này.

Rồi không đợi Ấu Nương trả lời, y vội vàng chạy ra ngoài phòng, một hồi sau mới quay trở lại. Tấm màn lụa trắng thêu vân hoa nổi trên giường đã được hạ xuống nhưng chưa khép lại, Hàn Ấu Nương đang ngồi trên giường, chỉ mặc quần lụa ống đỏ, áo chẽn xanh nhạt, đang mở cặp mắt to đen láy tò mò nhìn y.

Mái tóc của nàng đã được buông rũ xuống, làm cho khuôn mặt vốn đã xinh xắn của nàng càng tăng thêm mấy phần dịu dàng. Chiếc áo chẽn màu xanh nhạt đã cởi hai nút, chính giữa là một khe rãnh mê người được tạo nên bởi làn da trắng mịn, hai bên lộ ra chiếc yếm màu hồng nhạt. Tiểu giai nhân đẹp đến mê người, khiến người ta nhìn mà tim đập thình thịch.

Thấy tướng công đi vào tay không, nàng buột miệng hỏi:
- Tướng công đi lấy đồ gì vậy?

Dương Lăng cười khà khà, rồi vội vàng vừa cởi bỏ áo dài vừa đi đến giường, nói:
- Nàng dịch vào trong một chút đi, tướng công đeo cho nàng.

Hàn Ấu Nương vừa chống tay nhích vào trong vừa tò mò hỏi:
- Đeo gì vậy?

Dương Lăng vừa kéo bàn chân thon thả của Ấu Nương, nàng đã bị nhột mà rút lại, sau đó lại ngoan ngoãn đưa chân ra, có điều vì sợ nhột nên ngón chân nàng quặp lại một cách thật đáng yêu.

Dương Lăng lấy từ trong ngực ra một cặp lắc chân bằng bạc. Cặp lắc bằng bạc ròng này được chế tác tinh xảo vô cùng, trên mỗi sợi lắc được buộc ba chiếc chuông bạc, lúc được lấy ra, chúng phát thành tiếng leng keng rất vui tai.

Tuy loại bạc ròng này rất chất lượng nhưng rõ ràng không thể sánh bằng những món châu báu mà y đã tặng cho Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai. Hàn Ấu Nương là bà lớn nhà họ Dương, có thể tuỳ ý sử dụng tất cả số châu báu đó nên đương nhiên không vì vậy mà nàng cho rằng trượng phu không yêu thương mình. Nhưng suy cho cùng nàng mới chỉ mười sáu tuổi, không được tự tay tướng công tặng vật trang sức cũng khiến trong lòng nàng không khỏi có cảm giác mất mát.

Lúc này nhìn thấy cặp lắc chân xinh đẹp, trong mắt nàng không khỏi ánh lên nét vui mừng. Nàng nhoẻn miệng cười, ngoan ngoãn duỗi thẳng chân để Dương Lăng dịu dàng giúp nàng buộc chúng bên trên cặp mắt cá chân thanh tú.

Khi đưa chân lên đu đưa nhè nhẹ, một loạt những tiếng kêu leng keng vui tai vang lên, Hàn Ấu Nương không khỏi vui sướng mỉm cười. Dương Lăng cười lớn hỏi:
- Thế nào, có thích không?

Hàn Ấu Nương rối rít gật đầu. Dương Lăng cười nói:
- Có những người con gái khi đeo trang sức tinh mỹ vào sẽ khiến họ đẹp hơn; nhưng cũng có những cô gái, bản thân đã là một viên minh châu, một viên ngọc đẹp, không đeo trang sức thì càng toát ra được vẻ đẹp của họ. Tướng công cũng đã hao phí rất nhiều công sức mới tìm được cặp lắc chân trắng thuần này, miễn cưỡng xứng được với Ấu Nương của ta.

Có lẽ một bồ kim cương hột xoàn cũng không thể làm Ấu Nương vui sướng bằng lời khen ngợi của Dương Lăng. Nàng tự biết dung mạo không bằng Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai, song lại không biết đẹp và xinh là hai khái niệm khác nhau. Vẻ xinh xắn lúc giận cũng như khi vui đó của nàng mới khiến người ta yêu thích tự đáy lòng. Dương Lăng nói như vậy khiến nàng vui tới nở ruột nở gan, thật sự nguyện vì tướng công chết trăm lần cũng không hối hận.

Nhìn cặp mắt long lanh của nàng, Dương Lăng lại cố ý thở dài, nói tiếp:
- Chỉ tiếc là món trang sức này kém hơn nhiều so với của bọn Ngọc Nhi.

Hàn Ấu Nương mỉm cười ngọt ngào, lắc đầu thỏ thẻ:
- Ấu Nương thích lắm, chỉ cần là đồ vật do tướng công tặng là Ấu Nương thích rồi. Tất cả những thứ mà tướng công tự tay tặng cho Ấu Nương, Ấu Nương đều nâng niu chúng hết.

Dương Lăng biết viên trân châu nhỏ bé mà y tặng nàng ở trấn Kê Minh ngày đó giờ đây thật sự không đáng là gì nhưng Ấu Nương vẫn luôn luôn quý nó như châu như báu.

Y cảm động ôm lấy Ấu Nương, hôn nhẹ lên đôi môi ngọt ngào của nàng, nằm duỗi người ra, thở dài một hơi rồi nói:
- Nàng thích thì tốt rồi. Đi đường vất vả, thật sự ta đã mệt rồi. Ừm... thôi mau đi ngủ đi.

- Ớ?
Hàn Ấu Nương tròn xoe đôi mắt đen láy động lòng người, kinh ngạc nhìn Dương Lăng đang khép hờ mắt, một hồi sau mới lắp bắp cất tiếng:
- Tướng công... muốn... muốn ngủ rồi à?

Dương Lăng nhắm mắt ừ một tiếng, rồi ậm ờ:
- Mới uống rượu xong, mệt rồi, mau ngủ đi thôi!

- ... Ờ...!
Khuôn mặt xinh xắn không biết giấu giếm của Hàn Ấu Nương tràn ngập vẻ thất vọng, nàng đáp một tiếng yếu ớt. Phụ nữ không được leo ngang qua người đàn ông. Dương Lăng đã nằm xuống nên nàng đành bò đến góc giường, định chùi mình ra ngoài thổi nến.

Dương Lăng đang nhịn cười nhìn chiếc quần ống trắng hồng ôm lấy bờ mông tròn lẳng vểnh cao của nàng bò đến mép giường, y chợt ngồi bật dậy, vừa cười ha hả vừa ôm chầm lấy eo nàng kéo ngã vào trong lòng mình.

Hàn Ấu Nương giật nảy mình, đến khi bờ mông cảm nhận được sự "biến hoá" ở phần thân dưới của Dương Lăng, nàng mới sực hiểu mình đã bị tướng công đùa bỡn, bèn xấu hổ vùng vằng:
- Tướng công lại trêu người ta.

Dương Lăng nút nhẹ vành tai mịn màng của nàng, ậm ờ cười khẽ, tay y mò vào trong quần nàng, vuốt ve cặp mông trơn nhẵn mềm mại của nàng. Hàn Ấu Nương kêu ríu lên một tiếng. Nàng không dám đẩy tay tướng công ra, chỉ đưa hai tay lên bụm mặt, thẹn thùng run giọng cầu khẩn:
- Tướng công, để người ta... để người ta thổi nến đã có được không?

Dương Lăng lột phăng tấm áo chẽn của nàng. Một chiếc yếm đỏ tươi hiện ra, hai nụ hoa ưu mỹ nhú lên ở trước ngực, chiếc yếm tơ Hồ mỏng tang không che được cặp tuyết lê cao vút thấp thoáng đằng sau đó.

Dưới động tác của Dương Lăng, bộ ngực căng tròn của Ấu Nương đã hoàn toàn lộ ra. Nàng cuống quít lấy tay che lại, nhưng lập tức liền bị Dương Lăng ôm lấy eo, kéo tuột cả chiếc quần lót, sau đó mới vỗ bờ mông nhẵn bóng của nàng cái bộp và cười hềnh hệch bảo:
- Vợ ngoan à! Nàng đi thổi nến đi.

- Á?!
Cả người loã lồ, Hàn Ấu Nương vừa thẹn vừa sợ, nàng nài nỉ:
- Tướng công, tha cho người ta đi mà!

Bị tấm thân phơi phới thanh xuân của nàng khêu gợi lửa dục trong lòng, Dương Lăng thật sự không muốn lãng phí thêm thời gian nữa. Y cười hề hề, buông Hàn Ấu Nương ra rồi nhảy xuống đất, thoải mái cởi hết áo quần. Hàn Ấu Nương đỏ bừng mặt, không kiềm được mà ngượng ngùng quay đầu đi.

Thổi tắt nến xong, Dương Lăng liền nhảy tót lên giường. Trong bóng tối, Hàn Ấu Nương e thẹn nép vào lòng y, song lại bị bàn tay Dương Lăng nắn bóp bộ ngực vun cao một hồi. Sau đó nàng cảm thấy vai bỗng trĩu xuống, là bị y ấn xuống, rồi nghe y cất tiếng cười khùng khục:
- Nếu nàng đã không chịu thổi cây nến đó, vậy thì "thổi" cây này đi.

- Ừm... ờ...
Trong phút chốc, trong bóng đêm mịt mờ lại hiện ra một cảnh xuân sắc vô biên...

Không biết bao lâu sau, những chiếc chuông bạc bỗng vang lên tiếng kêu rộn ràng. Trên chiếc giường gấm, hai quầng sáng êm dịu rọi lên đôi chân thon thon đang hối hả đong đưa trên không trung và khuôn mặt anh tuấn đang lấm tấm mồ hôi đang lấp ló giữa cặp đùi trắng mịn ấy.

Bỗng tiếng kêu sửng sốt của Hàn Ấu Nương cất lên:
- Ớ... tướng... tướng công! Chiếc lắc này... có thể phát... phát sáng kìa...

- Ha ha! Lắp bên trong sáu chiếc chuông bạc đều là những viên dạ minh châu giá trị liên thành cả, bảo bối nói xem nó có sáng không?

- A! Cẩn thận kẻo đụng hư chúng, tướng công... để người ta tháo ra đi.

- Ừ... ừ... đợi nàng "nuốt" ta vào trong bụng rồi hẵng nói...

Lại một lúc lâu sau, đôi uyên ương triền miên nằm dựa vào nhau trên giường, trên người đắp một chiếc chăn bông mềm láng. Bàn chân Dương Lăng lần tìm đến bàn chân Ấu Nương, ngón chân y cọ vào khiến nàng nhột phải tránh đi. Tiếng chuông lại kêu lên khe khẽ.

Cuối cùng, bàn chân y bạo lực quấn chặt lấy bàn chân nhỏ bé của Ấu Nương, quầng sáng ngoài cửa rọi vào khiến đôi bàn chân quấn chặt vào nhau của bọn họ hiện ra trong sắc đêm. Lúc này Dương Lăng mới nở nụ cười thoả mãn.

Ấu Nương nằm sấp trong lòng Dương Lăng, lười nhác thủ thỉ:
- Tướng công! Chàng đi Kim Lăng có gặp được Liên Nhi tỷ tỷ không?

- ... Ừm... có gặp.

- Tỷ ấy vẫn khoẻ chứ?

- Ừm, vẫn khoẻ. Hiện đang ở tại nhà bá phụ của nàng ấy.

- Than ôi! Liên Nhi tỷ tỷ còn phải đợi hai năm nữa mới có thể vào nhà họ Dương chúng ta. Tỷ ấy sống một mình tại nhà người khác ở nơi xa, tuy là thân thích, nhưng cuộc sống nhất định cũng sẽ không thoải mái.

- Chậc! Phong tục mà, còn cách nào đây? Ta cũng đã nghĩ đến việc này, cho nên trước lúc ra đi đã đưa cho bá phụ nàng ấy ba ngàn lạng bạc, để ông ta chiếu cố nàng cho thật tốt. À phải rồi, nàng ấy đặc biệt tự... tự tay... làm bánh mật cho nàng, cũng không biết là đã cất trong cái rương nào nữa. Để ngày mai ta bảo Văn Tâm tìm để nàng hấp ăn thử.

- Dạ! Tướng công... kể cho thiếp nghe một chút về chuyện chàng đi phương nam được không? Thiếp chỉ nghe nói phong phanh, đều là do gia nhân nghe ở bên ngoài về kể lại thôi.

Rồi nàng cất tiếng cười khúc khích, nói tiếp:
- Dân chúng thổi phồng rằng tướng công là cao đồ của Trương thiên sư ở Long Hổ sơn, bảo tướng công làm phép gọi sóng lớn dìm chết hơn vạn tên giặc Oa, còn nói tướng công trúng phải gian kế của kẻ ác bị lửa to liên tục thiêu đốt nhưng lại không bị thương tổn gì. Tướng công có đúng là thần dũng như vậy không?

Dương Lăng cười hềnh hệch:
- Sao đây? Không tin tướng công lợi hại như vậy à?

- Cái đó... phải nghe rồi mới biết, tướng công kể cho thiếp nghe đi.

Dương Lăng cười xấu xa:
- Nghe không thì sao có thể biết được? Phải làm mới biết. Hôm nay chúng ta cả đêm không ngủ, tướng công cũng nhất định phải cho nàng biết tướng công có thần dũng hay không...

Đoạn y nâng gáy nàng lên. Trong nụ hôn triền miên, người y lại từ từ phủ lên tấm thân mềm mại của nàng.

Hơi thở gấp và tiếng rên rỉ mê người hoà cùng tiếng chuông reo vui tai lại cất lên trong ân ái:
- Á... người ta xin tha đó... tướng công thần dũng... thần... thần dũng lắm... tha cho Ấu Nương đi mà...

*****

Nửa tháng trôi qua, tình hình rối loạn trong triều đình đã dần dần lắng lại.

Nghe đâu trong đêm Nội xưởng tiến công Đông xưởng, Phạm Đình và mấy đại đáng đầu của Đông xưởng vì phản kháng nên đã bị giết trong hỗn chiến, kết thúc hết mọi thứ.

Vương Nhạc và bốn đại thủ lĩnh của ty Lễ Giám thì bị đày đi Hiếu lăng(1) ở Nam Kinh trồng rau, dọc đường gặp phải "giặc cướp". Ngoại trừ Đới Nghĩa và lão Vương Nhạc ôm đầu chạy trối chết thoát được, ba người còn lại đều bị bọn giặc cướp giết sạch.

Khi Dương Lăng nghe Cốc Đại Dụng đến nhà thăm viếng rồi kể những chuyện này thì không khỏi thở dài. Đương nhiên y sớm biết sẽ có kết cuộc như thế. Vì số thân tín mà những năm gần đây đám người Trương Thọ đã bồi dưỡng phân bố khắp nơi không phải là ít, nếu để bọn họ yên ổn sống ở Nam Kinh, ai biết bọn họ sẽ lại gây ra âm mưu gì? Cho nên y đành lòng đồng ý với kế hoạch của Lưu Cẩn.

Có điều Vương Nhạc là một lão già đã hơn bảy mươi tuổi, thường ngày lại không có tâm tư gì, Dương Lăng biết lão đã không có sức phản công, không nỡ để lão chết bất đắc kỳ tử, cho nên đã khéo léo biểu đạt ý định của mình với Lưu Cẩn. Nay xem ra lão cũng còn nghe lời mình.

Lúc này Đới Nghĩa đã không còn có thể ở lại trong kinh, Dương Lăng đã đáp ứng để lão ta tạm lánh đi một khoảng thời gian, đợi trời yên biển lặng rồi sẽ bổ nhiệm lão làm thái giám trấn thủ. Chức quan này không to bằng khi trước, song lợi ích thực tế lại hơn xa trước kia. Đới Nghĩa đương nhiên vui vẻ nghe theo.

Thấy Dương Lăng nghe mà chỉ gật đầu, không hề có biểu hiện gì khác, Cốc Đại Dụng bèn nói tiếp:
- Sau khi Lưu công công nghe xong ý định của đại nhân, đã ra mặt tiến cử với Hoàng thượng. Hôm nay lúc tảo triều Hoàng thượng đã bổ nhiệm Tiêu Phương làm đại học sĩ của Văn Uyên các, nhập các xử lý công việc. Còn người cử vào vị trí đại học sĩ khác vẫn chưa quyết định, Lý Đông Dương đã tiến cử học sĩ Dương Đình Hoà của phủ Chiêm Sĩ. Hoàng thượng cũng rất có hảo cảm với ông ta, vốn có ý chấp thuận, có điều vị Thị giảng học sĩ này lại không phải là người chúng ta, Lưu công công sợ sau này ông ta sẽ đối nghịch với chúng ta cho nên hiện giờ đang tìm cách trì hoãn. Không biết đại nhân có người nào khác thích hợp hơn không?

"Dương Đình Hoà?" Dương Lăng nhớ lại lúc hai người trò chuyện trong phủ, khi đó hai người rất ăn ý, người này lại là một nhân vật thực tế, không thích ba hoa. Có điều quả thật hiện tại cũng không biết ông ta sẽ phản đối hay ủng hộ kế hoạch của mình. Bây giờ mình đang tuyên bố trọng thương nằm nhà, mọi việc đều do Bát Hổ ra mặt, cho nên cũng không tiện đi thăm dò ý tứ của ông. Vị trí này để trống thêm một tháng nữa chắc cũng sẽ không sao.

Nghĩ đến đây, y gật đầu bảo:
- Lưu công công cẩn thận như vậy là đúng, tạm thời cứ để ông ấy trì hoãn đã, chúng ta quan sát thêm rồi tính. Chứ đừng đưa phải oan gia lên đài cao để rồi tự mình chuốc lấy phiền phức.

Cốc Đại Dụng hăm hở:
- Đại nhân nói đúng đấy, ta cũng nghĩ như vậy.

Dương Lăng lại hỏi:
- Tiền Ninh vẫn chưa đi Kim Lăng nhậm chức sao?

Cốc Đại Dụng đáp:
- Chưa! Sau khi Trương Tú bãi quan hồi hương, Mâu đại nhân được thăng làm Đề đốc chỉ huy sứ. Khoảng thời gian này Mâu đại nhân đang bận bịu thanh lý Cẩm Y Vệ cho nên Tiền Ninh vẫn tạm thời tọa trấn Bắc trấn phủ ty, chưa có thời gian bàn giao công tác với Thiệu Tiết Vũ.

Dương Lăng khẽ mỉm cười. Tiền Ninh tuy tham lam tàn bạo, nhưng trước giờ luôn đối xử tốt với mình, có hắn làm Trấn phủ sứ Nam trấn phủ ty, mình sẽ được hỗ trợ rất lớn. Nam trấn phủ ty nắm quyền điều hành và sử dụng thợ thuyền trong quân đội, một khi triều đình đồng ý dỡ bỏ lệnh cấm thông thương, có hắn ngồi đó, về phương diện đóng thuyền mình sẽ không cần phải hao tổn tâm trí nữa.

Thấy y nở nụ cười, Cốc Đại Dụng chợt nhớ đến một chuyện vui khác, không nhịn được bèn kể:
- Đúng rồi! Đám người Cấp sự trung Đới Tiễn của Nam Kinh khoa đạo và Giám sát ngự sử Bạc Ngạn Huy của Tứ Xuyên đạo không thức thời, không ngờ bọn chúng còn liên danh dâng sớ xin Hoàng thượng giữ lại hai người Lưu, Tạ. Đáng ghét chính là trong sớ bọn chúng còn mắng chửi chúng ta là gian nịnh. Thật có lý nào như vậy! Thân làm nô tài, chúng ta có hầu Hoàng thượng ra ngoài du ngoạn vui chơi thì cũng chỉ là bổn phận, đã từng làm chuyện xấu xa gì đâu?

Dương Lăng cả kinh, máy động hỏi:
- Triều thần và quan lớn địa phương đã bắt đầu lên tiếng ủng hộ Lưu, Tạ rồi à? Bọn họ đã phát động được bao nhiêu người rồi?

Cốc Đại Dụng khinh thường:
- Quan lớn gì chứ? Phần lớn là đám ngôn quan ngồi mát ăn bát vàng thôi. À... để ta nhớ xem, Cấp sự trung Lữ Xung và Lưu Du của Lục Khoa, Thượng thư bộ Binh Lâm Hãn ở Nam Kinh, Cấp sự trung Đới Tiễn của Lục Khoa, còn có đám người Hữu đô ngự sử Dương Nhất Thanh và Ngự sử Bạc Ngạn Huy của Thập Tam đạo vừa mới hồi kinh nữa.

Cốc Đại Dùng vừa nói đến đây, sắc mặt liền dần xanh tím lại, hằn học:
- Đáng giận nhất là bọn Đới Tiễn và Tưởng Khâm. Bọn chúng nói chúng ta già lão vô dụng giống như con bò con ngựa bị thiến, không thể kham việc triều chính. Hai cái tên... hai cái tên súc sinh đáng chết đó!

Dương Lăng nhìn lão ấn mạnh tay lên bàn, gân xanh nổi đầy trên mu bàn tay, trong mắt bừng bừng lửa giận, cũng cảm thấy hai vị ngự sử nọ có phần cay độc quá. Phẩm đức của một người tốt hay xấu, tài học như thế nào, thì liên quan gì đến việc người ta có phải là thái giám hay không kia chứ?

Nếu đàn ông thân thể tráng kiện bị người ta nói là vô dụng, cùng lắm thì sẽ lao vào đánh nhau. Còn lấy nỗi đau thầm kín của người ta đưa vào trong tấu chương để mà mỉa mai chỉ trích, trào phúng khuyết tật trên thân thể kẻ khác, đó là hành vi của kẻ đọc sách thánh hiền đấy ư?

Không biết phải nên khuyên nhủ thế nào, Dương Lăng đành nói qua loa:
- Những kẻ đó tay ôm sách thánh hiền, có bao giờ nhìn ai vừa mắt ngoài những kẻ đọc sách khác? Huống chi là đa phần đám văn nhân đều là những kẻ ngu xuẩn cho rằng nóng nảy, tự cao mới là có khí khái văn nhân! Cốc công công không cần phải quá so đo với bọn chúng. Thế Hoàng thượng đã xử trí những người đó như thế nào?

Cốc Đại Dụng thở một hơi dài, cầm chén trà nốc đánh ực rồi đáp:
- Ta lười chả thèm so đo với cái đám đọc sách ngu đần đó, nhưng bọn chúng nhục mạ chúng ta như vậy, há có thể dễ dàng bỏ qua? Lưu công công đã xin thánh chỉ toàn quyền xử trí tội vô cớ hãm hại của bọn chúng rồi. Kẻ nào chửi hăng thì bắt lại trị tội, kẻ nào chửi nhẹ thì giáng chức bãi quan. Còn cái tên Đô thiêm sự Lữ Xung đó trước đây là bạn cũ của Lưu công công, cho nên Lưu công công mới tha cho lão, nào ngờ lão ta lại dâng sớ trực tiếp hặc tội Lưu công công, nên giờ cũng đã bị tống vào đại lao rồi. Nhưng mà không hề đánh lão ta, cứ giam lão như vậy, cho đến khi nào cái lão già cứng đầu đó chịu phục rồi thì thôi.

Dương Lăng thấy mặt lão tím tái như thể chưa nuốt trôi hết cái cảm giác bị ức hiếp và lăng nhục nọ, thì trong lòng không khỏi máy động: những vị hoạn quan này có khuyết tật, tự cảm thấy thấp hơn người ta một cái đầu, cho nên khi có cơ hội thì sẽ vơ vét tiền tài quyền lực. Người thường làm như vậy là để hưởng thụ, còn bọn họ thì có tám phần là để được kẻ khác tôn trọng.

Nếu như mình lợi dụng tốt sự tự ti này, nói không chừng có thể xúi giục bọn họ làm một hồi đại sự, mượn tiếng lưu danh sử sách để cám dỗ lòng háo danh còn cao hơn cả đám người văn nhân kia của bọn họ, cộng thêm mối quan hệ tốt đẹp giữa mình và bọn họ...

Dương Lăng trầm ngâm hồi lâu không nói. Tỉnh táo lại, Cốc Đại Dụng thấy y nhíu mày trầm tư, tưởng rằng y đang lo bá quan sẽ lại gây ra sóng to gió lớn, liền an ủi:
- Đại nhân không cần lo lắng! Ngoại trừ hai mươi mốt tên đó, những quan viên khác dẫu trong lòng có bất mãn cũng đều ẩn nhẫn cả. Lục Bộ Cửu Khanh không biết đang có suy tính gì, mà ta cũng chưa thấy có ai ra mặt.

Dương Lăng mỉm cười nặng nề, lẩm bẩm: "Hai mươi mốt người... hai mươi mốt người..." Chợt y nhớ tới việc đánh cược giữa mình và Thành Khởi Vận, thế là nhất thời cảm khái không thôi.

Đoạn y khẽ thở dài rồi ngẩng đầu nói với Cốc Đại Dụng:
- Các vị công công mới vừa nhận những chức vị quan trọng, sự tình cần xử lý thật nhiều, những ngày qua chúng ta luôn vội vã chạy đôn chạy đáo nên vẫn chưa có dịp hàn huyên tâm sự. Như vậy đi, ngày mai Cốc công công thay mặt bản quan mời mấy vị lão hữu đến nhà, do ta làm chủ, chúng ta tề tựu uống rượu một phen. Thế nào?

Lúc bọn họ còn là những tên nô tài hết sức bình thường, Dương Lăng đã đối xử bình đẳng với bọn họ, không hề có lời nói và cử chỉ bất kính nào, cũng không hề có dáng vẻ gì là khinh thị. Có thể nói cho dù không có mối quan hệ thiệt - hơn trên quan trường thì tám người này cũng vẫn cảm thấy hết sức thân thiết với Dương Lăng.

Nay Dương Lăng và bọn họ có mối quan hệ lợi ích gắn liền với nhau rất chặt chẽ, ít nhất thì hiện tại có thể nói là vững bền như thép, có phước cùng chia, có nạn cùng chịu. Bản thân Bát Hổ tài học không đủ, ở ngoại đình lại chỉ có được một minh hữu (bạn tốt) như y, cho nên đều thầm nghe theo ý của y mà làm.

Vừa nghe Dương Lăng nói vậy, Cốc Đại Dùng liền hớn hở đáp:
- Được! Ta mới tiếp quản Đông xưởng được mấy ngày, phải lo thu nạp nhân mã, thanh lý thân tín của Phạm Đình, bận tối mày tối mặt, đến nay mới có thời gian rảnh rỗi. Mấy hôm trước triều chính bị đình đốn hết mấy ngày nên bây giờ tấu chương dồn ứ nhiều lắm, toàn bộ đều dựa vào một mình Lý đại học sĩ chèo chống, cả Hoàng thượng mấy ngày nay cũng không được thanh nhàn. Mấy người bọn ta không cần phải thường xuyên hầu hạ bên cạnh nữa, cho nên ngày mai mọi người sẽ đến phủ đại nhân tề tựu.

Dương Lăng mỉm cười nói:
- Không! Không không! Là ban đêm. Đêm mai đến đi, ngoài tám vị công công, bản quan muốn mời thêm cả Tiêu đại học sĩ, Mâu đề đốc và Tiền trấn phủ nữa. Chúng ta cùng uống rượu chung vui, đồng thời... bản quan còn có một việc quan trọng muốn thương nghị trực tiếp cùng các vị!




Chú thích:

(1) Lăng mộ Minh Thái Tổ



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
29-11-2011, 10:05 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 156 Hội Nghị Thành Công Tốt Đẹp

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Tính ra cũng đã xấp xỉ đến ngày, hơn nữa đợt trị liệu này cũng không cần phải canh đến đúng ngày thì mới có hiệu quả, nói không chừng "chăm chỉ tưới tiêu" hơn nửa tháng qua, chắc trong ba vị kiều thê cũng có một người có thể hoài thai cho mình rồi chứ nhỉ?

Nghĩ vậy, khoé môi Dương Lăng nhếch một nụ cười ngọt ngào. Ừ... thôi thì cứ trị liệu thêm vài tuần nữa cho chắc đi, lâu hơn tí cũng chẳng sao. Tác dụng phụ của phương thuốc này của Văn Tâm quả thực hơi "nguy hiểm".

Dương Lăng bước vào trong sân, không tiện đi vào tiếp. Y đang định cất giọng gọi Cao Văn Tâm thì nghe tiếng nàng cao giọng vẳng ra:
- Tỷ còn có liên can gì đến hắn chứ? Cớ sao hắn phải lăng nhục tỷ như vậy?



Chương 156 Hội nghị thành công tốt đẹp

------------------------

Tiết trời mỗi lúc một lạnh; bước vào trung tuần tháng mười một, phương bắc đã bắt đầu mang hơi thở của mùa đông. Nhìn sắc trời âm u khô lạnh thì có lẽ mấy ngày nữa trời sẽ đổ tuyết thôi.

Dõi mắt theo chiếc kiệu của Cốc Đại Dụng đang dần biến mất trong ánh chiều tà, Dương Lăng thở dài một hơi rồi xoay người đi vào trong trạch viện. Lão quản gia chỉ huy gia nhân đóng dần cửa sân lại.

Đã sắp được một năm rồi. Có ai ngờ rằng chỉ vẻn vẹn một năm mình sẽ gặp được những chuyện ly kỳ như vậy chứ? Vòng qua cổng nguyệt lượng, dây leo sớm đã trở nên khô héo, nước ao cũng không còn cái thần vận của sắc hè sắc xuân và lá sen thì héo úa uể oải rũ đầu trên mặt nước.

Đằng trước vọng tới tiếng sáo khoan thai, làn điệu thong thả vui tai, đó là Thành Khởi Vận đang truyền thụ nhạc kỹ cho Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai.

Cầm kỳ thi họa Thành Khởi Vận đều thập phần tinh thông, về phương diện ấy chẳng những Cao Văn Tâm không sánh bằng mà giỏi về ca múa đàn hát, thư họa văn chương như Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai cũng kém hơn một bậc. Mỗi ngày Thành Khởi Vận đều buồn chán chờ tin Dương Lăng trong phủ, nhất thời ngứa nghề biểu diễn thân thủ trước mặt bọn họ một chút. Kể từ dạo ấy hai tiểu nha đầu đó đã nghiễm nhiên coi nàng như sư phụ.

Dương Lăng vén rèm cửa bước vào căn phòng bên trái phòng khách. Ngọc Đường Xuân đang ngồi trên chiếc giường La Hán (1) nhẹ nhàng điều chỉnh dây đàn. Thấy y bước vào, nàng liền vội ngồi quỳ dậy, cười ngọt ngào gọi:
- Lão gia về rồi ạ.

Bên phải, Tuyết Lý Mai đã mang giày xuống giường giúp Dương Lăng cởi chiếc áo khoác dài thêu hoa văn tròn bằng lụa xanh mà khi nãy y mặc ra ngoài tiếp khách ra. Dương Lăng xoa tay, mỉm cười nói:
- Ừm, vẫn đang học đàn sáo à? Hiện tại Nội xưởng phát triển thần tốc, chưa đến nửa năm mà thế lực đã vươn đến Vân Quý (*). Ta đã bảo Hoàng lão dăm ngày nữa mời mấy lão chưởng quỹ trong xưởng đến, đến lúc đó các nàng đem phương pháp ghi chép sổ sách mà ta đã dạy đem truyền lại cho bọn họ. Tài nguyên thì cuồn cuộn mà không có một phòng kế toán tốt thì sẽ lỡ hết mọi chuyện.
(*) tên gọi chung hai tỉnh Vân Nam và Quý Châu.

Hai người Ngọc Đường Xuân dạ một tiếng, chợt nhớ tới ngày đó khi Dương Lăng truyền thụ phương pháp ghi chép sổ sách thì bên cạnh còn có người chị em tình như tay chân tên là Nhất Tiên. Giờ đây mong ước của hai người bọn họ đã được toại nguyện, được gả cho người nam tử mà mình ái mộ, còn được phong làm Cáo Mệnh phu nhân mà Nhất Tiên lại không rõ sống chết, chẳng biết đang ở nơi nào, sắc mặt không khỏi trở nên ủ rũ.

Dương Lăng trông thấy thần sắc hai người bỗng kém đi, biết là bọn họ đang nghĩ gì thế là không kìm được cũng âm thầm thở dài. Từ lúc thế lực Nội xưởng nhanh chóng mở rộng đến nay, y đã bảo Ngọc Đường Xuân vẽ tranh Đường Nhất Tiên rồi hiểu dụ toàn bộ Nội xưởng âm thầm tìm kiếm tăm tích của vị cô nương đó.

Y cẩn thận như vậy là đề phòng ngộ nhỡ kẻ cứu được Đường Nhất Tiên ngày ấy thấy nàng xinh đẹp diễm lệ đã nổi lòng bất lương mà cưỡng đoạt nàng, lúc này nếu y lại thông qua quan phủ mà giống trống khua chiêng tìm kiếm thì sẽ khó bảo đảm kẻ xấu nọ không giết người bịt miệng cho nên Dương Lăng đành phải âm thầm hành động, nhưng đến tận bây giờ vẫn chưa có tin tức gì.

Dương Lăng nhẹ thở dài, khoát tay bảo:
- Hai nàng về phòng trước đi, ta và Thành đại nhân còn có việc cần bàn.

Hai người Ngọc Đường Xuân dạ một tiếng, rồi lặng lẽ lui ra. Thành Khởi Vận xoay tít cây sáo tím trong tay một vòng, dùng ba ngón tay nõn nà nhẹ nhàng cầm lấy ống sáo rồi nhướng mày ngạc nhiên hỏi:
- Việc đại nhân dự kiến làm có manh mối gì rồi à?

Dương Lăng đứng trong phòng lắc nhẹ đầu, nói:
- Chúng ta vừa mới xây dựng cơ sở tại các vùng duyên hải Sơn Đông, Chiết Giang, Phúc Kiến và Quảng Tây, sao có thể nắm rõ nội tình của những đại phú hào địa phương nhanh như vậy chứ. Sợ rằng tin tức ta cần tạm thời sẽ vẫn chưa chuyển về đâu.

Thành Khởi Vận mặc một bộ đồ thị nữ màu xanh, nhưng lại bó gối ngồi trên giường, vừa cầm nghịch cây sáo trên tay vừa suy tư nói:
- Nói vậy việc này còn phải đợi thêm à?

Dương Lăng trả lời:
- Không phải, hiện tại trong triều đã dần ổn định, ta định sẽ bắt đầu thử nghiệm ngay lúc này luôn, trước lợi dụng cửa hàng ngựa xe trải khắp thiên hạ mà tạo thành dư luận, lấy hành động của chúng ta để tạo ra cơ sở.

Đoạn y mỉm cười nói:
- Đương kim Hoàng thượng luôn thích những thứ mới lạ, văn minh cho nên tuyệt không phải là một quân vương bảo thủ. Huống hồ Hoàng thượng tín nhiệm nhất là ta và đám người Lưu Cẩn. Đợi ta thuyết phục Bát Hổ để cùng nhau khuyên nhủ Hoàng thượng rồi lại giúp đề ra biện pháp phòng ngừa tướng lĩnh ôm quân vượt quyền thì lý do đầu tiên để cấm biển sẽ không còn nữa.Tuy nhiên từ xưa đến nay, làm hoàng đế sợ nhất là dư luận của bá quan. Bọn họ nắm quyền lên tiếng, bất cứ lúc nào cũng có thể hiệu triệu những tinh anh trong giới học sĩ, nhất hô bá ứng, tạo ra thanh thế hùng mạnh, khiến cho cả hoàng đế cũng phải sợ bóng sợ gió, sợ trở thành hôn quân trong mắt triều thần.

Thế nhưng mọi vật trên đời đều có tương sinh tương khắc, cho nên mới có chuyện chuột sợ mèo, mèo sợ hổ, hổ sợ voi, voi sợ chuột. Người trong giới học sĩ yêu tiếc cái tiếng thơm của bọn họ còn hơn cả hoàng đế, bọn họ không sợ gậy gộc của hoàng đế song lại sợ bị dân chúng mắng chửi. Chúng ta lợi dụng cửa hàng ngựa xe trải khắp thiên hạ, tiếp xúc với tam giáo cửu lưu mà tung tin, tạo ra dư luận lớn mạnh trong dân chúng để kìm hãm bọn họ, khiến cho sau này bọn họ có ý kiến phản đối sẽ phải cân nhắc năm bảy lần là được. Hơn nữa đợi cô mang người từ Giang Nam về rồi, chừa cho bọn họ một con đường lui rộng rãi thì ít nhất nửa số người sẽ gióng trống lui binh thôi. Lý do thứ ba đó cũng sẽ được giải quyết.

Dường như Thành Khởi Vận rất thích nhìn cái vẻ y tràn ngập tự tin và hứng khởi. Tuy cảm thấy trong đó vẫn còn rất nhiều tiểu tiết cần phải thương thảo thêm nhưng nàng không muốn nêu ra vào lúc này.

Cặp mắt trong suốt như pha lê chứa đựng một nụ cười đang lặng lẽ nhìn y chăm chú. Nghe y nói xong, nàng đưa cây sáo lên bờ môi đỏ thắm, ngón ngọc ấn khẽ, một điệu khúc thong dong tao nhã phát ra rồi chợt ngưng bặt.

Lúc này Thành Khởi Vận mới khép mày cười khẽ:
- Đợi người của chúng ta ở các thành phủ duyên hải lấy được chứng cứ rồi, lý do thứ tư cũng sẽ không còn nữa, tiếp đó lại chia sẻ cho bọn họ ít lợi lộc thì ngược lại bọn họ sẽ thành trợ lực cho chúng ta. Có điều... lý do thứ hai thì làm thế nào? Mâu thuẫn giữa nội hoạn và ngoại thần tuyệt không thể giải quyết, ngoài lý do ngoại thần xưa nay luôn khinh thị nội hoạn ra, thì hoàng đế cũng là nguyên nhân quan trọng nhất. Hoàng đế trọng dụng nội hoạn thì ngoại thần bị thất sủng, sủng tin ngoại thần thì nội hoạn bị bỏ rơi, kẻ nào có thể thao túng quân vương thì kẻ đó sẽ nắm quyền bính, không phải ai cũng vì danh lợi mà bị khống chế đâu.

Sắc mặt ung dung của Dương Lăng trở nên nặng nề, một hồi sau y mới trầm giọng nói:
- Mượn oai quân vương để ép họ, mượn thế Bát Hổ để dọa họ, lấy danh nghĩa bá tánh để bức họ, phân hoá bá quan để cai quản họ. Không thể cứ ôn hoà nhã nhặn, cố làm vừa ý mọi người mãi, kẻ nào ngoan cố không thay đổi thì buộc phải đuổi cổ đi!

Thành Khởi Vận liền nhướng mày, gõ sáo tán thưởng:
- Vậy mới là người thành đại sự, có thể theo hầu đại nhân là phước khí của Khởi Vận vậy.

Dương Lăng chăm chú nhìn nàng, cũng đoán không ra trong lời ấy có mấy phần thành tâm. Y yên lặng một lúc, rồi mới mỉm cười nói:
- Ngày mai ta đã hẹn Bát Hổ và hai vị đại nhân Cẩm Y Vệ cùng bàn về việc này. Lúc này cô không tiện công khai lộ diện, nên hãy giả trang làm thị tỳ đứng một bên nghe vậy. Bằng không với tính hiếu kỳ của mình, cô sẽ lại truy hỏi tới hỏi lui.

Tính cách ranh mãnh đa nghi khó tin người khác của Thành Khởi Vận đã hình thành lâu năm. Đôi khi biết rằng chuyện không liên quan đến mình, rằng không cần phải nghe ngóng song nàng vẫn muốn biết cho bằng được. Bản thân nàng cũng biết đó là một cái tật xấu nhưng khó kiềm chế, không ngờ Dương Lăng lại nhìn thấu.

Nàng cười ngượng ngùng rồi cụp mắt vâng dạ.

Dương Lăng lại thờ ơ nói:
- Nếu nói đến hiểu lòng người, ta thật không bằng cô. Phản ứng của bá quan trong triều về việc hai vị đại học sĩ bị đuổi về quê quả nhiên đã bị cô đoán trúng.

Thàn Khởi Vận mở bừng cặp mắt, tính tò mò lại nổi lên, lập tức không kiềm được mà hỏi ngay:
- Phản ứng gì vậy?

Dương Lăng thở dài một tiếng nói:
- Mặc dù bọn họ đa phần đều rất bất mãn với việc Lưu, Tạ bị đuổi, nhưng chỉ có hai mươi mốt người dám dâng sớ xin tha, còn kém hơn con số ba mươi của cô nhiều.

Thành Khởi Vận cười khẽ một tiếng, rồi mỉm cười nói:
- Đại nhân chớ nên vì thế mà lơ là. Những kẻ không chịu ra mặt mới là kẻ giỏi ẩn nhẫn, không có nghĩa là bọn họ sẽ nghe theo chúng ta. Tuy là tạm thời bọn họ sẽ không gây thêm phiền phức nhưng sau này khó tránh bị họ ngáng chân.

Dương Lăng mỉm cười xoay người bước ra cửa, ung dung nói:
- Tuỳ bọn họ, chỉ cần việc thanh trừng giặc Oa, khai thông cấm biển này thành công thì trong số bọn họ sao sẽ thiếu những người thức thời chứ?

Bước đến cửa, y bỗng lại quay đầu nhìn Thành Khởi Vận, rồi như nhớ đến chuyện gì đó bèn nói:
- Đêm mai... cô hãy cải trang xấu một chút.

- Dạ... hả? - Gật đầu xong Thành Khởi Vận mới nghe ra ý tứ trong đó của y liền ngước đầu kinh ngạc nhìn ra cửa song Dương Lăng đã vén rèm đi mất rồi.

Thành Khởi Vận siết năm ngón tay lại nắm chặt cây sáo trúc, gõ nhịp lên mép kệ kê đàn mấy tiếng "cốc cốc", đôi môi đang mím chặt từ từ nhếch lên.

***

Bên trong "Thải cúc hiên"(2) nằm bên phải phòng khách, nến cháy sáng trưng, tụ tập ở nơi này đều là "những ngôi sao mới nổi" đụng vào là bỏng của đương triều. Ngồi bên trái Dương Lăng là Lưu Cẩn, ngồi kế bên phải là Mâu Bân. Mười hai người ăn uống linh đình, say sưa chếnh choáng. Trên bàn lửa than đỏ bừng, bên trong chiếc nồi đồng chạm trổ khói nóng bốc lên nghi ngút.

Tiền Ninh và mấy người Cốc Đại Dụng vừa leo lên được ghế cao, cho nên hết sức cao hứng, uống đến liêu xiêu lảo đảo. Thành Khởi Vận và một thị tỳ khác mặc váy nguyệt hoa và áo chẽn màu hồng đào đang đứng một bên cầm vò hầu rượu.

Tiền Ninh tính vốn háo sắc, lúc mới thấy hai tỳ nữ đi tới liền bị dáng vẻ yêu kiều của Thành Khởi Vận hấp dẫn ánh mắt. Nhưng khi gã vừa nhìn thấy mặt Thành Khởi Vận thì lập tức quay mặt đi không dám nhìn thêm lần nữa.

Dung mạo mới đó của Thành Khởi Vận khiến ngay cả Dương Lăng cũng cảm thấy có lỗi với khách mời: cặp mắt bồ câu biến thành cặp mắt tam giác ti hí đã đành, chóp mũi mọc thêm mấy mụn trứng cá cũng tạm chấp nhận đi, nhưng sao lại biến khuôn mặt thành rỗ chằng rỗ chịt như tổ ong trông ghê quá vậy? Thật ảnh hưởng đến cái thú ăn uống.

Trong mắt mọi người đều đã ngà ngà men say, chỉ có mắt của Dương Lăng, Lưu Cẩn và Mâu Bân vẫn tinh tường. Ba người bọn họ ai nấy đều ôm lòng riêng, nên đương nhiên không muốn uống nhiều.

Mâu Bân là con cháu thế gia Cẩm Y Vệ tâm cao khí ngạo, xưa nay luôn mang lòng bất mãn với hành vi phụ thuộc vào Đông Xưởng, vâng lời Đông Xưởng của loại quan viên nha môn chỉ huy sứ như Trương Tú khiến cho phong độ của một Cẩm Y Vệ vốn ngang hàng ngang cấp bị hạ thấp đi. Gã vốn được coi là lãnh tụ cánh trẻ trong hàng ngũ Cẩm Y Vệ, nay gã đã gia nhập phe Dương Lăng rồi thuận lợi lật đổ bè lũ Trương Tú; để biết con đường sau này của Cẩm Y Vệ sẽ như thế nào thì gã nhất định phải hiểu rõ ý đồ của Dương Lăng đã.

Nếu như Dương Lăng vẫn muốn gã quy phục dưới trướng Nội xưởng, làm tay sai đắc lực cho Dương Lăng như trước đây từng làm với Đông xưởng thì đương nhiên gã sẽ không nguyện ý. Nhưng thế lực và danh vọng của Dương Lăng hiện giờ đã khác xa khi trước, lại nắm ty Thuế Giám trong tay. Trong nha môn Cẩm Y Vệ đông người như vậy nếu chỉ dựa vào vơ vét bắt chẹt thì sẽ ăn không đủ no, vả lại gã cũng không muốn mang cái tiếng xấu đó.

Làm sao để bảo trì được vị trí tương đối độc lập đây? Dương Lăng có chịu chia chút phần cho gã hay không? Bản thân phải bỏ ra cái giá lớn cỡ nào... Nếu giải quyết những việc này không tốt thì gã sẽ không thể nào giải thích với đám thân tín theo mình được.

Còn Lưu Cẩn, là nội tướng của ty Lễ Giám song quyền lực của lão đã bị tước đi một nửa. Ngày xưa, làm thủ lĩnh Ty lễ giám tức là trong tay có binh quyền, có tài quyền (quyền tài chính), có quyền "phê hồng". Còn nay thì sao? Binh quyền tứ phân thiên hạ, ngoài lão ra còn có Trương Vĩnh, Miêu Qùy và Dương Lăng. Đừng thấy hôm nay Dương Lăng không mời Miêu Qùy mà tưởng bở, từ chuyện truy bắt tại ty Lễ Giám ngày đó thì có thể thấy rõ Miêu Qùy và Dương Lăng chung một bè phái.

Tài quyền thì hiện nay đã hoàn toàn nằm trong tay Dương Lăng. Có tiền mới sai khiến được quân đội à nha. Trương Vĩnh và Dương Lăng rõ ràng đã thân thiết với nhau hơn là lão. Còn về "phê hồng"... Than ôi, với cái vốn chữ nghĩa mà lão biết, ngoài hai cái chữ "đồng ý" ra thì lão cũng chẳng biết có thể đưa thêm ý kiến gì khác cho những phiếu nghĩ của đại học sĩ cả.

Mà hiện tại Lưu Cẩn cũng không có dã tâm muốn lật đổ Dương Lăng. Quyền lợi mà lão mưu cầu còn lớn hơn nữa, nhưng sau khi ngồi lên chiếc "ngai vàng" mình hằng mơ ước rồi thì lão mới đột nhiên phát hiện, bất luận là sử dụng quyền lực gì lão đều "có lòng mà không có sức", thế là không khỏi cảm thấy mất mác trong lòng. Lúc này chỉ đành nhìn kẻ khác vui vẻ uống rượu còn mình thì phải thỉnh giáo với Dương Lăng một phen.

Dương Lăng mới vừa đưa chén lên, Thành Khởi Vận đang đứng phía sau liền khom lưng, nhanh nhẹn rót đầy chén, mắt trộm liếc y một cái.

Dương Lăng đưa mắt nhìn thẳng, không dám ngẩng đầu nhìn khuôn mặt rỗ ấy của nàng, rồi tự nâng chén sang phía Lưu Cẩn cười nói:
- Lưu công công, chúc mừng công công vinh thăng chức Nội tướng. Mời công công uống cạn chén này.

Lưu Cẩn cười khan đáp:
- Nội tướng gì chứ, chỉ là những lời giễu cợt của đám triều thần trêu mà thôi. Ta chỉ biết hầu hạ Hoàng thượng, thật sự không hiểu mấy việc đó. Dương đại nhân đã trêu rồi.

Dương Lăng nghiêm mặt nói:
- Dương mỗ nào dám nói đùa. Lưu công công, chúng ta là hảo hữu, có chút lời trong lòng đương nhiên không thể giấu công công. Nội tướng quyền cao chức trọng, nếu như công công không làm, thì có khác gì Vương Nhạc thứ hai chứ. Ngoài tên ra thì nó chỉ là cái bình rỗng chẳng có tý sức nặng gì.

Da mặt Lưu Cẩn thoáng giần giật, lão lấy lại bình tĩnh rồi mới hỏi:
- Việc này... ta mới lên làm chức vị này, có nhiều việc quả thật không rõ, theo lời đại nhân nói thì ta phải làm gì?

Dương Lăng mỉm cười, rồi nghiêm túc nói:
- Công công nắm quyền phê hồng, song phê hồng tịnh không phải là quyết định cuối cùng, nhất là phiếu nghĩ của nội các đa phần đều đề xuất ra vài ý kiến xin Hoàng thượng xem xét quyết định. Nếu như công công không thể chọn ra kiến nghị hợp với tâm ý của hoàng thượng nhất, lại vừa có thể khiến bá quan thành tâm bái phục thì những tấu chương mà ngài phê duyệt, nội các vẫn sẽ có thể niêm phong trả lại. Một lần hai lần còn được, nếu kéo dài, thử hỏi công công chẳng phải sẽ mất hết uy tín sao? Đến lúc đó Hoàng thượng không vui tất sẽ điều chuyển ngài khỏi ty Lễ Giám, đúng không Tiêu đại học sĩ?

Tiêu Phương mỉm cười gật đầu. Lưu Cẩn căng thẳng siết chặt nắm tay, ngượng ngập hỏi:
- Ta cùng đại nhân cùng hội cùng thuyền, không tính là người ngoài. Không biết Dương đại nhân có cao kiến gì chỉ dạy?

Dương Lăng chân thành giải thích:
- Lưu công công, nghe nói công công với Lý đại học sĩ của Nội các không hề qua lại. Theo Dương mỗ thấy, ngày thường công công nên kính lễ với Lý đại học sĩ hơn. Nên nhớ rằng, phiếu nghĩ của ông ấy và phê hồng của công công chế ước lẫn nhau. Nếu như hai người các vị không thể hoà hợp thì sao có thể làm tốt việc này? Còn nữa, công công không thể tùy ý phúc đáp phiếu nghĩ của Nội các, bởi nếu hỏi một đằng phúc đáp một nẻo há lại chẳng khiến đám ngoại thần chê cười sao? Khi ấy tôn nghiêm của công công sẽ vất đi đâu? Người tài dưới gót thiên tử rất nhiều, nếu bản thân công công bận lo không xuể thì có thể tìm một người đáng tin cậy để giúp đỡ, mỗi khi có tấu chương sẽ có thể cùng công công thương nghị kỹ lưỡng một phen trước khi phúc đáp, có vậy mới có thể trụ vững.

Dương Lăng đưa ra chủ kiến cho lão, song lại không nói lão đi giao hảo người mà y tiến cử là Tiêu Phương mà lại khuyên lão đừng gây bất hoà với Lý Đông Dương, bảo lão tìm một người có tài học xem xét tấu chương kỹ lưỡng giúp mình song cũng không hề mở miệng tiến cử ai khiến Lưu Cẩn hoàn toàn mất cảnh giác, đương nhiên tin rằng Dương Lăng đang có ý tốt với mình.

Lão cảm kích nói:
- Dương đại nhân nói chí phải. Nghe được lời hay khiến ta bỗng nhiên vỡ lẽ. Lý Đông Dương là đại học sĩ, tài hoa ấy nhất định hơn ta gấp trăm lần, sau này ta kính lễ với ông ta nhiều hơn một chút cũng là phải lẽ vậy. Về rồi ta sẽ tìm một người có thể tin dùng, những tấu chương sau này phúc đáp đâu vào đấy mới sẽ không khiến ngoại đình coi khinh nữa.

Dương Lăng khẽ cười, nói:
- Nhưng như thế cũng chỉ mới là làm theo tuần tự, đối phó công việc mà thôi. Chao ôi! Thế giới này thật không công bằng. Công công hãy nhìn những đại học sĩ đó mà xem, cho dù trăm năm sau sẽ vẫn có người nhớ tới bọn họ, ca tụng bọn họ, lưu truyền sự tích bọn họ. Nhưng mà... mười năm sau, có mấy ai còn nhớ đến Vương Nhạc của nội đình đây? Cho dù là hiện tại, có mấy người còn nhớ trước Vương Nhạc là vị nội tướng nào chứ?

Lưu Cẩn thoáng đỏ mặt, ngượng nghịu nói:
- Ôi! Nội đình chúng ta là nô tài hầu hạ Hoàng thượng, công thì chúng ta không có phần, tội thì lại không thể thiếu chúng ta. Ta chỉ mong có thể yên ổn làm tốt phận sự của mình. Lưu danh muôn thuở ư? Chuyện tốt như vậy nào đến lượt chúng ta chứ.

Dương Lăng nói:
- Vậy cũng chưa hẳn. Lần này bản quan xuống Giang Nam, có nghe người dân Giang Nam nhắc đến thái giám Tam Bảo, chuyện đã hơn trăm năm, song nghe nhiều nên vẫn thuộc. Sự tích của ông ấy, ai nấy đều rõ như lòng bàn tay. À, đúng rồi, Khởi Vận là tiểu tỳ mà bản quan thu nhận ở Giang Nam, có phải vậy không, Khởi Vận?

Thành Khởi Vận khẽ dùng mũi chân đá vào chân ghế của y một cái rồi mới không cam lòng cất tiếng nhỏ nhẹ:
- Dạ phải, đại nhân. Ngay cả một đứa bé ba tuổi ở Giang Nam chúng tỳ cũng biết đến Thái giám Tam Bảo đó. Đừng nói là những bá tánh bình dân như chúng nô tỳ đây mà ngay cả những lão gia quan lớn, tiên sinh đọc sách đều rất là kính trọng ông ấy.

Lưu Cẩn và mấy thái giám đang ngà say nghe mà dâng trào nhiệt huyết, ngực cũng ưỡn cả lên. Một lúc sau, Lưu Cẩn mới thở dài một hơi, rồi hâm mộ nói:
- Trịnh công công... chúng ta nào sánh được. Mấy trăm năm sau có thể vẫn sẽ có người còn nhớ đến công tích vĩ đại bảy lần xuôi Tây dương của ông ấy. Còn chúng ta... chao ôi!

Mấy lão thái giám già lại cúi đầu ũ rủ. Thái giám vốn đã tự ti, người xưa lại rất xem trọng chuyện giống nòi, không có hương hỏa kế thừa thì chết rồi ai nhớ đến đây? Nghĩ như vậy, cho dù là những nội hoạn tham tài tham quyền như bọn họ sao có thể không u sầu lặng lẽ? Nếu có cơ hội lưu danh sử sách thì dục vọng của bọn họ quả thực còn mạnh mẽ hơn ngoại thần nhiều.

Thế nhưng hoạn quan chỉ là gia nô của hoàng đế, lại hay chịu phải sự kì thị của quan văn, cộng thêm thái giám có kiến thức và học vấn sâu rộng có thể nói là hiếm như sừng lân lông phượng, mấy trăm năm không có nổi một người nên nào có bản lĩnh tạo phước cho dân. Cho nên có lắm kẻ một mặt thì hâm mộ Trịnh Hoà, mặt khác lại vẫn cứ tiếp tục chịu đựng mắng chửi mà lao vào tiền tài và quyền lực.

Dương Lăng mỉm cười nói:
- Một thánh chỉ của đại đế Vĩnh Nhạc đã tạo nên một Trịnh công công trăm đời lừng lẫy. Đó là vận may của người ta... lần này bản quan xuống Giang Nam, đã phát hiện ra một tệ chánh (tệ nạn về chính trị, ảnh hưởng lớn), nếu chúng ta dâng lời khuyên nhủ, xin hoàng thượng dẹp trừ thì trăm năm sau, danh vọng của công công và bản quan e rằng sẽ còn hơn cả Trịnh Hoà đó.

- Hả? - Lưu Cẩn giật mình kinh hãi, nhất thời trong người nóng ran. Ở bên cạnh, ánh mắt của đám thái giám Mã Vĩnh Thành và Cốc Đại Dụng lập tức đảo qua. Mọi ánh mắt đều tập trung trên người y.

Dương Lăng nói tiếp:
- Hoàng thượng trao ty Thuế Giám cho bản quan, cắt mất con đường kiếm tiền của ty Lễ Giám và Cẩm Y vệ. Ngày đó khi Vương Nhạc và Trương Tú còn đương quyền, Dương mỗ vẫn chưa cảm thấy gì nhưng nay đều đã là người một nhà, trong lòng Dương mỗ thực có phần áy náy. Nhưng nếu như bây giờ trao trả quyền thu thuế về Ty Lễ Giám thì e rằng thuộc hạ Dương mỗ cũng sẽ không yên lòng. Nếu như có thể bài trừ tệ chánh mà Dương mỗ nói đến thì chẳng những có thể lưu danh sử sách mà còn đem đến... tài nguyên cuồn cuộn, nan đề của các vị cũng sẽ được giải quyết dễ dàng vậy.

Lời này vừa thốt ra, mắt của đám người Bát Hổ, Mâu Bân, Tiền Ninh và Tiêu Phương liền sáng rỡ, trong mắt lấp lánh những thỏi vàng.

***

Tiễn đám người Bát Hổ ra về xong, Thành Khởi Vận chậm rãi đi theo sau Dương Lăng quay về.

Dương Lăng ngoái đầu cười nói:
- Vất vả cho cô rồi. Giả trang làm thị nữ cả đêm, xem ra, những người này đã hoàn toàn tán thành với kiến nghị của tôi. Hoàng thượng vốn không câu nệ những cái nhìn bỉ lậu, có bọn họ tiết lộ một ít với Hoàng thượng trước, chuyện này sẽ dễ làm hơn nhiều.

Thành Khởi Vận đáp khẽ:
- Ừm, đối với loại người vô học vô nghệ, không biết nghĩ cho bá tánh lê dân này, dùng đại nghĩa không bằng dụ dỗ bằng danh lợi. Đại nhân hai tay cùng vẽ (3), muốn khiến bọn họ quy thuận đương nhiên dễ như trở bàn tay. Ty chức... có phải nên trở về Kim Lăng chuẩn bị rồi không?

Dương Lăng đáp:
- Cũng sắp đến lúc rồi. Hiện nghe nói Tiền Ninh đã có bạc để dùng nên cần phải gấp rút chạy về Kim Lăng. Mật thám của Cẩm Y Vệ nơi nào cũng đều có căn cơ thâm hậu, có bọn họ trợ giúp thì việc tìm kiếm chứng cứ những danh gia vọng tộc duyên hải âm thầm thông thương tất sẽ có thể mau chóng hoàn thành. Ta đã nghỉ ngơi hơn nửa tháng giờ có thể giả vờ miễn cưỡng ra khỏi nhà. Ngày mai ta sẽ tìm cơ hội thăm dò ý tứ của Lý đại học sĩ trước, nếu như ông ấy không quá phản đối thì cô hãy về Giang Nam trước vậy.

Thành Khởi Vận trầm ngâm không nói gì. Một cơn gió bỗng lùa tới, nàng chợt cảm thấy lành lạnh.

Dương Lăng vô tình quay đầu lại nhìn. Đằng xa ánh đèn mờ mịt, không thể nhìn rõ khuôn mặt của nàng trong bóng đêm. Dương Lăng bèn nói:
- Cô quen sống ở Giang Nam, không quen khí hậu phương bắc, hai ngày trước bị nhiễm phong hàn, may nhờ có diệu thủ của Văn Tâm. Có điều cô vẫn chưa thấy cái lạnh của phương bắc đâu. Lúc đó trong nhà và ngoài trời cứ như là hai thế giới khác biệt, sợ rằng sẽ sinh bệnh đó. Nhân lúc thời tiết vẫn chưa quá lạnh cô hãy đi Kim Lăng sớm chút đi.

Thành Khởi Vận chợt cảm thấy như có một luồng hơi ấm chạy vào trong lòng, cơn gió lạnh thổi tới cũng cảm thấy nhu hoà hơn. Nàng khẽ mím môi, ngoan ngoãn đáp:
- Dạ, vậy ngày mai đợi tin tức của đại nhân xong thì ty chức sẽ đi Kim Lăng ngay.

Dương Lăng ừ một tiếng, rồi nói:
- Tôi đã dặn đầu bếp chừa lại đồ ăn cho cô, đi ăn chút gì rồi nghỉ ngơi đi. Lúc này trời lạnh, mà giường sưởi lại vẫn chưa nhóm lên đâu.

Thành Khởi Vận nhún người làm lễ, đáp vâng một tiếng rồi đưa mắt nhìn theo Dương Lăng sải bước về phía cuối hành lang. Đằng xa gió thổi đèn lay, kéo dài chiếc bóng của Dương Lăng ra đến trước mặt nàng....

Dương Lăng đi qua phòng khách, đứng giữa sân giang rộng cánh tay hít lấy cơn gió mang theo hơi lạnh. Thấy người hơi mệt, y định trở về phòng ngủ, chợt nhớ ra hôm nay chiêu đãi mấy người Bát Hổ nên vẫn chưa kịp để Cao Văn Tâm châm cứu. Do dự một chút, thấy trong sân chị em nhà Cao Văn Tâm đèn vẫn còn tỏ, y bèn cất bước đi đến.

Tính ra cũng đã xấp xỉ đến ngày, hơn nữa đợt trị liệu này cũng không cần phải canh đến đúng ngày thì mới có hiệu quả, nói không chừng "chăm chỉ tưới tiêu" hơn nửa tháng qua, chắc trong ba vị kiều thê cũng có một người có thể hoài thai cho mình rồi chứ nhỉ?

Nghĩ vậy, khoé môi Dương Lăng nhếch một nụ cười ngọt ngào. Ừ... thôi thì cứ trị liệu thêm vài tuần nữa cho chắc đi, lâu hơn tí cũng chẳng sao. Tác dụng phụ của phương thuốc này của Văn Tâm quả thực hơi "nguy hiểm".

Dương Lăng bước vào trong sân, không tiện đi vào tiếp. Y đang định cất giọng gọi Cao Văn Tâm thì nghe tiếng nàng cao giọng vẳng ra:
- Tỷ còn có liên can gì đến hắn chứ? Cớ sao hắn phải lăng nhục tỷ như vậy?

Dương Lăng nghe ngữ khí của nàng kích động, âm thanh run rẩy thì bất giác sững ra, bèn đứng yên ở đó. Y nghe trong phòng có tiếng một người con trai cất lên:
- Tỷ tỷ, nhà y mấy đời là dòng dõi thư hương, gia đình quan lại, tỷ cũng biết y rất có danh vọng ở địa phương mà. Hôm nay nghe y nói như vậy, đệ đệ cũng cảm thấy không ngẩng nổi đầu trong Phủ học. Đệ biết tỷ tỷ không phải là loại người như vậy, nhưng mà hiện giờ Dương ... Dương đại nhân kết giao đều ... đều là những loại người nào chứ? Tỷ cũng thấy đó, những kẻ đó có kẻ nào có thanh danh tốt đâu? Tự cổ có câu người phân theo bầy, vật chia theo loại; nếu nói người ta ăn nói vu vơ nhưng mắt thấy rõ rành rành thì biết giải thích thế nào đây? Tỷ à, hay là... không phải tỷ và Dương phu nhân là tỷ muội kết bái sao? Tỷ nhờ phu nhân xin Dương đại nhân ra mặt, cầu xin Hoàng thượng miễn xá thân phận nô tịch của tỷ đi. Với Dương đại nhân nó sẽ chỉ là một câu nói thôi. Chúng ta sẽ đi thật xa, đừng có bất kỳ dính líu gì với nhà họ Dương nữa. Danh dự và tiếng tăm của Cao gia kiếm được không dễ (chữ yi của 容易 đúng hơn), tuy rằng chịu phải liên lụy trong triều đình nhưng bá tánh khắp thôn cùng xóm vẫn rất tôn kính chúng ta. Chúng ta đừng đi theo nhà họ Dương để bị người ta mắng chửi...

- Câm miệng! Uổng cho đệ cũng là kẻ đọc sách thánh hiền thế mà ngay cả đạo lý tri ân bất vong báo (*) cũng không hiểu ư? Mạng của tỷ là do đại nhân cứu vớt, hiện giờ đệ không còn là một tên nô tài áo xanh mũ dưa, là ai đưa đệ đến Phủ học đọc sách chứ? - Cao Văn Tâm giận dữ đanh giọng hỏi.
(*) biết ơn người thì không quên báo đáp

Trong phòng có tiếng một người con gái khác khuyên can:
- Tỷ tỷ, đệ đệ tuổi còn nhỏ, chưa hiểu chuyện, tỷ đừng trách nó...

Dương Lăng nghe ra Cao Văn Tâm và chị em Cao Văn Lan đang nói chuyện. Cao Văn Cử vốn là kẻ đọc sách, hơn nữa chỉ là thân phận nô bộc bình thường, Dương Lăng có thể tuỳ nghi xử trí cho nên y mới đưa hắn đến Phủ học để đọc sách, hy vọng tương lai hắn có thể kiếm được công danh.

Nghe khẩu khí đó, hẳn là Cao Văn Cử đã nghe những lời đàm tiếu về mình ở bên ngoài rồi. Hừ! Loại người đọc sách như vầy, không hiểu thị phi, đúng sai không phân biệt, chẳng lẽ lời hoang đường trong miệng mọi người đáng sợ như vậy sao? "Hắn" mà Cao Văn Tâm nói đến lại là kẻ nào tung lời bịa đặt vậy?

Máu nóng bốc lên đầu, Dương Lăng vừa tính cất bước tiến vào, chợt nghĩ đến thân phận hôm nay của Cao Văn Tâm, tâm lý nàng ấy nhất định sẽ rất mẫn cảm. Nàng ấy mắng em họ của mình thì không sao, nhưng nếu chính mình xông vào quát mắng, khó tránh sẽ khiến nàng ấy đau lòng.

Dương Lăng thở dài nặng nề. Y ngước đầu xuất thần nhìn bầu trời đầy ắp những vì sao thật lâu, những lời cãi vã trong phòng hoàn toàn lọt khỏi ngoài tai. Sao sáng đầy trời, thống trị không trung, từ rất xa xưa đã có sự tồn tại của chúng, sáng rực ngay trước mắt, như thể chỉ cần với tay là có thể hái xuống ngay.

Dương Lăng thở ra một hơi bực bội, đoạn mỉm cười nghĩ: "Mặc kệ hắn đi, thanh giả tự thanh, trọc giả tự trọc (người tốt sẽ tự nổi dang thơm, kẻ xấu sẽ tự lộ xấu, không cần biện giải). Chỉ cần những người mà mình thật sự quan tâm hiểu được con người thật của mình là đủ rồi."

Y định xoay người bỏ đi, âm thanh nghẹn ngào giận dữ của Cao Văn Tâm trong phòng chợt vọng lại:
- Được, đệ là kẻ đọc sách chân chính, đệ hãy rời khỏi đây mà bảo vệ lấy cái thanh danh trong sạch của đệ đi. Từ khi đại nhân đến nơi này, xây cầu lấp đường có khi nào mà không lo cho dân chúng? Tỷ không tin dân chúng cũng đui mù như đám đọc sách các người! Tránh ra, tỷ phải đi châm cứu cho đại nhân!

Két một tiếng, cửa đã mở ra, Cạnh cửa, trong bóng đèn lồng là Cao Văn Tâm một thân váy lụa xanh biếc, vóc người thon thả thướt tha và nước mắt long lanh trên má vẫn chưa lau khô hết.

Nhìn thấy Dương Lăng đang đứng trước cửa, nàng bất giác giật mình dừng chân, vừa lúng túng cất tiếng gọi "Lão gia" vừa vội vã lau khô nước mắt. Nàng muốn bước lên song thân hình lại vẫn chắn giữ ở nơi đó, như thể e sợ Dương Lăng sẽ nổi giận xông vào trách phạt em họ của nàng.

Dương Lăng mỉm cười, bước tới nắm lấy tay nàng, làm như không có chuyện gì và nói:
- Đi thôi, Dương mỗ đang đến mời nữ thần y thi triển diệu thủ cho tại hạ đây.

Đoạn y kéo Cao Văn Tâm đang lúng túng đứng đờ ra thong dong rời khỏi sân đi về phía phòng ngủ của mình; tâm tình bình hoà, trên mặt nở một nụ cười điềm đạm không có vẻ gì là giận dữ.




Chú thích:

1) loại giường một người nằm, còn gọi là "độc thụy" (ngủ một mình), dùng làm ghế ngồi.
Xem hình http://image.cn.made-in-china.com/2f...9%E5%BA%8A.jpg
hoặc http://vietnamese.cri.cn/chinaabc/ch...pter210520.htm
2) mái hiên
3) tiến hành hai việc cùng một lúc.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
01-12-2011, 10:29 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 157 - Vào Thẳng Vấn Đề

Dịch: VoTinh90

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Chẳng lẽ y thấy đuổi hai vị đại học sĩ Lưu, Tạ còn chưa đủ nên còn muốn đẩy mình ra khỏi triều đình để một tay nắm quyền ư? Lý Đông Dương thầm đề cao cảnh giác, cười ha hả đáp:
- Tuy Dương đại nhân còn trẻ tuổi nhưng năng lực lại cao minh hơn người, ngài khách khí thế này thật khiến cho lão hủ phải e ngại. Thật ra nếu đại nhân có kiến nghị gì về triều chính thì có thể trực tiếp đưa ra thương nghị với bá quan toàn triều. Ví bằng muốn thảo luận riêng tư thì Lưu công công là Nội tướng, Tiêu đại học sĩ lại là bằng hữu của đại nhân, hình như còn chưa tới phiên lão hủ xen vào?

Dương Lăng nghiêm mặt đáp:
- Lý đại nhân đang nói Bát Hổ và Tiêu Phương? Bát Hổ tham quyền hám lợi, là hạng dốt nát tầm thường, há là người có thể thương nghị chuyện lớn? Tiêu Phương tuy có tài cán, nhưng nhiều lắm cũng chỉ có thể vâng dạ, tuân chỉ mà làm. Nếu luận kiến thức và tầm mắt nhìn xa trông rộng trong cả triều đình thì trừ Lý đại học sĩ ra, tại hạ còn có thể thỉnh giáo ai đây?




Chương 157 - Vào thẳng vấn đề


Phòng ngủ của Dương Lăng chia làm hai gian, gian trong và gian ngoài. Hàn Ấu Nương đang ở gian ngoài cắt vải may áo cho Dương Lăng. Dương Lăng mang từ Giang Nam về rất nhiều loại vải quý giá, nhưng phần lớn đều dành cho phụ nữ. Trong đó có hai mươi xấp vải đay, Dương Lăng giữ cho nhạc phụ và anh vợ năm xấp, còn lại thì để dùng.

Thời đó vải đay cực kỳ đắt đỏ, chỉ có vài địa phương như Chiết Giang, Quảng Đông và Giang Tây sản xuất được mà loại tinh xảo nhất phải là từ phủ Lôi Châu tỉnh Quảng Đông. Hai mươi xấp vải đay này là hàng thượng phẩm từ Lôi Châu, mỗi xấp chỉ có ngoài ba trượng mà đã có giá tới ba lượng bạc ròng.

Ấu Nương thành thạo nữ công hơn Ngọc Đường Xuân, Tuyết Lý Mai rất nhiều, cho nên nàng tự tay cắt may lấy, muốn may cho tướng công một chiếc áo dài vừa vặn. Thấy Dương Lăng và Cao Văn Tâm bước vào, nàng đứng dậy vừa lấy tay đấm lưng vừa chào hỏi Cao Văn Tâm:
- Tỷ tỷ rồi đến à!

Tuy Cao Văn Tâm đã lau khô nước mắt nhưng nàng vẫn sợ Ấu Nương nhận ra bèn vội đáp lời, đoạn mượn cớ quay đầu đóng cửa để tránh mặt. Thoạt tiên, vừa nghe được lời của Cao Văn Cử thì Dương Lăng rất tức giận, nhưng đến lúc suy nghĩ cặn kẽ thì y chỉ thấy tội nghiệp cho tên học sinh tự cho là bất phàm nhưng lại không có chủ kiến này; vả lại gã còn là thân nhân của Cao Văn Tâm nên y cũng không tiện nghiêm khắc răn dạy, do đó y cũng đã hoàn toàn dứt bỏ tâm sự.

Thấy Ấu Nương đấm lưng, y xót xa:
- Nàng thật! Đã nói là đem vải cho cửa hàng họ may cho mà cứ đòi tự tay làm! Mệt thì nghỉ ngơi đi, ta cũng không vội mặc.

Hàn Ấu Nương vui vẻ dạ một tiếng, đoạn nói:
- Tướng công để tỷ tỷ châm cứu trước đi. Chàng đã uống rượu thì nên đi ngủ sớm một chút, thiếp may xong đoạn này cũng đi nghỉ luôn.

Dương Lăng gật đầu, thấy Cao Văn Tâm thừa cơ tránh vào phòng, y cũng đi vào, thoải mái cởi áo ngoài, mặc mỗi chiếc quần nằm sấp trên giường, hơi kéo quần xuống để lộ nửa cặp mông.

Cao Văn Tâm im lặng ngồi kế bên, lấy hơn mười cây kim châm lần lượt cắm lên mông y, sau đó vê nhẹ từng cái một theo một nhịp độ nhất định. Dương Lăng chống cằm tư lự một hồi, rồi chậm rãi lên tiếng:
- Văn Tâm…

Cao Văn Tâm cất tiếng dạ đoạn nhẹ giọng hỏi:
- Lão gia khó chịu sao? Tiểu tỳ sẽ nhẹ tay một chút.

Dương Lăng quay đầu nhìn nàng, đột nhiên mỉm cười. Cao Văn Tâm thấy vậy có phần hoảng hốt, lắp bắp hỏi:
- Lão gia cười gì vậy?

Dương Lăng khẽ lắc đầu đáp:
- Mười tám tuổi, chỉ nhỏ hơn ta một tuổi, đã là đại cô nương chưa nhỉ? Ha ha…vẫn chưa đâu. Thật ra vẫn là một cô gái nhỏ thôi, nhưng mười tám tuổi đã nổi danh kinh thành, cùng với các vị Kim Châm Lưu xếp vào hàng ngũ ba cao thủ y sư của kinh thành, nếu xét về phương diện này thì cũng xem như là đại cô nương rồi.

Cao Văn Tâm nghe y bảo lúc thì đại cô nương, lúc thì cô gái nhỏ, không biết y muốn nói gì, chỉ chớp mắt chứ không dám đáp bừa. Dương Lăng nhận thấy vẻ khó hiểu của nàng, khẽ thở dài nói:
- Không có gì! Ta có tâm sự nên nói thế thôi.

Y do dự một lát rồi nói tiếp:
- Đều là ta sơ ý, tưởng rằng chỉ cần không xem cô là nô tỳ là được mà lại xem nhẹ cách nhìn của người khác. Hai ngày nữa ta sẽ vào cung thưa chuyện với Hoàng thượng xin xóa bỏ thân phận tiện dân của cô. Nếu như…Văn Cử không muốn ở lại đây, ta sẽ tìm cho hai người một căn nhà…

Cao Văn Tâm trong lòng run lên, thất thanh:
- Lão gia, người…người muốn đuổi nô tỳ đi sao?

Dương Lăng ừ một tiếng, Cao Văn Tâm mặt mày thoắt cái đã trở nên trắng bệch, nhưng y lại nói tiếp:
- Không phải là đuổi cô, mà là đuổi đi một nô tỳ. Cô không còn là nô tỳ của Dương phủ nữa, cũng không cần xưng nô tỳ trước mặt người khác, sau này mới có thể danh chánh ngôn thuận xưng hô tỷ muội với Ấu Nương. Cô khôi phục thân phận thần y rồi, ai còn dám bịa đặt sinh sự, nhục mạ thanh danh của cô, ta sẽ tước công danh hắn, trị tội hắn!

Nếu không còn là nô tỳ, giữa hai người sẽ không còn những chướng ngại không thể vượt qua nữa, chẳng phải sẽ càng có nhiều cơ hội hơn ư?

Nghĩ thông điểm này, trong lòng hơi vui mừng, nàng khẽ cúi đầu vâng nhẹ một tiếng, lại lo lắng hỏi:
- Lão gia không giận Văn Cử sao? Nó … nó chỉ là tên ngốc đọc sách, lão gia đừng trách nó.

Dương Lăng mỉm cười đáp:
- Kể ra thì hắn chỉ yêu quý thân phận của kẻ đọc sách, muốn tránh bị chê ghét mà thôi. Ta sẽ không so đo với hắn.

Trong lòng Cao Văn Tâm thoải mái hơn, tay nàng cũng mau lẹ hẳn lên. Một lúc sau, nàng mới ngập ngừng:
- Thứ cho nô tỳ nhiều chuyện! Nghe Văn Cử kể lại người của Phủ Học và Thái Học đều rất tức giận, lấy chuyện lão gia và Bát Hổ ra mà tranh luận, mắng…

Nàng lén nhìn vẻ mặt của Dương Lăng, thấy y vẫn tự nhiên nên mới can đảm nói tiếp:
- Mắng là…quốc tặc. Nô tỳ biết nhân phẩm của lão gia, nhưng người ngoài lại không biết. Lão gia còn chưa biết sự lợi hại của đám sĩ tử, có câu lời người nói xói chảy vàng, lời nói của đám văn nhân có thể huỷ hoại cuộc đời của một con người đó.

Nàng cúi đầu xuống, yếu ớt:
- Lý Kế Mạnh xảo biện mấy câu, liền khuấy động bách tính khắp nơi xem lão gia như ác nhân ức hiếp dân lành, thật ra…Văn Cử mới đầu biện hộ cho đại nhân ở Phủ Học, chỉ là phu tử và sĩ tử liên hệ tất cả những hành vi ghê tởm của Bát Hổ lại với đại nhân. Đại nhân và Bát Hổ từng có qua lại nên dù hắn giải thích thế nào cũng không ai tin, ngược lại còn chửi hắn là nô tài, hắn vừa giận vừa thẹn nên mới muốn rời khỏi Dương phủ để chứng tỏ lòng mình. Với quyền thế và địa vị của đại nhân hiện nay vốn không cần phải kết giao với loại người thanh danh thối nát như Bát Hổ. Phải biết rõ lòng dân mới hữu dụng, nếu mất lòng dân, tiểu tỳ lo lắng lão gia sẽ rất bất lợi đó.

Dương Lăng hỏi ngược lại:
- Lòng dân là gì? Lòng dân là xu thế chung, mà xu thế này chính là lợi ích, kẻ nào mang lại lợi ích cho dân thì sẽ được lòng dân.

Y nhớ đến một câu chuyện về Viên Sùng Hoán, bèn không khỏi cảm khái kể:
- Ta nhớ có một nước nọ, lúc man tộc tấn công ngoài quan ải, có một vị tướng quân thủ hộ đơn độc tại một toà thành, thề chết không lui. Thấy tài sản của mình có thể được bảo vệ, dân chúng trong thành đều cảm kích không thôi. Nhưng càng đánh càng nguy, mắt thấy thành khó giữ, dân chúng lo sợ man tộc sẽ tàn sát cả thành để trả thù, khi đó chẳng những tiền bạc không còn mà mạng cũng sẽ mất, do đó rất nhiều người bắt đầu chửi rủa vị tướng quân nọ vì ham lập công thăng quan mà làm hại bách tính, oán trách hắn binh lực không đủ thì đừng quyết chiến mà khổ dân. May thay, thủ lĩnh man tộc lúc công thành vì sơ ý nên bị đánh chết khiến quân địch thối lui. Tính mạng và tài sản đều được bảo vệ, dân chúng vui mừng khôn siết, lại khóc lóc ca tụng vị tướng quân đó là phụ mẫu tái sinh.

Dương Lăng cười sâu xa:
- Từ câu chuyện này cô thấy được lòng dân là gì rồi chứ? Lòng dân chính là lợi ích, tránh hại theo lợi chính là lòng dân. Đừng cho rằng bọn họ ngốc nghếch mà nghĩ rằng lòng dân có thể dựa dẫm, có thể sử dụng, có thể tranh giành. Chỉ cần những việc ta làm có lợi cho dân, thì bọn họ sẽ đứng về phía ta hay là phía đám sĩ tử chỉ biết nói những lời sáo rỗng đây?
Đừng nói hiện nay Bát Hổ cũng không phải là những kẻ đại gian đại ác, cho dù bọn họ là những kẻ đại gian đại ác đi chăng nữa, trước mắt có thể hợp tác thì ta không thể vì thể diện mà trở mặt. Huống chi…ta cũng không ngu đến thực hiện công việc cho có hiệu quả rồi mới đi tranh thủ lòng dân.

Y nhếch mép nghĩ bụng: “Cửa hàng ngựa xe, tửu quán, thanh lâu, thương xá…những nơi tam giáo cửu lưu này, mỗi tầng lớp đều có bàn tay ta nhúng vào. Hãy để cho bọn chúng bị vây trong chiến thuật biển người của ta đi. Nếu như hàng xóm láng giềng, nha hoàn nô bộc, mã phu thư đồng, thậm chí là vợ con đều tiếp nhận hoặc chí ít là không phản đối chính kiến của ta, ta thực muốn xem đám đại thần và sĩ tử bị cô lập liệu còn kiên trì được bao lâu.”

Dương Lăng thấy Cao Văn Tâm vẫn lặng thinh, bèn quay lại nhìn, thấy hơn mười cây châm sáng loáng đang đung đưa trên mông của mình rất là hoành tráng, Cao Văn Tâm lại đang ngây ngẩn. Y bật cười hỏi:
- Văn Tâm, cô làm gì vậy? Ta thấy mình chẳng khác gì con nhím, không lẽ đây cũng là một quy trình chữa trị?

Cao Văn Tâm mặt ửng hồng, giật mình tỉnh lại, vội vàng châm tiếp tiếp, ấp úng:
- Không phải! Nô tỳ đang nghĩ đến vị đại nhân đó, tấm lòng của ông ta không được người ta hiểu cho, nhất định là rất đau xót.
Nô tỳ biết những việc làm của lão gia đều là vì thiên hạ bách tính nên mới không tính toán đến danh dự cá nhân. Cho dù người khác nhìn nhận và nói như thế nào, Văn Tâm đều sẽ ở bên ngài. Thoát khỏi kiếp nô tỳ… nô tỳ cũng rất muốn, có điều mặc cho ai cười nhạo, mắng chửi, nô tỳ quyết sẽ không rời Dương phủ, rời khỏi lão gia!

Dương Lăng giật mình nhìn Cao Văn Tâm, ánh nến soi rõ những đường nét ưu mỹ trên khuôn mặt của nàng; đôi mắt kiên định, bình tĩnh, vô tư trong sáng. Lời thổ lộ can đảm ấy khiến y nghe mà kích động, thiếu chút nữa đã bật dậy ôm nàng vào lòng.

Chỉ là y vừa hơi cử động thì ngân châm lại đung đưa, lúc này y mới sực tỉnh, kiềm chế tâm tình, nằm sấp lại trên gối, mỉm cười đáp:
- Được, cô không muốn đi thì không ai có thể đuổi cô đi cả. Chỉ là…mấy cây châm đó trông sợ quá đi, hay là chúng ta hãy chuyên tâm châm cứu trước đã.

Cao Văn Tâm tình ý đã sinh, sao còn không nhận ra hàm ý trong ánh mắt vừa rồi của y. Tất cả đều do…đều do….nàng bực mình cắn môi.

***

Phủ của Lý đại học sĩ.

Dương Lăng và Lý Đông Dương sánh vai đi vào thư phòng. Lý Đông Dương kinh ngạc nhìn y, không biết y mạo muội đến bái phỏng mình là có ý gì.

Dương Lăng quan sát căn phòng. Thư phòng tao nhã cổ kính, cạnh kỷ trà là một chiếc bàn Bát Tiên bằng gỗ tử đàn, trên bàn bày ấn chặn giấy, nghiên mực, còn có mấy chồng công văn cao ngất, cạnh đó là một chiếc bình sứ Thanh Hoa rỗng miệng, trong bình cắm mười mấy cuộn tranh giấy Tuyên Thành. Phía sau nữa là tấm bình phong bằng gỗ sơn son điêu khắc hoa văn bằng vàng, đằng sau loáng thoáng lộ ra một góc giường.

Dương Lăng thấy vậy không khỏi hơi ngạc nhiên, không ngờ Lý Đông Dương tiếp kiến y ở trong thư phòng. Lẽ ra những chốn riêng tư như thế này thì ngoại trừ người trong phủ và bằng hữu cực kỳ thân thiết, người bình thường sẽ không được mời vào.

Ánh mắt Dương Lăng trở lại trên người Lý đại học sĩ. Trước mặt mỗi người là một chén trà bằng sứ rất tinh xảo, trong phòng không đốt than sưởi nên hơi lạnh, hơi nóng mỏng manh từ chén trà mới pha bốc lên lưng chừng thì đã tan mất.

Rốt cuộc Lý Đông Dương cũng nhịn không được, bèn hỏi dò:
- Hôm nay Dương đại nhân đến thăm, chẳng hay có chuyện quan trọng gì?

Dương Lăng cung kính mỉm cười đáp:
- Đại học sĩ bận rộn nhiều bề, nếu là chuyện bình thường hạ quan nào dám đến làm phiền. Quả thực có một việc lớn liên quan đến triều đình và kế sinh nhai của lê dân bách tính, hạ quan muốn tham khảo ý kiến của đại học sĩ trước.

Lý Đông Dương thầm lục lọi suy nghĩ, hiện nay tầm ảnh hưởng của Dương Lăng với Hoàng đế quả là không ai sánh được. Y có đám hồ bằng cẩu hữu (bạn xấu) như Bát Hổ, lại sắp xếp được Tiêu Phuơng vào trong nội các, luận quyền thế càng không ai có thể so bì. Hơn nữa hai người có thể nói là không hề giao thiệp, y có chuyện gì mà phải đến tìm mình thương nghị chứ?

Chẳng lẽ y thấy đuổi hai vị đại học sĩ Lưu, Tạ còn chưa đủ nên còn muốn đẩy mình ra khỏi triều đình để một tay nắm quyền ư? Lý Đông Dương thầm đề cao cảnh giác, cười ha hả đáp:
- Tuy Dương đại nhân còn trẻ tuổi nhưng năng lực lại cao minh hơn người, ngài khách khí thế này thật khiến cho lão hủ phải e ngại. Thật ra nếu đại nhân có kiến nghị gì về triều chính thì có thể trực tiếp đưa ra thương nghị với bá quan toàn triều. Ví bằng muốn thảo luận riêng tư thì Lưu công công là Nội tướng, Tiêu đại học sĩ lại là bằng hữu của đại nhân, hình như còn chưa tới phiên lão hủ xen vào?

Dương Lăng nghiêm mặt đáp:
- Lý đại nhân đang nói Bát Hổ và Tiêu Phương? Bát Hổ tham quyền hám lợi, là hạng dốt nát tầm thường, há là người có thể thương nghị chuyện lớn? Tiêu Phương tuy có tài cán, nhưng nhiều lắm cũng chỉ có thể vâng dạ, tuân chỉ mà làm. Nếu luận kiến thức và tầm mắt nhìn xa trông rộng trong cả triều đình thì trừ Lý đại học sĩ ra, tại hạ còn có thể thỉnh giáo ai đây?

Lý Đông Dương nhướng mi nhìn Dương Lăng, ánh mắt sáng ngời, môi mấp máy hồi lâu mà lại không biết nên đáp lại như thế nào.






Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
06-12-2011, 09:14 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 158 Lấy Được Thứ Mình Cần


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Giang Nam là vựa lúa thiên hạ, Tô-Hồ được mùa, thiên hạ no đủ. Thông thương rồi, cái lợi từ tơ lụa gấp chục lần nông canh, dân chúng tham cái lợi gần, kẻ có đất ắt sẽ bỏ lúa thóc mà đi trồng dâu, kẻ trồng trọt ắt sẽ bỏ đất mà đi nuôi tằm dệt vải. Các tỉnh còn lại đều không giỏi canh tác, nếu như lương thực không đủ dự trữ thì gặp lúc thiên tai địch họa tất sẽ sinh nội loạn. Trăm năm sau thế nào thì bản quan không rõ, nhưng đại loạn có khả năng trước mắt thì không thể không phòng đâu à.



Lấy được thứ mình cần

------------------------

Lập tức lời nói của Dương Lăng khiến Lý Đông Dương sững sờ. Tại thời điểm này, cho dù là ông thì trước mặt đồng liêu hảo hữu cũng không dám bình luận về Bát Hổ và Tiêu Phương một cách không hề kiêng nể như vậy cả. Dương Lăng cùng bè phái với Bát Hổ và Tiêu Phương mà lại dám buông lời thẳng thắn trước mặt mình như vậy, y điên rồi sao?

Sắc mặt Lý Đông Dương không ngừng thay đổi, chốc sau mới khẽ cười nói:
- Dương đại nhân nói chuyện như vậy, chẳng lẽ không sợ người trong Nội đình và Tiêu đại học sĩ sẽ trở mặt thành thù với đại nhân hay sao?

Dương Lăng bật cười hắc hắc, nói:
- Nếu Lý đại học sĩ không sợ bị người ta quy là tiểu nhân vu khống, chia rẽ ly gián thì cứ việc nói cho bọn họ biết đi.

Lý Đông Dương thoáng sững ra rồi bỗng ngửa mặt lên trời cười lớn. Dương Lăng mỉm cười nhìn ông: hai người đã truyện trò trong phòng kín, bất luận thành thật với nhau như thế nào thì những lời này đều không thể dùng làm chứng cứ truyền ra ngoài gây ảnh hưởng đến thanh danh và quan uy của bọn họ. Dương Lăng đã có thể thẳng thắn như vậy, Lý Đông Dương đương nhiên cũng không cần phải úy kị nữa.

Quả nhiên, cười thư sướng xong, Lý Đông Dương vỗ tay nói:
- Đến ngày hôm nay còn có thể nghe được lời sướng lòng mát dạ như vậy, lại được thốt ra từ miệng Dương đại nhân thực khiến lão phu kinh ngạc. Dương đại nhân hôm nay đến thăm, chẳng hay mục đích là chi, xin hãy nói thẳng.

Dương Lăng mỉm cười nói:
- Lẽ phải hay chính nghĩa, nói cho cùng chẳng qua là vì chữ lợi trong đó mà thôi. Có cái lợi của nước nhà, cái lợi của bá tánh, và cái lợi của cá nhân. Hôm nay hạ quan đến bái kiến đại nhân chính là muốn vì triều đình, vì bá tánh mà mưu lợi.

Ánh mắt Lý Đông Dương thoáng tập trung lại. Ông chăm chú nhìn y hỏi:
- Lời này của Dương đại nhân là có ý gì?

Dương Lăng hít sâu vào một hơi rồi nói:
- Hạ quan từ Giang Nam trở về, cảm thấy rằng vùng đất giàu có sung túc từ xưa như Giang Nam nếu chỉ dựa vào ruộng nương thì đã không thể phát triển thêm nữa. Thương nhân Giang Nam tuy nhiều nhưng sản vật tinh mỹ thì chỉ có thân sĩ phú hào các nơi mới có thể tiêu thụ nổi, vướng phải hạn chế này nên rất ít dân chúng được nhờ (ơn ấy). Thêm nữa, giặc Oa lộng hành vùng duyên hải, dẫu chưa thành mối hoạ ngầm nhưng dân chúng Đại Minh chịu nhiều quấy nhiễu, trong khi triều đình trú đóng trọng binh ở duyên hải, nơi nơi bị động phòng ngự nhưng lại không thể ngăn được hết lũ giặc cướp ấy. Đại quân hao tài tốn của mà lại không thể cứu giúp bá tánh ven biển khi lửa bỏng dầu sôi, đủ loại tệ bệnh sinh ra cũng bởi từ cấm biển. Hạ quan cho rằng, chỉ cần giải cấm thông thương thì sẽ có thể diệt trừ căn nguyên của nạn giặc lùn vậy, và buôn lậu bất hợp pháp sẽ không còn chốn dung thân. Triều đình vừa có thể thêm được số thuế khổng lồ mà lê dân bá tánh cũng có thể kiếm lợi từ trong đó, vậy cớ sao lại không làm?

Lý Đông Dương kinh ngạc vô cùng. Ông chỉ nghĩ rằng nay Dương Lăng nắm trọng quyền nên muốn làm nên chút thành tích để tạo dựng uy tín, song không ngờ y lại chọn con đường gian nan như vậy.

Bãi bỏ bế môn tỏa cảng không hẳn đã là phương thuốc hoàn hảo vô khuyết nhưng so với cấm biển cấm thương thì tốt hơn rất nhiều. Ông chủ trì triều chính lâu năm, đứng trên bậc cao nhất này đương nhiên có thể thấy rõ mấu chốt quan trọng trong đó, nhưng muốn thúc đẩy chính sách này thì tương lai sẽ vấp phải muôn vàn trắc trở từ phía triều đình.

Cho dù là khi ông và hai người Lưu, Tạ chủ trì triều chính, lại được vua Hoằng Trị hết sức tín nhiệm nhưng cũng biết nếu phí công mất lòng đi khuyên nhủ Hoàng đế giải cấm thông thương thì không khéo sẽ lại chuốc họa vào thân.

Khi cùng Lưu, Tạ bàn luận riêng về triều chính, nghĩ đến những mấu chốt phức tạp trong lệnh cấm biển, Lý Đông Dương cũng không khỏi tặc lưỡi lắc đầu cho rằng giải trừ cấm biển là một hy vọng xa vời.

Tuy bọn họ là những hiền thần tài giỏi nhưng cũng không ngờ hơn năm mươi năm sau, giải trừ hoàn toàn lệnh cấm biển đã trở thành nhiệm vụ cấp bách, hơn nữa dưới sự nhất trí đồng loạt của triều đình, Đại Minh đã thuận lợi thực thi nó. Có điều, quốc gia luôn thi hành biện pháp chính trị từng bước một cho nên hiệu quả thực tế khác xa một trời một vực, lúc đó đã hơi muộn.

Lý Đông Dương khép mắt đưa chén trà lên môi rồi trầm ngâm không nói gì.

Dương Lăng biết ông còn phải tiêu hoá lời nói vừa rồi và hơn nữa là suy đoán mục đích thật sự của mình khi đến đây, vì vậy chỉ lẳng lặng ngồi chờ không hề thúc giục. Một lúc sau, Lý Đông Dương mới hớp một ngụm trà rồi đặt chén xuống và mỉm cười nói:
- Dương đại nhân cho rằng bình Oa định hải, cường quốc phú dân, giải trừ cấm biển là một liều thuốc hay ư?

Dương Lăng thành khẩn nói:
- Đại nhân, phương pháp cường quốc phú dân đương nhiên không chỉ có một, có điều giải trừ cấm biển thông thương vẫn có thể xem là một biện pháp tốt. Biển khơi nằm đó, bờ biển kéo dài vạn dặm, việc buôn bán giữa trong và ngoài nước thuỷ chung khó mà cấm tiệt.

Những kẻ chế tạo thuyền hai cột muốn chém giết cũng chỉ có thể chặt chém dân chúng Đại Minh ta, cấm biển cũng chỉ có thể cấm dân chúng Đại Minh chúng ta. Thường có câu "dựa rừng nhờ rừng, dựa biển nhờ biển", biển cả giống như một cái chậu châu báu to, chỉ vì giặc lùn làm loạn mà vứt bỏ nó, kết quả bít đường buôn bán, thương nhân mất đi đường sống nên phải chuyển sang làm giặc.

Hiện nay tần suất giặc Oa hoành hành so với khi mới cấm biển thì thế nào? Mỗi lúc một tăng. Vì lợi ích mà người ta làm giặc, lương dân vì lợi ích của mình mà cũng ra biển làm giặc. Đại nhân gia nhập nội các lâu năm, bạn cũ nhiều khắp thiên hạ, tai mắt linh thông, hẳn biết rằng cái gọi là "giặc Oa" đa phần đều là dân chúng Đại Minh ta. Ép dân làm giặc là một tội, mà trừ Oa chống giặc là một công, vì vậy chuyện quan lại duyên hải đổi trắng thay đen, che giấu sự thật đâu đâu cũng có. Giặc cướp và thương nhân đều là người, đều vì lợi mà đến. Thông chợ thì giặc cướp làm thương nhân, mà cấm chợ thì thương nhân chuyển sang làm giặc cướp. Ngày nào lệnh cấm biển chưa giải trừ thì họa ấy luôn luôn vẫn sẽ tồn tại.

Đến nay mậu dịch triều cống chỉ giới hạn trong phạm vi triều đình, cho nên mậu dịch tư thương thịnh hành. Những thương nhân chuyên buôn bán trên biển và thân sĩ thế gia vùng duyên hải buôn lậu làm càn. Nếu bỏ bế môn tỏa cảng lại vừa đấm vừa xoa thanh trừ hải tặc ngoan cố, cho phép dân chúng ra biển buôn bán với Tây Dương và Đông Doanh (Nhật Bản) thì chẳng những có thể đập tan nạn giặc lùn mà thừa cơ hội này chúng ta còn có thể khiến cho bá tánh phồn vinh, quốc gia hưng thịnh, cớ sao lại không làm?

Lý Đông Dương nhìn sang Dương Lăng, nghe y ăn nói đĩnh đạc, loáng thoáng biểu lộ ra vẻ tiếc nuối và lo lắng nên bất giác cũng hơi động lòng. Con người ở trước mặt này có lẽ giỏi về mưu mô, có lẽ xu nịnh quân thượng,nhưng chưa chắc đã không có hùng tâm báo đáp triều đình, tạo phước cho bá tánh muôn dân.

Nếu y thật sự ham muốn quyền lợi thì lúc này đây y nên đặt tâm trí lên triều đình, lợi dụng sự rối ren trong triều mà không ngừng sắp đặt thân tín, thu phục nhân tâm, củng cố thế lực của chính mình, cớ gì lại khổ tâm đi lo nghĩ làm sao giải cấm thông thương?

Nay y quyền thế ngút trời, lại nắm trong tay ty Thuế Giám khống chế tài nguyên Đại Minh thì quả thực không có lý do gì phải mạo hiểm như vậy. Lưu công, Tạ công, chẳng lẽ các vị đều đã nhìn lầm y rồi? Kết giao công khanh quyền quý, dung túng Hoàng thượng ham chơi chỉ là vì lòng ôm hoài bão nên y không thể không làm vậy ư?

Lý Đông Dương khẽ thở dài một hơi, rồi trầm ngâm nói:
- Cấm biển đương nhiên có rất nhiều tệ nạn. Đời Hán hùng cường, đời Đường hưng thịnh, đời Tống trù phú dồi dào... Từ xưa đến nay chưa thấy lúc nào cấm biển, duy chỉ triều đại chúng ta...

Dương Lăng nghe ngữ khí ông buông lỏng, thì mừng khôn siết. Y đứng dậy cảm động nói:
- Đại học sĩ, hạ quan biết bởi vì một kẻ tú tài như tại hạ thăng tiến quá nhanh, lại có giao tình mật thiết với hoạn thần lộng quyền mà đại nhân và bá quan trong triều đã hiểu lầm nhiều. Giống như lúc Chu công bị người dèm pha đến khủng hoảng, lúc Vương Mãng chưa soán ngôi là người khiêm tốn(1), lâu ngày lòng người sẽ rõ, nay tại hạ cũng không muốn giải bày nhiều. Nhưng mà việc giải cấm thông thương này, hạ quan thực sự không có lòng riêng. Thảng như sự thành, ấy thực lợi nước lợi dân, hơn nữa hạ quan cũng nguyện sẽ tâu với Hoàng thượng, giao phó hải quan và Hữu ti nha môn cho quan viên địa phương quản lý.

Đại nhân, xưa nay ngoại tộc khó vượt biển tới đây, nay năng lực đóng thuyền của dị quốc tăng cường, đã có người Phật Lang Cơ (Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) từ vạn lý xa xôi đến viếng, ai biết trăm năm nữa sẽ thế nào? Ai biết khi ấy hải dương rộng lớn như rãnh trời đó sẽ trở thành con đường bằng phẳng hay không? (đại ý khi đó giặc ngoại xâm muốn đến là đến) Đại Minh dựng lên một trường thành nơi phương bắc, chẳng lẽ lúc ấy lại dựng thêm một trường thành ven biển? Đường đường đất nước Trung Hoa, con cháu Viêm Hoàng lại phải xây tường khắp nơi, vứt không cả đại dương quý báu cho rợ ngoài hay sao? Phải ru rú trong nhà chịu đòn hay sao? Hải vực cũng là lãnh thổ Đại Minh ta, đã có trách nhiệm giữ đất thì không nên vứt bỏ nó!

Lý Đông Dương bỗng lộ vẻ xúc động. Trầm tư hồi lâu, ông mới từ tốn đáp lại:
- Giải trừ cấm biển... khó!

Dương Lăng nói:
- Đại nhân là bậc quân tử thanh cao, cho nên mới nói là khó. Hạ quan kết giao hoạn thần, nhơ danh khắp thân, ấy là vì cái gì? Chỉ cần đại nhân đồng ý, việc khác tự đã có hạ quan lo liệu.

Lý Đông Dương liếc mắt nhìn y, rồi đột nhiên cũng đứng dậy, chậm rãi tản bộ trong phòng. Dương Lăng thấy ông trầm tư mãi, bèn cúi mình nói:
- Thiên hạ lấy nông làm gốc, tự do thông thương, nếu để thóc gạo tuồn ra ngoài thì đã thế nào? Cho dù quan phủ ngăn cấm thì cũng khó mà đề phòng tất cả.

Đoạn y thở ra một hơi, cười nói:
- Thiên hạ hôm nay thử hỏi của cải trù phú hoa mỹ thì ai có thể bì với Đại Minh ta? Tơ lụa, lá trà, đồ sứ băng sông vượt biển, một thuyền lời gấp chục lần. Cho dù triều đình không cấm liệu dân chúng có bỏ qua những mặt hàng có giá mà lén buôn lậu vật dụng phổ thông không? Đại Minh vốn không cho dân gian lấy ngân lượng dùng làm tiền tệ, nhưng tiền giấy lại chưa đủ tin cậy, tiền đồng thì không đủ để dùng, dân gian đã sớm dùng bạc trắng để giao dịch là chính. Nay hàng hoá sản xuất vượt xa thời lập nước, không còn đủ bạc trắng để dùng nên dẫn đến vật giá tăng cao, đời sống dân chúng nghèo khổ. Nhược bằng lượng lớn bạc trắng chảy vào thông qua mậu dịch, vừa có thể đưa vào lưu thông trong nước lại còn có thể mua dê bò lừa ngựa của những man tộc lân cận chung quanh. Ngoài lúa gạo ra dân chúng còn phải ăn thịt nữa, mà hiện tại có mấy nhà có thịt để ăn chứ? Vả lại, cấm biển thì ngư dân chỉ còn những con thuyền bé không chống nổi sóng gió phải đánh bắt gần bờ, mà dỡ bỏ cấm biển thì thuyền lớn ra khơi, đấy mới là cái vựa cá bất tận đó. Nhớ năm xưa Đại Tống bốn bể thông thương, dân chúng giàu có, thuế khoá triều đình sung túc, mà vào đời Tống ruộng đồng không bao la bát ngát như Đại Minh ta, thóc gạo không dồi dào bằng Đại Minh ta, ấy vậy mà thức ăn dân chúng lại vẫn hơn xa Đại Minh chúng ta.

Lý Đông Dương mỉm cười nói:
- Ruộng nương Đại Tống không bằng Đại Minh ta, nhưng nhân khẩu cũng ít hơn Đại Minh ta nhiều. Đại nhân nói cũng có lý, khả năng dân chúng lén tuồn thóc gạo ra ngoài quả thực không lớn, nhưng mua dê bò sẽ chịu phải ước thúc của ngoại tộc, đánh cá khó mà ứng phó với nhu cầu sinh tồn của bá tánh, một khi trở mặt với ngoại tộc há chẳng nguy ư? Giang Nam là vựa lúa thiên hạ, Tô-Hồ được mùa, thiên hạ no đủ. Thông thương rồi, cái lợi từ tơ lụa gấp chục lần nông canh, dân chúng tham cái lợi gần, kẻ có đất ắt sẽ bỏ lúa thóc mà đi trồng dâu, kẻ trồng trọt ắt sẽ bỏ đất mà đi nuôi tằm dệt vải. Các tỉnh còn lại đều không giỏi canh tác, nếu như lương thực không đủ dự trữ thì gặp lúc thiên tai địch họa tất sẽ sinh nội loạn. Trăm năm sau thế nào thì bản quan không rõ, nhưng đại loạn có khả năng trước mắt thì không thể không phòng đâu à.

Dương Lăng lòng bừng nhiệt huyết, chỉ nghĩ đến cơ hội quan trọng liên quan đến bước ngoặt lịch sử của quốc gia, nhưng lại không suy xét gì về tình hình trước mắt của Đại Minh. Tuy Lý Đông Dương nghe y miêu tả về tiền đồ thì rất động lòng, nhưng thân là thủ phụ đại học sĩ (người đứng đầu của nhóm đại học sỹ), ông không thể không nghĩ đến việc quan trọng hàng đầu là "dĩ thực vi thiên" (2).

Có điều khi Dương Lăng nghe ông nói "Tô-Hồ được mùa, thiên hạ no đủ" thì lấy làm lạ. Không phải tục ngữ đời sau thường nói là "Hồ-Quảng được mùa, thiên hạ no đủ" sao? Chẳng lẽ vựa lúa của thiên hạ sẽ dần dần chuyển từ duyên hải vào trong đất liền à?

Dương Lăng chợt nhớ lúc Chính Đức tự thân chấp chính có từng phê một tấu chương cho trồng thử loại lúa nước năng suất cao của An Nam, còn có khoai lang ngọt mà lúc còn ở Kê Minh dịch y từng xem là trái cây ăn thử. Kìm nén sự kích động trong lòng, y chắp tay nói:
- Lý đại nhân, nếu như hạ quan có thể giải quyết vấn đề lương thực này, biến đất đai cằn cỗi thành vựa lúa sung túc thì đại nhân có chịu ủng hộ hạ quan không?

Lý Đông Dương nhìn y, ánh mắt loáng lên, mỉm cười nói:
- Tấu chương về kết quả trồng thử lúa nước của An Nam đã được đưa về kinh. Loại lúa này chịu hạn tốt đuổi trùng hay, có thể tăng năng suất lên một thành, lão phu đã tấu xin thánh thượng năm sau sẽ cho phổ biến trồng trọt ở những vùng đất thích hợp. Có điều ruộng đất để trồng loại lúa nước có hạn, tăng thu nhập lên một thành vẫn sẽ không đủ bù vào phần lúa gạo thiếu hụt của Giang Nam.

Dương Lăng nghe được điều đó liền mừng rỡ vô cùng. So với lúa nước thì khoai lang và cây ngô lại rất dễ trồng, đất phèn đất mặn, sườn dốc bụi cây gì cũng đều sinh trưởng được. Chỉ cần nông dân chăm bón tốt một chút, khi đó năng suất lương thực sẽ tăng không chỉ một thành, mà còn hơn gấp bội. Chuyện quan trọng như vậy sao mình lại quên bén đi nhỉ.

Hiện giờ y chỉ muốn về thật nhanh để giao cho bộ hạ tìm kiếm chỗ nào có trồng khoai lang và cây ngô. Nếu triều đình vẫn chưa phổ biến trồng trọt loại cây trồng này thì hiển nhiên phần lớn dân chúng vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của chúng. Mình phải tranh thủ phát triển chúng trước, khi đó lời nói ra cũng sẽ có trọng lượng hơn.

Nghĩ đến đây, y mỉm cười nhẹ nhõm:
- Lý đại nhân không cần lo lắng, hạ quan có biện pháp giải quyết vấn đề thiếu lương thực dự trữ của Đại Minh. Đến khi đó đại nhân sẽ chịu ra sức ủng hộ chứ? Hạ quan bất tài, giấu gạt tiên đế, được đương kim hoàng thượng tin yêu nhưng lại không góp được tấc công lao nào cho xã tắc giang sơn. Chỉ cần có thể hoàn thành đại sự ích nước lợi dân này, thì hạ quan đã mãn nguyện rồi.

Lý Đông Dương kinh ngạc nhìn y: "Khẩu khí lớn thật. Trồng trọt lương thực là dựa vào tiết trời, bất luận có làm thế nào thì sản lượng kê gạo hiện hữu cũng không thể tăng vọt trong hoàn cảnh đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt cả. Ngữ khí của Dương Lăng này cũng lớn quá nhỉ?"

Ông nén lòng tò mò, điềm nhiên cười nói:
- Được, nếu Dương đại nhân có thể hoàn thành đại sự này, ấy sẽ là đệ nhất công thần Đại Minh vậy, so với công lao mở mang bờ cõi và chiến tích trăm trận chỉ hơn chứ không thua. Lão phu đương nhiên sẽ dốc hết sức ủng hộ. Có điều...

Đoạn ông thở dài nói:
- Lão phu đã già, không bằng lứa tráng niên khoẻ mạnh, gần đây luôn cảm thấy thân thể mệt mỏi, tấu chương bình thường cũng phải vất vả lắm mới phê duyệt xong. Tuổi tác của Tiêu đại học sĩ so với lão phu còn cao hơn, bản quan cũng không nỡ để Tiêu đại học sĩ quá vất vả. Công vụ thường ngày của nội các quá nhiều, không có người san sẻ, thì cho dù có lòng trợ giúp đại nhân dẹp trừ trở ngại, cũng e rằng lực bất tòng tâm.

Dương Lăng thoáng ngẩn ra. Lời này của Lý Đông Dương vừa không giống khước từ mà lại như muốn khước từ. Trong hồ lô lão rốt cuộc chứa thuốc gì đây? Dương Lăng chăm chú nhìn, thấy lão đưa nắm tay lên che miệng ho khẽ, trong cặp mắt già nua lại thoáng lộ ra vẻ giảo quyệt liền không khỏi bừng tỉnh ngộ.

Y thầm rủa một tiếng "lão hồ ly" song miệng lại tươi cười:
- Tiêu đại nhân mới vừa nhập các, triều chính phần nhiều đều dựa vào đại nhân lo toan nên khó trách đại nhân không thể chu toàn. Nghe nói đại nhân tiến cử học sĩ Dương Đình Hoà Dương đại nhân của phủ Chiêm Sĩ nhập các. Hạ quan cũng cảm thấy Dương đại nhân có tài, kiến thức chính trị trác tuyệt bất phàm, là người rất thích hợp được chọn cho vị trí đại học sĩ, Dương mỗ nghĩ rằng Hoàng thượng nhất định sẽ đồng ý với việc để Dương đại nhân nhập các thôi. Có Dương đại nhân san sẻ lo âu, đến lúc đó chắc hẳn đại quan sẽ dành thời gian chiếu cố đến những việc lớn như giải cấm duyên hải, tiếp đãi sứ thần, định ra luật pháp, dụng binh dẹp Oa, kiến tạo thuyền bè, thiết lập hải quan rồi.

Lý Đông Dương vuốt râu nói:
- Chỉ mong có thể như lời Dương đại nhân nói, vậy thì lão phu sẽ yên tâm.

Hai ngươi đưa mắt nhìn nhau, không nhịn được đều bật cười.

***

- Khoai lang, chưa bao giờ nghe nói à? Ừm... cũng gọi là khoai đỏ, khoai ngoại, củ đậu đất... cũng chưa từng nghe nói đến à?

Dương Lăng thở dài chán nản, đang định xoay người bỏ đi, ông chủ tiệm gạo thấp béo đó chợt gãi đầu nói:
- Vị công tử đây có phải là nói khoai rợ không?

"Khoai rợ? Khoai rợ là thứ gì? Có lẽ cũng là một tên gọi.", nghĩ vậy Dương Lăng bèn vội quay người, vui vẻ cười nói:
- Có thể có thể, mau lấy ra cho ta xem, chỉ cần nhìn một cái là ta sẽ biết có phải hay không.

Lúc thăm viếng Lý Đông Dương y mặc thường phục, song chất liệu quần áo cao cấp mặc trên người không che giấu được ai, cộng thêm bên người mang theo tám thủ hạ dũng mãng cường tráng, kiểu cách ấy ngay cả tại kinh sư cũng không dễ gặp. Vì vậy ông chủ tiệm gạo cũng không dám xem thường y.

Ông ta cười ngượng ngập rồi khom người nói:
- Công tử, thứ khoai rợ ấy giá rẻ như bèo, rất khó kiếm lời, mà người mua cũng ít cho nên tiểu điếm không có bán thứ ấy. Nhưng có lẽ các cửa tiệm lương thực dầu mỡ phía bắc thành có bán đó.

Phía bắc thành? Dương Lăng biết nơi ấy phần lớn là dân nghèo cư ngụ, đời sau khoai lang quả thật là thứ rẻ mạt, chẳng lẽ thời này vẫn còn hiếm mà vẫn không đáng tiền ư? Y lập tức hưng phấn chắp tay nói:
- Đa tạ ông chủ, ta sẽ đi xem thử.

Dương Lăng rời khỏi cửa tiệm, bốn tay kiệu phu nâng chiếc kiệu xanh lá lên, Dương Lăng chui vào trong kiệu rồi bảo:
- Đi, đến phía bắc thành, dạo xem mấy tiệm lúa gạo lương thực một chút.

Kiệu phu không biết tại sao lão gia rời khỏi phủ đại học sĩ xong lại chạy đến khắp các cửa hàng lương thực trong thành, bèn nghĩ bụng: "Chẳng lẽ nhà đại học sĩ đã hết gạo? Cũng có lẽ, nghe nói Lý đại học sĩ là thanh quan, trong nhà trên trăm miệng ăn mà bổng lộc triều đình lại ít cộng thêm tiết trời đã bắt đầu lạnh, nếu hết gạo thì thực thảm. Nhưng mà lão gia nhà chúng ta cũng hơi keo kiệt thật. Sao lại tặng khoai rợ cho người ta chứ, cái thứ đó mà ăn hết mùa đông thì chịu sao nổi?"

Bọn họ nghĩ vậy nhưng không dám nói ra, chỉ lặng lẽ nâng kiệu bước nhanh đến nội thành phía bắc. Chiếc kiệu kẽo kẹt lắc lư đi đến phía bắc thành, sau đó rẽ vào khu dân nghèo rách, khó khăn lắm mới tìm được một tiệm lúa gạo. Một nha sai cải trang thành gia đinh theo hầu khoát tay, chiếc kiệu con dừng lại.

Gã cảnh giác ngó quanh, rồi ra hiệu cho đám huynh đệ tản ra phòng vệ, sau đó bước đến bên kiệu gọi khẽ:
- Đại nhân, đến cửa hàng lương thực rồi.

Dương Lăng đã ngồi dựa trên chiếc đệm kiệu ngủ gật. Đêm qua y ngủ trong phòng Tuyết Lý Mai. Trong khuê phòng thì cô bé ấy "đa dạng" nhất, có dũng khí nhất. Không biết đêm hôm qua sao lại lớn gan, mặc dù trước giờ y vẫn không nỡ yêu cầu thế mà cô nàng lại thẹn thùng muốn dùng "hậu đình" (*) hầu hạ.
(*) hậu đình là "sân sau", cũng là chỉ cặp mông như trong bức tranh mà Đường Bá Hổ vẽ.

Xem ra Tuyết Lý Mai cũng đã có chuẩn bị, làm theo phương thuốc nàng học được khi còn ở Thì Hoa quán: dùng tinh mỡ chiết xuất từ mỡ heo trộn lẫn với hạnh nhân rửa sạch bôi trơn (cặp mông) một lượt. Trong cái rãnh mê người giữa hai mảng tuyết trắng nhởn nhơ ngọt ngào như đào mật, một đoá cúc non rực rỡ mềm mại hé nhuỵ nở bừng ngát hương.

Dương Lăng như được chí bảo vội ôm lấy bờ mông mịn màng như đào non ấy, chỉ thấy một cảm giác láng mịn như mỡ, co dãn nhịp nhàng, lại nghe tiếng rên rỉ dịu dàng như thổn thức của Tuyết Lý Mai, cái đêm ấy hai người điên cuồng đến kiệt lực. Trong lòng Dương Lăng cũng biết cô nàng ấy muốn lấy lòng như vậy là vì đang lo lắng điều gì.

Phụ nữ ấy, thật ra đôi khi chỉ có lòng thôi chưa đủ, nói linh tinh mấy lời ngọt ngào cũng rất cần thiết. Dương Lăng đương nhiên biết đạo lý này thế nên sau cơn khoái lạc tràn trề thì y vừa ôm tấm thân mượt mà vừa rủ rỉ nói với Tuyết Lý Mai những lời âu yếm đến quá nửa đêm, khiến cho cô nàng ấy nở ruột nở gan hạnh phúc đến phát khóc, lúc đó mới gác đùi đi ngủ, cho nên không khỏi có phần mỏi mệt. Trên đường chiếc kiệu con lại lắc lẽo đong đưa làm cho y rất buồn ngủ.

Gã phiên tử gọi mấy tiếng, không thấy đại nhân trả lời liền vội vén rèm kiệu lên, chỉ thấy Dương Lăng đang dựa nghiêng trên chiếc đệm lót mà ngủ say sưa. Gã vội rón rén thả rèm xuống rồi ra hiệu cho mọi người chú ý trật tự, chớ quấy rầy giấc ngủ của đại nhân.

Không ngờ bên gã chưa có động tĩnh gì, thì bên trong cửa hàng lương thực đã vọng ra những âm thanh huyên náo. Chỉ nghe tiếng một người đàn ông quát to:
- Đi đi, mấy cái tên ăn mày các ngươi, muốn xin ăn thì đã cho các ngươi gạo xay rồi, sao vẫn còn đứng đó lải nhải? Còn nói thêm những lời tà thuyết gạt người, lừa gạt mẹ già của ta, ta sẽ đưa các ngươi đến gặp quan phủ đó.

Theo tiếng nói, một tay chủ tiệm trẻ tuổi mặc áo dài bằng vải bông đang dẫn hai tên người làm đẩy hai người ra khỏi tiệm. Hai người nọ mặc bộ áo dài đen sì rách rưới, trông hết sức bẩn thỉu, cũng không biết đã bao lâu rồi chưa thay, mà khí trời mỗi lúc một lạnh quả thực trông có phần đáng thương.

Hai người ăn mày đó đều có vóc người cao ốm, từ đằng sau nhìn lại thì thấy tóc tai đỏ đỏ vàng vàng không giống như người Trung Nguyên. Chỉ nghe một người ăn mày nói với một âm điệu kỳ quái:
- Ông chủ, chúng tôi không phải ăn mày, chúng tôi là sứ giả của thượng đế, truyền bá giáo lý Phúc Âm. Mẹ ông thờ phụng Chúa Trời thì sẽ được cứu rỗi, được sự yên ả nơi tâm hồn...

Gã còn chưa nói hết, tay chủ tiệm trẻ tuổi nọ đã trừng mắt mắng cho:
- Bà mẹ nó, thượng đế gì chứ? Có lớn hơn Ngọc Hoàng đại đế không? Mấy cái tên quỷ đỏ ngoại quốc các người, mau biến đi cho ta, còn đứng đó cản trở buôn bán của ta nữa thì đừng có trách ta không nể mặt.

Người tóc vàng mặc áo dài đen vừa bị đẩy xuống bậc thềm vừa nói:
- Xin đừng nhục mạ thượng đế. Thượng đế nói với chúng ta rằng, chúng ta đều là anh chị em tương thân tương ái. Ôi những con chiên lạc lối... ui da...

Gã vừa đang muốn bày tỏ cảm xúc thì không biết tay chủ tiệm nọ dùng vật gì đã đánh gã một cái, khiến gã ôm đầu kêu la. Người tóc đỏ kia thấy vậy liền lớn tiếng cãi cọ.

Gã chưởng ban phiên tử thấy hai tốp người cãi nhau càng lúc càng hăng, đang định bước lên giải tán bọn họ, tránh phá giấc ngủ của Dương Lăng thì Dương Lăng đã nghe tiếng động mà tỉnh dậy. Y vén rèm kiệu nhíu mày hỏi:
- Có chuyện gì vậy? Ai đang cãi nhau đó?

Y còn chưa dứt lời, đúng lúc đó người tóc đỏ dìu người tóc vàng quay lại. Dương Lăng trông thấy bộ dạng hai người thì không khỏi sững ra. Từ lúc đến Đại Minh đến nay, mấy người có tướng mạo quái dị như vậy cũng chỉ ở Hộ Quốc tự là y mới gặp. Không phải bọn họ là đám giáo sĩ Cơ Đốc Tây dương đó sao?

Dương Lăng liền vội nhổm người xuống kiệu, cười lớn chào:
- Hai vị giáo sĩ, đã lâu không gặp.

Đến gần nhìn kỹ bộ dạng của hai vị giáo sĩ Tây dương, chỉ thấy bộ áo dài tu sĩ màu đen đã rách bươm, cả hai người mặt mày xanh xao hốc hác, xem ra đã trải qua cuộc sống vô cùng khổ cực, Dương Lăng không khỏi giật mình thất kinh:
- Hai vị, các người sao... không phải các vị vẫn luôn ở trong Hộ Quốc tự à? Hoàng... à không... vị lão gia lương thiện nọ đã quyên ba ngàn lạng bạc tiền hương quả góp cho chùa. Sao... lại đuổi các vị ra vậy?





Chú thích:

(1) Nguyên văn
Chu Công khủng cụ lưu ngôn nhật,
Vương Mãng khiêm cung vị soán thì.

Trích trong bài Phóng Ngôn 3 của Bạch Cư Dị.
Hai câu này có ý như
“Thức khuya mới biết đêm dài,
Ở lâu mới biết là người nông sâu”.

Câu đầu nhắc đến tích Chu Công ủng hộ ấu chúa lên ngôi vua, sau bị dèm là có ý phản nghịch, bị vua nghi ngờ nên sợ hãi phải về quê ở ẩn; mãi sau mới được minh oan.
Vương Mãng là cậu vua, lúc làm tướng quốc giả bộ là người rất khiêm cung, giữ lễ, tôn kính sỹ phu, … Khi được lòng người tin phục thì bèn cướp ngôi nhà Hán.
Xin xem thêm http://iask.sina.com.cn/b/10433892.html
(Ba_Van)
(2) Dân dĩ thực vi thiên (民以食為天), hay Dân dĩ thực vi tiên, có nguồn gốc xuất xứ từ "Sử ký - Lệ Thực Kỳ Lục Giả Liệt Truyện 史記•酈食其陸賈列傳", trong đó có câu nói rằng: "Vương giả dĩ dân vi thiên, nhi dân dĩ thực vi thiên -王者以民為天,而民以食為天" (tạm dịch: Bậc vua chúa lấy dân làm điều tiên quyết để tồn tại, mà dân thì lấy sự ăn làm điều quan trọng hàng đầu". Thiên: ở đây có nghĩa là cái tối quan trọng để tồn tại.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
12-12-2011, 01:55 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 159 Chưa Động Binh Mã


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng vừa nghĩ đến đây trong lòng chợt đánh thót, sực nhớ hậu viện sau nhà còn có Đại Lâu Nhi. Người con gái này rất nặng lòng công danh lợi lộc, trời sinh lại lẳng lơ, với thủ đoạn phong lưu của nàng ta nếu muốn quyến rũ một thằng nhóc mười sáu mười bảy tuổi há chẳng phải dễ như trở bàn tay?

Từ tình hình hai người giao du và hiểu về nhau trong khoảng thời gian gần đây mà nói thì nàng ta tâm kế bất phàm, thủ đoạn lại ác độc, hiện nay đang là lúc tiểu hoàng đế thích lựa lời mà nghe, tai ưa lời ngọt, nếu để nàng ta gặp Hoàng đế rồi dựa thế bám trèo, có ý cám dỗ thì...

Nếu Bát Hổ làm ác thì mình còn có thể khống chế, nhưng nếu Thành Khởi Vận chiếm được trái tim của hoàng đế thì với thủ đoạn của người con gái này chỉ e sẽ mê hoặc khiến cho tiểu hoàng đế ngay cả cha mình tên gì cũng chẳng nhớ. Nếu như nàng ta trở thành người đầu gối tay ấp của Chính Đức mà lại có lòng làm ác thì chẳng phải sẽ sinh ra một nữ ma đầu ư?




Chưa động binh mã

------------------------

Đa phần người Trung Quốc đều thấy người nước ngoài ai cũng như ai, nếu thả họ vào một đám người nước ngoài thì quả thực họ bó tay không thể phân biệt được. Hai vị giáo sĩ này đến Trung Quốc cũng rơi vào tình trạng như vậy, họ thật sự không nhớ được Dương Lăng là ai, huống hồ Dương Lăng ngày hôm nay từ khí phách đến cử chỉ lời nói cho dù không cố làm ra vẻ thì vẫn toát ra một sự oai nghiêm.

Có điều Dương Lăng vừa nhắc đến vị đại thiện nhân quyên góp ba ngàn lạng bạc tiền hương quả nọ, người tóc vàng thoáng cái đã nhớ lại, thế là không khỏi mừng rỡ reo lên:
- A! Chúng tôi nhớ ra cậu rồi, cậu là cái vị đại công tử lớn tuổi hơn đó. Tôi là Nhã Tư Các (Nicholas), công tử có nhớ tôi không?

Người tóc đỏ cũng như gặp lại người thân, cười híp mắt:
- Tôi là Hoả Giả Á Tam (1), tôi nhớ được công tử, công tử là... Dương công tử.

Đứng trên bậc thềm nhìn thấy vị công tử khí phách bất phàm dẫn theo tám gia nhân đó quen biết với hai tên ăn mày, vẻ kiêu ngạo của ông chủ tiệm lúa gạo lập tức giảm đi rất nhiều.

Dương Lăng tuy nhớ được tướng mạo bọn họ, song không nhớ được tên bọn họ, lúc này nghe bọn họ tự báo tính danh thì vội mỉm cười nói:
- A, giáo sĩ Nhã Tư Các, giáo sĩ Hỏa Giả Á Tam, xin chào hai vị. Ta có chút chuyện muốn hỏi ông chủ nơi này, lát nữa sẽ lại trò chuyện cùng các vị.

Nói đoạn Dương Lăng chắp tay chào bọn họ rồi bước lên bậc thềm cười hỏi:
- Chủ tiệm, nơi đây có bán khoai rợ không?

Khoai lang mùi vị nhạt nhẽo lại không thể thay làm lương thực dài hạn, chỉ có dân chúng ở những khu vực bần cùng mới dùng nó làm thức ăn. Ông chủ tiệm thấy có mối đến nhà, tuy vị công tử với phong thái và trang phục như vậy lại đến nhà mua khoai rợ có phần hơi lạ song ông ta vẫn tươi cười gật đầu đáp:
- Dạ có, mời công tử ngài vào, chỗ chúng tôi có bán khoai rợ ạ.

Tay chủ tiệm lật đật chạy vào trong tiệm lấy ra một bao khoai rợ mở ra cho Dương Lăng xem. Dương Lăng nhìn thấy thì không khỏi thất vọng vô cùng, thứ thực vật thân củ màu vàng lợt đó thoạt trông cũng là loại củ sinh trưởng dưới đất song lại không phải là khoai lang.

Y lắc đầu thở dài nói:
- Không phải là thứ này, hình dạng thì hơi giống thứ này, nhưng vị rất ngọt, có củ thì màu đỏ, có củ thì màu trắng. Ừm... ta nghe có người gọi nó là khoai lang, còn có thể gọi là khoai đỏ, khoai ngọt, ngoài ra còn có loại cây trồng hạt màu vàng óng, đại khái... nhỏ hơn móng tay một chút, từng hạt từng hạt.

Nhã Tư Các và Hoả Giả Á Tam đang đứng một bên, nghe y nói vậy thì không khỏi kinh ngạc nhìn nhau. Hoả Giả Á Tâm nhịn không được bèn chen miệng vào nói:
- Dương công tử, hai thứ mà công tử nói hình như rất giống với thứ mà tôi đã thấy.

Dương Lăng bỗng nhớ ra ngô và khoai lang vốn là sinh sản ở châu Mỹ, hình như là thông qua con đường Châu Âu mà được đưa vào Trung Quốc, không khỏi mừng rỡ vô cùng, liền vội xoay người hỏi:
- Giáo sĩ đã từng thấy thứ này rồi à? Ông đã thấy nó ở đâu?

Hoả Giả Á Tâm nhún vai đáp:
- Ồ, từng thấy nó từ lâu lắm rồi. Theo như công tử mô tả thì hẳn chính là vật ấy. Ừm... là mười hai năm trước, thuyền trưởng Ca Luân Bố (Columbus) xa khơi trở về, mang nó về từ một nơi rất xa xăm. Cách đây sáu năm, khi chúng tôi bắt đầu đi đến phương Đông thì trong nước đã trồng với số lượng lớn rồi. Chúng tôi cũng mang theo rất nhiều hạt giống.

Dương Lăng vừa kéo tay y vừa khẩn thiết nói:
- Quá tốt rồi, trong tay giáo sĩ còn hạt giống nào không? Nó có tác dụng rất quan trọng với ta.

Hoả Giả Á Tam xoè tay nhún vai nói:
- Khi đến phương Đông chúng tôi mang theo rất nhiều thức ăn, nhưng từ lúc chạy trốn khỏi Thiên Trúc thì đã mất gần hết, còn sót lại cũng đã ăn hết sạch lúc chuyển thuyền từ Lữ Tống (*) đi Đại Minh rồi.
(*) đảo LuZon, là một đảo lớn thuộc phía bắc quần đảo Philippin, thủ đô Manila là một trong tám khu hành chính thuộc đảo này.

Dương Lăng nghe thấy vậy thì nản chí vô cùng. Nhưng mà... mình đích xác đã từng ăn nó, hơn nữa còn là ở phương Bắc. Chẳng lẽ có người khác mang thứ đó đến đây sao? Nãy giờ nghe bọn họ nói chuyện, ông chủ tiệm gạo nhịn không được bèn chen miệng vào:
- Công tử, thứ mà công tử nói có thể ở chỗ tiểu nhân có đấy. Công tử có muốn xem một chút không? Quả như công tử muốn mua...

Dương Lăng vội nói:
- Mau lấy ra cho ta xem, nếu quả thật là thứ mà ta muốn thì một cân một lạng bạc, không... một cân mười lạng bạc!

Tay chủ tiệm vừa nghe một cân mười lạng bạc thì lập tức phát hoảng, vội vã nói ngay:
- Xin công tử đợi một chút, tiểu nhân lập tức lấy ngay.
Nói đoạn co cẳng chạy thẳng ra sau tiệm. Dương Lăng còn sốt sắng hơn cả hắn, hận không thể đuổi theo xem kết quả. Y bước vòng vòng trong cửa tiệm như một con ruồi mất đầu khiến cho hai tên người làm đứng khép nép ở góc tiệm nhìn người công tử hào phóng ấy bằng ánh mắt kính sợ.

Một lát sau, ông chủ tiệm vác một bao gạo không lớn lắm hối hả trở vào, vừa thở hồng hộc vừa nói:
- Bẩm công tử, ngài xem thử có phải là thứ này không.

Dương Lăng chạy nhào tới giành lấy cái bao trên vai gã chủ tiệm, đặt nó lên quầy rồi mở ra, tim đập thình thịch. Nhìn một nửa bao hạt ngô vàng óng ánh mà kiếp trước vốn y chẳng thèm đoái hoài đến mà Dương Lăng vui mừng suýt chút nữa khóc òa lên. Y bốc một vốc ngô lên, run rẩy nâng chúng trên tay mà hưng phấn còn hơn cả phát hiện một túi vàng.

Dương Lăng thì thào:
- Chính là nó, chính là nó.

Ông chủ tiệm vừa nghe là thứ mà Dương Lăng cần, nửa bao hạt ngô ấy là hơn trăm lạng bạc vào tay chứ nào phải đùa, thế là hắn lập tức cười đến không khép miệng lại được.

Lúc này một thằng bé cầm một củ khoai luộc chạy từ buồng trong ra, gọi:
- Cha, cha mang bao ngô đi làm gì vậy, mẹ bảo con đi hỏi cha cái gì mà một cân mười lạng vậy?

Gã chủ tiệm nào còn có thời gian trả lời, gã giật lấy củ khoai trong tay thằng bé chìa ra trước mặt Dương Lăng, ánh mắt tham lam nói:
- Công tử gia, đây có phải là khoai lang mà ngài nói không? Nhà tiểu nhân luộc một nồi lớn, nếu công tử thích ăn, tiểu nhân sẽ bán hết cho ngài.

- Cái gì? Luộc hết rồi? - Dương Lăng nhìn củ khoai đỏ đã bị luộc chín trong tay y mà khóc không ra nước mắt. Y đau xót kêu lên:
- Luộc hết rồi hả? Ngươi... ngươi không giữ lại vài củ sao?

Ông chủ cười nịnh nọt:
- Chưa luộc hết... còn giữ lại mấy củ, có điều đã nướng rồi. Công tử là người có thân phận, tiểu nhân thấy thứ đó bị khói hun lửa sém quả thực là khó coi cho nên không dám nói ra.

- Ngươi... - Dương Lăng hận không thể đạp cho hắn một cước, y gằn giọng:
- Nói mau, ngươi mua cái thứ này ở đâu? Chỉ cần chỉ cho ta tìm ra được người bán, ta sẽ cho ngươi một trăm lạng bạc.

Lúc này bỗng chợt có một tràng cười sang sảng cất lên:
- Ta bình sinh là kẻ mê rượu nhưng không ngờ đến kinh sư lại có kẻ mê khoai, là ai mà lại thích gặm khoai thế nhỉ?

Màn cửa được vén lên, một người râu xồm cười tủm tỉm từ buồng trong bước ra ngoài, nhưng Dương Lăng và hắn vừa trông thấy nhau thì đều không khỏi ngớ người, đồng thanh kêu lên:
- Là huynh?

Người nọ vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, cười nói:
- Hoá ra là Dương công tử, thật đúng là 'hữu duyên thiên lý năng tương ngộ'.

Dương Lăng nhìn thấy người râu xồm đó lại là Chúc Chi Sơn một trong tứ đại tài tử Giang Nam thì cũng không khỏi thất thanh kêu lên:
- Là Chúc công tử? Sao huynh lại ở đây?

Chúc Chi Sơn bước tới gần thì mùi rượu cũng xộc tới, xem ra vị Chúc tài tử này quả nhiên yêu rượu như mạng. Chàng ta cười ha hả nói:
- Dương công tử thật là hào phóng đấy, vì ăn mấy củ khoai mà không tiếc bỏ ra số tiền lớn như vậy. Ha ha ha, chủ tiệm nơi này là em bên ngoại của tại hạ, thứ hạt lúa Tây Thiên và khoai rợ này là trong vườn nhà tại hạ trồng, tại hạ mang một ít đến cho dì và người nhà nếm thử đồ lạ mà thôi. Dương công tử cũng thích ăn sao?

Con tim của Dương Lăng đã bình tĩnh lại, thật không ngờ y tìm được chính chủ của đám khoai và ngô đấy ngay tại đây, vậy thì cũng không cần phải nóng vội nữa mà tóm lại y tuyệt đối sẽ không bỏ qua Chúc Chi Sơn này. Sau khi trò chuyện với nhau vài câu, y vác cái bao hạt ngô mà Chúc Chi Sơn gọi là hạt lúa Tây Thiên như ông thần giữ của rồi nồng nhiệt mời Chúc Chi Sơn và hai nhà truyền giáo Tây Dương đến tửu lầu một chuyến.

Chúc Chi Sơn nghe có rượu để uống thì lập tức vui vẻ theo ngay. Bọn họ đi đến một tửu lầu lớn. Dương Lăng căn dặn thủ hạ trông chừng bao hạt ngô cẩn thận, sau đó cùng Chúc Chi Sơn và hai người Hoả Giả Á Tam lên tửu lầu tìm một gian nhã phòng an vị.

Vừa ngồi vào chỗ, Dương Lăng liền vội vàng hỏi về lai lịch của khoai rợ và hạt ngô đó. Hoá ra Chúc Chi Sơn là con nhà thế gia, cha già từng làm đến chức Bố chánh phó sứ Sơn Tây, về sau cáo lão về quê.

Năm 33 tuổi Chúc Chi Sơn trúng cử nhân nhưng sau đó hơn mười năm không có tiến triển gì thêm. Dẫu rằng nặng lòng theo đuổi công danh song do tuổi tác ngày một trôi đi, y cũng không dám ôm hy vọng nhiều về con đường làm quan của mình, bèn đặt mua nhà cửa điền sản nơi quê nhà là Tô Châu, rồi buôn bán thóc gạo lương thực, trở thành một phú ông.

Một gia đình người Hán từng di cư đến Nam Dương (Đông Nam Á) một trăm năm trước vì đắc tội với quyền quý địa phương mà phải chạy ngược về Đại Minh cách đây hai năm. Bọn họ được Chúc lão gia giữ lại giúp chăm sóc vườn cây ăn quả và vẫn thường trồng trong vườn một ít cây nông nghiệp mang về từ Nam Dương.

Những thứ đó tuy không phải là mỹ vị song hơn ở chỗ là hiếm lạ khó kiếm nên Chúc Chi Sơn thường mang một ít đến các cửa hàng lương thực để bán, do người ở các nơi chưa từng thấy những thứ này cho nên số lượng tiêu thụ không cao chẳng qua những ai chợt thích thưởng thức món tươi ngon sẽ trả giá cao hơn nhiều so với các loại lương thực phổ thông.

Dương Lăng nghe Chúc Chi Sơn nói những thứ cây trồng sản lượng cao này trở thành thực phẩm nuôi sống hiếm lạ mà hoàn toàn không nghĩ đến ý nghĩa trọng đại đối với dân chúng Đại Minh của nó, thì không khỏi trách móc:
- Chúc huynh à, những thứ này mà là trái cây cái khỉ gì, là hoa màu sản lượng cực lớn đó. Nếu phổ biến trồng trọt khắp Đại Minh thì tương lai sẽ cứu sống được biết bao nhiêu dân chúng còn đang bữa nay lo bữa mai. Huynh chỉ nuôi chúng trong một khu vườn cây ăn quả bé xíu thật sự là phí hết của trời.

Chúc Chi Sơn xoa xoa bộ râu xồm, chớp chớp cặp mắt như hai hạt đậu xanh nhìn vẻ đau lòng xót dạ ấy của Dương Lăng mà rất lấy làm khó hiểu.

Kỳ thực, đừng nói Chúc Chi Sơn chỉ là văn nhân nhàn rỗi chẳng bao giờ đi nghĩ đến vấn đề tăng gia sản xuất này nọ mà theo sách sử, qua mấy chục năm sau khi hạt ngô được truyền vào Trung Quốc thì rất nhiều nông dân cũng chỉ trồng hai ba chục gốc phía sân để giữ lại làm đồ ăn lạ miệng cho con cái mà không hề nghĩ đến việc dùng chúng để thay thế cây nông nghiệp hiện hữu chứ đừng nói đến những năm đầu khi mà chính quyền chưa từng chú ý và ghi chép này.

Lúc nhỏ sống ở nhà bà ngoại ở huyện Bình Nguyên tỉnh Sơn Đông, Dương Lăng từng nghe bà y nhắc tới câu ngạn ngữ "một mùa khoai đỏ nửa năm no" (nhất quý hồng thự bán niên lương). Ngô và khoai lang mỗi mẫu cho sản lượng mấy ngàn cân là điều rất bình thường.

Hơn nữa chúng có tính thích nghi rất cao, chịu hạn, sống được trên đất bạc màu, chịu gió mưa, ít bị sâu hại. Đất đồi, đất núi và đất mới khai hoang đều có thể vun trồng, không tranh giành đất đai cùng lúa gạo và lúa mạch, nấu chín hay đem phơi nắng đều có thể giữ được đến mấy năm, cất trữ còn tốt hơn là gạo.

Nghĩ đến ưu điểm này, Dương Lăng không khỏi vui mừng hết cỡ và cũng cảm thấy hơi áy náy với Chúc Chi Sơn: nếu không phải vì giải cấm thông thương, bị Lý Đông Dương đề ra vấn đề về lương thực thì y cũng sẽ xem nhẹ nó huống chi là một Chúc Chi Sơn cơm áo không lo, việc làm không có?

Thấy ngữ khí của mình hơi nặng, Dương Lăng bèn ngượng ngập giải thích:
- Tiểu đệ nhất thời nôn nóng, đã xuất ngôn lỗ mãng, mong Chúc huynh đừng trách.

Chúc Chi Sơn cầm chén nốc cạn hơi như cá voi hút nước, rồi cười đáp:
- Không hề gì, cũng do Dương lão đệ lo nghĩ đến lê dân, chứ thực là lão Chúc ta hổ thẹn mới phải.
Nói đoạn gã nghi hoặc liếc nhìn Dương Lăng một cái rồi hỏi:
- Có điều... thứ cho lão Chúc ta mạo muội. Lão đệ lưu tâm đến quốc kế dân sinh như vậy, chẳng lẽ... là công tử tôn quý của vị đại nhân nào đó trong triều?

Dương Lăng cười khó xử, không biết nói ra thân phận của mình rồi vị tài tử họ Chúc này có giũ áo bỏ đi hay không. Tuy nhiên nay đã muốn dùng người ta thì không thể giấu giếm được nữa. Sau thoáng do dự, y bèn nói:
- Tiểu đệ họ Dương, tên chỉ một chữ Lăng, kẻ hèn làm thân quân thống lĩnh thị vệ của đương kim Hoàng thượng, quản hạt Nội tập sự xưởng.

Chúc Chi Sơn nghe xong kinh hãi thất sắc. Dương công tử mà y ngồi cùng bàn uống rượu, nhún nhường tự xưng tiểu đệ chính là vị Dương đại nhân được đương kim thánh thượng sủng ái nhất đó ư? Y hoảng hốt đứng dậy chắp tay nói:
- Hoá ra là Dương đại nhân ở trước mặt, thất kính thất kính. Học sinh quả thực đã thất lễ rồi.

Dương Lăng cảm thấy bất ngờ bèn đứng dậy nói:
- Xin Chúc huynh hãy ngồi xuống. Tại hạ và huynh vừa gặp như đã quen lâu, hà tất giữ lễ như vậy? Ờ...- Y thoáng liếc nhìn Chúc Chi Sơn, dò hỏi:
- Danh tiếng tiểu đệ trong giới văn nhân thực không tốt lắm, vốn nghĩ rằng Chúc huynh nghe xong thân phận của tại hạ sẽ giũ áo mà đi. Chúc huynh không ngại thanh danh của tại hạ sao?

Chúc Chi Sơn nghe vậy cũng thoáng ngẩn ra, tiếp đó chợt nhớ tới một số lời đồn đãi về Dương Lăng mà mình nghe được, rồi không khỏi ung dung cười nói:
- Đám hủ nho đó nhìn người bằng ánh mắt ‘độc đáo’, học sinh thật không có kiến thức như vậy. Tạm chưa nói thanh danh của đại nhân trong dân gian vô cùng tốt đẹp, chỉ riêng thấy đại nhân chịu khép mình nhũn nhặn với một thị tỳ, chịu hạ mình kết giao với văn nhân như tại hạ đây, lại có thể vì cái ăn của dân chúng mà lo nghĩ như vậy, thì tấm lòng, phẩm hạnh và tính cách ấy sao có thể là xấu được?

Chúc Chi Sơn và Đường Bá Hổ phóng đãng ngang ngạnh, hận đời ghét phận, thuộc dị loại trong giới văn nhân thế nên cũng không được những văn nhân chính thống tiếp nhận. Tự đã trải qua cay đắng, lại từng quen biết với Dương Lăng từ dạo trước, kiến thức được lời nói tác phong của y nên đương nhiên gã không bị lời đồn đãi của giới học sĩ làm cho mê hoặc.

Dương Lăng nghe vậy thì như gặp được tri âm, liền kéo Chúc Chi Sơn ngồi xuống, cầm lấy bầu rượu rót đầy một chén cho gã. Hai người khẽ chạm chén rồi cùng nhấp môi. Đôi bên nhìn nhau mỉm cười cảm thấy rất đỗi thân thiết.

Hai người Hoả Giả Á Tam và Nhã Tư Các tội nghiệp vì tín ngưỡng thượng đế mà bữa đói bữa no nơi đất khách quê người này, nay may mắn lắm mới được một bữa ăn thịnh soạn, nên chỉ cố "cúng lấy cho đầy cái bụng".

Lúc này nghe Dương Lăng nói vậy, Hoả Giả Á Tam mới tá hoả tam tinh mà la lên:
- Ngài chính là Dương đại nhân? Là đại thần tin sủng nhất của hoàng đế Đại Minh? Ôi... thượng đế hiển linh, người đã dẫn dắt con đến gặp được anh ta, mang đến ánh sáng cho con.

Dương Lăng cười ha hả nói:
- Không dám không dám, hai vị giáo sĩ tiên sinh quá khen rồi. Bản quan bộn bề công vụ vẫn chưa có cơ hội dâng lời với Hoàng thượng chuyện đã đáp ứng với hai vị. Có điều hai vị có thể yên tâm, tăng nhân Tây Vực của Hộ Quốc tự lạnh nhạt với các vị vậy phát triển ở nơi đó cũng sẽ khó mà thuận lợi, chi bằng lát nữa hay đến thành tây, trọ tạm trong Nội xưởng trước rồi bản quan sẽ giúp các vị xây dựng nhà cửa vậy.

Một khi giải cấm thông thương thành công, mục đích sẽ không chỉ là làm ăn cùng đám người Đông Dương, Lữ Tống và Lưu Cầu (*), mà mục tiêu xa hơn nữa sẽ là Tây phương. Những quốc gia phương xa sắp sửa trở thành bá chủ biển khơi đó cũng là những quốc gia ngoại bang mà hiện nay Đại Minh đang cự tuyệt lui tới song lại đóng vai trò quan trọng trong lịch sử.
(*) Quần đảo Okinawa thuộc Nhật Bản ngày nay.

Mấy nhà truyền giáo đến từ Phật Lang Cơ (danh xưng người thời Minh gọi chung cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ đào Nha) này tinh thông tiếng Trung lẫn tiếng phương Tây, hơn nữa thân phận khá là đặc biệt nên sau này sẽ là nhà môi giới rất tốt. Ở thời đại như vầy, một nhà môi giới đắc lực sẽ có thể phát huy tác dụng rất lớn, đấy gọi là "nhân tận kỳ tài, vật tận kỳ dụng"(1), sao y có thể lãng phí chứ.

Nghe Dương Lăng nói vậy, hai nhà truyền giáo mừng rỡ khôn thôi, liền vội đứng dậy cảm ơn. Đến Trung Quốc lâu như vậy, bọn họ đương nhiên là hiểu cái đạo lý "có qua có lại mới toại lòng nhau" mà người Trung Quốc coi trọng.

Nhã Tư Các liền nhanh nhảu nói:
- Đa tạ Dương đại nhân, nói về bồi dưỡng cây trồng và trồng trọt, tôi... biết một số thứ, biết tại mỗi vùng đồng bằng lẫn đồi núi thì nên trồng thứ gì, nếu như đại nhân muốn mở rộng trồng trọt giống cây này thì tôi tình nguyện cống hiến sức lực cho ngài.

Dương Lăng rất đỗi vui mừng, không ngờ người này còn là một chuyên gia thực vật học. Có cây lương thực và người thạo trồng trọt ở chỗ Chúc Chi Sơn sẵn, lại có thêm vị chuyên gia trồng trọt này chỉ đạo thì mọi thứ sẽ dễ hơn nhiều.

Thời Minh đã có nhà ươm trồng trọt cho mùa đông, chuyên môn trồng rau cải cho hoàng thất. Do ít dùng đất đồng ruộng, cho nên có thể khống chế được sâu bọ gây hại. Dương Lăng hận không thể lập tức mang mấy người này phóng ngựa về thôn trang, bắt tay chuẩn bị ngay.

Dương Lăng cảm ơn Nhã Tư Các, rồi quay sang Chúc Chi Sơn nói:
- Chúc huynh, lần này đến kinh thành, không biết có chuyện quan trọng gì không?

Chúc Chi Sơn tuy phóng túng không câu nệ, tự khoe mình là danh sĩ phong lưu và gần như đã đạt tới cảnh giới xem phú quý tựa mây trôi song nói cho cùng, là đàn ông ai không muốn công thành danh toại, sự nghiệp thăng tiến chứ, đường công danh của gã đã không thể tiến thêm bước nữa nên Chúc Chi Sơn định lấy thân cử nhân tự tiến cử một chức quan để làm.

Lần này y vào kinh tìm một vị trưởng bối bạn của cha làm trong bộ Công, vốn định nhờ ông ta giúp đỡ vận động một chút nhưng nay bố cục thế lực triều đình đại biến, đa phần quan viên đều giữ thân ngoài cuộc, trưng ra bộ mặt lạnh nhạt thờ ơ.

Vị trưởng bối nọ biết Lý đại học sĩ đang gặp phải cảnh ngộ tế nhị mà ông ta lại không muốn đi xin xỏ Lưu Cẩn của nội đình nên việc này vốn đã vô vọng. Giờ người thanh niên mà mình quen biết này lại là Dương Lăng quyền cao chức trọng, lòng y không khỏi lại sống lại.

Khuôn mặt đen đúa của Chúc Chi Sơn thoáng đỏ lên, ngượng ngập:
- Chuyện này... lão Chúc vào kinh, vốn định tìm vị trưởng bối bạn cha tìm công việc để làm. Đã uổng phí nửa đời đọc thi thư thì không thể cứ làm thương nhân cả đời được, nhưng mà...

Dương Lăng sực hiểu ra, liền cười nói:
- Hoá ra là như vậy. Chúc huynh liệt danh trong tứ đại tài tử Giang Nam, trong lòng tự có khê sơn (2). Còn như không rành về bát cổ thì sao giấu được tài học trong lòng?

Y thoáng trầm ngâm rồi chậm rãi nói:
- Tiến cử Chúc huynh giữ chức đứng đầu một huyện, việc ấy huynh đệ có thể làm được; về sau có được thành tích rõ rệt thì việc huynh một bước lên trời đương nhiên sẽ không thành vấn đề. Không biết Chúc huynh có nguyện chịu thiệt?

"Chịu thiệt?" Chúc Chi Sơn đã sớm vui đến ngất ngây. Đừng nói y là cử nhân mà cho dù là tiến sĩ thi Đình thì có thể khởi bước làm một huyện lệnh cũng đã là cơ hội vô cùng hiếm có rồi. Những người khác đa phần hoặc nhậm một chức vụ làm cảnh, hoặc sẽ dưỡng lão trong Hàn Lâm viện, nào có cơ hội này?

Chúc Chi Sơn vội cảm ơn rối rít. Tiếp đó Dương Lăng lại cùng y thương nghi về việc vận chuyển một số lượng ngô và khoai lang từ quê nhà vào kinh, Chúc Chi Sơn hiển nhiên vui vẻ đáp ứng.

Dương Lăng biết trước mắt Chúc gia chỉ có bao nhiêu đây mầm ngô, có điều khoai lang lại rất dễ nuôi trồng trong hầm nên y chuẩn bị nhân giống số lượng lớn rồi qua xuân sẽ trồng đại trà.

Quyền lực của y tuy lớn nhưng hiện tại vẫn chưa có quyền xen vào chính sự địa phương, việc đẩy mạnh phát triển cây lương thực mới có sẽ bị cản trở hay không thì y cũng chưa có toan tính gì trong lòng, nhưng hiện tại chuẩn bị chu đáo thì vẫn tốt hơn.

Mấy người vui vẻ no say, đưa tiễn Chúc Chi Sơn xong Dương Lăng đưa hai người Nhã Tư Các trở về Hộ Quốc tự, gọi mấy nhà truyền giáo còn lại thu thập hành trang rồi cùng đến Cao Lão trang ở tạm. Thấy tiết trời dần trở lạnh, mấy nhà truyền giáo mới vừa truyền giáo và hoá duyên (khất thực) về đang run lập cập trong đại điện vắng vẻ của ngôi chùa nghe được tin tức này liền hết sức phấn khởi chạy ra.

Đám người này nói đi là đi ngay, ngoài mấy bao lương thực và mấy tấm chăn rách rưới thì chẳng còn gì khác. Dương Lăng thuê một chiếc xe ngựa lớn, đưa bọn họ rời khỏi tây thành đến Cao Lão trang rồi đưa bọn họ đến ở tạm trong nội tập sự xưởng sau núi.

Nội xưởng giờ đây đang phát triển với một khí thế bừng bừng, Hoàng Kỳ Dận và Ngô Kiệt người thì bận lo nội chính, người thì bận "mở mang bờ cõi"; an bài và huấn luyện nhân viên, điều phối vật tư, thu thập, chỉnh lý và phân tích tình báo, xây dựng tổ chức, ghi chép và sử dụng số thu nhập đáng kể đem lại từ việc quay vòng hàng hoá thông qua cửa hàng ngựa xe đủ các công việc rắc rối phức tạp mà lại vô cùng trọng yếu, bất cứ thứ gì phát sinh vấn đề đều có thể ảnh hưởng đến sự vận hành của tổ chức non trẻ đang phát triển này.

Hai vị đáng đầu bận rộn xử lý công vụ cả ngày, trái ngược với vị "tổng quản" Dương Lăng thoạt trông có vẻ quá thanh nhàn. Nhưng là người nắm giữ toàn cuộc, Dương Lăng cho rằng y chỉ cần khống chế phương hướng phát triển của Nội xưởng, xử lý tốt các mối quan hệ giữa người với người, cố gắng tạo ra ít chính sách và thời cơ thuận lợi cho bọn họ, cho bọn họ đủ không gian thi thố tài năng là được. Nếu ôm đồm hết mọi việc, chuyện gì cũng can dự vào thì chưa hẳn đã là một nhà lãnh đạo giỏi cho nên công vụ thường ngày y đều buông tay để bọn họ đi làm.

Dương Nhất Thanh đi cùng Vu Vĩnh đến phương nam, Liễu thiên hộ thì đang theo phương pháp Dương Lăng sử dụng huấn huyện trinh sát cấm quân khi còn ở Thần Cơ doanh để huấn luyện đám nha sai mới được chiêu mộ. Những nông dân trẻ khoẻ này dễ huấn luyện hơn đám cựu binh lão đời kia, độ trung thành cũng cao, hiện đám ba trăm lính mới này đã bắt đầu cho thấy thành quả.

Ý của Dương Lăng là biến đám người tam giáo cửu lưu thành đội quân thu thập tình báo khắp mọi nơi, lấy cửa hàng ngựa xe làm con đường liên lạc nhưng phải thiết lập được tổ chức trung chuyển tình báo ở các nơi.

Y rút kinh nghiệm về tệ chậm chạp trong việc phân tích những tin tức tình báo từ hệ thống ngoại vi Cẩm Y Vệ thu lượm được chuyển về trung tâm, những tệ nạn không phân biệt được việc quan trọng hay không, khẩn cấp hay thong thả của tin tức đã thu lượm được. Các tổ chức trung chuyển tình báo do y thành lập sẽ thiết lập nhân viên phân tích chuyên phân loại các tin tình báo rồi dựa theo mức độ quan trọng và cấp bách mà truyền về tổng bộ khiến cho hiệu suất xử lý thông tin tình báo được tăng cao.

Đồng thời y kiên trì cho những nhân viên thu thập tình báo này sử dụng mật thám chiêu mộ "tạm thời" là những bá tánh bình dân là chính. Các tổ chức trung chuyển tình báo sẽ lập ra một lực lượng phản ứng nhanh nho nhỏ khác - một hệ thống bảo vệ và ứng phó với các loại sự kiện phát sinh đột biến. Những nhân viên mà Liễu Bưu huấn luyện thuộc về loại nhân viên này, cũng là thành viên trọng tâm của Nội xưởng.

Thấy Dương Lăng mang mấy người ngoại quốc quần áo lam lũ vào thì Liễu Bưu dẫn mấy người chạy ra nghênh đón. Dương Lăng vừa cười khoát tay ngăn gã làm lễ vừa nhìn những tân binh đã hơi có khí chất quân nhân đang tập bắn súng.

Đa phần những binh đinh này đều đã từng tập võ, có nền tảng sử dụng vũ khí lạnh nhất định cho nên trong xưởng chủ yếu huấn luyện bọn họ sử dụng cung nỏ và súng trường. Chỉ thấy những sĩ tốt nọ đang nâng súng ngắm bắn, một loạt những tiếng "đoàng đoàng đoàng" vang lên, trong khói súng mịt mù những bia bắn hình người cách mấy chục mét phía trước có mấy cái đã bị bắn cho xiêu vẹo.

Dương Lăng khẽ gật đầu tán thưởng. Liễu Bưu thấy vậy cũng không khỏi nở nụ cười dè dặt. Hoả Lão Á Tam thấy lạ, bèn hỏi:
- Đại nhân, hoả khí mà binh sĩ của ngài sử dụng có phải là hơi kém không? Chẳng những phí thời gian và sức lực lắp đạn mà tầm bắn cũng không xa.

Bọn người Liễu Bưu nghe vậy thì rất không phục, gã khinh thường liếc mấy tên ngoại quốc mắt xanh tóc vàng một cái. Nếu không phải vì tạm thời chưa đoán ra được quan hệ giữa kẻ đó và Xưởng đốc thì bọn hắn đã chửi cho một trận rồi.

Dương Lăng nghe xong lại không khỏi máy động trong lòng. Vấn đề về tốc độ và tầm bắn của súng trường luôn là nút thắt hạn chế khiến nó không thể phát huy được tác dụng lớn nhưng Dương Lăng lại không hiểu về súng ống, y từng đề cập tới một ít nguyên lý về súng ống và đạn dược hiện đại cho thợ chế tạo hỏa khí song với trình độ công nghệ và thuốc súng thời đó thì quả thực không cách nào chế tạo ra được.

Vì bó tay nên Dương Lăng mới dồn sức phát triển loại vũ khí bắn ra một đống hoả tiễn như bầy ong vỡ tổ, vậy mà cận chiến trong thành thị quân đội của y cũng đã đủ để lấy một chọi mười, lấy ít thắng nhiều rồi. Lúc này nghe được lời của Hoả Giả Á Tam, y chợt nghĩ có lẽ vị truyền giáo sĩ này biết chế tạo súng trường tiên tiến hơn?

Dương Lăng bèn xoay người mỉm cười hỏi:
- Không biết giáo sĩ tiên sinh có cao kiến gì?

Từ khi biết được thân phận của Dương Lăng thì Hoả Giả Á Tam liền biết mình có thể được triều đình Đại Minh công nhận hay không, có được phép công nhiên truyền giáo ở Đại Minh hay không hoàn toàn được quyết định bởi con người này nên bước lên một bước lập tức ra sức giải thích cho y.

Nhưng trình độ Trung văn của gã có hạn, nói xã giao bình thường thì không sao nhưng khi dính dáng đến thuật ngữ chuyên nghiệp thì nói không được rõ ràng. Hoả Giả Á Tam hết sức sốt ruột, trông thấy bên cạnh có một nha sai đang đeo một khẩu súng trường liền gọi hắn lại rồi cầm súng để giải thích cho Dương Lăng.

Thời đó súng trường mà quân Minh sử dụng còn được gọi là hoả môn thương (*). Kết cấu của hoả môn thương rất đơn giản, khi bắn thường cần tới hai người, một người lắp thuốc súng, hạt thầu dầu rồi nhồi đạn sắt hoặc đạn chì vào sau đó dùng dây làm bằng kim loại hoặc than củi được nung đỏ châm vào thuốc súng bên trong nòng súng, viên đạn sẽ bắn ra.
(*) http://baike.baidu.com/view/914286.htm.

Phương thức bắn "nhàn nhã" này dĩ nhiên không thích hợp để hỗn chiến trên chiến trường thiên quân vạn mã, sau lại sửa thành thao tác một người, chẳng những tốc độ giữa mỗi lần bắn chậm hơn mà binh sĩ một tay cầm súng một tay cầm đồ nhóm lửa hoàn toàn không thể nào nhắm chuẩn.

Phương pháp của Hoả Giả Á Tam là dùng sợi kíp dẫn cháy chậm làm mồi dẫn thuốc súng, chỉ cần trang bị một cần bóp cò đơn giản là được, cải tạo lại không khó.

Như vậy, sĩ tốt sẽ có thể cầm súng bằng hai tay, độ chuẩn xác sẽ tăng lên rất cao, hơn nữa loại nòng súng đặc chế dài hơn sẽ có thể nhồi được nhiều thuốc súng hơn, lực xoáy sinh ra khi viên đạn được bắn sẽ khiến cho tầm bắn và tốc độ bắn cải thiện lên rất nhiều.

Mấy cựu binh huấn luyện sử dụng súng trường đứng cạnh Liễu Bưu phần lớn còn kiêm thêm trách nhiệm chế tạo súng, vừa nghe Hoả Giả Á Tam ấp úng giải thích về phương pháp mới thì vẻ xem thường lập tức mất sạch.

Dương Lăng vẫn chưa hiểu lắm về những thứ mà Hoả Giả Á Tam trình bày nhưng dò thấy vẻ mặt của mấy thợ chế tạo súng liền biết phương pháp mà ông ta nói nhất định có thể thực hiện.

Nghe ông ta nói xong nguyên lý của loại ngòi dẫn lửa này, Dương Lăng bỗng sực nảy ra ý tưởng, nhịn không được bèn nói với Hoả Giả Á Tam:
- Giáo sĩ, nếu như lại cải tiến ngòi dẫn đó một chút bằng cách lắp thêm một viên đá lửa nhỏ để dùng tia lửa do ma sát sinh ra kích nổ thuốc súng, tốc độ hẳn sẽ còn nhanh hơn nhiều phải không? Hơn nữa trời mưa cũng có thể sử dụng, ông cho rằng có thể làm được không?

Có những việc không phải là không làm được, mà sợ nghĩ không ra, lời Dương Lăng vừa thốt ra, chẳng những Hoả Giả Á Tam trợn tròn cặp mắt màu xanh lam mà thậm chí những người thợ chế tạo trong quân vừa mới hiểu ra nguyên lý ngòi dẫn cũng chấn động toàn thân, lập tức nghĩ đến tính khả thi và giá trị khổng lồ của nó.

Hoả Giả Á Tâm miệng mấp máy như một con cá nửa ngày trời, rồi mới kịnh hãi thốt lên:
- Ôi Chúa ơi, thật khiến người ta đố kị vì thượng đế đã ban cho đại nhân trí tuệ vô song. Tôi nghĩ... tôi nghĩ cải tiến những thứ này không hề khó, phương pháp của đại nhân thật sự có thể thực hiện được, ngài sẽ có được một đội quân súng trường vô địch!

Dương Lăng cũng hưng phấn không thôi, y thoáng siết chặc nắm tay, hồi lâu mới hít sâu một hơi rồi dặn dò Liễu Bưu:
- Hãy thu xếp chỗ ở tốt nhất, tiếp đãi chu đáo mấy vị giáo sĩ này, bọn họ là bằng hữu tốt của ta.

Đoạn y xoay người mỉm cười nói với Hoả Gả Á Tam:
- Giáo sĩ, mời các vị yên tâm ở lại nơi này. Dân tộc du mục phương bắc thường xuyên xâm phạm cương thổ Đại Minh nên ta hết sức hy vọng giáo sĩ có thể giúp binh sĩ ta chế tạo vũ khí tốt hơn, bảo vệ quê hương và ruộng đất của chúng ta. Để báo đáp, ta xin hứa sẽ đem hết sức mình giúp đỡ giáo sĩ và các vị bằng hữu, cho phép các vị truyền giáo ở Đại Minh để Phúc Âm của thượng đế truyền đến lãnh thổ đất nước cường đại và văn minh nhất đông phương. Bản thân ta sẽ nguyện lòng quyên góp giúp các vị dựng nên một giáo đường hoa lệ nhất!

Hoả Giả Á Tam nghe mà suýt khóc, mấy nhà truyền giáo nhìn Dương Lăng mà nước mắt rưng rưng, cảm động đến khôn cùng. Ban đầu ôm đầy lòng nhiệt thành và hào tình, mang theo ý chỉ và sự giao phó của Giáo hoàng vất vả lặn lội đến nơi tha hương dị quốc này, mấy năm nay mỗi lúc càng thêm thê thảm. Lòng cuồng nhiệt về tôn giáo cùng thân phận nghèo kiết khiến bọn họ không dám và cũng không còn sức băng sông vượt biển để trở về cố hương. Nay chỉ cần bỏ ra chút ít tiền vốn, chỉ điểm cải tiến súng trường một chút thì sẽ được nhân vật có thực quyền của Đại Minh dốc sức giúp đỡ, vậy còn có gì mà không chịu?

Bọn họ dường như có thể thấy được một toà giáo đường thần thánh và trang nghiêm sừng sững tại phương đông, dường như có thể thấy được Đức Giáo hoàng đích thân khoác lên người bọn họ chiếc áo của Hồng y giáo chủ.

Dương Lăng đưa những "báu vật" này đến nơi ở tốt nhất, lại uống trà chuyện trò một hồi mong sao có thể "đào ra" thêm mấy chuyên gia hàng hải hoặc chế tạo tàu thuyền trong mấy người này. Tiếc rằng ngoài thánh kinh những người khác đa phần chỉ biết về hoá học và triết học. Trước mắt Dương Lăng chưa có ý định để bọn họ viết sách lập thuyết nên chuyển sang tán gẫu về phong thổ nhân tình của Bồ Đào Nha.

Tuy hiểu biết của Dương Lăng về nơi đó có hạn nhưng lại khiến cho những nhà truyền giáo này có cảm giác "đến quê người gặp cố tri". Hai bên đang chuyện trò bỗng có một phiên tử bước vào trong phòng nói nhỏ với Liễu Bưu mấy câu, Liễu Bưu lại gần Dương Lăng, đợi hai bên dứt lời liền bẩm luôn:
- Đại nhân, lão quản gia trong phủ đến tìm đại nhân, hình như có chuyện gấp.

Dương Lăng thoáng kinh ngạc, bèn đứng dậy nói: "Mau bảo ông ta vào."

Trong chốc lát, Cao quản gia đã chạy ù vào, trông thấy y thì mừng rỡ kêu lên:
- Lão gia, quả nhiên là người đang ở đây, trong phủ có khách đến xin lão gia mau về một chuyến.

Suốt từ đầu lão quản gia cho người gác trước cổng chờ lão gia hồi phủ rồi sau đó lại được gia nhân báo tin nói rằng kiệu của lão gia không vào bằng cửa hông mà tiến thẳng đến hậu sơn, ông ta nghe vậy nóng lòng không nhịn được mà đuổi theo. Quả nhiên đã tìm được Dương Lăng ở đây.

Dương Lăng ngạc nhiên hỏi:
- Là vị đại nhân nào?

Cao quản gia định mở miệng, lại nhìn mọi người trong phòng, Dương Lăng hiểu ý bèn cáo lỗi mấy vị giáo sĩ rồi đi ra ngoài, Cao quản gia vừa kéo tay áo y vừa căng thẳng nói:
- Lão gia, Hoàng thượng đến, đã đến phủ được một lát rồi.

Dương Lăng nghe xong giật nảy cả người, vội hỏi ngay:
- Hoàng thượng? Hoàng thượng đến lâu chưa? Còn ở trong phủ không?

Vẻ mặt Cao quản gia trở nên hơi kỳ lạ, nói:
- Hoàng thượng đã đến được gần một canh giờ. Nghe nói lão gia không có ở trong phủ thì người... người đi lòng vòng trong phòng khách một hồi, phu nhân ra hầu chuyện một hồi, Hoàng thượng đợi cảm thấy nhàm chán nên đã xông vào hậu viện, lão nô lại không dám ngăn cản người.

Dương Lăng vừa nghe liền sực hiểu. Thời đó rất coi trọng lễ tiết, hậu viện nhà họ Dương là nơi ở của nữ quyến, cho dù là Cao quản gia thì bình thường cũng quyết không bước vào một bước, khách tới chỉ có thể gặp gỡ ở nhà trước. Trừ phi là bạn hữu chí thân chứ nào có đạo lý đi đến nơi ở của nữ quyến tại nhà sau, khó trách sao lão quản gia lại nóng ruột khó xử như vậy.

Với hiểu biết của Dương Lăng về tiểu hoàng đế này, biết tính cách tuỳ tiện của y, lúc ham chơi lên liền trêu đùa bát nháo, quàng vai bá cổ cùng với mấy người Lưu Cẩn, không ra dáng vẻ Hoàng thượng gì, thì mấy cái phong tục lễ nghi này y có sẽ để ý tới không? Hơn nữa Chính Đức của hiện tại chỉ ham chơi mà thôi, thật không giống hôn quân dâm ô bất trị như trong truyền thuyết, thì y còn có thể có hành vi vô lễ với thê thiếp của mình hay sao?

Tuy nhiên hành động này của lão quản gia cũng cho thấy được lòng trung thành của ông ấy với mình, Dương Lăng bèn an ủi lão:
- Biết rồi, Hoàng thượng còn nhỏ, không thích bị câu thúc nên không để ý đến những lễ tiết này lắm, ta lập tức trở về là được.

Dương Lăng quay trở vào trong phòng, nói Liễu Bưu chiếu cố mấy vị giáo sĩ cho thật tốt rồi không kịp đi gặp Ngô Kiệt và Hoàng Kỳ Dận mà đã rời Nội xường về phủ.

Trong ký ức của Dương Lăng, Chính Đức trong truyền thuyết dân gian là một hoàng đế phong lưu anh tuấn lịch lãm, hoà nhã dễ gần. Những truyện hoàng đế cải trang vi hành mà đời Thanh lưu truyền thì phần lớn lấy từ những câu chuyện dã sử về Chính Đức mà ra, còn hoàng đế Chính Đức trong chính sử của người nhà Thanh lại là một ông vua hôn quân vô đạo, háo sắc vô hạnh, thậm chí còn hơi biến thái.

Chu Hậu Chiếu mà hiện nay bản thân y tiếp xúc trông không khác mấy với đại đa số thiếu niên bình thường thời hiện đại, nhưng trong thời đại Nho học nơi trẻ em mười bảy mười tám tuổi đa phần đều thuộc làu tri thức thánh nhân, xuất khẩu thành thơ, xem trọng lễ giáo này thì tác phong và cử chỉ của vị tiểu hoàng đế được con mắt của dân chúng cả nước nhìn vào này quả thật hơi hoang đường.

Thấy lão quản gia đi theo cạnh, vẻ mặt còn nôn nóng hơn y mấy phần, Dương Lăng chợt cảm thấy buồn cười. Nếu đặt vào thời hiện đại thì hành vi của Chính Đức có còn "kinh hãi thế tục" như vậy không? Chu Hậu Chiếu đã từng tận mắt thấy vẻ xinh đẹp diễm lệ của Ngọc Đường Xuân mà vẫn chưa từng xúc động tâm tư, chẳng lẽ còn sợ hắn có ý với thê thiếp của mình à?

Dương Lăng vừa nghĩ đến đây trong lòng chợt đánh thót, sực nhớ hậu viện sau nhà còn có Đại Lâu Nhi. Người con gái này rất nặng lòng công danh lợi lộc, trời sinh lại lẳng lơ, với thủ đoạn phong lưu của nàng ta nếu muốn quyến rũ một thằng nhóc mười sáu mười bảy tuổi há chẳng phải dễ như trở bàn tay?

Từ tình hình hai người giao du và hiểu về nhau trong khoảng thời gian gần đây mà nói thì nàng ta tâm kế bất phàm, thủ đoạn lại ác độc, hiện nay đang là lúc tiểu hoàng đế thích lựa lời mà nghe, tai ưa lời ngọt, nếu để nàng ta gặp Hoàng đế rồi dựa thế bám trèo, có ý cám dỗ thì...

Nếu Bát Hổ làm ác thì mình còn có thể khống chế, nhưng nếu Thành Khởi Vận chiếm được trái tim của hoàng đế thì với thủ đoạn của người con gái này chỉ e sẽ mê hoặc khiến cho tiểu hoàng đế ngay cả cha mình tên gì cũng chẳng nhớ. Nếu như nàng ta trở thành người đầu gối tay ấp của Chính Đức mà lại có lòng làm ác thì chẳng phải sẽ sinh ra một nữ ma đầu ư?

Dương Lăng nghĩ đến điều này thì trở nên vô cùng lo lắng, không thể an nhàn ngồi kiệu xuống núi nữa mà vội gọi một chưởng ban phiên tử lại:
- Mau, dắt một thớt chiến mã lại cho ta, ta phải lập tức hạ sơn.






Chú thích:

1. Tomé Pires (1465?-1524/1540) là sứ thần Châu Âu đầu tiên ở Trung Quốc.

2. Cụm từ “nhân tẫn kỳ tài, vật tẫn kỳ dụng“ rất thường gặp trong Trung Văn. Trong thuyết “Tam Dân” của Tôn Trung Sơn có câu: "Nhân năng tận kỳ tài, địa năng tận kỳ lợi, vật năng tận kỳ dụng, hoá năng sướng kỳ lưu" nghĩa là có thể phát huy hết tài năng của mọi người, khai thác hết lợi ích của đất đai, sử dụng hết công năng của vạn vật, và để cho mọi hàng hoá đều được lưu thông.

3. Nguyên văn "hung trung tự hữu khâu hác", trích từ câu "hung hữu khâu hác". Khâu hác là khê sơn, hốc núi, nghĩa bóng chỉ trong lòng nắm được ý cảnh thâm sâu, hoặc chỉ cách xử trí và phán đoán thích hợp với từng tình huống.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
18-12-2011, 05:08 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 160 Chưa Hết Nghi Ngờ

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng hạ mắt, dằn lòng nói:
- Thân nơi miếu đường hiểm trở, không thể không lo nghĩ cẩn thận, sự thật là...
Dương Lăng thoáng do dự, rồi nói tiếp:
- Sự thật là cô quá tha thiết với công danh lợi lộc khiến bản quan không thể không lo ngại, dùng sắc dụ vua không phải là một ý kiến tồi.

Đoạn y ngước mắt, trong ánh mắt y toát ra sát khí và sự lạnh lùng xa lạ, không chút e dè nói thẳng:
- Nếu như hôm nay cô thật sự có ý quyến rũ Hoàng thượng thì ta cam đoan dù Hoàng thượng đã bị cô mê hoặc hoàn toàn ta vẫn có thể ngang nhiên đưa cô vào chỗ chết!






------------------------
Quyển năm - Bát Hổ gây loạn - Chương 160 Chưa hết nghi ngờ

------------------------

Dương Lăng chạy gấp về phủ, vất ngựa cho gia nhân, vừa hỏi biết được Hoàng thượng vẫn còn trong nội viện liền vội vã chạy vào.

Đến phòng khách gọi mấy tiếng nhưng lại không thấy ai trả lời, Dương Lăng cuống lên, một nỗi sợ hãi vô cớ ùa vào lòng. Y chạy đến tìm kiếm khu tiểu viện nơi Ấu Nương ở rồi lại đến chỗ ở của Ngọc Đường Xuân, Tuyết Lý Mai và Thành Khởi Vận bên đối diện song vẫn không có lấy một bóng người, Dương Lăng đứng đó mà không khỏi ngơ ngác bần thần.

Đang không biết phải làm thế nào, y chợt nghe một tràng những tiếng cười truyền đến từ vườn hoa sau nhà, liền vội vã chạy qua xem. Dãy nhà này là nơi ở của đám nha hoàn thị nữ, chính giữa căn lầu nhỏ hai tầng có một cánh cửa có thể thông ra sân vườn phía sau.

Dương Lăng chạy đến hậu viện thì chỉ thấy trên mảng đất trống nơi Ấu Nương thường ngày luyện võ, mười mấy nữ tỳ đang đứng cạnh bên vỗ tay reo hò, trên mảnh đất trống bằng thẳng, Ngọc Đường Xuân, Tuyết Lý Mai và Ấu Nương đều vận tuyền một màu xanh, nét mặt rạng ngời đang đá cầu (*).
(*) cầu là quả bóng làm bằng da ngày xưa, gọi là túc cúc, cũng gọi là tháp cúc. Xem hình http://imagewa.com/PhotoPreview/136/136_2990.jpg

Ba tiểu cô nương xinh đẹp mỹ lệ đứng về một phía, theo động tác chân của bọn họ quả bóng da được chuyền tới chuyền lui song thủy chung không hề rơi xuống đất. Quả cầu tròn trịa tựa châu, ba vị kiều thê dáng vẻ dịu dàng, dung nhan mỹ miều như ngọc tạo cho người ta một cảm giác xinh đẹp khác lạ.

Phía bên kia, một thanh niên áo xanh vóc người cao ráo cột vạt áo trước và sau lại giắt bên hông, lộ ra ống quần sa tanh trắng tinh bên trong, trông hết sức thong dong. Ba người Hàn Ấu Nương chuyền cầu qua lại đến hoa cả mắt, rồi thừa dịp đối phương không phòng bị liền đá quả cầu sang. Nam tử áo xanh nọ tiến lui đều có trình tự, nhịp nhàng, không vội không hoảng, vô luận quả cầu da bay sang với góc độ hiểm hóc và nhanh như thế nào thì y vẫn có thể kịp thời bắt lấy; ngón chân, mu bàn chân, hai má bàn chân và gót chân khéo léo tâng quả cầu lên đủ kiểu.

Hoàng đế Đại Minh - Chu Hậu Chiếu - là thành viên của trong đội này. Kỹ thuật đá cầu của vị huynh đài này có hạn, đá được một lát rồi lại mất cầu, thế là tự giác gia nhập vào nhóm "cổ động viên", đứng một bên hò hét khản cổ quả thực còn căng thẳng hơn cả vị thư sinh áo xanh đang đá cầu nọ.

Dương Lăng thấy vậy thì thở phào nhẹ nhõm. Vị thư sinh áo xanh đó đương nhiên là Thành Khởi Vận, không ngờ cô nàng lại là một hảo thủ môn đá cầu. Vào thời Minh môn đá cầu rất được thịnh hành, thậm chí trong quân cũng thường tổ chức thi đấu, Dương Lăng cũng hay gặp. Từ lúc dọn đến trang viện này thì ban ngày khi có thời gian rảnh rỗi, Ấu Nương và mấy người Ngọc Đường Xuân thường chơi đá cầu với nhau.

Trò này vừa có thể khoẻ chân, lại vừa rèn luyện thân thể, bản thân Dương Lăng tuy không thích chơi song thỉnh thoảng vẫn thường đến bên cạnh xem ba vị ái thê và nha hoàn vui chơi.

Kỹ thuật đá cầu chia làm hai loại là "đối đả" và "bạch đả". Đối đả khá giống bóng đá hiện đại còn bạch đả thì lại hoàn toàn là phô diễn kỹ thuật đá cầu cá nhân. Xem tình hình trận đấu thì Thành Khởi Vận lấy một chọi ba, sau khi tiếp cầu thì song phương sẽ bạch đả trước, thi triển xong kỹ thuật tâng cầu thì sẽ "bắn phá" đối phương.

Dương Lăng để ý đến chín người đang đứng ở bãi sân đối diện, tám gã tráng niên khí phách nội liễm hiển nhiên là cao thủ thị vệ của đại nội còn người đang bó ống tay áo mỉm cười đứng bên sân da mặt trắng trẻo, mày nhợt mắt híp, lưng hơi khom do thói quen tạo thành chính là Lưu Cẩn.

Lúc này lão cũng đã thấy Dương Lăng liền vội giơ tay ra dấu chào hỏi. Dương Lăng thấy Chính Đức hết sức chăm chú dõi theo quả cầu da, dường như vẫn còn hứng thú thì mỉm cười đáp lại Lưu Cẩn rồi chuyển ánh mắt nhìn về phía Thành Khởi Vận.

Thành Khởi Vận cầu kỹ cao siêu nhưng vì lấy một chọi ba nên lúc này má ngọc đỏ bừng, trán đã lấm tấm mồ hôi. Hiển nhiên nàng ta cũng đã trông thấy Dương Lăng. Vừa thấy Dương Lăng nhìn mình thì nàng bỗng nhướng mày, chân phải đột nhiên vung lên, mũi chân chạm trán; do đang mặc quần áo nam nhân nên nàng không sợ động tác đó sẽ có gì bất nhã.

Chỉ thấy quả cầu da bị đá tung lên đến mấy trượng, thong dong, lãng đãng. Mọi người ngước đầu dõi mắt nhìn lên không. Quả cầu thoáng dừng lại trên không trung trong nháy mắt rồi từ từ rơi xuống, rơi đúng trên mũi giày vẫn đang giơ cao của Thành Khởi Vận. Đầu gối chân trụ của nàng hơi trùng xuống, mượn thế giữ cho quả cầu được ổn định. Quả cầu xoay trên mũi giày, thuỷ chung vẫn không hề rơi xuống. Mọi người không khỏi ồ lên tán thưởng.

Khoé môi Thành Khởi Vận khẽ nhếch lên, trong lúc đó, quả cầu tựa như dính chặt trên mũi giày, theo động tác hạ chân tạo thành tư thế chuẩn bị đá. Ba người Hàn Ấu Nương không biết nàng bày ra tư thế đó là muốn đá đến chỗ nào nên căng thẳng khom người chăm chú nhìn quả cầu đó. Không ngờ Thành Khởi Vận lại tung chân đá một cái thật nhẹ, quả cầu bay chậm rãi đến bên cạnh ba người Hàn Ấu Nương, đến lúc ba người muốn chạy tới tiếp cầu thì đã muộn.

Chính Đức mừng rỡ vô cùng, Tuyết Lý Mai giơ tay áo lên chấm chấn khuôn mặt đỏ bừng của mình, hờn trách:
- Thành... công tử chơi xấu, ai lại dùng kế như vậy.

Thành Khởi Vận mỉm cười nháy mắt với nàng một cái, lúc này Tuyết Lý Mai mới trông thấy Dương Lăng đang đứng bên cạnh, khuôn mặt đỏ bừng xinh xắn lập tức trở nên thẹn thùng, bèn vội nhún người làm lễ, rồi rụt rè gọi một tiếng:
- Lão gia.

Lúc này Chính Đức mới trông thấy Dương Lăng. Dương Lăng bước tới định dùng đại lễ để yết kiến, song mới vừa mở miệng gọi:
- Hoàng thượng, thần...

Thì Chính Đức đã bước tới đỡ lấy cánh tay y cười ha hả:
- Dương thị độc bình thân, trẫm cải trang rời cung, không cần phải dùng đại lễ quân thần.

Đoạn hắn vui vẻ cười tiếp:
- Dương khanh, các vị phu nhân của khanh lấy ba chọi một vẫn không phải là đối thủ của biểu huynh khanh. Không ngờ thư sinh Giang Nam nho nhã yếu đuối như thế lại có được kỹ thuật đá cầu cao siêu như vậy.

"Biểu huynh?" Dương Lăng thoáng ngẩn ra, liếc nhanh về phía Thành Khởi Vận một cái rồi mới cất tiếng cười to, sau đó quay đầu lại nhìn Chính Đức.

Hắn mặc áo dài màu tím nhạt, ống rộng vạt to, lưng đeo thắt lưng hổ phách ngũ sắc, thân trên còn khoác thêm một chiếc so chẽn gấm màu xanh ngọc, mái tóc đen nhánh búi vào trong chiếc mũ bán nguyệt màu ngọc bích, chỉ cài một chiếc trâm bạc để giữ, khuôn mặt Chính Đức như thoa ngọc, anh tuấn bất phàm.

Hắn đã lại cao thêm một chút, trên mép đã lưa thưa lớp ria măng, giữa hai hàng lông mày toát ra khí chất thành thục và uy nghiêm, thấy thế thì Dương Lăng chợt có cảm giác vui mừng và kích động, cảm giác ấy giống như chứng kiến người thân của mình lớn lên và trưởng thành mà vui mừng và cao hứng thay cho họ. Không biết bắt đầu từ bao giờ bản thân Dương Lăng lại có cảm giác như vậy với Chính Đức, thế là nhất thời trong lòng hơi thấy hoảng hồn.

Nhưng khi y thấy Chính Đức cũng nhìn y với ánh mắt thân thiết và bịn rịn như vậy, trong lòng lại rất mừng và cảm động. Hai người đã cách biệt mấy tháng, lần gặp vội vã trên kim điện lại là trước mặt bá quan, khi đó hai người phải đóng kịch mãi đến bây giờ mới có thể trò chuyện thân mật thật sự. Thời khắc này hai người đột nhiên đều cảm thấy con tim mình đã xích lại gần nhau hơn rất nhiều, đã không chỉ là sự tín nhiệm giữa vua và tôi, mà là một loại tình cảm thân thiết bình đẳng.

Sự giao lưu tình cảm trong cái nháy mắt ngắn ngủi giữa hai người phát sinh hết sức tự nhiên. Trước cái thời khắc ấy bản thân hai người đều không biết đáy lòng mình sẽ nảy sinh ra tình cảm như vậy. Lưu Cẩn hầu hạ Chính Đức từ nhỏ, mọi hờn vui giận ghét, mọi hành động cử chỉ gì của hắn đều rõ như lòng bàn tay, cho nên tâm tình Chính Đức hơi có biến hoá lão liền cảm giác được ngay. Loại cảm giác thân thiết bịn rịn như với người nhân này, ngoại trừ Hoằng Trị, Chính Đức chưa từng có với người khác, thậm chí cả mẫu hậu của hắn. Trong lòng Lưu Cẩn bất giác có chút kính sợ.

Bản lĩnh quan sát sắc mặt của Thành Khởi Vận giỏi vô cùng, đảo mắt một cái cũng nhìn thấy vẻ mặt của hai người. Chính Đức đã khôi phục lại vẻ tự nhiên, mỉm cười nói:
- Gần đây có quá nhiều chuyện, trẫm tuy không thích quản lý sự vụ nhưng lão Lý bận rộn đến đầu tắt mặt tối, trẫm cũng không đành đi chơi đây đó đây. Nay Tiêu Phương nhập các, trẫm mới dám dày mặt mà trốn ra ngoài đó. Ha ha... hắt xì!

Lưu Cẩn liền vội nhanh nhảu chộp lấy chiếc áo khoác gấm da sóc dày mà mềm mại trên tay thị vệ khoác lên cho Chính Đức, miệng ríu rít:
- Hoàng thượng, xin hãy mau trở về phòng uống trà ấm. Trời lạnh lên rồi, không thể để nhiễm phong hàn đâu.

Đoàn người kéo nhau trở về sân trong. Hàn Ấu Nương dẫn "đội quân tóc dài" lánh đi. Thành Khởi Vận cũng định lui theo, Chính Đức trông thấy liền nói:
- Thành khanh cứ ở lại, trẫm đến hỏi thăm Dương thị độc, chỉ ra ngoài cung du ngoạn cho nên khanh không cần phải tránh đi.

Thành Khởi Vận lén liếc Dương Lăng một cái, thấy vẻ mặt y không có gì là khó chịu, nàng mới khẽ đáp một tiếng rồi cùng theo vào nội thư phòng. Dương Lăng vừa châm trà cho Chính Đức vừa cười hỏi:
- Hoàng thượng, người còn nhớ Hộ Quốc tự, nơi mà thần và người gặp nhau lần đầu không?

Chính Đức cười nói:
- Sao không nhớ chứ, ha ha! Trẫm còn nhớ là lúc đó khanh dùng cái câu gì mà 'ngoái đầu nhìn năm trăm lần' để gạt Ấu Nương tỷ... Khục khục, ờm để gạt phu nhân, còn gạt trẫm nói ta và khanh nếu kiếp trước không phải là tình nhân thì là trẫm nợ khanh tiền. Ha ha... miệng mồm láu lỉnh, đáng đánh!

Nói đến đây, hắn chợt nhớ tới phụ hoàng, nụ cười trên khuôn mặt thoát thu lại, môi mím chặt. Dương Lăng biết hắn đang nhớ tới người cha hiền, trong lòng cũng không kìm được mà thở dài một tiếng.

Y lại châm trà cho Lưu Cẩn và Thành Khởi Vận, sau đó được Chính Đức ra hiệu, y bèn nhẹ nhàng ngồi xuống đối diện và nói:
- Lúc đó, thần vẫn chưa biết thân phận của Hoàng thượng. Nhớ khi đó mấy tăng lữ Tây dương bị tăng lữ Tây Vực ức hiếp, tiên đế nhân từ lại quyên góp ba ngàn lạng tiền hương hoả cho chùa, để bọn họ chiếu cố tốt mấy hoà thượng ngoại quốc vì hâm mộ mà đến Đại Minh ta.

Chính Đức nói:
- Đúng rồi, những tăng lữ ngoại quốc đó có mấy đồ chơi kỳ lạ, có điều chơi xong một lần thì không còn thấy hiếm lạ nữa, suýt nữa thì trẫm đã quên rồi.

Dương Lăng mỉm cười nói:
- Những tăng lữ ngoại quốc ấy nghe nói Đại Minh ta là nơi cường đại và giàu có nhất thiên hạ, vì vậy đã chạy từ vạn dặm xa xôi đến truyền giáo. Có điều hình như vị thần của bọn họ thua còn thua xa so với Ngọc hoàng đại đế, Thái thượng Lão quân và Phật tổ Như Lai nên tín đồ rất ít. Hôm nay thần gặp lại bọn họ trên đường, đáng thương cho những hoà thượng Tây dương đó đã biến thành ăn mày cả rồi. Hãy khoan nói Đại Minh ta oai danh vang rộng, bọn họ nhờ được thượng quốc Trung Hoa ta giáo hoá mà đến mà đường đường nước lớn trọng lễ nghi như Đại Minh ta không thể để bọn họ lâm vào cảnh ấy, chỉ dựa vào sự nhân hậu và yêu mến của tiên đế đối với bọn họ thì thần cũng không dám bỏ mặc mà không quản, thế nên lúc nãy đã thu nhận bọn họ vào trong điền trang, để bọn họ ở tạm.

Y thoáng ngó sắc mặt của Chính Đức, thấy Chính Đức nghe y nói mà nhớ đến sự nhân ái của tiên đế và liên tục gật đầu biểu thị sự đồng ý về việc y tăng phần lễ kính với những hoà thượng Tây dương đó, thì liền chuyển giọng, nói:
- Nhưng mà... cứ nuôi như vậy cũng không phải là cách tốt. Vả lại, bách tính có thêm thần linh để gởi gắm tâm linh cũng không phải là chuyện xấu gì. Nay Đại Minh ta đã có Phật giáo, Đạo giáo, Hồi giáo và các tôn giáo lớn nhỏ được các dân tộc phụng thờ, trong đó lại chia ra đủ loại trường phái, có thêm một Thiên Chúa giáo cũng không phải là việc tệ hại gì, dẫu gì bọn họ cũng khuyên bảo người ta hướng thiện mà. Thiên triều thượng quốc như biển rộng vô biên, dung nạp được cả trăm con sông. Thần nghĩ rằng... sao không cho phép bọn họ xây dựng miếu đường giảng kinh, chỉ là mấy phiên tăng dị quốc mà thôi nên cũng không có gì đáng ngại.

Quả thật tác dụng của tôn giáo tại Trung Quốc rất bị hạn chế, bản thân Chính Đức cũng từng xem lướt qua Phật giáo, Lạt-Ma giáo, Hồi giáo. Y thoải mái hỏi mấy câu về Thiên Chúa giáo, thấy thượng đế Thiên Chúa giáo dường như na ná với Hồi giáo, thì không khỏi cười thầm trong bụng: chẳng lẽ giáo phái Tây phương cũng chia ra làm Đại thừa và Tiểu thừa giống như Phật giáo hay sao?

Chính Đức khua tay nói:
- Không sao, bọn họ đi đường xa xôi đến Đại Minh thì dẫu gì cũng là khách. Tiên hoàng đã rất chiếu cố đến bọn họ nên trẫm cũng không thể hẹp hòi, cứ cho phép bọn họ đi. Lưu Cẩn, quay về thông tri cho bộ Lễ một tiếng, lập sắc tại án (*).
(*) lưu chép vào trong hồ sơ.

Lưu Cẩn kín đáo ngồi mé sau Chính Đức, nghe vậy liền lập tức đứng dậy nhận mệnh. Dương Lăng thấy thế mừng lắm, giải quyết được chuyện này rồi thì không sợ mấy người Tây dương đó không dốc lòng bán mạng cho mình nữa.

Chính Đức cười bảo:
- Vừa nãy nghe biểu huynh của khanh kể chuyện khanh đánh hải tặc ở Giang Nam, quả thật rất kích thích. - Đoạn y thở dài, giọng say mê:
- Thật đáng tiếc, nếu như trẫm cũng có mặt ở đó, đích thân chém chết mấy tên hải tặc rồi ngự thuyền cỡi sóng ngao du một phen giữa trời cao biển rộng, vậy sẽ thoả thích biết dường nào.

Dương Lăng liếc sang Thành Khởi Vận, mặt tỉnh như không nói:
- Hoàng thượng nói chí phải, vạn dặm lãnh hải ấy cũng là cương thổ do Hồng Vũ hoàng đế Đại Minh ta gầy dựng nên, há có thể mặc cho một đám hải tặc ngang ngược hoành hành? Đợi ngày khác trừ Oa dẹp khấu, Hoàng thượng cũng có thể tìm cơ hội tuần du hải vực của Đại Minh một chút, nếu là như vậy thì Hoàng thượng sẽ là vị vua đầu tiên từ trước đến nay có thể tuần du hải vực cương thổ đó!

Có lẽ, điều khiến một vị hoàng đế nắm cả thiên hạ động tâm nhất chính là uy danh vua hiền của mình có thể lưu danh thiên cổ. Chính Đức vừa nghe lời này, hùng chí dâng trào, cặp mày liền nhướng cao, nói:
- Được đó, Đại Minh ta lãnh thổ bao la, vạn dặm lãnh hải há có thể mặc cho giặc cướp ngang tàng? Chẳng lẽ phải đợi đến khi biển êm sông lặng ư? Trẫm đang muốn diễn võ trong cung đây, đến lúc ấy trẫm sẽ làm đại nguyên soái, tự mình dẫn binh bình định giặc biển.

- Việc này... - Dương Lăng giả vờ do dự, Chính Đức trông thấy vậy lòng hiếu thắng liền trỗi lên, không phục bèn nói:
- Sao hả, Dương khanh không tin vào văn trị (*) và võ công của trẫm ư?
(*) thành tựu về văn hoá và giáo dục.

Dương Lăng cười lớn đáp:
- Hoàng thượng mê võ hiếu học, dẫn quân tác chiến đương nhiên có thể xứng là tướng tài, nhưng chiến đấu trên biển không như trên đất liền, thần không phải là không tin vào năng lực của bệ hạ...

Lưu Cẩn đã biết về kế hoạch giải cấm thông thương cho nên nhất thời bứt rứt hối y:
- Dương đại nhân, có gì xin hãy nói thẳng, không nên che giấu quân thượng à.

Thành Khởi Vận nãy giờ bàng quan, chợt thừa cơ nói vào:
- Hoàng thượng thứ tội, thảo dân từng nghe biểu đệ có nói, từ khi Đại Minh ta cấm biển đến nay đã trăm năm, các tướng sĩ đã không còn quen thuộc với hải cương của Đại Minh chúng ta nữa, chiến hạm vô địch từng khiến cho bốn bể thần phục năm đó hiện đã không còn mấy người biết chế tạo ra nữa. Thuyền bè bây giờ chỉ có thể tuần tra gần bờ, ngay cả sóng gió cũng chịu không nổi, cho nên đám hải tặc đó hung tàn ngang ngược không phải vì tướng sĩ Đại Minh ta không chịu phục tùng mệnh lệnh mà thực tế là vì chỉ có thể bị động phòng thủ chịu đòn mà thôi.

Chính Đức nghe vậy cả kinh. Y bỗng đứng dậy đi lại trong phòng một lát rồi mới chậm rãi mở miệng:
- Thuỷ quân Đại Minh ta đã đến nông nỗi này rồi sao?

Trong phòng nhất thời im phăng phắc, Lưu Cẩn thấy sắc mặt y âm u liền vội nháy mắt với Dương Lăng rồi nói:
- Những đồ vật tân kỳ của dị vực nước ngoài mà Dương đại nhân mang về từ Giang Nam rất được Hoàng thượng yêu thích, thường xuyên lấy chơi không rời tay. Nếu như cấm biển tuyệt thương, theo lý mà nói thì ngoại trừ cống vật dị quốc, dân gian hẳn không nên có vật phẩm như vậy, nếu thế thì những vật đó được lưu nhập vào như thế nào đây?

Dương Lăng thầm tán thưởng sự cơ trí của lão, liền tiếp lời luôn:
- Bờ biển dài đằng đẵng, triều đình cấm biển sẽ chỉ ngăn trở bách tính Đại Minh ra khơi song lại không thể ngăn trở những con thuyền buôn lớn từ nước ngoài vào Đại Minh ta càng lúc càng nhiều, chỉ tiếc cho lãnh hải của Đại Minh ta lại trở thành sân sau của người khác, mặc cho bọn họ ra vào, dân gian vì bị cái lợi mê hoặc mà có kẻ liều mạng lén lút giao dịch với bọn họ. À đúng rồi, thần còn tìm được một vật tốt ở Giang Nam, thần đã mang theo bên người về nhưng vẫn chưa trình lên cho Hoàng thượng, nay thần mang tới cho người.
Nói đoạn y đứng dậy nhưng rốt cuộc vẫn không yên tâm để Thành Khởi Vận lại ở đây, sau thoáng do dự, y bèn liếc nhìn nàng đầy thâm ý.

Thành Khởi Vận lấy làm lạ nhìn y, mắt chợt loé lên, cặp mày đen thoáng rút lại, chợt có cảm giác như sực tỉnh và bị thương, cặp mắt sáng ngời cháy bừng lên ngọn lửa giận. Nàng khẽ đứng dậy, khom người nói với Chính Đức:
- Thảo dân xin cùng... biểu đệ đi lấy vật nọ.

Dương Lăng ngó vẻ mặt của nàng thì tuy trong lòng có phần hổ thẹn nhưng sự nghi ngờ đã có từ lâu, chôn chặt dưới đáy lòng rồi cũng có ngày sẽ phát tác cho nên bầu không khí giữa hai người trở nên ngột ngạt, kẻ trước người sau lặng lẽ bước vào trong kho. Dương Lăng mở cửa tìm kiếm một lát, lôi ra một cây trường kiếm hơi cong chứa trong bao da cá mập màu xanh sẫm, cầm lấy rồi bước ra ngoài.

Cánh cửa sắt nặng trịch đóng rầm một tiếng, vòng xích khoá vào cách một tiếng. Thành Khởi Vận lặng lẽ nhìn theo y, đột nhiên hít sâu một hơi, rèm mi chớp nhanh vài cái, một làn sương mỏng bao quanh con ngươi, nàng cất giọng nghèn nghẹn hỏi:
- Đại nhân, tín nhiệm một người... khó đến vậy ư?

Dương Lăng hạ mắt, dằn lòng nói:
- Thân nơi miếu đường hiểm trở, không thể không lo nghĩ cẩn thận, sự thật là...
Dương Lăng thoáng do dự, rồi nói tiếp:
- Sự thật là cô quá tha thiết với công danh lợi lộc khiến bản quan không thể không lo ngại, dùng sắc dụ vua không phải là một ý kiến tồi.

Đoạn y ngước mắt, trong ánh mắt y toát ra sát khí và sự lạnh lùng xa lạ, không chút e dè nói thẳng:
- Nếu như hôm nay cô thật sự có ý quyến rũ Hoàng thượng thì ta cam đoan dù Hoàng thượng đã bị cô mê hoặc hoàn toàn ta vẫn có thể ngang nhiên đưa cô vào chỗ chết!

Vừa nói ngón tay y vừa bấm lên tay chắn, "cách" một tiếng, kiếm khí lạnh lẽo tràn ngập giữa hai người. Thành Khởi Vận bỗng nhiên ngẩng đầu, lọt vào mắt nàng là một mũi kiếm lạnh toát.

Dương Lăng thở hắt ra một hơi, lạnh nhạt nói:
- Có điều... biểu hiện của cô rất tốt, là bản quan đa nghi rồi. Cô đã giúp đỡ bản quan rất nhiều, hy vọng sự hợp tác giữa chúng ta sẽ có thể tiếp tục, cô không có hành động thiếu khôn ngoan nào. Rất tốt.

Thành Khởi Vận bật cười tự giễu:
- Thiếu khôn ngoan? Đương nhiên là thiếu khôn ngoan rồi, ti chức có thân phận gì chứ, làm sao có thể thích một thứ vô lương tâm? Xuất thân của ti chức như vậy, chịu bỏ ra một mảnh chân tình, coi như là báo ứng vậy.

Dương Lăng nghe không hiểu nàng ta đang nói gì, không khỏi ngạc nhiên liếc mắt nhìn nàng một cái.

Thành Khởi Vận cụp mắt, cất giọng xa xăm:
- ... cung đình nguy hiểm, nào bằng nơi giang hồ, hồng nhan chớp mắt phôi pha, tóc mây ngoảnh lại nay đà như sương (*)... người thông minh như ti chức đây, đương nhiên sẽ không bao giờ hành động thiếu khôn ngoan rồi. Lý do này... không biết đủ khiến đại nhân... yên tâm chưa?
(*) trích tên hồi 35 của Thiên Long Bát Bộ.

Hai hàng lệ châu trong vắt xuôi theo gò má ngọc của nàng lăn nhanh xuống. Khuôn mặt vừa mới khỏi bệnh có chút hốc hác trắng nhợt, trông càng thêm đáng thương. Dương Lăng dằn chặt chuôi gươm, lưỡi gươm tra vào bao kêu "keng" một tiếng. Y cười nhạt mấy tiếng, nói:
- Rất tốt, rất tốt...

Tường trắng ngõ đen, sắc hương cổ kính, Dương Lăng dường như lại thấy người ngọc dáng mềm như nước tay trái cầm chiếc ô dầu, tay phải nâng váy tươi cười bước đi nhẹ nhàng như én sà mặt nước, đạp lên những khóm cỏ xanh bóng mượt.

Y mang thanh trường kiếm bước mấy bước, rồi chợt dừng chân, không hề quay đầu lại, nói:
- Chuyện cũ của cô có rất nhiều chỗ xảo quyệt, ta cũng không muốn truy cứu, thực sự cũng là vì tư tâm, do cô nương hỗ trợ ta rất nhiều... Sự đa nghi của ta, vẫn mong cô nương hiểu và bỏ qua cho. Chuyện ở Giang Nam, việc lớn ngàn đời tịnh không phải vì tiền đồ của riêng ta... Có lẽ nói ra cô sẽ không hiểu nhưng chỉ cần giải quyết được việc lớn này, chỉ cần ta còn ở nhân gian, cô thích quyền lực cũng được, tiền bạc cũng được, Dương mỗ nhất định sẽ giúp cô đạt được ước nguyện. Áo xuân lệ sắc, ngõ hẽm hành lang, người kia như nước, đạp sóng mà đi. Hình ảnh ấy Dương mỗ luôn tạc ở trong tim, thật sự không mong cô có bất cứ liên hệ gì với những âm mưu bẩn thỉu kia... thôi...
Đoạn y thở ra một hơi dằng dặc, rồi lặng lẽ bỏ đi.

Thành Khởi Vận chợt xoay người lại, nhìn theo bóng lưng y trong nước mắt mà ai oán: "Kẻ vô lương tâm kia, ngươi cự tuyệt tấm lòng của ta thì thôi, chẳng biết kiếp trước ta mắc nợ ngươi thế nào mà sao còn phải tiếp tục chịu sự đày đoạ của ngươi như vậy..."





Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
21-12-2011, 02:38 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 161 Chính Đức Múa Đao

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Hoàng đế Chính Đức bó ống tay áo đứng trên bậc thềm, khoan thai bảo:
- Lý cử nhân nói vậy là sai rồi. Ngươi đã biết là Hoàng thượng nhân đức, thế sao lại không biết Hoàng thượng đã hạ ân chỉ, tước bỏ tiện tịch* của Cao Văn Tâm? (*thân phận ti tiện)

Hiện nay nàng ta đã là thái y ngự tứ* chuyên chữa bệnh cho nhà họ Dương, là nữ quan có phẩm tước. Dám phỉ báng mệnh quan triều đình, ngươi hãy coi chừng đường công danh của mình đó! (*được vua ban cho)






------------------------

Quyển 5 - Bát Hổ gây loạn - Chương 161 Chính Đức múa đao

------------------------

Cùng lúc đó, Lưu Cẩn đang múa mép khua môi xúi giục Hoàng thượng trong phòng. Mặc dù không được mạch lạc nhưng lão cũng lờ mờ biểu đạt được đại ý rằng ngày nay đế vương mở mang bờ cõi phải nhìn ra biển rộng, từ đó thêm oai với thiên hạ mới là vương đạo. Lão khiến cho tiểu hoàng đế Chính Đức thích công to việc lớn nghe đến rạo rực trong người, hận không thể lập tức chế tạo hàng loạt chiến hạm, dẹp yên vùng biển, kiến tạo nên công trạng lừng lẫy.

Nhưng hắn cũng biết chỉ có thể nghĩ vậy mà thôi, những việc này không phải nghĩ được là có thể làm được. Nếu như văn võ cả triều nguây nguẩy không chịu, mà hoàng đế như hắn lại không thể xắn tay xắn áo đích thân xuất mã đi tạo thuyền luyện binh thì việc này xem ra còn phải chờ lâu.

Về đến thư phòng, Dương Lăng sợ Chính Đức hỏi tới Thành Khởi Vận nên vội nâng hai tay dâng trường kiếm lên, cười nói:
- Thần biết Hoàng thượng đam mê võ nghệ, yêu thích binh pháp, vừa may tìm được một cây bảo đao chém sắt như chém bùn, vì vậy có ý muốn hiến dâng để Hoàng thượng thưởng lãm.

Quả nhiên Chính Đức nghe nói là thần binh lợi khí liến rất mừng. Hắn liền vội cầm lấy rồi rút "xoẹt" cây đao ra khỏi vỏ, cả phòng lập tức sáng choang, thanh trường đao ấy có thân thon dài, lưỡi mỏng như giấy, trên mũi đao sáng bóng như tuyết ẩn hiện long văn (hoa văn hình rồng), nhìn hàn quang lấp loé xem ra sắc bén vô cùng.

Dương Lăng mỉm cười thưa:
- Đây là...

- Oa đao, đây là bảo đao cực phẩm!
Chính Đức hưng phấn ngắt lời y. Hắn giơ cây đao lên ngang mày, nheo mắt quan sát lưỡi đao, sau đó lại cầm hai tay nâng lên cân nhắc trọng lượng đao, rồi cười ha hả:
- Đao này so với Oa đao cất trong cung xem ra còn tốt hơn mấy phần. Thuật rèn đao của Nhật Bản đã tiến bộ hơn trước rồi.

Dương Lăng kinh ngạc hỏi:
- Hoàng thượng nhận ra cây đao này sao?

Chính Đức cười đắc ý:
- Trong cung có sáu thanh bảo đao do Túc Lợi Nghĩa Mãn (Ashikaga Yoshimitsu) tiến cống, trẫm thường lấy ra chơi, có điều đó đều là đao của cả trăm năm trước rồi.

Năm Vĩnh Lạc, sứ giả các nước Lưu Cầu, Nhật Bản, và Xiêm La đến Đại Minh triều cống, Túc Lợi Nghĩa Mãn từng tiến cống sáu thanh bảo đao. Hai năm sau vua Vĩnh Lạc phái Trịnh Hoà thống lĩnh 10 vạn thuỷ quân đến Nhật Bản, tuyên chỉ với Túc Lợi Nghĩa Mãn: "Giao cho (Nhật Bản) tự mình tiễu trừ giặc khấu, dùng pháp luật của bản quốc mà trừng trị."

Đồng thời vua Vĩnh Lạc ban thưởng cho Túc Lợi Nghĩa Mãn ấn vàng "Nhật Bản Quốc Vương", phong ông ta làm quốc vương Nhật Bản. Túc Lợi Nghĩa Mãn liền viết thư phúc đáp, tự xưng là "quốc vương Nhật Bản, thần nguyên là Nghĩa Mãn", đồng thời bắt giao giặc Oa cho Đại Minh để biểu đạt thành tâm.

Vốn Dương Lăng đã biết nhà Minh từng có chuyện Trung - Nhật hợp tác lùng diệt hải tặc nên mới cố tâm chuẩn bị thanh bảo đao này, tự thân dâng lên cho Chính Đức, định mượn dịp để góp lời, không ngờ Chính Đức lại biết rõ chuyện này như lòng bàn tay.

Dương Lăng rất lấy làm kinh ngạc, do vậy y cần phải sắp xếp lại những ý kiến ban đầu lại một chút. Trong lúc y đang nghĩ ngợi, Chính Đức lấy ngón tay vuốt nhẹ mũi kiếm, vui vẻ ngâm:
- Côn di đạo viễn bất phục thông, thế truyền thiết ngọc thuỳ năng cùng? (Côn Ngô xa tắp lại chẳng thông với Trung thổ, chỉ lưu lại truyền thuyết về thanh bảo kiếm Côn Ngô bổ ngọc như chém bùn.)

Bảo đao cận xuất Nhật Bản quốc, việt cổ đắc chi thương hải đông. (Nay có bảo đao Nhật Bản sản xuất, thương nhân Giang Chiết có được nó tại vùng biển phía đông.)

Ngư bì trang thiếp hương mộc sao. Hoàng bạch gian tạp thâu dữ đồng; (Bao đao làm bằng gỗ hương, trên bao dán hoa văn da cá, thân đao dùng hợp kim đồng kẽm đồng thau đúc thành.)

Bách kim truyền nhập hảo sự thủ, bội phục khả dĩ nhượng yêu hung. (Người thích dùng bỏ ra trăm vàng mua nó, đeo bên người có thể diệt yêu trừ hung.)

Dương thị độc, đó là bài thơ Âu Dương Tu thời Tống tán dương Oa đao, khi ấy danh tiếng Oa đao đã truyền xa. Oa đao nguyên là Đường đao, dùng phương pháp bọc thép để chế tạo. Cũng chính là Tấn Thiết* đao mà người ta thường gọi. Quả thực sắc bén vô cùng, đao này đích thực là một thanh bảo đao, tên nó là gì vậy?" (*thép ròng)

Rồi không đợi Dương Lăng đáp lời, hắn đã xoay thanh đao lại. Nhìn thấy chuôi đao khắc hai chữ Hán: "Đoạn Lãng", hắn không khỏi bật cười:
- Đao đúng là đao tốt, có điều hơi cuồng vọng, chém vàng bổ ngọc thì còn nghe được, chẳng lẽ chưa nghe 'rút đao chém nước nước càng chảy mạnh' à? Đoạn Lãng? Hừm hừm, Đoạn Lãng! (*chém gió, à nhầm ,chém sóng)

Dương Lăng không ngờ Chính Đức lại rất hứng thú với vũ khí, mà lại hiểu tận tường như vậy, bèn bội phục nói:
- Dạ, lãng nhân(*) Nhật Bản phần lớn dùng thứ vũ khí sắc bén tiện lợi cho việc bổ chém này. Lúc ở Giang Nam thần thấy vũ khí quân đại Minh ta không bằng người, trên chiến trận hầu như không bằng, cho nên..., nếu như quân đội Đại Minh ai nấy đều mang thanh bảo đao sắc bén như vậy, người Oa nhất định sẽ không dám càn rỡ như thế nữa.
(*) hiệp sĩ lang thang, không thuộc một vương gia vọng tộc, tướng quân nào; thường là kẻ du đãng hơn là hiệp sĩ.

Chính Đức nghe vậy thì cười to:
- Tuy Dương thị độc thạo pháp dẫn binh, song dẫu sao vẫn là xuất thân tú tài, ha ha ha... Quân đội Đại Minh ta ai nấy đều đeo loại đao bọc thép này ư? Không thể nào, không thể nào.

Dương Lăng thấy y cười như vậy thì không khỏi sốt ruột hỏi:
- Sao lại không thể? Thanh Long Tuyền kiếm đó của Hoàng thượng sắc bén không kém gì đao này, chẳng nhẽ Đại Minh ta không rèn được đao đấy ư?

Chính Đức cười hề hề bảo:
- Không phải là không có thợ rèn đao, thực tế là rèn đao bọc thép rất tốn sức và phí thời gian, thép tinh chất cần để dùng đa phần lấy từ Cáp Mật* vệ, sản lượng không đủ mà dùng. Nhật Bản đấy hả... song phương có thể huy động mấy ngàn nhân mã đánh nhau đã là chuyện lớn kinh thiên động địa rồi. Còn quân đội Đại Minh ta nào chỉ trăm vạn, ai nấy đều đeo bảo đao này à? Cho dù trẫm có ngồi trên núi bạc cũng không cách nào làm được." (*thành phố Ha Mi thuộc Tân Cương ngày nay)

Dương Lăng không ngờ vị tiểu hoàng đế ngày thường ghét học, chỉ thích nghiên cứu âm nhạc, kinh Phật và những thứ không liên quan đến chính trị nhưng khi bàn về binh khí lại sành sõi như vậy, muốn giấu cũng không giấu được hắn, thế là thất vọng hỏi:
- Nói như vậy, chúng ta chỉ có thể chấp nhận thua kém về mặt binh khí sao?

Vừa hỏi xong y liền máy động trong lòng, lại nhớ tới hoả khí. Nếu có thể chế tạo được súng trường tầm bắn xa, tốc độ nhanh, hẳn sẽ có thể đối phó với đao bén của người Oa, nếu lại phát triển thêm ít đại pháo có lực sát thương cực lớn...

Chính Đức cười đáp:
- Binh khí không như con người, chưa hẳn đã không có biện pháp khắc chế nó.

Có cơ hội khoe tài học vấn, vẻ mặt hắn trông vô cùng đắc ý:
- Đao bọc thép sắc bén, cứng chắc, nhưng một khi va chạm mạnh sẽ bị hư tổn, sẽ trở thành sắt vụn không thể phục hồi, dùng thiết côn hoặc phác đao sống dày đều có thể khắc chế.

Hắn hơi dạng chân, vung bảo đao chém "vút vút" vài cái rồi nói tiếp:
- Đao Nhật Bản xem trọng tốc độ, sử dụng lực cánh tay và hông. Chúng dám đối cứng với chúng ta thì đao của chúng coi như là xong.
Hiện tại trong quân còn hơn nửa số sĩ tốt dùng trường mâu phải không? Những cây giáo cán gỗ đó chạm phải loại Oa đao sắc bén như vậy đương nhiên sẽ bị chém đứt ngay. Tuy nhiên... nếu lấy cán thương ngâm trong dầu cây tung đun sôi, vừa chống cháy lại vừa rắn chắc. Lúc đó, cho dù chỉ dùng trường mâu, loại Oa đao này cũng sẽ không có ưu thế.

Dương Lăng nghe mà há hốc mồm, y vốn định khoe khoang chỗ cao siêu của nước khác một chút để khích thích Chính Đức, vạn lần không ngờ Chính Đức lại có thể nghĩ ra được biện pháp như vậy.

Dương Lăng hoàn toàn khâm phục:
- Hoàng thượng anh minh, thần thấy vũ khí địch nhân cường đại thì nghĩ chỉ có chế tạo được vũ khí cường đại hơn mới có thể khắc chế, mà không hề nghĩ đến biện pháp đơn giản dễ làm lại phù hợp với thực tế như vậy, thật sự hổ thẹn.

Chính Đức thấy đã khiến y nhụt chí, bèn mới đắc ý cười nói:
- Dương thị độc không cần lấy làm hổ thẹn, thực ra trẫm nào nghĩ ra được biện pháp ấy? Lúc khanh dẹp Oa ở Hải Ninh có nhánh vệ quân bỏ chạy, tin báo về kinh, tất cả đám ngôn quan ngự sử đều dâng sớ yêu cầu nghiêm trị tướng lĩnh dẫn binh, chỉ có một người dâng sớ nói rằng vũ khí vệ sở không bằng đối phương nên đã đề ra những biện pháp này. Trẫm xem thấy thú vị nên mới nhớ một ít. Tấu chương đã phát cho bộ binh chiếu theo mà làm rồi.

Hắn nghĩ ngợi một lát rồi hỏi:
- Người đó là ai ấy nhỉ? Vương... Vương cái gì Nhân đó, là một viên quan nhỏ... Lưu Cẩn, ngươi có nhớ không?

Lưu Cẩn giật nảy mình. Cái tay chủ sự bộ binh tên là Vương Thủ Nhân đó là một tên quan bé xíu như hạt vừng thế mà lại dám dâng sớ cầu xin cho đám người Đới Tiễn, mắng thẳng lão là gian thần lộng quyền, giờ đã bị lão cho đánh ba mươi đình trượng, ném vào trong đại lao. Chỉ bởi kẻ ấy là con trai của thượng thư bộ Lễ là Vương Hoa cho nên nhất thời lão chưa biết phải xử trí thế nào. Sao hoàng thượng lại nhớ đến hắn vậy.

Lưu Cẩn ấp úng đáp:
- Ơ... nô tài cũng không nhớ rõ lắm, hình như là có viên quan như vậy.

Dương Lăng nghe tên cảm thấy quen tai, đang định chen miệng vào hỏi lại thấy Thành Khởi Vận khoan thai bước vào, y liền ngậm miệng lại. Thành Khởi Vận hai mắt nhìn thẳng, không thèm để ý đến Dương Lăng chỉ điềm nhiên mỉm cười nói với Chính Đức:
- Thảo dân tuy không thông thạo võ nghệ nhưng cũng thấy được thanh đao này của Hoàng thượng sát khí đằng đằng, là bảo đao thì phải.

Chính Đức cười đáp:
- Đúng vậy, Dương thị độc biết rõ lòng trẫm, những thứ giúp trẫm tìm về đều rất hợp khẩu vị của trẫm. Trung thổ tuy lớn, nhưng xem ra bên ngoài bầu trời này vẫn còn một số vật tốt.

Thành Khởi Vận vui vẻ tiếp lời:
- Hoàng thượng nói rất phải, Đại Minh tuy lớn nhưng cũng không thể bao trùm bốn bể. Không nói những cái khác, cho dù là vương hầu công khanh, tiểu thương tiểu lái đều cần rất nhiều rau dưa và gia vị như hành, tỏi, ngò, cần, dưa leo,... Chẳng phải những loại trái cây như nho, dưa hấu, và lựu đều từ nước ngoài truyền vào nước ta từ thời Hán - Đường đấy ư?

Thời ấy ngựa xe đường bộ, thuyền buồm đường thuỷ đều không đi được xa, nhưng nay thì không như vậy. Đã có phiên quốc từ vạn dặm xa xôi đến thăm viếng. Thường có câu sơn ngoại hữu sơn, thiên ngoại hữu thiên, sao biết bên ngoài dị quốc không có dị quốc chứ?

Thiên triều thượng quốc có dung nạp thì mới lớn mạnh. Nếu quen thuộc sở trường kẻ khác, hội tụ đồ vật bốn bể, trong triều có những thần tử trung tâm báo quốc, văn thao vũ lược như Lưu công công và Dương đại nhân, Hoàng thượng lại biết tin dùng người tài, thưởng phạt công minh, vua tôi một lòng như vậy, thì sao phải lo không thể mở đầu trang thịnh thế cho Đại Minh, lưu danh thiên cổ?

Lưu Cẩn nghe Thành Khởi Vận đặt lão lên trước Dương Lăng, tung hô lão là trung can tài giỏi trước mặt Hoàng thượng thì không khỏi nở mặt nở mày. Chính Đức nghe xong cũng liên tục gật đầu, bộ dáng như có điều suy ngẫm.

Nếu nói ra mấy đạo lý to tát thì chưa chắc hắn đã nghe lọt tai, nhưng Thành Khởi Vận lại bắt đầu từ những thứ thông dụng như hành tỏi mà gia đình nào cũng cần ra để nói, đơn giản và tinh tế, càng khiến người ta dễ tiếp thu.

Dương Lăng thấy nàng ta biểu đạt lời mà mình muốn trình bày một cách khéo léo như vậy thì không khỏi nhìn nàng tỏ ý khen ngợi, trong lòng cảm thấy hối hận: “Có phải mình đã quá khắc khe với nàng ta rồi không? Bạt kiếm uy hiếp cô ta, là bởi việc cô ta xuống tay đâm chết Mạc Thanh Hà đã lưu lại cho mình ấn tượng quá đậm, hay vì bởi mưu trí thường ngày của cô ta không thua kém bậc mày râu khiến mình mang dạ đề phòng?”

Thành Khởi Vận nói xong liền liếc nhanh về phía y, vừa chạm vào ánh mắt y nàng liền thu ánh mắt lại. Chợt phát hiện ánh mắt của y hơi không bình thường, thế là nàng lại lướt nhìn một cái thật sâu rồi mới cười nhạt một tiếng, khuôn mặt như phủ một làn sương nhẹ, nhìn không ra nàng ấy đang vui hay giận hờn.

*****

Chính Đức ngồi trong nội thư phòng nghe Dương Lăng kể chuyện y làm ở Giang Nam, Thành Khởi Vận cơ trí khôn lanh, đứng bên cạnh ra sức phụ hoạ, kể một cách hết sức sống động. Chính Đức nghe nói về phong thổ nhân tình dân gian thì cảm thấy rất là mới lạ và thú vị, nghe nói tới hành động phạm pháp của đám nịnh thần thì giận đến đỏ bừng mặt rồng, mãi đến lúc trời đã nhá nhem, Lưu Cẩn nhắc nhở, hắn mới sực nhớ đã đến lúc phải trở về cung rồi.

Hàn Ấu Nương dẫn hai vị phu nhân cáo mệnh là Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đưa tiễn thánh giá khỏi hậu viên. Dương Lăng và Thành Khởi Vận đi theo Chính Đức đến tiền sảnh, đứng dưới hành lang, Lưu Cẩn chạy xuống chỉ huy người dắt hai thớt bạch mã ở bên sân buộc vào càng xe.

Thành Khởi Vận tâm tư nhanh nhạy, qua cảm nhận thần sắc của Chính Đức nàng biết rằng hoàng thượng chưa có dịp tâm sự riêng với Dương Lăng, bèn ôm thanh bảo đao "Đoạn Lãng" mỉm cười đi theo Lưu Cẩn, để hai người có thời gian ở riêng với nhau.

Chính Đức đứng dưới hành lang mỉm cười nói với Dương Lăng:
- Được rồi, khanh cũng đừng giả vờ nằm ở nhà nữa. Cho khanh thêm mười ngày nữa để nghỉ ngơi, sau đó phải ngoan ngoãn hồi triều đó.

Dương Lăng đáp:
- Hoàng thượng, cho dù thần có hồi triều cũng sẽ làm việc ở đây thôi, nha môn Nội xưởng được thiết lập ở hậu sơn mà.

Chính Đức sực nhớ ra, bèn nói:
- Ừ nhỉ,... ừm...
Hắn quan sát Dương Lăng một lượt, lại hỏi:
- Có muốn kiêm thêm chức vụ gì không? Khanh không thể vào triều nghị chánh (thảo luận chính sự), trẫm muốn tìm khanh để thương nghị việc gì cũng rất phiền toái.

Dương Lăng đáp:
- Người của xưởng vệ không thể kiêm chức trong triều, nay Nội xưởng mới vừa chuẩn bị được thành lập, thần lại không thể bỏ dỡ nửa chừng. Nếu thần vào triều can dự chính sự thì Hoàng thượng sẽ lại bị ngôn quan hặc tội đó. Hay là Hoàng thượng muốn tìm thần cứ sai người triệu thần một tiếng, thần sẽ lập tức vào cung kiến giá là được.

Chính Đức đồng ý:
- Cũng được, đầu xuân trẫm sẽ dọn đến báo phòng ở, lúc đó sẽ bớt được nhiều quy củ, đỡ phải bị mấy lão già đó gắt giận vô cớ, khanh muốn đến cũng tiện hơn nhiều. Trẫm đang bảo bọn Lưu Cẩn và Mã Vĩnh Thành dọn dẹp gấp rút đây.

Từ đằng xa nghe nhắc đến tên mình, Lưu Cẩn liền vội chạy ào qua hỏi:
- Hoàng thượng, người cho gọi nô tài ạ?

Chính Đức cười mắng:
- Cút ngươi đi, trẫm gọi ngươi để làm gì?

Lưu Cẩn cười nịnh hùa theo rồi lại chạy ù đi. Chính Đức thở dài nói tiếp:
- Trẫm ở trong cung chán lắm rồi. Mỗi lần đi thỉnh an Thái hậu thì suốt ngày người cứ càm ràm bảo trẫm phải quan tâm chiếu cố đến huynh đệ Thọ Ninh hầu, đến gặp Thái hoàng thái hậu thì ngài lại cả ngày trách móc trẫm chơi bời lêu lổng.

Ôi, trẫm mà đi dạo lòng vòng trong cung ấy hả, cái đám thần tử ngoại đình đó rất thính, lập tức chúng dâng sớ lên ngay, cung Khôn Ninh cũng không được yên ổn - nói đến đây hắn cười khổ sở một tiếng rồi tiếp: - Thấy gia đình khanh hoà thuận vui vẻ, trẫm hâm mộ khôn thôi. Ấu Nương tỷ tỷ rất có phong phạm vợ cả, nào như trong cung...

Hoàng hậu cả ngày chỉ chú ý đến lễ nghi hoàng hậu, cô nương mười bốn tuổi mà tính tình khô khan chán ngắt, trẫm lười chả muốn gặp nàng ta. Ngược lại Ngô phi còn biết thức thời hiểu chuyện, nhưng mà vì Hoàng hậu giận trẫm, nên nhiều lần hoạnh hoẹ khó dễ, khiến trẫm càng ghét nàng ta hơn.

Dương Lăng ngẩn ra, những chuyện như sau đại hôn hoàng thượng không còn thiết tha đến chuyện nội cung, rất ít khi sủng ái hậu phi y cũng từng nghe nói. Thì ra hoàng thượng vẫn thích Ngô phi hơn, nhưng y lại ngại hoàng hậu do chuyện gì vậy?

Nhớ lại những quy củ cung đình mình từng được đọc lúc còn làm phó sứ tổ chức đại hôn cho Hoàng thượng, Dương Lăng mới sực hiểu. Lý do là tuy trong cung Hoàng thượng có quyền tuyển chọn phi tử hầu hạ mình, nhưng còn có một thủ tục đó là phải được Hoàng hậu phê thuận bằng cách đóng dấu kim ấn thì Kính Sự phòng mới có thể đưa phi tử vào tẩm cung gặp Hoàng thượng được.

Nghe ngữ điệu này của Chính Đức, y hiểu một thiếu niên mười sáu và một thiếu nữ mười bốn, tuy nói là Hoàng đế và Hoàng hậu nhưng chẳng qua cũng chỉ là đôi nam nữ trẻ tuổi thôi. Đôi vợ chồng son giận nhau, nhất định Hoàng hậu tìm mọi cách gây khó dễ với việc thị tẩm của Hoàng thượng, hòng ép Chính Đức phải cúi đầu. Nhưng với tính khí của mình, Chính Đức sẽ chịu xuống nước nói ngọt ư?

Mấy chuyện bí ẩncung đình này Dương Lăng cũng không tiện chen vào, nhất thời y cũng ấp úng không biết nói thế nào. Chính Đức ngó xung quanh một chút rồi ngượng nghịu thấp giọng:
- Không giấu gì khanh, chuyện phòng the có cái lạc thú riêng của nó, nhưng mấy vị hậu phi của trẫm quá khô khan đi, trẫm... trẫm bỗng rất nhớ tám người nữ quan đã dạy trẫm nhân luân đại lễ khi làm đại hôn đó. So với bọn họ, mấy người nữ quan nọ đáng yêu hơn nhiều.

Dương Lăng nhìn hắn với ánh mắt kỳ dị, thầm nghĩ: "Trong sách sử nói rằng Chính Đức yêu thích những phu nhân đã có gia đình, chẳng lẽ... là do bệnh căn lưu lại từ lúc này à? Mấy người nữ quan dung mạo xinh đẹp đó đều mười tám mười chín tuổi, trước đó đã từng học qua thuật khuê phòng, Chính Đức đương nhiên là thích vui vẻ với những cô gái dịu dàng biết điều như bọn họ hơn là ba thiếu nữ ngây thơ mới mười bốn tuổi rồi.”

Dương Lăng lúng túng ho khan vài tiếng. Hoàng thượng chịu kể chuyện riêng tư thầm kín như vậy với y, đương nhiên đã coi y như tri kỷ có thể thổ lộ hết mọi tâm sự, nhưng mình có thể giúp đỡ gì đây?

Đúng vào lúc này, trước cửa bỗng vọng lại những âm thanh huyên náo kịp thời giải cứu Dương Lăng khỏi tình huống khó xử, y liền vội quay sang lão quản gia đang giữ cổng quát lớn:
- Chuyện gì mà ồn ào vậy?

Cao quản gia liền vội chạy đến khom người đáp:
- Hồi bẩm lão gia, Lý cử nhân làm ầm ĩ đến cửa tìm đại nhân, lão nô đã bảo hắn trong nhà có khách quý, ngày khác hãy đến nhưng hắn lại nói cái gì mà cho dù có mặt Hoàng thượng hắn cũng phải gặp mặt lý luận với đại nhân một phen.

- Lý cử nhân? Lý cử nhân nào vậy?
Dương Lăng lấy làm khó hiểu, những người mình quen biết đâu có lão gia cử nhân nào đâu ta?

Cao quản gia ngẩng đầu trộm nhìn Hoàng thượng đang cải trang vi hành một chút rồi nhỏ giọng nhắc:
- Chính là... là... vị hôn phu của Văn Tâm tiểu thư ạ...

- À, là hắn!
Dương Lăng thoáng giật mình, kế đó bừng giận, mặt thoáng đỏ lên. Ngày đó kẻ hủy hôn là hắn, tung tin bịa đặt nói y và Cao Văn Tâm làm ra những chuyện hạ lưu, rõ thật sao có thể thế được. Hắn còn dám tìm đến cửa nhà mình, cho dù mình thật sự muốn Văn Tâm đi nữa thì hắn dựa vào thân phận gì để gây gỗ chứ?

Chu Hậu Chiếu nghe vậy thì đảo mắt nghi ngờ hỏi:
- Vị hôn phu của ai đánh đến cửa vậy? Dương thị độc, khanh ... khanh cưỡng bắt dân nữ hay sao?

Hoàng thượng đã hỏi không thể không đáp, Dương Lăng giậm chân đáp:
- Hoàng thượng! Chính là con gái của Cao thái y năm xưa. Hoàng thượng ban thưởng nàng ta cho thần, phụ trách chữa trị cho vợ thần. Vì thân phận nàng ta là gia nô nên người trước đây đã đính hôn với nàng ta là Lý cử nhân đã huỷ hôn, không biết sao y còn cố đến nhà gây chuyện.

Chính Đức tỉnh ngộ bèn bảo:
- Ồ, té ra là cô ta!
Hắn nghe kể người đã huỷ hôn lại đến nhà Dương thị độc kiếm chuyện gây hấn thì không khỏi sinh lòng hiếu kỳ, liền nói tiếp:
- Đi, đi xem sao! Xem hắn có gì muốn nói. Nếu như vô lý sinh sự thì sẽ cho hắn một trận.

Chính Đức đi trước dẫn đường, Dương Lăng vội theo sau, Lưu Cẩn và Thành Khởi Vận cũng dẫn theo đám thị vệ đuổi theo. Mọi người chạy đến cổng, chỉ thấy hai tay gia đinh đang chặn một người vận áo dài xanh khoác áo kép hoa tròn, dáng người mập mạp, tuổi trạc ba mươi, mặt đen chữ điền, hai hàng ria đen trông rất oai nghiêm.

Dương Lăng quan sát một chút, thấy sau lưng hắn còn có hai người thanh niên tuổi hơn hai mươi, ăn mặc phong phanh giản dị hơn, thì không khỏi lấy làm lạ hỏi:
- Quản gia, Lý cử nhân đâu?

Lão quản gia còn chưa đáp lời, người mặc áo dài xanh nọ bỗng giận tím mặt, quát to:
- Tên họ Dương kia, đừng khinh người quá đáng! Cho dù ngươi là mệnh quan triều đình đi nữa cũng không thể khinh thường ta như vậy?

Đoạn hắn lùi một bước, cuối xuống phủi phủi áo rồi lại khinh miệt liếc qua Dương Lăng, vênh mặt lên trời, ngạo nghễ:
- Sĩ tử thi Hương năm Hoằng Trị thứ mười lăm Lý Kế Mạnh chính là tại hạ!

Dương Lăng trợn mắt kinh ngạc nhìn hắn. Đây chính là vị hôn phu của Cao Văn Tâm sao? Tướng mạo xấu xí cũng không sao, nam nhân xem trọng người tài mà, nhưng tuổi tác này... chẳng phải người thời này đều tảo hôn sao?

Dương Lăng chắp tay lắp bắp chào:
- Hoá ra... huynh đài chính là Lý cử nhân, thất kính thất kính.

Lý cử nhân phất tay áo, hậm hực:
- Không dám trèo cao!

Tuy bị mắng tét tát song Dương Lăng lại không cảm thấy tức giận. Y biết những kẻ mọt sách này rất xem trọng thành phần xuất thân, mình chỉ là tú tài năm Hoằng Trị thứ mười lăm, còn người ta là cử nhân, thua kém một cấp. Nếu không phải vì mình có địa vị cao thì quả thực khi gặp nhau, mình sẽ phải bợ đỡ người ta mất rồi.

Y cười trừ, đổi giọng hỏi:
- Lý gia thôn và Cao Lão trang là láng giềng lân cận, có điều Dương mỗ mới dọn đến không lâu, vẫn chưa có dịp kết giao với quý láng giềng các hạ đây. Chẳng hay hôm nay Lý cử nhân đến viếng là có việc gì?

Lý cử nhân giận đến run tay, hắn trợn mắt nhìn Dương Lăng một hồi lâu rồi mới tức giận nói:
- Học sinh là môn đệ thư hương, quan hoạn thế gia, cớ sao Dương đại nhân khinh học sinh đến vậy? Cao gia mạo phạm thiên nhan, vốn phải bị xử tử cả nhà!
Rồi hắn ôm quyền hướng lên trời chắp tay, dõng dạc nói tiếp:
- Thánh thượng nhân đức, chỉ giáng ả làm nô tỳ, Lý mỗ mang công danh trên người, sao có thể cưới một nữ tỳ về làm vợ? Mỗ huỷ hôn là việc thiên kinh địa nghĩa, ai dám nói không, ý tốt thành toàn của đại nhân, học sinh đã khéo lời từ tạ. Ả là nô hay thiếp ở Dương gia, đều không liên quan gì đến Lý mỗ. Thế mà cái con tiện tỳ này...

Dương Lăng nãy giờ kiên nhẫn lắng nghe, song nghe đến những lời vô lễ này, y lập tức bùng lửa giận, liền bước lên một bước, đanh mặt:
- Ai là tiện tỳ? Cao Văn Tâm đã vào nhà họ Dương thì chính là người nhà họ Dương, há có thể mặc cho ngươi sỉ nhục như vậy?

Dương Lăng nắm đại quyền trong tay, sinh sát trách phạt chỉ xảy ra trong nháy mắt, lâu ngày tự tạo thành quan uy. Lúc này thần sắc nghiêm nghị, nét mặt và cử chỉ của y đều toát ra khí thế bức nhân.

Lý cử nhân không khỏi hoảng sợ lui lại mấy bước, nhưng vẫn ương ngạnh:
- Chẳng lẽ một người đắc đạo thì gà chó đều được lên trời hay sao? Thân phận Cao Văn Tâm đang là quan nô, cho dù là tiểu thương tôi tớ, nông phu ruộng đồng đều có thể gọi ả là tiện tỳ. Cho dù đại nhân quyền khuynh triều chính thì ả vẫn là đứa tiện tỳ!

Sắc mặt Dương Lăng tím bầm, nhưng Cao Văn Tâm đúng là đang có thân phận tiện nô, địa vị ngang bằng với kỹ nữ thanh lâu, đó là sự thật không thể chối cãi. Lý cử nhân nhắm vào điểm này, y còn có thể cậy vào quyền thế để đòi mạng người ta hay sao?

Hoàng đế Chính Đức bó ống tay áo đứng trên bậc thềm, khoan thai bảo:
- Lý cử nhân nói vậy là sai rồi. Ngươi đã biết là Hoàng thượng nhân đức, thế sao lại không biết Hoàng thượng đã hạ ân chỉ, tước bỏ tiện tịch* của Cao Văn Tâm? (*thân phận ti tiện)

Hiện nay nàng ta đã là thái y ngự tứ* chuyên chữa bệnh cho nhà họ Dương, là nữ quan có phẩm tước. Dám phỉ báng mệnh quan triều đình, ngươi hãy coi chừng đường công danh của mình đó! (*được vua ban cho)

Dương Lăng mừng rơn, y ngoái đầu nhìn Chính Đức, mắt tràn ngập sự cảm kích. Chính Đức mỉm cười, thấy y như vậy, lòng hắn cũng thấy rất vui.

Trước đây vì giận dữ mà hắn đã giết nhầm Cao thái y, về sau mới biết là thái giám bốc sai thuốc, hắn biết rằng mình đã giết nhầm người. Nhưng thân là thiên tử sao có thể nhận sai? Nên cũng chỉ đành đã đâm lao thì phải theo lao, nhưng hắn đã không còn oán giận gì nhà họ Cao nữa. Lúc này thấy Dương Lăng để ý đến việc một nữ tỳ bị sỉ nhục như vậy, y cũng lờ mờ đoán ra mấy phần tâm ý của y, đành thuận nước giong thuyền, đền bù cho sai lầm của mình lúc trước.

Có được câu nói này của Hoàng thượng, Dương Lăng cảm thấy yên tâm vô cùng, y liền bước tới một bước, sảng khoái cười nói:
- Lý cử nhân, ngươi đã nghe rồi chứ? Niệm tình ngươi cô lậu quả văn, ta cũng không so đo việc hôm nay nữa, sau này ngươi còn mở miệng vô lễ, ta sẽ giao ngươi cho Thuận Thiên phủ, mời Học Chính đại nhân hỏi xem học sinh của lão có biết tôn ti trên dưới hay không!

Lý cử nhân chỉ mới có tư cách làm quan, nhưng Cao Văn Tâm lại đã trở thành quan viên đương chức, địa vị đương nhiên cao hơn hắn. Lý cử nhân ngạc nhiên nghi ngờ, không biết vị công tử đứng trên bậc thềm đó là người nào, tuy nhiên giả truyền thánh chỉ là tội đại nghịch, gã Dương Lăng cũng không dám bịa ra, vậy con tiện tỳ đó được ân chỉ này từ lúc nào?

Phải rồi, Dương Lăng là thân tín của Hoàng thượng. Hắn với con tiện tỳ đó có tư tình, đương nhiên sẽ cầu tình cho ả. Không ngờ con tiện tỳ này ôm hận trả thù, lại dùng sắc mê hoặc Dương Lăng, khiến hắn chia rẽ nhân duyên của mình. Chuyện này sao có thể bỏ qua?

Nghĩ vậy, Lý cử nhân vừa ghét vừa hận. Hắn nghiến răng, đành phải thuận theo:
- Học sinh không biết, mong đại nhân thứ tội. Nhưng mà... học sinh và tiểu thư của Hữu đô ngự sử Lưu đại nhân hứa hôn đã ngăn trở đại nhân việc gì sao? Cớ sao đại nhân lại dùng quyền thế mà áp bức, khiến cho Lưu đại nhân trả lại sính lễ của học sinh?

Hữu đô ngự sử Lưu đại nhân? Là ai vậy? Dương Lăng vừa tức giận vừa thấy buồn cười, y thật sự không hề có hảo cảm gì với tên Lý cử nhân ngu đần cổ hủ hám danh lợi này. Nghe thấy hắn nói nay cũng đã nếm phải mùi vị bị người ta từ hôn, trong lòng y bất giác cảm thấy sảng khoái, nhưng trong ấn tượng của mình thì hình như mình không hề quen biết với ai là Hữu đô ngự sử à, sao lại đổ cái tiếng xấu này lên đầu mình vậy ta?

Lưu Cẩn đứng bên cạnh nghe, bỗng nhiên sực tỉnh ngộ: “Cái tên Lưu Vũ này, cái đứa con gái bà không yêu cậu không quý nhà ngươi đó gả được vào nhà nào thì gả đi, ngươi nghĩ Dương đại nhân rảnh để để ý đến cái chuyện xui xẻo này của ngươi à? Lúc ta nghe chuyện con gái ngươi đính hôn đã bép xép kể cho ngươi chuyện hiềm khích giữa Dương Lăng và Lý gia. Cho dù ngươi muốn vuốt đuôi ngựa thì cũng không cần phải làm như vậy chứ?”

Lưu Cẩn biết rằng một khi Dương Lăng bắt tay truy vấn thì nhất định y sẽ tìm đến Lưu Vũ để đối chứng, lão liền đảo tròng mắt, ghé vào tai Chính Đức nói nhỏ mấy câu...







Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
25-12-2011, 08:27 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 162 Sóng Gió Trong Công Cuộc Cải Cách Nông Nghiệp.


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng thở dài một hơi. Những kẻ mà mình có thể dùng đều là dưa sâu táo xấu, có được người thiếu đức nhưng có tài đã là hiếm lắm rồi, cứ cố mà dùng tạm thôi. Đợi khi tranh thủ được sự ủng hộ của Lý Đông Dương và Dương Đình Hoà thì khi đó mình sẽ có nhiều người để dùng.






------------------------
Chương 162 Sóng gió trong công cuộc cải cách nông nghiệp

------------------------

Sau khi kiên nhẫn lắng nghe một hồi, rốt cuộc Dương Lăng cũng hiểu được đại khái sự việc. Hoá ra vị Lý cử nhân này cũng là con cháu quan lại, phụ thân từng làm Hữu thị lang bộ Công, có anh trai hiện đang làm quan của bộ Lại. Ba năm trước sau khi đỗ đạt, có công danh (*)Lý cử nhân mới đính ước chuyện hôn nhân. Sau khi từ hôn Cao Văn Tâm, được huynh trưởng tác hợp, hắn đã đính hôn với nhà Lưu ngự sử.
(*) có khi chỉ có nghĩa là thi đậu, có danh vọng (ví dụ đậu tú tài); ở đây vì đã đậu Cử hân nên được đưa vào danh sách chờ bổ nhiệm làm quan.

Không ngờ mấy ngày trước Lưu ngự sử lại đột nhiên sai người huỷ hôn. Hai nhà chưa lập hôn thú, chuyện này vốn cũng chẳng đáng chê trách gì, song Lý cử nhân lại nuốt không trôi, bèn tìm đến nhà để tranh luận phải trái. Lưu ngự sử chẳng nói gì nhiều, chỉ lạnh nhạt nói một câu tiểu nữ cứng đầu hư hỏng không dám trèo cao rồi đuổi hắn về.

Lý cử nhân bị hai tên gia đinh lôi ra khỏi cửa, nghe thấy bọn chúng trong lúc đóng cửa cười nhạo hắn đã đắc tội với Dương đại nhân của Nội xưởng mà còn vọng tưởng bám víu vào Lưu ngự sử. Do vậy hắn mới nảy lòng nghi ngờ Dương Lăng đã âm thầm gây chuyện phá đám, bèn tìm đến nhà để lý sự.

Dương Lăng nghe vậy mà bực cả mình, loại chuyện xúi quẩy này làm sao giải thích rõ ra đây? Y đảo mắt nhìn quanh, thấy đằng xa đã bắt đầu có nhiều thôn dân kéo đến xem náo nhiệt, bèn cười nhạt một tiếng rồi nói:
- Dương mỗ xuất thân ở chốn hoang vu, trong nhà mấy đời làm nông, mãi đến đời Dương mỗ, may được Tiên đế và đương kim Hoàng thượng tín nhiệm mới giao cho trọng trách. Thiên ân tẩy rửa thân phận, kẻ làm bề tôi nào dám không tận trung báo đáp?

Dương mỗ thân là tổng đốc Nội xưởng, lo nghĩ cũng là cho cả đất nước. Nơi nào có kẻ phạm thượng gây loạn, nơi nào có quan lại tham ô phạm pháp, nơi nào có thiên tai nhân hoạ, cần cấp báo về cho vua hay thì Dương mỗ mới nhúng tay vào. Ngươi nghĩ bản quan là ông tơ bà mối của nhà họ Lý à? Ngươi cưới vợ cũng được, nạp thiếp cũng được, chuyện đó có liên quan gì tới bản quan?

Thân là cử nhân, ngươi nên biết rằng kiện cáo vu vơ, nhục mạ bản quan là có tội. Ngươi đã biết tội chưa? Niệm tình ngươi có được công danh không dễ, bản quan cũng không muốn so đo. Nếu như có bằng chứng, ngươi có thể đến phủ Thuận Thiên kiện bản quan phá hỏng nhân duyên, nếu như không bằng không chứng, vậy mời ngươi về đi cho.

Dương Lăng dùng khẩu khí mà Lý cử nhân trả lời lúc trước trả lại hết cho hắn, ngay sau đó quay sang nháy mắt với gia nhân. Hai tên gia nhân đã biết gã Lý cử nhân này bạc tình vô lễ với tiểu thư nhà mình, vốn đã không ưa, vừa thấy lão gia ra hiệu liền xông lên cắp nách đẩy hắn đi một mạch thật xa.

Lý cử nhân biết Dương Lăng xuất thân văn nhân, vốn còn tưởng đến nhà đấu lý lẽ một phen, ai ngờ Dương Lăng lại không thèm đấu khẩu mà sai người đuổi hắn về, thế là giận run người mắng:
- Hổ thẹn cho kẻ văn nhân, thật sự là hổ thẹn cho kẻ văn nhân!

Dương Lăng cũng cảm thấy chán nản trong người. Chuyện này hoàn toàn không cách nào giải thích rõ ràng được, lại còn bị Hoàng thượng nhìn thấy. Nhưng giờ không phải là thời kỳ căng thẳng nên lại không thể điều phiên tử Nội xưởng về giữ cửa, e rằng sau này quan viên tới thăm càng lúc càng nhiều, bọn họ thấy được sự phô trương như vầy há chẳng sẽ chỉ trích mình sao?

Dương Lăng xoay người gượng cười nói với Chính Đức:
- Hoàng thượng! Thần và láng giềng có chút hiểu lầm đã khiến Hoàng thượng chê cười rồi.

Chính Đức cười lớn đáp:
- Vị cử nhân đó nghĩ khanh trộm búa(1) mà thôi, nào có liên hệ gì với ái khanh đâu? Được rồi, trời cũng không còn sớm nữa, trẫm phải về cung đây.
Hắn vừa nói vừa cười, vẫy tay chào Dương Lăng đang đứng ngây người; gia nhân đã mở cửa hông dắt ngựa ra ngoài.

Hoá ra khi nãy Lưu Cẩn đã đem hết sự tình kể từ đầu đến cuối cho Chính Đức. Đúng là trong triều có người thân thì mọi việc cũng thuận lợi: bản thân Dương Lăng không thể biện bạch, có người khác giải thích giùm mình sẽ dễ khiến người ta tiếp nhận hơn.

Số lần Lưu Cẩn lui tới Dương phủ hơn xa Chính Đức, cho nên lão đã nghe chuyện Lý cử nhân hủy hôn từ trước. Ngày đó Lưu Vũ đem một tấu chương khá quan trọng vào triều, trong lúc tán gẫu đã đề cập đến chuyện cưới hỏi của con gái mình, Lưu Cẩn buột miệng kể lại vài câu, ai ngờ Lưu ngự sử này ghi nhớ trong lòng. Vì muốn tránh nảy sinh khúc mắc với Dương Lăng nên lão đã hủy hôn.

Phải nói vị Lưu Vũ này cũng là một kẻ khôn khéo. Tuy lão ta giao hảo với Tiêu Phương nhưng đám lão thần chính phái trong triều chỉ ghét cay ghét đắng Tiêu Phương mà lại rất khen ngợi lão. Đỗ tiến sĩ năm Thành Hoá thứ tám, trước tiên lão làm Tri huyện rồi thăng làm Ngự sử, lại từng làm Án sát sứ tỉnh Sơn Đông.

Về sau Đại học sĩ Lưu Kiện đề bạt lão làm Hữu thiêm đô ngự sử. Sau khi hoàng đế Chính Đức kế vị, Thượng thư Mã Văn Thăng của bộ Lại tiến cử lão lên làm Hữu đô ngự sử, kiêm Tổng đốc quân vụ Tuyên phủ, Đại Đồng và Sơn Tây, cũng là một vị đại thần có thực quyền trong triều.

Quan hệ giữa Lưu Cẩn và Lưu Vũ cũng rất tốt, nên Lưu Cẩn không nói thật với Chính Đức rằng Lưu ngự sử e ngại ân oán giữa Dương Lăng và Lý gia, mà chỉ nói vị ngự sử này nghe nói Lý cử nhân là kẻ ném đá xuống giếng (dậu đổ bìm leo), hoài nghi phẩm hạnh của hắn nên bèn hủy hôn. Chính Đức lại là kẻ đầu têu gây nên chuyện này*, nghe vậy đương nhiên chỉ cười bỏ qua.
(*ý nói vì hắn nên Cao Văn Tâm mới bị phạt nô tịch và bị hủy hôn, dẫn đến ân oán hai nhà Dương-Lý)

Hiện Dương Lăng cũng chẳng có sức đâu mà lo bao đồng được nữa, bấy nhiêu quan viên trong triều còn đang tìm cách gây phiền phức cho y, kể chi là một tên cử nhân như thế này. Vả lại Cao Văn Tâm đã vì nhà họ Dương, vì mình mà bỏ ra rất nhiều công sức, mình mắc nợ nàng ấy rất nhiều.

Nay vì Lý cử nhân đến gây sự, Hoàng thượng đã mở kim khẩu ban cho Cao Văn Tâm kế thừa chức vị thái y của cha nàng, chẳng những mình đã thực hiện được lời hứa với nàng mà cũng đủ để nàng ấy an ủi linh hồn người cha già nơi chín suối.

Ngay khi đưa tiễn Chính Đức về, Dương Lăng phấn khích định chạy vào hậu viên. Luôn theo cạnh y, Thành Khởi Vận thấy thần sắc y như vậy liền khẽ thở dài bảo:
- Đại nhân không cần phải vội! Vừa rồi lão quản gia đã sai người vào hậu viện báo tin rồi.

Dương Lăng "ồ" lên một tiếng, rồi cũng cảm thấy mình hơi nóng vội, y không khỏi ngượng ngập cười trừ:
- Biết rồi thì tốt. Cô ấy vốn là thiên kim tiểu thư cao cao tại thượng, tuy nhà họ Dương chưa từng đối đãi với nàng ấy như thị tỳ, nhưng dẫu gì thì lớp thân phận ấy cũng khiến nàng ấy tự ti mãi. Giờ đây nỗi lòng của ta cuối cùng đã được giải quyết.

Nghĩ đến thân thế của mình, Thành Khởi Vận không khỏi cảm thấy xót xa, nàng lặng lẽ một lát rồi nói:
- Văn Tâm tiểu thư tuy rằng bất hạnh, nhưng gặp được đại nhân là vận phước của nàng ấy.

Nói đến đây ánh mắt nàng trở nên mê mang, dừng lại một chút rồi nàng mới nhỏ nhẹ nói tiếp:
- Nàng ta bị giáng thành quan nô, cha mình chết đi cũng không thể mặc áo chịu tang. Nếu đại nhân muốn giúp nàng một chút, vậy hãy lập linh đường cho Cao thái y trong nhà ngang ở dãy trước, rồi ngay mai cho phép thân quyến Cao gia đến phần mộ cúng tế cho tận lòng nhi nữ được không?

Dương Lăng mừng rỡ nhìn nàng tán thưởng:
- Vẫn là phụ nữ tinh tế! Sao ta lại không nghĩ đến việc này nhỉ? Quản gia, lão quản gia...

*****

Phải xắn tay vào làm việc mới biết nó gian nan dường nào. Vốn Dương Lăng cho rằng khó khăn là ở chỗ làm sao thuyết phục bá quan đồng ý với việc giải trừ cấm biển, ai ngờ bản điều trần về việc thay đổi giống cây trồng mới đó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của bá quan.

Mặc dầu hiện tại Dương Lăng và Bát Hổ đã có thực quyền hơn Lý Đông Dương, có thể nói là “quyền khuynh triều chính”, và việc hai người Lưu Tạ bãi quan rời triều cũng được đa số quan viên đón nhận với thái độ trầm mặc, nhưng những việc lớn có liên hệ đến quốc kế dân sinh và giang sơn xã tắc như thế này thì bá quan lại không hề cẩu thả qua loa.

Giống cây trồng mới có thích nghi để sinh trưởng tại các nơi trên Đại Minh hay không, sản lượng như thế nào, những việc này chưa biết rõ ngọn ngành thì ai mà dám mạo hiểm? Bản điều trần vừa được trình lên, lập tức “quần chúng” liền ùn ùn tấn công tới tấp, triều đình mới vừa được chút yên ả lập tức lại nổi phong ba.

May mà Tiêu Phương đa mưu túc trí, không hề ra mặt ủng hộ kiến nghị của Dương Lăng. Ông ta chỉ bày vẽ ý tưởng cho hảo hữu là chủ sự Trương Thái ở bộ Lại dâng tấu chương lên. Vốn lời nói của Trương Thái không có trọng lượng, cho dù hắn có bị người ta mắng cho té tát thì vẫn dửng dưng như không. Dẫu gì thì hắn chỉ là một viên quan bé tí bằng hạt đậu, cùng lắm là bị người ta mắng cho là tùy tiện lỗ mãng là cùng, không đến nỗi khiến cho đám người Dương Lăng, Lưu Cẩn và Tiêu Phương rơi vào thế bị động trên triều đình.

Dương Lăng nghe trình báo của Tiêu Phương xong thì không khỏi chau mày. Việc này bá quan không sai, cho thứ không rõ nguồn gốc trồng trọt đại trà rộng rãi khắp toàn quốc, ở bất cứ triều đại nào cũng đều là chuyện không thể xảy ra. Do mình biết rõ đặc tính của những thứ lương thực này cho nên mới có thể cho qua, nhưng liệu điều đó có thể được dùng làm chứng cứ thực tế để thuyết phục bá quan ư?

Dương Lăng nhìn sang Tiêu Phương. Thấy lão nhíu mày, tay vân vê chòm râu, vẻ như vô kế khả thi, y không khỏi cười ảo não. Trông bộ dạng đó của Tiêu Phương thì thứ này sản lượng cao hay thấp, có thích hợp để sinh trưởng hay không, e rằng lão cũng không tự tin cho lắm. Ngay cả bè đảng của mình còn chưa tin tưởng, khó trách bá quan lại cẩn thận như vậy.

Trầm ngâm hồi lâu, Dương Lăng mới từ từ nói:
- Chúc Chi Sơn mà bản quan có nhắc đến với đại nhân lần trước hiện đã về Tô Châu mang giống cây và thợ trồng vào kinh rồi, tạm thời sắp đặt cho y đến Đào Nguyên tỉnh Hồ Nam nhậm chức tri huyện, thử trồng ở một huyện trước.

Tiêu Phương đáp:
- Hay! Nhưng nếu chỉ trồng thử ở một huyện, cho dù có hiệu quả vẫn không thể chứng minh loại cây ngô và khoai lang này thích hợp với mọi đất màu mà.

Dương Lăng gật đầu:
- Không chỉ như vậy! Mà như thế thì chuyện giải trừ bế môn tỏa cảng mau nhất cũng sẽ phải đợi đến sang năm. Cho nên năm sau nhất định phải có thu hoạch của một tỉnh, hơn nữa phải chứng minh được thứ này thích hợp sinh trưởng ở nhiều nơi. Lúc đó, hai vị đại học sĩ Lý Đông Dương và Dương Đình Hoà và những người cùng phe với bọn họ mới sẽ ra mặt ủng hộ ta.

Y nghĩ ngợi một chốc rồi nói tiếp:
- Phó sứ Diêm vận ti Hải Ninh là Mẫn Văn Kiến trước đây chém chết vương tử Thát Đát, lại có công chống Oa, bảo người phe ta trong Ngự sử đài tạo chút thanh thế cho ông ta, thăng làm Phó chỉ huy sứ ty Chỉ huy sứ của Chiết Giang, để ông ấy phát động quân đội Giang Nam khai hoang, trồng thử ở những nơi cằn cỗi vùng đó trước.

Ngoài ra, chuyện nông canh không thể thiếu bộ Hộ. Chuyển Nghiêm Tung của Hàn Lâm Viện làm lang trung bộ Hộ, bảo y làm trung gian hoà giải mọi chuyện. Y chinh là cái vị hàn lâm cao gầy mà ngày trước đại nhân đến đã gặp đó.

Nhắc đến Nghiêm Tung, Dương Lăng không khỏi mỉm cười. Tính tình của vị “gian thần” nổi tiếng trong lịch sử này không ngờ lại cẩn thận thông minh. Mình hồi kinh lâu như vậy mà hắn vẫn chưa dám đến nhà thăm viếng, mãi đến khi trong triều yên ắng trở lại, thế lực của mình đã định hình, không còn có nguy hiểm gì nữa thì hắn mới chịu ló mặt. Có điều nếu hắn là người xem trọng quyền thế thì không sợ không có chỗ cho mình dùng.

Tiêu Phương liên tục gật đầu, âm thầm ghi nhớ. Dương Lăng chợt nhớ tới vị Trương Thái đáng thương đã thay y đứng ra làm bia đỡ đạn, bèn hỏi:
- Trương Thái bị bá quan chỉ trích, hiện tại vẫn có thể trụ được chứ?

Tiêu Phương cười ôn hoà đáp:
- Không sao! Có lẽ mấy ngày nay bá quan trong triều ấm ức đã lâu, nên lấy Trương Thái làm chỗ để trút giận mà thôi. Hắn chỉ là một chủ sự cỏn con, vua cũng thua thằng liều mà, đám người đó cũng không còn cách nào khác với kẻ phiền phức như hắn hết. Vả lại hắn và Lưu công công là đồng hương Thiểm Tây, rất được Lưu công công đánh giá cao, nếu lão phu không khuyên nhủ thì Lưu công công còn muốn thăng quan cho hắn nữa đó.

Dương Lăng không nhịn được cười to một tiếng, đoạn hỏi:
- Người này có thể dùng không?

Sau một thoáng trầm ngâm, Tiêu Phương chậm rãi đáp:
- Người này xuất thân tiến sĩ, khôn khéo có tài, tuổi tuy trẻ nhưng rất am hiểu lẽ quan trường. Lần này, trước khi dâng tấu thăm dò hắn đã từng quả quyết với lão phu rằng nhất định hắn sẽ bị bá quan công kích, đích thực nhãn quan hắn rất độc đáo. Có điều hắn tham tiền háo sắc, đó là khuyết điểm lớn nhất của người này.

Dương Lăng thở dài. Những kẻ mà mình có thể dùng đều là dưa sâu táo xấu, có được người thiếu đức nhưng có tài đã là hiếm lắm rồi, cứ cố mà dùng tạm thôi. Đợi khi tranh thủ được sự ủng hộ của Lý Đông Dương và Dương Đình Hoà thì khi đó mình sẽ có nhiều người để dùng. Y bèn quyết đoán:
- Bản quan không dùng hắn thì Lưu Cẩn sẽ dùng hắn. Mượn cơ hội bá quan công kích mà giáng cho hắn làm Cấp sự trung bộ Hộ, ngoài giáng trong thăng(2), vị trí này không nằm trong tay chúng ta nhưng thực chất là để kiềm chế bọn họ.

Tiêu Phương đồng ý rồi nói:
- Đại nhân vẫn nên lưu ý bộ Lại, nếu nắm quyền thăng chức bá quan trong tay thì mọi việc mới có thể thuận lợi, như cá gặp nước vậy. Hiện tại chúng ta chỉ điều chỉnh một ít quan viên nên Mã Văn Thăng vẫn chưa dám không nể mặt. Còn nếu đại nhân muốn phát triển thì không thể không bắt bộ Lại, bộ Lễ và bộ Binh phải nghe theo lời ngài.

Dương Lăng biết xưa nay lão vẫn không hợp với vị thượng cấp cũ đó, tuy là có ý tốt nhắc nhở y, song cũng có ý muốn mượn tay mình để trị Mã Văn Thăng. Nhưng mà Mã Văn Thăng tay nắm đại quyền, đức cao vọng trọng, hiện tại triều chính mới vừa yên ổn, vẫn chưa phải lúc thay đổi toàn bộ các cương vị quan trọng một lượt.

Vương Hoa của bộ Lễ là người theo chủ nghĩa trung dung, hành sự đều theo quy củ, đến giờ vẫn hoà thuận với mình. Hơn nữa, con trai lão vì đắc tội với Lưu Cẩn hiện đang bị nhốt trong lao, qua ít ngày nữa đợi Lưu Cẩn hết giận mình mở miệng bảo lão thả hắn ra, có được phần nhân tình này sẽ càng không sợ lão ấy làm khó mình.

Lưu Đại Hạ của bộ Binh tuy không xem trọng mình, nhưng đám võ quan của lão lại rất khách khí với mình, cộng thêm mình kiêm chức thống lĩnh thân quân thị vệ, ít nhiều cũng có thể can dự được vào chút việc của bộ Binh, nên trước mắt sẽ không cần thiết phải thu lấy nó.

Nghĩ đến đây, Dương Lăng lắc đầu đáp:
- Cứ từ từ thôi! Căn cơ còn chưa ổn định nên việc này không thể gấp được.

Đoạn y đứng dậy, mỉm cười:
- Đi thôi, bản quan cùng đại nhân về thành. Muốn thuyết phục Hoàng thượng cho trồng thử trước ở một tỉnh thì bản quan không thể không vào cung một chuyến.

Ngồi trong kiệu Dương Lăng vén rèm lên, nhìn những mảnh ruộng tiêu điều của mình, lặng lẽ chìm vào tâm sự của bản thân: sau khi nắm quyền lớn trong tay Lưu Cẩn đã bắt đầu âm thầm tự đề bạt tâm phúc của lão mà không thông báo cho mình biết.

Lưu Cẩn biết chữ không nhiều, phê duyệt tấu chương cũng gặp không ít trở ngại. Nhưng bây giờ lão ta trọng dụng cháu rể của mình là Tôn Thông và một tên tú tài thi rớt tên là Trương Văn Hoảng, không ngờ "ba anh thợ giày"(3) này cũng bắt đầu phúc đáp tấu chương đâu vào đấy. Người này là kẻ có dã tâm nhất trong Bát Hổ, hiện tuy là đồng minh, nhưng không thể không đề phòng.

Sau này nhất định phải chú trọng việc thân cận với mấy người Trương Vĩnh và Cốc Đại Dụng. Mình không thể thường xuyên ở cạnh Hoàng đế, chỉ cần mấy đại thái giám có thể chung vai chung vế với Lưu Cẩn này cùng hội cùng thuyền với mình thì có lẽ Lưu Cẩn sẽ ngoan ngoãn nghe lời thôi.

Giờ đây nếu muốn trồng thí điểm ở một tỉnh, e rằng việc này sẽ còn phải phụ thuộc vào Lưu Cẩn. Không phải là lão mới vừa đề bạt một tay Hữu phó đô ngự sử tên là Tào Nguyên làm Bố chánh sứ Thiểm Tây sao? Nơi đó là cố hương của Lưu Cẩn, ý thức về quê hương của Lưu Cẩn rất nặng, chỉ cần mình biết dùng công danh lợi lộc dụ dỗ, lại có thân tín mà lão ta đề bạt ở Thiểm Tây làm chủ trì, thì việc phát triển giống mới tất sẽ là chuyện làm chơi ăn thật.

Dương Lăng thở ra một hơi, dưới tiết trời lạnh lẽo hơi thở của y hoá thành một làn sương trắng. Bên đường đã không còn bao nhiêu màu xanh, gốc liễu gốc hoè chỉ còn trơ lại những cành cây khô tàn lụi, xa hơn, mảnh đất màu mỡ sau đợt thu hoạch nay đã biến thành một vùng cằn cỗi.

Trong lòng Dương Lăng nóng bừng, nếu như trồng thử trong hoàng trang(*) này thì sao? Khoai lang lớn nhanh, loại củ này có thể trồng một năm ba vụ, sau năm sáu tháng đã có thể thu hoạch một số lượng lớn. Đến lúc đó, mình có lương thực chất thành núi để bá quan văn võ trong triều tận mắt chứng kiến, há chẳng sẽ có sức thuyết phục hơn miệng lưỡi ư?
(* xin nhắc lại: hoàng trang là thôn trang trực thuộc hoàng gia)

Thế nhưng ruộng đất thuộc hoàng trang cũng có địa chủ riêng, hoàng cung chỉ tự trưng thu thuế thóc không thông qua triều đình thôi; mình có thể thuyết phục được những địa chủ đó thay đổi trồng loại cây trồng sản lượng cao không? Dương Lăng suy nghĩ cặn kẽ một chút, vùng hoàng trang này được sở hữu bởi bảy đại địa chủ, trong đó nhà của Lý cử nhân chiếm mấy ngàn mẫu ruộng. Y có thể không cần phải lo lắng lắm về vị nhân huynh này, nhưng sáu vị địa chủ còn lại cũng đều là những người có bối cảnh, sẽ rất khó để thuyết phục, dùng thủ đoạn cứng rắn lại càng không khôn ngoan, nên làm thế nào mới tốt đây?

Dương Lăng suy nghĩ mãi cho đến khi đi vào kinh thành. Đến cổng cung, Dương Lăng và Tiêu Phương xuống kiệu, trình thẻ bài tiến cung. Tiêu Phương cáo từ trở về Văn Uyên các phê duyệt tấu chương, Dương Lăng đến cung Càn Thanh. Y thấy trong đấy vắng tênh, chỉ có mấy tên tiểu thái giám trực ban đang bó ống tay áo ngủ gật trên ghế.

Sau khi hỏi thăm bọn họ, Dương Lăng biết hoàng đế Chính Đức mới học được một vở hí kịch nên đã phấn khởi chạy đến hậu cung, mời hết Thái hoàng thái hậu, Thái hậu và các vị nương nương, công chúa xem đích thân mình lên sân khấu diễn.

Dương Lăng nghe mà dở khóc dở cười. Y ngồi đợi trong cung Càn Thanh một hồi, cảm thấy trong một khoảng thời gian ngắn nữa ắt Chính Đức vẫn chưa về bèn đứng dậy đi thẳng đến ty Lễ Giám. Tiểu thái giám giữ cửa nơi này từng theo Lưu Cẩn đến Dương phủ mấy lần, vừa thấy Dương Lăng đến liền vội tươi cười hành lễ rồi quay vào trong cao giọng báo:
- Dương Lăng Dương đại nhân đến!

Dương Lăng cười bảo:
- Có kêu to cũng không có bạc thưởng cho ngươi đâu, sau này ta đến không cần thông báo nữa.

Dương Lăng bước vào trong phòng. Kê sát vào bức tường đối diện là bộ bàn ghế mũ quan bằng gỗ lim(*), hai bên là thông phòng(4) được phủ rèm dày. Dương Lăng rẽ vào căn phòng bên phải, vén rèm bước vào, y thấy trong phòng châm bốn cây nến đỏ sáng trưng.
(*http://image.big5.made-in-china.com/2f0j01nektRLryYfub/%E5%AE%98%E5%B8%BD%E6%A4%85.jpg)

Trên chiếc giường đất kê một chiếc bàn lò bằng gỗ tử đàn, trên bàn sắp mấy chồng công văn. Lưu Cẩn đang tươi cười bước xuống giường xỏ giày, trông thấy y vào, lão liền cười lớn:
- Dương đại nhân, ngài đến thật đúng lúc. Ta đang chuẩn bị ngày mai đến thăm ngài đây.

Dương Lăng cười nói:
- Ta vốn không nghĩ công công sẽ ở đây. Nghe nói Hoàng thượng đang hoá trang diễn kịch trong hậu cung, còn đóng vai nữ nữa, công công không phải ở bên người hầu hạ sao?

Lưu Cẩn nghĩ đến bộ dạng hoang đường cải trang giả giọng làm con gái của tiểu hoàng đế Chính Đức thì cũng không khỏi bật cười. Lão xuống giường mời Dương Lăng ngồi rồi quay ra ngoài gọi:
- Thằng nhóc không có mắt đâu rồi, mau dâng trà lên coi!

Đoạn lão quay đầu cười nói với Dương Lăng:
- Bây giờ không giống như trước kia nữa rồi. Ta cũng muốn hầu hạ bên cạnh Hoàng thượng mọi lúc mọi nơi, có điều tấu chương cần chỉnh lý vẫn chưa xong. Đám quan viên nọ viết tấu chương cũng dài dòng hệt như hát tuồng vậy, lê tha lê thê, không đọc hết đến câu cuối cùng thì thật chẳng biết bọn họ muốn nói gì nữa, khiến người ta sốt ruột chết đi được. Hiện tại Mã Vĩnh Thành đang theo hầu Hoàng thượng đó.

Dương Lăng biết lão đọc những tấu chương đó không hiểu bao nhiêu. Thông thường lão sẽ mang chúng về nhà, trước tiên bảo tên tú tài mà lão rước về giải thích cho lão hiểu, sau đó lại mang kiến nghị của Lý Đông Dương, Tiêu Phương, Dương Đình Hoà ra cho cả ba người (thêm đứa cháu rể) vừa uống trà vừa thảo luận, sau cùng sẽ chọn xác nhận được xem là thích hợp nhất.

Những chuyện này là do Cốc Đại Dụng lúc đến thăm kể thành chuyện cười cho y nghe, đương nhiên Dương Lăng sẽ không nói toạc ra.

Hai người trò chuyện vài câu, Dương Lăng thấy trong phòng chỉ có hai người, thích hợp để khuyên lão trồng thử khoai lang ở quê nhà, bèn nói:
- Bản quan có một chuyện muốn bàn bạc cùng công công.

Không ngờ cùng lúc Lưu Cẩn cũng nói:
- Ta có việc muốn bàn bạc cùng đại nhân.

Hai người vừa nói xong, đồng thời cùng thoáng sững người, rồi cùng bật cười lớn. Dương Lăng xua tay cười nói:
- Chuyện của bản quan nói ra thực hơi phiền phức. Công công có việc gì xin hãy nói trước cho ta nghe thử.

Lưu Cẩn vươn người nhón lấy một bản tấu chương dày cộp ở trên bàn rồi nói:
- Hiện nay ta nắm giữ nội đình, không thể không có cống hiến gì cho triều đình. Đại nhân đề xuất việc giải cấm thông thương ích nước lợi dân, khiến ta có chút gợi ý, bèn trăn trở mấy đêm, nghĩ ra được một ít kiến giải bài trừ những tệ nạn hủ bại trong triều, muốn trình lên cho Hoàng thượng.

Dương Lăng sửng sốt, nhìn vẻ mặt nghiêm túc lẫn hưng phấn của Lưu Cẩn mà không dám cười, bèn ho khan vài tiếng rồi hỏi:
- Không biết công công muốn đưa ra kiến nghị về phương diện nào?

Lưu Cẩn hăng hái:
- Ta suy nghĩ ba đêm, tổng hợp những vấn đền liên quan đến năm bộ Lại, Hộ, Binh, Công, Hình, tổng hợp những mặt về luật pháp, liêm chính, trị lại, hộ tịch, đất đai, tiền lương đã đề xuất ra bốn mươi sáu kiến nghị.

Lão cười khiêm tốn nói tiếp:
- Thật ra... còn có mấy kiến nghị khác nữa, có điều ta vẫn chưa nghĩ ra được biện pháp thích hợp cho nên chưa nêu ra.

Dương Lăng vất vả nuốt ngụm nước bọt, trợn mắt nhìn vị “tiên phong về cải cách” mà không mở miệng nói được câu nào.





Chú thích:


(1) Nguyên văn "nghi lân đạo phủ" (nghi: nghi ngờ; lân: láng giềng; đạo: lấy trộm; phủ: búa/rìu), tạm dịch nghi ngờ láng giềng trộm búa của mình. Truyện kể rằng có một người bị mất cái búa, nghi ngờ đứa con nhà hàng xóm lấy trộm, nên cảm thấy bất cứ hành động dáng vẻ gì của đứa bé nọ cũng đều đáng ngờ. Vài hôm sau, ông ta tìm lại được cái búa bị mất, thế là không còn cảm thấy thằng bé nhà bên cạnh giống như kẻ trộm cắp nữa. Truyện dạy ta rằng: chớ nên dễ dàng nghi ngờ người khác, cần phải có chứng cứ thiết thực.

(2) Nguyên văn "minh hàng ám thăng": bề ngoài chuyển làm một chức vụ bé hơn nhưng quyền hạn thực tế lại cao hơn.

(3) Trích từ câu nói "ba anh thợ giày bằng một ông Gia Cát Lượng": đại ý nói nếu không có cá nhân giỏi thì tập thể cũng có thể làm nên chuyện (giống như "ba cây chụm lại nên hòn núi cao" vậy).

(4) Hai phòng liên thông với nhau.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
02-01-2012, 07:07 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 163 Cải Cách Của Lưu Cẩn


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng nhìn thấy “mỹ nhân” mặc đồ cung nữ áo hồng nhạt đó thì ngẩn ra thật lâu. Vị “cô nương” này có cặp mắt xinh đen láy, má đào mặt trắng, mũi thẳng dọc dừa, eo lưng bó chặt, bộ ngực nhởn nhơ mỹ lệ cao vút, trong lúc nói chuyện cây thoa cài trên mái tóc đen dày đong đưa qua lại, trông có sáu phần giống công chúa Vĩnh Phúc.

“Mỹ nhân” thấy Dương Lăng đứng ngây ra thì không nhịn được mà bật cười rồi khẽ xoay eo giơ ống tay lụa che miệng, “e thẹn” nói:
- Dương đại nhân thật vô lễ quá đi, sao lại nhìn nô gia như vậy?






------------------------
Chương 163 - Cải cách của Lưu Cẩn

------------------------

Thấy bộ dạng há hốc kinh ngạc của Dương Lăng, Lưu Cẩn càng thêm đắc ý trong lòng. Luận về tâm ý thì gian thần chẳng qua là sự đánh giá của người khác về hành vi việc làm của người đó chứ bản thân gian thần lại không nghĩ như vậy. Sao Lưu Cẩn lại không muốn tạo nên sự nghiệp chứ? Chỉ là...

Dương Lăng cầm lấy bản tấu chương dày cộp từ tay Lưu Cẩn giở ra xem. Phải nói, tấu chương của Lưu Cẩn tuyệt đối không bị mắc phải khuyết điểm vừa dài vừa dở, không vòng vo tam quốc mà đi thẳng vào trọng tâm ngay. Đầu tiên nêu ra sự cồng kềnh của cơ cấu triều đình, chính lệnh không nghiêm, lạm dụng quyền lực để mưu cầu riêng tư, tình hình vi phạm pháp luật vô cùng nghiêm trọng, sau đó đề ra cải cách chính trị nhằm vào những tệ chính này.

Ví dụ: hiện tượng bổ nhiệm người mình, nịnh hót để thăng quan cực kỳ nghiêm trọng, quan viên đã từ lâu không còn tuân theo quy định "quan viên không được nhậm chức ở quê nhà". Sau khi lên ngôi Chính Đức từng dựa theo kiến nghị của Lưu Cẩn và Dương Lăng đề xuất lại việc này, sai bộ Lại chấp hành. Lưu Cẩn rất đắc ý với biện pháp đó, lần này bình mới rượu cũ, lão kiến nghị đưa nó vào điều luật triều đình làm thành một quy định khảo hạch quan viên.

Ví dụ khác, việc kiểm soát tiền lương địa phương xưa nay chưa được triều đình thực hiện một cách kỹ lưỡng cho lắm nên đã xảy ra hiện tượng kỳ lạ là: thuế khoá Đại Minh cực ít, thu nhập của quốc khố cực nhỏ nhưng bá tánh cùng dân lại kham khổ không thôi, nguyên nhân chính là vì triều đình giám sát bất lực để cho bên dưới tầng tầng bóc lột. Thế là (Lưu Cẩn) quyết định đề nghị biến việc quan viên bộ Hộ bất chợt kiểm tra kho lương các nơi thành một quy định mang tính thường xuyên và mỗi năm mười hai lần.

Bên cạnh đó còn có vô số những kiến nghị về coi trọng đo đạc ruộng đất, đả kích thương nhân buôn lậu, chỉnh đốn luật về muối, dùng cực hình trừng trị tham ô, giảm nhẹ gia tăng thuế khoá và lao dịch, quan văn chỉ huy quân đội,... chẳng những nêu lên vấn đề mà còn đề ra các biện pháp tương ứng cho từng vấn đề đó.

Dương Lăng xem kỹ lưỡng, bất giác lấy làm kinh ngạc. Trong đó có rất nhiều quan điểm đã chỉ đúng tệ nạn thực tế, nói đúng vanh vách. Có lẽ bởi vì bản thân Lưu Cẩn xuất thân bần cùng, “cố vấn” của lão lại là một tú tài thi rớt nhỏ nhoi nên rất nhiều vấn đề sau khi đến được triều đình thì đều bị che giấu nhưng không qua mắt bọn họ được.

Lưu Cẩn cười híp mắt nhấp trà nhẫn nại chờ Dương Lăng đọc xong rồi mới hỏi:
- Dương đại nhân, ngài thấy những chính sách này của ta có thể thực hiện được không?

Tuy là lão hỏi Dương Lăng song lại đắc chí chờ Dương Lăng khen ngợi. Có rất nhiều điểm trong sách lược của lão chính xác nhưng để thật sự thi hành thì riêng việc chọn lựa quan viên chấp hành đã là một vấn đề lớn.

Ví dụ như chính sách dùng cực hình để hạn chế tham ô, lúc Dương Lăng đọc đến đó liền cảm thấy buồn cười. Sau khi Lưu Cẩn làm nội tướng thì chính lão đã thu nhận không ít lễ vật, hơn nữa cũng như ngoại đình nghi kỵ nội đình thì chính Lưu Cẩn cũng không hề tin tưởng ngoại đình, nếu để cho đồng minh của mình là Đông Xưởng chấp hành thì thử hỏi một đám lưu manh côn đồ chỉ biết doạ dẫm bắt chẹt dân đen nay làm việc dẹp trừ tham ô sẽ có hiệu quả gì?

Có điều Dương Lăng tán đồng chính sách đổi mới việc đo đạc ruộng đất, dựa vào số lượng điền địa để nộp thuế. Lúc còn ở Kê Minh y từng gặp phải loại chuyện kỳ lạ này: có những hộ gia đình lúc Đại Minh lập nước là địa chủ nhưng nay đã trầm luân thành bần nông thế nhưng số ruộng đất ghi trong sổ sách của triều đình lại vẫn dựa theo cả trăm năm trước rồi cứ thế mà thu thuế, thiếu điều bức con nhà người ta phải thắt cổ tự tử.

Còn chính sách cho phép quan văn lĩnh binh thì Dương Lăng kiên quyết phản đối. Chẳng qua y biết Lưu Cẩn làm vậy là xuất phát từ suy nghĩ bảo vệ quân quyền. Hiện tại Dương Lăng đã không còn là thằng nhóc mới vào kinh không biết gì nữa, y sẽ không tranh cãi kịch liệt với người khác về sự non nớt về quan trường của họ. Sau khi nghe Lưu Cẩn hỏi xong, y trầm ngâm một chốc rồi thở dài nói:
- Phần lý luận này của công công quả thật rất có lý, tuy nhiên... để thực hiện sẽ có điều khó khăn à.

Lưu Cẩn thấy y tán đồng, trong lòng mừng lắm, về phần khó khăn... lão vô cùng lạc quan. Tít mắt cười, lão hỏi:
- Đại nhân, ngài thấy ta trình bản tấu chương này lên cho Hoàng thượng có được không?

Dương Lăng vội vàng ngăn cản:
- Ờm... có vài vấn đề nhỏ. Ví dụ như, công công cho rằng bộ Hộ nên điều tra tiền lương các nơi mỗi tháng một lần. Tần suất này... là hơi nhiều đó. Người sẽ không chịu nổi mệt mỏi dong duổi đường dài, mà tốp quan viên thứ nhất rời kinh còn chưa về thì tốp thứ hai đã phải đi tiếp rồi. Hơn nữa thuế thóc đa phần là thu theo năm, kiểm tra nhiều lần, quan viên địa phương bận lo nghênh đón tiễn đưa nào còn thời gian để xử lý chính vụ?

Lưu Cẩn nghe xong gật đầu lia lịa:
- Phải à phải à, ta quên mất thương khố các nơi không nằm trong kinh. Sửa lại thành một năm hai lần vậy.

Đoạn lão cầm tấu chương lên đánh dấu rồi hỏi tiếp:
- Còn chỗ nào chưa ổn thoả nữa không? Xin Dương đại nhân chỉ giáo thêm.

Dương Lăng chỉ vào chính sách quan văn lĩnh binh và nói:
- Khi còn ở Kê Minh, vị ngự sử đại nhân thân là văn nhân không hiểu việc quân song lại can thiệp vào việc hành quân bố trận, hại khiến đại quân bị vây ở Hồ Lô cốc cuối cùng táng thân trong loạn quân, công công cũng đã cảm nhận tác hại của nó mà. Công công xem, chỗ này nói là cử quan văn quản lý toàn bộ cửu biên: trấn giữ hay tuần tra cũng đều nằm dưới sự quản lý của bọn họ. Quả như giặc Thát lại tới tập kích biên giới lại để một quan văn đứng ra chỉ huy bậy bạ thì đại sự há chẳng hỏng ư?

Lưu Cẩn nghe vậy thì mặt đỏ bừng. Lần đó lão cũng là một trong những kẻ nói bậy nói bạ cuối cùng lại để Hà tham tướng gánh lấy oan ức, trong lòng lão cũng biết kẻ ngoài nghề chỉ trỏ loạn xạ sẽ rất không ổn. Điều khoản này là do muốn biểu thị lòng thành mà tay tú tài đó đã tự chủ trương thêm vào cho lão.

Lưu Cẩn cầm bút gạch chính sách này đi rồi hỏi:
- Đại nhân nói đúng lắm, còn gì nữa?

Dương Lăng chỉ vào chính sách "phạt gạo" (1) nói:
- Việc phạt gạo này, Dương mỗ lo rằng...

Lưu Cẩn không cho là đúng bèn nói:
- Đây la việc cần thiết. Năm Hồng Vũ, tham ô sáu mươi lạng đã bị lột da nhồi cỏ, ta phạt gạo thay cho bạc đã là nhẹ lắm rồi. Trừng trị quan lại hủ bại tất phải dùng hình phạt nặng thôi.

Mặt như cười nhưng không phải cười, Dương Lăng nói:
- Ngoài ra thì không còn vấn đề gì nữa. Nhưng mà... có lẽ công công không nên nóng vội.

Lưu Cẩn nghĩ rằng Dương Lăng có ý tranh công, sợ chính sách của mình có hiệu quả, cho nên nghe vậy chỉ cười cười song lại bỏ ngoài tai lời của y. Dương Lăng biết Lưu Cẩn mới được thăng quan nên khó mà khuyên bảo lão kiềm chế lòng nhiệt tình đó, hơn nữa hiện tại lão đang nắm giữ trung khu nội đình, quyền lực cao hơn mình nhiều nên nếu mình mà tấu lại những điều trên trước mặt Hoàng thượng thì chỉ sợ Lưu Cẩn sẽ càng phản đối kịch liệt hơn.

Dương Lăng nhớ lại năm xưa Hoàng Kỳ Dận vì dâng tấu khuyên cắt giảm quan viên mà rơi vào tình cảnh đáng thương thế là không khỏi liếc mắt nhìn Lưu Cẩn một cách thương hại. Tuy không thể đánh đồng người này với Hoàng Kỳ Dận vốn chỉ là một ngự sử bé cỏn con, nhưng cách làm cấp tiến này của lão nhất định sẽ đắc tội với vô số quan viên. Mặc dù những quan viên đó sẽ không dám chống đối trước mặt, song qua lâu ngày, cát vụn rồi cũng ngưng tụ thành sỏi đá, đến khi đó... Dương Lăng khẽ lắc đầu.

Lưu Cẩn lại nhìn tấu chương trong tay mình một cách yêu thích một chút rồi hỏi:
- Đúng rồi, đại nhân đến tìm ta có phải là chuyện gì quan trọng?

Dương Lăng cười đáp:
- Đúng vậy, Dương mỗ tìm được hai giống cây trồng của dị quốc, chống hạn và sản lượng tốt hơn giống cây hiện tại của Đại Minh, cũng ít bị sâu bệnh hơn. Chỉ là... muốn mở rộng trồng trọt thì phải trồng thử ở một số nơi trước, đồng thời nuôi cấy ra một số lượng hạt giống và đào tạo một đám nông phu biết trồng trọt. Bản quan đã chọn ra ba nơi là Hồ Nam, Tô-Hàng và kinh sư, mỗi nơi một huyện để trồng thử. Thật ra bản quan biết rõ hiệu quả của giống cây trồng này, việc làm này chẳng qua là để cho bá quan trong triều được an tâm. Trước mắt thì loại ngô tạm thời chỉ đủ trồng thử ở vài nơi thế nhưng dây khoai lang lại rất dễ sinh trưởng, một củ khoai có thể nuôi trồng ra mấy mẫu khoai. Thiểm Tây hoang vu mà mười năm thì có hết chín năm hạn hán, năm nào cũng có bá tánh chết đói vì thiên tai, do đó bản quan muốn bàn bạc với Lưu công công cho gieo trồng toàn bộ đất đai tỉnh Thiểm Tây, ngoại trừ ruộng nhất đẳng nhị đẳng vẫn tiếp tục trồng trọt hoa màu cũ thì còn lại đất cằn, đất hoang trên triền núi và đất mới khai hoang đều cho trồng khoai hết, đến lúc đó bá tánh không còn phải chịu cảnh chết đói tất sẽ cảm kích ơn đức của công công. Không biết ý của công công thế nào?

Lưu Cẩn nghe xong tim đập thình thịch, nếu thật sự có hiệu quả kỳ diệu bậc này vậy sẽ cứu sống được vô số bá tánh quê nhà rồi. Họ Lưu mình còn không trở thành đức Phật sống của vạn nhà sao? Lần này về quê thăm nhà...

Lưu Cẩn nghĩ ngợi một chút, rồi cẩn thận hỏi lại:
- Dương đại nhân, giống cây này thật sự thích nghi để trồng à? Nếu không thu hoạch được, khi đó có trồng những loại cây hoa mầu khác thì mùa vụ đã lỡ mất rồi. Hương thân của cả một tỉnh Thiểm Tây.... sao chúng ta không chọn một nơi trồng thử, chờ xác minh hiệu quả rồi mở rộng cũng không muộn mà.

Dương Lăng bèn giải thích:
- Lưu công công nói vậy không sai. Có điều bản quan biết rất rõ giống cây này, nếu trơ mắt chờ đến năm sau thì chẳng những sẽ có nhiều bá tánh chịu khổ mà đại kế giải cấm thông thương của chúng ta cũng bị ảnh hưởng lây. Huống hồ chúng ta chỉ chọn ra vài vùng đất bần cùng hẻo lánh thu hoạch kém và đất đồi, đất hoang, ảnh hưởng đối với cả tỉnh Thiểm Tây sẽ là rất nhỏ. Bản quan đã có tính qua thu hoạch năm ngoái của những vùng đất cần thay đổi giống cây trồng này. Nếu như công công cho phép, bản quan sẽ thu mua số lương thực tương ứng chuyển về Thiểm Tây, phân phát cho bá tánh chấp nhận trồng trọt giống cây trồng mới trước đã, như vậy bọn họ sẽ không phải lo lắng về sau, như vậy thì không có ai phản đối nữa, đợi đến khi được mùa rồi mới đổi ra lúa gạo để trả lại, công công thấy thế nào?

Lưu Cẩn vừa nghe thấy có biện pháp đảm bảo thu hoạch như vậy thì lập tức tán thành ngay:
- Được, một lời đã định. Nếu đã như vậy mong đại nhân hãy chuẩn bị sớm, chốc nữa ta sẽ thông tri cho Bố chánh sứ của Thiểm Tây là Tào Nguyên, sau khi đại nhân chuyển hạt giống và thợ trồng trọt đến rồi cứ bảo y ra sức phối hợp là được.

Hai người đang bàn bạc trong phòng, bên ngoài chợt có giọng của một tiểu thái giám vọng vào:
- Đây là vị tỷ tỷ của cung nào vậy, sao lại tùy ý xông vào... Ối chết, ối mẹ ơi, nô tài tham kiến Hoàng thượng!

Bên ngoài vang lên một tiếng "bộp" liền sau đó rèm cửa được gạt ra, một người con gái áo hồng rảo bước xông vào, đứng giữa phòng khách, hai tay khoanh trước ngực mắng:
- Tức chết mất thôi, thật không ở được thêm được ngày nào trong cái hoàng cung này nữa. Ai cũng thấy trẫm không vừa mắt, trẫm nhìn người nào... cũng thấy không vừa mắt.

Phát tiết xong, trông thấy Dương Lăng, “mỹ nhân” đó mới phất ống tay áo, cả tiếng nói:
- Dương thị độc đến đây à? Sao không kêu nội thị đi báo với trẫm?

Lưu Cẩn ra vẻ điềm nhiên nhanh nhẹn quỳ xuống đất thưa:
- Nô tài bái kiến Hoàng thượng.

Dương Lăng nhìn thấy “mỹ nhân” mặc đồ cung nữ áo hồng nhạt đó thì ngẩn ra thật lâu. Vị “cô nương” này có cặp mắt xinh đen láy, má đào mặt trắng, mũi thẳng dọc dừa, eo lưng bó chặt, bộ ngực nhởn nhơ mỹ lệ cao vút, trong lúc nói chuyện cây thoa cài trên mái tóc đen dày đong đưa qua lại, trông có sáu phần giống công chúa Vĩnh Phúc.

“Mỹ nhân” thấy Dương Lăng đứng ngây ra thì không nhịn được mà bật cười rồi khẽ xoay eo giơ ống tay lụa (2) che miệng, “e thẹn” nói:
- Dương đại nhân thật vô lễ quá đi, sao lại nhìn nô gia như vậy?

Dương Lăng nghe mà cảm thấy buồn nôn, lúc này y mới nhận ra vị cô nương xoay người ra vẻ ngượng nghịu chính là hoàng đế Chính Đức cải trang, xem ra hắn còn bỏ rất nhiều công sức nữa; tay áo giơ lên, ánh mắt đong đưa, điệu bộ và tác phong trên sân khấu ấy... oẹ...

Dương Lăng dở khóc dở cười vái lạy:
- Thần Dương Lăng tham kiến Hoàng thượng.

Lúc này rèm cửa lại được vén lên, một người nữa lại xông vào, cất giọng nhu mì như hoàng oanh:
- Hoàng huynh, hoàng huynh, huynh đổi lại y phục...

Chắc người đó cũng thấy có ngoại thần ở đây nên lập tức ngưng lời. Dương Lăng khẽ ngẩng lên, chỉ thấy trước mặt là một chiếc váy màu vàng nhạt dài chấm đất, phía trước thoáng lộ ra hai mũi giày tinh xảo, mũi có thể ngửi được mùi thơm cực phẩm nhàn nhạt.

Dương Lăng thầm nghĩ: "Hoàng huynh? Đây là vị công chúa nào nhỉ?"

Chính Đức "hừ" một tiếng rồi nói:
- Kêu cái gì mà kêu, lâu lâu diễn vở kịch cho vui vẻ một chút thôi mà, có gì mất mặt chứ. Trong nhị thập tứ hiếu còn có người mặc áo màu đùa giỡn làm vui cha mẹ (3), trẫm làm như vậy không phải là diễn cho Thái hoàng Thái hậu và Hoàng thái hậu được vui sao? Dương khanh, đứng dậy đi. Đây là hoàng muội Vĩnh Phúc. Không cần giữ lễ.

Dương Lăng liền vội dập đầu thưa:
- Thần Dương Lăng bái kiến trưởng công chúa điện hạ!

Hai mũi giày đó khẽ rút về sau, ẩn mình vào trong chiếc váy vàng sóng sánh như nước trên mặt hồ. Sau đó một giọng nói mềm mại nhỏ nhẹ cất lên:
- Bình thân.

Đây là lần đầu tiên Dương Lăng quỳ gần nàng ta như vậy. Thường ngày y quỳ với Hoàng đế đều giống như đóng kịch cho người khác xem, hết sức tuỳ tiện nhưng với công chúa người ta thì y lại không dám sơ suất. Dương Lăng lúng túng đứng dậy rồi liếc nhanh nàng ta một cái. Mấy tháng không gặp, Vĩnh Phúc như chồi non đã nhú ra khỏi mặt đất, dáng người thướt tha trông đã cao hơn.

Nàng có vẻ thích mặc đồ màu vàng. Hôm nay vẫn là một bộ cung trang màu vàng óng, tóc mây lượn lờ, mày đậm như tranh, mắt sáng tựa sao, mặt như tranh vẽ nhưng vẻ mặt và khí chất đã dè dặt hơn một chút so với vẻ ngây thơ lúc đầu gặp mặt.

Nàng đang ôm trong tay bộ long bào và kim quan (mũ vua), ánh mắt vừa chạm với Dương Lăng liền vội rời đi. Nàng quay sang dịu dàng nói với Chính Đức:
- Hoàng huynh, Thái hoàng thái hậu cũng chỉ có ý tốt mà thôi. Huynh là vua của một nước, lên đài diễn kịch đùa vui một lát cũng được thôi, dù sao cũng là ở trong cung. Nhưng huynh lại muốn cải trang làm nữ nhân, đừng nói là Thái hoàng thái hậu nhìn không vừa mắt mà huynh không thấy vẻ mặt của mẫu hậu cũng không vui đó sao?
Chính Đức hậm hực nói:
- Thật là xui xẻo. Lần tới diễn hí khúc trẫm không mời bọn họ đến nữa là được. Cả hoàng hậu và quý phi nữa, không mời ai cả - Y vừa bực bội nói vừa cởi đai lụa quấn eo, cởi bộ cung trang màu hồng nhạt ra. Lưu Cẩn vội vàng bò qua giúp y mặc đồ.

Dương Lăng thấy Chính Đức lấy dây tơ nhiều màu buộc thành hai bó trước ngực, căng lên trông giống như bộ ngực cao vút thì không khỏi ho khan vài tiếng nén cười rồi khuyên nhủ:
- Hoàng thượng, người chẳng qua nhàn rỗi tìm ít trò để giải sầu, đương nhiên không phải là không được, nhưng dù sao người vẫn là thiên tử cao cao tại thượng, nếu để truyền vào tai ngoại đình thì thực sẽ kinh hãi thế tục, đi ngược với đạo lý đó. Hoàng thượng hãy nghĩ thử, đừng nói là người, cho dù là thần nếu cải trang thành con gái rồi mở tiệc diễn kịch trong nhà thì một khi truyền ra e rằng tấu chương hặc tội của bá quan sẽ lập tức được trình lên, không bãi chức quan của thần mới lạ đó.

Chính Đức cười ha hả, sau đó nhìn đánh giá y mấy lượt rồi cười nói:
- Khanh dám làm vậy sao. Ấu Nương... phu nhân người mà không nổi giận thì mới lạ. Có điều... khanh mà cải trang nhất định không xinh đẹp bằng ta.

Công chúa Vĩnh Phúc thoáng liếc Dương Lăng, tưởng tượng bộ dáng ăn mặc trang phục phụ nữ của y nhịn không được liền bật cười rồi lập tức cảm thấy hơi thất thố nên mặt đẹp đỏ bừng.

Dương Lăng dở khóc dở cười phụ họa:
- Phải phải phải, đương nhiên là Hoàng thượng người xinh... à không... người anh tuấn tiêu sái. Không phải vậy sao, người cũng biết vợ thần sẽ nổi giận, vậy người hãy nghĩ xem Thái hoàng Thái hậu, Thái hậu, hoàng hậu và quý phi nương nương làm vậy không phải là vì yêu tiếc thanh danh của người ư?

Nghĩ ngợi một chút, Chính Đức cười xòa, nói:
- Ừm, nghĩ như vậy thì trẫm không giận nữa. Ha ha, Lưu Cẩn, chốc nữa hãy gọi Mã Vĩnh Thành tiến cống vào cung của Thái hoàng Thái hậu và Thái hậu mỗi nơi trăm cuộn lụa tơ, mười cân trà quý, còn chỗ của hoàng hậu và quý phi thì... cũng ban thưởng một chút, giảm một nửa là được.

Chính Đức đã đổi mặc long bào, Lưu Cẩn dìu y ngồi lên ghế và nhanh nhẹn sửa tóc cho y. Thấy trên mặt y vẫn còn son phấn, Dương Lăng liền lấy trong người ra một chiếc khăn tay song vừa lấy ra liền rụt vội về như chạm phải lửa: y sực nhớ ra chiếc khăn tay này là đồ của công chúa Vĩnh Phúc.

Công chúa Vĩnh Phúc tinh mắt, nàng đã nhìn thấy động tác của y, bốn chữ "Vĩnh Phúc Tú Ninh" hình đoá hoa mai thêu ở góc khăn vẫn còn đó, nàng sao không nhận ra. Con tim thiếu nữ của tiểu công chúa lập tức đập thình thịch. Nếu bị hoàng huynh phát hiện thì nguy mất, biết giải thích làm sao đây. Vị Dương đại nhân này thật là... sao y còn cất mang trên người vậy chứ.

May thay Chính Đức không hề phát hiện. Y vừa ngửa đầu cho Lưu Cẩn sửa tóc vừa hỏi:
- Dương thị độc, hôm nay vào cung trễ như vậy có phải là có chuyện muốn nói với trẫm không?

Dương Lăng bước tới một bước đáp:
- Dạ phải. Hai loại cây trồng mà thần từng bẩm tấu với Hoàng thượng dễ sinh trưởng vô cùng, có điều bá quan trong triều vì cẩn thận nên đã kiến nghị trồng thử ở vài nơi trước. Thần đã chọn được vài địa phương nên khi nãy đã bàn bạc với Lưu công công...

Y vừa nói vừa giấu tay ra sau lưng lắc lắc. Công chúa Vĩnh Phúc mím môi, nhón chân, rón rén gót ngà rồi thò tay chụp nhanh đoạt lấy chiếc khăn đó về.

Dương Lăng báo với Chính Đức về việc chuẩn bị trồng thử tại hai vùng nam bắc nơi có hoàn cảnh khí hậu bất đồng, kết hợp tập trung trồng thử ở vùng đất cằn và triền núi ở Thiểm Tây, do Nội xưởng cung cấp vốn riêng và bảo hộ thì ngón tay sau lưng thoáng giật lên, cảm giác như chiếc khăn lụa mềm mại đó đã bị người ta kéo mất, Dương Lăng không khỏi âm thầm thở phào nhẹ nhõm.

Liền sau đó y chợt thấy gót chân mình bị người ta đá một cái. Y ngẩn ra, bên cạnh thoảng qua một làn gió thơm, tiểu công chúa Vĩnh Phúc đã thướt tha uyển chuyển đi đến bên cạnh Chính Đức, xoay người đứng im, sắc mặt như cười nhưng không phải cười, hàm răng trắng tinh thấp thoáng sau cặp môi anh đào, ánh mắt dịu dàng song lại không liếc y lấy một cái.

Dương Lăng thoáng có một cảm giác kỳ quái. Vẫn tưởng vị tiểu công chúa này thanh tao nho nhã mà hoá ra thiếu nữ trên thế giới ai nấy đều có tính cách như vậy, cho dù cô nàng có là con gái của vua.

Chính Đức nghe Dương Lăng nói được một nửa liền bị cái gì mà ươm giống, trồng cây, cái gì mà thổ nhưỡng nước nôi sâu bệnh làm cho váng cả đầu. Tuy rằng lên làm hoàng đế thì hắn cũng từng ‘canh tác’ khi tiến hành tế Trời tại Thiên Đàn nhưng thật ra ngay cả hoa mầu và cỏ dại hắn còn không phân biệt được thì sao có hứng thú với mấy chuyện này. Có điều hắn rất tín nhiệm Dương Lăng và Lưu Cẩn, nếu như hai người này đều đã đồng ý vậy thì còn có gì để nói nữa.

Chính Đức bèn khoát tay bảo:
- Được, vậy cứ theo các khanh. Lưu Cẩn soạn chỉ bảo Bố chánh sứ Thiểm Tây đảm nhiệm đi, đưa ra triều đình nghị luận chỉ tốn thời gian cãi vã.

Dương Lăng vui mừng khôn xiết. Cấp sự trung bộ Hộ đổi thành Trương Thái, Đường quan bộ Hộ là Nghiêm Tung. Một khi thánh chỉ được hạ thì lập tức được truyền đạt đến Thiểm Tây, đến lúc đó ván đã đóng thuyền, bốn mươi con ngựa cũng đừng hòng đuổi kịp.

Lưu Cẩn thấy thế cũng thừa cơ thượng tấu:
- Hoàng thượng, nô tài có đề xuất một ít kiến nghị nhằm vào chính sách, chế độ hủ bại trong triều, khi nãy có mời Dương đại nhân xem qua. Nôi tài tính sửa đổi một chút rồi sẽ giao cho người thi hành. Hoàng thượng cầm quyền trị quốc, cũng nên có chút thay đổi mới được.

Chính Đức cả mừng, vỗ bàn khen:
- Hay lắm, có thế chứ! Có các khanh san sẻ lo âu, trẫm sao còn phải lo ôm đồm mọi việc?

Dương Lăng nghe vậy thì biết đã hỏng bét. Phương châm của bộ biến pháp này còn cấp tiến hơn cả mình, hơn bốn mươi chính sách này một khi được đề xuất thì triều đình không bùng nổ mới lạ đó. Ôi chao, mới vừa yên ổn được có mấy ngày.

Dương Lăng liền vội tâu:
- Hoàng thượng, thần muốn chuẩn bị mầm giống, đào tạo nhân viên nên trong khoảng thời gian này e sẽ không thể lên triều được nữa.

Chính Đức cảm thấy hơi thất vọng, trong ánh mắt của công chúa Vĩnh Phúc đang đứng bên cạnh cũng thoáng hiện sự mất mát. Chính Đức vừa định mở lời, Dương Lăng lại nói:
- Hoàng thượng, Nội xưởng đang nghiên cứu chế tạo ra một loại súng mới. Nếu thành công thì tốc độ bắn của nó sẽ lợi hại hơn hoả khí trước đây rất nhiều. Thần nhất định sẽ mau chóng chế tạo ra, đến khi đó mời Hoàng thượng đích thân bắn thử.

Câu này đã khơi gợi lên sự hứng thú của Chính Đức, hắn liền nói:
- Được, vậy khanh hãy đi làm việc của mình đi. Nếu cần điều nhân thủ từ cục Quân khí thì cứ nói với trẫm.

Dương Lăng dạ một tiếng, rồi mỉm cười liếc nhìn Lưu Cẩn đang xun xoe muốn ra sức, thầm nói: "Lưu đại quan nhân, các người cứ đi chịu khổ đi, hiện tại vẫn chưa phải lúc tôi đây xuất hiện, theo lành tránh dữ là hơn."




Chú thích:


(1) Theo sử chép, Cẩn không phải là loại bất tài. Ông ta đã đưa ra một số cải cách về chính trị. 'Phạt gạo' là một trong những chính sách nằm trừng phạt quan lại tham ô hoặc không làm tròn trách nhiệm, tính theo đơn vị bổng lộc; nặng thì năm trăm thạch (30 tấn), nhẹ thì ba trăm (18 tấn) trở xuống, nếu đã bãi quan thì giảm một nửa. (theo http://baike.baidu.com/view/28371.htm)

(2) Nguyên văn "thuỷ tụ", là loại tay áo may bằng lụa dài thường gặp trong các hí kịch truyền thống Trung Quốc. Vì khi múa tạo thành hình sóng nước nên có tên này. Xem hình http://a2.att.hudong.com/51/61/01300...16014102_s.jpg

(3) Nguyên văn "thái y ngu thân" (hay "hý thái ngu thân" 戲彩娛親). Trích trong "Nhị Thập Tứ Hiếu" truyện. Truyện rằng Lão Lai Tử sanh vào đời Xuân Thu, ông phụng dưỡng song thân rất chu đáo. Tuy Lão Lai Tử đã trên bảy mươi tuổi nhưng cha mẹ ông vẫn còn sống, ông không bao giờ nói là mình già vì còn cha mẹ thì không xưng là già, "Phụ mẫu tại hỗ ngôn bất xưng lão." Lão Lai Tử tìm mọi cách cốt ý để làm cho cha mẹ lúc nào cũng vui vẻ trong lòng. Ông cải trang, mặc áo sặc sỡ năm màu và múa hát trước mặt cha mẹ mình. Lại có khi Lão Lai Tử bưng nước hầu song thân, ông giả vờ bị trượt té rồi ngồi khóc oa oa như trẻ nít lên ba. Cha mẹ ông vui cười trước sự ngộ nghĩnh của con mình.





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
05-01-2012, 08:30 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 164 Thành Quả Ban Đầu

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Một hồi sau, Cao Văn Tâm mới thở hắt ra một hơi thật dài, nhẹ nhàng buông tay Ấu Nương ra. Dương Lăng sốt ruột kêu lên:
- Thế nào vậy, Văn Tâm, Ấu Nương nàng ấy...?

Hàn Ấu Nương cũng hồi hộp nuốt nước miếng. Cao Văn Tâm nhìn Hàn Ấu Nương với một ánh mắt phức tạp rồi khẽ giọng:
- Chúc mừng muội, Ấu Nương.






Chương 164 - Thành quả ban đầu

------------------------

Mặt đất phủ màu trắng xóa, Dương Lăng phấn khởi trở về từ Nội xưởng. Vứt roi ngựa cho gia nhân, y xoa tay đi đến hành lang cười hỏi:
- Hôm nay không có ai đến à?

Cao quản gia giúp y cởi chiếc áo khoác màu vàng sẫm lót nhung bên trong rồi trả lời:
- Đêm qua tuyết lớn, có thể mấy vị đại nhân cảm thấy đi đường bất tiện, vì vậy cả ngày hôm nay rất yên tĩnh ạ.

Áo khoác được cởi ra, bên trong là một bộ mãng bào vàng óng. Bộ mãng bào này rất giống long bào nhưng bên trên lại thêu rồng vàng bốn vuốt, kém một vuốt so với long bào. Mãng bào, phi ngư bào, đấu ngưu bào (1) đều không phải là quan phục theo phẩm tước triều đình mà là thuộc tứ phục (*) do Hoàng thượng đặc ý ban cho.
(*)trên ban cho dưới gọi là "tứ".

Hiện tại Lưu Cẩn và Cốc Đại Dụng cũng đã được ban cho mặc mãng bào, tuy nhiên mãng bào của Cốc Đại Dụng thêu hình một con mãng xà nằm nghiêng còn mãng bào mà Dương Lăng và Lưu Cẩn được ban cho lại thêu bốn con mãng xà ngẩng đầu nhìn thẳng, tôn quý vô cùng.

Vu Vĩnh đã trở về từ phương nam. Thương nhân kinh doanh thóc gạo ở Huy Châu và thương nhân chủ chốt buôn trà và ngựa ở Thiểm Tây bị gã dùng lợi to mê hoặc đều đã đáp ứng hợp tác cùng Nội xưởng còn thương nhân Chiết Giang thì không cần phải kể. Những thân hào cự phú này đều có thế lực to lớn vô cùng.

Có bọn họ gia nhập liên minh cộng thêm sự phối hợp của thái giám trấn thủ các nơi khiến chỉ một hoạt động này của Nội xưởng đã lấn át nhiều năm kinh doanh cực khổ của Đông xưởng và Cẩm y vệ. Căn cơ của tổ chức tại phương nam không những nhanh chóng được ổn định mà còn nắm giữ năng lực khổng lồ.

Dương Lăng không ngờ một tên Vu Vĩnh chưa từng được ai xem trọng lại có bản lĩnh lớn như vậy. Y mừng đến cười không khép miệng được, lập tức mời mấy vị tâm phúc đắc lực vào ngày tết ông Táo dẫn theo gia quyến đến nhà cùng mở hội uống rượu. Thượng quan đã khoản đãi như vậy thực là một ân đức to lớn vô cùng nên đám người Ngô Kiệt, Hoàng Kỳ Dận và Vu Vĩnh đương nhiên mừng rỡ đáp ứng ngay.

Lúc này Chúc Chi Sơn đã hớn ha hớn hở đến Đào Nguyên nhậm chức, chàng ta mang theo tất cả gia nhân biết trồng loại cây từ Nam Dương này vào kinh. Điều khiến cho Dương Lăng kinh ngạc và vui mừng chính là ngoài hạt ngô ra thì Chúc Chi Sơn còn có cả ớt, lạc (đậu phộng), khoai tây và một loại thực vật mang tính thưởng thức khác; căn cứ theo miêu tả của người nông dân ấy về giống thực vật này thì Dương Lăng biết được giống cây đó tên là cà chua.

Những người đó nào phải nông dân gặp nạn từ Nam Dương trở về nữa mà thật sự đã là Đường Tam Tạng thỉnh được Đại thừa chân kinh rồi; Dương Lăng may mắn đến rạng rỡ mặt mày. Còn nhớ những giống cây vừa giàu chất dinh dưỡng lại dễ sinh trưởng này truyền vào phương Tây đã nhiều năm, bị người dân nơi đó cho rằng có độc nay lại sắp khai hoa kết quả tạo phước cho dân Đại Minh trước rồi.

Từ miệng của Chúc Chi Sơn y biết được mấy người Đường Bá Hổ sau khi nghe nói về việc làm của y thì đều rất là hâm mộ liền cũng bày tỏ tâm nguyện muốn tham gia làm quan, báo đáp triều đình, tuy nhiên chuyện này tạm thời vẫn chưa vội.

Song điều khiến cho y hưng phấn nhất chính là rốt cuộc Hỏa Giả Á Tam và thợ thuyền của Nội xưởng đã nghiên cứu và chế tạo ra được loại súng kiểu mới. Loại súng mới này có tầm bắn đạt tới 40 trượng (khoảng 130 mét), xa gấp đôi và tốc độ bắn nhanh hơn gấp sáu lần so với súng trước đây, sức uy hiếp của nó đã hơn xa trước kia.

Nhìn khẩu súng đó mà Dương Lăng cảm thấy quy trình nhồi đạn vẫn còn hơi khó khăn, hơn nữa y còn nhớ nòng súng thời hiện đại hình như còn có rãnh xoắn, tạo chuyển động xoay tròn cho viên đạn, lực ly tâm khiến cho viên đạn được bắn đi xa hơn.

Dương Lăng giải thích những nguyên lý này cho các chuyên gia về khí giới rồi lại vẽ ra kết cấu cơ bản của loại đạn hiện đại. Những người thợ mới được trọng thưởng này liền lập tức quên mình lao đầu vào cuộc nghiên cứu. Dương Lăng biết đãi ngộ cho nhà phát minh vào thời đó kém đến đáng thương cho nên mới ban thưởng hậu hĩnh cho mấy vị thợ thầy chế tạo này khiến rất nhiều chưởng ban và đáng đầu Nội xưởng ghen tỵ không thôi.

Y vốn định nhờ Hỏa Giả Á Tam tiếp tục giúp cải tiến hỏa pháo một chút. Bất luận là xưa hay nay thì tác dụng của hỏa pháo trên chiến trường đều không thể coi thường do chúng có sức sát thương kinh người. Tiếc rằng số lượng nguyên liệu trên tay y lại không đủ để nghiên cứu loại vũ khí cỡ lớn như vậy, hơn nữa nó cũng động chạm tới sự kiêng kị của triều đình, xem ra chỉ có cách đợi cho súng trường cải tiến có thêm thành quả thì khi đó chính mình sẽ bẩm báo với Hoàng thượng để hợp tác cùng cục Quân khí.

Dương Lăng giậm cho rơi tuyết đọng trên giày rồi đi vào đại sảnh, bụng nghĩ: "Hôm nay bọn Cốc Đại Dụng, Trương Vĩnh và Miêu Quỳ đều không đến phủ, bên Tiêu Phương cũng không có động tĩnh gì xem ra trong triều không có việc gì hệ trọng vậy mình đi xem thử việc ươm giống cây trồng tiến triển thế nào rồi. Chúng chính là báu vật của mình."

Y quay đầu ngước nhìn đỉnh tháp cao hơn trăm trượng ở trước mặt. Đó là đại giáo đường mới đang được xây dựng, đã có dáng dấp một giáo đường Cơ Đốc. Vì trời chuyển lạnh mà tuyết lại rơi dày cho nên hiện đã dừng thi công. Đỉnh tháp trắng lóa một màu tuyết tạo cho người ta cảm giác lạ lẫm.

Dương Lăng mỉm cười chậm rãi bước vào hậu đình. Trong sân được bao phủ bởi một màu trắng bạc, trắng xen lẫn hồng, ngọn giả sơn và hành lang đá nổi bật trong tuyết, trông đẹp đến lạ thường. Xa xa vẳng lại tiếng đàn trong vắt khiến người nghe sảng khoái tâm hồn như bước vào tiên cảnh.

Dương Lăng bước chậm lại, nghiêng tai lắng nghe tiếng đàn, thầm nghĩ: "Là ai gảy đàn vậy nhỉ, nghe âm điệu thành thạo, hiển nhiên không phải là Ấu Nương mới biết đàn sơ sơ. Xem ra nếu không phải là Tuyết Lý Mai thì nhất định là Thành Khởi Vận rồi."

Vốn Dương Lăng định lợi dụng ảnh hưởng của mình với hoàng đế, cho dù không thể dỡ bỏ toàn bộ lệnh cấm biển cũng phải buộc mở một hai bến cảng. Nhất là Thiên Tân vệ, nằm sát dưới chân thiên tử, nhất định phải mở cửa. Nơi này địa lý không bằng phương nam nhưng vị trí chính trị lại quá quan trọng.

Nơi này có mở cửa đối ngoại thì mới có thể mau chóng mở rộng tầm mắt và quan niệm của văn võ bá quan, tầm mắt và quan niệm này đang khống chế đường lối chính sách chính của Đại Minh. Chỉ cần trong số bọn họ có ba phần chịu đồng ý và chấp nhận quan niệm của mình thì sẽ không lo Đại Minh không sớm giải trừ cấm biển.

Ấy vậy mà không ngờ có nhiều rắc rối như thế. Đầu tiên là do giải cấm nên mới liên quan đến cấy cày, vì cấy cày mà dính dáng đến thay đổi giống cây trồng. Lần lữa cho đến hôm nay mục đích quan trọng nhất vẫn chưa bắt đầu, hành trình trở về Nam của Thành Khởi Vận cũng vì vậy mà năm lần bảy lượt bị hoãn lại khiến nàng ta đành phải ở lại trong Dương phủ.

Bước vào phòng tấu đàn bên trong phòng khách, Dương Lăng không kìm được kinh ngạc. Người con gái đang chậm rãi khéo léo lướt ngón gảy đàn ấy không ngờ lại là Cao Văn Tâm. Nàng khoác chiếc áo ngắn tay cân vạt màu bạc bằng da chồn, tôn lên dung nhan thanh nhã, môi đỏ răng ngà. Trông thấy Dương Lăng bước vào thì ánh mắt nàng thoáng lộ ra vẻ vui mừng, vội đưa tay chặn dây đàn lại.

Tiếng đàn thoáng ngân lên rồi ngưng bặt, Cao Văn Tâm bước xuống chiếc giường la hán, khuôn mặt thuần khiết khẽ ửng hồng, nàng hơi khom người vái chào:
- Ra mắt... đại nhân.

Từ sau khi trong cung truyền chỉ cho Cao Văn Tâm nhận bổng lộc triều đình, làm nữ quan Thái Y viện thì Dương Lăng liền cho xây thêm một khu nhà trong khoảnh sân vườn rộng mấy mẫu ở hậu viện dành riêng chị em nhà họ Cao cư ngụ. Tuy chi phí sinh hoạt thường ngày vẫn do nhà họ Dương cung cấp nhưng cũng có thể xem như ở nhà riêng nên Cao Văn Tâm cũng không tiện đến thăm hằng ngày, do đó hai người ít khi gặp nhau. Không ngờ hôm nay đến lại gặp nàng, Dương Lăng mới biết nàng gảy đàn hay như vậy.

Trước đây Cao Văn Tâm gọi Dương Lăng là "lão gia", sau khi được xóa bỏ thân phận nô tỳ, vì nàng còn là nghĩa tỷ kết bái của Ấu Nương cho nên đúng ra nên gọi Dương Lăng là "muội phu" nhưng Cao Văn Tâm nào chịu. Một khi hai tiếng muội phu thốt ra nàng sẽ mất đi một đức lang quân như ý, thế nên nàng vẫn cứ dựa theo chức quan mà gọi Dương Lăng là đại nhân.

Dương Lăng thấy nàng mặc áo cánh và váy bó thêu sợi màu lam nhạt, lúc xuống giường dưới đáy váy ẩn hiện chiếc quần (tất khố) đơm hoa màu hồng nhạt, đôi giày đế cao đầu phượng màu đỏ pha vàng. Lúc nàng đứng lên, cặp hoa tai bảo thạch màu xanh khẽ đong đưa hợp cùng vóc dáng thanh tú làm toát lên một vẻ đẹp tao nhã.

Dương Lăng cười nói:
- Đây là bài 'Phong Nhập Tùng' mà Ấu Nương học, ta rất thích nghe. Ban đêm nghe bài từ khúc thanh nhã này dễ ngủ vô cùng, không ngờ cô cũng thích bài này. Sao chỉ có mình cô ở đây, những người khác đâu rồi?

Cao Văn Tâm nghe y nói vậy thì mặt thoáng ửng hồng. Vì nàng nghe Ấu Nương nói rằng Dương Lăng thích nhất là nghe bài từ khúc này mà trong tay lại không có khúc phổ cho nên mới nhờ Thành Khởi Vận chỉ dạy cho. Tâm sự con gái này sao nói cho Dương Lăng biết được! Nàng mỉm cười liếc mắt về phía chiếc giường khẽ nói:
- Dạ, còn có một vị nữa, Thành nhị đáng đầu của đại nhân cũng ở đây.

Lúc này Dương Lăng mới để ý đến phía trong giường, cạnh đầu giường là Thành Khởi Vận đang nằm dựa nghiêng trên một chiếc đệm gấm, trên người đắp một tấm chăn xanh biếc chỉ để lộ khuôn mặt trắng ngà, hai má đỏ au, mắt đẹp mơ màng đang say sưa ngủ.

Dương Lăng không nhịn được cười bảo:
- Làm khó nàng ấy rồi! Từ nhỏ đến giờ chưa từng lên phương bắc, chưa từng cảm nhận thời tiết lạnh như vậy. Người ta nói 'miêu đông' (2), đúng là ‘miêu đông’, nàng ấy thật sự trông như con mèo cả ngày chỉ biết ngủ, sắp thành ủ đông rồi.

Cao Văn Tâm phì cười, liền đó liếc vội Dương Lăng một cái, sắc mặt có phần kì lạ song Dương Lăng lại không phát hiện. Y mới hơn hai mươi, Thành Khởi Vận lớn hơn y sáu bảy tuổi vậy mà trong lúc vô ý khẩu khí y thốt ra dường như lại coi Thành Khởi Vận nhỏ hơn mình. Cao Văn Tâm nào biết tuổi tác tâm lý của Dương Lăng lớn hơn không chỉ chục tuổi.

Thành Khởi Vận lờ mờ nghe thấy có tiếng đàn ông, bèn khẽ mở hai mắt, nhìn thấy Dương Lăng, liền vội ngồi dậy, tung chăn, chào hỏi:
- Đại nhân đã về rồi à, ty chức thất lễ.

Dương Lăng đáp:
- Khổ cho cô rồi, không thích nghi được với khí hậu phương bắc phải không? Bây giờ vẫn chưa tính là lạnh lắm đâu, đến lúc thật sự lạnh thì nước cũng đóng thành băng ấy - Vừa nói đến đây y nhìn sang chiếc giường cùng tấm chăn trên đó, ánh mắt thoáng trở nên thất thần.

Hai má Thành Khởi Vận nóng lên, nàng mất tự nhiên nhìn lại trang phục của mình: áo khoác lụa cân vạt màu trà đơm hình chim nhạn ngậm bông lau, bên ngoài lại khoác thêm chiếc áo chẽn màu xanh lót nền hồng đào, cổ áo lụa bạch lĩnh dựng thẳng, đầu cổ thêu hoa, cúc áo hình ong mật ruổi hoa (3), tuy rằng hơi thùng thình nhưng thắt lưng thanh mảnh không che giấu được bộ ngực vun cao. Sao đại nhân lại nhìn mình như vậy?

Thành Khởi Vận thấy ánh mắt Dương Lăng vẫn nhìn mình chằm chằm mà chỗ cặp đùi dưới chăn bị y nhìn bắt đầu nóng lên và nhột nhạt. Nàng mím môi, khẽ dịch tay sang một bên giường rồi nhỏ nhẹ:
- Đại nhân, ngài làm sao vậy?

Dương Lăng thoáng ngẩng người, rồi mới sực tỉnh:
- Hả? À... - y hít vào một hơi thật sâu rồi nói:
- Ta nhớ lúc này năm ngoái trời lạnh hơn bây giờ nhiều, căn nhà ọp ẹp trong sơn cốc, cửa sổ cũng bị gió lùa vào, trong nhà khi ấy chỉ có một chiếc giường và tấm chăn bông sờn rách, không khác chiếc giường này là bao. Đêm nào Ấu Nương cũng đều đắp chăn bông cho ta còn mình thì chỉ đắp tấm chăn mỏng tanh, cứ vậy mà chống chọi qua nửa mùa đông...

- A! - Cao Văn Tâm và Thành Khởi Vận đều trợn tròn mắt. Nhất là Thành Khởi Vận chưa từng đến nơi phương bắc này, vừa tưởng tượng ra còn lạnh hơn lúc này mấy phần, bên giường lại không có lò than mà cửa sổ còn bị gió lùa, như vậy còn không phải là muốn lấy mạng người ta sao? Thảo nào... thảo nào y đối xử với Ấu Nương tốt như vậy, vì nàng ấy mà dám kháng cả thánh chỉ, bị chém cũng không sờn lòng.

- Than ôi... - Dương Lăng lắc đầu nhè nhẹ, thở dài một tiếng rồi nói:
- Lúc đó, ta chỉ muốn lang bạt kiếm chút gia nghiệp để Ấu Nương không phải chịu thêm khổ cực, như vậy đã là đủ rồi. Ai ngờ... lòng người mãi mãi không bao giờ biết đủ cả, nay gia nghiệp đã có rồi thế mà ta vẫn muốn có thêm...

Khi nghèo chỉ biết lo thân, giàu rồi lại muốn lo cho mọi người. Lúc này đây đứng trên vị trí này, có cơ hội khiến Đại Minh trở nên hùng mạnh hơn, có cơ hội để cho bá tánh giàu sang sung túc hơn, thử hỏi là một người chỉ cần có chút trách nhiệm, ai sẽ có thể chống cự lại với sự mê hoặc này?

Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm không biết tâm sự của y, tưởng rằng y đang ám chỉ đến công danh lợi lộc. Thành Khởi Vận mỉm cười bảo:
- Đại nhân nghĩ vậy thật ra cũng không có gì sai. Hôm qua vì phu nhân mà lo toan, ấy là cho tận trách nhiệm của người chồng, hôm nay vì triều đình mà lo toan, ấy là để tận trách nhiệm của kẻ bề tôi, ngày mai còn phải vì con cháu mà lo toan. Cuộc đời con người bao giờ cũng có đủ loại lý do để ép mình luôn tranh đấu không ngừng. Muốn không màng đến thế sự thì cho dù đại nhân có chịu thì người khác cũng sẽ không chịu.

Vừa nghe nàng ta nói vậy thì Dương Lăng chợt nhớ rằng từ lúc mình trở về đã hơn một tháng, ngày nào cũng siêng năng "cày bừa", tuổi của ba người vợ xinh xắn của mình cũng không lớn, thân thể non nớt lại thường hay nũng nịu kêu chịu không nổi. Hiện tại ngay cả dưa leo trồng dưới hầm sưởi cũng sinh trưởng không ngừng mà sao thân thể bọn họ vẫn chưa có động tĩnh gì vậy? Chẳng lẽ y thuật của Cao Văn Tâm đã thất bại rồi sao?

Nghĩ đến đây, Dương Lăng cảm thấy không vui, y thở dài nói:
- Các cô cứ tiếp tục đàn đi, ta đi ra phía sau.

Thành Khởi Vận vội vàng xuống giường, xỏ giày, vuốt nhẹ chiếc váy sợi nếp cạnh viền vàng da dê thêu đính hoa văn rồi cười duyên dáng:
- Phu nhân đang ở dưới hầm sưởi trong hậu viện, ty chức cũng ngủ đủ rồi, đi cùng đại nhân qua đó xem một chút vậy.

Trong hầm sưởi trồng vài giống cây, đồng thời ươm trồng rất nhiều mầm củ khoai lang và khoai tây. Dương Lăng nghĩ sau này nếu muốn đồng thời trồng trọt ở bốn nơi sẽ cần số lượng lớn người làm để chỉ điểm, vì vậy đã dùng điều kiện lương cao để mời về mấy chục thợ trồng trọt lành nghề của bản địa, cho bọn họ đi theo gia đình người Hoa từng sống ở Nam Dương nọ học tập kỹ thuật vun bón và ươm trồng. Nhà truyền giáo Nhã Các Tư cũng thường xuyên ghé đến để chỉ điểm một ít về kỹ xảo trồng trọt và những việc cần chú ý.

Thấy phu quân hết sức coi trọng chuyện này, bản thân lại giỏi việc đồng áng nên Hàn Ấu Nương thường đến hầm sưởi để phụ giúp, đồng thời cũng học cách trồng trọt những giống cây này. Cao Văn Tâm và Thành Khởi Vận thì dốt đặc về phương diện này, hơn nữa quả thật hai nàng có phần xem thường nghề nông và cũng không có hứng thú như vậy.

Còn Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai thì cho dù bản thân mình cảm thấy thế nào đi chăng nữa nhưng khi đại phu nhân đã đích thân xắn tay vào làm thì hai người cũng không thể ngồi yên trong nhà. Thế là hai mỹ nhân yêu kiều e lệ cũng mặc quần áo vải thô vào rồi đi theo Ấu Nương bón phân tưới nước, chăm bón hoa mầu.

Hầm sưởi trong hậu viên rất lớn, được quan binh Nội xưởng xây cất dưới sự hướng dẫn của các vị sư phụ trồng trọt rau cải trong hầm sưởi hoàng gia: hai phần ba nằm dưới mặt đất, một phần ba nằm bên trên. Lều lán phủ kín giàn hoa mầu, xây đường hầm thông gió đặc biệt, trên nóc lắp sáu cửa sổ, ánh sáng được dẫn vào bằng cách chiết xạ bởi hơn hai mươi tấm gương đồng lớn chiếu cho bên trong hầm sưởi sáng như ban ngày.

Dương Lăng cùng Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm đi qua hơn hai mươi bậc thang xuống dưới hầm, chỉ thấy ba hàng giàn lán trồng đủ các loại mầm cây xanh mượt. Những thứ này chủ yếu để trồng thử, qua xuân sẽ dời trồng trực tiếp ở vùng này. Phải đến lúc đó thợ làm vườn đã được đào tạo xong mới sẽ mang giống cây đến ba nơi còn lại trồng trọt.

Lão gia tử Vương Đông Hoài của gia đình trở về từ Nam Dương nọ đang dẫn mấy người nông phu chỉ vào một bụi khoai giải thích gì đó, sau đó ngắt một đoạn rễ cắm vào trong đất. Trông thấy Dương Lăng và hai người Thành Khởi Vận, ông ta liền vội khum tay, kính cẩn thưa:
- Lão gia.

Dương Lăng khoát tay bảo:
- Mọi người cứ tiếp tục đi, không cần để ý đến ta. Phu nhân đâu?

Vương Đông Hoài chỉ vào bên trong nói:
- Phu nhân đang ở bên trong, đang kiếm ngắt trái cây tên là 'ớt' do lão gia ban đó ạ.
Lúc Dương Lăng phát hiện ra quả ớt này thì kinh ngạc và mừng lắm, có điều cái tên mà Vương Đông Hoài gọi nó rất là khó đọc, hiện tại y còn không nhớ nó gọi là gì nữa, thế nên lúc đó y thuận miệng đặt tên cho nó, gọi nó là 'quả ớt' luôn.

Thứ này chỉ thích hợp trồng ở nơi ôn đới, mọc suốt quanh năm, so với hai ngày trước mầm ớt xem ra đã nhú rất cao rồi, nụ hoa nở ra trăng trắng. Dương Lăng gật đầu rồi đưa hai người đi tiếp. Đằng xa trên một mảng sắc xanh tươi mới nơi ánh sáng vừa vặn rọi thẳng vào, ba người Hàn Ấu Nương, Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đang mặc áo dài xanh cân vạt ống bó, ngoài khoác áo bông cộc tay màu tro đang hào hứng nhẹ nhàng chăm sóc cho những mầm xanh đó.

Dương Lăng liền gọi:
- Ấu Nương
Hàn Ấu Nương nghe tiếng liền quay đầu, mừng rỡ kêu lên:
- Tướng công, chàng mau lại đây mà xem, những cây ớt này đã bắt đầu ra hoa rồi này. Sau này nó sẽ kết thành quả ớt đỏ mà chàng nói để cho vào lẩu đúng không? Thật muốn biết nó sẽ có mùi vị gì đây - nói đoạn nàng quay sang Cao Văn Tâm khẽ cười chào:
- Văn Tâm tỷ tỷ.

Dương Lăng nghe nói cây ớt đã ra hoa, chân bèn bước dồn, mừng rỡ chạy đến xem. Hàn Ấu Nương xắn áo, để lộ một cánh tay trắng như trứng gà bóc, tươi cười chỉ vào nụ mầm xanh mởn:
- Tướng công xem, hoa đã nở thât nhiều, cả chỗ này đều do thiếp chăm sóc đó - nàng hớn hở nói, giọng hết sức tự hào.

Cạnh bên, chồi non của đám cây cà chua cũng cực kỳ tươi tốt. Dương Lăng biết những thứ này đều cần phải được cắt tỉa có điều y cũng không biết được phải cắt tỉa trước hay sau khi khai hoa, càng không biết phải cắt tỉa cái gì, có điều y đoán cắt tỉa là để đề phòng mầm cây lớn lên chỉ ra lá mà không cho quả cho nên y bảo nông phu gieo mầm những quả cà đó theo nhóm, mỗi nhóm hai cây, chia làm mười nhóm, chuẩn bị áp dụng phương pháp cắt tỉa trước và sau khi khai hoa đồng thời ghi chép sự thay đổi, sau đó dựa vào tình trạng sinh trưởng mới phán đoán xem phương pháp nào là chính xác.

Dương Lăng nhìn mảng cây ớt đó thấy quả nhiên mới có mấy ngày mà rất nhiều cây đã nở hoa, có hoa mới vừa hé nụ, mầm dưới đài vẫn còn xanh non.

Hàn Ấu Nương duyên dáng mỉm cười lay tay y và nói:
- Tướng công, lúc nào mới sẽ kết quả vậy, cái quả be bé dài dài và đo đỏ mà chàng nói đó?

Dương Lăng vuốt chóp mũi nàng một cái đầy trìu mến rồi cười đáp:
- Theo tình trạng này có thể sẽ không ra được mấy quả đâu.

- Hả? - Hàn Ấu Nương tròn xoe mắt kinh ngạc. Nàng thấy Dương Lăng hơi khom lưng, thò tay chọn một bông hoa trắng đã khá lớn ngắt một cái. Hàn Ấu Nương không kiềm được kêu lên xót xa.

Lại thấy Dương Lăng ngắt đài hoa, vừa cẩn thận cầm nhuỵ hoa thoa nhẹ lên trên từng đoá hoa đã nở rộ vừa cười nói:
- Ấu Nương, cây gì ra hoa đều cần phải thụ phấn, bình thường nàng chỉ trồng trọt trên mặt đất chắc không biết đâu đúng không? Phương pháp thụ phấn có khi là mượn sức gió, đôi khi chỉ cần chút gió nhẹ cũng có thể đưa phấn trên một đoá hoa đến thụ phấn cho những bông hoa khác. Nhưng đa phần là nhờ những con ong mật, hoặc những côn trùng khác bò qua bò lại trên đoá hoa, phấn hoa bám vào trên chân của chúng, sau đó chúng bay đi thụ phấn cho hoa khác. Dưới hầm sưởi này mùa đông trồng rau thì còn được, chứ trồng những loại cây kết quả, gió thì quá yếu, lại không có ong mật, cho nên cần phải thụ phấn nhân tạo cho chúng.

Đạo lý này đừng nói là người biết làm ruộng như Hàn Ấu Nương không biết, bụng đầy thi thư như Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm không biết mà ngay cả mấy vị sư phụ chăm lo hầm sưởi của ngự điền (ruộng của vua) được phái tới đứng bên cạnh vô tình nghe được cũng đều kinh ngạc vô cùng, nói:
- Không ngờ lại có đạo lý như vậy? Tiểu nhân thấy bình thường vài loại cây ăn quả trồng đều sinh trưởng rất tốt nhưng sao mùa đông muốn trồng một ít trong hầm sưởi cho Hoàng thượng ăn thì lại cho ra rất ít trái. Khi ấy chỉ nghĩ tiết trời không tốt, không thể nghịch thiên hành sự, không ngờ là vì nguyên nhân này. Đại nhân thật sự... thật sự là bác học đa tài, trở về tiểu nhân nhất định sẽ thử nghiệm một chút mới được.

Dương Lăng cười gượng gạo nói:
- Đó là một nguyên nhân. Có điều trái cây trồng vào mùa đông sẽ không thể bì được so với trồng trong thời tiết bình thường, do độ ấm, ánh nắng mặt trời, khí hậu kém hơn rất nhiều. Ừm... nếu các vị muốn thu hoạch được trái cây ngon thì phải cố gắng mô phỏng ra hoàn cảnh khí hậu tương ứng mới được.

Vị sư phụ ngự điền đó gật đầu lia lịa, hận không thể lập tức chạy về trồng thử vài cây. Thụ phấn nhân tạo cho từng cây là một công việc đòi hỏi sự nhẫn nại và tỉ mỉ, chưa được bao lâu thì Dương Lăng đã mất kiên nhẫn liền vứt đoá hoa đi rồi nói:
- Đi thôi, thông gió nơi này cũng không tệ, có điều vẫn hơi ngột ngạt. Hôm nay Văn Tâm đến thăm nàng, chúng ta ra ngoài uống trà đi.

Hàn Ấu Nương ngoan ngoãn để im cho y nắm tay lôi đi, hàng người vừa nói vừa cười đi ra ngoài. Dương Lăng thuận miệng hỏi:
- Ngọc Nhi, Tuyết Nhi, sáu trướng phòng (nhân viên kế toán) trong Nội xưởng ta phái theo hai nàng học cách ghi chép sổ sách hiện đã học xong chưa?

Ngọc Đương Xuân vừa vuốt ống tay áo vừa đáp:
- Dạ, sáu vị tiên sinh đó đều là trướng phòng lâu năm. Đây chỉ là học thêm một phương pháp mới cho nên họ học rất nhanh, chưa đến hai ngày đã thuộc rồi, lại còn mày mò ra được rất nhiều nguyên tắc ngay cả thiếp và Tuyết Nhi cũng không nghĩ tới.

Dương Lăng nói:
- Đó là lẽ đương nhiên! Những tiên sinh này đều là tay tổ có nghề về ghi chép sổ sách. Phương pháp ghi sổ này ta cũng chỉ nhớ được có bấy nhiêu, nay đem dạy cho bọn họ, chỉ cần hiểu được nguyên lý trong đó đương nhiên bọn họ sẽ có thể bổ sung hoàn thiện hơn. Nếu như bọn họ đều biết rồi vậy thì dễ làm hơn. Vài ngày nữa ta phải để bọn họ đến bộ Hộ, bộ Công chỉ dạy những trướng phòng ở đó một chút. Hiện tại trong triều muốn thống kê một ít con số cũng tốn quá nhiều công sức đi!

Tuyết Lý Mai nãy giờ nôn nóng như muốn nói điều gì đó nhưng bên cạnh Dương Lăng có nhiều người nên nàng cũng không tiện mở miệng, mãi đến khi đến cửa hầm lúc men theo bậc thềm leo lên nàng mới nhân cơ hội sáp lại ghé vào tai Dương Lăng nói nhỏ một câu thật nhanh. Dương Lăng vừa nghe lập tức quay phắt người lại, kinh ngạc lẫn mừng rỡ kêu lên:
- Thật không?

Tiếp đó y quay đầu lại dìu vịn hai vai Ấu Nương nói:
- Nha đầu nàng đó, có phải là muốn để tướng công lấy phép nhà ra 'hầu hạ' không vậy? Tại sao... tại sao có thai rồi mà cũng không nói cho ta biết? - Giọng y run rẩy, mang theo một sự vui mừng.

Giọng y vang lớn, Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm mới cất được nửa bước thì thiếu chút nữa đã ngã nhào. Hai người cũng lập tức xoay lại đánh xoạt một cái rồi chạy đến bên cạnh Hàn Ấu Nương vừa kéo tay nàng nhìn lên xuống đánh giá vừa lia lịa hỏi thăm không ngớt, đẩy Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai sang một bên.

Mặt Hàn Ấu Nương tức thì thẹn tới đỏ bừng, cặp mắt đen láy cụp xuống không dám nhìn ai. Cuối cùng nàng vừa lúng túng nhìn chằm chằm xuống đất vừa lí nhí nói:
- Ưm... có thể... đại khái... có lẽ..., Ôi chao Tuyết Nhi! Biết vậy đã không nói cho muội hay.

Nàng giậm nhẹ chân, trừng mắt oán trách liếc sang Tuyết Lý Mai rồi mới bẽn lẽn cúi đầu nói với Dương Lăng:
- Tướng công, người ta cũng không dám xác định... sợ lỡ đâu uổng công vui mừng cho nên mới không nói ngay...

Cao Văn Tâm lập tức cầm lấy cổ tay Ấu Nương bắt mạch, bốn bề tức thì im phăng phắc. Dương Lăng cảm thấy tim mình muốn nhảy khỏi lồng ngực. Hàn Ấu Nương mím chặt môi, không dám nhìn sắc mặt của Cao Văn Tâm, chỉ chăm chăm ngó tướng công mình, ánh mắt nhu mì, khuôn mặt đỏ bừng.

Một hồi sau, Cao Văn Tâm mới thở hắt ra một hơi thật dài, nhẹ nhàng buông tay Ấu Nương ra. Dương Lăng sốt ruột kêu lên:
- Thế nào vậy, Văn Tâm, Ấu Nương nàng ấy...?

Hàn Ấu Nương cũng hồi hộp nuốt nước miếng. Cao Văn Tâm nhìn Hàn Ấu Nương với một ánh mắt phức tạp rồi khẽ giọng:
- Chúc mừng muội, Ấu Nương.

Tuyết Lý Mai và Ngọc Đường Xuân vừa hâm mộ vừa mừng rỡ reo lên. Dương Lăng cũng vui đến quên mình, cầm tay Ấu Nương hưng phấn hồi lâu, rồi mới vui sướng cười lớn nói:
- Hay lắm, Ấu Nương bảo bối của ta chưa từng khiến ta thất vọng. Ha ha ha, mau mau, chúng ta mau đi lên trên, không khí nơi này không tốt, sau này nàng không cần phải xuống đây nữa.

Nghe Cao Văn Tâm nói xong thì trái tim của Hàn Ấu Nương yên tĩnh trở lại, thấy bộ dáng hí hửng của tướng công, trong lòng nàng cũng cảm thấy hết sức ngọt ngào. Nàng khẽ níu tay y, thấp giọng nài nỉ:
- Tướng công, người ta thích chăm sóc những thứ này mà, thiếp muốn xem chúng kết ra trái đỏ như lửa, hẳn là sẽ đẹp lắm.

Dương Lăng vung tay nói ngay:
- Không thành vấn đề! Chốc nữa ta sẽ kêu người trồng chúng vào chục cái chậu, đặt toàn bộ trong nhà chúng ta, thế nào? Thế còn... cà chua, khoai lang, nàng có muốn không?

Hàn Ấu Nương gật đầu lia lịa như gà mổ thóc, hân hoan đáp:
- Muốn muốn muốn, thật tốt quá. Tướng công, chàng thật tốt với Ấu Nương.

Dương Lăng ngạo nghễ nói:
- Vậy thì mỗi loại đặt mười chậu đi. Nàng có chút việc để làm thì tâm tình mới tốt, tâm tình tốt thì con cái đẻ ra sẽ thông minh. Ha ha ha..., đi thôi, chúng ta lên nào.

Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai chạy theo sát dìu đỡ Hàn Ấu Nương khiến cho nàng vừa bực vừa cảm thấy buồn cười, bèn mắng khẽ:
- Làm cái gì vậy hả, tỷ đâu có sao đâu! Nhưng mà muội đó nha Ngọc Nhi, lúc nãy đi xuống thiếu chút té nhào đó. Tỷ không cần dìu đâu.

Dương Lăng cũng cảm thấy Ấu Nương mới có thai không cần phải làm lớn chuyện như vậy nhưng khi nhìn bậc thang dốc đứng thì y vẫn cảm thấy lo lắng, thế là không yên tâm mà giữ chặt tay Ấu Nương và nói:
- Đi, để tướng công giúp nàng, sau này nàng đừng đến nơi này nữa. Có điều vận động thân thể thì vẫn nên, mỗi ngày tướng công sẽ đưa nàng ra ngoài tản bộ, dẫn nàng đi dạo khắp thôn.

Được y quan tâm săn sóc chu toàn như vậy, Hàn Ấu Nương cảm thấy ấm áp không thôi. Nhìn thấy cảnh tượng ấy, Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai hận chính mình đã không thể sớm mang trong mình bảo bối của tướng công để hưởng thụ một chút sự quan tâm và săn sóc ấy, Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm mỗi người cũng mang tâm sự riêng. Đoàn người chậm rãi rời khỏi căn hầm.

Những bông tuyết mềm mại lượn lờ rơi xuống, tin Dương gia có vị tiểu chủ nhân sắp ra đời khiến cả phủ vui mừng khôn xiết. Vào mùa đông đa phần nông dân đều ở trong nhà, trong thôn ngoại trừ vài ba đứa trẻ nghịch ngợm chạy nhảy ngoài đường thì khó lòng thấy được bóng người nào khác.

Lúc khói bếp trên mái nhà vài hộ gia đình còn chưa tan đi thì cổng lớn phủ nhà họ Dương đã được mở ra. Dương Lăng khoác chiếc áo lông cừu dài, oai phong lẫm liệt bước ra ngoài, phía sau y là Cao Văn Tâm, Thành Khởi Vận bầu bạn cùng Ấu Nương cũng đang rời khỏi phủ.

Ba người đều khoác áo choàng da cáo màu tuyết trắng, mũ Chiêu Quân khắc hình mây trôi, ba mỹ nhân khí chất bất đồng dịu dàng bước đi trong tuyết, xinh đẹp tú lệ khiến người ta nhìn mà quên hết những thứ tầm thường. Bước theo sau là sáu tên gia đinh, lặng lẽ che chắn cho bọn họ.

Dương Lăng nói:
- Đi chậm thôi, chúng ta sẽ đến đầu thôn thả bộ.

Đoàn người rời khỏi thôn, chậm rãi bước bên bờ ruộng phủ màu trắng xoá. Dương Lăng chỉ tay vào một mảnh đất, hỏi:
- Văn Tâm, mảnh đất này là của cô đúng không?

Cao Văn Tâm gật đầu, nheo cặp mắt tròn nhìn mảnh trang viên đã hoà chung một màu với xung quanh và nói:
- Dạ, Cao gia mấy đời hành nghề y, vốn không thạo việc đồng áng cho nên ruộng đất không nhiều, chỉ có mười mẫu đất này. Tuy hiện nay đại nhân đã trả lại cho hạ quan nhưng hạ quan cũng không biết làm gì với chúng. Nếu như đại nhân muốn trồng những giống cây Nam Dương nọ vậy xin cứ lấy mà dùng.

Hàn Ấu Nương mừng rỡ hỏi: "Tướng công muốn dùng toàn bộ mảnh đất này để trồng các giống cây mới sao? Sao chàng không bỏ ra giá cao mua lại toàn bộ số đất chung quanh luôn?"

Dương Lăng cười lớn nói:
- Cô nàng ngốc này, nàng quên chuyện tướng công bán đi mảnh ruộng nghèo đã bị Dương lão thái công mắng cho một trận rồi ư? Trong hộ nông dân người ta coi đất đai như tính mạng, cho dù có trả gấp mười gấp trăm lần thì bọn họ vẫn sẽ không chịu bán đâu.

Thành Khởi Vận cười lãnh đạm nói:
- Không chỉ là vậy, cho dù mua hết nơi này nhưng làm sao để thuyết phục những tá điền đó trồng các loại cây mới cũng sẽ là việc tốn nhiều sức lực đó.

Dương Lăng nghe vậy thì cảm thấy bất ngờ, bèn nói:
- Liên quan gì đến tá điền vậy? Nếu như nơi này là đất của ta thì chẳng phải ta muốn trồng gì thì trồng nấy sao? Tá điền không đồng ý à? Không sợ ta đuổi bọn họ sao?

Hàn Ấu Nương, Cao Văn Tâm và Thành Khởi Vận nhất tề tròn mắt kinh ngạc nhìn y, một hồi lâu Thành Khởi Vận mới bật cười nói:
- Hôm nay ở dưới hầm sưởi chăm sóc hoa mầu đại nhân lộ ra học vấn rất cao sao những lẽ thường như thế lại không biết vậy? Hi hi hi, không có địa chủ nào dám đối đãi với tá điền như vậy đâu. Đối đãi kiểu như với đầy tớ như vậy thì có, nhưng cũng hiếm vô cùng.

Dương Lăng nghe mà cảm thấy khó hiểu vô cùng. Y biết hình tượng của địa chủ đều là hung thần ác sát, là những ác bá mặt mũi dữ tợn sao lại không làm chủ được đất của mình?

Thành Khởi Vận giải thích:
- Đại nhân! Những tài chủ ở thôn quê này có mấy loại, một là có được gia nghiệp tổ tiên truyền lại, hai là làm quan nơi khác, buôn bán phát tài rồi về quê hưng gia lập nghiệp, mua nhiều ruộng đất mà trở thành địa chủ. Ba là cần cù tiết kiệm, thông minh hiếu học, giỏi việc kinh doanh lại cả đời kiềm ăn kiệm dụng, tiết kiệm được bao nhiêu đều bỏ vào mua ruộng mua đất, dần dần rồi trở thành địa chủ. Loại thứ tư ấy là chèn ép bán buôn, bóc lột lãi nặng mà thành tài chủ nhưng chỉ chiếm số ít. Thật ra những thân sĩ thôn quê này cũng từng đọc "Tứ Thư" "Ngũ Kinh", tôn sùng 'đạo Khổng - Mạnh', thương nghèo cứu già, giúp đỡ quả phụ, xây trường dựng lớp, cứu tế thiên tai, xây cầu sửa đường, hoà giải tranh chấp. Quan viên địa phương phần lớn cần dựa vào những thân hào nông thôn địa phương này cho nên bọn họ rất coi trọng danh vọng cá nhân. Cưỡng bách tá điền khuất phục là việc mà rất hiếm người làm, hơn nữa tiếng ác truyền xa cho nên sẽ không có tá điền nào chịu trồng trọt trên đất kẻ đó. Nói đại khái là năm nay tá điền cày thuê cho địa chủ này, năm sau có thể bỏ đi không cày, chuyển sang cày thuê cho địa chủ khác. Nếu như là tá điền có sẵn nông cụ và trâu cày trong nhà thì càng được các chủ điền tranh nhau chiêu nạp. Dẫu sao địa chủ làm vậy cũng là vì kiếm lời, nếu tự chăn nuôi trâu cày và chuẩn bị nông cụ thì sẽ tốn kém hơn nhiều.

Cao Văn Tâm vừa đi theo cạnh Hàn Ấu Nương vừa nói:
- Đúng đó, đại nhân, hơn nữa địa tô là nộp lương tô (thóc lúa) và kim tô (tiền bạc), chỉ cần người ta nộp đủ tô thuế đúng hạn thì họ trồng gì đi nữa địa chủ cũng không có quyền can thiệp. Cho dù là tôi tớ trong nhà thì chỉ cần là ông chủ thông minh một chút cũng phải đối đãi cẩn thận bằng không bọn họ không làm hết sức, kẻ chịu thiệt thòi sẽ là đám ông chủ nọ. Đất nhà hạ quan không nhiều nhưng đầu tháng hoặc ngày rằm cha của hạ quan vẫn phải cho tôi tớ tá điền ít thịt, ngày lễ ngày tết còn đưa cho bọn họ chút lương thực, quần áo đồ dùng, làm như vậy mới có thể giữ lại những tá điền giỏi, những tôi tớ hiền lành chịu làm việc. Nếu làm theo cách của đại nhân, hi hi... chưa tới mấy năm thì ruộng tốt trong tay cũng sẽ trở nên hoang vu hết thôi.

Dương Lăng thoáng đỏ mặt, ngượng ngập không biết nói gì. Y đâu biết thì ra địa chủ còn bị nhiều hạn chế như vậy, còn tưởng rằng chỉ cần mình trở thành địa chủ thì sẽ có thể muốn gì làm nấy, giờ thì...

Dương Lăng khẽ nhíu mày, ngẩn người nhìn mảnh ruộng đó, xem ra cảnh tượng phổ biến trồng trọt ở khắp ngoại thành, đến lúc được mùa khiến cho bá quan rung động sẽ không thể xuất hiện rồi. Cho dù những địa chủ đó chịu bán, y sẽ phải làm thế nào để ép đám tá điền đi trồng các giống cây mới đây?

Không thể đem so sánh nơi này với đám đất bạc màu mà mình chuẩn bị cho trồng thử ở Thiểm Tây được. Dân chúng nơi ấy đã được hứa hẹn cung cấp khẩu phần lương thực tương ứng, năm nay anh muốn bọn họ trồng gì bọn họ cũng sẽ đồng ý. Nhưng bên ngoài kinh thành phần lớn đều là ruộng màu, cái giá phải trả e rằng phải gấp mấy lần mới có thể khiến cho dân chúng động lòng. Nhưng còn những địa chủ đó thì phải làm thế nào đây?

Chậc, mấy ngày nay một mặt mải lo việc Nội xưởng nghiên cứu chế tạo súng mới, mặt khác dò thám xu hướng cải cách chính trị của Lưu Cẩn trong kinh mà y đã xem nhẹ những việc này. Nếu như sang xuân để sĩ tốt khai khẩn ít ruộng đồi thì không biết hiệu quả sẽ ra sao.

Thành Khởi Vận thoáng đảo mắt, nói:
- Đại nhân, tâm địa bồ tát mà dùng thủ đoạn bồ tát sẽ không thể làm cho mưa rào khắp chốn, nhưng nếu tâm địa bồ tát mà dùng thủ đoạn tu la cứu giúp cho thiên hạ sẽ lại có thể cứu khốn cho dân. Không bằng đại nhân giao việc này cho ty chức, chỉ cần bày ra chút kế mọn ty chức nhất định sẽ có thể đoạt được bảy khoảnh ruộng đất của hoàng trang một cách dễ dàng.

Dương Lăng quay đầu lại nhìn nàng thật lâu, chỉ thấy cặp mắt đen láy trên khuôn mặt trắng ngà của nàng đang nhìn y không chớp, bông tuyết rơi trên má nàng hoá thành giọt nước, mấy sợi tóc dài dính lại bên trên làm y không nỡ trách mắng mà chỉ thở dài rồi nói:
- Chưa tạo được phước cho dân mà đã muốn làm ác rồi à?

Thành Khởi Vận lặng lẽ cúi đầu. Nàng chậm rãi bước đi một hồi, trong đầu bỗng nghĩ ra một biện pháp, khoé môi không khỏi lộ ra một nụ cười đắc ý. Nàng ngẩng đầu định gọi Dương Lăng song chợt ngậm miệng lại, thầm nghĩ: "Mình tạm thời bàn bạc với Ngô đại đáng đầu trước, đợi khi thành công sẽ kể cho y sau, để y được chứng kiến thủ đoạn của mình. Cho dù không dùng thủ đoạn của ác bá thì mình vẫn là Gia Cát trong giới nữ nhi!"

Nàng vươn bàn tay trắng nõn như ngọc đợi một bông tuyết rơi vào trong lòng bàn tay, chưa kịp cảm nhận cái vị se lạnh thì bông tuyết đã hoá thành giọt nước. Khẽ thở ra một hơi, nàng thấp giọng ngâm:

"Tương tư như tửu thuần dục huân, bán tuý thường ký mộng trung tầm.
Đông phong diêu ký tinh oánh tuyết, hà thời tu đắc lạc mai hoa?"

(Nỗi tương tư giống như rượu thuần dễ say, khi say người ta thường chìm vào trong giấc mơ mà tìm kiếm bóng hình người còn lại
Gió đông đưa bông tuyết đến, biết khi nào mùa đông mới có thể nhìn thấy được hoa mai?)

Hàn Ấu Nương đi theo Dương Lăng một lúc chợt phát hiện Thành Khởi Vận còn rớt lại ở phía sau, bèn quay đầu lại gọi:
- Thành cô nương... í?

Mắt nàng rất tinh, lúc này sắc trời tuy đã chạng vạng nhưng từ xa nàng vẫn trông thấy hai thớt khoái mã một trước một sau đang phi băng băng lại. Nàng bất giác dừng chân kéo tay áo Dương Lăng nói:
- Tướng công, có khoái mã tới, sợ là có chuyện rồi!

Trong đám sáu tay gia đinh có kẻ xuất thân là phiên tử trong quân đội nên sớm đã rút ra phác đao và súng ngắn giấu trong áo choàng bông ra, quát lớn:
- Kẻ nào? Mau ghìm cương chạy chậm lại!

Người chạy phía trước nhảy phóc xuống ngựa, rảo bước đến thưa:
- Ty chức từ Đại Đồng chạy đến, có quân tình khẩn cấp cần bẩm báo. Ngô đại đáng đầu sai ty chức xuống núi bẩm báo trước cho Xưởng đốc đại nhân, đại đáng đầu ông ấy sẽ theo sau.




Chú thích:


(1) đấu ngư bào http://www.dzwww.com/xinwen/xinwenzh.../images/06.jpg

(2) tiếng địa phương phương bắc, chỉ ai đó nằm lì trong nhà cho qua mùa đông, giống như con mèo ngủ đông.

(3) loại cúc áo thịnh hành thời Minh, chính giữa là hình hoa cúc, hai bên là hình ong mật hoặc bươm bướm. Phan Kim Liên trong truyện Kim Bình Mai từng mặc loại áo cân vạt có loại cúc này.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
13-01-2012, 02:41 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 165 Hồi Phong Ba Của Bè Lũ Gian Thần

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Hai vị cô nương nghe vậy mới cẩn thận quan sát y. Dương Lăng đưa mắt lên thì thấy hai vị cô nương này một người xinh đẹp lạnh lùng, một người ngọt ngào vui vẻ.

Người con gái xinh đẹp có vẻ lạnh lùng vốn không hề nở nụ cười nhưng khi thấy Dương Lăng lại là một công tử phong lưu anh tuấn đang ngắm mình thì chợt nhoẻn miệng cười với y, để lộ hai hàm răng trắng đều như bắp, đôi môi hồng đào hơi vểnh lên như môi mèo. Nụ cười của nàng ta vốn đã xinh tươi, thêm vào vẻ đẹp lạnh lùng càng khiến người ta cảm nhận một cách mãnh liệt.







Chương 165 - Hồi phong ba của bè lũ gian thần

------------------------

Dương Lăng vội vã trở vào phủ, mấy người Hàn Ấu Nương nối gót theo sau. Tuy Ấu Nương có thai nhưng động tác vẫn còn rất nhanh nhẹn, bước chân thoăn thoắt trong khi Thành Khởi Vận chân bó gót sen, bước nhanh một chút là tóc tai tán loạn, má đào đỏ bừng phải nhờ Hàn Ấu Nương và Cao Văn Tâm dìu đỡ một bên.

Dương Lăng vòng qua bức tường chữ "Phúc" vẽ hình cá chép vượt long môn, nhìn thấy trong phòng khách đèn đóm sáng trưng thì biết Ngô Kiệt nhất định đã đến liền xoay người dặn dò Ấu Nương:
- Ấu Nương, nàng cùng Thành cô nương và Cao Văn Tâm xuống hậu đường nghỉ ngơi trước đi, ta đi gặp Ngô đại đáng đầu một chút.

Biết sự tình khẩn cấp, theo như thời tiết hiện tại thì Hàn Ấu Nương đoán có lẽ Thát Đát lại xâm lược biên cương, không biết bao nhiêu bá tánh sẽ gặp nạn binh đao. Nàng hơi nhíu mày nói khẽ:
- Tướng công đi đi, việc công quan trọng, Ấu Nương sẽ cùng hai vị tỷ tỷ đến hậu đường đợi chàng.

Dương Lăng gật đầu rồi liếc Thành Khởi Vận một cái đoạn xoay người bước vào phòng. Hàn Ấu Nương cùng Cao Văn Tâm và Thành Khởi Vận đứng đó một lúc rồi vòng theo hành lang bên đi về phía hậu đường.

Ngô Kiệt mặc áo dài xanh ngoài khoác áo da, tay chắp sau lưng đi lòng vòng trong phòng. Vừa thấy Dương Lăng bước vào, lão liền vội ôm quyền thi lễ:
- Ty chức ra mắt đại nhân.

Dương Lăng cũng không khách sáo vội kéo lão bước vào trong thư phòng, chưa đợi ổn định chỗ ngồi thì đã hỏi ngay:
- Đã xảy ra chuyện gì vậy? Giặc Thát lại kéo sang cướp bóc hay sao?

Ngô Kiệt gật đầu, nghiêm túc đáp:
- Dạ, năm ngoái tiểu vương tử Bá Diên Khả Hãn tập hợp năm vạn binh mã chia nhau tập kích cửu biên. Kết quả tuy thắng lợi trở về nhưng lại tổn thất thảm trọng, thậm chí con hắn cũng táng thân nơi chiến trường. Năm nay giặc Thát trở lại, tiểu vương tử liên thủ cùng Hoả Sư rồi tập hợp đại quân lên đến bảy vạn, trọng binh khí thế ào ào đã tiến đến Đại Đồng. Tổng binh Tuyên phủ là Trương Tuấn bại trận rút lui, tham tướng Trương Hùng và Mục Vinh đều chiến tử sa trường. Trước khi chiến báo của chúng ta kịp theo ngựa báo về thì giặc Thát đã công chiếm được Trấn Di sở, chỉ huy sứ Lưu Kinh chết trận, Hoa Mã Trì cũng bị công chiếm, Long Đức, Tĩnh Ninh, Hội Ninh đều bị xâm phạm. Sóc châu, Mã ấp giáp mặt với nguy hiểm trùng trùng.

Dương Lăng nghe vậy thì rùng mình lo ngại, y chắp tay đi loanh quanh trong thư phòng. Cây nến mờ mờ tỏ tỏ khiến khuôn mặt y trở nên âm u không rõ. Một lát lâu sau y mới dừng lại, hỏi:
- Quân trấn thủ Đại Đồng hiện còn bao nhiêu người?

Ngô Kiệt liền đáp:
- Trú quân bốn vạn, khách quân một vạn, chia ra trú thủ tại các thành ấp, lần này Thát Đát tấn công nhanh mà mãnh liệt, lại không chia quân tập kích các lộ như trước đây mà tập trung quân đội về một ngả trong khi chỉ chia một vạn quân công hướng Hoài An. Cánh quân thiết kỵ này tiến lui như gió khiến thủ quân các nơi đều kiêng dè không dám chủ động xuất binh chi viện, do vậy thế giặc hơn hẳn chúng ta.

Dương Lăng trở lại bên bàn, lôi dưới bàn ra mấy tấm bản đồ, rồi trải tấm bản đồ Thuyên phủ ra nói:
- Thám mã chúng ta phái đi tìm hiểu tình hình quan ngoại đã trở về. Lần trước chỉ nghe đại đáng đầu nhắc sơ qua, bây giờ ông trình bày kỹ càng tình hình cho ta, ngoài ra hãy nói rõ thêm phân bố binh lực và hướng tấn công của quân giặc cho ta...

Dưới ánh nến trong phòng, hai người trò chuyện suốt đêm khuya. Mãi tận lúc trời tờ mờ sáng Dương Lăng mới co duỗi cơ thể mệt mỏi của mình một chút rồi khẽ thở dài nói:
- Trời còn chưa sáng, cổng cung chưa mở, mặc dù giặc Thát đã mau chóng cắt đứt mấy yếu điểm nhưng tin tức từ phong hoả đài lúc này chắc đã truyền vào cung rồi.

Ánh mắt Ngô Kiệt loé lên, một chốc sau mới từ từ nói:
- Có phải đại nhân định dâng tấu lên Hoàng thượng?

Dương Lăng quay đầu lại hỏi:
- Ngô lão có kiến nghị gì?

Ngô Kiệt hơi cụp mắt, khẽ thở dài một tiếng và nói:
- Tình hình mà chúng ta nắm được chắc chắn sẽ chi tiết và đầy đủ hơn do thám của Cẩm y vệ, đại nhân có thể giải thích rõ ràng cho Hoàng thượng và bộ Binh, có điều đại nhân không nên can dự quá sâu vào việc tiến cử người xuất binh. Thế giặc quá mạnh, nếu lại chiến bại thì đại nhân sẽ khó tránh bị liên luỵ .

Dương Lăng lẳng lặng nhìn lão, khuôn mặt lấm lét của Ngô Kiệt đã có phần lúng túng và sợ hãi. Dương Lăng thấy mái đầu lão đã lấm tấm hoa râm thì nghĩ lão cũng chỉ muốn tốt cho mình, thế là thu lời trách mắng về, chỉ chậm rãi lắc đầu rồi lại gật đầu, lẩm bẩm:
- Ta biết, Nội xưởng chỉ là tai mắt của Hoàng thượng, không nên can thiệp quá nhiều vào chiến sự. Ôi! Người nào trong triều có thể dẫn quân xuất chinh đây...?

*****

Bầu trời đã toả ra ánh sáng nhưng mặt đất vẫn là một mảng xám tro, lúc này tuyết lớn bay lả tả, tuyết dày đọng lại khiến cho mặt đất lầy lội khó đi.

Lúc Dương Lăng dẫn hai mươi tay thị vệ cưỡi ngựa chạy đến dưới cổng thành thì mồ hôi đã đầy đầu, ngựa thở ra như khói. Trông thấy cổng thành vẫn đóng chặt y không khỏi cảm thấy lạ kỳ. Thủ hạ thị vệ khum tay hướng về phía đầu thành gọi lớn:
- Thủ vệ trên thành mau mau mở cổng.

Gọi mấy tiếng mà trên đầu thành vẫn không nghe, một tay thị vệ bèn rút cung ra, quay vòng ngựa lui về sau hơn hai mươi trượng rút tên ngắm bắn, một mũi tên rít lên âm thanh xé gió bay vào trong thành, "cốp" một tiếng, mũi tên đã cắm ngay giữa cánh cổng phòng vệ trên đầu thành.

Trong phút chốc, hai tay binh sĩ ló đầu ra khỏi đầu thành nhìn xuống quát to:
- Hôm nay cấm thành, kẻ nào gọi cổng?

Thị vệ kêu lớn:
- Tổng đốc Nội xưởng Dương Lăng muốn vào thành, ai đang giữ thành? Hãy mau mở cổng.

Sau khi liên tục xưng tên mấy lần, tên thủ vệ trên thành rốt cuộc đã nghe rõ nên hoảng sợ kêu lên một tiếng rồi rụt đầu vào. Đợi một lúc thì cổng thành được mở ra, một vị tướng lĩnh thủ thành khôi giáp chỉnh tề vội vàng chạy xuống nghênh đón, bước đến trước mặt Dương Lăng làm quân lễ:
- Ty chức là thiên hộ thủ thành Kiều Giới An tham kiến Dương đại nhân.

Dương Lăng chống tay lên đầu ngựa, lạnh lùng quát:
- Ai cho phép ngươi phong toả các cửa thành vậy? Đã xảy ra chuyện lớn gì?

Kiều Giới An là thủ lĩnh Kinh doanh và bộ hạ của Trương Vĩnh, hắn biết rằng Trương Vĩnh cũng rất kính sợ vị Dương đại nhân này, thấy mặt y nghiêm khắc thì không khỏi khiếp hãi đáp:
- Hồi bẩm đại nhân, hôm qua sau khi tan triều, Lưu công công của ty Lễ Giám đã ban một đạo chỉ liệt kê tên năm mươi sáu người gồm cả Lưu Kiện và Tạ Thiên, họ bị quy tội là gian đảng. Bá quan trong triều bất chấp gió tuyết đã tề tụ ở Ngọ môn suốt đêm để kháng nghị. Lưu công công sợ có người thừa cơ làm loạn kinh động thánh giá nên đã lệnh cho Trương công công phong tỏa cửa thành và Cốc công công điều động phiên tử Đông xưởng giám sát ngoài cổng cung.

Dương Lăng vừa nghe vậy liền cả kinh. Thảo nào cả ngày hôm qua không có người nào đến nhà, mà người của mình cũng không đưa được tin tức gì từ trong kinh đến, thì ra là Lưu Cẩn đã phong bế cửa thành, trừ mình ra thì người tầm thường đương nhiên sẽ không qua cửa được.

Theo tin tức từ hai ngày nay nhận được thì quả nhiên cải cách chính trị của Lưu Cẩn đã bị bá quan phản đối, ngay cả Lý Đông Dương và Dương Đình Hoà trước giờ vẫn luôn giữ miệng ra sức phối hợp cùng Lưu Cẩn thì hiện tại cũng đồng loạt dâng sớ can dừng, bảo rằng các hạng mục cải cách chính trị này hoặc không phù hợp với thực tế, hoặc quá vội vàng hấp tấp, thỉnh cầu Hoàng thượng hạ chiếu khoan làm.

Dương Lăng nhận thấy có Lưu Cẩn thu hút sự chú ý của bá quan thì sẽ rất có lợi cho chính sách mà mình chuẩn bị chấp hành, hơn nữa hai ngày nay y bận rộn với việc ươm giống và nghiên cứu chế tạo vũ khí mới nên cũng không để ý lắm, ai ngờ sự tình lại chuyển biến bất ngờ như vậy. Sao Lưu Cẩn đột nhiên lại trả đũa lại những quan viên đã bãi quan hồi hương vậy? Là vì muốn giết gà doạ khỉ hay vì giận chó đánh mèo?

Năm mươi sáu người? Dương Tâm máy động trong lòng, chợt hiểu ra đại khái, bởi vì những quan viên có liên quan đến vụ án của Lưu Kiện và Tạ Thiên không nhiều như vậy. Lưu Cẩn tuyên bố năm mươi sáu người là bè đảng gian thần ắt hẳn là muốn mượn danh nghĩa đả kích Lưu Tạ mà gom một số quan viên dám phản đối cải cách của lão vào, lấy đó để lập oai, đe dọa bá quan.

Ý của tuý ông (1), văn võ trong triều ai mà nhìn không ra chứ? Một khi mở ra tiền lệ này thì tranh đấu chính trị có thể tuỳ ý co giãn, sự trói buộc liên đới có thể thu hẹp mà cũng có thể mở rộng, về sau còn kẻ nào phản đối Lưu Cẩn nữa thì chỉ cần hơi phóng đại sự liên đới này, lão sẽ có thể đẩy bọn họ vào "gian đảng". Bá quan biết rõ sự lợi hại trong đó cho nên đương nhiên sẽ phản kích cật lực.

Dương Lăng vừa giận vừa sốt ruột, y khoát tay nói:
- Biết rồi, tránh nhanh ra một chút, bản quan vào thành!

Kiều thiên hộ vâng vâng dạ dạ, cung kính tránh sang một bên, Dương Lăng quất roi dẫn thị vệ phi thẳng tới Ngọ môn.

Tuyết rơi im lìm, ngự đạo rộng lớn mờ mịt không một dấu chân người. Sáng sớm vì tuyết lớn và cửa thành bị phong tỏa nên tất cả người đi đường đều đã trở về nhà, không ai dám đi lại lung tung trên đường vì sợ bị xưởng vệ bắt đi.

Đền điện đình đài của các gia đình hào phú và quán rượu lầu gác trong các con phố đều được phủ lên một lớp tuyết trắng thê lương, chỉ có tiếng chuông chùa thi thoảng vang lên, hùng hồn và du dương, báo cho người ta biết rằng trong toà thành này vẫn còn sự sống.

Dương Lăng còn chưa chạy đến Phụng Thiên môn thì từ hai bên đường đã có phiên tử Đông xưởng cầm đao cầm thương chạy tới chặn đường. Đến lúc thấy rõ là người của Nội xưởng, dẫn đầu còn là tổng đốc Dương Lăng của Nội xưởng, đám phiên tử lần trước bị Nội xưởng chém giết cho sợ đến vỡ mật này liền vội cuống quít bò dạt ra hai bên, trơ mắt nhìn bọn họ phóng ngựa phi qua.

Đến Ngọ môn, Dương Lăng ghì cương ngựa, tuấn mã hí vang một tiếng dài phá tan bầu không khí tĩnh mịch của buổi ban mai.

Tuyết rơi lả tả trên mặt đất mịt mờ, Dương Lăng ngạc nhiên nhìn quảng trường rộng mênh mông trước Ngọ môn, tim đập thình thịch, hai mươi thớt khoái mã đuổi theo cũng dừng lại sau lưng y, đám thị vệ nín thở đưa mắt nhìn.

Trên quảng trường là một mảng tuyết trắng mênh mông, chung quanh lại có mấy trăm tay phiên tử đang lặng lẽ đi lại, thấy đám người Dương Lăng đi tới bọn chúng liền đều lần lượt dừng chân nhìn sang.

Tại trung tâm quảng trường, ngay trước Ngọ môn, mấy trăm “bức tượng” đang im lìm đắm mình trong tuyết, mỗi bức tượng là hình nhân bằng tuyết đang quỳ trên mặt đất. Chỉ khi tuyết bám rơi khỏi thân hình lảo đảo sắp ngã để lộ quan bào màu lam và đỏ bên trong thì mới nhận ra được đó đều là những quan viên đang kiên trì quỳ gối.

Dương Lăng ghìm chặt cương, quay ngựa một vòng tại chỗ rồi chợt nhún người nhảy xuống và chạy qua bên đó, hai mươi tay thị vệ liền vội theo sát ngay sau. Đến gần y mới phát hiện trong tuyết đã có rất nhiều người ngã xuống, do tuyết rơi dày, tất cả đều tuyền một màu trắng xóa cho nên khi nãy ở đằng xa y mới không thấy rõ.

Dương Lăng lật đật phủi tuyết trên thân thể của một người. Người nọ tuổi tác khá trẻ, thoạt trông chỉ tầm mười tám mười chín tuổi, lúc này mặt đã tái mét, thân thể cứng đờ, chân mày mép tóc đều đã đóng một lớp băng mỏng.

Người này không phải là quan viên, nhìn phục sức của hắn thì hẳn là học sinh thái học (2) của Quốc Tử giám. Dương Lăng vội cởi chiếc áo khoác trên người mình xuống bọc người hắn lại rồi cố sức bế hắn lên. Hai tên thị vệ liền vội chạy lại đỡ lấy người nọ từ trong tay y.

Có mấy quan viên quỳ quanh đó vì hành động của y mà lặng lẽ xoay người lại, trên tấm thân bị phủ lớp tuyết dày chỉ lộ một khuôn mặt bị cóng đến trắng nhợt đang nhìn y một cách vô hồn.

Dương Lăng lại phủi lớp tuyết đọng trên thân thể một người đã bị cóng đến ngất xỉu. Đây là một quan văn ngũ phẩm, dưới cằm có ba chòm râu ngắn, hai mắt nhắm nghiền đã bất tỉnh nhân sự. Dương Lăng nắm chặt lấy hai bàn tay lạnh ngắt của ông ta rồi ngẩng đầu nhìn quanh. Từ xa, một tên đáng đầu được vây quanh bởi mấy chục tên phiên tử cầm đao hùng hổ đi tới, còn cách mấy trượng thì đã lớn giọng quát:
- Bản quan phụng mệnh Xưởng đốc đại nhân giám sát nơi này, kẻ nào dám tự ý can dự vào chính sự?

Lửa giận bùng lên, Dương Lăng ngẩng đầu quát trả:
- Chính sự cái rắm! Văn võ bá quan chính là nhân tài trị nước, là gốc rễ của xã tắc giang sơn! Ai ra mệnh lệnh cho ngươi mà dám ngược đãi đại quan triều đình hả?

Dương Lăng vừa thốt ra câu này thì đám quan viên thần chí đã hôn mê một nửa chung quanh không khỏi lần lượt quay đầu lại, kích động và kinh ngạc nhìn y. Tên đáng đầu nọ bước tới gần trông thấy rõ diện mạo Dương Lăng thì không khỏi giật nảy mình, hai gối mềm nhũn liền quỳ xuống vái lạy, lo sợ đáp:
- Ty chức không biết đại nhân giá đáo, thật thất lễ, mong đại nhân thứ tội.

Lúc này Dương Lăng cũng nhìn rõ người này. Tên này nguyên là lục đáng đầu của Đông xưởng, tên là Chu Khởi Phượng. Trước khi Cốc Đại Dụng tiếp nhận Đông xưởng thì Phạm Đình và mấy nhân vật chủ chốt như nhị đáng đầu và tam đáng đầu đều đã bị đám người Bành Kế Tổ âm thầm tiêu diệt vịn cớ ngoan cố chống cự. Chu Khởi Phượng sợ đến mất mật bèn đem hết toàn bộ bí mật mà mình biết được bẩm rõ với Nội xưởng, nhờ vậy mà giữ được tính mạng, về sau lại đến nương dựa vào Cốc Đại Dụng, lại được phục hồi nguyên chức.

Thấy người tới là Xưởng đốc Nội xưởng Dương Lăng, hắn liền vội dập đầu hành lễ, đám phiên tử theo sau chuẩn bị bắt người vừa trông thấy cũng liền vội quỳ theo. Dương Lăng tím mặt mắng to:
- Mau gọi người giúp đưa các vị đại nhân vào nhà dân quanh vùng sơ cứu, kêu người nấu một ít canh nóng... đợi đã, trước khi cứu tỉnh người thì hãy lấy tuyết chà khắp người, đừng đặt ngay lên giường sưởi.

Y thấy Chu Khởi Phượng còn hơi do dự thì liền trừng mắt quát:
- Lập tức đi làm ngay, về phía Cốc công công sẽ có bản quan nói thay cho ngươi!

Chu Khởi Phượng liền vội luôn mồm vâng dạ :
- Dạ dạ, ty chức lập tức làm theo, lập tức làm ngay. Người đâu, mau đỡ các vị đại nhân dậy.

Một giọng nói yếu ớt già nua bỗng cất lên:
- Dương đại nhân, bọn ta chết không đáng tiếc, song cái gốc của hoạ này là Lưu Cẩn loạn chính, thi hành luật ác nay lại gán tội cho người, buộc tội Lưu đại học sĩ, Tạ đại học sĩ đã bãi quan hồi hương và những người bất đồng chính kiến trong triều là gian đảng, Hoàng bảng (3) mà không được niêm phong trả lại, tội danh của năm mươi sáu đồng liêu không được xá bỏ thì bọn ta thà chết cóng tại đây, học theo tuyết kia giữ lòng thanh khiết!

Dương Lăng thấy người đó râu tóc bạc trắng, thân thể run rẩy, tuy mặt mày đã cóng đến độ tái ngắt song y vẫn nhận ra được vị đó là người từng đối đầu với mình nay được thăng lên làm thị lang bộ Lai, Vương Ngao.

Sau khi Dương Lăng “trọng thương” hồi kinh cùng với tin tức cái chết của Vương Quỳnh là do Phạm Đình của Đông xưởng 'giá họa' được truyền ra, lão phu tử này không còn căm ghét Dương Lăng nữa. Hôm nay nghe thấy lời của y thì cảm thấy có mấy phần hảo cảm với hành động của y, vì vậy lão mới xuất ngôn biểu đạt ý nguyện của bá quan đang quỳ gối tỏ lòng can gián.

Quan viên và đám học sinh thái học quỳ gối chung quanh đồng thanh hô to:
- Đúng, hoàng bảng mà không gỡ bỏ, trung thần không được xá tội thì chúng ta thà nguyện chết cóng tại đây, học theo tuyết kia giữ lòng thanh khiết!

Dương Lăng thở hắt ra một hơi, giao vị quan văn đã bị hôn mê trong tay cho thủ hạ rồi chậm rãi bước tới phía trước, bước chân dẫm lên lớp tuyết dày phát thành tiếng "rộp rộp". Dương Lăng đi đến chỗ trên cùng gần sát với cổng cung, có hơn nửa số quan viên Lục Bộ Cửu Khanh đang quỳ tại đây, trên cùng là hai quan văn, người già nua hơn là Lý Đông Dương, người còn lại tuổi trạc hơn bốn mươi đang quỳ cạnh dìu đỡ ông ấy là Dương Đình Hoà.

Trên người Lý Đông Dương được khoác thêm vài chiếc quan bào, cũng không biết là những quan viên nào đã cởi áo mình khoác lên cho ông ấy. Trong tay ông ôm một cuộn giấy vàng, hiển nhiên đó là hoàng bảng dán ở cổng cung nhằm tuyên cáo tên của năm mươi sáu thành viên 'gian đảng'.

Dương Lăng vội bước tới, dìu đỡ Lý Đông Dương dậy, khẽ nói:
- Đại học sĩ, ông... sao ông lại dẫn đầu quỳ gối can gián trước cổng cung vậy chứ. Nếu như hai vị đại học sĩ có ý kiến gì thì có thể vào cung bẩm rõ với Hoàng thượng mà. Làm vậy... làm như vậy sẽ tổn hại đến thân thể...

Lý Đông Dương lảo đảo đứng dậy, trông thấy là y, mắt lão không khỏi hiện lên sự vui mừng Nghe được ngữ khí mang chút trách móc của y, Lý Đông Dương cười khổ sở đáp:
- Dương đại nhân, hôm nay Hoàng thượng vịn cớ mang bệnh mà hủy tảo triều, đại học sĩ như ta lúc này cũng không có cách nào để yết kiến thánh thượng. Nếu như hoàng bảng được ban bố thiên hạ thì sẽ không thể rút lại nữa, bất đắc dĩ ta mới dùng đến hạ sách này. Ai ngờ... bá quan quỳ gối can gián vậy mà Lưu Cẩn vẫn còn lẫn tránh như vậy.

Dương Lăng giậm chân thầm nghĩ bá quan và Lưu Cẩn có giằng co thì y mới có thể thu lợi từ trong đó, còn nếu để Lưu Cẩn lật đổ được toàn bộ văn võ, cả triều đình bị ngưng trệ vậy há chẳng rất nguy sao?

Y đoạt lấy hoàng bảng trong tay Lý Đông Dương rồi khẽ giọng nói:
- Nếu như hai vị đại học sĩ tin tưởng hạ quan vậy hãy giao chuyện này cho hạ quan xử lý. Hai vị đại học sĩ hãy khuyên nhủ bá quan mau chóng về nhà điều dưỡng, vạn lần đừng để lỡ quốc sự. Chẳng lẽ... hai vị đại học sĩ còn chưa biết Hoả Sư và tiểu vương tử dẫn bảy vạn đại quân công thành cướp đất, những quan ải biên cương đã tràn ngập trong khói lửa chiến tranh rồi sao?

Lý Đông Dương giật mình thất kinh, hỏi ngay:
- Lại có chuyện này sao? Hàng năm gặp thời tiết này Thát Đát cũng đều dấy binh tập kích biên giới, trong kinh đã nhận được phong hoả truyền tin, chỉ là hiện tại vẫn chưa nhận được quân báo chi tiết. Năm nay tình hình lại nghiêm trọng vậy sao?

Dương Lăng thầm nghĩ: "Khoái dịch truyền tin ở biên quan vị tất đã nhanh bằng bên tôi. Huống hồ mấy người đều chạy đến đây quỳ gối can gián, bên ngoài lại bị Đông xưởng và quân đoàn Kinh doanh phong toả, cho dù có tin tức mang đến chỉ sợ cũng không thể mang vào."

Dương Lăng vội đáp:
- Đúng vậy! Quốc sự làm trọng, kính xin hai vị đại học sĩ dẫn các quan viên trở về trước. Hiện tại cần phải chữa trị ngay các quan viên bị cóng rét, những người có thể trở về nha môn làm việc cũng không thể lại làm việc theo cảm tính. Hạ quan sẽ lập tức vào cung, vụ án 'gian đảng' này hãy giao phó cho hạ quan vậy.

Lý Đông Dương cũng biết lúc này tuyệt đối không phải là thời khắc nội đình và ngoại đình tiếp tục tranh chấp, biên quan cấp báo việc ngoại xâm, hết thảy phải lấy đại cuộc làm trọng. Lão lập tức gật đầu:
- Được! Nếu quả như Lưu Cẩn khơi mào chuyện đả kích những người bất đồng chính kiến là 'gian đảng' thì nhất định từ đây về sau bè cánh sẽ không ngừng tranh đấu, ngày một thêm nghiêm trọng. Việc này đành phải xin nhờ tới đại nhân rồi, văn võ bá quan thì hãy giao cho ta và Giới Phu khuyên nhủ vậy.

Dương Lăng gật đầu, tay cầm hoàng bảng, cao giọng nói to:
- Các vị đại nhân, Dương mỗ nguyện gánh vác việc gỡ bỏ hoàng bảng và giải trừ vu cáo 'gian đảng', nhưng triều đình không thể một ngày không có bá quan, bá quan không thể một ngày không đoái hoài đến chính sự. Giờ đây biên thùy báo nguy, bảy vạn đại quân hùng hậu của Thát Đát đã áp sát biên giới, công thành cướp đất, thành trì rơi vào tay giặc, bá tánh gặp tai ương. Xin các vị đại nhân hãy tạm thời rời khỏi Ngọ môn, bảo trì thân thể, lấy giang sơn xã tắc làm trọng, lấy lê dân bá tánh làm trọng!

Lưu Đại Hạ có thân thể khoẻ mạnh, chớ thấy lão là ông già bảy mươi mà xem thường. Trải qua suốt đêm cực khổ ở đây nhưng tinh thần vẫn quắc thước, nghe vậy lão liền lập tức đứng bật dậy, thất kinh hỏi dồn:
- Cái gì? Biên cảnh đã nguy cấp đến vậy rồi sao? Bộ Binh vẫn chưa nhận được công văn, ngươi... tin tức của ngươi có đáng tin không?

Dương Lăng gật mạnh đầu, đáp:
- Tuyệt không giả dối, xin đại nhân mau chóng trở về bộ Binh. Sợ rằng một khi Hoàng thượng nhận được tin tức sẽ lập tức triệu kiến ngài đó.

Lý Đông Dương được Dương Đình Hoà dìu đỡ xoay người lại, lấy hơi nói to:
- Các vị đồng liêu, Dương đại nhân sẽ lập tức vào kinh kiến giá, đã nhận lời hứa sẽ bẩm rõ với thánh thượng cho bá quan chúng ta. Giờ đây biên quan nguy cấp, quốc sự làm trọng, mọi người... hãy tạm thời hồi phủ, cố sớm quay về nha môn làm việc.

Có được câu nói này của Lý Đông Dương, bá quan bắt đầu xao động, từng người lảo đảo đứng dậy rồi đi dìu đỡ đồng liêu đã bị hôn mê. Tuyết dày rét cóng, (lúc tuyết rơi thì trời mới hơi ấm lên một chút), hơn nữa đây là trận tuyết lớn đầu tiên đầu mùa đông, vừa đói vừa mệt cộng với lạnh giá đã khiến một ít quan viên thể chất yếu nhược ngất xỉu, may mà chưa có ai chết cóng.

Đám phiên tử Đông xưởng có lòng muốn đến dìu đỡ, những quan viên đó tuy đứng còn không vững nhưng lại khăng khăng không chịu để bọn chúng giúp đỡ, tuy nhiên Dương Lăng đã hạ lệnh, phiên tử Đông xưởng đặt tại các cửa khẩu đều đã lần lượt rút về, ngựa xe và gia bộc của các vị đại nhân bị chặn lại ở ngoài đầu phố lần lượt kéo vào đón các vị đại nhân của mình lên kiệu rồi nhanh chóng kéo đi.

*****

Đưa tiễn kiệu của Lý Đông Dương và Dương Đình Hoà xong, Dương Lăng mới trở lại trước cổng cung, gõ tấn khẩu (4) bên hông, trình thẻ bài ra. Bên trong tra xét xong, thấy rõ là Dương Lăng thì lúc này cổng cung mới được mở ra.

Dương Lăng thấy cấm vệ đại nội đứng gác trong cung cũng mâu giáp uy nghiêm thì càng không khỏi chau mày, lòng thầm cảnh giác.

Lần này y có ý muốn giao cho Lưu Cẩn đi làm loạn cả kinh thành, vả lại trên danh nghĩa Đông xưởng và Tây xưởng đều bị Lưu Cẩn quản hạt. Lưu Cẩn thân là thủ lĩnh ty Lễ Giám, hạ lệnh phong tỏa kinh thành, đám người Cốc Đại Dụng, Trương Vĩnh và Miêu Quỳ tất sẽ không dám ngang nhiên kháng lệnh, không ngờ bởi vì chuyện xảy ra đột ngột như vậy mà ngay chính mình cũng bị giấu kín, không nhận được tin tức gì.

Dẫu rằng Hoàng đế Chính Đức vẫn tin cậy mình hơn Lưu Cẩn nhưng lão ta lại chiếm được một ưu thế, chính là hàng ngày hầu hạ bên cạnh Hoàng thượng. Xem ra ngoài con đường truyền tin thông thường trong kinh mình cũng nên âm thầm bố trí thêm liên lạc ngầm, bằng không đôi lúc khó tránh sẽ bị che mắt. Giả như Lưu Cẩn có ác ý gì với mình...

Dương Lăng vừa nghĩ thầm vừa chạy thẳng về phía gác Tây Noãn trong cung Càn Thanh. Hoàng đế Chính Đức thích nhất là ở trong toà cung điện mà năm xưa vua Hoằng Trị thường ở này, từ lúc lãnh đạm với hậu cung đến nay thì hắn càng không chịu đến nơi khác ở.

Dương Lăng thong thả tiến vào gác Tây Noãn. Ngoài điện trống trơn, hai tiểu hoàng môn thấy y tới vừa mới khom người hành lễ thì y đã vội khoát tay ngăn lại. Rẽ trái đi vào chính là trung điện, là nơi Chính Đức thường xử lý chính vụ. Dương Lăng vừa định đưa tay vén bức rèm gấm thêu hình rồng vàng thì chợt nghe bên trong có tiếng người vọng ra, ngón tay mới vừa vén ra một chút liền dừng lại đó.

Y nghe thấy tiếng Miêu Quỳ cất lên:
- Lưu công công, lần này có phải đã gây ra chuyện lớn rồi hay không? Ta đã sai người đi xem thử, bá quan đã quỳ trước cổng cung một đêm rồi, nếu bị cóng chết mấy người khiến cho bọn họ nổi giận thì chúng ta càng sẽ chịu phải công kích của người ta đó.

Liền đó giọng nói của Trương Vĩnh họa theo:
- Phải đó, theo ta thấy, có nên thông báo cho Dương đại nhân một tiếng, mời y đến cùng nhau bàn tính một chút hay không?

Lúc này y lại nghe Mã Vĩnh Thành "hừ" một tiếng rồi nói:
- Còn kịp à? Lúc này đã cưỡi trên lưng cọp rồi, thánh chỉ mới vừa xin ngày hôm qua, nói hay như vậy với Hoàng thượng, nói là bá quan trong triều khi phụ quân chủ nhỏ tuổi, chúng ta chỉ phạt thanh danh đám người Lưu Kiện mà không dùng hình cụ, lấy đó để cảnh cáo bá quan khiến chúng kính sợ. Muốn quay lui thì sẽ giải thích sao với Hoàng thượng bây giờ đây? Dương đại nhân à... làm ra đến mức này rồi, người ta sẽ chịu dọn dẹp giúp cho chúng ta ư?

Dương Lăng ghé mắt vào khe hở rèm cửa nhìn vào bên trong, thấy một dãy ghế dựa mũ quan bằng gỗ lim, Lưu Cẩn thân vận mãng bào, tay cầm bình tử sa miệng bồ câu (*) đưa lên miệng hớp ngụm trà, căm hận nói:
- Cho dù bọn chúng không sợ chết, ta không tin đám thư sinh được cưng chiều từ bé đó sẽ chịu được cái lạnh, chống nổi cái đói. Mấy người sợ cái gì chứ? Chờ đến giữa ngọ mà xem. Hừ, đến lúc đó cho người rút hết phiên tử, cho phép gia bộc bọn chúng vào, bảo đảm bọn chúng sẽ lăn ngay về nhà giả chết như mấy con lừa cho xem.
(*) bình trà làm bằng đất sét nâu.

Lúc này một chiếc mãng bào lại tiến vào trong tầm mắt, xoay người lại ngồi cạnh Lưu Cẩn, đó là Xưởng công Cốc Đại Dụng của Đông xưởng. Lão cười gượng nói:
- Nói đúng lắm, bây giờ cũng chỉ có thể đi bước nào xem bước nấy thôi. Bây giờ đọ sức cùng ngoại đình, kẻ nào lui trước là thua, đừng tìm Dương đại nhân đến mà khiến y chê cười. Chúng ta cứ chờ thôi.

Lão suy nghĩ một chút rồi nói:
- Lưu công công, ông thấy có nên gỡ phong toả cửa thành trước không? Tuy rằng trời lạnh tuyết to ít người ra vào nhưng người đi nam về bắc cũng có không ít, phong toả kinh thành dân gian khó tránh sẽ đồn đoán linh tinh. Hơn nữa việc này vốn cũng không cần phải che tai mắt người ta.

Lưu Cẩn nghĩ ngợi một chút rồi nói:
- Ừ, Trương công công, phiền ông thông tri mở cửa thành vậy. Có điều... Cốc công công, Đông xưởng vẫn phải chú ý mấy con đường quan trọng đến Ngọ môn một chút, đừng để những kẻ tạp nham nhàn rỗi chạy đến xem náo nhiệt. Loạn như vậy là đủ rồi.

Hai người vâng dạ đáp lời. Thấy Cốc Đại Dụng đứng dậy định đi ra ngoài, Dương Lăng vội vén rèm, ho khan một tiếng rồi thong thả bước vào.

Trương Vĩnh vừa quay người lại, liếc mắt trông thấy Dương Lăng liền không khỏi kinh ngạc kêu lên:
- Dương đại nhân? Sao hôm nay lại vào kinh vậy?

Dương Lăng quét mắt nhìn lướt mọi người, thấy ngoài kinh ngạc phần lớn còn lộ ra sự mừng rỡ. Những vẻ mặt vốn dĩ có phần lo lắng bất an đã tiêu tan không ít, như thể cảm thấy đã tìm được trợ thủ mạnh mẽ, ngay cả Lưu Cẩn dẫu rằng mặt không đổi sắc nhưng trong mắt cũng không giấu được vẻ vui mừng.

Dương Lăng thầm nghĩ: "Xem ra lần này bọn họ giấu giếm mình cũng không phải cố ý muốn gạt mình sang một bên mà là tự cho rằng có thể chi phối văn võ cả triều, nhưng không ngờ càng làm càng rối."

Y giơ hoàng bảng trong tay lên, ra vẻ hoảng hốt nói:
- Đây là chủ ý của ai vậy? Thật hồ đồ quá rồi. Lưu công công thi hành tân chính đang cần đến sự ủng hộ đắc lực của bá quan. Lưu, Tạ nhiều lắm chỉ là những kẻ bị bãi quan, không bao lâu nữa sẽ bị người ta quên đi, ảnh hưởng và uy đức trên quan trường cũng sẽ dần dần phai nhạt. Giờ lại chỉ trích bọn họ là gian đảng vậy khác nào lại nâng bọn họ lên thành lãnh tụ của bá quan, làm vậy không phải là tự tạo thêm cường địch ư?

Đám người Cốc Đại Dụng nghe vậy thì ngơ ngác nhìn nhau, không hẹn mà cùng lặng lẽ hướng mắt về phía Lưu Cẩn, khuôn mặt già nua của Lưu Cẩn thoáng đỏ lên. Lão nghe nói bá quan đã quỳ một đêm, trong lòng cũng đã thấp thỏm bất an, cảm thấy biện pháp của vị quân sư tú tài mà mình rước về có hơi quá đáng nhưng lại không thể cúi đầu khuất phục bá quan, thành ra vẫn cố đấm ăn xôi. Giờ nghe Dương Lăng nói vậy, lão cũng không biết mình đã phạm phải sai lầm lớn gì, không khỏi ngượng ngập hỏi:
- Ừm..., Dương đại nhân cảm thấy biện pháp này không tốt ư?

Đoạn lão đứng dậy nói:
- Nghe nói năm Huy Tông thời Bắc Tống, trong triều đả kích bè lũ gian thần đã dựng lên bia đá gọi là "Gian Đảng"(5). Kết quả bè lũ gian thần đã bị hốt gọn, về sau cũng không còn ai dám chỉ trích triều chính bậy bạ nữa. Vậy sao... sao...?

"Năm Huy Tông? Đó là triều đại có nhiều bè lũ gian thần nhất của Đại Tống." Thật ra Dương Lăng nhớ được rất nhiều sự kiện của triều đại này nhờ từng xem truyện trào phúng, cũng biết chuyện dựng bia đá “Gian Đảng”, y thở dài nói:
- Lưu công công, đây là ý tưởng của vị tú tài nào vậy? Hắn muốn đẩy chủ mình vào chỗ bất nghĩa hay sao? Lưu công công ngài thử nghĩ đi, cầm quyền vào triều đại đó đều là những kẻ nào? Là đám lục tặc hại nước Thái Kinh và Đồng Quán đó!

Đoạn y nhìn một vòng rồi cười nhạt nói:
- Hay lắm, khéo lắm. Năm vị công công Lưu, Mã, Trương, Cốc, Miêu cộng thêm Dương Lăng ta, bảng gian đảng này một khi được dán lên thì Đại Minh sẽ xuất hiện lục tặc hại nước mới đây.

Đám người Lưu Cẩn nghe vậy muốn cười song lại nín nhịn, nhất thời cũng không hỏi xem tại sao một khi dán bảng “gian đảng” lại có nhiều tác hại như vậy, trong lòng chỉ cảm thấy học vấn của Dương Lăng hơn xa bọn họ, y nói như vậy tất có lý lẽ của mình. Về phần gian tặc hại nước hả, ai mà thèm làm, bọn họ còn nghĩ mình là mấy đại trung thần đó.

Lưu Cẩn ngắc ngứ nói:
- Ta thi hành tân chính, bá quan nhất loạt đều phản đối. Đám mọt sách này vốn luôn xem thường nội đình chúng ta, chỉ cần là những gì chúng ta đề xuất hoặc nói ra bọn chúng đều sẽ nhắm mắt phản đối luôn, ngay cả lý do cũng lười nói cho đại nhân biết. Cái bản mặt khinh thường người khác đó thật sự khiến cho người ta tức chết đi được. Ta vốn chỉ định đánh vào cái dáng vẻ kiêu ngạo của bá quan một chút nhưng không ngờ bọn chúng lại kiên quyết như vậy, quỳ gối cả đêm trong tuyết, may mắn là sáng nay Hoàng thượng bãi bỏ tảo triều bằng không chúng ta thật sự sẽ rất bận rộn. Nhưng mà Dương đại nhân lại lấy hoàng bảng về rồi, nếu như lấy về thì mặt mũi mấy người bọn ta để đâu? Biết phải giải thích sao với Hoàng thượng đây?

Mấy người Cốc Đại Dụng mới vừa thăng chức, việc mà bọn họ quan tâm nhất chính là điều này, nghe vậy liền gật đầu lia lịa. Dương Lăng nói:
- Cho dù không có chuyện này thì chẳng lẽ ngoại thần sẽ coi trọng chúng ta ư? Hơn nữa... trọng binh Thát Đát đã áp sát biên cương, lúc này biên quan cấp báo, cần nội thần và ngoại thần đồng tâm hợp lực chống giặc ngoại xâm. Lý do này đã đủ hay chưa? Các vị hãy dùng lý do này mà dâng tấu lên cho Hoàng thượng, xin Hoàng thượng thu hồi thánh chỉ. Hoàng thượng tất sẽ khen ngợi các vị công công biết phân nặng nhẹ, coi trọng triều đình, trung quân yêu dân đó.

Lý do này quả thật vừa có thể tiếp nhận, lại có thể lấy lòng Hoàng thượng, đám người Lưu Cẩn đương nhiên gật đầu, đồng thời cũng có chút kinh hãi. Miêu Quỳ nhịn không được bèn hỏi:
- Dương đại nhân, giặc Thát lại tập kích biên giới sao?

Sắc mặt Dương Lăng trở nên nghiêm trọng, y gật đầu đáp:
- Ừm, lần này Bá Diên Khả Hãn và Hoả Sư dẫn theo bảy vạn thiết kỵ một đường tập kích Tuyên phủ Đại Đồng ta, hiện tại đã có rất nhiều thành trì rơi vào tay giặc. Cần phải lập tức bẩm rõ với Hoàng thượng, lập tức triệu tập đại quan trong triều cùng thương nghị kế sách khởi binh chống giặc. Hoàng thượng đâu rồi? Sao chỉ thấy các vị ở đây?

Mã Vĩnh Thành nhỏ giọng cười gượng nói:
- Ninh Vương vừa tiến cống cho Hoàng thượng một gánh xiếc, trong đó có hai vị cô nương xinh đẹp dị thường lại biết ca hát và làm xiếc. Hoàng thượng rất thích bọn họ, hôm qua đã triệu vời bọn họ thị tẩm, có lẽ thân thể mệt mỏi nên sáng sớm truyền khẩu dụ rằng hôm nay huỷ bỏ tảo triều. Ta cũng không dám vào quấy rầy...

Hoàng thượng muốn triệu vời phi tần thị tẩm trong hậu cung thì phải có kim ấn của Hoàng hậu thì Kính Sự phòng mới có thể tiến ngự, vả lại còn hạn chế thời gian, đến giờ sẽ phải đưa phi tử về cung, không thể chung giường cùng gối yên ngủ suốt đêm với Hoàng thượng.

Với tính khí của tiểu Chính Đức, chịu phải ước thúc như vậy hắn sẽ ghét không tới hậu cung nữa. Không ngờ hắn lại tự tìm phụ nữ cho mình. Chỉ có điều... Ninh vương à? Ninh vương!

Dương Lăng cả kinh, định co cẳng chạy vào tẩm cung của hoàng đế. Vừa dợm chân, y chợt định thần lại. "Ninh vương sẽ tạo phản, việc này chỉ một mình biết, nói ra cũng sẽ không ai tin. Song nếu hai người con gái này đã được Ninh vương ngang nhiên cống tặng vậy trong cấm cung đã ghi vào sổ sách, quyết hắn sẽ không dùng bọn họ để ám sát Hoàng đế. Quả như bọn họ chỉ là những con hát bình thường vậy sẽ là công cụ Ninh vương dùng để lấy lòng hoặc mê hoặc Chính Đức. Một khi bọn họ là tâm phúc của Ninh vương liền trở thành tai mắt của hắn bên cạnh Hoàng đế vậy mình gấp gáp như thế làm gì?"

Y cười tự giễu mình, chợt thấy mấy vị công công đang kinh ngạc nhìn mình liền nói:
- Chuyện hôm nay không nên xé ra to. Biên cảnh đang có hoạ, nếu như nội đình vẫn cứ dán bảng công bố xử phạt triều thần, ắt sẽ dẫn đến công kích của thiên hạ. Như vậy đi, Trương công công, Cốc công công, hai vị hãy mau chóng gỡ bỏ cấm thành và rút phiên tử về. Mã công công, xin công công hãy sai người cấp tốc giục Hoàng thượng thức dậy, chúng ta xin người hạ chỉ thu hồi lệnh phạt gian đảng trước để yên lòng bá quan, sau đó xin Hoàng thượng điều binh khiển tướng bắc phạt Thát Đát là hơn.

Miêu Quỳ tuy là thái giám song luôn muốn dẫn binh đánh trận, kiến lập công huân, vừa nghe lời này liền xoa tay hăm hở:
- Được, ta và đại nhân sẽ cùng đi gặp Hoàng thượng. Giặc Thát quá ngông cuồng, nhất định chúng ta phải phái trọng binh đánh cho chúng biết mặt mới được!

*****

Hai người thiếu nữ trong gánh xiếc đó dung mạo xinh đẹp, thân thể mềm mại lại rất thức thời, hiểu chuyện gió trăng cộng thêm từ nhỏ nhờ luyện tập tạp kỹ nên cơ thịt khắp người linh hoạt dẻo dai, so với tiểu thư con nhà phú quý bình thường thì vẻ phong tao nóng bỏng, khêu gợi và bạo dạn trong khuê phòng đó thật khiến cho Hoàng đế Chính Đức vốn thích phóng đãng, không chịu câu thúc này mừng rỡ như điên.

Một đêm phong lưu ấy, hai người con gái dân gian quả thật đã đánh bại hoàn toàn ba vị phi tần chỉ biết đọc thi thư, trên giường cũng rụt rè nho nhã, khiến Chính Đức yêu thích đến không rời tay. Quấn quít nguyên đêm, sung sướng lên tiên, mãi đến rạng đông hắn mới chìm vào mộng đẹp, đến nỗi tảng sáng mà mệt dậy không nổi.

Lúc Mã Vĩnh Thành phái tên tiểu hoàng môn lấy hết can đảm đi vào hô hoán, Chính Đức và hai thiếu nữ mới vừa thức dậy. Chính Đức mỉm cười ngắm nhìn hai mỹ nhân trang điểm trước gương, ôm lấy eo bọn họ, hôn trộm một cái, rồi luồn tay chụp lấy bộ ngực của họ, cười ha hả trông thích thú vô cùng.

Nghe nói Dương Lăng và đám người thân cận của mình là Lưu Cẩn đang chờ yết kiến, Chính Đức hứng chí nắm tay dẫn hai thiếu nữ ra ngoài. Đám người Dương Lăng vừa thấy Hoàng thượng mặc thường phục đi ra liền vội nhất tề quỳ xuống hành lễ:
- Tham kiến Hoàng thượng.

Hai thiếu nữ đó thấy có người quỳ xuống thì không muốn gánh phải tội nhận sằng lễ tiết liền vội tránh sang hai bên. Dương Lăng thấy hai đôi hài cong trắng như tuyết tránh sang hai bên, bước chân hết sức nhẹ nhàng, tuy không nhìn ra bọn họ có biết võ nghệ hay không song cảm thấy một người con gái trong gánh xiếc dân gian lại hiểu biết lễ nghi như vậy thì không khỏi sinh lòng ngờ vực.

Chính Đức cười hì hì bảo:
- Đứng lên đi, đứng lên đi, cũng đâu phải là người ngoài. Dương thị độc, trẫm đã thu nạp được hai người con gái hợp lòng, khanh xem có đẹp hay không?

Dương Lăng thầm cười khổ trong lòng: "Tuy rằng hai người con gái này xuất thân ti tiện nhưng đã thị tẩm cho Hoàng đế thì thân phận đã không thể so với người bình thường, sao mình dám to gan mà bình phẩm đánh giá chứ? Vị Hoàng thượng này thật là..."

Đám người Dương Lăng lập tức đứng dậy. Dương Lăng liếc nhìn, thấy hai người thiếu nữ đó đều có khuôn mặt trái xoan trắng như tuyết, mắt hạnh má đào, thanh nhã phong lưu.

Một người mặc áo đỏ, người mặc áo xanh, đều dùng áo cân vạt quần bó ống, eo buộc một sợi dây lưng bằng lụa trắng, giày cong nhỏ nhắn nhẹ nhàng như én, tuy vẫn là bộ đồ đoản đả (*) như lên đài biểu diễn song trông càng thêm khả ái yêu kiều.
(*)võ phục ngắn, quần áo chẽn, diễn viên võ mặc khi biểu diễn.

Tuy bọn họ chỉ có tám phần xinh đẹp nhưng lại có mười hai phần phong thái, cử chỉ và dáng điệu dịu dàng chân thành, mặc dù chỉ là áo vải trơn màu nhưng lại khiến mắt người ta như chìm trong ngũ sắc, không giống như con gái tầm thường.

Dương Lăng thầm nghĩ bụng: "Dung nhan thật xinh đẹp, phong thái thật đặc biệt, Ninh vương thật chịu đầu tư."
Dương Lăng điềm nhiên cười nói:
- Hoàng thượng thân là thiên tử, tầm mắt ấy đương nhiên là số một rồi, hai vị cô nương có thể nói là tuyệt sắc trên đời.

Hai vị cô nương nghe vậy mới cẩn thận quan sát y. Dương Lăng đưa mắt lên thì thấy hai vị cô nương này một người xinh đẹp lạnh lùng, một người ngọt ngào vui vẻ.

Người con gái xinh đẹp có vẻ lạnh lùng vốn không hề nở nụ cười nhưng khi thấy Dương Lăng lại là một công tử phong lưu anh tuấn đang ngắm mình thì chợt nhoẻn miệng cười với y, để lộ hai hàm răng trắng đều như bắp, đôi môi hồng đào hơi vểnh lên như môi mèo. Nụ cười của nàng ta vốn đã xinh tươi, thêm vào vẻ đẹp lạnh lùng càng khiến người ta cảm nhận một cách mãnh liệt.

Chính Đức nghe thấy Dương Lăng khen ngợi thì mừng rỡ nói:
- Đúng đó, trẫm cũng cảm thấy so với phi tần ở hậu cung thì các nàng hiểu biết và thức thời hơn nhiều, tên của bọn họ là Giải Ngữ và Tu Hoa. Giải Ngữ, Tu Hoa, vị này là ái khanh của trẫm, Dương Lăng.

Hai người con gái thoáng lộ vẻ kinh ngạc liếc nhìn Dương Lăng, sau đó hai người dịu dàng nhún chào, yêu kiều nói:
- Dân nữ ra mắt Dương đại nhân, ngưỡng mộ thanh danh đại nhân đã lâu.

Chính Đức ngạc nhiên hỏi:
- Hai người từng nghe nói về Dương ái khanh à?

Tiểu cô nương hay cười nọ mặc một bộ áo chẽn sát thân màu đỏ, bộ ngực cao ngất ép thành một khe sâu mê người, ở giữa đeo một bức tượng phật bạch ngọc thoạt trông không rõ bao nhiêu tiền, nàng ta mân mê bức tượng phật bằng ngọc hơi gật đầu rồi hé miệng cười đáp:
- Những câu truyện truyền kỳ về Dương đại nhân cửu thành tầm y, đế lăng hàm oan, Giang Nam chống Oa rất nhiều, dân nữ là khách giang hồ nên đã nghe đến chai cả tai.

Chính Đức ôm lấy chiếc eo thon của nàng ta rồi hôn dưới mái tóc mai và nói:
- Giải Ngữ, đó là vì trẫm không có cơ hội thôi, sau này có thời gian rảnh trẫm sẽ cùng nàng đi khắp giang hồ, truyện truyền kỳ nhất định sẽ còn nhiều hơn.

Người con gái tên là Giải Ngữ bị Hoàng đế ôm eo ngay trước mặt mọi người, khuôn mặt hơi đỏ lên, hai má ửng ráng mây hồng, sóng mắt đong đưa càng toát lên vẻ xuân sắc điên đảo tâm hồn. Nàng ta khẽ mím môi, bờ mi cong dài chớp chớp không ngừng, vẻ nửa thẹn nửa sợ ấy khiến ngay cả đám người Lưu Cẩn cũng không nhịn được mà nhìn thêm mấy lần.

Ánh mắt của Dương Lăng lại tập trung giữa cặp tuyết lê cao vút: đó là một bức tượng phật Di Lặc há miệng tươi cười. Những người thờ phật trên thế gian bất luận là nam hay nữ thì rất ít người đeo tượng phật Di Lặc. Tín đồ nữ đa số thường hay đeo tượng Quan Âm Bồ Tát hơn.

Dương Lăng vì lỡ gạt Ấu Nương cho nên luôn đeo cây thánh giá trên người nên khi thấy tượng phật của nàng ta thì hơi ngạc nhiên và tò mò, không khỏi nhìn kỹ hơn nhưng thật ra trong lòng lại không có ý gì khác.

Thấy vậy, người con gái tên là Tu Hoa đứng bên cạnh lộ ra vẻ căng thẳng rồi mau chóng bước vòng ra trước mặt, giả vờ giúp tỷ muội sửa lại vạt áo để che chắn ánh mắt của Dương Lăng rồi nhân lúc Chính Đức không để ý mà nghiêm khắc trừng mắt với nàng ta một cái. Lúc này Giải Ngữ mới sực tỉnh ngộ, khuôn mặt xinh xắn thoáng trắng bệch rồi vội vã nhét bức tượng phật đó vào trong người.





Chú thích:


(1) trích "Tuý Ông chi ý bất tại rượu", lời của Tuý Ông không phải ở rượu; nghĩa bóng chỉ trong lời nói có dụng ý khác.

(2) cấp học cao cấp nhất thời phong kiến

(3) bảng yết thị của vua

(4) cửa phụ, có khe nhỏ để đưa thư từ

(5) Sau khi lên làm thừa tướng, để triệt hạ hoàn toàn phe phái cũ, Sái Kinh (Thái Kinh) kiến nghị Huy Tông liệt kê tên tuổi những người thuộc phe này gồm 109 người từng theo Tư Mã Quang, khắc tên lên bia đá gọi là “danh sách gian đảng” bêu danh xấu trước cửa Đoan Lễ tại điện Văn Đức để noi gương cho đời sau.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

shandian
20-01-2012, 09:24 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 166 Binh Xuất Chính Kỳ

Dịch: Ba_Van

Biên dịch: Vo Vong

Biên tập: Shandian

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng ừ một tiếng. Đã biết nàng kia có một thân võ nghệ ắt sẽ không bị người ức hiếp, y cũng không lo lắng nữa. Lại thấy tên du côn nhón nhón nén bạc trong lòng bàn tay, liếc mắt qua huynh đệ đang đứng quanh rồi cười hì hì bảo:
- Tiểu nương tử, nàng thực là ngoan ngoãn đấy, có điều... bọn đại gia ta đây cũng không thiếu bạc.

Cô gái áo đỏ hơi nghiêng đầu một chút vẻ như suy nghĩ, mắt vẫn không rời kẻ kia. Giữa đôi môi hồng lộ ra hàm răng chỉnh tề trắng tinh, nàng hơi cụp mắt rồi lại nhẹ nhàng ngước lên, đôi mắt hơi có ý cười, nhẹ giọng hỏi:
- Vậy đại gia rốt cuộc có ý gì vậy?





Chương 166 - Binh xuất chính kỳ (1)

Chính Đức không hề chú ý đến hành động của Giải Ngữ mà quay sang cười hỏi Dương Lăng:
- Dương khanh! Sáng sớm ngươi đã tiến cung, có chuyện gì quan trọng sao?

Dương Lăng ho khan một tiếng, liếc mắt nhìn Lưu Cẩn, Cẩn hiểu ý vội đỡ lời:
- Hoàng thượng! Đám người Lưu Kiện, Tạ Thiên cấu kết nội đình bức hiếp thiên tử vô pháp vô thiên, hôm qua nô tài xin người hạ thánh chỉ định tội mấy kẻ này sau đó công bố khắp thiên hạ nhằm khiến cho bá quan sợ hãi dè chừng mà tự xét lại mình. Tuy nhiên hôm nay lại nghe tin chiến sự biên cương khẩn cấp, lúc này không nên khiến triều đình rúng động bởi vậy kính xin Hoàng thượng lại hạ chỉ ban ân, miễn tội danh cho bọn họ.

Chính Đức không vui đáp:
- Hôm qua vừa hạ chỉ, cớ sao hôm nay đã muốn thu lại rồi? À.........- Hắn hồ nghi liếc mắt nhìn Dương Lăng, cười hỏi:
- Nhất định là Dương khanh không đành lòng nên ra mặt cầu xin tha thứ cho bọn họ, phải không?

Hắn suy nghĩ một hồi, nhận thấy Lưu Kiện, Tạ Thiên tuy đáng ghét nhưng dù sao cũng từng là Thái phó của mình, nay bọn họ đã không muốn truy cứu nữa, chuyện này bỏ qua cũng được. Hắn gật đầu đồng ý:
- Được! Trước tiên hạ chỉ khiển trách, sau lại ra ân chỉ miễn trách phạt cũng không có vấn đề gì. Việc này ngươi cứ đi làm đi!

Lưu Cẩn vội cất tiếng tạ ơn với vẻ mặt mừng rỡ. Chính Đức lại nói với Dương Lăng:
- Tín hiệu phong hỏa từ biên ải đã truyền đến kinh thành đêm trước nhưng vẫn chưa có tin tức gì thêm. Bây giờ đã có tin tình báo chính xác rồi sao?

Dương Lăng bước lên một bước đáp:
- Vâng! Thần đã có tin tức tường tận hơn đang định bẩm với Hoàng thượng.

Y đưa mắt nhìn hai cô gái. Chính Đức hiểu ý, quay sang hai cô mà từ tốn:
- Giải Ngữ! Tu Hoa! Hai nàng hãy theo Mã Vĩnh Thành rời đi, rồi để hắn thu xếp chỗ ở cho. Đợi đầu xuân trẫm sẽ dọn đến Báo viên ở, đến khi đó trẫm sẽ chuẩn bị cho các nàng hai căn phòng thực lớn.

Hai cô gái ngoan ngoãn vâng một tiếng. Tu Hoa cẩn thận liếc nhìn Dương Lăng rồi khoan thai bước theo Mã Vĩnh Thành.

Chính Đức vươn vai ngáp dài, bảo Dương Lăng:
- Dương thị độc, chúng ta vào phòng đã rồi có gì hãy nói!

Đám Lưu Cẩn không tiện theo vào nhưng cả bọn đều không quan tâm tới chuyện này lắm, duy có Miêu Quỳ rất mong lập quân công nên kìm lòng không được cứ đứng ngóng ngay cạnh cửa đỏ mắt mong chờ.

Chính Đức dẫn Dương Lăng về đến tẩm cung, để nguyên quần áo mà nằm xuống sập đoạn khoan khoái nói:
- Dương khanh! Tới hôm nay trẫm mới cảm nhận được niềm vui khi làm đàn ông.

Dương Lăng chưa biết tiếp lời thế nào, Chính Đức đã xoay người lại, đưa tay chống cằm mỉm cười nói:
- Trẫm có hoàng hậu, có phi tần, nếu trẫm bằng lòng còn có thể đưa vô số mỹ nữ như hoa vào cung nhưng điều trẫm muốn chỉ là cái cảm giác gia đình. Mặc dù hai cô gái dân gian này vẫn còn hơi gò bó khép nép với trẫm nhưng so với nội cung thì đã tốt hơn nhiều.

Dương Lăng không ngờ Chính Đức không vội hỏi tình hình quân sự ở tiền phương mà lại lải nhải việc nhà. Y thấy mặt Chính Đức đầy vẻ mơ mộng ngọt ngào nên không tiện cắt ngang lời hắn ngay lúc này liền nhẫn nại nói:
- Hoàng hậu nương nương và hai vị quý phi nương nương đều là những người tri thư đạt lễ, hiền lương thục đức......

Chính Đức bực bội khoát khoát tay trợn mắt lườm y:
- Chớ có giở trò này với trẫm nữa! Tính tình, nhan sắc của Hoàng hậu và hai vị quý phi đều rất tốt, nhưng trẫm lại không thể cảm thấy thân thiết với họ được.

Chính Đức thở than:
- Vợ chồng gặp mặt một chút thôi vậy mà đứng có nghi lễ đứng, ngồi có nghi lễ ngồi, cái bộ dạng trang trọng đó khiến người nhìn mà như phải chịu tội. Thậm chí khi chỉ có hai người mà vẫn phải luôn luôn chú ý đến thân phận, lễ nghi......

Hắn nheo mắt nhìn ánh đèn cung đình lộng lẫy, ánh mắt xa xăm, nhẹ giọng nói:
- Trẫm thường suy nghĩ, không biết chốn dân gian vợ chồng ân ái, cầm sắt hài hòa thú vị đến thế nào? Còn nhớ ngày hè lần đó ta đi thăm ngươi, thấy ngươi nằm trên giường trúc bên bờ suối, Ấu nương tỷ tỷ ngồi đối diện với ngươi, vài cô gái khác quây quần bên cạnh ngươi. Khi đó ngươi nghe đàn uống rượu thong dong nhàn nhã, xung quanh là vợ hiền thiếp đẹp, thực là đã được tận hưởng hết niềm hạnh phúc! Trẫm chỉ muốn được bớt đi một chút gò bó mà thôi.

Ánh mắt Dương Lăng chợt lóe sáng, nhân cơ hội nói:
- Hoàng thượng! Chuyện đời chính là như vậy, đấng quân vương mong có thể tự do một chút như ở gia đình bình thường, có thêm một chút tình thân trong hoàng tộc. Còn người ở gia đình bình thường lại ngóng trông có thể hưởng chút vinh hoa như kẻ giàu sang, bớt đi phần nào nghèo khổ. Thực ra ở hoàn cảnh nào cũng có cái được, có cái mất mà thôi.

Y hít một hơi thật sâu, nói tiếp:
- Giống như hôm nay, Hoàng thượng ở trong cung, tuy vướng nhiều ràng buộc nhưng lại được ăn ngon mặc đẹp, có mỹ nhân bầu bạn. Còn Đại Đồng, Tuyên Phủ phải chịu ngọn lửa chiến tranh mấy ngày liền, dân chúng lưu lạc khắp nơi, tính mạng hết sức nguy ngập. Trong thời buổi loạn lạc thì tình cảnh dân chúng còn không bằng chó lợn!

Chính Đức bỗng nhiên ngồi thẳng dậy, mặt hơi lộ vẻ xấu hổ. Hắn định thần lại một chút, rồi vội hỏi:
- Dương khanh, chiến sự ở tiền phương thế nào? Hàng năm giặc Thát đều đến cướp bóc một phen, thực đã coi Đại Minh ta như kho thóc của bọn chúng rồi. Không phải năm ngoái quân Thát từng chịu thua thiệt lớn sao?

Dương Lăng nghiêm nét mặt đáp:
- Chính là vì năm trước quân Thát chịu thiệt thòi cho nên năm nay bọn chúng mới tập kết trọng binh trở lại tấn công Đại Đồng. Hơn nữa lần này Bá Nhan khả hãn và Hỏa Sư hợp tác, hai người đều là mãnh tướng cực kỳ kiêu dũng. Hiện giờ tổng binh Tuyên Phủ là Trương Tuấn hao binh tổn tướng, phải lui giữ Đại Đồng, Chỉ huy sứ Lưu Kinh và nhiều quan tướng chết trận. Hoa Mã Trì, Đức Long, Tĩnh Ninh, Hội Ninh đều đã bị công chiếm, Sóc Châu, Mã Ấp chỉ sợ cũng......

Chính Đức giận dữ đứng bật dậy, rảo bước đi loanh quanh trong phòng, hai nắm đấm siết chặt, oán hận nói:
- Lòng lang dạ sói, khinh người quá đáng! Trẫm nhất định phải dạy dỗ bọn chúng một phen!

Rồi hắn lại nhíu mày hỏi:
- Trẫm thường nghe nói đến danh tiếng của tiểu vương tử (*) và Hỏa Sư, có điều cũng nghe nói bọn họ trước nay không hòa thuận, sao lần này lại hợp tác? Bây giờ tình hình quan ngoại rốt cuộc thế nào rồi? Giữa bọn họ là quan hệ phụ thuộc hay sao?
(*) Biệt hiệu của Bá Nhan.

Dương Lăng đêm qua đã được Ngô Kiệt giảng giải kĩ càng tỉ mỉ nên hiểu rõ thế cuộc chính trị bây giờ của người Mông Cổ ở quan ngoại, lập tức đáp:
- Bây giờ người Mông Cổ chia làm Ngõa Thích Mông Cổ và Thát Đát Mông Cổ. Ngõa Thích ngày càng suy bại, bây giờ không đủ sức xâm nhập phía nam, nhiều lần tập kích biên giới đều là người Thát Đát. Đại Hãn của Thát Đát Mông Cổ là Bá Nhan, là con cháu trực hệ của Hốt Tất Liệt. Người này cai trị tổng cộng sáu vùng đất là Sát Cáp Nhĩ, Ngột Lương Cáp, Khách Nhĩ Khách, Ngạc Nhĩ Đa Tư, Mông Quách Lặc Tân và Vĩnh Tạ Bố, trướng của Đại hãn đặt tại Sát Cáp Nhĩ. Hỏa Sư là kỳ chủ của tộc Thổ Mặc Đặc Mông Quách Lặc Tân, là lực lượng quân sự mạnh thứ nhì sau Bá Nhan trong quân Thát Đát. Hắn cưới con gái của Đại hãn đời trước Mãn Đô Lỗ là công chúa Y Khắc Tích làm vợ, mà Vương phi Mãn Đô Hải Tư Cầm của Mãn Đô Lỗ lúc ba mươi ba tuổi thì tái giá với đứa cháu (*) Bá Nhan mới bảy tuổi. Y Khắc Tích chính là con ruột của Mãn Đô Hải Tư Cầm cho nên tuy Bá Nhan nhỏ tuổi hơn Hỏa Sư nhưng trên danh nghĩa lại là nhạc phụ của Hỏa Sư, thêm vào đó lực lượng của Bá Nhan so với Hỏa Sư thì mạnh hơn, bởi vậy Hỏa Sư đối với Bá Nhan ... có thể nói là bằng mặt mà không bằng lòng.
(*) cháu trong bà cháu.

Chính Đức nghe mà to cả đầu, hắn suy nghĩ một hồi lâu vẫn không hiểu nổi quan hệ giữa hai người đó là như thế nào nên thành ra vô cùng bực bội. Hắn trầm ngâm một lúc rồi hỏi:
- Lần này binh lực của Thát Đát thế nào?

Sắc mặt Dương Lăng cũng tỏ ra nghiêm trọng, y nặng nề đáp:
- Bảy vạn thiết kỵ, tất cả đều là kỵ binh dũng mãnh thiện chiến, hơn nữa bọn chúng không chia binh như trước đây. Phòng thủ biên thuỳ chỉ có năm vạn quân cho nên đối phương công thành chiếm đất dễ dàng, thế như chẻ tre, mang đi vô số phụ nữ, trẻ nhỏ lẫn tất cả tiền tài vật chất......Thần đã từng ở nơi đó, biết dân chúng nơi đó... hàng năm đều phải trải qua một lần kiếp nạn giữa sự sống và cái chết, vừa bước vào mùa đông là đã bị cường đạo Thát Đát truy đuổi phải chạy tới núi hoang rừng thẳm, có thể là trượng phu bị giết chết, có thể là thê tử bị ô nhục, cũng có thể là con trẻ bị bắt đi làm nô dịch. Người may mắn sống sót trở về thì tiền tài của cải đã bị cướp đi sạch sẽ, còn phải vùng vẫy cầu sinh, năm sau lại vất vả trồng một ít lương thực vậy mà cũng không quên nộp thuế cống hiến cho triều đình......

Ngực Hoàng đế Chính Đức phập phồng mãnh liệt, tức giận đến đỏ bừng khuôn mặt. Mặc dù hắn thường oán trách mình bị nhiều ràng buộc, không được tự do như một người dân tầm thường nhưng cũng không hề quên trách nhiệm của bản thân. Lời của Dương Lăng đã khơi dậy lòng tự trọng mãnh liệt của hắn: Hắn là hoàng đế Đại Minh, dân chúng Đại Minh bị người ta khi dễ hỏi làm sao mà hắn không xấu hổ, không tức giận?

Bỗng nhiên Chính Đức căng họng thét lớn:
- Trẫm muốn ngự giá thân chinh! Trẫm muốn đích thân dẫn đầu thiên quân vạn mã, tiêu diệt giặc Thát, cứu dân chúng của trẫm!

Lời này không phải chỉ mình Dương Lăng nghe thấy mà ngay cả bọn Miêu Quỳ, Lưu Cẩn ở bên cửa cũng nghe được rõ ràng. Bọn chúng sợ tới mức nhanh như chớp xông vào, lật đật quỳ rạp xuống bái lạy, luôn miệng tâu xin:
- Hoàng thượng! Không thể được! Hoàng thượng! Không thể được! Biến cố Thổ Mộc Bảo (2) năm xưa vẫn chưa phai nhạt, quyết không thể giẫm vào vết xe đổ ấy được......

Chính Đức tức giận:
- Đánh rắm! Một năm bị rắn cắn, mười năm sợ dây thừng, có mỗi một chuyện như vậy mà cứ nói đi nói lại mãi là sao? Hoàng đế Hồng Vũ triều ta không mang binh đánh giặc hay sao? Hoàng đế Vĩnh Lạc triều ta không đích thân Bắc phạt hay sao?

Dương Lăng cũng hơi hốt hoảng. Y lấy lại bình tĩnh, bỗng nhiên nói:
- Nếu như vậy, thần nguyện từ chức Xưởng đốc Nội xưởng, làm một tên tiểu tốt trong quân vì Hoàng thượng chinh chiến sa trường, thề hết lòng giết giặc!

Chính Đức sửng sốt, lập tức cười to:
- Ngươi? Không được không được! Trẫm đã tập qua võ nghệ còn ngươi chỉ là một người đọc sách. Nếu cho ngươi điều binh khiển tướng, bày mưu tính kế thì trẫm tin ngươi làm được, còn ra trận giết địch quả thực không phải là sở trường của ngươi.

Dương Lăng khẽ mỉm cười đáp:
- Hoàng thượng nói chí phải, mỗi người có một vị trí và tác dụng riêng. Hoàng thượng là chủ thiên hạ, có Hoàng thượng trấn thủ kinh thành để thiên hạ trông vào, để vạn dân không loạn nên nếu Hoàng thượng tự mình nắm ấn soái ra trận chỉ huy thì chính là dùng tài lớn vào việc nhỏ vậy. Hoàng thượng muốn thân chinh dẫn binh nhưng bây giờ lại không phải lúc vì biên ải đang nguy cấp, cần phái một lão tướng tới trấn thủ mới đúng.

Miêu Quỳ cũng dập đầu tâu:
- Hoàng thượng! Dù chỉ là con cháu quý tộc thôi cũng đã cần hết sức cẩn thận rồi, huống chi ngài là thiên tử. Nô tài nguyện thay Hoàng thượng thân chinh ra trận giết địch, chém giặc lập công!

Chính Đức vừa nghe, tâm tình vốn kích động cũng hơi bình phục một chút. Hắn xoa xoa cằm, hỏi:
- Dương khanh có đề nghị gì không?

Dương Lăng trầm ngâm đáp:
- Hoàng thượng! Việc này cần triệu tập đại thần các bộ thương nghị. Thần là người của xưởng vệ, không tiện cùng bá quan luận bàn chính sự.

Y chần chừ một chút, rút cuộc cũng nhịn không được phải nói ra kiến giải của chính mình:
- Thần đã phái thám mã tìm hiểu kĩ càng tình hình của người Thát Đát. Quân Thát người người đều cưỡi ngựa tốt, đi lại như gió. Trước đây, khi quân ta đối địch với bọn chúng thường thường chỉ chạy sau kẻ địch, theo bọn chúng chạy ngược chạy xuôi. Cuối cùng tuy nói là đuổi giặc Thát đi nhưng thực chất là để bọn chúng cướp bóc thỏa thíc rồi mới thuận thế lui binh. Tốc độ hành quân không bằng Thát Đát chính là nhược điểm của quân ta, cho nên thần cho rằng triều đình xuất binh không thể noi theo sách lược chia binh trong quá khứ mà nên tập trung quân đội lại một chỗ, đánh chắc tiến chắc, từng bước đẩy lùi kẻ địch. Ngoài ra, tái ngoại là vùng giá lạnh, dân cư thưa thớt, muốn bổ sung thêm binh lực không phải là chuyện dễ chút nào.
Hơn nữa giặc Thát cũng không có ý định chiếm giữ lâu dài thành trì của chúng ta cho nên không cần so đo với bọn chúng việc được mất một vùng đất mà nên lấy việc tiêu hao lực lượng của quân địch làm chủ, giết người là chính, giết được nhiều sẽ khiến bọn chúng đau lòng, đến sang năm tự nhiên các bộ lạc sẽ phải suy nghĩ thật cẩn thận trước khi xuất binh. Thêm nữa, Hỏa Sư vẫn luôn luôn dã tâm bừng bừng, nhất định không cam lòng ở lâu dưới trướng người khác, cho nên lần này xuất binh thì chủ soái cần phải ra quân có trọng điểm, chủ lực hãy nhằm vào tiểu vương tử mà buông tha Hỏa Sư, cố nín nhịn mối oán hận nhất thời. Trong tình huống cán cân lực lượng của người Thát Đát có sự thay đổi thì Hỏa Sư nhất định sẽ nảy dị tâm. Nếu nội bộ Thát Đát bắt đầu phân tranh vậy Đại Minh ta chỉ việc tọa sơn quan hổ đấu, khi cần thiết còn có thể ra tay giúp phe yếu một chút khiến cho bọn chúng tiếp tục cắn nhau.

Chính Đức lẩm bẩm:
- Đánh chắc tiến chắc, giết người là chính, không thể chia binh, đánh Tiểu nhường Hỏa. Tốt, trẫm nhớ rồi!

Ánh mắt Dương Lăng đột nhiên lóe sáng, y lại nói:
- Thực ra...... Còn có một nhánh kì binh, nếu như ta sử dụng tốt sẽ trở thành cánh tay phải của Đại Minh. Nhưng chuyện này chỉ có Hoàng thượng mới quyết định được.

Chính Đức ánh mắt sáng ngời, vội hỏi tới:
- Kì binh gì vậy? Dương thị độc mau nói đi!

Dương Lăng nhấn từng chữ:
- Đóa Nhan Tam Vệ!

Chính Đức làm gì mà chẳng biết uy danh của Đóa Nhan Tam Vệ? Chỉ là những năm gần đây mặc dù trên danh nghĩa Đóa Nhan Tam Vệ vẫn là phiên thuộc của Đại Minh nhưng lại không qua lại nhiều, hơn nữa quan tướng Đại Minh vùng ấy thỉnh thoảng vẫn đến vùng biên giới cướp bóc một phen. Chỉ là cũng không gây ồn ào cho lắm nên Đại Minh luôn luôn mắt nhắm mắt mở bỏ qua. Chính Đức quả thực không nghĩ ra được Đóa Nhan Tam Vệ sẽ có ích gì.

Hắn tỏ vẻ nghi hoặc hỏi:
- Bây giờ Đóa Nhan Tam Vệ có vẻ ngoan ngoãn đối với Đại Minh nhưng thực ra sớm đã không nghe lệnh. Dương khanh muốn sử dụng bọn họ như thế nào?

Dương Lăng mỉm cười đáp:
- Đóa Nhan Tam Vệ gian nan sinh tồn giữa Đại Minh, Ngõa Thích, Thát Đát, về cơ bản bọn họ chính là cỏ đầu tường, trở cờ theo gió. Ngõa Thích Mông Cổ và Thát Đát Mông Cổ cũng thường thường cướp bóc bọn họ. Chỉ có Đại Minh ta luôn luôn dành cho họ đặc ân cho nên bọn họ thân cận hòa thuận với Đại Minh hơn. Chỉ là, khi trước Diệc Tư Mã của Ngõa Thích đánh cướp Đóa Nhan Tam Vệ, bọn họ từng cầu cứu Đại Minh lẫn Bá Nhan. Lúc ấy Bá Nhan xuất binh giúp họ còn Đại Minh lại chẳng có hành động gì. Sau đó Tổng binh Liêu Đông là Lí Cảo vì muốn mạo công xin thưởng nên vô cớ giết hại dân thường ở Hỗ thành thuộc Đóa Nhan Tam Vệ khiến cho Tam Vệ càng thêm xa lánh Đại Minh, bây giờ gần như là phiên thuộc của Bá Nhan.

Khi đó Đại Minh mang nặng tư tưởng thiên triều, chính quân đội cũng lan tràn xu hướng đó. Trong mắt bọn họ thì những dân man di ở quan ngoại thuần là một đám giặc cỏ mà hoàn toàn không hề chú ý đến tình hình chính trị của bọn họ. Dương Lăng tất nhiên biết tình hình quân sự trong nháy mắt có thể có vô số thay đổi nhưng nắm được tình hình chính trị của quốc gia khác từ trước đôi khi cũng có công hiệu bốn lạng bạt ngàn cân. Bởi vậy khi Ngô Kiệt thành lập thám mã ở quan ngoại thì y liền yêu cầu trọng điểm đặt ở phương diện chính trị kinh tế của người Thát Đát.

Những tin tình báo này ngay cả Chính Đức cũng không biết rõ, hắn không kìm được nghe đến nhập thần.

Dương Lăng tiếp tục nói:
- Thế lực của Hoa Đương (*) từ Liêu Đông trải đến tận Tuyên Phủ. Có bọn họ làm bình phong bên ngoài, các châu vùng Bình Loan sẽ rất ít bị Thát Đát quấy nhiễu. Nếu Hoàng thượng nắm giữ được bọn họ ở trong tay thì đó sẽ là một thanh đao sắc bén. Thêm nữa, nếu như khu vực Hà Sáo không ở trong tay chúng ta, đa số ngựa tốt Đại Minh cần nhờ Hỗ thành của Đóa Nhan Tam Vệ cung ứng cho nên nhất định phải tranh thủ được sự ủng hộ Đóa Nhan Tam Vệ, có chuyện gì xảy ra cũng không thể từ bỏ!
(*) Thủ lĩnh Đóa Nhan Tam Vệ

Chính Đức gật gật đầu, suy nghĩ một lúc lại lắc đầu, chần chờ nói:
- Bây giờ mới phục hồi quan hệ có phải là đã hơi muộn rồi không? Bọn họ lại chịu đồng ý công khai đối lập với Tiểu vương tử sao?

Dương Lăng giải thích:
- Không cần bọn họ xuất binh. Chính quyền triều Nguyên luôn thay đổi, luôn bất ổn. Chỉ cần chúng ta lấy quan to lộc hậu ra dụ, hứa gia tăng đáng kể tổng số lượng hàng hóa hai bên trao đổi tại Hỗ thành thì đương nhiên quý tộc Đóa Nhan sẽ động lòng. Đến lúc đó, chúng ta lại thi hành kế mọn với bọn họ, gây một ít tranh chấp giữa bọn họ và thế lực đang suy vi mà lại có cừu oán với bọn họ là Ngõa Thích Mông Cổ, để hai bên đánh nhau vài trận thì Hoa Đương nhất định sẽ không từ chối. Giữa hai bên và các bộ lạc mà Bá Nhan thống nhất đều có quan hệ thân thích, các bộ lạc kia tất sẽ phải dính dáng đến việc này. Lúc đó sân sau của Bá Nhan nổi lửa, hỏi hắn còn yên tâm dẫn quân đánh bên ngoài sao? Giữa hai phiên thuộc xảy ra chiến tranh thì kể như hắn tức không được mà giận cũng chẳng xong. Đến lúc đó chúng ta lại sử ra kế ly gián, Đóa Nhan cho dù không lập tức trở lại trong lòng Hoàng thượng thì cũng phải ngầm đánh tín hiệu một phen.

Chính Đức nghe xong liền cười ha hả, hắn nhếch miệng trừng mắt liếc nhìn Dương Lăng, ngẫm nghĩ một tí lại cười rộ lên, vừa cười vừa sẵng giọng:
- Ngươi thật biết ăn nói quá đấy! Nơi đó rặt một lũ vai u thịt bắp lông lá đầy người, còn nói trở về trong lòng trẫm nữa? Thật ghê tởm quá đi!

Dương Lăng cười hì hì đáp:
- Hoàng thượng, tái ngoại cũng có tiểu mỹ nhân đấy, người khí chất tuyệt vời có thể xứng với cái danh bông sen trên núi tuyết.

Chính Đức đời nào chịu tin, hắn cười rồi lắc đầu, nói:
- Được! Trẫm lập tức triệu tập sáu bộ, chọn lựa tướng soái.
Hắn liếc nhìn Dương Lăng, có ý để cho người mình tín nhiệm nhất dẫn quân ra trận nhưng lại không nỡ rời xa y, suy đi nghĩ lại đành phải thôi.

***

Bảy ngày sau, rốt cuộc đại quân triều đình cũng xuất phát. Chính Đức điều từ trong Đoàn doanh ra năm vạn tinh binh, để Miêu Quỳ của Tây xưởng làm Giám quân, Bảo quốc công Chu Huy làm Tổng binh, Đô ngự sử Sử Lâm làm Đề đốc.

Dương Lăng không biết vị Chu tổng binh này có bản lĩnh chỉ huy đánh trận như thế nào, nghe nói Lý đại học sĩ đề nghị để Dương Nhất Thanh vừa bị bãi chức đang nhàn rỗi nhận chức tổng binh, đáng tiếc lại bị đám Lưu Cẩn ngầm phá hoại.

Dương Lăng nhớ tới trong ngục còn giam giữ chủ sự Bộ binh Vương Thủ Nhân. Tuy rằng được mình chăm sóc nên hắn không hề cực khổ nhưng nằm dài chờ đợi ở chỗ kia cũng không hay, huống chi bản thân còn thiếu Vương Hoa một món nợ nhân tình. Nghe những lời mà Vương Thủ Nhân nhiều lần dâng lên cho Hoàng thượng thì có thể nhận ra hắn nhất định là một nhân tài về quân sự. Dương Lăng cũng đã nhắc tới hắn với Chính Đức, chỉ là chức quan của hắn quả thực quá nhỏ đồng thời cũng chưa từng tham gia chiến trận còn Lưu Cẩn lập tức nhớ tới vị tiểu quan này từng gọi thẳng hắn là kẻ quyền gian, cơn giận cũ vẫn chưa nguôi nên chuyện này tạm thời đành gác lại.

Có điều Chính Đức đã nhớ kỹ những lời dặn dò của Dương Lăng. Khi đăng đàn bái tướng, điểm binh, hắn lại hết lần này đến lần khác dặn dò bọn Miêu Quỳ không được chia binh tránh để địch lợi dụng cơ hội, phải tập trung quân lực nhằm tiêu diệt giặc Thát là chính, Chu Huy đều nhất nhất vâng dạ nghe theo.

Khi Chính Đức tập hợp các vị quan lớn của sáu bộ để cùng thương nghị kế sách dùng binh thì Thị Lang bộ Lại là Vương Ngao dâng lên tám phương sách chống địch: Định sách lược, trọng chủ tướng, nghiêm pháp lệnh, thương biên dân, quảng chiêu mộ, dùng ly gián, phân chia binh, đánh bất ngờ.

Bên trong đó có hư có thực. Định sách lược và nghiêm pháp lệnh giao cho bộ Lễ làm là được, còn nó đối với việc kháng địch ở tiền tuyến có hiệu quả hay không thì chẳng cần quan tâm làm gì, dù sao mỗi lần xuất binh đều phải có quá trình này.

Việc “trọng chủ tướng” đã được Dương Lăng bàn riêng với Chính Đức. Đối với việc này Chính Đức cũng không hồ đồ. Hắn hoàn toàn không tin những hoạn quan, thư sinh chưa từng đánh giặc lại so được với các đại tướng có kinh nghiệm cầm quân cho nên hắn nghiêm khắc khuyên bảo Miêu Quỳ, Sử Lâm không được can thiệp quá nhiều vào quân vụ.

Thương xót biên dân lại là việc sau khi chiến tranh kết thúc mà hiện giờ chiêu mộ binh lính cũng không kịp, còn chia binh lại trái với sách lược của Dương Lăng nên Chính Đức không chút nghĩ ngợi đã lập tức bác bỏ ngay.

Chính Đức đưa ra kế ly gián phân hoá Hỏa Sư và Tiểu vương tử, Lưu Đại Hạ tưởng đây là chủ ý của Chính Đức nên lập tức khen không dứt miệng. Chính Đức được đệ nhất võ tướng đương triều ca ngợi thì ngay lập tức lâng lâng như ở trên mây, hơn nữa hắn cũng không cảm thấy Dương Lăng là người ngoài nên liền mặt dày vui lòng nhận lấy phần công lao này.

Dương Lăng từ khi nhận được mật chỉ của Chính Đức thì nhiều ngày nay đang lên kế hoạch liên lạc Đóa Nhan Tam Vệ, ly gián nội bộ Mông Nguyên (3). Vài năm gần đây khúc mắc giữa thủ lĩnh Đóa Nhan Tam Vệ và triều đình nhà Minh rất sâu, mặc dù hứa cho lợi nhiều nhưng nếu như không có một người đủ cho Đóa Nhan Tam Vệ tin phục thì có lẽ sẽ rất khó được bọn họ tin tưởng.

Nhưng việc tiếp cận lôi kéo Đóa Nhan Tam Vệ không chỉ có lợi cho một trận chiến này nên Dương Lăng rất cẩn thận. Đồng thời nếu như toàn bộ bốn mươi sáu biến pháp của Lưu Cẩn bị gác lại, chẳng những Lưu Cẩn mất thể diện mà thế lực ngoại đình cũng vượt trội, đối với chính sách bỏ lệnh cấm thông thương của mình cũng gây ra ảnh hưởng rất nhiều.

Cho nên Dương Lăng chuyển sang thỏa hiệp, khuyên Lưu Cẩn giao sách lược biến pháp cho Tiêu Phương sửa chữa, trau chuốt, sau đó đệ trình lên để ba vị Đại học sĩ cùng thảo luận. Trong chính sách của Lưu Cẩn cũng có rất nhiều chỗ lợi, ví dụ như việc gia tăng quyền giám sát của bộ Hộ, chẳng những có ích với triều đình mà cũng có thể tăng cường quyền lực của bộ Hộ. Dương Lăng không tin ngoại đình lại bác bỏ toàn bộ, chỉ cần cho thi hành hơn chục điều thì trận phong ba giữa nội đình và ngoại đình liền có thể lắng xuống, danh vọng của bản thân cũng sẽ dâng cao.

Cũng vì như thế nên nhiều ngày qua Dương Lăng bận rộn tối mày tối mặt. Y phải nghe ngóng tình hình, sắp xếp chuyện của bản thân, đồng thời y không hề tin tưởng vị Đại tướng quân được phái ra này có thể đối phó với thế công mãnh liệt của Bá Nhan khả hãn nên y dặn dò Ngô Kiệt phái ra hàng loạt thám mã đi lại như mắc cửi liên tục mang tình hình hành quân và chiến đấu của quân Minh ở tiền phương đưa về. Bất cứ lúc nào y cũng chú ý đến tình hình tiền tuyến, nếu không vì lo lắng đến Ấu Nương vừa mới có thai thì ngay cả nhà mình y cũng không về.

Buổi trưa, Dương Lăng từ trong cung đi ra. Đến lân cận tây môn, y thấy bên đường có một người bán hàng rong đang bán một số quả khô trên chiếc xe đẩy tay. Những quả táo gai trông như mã não đỏ kia nhìn vô cùng hấp dẫn khiến người ta chỉ muốn ăn ngay, y vội dung chân đá đá vào vách kiệu.

Kiệu phu nghe tiếng liền dừng kiệu. Dương Lăng vén rèm kiệu bước xuống, mỉm cười bước đến vệ đường. Dấu hiệu nôn ọe của Ấu Nương vẫn chưa rõ ràng mà bình thường việc ăn uống cũng có người chăm lo chu đáo còn Cao Văn Tâm gần đây cũng chăm chỉ thăm nom, thường xuyên pha chế chút thuốc bổ cho nàng dùng. Những việc này vốn không cần Dương Lăng lo tới, nhưng hôm nay y thấy những trái cây này chín mọng đỏ rực, quả thực rất đáng yêu liền muốn tự tay mua về cho Ấu Nương một ít.


Hôm nay Dương Lăng mặc thường phục, có điều lại ngồi trên kiệu mà trước sau đều có thị vệ nên hiển nhiên là người quyền thế. Người bán hàng rong vội cúi đầu khom lưng cười hỏi:
- Khách quan, ngài muốn mua gì?

Dương Lăng nhón một quả táo gai lên, trái cây đỏ tươi như máu, quả thật càng nhìn càng muốn ăn. Dương Lăng vui vẻ nói:
- Bán cho ta độ năm cân táo gai đi, ồ, hạch đào kia cũng lấy năm cân.

Người bán hàng rong mừng khấp khởi gói kỹ hai bọc trái cây, Liễu Bưu bước lên phía trước thanh toán tiền. Đang lúc Dương Lăng quay người muốn đi chợt nghe phía trước ầm ĩ huyên náo, có một số người qua đường chạy ùa vào một ngõ hẻm. Dương Lăng không nén nổi nghi hoặc nhìn sang, hỏi:
- Xảy ra chuyện gì vậy?

Liễu Bưu lắc lắc đầu, quay đầu ra hiệu thủ hạ ở lại với đại nhân rồi thưa:
- Để ty chức đi xem thử!

Người bán hàng rong lại tặc lưỡi thở dài, lắc đầu nói:
- Ôi! Những tên du côn này lại đến gây rối rồi, đúng là không có lương tâm.

Dương Lăng ngạc nhiên hỏi:
- Chủ quán! Ông biết đã xảy ra chuyện gì sao?

Người bán hàng rong thấy y là một vị đại gia qua đường, nói chuyện lại ôn hòa liền đáp:
- Lão gia, ngài có điều không biết đâu, năm nay giặc Thát ở biên ải lợi hại lắm. Nghe nói bọn họ đánh chiếm thành trì so với năm trước nhiều gấp đôi, rất đông dân chúng nơi nơi chạy nạn, hai ngày nay đã có người chạy nạn tới kinh thành rồi.

Dương Lăng trong lòng trầm xuống, thất thanh:
- Dân chạy nạn đã vào kinh rồi sao?

Người bán hàng rong đáp:
- Sao có thể chứ? Lão gia là đại nhân vật ắt phải biết kinh thành này là vùng đất trọng yếu, sao có thể để cho đám đông ăn mày xin cơm, dân chúng chạy nạn vào thành kêu gào? Một khi có người thừa dịp lộn xộn gây loạn thì nguy mất! Lý đại học sĩ đã sai người dựng lều ở ngoại thành và ra lệnh cho bộ Hộ cung cấp củi lửa lương thực để vỗ yên nạn dân, phát động dân chúng quyên góp một ít quần áo, chăn mền. Có một số lão gia có lòng tốt cũng ào ào ra ngoài thành lập trạm phát cháo làm việc thiện. Trong ngõ hẻm nhỏ kia có một vị nương tử tạm trú, nàng đi ngang qua nơi này nhìn thấy nạn dân liền nảy ý tốt, cũng ở ngoài thành lập trạm phát cháo cứu tế dân chúng. Vài tên lưu manh trong thành nhìn thấy nương tử người ta xinh đẹp lại là người ngoại xứ bèn vin cớ cháo nóng làm bỏng tay của bọn hắn để không ngừng tới cửa làm phiền. Đây đã là lần thứ ba rồi.

Dương Lăng cả giận, nhưng cố nén, bảo Liễu Bưu:
- Đi, đi xem sao!

Dương Lăng dẫn đầu đi vào ngõ thì cả bọn thấy trước cửa một cái tứ hợp viện nho nhỏ có rất đông dân chúng đang vây quanh xem náo nhiệt, vài tên du côn ở trước cửa đang liên tục mắng chửi. Trước cửa có một tiểu nha đầu xinh xắn, hai tay chống nạnh, hai má tức giận đến đỏ rực, hai mắt giống như là muốn phun ra lửa, mặt quay về phía những tên lưu manh đang nói năng thô tục, hiển nhiên đang gắng sức kềm chế cơn giận.

Dương Lăng đang muốn bước tới mang mấy tên lưu manh vô lương lên quan tra xét, bên trong chợt bước ra một cô gái xinh đẹp mặc áo đỏ khoác áo choàng cũng đỏ rực. Đôi mắt to quyến rũ của nàng nhìn quét qua những tên lưu manh, đoạn hướng về phía những người chung quanh chắp tay thi lễ nói:
- Các vị hương thân phụ lão! Tiểu nữ là khách đi ngang qua kinh thành, nhìn thấy có nạn dân chạy đến tận đây, nghĩ trong túi mình coi như rủng rỉnh nên có lòng muốn cứu tế một chút. Mấy vị đại gia này làm khó dễ như thế chính là lễ tiết của dân chúng kinh thành đối xử với người khác xứ hay sao?

Những tên này là lưu manh nổi tiếng vùng lân cận, mặc dù dân chúng bình thường không ưa bọn chúng nhưng không ai dám mở miệng lên tiếng ủng hộ nàng. Một tên côn đồ cười dâm đãng nói:
- Tiểu nương tử, ngươi bố thí cháo là ngươi làm việc thiện, nhưng cháo nóng kia vô ý làm phỏng tay huynh đệ của chúng ta cho nên ngươi phải biết điều một chút mới đúng chứ?

Cô gái áo đỏ khoảng chừng hai sáu hai bảy tuổi, eo nhỏ mềm mại, khuôn mặt thanh tú xinh đẹp, hai mắt thật to, mũi cao xinh xắn, tuy miệng không phải anh đào nhỏ nhắn nhưng đôi môi no tròn gợi cảm, thực là rung động lòng người.

Lúc này tuy đôi mày thanh tú kia cau lại nhưng làn da nàng trắng như tuyết, chiếc cổ nõn nà trông vẫn vô cùng quyến rũ xinh đẹp. Nàng liếc tên du côn vẻ khinh miệt, thản nhiên hỏi:
- Vị đại gia này! Tiểu nữ không phải đã đưa ngươi năm lượng bạc làm tiền thuốc thang rồi sao?

Tên du côn cười ti tiện đáp:
- Tiểu nương tử, chỉ năm lượng bạc mà đã muốn đuổi bọn đại gia ta sao? Ngươi cũng quá coi thường khẩu vị của dân chúng kinh thành dưới chân thiên tử này rồi.

Cô gái áo đỏ mày liễu dựng ngược, đột nhiên quắc mắt nhưng không biết vì sao nàng lại vẫn tiếp tục nhẫn nại, không hề phát tác. Nàng cố nén lửa giận, lạnh lùng cười một tiếng rồi đáp:
- Được! Vậy tiểu nữ tử sẽ bồi thường đại gia mười lượng bạc ròng, phụ nữ chúng ta đi ra ngoài cũng không dễ dàng, xin các vị đại gia khoan dung cho một phen.

Nói xong cô gái áo đỏ liền lật cổ tay một cái. Tên du côn kia vừa ngây người ra một chút, một thỏi bạc ròng đã xuất hiện trong bàn tay gã. Liễu Bưu kinh ngạc hô lên một tiếng, ghé sát vào tai Dương Lăng thì thầm:
- Đại nhân! Cô gái biết võ công, hơn nữa công phu còn rất lợi hại!

Dương Lăng ừ một tiếng. Đã biết nàng kia có một thân võ nghệ, ắt sẽ không bị người ức hiếp, y cũng không lo lắng nữa. Lại thấy tên du côn nhón nhón nén bạc trong lòng bàn tay, liếc mắt qua huynh đệ đang đứng quanh rồi cười hì hì bảo:
- Tiểu nương tử, nàng thực là ngoan ngoãn đấy, có điều... bọn đại gia ta đây cũng không thiếu bạc.

Cô gái áo đỏ hơi nghiêng đầu một chút, vẻ như suy nghĩ, mắt vẫn không rời kẻ kia. Giữa đôi môi hồng lộ ra hàm răng chỉnh tề trắng tinh, nàng hơi cụp mắt rồi lại nhẹ nhàng ngước lên, đôi mắt hơi có ý cười, nhẹ giọng hỏi:
- Vậy đại gia rốt cuộc có ý gì vậy?

Dáng vẻ quyến rũ của nàng khiến lòng người xao động, tên du côn nọ càng bị vẻ đẹp của nàng làm cho lửa dục khó nhịn nổi. Bọn chúng nghe ngóng được người phụ nữ này là người khác xứ, ngoài việc có tiền thì hình như thân phận cũng không tính là cao quý nhưng trước mặt nhiều người như vậy vẫn không dám nói thẳng ra mục đích của mình.

Những tên du côn này hoàn toàn không chú ý đến việc tuy thiếu phụ lộ vẻ tươi cười nhưng trong đôi mắt lại thoáng toát ra một chút sát khí, nhất thời cất tiếng reo hò vui đùa ầm ĩ, nửa thật nửa giả đáp:
- Tay của đại ca bọn ta bị ngươi làm phỏng, Tiểu nương tử hãy tới chỗ chúng ta giúp đỡ chăm sóc đại ca. Khi nào đại ca hành động được tự nhiên thì ngươi sẽ có thể rời đi.

Thiếu phụ áo đỏ đột nhiên quắc mắt, gương mặt xinh đẹp rắn đanh lại, lạnh lùng nói:
- Thì ra là thế! Chắc hẳn mấy vị đại gia thấy ta là một nữ tử không có chỗ dựa, lại là người ở phương xa nên tưởng dễ ức hiếp phải không?

Nàng ta phất tay áo, xoay người lại bảo:
- Thúy nhi, tiễn khách! Còn kẻ nào làm bừa sẽ báo quan truy xét!

Tiểu nha hoàn kia sớm đã chờ đến bực bội, vừa nghe phu nhân dặn dò bèn lập tức bước nhanh lên trước, hùng hổ quát:
- Mấy tên du côn vô lại không biết điều này, cút ngay cho bà cô! Chớ có ở chỗ này làm ô uế đôi mắt của ta.

Tên du côn không giận mà cười dâm, tay nhằm trước ngực nàng chộp tới,:
- Cô bé này, nàng còn thú vị hơn chủ nhân của nàng nữa... Ôi chao! Ôi! Ôi! Buông tay...

Thiếu nữ kia vung tay chụp một cái đã bắt được cổ tay gã liền thuận thế hất mạnh khiến gã lảo đảo ngã văng ra xa. Mấy tên du côn bên cạnh vừa thấy vậy liền ngay lập tức chen nhau xông lên. Lúc đó chưa có vôi, cũng không biết bọn chúng dùng cái gì mà vừa vung tay một cái thì một chùm khói vàng đã tràn ra. Thiếu nữ kia không ngờ mấy tên du côn nho nhỏ lại mang bên người vật như vậy nên ngay lập tức bị che mắt. Nàng liền thét một tiếng, chân giẫm mạnh, thân thể mềm mại tựa như quả bóng da nhảy bật về bậc thềm phía sau, phản ứng vô cùng nhanh nhẹn.

Thiếu phụ áo đỏ đã đi lên bậc thểm nhưng thấy tình cảnh này thì cổ tay trắng như ngọc liền đưa ra giúp thiếu nữ ổn định thân thể rồi phóng người nhảy lên. Nàng không ngờ lại tựa như chim yến nhẹ nhàng nhảy lên hơn một trượng, xoạt một tiếng đã hạ xuống trước mặt đám du côn. Sau một tiếng thét đầy sát ý, nàng giống như mãnh hổ hạ sơn đứng tại chỗ vung chân ra chiêu. Mấy tên du côn vừa mới đến gần đã bị nàng tung cước đá bắn ngược trở về.





Chú thích:


(1) Phép dùng binh có chia ra hai lối cơ bản nhất, đó là chính binh và kỳ binh. Chính binh tức là phép đánh quang minh chính đại, dựa vào thực lực quân đội là chủ yếu. Kỳ binh là phép đánh dựa vào mưu kế, lấy các hiểm chiêu làm chủ. Ở đây tên chương có nghĩa là ra quân đồng thời sử dụng cả chính binh lẫn kỳ binh.

(2) Năm 1449 quân Ngõa Thích xâm phạm Trung Nguyên, vua Minh Anh Tông nhà Minh ngự giá thân chinh, bị quân Ngõa Thích đánh bại và bắt sống tại Thổ Mộc Bảo. Người Trung Quốc coi đây là một mối sỉ nhục lớn.

(3) Trong lịch sử, nhà Nguyên vẫn tồn tại cho đến năm 1635 khi vua Hậu Kim Hoàng Thái Cực xâm lược Mông Cổ và ép khan lúc đó là khan Ejei phải trao ấn đế triều Nguyên cho người Nữ Chân thì triều đại Nguyên mới kết thúc.


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

6300
21-03-2012, 09:37 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 167 Hoa đang thời nở

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: 6300

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng lẳng lặng ngắm nhìn nàng trong chốc lát, rồi chợt cúi xuống đỡ bên eo nàng, ôm lấy tấm thân nhỏ nhắn mềm mại của nàng dậy, rồi kề tai nàng khẽ cười nói:
- Tiểu yêu tinh, theo bọn Ngọc Nhi không học điều hay mà lại học dụ dỗ tướng công à.

Mặt Hàn Ấu Nương đỏ au, nàng 'ưm' một tiếng, hai tay bụm mặt, không dám nhìn y, cả người mơ mơ màng màng; Dương Lăng bế nàng đưa vào phòng ngủ.





Chương 167 Hoa đang thời nở



Tuy xuất chiêu trong lúc phẫn nộ, song cú đá của cô gái áo đỏ vẫn còn nương chân vài phần nên mấy tên vô lại bị đá văng ra ngoài, khi ngã xuống đất lại không hề cảm thấy đau đớn. Chúng thoáng ngẩn ra, cho rằng phụ nữ sức yếu, dũng khí lập tức tăng lên, thế là lại nhao nhao lao hét rồi nhào tới.

Thủ hạ của cô gái áo đỏ chỉ có nữ tì áo lục đang căm phẫn muốn xông lên tương trợ, nhưng mắt nàng đã bị mờ, lúc này nước mắt trào ra không ngừng. Mấy tay đàn ông ăn vận như phu khuân vác có vẻ chỉ được thuê đến phụ giúp, thấy mấy tên vô lại hung hãn như vậy thì đã sợ cứng người.

Thấy bọn vô lại này không biết tốt xấu, khuôn mặt của cô gái áo đỏ lộ vẻ khó xử, nàng khép ngón tay lại thành kiếm, thân hình mềm mại như một đám mây đỏ lướt qua mấy tên vô lại, ngón tay hoặc điểm hoặc đâm vào người chúng. Người nàng vừa lướt qua, năm sáu tên lập tức ngã gục xuống đất như bị điện giật, cả người run lên cầm cập, nhất thời cũng không còn sức bò dậy.

Đứng bên cạnh Dương Lăng, Liễu Bưu thấp giọng nói:
- Đại nhân, cô gái này biết công phu điểm huyệt thượng thừa, là cao thủ nội gia.

Dương Lăng kinh ngạc nhìn cô gái có hai đám mây hồng trên má đó rồi lại ngó mấy tên vô lại đang nằm quằn quại dưới đất; thấy bọn chúng co rúm người, mặt mày trông cực kỳ thống khổ.

Dương Lăng nhớ Hàn Ấu Nương từng nói công phu điểm huyệt là võ học thượng thừa cực điểm, cho dù phụ thân nàng học võ trên Thiếu Lâm hơn chục năm cũng chỉ được luyện công phu ngoại môn, không ngờ mỹ nhân yêu kiều thướt tha như cành liễu phất phơ trong gió đó lại biết được môn võ lợi hại này.

Có điều, đám vô lại bị đánh ngã lăn trên mặt đất kia dù quằn quại bất lực nhưng vẫn có thể cử động, chứ không phải đứng trơ như phỗng giống như y thường thấy trên TV trước đây; cũng không biết là do chỉ lực của cô gái này yếu hay điểm huyệt vốn dĩ là như vậy.

Y thấp giọng hỏi:
- Liễu Bưu, nếu như để huynh động thủ, huynh có thể khống chế được cô ta không?

Mặt Liễu Bưu thoáng đỏ lên, gã ngượng ngập đáp:
-Xem thân thủ của cô ta... nhiều nhất ti chức chỉ có thể chống đỡ được hai mươi chiêu mà thôi...

Dương Lăng dù không biết võ vẽ gì, nhưng y từng chứng kiến thân thủ của Liễu Bưu. Nhìn cô gái đó nhún người nhảy cao hơn một trượng, thân pháp tiến lui như gió, thi triển công phu điểm huyệt thượng thừa, y đoán chừng Liễu Bưu cũng chỉ có thể chống đỡ được tầm mười chiêu, nói hai mươi chiêu có lẽ là vì giấu ngượng nên cố ý thổi phồng thôi. Y cũng không muốn vạch trần nên chỉ cười khà.

Lại nghe tên thủ lĩnh của bọn vô lại đó hung tợn chửi rủa:
- Con đàn bà thối tha, ui da... mày đã dùng tà phép gì rồi. Nửa người của lão tử không cử động được nữa, lão tử quyết sẽ không bỏ qua... bỏ qua cho mày đâu.

Cô gái áo đỏ khẽ hếch chiếc mũi xinh xắn như ngọc, khinh thường hừ nhạt một tiếng, rồi đi đến bên cạnh tì nữ áo xanh cúi xuống ngửi một chút, sau đó mới yên tâm nói:
- Không có gì đáng ngại. Đi, ta đỡ em về lấy nước sạch rửa qua là được.

Chính vào lúc này, bên ngoài đám đông chợt có người nghênh ngang đi tới, dài giọng quát:
- Dưới chân thiên tử, kẻ nào dám gây rối ở đây? Bắt hết lại cho bản quan!

Đám đông chợt tách ra. Chỉ thấy mấy tên tiểu lại thuộc Ngũ thành binh mã ty cầm xiềng xích, giắt đao ngông nghênh đi tới. Tên thủ lĩnh đám vô lại trông thấy thì mừng rỡ, gọi to:
- Tứ ca! Mau bắt con ả này lại đi, nó dám đả thương đệ, lại còn đánh huynh đệ của tiểu đệ, hãy cho ả đi ăn cơm tù đi.

Gã đao khoái tuần thành* được gọi là tứ ca trừng mắt với hắn rồi đảo mắt quan sát cô gái áo đỏ. Tuy trông dung mạo nàng ta xinh đẹp, dáng người thướt tha, nhưng quần áo mặc lại không như các phu nhân gia đình giàu có, thế là gã cảm thấy yên tâm. Gã bèn cười dâm dật bước tới trước nói:
- Tiểu nương tử, trong kinh thành mà quấy phá đả thương người, tội đó không nhẹ đâu nhé. Đi thôi, theo bọn ta đến cổng nha môn một chuyến.
(* tuần tra trong thành)

Dương Lăng lắc đầu cười khổ. Tiết mục này quá quen mắt, song nghĩ cũng phải, mấy tên vô lại đó không chút kiêng dè dám khinh nhờn cô gái đất khách ngay dưới chân thiên tử như vậy, nếu không có quan hệ gì với người trong nha môn thì mới là lạ. Y cũng lười xem tiếp mặt mày của đám người đó, bèn đưa tay vỗ nhẹ vai Liễu Bưu rồi hất nhẹ cằm về phía trước. Liễu Bưu hiểu ý liền sải chân bước tới.

Cô gái áo đỏ nọ mới vừa nén giận nói: "Quan gia, rõ ràng là đám vô lại này ức hiếp..." thì Liễu Bưu đã mỉm cười bước tới trước nói:
- Quan sai lão gia muốn bắt kẻ nào vậy? Ta thấy ngài nên bắt mấy tên lưu manh vô lại này về nha môn đánh cho một trận mới phải đó.

Gã đao khoái tuần thành đó kiếm ăn tại kinh thành, biết rõ dưới chân thiên tử cao quan quý nhân rất nhiều, nên nghe xong thì không nổi trận lôi đình mà vung tay ngăn mấy tên vô lại đang rống miệng ầm ĩ, cẩn thận đánh giá Liễu Bưu một lượt, rồi nghi hoặc hỏi:
- Vị công tử đây là...?

Liễu Bưu hơi vén vạt áo bào lên để hắn nhìn rõ ngân bài giắt bên hông rồi cười nhạt bảo:
- Vị cô nương từ xứ khác này tốt bụng thí cháo cứu dân, mấy tên lưu manh vô lại này lại thấy sắc nổi lòng mà bắt chẹt sách nhiễu. Ta tận mắt chứng kiến, ngươi còn không tống bọn chúng vào ngục truy xét sao?

Gã đao khoái vừa nhìn thấy đó là yêu bài của Nội xưởng thì sợ túa cả mồ hôi lạnh, liền vội gật đầu khom lưng vâng dạ:
- Dạ dạ dạ, có đại nhân làm chứng, tiểu nhân còn có thể không tin sao? Tiểu nhân sẽ lập tức bắt bọn chúng về dạy dỗ.

Đoạn hắn nháy mắt với mấy tên thủ hạ của mình, mấy tay bộ khoái lập tức xông lên lấy xiềng xích cùm mấy tên vô lại kia lại. Tên thủ lĩnh của đám vô lại đó bèn trợn tròn mắt la lên:
- Kim tứ ca, sao huynh lại...?

Đầu gã đao khoái mướt mồ hôi lạnh, liền bước tới vả vào mồm hắn một bạt tai thật mạnh, đồng thời tức giận trừng mắt ngăn hắn tiếp tục nói năng bậy bạ, gằn giọng quát:
- Lôi đi, lôi tất cả về.

Bộ khoái vội kéo mấy tên vô lại ra khỏi đám đông, ở đằng sau Liễu Bưu cười nói với theo:
- Ngự sử tuần thành của thành tây là Thân Đắc Vĩ phải không? Trở về nói với hắn là rảnh rỗi bản quan sẽ đến xem thử hắn xử án công bằng ra sao. Nếu như bản quan vẫn thấy mấy tên vô lại này sinh sự nhiễu dân thì bản quan sẽ đến hỏi thăm hắn đấy.

Kim đao khoái nghe vậy thì sống lưng cứng đờ. Hắn vốn định đưa mấy gã bạn thân này đến chỗ không người rồi thả ra, song khi nghe lời này thì không còn dám lỗ mãng nữa. Hắn quay người lại cười gượng gạo đáp:
- Dạ, thành tây là khu vực do Thân đại nhân quản hạt ạ. Đại nhân yên tâm, tiểu nhân nhất định sẽ nghiêm trị mấy tên vô lại này không tha.

Thấy cảnh này cô gái áo đỏ có chút bất ngờ. Liễu Bưu vừa quay lại, nàng vội vái một lễ, dịu dàng nói:
- Đa tạ đại nhân chủ trì công đạo.

Khi nãy nàng thấy Liễu Bưu đứng sau lưng Dương Lăng, nay thấy mấy tên bộ khoái tuần thành đó khi gặp Liễu Bưu thì như chuột thấy mèo thì biết rằng thân phận của vị công tử trẻ tuổi này ắt càng cao thâm hơn nữa, vì vậy nói xong ánh mắt không kiềm được mà khẽ hướng về phía Dương Lăng.

Dương Lăng thấy làn thu ba hướng về phía mình thì mỉm cười gật đầu tỏ ý chào nàng. Nét mặt của cô gái áo đỏ thoáng cứng lại, ngỡ rằng tên cẩu quan này cũng nhìn trúng sắc đẹp của mình cho nên mới có ý lấy lòng, thế là không khỏi âm thầm hối hận mình nhất thời xúc động ra ngoài cứu tế nạn dân, kết quả kéo theo một đám bướm ong dập dờn.

Có điều, nàng và trượng phu đã có hẹn ước chờ nhau ở nơi này, lại không thể tuỳ ý rời đi, đành phải cố gắng cảm tạ Liễu Bưu rồi vội vã dẫn mấy người làm thuê và tì nữ lui vào trong sân nhà.

Thấy Liễu Bưu vẫn còn dõi mắt nhìn theo cánh cổng nhà người ta đang đóng lại đến xuất thần, Dương Lăng mỉm cười đi tới vỗ vai hắn khuyên:
- Đừng nhìn nữa, ta thấy cô nương nhà người ta hình như đã có chồng rồi.

Liễu Bưu gượng gạo đáp:
- Đại nhân lại nói đùa rồi. Trong thiên hạ biết công phu điểm huyệt đều là cao thủ nhất đẳng một vùng, cô gái này nhất định không đơn giản. Xem cô ta nén giận với mấy tên vô lại ngang ngược đó, hôm nay chúng ta tương trợ cô ta song cô ta lại e ngại dính dáng quan hệ với chúng ta, cho nên ti chức có điều nghi ngờ mà thôi.

Dương Lăng bị nhiễm tiểu thuyết võ hiệp nặng, cho nên nghe vậy thì cười bảo:
-Kỳ nhân dị sĩ trong dân gian rất nhiều, hơn nữa phần đông không muốn kết giao cùng quan phủ. Dẫu sao chúng ta cũng không thể vì người ta có võ công giỏi mà đâm ra nghi ngờ họ muốn kiếm chuyện, phải không nào? Huống chi cô ta còn phát cháo cứu dân, trên đời có cường đạo như vậy sao? Ha ha, đi thôi, chỉ cần cô ta không gây chuyện ở kinh thành, chúng ta cũng không thể vì nghi ngờ mà đi điều tra. Một khi tin tức lộ ra, vậy thực sẽ là trò cười cho người khác đó.

Dương Lăng trở về hậu viện trong phủ, thấy trong phòng khách đặt ba chậu than, trong phòng ấm như ngày xuân, khắp phòng giăng lụa chu sa đỏ. Hàn Ấu Nương, Tuyết Nhi, Ngọc Nhi, Cao Văn Tâm và Thành Khởi Vận, những mỹ nữ xinh đẹp quyết rũ, phong tình xuất chúng đang mặc áo chẽn vân nổi lụa Tô Châu, áo kép cân vạt gấm Tứ Xuyên đang tụ tập một chỗ, duyên dáng nói cười, mắt đẹp ngóng trông, thực như bước vào khu vườn đầy ắp hoa đẹp vậy.

Dương Lăng cười hỏi:
- Sao hôm nay rãnh rỗi tập trung hết trong phòng tán gẫu vậy?

Thành Khởi Vận sợ lạnh nhất, cho nên mặc cũng nhiều đồ nhất, nhưng trong phòng đặt ba chậu than, lại có nhiều người như vậy, khiến khuôn mặt mềm mại và trắng phau của nàng đỏ phừng phừng, nên lúc này đã cởi bớt áo bào ngoài, áo kép cân vạt cũng cởi bớt hai nút, lờ mờ thấy được chiếc áo bó ngực màu hồng nhạt. Khi thấy Dương Lăng bước vào, nàng liền cuống quít cài nút áo lại.

Dương Lăng chỉ kịp nhìn thấy một khe ngực trắng mịn mê người liền vội quay mặt đi chỗ khác, thấy Hàn Ấu Nương đang thu dọn mấy thứ trông giống như quần áo được bày ở trên bàn; trông kích cỡ thì hẳn là áo quần chuẩn bị cho em bé.

Ngọc Nhi và Tuyết Nhi thấy ánh mắt lão gia đặt trên Ấu Nương, biết rằng mấy ngày nay y bộn bề công việc, ngày thường không thể ở nhà với phu nhân, cho nên mỗi khi về nhà sẽ thường ở bên cạnh nàng ấy. Hai người rất là lanh lợi, bèn đãi bôi linh tinh vài câu rồi tìm lý do lui ra ngoài.

Hai người đi rồi, Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm càng không còn lý do gì để nán lại. Cao Văn Tâm đợi ở đây đã một ngày, chỉ gặp được Dương Lăng một chốc, ngay cả cơ hội nói chuyện cũng không có, thế là không khỏi ai oán liếc y một cái rồi cũng vái cáo từ, lui ra ngoài cùng Thành Khởi Vận.

Thấy mọi người đã ra ngoài, Dương Lăng đi đến hôn lên má Ấu Nương một cái, đặt cái bọc nàng đang cầm lên bàn rồi ngồi xuống chiếc ghế dựa, vòng tay kéo nhẹ chiếc eo thon của nàng, bờ mông tròn lẳng vênh vênh thuận thế sà lên đùi y. Dương Lăng ôm nàng vào lòng thủ thỉ:
- Ấu Nương, hôm nay có thấy mệt trong người không? Nếu mệt thì nghỉ ngơi nhiều một chút, đừng làm việc vất vả quá. Tiếc là hiện tại thời tiết không có trái cây tươi để ăn, đợi thêm chừng hơn tháng nữa, đợi cà chua trong hầm sưởi ra trái rồi sẽ cho nàng ăn nhiều một chút.

Y vừa thủ thỉ vừa lần bàn tay lên bộ ngực mềm mại của Ấu Nương xoa nắn. Hàn Ấu Nương yêu kiều thở hổn hển giữ tay y lại, giọng khẩn nài:
- Tướng công, chàng đừng... đang ở ngoài sảnh đó.

Dương Lăng cười nói:
-Tướng công nhớ nàng mà, Ấu Nương có thai được một tháng, tướng công còn phải đợi chín tháng... à... không đúng, phải gần một năm cơ, mới có thể thân mật cùng nàng.

Bị y xoa nắn, cặp nhũ hoa của Hàn Ấu Nương nhú cao, hai má đỏ bừng, thân thể nhũn mềm. Nàng yếu ớt víu lấy cổ Dương Lăng, kề tai y nói với hơi hướm ghen tị:
- Không phải là còn Tuyết nhi và Ngọc Nhi à? Mấy đêm hôm nay tướng công chẳng phải thường hay ngủ lại trong phòng bọn họ, người ta lại không thể... không thể hầu hạ tướng công.

Dương Lăng nói:
- Ta sợ nhất thời nhịn không được, làm động đến thai của nàng mà. Ừm... Ấu Nương đã muốn ta đi tiếp bọn họ, vậy tướng công đành đi tìm bọn họ thôi.

Nói đoạn y làm bộ như muốn đứng dậy. Tâm hồn ngây thơ của Hàn Ấu Nương cuống lên, vội vàng ôm chặt lấy cổ y, cái miệng nhỏ nhắn cũng rất cong lên hết sức không tình nguyện. Nhưng khi cặp mắt của nàng chạm với ánh mắt có phần ranh mãnh của Dương Lăng, nàng mới sực hiểu là đã bị y trêu đùa, thế là không khỏi ngượng chín mặt.

Nàng mím môi tựa nhẹ vào lòng Dương Lăng, hai chân hơi quíu lại, cặp mông vặn vẹo bên dưới khiến cho Dương Lăng bị kích thích. Ấu Nương cảm nhận sự biến hoá của y, nhịn không được bèn liếc y một cái, rồi thẹn thùng cúi đầu thỏ thẻ:
- Tướng công, Văn Tâm tỷ tỷ nói... nói... Ấu Nương khí huyết dư thừa, thai nguyên ổn định, nếu nhẹ nhàng một chút thì trong ba tháng đầu... vẫn có thể hầu hạ phu quân...

Đến đoạn cuối, nàng không nén được xấu hổ nên âm thanh đã lí nhí như muỗi kêu. Dương Lăng cũng bị vẻ e thẹn đến mê người của nàng gợi khêu lửa dục, nhưng lại không dám manh động, bèn vội lắc nhẹ đầu nói:
- Không được, không được, tướng công thực không dám. Ấu Nương còn nhỏ, thân thể vốn dĩ còn non nớt, tướng công thực không dám mạo hiểm. Nào, ngồi cạnh tướng công, để tướng công đập hạch đào* cho nàng ăn nhé, bổ não lắm đó.
(*quả óc chó)

-Ưm.

Hàn Ấu Nương xúc động khẽ rên lên, thân thể không nghe theo lời mà thoáng dao động, làn thu ba yêu kiều đã ngân ngấn nước, cặp nhũ hoa trước ngực bị xoa nắn cũng đã nhú cao, săn lại.

Dương Lăng thò tay vào trong bầu ngực nóng hừng hực như lửa của nàng, ngón tay đùa nghịch đôi đầu nhũ mềm như chiếc mào gà non, khiến thân thể của nàng run rẩy từng đợt.

Ánh mắt cháy bỏng của nàng ngước nhìn Dương Lăng, chủ động đưa lên tìm kiếm môi y hôn một cái thật sâu, sau đó kề gò má láng mịn của mình bên tai y, hổn hển:
- Người ta... cũng muốn tướng công yêu thiếp, tướng công có nhiều kiểu đa dạng như vậy... Cùng lắm thì người ta... người ta dùng cách khác để hầu hạ chàng mà.

Dương Lăng lẳng lặng ngắm nhìn nàng trong chốc lát, rồi chợt cúi xuống đỡ bên eo nàng, ôm lấy tấm thân nhỏ nhắn mềm mại của nàng dậy, rồi kề tai nàng khẽ cười nói:
- Tiểu yêu tinh, theo bọn Ngọc Nhi không học điều hay mà lại học dụ dỗ tướng công à.

Mặt Hàn Ấu Nương đỏ au, nàng 'ưm' một tiếng, hai tay bụm mặt, không dám nhìn y, cả người mơ mơ màng màng; Dương Lăng bế nàng đưa vào phòng ngủ.

. . .

Bước đi trên con đường nhỏ uốn khúc, Cao Văn Tâm cảm thấy có phần mất mát. Hiện nàng đã có thân phận tự do, nhưng Dương Lăng lại vẫn không hề có ý muốn rước nàng về nhà. Anh em trong tộc của nàng phản đối nàng không nói, bản thân nàng là một người con gái sao có thể không biết thẹn mà chủ động mở miệng gợi ý đây. Thấy thanh xuân phí hoài, mình đã sắp đến tuổi hai mươi, vậy mà chuyện chung thân đó...

Nàng khẽ thở dài, đưa mắt nhìn một gốc mai xa xa trong tuyết, cười đau khổ. Vừa bước ra khỏi cửa, Thành Khởi Vận vì sợ lạnh nên vội siết chặt chiếc áo khoác lại. Trông thấy Cao Văn Tâm đứng ngơ ngẩn ở đằng xa, nàng bèn đứng dõi nhìn Văn Tâm một chốc, trong lòng như có điều suy nghĩ, sau đó nhẹ nhàng bước tới gần.

Nghe tiếng bước chân, Cao Văn Tâm liền quay đầu lại, trông thấy Thành Khởi Vận nàng không khỏi ngạc nhiên hỏi:
- Thành cô nương, bên ngoài trời lạnh, sao còn chưa trở vào phòng?

Từ dạo lên đường hồi kinh, chứng kiến Thành Khởi Vận hết lòng hết sức bán mạng cho Dương Lăng, cộng thêm khoảng thời gian qua sống chung trong Dương Phủ biểu hiện của Thành Khởi Vận luôn rất đúng mực, cho nên Cao Văn Tâm đối với thái độ của Thành Khởi Vận cũng không còn nặng thành kiến nữa.

Thành Khởi Vận mỉm cười điềm nhiên, khẽ đáp:
- Cả ngày trốn trong nhà cũng cảm thấy rất chán. Tôi vốn dĩ thấy tài phú văn chương của mình không kém đấng mày râu, nhưng mấy ngày nay đại nhân vì triều chính mà bôn tẩu ngược xuôi, có rất nhiều kiến thức cũng không phải là thứ mà tôi có thể lý giải được.

Rồi nàng cười khổ sở nói:
- Dường như tôi thạo là âm mưu quỷ kế, nhưng trên triều đường địch ta phân chia, dương mưu chiếm đa số, chính kiến bất đồng căn bản không giấu được ai, tôi lại không thể ra sức được gì, thực sự đã trở thành kẻ nhàn nhã nhất của Nội xưởng.

Nàng thở dài một hơi rồi đảo mắt cười hỏi:
- Không biết Cao cô nương có nguyện ý đến phòng tôi ngồi một chút, tôi và cô đánh vài ván cờ được không?

Cao Văn Tâm lặng lẽ lắc đầu nói:
- Khí trời lạnh lẽo, không có tâm tình, tôi đi về trước. Thành cô nương cũng nên sớm trở về phòng đi, chớ để nhiễm phong hàn trở lại.

Thấy vẻ mặt nàng cô đơn, Thành Khởi Vận đột nhiên mỉm cười nói:
- Cô nương tư nhan xuất chúng, lại có chức vị ngự y thất phẩm trên người, cũng đã đến tuổi hai mươi, chẳng lẽ không lo chăn đơn gối chiếc, không muốn có người đàn ông tri âm bên giường bầu bạn đêm dài hay sao?

Khuôn mặt Cao Văn Tâm đỏ bừng, nàng thoắt xoay người nhìn Thành Khởi Vận, thấy ánh mắt nàng ta trong veo như nước, không có vẻ gì là trêu đùa, cơn tức giận vì thế giảm đi, nhịn không được bèn hỏi:
- Thành cô nương nói vậy là ý gì?

Thành Khởi Vận cười đáp:
- Chỉ là tôi không nỡ thấy cô nương đau khổ vì tình cho nên nói lời khuyên nhủ mà thôi.

Đoạn nàng siết chiếc áo choàng chặt lại một chút, rồi vươn bàn tay thanh mảnh ưu mỹ như bạch ngọc ra nhẹ nhàng vuốt ve một nụ hoa chực nhú ở đầu cành, giọng khe khẽ:
- Thực ra cô cũng chớ nên oán trách Dương đại nhân vội. Tuy rằng nam nhi tam thê tứ thiếp là chuyện hết sức bình thường, nhưng chưa đến tuổi hai mươi mà đã nạp ba người thê thiếp cũng không phải là ít. Y lại yêu thương kính mến phu nhân như vậy, cho dù có người con gái mà y ngưỡng mộ trong lòng, sợ rằng... Dù y có lòng yêu thích, cũng sẽ không động lòng rước vào trong nhà đâu.

Thành Khởi Vận khẽ co ngón tay lại rồi búng ra, nụ hoa thuận theo hướng ngón tay bay đi rồi nhẹ nhàng rơi xuống thảm tuyết trắng tinh. Cao Văn Tâm nhìn nửa nụ hoa hồng nhạt chôn dưới mặt tuyết xốp mềm đến xuất thần.

Chỉ nghe tiếng Thành Khởi Vận tiếp tục vẳng lại bên tai:
- Tuy nhiên... hiện tại đã vào nhà Dương đại nhân, theo y đến răng long đầu bạc, cô gái được như vậy so với những thiếu nữ mới lớn mà đám lão gia tuổi đã nửa trăm, râu tóc bạc trắng mới rước về thực may mắn hơn nhiều.

Vừa ngượng vừa giận Cao Văn Tâm giậm chân nói:
- Y có chịu nạp thiếp hay không thì liên quan gì đến ta? Thành cô nương rốt cuộc là muốn nói gì?

Thành Khởi Vận hứng thú đưa mắt nhìn vẻ thiếu nữ xấu hổ hiếm thấy của Văn Tâm, rồi mỉm cười nói:
- Từ xưa hôn nhân đều thuận theo ý cha mẹ, lời của người mai mối, nhưng hạnh phúc chân chính có thể được bao nhiêu? Người đàn ông tầm thường đương nhiên không thể lọt vào tầm mắt của cô. Nếu đó là người đàn ông tài cán, tương lai y lại sẽ khó tránh khỏi muốn nạp thêm vài thiếp thất có nhan sắc hơn cô.

Cho nên nữ nhân thông minh nên chọn gả cho người nam nhân chịu yêu tiếc và quý trọng họ, chịu đối đãi bình đẳng với họ, sẽ không vì tuổi già phai sắc mà đối xử lạnh nhạt với họ. Nhưng trên đời có mấy nam nhân được như vậy? Nếu như cô đã gặp được một người, lại tự than tự oán đợi người ta chủ động đến tiếp nhận cô, chẳng lẽ sự dè dặt còn quan trọng hơn cả hạnh phúc cả đời ư?

Cao cô nương, cô hãy suy nghĩ kỹ một chút, thảng như cảm thấy gả cho y không thể cho cô hạnh phúc, vậy thì hãy chóng vung thanh gươm lý trí chặt đứt sợi dây tình, tìm một phu quân khác, tránh tự rước phiền não vào người. Còn quả như trái tim đã gởi gắm cho y, chỉ cần chọc thủng lớp giấy này liền sẽ có thể đạt được hạnh phúc nhưng lại cứ thế mà bỏ qua cơ hội này thì cô sẽ hối tiếc cả đời đó.

Đoạn Thành Khởi Vận cất giọng xa xăm:
- Bướm ong chẳng chắc mến thương thầm, lòng đắng ngắt khi rời áo đỏ...(1)

Chợt nàng nhướng mày nói:
- Nữ nhân không phải chỉ là một đoá hoa vô tri vô giác, được ong bướm chiếu cố đến liền cảm thấy hạnh phúc vừa lòng. Cô có người trong lòng không? Nếu có thì chỉ đợi y tìm đến cô sao? Nữ nhân thì không thể lựa chọn phu quân cho mình sao?

Cao Văn Tâm nhìn Thành Khởi Vận chằm chằm một hồi, miệng mấp máy như muốn nói rồi lại thôi. Một lát sau nàng xoay người bước đi vội vã như trốn chạy về chỗ ở của mình.

Khuôn mặt trắng như bạch ngọc của Thành Khởi Vận từ từ nở một nụ cười xinh đẹp. Nàng đưa tay vịn lên một cành mai, nhẹ nhàng đưa mũi gần lại. Hoa đỏ héo tàn, kiều nhan như tuyết, trông đẹp không tả thành lời.
Thành Khởi Vận lười nhác đưa cánh hoa mềm mại vuốt ve gò má của mình, mỉm cười ngâm:
- ‘Hoa đang thời nở mau mau hái, chớ để hoa rơi lại bẻ cành’(2). Thường nói nữ nhân như hoa... nếu cũng coi nam nhân là hoa thì hình như mới công bằng...

Thành Khởi Vận đưa hai ngón tay búp măng thon dài ngắt lấy nhánh hoa, nhón một đoá hoa mai đã thành hình rực rỡ, nhìn chăm chú một chốc, trong mắt chợt hiện lên một nụ cười xảo quyệt và tinh quái.







Chú thích:

(1) Đoạn vô phong điệp mộ u hương, hồng y thoát tận phương tâm khổ. . .
Trích trong bài từ "Đạp Sa Hành" của Hạ Chú

(2) 'Hoa khai kham chiết trực tu chiết, mạc đãi hoa lạc không chiết chi'
Trích trong bài thơ "Kim Lũ Y" của Đỗ Thu Nương



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
25-03-2012, 09:43 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 168
Lời đồn về xuất thân của Hoàng đế

Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Dương Lăng cười ha hả:
- Không thể trách ta, ai bảo lúc trước cô.... À, có điều ta đã nghĩ thông suốt rồi, cô sẽ không làm thế đâu. Với tầm mắt tài tình của cô nương, sao lại đi làm việc đó chứ?

Thành Khởi Vận vụt quay đầu lại, ngạc nhiên ngước nhìn y, nhất thời tâm tình xao động, chỉ cần có lời này của Dương Lăng, mọi tâm huyết và nỗ lực của mình đều đáng giá.

Con tim tung tăng nhảy múa, nàng vui sướng đưa tay lên.




Chương 168
Lời đồn về xuất thân của Hoàng đế

------------------------

Hàn Ấu Nương ngả người vào lòng Dương Lăng thoả mãn, đôi má vẫn còn nóng hôi hổi.

Dương Lăng mơn trớn cặp mông trơn nhẵn của nàng, lơ đãng gọi:
- Ấu Nương!

- Dạ?
Hàn Ấu Nương khẽ đáp rồi ngước đầu nhìn y dò hỏi. Dương Lăng vỗ nhẹ bờ mông khuất dưới chăn của nàng, hỏi:
- Ta vừa sực nhớ nàng nói Văn Tâm bảo trong vòng ba tháng nàng vẫn có thể làm chuyện phòng the. Các nàng... trước giờ đều chia sẻ mọi thứ như vậy sao?

Hàn Ấu Nương rúc người vào lòng y cười thật tươi, nũng nịu như một chú mèo con:
- Văn Tâm tỷ tỷ sợ người ta bị mất lòng yêu thương của tướng công chứ bộ...

Dương Lăng vờ giận trách:
- Nói bậy, tướng công là người như vậy à?
Rồi y trừng mắt, khẽ búng mũi nàng, Hàn Ấu Nương kêu á lên một tiếng, chun mũi lại.

Dương Lăng gác đầu lên cánh tay, ngửa mặt lên trần nói tiếp:
- Tuy rằng nàng ấy là thái y nhưng suy cho cùng vẫn là cô gái chưa xuất giá, sau này nàng hãy hạn chế đề cập những chủ đề như vậy với Văn Tâm. Tuy các nàng là bạn gái thân thiết chốn khuê phòng song e là... cũng không thích hợp lắm.

- Đúng rồi!
Hàn Ấu Nương lật sấp người lại, nằm đè lên ngực Dương Lăng, mở to cặp mắt tròn xoe hỏi:
- Tướng công! Sang năm Văn Tâm tỷ tỷ hai mươi tuổi rồi. Ngày ấy, trước lúc ra pháp trường, khi kết bái thiếp đã từng nói sẽ nguyện tiếp nhận bọn họ vào nhà. Tướng công... không thích Văn Tâm tỷ tỷ sao?

Dương Lăng vỗ mông nàng một cái rồi bảo:
- Leo xuống, đừng đè lên bụng nữa!

Hàn Ấu Nương "í" một tiếng, le lưỡi rồi ngoan ngoãn bò xuống khỏi người y.

Dương Lăng ôm lấy nàng, dịu dàng:
- Ấu Nương! Nàng đương nhiên nghĩ rằng tướng công nhà mình là nam nhân tốt nhất thế gian, người con gái nào cũng phải được gả cho y mới sẽ có hạnh phúc. Nhưng người đàn ông tốt trên đời không phải là không còn, chẳng qua là nàng chưa có cơ hội gặp gỡ mà thôi.

Không thể so sánh Văn Tâm với Tuyết Nhi và Ngọc Nhi được! Có lẽ khi đó xuất phát vì lòng muốn báo ơn hoặc vì không còn sự lựa chọn nào khác nên nàng ấy mới thuận ý nàng gả cho tướng công. Nay Văn Tâm đã được khôi phục tự do lại có chức quan trên người, chưa hẳn đã không thể tìm được một người chồng tốt. Chẳng lẽ gả vào Dương phủ làm thiếp mới là sự lựa chọn tốt nhất cho nàng ấy sao?

Các nàng phải cho nàng ấy một cơ hội được cân nhắc kỹ lưỡng ở một góc độ mới, dưới một thân phận mới, chứ đừng mặt trong mặt ngoài ép nàng ấy coi mình là người nhà họ Dương để nàng ấy cũng phải nghĩ rằng gả cho ta là lẽ đương nhiên. Nói thật, nếu như không phải do trời xui đất khiến mà Văn Tâm trở thành nô tì của ta, có thể lúc này gặp mặt nàng ấy sẽ kính nhi viễn chi ta đó.

Hàn Ấu Nương trợn tròn mắt, hờn dỗi trách:
- Tướng công lúc nào cũng lý sự nhiều như vậy cả! Chàng nghĩ Ấu Nương mong muốn có thêm tỷ muội để chia sẻ chàng lắm sao? Nhưng mà cha nói rất đúng, hiện tại chàng đã làm quan rất to, nếu không nạp thêm thiếp thất thì cả chàng và thiếp đều sẽ bị người ta bàn tán sau lưng.

Hơn nữa, trong dòng họ Dương, nhân khẩu của nhà tướng công là ít ỏi nhất, tướng công lại là con duy nhất. Để nhà họ Dương này được hưng thịnh không phải chỉ là trách nhiệm của chàng mà cũng còn là trách nhiệm của thiếp. Tướng công luôn đối đãi tốt với Ấu Nương như vậy, đương nhiên Ấu Nương cũng thỏa lòng rồi.

Rồi nàng khẽ thở dài nói tiếp:
- Có lẽ chàng nói đúng. Nếu như ở những hoàn cảnh khác, chàng và tỷ ấy tuyệt đối sẽ không thể ở cùng nhau. Nhưng tỷ ấy gặp nạn lại được chàng cứu giúp, há chẳng phải là duyên phận sao?

Nghe nói Trương hoàng hậu tranh giành sự sủng ái duy nhất, không cho Tiên hoàng sủng hạnh nữ nhân khác. Kết quả khiến cho rất nhiều đại thần chỉ trích bà ấy là được cưng chiều mà kiêu ngạo, không biết suy nghĩ cho tông miếu xã tắc, khiến cho hiện nay dòng dõi của Tiên hoàng chỉ có mỗi đương kim Hoàng thượng. Còn có người nói...

Nàng hơi ngần ngừ, thấy sắc mặt Dương Lăng vẫn bình thản mới nói tiếp:
- Còn có người bảo rằng đương kim hoàng thượng là đứa con mà thái hậu nhận về nuôi do bị bá quan chỉ trích không thể hạ sinh hoàng tử, đây chính là một điều danh bất chính ngôn bất thuận. Hoàng hậu và thái tử cao cao tại thượng còn có thể vì những chuyện trong nhà mà bị người ngoài bàn tán xôn xao, Ấu Nương thực không muốn mang lấy cái tiếng đố phụ(*).
(*) người phụ nữ hay ghen, hay tị nạnh.


Dương Lăng biết mấy năm trước, khi tiên đế còn tại vị, trong triều từng vì chuyện này mà ầm ĩ một hồi, cho nên nghe Ấu Nương nói vậy thì y chỉ cười, định bỏ qua. Nhưng liền đó y lại chợt nghĩ nay Chính Đức đã lên làm Hoàng đế, tự khi nào dân gian lại lan truyền thứ lời đồn đại này? Dám bôi nhọ đương kim Hoàng đế ư?

Tuy là lời đồn đại này không chứng cứ, khi mình đến thời đại này thì cũng phát hiện nếu dân gian có tuyên truyền bậy bạ một ít lời đồn đãi vu vơ thì quan phủ cũng sẽ không quan tâm lắm. Nhưng nếu như xuất phát từ kẻ có lòng bày mưu đặt kế thì mục đích sẽ không còn đơn giản nữa.

Dương Lăng lờ mờ nhớ lại vụ Ninh Vương tạo phản dường như là có sử dụng đến tội danh này, thế là y không khỏi nhíu mày lại hỏi:
- Ấu Nương, nàng nghe ai kể chuyện này vậy?

Thấy sắc mặt y thận trọng, Hàn Ấu Nương không khỏi hơi phát hoảng, lắp bắp đáp:
- Ấu Nương... nghe nương tử nhà họ Nghiêm kể lúc đến nhà trò chuyện. Nghe nói rất nhiều học sĩ Hàn Lâm Viện cũng lén lút bàn tán về chuyện này, hiện nay trong kinh cũng đã loan truyền hết sức ly kỳ.

Dương Lăng ngẫm nghĩ một lúc. Ngô Kiệt chưa từng bẩm báo với y những tin tức về phương diện này. Lời đồn hoàng đế Chính Đức không phải là máu mủ của tiên hoàng đã tồn tại từ lâu, chắc hẳn bên phía xưởng vệ cũng không để ý lắm đến loại tin đồn như thế này.

Nhưng y lại biết việc thừa kế ngôi vua coi trọng nhất là danh chính ngôn thuận. Lúc tân hoàng vừa kế vị, Ninh Vương đã mang tặng một số lượng lớn đèn hoa pháo bông để chơi đùa, hôm qua hắn lại đưa hai mỹ nữ vào cung. Bản thân hắn ta là hoàng thúc, đấy há là đạo phò tá minh quân sao? Chẳng lẽ hắn đã chuẩn bị tạo phản? Lời đồn lan rộng này là do hắn tạo ra ư?

Dương Lăng vỗ vỗ trán, thầm nghĩ: "Xem ra phải căn dặn Ngô Kiệt chú ý kiểm tra nguồn gốc của những lời đồn đãi này mới được. Để tin đồn lưu truyền trong dân gian thì thực ra cũng dễ, nhưng để cho chuyện này cũng được đồn đãi, bàn tán trong Hàn Lâm Viện thì không thể nào là việc dân đen làm được. Rốt cuộc là kẻ nào đang truyền bá lời đồn đãi này?"

Thấy sắc mặt Dương Lăng nghiêm trọng, Hàn Ấu Nương bèn hỏi:
- Tướng công, có gì không ổn à?

Không muốn nàng lo lắng, Dương Lăng mỉm cười lắc đầu đáp:
- Ồ, không có gì! Ta đang nhớ đến việc này, hôm nay lúc từ trong cung trở về ta đã thấy có rất nhiều nạn dân chạy nạn từ biên tái đến kinh thành. Bọn họ thiếu ăn thiếu mặc, tuy có bộ Hộ chẩn tế nhưng e khó lòng chống chọi cho qua nổi mùa đông rét hại. Ta tính mai sẽ dẫn người đi dựng lều phát cháo. Trong nhà còn thóc gạo, quần áo không?

- A!
Hàn Ấu Nương ngồi bật dậy thất kinh hỏi:
- Năm nay nạn giặc Thát nghiêm trọng như vậy sao? Chốc nữa Ấu Nương sẽ đi đến nhà kho kiểm tra qua, chuẩn bị chút lương thực và quần áo, ngày mai sẽ cùng chàng ra ngoài thành phát cháo nhé. Tướng công còn phải lo liệu việc công, không thể phân tâm quá mức.

Dương Lăng vội kéo chăn đắp cho nàng rồi bảo:
- Mau nằm xuống đi, đừng để nhiễm lạnh. Đến lúc đó ta để Cao quản gia phụ trách là được rồi. Thành cô nương giỏi về điều hành, Văn Tâm biết y thuật, để hai người bọn họ thi thoảng đến thăm qua là đủ rồi, việc phát cháo không cần nàng đi đâu.

Đoạn y ôm Ấu Nương, cắn nhẹ lên bộ ngực mềm mại của nàng khiến nàng rên khẽ một tiếng yêu kiều, nhẹ giọng nói:
- Nàng đó, chỉ cần phụ trách nghỉ ngơi, giữ gìn thân thể cho tướng công để mai này sinh một đứa con bảo bối khoẻ mạnh kháu khỉnh là được rồi, đừng làm lụng quá sức.

****

Sáng sớm hôm sau, Dương Lăng chạy lên núi nghe ngóng tình hình liên lạc với Đóa Nhan Tam Vệ và tình hình chiến sự ở tiền phương.

Dân du mục coi dân nông canh là kho lúa và là đối tượng cướp bóc "hiển nhiên" của bọn họ. Cho dù đang khi song phương bảo trì quan hệ hoà thuận thì những chuyện như lúc thì giao dịch khi thì cướp bóc vẫn thường xảy ra như cơm bữa. Gặp khi cuộc sống đến bước đường cùng, Đoá Nhan Tam Vệ cũng thường đến vùng biên giới cướp bóc kiếm ăn, nhưng bọn họ cũng không dám quá đắc tội với Đại Minh: một là chú ý không giết dân thường, hai là tuyệt không ra tay cùng lúc với người Thát Đát.

Cho nên lần này người Thát Đát công chiếm biên tái, Đoá Nhan Tam Vệ lập tức ước thúc bộ hạ đóng cửa không ra, nghiêm ngặt bảo trì cự ly với Tiểu vương tử, tránh để Đại Minh hiểu nhầm rằng bọn họ cùng hành động chung với người Thát Đát.

Có điều người do Dương Lăng phái đi liên lạc với Đoá Nhan Tam Vệ lần này cũng phải gặp rất nhiều trắc trở; cho nên đến tận bây giờ vẫn chưa có tin tức gì về việc song phương đã liên hệ được với nhau.

Miêu Quỳ cùng Bảo Quốc công Chu Huy và Ngự sử Sử Lâm đã đến Đại Đồng. Cùng với hơn bốn vạn trú quân đã có sẵn, bọn họ liền có trong tay chín vạn nhân mã để đối đầu với bảy vạn quân địch. Cuộc chiến ác liệt với Thát Đát đã qua đến ngày thứ ba, quân Minh đã giành lại được hai toà thành trì. Tin tức đưa về cho biết đại quân đang khổ chiến cùng giặc Thát tại Hoa Mã Trì.

Quân Minh phải chia ra một phần binh lực để thủ thành trong khi giặc Thát lại không bị vướng bận bởi vấn đề này, vì vậy hiện tại binh lực song phương ngang nhau, đang trong thế giằng co. Trước mắt quân Minh vẫn chưa rơi vào thế thua.

Nghe báo cáo xong, cảm thấy hơi an tâm, Dương Lăng bèn dặn dò Ngô Kiệt phái thêm người đi điều tra nguồn gốc tin đồn Hoàng đế Chính Đức không phải là máu mủ của tiên đế, một khi có kết quả phải lập tức bẩm báo với y ngay. Sau đó y chạy đi xem đám Hỏa Giả Á Tam nghiên cứu chế tạo hỏa súng.

Khi Hỏa Giả Á Tam vừa nghe xong nguyên lý khắc thêm rãnh xoắn trong nòng súng khiến viên đạn chuyển động xoay tròn sinh ra lực ly tâm làm gia tăng tầm bắn thì gã liền hiểu ngay, có điều thực sự bắt tay vào làm mới thấy đủ thứ phức tạp.

Đầu tiên là chất lượng nòng súng không tốt lắm, về sau bọn họ phải chọn dùng tinh thép có giá thành cực cao. Thí nghiệm hỏng mất mấy trăm nòng súng bằng tinh thép họ mới đại khái lần ra được chút manh mối, nhưng công nghệ gia công như thế quá mức phiền hà khiến cho chi phí sản xuất loại súng như vậy còn tốn kém hơn cả làm đao bọc thép.

Song nhóm phụ trách nghiên cứu kết nối đầu đạn chung với việc kích nổ lại có được tiến độ rất lớn. Bộ phận phóng đạn được thay đổi hết sức khéo léo, hơn nữa việc nạp đạn đã được chuyển thành nạp từ phía sau.

Do không có máy dập tương ứng, chế tạo thủ công loại đầu đạn và thân đạn mà Dương Lăng nói vô cùng khó khăn, nhóm thợ bèn đổi sang dùng vỏ giấy làm kíp nổ, lấy đá lửa và hỗn hợp lưu huỳnh làm "ngòi nổ". Khi bóp cò, đá lửa đập xuống, đốt cháy ngòi nổ, kích hoạt thuốc súng bên trong viên đạn khiến viên đạn được bắn đi.

Bên cạnh đó, loại đạn sử dụng cũng được chuyển từ hình tròn thành hình thoi, đầu đạn có thêm ba khía giống như mũi tên, tầm bắn tăng lên gần mười trượng song lực sát thương tăng lên không chỉ ba thành. Hơn nữa tốc độ bắn lại nhanh hơn súng hỏa mai kíp đá lửa thông thường gấp mấy lần, gần bằng với tốc độ bắn tên.

Khuyết điểm của nó là tầm bắn vẫn còn ngắn hơn cung tên, nhưng bù lại là tuy độ chính xác vẫn còn hơi kém nhưng vẫn nhỉnh hơn tên bắn một chút. Quan trọng nhất là Dương Lăng căn dặn bọn họ không ngừng thí nghiệm điều chế thuốc súng, nên sau khi thử nghiệm nhiều lần, bọn họ đã chế tạo được loại thuốc súng tốt hơn; hỗn hợp ni-trát, lưu huỳnh và bột than theo tỷ lệ khoảng 7.5:1.5:1 thì đạt được hiệu quả phát nổ tốt nhất.

Xung lực phát nổ lớn, khói súng và bã thuốc súng cũng ít đi, ước chừng có thể bắn liên tục sáu mươi đến tám mươi phát đạn mà không cần phải lau chùi nòng súng. Trong khi đó một cung tiễn thủ lợi hại cỡ nào cũng không thể bắn liên tục được hai mươi mũi tên. Cho nên chỉ cần quân đội song phương tiếp cận thì dưới sự phối hợp và bảo hộ của binh chủng khác, đội hỏa súng ba hàng bắn luân phiên sẽ là một cơn ác mộng không thể chống lại.

Có điều vấn đề kẹt đạn của loại hỏa súng này vẫn chưa có cách giải quyết hoàn toàn, tính ổn định lại kém, có lúc lại bắn ra đạn lép. Dương Lăng quyết định mau lẹ, y lập tức chạy đi lôi nhóm Hỏa Giả Á Tam đang nghiên cứu rãnh nòng súng (lúc này cả bọn đã nghiên cứu đến mắt xanh biến thành mắt đỏ, tóc tai dựng đứng bù xù, thượng đế là ai cũng quên mất) đến tham gia vào đội ngũ nghiên cứu chế tạo vỏ đạn giấy và súng lắp đạn phía sau. Y bảo bọn họ hãy dốc sức nghiên cứu chế tạo loại vỏ đạn giấy trước, còn về phần rãnh xoắn thì nhất định cũng phải nghiên cứu nhưng tạm thời không vội.

Dương Lăng cho rằng trước khi các ngành nghề liên quan như luyện thép, máy móc, thiết bị tinh vi đạt tới năng lực sản xuất và khoa học kỹ thuật tương ứng mà y vẫn cưỡng ép phát triển súng ống tiên tiến hơn là điều không thực tế. Bản thân y lại không phải là kỹ sư vạn năng, nếu như việc đã không giải quyết được thì nên tạm thời buông bỏ thôi. Loại kỹ thuật này vẫn có thể tiếp tục được nghiên cứu, tin rằng nó cũng sẽ có tác dụng thúc đẩy những ngành nghề khác, nhưng không nên lấy nó làm phương hướng nghiên cứu chủ đạo.

Hồi nhỏ, Dương Lăng thấy một thằng bạn béo ở trong doanh trại quân đội mang một cây dao găm quân sự rất sắc bén ra khoe. Với bản tánh thông minh lanh lợi Dương Lăng bèn lấy một bộ truyện tranh "Bảng Phong Thần" ra dụ đổi lấy cây dao găm của nó. Đáng tiếc y cầm chơi được có mấy ngày thì đã bị người bố làm tiểu đoàn trưởng của người bạn béo đó đến nhà đòi lại mất.

Giờ nhìn cây súng kíp đã có hình dáng ban đầu, nhớ tới cây dao găm sắc bén có thể lấy máu giết người nọ, Dương Lăng bèn đề nghị lắp thêm lưỡi lê vào. Song nói cho cùng, súng kíp không tiện dụng như trường thương và mã tấu. Trong thế giới hiện đại song phương cùng cầm súng trường thì người cầm súng có gắn lưỡi lê chỉ cần dùng vài động tác đơn giản như hất, gạt, đâm là đã có thể giết người. Còn thời này, trước mặt kẻ địch chủ yếu sử dụng vũ khí lạnh thì việc gắn thêm lưỡi lê vào súng kíp chỉ là chuyện vô nghĩa.

Chỉ cần Dương Nhất Thanh cầm dao thực hiện vài động tác đâm chém đơn giản làm mẫu thì lập tức Dương Lăng bỏ qua ý định lắp lưỡi lê vào súng. Quyết định cuối cùng vẫn là sẽ chia thêm cho mỗi tay súng kíp một thanh đao giắt hông, đồng thời đội quân bắn súng sẽ liên hợp tác chiến cùng kỵ binh và các binh chủng bảo hộ khác.

Dương Lăng đi đến khu vực nghiên cứu chế tạo đang được trọng binh canh gác. Đứng trong ánh dương quang ấm áp đưa mắt nhìn những thôn xóm xa xa dưới núi, lòng y cảm thấy hơi ngậm ngùi: "Tiếc là Hoả Giả Á Tam không biết gì về hỏa pháo, còn mình thì ngoại trừ biết được cấu tạo đạn pháo và đạn của thời hiện đại chẳng khác nhau mấy, còn nguyên lý cơ bản của hỏa pháo thì lại không biết gì, bằng không bây giờ đã có thuốc súng uy lực mạnh hơn. Nếu chế tạo được hỏa pháo có lực sát thương cao hơn, trên chiến trường nhất định sẽ đánh đâu thắng đó."

Y hít một hơi dài, thầm nghĩ: "Nghe Hỏa Giả Á Tam nói quốc gia bọn họ đã nghiên cứu chế tạo được hỏa pháo lắp đạn phía sau. Nếu như có thể kiếm được một khẩu về nghiên cứu qua, có được chút gợi ý thì dựa vào tay nghề của những thợ thuyền này nhất định sẽ có thể chế tạo được súng ống lợi hại hơn. Tiếc là đường xá xa xôi, đến giờ vẫn chưa nghe nói có thuyền pháo của Phật Lang Cơ đến Trung Thổ quấy nhiễu."

"Hỏa pháo..." Dương Lăng chợt nhớ đến loại pháo cỡ nhỏ có giá đỡ ba chân mà người Nhật Bản sử dụng trong mấy bộ phim kháng chiến chống Nhật, rồi lại nhớ đến lựu đạn. Đó là những loại vũ khí xem chừng dễ chế tạo, dễ mang theo, uy lực lại chắc chắn lợi hại hơn nhiều so với loại súng kíp thông thường này.

Lúc còn ở trạm Kê Minh y từng thấy hỏa khí tương tự như lựu đạn thời hiện đại, có điều chúng quá cồng kềnh nên chỉ có thể dùng để ném từ trên thành xuống dưới đất. Hơn nữa sức công phá của thuốc súng lại không đủ cho nên không thể chế tạo vỏ bằng sắt.

Hiện tại thuốc súng cường lực đã có. Nếu như bọn y chế tạo được lựu đạn hình quả dưa có vỏ hình mai rùa dễ vỡ rồi trang bị cho mọi binh sĩ, tuy rằng công thành phá trại có chút khó khăn nhưng khi tác chiến ngoài đồng trống, loại sức sát thương khổng lồ đó nhất định sẽ có thể chống lại kỵ binh dũng mãnh của Mông Cổ. Hơn nữa những tiếng nổ lớn có thể khiến những con chiến mã Mông Cổ vốn chưa từng quen với hỏa lực hiện đại sẽ hoảng sợ. Chỉ cần người ngựa bọn họ rối loạn thì ưu thế về kỵ binh của bọn họ cũng sẽ không còn.

Nghĩ đến đây, Dương Lăng phấn khích định quay trở về nói với đám người Hỏa Giả Á Tam về ý tưởng của mình. Nhưng mới vừa đi được vài bước, y lại cảm thấy hiện giờ bọn họ đã quá hao tâm phí sức vào việc nghiên cứu chế tạo vỏ đạn giấy, cứ đợi bọn họ có thành quả rồi mới đưa một mục tiêu mới cho bọn họ vậy.

Dừng chân, Dương Lăng chắp tay sau lưng quay lại đi men theo bước tường đầu chái nhà. Vừa đi được vài bước, y chợt trông thấy ở xa xa cửa phòng của Ngô Kiệt hé mở, một thư sinh vận áo dài xanh bước ra ngoài quay người lại nói với Ngô Kiệt đang theo sau mấy câu gì đó, rồi chắp tay vái chào, đi thẳng đến viên môn.

Dương Lăng nhận ra người thư sinh là Thành Khởi Vận đang cải nam trang, trong lòng không khỏi giật đánh thót: "Thành Khởi Vận tự mình lên núi để làm gì?" Dương Lăng bèn rảo bước từ con đường bên đuổi theo, vừa kịp đến cổng chặn đường Thành Khởi Vận.

Trông thấy Dương Lăng, mặt Thành Khởi Vận thoáng hiện lên vẻ kinh ngạc. Nàng thoáng chần chừ rồi bước lên gượng cười chào:
- Ti chức ra mắt đại nhân!

Dương Lăng nghiêm ánh mắt hỏi:
- Cô... sao lại lên núi vậy? Đường núi đầy tuyết trơn trợt không dễ đi, trong quân lại toàn là đàn ông...

Khuôn mặt Thành Khởi Vận đã không còn vẻ hoảng loạn, nàng trấn tĩnh lại, khẽ cười đáp:
- Ti chức ở trong phủ cảm thấy nhàm chán, hôm nay trời rất ấm cho nên lên núi đi dạo một vòng. Mang thân phận là Nhị đáng đầu của Nội xưởng, suy cho cùng thì không thể không biết chút gì về nha môn của chính mình có phải không? Hì hì...

Dương Lăng mỉm cười, nói:
- Việc này thực sự là do bản quan sơ ý rồi. Đã đi tới những đâu rồi? Đại đáng đầu không đi cùng cô sao? Có muốn bản quan đi cùng cô tham quan khắp nơi một chút không?

Thành Khởi Vận có cảm giác được yêu mến quá mức nên hơi lo sợ. Nhưng khi ngẩng đầu nhìn thấy rõ ánh mắt chất chứa sự dè chừng của Dương Lăng, nàng thoáng nghĩ đến điều gì đó, liền không khỏi tức giận.

Nàng mím môi lại, thoáng hiện hai hàng răng ngọc trắng đều như bắp, rồi cất giọng yêu kiều đáp:
- Đa tạ đại nhân, chẳng qua là ti chức đi vãn cảnh mà thôi! Không phải là đại nhân phải ra ngoài thành bố thí lương thực sao? Ti chức đi chậm, xin phép về phủ trước đợi ngài vậy.

Nói đoạn Thành Khởi Vận duyên dáng vái chào cáo từ. Y phục xanh nhạt dễ thương cùng gương mặt xinh đẹp chỉ trang điểm nhẹ, nụ cười rực rỡ dưới ánh dương quang khiến người ta hoa mắt, thật là muôn phần tươi đẹp.

Trong lúc Dương Lăng thoáng thất thần, Thành Khởi Vận đã nhướng mày, liếc nhanh y rồi khoan thai xuống núi.

Thành Khởi Vận lướt ngang qua người Dương Lăng. Tuy cải nam trang, song nàng lại cố ý bước đi kiểu phụ nữ, eo mảnh khoan thai, dáng người tha thướt, vẻ liếc mắt trông vô cùng mê người. Nàng vừa đi qua, một mùi thơm thoang thoảng kéo ngay đến, khiến Dương Lăng cũng lay động tâm tình, khởi lên bao ý niệm!

Dương Lăng ngạc nhiên đưa mắt nhìn theo bóng lưng nàng ta. Người con gái này bình thường thì có vẻ hoàn toàn vô hại, song nếu nàng ta đã định tâm cám dỗ thì với sắc đẹp, dáng điệu, tâm kế và thủ đoạn của nàng, quả thực chả có mấy người không bị lung lạc. Chẳng lẽ ngay cả Ngô Kiệt đã đến tuổi ”tri thiên mệnh” (tuổi năm mươi) cũng không kháng cự được sự mê hoặc của nàng ta?

Dương Lăng muốn đi hỏi Ngô Kiệt, song lại cảm thấy khó mà mở miệng. Chần chừ hồi lâu, y chợt nhớ lại cảnh ngày trước khi Chính Đức đến thăm, chính y cầm kiếm đe dọa đã khiến Thành Khởi Vận phải sa lệ. Rốt cuộc y đành khẽ thở dài rồi đi theo nàng ta xuống núi.

Đi đến trước sườn núi, Thành Khởi Vận đưa khoé mắt khẽ liếc về phía sau, thấy bóng dáng Dương Lăng đang chậm rãi theo sau lưng, nàng tựa cười mà như không cười, quay đầu lại thong thả nhiếc khẽ: "Tiểu oan gia, người ta vì ngươi mà lo sống lo chết. Còn ngươi thì sướng rồi, không biết thông cảm thì thôi, còn đi nghi ngờ người ta cám dỗ này nọ, hừ! Ngươi mắc nợ ta, sớm muộn... sớm muộn rồi có một ngày ta sẽ bắt ngươi trả hết cho ta."

Nàng oán hận vung chân đá bay một cục đá nhưng lại trượt chân ngã ngồi oạch xuống đất. Thành Khởi Vận tức giận đập mạnh tay xuống mặt đất, nhưng băng tuyết chạm vào tay lạnh buốt, thế là lại vội rụt về. Đúng lúc này, Dương Lăng đã đi đến bên cạnh, mỉm cười đưa tay ra.

Thành Khởi Vận liếc y một cái, giận dỗi quay ngoắt đầu đi, bảo:
- Chẳng phải đại nhân hoài nghi ti chức dụ dỗ Ngô lão đầu sao? Sao không đi hỏi cho rõ?

Dương Lăng cười ha hả:
- Không thể trách ta, ai bảo lúc trước cô.... À, có điều ta đã nghĩ thông suốt rồi, cô sẽ không làm thế đâu. Với tầm mắt tài tình của cô nương, sao lại đi làm việc đó chứ?

Thành Khởi Vận vụt quay đầu lại, ngạc nhiên ngước nhìn y, nhất thời tâm tình xao động, chỉ cần có lời này của Dương Lăng, mọi tâm huyết và nỗ lực của mình đều đáng giá.

Con tim tung tăng nhảy múa, nàng vui sướng đưa tay lên. Dương Lăng nắm lấy bàn tay xinh xắn mềm mại của nàng kéo dậy, nhưng y lại buông thêm một câu rất không hợp thời:
- Nếu như cô nương có lòng muốn trèo cao thì ngày đó ở trước mặt Hoàng thượng đã không giữ khuôn phép như vậy. Cho nên cho dù cô nương có muốn cám dỗ ai đi chăng nữa, cô cũng sẽ không cám dỗ Ngô lão. Có lỗi, có lỗi!

Thành Khởi Vận vừa nghe thì giận đến bốc khói, nàng hất tay Dương Lăng ra, cả giận la lên:
- Ngươi... ngươi... ngươi... ngươi cố ý có phải không? Ta tham công danh lợi lộc đến vậy sao? Nhất định phải có lợi ích thì mới chịu thật lòng đối đãi với người ta ư?

Đoạn nàng căm hận quay người bỏ đi. Nhưng do bước vội, đôi giày da hươu lót nhung bị trượt, nàng lại ngã bệch xuống đất, mông đập trúng một cục đá đau điếng khiến nàng trào nước mắt.

Dương Lăng bước ngang qua, ánh cười trong mắt. Thành Khởi Vận thấy ý cười trong mắt y, nhất thời trong lòng dấy lên một nỗi bi thương, đau đớn nói:
- Ta muốn về nhà, ta muốn về phương nam. Ngươi luôn gây khó dễ cho ta, ngay cả tuyết ở đây cũng ăn hiếp ta.

Dương Lăng mỉm cười kéo nàng dậy:
- Đường núi vốn trơn trợt, lúc tôi lên núi còn bị ngã một lần đó, hà cớ gì cô lại trút giận sang người khác? Nào, để tôi dìu cô xuống núi. Ờ... dù gì đi đường không có việc gì làm, cô có thể kể cho tôi nghe rốt cuộc cô tìm Ngô lão để làm gì không?

Mới vừa được kéo dậy, nghe y nói vậy thì Thành Khởi Vận không nhịn được phì cười, một lúm đồng tiền thoáng hiện lên rồi biến mất. Ngay lập tức nàng nhanh chóng che giấu nụ cười, liếc y đáp:
- Không nói! Dù gì thì ta cũng là đồ vô dụng trong mắt ngài, nếu không dụ dỗ con nít thì là dụ dỗ ông già. Ngài có chiêu gì thì cứ dùng đi, nói không chừng khi trường kiếm kề lên cần cổ này rồi, cái gì nên nói cái gì không nên nói ta cũng sẽ khai ra hết đó.

Mũ ô sa của Thành Khởi Vận hơi lệch sang một bên, tóc lộ ra ngoài. Thỉnh thoảng có cơn gió thổi qua, một vài sợi tóc phơ phẩy nhẹ lên mặt Dương Lăng; nhột nhạt, thơm ngát...







Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
29-03-2012, 06:57 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 169
Đạo tặc Dương Hổ


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Cao Văn Tâm thấy rõ y đã động tâm song lại “rút chân về”, nàng cả giận hét lớn:
- Chưa quên! Tiểu tì vẫn nhớ rõ những gì lão gia đã nói. Nếu ngày này năm sau lão gia bỏ mạng dưới suối vàng, tiểu tì sẽ kết bái huynh muội với lão gia trước linh vị của người, nhược bằng lão gia có thể may mắn không chết thì sẽ phải đội khăn gả cho tiểu tì!




Chương 169: Đạo tặc Dương Hổ


Phủ đệ của Dương Lăng không tích trữ nhiều quần áo cũ và lương thực cho nên y phải cho người vào nội thành mua thêm hai xe ngũ cốc đưa ra ngoài cửa thành tây. Tại đây, y cho dựng lều phát cháo hai lần một ngày. Ở đấy có tổng cộng bốn gia đình dựng lều thí cháo; ngoại trừ lều cháo của vị thiếu phụ áo đỏ nọ thì còn có lều của một vị phú thương Giang Nam đến kinh thành buôn bán và của một vị đại tài chủ bản địa.

Bốn nhà dựng lều thành một hàng, treo cờ trước quán để phân biệt; lần lượt là "Dương, "Dương", "Trâu", "Lý". Những người nông dân áo quần rách rưới, gầy trơ xương chạy nạn trú đông trong những chiếc lều dựng sơ sài của bộ Hộ dường như đã thích ứng với mùa đông giá rét cho nên có rất ít người ngã bệnh.

Sau khi đi đến vài gia đình kê toa biếu thuốc cho những vị lão nhân kém sức ngã bệnh, Cao Văn Tâm trở về lều nhìn xung quanh rồi nói với Dương Lăng:
- Đại nhân! Nhà bên trái cũng họ Dương đó, không ngờ vị thiện nhân này lại là người cùng họ với đại nhân.

Lúc nãy khi Thành Khởi Vận và Cao quản gia dặn dò gia nhân đang tham gia phát cháo tại đây, Dương Lăng đã đi xem xét chung quanh. Y biết Trâu gia ở lều bên phải hình như là cự phú ở thành Vô Tích thuộc Giang Nam, ông chủ họ Trâu tên Vọng. Chỉ riêng ruộng tốt ông ta đã có tới ba mươi vạn mẫu, nô bộc ba nghìn, dinh thự hơn trăm tòa, có thể nói là giàu nứt đố đổ vách.

Lần này Trâu Vọng vào kinh làm ăn, thấy nạn dân chạy đến kinh sư thế là đại phát thiện tâm, phái gia nhân phát cháo cứu tế ở đây, nhà ông ta giàu có nên có thể phát cháo ba lần một ngày. Lúc này là lượt phát cháo vào giữa trưa, tất cả nạn dân đang xếp một hàng dài trước lều của nhà họ Trâu chờ được thí cháo.

Cũng may những nạn dân đứng đó ngăn trở tầm mắt nên Cao Văn Tâm không thấy được nhà họ Lý ở tận cùng bên tay phải chính là nhà của Lý Kế Mạnh từng có hôn ước với nàng, do đó cũng tránh được nhiều điều khó xử.

Dương Lăng lo lắng chốc nữa nạn dân tản đi, Cao Văn Tâm chạm mặt với người nhà họ Lý sẽ sinh chuyện, bèn đáp:
- Ừm! Nhà đó cũng là người ở địa phương khác đi qua kinh sư, họ bỏ tiền cứu trợ bá tánh như vậy thực sự là gia đình tích thiện.

Rồi y nhìn Thành Khởi Vận đang sưởi ấm trước nồi cháo đang dần tắt lửa, mỉm cười nói tiếp:
- Tôi vốn vẫn hơi lo, giờ thấy những nạn dân này tuy ăn không đủ no nhưng ai nấy đều tuân thủ pháp luật, không ai dám đánh cướp lương thực. Chốc nữa cô và Thành cô nương hãy về phủ trước đi, nơi này giao cho Cao quản gia lo liệu là được rồi.

Thành Khởi Vận lạnh đến mũi ửng đỏ, hai má tê rần, nàng sụt sịt nói:
- Nơi này lạnh thật. Ti chức đã có lửa sưởi ấm mà còn lạnh không chịu nổi, thực không tưởng tượng được những người dân đó làm sao sống cho qua được mùa đông. Đại nhân nên phát động thêm nhiều gia đình giàu có ra tay phát chẩn. Những gia đình đó đều có của cải hàng vạn, một nhà giúp đỡ mấy chục nhân khẩu qua mùa đông thực dễ như trở bàn tay.

Ngoài ra, những người chạy loạn này tuy bần cùng đáng thương nhưng phần lớn vẫn còn sức lực, hơn nữa trong đó không thiếu hạng ăn no lười biếng; mấy tháng tới không thể cứ dựa dẫm vào người khác nuôi ăn, bọn họ vẫn có thể làm phu khuân vác hay nô bộc được. Không bằng đại nhân tổ chức tập hợp một số thanh niên khoẻ mạnh lại, cho bọn họ vào thành làm việc. Một là để họ có thể kiếm được chút ít tiền công, hai là cũng để tránh bọn họ không có việc gì làm, ở không lâu ngày lại sinh ra những chuyện bắt gà trộm chó lôi thôi.

Dương Lăng bật cười lớn bảo:
- Nói đúng lắm, ý tưởng này không tệ. Chốc về ta sẽ ghé thăm Thành Quốc công và Thọ Ninh hầu. Hai người này một là huân khanh một là quốc thích, nếu thuyết phục được hai vị ra mặt cứu tế, tiếp đó lại để triều đình và dân chúng ca tụng công đức một hồi thì những hào môn cự phú khác nhất định sẽ hưởng ứng thôi. Ta sẽ lại thương nghị cùng Lý đại học sĩ, bảo Ngũ thành binh mã ti đăng ký những nạn dân này vào sổ, sau đó chọn những thanh niên khoẻ mạnh, gia thế thanh bạch để phát giấy cho phép vào thành làm việc.

Nói xong, thấy Thành Khởi Vận đang nép sát người bên bếp lửa như một chú chim cun cút, y bật cười bảo:
- Có lạnh đến vậy không? Hay là cô hãy vào trong kiệu một lát đi, lấy áo khoác của ta trùm cho ấm người.

Y đang nói chợt thấy một thợt ngựa bờm vàng từ trong cổng thành phóng nhanh lại. Người kỵ sĩ rẽ qua góc thấy lá cờ lớn chữ ”Dương” treo trên lều, khom người nhìn vào trong lều mấy lượt rồi lại quất ngựa phi về phía lá cờ chữ “Dương” còn lại.

Gã phóng ngựa có phần vội vã, một thanh niên ngoài hai mươi mới vừa lấy cháo về, vì vội tránh ngựa nên phải nhảy sang một bên bị trượt chân, bát cháo lập tức bị đổ mất một nửa. Người thanh niên đỏ bừng mặt giận dữ, cất tiếng mắng người kỵ sĩ.

Gã kỵ sĩ trên ngựa vung tay vất lại một xâu tiền đồng xuống tuyết, cất giọng trong tiếng cười vang:
- Đắc tội đắc tội! Ngươi hãy tự đi mua chút gì ăn đi, ta đang có việc gấp.

Gã trạc trên ba mươi tuổi, râu quai nón rậm rì trông rất thô kệch. Hành động tuy vô lễ song xem ra vẫn biết thương mến quý trọng những người dân cùng khổ này.

Nhưng người thanh niên nọ vận bộ áo dài màu xanh cũ nát, mặt trắng mày dài, nho nhã lịch sự, xem ra có vẻ cũng là kẻ từng đọc sách, làm sao lại chịu cúi đầu nhặt lấy từng đồng tiền trên mặt tuyết như ăn xin chứ. Hắn hừ một tiếng, thấy trong bát cháo vơi còn non nửa, bèn vội cẩn thận bưng đến một lều cháo.

Thành Khởi Vận thấy vậy thì cười khinh miệt nói:
- Xin cháo không phải là xin à? Nếu thực sự không ăn đồ bố thí thì cứ chết đói cho xong!

Cao Văn Tâm lại nhìn theo thư sinh áo xanh nọ với vẻ đồng tình:
- Vậy cũng không hẳn! Phát cháo là thiện tâm, người gặp nạn tiếp nhận chút hỗ trợ cũng đâu có gì là mất mặt! Nhưng gặp phải chuyện sỉ nhục, là người hơi có khí phách thì sao lại chịu tiếp nhận?

Thành Khởi Vận cười châm chọc:
- Người kỵ sĩ vừa rồi tuy có cử chỉ thô tục, nhưng đụng đổ cháo của hắn xong đã trả lại tiền đồng chẳng phải là nhận lỗi đó sao? Trong lòng hắn cảm thấy khó chấp nhận chuyện cúi mình khom lưng chẳng qua là vì chỉ có một mình hắn cúi mình khom lưng thì sẽ mất mặt mà thôi. Nếu như bên cạnh cũng có một đoàn người che chắn cho hắn giống như lúc hắn bưng bát đi xin cháo thì hắn sẽ không còn thanh cao như vậy đâu.

Cao Văn Tâm vừa định biện bác thêm thì Dương Lăng đã cười bảo:
- Thôi đi! Quan điểm về giá trị của hai cô hoàn toàn bất đồng, có tranh luận thêm cũng sẽ không ra kết quả gì đâu.

Thành Khởi Vận chớp mắt, ngạc nhiên hỏi:
- Quan điểm về giá trị?

Dương Lăng sực nhớ mình đã lỡ lời, đang ấp úng không biết nên giải thích thế nào thì thớt ngựa bờm vàng nọ lại phi trở về, bên cạnh có kèm thêm một con tuấn mã màu trắng lực lưỡng, trên ngựa là một phụ nữ xinh đẹp áo đỏ như lửa. Nàng vừa phóng ngựa vừa hỏi vội:
- Thật là vô dụng, làm sao mà Hổ ca của ngươi lại bị thương vậy? Đã đưa đến đâu rồi?

Gã râu quai nón thô kệch bên cạnh oang oang giọng đáp:
- Tiểu đệ vào thành tìm chị dâu trước, Hổ ca cũng sắp vào thành rồi.

Ngựa lướt ngang qua, người phụ nữ áo đỏ mắt tinh như điện trông thấy Dương Lăng đang đứng trước lều, hiển nhiên nàng vẫn nhận ra hình dạng của y nên tỏ vẻ hơi ngạc nhiên. Nhìn thấy trên lều treo lá cờ to chữ “Dương”, nàng không khỏi mỉm cười duyên dáng khẽ gật đầu chào y rồi lướt ngựa qua như một cơn gió.

Thành Khởi Vận chống tay dưới cằm, đảo mắt hỏi:
- Thuật cưỡi ngựa của vị nương tử áo đỏ ấy thật cao. Đại nhân quen biết cô ta à?

Dương Lăng lắc đầu đáp:
- Cô ta chính là bà chủ của lều nhà họ Dương phát cháo bên cạnh. Hôm qua có mấy tên vô lại trêu ghẹo cô ta, ta đã được chứng kiến cô ta ra tay, thật là võ công hết sức cao cường. Liễu Bưu từng nói rằng bản thân gã không thể tiếp được hơn hai mươi chiêu của cô ta.

Thành Khởi Vận chợt ngồi thẳng người dậy, lẩm bẩm:
- Nương tử áo đỏ, võ nghệ cao cường. Đại nhân nói... cô ta họ Dương? Vừa nãy bọn họ nói gì ấy nhỉ, ti chức hình như nghe thấy nói Hổ ca gì đó?

Dương Lăng cười nói:
- Có lẽ là cô ta họ Dương, cũng có lẽ nhà chồng họ Dương. Không biết Hổ ca trong miệng bọn họ là anh trai hay là chồng của cô ta.

Thành Khởi Vận chợt nhíu mày lại, nghi ngờ nghĩ bụng: "Sẽ không trùng hợp đến vậy chứ? Đạo tặc Dương Khóa Hổ(1) dám vào kinh thành?"

Hai thớt ngựa một vàng một trắng chạy ra đón chưa xa, đằng trước đã có mấy thớt ngựa và một chiếc xe ngựa chạy tới. Song phương dừng lại trò chuyện một chốc rồi liền cùng quay trở lại. Dương Lăng đứng dưới lều quan sát đội nhân mã đó. Thành Khởi Vận cũng đứng dậy, bó ống tay áo tiến đến, cùng với Cao Văn Tâm đứng hai bên y.

Đội nhân mã càng lúc càng đến gần, Dương Lăng thong thả bước ra mấy bước, đứng ở ven đường. Đội xe ngựa đến gần, người phụ nữ áo đỏ chợt kêu lớn:
- Hà Cương! Đi gọi Thúy Nhi dọn lều cháo đi, ta đưa Hổ ca của ngươi về thành trước.

Lều phát cháo của Dương Lăng dựng bên rìa quan đạo cạnh thành. Chiếc xe ngựa trờ tới gần, rèm xe được vén lên, một người trạc bốn mươi thò đầu ngó ra ngoài, nhìn thấy cổng thành nguy nga đồ sộ thì mừng rỡ kêu lên:
- Dương huynh đệ, nơi này chính là kinh thành ư?

Gã vừa đảo mắt liền trông thấy Dương Lăng. Thoạt tiên gã thoáng ngẩn người, sau đó mừng rỡ kêu lên:
- Lăng đệ? Ngươi là Lăng đệ?

Dương Lăng hơi ngơ ngẩn, thấy người trên xe nọ xấp xỉ bốn mươi, tướng mạo không quá khó coi nhưng vẻ mặt hơi tà dâm. Hắn đang nhìn y với khuôn mặt đầy vẻ mừng rỡ, nụ cười ra vẻ muốn lấy lòng. Dương Lăng cảm thấy người này hơi quen, bèn chắp tay đáp:
- Tại hạ chính là Dương Lăng, các hạ là... A! Dương... Dương... Ngươi là tam... ca?

Dương Lăng cảm thấy hết sức thất vọng. Gã này không phải là cái tên tam ca đã nhiều lần muốn trêu ghẹo Ấu Nương, muốn chiếm đoạt tài sản cả nhà của y đây sao? Sao gã cũng mò đến kinh sư vậy?

Dương Tuyền nghe y xác nhận thân phận thì mừng lắm, liền vội vỗ càng xe gọi to:
- Dừng xe! Mau dừng xe! Đây chính là huynh đệ Dương Lăng của ta, là huynh đệ trong tộc của ta, là tổng đốc đại nhân của Nội xưởng Đại Minh! Ha ha ha...

Từ trong xe lại có một thanh niên mặt mũi thanh tú trạc hơn hai mươi tuổi chui ra. Trông thấy Dương Lăng hắn cũng mừng rỡ kêu lên:
- Lăng thúc? Đúng thật là Lăng thúc thúc!

Người này còn lớn hơn Dương Lăng hai tuổi. Dương Lăng biết vai vế của mình khá cao, khi từ cõi chết trở về đã có không ít người lớn tuổi hơn y cũng gọi y là “thúc thúc”. Lúc này nhất thời y cũng không nhớ nổi hắn là ai, có điều chắc hẳn là người họ Dương rồi.

Cưỡi ngựa bên cạnh là một người đàn ông tráng kiện tuổi hơn ba mươi, mặc chiếc áo khoác màu vàng bằng vải thô. Hắn ghì cương, co chân nhảy xuống ngựa, cười hào sảng:
- Các hạ là Dương đại nhân? Thảo dân Dương Phúc, ra mắt đại nhân.

Người phụ nữ áo đỏ cũng nhảy xuống ngựa đi đến bên cạnh hắn, đôi mày thanh tú khẽ nhíu lại, giọng không vui:
- Hổ ca, huynh...

Kẻ tên Dương Phúc quay lại khẽ gật đầu ra hiệu, nàng lập tức hiểu ý ngậm miệng lại.

Thành Khởi Vận thu hết vẻ mặt bọn họ vào trong mắt, khoé miệng thoáng lộ một nụ cười nhàn nhạt.

Dương Tuyền thấy xe ngựa dừng lại, liền cùng người cháu xuống xe, bước tới chào hỏi:
- Lăng đệ! Vị huynh đệ họ Dương này trên đường đã cứu chúng ta, suốt chặng đường còn hộ tống đến kinh thành, là đại ân nhân của chúng ta đó.

Tuy Dương Lăng rất ghét Dương Tuyền và cũng không có cảm tình gì với nhà họ Dương nhưng hiện tại y là người có danh vọng cao nhất nhà họ Dương nên đành phải quay sang gã đại hán thô kệch có sắc mặt vàng vọt, mày rậm đen như mực mỉm cười thi lễ:
- Đa tạ Dương huynh đã cứu giúp anh và cháu của tại hạ.

Khi đại hán nọ nhảy xuống ngựa, tay trái đong đưa mấy cái, xụi lơ, mềm oặt như không còn sức lực. Lúc này hắn vội đưa tay phải ngăn Dương Lăng lại, đáp:
- Đại nhân chớ nên khách khí! Thảo dân là người giang hồ thồ ngựa bán buôn, thực nhận không nổi đại lễ của đại nhân. Trên đường gặp gỡ tương trợ lẫn nhau cũng là duyên phận thôi.

Dương Lăng nhìn thấy cánh tay của hắn rũ xuống bất động, liền hỏi:
- Tay của Dương huynh...?

Dương Tuyền liền chen vào:
- Lăng đệ! Dọc đường chúng ta gặp phải một đạo sĩ có khinh công rất là lợi hại, không biết sao lại đánh nhau với một thanh niên. Người thanh niên nọ bị trúng một chưởng giờ vẫn còn đang hôn mê bất tỉnh, không ngừng thổ huyết, hiện đang nằm trên xe đó. Vị Dương huynh đệ này bị đạo sĩ nọ đánh một chưởng trúng tay, tay liền mềm oặt không còn sức lực gì.

Dương Lăng thấy người đi đường bắt đầu kéo lại xem náo nhiệt bèn bảo:
- Chốn này cũng không phải là nơi trò chuyện, chúng ta cùng đi đến chỗ ở của huynh. Bên tại hạ có một vị thần y, hãy mời nàng ta chẩn đoán trị liệu cho huynh. Đến đó chúng ta hãy nói tiếp.

Dương Lăng dẫn Thành Khởi Vận đang cải nam trang và Cao Văn Tâm đi cùng bọn họ vào thành. Dọc đường hỏi thăm y mới biết thành Kê Minh cũng đã thất thủ. Lần này giặc Thát ồ ạt tiến công biên thùy, đốt nhà giết người cướp bóc hung bạo hơn xa năm ngoái, rõ ràng là mang lòng báo thù cho đứa con yêu quý bị giết của Bá Nhan Mãnh Khả (Khả Hãn).

Dương Gia Bình nằm nơi hẻo lánh, trước đó đã nhận được tin nên dân chúng liền chạy ngay lên núi. Nhưng Dương lão thái gia tuổi tác đã cao, trong núi chịu rét chịu đói, kết quả mắc bệnh nặng, không gượng nổi nên đã mất.

Lúc trước, khi Dương Tuyền nghe nói Dương Lăng làm quan lớn, gã đã có ý vào kinh dựa dẫm. Nhưng ông già Dương lão thái gia lại hết sức cố chấp, ông rất ghét việc con cháu trong nhà trông cậy vào quan hệ để leo cao cho nên khăng khăng không cho. Nay lão chết rồi, không còn ai ước thúc được Dương Tuyền nữa, gã liền xúi giục một người cháu trong họ cùng vào kinh nhờ vả Dương Lăng.

Hai người trèo non lội suối, chỉ chọn đường nhỏ để đi, vất vả lắm mới vòng qua được chiến trường giữa giặc Thát và quân Minh, lại gặp một trận đại chiến giữa một thư sinh trẻ tuổi và một đạo sĩ áo xám dưới núi, liền đó có một đoàn ngựa xe đi qua. Hai bên đánh nhau kịch liệt, thư sinh nọ bị đạo sĩ đánh trọng thương, một nam tử mặc áo vải thô tên Dương Phúc trong đội xe ngựa nhịn không được bèn xông lên trợ chiến. Tuy dựa đông người đuổi được đạo sĩ đi, song bản thân hắn cũng bị đánh trúng một chưởng.

Ở phía bên kia, Dương Phúc đang dắt ngựa sóng vai đi cùng người phụ nữ áo đỏ. Cô ta liếc Dương Lăng rồi thấp giọng hỏi:
- Huynh bị trúng phải chưởng lực nội gia thâm độc, cho dù là muội cũng phải tốn chút công sức mới có thể khử hết độc tính cho huynh. Đã gặp phải kẻ nào vậy?

Gã đàn ông vóc dài vai rộng, gân nổi đầy trên cặp tay to khỏe, nếu Liễu Bưu nhìn thấy thì biết ngay đấy là do ngoại môn công phu đã luyện đến cảnh giới cao nhất. Hắn quét mắt sang Dương Tuyền đang thì thầm với Dương Lăng, khẽ đáp:
- Huynh không tin, chẳng lẽ cánh tay này phải phế đi ư? Kẻ đó là Lý Phúc Đạt, giáo chủ Di Lặc giáo. Thư sinh trong xe võ nghệ rất cao, đã khiến cho lão ta bị thương. Huynh vốn định thừa cơ trừ khử lão, tiếc là... vẫn để lão ta chạy thoát.

Người phụ nữ áo đỏ trừng mắt mắng:
- Lão yêu đạo đó võ nghệ rất cao cường, chỉ dựa vào huynh mà cũng đả thương được lão à? Hơn nữa, lão ta cũng đang tập hợp dân chúng tạo phản, rất có lợi cho chúng ta. Huynh thực là không có đầu óc!

Tuy Dương Phúc là chồng của nàng nhưng hiển nhiên bị nàng ấy rầy mắng đã quen. Một đại hán khôi ngô như gã mà nay bị mắng như thế chẳng những không giận mà còn lấy làm e sợ. Hắn ngượng ngập giải thích:
- Lý Phúc Đạt tuyên truyền “Phật Thích Ca suy tàn, Phật Di Lặc giữ vững”, tự xưng là Di Lặc chuyển thế, rất giỏi mê hoặc lòng người. Huynh cũng được người ta gọi là chân long thiên tử. Nếu như huynh cùng hợp tác với lão ta, liệu còn có thể tập hợp đông đảo nhân mã một lòng theo huynh tranh giành giang sơn không? Nếu có cơ hội, đương nhiên là nên trừ khử lão ta rồi."

Người phụ nữ áo đỏ cười nhạt một tiếng, lạnh lùng:
- Chân long thiên tử cái rắm. Thiên hạ còn chưa giành được mà đã bắt đầu tự sướng rồi. Ta hỏi huynh, huynh lại nổi lòng tốt gì vậy? Việc huynh chịu khuất ép lòng kết giao với cái tên Dương Lăng đó! Y là tổng đốc Nội xưởng, còn chúng ta là một quân một cướp. Huynh cũng dám đùa với lửa sao?

Dương Phúc dày mặt đáp:
- Vốn huynh không định mang theo hai tên tiểu tử đó, nhưng nghe bọn họ tự xưng là họ hàng thân thuộc của Dương Lăng của Nội xưởng. Ta nghĩ kết giao với y sẽ rất có ích cho hoạt động của chúng ta trong vùng này. Đúng rồi, nương tử, nàng đến Sơn Đông một chuyến sao rồi? Đám cướp ở Thái Hành Sơn có đồng ý hưởng ứng khởi sự không?

Nàng lắc đầu đáp:
- Khó! Tên nào tên nấy đều là thứ ếch ngồi đáy giếng. Mới làm đại vương của một núi mà đã tự cho là giỏi lắm rồi, không ai chịu phục ai, đừng nói là có hùng tâm tráng chí gì!

Đoàn người vào đến lạc viện do nàng thuê trọ. Hai bên chào hỏi nhau lần nữa, mới biết người đàn ông tự xưng Dương Phúc này là thủ lĩnh một đoàn ngựa thồ, và người con gái áo đỏ là phu nhân họ Thôi của hắn.

Trên mặt Thành Khởi Vận mang một nụ cười như có như không, lạnh nhạt thờ ơ. Cao Văn Tâm đi tới giúp Dương Hổ kéo tay áo lên, chỉ thấy trên cánh tay thô chắc rậm lông in dấu năm ngón tay đen sì, bắp thịt của cả cánh tay trái hơi sưng lên. Tuy không biết võ nhưng Cao Văn Tâm vẫn nhận thấy được nội phủ hắn đã bị chấn động, kinh mạch trên cánh tay bị tổn thương, hơn nữa phát chưởng lại có độc tính bại huyết.

Dương Lăng rất có hảo cảm với cặp vợ chồng này, thấy vậy bèn vội hỏi:
- Văn Tâm! Thương thế huynh ấy thế nào?

Thôi thị muốn dùng nội công khử độc nhưng nếu không quá nửa tháng thì cũng không thể có biến chuyển gì tốt, cho nên cặp mắt xinh đẹp cũng tập trung trên người Cao Văn Tâm, lộ vẻ hết sức quan tâm.

Lúc nãy Cao Văn Tâm đã xem qua thương thế của thư sinh sắc mặt xám như tro tàn nên lúc này xem xong thương thế của Dương Phúc thì lại thở ra một hơi thật dài, đáp:
- Đại nhân! Vết thương của vị tráng sĩ này lại không nguy cấp. Thân thể của tráng sĩ vốn đã cường tráng nên chỉ cần trích hết máu bầm, trong uống ngoài thoa thêm chút thuốc, điều trị năm sáu ngày thì sẽ khỏi. Nhưng còn vị thư sinh ngực bị trúng thương kia, việc chẩn đoán chữa trị phải tốn chút sức lực, ngoại trừ thuốc men còn cần phải châm cứu trị liệu.

Nói đoạn nàng rút cây bút và nghiên mực mang theo bên người ra, như rồng bay phượng múa viết một đơn thuốc, đưa cho Thôi thị bảo:
- Trước hết tôi sẽ dùng dao bạc giúp quí phu quân rút hết máu bầm. Phu nhân hãy dựa theo hai loại thuốc này tìm mỗi thứ mười thang về.

Thấy người phụ nữ họ Thôi xinh đẹp nọ cầm ngược đơn thuốc, Dương Lăng suýt chút nữa thì bật cười, liền vội ho khan vài tiếng để nén cười.

Thôi thị dĩ nhiên chính là Hồng nương tử, còn được giới lục lâm gọi là Dương Khóa Hổ. Cha mẹ nàng ta đều là hảo hán trong chốn lục lâm. Thôi Oanh Nhi từ thuở nhỏ đã múa thương đánh côn, theo hảo hán lục lâm phá nhà cướp của, khí phách hơn cả đàn ông.

Năm đó nàng tỉ võ chọn chồng, trong số hảo hán của tam sơn ngũ nhạc cũng chỉ có võ nghệ và tướng mạo của Dương Hổ là tạm chấp nhận được nên nàng ta mới cố tình giả thua, gả làm vợ hắn. Tuy dáng vẻ nàng ta thướt tha, dung nhan xinh đẹp, nhưng một chữ bẻ đôi cũng không biết.

Tiếng ho khan quái dị của Dương Lăng khiến nàng cảm thấy như y cười mỉa mình không biết chữ, mặt không khỏi đỏ lên. Nàng liền gọi Thuý Nhi lại, đưa cho đơn thuốc bảo:
- Mau đi tìm tiệm thuốc, dựa theo đơn thuốc mua về cho ta.

Nói xong nàng ngẩng đầu trừng mắt ngó Dương Lăng, càng lúc càng thấy cái tên mặt trắng đó thật không vừa mắt.

Vốn Dương Hổ tính tình hào sảng, lại có ơn cứu giúp thân quyến nhà họ Dương nên hắn hoàn toàn không để ý đến thương thế mà ngồi cùng Dương Lăng bên bàn trò chuyện một hồi, hai bên rất là hợp ý. Chỉ một chốc sau, Thuý Nhi cầm theo hai bao thuốc lớn trở về, một bao là thuốc để thoa ngoài da, một bao là dược liệu sắc uống.

Cao Văn Tâm lấy một con dao bạc rạch ngay trên vết dấu tay đen sì trên cánh tay của Dương Phúc ra. Đến khi máu đen tanh rình chảy hết, trở thành màu đỏ tươi nàng mới cẩn thận rịt đắp thuốc bột lên miệng vết thương, rồi lại dùng vải trắng đã được đun sôi buộc chặt lại. Dương Phúc cảm thấy cánh tay trái vốn mất cảm giác nay đã hơi đau, liền mừng rỡ khen:
- Quả nhiên hữu hiệu.

Cao Văn Tâm khẽ mỉm cười, bảo Oanh Nhi:
- Phu nhân hãy mang thuốc này đi sắc. Mỗi ngày thay thuốc một lần, uống thuốc một lần, khoảng chừng năm sáu ngày sẽ có thể khỏi hẳn.

Cô nàng mừng rỡ ra mặt, liền vội cung tay uyển chuyển nhún người vái tạ.

Dương Lăng cười nói:
- Dương huynh còn đang bị thương, bôn ba đường dài nhất định cũng mệt rồi, chúng tôi không quấy rấy thêm nữa. Còn vị thư sinh đang hôn mê bất tỉnh nọ thì thương thế quá nặng, tại hạ thấy hay là để tại hạ đưa về phủ chăm sóc đi. Dương huynh thấy thế nào?

Dương Hổ đứng dậy cười nói:
- Được! Thương thế thảo dân không nghiêm trọng, đại nhân công vụ bộn bề, vậy xin hãy trở về.
Rồi không để ý đến Thôi thị đang ngầm đưa mắt ra hiệu, hắn cười lớn nói tiếp:
- Được quen biết với đại nhân là may mắn của thảo dân. Ngày khác Dương mỗ nhất định sẽ lại đến nhà cảm tạ ơn cứu mạng của đại nhân.

××××××××××××××××××××××××

Dương Lăng đưa chú cháu Dương Tuyền về trong phủ, bố trí cho bọn họ trọ ở sương phòng, sau đó dọn một căn phòng khác, kêu người khiêng thư sinh đang hôn mê bất tỉnh kia vào. Với sự giúp đỡ của gia nhân, Cao Văn Tâm lại giúp thư sinh sắc mặt xám ngoét, sốt cao không hạ đó chích máu rịt thuốc. Sau khi nàng bận rộn xử lý xong, tuy vẫn chưa tỉnh dậy song chàng thư sinh đã dần dần bớt sốt.

Dương Lăng cúi người quan sát vị thư sinh trẻ tuổi đó một hồi. Bị thương thế hành hạ mấy ngày, khuôn mặt chính trực và sáng sủa của hắn đã lún phún râu ria; chiếc áo dài xanh tuy nhăn nhíu nhưng có thể nhìn được chất liệu khá tốt. Dương Lăng bảo Cao Văn Tâm:
- Văn Tâm, để gia nhân chiếu cố y được rồi. Cô hãy ra nhà sau nghỉ ngơi đi.

Cao Văn Tâm nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế dựa, khẽ liếc y rồi thấp giọng đáp:
- Còn cần phải quan sát thêm một hồi nữa. Nếu đại nhân bận rộn công việc thì xin hãy về trước đi.

Dương Lăng cười nói:
- Ta cũng không có việc gì, ở đây đợi thêm một lát vậy.

Cao Văn Tâm ngồi im một lúc, len lén quan sát Dương Lăng một hồi rồi khẽ thở dài:
- Quả thực rất nhớ...

- Hửm? Cô nhớ gì?
Dương Lăng ngạc nhiên ngẩng đầu hỏi.

Cố lấy hết dũng khí, Cao Văn Tâm đáp:
- Nhớ những ngày cùng đại nhân xuống Giang Nam. Tuy lúc đó mang phận nô tỳ, nhưng thiếp lại có thể thường xuyên ở bên cạnh đại nhân. Từ lúc trở về kinh, từ cái đêm hôm đó... đại nhân nghe em họ thiếp nói... Nay càng lúc càng xa lánh thiếp, mỗi lần đến Dương phủ, thiếp đều cảm thấy thân phận mình thực rất bất tiện, không biết nên cư xử thế nào...

Dương Lăng lập tức cảm thấy áy náy. Hai tay bó gối, im lặng một hồi lâu y mới cười khổ sở:
- Văn Tâm! Nàng là tiểu thư khuê các, tài năng và dung mạo đều hơn người, còn lo không có phu quân vừa ý sao? Chính vì ta yêu nàng, kính trọng nàng, mới không muốn nàng phải làm thiếp.

Ấu Nương thuần phác lương thiện, ta cũng đối đãi Ngọc Nhi và Tuyết Nhi như nhau. Mặc dù như thế nhưng bọn họ vẫn giữ lòng kính sợ với Ấu Nương, để tâm lấy lòng. Giữa vợ chồng không phải chỉ có chàng chàng thiếp thiếp mà thôi. Nàng tâm cao khí ngạo, mấy đời thư hương, nếu chỉ vì muốn trả ơn mà gả vào nhà họ Dương thì sớm muộn gì cũng sẽ hối hận.

Cao Văn Tâm xúc động đứng dậy, ánh nến phản chiếu ánh mắt nàng sáng ngời. Nàng lắc đầu, khẽ đáp:
- Đại nhân, thiếp sẽ không hối hận. Thiếp biết, nếu... với thân phận hiện tại của thiếp có lẽ có thể gả làm chính thê người khác, sinh trai đẻ gái, bạc đầu giai lão. Nhưng mà... thân phận còn quan trọng gì khi mình không thể được ở chung với người mình thích?

Ánh mắt nàng trở nên mê mang, nàng mơ màng nói tiếp:
- Khoảng thời gian ở Giang Nam cùng với đại nhân là khoảng thời gian mà thiếp vui vẻ nhất. Đại nhân ra ngoài làm việc, thù tạc, thiếp ở trong phòng đợi đại nhân về; cùng đại nhân lột cua nghe sóng vỗ, cùng chèo xuồng hái ấu, nghe đại nhân thì thầm dai dẳng dưới gốc liễu. Khoảng thời gian đó thực vui vẻ. Ấu Nương muội muội cùng Ngọc Nhi, Tuyết Nhi, bốn người chúng thiếp kết nghĩa kim lan, đã từng đồng sinh cộng tử. Ở chung với bọn họ, thiếp cũng rất vui vẻ.

Ánh mắt nàng dần trở nên ảm đạm, giọng ai oán:
- Nhưng mà hiện tại... thiếp cảm thấy mình và bọn họ cũng đã càng ngày càng cách xa.

Dương Lăng không biết nói gì cho phải, một hồi lâu sau mới cười tự giễu:
- Hiện tại ta cảm thấy mình giống như miếng thịt Đường Tăng vậy. Việc chung thân đại sự của nàng, thật sự chỉ có một sự lựa chọn này thôi sao?

Cao Văn Tâm ngờ vực hỏi lại:
- Thịt Đường Tăng?

Dương Lăng lập tức sực nhớ mình lại lỡ lời, bèn cười gượng gạo sửa lại:
- À! Ta nói nhầm đó, là thịt Đông Pha...

Nói đến đây y chợt nhớ lại lúc hai người cùng chèo xuồng ở Thái Hồ, uống rượu trong biển sen, nhớ lại lúc nàng bị trật chân, y giúp nàng rửa đôi chân xinh xắn, nhớ tới nụ hôn nhẹ của hai người. Lòng y cũng hơi xao động, y liền vội đứng dậy bước ra cửa, nói:
- Nàng vẫn chưa quên lời ta đã nói với nàng chứ? Không biết chừng ngày này năm sau ta đã chôn xương dưới mồ rồi đó.

Cao Văn Tâm thấy rõ y đã động tâm song lại “rút chân về”, nàng cả giận hét lớn:
- Chưa quên! Tiểu tì vẫn nhớ rõ những gì lão gia đã nói. Nếu ngày này năm sau lão gia bỏ mạng dưới suối vàng, tiểu tì sẽ kết bái huynh muội với lão gia trước linh vị của người, nhược bằng lão gia có thể may mắn không chết thì sẽ phải đội khăn gả cho tiểu tì!

Lúc này nàng lại dùng kiểu nói khi còn là nô tì trong Dương phủ trước kia. Dương Lăng nghe vậy thì cười khan mấy tiếng rồi đáp:
- Được, vậy chúng ta hãy chờ xem! Ngày này năm sau nói tiếp.

Sau khi nghe Thành Khởi Vận khuyên bảo vào hôm qua, hôm nay Cao văn Tâm đã nén ngượng thổ lộ hết tâm sự với Dương Lăng, không ngờ y lại vẫn khước từ. Thế là tính khí đại tiểu thư lại nổi lên, cô nàng bèn giậm chân gắt gỏng:
- Chờ thì chờ! Đại nhân nhớ kỹ lấy ước hẹn của mình đó!




Chú thích:

1) Ngoại hiệu của Hồng nương tử là "Khóa Hổ", nghĩa là "cưỡi hổ". Chồng của bà ta là Dương Hổ sợ bà ta một phép.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

6300
01-04-2012, 08:45 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 170 Điều thêm tướng soái


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: 6300

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Thư sinh thở hổn hển mấy hơi, thấy Cao Văn Tâm đưa nến đến sát người, tóc mây hơi rối, nét mặt thanh lệ dịu dàng, bất giác buột miệng khen:
- Vân kế kinh khinh vãn tựu, duyên hoa đạm đạm trang thành. Thanh yên tử vụ tráo khinh doanh, phi nhứ du ti vô..."(*) (tạm dịch: Tóc mây vấn khẽ cao cao, phấn son nhàn nhạt xuyến thêm sắc màu. Khói xanh sương tím bao quanh, bềnh bồng sợi tóc không...)

Còn chưa dứt lời, một tia sáng màu bạc chợt loé lên, một cây ngân châm đã đâm xuyên qua gò má y. Thư sinh chỉ cảm thấy dưới cằm cứng đơ, miệng không khép lại được nữa.




Chương 170 Điều thêm tướng soái


Dương Lăng vừa về tới nhà, Hàn Ấu Nương đã ra đón y, hỏi ngay:
- Tướng công, nghe nói nhà mình mới đón về mấy vị khách phải không?

Dương Lăng "ừ" rồi đáp:
- Một vị thư sinh trọng thương chưa tỉnh, nghe nói rất giỏi võ nghệ...

Vừa nói đến đây, y sực nhớ ra một chuyện, bèn buột miệng hỏi:
- Đúng rồi, Ấu Nương này, nếu như là nàng, thì có thể nhảy cao đến một trượng không?

Hàn Ấu Nương ngạc nhiên hỏi lại:
-Sao tướng công lại hỏi chuyện này?

Rồi nàng nghênh mặt cười đắc ý:
-Tướng công đã quên trước đây thiếp từng phóng lên đài hành hình cao hơn một trượng rồi à?

Dương Lăng búng mũi nàng một cái, cười nói:
- Biết nàng lợi hại rồi! Tướng công muốn hỏi là nếu đứng tại chỗ bật lên cao một trượng, nàng làm được không?

Hàn Ấu Nương suy nghĩ một chút rồi lắc đầu đáp:
- Không thể, kể cả cha cũng không làm được. Thuật bật thẳng người nếu chỉ dựa vào lực bắp chân thì không thể nào nhảy cao đến một trượng. Thiếp và cha học môn Ngạnh khí công cũng chỉ để cường thân kiện thể, trừ khi là biết thuật điều tức thổ nạp(1) thì mới có thể làm được, cao thủ như vậy cũng cực hiếm.

Nàng bỗng mở to mắt, kéo tay áo Dương Lăng hỏi:
- Tướng công đã gặp qua cao nhân như vậy rồi à?

Dương Lăng cười lớn đáp:
- Cũng không cao lắm, chỉ cao hơn nàng có nửa cái đầu thôi.

Nghe Ấu Nương nói vậy, y chợt cảm thấy có chút nghi ngờ. Lăn lộn cùng đám người Liễu Bưu bấy lâu, y cũng biết được ít nhiều về võ học. Tục ngữ có câu "cùng văn phú võ"(2), trên thực tế thì đa số kẻ luyện võ là những người nghèo khổ, song phần lớn bọn họ đều chỉ tu luyện công phu ngoại môn. Một người con gái trong đoàn ngựa thồ có thể mời ở đâu ra được danh sư về truyền thụ cho võ công thượng thừa, hơn nữa còn luyện thành xuất sắc như vậy chứ?

Tuy nhiên vừa nhớ đến chuyện người thiếu phụ áo đỏ ấy không biết chữ, y lại xua tan ý nghi ngờ nàng có thân phận khác. Hàn Ấu Nương hỏi:
-Tướng công đang nghĩ gì vậy?

Dương Lăng vội nói:
- Hả? À không có gì, tướng công chỉ... Do quê nhà đang gặp phải chiến tranh loạn lạc nên cũng có người vào kinh nhờ cậy, có vẻ bọn họ cũng không định trở về nữa. Ta đang nghĩ làm sao thu xếp cho bọn họ đây.

Hàn Ấu Nương mừng rỡ reo lên:
-Khách đến là đồng hương với chúng ta sao? Là vị thân thích nào vậy?

Dương Lăng cười gượng gạo:
-Là... tam ca Dương Tuyền và con thứ Vân Long nhà đại ca.

Nụ cười của Hàn Ấu Nương lập tức cứng đơ. Dương Lăng cũng biết vị anh con bác này trước đây quả thực không ra gì, nhưng dẫu sao những việc xấu xa hắn làm cũng kín, chưa bị phanh phui, nay hắn gặp nạn, từ ngàn dặm xa xôi chạy đến nhờ vả, nếu cự tuyệt không cho hắn vào nhà, mình sẽ bị người ta nhổ nước bọt dìm chết thôi.

Thời đó quan niệm về dòng họ và hương thổ thật sự rất nặng. Đến nỗi kẻ si mê danh lợi, bo bo giữ mình như Tiêu Phương mà một khi có khách cố hương đến nhờ vả cũng còn không dám không hết lòng góp lời cầu xin hoàng thượng giúp đỡ bọn họ. Huống hồ Dương Tuyền là đường huynh(3) của y, luận về huyết thống xa gần trong quan niệm dòng họ thời bấy giờ thì còn thân thiết hơn thê tử cả một tầng.

Thường ngày Dương Lăng trò chuyện với đám người Lưu Cẩn, từng nghe bọn họ kể rằng, năm xưa vua Hoằng Trị từng tin yêu một người hầu thân cận họ Trương. Do gia cảnh bần cùng, lúc chín tuổi vị thái giám đó đã bị phụ thân thiến đưa vào trong cung, để rồi hai mươi năm sau hắn trở thành một trong những hoạn quan được tin yêu nhất bên cạnh vua Hoằng Trị.

Khi người cha già nghèo túng của hắn vào kinh cầu kiến, do Trương thái giám vẫn còn canh cánh trong lòng chuyện ngày xưa nên mặc dù thái giám bên người nhiều lần khuyên nhủ, hắn vẫn nhất định không chịu gặp mặt. Kết quả lập tức trở thành cái đích cho mọi người chỉ trích. Về sau hoàng đế nghe được chuyện này, từ đó cũng trở nên lạnh nhạt xa lánh hắn, bảo rằng hắn không biết đạo lý làm người, đại nghịch bất đạo.

Mình đến từ thời hiện đại, trong lòng không có nhiều điều kiêng kị, nhưng không thể không suy xét đến quan niệm của người thời này, không nhận thân tộc họ hàng là trái với luân lý cương thường, trong khi thiên hạ được cai trị bởi những nhà Nho, chỉ cần một điểm này thôi là anh đã đủ bị người ta hặc tội bãi quan rồi.

Dương Lăng bối rối nói:
- Hôm nay bọn họ vừa mới vào kinh, ta cũng không có cách gì khác. Đợi dăm ba ngày nữa sẽ giúp bọn họ tìm chỗ ở, tiếp tế ít lương thực, nếu hắn không chơi bời lêu lổng nữa, ta sẽ tìm cho hắn một công việc, coi như đã tận tâm rồi.

Hàn Ấu Nương liền nhớ tới tên đốn mạt kia. Đường đệ của mình còn bệnh nằm liệt giường mà đã động tay động chân với em dâu, nhớ lại hành vi không chút liêm sỉ của hắn làm nàng lại cảm thấy không thoải mái. Trước đây khi gia tộc mình đến Kê Minh nương nhờ, mình không hề có bất kì hành động thất lễ nào với trưởng bối tôn thất của tướng công. Nay tướng công đã là quan lớn, mình càng phải nên chú ý hơn đến những điểm dễ bị người ta chê trách chỉ trích này mới được.

Thấy bộ dạng khó xử của Dương Lăng, nàng vội khoác áo choàng lên, nhẹ giọng nói:
- Ở lâu trong nhà quả thực bất tiện, nhưng mà tướng công cũng không cần phải tìm chỗ ở cho bọn họ vội, để người ngoài không hiểu chuyện nhìn vào sẽ nói những lời khó nghe.

Dương Lăng thấy nàng khoác thêm áo ngoài, bèn hỏi:
- Nàng định ra ngoài đi dạo à? Hôm nay gió lớn, nàng đừng đi.

Hàn Ấu Nương dịu dàng cười đáp:
- Thiếp đi thăm vị khách nọ còn đang bị thương mà. Nói cho cùng thì Dương Tuyền cũng là tam ca của chàng, Vân Long lại gọi thiếp một tiếng thẩm nương(4). Thiếp là vợ của chàng, sao có thể không quan tâm gì đến cuộc sống của bọn họ chứ?

Dương Lăng vui sướng nói:
- Vợ ngoan, quả nhiên đã có phong thái chủ mẫu(5) nhà họ Dương rồi! Ta còn lo nàng sẽ không vui, nên đang tính giấu nàng nữa cơ.

Hàn Ấu Nương chun mũi, cười tinh nghịch:
- Người ta không có hẹp hòi như vậy đâu. Trước đây hắn buông lời ve vãn ong bướm, nếu không phải vì thấy trong nhà họ Dương, tướng công thân đơn thế cô, sợ chàng không thể tự lo cho mình thì đã dùng côn đánh bay hắn đi rồi. Nay thì không cần Ấu Nương ra tay nữa, tướng công của người ta lợi hại mà... Hắn mà dám... hừm hừm, kể cả cho hắn hai lá gan...

Đôi vợ chồng trẻ rôm rả, cùng nói cười đi đến sương phòng(*) ở nhà chính sân trước. Chú cháu Dương Tuyền mới vừa ăn xong chưa ngủ, vừa nghe vợ chồng bọn họ đến liền vội ra đón. Xưa và nay khác nhau như trời với đất; trạch viện đẹp đẽ sang trọng, gia bộc kính cẩn, loại phong thái cao sang đó Dương Tuyền chưa từng thấy bao giờ.
(*):sương phòng: căn phòng bên cạnh căn phòng chính.

Nhớ lại hành vi vô lễ trước đây, trong lòng hắn thấp thỏm không yên, hắn còn nghe nói thậm chí Hàn Ấu Nương cũng đã được yết kiến hoàng thượng, nay được ban cho thân phận Cáo Mệnh tam phẩm, điều đó đã được huyện Kê Minh ghi chép một cách hết sức long trọng. Dương Lăng rất yêu thương nàng, nếu như nàng ta mượn cớ ấy để trị mình thì hậu quả sẽ rất thê thảm, song hắn lại không nỡ bỏ qua vinh hoa phú quý trong tầm tay.

Đến khi thấy thái độ ân cần, hào phóng và tự nhiên của Hàn Ấu Nương, Dương Tuyền mới cảm thấy yên tâm, liền vội nịnh nọt tâng bốc một phen, chỉ lo nàng vẫn ghi thù hành vi của mình ngày đó.

Dương Vân Long tuy lớn hơn Dương Lăng ba tuổi, nhưng quả thực là con trai của đường huynh y, thế nên hết sức giữ lễ với hai vị tiểu thúc thúc, tiểu thẩm thẩm này. Hắn cũng từng đọc sách, có điều đã đi thi hai lần song vẫn chưa đỗ được tú tài. Tự thấy công danh vô vọng, hắn mới bèn theo tam thúc vào kinh sư dựa dẫm Dương Lăng.

Đợi khi rời khỏi sương phòng, Dương Lăng mới mỉm cười nói với Hàn Ấu Nương:
- Ấu Nương của hôm nay so với trước đây thực đã có khí độ hơn nhiều. Vào kinh được mở mang kiến thức, lại được bọn Ngọc Nhi và Tuyết Nhi hun đúc cho, đối nhân xử thế đã rất có lễ độ.

Chỉ là... nàng vốn không biết giả vờ, lúc nãy cười vẫn hơi gượng gạo. Sau này không cho phép làm vậy với tướng công, bằng không... ta sẽ lấy gia pháp ra 'hầu hạ', chắc chắn phần bên dưới khuôn mặt này sẽ không biết cười vịt vờ đâu.

Vừa nói y vừa vỗ nhẹ bờ mông căng tròn của Ấu Nương một cái, Hàn Ấu Nương kêu lên "ui da", rồi vừa mỉm cười vừa nhảy tới phía trước mấy bước. Dương Lăng vội lật đật kéo nàng lại.

Hàn Ấu Nương kéo một cánh tay của y lên, áp mặt lên tay y thủ thỉ:
- Nghĩ đến sự đáng ghét của hắn là người ta lại không chịu được. Có điều... lúc còn ở quê nhà, Dương tam ca chỉ biết chơi bời lêu lổng, không nghề ngỗng gì, nếu như chàng muốn kiếm cho hắn một công việc, vậy thì phải suy nghĩ kỹ đó. Ca ca làm ở bộ Hình, thường nói với thiếp rằng ở đó quan viên trên dưới đều có vẻ sợ y. Với tính tình hào sảng của huynh ấy mà cũng khó tìm được một bằng hữu tri âm, còn không phải là vì những người đó sợ chàng ư? Với tính cách của Dương tam ca... nếu như hắn lại cáo mượn oai hùm, cậy vào oai danh chàng để làm những điều xằng bậy thì...

Việc đó tự cổ chí kim thực ra không hiếm, Dương Lăng nghe vậy thì khẽ gật đầu. Y cũng cảm thấy cái tên lấc cấc này đến kinh sư khiến mình nuôi thì không ổn, mà đuổi cũng không xong, quả thực có điều khó xử. Đừng thấy hắn lúc này khép nép sợ sệt mà lầm, giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời. Lúc còn ở Dương Gia Bình, hắn đã ỷ là người của gia tộc lớn nhất trong thôn mà bắt gà trộm chó, gây chuyện khắp xóm làng, xem ra không thể chỉ tìm đại một công việc cho hắn là sẽ có thể đuổi hắn đi được.


*****


Cao Văn Tâm cố lấy dũng khí thổ lộ tâm tình nhưng không ngờ lại khiến cho Dương Lăng sợ chạy mất dép. Lúc này nàng đang ngồi âu sầu, tưởng tượng ra cảnh vào lúc này năm sau Dương Lăng vẫn sống sờ sờ không hề hấn gì, đành phải đội khăn đỏ lên đầu gả cho mình. Trong lòng càng nghĩ càng thấy thú vị, thế là nhịn không được bật cười khúc khích, sự bực tức liền tan biến sạch.

Nàng bước đến bên giường, giơ ngọn đèn cúi xuống nhìn, thấy hơi thở vị thư sinh nọ đã ổn định, sau khi tan hết máu bầm trên ngực, cơn sốt cao đã dần được khống chế. Thuốc giao cho nhà bếp sắc đã được đưa đến, có điều còn nóng chưa uống được, Cao Văn Tâm bèn tính châm cứu trước cho y.

Nàng xoay người lấy túi thuốc châm cứu, kéo chiếc ghế đến bên đầu giường ngồi. Mới vừa mở bọc kim châm, thư sinh nọ chợt rên khẽ một tiếng, rồi từ từ mở mắt ra. Cao Văn Tâm mừng rỡ kêu lên:
- Công tử, ngài đã tỉnh rồi sao?

Lúc này, mặt thư sinh lún phún râu ria, hắn cũng chẳng thể biết được vẻ bề ngoài ra sao, có điều tuy đang bị trọng thương, ánh mắt lại vẫn linh động sáng ngời, trông hết sức lanh lợi. Hắn ngờ vực ngước nhìn người thiếu nữ dung mạo xinh đẹp trước mặt, thật lâu sau mới yếu ớt hỏi:
- Phải, tại hạ đã đỡ nhiều rồi, đa tạ ơn cứu mạng của cô nương. Nơi này... là đâu vậy?

Cao Văn Tâm cười tươi đáp:
- Nơi này là Dương phủ ở kinh sư, công tử được lão gia... được đại nhân nhà ta cứu về. Công tử chớ vội ngồi dậy, thương thế trên người vẫn còn nghiêm trọng. Công tử tỉnh dậy thì tốt rồi, ta sẽ châm cứu cho công tử một phen trước, chỉ cần giữ cho thần chí tỉnh táo, vết thương này sẽ không chuyển xấu nữa.

Thư sinh thấy vị cô nương này đang mở bọc vải, rút cây ngân châm ra thì liền ngưng miệng. Lúc này sắc trời khá tối, dưới ánh đèn nến hắn thấy Văn Tâm tóc mây vấn cao, phong thái trang nhã, buột miệng hỏi:
- Cô nương, kẻ hèn nhớ rằng mình thọ thương tại Diên Khánh, sao lại chớp mắt đã đến kinh thành rồi?

Cao Văn Tâm tay vê ngân châm, mắt liếc ngang sang, cười nhẹ đáp:
- Thương thế của công tử tuy nặng, song cũng không đến nỗi hôn mê suốt cả chặng đường, đến nỗi mình được ai cứu giúp, đã đi đến nơi nào cũng đều không hay không biết chứ?

Thư sinh nọ vốn thấy nàng có dung nhan xinh đẹp, phong thái tao nhã bất phàm, tính vịn cớ chuyện trò thêm mấy câu, không ngờ người thiếu nữ này lại thông minh như vậy, lập tức nhìn thấu ý đồ của y. Bị ngầm châm chọc một vố, thư sinh không khỏi đỏ mặt, ngượng ngập không biết nói gì.

Cao Văn Tâm khẽ "hừm" một tiếng, xắn tay áo lên, nghiêm mặt lại bảo:
- Có thể ngồi dậy không? Nếu như tỉnh rồi, lại còn có sức nói nhiều như vậy thì nằm dịch lên chút đi, bản cô nương châm cứu cho.

Cao Văn Tâm học được y thuật cao minh từ thuở nhỏ, vừa lớn đã được gán cho danh hiệu "Nữ thần y", trước giờ tâm cao khí ngạo, tầm mắt rất cao, lúc chẩn đoán chữa bệnh cho quan to khách quý cũng hiếm khi nở được nụ cười. Cũng chỉ có cái đêm kinh tâm động phách được Dương Lăng cứu ra khỏi bể khổ, bị y thấy tấm thân chỉ được che đậy bởi áo yếm, về sau lại có Hàn Ấu Nương ám thị cùng nàng ấy hầu hạ chung chồng, thì nàng mới đối xử với y thùy mị dịu dàng như nước.

Lúc này nhận ra sự ngưỡng mộ của thư sinh này, nàng đương nhiên không vui. Thư sinh nọ chống tay dịch lên một chút, dẫu sao thân thể mới vừa tỉnh lại vẫn còn yếu ớt. Thấy vậy Cao Văn Tâm thừa dịp hắn chống người lên liền kê gối bên dưới, rồi nói:
- Được rồi, cứ nằm như vậy đi.

Thư sinh thở hổn hển mấy hơi, thấy Cao Văn Tâm đưa nến đến sát người, tóc mây hơi rối, nét mặt thanh lệ dịu dàng, bất giác buột miệng khen:
- Vân kế kinh khinh vãn tựu, duyên hoa đạm đạm trang thành. Thanh yên tử vụ tráo khinh doanh, phi nhứ du ti vô..."(*) (tạm dịch: Tóc mây vấn khẽ cao cao, phấn son nhàn nhạt xuyến thêm sắc màu. Khói xanh sương tím bao quanh, bềnh bồng sợi tóc không...)

Còn chưa dứt lời, một tia sáng màu bạc chợt loé lên, một cây ngân châm đã đâm xuyên qua gò má y. Thư sinh chỉ cảm thấy dưới cằm cứng đơ, miệng không khép lại được nữa. Cao Văn Tâm nhíu cặp mày liễu, hừ lạnh mắng:
- Buông lời cợt nhả, thực là đáng ghét!

Liền đó chợt nghe bên ngoài cửa có tiếng người vọng vào:
- Văn Tâm, cô còn ở trong đó không vậy?

Cao Văn Tâm nghe được giọng của Dương Lăng liền mừng rỡ đứng dậy, làm mặt uy hiếp với thư sinh nọ, rồi lật đật xoay người ra đón.

Thư sinh nọ có thể đả thương yêu đạo Lý Phúc Đạt, hiển nhiên có một thân võ nghệ vô cùng phi phàm, một cây ngân châm nho nhỏ đương nhiên không thể chế ngự được hắn, nhưng hắn lại thấy vẻ giận dỗi của Cao Văn Tâm có một ý vị đặc biệt, tâm tình nhất thời xao động, không dám rút cây ngân châm ra để tránh chọc giận giai nhân.

Cao Văn Tâm đón Dương Lăng và Hàn Ấu Nương vào phòng. Dương Lăng nghe nói người nọ đã tỉnh, liền mừng rỡ đi đến trước giường thăm hỏi:
- Huynh đài tỉnh rồi à? Cảm thấy thế nào?

Thư sinh nọ há miệng ú ớ mấy tiếng, hết nhìn Dương Lăng rồi lại ngó sang Cao Văn Tâm, vừa định đưa tay rút cây ngân châm ra, trông thấy Cao Văn Tâm trừng cặp mắt bồ câu lên, liền vội rụt tay lại. Cao Văn Tâm vờ cười trả lời thay:
- Công tử mới vừa được châm cứu, hiện tại vẫn chưa thể cử động.

Thư sinh nghe vậy thì khổ sở gật đầu, Dương Lăng nghi ngờ hỏi:
- Ngực bị thương mà cần phải châm cứu mặt à, y thuật Cao gia quả nhiên thần diệu vô cùng.

Hàn Ấu Nương dịch chiếc ghế ra một chút, nói:
- Tướng công gấp làm gì, nếu như vị tráng sĩ này đã tỉnh rồi, đợi thêm một chút rồi trò chuyện cũng đâu muộn. Tỷ tỷ à, thương thế của tráng sĩ có nghiêm trọng không?

Thư sinh nọ nghe tiểu cô nương thanh tú này gọi vị công tử anh tuấn hiên ngang ở trước mặt mình là tướng công, lại gọi người con gái mỹ mạo mà hắn ngưỡng mộ là tỷ tỷ, thì không khỏi giật thót trong lòng. Hắn biết giữa thê thiếp các hộ gia đình giàu có thường gọi nhau là tỷ muội, chẳng lẽ giai nhân đã có nơi gắm gửi rồi?

Nãy giờ hắn vẫn há miệng, nước miếng đã sắp chảy cả ra ngoài, nếu như mỹ nữ đã có chồng, vậy hắn cũng không cần phải lấy lòng chi cho mất mặt nữa. Thư sinh rút cây ngân châm ra khỏi mặt, vặn vẹo miệng mấy cái rồi gượng cười nói:
- Đa tạ ơn cứu mạng của công tử và phu nhân, kẻ hèn thực cảm kích không hết.

Dương Lăng thấy vị thư sinh này da ngăm đen, mặc dù dung nhan tiều tuỵ, nhưng mặt mày sáng sủa vô cùng, nhìn trông rất vừa mắt, bèn cản vai hắn bảo:
- Cứ nằm đi. Huynh đài là người phương nào, họ tên là gì, nghe nói... là một đạo sĩ đã đả thương huynh đài?

Thư sinh thuận thế nằm xuống, mắt thấy công tử trẻ tuổi này dung mạo còn tuấn tú hơn mình mấy phần, khí độ cũng rất bất phàm, hai giai nhân đó hẳn là hiền thê mỹ thiếp của người ta, bèn tự hơi cảm thấy hổ thẹn khi nãy đã buông lời khinh xuất. Hắn mỉm cười đáp:
- Dạ, kẻ hèn là người Tùng Tư, Hồ Bắc, họ Ngũ tên Hán Siêu, thuở nhỏ học nghệ trên Võ Đang. Ngày đó thấy một yêu đạo đang mê hoặc hương dân, nên muốn bắt gã giao cho quan phủ truy xét, tiếc là bản lĩnh không bằng người...

Rồi hắn khẽ lắc đầu cười, nói tiếp:
- Công tử không cần phải nghi ngờ, gia phụ vừa mới nhậm chức Đồng tri ở phủ Thành Đô, tên húy là Văn Tự. Kẻ hèn cũng là gia đình quan lại, không phải là phường lưu manh trộm cướp đâu.

Dương Lăng nghĩ ngợi một chút rồi nói:
- Ngũ Văn Định à? Ồ... nhớ rồi nhớ rồi, ha ha, hoá ra là công tử của Ngũ Văn Định. Ta quả có nghe qua danh hiệu của lệnh tôn đại nhân.

Ngũ Văn Định nguyên là quan tiến cử ở Thường Châu, mấy ngày trước Nguỵ Quốc công Từ Phủ tranh chấp ruộng đất với dân, kiện cáo lên đến tận trên châu. Ngũ Văn Định phán giao mảnh ruộng đó cho bá tánh bình dân nọ khiến cho Ngụy Quốc công nổi giận đùng đùng, cậy vào quan hệ mà chuyển vụ án vào kinh thành, hòng nghiêm trị Ngũ Văn Định. May thay lúc đó Hàn Uy đang ở bộ Hình, khi tới thăm vợ chồng Dương Lăng buột miệng nhắc đến chuyện này, cho nên Dương Lăng đã bảo Tiêu Phương chiếu cố một chút. Do đó chẳng những ông ta không bị trừng phạt mà còn được thăng chức lên làm Đồng tri ở phủ Thành Đô. Dương Lăng không ngờ kẻ mình cứu lại là con trai ông ta.

Ngũ Hán Siêu nghe y gọi thẳng tên húy cha mình không hề kiêng kị, thì tỏ vẻ không vui. Thấy vậy, Cao Văn Tâm liền nói:
- Đại nhân nhà ta là thống lĩnh ngự tiền thân quân, tổng đốc Nội xưởng Dương đại nhân, không biết Ngũ công tử có từng nghe nói tới chưa?

Ngũ Hán Siêu vừa nghe lập tức cả kinh. Tiêu Phương giỏi về lung lạc lòng người, lại biết thế lực Dương Lăng, cũng là chỗ dựa của lão, vẫn còn rất yếu, cho nên lúc giúp đỡ cho Ngũ Văn Định đã âm thầm tiết lộ cho ông ta biết rằng do Dương Lăng hỏi đến nên Ngụy Quốc công mới không thể hãm hại ông ấy.

Sau khi Ngũ Hán Siêu học nghệ thành tài xuống núi du lịch bốn bể đã từng gặp cha, đương nhiên biết được mấu chốt trong đó. Hắn càng biết rằng quyền thế Dương Lăng như mặt trời chính ngọ, đừng nói là gọi thẳng tên húy của phụ thân hắn mà cho dù vị Đồng tri đại nhân đó có đứng trước mặt y cũng sẽ phải khom gối quỳ vái ra mắt thượng quan.

Ngũ Hán Siêu là con cháu quan lại, vừa nghe đây là quan lớn trong triều, vẻ tự nhiên tiêu sái lập tức biến mất hoàn toàn, lúng túng nói:
- Thì ra... thì ra là Dương đại nhân. Nghe uy danh đại nhân đã lâu, thảo dân mang thương thế trên người, không thể làm tròn lễ...

Dương Lăng ngắt lời:
- Chậc, ta và huynh đài xưng hô huynh đệ không phải là tốt hơn sao? Hà tất dùng những lễ nghi rườm rà chốn quan trường đó? Huynh đài trên người còn mang thương thế, đừng nói chuyện nhiều. Văn Tâm, mau giúp Hán Siêu huynh trị thương đi.

Cao Văn Tâm dạ một tiếng, đi đến thu lại cây ngân châm trong tay Ngũ Hán Siêu, rồi lại rút ra một cây khác, nhắm ngay huyệt đạo dưới cần cổ mà vê nhẹ xuống. Người ngọc ở ngay trước mắt, mùi thơm nhàn nhạt lan toả khắp người, làn da trơn nhẵn như ngọc ửng lên vầng sáng dịu dàng dưới ánh nến, Ngũ Hán Siêu lại không dám có tơ tưởng gì, đành phải nín thở thu mắt lại, im lặng cho nàng chữa trị.

*****

Chú cháu Dương Tuyền đến Dương phủ đã được năm ngày, vào ngày thứ hai Dương Lăng và thê thiếp đã mở tiệc thết đãi cặp chú cháu trong tộc này. Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đều là tuyệt sắc giai nhân, lại mặc lụa hoa tơ gấm, đeo vòng châu lắc ngọc, thực ngỡ như tiên nữ giáng trần.

Mặc dù Dương Tuyền không còn dám có bất kỳ ý nghĩ không yên phận gì với gia quyến của vị đường đệ này, song vẫn ngây mắt nhìn. May mà theo lễ nghi, những vị nội quyến này chỉ ra mắt một lần liền quay trở lại nội viện, cho nên Dương Tuyền mặc dù hâm mộ cũng chỉ đành ”ngắm trăng dưới giếng” mà thôi.

Mấy ngày qua khí trời trong lành ấm áp, tuyết đã ngừng rơi, Dương Lăng cũng thầm kêu may mắn không thôi. Nếu trời lại đổ thêm trận tuyết lớn nữa, dân chạy nạn quanh thành sẽ khó mà sống nổi.

Được sự gợi ý của Thành Khởi Vận, y biết rằng để khiến những phú hộ giàu có phát chẩn cứu tế thực ra không khó. Lương thực hao phí mỗi ngày không đến trăm lạng bạc, đối với những phú hộ giàu có đó mà nói thật sự như muối bỏ bể, chỉ cần dùng danh tiếng dụ bọn họ thì không lo bọn họ sẽ không góp tay.

Dương Lăng bèn đi gặp Lý Đông Dương, lại đích thân tới thăm Chu Cương và Trương Hạc Linh. Có hai nhà này làm gương phát chẩn cứu tế, có Lý Đông Dương đích thân viết tên lên bia công đức đặt ở Hộ Quốc tự trong kinh sư, lập tức thân hào quý tộc kinh sư ùn ùn hưởng ứng, dân góp người, quan góp sức, lều lán cứu tế được dựng lên khắp kinh thành. Những lao động khoẻ mạnh cũng được cho vào thành tìm việc; bọn họ lấy tiền công thấp, lại chịu được vất vả, thế là bỗng chốc cả làng đều vui.

Lúc này, Dương Lăng vừa mới chạy vào trong cung, lòng ngổn ngang trăm mối. Mấy ngày qua khắp triều đình liên tục nhận được tình báo đại quân giành lại được đất bị cướp, đuổi đánh giặc Thát, thế là cả triều phấn khởi.

Nhưng theo tin hỏa tốc truyền về từ Nội xưởng, thì mấy trận đầu quân Minh cậy vào nhuệ khí quả thực đã chiến thắng, chém rơi nghìn đầu giặc, thu được mấy nghìn thớt ngựa và lạc đà, đồng thời cướp lại được số lớn của cải và người dân bị bắt đi.

Thế nhưng không biết Miêu Quỳ có phải bị thắng lợi làm mê muội đầu óc hay không mà lòng tham công nổi lên, thấy quân địch rút lui liền dốc toàn lực truy kích. Kỵ binh quân Minh có hạn, lực chiến đấu và tính cơ động không đủ, lại phải chia binh đuổi theo giặc Thát chia làm ba lộ rút lui. Kết quả bị Bá Nhan Khả Hãn điều khiển đại quân vây đội quân tiên phong đang đơn độc thâm nhập lại thành như bánh kẹp, ba nghìn quân tinh nhuệ mất sạch vào tay giặc. Nay địch quân thừa dịp quân Minh phân tán chưa kịp tập hợp, đã bắt đầu tập kết trọng binh phản công Đại Đồng.

Dương Lăng suy tính trước sau, đã quyết định đề bạt Dương Nhất Thanh và Vương Thủ Nhân đến biên cương lĩnh soái. Nhưng hai người này một người nhàn rỗi ở nhà, một người đang ăn cơm tù, đều là những người từng đắc tội với Lưu Cẩn, tiến cử tuỳ tiện nhất định sẽ dẫn đến khúc mắc với Lưu Cẩn. Dương Lăng lo nghĩ rất lâu mới quyết định thuyết phục Lưu Cẩn trước, rồi mới đi gặp Chính Đức. Y đã chuẩn bị sẵn câu từ, nào ngờ khi gặp Lưu Cẩn, vừa mới nói rõ ý định thì chỉ thoáng trầm ngâm lão liền đã vui vẻ đồng ý luôn, khiến Dương Lăng rất bất ngờ. Tuy nhiên chiến sự biên giới quá khẩn cấp, y cũng chẳng để tâm nghĩ ngợi nhiều, vội vàng lôi Lưu Cẩn đi gặp Chính Đức.

Mã Vĩnh Thành dẫn hai người bọn họ chạy đến Ngự Hoa viên, thấy Chính Đức đang được mấy cung nữ thái giám hầu hạ chơi đánh quay trên mặt băng, trên con quay gắn thêm cái còi, phát ra tiếng kêu "tu tu".

Chính Đức mặc bộ áo ống bó màu đỏ sẫm, bên ngoài khoác áo lông cừu cộc tay màu thạch anh, đang chơi rất hăng say. Trông thấy Dương Lăng đến, hắn liền chỉ tay vào một cô nương mặc áo da chồn viền tím bên cạnh cười giục:
- Đánh mau lên, đánh mau lên, nếu con quay bị ngã, trẫm sẽ phạt nàng đó.

Chính Đức vừa quay đầu lại nói một cách luyến tiếc, vừa đi đến bên cái hồ cảnh đỡ Dương Lăng đang định sụp lạy dậy, cười nói:
- Miễn lễ miễn lễ, Dương khanh có biết chơi trò đánh quay này không? Trẫm và Giải Ngữ cùng Tu Hoa mới vừa học được đấy, chơi vui lắm.

Dương Lăng lắc đầu cười đáp:
- Trò này vi thần không biết, nhưng mà lúc nhỏ thần từng chơi trượt băng, phải sử dụng cả hai chân, nếu không thì sẽ ngã ngay.

Ánh mắt Chính Đức sáng rỡ, thích thú hỏi ngay:
- Chơi như thế nào? Mau chỉ cho trẫm đi!

Dương Lăng ho khan một tiếng rồi nói:
- Hoàng thượng, hay là bỏ qua trò đó đi, hai chân chơi xong đứng dậy không nổi đó. Một chân thì trượt rất nhanh, nhưng sẽ khiến cho ngài ngã đến mặt mũi bầm dập, lúc đó hoàng thái hậu còn không lấy đầu của thần ư?

Chính Đức đang vò đầu bứt tai thực sự nghĩ không ra cái gì mà chốc thì hai chân chốc thì lại một chân, đang định hỏi rõ thêm thì Dương Lăng đã giành kể ngắn gọn tình hình chiến sự mới nhất ngoài biên tái một lượt. Chính Đức vừa nghe liền cả giận, quát lớn:
- Láo toét!

Mã Vĩnh Thành hoảng sợ quỳ mọp xuống đất, mấy người trên mặt tuyết nghe hắn quát cũng không dám tụ tập chơi đùa nữa, đứng ở xa không dám lại gần. Chỉ có hai cô nương một cao một thấp, khoác áo và đội mũ lông chồn nâu, mắt sáng răng ngà bước đến, người con gái thấp hơn tươi cười nói:
- Hoàng huynh, đừng có như pháo hễ động vào là nổ bùng lên như thế chứ. Dương đại nhân lại trêu chọc gì huynh rồi à?

Dương Lăng mỉm cười, thấy người thiếu nữ tươi cười như hoa đó là công chúa Vĩnh Thuần, còn vị cô nương dong dỏng như ngọc đẹp, áo đen da trắng rạng ngời đứng bên cạnh chính là Vĩnh Phúc, thì liền vội khom người hành lễ:
- Ra mắt trưởng công chúa và Vĩnh Thuần công chúa điện hạ!

Chính Đức đỏ mặt quát lên:
- Trước lúc bọn chúng đi trẫm đã ba lần bảy lượt căn dặn bọn chúng không được chia quân, không được tiến bừa, vậy mà bọn chúng lại coi lời của trẫm như gió thoảng bên tai. Mã Vĩnh Thành, lập tức truyền ý chỉ của trẫm, bắt ba cái tên ngu xuẩn đó về kinh trị tội!

Công chúa Vĩnh Thuần thấy ông anh mình thật sự đang nổi trận lôi đình, thế là tinh nghịch le lưỡi không nói nữa. Công chúa Vĩnh Phúc liếc nhanh Dương Lăng một cái, thấy y khoác áo khoác da chồn màu đen viền vàng, anh tuấn trang nghiêm, khí chất càng trưởng thành chững trạc, khuôn mặt không khỏi hơi ửng lên, vội khẽ giọng nói:
-Dương đại nhân hãy mau đứng dậy, không cần câu nệ.

Chính Đức hậm hực vất chiếc roi sang một bên. Chiếc roi đó được làm từ san hô, trên chuôi quấn tơ vàng, núm chuôi còn cẩn bảo thạch. Mã Vĩnh Thành vội cuống quít bò tới nhặt lại từ trong đống tuyết rồi dùng tay áo lau phủi tuyết đi như thể nó là bảo bối của mình vậy.

Chính Đức cũng chả thèm nhìn, đỡ Dương Lăng đứng dậy rồi nói:
- Đi, theo trẫm về cung Càn Thanh, chúng ta bàn bạc kỹ lưỡng một phen.

Lưu Cẩn và Mã Vĩnh Thành mau lẹ bước theo sau. Công chúa Vĩnh Phúc chậm rãi bước đến dưới hành lang bên hồ, ống tay áo lợp nhung đen mượt đặt trên thành lan can chạm trổ, đưa mắt nhìn theo hướng mấy người rời đi, gương mặt thanh nhã trắng ngần chất chứa một nỗi cô đơn.

Trở về tới gác Tây Noãn, vừa đặt mông xuống ghế, Chính Đức liền nói:
- Đại Đồng đông nối liền Thượng Cốc, nam thông với Tịnh Hằng, tây tiếp giáp Hoàng Hà, bắc đổ ra sa mạc, cả ba mặt đều giáp biên giới, thực sự là bức thành che chở kinh sư của trẫm, nếu bị mấy vạn đại quân giặc Thát đánh sâu vào nội địa Trung Nguyên, vậy hậu quả thực sẽ khó lường. Ba tên... ba tên..., Dương khanh, khanh thấy trẫm có cần phải phái thêm đại quân không?

Dương Lăng liền thưa:
- Hoàng thượng, Miêu Quỳ cũng xem như đã cẩn thận, quân phòng thủ tập kết ở Đại Đồng được bốn vạn. Không có quân số đông gấp mấy lần và vũ khí công thành lợi hại thì giặc Thát có muốn đánh chiếm tòa thành lũy sâu tường vững này cũng sẽ không hề dễ dàng. Hơn nữa binh mã các lộ tiến công cũng đang gấp rút quay về chi viện, Đại Đồng hẳn sẽ không thất thủ đâu.

Chính Đức tuy ham chơi, song cũng biết coi trọng chuyện dùng binh, nghe vậy mới cảm thấy yên tâm hơn. Dương Lăng lại nói:
-Điều mà thần lo lắng là giặc Thát công thì ta ắt cứu, đại quân bị bọn chúng kiềm chế và dắt mũi, tất cả mọi bố trí ban đầu đều bị xáo trộn, sẽ khó mà vãn hồi được thế cuộc suy tàn.

Chính Đức vỗ mạnh bàn một cái, đột nhiên hưng phấn đứng dậy nói:
- Để trẫm thân chinh, Dương khanh làm tiên phong, chúng ta đánh thắng một trận thật hoành tráng cho kẻ khác thấy.

Mã Vĩnh Thành định mở miệng nói, Dương Lăng đã vội cướp lời:
- Hoàng thượng, đạo dùng binh không đơn giản như vậy đâu. Thần đang nghĩ rằng, quân đoàn tinh nhuệ của Đại Minh là kinh quân, nhưng sức chiến đấu của kinh quân lại không bằng biên quân vốn chỉ có trang bị và khí giới sơ sài, nguyên do chính là vì thiếu tập luyện.

Sau khi chiến sự kết thúc, hoàng thượng có thể điều kinh quân đến biên tái, dùng bọn giặc Thát hung hãn làm thầy giáo tốt nhất, các bộ luân phiên canh giữ biên cương và luyện binh, đồng thời điều biên quân về kinh thành, do thần và hoàng thượng mỗi người tự lĩnh quân tác chiến, học hỏi bản lĩnh thống binh lĩnh soái từ những đội quân có kinh nghiệm thực chiến phong phú này. Đến khi ấy, quân đội Đại Minh ai ai cũng đều có kinh nghiệm trận mạc phong phú, quân có thể chiến đấu, quan có thể làm tướng, lúc đó hoàng thượng lại đích thân lĩnh binh tiến ra biên giới, diễn lại oai phong thời hai vua Hồng Vũ và Vĩnh Nhạc. Hoàng thượng thấy thế nào ạ?

Chính Đức nghe vậy sướng rơn, hỏi dồn:
-Hay lắm, rất hay, vậy theo khanh thấy thì hiện tại trẫm nên làm thế nào?

Dương Lăng liếc mắt sang Lưu Cẩn, Lưu Cẩn vội cười siểm đỡ lời:
- Chiến sự tiền phương bất lợi, không phải là vì quân ít tướng hèn, mà vì không có tướng tài thống lĩnh. Nô tài đã kiểm tra Dương Nhất Thanh mà Lý đại học sĩ tiến cử, nghe nói người này rất am hiểu binh pháp, hiểu rõ biên cương, thiện dã chiến, có thể làm chủ soái Đại Đồng.

Chính Đức gật đầu nói:
- Chuẩn cho, Dương Nhất Thanh này hiện đang ở chỗ nào?

Dương Lăng mỉm cười đáp:
- Mấy ngày trước gã không biết thức thời, dâng sớ nói giúp cho Lưu Kiện và Tạ Thiên, hiện bị bãi chức đang ở nhà nhàn rỗi. Bất quá một khi hoàng thượng hạ thánh chỉ, gã nhất định sẽ vui mừng tòng mệnh. Ngoài ra thần còn xin tiến cử thêm một người, là con của thượng thư Vương Hoa của bộ Lễ tên là Vương Thủ Nhân, chính là chủ sự bộ Binh người đã trình lên hoàng thượng phương pháp khắc chế đao sắc của người Oa. Người này không câu chấp mưu lược trận địa, thích tùy cơ ứng biến, rất hợp với tình thế chiến trường có thể thay đổi trong nháy mắt, có thể đề bạt hắn trợ giúp cho Dương Nhất Thanh.

Lưu Cẩn thấp thỏm lo lắng, sợ Chính Đức lại hỏi một câu "người này hiện đang ở chỗ nào", may mà khi Chính Đức nghe nói chủ sự bộ Binh thì tưởng rằng gã vẫn còn đương nhiệm, nên cũng không hỏi nhiều.

Dương Lăng lại thưa:
- Hoàng thượng, Dương Nhất Thanh vì phạm tội nên bị bãi chức. Lần này hoàng thượng trọng dụng lại gã, gã nhất định sẽ mang ơn đội nghĩa. Nhưng thân gã đang mang tội, nếu lại phái giám quân, Dương Nhất Thanh ắt sẽ nhụt tâm thoái chí, còn phải chịu cản trở, không thể thi triển hết sở trường.

Tục ngữ có câu 'nghi ngờ thì không nên dùng người, đã dùng người thì chớ nghi ngờ', hoàng thượng có thể ra lệnh gã toàn quyền phụ trách chiến sự, tiết chế tam quan, làm tam trấn tổng binh huyện Thiên Quan, tỉnh Thái Nguyên. Nếu có thể lập chiến công, đánh bại giặc Thát, thì thăng lên làm Tam biên tổng chế. Cùng lúc sử dụng ơn huệ và an ủi, Dương Nhất Thanh tất sẽ toàn lực làm việc, dốc sức phục vụ!

Lưu Cẩn vừa nghe lập được chiến công thì sẽ thăng Dương Nhất Thanh lên làm Tam biên tổng chế giống như Vương Việt năm xưa, nắm giữ mười vạn đại quân, trong lòng liền cảm thấy không ổn. Vừa định khuyên can, Chính Đức đã nói:
- Được, nghi ngờ thì không nên dùng người, đã dùng người thì không nên nghi ngờ, chỉ cần gã giải quyết được nỗi ấm ức này cho trẫm, trẫm sẽ phong hắn làm Tam biên tổng chế.

Nói đoạn Chính Đức chấp bút đích thân viết một tờ thánh chỉ, bảo Mã Vĩnh Thành triệu Thượng Bảo giám đóng ấn, rồi lệnh cho lão ta lập tức đi truyền chỉ. Lưu Cẩn nhớ ra mình vẫn còn một chiêu ám kế, thế là cũng không nói thêm gì.

Đến khi hai người rời khỏi cung Càn Thanh, Lưu Cẩn mới oán trách:
- Dương đại nhân, cái tên Dương Nhất Thanh đó và chúng ta không chung thuyền, ngộ nhỡ để gã lập được đại công, nắm giữ trọng binh, há chẳng sẽ mang phiền phức đến cho chúng ta sao?

Dương Lăng cười đáp:
- Ngài sợ gì chứ? Năm xưa Vương Việt cũng là Tam biên tổng chế, vậy mà chẳng phải một tờ thánh chỉ nói bắt vào kinh liền bắt vào kinh đó sao. Công công là nội tướng của Đại Minh, nắm giữ một nửa triều đình, tục ngữ thường nói 'bụng tể tướng có thể chèo thuyền'(6), gã dâng sớ cầu xin cho Lưu Kiện và Tạ Thiên, chứng tỏ người này cũng trọng tình trọng nghĩa, công công hà tất quá so đo?

Sắc mặt Lưu Cẩn lập tức trở nên hết sức hoà hoãn, lão ta mỉm cười dè dặt nói:
- Nói chí phải, khà khà, đến khi đó ta lại động tay chân vào quân giới khiến hắn không hoàn thành đại sự là được.

Dương Lăng giật mình thất kinh, vội ngăn:
- Vạn lần không thể!

- Hử?
Lưu Cẩn nghi hoặc nhìn y, hỏi:
-Chẳng lẽ Dương đại nhân không phải vì muốn tìm một kẻ chết thay đỡ tội cho Miêu Quỳ nên mới đẩy hai cái tên chướng mắt này ra chiến trường sao? Cớ sao lại bảo vệ bọn chúng như vậy?

Dương Lăng định thần lại một chút rồi mới nói:
- Ờ... thì đúng là như vậy. Miêu Quỳ và chúng ta là ngựa chung một tàu, gặp họa thì cùng chịu mà gặp phước thì cùng hưởng, nếu để lão ta thua đến không thể vãn hồi mới triệu về kinh, công công và ta nhất định sẽ bị ngoại quan hặc tội. Nhưng công công chớ quên, hiện tại Dương Nhất Thanh không phải là do Lý đại học sĩ đề cử, mà là chính miệng công công tiến cử, cái tên Vương Thủ Nhân nọ cũng là do bản quan tiến cử.

Nếu như hai người bọn họ lập được chiến công thì chúng ta sẽ được xem là biết nhìn người, biết dùng người, nước lên thì thuyền lên, uy danh chói lọi. Nhược bằng bọn họ thất bại, đừng thấy bọn họ cùng một hệ với Lý Đông Dương mà lầm, đám người ngoại đình ắt sẽ đổ món nợ ấy lên đầu chúng ta. Công công mới nhậm chức nội tướng, nếu dưới sự chủ trì của công công, quân ta đánh bại bọn giặc Thát hung tợn thiện chiến, ai sẽ dám không thừa nhận tài phò chính của công công? Công lao bọn họ có lớn dường nào, phần công lao lớn nhất còn không phải là của công công à?

Lưu Cẩn vỗ trán nói:
-Phải rồi, Dương đại nhân nói chí lí, xem ra phần cung ứng quân nhu này ta không thể qua loa được. Hừ! Có điều không ngờ hai cái tên không biết thức thời đó đối đầu với ta, nay lại phải chia cho bọn chúng một phần công to, thực là béo bở cho bọn chúng quá.

Lưu Cẩn nói với giọng không phục, trong lòng cũng đã âm thầm tính toán. Bản thân lão là kẻ tham ô, song lại không muốn thấy người khác tham ô, lão thích sử dụng thân nhân làm thân tín, song ghét nhất là kẻ khác dựa dẫm bám víu vào quan hệ. Hơn nữa lão tuy là thái giám song lại không hề tín nhiệm thái giám, cho nên vẫn luôn muốn trọng dụng một số người phe ngoại đình, phát triển thế lực của bản thân. Hiện tại nếu đã không thể lật đổ Dương Nhất Thanh, lão liền âm thầm tính toán làm sao để có thể chiêu nạp cho mình dùng.

Thấy đã thuyết phục được Lưu Cẩn, lúc này Dương Lăng mới thầm thở phào nhẹ nhõm. Đại quân đang chiến đấu ở bên ngoài, nếu như trong triều có người tay nắm quyền lớn như vậy mà ngấm ngầm ngáng chân, thì cho dù là Nhạc Vũ Mục(7) tái thế cũng đừng hòng thắng giặc.

*****

Trong Dương phủ, Hàn Ấu Nương, Ngọc Đường Xuân, Tuyết Lý Mai và Cao Văn Tâm tiễn Âu Dương phu nhân ra về, bọn họ nói cười vui vẻ, hợp ý vô cùng.

Vị phu nhân của Nghiêm Tung còn lớn hơn tướng công thị một tuổi, nhưng tri thư đạt lễ, nết na hiền lành. Nàng giống như Ấu Nương, cũng bầu bạn cùng tướng công mình từ thuở cơ hàn, cho nên rất được Nghiêm Tung kính trọng.

Bà ta thường hay đến nhà trò chuyện cùng đám người Hàn Ấu Nương việc vặt trong nhà, một mặt là do tướng công vốn không có thế lực chống lưng, hắn đã ngầm tỏ ý muốn bà ta kết giao với một đám nhân vật quyền thế nhằm có thể đứng vững trong kinh sư, đồng thời đích thực cũng bởi bà ta và mấy người Hàn Ấu Nương rất tâm đầu ý hợp.

Bà ta cùng trượng phu mình thành thân đã lâu, nay đã hai mươi sáu tuổi song lại vẫn chưa có mụn con. Hiện tại tướng công đã có quan tước, điều kiện gia cảnh cũng rất tốt, bà ta cũng từng nảy ra ý định muốn nạp thiếp lấy vợ bé cho trượng phu, song lại bị Nghiêm Tung nghiêm khắc cự tuyệt. Việc này càng khiến cho Âu Dương phu nhân cảm thấy hổ thẹn không thôi.

Hôm nay đến Dương phủ viếng thăm, nghe tin vui Hàn Ấu Nương đã mang thai, Âu Dương thị rất đỗi hâm mộ. Cao Văn Tâm nghe bà ta kể tâm sự bèn bắt mạch giúp cho, rồi ghi một đơn thuốc, bảo cầm về uống thử. Vốn đã từng nghe đại danh của nữ thần y, thế là bà ta bèn cất kỹ đơn thuốc vào người như thể là báu vật, hận không thể lập tức lắp hai cánh bay đến tiệm thuốc ngay.

Nhìn thấy điệu bộ hồn vía trên mây của bà, Hàn Ấu Nương bèn cùng mấy tỷ muội đưa tiễn về. Lúc này Ngũ Hán Siêu đang luyện kiếm trước tiền đình. Hắn vẫn chưa khỏi hẳn thương thế, nhưng người từng tu luyện nội công thượng thừa lấy điều hoà hơi thở bên trong làm phụ trợ, khiến tốc độ hồi phục mau chóng vô cùng.

Hàn Ấu Nương cùng Âu Dương phu nhân đi ở phía trước, vừa mới rẽ từ hành lang hông qua, trông thấy vị công tử của Ngũ đồng tri hất, đâm, quét, chém; kiếm pháp sử dụng kình lực liên miên, cương nhu có cả, kiếm thế uyển chuyển mà hùng hồn. Nàng tuy không biết kiếm pháp nội gia song lại hiểu được lợi hại trong đó, nhịn không được kinh ngạc thốt lên:
- Công phu thật giỏi!

Ngũ Hán Siêu nghe tiếng bèn thu kiếm, trông thấy rõ Dương phu nhân và mấy vị nội quyến, mắt liền hướng thẳng, chắp tay thi lễ chào:
- Kẻ hèn ra mắt phu nhân.

Đám người Hàn Ấu Nương vòng từ hành lang bên hông đi ra, Hàn Ấu Nương cười khẽ nói:
- Ngũ công tử bị thương nặng như vậy, không ngờ đã chóng khỏi rồi.

Ngũ Hán Siêu cười đáp:
- Đó đều nhờ... Cao cô nương diệu thủ hồi xuân. Còn phải cảm tạ đại nhân và phu nhân đã quan tâm chu đáo cho kẻ hèn này.

Vừa nói ánh mắt vừa không kiềm được liếc sang Cao Văn Tâm. Ngày đó hắn nghe Cao Văn Tâm gọi Dương Lăng là 'đại nhân nhà ta', khẩu khí lại không giống như thiếp thất của Dương Lăng, con tim liền hoạt bát trở lại. Bóng hình xinh đẹp lung linh dưới ánh nến và khí chất cao quý của Cao cô nương trong khoảnh khắc vừa tỉnh dậy đã in sâu vào trong lòng hắn; vị thanh niên học nghệ trên núi mười năm này đã động lòng ái mộ.

Hắn nghĩ phụ thân mình tốt xấu gì cũng là châu đồng tri tòng ngũ phẩm, mình lại văn võ song toàn, nhất biểu anh tài, nếu Cao Văn Tâm chỉ là tì nữ Dương phủ, bất luận thế nào mình cũng xứng đôi với nàng ấy. Nhưng bản thân hắn không tiện dò hỏi gia bộc Dương phủ về cô nương nhà người ta. Từ sau ngày đó mỗi lần Cao Văn Tâm đến xem bệnh cho hắn đều luôn kéo theo Cao lão quản gia kè kè bên người, hại hắn đến giờ vẫn như ngắm hoa trong sương mù, tra không ra được thân phận thật của cô nương này. Hiện tại thấy nàng đi chung cùng hai vị thiếu nữ kiều mị cùng búi kiểu tóc phụ nữ đã có gia đình, dáng vẻ không giống như là một thị nữ, trong lòng cảm thấy kế hoạch thất bại rồi.

Khi nãy Hàn Ấu Nương thấy công phu của hắn, biết đó là võ nghệ vô cùng cao siêu, còn võ công của mình là đi theo con đường ngoại gia bá đạo. Tướng công cứ nói điều này đã lâu mà vẫn chưa được học, võ công của người này lại thích hợp để tướng công học tập. Tuy tướng công đã quá tuổi thích hợp để luyện võ, nhưng dùng để cường thân kiện thể vẫn tốt, hơn nữa người này văn võ song toàn, gia thế thanh bạch, nếu có thể giữ lại để phò tá tướng công cũng vẫn có thể xem là một nhân tài.

Hàn Ấu Nương mang trong lòng phần tâm tư này, cho nên đối đãi với hắn càng thêm khách khí, dừng lại chuyện trò vài câu, rồi mới kéo tay Âu Dương phu nhân ra cổng. Cao Văn Tâm cũng nheo mắt liếc hắn một cái, rồi cũng đi theo sau Hàn Ấu Nương ra ngoài.

Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai vừa trò chuyện vừa lặng lẽ đi theo phía sau, một cơn lốc cuộn tới, Ngọc Đường Xuân không chú ý, chiếc khăn hoa quàng cổ đã bị ngọn gió cuốn phăng treo trên ngọn cây cao.

Chiếc khăn quàng cổ này là của Dương Lăng đích thân tặng cho nàng lúc từ Giang Nam trở về, Ngọc Đường Xuân nào nỡ vứt bỏ, liền vội chạy đến bên gốc cây, ngước nhìn ngọn cây cao đến mấy trượng, giậm chân kêu:
- Tuyết Nhi, mau đi tìm người mang thang đến đi.

Ngũ Hán Siêu ngửa đầu nhìn thân cây, nói:
- Thang cũng không bắt tới ngọn đâu, xin phu nhân hãy tránh sang bên, kẻ hèn sẽ giúp người lấy xuống.

Ngọc Đường Xuân nhấc váy lùi lại vài bước, đứng cùng Tuyết Lý Mai kinh ngạc nhìn hắn. Ngũ Hán Siêu hít sâu một hơi, găm kiếm vào trong tuyết, nhẹ nhàng búng người tới trước vài bước rồi phóng người nhảy lên trượng hai trượng ba, một chân điểm nhẹ chính xác lên một cành cây, khóm tuyết rơi lả tả, hắn mượn thế lại phóng lên thêm hơn trượng, liên tục hai lần, vươn một tay với lấy chiếc khăn, rồi vặn lưng trên không trung, nhẹ nhàng sà xuống như một con diều hâu.

Nội thương của hắn chưa khỏi hẳn, chỗ bị thương trên ngực cũng chưa lành, cú nhảy này không dám dốc toàn lực, lúc tiếp đất mặt hơi ửng đỏ. Hắn ho khẽ vài tiếng rồi mới đưa khăn qua, nói:
- Phu nhân, khăn của người đây.

Ngọc Đường Xuân cầm lấy khăn, thán phục:
- Thật lợi hại, con người có thể nhảy cao như vậy sao?

Ngũ Hán Siêu mỉm cười đáp:
- Chỉ là chút tài mọn, khiến phu nhân chê cười rồi. Dương đại nhân là tổng đốc nội xưởng, dưới tay tàng long ngoạ hổ, cao thủ như mây, những kẻ tài giỏi hơn xa tại hạ nhất định đều tề tụ dưới trướng.

Tuyết Lý Mai quả không biết dưới trướng phu quân có những người nào, nhưng dẫu sao trước mặt người ngoài quyết không thể lộ dốt cho tướng công được, thế là nàng cười khẽ một tiếng, tinh nghịch nói:
- Xem như ngươi thức thời, dưới trướng lão gia chúng ta quả thực cao thủ như mây, lúc bắt phản loạn Đông xưởng, năm nghìn đấu với tám nghìn mà chỉ bị thương chưa tới bốn chục.

Ngũ Hán Siêu thấy vị tiểu phu nhân này hãy còn ấu trĩ, dễ đối phó hơn vị đứng cạnh bên, bèn thừa cơ dò hỏi:
- Tại hạ tạm trú ở Dương phủ, song lại không biết hai vị phu nhân, cho nên vừa nãy chưa chào hỏi, thật sự thất lễ, không biết nên xưng hô thế nào?

Tuyết Lý Mai và Ngọc Đường Xuân hơi sững người. Thiếp thất ở các hộ gia đình lớn bình thường đương nhiên sẽ phân làm 'nhị phu nhân', 'tam phu nhân'. Hai người được gả vào cùng lúc, Dương Lăng lại không phân biệt đối xử với bọn họ.

Ngọc Đường Xuân thoáng trù trừ, khi nãy thấy Hàn Ấu Nương đối đãi hết sức kính lễ với hắn, nàng cũng không dám đánh mất lễ nghi, bèn điềm đạm đáp:
- Công tử chớ nên khách khí, trong phủ vẫn luôn gọi ta là Ngọc phu nhân, muội ấy là Tuyết phu nhân.

Ngũ Hán Siêu lại thi lễ hỏi tiếp:
- Ra mắt Ngọc phu nhân, Tuyết phu nhân. Ờm... vị cô nương họ Cao giúp kẻ hèn chẩn bệnh trị thương nọ cũng là Dương phu nhân sao? Kẻ hèn không tiện hỏi thẳng trước mặt, lại sợ xưng hô không đúng lễ phép.

Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đưa mắt nhìn nhau, bất tri bất giác lại đột nhiên nhớ đến bức tranh xuân cung khiêu khích nọ, vẻ mặt lập tức có phần ngượng ngập. Quan hệ của hai người bọn họ đã phát triển đến tình trạng như vậy mà vẫn không thấy lão gia có vẻ gì là sốt ruột, chẳng lẽ vì cảm thấy trong một năm mà nạp ba thiếp vào nhà là chuyện khiến người chê cười, nên muốn lần lữa sang năm sao?

Ngọc Đường Xuân do dự đáp:
- Cao cô nương là... thái y ngự tứ của Dương phủ, cũng không phải là nội quyến nhà họ Dương.

Ngũ Hán Siêu vừa nghe liền cả mừng. Vẻ mừng rỡ vừa thoáng hiện bên khóe chân mày, Tuyết Lý Mai đã cười hì hì như một chú chim khách bồi thêm một câu:
- Nếu công tử gọi tỷ ấy là Dương phu nhân thì tỷ ấy cũng sẽ không nổi giận đâu. Hiện tại chưa phải, nhưng qua mấy tháng nữa thì nhất định sẽ phải.






Chú thích:

(1) điều hoà hơi thở

(2) nghèo học văn, giàu học võ; vì đụng tới võ nghệ (thứ thiệt) rất tốn kém. Thậm chí dựng phim chiến tranh cũng tốn kém hơn phim tình cảm nhiều, lúc đó đạo diễn cũng cảm khái "Cùng văn, phú võ".

(3) đường huynh, đường đệ là anh/em con bác bên nội; biểu huynh/đệ là anh/em con cậu bên ngoại

(4) thím

(5) nữ chủ nhân

(6) nguyên văn 'Tướng quân ngạch hoành kham tẩu mã, tể tướng đỗ nội năng xanh thuyền' nghĩa là trán tướng quân có thể phi ngựa, bụng thừa tướng có thể chèo thuyền, ý khuyên con người nên rộng lượng và khoáng đạt trong cách đối nhân xử thế.

(7) chỉ danh tướng Nhạc Phi thời Tống




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

6300
05-04-2012, 10:00 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

171 Ngầm nổi sát khí


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: 6300

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Thành Khởi Vận nói tiếp:
- Còn không phải chính đại nhân hại người ta sao?
Nhưng lời này vừa ra miệng, cảm thấy ý nghĩa hơi mập mờ, má nàng không khỏi nóng lên.

Dương Lăng không dám nhìn bộ dạng đau lòng đáng thương của nàng, ánh mắt cụp xuống. Y nhìn thấy những chữ trên tấm giấy hoa tiên kia có phần quen mắt, nhịn không được kéo nó lại gần. Nước mắt đã làm ướt nhòe vài chữ, hai hàng bên trái còn thấy rõ, dòng chữ nhỏ nhắn xinh đẹp viết chính là "Thiếp tựa mù giăng, chàng tựa trăng. Trăng lặn mù tan đọng sương lan. Cảm lòng chàng..."





Chương 171 Ngầm nổi sát khí





Hàn Ấu Nương đưa mắt trông theo kiệu của Âu Dương phu nhân khuất sau hàng rào bụi cây, nàng đang định cùng Cao Văn Tâm trở vào trong thì phía sau hàng rào đã xuất hiện hai con tuấn mã một trắng, một đỏ phóng nhanh đến.

Đường mòn không rộng mấy, có lẽ vì muốn tránh va phải nương tử nhà họ Nghiêm nên cặp tuấn mã phóng vội lên ụ tuyết đọng ven đường. Trước mặt con đường nhỏ là một dòng suối hẹp quanh co đã đóng băng, chỉ thấy kỵ sĩ trên ngựa ghìm cương, nhổm người, hai thớt kiện mã đã chồm lên, xoay thân gần chín mươi độ bay vòng sang.

Lúc xưa tại Kê Minh, Hàn Ấu Nương đã từng gặp Mã Liên Nhi cũng là kỵ sĩ cao cường như thế. Lúc này thấy vậy, hai mắt nàng mở to. Người trên bạch mã là một cô gái xinh đẹp, thân hình tuyệt mỹ, tóc mai đen nhánh, mặt phấn cằm xinh. Cưỡi trên con ngựa đỏ bên cạnh là một tráng niên khôi ngô mặc áo vàng.

Cao Văn Tâm nói nhỏ với Hàn Ấu Nương:
- Muội muội, đó là khách của nhà mình.

Hàn Ấu Nương vừa đáp vâng, hai con ngựa đã phi đến trước mặt. Người đàn ông trên ngựa cười ha ha mở lời:
- Cao cô nương, lại gặp mặt rồi!
Nói xong không cần chống lên yên ngựa, hắn lập tức đánh chéo chân nhảy ngay xuống đất, thân thủ rất mạnh mẽ.

Cô gái áo đỏ nhoẻn cười, vịn yên ngựa rồi cũng nhẹ nhàng nhảy xuống đất, tiến lên hai bước chắp tay cười chào:
- Cao thần y! Vợ chồng chúng tôi đặc biệt đến cảm tạ ơn Cao thần y và Dương đại nhân đã ra tay cứu mạng.

Cao Văn Tâm vội đáp:
- Vị này chính là Dương phu nhân.

Vợ chồng Dương Hổ nghe vậy vội cùng song song chắp tay thi lễ. Hàn Ấu Nương đã nghe sơ qua chuyện của bọn họ, từ khi vào kinh tới nay nàng chỉ gặp người trong quan trường nên cặp vợ chồng hào sảng này rất hợp tính với nàng. Hàn Ấu Nương vội vui vẻ tiến lên trước nghênh đón, nói:
- Dương đại ca, Dương phu nhân, tướng công nhà ta làm công chuyện hãy còn chưa về. Ấu nương đã sớm nghe đến đại danh hai vị. Mau mời vào bên trong.

Vợ chồng Dương Hổ không ngờ một vị cáo mệnh phu nhân lại nói chuyện cởi mở như thế, bên cạnh cảm giác bất ngờ lại có nhiều phần thân thiết. Bốn người vừa vào đến viện đúng lúc Ngọc Đường Xuân và Tuyết Lý Mai đến chào đón, đi theo phía sau với vẻ mặt vô cùng đau khổ đích thị là Ngũ Hán Siêu.

Suốt dọc đường Dương Hổ mang đám người Dương Tuyền, Ngũ Hán Siêu vào kinh, Ngũ Hán Siêu đã khi mê khi tỉnh nên ũng coi như quen biết nhau. Vừa thấy hắn, Dương Hổ liền phóng tới nhằm bả vai đối phương đấm một quyền, vừa ha ha cười nói:
- Ngũ lão đệ, ngươi đã khỏe chưa?

Hắn luyện công phu ngoại môn, một đôi thiết chưởng có thể đánh tan bia, vỡ đá. Quyền này xuất lực rất nhiều, nhưng Ngũ Hán Siêu phản ứng cực nhanh, quyền phong vừa tới sát, thân hình hắn liền hơi rùn xuống, bả vai hơi hạ thấp. Động tác này ngay lập tức đã tước mất quá nửa lực đấm của Dương Hổ.

Dương Hổ chỉ cảm thấy quyền đánh vào không khí, giống như đánh trúng một tấm vải mùng treo trên không trung, không hề có lực phản chấn. Đương lúc hắn ngẩn ngơ thì một luồng kình mềm dịu bắn ra, cú đấm đã sượt bả vai Ngũ Hán Siêu. Ngũ Hán Siêu vẫn đứng tại chỗ như không có chuyện gì, chỉ cười khổ nói:
- Dương huynh nhẹ tay một tí đi, huynh đệ còn chưa khỏe hẳn đâu.

Thôi Oanh Nhi chưa từng cùng yêu đạo Lý Phúc Đạt chạm mặt, nhưng biết lão có ba con trai tên Nhân Từ, Đại Nghĩa, Đại Lễ. Ba người này hiện vẫn chỉ là thanh niên xấp xỉ đôi mươi. Năm trước ở Bá Châu, Thôi Oanh Nhi đã giao thủ cùng Lý Đại Nghĩa, hai người ngang tài ngang sức.

Thôi Oanh Nhi rất tự tin vào bản thân, nàng không tin gã thư sinh trước mặt này có thể đánh bị thương cha của Lý Đại Nghĩa, cho nên trước khi đến đây đã bày mưu đặt kế để trượng phu thăm dò võ công của hắn nông sâu thế nào. Có câu kẻ thạo nghề chỉ cần vừa ra tay, liền biết tài năng như thế nào. Vừa rồi thử Ngũ Hán Siêu một chiêu, Thôi Oanh Nhi đã nhìn ra võ nghệ của thư sinh này quả thật tuyệt vời. Dù là chính mình cũng chưa chắc là đối thủ của hắn.

Thôi Oanh Nhi xoay tròn đôi mắt xinh đẹp, liếc Dương Hổ, sẵng giọng:
- Tay chân lúc nào cũng vụng về, vị Ngũ huynh đệ này vết thương chưa lành, chàng đừng làm cho người ta bị nặng thêm.

Nói xong nàng cười khanh khách nghênh đón Tuyết Lý Mai và Ngọc Đường Xuân, mỗi tay dắt một cô, khen:
- Dương phu nhân đoan trang hào phóng, hai vị muội muội cũng là nhân gian tuyệt sắc, khiến tỷ tỷ thấy mà rất hâm mộ đấy.

Ngọc Đường Xuân mặt như trăng rằm, mắt như làn thu thủy, mắt ngọc mày ngài, tự có nét phong lưu. Bởi vì ngày mai chính là hai mươi ba tháng chạp, nên tất cả cùng quét dọn nhà cửa cúng ông táo. Đây là ngày tết chính thức đầu tiên sau khi Dương Lăng thành lập gia đình. Bởi Ấu Nương rất quan tâm đến ngày này, cả phủ trên dưới đều vô cùng coi trọng.

Ngọc Đường Xuân mặc chiếc váy dài xếp nếp màu hồng mặc trong dịp lễ hội, bên ngoài khoác áo chẽn màu xanh nhạt, trên mái tóc mây cài một cây trâm bạch ngọc, tư thế yểu điệu thanh tú, eo thon dịu dàng vừa một nắm tay. Vẻ yêu kiều của nàng đúng là mỹ lệ nhất trong chúng nữ.

Tuyết Lý Mai mặc một bộ áo khoác tơ tằm màu lục dệt kim tuyến, vận một cái váy gấm kết hoa vàng nhạt, miệng anh đào nhỏ nhắn, răng trắng môi đỏ, mặc dù trông hơi xinh xắn ngây thơ, nhưng cũng là tiểu mỹ nhân linh động hoạt bát.

Tuy hai cô chưa biết thân phận của Hồng nương tử nhưng thấy Thôi Oanh Nhi cũng mắt hạnh hàm đào, xinh đẹp như ngọn lửa nóng mà lại không hề tiếc lời ca ngợi hai cô như thế nên không khỏi mở cờ trong bụng, lật đật mỉm cười chào nàng.

Những cô gái này tụm lại với nhau. Cô này khen cô kia có kiểu tóc kết rất đẹp, cô kia khen lại cô này có bộ quần áo phối hợp rất duyên, … chuyện nhà chuyện xóm vui vẻ trò chuyện không thôi, vứt Dương Hổ và Ngũ Hán Siêu qua một bên. Hai người nhìn nhau cười khổ, đành phải chậm rãi bước theo sau cùng bước vào phòng chính.

Cao quản gia thấy khách đến nhà đã sớm dặn dò nữ nô tì bưng lên trà thơm, hạt dưa, mọi người liền ở phòng khách nói chuyện phiếm. Đang lúc nói chuyện, ngoài cửa chợt vang lên tiếng ngựa hí, chỉ trong chốc lát Dương Lăng khoác chiếc áo khoác dài dẫn hai phiên tử đi huỳnh huỵch vào trong viện, từ xa đã lớn tiếng la lên:
- Quản gia! Thành cô nương có đang ở nhà không?

Cao quản gia vội vàng đẩy cửa ra ngoài đón, nhỏ giọng thưa:
- Lão gia! Có khách đến viếng phủ, phu nhân đang tiếp khách đấy.

Dương Lăng hơi giật mình, hỏi:
- Ai tới vậy?

Đang khi hỏi chuyện, y vừa đưa mắt lên đã thấy Hàn Ấu Nương và vợ chồng Dương Hổ nghe tiếng đã ra tới cửa đón. Dương Lăng vội vàng thu lại sắc mặt vô cùng lo lắng của mình, thay bằng bộ mặt tươi cười nói:
- Hóa ra là Dương huynh, Dương phu nhân! Đã không nghênh đón sớm rồi!

Tuyết Lý Mai lén cười khúc khích, thầm thì vào tai Ngọc Đường Xuân:
- Vị này là Dương phu nhân, vị kia cũng là Dương phu nhân. Nhắm mắt lại nghe, còn tưởng rằng đang gọi phu nhân của mình .

Ngọc Đường Xuân nghe xong cũng nhoẻn miệng cười, nàng sợ bị người nghe thấy nên lặng lẽ bấm cô em gái nghịch ngợm này. Tuyết Lý Mai đang cười trộm, chợt cảm thấy trên mông bị chích nhẹ vội quay đầu lại nhìn, nhưng chẳng phát hiện được gì nên nàng hơi kinh ngạc.

Trong khi đó, Dương Hổ và Ngũ Hán Siêu lại đều thấy rõ động tác của Thôi Oanh Nhi. Nàng không hề quay đầu lại, chỉ cung tay búng ra, một viên đá nhỏ lập tức bắn về phía sau, lượn một vòng cung chính xác đánh trúng vào mông Tuyết Lý Mai. Hai người cùng liếc mắt nhìn nhau, lại cùng thầm hiểu trong lòng, không cần nói gì cũng không quay đầu lại.

Dương Lăng vừa từ trong cung trở về. Mới đến cổng thôn y gặp quản gia của Cao viên ngoại - một trong Lục Đại địa chủ của bảy tòa hoàng thôn trang bản địa, Dương Lăng liền xuống ngựa bắt chuyện với lão.

Y không muốn quấy nhiễu dân chúng. Thực tế cho dù lấy quyền thế của y muốn cưỡng đoạt đất đai của những địa chủ thân hào nông thôn này cũng chẳng thể được. Nhưng mà, sau lễ cúng ông Táo chính là lập xuân. Y muốn ở gieo trồng rộng rãi loại giống lương thực mới lân cận kinh thành, nhằm sản xuất đại trà giống lương thực này, đào tạo một lứa gia phu hiểu rõ phương cách thu hoạch canh tác mới, làm cho trăm quan trong triều cúi đầu với sự thật trước mắt. Nhưng mà trong tay y lại không có đủ đất đai nên tất cả sẽ chỉ là nói suông.

Dương Lăng thử dò hỏi vị lão quản gia này về khả năng thuê hoặc mua đất đai của Cao viên ngoại, y không thể ngờ lão quản gia kia nghe xong lại tỏ vẻ kinh ngạc khó hiểu. Từ miệng lão, Dương Lăng mới biết được, ngoài Lý Kế Mạnh ra, bây giờ đất đai sáu vị viên ngoại xung quanh đều thuộc quyền sở hữu của Thành Khởi Vận. Chuyện này là do vị công tử họ Thành và Cao lão gia bàn bạc. Ngay cả lão quản gia cũng không biết rõ tình hình.

Dương Lăng và Thành Khởi Vận sống chung với nhau hơn hai tháng. Y sớm biết vị Thành cô nương này tùy hứng kiêu ngạo, làm việc chỉ theo sở thích, không màng chính tà. Tuổi thực của Dương Lăng còn lớn hơn của Thành Khởi Vận hai tuổi, sao y lại nhìn không ra tâm tư ton hót muốn lấy lòng mình của cô nàng?

Bình thường y chỉ là giả ngu giả dại thôi, bây giờ nghe xong tin tức này y không biết Thành Khởi Vận dùng thủ đoạn lừa gạt như thế nào lại khiến cho sáu vị thân hào này ngoan ngoãn giao đất đai, hơn nữa cho tới nay vẫn không dám loan tin, cho nên y vội vàng chạy về phủ muốn hỏi cho rõ.

Y không ngờ vợ chồng Dương Hổ lại đến thăm viếng vào lúc này, đành phải bình tâm tiếp đãi hai vị khách trước đã. Nam chủ nhân trở về nhà, đám phụ nữ cũng không tiện ở bên cạnh, Hàn Ấu Nương bồi tiếp Thôi Oanh Nhi, một đám chị em líu ríu đi thẳng vào nhà sau. Dương Lăng cùng Dương Hổ, Ngũ Hán Siêu ở phòng chính nói chuyện phiếm.

Ba người chuyện vãn một hồi, dần dần kéo sang chuyện võ học. Ngũ Hán Siêu và Dương Hổ một mặt vừa kể lại kinh nghiệm ngày ấy cùng lão đạo sĩ động thủ so chiêu, một mặt hoa tay múa chân diễn tả. Trò chuyện tới lúc hào hứng, hai người liền muốn so tài một phen.

Trước cửa có cây cối vườn hoa nên không tiện động thủ. Dương Lăng cũng rất muốn xem thử một lần những võ lâm cao thủ thật sự này đánh nhau ra sao, liền đứng lên cười nói:
- Hai vị! Sân sau của tại hạ khoáng đãng rộng rãi, các vị đã muốn so tài một phen hay là chúng ta hãy đi đến đó đi. Ha ha, có điều vết thương của hai vị vừa lành, chúng ta cần phải đến điểm là dừng nhé.

Ba người nói cười đi vào hậu viện, đi thẳng tới sân vườn phía sau. Dương Lăng thấy bên trái chính là thư phòng nơi Thành Khởi Vận ở tạm, liền bảo:
- Hai vị! phu nhân tại hạ cũng là người thích võ. Ha ha, để ta gọi các nàng cùng đến mở rộng tầm mắt. Quản gia, ông đưa hai vị quý khách đến vườn sau trước đi.

Dương Lăng cáo lỗi xong, vội rẽ vào nội thư phòng. Vừa vén mành cửa, y đã thấy Thành Khởi Vận đang ngồi ngay ngắn trên ghế tựa, nghiêng nghiêng vầng trán xinh đẹp, bàn tay trắng nõn đang cầm cây bút lông sói viết gì đó trên tờ giấy Tiết Đào(1) màu lam nhạt. Thấy Dương Lăng đi vào, Thành Khởi Vận hơi kinh ngạc, xen lẫn vui mừng. Nàng cười thánh thót như suối reo, đặt bút xuống, tha thướt đứng dậy bước vòng qua thư án, chào:
- Đại nhân, sao hôm nay ngài nhàn rỗi đến thăm ty chức vậy?

Dương Lăng thấy nàng mặc chiếc váy trong nhà màu xanh nhạt, ngoài choàng áo chẽn cùng màu, toàn thân trắng trong thuần khiết, xinh đẹp nho nhã. Hơn nữa chiếc váy của nàng được may cắt khéo léo, áo chẽn nhẹ nhàng mềm mại càng tôn lên những đường cong nhấp nhô mềm mại, thân thể uyển chuyển vô cùng.

Dương Lăng đột nhiên nhớ tới ngày nàng mới tới Dương phủ, eo thon mang vòng chuông vàng nhỏ, xinh đẹp với làn da như nước, xương mềm như rắn. Cơn giận hơi hơi hạ xuống một ít, y bình tĩnh chậm rãi bước thong thả tới ngồi vào ghế tựa chất vấn:
- Ta hỏi cô, hiện nay có tám chín phần mười đất đai bảy tòa hoàng trang đều đã đứng tên cô phải không? Sao ta không biết gì cả?

Thành Khởi Vận ngạc nhiên, hai mắt mở to, sau đó cười khúc khích, ngọt ngào đáp:
- Đại nhân việc công bận rộn quá đi, chút chuyện nhỏ này tự nhiên có ty chức cống hiến sức lực rồi. Ngài biết được cũng tốt, nếu không thì hôm nay ty chức cũng dự định báo cho ngài biết. Qua Tết nên sớm chuẩn bị đầy đủ, trâu cày này, các loại lương thực này, nông cụ này, còn có việc động viên tá điền nữa. Việc cần chuẩn bị cũng không ít đâu.

Dương Lăng nhíu mày bảo:
- Không phải ta hỏi việc này. Ta muốn hỏi cô làm thế nào mà có thể khiến cho những địa chủ kia chịu nhượng lại đất đai?

Thành Khởi Vận tỏ vẻ ngoan ngoãn, khóe môi anh đào lại giống như lấp ló ý cười. Nàng trộm liếc Dương Lăng, cười xinh xắn đáp:
- Đại nhân đoán không ra à? Hì hì, có Nội xưởng dùng làm chiêu bài chữ vàng ấy, ty chức.......

Dương Lăng nghe tới đây thì lòng trầm hẳn xuống, nhịn không được vỗ bàn, tức giận gắt:
- Quả nhiên không ngoài sở liệu của ta, cô...... Cô dùng Nội xưởng đe dọa cưỡng bức bọn họ. Cô định biến Nội xưởng thành ra như Cẩm y vệ và Đông xưởng hay sao?

Y tức giận đến xanh mặt, phất tay áo đứng lên nói:
- May mà bản quan biết sớm, bằng không sau vài ngày các Ngự Sử ngôn quan sẽ ào ào thượng tấu buộc tội bản quan. Bản quan chưởng quản hoàng trang chưa đầy một năm đã chiếm cứ hết sạch đất đai, tội danh này làm thế nào thoát khỏi? Lập tức mang ruộng đất trả hết cho ta. Đúng là việc tốt không đủ, việc xấu lại có thừa!

Thành Khởi Vận chết sững, hai tay trong tay áo run lên nhè nhẹ, ống tay áo đang cuộn cũng rũ xuống, cặp mắt long lanh chơm chớp, một làn hơi nước nhanh chóng trào lên. Nàng bước từng bước đến bên cạnh bàn, nhìn chăm chú Dương Lăng rất lâu rồi bỗng nhiên gật đầu lộ vẻ sầu thảm cười nói:
- Hay lắm! Thì ra đại nhân xem ta là loại người như vậy.

Nàng đưa một tay đang run lẩy bẩy nhón lên một xấp giấy từ trên bàn, chậm rãi đưa đến trước mặt Dương Lăng. Năm ngón tay nàng xòe rộng, xấp giấy rơi xuống một cách buồn bã.

Dương Lăng ngạc nhiên nhặt xấp giấy lên. Tờ nằm ở trên cùng rõ ràng là bản khế ước Cao viên ngoại bán ruộng đất, có chữ kí và dấu lăn tay của hai bên, lại có bảo trưởng, hương thân làm chứng. Văn tự ghi rõ Cao viên ngoại đem tám trăm ba mươi mẫu đất liệt kê bên dưới bán cho nàng lấy chín nghìn lượng, lập ngày mồng một tháng chạp năm Hoằng Trị thứ mười tám.

Giá cả thế này rất là hợp lý, với lại so với giá thị trường thì còn cao hơn một chút. Nhưng Dương Lăng cũng biết rằng cho dù giá cả cao gấp vài lần đi chăng nữa, trừ phi cuộc sống khó khăn không còn cách nào xoay xở chứ những hương thân địa chủ này cũng dứt khoát không bán điền sản. Y lật qua một tấm khác, vừa liếc qua không tránh khỏi sửng sốt. Tờ văn tự này cũng có đôi dấu tay như tấm trước, nhưng bản này lại là khế ước Thành Khởi Vận bán đất.

Bản khế ước này ghi rõ Thành Khởi Vận bán tám trăm ba chục mẫu đất cho Cao viên ngoại lấy bảy ngàn năm trăm lượng. Dương Lăng nhìn mà chẳng hiểu ra sao, mãi tới lúc nhìn thấy ngày ký giấy là ngày một tháng chạp Chính Đức nguyên niên, y mới chợt bừng hiểu.

Thì ra Thành Khởi Vận lấy lời to dẫn dụ bọn họ, ký cho mấy vị đại địa chủ này tấm “chi phiếu” nhận tiền ở tương lai. Những ruộng đồng này một năm thu lãi ròng nhiều nhất là một ngàn lượng, bây giờ không cần bận tâm chút nào mà cho dù hạn hán hay bão lụt đi chăng nữa họ vẫn có thể cầm được một ngàn năm trăm lượng bạc trắng. Có khế ước trong tay, sang năm lại có thể thu đất đai trở lại. Loại chuyện tốt như thế này chỉ có đồ ngốc mới không đồng ý.

Dương Lăng vội vàng đứng lên, nhìn thấy nàng đang bành miệng, uất ức giống như một đứa bé, trong lòng vừa áy náy, vừa hơi buồn cười. Y dừng chân một chốc, thở dài than:
- Cô...... Sao cô không sớm nói cho ta biết, cần gì phải giấu giấu giếm giếm.

Thành Khởi Vận ấm ức:
- Người ta nghĩ được biện pháp này, nhưng người ta cũng không biết bọn họ sẽ đồng ý hay không, làm sao mà có thể nói trước cho đại nhân biết chứ? Nếu như chính mình không làm địa chủ, những nông dân tá điền kia sẽ không an tâm canh tác. Chính người ta tự móc bạc ra làm việc cho đại nhân... Từ khi đến làm môn hạ của đại nhân, sức cũng vì đại nhân mà dốc, mạng cũng vì đại nhân mà bán. Tuy đã từng có lần lầm lỗi với đại nhân, nhưng làm sao đại nhân lại cho rằng người ta tệ hại như vậy?

Thành Khởi Vận càng nói càng thương tâm, hai hàng nước mắt trong vắt dọc theo gò má trơn bóng của nàng từng giọt rơi xuống. Từng giọt lách tách đập vào nửa trang giấy Tiết Đào, ngay lập tức thấm nhòe nét mực.

Dương Lăng chỉ cảm thấy toàn thân nóng bừng, áy náy nói:
- Này...... Này...... Phải phải phải, là ta sai rồi, ta nhận lỗi với cô. Ái chà, làm sao cô vừa gặp ta là khóc thế này!

Thành Khởi Vận nói tiếp:
- Còn không phải chính đại nhân hại người ta sao?
Nhưng lời này vừa ra miệng, cảm thấy ý nghĩa hơi mập mờ, má nàng không khỏi nóng lên.

Dương Lăng không dám nhìn bộ dạng đau lòng đáng thương của nàng, ánh mắt cụp xuống. Y nhìn thấy những chữ trên tấm giấy hoa tiên kia có phần quen mắt, nhịn không được kéo nó lại gần. Nước mắt đã làm ướt nhòe vài chữ, hai hàng bên trái còn thấy rõ, dòng chữ nhỏ nhắn xinh đẹp viết chính là "Thiếp tựa mù giăng, chàng tựa trăng. Trăng lặn mù tan đọng sương lan. Cảm lòng chàng..."

Dương Lăng chỉ vừa đọc đến đấy thì đã bị Thành Khởi Vận đoạt tấm giấy lại, mặt trái xoan đỏ bừng. Nàng sẵng giọng:
- Chưa thấy đại nhân nào lại như vậy, ai đời... Ai lại xem đồ của người ta một cách tùy tiện như thế!

Tuy nàng lớn như vậy nhưng vẫn là lần đầu động chân tình, lại bị Dương Lăng thấy được, nhất thời không kiềm được xấu hổ, vẻ mặt xinh đẹp đỏ như ráng chiều, còn muốn mạnh miệng nói bướng. Ngược lại Dương Lăng ước rằng chính mình chưa đọc được nó. Y đang xấu hổ không biết nói cái gì cho phải thì ngoài phòng có tiếng bước chân vang lên, giọng Hàn Ấu Nương vọng lớn:
- Tướng công! Thành cô nương!

Dương Lăng sợ nàng thấy Thành Khởi Vận rơi lệ, vội vàng quay lại bước ra ngoài đón. Y thấy Hàn Ấu Nương đang dẫn Cao Văn Tâm đi tới, vui vẻ nói:
- Tướng công, chàng đang ở đây à. Dương đại ca và Ngũ công tử muốn tỷ thí võ nghệ, Thành cô nương có muốn xem qua không?

Nàng đến gần kéo tay Dương Lăng, nhỏ giọng nói:
- Tướng công, võ công Ngũ công tử rất cao. Chàng nhận chức Tổng đốc Nội xưởng, thủ hạ đều là hảo hán sử thương múa bổng. Lát nữa chàng tìm cơ hội bái huynh ấy làm thầy học một chút đi, vừa có thể phòng thân lại có thể khỏe người.

Dương Lăng cười nói:
- Nàng thật là…. Có món tốt nào cũng đều muốn đắp vào người tướng công. Đa số người trong võ lâm đều giữ kín tay nghề, xem như châu báu. Đã mở miệng mà người ta không dạy chẳng phải là mất mặt sao?

Từ sau sau lưng y một âm thanh khẽ cười vang lên:
- Đại nhân, phải là Võ Đang ước gì có được người đệ tử như ngài mới đúng. Võ Đang chính là từ đường của hoàng gia Đại Minh, chưởng giáo chân nhân nhận chức lục phẩm tại triều đình. Trước nay luôn do ti Lễ Giám phụ trách việc quản lý, ước thúc tất cả công việc của Long Hổ Sơn ở Giang Tây, núi Võ Đang ở Hồ Bắc, am Ngọc Hoàng ở Sơn Đông. Nếu như ngài mở miệng, còn sợ chưởng giáo Võ Đang không liều mạng nịnh bợ sao?

Thành Khởi Vận nói xong khoan thai bước đến, thu lại tay chắp sau lưng dịu dàng thi lễ với Hàn Ấu Nương, chào hỏi:
- Ra mắt phu nhân! Mới vừa rồi ty chức cùng đại nhân thương nghị việc đổi mới cây trồng vào đầu xuân, làm trễ nải nhã hứng của mọi người rồi.

Dương Lăng đưa mắt nhìn.Vừa rồi hai mắt Thành Khởi Vận còn đẫm lệ mơ màng, nay mà chỉ trong giây lát hai má nàng lại trắng suốt không tỳ vết, rất mịn màng, hai mắt trong vắt như suối nước mùa thu. Dáng cười trong trẻo của nàng nào còn mang một chút dấu vết gì là đã khóc. Công phu trấn tĩnh của nàng cũng khiến cho Dương Lăng hoài nghi không biết mới vừa rồi mình có hoa mắt nhìn lầm hay không.

Bốn người trở lại trong viện. Dương Hổ, Ngũ Hán Siêu, Hồng nương tử Thôi Oanh Nhi và Ngọc nhi, Tuyết nhi cùng với người nhà đều đang đợi trong viện. Cả đoàn người cùng kéo vào sân sau xem hai người tỷ thí võ nghệ.

Dương Lăng mong thấy được cảnh phóng qua, vọt lại phi phàm như trong phim ảnh, không ngờ khi thật sự giao thủ lại cực kì nhàm chán. Động tác ra chiêu công thủ căn bản không có gì đẹp đẽ, hai người càng rất ít khi nhảy vọt khỏi mặt đất. Dương Hổ dáng người cao lớn, ngoại gia công phu xuất thần nhập hóa, quyền cước uy vũ phát tiếng gió vùn vụt, Dương Lăng đứng ngoài nhìn thấy còn có chút hào hứng. Thế nhưng Ngũ Hán Siêu lại cứ như cọng bún, ẹo qua ẻo lại, Dương Lăng nhìn một lát thì chán, không thấy hứng thú tí nào.

Hàn Ấu Nương và Thôi Oanh Nhi thì lại nhìn chăm chú, không hề chớp mắt. Hàn Ấu Nương nhìn chằm chằm từng động tác quyền cước của Dương Hổ, môi mấp máy ra vẻ nóng lòng muốn thử. Thôi Oanh Nhi cũng luyện quyền cước nội gia, nên đặc biệt để ý từng chiêu từng thức do môn nhân của Võ Đang - Thái Sơn Bắc Đẩu về công phu nội gia, xuất ra.

Trên sân khí thế chiến đấu ngất trời mà Dương Lăng hết ngó đông lại nhìn tây. Y thấy từ bên trong hầm sưởi phương xa có người chui lên, vội rời khỏi đoàn người hai bước, vẫy vẫy tay gọi người kia lại.

Ông già nọ là lão nông dân bản địa được thuê để coi sóc và học trồng trọt, thu hoạch cây khoai tây, cây ngô… Lão đang cầm một sọt phân khô định mang đi ủ trở về. Nhìn thấy Dương Lăng gọi, lão vội đặt giỏ xuống, hấp tấp chạy tới.

Dương Lăng cười hỏi:
- Lão Lưu, hai ngày này bận rộn, ta không thu xếp được để vào hầm nhìn qua. Những cây giống nuôi trồng thế nào rồi? Đừng để chúng bị sâu bệnh nhé.

Lão Lưu ha ha cười nói:
- Lão gia yên tâm. Chúng tôi đều hết sức cẩn thận chăm sóc những mầm cây này như là chăm nom tiểu bảo bối trong nhà. Những cây ớt ngoại bang đã đỏ rồi, theo như lời lão gia dặn dò, chúng tôi đã dời chúng đến chỗ có thể thấy ánh nắng mặt trời. Ngoài ra, những cây cà chua cũng đã nở hoa rồi.

Dương Lăng nghe xong mừng rỡ ra mặt, lúc này phía sau lưng y vọng đến hai tiếng trầm trồ khen ngợi trong trẻo. Dương Lăng quay đầu nhìn lại, thấy Dương Hổ hơi đỏ mặt vì thẹn đang chắp tay nói gì đó với Ngũ Hán Siêu, sau đó hai người cầm tay nhau trở lại. Xem ra Dương Hổ đã thua rồi.

Lúc này Hàn Ấu Nương mới phát hiện tướng công đã tránh sang một bên cùng lão nông nói chuyện phiếm. Nàng bước đến vừa bực mình vừa buồn cười nói:
- Tướng công luôn miệng nói muốn tìm một danh sư học tập võ nghệ. Nay Dương đại ca và Ngũ công tử đều là cao thủ đệ nhất đẳng, hai người xuất sắc như vậy tỷ thí, chàng lại chạy sang cho khác.

Rõ là Hàn Ấu Nương cố ý nói cho Ngũ Hán Siêu nghe. Dương Lăng cười đáp:
- Đáng tiếc ta là một tay ngang, nhìn mãi một hồi lâu cũng nhìn không ra được chút xíu gì, cho nên mới bỏ chạy đi chăm sóc hoa mầu của mình đấy. Ha ha ha......

Hồng Nương Tử ngạc nhiên hỏi:
- Hoa mầu? Hoa mầu ở đâu hả đại nhân...... Người có thân phận như vậy còn bận tâm đến một ít thu hoạch hay sao?

Hàn Ấu Nương giải thích:
- Dương phu nhân! Tướng công ta tìm được mấy loại hoa mầu được đưa từ Tây Dương về. Mấy cây khoai tây, khoai lang có sản lượng gấp vài lần hoa mầu đang được trồng. Còn có một loại cây ngô, sinh sản rất nhanh, chống chịu được hạn hán, đất đai cằn cỗi. Tướng công nói muốn đẩy mạnh việc gieo trồng rộng rãi, đến lúc đó thiên hạ sẽ không còn nhiều dân chúng chết đói nữa.

Nói xong, nàng ái mộ nhìn Dương Lăng. Thôi Oanh Nhi cùng Dương Hổ ngạc nhiên nhìn nhau. Dương Hổ bị quan phủ ức hiếp bóc lột, cuộc sống khó khăn mới phẫn nộ mà gia nhập lục lâm. Thôi Oanh Nhi là do ông nội chịu đủ đau khổ do sưu cao thuế nặng nên mang cả nhà dời vào rừng sâu, chiếm núi làm vua, trở thành lục lâm đại đạo.

Có thể nói hai người hoàn toàn không có một chút thiện cảm gì với đám người làm quan. Dương Lăng là quan lớn dường nào? Nếu như bảo y muốn mua danh chuộc tiếng thì y chỉ cần cứu tế nạn dân một tí, xử lý vài tên tiểu lại tham ô thì hiệu quả vừa trực tiếp lại rõ ràng, việc gì y phải dùng tới biện pháp tốn sức như thế? Dương Lăng cười cười nói:
- Mấy ngày nay bận rộn việc chiến sự nơi biên ải, mãi không thể đi xem qua những thứ cây trồng này, trong lòng Dương mỗ thật là có chút nhớ mong. Nếu như thuận lợi, sang năm loại cao sản hoa mầu này có thể được quảng canh khắp Đại Minh. Ba vị có muốn đi nhìn thử một chút hay không? Ha ha, xin mời!

Dương Lăng đưa cả bọn đến hầm sưởi, đem đủ loại cây giống ra mỗi thứ đều giới thiệu cho bọn họ. Y cùng vị lão nông trở về từ Nam Dương kia kẻ tung người hứng giảng giải kỹ càng cho bọn họ đặc điểm của từng loại hoa mầu này.

Dương Lăng biết vào thời kỳ này hoa mầu rất dễ hỏng: hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh… mọi thứ đều ảnh hưởng lớn đến thu hoạch. Nếu như mưa thuận gió hoà vất vả lắm một năm một mẫu sản xuất được ba bốn trăm cân lương thực thì đã được xem là ruộng hạng nhất rồi.

Mà cây khoai lang, khoai tây từ nam chí Bắc đều thích hợp, mỗi mẫu thu được ít nhất hai ngàn cân; thậm chí các tỉnh phía nam có thể trồng một năm ba vụ. Cây ngô không cần trồng trong ruộng tốt, sản lượng cũng hơn xa loại cây trồng hiện nay. Nghĩ đến những loại hoa mầu này tương lai có thể cứu sống được vô số nạn dân, Dương Lăng vuốt ve những cây giống tươi tốt kia, trong lòng cũng tràn đầy cảm giác thành tựu.

Thôi Oanh Nhi nghe Dương Lăng từ tốn mô tả cảnh tượng thu hoạch tốt đẹp kia, cặp mắt sáng ngời lặng lẽ nhìn chăm chú vào y, trong lòng tràn ngập tò mò: viên quan này và các quan chức trong ấn tượng của nàng khác nhau rất lớn. Y chịu vì dân chúng mà suy nghĩ, mọi kẻ đọc sách khác đều xem việc canh tác là việc thấp hèn nhưng dường như y lại vô cùng thích thú việc đồng áng.

Đủ loại tin đồn có liên quan đến Dương Lăng đan chéo lẫn nhau trong đầu Thôi Oanh Nhi. Y là sủng thần cao quý của thiên tử, là đốc chủ Nội xưởng máu lạnh ham thích giết chóc, chỉ trong một đêm đã diệt sạch Đông xưởng, là thư sinh yêu vợ nặng tình trọng nghĩa dám kháng thánh chỉ, là tướng quân oai phong lẫm liệt đánh đại bại giặc Oa. Quả thực tất cả những điều trên không thể nào liên hệ đến vị công tử không hề có quan uy đang mặt mày hớn hở kể chuyện hoa mầu trước mặt này.

Nàng nhìn hàng dãy các loại cây trồng chưa bao giờ thấy qua, nghĩ thầm:
- Người này thật sự có năng lực cứu thiên hạ dân chúng sao? Những hoa mầu kỳ quái này có thể cứu được rất nhiều dân chúng khỏi đói khát bần cùng trong những năm lũ lụt sao ?

Tuy nàng chưa từng đọc sách nhưng từ nhỏ đã trưởng thành ở bên trong ổ cường đạo, nên rất thấu hiểu lòng người. Nàng nhìn ra được những điều Dương Lăng nói chính là thật sự là cảm giác chân thật của y, nhưng nàng lại rất hoài nghi tác dụng của những loại hoa mầu này.

Trong thiên hạ người giàu có thì bất nhân, người làm quan thì không trong sạch. Cho dù khắp nơi đều thu hoạch lương thực dồi dào đi chăng nữa, không phải cũng rơi vào tay những tên tham quan ô lại kia hay sao? Những người dân quê kia áo cơm không có, đã bị quan phủ bắt buộc nuôi dưỡng ngựa công lại bị làm khó dễ nhiều đường. Bao nhiêu dân chúng cửa nát nhà tan, y có thể cứu hết những người cùng khổ như vậy hay sao?

Tuy nhiên... Thôi Oanh Nhi liếc mắt nhìn Dương Lăng, mỉm cười, thầm nghĩ:
- Vị Dương công tử này là một người tốt, là một vị quan tốt. Đợi đến khi chúng ta giết được tên cẩu hoàng đế, khởi binh đoạt được thiên hạ, chúng ta có thể cho y làm một chức quan to.

Dương Hổ ở bên lại thầm kinh hãi. Hắn bây giờ đã tích góp được một số tài lực, nhân lực tương đối rồi, chỉ còn đợi thời cơ vừa đến thì lập tức khởi binh tạo phản, cướp lấy thiên hạ. Hắn tin tưởng vững chắc rằng chỉ cần hắn đăng đàn hô hào, chắc chắn những dân chúng áo cơm không có, phải chịu đủ ức hiếp trăm bề sẽ vùng lên hưởng ứng rầm rộ. Ít nhất ở vùng quê hương Bá Châu hắn đã có thể lôi kéo được trên vạn người.

Nhưng hắn vốn là một viên hiệu úy nhỏ nhoi trong quân đội, cũng do đồn điền bị quan tướng chiếm đoạt, cuộc sống quả thực không chịu xiết mới bỏ đi làm lục lâm thảo khấu. Hắn biết rõ những dân chúng kia nếu có được một con đường thoát chết, có thể ăn cơm no bụng thì sẽ rất khó lôi kéo. Bọn họ sẽ không đi theo mình giành lấy chính quyền nữa.

Thật ra, lúc đầu nỗi căm hận của Dương Hổ đối với triều đình Đại Minh đơn giản hơn rất nhiều. Hắn muốn lật đổ Đại Minh, xây dựng lại một chế độ quan phủ thanh liêm yêu dân. Nhưng khi thế lực ngầm của hắn càng lúc càng lớn thì dã tâm và tham lam cá nhân của hắn cũng dần dần bành trướng theo. Bây giờ hắn muốn tạo phản, đa phần chính là để bản thân làm hoàng đế, ngồi ôm thiên hạ. Cái ý nghĩ tham lam này đã dần dần thay thế nguyện vọng muốn tìm một đường sống cho dân chúng thiên hạ khi trước.

- Không thể để cho y thành công!
Trong lòng Dương Hổ chợt nảy sát khí, ánh mắt sắc bén chĩa vào người Dương Lăng. Hắn thầm nghĩ:
- Tên cẩu quan này, nhất định phải chết!






Chú thích:

(1) Tiết Đào đời Đường là một danh kỹ đất Thục, hay làm những bài thơ ngắn, vì tiếc giấy nên cắt hẹp lại. Từ đấy, những tài tử trong Thục lấy thế làm tiện, cũng cắt những tờ giấy nhỏ để viết thư, gọi là giấy Tiết Đào.




Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

6300
08-04-2012, 09:10 PM
dNgược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 172 Bày trận đón địch


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: 6300

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Dương Lăng nghe thấy câu sau thì không khỏi vừa bực mình vừa buồn cười. Y đang tính tiếp lời, ánh mắt Thành Khởi Vận bỗng nhiên lóe lên, vỗ tay reo lớn:
- Ti chức nghĩ ra rồi, ti chức đã nghĩ ra rồi. Nếu là ti chức, ti chức cũng sẽ muốn giết đại nhân!

Dương Lăng giật nảy mình, vội hỏi:
- Giết ta? Lý do gì?







Chương 172 Bày trận đón địch


- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Dương Lăng đang hào hứng chỉ vào cây cà chua non xanh mơn mởn, miêu tả màu sắc và mùi vị quả chín của nó một cách sống động, khiến cho Tuyết Lý Mai và Ngọc Đường Xuân thèm đến rỏ dãi, đám người Hàn Ấu Nương và Thôi Oanh Nhi cũng lắng nghe hết sức say sưa.

Dù Thành Khởi Vận đang thong dong mân mê mấy dây khoai lang giống nhưng nụ cười ác độc thoáng nhếch trên khóe môi và sát ý lóe lên trong mắt Dương Hổ không qua được mắt nàng. Nàng khéo léo đến sát người Dương Lăng và cười nói:
- Đại nhân, phu nhân đang mang thai, nơi này lại nóng bức, hay là chúng ta trở về nhé?

Dương Lăng nói:
- À, nhất thời nói hăng quá nên ta quên mất. Ha ha, đi thôi, chúng ta lên trên.

Y vừa ân cần dìu Ấu Nương đi vừa quay ra ngoài nói:
- Dương huynh và phu nhân là thủ lĩnh đoàn ngựa thồ, đi khắp đó đây, nhất định sẽ còn có cơ hội trở lại kinh thành. Đợi đến mùa thu năm sau, khi hai vị trở lại kinh sư sẽ có thể thấy một núi khoai lang, khoai tây và cả bông bắp ánh vàng rực rỡ nữa. Rồi đến năm tới, những thứ này sẽ có thể được trồng trọt khắp Đại Minh.

Bá tánh thật khổ, nhưng thiên hạ Đại Minh rộng lớn như thế này, mấy ngàn vạn lê dân bá tánh mong ước có được cơm no áo ấm, dẫu bất cứ kẻ nào cũng không thể làm được trong một sớm một chiều. Những giống cây trồng này có sản lượng gấp mấy lần so với các loại hoa màu hiện nay, chúng sẽ có thể cứu đói cho rất nhiều bá tánh.

Y nhớ đến việc Nội xưởng lợi dụng các cửa hàng ngựa xe gây dựng thanh thế khắp thiên hạ, phát tán tin tức nói rằng triều đình có ý định giải trừ cấm biển, cho phép bá tánh thông thương với bên ngoài; thấy vợ chồng Dương Phúc có năng lực mua gạo cứu tế, thế lực đoàn ngựa thồ của hắn nhất định không nhỏ, cũng là kẻ đáng để lung lạc, bèn nói:

- Hình như đoàn ngựa thồ của Dương huynh chuyên môn giúp đỡ các thương nhân lớn vận chuyển hàng hóa muối gạo có phải không? Hiện tại có ít đại thần đang chuẩn bị kiến nghị với triều đình giải trừ cẩm biến, dẹp yên lãnh hải, đến lúc đó thông thương với hải ngoại, hàng hóa vận chuyển khắp đất Đại Minh, nước nhà nhất định sẽ càng thêm phồn thịnh, việc làm ăn của Dương huynh cũng sẽ có thể thu về vô số tiền tài.

Dương Hổ nghe vậy, sát ý trong lòng càng nặng thêm, nhưng hắn cũng không ngu ngốc mà động thủ vào lúc này. Một mặt hắn ậm ừ cười đáp, mặt khác len lén quan sát cảnh vật nơi hầm sưởi này. Ngũ Hán Siêu đứng bên cạnh nói:
- Hóa ra chuyện này không phải là nói đùa. Kẻ hèn sau khi hạ sơn đã không ngừng nghe được tin tức loan truyền khắp nơi, xem ra Đại Minh cấm biển hơn trăm năm, cuối cùng cũng sắp mở cửa lãnh hải rồi.

Bọn họ bước lên bậc tam cấp, Ngũ Hán Siêu lại nói:
- Đại nhân thân ở trong triều, tin tức đương nhiên linh thông hơn xa chúng tôi. Có điều nghe khẩu khí của ngài, thì những đại nhân có lòng dâng tấu khuyên giải triều đình mở lại lãnh hải đều muốn mở bến thông thương khắp nơi ngay sau khi cấm biển được giải trừ ư?

Dương Lăng thấy lạ bèn hỏi lại y:
- Nếu như số kẻ phản đối không đông, đương nhiên sẽ làm luôn một thể. Như vậy không tốt sao? Ngũ huynh có cao kiến gì chăng?

Ngũ Hán Siêu thoáng nghĩ ngợi rồi đáp:
- Kẻ hèn ngu dốt, chỉ biết rằng dục tốc thì bất đạt. Nay cướp biển vẫn còn lộng hành, muốn gỡ bỏ lệnh cấm biển, trước phải diệt trừ hải tặc. Thế nhưng cho dù chỉ là đám sơn tặc chiếm núi xưng vua, muốn quét sạch ổ bọn chúng cũng không phải là chuyện một sớm một chiều, huống chi là trên biển rộng mênh mông? Hơn nữa, thủy quân Đại Minh cũng không giỏi hải chiến, cần phải huấn luyện ra một đơn vị tinh binh mới được, mà chuyện đó lại không thể trù trừ.

Huống hồ Đại Minh ngày nay chỉ có một bến cảng dùng để tiếp đãi sứ thần triều cống của các nước. Nếu như toàn bộ duyên hải được mở cửa trong một đêm, nơi nơi vội vã thiết lập Bạc ty(1), không có quan giỏi hiểu việc trị biển trông coi, không có sẵn điều lệ quy tắc, đám thân hào sĩ tộc hám lợi các nơi nhất định sẽ nhúng tay vào ùn ùn. Lúc đó đạo đức quan lại sẽ càng thêm suy đồi, bá tánh chịu khổ, thương nhân nước ngoài bỏ chạy. Quốc sách có hay cách mấy cũng sẽ thành luật lệ tàn khốc hại dân mà thôi.

Kẻ hèn cho rằng, trị quốc như nấu món ngon, tuy đó là chuyện lợi cho dân nhưng nếu mà thổi lửa to quá, món ngon mấy cũng sẽ bị cháy khét. Chi bằng tạm thời mở vài ba bến cảng trước, như vậy triều đình cũng dễ giám thị hơn, đồng thời xóa sạch được đám giặc cướp trên biển.

Đợi đến khi cướp biển không còn có thể gây nhiều nguy hại nữa, triều đình cũng đã có kinh nghiệm thông thương bến biển, lại có ty thuế bản địa và bá tánh thu hoạch lợi ích làm bằng chứng, các nơi nhất định sẽ hưởng ứng hết mình, khi ấy sẽ có thể thừa thế xông lên, giải cấm toàn diện.

Nói xong, thấy Dương Lăng dừng bước nhìn mình đến thất thần, hắn bất giác cũng đứng lại, ngượng ngập nói:
- Ý kiến... ý kiến của kẻ hèn thật ngu xuẩn, vì trong lòng có điều băn khoăn nên đành bày tỏ. Lời nói có phần ấu trĩ, đã khiến đại nhân chê cười rồi.

Dương Lăng mừng rỡ lắc đầu nói:
- Không phải đâu, không phải đâu. Ngũ huynh du lịch thiên hạ, đi vạn dặm đường hơn đọc vạn quyển sách, lời của huynh thật là cao kiến, khiến Dương mỗ bội phục không thôi. Lệnh tôn đại nhân là quan triều đình, Ngũ huynh là kẻ văn võ toàn tài, chắc có lẽ cũng chẳng mong chôn vùi trong chốn dân gian đúng không? Không biết huynh có nguyện ý ở lại kinh sư vì triều đình mà ra sức?

Ngũ Hán Siêu vừa nghe thì mừng ra mặt, liền vội đáp ngay:
- Kẻ hèn du lịch thiên hạ cũng vì muốn tăng thêm lịch duyệt, để có một ngày báo ân triều đình, kiến công lập nghiệp. Ví bằng đại nhân cảm thấy kẻ hèn có thể kham công gánh việc, Hán Siêu xin tự nguyện theo sau.

Phải biết rằng triều Minh trọng văn không trọng võ, mãi đến năm Thiên Thuận thứ tám mới ban bố "Võ cử pháp"(2), thế nhưng năm đó lại chẳng có một ai báo danh tham gia kỳ thi Võ cử nhân . Năm Thành Hóa thứ tư, kỳ thi Võ cử nhân được tổ chức lần hai, song cũng chỉ tuyển chọn được có hai người.

Hoàng đế Hoằng Trị giỏi về trị văn, mà lại xem nhẹ võ công. Bởi thấy võ bị xao nhãng nên vào năm Hoằng Trị thứ mười bảy, Võ cử được tổ chức theo lối bát cổ, được quy định chính thức ba năm một lần. Tuy nhiên năm Hoằng Trị thứ mười bảy tuyển được bốn mươi võ tiến sĩ, thì chỉ có một người tên Hứa Thái trong khoảng thời gian hai năm ngắn ngủi thăng lên được đến Tham tướng, còn lại đa số đều không được trọng dụng.

Năm tới là Chính Đức nguyên niên(3), Ngũ Hán Siêu vốn định kiếm một chức quan thông qua đại hội Võ cử. Song nếu Dương Lăng đã chịu tán thưởng trọng dụng hắn, vậy hiển nhiên đó là một con đường tắt. Dương Lăng thấy hắn đồng ý, trong lòng cũng cao hứng vô cùng. Đoàn người rời khỏi hầm sưởi; Dương Hổ âm thầm ghi nhớ địa hình lạc viện ở Dương phủ, sau đó cảm tạ Dương Lăng rồi cáo từ.

Sau khi Dương Lăng và vợ tiễn vợ chồng Dương Hổ ra khỏi cửa, y đang định kéo Ngũ Hán Siêu đến thư phòng trò chuyện thêm, chợt thấy Thành Khơi Vận đang đứng sau lưng mọi người nháy mắt ra hiệu với y, miệng hơi nhếch nhếch. Dương Lăng thoáng ngẩn ra, rồi thản nhiên mỉm cười nói với Ngũ Hán Siêu:
- Ngũ huynh hãy đi nghỉ ngơi cho khỏe. Dương mỗ đã hẹn với mấy vị đồng liêu Nội xưởng ngày mai ghé phủ dự yến tiệc, đến lúc đó sẽ mời Ngũ huynh tham dự để giới thiệu với bọn họ.

Ngũ Hán Siêu tuy chưa chính thức đạp chân vào quan trường, sau cuộc đối đáp khi nãy thì đã coi như là người trong triều được một nửa rồi, bèn liền vội chắp tay đáp:
- Dạ, tại hạ tất thảy xin nghe theo đại nhân sắp đặt.

Dương Lăng đi cùng đám nữ quyến đến hậu trạch, Thành Khởi Vận khẽ nhún eo thon, thu người vái một vái, nói cùng Dương Lăng và Hàn Ấu Nương mấy câu, rồi ung dung đi đến bên cạnh phòng khách. Lúc vén mành bước vào phòng, nàng liếc mắt về phía sau một cái thật nhanh, rồi mới uyển chuyển dịu dàng rời đi.

Dương Lăng cũng đứng thẳng người lại nói:
- Thành đáng đầu đã mua được tất cả đất đai thôn trang chung quanh. Giờ cơm vẫn chưa đến, để ta đi thương nghị cùng cô ấy một chút về các hạng mục chuẩn bị cho đất nông canh.

Y nhìn sang Cao Văn Tâm cười bảo:
- Văn Tâm đừng về vội, tối nay ở lại đây dùng bữa đi.
Đoạn quay sang dặn tiểu nha đầu Vân Nhi:
- Đi đi, thông báo cho Văn Lan một tiếng.

Đừng nói Cao- Hàn hai người kết nghĩa kim lan, tình như tỷ muội, chỉ việc Cao Văn Tâm đã chữa khỏi chứng bệnh cho Dương Lăng, giúp nàng mang cốt nhục tướng công, đã đủ để Hàn Ấu Nương khắc sâu trong lòng. Nàng không dám lạnh nhạt với Cao Văn Tâm, vội kéo tay nàng cười bảo:
- Tướng công đi làm công việc của mình đi, thiếp và tỷ tỷ về phòng trò chuyện.

Dương Lăng gật nhẹ đầu, cất bước đi vào trong phòng của Thành Khởi Vận. Vừa tiến vào thư phòng y liền vái một cái thật sâu, nói:
- Tại hạ hiểu lầm cô nương, là cái sai của tại hạ, xin được nhận lỗi với cô nương. Đại nhân không chấp kẻ tiểu nhân, cô nương đừng để chuyện đó ở trong lòng.

Thành Khởi Vận thấy y làm ra vẻ tội nghiệp đáng thương, nhịn không được phì cười. Tuy khi nãy vẫn còn chút oán giận trong lòng, song lúc này cũng đã tan thành mây khói. Nàng nguýt Dương Lăng một cái và nói:
- Đại nhân ăn nói nhũn nhặn như thế, tiểu nữ nào dám ghi nhớ lỗi của đại nhân vào trong lòng?

Dương Lăng thuận thế đứng thẳng dậy, cố ý thở ra một hơi dài nói:
- Vậy tôi yên tâm rồi. Tôi còn tưởng rằng cô nương kêu tôi lại là để hưng binh hỏi tội ấy chứ.

Thành Khởi Vận hờn mát mà vui mừng "hứ" một tiếng, ngay sau đó sắc mặt liền trở nên nghiêm trọng, khẽ giọng nói:
- Đại nhân có biết rõ nội tình của vợ chồng Dương Phúc không?

Dương Lăng nghe thấy trong lời nói nàng có ẩn ý khác, không khỏi nghi hoặc bèn hỏi:
- Đôi vợ chồng này võ nghệ rất cao, Liễu thiên hộ cũng từng nảy lòng nghi ngời thân phận vị Dương phu nhân đó. Chẳng lẽ Thành cô nương cũng hoài nghi bọn họ không phải là chủ đoàn ngựa thồ hay sao?

Thành Khởi Vận lắc đầu nhè nhẹ nói:
- Phải, bọn họ đúng là đoàn ngựa thồ. Trên thiên hạ thì ở Cam Thiểm(4) có nhiều đoàn ngựa thồ nhất, nhưng đoàn ngựa thồ lớn nhất ở phương bắc lại chính là bọn họ.

Dương Lăng thở phào một hơi, cười nói:
- Vậy thì đúng rồi. Đoàn ngựa thồ hành tẩu giang hồ, áp tải vận chuyển hàng hóa giúp người ta, vừa kiêm cửa hàng ngựa xe vừa làm tiêu cục, một thân hai phận, đương nhiên phải có một thân võ nghệ cao cường rồi.

Thành Khởi Vận vẫn ung dung ngồi xuống, mỉm cười nói:
- Đúng thế thật, cho nên ở điểm này không có vấn đề gì. Nếu như ngay lúc này đại nhân phái ngươi đi điều tra vật tùy thân, hộ tịch, giấy giới thiệu của bọn họ, sẽ không thấy có vấn đề gì, có điều ti chức vừa khéo biết được một thân phận khác của bọn họ.

Ánh mắt Dương Lăng trở nên chăm chú, y cũng ngồi xuống phía đối diện, rồi hỏi:
- Thân phận gì?

Thành Khởi Vận nhả ra từng chữ:
- Đạo, tặc, Giang, Dương!

Dương Lăng nhìn nàng, lầm bầm hỏi:
- Lạ thật! Hình như thiên hạ không có chuyện gì là cô không biết, ngay cả người của quan phủ cũng không biết thân phận bọn họ, thế sao cô lại biết?

Thành Khởi Vận thích thú quan sát vẻ mặt của y, nhưng không dám nói ra chân tướng ngọn ngành tin tức mà mình biết được. Cái tên này cái gì cũng tốt, chỉ có điều lòng dạ hẹp hòi, nếu để y biết được mình giấu giếm y, sau này há sẽ càng khiến y không tin mình ư?

Thành Khởi Vận nhoẻn miệng cười duyên dáng:
- Hắc bạch lưỡng đạo thế như nước với lửa. Cái thiên hạ này vốn là một nhóm người sống chỗ sáng, một nhóm người sống trong bóng tối, đại nhân thân ở cao nơi miếu đường, đương nhiên không biết mấy chuyện tam giáo cửu lưu này rồi.

Ti chức cũng không nhận ra bộ dáng bọn họ, có điều ti chức biết có một đôi vợ chồng, hai người ngoài sáng thì làm nghề thồ ngựa, trong tối thì là đạo tặc lục lâm. Hơn nữa bọn họ đang bôn ba liên lạc khắp nơi, ý đồ mưu phản, người chồng họ Dương, người vợ họ Thôi, một thân võ nghệ trùm thiên hạ, tuổi tác cũng tương đương với bọn họ. Nếu đổi lại là đại nhân, thì sẽ có còn coi bọn họ là bá tánh lương dân không?

Ánh mắt Dương Lăng lóe lên, nhìn chằm chằm vào Thành Khởi Vận thật lâu, không nói tiếng nào. Thành Khởi Vận lại nói:
- Khi nãy lúc đại nhân khoe khoang những vật trồng ở trong hầm sưởi, ti chức thấy mặt của vị Dương Phúc nọ nhìn đại nhân đã lộ sát khí. Ti chức tự tin vào nhãn lực của mình, quyết sẽ không nhìn lầm.

Dương Lăng trầm ngâm rồi nói:
- Bản quan gặp Dương phu nhân đơn thuần là ngẫu nhiên, hai chú cháu Dương Tuyền đến kinh sư tìm ta cũng là do nảy ý trong nhất thời. Dương Phúc nhất định chẳng thể chuẩn bị trước việc mượn bọn họ để tiếp cận ta. Đạo tặc Giang Dương ý đồ mưu phản thì hẳn nên cách xa triều đình một chút. Nếu như cô suy đoán không sai, vậy vợ chồng bọn họ đến kinh sư là để làm gì?

Thành Khởi Vận nguýt y một cái rồi nói:
- Ti chức không phải là thần tiên hạ phàm, sao mà biết được chứ? Ti chức nghĩ bọn họ cũng sẽ không điên đến nỗi cho rằng vào kinh giết hoàng thượng thì sẽ có thể cướp được thiên hạ. Huống hồ cho dù võ công hắn có cao cỡ nào đi nữa cũng làm sao có thể xông vào Tử Cấm Thành? Bọn họ đến kinh thành làm gì thì ti chức đoán không ra, bất quá chuyện lúc ở dưới hầm sưởi tên Dương Phúc đó đột nhiên nổi sát ý với đại nhân thì tuyệt đối không sai.

Đoạn nàng chau cặp mày quyến rũ, tay cầm cây bút lông xoay xoay, miệng khẽ lẩm bẩm:
- Nếu như ti chức là đạo tặc Dương Hổ, có cơ hội kết thân với đại nhân thì nhất định sẽ dụng tâm mà vin lấy. Đại nhân là quan lớn triều đình, từ chỗ đại nhân sẽ có thể biết thêm được nhiều chuyện đại sự trong triều, nhất định sẽ rất có ích cho đại nghiệp của ti chức.

Nàng đặt cây bút lông xuống, đứng dậy chắp tay sau lưng thong thả bước đi trong phòng, nghiêm túc nhập mình vào vai Dương Hổ đang có ý đồ tạo phản, vắt óc suy nghĩ nói:
- Nhưng ta vốn có dịp kết giao với đại nhân mới được vào Dương phủ, lẽ gì đột nhiên lại nổi sát ý? Đại nhân lại không trêu ghẹo gì nương tử của ta...

Dương Lăng nghe thấy câu sau thì không khỏi vừa bực mình vừa buồn cười. Y đang tính tiếp lời, ánh mắt Thành Khởi Vận bỗng nhiên lóe lên, vỗ tay reo lớn:
- Ti chức nghĩ ra rồi, ti chức đã nghĩ ra rồi. Nếu là ti chức, ti chức cũng sẽ muốn giết đại nhân!

Dương Lăng giật nảy mình, vội hỏi:
- Giết ta? Lý do gì?

Mắt Thành Khởi Vận sáng rỡ, hưng phấn nhìn y nói:
- Những hoa màu đó! Đại nhân từng nói một khi cho trồng chúng rộng rãi, sẽ có thể giúp cho rất nhiều bá tánh tránh khỏi khốn khó cơ hàn!

Rồi nàng nhìn y cười 'nham hiểm' nói tiếp:
- Muốn đoạt thiên hạ trước hết phải chiếm được lòng dân. Nếu bá tánh có thể cơm no đầy bụng thì ai còn chịu theo ti chức tạo phản nữa? Nếu đổi lại là ti chức, thì không những chỉ phải giết đại nhân mà còn phải hủy hết những hoa màu đó để diệt trừ hậu họa!

Nàng nói đến đây, ánh mắt liền chạm với ánh mắt Dương Lăng, hai người đều bất động. Một lát sau Thành Khởi Vận mới từ trong hưng phấn hồi tỉnh lại, khuôn mặt thoáng đỏ lên, lúng túng nói:
- Ti chức... ý ti chức là Dương Hổ muốn giết đại nhân, chứ không phải ti chức có ý giết đại nhân.

Dương Lăng chậm rãi đứng dậy, thở ra một hơi dài, rồi liền xoay người bước ra bên ngoài. Thành Khởi Vận hoảng hốt kêu lên:
- Đại nhân... muốn đi đâu vậy?

Dương Lăng dừng bước, nói:
- Không sợ nhất vạn, chỉ sợ vạn nhất. Khi nãy ta đã nói với bọn họ rằng qua Tết sẽ kêu người mang giống lương thực mau chóng trồng ở khắp nơi. Nếu như bọn họ thực sự là cặp đôi đạo tặc như cô nói, muốn ra tay thì sẽ là trong mấy ngày này. Ta đi kêu người lên núi triệu Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh xuống, cô hãy ở đây đợi ta.
***
Dương Hổ và Thôi Oanh Nhi thả lỏng dây cương để mặc ngựa song hành, mỗi người ôm một bầu tâm sự riêng. Khi rời khỏi thôn sắp rẽ ra quan lộ, Thôi Oanh Nhi chợt gọi Dương Hổ:
- Hổ ca...

Ánh mắt Dương Hổ đăm đăm, không biết đang nghĩ gì trong lòng, nhất thời không hề phản ứng, Thôi Oanh Nhi thoáng giật cổ tay, roi ngựa vút lên không trung kêu "chát" một tiếng, gọi lớn:
- Dương Hổ!

Dương Hổ sửng sốt, quay đầu lại hỏi:
- Hử? Ồ... có chuyện gì?

Thôi Oanh Nhi thúc bụng ngựa, cưỡi nhanh lại gần, nói:
- Huynh định... Nếu quả thật đúng như vị Dương đại nhân đó nói, có thể khiến cho bá tánh được ăn no, lại trừng trị những quan lại phạm pháp, mở biển thông thương, thật sự có thể phú quốc cường dân ư?

Dương Hổ cười gằn đáp:
- Muội còn chưa nếm đủ đau khổ do bọn quan viên Đại Minh gây ra sao? Tại sao cha nàng phải chiếm núi xưng vương? Còn không phải vì bị triều đình ép buộc ư? Bọn chúng mà chịu làm việc tốt cho bá tánh, trừ khi là mặt trời mọc đằng tây. Muốn cho bá tánh sống được cuộc sống tốt đẹp, thì phải lật đổ cái triều đình này, gây dựng lại thiên hạ!

Thôi Oanh Nhi nhíu mày khẽ thở dài nói:
- Muội đột nhiên cảm thấy chúng ta hình như đã nghĩ quá đơn giản. Cho dù để huynh ngồi lên bệ rồng, bá tánh liền nhất định sẽ có cơm ăn áo mặc sao? Huynh thử ngẫm lại lời bọn họ nói khi nãy, triều đình muốn giải cấm thông thương, rõ ràng là chuyện tốt, vậy mà cũng không thể gấp rút làm ngay. Bọn họ là những kẻ đọc sách, nói vậy nhất định là có cái lý của bọn họ. Muội và huynh chém chém giết giết thì còn được, liệu cai trị thiên hạ có thực sự là đơn giản như thế không?

Dương Hổ đáp hết sức hùng hồn:
- Có gì mà khó chứ? Đoạt được thiên hạ, đương nhiên sẽ có kẻ đọc sách đến qui thuận chúng ta. Chẳng phải Chu Nguyên Chương chỉ là một tiểu sa di, một kẻ chăn trâu mà cũng đã cai trị thiên hạ hay sao? Ha ha, hãy cứ đợi đi, vi phu cũng đã chuẩn bị sắp xong rồi, chỉ chờ thời cơ đến liền sẽ phất cờ khởi nghĩa, lúc đó ta ngồi lên bệ rồng, muội sẽ là hoàng hậu chân to của ta.

Thôi Oanh Nhi liền nhướng mày lên, roi ngựa lại vụt lên, song chỉ đáp nhẹ trên vai hắn, cười mắng:
- Nói bậy bạ gì đó hả huynh, bộ chân người ta lớn lắm sao?

Dương Hổ bật cười ha hả, thấy Thôi Oanh Nhi cười tươi rói không hề tức giận, thừa dịp liền nói tiếp:
- Oanh Nhi, về đến nơi ta liền triệu tập anh em, tối nay vợ chồng chúng ta sẽ động thủ...
Đoạn hắn hạ thấp giọng, bàn tay chém mạnh xuống dưới một cái:
- Muội giữ chân tên họ Ngũ đó, ta sẽ dẫn người giết cả nhà Dương Lăng, hủy sạch cái hầm sưởi đó.

Thôi Oanh Nhi giật nảy mình hoảng hốt, cặp mắt xinh đẹp mở trừng kinh ngạc:
- Huynh nói cái gì? Muội thấy cái tên Dương Lăng đó là tên quan tốt mà, giết hắn để làm gì?

Dương Hổ nói:
- Nương tử của ta ơi, chúng ta sắp khởi sự, nếu như hoa mầu Tây dương gì đó mà cái tên Dương Lăng đó trồng thật sự cho ra sản lượng dồi dào, chắc chắn số người chịu theo chúng ta liều mạng ắt sẽ giảm đi hơn nửa, lúc đó muội còn có thể làm hoàng hậu mẫu nghi thiên hạ à?

Thôi Oanh Nhi vừa kinh ngạc vừa phẫn nộ nói:
- Huynh đang nói cái gì thế hả? Chúng ta muốn tạo phản là vì cái gì? Nếu y thật sự có thể khiến bá tánh quê hương chúng ta ấm no, thì tại sao còn phải làm phản? Chúng ta không phải đều bị đám quan viên không coi bá tánh là người dồn ép lên núi sao? Nếu như hoa màu đó thật sự là thứ tốt, sao chúng ta lại có thể đi làm chuyện có lỗi với những người nông dân chứ?

Dương Hổ thấy vậy liền vội cười nịnh chữa lời:
- Huynh thấy hắn ăn nói ba hoa thôi, những thứ đó làm gì có tác dụng lớn như vậy chứ? Sao có thể để cho hắn mê hoặc lòng người làm hỏng đại sự của chúng ta được?

Thôi Oanh Nhi không đồng ý, nói:
- Vậy thì đã sao? Y nói có thật hay không thì không cần đến một năm liền sẽ thấy kết quả thôi.

Dương Hổ nói:
- Nhưng mà lần này chúng ta vào kinh, nếu đại sự có thể hoàn thành thì không cần đến một năm là đã có thể khởi binh. Vả lại... nhạc phụ đã bỏ ra cả đời để chiêu binh mãi mã, chúng ta không thể để lão nhân gia thất vọng được. Nếu như có thể sớm thành đại sự, để lão nhân gia lên làm quốc trượng...

Thôi Oanh Nhi thoáng sầm mặt, giận dữ quát:
- Muội không đồng ý! Đó cũng là lý do à? Chúng ta đã nói với các huynh đệ là sẽ thế thiên hành đạo, chứ không phải vì vinh hoa phú quý của bản thân. Hơn nữa y lại là vị quan rất lớn trên triều đình; nếu như giết chết y, triều đình nhất định sẽ cảnh giác. Người nọ tuy có nói là đã thu xếp nội ứng nhưng sợ rằng đến lúc đó cũng sẽ không cách nào câu được con cá to kia đâu. Huynh hãy biết yên phận một chút đi!

Dương Hổ xưa nay sợ vợ, thấy ngữ khí nàng ta kiên quyết, liền vội đảo mắt cười nịnh nọt:
- Được rồi được rồi! Ta nghe nương tử hết, nàng nói làm sao thì chúng ta làm vậy!



***



Dương Lăng phái người lên núi gọi Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh xuống. Hai thiên hộ này cai quản ngục hình và vũ lực của Nội xưởng, thủ hạ mỗi người khống chế đều là quân đội tinh nhuệ trăm người chọn một. Dương Lăng cùng Thành Khởi Vận đến thư phòng phòng khách ngồi thưởng thức trà chờ đợi được một lát, thì hai người bọn họ đã từ trên núi vội vã chạy xuống.

Thấy Ngô Kiệt cũng xuống núi theo, Dương Lăng không khỏi ngạc nhiên, vội đứng dậy đón:
- Sao cả Ngô lão cũng bị kinh động vậy?

Ngô Kiệt cười nói:
- Ti chức có chuyện quan trọng khác muốn bẩm báo với đại nhân.

Dương Lăng ra hiệu cho hai người Liễu, Dương ngồi xuống, rồi quay sang Ngô Kiệt hỏi:
- Có chuyện quan trọng gì mà phải phiền đến Ngô lão tự thân xuống núi vậy?

Ngô Kiệt thu lại nụ cười trên mặt, thấy trong phòng chỉ có Thành Khởi Vận và hai người Liễu, Dương, đều là tâm phúc của Dương Lăng, mới nói:
- Đại nhân, bên phía Đóa Nhan Tam Vệ đã truyền tin tức về rồi.

Dương Lăng cả mừng liền hỏi:
- Đã gặp được Hoa Đáng rồi à? Hắn nói sao?

Ngô Kiệt thở nhẹ một tiếng đáp:
- Đại nhân, người của chúng ta đã gặp được Hoa Đáng và thông báo điều kiện của triều đình. Cuộc sống hiện tại của Đóa Nhan Tam Vệ rất không dễ chịu, điều kiện hậu đãi như vậy quả thực đã khiến bọn họ động tâm. Nhưng mà...

Dương Lăng hỏi dồn:
- Nhưng mà thế nào?

Ngô Kiệt lấy làm tiếc nuối đáp:
- Nhưng mà... từ lúc Lý Hạo vô cớ tàn sát mấy ngàn bá tánh Đóa Nhan Tam Vệ, đám tù trưởng quý tộc của Đóa Nhan Tam Vệ rất hận Đại Minh. Bọn họ nói, đường đường tổng binh đại nhân của Đại Minh mà còn có thể thất tín bội nghĩa như vậy nên bọn họ không tin sứ giả chúng ta gửi đến. Nhất định phải có thiên tử Đại Minh đích thân thừa nhận, bọn họ mới chịu hợp tác cùng chúng ta.

Dương Lăng cười nói:
- Vậy thì có gì là khó? Đáp lại với bọn họ rằng, bảo bọn họ phái sứ giả đến, hoàng thượng nhất định sẽ thấy xót thương mà đích thân động viên.

Ngô Kiệt cười khó xử nói:
- Đại nhân! Đóa Nhan Tam Vệ bị kẹp giữa Thát Đát và Đại Minh, xưa nay luôn giữ thuận lợi cho mọi bề, thấy gió giong buồm. Đám người đó tuy kiêu dũng thiện chiến, nhưng còn giỏi cò kè mặc cả và lợi dụng thời cơ hơn cả đám con buôn xảo trá nhất. Hiện tại là chúng ta đang cần bọn họ, hơn nữa một khi giao dịch cùng chúng ta, kiềm hãm hậu phương của Thát Đát, thì bọn họ sẽ mạo hiểm việc đoạn tuyệt với Bá Nhan, cho dù là Hoa Đáng cũng không thể tự mình làm chủ được.

Người của chúng ta đợi ở đó năm ngày, tù trưởng các bộ lạc Đóa Nhan Tam Vệ cãi nhau ỏm tỏi không ngơi, có người thì đồng ý, có kẻ lại phản đối, còn có cả kẻ ba phải, cuối cũng vẫn là Hoa Đáng ra quyết định, bằng lòng tiếp nhận điều kiện của Đại Minh. Có điều...

Ngô Kiệt liếc nhìn sắc mặt Dương Lăng rồi lấy dũng khí nói tiếp:
- Hắn yêu cầu thiên tử Đại Minh cùng hắn và ba vị thủ lĩnh bộ lạc được Đóa Nhan Tam Vệ bầu ra cùng gặp mặt, tế cáo thiên hạ, uống máu kết minh. Có như thế bọn họ mới chịu phục tùng triều đình, giao dịch với Đại Minh, hãm chân Thát Đát, và cung cấp chiến mã miền Hà Sáo với giá phải chăng.

Dương Lăng thoáng sững người, lưỡng lự hồi lâu mới nói:
- Vậy..., Hoa Đáng và ba vị đại thủ lĩnh bộ lạc muốn gặp hoàng thượng? Bọn họ nhất định... sẽ không vào kinh kiến giá ư?

Ngô Kiệt gượng cười hai tiếng, thấp giọng đáp:
- Dạ thì... đúng thế ạ! Đóa Nhan Tam Vệ lo ngại triều đình lại nuốt lời, thừa cơ giam giữ bốn vị đại thủ lĩnh làm con tin, cho nên... đòi gặp mặt cùng hoàng thượng trên núi Bạch Đăng cách ngoài thành Đại Đồng mười dặm.

Dương Lăng nghe vậy hai mắt cũng nghiêm lại. Y biết không phải Đóa Nhan Tam Vệ cố tình làm khó, mà quả thực vì bị Đại Minh lừa mãi nên đã sợ. Những tủ trưởng dân tộc tái ngoại này không hề biết rằng bọn họ có thể tùy ý đi đến bất cứ nơi nào trên thảo nguyên, nhưng muốn thiên tử Đại Minh rời khỏi Tử Cấm Thành là điều vô cùng khó khăn. Bảo hoàng đế của thiên triều thượng quốc rời khỏi kinh sư, vứt bỏ thân phận tôn quý mà hạ mình chạy đến núi Bạch Đăng hội kiến mấy tù trưởng bộ lạc bọn họ ư? Điều đó làm sao được!

Dương Lăng ngẩn ra một hồi rồi mới nói:
- Tiếp tục phái người thông báo với bọn họ: bản quan hoặc đại học sĩ triều đình đều có thể đi, có thể mang thánh chỉ hoàng thượng để tỏ rõ thành ý của chúng ta. Nhưng thiên tử Đại Minh thực sự không thể rời khỏi kinh thành nửa bước!

Ngô Kiệt thở dài đáp:
- Dạ đã nói rồi. Hoa Đáng thực sự muốn đáp ứng, dẫu sao hắn cũng là đại đầu lĩnh của Đóa Nhan Tam Vệ, mà bá tánh của Đóa Nhan Tam Vệ cũng đã chết cóng không ít người. Hắn rất nóng lòng muốn tiếp nhận viện trợ của Đại Minh, nhưng trong số quý tộc của Đóa Nhan có hơn phân nửa thủ lĩnh bộ lạc không đồng ý. Bọn họ nói rằng... Việc giao dịch cùng Đại Minh cũng là ý chỉ của thiên tử Đại Minh, Lý Hạo chính là đại thần nhị phẩm của Đại Minh, là võ quan cao cấp nhất thế mà cũng nuốt lời. Do đó, trừ phi đích thân gặp mặt thiên tử Đại Minh, bằng không bọn họ sẽ không hợp tác cùng Đại Minh.

Dương Lăng thả bước trong phòng một hồi, rồi khoát tay bảo:
- Bỏ đi, đợi ta đi gặp hoàng thượng xong rồi hẵng nói tiếp. Nếu thực sự không được thì xin hoàng thượng phái một vị trong hoàng thất ra mặt. Chứ muốn hoàng thượng đi gặp hắn ư? Sao mà được!

Ngô Kiệt đáp:
- Dạ! Dương Nhất Thanh và Vương Thủ Nhân đã đến Đại Đồng. Hai người không biết đang làm gì, bỗng nhiên đình chỉ mọi hoạt động, không chút động tĩnh. Nhưng một khi Thát Đát rút lui, bọn họ lập tức dốc toàn lực bọn họ lập tức dốc toàn bộ khinh kị binh ra quấy rối không ngừng; giặc Thát phản công liền lập tức lui về trong thành thủ vững không ra. Song phương giằng co, chiến sự triền miên, tình thế vào lúc này thực ra cũng không gấp lắm.

Dương Lăng nghe vậy thì thấy hơi mắc cười. Nếu đổi bọn giặc Thát này thành Trương Phi, đối mặt với cục diện như vậy sợ rằng đã đứng ngoài thành Đại Đồng rống to lên rằng:
- Đánh thì không đánh, lui cũng chẳng lui, rốt cuộc là muốn làm gì!

Y cũng nghĩ không ra hai người đó đang làm cái quỷ gì, nhưng nếu như chiến sự đã không còn gấp rút, vậy lúc này cũng không cần phải hỏi nhiều đến làm gì. Y bèn gật đầu, quay sang Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh bảo:
- Hôm nay bản quan gọi các người lại, là bởi vì bản quan e ngại sẽ gặp một chuyện phiền phức, song cũng có thể chỉ là sợ bóng sợ gió...

Y nói tiếp:
- Gần đến cuối năm, vốn định để các huynh đệ cũng được ăn Tết vui vẻ thoải mái, song lúc này e rằng sẽ phải làm phiền bọn họ một phen rồi.

Liễu Bưu cười đáp:
- Nuôi quân nghìn ngày, dùng quân trong chốc lát, cái đám gia hỏa này ngày thường có ngày nào mà không giống như ăn Tết ở trong Nội xưởng chúng ta? Đại nhân có chuyện gì xin cứ việc căn dặn, tinh binh được ti chức và Nhất Thanh huấn luyện vẫn chưa có cơ hội để dốc sức phục vụ đây.

Dương Lăng cười bảo:
- Tốt, đợi qua được mấy ngày này sẽ thưởng cho các huynh đệ mỗi người năm lạng bạc, cho bọn họ nghỉ thật đã.

Đoạn y đi ra đằng sau bàn ngồi xuống, nói:
- Mới đây có một đoàn ngựa thồ đi đến kinh sư. Bọn họ có giấy thông hành hợp pháp, trong vùng lại không có ai quen biết bọn họ, trừ khi bắt bớ vô cớ, bằng không e rằng sẽ không có cách nào tra rõ bọn họ. Có điều vẫn mong Thành đáng đầu đem tình hình cụ thể tỉ mỉ kể lại cho Ngô lão một lượt, phái vài người khôn ngoan tài cán đi dò thám một chút, chú ý đừng kinh động đến bọn họ.

Y rút ra một tời giấy, đặt lên bàn rồi vẽ một vòng tròn, nói:
- Liễu Bưu, Nhất Thanh, đây là Cao Lão Trang, Nội xưởng chúng ta khổ tâm kinh doanh tại nơi này. Ngô lão bố trí rất nhiều trạm canh gác công khai lẫn bí mật trong thôn và ngoài thôn, những nơi này các ngươi đều có thể sử dụng, bố trí tinh binh của các người mai phục ngày đêm.

Dương Lăng mỉm cười ngước nhìn Thành Khởi Vận và nói:
- Nếu như nữ Gia Cát của chúng ta suy đoán không sai, trong mấy ngày nữa sẽ có những vị khách không mời mà tới. Lúc đó sẽ phải nhờ các ngươi thay ta tiếp đãi khách khứa thật chu đáo đó!






Chú thích:

(1) "Bạc" nghĩa là thuyền đi biển. Đây cơ quan quản lý thuế tàu, trưng thu thuế cảng, thu mua hàng hóa nhập khẩu vân vân. Quan trông coi nơi này gọi là Bạc sứ

(2) "Võ cử" chỉ cử nhân võ nghệ (võ cử nhân), nghĩa là "luật cử nhân võ nghệ". Nhà Minh tổ chức cho các võ sinh ở các tỉnh thi hương tại các tỉnh thành, người trúng cử được gọi là "Võ cử nhân"

(3) năm đầu tiên của một niên hiệu vua chúa

(4) Cam Túc và Thiểm Tây



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

6300
13-04-2012, 02:01 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 173 Lặng lẽ vào thôn


Dịch: TheJoker

Biên dịch: 6300

Biên tập: Monsoon

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Hàn Ấu Nương nghe vậy thì lấy làm lạ, bèn hỏi:
- Tướng công, đêm nay chàng còn phải ra ngoài sao?

Dương Lăng ho khan một tiếng rồi đáp:
- Không có, đêm nay ta ngủ lại trong phòng Tuyết Nhi là được.

Tuyết Lý Mai đang mới vừa cắn một miếng dưa, nghe vậy trong lòng liền tràn ngập hoan hỉ, vểnh môi nhìn về phía Dương Lăng; ánh mắt trong veo, trên má không hẹn mà đã hưng phấn đỏ hây.






Chương 173 Lặng lẽ vào thôn


- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -




Tứ hợp viện đã lên đèn. Bên trong nhà chính, một đạo sĩ trạc tứ tuần, thân hình gầy gò, mặc áo dài tro đang ngồi trước bàn, trong góc tường dựng một cây đại kỳ coi mạng đoán số có thể bắt gặp ở khắp hang cùng ngõ hẻm nào, trên mặt lá cờ vẽ sơ sài hình một con âm dương bát quái ngư.

Một người thiếu nữ xinh đẹp yêu kiều bê khay trà đến, đạo sĩ không cầm lấy chén trà mà lại chộp cổ tay cô ta kéo vào trong lòng mình, đôi bàn tay to lớn lần vào trong ngực cô ả vân vê ve vuốt, cười dâm đãng nói:
- Thúy Nhi, hai tháng không gặp, cặp bánh bao thịt này đã nở ra nhiều rồi đó.

Thuý Nhi khẽ lắc chiếc eo thon thoát khỏi lão, ngón trỏ dí trán lão một cái, cười mắng:
- Đi chết đi, lão già mất nết, mọi việc đều xử lý ổn thoả hết rồi chứ?
Đạo sĩ luyến tiếc nhìn chằm chằm vào khe áo đang được ả chỉnh trang lại, trong nháy mắt làn da mịn màng đã bị che mất. Lão gật đầu đáp:
- Ừm, xem ra chuyện này phải đợi thêm một thời gian nữa. Sắp đến cuối năm, trong cung rất nhiều sự vụ, tuy tên hôn quân đó liên tục bị hai vị cô nương xúi giục, song cũng không thể thoát ra ngoài cải trang du ngoạn. Đành phải đợi đến tháng hai, sang xuân, khi y dọn đến Báo phòng ở rồi mới bàn tiếp. Có hai vị cô nương nội ứng, lợi dụng vợ chồng Dương Hổ giết y, đến lúc đó triều đình sẽ như quần long vô thủ, tất phải chọn một trong các vị vương gia làm tân đế. Ninh Vương khổ tâm ẩn nhẫn lâu năm, dùng sông vàng núi bạc đã lung lạc rất nhiều quan viên trong triều. Cho dù là huynh đệ Thọ Ninh hầu cũng nhận nhiều hối lộ từ hắn, đến lúc đó để bọn họ mê hoặc khiến thái hậu nói tốt cho, lại thêm quần thần ủng hộ, thế tử Ninh Vương nhất định sẽ có thể đăng ngôi cửu ngũ chí tôn.

Thuý Nhi cau mày nói:
- Thực không hiểu giáo chủ lão nhân gia đang nghĩ gì nữa. Hao tổn tâm huyết như vậy để giết một người nhà họ Chu rồi lại đưa một kẻ vẫn là họ Chu lên. Giáo chủ là Di Lặc chuyển thế, thần thông quảng đại, chẳng nhẽ chúng ta không thể gầy dựng hương quân(1), dùng vũ lực chiếm lấy giang sơn này của nhà họ Chu sao?

Đạo sĩ cười trêu chọc:
- Thiên hạ dễ chiếm đoạt thế ư? Cũng chỉ có cái tên ngu xuẩn Dương Hổ đó mới tin vào lời bịp bợm của ta, tưởng rằng hắn là sao Tử Vi trên trời chuyển thế, đứng trên cao hiệu triệu liền sẽ được làm hoàng đế. Ha ha, giáo chủ lo xa nghĩ rộng, há để nàng có thể nhìn thấu. Đại công tử đổi tên thành Lý Tự Nhiên, làm thượng khanh phủ Ninh Vương. Nếu có thể phò trợ Ninh Vương lên thềm rồng, đại công tử tất sẽ được phong hầu bái tướng, nắm giữ trọng binh. Tam công tử cũng đang chiêu binh mãi mã tại vùng Hà Tây. Đám cường đạo, thổ phỉ, hoặc lưu manh không chốn nương thân ở Trung Nguyên phải chạy ra biên tái tránh tội, những lính đào ngũ, phạm nhân trốn ngục, hay tù phạm khổ sai bị đày và mã tặc các bộ tộc du mục, một khi tập trung lại, sẽ là một đội quân hung tàn. Nàng hãy nghĩ đi, khi đó binh quyền triều đình và hương quân đều nằm trong tay bản giáo, chúng ta lại công bố chuyện Ninh Vương là kẻ làm bề tôi mà giết Chính Đức, khiến hắn mất đi sự ủng hộ của quan viên Đại Minh và phiên vương các nơi. Đại Minh như rắn mất đầu, muốn đoạt thiên hạ còn không dễ như trở bàn tay ư? Ha ha ha...

Đạo sĩ nói đến hả hê. Lão cầm lấy chén trà hớp một ngụm, rồi hau háu nhìn tấm thân nhỏ nhắn yêu kiều của Thúy Nhi rồi tiếp:
- Đến lúc đó lão Lưu ta dẫu sao cũng là đại quan tổng đốc, tất sẽ đón cô ả quyến rũ bé bỏng nàng về làm phu nhân của ta ngay.

Thúy Nhi nguýt lão một cái thật ngọt:
- Tốt cho ông quá nhỉ, đợi ông thật sự làm đại quan rồi hẵng nói nhé.

Đạo sĩ nhòm ra ngoài trời rồi nói:
- Sắc trời đã tối, sao bọn chúng vẫn chưa về? Hừm, mua gạo cứu tế ư? Lòng dân là cái rắm thúi. Bản giáo chuyên giảng đạo và thu nhận đám thân hào sĩ tộc và quan viên danh sĩ làm đồ đệ, đấy mới là thuật kinh bang tế thế giành lấy thiên hạ.

Thúy Nhi hừ nhẹ, buông giọng ghen tuông:
- Ông gấp gì chứ? Hay là Lưu hộ pháp đã tăm tia Hồng nương tử nhà người ta rồi? Nói thật cho lão hay, hai người bọn họ hiện không phải đang cứu tế ngoài thành đâu, mà là đến thăm tổng đốc Dương Lăng của Nội xưởng đấy. Xem ra Dương Hổ không phải chỉ là loại vũ phu chỉ biết dùng sức, hì hì, mà còn biết kết giao với quyền quý nữa đấy.

Lưu đạo sĩ cả kinh, vội đứng bật dậy, vẻ mặt kinh hoảng kêu lên:
- Hồ đồ! Hoang đường! Bọn chúng làm vậy chẳng phải là dắt dê vào miệng cọp sao? Dựa theo tin tức mật thám bản giáo truyền về, khu vực thành Tây trong tối ngoài sáng đều có thám tử của Nội xưởng. Cái xưởng mới lập này rõ ràng khác rất xa hai xưởng một vệ chỉ biết bắt bớ dọa dẫm kia, trong xưởng này hiển nhiên có cao nhân phò tá. Nếu để lộ sơ hở, há chẳng hỏng việc lớn ư?

Lưu đạo sĩ vừa nói xong, cổng trước sân ngoài đã vang lên tiếng gõ thình thình, người trong sương phòng nghe tiếng liền ra mở cổng. Vợ chồng Dương Hổ dắt ngựa đi vào, đạo sĩ vội đặt chén trà xuống rồi ra đón. Thúy Nhi cũng thu nét mặt lại, vẻ phóng đãng tiêu hồn tán cốt hoàn toàn tan biến, trở lại thành một tiểu tỳ ngây thơ đáng yêu lanh lợi, chạy ra ngoài cất giọng giòn tan:
- Tiểu thư, anh rể, hai người đã về rồi.
Hồng nương tử nghiêm mặt ừm đáp, trông thấy đạo sĩ thì mặt mới bớt giận, chắp tay chào:
- Lưu tiên sinh đã đến rồi à!
Trước nay Thôi Oanh Nhi luôn cảm thấy những gì vợ chồng nàng làm là thay trời hành đạo, cho dù trượng phu muốn tạo phản, cũng là vì bá tánh lê dân, nào ngờ Dương Hổ vì muốn được làm hoàng đế lại rắp tâm phá hủy thứ có thể cứu vớt mấy mươi vạn dân, làm vậy có khác gì đích thân ra tay giết hại dân chúng chứ?

Dương Hổ tuy đã xin lỗi nhận sai với nàng, thề không dám có âm mưu gì với Dương Lăng và đám hoa màu đó nữa, nhưng dọc đường từ hành vi và lời nói Dương Hổ đã thầm biểu hiện dã tâm và tham vọng, tỏ thái độ vì làm hoàng đế mà không từ thủ đoạn, khiến Thôi Oanh Nhi cảm thấy khinh bỉ, trong lòng hết sức không vui.

Dương Hổ trông thấy quân sư của mình liền vội vàng rảo bước, kéo tay lão ta, mừng rỡ nói:
- Dương Hổ nhận được truyền tin của tiên sinh liền đã gấp rút đêm ngày chạy đến kinh sư, sợ lỡ thời gian, nhưng đến nơi này lại không gặp tiên sinh. Ngài vân du tứ phương, hành tung bất định, ta đang sốt ruột đây.

Lưu đạo sĩ chính là vị Lưu thần tiên năm đó đoán mệnh cho Dương Hổ, tâng bốc hắn là chân mệnh thiên tử chuyển thế. Lão ta dùng những thủ đoạn như bút gỗ đào viết vào mâm cát, giấy vàng hiện chữ, trong núi đào được bia đá ghi lại lời kệ của tiên nhân, khiến cả Dương Hổ, sơn tặc và bá tánh cùng khổ khắp cả Bá Châu đều bị mê hoặc tin lấy tin để, đều cho rằng Dương Hổ đích thực là chân long thiên tử.

Lưu đạo sĩ cười lớn nói:
- Thời cơ chưa đến, đương nhiên không tiện hiện thân. Hiện tại chẳng phải bần đạo đã đến rồi đó sao? Ha ha ha…
Lão ta thoáng liếc sang Thôi Oanh Nhi, trêu hắn:
- Lạ thực, ngươi đã ăn phải gan hùm mật gấu hay sao mà lại dám đắc tội với Khóa Hổ phu nhân thế?

Trong giới lục lâm ai nấy đều biết phu nhân Thôi Thị của Dương Hổ võ nghệ hơn xa hắn, tính tình lại ương bướng ngang ngược. Dương Hổ là một hảo hán tiếng tăm vang dội trong giới lục lâm, ấy thế mà trước mặt phu nhân lại khép nép như mèo, vậy nên những người quen hắn đều trêu gọi nương tử hắn là Dương Khóa Hổ, ý nói nàng khoẻ mạnh dũng cảm hơn hẳn ông chồng, thường hay gọi trêu trước mặt bọn họ, vợ chồng Dương Hổ cũng không vì thế mà khó chịu.

Dương Hổ cười hề hề, khẽ liếc nương tử hắn rồi lại thân thiết nói với đạo sĩ:
- Chắc hẳn tiên sinh đã có tin tức chính xác rồi phải không? Nào nào, bên ngoài lạnh lẽo, chúng ta vào trong nhà đi. Thúy Nhi, đi làm một mâm thịt muối, hâm hai hũ rượu nóng, ta và nương tử phải uống với Lưu tiên sinh vài chén, cùng thương nghị đại sự.

Hồng nương tử chưa nguôi giận, lạnh lùng hừ một tiếng rồi nói:
- Giờ huynh có bản lĩnh rồi, ta là phận nữ nhi thì có thể đưa ra ý kiến gì chứ. Huynh hãy uống với tiên sinh đi, ta đi về phòng.

Nói đoạn quay sang Lưu đạo sĩ khẽ gật đầu tỏ ý, rồi cũng không thèm liếc Dương Hổ lấy một cái, đi thẳng vào phòng trong. Lưu đạo sĩ tham lam liếc theo bóng dáng mỹ miều của nàng, quay đầu lại thấy trên mặt Dương Hổ hiện chút lúng túng, liền vội cười bảo:
- Ha ha, cọp cái đã ra oai rồi, chốc nữa ngươi hãy tạ tội với phu nhân thì sẽ khiến nàng ta vui trở lại thôi. Nào, hai người chúng ta đã lâu không gặp, vào trong chuyện trò một chút!

*****

Dương Lăng và Thành Khởi Vận đưa tiễn Ngô Kiệt và hai người Liễu, Dương rồi chậm rãi thả bộ đi về phía hậu viện. Mới nhớm nửa bước chân vào dãy hành lang bằng đá, Dương Lăng chợt dừng lại ngước đầu nhìn bầu trời; nửa vầng trăng lưỡi liềm mới vừa được treo trên trời đêm, chỉ lác đác vài vì sao sáng lấp lánh.

Y nghĩ ngợi một chút rồi nói:
- Chúng ta phái người lần theo hộ tịch, giấy giới thiệu đến quê nhà bọn họ điều tra nội tình, e rằng cho dù có tra ra được cũng phải mất hơn một tháng. Nếu bọn họ thật sự muốn ra tay, tuyệt đối sẽ không đợi đến lúc đó.

Thành Khởi Vận dừng lại bên cạnh y, mùi thơm nhàn nhạt lan tỏa khắp bốn phía, nàng lên tiếng đáp:
- Dạ. Đại nhân từng nói với bọn họ rằng mười lăm tháng giêng sẽ bắt đầu sai người mang giống cây trồng chia cho các nơi. tới giờ trước sau gì tính ra cũng chỉ còn lại hơn hai mươi ngày, nếu như bọn họ muốn động thủ nhất định sẽ là trước lúc ấy.

Dương Lăng thở dài:
- Chỉ mong bọn họ không phải là người như cô nói, nếu như bọn họ thật sự là đôi vợ chồng đạo tặc, cô nghĩ khi nào thì bọn họ sẽ đến?

Thành Khởi Vận mỉm cười đáp:
- Nếu là ti chức, nội trong ba ngày nhất định sẽ tới! Thân phận đôi bên chênh xa, hôm nay đến nhà là để cảm tạ, nếu lui tới nhiều lần sẽ khó tránh khiến người ta nghi ngờ. Vả lại... bọn họ còn có một lớp thân phận khác, cũng không thể không lo đêm dài lắm mộng, ngộ nhỡ bị đại nhân nhìn thấu, vậy thực công lao đổ biển rồi.

Dương Lăng cười lớn:
- Tốt, vậy ta sẽ chuẩn bị tinh thần, chờ hắn mấy ngày.

Đám người Hàn Ấu Nương và Tô Tam đang cười nói chuyện trò trong phòng khách, Dương Lăng từng nói đêm nay muốn giữ Cao Văn Tâm lại ăn cùng, cho nên Hàn Ấu Nương kéo nàng ấy ngồi cạnh mình, không chịu thả cho về. Lúc này đã quá thời gian thết tiệc mà Dương Lăng vẫn còn cùng đám người Ngô Kiệt luận bàn nghị sự ở trung đường. Hàn Ấu Nương căn dặn nhà bếp hâm nóng thức ăn, mọi người chưa ăn vội. Thấy Dương Lăng và Thành Khởi Vận kẻ trước người sau bước vào trong phòng, Hàn Ấu Nương tươi cười đứng dậy đi đến đón, vừa ra hiệu cho Vân Nhi báo cho nhà bếp dâng món ăn lên, vừa cầm giúp áo khoác cho Dương Lăng, cười nói:
- Cứ hễ bàn đến việc công là tướng công lại quên cả ăn uống, mau ngồi xuống đi, mọi người đang đợi đó.

Tiểu nha đầu xinh xắn ngây thơ năm xưa giờ đã mang hơi hướm của một thiếu phụ thanh tú đẫy đà, như đóa hồng ngậm sương đã nở rộ. Dương Lăng quở trách:
- Xem nàng kìa, đã nói biết bao nhiêu lần rồi, khi nào ta bận việc thì đừng có chờ, lúc này nàng có thể để cho mình đói được sao? Hơn nữa tối nay chúng ta còn giữ Văn Tâm lại ăn mà, thực vô lễ quá.

Y nói vậy quả thực đã coi Cao Văn Tâm như người ngoài. Tuy rằng nàng đích thực là người ngoài, song sắc mặt Cao Văn Tâm vẫn hơi mất tự nhiên. Tô Tam thấy vậy liền cười khẽ đỡ lời:
- Xin lão gia hãy mau ngồi bên trên, chúng thiếp mới vừa ăn chút điểm tâm, vả lại Văn Tâm tỷ tỷ và chúng thiếp thực cũng không thể xem như người ngoài mà.

Nàng chỉ nghĩ rằng Dương Lăng và Cao Văn Tâm chắc đã sớm có quan hệ tình cảm mập mờ, vừa nói cặp mắt trong vắt vừa liếc Cao Văn Tâm một cách đầy thâm ý. Cao Văn Tâm không biết nội tình, còn tưởng rằng nàng ấy nói đến chuyện mấy người bọn họ kết nghĩa kim lan, thế là không khỏi mỉm cười cảm kích.

Dương Lăng nghĩ nếu hai người Dương, Phúc thực sự là đôi vợ chồng Dương Hổ, nói không chừng đêm nay sẽ tìm đến Cao Lão trang, một khi nhận được tin tức y sẽ phải đích thân đốc chiến, Ấu Nương đang có mang, không thể để nàng ấy bận lòng lo lắng, liền nói:
- Phải phải phải, đúng là lỗi của ta, sớm biết các nàng tình như tỷ muội rồi, ha ha.

Đoạn y ngồi xuống trước bàn, nói với Cao Văn Tâm:
- Ngày mai là tết ông Táo, ta có mời mấy vị đồng liêu ở Nội xưởng đến phủ, nội quyến dẫn theo cũng sẽ được thết tiệc ở hậu đường. Ta vốn định đến lúc đó mời cô cùng đến dự luôn, hay đêm nay cô đừng về, ở lại ngủ với Ấu Nương đi.

Hàn Ấu Nương nghe vậy thì lấy làm lạ, bèn hỏi:
- Tướng công, đêm nay chàng còn phải ra ngoài sao?

Dương Lăng ho khan một tiếng rồi đáp:
- Không có, đêm nay ta ngủ lại trong phòng Tuyết Nhi là được.

Tuyết Lý Mai đang mới vừa cắn một miếng dưa, nghe vậy trong lòng liền tràn ngập hoan hỉ, vểnh môi nhìn về phía Dương Lăng; ánh mắt trong veo, trên má không hẹn mà đã hưng phấn đỏ hây.

*****

Mọi người dùng bữa xong, bưng trà lên phòng khách tiếp tục tán gẫu hơn nửa canh giờ, rồi ai nấy tự về phòng nghỉ. Dương Lăng ngồi lại một mình trong phòng thêm một chốc, chợt Cao quản gia dẫn Liễu Bưu vội vã chạy đến hậu viện. Dương Lăng đứng dậy đón:
- Đã an bài mọi thứ thỏa đáng rồi chứ?

Liễu Bưu gật đầu đáp:
- Dạ, đã kiểm soát chặt chẽ bọn chúng, chỉ cần chúng có hành động bất thường gì chúng ta sẽ lập tức có thể thu được tin tức. Tuân theo sự căn dặn của đại nhân, để tránh cho bá tánh bị kinh hoảng, ti chức đã an bài nhân mã hai bên quan đạo vào thôn, chỉ cần bọn chúng dám đến, cam đoan sẽ bắt được cả người lẫn vật.

Dương Lăng cười nói:
- Cực cho các huynh đệ rồi, làm to chuyện như vậy, hiện tại ta lại chỉ lo bọn chúng không đến. Huynh hãy toạ trấn ở trung đường đi, có biến động gì hãy lập tức bảo quản gia thông báo cho ta.

Nói đoạn y quay sang Cao quản gia nhắn nhủ:
- Sợ là mấy ngày này lão quản gia cũng không thể ngủ giấc ngon rồi, hôm nay ta sẽ ngủ lại trong phòng Tuyết Nhi, đến khi xảy ra chuyện ông phải ngàn vạn lần cẩn thận, chớ để kinh động đến phu nhân.

Cao quản gia hết lòng trung thành chỉ biết có kẻ lại muốn gây bất lợi với Dương phủ, trong lòng căm phẫn không thôi, nghe Dương Lăng dặn dò xong liền vội kính cẩn đáp:
- Dạ, ban ngày lão nô không có việc gì làm cũng đã tranh thủ thiếp đi một chút, hiện tại hết sức tỉnh táo, lão nô sẽ đi cùng đại nhân đây vào trung đường, lão gia cứ yên tâm.

Hai người lui khỏi hậu viện, Dương Lăng uống thêm một chén trà, rồi đến phòng Tuyết Lý Mai. Trong phòng thắp hai cây nến đỏ, màn đã được buông xuống, Tuyết Lý Mai đang quỳ trên giường trải chăn nệm; quần áo mượt mà dán sát người nàng tôn lên đường cong uyển chuyển của bờ mông tròn lẳn, tấm màn lụa mỏng như sương mù phản chiếu một bóng hình thon thả mông lung.

Nghe thấy tiếng kẹt cửa Tuyết Lý Mai vội vén màn, xoay người trèo xuống giường, khuôn mặt hoa đào khi giận lẫn khi vui đều xinh đẹp ấy mang theo mấy phần thẹn thùng. Nàng chỉnh trang vái Dương Lăng một lễ, dịu dàng thỏ thẻ:
- Lão gia...!
Dương Lăng nhìn thấy trên giường tấm chăn lụa 'uyên ương hí thủy' và chiếc gối đôi độn trà thơm Long Tĩnh đều đã được sắp xếp ngay ngắn, tuyết Lý Mai vận áo khoác mỏng lụa xanh, chiếc quần ống tơ màu hồng nhạt, đôi giày ngủ thêu hoa. Mái tóc buông xoã hai vai, trông muôn phần kiều mị.

Căn phòng ngập tràn hơi ấm. Dương Lăng đưa mũi ngửi, trong chậu than lửa đang cháy rừng rực, bên trong hẳn đã cho thêm hương liệu hảo hạng; mùi thơm dìu dịu nức mũi. Xem ra cô nàng này quả thực vì muốn lấy lòng lão gia mà đã chuẩn bị đây.

Dương Lăng nhịn không được bật cười lớn, bộ dạng nghênh ngang đi đến ngồi xuống chiếc ghế trước bàn, nói với Tuyết Lý Mai:
- Ha ha, Tiểu Tuyết Nhi, qua đây!

Tuyết Lý Mai kéo vạt áo lại, bước tới. Dương Lăng chắn ôm lấy nàng, đặt nàng ngồi ngang trên đùi mình, hôn nhẹ lên gò má trắng như tuyết của nàng một cái rồi nói:
- Đêm nay lão gia có thể có công vụ phải lo, không muốn khiến phu nhân lo lắng, đến chỗ nàng ngủ, là bởi vì Tuyết Nhi của ta thông minh lanh lợi, sẽ giúp lão gia che giấu. Đừng để cho lão gia bị lộ sơ hở đó, biết không?

Tuyết Lý Mai vừa nghe liền biết mình đã hiểu lầm ý, con tim thiếu nữ cảm thấy chán chường, nàng trề môi:
- Biết rồi mà, lão gia muốn làm gì, người ta đương nhiên sẽ giúp chàng, không nói cho Ấu Nương tỷ tỷ biết là được.

Tấm thân của Tuyết Lý Mai mềm mại yêu kiều, giọng nói giòn tan, ngồi lả lướt trên đùi y, mềm mại như không xương. Vẻ điềm đạm yêu kiều ấy khiến Dương Lăng yêu mến không thôi, nhịn không được bèn ôm chặt lấy chiếc eo thon của nàng kéo sát vào trong lòng, miệng cười ha hả:
- Vậy mới ngoan chứ. Làm gì mà trề môi ra vậy hử? Tiểu Tuyết Nhi của ta ngoan như vậy, biết để tâm như vậy, sao lão gia nỡ để cho nàng thất vọng chứ?

Tuyết Lý Mai bị y nói trúng tâm sự, không khỏi đỏ lựng mặt, ấp úng:
- Người ta... người ta mới không... thất vọng đó, lão gia cứ thích ức hiếp thiếp.

Bờ mông tròn mượt vểnh cao của Tuyết Lý Mai, cho dù đang cách một lớp lụa mỏng vẫn đầy tính đàn hồi kỳ diệu. Lúc này nàng hiện rõ vẻ thẹn thùng, ngữ khí nhẹ nhàng, mặc dù Dương Lăng nếm trải rất nhiều tuyệt sắc, vẫn không khỏi bị thần thái ngượng ngùng thánh khiết ấy làm cho chảy dãi.

Y ôm chặt lấy tiểu mỹ nhân khiến người ta phải thương tiếc đó, ngón tay lần vào trong áo, xuôi xuống dưới ngực chụp lấy quả tuyết lê nhỏ nhắn mềm mại, khẽ cười thì thào vào tai nàng:
- Nàng nói lão gia ức hiếp nàng, vậy lão gia sẽ ức hiếp nàng cho biết, để làm "công chuyện" của nàng trước rồi nói tiếp...

Gần đến canh ba, Dương Lăng đột nhiên bị lay tỉnh dậy, một cây nến đỏ trên bàn chưa tắt, lúc này cũng đã le lói sắp tàn, ánh sáng cực kỳ yếu ớt. Dương Lăng đang định mở miệng hỏi, Tuyết Lý Mai đã thì thầm: "Lão gia, có người nhìn cửa, nghe tiếng thì hình như là của lão quản gia."

Dương Lăng ngóng tai nghe, ngoại đường có vài tiếng ho khan, sau đó có tiếng người gọi khẽ: "Lão gia, lão gia, xin hãy mau thức dậy."

Dương Lăng và Tuyết Nhi sau cơn hoan ái cùng cực đều đã mặc đồ lót, lúc này nghe tiếng lập tức ngồi bật dậy, khoác lấy miên bào (áo dài vải bông), chộp lấy cây nến khác châm lên, rồi ra gian ngoài mở cửa phòng. Chỉ thấy lão quản gia tóc bạc phơ đang cầm ngọn đèn lồng đứng trước cửa phòng, khuôn mặt đỏ au, giọng căm giận:
- Lão gia, Liễu đại nhân kêu lão nô truyền tin gấp cho người, đám cường đạo đó quả thực đã chạy đến chỗ chúng ta rồi.

Dương Lăng nghe vậy thì cười khổ sở, vung tay thổi tắt nến rồi khẽ thở dài: - Điều không mong muốn lại xảy ra..., đi thôi, chúng ta ra phía trước xem thử.
Đoạn y quay về phía trong phòng gọi:"Tuyết Nhi, tự cài then cẩn thận nhé."
Vừa nói vừa rời khỏi cửa phòng lật đật theo sau quản gia, buộc thắt lưng lại rồi đi vào trung đường. Cuối ngã rẽ hướng ra ngoài phòng khách chính là nội thư phòng, Dương Lăng vừa mới đi đến cửa, bên trong chợt vọng ra tiếng gọi: "Đại nhân, bọn chúng đến rồi à?"

Cùng lúc rèm cửa được vén lên, Thành Khởi Vận tay cầm đèn lồng bước ra ngoài. Chỉ thấy trên đầu nàng vấn khăn, người mặc áo dài cổ tròn ống chật, eo thắt đai rộng, chân mang đôi giày da dê màu đen, một thân nam trang; trong vẻ thanh tao nho nhã lộ ra khí thế mạnh mẽ oai hùng.

Dương Lăng không khỏi lấy làm kinh ngạc, hỏi:
- Cô... không hề ngủ sao?
Thành Khởi Vận hớn hở trả lời:
- Vốn lẽ định ngủ, nhưng nghĩ đến những điều đã ba hoa khoác lác với đại nhân, nếu thực sự mình hiểu lầm người ta, điều động binh lực để đại nhân lo lắng như vậy, khiến cho hơn nghìn huynh đệ phải chịu lạnh gác đêm, ti chức thực sự khó mà yên gối. May mà... ha ha...

Dương Lăng thấy vẻ hớn hở yên lòng trên khuôn mặt nàng, bất giác cũng hơi rung động, y mở miệng, cuối cùng lại nở một nụ cười, điềm nhiên nói:"Đi thôi, theo ta xem thử thì sẽ biết kết quả ngay", ngữ khí dịu dàng chưa từng có.

*******

Nửa vầng trăng sáng treo trên không trung, ngoài bờ tây kinh sư, mặt đất vốn là đồng ruộng đều bị bao trùm trong lớp tuyết trắng toát. Bên trong những mẫu ruộng nằm chếch về phía Cao Lão trang, hơn hai trăm gã hán tử đang đứng nghiêm trang, không một tiếng động, chỉ có tay áo phất phơ trong gió. Dương Hổ vào kinh do bị lão quân sư quạt mo Lưu thần tiên mê hoặc, hòng thích sát Chính Đức. Đám hảo hán lục lâm này đôi lúc suy nghĩ hết sức đơn giản, lại đi tin mấy lời nói xằng của Lưu đạo sĩ, bảo rằng giết chết Chính Đức thì thiên hạ sẽ đại loạn, một nửa giang sơn liền sẽ vào tay.

Dương Hộ không hề biết quân sư của hắn thật ra là nhân vật quan trọng trong giáo phái Di Lặc, thế là bèn an bài tâm phúc lần lượt tề tụ tại kinh thành dưới các dạng thân phận, rồi lại phi ngựa triệu hồi nương tử của hắn là Thôi Thị đang ở Sơn Đông thuyết phục bè phái các nơi cùng mưu đại sự, hòng một vố giết Chính Đức luôn.

Thế nhưng tuy hai mỹ nữ giáo phái Di Lặc đưa vào trong cung chiếm được lòng yêu mến của Chính Đức, có biện pháp lừa phỉnh Chính Đức cải trang vi hành, nhằm tạo cơ hội cho bọn họ. Song đám nhân vật giang hồ bọn họ đã quá xem nhẹ tầm quan trọng của ngày Tết.

Vào dịp này, hoàng thất phải cử hành các loại nghi lễ mà so với gia đình bình thường còn phức tạp gấp trăm lần, trong khoảng thời gian này Chính Đức căn bản không cách gì rời khỏi hoàng cung. Khó khăn lắm Lý Phúc Đạt mới an bài hai thân tín bên cạnh hoàng đế, cũng không mong bọn họ vì quá ân cần khuyên dụ mà bại lộ thân phận, vì vậy khi nghe nói sang xuân Chính Đức sẽ dời ra khỏi hoàng cung dọn đến Báo phòng, để chắn chắn ổn thoả, chúng đã quyết định trì hoãn thời gian động thủ.

Thế là Lưu đạo sĩ lại bịa chuyện với Dương Hổ nói rằng đế tinh ảm đạm sắp sụp, nhưng bỗng có tướng tinh(2) bảo hộ, lúc này không thích hợp để động thủ, khuyên hắn tạm thời nhẫn nại, hai tháng nữa thời cơ chín mùi mới hẵng trở lại kinh sư. Dương Hổ thấy hắn bảo sao nghe vậy, vô cùng tin tưởng mấy thứ huyền diệu khó giải thích này, đương nhiên không dám trái lời.

Tuy nhiên Dương Hổ vẫn chưa từ bỏ ý niệm trừ khử Dương Lăng, hắn đem tình huống thăm viếng Dương phủ cho Lưu đạo sĩ để cùng tìm ra sơ hở, thỉnh kế quân sư. Lưu đạo sĩ nghe xong cũng cảm thấy chuyện này rất có ảnh hưởng đến đại kế của giáo chủ, cần phải nhổ cái đinh trong mắt này đi. Thuộc hạ của Dương Hổ vào kinh dưới đủ các loại thân phận, đám ngựa dùng để kéo xe thồ hàng chở người đều là ngựa tốt thượng đẳng, sẽ kéo ra ngoài thành trước, một khi xong chuyện liền sẽ cao bay xa chạy, khi đó còn ai có thể tra ra căn nguyên của vụ huyết án này.

Huống hồ với số nhân mã Dương Hổ dẫn đến, nếu tập kích bất thình lình, thì không một gia tướng bảo vệ trạch viện của bất kỳ một vị vương công đại thần nào có thể chống chọi nổi. Hơn nữa cho dù giết chết Dương Lăng, cũng sẽ không khiến hoàng đế sợ đến nỗi hai tháng sau vẫn còn cảnh giác không dám ra ngoài du ngoạn.

Hành tung của Lý Phúc Đạt được xếp vào hạng cực cơ mật của giáo phái Di Lặc, ngoại trừ ba vị công tử của lão ta, không ai biết được tăm tích của lão, cho nên Lưu đạo sĩ không cách nào xin được ý kiến giáo chủ. Lo trước tính sau cảm thấy phần thắng rất cao, lão liền gật đầu đồng ý.

Dương Hổ lập tức phái thân tín báo tin cho toàn bộ nhân mã thừa dịp cổng thành chưa khóa lặng lẽ lẩn ra khỏi thành. Hắn chỉ sợ Thôi Thị sinh nghi mà ngăn cản, không dám đột ngột rời đi, cố ý cùng Lưu đạo sĩ uống rượu đến tận canh hai. Khi thấy Thôi Thị đã ngủ, mới thay quần áo dạ hành, dùng móc câu thừng chão nối với đầu thành trèo xuống rồi đi tìm thuộc hạ của mình.
Hắn muốn giữ Lưu đạo sĩ ở lại phủ, đợi đến sát lúc mới sẽ thông tri để Thôi Thị rời thành, cùng đào tẩu đến địa điểm ước định. Khi đó đại sự đã thành, cho dù nàng ấy không vui cũng phải đành chịu.

Dương Hổ vận một bộ trang phục bó sát màu xanh thẫm, trên tấm thắt lưng da rộng sáu tấc gắn mười hai thanh phi đao, trong tay cầm một thanh đơn đao đầu hẹp, đứng đầu đội ngũ hô:

- Các vị huynh đệ, chốc nữa đến thôn trang, xông thẳng vào phủ Uy Vũ bá, toàn trang trên dưới không bỏ qua bất cứ kẻ nào. Mã nhị ca, Điền lão tứ phụ trách vây giường giết người, Trọng Dương dẫn ba mươi anh em theo ta, nghe thấy hiệu lệnh của ta thì rút lui.
- Ngựa của chúng ta đang tập trung tại Lộ Ao Lý cách bốn mươi dặm ngoài phía trước, xong việc lập tức chạy đến đó, chia thành đội mười người, tản ra trốn ở các nơi tránh gió, đừng tùy tiện trở về Bá Châu, đi!

Mấy tên đầu mục khẽ dạ một tiếng, những lưỡi đao trắng buốt như rừng lập loè phản chiếu dưới ánh trăng, phát ra một quầng hào quang lạnh lẽo.
Hơn hai trăm đạo tặc lục lâm giết người không chớp mắt, bước chân như gió, chạy ào ào về phía thôn trang đang đắm mình trong ánh trăng yên ả, trong tĩnh lặng chỉ có tiếng gió lạnh thổn thức táp vào mặt.







Chú thích:



(1) Cuối đời nhà Nguyên, Hàn Sơn Đồng và Lưu Phúc Thông lợi dụng danh nghĩa tôn giáo tổ chức cuộc khởi nghĩa võ trang nông dân, dùng khăn đỏ làm dấu hiệu, thường gọi là "hồng quân" (quân đội đỏ), bởi bọn họ thắp hương cúng Phật, nên cũng gọi là "hương quân" (quân đội dâng hương). (theo Minh sử - Hàn Lâm Nhi truyện)

(2) Người xưa cho rằng quan tướng và vua chúa đều ứng với một vì sao trên trời. Tướng tinh chỉ vì sao tượng trưng cho đại tướng. Đế tinh, còn được gọi là thiên đế, tục gọi là sao Tử Vi, là ngôi sao trong chòm Tử Hùng.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
15-04-2012, 06:42 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 174 - Mãnh hổ phá vây


Dịch: vo vong

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Liễu Bưu cất tiếng tán thưởng:
- Quả không hổ là đại đạo Dương Hổ, sơn tặc hung hãn nhất lục lâm phương bắc!
Xưởng đốc! Thành đại nhân! Dương Hổ dẫn theo chừng hai trăm người. Dù bị chúng ta phục kích nhưng hắn vẫn mang được hơn ba mươi người mở một đường máu, đột phá trùng vây.

Dương Lăng và Thành Khởi Vận nghe xong liền đồng thanh cất tiếng hỏi. Dương Lăng hỏi rằng:
- Người của chúng ta thương vong thế nào?
Thành Khởi Vận thì hỏi:
- Đã phái người đuổi theo chưa? Phục binh ở nơi giấu ngựa đã thu xếp ổn thỏa chưa?





Chương 174 - Mãnh hổ phá vây


- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -






Trước mặt là vài chục gốc táo to, ở giữa là một con đường dẫn đến một cây cầu, vượt qua cây cầu nọ là đã đến địa giới Cao Lão trang. Lá cây đã rụng hết, những gốc táo già hình thù kì lạ có vẻ hơi quỷ dị giữa màn đêm.

Quen thuộc đường lối, Dương Hổ giơ tay phất nhẹ rồi lập tức chạy tới. Bọn hắn chỉ còn cách rừng táo chừng hơn hai mươi trượng thì trước mặt chợt có một chùm ánh lửa bắn lên cao, cảnh vật chung quanh hiện rõ trong màn đêm. Dương Hổ không khỏi cả kinh, bước chân vừa hơi chậm lại thì giữa không trung đã nổ bùng một quả cầu lửa.

Ánh sáng chiếu lên rực rỡ, nhưng tiếng nổ thì lại rất nhỏ, khói lửa bừng lên rồi vụt tắt, trong khu rừng phía trước đột nhiên xuất hiện rất nhiều bóng người. Cũng chẳng rõ có bao nhiêu người tất cả, nhưng dưới ánh trăng mờ mịt, ánh sáng lạnh ngắt phản chiếu từ những thanh vũ khí thì lại tràn ngập những luồng sát khí khiến người ta phải rùng mình.

Tên sơn tặc Mã Nhị theo sát bên cạnh Dương Hổ kinh hãi kêu lên:
- Hổ ca! Bọn chó săn đã phòng bị rồi, chúng ta mau rút thôi!

Dương Hổ cũng kinh hãi không ít, nhìn tình hình này thì rõ ràng quan binh đã sớm mai phục ở đây. Sao tin tức bị rò rỉ được?

Dương Lăng đã chuẩn bị sẵn, đêm nay muốn động đến y e là không còn cơ hội rồi. Trong lòng Dương Hổ thầm bực bội nhưng cũng chẳng sợ hãi chút nào, sự bất tài của quan binh hắn sớm đã lãnh giáo qua. Cho dù đám sơn tặc bình thường đi chăng nữa thì bọn quan binh nếu không có quân số đông gấp mấy lần thì cũng chẳng dám tùy tiện trêu chọc, huống chi lần này để ám sát Hoàng đế Chính Đức hắn đã mang tới kinh sư toàn những thủ hạ đắc lực.

Chẳng hề sợ hãi, Dương Hổ lạnh lùng nhìn về phía trước. Nhận thấy số người đột ngột xuất hiện trong rừng có khoảng hai trăm, nhân số hai bên tương đương nhau nên hắn lại càng trấn tĩnh. Hắn lập tức cao giọng ra lệnh:
- Các huynh đệ đừng rối loạn! Bọn chúng không đông, hãy lập tức rút về phía sau.

Đúng lúc này, ở hai bên cánh cũng có người kinh hãi kêu lên:
- Hổ ca! Bên này cũng có người. Mẹ nó, chúng ta bị bao vây rồi.

Dương Hổ kinh hãi đảo mắt nhìn qua hai bên. Dưới ánh trăng tà, hắn nhìn thấy từ những cánh đồng hoang hai bên cánh cũng đột nhiên xuất hiện vô số quan binh. Những kẻ này không nói một lời, chỉ lặng lẽ tiến đến, mang theo một luồng áp lực và sát khí vô hình khiến người ta run sợ.

Dương Hổ thấy vậy trái tim bất giác run lên, Điền lão tứ từ phía sau lại chợt kêu lớn:
- Phía sau cũng có người! Hổ ca, xông ra ngoài thôi!

Dương Hổ dừng chân lại, nghiến răng:
- Các huynh đệ, lao ra ngoài thôi! Đến điểm hẹn lấy ngựa rồi phải lập tức chia nhau rời khỏi kinh sư!

Lúc này các quan binh đột nhiên xuất hiện từ bốn phía đã tiến đến khoảng hơn hai mươi trượng (khoảng 67m), loáng thoáng nghe có người hô :
- Bắn!

Tiếng tên xé gió bay tới vun vút, một loạt những tiếng kêu thảm vang lên, bốn phía xung quanh đã có mấy chục tên sơn tặc trúng tên gục ngã, cả bọn lập tức trở nên hỗn loạn. Những phiên tử dưới tay Dương Lăng đều xuất thân từ quân ngũ, mà quân đội tác chiến lấy cung nỏ làm đầu; chỉ mong giết được càng nhiều kẻ địch càng tốt, ai còn quan tâm đến việc so bì võ nghệ cá nhân?

Trong quân có nỏ cứng, lực sát thương có thể xa tới ngàn bước chân, cung nỏ thì có thể đưa người ta vào chỗ chết trong phạm vi ba trăm bước. Thần Cơ doanh của Dương Lăng lấy hỏa khí làm chủ, ngoại trừ năm trăm cận vệ của Dương Lăng, phần lớn đều không sở trường cung nỏ.

Nếu đám phiênt ử Nội xưởng sử dụng một lượng lớn hỏa khí để ra đòn phủ đầu ngay ở gần kinh sư thì âm thanh phát ra một là sẽ làm kinh động trăm họ, hai là nếu chuyện lọt vào trong cung, e rằng sẽ khiến triều đình kiêng dè, nghi kỵ. Do đó lần chiến đấu này mọi quan binh đều được trang bị nỏ liên châu.

Nỏ liên châu chỉ có phạm vi sát thương trong vòng bốn mươi trượng, nhưng hộp tên lại chưa được mười mũi, mỗi lần có thể bắn liên tiếp đượcmười phát. Hơn nữa lực sát thương cũng rất mạnh, trong phạm vi hai mươi trượng có thể bắn xuyên qua tấm giáp bằng da thuộc găm thẳng vào cơ thể người. Nội xưởng hiện giờ đã là Đại Quan Thương(*) đứng đầu thiên hạ, dưới sự kinh doanh của Vu Vĩnh tiền tài đổ vào không ngừng, ngay đến nỏ liên châu đắt đỏ cũng được trang bị tới hơn một ngàn chiếc, ở cự li gần như vậy đương nhiên là sức sát thương càng lợi hại hơn.
(*: Quan thương: Chỉ quan lại tham gia việc buôn bán, kinh doanh; Ở đây là Công ty quốc doanh, tập đoàn nhà nước,...)

Mắt thấy nhiều huynh đệ một lòng trung thành với mình bỏ mạng ngay trước mặt như vậy, hai mắt Dương Hổ như phun lửa, hắn lớn tiếng quát:
- Các huynh đệ, đánh giết ra ngoài!
Nói đoạn, hắn cầm cương đao xông về phía quan binh Thần Cơ doanh ở gần nhất.

Đám đại đạo lục lâm dũng mãnh không sợ chết nào đã từng phải chịu thiệt như thế này? Sau chốc lát hoảng loạn, mùi máu tanh đã khiến hung tính bùng lên, bọn chúng lập tức vung vũ khí theo sau Dương Hổ lao về phía quan binh.

- Hự…
Một tên đại đạo vừa lao đi được vài bước thì đã bị tên bắn xuyên qua cổ họng, hắn vẫn lao tiếp về phía trước vài bước theo quán tính rồi mới nặng nề ngã xuống. Những mũi tên nỏ đều ngắn, nhỏ, khi bay đi gần như không phát ra tiếng động. Ở giữa màn đêm thì dù với công lực của Dương Hổ cũng khó mà nhìn thấy. Hắn bèn múa đao kín kẽ đến mức giọt nước mưa cũng không thể lọt qua, sau nháy mắt đã lao đi được hơn mười trượng, chém bay bốn năm mũi tên.

Bên cạnh Dương Hổ không ngừng có người trúng tên ngã xuống khiến hắn càng trợn mắt phẫn nộ. Mắt thấy chỉ cần xông tiếp về phía trước hơn mười trượng là có thể đánh giết vào đám quan binh, tìm được một con đường sống thì đột nhiên hắn cảm thấy đùi tê rần, thân thể loạng choạng ngã khuỵu xuống đất.

Đưa tay sờ thử, Dương Hổ nhận thấy trên đùi đã bị một mũi tên cắm ngập, chỉ còn thừa lại phần đuôi. Không kịp rút tên ra, hắn vứt đao qua một bên, nén đau đưa tay thọc vào thắt lưng, hai tay ném ra liên tiếp; mười hai mũi phi đao không ngừng bay đi, quan binh trúng đao lần lượt gục ngã xuống đất.

Mười mấy tên cường đạo võ nghệ cao cường nhân cơ hội ấy hung hãn xông vào giữa đám phiên tử, cận chiến với quan binh. Trận chiến đấu bằng đao kiếm bắt đầu diễn ra giữa vùng đồng cỏ hoang vu, những tiếng keng keng vang lên không ngớt. Quan binh tuy đông người, nhưng đơn đả độc đấu thì đâu thể là đối thủ của lũ đại đạo kia. Mấy viên quan binh vừa vội vã rút đao nghênh chiến thì đã bị chém ngã xuống đất, đám đại đạo còn lại thừa cơ ào ào xông lên, cùng quan binh triển khai một cuộc hỗn chiến.

Vừa rồi mấy lượt tên dày như mưa xé gió bay tới khiến hai trăm tên đại đạo ngay cả bóng mũi tên còn chưa nhìn thấy thì đã có quá nửa gục ngã rồi. Còn lại sáu bảy chục người thì phần lớn đều có võ nghệ cực cao, hơn nữa đều vô cùng hung hãn và cảnh giác. Có kẻ vừa thấy huynh đệ xung quanh trúng tên bèn lập tức lăn xuống mặt đất, có kẻ thì dứt khoát xách đồng bọn vừa bị bắn chết lên làm lá chắn, giữ lấy tính mạng của bản thân.

Dương Hổ rút mũi tên trên đùi ra, cầm lấy thanh đơn đao lưỡi hẹp vươn người đứng dậy. Mấy viên phiên tử vung đao xông tới, Dương Hổ gầm lên một tiếng vang trời, vung chân quét mạnh, một mảng đất bị hất tung lên, xen lẫn với những bông tuyết bay rào rào về phía bọn họ.

Mấy viên phiên tử vội che mặt lùi về phía sau. Chỉ trong chớp mắt ấy, Dương Hổ đã cười gằn tung người nhảy vọt tới, đơn đao chém ngang qua eo lưng một người, đưa viên phiên tử đó về cõi chết. Dương Hổ đại triển thần uy, quả nhiên chẳng khác gì hổ xông vào đàn dê, lưỡi đao đi đến đâu máu bèn bắn tung lên ở đó, chỉ trong nháy mắt đã có sáu bảy người gục ngã dưới đao của hắn.

Sau lượt giao thủ này Dương Hổ mới phát hiện ra điều ảo diệu. Thì ra những viên phiên tử này đều khoác áo choàng có màu sắc rất kỳ lạ: một đường xám rồi một đường trắng ngoằn ngoèo xen lẫn vào nhau. Cho dù ở cách rất gần, Dương Hổ cũng khó lòng nhìn thấy rõ những viên phiên tử đang quay lưng về phía hắn mà giao chiến với các huynh đệ của hắn dưới ánh trăng. Thảo nào bọn chúng có thể mai phục mấy trăm người ở phạm vi ngoài ba mươi trượng mà tai mắt mình cũng không hề phát hiện.

Cường đạo tuy dũng mãnh, nhưng phiên tử lại đông người, hơn nữa tuy võ công kém nhưng không hề có người sợ hãi lùi lại. Sáu bảy chục gã đại đạo có gần phân nửa đã bị trúng tên rồi, chỉ cần tên nào động tác hơi chậm lại một chút là sẽ có bốn năm thanh đao sắc bén xé nát hắn ra thành từng mảnh vụn. Sau một hồi giao đấu, tuy quan binh đã tử thương mấy chục người, nhưng đám cường đạo cũng chỉ còn hơn ba mươi người sống sót.

Dương Hổ thấy một huynh đệ bị phiên tử chém trúng đùi lảo đảo ngã xuống, lưỡi đao của viên phiên tử kia đã vung lên chuẩn bị chém xuống. Hắn vội phóng vụt thanh đao trong tay, chỉ nghe phập một tiếng, thanh đao đã cắm vào giữa sống lưng viên phiên tử kia. Dương Hổ quyền đấm cước đá, lại đánh cho một viên phiên tử hộc máu ngã bay đi, lớn tiếng hô to:
- Đừng ham đánh, đi!

Nói rồi hắn dẫn đầu xông thẳng ra ngoài, đám cường đạo bèn lập tức bám sát theo sau. Vết thương trên đùi Dương Hổ chưa được băng bó nên sau một hồi giao chiến miệng vết thương bị rách toạc ra, máu tuôn như suối. Tuy thế hắn vẫn chẳng để tâm, vừa chạy vừa vung chân quết, hất không ngừng, khiến những viên đất vụn và hoa tuyết bắn tung tóe. Trong lúc các phiên tử thu đao lại để che đỡ, đám cường đạo đã nhân cơ hội xông vào chém giết rồi.

Mấy chục tên đại đạo này tụ tập lại một chỗ để phá vây, các phiên tử có thể giao chiến trực tiếp với bọn chúng chỉ còn là những người đang đối diện bọn chúng, ưu thế về nhân số lập tức giảm hẳn. Do đó, bọn chúng dần dần xông ra, sắp thoát khỏi vòng vây.

Các phiên tử này đều là do hai người Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh dốc lòng dốc sức huấn luyện, nhưng kinh nghiệm chiến đấu lại không đủ. Trong bọn chỉ có mấy viên thập trưởng là kinh nghiệm chiến đấu phong phú, lại từng theo Dương Lăng trải qua mấy cuộc đại chiến ở Giang Nam. Một viên thập trưởng thấy người của mình võ nghệ kém xa đám đại đạo hung hãn kia, chiến đấu giáp lá cà chính là lấy sở đoản của mình đấu với sở trường của kẻ địch. Y lập tức gọi những phiên tử có nỏ liên châu chưa bắn hết tên lại, rồi quay về phía những người còn đang liều chết ngăn cản đám đại đạo mà hô lớn:
- Lùi hết lại đi, đừng hỗn chiến với bọn chúng, nhanh lên…

Lời của y còn chưa dứt, Dương Hổ đã nhận biết được điều không hay. Hắn lập tức tung người nhảy vọt tới hệt như mãnh hổ vồ mồi, sau nháy mắt đã đứng trước mặt y. Mấy viên phiên tử vừa vung đao lên, Dương Hổ đã quát lớn một tiếng như sấm động, thiết quyền trên tay phải mang theo tiếng gió đánh ra, “bình” một tiếng trúng vào ngực của viên thập trưởng kia, khiến cho ngực y lõm hẳn vào.

Lời của viên thập trưởng bị nghẹn lại trong cổ họng, thân hình ngã bay về phía sau, làm ngã mấy viên thủ hạ. Lúc này trong cổ họng y chỉ còn phát ra những tiếng rên khẽ, thất khiếu đều rỉ máu, hẳn không sống được nữa rồi. Thân hình Dương Hổ khom xuống, tránh khỏi hai thanh cương đao, đoạn cùi trỏ tay trái thúc ra, đánh bay một viên phiên tử, lại vung chân phải đá về phía sau, trúng vào bụng một người, lại tiện tay đoạt lấy một thanh đao, giữa không trung lập tức bắn tung một màn mưa máu. Bốn phía xung quanh đao thương liền sát, không ngờ lại chẳng ai có thể đến gần hắn được.

Dương Hổ nhân cơ hội xông trở về giữa đám cường đạo, lớn tiếng hô to:
- Xông ra theo ta, kẻ nào cản ta thì chết!

Những phiên tử này vốn chưa từng nhìn thấy tên cường đạo nào hung hãn dũng mãnh như vậy, khí thế lập tức giảm hẳn. Dương Hổ cùng mấy tên đại đạo tung hoành phương bắc, là những tay đại đạo hung hãn nhất, xông lên trước mở đường. Vũ khí trong tay bọn chúng vung lên chém xuống không ngừng, ra tay không hề nương nhẹ, rốt cuộc lại mở được một con đường máu. Hơn ba mươi tên cường đạo một lòng liều mạng trốn vào trong màn đêm hun hút.

***

Cửa lớn của phủ Uy Vũ Bá mở rộng, hai chiếc đèn lớn màu đỏ chiếu sáng khu vực trước cửa như ban ngày, trong phòng chính thắp một cây nến to bằng cánh tay trẻ nhỏ. Mái tóc dài của Dương Lăng được buộc lại buông qua sau vai, trên người mặc một chiếc áo bông ống tay bó màu xanh nước biển, bên ngoài khoác thêm chiếc áo không tay, ngồi nghiêm trang giữa phòng, dáng vẻ hết sức phong tưu tiêu sái.

Thành Khởi Vận đầu đội chiếc mũ cánh chuồn cánh mềm(**), trên người mặc chiếc trường bào cổ tròn tay áo hẹp, môi đỏ răng trắng, dáng vẻ nôn nóng đi đi lại lại trước mặt Dương Lăng. Liễu Bưu đứng ngay trước cửa phòng, một gã phiên tử vội vã chạy vào trong sân, lại gần gã khẽ nói mấy câu gì đó. Liễu Bưu phất tay cho lui, đoạn xoay người bước vào phòng. Thành Khởi Vận lập tức không kìm được hỏi:
- Liễu đại nhân, thế nào rồi?
(**) xem hình thứ 3 http://www.sdmuseum.com/upload/2012-02/120201130556071.jpg

Liễu Bưu cất tiếng tán thưởng:
- Quả không hổ là đại đạo Dương Hổ, sơn tặc hung hãn nhất lục lâm phương bắc!
Xưởng đốc! Thành đại nhân! Dương Hổ dẫn theo chừng hai trăm người. Dù bị chúng ta phục kích nhưng hắn vẫn mang được hơn ba mươi người mở một đường máu, đột phá trùng vây.

Dương Lăng và Thành Khởi Vận nghe xong liền đồng thanh cất tiếng hỏi. Dương Lăng hỏi rằng:
- Người của chúng ta thương vong thế nào?
Thành Khởi Vận thì hỏi:
- Đã phái người đuổi theo chưa? Phục binh ở nơi giấu ngựa đã thu xếp ổn thỏa chưa?

Hai người vừa mới nói xong, Thành Khởi Vận liền không khỏi đỏ mặt.

Trong lòng Dương Lăng thầm thở dài. Cô nương này vẫn quá chú trọng đến lợi ích, chỉ suy nghĩ đến bản thân, hoàn toàn không để tâm đến sự sống chết của người khác.

Tuy nàng đã lặng lẽ giúp đỡ Dương Lăng rất nhiều chuyện, lại hết sức dịu dàng chưa từng than trách. Cho dù là người làm bằng sắt hẳn cũng phải bị nàng khiến cho mềm lòng rồi, nhưng Dương Lăng thủy chung vẫn có mấy phần cảnh giác, nguyên nhân chính là vì điều này.

Nàng có lẽ đã thật sự nảy sinh tình cảm với y, nhưng Dương Lăng không biết mối tình cảm này có trọng lượng thế nào trong lòng nàng. Y không thể biết một khi gặp phải áp lực nặng nề từ bên ngoài, khi buộc phải phát sinh xung đột lợi ích với y, liệu nàng có từ bỏ tình cảm để lựa chọn lợi ích, phản bội y hay không.

Cuộc đời nàng quá phức tạp, tuy thực khiến người khác phải cảm thông, nhưng cũng vì thế mà đã tôi luyện trái tim của nàng trở nên cứng rắn như sắt đá, chỉ biết lấy lợi ích làm đầu. Không trải qua những sự trải nghiệm lâu dài và quan sát cẩn thận, thực sự người ta khó có thể yên tâm về sự trung thành của nàng.

Liễu Bưu đáp lời Dương Lăng:
- Xưởng đốc bất tất phải lo lắng! Chúng ta chẳng qua chỉ thương vong mấy chục người, lũ sơn tặc ngoài mười mấy kẻ trọng thương bị bắt và hơn ba chục kẻ trốn thoát ra, còn lại đều đã bị giết chết.

Nói xong gã lại quay sang cười nói với Thành Khởi Vận:
- Thành đại nhân yên tâm! Bành đáng đầu đã đích thân dẫn theo người của Hỏa Súng doanh đến mai phục chỗ Lộ Ao Lí cách đây mấy dặm. Đám tàn dư sơn tặc nếu không chạy tới đó thì ngày mai chúng ta sẽ truy nã khắp nơi, bọn chúng chỉ có thể khoanh tay chờ trói. Còn nếu bọn chúng chạy tới chỗ đó thì đêm nay cho dù mọc cánh cũng khó mà bay thoát.

Dương Lăng gật gật đầu, bảo:
- Là bản đốc đã đánh giá thấp đám sơn tặc này! Thật không ngờ bọn chúng còn dũng mãnh hơn hải khấu, vốn ta cho rằng ngoài vợ chồng Dương Hổ ra thì chẳng còn cao thủ nào khác nữa.

Thành Khởi Vận hơi chau mày lại, nói với Dương Lăng:
- Đại nhân! Vốn chúng ta tưởng rằng bọn chúng sẽ dốc hết lực lượng, sau khi xong việc thì trốn đi nơi khác, do đó phục binh của chúng ta đều mai phục ở ngoài thành. Dương thiên hộ chỉ dẫn theo hơn hai chục huynh đệ giám sát trong thành mà thôi.

Tin tức vừa đưa về cho biết chỉ một mình Dương Hổ rời khỏi khu nhà đó, nương tử của hắn sao còn lưu lại trong thành? Chẳng lẽ không sợ bên này xảy ra chuyện, ả sẽ chẳng còn cơ hội rời đi ư? Hay là còn có âm mưu gì khác?

Dương Lăng lắc đầu đáp:
- Ta cũng không đoán được dụng ý của vợ chồng bọn họ, ban đêm khi cửa thành đã đóng dù là bản quan cũng chẳng thể kêu mở cửa thành được.

Y đứng dậy đi đi lại lại vài bước trong phòng, đột nhiên ngẩng đầu ra lệnh:
- Không thể đợi thêm nữa, mau đi truyền tin, kêu Dương Nhất Thanh lập tức triệu tập người của Ngũ Thành Binh Mã ti đi bắt… đi bắt Hồng Nương Tử ngay!

***

Cửa phòng của Thôi Oanh Nhi vang lên mấy tiếng “cốc cốc”. Nàng lập tức giật mình tỉnh dậy, hỏi:
- Chuyện gì thế?

Nàng vén chiếc rèm lên, vì đợi trượng phu trở về nên nàng vẫn để nguyên ngọn nến không tắt. Đưa mắt nhìn ngọn nến thấy đã cháy được quá nửa, Thôi Oanh Nhi bất giác hơi chau mày, lúc này chắc hẳn đã đến canh ba mà Dương Hổ và Lưu Thần Tiên vẫn còn đang uống rượu hay sao?

Giọng nói của Thúy Nhi ngoài cửa khẽ vang lên:
- Tiểu thư! Mau mau dậy thôi, chúng ta phải lập tức rời đi!

Hồng Nương Tử đưa tay với áo váy vội vã mặc vào, bước xuống giường mang giày rồi kéo cửa phòng ra. Thấy Lưu đạo sĩ cũng đang đứng ngoài cửa với Thúy Nhi, bất giác nàng ngây người. Vừa buộc chặt cổ áo nàng vừa hỏi:
- Xảy ra chuyện gì vậy? Dương Hổ đâu?

Mái tóc của Hồng Nương Tử buông xõa qua vai, làn da để lộ ra nơi cổ áo trắng mịn động lòng người, đầu tóc hơi rối, dáng vẻ mơ màng, thực là vô cùng quyến rũ. Lưu đạo sĩ không kìm được cặp mắt sáng bừng, lão không dám để lộ ra vẻ thèm muốn, bèn vội vàng cúi đầu xuống.

Thúy Nhi lắp bắp đáp:
- Tiểu thư, cô gia lúc canh hai đã rời thành đến phủ Uy Vũ Bá rồi. Lúc này e rằng đã phát động, chúng ta cũng phải mai mau rời thành mới được.

Hồng Nương Tử ngẩn người, rồi lập tức cả giận:
- Hắn còn không chịu bỏ cuộc sao? Lá gan của ngươi lớn thật, sao đến bây giờ mới nói với ta?

Lưu lão đạo vội cười xun xoe:
- Phu nhân! Thủ lĩnh quyết ý muốn đi, bắt lão đạo phải giấu giếm thay cho ông ấy, Thúy Nhi cô nương cũng vừa mới biết. Thủ lĩnh đã chuẩn bị sẵn ngựa ở Lộ Ao Lí bên ngoài thành, yêu cầu lão đạo đến canh ba thì thông báo cho phu nhân mau mau rời thành đến đó hội họp. Lúc này thời gian vừa đúng, chúng ta mau mau lên đường thôi. Đến khi trời sáng thì tin tức Dương Lăng bị giết chắc đã truyền vào trong thành, lúc đó muốn đi cũng khó.

Mày liễu dựng ngược, Hồng Nương Tử chẳng nói lời nào vội vã đi vào trong phòng, cánh cửa phòng rầm một tiếng đóng chặt lại. Thúy Nhi không kìm được le le lưỡi, Lưu lão đạo thì lại lộ một nụ cười quỷ dị tỏ ý gian kế đã thành.

Chỉ sau khoảnh khắc cửa phòng đã lại mở ra. Hồng Nương Tử thay một bộ quần áo màu xanh bó sát người, mái tóc dài được một chiếc khăn lụa quấn chặt lại, trên vòng eo thon đeo một thanh đoản kiếm, dưới chân đi đôi giày đế mềm, thần thái lạnh lùng, tràn đầy khí khái.

Thôi Oanh Nhi bừng bừng nổi giận bảo:
- Đi, theo ta rời thành!




Chú thích:



(1) Cuối đời nhà Nguyên, Hàn Sơn Đồng và Lưu Phúc Thông lợi dụng danh nghĩa tôn giáo tổ chức cuộc khởi nghĩa võ trang nông dân, dùng khăn đỏ làm dấu hiệu, thường gọi là "hồng quân" (quân đội đỏ), bởi bọn họ thắp hương cúng Phật, nên cũng gọi là "hương quân" (quân đội dâng hương). (theo Minh sử - Hàn Lâm Nhi truyện)

(2) Người xưa cho rằng quan tướng và vua chúa đều ứng với một vì sao trên trời. Tướng tinh chỉ vì sao tượng trưng cho đại tướng. Đế tinh, còn được gọi là thiên đế, tục gọi là sao Tử Vi, là ngôi sao trong chòm Tử Hùng.



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

monsoon
19-04-2012, 09:42 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 175 Không rõ sống chết


Dịch: TheJoker

Biên dịch: 6300

Biên tập: Monsoon

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Từ khi đến thời đại này, Dương Lăng cũng biết võ nghệ cá nhân còn lâu mới lợi hại như trên phim ảnh, có thể ngang nhiên xông vào đối địch với thiên quân vạn mã. Bất quá trong thời đại chủ yếu sử dụng vũ khí lạnh này, chung quy võ nghệ vẫn còn có thể phát huy tác dụng trọng đại. Nếu như có một quả phụ xinh đẹp có thể băng tường vượt nóc như đi trên đất bằng suốt ngày tìm cách lấy mạng mình, hại khiến mình đi đâu cũng chẳng dám đi, thì thực sẽ khiến người ta rất nhức đầu.

Y dời ánh mắt, chợt thấy Ngũ Hán Siêu đang đứng cạnh mình, thế là không khỏi bật cười thoải mái:
- Ta có Ngũ Hán Siêu, há còn sợ Hồng Nương Tử? Hán Siêu à, bản quan vốn định ngày mai tiến cử huynh vào triều làm quan, tìm một công việc trong Lục Bộ, nay xem ra huynh phải tạm thời ở cạnh bản quan chờ đợi rồi.





Chương 175 Không rõ sống chết


- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -




------------------------

Bóng đêm sâu thẳm trở lại vẻ tĩnh mịch vốn dĩ của nó.

Trận đại chiến ngoài thôn chỉ kinh động đến hơn chục hộ gia đình kế cận, song tiếng chó sủa inh ỏi lại khiến cả thôn náo loạn. Có mấy kẻ hóng chuyện mặc quần áo vào chạy ra quan sát thì bị phiên tử được bố trí canh phòng trong thôn ngăn cản, giải thích rằng có giặc cướp đột nhập vào thôn cướp bóc, Nội xưởng đang tróc nã, rồi hết sức khách sáo mời bọn họ trở về.

Những thôn dân này thấy động tĩnh không lớn, quan binh lấp ló đầy thôn xóm, nghĩ bụng dưới chân thiên tử cho dù có giặc cỏ cũng bất quá chỉ là vài con sâu mọt hại dân, bèn lẩu bẩu lầu bầu trở về nhà, chèn thêm cây chày cán bột lên cửa rồi yên tâm đi ngủ.

Trong Phủ Uy Vũ Bá, Dương Lăng hớp ngụm trà đặc, Thành Khởi Vận đang ngồi bên cạnh, y vô tình nhìn thấy nàng đang lấy bàn tay nhỏ nhắn che miệng ngáp khẽ, không khỏi hiểu ý bèn cười bảo:
- Mọi thứ đã rõ ràng, đại cuộc đã định, lần này hẳn là đã yên tâm rồi chứ? Những thứ hiện cần làm chẳng qua là giải quyết hậu quả, nữ Gia Cát hãy về phòng nghỉ ngơi một chút đi.

Thành Khởi Vận nguýt yêu y, khẽ trách:
- Còn dám nói giải quyết hậu quả ư? Vẫn chưa bắt được hai tên đầu mục Dương Hổ và Hồng Nương Tử đó. Bọn chúng ấy... giang hồ truyền rằng chúng đang chuẩn bị tụ tập tạo phản, đại nhân há có thể lơ là?

Ngoại trừ Ninh Vương, Dương Lăng không nhớ vào thời Chính Đức có sự kiện quy mô lớn nào khác. Cuộc khởi nghĩa Bạch Liên giáo của Đường Tái Nhi(1), Từ Hồng Nho(2), thậm chí là cuộc khởi nghĩa nông dân của Lý Tự Thành(3) và Trương Hiến Trung(4) đều không thuộc niên đại này, thiết nghĩ cho dù có chuyện giang hồ đồn đãi thì cùng lắm cũng chỉ lũ nhãi nhép không có tiền đồ tự chiếm núi xưng làm vua cỏ mà thôi.

Dương Lăng nghĩ đi nghĩ lại, nhớ rõ là không có đôi đạo tặc nào như vậy thành công, bèn tự tin cười nói:
- Đại Minh vận nước đang thịnh, bên ngoài không có họa lớn có thể thương tổn đến gốc rễ, bên trong cũng không lo bị dân biến. Chỉ vài tên đạo tặc lục lâm thì có thể làm nên chuyện gì chứ? Huống hồ, trừ phi Dương Hổ thấy tình thế không ổn, lập tức bỏ đường cái mà chạy, bằng không chỉ cần hắn đến Lộ Ao lí, trước năm trăm tay súng hỏa mai, cho dù võ công có lợi hại thế nào cũng đừng hòng thoát chết. Nếu nói lo lắng thì ta lại lo cho tình hình trong thành. Giết quan chính là tạo phản, vạn lần không ngờ Dương Hổ tập kích mà Hồng Nương Tử lại vẫn ở trong thành. Nơi đó chỉ an bài hơn hai mươi người, cái đám phiên tử cậy quyền đó tuy là những kẻ lành nghề trong việc khoét cửa đào hang và dò la tin tức, song lại không thạo việc bắt giặc tróc hung. Ta đã từng chứng kiến võ nghệ của Hồng Nương Tử, nếu ả nhận được tin tức mà trốn tránh trước khi Ngũ thành binh mã ty xuất binh, Nhất Thanh tuyệt sẽ không ngăn được ả.

Thành Khởi Vận đảo tròng mắt, che môi khẽ cười nói:
- Hoá ra đại nhân cực khổ chờ đợi ở đây không phải vì muốn biết tung tích của Dương Hổ mà vì lo vuột mất vị Hồng Nương Tử này.

Dương Lăng vờ nạt:
- Giỏi cho Khởi Vận nhà ngươi, đem bản quan ra đùa cợt có phải không?

Thành Khởi Vận liền duyên dáng đáp lại:
- Khởi Vận nào dám ạ?

Dương Lăng trừng mắt với nàng, rồi thở dài bảo:
- Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, để xem cô ta có mạng sống đến bình minh không. Đám người này tụ tập làm loạn, ít nhiều cũng vì bị tham quan ô lại và sự quản lý tồi của triều đình bức bách, vô kế mưu sinh mới phải lên Lương Sơn. Tội không thể tha, song về tình thì có thể thứ. Ép bản quan phải vùi hoa dập liễu, quả thực trong lòng có phần không nỡ.

Từ xưa đến nay những kẻ tạo phản đối kháng triều đình đều có hình tượng rất tốt trong đánh giá của dân gian, nếu Dương Lăng không bởi thân ở triều đình, mình nằm trong cuộc, nghe kể về những chuyện anh hùng lục lâm này, khó dám đảm bảo rằng sẽ không xem bọn họ như những người anh hùng thay trời hành đạo. Y nhớ lúc trước từng xem một bộ phim truyền hình tựa là “Đường Tái Nhi”, trong đó tướng lĩnh nhà Minh đi dẹp loạn đều bị khắc hoạ là nham hiểm độc ác, tham lam háo sắc, ai nấy đều là đại tham quan. Dương Lăng không khỏi thầm cười khổ: "Nếu trên danh sách nịnh thần lại ghi thêm tên mình, nói không chừng một ngày nào đó trên màn ảnh mình cũng sẽ mang hình tượng mắt tam giác, gò má cao, chua ngoa cay nghiệt, hà hiếp thiện lương đây."

Thành Khởi Vận nghe vậy thì đăm chiêu, lẩm bẩm:
- Tội không thể tha, song về tình lại có thể thứ, tình có thể thứ...

Nàng trầm ngâm hồi lâu, mới thoáng liếc lấy Dương Lăng, cất giọng hờn dỗi:
- Đạo tặc giết quan tạo phản trong miệng đại nhân lại có lý lẽ để tha thứ, vậy mà một tiểu nữ tử một lòng dốc sức cho đại nhân thì lại năm lần bảy lượt suýt nữa bị đại nhân chém đầu.

Mặt Dương Lăng thoáng đỏ lên, hơi lúng túng nói:
- Lại nữa rồi. Ta cũng chỉ hù doạ cô một chút thôi, chứ đâu thực sự muốn động đao động kiếm? Hồng nương tử và bản quan ranh giới phân minh, cho dù bị hại, trong lòng bản quan cũng không có kiêng dè, cô thì lại khác...

Ánh mắt Thành Khởi Vận sáng lên, nàng mím môi, đôi mắt quyến rũ như tơ trời liếc y, ngữ khí dịu dàng:
- Nô gia... nô gia và ả ta có gì khác biệt?

Dương Lăng bỗng cảm thấy hơi rợn người, y vươn người đứng dậy, làm như không nghe thấy và nói:
- Đi thôi, chúng ta ra trước thôn đi dạo một chút. Nếu cô đã không ngủ, vậy đi dạo một chút sẽ không buồn ngủ nữa.

Trêu ghẹo Dương Lăng đã trở thành chuyện vui nhất cuộc đời của nàng, ngày tháng còn dài, Thành Khởi Vận cũng không muốn bức chàng trai trẻ - mà trong ý thức nàng coi là chỗ dựa, là tình nhân, rồi dần dà lại coi là người đệ đệ yêu mến cưng chiều này - thẹn quá mà hoá giận. Lúc này nghe ẩn ý y tiết lộ trong lúc vô tình, trong lòng Thành Khởi Vận chợt có cảm giác hoan hỉ và thoả mãn lạ kỳ. Nàng cũng không truy vấn tiếp, chỉ tươi cười đứng dậy theo.

Dương Lăng đi đến trước cửa, lão quản gia vội mang áo khoác dài đến, mười mấy tay thị vệ đứng ngoài đình trông thấy Dương Lăng liền vội khom người thi lễ. Dương Lăng cầm lấy áo khoác, thấy Thành Khởi Vận ăn mặc hơi sơ sài, ngồi trong trung đường lâu như vậy, đôi môi đã có chút nhợt nhạt, liền đưa cho nàng và nói:
- Khoác vào đi, ban đêm trời rét, cô chịu không nổi lạnh đâu.

Hai hàng thị vệ theo sát Dương Lăng bước vào trong sân, chợt một giọng nói sang sảng cất lên dưới hành lang bên trái:
- Đại nhân, trong thôn có phải đã xảy ra chuyện gì? Có cần kẻ hèn cống hiến sức lực không?

Trung đường đèn đóm sáng trưng, cả đám thị vệ phiên tử đeo đao giắt kiếm đứng trang nghiêm trong sân, đừng nói thoát không khỏi tai mắt của Ngũ Hán Siêu mà ngay cả chú cháu Dương Tuyền cũng sớm đã bị kinh động. Có điều khắp sân thị đều là vệ sát khí đằng đằng, Dương Tuyền biết Dương Lăng không ưa mình nên cũng không dám ra ngoài hỏi han.Ngũ Hán Siêu chưa được phép nên cũng không tiện đường đột yết kiến, lúc này thấy Dương Lăng dẫn người định rời phủ, mới nhịn không được lách ra khỏi phòng cất to tiếng hỏi han.

Dương Lăng dừng chân lại, cười gọi:
- Là Hán Siêu à? Nhân mã huyên náo, thực đã làm quấy nhiễu giấc ngủ của huynh rồi. Ha ha, huynh hãy qua đây!

Đám phiên tử tay lăm lăm đao canh phòng cẩn thậnnhường ra một con đường, Ngũ Hán Siêu đi đến bên cạnh Dương Lăng ôm quyền vái một vái; đầu y đội khăn tiêu dao(5), thân vận thường phục đơn bào, để tránh hiểu lầm nên hai tay để không, thực trông cũng rất tuấn tú.

Dương Lăng vỗ vai y cười nói:
- Bản quan đã coi thường bản lĩnh của đám cường đạo giỏi võ đó quá. Nếu sớm mời huynh xuất thủ, tên Dương Hổ đó vị tất đã có thể trốn chạy.

Ngũ Hán Siêu theo cạnh Dương Lăng, vừa ra ngoài thôn vừa nghe y kể lại lai lịch vợ chồng Dương Hổ, lúc này mới biết Dương Phúc, thủ lĩnh đoàn ngựa thồ dọc đường cứu mình rồi hộ tống vào kinh, lại là đạo tặc lục lâm. Ngũ Hán Siêu ngoài giật mình thất kinh còn không khỏi thầm cảm thấy may mắn. Tuy y là con cháu quan lại nhưng đồng thời cũng là người trong võ lâm, nghĩa khí giang hồ tri ân tất báo ấy đối với y có ảnh hưởng rất lớn. Bất kể Dương Hổ xuất phát từ mục đích gì, dẫu sao mình cũng đã được hắn cứu giúp và chăm sóc đưa vào kinh, nếu thực gặp lại trong cảnh binh đao, là bắt hay tha đều sẽ muôn phần khó xử.

Ngoài đầu thôn. mấy trăm tên phiên tử đang thắp đèn soi đuốc lùng sục khắp rừng táo bao la bát ngát; để ngừa có giặc cướp giả chết náu thân, sĩ tốt bị thương và chết của Nội xưởng đều đã được đưa về núi. Liễu Bưu đang bố trí lại canh gác, trông thấy Dương Lăng đến liền vội bước đến đón.

Dương Lăng nhìn thấy từng cỗ thi thể bị kéo vào trong rừng táo thì nói với Liễu Bưu:
- Sai người canh gác, sau khi trời sáng đừng để thôn dân đến gần, tránh làm cho bọn họ kinh sợ. Một khi cổng thành mở ra liền sai người thông báo cho bộ Hình và Ngũ thành binh mã ty, phái người đến xử lý.

Một thớt khoái mã phi tới, bị phiên tử chặn lại ở đằng xa, người trên ngựa thì thầm cùng phiên tử một chốc thì được dẫn đến trước mặt. Người này cũng vận trang phục Nội xưởng, nhìn thấy xưởng đốc đại nhân cũng có mặt liền vội quỳ sụp xuống thi lễ:
- Ra mắt xưởng đốc đại nhân, Liễu đại nhân.

Liễu Bưu vội hỏi:
- Mau đứng lên, Lộ Ao lí có tin tức à? Thế nào rồi?

Phiên tử nọ đứng dậy, dáng vẻ vui mừng đáp:
- Đại nhân, giặc cướp tháo chạy về Lộ Ao lí, Cổ đáng đầu quát ra lệnh bọn chúng tước nộp vũ khí, một đợt hỏa lực đồng loạt đã bắn cho chúng thành cái nia, không tên nào thoát thân.

Dương Lăng lộ vẻ xúc động hỏi:
- Dương Hổ... cũng nằm trong số đó chứ?

Phiên tử do dự một chút rồi đáp:
- Việc đó... Lộ Ao lí không giữ lại người sống, chúng thuộc hạ không biết tướng mạo tên đạo tặc đó, Cổ đáng đầu đang dẫn người dọn dẹp thi thể, độ nửa canh giờ nữa sẽ có thể đưa toàn bộ xác người về tới.

Liễu Bưu khẽ nói:
- Đại nhân từng thấy diện mạo của tên thủ lĩnh đạo tặc đó, cũng có thể tra hỏi mấy tên còn sống bị bắt , đại nhân chớ nên sốt ruột. Có điều... theo ti chức thấy, Dương Hổ ắt sẽ lành ít dữ nhiều.

Dương Lăng lặng lẽ gật đầu, phiên tử nọ lại hớn hở khoe:
- Xưởng đốc đại nhân, hai trăm thớt mã đó đều là ngựa tốt ở biên tái, Bành đại nhân mê thích không thôi, Nội xưởng chúng ta quả thực chưa từng có ngựa tốt như vậy.

Dương Lăng chỉ cười cười mà không nói gì, thời này ngựa tốt khó tìm, cũng khó trách Bành Kế Tổ vui sướng như vậy, nếu còn một canh giờ nữa Bành Kế Tổ mới trở về, Dương Lăng liền muốn trở lên núi thăm hỏi thương binh một lượt. Trong lúc vô ý, y hướng mắt vọng nhìn về phương xa, mắt chợt nheo lại, trong bóng đêm lờ mờ thoáng ẩn hiện một chấm đen; người đó cưỡi ngựa, không men theo đường nhỏ, mà băng thẳng qua đồng ruộng phi tới, phương hướng chính là kinh thành.

Thành Khởi Vận và Ngũ Hán Siêu cũng đến gần, khi còn cách khoảng mười bước người đó liền nhảy xuống ngựa, vừa chạy đến phía trước vừa gọi lớn:
- Có Liễu đại nhân ở đây không? Trong thành đã truyền tin tức đến rồi.

Liễu Bưu vội vàng bước lên mấy bước đón, quát:
- Đừng gấp, từ từ mà nói, xưởng đốc đại nhân đang ở đây.

Phiên tử nọ không ngừng thở dốc, trông thấy Dương Lăng dưới hai hàng đuốc, vội vàng bước tới thưa:
- Đại nhân, trong thành Dương thiên hộ truyền ra tin tức, vào canh ba Hồng Nương Tử dẫn theo sáu bảy người đột nhiên rời khỏi viện trạch, Dương thiên hộ chưa kịp điều binh, đành phải âm thầm bám đuôi, Hồng nương tử chưa rời khỏi ngõ hẻm liền phát hiện có người theo dõi, lập tức đã dẫn người trốn vào trong một hộ gia đình rồi trèo tường chạy mất. Dương đại nhân nhận được lệnh căn dặn của đại nhân, đã thông tri cho Ngũ thành binh mã ty lục soát truy bắt khắp khu vực đó, song vẫn chưa có tung tích.

Dương Lăng gật nhẹ đầu, nói với Liễu Bưu:
- Ta đoán bọn chúng cũng sẽ không ở yên đó chờ đợi. Nhất Thanh nhân thủ không đủ, đối phó không nổi đám cường đạo bản lĩnh cao cường này là việc nằm trong dự liệu, bất kể bọn chúng ở lại trong thành còn có âm mưu gì, đã kinh động chúng ta, đêm nay sẽ không giở thêm thủ đoạn gì nữa đâu. Bảo Nhất Thanh đừng làm ra thanh thế quá lớn, không có chứng cứ tạo phản, nếu chỉ vì mấy tên cường đạo xâm phạm phủ ta mà lục soát toàn thành, đám ngôn quan sẽ lại sinh sự đấy.

Liễu Bưu dạ một tiếng, căn dặn tên phiên tử đó mấy câu, kẻ đó liền chắp tay cáo từ, phóng lên ngựa rồi lại vội vàng phi lướt vào trong màn đêm. Dương Lăng dõi về phía kinh thành đương chìm trong bóng đêm, khẽ lắc đầu nói:
- Kinh sư rộng lớn như vậy, nếu bọn chúng đã chạy thoát, biển người mênh mông, muốn bắt lại sẽ khó đây.

Thành Khởi Vận máy động trong lòng, vội nói:
- Đại nhân, quả như Dương Hổ đã chết, vậy phải đề phòng Hồng Nương Tử báo thù cho chồng. Người phụ nữ này có công phu cao cường, nếu tập kích ám sát, sẽ khó lòng phòng bị.

Từ khi đến thời đại này, Dương Lăng cũng biết võ nghệ cá nhân còn lâu mới lợi hại như trên phim ảnh, có thể ngang nhiên xông vào đối địch với thiên quân vạn mã. Bất quá trong thời đại chủ yếu sử dụng vũ khí lạnh này, chung quy võ nghệ vẫn còn có thể phát huy tác dụng trọng đại. Nếu như có một quả phụ xinh đẹp có thể băng tường vượt nóc như đi trên đất bằng suốt ngày tìm cách lấy mạng mình, hại khiến mình đi đâu cũng chẳng dám đi, thì thực sẽ khiến người ta rất nhức đầu.

Y dời ánh mắt, chợt thấy Ngũ Hán Siêu đang đứng cạnh mình, thế là không khỏi bật cười thoải mái:
- Ta có Ngũ Hán Siêu, há còn sợ Hồng Nương Tử? Hán Siêu à, bản quan vốn định ngày mai tiến cử huynh vào triều làm quan, tìm một công việc trong Lục Bộ, nay xem ra huynh phải tạm thời ở cạnh bản quan chờ đợi rồi.

Võ nghệ của Ngũ Hán Siêu hơn hẳn tài văn chương, cũng không có thành kiến gì với xưởng vệ, ở lại trong Nội xưởng quyền khuynh thiên hạ đương nhiên oai phong hơn hẳn đi đến Lục Bộ làm một chức quan bé rồi. Ngũ Hán Siêu nghe vậy thì mỉm cười, vái một vái dài đáp:
- Vốn là mong ước không dám thỉnh cầu. Hán Siêu nguyện noi theo ý đại nhân, bám gót từ đây.

*****

Hồng Nương Tử đang dẫn người chạy ra khỏi ngõ tắt, liền phát hiện có người âm thầm theo dõi. Nơi ở của nàng đã nằm trong sự giám thị, vậy hành động tập kích thôn trang của Dương Hổ còn có thể thành công sao? Thôi Oanh Nhi vừa nghĩ vậy, lòng liền như lửa đốt, hận không thể lập tức xông ra khỏi thành, cứu trượng phu thoát khỏi lao ngục.

Công phu quyền cước của Lưu đạo sĩ tuy kém, song tâm kế lại cao sâu hơn nàng, vừa nghe có người ngầm theo dõi, lập tức khuyên Hồng Nương Tử theo lão lẩn trốn trước. Lúc này hành động của Dương hổ sớm đã phát động, nếu như trúng kế thì cũng đã trúng rồi.

Lúc này mà rời thành thì chỉ tổ tự chui đầu vào lưới, chi bằng thừa lúc đối phương vẫn chưa điều động nhân thủ đối phó với nàng mà mau chạy trốn và náu thân. Quả như Dương Hổ bình yên vô sự, sẽ lại phái người đến liên lạc cùng hắn, ví bằng Dương Hổ thất bại, có thể cứu được thì cứu, cùng lắm cũng có thể giữ lại người báo thù cho hắn.

Hồng Nương Tử tuy bận lòng đến sự an nguy của trượng phu như từ nhỏ lớn lên trong giới lục lâm, nghe quen tai nhìn quen mắt, đương nhiên biết được lợi hại trong đó. Tuy nói rằng kẻ nào tài cao gan đều lớn, song nàng cũng không dám vọng tưởng lấy sức một mình mình đối kháng với quan binh đã sớm có chuẩn bị, sau thoáng cân nhắc, đành chọn theo Lưu đạo sĩ trốn đi.
Từ thời Tống, Nguyên đến nay, Bạch Liên giáo nhiều lần khởi sự, nhiều lần thất bại, nhưng hương hoả vẫn chưa tận. Sau khi Chu Nguyên Chương lợi dụng Bạch Liên giáo khởi sự và thâu tóm được thiên hạ, sự đả kích đối với bọn họ càng thêm kinh khủng. Trong quan phủ có một lượng lớn xuất thân là người của Bạch Liên giáo, cho nên hiểu rõ phương thức liên lạc như lòng bàn tay, qua nhiều bài học kinh nghiệm bằng xương máu, hành tung của Bạch Liên giáo và phân đàn của nó càng trở nên bí hiểm, kinh nghiệm trốn chạy cũng vì vậy mà phong phú hơn.

Từ sau khi giáo phái Di Lặc của Lý Phúc Đạt khởi sự ở Sơn Tây thất bại, bị quan phủ vây quét, đã chuyển hướng vươn vòi sang các thế lực thân hào đại tộc các nơi, nơi an toàn để ẩn náu càng nhiều không đếm xuể.

Có dân chúng cuồng tín bị bọn họ dùng phép thuật che mắt khiến cho thần hồn điên đảo, có phú hào đại tộc bước lên thuyền giặc, đến khi tỉnh ngộ muốn rút chân thì vận mệnh của cả gia tộc đều đã ràng chung với giáo phái Di Lặc, không thể không tiếp tay cho giặc.

Ở kinh sư Hồng Nương Tử lạ nước lạ cái, song Lưu đạo sĩ lại biết rõ đường đi lối tắt hơn nhiều. Ban đêm binh sĩ tuần thành ở kinh sư cực đông, bọn họ xuyên nhà trèo tường mà đi, vừa thoát khỏi Dương Nhất Thanh và đám thủ hạ, lại tránh được tai mắt quan binh.

Bọn họ lặng lẽ trèo vào một khu trạch viện rộng lớn, rồi lại men theo bóng đêm trèo từ phía vách tường vào; cũng không biết là nhà của ai. Lưu đạo sĩ bịa chuyện nói rằng đây là nơi ở của một tín đồ của lão, bảo đám người Hồng Nương Tử đợi tại hoa viên, còn lão thì lách vào bên trong sân như một bóng ma, lặng lẽ đi vào tìm kiếm chủ nhân.

Sau thời gian hai chén trà, một viên ngoại dáng phốp pháp mồ hôi đầy đầu mặc áo dài gấm màu đồng, đích thân cầm đèn lồng theo Lưu đạo sĩ chạy ra, cuống quít dẫn bọn họ vào sâu trong nhà rồi thu xếp chỗ ở.

Cho dù kết cấu phòng ốc, trạch viện của mỗi gia đình giàu có những thay đổi nhất định nhưng phần lớn vẫn theo kết cấu tạo thành bởi tiền viện, trung đường, hậu viên của nội quyến, sương phòng. Cùng lắm là thêm vài nhà ngang ở phía đông và phía tây để thết đãi bạn bè thân thích, tuy nhiên những chỗ chi tiết thì rất hiếm khi rập khuôn. Trong bóng tối mà Lưu đạo sĩ có thể tìm thẳng đến chủ nhà mà không kinh động những người khác, hiển nhiên là hết sức quen thuộc nơi này.

Với sự cơ cảnh thường ngày của Hồng Nương Tử trông thấy chuyện này khó tránh sẽ có điều nghi ngờ về thân phận thật của Lưu đạo sĩ, có điều lúc này lòng nàng đang rối như tơ vò, nên cũng không bận tâm đến những chi tiết nhỏ này. Tuy rằng nàng vô cùng bất mãn với hành vi của trượng phu mình, song nói cho cùng thì vẫn là phu quân nàng, sao có thể không để ý đến sống chết của hắn.

Trạch viện này là chỗ ở gia đình này dùng để chiêu đãi thân bằng quyến thuộc, do đã cuối năm, cho nên phòng ốc được dọn sạch sẽ tươm tất. Căn phòng của Thôi Oanh Nhi là nơi ở dành cho nữ quyến, trên bàn trang điểm thắp một ngọn đèn dầu, phát ra ánh sáng lờ mờ u ám.

Chủ nhà được gọi là Cừu viên ngoại kêu mấy gia nhân tâm phúc dậy đốt hai lò than đồng hình đầu thú trong phòng, trong chốc lát căn phòng ấm áp như xuân. Thu xếp ổn thoả hết thảy, Lưu đạo sĩ đưa Cừu viên ngoại đi. Hai người ra đến dưới hành lang bên ngoài, thấy không ai ra theo, Cừu viên ngoại mới quệt mồ hôi túa ra vì căng thẳng, hết sức lo lắng nói:
- Lưu hương chủ, ngài dẫn đến đều là những kẻ gì vậy. Kẻ nào kẻ nấy cầm kiếm cầm đao, ngay cả vị nương tử áo đỏ đó trông cũng thật đáng sợ. Gần trăm nhân khẩu cả nhà Cừu mỗ, ngài đừng hại ta đó.

Lưu đạo sĩ cười nham hiểm trấn an:
- Cừu viên ngoại, ông cứ việc yên tâm, chỉ cần ông không rêu rao ra ngoài, trừ khi là hoàng đế bị giết, ai dám xông vào hết mọi nhà trong kinh thành để bắt người chứ? An toàn lắm.

Lão thấy trời đang rét run mà Cừu viên ngoại lại đổ mồ hôi ròng ròng khắp mặt thì nhịn không được bèn bật cười ha hả, rồi vỗ vỗ vai hắn nói:
- Ông là thí chủ hộ pháp của bản giáo, nếu như bản giáo đoạt được thiên hạ, vinh hoa phú quý há sẽ thiếu phần ông? Yên tâm đi, chúng ta ở lại đây nửa bước không ra, sáng sớm ngày mai ông phái người ra ngoài dò la tin tức một chút, xem thử Nội xưởng có động tĩnh gì không?

Cừu viên ngoại cuống quít giậm chân nài khẩn:
- Ối trời ơi! Hương chủ của tôi ơi, không ngờ các người lại trêu chọc đến Nội xưởng nữa? Bên phía xưởng vệ đáng sợ nhất chính là Nội xưởng đó. Các người... các người...

Lưu đạo sĩ lạnh lùng nói:
- Ông tỉnh lại đi, chúng ta làm là giao dịch tạo phản đoạt thiên hạ! Nội xưởng ư? Cho dù là hoàng đế, chúng ta cũng không sợ trêu phải. Ngươi là hộ pháp hương đàn của bản giáo trong kinh sư, làm nhiều việc cho bản giáo như vậy, đứa con bảo bối độc nhất của ngươi thì được giữ lại bên người giáo chủ, sớm đã là người cùng hội cùng thuyền với chúng ta rồi.

Lão hừ một tiếng rồi tiếp:
- Còn nữa, phải tránh nhắc đến thân phận của ngươi và ta trước mặt người khác, kể cả những người mà ta dẫn đến, bọn họ không phải là người của bản giáo. Trở về ôm lục phu nhân của ngươi mà ngủ ngon giấc đi, ngày mai thức dậy đừng quên đi dò la tin tức cho ta đó.

Đoạn lão cười ám muội nói:
- Lục phu nhân là đệ tử thánh đường của bản giáo, cô ả lẳng lơ đó quyến rũ động lòng người, công phu trên giường cao thâm lắm. Cái đồ già nhà ngươi có phước hưởng thụ còn không phải vì bản giáo coi trọng thân phận của ngươi ư. Nên tự thu xếp cho ổn thoả đi.

Nói rồi Lưu đạo sĩ xoay người đi vào phòng. Cừu viên ngoại cầm đèn lồng, đứng ngây người trong gió thật lâu. Một cơn gió thổi tới, lão bất giác rùng mình, lúc này mới thở dài ra một hơi, thẫn thờ bước đi.

Lưu đạo sĩ lách mình vào trong căn phòng của Hồng Nương Tử. Đây là khuê phòng nữ nhân, màn lụa cuộn lên, trên chiếc giường khảm ngà voi đặt một chồng chăn gấm, bề mặt lờ mờ để lộ hình uyên ương hí thủy bằng tơ lụa. Thôi Oanh Nhi vận bộ đồ bó sát người màu xanh thẫm, đang ngồi trước bàn nhíu mày trầm tư.

Eo thon mảnh khảnh, bờ mông tròn lẳn đẫy đà, phơi bày mọi đường cong, vẻ phong tình mê hoặc lòng người. Lưu đạo sĩ bước vào, vừa trông thấy dưới ánh đèn Thôi Oanh Nhi tựa như một đoá mẫu đơn màu đen; dáng người như ngọc, nét mặt như hoa, trong mắt không khỏi loé lên vẻ dị thường.

Thúy Nhi đang đứng hầu cạnh bên trông thấy vậy thì không khỏi bĩu môi. Hồng Nương Tử là hào kiệt lục lâm, không hề để ý đến những quy củ thối tha của các gia đình giàu có, thấy lão ta không gõ cửa đã xông vào khuê phòng thì không hề lấy làm tức giận, mà lại lo lắng hỏi:
- Lưu tiên sinh, Hổ ca sống chết không rõ, ta thật sự một khắc cũng không yên, theo tiên sinh thấy, huynh ấy có thể gặp chuyện không?

Lưu đạo sĩ bày ra bộ mặt thần bí khó lường, nghiêm mặt nói:
- Dương phu nhân, bần đạo đã bấm đốt tính toán, đương kim hoàng đế Đế tinh sắp sụp, lại có Tướng tinh phò tá, tạm thời chuyển nguy thành an. Khi ấy không biết Tướng tinh đó là người nào, nay xem ra, chính là ứng trên người Dương Lăng. Chậc, là bần đạo không thể xem trộm thiên cơ, đã không ngăn cản lão đại.

Lão ngồi đối diện với Thôi Oanh Nhi, dưới ánh đèn hai cánh tay thon thả trắng nõn như hoa lan, da dẻ sáng ngời, trong lòng lão không khỏi gợn sóng, lập tức cụp ánh mắt, kiềm chế ý niệm muốn vuốt ve một phen. Nữ nhân này thoạt trông thì yêu kiều mềm mại, lúc động thủ lại hung mãnh hơn cọp dữ, quyền nào cước nào đều đủ lấy mạng, lão thực không dám vọng động.

Lưu đạo sĩ bấm ngón tay, làm bộ làm tịch nói:
- Trong số mạng của mỗi con người đều có ba ngôi sao chính, Thất Sát coi giữ thành bại, Phá Quân coi giữ chinh phạt, Tham Lang coi giữ hoạ phúc, hiện Tổng Biều Bả Tử bị sao Phá Quân coi giữ chinh phạt nhập vào cung chủ mệnh, mới gặp phải kiếp nạn này.

Thôi Oanh Nhi run rẩy hỏi:
- Vậy... có thể bị thương hoặc sống chết sao?

Lưu đạo sĩ nào dám nói hắn đã chết, người phụ nữ này tính nóng như lửa, trở mặt còn nhanh hơn lật sách, nếu ngày mai nhận được tin báo tử của Dương Hổ, e rằng cho dù mình có nói ông trời sắp sập thì cô nàng cũng sẽ không chịu để yên đâu.
Thế là Lưu đạo sĩ cười khùng khục, ậm ờ trả lời:
- Dương Lăng là Tướng tinh hộ vệ cho Đế tinh cũ, mà lão đại là Đế tinh mới, cũ mới thay nhau, nhật nguyệt luân chuyển, trong số mệnh của lão đại nên có kiếp này. Bất quá Phá Quân nhập chủ cũng là chuyện tốt, đại nạn không chết mai sau ắt sẽ gặp phúc. Chờ hai ngôi sao còn lại cũng nhập vào cung chủ mệnh, Sát-Phá-Lang tam tinh tụ hợp, thì thiên hạ tất sẽ đổi chủ, không thể nghịch chuyển!

Thôi Oanh Nhi đứng bật dậy vung tay áo nói:
- Nói cả buổi vẫn chưa biết rõ là sống hay chết, cửa ải này có thể vượt qua hay không còn không biết đây,
Nói rồi nàng mới cảm thấy mình quá nặng lời, bèn lúng túng phẩy mái tóc mai, giọng dịu lại:
- Nô gia lo cho trượng phu, nóng lòng nên đã thất lễ, xin tiên sinh chớ trách.

Nói đoạn nàng đanh mặt lại, sát khí đằng đằng:
- Nô gia sẽ đợi tại nơi này, ngày mai dò thám được tin tức rồi hẵng nói tiếp. Nếu Dương Hổ bình yên vô sự thì thôi, nhược bằng huynh ấy xảy ra chuyện gì không may, Thôi Oanh Nhi là phận nữ nhi, cũng sẽ mặc kệ hắn là Tướng tinh hay Đế tinh gì, ta nhất định sẽ đánh vào Dương phủ. Cho dù có liều mạng đồng quy vu tận cũng phải giết chết cái tên khốn đó!





(1) Đường Tái Nhi (1399 - không rõ năm mất), nữ thủ lĩnh Bạch Liên giáo trứ danh trong cuộc khởi nghĩa nông dân đầu thời Minh, là người huyện Bồ Đài châu Tân tỉnh Sơn Đông.

(2) Từ Hồng Nho (không rõ năm sinh - 1622), người Cự Dã tỉnh Sơn Đông, giáo đồ Bạch Liên giáo, thủ lĩnh cuộc dân biến cuối thời Minh, tự xưng là Trung Hưng Phúc Liệt đế.

(3) Lý Tự Thành (1606 - 1645?), người Mễ Chi, tỉnh Thiểm Tây, là người đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân lật đổ nhà Minh vào năm 1644, tự xưng Đại Thuận hoàng đế.

(4) Trương Hiến Trung (1606 – 1647), tên tự là Bỉnh Trung, hiệu là Kính Hiên, người Bảo Giản, huyện Liễu Thụ, vệ Duyên An, là lãnh tụ khởi nghĩa nông dân cuối đời nhà Minh, từng kiến lập chính quyền Đại Tây; đồng thời với Lý Tự Thành, người kiến lập chính quyền Đại Thuận.

(5) "tiêu diêu cân", còn gọi là "hà diệp cân" (khăn lá sen). Xem hình: http://www.yntao.com/UploadFiles/2010032414232351521.jpg


Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
22-04-2012, 11:15 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 176 Tiệc rượu


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





- Trừ phi một phe chịu lùi bước, bằng không cuộc chiến rối rắm này sẽ không thể nào hoá giải. Nếu như đại nhân đứng giữa điều đình, thì phe phải lùi bước sẽ trút giận sang đại nhân. Bởi thế... đại nhân nên đặt thân mình ngoài cuộc, mặc cho bọn chúng đấu đá long trời lở đất, đợi đến khi một phe thất bại thảm hại rồi, lúc đó đại nhân hãy ra mặt thu nhặt tàn cuộc. Dù đại nhân chỉ hơi đưa tay cứu vớt, đảm bảo cho sự an nguy của bọn chúng thì bọn chúng, vốn đã hứng chịu đủ mọi khổ đau, vẫn sẽ phải mang ơn đội nghĩa đại nhân.






Chương 176 Tiệc rượu


- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -




------------------------

Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 176 Tiệc rượu.

------------------------

Hôm qua một toán cướp lớn bị tiêu diệt, gần hai trăm cỗ thi hài được giao cho Ngũ thành binh mã ty. Dưới chân thiên tử lại xảy ra vụ án lớn như vậy, Ngũ thành binh mã ty và Kinh doanh khẩn trương vạn phần, lập tức tăng cường kiểm soát kinh sư, nghiêm ngặt thẩm tra từng bá tánh muốn ra khỏi thành; thám mã của bộ Hình lẫn ba xưởng một vệ liên tục xuất hiện, dò la tin tức khắp nơi.

Triều đình không muốn bá tánh biết tin vào ngày cận Tết lại có một đám cướp lớn tập kích trọng thần triều đình vào ban đêm, tránh cho lòng người phấp phỏng; nhưng như thế lại càng phản tác dụng, đủ loại tin đồn vẫn được lan truyền.

Đến khi có người đến Cao Lão trang thăm viếng bạn bè trở về, câu chuyện dần dần được thống nhất: kể rằng có một đám đại đạo đến từ phương Bắc, đều là hảo hán lục lâm võ nghệ cao cường, một có thể chọi trăm, ban đêm tìm đến Nội xưởng làm loạn. Sau khi giáp chiến với mấy ngàn phiên tử Nội xưởng, toàn quân đã bị diệt. Lại kể rằng thủ lĩnh đám giặc cướp nọ tên là Dương Hổ, thân cao hai trượng, lưng hùm vai gấu, một mình đã giết chết hơn trăm viên phiên tử Nội xưởng, cuối cùng bị súng thần hỏa bắn thủng như cái nia. Tin tức đó đã trở thành đề tài hấp dẫn nhất của mọi người khi thăm thân nhân viếng bằng hữu trong dịp tết ông Táo.

Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh đều mong muốn biến cả Cao Lão trang thành quân doanh để đề phòng vợ chồng Dương Hổ quay lại, nhưng Dương Lăng nhất quyết không chịu. Đừng nói hôm nay là ngày tết ông Táo, là ngày mà bá tánh đi thăm viếng thân nhân bằng hữu, mà cho dù là ngày thường, cũng không có lẽ gì lại hạn chế mọi người ra vào. Đây là Cao Lão trang, chứ không phải là Nội tập sự xưởng; là Uy Vũ bá cư trú ở thôn trang, chứ không phải người của thôn trang cư trú trong Nội xưởng.

Không còn cách nào khác, hai người Liễu Bưu đành “ngoài buông lơi trong siết chặt”. Tuy không cấm tiệt bá tánh lui tới trong thôn thăm hỏi thân nhân, cũng không hề có người đến gặng hỏi, song chung quanh phủ Uy Vũ Bá lại bí mật bố trí thêm nhân thủ, tăng cường canh gác.

Thi thể của đám đạo tặc bị loạn súng bắn chết tại Lộ Ao lý hôm qua đều đã được đưa về, trong đó không hề thấy hình dáng của Dương Hổ. Vào giờ Tỵ ba khắc, Bắc trấn phủ ty Thiệu Tiết Vũ của Cẩm Y vệ phái người đến đưa tin rằng bọn họ bắt được một tên đạo tặc bị thương đang chạy trốn. Kẻ đó hung hãn không sợ chết, khi phải hứng chịu đủ loại cực hình của Cẩm Y vệ đã định cắn lưỡi tự vận nhưng không thành. Sau khi trải qua thêm mấy loại cực hình tàn khốc khác hắn đành phải thều thào tiết lộ sự thật.

Đêm qua Dương Hổ thoát khỏi kiếp nạn quả thực là do ý trời. Vốn dĩ Dương Hổ trúng tên trên bắp đùi, trong lúc chiến đấu ác liệt miệng vết thương bị toét lớn, máu chảy không ngừng. Thoát ra khỏi vòng vây được ba dặm thì thân thể cường tráng của hắn cũng không chịu nổi nữa, bốn tên bộ hạ thân tín đành phải dìu hắn ẩn náu trong một phần mộ ven đường để băng bó vết thương, chờ đợi các huynh đệ đi kiếm ngựa về.

Không ngờ đợi một hồi rồi lại thêm một lúc, cả bọn láng máng nghe đâu đó như có tiếng súng giòn giã như đậu rang. Một tên đạo tặc bèn lặng lẽ bí mật lẻn đi quan sát thì thấy Bành Kế Tổ đang hào hứng dẫn binh sĩ thu thập thi thể và thu gom ngựa chiến. Tên đạo tặc này thấy tình thế không ổn, lập tức trở về bẩm báo với Dương Hổ, mấy người bọn chúng bèn trốn vào đồng hoang.

Đến tảng sáng, bọn chúng chạy vào một thôn trang nhỏ không rõ tên, cướp được ba thớt la và ngựa, hai tên thân tín kèm Dương Hổ chạy trốn mất dạng, hai tên còn lại chia nhau lẩn tránh. Tên này luống cuống không biết đường, bị Cẩm Y Vệ thấy khả nghi chặn lại. Vừa mới bị gặng hỏi mấy câu thì tên đạo tặc này liền đột ngột ra tay đả thương người, giết chết sáu bảy tay Cẩm Y Vệ. Cuối cùng một người không chống nổi đám đông nên gã đã bị bắt.

Nghe được tin tức này, Dương Lăng liền đoán rằng rất có nhiều khả năng Dương Hổ đã trốn về sào huyệt, bèn căn dặn thủ hạ thông tri cho bộ Hình, bảo bọn họ gởi công văn đến Bá châu, lệnh cho quan phủ địa phương tra kỹ vụ án này. Thu xếp xong xuôi, Dương Lăng mới trở về phủ chuẩn bị đón tiếp khoản đãi khách mời sẽ đến dự tiệc hôm nay.

Tuy rằng trong ngoài kinh sư căng như dây đàn nhưng bên trong Dương phủ lại ngập tràn bầu không khí vui vẻ. Ngô Kiệt, Hoàng Kỳ Dận, Vu Vĩnh, Bành Kế Tổ, Liên Đắc Lộc, Phùng Đường và thậm chí cả Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh sau khi đã an bài thủ vệ thỏa đáng đều tụ tập dưới một mái nhà. Những người này đều là trụ cột của Nội xưởng, hết lòng theo phò Dương Lăng, tận sức tận lực, Nội xưởng mới có thể phát triển nhanh chóng như hiện nay.

Hơn nửa năm mưa máu gió tanh, chung vai tác chiến, những người này cùng tiến cùng lui, nay nghiễm nhiên đã trở thành một nhóm có chung lợi ích gắn kết vững bền. Dương Lăng tin tưởng bọn họ vô cùng.

Ngô Kiệt, Hoàng Kỳ Dận và Vu Vĩnh đều dẫn theo gia quyến đến phủ. Ngô Kiệt dưới gối không con, chỉ dẫn phu nhân cùng đến; Hoàng phu nhân dẫn theo cháu trai; trưởng nữ của Vu Vĩnh đã xuất giá, lão ta dẫn theo cả phu nhân lẫn nhị nữ, tam nữ. Gia quyến của ba vị Đô ty thuộc Thần Cơ doanh trước đây đều đang sinh sống ở nơi khác; bình thường bọn họ vẫn sống trên núi, chỉ thi thoảng vào thành tìm đến xóm làng chơi hưởng thụ mùi vị âu yếm, cho nên bọn họ đi dự tiệc hết sức thuận tiện.

Ngày thường Hàn Ấu Nương, Ngọc Nhi và Tuyết Nhi ăn mặc hết sức tùy ý, trang điểm qua loa, vì ở không trong nhà nên các nàng cùng lắm cũng chỉ đeo bông tai và cài trâm nạm trân châu. Hôm nay khách đến rộn nhà, bọn họ bèn khoác lên người những bộ cánh sang trọng theo bên cạnh Dương Lăng, xinh đẹp như hoa, sáng ngời như ngọc.

Hoàng phu nhân, Ngô phu nhân và Vu phu nhân tuổi đã hơn năm mươi nên rành rẽ lễ nghi. Vừa gặp các vị Cáo Mệnh phu nhân của triều đình, cả ba bà liền vội bước tới làm đại lễ yết kiến khiến ba cô nàng tuổi còn nhỏ xíu ngượng chín cả mặt, lật đật bước tới đỡ dậy.

Phu nhân Vu Vĩnh cũng là người Sắc Mục, mũi cao mắt sâu, mái tóc vàng óng. Người Sắc Mục ở kinh sư không hiếm nên ngoại trừ Hàn Ấu Nương, các cô này ai nấy đều có kiến thức sâu rộng nên không hề lấy làm lạ, nhưng hai người con gái thướt tha chưa xuất giá của Vu phu nhân đang đứng sau lưng bà ấy thì lại hấp dẫn ánh mắt mọi người.

Vóc dáng thon cao, so với Cao Văn Tâm và Thành Khởi Vận bọn họ còn cao hơn non nửa đầu, mái tóc mềm mại óng vàng, mặt che bởi một lớp voan mỏng chỉ để lộ hai con mắt xinh xắn màu xanh thẫm, chiếc mũi ngọc ngà cùng cánh môi anh đào như ẩn như hiện dưới lớp voan càng làm tăng thêm vẻ mỹ miều.

Đôi tỷ muội này vận váy lụa cân vạt ống tay hẹp, bên ngoài khoác áo chẽn bông nhiều màu. Bên dưới là một chiếc quần dài ống chật màu xanh nhạt làm tôn thêm vẻ mềm mại dịu dàng của thân hình gợi cảm; đường cong trên đôi chân thon thả chắc nịch ẩn dưới lớp quần trông hết sức mê người. Lúc di chuyển eo thon khẽ đong đưa càng khiến người ta thêm mê mệt, gây một ấn tượng thật mạnh.

Phụ nữ thời Minh ra ngoài rất thích mặc áo chẽn váy khít, rất hiếm người mặc quần dài ống chật hoặc miệng ống loe, có thể gặp mỹ nữ phong tình dị quốc ăn mặc như vậy lại càng thêm hiếm. Tô Tam và Tuyết Lý Mai thầm nổi lòng hiếu thắng, thế nhưng bên dưới bộ ngực cao vút và bên trên cặp mông tròn lẳn như trăng rằm mà dường như còn to gấp đôi của bọn họ, chiếc eo thon thả mảnh dẻ khiến người ta phải đỏ mắt vì ghen tị ấy không khỏi khiến bọn họ âm thầm cảm thấy hổ thẹn.

Các cô thực không biết hai chị em đó đã dùng thứ gì mà có thể thít chặt eo đến tắt thở như vậy, bằng không cho dù eo họ có thon cỡ nào đi chăng nữa thì làm sao có thể thon thả bằng chiếc eo của hai cô chứ?

Dương Lăng tươi cười đón khách vào trong nhà. Thành Khởi Vận và Cao Văn Tâm cũng tươi cười nghênh đón, rồi cùng với Hàn Ấu Nương vừa vui vẻ chuyện trò vừa đưa nữ khách theo hành lang bên hông vào trong hậu viện.

Dương Lăng đưa đám khách đàn ông vào trung đường. Trong chậu than lửa kêu tí tách, than củi thượng đẳng trộn lẫn hương liệu cháy thơm ngát cả căn phòng. Quản gia sớm đã bày biện đủ bàn ghế.

Mọi người ngồi vào chỗ trò chuyện cười đùa. Uống trà đàm đạo được một chốc, Dương Lăng mỉm cười đứng dậy nói:
- Ngô lão, Hoàng lão, các vị huynh đệ đồng nghiệp! Dương mỗ nhờ có các vị dốc lòng tương trợ, Nội xưởng mới có được ngày oanh oanh liệt liệt như hôm nay. Hôm nay là ngày tết ông Táo, Dương mỗ mời các vị hảo huynh đệ vào phủ sum họp một nhà là để biểu đạt sự tôn kính và lòng cảm tạ với các vị. Chỉ mong huynh đệ chúng ta nắm tay đồng hành, về sau kiến công lập nghiệp, Nội xưởng của chúng ta...

Đoạn y chỉ vào ngọn lửa đang cháy bùng trong chậu than nói tiếp:
- Nội xưởng của chúng ta dưới sự nỗ lực chung của các vị và ta sẽ huy hoàng rực rỡ, phát triển không ngừng như ngọn lửa này.

Liên Đắc Lộc cười lớn:
- Xưởng đốc quá khách sáo rồi, nếu như Nội xưởng không có đại nhân chủ trì thì sao có được oai phong của ngày hôm nay? Thỉnh thoảng ti chức trở về Thần Cơ doanh chơi, những người bạn đồng liêu nơi đó gặp ti chức đều kính sợ và hâm mộ không thôi. Theo đại nhân ngài kiếm sống, tuyệt đối là không sai.

Một trận cười lớn nổ vang khắp căn phòng. Bành Đắc Lộc ưỡn cái bụng phệ ra vẻ trịnh trọng gật gù phụ hoạ:
- Nói rất đúng. Thực ra lần đầu ti chức gặp đại nhân, thấy đại nhân bước lên điểm tướng đài, khí vũ hiên ngang, oai phong lẫm liệt, liền đã cảm thấy đại nhân tuyệt không phải là vật trong ao rồi. Nhãn quang của lão Bành quả nhiên không tệ!

Lời ba hoa tâng bốc của lão khiến ngay cả Phùng Đường xưa nay luôn hiền lành ít nói cũng nhịn không được phải bật cười phì. Dương Lăng mỉm cười nhìn lão, chế diễu:
- Thật như thế à? Khi đó bản quan bị Bào tham tướng gây khó dễ, dẫn mấy người các ông dùng đại lễ yết kiến Liễu thiên hộ; lúc bản quan đăng đài điểm tướng, bản quan thấy lão Bành ông hình như vẫn chưa tình nguyện quỳ xuống mà. Chẳng lẽ vì bụng quá to cho nên khó quỳ?

Bành Kế Tổ bị y trêu khiến khuôn mặt già đỏ au, nghe được câu cuối liền vội vỗ bụng tán thành:
- Chính phải, chính phải! Xưởng đốc thật anh minh. Ti chức đều bị cái bụng này cản trở, hắc hắc, là do cái bụng to này cản trở.

"Ha ha", mọi người càng cười to hơn. Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh nghe xong cũng không khỏi cảm khái vạn phần. Đúng là “nam sợ đi lầm đường, nữ sợ gả lầm chỗ”. Mới nửa năm trước đây mình chỉ là một viên hiệu úy cỏn con của Cẩm Y vệ, từ ngày đi theo Dương Lăng lại thăng tiến như diều gặp gió, nay cho dù là Cẩm Y đề đốc gặp mình cũng phải đối đãi nồng hậu mấy phần. Chức thiên hộ này kẻ khác dù lăn lộn ba mươi năm cũng chưa chắc đã với tới được.

Đợi mọi người ngưng cười, Dương Lăng nói tiếp:
- Thành nhị đáng đầu là nữ nhân, không tiện cùng mọi người uống rượu, hiện cô ta đã ra hậu viện bầu bạn cùng phu nhân, chúng ta không cần phải...

Bành Kế Tổ ngoác miệng cười to:
- Cô ta không có mặt ở đây càng tốt. Lần trước cô ta đến Nội xưởng dạo một vòng, cặp mắt hoa đào đó liếc Bành mỗ một cái, hại khiến lão Bành ta tim đập thình thịch, cả ngày cũng không yên...

Liên Đắc Lộc ngồi cạnh chợt huých khuỷu tay vào hông Bành Kế Tổ khiến lão loạng choạng suýt ngã. Lão quay đầu lại bực bội la lên:
- Cái tên Liên mặt rỗ này, chưa uống mà đã bị ma men nhập rồi à?! Ngươi huých ta làm gì?

Liên Đắc Lộc nháy mắt với lão:
- Lỡ tay, chỉ là lỡ tay thôi mà! Ha ha, chốc nữa huynh đệ tự phạt ba chén là xong.

Liễu Bưu và Dương Nhất Thanh không nhịn được cúi mặt cười thầm. Ngô Kiệt vừa vuốt râu mỉm cười vừa liếc nhìn Dương Lăng không nói gì. Dương Lăng thấy Vu Vĩnh nghiêng người kề tai nói nhỏ mấy câu với Bành Kế Tổ, khuôn mặt lão Bành lập tức xám ngoét như quả gan lợn, thấp thỏm liếc về phía mình, thì bất giác cũng cảm thấy lúng túng.

Đừng nói là ở thời đó, cho dù ở xã hội hiện đại thì việc trọng dụng một người con gái cũng đã là đề tài câu chuyện được mọi người say sưa bàn tán, huống hồ đó lại là một người con gái duyên dáng yêu kiều, phong tình tha thướt; làm sao không có những lời đồn đãi phong tình chứ?

Dương Lăng ho khan vài tiếng, vờ như không trông thấy, tiếp tục:
- Ngoài ra, bản quan còn muốn giới thiệu với các vị một vị bằng hữu: Hán Siêu!

Ngũ Hán Siêu từ nội thư phòng lách người bước ra, ôm quyền vái mọi người:
- Ngũ Hán Siêu ra mắt các vị đại nhân.

Mọi người thấy là người do Dương Lăng tự thân giới thiệu nên nào dám qua quýt, liền vội đứng dậy chào hỏi. Dương Lăng ra hiệu bảo Ngũ Hán Siêu ngồi vào chỗ rồi cười nói:
- Hán Siêu là công tử của Ngũ Văn Định đại nhân, Thành Đô đồng tri, là đệ tử thân truyền của chưởng môn chân nhân núi Võ Đang, giỏi văn hay võ, một thân tài nghệ hết sức cao cường.

Nội xưởng vừa mới thành lập, nhân tài thiếu hụt, bản đốc cầu hiền như khát nước, may kết giao được Hán Siêu, huynh ấy đã đáp ứng tương trợ bản đốc, gia nhập vào Nội xưởng cùng làm việc. Sau này Hán Siêu sẽ là đồng liêu của các vị, hôm nay các vị hãy cùng nhau gặp mặt, sau này chúng ta sẽ cùng hội cùng thuyền, cùng vượt qua hoạn nạn.

Nói xong Dương Lăng vỗ tay, gia bộc nối đuôi nhau đưa món ăn lên, nhất thời sơn hào hải vị, thức ăn hoa quả có đủ, thịnh soạn vô cùng. Từng chiếc đĩa sứ Thanh Hoa tinh xảo sáng bóng được bày lên bàn, tiểu tì nhẹ nhàng dâng rượu rót đầy từng chén rồi lui sang chầu chực một bên.

Dương Lăng nâng chén đứng dậy:
- Trên bàn rượu bất luận chức vị tôn ti. Ở đây Hoàng lão và Ngô lão tuổi tác cao nhất, trước ta xin kính hai vị trưởng giả, tiếp kính các vị huynh trưởng Bành, Liên, Phùng. Hôm nay chúng ta nhất định phải vui cho thoả thích, không say không về.

Hoàng Kỳ Dận và Ngô Kiệt vội đứng dậy chắp tay cảm tạ, mọi người đều theo Dương Lăng đứng dậy kính rượu hai lão. Hai ông già được Dương Lăng trọng đãi như vậy không khỏi cảm kích vạn phần, hai người ngưỡng cổ uống cạn rượu ngon trong chén, dốc cho mọi người xem chén rượu cạn trơn rồi mới mỉm cười ngồi xuống.

Dương Lăng cũng uống một hơi cạn rượu trong chén rồi từ từ ngồi xuống. Rượu hôm nay dịu mà tinh khiết ngọt lịm, uống vào hai má ngát hương, là rượu Phượng Tường(1) chính gốc, mới uống vào thì cảm thấy không nặng, dần dà ngấm vào lại không nhẹ. Tửu lượng Dương Lăng không cao cho nên y chỉ kính rượu hai chén, sau đó mặc kệ đám người phàm ăn tục uống Bành Kế Tổ hét hò thi rượu.

Sau ba tuần rượu, thưởng thức đồ ăn đủ các loại mùi vị(*), Ngô Kiệt mới nghiêng người thấp giọng hỏi:
- Đại nhân, nghe nói lúc sáng Cẩm Y Vệ bắt được một tên đạo tặc lọt lưới, đã đặc biệt chạy đến báo tin cho đại nhân?
(*) nguyên văn “ngũ vị”, chỉ các món mặn, ngọt, chua, cay, đắng.

Dương Lăng kinh ngạc cười nói:
- Tai mắt của Ngô lão càng lúc càng lợi hại, người Trấn phủ ti nha môn chạy đến ông liền biết rõ nội tình ngay. Đúng vậy, Thiệu Tiết Vũ quả thực đã phái người đến. Nhắc đến việc này, ta chợt nhớ đến một chuyện. Mục tiêu dò xét và truy lùng bên phía Ngô lão dường như chỉ chú trọng vào các quan viên văn võ; tin tức dân gian tuy phần nhiều là hoang đường không đáng tin, song tăng cường thêm bên phía ấy cũng rất có ích. Nội tình chuyện Dương Hổ đến nay chúng ta vẫn chưa nắm rõ. Sau này cũng nên chú ý thêm về phương diện này.

Ngô Kiệp đáp:
- Dạ! Bởi Nội xưởng vừa mới thành lập mạng lưới tình báo, nên vẫn chưa đủ sức xâm nhập đến mọi ngõ ngách. Ti chức lo ngại trong triều vẫn còn quan viên gây bất lợi cho đại nhân, cho nên cố ý yêu cầu bọn thám tử tập trung tinh thần vào triều đình nhiều hơn, việc trong thiên hạ chúng ta cũng sẽ dần dà để ý tới.

Dương Lăng ừ một tiếng, lại nghe Ngô Kiệt nói tiếp:
- Cẩm Y vệ nghe nói đại nhân bị tập kích, đã phóng ngựa khắp nơi, dốc lòng bán sức, vì bắt một tên cường đạo mà đã bị tử thương sáu bảy người. Đại nhân có biết vì sao Cẩm Y vệ lại dốc sức giúp ngài như vậy không?

Ánh mắt Dương Lăng lập tức trở nên tập trung, y thấp giọng hỏi:
- Bên trong còn có nội tình gì khác à?

Ngô Kiệt cười ra vẻ bí hiểm:
- Biếu lễ cho người tất có mưu cầu. Ban đầu Trương Tú của Cẩm Y vệ dựa vào Đông xưởng, phái Mâu Bân cực kỳ bất mãn với hành vi khom lưng uốn gối của lão ta, cho nên sau khi lên nắm quyền hắn vẫn duy trì khoảng cách với Đông xưởng, Tây xưởng và Nội xưởng, giữ cho Cẩm Y vệ không chịu sự tiết chế của ba xưởng. Nay hắn hao tâm tổn trí tặng cho đại nhân món nhân tình này, đương nhiên là có dụng tâm khác.

Dương Lăng rót rượu vào chén Ngô Kiệt, trầm ngâm:
- Ừm! Dạo này khoảng cách giữa Cẩm Y vệ và chúng ta đích thực không xa cũng không gần, song bọn họ lại đem hết sức mình giúp đỡ chúng ta điều tra chuyện buôn lậu của đám quan lại, sĩ tộc và thân hào cự phú vùng duyên hải. Mâu Bân và Thiệu Tiết Vũ lại hết lòng trợ giúp chúng ta bắt cướp như vậy là có dụng ý gì?

Ngô Kiệt mỉm cười đáp:
- Đây cũng chỉ là suy đoán của ti chức. Liên hệ hai việc bề ngoài không hề có liên quan gì với nhau mà suy đoán ra, tuy nhiên dựa theo những hoạt động nổi bật của Cẩm Y Vệ trong thời gian gần đây, dường như cũng chỉ có chuyện này là có thể giải thích được.

Đoạn lão liếm môi, mỉm cười nói:
- Hẳn đại nhân vẫn còn nhớ chuyện hai mươi mốt người Đới Nghĩa dâng tấu xin Hoàng thượng giữ lại Lưu Kiện và Tạ Thiên chứ?

Dương Lăng nhíu mày hỏi:
- Không phải là mấy lão ngự lại ngôn quan đó bị nhốt vào ngục một hồi rồi lại đuổi về rồi sao? Xui xẻo nhất là hai người Dương Nhất Thanh và Vương Thủ Nhân cũng đã được ta bảo vệ đưa đến Đại Đồng làm tướng. Chẳng lẽ lại có người đến gây chuyện hay sao?

Ngô Kiệt cười cười đáp:
- Vậy cũng không phải, chỉ là dư âm chưa nguôi mà thôi. Khi đám người Đới Tiễn bị bắt vào Cẩm Y vệ, lúc ở trong ngục đã viết tờ khai, luôn miệng mắng Lưu Cẩn là tên thiến cậy quyền. Tờ khai đưa vào cung, Lưu Cẩn xem xong thì rất lấy làm bất mãn, chưa dám dâng thẳng lên cho Hoàng thượng, mà trả lại Cẩm Y vệ kêu bọn họ sửa đổi lời khai rồi mới trình lên. Mâu Bân cả giận, hắn bảo xưa nay Cẩm Y vệ xét xử chưa từng có tiền lệ tự ý thay đổi lời khai của khâm phạm để dối gạt thiên tử, cho nên khăng khăng không chịu, hai bên đã căng thẳng nhiều ngày rồi.

Cốc Đại Dụng từng ra mặt hoà giải, nhưng Mâu Bân như cưỡi trên lưng cọp, lúc này mà hắn cúi đầu trước mặt thuộc hạ thì sẽ mất sạch oai phong, thế là đành phải mượn cớ chạy đến phương nam để tránh gió.

Mấy ngày trước còn có việc Doãn Chu Tỉ của phủ Thuận Thiên và Hầu Dương Nguyên của Ngũ Quan giám bị Lưu Cẩn phạt đình trượng đến chết. Lý do công khai là tham ô và chểnh mảng công vụ, song thực tế bên trong là bởi bọn họ qua lại quá thân thiết với Cẩm Y vệ, cho nên Lưu Cẩn mới giết gà để doạ khỉ.

Dương Lăng tựa lưng vào ghế ngẫm nghĩ một chốc, rồi lắc đầu cười khổ:
- Nói vậy không bao lâu nữa thì Thiệu trấn phủ sẽ lại đến nhà nhờ ta ra mặt hoà giải ư? Đã xét phạt cựu thần khiến cho đại học sĩ phải dẫn đầu bá quan đến quỳ dưới cổng cung, món nợ này còn chưa tính xong mà giờ lại quay sang gây sự với Cẩm Y Vệ rồi. Chậc! Lưu Cẩn ơi Lưu Cẩn, vị Lưu công công này tinh thần thật là khoẻ đây, lão ta nghĩ rằng có Hoàng thượng chống lưng thì không còn phải sợ gì nữa hay sao?

Bành Kế Tổ đang uống say đến độ con mắt lừ đừ, loáng thoáng nghe câu được câu mất, liền bật cười lớn chen lời:
- Lưu công công hả? Ờ... sức khoẻ đương nhiên có đủ, lão ta có sức mà không thể tiêu trên mình đàn bà, đương nhiên phải tìm ít việc làm để tiêu bớt sức lực rồi.

Liên Đắc Lộc cũng đã uống say quắc, khuôn mặt gầy gò đỏ gay như đít khỉ, cười hềnh hệch bảo:
- Lão Bành lại nói bậy rồi! Lời này mà lan truyền ra ngoài, chính ông sẽ là người “tiêu” đấy.

Bành Kế Tổ trợn mắt:
- Ai sẽ rêu rao ra ngoài hử? Là ngươi? Là ngươi? Hay là ngươi?
Ngón tay thô kệch của gã chỉ một vòng, đến khi chỉ tới mũi Dương Lăng, gã mới phát hiện bất tiện, không khỏi cười hắc hắc rồi cầm chén rượu của mình lên nốc một hơi.

Dương Lăng cười cười, cúi đầu trầm ngâm:
- Phía bắc có giặc Thát xâm phạm, dùng binh là việc lớn của nước nhà. Việc bãi bỏ lệnh bế môn tỏa cảng và dẹp trừ giặc Oa cũng cần triều đình thật tâm đoàn kết, trên dưới một lòng. Lúc này xưởng vệ lại đấu đá lẫn nhau thực không phải là chuyện tốt, xem ra việc hoà giải lần này vẫn phải do bản quan đứng ra thực hiện rồi.

- Không được!
Hoàng Kỳ Dận và Ngô Kiệt nãy giờ im lặng lắng nghe bỗng đồng thanh kêu to ngăn cản. Mấy người Liễu Bưu và Ngũ Hán Siêu ngồi cách xa đó đang nâng rượu mời nhau nghe được câu này bèn quay đầu nhìn lại.

Hai ông già mưu sâu kế rộng liền vội nhỏ giọng lại. Hoàng Kỳ Dận nói:
- Đại nhân! Làm người tốt chưa hẳn đã là việc hay. Đại nhân nhất định đừng nhúng tay vào, nếu Thiệu Tiết Vũ tìm đến nhà, đại nhân cũng phải lựa lời thoái thác, khi nào bọn họ còn chưa phân rõ thắng thua, đại nhân chưa thể ra mặt.

- Hử?
Dẫu sao Dương Lăng vẫn còn trẻ, mấy chuyện ơn nghĩa nhân tình này y kém hiểu biết hai ông già lăn lộn lâu năm giữa chốn quan trường, chịu đủ mọi ghẻ lạnh này nhiều nên không khỏi nhìn bọn họ nghi hoặc.

Ngô Kiệt giải thích:
- Ti chức chính là lo Cẩm Y Vệ sẽ tìm gặp đại nhân, cho nên mới cố ý khơi ra chuyện này. Chuyện này rất quan hệ đến uy vọng của Cẩm Y vệ và Ti Lễ giám. Dựa vào ảnh hưởng của đại nhân, nếu đại nhân tỏ thái độ ủng hộ một phe, phe kia cũng chỉ có thể nuốt giận mà thôi.

Thế nhưng bất luận đại nhân có ăn nói khách sáo và uyển chuyển như thế nào đi chăng nữa, nếu đại nhân đã khuyên Lưu Cẩn nhượng bộ, để Cẩm Y vệ công khai trình lời cung tố cáo “bọn thiến lạm quyền” lên Hoàng thượng thì không chỉ Lưu Cẩn sẽ ôm lòng oán hận ngài mà Bát Hổ của Nội đình cũng sẽ canh cánh trong lòng. Còn nếu đại nhân khuyên giải Mâu Bân sửa xoá lời cung thì oai vọng mà hắn cực khổ gầy dựng trong Cẩm Y vệ cũng sẽ rơi xuống nghìn trượng.

Hoàng Kỳ Dận gật đầu tiếp lời:
- Trừ phi một phe chịu lùi bước, bằng không cuộc chiến rối rắm này sẽ không thể nào hoá giải. Nếu như đại nhân đứng giữa điều đình, thì phe phải lùi bước sẽ trút giận sang đại nhân. Bởi thế... đại nhân nên đặt thân mình ngoài cuộc, mặc cho bọn chúng đấu đá long trời lở đất, đợi đến khi một phe thất bại thảm hại rồi, lúc đó đại nhân hãy ra mặt thu nhặt tàn cuộc. Dù đại nhân chỉ hơi đưa tay cứu vớt, đảm bảo cho sự an nguy của bọn chúng thì bọn chúng, vốn đã hứng chịu đủ mọi khổ đau, vẫn sẽ phải mang ơn đội nghĩa đại nhân.

Dương Lăng nhìn hai người một lúc rồi lặng lẽ gật đầu. Quan lại đấu đá, diệt trừ lẫn nhau, sự cay nghiệt và vô tình trong đó y đã phần nào giác ngộ. Y đành thở dài bảo:
- Thôi bỏ đi. Mâu Bân đã chạy đi tránh gió, xem ra bản quan cũng phải trốn tránh một chút vậy.

Lưu Cẩn là đại thủ lĩnh Ty Lễ Giám, mấy ngày này sự vụ trong cung rất nhiều, lão ta nhất định không thể dứt ra bức bách Cẩm Y vệ làm việc cho lão. Ngày mai bản quan sẽ đi gặp Hoàng thượng, việc minh ước với Đoá Nhan Tam Vệ không thể trì hoãn quá lâu. Bản quan phải tấu xin Hoàng thượng phái một vị thân thuộc nào đó trong hoàng thất đủ để thay mặt triều đình đến Đại Đồng vào năm sau. Bản quan sẽ đi cùng y, trong kinh cứ để lão ta làm loạn đi.

Tiệc vui người say, đến lúc hoàng hôn nặng nề buông xuống, hầu hết mọi người trong phòng khách đã uống đến say mèm. Hai người Bành, Liên như hai con chó chết được thân binh dìu đỡ lên ngựa, vừa leo lên lại ngã cắm đầu xuống đất, khiến tay đội trưởng thân binh chỉ biết cười khổ sở gọi mấy tay phiên tử cường tráng cõng hai viên đáng đầu đang say như chết trở lên núi.

Phùng Đường bước chân cũng đã xiêu vẹo, song hành động vẫn còn tỉnh táo, cũng cáo từ Dương Lăng xin phép lui ra. Lão quản gia đi đến hậu đường báo Ấu Nương mời các vị nữ khách ra ngoài. Tiệc rượu trong hậu viện sớm đã tàn, Ấu Nương đang ngồi tiếp chuyện trong phòng khách, nghe tin liền vội đưa các vị nữ khách đến tiền sảnh.

Hàn Ấu Nương sắp sẵn gia nhân mang lễ vật theo sau. Nàng là nữ chủ nhân của Dương phủ, vốn có quyền tặng lễ vật, nhưng hôm nay Dương Lăng đáp tạ đồng liêu Nội xưởng nên nàng để Thành Khởi Vận giúp chọn ra vài món quà vừa hào phóng vừa đúng mực, nhằm trượng phu đích thân tặng khách.

Nghe Ấu Nương dặn dò xong, Dương Lăng mỉm cười đi đến trước mặt mấy người Ngô Kiệt và nói:
- Năm mới sắp đến, Dương mỗ có chuẩn bị một ít quà nho nhỏ tặng các vị, vẫn mong Ngô lão, Hoàng lão và Vu đại nhân đừng từ chối.

Đoạn y lấy từ trên tay gia bộc một gói quà, hai tay bưng lấy đưa cho Hoàng Kỳ Dận và bảo:
- Hoàng lão! Khí trời đang lạnh, Hoàng lão lại không tập võ, cả ngày chạy lên chạy xuống phủ trên núi e sẽ nhiễm phong hàn. Đây là hai cuộn nhung Lan Châu, nhẹ mềm lại giữ ấm, xin tặng Hoàng lão và phu nhân làm áo nhung.

Vải nhung Lan Châu vốn đã nổi danh, được chế tạo từ nhung của loài sơn dương, một cuộn nặng chỉ mười bốn lạng (một lạng Tàu tương đương 50gr - ND), mỏng nhẹ mà tinh xảo, trơn mượt như lụa tơ, mềm mại khít người, mặc vào rất ấm. Hai cuộn vải nhung này cầm vào càng thấy mềm mại nhẹ nhàng hơn mấy phần, xem ra là loại nhung Lan Châu thượng phẩm. Mặc dù đối với Dương Lăng thì giá trị của nó không quá quý giá gì, nhưng cũng đủ biểu lộ sự quan tâm yêu quý của y, Hoàng Kỳ Dận vui vẻ nhận lấy.

Dương Lăng cúi xuống xoa đầu đứa cháu nhỏ mới hơn mười tuổi của Hoàng Kỳ Dận, cười bảo:
- Thằng nhóc này lại cao thêm rồi, đã mời được thầy dạy chưa?

Thằng bé lễ phép thưa:
- Dương thúc thúc... Con chào đại nhân ạ! Hiện nay gia gia không có thời gian dạy con viết chữ đọc sách nữa, cho nên đã mời thầy cho con rồi. Thầy giáo không tốt bằng gia gia đâu, thỉnh thoảng lại đòi khẽ tay con nữa.

Dương Lăng bật cười lớn, mọi người đứng bên cạnh cũng không khỏi mỉm cười. Dương Lăng cười bảo:
- Con mà ngoan ngoãn đọc sách thì sẽ không còn ai khẽ tay con nữa đâu.
Nói rồi y thuận tay gở miếng ngọc bội đeo ở hông, miếng ngọc bích óng ánh trong suốt, rõ là loại thượng phẩm trân quý. Dương Lăng nhét nó vào tay thằng bé rồi dặn dò:
- Đây, thúc thúc đại nhân tặng con quà năm mới, mau cao chóng lớn, chăm chỉ đọc sách, học được một thân bản lĩnh nhé. Sau này con làm quan rồi sẽ chỉ có con khẽ tay người khác, người khác sẽ không khẽ được tay con nữa.

Nói rồi Dương Lăng đứng dậy, lấy một món quà khác nói với Ngô Kiệt:
- Ngô lão! Đây là hai cuộn lụa Tô Châu, một cuộn thảm lông Thiên Trúc, ngoài ra ở đây còn có một hũ rượu thuốc. Ngô lão là con cháu Ngô lão thần y Ngô Thanh Viễn, gia đình có truyền thống uyên bác từ lâu, lại biết y thuật. Có điều nếu như phương thuốc trị thấp khớp của ông đã không thể trị khỏi thì hãy dùng thử hũ rượu thuốc này của bản quan xem sao.

Ngô Kiệt hiểu ý bèn liếc sang Cao Văn Tâm đang đứng mỉm cười bên cạnh, cười đáp:
- Hẳn là do tay nữ thần y pha chế rồi? Ngô Kiệt thẹn là con cháu y đạo thế gia, thế mà ngoại trừ một ít phương thuốc tổ truyền là còn nhớ, đối với y thuật chỉ hiểu biết lơ mơ mà thôi. Thực đã làm phiền xưởng đốc đại nhân và Cao cô nương rồi.

Vu Vĩnh bàn đến chuyện buôn bán thì hết sức hào hứng. Nhưng bữa tiệc đêm nay không ai tình nguyện nói mấy chuyện này với hắn, nên hắn đành vừa uống rượu vừa tính toán mấy chuyện buôn ngựa Tây Bắc, chế áo lông Đông Bắc, nấu muối ăn duyên hải. Càng tính càng cảm thấy rất có lời nên tự rót tự uống vẫn cảm thấy rất thú vị, lúc này cũng phải nhờ tôi tớ dìu đỡ mới đứng vững được.

Dương Lăng cũng không dám đối đãi qua quýt với ông thần tài này, y cầm lên ba hộp gấm:
- Vu huynh trông nhiều hiểu rộng, bản quan cũng không biết nên tặng món gì. Ở đây có ba món nữ trang, tuy rằng giá trị không cao nhưng chế tác rất là tinh xảo, tặng cho phu nhân và con gái huynh vậy.

Vu Vĩnh coi Dương Lăng là tri âm có mắt nhìn người, vật phẩm của y tặng thì tốt xấu cũng không hề quan tâm, bèn vội cười nói:
- Đa tạ đại nhân! Na Na, Liễu Liễu, mau bước lên cảm ơn đại nhân đi.

Hai người thiếu nữ vội bẽn lẽn bước lên, uyển chuyển quỳ lạy, cất giọng dịu dàng:
- Na Na, Liễu Liễu cảm ơn Dương đại nhân.
Ở hậu trạch bọn họ đã bỏ khăn che mặt ra, khi trở về lại che mặt lại, hiện nay tấm lụa mỏng đã che phủ hai gương mặt.

Lúc bọn họ đến khách khứa rất đông, tuy Dương Lăng cảm thấy hai người thiếu nữ này có tấm thân khiến lòng người rung động, song cũng không thể chú ý nhiều. Lúc này y để ý mới thấy bọn họ vận áo xanh ống hẹp, áo chẽ bó sát người, quần dài mảnh khảnh, trên mặt lại phủ một lớp lụa mỏng chỉ để lộ cặp mắt long lanh màu lam; lúc đôi mày liễu cong vút ngó quanh thì thần thái trông hết sức mê người.

Hàn Ấu Nương cầm lấy hộp gấm trong tay Dương Lăng đưa đến tay người con gái có vóc dáng cao hơn, mỉm cười:
- Hai vị muội muội thật xinh đẹp, vẫn mong hai món nữ trang này có thể hợp với tâm ý của hai người.

Hai cô thiếu nữ cúi đầu vái thêm một vái, rồi mỉm cười nhận lấy hộp gấm.

Dương Lăng cười bảo:
- Ừm! Na Na nhất định là chị thứ hai, còn Liễu Liễu thì là cô em thứ ba rồi. Vu huynh, bản quan nói có đúng không?

Dương Lăng chưa đến tuổi nhược quán (20 tuổi), nhưng luôn mồm gọi lão là "Vu huynh", thực đã coi mình là thúc thúc của hai người thiếu nữ này. Người thiếu nữ có cặp mặt xanh ngắt như mặt nước hồ che miệng khẽ cười đáp:
- Dương phu nhân gọi con là muội muội, Dương đại nhân lại gọi cha là Vu huynh. Cha à, cha giỏi nhất là tính toán, không biết phép tính này nên tính thế nào nhỉ?

Vu Vĩnh trừng mắt với nàng, rồi đáp lời Dương Lăng:
- Đúng vậy, nha đầu tinh nghịch này chính là Na Na. Phùng Y Cống Phú Nhĩ Tư Thái Bá Cách Na Na, ha ha, đại nhân nghe thấy có oai phong không?

Mấy người Hàn Ấu Nương nghe thấy cái tên dài kỳ lạ như vậy đều bất giác che miệng cười, Vu Vĩnh không hề phát hiện, vẫn tự dương dương dương đắc ý. Chắp tay từ biệt Dương Lăng và các vị phu nhân xong, lão bước xiêu vẹo ra ngoài cổng, trèo lên kiệu trở về phủ.

Liễu Bưu, Dương Nhất Thanh và Ngũ Hán Siêu vừa rồi cũng đã ngà ngà say, khi thấy Dương Lăng đã hồi phục tinh thần, ba người liền vụt đứng thẳng người dậy. Các khuôn mặt tuấn tú tuy vẫn còn hồng hào nhưng ánh mắt đã lanh lợi sắc sảo trở lại.

Dương Lăng gật đầu hài lòng, bảo:
- Cực khổ cho các vị rồi, mấy ngày nay vẫn cần đề phòng kín kẽ. Đám đại đạo đó dám tụ tập mấy trăm người ngang nhiên gây án trong kinh sư, coi thường vương pháp, trong mắt vốn không hề có triều đình. Bọn chúng có còn to gan xông tiếp vào Dương phủ hay không, việc đó không ai dám nói trước. Liễu Bưu hãy ngủ ở tiền viện, điều hành việc phòng vệ.

Liễu Bưu mỉm cười chắp tay đáp:
- Tuân lệnh đại nhân. Bọn ti chức cũng không uống nhiều nên sẽ không để lỡ việc công,
Nói đoạn gã xoay người rời đi.

Dương Lăng gật đầu ra lệnh tiếp:
- Ừm! Nhất Thanh hãy đến hậu viện! Hầm sưởi đó là nơi bản quan hết sức coi trọng. Từ trận chiến hôm qua có thể thấy được rằng, nếu không cậy vào vũ khí lợi hại mà chỉ dựa vào sự tinh nhuệ của Nội xưởng ta thì sẽ không phải là đối thủ của đám đại đạo lục lâm vùng vẫy chốn núi rừng đó. Huynh phải hết sức cẩn thận.

Dương Nhất Thanh để lọt mất Hồng Nương Tử ngay dưới mắt mình trong khi Liễu Bưu ở nơi này đã vây đánh hơn hai trăm tên đại đạo ngang tàng hung hợn nhất trong giới lục lâm, trong lòng gã sớm đã cảm thấy hổ thẹn. Cho nên gã đã hao tổn tâm huyết đảm bảo an ninh cho hậu viện, nghe dặn dò xong liền tự tin đáp ngay:
- Đại nhân yên tâm! Trừ phi đám giặc đó không đến, bằng không cho dù có ba đầu sáu tay cũng sẽ không thoát khỏi thiên la địa võng của ti chức!

Ngũ Hán Siêu thấy Dương Nhất Thanh đã đi, bèn nôn nóng hỏi:
- Đại nhân! Tại hạ sẽ làm gì?

Dương Lăng nhìn đánh giá chàng ta mấy lượt, rồi mỉm cười hỏi Ấu Nương:
- Ấu Nương, nàng thấy vóc người của Hán Siêu có giống ta không?

Hàn Ấu Nương cười tươi đáp:
- Ưm, chỉ rắn chắc hơn tướng công một chút thôi.

Dương Lăng bèn cười nói:
- Vậy thì được rồi, nàng hãy chuẩn bị một bộ áo dài của ta, bảo người đưa đến phòng của Hán Siêu. Ngày mai ta muốn Hán Siêu cùng theo ta vào thành một chuyến.

Ngũ Hán Siêu nhìn lại mình từ trên xuống dưới một lượt. Dương Lăng mua quần áo cho y không chút keo kiệt, nếu vào thành thì cớ gì phải thay đồ của Dương Lăng chứ. Nhất thời y không biết Dương Lăng làm vậy là có dụng ý gì, trong lòng không khỏi hơi nghi hoặc.

Dương Lăng không để ý đến vẻ ngơ ngác của chàng ta, lại nói tiếp:
- Bản quan vẫn chưa mệt, hay đến phòng huynh ngồi một chút đi.

Nói rồi y đến bên cạnh Ngũ Hán Siêu,cùng sánh vai đồng hành, vừa đi vừa cười nhẹ:
- Nội công tâm pháp mà đêm qua huynh dạy cho ta, cái gì mà tay trái ôm nhật nguyệt, tay phải gạt Càn Khôn, bảo rằng lúc đi đường cũng có thể luyện tập đó, sáng nay ta mới thử một chút mà thiếu chút nữa đã trẹo cả lưng. Sáng sớm mai bản quan sẽ kêu quân dịch (quân bưu vụ, đội dịch trạm của quân đội) đưa thiệp bái sư đến thẳng Võ Đang cho Tiêu chưởng môn. Huynh có nói là chưởng môn chân nhân nhất định sẽ thu nhận ta, vậy bây giờ xin nhờ đại sư huynh tương lai chỉ giáo thêm cho tiểu đệ luôn nhé!





(1) loại rượu trắng nổi tiếng ở huyện Phượng Tường, Thiểm Tây, Trung Quốc



Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

monsoon
29-04-2012, 01:18 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 177 Chính hợp ý trẫm


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Monsoon

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:






Lý Đông Dương nhìn y một cách đầy thâm ý, rồi vuốt râu nói:
- Hình như Dương đại nhân có ý rất muốn thông cảm lượng thứ cho đám cường đạo có ý đồ phản nghịch này thì phải?

… đoạn lắc đầu:
- Con đê dài nghìn dặm vỡ toang chỉ vì tổ kiến nhỏ, nhà cao trăm thước cháy rụi chỉ bởi ống khói hư. Dương Hổ không giống như đám ngu dân đấy. Hắn đã liên lạc đại đạo lục lâm của tam sơn ngũ nhạc, âm mưu tạo phản, thậm chí tập kích trọng thần triều đình ngay dưới chân thiên tử, có thể thấy sự hung hãn. Một khi khởi sự, nhất định sẽ là họa lớn khôn lường.








Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 177 Chính hợp ý trẫm

------------------------

Dương Lăng đến cổng cung, kiệu phu và bốn tay thị vệ tự đi sang chỗ tránh gió để sưởi nắng và nghỉ ngơi. Chỗ ở của Dương Lăng cách nơi này quá xa. Thường ngày y đều cưỡi ngựa vào thành nhưng lúc này hai tên đầu sỏ của bọn thổ phỉ một đã chạy trốn, một thì không biết có còn ẩn náu trong kinh sư không. Cho nên Dương Lăng không dám chủ quan, sợ chẳng may sẽ bị trúng tên bắn lén.


Chiếc ghế mềm nửa nằm hoa lệ trong chiếc kiệu lớn này đã bị bỏ đi, thay bằng hai băng ghế, một trước và một sau. Ngồi đối diện tấm rèm vải mỏng che cửa sổ kiệu ở băng trước là Ngũ Hán Siêu đang ăn mặc giống y. Dương Lăng ngồi băng phía sau, nhìn từ bên ngoài tuyệt không thấy chỗ nào đáng ngờ.


Dương Lăng là 'khách quen' trong cung, dù thị vệ trực gác được thay phiên ba ngày một lần nhưng ai cũng có thể nhận ra vị đại nhân này. Ngọ môn tướng quân (viên quan gác cổng Ngọ môn - ND) nhận lấy thẻ bài bằng ngà, liếc qua lấy lệ, rồi tươi cười hai tay dâng trả cho Dương Lăng.


Dương Lăng thuận tay nhét thẻ bài vào trong người rồi hỏi:
- Hoàng thượng vẫn chưa bãi triều à?
Ngọ môn tướng quân cười đáp:
- Dạ phải thưa đại nhân, hạ quan vẫn luôn canh gác cổng cung, các vị đại nhân chưa rời cung đâu.

Dương Lăng khẽ gật đầu, không xuôi theo hướng cầu Kim Thủy, mà đi vòng qua điện Thái Hoà. Lúc này tiếng chuông, trống đồng loạt vang lên, bá quan bãi triều, Dương Lăng đứng dưới cột hành lang lầu gác, đợi cho bá quan văn võ lui hết ra, đội nghi trượng của hoàng đế đi về phía hậu điện, đến khi chiếc lọng vàng khuất khỏi tầm mắt, y mới tiếp tục cất bước về phía trung điện.
Đến trước điện Hoa Cái, chỉ thấy có hai vị đại nhân đang nổi giận đùng đùng bước ra khỏi cổng điện, từ từ chạm mặt với Dương Lăng. Dương Lăng nhận ra họ gồm đại tài tử Vương Ngao từng thi đỗ Tam Nguyên và Chiêm sự Dương Phương thì lấy làm bất ngờ, bước chân bất giác dừng lại, chắp tay thi lễ với bọn họ.


Sau khi Lưu Cẩn giáng chức Lưu Kiện và Tạ Thiên, Dương Phương vì phẫn nộ mà cáo bệnh về quê, đã lâu không ở trong kinh, hôm nay bỗng thấy ông ta lộ diện, tuy không còn giữ cương vị xưa, song Dương Lăng vẫn dùng lễ đối đãi.
Dương Phương tuy già nhưng vẫn rất kiên cường, dù biết hiện nay chức vị Dương Lăng tuy không đổi, nhưng quyền thế ngút trời, có thể ảnh hưởng thao túng triều chính, song vẫn giữ mắt nhìn thẳng, lướt ngang vai mà đi.

Cách nhìn của Vương Ngao về Dương Lăng đã thay đổi rất nhiều, nhất là sau lần bá quan quỳ trước cổng cung trong đêm tuyết, Dương Lăng khuyên bảo hoàng đế thu hồi danh sách bè lũ gian thần, lại tiến cử Dương Nhất Thanh đang bị bãi quan và Vương Thủ Nhân đang ở trong ngục cầm quân giữ ấn, thì cảm nhận của ông về y tốt hơn rất nhiều. Thấy Dương Lăng thi lễ, ông vội vã dừng bước trả lễ và nói:
- Dương đại nhân hãy bớt lễ tiết, Dương chiêm sự đã phát sinh tranh chấp với Lý đại học sĩ nên mới tức giận bỏ đi, Vương mỗ phải đi khuyên giải đã.

Vương Ngao, Dương Phương vốn có quan hệ thân thiết với Lý Đông Dương, Dương Lăng không biết giữa bọn họ có tranh chấp gì, bèn vội mỉm cười nói:
- Xin Vương đại nhân cứ tự nhiên.

Vương Ngao cười gượng gạo rồi nâng áo đuổi vội theo Dương Phương. Dương Lăng ngẩn ngơ một chốc rồi cũng xoay người đi vào điện Hoa Cái.

Tiểu thái giám trông thấy Dương Lăng đến, vừa định cao giọng xướng lễ, Dương Lăng đã vung tay ngăn lại. Vén tấm rèm che làm bằng da dê dày cộp, y bước vào buồng sưởi bên phải. Bên trong, Lý Đông Dương đang ngồi chấp bút phê duyệt tấu chương.

Thấy Dương Lăng đi vào, Lý Đông Dương vội gác bút đứng dậy, mỉm cười với y:
- Dương đại nhân, sao hôm nay nhàn rỗi đến thăm vậy? Xin hãy mau ngồi.

Dương Lăng cười đáp:
- Không dám nhọc đại nhân đâu.

Nói đoạn tự kéo chiếc ghế dựa đến đầu bàn ngồi. Lý Đông Dương gọi người dâng lên một chén trà nóng, ngồi xuống rồi nói:
- Lão quan hoảng sợ khi nghe đêm qua có đám giặc cướp trắng trợn xông vào phủ của đại nhân gây hại, bản tấu của bộ Hình ghi lại không tỉ mỉ, chẳng hay bên ấy đại nhân có tình hình cụ thể và chi tiết không?

Dương Lăng đáp:
- Mấy tên giặc cướp bị bắt hung hãn không sợ chết, song cực hình của xưởng vệ không phải thứ mà da thịt có thể chịu đựng được, bọn chúng không thể không khai. Theo khẩu cung của đám đạo tặc đó, thủ lĩnh của bọn chúng là đại đạo Dương Hổ quả thực có ý đồ mưu phản, có điều hành động ban đêm tập kích phủ đệ của bản quan lần này dường như là do bất chợt nảy sinh. Tuy nhiên rốt cuộc vì sao bọn chúng lại tụ tập đông người như vậy lặng lẽ vào kinh thành, thì đám đạo phỉ đó cũng không nắm rõ cụ thể.

Lý Đông Dương chau mày, khẽ gật đầu, nói:
- Ta đã xem qua kỹ lưỡng công văn từ bộ Hình. Nếu nói bọn chúng đến là vì Dương đại nhân, về tình hay lý đều không thuyết phục, càng không cần phải giả danh Dương Phúc kết giao với đại nhân. Xem ra đích thực là do nhất thời nảy lòng, thay đổi kế hoạch. Rốt cuộc mục đích ban đầu của bọn chúng vào kinh là để làm gì, thực khiến người ta khó lòng nghĩ ra.

Dương Lăng cười nói:
- Lúc này để bộ Hình và quan phủ Bá Châu đi lùng bắt là được rồi. Những chuyện khôi hài về kẻ ngu dân mù quáng tin vào mấy lời nói vô căn cứ, tự cho mình là chân mệnh thiên tử nhiều vô số kể. Hiện triều đình đang phát lệnh truy nã, thiết nghĩ bọn chúng cũng sẽ không dám giở trò gì đâu.

Chẳng phải thôn Mạnh Trì tỉnh Hà Nam từng có người tự cho mình là hoàng đế, nửa số dân của cả thôn đều là tể tướng, đại thần, đứa bé mười tuổi cũng phong làm Trạm Điện tướng quân, xưng vua gọi chúa hơn hai mươi năm mới bị triều đình phát hiện đó sao? Tiên đế hay tin cũng chỉ cười xoà cho qua, đám ngu dân đó không một ai bị trừng trị cả.

Lý Đông Dương nhìn y một cách đầy thâm ý, rồi vuốt râu nói:
- Hình như Dương đại nhân có ý rất muốn thông cảm lượng thứ cho đám cường đạo có ý đồ phản nghịch này thì phải?

… đoạn lắc đầu:
- Con đê dài nghìn dặm vỡ toang chỉ vì tổ kiến nhỏ, nhà cao trăm thước cháy rụi chỉ bởi ống khói hư. Dương Hổ không giống như đám ngu dân đấy. Hắn đã liên lạc đại đạo lục lâm của tam sơn ngũ nhạc, âm mưu tạo phản, thậm chí tập kích trọng thần triều đình ngay dưới chân thiên tử, có thể thấy sự hung hãn. Một khi khởi sự, nhất định sẽ là họa lớn khôn lường.

Dương Lăng gật đầu nói:
- Đại nhân nói chí phải, có điều cái họa của bọn trộm cướp vốn lại do tệ nạn của triều đình, bằng không hôm nay diệt trừ Dương Hổ, ngày mai lại sẽ có Trương Hổ, Lý Hổ, sẽ không bao giờ giết hết được.
Tiên đế nắm quyền hơn mười năm, chăm lo việc nước, là vị vua hiền minh sáng suốt xưa nay hiếm có. Chỉ bởi không biết vì sao mấy năm nay thiên tai liên miên, thường xuyên có lũ lụt cuồn cuộn nơi này, hạn hán nghìn dặm nơi nọ, lại có một đám tham quan không biết thương xót dân tình. Bá tánh thiếu cơm ăn áo mặc, nên mới mặc kệ triều đình trong sạch hay thối nát, bị kẻ có lòng mê hoặc, khó tránh có người làm loạn.

Y nâng chén hớp một ngụm trà, rồi nói tiếp:
- Những vật trồng Nam Dương mà hạ quan giới thiệu quả thực có thể khiến sản lượng lương thực Đại Minh tăng trưởng mấy lần, cứu giúp vô số bá tánh. Hạ quan cho rằng Dương Hổ đột nhiên nảy lòng mưu hại bản quan, chính là vì những mầm cây được chăm sóc trong hầm sưởi mà ra. Có lẽ thoạt đầu hắn vì bị bức bách nên làm giặc, nay đồng bọn mỗi lúc một đông, lòng tham cũng lớn theo dần, có ý dòm ngó ngôi báu quốc gia, đương nhiên sẽ không từ thủ đoạn.

Lý Đông Dương cười lớn:
- Từ khi bản quan nghe nói về những giống cây trồng Nam Dương mà đại nhân giới thiệu, đã từng phái người đến Nam Dương điều tra qua một phen, đám cây trồng đó sản lượng quả thực rất cao. Tuy lão quan không biết Đông Bắc và Tây Bắc có thích nghi để trồng trọt hay không, song nếu trồng trên dải đất rộng lớn ở Giang Nam nhất định sẽ không thành vấn đề.

Dương Lăng mừng rỡ, vội nói:
- Đại nhân đã điều tra rồi ư? Hạ quan tuyệt không nói dối. Đất khô hạn hoặc lạnh lẽo cũng đều thích hợp để trồng, sang xuân sau khi trồng thử liền sẽ biết rõ đúng sai, có điều việc này cũng chỉ có thể giúp bá tánh no bụng, nếu muốn cho dân giàu nước mạnh, giải trừ cấm biển mới là khẩn thiết.

Bá tánh vùng duyên hải chiếm ít nhất một phần tư dân số Đại Minh, nơi đó ba phần núi, sáu phần nước, ruộng đất chỉ chiếm một phần, đất hẹp người thưa, ngũ cốc không phong phú. Người dân sống ven biển đều lấy thuyền làm nhà, lấy biển làm ruộng, cấm biển rồi, sinh kế của bá tánh tiêu điều, khiến những kẻ tụ tập làm giặc mới ngày một đông.

Gỡ bỏ lệnh cấm thông thương, không chỉ giúp bá tánh được sung túc, làm dồi dào quốc khố, hơn nữa còn có thể tăng cường giao lưu với mọi quốc gia hải ngoại, người nước ngoài có sở trường của họ, chúng ta có sở đoản của chúng ta, lấy sở trường của họ bổ sung cho sở đoản của ta, trăm sông đổ về biển lớn, đều là con đường duy nhất để con dân Đại Minh có thể mở rộng tầm mắt và kiến thức, triều đình có thể mở rộng biên cương, kéo dài lãnh thổ, quân đội lớn mạnh, oai danh tứ hải. Đóng cửa làm xe còn không vừa khớp, huống hồ là một quốc gia to như vậy?

Lý Đông Dương gật đầu nói:
- Tình hình duyên hải, bản quan cũng đã sai người điều tra kỹ càng tỉ mỉ. Người xưa có nói: hang chuột tuy là nguồn gốc của cái xấu, cũng cần phải giữ lại một cái, nếu bịt hết lại rồi, nơi đâu cũng sẽ toàn lỗ thủng. Gỡ bỏ lệnh cấm thông thương cũng có cái tác hại của nó, nhưng việc cai trị vốn là bỏ hại lấy lợi, chỉ vì mắc nghẹn mà bỏ cái ăn là điều rất không khôn ngoan.

Ông nhướng mắt mỉm cười:
- Thật ra bản quan cũng đã cân nhắc nhiều ngày, ta nguyện ý giúp đỡ Dương đại nhân gỡ bỏ lệnh cấm biển, mưu lược thông thương cùng với ngoại bang. Có điều theo bản quan thấy, vẫn còn hai điểm cần phải thương thảo. Thứ nhất là không thể thuyết phục bá quan triều đình, thứ nhì là nếu hiện tại gỡ bỏ lệnh cấm toàn diện, được cái này sẽ mất cái kia, loạn giặc Oa trên biển còn chưa...

Dương Lăng hưng phấn cắt ngang:
- Điểm thứ nhất không khó xử lắm, chỉ cần Lý đại học sĩ gật đầu đồng ý, những việc khác xin cứ giao cho hạ quan đi làm. Còn về điểm thứ hai, đại nhân lo lắng rất phải, hạ quan cho rằng có thể mở lại Bạc ty ở Ninh Ba và Quảng Châu thị trước, rồi mở tiếp Bạc ty ở Thiên Tân thị, cộng thêm Bạc ty sẵn có ở Tuyền Châu thị, tổng cộng bốn nơi.

Thiên Tân thông với Triều Tiên, La Sát. Ninh Ba thông với Nhật Bản. Tuyền Châu thông với Lưu Cầu. Quảng Châu thông với Chiêm Thành, Xiêm La và các nước Tây Dương. Tiếp để bộ Hình, bộ Lễ và bộ Hộ lập ra các nha môn quan lại quản lý luật pháp, tố tụng, thuế khoá và nghị định về giá cả hàng hoá giao dịch thông thương trong và ngoài nước. Đại nhân thấy có được không?

Điều mà Lý Đông Dương lo lắng nhất là Dương Lăng lạm quyền độc đoán, giành nắm hết quyền thông thương vào tay, nghe y nói vậy thì không khỏi lấy làm kinh ngạc 'Dương Lăng hao tâm tổn sức muốn gỡ bỏ lệnh cấm thông thương, chẳng lẽ lại không hưởng bất kỳ lợi ích, không muốn bất cứ quyền lợi gì ư?'

Lý Đông Dương do dự một hồi, hỏi:
- Dương đại nhân khởi xướng việc này, chẳng lẽ một khi gỡ bỏ lệnh cấm rồi, nội xưởng sẽ không can thiệp vào trong ư?

Dương Lăng cười thầm trong bụng. Xem ra vị Lý đại nhân này không chỉ là hạng văn chương sáo rỗng, mà cũng biết theo đuổi lợi ích, là một người thực dụng đây. Một khi lệnh cấm thông thượng được gỡ bỏ, cửa hàng ngựa xe rải rác khắp toàn quốc của Dương Lăng sẽ trở thành ngành vận chuyển lớn nhất khống chế tiền bạc lưu thông, nếu nói một ngày thu về một đấu vàng thì cũng không hề quá lời chút nào

Dương Lăng lại nắm quyền ty Thuế Giám, đến khi đó không biết bao nhiều người sẽ đâm lén, bắn trộm, ghen tức với lợi ích của y, cho dù Bát Hổ hiện giờ đang cương quyết đứng chung chiến tuyến với y, về lâu về dài cũng khó đảm bảo sẽ không có dị tâm. Dương Lăng sớm đã muốn vứt bỏ cái ty Thuế Giám này.

Dương Lăng cười đáp:
- Người thông thương trên biển qua lại với ngoại bang rất nhiều, vừa có bộ Hình phán quyết kết quả kiện tụng, Cẩm Y vệ lùng bắt con buôn phạm pháp, ty Thuế Giám và ty Thuế Lại của bộ Hộ thay nhau phụ trách, ty Thuế Giám thu thuế, ty Thuế Lại giám sát thuế, cũng có thể đổi ngược lại, khiến cho các nha môn chế ước lẫn nhau, có thể tránh việc các nha môn mạnh ai nấy làm, tự tạo danh mục, giúp cho bá tánh đỡ khổ.

Lý Đông Dương cười vui vẻ nói:
- Xem ra Dương đại nhân suy nghĩ tường tận, sớm đã có lòng tin. Rất tốt, đại nhân thấy khi nào thì nên dâng tấu lên Hoàng thượng?

Dương Lăng thầm tính toán: thám mã điều tra quan viên có bố cảnh thân hào sĩ tộc duyên hải trong triều vẫn chưa đưa tin tức về đầy đủ, chiến sự phương bắc đang căng thẳng, lúc này đề xuất chính sách mới cũng không thích hợp, bèn nói:
- Bản quan thấy hay là đợi chiến sự phương bắc yên ả trở lại, triều đình mới có toàn lực ứng phó làm tốt việc lớn này. Vậy quyết định vào... tháng hai năm sau thì thế nào?

Lý Đông Dương mỉm cười gật đầu, Dương Lăng thoải mái trong lòng, đặt chén trà lên bàn, lúc này mới để ý trên bàn đang bày ra một bức tranh. Nếu là công văn Lý Đông Dương đang xử lý thì y cũng không tiện xem kỹ, nhưng nếu là một bức tranh thì lại không có gì. Dương Lăng thuận tay xoay bức tranh lại, chỉ thấy trên tranh vẽ một bà lão xấu xí đang cưỡi trên lưng một con trâu, vênh vang thổi sáo, trên trán bà lão đề một hàng chữ nhỏ: "Sự nghiệp tể tướng của Lý Tây Nhai là đây(1)".

Tây Nhai là tên hiệu của Lý Đông Dương, kẻ nào mà quá to gan, không ngờ dám sỉ nhục lão như thế? Dương Lăng giật mình thất kinh, liền không kịp nhìn kỹ bên dưới, ngạc nhiên hỏi:
- Là... là kẻ nào vô lễ như vậy, dám vẽ tranh sỉ nhục đại nhân vậy?

Lý Đông Dương cười hờ hững, nói:
- Dương Phương và lão phu đùa giỡn một chút mà thôi, không can hệ gì, ha ha.

Dương Lăng nhớ lại tình cảnh ban nãy Dương Phương nổi giận đùng đùng rời khỏi đây, lại đăm chiêu xem tiếp phía dưới bức tranh đó. Tranh không phải mới vừa được vẽ, nhưng bên tranh lại đề một bài thơ chưa ráo mực, hiển nhiên mới được đề lên chưa lâu. Bài thơ tuyệt cú đó như rồng bay phượng múa, viết rằng: "Dương Phi thân tử Mã Ngôi pha, xuất tái Chiêu Quân oán hận đa. Tranh tự a bà kỵ ngưu bối, xuân phong nhất khúc thái bình ca." (dịch thơ: )

Lời đề tặng cũng là Tây Nhai, thì ra là khi nãy Lý Đông Dương xem xong tranh đã đề thơ. Câu thơ khí phách vô cùng, không hề quan tâm đến ý châm biếm ông ăn trên ngồi trốc, cúi đầu với nịnh thần ở trong tranh, ngược lại còn xoay chuyển bố cục, đưa ra một cái nhìn khác. Dương Lăng giở tranh xem xong, đứng thẳng người dậy, cung kính vái Lý Đông Dương một vái thật dài.

Lý Đông Dương kinh ngạc hỏi:
- Dương đại nhân làm vậy là ý gì?

Dương Lăng đáp:
- Đại học sĩ khí tiết thanh cao, bụng dạ rộng lượng, khiến cho Dương Lăng khâm phục không thôi. Bức tranh này do tài tử Dương Phương vẽ, Thủ phụ Lý công đề thơ, Dương mỗ xem xong xúc động muôn phần. Thanh giả tự thanh, trọc giả tự trọc, còn mong đại học sĩ tặng bức tranh này cho hạ quan, hạ quan nguyện học theo đại nhân, vì Đại Minh, vì bá tánh, còn sợ chi lời ra tiếng vào?

Trong mắt Lý Đông Dương thoáng loé lên vẻ kỳ dị. Lần trước Dương Lăng đến nhà thăm viếng, vừa vào đề liền mắng ngay Bát Hổ, ông liền thầm nghi ngờ Dương Lăng làm vậy là vì muốn chơi trò hai mặt với Bát Hổ, mượn sức Bát Hổ để thể hiện tham vọng trong lòng. Quan sát hành động của y hôm nay, nghe ý tứ trong lời nói của y, hiển nhiên đây cũng là người đồng đạo. Lý Đông Dương lo lắng ở chỗ Bát Hổ thế to, hoàng thượng lại ham chơi, đế quốc to như vậy, một mình ông khó chống, nếu như Dương Lăng thật sự là người cùng chung chí hướng, vậy còn phải lo lắng gì?

Lý Đông Dương mừng lắm, nói:
- Chỉ là một bức tranh mà thôi, nếu như Dương đại nhân thích, vậy cứ cầm lấy đi.

Dương Lăng cuộn bức tranh lại cất vào người, ngồi xuống rồi nói:
- Vừa rồi Dương đại nhân nuốt giận mà đi, lại để lại bức tranh ngầm châm biếm, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?

Lý Đông Dương nói với giọng bất đắc dĩ:
- Lưu công công chủ trì nội đình trước nay, một số đại thần trong triều rất bất mãn, lũ lượt cáo bệnh không đến nha môn làm, khiến cho rất nhiều nha môn có quan lại không ai xử lý công việc, công văn chất cao như núi.
Cộng thêm chiến sự phương bắc căng thẳng, trưng dịch(2), sung quân, chiến sự, cứu tế, lương thảo, điều binh, liên can đến hơn chục nha môn, quan chủ sự vắng mặt, chánh lệnh không được thi hành, đã lỡ rất nhiều đại sự.

Lưu công công giận đến tím mặt, liền ban lệnh rằng: quan viên không thể xử lý công vụ đến một tháng do bị bệnh, miễn bổng lộc tháng đó; đến một năm, giáng xuống chức quan nhàn tản; đến ba năm, bãi quan làm dân, không bao giờ thu nhận lại.

Những quan viên đó hết cách đành phải trở lại nha môn làm việc. Lưu công công vẫn chưa nguôi giận, lại xin thánh dụ, nói rằng quan văn quá lạm dụng ban thưởng, sau này nếu không có chiến công hiển hách, chính tích chói lọi, không được ban thưởng. Dương đại nhân vừa mới trở lại nha môn, nghe được tin tức chỉnh đốn quan văn này liền giận đến tím mặt, tìm gặp lão phu để lý luận, kết quả... Chao ôi!

Dương Lăng nghe xong cũng phẫn nộ vô cùng "Đây mà là thanh quan ư? Bất chấp đại cuộc. Không thấy được đạo lý. Chỉ vì cái 'phong cách thanh cao' đáng tởm ấy của bọn họ, mà gác lại toàn bộ chính sự sang một bên, gác lại việc quân có quan hệ đến sống chết của hàng nghìn hàng vạn bá tánh sang một bên, cáo bệnh nghỉ ốm, yên tâm thoải mái mà hưởng thụ bổng lộc triều đình. Thật là một đám khốn nạn!"

Dương Lăng nghiến hàm răng lại, cười gằn nói:
- Quan lại tham ô phạm pháp, không đáng dùng! Quan lại thanh liêm nhưng tầm thường vô năng, không đáng dùng! Quan lại bảo thủ tuy thanh liêm và giỏi giang song lại thiển cận, trở ngại triều đình trừ bỏ tệ bệnh, hưng thịnh Đại Minh, càng không đáng dùng! Có lẽ Lưu công công có rất nhiều điểm bị người ta chỉ trích, và mục đích để chỉnh đốn lại cũng không chính đáng gì, nhưng quan lại như vậy, thực đáng vứt đi không dùng. Hạ quan kiên quyết ủng hộ quyết định này của Lưu công công.

Dương Lăng đã thật sự nổi giận, bèn đứng dậy nói:
- Đại học sĩ không cần phải khó xử, những việc ác này hãy cứ giao cho Lưu công công đi làm là được. Triều đình thực thi biện pháp chính trị, dẫu sao cũng không thể không mất lòng nhau, cả nhà cùng vui. 'Trầm chu trắc bàng thiên phàm quá, bệnh thụ tiền đầu van mộc xuân'(*), những hủ bại vướng víu chân tay này, cứ đá văng đi là xong! (*tạm dịch: một chiếc thuyền chìm nghìn chiếc vượt, một cây phải bệnh vẫn xanh rừng)

Dương Lăng cáo từ lui khỏi điện Hoa Cái, cơn giận trong lòng mới nguôi được một ít. Tuyết đọng trong cung đã được quét sạch, không khí khô mát, Dương Lăng hứng cơn gió lạnh lùa vào mặt, thần chí liền thanh tỉnh lại, mới cảm thấy mình vô cớ nổi giận như vậy, dường như đã quá dễ bị kích động rồi.

Y âm thầm cảnh tỉnh bản thân: giờ đây quyền uy của mình mỗi ngày một lớn, mỗi một lời nói mỗi một hành động đều dẫn đến sự chú ý của mọi người, không nên hành động theo cảm tính, giận vui đều lộ hết ra mặt, sau này cần phải để ý tu thân dưỡng tính hơn, học cách đối nhân xử thế.

Dương Lăng uốn cong lưỡi hít sâu vào một hơi, toàn thân thả lỏng, rồi dựa theo phương pháp mà Ngũ Hán Siêu đã chỉ dạy: tay trái vòng vào trong, như vẽ một quả cầu tròn, ngón trỏ tay phải bấm vào chi ngọ trên ngón giữa, hai gối hơi trùng, chân đi chậm rãi, như bước nhẹ trên mây.

Đây là nội công tâm pháp thượng thừa của Võ Đang, nếu luyện đến đại thành, có lẽ phải mất đến mấy mươi năm. Dương Lăng đã qua tuổi đẹp nhất để tập võ, cũng không nghĩ hề nghĩ sẽ luyện thành cao thủ võ lâm gì, chủ yếu luyện cho tinh thần và thể xác được khỏe mạnh và tu thân dưỡng tính mà thôi.

Có điều thuật thổ nạp này quả thực có chỗ kỳ diệu, chẳng những khiến tâm linh con người thanh sảng, không còn bồn chồn nóng nảy, tĩnh tọa một hồi cũng có thể giải trừ mệt mỏi, tinh thần sảng khoái. Dương Lăng chẳng thèm quan tâm đến cái gì là môn quy, nghe xong khẩu quyết, hỏi cho kỹ càng, trở về liền giảng kỹ lại cho Ấu Nương nghe một lượt. Hàn Ấu Nương vốn đã có nền tảng vững chắc, lại từng luyện qua ngạnh khí công, vì vậy học thêm công phu thượng thừa không khó. Bản thân Dương Lăng đã không thể thành tài, nhưng nếu nương tử học được rồi, thì chẳng khác con cháu đời sau của nhà họ Dương cũng sẽ học được, cái lợi trong đó Dương Lăng coi như cũng hiểu được.

Dương Lăng mới học mới luyện, động tác hơi lóng ngóng, mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, dáng đi kỳ dị nhẹ nhàng tiến về phía Tây Noãn gác cung Càn Thanh. Khi ngẩng đầu thì nhìn thấy Chính Đức toàn thân vận long bào màu đen tuyền, đầu đội mũ Dực Long, tay ôm cái lò sưởi(3) trước bụng, đang nhìn y cười tủm tỉm, đám thái giám và cung nữ đúng chung quanh và một đám người cũng đều đang ngóng nhìn, mặt đầy vẻ hiếu kỳ.

Dương Lăng không khỏi cười ngượng nghịu, liền vội bỏ tư thế đó rồi vội vã bước tới thi lễ:
- Vi thầm tham kiến hoàng thượng. Sao hoàng thượng lại đứng đây?

Chính Đức anh tuấn, mặt như ngọc, kéo Dương Lăng dậy mừng rỡ nói:
- Ha ha, trẫm đang ở trong sân xem du hí tạp kỹ, nghe có người nói khanh đi lắc la lắc lư, giống như một con vịt, cho nên chạy qua xem náo nhiệt một chút.

Dương Lăng thoáng đỏ mặt, trông thấy trong sân dựng cái đài, cửa điện Noãn gác mở rộng, bên trong đốt một lò than, chính giữa bày một chiếc ghế nằm hình rồng cuộn, bên trên trải thêm một tấm thảm nhung mượt trắng như tuyết.

Dương Lăng thấy Chính Đức vẫn si mê những trò tạp kỹ này, không khỏi nhắc nhở nhẹ nhàng:
- Hoàng thượng, cũng khó trách đám ngoại thần càm ràm bát sát, hoàng thượng đã kế thừa đế vị, cưới hậu nạp phi, qua mấy ngày nữa sẽ thay đổi niên hiệu thành Chính Đức, nay trong triều chưa ổn định, biên ải lại đang có chiến tranh, ngài thật không nên quá phân tâm vào những việc này.

Chính Đức nhăn nhó nói:
- Lý học sĩ khuyên, Dương sư phụ khuyên, Tiêu đại nhân khuyên, giờ khanh cũng tới khuyên trẫm. Bị nhốt trong thâm cung, mỗi ngày những nơi trẫm có thể đi đến chỉ có điện Thái Hòa, cung Càn Thanh, cung Nhân Thọ. Sinh ra và lớn lên ở đây, ngẩng đầu lên là cái bầu trời đó, cả ngày ngoại trừ thượng triều, nghe giảng, phê duyệt tấu chương, thì không còn gì khác, ít ra cũng phải để trẫm kiếm chút gì đó làm chứ? Dương thị độc, tấu chương của trẫm đều được phê duyệt đúng hạn, tuyệt không tồn đọng đâu nhé.

Dương Lăng nghe hoàng thượng 'kể khổ' như vậy, chỉ đành nói:
- Nhưng mà... trời lạnh rét, hoàng thượng dựng đài xem tạp kỹ trong sân, cửa Noãn gác lại mở toang, nếu bị nhiễm phong hàn, vậy sẽ nguy biết bao!

Chính Đức không nghĩ vậy, nói:
- Đâu dễ như thế. Sáng nào trẫm cũng luyện Thái tổ trường quyền hai lần, đều mặc áo manh giáp mỏng, luận về thân thể, trẫm còn khỏe khoắn hơn khanh đấy.

Đoạn y phấn khởi nói:
- Đúng rồi, khanh theo trẫm vào trong điện. Hôm nay mấy con khỉ cũng đã biết đánh quyền, cho khanh xem mở rộng tầm mắt.

Chỉ thấy, một lão già mặc một đồ màu xanh nước biển, đầu đội khăn vuông, dắt bốn con khỉ bước ra, làm đủ các trò nhào lộn, chồng người, hay nhất là lão già vừa hút sáo một tiếng, bốn con khỉ liền xúm lại đánh quyền. Dương Lăng thấy hai con khi vung vẩy cái chân đầy lông lá của chúng, lảo đa lảo đảo trông hết sức ngây ngô, bèn không kiềm được mà mỉm cười vỡ lẽ: trông bộ dạng, có lẽ là đang đánh túy quyền.

Hai con khỉ còn lại đánh quyền đâu ra đấy, có bài có bản hẳn hoi, tuy chưa được bốn năm chiêu liền chạy về bên lão già xin trái cây ăn, song Chính Đức lại nhìn ra bài quyền chúng đánh đích thực là Thái tổ trường quyền, bèn vỗ tay cười nói:
- Người đâu, thưởng cho thưởng cho.

Hai tên tiểu thái giám xách cái sọt nhỏ, cười hì hì đi tới trước bậc thềm, dùng sức ném cái sọt ra ngoài một cái, trong cái sọt đều là tiền đồng mới toanh, sợ không dưới nghìn văn tiền, vương vãi xuống đất kêu rào rào.

Chính Đức cười bảo:
- Ha ha, trẫm thấy mấy con khỉ này còn dễ mến hơn cái đám người đáng ghét trong cung và ngoại đình đó. Dương thị độc, khanh thấy chúng đánh quyền có hay không?

Dương Lăng mỉm cười, chợt nghe trong phòng bên được ngăn cách bởi cửa sổ có tiếng đàn ông cất lên:
- Đích xác là thú vị, mấy con khỉ này thật thông minh, nhớ buổi sáng thấy Hoàng thượng luyện tập quyền cước, bài Thái tổ trường quyền uy vũ nhanh nhẹn, liền học trộm được chiêu thức ngay.

Dương Lăng sững ra, tròn xoe hai mắt: giọng nói đó giống hệt như y, âm điệu và ngữ khí đều hoàn toàn giống, thậm chí y còn nghi ngờ rằng có phải mình đang ở trong căn phòng khác không. Tiếp theo sau đó, một tràng cười lớn đắc ý truyền ra, lại nghe giọng nói của hoàng đế "Chính Đức":
- Tuy rằng thú vị, nhưng xem cũng đã chán rồi. Nếu là cảnh xuân về hoa nở, muôn chim tranh hót, cảnh đẹp ấy hơn xa xem mấy con khỉ này nhiều.

Theo đó, giọng nói "Dương Lăng" lại cất lên:
- Điều đó có gì khó? Hoàng thượng là thiên tử, muốn ra lệnh cho xuân về khắp mặt đất, trăm hoa đua nở, muôn chim đến hót, có lẽ vị thần xoay chuyển bốn mùa cũng không dám không tuân thánh dụ.

Âm thanh chưa dứt, lờ mờ lại nghe như có tiếng chim tước hót vang, dần dà tiếng vó ngựa nổi lên, có tiếng cười yêu kiều duyên dáng, khiến trong đầu người ta bất giác hiện ra một bức tranh cung nữ đạp xuân, chậm rãi bước tới; rừng tùng, nước chảy, cảnh trí mênh mông sâu thẳm như hiện ra ngay trước mắt, lại có phu tử ngâm thơ, tiếng tiêu réo rắt.

Mắt Dương Lăng càng lúc càng mở lớn, tim đập loạn thình thịch, suýt nữa thì đã buột miệng thốt ra một cái tên. Y không kiềm nén được tâm tình lao qua, vừa kéo mở cửa gác, các loại âm thanh lập tức im bặt, hai người con gái xinh đẹp đang khom nửa người kinh ngạc đứng dậy.

Hai người thiếu nữ xinh đẹp vận áo lĩnh tím, gấm đen, chẽn đỏ, dưới mặc váy màu xanh nhạt, hai bàn chân yêu kiều xỏ đôi giày da dê màu vàng, nước da sáng ngần thơm ngát, khuôn mặt trái xoan, cặp mày lá liễu, chính là hai người con gái phường hát y gặp qua lần trước.

Tu Hoa vẫn vậy, là một khuôn mặt xinh đẹp đầy lạnh lùng, Giải Ngữ thì lại cười tươi liếc y, má tựa mây hồng, mắt như thu thủy, càng khiến người ta rung động tâm hồn. Chính Đức lầu bầu nói:
- Không vui gì cả, không vui gì cả, đợi chút nữa sẽ còn có tiết mục thiếu niên hung ác thôn quê khinh nhờn dân nữ, trẫm ra tay cứu người cho khanh xem đấy, bị vạch trần như vậy mất hết cả vui đi, khanh thực là dễ bị kích động quá.

Dương Lăng thất vọng quay người lại, lặng lẽ đến bên thân Chính Đức nói:
- Vi thần... vừa nãy nghe loại khẩu kỹ giống y như đúc này, bất giác nhớ tới một cố nhân, còn tưởng rằng... ngoài cửa là cô ấy...

Giải Ngữ và Tu Hoa cũng bước tiến vào trong điện, duyên dáng đứng hai bên Chính Đức, nghe thấy lời này hai cặp mắt xinh xắn đều dồn vào người Dương Lăng.

Chính Đức lấy làm lạ bèn hỏi:
- Lúc trẫm được nghe khẩu kỹ này quả sự đã rất kinh ngạc, ngay cả tiếng đàn sáo nhạc cụ bọn họ cũng bắt chước được, vị cố nhân đó của khanh là ai, cũng có bản lĩnh như vậy sao?

Dương Lăng nhớ đến người thiếu nữ đứng trong nắng, vẻ mặt rạng ngời giải thích với y. Nàng thoáng nhướng đôi mày liễu, nụ cười trong vắt:
- Dương đại nhân, tiêu này của tiểu tỳ ấy, không cần tiêu thổi...

Giọng nói yêu kiều giòn giã vẫn còn quanh quẩn bên tai. Y lại nhớ tới tảng đá dính máu và vài sợi tóc bên dốc núi nọ, con tim như thắt lại. Cổ họng Dương Lăng nghèn nghẹn, y ho khan vài tiếng rồi mới cảm thán nói:
- Vị cố nhân này, hoàng thượng ngài cũng biết, đó chính là vị Đường cô nương... Đường Nhất Tiên.

- Đường... Nhất Tiên...
Chính Đức từ từ nhớ lại, sắc mặt cũng dần trở nên ảm đạm, người con gái lưu lại bóng hình đầu tiên trong lòng hắn, nào dễ dàng quên được.

Hai người đàn ông im lặng, bọn thái giám và cung nữ trong cung không biết đã xảy ra chuyện gì, không ai dám mở miệng nói gì. Giải Ngữ và Tu Hoa đưa mắt nhìn nhau, khẽ mím môi, hàng mi dài cong vút chớp chớp không ngừng, vẻ mặt hết sức hiếu kỳ.

Đàn ông bọn họ gặp đã nhiều, song thực hiếm thấy khi hai người đàn ông ở trước mặt, một người là hoàng đế tay ôm thiên hạ, một người là trọng thần triều đình dưới một người trên vạn kẻ, muốn bao nhiêu mỹ nữ cũng được, lại có thể biểu lộ cảm xúc hoài niệm khi nhắc đến một người con gái. Người con gái đó là ai? Nhất Tiên... cái tên thật là đẹp.

Chính Đức rờ mũi, một lúc sau mới chợt hỏi:
- Vẫn chưa có tin tức gì sao? Cho dù là... tin xấu?

Dương Lăng lắc đầu đáp:
- Dạ chưa, bên phía quan phủ đã sớm bỏ qua tìm kiếm, vi thần đã sai phiên tử Nội xưởng để ý quan sát, tuyệt nhiên vẫn không có manh mối.

Chính Đức chán nản vung tay nói:
- Giải tán hết đi, Dương thị độc vào cung, nhất định có việc công cần bàn với trẫm.

Đoạn hắn nhìn sang Liễu Giải và Tu Hoa, hai người con gái rất biết điều, biết khi nào có thể làm nũng đùa cợt, khi nào phải giữ phận, lập tức nhún người thi lễ, rồi cũng lặng lẽ lui ra.

Hai người đi vào thư phòng, Chính Đức ngồi lên ghế, thuận tay chỉ xuống bảo:
- Khanh ngồi đi.

Thư phòng của Hoàng thượng làm gì có chiếc ghế thứ hai, bên cạnh chính là giường ngủ của Chính Đức. Từ dạo bị Vương Quỳnh trỏ mặt mắng cho một trận, Dương Lăng đã không dám không để ý đến những tiểu tiết này nữa, bèn mỉm cười đứng trước ngự án, nói:
- Tạ hoàng thượng, thần đứng đây cũng tiện bẩm báo sự tình rồi.

Chính Đức gật nhẹ đầu, liếc mắt trầm ngâm một chốc rồi hỏi:
- Là chuyện gỡ bỏ lệnh cấm biển có manh mối hay là biên tái phương bắc có chiến sự khẩn cấp?

Dương Lăng lắc đầu đáp:
- Thưa, đều không phải. Hoàng thượng còn nhớ trước lúc xuất binh từng bí mật căn dặn Miêu Quỳ nghiêm trị Tiểu vương tử, răn nhẹ Hỏa Sư, phân hóa bọn chúng, và bí mật liên lạc với Đóa Nhan Tam Vệ không?

Mắt Chính Đức liền sáng lên, hưng phấn hỏi:
- Có phải đã có hiệu quả?

Dương Lăng gật đầu đáp:
- Dạ, Tiểu vương tử nghi ngờ Hỏa Sư có hiệp nghị bí mật với Đại Minh, hiện đang rất đề phòng bọn họ, một vạn năm nghìn nhân mã của Hỏa Sư đang bị an bài bên sườn, một mình chống cự với đại quân của Tổng binh Hứa Thái, lương thảo cướp được cũng không muốn chi viện cho bọn họ, có rất nhiều bộ hạ của Hỏa Sư đã buông lời oán hận. Tình thế chiến trường trước mắt xem ra không nguy cấp lắm, Dương Nhất Thanh án binh bất động, lại níu chặt lấy chân Tiểu vương tử không cho hắn đi, trong đó tất có ý đồ. Có điều hằng năm giặc Thát đều đến biên cảnh ta cướp bóc, họa này nhất định phải tiêu trừ, hiện tại phân hóa Hỏa Sư chỉ là bước thứ nhất.
Nếu đạt được sự hỗ trợ của Đóa Nhan Tam Vệ, chúng ta sẽ có thể không tốn gì mà có được một đội tinh binh, đồng thời mỗi năm có thể lấy được lượng lớn chiến mã từ vùng Hà Sáo. Một mặt vừa có thể tăng cường tính cơ động và năng lực tác chiến của biên quân.
Mặt khác, bá tánh vùng Hà Bắc phụ trách dưỡng mã, nhưng nơi đó lại không nuôi cho ra được ngựa tốt, bá tánh cực công phu dịch, uổng công khổ lao, mà lại không đem nhiều ích lợi cho đất nước. Nếu có thể cải thiện quan hệ với Đóa Nhan Tam Vệ, sẽ có thể khiến bá tánh trút được gánh nặng này. Chúng ta có được ảnh hưởng ở Hà Sáo và Liêu Đông rồi, tương lại sẽ có thể tiến thêm một bước, mở mang bờ cõi, chiếm lấy thảo nguyên phì nhiêu. Sau đó đi vào A Lạp Bá Mã (tên gọi các dân tộc Ả Rập xưa - ND), dùng nó để cải tạo ngựa Mông Cổ và Tây Nam, thì ưu thế của Thát Đát Mông Cổ sẽ không còn nữa.


"Mở mang bờ cõi", đó là cụm từ khiến cho mọi vị vua từ xưa đến nay động lòng nhất. Trong các triều đại lịch sử, chưa một vị vua nào dám sánh mình với vị vua khai quốc. Cho dù là quân vương có sáng suốt và tài đức cỡ nào thì chính tích cũng không thể nào rạng rỡ và chói lọi như mở mang bờ cõi được.

Trái tim của Chính Đức đập thình thịch, khuôn mặt trẻ tuổi anh tuấn đỏ bừng vì hưng phấn, hắn gật đầu lia lịa:
- Dương khanh nói rất đúng, đánh với Thát Đát một trận bất quá chỉ là công tích nhất thời, kết minh với Đóa Nhan Tam Vệ, chúng ta thêm một đội quân, địch quân mất đi một mảnh đất, lại phân hóa làm cho bọn chúng tan rã, mới là sách lược chính trị lâu dài. Nếu sự này thành, công lao của Dương khanh thực sẽ không chỉ như đại tướng công thành chiếm đất, chém tướng đoạt cờ. Có phải phía Đóa Nhan Tam Vệ đã nhận được mật hàm của triều đình không?

Dương Lăng gật đầu thưa:
- Đã liên hệ được với bọn họ, tuy vậy do giữa chúng ta và Đóa Nhan Tam Vệ từng có rất nhiều bất hòa, đại thủ lĩnh Hoa Đáng tuy có lòng hướng về phía phe Đại Minh chúng ta nhưng trong ba bộ lạc lớn lại có rất nhiều quý tộc vẫn còn nặng lòng nghi ngờ. Bọn họ không tin tưởng sứ thần mà chúng ta phái đi lắm. Tin tức hồi đáp là các tù trưởng đó muốn Đại Minh ta...

Y thoáng do dự. Điều kiện Hoa Đáng đưa ra quả thực đã đặt địa vị của hắn ngang hàng với thiên tử Đại Minh, nếu y nói ra chỉ sợ thiên tử Chính Đức sẽ long nhan nổi giận. Song đây là việc lớn, y thực không dám bỏ qua, Dương Lăng bèn lấy hết can đảm nói:
- Hoa Đáng chẳng qua chỉ là đại tù trưởng một bộ lạc thảo nguyên, không học thánh hiền, không hiểu lễ nghi, thế mà lại yêu cầu hoàng thượng phải đích thân đến Đại Đồng, cùng hắn uống máu ăn thề trên núi Bạch Đăng, thì Đóa Nhan Tam Vệ mới chịu nương về Đại Minh.

Dương Lăng nói xong liền vội vã chêm thêm:
- Tuy nhiên chuyện này thực vẫn có thể mặc cả. Theo ý vi thần, hoàng thượng có thể cử một vị tông thân hoàng thất thay mặt cho triều đình và thiên tử đi đến nơi hẹn ước, ắt sẽ có thể xua tan mối lo ngại của hắn.

Không ngờ, nằm ngoài dự đoán của Dương Lăng, Chính Đức nghe xong không hề nổi giận, ngược lại vuốt cằm như có điều suy nghĩ. Trầm ngâm một hồi lâu, hắn mới khẽ mỉm cười, ngước mắt nhìn Dương Lăng và nói:
- Muốn trẫm đích thân đến gặp bọn chúng? Cho dù là Bá Nhan Khả Hãn lúc đánh hay cầu hòa cũng đều lấy lễ bầy tôi mà đối đãi với trẫm. Lá gan của Hoa Đáng thực không nhỏ.

Dương Lăng nghe vậy thì cuống lên, vội nói:
- Hoàng thượng, vi thần cũng biết Hoa Đáng làm vậy thực hơi cuồng vọng, nhưng việc nhỏ nếu không nhịn thì kế lớn sẽ hỏng.

Ánh mắt của y chợt trở nên ranh mãnh, thấp giọng nói khẽ:
- Không cùng tộc với ta, tim nó ắt khác. Đóa Nhan Tam Vệ tựu chung vẫn là kẻ ngu muội, bọn chúng nương về chúng ta, chỉ bởi bọn chúng không có thực lực lớn mạnh như Bá Nhan Khả Hãn có thể cướp bóc của cải với số lượng lớn, cho nên hiện tại hợp tác chẳng qua là vì lợi ích riêng.Hiện tại chúng ta tạm thời nhẫn nhịn, sau này sức nước cường thịnh, vũ lực đầy đủ, chẳng những sẽ sát nhập Thát Đát Mông Cổ, Ngõa Thích Mông Cổ vào bản đồ Đại Minh, mà con hổ cạnh giường này sao có thể là ngoại lệ? Việc nhỏ không nhịn thì kế lớn sẽ hỏng đó bệ hạ.

- Ha ha ha ha...
Hoàng đế Chính Đức đứng dậy, cười như con gà mái đẻ. Hắn đấm vào ngực Dương Lăng một cái, cười khanh khách:
- Ai nói trẫm không thể nhẫn nhịn tạm thời?

Đoạn hắn xòe hai tay ra, chớp chớp mắt nói:
- Tiên hoàng chỉ có mỗi một mụn con là trẫm, tông thân hoàng tộc khác đều phong làm vương gia ở các nơi, há có thể thay mặt triều đình và thiên tử? Nếu là ái khanh thì phái ai đi mới thích hợp đây? Là thái hoàng thái hậu? Thái hậu? Hay là hai vị ngự muội của trẫm?

Dương Lăng nghe xong mà nghẹn họng, trong lúc còn chần chừ, chợt thấy Chính Đức nhảy bật lên, ngửa mặt lên trời cười lớn:
- Ha ha, một khi vận khí lên hương, liền như nước lũ tường thành khôn ngăn. Cái tên Hoa Đáng thực đáng yêu quá đi.

Đoạn hắn dương dương đắc ý nói:
- Lần này trẫm sẽ đích thân đi đến Đại Đồng, đó là vì nước vì dân, vì giang sơn xã tắc Đại Minh, bá quan văn võ sẽ không nói gì nữa chứ?

Dương Lăng nghe vậy thì há hốc mồm, chỉ thấy Chính Đức mặt đỏ bừng, hai tay chống nạnh nói:
- Không để trẫm đi công khai, trẫm sẽ lén đi. Đại Đồng trẫm đã quyết định sẽ đi rồi!
Đoạn hắn chỉ vào Dương Lăng, nói với giọng oai phong lẫm liệt:
- Chuyện này giao cho Dương khanh phụ trách. Qua năm mới, chúng ta sẽ mở đường Tuyên Phủ, thẳng tiến Đại Đồng!







Chú thích:

(1) nguyên văn "Thử Lý Tây Nhai tướng nghiệp". Tích rằng: vào năm Chính Đức (1506 - 1521), Lưu Kiện và Tạ Thiên của Nội các bị giáng chức đuổi khỏi kinh, chỉ còn lại một mình Lý Đông Dương. Đương thời Lưu Cẩn nắm quyền lực triều chính, Lý Đông Dương một cây chống chẳng vững nhà, không cách nào xoay chuyển. Vì vậy có người vẽ một bức tranh bà lão cưỡi trâu thổi sáo nhằm châm biếm. Trên trán bà lão đề "Thử Lý Tây Nhai (tên hiệu của ông) tướng nghiệp", nghĩa là "sự nghiệp tể tướng của Lý Đông Dương là đây", nhằm trào phúng Lý Đông Dương. Có người báo cho ông hay biết chuyện này, thế nhưng ông vẫn dửng dưng, tự đề lên tranh một bài thơ tuyệt cú: "Dương Phi thân tử Mã Ngôi pha, xuất tái Chiêu Quân oán hận đa. Tranh tự a bà kỵ ngưu bối, xuân phong nhất khúc thái bình ca", nghĩa là "Dương Quý Phi thì bỏ thân nơi Mã Ngôi, Chiêu Quân mang theo ra biên tái nhiều ai oán. Sao như bà lão cưỡi trâu, hát vang khúc thái bình trong gió xuân". Về sau trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ Lưu Cẩn, họ Lý đã nổi lên như một nhân vật có vai trò mấu chốt.

(2) chính phủ triệu tập người dân thực hiện nghĩa vụ quân sự gọi là 'trưng dịch'

(3) loại lò sưởi cầm tay





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
04-05-2012, 08:35 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 178 Nàng vốn là người tốt


Dịch: TheJoker

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Tu Hoa giậm chân làm nũng:
- Trời ơi! Vậy ngài nói cho nô gia biết sẽ đi đâu đi! Hoàng hậu nương nương không ưa gì chị em nô gia, nếu như ngài không ở trong kinh nữa..., - vừa nói cô nàng vừa làm ra vẻ chực khóc.

Chính Đức thấy vậy thì trở nên mềm lòng, liền vội kéo lấy tay cô nàng cười nói:
- Yên tâm đi, trẫm sẽ thu xếp cho các nàng đến Báo phòng, bảo Lưu Cẩn hết sức chăm sóc cho hai nàng là được rồi. Muốn biết trẫm sẽ đi đâu hả? Hắc hắc, thơm trẫm một cái đi rồi sẽ nói!





Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 178 Nàng vốn là người tốt

------------------------

Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 178 Nàng vốn là người tốt (1)

------------------------

Hoàng đế là vua một nước. Vua chúa dựng nên các triều đại có ai mà không cả đời chinh chiến, chém giết nơi chiến trường? Để Chính Đức chứng kiến qua sự thảm khốc ở chiến trường, thấu hiểu được một phần nỗi khổ của bá tánh sẽ còn tác dụng nhiều hơn đọc vạn câu di huấn của các bậc thánh hiền.

Những lý lẽ này đương nhiên Dương Lăng hiểu rõ. Hế nhưng vừa nghĩ đến việc dẫn Hoàng đế ra biên tái, còn phải để hắn ta âm thầm lặng lẽ giữa chiến trường chém giết của hơn mười vạn quân Minh và Thát Đát mà lẻn lên núi Bạch Đăng gặp mặt thủ lĩnh của đám người Đóa Nhan Tam Vệ lúc là bạn lúc là thù thì… Càng nghĩ Dương Lăng càng thấy lo sợ.

Để cho đức vạn thặng chi tôn(*) giá lâm đến nơi hiểm địa, chỉ một chuyện này thôi đã đủ khiến bá quan dốc mạng mà hặc tội y rồi. Hơn nữa, nếu như Thát Đát hay tin đem trọng binh tập kích, hoặc là Hoa Đáng khởi dị tâm bắt Chính Đức làm con tin, lúc đó phải làm sao?
(*) nghĩa đen: bậc tôn quí giá trị bằng vạn cỗ xe. Cụm từ này thường được dùng để chỉ nhà vua.

Đang gật gù đắc ý, hoàng đế Chính Đức chợt nhìn thấy sắc mặt Dương Lăng trắng bệch, hắn không khỏi thu lại nụ cười, nghiêm túc gọi Dương Lăng:
- Dương thị độc...

- Có thần!
Dương Lăng khổ sở đáp.

Chính Đức nghiêm mặt nói:
- Người trong thiên hạ thường nói thiên hạ của trẫm rộng lớn, thế nhưng thiên hạ của trẫm chẳng lẽ chỉ là một mảng đất trời trong Tử Cấm Thành này đây sao? Trẫm muốn ra ngoài nhìn ngắm giang sơn vạn dặm thì có gì là không tốt? Huống hồ, hiện tại đi gặp mặt Hoa Đáng chính là làm một việc lớn cho Đại Minh. Quân đội của trẫm sẽ có thể bớt đổ máu, bớt hy sinh; con dân của trẫm sẽ bớt chịu khổ đau. Thân là quân vương, trẫm... không nên đi hay sao?

Thoáng ngưng lại, hắn nhẹ giọng nói tiếp:
- Trẫm biết khanh đang lo lắng cho an nguy của trẫm, cũng lo lắng sẽ vì vậy mà bị bá quan chỉ trích.

Rồi hắn cười nhạt một tiếng, giọng khinh miệt:
- Cứ để mặc bọn chúng nói cho sướng miệng. Bọn chúng chỉ muốn coi trẫm là một con chim bị nhốt trong cái lồng này, chỉ cần trẫm giữ khuôn phép đúng mực một chút, kính trọng sĩ tử một chút, lắng nghe lời ngay thẳng của bọn chúng một chút, yên tâm ngồi đây làm một vị thần bằng đất sét thì sẽ là hoàng đế tốt trong mắt bọn chúng.

Nhưng mà, trẫm không muốn làm loại vua như vậy! Đại Minh là thiên hạ của trẫm, trẫm phải làm tròn trách nhiệm thiên tử!

Dương Lăng ngẩn ngơ đứng nhìn Chính Đức, khuôn mặt non trẻ của hắn đầy sự nghiêm túc hiếm có. Ánh mắt sáng ngời, hắn nhìn chằm chằm Dương Lăng nói tiếp:
- Còn nhớ lúc khanh mới vào kinh thành, từng kể cho trẫm nghe rất nhiều chuyện về vạn quốc ở hải ngoại hay không? Vị quân vương anh minh trong đó, khi không làm tròn trách nhiệm bản thân, lại lo sợ rúc mình trong cung điện, tự hào nói với kẻ khác rằng bảo vệ tốt cái mạng của hắn chính là làm tròn bổn phận với con dân. Khanh mong muốn trẫm là một hoàng đế như vậy sao?

Chính Đức nhếch cặp mày tuấn tú, buông từng chữ:
- Trẫm là thiên tử, hiện tại trẫm muốn đi làm một việc cần làm cho Đại Minh! Khanh là bầy tôi yêu mến của trẫm, khanh có thể phò tá trẫm hoàn thành tốt việc này hay không?

Trong lòng Dương Lăng dậy sóng: ai bảo tiểu hoàng đế trước mặt này trẻ người non dạ, trong mắt chỉ có vui chơi đùa nghịch? Là do hắn chưa từng suy nghĩ nghiêm túc về trách nhiệm làm vua hay là vì hiện thực cay đắng khiến hắn chỉ có thể đắm chìm vào trong đủ loại trò chơi để giết thời gian?

Không nói lời nào, Dương Lăng lui lại hai bước, lần đầu y mang lòng kính trọng vái Chính Đức một cái thật sâu:
- Vi thần tuân chỉ! Thần nguyện phò tá đức vua, chấn hưng Đại Minh, hoàn thành bá nghiệp lẫy lừng!

Chính Đức mừng rơn nắm chặt lấy tay Dương Lăng lắc lia lịa, vừa định mở miệng thì chợt nghe có tiếng 'rột rột' phát ra. Hắn thoáng ngẩn người, rồi không nín được bật cười lớn:
- Cùng khanh trò chuyện say sưa nên quên mất đã đến bữa rồi. Lại đây, Dương khanh hãy dùng bữa cùng trẫm! Chuyến đi đến Đại Đồng của trẫm sẽ nhờ vào khanh cả đấy.

Lúc còn kèm thái tử đọc sách ở Xuân Phường, đã không ít lần Dương Lăng dùng bữa chung với hắn, nhưng sau khi Chính Đức đăng cơ lên ngôi đế thì đây mới là lần đầu. Được dùng bữa cùng với Hoàng đế là đãi ngộ trọng hậu vô cùng, trên Khởi Cư Chú(2) và công báo triều đình đều phải ghi rõ.

Dương Lăng không muốn bị rêu rao nên đang tính lựa lời cự tuyệt thì Chính Đức đã quay ra ngoài cửa gọi to:
- Người đâu, truyền đưa cơm vào! Trẫm muốn dùng bữa chung với Dương khanh. Gọi Giải Ngữ và Tu Hoa đến cùng luôn đi.

Dương Lăng cuống quýt thưa:
- Hoàng thượng, làm vậy không thích hợp lắm đâu. Giải Ngữ, Tu Hoa tuy không phải là phi tần trong cung, nhưng dẫu gì cũng là người hầu hạ cho Hoàng thượng, thần sao dám cùng bọn họ...

Chính Đức không đồng ý, khoát tay ngăn y, rồi hào hứng bàn tiếp cách rời khỏi kinh sư. Trong lúc hai người đang bàn bạc thì tiểu thái giám của Ngự Thiện phòng đã đưa các món ăn thịnh soạn trong cung lên thoăn thoắt như thoi đưa, bọn họ bèn dừng trò chuyện.

Trên chiếc bàn lớn thếp vàng chạm trổ hình con rồng cuộn mình bày đầy các thức ăn, bốn chiếc ghế gấm đặt ở bốn cạnh bàn. Tiểu thái giám nhanh nhẹn dùng đũa bạc thử qua từng món ăn, lại nếm thử từng món một, sau đó quay sang vái Chính Đức một lạy rồi lặng lẽ lui ra, chỉ để lại bốn tiểu thái giám đứng hầu.

Giải Ngữ và Tu Hoa bước vào trong điện, tha thướt như một đám mây, mùi thơm của son phấn tức thời ùa vào trong cánh mũi. Chính Đức bảo hai người con gái xinh đẹp yêu kiều đó dùng tách ngọc, còn hắn và Dương Lăng thì ngồi đối diện với nhau, cả hai đều dùng chén rượu ba chân(3).

Mới uống một chén mà Dương Lăng đã thấy hơi ngà ngà. Trong lòng lo nghĩ đến chuyện năm sau hoàng thượng sẽ xuất kinh nên mặc cho Chính Đức năm lần bảy lượt thúc giục y cũng không dám uống thêm, chỉ gắp vài món ăn nhẹ cho vào miệng.

Chính Đức thì lại cao hứng vô cùng, ăn đến non nửa mới cười nói với Dương Lăng:
- Dương thị độc, hai vị cô nương này đều biết hát dân ca đấy. Giải Ngữ, Tu Hoa, hai nàng hãy hát một khúc trợ hứng cho trẫm đi.

Giải Ngữ nhoẻn miệng cười, sóng mắt đong đưa liếc Dương Lăng, thuận tay nhón lấy chiếc đũa ngà gõ nhè nhẹ lên cốc vàng bát ngọc. Trong tiếng nhạc trong vắt vui tai, cô nàng cất tiếng ngân nga một điệu hát dân gian. Tiếng ca dịu dàng mà da diết, Chính Đức nhịp đùi đắc ý, nghe rất say sưa.

Cố gắng đợi đến khi tiệc tàn rượu cạn, nhân lúc Chính Đức đang rửa tay trong thau vàng, Dương Lăng mới thấp giọng thưa với hắn:
- Hoàng thượng! Nếu ngài muốn xuất cung thì đó là việc quan trọng vô cùng. Khi nãy thần đã suy tính kỹ lưỡng rồi, muốn bá quan gật đầu đồng ý thì thật là điều không thể, xem ra chỉ có thể theo ý của Hoàng thượng là lặng lẽ rời kinh mà thôi.

Nhưng mà, cho dù có thể giấu được bá quan văn võ thì dù sao trong kinh cũng phải có người chủ trì, cho nên không thể giấu giếm ba đại học sĩ. Tiêu đại học sĩ lão luyện thành thục lại rất quan tâm đến thánh ý, thần muốn mật nghị với ông ta trước đã.

Chính Đức cười hì hà bảo:
- Được, khanh đi đi! Việc này là ý tưởng của trẫm, Dương khanh chỉ là bị ép buộc phải tuân lệnh vua, theo vua làm việc mà thôi, không ai dám làm gì khanh đâu.

Đại Minh tuy nhiều tệ chính, nhưng đương thời vẫn là quốc gia có quốc lực lớn mạnh nhất, lúc có chiến tranh, lương thảo và quân bị đều hơn xa những nước bé chung quanh, thế nhưng chiến sự lại thường luôn ở thế hạ phong, nguyên do lớn nhất là vì "trọng văn khinh võ".

Bản thân không thể trải nghiệm qua sát phạt, thì sao rèn thành một Chính Đức văn hay, trị giỏi, võ công cao? Sau khi nghe xong lời tâm sự chân thành của Chính Đức, Dương Lăng đã quyết định mặc kệ được mất cá nhân, cho dù núi đao biển lửa y cũng sẽ cùng hắn đi một chuyến. Y nghe Chính Đức ôm hết trách nhiệm về mình, không muốn y bị bá quan thừa cơ chỉ trích thì cảm kích mỉm cười rồi cung tay thưa:
- Tạ ơn Hoàng thượng quan tâm che chở, thần xin cáo lui.

Chính Đức lấy chiếc khăn lụa trắng mịn như tuyết lau tay xong, hai người con gái xinh đẹp liền vây lại, mỗi người ôm lấy một cánh tay y. Giải Ngữ cười duyên dáng hỏi:
- Hôm nay sao Hoàng thượng vui vẻ quá vậy? Đầu mày cuối mặt ngài đều rất tươi tỉnh.

Từ khi lớn đến giờ Chính Đức mới có cơ hội được ra khỏi “nhà” lần đầu, hơn nữa lại được đi đến chốn sa trường xa xôi, cho nên hắn thực sự không kiềm nén được sự hưng phấn trong lòng. Vả lại Giải Ngữ và Tu Hoa đều là những mỹ nữ vô cùng đáng yêu; hơn nữa Giải Ngữ vui vẻ rạng ngời, nghênh đón người ta bằng sự ngọt ngào mềm mại, rất hợp với tính khí của hắn.

Không kiềm được sự hào hứng trong lòng, hắn vuốt nhẹ khuôn mặt mịn màng của Giải Ngữ, hăm hở:
- Trẫm nói cho nàng hay, nhưng nàng nhất định không được để cho người khác biết đó.
Đoạn y hạ thấp giọng, nói nhỏ:
- Đợi sang năm, trẫm sẽ trốn khỏi kinh đi tuần rồi, ha ha ha! Biển rộng sóng dâng cá vẫy vùng, trời cao gió lộng chim tung cánh.

Giải Ngữ và Tu Hoa chợt ngẩn người, bốn mắt của hai cô vừa chạm vào nhau, trong mắt Tu Hoa liền không nén được sự vui mừng. Cô nàng cũng khoác lên một bộ dáng tươi cười ngọt lịm, kéo tay Chính Đức cạ vào bộ ngực đầy đặn cao vút của mình, thỏ thẻ:
- Hoàng thượng! Ngài nói rõ hơn được không, nô gia có thể đi cùng ngài không?

Chính Đức vội lắc đầu, đáp:
- Không được không được! Nếu dẫn phụ nữ theo thì nhất định Dương thị độc sẽ không cho, trẫm thực không muốn tự làm mất mặt mình.

Tu Hoa giậm chân làm nũng:
- Trời ơi! Vậy ngài nói cho nô gia biết sẽ đi đâu đi! Hoàng hậu nương nương không ưa gì chị em nô gia, nếu như ngài không ở trong kinh nữa..., - vừa nói cô nàng vừa làm ra vẻ chực khóc.

Chính Đức thấy vậy thì trở nên mềm lòng, liền vội kéo lấy tay cô nàng cười nói:
- Yên tâm đi, trẫm sẽ thu xếp cho các nàng đến Báo phòng, bảo Lưu Cẩn hết sức chăm sóc cho hai nàng là được rồi. Muốn biết trẫm sẽ đi đâu hả? Hắc hắc, thơm trẫm một cái đi rồi sẽ nói!

***

Giờ đây, trong ba đại học sĩ thì Tiêu Phương xếp thứ hai. Được quyền cao chức trọng, thân phận tôn quý, lại không phải chịu sự ghẻ lạnh như lúc còn ở bộ Lễ và bộ Lại năm xưa, sau lưng có Dương Lăng chống đỡ, tiền đồ như thuyền xuôi gió, thế nên mặt mày của lão luôn luôn tươi rói.

Lão đang ngồi trong điện phê duyệt tấu chương, thu xếp các bộ tính toán quân lương, chuẩn bị phu dịch, vận chuyển lương thảo, khí giới, vỗ về giúp đỡ những binh sĩ thương vong, điều động thầy lang, thu gom dược liệu, … Cả đống công việc nên lão bận đến túi bụi. Chợt nghe báo Dương Lăng đến thăm, ông già Tiêu Phương liền vội bước xuống giường lò, tươi cười ra đón.

Dương Lăng là thống lĩnh thân quân của Hoàng đế, là võ tướng Chánh tam phẩm. Nội xưởng là nha môn Hoàng đế tự lập ra, không hạn chế bởi phẩm hàm trong triều, không có cấp bậc, nhưng Dương Lăng thân mang tước vị (Bá tước – ND), mặc áo bào thêu hình mãng xà bốn vuốt do vua ban thưởng, quyền lực thực tế lại không ai sánh được.

Tiêu Phương tự coi mình là người cùng phe cánh với Dương Lăng, mỗi khi gặp y vẫn đều tôn kính gọi là đại nhân, tự nhún nhường xưng là môn hạ. Lúc này tuy đang ở trong cung nhưng lão vẫn rất cung kính giữ lễ. Nghênh đón Dương Lăng vào trong thư các xong, lão đích thân dâng chén trà ngon rồi mỉm cười mở lời:
- Đại nhân vào cung lúc nào vậy? Mấy ngày nay môn hạ cần phải xử lý tấu chương rất nhiều, mãi chưa đến quý phủ thăm viếng được. Môn hạ đang tính năm mới sẽ dẫn khuyển tử đến nhà thăm viếng ngài đây.

Dương Lăng cười đáp:
- Lão Tiêu chớ nên khách sáo. Trong triều còn có những quan viên mượn việc công trả thù riêng, các nha môn bất tuân chính lệnh, tiền phương đang có chiến tranh; những việc mà hậu phương phải làm cũng quan trọng không thua kém gì. Thực đã làm khó cho ông rồi.

Gương mặt già nua của Tiêu Phương thoáng đỏ lên, lão xúc động:
- Đa tạ đại nhân đã quan tâm, môn hạ cảm kích vô cùng. Lưu công công biết được những chuyện này đã nổi cơn thịnh nộ, mấy ngày nay đang ra lệnh cho bá quan lập tức trở về nha môn xử lý chính vụ, bận rộn thêm dăm bữa nữa thì sẽ thoải mái hơn.

Dương Lăng gật đầu, ngồi xuống bên mép giường. Nhìn thấy tên tiểu thái giám đang đứng chầu chực ngoài cửa, y bèn bảo:
- Lui xuống đi! Ở đây không cần ngươi hầu hạ nữa.

Đợi tấm rèm dạ nhung buông xuống sau lưng tên tiểu thái giám, Tiêu Phương mới sáp lại gần, nhỏ giọng hỏi:
- Đại nhân! Có phải là có chuyện quan trọng không?

Dương Lăng gật đầu đáp:
- Ừm! Quả là có chuyện muốn thương nghị cùng ông một chút, - đoạn y đem chuyện Chính Đức muốn đến Đại Đồng kể cho Tiêu Phương nghe.

Tiêu Phương vừa nghe liền nhảy dựng lên, vội vã xua hai tay phản đối:
- Vạn lần không thể được! Đúng ra đại nhân nên khuyên can Hoàng thượng, chỗ binh đao há lại có thể để cho Hoàng thượng dễ dàng mạo hiểm? Việc này không thể được, vạn lần không thể được.

Dương Lăng im lặng nhìn lão, đợi lão bình tĩnh trở lại rồi y mới nhẹ nhàng bảo:
- Thánh ý đã quyết! Tôi tới tìm lão Tiêu ông là muốn thương nghị cùng ông làm sao để thu xếp cho Hoàng thượng đi được đến Đại Đồng, việc trong kinh phải xử lý thế nào. Chuyện khuyên can sẽ không bàn tới nữa.

Lúc này Tiêu Phương mới định thần lại. Lão ngồi xuống cạnh bàn, vuốt râu, đôi mày bạc phơ cau tít, một lúc lâu sau mới khổ sở lắc đầu:
- Văn võ bá quan quyết sẽ không đồng ý.

Dương Lăng gật đầu đồng tình:
- Ừm! Việc này tôi cũng đã nghĩ đến, cho nên... Hoàng thượng chỉ có thể cải trang vi hành.

Y trầm ngâm một chút rồi nói tiếp:
- Vốn để bí mật gặp gỡ thủ lĩnh Đoá Nhan Tam Vệ, Hoàng thượng vẫn phải bí mật mà đi; cho dù không có bá quan ngăn cản thì hành trang cũng vẫn phải gọn nhẹ.

Nhưng…, tuy nói là cải trang vi hành nhưng số người bảo vệ cũng không thể ít được, cho nên tôi muốn rút lực lượng tinh nhuệ nhất từ Cấm quân, Kinh doanh, Nội xưởng và Đông xưởng để đi cùng Hoàng thượng. Ít nhất cũng phải... năm nghìn người, toàn bộ nhân mã sẽ cải trang thành quân binh tăng viện cho biên ải. Như vậy, năm nghìn nhân mã cũng không đáng kể, ít nhất cũng sẽ không khiến cho quan phủ địa phương và mật thám của phe giặc chú ý.

Dương Lăng thuật lại tình hình tỉ mỉ cho Tiêu Phương rõ. Nghe xong, Tiêu Phương suy nghĩ một hồi rồi hỏi:
- Đại nhân có đi cùng không?

Dương Lăng cười khổ sở đáp:
- Nếu tôi không ở cạnh trông coi Hoàng thượng thì sao yên tâm cho được? Chỉ sợ lúc đó muốn ăn ăn không nổi, muốn ngủ ngủ không yên, đương nhiên tôi phải chăm sóc bên cạnh Hoàng thượng rồi. Tôi sẽ mượn cớ thị sát để có thể đồng hành cùng Hoàng thượng đến biên ải.

Sắc mặt của Tiêu Phương lập tức hoà hoãn trở lại, lão hơi trầm ngâm:
- Vậy thì... kế này có thể thực hiện được. Nhưng để cẩn thận, đến Đại Đồng rồi, đại nhân nên bí mật thông báo cho tuần phủ Đại Đồng là Hồ Toán biết. Hắn là quan viên quân chính (kiêm quân sự lẫn chính trị - ND) cao nhất của Đại Đồng. Hiện tại tuy Dương Nhất Thanh thống lĩnh binh sĩ tiền tuyến, Miêu Quỳ đốc quân song trong tay hắn có thể điều động ít nhất hai vạn nhân mã. Có hắn âm thầm phối hợp mới bảo đảm không gặp phải sơ hở gì.

Sau thoáng trầm ngâm, Dương Lăng gật đầu đồng ý:
- Tốt lắm! Ngoài ra, chuyện này sẽ không thể giấu được mấy vị đại học sĩ Nội các. Đến khi đó Hoàng thượng sẽ mượn cớ long thể suy bệnh để lần lữa mấy ngày, áng chừng đợi bọn tôi đến Tuyên Phủ rồi, mới sẽ nhờ lão Tiêu ông thông báo cho hai vị đại học sĩ Lý, Dương.

Khi đó ván đã đóng thuyền, bọn họ cũng chỉ đành phải giúp giấu giếm cho. Có ba vị tọa trấn kinh sư thì tôi yên tâm rồi, còn về những quan viên khác... Ba đại học sĩ Nội các cứ hiểu dụ(4) Lục Bộ Cửu Khanh, tuyên bố với toàn bộ quan viên bên dưới rằng Hoàng thượng long thể bất an, tạm thời không thể thăng triều là được.

Tưởng tượng đến lúc Lý Đông Dương và Dương Đình Hoà phát hiện Hoàng thượng mất tích sẽ nổi trận lôi đình như thế nào, Tiêu Phương không khỏi cảm thấy nhức đầu. Lão đành thở dài:
- Thôi được, phải xin Hoàng thượng hạ mật chỉ vậy! Bằng không môn hạ sẽ không kiềm nổi hai vị đại học sĩ đâu.

Lão suy nghĩ một chút rồi lại hỏi:
- Ngoài ra, việc lập trữ vương trấn thủ(*) sẽ được thu xếp thế nào?
(*) nguyên văn là “kiến trữ cư thủ”, trữ vương: người được chỉ định kế nhiệm ngôi vua.

Dương Lăng trố mắt hỏi:
- Lập trữ vương săn thú(*)? Lập trữ vương săn thú gì?
(*) nguyên văn 'kiến trữ thu thú', do hai chữ 'cư thủ' (jū shǒu, nghĩa canh giữ) và 'thu thú' (qiū shòu, nghĩa đi săn) đọc na ná nhau, nên Dương Lăng mới hiểu lầm

Dương Lăng đã lộ dốt. Y chỉ từng nghe nói hoàng đế triều Thanh hằng năm vào mùa thu thường đến Mộc Lan săn bắn, nên việc rời cung săn bắn gọi là “thu thú”. Chẳng lẽ rời kinh còn được gọi là săn thú, sao thời Minh cũng có cái thú đi săn này này?

Tiêu Phương cũng ngẩn người. Lão chợt sực nhớ vị đại nhân này chỉ đậu tú tài, vào kinh một bước lên trời mới trở thành bầy tôi quyền cao chức trọng, cho nên y không hiểu lắm về chế độ triều đình cũng là lẽ thường. Lão bèn thư thái cười đáp:
- Lập trữ vương trấn thủ là pháp lệnh mà các đời triều đình bắt buộc phải tuân theo. Đã gần trăm năm Hoàng thượng Đại Minh chưa từng rời kinh, bình thường không ai nhắc đến thể chế cũ này, chẳng trách đại nhân không nhớ.

Tiêu Phương hớp một ngụm trà, giải thích tiếp:
- Hoàng đế thân chinh ra trận hoặc giả tuần du thiên hạ, đều phải ra lệnh cho thái tử ở lại canh giữ kinh thành, gọi là “giám quốc”. Nếu như Hoàng thượng chưa có con nối dõi, hoặc thái tử tuổi còn nhỏ không thể trông nom quốc sự, thì phái hoàng đệ làm giám quốc cho, cũng có thể châm chế được.

Năm xưa khi Anh Tông bắc chinh, ngài đã phái hoàng đệ là Thành Vương ở lại trông giữ. Đương kim Hoàng thượng chưa có con nối dõi, cũng không có anh em ruột thịt, vậy chỉ có thể tạm thời tìm một vị thế tử(5) lập làm người kế vị, có người kế vị rồi mới bàn đến trấn thủ vậy.

Dương Lăng nhíu mày hỏi:
- Hoàng thượng tuổi xuân đang thịnh, hiện mới chỉ mười sáu, có cần phải lập trữ vương này nọ to chuyện như vậy không?

Tiêu Phương vội vàng giải thích:
- Đại nhân! Đây chỉ là một quy định phải có, lo trước khỏi họa sau mà thôi. Nếu như Hoàng thượng đã bí mật rời kinh thì đương nhiên việc phong lập này cũng chỉ là soạn mật chỉ. Đến lúc đó cũng chỉ có Lục Bộ Cửu Khanh và ba đại học sĩ biết được chuyện này, cho dù là thế tử phiên vương được lập cũng không hề biết đến việc ấy. Hoàng thượng hồi kinh lại hủy đi ý chỉ đó là xong.

Dương Lăng nghe xong mới cảm thấy yên tâm, nhưng việc lập người kế vị chính là chuyện của Hoàng thượng, xem ra chuyện này vẫn phải do Chính Đức quyết định. Dương Lăng đang do dự không biết có nên quay lại cung Càn Thanh gặp Chính Đức hay không thì chợt nghe có tiếng tiểu thái giám bên ngoài kêu:
- Đại học sĩ đang thương nghị quốc sự với Dương Lăng Dương đại nhân. Ngài cứ để công văn ở đó, chốc nữa sẽ quay lại lấy.

Dương Lăng cất giọng hỏi:
- Chuyện gì vậy? Ai đưa công văn đến?

Tên tiểu thái giám đứng gác bên ngoài cung kính đáp:
- Hồi bẩm đại nhân! Là lang trung Nghiêm Tung của bộ Hộ, nói có tấu chương về việc chuẩn bị lương thảo và điều động phu dịch cần trình cho đại học sĩ.

Nghiêm Tung không phải là người ngoài. Phẩm quan của hắn thấp kém cho nên hắn rất biết điều, hiếm khi đến nhà Dương Lăng mà chỉ thông qua phu nhân làm công tác ngoại giao, thủy chung vẫn bảo trì quan hệ mật thiết với nhà họ Dương.

Dương Lăng sai phái ba tỉnh Giang Nam, Hồ Nam, và Thiểm Tây, mỗi nơi cắt cử một vùng, một huyện, một tỉnh trồng thử những giống cây lương thực mới. Tuy lúc này giống lương thực và những người nông dân được đào tạo vẫn chưa được phái đi, nhưng y đã sớm ra lệnh cho ba tỉnh đo đạc và tính toán ruộng đất, nắm rõ tình hình đất đai trồng trọt nơi đó, chuẩn bị nông cụ và thuyết phục tá điền. Tất cả những việc này đều thông qua bộ Hộ ban bố thành mệnh lệnh hành chính.

Đối với việc chưa trồng thử nghiệm mà đã cho trồng trọt thí nghiệm khắp cả một tỉnh, Hàn Văn vẫn giữ vững ý kiến phản đối. Mặc dù Tuần phủ Thiểm Tây là người cùng phe cánh được Lưu Cẩn bổ nhiệm, tận hết sức lực chấp hành mệnh lệnh này, song phản ứng của Hàn Văn đối với tin tức truyền đạt từ trên xuống lại hết sức tiêu cực. Nếu không nhờ có Nghiêm Tung, là một Lang trung nho nhỏ của bộ Hộ, đứng giữa điều đình và liên lạc giữa hai bên thì không biết Dương Lăng sẽ còn lao tâm khổ trí biết bao nhiêu mà kể, tuyệt sẽ không an nhàn như hiện tại.

Dần dà hình tượng vốn có về Nghiêm Tung là một đại gian thần trong lòng Dương Lăng đã tiêu tan. Người này tuy đam mê quyền lực nhưng lại không háo sắc, không tham tiền tài, đơn giản chỉ là một kẻ cuồng sự nghiệp. Dương Lăng có cảm nhận rất tốt về hắn, đã coi hắn như tâm phúc đắc lực của mình, cho nên nghe vậy liền bảo:
- Gọi hắn vào đi!

Nghiêm Tung ôm một chồng tấu chương bước vào, đưa mắt nhìn Dương Lăng song vẫn dựa theo quy củ phẩm hàm mà thi lễ với Tiêu Phương trước, sau đó mới quay sang thi lễ với Dương Lăng. Hắn nhũn nhặn cười nói:
- Hạ quan không biết đại nhân đang cùng đại học sĩ thương nghị quốc sự, đến thực mạo muội rồi. Những tấu chương này chỉ báo cáo tình hình lương thảo và quân dịch, quan phủ các địa phương cũng không dám qua loa với việc lớn như dụng binh, họ không dám trì hoãn giấu giếm gì cho nên cũng không có gì hệ trọng.

Dương Lăng cười nói:
- Việc này các vị biết phải làm thế nào rồi. Nếu có gì thật sự khó xử thì cứ đi tìm Lưu công công, ông ấy đang rất háo hức được vẫy vùng, đang lo lắng không có chỗ để ra tay đấy. Bản quan sẽ không xen vào đâu.

Tiêu Phương và Nghiêm Tung nghe xong đều bật cười. Dương Lăng mỉm cười nói tiếp:
- Đừng khách sáo nữa, ngươi cũng ngồi xuống đi, bản quan đang có một việc lớn thương nghị cùng lão Tiêu. Ngươi cũng không phải là người ngoài, cùng nghe luôn đi.

Nghiêm Tung dạ một tiếng, ngồi khép nép xuống chiếc ghế dựa mũ quan cạnh giường, mỉm cười nói:
- Lúc hạ quan còn ở Hàn Lâm viện thì cả ngày chỉ chơi đùa với bút, viết lách ít văn chương thơ cú. Từ khi chuyển sang bộ Hộ suốt ngày tiếp xúc với lương thảo gạo tiền, mới cảm thấy tài học nông cạn, sức không bằng người. Thật như đại nhân có chuyện quan trọng, hạ quan đành xin ngóng cả hai tai, trái nghe phải đoán vậy.

Dương Lăng bực mình cười đáp:
- Chuyện này vô cùng quan trọng. Bản quan vốn biết ngươi tính tình nghiêm cẩn, hành sự ổn thỏa nên mới muốn ngươi cùng tham nghị, nếu chỉ nghe thôi thì không được.

Dương Lăng phải đi cùng Chính Đức đến Đại Đồng mà việc trồng thử lương thực mới lại không thể gác lại, rất nhiều việc lớn đều cần phải bàn giao cho gã tâm phúc này. Vốn y cũng không muốn giấu giếm hắn nên bèn thuật lại sự tình một lần nữa.

Nghiêm Tung lắng nghe, khoé miệng mang nụ cười nhẹ. Nghe nói Hoàng đế muốn cải trang rời kinh đi tuần, sắc mặt hắn cũng không hề có vẻ gì là kinh sợ, nghe đến việc an bài của Dương Lăng và Tiêu Phương, hắn cũng liên tục gật đầu, mãi đến khi nghe việc lập trữ vương trấn thủ, đôi mày rậm của hắn mới thoáng nhíu lại. Hắn trầm ngâm một lúc lâu mới lo sợ nói:
- Hạ quan cho rằng... việc này không ổn.

Dương Lăng và Tiêu Phương kinh ngạc nhìn nhau, Tiêu Phương vuốt râu bảo:
- Ừm! Duy Trung có kiến giải gì thì đừng ngại, cứ nói ra nghe thử.

Nghiêm Tung chần chừ một chút rồi đáp:
- Hạ quan cho rằng việc Hoàng thượng đi tuần phương bắc, hai vị đại nhân sớm đã tính toán sẵn trong lòng, hẳn cho rằng sẽ không có gì hung hiểm, vậy cớ gì phải rập theo cái lệ cũ là lập trữ quân trấn thủ?

Năm xưa Lưu Bang nhà Hán từng bị bốn mươi vạn thiết kỵ Hung Nô vây hãm trên Bạch Đăng sơn, nhưng thời thế xưa nay đã khác. Mảnh đất trải dài phía bắc và tây Đại Đồng đều đã nằm trong tay Đại Minh ta. Giặc Thát tuy đang tập kích quấy nhiễu, Đoá Nhan Tam Vệ tuy chưa hẳn đã trung thành, nhưng về binh mã thì Đại Minh ta lại chiếm ưu thế.

Hoàng thượng có thể đến Đại Đồng trước, sau đó mới báo tin cho Đoá Nhan Tam Vệ. Trong thời gian đó sẽ thu xếp điều binh khiển tướng, an bài ổn thỏa, chiếm hết thiên thời, địa lợi, nhân hoà, thì cho dù là Thát Đát hay Đoá Nhan Tam Vệ cũng sẽ không thể thừa cơ tấn kích. Nhưng nếu lập trữ vương trấn thủ thì ngược lại sẽ mang đến nhiều mối nguy hiểm và hậu họa vô cùng.

Dương Lăng lo lắng hỏi:
- Nghĩa là thế nào? Ngươi hãy nói rõ hơn đi!

Nghiêm Tung cưa quậy thân thể gầy như cây sậy, liếm môi đáp:
- Đại nhân! Họa không nằm ở bên ngoài mà là ở bên trong. Đại nhân thử nghĩ xem: Hoàng thượng ở bên ngoài, nếu như gặp chuyện khốn khó như bị vây hãm, những người đi theo bảo vệ đương nhiên sẽ tận lực hộ giá, còn trong triều như rắn mất đầu, bá quan văn võ tất sẽ trên dưới một lòng, hy vọng quân vương sớm ngày trở lại.

Việc Hoàng thượng không ở trong cung chưa hẳn sẽ thật sự che giấu được bá quan văn võ, cùng lắm là bọn họ e ngại lòng người hoang mang nên vờ như không biết. Nhưng giả như Hoàng thượng đã lập người kế vị..., khó dám đảm bảo sẽ không có kẻ mang dị tâm.

Hoàng thượng lâm triều chưa trọn một năm, căn cơ chưa ổn, Lục Bộ Cửu Khanh há sẽ đều trung thành? Giả như có người mang ý niệm ủng hộ vua mới, kiến công lập nghiệp thì cho dù Hoàng thượng vốn không có gì nguy hiểm, sợ rằng cũng sẽ có kẻ tiết lộ tin tức cho giặc Thát. Còn nếu như Hoàng thượng đang bị vây hãm, vậy sẽ càng...

Dương Lăng vừa nghe liền bừng tỉnh. Người kế nghiệp chưa được quyết định, bá quan văn võ tất sẽ tận tâm cống hiến và ra sức tranh giành sự yêu mến của Hoàng đế. Còn nếu người kế nghiệp đã được xác định, Hoàng đế lại ở nơi nguy hiểm mà bất cứ lúc nào cũng có thể bị kẻ khác thay thế, vậy thực sẽ rất nguy. Bá quan văn võ tất sẽ có mưu tính riêng cho mình, ngáng chân cấu xé lẫn nhau, vậy sẽ lỡ hết đại sự.

Thêm nữa, sau khi Chính Đức kế vị, triều chính đổi thay, đầu tiên là một nửa số thượng thư Lục Bộ bị cho bãi chức, tiếp đó ba đại học sĩ lại mất đi hai, bá quan văn võ bị liên lụy nhiều vô số kể. Một số lão thần sớm đã sinh lòng oán hận với Hoàng thượng, cho dù là họ có ý định lập một vị vua mới có ích cho giang sơn hay là có tư tâm, muốn ủng hộ lập nên một vì vua mới, kiếm công phò tá quân vương cũng vậy, e rằng bọn họ sẽ chỉ khoanh tay đứng nhìn, thậm chí có thể còn ném đá xuống giếng nữa.

Như vậy, việc lập trữ vương trấn thủ sẽ trở thành chuyện không đề phòng chưa hẳn đã có họa, mà có đề phòng thì nhất định sẽ có họa lớn. Tiêu Phương lăn lộn lâu năm chốn quan trường, vừa nghe liền thông suốt điểm kỳ diệu trong đó ngay.

Dương Lăng bỗng vỗ đùi đánh đét nói:
- Phải à! Nếu đã như vậy, kiến nghị lập trữ vương trái lại sẽ khiến Hoàng thượng sa vào hiểm địa. Ngươi suy nghĩ rất phải, việc lập trữ vương trấn thủ tuyệt không thể làm, là ta suy xét chưa chu toàn rồi.

Nghiêm Tung khom người khẽ cười đáp:
- Không dám! Hoàng thượng bản tính thượng võ, đại nhân có phần lo lắng cũng là để Hoàng thượng không phải lo âu về việc cung đình, mới có thể như cá gặp nước mà thản nhiên đi tuần du bên ngoài.

Tiêu Phương vuốt râu đưa mắt nhìn Nghiêm Tung, khẽ thở dài:
- Đến cửu biên tái ngoại, mạo muội dấn thân nơi đầu giáo mũi kiếm, nguy hiểm khôn lường, quả nên suy xét mọi mặt như ngươi. Ừm! Đúng là hậu sinh khả úy, hậu sinh khả úy!

Tiêu Phương thuộc làu các điển chương và quy định, Nghiêm Tung lại thông thạo thế sự nhân tình. Có hai người một già một trẻ rất có tiềm năng trở thành “gian thần lộng quyền” này xem xét cặn kẽ, Dương Lăng đứng giữa cân nhắc chọn lựa, việc Chính Đức cải trang rời khỏi kinh sư được an bài hết sức cẩn thận. Chuyện trò đến lúc trời gần nhá nhem, ba người mới vui vẻ chia tay.

Lòng như tấu nhạc, Dương Lăng vui sướng rời khỏi cổng cung, chui vào trong chiếc kiệu quan, đám người hầu nâng chiếc kiệu lớn lên. Ngũ Hán Siêu đang ngồi tĩnh tọa, thấy y trở về bèn thu thế lại nhường chỗ cho y chui vào. Dương Lăng vào trong kiệu, vừa ngồi xuống liền áy náy:
- Đã làm phiền Hán Siêu rồi! Với tài học của mình, huynh vốn có nhiều chỗ để dùng, giờ lại bảo huynh bảo vệ che chở cho ta, ha ha! Đợi mấy ngày nữa đi, chờ yên ổn rồi, ta sẽ bổ nhiệm cho huynh một chức quan.

Ngũ Hán Siêu cười đáp:
- Đại nhân không cần phải khách sáo, kẻ hèn thương thế chưa khỏi, nghỉ ngơi thêm mấy ngày cũng tốt. Khi còn ở trên núi, thông thường mỗi lần tĩnh tọa là suốt một ngày, cho nên quả thực cũng không cảm thấy buồn tẻ.

Trong lúc hai người chuyện trò, chiếc kiệu đã được nhấc lên, lắc lư di chuyển trên đường.

Chiếc kiệu rời khỏi sân rồng lát đá xanh, rẽ vào một phố lớn phồn hoa. Ngũ Hán Siêu đang quay đầu giảng giải tâm pháp nội công cho Dương Lăng thì bất chợt ngừng lại, thân dưới thoáng nhích, cả thân trên đột nhiên dịch sang ngang nửa thước, một thanh kiếm bén ngót lạnh lẽo từ ngoài rèm kiệu đâm vào. Một kiếm đâm hụt, kẻ ra tay cũng phát hiện được, “xoạt” một tiếng trường kiếm bèn được rút về.

Lúc này ngoài kiệu hỗn loạn, một loạt những âm thanh huyên náo vọng vào. Ngũ Hán Siêu mắng khẽ:
- Quả nhiên có thích khách!
Dứt lời chàng quơ lấy thanh trường kiếm bên cạnh, búng người phóng ra ngoài.

Nhát kiếm vừa nãy khiến cho Dương Lăng trông thấy mà khiếp vía vô cùng. Ngoài kiệu tiếng binh khí chạm nhau vang lên dồn dập xen lẫn với những tiếng la hét ầm ĩ của bá tánh trên đường, sau đó có tiếng con gái chửi mắng vọng lại xa dần, lại nghe Ngũ Hán Siêu quát tháo: "Bảo vệ đại nhân", rồi không còn tiếng động gì nữa.

Dương Lăng thoáng định thần lại, vén hờ rèm kiệu, thấy bốn tay thị vệ đang căng thẳng bao vây chung quanh. Gần cuối năm nên nhiều người dân ra đường mua đồ sắm tết đông đúc, nơi này lại là con đường cực kỳ phồn hoa, đám đông nhốn nháo hoảng loạn quanh đấy vẫn còn trốn chạy, trên đường vứt bừa bãi nào là đầu heo, nào là bàn thờ, vàng mã, ... ngổn ngang hỗn loạn.

Dương Lăng vén rèm bước ra ngoài quát hỏi:
- Ngũ huynh đâu?

Một tay thị vệ cầm đao, vừa căng thẳng nhìn bá tánh đang chạy tán loạn khắp nơi vừa đáp:
- Dạ đã đuổi theo nữ thích khách che mặt nọ rồi.

Dương Lăng thở phào một hơi, ra lệnh:
- Cử một người đi bảo người của Ngũ thành binh mã ty mau đến trấn áp khu vực, tình hình càng hỗn loạn thì....

Y còn chưa dứt lời, mắt đã thấy một bóng hình yêu kiều mà mau lẹ chợt xuất hiện, tay thị vệ bị kẻ đó đá văng vào trong đám người, mồm hộc máu tươi.

Kẻ vừa xuất hiện hết sức nhanh nhẹn, kiếm loé như chớp, một tay thị vệ khác vừa cảnh giác vặn người bổ một đao đã bị một kiếm đâm xuyên vai. Kiếm lui chân tới, tên thị vệ bị đá quay một vòng văng vào giữa đám đông. Dương Lăng chỉ cảm thấy hông bị siết lại, y đã bị người ta ôm chặt, bên tay vẳng lại giọng nữ khẽ quát:
- Mau đoạn hậu! Gió rát, ai nấy về chùa! (từ lóng: ý nói tình thế không tốt, mọi người rút lui)

Dương Lăng chân không chạm được đất, bị kẻ đó kẹp nhảy vào trong đám đông, rẽ quanh rẽ quẩn rồi tiến vào một con hẻm chưa chong đèn. Con hẻm không sâu, nháy mắt đã ra khỏi đầu hẻm, đã có một cỗ xe ngựa đợi sẵn. Tay kẻ đó thoáng vung lên, ném bay Dương Lăng vào trong xe, rồi co người nhún chân nhảy vọt lên xe, quát:
- Lập tức rời thành!

Dương Lăng bị ném ngã vào trong xe, đầu vàng mắt hoa, vừa mới ngẩng đầu lên liền có một người nữa xông vào, chen ngồi cạnh y. Kế đó y bị kẻ kia túm lấy cổ áo nhấc lên.

Dương Lăng hoảng hốt chống tay gượng dậy. Y cảm thấy tay vịn vào một khối thịt mềm mại nở nang, vừa phát hiện ra là một cặp đùi săn mẩy chắc nịch thì cả người y đã bị ấn về phía sau, đập vào thanh xe "bộp" một tiếng, một lưỡi kiếm sắc lẹm lạnh lẽo đã kề sát trên cổ.

Dương Lăng định thần lại, thấy trong xe treo một cây đèn bão. Dưới ánh đèn, kẻ đó gỡ khăn che mặt xuống, toàn thân mặc đồ đen, da trắng như tuyết, tôn lên một vẻ đẹp không nhiễm bụi trần.

Gương mặt xinh xắn đó thanh nhã mà thoát tục, rực rỡ rạng ngời, một cây trâm ngọc bích màu xanh lá óng ánh cài trên mái tóc đen mượt, dưới hàng mi cong cong là một đôi mắt xinh đẹp lóe lên vẻ lạnh lùng và nghiêm nghị vô cùng.

Dương Lăng thoáng sững người, bật thốt:
- Dương Khóa Hổ Hồng Nương Tử?

Người con gái xinh đẹp vận bộ đồ bó màu đen nọ thoạt tiên ngẩn ra, sau đó nhếch miệng cười, thấp thoáng hàm răng trắng đều như bắp:
- Thì ra ngươi đã biết rõ tông tích của ta. Không sai, ta chính là Thôi Oanh Nhi! Xưởng đốc đại nhân, dù bản lĩnh ngươi to như vậy mà còn không phải đã rơi vào trong tay ta đó ư?

Nàng thoáng lật mũi thanh đoản kiếm, sống kiếm ấn vào cổ Dương Lăng, khuôn mặt xinh đẹp nghiêm lại, giọng lạnh lùng quát:
- Trượng phu của ta đâu? Có phải đã trúng phải độc thủ của ngươi rồi không?

Nụ cười thoáng qua kia như "bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước", nét mặt tươi cười tựa như "mây phá, trăng ra, hoa giỡn bóng", rúng động lòng người. Trong chớp mắt vẻ đẹp rạng ngời như bóng ngựa qua khe cửa, thoáng cái đã không thấy tăm hơi, trên khuôn mặt thanh tú lạnh lùng chỉ còn lại một đôi mắt đang nhìn y chằm chằm đầy thù hận.




Chú thích:

(1) Nguyên văn "Khanh bản giai nhân".
Ngoài nghĩa là người đẹp, giai nhân cũng có nghĩa là người tốt, chỉ bực quân tử.

Hán Vũ đế trong "Thu Phong từ" có câu: "Lan hữu tú hề cúc hữu phương, huề giai nhân hề bất năng vong." (Ý: Lan đẹp có cúc mới có hương thơm, gần người quân tử không thể mất nước).

Cụm từ "khanh bản giai nhân" được dùng với ý trách móc: "Ngươi vốn là người tốt, sao lại..."
Trong Đào Khản truyện, sách Tấn thư, có câu: “Khanh bản giai nhân, hà vi tùy chi dã?" (Ý: Ngươi là người tốt, sao lại theo làm (điều xấu)?).


(nguồn: http://baike.baidu.com/view/850350.htm)

(2) "Khởi Cư" nghĩa là sinh hoạt thường ngày; đây là quyển sổ ghi chép sinh hoạt hằng ngày của vua chúa

(3) nguyên văn "tước bôi" là loại chén rót rượu cao có ba chân thời xưa, hình giống con chim sẻ (chim tước), thường thấy trong phim Tam Quốc Diễn Nghĩa.

(4) người trên bảo cho các người dưới đều biết gọi là hiểu dụ, cũng như hiểu thị.

(5) từ thời Chu, con vua và các chư hầu đều được gọi là thế tử.





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
16-05-2012, 05:15 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 179 Rơi vào tay kẻ địch


Dịch: vo vong

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Monsoon

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Thúy Nhi cười phì một tiếng nói:
- Việc này không cần ông lo, nếu Hồng Nương Tử thả Dương Lăng đi thì biết ăn nói thế nào với các huynh đệ của trượng phu chứ? Hơn nữa mấy kẻ bên cạnh chúng ta hiện giờ đều là bè lũ với hai trăm tên đại đạo kia, hận Dương Lăng đến thấu xương. Bất luận Dương Hổ còn sống hay đã chết, Dương Lăng đều đừng hòng còn sống mà rời đi được.





Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 179 - Rơi vào tay kẻ địch

------------------------

Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 179 - Rơi vào tay kẻ địch

------------------------

Chương 179 - Rơi vào tay kẻ địch

----------------------------

Nhát kiếm đó từ ngoài tấm rèm đâm vào, thế kiếm hết sức tàn độc, vẻ như thể nhất quyết phải thành công. Trong lòng Ngũ Hán Siêu lửa giận bừng lên, bèn xách kiếm lao ra ngoài kiệu, thấy bốn gã thị vệ đang rút đao xông về phía tên thích khách đột nhiên tập kích kia, còn kiệu phu thì đã sợ hãi trốn qua một bên rồi. Y bèn lập tức rút kiếm lao tới, giao chiến với tên thích khách mặc đồ đen có thân hình nhỏ nhắn, che mặt bằng khăn đen kia.

Y đã nhận định trong lòng đây chính là đại đạo Thôi Oanh Nhi chưa kịp trốn đi. Giang hồ đồn rằng Thôi phu nhân xinh đẹp như hoa, thuần thục nghề cung ngựa, một thân võ nghệ còn lợi hại hơn trượng phu, người trong giang hồ tặng cho biệt hiệu là Dương Khóa Hổ. Ngũ Hán Siêu từng kiến thức võ nghệ của Dương Hổ, tuy còn kém xa mình, song lúc này trên người đang có nhiệm vụ nặng nề, đối mặt với nữ tử bịt mặt này cũng không dám sơ ý.

Hai bên giao đấu được vài hiệp, Ngũ Hán Siêu liền cảm thấy yên tâm, Dương Khóa Hổ chỉ có hư danh, võ nghệ thật ra cũng chỉ xấp xỉ với Dương Hổ. Đấu được một lát nữ tử kia cũng nhìn ra mình không phải là đối thủ của Ngũ Hán Siêu, đột nhiên quát lớn một tiếng, vung tay ném ra một thanh tiểu đao, đoạn thừa cơ trốn vào trong đám người.

Ngũ Hán Siêu vừa mới theo vào dưới trướng Dương Lăng, nếu có thể bắt được ả đại đạo này ắt là một công lớn, có thể nở mày nở mặt, y làm sao chịu bỏ qua, bèn lập tức tung người đuổi theo. Trong suy nghĩ của y, Dương Khóa Hổ đã sinh lòng sợ hãi, dựa vào võ công của y muốn bắt sống đối phương cũng chẳng phải chuyện gì khó khăn.

Nhưng nữ tử bịt mặt kia cực kỳ giảo hoạt, ỷ có thân hình nhỏ nhắn nên không ngừng rẽ trái rẽ phải trong đám người, dựa vào sự che chắn của dòng người khiến Ngũ Hán Siêu không cách nào bắt được. Đuổi theo chừng hai con đường, trong lòng Ngũ Hán Siêu chợt động, cảm thấy sự tình có điều không ổn.

Y vốn cho rằng nữ tử võ nghệ cao cường này chính là Hồng Nương Tử, một mình tới hành thích Dương Lăng, xem ra là đã ở vào đường cùng không còn ai để sai phái, do đó y mới yên tâm đuổi theo. Nếu lỡ như ả còn mai phục thêm người khác, dựa vào những thị vệ chỉ quen việc chiến đấu nơi sa trường, không giỏi về võ nghệ kia liệu có thể bảo vệ chu toàn cho đại nhân không đây?

Ngũ Hán Siêu nghĩ tới đây, không dám tham công đuổi theo tiếp nữa, tập tức quay người chạy về chỗ cũ. Khi về đến nơi chỉ thấy một đội quan binh đang vây quanh nơi đó, trên mặt đất có một thi thể, bốn gã phiên tử đều đã bị thương. Trái tim Ngũ Hán Siêu nhảy lên tận cổ họng, hoang mang chạy đến gần. Chỉ thấy một thị vệ đang dùng tay giữ chặt vai, máu tươi rỉ ra không ngừng song cũng chẳng để tâm tới vết thương của bản thân, hướng về phía đám quan binh tuần thành lớn tiếng gầm lên:
- Còn đứng ngây ra đó làm gì? Tổng đốc Nội xưởng đã bị quân giặc cướp bắt đi rồi, mau đi thông báo cho Ngũ Thành Binh Mã ti lục soát toàn thành, lệnh cho Kinh doanh (Trỏ doanh trại quân đội đóng ở khu vực kinh sư - ND) đóng chặt Cửu môn, mau đi!

Hôm qua Dương phủ bị tập kích, gian tặc đến xâm phạm gần như đã bị tiêu diệt hoàn toàn, tên thủ lĩnh đã trốn đi. Dựa theo lẽ thường thì cường đạo dù hung hãn đến đâu đi nữa, một khi đã bại lộ hành tung trước mặt quan phủ thì ắt sẽ cao chạy xa bay, không dám ở lại chỗ cũ nhưng quan binh tuần thành cũng không dám sơ ý chút nào. Dưới mệnh lệnh của cấp trên, các quan binh mười người lập thành một đội đi lại khắp thành, nơi nào có động tĩnh cũng đừng hòng giấu được.

Nơi này vừa mới xảy ra giao tranh bọn họ đã lập tức nghe tin mà tới, năm tên đại đạo phụ trách đoạn hậu có một tên trúng đao bỏ mạng, những kẻ còn lại thấy tình hình không hay liền lập tức tản đi, lẩn vào trong đám người rồi biến mất chẳng còn tung tích. Bốn gã thị vệ vừa lo lắng vừa tức giận, không kìm được nổi cơn lôi đình với lũ ngu ngốc kia.

Tổng đốc Nội xưởng bị bắt cóc ngay tại kinh sư, Ngũ Thành Binh Mã ti hay tin thì không ngừng kêu khổ, lập tức phái ra toàn bộ lực lượng. Các nha dịch người cầm đao kẻ cầm thương khí thế bừng bừng phong tỏa mọi con đường, năm bước một trạm gác nhỏ, mười bước một trạm gác lớn, toàn thành giới nghiêm.

Hình bộ nhân lúc cửa cung còn chưa đóng vội vã đưa tin vào trong cung. Chính Đức hay tin thì cả giận, lập tức hạ lệnh đóng chặt Cửu môn phong tỏa toàn thành, lại vội vã triệu Lưu Đại Hạ vào cung, lệnh cho ông ta quét sạch đám giặc cướp tụ tập làm loạn ở khu vực Bá Châu. Hình bộ, Kinh doanh, Đông xưởng, Tây xưởng, Cẩm Y vệ cũng nhận được thánh dụ, phái nhân thủ đi khắp nơi, khiến cho khắp kinh sư rơi vào cảnh gà bay chó chạy.

Các vị quan sai lão gia của các ti các bộ đều nhân cơ hội này để làm khó các gia đình giàu có, lấy cớ có người tố cáo mà đến tận cửa lục soát, tiện tay vơ vét những thứ đồ đáng tiền. Các phú thương giàu có sao chịu để cho đám sai dịch như lang như hổ đó vào nhà tìm kiếm, để cầu bình an chỉ còn cách bỏ ra chút tiền cho xong việc, đuổi đám quan sai lão gia ấy đi.

Thế nhưng lượt này đi rồi lượt sau lại tới, còn cái bóng của Dương Lăng thì vẫn chẳng thấy đâu, rốt lại thành ra giúp lũ người đó kiếm được một khoản tiền. Tin tức truyền lên trên núi, Ngô Kiệt hay tin không khỏi cả kinh, nếu Dương Lăng có mệnh hệ gì Nội xưởng coi như sụp đổ. Dù ông ta trước nay cơ cảnh bình tĩnh nhưng cũng bị tin tức này làm cho kinh hãi đến độ lòng dạ rối bời, nhất thời không nghĩ ra được chủ ý nào hay cả.

Duy có Hoàng Kỳ Dận là hết sức tỉnh táo, hỏi kĩ tình hình từ viên phiên tử đến báo tin, rồi kêu y lập tức trở về dặn dò đám người Ngũ Hán Siêu phải ở lại Hình bộ không được trở lại Dương phủ. Vẻ mặt lo âu, ông ta quay sang nói với Ngô Kiệt:
- Ngô đại nhân, xin chớ tự làm loạn trận cước, tên đại đạo đó bắt mà không giết, ắt là còn có mục đích khác, đại nhân tạm thời không có mối nguy về tính mạng đâu.

Ngô Kiệt trấn tĩnh trở lại, nói:
- Đúng rồi, bản quan hay tin mà kinh hãi quá, trong lòng chẳng nghĩ ra được chủ ý nào. Bọn chúng bắt đại nhân đi ắt có mưu đồ, phòng ốc trong kinh sư dày đặc, dân cư trăm vạn có dư, nếu mà ẩn nấp thì thực khó lòng tìm được, Hoàng lão có diệu kế gì không?

Hoàng Kỳ Dận nói:
- Phu nhân đang mang thai, lỡ mà hay tin đại nhân gặp nguy hiểm, với nỗi kinh hãi và lo lắng khó đảm bảo sẽ không có điều sơ sảy nào. Đại nhân cần lập tức phái người đi phong tỏa phủ Uy Vũ bá, không được để tin tức truyền vào trong phủ!

Ngô Kiệt nghe xong cả kinh, Dương Lăng chưa rõ sống chết, nhất thời chẳng biết tìm ở đâu. Y chỉ có một người con này, quả thực là một chuyện lớn không thể sơ xuất. Ông ta bèn quay sang nói với Liễu Bưu vừa hay tin chạy tới:
- Liễu thiên hộ, chuyện này giao cho ngươi đấy, nhất định phải bảo vệ Dương phủ an toàn, không được có điều sơ sảy!

Liễu Bưu thần sắc ngưng trọng, chẳng nói lời nào, vội vã ôm quyền rời đi. Ngô Kiệt suy nghĩ rồi tiếp:
- Nữ tặc đó bắt đại nhân đi, trong lòng thấp thỏm, chưa chắc đã dám ở lại trong kinh, có điều ả đã bắt mà không giết, chắc chắc là có mưu đồ, dù đi cũng không đi xa. Bành đáng đầu, Liên đáng đầu, Phùng đáng đầu, Dương thiên hộ, các vị mỗi người dẫn theo một đội quân, lập tức đến bốn cửa lớn của kinh thành tra hỏi xem có xe ngựa nào khả nghi không. Tìm kiếm thật kỹ, hãy nhớ mọi sự phải cẩn thận, đừng ép gấp quá, khiến cho lũ đạo tặc chó cùng rứt giậu.

Bốn người lập tức vâng lời, rồi cũng vội vã rời đi. Ngô Kiệt đưa mắt nhìn Hoàng Kỳ Dận, thở dài than rằng:
- Nay ta và ông chỉ có thể ngồi đây chờ tin tức, mong rằng đại nhân… người tốt sẽ được trời trợ giúp!

***

Dương Lăng bị lưỡi đao sắc bén kề lên cổ họng, trong lòng nghĩ thầm: “Hồng Nương Tử mạo hiểm như thế bắt mình đi, xem ra là còn chưa biết Dương Hổ đã trốn thoát. Nếu nàng ta biết tin tức chính xác của Dương Hổ, hẳn đã nghĩ cách trốn khỏi kinh thành rồi, sao dám mạo hiểm như vậy để bắt mình chứ? Cũng may mà nàng ta chưa biết trượng phu còn sống hay đã chết, ném chuột sợ vỡ đồ, do đó mới không dám giết mình. Mình vì chuyện này mà gặp họa, cũng vì chuyện này mà được an toàn, xem ra nhất thời không có nguy hiểm về tính mạng rồi.”

Xe ngựa đi nhanh rất xóc. Dương Lăng nghĩ đến đây, trong lòng thầm thở dài một hơi, lại đưa mắt nhìn khuôn mặt xinh đẹp trắng ngần của Thôi Oanh Nhi, bèn khẽ thở dài nói:
- Hôm trước cô còn là khách của ta, hôm nay ta lại là tù nhân của cô rồi. Dương phu nhân, bản quan đối với vợ chồng cô hết sức đúng mực, không hề có chút ác ý nào, cớ sao lại tập trung mấy trăm kiêu hùng, muốn giết cả nhà ta?

Thôi Oanh Nhi nghĩ đến mục đích của chồng mình, trong lòng thoáng qua một chút áy náy, nhưng ngay sau đó lại trầm mặt gằn giọng:
- Ngươi là quan, ta là giặc, quan và giặc vốn đã thế bất lưỡng lập rồi. Quan binh bắt giặc, giặc giết quan binh, đều là dựa vào bản lĩnh, còn cần có lý do gì sao?

Nàng nghĩ đến việc trượng phu sống chết chưa rõ, hai trăm thủ hạ đắc lực mà y dẫn theo gần như đã bị thư sinh trước mắt này giết sạch, không khỏi căm hận nghiến răng nghiến lợi, hằn học hỏi:
- Mau nói đi, trượng phu của ta hiện giờ thế nào rồi?

Dương Lăng thấy nàng quả nhiên không biết tin tức của Dương Hổ, trong lòng lại càng yên tâm hơn, bèn ung dung nói:
- Đám đạo tặc đó nửa đêm xông vào Cao Lão Trang, dưới sự bao vây của hơn ngàn quan binh đã bị tiêu diệt hoàn toàn, còn về Dương Hổ…

Hồng Nương Tử nghe vậy thần sắc lộ rõ vẻ lo lắng, vội vã hỏi:
- Chàng thế nào rồi?

Dương Lăng bấm bụng nói:
- Trên đùi gã trúng một tên, đã bị bản quan bắt sống, hiện giờ đang bị nhốt trong đại lao.

Dương Hổ trúng tên bị thương, sau đó bị bắt sao? Điều này nghe cũng có mấy phần đáng tin, với tính cách của Dương Hổ quyết không lý nào lại một mình bỏ chạy, mà nếu gã không bị thương, dựa vào võ công của quan binh muốn bắt được gã thì chẳng phải chuyện dễ dàng gì.

Hồng Nương Tử nhìn Dương Lăng vẻ bán tín bán nghi, cười lạnh một tiếng nói:
- Được, ta tạm thời tin ngươi, ngươi sống hay chết phải xem xem Dương Hổ giờ đây sống hay chết. Nếu để ta biết tin chàng đã không còn sống trên đời, ta sẽ dùng cái đầu ngươi để tế vong hồn của trượng phu ta!

Thôi Oanh Nhi đột nhiên thu kiếm lại, dùng cán kiếm vén rèm cửa sổ xe lên, đưa mắt nhìn ra bên ngoài một chút, sau đó bèn thay quần áo ngay trước mặt Dương Lăng, mặc vào một bộ quần áo bình thường, dáng vẻ thản nhiên như thể Dương Lăng là một người chết vậy.

Thứ nàng mặc bên trong tuy không phải quần áo lót, nhưng vì nàng eo thon ngực nở, chân dài mông cong, vóc dáng quyến rũ vô cùng, trong khoang xe lại chật hẹp, thỉnh thoảng có va chạm là lại một phen diễm phúc, nhưng rốt cuộc lại làm cho Dương Lăng thấy thiếu tự nhiên, ngoảnh đầu qua hướng khác.

Hồng Nương Tử nhanh chóng thay xong quần áo, đoạn yêu kiều quát bảo:
- Dừng xe!

Xe ngựa dừng lại, Hồng Nương Tử đưa tay chụp lấy cánh tay Dương Lăng, hệt như một chiếc vòng sắt quấn vào, khiến cho Dương Lăng chẳng thể giãy giụa. Hồng Nương Tử lạnh lùng quát:
- Xuống xe!

Nàng kéo Dương Lăng xuống xe, ngồi bên ngoài đánh xe là một đại hán râu quan nón mặc áo đay, Hồng Nương Tử nói:
- Hồ lão tứ, ra ngoài thành rồi hãy đánh xe đi một mạch về hướng bắc, sau đêm nay hãy tạm thời tránh đi, đợi khi gió yên sóng lặng thì trở về sơn môn.

Hồ lão tứ đó vốn là một đại đạo độc hành, sau bị Dương Hổ thu phục về rồi kết nghĩa huynh đệ, cái trò một mình đi lại giữa sự bao vây của quan phủ này trải qua đã nhiều, đối với tương lai nguy hiểm trước mắt căn bản chẳng để tâm là mấy, vẫn thản nhiên cất tiếng cười vang:
- Tẩu tẩu yên tâm, huynh đệ đi đây, tẩu tẩu nhớ bảo trọng!
Dứt lời bèn nhìn Dương Lăng cười gằn một tiếng, vung roi quất ngựa rời đi.

Dương Lăng có chút bất ngờ, nghĩ bụng: “Hồng Nương Tử chỉ là một đại đạo lục lâm, trong kinh sư này cũng có chỗ ở bí mật sao? Mình vừa bị bắt, ắt đang được tìm kiếm khắp toàn thành, nếu ở tại khách điếm hay gia đình bình thường nào đó, nàng ta làm sao đảm bảo rằng không bị phát hiện đây?”

Con hẻm này có chút vắng vẻ, đằng xa thỉnh thoảng mới có vài bóng người qua lại, Hồng Nương Tử thúc cán kiếm vào eo lưng Dương Lăng, thấp giọng nói: “Chớ có lên tiếng, đi theo ta! Nếu dám giở trò, ta sẽ cho ngươi đầu rơi xuống đất.” Nói xong bèn đưa tay đẩy Dương Lăng, ép y đi vào trong con hẻm âm u.

Kinh sư phân làm bốn lớp là cung thành, hoàng thành, nội thành và ngoại thành, nơi này đã là ngoại thành, không được xây dựng tường thành, nhưng vẫn thuộc vào phạm vi kinh sư. Nhân khẩu cư trú ở đây khá ít, đi ra khỏi con hẻm là một mảnh đất hoang vu, đi tiếp về phía trước nữa thì là một đạo quán còn chưa được xây dựng xong.

Trong đạo quán Lưu lão đạo đang rì rầm nói chuyện riêng với Thúy Nhi. Lưu lão đại đưa mắt nhìn mấy tên sơn tặc đang ôm vũ khí đi qua đi lại trước mắt, ngồi dựa vào hương án thấp giọng nói:
- Thật là thất sách, ta trù tính để nàng ra tay trước, chính là muốn nàng một kiếm lấy mạng gã họ Dương kia luôn, ai ngờ hắn thật quá giảo hoạt, còn chơi trò giấu thêm người trong kiệu, không biết giờ Hồng Nương Tử đã đắc thủ chưa?

Thúy Nhi cũng thấp giọng nói:
- Dương Hổ rất có uy vọng trong giới lục lâm phương bắc, hô một tiếng ắt có vô số người theo, có thể giúp ích rất nhiều cho đại kế của giáo chủ. Nếu Hồng Nương Tử thật sự có thể dùng hắn đổi về Dương Hổ, tính ra lại càng có lợi cho chúng ta, giết một tên thủ lĩnh Nội xưởng thì có lợi gì cho đại cuộc chứ?

Lưu lão đạo khẽ hừ một tiếng:
- Dương Hổ là sống hay chết vẫn còn chưa biết, nếu còn sống thì liệu có thật sự đã rơi vào tay quan phủ hay không cũng chưa biết. Quan phủ liệu có chịu bất chấp thể diện mà trao đổi con tin với đạo tặc không cũng vẫn chưa biết. Chúng ta đi theo ả mạo hiểm như vậy, còn cống hiến luôn cả hương đàn bí mật vẫn chưa hoàn thành này của bản giáo ra, nếu không có chút thu hoạch nào, biết ăn nói ra sao với giáo chủ đây?
Rồi lão lại thấp giọng:
- Ta đã an bài nhân thủ đi thăm dò tin tức chuẩn xác trong cung và trong nha môn. Nếu Dương Hổ căn bản không ở trong tay quan phủ, vậy thì cứ giết Dương Lăng, sau đó tạm tránh trong địa cung vài ngày, đợi phong ba lắng xuống một chút rồi sẽ rời đi.

Thúy Nhi cười phì một tiếng nói:
- Việc này không cần ông lo, nếu Hồng Nương Tử thả Dương Lăng đi thì biết ăn nói thế nào với các huynh đệ của trượng phu chứ? Hơn nữa mấy kẻ bên cạnh chúng ta hiện giờ đều là bè lũ với hai trăm tên đại đạo kia, hận Dương Lăng đến thấu xương. Bất luận Dương Hổ còn sống hay đã chết, Dương Lăng đều đừng hòng còn sống mà rời đi được.

Hai người đang nói chuyện, ngoài cửa chợt vang lên mấy tiếng động nhỏ, mấy người trong điện vội cầm binh khí lặng lẽ nấp vào hai bên cửa điện, phía xa có một âm thanh khe khẽ vang lên:
- Đừng lo, là đại tẩu trở về rồi.

Đám người trong điện mừng rỡ vô cùng, vội vàng bước ra nghênh đón, Lưu lão đạo và Thúy Nhi đưa mắt nhìn nhau, cũng vội bước ra theo.

Hồng Nương Tử và Dương Lăng bước vào trong điện dưới sự vây quanh của mấy hán tử tay cầm đao kiếm, trong điện không thắp đèn, bởi vì trời lạnh, mái điện lợp được một nửa thì tạm dừng, ánh trăng ánh sao từ trên trời chiếu xuống, khung cảnh cũng có thể nhìn thấy khá rõ ràng.

Hồng Nương Tử hạ giọng nói:
- Các huynh đệ đã an toàn trở về hết chưa?

Một tên đại đạo nói:
- Ba Lục Tử bị giết ở đó rồi, các huynh đệ khác đều không sao.

Nói rồi đá mạnh Dương Lăng một cái, cất tiếng mắng chửi:
- Cẩu quan, nhất định phải bắt ngươi đền mạng cho các huynh đệ!

Hồng Nương Tử lạnh lùng quát một tiếng:
- Dừng tay, Hổ ca của ngươi còn ở trong tay quan phủ, người này còn có tác dụng.

Lưu lão đạo thò đầu nhìn ra bên ngoài một chút, sau đó co đầu lại nói:
- Tốt rồi, người đã bắt được rồi, mọi người cũng an toàn trở về rồi, mau tránh vào trong mật thất đi, cẩn thận đừng để lộ hành tung!

Lão rón ra rón rén đi đến bên cạnh hương án, mày mò trên nền đá một hồi, đẩy một phiến đá ra, để lộ ra một cửa hang động tối thui. Có người đánh lửa lên, dẫn tất cả mọi người tránh vào trong mật thất dưới lòng đất đó.

Công trình trên mặt đất còn chưa hoàn thành, phía dưới này cũng rất sơ sài đơn giản, chỉ có ba căn phòng đá trống không, mấy bức tường đều lạnh ngắt. Có điều những người này đã quyết ý tạm lánh ở đây, đã chuẩn bị sẵn nước uống đồ ăn và đuốc thắp. Lúc này ngọn đuốc được thắp lên, chiếu sáng mọi thứ.

Hồng Nương Tử nhìn Dương Lăng bị hai tên đại đạo áp giải vào trong một căn phòng đá, xoay người lại cười nói với Lưu lão đạo:
- Tiên sinh đúng là thần cơ diệu toán! Thảo nào lại cứ phải để Thúy Nhi động thủ trước, hóa ra trong kiệu của Dương Lăng còn có cao thủ mai phục, nếu không nhờ tiên sinh dùng kế, chúng ta cứ thế xông lên để lộ hành tung, ắt khó mà bắt được Dương Lăng.

Lưu lão đạo ngẩn ra một chút, cười khan hai tiếng nói:
- Điều này… Khụ khụ, có tin tức gì của thủ lĩnh không?

Thôi Oanh Nhi vừa biết tin trượng phu bình yên vô sự, bèn vui vẻ kể lại:
- Vừa rồi hắn khai nhận rằng đã bắt được Hổ ca, Hổ ca hiện giờ chỉ bị thương, không có nỗi lo về tính mạng. Hôm nay sắc trời đã tối, đi lại trong thành hết sức khó khăn, tiên sinh có văn thư thông hành trong người, hẳn không bị kẻ khác hoài nghi. Ngày mai còn phiền tiên sinh đến đưa cho quan phủ một bức thư mật, yêu cầu đổi tên cẩu quan này lấy Hổ ca.

Lúc này từ trong căn phòng trống trải phía bên kia chợt vang tới mấy tiếng kêu lớn, Thôi Oanh Nhi lập tức đứng dậy chạy qua, thấy hai tên đại đạo kia đang muốn dùng hình với Dương Lăng, lập tức quát bảo:
- Các ngươi làm gì đấy?




Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
17-05-2012, 06:08 PM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 180 - Lại sinh thêm chuyện


Dịch: vo vong

Biên dịch: TheJoker

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Hai mắt sáng rực, Hồng Nương Tử buột miệng đáp:
- Đương nhiên là hủy bỏ những thứ sưu thuế đáng chết kia, không bắt trăm họ ở Hà Nam, Hà Bắc phải nuôi ngựa cho triều đình để rồi nhà tan cửa nát nữa, để trăm họ được sống cuộc sống yên lành, có cơm ăn, còn có thịt ăn, có quần áo mặc, không phải chịu đói chịu rét. Bản thân ta phải chịu khổ đã nhiều, ắt không bạc đãi nhân dân trăm họ.

Dương Lăng cười nhạt không ngớt. Thôi Oanh Nhi đỏ bừng mặt ngọc, lúng túng quát bảo:
- Ngươi cười cái gì? Ta nói sai cái gì sao?





Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 180 - Lại sinh thêm chuyện

------------------------

Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 180 - Lại sinh thêm chuyện


Vừa nhìn tình hình liền hiểu rõ mọi chuyện, Hồng Nương Tử lạnh lùng quát:
- Bỏ hắn ra, các ngươi ra ngoài!

Tuy hận Dương Lăng đến thấu xương nhưng dưới uy thế của Dương Khóa Hổ, hai gã đại đạo cũng không dám phát tác bừa bãi. Dù sao Dương Lăng cũng đã rơi vào trong tay rồi, chẳng sợ y trốn đi đâu được, hai gã bèn nhổ một bãi nước bọt về phía Dương Lăng, khẽ ôm quyền chào Hồng Nương Tử rồi bước ra ngoài.

Dương Lăng ôm ngực thở dốc, chậm chạm đứng dậy. Hồng Nương Tử hờ hững đưa mắt nhìn y, đoạn xoay người bước ra ngoài. Một lát sau nàng quay trở lại, đưa cho y một túi nước sạch và hai chiếc màn thầu, ôm bảo kiếm ngồi dựa vào vách đá, bảo:
- Ta ở đây trông coi ngươi, ăn xong rồi nghỉ ngơi đi. Ngày mai ngươi hãy tự tay viết một phong thư gửi đến quan phủ yêu cầu đổi người, ta đảm bảo cái mạng chó của ngươi sẽ giữ được.

Dương Hổ sớm đã trốn thoát mất rồi, nếu để nàng biết sự thật liệu mình còn sống được ư? Dương Lăng nhất thời chẳng có cách nào khác, đành cầm lấy túi nước và bánh màn thầu, ngồi xuống dựa lưng vào vách đá đối diện với nàng, khẽ thở dài:
- Lần đầu gặp mặt, phu nhân đang bỏ tiền mua lương thực cứu tế nạn dân, một lòng nhân từ, khá có tác phong hiệp nghĩa. Dương mỗ tuy thân ở triều đình, nhưng tự hỏi chưa từng làm chuyện gì có lỗi với trăm họ, cớ sao các vị lại muốn dồn ta vào chỗ chết vậy?

Y định nhắc tới chuyện ở hầm sưởi nhưng lại sợ cô ả này thẹn quá hóa giận khiến mình sẽ phải chịu thêm khổ sở, lời nói đã đến miệng đành nuốt trở về. Thôi Oanh Nhi cũng hơi nghẹn họng, nàng khựng lại một hồi rồi cười lạnh đáp:
- Ta cứu tế nạn dân là vì bản thân ta cũng là người cùng khổ, biết rõ nỗi khổ sở khi phải chịu đói chịu rét. Bọn ta không chỉ muốn giết ngươi mà còn muốn giết tất cả đám quan lại, lật đổ cái thiên hạ hại người này, xây dựng một triều đại mới.

Dương Lăng thở dài thườn thượt, nói:
- Cô cứu tế nạn dân cũng chỉ có thể cho bọn họ ăn no một bữa cơm. Thiên tai nhân họa không ngừng, trăm họ bữa nào cũng cần ăn, cô có bao nhiêu tiền bạc để mua sắm lương thực chứ? Đợi đến lúc kho lương của quan phủ cũng bị ăn hết cả rồi, cô kêu trăm họ trong thiên hạ phải ăn cái gì đây? Cô chỉ giúp được bọn họ nhất thời, còn ta đưa những thứ cây trồng từ nước ngoài về lại là kế sách dài lâu.

Đừng tưởng rằng chỉ có cô mới xót thương trăm họ! Thiên hạ hiện nay tuy có nhiều tệ nạn, nhưng triều đình không hề thối nát, các quan viên cũng có rất nhiều người thương dân như con. Cô muốn lập triều đình mới, vậy phải đánh bao nhiêu trận, chết bao nhiêu người đây? Đánh cho thiên hạ này trở nên tan nát, phá xong lại lập, nhưng sao bằng ủng hộ các đại thần thanh liêm chính trực trong triều, canh tân cải cách, trừ bỏ lũ tham quan ô lại để trăm họ được ăn no, được mặc ấm, có đất cày? Hơn nữa, chỉ dựa vào các người mà có thể lật đổ được thiên hạ này sao?

Hồng Nương Tử ngạo nghễ đáp:
- Quan binh giỏi lắm hay sao? Sơn trại của bọn ta bị tiễu trừ biết bao nhiêu lần rồi, đám quan binh đó có làm gì được bọn ta? Nếu nhân mã của tất cả các sơn trại tập hợp lại, chắc chắn sẽ là một đội tinh binh vượt hẳn quân đội triều đình. Muốn lấy thiên hạ, có gì là khó chứ?

Dương Lăng cười lạnh:
- Mơ tưởng hão huyền!

Thôi Oanh Nhi trừng mắt, Dương Lăng vội vã nói tiếp:
- Các người dựa vào địa lợi, quan binh tới tiễu trừ thì nấp vào trong núi sâu nên có thể an toàn thoát khỏi tay quan binh mà không tổn thất gì. Nhưng như thế mà cho rằng có thể đối phó với thiên quân vạn mã của triều đình sao?

Cô vào nam ra bắc, thấy nhiều hiểu rộng, phải biết rằng hoàng thất Đại Minh chính thống mang họ Chu, trong thiên hạ người tin phục nhiều vô số kể. Khi các người chỉ làm đại vương trên núi thì tưởng rằng điều này chẳng quan trọng gì, nhưng một khi thật sự muốn khởi binh tạo phản, liệu có bao nhiêu người tin phục mà đi theo đây? Còn bốn chữ Đại Minh chính thống kia thì lại có thể biến thành lương thảo, tiền tài, đao thương và binh sỹ, biến thành những lực lượng thật sự.

Thôi Oanh Nhi cười lạnh không đáp, Dương Lăng lại lấy can đảm nói tiếp:
- Cô nói là muốn lật đổ triều đình, thành lập một triều đình mới phải không? Được, ta hỏi cô, nếu Hồng Nương Tử cô là chủ nhân của thiên hạ, cô định tạo phúc cho nhân dân trăm họ bằng cách nào đây?

Hai mắt sáng rực, Hồng Nương Tử buột miệng đáp:
- Đương nhiên là hủy bỏ những thứ sưu thuế đáng chết kia, không bắt trăm họ ở Hà Nam, Hà Bắc phải nuôi ngựa cho triều đình để rồi nhà tan cửa nát nữa, để trăm họ được sống cuộc sống yên lành, có cơm ăn, còn có thịt ăn, có quần áo mặc, không phải chịu đói chịu rét. Bản thân ta phải chịu khổ đã nhiều, ắt không bạc đãi nhân dân trăm họ.

Dương Lăng cười nhạt không ngớt. Thôi Oanh Nhi đỏ bừng mặt ngọc, lúng túng quát bảo:
- Ngươi cười cái gì? Ta nói sai cái gì sao?

Dương Lăng gật đầu đáp:
- Đúng, đều đúng hết! Vậy để ta hỏi cô, năm nay Hà Nam lũ lụt, Thiểm Tây hạn hán, Sơn Đông bị nạn châu chấu ngợp trời, còn Thổ Dao làm loạn suốt một dải Miêu Sơn. Cô hủy bỏ sưu thuế, vậy lấy cái gì để nuôi dưỡng quân đội của cô, nuôi dưỡng những quan viên trong triều đình của cô, lấy cái gì để cứu tế cho những người dân sắp chết đói? Trong cơn thiên tai nhân họa, lương thực chỉ thu hoạch được không tới ba phần mười, cô làm thế nào để nhân dân trăm họ không phải lo về cơm ăn áo mặc đây?

Thôi Oanh Nhi hơi ngẩn người. Xưa này nàng chỉ oán hận quan phủ vô dụng bất tài nên muốn giành lấy giang sơn để mọi người dân đều được sống những ngày tốt đẹp, thực chưa từng nghĩ tới những điều này. Nàng cắn chặt môi, đáp:
- Những tên phú hào địa chủ đó đều có đất đai vạn khoảnh, dù gặp năm thiên tai trong nhà cũng ăn đủ mặc đầy. Ta có thể để trăm họ ăn lương thực của những kẻ đó, dù sao cũng không thể đến nỗi phải chết đói.

Dương Lăng lắc đầu:
- Khi đó những người phú hào kia cũng là con dân của cô, tài sản đất đai của bọn họ đều phải qua bao nhiêu đời mới tích cóp được, cô muốn ép bọn họ phải tạo phản sao? Hơn nữa số phú hào trong thiên hạ thực chẳng có tới một phần mười, tiền tài tụ tập trong tay một số ít người bọn họ thì coi như là giàu đến chảy mỡ, nhưng sau khi chia ra cho trăm họ thì chẳng qua mỗi người cũng chỉ có bát cháo mà ăn. Triều đình dẫn trăm họ đi ăn lương thực của nhà giàu, đây chính là cách của cô sao?

Cô lại nói đến việc hủy bỏ mã chính (Chính sách bắt buộc người dân phải nuôi ngựa cho nhà nước - ND), không sai, ta cũng từng nghe nói việc quan phủ hà khắc, ép cho trăm họ khổ sở vô cùng, điều này triều đình cần phải sửa đổi từng chút một, nhưng chẳng lẽ không nuôi ngựa nữa lại là phương cách tốt hay sao? Hiện nay giặc Thát đang xâm phạm biên cảnh, thiết kỵ của giặc có tới mấy vạn, nếu không có kỵ binh, cô dựa vào cái gì để bảo vệ giang sơn và trăm họ? Giặc Thát tới rồi, sự tàn độc của chúng còn chẳng hơn sưu thuế cả trăm lần ư?

Nơi duyên hải giặc Oa làm loạn, có cần đóng thuyền không? Có cần huấn luyện thủy quân không? Chặt cây, đóng thuyền cần dùng đến lao dịch, nuôi binh luyện binh cần thu sưu thuế, đóng thuyền may áo giáp chỗ nào cũng cần phải bỏ tiền. Trong lòng cô chỉ nghĩ cần đối xử tốt với trăm họ, nhưng cô có làm được không?

Hồng Nương Tử nghe mà mặt mũi tái hẳn đi, Dương Lăng lại tiếp tục tàn phá sự tự tin của nàng, chẳng hề lưu tình:
- Sưu thuế, nuôi ngựa không thể không cần, nhưng phải xem thi hành thế nào. Quan lại, đồn điền không thể không sửa, nhưng phải xem sửa như thế nào. Quản lý hành chính, xử lý sưu thuế các người có hiểu không? Các người chỉ biết phá hoại, không biết xây dựng!

Hồng Nương Tử không kìm được, quát:
- Câm miệng! Mặc cho ngươi ngụy biện thế nào, Chu Hồng Vũ kia vẫn có xuất thân như thế, chẳng phải y cũng trị được thiên hạ đó sao?

Dương Lăng ung dung đáp:
-Hoàng đế Hồng Vũ xuất thân thấp kém nhưng chẳng phải là hạng võ phu bất học vô thuật, hơn nữa ông ta nổi lên chống lại nhà Nguyên tàn bạo, bên cạnh có biết bao người tài trí giúp đỡ chứ? Còn cô thì sao? Chắc cô cũng biết trái tim người đọc sách trong thiên hạ đứng về bên nào phải không?

Nếu thật sự làm phản, các người chẳng qua là từ sơn tặc biến thành giặc cỏ, theo sóng gió mà nổi lên rồi lại theo sóng gió mà chìm xuống. Một trăm năm sau, người đời có nhắc đến các người cũng chẳng qua chỉ là nhắc đến một đám thổ phỉ gây họa một thời, khiến cho thiên hạ máu chảy thành sông, chẳng giúp ích gì cho nhân dân trăm họ. Nếu các người có con cháu, ắt bọn chúng cũng cảm thấy xấu hổ thay cho các người…

Một hơi của Dương Lăng còn chưa nói hết, đã nghe “keng” một tiếng vang lên lanh lảnh, ánh sáng tỏa ra lạnh ngắt. Thanh đoản kiếm đã kề sát vào cổ y, khiến cho y bất giác run rẩy từng hồi. Thoạt đầu Dương Lăng hơi hoảng loạn, nhưng ngay sau đó y dần bình tĩnh, thản nhiên đưa mắt nhìn Hồng Nương Tử.

Trong thạch thất nhất thời trở nên tĩnh lặng, chỉ nghe thấy tiếng hô hấp của hai người. Một hồi lâu sau Hồng Nương Tử mới lạnh lùng nói:
- Ta biết ngươi đọc sách nhiều, đừng có hòng khoe chữ với ta! Ta chỉ biết cả nhà ta đều bị quan phủ ép phải lên núi làm giặc, chỉ biết trăm họ ở Bá Châu và vô số nơi khác còn đang bị quan phủ áp bức thậm tệ, ăn bước trước phải lo bữa sau, do đó… bọn ta muốn làm phản!

Nàng nói xong bèn thu kiếm lại, “cạch” một tiếng đút kiếm vào vỏ, rồi dựa đầu vào vách đá, khép hờ hai mắt đe:
- Đừng có nghĩ đến chuyện bỏ trốn! Ngoan ngoãn nghỉ ngơi đi, nếu còn nhiều lời nữa ta sẽ cắt cái lưỡi của ngươi xuống!

Dương Lăng thấy khuôn mặt nàng thoáng co giật, hiển nhiên đang cố gắng đè nén lửa giận nên y cũng không tiện nói tiếp nữa mà ngồi ngây một hồi. Y vẫn chưa nghĩ được nếu ngày mai Hồng Nương Tử mang y đi trao đổi với Dương Hổ, y phải làm thế nào mới thoát thân được đây?

Dương Lăng trầm tư hồi lâu, thầm nghĩ mấy người Ngô Kiệt, Hoàng Kỳ Dận đều đa mưu túc kế, trong triều cũng có không ít bậc tài năng. Ngày mai đưa bức thư trao đổi con tin đến chỗ bọn họ, ắt bọn họ không ngu xuẩn đến mức nói với đạo tặc rằng không có người để trao đổi. Hiện giờ chỉ đành đi bước nào tính bước đó thôi, chờ có cơ hội rồi thoát thân.

Y thở dài một hơi, cảm thấy trong bụng đã hơi đói, bèn vừa uống nước vừa ăn một chiếc màn thầu, sau đó dựa vào vách đá nhắm mắt giả vờ ngủ. Chốc lát sau, ngọn đuốc trên vách đá yếu dần đi, cuối cùng tắt hẳn.

Dương Lăng cũng bắt đầu cảm thấy hơi buồn ngủ, chỉ là y chưa từng ngủ trên nền đá cứng ngắt lạnh băng thế này nên nhất thời khó mà ngủ được. Trong phòng tĩnh lặng như tờ, Dương Lăng cứ lặng lẽ ngồi dựa vào vách đá, thầm suy nghĩ đối sách. Chợt y phát giác phía đối diện phát ra những tiếng sột soạt, dường như nàng đang trằn trọc chuyển mình không ngủ được, thỉnh thoảng còn xen lẫn những tiếng thở dài. Xem ra những lời vừa rồi của Dương Lăng nàng vẫn nghe lọt vào tai.

***

Dưới lòng đất chẳng biết trời đã sáng hay còn tối, nhưng thời gian tới là tự nhiên tỉnh dậy, trong phòng lại được thắp lên một ngọn đuốc, người canh gác bên ngoài lẳng lặng đi vào, theo sau là Lưu lão đạo. Hóa ra đêm qua lão ta không hề nghỉ lại đây, khi trời vừa sáng mới từ chỗ ở của một tín đồ bí mật khác trở về.

Hồng Nương Tử và Thúy Nhi vội bước lên nghênh đón. Hồng Nương Tử hỏi:
- Lưu tiên sinh, tình hình bên ngoài hiện giờ thế nào?

Lưu lão đạo cười khổ:
- Quan binh kiếm chuyện một hồi lâu rồi cũng dừng lại, nhưng nội thành hiện đã giới nghiêm, mọi con đường xung quanh kinh sư đều đặt trạm gác. Vào thành không bị ngăn trở nhưng người ra ngoài thành nhất định phải có giấy thông hành của quan phủ, tất cả mọi xe ngựa hàng hóa đều bị kiểm tra, ngay đến một con ruồi cũng không thoát ra ngoài được. Những người từ ngoại ô vào thành nếu không có giấy thông hành thì phải đến quan phủ đăng ký, có người nhà đảm bảo mới được ra ngoài.

Hồng Nương Tử biến sắc:
- Ồn ào đến vậy hay sao? Lưu tiên sinh có bị người ta chú ý đến không?

Lưu lão đạo đáp:
- Còn may ta là một đạo nhân vân du bốn bể, theo giấy thông hành thì ta là người từ phương nam tới nên rất ít bị hiềm nghi; hơn nữa ta chỉ đi lại trong thành không hề xuất kinh, do đó kiểm tra một phen rồi cũng không sao. Chỉ là… lần này lộ tẩy, cơ nghiệp do chúng ta vất vả đánh hạ ở một dải Bá Châu e là sẽ bị hủy trong một sớm một chiều thôi.

Hồng Nương Tử không đồng tình:
- Sợ cái gì chứ? Núi xanh còn đó, lo gì không có củi đun? Huống chi tổng trại sớm đã di dời khỏi Bá Châu. Ta sẽ lập tức kêu Dương Lăng tự tay viết một bức thư, chỉ cần bọn chúng đồng ý đổi người, chúng ta sẽ dùng tính mạng con tin uy hiếp bọn chúng để rời thành. Trao đổi người ở chỗ Phong Đài xong, dựa vào khoái mã đã được chuẩn bị sẵn và thuật cưỡi ngựa của chúng ta, một khi ra khỏi kinh sư là sẽ không kẻ nào chặn được.

Mấy tên đại đạo bên cạnh nghe nói đại ca sắp được cứu ra, không kìm được đều xoa tay nắn chân rất mực hưng phấn. Lưu lão đạo thường mang theo cây phướn, lấy việc đoán chữ đoán mệnh làm vỏ bọc, bút mực giấy nghiên luôn có sẵn trên người, bèn lấy từ trong ruột tượng ra giao Hồng Nương Tử đưa vào để Dương Lăng viết thư.

Dương Lăng do dự một hồi mới cầm bút viết một bức thư. Cũng coi như y rất biết điều, trong thư không dám ám chỉ vị trí của mình hiện tại chút nào. Thực tế y cũng chẳng quen thuộc thành Bắc Kinh cho lắm nên ngoài việc biết nơi này nằm phía dưới một đạo quán còn chưa được xây dựng xong, y cũng chẳng biết hiện mình đang ở đâu.

Trong thư Dương Lăng nói rõ mình đã bị bắt làm con tin, kẻ xấu yêu cầu trao đổi mình với Dương Hổ. Y lại nhắc người đọc được thư này mau dâng lên Hoàng thượng, nếu Hoàng thượng cho phép hãy đến chỗ Cẩm Y vệ đưa đại đạo Dương Hổ bị nhốt trong đại lao ra, lại dựa theo yêu cầu của đối phương mà mang đến địa điểm chỉ định. Để cho chân thực, y còn cởi ngọc bội tùy thân ra làm tín vật.

Phong thư đã chỉ ra một cách rõ ràng địa điểm mà Dương Hổ bị bắt nhốt. Cho dù người trong quan phủ đọc được thư này là kẻ ngốc đi chăng nữa hẳn cũng không đến nổi không hiểu được ý của y.

Có điều hiện giờ là thời đại vũ khí lạnh, đám đạo tặc chỉ cần có võ nghệ cao cường, thuật cưỡi ngựa tinh thông là có thể dễ dàng thoát thân khỏi tay quan binh. Huống chi khi hai bên trao đổi con tin, ắt bọn chúng không cho phép quan binh phái ra quá nhiều người, như vậy hai bên cùng lắm cũng chỉ có thể trao đổi người khi cách nhau hai ba mươi trượng, Dương Lăng chẳng lạc quan chút nào về việc mình có thể thoát khỏi tay đối phương.

Nếu quan phủ định dùng kẻ giả mạo để trao đổi, đám đại đạo Bá Châu chẳng có lý nào lại không kiểm tra, hơn nữa Hồng Nương Tử còn là người chung chăn gối với Dương Hổ, chỉ cần nàng nhìn dáng người cũng đoán được sáu bảy phần rồi. Dù quan phủ có hiểu được sự ám thị của mình thì việc cứu mình thoát thân vẫn là một vấn đề khó khăn.

Hồng Nương Tử đứng một bên nhìn y chằm chằm . Dương Lăng cũng chẳng thể nghĩ nhiều, chỉ đành bấm bụm viết thư xong giao cho Hồng Nương Tử; chỉ mong triều đình có người tài nghĩ ra kế hoạch nào đó có thể gạt được đám lục lâm này.

Hồng Nương Tử đón lấy bức thư cùng ngọc bội, kêu hai người đến trông coi Dương Lăng, còn chính mình thì vội vã đi ra ngoài đưa thư cho Lưu lão đạo. Lưu lão đạo năm lần bảy lượt đọc thật kỹ bức thư dưới ánh đuốc, xác thực không có ẩn ý gì, nhìn ngang nhìn dọc đều không thấy huyền cơ, mới yên tâm nhét bức thư vào trong chiếc dây lưng dưới tấm đạo bào, rồi bảo:
- Các cô ăn chút gì đó rồi cứ chờ ở đây, đợi ta đến Ngũ Thành Binh Mã ti tìm cơ hội chuyển bức thư này cho quan phủ.

Lưu lão đạo vội vã ra khỏi địa đạo, đóng chặt cửa động lại rồi lặng lẽ rời đi. Một gã đại đạo mặt mũi dữ dằn đứng bên cạnh Hồng Nương Tử lạnh lùng đưa mắt nhìn căn phòng nhốt Dương Lăng, khẽ nói với Hồng Nương Tử:
- Tẩu tẩu, đợi sau khi cứu được đại ca ra, chúng ta cứ giết luôn tên tiểu tử này rồi hẵng bỏ trốn. Ra khỏi kinh thành rồi thì chúng ta như là mãnh hổ về núi, giao long xuống nước, đừng hòng có ai làm gì được chúng ta nữa.

Hồng Nương Tử hơi khựng người, do dự:
- Nói bậy! Phía chúng ta động thủ vậy bên quan binh sẽ không động thủ ư? Hôm nay có thể cứu được Hổ ca của ngươi về là được rồi, đừng để sinh thêm chuyện phiền toái!

Một tên đại hán đầu trọc mặt rỗ lỗ chỗ, nhìn rất ghê người gằn giọng đáp:
- Đại tẩu yên tâm! Chúng ta không động thủ chẳng lẽ quan binh lại chịu trơ mắt nhìn chúng ta đi ư? Tụ tiễn (ám tiễn giấu trong tay áo - ND) tẩm độc của Hồ Đại Chùy này trong vòng mười trượng chính là thiếp mời của diêm vương. Hổ ca thành thạo Địa Tranh quyền (một môn quyền thuật Trung Quốc, các động tác chủ yếu được thực hiện khi bò rạp hay lăn lộn dưới đất - ND), đến lúc đó chỉ cần tiểu đệ hô lên một tiếng, huynh ấy bò rạp xuống đất mà chạy ra, sẽ không có chuyện gì đâu. Chẳng lẽ chúng ta còn phải nói chuyện tín nghĩa với quan binh hay sao chứ?

Trong lòng Hồng Nương Tử hơi loạn. Những lời Dương Lăng nói đêm qua đã lưu lại một dấu ấn rất sâu trong lòng nàng, quả thật nàng muốn cứu trượng phu ra rồi thảo luận kỹ lưỡng với hắn một phen. Còn đối với Dương Lăng thì quả thực nàng chẳng thể sinh ra chút sát tâm nào cả.

Thúy Nhi ở bên cạnh nhìn rõ vẻ mặt Hồng Nương Tử, bèn lựa lúc mà chen vào:
- Tiểu thư! Lời của Hồ đại ca đúng lắm, cô gia với các huynh đệ tình như thủ túc, lần này có tới gần hai trăm huynh đệ thân cận nhất đã mất mạng trong tay Dương Lăng. Với tính cách hiệp nghĩa của cô gia, món huyết hải thâm thù này sao có thể bỏ qua được chứ?

Nếu để tên cẩu quan đó an toàn quay về, ngày sau ắt sẽ phòng bị nghiêm ngặt, cô gia muốn báo thù há chẳng phải hung hiểm muôn phần hay sao? Chúng ta cứ tiện tay kết liễu luôn cái mạng chó của y, vừa hay có thể báo thù cho các huynh đệ vừa bị giết, khi trở lại sơn môn cũng tiện ăn nói, lại tránh cho cô gia một lần nữa dấn thân vào nơi nguy hiểm.

Mấy tên đại đạo nghe thế đều gật đầu lia lịa, nhất tề đưa mắt nhìn Hồng Nương Tử. Hồng Nương Tử lòng rối như tơ vò, suy nghĩ suốt hồi lâu mới giẫm mạnh chân, cắn răng quyết:
- Được rồi! Nếu vậy ta nghe theo lời các ngươi. Có điều nhất định phải hết sức cẩn thận, lấy sự an nguy của Hổ ca làm đầu!

Mấy tên đại đạo đồng loạt gật đầu đáp:
- Đại tẩu yên tâm, điều này thì bọn đệ hiểu!

Thúy Nhi thấy thế thì khẽ mỉm cười, một tia đắc ý thoáng qua trong đáy mắt.

***

Đường xá chốn kinh sư vẫn phồn hoa như cũ nhưng lại tràn ngập không khí căng thẳng, tất cả mọi cửa thành đều gươm giáo như rừng, phòng bị nghiêm ngặt. Bởi vì việc kiểm tra diễn ra rất chậm nên người ra vào thành đều phải xếp thành một hàng rất dài.

Trên đường lớn của kinh sư, không khí hoan hỉ chuẩn bị đón ngày đầu năm đã nhạt đi không ít, từng đội quan binh của Kinh doanh và lính đi tuần liên tục qua lại, tất cả các nha môn và nơi ở của quan viên đều được bố trí trọng binh canh gác kỹ càng. Các vị đại thần thường ngày chỉ đi xe nhẹ và dẫn theo vài tên tùy tùng, nay đều có mấy chục gia tướng tiền hô hậu ủng, còn những quan viên không có cái thực lực ấy thì liền dứt khoát chẳng ra ngoài.

Không khí căng thẳng như vậy quả thực chưa từng xuất hiện tại chốn kinh sư. Bởi việc xuất nhập không tiện, rất nhiều hàng hóa dịp tết chẳng thể đưa được vào thành, dẫn đến việc vật giá tăng cao. Có tin nếu không tìm được Dương xưởng đốc thì lệnh cấm thành sẽ không được hủy bỏ sớm, do đó mọi người dân đều lo vật giá sẽ tăng thêm nên đành liều mình chịu rét mà ra phố mua sắm đồ tết.

Lưu lão đạo giơ cao cây phướn liêu xiêu bước đi trên đường. Quan binh đi ngang chỉ cho rằng lão là một lão đạo còm nhom dáng vẻ bình thường, đang nhòm đông ngó tây kiếm mối làm ăn, nên chỉ liếc nhìn qua rồi không chú tâm đến nữa.

Lưu lão đạo chậm rãi bước tới trước cửa nha môn Ngũ Thành Binh Mã ti, rồi đi vào trong một con hẻm nhỏ ngay bên hông nha môn. Khi sắp đi tới đầu hẻm, lão bèn giả vờ đặt cây phướn xuống nghỉ ngơi. Sau đó lão nhặt một hòn đá lên, móc phong thư trong thắt lưng ra, quấn vải bọc chung thư vào với hòn đá. Thừa dịp mọi người không chú ý, lão ném mạnh viên đá cùng bức thư qua bức tường rồi vác phướn vội vã rời khỏi.

Người của Binh Mã ty không thể làm chủ việc này, nên bức thư cứ thế được trình dần lên, nhanh nhất cũng phải đến trưa mới có trả lời. Nếu triều đình đồng ý đổi người, ắt sẽ lưu lại ký hiệu dễ thấy ở tòa nhà mà lão chỉ định. Đến lúc đó lão lại tìm một nha môn khác để ném thư, đưa ra yêu cầu tiếp theo là được.

Đường Xưởng Điện có rất nhiều cửa tiệm nhỏ, là một con đường khá phồn hoa. Lưu lão đạo bỏ ra một văn tiền thuê một chiếc bàn của quầy hoành thánh để tự mở quán riêng, nhởn nha chờ khách tới. Hôm nay người có tâm tư xem bói không nhiều, không những chẳng có ai ghé thăm mà ngay cả đến liếc mắt nhìn qua cũng chẳng có hứng thú. Lưu lão đạo chẳng hề để tâm, lão chỉ nheo mắt quan sát mặt trời ước lượng thời gian. Đang lúc lão chuẩn bị dọn quán tìm chỗ ăn trưa, một thiếu niên mặt mũi thanh tú bộ dạng như kẻ hầu đã đứng trước quán của lão ta.

Lưu lão đạo hờ hững liếc mắt nhìn gã, vuốt râu cười hỏi:
- Tiểu ca muốn đoán chữ hay đoán mệnh? Hoặc là muốn ta viết hộ thư nhà chăng?

Thiếu niên cười đáp:
- Ta không biết chữ, cả đời này chỉ có cái số hầu hạ người khác, còn đoán làm gì? Xin tiên sinh giúp ta viết bức thư nhà.

Trong lúc nói, gã có vẻ như quá buồn chán nên bàn tay gảy gảy túi hành lý đeo trên người, những ngón tay tạo ra mấy ký hiệu gì đó một cách mau lẹ.

Sắc mặt Lưu lão đạo hơi đổi, bàn tay thu vào trong tay áo rồi cũng đáp lại bằng mấy ký hiệu mà chỉ có thiếu niên đang đứng trước mặt mới nhìn thấy, sau đó thân mật mời:
- Mời ngồi mời ngồi!
Rồi lão vừa lấy bút mực ra, vừa khẽ hỏi:
- Cấp trên có mệnh lệnh gì không?

Gã hầu đó đưa tay chống cằm nhìn xuống bàn, thấp giọng:
- Rất gấp! Bất kể thế nào đi chăng nữa cũng phải giữ được tính mạng Dương Lăng, đưa y trở về. Bất luận dùng cách gì cũng được!

Lưu lão đạo hơi ngẩn người. Lão nhẹ nhàng trải một tờ giấy ra, cầm lấy chiếc nghiên ra bộ mài mực, đáp:
- Tên này là tâm phúc của Hoàng đế, giết y sẽ rất lợi với đại nghiệp của chúng ta, tại sao phải thả y chứ? Huống chi y đã giết nhiều người của Dương Hổ như vậy, đời nào Hồng Nương Tử lại chịu bỏ qua? Xin trở về báo lại với đàn chủ, người này không thể tha được.

Gã thiếu niên kia tuy có vẻ ngoài như kẻ hầu người hạ, nhưng lại lập tức vênh mặt nghênh ngang với lão rất có khí thế. Gã cười lạnh bảo:
- Nếu Hồng Nương Tử cản trở thì cứ giết luôn cả Hồng Nương Tử! Ngươi nhớ lấy, bằng bất kỳ cách nào cũng phải giữ cho y được an toàn. Đây không phải mệnh lệnh của đàn chủ, mà là mệnh lệnh của giáo chủ!

Lưu lão đạo cả kinh, bàn tay mài mực lập tức dừng lại, kinh ngạc hỏi:
- Giáo chủ lão nhân gia cũng ở kinh sư sao? Chuyện này… thực khó xử quá, sao đột nhiên lại phải bảo vệ y vậy?

Ánh mắt thiếu niên trở nên lạnh ngắt, gã gằn giọng:
- Giáo chủ đang ở đâu, đây là điều mà ngươi có thể dò hỏi sao?

Lưu lão đạo khẽ rùng mình, không dám hỏi tiếp nữa. Bờ môi mỏng dính của gã thiếu niên hơi nhếch lên:
- Trong cung vừa đưa tin ra, chân long sắp xuất thủy, thiếu y thì việc chưa chắc đã thành, muốn câu được rồng thì phải tạm bỏ tướng cua. Hơn nữa, Dương Hổ đã trốn thoát rồi, nếu Hồng Nương Tử mà chết thì còn sợ hắn không càng thêm bán mạng giúp chúng ta đoạt thiên hạ hay sao?




Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
22-05-2012, 10:45 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 181 - Âm mưu bại lộ

Dịch: vo vong

Biên dịch: Ba_Van

Biên tập: Ba_Van

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





- Hoàng thượng! Nô tài cho rằng kế này của Lý đại học sỹ là thỏa đáng nhất. Nếu không đồng ý thì thành ra hại mất tính mạng của Dương đại nhân, đường đường trọng thần của triều đình mà mất mạng trong tay gian tặc, như thế há chẳng ảnh hưởng đến thể diện của triều đình hay sao?

Còn nếu cứ đồng ý bừa, trong tay chúng ta không có tên đại đạo Dương Hổ kia, lỡ mà kẻ địch phái một tên lâu la kiểm tra thực giả, ắt sẽ bị bại lộ. Chi bằng cứ tạm đồng ý trước đã, bấy giờ chúng ta vừa chuẩn bị vừa dốc sức tìm kiếm, nếu có thể thuận lợi cứu được Dương đại nhân ra là tốt nhất, còn nếu không thể, lại nghĩ cách khác đánh lừa bọn chúng, khi trao đổi con tin sẽ làm một mẻ lưới tiêu diệt sạch lũ gian tặc luôn.






Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 181 - Âm mưu bại lộ

------------------------

Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 181 - Âm mưu bại lộ


Chương 181 - Âm mưu bại lộ

Chiếc trống kêu oan trước cửa nha môn Ngũ Thành Binh Mã ti vẫn còn nằm nguyên ở đó. Theo ước định trong thư, nếu quan phủ đồng ý đổi người thì bọn họ sẽ cất chiếc trống kêu oan này đi. Nha môn nằm giữa chốn phố phường đông đúc, đứng từ xa tít đã có thể nhìn thấy rõ chiếc trống lớn vẫn còn đó, xem ra quan phủ nhất thời còn chưa thể đưa ra quyết định.

Lưu lão đạo đứng ở chỗ rẽ đằng xa liếc mắt nhìn qua, rồi giơ cây phướn lên bỏ đi thẳng như chẳng có chuyện gì. Hoàng thượng muốn xuất kinh, Dương Hổ đã bỏ trốn, quan binh chuẩn bị ồ ạt tiến tới Bá Châu, dưới cơn phẫn nộ của thiên tử thế lực lục lâm của Dương Hổ sắp lâm nguy đến nơi. Một loạt những tin tức vừa nhận trên khiến tính toán ban đầu của lão trở nên rối loạn.

Vốn Di Lặc giáo không định lợi dụng đại đạo lục lâm để tranh đoạt thiên hạ. Bọn họ muốn đi theo con đường thượng tầng, mưu đoạt binh quyền và hoàng vị để giành lấy thiên hạ một cách thuận lợi. Hiện giờ lại sắp có cơ hội tốt nhân khi Hoàng đế xuất kinh, cho dù thế nào đi chăng nữa, Lý Phúc Đạt cũng không thể vì một con tôm nhỏ mà bỏ một con cá lớn được.

Huống chi dưới sự bao vây tiễu trừ toàn lực của quan phủ, thế lực lục lâm ở Bá Châu đã chẳng còn bao nhiêu giá trị sử dụng nữa rồi. Hiện giờ, Dương Hổ chẳng qua cũng chỉ có tác dụng như một tên thích khách kiêu dũng, gã quân sư như lão có bại lộ thân phận cũng chẳng sao, do đó cấp trên mới hạ nghiêm lệnh cho lão phải bảo vệ an toàn cho Dương Lăng bằng mọi giá.

Lưu lão đạo thầm cười khổ một tiếng. Đêm qua mình còn ra sức nghĩ kế đưa Dương Lăng vào chỗ chết, ai ngờ chỉ sau một đêm mọi chuyện đã xoay chuyển như thế này, giờ đây lại phải nghĩ cách bảo vệ tính mạng cho y. Nếu người đời thật sự do vận mệnh chi phối, e rằng trên đời này chẳng còn ai tốt phúc hơn y.

Giả bộ sợ hãi trước quan uy mà đến tố cáo với quan phủ, rồi dẫn quan quân đến bắt giết Hồng Nương Tử ư? Vừa mới nghĩ đến ý này, lão đã lập tức nhẹ lắc đầu, hộ tịch và giấy thông hành của lão và Thúy Nhi đều là đồ giả. Một tên đại đạo lục lâm như Dương Hổ không thể tìm hiểu được gốc gác thật sự của lão nhưng quan phủ thì quyết không dung thứ cho một kẻ lai lịch bất minh như lão.

Hai vị được đưa vào cung kia quả thực đã từng đóng giả làm nghệ nhân tạp kỹ mà đi lại trên giang hồ hết bảy, tám năm, nhưng dù là như vậy cũng vẫn cần đích thân Ninh vương đứng ra làm người đảm bảo mới có thể đưa được họ vào trong cung. Lão mà đi tố cáo với quan phủ, lỡ mà bị người ta điều tra được chân tướng… Năm đó lão từng theo giáo chủ Lý Việt truyền giáo ở một dải Cam Thiểm, là một trong tám đại hộ pháp có tiếng tăm ở đó, rất nhiều người nhận biết lão.

Tốt nhất là Hồng Nương Tử biết điều, sau khi hay tin Dương Hổ đã trốn thoát thì chịu thả Dương Lăng, nếu không… Lưu lão đạo thầm nghiến răng, một tia sát khí thoáng lóe lên nơi đáy mắt.

***

Buổi ngọ triều đã trôi qua rất lâu, các vị trọng thần trong điện Bảo Hòa vẫn chen chúc vào một nơi, cuộc tranh cãi sôi nổi mãi vẫn chưa đến hồi kết. Vốn Chính Đức muốn cho mang thức ăn lên cho các vị đại thần này ăn no cái bụng trước đã, nhưng nhìn tình hình này thì hắn bất giác bực mình, cứ ngồi yên vừa nhìn bọn họ cãi nhau vừa đè nén lửa giận, sắc mặt càng lúc càng khó coi.

Các vị đại thần cũng chú ý đến sắc mặt tiểu Hoàng đế, tiếng huyên náo dần nhỏ lại.

Chính Đức lẳng lặng vân vê chiếc chén ngọc cực kỳ tinh xảo trong tay, chậm rãi nhìn quanh một vòng. Hắn thấy Lưu Cẩn và Cốc Đại Dụng đang rì rầm nói chuyện gì đó; Lý Đông Dương và Tiêu Phương thì cùng trưng vẻ mặt như quả mướp đắng, không ngừng vuốt râu; Dương Đình Hòa đang chắp tay sau lưng nhìn bức tranh chữ trên tường. Còn Lục bộ Cửu khanh và Thị lang các bộ mỗi người một thần sắc riêng, kẻ thì đầy mặt giận dữ, người thì hả hê ra mặt.

Chính Đức lại liếc nhìn Ngô Kiệt. Vị đại nhân già nua, gày gò chưa từng bước vào hoàng cung này mặt mũi lấm tấm mồ hôi, đang nhìn về phía hắn với vẻ vạn phần lo lắng.

Chính Đức khẽ ho một tiếng, xả bớt khí giận trong lồng ngực ra rồi mới nói:
- Các vị ái khanh! Cứ theo tình hình hiện nay, hẳn là nữ tặc Hồng Nương Tử chưa biết trượng phu của ả đã trốn khỏi kinh thành nên muốn đổi Dương thị độc lấy Dương Hổ. Hiện lũ đạo tặc đang chờ câu trả lời của triều đình, các vị ái khanh bàn bạc thế nào rồi?

Lưu Đại Hạ trầm giọng thưa:
- Hoàng thượng! Lão thần cho rằng nữ tặc đó đã có thể gửi thư vào kinh nên hiển nhiên là kinh sư phong tỏa kịp thời, bọn chúng còn chưa kịp trốn thoát. Hiện giờ trong thành binh mã như mây, có Binh bộ, Kinh doanh, Thuận Thiên phủ, Ngũ Thành Binh Mã ti, rồi còn cả ba xưởng một vệ, muốn lật tung kinh thành lên cũng có gì là khó? Có thể lệnh cho các bộ tăng cường tìm kiếm lục soát, bọn chúng còn có thể trốn lên trời hay sao?

Chính Đức cười lạnh:
- Đã tìm suốt một ngày một đêm rồi, nhưng đã tìm được gì chưa? Thuận Thiên phủ dâng sớ tâu trăm họ ở kinh sư đã cất tiếng oán than đầy đường, còn muốn tìm kiếm như thế nào nữa đây? Vả lại Dương khanh đang ở trong tay bọn chúng, nếu ép quá há lại chẳng phải xôi hỏng bỏng không hay sao?

Dương Phương cất tiếng:
- Hoàng thượng! Thần cho rằng lời của Lưu đại nhân đúng lắm, đường đường triều đình há có thể mặc cả với đám đạo tặc? Năm xưa Hạ Hầu Thuần phòng thủ Bộc Dương, Lữ Bố phái người bắt cóc ông ta đòi lấy tiền tài, nhưng bộ tướng của ông ta là Hàn Hạo đóng quân ngoài doanh quyết không thỏa hiệp, còn kiên quyết dùng binh với lũ tặc nhân, từ đó không còn kẻ nào dám bắt người làm con tin nữa. Nay lũ cuồng đồ dám phạm trọng tội ngay dưới chân Thiên tử, còn cả gan mặc cả với triều đình, như thế thể diện của triều đình còn đâu nữa? Mà ngày sau lũ gian tặc lại học theo đó, triều đình phải ứng phó ra sao? Việc này dứt khoát là không được!

Tiêu Phương nhướng mày lên cãi:
- Lời này của Dương đại nhân sai rồi. Có câu rằng binh bất yếm trá, Dương Hổ vốn chẳng ở trong tay triều đình, chúng ta cứ tương kế tựu kế, giả vờ đồng ý trao đổi con tin rồi thừa cơ cứu Dương đại nhân ra, thế có gì là không được? Chẳng lẽ lại trơ mắt nhìn một vị trọng thần của triều đình mất mạng trong tay gian tặc, như thế há lại chẳng mất thể diện của triều đình ư?

Hàn Văn trầm ngâm:
- Hoàng thượng! Luật pháp của triều đình không thể không để tâm đến, mà tính mạng của Dương đại nhân cũng cần phải bảo toàn. Theo thần thấy, chúng ta cứ nên suy nghĩ thêm, tính toán chu toàn. Lũ gian tặc đã có việc cần, ắt tạm thời Dương đại nhân không bị hại. Đương nhiên triều đình cũng cần phong tỏa tin tức, tăng cường tuần tra trong thành, đừng để lũ gian tặc trốn mất, cũng đừng để lộ tin Dương Hổ đã trốn thoát rồi.

Lý Đông Dương nghe vậy thì khẽ lắc đầu, vừa khéo Chính Đức nhìn thấy động tác của ông ta bèn vội hỏi:
- Lý đại học sỹ có cao kiến gì chăng?

Lý Đông Dương chắp tay thưa:
- Bẩm Hoàng thượng! Theo thần thấy, nếu đại đạo Dương Hổ thật sự ở trong tay chúng ta, với một tên thủ lĩnh cường đạo tụ tập giặc cướp chốn núi rừng, dám mưu sát đại thần, ý đồ làm phản như vậy, có nên thỏa hiệp hay không mới cần bàn bạc kỹ, dù sao luật pháp và mặt mũi của triều đình cũng là điều không thể bỏ mặc. Dương đại nhân đã hưởng ơn vua, tất nhiên phải suy nghĩ cho triều đình, không đồng tình với hành vi thỏa hiệp này cũng là hợp lẽ.

Nhưng… hiện giờ Dương Hổ không ở trong tay chúng ta, tạm dùng kế quyền nghi cũng không phải là không được. Thần cho rằng nên tạm dừng việc lục soát nhà dân để tra xét. Đừng nói là hành động này chưa chắc đã tìm được nơi ẩn nấp của lũ gian tặc mà cho dù thật sự tìm được đi chăng nữa, Dương đại nhân đang ở trong tay bọn chúng, ném chuột sợ vỡ đồ thì làm sao cứu người được đây?

Do đó, triều đình cứ đồng ý với yêu cầu của bọn chúng cũng chẳng sao, dù gì hai bên muốn đạt thành hiệp nghị cuối cùng cũng cần thời gian hai, ba ngày. Triều đình nên lệnh cho Kinh doanh và Ngũ Thành Binh Mã ti tăng cường phong tỏa và tuần tra, tránh việc gian tặc trốn thoát. Lại lệnh cho mật thám của Hình bộ và người của xưởng vệ bí mật tìm kiếm chỗ Dương đại nhân bị giam giữ, chờ thời cơ ứng cứu. Đợi khi hai bên bàn định xong nơi trao đổi con tin, triều đình có thể bố trí cung thủ phục kích, tùy cơ hành sự.

Mã Văn Thăng nghe xong bèn bước lên một bước. Lão vừa định mở lời, Cốc Đại Dụng đã bàn bạc với Lưu Cẩn xong xuôi bèn giành tâu trước:
- Hoàng thượng! Nô tài cho rằng kế này của Lý đại học sỹ là thỏa đáng nhất. Nếu không đồng ý thì thành ra hại mất tính mạng của Dương đại nhân, đường đường trọng thần của triều đình mà mất mạng trong tay gian tặc, như thế há chẳng ảnh hưởng đến thể diện của triều đình hay sao?

Còn nếu cứ đồng ý bừa, trong tay chúng ta không có tên đại đạo Dương Hổ kia, lỡ mà kẻ địch phái một tên lâu la kiểm tra thực giả, ắt sẽ bị bại lộ. Chi bằng cứ tạm đồng ý trước đã, bấy giờ chúng ta vừa chuẩn bị vừa dốc sức tìm kiếm, nếu có thể thuận lợi cứu được Dương đại nhân ra là tốt nhất, còn nếu không thể, lại nghĩ cách khác đánh lừa bọn chúng, khi trao đổi con tin sẽ làm một mẻ lưới tiêu diệt sạch lũ gian tặc luôn.

Chính Đức nghe vậy bèn vỗ án hô lớn:
- Hay! Các khanh không cần bàn bạc thêm nữa, cứ làm theo cách này đi! Đại Dụng, đi truyền tin cho Ngũ Thành Binh Mã ti, chờ gian tặc phái người đến liên hệ, còn việc truy tìm sào huyệt kẻ địch và trao đổi con tin thì do ngươi và Ngô Kiệt của Nội xưởng phụ trách. Nhớ lấy, trẫm cần một Dương Lăng sống chứ không phải một Xưởng đốc chết.

Các vị đại thần nhất tề khom người đáp:
- Thần tuân chỉ!

***

Lưu lão đạo vừa đi lại trên đường vừa suy tính đối sách. Nếu trao đổi con tin, khó đảm bảo bên phía quan phủ sẽ không bố trí phục binh; cho dù Hồng Nương Tử chạy thoát được thì bản thân mình có thể chạy thoát hay không cũng là một vấn đề khó nói.

Lại nữa, Hồng Nương Tử cũng từng không ít lần bắt cóc người nhà giàu đòi tiền chuộc, có thể coi là một chuyên gia trong nghề bắt cóc đòi tiền, nếu trước khi trao đổi ả phái người kiểm tra con tin, ắt hẳn sẽ lộ tẩy.

Nếu nói rõ với Hồng Nương Tử việc Dương Hổ đã trốn thoát, khả năng Dương Lăng được thả ra là rất nhỏ; rất có thể y sẽ bị lập tức giết chết ngay. Nói với ả việc thả Dương Lăng ra có thể dụ Hoàng đế xuất kinh ư? Cô ta từ nhỏ đã đi lại trong giới lục lâm, là người hết sức cảnh giác: mình mới vừa đi loanh quanh trong kinh sư được canh phòng nghiêm ngặt này mới có một vòng mà đã nhận được tin tức cơ mật và chuẩn xác như thế, làm sao cô ả không nảy lòng nghi ngờ?

Lưu lão đạo suy đi tính lại, rốt cuộc đành hạ quyết tâm cứ tạm trở về một chuyến trước, đợi thăm dò được suy nghĩ của cô ả rồi tính sau. Nếu thật sự không được, để câu con cá to là Hoàng đế Chính Đức và cũng vì tiền đồ của bản thân, ta đành gieo khổ cho Hồng Nương Tử vậy. Một tiểu nương tử xinh đẹp như hoa như ngọc phải bỏ mạng lúc tuổi còn xanh thì thật đáng tiếc lắm thay.

Lưu lão đạo đoán mệnh cho hai vị lão thái thái, nhận được mấy văn tiền, sau buổi trưa lại lòng vòng đi tới trước cửa nha môn Ngũ Thành Binh Mã ti. Lão thấy trên chiếc giá đã chẳng còn gì, chiếc trống kia không biết đã đi đâu mất rồi. Lúc này sắc trời đang âm u, lưa thưa mấy bông tuyết phất phơ bay xuống, người đi lại trên đường dần dần thưa thớt, Lưu lão đạo sợ khiến người khác hoài nghi, bèn xoay người lại chậm rãi đi về phía thành bắc. Đi tới con hẻm, thấy không có người nào chú ý, Lưu lão đạo bèn vội vã bước vào trong đạo quán.

Tòa đạo quán xây dở này ngay đến cửa cũng không có, bốn phía gió lùa. Đêm qua là đêm đầu tiên, còn có thể phái người ra ngoài canh gác, ban ngày thì lại không thể cho người đứng chờ ở ngoài sợ sẽ khiến người đi đường chú ý. Lưu lão đạo khởi động cơ quan, lặng lẽ chui vào trong thạch thất, hai đại hán cầm đao kiếm nhìn thấy là lão bèn buông vũ khí trong tay xuống, nôn nóng hỏi:
- Lưu tiên sinh, quan phủ có đồng ý không? Hổ ca vẫn an toàn chứ?

Lưu lão đạo khẽ mỉm cười đáp:
- Còn may, quan phủ đã tỏ ý bằng lòng trao đổi con tin với chúng ta.

Lúc này Thôi Oanh Nhi và Thúy Nhi cũng hay tin ra đón. Lưu lão đạo cùng bọn họ tránh vào trong một gian thạch thất, sau khi sắp xếp về những lời cần nói, lão bèn hỏi:
- Phu nhân có dự định gì không? Sau khi cứu được đại đương gia ra nên xử trí Dương Lăng thế nào đây?

Rốt cuộc Hồng Nương Tử vẫn phải cắn chặt môi, khẽ cất tiếng:
- Sáng nay bọn ta đã bàn định xong. Mối thù của hơn hai trăm huynh đệ không thể không báo, một khi cứu được người ra sẽ lập tức giết chết Dương Lăng, tế vong linh của bọn họ.

Lưu lão đạo gượng cười:
- Chuyện này… Cứ nên lấy đại cục làm trọng. Phu nhân và đại đương gia đều là người làm việc lớn, nếu vì chuyện này mà chọc giận quan phủ, cơ nghiệp do đại đương gia vất vả lắm mới gây dựng được khó tránh khỏi sẽ bị tấn công tiêu hủy, chi bằng tha cho y một phen…

Thúy Nhi ngẩn ra, nhìn lão với vẻ rất kinh ngạc, không biết lão lại có trò mới gì. Nụ cười của Lưu lão đạo hơi nhiễm vẻ cay đắng, nhưng lại chẳng thể nói rõ ra được.

Hai tên sơn tặc đứng ngoài cửa nghe vậy thì bèn bước vào. Một gã đại hán mặt mày hung ác nói với vẻ bất mãn:
- Lưu tiên sinh sao lại có lòng nhân từ của đàn bà như thế? Cho dù không giết hắn thì chúng ta cũng đã gây ra sự biến lớn đến thế này rồi, quan phủ còn chịu dễ dàng bỏ qua hay sao chứ?

Tên đại hán trọc đầu còn lại hăng hái:
- Chính thế! Chúng ta đã làm việc này thì không sợ đắc tội quan phủ, chỉ sợ danh hiệu không vang dội mà thôi. Lần này tiến kinh tổn thất mất hai trăm huynh đệ, không giết được y thì khi về trại biết ăn nói với mọi người sao đây? Còn nếu giết y rồi, các hảo hán ở tam sơn ngũ nhạc có ai mà không khâm phục chúng ta? Ắt hẳn danh hiệu của Hổ ca sẽ càng vang dội hơn, cho dù cả ngọn núi kia bị hủy đi, chúng ta muốn xây dựng lại cơ nghiệp ở nơi khác cũng là chuyện dễ như trở bàn tay.

Hồng Nương Tử nghe tới đây bèn quyết tâm:
- Cứ làm như vậy đi, với quan phủ thì còn phải nói gì đến tín nghĩa nữa chứ? Hồ Đại Chùy, quan phủ đã đồng ý rồi, vậy ngày mai chúng ta sẽ chuẩn bị dùng vũ lực rời thành, ngươi tới chỗ quan phủ xem tình hình của đại ca ngươi trước, đừng để bọn chúng lừa đấy.

Mặt mày hung ác, Hồ Đại Chùy gật đầu đáp với vẻ thản nhiên:
- Đại tẩu yên tâm! Có tên cẩu quan kia ở đây, quan phủ còn có thể làm gì được một gã tiểu lâu la như đệ chứ? Đệ nhất định sẽ có thể cùng Hổ ca an toàn đến Phong Đài, quan binh đừng hòng giở trò gì với đệ.

Lưu lão đạo nghe tới đây thì lòng dạ nguội lạnh hẳn đi.

Hồng Nương Tử nghĩ đến Dương Lăng, tuy trong lòng vẫn hơi áy náy nhưng trượng phu đã đi theo con đường này rồi, nàng là thê tử, ngoài việc tiếp tục đi theo hắn thì còn có thể làm được gì khác nữa? Nàng buồn bã thở dài một hơi, nói với Lưu lão đạo:
- Lưu tiên sinh đã vất vả rồi, ông hãy nghỉ ngơi trước đi. Đợi qua được ngày mai, chúng ta sẽ có thể cao bay xa chạy rồi.

Hồng Nương Tử xoay người đi vào phòng của Dương Lăng, Hồ Đại Chùy và gã đại hán đầu trọc Hắc Diêu Tử kia lén lút theo sau. Thôi Oanh Nhi ngoảnh đầu trừng mắt nhìn bọn hắn, hai gã sơn tặc nhìn về phía Dương Lăng cười cười với vẻ hung ác, đoạn chậm rãi bước ra ngoài.

Dương Lăng vịn tường gượng đứng dậy, trong phòng không đốt lửa, tuy ấm hơn bên ngoài một chút nhưng vẫn lạnh lẽo vô cùng. Thân thể y vốn đã không so được với đám sơn tặc, lại ở một mình trong gian phòng đá, khó chịu vô cùng, bèn ngồi xếp bằng tĩnh tọa theo cách của Ngũ Hán Siêu. Hiện giờ y vẫn chưa biết ngồi kiểu “đại bàn”, dưới sự trông coi của đám sơn tặc cũng không dám quá lộ liễu, nhưng chỉ ngồi kiểu “tiểu bàn” hơn nữa canh giờ, hai chân cũng đã mỏi nhừ.
(tiểu bàn: ngồi xếp bằng bình thường, bàn chân dưới đùi; đại bàn: kiểu hoa sen, bàn chân này gác lên đùi kia)

Thấy sắc mặt Hồng Nương Tử, y hỏi:
- Triều đình đồng ý trao đổi rồi ư?

Nhìn dáng vẻ hơi tiều tụy của y, trái tim Hồng Nương Tử bất giác nhũn đi. Trên đời liệu có mấy vị quan chịu bỏ tiền phát cháo cứu tế cho nạn dân? Y còn khổ tâm dốc sức nghĩ cách để cải tạo giống cây trồng, thật là một vị quan tốt.

Khi đến thăm phủ của y, phu nhân của y cũng là một người hòa nhã thân thiện, không hề có vẻ kiêu ngạo của một ả vợ quan, nhưng… Nếu không giết y, biết phải ăn nói thế nào với các huynh đệ khác về hai trăm huynh đệ đã bị giết? Hơn nữa trượng phu đã bước lên con đường này rồi, càng là vị quan hữu dụng với triều đình thì càng là đại địch của mình. Có ai ngờ được lần này lên kinh sư, không giết được Hoàng đế mà lại để y trở thành con dê chịu tội thay chứ?

Trong lòng đang áy náy, giọng nói cũng bất giác dịu hơn vài phần, nàng khẽ gật đầu:
- Ừm, xem ra Hoàng đế rất coi trọng ngươi đấy, vì ngươi mà phong tỏa toàn bộ kinh thành, bọn ta đưa ra yêu cầu trao đổi, quan phủ chẳng hề nghĩ ngợi gì đã đồng ý ngay. Ngày mai ta sẽ phái người đi gặp quan phủ, chỉ cần bọn chúng không giở trò gì khi trao đổi con tin, ngươi sẽ… sẽ có thể trở về rồi.

Thôi Oanh Nhi tung hoành chốn núi rừng, giết người cướp bóc cũng là tay lão luyện, chưa từng chớp mắt bao giờ. bằng không làm sao nàng có thể khuất phục được bao nhiêu tay đại đạo kiêu căng như thế. Nhưng nói tới đây khuôn mặt nàng lại bất giác nóng rần, có chút hổ thẹn. Nàng vội vã xoay người, cởi chiếc áo choàng độn bông ra, vứt cho y rồi bảo:
- Các ngươi làm quan không so được với bọn ta, đã ở đây rồi cũng đừng làm bộ làm tịch kiểu nhà quan nữa, khoác nó lên đi, đêm nay… Ta kêu người đi kiếm chút rượu thịt về, ngươi cũng không đến mức lạnh quá không ngủ được như đêm qua.

***

Trong gian phòng trước, Hồng Nương Tử vừa mới rời đi, Thúy Nhi đã ghé sát đến bên cạnh Lưu lão đạo, thấp giọng hỏi:
- Ông giở trò gì thế? Không phải ông từng bảo cần xúi bẩy Hồng Nương Tử giết y sao? Sao lại đổi quẻ rồi?

Lưu lão đạo cười khổ, đưa mắt liếc nhìn ra bên ngoài, đáp nhanh:
- Ôi! Cũng là việc đời khó liệu… Giáo chủ đã đích thân phái người đến thông báo có thể Hoàng đế sẽ xuất kinh, đây là một cơ hội cực tốt. Mà Dương Lăng lại là nhân vật quan trọng đi theo phò tá, nếu thiếu sự ủng hộ của y, e là Hoàng đế khó lòng đi được. Do đó chúng ta nhất định phải bảo vệ sự an toàn của Dương Lăng, bằng bất cứ cách nào cũng không được để y chết.

Thúy Nhi cả kinh, thấp giọng:
- Có chuyện như vậy sao? Thảm rồi, bây giờ phải làm thế nào đây? Mấy kẻ kia cứ nhất quyết muốn báo thù cho huynh đệ, ta cũng đã đỡ lời khuyên nhủ Hồng Nương Tử rồi. Nếu ả đã quyết định chuyện gì rồi thì ngoan cổ lắm, chẳng mấy người có thể khiến ả thay đổi ý kiến được đâu.

Lưu lão đạo lạnh lùng đáp:
- Cô cũng đã đi theo ả mấy năm, rất quen thuộc tính cách của ả, ả cũng đã coi cô như tỷ muội thân thiết nhất rồi, đợi lát nữa hãy thử khuyên nhủ thêm xem. Ta sẽ ngụ lại tại nhà của Hồng viên ngoại ở phía sau đạo quán. Ở đây không thể nghe thấy tiếng điểm canh, cô cứ ước lượng thời gian, chừng canh hai ta sẽ dẫn người tới, cô giả vờ đi tiểu đêm ra ngoài gặp ta. Nếu Hồng Nương Tử đã hồi tâm chuyển ý thì thôi, còn nếu không, cô ra mặt giải quyết người canh gác trước, rồi chúng ta và ả đoạn tuyệt quan hệ!

Thúy Nhi thất thanh:
- Cái gì? Nếu như vậy thì tâm huyết bao năm nay của chúng ta ở giới lục lâm…

Lưu lão đạo khẽ giải thích:
- Bọn chúng đã để lộ diện trước mắt triều đình, cô nghĩ dưới sự vây ráp tiễu trừ của quan binh mà bọn chúng còn làm gì được nữa hay sao? Vốn liếng của chúng ta không thể đặt cả vào đám sơn tặc ấy được!


Ban đêm. Ánh lửa trong phòng khi mờ khi tỏ. Thúy Nhi đang ngủ ngoài cửa đột nhiên mở mắt ra, chậm rãi chống tay ngồi dậy, nhìn qua phía Hồng Nương Tử với vẻ hơi căng thẳng. Thị thấy lúc này Hồng Nương Tử đang dựa lưng vào bức tường đá, hai tay ôm vai, quàng thanh đoản kiếm trước ngực, hơi thở đều đều tự nhiên.

Thúy Nhi lại nhìn vào trong phòng. Dương Lăng không quen ngủ trong tư thế ngồi nên đang nằm co, cuộn người lại trên mặt đất trong chiếc áo choàng độn bông. Thúy Nhi khẽ thở phào một hơi, đứng dậy lẳng lặng đi ra phía ngoài. Đêm nay người canh gác bên ngoài là Hồ Đại Chùy và Phàn lão nhị. Thấy ả đi tới, Hồ Đại Chùy cười híp mắt lại:
- Thúy Nhi, có phải cô lạnh quá không ngủ được phải không? Để ca ca đây ôm một chút cho ấm nhé!

Thúy Nhi cười mắng:
- Cút ngay! Chớ nói với ta những lời dơ bẩn đó, để tiểu thư nghe được xem người có thu thập ngươi không! Tránh xa ra một chút!

Thúy Nhi đi lên bậc thang. Tuy Hồ Đại Chùy dám bỡn cợt ngoài miệng nhưng lại không dám động chân động tay với người của Hồng Nương Tử. Huống chi hắn cũng biết võ công của cô gái này cao minh hơn mình nhiều, nên bèn cười hì hì tránh sang một bên, nhìn cặp mông căng tròn kia ưỡn ẹo biến ra khỏi tầm mắt.

Phía sau đạo quán là một vạt rừng thấp. Hồi chiều gió lạnh rít gào nhưng lúc này đã bớt gió, từng bông từng bông tuyết lớn lặng lẽ rơi xuống, trời không trăng không sao, tối đen như mực.

Ứng phó xong với gã đại đạo canh gác bên ngoài, Thúy Nhi lẳng lặng đi vào trong rừng. Lắng nghe thử thấy phía sau không có động tĩnh gì, ả lại rón rén đi tiếp về phía trước, lần mò đến bên cạnh bức tường thấp bên ngoài khu rừng. Thúy Nhi ghé tai lắng nghe một hồi, hai bàn tay khẽ vỗ ba cái, cách đó không xa có người thấp giọng hỏi:
- Ai đó?

Thúy Nhi cũng thấp giọng đáp:
- Trời giáng Di Lặc phật.

Đối phương vui mừng đáp lại:
- Làm chủ thế giới kia! Lưu hộ pháp, người tới rồi.

Thúy Nhi lần mò bước về phía trước. Phía đối phương không dám đốt đèn, dưới ánh sáng mờ mờ chỉ có thể nhìn thấy sáu bảy bóng người đi tới. Người ở giữa khẽ hỏi:
- Thúy Nhi, thế nào rồi?

Nhận ra giọng của Lưu lão đạo, Thúy Nhi vội bước tới đáp:
- Hồng Nương Tử cảnh giác lắm, hồi sáng ta mới khuyên ả giết Dương Lăng xong, buổi tối khuyên một câu rồi cũng không dám khuyên nữa, sợ khiến ả nảy lòng nghi ngờ. Về sau mấy người Hắc Diêu Tử nghe thấy, lại tới phản bác lời ta. Bọn họ đều là huynh đệ kết nghĩa của Dương Hổ, Hồng Nương Tử nghe xong lời của bọn họ lại càng không chịu thay đổi ý định.

Lưu lão đạo buồn bực:
- Chẳng còn cách nào! Vì đại kế của giáo chủ, giờ đây xem ra chỉ đành phải giết ả thôi. Con ả này võ công ghê gớm lắm, đợi lát nữa hãy nhanh nhạy một chút. Đáng tiếc chúng ta không mang theo dược vật, nếu không thì tiện lợi hơn nhiều rồi.

Thúy Nhi thấp giọng trách:
- Trên đời này làm gì có thứ độc dược nào không màu không mùi chứ? Hơn nữa ta đã theo ả mấy năm, biết rõ sự lợi hại của ả. Mấy thứ hại người tầm thường đó ả chỉ cần ngửi cái là biết ngay, đừng đưa ra mấy ý kiến tồi tệ như vậy nữa! Chẳng bằng nhân lúc ả ta không đề phòng mà tung ra đòn thật mạnh đi!

Lưu lão đạo đồng ý:
- Được! Mọi người chú ý, nhất định phải làm thật nhanh thật độc, quyết không được tha cho bất cứ kẻ nào! Sau đó đổ cái chết của Hồng Nương Tử lên đầu quan binh; khi ấy cho dù có phải leo núi đao thì Dương Hổ cũng chẳng quản ngại gì.

Một bóng đen có địa vị dường như không thấp khẽ cười, vẻ dâm dật:
- Hay cho kế xua hổ đuổi lang! Đáng tiếc, Dương Hổ đại danh đỉnh đỉnh lại là một con hổ ngốc, tự dưng lãng phí hai trăm tên tâm phúc đắc lực cho chúng ta rồi hiện giờ ngay đến vợ cũng để mất. Nghe nói ả đó một thân võ nghệ quyền cước hơn người, tướng mạo quyến rũ, vóc dáng yêu kiều. Ta có mang theo ‘Thần Tiên Võng’ đây, có cần bắt sống ả không?

Lưu lão đạo nghĩ đến dáng vẻ xinh đẹp quyến rũ của Hồng Nương Tử thì cũng thầm bức rức trong lòng. Có điều có thể lọt vào hàng ngũ Bát đại hộ pháp của Di Lặc giáo thì đều là hạng tâm chí kiên định, sau khi cân nhắc một lúc về sự lợi hại được mất, lão bèn hủy bỏ ý định này, nghiêm chỉnh đáp:
- Vạn lần không được! Hồng Nương Tử võ nghệ cao cường, nhất định phải nhân lúc ả không để phòng mà nhanh chóng giết chết! Đi thôi!

Cả bọn theo sau Thúy Nhi lặng lẽ lần mò về hướng đạo quán. Nhìn thấy mấy tòa kiến trúc đen thui phía trước, Thúy Nhi dừng lại sau một gốc cây, thấp giọng:
- Trên xà ngang của ngôi điện phía trước có kẻ canh gác. Các ngươi đợi ở đây, ta đi dụ hắn xuống rồi kết liễu hắn trước.

Lời của Thúy Nhi còn chưa dứt, kẻ đi sau cùng chợt kêu thảm một tiếng rồi im bặt. Mấy người đi phía trước tay nắm chặt binh khí kinh hãi nhìn về phía sau, chỉ thấy bóng đen đó lắc lư mấy cái, rồi đổ gục xuống mặt đất.

Cả bọn đều sởn gai ốc, cơ thịt toàn thân căng cứng, đều không dám động đậy. Tuyết vẫn từ trên trời buông xuống, ngay đến bờ mi mỗi người cũng đều có tuyết bám vào, nhưng lại chẳng ai dám giơ tay lên gạt đi.

Tất cả đều mở to hai mắt nhìn chằm chằm vào bóng đêm tối mịt xung quanh, qua một hồi lâu Thúy Nhi mới run giọng hỏi:
- Chuyện gì vậy?

Từ phía bên trái chợt vang lên tiếng leng keng vũ khí va chạm. Cả bọn chợt thấy hai bóng người rất nhanh đã quấn vào một chỗ, sau đó một bóng người lao đi, biến vào trong màn đêm. Người còn lại thì kêu lên “Ối!” một tiếng, ngã ngược về phía sau, đau đớn kêu lên:
- Có kẻ tập kích, ta… dưới xương sườn ta bị trúng một kiếm.

Lưu lão đạo vội hỏi:
- Có chuyện gì thế? Là kẻ nào? Quan binh đã tìm tới rồi hay …
Lão đột nhiên xoay người lại, khẽ quát Thúy Nhi:
- Ngươi đã phản bội bản giáo?

Thúy Nhi hoảng hốt:
- Ta… Ta không có, rốt cuộc là kẻ nào?

Một giọng nữ uy nghiêm vô hạn vang lên:
- Là ta!

Thúy Nhi và Lưu lão đạo đều toàn thân chấn động. Thúy Nhi la thất thanh:
- Hồng Nương Tử? Ta… Ta không nên khuyên ngươi, khiến ngươi nảy lòng nghi ngờ!

Giọng nữ kia cười lên khe khẽ. Tiếng cười chợt dừng lại, thay bằng giọng nói khoan thai:
- Thúy Nhi! Chắc ngươi chưa biết ta từng bị quan binh vây quét, liên tục hai mươi ngày không được ngủ đẫy giấc nào. Huống chi đây là nơi kinh sư trọng địa, dưới sự bao vây trùng trùng của quan binh làm sao ta có thể ngủ sâu được cơ chứ?

Những lời khuyên của ngươi hoàn toàn không hề khiến ta nghi ngờ. Chỉ là khi thức dậy ngươi không nên lén lút thăm dò động tĩnh của ta như thế! Dã thú hết sức mẫn cảm với địch ý của kẻ khác, còn ta chính là một con mãnh hổ trong rừng!




Chú thích:





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025:

Ba_Van
25-05-2012, 10:40 AM
Ngược về thời Minh

Dịch từ nguyên tác: 回到明朝当王爷 (Hồi đáo Minh triều đương vương gia)

Tác giả: 月关 (Nguyệt Quan)

Quyển năm – Quần Ma Loạn Vũ

Chương 182 Xin tiễn người đi

Dịch: TheJoker

Biên dịch: 6300

Biên tập: 6300

Hiệu đính:

Nguồn: www.tangthuvien.com



Mong các bạn tích cực góp ý, báo lỗi!:grin::grin::grin::grin:





Liễu Bưu nhìn bộ dạng của hắn, thắc mắc:
- Huynh đệ còn muốn ra ngoài ư?

Ngũ Hán Siêu đáp:
- Tin báo bên phía thành bắc nói rằng mấy ngày nay có đạo sĩ vân du lui tới một đạo quán đang xây dở, đệ tính đến đó điều tra cho rõ.




Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 182 Xin tiễn người đi

------------------------

Quyển 5 - Quần ma loạn vũ - Chương 182 Xin tiễn người đi

------------------------

Trong Ngũ thành binh mã ty, đám hung thần nha môn tụ tập lúc nhúc; Đông Xưởng, Tây Xưởng, Nội Xưởng, Cẩm Y Vệ và các quan lớn của bộ Hình giống như những con tu hú chiếm lấy tổ chim khách, dồn viên Ngự sử tuần thành xuống chỗ ngồi bên dưới, vị quan này đang chau mày lắng nghe tên nô bộc trẻ tuổi chuyển lời.

Bởi phong thư đầu tiên được nhận ở Ngũ thành binh mã ty nên quan lớn các bộ đều chạy đến đây, hy vọng chiếm được tin tức trước một bước. Chung quanh Ngũ thành binh mã ty thông rộng ra bốn con đường, mặc kệ tuyết lớn bay lả tả, trời tối như mực, mật thám vẫn được cài cắm, nếu ban đêm có người tình cờ dám tạt qua, lập tức sẽ xuất hiện những kẻ không biết từ đâu chui ra, bất ngờ kẹp nách xốc vào trong căn nhà nhỏ bên đường ngay.

Trên công đường, các quan lớn không ngừng nhận được tình báo thu thập từ nhiều con đường khác nhau, nhưng đúng như người ta thường nói, "một người đem giấu, vạn kẻ khó tìm", kinh sư rộng lớn như vậy, muốn giấu vài người quả thực dễ như trở bàn tay, đến tận giờ vẫn chưa có được tin tức gì hữu dụng. Đến canh ba, Lưu Cẩn và mấy đại nhân không thức nổi nữa bèn kêu người dọn chiếc bàn chân thấp ra khỏi giường, rồi nằm chen chúc nhau đánh một giấc.

Công đường của Binh mã ty đã sớm rối như canh hẹ; đám chủ nhà Điển sử, Chủ bộ, Tuần kiểm đều không dám về nhà, toàn bộ ở lại công đường bận bịu làm việc của mỗi người. Ngũ Hán Siêu đi đi lại lại trên công đường, đã hai ngày hai đêm nay hắn không thể chợp mắt, râu dưới cằm đã mọc lún phún, mắt hằn đầy tơ máu, trông hệt như một con thú bị nhốt trong chuồng.

Hắn lầm tưởng cô ả che mặt kia là Hồng Nương Tử, mới ra ràng nên nặng lòng háo thắng, chỉ nghĩ bắt sống được tên đạo tặc đó, làm đại lễ quy thuận Nội xưởng, không ngờ lại trúng phải kế điệu hổ ly sơn, giờ đây không rõ Dương Lăng sống hay chết. Nghĩ đến hậu quả có thể xảy ra, hắn liền sởn gai ốc.

Ngũ Hán Siêu thả bộ đi đến bên chiếc bàn chân thấp, ngọn đèn dầu trên bàn sáng trưng, một Chủ bộ khoác trên người áo da đang chống cằm ngủ gật. Ngũ Hán Siêu nhìn thấy trên bàn bày chồng hồ sơ dày cộp, thuận tay nhón lấy một tờ lên xem, vừa nhìn thấy tin tức bên trên, liền cúi xuống gõ nhẹ bàn.

Lão Chủ bộ đang ngủ say sưa, đột nhiên bị hắn đánh thức. Lão không biết Ngũ Hán Siêu, có điều vị công tử này tuy không ăn vận như sai nha, mấy ngày nay lại thường thấy hắn đi ra đi vào cùng với đám người của xưởng vệ, dường như lai lịch không nhỏ, lão Chủ bộ nào dám xem thường, liền vội dụi mắt hỏi:
- Công tử, ngài có việc gì sao?

Ngũ Hán Siêu trỏ vào hồ sơ án hỏi:
- Lính bảo an khu hẻm nghèo nát phía thành bắc nói rằng mấy ngày nay có một đạo sĩ vân du lạ mặt thường hay ra vào, sáng hôm nay có tên hầu đổ phân phát hiện lão ta bước ra từ trong một đạo quán đang xây dở, đã phái người tra xét chưa?

Lão Chủ bộ khẽ gật đầu, thần trí tỉnh lại một chút rồi lại lắc đầu, Ngũ Hán Siêu nổi giận, túm lấy lão nhấc lên, quát:
- Rốt cuộc là đã tra chưa?

Lão Chủ bộ nhăn nhó khổ sở van xin:
- Công tử hãy buông tay, hãy buông tay, xin nghe lão phu nói đã. Khụ khụ khụ, thở... thở không nổi rồi.

Ngũ Hán Siêu hừ lạnh, bỏ tay ra, lão Chủ bộ vuốt vuốt cổ họng, thở hổn hển nói:
- Công tử, tra không nổi đâu. Nhân mã của chúng ta tuy đông, nhưng vào lúc này, cả thành Bắc Kinh nơm nớp lo sợ, chia quân ra canh gác, trông coi các nha môn và phủ đệ của các vị đại nhân, tuần tra kinh thành, có điều khắp kinh thành cũng sẽ không đủ dùng.

Từ khi triều đình dán công văn treo thưởng, tin báo nhận được trong mấy ngày nay không một vạn cũng tới tám nghìn, kẻ nào cũng nói tận mắt trông thấy, kết quả mỗi lần phái đại đội nhân mã đều là một chuyến uổng công, bắt được toàn những kẻ trộm vặt, ăn cướp, lừa bịp, và lưu dân không có giấy tùy thân, thậm chí có cả thông dâm nuôi trai, đại lao đã nhét chật cả người.

Nay tình hình kinh sư như vậy, ngay cả khách điếm cũng không muốn tiếp đón khách mới, càng đừng nói là chùa chiền đạo quán. Đạo sĩ đó vân du bốn phương không chỗ ngả lưng, nghỉ lại nơi miếu chùa đổ nát ngoài thành cũng hết sức bình thường, những kẻ khả nghi còn tra không nổi, lấy đâu người mà đến đó điều tra lão ta?

Ngũ Hán Siêu lạnh lùng hừ một tiếng, xoay người đi ra, lão Chủ bộ liền trừng mắt, nhếch môi. Không thấy tin tức này thì thôi, nhưng nếu đã thấy rồi, người trong lúc tuyệt vọng chỉ cần có một tia hy vọng liền sẽ không kiềm được mà suy nghĩ lung tung, cho nên tin tức này thủy chung vẫn luẩn quẩn trong đầu Ngũ Hán Siêu.

Ngũ Hán Siêu trở lại ghế ngồi, song càng nghĩ càng thấy bực bội, nếu không đích thân đi xem thử thì chuyện này sẽ mãi canh cánh trong lòng. Hắn bỗng đứng dậy, chụp lấy áo khoác ngoài trên ghế rồi vội vã mặc vào.

Liễu Bưu đang ủ rũ từ trong nhị đường(1) bước ra, trông thấy bộ dáng của hắn như vậy bèn đi đến hỏi:
- Ngũ công tử, hiện chỉ có thể đợi đám đại đạo đưa tin đến lần nữa, huynh đệ đã hai ngày không chợp mắt, đến bữa cũng không ăn miếng nào, nếu cứ tiếp tục như vậy, đến lúc có được tin tức của đại nhân rồi, sợ rằng huynh đệ cũng không gắng gượng được nữa đâu.

Ngũ Hán Siêu gượng cười nói:
- Đa tạ Liễu huynh đã quan tâm. Đại nhân bị bắt là do tiểu đệ không làm tròn bổn phận, mỗi khi nghĩ đến chuyện này, thực sự đứng ngồi không yên.

Liễu Bưu nhìn bộ dạng của hắn, thắc mắc:
- Huynh đệ còn muốn ra ngoài ư?

Ngũ Hán Siêu đáp:
- Tin báo bên phía thành bắc nói rằng mấy ngày nay có đạo sĩ vân du lui tới một đạo quán đang xây dở, đệ tính đến đó điều tra cho rõ.

Chủ bộ nọ không nhịn được bèn chen miệng vào:
- Đại nhân, khu vực thành bắc, bao gồm cả đạo quán đang xây dở đó cũng đã được Binh mã ty điều tra một lượt, không hề phát hiện có gì khác thường.

Ngũ Hán Siêu vặn lại:
- Tuy đã điều tra đạo quán, nhưng đã điều tra lão đạo sĩ nọ chưa? Ngươi từng nói có thể đạo sĩ đó đang tá túc tại đấy, lúc này tiết trời giá rét, thế nhưng bên trong đạo quán đó chăn đệm hay vết lửa không?

- Việc đó...
Lão Chủ bộ cứng họng, rờ mũi không biết nói thế nào. Liễu Bưu nhíu mày lại, thấp giọng nói:
- Ngũ công tử, có câu vua không sai được lính đói, quan binh tìm kiếm cả ngày lẫn đêm, cả người lẫn ngựa sớm đã mỏi mệt, lúc này vẫn chưa đến canh tư, thêm nữa tuyết lớn mịt mù, ta thấy hay là đợi trời sáng một chút hẵng cùng nhân mã đi điều tra.

Ngũ Hán Siêu buộc đai lại, đeo kiếm lên, nói:
- Thực như đã có nghi ngờ, dẫn đại quân đến sẽ khiến kẻ gian cảnh giác. Tự mình đệ đi xem thử.

Liễu Bưu biết trong lòng hắn không thoải mái, cũng không khuyên bảo thêm, bèn nói:
- Thôi được, ta sẽ đi cùng huynh đệ một chuyến.

Tuyết vẫn rơi lả tả, trời lại nổi gió, gió rít gào cuốn phăng những bông tuyết. Bóng đêm mờ mịt, mặt đất xốp mềm, cầm đèn soi không thấy nổi ba trượng. Liễu Bưu sang phòng trực gác đêm gọi bốn tay thân binh dậy, sáu người cưỡi ngựa chạy đến phía thành bắc, những giao lộ trọng yếu dọc đường vẫn có quan binh canh gác, kiểm tra thẻ bài giắt lưng của Liễu Bưu xong thì vẫy tay cho qua.

Trong rừng, Lưu đạo sĩ, Thúy Nhi và một giáo đồ Di Lặc giáo dựa sát vào nhau thành hình chữ phẩm (品); nỗi khiếp đảm và một phen chiến đấu đã khiến bọn họ thở hổn hển như trâu. Lưu đạo sĩ đảo mắt liên tục, hòng tìm cơ hội đào thoát, nhưng trong cái bóng đêm như mực ấy, bất cứ lúc nào cũng có thể có một bà la sát nhảy ra đòi mạng, không có Thúy Nhi và tay giáo đồ Di Lặc giáo nọ bảo vệ, lão căn bản không dám tự mình chạy trốn.

Hai bên vừa mới giao thủ, tên đạo tặc canh gác trên xà nhà của đạo quán đã loáng thoáng nghe thấy động tĩnh; lúc Hồng Nương Tử âm thầm bám theo Thúy Nhi ra khỏi hầm, nàng vẫn chưa thể xác định ả ta có hai lòng hay không, vì vậy chỉ bảo tên nọ canh phòng cẩn thận, lúc này nghe thấy tiếng binh khí va chạm, không cần Hồng Nương Tử ra lệnh, hắn liền chạy vào trong hầm gọi người ra.

Đám cướp còn tưởng rằng đã bị quan binh bao vây, bèn để một tên ở lại trông chừng Dương Lăng, những kẻ khác cầm lấy binh khí xông ra ngoài. Đến lúc xông vào trong rừng, Hồng Nương Tử lập tức quát bảo bọn chúng bao vây bốn phía, không cho bất cứ kẻ nào thừa lúc hỗn loạn mà đào thoát.

Bọn chúng cũng không biết đã xảy ra chuyện gì, đến khi nghe nói những kẻ này là giáo đồ Di Lặc, dư nghiệt của Bạch Liên giáo, từng hoành hành tại Cam Túc, Thiểm Tây và Sơn Tây, đám cướp mới yên tâm. Song phương đều 'đen', không thể ra 'sáng', chỉ cần không phải quan binh thì dễ xử rồi.

Người trong lục lâm căm ghét nhất chính là bị phản bội, nếu có người làm chuyện có lỗi với huynh đệ, cho dù đó là cha ruột, bọn chúng cũng sẽ không chút do dự tìm kẻ đó để chấp hành sơn quy. Bọn chúng không biết Thúy Nhi vốn là người trong Di Lặc giáo, cho nên chỉ dò hỏi mấy câu qua loa, nhầm tưởng ả phản bội gia nhập Di Lặc giáo, thế nên trong lòng căm ghét vô cùng.

Thúy Nhi có võ công cao nhất trong đám giáo đồ Di Lặc này, tuy đả thương được hai tên dưới sự công kích điên cuồng của bọn chúng, song vẫn bị chặn đường lui. Hồng Nương Tử có võ nghệ kinh người, mượn màn đêm mà rảnh rang ra tay giữa bầy địch, căn bản không cần phân biệt địch ta, chém giết nửa canh giờ, hiện chỉ còn lại ba tên.

Lưu đạo sĩ búng chân thoăn thoắt, chợt khàn giọng kêu lên:
- Hồng Nương Tử, kẻ thức thời là trang tuấn kiệt, nay triều đình đã điều động đại quân, sơn trại lục lâm của ngươi sắp không giữ được nữa rồi. Bắt cóc mệnh quan triều đình là tội lớn tày trời, ngươi và Dương Hổ đã không còn lối thoát. Bản giáo căn cơ hùng hậu, giáo đồ rải khắp thiên hạ, với võ nghệ hai vợ chồng ngươi, nếu như gia nhập bản giáo, tất sẽ là một viên hổ tướng. Ngươi có muốn suy nghĩ lại không?

Hồng Nương Tử nắm chặt thanh đoản kiếm nhuốm máu, lặng lẽ di chuyển trong khu rừng, cười khẩy nói:
- Có lẽ ngươi nên suy nghĩ trước đi! Di Lặc giáo dùng những trò bịp mê hoặc những đôi vợ chồng ngu dốt dâng hiến mọi tiền tài con cái cho các ngươi, cung cấp nô dịch cho các ngươi sai khiến, hán tử trong giới lục lâm chúng ta cũng khinh thường các ngươi. Giết!

Thừa lúc nói chuyện khiến đối phương buông lỏng, Hồng Nương Tử đột ngột lộn người tới phía trước, đâm một kiếm vào ngực gã tín đồ Di Lặc giáo nọ, rồi lại búng người lủi vào trong bóng đêm. Tên tín đồ Di Lặc nọ kêu "hự" một tiếng, buông cây đơn đao trong tay, lảo đảo mấy bước rồi ngã sấp xuống mặt đất phủ tuyết, máu tươi trong ngực trào ra ồ ạt.

Lưu đạo sĩ cực kỳ bi phẫn, giọng run lên:
- Con đàn bà ngu ngốc nhà ngươi, hợp tác thì cùng có lợi, mà chia rẽ thì đều có hại, gia nhập bản giáo, ngươi và Dương Hổ sẽ có thể được phong làm Thiên sư và Phật mẫu, dưới một người trên vạn kẻ, vinh hoa phú quý hưởng không hết.

Không sai, hai trăm huynh đệ đó của ngươi là do bọn ta sai khiến, bán mạng cho chúng ta, nhưng người trong giang hồ nguy hiểm chập trùng, việc đó có gì kỳ lạ? Chỉ dựa vào ngươi ư? Hay dựa vào ngươi và cả Dương Hổ thì có thể báo thù?

Đoạn lão cười sằng sặc dọa nạt:
- Cho dù là nhân mã lục lâm cùng tận ở Bá Châu của ngươi, cũng đừng hòng đối phó với bản giáo. Trong khu rừng này, ta là cá thịt, ngươi là dao thớt, nhưng chỉ cần rời khỏi nơi đây, ta sẽ có tiền tài và nhân thủ vô tận để dùng, cả đời này ngươi cũng đừng mơ báo thù!

Thúy Nhi cũng thấp giọng dụ dỗ:
- Đại tiểu thư, đừng trách Thúy Nhi vô tình, chúng ta ai nấy đều vì chúa của mình. Giáo chủ thần thông quảng đại, là Di Lặc giáng trần, người mới là chân long đó. Bây giờ tiểu thư đã biết Tử Vi chuyển thế, ứng tại Dương Hổ gì đó đều là lời nói gạt rồi chứ?

Hãy nghe Thúy Nhi khuyên một câu, chỉ cần tiểu thư dừng tay giảng hòa, ta và Lưu hộ pháp có thể bảo đảm rằng người sẽ có được địa vị cao quý trong bản giáo. Hiện tiểu thư đã thấy công phu thực tế của ta không kém người là mấy rồi chứ? Nếu thực sự liều mạng liệu tiểu thư có thể giết được ta mà không mất mấy người không?

Trong rừng im phăng phắc, chỉ có tuyết rơi, gió thổi...

Nghe xong lời này Hồng Nương Tử và mấy tay đại đạo đều im lặng không nói lời nào. Một lúc lâu sau, mới nghe Thôi Oanh Nhi cất giọng lạnh lùng:
- Muốn ta không giết ngươi cũng được, ngươi và ta đều phản lại triều đình, chúng ta sẽ không quy thuận các ngươi, có điều muốn hợp tác cũng không hẳn là không thể...

Thúy Nhi mừng ra mặt, vội nói:
- Đại tiểu thư, người đồng ý sao?

Thôi Oanh Nhi cười nhạt nói:
- Đừng gọi ta là đại tiểu thư, hẳn là địa vị của ngươi trong Di Lặc giáo cũng không thấp chứ? Ngươi nên biết là rằng kẻ làm thủ lĩnh nếu muốn thu phục mọi người, thì phải không phụ lòng huynh đệ. Chúng ta lúc đi mang theo hai trăm người, cha mẹ vợ con bọn họ vẫn đang chờ bọn họ trở về ăn Tết, nay đến cả di hài ta cũng không thể mang về thì sao có thể ăn nói với bọn họ?

Thúy Nhi do dự hỏi:
- Vậy... ý của tiểu thư là...?

Thôi Oanh Nhi nói một cách quả quyết:
- Nếu không phải vì Lưu đạo sĩ, chúng ta hà tất phải cực khổ chạy vào trong thành tìm chết? Ngươi giết cho ta cái tên chủ mưu gây nên chuyện này, để ta có thể ăn nói với các huynh đệ, ta sẽ tha cho ngươi, hơn nữa sẽ suy nghĩ hợp tác cùng Di Lặc giáo. Ngươi yên tâm, chuyện này trời biết đất biết, tuyệt sẽ không có bất cứ tín đồ Di Lặc nào biết ngươi làm đâu.

Người Lưu đạo sĩ thoáng run lên, cố mạnh miệng cười nói:
- Ha ha, ha ha, đúng là buồn cười, ngươi muốn chia rẽ để bọn ta tự giết lẫn nhau, để ngươi ngồi hưởng lợi ngư ông sao? Thuý Nhi là Tiên cơ của bản giáo, có thể mắc lừa ngươi sao?
Lão và Thúy Nhi vốn tựa lưng vào nhau, kết chặt thành một khối, nhưng miệng vừa nói vậy lão lại lặng lẽ tách người ra một chút, đặt một nửa sự chú ý ra phía sau, lo sợ Thúy Nhi sẽ bất thình lình cho lão một kiếm.

Thôi Oanh Nhi cười lạnh, giọng quanh quẩn khắp nơi:
- Vừa nãy ai đã nói kẻ thức thời là trang tuấn kiệt? Thúy Nhi, ngươi và ta quen biết đã lâu, nên biết lời ta thốt ra tuyệt không thay đổi. Ta sẽ đếm đến mười, nếu ngươi không động thủ, ta sẽ kêu các huynh đệ chôn xác các ngươi tại nơi này, có lẽ mấy ngày sau thi thể trong đống tuyết của ngươi cũng sẽ bị chó hoang bươi ra thôi. Một, hai, ba...

Theo nhịp đếm của Thôi Oanh Nhi, trái tim của Lưu đạo sĩ và Thúy Nhi đập thình thịch, Lưu đạo sĩ đột nhiên thấy Thúy Nhi bên cạnh thoáng có cử động, bèn cũng vội giật mình tránh thân, hông dường như bị vật gì chém sượt qua, liền nổi giận đùng đùng, chém trả lại một đao, mở miệng mắng:
- Con điếm thối tha, ngươi thực sự động thủ với ta à?

Thúy Nhi lánh người là do cũng bị một vật quét sượt qua, cảm giác giống như cành cây khô, lập tức phát giác bị mắc lừa, ngay lúc nào Lưu đạo sĩ đã hung tợn bổ một đao tới. Thúy Nhi vừa tức giận vừa lo lắng, hất kiếm lên, "keng" một tiếng, một loạt tia lửa bắn ra. Thúy Nhi quát lớn:
- Đồ ngu, đừng trúng kế ả ta.

Chính vào lúc này, từ trong bóng đêm, Hồng Nương Tử người theo ánh kiếm mang theo hoa tuyết, lao đến nhanh như một cơn lốc, một tiếng quát lạnh lùng và nghiêm nghị vang lên:
- Giết!

Từ động tác và phản ứng của Thúy Nhi sau khi vung đao, Lưu đạo sĩ liền phát hiện mình đã bị trúng kế, lúc này nhìn thấy những bóng đen đánh úp tới, Lưu đạo sĩ không kịp suy nghĩ, lập tức vung đao chém tới, la lên:
- Cẩn thận!

Một kiếm của Hồng Nương Tử vốn nhắm vào ngực Thúy Nhi, nàng liền khom người tránh lưỡi đao của lão, rồi hất kiếm lên, đâm ngay vai Thúy Nhi, tiếp đó thân kiếm bị đao chém trúng, mũi kiếm kẹp dưới xương quai xanh của Thúy Nhi rung mạnh, khiến cô ả đau đớn kêu thét lên, trước mắt tối sầm, cơ hồ ngất xỉu.

Rồi không thèm suy nghĩ, nàng lập tức bỏ kiếm, co người bổ nhào vào Lưu đạo sĩ, ôm lấy lão lao về phía trước. Hai người quấn vào nhau, trượt xa hơn trượng mới ngừng lại.

Lúc này, Lưu đạo sĩ đã choáng đến không còn biết trời đất sao trăng chi nữa. Hồng Nương Tử nâng gối thúc mạnh một cái ngay giữa quần lão, giữa tiếng kêu la thảm thiết nàng lại lấy hai tay kẹp lấy đầu lão vặn mạnh, "rắc" một tiếng, tiếng kêu thảm thiết vừa thốt ra lập tức im bặt.

Trúng phải một kiếm nọ, Thúy Nhi vẫn có thể chịu được, nhưng cây kiếm cắm vào hốc xương lại bị đao chém vào gần như chẻ xương quai xanh của ả đứt rời. Cô ả nửa quỳ trên mặt đất, khó khăn lắm mới có thể thẳng lưng dậy, liền tuyệt vọng phát hiện bên cạnh có mấy bóng người lầm lì vây quanh.

Thôi Oanh Nhi buông một câu lạnh nhạt:
- Kéo nó vào đạo quán!

Thúy Nhi chưa kịp mở miệng, liền cảm thấy da đầu bị siết lại, một cánh tay to lớn nắm đầu cô ả kéo lên, sau đó hai vai lại bị đánh một chưởng, hai cánh tay lập tức rũ xuống mềm oặt, chỗ bị thương chịu phải một kích này gần như khiến cô ả đau muốn ngất đi.

Mấy gã đại hán kéo lê Thúy Nhi vào trong đạo quán, Thôi Oanh Nhi đứng nguyên tại chỗ không nói lời nào, mấy tay hán tử còn ở lại bèn gọi:
- Chị dâu...

Thôi Oanh Nhi nhỏ giọng nói:
- Mặc dù bọn chúng để lại tai mắt nhưng tạm thời khó có thể tập hợp nhân thủ, có điều vẫn nên cẩn thận là hơn, đi dạo một vòng xem thử. Nơi này... đã không thể ở lại nữa.

Hai tên đại đạo dạ một tiếng, rồi lặng lẽ xoay người bước đi. Thôi Oanh Nhi ngước mặt lên trời, để mặc cho bông tuyết rơi phất phơ xuống khuôn mặt, hoá thành giọt nước lạnh ngắt. Tuyết đổ rất dày, rất nhanh mấy thi thể trên mặt đất đã bị phủ lên bởi một lớp tuyết trắng ngần.

Thôi Oanh Nhi khẽ run rẩy, quay người trở về trong đạo quán. Dương Lăng ngồi chờ trong một căn phòng đá nằm ở trong cùng, chỉ nghe thấy bên ngoài có tiếng con gái kêu la thảm thiết, lại bị bọn cướp nhốt trong phòng không cho ra ngoài, y còn tưởng đám giặc cướp này không chịu nổi trống vắng cho nên đêm khuya đã bắt cóc con gái nhà dân về chơi đùa, trong lòng căm hận không thôi.

Thôi Oanh Nhi đi vào trong hang, thấy cả người Thúy Nhi đầy máu, khuôn mặt vốn dĩ xinh đẹp đã bị đánh cho tím bầm, tóc tai bù xù trông như quỷ dữ. Hồ Đại Chuy xách đầu cô ả, đang định tát thêm một cái, Thôi Oanh Nhi liền nghiêm giọng nạt:
- Dừng tay!

Nàng bước tới trước mặt Thúy Nhi, chậm rãi ngồi xếp bằng, lạnh lùng nhìn một hồi lâu, rồi mới cất giọng hỏi:
- Ta hỏi ngươi ba việc. Một, tình hình của Hổ ca hiện nay thế nào? Hai, ngươi và Lưu đạo sĩ là Hộ pháp và Tiên cơ của Di Lặc giáo, lại lao tâm tổn sức trà trộn vào trong sơn trại của chúng ta rốt cuộc tính làm gì? Ba, nếu đã muốn lợi dụng ta, cớ sao lại muốn giết ta?

Thúy Nhi phun ra một bãi nước bọt lẫn với máu, thở hổn hển nói:
- Ngươi cứ giết ta đi, đừng hòng moi được tin tức gì từ chỗ của bản Tiên cơ, rồi sẽ biến thành con ma dốt của quan phủ. Ha ha... hộc!

Hắc Diêu Tử đạp một cước vào bụng dưới cô ả, tiếng cười thảm thiết của Thúy Nhi lập tức ngưng bặt. Thôi Oanh Nhi chỉ cười nhạt, lấy làm thú vị hỏi:
- Tiên cơ? Nghe nói Di Lặc giáo thần thông quảng đại, có thể lôi kéo ngũ quỷ(2), có thể biến sắt thành vàng, đao thương bất nhập, bạch nhật phi tiên, lừa gạt khiến một đám dân đen điên đảo thần hồn. Được, vậy để ta lĩnh giáo thủ đoạn của tiên cô Thúy Nhi một chút.

Đoạn nàng đứng dậy, mỉm cười, rút từ trên tường một cây đuốc chưa cháy hết, cầm kiếm gọt vài cái, đẽo thành một cây cọc có cạnh sắc nhọn, sau đó đến bên cạnh Thúy Nhi, đột nhiên vén váy cô ả lên, thò tay giật ống quần của cô ả xuống.

Bên dưới chiếc váy là chiếc quần màu xanh nhạt, trong lợp vải bông, nhưng sức tay của Thôi Oanh Nhi rất khoẻ, vừa kéo xoạt một tiếng, khúc chân trắng trẻo, thon thả và ưu mỹ liền lộ ra. Thúy Nhi rúm người lại, giọng run rẩy:
- Ngươi muốn làm gì?

Thôi Oanh Nhi nhướng đôi mày liễu, giơ cây cọc đen thùi lên, thản nhiên nói:
- Ta đang nghĩ, nếu như đục một lỗ trên chân ngươi, cắm cây cọc này vào, xuyên nó lên tận bắp đùi, không biết đám yêu đạo có thể thỉnh nhờ Đại La Kim Tiên nhập xác các ngươi sẽ vẫn chịu nổi hay không.

Sắc mặt Thúy Nhi trắng bệch. Cô ả cúi đầu trầm tư một chốc, rồi mới cười đau khổ nói:
- Thôi được! Ta biết rõ thủ đoạn của Hồng Nương Tử ngươi, rơi vào tay ngươi rồi, cũng đừng hòng sống mà thoát ra. Ta nói cho ngươi rồi, chỉ xin ngươi... có thể cho ta một cái chết thoải mái.

Thôi Oanh Nhi cười đáp:
- Thông minh, lại đây, nói nhỏ một chút. Ta đồng ý với yêu cầu của ngươi!

* * *

Sắc trời chạng vạng, bông tuyết tuy nhỏ nhưng cũng rất dày, giống như mạt phấn. Hồng Nương Tử và năm gã đại hán áp giải Dương Lăng loạng choạng đi về phía thành ngoại. Dương Lăng lạnh đến độ da dẻ tím tái, y nheo mắt để tránh gió tuyết, bước thất tha thất thểu theo sau Hồng Nương Tử.

Thành bắc là thành ngoại, bên ngoài không có tường thành, mãi đến những năm Gia Tĩnh sau này tường thành của thành ngoại mới bắt đầu được xây sửa để phòng ngừa giặc ngoài. Tiếc rằng chuẩn bị không thỏa, kế hoạch ban đầu là bao thành nội lại, song sức người và sức của không đủ, chỉ xây được mặt thành nam, còn đông và tây chỉ cho ôm lấy thành nội qua loa là liền cho kết thúc công trình.

Vốn vào thời điểm này, cấm thành trong kinh sư bình thường đều tập trung kiểm tra ở cổng nội thành, nhưng do trọng thần trong triều bị bắt cóc, cho nên hiện tại nơi ra vào của thành ngoại dựng đầy lều trại và trạm gác. Mỗi trạm gác đều có một Bả tổng, kiểm tra nghiêm ngặt người ra vào.

Vẫn chưa đến canh năm, cộng thêm tuyết lớn, trạm gác chỉ có bốn tay vệ binh ôm giáo sắt co ro đứng gác. Trông xa xa thấy có mấy nam nữ đi tới, một tên binh sĩ lập tức quát hỏi:
- Kẻ nào sớm như vậy đã muốn rời thành? Mau đưa ra giấy thông hành và hộ tịch, ngươi, một mình qua đây, những người khác không được tới gần.

Bởi vì gió gắt, tiếng của binh sĩ nọ nghe không thấy lớn. Thôi Oanh Nhi dừng bước chân, ngó năm sáu căn lều trại dựng ở đó, cười lớn bảo:
- Đi gọi quan tướng dẫn binh của các ngươi ra đây, nói có đại đạo Bá Châu là Hồng Nương Tử muốn gặp hắn!

***

Ngũ Hán Siêu và Liễu Bưu dẫn bốn tay thân binh tiến vào căn ngõ hẻm cũ kỹ ở thành bắc. Đến trước đạo quán nọ, Ngũ Hán Siêu nhảy xuống ngựa nói:
- Liễu huynh, tiểu đệ vào trong xem thử!

Chàng ta phi thân vào trong đại điện. Một nửa số phòng ốc của đại điện trống trơn, tuyết bay vào không ít, dưới một bên tường tuyết bị gió cuốn vào gom thành ụ, phía tường đối diện lại không có chút tuyết nào. Chàng ta quan sát chính điện trống không, rồi đẩy mở cửa hông, điện thờ hai bên vẫn chưa lợp mái, chỉ đặt một cái giá, chỉ cần liếc một chút là thấy hết bên trong ngay.

Chàng ta bước mấy bước về phía trước, Liễu Bưu cũng cầm đao theo vào, vòng qua trụ điện, vừa thấy đài đá đặt hương án nọ, hai người liền không khỏi sững ra. Mặt bên hương án xuất hiện một lỗ hang, Ngũ Hán Siêu mừng quýnh, liền phóng qua, trông thấy bên trong dường như có ánh sáng lập loè. Chàng ta cúi tai xuống đất lắng nghe động tĩnh bên trong, đoạn bạt kiếm ra khỏi vỏ rồi nhảy xuống.

Liễu Bưu không kịp cản, vội cùng bốn tay thị vệ đi theo cầm đao đứng thủ ngay cửa hang, chỉ khoảnh khắc liền nghe giọng Ngũ Hán Siêu run run cất lên:
- Liễu huynh hãy mau xuống đây, nơi này không có người, chỉ có xác của một cô gái!

Liễu Bưu nghe vậy liền phóng người nhảy xuống, một lúc sau, hai người lại vội vã nhảy ra ngoài. Ngũ Hán Siêu nói:
- Thân hình và vóc dáng nữ nhân này cực kỳ giống với người đã giao thủ cùng tiểu đệ, thi thể mới vừa cứng lại, đuốc trong động vẫn chưa tàn, chứng tỏ bọn họ rời nơi này chưa lâu. Xem đồ vật để lại bên trong, hẳn có thể giấu được năm, sáu người, rất có khả năng chính là nơi này!

Liễu Bưu liền quát ra lệnh:
- Kỳ chưởng ban, lập tức đi gọi người, đến cổng thành nội, triệu tập nhân mã lật tung cả thành bắc cho ta!

Thị vệ nọ nghe có tin tức của xưởng đốc, liền vội mừng rỡ đáp vâng, rồi xoay người chạy đi. Liễu Bưu trầm ngâm nói:
- Nếu như nơi này chính là nơi ẩn nấp của bọn chúng, bọn chúng bỏ ổ, tại sao không che lấp miệng hang để giấu? Trừ phi...

Ngũ Hán Siêu tiếp lời:
- Trừ phi bọn chúng không muốn trốn nữa!

Liễu Bưu lập tức biến sắc, lo lắng nói:
- Hỏng rồi! Chẳng lẽ tin tức Dương Hổ không nằm trong tay chúng ta đã bị bọn chúng biết rồi sao? Nếu quả như vậy, bọn chúng sẽ đi đâu?

Hai người đưa mắt nhìn nhau, cùng đồng thanh:
- Ra khỏi thành!

* * *

Trước mặt gần trăm quan binh giáp trụ sáng choang, đao thương san sát, đám người Hồng Nương Tử ngông nghênh cưỡi những con ngựa của họ. Chỉ có năm thớt ngựa, hai trong số đó lại là ngựa thồ, Hồng Nương Tử và Dương Lăng ngồi chung một ngựa, hai tên đại đạo có thân thể gầy gò khác cưỡi chung một ngựa.

Hồng Nương Tử kẹp chặt bụng ngựa, một tay ôm lưng Dương Lăng, một tay cầm thanh đoản kiếm gác trên cổ y, nhoẻn miệng cười tươi như hoa, nói với tay Bả tổng râu xồm đang đứng ngây tại chỗ:
- Đa tạ tướng quân đã ban thưởng ngựa, đại nhân đã kiểm tra lệnh bài ra vào hoàng cung của Dương đại nhân rồi, quả thực không chút giả tạo. Hiện tại ta muốn mời Dương đại nhân của ngươi tiễn ta một chặng, nếu như ngươi dám mang một binh một tốt đuổi theo, hơn trăm quan binh ở đây có thể bảo đảm rằng Dương đại nhân chính là bị ngươi bức chết. Lúc đó tự ngươi đi mà giải thích với đám hổ sói của Nội xưởng nhé. Giá!

Nàng co chân thúc vào bụng ngựa, nghênh ngang phóng đi trong chuỗi tiếng cười hào sảng.

* * *
Ngũ Hán Siêu và Liễu Bưu đuổi theo một mạch, giữa đường gặp được tên binh sĩ được gã Bả tổng xui xẻo nọ phái trở về báo tin, nghe chưa hết lời hai người liền phi ngựa đuổi đến lều trại, chỉ thấy một đám quan binh đang đứng trong gió tuyết, gã Bả tổng râu xồm nọ đầu tóc và hai vai dính đầy tuyết. Trông thấy bọn họ đuổi đến, vẻ mặt của lão ta cũng không biết là đang khóc hay đang cười.

Ngựa chạy được một chốc, vừa rời khỏi tầm mắt quan binh, cả bọn liền bỏ quan đạo mà xông vào trong đồng cỏ hoang vu. Dương Lăng đột nhiên hỏi:
- Cô không định trao đổi Dương Hổ sao?

Hồng Nương Tử cười mỉa mai :
- Huynh ấy thực sự nằm trong tay các ngươi sao?

Dương Lăng im lặng, một hồi sau mới nói:
- Các người trốn không thoát đâu, chỉ với mấy thớt ngựa này, còn có tuyết lớn như vậy, các người chạy không tới mười dặm.

Hồng Nương Tử cười lớn nói:
- Đa tạ Dương đại nhân quan tâm. Thực ra ta phải cảm ơn con tuyết lớn này. Tuyết lớn khó đi, đất không lưu vết, đường không thấy người, ngoài trăm trượng không thấy rõ gì cả, trời đất mịt mù, cho dù có trăm vạn truy binh đuổi theo phía sau, có thể làm gì được ta chứ?

Nàng bỗng đảo mắt, kẹp lấy lưng Dương Lăng, ném y xuống đất. Dương Lăng ngã lảo đảo mấy bước, giữ cho ổn định người lại, rồi bình tĩnh ngước nhìn nàng hỏi:
- Cô muốn giết ư?

Hồng Nương Tử vòng ngựa đi quanh y mấy vòng rồi dừng lại, hai người đưa mắt nhìn nhau, bông tuyết rơi nhẹ giữa hai người, che mờ dung mạo của bọn họ. Hồng Nương Tử hít vào một hơi, rồi chợt nói:
- Oan có đầu, nợ có chủ, thật sự bại dưới tay của ngươi, là do bản lĩnh chúng ta kém, hán tử lục lâm không ghi món thù này.

Xúi giục bọn ta vào kinh giết ngươi là người của Di Lặc giáo, gian tế của Di Lặc giáo đó, cũng là thị nữ Thúy Nhi bên người của ta đã bị xử tử. Ngươi cũng đã thấy, hai trăm mạng người này, ta sẽ tìm Di Lặc giáo đòi lại. Dương đại nhân, Hồng Nương Tử ta, nói là giữ lời, hôm nay mượn ngươi để rời thành, thì sẽ tha ngươi một mạng!

Hồng Nương Tử quay đầu ngựa, quát bảo thủ hạ:
-Đi!
Rồi quay đầu lại, mỉm cười nói với Dương Lăng:
- Dương đại nhân! Ngươi là quan, ta là giặc, trượng phu ta bại dưới tay ngươi, ngày sau, chúng ta gặp nhau trên chiến trường, ta sẽ tìm trở lại cuộc chiến này! Giá!

Nói đoạn, nàng vung roi, kiện mã tung bốn vó, phóng như bay đuổi theo mấy tên thủ hạ. Dương Lăng đứng ngẩn ngơ vòng nhìn theo bóng lưng bọn họ đang dần biến mất trong màn tuyết mù mịt đất trời, nhất thời không dám tin nàng ấy sẽ dễ dàng tha cho mình như vậy.

Ngựa chạy xa dần, phía trước vẫn là một màn trời mênh mông mờ mịt. Đang dẫn đầu ở đằng trước, Hồng Nương Tử đột nhiên ghìm cương ngựa, quát:
- Đi, đến Phong Đài, đổi ngựa tốt của chúng ta, nhờ sự trợ giúp của trời đất, rời xa kinh sư!

Hồ Đại Chuy vừa chạy song song với nàng, vẫn bất bình nói:
- Chị dâu, Hổ ca tuy rằng đã thoát khỏi hiểm địa, nhưng sao chúng ta không thừa cơ giết chết tên cẩu quan đó luôn? Cứ vậy mà tha cho hắn, huynh đệ thực sự không phục!

Hồng Nương Tử cười nhạt, vặn hỏi:
- Giết y? Giết y rồi Di Lặc giáo sẽ ra tay với hoàng đế thế nào? Di Lặc giáo mà không ra tay với hoàng đế, liệu triều đình sẽ tập trung toàn lực đi báo thù thay chúng ta sao?

Hồ Đại Chuy sực tỉnh nói:
- A! Ý của chị dâu là...

Hồng Nương Tử cướp lời:
- Chạy mau lên, y tưởng chúng ta chạy về Bá Châu, chúng ta càng phải theo y đến Đại Đồng. Di Lặc giáo coi chúng ta là giáo, lần này ta muốn mượn 'cây giáo' này của triều đình đối phó với lão già Lý Phúc Đạt!





Chú thích:
(1) nơi làm việc đằng sau công đường trong quan phủ

(2) còn gọi là Ngũ ôn thần, hay Ngũ ôn sứ giả, gồm có: Xuân ôn Trương Nguyên Bá, Hạ ôn Lưu Nguyên Đạt, Thu ôn Triệu Công Minh, Đông ôn Chung Sĩ Quý, Tổng quản trung ôn Sử Văn Nghiệp





Topic bình luận : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48180
Góp ý bản dịch: http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=48794
Tham gia dịch cùng anh em : http://www.tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=43332 :025::025::025: