View Full Version : Các kỳ tài võ học Trung Hoa - thật nghe (may be expanded)
muulinh
31-01-2008, 08:34 PM
Thắc mắc: những nhân vật nào được liệt vào hạng trùm võ thuật ở Trung Hoa (huyền thoại).
Theo mình biết thì có:
Hoàng Phi Hồng,
Quỷ Cước Thất,
Ông j` đó chết lúc 42 tuổi :025::025:
Lý Tiểu Long,
:021::021:
...
Ai biết thì bổ sung cho với nhé!
chthanghn
31-01-2008, 08:37 PM
Phương Thế Ngọc ( ko biết ổng có thật ko)
sai1000
31-01-2008, 08:39 PM
Người tạo ra Vịnh Xuân quyền (tên là gì nhỉ) và Hồng Hy Quang ( nghĩ ra Hồng quyền). Hông biết đúng không.
HacLang
31-01-2008, 08:40 PM
Trương Tam PHong
Đat Ma Sư TỔ :xitmau:
muulinh
31-01-2008, 08:44 PM
@chthanghn: Phương Thế Ngọc là nhân vật có thật
--------
Chà có khá nhiều người mình biết rồi nhưng quên mất, nghe thì mới " Ừ hè, quên"
sai1000
31-01-2008, 08:52 PM
Tô Xán, hông biết có thật không mà đã coi nhiều phim về ông này, thích nhất bộ do Châu Tinh Trì đóng:grin:.
À quên, còn Hoắc Nguyên Giáp nữa chứ.
Đại Lãn
31-01-2008, 09:59 PM
Tại hạ có biết chút ít, xin đưa ra đây cho các huynh đệ tham khảo:
1- Bồ đề đạt ma. Ông được cho là người sáng lập ra võ phái Thiếu Lâm nổi tiếng bây giờ, truyền lại cho hậu thế Thập Bát La Hán Quyền, Dịch Cân Kinh, Tẩy Tuỷ Kinh, (72 tuyệt kỹ hình như là các đời sau sáng tạo thêm vào, còn Dịch Cân Kinh thì được Kim Dung tiểu thuyết hoá hay quá thành thần kỳ, chứ thực ra là các động tác giãn gân cốt để luyện khí như Ngũ Cầm Hí của Hoa Đà hay Bát Đoạn Cẩm của Nhạc Phi mà thôi)
2- Trương Tam Phong. Ông được cho là sáng lập ra phái Võ Đang và công phu Thái Cực Quyền
3 -Nhạc Phi - danh tướng chống Kim nhà Nam Tống. Một số công phu truyền lại: Hình ý quyền, Nhạc gia thương, Vũ Mục thương ...
4- Hoàng Phi Hồng. Ông từng học võ ở Thiếu Lâm Phúc Kiến (Nam Thiếu Lâm). Các ngón võ nổi tiếng là Vô Ảnh Cước, Hổ Hạc Song Hình Quyền, Thiết Tuyến Quyền, Phục Hổ Quyền và sau này sáng tạo ra Hồng Gia Quyền.
5- Hoắc Nguyên Giáp . Ông sáng lập ra Tinh Võ Môn, võ công gia truyền là Mê Tông quyền. (Hai nhân vật Hoàng Phi Hồng và Hoắc Nguyên Giáp được đưa lên màn ảnh với diễn xuất của Lý Liên Kiệt, chắc huynh đệ mê kiếm hiệp đều biết).
6- Lý Tiểu Long. Siêu sao điện ảnh, sáng tạo ra Triệt Quyền Đạo từ Vịnh Xuân Quyền. (Vịnh Xuân Quyền có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm.)
Nhân tiện nói về nguồn gốc của Vịnh Xuân quyền. Sáng tạo ra Vịnh xuân quyền là Nghiêm Vịnh Xuân, con gái của Nghiêm Nghị - học trò của Ngũ Mai lão sư thái. Ngũ Mai cũng là một trong 5 nhân vật truyền thuyết trốn thoát khỏi chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến sau cơn đại nạn chùa bị các đại tướng Mãn Thanh hỏa thiêu, 5 người này về sau được các võ phái miền Nam Trung Hoa (Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Vân Nam) tôn vinh là Ngũ tổ của Nam quyền, 5 vị đó là: Chí Thiện thiền sư - Ngũ Mai lão ni sư thái - Bạch Mi Đạo Nhân - Phùng Đạo Đức - Miêu Hiển
Tạm thời nhớ ra được có bây nhiêu.
nickyhi
31-01-2008, 10:09 PM
sao lại bàn về kỳ tài Trung Hoa mà ko bàn về kỳ tài VN nhỉ
minhhuan
31-01-2008, 10:15 PM
Bổ sung thêm một số nhân vật :
- Thích Kế Quan( ai coi Thương Hải thì biết nhân vật này): soạn sách "kỷ Hiệu tân Thư" là chọn lọc tinh hoa các nhà , tổng kết võ thuật TQ từ cổ đại đến nhà Minh.
- Du Đại Du : tổng hợp nghiên cứu cách sử dụng của các loại vũ khí soạn thành " kiếm kinh", được coi là kinh điển quan trọng trong võ thuật TQ.
-Trình Tông Hiến : viết " canh dư thặng ký" tổng kết tinh hoa các nhà ( được xem là đoạn kết của " kỷ hiệu tân thư" )
-Trần Vương Đình : sáng lập Thái Cực Quyền kiểu họ Trần.
-Đổng Hải Xuyên : Đại sư Bát Quái Chưởng.
- Dương Phúc Khôi : người sáng lập Thái Cuạc Quyền kiểu họ Vương.
-Võ Vũ Tương : Người sáng lập Thái Cực Quyền kiểu họ Võ.
nickyhi
31-01-2008, 10:22 PM
Bổ sung thêm một số nhân vật :
- Thích Kế Quan( ai coi Thương Hải thì biết nhân vật này): soạn sách "kỷ Hiệu tân Thư" là chọn lọc tinh hoa các nhà , tổng kết võ thuật TQ từ cổ đại đến nhà Minh.
- Du Đại Du : tổng hợp nghiên cứu cách sử dụng của các loại vũ khí soạn thành " kiếm kinh", được coi là kinh điển quan trọng trong võ thuật TQ.
-Trình Tông Hiến : viết " canh dư thặng ký" tổng kết tinh hoa các nhà ( được xem là đoạn kết của " kỷ hiệu tân thư" )
-Trần Vương Đình : sáng lập Thái Cực Quyền kiểu họ Trần.
-Đổng Hải Xuyên : Đại sư Bát Quái Chưởng.
- Dương Phúc Khôi : người sáng lập Thái Cuạc Quyền kiểu họ Vương.
-Võ Vũ Tương : Người sáng lập Thái Cực Quyền kiểu họ Võ.
ngươi kể toàn người lạ ko, ko bít cóa hayko, thanks ngươi phát đã :plane::plane::plane::plane:
ewachi
31-01-2008, 10:23 PM
Đông Phương Bất Bại :)):)):))
chthanghn
31-01-2008, 10:23 PM
tên nick ị chỉ toàn vào spam thôi :die::die::die::die:
Sao ngươi ko kể ra vài tên đi ví dụ như : Hòa thượng anh hùng
Đúng vậy. Nền võ học Việt Nam cũng mạnh mà. Nên bàn về võ học Việt Nam.
nickyhi
31-01-2008, 10:26 PM
tên nick ị chỉ toàn vào spam thôi :die::die::die::die:
Sao ngươi ko kể ra vài tên đi ví dụ như : Hòa thượng anh hùng
ta chỉ bít xú hòa thượng thôi
kỳ tài Việt Nam ta bít được Yết Kiêu, Quận He...
minhhuan
31-01-2008, 10:27 PM
ngươi kể toàn người lạ ko, ko bít cóa hayko, thanks ngươi phát đã :plane::plane::plane::plane:
mấy cái tên này được đánh giá cao trong lịch sử võ học Trung Quốc đó , để hôm nào tìm lại tư liệu về võ thuật Vn ta đưa lên cho ngươi xem.
ndcuongltv
31-01-2008, 10:54 PM
trời sao không ai kể kỳ tài việt nam kể trung quốc làm gi
em bắt đầu bằng
Trần Hưng Đạo- nể ông này luôn chỉ sau Quang Trung Nguyễn Huệ
nickyhi
31-01-2008, 10:55 PM
Lý Thường Kiệt (ông này bị thiến rồi đó nghe, sự thật 100%)
minhhuan
31-01-2008, 10:58 PM
Lý Thường Kiệt (ông này bị thiến rồi đó nghe, sự thật 100%)
Thì đó là sự thật , ta chỉ tiếc là sách tư liệu về võ thuật của VN mình ít quá , muốn tìm cũng khó.
nickyhi
31-01-2008, 10:59 PM
ta cũng nói thật, ta bít về sử vn thì ít, mà sử TQ thì nhìu, ko hỉu tại sao
nlkien
31-01-2008, 11:09 PM
ta cũng nói thật, ta bít về sử vn thì ít, mà sử TQ thì nhìu, ko hỉu tại sao
:grin::grin::grin:Vậy cũng khoe
phuongsu
31-01-2008, 11:15 PM
Hoàng Phi Hồng thì sao ?????? /
Thế Trần Chân có phải là nhân vật có thật hok. Xem "Tinh Võ Môn" Chung Tử Đơn đóng xem đi xem lại chục lần vẫn thấy hay.
nickyhi
31-01-2008, 11:18 PM
:grin::grin::grin:Vậy cũng khoe
ta nói thật, ở đây 10 người thì hết 9 người như ta rồi (kể cả ngươi cũng ko ngoại lệ)
ko tin thì đi hỏi thử xem :061::061::061::061:
bac cai cong
31-01-2008, 11:21 PM
Có một nhân vật tuyệt thế kỳ tài nữa: Bắc Cái Hồng Thất Công( nói tắt Bắc Cái Công):055::055::055::045::045::045:
nickyhi
31-01-2008, 11:22 PM
Có một nhân vật tuyệt thế kỳ tài nữa: Bắc Cái Hồng Thất Công( nói tắt Bắc Cái Công):055::055::055::045::045::045:
cái đấy chỉ có trong truyện chưởng KD thôi công công àh
ta đề cử Hồ Quý Ly :5::5::5::5: (viết tắt là Hồ Ly)
chả hiểu Hồng Thất Công có trước hay Tiêu Phong có trước.
Trong truyện KD bảo H7C sáng tạo ra giáng long 18 chưởng mờ Tiêu Phong trước đó đã học được goài, thật là khó hỉu -< H7C thường thôi.
bac cai cong
31-01-2008, 11:26 PM
Tiêu Phong co trước, thời Tiêu Phong là thời Nam Tống, lúc đó còn thịnh vượng. Còn thời của Bắc Cái là thời cuối đời Tống, đầu thời Nguyên:uong2::uong2:
nickyhi
31-01-2008, 11:28 PM
bây h các ngươi lại 8 về truyện chưởng àh, pó tay
thế đố các ngươi, mẹ của Hoàng Dung tên là gì
nlkien
31-01-2008, 11:31 PM
:059::uong2::uong2::uong2: Đạt Ma Tổ Sư mới chính là kỳ tài, viết tắt là Đạt Ma Tổ Sư :059::059:
bây h các ngươi lại 8 về truyện chưởng àh, pó tay
thế đố các ngươi, mẹ của Hoàng Dung tên là gì
thế mà cũng phải đố, đơn giản như đan rổ:
mẹ Hoàng Dung tên là Dung mama:013:
nickyhi
31-01-2008, 11:40 PM
thế mà cũng phải đố, đơn giản như đan rổ:
mẹ Hoàng Dung tên là Dung mama:013:
sao ngươi bít tài thế :uong2::uong2::uong2::uong2::uong2:
:029:chả lẽ hok phải:uong::uong::uong:
nameFF8
31-01-2008, 11:53 PM
Lê Hoàn ( Đinh Tiên Hoàng ) , cực ghiền , đánh trận cực giỏi
Mai Hắc Đế : đánh lộn số dách , đen thui
Yết Kiêu : trùm thủy chiến
Phạm Ngũ Lão : lỳ không đối thủ
còn nhiều , nhiều lắm lắm , hồi nhỏ đọc bao nhiêu là sách sử vn , kỳ tài vn mình đâu có thiếu ...
tuancuop
31-01-2008, 11:59 PM
Lê Hoàn kô phải Đinh Tiên Hoàng đâu, mà là một vị tướng dưới quyền thôi. Đinh Tiên Hoàng têm là Đinh Bộ Lĩnh mừ.
nameFF8
01-02-2008, 12:02 AM
uhm , thì nói về thời Đinh Tiên Hoàng , đọc cuốn 12 sứ quân thích nhất Lê Hoàn
nickyhi
01-02-2008, 12:09 AM
uhm , thì nói về thời Đinh Tiên Hoàng , đọc cuốn 12 sứ quân thích nhất Lê Hoàn
hê hê, chống chế àh
Lý Thường Kiệt, thái giám số 1 VN
Hai Bà Trưng, keke, ai cũng bít, khỏi nói
...
và cuối cùng là Uncle Hồ :tt1::tt1::tt1:
minhhuan
01-02-2008, 01:12 AM
ta cũng nói thật, ta bít về sử vn thì ít, mà sử TQ thì nhìu, ko hỉu tại sao
ta thua ngươi luôn rồi nickyhy , nếu người thật lòng muốn tìm hiểu lịch sử Việt Nam một cách cơ bản thì đọc " Việt Nam Sử Lược" , sau đó là "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư", v.v.. .
nếu mà diễn đàn không hạn chế dung lượng file thì ta đưa lên luôn cho ngươi rồi.
Qua bên VNthuquan coi đi ,bên đó cũng có một số sách lịch sử đó.
TamBao
01-02-2008, 01:46 AM
Kỳ tài VN ko thiếu, nhưng thiếu sách "tâng bốc" như các bác Trung Hoa ^^
Nói cho công tâm, thì sau 10 năm đô hộ của nhà Minh, VN ta bị thiệt hại nghiêm trọng về kiến thức, gần như mọi sách, tư liệu quý đều ko còn :) cho nên đa phần mình nghe lại chuyện xưa, đều là truyền miệng. Khác với Trung Hoa, 1 phần cũng vì tính hiếu danh của họ (ko dân tốc nào có lắm "Thiên Hạ Đệ Nhất" như người Hoa :P), nên chuyện to hay chuyện nhỏ gì cũng chép ra sách, có phần tâng bốc lên để cho hậu thế nể :)
lengocto@n
01-02-2008, 02:22 AM
:059::uong2::uong2::uong2: Đạt Ma Tổ Sư mới chính là kỳ tài, viết tắt là Đạt Ma Tổ Sư :059::059:
dốt, đạt ma tổ sư viết tắt là đạt ma sư tổ
sai1000
01-02-2008, 08:55 AM
Hòa thượng Thích Thịt Chó của phái Thiếu Lâm, gọi tắt là Thích Chó:059:.
Lioncoeur
01-02-2008, 09:18 AM
4- Hoàng Phi Hồng. Ông từng học võ ở Thiếu Lâm Phúc Kiến (Nam Thiếu Lâm). Các ngón võ nổi tiếng là Vô Ảnh Cước, Hổ Hạc Song Hình Quyền, Thiết Tuyến Quyền, Phục Hổ Quyền và sau này sáng tạo ra Hồng Gia Quyền.
Hoàng Phi Hồng mà sáng tạo ra Hồng Gia Quyền à? :hoho:
bac cai cong
01-02-2008, 09:20 AM
Người sáng tạo ra Hồng Quyền là Hồng Hy Quan.:grin:
muulinh
01-02-2008, 09:59 AM
Cũng tập hợp được ko ít huyền thoại nhỉ !
VN cũng có rất nhiều đó.
Để tui tìm lại trong kho data rồi up lên chơi.
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 7 phút và 14 giây -----
Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bái binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử.
Tại Việt Nam, thời Pháp mới chiếm Việt Nam, các hệ phái võ thuật cổ truyền bị thực dân Pháp cấm lưu hành vì những người đứng đầu các phong trào khởi nghĩa chống Pháp đều là người giỏi võ Việt Nam. Khoảng năm 1925, võ cổ truyền Việt Nam được khôi phục song song với các môn võ ngoại quốc khác được đưa vào Việt Nam, như: Quyền Anh (Boxing, Boxe), Thiếu Lâm (Kungfu)...
Trong giai đoạn này, nhiều võ sư huyền thoại đã để lại danh tiếng: ba võ sư được mệnh danh là "Tam Nhựt" gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa vì có công lớn trong việc khôi phục truyền thống võ Việt Nam trong thời gian này. Mãi đến khi Pháp rời khỏi Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miến Nam Việt Nam đã tiếp tục duy trì sự phục hồi võ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam. Ba võ sư có công lớn trong giai đọan này là: Trương Thanh Đăng, sư tổ của võ phái Bình Định Sa Long Cương, Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai (được mệnh danh là "Tam Nguyệt") tiếp nối việc khôi phục và phát triển võ Việt Nam.
Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1960 đến năm 1963, Ngô Đình Diệm lại tiếp tục cấm đóan võ thuật phát triển (trong đó có võ Việt Nam), vì năm 1960, trong lực lượng tham gia đảo chánh hụt Ngô Đình Diệm có đòan võ sĩ Judo do võ sư Phạm Lợi chỉ huy. Năm 1964, võ thuật được tiếp tục họat động, trong đó có võ Việt Nam. Trong giai đoạn này, võ thuật Việt Nam đã lớn mạnh, sánh vai ngang hàng với võ thuật các nước trong khu vực, như: Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan, Lào, Cam bốt... Nhiều võ sĩ Việt Nam đã chiến thắng vẻ vang trước nhà vô địch của các nước bạn trong trong khu vực. Bốn võ sư đã có công đào tạo nhiều võ sĩ ưu tú cho làng quyền thuật Việt Nam, nhất là đào tạo nhiều võ sĩ giỏi đại diện cho màu cờ sắc áo Việt Nam chiến thắng vẻ vang nhiều nhà vô địch của các nước bạn, chính là: Từ Thiện Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xuân Bình và Lý Huỳnh. Bốn võ sư này đã được Tổng Nha Thanh Niên trao tặng Bằng Khen về các thành tích vẻ vang cho đất nước, và từ đó, giới võ thuật gọi bốn võ sư này là "Tứ Tú" (bốn ngôi sao sáng), nối tiếp "Tam Nhựt" (ba mặt trời) và "Tam Nguyệt" (ba mặt trăng) trong việc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, võ thuật Việt Nam ngừng phát triển một thời gian. Năm 1979, nhân sự kiện quân đội Bắc Kinh và quân đội Khmer đỏ tấn công Việt Nam, nhà nước Việt Nam đã cho khôi phục hoạt động võ thuật, trong đó có võ thuật cổ truyền Việt Nam, để tập hợp thanh niên rèn luyện tinh thần bất khuất sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sau đó, các Liên đoàn võ thuật hình thành để quản lý phong trào võ thuật, trong đó có Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam hình thành năm 1991. Tuy nhiên, do nhiều lý do, từ đó cho đến năm 2007, võ thuật Việt Nam vẫn chưa được nhà nước Việt Nam quan tâm phát triển, mà chỉ để cho hoạt động mang tính cầm chừng, không giống với nhà nước Việt Nam đã đầu tư nhiều cho sự phát triển mạnh mẽ đối với các môn võ thuật có thi đấu quốc tế như: Taekwondo, Judo, Karatedo, Wushu, Pencat Silat, Boxing, Vovinam...
Trong khi đó, ở nước ngoài, nhiều người Việt đã âm thầm phát triển võ thuật Việt Nam dưới nhiều tên gọi khác nhau, như: Vivodo (Australia), Võ Việt, Võ Thuật (Nguyễn Văn Trung, Pháp quốc), Võ Việt Nam (Nguyễn Đức Mộc, Pháp quốc),Lâm sơn Võ Đạo, Quán Khí Đạo (Phạm Xuân Tòng, Pháp quõc), Thanh Long (Nguyen Dan Phu)...
Một nhược điểm lớn nhất của võ thuật cổ truyền Việt Nam là mỗi một võ sư đều muốn trở thành chưởng môn nhân của một môn phái độc lập, mà quên mất đi nhiệm vụ cấp thiết là cùng nhau xây dựng một "thương hiệu" có uy tín cho võ thuật Việt Nam, để sánh vai cùng các môn võ thuật khác trong giới võ lâm quốc tế, điều này có nghĩa dù là võ đường nào đi nữa nhưng nên cùng nhau thống nhất một cội nguồn là cùng một "môn phái võ thuật Việt Nam" đó là "Võ Thuật Cổ Truyền".
Võ thuật cổ truyền Việt Nam thể hiện một số đặc điểm:
Thường là võ trận, sử dụng trong trận mạc, chiến đấu chống ngoại xâm và chinh phục thiên nhiên hoang dã.
Thích hợp với nhiều loại địa hình.
Thực dụng, linh hoạt.
Dĩ công vi thủ, dĩ nhu chế cương, dĩ đoản chế trường.
Các bài quyền đều có lời thiệu bằng thơ, phú
X1999_vn
01-02-2008, 10:39 AM
nhìn mà hoa cả mắt:039:
Quách Tĩnh có tính không:025:
amdme74
01-02-2008, 10:54 AM
Tại hạ có biết chút ít, xin đưa ra đây cho các huynh đệ tham khảo:
1- Bồ đề đạt ma. Ông được cho là người sáng lập ra võ phái Thiếu Lâm nổi tiếng bây giờ, truyền lại cho hậu thế Thập Bát La Hán Quyền, Dịch Cân Kinh, Tẩy Tuỷ Kinh, (72 tuyệt kỹ hình như là các đời sau sáng tạo thêm vào, còn Dịch Cân Kinh thì được Kim Dung tiểu thuyết hoá hay quá thành thần kỳ, chứ thực ra là các động tác giãn gân cốt để luyện khí như Ngũ Cầm Hí của Hoa Đà hay Bát Đoạn Cẩm của Nhạc Phi mà thôi)
2- Trương Tam Phong. Ông được cho là sáng lập ra phái Võ Đang và công phu Thái Cực Quyền
3 -Nhạc Phi - danh tướng chống Kim nhà Nam Tống. Một số công phu truyền lại: Hình ý quyền, Nhạc gia thương, Vũ Mục thương ...
4- Hoàng Phi Hồng. Ông từng học võ ở Thiếu Lâm Phúc Kiến (Nam Thiếu Lâm). Các ngón võ nổi tiếng là Vô Ảnh Cước, Hổ Hạc Song Hình Quyền, Thiết Tuyến Quyền, Phục Hổ Quyền và sau này sáng tạo ra Hồng Gia Quyền.
5- Hoắc Nguyên Giáp . Ông sáng lập ra Tinh Võ Môn, võ công gia truyền là Mê Tông quyền. (Hai nhân vật Hoàng Phi Hồng và Hoắc Nguyên Giáp được đưa lên màn ảnh với diễn xuất của Lý Liên Kiệt, chắc huynh đệ mê kiếm hiệp đều biết).
6- Lý Tiểu Long. Siêu sao điện ảnh, sáng tạo ra Triệt Quyền Đạo từ Vịnh Xuân Quyền. (Vịnh Xuân Quyền có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm.)
Nhân tiện nói về nguồn gốc của Vịnh Xuân quyền. Sáng tạo ra Vịnh xuân quyền là Nghiêm Vịnh Xuân, con gái của Nghiêm Nghị - học trò của Ngũ Mai lão sư thái. Ngũ Mai cũng là một trong 5 nhân vật truyền thuyết trốn thoát khỏi chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến sau cơn đại nạn chùa bị các đại tướng Mãn Thanh hỏa thiêu, 5 người này về sau được các võ phái miền Nam Trung Hoa (Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Vân Nam) tôn vinh là Ngũ tổ của Nam quyền, 5 vị đó là: Chí Thiện thiền sư - Ngũ Mai lão ni sư thái - Bạch Mi Đạo Nhân - Phùng Đạo Đức - Miêu Hiển
Tạm thời nhớ ra được có bây nhiêu.
cái này không đúng người sáng tạo hgq là HỒNG HY QUAN
----- Bài viết này được amdme74 thêm vào sau 17 phút và 50 giây -----
sao không thấy ai nhắc đến LÊ VĂN KHÔI con nuoi tả quân LE VĂN DUYỆT vậy?
lvk nguyên là người dân tộc sao lvd thu phục
khi sứ xiêm la qua kinh thành huế đem qua 2 con hổ muốn thử sức mạnh tướng sĩ an nam ,LVD vì muốn dằn mặt xiêm la cho LVK giả làm lính hầu thả 1 con hổ ra kêu bắt sống không ngờ nó mạnh quá lvk lở tay giết lvd giận dử đòi đem ra chém sứ giả xin tha và lvd thả con hổ thứ 2 lần này lvk bắt sống được từ đó về sau xiêm la không dám ngó đến lảnh thổ vn nửa
pipicontrol
01-02-2008, 11:13 AM
Việt Nam có môn võ vovinam với đòn cắt kéo nổi tiếng :040: .Nếu bàn thì nên bàn về võ học VN í,các môn như wushu hay penkatsilat về VN đều vô địch thế giới mà :80:
thanhvantu
01-02-2008, 12:02 PM
Cám ơn các bạn CDT và Nickyhi đã đề cập tới võ thuật Việt Nam. Mặc dù
tôi là người rất thích võ học Trung Quốc vì các đường quyền cước đặc sắc
của nó và các kỳ tài võ học như Đạt Ma thiền sư, Trương Tam Phong, Hoắc
Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hùng, Ngũ Mai Lão Ni ....
Nhưng dù sao chúng ta đã vô tình bỏ quên võ thuật Việt Nam và những cái
hay đẹp của nó. Làm sao không thể kể đến những kỳ tài võ học Việt Nam
từ thời xa xưa như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Lý Thường Kiệt, ba
anh em nhà Nguyễn (Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ - Nguyễn Huệ
rất giỏi bài thương Nghiêm Thương, Nguyễn Lữ giỏi về quyền, ông đã sáng tác
bài Hùng Kê Quyền để dạy cho quân lính thời đó), nữ tướng Bùi Thị Xuân giỏi
về kiếm thuật (bà có bài kiếm nổi tiếng Song Phượng Kiếm) ....
Anh tài về võ học Việt Nam gần đây có thể kể ra rất nhiều, nhưng khuôn khổ
bài này không cho phép viết ra hết được. Đại khái có thể kể đến Sư Trưởng
Trương Thanh Đăng (Sa Long Cương), lão võ sư Hồ Nghạnh, lão võ sư Đoàn
Tâm Ảnh, võ sư Nguyễn Lộc (Vovinam) .... xin chân thành cáo lỗi với các võ
sư 3 miền Nam, Trung, Bắc khác nếu không thể nêu hết tên tuổi các bậc
danh gia võ học VN trong đây.
Nếu có thời gian, tôi sẽ gửi thêm một số bài nghiên cứu về võ thuật VN và
cả TQ nữa sau này. Mong mỏi quý huynh đệ đóng góp thêm cho đề tài này.
NB: Đặc biệt cám ơn Muulinh với bài viết thật chi tiết về võ học VN
sai1000
01-02-2008, 01:08 PM
Qua bao nhiêu năm bị xâm lược và đô hộ, các kiến thức của ta bị mất mát không ít, đã thế phim Tàu, sử Tàu cứ nhan nhản trước mắt. Đó là lí do khiến hầu hết các bạn trẻ VN rành về Tàu hơn ta :4:.
weingarten
01-02-2008, 03:28 PM
Thấy các bác nhiệt tình với thiên tài võ học Việt nam,copy mấy cái dưới đây để các bác tham khảo,mặc dù những nội dung này mà đặt trong mục Thiên tài võ học Trung hoa thì trong lòng thấy áy náy vô cùng.Các mod thấy hợp lý thì moved nó sang một mục riêng,để anh em cùng đóng góp,nâng cao tự hào dân tộc.Nguồn:Cophong-Maihoatrang.Lê Phụng Hiểu quê ở Băng sơn thuộc Ái châu,làm chức Vũ vệ tướng quân dưới triều Lý Thái tổ.Năm Mậu thìn 1029,Lý Thái tổ băng.Ba hoàng tử Đông chinh,Dực thánh,Vũ Đức đem quân mai phục ở của Quảng Đức định mưu việc soán đoạt.Lê Phụng Hiểu đem quân Vũ vệ ra đánh,chém chết Vũ đức dẹp yên nội loạn.Ngoài Lê phụng Hiểu,lịch sử Việt nam chưa ghi nhận trường hợp nào lấy đầu thượng tướng giữa đám quân trăm vạn như vậy cả.Đại Việt Sử ký toàn thư chép:Ngày 12,tháng 12,năm Nguyên phong thứ 7,1258.Thái tông Trần Cảnh ngự giá ở Bình lệ nguyên,sát vai cùng tướng sĩ đối chọi kỵ binh Thát đát nổi danh thiện chiến nhất thiên hạ.Lê Phụ Trần một mình một ngựa ra vào trận giặc như chỗ ko người,sắc mặt bình thản ko hề thay đổi.Chính sử ghi chép về võ công của một anh hùng nghĩ rằng ko có lời nào hơn được.
minhhuan
01-02-2008, 06:44 PM
nhân bàn về võ thuật , tại hạ xin gởi các huynh tên của các pháp môn thuộc về ngoại công .
Chỉ lực :
- Nhất chỉ thiền
- Long trảo công
- Bạt sơn công
- Tiên Nhân chưởng
- Ngọa hổ công
- Ngô công đào
- Điểm thạch công
- Tỏa chỉ công
- Thạch tễ công
- Tỳ bà công
Chưởng
- Châu sa chưởng
- Quan âm chưởng
- Thiết sa chưởng
- Hợp bàn chưởng
- Thôi Sơn chưởng
- Đường lang chưởng
- Trúc diệp chưởng
Khinh Công và phi hành
- khinh thân công
- Siêu cự công
- Bích hổ du tường
- Phiên đằng thuật
- Phi hành công
- Không thủ thạch bạch nhận
- Đạt ma độ giang
- Xuyên Liêm công
Thiết quyền và thiết tý
- Tỉnh Quyền công
- Phân thủy công
- Thiết tý công
- Chỉ phùng công
- Mã yên công
- Sa bao công
- Ha ma công
- Ngọc đái công
- Thiết châu đại
- Đàn tử quyền
- Ưng dực công
- Bá vưởng châu
- Thượng quán công
Thiết cước và thiên cân trụy
- Thiết tảo trửu
- Thạch trụ công
- Thiết tất cái
- Thiên cân trụy
- Mai Hoa thung
Công phu đặc dị
- Thiết bố sam
- Qui bối công
- Đả bài công
- Nhu cốt công
- Thạch đầu công
- Liễm âm công
- Bố đại công
- Thiết ngưu công.
Muốn giới thiệu với các huynh các danh nhân võ thuật VN ta nhưng vì chỉ nhớ nên không dám đưa danh tánh các vị tiền bối lên vì sợ mình nhầm lẫn mà có tội với các bậc cao hiền.
muulinh
01-02-2008, 07:34 PM
Lúc nhỏ tui có đọc truyện kiếm hiệp dã sử Việt Nam có tên "Hận Long Tuyền"
Trong đó, miêu tả tướng Đặng Dung với kiếm thuật siêu việt, sửa chữa, nâng cao kiếm thuật học được từ một vị kiếm thủ nổi danh Trung Quốc. Ngoài ra, Đặng Dung còn là một nhà thơ, nổi tiếng với bài "Cảm Hoài" (?? có nhầm không cũng không chắc), mang thanh Long Tuyền Kiếm, sau giúp chủ không thành, chết khi còn trẻ tuổi. Sau này, trong nhiều sách khác cũng có nhắc tới danh tướng này, với kiếm thuật xưng tụng là Annam đệ nhất kiếm thủ.
Bộ truyện cũng nói đến nhiều giai thoại khác như: Nguyễn Biểu (và có các sứ thần khác) đi sứ rất uy phong, chết anh hùng. Trong lúc đi sứ, quân địch dọn cỗ đầu người cho sứ thần ăn, Nguyễn Biểu gớm lắm, ớn đến tận cổ, lại nghĩ đó là đồng bào mình nhưng vì khí phách dân tộc, đã .......cố nhắm rượu, ngâm 1 bài thơ. Xong, ông nói đại ý cám ơn tướng Tàu rằng đi sứ mà được tướng quân làm thịt dân Tàu ăn thật là quý hóa. Quân địch giận lắm, cột ông vào chân cầu, chờ thủy triều lên dìm ông chết nước. Có giai thoại nói rằng suốt mấy ngày sau đó thủy triều không dâng lên như thường lệ!
Trong bộ dã sử đó cũng nhắc đến một số nhân vật võ công cao cường nữa, nhưng vì lâu quá rồi không nhớ tên nữa. Chỉ nhớ có tướng Nguyễn Xí khá là uy mãnh, một tướng khác oai hơn luyện võ công tương tự thiết bố sam, nhưng xịn hơn, sử dụng tử mẫu côn, kiếm đâm không thủng, dao chặt ko vô.
Ai có đọc xin đính chính lại cho rõ ràng.
Tui đọc lâu quá rồi, ko nhớ rõ nữa
NakedSnake
01-02-2008, 08:37 PM
Việt Nam còn có Phùng Hưng khỏe vật được trâu , vác thuyền ngày đi trăm dặm so ra ko kém với Quan Vũ , Trương Phi ... Lại đã từng một mình gít hổ dữ như hành giả Võ Tòng :uong2: Nói chung VN ta nhân tài rất đông có điều ko được thần thánh hóa như kiểu TQ nên bị mai một đi nhiều .
minhhuan
01-02-2008, 08:59 PM
Có một cái này mình nhân thấy ở võ học Vn là khi mình đọc lịch sử đa số là nhắc tới đô vật , làm mình phải có một nhận định là trong thực tế mình không có môn phái nào cả ở lịch sử , vì nếu có võ phái nào thì khi những danh tướng được nêu tên phải nhắc tới võ phái , mà ( chính sử thì mình không nói ) dã sử ( dã sử ở đây là các quyển như Vũ Trung Tùy Bút, Tang Thương Ngẫu Lục, Công Dư Tiệp Ký , Truyền Kỳ mạn Lục, Truyền Kỳ tân Phả v..v) cũng như sách nói về phiên chế quân đội thời Lê thì xếp cao nhất trong quân đội ( thuộc cấm binh) lại là đô Lực sĩ .
Nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là Võ Tây sơn , tục truyền đô đốc Bùi Thị Xuân đánh song kiếm rất giỏi , Thái Phó Trần Quang Diệu, các tướng như Võ Văn Dũng , đô đốc bảo , đô đốc Long , đô đốc Tuyết v.v. điều là những võ gia cao thủ mà hầu như không thấy nhắc tới môn phái , đó là khiếm khuyết của lịch sử Việt Nam , mà bây giờ muốn tìm hiểu cũng rất khó.
nickyhi
01-02-2008, 10:57 PM
có ai có link truyền kỳ mạn lục ko, cho mình xin với
Đại Lãn
01-02-2008, 11:52 PM
Người sáng tạo ra Hồng Quyền là Hồng Hy Quan.:grin:
Ờ đúng vậy, tại hạ nhớ nhầm.:nod:
Đúng là bây giờ: dân ta mà chẳng nhớ sử ta, các loại công phu của Trung Quốc thì nhớ như in, còn công phu của Việt Nam tại hạ cũng chỉ nhớ đếm được trên đầu ngón tay.
Chính vì vậy, trong lúc lang thang trong diễn đàn, tại hạ tìm được mục này
(//tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=2670), cảm thấy rất tâm đắc và đáng đọc, giới thiệu với các huynh đệ chưa biết để nâng cao kiến thức.
(chưa đủ điều kiện để post link trực tiếp:025:)
Má nún đồng tiền
02-02-2008, 12:01 AM
Nhân tiện nói về nguồn gốc của Vịnh Xuân quyền. Sáng tạo ra Vịnh xuân quyền là Nghiêm Vịnh Xuân, con gái của Nghiêm Nghị - học trò của Ngũ Mai lão sư thái. Ngũ Mai cũng là một trong 5 nhân vật truyền thuyết trốn thoát khỏi chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến sau cơn đại nạn chùa bị các đại tướng Mãn Thanh hỏa thiêu, 5 người này về sau được các võ phái miền Nam Trung Hoa (Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Vân Nam) tôn vinh là Ngũ tổ của Nam quyền, 5 vị đó là: Chí Thiện thiền sư - Ngũ Mai lão ni sư thái - Bạch Mi Đạo Nhân - Phùng Đạo Đức - Miêu Hiển
Tạm thời nhớ ra được có bây nhiêu.
Mình cũng nhớ mang máng một chút là Vĩnh xuân quyền tại Việt Nam cũng được bắt nguồn từ 1 trong 5 nhà sử Nam Thiếu Lâm :grin::grin:
Lãnh Diện Nhân
02-02-2008, 12:12 AM
Mình cũng nhớ mang máng một chút là Vĩnh xuân quyền tại Việt Nam cũng được bắt nguồn từ 1 trong 5 nhà sử Nam Thiếu Lâm :grin::grin:
Vịnh Xuân Quyền tại VN bắt nguồn từ Tổ sư người TQ có tên là Tài Cống (ông vào VN khoảng năm 1935). Tài Cống Tổ Sư có 7 người đệ tử, tại hạ là là đệ tử đời thứ 4 của người.
nameFF8
02-02-2008, 12:13 AM
nói chung nếu có tâm huyết thì sử vn không thua ai cả , thiếu là thiếu cái hấp dẫn do không ai viết lại cả các bác ạh
minhhuan
02-02-2008, 01:26 AM
có ai có link truyền kỳ mạn lục ko, cho mình xin với
link Truyền kỳ mạn lục đây:
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n3nnn2n1n31n343tq83a3q3 m3237nvn
monchu_NMQ
02-02-2008, 01:56 AM
kì tài của việt nam cũng có nhìu nhìu nà VD như.chi em nhà trưng.trần quốc toản.hì lão nhớ mỗi có 2 vị này:grin::grin:
delafere119
02-02-2008, 02:07 AM
Việt Nam có Trần Hưng Đạo , nhà Tống Trung Quốc lúc đó có ai:059:
Việt Nam có Nguyễn Huệ , Càn Long của Trung Quốc thật "vĩ đại":059:
Việt Nam có Võ Nguyên Giáp, Trung Quốc có thằng nào:059:
Cuối cùng, Việt Nam có Hồ Chí Minh, Trung Quốc có Mao Trạch Đông nhưng bác Mao sống cả đời không bao giờ có được sự tôn thờ của cả dân tộc như cụ Hồ nhà ta:059:
Chú thích đôi điều về cụ Hồ : Theo một số người (tức là 1 người, đó là ông thày dạy lịch sử đảng của ta) cụ Hồ được phong danh nhân văn hóa thế giới không phải vì viết thơ văn ví dụ như Nhật Kí Trong Tù mà anh nào học ở Vn cũng biết. Bởi vì thơ lục bát hay thất ngôn bát cú vài dòng như thế khối người viết còn hay hơn. Nhưng... không có ai trên thế giới kể cả Lênin, kể cả Mác, kể cả Mao, tính luôn Washington của Mỹ , chấp hết tự cổ chí kim có thể làm như Hồ Chí Minh : chỉ trong 1 thời gian cực ngắn (khoảng 1 năm) khiến cho 2 triệu người Việt Nam (1/10 dân số) biết đọc biết viết:059:
----- Bài viết này được delafere119 thêm vào sau 5 phút và 16 giây -----
Lúc nhỏ tui có đọc truyện kiếm hiệp dã sử Việt Nam có tên "Hận Long Tuyền"
Trong đó, miêu tả tướng Đặng Dung với kiếm thuật siêu việt, sửa chữa, nâng cao kiếm thuật học được từ một vị kiếm thủ nổi danh Trung Quốc. Ngoài ra, Đặng Dung còn là một nhà thơ, nổi tiếng với bài "Cảm Hoài" (?? có nhầm không cũng không chắc), mang thanh Long Tuyền Kiếm, sau giúp chủ không thành, chết khi còn trẻ tuổi. Sau này, trong nhiều sách khác cũng có nhắc tới danh tướng này, với kiếm thuật xưng tụng là Annam đệ nhất kiếm thủ.
Đặng Dung học được Trường Hồng Kiếm Pháp đó huynh hình như đổi lại là Lạc Điểu kiếm pháp hay gì đó:063:
Sau này bên Trung Quốc có thằng ku Nam Cung Giao là cháu hắn cũng học được rồi dương danh thiên hạ. Hắn nhờ thế kiếm được nhìu dzợ lắm đó:034::034:
monchu_NMQ
02-02-2008, 02:20 AM
bác hồ quả thật là vô đối.đưa chữ quốc ngữ vào vn thay cho chữ nôm.cái cách văn hóa xã hội.:tungtung::tungtung:
minhhuan
02-02-2008, 02:37 AM
bác hồ quả thật là vô đối.đưa chữ quốc ngữ vào vn thay cho chữ nôm.cái cách văn hóa xã hội.:tungtung::tungtung:
cái vụ chữ quốc ngữ không chính xác nha bạn, nhưng mà không nên đưa tên những nhân vật chính trị hiện đại vào đây, dễ có thể xảy ra những tranh cãi không phù hợp với TTV .
monchu_NMQ
02-02-2008, 02:40 AM
ờ.vậy hông dám bàn đến cái vấn đề đó.hông lai mất công cãi nhau trong 7 giới:uong2::012:
jumanji
02-02-2008, 03:16 AM
Khi nào em rỗi em sẽ lục lại tư liệu về các danh nhân võ học của VN bên box Võ thuật của TTVNOL post lên cho các bác :D.
minhhuan
02-02-2008, 10:51 PM
Sau khi lục tìm trên mạng về danh nhân võ học VN , đệ tìm được " Tây Sơn Thất hổ tướng" ở VNthuquan, các huynh xem thử nha,
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmn1n3n4n31n343tq83a3q3 m3237nvn
TruyThe
03-02-2008, 01:08 AM
Sau này bên Trung Quốc có thằng ku Nam Cung Giao là cháu hắn cũng học được rồi dương danh thiên hạ. Hắn nhờ thế kiếm được nhìu dzợ lắm đó:034::034:
Đệ nhớ là truyện sau này viết vẫn là quy về vo học của thằng Tàu mà, hình như còn xịn hơn đó!
nickyhi
03-02-2008, 07:30 PM
Đệ nhớ là truyện sau này viết vẫn là quy về vo học của thằng Tàu mà, hình như còn xịn hơn đó!
đó là truyện Tiếu ngạo Trung Hoa của Ưu lão chứ đâu
p/s: đó chỉ là truyện thôi, còn sự thực ngoài đời thì chưa bít đc
thanmachidao
03-02-2008, 09:03 PM
Đệ không rành lắm về võ thuật Việt Nam nhưng cũng xin đóng góp với anh em cho xom tụ.
- Đặc điểm của võ thuật Việt Nam là dĩ nhu chế cương, lấy yếu chống mạnh( cương nhu hợp nhất). Vì thế trong các bài quyền của võ cổ truyền Việt Nam như lưu thủy hành vân, cũng có khi như sấm động giữa trời...
- Do đặc điểm chống giặc ngoại xâm mà trong đội quân của người anh em láng giềng mình ko thiều những cao thủ của các phái võ lâm Trung Hoa nên các cụ nhà ta phải tìm cách phá võ công của đối thủ.
- Đệ có đọc một tài liệu khá lâu trước đây có nói rằng võ công Việt Nam có nguồn gốc từ một nhà sư ở Ấn Độ vào những năm đầu công nguyên( nếu anh em nào có tư liệu xin bot lên dùm đệ).
- Do cuộc sống đấu tranh với thiên nhiên nên võ thuật đã phát triển từ thời các nền văn ming Văn Lang Âu Lạc, thời đó các miếng võ chưa được hệ thống hóa một cách bài bảng nhưng chúng ta có những vị tướng, anh hùng mà nhắc đến tên thôi cả Tần Thủy Hoàng còn phải khâm phục có thể sánh ngang với Liêm Pha, Vương Tiễn, Lý Mục....
Mình sẽ cố sư tập về các võ sư Việt Nam nổi danh một thời để cho anh em tham khảo, do ít viết bài nên có chỗ nào sai xót mong anh em bỏ qua cho đừng rầy la em tội nghiệp:062:
nickyhi
03-02-2008, 10:07 PM
hy vọng huynh mau mau post lên để mọi người đc mở mang kiến thức
đặc biệt là vụ Tần Thủy Hoàng còn sợ í
ainguko
03-02-2008, 10:13 PM
hy vọng huynh mau mau post lên để mọi người đc mở mang kiến thức
đặc biệt là vụ Tần Thủy Hoàng còn sợ í
Cái đó thì ta không biết rõ lắm. Còn tài cầm quân chiến đấu ( trước 10v quân thì võ học cao cũng thành con tép :06(1): ) thì trong thập đại danh tướng của thế giới thì VN đã có 2 người rồi :hoho:
nickyhi
03-02-2008, 10:16 PM
Cái đó thì ta không biết rõ lắm. Còn tài cầm quân chiến đấu ( trước 10v quân thì võ học cao cũng thành con tép :06(1): ) thì trong thập đại danh tướng của thế giới thì VN đã có 2 người rồi :hoho:
khửa khửa, VN là vô địch, nhưng ta chỉ thắc mắc vụ Tần Thủy Hoàng thui, thời đó có vị anh hùng nào nhỉ, lúc đó bên mình là đời vua nào
ainguko
03-02-2008, 10:22 PM
khửa khửa, VN là vô địch, nhưng ta chỉ thắc mắc vụ Tần Thủy Hoàng thui, thời đó có vị anh hùng nào nhỉ, lúc đó bên mình là đời vua nào
Thì thời đó VN nhà ta còn thời bộ lạc ( hic hic ). Triệu Đà là thuộc hạ của nhà Tần mà Triệu Đà thì coi cái truyện Mỵ Châu, Trọng Thủy là biết:033:
nickyhi
03-02-2008, 10:26 PM
Thì thời đó VN nhà ta còn thời bộ lạc ( hic hic ). Triệu Đà là thuộc hạ của nhà Tần mà Triệu Đà thì coi cái truyện Mỵ Châu, Trọng Thủy là biết:033:
thế là TTH sợ nỏ thần của Triệu Đà àh :plane:
ainguko
03-02-2008, 10:28 PM
thế là TTH sợ nỏ thần của Triệu Đà àh :plane:
Ặc ặc :shiver::shiver::shiver: Triệu Đà là cha của thằng Trọng Thủy đó. Hắn dùng mỹ nam kế với Mị Châu nhà ta để ăn cắp nỏ thần ( liên châu nỏ ) mờ:041::041::041:
nickyhi
03-02-2008, 10:29 PM
Ặc ặc :shiver::shiver::shiver: Triệu Đà là cha của thằng Trọng Thủy đó. Hắn dùng mỹ nam kế với Mị Châu nhà ta để ăn cắp nỏ thần ( liên châu nỏ ) mờ:041::041::041:
thì sau này hắn có nỏ thần + sát nhập với nước Nam mà (chắc đổi quốc tịch VN lun wa')
ta nhớ lúc đó Triệu Đà phản lại nhà Tần mà
ainguko
03-02-2008, 10:31 PM
thì sau này hắn có nỏ thần + sát nhập với nước Nam mà (chắc đổi quốc tịch VN lun wa')
ta nhớ lúc đó Triệu Đà phản lại nhà Tần mà
Ko phải hắn phản nhà Tần mà hắn có ý muốn xưng vương nhưng lại sợ qúa nên ko dám nữa:040:
saocodon_zn
03-02-2008, 10:33 PM
:025: Topic 8 về kì tài võ học mà toàn nói chuyện đâu đâu
:phut: Trời lạnh thế này thì đi làm bát phở nóng đi mấy bác...8 hoài thế
nickyhi
03-02-2008, 10:49 PM
:025: Topic 8 về kì tài võ học mà toàn nói chuyện đâu đâu
:phut: Trời lạnh thế này thì đi làm bát phở nóng đi mấy bác...8 hoài thế
lại tên sư xì păm này, pó tay
thế sau này tên triệu đà ra sao, thế ta mới hỏi là TTH sợ ai ở nước Nam ta chứ
ainguko
03-02-2008, 10:53 PM
lại tên sư xì păm này, pó tay
@ guko: thế ngươi có bít đoạn sau của Triệu Đà ko, kể cho ta bít với (hắn chít ra sao, ai giành lại nước nam)
Đoạn sau của Triệu Đà thì trong sử ký của Tư Mã Thiên có nói đó ( ta đọc rùi nhưng lâu quá nên quên mất). Còn sau đó mi đi hỏi 2 Bà Trưng nhé:029:
nickyhi
03-02-2008, 10:55 PM
ta nghĩ nên có 1 box lập ra để thống kê lại lịch sử VN, dành cho những người bị hỏng kiến thức như ta
ainguko
03-02-2008, 10:59 PM
ta nghĩ nên có 1 box lập ra để thống kê lại lịch sử VN, dành cho những người bị hỏng kiến thức như ta
Ngươi lập đi để huynh đệ ta còn có chỗ mà sì pam chứ :hoho: ( hic hic tuy rằng công phu sì pam của ta còn quá kém nhưng chắc phải tu luyện thui:06(1):)
nickyhi
03-02-2008, 11:11 PM
khửa khửa, mới vào vnthuquan, lục tung cả quán tìm đc 1 số tài liệu tặng anh em cùng ngâm cứu
Đại Việt Sử Ký Toàn thư (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1ntn4ntn31n343tq83a3q3 m3237nvn)
Giới Thiệu sử nước Việt (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nqn4n0n31n343tq83a3q3m3 237nvn)
Cờ thiêng đất thánh (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmn3ntn0n31n343tq83a3q3 m3237nvn)
Danh nhân đất Việt (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn1nqnvn31n343tq83a3q3 m3237nvn)
Lịch Sử võ ta (việt võ đạo) (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n2ntnnntn31n343tq83a3q3 m3237nvn)
Tây Sơn bi hùng truyện (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmnvn3n3n31n343tq83a3q3 m3237nvn)
TRiệu Đà và nước Nam Việt trong dòng chảy lịch sử VIệt Nam (http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nqn3n0n1n31n343tq83a3q3 m3237nvn)
wudang170
04-02-2008, 12:49 AM
Đây là vị anh hùng Việt Nam mà Tần Thuỷ Hoàng phải nể trọng nè :059:
Lý Ông Trọng là người Việt đầu tiên hiển đạt tại nước ngoài (Trung Hoa), được vua nước ấy nể trọng.
Ông người xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội ngày nay. Lúc nhỏ có tên là Lý Thân.
Tương truyền lúc còn sơ sinh ông đã rất to lớn, hơn hẳn các trẻ em bình thường. Rồi đến tuổi trưởng thành, cao tới 2 trượng 3 thước, lại có sức khỏe bình thường. Ông hay giúp đỡ mọi người, nên được nhiều kính nể. Đặc biệt khi ông giết chết con giải hay ăn thịt người ở khúc sông Cái chảy qua làng, thì lại càng được mọi người hết lòng kính nể.
Sự hào hiệp là anh em sinh đôi của tính tình khảng khái. Cho nên, khi gặp cảnh ngang trái ông thường ra tay lập tức. Những người bề trên và các vị gia trưởng, bảo ông kiêu hãn, nghĩa là vừa kiêu ngạo vừa hung hãn. Họ chỉ thấy ở ông một kẻ bề dưới bất trị, mà không xét đến động cơ nào đã khiến ông có những hành động như thế.
Khi ấy là vào cuối thời vua Hùng Vương thứ 18, sắp sửa bước sang thời Thục Phán An Dương Vương. Ở bên Tàu là cuối thời Đông Chu liệt quốc, Tần Thủy Hoàng vừa thôn tính xong 6 nước, rồi xưng là Hoàng đế (221 trước Công nguyên). Lý Thân lúc ấy còn trẻ, vào làm nha môn cho một vị Lạc tướng, do một lần ra tay cứu giúp người bị nạn, đã chẳng may đánh chết hung thủ là người có bà con thân thích với quan trên. Vị Lạc tướng bắt Lý Thân khép vào tội chết (sát nhân giả tử), nhưng vua Hùng biết chuyện, tiếc một người trẻ tuổi có nghĩa khí, nên tha cho, chỉ còn bắt đánh đòn.
Sau trận đòn nhục nhã, lý Thân càng thấm thía thêm thân phâïn của kẻ tôi đòi: "Người ta ở đời có tráng chí, hãy nên như chim loan, chim phượng bay cao chín tầng trời, bay xa ngàn vạn dặm, chứ có lẽ nào chịu quanh quẩn mãi ở đây, để cho người ta hành hạ?"
Từ đấy, ông bỏ nha môn, đi tìm các thầy giỏi để học. Vừa học chữ, vừa học võ nghệ. Học thầy trong nước, rồi học cả thầy ở ngoài nước (Trung Hoa). Ông chẳng quản ngại đường sá xa xôi, hễ biết ở đâu có thầy giỏi là lập tức tìm đến theo học.
Rồi đến ông thành tài, chẳng những có võ nghệ cao cường mà còn làu thông cả kinh sử. Lúc ấy ông đang ở bên Tàu.
Thời ấy, ở Trung Hoa tuy học hành rất phát triển, nhưng chứa đặt ra chế độ thi cử để chọn nhân tài. Nhân tài được tuyển chọn theo cách: Các quan lại địa phương tiến cử lên nhà vua những người tài năng danh tiếng trong địa hạt của mình, để nhà vua chọn lựa tuyển dụng.
Lý Thân được tiến cử đến Tần Thủy Hoàng, lúc ấy là vị hoàng đế lẫy lừng, người đầu tiên thống nhất Trung Hoa.
Biết tài của ông, Tần Thủy Hoàng trọng dụng rồi về sau cho thăng đến chức Tư lệ hiệu úy, một quan chức lớn trong quân ngũ.
Lúc bấy giờ, tuy nhà Tần thôn tính xong các nước, nhưng ở biên giới phía Bắc, vẫn bị người Hung Nô thường xuyên vào cướp. Hung Nô tuy quân ít nhưng kỵ binh của họ rất thiện chiến, khiến cho quân Tần phải nhiều phen khốn đốn, chống đỡ liên miên.
Tần Thủy Hoàng bèn phái Lý Thân đến trấn giữ đất Lâm Thao (thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay) để đối phó với Hung Nô. Lý Thân một mặt cho canh phòng nghiêm ngặt, mặt khác lại tổ chức nhiều đợt phản công, đánh bao vây tiêu diệt lớn, khiến cho người Hung Nô sau mấy lần thất bại, đành phải từ bỏ ý đồ xâm lấn. Về sau, hễ họ trông thấy Lý Thân ở đâu, là lập tức quay ngựa chạy, không còn dám chống cự nữa.
Cả một vùng biên giới được bình yên, khiến cho vua Tần vui mừng như cất xong gánh nặng. Tần Thủy Hoàng rất quý trọng ông, phong cho là Phụ Tín hầu rồi gả công chúa cho ông. Đối với môt người ngoại tộc, vừa được phong chức lớn, lại vừa được nhận là giai tế như vậy, quả là rất hiếm hoi.
Tuy nhiên, mặc dù được trọng thị và tin dùng, Lý Thân vẫn cảm thấy lạc lõng, bơ vơ ở nơi đất khách quê người. Ông gửi lòng mình theo những áng mây trôi mãi về phương Nam, ở đó là quê hương, có cha mẹ, anh em và đồng bào của ông đang sinh sống. Mặc dù ngày trẻ, do phẫn chí mà ra đi, nhưng đến nay, khi tuổi tác càng cao, ông lại càng thấm thía nỗi đau của người xa xứ.
Nhưng đang mắc việc quân trọng đại, làm sao ông có thể trở về quê hương được? Ông rất biết Tần Thủy Hoàng, dù trọng thị và tín dùng như thế nào thì vẫn chém đầu ngay, nếu ông tự tiện rời bỏ nhiệm sở. Thế là ông đành phải chờ đến lúc mình tuổi cao sức yếu vậy.
Ông dâng sớ cáo lão lên Tần Thủy Hoàng khi thấy mình không còn đảm đương nổi việc quân, và cũng xin nhà vua cho trở lại quê hương để được nhìn mặt mọi người thân làn cuối. Tần Thủy Hoàng cho lời tâu ấy là thực, bèn chuẩn y. Thế là không quản hàng vạn dặm đường sá xa xôi, ông lui gót về quê, nơi trước kia ông đã sinh ra. Được vài năm thì ông mất, hoàn toàn mãn nguyện.
Hàng ngàn năm sau, lúc ấy nước ta đang ở gần cuối kỳ thuộc Đường (603 - 906) Triệu Xương (801) rồi Cao Biền (864) lần lượt sang nước ta cai trị. Hai tên cáo già này muốn thu phục lòng người nước Na, bằng việc xây miéu thờ Lý Thân ở làng Trèm (Từ Liêm, Hà Nội) rồi sau đó cho tạc tượng và tu bổ đền miếu quy mộtto lớn. Xương và Biền lại phao tin rằng, đã từng nằm mộng thấy cùng đàm đạo với Lý Thân, hoặc được Lý Thân hiển linh giúp đỡ đánh thắng quan Nam Chiếu.
Mặc dù có những việc làm và lời lẽ mỵ của quân xâm lược đối với Lý Thân, nhưng tình cảm của mọi người đối với ông cũng chẳng vì thế mà suy suyển. Ông xứng đáng vẫn được tôn trọng bởi tài năng, lòng khảng khái và chí tiến thủ của mình. Những gì ông đạt được thực không dễ dàng vào thời buổi ấy. Vậy mà, đến lúc cuối đời ông lại từ bỏ tất cả để được trở về quê hương, mà đường đất đi lại đâu có gần gũi gì. Ông căm giận những người đã xử nhục mình mà bỏ nước ra đi, nhưng chưa bao giờ ông phản lại mọi người và đất nước cả.
Việc từ trước đến nay mọi người đến đền Trèm dự hội và làm lễ tưởng niệm ông, vì thế, là hoàn toàn chính đáng, chứ không phải bị kích động bởi việc làm và lời lẽ của Triệu Xương hay của Cao Biền.
Các triều đại phong kiến trước đây đều có sắc phong tặng ông. Trời Trần trùng hưng đặt các mỹ hiệu " Anh Liệt", " Dũng Mảnh". Phụ tín để gọi ông ...
Lại nói đến thời nhà Tân (Trung Hoa). Sau khi thấy Lý Thân già yếu, Tần Thủy Hoàng chuẩn y cho ông về cáo lão. Lại ban cho ông xe ngựa và tặng vật để vượt hàng vạn dặm đường dài, trở về cố quốc.
Để vẫn tiếp tục giữ cho quân Hung Nô khỏi vào xâm lấn, Tần Thủy Hoàng sai lấy đồng đúc tượng ông thật lớn, đặt trước cửa Tư Mã ở Hàng Dương, Kinh đô của nhà Tần. Lúc bấy giờ, bụng tượng khoét rỗng, chứa được hàng trục người. Vua Tần sai mấy người lính thay nhau vào đấy, thỉnh thoảng lại làm cho tượng cử động chân tay, đầu óc, hoặc đi lại được. Quân Hung Nô ở xa trong thấy, tưởng là Lý Hiệu Úy còn sống, nên không dám đến xâm phạm.
Thay vì gọi tên bức tượng là Lý Thân, Tần Thủy Hoàng cho gọi đó là Lý Ông Trọng. Xem thế đủ biết, Tần Thủy Hoàng đã nể trọng ông đến mức nào.
baonhietdoi
04-02-2008, 07:40 AM
ai cho mình biết Khinh Công là gì đi học xong bay bay như phim được hả
muulinh
14-02-2008, 08:27 AM
Tìm thấy cái này ở trên http://mic.edu.vn, đưa mọi người tham khảo
Lý Tiểu Long ( Bruce Lee )
Lý Tiểu Long (Tiếng Anh: Bruce Lee Siu Lung; tên thật Lý Chấn Phiên hay Lee Jun Fan) sinh ngày 27 tháng 11 năm 1940, tại San Francisco (Mỹ) – mất ngày 20 tháng 7 năm 1973) là một diễn viên võ thuật nổi tiếng trong nền điện ảnh Mỹ, ông là một người Mỹ gốc Hoa.
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/lytieulong1.jpg
Tiểu Sử
27/11/1940: Tại San Francisco(Mỹ), trong khoảng từ 6:00 đến 8:00 sáng (theo quan niệm của người Trung Quốc thì đây là năm rồng và giờ rồng), Lý Tiểu Long chào đời tại bệnh viện Jackson, trong một khu phố tàu khi cha Lý Tiểu Long là Lý Hải Tuyền và mẹ là Hà Ái Du đang theo đoàn kịch lưu diễn tại Mỹ. Lý Tiểu Long khi mới sinh thì ốm yếu bệnh tật và do trước đó người anh của Lý Tiểu Long chết khi còn nhỏ nên để tránh hung thần, mẹ Lý phải đổi tên anh thành con gái là Lý Tiểu Phượng, còn xâu cả hoa tai cho Lý.
1941: Lý Tiểu Long cùng ba mẹ trở về ngôi nhà của họ tại Hồng Kông khi mới 3 tháng tuổi. Họ sống trong một căn hộ ở đường 218 Nathan.
1946: Lý Tiểu Long vào vai nhí đầu tiên trong phim "The Beginning of a Boy". Sau đó Lý tham gia trong các phim "The Birth of Mankind ", "My Son" và "Ah Cheun". Trong suốt những năm sau đó Lý Tiểu Long xuất hiện tất cả hơn 20 phim với các vai nhí, qua Những phim này tài năng của Lý dần được bộc lộ.
1952: Lý Tiểu Long bắt đầu theo học tại trường trung học La Salle.
1953: Thời gian này Lý Tiểu Long kết bè với bọn trẻ lêu lổng và thường gây lộn đánh nhau trên đường phố. Sau 1 lần bị đánh bại, Lý Tiểu Long theo học Vĩnh Xuân Quyền cùng danh sư Diệp Vấn.
1954: Lý Tiểu Long bắt đầu học nhảy Cha-Cha.
1958: Lý Tiểu Long đạt giải quán quân trong một cuộc thi nhảy Cha-Cha.
Lý Tiểu Long có một vai trong "The Orphan". Đây là vai nhí cuối cùng của Lý và đây cũng là phim duy nhất không có cảnh đánh đấm. Lý Tiểu Long tham gia giải Quyền Anh và đánh bại nguời vô địch 3 năm liền là Gary Elms.
1959: Do có những trận đụng độ trên đường phố mà Lý Tiểu Long đã bị cảnh sát điều tra, lo lắng cho con bố mẹ Lý đã quyết định sẽ đưa Lý sang Mỹ. Lý Tiểu Long sang Mỹ sống với một người bạn cũ của cha, tất cả những gì anh có là 15$ của cha và 100$ của mẹ. Lý làm việc xung quanh cộng đồng người Hoa. Sau đó Lý chuyển đến Seattle (Washinton) để làm việc cho Ruby Chow, một người bạn khác của ba Lý. Anh sống trong một căn phòng phía trên của nhà hàng với vai trò bồi bàn. Cuối cùng Lý gia nhập trường Edison Technica. Thời gian này Anh bắt đầu dạy võ trong sân sau và công viên của thành phố.
3/1961: Lý Tiểu Long gia nhập trường đại học Washington khoa triết học. Lý dạy võ cho sinh viên tại trường.
1963: Lý Tiểu Long cầu hôn Amy Sanbo nhưng bị cô từ chối. Lý trở lại Hồng Kông với bạn là Doug Palmer. Đây là lần đầu Lý về thăm gia đình. Sau đó anh phải quay lại Seattle để tiếp tục việc học tập của mình. Ngày 25/10, Lý Tiểu Long có buổi hẹn hò đầu tiên với Linda Emery (vợ tương lai của anh). Họ đã có buổi ăn tối tại Space Needle. Lý Tiểu Long bắt đầu mở "Trấn Phan Võ Quán". Mùa thu, Lý Tiểu Long dời "Trấn Phan Võ Quán" tới đường 4750 University gần khu sân bãi của trường Đại Học. Lý dạy một vài đệ tử kể cả người Mỹ (Hầu hết các trường dạy võ Châu Á chỉ dạy người cùng chủng tộc với họ).
Tại trường Garfield Lý Tiểu Long đã biểu diễn "Đòn đánh một Inch". Cú đấm này về sau đã làm nên sự nổi tiếng của anh tại 64'' Long Beach Internationals và nó đã được Lý và James DeMile phát triển tại Seattle. Lý Tiểu Long giơ cánh tay thẳng, kết hợp với sức mạnh của vai đá một người đàn ông bay qua sàn.
1964: Lý Tiểu Long gặp Jhoon Rhee tại cuộc thi Karate quốc tế, Jhoon Rhee đã mời Lý Tiểu Long đến Washington tham dự một giải đấu. Tháng 6, Lý Tiểu Long bàn với James Yimm Lee kế hoạch mở "Trấn Phan Võ Quán" thứ hai tại Oakland,Mỹ. Kế hoạch được thực hiện, Và Lý Tiểu Long rời Seattle để bắt đầu võ quán thứ hai ở Oakland. Taky Kimura, một người bạn tốt của Lý, đảm đương vai trò người đứng đầu .
Ngày 2/8, Ed Parker, được biết đến như cha đẻ của Karate Mỹ (Kenpo), mời Lý Tiểu Long biểu diễn.Và Anh đã biểu diễn đòn "Cú Đánh một inch" và hít đất với 2 ngón tay. Tại giải Karate quốc tế lần đầu, Jay Sebring, người có mái tóc kiểu Người Dơi(Batman), William dozier, một nhà sản xuất,người đang tìm kiếm một diễn viên cho một serie truyền hình mà ông đang làm. Sau đó Sebring đưa kịch bản chương "Cuộc biểu tình của Lý Tiểu Long " cho Dozier, người rất ấn tượng với khả năng siêu phàm của Lý Tiểu Long. Sau đó Lý Tiểu Long bay tới Los Angeles để diễn thử.
Ngày 4/8, Lý Tiểu Long trở lại Seattle để cầu hôn Linda. Ngày 17/8, Lý Tiểu Long thành hôn với Linda, ngay sau đó họ chuyển đến Oakland.
1965: Vài tháng sau Lý Tiểu Long nhận được lời thách đấu của Wong Jack Man, một thầy dạy võ tại khu phố Tàu. Họ thỏa thuận Nếu Lý Tiểu Long thua anh sẽ phải hoặc là đóng cửa võ quán của mình hoặc ngưng dạy những người da trắng ,còn nếu Jack thua anh ta sẽ phải ngừng dạy võ. Jack Man Wong không tin là Lý dám nhận lời thách đấu và sẽ cố trì hoãn trận đấu. Lý Tiểu Long đã nhận lời và yêu cầu họ không phải đợi. Wong sau đó cố giới hạn kỹ thuật, Lý Tiểu Long khước từ những quy định đó và họ đã không đi đến thỏa thuận. Lý Tiểu Long đánh bại kẻ thù chỉ trong giây lát, Wong bỏ chạy nhưng Lý Tiểu Long tóm lại. Lý đánh gục hắn ngay trên võ đài. Đệ tử của Wong phải bước lên để giúp thầy, song James Lee, một người bạn tốt của Lý, đã ngăn lại. Nhưng sau đó anh nhận ra tại sao trận đấu lại diễn ra lâu như vậy, Lý bắt đầu suy nghĩ về bản thân. Đó chính là cơ sở sau này cho môn võ Triệt Quyền Đạo (Jeet Kune Do), "Nghệ thuật chiến đấu bằng cách chặn đứng đòn tấn công của đối phương" đã được ra đời. Triệt Quyền Đạo là một môn võ bao gồm đòn thế của tất cả các môn phái (như Quyền Anh phương Tây, Quyền Thái, Karate Nhật Bản,... ). Đòn thế của nó là vô chiêu. Lý Tiểu Long đã để lại dấu ấn trong "The Green Hornet" với khoản thù lao được trả là $1800.
1965: Ngày 1/1, con trai đầu lòng của anh là Lý Quốc Hào (Brandon Bruce) cất tiếng khóc chào đời. Ngày 8/2, cha Lý Tiểu Long qua đời tại Hồng Kông. Lý Tiểu Long trở về Hồng Kông dự đám tang bố. Theo phong tục cổ, người con bị coi là bất hiếu nếu vắng mặt khi cha mất. Vì vậy Lý Tiểu Long đã quỳ gối suốt từ cửa tới bình đựng tro hỏa tán của cha mà gào khóc.
Tháng 5, Lý Tiểu Long sử dụng số tiền còn lại từ bộ phim "The Green Hornet" để bay trở lại đưa Linda và Quốc Hào quay lai Hồng Kông để giải quyết gia sản của cha anh để lại. Trong khi ở Hồng Kông Lý Tiểu Long đưa Quốc Hào đến gặp danh sư Diệp Vấn để thuyết phục ông nhận lời biểu diễn. Lý muốn trở lại Seattle và chỉ cho học trò của anh thấy một người như thế nào khi hành động, nhưng Ông đã khiêm nhường từ chối.
Tháng 9, Lý Tiểu Long, Linda, và Quốc Hào quay trở lại Seattle.
1966: Lý Tiểu Long cùng gia đình dời đến Los Angeles sống trong một căn hộ tại Wilshire and Gayley ở Westwood. Đây là nơi anh làm việc cho tập phim truyền hình gọi là "The Green Hornet" trong vai Kato. Bộ phim The Green Hornet bắt đầu được quay và Lý Tiểu Long được trả $400 cho mỗi phần. Sau đó Lý Tiểu Long mở thêm một chi nhánh thứ ba của "Trấn Phan Võ Quán" tại khu phố Tàu của thành phố Los Angeles.
Tháng 9, bộ phim "The Green Hornet" đang rất ăn khách.
1967-1971: Trong suốt khoảng thời gian này, Lý Tiểu Long tham gia vào nhiều phim khác nhau và các bộ phim truyền hình. Ngoài ra Anh còn dạy võ với mức lương tới $250 mỗi giờ cho những người nổi tiếng như Steve McQueen, James Coburn, James Garner, Lee Marvin, Roman Polanski, và Kareem Abdul Jabbar. Lý Tiểu Long gặp Chuck Norris tại New York khi cùng tham gia giải Karate toàng quốc ở Washington, Chuck đấu với Joe Lewis và giành phần thắng. 1967: Lý Tiểu Long gặp Joe Lewis tại khách sạn Mayflower, cả hai đều là khách mời của giải Karate quốc tế năm 67. Joe đang cố giành phần thắng trong giải đấu còn Lý đang có sự xuất hiện đặc biệt với vai Kato. Tháng 2, Lý Tiểu Long mở võ quán thứ a của mình tại đường 628 College, Los Angeles, Mỹ. Dan Inosanto trợ giúp như một phụ tá hướng dẫn .
Ngày 14/7, phần cuối của "The Green Hornet" được trình chiếu, bộ phim sau đó được nói rằng phải bỏ dở vì Lý, nhân vật phụ trở lên nổi tiếng còn hơn cả nhân vật chính của phim.
Ngày 19/04/1969: Lý Hương Ngưng (Shannon Lee) cất tiếng khóc chào đời. 1970: Lý Tiểu Long bị thương nặng ở lưng và trong khi tập luyện. Bác sĩ nói rằng anh không thể luyện võ tiếp tục được. Trong suốt những tháng ngày phục hồi sức khỏe Lý bắt đầu viết về phương pháp luyện tập của mình nghiệm từ chính bản thân cho môn võ Triệt Quyền Đạo. Sau khi anh mất, "Con đường Triệt Quyền Đạo" được xuất bản bởi vợ anh trong những kí ức về Lý Tiểu Long. Lý Tiểu Long và Quốc Hào bay về Hồng Kông trong sự chào đón của khán giả hâm mộ "The Green Hornet".
1971: Tháng 2, Lý Tiểu Long cùng James Coburn, Stirling Silliphant bay sang Ấn Độ để khảo sát những cảnh quay cho "The Silent Flute". Họ mất một tháng trời tìm kiếm song miễn cưỡng phải từ bỏ do Coburn bỏ dở kế hoạch. Chuyến du ngoạn này đã giúp cho Lý Tiểu Long có ý tưởng cho bộ phim "Trò Chơi Tử Thần" (Game of Death). Lý Tiểu Long kết thúc chuyến du ngoạn ngắn ngủi quay trở lại Hồng Kông để thu xếp cho mẹ tới Mỹ. Vô tình thay, anh đang là một siêu sao của phim "The Green Hornet" đã trở thành phim truyền hình ăn khách nhất ở Hồng Kông. Sau đó anh nhận được lời mời của Raymond Chow (Trâu Văn Hoài), một nhà sản xuất phim mới, tham gia trong bộ phim "Đường Sơn Đại Huynh" (The Big Boss). Lý đã nhận lời. Lý Tiểu Long được cấp một cấp một căn hộ với đồ đạc có sẵn ở đường số 2 Man Wan - Kowloon, Hồng Kông. Wu Ngan, đi cùng Lý và Linda. Sau đó La Wu Ngan kết hôn và vợ mới của anh cũng đi cùng. Quốc Hào nhập học tại trường trung học La Salle. Ngôi trường mà Lý theo học 15 năm trước.
Tháng 7, Đoàn làm phim bắt đầu quay "Đường Sơn Đại Huynh", được phát hành tại Mỹ dưới cái tên "Tinh Võ Môn" (Fists of Fury). Đường Sơn Đại Huynh mở ra một làn sóng ở Hồng Kông với lượng khán giả khổng lồ. Doanh thu của bộ phim đạt về hơn $3.5 triệu chỉ trong khoảng 3 tuần.
1972: Tinh Võ Môn (phát hành tại Mỹ với cái tên The Chinese Connection) được công chiếu. Nó đạt doanh thu còn hơn cả Đường Sơn Đại Huynh và sau này đã đưa tên tuổi của Lý Tiểu Long liệt vào hàng siêu sao Hồng Kông. Lý đã thu về được một khoản lợi nhuận để trang trải một vài thứ, và anh có tham gia đạo diễn cho phim này. Lý Tiểu Long bắt đầu đóng phim "Trò Chơi Tử Thần" và một vài cảnh trong phim có xuất hiện Danny Inosanto và Kareem Abdul-Jabbar. Lý xuất hiện trên kênh TVB của Hồng Kông trong một cuộc vận động ủng hộ những người gặp thiên tai. Trong cuộc biểu diễn quyên góp, anh đã đập vỡ 4-5 tấm bia kết thúc 1 tràng pháo tay lớn tán thưởng.
Lý Tiểu Long đưa đoàn làm phim sang La Mã (Roma, Italy) làm bộ phim thứ ba là "Mãnh Long Quá Giang" (The Way of the Dragon) phát hành tại Mỹ dưới tên The Return of the Dragon. Lần này Lý Tiểu Long đảm nhận hầu hết các vai trò từ viết kịch bản, đạo diễn, rồi kiêm diễn viên. Chuck Norris là đấu thủ cuối cùng của Lý Tiểu Long. Một lần nữa, bộ phim này vượt trội hơn nhiều so với hai phim trước.
Ngày 28/12, người em của Lý Tiểu Long, James, qua đời vì bị lao phổi.
1973: Tháng 2, Lý Tiểu Long có cơ hội khi phim "Long Tranh Hổ Đấu" được khởi quay trong lúc "Trò Chơi Tử Thần" được bắt tay vào. Đây chính là bộ phim đầu tiên do Mỹ và Hồng Kông hợp tác sản xuất. Ngày 20/2, Lý Tiểu Long tham dự ngày lễ thể thao tại trường St. Francis Xavier.
Grace Lee, Chị gái Lý Tiểu Long, gặp Lý tại Los Angeles. Lý Tiểu Long thổ lộ với chị rằng anh không muốn sống thêm nữa và chị không phải lo về tài chính, anh sẽ chu cấp cho cô. Chị đã quở trách anh nói vớ vẩn.
Tháng 4, bộ phim "Long Tranh Hổ Đấu" được hoàn thành.
Ngày 16/7, mưa to do cơn bão lớn tại Hồng Kông. Lý Tiểu Long tiêu phí $200 để điện thoại cho Unicorn trong phòng của anh tại khách sạn, người đã làm bộ phim ở Manila. Lý Tiểu Long nói với Unicorn rằng anh thực sự thấy lo lắng về những cơn đau đầu mà mình đang phải chịu đựng.
Ngày 18/7, mái nhà của Lý Tiểu Long tại đường Cumberland ở Hồng Kông bị thổi tung vì mưa to gió lớn.
20/7, sáng sớm hôm đó Lý Tiểu Long viết một bức thư cho vị luật sư,Adrian Marshall, Anh muốn bàn bạc với ông trên chuyến đi trở về Los Angeles. Lý Tiểu Long đã có tấm vé sẵn sàng trở về Mỹ cho buổi trình diễn trước công chúng và Anh dự định sẽ xuất hiện trên chương trình Johnny Carson.
Diễn biến cái chết (Cho đến nay vẫn chưa tìm ra nguyên nhân chính xác, tất cả chỉ là giả thuyết)
Raymond Chow (Trâu Văn Hoài) đến nhà Lý Tiểu Long và hai người cùng bàn bạc về kế hoạch cho bộ phim sắp tới "Game of Death". Linda hôn tạm biệt Lý và nói cô phải ra ngoài làm mấy việc lặt vặt và sẽ gặp anh vào buổi tối. Raymond và Lý Tiểu Long tới thăm Betty Ting Pei (diễn viên Đinh Phối) tại căn hộ của cô để bàn về vai diễn của cô trong "Game of Death". Họ dự định sẽ có bữa ăn tối để gặp George Lazenby và mời anh tham gia vào phim. Lý Tiểu Long nói rằng anh cảm thấy bị đau đầu, hỏi mượn tạm thuốc giảm đau của Betty, sau đó nằm lại trên giường của cô chờ đến bữa tối. Raymond Chow ra về và nói sẽ gặp lại họ sau . Raymond Chow và George Lazenby gặp nhau tại nhà ăn, ngồi chờ Lý Tiểu Long và Betty tới nhưng cả hai đều không xuất hiện. 9 giờ tối, Chow nhận được cú điện của Betty, cô nói đã cố đánh thức Lý nhưng Anh không dậy. Betty đã gọi bác sĩ riêng của cô, ông ta cố giúp Lý hồi tỉnh và sau đó đưa anh đến bệnh viện nhưng Lý Tiểu Long đã không thể tỉnh lại, anh đã chết thực sự. Bác sĩ đã rất ngạc nhiên khi biết anh bị hôn mê lâu như vậy vào buổi tối hôm đó nhưng thật không may Betty đã không gọi ông tới giúp sớm hơn. Lý Tiểu Long chết tại Hồng Kông vì chứng phù não (não bị sưng to). Sau nhiều cuộc thảo luận và tranh cãi, các bác sĩ đã công khai nguyên nhân tử vong của Lý Tiểu Long là "Chết do tai nạn bất ngờ". Bộ phim "Long Tranh Hổ Đấu" (Enter the Dragon) đã phải trì hoãn lại 4 ngày sau vì diễn viên chính đã mất.
Ngày 25/7, một tang lễ được tổ chức cho bạn bè và người hôm mộ tại Hồng Kông, đã có hơn 25.000 người tới lễ tang của anh. Lý Tiểu Long mặc bộ trang phục Trung Quốc mà anh đã mặc trong phim "Long Tranh Hổ Đấu" (Enter the Dragon). Ngôi mộ của Lý Tiểu Long Ngày 30/7/1973: Sau một tang lễ nhỏ thứ hai ở Seattle, Washington tại Butterworth Funeral Home trên đại lộ East Pine, Lý Tiểu Long được chôn cất ở nghĩa trang Lake View. Tiễn đưa anh bao gồm Steve McQueen, James Coburn, Danny Inosanto, Taky Kimura, Peter Chin và người em trai, Robert Lee. 24/8/1973: "Long Tranh Hổ Đấu " (Enter The Dragon) đứng đầu tại rạp Graumann. Bộ phim rất thành công và Lý Tiểu Long đã nổi tiếng trên toàn thế giới.
Lý Tiểu Long và võ thuật
Trước khi sang Mỹ du học, họ Lý có học Vịnh Xuân Quyền với chưởng môn chi phái Vịnh Xuân Quyền Hồng Kông, Diệp Vấn tiên sinh. Trong khoảng tháng 9/1976 Lý có quay trở lại Hồng Kông xin được thầy dạy nốt phần cuối bài Mộc Nhân Thung mà Lý chưa học trước khi sang Mỹ nhưng bị Diệp Vấn từ chối. Sau đó Lý Tiểu Long đã theo học với Thiệu Hán Sinh vài bài quyền như "Tinh võ hội tiết quyền", "Thất tinh đường lang băng bộ quyền". Khi trở về Mỹ, Lý tiếp tục theo học Karatedo, côn nhị khúc, quyền Anh. Sau đó, Lý nghiên cứu và hỗn hợp nhiều môn võ để thành lập môn Triệt Quyền Đạo, sửa đổi cấu tạo Mộc Nhân Thung và cải cách những đòn thế tập với dụng cụ này. Theo nhiều học giả, Triệt Quyền Đạo ở một chừng mực nào đó vẫn có thể được coi là một chi nhánh của Vịnh Xuân Quyền.
Các phim
Đường Sơn Đại Huynh (The Big Boss):
Khởi quay từ tháng 7/1971 tại một vùng thị trấn nhỏ hẻo lánh tại Thái Lan. Bộ phim kể về một thanh niên nhà quê tên là Trần Triều An (do Lý Tiểu Long thủ vai) lên thành phố tìm việc làm, nhờ sự giúp đỡ của người chú, anh nhận được một chỗ trong xưởng làm đá cùng nhiều anh em khác, nhưng xưởng này làm ăn bất chính (sản xuất thuốc phiện). Sau khi biết anh là người giỏi võ nghệ chúng dùng tiền bạc và đàn bà để mua chuộc, biến anh thành tay sai cho chúng, nhưng sau khi phát hiện ra việc làm mờ ám của bọn chúng anh đã nhanh chống lại và triệt phá được băng đảng này. Bộ phim ra đời đã gây được tiếng vang lớn trong ngành phim võ thuật ,thu về hơn $3.5 triệu trong khi Lý Tiểu Long chỉ nhận được 15.000 USD.
Tinh Võ Môn (Fists of Fury):
Bộ phim kể về Trần Chân (Chen Chen), do Lý Tiểu Long thủ vai, là đệ tử của Hoắc Nguyên Giáp (một nhân vật nổi tiếng của Trung Hoa, người sáng lập ra Tinh Võ Môn), được tin sư phụ mất anh lập tức trở về dự tang sư phụ. Thấy có nhiều ẩn khúc trong cái chết bí ẩn của người thầy, Trần Chân quyết tâm điều tra một mình, sau cùng anh phát hiện ra rằng chính những người trong võ quán của Nhật đã ra tay dưới sự giúp đỡ của một số tên phản bội trà trộn trong Tinh Võ Môn. Lần lượt bọn chúng phải trả giá. Để cho yên chuyện cảnh sát Thượng Hải yêu cầu Trần Chân phải thí mạng, và đây là bộ phim duy nhất Lý Tiểu Long bị chết ,cũng như lần duy nhất anh hôn một cô gái trên phim ảnh. Bộ phim được dàn dựng hoàn toàn trong trường quay và 27 năm sau nó trở thành 1 trong 10 kiệt tác của Hồng Kông. Sau này nó được làm lại thành bộ phim "First of Legend" do một diễn viên võ thuật nổi tiếng là Lý Liên Kiệt (Jet Li) thủ vai.
Mãnh Long Quá Giang (The Way of The Dragon):
Mở đầu là cảnh một anh thanh niên nhà quê ngơ ngác, kết thúc là màn biểu diễn võ mèo độc đáo .Nhân vật chính trong phim là Tang Lung một thanh niên Hồng Kông sang Roma theo lời giới thiệu người chú để giúp đỡ một cô gái. Quán ăn của cô gái đang bị một nhóm xã hội đen phá đám,g ây áp lực đòi cô phải bán lại nhà ăn. Do không biết chút tiếng Anh lại ngơ ngác, ban đầu anh bị mọi người trong quán khinh bỉ, nhưng sau khi anh giúp đánh đuổi bọn xấu mọi người rất khâm phục. Cảnh đấu cuối cùng là một cảnh quay tại đấu trường La Mã đổ nát cùng với diễn viên rất nổi tiếng bấy giờ là Chuck Norris. Bộ phim do Lý Tiểu Long viết kịch bản,đạo diễn kiêm diễn viên là bộ phim duy nhất trong 4 tác phẩm kinh điển có những cảnh hài hước.Bối cảnh là LaMã cổ đại rất đẹp mắt và bộ phim là cơ hội để mọi người có cơ hội chiêm ngưỡng vẻ đẹp cơ bắp của Lý Tiểu Long,mà không ai có thể có được( trong quá khứ và ngay cả tương lai).
Long Tranh Hổ Đấu ( Enter the Dragon):
Là bộ phim đầu tiên có sự hợp tác giữa Hồng Kông và Mỹ .Trong phim là nhân vật "Lý" một để tự thiếu lâm vâng lời sư phụ đi trừng phạt kẻ phản bội sư môn( tên họ Hàn) .Cũng nhờ người chú "Lý" biết được chị gái của mình bị đệ tử của tay họ Hàn hại chết ,với sự giúp sức của một tổ chức an ninh Anh quyết định tham gia giải thi đấu võ nhằm đột nhập xào huyệt của bọn chúng là một hòn đảo cách rất xa bờ.Cùng đi với anh còn có 2 người bạn nữa là Roper và William ,nhưng William sau đó đã bị họ Hàn giết chết trên đảo.Tại đảo của họ Hàn Lý vừa tham gia cuộc tỉ thí võ thuật còn ban đêm với sự giúp đỡ của một nữ tình báo tên là Mỹ Linh ban đêm Anh đột nhập vào xào huyệt của bọn chúng lần thứ 2 thì Anh bị bắt ,nhưng cùng với Roper họ đã diệt được băng của họ Hàn.
Mặc dù bộ phim rất thành công song diễn viên chính lại chẳng có cơ hội được xem nó, sau khi đóng phim này Lý Tiểu Long bị sút gần 15kg. Trong phim Lý Tiểu Long có bày tỏ một số quan điểm về võ thuật của mình, đúng như mong ước của anh là dùng điện ảnh để truyền bá võ thuật.
Trò Chơi Tử Thần (Game of Death):
Còn được biết đến với cái tên khác là Tử Vong Du Hí, anh vài vai Billy Lo, một diễn viên nổi tiếng bị một tổ chức do Mr Land cầm đầu đe dọa tống tiền, vì chống lại chúng nên Billy bị chúng âm mưu ám toán nhưng không thành. Anh chỉ bị thương nặng ở mặt, sau đó anh làm phẫu thuật mặt và tổ chức 1 đám tang giả nhằm đánh lừa tổ chức của Mr Land và dễ bề đối phó. Vì là một diễn viên anh cải trang để theo dõi chúng tại Macao, Billy đã giết chết cận vệ của Land, Carl, một cao thủ Karate, nhưng sau đó chúng biết Anh còn sống và đã bắt Anna Young (bạn gái của Billy) gây áp lực. Bằng trí thông minh và tài năng về võ thuật, cuối cùng bọn băng của Mr Land cũng phải đền tội. Bộ phim có sự tham gia của một số diễn viên như Danny Inosanto và Kareem Abdul-Jabbar (trong vai Hakim), trong phim Lý Tiểu Long có biểu diễn tuyệt kĩ với côn nhị khúc rất đẹp mắt, và đây chính là bộ phim cuối cùng của anh.
Những câu nói nổi tiếng
"Võ thuật không bao giờ là một loại phấn son, một thứ trang sức mà chính là công trình mang tính chiếu sáng. Nói cách khác, đây là một kĩ thuật để đạt tới tự do". (Nói về nền tảng Triệt Quyệt Đạo)
"Để trở lên khác hơn so với bản thân, cần phải hiểu biết về chính bản thân". (Nói về những nhận thức mở đầu)
"Không phải mỗi ngày một tăng thêm mà chính là mỗi ngày một giảm bớt bằng cách đẽo gọt những thứ vô bổ". (Nói về những tính cách chủ yếu).
"Trước khi học võ, tôi thấy trái đấm chỉ là trái đấm, cú đá chỉ là cú đá. Khi học võ tôi thấy trái đấm không còn là trái đấm, cú đá không còn là cú đá. Khi đã hiểu võ thuật, tôi lại thấy trái đấm chỉ là trái đấm, cú đá chỉ là cú đá" (Nói về những lợi khí khi giao đấu)
"Trí thông minh đôi khi được kể như khả năng tự điều chỉnh thành công của cá nhân theo cảnh huống xung quanh - hoặc là khả năng điều chính cảnh huống xung quanh cho phù hợp với nhu cầu của cá nhân." (Nói về những chuẩn bị cần thiết)
"Đạt tới sự yên tĩnh trong khi di động giống như bóng trăng trên sóng nước, tiếp tục lúc lắc và trôi đi mãi" (Nói về sự di động)
"Nghệ thuật này không có gì phức tạp. Hãy làm đúng những điều phải làm. Hãy đấm khi phải đấm, đá khi phải đá" (Nói về tấn công)
"Không có trung tâm, không có giới hạn là có chân lý" (Nói về vòng tròn không giới hạn)
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/lytieulong2.jpg
***Sau cái chết của Lý Tiểu Long , nhiều câu chuyện mới được những người trong cuộc kể lại . Võ sĩ lừng danh Đài Loan King Cobra ( Mãnh Xà Vương ) gởi thư cho tạp chí Black Belt , kể lại trận giao hữu giữa hai người , mỗi bên chỉ đem theo một phụ tá. Trên lầu 15 của khách sạn , họ gặp nhau. Sau vài câu xã giao , cả hai vào cuộc. Mãnh Xà Vương kể lại : " Chỉ với một đòn duy nhất , anh đã đá tôi ngã gục. Chân anh ta như một con dao ( Like a knife ).... "
Thủ lãnh Hiệp Khí Đạo là Koichi Tohei. 10 đẳng , cũng thuật lại cho Black Belt : " Trong một cuộc hội thảo , chúng tôi thử xuất ra vài đòn. Tôi yêu cầu anh ta tung ngọn cước đắc ý nhất. Ý tôi chỉ là chụp bắt chân anh ta lại thôi. Tất nhiên họ Lý nhận lời. Anh ta phóng cước , nhưng tôi bắt... hụt. Sau đó tôi tự tuyên bố mình thua cuộc , vì không bắt được chân anh ta. Nhưng đúng lúc ấy Lý Tiểu Long cúi mình và nói : "Tôi mới là người thua cuộc , vì tôi không dám đá cái thứ hai nữa. Tôi sẽ tàn phế suốt đời... " Câu chuyện nói lên tinh thần thượng võ cao cả của các bậc võ sư chân chính.
Trong thời gian đóng phim. một số diễn viên điện ảnh Hồng Kông , vì nhiều lý do , lớn tiếng thách Lý Tiểu Long giao đấu. Anh đều im lặng , không trả lời. Sau khi anh chết đi , một vài người trong số họ mới kể lại rằng : Lý Tiểu Long không trả lời , nhưng chờ đêm tối , lặng lẽ đến tận nhà họ . Anh muốn giữ tiếng cho cả hai bên. Và các nhân vật đã thách thức anh đều "tâm phục khẩu phục" sau vài lượt tung đòn. Một người giấu tên kết luận : " Anh ta muốn đánh gục tôi lúc nào cũng được. "
Tại Sài Gòn , năm 1970 , Đô trưởng Đỗ Kiến Nhiễu có lần tổ chức tiếp tân một số diên viên Hồng Kông sang thăm Sài Gòn. Trong một cuộc họp báo , diên viên Vương Vũ khẳng định : " Chúng tôi sang đây thăm Sài Gòn và giao lưu khán giả chứ không phải để giao đấu , Vậy , xin miễn cho những lời thách thức ". Một võ sĩ nổi tiếng Sài Gòn nhân đó cũng gởi lời thách đấu với... Lý Tiểu Long . Nhưng dư luận đầu nhất trí cho rằng , chẳng qua anh ta chỉ " khoe mẽ " bởi tài năng hai bên , thể hiện trên màn ảnh là quá rõ rệt. Có người ví von : " Dê non không biết sợ cọp dữ." Người khác thì cho rằng. diên viên X thách đấu Lý Tiểu Long thì cũng như chúng ta thách đấu... Monhamed Ali vậy.
-----------------------
Tổ sư Morihei Ueshiba
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/morihei.jpg
Morihei Ueshiba, ông tổ của môn võ Aikido ( Hiệp khí đạo ) sinh năm 1882 tại thành phố cảng Tanabe, mất ngày 26-4-1969 tại Tokyo. Năm 33 tuổi Morihei Ueshiba đã được coi là người có võ công cao cường nhất nước Nhật. Năm 1960, chính phủ Nhật đã trao cho Morihei Ueshiba Huân chương danh dự cao quý và dải lụa tím nhằm tôn vinh ông.
Lúc nhỏ Morihei Ueshiba có thể chất yếu đuối, nhưng thông minh, dưới sự kèm cặp chặt của cha, chưởng môn võ thuật, ông tập luyện môn võ Aioi-ryu, sau đó thụ giáo võ sư nhu thuật lừng danh nhất thời đó là Torawa Tokusaburo rồi đến võ sư khả kính Soguda Takeda. áp dụng những nguyên lý của Tekeda, Morihei Ueshiba đã miệt màI nghiên cứu và tinh luỵên tất cả các trường pháI võ thuật Nhật Bản để sáng lập ra trường phái Aikido.
Khi di chuyển thân pháp, tổ sư Morihei Ueshiba trông đẹp như đang biểu diễn một vũ điệu. Với một thân hình nhỏ bé, mảnh mai, chỉ cao 1,55m, nặng chưa tới 50kg, ông đã quật ngã cùng một lúc mấy võ sĩ vai u thịt bắp. Họ bay bổng trên không mà chẳng hề hiểu mình bị đánh bằng cách nào. Có khi cả năm địch thủ cùng xông vào một lúc, thậm trí có võ trang đều bị ông lần lượt ném văng ra xa cả gần chục thước mà gần như không hề chạm tay vào người họ, rốt cuộc không ai thắng nổi ông.
Võ sư Aikido kiêm tài tử điện ảnh Stevel Geagal, kể lại nhiều lần chứng kiến cảnh thầy Morihei Ueshiba đặt một thanh kiếm dài hay một cái gậy vào cổ mình, rồi hô 4 võ sỹ đai đen mạnh nhất của ông đẩy. Họ không đẩy ông nhúc nhích được một ly nào. Thế rồi ông đẩy họ ngã xuống, quả là một kỳ tích lạ lùng nhất thế giới, một quyền năng thật đáng sợ và hùng tráng. Tuy võ công trác tuyệt như vậy, nhưng Morihei Ueshiba không đề cao vũ lực. Ông luôn nói “ tập luyện võ thuật không phải để đánh bại kẻ kẻ khác, mà để thực hành lòng yêu mến trời đất trong chính bản thân mình.
Ngày nay Aikido trở thành một môn võ được đông đảo người trên thế giới luyện tập. Morihei Ueshiba đã đI vào cõi vô cùng, nhưng sứ điệp của ông để lại vẫn luôn vang mãi trong tâm hồn những người yêu chuộng võ thuật chân chính trên tráI đât. Aikido không phải là một kỹ thuật để đánh gục kẻ khác, mà để cải sửa chính tâm hồn bạn, hoà hợp chúng ta với sự di chuyển của vũ trụ.
Như chúng ta đã biết, kỹ thuật Aikido tiếp thu từ những sở trường của các võ phái mà Tổ sư Morihei Ueshiba đã luyện tập và thành tài, từ những môn như:
- Nhu thuật: Kito, Gosei, Aioi, Hozoin.
- Kiếm phái: Yagyu, Shinkaku.
- Thương phái Yari.
- Và nhất là Daito Aikijitsu (Hiệp Khí nhu thuật).
Năm 1922, Morihei mời sư phụ mà cũng là thừa kế của võ phái Daito là Sokaku Takeda đến Ayabe lưu lại đó 6 tháng. Sokaku đã chứng nhận Ông là võ sư của môn phái Daito và cho phép mở võ đường. Thế là trường Ueshiba Juku khai trương với sự giúp đỡ tích cực của Onisaburo Deguchi, sư trưởng của Thần giáo phái Omoto-kyo.
Về mặt tinh thần thì ngoài ảnh hưởng của Phật, Khổng và Lão giáo từ thuở thiếu thời, Ông còn chịu ảng hưởng rất sâu đậm giáo lý Omoto-kyo do Onisaburo Deguchi truyền dạy từ năm 1920. Chính từ khi phụ thân Ông qua đời năm 1919, biến cố này đã làm Ông suy nghĩ nhiều về cuộc sống và ý nghiã của nó và tạo cơ duyên cho Ông gặp được và cảm phục Deguchi. Ông đã dọn nhà đến Ayabe để tiện theo học Deguchi. Nhận thấy môn Hiệp-Khí Nhu-Thuật Daito quá thiên về chiến đấu nên không thể là một phương cách đưa con người về với vũ trụ được, cũng như không thể đem lại sự hòa hiệp giữa con người với nhau, Deguchi đã khuyên Ông nên tự tạo cho mình một hướng đi riêng, một võ đạo: dùng võ để làm phương tiện hành đạo và đạt đạo. Chính Morihei đã phải công nhận Sokaku là người đã mở mắt cho Ông thấy căn nguyên của võ thuật, nhưng sự giác ngộ của Ông là nhờ vào sự học hỏi nơi giáo phái Omoto-kyo và kinh nghiệm của mình với Deguchi, nhất là sự lãnh hội giáo lý biệt truyền Chinkon Kishin ( tạm dịch là “sự ổn định tinh thần và trở về với thần linh ). Ngay từ căn bản, đường lối của Sokaku và Morihei đã có những khác biệt lớn lao cả về mục đích cũng như cách ứng dụng. Vậy mà hàng năm, Sokaku vẫn đến thăm Morihei tới khi Sokaku chết (1943 ). Điều này chúng tỏ Sokaku là một võ sĩ đạo chân chính, rộng lượng và có một tình thương đặc biệt đối với Morihei. Còn Morihei thì vẫn luôn luôn tôn kính Sokaku và vẫn chi tiêu, trang trải mọi chi phí của sư phụ. Thời đó ở Nhật, đệ tử lấy làm hãnh diện được hầu hạ, tắm giặt và chi phí mọi khoản cho thày.
Võ đường Ueshiba Juku mới đầu chỉ dành dạy cho tín đồ của giáo phái Omoto-kyo, tuy nhiên khi danh tiếng của Morihei được truyền đi xa, nhiều người ngoài giáo phái cũng tìm đến để xin học, trong đó có Tomiki Kenji, một võ sư Nhu-đạo. Sau khi thành đạt, vị võ sư này đã lập ra hệ phái Aikido Tomiki.
Cuối năm 1925 và năm 1926, Morihei được đô-đốc Takeshita mời lên Tokyo để dạy cho mình và một số sĩ quan cao cấp cùng một số người trong hoàng tộc. Trong thời gian này Ông cũng dạy một lớp đặc biệt và ngắn ngày cho các sĩ quan cận vệ ở hoàng cung có đẳng cấp tối thiểu ngũ đẳng Nhu dạo hoặc Kiếm đạo.
Năm 1927, Morihei và gia đình dọn lên ở Tokyo và dạy võ dưới sự bảo trợ của hoàng tử Shimazu tại phòng đánh bi-da của ông được cải biến thành võ đường.
Năm 1928, Ông dọn tới một võ đường rộng hơn và năm sau (1929 ) lại dọn đến một võ đường lớn hơn nữa ở Kuru-machi. Vì số môn sinh gia tăng không ngừng, Ông đã phải mua cả một thửa đất rộng ở Ushigome để lập võ đường Kobukan, sau này trở thành tổng-đàn của Aikido.
Trong khi võ đường Kobukan dược xây dựng, Tổ sư Nhu đạo là Jigoro Kano có tới thăm Morihei ở sân tập tạm thời Meijiro. Sau khi tận mắt thấy những kỹ thuật Aiki, ông Kano đã phải thốt lên: “Đây đúng là võ đạo lý tưởng của ta, Chân Võ đạo!”. Sau đó ông đã gửi nhiều cao đồ ở Kodokan (Tổng đàn Nhu đạo) sang học, trong số đó có Mochizuki Minoru, sau này ra thành lập hệ phái Yoseikan (Dưỡng Sinh Quán).
Năm 1931, khi Kobukan hoạt động thì Shirata Rinjiro bắt đầu theo học, sau này ông là Giám-đốc Hiệp-hội Aikido Toàn Nhật-Bản.
Năm 1932 Hội Phát-Huy Võ-đạo được thành lập. Đây cũng là thời gian Shioda Gozo được nhận làm đệ tử và sau này ông phát triển Aikido Yoshinkan (Dưỡng Thần Quán). Năm 1939, Koichi Tohei (lúc đó là đệ tứ đẳng huyền đai Nhu dạo) không tin những lời đồn đại về Morihei Ueshiba, đã tìm đến võ đường của Tổ sư để rồi bị một nữ đệ tử khuất phục một cách dễ dàng bằng những kỹ thuật Aiki thần diệu. Chính ông đã thú thật điều này trong một cuốn sách của ông. Ông bèn xin ở lại theo học. Sau này Koichi Tohei là một trong những đệ tử chân truyền của Tổ sư, đạt đươc đẳng cấp cao nhất (thập đẳng) và đã có công truyền bá Aikido vào Hoa-kỳ.
Thế chiến thứ hai đã rút đi gần hết môn sinh ở Kobukan. Năm 1942, sau khi được “soi sáng” (Ông gọi là “đón nhận thiên mệnh”), Morihei trao lại cho con trai là Kishomaru trông coi võ đường ở Tokyo rồi cùng vợ lui về Iwama lập đền Aiki (Aiki Jin-Ja) và sân tập Shuren. Ngày nào Ông cũng giậy thật sớm để cầu nguyện, thiền định rồi ra đồng làm ruộng và dành trọn buổi chiều để tập luyện.
Nước Nhật bị bại trận năm 1945, sau đó không một võ đường nào được phép hoạt động. Đến năm 1948 Aikido là môn phái đầu tiên được hoạt động lại và Hội Hiệp-Khí (AIKIKAI) được thành lập ngày 9-2-1948, thay thế cho Kobukan, phổ biến môn võ đã được Bộ Giáo-dục Nhật-Bản công nhận là có tính cách công ích (Zaidan hojin). Chính thời gian này, sau khi đã hoàn chỉnh triêt-lý và kỹ thuật của bổn môn, danh từ AIKIDO mới chính thức được sử dụng.
Sau khi Aikikai được thành lập, Morihei lại giao phó trách nhiệm điều hành và phổ biến cho con trai và các đai đệ tử, còn Ông lại trở về Iwama tiếp tục luyện tập và nghiên cứu, đúng như lời Ông đã căn dặn môn đồ: “Hãy cố gắng hết sức mình tiến xa trên con đường học tập. Giống như vũ trụ, Aikido không có giới han.
Ta chỉ mới là học viên năm thứ nhất trong Aikido mà thôi. Ta hiện vẫn đang học tập. Ta sẽ tiếp tục học tập cho đến mãn đời. Khi ta chết đi, ta sẽ ký thác sự phát huy, phát triển Aikido cho những người theo sau ta.” Ta nhận thấy rằng cái mà Ông gọi là “ngộ” ở sau vườn ngày đó mới chỉ là “sơ ngộ”, khiến cho Ông bừng tỉnh, cải tổ công phu sở học, tiếp tục “tu học” chứ không chỉ “luyện tập” để kiện toàn thành “CHÂN VÕ-ĐẠO”. Ông đã thực sự hoàn chỉnh Aikido đến hơi thở cuối cùng của đời mình.
ĐẠO thật rộng lớn và bao la biết mấy nên còn rất nhiều chỗ cho những thế hệ sau thừa kế, tiếp tục đi lên trên con đương trở về với ĐẠI NGÃ.
Ngày nay, Aikido được phổ biến rộng rãi khắp năm châu, tuy không phát triển ồ ạt nhưng thực sự đã tạo được niềm tin và sự kính trọng của đa số quần chúng.
Tiểu sử tóm tắt của tổ sư Ueshiba
1883: Sinh ngày 14 tháng 12 tại Moto-machi, thành phố Tanabe.
1897: Băt đầu học một vài môn võ cổ truyền
1912: Dẫn đầu một nhóm khai hoang, di cư tới Shrataki, Monbetsu-gun, Hokkaido, với 55 người cùng chí hướng bắt đầu khai hoang. Tại đây người gặp Mr. Sokaku Takeda của môn phái Daito Ryu Jujitsu và bắt đầu là môn sinh của ông.
1919: Do sức khỏe của cha người ngày càng yếu, người đã quay trở quê hương. Trên đường đi qua Ayabe, Kyoto người đã gặp Mr. Onisaburo Deguchi của Omotokyo và đã đạt được sự hiểu biết về tâm linh. Sau khi cha người qua đời, người di chuyển tới Ayabe, Kyoto và mở ra Shugyo Dọo Ueshiba Juku
1920 (nửa năm đầu): Bắt đầu phát triển môn võ mới
1927: Cùng với gia đình, di chuyển tới Tokyo và bắt đầu dạy ởp nhiều nơi, bao gồm cả học viện thủy quân.
1931: Mở một võ đường, mà ngày nay được biết tại Wakamatsu-cho, Shinjuku, Tokyo
1940: Ðược phép hoạt động như một tổ chức phi lợi nhuận.
1941: Một đạo trường được mở tại Iwana, nơi mà các kỹ thuật và tâm linh được phát triển mạnh mẽ. Các huấn luyện viên được đào tạo nhằm muc đích mở rộng Aikido
1950 (thập kỷ): Aikido đã được phát triển ở hải ngoại. Thậm chí còn mạnh hơn tại Nhật Bản.
1960: Do những đóng góp của Aikido, người đã nhận được Huy chương "Purple Ribbon".
1969: Qua đời vào ngày 26/4 với niềm tiếc thương sâu sắc của hàng vạn môn sinh Aikido, hàng triệu những người yêu thích võ thuật trên toàn thế giới.
(Theo tài liệu giới thiệu Aikido chính thức của Aikikai)
muulinh
14-02-2008, 08:36 AM
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/Muhammad.jpg
Mohamed Ali
Mohamed Ali tên thật là Cassius Marcellus Clay Jr , sinh ngày 17 tháng 1 năm 1942, người ta thường gọi là Mohamed Ali-Haj hay Mohammed Ali như chúng ta thường vẫn gọi. Ông được xem như một trong những tay quyền anh Mỹ hạng nặng giỏi nhất trên thế giới qua mọi thời đại,ông được bầu là vận động viên thể thao của thế kỉ 20 trước cả vua bóng đá Pele bởi các nhà báo quốc tế năm 1999 ông chính thức được chọn bởi Sports Illustrated và BBC. Ông nổi tíêng nhờ vào những thành tích thể thao cũng như những hoạt động chính trị của ông. Ngày 17 tháng 12 năm 2005 , mặc dù ông bị bệnh nặng nhưng ông vẫn sang Berlin để nhận huy chương danh dự Hoà Bình mang tên Otto Hahn (là người được trao tặng huy chương danh dự trong suốt hai năm bởi tổ chức Xã Hội Đức
Lý lịch của ông
Tên hoàn chỉnh : Cassius Marcellus Clay Jr.Sau này Mohamed Ali
Nơi sinh : thành phố Louisville, bang Kentucky , Mỹ
Quốc tịch: Mỹ
Ngày sinh: 17-1-1942
Chiều cao: 1m91
Thể loại thi đấu: Quyền Anh hạng nặng
Thành tích Số lần thượng đài: 61
+Chiến thắng: 56
+Chiến thắng bởi knock out: 37
Số lần bại : 5 (champion du monde 1964-1967, 1974-1978)
Huy chương được nhận : huy chương vàng Olympic (bán nặng 1960)
Những bước khởi đầu
Clay sinh ra trong gia đình có cha Clay Sr làm biển quản cáo, mẹ Odessa Grady Clay là một nàng hầu
Trong một lần đi khai báo mất chiếc xe đạp của ông lúc 12 tuổi, ở đồn cảnh sát ông đã quen được Joe Martin (cảnh sát đồng thời là huấn luyện viên Quyền Anh), Joe đã khuyến khích Clay học Quyền Anh và đã giúp đỡ ông tiến bộ nhanh chóng. Mặc cho kết quả học tập của ông khá kém, nhưng những thành tích thể thao của ông đáng được ghi nhận, ông đã đem về 6 huy chương Kentucky Gold Glove, và sau đó ông đã tốt nghiệp với số điểm tầm thường.Bằng một dự cảm, hiệu trưởng của trường đã nói rằng ngay khi Clay nhận bằng tốt nghiệp cũng là cơ hội để nhà trường được nổi tiếng
Những bước đi chuyên nghiệp
Trong kì Thế Vận Hội mùa hè Năm 1960 ở Rome,ông đã giành được huy chương vàng ở hạng cân bán nặng. Từ đó ông đã trở thành vận động viên chuyên nghiệp dưới sự dìu dắt của tay đấm huyền thoại Angelo Dundee và nhanh chóng được nổi tiếng bởi phong cách quyền anh chính thống của ông thông qua những thành quả ngoạn mục và sự tiến bộ vượt bậc không ngừng.
Tại Louisville vào ngày 29 tháng 10 năm 1960, trong lần đầu tiên thựơng đài chuyên nghiệp, ông đã đánh thắng Tunney Hunsaker. Sau đó ông đến Florida với Angelo Dundee, tại đây nhờ huy chương Olympic lúc 19 tuổi, ông đã hạ Á Quân vô địch thế giới Ingemar Johanson là người mà đang chuẩn bị cho trận đấu với Floyd Patterson. Sau khi hạ Floyd, ông trở về quê nhà Louisville và tiếp tục chiến thắng trước những người thách đấu khác. Năm 1962, sự nổi tiếng của ông chính thức trải rộng ra khắp nước Mỹ và cũng là năm ông chính thức thượng đài lần đầu tiên tại Newyork và Los Angeles. Ngày 15 tháng 11 cùng năm, ông mang về chiến thắng như sấm vang trước tay đấm Archie Moore trong 4 hiệp đúng với dự đoán của Clay trước trận đấu.
Chính vào năm 1963, đã mở ra cánh cửa đến danh hiệu vô địch trong tương lai cho Clay.Ông đã chíên thắng khó khăn trước Doug Jones trong cuộc đấu mà được gọi là "Cuộc đấu của năm", và lại nói về anh ta trong lúc tự bắt buộc mình tham dự trận đánh với Henry Cooper, và Clay đã bị Henry hạ gục xuống sàn ở cuối hiệp đấu thứ 4, đây được xem là cú ngã đầu tiên của Clay trên con đường quyền anh chuyên nghiệp ,và trận đấu bị dừng lại ở hiệp thứ 5 do chấn thương mặt của Cooper.Được xếp hạng là tay đấm của năm 1963, hiển nhiên tên ông được điền vào danh sách đối thủ của vô địch quyền anh thế giới Sonny Liston, với 19 trận thắng với 15 lần knock out với không lần nào thất bại, nhưng Clay được cho là ít có khả năng hơn so với Sonny (được xem là không thể đánh bại)
Trận đánh với Sonny Liston
Ngày 25 tháng 2 năm 1964, ở Miami bang Florida, một điều ngạc nhiên là Sonny bị lấn át bởi sự năng động gồm tốc độ và sự di chuyển hợp lý của cặp chân của Clay, Sonny điên tiết lên trong sự bất lực trước Clay. Sau đó Sonny bị chấn thương ở vai khi thực hiện quá sức các cú đấm trong không khí , và Sonny được thoa pômat bởi các chăm sóc viên ở góc đài. Clay đã được hưởng lợi từ các pômat khi thực hiện các cú đấm sượt lên mặt của Sonny khi các găng tay của Clay đã thấm pômat sau khi đấm trúng vai của Sonny. Trong sự khó khăn đó, Sonny đã vùng lên và vây Clay vào góc vào cuối hiệp thứ 5 thì may mắn thay, tiếng chuông đã vang lên tránh cho Clay một thất bại. Sau khi được giải nguy vào cuối hiệp 5, vào hiệp thứ 6, Clay đã quay ngược lại áp đảo Sonny. Cuối cùng khi sang hiệp thi đấu thứ 7, vì chấn thương ở bả vai quá nặng nên Sonny đã bỏ cuộc. Chiến thắng người giỏi nhất lúc bấy giờ trong 6 hiệp là chiến thắng lớn nhất của Ali trong suốt những năm thập niên 60.Những động tác giả và các cú đấm liên hoàn một lần nữa đã làm cho Clay trở thành người chiến thắng của năm.
Trận chiến phục thù Sonny Liston vào 25 tháng 5 năm 1965 ở lewiston được tranh cãi nhiều nhất, sau khi bị mất 1 chân trụ,Liston chống lại một cú đấm trực tiếp bên phải của Ali và bị ngã xuống đất, sau khi trọng tài đếm đến 10, Sonny mới đứng dậy.Trọng tài đã vội vàng đưa trận đấu trở lại trong lúc Clay đang huênh hoang xung quanh võ đài. Trận đấu được đưa trở lại trước khi người đo thời gian thông báo trọng tài chính đã sai(vì Liston vẫn còn nằm dưới đất sau 10 lần đếm) . Công chúng đã huýt sáo hai đối thủ và các nhà báo lên tiếng chỉ trích Sonny gian lận và nói rằng Sonny nên giải nghệ là vừa.
Cassius Clay trở thành Mohammed Ali
Giữa hai trận đấu với Sonny Liston, Clay đã quá đủ nổi tiếng để vượt qua lĩnh vực thể thao bởi hai lý do: Clay tiếp xúc với các quốc gia Hồi Giáo và sau đó là đổi tên sang Cassius X, để tỏ lòng kính trọng với ông bầu và là người bạn Malcolm X, là thành viên duy nhất của quốc gia Hồi Giáo (được xem là nhóm đáng ghét nhất của các phương tiện truyền thông Mĩ năm 1964, vì lúc ấy đang chịu sự nghi ngờ là đã gây ra vụ ám sát tổng thống Kennedy), mà là người gíup đỡ cho Clay trước trận đấu đầu tiên với Liston; sau đó Clay đã lấy một phần tên của Elijah Muhammad, trưởng ban vận động quốc gia hồi giáo và có tên là Mohammed Ali. Sau đó cuộc tranh giành quyền lực giữa Mohammed với Malcolm và Elijah trong Quốc Gia Hồi Giáo diễn ra, cuối cùng là Ali đã quay lưng lại với Malcolm trước công chúng trong chuyến di sang Nigéria vào năm 1964 và từ đó được quản lý bởi Herbert Muhammad (con trai của Elijah).Được hưởng lợi từ danh tiếng của quốc gia hồi giao , Ali đã sang Egyptevào năm 1964 và được tiếp đón bởi Gamal Abdel Nasser như là Đại Sứ cộng đồng người da đen ở Mỹ, sau đó Ali đã hối tiếc vì đã chia cắt với Malcolm (bị ám sát năm 1965) và giữ khoảng cách với quốc gia Hồi Giáo.
Nhà vô địch không thể tranh cãi
Từ 25 tháng 2 năm 1965 tới 20 tháng 6 năm 1967, Ali đã thống trị thể loại hạng nặng như Joe Luis và Rocky Marciano trước đó Sau khi hạ Sonny Aliston lần thứ hai, Ali đã tổ chức khoảng mười cuộc triễn lãm vòng quanh thế giới trong công ty của hai người bạn cộng sự với ông là Jimmy Elis và Cody Jones. Ngày 22 tháng 11 năm 1965, ở Las Vegas ông đã chỉ trích nhà cựu vô địch Floyd Patterson mà đã chịu thua hai lần trong hiệp đấu thứ nhất bởi cú tạt thuận tay của Sonny Liston.Mặc dù theo truyền thống mỗi năm tổ chức các trận đấu 2 lần nhưng Ali đã thách đấu 5 lần vào năm 1966.
Khởi đầu Ali đã hạ George Chuvalo vào tháng ba ở Toronto, Henry Cooper vào tháng 5 ở London, tại đây, ông đã hạ Brian London trong 3 hiệp vào ngày 5 tháng 8; và hạ vô địch Đức Karl Mildenberger tại Franfurt vào ngày 10 tháng 9, cuối cùng ông kết thúc năm 1966 bởi trận thắng knock out Cleveland William ở Houston.
Tổ chức WBA (World Boxing Association) không công nhận vị trí chính trị của Ali,viện cớ là trận đấu với Sonny Liston không công bằng mặc cho sự không đồng tình của Ali và lấy lại đai vô địch thế giới của Ali để trao cho Ernie Terrel.Đây là lân đầu tiên danh hiệu bị tứơc đoạt.Tuy vậy Ali được công nhận là nhà vô địch không thể tranh cãi và bảo vệ đuợc đai WBC (World Boxing Champion). Sau đó Ali đã lấy lại được danh hiệu WBA vào ngày 6 tháng 2 năm 1967 sau khi hạ Ernie Terrel ở đầu hiệp thứ 15 tại Houston. Ngày 6 tháng 3 năm 1967, Ali hạ KO Zora Folley, được xem là đối thủ nguy hiểm đối với chức vô địch.Những vấn đề với toà án về sự bất hợp tác của ông trong quân đội Mỹ đã ngăn cản ông tham dự vào các trận tranh giải vô địch thế giới khác, và ông chỉ có thể thực hiện các cuộc triển lãm ở Detroit vào ngày 15 tháng 6, đây được xem là lần xuất hiện cuối cùng của ông trước năm 1970
Chống chiến tranh Việt Nam
Năm 1966, ông đã từ chối phục vụ cho quân đội Mỹ đang tuyển lính cho chiến trường Việtnam và trở thành người phản biện bằng câu nói :'' không có gì để chống lại Việtcộng'' và ''không có nguời Việtnam nào mà đối xử tồi tệ với người da đen cả'' Ngày 28 tháng 4 năm 1978, ông giăng khẩu hiệu bất hợp tác ngay tại nơi tuyển quân.Ngày 8 tháng 5 ông bị giải tới toà án Ngày 20 tháng 6, ông bị kết án bồi thường 100 000 dollars và 5 năm tù giam, đồng thời ông cũng mất bằng thi đấu và danh hiệu.Ali đã xin không vào tù nhưng ông có những vấn đề về tài chính cho tới khi các vấn đề của ông được giải quýêt vào năm 1971 bởi toà án tối cao
Việc Ali chống lại việc phục dịch quân đội hoặc việc ông tham gia vào Quốc gia Hồi Giáo đã làm cho ông thay đổi từ một nhà vô địch kiêu căng nhưng gần gũi thành một trong những nhân vật nổi tiếng nhất và được bàn tán nhiều nhất vào thời kì đó. Những sự xuất hiện trước công chúng bên cạnh những nhà lãnh đạo nhóm Quốc Gia Hồi Giáo như Elijah Muhammad và Malcolm X cũng như những lời tuyên bố trung thành với họ là nguyên nhân làm cho công chúng Mĩ phải có thái độ thận trọng với ông.Nếu không có sự chống đối thẳng thắn với quân đội Mĩ, thì những sự kiện trên đã làm cho Ali đã trở thành bia nhắm cho những sự phẫn nộ và sự ngờ vực.
Sự trở về đáng nhớ
Năm 1970, Ali chính thức từ bỏ danh hiệu của ông, trong lúc nhường lại cho Joe Frazier (một ngôi sao đang lên ) theo yêu cầu của Jimmy Ellis. Ông đã thành công trước Toà Án Tối Cao Nước Mĩ ( hiểu rõ về quá trình chống lệnh triệu tập phục vụ trong quân đội của ông) khi đem về bằng thi đấu và quay về chương trình tập huấn.
Sau một vài buổi triển lãm Ali quay trở lại sàn đấu với đối thủ Jerry Quarry (được mệnh danh là niềm hi vọng của những người da trắng) và ông đã hạ trong vòng 3 hiệp vào ngày 26 tháng 10 ở Atlanta.Để chuẩn bị cho trận đấu với nhà vô địch Joe Frazier,Ali đã hạ Oscar Bonavena vào ngày 7 tháng 12 ở NewYork trong 15 hiệp thay vì 12 hiệp như những trận thông thường. Ali ra sức tập luyện nhưng có vẻ như Ali đang mạo hiểm khi đối diện với đối thủ cực xương ngay ngày trở về sau khi đã rời xa rời võ đài trong 3 năm.
Được chờ đợi và nhanh chóng trận đấu được gọi là ''trận đấu của thế kỉ'': Trận đấu hạng nhất thế giới giữa hai võ sĩ chưa biết mùi thất bại lần nào, không những vậy đó còn là trận đấu của hai trường phái hoàn hảo mà tiêu biểu là hai đại diện Ali và Joe Frazier, đây còn là một trận siêu kinh điển và được ghi nhớ là trận đấu đỉnh nhất của thập niên 70.
Khởi đầu vào ngày 8 tháng 5 năm 1970, trong nhà thi đấu nổi tiếng Madison Square Garden của NewYork, cuộc đối đầu lần này xem như là lần thất bại nặng nề đầu tiên của Ali.Theo ý kiến của những người ủng hộ Ali thì họ nghĩ rằng sự quay trở lại sàn đấu lần này của Ali sẽ giống như những gì Ali đã viết trong cuốn hồi kí ''Tâm hồn papillon'' và đánh giá thấp Joe Frazier rằng Frazier yếu thế hơn Ali.
Bước vào trận đấu, Ali đã trải qua hiệp đấu đầu tiên mà không thể tìm ra được giải pháp nào trước Joe, ngoại trừ việc Ali liên tiếp bị những cú đấm móc như búa bổ của Joe trong lúc thu hẹp khoảng cách với Ali. Ali đã quỵ xuống vào hiệp thứ 11 và ở hiệp thứ 15, và hiệp cuối cùng ngay khi không ai mong chờ chuyện ấy xảy ra thì Frazier đã cho Ali một cú đấm móc trái thẳng vào mặt của Ali, Ali đã guc ngã và đứng dậy giây thứ 4 sau khi trọng tài đếm đến giây thứ 10.Thất bại đầu tiên và là thất bại nặng nề nhất của Ali lần này đã làm cho mong ước trở thành người bách chiến bách thắng như Marciano của Ali kết thúc.Niềm an ủi duy nhất của ông lúc này là lời tuyên bố vô tội của Toà Án Tối Cao vào ngày 28 tháng 6 năm 1971
Con đường dài đến cuộc chinh phục danh hiệu
Sau khi gượng dậy từ thất bại trước Joe, để trở lại đỉnh cao của thể loại hạng nặng, Ali đã thực hiện 14 trận đánh và 39 trận biểu diễn từ 25 tháng 6 năm 1971 tới 30 tháng 7 năm 1974. Mục đích của ông là trở về đỉnh cao bằng các hoạt động quyền anh và thu thập đủ số trận thắng để được xem là võ sĩ số 1 thế giới.
Trong suốt thời gian này Ali đã chấp nhận thách đấu với các võ sĩ giỏi nhất nước Mĩ cho danh hiệu ''Vô địch Bắc Mĩ'', như Jimmy Ellis (người bạn cũ của ông),Buster Mathis, Ken Norton, Joe Bugner và Bob Foster( vô địch thế giới hạng bán nặng). Ông còn đấu với các đối thủ cũ thêm một lần nữa:George Chuvalo, Jerry Garry và Floyd Patterson. Sau đó ali thi đấu khắp thế giới như các trận đấu ở Zurich, Tokyo, Vancouvẻ, Dublin và Jakarta và các cuộc triển lãm ở Caracas, Buenos Aires hoặc Barcelona.
Năm 1973, con đường chinh phục của ông có một sự cố, ngày 22 tháng 1 năm 1973, Joe Frazier bị huỷ dịêt chóng vánh ở hiệp thứ 2 và thả khăn xin bỏ cuộc ở hiệp thứ 6 với George Foreman ( được xem là tượng đài khổng lồ và ông vua của thể loại hạng nặng). Trong cuốn tự sự của mình, Ali kể lại rằng ông bị bắt buộc chiến thắng hai ngừơi để một lần nữa bảo vệ ưu thế của ông ở thể loại hạng nặng. Nhưng khó khăn nhất đã đến với ông vào ngày 31 tháng 3 ở San Diego trong trận đấu với Ken Norton. Tay đấm đến từ California đánh vỡ quai hàm của ông ở hiệp thứ 2. Ali giữ vững tới hiệp thứ 12, bị đau đớn bởi vết thương trên mặt trước một Norton khôn ngoan và nhanh hơn cả Ali; ông đã thua lần thứ hai trước đối thủ có tài năng bẩm sinh nhưng sải tay ngắn hơn Joe Frazier. Huyền thoại Ali bị xem thường và lần này được xem như là lần thứ ba ông cố gắng tìm kiếm lại đỉnh cao của phong độ. Sau đó Ali quyết định thách đấu với " tay đấm từ yếu nhất đến mạnh nhất. Trước hết là Norton, Ali thực hiện cuộc đấu phục thù vào ngày 10 tháng 9 năm 1973 ở Los Angeles (thay vì ở San Diego được xem là quê hương của Norton).Ali chiến thắng một cách dễ dàng.
Ngày 28 tháng 1 năm 1974, Ali thách đấu với Frazier, á quân này đã gây ít ấn tượng hơn trong trận đấu với Ali bởi thiếu động cơ trái ngược hẳn với hình ảnh Ali phải chịu đựng một nhịp điệu tấn công liên hoàn trong trận đấu đầu tiên giữa hai người. Trận đấu giữa hai người càng đẹp hơn khi Ali và Frazier đến bắt tay nhau trước caméra trước trận đấu.
Chỉ còn lại nhân vật nguy hiểm nhất mà Ali phải đối mặt nếu muốn đoạt lại danh hiệu , đó là Goerge Foreman, một tay đấm bất bại không tin được với 40 trận toàn thắng và 37 trận Knock out Cuộc chinh phục danh hiệu. Ông bầu mới đã dời trận đấu của Ali với Forman tới Kinshasa ở Zair, Châu Phi. Don King (một trong những ông bầu lớn quan trọng vào cuối thế kỉ 20) đã tặng người vô địch và người thách đấu 5 triệu Dollars cho mỗi người (một số tiền kỉ lục vào bấy giờ) dưới sự ủng hộ của quan chuyên chính Mobutu Sese Seko, người mà hi vọng sau trận đấu này, đất nước của ông sẽ được nhiều người biết đến.
Ali được xem là có ít cơ hội trước trận so găng với Forman ,là người giải quýêt nhanh chóng và tàn bạo đối với Frazier và Norton. Ali đã không đấm vỡ bất cứ bộ phận nào của Frazier và Norton mà chỉ hạ knock out họ thôi. Trong lúc nghiên cứu cách đánh của Forman, Ali phát hiện điểm yếu của Forman, đó là sự mệt mỏi.Ali đã tập chạy vòng quanh thành phố và ở dọc bờ đê các con sông để nâng cao sức khoẻ và tăng cường sự chịu đựng trong sự hoan nghênh của người dân nơi đây, trong khi đó Forman đang tự thỏa mãn với các bài tập đấm vào các bao cát và đày đọa các bạn tập của ông trong các trận tập song đấu.
Ali tập luyện các cú đấm cực mạnh với người bạn của ông là Larry Holmes (sau này là nhà vô địch) và tung tin đồn tới Forman để hắn tin rằng hắn ta sẽ chiến thắng bằng sự nhanh nhạy của hắn và sự chuyển động của hắn.Ali nhanh chóng được lòng nhiều người ở Kinshana, điều này làm cho Forman phật lòng.
Trận đấu đuợc diễn ra vào ngày 30 tháng 10 ở công viên 2O tháng 5 ( sau này trở thành cônng viên Tata Raphael) và được đặt tên là ''Rumble in the jungle''. Ali, với cú các cú đấm bất thình lình và sự di chuyển hợp lý, liên tục di chuyển xung quanh võ đài và tập kích Foreman từ trái sang phải rồi từ phải sang trái. Bằng cách bảo vệ phần trên và chịu đựng các cú đấm dũng mãnh của nhà vô địch và trong lúc nảy ra từ các sợi dây căng ngang võ đài, Ali đã tìm thấy cách làm cho Foreman mệt nhoài và khiến cho Foreman khuất phục trong khoảng hơn 5 hiệp đấu. Vì quá kiệt sức, Foreman đã ngã xuống sàn vào hiệp thứ 8 và đứng dậy trễ hơn 1 nhịp đếm. Ali đã lấy lại danh hiệu vô địch sau 10 năm từ danh hiệu đầu tiên trong trận đấu với Liston.Đây là chiến thắng lớn nhất mà đã làm nên trận đấu của năm và Ali một lần nữa được gọi là võ sĩ Boxing của năm.. Đồng thời ông nhận được ''dây đai Hickok'' của năm 1974 (mà được thưởng cho ngừơi vận động viên chuyên nghiệp của năm) và đây cũng là vinh quang thể thao trong năm của tạp chí Sports Illutrated.
Đỉnh cao của sự nghiệp
1975 và 1976, Ali thực hiện 4 trận đấu một năm, chủ yếu là để duy trì đỉnh cao phong độ.Năm 1977 và 1978, vì lớn tuổi nên ông quay lại với chế độ của Quyền Anh là 2 trận 1 năm. Trong năm 1975 ông có đấu lại với Joe Frazier lần thứ ba. Ali bắt đầu năm 1975 với trận đấu chống lại Chuck Wepner (một võ sĩ vô danh) ở Cleveland, trận đấu được nhận đinh là Ali sẽ thắng dễ trong ba hiệp, nhưng mọi người phải kinh ngạc khi đến hiệp thứ 15 trọng tài buộc phải dừng trân đấu sau khi Wepner hất ngã Ali xuống đất ( trận này được truyền hình trực tiếp và được Sylvestre Stallone thực hiện lại trong phim Rocky được phát hành vào năm sau). Ngày 1 tháng 10 ở Manille, ông gặp lại Frazier trong một trận đấu đẹp
Năm 1977, ông bảo vệ thành công chức vô địch khi đánh bại Alfredo Evangelista và Ernie Shavers , thời gian này Ali lo lắng về việc mất cân mà không thể tập trung cho việc luyện tập nữa.
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/Ghichin.jpg
Thầy Ghichin
sinh năm 1868 tại Shuri, một thành phố tại Okinawa, đây cũng là quê hương của Nunchanku (Côn nhị khúc), ngay từ nhỏ thầy đã được thọ giáo nhiều võ sư nổi tiếng của nhiều môn phái và thầy đã tỏ ra xuất sắc, có năng khiếu về võ học mà sau này thầy đã trở thành võ sư của những võ sư hàng đầu Nhật bản. Ông mất ngày 26 tháng Tư, 1957.
Tổ sư của môn phái Karaté Năm 1902, Gichin Funakoshi, từ Okinawa sang Nhật, công khai biểu diễn võ công tại trường Japan’s Kagashima Prefecture Shintaro Ozawa, chủ tịch của trường đã bị lôi cuốn bởi môn võ công mới mẽ này và có ý muốn đưa Karaté vào chương trình võ học của trường.
Năm 1916, Funakoshi được mời biểu diễn võ công tại Butokuden, là trung tâm võ thuật của các môn phái của Nhật. Mùa Xuân năm 1922, Funakoshi trở lại Nhật và yêu cầu Tổng Trưởng Giáo Dục để cho ông biểu diễn tại Đại Hội Thể Thao Toàn Quốc ở Tokyo.
Các chưởng môn của các môn phái đều bị hấp dẫn bởi võ công Karaté, trong đó có Jigoro Kano, tổ sư của môn phái Nhu Đạo đã hết sức mời Funakoshi lưu lại Nhật Bản để truyền bá môn Karaté. Từ đó tên tuổi ông được biết đến và sau này ông được xem như là tổ sư của môn phái Karaté vì công trình truyền bá và phát triển môn phái ngày càng lớn mạnh.
Thật ra lúc đó hai vị sư phụ của ông là Azato và Itosu, cùng những sư thúc, sư bá của ông còn sống, nhưng ông được chọn để đại diện sang Nhật vì ngoài võ công, kiến thức và sự học hỏi của ông đều cao hơn các người trong môn phái lúc bấy giờ. Hơn nữa ông là người thông thạo tiếng Nhật và thông hiểu phong tục, tập quán của người Nhật.
Từ năm 1935, Funakoshi mở nhiều võ đường Karaté tại Nhật. Một đệ tử của ông, mở ra võ đường Shotokan, sau này trở nên một trong những hệ phái lớn mạnh và nổi tiếng nhất trên thế giới. Suốt thời gian Đệ Nhị Thế Chiến, võ sinh của Shotokan gia nhập quân đội và bị chết rất nhiều. Ngôi võ đường lại bị bom phá hủy năm 1945. Khi chiến tranh chấm dứt, hệ phái này mới xây dựng lại.
Năm 1949, Nihon Karaté Kyokai (Tổng Cuộc Karaté Nhật Bản: The Japan Karaté Association, thường được gọi là JKA) được thành lập và do Funakoshi làm chủ tịch. Năm ông 81 tuổi, Masatoshi Nakayama và Hidetaka Nishinjama được chọn để điều hành tổng cuộc.
Sự bành trướng của môn phái Karaté
Kể từ đó, người Nhật xem Karaté như là một môn phái của họ. Sau khi đã trở nên một trong “ngũ đại môn phái” của Nhật, Tổng Cuộc Karaté Nhật Bản nhắm đến sự bành trướng môn phái trên tầm vóc quốc tế và mục tiêu đã được chuẩn bị thật quy mô.
Đầu tiên JKA đào tạo nhân lực: tuyển chọn những Huyền Đai Đệ Nhị Đẳng xuất sắc để theo học một chương trình Đại Học gồm những môn căn bản như Thể Chất, Tâm Lý, Lịch Sử, Thể Thao và cả Quản Trị Kinh Doanh... Và cuối cùng trước khi ra trường là phải đạt được ít nhất là Huyền Đai Đệ Tam Đẳng Karaté. Chương trình này được JKA nỗ lực đào tạo chẳng những là một cao thủ Karaté, mà phần kiến thức, đạo đức phải xứng đáng là một võ sư, cũng như đủ khả năng để điều hành một võ đường như một thương vụ vậy.
Nhiệm vụ của họ là đặt nền móng và phát triển môn phái ở hải ngoại. Đầu năm 1961, mảnh đất mà JKA nhắm đến trước tiên là Hoa Kỳ. Trong những năm đầu của thập niên 70, những cao thủ JKA gửi đi như Teruyuki Okazaki Nishiyama đã lập xong nền tảng vững chắc của Karaté tại Hoa Kỳ. Cũng trong thời gian này, vì ảnh hưởng chính trị, có sự phân hóa thành hai nhóm: International Shotokan và American Amateur Karaté Federation (AAKF) do Nishiyama lãnh đạo. Tuy vậy, cả hai vẫn còn nằm trong hệ thống của JKA.
Đến thập niên 80, người Nhật đã thành công trong việc phát triển Karaté tại Hoa Kỳ. Bước kế của họ là muốn môn phái phát triển hơn nữa, họ phải đào tạo những huấn luyện viên người Hoa Kỳ. Đồng thời với những nỗ lực của JKA, Amateur Athletic Union và World Union of Karaté Organization (WUKO), người ta hy vọng rằng Karaté sẽ góp mặt trong những kỳ tranh tài ở Thế Vận Hội.
Nguồn http://mic.edu.vn
Phương Thế Ngọc (Theo wikipedia)
Phương Thế Ngọc (chữ Hán: Fāng Shìyù; đọc theo tiếng Quảng Đông: Fong Sai-yuk), một tiểu anh hùng trong huyền thoại Trung Hoa, là con trai Phương Đức, một thương gia giàu có, và Miêu Thúy Hoa (Miáo Jiáhuā; tiếng Quảng Đông: Miu Tsui-fa). Phương Thế Ngọc từ nhỏ đã được rèn luyện võ công từ người mẹ Miêu Thúy Hoa, vốn là con gái của Miêu Hiển ( Miáo Xiǎn; Miu Hin), một trong năm vị trưởng lão đã thoát khỏi vụ thảm sát Thiếu Lâm tự của triều đình nhà Thanh lúc trước. Thế Ngọc là một đệ tử của Thiếu Lâm, và những chiêu thức võ công Phương Thế Ngọc có thể được coi là có liên quan nhiều tới Thiếu Lâm Hồng gia sau này.
Truyền thuyết
Cuộc đời của anh hùng thiếu niên Phương Thế Ngọc có khá nhiều điểm ly kỳ. Theo truyền thuyết, từ lúc sinh ra, đã được mẹ tắm trong rượu thảo dược, vì vậy lớn lên trở thành người "mình đồng, da sắt". Phương Thế Ngọc là người giỏi võ, thông minh, hồi nhỏ rất nghịch phá, nhưng là người biết đúng sai và biết bênh vực kẻ yếu. Khi còn ở tuổi thiếu niên, Phương Thế Ngọc đã bị Lôi Lão Hổ thách đấu và đã lỡ tay giết chết ông ta trong một trận huyết đấu trên trận đồ Mai Hoa Thung sau khi lập "sinh tử trạng" (nếu có bị đánh chết cũng không được kiện cáo với chính quyền địa phương sở tại). Mai Hoa Thung trận, một kỹ pháp giao đấu trên các cọc tròn có đường kính 20-30 cm và cao 2-3 m, là sáng kiến của võ công Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam trong bài quyền nổi tiếng Ngũ Lộ Mai Hoa Quyền. Do sự việc này xảy ra, Bạch Mi đạo nhân và các môn đồ của ông ta quyết truy tìm Phương Thế Ngọc để báo thù, Phương Thế Ngọc phải bỏ lên Thiếu Lâm tự để rèn luyện thêm về võ Thiếu Lâm và những kỹ pháp truyền thống của Thiếu Lâm quyền.
Theo truyền thuyết, Thế Ngọc cuối cùng đã bị Bạch Mi đạo nhân giết chết, nhằm mục đích trả thù. Không hiểu có ai đã ghét và lên án ông này một cách đầy ác ý như vậy khiến cho Bạch Mi đạo nhân trở nên "khét tiếng" là một kẻ tiểu nhân bỉ ổi và xấu xa.
Truyện tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa
Nhưng trong tiểu thuyết Càn Long du Giang Nam của vua Càn Long nhà Thanh thì chùa Thiếu Lâm Phúc Kiến đã bị Bạch Mi đạo nhân cùng Phùng Đạo Đức dẫn quan quân nhà Thanh đến tiêu diệt khiến cho Ngũ Mai sư thái, Chí Thiện thiền sư và Miêu Hiển trốn chạy, trong truyện này phần cuối có kể môn đồ của Chí Thiện thiền sư là Hồng Hy Quan và Phương Thế Ngọc bị giết chung với Chí Thiện dưới tay Bạch Mi đạo nhân, Ngũ Mai sư thái và Phùng Đạo Đức. Phương Thế Ngọc bị Ngũ Mai sư thái đá bể hạ bộ chết trên Mai Hoa Thung trận, Chí Thiện thiền sư bị Bạch Mi đạo nhân dùng công phu Thiết Bố Sam lấy bụng hóa mềm như bông gòn hút công phu Thiết đầu đà và bẻ gẫy cổ Chí Thiện thiền sư. Riêng Hồng Hy Quan thì bị Phùng Đạo Đức và các môn đồ Bạch Mi quyền dùng đao chém chết. Trong câu chuyện này Ngũ Mai sư thái và Phùng Đạo Đức lại là kẻ đồng lõa với Bạch Mi đạo nhân trở thành "phản đồ" đi đốt chùa Nam Thiếu Lâm. Câu chuyện này mang tính xuyên tạc về chùa Thiếu Lâm và các môn đồ Thiếu Lâm.
Câu chuyện thứ hai là tiểu thuyết Lã Mai Nương của Tề Phong Quân kể rằng Lã Mai Nương (con của Lã Tứ Nương) thuộc Bắc Thiếu Lâm cùng chồng là Cam Tử Long (con của Cam Phượng Trì, một cao đồ nổi tiếng bên ngoài là nhân vật có thật của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam) và các sư đồ Bắc Thiếu Lâm đã giải cứu chùa Thiếu Lâm (dòng Nam Thiếu Lâm) và giải thoát cho Chí Thiện thiền sư, Hồng Hy Quan, Phương Thế Ngọc thoát khỏi bàn tay độc ác của Bạch Mi đạo nhân. Câu chuyện này lại có vẻ đề cao võ công Thiếu Lâm.
Phương Thế Ngọc và các bộ môn quyền thuật Nam Thiếu Lâm
Hai câu chuyện trên đều không có nguồn tư liệu lịch sử nào. Tuy nhiên có câu chuyện thường được các môn đồ Thiếu Lâm đời sau nhắc lại rằng quan quân nhà Thanh đã đốt phá chùa Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến khiến cho năm vị môn đồ xuất sắc nhất là Chí Thiện thiền sư, Ngũ Mai sư thái, Bạch Mi đạo nhân (gọi là đạo nhân vì sau này ông bỏ Phật giáo đi theo Đạo giáo), Phùng Đạo Đức (ông này sau này ra làm võ quan cho nhà Thanh) và Miêu Hiển (cha của Miêu Thúy Hoa, Miêu Thúy Hoa là mẹ của Phương Thế Ngọc) phải bỏ chạy khỏi chùa Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến và lang bạt khắp miền nam Trung Hoa.
Các môn đồ Nam Thiếu Lâm sau này cũng thường lên án Bạch Mi đạo nhân rất nhiều về tội lỗi đi theo nhà Thanh làm gian tế trong âm mưu đốt chùa và xem Bạch Mi như là một "phản đồ" của Nam Thiếu Lâm vì ông này bất mãn với sư phụ là Hồng Mi sư tổ (một trong những môn đồ của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam đã sáng tạo ra Nam Thiếu Lâm) trao quyền quản nhiệm nhà chùa và võ phái Nam Thiếu Lâm cho Chí Thiện thiền sư và dù võ công của Chí Thiện kém xa Bạch Mi vẫn nghiễm nhiên trở thành sư trưởng quản nhiệm các tu viện ở Nam Thiếu Lâm (???).
Bạch Mi Quyền Nam Thiếu Lâm
Sau này Bạch Mi đạo nhân đã sáng tạo ra một môn quyền thuật mới không đi theo truyền thống Thiếu Lâm quyền (hai tay quyền sử dụng Phụng Nhãn Quyền, ngón tay trỏ lồi ra như mắt phụng tấn công điểm vào các huyệt đạo trên mặt và ở ngực, lưng) không bao giờ đặt ở hai bên hông mà luôn ở phía trước ngực song song và thế tấn nổi tiếng Tam Giác Bộ (âm chữ Hán đọc là Sám Cọt Mã), một thế tấn nửa Trung Bình Tấn và nửa Đinh Tấn, nghĩa là Đinh Tấn nhưng chân sau không duỗi thẳng mà cong lại như Trung Bình Tấn trong khi thân pháp xoay về một phía tả hay hữu, và môn này trở nên rất nổi tiếng gọi là Thiếu Lâm Bạch Mi (tên tiếng Anh phiên âm theo tiếng Phổ Thông là Shaolin Pak Mei) thường được gọi tắt là Bạch Mi Quyền với kỹ thuật Đoản Kiều (phát kình dũng mãnh trong tầm rất ngắn) trong các chiêu thức thủ pháp (đòn tay) rất nổi tiếng trong dòng Nam quyền Thiếu Lâm.
Bộ tấn được gọi là Tam Giác Bộ là vì tư thế đứng thường xoay thân người sang một phía tả hoặc hữu và hai bàn chân luôn đứng ở vị trí hai góc đối diện chéo của hình vuông, nghĩa là hai bàn chân đồng thời cũng nằm trên đường phân giác (đường chéo của góc vuông) chia mỗi góc vuông thành 45 độ đồng thời chia hình vuông thành một hình tam giác vuông đều nhau có hai góc nhọn với 45 độ mỗi góc. Tư thế tấn này có thuận lợi trong giao đấu là có thể lách người tiến lên phản công trong khi hai chân di chuyển trên đường zích zắc như đường đi của con rắn đang bò tiến về phía trước. Cách di chuyển này là một nét đặc trưng có ở tất cả các bộ môn quyền thuật và các võ phái có nguồn gốc từ Nam Thiếu Lâm và thường không xuất hiện trong các bộ môn quyền của Bắc Thiếu Lâm và Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.
Hồng Gia Quyền Nam Thiếu Lâm
Trong khi Bạch Mi đạo nhân sáng tạo ra Bạch Mi Quyền, thì Hồng Hy Quan và Phương Thế Ngọc lại sáng tạo ra Thiếu Lâm Hồng gia thường được gọi tắt là Hồng Gia Quyền hay Hồng quyền và vẫn đi theo truyền thống Thiếu Lâm quyền (hai tay quyền luôn đặt ở hai bên hông, tiếng Hán gọi là "quyền xuất tại yêu" nghĩa là hai tay quyền luôn phải khởi phát tại eo bộ tức là ở hai bên hông ngang thắt lưng) với các thế tấn truyền thống.
Trong dòng Thiếu Lâm Hồng gia, Phương Thế Ngọc thường được các môn đồ Nam Thiếu Lâm gán cho là tác giả của Ngũ Hình Quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc) và khác với Ngũ Hình Quyền của Hồng Hy Quan (Long, Hổ, Báo, Xà, Hạc). Tuy nhiên điều này không có cơ sở rõ ràng và chứng minh được đâu là sự khác biệt của Hồng Gia Quyền của Phương Thế Ngọc và Hồng Gia Quyền Hồng Hy Quan bởi vì kỹ thuật chung trong hệ thống kỹ pháp Kiều thủ (Kìu sẩu) vẫn là "ổn mã ngạnh kiều, trường kiều đại mã, đoản kiều tiểu mã" (xin xem bài võ Thiếu Lâm và bài Hồng Gia Quyền).
Vịnh Xuân Quyền Nam Thiếu Lâm
Ngũ Mai sư thái thì lại được truyền tụng rằng có môn đồ nữ nhân là bà Nghiêm Vịnh Xuân sau này sáng tạo ra Thiếu Lâm Vịnh Xuân Quyền, gọi tắt là Vịnh Xuân Quyền, cũng có lối đánh Đoản Kiều nổi tiếng nhưng khác hoàn toàn với Đoản Kiều của Bạch Mi Quyền.
Trong khi Hồng Gia Quyền có hệ thống Kiều thủ dũng mãnh thì Vịnh Xuân Quyền lại có kỹ thuật Tầm Kiều và Phép Niêm thủ (Chi sẩu) cực kỳ khéo léo dùng để thính kình (nghe trọng lực của quyền cước đối phương) và hóa giải các đòn quyền cước tấn công dũng mãnh đầy uy lực của đối phương bằng những đường quyền chuyển động của đường tròn tạo ra lực ly tâm.
Nếu như Hồng Gia Quyền và Bạch Mi Quyền chú trọng những kỹ thuật dũng mãnh đầy thần tốc để triệt hạ đối phương thì Vịnh Xuân Quyền lại chú trọng sự nhanh lẹ bén nhạy và sự tinh diệu biến ảo khéo léo của quyền pháp để khống chế tầm hoạt động của đối phương nên trong Vịnh Xuân Quyền thường có câu tốc độ thắng vũ lực và góc độ thắng tốc độ, đường thẳng chế đường cong, tự nhiên phá tự chương, dụng ý bất dụng lực, tứ lượng bát thiên cân (bốn lạng đỡ ngàn cân).
Do Vịnh Xuân Quyền là một phái võ được sáng tạo từ nữ nhân nên trong hệ thống kỹ pháp chứa rất nhiều yếu lý quyền pháp của dòng Nhu quyền y hệt như đường lối kỹ pháp của Thái Cực Quyền.
Đại tông sư Diệp Vấn (Yip Man), đã từng là sư phụ dạy Lý Tiểu Long, có lần nói với các môn đồ thân tín của ông rằng sẽ dạy cho họ (những môn đồ cao cấp) cách đánh của đàn bà (nghĩa là Dĩ nhu chế cương - lấy sự nhu nhuyễn chế ngự sự dũng mãnh cương cường), do đó nhiều người sau này nói rằng do Lý Tiểu Long không được sư phụ Diệp Vấn truyền thụ kỹ pháp Vịnh Xuân Quyền chân truyền nên phải pha thêm một số phương pháp chiến đấu của các phái võ chủ cương chuyên dựa vào sức mạnh và tốc độ, nhất là sau khi Lý Tiểu Long phải giao đấu với các đấu thủ Karate to lớn lúc tham gia giải quán quân Karate toàn thế giới Los Angeles năm 1965 ở Mỹ dù rằng Lý đã giành được giải vô địch (xin xem cuộc đời Lý Tiểu Long - nhà xuất bản Tp.HCM năm 1989).
Ngoài kỹ pháp đặc trưng trên Vịnh Xuân Quyền còn sử dụng một đấu pháp khá phổ biến trong các dòng quyền thuật Nam Thiếu Lâm như sau:
Thủ (pháp) phá Thủ (pháp)
Thủ (pháp) phá Cước (pháp)
Cước (pháp) phá Thủ (pháp)
Cước (pháp) phá Cước (pháp)
Cước (pháp) phá Tấn (pháp)
Tấn (pháp) phá Tấn (pháp)
Phim ảnh Cuộc đời huyền thoại của Phương Thế Ngọc đã nhiều lần được dựng thành phim, điển hình như bộ Thiếu Niên anh hùng Phương Thế Ngọc; Nam Thiếu Lâm; Nam Thiếu Lâm 36 cửa ải (36 Chambres of Shaolin), Hồng Hy Quan và Phương Thế Ngọc (hãng phim Thiệu Thị xuất bản, Lưu Gia Lương đạo diễn và cố vấn võ thuật), Thiếu Lâm Hồng Gia Quyền (hãng phim Thiệu Thị xuất bản, Trương Triệt đạo diễn), ...
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/truongtamphong.jpg
Tổ sư môn phái Võ Đang - Trương Tam Phong
Trong các môn phái Võ thuật ở Trung Quốc thì hai phái nổi tiếng nhất là Võ Đang và Thiếu Lâm. Một phái ở miền Nam, một phái ở miền Bắc. Một phái thuộc Đạo gia, một phái thuộc Phật gia. Nói đến Thiếu Lâm quyền không thể không nói đến Đạt Ma Tổ Sư. Nói đến Võ Đang Nội Gia Quyền không thể không nói đến Trương Tam Phong với hành trạng thần bí. Kỳ thực địa vị Trương Tam Phong trong lịch sử Đạo Giáo còn rực rỡ hơn lịch sử sáng lập phái Võ Đang nữa.
Đạo giáo bắt đầu từ đời Kim và Nguyên, dần dần chia ra làm hai nhánh lớn là Chính Nhất Giáo và Toàn Chân Giáo, một ở phương Nam, một ở phương Bắc, đại để họ lấy vùng Nam Bắc sông Giang - sông Hoài làm ranh giới. Chính Nhất Giáo là tên gọi tắt các phái sùng bái quỷ thần, vẽ bùa niệm chú, đuổi ma trừ tà; còn Toàn Chân Giáo chú trọng vào đạo đức tự thân và tu dưỡng hành công. Đến thời cuối Minh đầu Thanh, hai phái lại có xu thế giao lưu dung họp với nhau nhờ sự vận động của Trương Tam Phong. Vị “ẩn tiên” tiêu diêu tự tại Trương Tam Phong là người hành tung vô địch và là một đạo sĩ có phần thần bí.
Đã có đến 20 loại giả thuyết về tên tuổi, tự hiệu và quê quán của ông.So sánh những giả thiết phổ biến, chúng ta có thể biết ông có các tên Trương Thông, Trương Toàn Nhất tên tự là Quân Thực (hay Quân Bảo), hiệu là Huyền Huyền Tử, ở Ý Châu Liêu Đông giữa đời Nguyên, Minh. Trương Tam Phong có phong tư khôi vĩ, mắt lớn tai to, râu dài tới rốn. Bất cứ thời tiết nóng hay lạnh, ông chỉ mặc một áo nạp và 1 nón mê, có khi ăn nhiều hết mấy đấu cơm, nhưng cũng có khi 1 ngày chỉ ăn 1 lần, hoặc mấy tháng không cần ăn. Vì không chú ý về ăn mặc nên ông được người ta gọi là “Trương lạp thác”. (lạp thác : bẩn thỉu).
Theo truyền thuyết của Đạo giáo, Trương Tam Phong từng là thuộc viên của Thái thú Hoa Châu. Một lần nọ, ông cùng Thái Thú đến Hoa Sơn bái yết một Đạo sĩ tên Trần Đoàn. Trần Đoàn mời họ ngồi, bày trà và đặt một chỗ ngồi cao quý như có ý chờ đợi ai đó. Một lúc sau, quả nhiên có một vị Đạo sỹ đến với áo bào lam,nón vải, thái độ ngạo nhiên. Trần Đoàn hết sức cung kính với vị Đạo sỹ ấy, hai người nói chuyện một hồi. Thái Thú thấy mình bị đối xử lạnh nhạt có phần không vui. Vị đạo sỹ nọ rút từ ống tay áo ra ba hột táo, một đỏ, một trắng , một xanh và nói: “Tôi đến đây vội quá không mang theo vật gì, chỉ có ba hột táo này, chúng ta chia nhau cùng ăn nhé”. Rồi tự ăn một hột màu đỏ, hột trắng chia cho Trần Đoàn, hột xanh cho viên Thái thú.
Thái Thú cho rằng Đạo Nhân khinh mình nên trao hột xanh ấy cho Trương Tam Phong. Trương Tam Phong ăn liền và lập tức thấy tinh thần như đổi khác, thân thể nhẹ nhàng, khoẻ mạnh hẳn lên. Đạo nhân cười lớn bái biệt rồi đi mất dạng. Thái Thú lấy làm lạ bèn hỏi nguyên do, Trần Đoàn đáp: “Đạo nhân ấy là tiên ông Lã Đồng Tân đó. Ba hột táo kia là táo tiên chia ra làm ba loại thượng, trung, hạ. Đại nhân còn tục cốt nên chỉ ăn hột xanh. Đạo tu thân không thể một bước lên trời được mà phải tiến theo tuần tự, dục tốc bất đạt mà”. Thái Thú nghe xong lấy làm ân hận vì mình đã bỏ mất cơ duyên. Sau khi ăn được táo tiên, Trương Tam Phong đã thành người tiên đắc đạo bèn đi lãng du giang hồ, hành tung không định. Có lúc ông hồn nhiên tự tại cười nói giữa chợ, cầu đảo trừ hoạ cho người, có lúc lại làm nông dân, được mọi người gọi là “Chân tiên”. Sau đó, Trương Lạp Thác đến núi Võ Đang ở Hồ Bắc, vào núi tu luyện, lập am ở trước Ngọc Hư Cung dưới cây cao gò sâu, luyện thành “Cửu chuyển kim đan”. Trương Tam Phong thường nói với người bản địa: “Núi này ngày sau đại hiển đấy”.
Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương rất hâm mộ ông, sai người đi tìm nhưng không gặp. Sau Minh thành tổ Chu Lệ nhiều lần sai người đi tìm nhưng đều không gặp. Tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 10 (Tây lịch 1404), Thành Tổ Chu Lệ gửi cho Trương Tam Phong bức thư: “Hoàng Đế kính dâng thư lên chân tiên Trương Tam Phong:
Trẫm ngưỡng mộ chân tiên đã lâu,mong cầu được thân đón bậc nghi phàm, từng sai sứ bầy hương án viết thi đi tìm hêt danh sơn để mời đón. Đạo Đức chân tiên cao cả, cao hơn vạn hữu, thể hợp với tự nhiên, thần diệu không lường.Tài chất của Trẫm kém cỏi, đức hạnh mỏng manh, mà chỉ có lòng chí thành mong gặp, suốt đêm ngày không quên.Lại kính cẩn sai sứ dâng thư cẩn rọng mời, mong chờ xe mây giá lâm để thoả lòng kính mộ mong mỏi của Trẫm. Ngày 6 tháng 2.
” Lòng chí thành cung kính của một vị thiên tử với một “đạo sỹ bẩn thỉu” như thế cũng là tột cùng rồi! Sau này Thành tổ Chu Lệ phong cho Trương Tam Phong là “Lão Sư” , “chân tiên”.Minh thế tông Chu Hậu tổng lại gia phong thêm tên hiệu “Thanh Hư nguyên diệu chân quân”. Trương Tam Phong rất được người đời tôn sùng. Trước tượng của Trương Tam Phong ở Chân Tiên điện, viên gạch xanh ở dưới đất bị lõm sâu xuống bởi người ta dập đầu bái lạy. Phương Pháp sống của Trương Tam Phong - Cuối cùng ý nghĩa sống của con người là gì? - Đời người đi tìm cái gì là tối cao? Đó là những câu hỏi mà nhân loại đã đi tìm lời giải đáp suốt mấy ngàn năm qua. Nói cho cùng, bất luận là Nho gia, Đạo gia, Phật gia hay Cơ Đốc giáo, Hồi giáo cũng chỉ là tìm câu giải đáp về “kiếp người” ấy thôi. Đạo gia Trương Tam Phong cũng có câu giải đáp của riêng mình!
Sinh hoạt vật chất của Trương Tam Phong thấp đến độ cuối cùng, một năm bốn mùa ông chỉ có một áo nạp,một nón mê, mặc không đủ ấm,ăn không đủ no, bẩn thỉu như một "tiên sinh ăn mày". Trong con mắt người đời, Trương lạp thác như vậy là khổ lắm, nhưng trong lòng ông cảm thấy vô cùng khoái hoạt, vô cùng tự tại, và nhờ vậy vô cùng trường thọ! Chỉ cần ông gặp Thái tổ hoặc Thành tổ 1 lần thì đã có đủ hết vinh hoa phú quý, nhưng Trương Tam Phong coi quyền thế như cỏ rác, tiền của như đất cát, ông từ chối không gặp, mặc lời mời khẩn khoản của Hoàng đế. Trương Tam Phong chủ trương cuộc đời là sống theo ý thích của mình, không bị câu thúc bời bất kỳ cái gì. Thậm chí ông còn chẳng để ý đến các giới luật của đạo môn nữa.Ông chỉ cầu được tiêu diêu tự tại,điều ấy phản ánh khá nhiều trong bài thơ tương truyền của ông như:
Khoái Khoái Khoái, hồng trần ngoại
Nhàn nhàn nhàn, tự vân gian
Diệu diệu diệu, tùng nhai nhất thanh khiểu
Lai lai lai, bồng lai đảo hoa khai.
Tạm dịch:
Khoái Khoái Khoái, ngoài cõi trần
Nhàn nhàn nhàn, giữa mây vần
Diệu diệu diệu, hú một tiếng non vào núi
Đến đến đến, đảo bồng lai hoa xuân.
Sáng tạo đạo phái Võ Đang và Nội gia quyền Võ Đang ở Hồ Bắc có khí thế hùng vĩ, từ xưa đã được xưng tụng là "Thái Nhạc" và "Thiên hạ danh sơn" , trở thành một thánh địa của Đạo giáo với những đạo gia nổi tiếng như đời Chu có Doãn Hy, đời Hán có Âm Trường Sinh, đời Tấn có Tạ Sung,đời Đường có Lã Đồng Tân, đời Tống có Trần Đoàn, đời Nguyên có Trương Tông Thanh đều tu luyện ở đó. Từ đời Đường, nơi bắt đầu xây dựng đạo quán. Đời Tống, đời Nguyên đều xây dựng thêm. Đến cuối đời Nguyên, các đạo quán ấy đa số bị huỷ hoại bởi binh loạn liên miên. Đến đời Minh, Thành tổ mới cho xây dựng lại quy mô các quần thể cung khán khiến nơi đây thành danh sơn đạo giáo do Minh Thành Tổ quá sùng bái Trương Tam Phong. Núi Võ Đang là đại bản doanh của Trương Tam Phong tu luyện và truyền đạo, ông vào núi Võ Đang rồi nhưng chưa công khai tự lập môn phái, chỉ lấy danh nghĩa là đạo gia du phương tự nhận đệ tử. Sau niên hiệu Vĩnh Lạc, các đạo sỹ ở núi Võ Đang đều thờ Trương Tam Phong là tổ sư phái Võ Đang.
Võ đang phái của Trương Tam Phong có nhiều điểm khác biệt. Một là thờ bái Chân Võ Đại Đế, coi Chân Võ Đại Đế là tổ sư. Hai là coi trọng tu luyện "nội đan". Phái Võ Đang thuộc phái thanh tu, coi trọng tu luyện nội đan, đối lập với "ngoại đan". Ngoại đan là điều chế dược thảo bằng lô đỉnh để chế tạo thành thuốc "trường sinh bất từ" (tức kim đan). Sau các đạo sỹ dùng phương thuật ấy phát triển thêm, đem thân thể chính mình ra làm "lô đỉnh" (lò nấu), dùng thể chất "tinh" và "khí" của mình làm dược liệu, họ gọi là khiến cho "tinh, khí, thần" ngưng tụ kết thành "Thánh Thai", đó gọi là "Nội đan". Ba là tập luyện kỹ thuật Nội Gia Quyền của Võ Đang. Bốn là chủ trương tam giáo hợp nhất.Không ít sách vở đã chép, Nội gia quyền là do Trương Tam Phong sáng lập, theo truyền thuyết là do đêm ông nằm mộng thấy Chân Võ Đại Đế truyền dạy cho môn quyền pháp ấy rồi sáng tạo ra Võ Đang phái Nội gia quyền,chuyên về nội công. Cuối đời Minh có Hoàng Tông Hy viết "Vương Trưng Nam mộ chí minh" nói rằng: "Sở dĩ gọi là Nội gia vì lấy tĩnh chế động, kẻ sử dụng ứng theo tay mà mà phát ra để phân biệt với nội gia của Thiếu Lâm, đó bắt đấu từ Trương Tam Phong".
Các triết gia Trung Quốc trong vòng hơn 2000 năm không ngừng tìm hiểu sự khởi nguyên của trời đất, họ đã đề xuất ra quan niệm vạn vật nhất thể và mọi biến hoá của trời đất đều do hai khí "Âm" và "Dương" kết hợp, họ cho rằng thiên biến vạn hoá do hai quẻ "Càn" và "Khôn" mà ra. Trương Tam Phong kế thừa quan điểm ấy, ngay đến tên "Tam Phong" của ông theo tự hình cùng liên quan tới "Càn" và "Khôn". Trong "Thái Cực quyền luận" ông cũng kết hợp các triết lý Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái. Trương Tam Phong cho rằng tập luyện Nội gia quyền trước hết là để dưỡng tâm định tính, tụ khí thu thần. Cũng giống như Thiếu Lâm Quyền, Nội gia Quyền không truyền cho người ngoài môn phái, đến nay truyền thống ấy vẫn còn. Võ đang do Trương Tam Phong sáng lập, sau này dần dần được sát nhập vào Toàn Chân đạo, người đời sau thu thập các tác phẩm của ông thành bộ "Trương Tam Phong toàn tập".
Theo "Trung Quốc đạo giáo chư thần"
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/hoacnguyengiap.jpg
Nhìn cái bìa là bít ngay film j liền
Hoắc Nguyên Giáp
Hoắc Nguyên Giáp (tự Tuấn Khanh) (sinh 1869-mất 1910) quê quán ở thành phố Thiên Tân, Trung Quốc, là một võ sư Trung Quốc khá nổi tiếng, ông là người đã sáng lập ra lò võ Tinh Võ môn (đề cao tinh thần thượng võ).
Trong những năm cuối thế kỷ 19, ngoài việc Trung Quốc bị quân Nhật xâm chiếm, các võ sĩ Phương Tây cũng thừa dịp đứng ra thách đấu với các võ sư người Hoa và đa số giành chiến thắng trước những võ sư Trung Quốc. Trong số những kẻ đứng ra khiêu chiến giới võ thuật Trung Hoa có người đã đề tặng bốn chữ "Đông Á bệnh phu" (Người bệnh Đông Á) mang đầy ý nghĩa chế nhạo lẫn khiêu khích các võ sĩ người Hoa khiến họ cảm thấy rất nhục nhã.
Qua việc võ sư Hoắc Nguyên Giáp chiến thắng trong một số trận đấu tiêu biểu với người nước ngoài, võ lâm Trung Hoa dần dần lấy lại danh dự và ông được tôn là người giỏi nhất Thiên Tân. Võ sư Hoắc liên kết với một số võ sư người Hoa yêu nước thành lập hội võ thuật Tinh Võ (Tinh Võ Môn) vào năm 1901 với mục đích rèn luyện sức khỏe và võ thuật tự vệ cho mọi người và được thanh thiếu niên Trung Hoa nhiệt tình hưởng ứng.
Tinh Võ Môn dưới sự dẫn dắt của Hoắc Nguyên Giáp đã đào tạo ra nhiều võ sĩ tài giỏi trong đó có đồ đệ Trần Chân được xem là một tài năng võ học sáng chói không thua gì Nguyên Giáp lúc trẻ.
Lo sợ trước sự lớn mạnh của phái Tinh Võ, các tổ chức võ thuật ngoại quốc đã mưu tính và sắp xếp cho ông liên đấu với cao thủ các nước phương Tây, cuối cùng họ bí mật bỏ độc trong chén trà giết Hoắc Nguyên Giáp khi ông tham gia trận đấu cuối cùng với một võ sư người Nhật là Shido Nakamura, tuy nhiên vì tinh thần thượng võ nên Shido Nakamura vẫn kết luận võ sư Hoắc giỏi hơn mình và công bố ông toàn thắng.
Võ sư Hoắc mất đi lúc ông chỉ mới ở tuổi 42, nhưng các đệ tử của Hoắc Nguyên Giáp vẫn kế thừa và phát huy sức mạnh cũng như tinh thần võ học vốn có của phái Tinh Võ, họ luôn ghi nhớ lời dạy của thầy:
"Học võ là học đạo, trước tiên là đạo làm người, học võ còn để rèn luyện thân thể, lấy "dục thể, dục trí, dục đức" làm mục đích phấn đấu, bất luận trong mọi hoàn cảnh tinh thần thượng võ phải được tôn trọng. Người biết võ nên đóng góp công sức vào những việc ích nước lợi dân. Người giỏi võ mà kém trí đức chỉ là hạng võ biền hại người hại mình."
(Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/tranchan.jpg
Trần Chân (Tinh võ môn)
Trần Chân là một thanh niên ở thôn quê, gia đình anh ta và cả Trần Gia Thôn bị bọn mã tặc cướp phá giết hết cả thôn.
Hai anh em Trần Chân và Tiểu Yến phải lặn lội từ dưới quê lên Thượng Hải, để tìm chú ruột là Trần Toàn đòi lại món nợ 1000 đồng mà cha Chân đã cho vay để cất nhà. Không ngờ người chú gian xảo không những không trả mà còn đuổi hai anh em ra khỏi nhà, hai anh em phải sống đầu đường xó chợ, trải qua rất nhiều cực khổ: có cả ăn thừa lượm mót.
Em của Trần Chân là Tiểu Yến được một chị yêu thích, chị đó là Võ Điền Do Mỹ, người mà sau này trở thành người tình của Chân.
Trần Chân xin làm culi trong một trại gỗ của Thái Lục Cân, do con là Thái Học Phú quản lý, Phú hà hiếp bóc lột công nhân, Chân đứng ra đấu tranh liền bị Phú sa thải. Nhờ cô ca sĩ Khải Kiều giúp đỡ giới thiệu Chân làm bồi bàn ở Đại Thế Giới, nhưng lại gặp Phú và bị Phú chèn ép, may nhờ có Thái Lục Cân xuất hiện kịp thời.
Thái Lục Cân khuyên Chân gia nhập Thanh bang, Chân trở thành trợ thủ đắc lực của ông. Thái Lục Cân rất yêu mến Trần Chân, tuy nhiên con trai là Thái Học Phú thì rất căm ghét và ganh tị. Thái Học Phú còn liên quan đến nhiều tổ chức xấu và luôn có ý định chiếm đoạt tài sản của Cha mình.
Sau này Trần Chân cảm thấy Thanh bang không phù hợp với mình nên thoát ly, gia nhập vào Tinh Võ Môn làm đệ tử của Hoắc Nguyên Giáp.
Trong lúc đó bọn Nhật đang triển khai kế hoạch xâm lược Trung Hoa do tên Võ Điền Mạnh Hùng đứng đầu. Trần Chân đã đứng lên và vận động tất cả võ đường trong tổng hội võ thuật đoàn kết lại để chống lại kế hoạch xâm lăng của Võ Điền Hạnh Hùng.
Thái Lục Cân cũng tham gia chống Nhật, nhưng con trai ông là Thái Học Phú liên thông với Nhật, bắt cha vào tù. Thái Học Phú muốn giết cha nhiều lần nhưng không thành, cuối cùng trong một lần được Thái Lục Cân tha chết, Học Phú giết cha và ngày càng lún sâu vào tội ác.
Trong khi đó Tinh Võ Môn lại luôn bị quấy rối: Hoắc Nguyên Giáp nhận lời thách đấu với một tên sĩ quan Nhật- nhưng bị nội gián đầu độc và thua cuộc, chết ngay trên võ đài.
Trần Chân đang ở trong tù nghe tin hết sức căm phẫn, thề quyết sẽ trả thù cho sư phụ. Được thả, Chân về chịu tang cho sư phụ. Trong buổi tang lễ này bọn Nhật cũng có đến, tặng cho Tinh Võ Môn bốn chữ : Đông Á bệnh phu. Chân càng căm thù, sau lễ tang liền ôm tấm bảng đề 4 chữ đó đến võ đường Nhật. Lúc này tên sĩ quan Nhật đã đi vắng, Trần Chân bực tức đập tan nát võ đường cùng đám võ sinh. Sau đó đá bể tấm bảng trước mặt bọn chúng, rồi thét lớn: "Người Trung Quốc chúng ta không phải là Đông Á bệnh phu".
Chân trở về và gặp Võ Điền Do Mỹ, tình cảm của hai người ngày càng mặn nồng. Tuy nhiên Do Mỹ lại là con của Võ Điền Hạnh Hùng, tên đại Tướng của Nhật. Mối tình bị cản trở, họ bỏ nhau không đặng, vẫn đến với nhau lén lút và ngày càng có nhiều kỷ niệm đẹp.
Nhưng thế lực của bọn Võ Điền liên tục lớn mạnh, liên kết với Thái Học Phú để phá hoại Tinh Võ Môn. Thái Học Phú lúc này trở thành con chó săn gớm ghiếc và hèn hạ cho bọn Võ Điền sai khiến.
Nghề kéo xe của huynh đệ Tinh Võ Môn cũng bị gản trở, họ bị lùng bắt mọi nơi. May mắn có một tướng thân Nhật là ông La bảo trợ, nhiều lần giúp Chân thoát khỏi hái tử thần. Nhưng đến một ngày ông La bị phát hiện, giết chết. Chân căm phẫn, không chịu khuất phục nữa, liều mình đi đến doanh trại Nhật.
Võ sinh bên trong đang luyện tập thì thấy Chân, kinh sợ chạy toán loạn nhưng Chân không chừa, giết hết thảy. Cuối cùng còn một mình Võ Điền Hạnh Hùng, Chân đánh y gần chết thì thấy Do Mỹ, có một chút nao lòng, chợt tên Võ Điền Hạnh Hùng làm con gái bị thương. Trần Chân giận dữ giết chết Võ Điền Hạnh Hùng, doanh trại Nhật tan tành.
Trận quyết đấu đó dài và kinh điển với nhiều thế võ rất đẹp mắt. Trần Chân ôm Do Mỹ về Tinh Võ Môn, một lúc bọn Nhật lại đến đòi Chân ra chịu tội. Chân không phục, đặt Do Mỹ lại và xông ra, anh bị bắn chết trên không trung khi đang tung một cú đá. Bộ phim kết thúc.
Trải qua muôn ngàn khó khăn và hi sinh, tuy rằng không thể ngăn chặn sự xâm lược của Nhật nhưng nhờ tinh thần bất khuất của Tinh Võ Môn, đã đánh thức lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của các tầng lớp nhân dân, cuối cùng trải qua thời gian dài 8 năm chống giặc, nhân dân Trung Quốc đã đánh đuổi được bọn Nhật ra khỏi bờ cõi.
Wikipedia
muulinh
14-02-2008, 08:46 AM
Tổ sư Kano và sự truyền bá Judo
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/kano.jpg
Jigoro Kano chính thức thành lập môn phái Jodo năm 1884. Jodo là sự kết hợp tất cả mọị tinh hoa mà Kano đã học được ở các trường Nhu thuật nổI danh lúc bấy giờ như: Katame Waza (chuyên về các thế xiết cổ, bẻ tay); Atemi Waza (đánh, điểm huyệt đạo Dim Mark); Tenjin Shinyo và Nage Waza (nhiều kỹ thuật quăng, ném đối phương).
Tất cả những kỹ thuật này đã được ông tập hợp cùng với những kỹ thuật riêng của mình thành một hệ thống hoàn thiện rất khoa học và hợp nhất. Tuy vậy ông đã lược bỏ những đòn ác hiểm, nguy hạI đến tính mạng, trừ phần sử dụng Atemi, chuyên dạy cho các võ sĩ đai đen cao cấp.
Mặc dù Judo có nguồn gốc từ Nhu Thuật nhưng nó lại có sự khác biệt rõ rệt. Trong khi Judo được coi như một thứ đạo, một con đường mềm mại, hoà dịu nhằm đưa con người đến một sự hoàn thiện, toàn mĩ trong đời sống như một môn võ thuật thể thao thì Nhu thuật lại là một môn võ nguy hiểm chuyên về tấn công. Điểm thứ hai là Judo luôn chú trọng tới động lực thăng bằng Kazuki (lý thuyết dùng rất ít lực nhưng có thể đánh ngã đối phương)
Có ba nguyên tắc chính làm mất thăng bằng của đối phương là dung sức mạnh của mình làm địch thủ mất thăng bằng, dùng sức mạnh của địch thất thế và dùng sức mạnh của mình lẫn của địch làm đối phương mất thăng bằng.
Nếu như số môn sinh theo học Judo của Ông ở đền Eisho Ji chỉ có 9 người, thì tới ngày Kano từ trần hưởng thọ 79 tuổi, số môn sinh theo học đã đạt tới con số hang trăm ngàn người. Ông có thể nở nụ cười mãn nguyện, nụ cười mà các môn sinh của ông đã nhận xét “...không bao giờ tắt, ngay cả khi đang giận dữ”.
Nguồn http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat
----------
Nguồn Wikipedia
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/hoangphihong.jpg
Hoàng Phi Hồng
Hoàng Phi Hồng là một võ sư nổi tiếng trong làng võ thuật Trung Quốc, sinh năm 1850 ở làng Lộc Đan, núi Tây Triều, thuộc phủ Nam Hải, tỉnh Quảng Đông, mất 1933. Ông còn là một danh y với hiệu thuốc Bảo Chi Lâm.
Tiểu sử
Xuất thân là con nhà võ. Cha của ông là Hoàng Kỳ Anh, từng theo học Thiếu Lâm Phúc Kiến (Nam Thiếu Lâm) với thiền sư Lục A Thái. Theo cha từ năm 5 tuổi tập võ nghệ, đến khi 13 tuổi, Hoàng Phi Hồng cùng cha đi đến Quảng Châu - Phật Sơn để biểu diễn võ thuật và bán thuốc (thường gọi là "sơn đông mãi võ").
Trong thời gian này, Hoàng Phi Hồng đã học thêm nhiều danh sư các môn võ khác nhau, do đó tài nghệ của ông còn lấn lướt hơn cả cha mình. Đương thời có người lớn thách đấu, Hoàng Phi Hồng đã sử dụng côn pháp để chiến thắng, nhờ thế nổi tiếng khắp nơi. Tuyệt chiêu của Hoàng Phi Hồng bao gồm Hổ Hạc Song Hình quyền, Thiết Tuyến quyền, Công Tự Phục Hổ quyền, Vô Ảnh cước. Ngón Vô Ảnh cước là do Hoàng Phi Hồng trao đổi với Hồng Đông Huy - bù lại, Hoàng Phi Hồng phải truyền lại cho Huy bài Hổ hạc song hình và công tự phục hổ quyền.
Một trong những điểm đáng chú ý của Hoàng Phi Hồng là tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, người ta nói rằng ông còn học võ của bà vợ cả là một danh thủ thuộc một môn phái khác.
Hoàng Phi Hồng mở hiệu thuốc Bảo Chi Lâm ở đường Nhân An, chuyên bán thảo dược tươi trị thương. Mặc dù là võ sư dân gian nhưng cuộc đời Hoàng Phi Hồng vẫn gắn liền với lịch sử Trung Quốc cận đại, dấu chân của mãnh hổ này đã in lên nhiều nơi. Năm 1885, tướng quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc tấn công quân Pháp ở Việt Nam. Năm sau danh tướng họ Lưu Vĩnh Phúc được điều động về phúc kiến làm tổng binh. Hoàng Phi Hồng được Lưu Vĩnh Phúc chọn làm trưởng ban huấn luyện.
Năm 1895 Chiến tranh Trung-Nhật nổ ra, Hoàng Phi Hồng theo Lưu Vĩnh Phúc đến Đài Loan. Quân nhà Thanh đại bại, triều đình cắt Đài Loan cho Nhật, quân dân Đài Loan khởi nghĩa và phong Hoàng Phi Hồng lên làm "Điện Tiền Tướng Quân" thống lãnh. Sau này Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, Lưu Vĩnh Phúc mời Hoàng Phi Hồng làm "giáo luyện dân đoàn tỉnh Quảng Đông".
Hoàng Phi Hồng từng đặt chân đến Hồng Kông, gặp lại môn đồ Lục Chính Cương và được mời đến võ đường của Lục Chính Cương tham quan. Thời gian ở đây do bất bình trước cảnh một người cô thế bị uy hiếp, Hoàng Phi Hồng ra tay can ngăn và bị một đám đông có vũ khí bao vây. Một mình đánh bại cả chục người, Hoàng Phi Hồng trở thành vị cứu tinh của những người bị áp bức. Bị triều đình truy nã, Hoàng Phi Hồng phải chạy trốn.
Về sau Lục Chính Cương tìm đến nơi trú ẩn của Hoàng Phi Hồng, kể lại chuyện người phương Tây đem chó berger đến khiêu chiến và nhiều nhà sư bị chó tấn công. Hoàng Phi Hồng đùng đùng nổi giận lập tức đến hương giang đập gãy xương sống con chó hung thần ấy. Ngày hôm sau báo chí Hồng Kông chạy tên bài đỏ về tin này và gọi đó là "chí khí người Trung quốc".
Trở về Quảng Đông, Hoàng Phi Hồng mở thêm một nhà thuốc nữa ở Phật Sơn, trở thành một trong 4 vị thầy thuốc lớn nhất Quảng Đông bấy giờ. Thời gian này ông gặp người vợ thứ 4, đây cũng là lúc ông sống sung túc nhất. Về chuyện tình cảm, ta thường thấy bên cạnh Hoàng Phi Hồng (trong các phim) là dì Mười Ba. Sự thật Hoàng Phi Hồng có 4 người vợ, người vợ cả là một võ sư như đã nói trên. Riêng chuyện gặp người vợ thứ tư đã là một giai thoại thú vị: năm đó Quế Lan 19 tuổi, một lần đi xem vía Phật có Hoàng Phi Hồng trình diễn võ thuật, không biết trời xui đất khiến thế nào mà khi múa bài chĩa ba vũ gia, lại văng chiếc giày vào mặt Quế Lan. Cho là xúc phạm Quế Lan liền leo lên khán đài tát vào mặt Hoàng Phi Hồng một cái, nói: "một võ sư nổi tiếng như ông ko thể phạm sai lầm như thế, đây là chiếc giày nếu là vũ khí thì sao". Kính phục, Hoàng Phi Hồng xin cưới nàng làm vợ.
Ngày 8 tháng 8 năm 1933 thương đoàn Quảng Đông, đoàn tự vệ vũ trang Quảng Đông tổ chức cuộc bạo loạn chống chính quyền Tôn Trung Sơn, đi đến đâu tổ chức này cũng thực hiện hành vi cướp phá. Bảo Chi Lâm cũng bị tổ chức này thiêu rụi, quá tức giận, Hoàng Phi Hồng ngã bệnh rồi qua đời, huởng thọ 83 tuổi. Thi thể ông được quàn tại Quảng Đông...
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 6 phút và 53 giây -----
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/Jetli2.jpg
Nhìn ảnh là bít người rồi: Lý Liên Kiệt
Lý Liên Kiệt (bính âm: Lǐ Liánjié; tên tiếng Anh: Jet Li Lian Jie; sinh ngày 26 tháng 4, 1963 tại Bắc Kinh - Trung quốc) là một diễn viên võ thuật nổi tiếng.
Tiểu sử
Lý Liên Kiệt tập wushu từ 8 tuổi, cùng một sư phụ với Chân Tử Đan, anh đã sớm bộc lộ năng khiếu và tư chất để trở thành một cao thủ.
Cũng như Lý Tiểu Long, Lý Liên Kiệt không có một thể trạng hoàn hảo, anh yếu đuối, lại sống trong một gia đình có quá nhiều áp lực, nên nhiều lần đã định bỏ cuộc. Nhưng được sư phụ động viên, anh đã vượt qua được.
Năm 1974, Lý Liên Kiệt mới 11 tuổi, đã trở thành nhà vô địch giải Wushu trẻ toàn Trung quốc. Mọi người gọi anh là "thần đồng võ thuật". Lúc này Lý Liên Kiệt đã nhận được nhiều lời mời đóng phim và quảng cáo, nhưng nghĩ mình chưa đạt tới trình độ siêu đẳng, anh trở về với sư phụ Hồ Bình.
Lúc này tên tuổi của anh làm rung động cả thế giới, nhất là từ khi được vinh dự biểu diễn cho tổng thống Mỹ Nixon xem tại Nhà Trắng (1974).
Nhiều năm sau, Lý Liên Kiệt liên tục giật giải quán quân trong các kỳ thi võ thuật, với màn múa thương và kiếm rất đẹp mắt (1975, 1977, 1978). Đến năm 1979, anh đoạt giải thành tựu Vàng của Tổng hội võ thuật Trung Quốc khi mới 16 tuổi.
Ba năm sau, Lý Liên Kiệt tham gia bộ phim điện ảnh đầu tiên: Thiếu Lâm tự, bộ phim làm ngất ngây khán giả hâm mộ phim võ thuật, đưa tên tuổi của anh vào hàng siêu sao, bắt đầu có ảnh hưởng đến khán giả ở Đông Nam Á, Nhật Bản và Mỹ. Anh tiếp tục đóng các phim về Thiếu Lâm và gây được tiếng vang rất lớn.
Nghiệp diễn
Lý Liên Kiệt được yêu thích không phải nhờ khả năng diễn suất mà là các thế võ đẹp, lạ, mạnh mẽ đúng chất Thiếu Lâm của anh.
Năm 1991, với bộ phim Hoàng Phi Hồng kinh điển, Lý Liên Kiệt đã đưa tên tuổi của mình đến được Hollywood, khán giả Đông Nam Á thì đâu đâu cũng nhắc đến Hoàng Phi Hồng, Dì mười ba, Quỷ Cước Thất, là các nhân vật trong phim này. Phần thành công của phim cũng nhờ sự đạo diễn tài tình của Từ Khắc, và Viên Hòa Bình.
Tiếp đến là hàng loạt các phim kinh điển: Phương Thế Ngọc 1 & 2, Hoàng Phi Hồng 2 & 3, ...đã đưa anh đến đỉnh cao vinh quang, trước hết là một hình tượng anh hùng trong lòng người châu Á, sau đó là thế giới. Nhưng Lý Liên Kiệt không ham danh vọng, anh đã dừng đóng phim một thời gian, có người thắc mắc thì anh nói: "Tôi từ nhỏ đã khổ cực, mục đích sống của tôi chỉ là thoát khỏi khổ cực, chứ danh tiếng thì không đem lại hương vị gì".
Lý Liên Kiệt sùng bá đạo Phật, đời sống của anh rất thanh tịnh, sau những lúc đóng phim mệt nhọc, anh thường đi dạo bộ hoặc ngồi thiền. Đã nhiều lần anh định đi tu, nhưng nghĩ đến cha mẹ, chuyện vợ con lại thôi. Sau này người ta thường nghe Lý nhắc lại ý định này. Anh đang tu tại gia, ăn chay niệm phật, anh đã là một thầy tu duy chỉ không xuất gia mà thôi.
Một thời gian sau người ta nghe Lý có chuyện cãi vã về vấn đề tiền bạc với một đạo diễn, và dính líu tới hội Tam Hoàng Thượng Hải. Hiểu rằng anh đang khó khăn, nhiều đạo diễn có ý mời, Lý Liên Kiệt đã chọn đạo diễn Wong Jing.
Các phim anh đóng lúc này khá "khác" với hình tượng, những vai Xã hội đen rùng rợn và hài hước nhiều hơn, ít khi đánh đấm, lại đi bên cạnh là một mỹ nhân hết sức gợi cảm như kiểu Mỹ: Cận Vệ Trung Nam Hải với Chung Lệ Đề.
Hay các phim hành động dàn dựng như Long Tại Giang Hồ, High Rish...
Cho đến khi Viên Hòa Bình, nhà chỉ đạo võ thuật nổi tiếng nhất bấy giờ mời anh đóng bộ Cú đấm truyền thuyết (hay Tinh Võ anh hùng) - một phim về Trần Chân, mà nhiều diễn viên võ thuật đã rất thành công (Như Lý Tiểu Long với Tinh Võ Môn, Chân Tử Đan với Tinh Võ Môn 1995). Và Lý Liên Kiệt đã làm dậy lại được hình tượng này - cũng như hình tượng anh hùng võ thuật cổ truyền của mình. Tên tuổi của anh lại được tung hô, Lý hoạt động rầm rộ hơn trước.
Anh hợp tác với nhiều diễn viên nổi tiếng, như Trương Học Hữu, Khưu Thục Trinh, Châu Tinh Trì, Trương Mạn Ngọc...Nhờ thế phim anh được rất nhiều người đón nhận.
Đến năm 2001, đạo diễn Trương Nghệ Mưu lần đầu tiên làm phim võ hiệp: Anh Hùng, Lý đóng vai chính. Đây là lần thứ hai Lý Liên Kiệt với lối võ mạnh mẽ đối đầu với Chân Tử Đan - lối võ đẹp mắt. Cả hai lại bất phân thắng bại: vai Vô Danh của Lý Liên Kiệt chiến thắng, nhưng sự thật là vai Trường Không của Chân Tử Đan giả thua. Người hâm mộ vẫn luôn chờ đợi lần hợp tác thứ 3 của 2 võ sư nổi danh này. Cuộc đối đầu của họ trên cọc gỗ trong Hoàng Phi Hồng 2 và cuộc đối đầu trong tư tưởng- âm nhạc tại Ngự Viên - phim Anh Hùng đã đem lại sự mầu nhiệm, hai nhà đạo diễn tài ba Từ Khắc và Trương Nghệ Mưu không ngớt lời khen 2 pha võ này.
Trong phim Anh Hùng, bên cạnh Chân Tử Đan, còn có Lương Triều Vĩ, Trương Mạn Ngọc, Chương Tử Di, Trần Đạo Minh là những diễn viên "chuyên trị" diễn xuất nội tâm. Nên nhiều người đánh giá diễn xuất của Lý là lép vế, tuy nhiên thành công về nghệ thuật của phim là một điều không ai mơ hồ chối cãi được. Anh Hùng có thể là bộ phim đẹp nhất đời của Lý Liên Kiệt.
Anh đến Hollywood sau Lý Tiểu Long, Thành Long, cùng một lúc với Dương Tử Quỳnh, trước Chân Tử Đan, một điều không nhiều người mong muốn -là bị đồng hóa theo phim Mỹ - đã trở thành sự thật Người tiếp theo sẽ là ai ? người hâm hộ vẫn mong Chân Tử Đan đem chuông đi đánh xứ người một cách thận trọng, không đi theo vết xe của Thành Long và Lý Liên Kiệt.
Nhưng dù sao khi xem lại "Hoàng Phi Hồng 1 - 2 - 3" " Phương Thế Ngọc 1 - 2", "Tiếu Ngạo Giang Hồ", "Tinh Võ anh hùng", người ta đã có thể quên đi "Đấu đến chết", "Anh em song sinh", "Rogue", "Con chó Danny"...mà không trách sự tây hóa trong phim Lý Liên Kiệt.
Năm 2006, anh đang trở lại võ thuật chính thống với bộ phim Hoắc Nguyên Giáp. Tiếp theo là bộ "Trận chiến Xích Bích" (The battle of the Red Cliff), một phim lịch sử.
Wikipedia
---------------
http://mic.edu.vn/huyenthoaivothuat/images/chantudan.jpg
Chân Tử Đan
Chân Tử Đan (bính âm: Zhēn Zǐdān; còn gọi là Chung Tử Đơn, tên tiếng Anh Donnie Yen Chi Tan, Donnie Yen Ji Dan, Kun Ja Dan; sinh vào năm 1963) là một diễn viên võ thuật người Mỹ gốc Hoa.
Tiểu sử
Chân Tử Đan sinh ngày 27 tháng 7 năm 1963 tại Quảng Đông, Trung Quốc. Anh là một diễn viên võ thuật nổi tiếng của Trung Quốc và thế giới. Anh là một trong 4 tài tử võ thuật kinh điển thuộc thế hệ thứ hai sau Lý Tiểu Long, gồm Chân Tử Đan, Thành Long, Lý Liên Kiệt và Dương Tử Quỳnh. Công phu của anh được đánh giá cao hơn nhờ những đòn chân đẹp mắt kết hợp Wushu và Thái boxing.
Ngoài ra Chân Tử Đan còn là chỉ đạo võ thuật và đạo diễn các phim Twins effect, Puma...
Anh còn làm mẫu, chỉ đạo cho các pha võ thuật trong game nổi tiếng là Onimusha III.
Mẹ anh là một võ sư nổi tiếng nên việc anh ham mê võ thuật là điều dễ hiểu. Chân Tử Đan đã chập chững tập võ khi mới biết đi, năm 11 tuổi được gia đình đưa sang Mỹ học về võ thuật Tây Phương, tại đây anh đạt nhiều giải thưởng.
Thần tượng của Chân Tử Đan từ nhỏ là Lý Tiểu Long, anh thường cột thêm một dải lụa dưới ống quần để dắt thêm cặp Côn Nhị Khúc, thường bắt chước đóng giả các phim của ông và đem bạn bè ra tập trận, tất nhiên bà con hàng xóm đã không ngớt phiền hà.
Từ năm 11 tuổi đến 17 tuổi, Chân Tử Đan không chỉ tiếp thu tinh hoa võ thuật phương Tây mà còn bị tiêm nhiễm lối sống bạo lực bên đấy, anh gia nhập băng đảng, thường xuyên đánh lộn, cha mẹ anh rất lo sợ vì băng nhóm của anh có lần đã gây ra án mạng, thế là đưa anh về lại Quê nhà - Quảng Đông.
Tại đây anh gặp đạo diễn Viên Hòa Bình - dường như không diễn viên võ thuật nổi tiếng nào không qua tay người này- bộ phim đầu tiên thực sự chói lọi: Túy Quyền, hay Thái Cực Túy Quyền, Drunken Tai Chi. Với các màn võ thuật cực kỳ điệu luyện và ngẫu hứng, Chân Tử Đan đã bước đầu chinh phục trái tim người Châu Á. Năm đó là năm 1982, Chân Tử Đan vừa 19 tuổi.
Thật ra Chân Tử Đan từng đóng một vai "đứng nhìn" trong Miracle Fighters trước đó, nhưng Viên Hòa Bình cho biết đó chỉ là một phút thử vai, vai trò chính của anh trong phim này là Cascadeur.
Sự nghiệp của Chân Tử Đan không thẳng tiến, sau phim Thái Cực Túy Quyền, anh được mời đóng nhiều phim nhưng ít được thành công. Chúng được liệt vào dạng phim "mì ăn liền" không có giá trị.
Đến năm Hoàng Phi Hồng 2 ra đời, đạo diễn Viên Hòa Bình có một sáng kiến là cho "long hổ gặp nhau", Chân Tử Đan đóng một vai phản diện bên cạnh Lý Liên Kiệt.
Trong phim này Chân đã diễn xuất tài tình và nhiều màn múa Côn, Đao đẹp mắt, chứng tỏ anh không hề lép vế trước Lý Liên Kiệt, mà thậm chí thuật quyền cước của anh còn "hoa mắt" hơn nhờ nhiều thế đá độc đáo. Trong phim này, Chân Tử Đan đóng bên cạnh hàng loạt ngôi sao: Trương Triết Lâm, Khương Đại Vệ, Quan Chí Lâm, Mạc Thiếu Thông. Anh bắt đầu nổi đình nổi đám khi vượt lên họ để giành giải "Diễn viên phụ xuất sắc nhất" . Cho thấy ngoài khả năng võ công anh còn có khả năng diễn xuất tốt.
Tiếp theo là các phim Lồng Hổ 2, Tiêu Diệt Nhân Chứng, Truyền thuyết Xích Long...Viên Hòa Bình đã nâng cao địa vị của Chân Tử Đan lên trong làng phim võ thuật.
Mãi đến năm 1993, tên tuổi của anh mới thật sự sáng chói: bộ phim "Thiếu Niên Hoàng Phi Hồng", hay Thiết Hầu Tử (Iron monkey) đã khiến mọi người phải thán phục. Bộ phim có tình tiết ngộp thở đến từng giây phút, và vai Hoàng Kỳ Anh của Chân Tử Đan - có đất diễn nhiều nhất đã tha hồ tung hoành, biểu diễn những "Vô Ảnh Cước", "Hồng gia quyền" rất tuyệt vời. Trận đấu trên biển lửa ở màn cuối cùng đã trở thành đề tài cho nhiều nhà làm phim...nhái và hài hước nhắc lại, để lại một ấn tượng rất sâu đậm trong lòng khán giả.
Khi đó khắp các nẻo đường đang rộn cái tên Hoàng Phi Hồng - Lý Liên Kiệt, thì lại thêm Hoàng Kỳ Anh - Chân Tử Đan, hai ngôi sao võ thuật cùng thời đã làm sống dậy nền phim võ thuật cổ trang, kéo theo rất nhiều phim khác ra đời. Mà dường như đến bây giờ cái hào khí đó vẫn còn, phim Võ Thuật trung hoa không bao giờ bị coi là nhàm chán nữa.
Thế nhưng trong khi Lý Liên Kiệt nắm bắt tất cả các cơ hội để xuất ngoại thì Chân Tử Đan lại bỏ lỡ đi hầu hết: đó là vai Lý Tiểu Long trong phim "Truyền thuyết Lý Tiểu Long" (The Bruce Lee story)- một phim của Hollywood, rồi từ chối rất nhiều phim của đạo diễn nổi tiếng, cả lời mời của Steven Seagal - bậc thầy làm phim hành động tại Mỹ.
Ở Trung Quốc, Chân Tử Đan chăm đóng phim Võ thuật, kể cả phim truyền hình.
Và phim truyền hình Tinh Võ Môn 1995 ra đời, gây nên một cơn sốt mới về Trần Chân. Từ đó, thường ở Việt Nam người ta gọi tên anh là Trần Chân, khi nhắc đến Trần Chân người ta không nghĩ ngay đến Lý Tiểu Long nữa. Tinh Võ Môn 1995 dài 18 tập và thật sự cuốn hút, nhân vật Trần Chân của Chân Tử Đan trải qua nhiều thử thách nghiệt ngã, nhiều đoạn diễn xuất nội tâm, nhiều trận đấu võ. Và để lại hình tượng Trần Chân hoàn hảo- thân yêu nhất trong lòng người hâm mộ.
Tiếp theo thành công của Tinh Võ Môn 1995, Chân Tử Đan tự làm một bộ phim võ thuật điện ảnh, nhuốm mùi bạo lực: Chiến lang truyền thuyết. Phim này anh đóng chung với Lý Nhược Đồng, vai diễn của anh có những trận đấu đá kinh điển và kinh hồn, phim nội dung tuy không đặc sắc nhưng những màn đấu võ thì rất tuyệt vời. Chân Tử Đan đã khắc sâu tên của mình vào lòng người hâm mộ võ thuật bằng một vai khá tàn bạo- lại đầy "tình cảm". Bộ phim đạt thành công rất lớn.
Thực tế với khả năng diễn suất và "làm hấp dẫn" cho phim, Chân Tử Đan được giao đóng nhiều vai phản diện, hay chỉ những vai đấm đá túi bụi...Mỗi động tác võ thuật của anh cuồn cuộn kéo theo một đợi sóng, người ta không bao giờ nhàm chán những phim như thế.
Đến năm 2001, phim Anh Hùng của Trương Nghệ Mưu ra đời, Chân Tử Đan tham gia với một vai khá ấn tượng, mục đích của Trương Nghệ Mưu cũng được ông nói rõ là "câu khách" và "làm đẹp phim bằng những thế võ ngoạn mục". Nhưng không chỉ vậy, Chân Tử Đan đã bước vào cổng Hollywood qua một phim hoàn toàn Trung Quốc như Anh Hùng. Phim thành công rất lớn, sự thành công đó càng nới rộng danh tiếng của Chân Tử Đan lên khắp thế giới. Lúc này tên tưổi chỉ xếp sau Lý Tiểu Long, Thành Long, Lý Liên Kiệt và Củng Lợi.
Các phim "Thất Kiếm hạ thiên sơn", "Sát Phá Lang"...sau này của Chân Tử Đan được thế giới phương Tây đón nhận nhiệt liệt. Bên cạnh đó người phương Đông luôn yêu thích anh đơn giản là vì Chân Tử Đan chỉ đóng những vai "đánh đấm ra trò" kiểu Trung Quốc.
Người ta thấy chỉ riêng Chân Tử Đan có các cú đá hoàn hảo và tuyệt đẹp, bộc lộ một cách hoàn mỹ các kỹ thuật của môn võ Thái Cực Đạo. Và theo nhiều người nhận xét, anh có tất cả các môn võ trong một con người: Cú đấm của Quyền Anh, đá của Thái Cực Đạo, những pha bắt, đỡ uyển chuyển kết hợp giữa Wushu và Muay Thái. Ngoài ra còn khả năng đô vật, mà ai xem phim "Lồng hổ 2" hay "Sát Phá Lang" có thể thấy. Khả năng sử dụng Côn nhị khúc, Côn, Thương và Đao của Chân Tử Đan có thể thuộc hàng cao thủ trong những diễn viên võ thuật (Xem Tinh Võ Môn 1995, Anh Hùng, Hoàng Phi Hồng 2, Tân Long Môn khách sạn...)
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 16 phút và 7 giây -----
Việt Nam nè
Các bộ môn võ cổ truyền
1- Võ có vũ khí
Gồm 18 môn tương ứng với 18 món binh khí: côn, kiếm, đao, thương, giáo, kích, xà mâu, đinh ba, bồ cào, thiết bản, song tô, song xỉ, song câu, bút, phủ (búa), chuỳ, cung tên, lăn khiên.
http://mic.edu.vn/tulieuvothuat/images/binhkhivct.jpg
Võ sư Phan Thọ biểu diễn song chùy - ảnh Huyền Trân
1- Côn (roi): làm bằng gỗ, tre, mây, cũng có khi làm bằng kim loại, chia làm trường côn và đoản côn. Trường côn là roi dài gồm hai thứ là roi đấu (trường tiên) dài khoảng 3m và roi chiến (trung bình tiên) dài khoảng 1,5m. Roi đấu dùng để đánh trên ngựa. Roi chiến dùng để đánh dưới đất. Đoản côn là roi ngắn.
Còn có một loại côn nữa là côn nhị khúc, làm bằng hai thanh gỗ cứng hoặc kim loại dài bằng nhau, nối với nhau bởi một sợi dây dài tết bằng tóc người hoặc bằng lông đuôi ngựa. Loại côn này gọn, mạnh, thích hợp cho lối đánh gần, có thể đổi tay phải tay trái tùy ý. Khi đánh dùng một thanh làm trụ, đánh bằng thanh kia, phóng ra thu về, biến hoá linh hoạt.
2- Kiếm: gồm chuôi kiếm, lưỡi kiếm và bao kiếm. Phần lưỡi dài, phiến dẹt, bề rộng chừng 3 - 4cm, cạnh mảnh và cực bén, rèn bằng kim loại tốt như sắt, thép, hợp kim. Phần cán (chuôi) bằng gỗ, có khi cán cũng được đúc bằng kim loại hoặc mạ vàng, chạm trỗ rất đẹp. Vỏ kiếm được chế tạo cũng bằng kim loại mỏng và cứng, dùng để bao ngoài lưỡi kiếm, một đầu kín một đầu hở khi gài vào ăn khớp với cổ chuôi kiếm.
Kiếm thuộc hàng vũ khí thanh nhã, sang trọng, được rèn theo yêu cầu của người sử dụng. Thường phải đảm bảo ba yếu tố: sắc bén, đẹp, có độ nặng, độ dài phù hợp với sức vóc người cầm. Kiếm lệnh là kiếm chỉ huy, lược trận, phân biệt với kiếm trận ở chỗ kiếm lệnh lưỡi cong, còn kiếm trận lưỡi thẳng. Lại tùy theo độ dài ngắn mà phân thành trường kiếm và đoản kiếm. Trường kiếm độ dài xê dịch trong khoảng 1,2m đến 1,5m, có thể giao tranh trên mặt đất hoặc trên ngựa đều tiện lợi. Đoản kiếm là kiếm ngắn, từ chuôi đến ngọn dài chừng năm, bảy tấc, thích hợp với lối đánh cận chiến, giáp chiến. Thường con nhà võ chỉ tuốt kiếm khỏi bao khi giao đấu. Trong giao đấu, vỏ kiếm cũng là một vũ khí để đánh, đỡ, gạt, hất rất lợi hại. Tuy vậy, cũng có không ít những thanh kiếm để trần.
Thời chống Pháp trở về trước, kiếm là môn binh khí rất phổ biến trong võ thuật Bình Định. Nữ tướng Bùi Thị Xuân chuyên đánh song kiếm. Ở Bảo tàng Quang Trung hiện còn lưu bức tranh Bà cưỡi voi trận, tay cầm song kiếm, uy phong lẫm liệt.
3- Đao: có cán bằng gỗ cứng, lưỡi đao càng về phía trước càng to bản, được vát hơi cong dần về phía mũi. Về chủng loại có đơn đao, song đao, đại đao, phác đao. Đại đao là vũ khí nặng, cán dài. Người sử dụng đại đao phải có sức vóc hơn người. Triều Tây Sơn có bốn người nổi tiếng về đại đao là Nguyễn Huệ, Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu và Đặng Văn Long. Đặc biệt là Võ Văn Dũng, tài sử đao của ông được Nguyễn Nhạc khen ngợi: “Phá sơn trung tặc dị, thắng Văn Dũng đao nan” nghĩa là Phá giặc trong núi dễ, thắng ngọn đao Văn Dũng mới khó.
4- Thương: là vũ khí dài, cán làm bằng gỗ cứng, ở đầu có mũi hình thoi nhọn ở đầu đúc bằng sắt. Cách dùng côn và thương về căn bản giống nhau, nhưng côn thiên về đả, tức đánh xuống, còn thương thiên về đâm.
5- Giáo: là loại vũ khí dài khoảng 2 - 2,5m bằng một loại tre đực đặc ruột có đầu vót nhọn bịt kim loại, dùng trong trận mạc. Cách đánh như côn, nhưng lợi thế hơn ở chỗ có mũi nhọn để đâm. Tương truyền đây là vũ khí đắc dụng của nghĩa binh Mai Xuân Thưởng, vì vùng nông thôn Bình Định rất sẵn tre.
6- Kích: là vũ khí dài, cán bằng gỗ cứng hoặc đúc bằng kim loại nặng. Phương thiên hoạ kích có một mũi nhọn ở giữa giống ngọn giáo, hai bên là hai vành đao lưỡi liềm day lưng vào nhau. Bán thiên kích thì chỉ có mũi nhọn với một vành đao lưỡi liềm. Kích nặng ở đầu nên sử dụng không được linh động như thương.
7- Xà mâu: là loại vũ khí dài, nhọn, phần trên cùng đúc kim loại uốn khúc như hình rắn.
8- Đinh ba: Là loại vũ khí cán dài, một đầu tra lưỡi sắt có ba răng nhọn xỉa thẳng về trước. Đinh ba vận dụng các chiêu thức của côn, thiên về phóng, đâm, xóc.
9- Bồ cào: Cũng là vũ khí cán dài, một đầu tra lưỡi sắt hình răng lược, giống như cái cào cỏ ở nông thôn Bình Định. Bồ cào cũng vận dụng chiêu thức của côn nhưng lại thiên về đập, giật.
10- Thiết bản: là một thanh kim loại vuông cạnh, dài chừng 1m, tiện dụng ở chỗ gọn gàng, con nhà võ có thể giắt bên hông hoặc sau lưng khi di chuyển.
11- Song tô: là hai lưỡi dao thép to bản, ở cán cầm có phần bảo vệ tay. Thích hợp đánh cận chiến.
12- Song xỉ: Song xỉ là vũ khí dùng cho hai tay, gồm hai thanh sắt dài, hai đầu nhọn như lưỡi dao găm, phần thân bo theo cánh tay từ chỏ ra bàn tay, phía chỏ có dây da quấn vào bắp tay, phía trước có đai sắt để luồn bàn tay vào cầm cho chắc. Đặc điểm riêng của song xỉ là gọn, sắc, mạnh, thích hợp lối đánh gần, đòi hỏi người sử dụng phải tinh mắt, giỏi quyền cước, di chuyển mau lẹ.
13- Song câu: là vũ khí đôi gồm các phần câu, phần hộ thủ, phần lưỡi được đúc liền nhau. Phần câu cong như rựa quéo, để móc, hãm vũ khí hoặc một số vùng trên cơ thể địch thủ như cổ, vai, cổ tay, cổ chân, bắp đùi, hông... Phần thân giống như lưỡi kiếm. Chuôi cầm được bọc vải, da hoặc gỗ, có một lưỡi liềm để bảo vệ tay, gọi là phần hộ thủ. Song câu được sử dụng biến ảo linh hoạt, thích hợp lối đánh vừa công vừa thủ.
14- Bút: Đúc bằng kim loại nặng, dài khoảng 5-7 tấc, phần cán tròn, đặc ruột, phần ngọn hình búp sen, cuối cán có sợi dây để buộc vào cổ tay người sử dụng, sau khi phóng ra có thể thu về. Dùng đôi gọi là song bút, dùng đơn gọi là độc bút.
15- Búa (phủ): Búa là loại vũ khí gần giống với rìu chặt cây của tiều phu. Cán búa làm bằng gỗ cứng dài chừng một cánh tay. Lưỡi búa đúc hoặc rèn bằng sắt, thép tốt, rất nặng. Búa đơn gọi là độc phủ, búa đôi gọi là song phủ. Những chiếc búa đặc biệt trên sống còn được chạm đầu hổ hay đầu rồng rất tinh vi, gọi là hổ đầu phủ hoặc long đầu phủ. Chiêu thức của búa gồm các đòn ngắn, mạnh, trực diện, khả năng sát thương kẻ địch rất lớn, thích hợp với lối đánh thấp, cận chiến, trên bộ. Người sử dụng búa phải có sức lực hơn người, thân pháp cực kỳ mau lẹ.
16- Chuỳ: là loại vũ khí có tay cầm ở giữa là một thanh gỗ cứng hoặc kim loại, hai đầu là hai khối kim loại (sắt, thép, đồng) đặc ruột hình thuẫn hoặc hình tròn, ngoài mặt đúc nổi gai lục giác hoặc xẻ cạnh khế. Bề ngang có đường kính chừng 10 – 15cm. Chuỳ cũng có chùy đơn và chuỳ đôi.
17- Cung tên: Cung đầu tiên là công cụ săn bắn, sau mới thành vũ khí chiến đấu. Thân cung và hai cánh cung làm bằng gỗ cứng, có khi là gốc tre lâu năm. Giữa thân cung có rãnh lắp tên. Đầu hai cánh cung được khoét lỗ tròn hoặc đính khuy sắt để căng dây cung. Dây cung thường làm bằng gân trâu hoặc một loại sợi đặc biệt dẻo và cứng, có tính đàn hồi cao, khi kéo mạnh sẽ làm cánh cung cong lại, tạo sức bật đẩy mũi tên bay xa. Tên làm bằng gỗ cứng hoặc tre già, mũi vót nhọn. Về sau, người ta bịt kim loại ở đầu mũi tên hoặc đúc tên sắt, tên đồng để tăng hiệu lực, xuyên thủng được vật cứng.
Môn bắn cung phải qua nhiều giai đoạn tập luyện: giương cung, nhắm đích, quỳ bắn, đứng bắn, dưới đất, trên ngựa. Mục tiêu bắn cũng đa dạng: từ gần tới xa, từ diện đến điểm, từ cố định đến di động. Lại được dạy các mánh khóe đánh lừa kẻ địch như giương đông kích tây, giương nam kích bắc v.v. Người bắn cung giỏi có thể bắn chim đang bay, hoặc còn nói trước được mình sẽ bắn rơi con thứ mấy trong đàn. Nổi danh về bắn cung ở Tây Sơn xưa từng có La Xuân Kiều, Đặng Xuân Phong, Lý Văn Bưu.
18- Lăn khiên: Khiên là một tấm chắn bằng gỗ hoặc đan bằng cật tre, mây, dùng để đỡ gạt trong khi giao chiến, nhất là trong đánh trận, công thành. Nghĩa quân Tây Sơn rất thành thạo môn lăn khiên - một tay cầm khiên để hứng tên bắn từ xa hoặc đỡ gươm giáo khi đánh xáp lá cà, trong khi tay kia sử dụng một vũ khí khác để tấn công kẻ địch.
Ngoài ra ở vùng Bình Định còn thông dụng các loại vũ khí như rựa quéo, lao, đòn xóc, nạng, ná, khăn xéo, dù. Rựa quéo giống như cái rựa thường, sống rựa dày, lưỡi dài và to bản có mấu quéo lại ở đầu để giật, kéo. Chỉ khác rựa thường ở chỗ cán rất dài, vừa là công cụ lao động, vừa là một đoản côn khi cần. Lao cấu tạo như giáo nhưng ngắn hơn, thân lao dài chừng 1,2 - 1,5 m, dùng để phóng tầm xa, phổ biến trong săn bắn của đồng bào các dân tộc thiểu số. Khăn xéo là vật tùy thân của người Bình Định xưa, làm bằng vải ta, thường vắt trên vai, dùng để chặm mồ hôi, lau mặt, che nắng; trong tay con nhà võ, nó trở thành một ngọn “nhuyễn tiên” lợi hại. Dù (hay ô) là vật dụng che nắng mưa khi đi đường, gặp khi bất trắc nó trở thành vũ khí lợi hại, có thể đâm kẻ địch bằng mũi như một ngọn giáo ngắn; có thể quật, đập, đả như côn; lại có thể móc cổ giật cho kẻ địch té nhào.
2- Võ tay không (quyền thuật)
Bao gồm tất cả các môn võ không trang bị vũ khí, chỉ dùng tay chân, chia làm cương quyền và nhu quyền, với kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm đòn công và đòn thủ. Những bài cương quyền dùng sức mạnh với mục đích tấn công áp đảo, đè bẹp đối phương nhanh. Nhu quyền hay miên quyền thể hiện những động tác thoạt nhìn mềm mại, bay bướm nhưng khi phát kình thì uy lực rất lớn. Nguyễn Lữ tự biết thể chất mình yếu ớt nên đã chọn miên quyền để luyện công, như ông từng viết trong lời thiệu bài Hùng kê quyền: “Nhu cương cường nhược tận kỳ trung”, nghĩa là mềm, cứng, mạnh, yếu đều đưa hết ra dùng.
Quyền lợi hại ở chỗ có thể không để dấu tích bên ngoài nhưng lại gây chấn thương mạnh bên trong, nếu đánh vào các yếu huyệt có thể làm đối phương chết ngay hoặc mang trọng bệnh mà không tìm ra người biết cách giải huyệt thì không cứu chữa được.
Những thế quyền tinh hoa của Bình Định, Tây Sơn được đúc kết thành các bài thảo bộ nhằm giúp người tập luyện nhuần nhuyễn và hoàn chỉnh từng chiêu thức. Đất Bình Định có các bài quyền nổi tiếng như Thần Đồng, Ngọc Trản, Lão Mai, Lão Hổ... Ngoài ra, các võ sư tiền nhân còn nghiên cứu từ các loài vật trong tự nhiên, sáng tạo thành những bài hình tượng quyền như Ngũ cầm quyền (long, hổ, báo, xà, hạc), Linh miêu hý thử, Kim xà xuất động, Kim báo quyền, Mãnh hổ xuất sơn...
Trong diễn võ, so tài, các tay quyền thường thi triển các chiêu thức vừa đầy uy lực vừa đẹp mắt, tuân theo các bài bản mẫu mực cốt để phô trương tuyệt học, công phu vi diệu. Trong chiến đấu chuyện bài bản không còn là quan trọng, mà mục đích chính là áp đảo, thậm chí sát thương đối thủ để giành phần thắng nhanh nhất.
3- Nhạc võ Tây Sơn
Tương truyền Tây Sơn tam kiệt đặt ra nhạc võ để luyện quân và khiển trận. Trong luyện tập, tiếng trống sẽ giúp người đánh võ không bị lạc chiêu thức. Trong giáp chiến, tiếng trống không chỉ là hiệu lệnh giục giã ba quân mà còn là chiến thuật tâm công đánh vào tâm lý của quân thù, góp phần làm nên thắng lợi.
Dàn nhạc võ Tây Sơn xưa gồm mười sáu trống chiến, ngoài ra còn có tù và, kèn, chiêng, phèng la… là những nhạc cụ hỗ trợ. Trống chiến là linh hồn của nhạc võ. Khi đánh trống, hai bàn tay cầm dùi trống của nghệ nhân phụ trách mười hai chiếc, bốn chiếc còn lại đánh bằng hai gót chân và hai khuỷu tay.
Dàn nhạc võ Tây Sơn ngày nay vẫn gồm đủ trống chiến, kèn bóp (hay kèn xô-na), chiêng, phèng la, nhưng chỉ còn mười hai trống, tượng trưng cho thập nhị địa chi (Tý, Sửu, Dần, Mão...), xếp thành ba bậc trên giá đỡ, ứng với triết lý tam tài (Thiên - Địa - Nhân).
Nhạc võ Tây Sơn có hai phần: nhạc và võ. Phần nhạc được phối âm dựa trên tiết tấu chủ đạo của trống chiến trên nền âm cổ truyền, chia thành ba hồi: xuất quân, xung trận - công thành và ca khúc khải hoàn. Tiếng trống cất lên, hồn thiêng sông núi vọng về trong tiếng gió lướt, tiếng quân đi, tiếng vó ngựa thần tốc trên đường thiên lý. Khúc công thành dập dồn vang dội như nước vỡ bờ, vun vút tên bắn gươm khua, hừng hực voi gầm ngựa hí. Từ cao điểm, chợt điệu nhạc trầm xuống như lời tưởng niệm vong hồn tử sĩ rồi chuyển sang khúc khải hoàn tươi vui rộn rã. Phần võ là thủ pháp đánh trống, thực chất gồm những thế võ liên hoàn. Người đánh trống ngày nay dẫu có nhập hồn vào nhạc võ thế nào, cũng chỉ là nghệ nhân biểu diễn một bộ môn nghệ thuật, nhưng ngày xưa người đánh trống trận phải là người vừa am hiểu võ thuật binh pháp, vừa nhạy bén nắm bắt ý đồ của người chỉ huy để truyền đạt chính xác mệnh lệnh qua điệu trống. Động tác đánh trống, bộ pháp di chuyển cũng là một nghệ thuật tự vệ và đôi dùi trống là vũ khí, vì người đánh trống trận ngày xưa phải vừa bảo vệ mình vừa bảo vệ tiếng trống, để nhạc võ điều binh khiển trận không bị ngắt quãng. Tuy nhiên, người lính đánh trống và dàn trống trận của anh ta thường được bố trí ở trung quân, luôn được bảo vệ và hỗ trợ bởi một toán quân thiện chiến, khả năng đơn thân chiến đấu rất ít khi xảy ra.
Nhạc võ Tây Sơn bây giờ đã trở thành một di sản văn hoá độc đáo, một nghi thức truyền thống không thể thiếu trong các kỳ tế lễ ở Tây Sơn nói riêng và Bình Định nói chung, nhất là trong các dịp quan trọng như lễ hội kỷ niệm chiến thắng Đống Đa, lễ kỵ Tây Sơn Tam kiệt, lễ kỷ niệm sinh nhật, lễ giỗ Quang Trung hoàng đế, lễ cúng từ đường Bùi Thị Xuân, lễ cúng từ đường Võ Văn Dũng, lễ giỗ tổ tại các làng võ. Tại Bảo tàng Quang Trung có một đội nhạc võ chuyên biểu diễn trống trận để phục vụ các lễ tiết và phục vụ du khách.
4- Kỳ võ:
Kỳ võ là phép dùng cờ lệnh để điều khiển trận đánh theo hiệu lệnh của người chỉ huy. Cũng như người cử nhạc võ, người sử dụng kỳ võ phải giỏi võ thuật lẫn binh pháp. Múa cờ không đơn thuần là phất cờ, mà còn là một nghệ thuật đòi hỏi cả sức mạnh lẫn sự uyển chuyển trong thân pháp của người thực hiện.
Trên chiến trường, nơi xảy ra cuộc chiến một mất một còn giữa hai bên với bao nhiêu giáo mác cung tên, người lính cầm cờ trong tay không tấc sắt. Thế nhưng người lính cầm cờ là mục tiêu dễ nhận thấy nhất và cũng là mục tiêu mà kẻ thù muốn triệt hạ nhanh để áp đảo tinh thần phe đối địch. Sự hiện diện của người cầm cờ có quan hệ mật thiết với cả cánh quân. Lá cờ phất phới tung bay trong gió tượng trưng cho Hồn nước. Trừ khi bị trúng tên đạn, còn nếu bị tấn công theo kiểu xáp chiến thì người cầm cờ có thể dùng cờ làm vũ khí- rút cán tre làm côn, còn lá cờ dệt bằng sợi bông vải hay sợi thao càn khi cần có thể nắm chéo vung ra giật về như một nhuyễn tiên.
5- Y thuật:
Giới võ học nghiên cứu rất kỹ khoa học về thân thể con người, từ xương cốt, cơ bắp, lục phủ ngũ tạng, hệ thống các huyệt đạo. Chính vì vậy mà người nắm chắc võ lý, võ thuật thường hiểu kỹ về y thuật.
Hầu hết các võ sư đều biết các bài thuốc chữa trật gân, sai khớp, gãy xương. Phổ biến là những võ sư biết thuốc để tự chữa cho mình, cho người nhà và học trò. Có những trường hợp các võ sư chuyên tâm nghiên cứu sâu về y thuật để hành nghề như Hương kiểm Mỹ, Bầu Năm, Trần Dần ở An Vinh. Hương kiểm Mỹ giỏi về thuật bó xương, nhiều ca gãy xương hiểm hóc tới đâu qua tay ông cũng khỏi. Ông Bầu Năm giỏi về mổ xẻ, đã vá môi cho Hương kiểm Cáo khi ông này đấu đài đánh đối phương sụt sườn mỡ, còn mình bị sứt môi. Hiện nay nổi tiếng về thuật bó xương ở Thuận Nhứt có ông Mai Súng. Nhiều bác sĩ ngoại khoa nghe đồn về ông đã tìm tới nơi để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm.
Y thuật trong làng võ bị chi phối bởi các quy tắc và kinh nghiệm gia truyền, đại thể thì giống nhau nhưng trong nghe, khám, chẩn, bốc có sự khác nhau từ khả năng cảm ứng, điều trị đến gia giảm vị thuốc, lượng thuốc. Dược liệu cũng xoay vần thuốc nam, thuốc bắc, các bài thuốc địa phương kết hợp với việc ứng dụng các bài thuốc trong và ngoài nước và các phương thức day, nắn, bóp, bấm huyệt, châm cứu… Công phu nghiên cứu kiến thức võ thuật và y thuật, cũng như sự tinh tế và mẫn cảm của từng ông thầy võ đã quyết định thành công và danh tiếng của họ.
Theo Báo Bình Định
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 19 phút và 43 giây -----
Ai đã xem phinm truyền hình Đường Đời trên VTV3 chưa ? Nhân vật chính là Hải, tức:
Võ sư Nguyễn Hữu Khai và môn phái Bảo Long y võ
Mọi người biết đến ông không chỉ là một thầy thuốc giỏi, có trình độ, một nhà quản lý tài ba với những thành tựu nổi bật trong sản xuất kinh doanh mà ông còn nổi tiếng từ Bắc vào Nam trên cương vị là một võ sư với hàng ngàn môn đệ trong và ngoài nước. Ông là Võ sư, Tiến sỹ Y học Nguyễn Hữu Khai - Phó Chủ tịch Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, Tổng Giám đốc Tập đoàn Đông dược Bảo Long.
Có lẽ những ai được chứng kiến ông biểu diễn Võ cổ truyền một lần sẽ không thể không trầm trồ, thán phục trước trình độ võ thuật của ông và lại càng không thể tin năm nay ông đã ngoài 50 tuổi, bởi thể hình còn rất cường tráng và săn chắc.
http://vocotruyen.vn/images/image/thietphuccong.jpg
Võ sư Nguyễn Hữu Khai (bên phải) đang biểu diễn màn "Thiết phúc công"
Ngay từ nhỏ, ông đã có niềm đam mê y học và võ thuật nên bất cứ ở đâu, lúc nào có cơ hội được tiếp xúc với 2 mảng kiến thức, lĩnh vực này là ông lại bỏ công nghiên cứu và thu thập. Nhiều bộ giáo trình về võ thuật và y học đã được ông biên soạn công phu, trở thành "kim chỉ nam" cho hàng ngàn võ sinh của môn phái Bảo Long y võ học và tập luyện đạt kết quả cao, cũng như dành cho những người yêu thích môn võ này có thể tự tập luyện, tăng cường sức khoẻ cho bản thân.
Môn phái Bảo Long y võ do ông sáng lập được chắt lọc từ những tinh hoa của võ cổ truyền dân tộc, lấy việc rèn luyện sức khoẻ và ý chí làm trọng. Hình thức kết hợp chữa bệnh bằng thuốc và võ thuật đã đem lại kết quả bất ngờ và là một phương pháp hiếm thấy từ xưa tới nay. Bản thân ông dù bận "trăm công nghìn việc" vẫn thường xuyên rèn luyện võ nghệ, ngoài việc nâng cao công lực cho mình ông còn dùng nó để chữa bệnh. Ông luôn căn dặn các võ sinh rằng: "Muốn trở thành người có võ công giỏi, trước hết cái tâm phải sáng, phải biết kết hợp giữa võ với tâm đạo, với thuốc để trị bệnh".
Ngày 20/10/2007, tin vui lại đến với phong trào võ thuật cả nước, trường phổ thông võ thuật đầu tiên của Việt Nam mang tên Bảo Long chính thức ra mắt tại xã Cổ Đông, TP Sơn Tây, Hà Tây. Đây là một mô hình đào tạo mới nhất trong hệ thống giáo dục phổ thông năng khiếu Việt Nam. Trường Phổ thông võ thuật Bảo Long có mô hình đào tạo đa dạng cả về văn hoá lẫn võ thuật. Về văn hoá, các em học sinh được học đầy đủ giáo trình phổ thông theo quy định của Bộ GD-ĐT, sau khi tốt nghiệp cấp học THPT đủ điều kiện thi vào các trường đại học và các trường đào tạo nghề. Về võ thuật, những em có năng khiếu tiếp tục được huấn luyện trở thành những vận động viên tham dự các giải đấu và trở thành HLV, võ sư trong tương lai. Với học sinh mới, nhà trường miễn toàn bộ học phí một năm cho các võ sinh đã đoạt Huy chương vàng tại các giải trẻ và giải vô địch võ cổ truyền toàn quốc. Trong suốt quá trình học các em được tham gia đội tuyển thi đấu tại các giải quốc gia, tiếp tục giành được Huy chương vàng năm nào thì lại được miễn học phí năm đó, giành Huy chương bạc thì được miễn học phí nửa năm.
Khi được hỏi thêm về bí quyết phát triển phong trào tập luyện thể thao của Tập đoàn Đông dược Bảo Long, ông Khai cho biết: "Là thầy thuốc tôi luôn lấy sức khoẻ làm trọng, tôi muốn tất cả mọi người đều được khoẻ mạnh, những người làm việc với tôi cũng cần có một thể chất khoẻ mạnh, cường tráng, một ý chí, nghị lực kiên cường. Thể thao sẽ giúp họ làm được điều đó".
Có lẽ chính vì mục tiêu ấy mà ông cùng với ban lãnh đạo của Tập đoàn Đông dược Bảo Long đã đầu tư xây dựng 2 sân Bóng đá, 01 sân Quần vợt, một khu nhà nghỉ cao tầng với đầy đủ tiện ghi sinh hoạt cần thiết cho hàng trăm VĐV, HLV về tập huấn và thi đấu. Hội trường đa năng của Trung tâm với diện tích 1.500m2 là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động vui chơi thể thao, văn hóa cho các VĐV... Đến nay, ngoài võ thuật, Tập đoàn Đông dược Bảo Long đã phát triển được phong trào tập luyện thể thao rộng khắp, đa dạng về số môn như: Bóng chuyền, Bóng bàn, Cầu lông, Bóng đá, Quần vợt.., đồng thời đây cũng là một trong những đơn vị thường xuyên tài trợ cho các giải thể thao thành tích cao, cung cấp nhiều VĐV cho đất nước tham dự các giải đấu trong nước và khu vực.
Với những cống hiến cho Y học và Võ thuật, Võ sư, Tiến sỹ Y học Nguyễn Hữu Khai đã vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng về thành tích đóng góp vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ Quốc, Bằng Lao động sáng tạo của Tổng liên đoàn Lao động (năm 2000); Huy chương “Vì sự nghiệp chữ thập đỏ” (năm 2002); huy chương “Vì sức khỏe nhân dân” của Bộ Y tế (năm 2003); huy chương vì sự nghiệp thể thao của Ủy ban Thể dục thể thao (năm 2004) và giải thưởng chân dung Bạch Thái Bưởi (biểu tượng nhà doanh nghiệp giỏi năm 2004).
theo Hoa Hường
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 26 phút và 2 giây -----
Nguồn http://www.binhdinhffc.com/diendan/viewtopic.php?f=23&t=463
Nếu bạn đã từng say mê kiếm hiệp Kim Dung , Cổ Long …. với những tình tiết gay cấn , những chiêu thức độc đáo cùng các đạn hiệp lừng danh thì tôi chắc rằng bạn cũng sẽ hết sức hứng thú khi đọc những giai thoại hết sức ly kỳ nhưng cũng thật gần gũi và giàu nhân tính được lượm lặt dưới đây về các cao thủ võ lâm của Bình Định , của người Việt Nam và cả thế giới
Giai thoại võ Bình Định
Lão Khanh năm 1971 , đang bị gãy 2 cánh tay...còn đang băng bột , đã nhảy lên lôi đại tụi Đại-Hàn và trưỚc khi đánh , ông dơ 2 cánh tay bị gãy còn đang bó bột lên mà nói cùng ban khám giảo rằng :
- 2 tay tôi đang gãy , nhưng chút nữa đây , tôi sẽ đánh thằng Mỹ Đen có bát đẳng Thái Thực Đạo sẽ gãy 2 tay...y như tôi vậy !
Dĩ nhiên là không ai tin ? Nhưng dân Bình-Định thì bán tin bán nghi vì ai cũng biết Lão Khanh chính là đồ đệ duy nhất của ngài Hương Bộ , tuy là đang gãy 2 tay nhưng...chắc chi đã thua..
...
Khi trọng tài dộng quả chuông cho 2 đối thủ so găng...
Lão Khanh hét to lên một tiếng khủng khiếp và xuống bộ 2 tay gãy x và rồi lên bộ 2 tay x ( gạt) chân giả - Đá quét ngựa lui xoay lưng đá ( giả) nhảy tới dùng cùi chỏ tay hốt ngựa và đánh móc cùi tay , dập chỏ chim ném thằng Mỹ bát đẳng bay ra khỏi loi đài té dập xuống đồng đội ở hàng ghế khán giả có cấp tá Mỹ , ViệT và quân đội Đại-Hàn...tham dự , đã làm tên Mỹ Đen gãy đúng 2 tay y như lời Lão Khanh nói...
Cả đồng đội Mỹ ôm bạn mình mà...khóc. Không còn ai dám thuợng đài. Lão Khanh bèn giơ cao 2 cánh tay băng bột mà hét lớn :
- Bữa nay ta chỉ quýnh giỡn thôi , từ nay về sau còn ai khiêu chiến Võ Bình-Định thì ta sẽ quýnh chết không tha !
(Theo lehavu http://www.binhdinhffc.com/diendan)
Lão Khanh lúc bây giờ ( 1990) cũng đã ngoài 60...đêm khuya đi ăn giỗ về say chuệnh choạng , đi siểng tảng bờ đê , gặp phải thằng nhỏ đánh trâu về chuồng...
cản lối đi , vì Trâu đi thành đàng trước sau và thường hay nhai cỏ...bên rào nếu thích , cà nhẩn nhơ nên Lão Khanh liền quát lớn :
- ***** Mẹ thằng nhóc , mầy mau quánh nó sang bên cho tao đi , không tao đá chết nó bi giờ !
Thằng nhóc vô cớ bị chửi , lại ỷ mình cũng là con cháu Thầy Du ( đệ tử 2 Tửu ), tên tuổi lừng lẫy đất Phú Yên chứ giỡn sao , nó liền ngồi ngay ngắn lại trên lưng trâu mà thách đố :
- Ông có giỏi thì đá chết nó đi !
Lão Khanh bị chạm tự ái , rụ say vẫn còn...liền cong chân đá vào bụng con trâu nghe kêu cái " bịch " , con Trâu to lớn gần 200 kí quỵ gối đùng ra tắt thở sùi bọt nhãi...
Nhìn con Trâu chết , Lão Khanh nói :
- Mầy dám thách đố dân Bình-Định à , con Trâu này chết là do mầy nói đó biết chưa?
Thằng nhỏ hết hồn... bỏ trâu mà chạy về nhà kêu Tổ Ngoại la ơi ới :
- Ngoại ơi , có thằng cha Võ Bình-Định say rụ đá chết trâu nhà mình...
...
Thầy Du dáng người nhỏ con , ốm tong teo...cười nói :
- Thắng nào mà đá chết trâu , nếu vậy là cao thủ rồi , mầy có muốn coi thì theo coi tao sẽ quánh cho nó gãy chân...để nó phải bò về Bình-Định , sẽ biết tao là ai !
Trận đấu của Thầy Du và Lão Khanh cũng xảy ra trong chớp nhoáng , Thầy Du ra đến bờ ruộng thấy Lão Khanh đang chửi rủa lầm bầm cùng với mấy tên bạn già cặp kè...
Thầy Du đã nhận ra đây là Lão Khanh , tên tuổi lừng lẫy và là chưởng môn phái Hương Kiểm Mỹ ở An Thái , ( Lão Khanh là thầy của võ sư Đinh Văn Tuấn ), biết đây là đối thủ lợi hại , nếu không lợi dụng hắn đang say , dễ dâu gì đánh bại được hắn , lâu nay Sư Phụ mình Hai Tửu cũng chỉ được xếp ngang hàng cùng Thầy với hắn mà thôi....
Nếu không vì thương tiếc con Trâu , và vì mặt mũi....thì Thầy Du chắc chắn là không muốn đấu gian kiểu này , vừa nghĩ là chân Thầy Du lướt nhanh theo thế công ngựa tam giác chiến Kim Tự Tháp...lướt nhanh trên cỏ áp đảo Lão Khanh từ xa....
Lão Khanh tuy là say , nhưng cũng nhận ra người lạ mặt đang đánh thi triển tuyệt chiêu ,. Lão liền dùng Ngưu Thanh Mã Bộ mà thối lùi rồi nhanh như cắt tiến lên , cả hai dùng tấn tí ngọ mà thi triển 1 chiêu duy nhất bằng tất cả nội lực , đó là 2 quả đấm thôi sơn đụng nhau qua chiêu Pháo Quyền , đâY là 1 môn võ thất truyền trong giang hồ lâu năm , lần đầu tiên cả 2 võ sư đất An Thái thi triển giữa ruộng , 2 quyền đụng nhau 1 tiếng nổ bùng to dội 2 triền núi xa xa vang lại làm chấn động tâm thần Lão Khanh trong 3 giây...thất thần , chỉ trong 3 giây ngẩn ngơ là tiêu rồi , tiếng Thầy Dui thét lớn :
" Giết "
Thầy Du đã trụt bộ Đồng Tử Bái Quan âm dùng tay kia chặt vào đùi Lão Khanh và đánh bay ra xa té sỏng soài chỏng gọng chỏng mông....
Sau tiếng thét của Thầy Du : " Giét "...
Lão Khanh sờ soạng thấy đùi mình dường như đã bị gãy , lão hoàn toàn tỉnh rụ lúc này , biết không còn đứng dậy được nữa. Lão Khanh liền quây tròn người vắt mình dậy theo thế toạ thiền vắt cái chân gãy lên gối phải và xoè tay ra , tay kia ngửa lên trời.... mời Thầy Du xuất chiêu thứ 3 ...
Thầy Du tím mặt lúc này , nói với thằng nhỏ :
- Mầy kêu hàng xóm ra mổ trâu và chia nhau cho cả làng ăn đi.
Thầy Du không nói nữa , tay vẫn còn nắm cú và để sau lưng , quày lưng bỏ đi và nói trỏng cùng Lão Khanh :
- 3 tháng sau Lão Phu sẽ đi An Thái thăm Ngài !!!
Lão Khanh mớI là cao thủ kỳ quặc trong làng Võ ở Bình-Định , gãy 2 tay còn lên đài , gãy chân mà còn đi khiêu chiến...
Thật ra thì Lão Khanh không có bị gãy chân , cái chiêu của Thầy Du chỉ đánh bay Lão Khanh chỏng gọng chỏng mông , cú chặt cương đao chỉ làm sút bắp chân Lão Khanh thôi , nên Lão đứng lên không được nữa cọng với say rụ nên Lão Khanh buộc phải toạ thiền đánh chiêu lưỡng bại câu thuơng ( cả 2 cùng chết ). Thầy Du chưa muốn chết , nên rút lui lặng lẽ , vì 1 cánh tay đã bị Lão Khanh phế mẹ nó rồi...
Pháo Quyền của Lão Khanh đã đấm gãy 3 ngón tay của Thầy Du lún sâu nát bét vào nửa bàn tay , tàn tật suốt cuộc đời , trở thành đại hiệp 1 tay và 2 ngón...
...
Thầy Du chỉ nói đúng 1 nửa...
Là Lão Khanh phải bò về An Thái trong ngày hôm đó , nhưng Thầy Du không ngờ nội kình của Lão Khanh đánh què tay mình luôn ( nên nhớ bàn tay của Thầy Du ngâm thuốc từ nhỏ không biết đau ) nên đánh ở trên không lại Lão Khanh , Thầy Du liền trụt bộ đánh bay Lão Khanh để mong giữ hoà....
muulinh
14-02-2008, 09:19 AM
Võ sư Hồ Ngạnh thắng Trịnh Hùng Trí
Triều đình Huế triệu Hồ Ngạnh từ Thuận Truyền (Bình Định) đến kinh đô dạy côn - quyền cho một số thanh niên hoàng tộc hâm mộ võ Bình Định. Trong số vài chục học viên của Ngạnh có một ông hoàng rất thông minhvà lúc nào cũng muốn " vét sạch tài nghệ" của thầy. Ông hoàng này tìm mưu tính kế , tạo cơ hội cho thầy mình thượng đài với các danh sư khác. Có thế mới hy vọng " học hết " được những "đòn" tuyệt đỉnh của cả hai bên! Khó khăn là ở chổ biết chọn ai mới tương xứng với tài nghệ siêu đẳng của thầy ! Trong những người hành nghề Sơn Đông mãi võ hiện đang có mặt tại chợ Đông Ba, có một võ sư thượng thặng về môn trường đao, tên là Trịnh Hùng Trí sẵn sàng nhận lời mời thi đấu của bất kỳ ai và bất cứ môn võ công gì trong " thập bát ban võ nghệ". Ông hoàng trẻ mời Trí thượng đài với thầy mình . Ngày gặp gỡ đã đến, Trịnh Hùng Trí, vị võ sư đàn anhcủa nhóm Sơn Đông mãi võ , đến chào Hồ Ngạnh với nụ cười ngạo mạn. Ngày hội ngộ đột xuất này được tổ chức tại khu chợ Gia Lạc.
Qua nữa giờ thi đấu , những người ủng hộ Hồ Ngạnh càng lo ngại vì Ngạnh hoàn toàn bị động, bởi đây là lần đầu ông đấu roi trên võ đài. Thường thì ông đấu trên những khu gò rộng - đấu bằng tất cả sức bình sanh quyết sống mái với bọn cướp của giết người chứ không khoan nhượng...hoặc cũng có khi ông dượt với bằng hữu trên những bãi cát ven sông dài - học hỏi nhau từng đòn đánh hiễm hóc sáng tạo một cách vô cùng thoải mái. Còn ở đây , bắt buộc phải hạn chế tấn công trước một đối thủ tầm cở quốc tế như Trịnh võ sư ! Ngạnh càng lúng túng , Trí càng khai thác nhược điểm ấy tấn công tới tấp. Thanh trường đao của Trí vun vút không ngớt tung ra những đòn đao lạ, dũng mãnh, rợn người. Ông hoàng hét to " xin dừng cuộc đấu", roi đã bị đao chém gãy lìa thành hai đoạn. Lập tức một thanh roi mãnh khãnh khác được ném nhanh vào tay thầy.Trịnh Hùng Trí khiếu nại " Roi bị lâm đòn triệt kích gãy lìa , tức là giây phút toàn thắng của đao đã gần kề. Tại sao không để cho đao tiếp tục sử dụng một vài đường quyết định sau đó? ".
Ông hoàng chưa biết phải trả lời sao cho ổn. Hồ Ngạnh từ tốn tỏ vẻ tán thành ý kiến của Trịnh võ sư. Ông quay người về ông hoàng như có muốn có riêng vài lời , nhưng vẫn cố ý để Trí cùng nghe: "Lần sau nếu rủi roi bị chém gãy hoặc chém rơi...cũng xin đừng bận tâm. Chỉ khi nào !...Ngạnh chưa nói hết câu sau đã nghe tiếng xé gió của đao từ sau chém tới...Bất giác, Ngạnh cảm thấy phấn khởi lạ thường vì qua đường đao "lạc lõng" này , ông phát hiện chính xác hơn về thực lực đao pháp của đối phương...đúng vào lúc cả hai đang tập trung cao độ vào các thế đánh rất lạ của nhau...thì cũng là lúc roi bị chém trúng lần nữa! Lần này roi bị chém lìa ở chỏm khoảng 30 cm. Mọi người lại hồi hộp và chăm chú nhìn theo đường bay ...nhảy múa, nhào lộn trên không của mảng roi vừa bị chém...như đang xem trò "ảo thuật"...Thật chẳng ai ngờ , chính đó là đòn "trí hoặc" của Ngạnh
Nhanh như tia chớp - phần roi dài còn lại đã biến tác dụng thành mũi dao sắc sảo , đâm xuyên qua ...chiếc thắt lưng xanh có thêu dòng chữ Hán "vô địch võ lâm" của Trí. Bằng đòn đánh gia truyền được gọi là "trí hoặc"ấy, Ngạnh đã gây cho đối thủ tài ba của mình cảm giác ghê rợn - ngỡ như bị đâm xuyên từ bụng đến sau lưng bằng chính thanh roi vừa được "mình"vạt nhọn gíup cho Ngạnh.Tay đao không tự chủ được nữa...chỉ còn chờ Ngạnh sử dụng thêm động tác dọa nữa là đoạt được ngay thanh đao khổng lồ trong tay nhà vô địch đối diện. Vâng, Hồ Ngạnh đã làm hoàn toàn đúng như thế bằng thế võ "Ưng trảo quyền" rất ngoạn mục trong tiếng hò reo của mọi người.
"Hồ Ngạnh danh bất hư truyền", Trịnh Hùng Trí đã trang trọng phát biểu như vậy sau trận đấu lịch sử này.
Nguồn http://www.binhdinhffc.com/diendan/viewtopic.php?f=23&t=463
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 2 phút và 44 giây -----
Lý Huỳnh thách đấu Lý Tiểu Long
NSƯT Lý Huỳnh vốn xuất thân là con nhà võ. Quê hương ông thuộc miền Tây Nam bộ. Từ nhỏ Lý Huỳnh đã bắt đầu tập luyện võ nghệ, Lý bái Hai yến, một võ sư phái võ cổ truyền dân tộc làm sư phụ.
Hồi ấy Lý tỏ ra có thiên khiếu về võ học. Bắt đầu bái sư từ năm 9 tuổi,3 năm sau "Thập ban võ nghệ" của thầy Hai Yến Lý đã tinh thông . Thầy Hai yấn thấy không còn gì để dạy bèn bảo Lý lên Sài Gòn tầm sư học nghệ.
Sau đó Lý theo hai thầy học võ: một vị là võ sư Quyền Anh, một vị cao thủ nội gia phái Thiếu Lâm.
Khoảng 22-23, Lý Huỳnh bắt đầu có tên tuổi ở trên võ đài. Thâp niên 60 tên tuổi của lý Huỳnh vang dội khắp lục tỉnh Nam bộ với các trận đấu để đời: Đánh bại võ sĩ Francois, nhiều năm liền Vô địch Đông Dương ỡ võ đài Tinh võ, sau đó đả bại Mạch Trung Phương - vô địch miền Trung Trung bộ..
Lý Huỳnh có biệt danh là Con báo đen của miền Tậy nam Bộ.
Sau này Lý Huỳnh còn tham gia đóng phim, hồi đấy thấy phim võ thuật của Việt Nam còn rầm rộ chứ thế hệ của ông qua rồi thì Việt Nam hầu như chẳng còn làm được những phim như thế nữa.
Tên tuổi, tài năng trên võ đài đã đưa Lý Huỳnh bước vào lĩnh vực điện ảnh
Hồi ấy màn bạc Sài Gòn bị chiếm lĩnh của loại phim action của Hồng Kông, với các diễn viên: Vương Vũ, Địch Long, Khương Đại Vệ... nhưng tên tuổi lớn nhất vẫn là người sáng lập Triệt Quyền Đạo Lý Tiểu Long
Bộ phim đầu tiên mà Lý đóng có nội dung tương tự như bộ Tinh Võ Môn của Lý Tiểu Long. Tên tuổi của Lý HUỳnh được ái mộ không kém "Con rồng nhỏ" của Trung Hoa.
Đạo diễn khét tiếng Đinh Trung (người Đài Loan) - người chĩ đạo võ thuật cho Lý Tiểu Long trong Phim Đường Sơn đại huynh, nghe tên tuổi của Lý ở Sài Gòn tìm tới cộng tác làm phim bộ phim "Cú đấm giận dữ" trong thời gian bấm máy quay, một hôm Đinh Trung đề nghị với Lý: " Ngộ thấy nị, võ công cao cường, nị cũng họ Lý. Vậy nị có dám đấu với Lý tiểu long không?"
Tự ái dân tộc,Lý Huỳnh lập tức đưa chiến thư khiêu chiến sang tận Hồng Kông, đáng tiếc thời gian này Lý Tiểu Long đang ở Hollywood đóng bộ phim cuối cùng của đời mình, sau đó ít lâu Lý Tiểu Long đột tử...
Một cái chết để lại bao thương tiếc cho khán giản hâm mộ phim võ thuật, Lý tiểu Long trở thành huyền thoại, còn họ Lý An nam bấy giờ tiếc hùi hụi khi không có cơ hội thách đấu với Lý Tiểu Long.
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 7 phút và 57 giây -----
Gặp gỡ giữa ông thầy võ Miến Điện và người học trò võ Tây Sơn
Trong nền võ thuật truyền thống của Việt Nam, Bình Định được xem là vùng đất Võ còn lưu giữ lại nhiều giá trị về võ học. Trong đó, vùng đất Tây Sơn (huyện Tây Sơn ngày nay) thời ba anh em nhà Tây Sơn tụ nghĩa còn có tên gọi là Tây Sơn hạ đạo (Tây Sơn hạ), còn Tây Sơn thượng thuộc huyện An Khê (Gia Lai). Trước kia cả hai địa phương này thuộc quận Bình Khê. Ngày nay, nói về Tây Sơn là nói đến những tinh hoa võ học và là niềm tự hào của vùng đất võ Bình Định. Sau đây là câu chuyện về võ Tây Sơn cách đây gần 40 năm (*).
1- Trong những năm đầu của thập niên 1970, sinh viên Việt Nam (VN) qua du học tại Hoa Kỳ thường vào đại học Ohio University ở Athens. Trường này có một giáo sư dạy môn kinh tế học, tên là Aung Gyi (người Mỹ gốc Miến Ðiện). Ngoài công việc dạy học, giáo sư Aung Gyi còn mở võ đường dạy võ Miến Ðiện cho sinh viên, do ông làm chưởng môn. Ngoài quyền cước, giáo sư Aung Gyi còn dạy thêm cho môn sinh sử dụng một số binh khí như kiếm, côn, song đao Miến Ðiện, đoản đao.... Sinh viên VN ghi tên vào học võ đường này khá đông vì thấy ông Aung Gyi đoạt được nhiều giải vô địch võ thuật quốc tế. Môn sinh theo học ông Aung Gyi thuộc nhiều quốc tịch. Cứ mỗi tháng chưởng môn chia từng cặp môn sinh tùy theo trình độ cho họ đấu với nhau để biết trình độ tiến bộ của từng người một. Trong hàng ngũ môn sinh VN có anh ÐVH, người cao khoảng 1m70, đô con, thích học về cách sử dụng các binh khí, nhất là song đao Miến Ðiện.
2- Có một lần, gần nghỉ hè, giáo sư Aung Gyi cho triệu tập toàn thể môn sinh về võ đường để làm lễ bế mạc khóa học. Tất cả môn sinh đều tưởng rằng sẽ có tiệc trà bế mạc năm học, không ngờ giáo sư Aung Gyi ra lệnh sẽ có cuộc đấu thử sức giữa từng cặp một và chỉ đấu quyền thôi chứ không đấu binh khí. Thế rồi từng cặp một bắt đầu giao đấu để chưởng môn cho điểm. Lúc các môn sinh tề tựu đông đủ, giáo sư Aung Gyi vẫy một anh sinh viên da đen - đệ tử "gạo cội" của ông ra đứng giữa võ đường - đoạn ông ta đảo mắt nhìn quanh một vòng và gọi anh ÐVH ra song đấu với anh sinh viên da đen. Trong hàng ngũ môn sinh Việt Nam có tiếng xầm xì với nhau chuyến này anh bạn H chắc sẽ mềm xương với ông bạn Mỹ kia, có anh bảo là giáo sư Aung Gyi thấy anh H hay vắng mặt trong các buổi luyện quyền, nên ông muốn mượn tay anh sinh viên da đen này để cảnh cáo anh H đấy thôi.
Thế rồi cuộc song đấu giữa anh sinh viên da đen và anh H. bắt đầu. Toàn võ đường im phăng phắc, mọi người chăm chú theo dõi cuộc đấu. Anh sinh viên da đen tấn công tới tấp, còn anh H thì không chịu trả đòn mà chỉ đỡ đòn hoặc tránh né rất tài tình. Cuộc đấu kéo dài đã hơn mười lăm phút mà anh sinh viên da đen vẫn không chiếm được thế thượng phong. Giáo sư Aung Gyi nổi cáu, gọi to tên anh sinh viên và bảo anh ấy là cứ đánh thực sự chứ đừng nể nang gì cả. Nghe ông Aung Gyi nhắc cho "gà nòi" của ông ta như vậy, anh H đâm ra nổi cáu, bèn nói với anh sinh viên da đen: "Anh hãy cẩn thận, tôi sắp tấn công đây". Thế rồi anh H múa quyền xáp lại gần anh sinh viên da đen và đánh cận chiến (nhập nội). Cuộc đấu trở nên sôi nổi, anh sinh viên da đen la oai oái liên hồi. Thì ra anh H đã đánh tấn công sáp sát, còn anh ta thì vô phương chống đỡ. Toàn võ đường ai cũng ngạc nhiên vô cùng vì anh H không dùng các thế võ Miến Ðiện do ông Aung Gyi dạy, mà lại sử dụng một loại võ công riêng biệt của anh ta.
Thấy tình trạng anh sinh viên da đen bí quá, giáo sư Aung Gyi bèn quát to lệnh ngưng đấu. Anh H nhẹ nhàng nhảy ra giữa đấu trường, cung tay bái tổ, rồi trở về chỗ cũ, nét mặt rất thản nhiên như không có gì mệt nhọc cả. Giáo sư Aung Gyi cởi áo choàng ngoài, bước ra giữa đấu trường, đưa tay vẫy anh H và bảo anh hãy dượt với ông vài hiệp.
3- Tuy chưởng môn bảo vậy, nhưng khi giao đấu anh H vẫn cứ thủ lễ, tránh né. Giáo sư Aung Gyi quát to là cho phép anh H đừng nể nang gì cả. Khi nghe chưởng môn nhắc, anh H mới bắt đầu đấu thực sự. Lần này anh không nhập nội, xáp lại gần và đánh cận chiến như khi anh đấu với anh sinh viên ban nãy, mà dùng chân đá vào người giáo sư Aung Gyi nhiều hơn là dùng tay. Ðấu được một chốc thì anh H đổi thế đánh, xáp lại gần ông Aung Gyi và dùng các đòn tay hết sức nhanh, khiến ông này muốn tránh đòn đành phải lui dần. Khi ông thầy bị dồn gần tới chân tường thì anh H bổng nhảy ra khỏi cuộc đấu, vung tay bái tổ, cúi đầu chào sư phụ. Toàn thể môn sinh có mặt tại võ đường hôm ấy, đều nhận thấy nếu anh H đấu thật sự, thì ông thầy cũng chung số phận như anh chàng sinh viên.
4- Sau khi khoát chiếc áo choàng, chưởng môn Aung Gyi tiến về phía đám môn sinh Việt Nam, đoạn đến trước mặt anh H và tươi cười hỏi là anh đã sử dụng môn võ gì để đấu với ông. Ông thú thật là mình không nhận ra được nguồn gốc của môn võ đó, môn võ tinh diệu quá cỡ. Ông yêu cầu anh H cho ông ta biết xuất xứ của môn võ ấy. Anh H cung kính trả lời rằng đó là môn võ Tây Sơn của Việt Nam, do vua Quang Trung - Nguyễn Huệ dùng để huấn luyện quân đội Tây Sơn chống lại quân Thanh dưới triều đại Mãn Thanh (Trung Quốc). Giáo sư Aung Gyi hỏi anh H tại sao anh đã biết võ rồi mà còn ghi tên vào võ đường của ông. Anh H cho biết là vì anh chưa bao giờ thấy được con dao Miến Ðiện nên anh mới ghi tên vào học để biết vì con dao Miến Ðiện không có sống dao mà có hai lưỡi, chắc sẽ vô cùng nguy hiểm cho đối thủ khi lâm trận. Giáo sư Aung Gyi không nói gì, nhưng nét mặt của ông có vẻ đăm chiêu...
Sau kỳ nghỉ hè năm ấy, vào ngày tựu trường giáo sư Aung Gyi cho biết là ông vừa du hành qua VN trong ba tháng hè qua, và chuyến đi vô cùng lý thú, nhất là ông đã có dịp tìm hiểu và học hỏi một môn võ học mà ông cho là một trong những môn võ thuật hay nhất hoàn cầu, nhưng rất đáng tiếc là đã bị thất truyền.
Ông Aung Gyi cho biết ông đã đi tham quan tỉnh Bình Ðịnh với mục đích tìm hiểu nguồn gốc môn võ Tây Sơn. Ông đã đến quận đường Bình Khê và được chính quyền sở tại đưa đến nhà của một cụ già khoảng 80 tuổi mà theo giới thiệu là một trong những vị võ sư giỏi võ Tây Sơn nhất trong vùng. Ông cụ tuy đã 80 tuổi nhưng trông còn khang kiện và quắc thước lắm, ông tiếp đãi ông Aung Gyi rất là niềm nở và và hứa sẽ giúp sưu tầm và học hỏi về võ Tây Sơn trong phạm vi hiểu biết của ông. Ông cụ nói với ông Aung Gyi vào tối ngày rằm tại sân nhà của ông sẽ tổ chức một buổi biểu diễn võ Tây Sơn của những võ sinh trong vùng, để đánh dấu sự có mặt của một người khách quý từ phương xa đến viếng thăm linh địa Bình Khê, nơi sinh trưởng của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ.
2- Đêm rằm đã đến. Trời vừa sẩm tối, vừng trăng vừa ló dạng ở chân trời, tại sân nhà ông cụ các môn sinh của một số võ sư trong vùng tề tựu đông đủ. Mọi người muốn nhìn thất một người Mỹ gốc Miến Ðiện đến tận Bình Khê - quê hương của vua Quang Trung để tìm tòi học hỏi môn võ thuật do vua Quang Trung truyền cho binh sĩ đã đánh tan mấy chục vạn quân Thanh trong trận Ðống Ða. Khi trăng lên tới đầu ngọn cây thì cụ già ra lệnh tập hợp và các võ sinh đứng bao quanh cái sân dùng để phơi lúa của nhà cụ. Võ sinh nào cũng có mang theo binh khí sở trường của họ, phần lớn là loại võ khí dùng trong trận mạc như: gươm, giáo, đao, côn, kiếm, thương. Rồi ông cụ gọi từng người một ra giữa sân biểu diễn, hoặc quyền cước hoặc binh khí mà họ mang theo. Thỉnh thoảng cụ lại chỉ định từng cặp một ra song đấu.
Có hai thứ binh khí mà ông Aung Gyi lưu ý nhất và cũng được ông cụ giảng giải tường tận trong khi biểu diễn là "Tề mi côn" và "Song đao". Theo ông cụ, đó là hai loại khí giới được quân Tây Sơn dùng để phá tan kỵ binh của quân Nhà Thanh. "Tề mi côn" là một cái gậy tròn, dài ngắn tùy theo tầm vóc người sử dụng, và khi chống xuống đất, đầu côn phải ngang chân mày của người xử dụng côn. Khi lâm trận mà gặp kỵ binh địch xung phong thì người bộ binh dùng côn của mình để đánh và gạt quân địch ngồi trên mình ngựa rớt xuống đất, đồng thời bảo vệ luôn cho đội quân cầm song đao - đang nằm lăn dưới đất để chặt đứt chân ngựa. Phải thấy được các võ sinh Bình Khê biểu diễn song đao trong khi họ nằm lăn dưới đất để chặt chân ngựa của địch, mới hiểu được tại sao quân Tây Sơn đại thắng quân Thanh trong trận Ðống Ða, vì họ đã triệt hạ được tiềm lực xung kích mạnh bạo của đoàn kỵ binh nhà Thanh. Và sau khi đánh tan lực lượng kỵ binh địch rồi, thì đội binh cầm song đao đứng lên và dùng võ khí của mình đánh cận chiến như vũ bão để tiêu diệt địch quân.
Khi trời đã về khuya và vừng trăng đã lên quá đỉnh đầu, thì ông cụ bước thủng thẳng ra giữa sân và dõng dạc bảo các võ sinh cầm võ khí, hãy cùng đồng loạt xông vào tấn công cụ. Lúc này ông cụ gỡ chiếc khăn đầu rìu mà cụ thường hay quấn trên đầu xuống làm binh khí. Các võ sinh nhất tề xông vào tấn công. Riêng cụ thì như con bươm bướm thoăn thoắt lượn qua lượn lại trong rừng binh khí, dùng chiếc khăn đầu rìu thâu tóm ráo trọi võ khí của các võ sinh trong chốc lát. Thật là kỳ diệu...
3- Giáo sư Aung Gyi lưu lại quận lỵ Bình Khê gần một tháng và có lần ngỏ ý với ông cụ xin được đấu thử quyền thuật với một vài võ sư thuộc môn phái Tây Sơn. Ông cụ chỉ mỉm cười rồi bảo: "Xin ông chớ vội nôn nóng, để rồi tôi sẽ thu xếp sau". Nhưng hình như ông cụ không muốn cho ông Aung Gyi đấu quyền với bất cứ võ sư nào trong quận Bình Khê vì sợ lỡ có chuyện gì thì xảy ra phiền phức. Tuy nhiên, cũng có lần trên đường du ngoạn xe theo quốc lộ 19 ông Aung Gyi dừng xe gần bên cái lô cốt của đòn lính, tình cờ ông gặp một anh lính địa phương có tham dự buổi họp mặt tại nhà cụ già đêm rằm vừa qua. Anh này giới thiệu ông Aung Gyi với hai người khác: một người trẻ khoảng 30 tuổi và một người lớn tuổi hơn (khoảng năm mươi). Qua câu chuyện ông Aung Gyi cho họ biết mong ước của mình trước khi rời Việt Nam trở lại Hoa Kỳ là muốn được giao đấu quyền thuật với một vài võ sư thuộc môn phái Tây Sơn, để có dịp so sánh trình độ võ thuật Miến Ðiện đối với võ thuật Tây Sơn. Mục đích của ông Aung Gyi là muốn tìm hiểu môn võ Tây Sơn độc đáo mà ông chỉ mới nhìn thấy các võ sinh biểu diễn. Nghe yêu cầu của ông Aung Gyi (qua người thông ngôn) anh thanh niên bèn hướng mặt về phía người đàn ông lớn tuổi hơn và nói: "nếu ông muốn tìm một người biết võ Tây Sơn để ấn chứng võ thuật Miến Ðiện thì ông người đang ngồi trước mặt chúng ta đây". Ông Aung Gyi đã đưa cho mọi người xem giấy cam kết bảo đảm cho người tỷ đấu với ông ta khỏi gặp khó khăn khi ông ta không may bị thương.
Sau khi hai bên đã thống nhất cuộc tỉ thí, người đàn ông lớn tuổi hơn cùng với ông Aung Gyi và người thông ngôn xuống thung lũng dưới chân lô cốt để tỉ võ. Thung lũng này có một con rạch chảy lượn theo sườn núi và có một cây cầu gỗ bắc ngang qua, dài độ hơn mười thước. Ông Aung Gyi chọn cây cầu này làm nơi giao đấu và người đàn ông đồng ý.
Cuộc tỷ võ bắt đầu. Trong cuộc đấu gần nửa tiếng đồng hồ mới đầu hai bên chỉ thăm dò, cho đến khi người đàn ông ra tay thực sự thì chỉ bằng một cú đá đã "đưa" ông Aung Gyi xuống dưới rạch. May mà mùa hè, nước cạn nên ông Aung Gyi chỉ bị ướt sũng quần áo. Giáo sư Aung Gyi cho biết: "Trong cuộc đời võ nghiệp của tôi, đây là lần đầu tiên tôi bị hạ một cách nặng nề như vậy, nhưng tôi không lấy đó làm buồn vì võ Miến Ðiện của tôi làm sao có thể so sánh được với võ thuật Tây Sơn! Cũng may là đi đâu tôi cũng mang theo cái túi đựng quần áo, nhờ vậy mới có áo quần khô để thay trước khi trở về quận đường Bình Khê". Sau vụ tỉ võ này, ngày ngày ông Aung Gyi thường hay đến nhà cụ già để nhờ cụ chỉ vẽ thêm về võ công và nghe kể chuyện về võ thuật Tây Sơn.
4- Trước khi rời Việt Nam để trở lại Hoa Kỳ, ông Aung Gyi yêu cầu ông cụ giới thiệu cho ông được tỉ đấu với một môn sinh của cụ để ông biết được trình độ võ thuật của mình tới mức nào. Ông cụ vì nể giáo sư và giới thiệu một võ sư có tiếng tăm trong quận Bình Khê. Cuộc tỉ thí diễn ra trong một đêm trăng tròn tại sau vườn nhà của ông cụ. Trước khi vào trận, ông cụ dặn riêng ông Aung Gyi là ông bạn sắp tỉ võ với một người rất lợi hại về cú đá liên hoàn, nên ông phải cẩn thận lưu tâm. Khi vừng trăng vừa lên khỏi đỉnh đầu thì vị võ sư được chỉ định đến và cuộc giao đấu bắt đầu ngay sau đó. Hai chúng người đều đi chân đất và cao bằng nhau, nhưng ông Aung Gyi có vẻ đô con hơn vị võ sư kia. Sau khi quần thảo một lúc, bỗng nhiên vị võ sư thay đổi lối đánh, loan quyền thật nhanh làm cho ông Aung Gyi hoa mắt, rồi phóng cước đá qua đầu ông. Ông Aung Gyi tránh được cước đầu thì cước thứ hai đến ngay giữa trán, ngọn cước tuy nhẹ nhưng cũng làm cho ông bị thương. Ngay trong lúc đó cụ già nhảy ngay vào giữa hai đối thủ và hô dừng đấu. Ông bạn võ sư chạy đến ôm ông Aung Gyi xin lỗi rối rít, còn ông Aung Gyi thì khen võ sư có cú đá tuyệt vời, ít người sánh kịp. Sau đó, ông cụ lật đật đi lấy thuốc gia truyền để rịt vết thương trên trán ông Aung Gyi.
Nói chuyện với môn sinh tại Mỹ, giáo sư Aung Gyi lấy tay chỉ cho các môn sinh thấy vết thương nơi trán của ông như để nói rằng ông đã đến nơi "chôn nhau cắt rốn" của Vua Quang Trung, học hỏi được nhiều cái hay cái lạ của võ thuật Tây Sơn, được dịp tỉ võ hai lần với môn sinh võ này và đều bị thua cả hai, nhưng ông vẫn hãnh diện vì võ Tây Sơn là một môn võ thuật huyền diệu nhất thời nay.
Thanh Trúc
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 11 phút và 9 giây -----
Tên Tuổi Các Lão Võ Sư Trong Làng Võ Việt Nam
CÁC VỊ VÕ SƯ LÃO THÀNH ĐÁNG KỂ
(Theo lehavu trên http://www.binhdinhffc.com/diendan)
Năm 1850 – 1974: Thầy Cử Nhân Võ Triệu Thúc Lang, về sau ở quận Dương Đông, đảo Phú Quốc. (Thầy sống 124 tuổi).
Năm 1870 – 1958: Thầy Võ Dựt, hiệu là Năm Nghĩa, người ở làng An Dinh, quận Bình Khê.
Năm 1880 – 19 ??: Thầy Cử nhân Võ Trương Trạch, ở Bình Định.
Năm 1880 – 196?: Thầy Hai Cụt, ở làng Cẩm Thượng, Bình Định.
Năm 1880 – 196? : Thầy Ba Cát (Nguyễn Văn Cát) ở Qui Nhơn.
Năm 1880 – 197? : Võ sư Năm Soai, ở Bạc Liêu, giỏi về quyền cước.
Năm 1885 – 196? : Các vị võ sư Sáu Khá, Tư Cống, Hai Sình, người ở Bạc Liêu, giỏi về quyền cước
Năm 1889 – 1928: Thầy Lê Văn Bái, hiệu là Hàn Bái, thân phụ của ông là một võ tướng, chức Lãnh Binh của triều đình Huế. Oâng thất lộc vào mùng 6 tháng 3 âm lịch, năm 1928. Oâng đã đào tạo được một số cao đồ như: Nguyễn Văn Đắc, ông Quỳnh, ông Giãn, Viêu Khang và Vũ Bá Oai. Về sau, chỉ có võ sư Vũ Bá Oai làm rạng rỡ cho môn phái, và đã rèn luyện được một số học trò đáng kể như: Đỗ Dư Ánh, bác sĩ Nguyễn Anh Tài, Trương Minh Lắm ở Bến Tre, và Lê Bất Trị ở Tây Ninh... Năm 1950, võ sư Vũ Bá Oai đã thành lập Hàn Bái Đường tại Sài Gòn.
Năm 1890 – 197? : Thầy Hồ Nhu, hiệu là Hồ Ngạnh, làng Thượng Truyền, quận Bình Khê, giỏi về côn pháp.
Các Thầy Đoàn Phong, và thầy Tàu Sáu ở quận Bình Khê, giỏi về quyền cước.
Võ Sư Quách Văn Kế, giỏi về quyền cước, là sáng tổ của môn phái Lam Sơn Võ Thuật Đạo, sau khi cụ qua đời, con trai là võ sư Quách Văn Phước kế nhiệm chức Chưởng Môn võ phái.
Thầy Bảy Nếp, người quận Cần Đước, nam Việt Nam, về sau là cư sĩ tại tỉnh Gia Định.
Võ sư Chính Hóa là sáng tổ của võ phái Tây Sơn Nhạn, về sau, học trò lớn của cụ là võ sư Kim Kê (Đặng Văn Anh) kế nhiệm chức vụ Chưởng môn võ phái, và võ sư Nguyễn Văn Mách là phó chưởng môn.
Năm 1897 – 197 ? : Thầy Trương Thanh Đăng, hiệu là Sa Long Cương, người ở Phan Thiết. Năm 1925, bắt đầu dạy võ ở Phan Thiết. Năm 1930, dạy võ tại Sài Gòn. Năm 1964, chánh thức thành lập võ đường Sa Long Cương tại Sài Gòn. Lúc 14 tuổi, ông theo học võ với thầy Trương Trạch, một cử nhân võ thời bấy giờ tại Bình Định, sau đó với thầy Hai Cụt, ở làng Cẩm Thượng, Bình Định, và thầy Ba Cát (Nguyễn Văn Cát) tại Qui Nhơn.
Năm 1896 – 197? : Võ Sư Hồ Văn Hợi, năm 1969, sáng lập Hội Cửu Long Võ Đạo tại Sài Gòn (do nghị định 165/PDUTNTT/TDTT, ngày 16/2/1970) với hội đồng quản trị như: Chủ tịch Trần Văn Thoàn, Chưởng Lý Tối Cao Pháp Viện, các phó Chủ Tịch: Kỹ sư Trần Văn Hà, giáo sư Phạm Thành Mãi, Tổng thư ký: Nghị sĩ Lê Tấn Bửu, thủ quỹ: Nghị sĩ Võ Văn Truyện, các ủy viên: kỹ sư Huỳnh Văn Diệp, thương gia Trần Văn Chiêu và võ sư Phùng Văn Chính.
Năm 1900 – sống: Võ sư Đoàn Tâm Ảnh, pháp dah Thiện Tâm Thiền Sư, phương danh Nguyễn Văn Sáu (Sáu Nhỏ) hiện nay 2001 ông vẫn còn sống tại Việt Nam. Ông sanh tại Bạc Liêu, nam Việt Nam. Năm 1911, ôn theo thầy Mộc Đức Thiền Sư học đạo Thiền Tông và võ lâm cổ truyền, tại chùa Phi Lai Tự (miền Bắc Trung Hoa). Năm 1930, trở về Việt Nam, ông sáng lập môn phái võ lâm Việt Nam Chính Tông. Lần lượt, mở các võ đường tại các tỉnh miền Nam Việt Nam như: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Cần Thơ, Bến Tre, Long Xuyên, Vĩnh Long, Rạch Giá... Rồi, bí mật thành lập đảng Sao Trắng, kết nạp các nghĩa sĩ để chống Pháp, và đã một thời oanh liệt, đảng Sao Trắng của ông đã làm điên đảo, bối rối cho các tay cường hào ác bá cùng chính quyền Pháp ở miền lục tỉnh (Hậu Giang, miền Nam). Về sau ông lên Sài Gòn mở các lớp dạy võ lâm. Trong suốt cuộc đời truyền dạy võ lâm, ông đã đào tạo rất đông đảo huấn luyện viên và võ sư rải rác từ Sài Gòn đến các tình miền nam, Việt Nam. Trong số các cao đồ đắc ý nhất của ông, và đã làm rạng rỡ cho môn phái võ lâm đáng kể đến như: Giáo sư Hàng Thanh (Phan Chấn Thanh), giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền), giáo sư Hùng Phong (Huỳnh Ninh Sơn), giáo sư Nam Phong (Nguyễn Thiên Tài), giáo sư Lạc Hà (Nguyễn Văn Bé), giáo sư Từ Võ Hạnh, giáo sư Lư Công Khanh, võ sư Long và võ sư Châu (ở Cần Thơ) ...
Đến năm 1970, ông chánh thức chấm định giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền) là người được ủy nhiệm thừa kế chức vụ Chưởng Môn võ phái, để thay thế ông trong việc phát triển môn phái Võ Lâm Việt Nam Chính Tông. Sau đó, để tìm nguồn an lạc tại chốn thiền môn, ông đã trụ trì tại chùa Pháp Hoa (Sài Gòn).
Từ năm 1970 đến 4/1975, giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền) đã thành lập Trung Tâm Huấn Luyện Võ Lâm Việt Nam Chính Tông tại địa điểm: Chi Thanh Niên Quận Sáu, Chợ Lớn (140 Lê Quang Hiền, Chợ Lớn). Trong thời gian tại Việt Nam, giáo sư Vũ Đức đã đào tạo được một số đông đảo võ sinh. Những Đai Đen Huấn Luyện Viên đáng kể như: Hồng Long, Châu Việt Hùng, Trần Văn Quang, Lê Văn Phước, Lê Kiến Sanh, Trần Văn Hoàng, Nguyễn Văn Bình, Trương Sắc Hào...
Sau 4/1975, môn phái Võ Lâm Việt Nam Chính Tông đã được chánh thức sửa tên gọi là Võ Lâm Đạo Việt Nam, với sự chuẩn nhận của sáng tổ Thiện Tâm Đoàn Tâm Ảnh và Chưởng Môn giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền).
Để thống nhất đường lối hoạt động của các võ đường chi nhánh Võ Lân Đạo ở trong nước Việt Nam và hải ngoại, võ phái còn được sự chỉ đạo trung ương của Tổng Hội Thế giới Võ Lâm Đạo Việt Nam (VoLamDao Vietnam Kungfu World Federation), chủ tịch hội đồng do Chưởng Môn Giáo Sư Vũ Đức phụ trách, trụ sở đặt tại miền nam California, Hoa Kỳ (hộp thư liên lạc: PO Box 6204, Rosemead, CALIF. 91770 – 1634, USA).
Tổng Hội Thế Giới Võ Lâm Đạo Việt Nam đã được giáo sư Vũ Đức chánh thức thành lập, với giấy phép của chính quyền tiểu bang California, USA, cấp ngày 07/07/1982.
Năm 1910 – 198?: Võ sư Huỳnh Kim Hên, hiện là Mã Thanh Long, sanh tại tỉnh Bạc Liêu. Thuở nhỏ, từ 9 đến 19 tuổi, đã theo học võ với người bác ruột hiệu là Mã Thanh Khôn, thuộc võ phái Thiếu Lâm Hồng Gia Quyền. Năm 1936, ông bắt đầu dạy võ cho quân đội Hoàng Gia Cao Miên, tại Nam Vang. Đến năm 1957, ông chánh thức thành lập võ đường Mã Thanh Long, tại Hòa Hưng, Sài Gòn. Trong cuộc đời dạy võ, ôn đã đào tạo rất nhiều huấn luyện viên, và võ sĩ danh tiếng chiến thắng trên võ đài.
Năm 1917 – 198?: Võ Sư Lê Văn Kiển, hiệu là Tám Kiển, người ở Sóc Trăng, tỉnh Ba Xuyên, man Việt Nam. Lúc 12 tuổi, học võ với thân phụ, được chú ý về môn bắn cung. Về sau ông được học võ với nhiều vị lão sư có trình độ võ học cao về lý thuyết lẫn thực hành. Ông đã thành lập võ phái Nam Tông. Năm 1950, ông có lớp dạy võ tại sân vận động Phan Đình Phùng (Sài Gòn). Năm 1961, ông dạy võ tại Trung tâm Sinh Hoạt Thanh Niên /Chợ Lớn (Khu Đại Thế Giới cũ) và tại sân vận động Cộng Hòa, đường Nguyễn Kim, Chợ Lớn. Năm 1969, ông được đắc cử Chủ Tịch, tổng hội Võ Học Việt Nam. Nam 1970, ông đã xuất bản sách võ "Thập Bát Liên Châu".
Năm 1920 – sống: Võ sư Lê Sáng, sanh tại Hà Nội (gốc ở Thanh Hóa), theo học võ từ năm 1939 đến 4/1960 với võ sư Nguyễn Lộc, sáng tổ của môn phái VoViNam (gọi tắt của Võ Việt Nam). Trước khi qua đời (vào ngày 4/4/1960), võ sư Nguyễn Lộc đã ủy nhiệm lại cho võ sư Lê Sáng chức vụ Chưởng môn lãnh đạo võ phái VOVINAM . Về sau, võ sư Lê Sáng đã phát triển một hệ thống võ đường trên toàn quốc, dưới sự lãnh đạo của Tổng Cục Huấn Luyện trung ương tại đường Sư Vạn Hạnh, Chợ Lớn. Trải qua nhiều thăng trầm với thời cuộc, môn phái VoViNam đã thật sự bành trướng mạnh mẽ, sâu rộng trong quảng đại quần chúng Việt Nam.
Năm 1917 – 199?: Võ sư Mai Văn Phát, pháp danh Thích Thiện Tánh, sinh tại xã Thuận Hưng, Thốt Nốt, Long Xuyên. Năm 1929, lên Thất Sơn thụ giáo với ông Huỳnh Trí Đức về võ thuật và thiền tông. Năm 1936, tại Cần Thơ, được gặp võ sư Hai Thêm, đưa về Trung Hoa để truyền dạy võ thuật Thiếu Lâm. Năm 1942, hồi hương Việt Nam. Năm 1943, dạy võ tại Châu Đốc. Năm 1956, lên Sài Gòn trụ trì tại chùa Long Hoa. Năm 1964, chánh thức thành lập võ đường Trung Sơn, tại số 53/22 Trần Khánh Dư, Tân Định (ngang hồ tắm Cộng Hòa cũ). Năm 1971, võ sư đắc cử Chủ Tịch, Tổng Hội Võ Học Việt Nam.
Năm 1908 – 198?: Võ Sư Trần Phú Đáng, sinh tại quận Diên Bàng, tỉnh Quảng Nam. Ông bắt đầu học võ vào lúc 20 tuổi (1928). Sau 5 năm luyện võ, lần đầu tiên, ông đã chiến thắng trận đấu võ đài được tổ chức tại hội chợ tỉnh Hội An vào năm 1933. Sau đó mỗi 2 năm, các trận đấu võ đài tại hội chợ của các tỉnh (Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam), ông đều có tham dự đấu, có trận thắng hoặc hòa, chưa có bị thất bại. Năm 1954, ông mở ph*ng tập dạy võ tại Đà Nẵng, về sau, chánh thức thành lập võ đường Trần Hưng Đạo (tại số 50 đường Hàm Nghi, Đà Nẵng). Ông đã đào tạo rất nhiều võ sinh, huấn luyện viên, đáng kể là hai cao đồ Đặng Ngọc Sách và Nguyễn Văn Vĩnh đã mở hai võ đường riêng, có đông đảo võ sinh trong thành phố Đà Nẵng, vào năm 1970 – 71.
Năm 1910 – 198?: Võ sư Bảy Hý (tên thật Lê Công Trứ), sinh tại Duy Xuyên, Quảng Nam. Lúc 14 tuổi, theo học võ với vị thầy võ tại Duy Xuyên. Về sau, được thụ giáo với võ sư Hiệp Vân, một hiệp sĩ nổi danh vào năm 1930. Ông đã chiến thắng oanh liệt các trận đấu võ đài tại các tỉnh Hội An, Thu Bồn, Đà Nẵng, vào lúc tuổi thanh niên. Trước 1970, ông thành lập võ đường Lê Huấn, tại Đà Nẵng.
Tại Đà Nẵng, đồng thời với võ sư Bảy Hý, còn có các võ sư lão thành như:
-Võ sư Hồ Phước là chú của Hồ Cưu (nhà vô địch tại điạ phương 1940)
Võ sư Phan Vũ Túc với võ đường Hòa Quang Phái (kiêm Đông y sĩ, Vạn Hưng Đường) tại số 34 đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng. Oâng rất kỹ lưỡng trong việc thu nhận học trò.
Võ sư Trương Khả có tính tình rất vui vẻ, rất tận tâm, sốt sắng trong việc dạy dỗ học trò. Vào thời Pháp, ông đã tham gia vào quân đội lính Lê Dương của Pháp và được xuất ngoại rất nhiều nơi như: Pháp, Ý. Trước năm 1970, ông mở võ đường tại xã Thanh Khê 3, ngoại ô Đà Nẵng.
Võ sư Đặng Văn Vàng với Võ Đường Việt Nam, tại số 132/902 đường Trần Cao Vân, An Cư 3, Đà Nẵng.
Võ sư Năm Sẻ (tên là Trần Tử Hiếu) với võ đường Nguyễn Trung Trực, tại khóm Hòa Bình, Liên Gia 75, xã Hòa Phát, tỉnh Quảng Nam.
Võ sư Lưu Thanh Bình với võ đường Lê Trung Hậu, tại xã Hòa Khánh, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Võ sư Nguyễn Lự với võ đường Cao Thắng, tại Liên Gia 34, thôn An Hòa, Xã Hòa Phát, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Võ sư Tấn Hoành với võ đường thành lập trước 1970, tại ấp Từ Quang, Từ Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
Võ sư Lâm Võ, tên thật là Lâm Hiến Giới, sinh năm 1910, tại Tây Hồ, Phúc Kiến, tỉnh Quảng Đông (Trung Hoa). Thân phụ của ông tên là Lâm Hùng Sơn thuộc môn phái Thiếu Lâm Tự. Năm 1945, ông sang sinh sống ở Việt Nam. Về sau, ông dừng chân tại đất Quảng Ngãi, vui sống tuổi về già. Trước năm 1970, ông đã mở võ đường tại ấp Phú Hòa, Tàu Tương (gần cầu sông Trà Khúc), tỉnh Quảng Ngãi. Oâng đã đào tạo được rất nhiều môn đồ võ công xuất sắc.
Võ sư Thanh Long kiêm Đông y sĩ, với võ đường thành lập trước 1970 tại số 96/10 đường Hoàng Diệu, tỉnh Pleiku.
Võ sư Lãng (đã qua đời trong biến cố tết Mậu Thân, 1968) thuộc Nga Mi phái, ông đã có lớp dạy võ tại sân vận động Tự Do, Huế.
Võ sư Nhuận với võ đường ở Bãi Dâu (chợ Dinh) Huế.
Võ sư Minh với võ đường ở đường Lê Lợi, Huế.
Võ sư Lê Văn Tường*, dạy võ Thiếu Lâm và Bình Định, trước năm 1970 với võ đường Đại Hải, nằm bên quốc lộ 1, Nha Trang.
Võ sư Võ Châu Long, thuộc phái Bình Định và Thiếu Lâm Nam phái, đã từng là nhà vô địch tại Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Trị. Oâng nổi tiếng gan lì trong nhiều trận đấu võ đài từ Trung vào Nam. Trước năm 1970, ông mở võ đường tại đường Nguyễn Thái Học (gần lò heo) Nha Trang.
Võ sư Kim Sang dạy võ quyền Tự Do vào năm 1970 với võ đường Kim Sang tại số 30 đường Đồng Nai, sau về số 3, Lê Lai, Nha Trang.
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 17 phút và 14 giây -----
Danh nhân võ thuật
Võ sư Đông Hải - Hư Linh Tử (chưởng môn phái Long Hổ Không Hồng)
Thầy Vạn Thanh tên thật là Nguyễn Đông Hải, còn rất trẻ, chỉ mới 35 tuổi, sinh ở xã Nhơn Hoà, huyện An Nhơn, Bình Định. Năm 12 tuổi, Đông Hải đã thí phát xuất gia vào chốn cửa thiền. Sư phụ Tịnh Quang lúc ấy chỉ nhận vỏn vẹn hai đệ tử, một là Vạn Lạc hiện đang trụ trì chùa Lộc Sơn, và người thứ hai tên là Vạn Thanh.
Sau 4 năm chuyên tâm học kinh kệ, một đêm nọ Vạn Thanh được sư phụ gọi riêng ra và bảo :"Thầy thấy con có tư chất, tính tình điềm đạm, không khoe khoang, có thể học võ được. Nhưng điều quan trọng nhất là con có thích học không?". Vạn Thanh đáp: "Được thầy thương truyền dạy con rất thích ạ". Thế là lúc nửa đêm, một thầy một trò huỳnh huỵch luyện thập bát ban. Xen giửa những buổi thị phạm là những bài học khẩu quyết bằng tiếng Hán cổ, là những lần thầy cầm tay trò rị mọ tô theo từng nét bút những chữ Hán loằng ngoằng, là những câu chuyện về lai lịch của "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp" lẫn xuất xứ của môn phái Long Hổ Không Hồng.
Vào thời Hậu Lê, ở kinh thành Thăng Long có một nhà sư rất giỏi võ nghệ. Ông đã bỏ công suốt một đời để lặn lội sưu tầm góp nhặt binh thư võ thuật của các bậc danh tướng. Với sở học của mình cộng với những gì sưu tầm được, ông soạn ra pho bí kíp "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp" (tạm dịch nghĩa là: sao chép binh thư võ thuật của những vị tướng qua nhiều đời khác nhau). Hoàn tất pho sách, sợ bị thất truyền, ông lập ra môn phái Long Hổ Không Hồng: Long và Hổ tượng trưng cho "uy" và "mãnh"; không hồng là bao la như ánh mặt trời. Theo môn qui của Long Hổ Không Hồng, mỗi đời chỉ truyền dạy cho một đệ tử, và tên hiệu của những người trong môn phái phải bắt đầu từ chữ "Hư". Nhà sư sáng lập Long Hổ Không Hồng có tên hiệu là Hư Minh. "Lục tướng tằng vương..." ghi lại rất nhiều những bài võ của các danh tướng Việt Nam như Đinh Bộ Lĩnh (Đinh), Lê Hoàn (Tiền Lê), Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành (Lý), Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão (Trần)...
Chiến tranh loạn lạc thời Trịnh - Nguyễn phân tranh khiến đệ tử các đời của Long Hổ Không Hồng đi dần xuống Nam, và đến thời nhà Tây Sơn thì đã truyền được đến đời thứ tám cho Nguyễn Trung Như với tên hiệu là Hư Linh Ẩn. Sau khi Gia Long diệt được Tây Sơn, bộ "Lục tướng tằng vương..." bị hủy diệt như số phận chung của những pho sách võ khác của đất Bình Định. Và kể từ đây nó chỉ được truyền lại qua trí nhớ của các đời đệ tử Long Hổ Không Hồng. Tính đến thượng tọa Thích Tịnh Quang là đời thứ 12 với tên gọi Hư Linh Thông (đã mất năm 1990), và truyền nhân đời thứ 13 chính là Vạn Thanh - Hư Linh Tử.
Dù chỉ được truyền lại qua khẩu quyết, nhưng "Lục tướng tằng vương..." cũng được Hư Linh Tử ghi lại gần 150 bài. Tuy nhiên, để nắm hết được lẽ huyền diệu của pho bí kíp này, anh biết mình còn thiếu: vốn chữ Hán cổ còn yếu, sở học về triết lý phương Đông còn non. Thế là năm 26 tuổi, Hư Linh Tử một mình một tay nải vào Sài Gòn tìm học ở khoa Đông Nam Á các trường đại học Sư phạm, Tổng hợp.
Sau hơn 4 năm đèn sách, Hư Linh Tử đã dần dần lĩnh hội được sự ảo diệu của "Lục tướng tằng vương...", mới thấy được thế nào là trong hư có thực, trong thực có hư của bài "Nghiêm thương" (tương truyền của Nguyễn Huệ) mà trong bí kíp gọi là "sinh linh thao", thế nào là sự cương trực của bài "kích sinh thao", thể hiện trong bài "Lôi long đao" tương truyền của Trần Hưng Đạo. Giờ đây, anh cũng mới thấu hiểu mỗi bài võ trong "Lục tướng tằng vương..." đều có hai mục đích: 1- Được áp dụng cho chiến trận khi nhìn nó dưới góc độ của bát quái đồ hình dựng, 2- Một bài múa biểu diễn, rèn sức khoẻ khi tập theo bát quái đồ hình nằm.
Năm 1997, tròn 30 tuổi, Vạn Thanh - Hư Linh Tử hết duyên với cửa Phật. Anh hạ sơn và từ đây trở thành võ sư Đông Hải - Hư Linh Tử. Cuối năm 1999, Đông Hải - Hư Linh Tử về làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển võ cổ truyền của Sở Thể dục thể thao Bình Định. Bao nhiêu sở học nắm được từ "Lục tướng tằng vương..." anh dốc hết cho các học trò, và đem lại rất nhiều huy chương vàng quốc gia. Chưa kể khá nhiều các đệ tử của anh đã đi biểu diễn võ cổ truyền Việt Nam tận Ấn Độ, Tây Ban Nha, Nga... Từ lò võ chùa Long Phước đã lần lượt xuất hiện hầu hết các võ sĩ cho đội tuyển võ cổ truyền Bình Định (luôn chiếm tỷ lệ 80% cho đến tận bây giờ) với những tên tuổi thành danh tại các giải vô địch quốc gia như Nguyễn Đức Thắng với bài U Linh Thương (thời Lý), Nguyễn Văn Cảnh với bài Tru Hồn Kiếm (thời Lý), Võ Văn Tính với bài Chấn Lôi Âm Tiên (thời Hậu Lê), Trần Duy Linh với bài Lôi Long Đao (thời Trần)...
Lão võ sư Trần Công (chưởng môn phái Không Động)
Chủ tịch HộI đồng cố vấn tốI cao của HộI võ thuật Hà NộI là lão võ sư Trần Công, ngườI từng lập oai trên võ đài vớI môn kiếm song vô địch. Võ sư Trần Công là bạn cùng thờI vớI ông trưởng bộ môn võ vật của ngành thể thao Trần Đình Tùng, lão võ sư đã đi mòn gót giày trên các nẻo biên cương, binh khí biết đến hơn 20 loạI, ám khí độc môn cũng vào loạI hiếm ở đời. Từ thuở nhỏ, ông đã được sư phụ ngườI Trung Hoa rèn cặp. Sau khi lão võ sư Điều “Đỏ” qua đờI, ông còn giúp cho các học trò của bạn duy trì môn phái Bắc Mã Sơn. Những vũ khí đáng ghi nhớ của ông là Song hổ vĩ côn, Tam tiết côn, Không Động kiếm, Cửu Long tiên, Huyết kỳ… Hiện nay, ở độ tuổI bát tuần, ông nghỉ ở nhà nhưng các đệ tử vẫn đến xin thụ giáo. cả những HLV đang chấp chưởng các môn phái cổ truyền cũng đến xin học từng môn. Lão võ sư Trần Côn là một cây đa, cây đề của làng võ phía Bắc. Ngoài những thành tích đã đóng góp cho phong trào võ thuật và những môn công phu kỳ bí một đờI, cơ duyên may mắn là lão võ sư đã từng được Hồ chủ tịch khen ngợI, tớI thăm.
Tổ sư Hàn Bái Đường
(TTCN ) Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 là giai đoạn suy vong của nền võ học nước nhà. Tuy vậy thời kỳ này võ lâm VN đã có những tên tuổi nổi danh khiến giới võ lân bang cũng phải kiêng nể.
Nhưng có lẽ oanh liệt nhất trong các vị tôn sư của võ lâm VN trong suốt thế kỷ 20 chẳng có ai khác hơn là cụ Lê Bái, thường được gọi là cụ Hàn Bái, vị tổ sư của “Hàn Bái đường”, của “Thiếu Lâm Hàn Bái”...
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Ông sinh năm 1889, xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, thân phụ làm quan đến chức lãnh binh. Thuở nhỏ ông được phụ thân truyền thụ võ công. Là một cậu bé tư chất thông minh, ông sớm xuất lộ một tài năng xuất chúng, chẳng bao lâu đã tiếp thu được cái sở học của thân phụ và nổi tiếng là một thanh niên tinh thông võ nghệ.
Dạo đó, người Pháp khởi công xây dựng tuyến đường sắt nối liền thủ phủ tỉnh Vân Nam là Côn Minh với cảng Hải Phòng, biến Hải Phòng thành một ngõ ra biển cho các sản phẩm của vùng đất Vân Nam trù phú này. Mặt khác, với những người trẻ VN đam mê võ thuật thì Trung Hoa vốn là đất nổi tiếng với các bậc kỳ tài trong giới võ lâm, những quyền sư cái thế như Dương Trừng Phủ, Hoàng Phi Hồng...
Rất nhiều chàng trai Việt đã lên đường theo ngả Vân Nam tầm sư học đạo. Chàng trai trẻ Lê Bái là một người trong số họ. Làm thân trai trong thời ly loạn, Lê Bái đã sớm nhận thức được mình không thể kế tục binh nghiệp của thân phụ, anh bèn xin vào làm nhân viên Sở Hỏa xa tại thủ phủ tỉnh Vân Nam để tìm cơ hội trau dồi võ nghệ.
Thời may, có người mách bảo ở Phước Kiến có một vị võ quan, giữ chức giáo đầu, nổi tiếng là bậc danh sư. Chàng liền xin nghỉ việc, lên đường ra miệt Phước Kiến tìm đến nhà tướng quân họ Lý. Vốn là một võ sư lão luyện giang hồ, Lý quân chỉ cần thoáng qua nhận ra nơi chàng trai Việt những tố chất hơn người. Trước khi thu nhận chàng làm đệ tử, Lý Quân vui lòng cho phép Lê Bái lãnh giáo một vài chiêu mở rộng tầm mắt.
Hết sức tự tin, Lê Bái nhảy tới xuất chiêu “Hắc hổ xuyên tâm” dùng ngũ trảo chộp vào ngực vị quyền sư. Chàng định bụng nếu Lý quân dùng tay đỡ gạt thì lập tức sẽ đạp lên chân đối thủ, đồng thời lách người đánh tiếp đòn “Thanh xà nhập động” vốn là ngón sở trường lâu nay của mình.
Không ngờ, thoắt cái Lý quân ngã người ra sau, xuống tấn chân trái, xoay người dùng tay trái vuốt theo cánh tay ra đòn của Lê Bái và nắm lấy tay áo đối thủ kéo tới trước. Đồng thời ông dùng chân phải quét một thức tảo địa vào chân trái của đối phương khiến Lê Bái văng xa mấy trượng, tay chân trầy trụa, rướm máu.
Lý phu nhân thấy vậy liền lật đật chạy ra đỡ Lê Bái vào nhà chăm sóc. Từ đó, Bái lạy Lý quân làm sư phụ và được hai ông bà nhận làm con nuôi ở luôn trong nhà. Lê Bái được hai vợ chồng quyền sư họ Lý hết lòng dạy bảo. Chàng cũng kết tình thâm giao với người con trai của hai ông bà, vốn đồng trang lứa với chàng. Thấm thoát đã ba năm trôi qua, vừa tài trí hơn người vừa khổ công tu luyện, lại được sự tận tình truyền thụ của hai vợ chồng họ Lý, và sự chỉ giáo của những bậc quyền sư giao du với Lý quân nên Lê Bái trở thành một tay cao thủ lừng danh vùng Phước Kiến.
Thế rồi một buổi chiều, sau giờ luyện công, Lý quân gọi Lê Bái vào, nói:
- Võ công của ta chỉ có bấy nhiêu. Ta đã truyền hết bí quyết của ta cho con. Ta cảm thấy hài lòng vì con đã phần nào công thành danh toại. Nhưng biển học mênh mông, rừng võ điệp trùng, con còn phải tiến xa hơn nữa...
Ông đến bên bàn tứ bửu, cầm phong thư đưa cho Lê Bái:
- Con hãy trở lại Vân Nam tìm trao cho ông Triệu Quang Chảo. Ông là bạn chí cốt của ta nhưng so về võ nghệ thì ta chỉ là hàng hậu bối thôi. Ông ta là bậc danh gia của phái Thiếu Lâm.
Ý thầy đã quyết, Lê Bái bèn ngậm ngùi bái tạ sư phụ, sư mẫu để trở lại Côn Minh.
Kể từ dạo đó, bước chân giang hồ phiêu lãng của danh sư họ Triệu luôn có chàng trai đất Việt dõi theo. Lê Bái miệt mài theo thầy học đạo cho mãi đến năm 1918 thì trở lại quê nhà.
Chấn hưng võ đạo
Như tất cả những ai đã từng bôn ba nơi đất khách quê người, dày công tu luyện đến công thành danh toại, ông Lê Bái ôm ấp hoài bão đem sở học ra truyền lại cho tuổi trẻ đất nước. Nhà đương cuộc Pháp lúc bấy giờ không cho phép mở trường dạy võ, không cho các hội võ hoạt động. Để phổ biến tuyệt nghệ của mình, các bậc danh sư, các tay cao thủ chỉ còn cách trở thành gia sư hay ẩn mình trong các bang hội của người Hoa, hoặc nơi thâm sơn cùng cốc, hoặc sống đời lang bạt kỳ hồ rày đây mai đó.
Ông Lê Bái do sinh trưởng trong một gia đình danh gia quyền quí không phải lo chuyện miếng cơm manh áo, mà còn nuôi học trò trong nhà mình. Tính ông hào phóng và cương trực, giao du rộng rãi và nghiêm khắc với học trò. Ông cũng rất thận trọng trong việc truyền thụ võ công. Thời gian theo các vị thầy ở vùng Hoa Nam, ông đã học được ngón tuyệt kỹ điểm huyệt. Theo lời kể của đại sư Vũ Bá Oai, cao đồ và là con nuôi của ông, ông nói chỉ dạy tuyệt nghệ này cho đệ tử nào đạo đức hơn người và đã thành thân, yên bề gia thất.
Không may ông đã sớm thất lộc, chính vì lý do đó mà ngón tuyệt kỹ này đã bị thất truyền, không được lưu lại trong di sản võ học của cụ Hàn Bái. Trong suốt 10 năm hành hiệp giang hồ và chấn hưng võ đạo, ông đã lập được nhiều kỳ công nên được người đương thời xưng tụng là Hàn Bái. Và khi ông đã ra người thiên cổ thì hậu thế đã tôn ông là một bậc tôn sư của võ lâm, liệt ông vào hàng “Tam Nhật” cùng với ông Ba Cát và Bảy Mùa cũng là hai đệ tử của quyền sư Triệu Quang Chảo.
Ông mất ngày mồng 6-3-1928, hưởng dương 40 tuổi. Trong số các đệ tử của cụ Hàn, đại sư Vũ Bá Oai là vị nổi tiếng nhất, một thời danh trấn giang hồ và đã kế tục sự nghiệp hiển hách của thầy; cùng với các môn đệ sáng lập ra Hàn Bái đường mà tôn chỉ là hoằng dương tinh thần thượng võ trong giới trẻ Việt Nam.
Hiện Hàn Bái đường và các chi phái (Thiếu Lâm Hàn Bái, Võ Lâm Hàn Bái...) qui tụ hàng ngàn môn sinh tại Việt Nam và trên thế giới.
Lão võ sư Trần Hưng Quang (chưởng môn võ phái Bình Định Gia)
Trong số các bác già trong HộI đồng cố vấn của HộI võ thuật Hà NộI có bác Trần Hưng Quang là ngườI miền Trung. Quê ở Bình Định, học võ từ nhỏ, theo nghề tuồng truyền thống từ khi mớI lớn, đó là một miền đất mà tuồng và võ đã trộn lẫn vớI nhau thành một tinh thần sống. Ông tổ 4 đờI của bác Quang là ngườI Trung Hoa tên là Trần ĐạI Chí, lưu lạc sang đất Bình Định vào nửa cuốI thế kỷ 18, nhằm vào thờI Tây Sơn đang đánh nhau vớI chúa Nguyễn. Ông mang phần võ học Trung Hoa ra cùng bàn vớI các bậc kiêu hùng võ Tây Sơn và lựa chọn được những đòn thế phù hợp giữa hai dòng võ để chế ra môn võ gia truyền của họ Trần, bác Quang là truyền nhân đờI thứ tư. Ham tuồng, yêu võ, sớm tham gia hoạt động cách mạng, bác nổI tiếng trong vai anh Ốc trong phim Ngêu – Sò - Ốc - Hến nên ngườI ta thường gọI là Quang Ốc. Là chưởng môn nhân của võ phái Bình Định Gia, nguyên là trưởng đoàn tuồng liên khu V nên cách nói, biểu đạt và động tác của bác rất hài hòa. Mắt bác quắc lên, tay khoát qua mặt, thế là gương mặt bác đã bộc lộ 1 tình cảm khác, bác cườI mà trông vẫn khổ khổ, nghe bác than phiền lạI thấy buồn cười. Vóc ngườI nhỏ nhắn, bác đi lui cui ngoài đường trông rất thương, thế mà chỉ xảy ra cái gì là bác vọt tớI can thiệp ngay. Bình Định Gia của bác quân đông, địa bàn rộng. Trước đây, khi anh con trai bác là Trần Hưng Hiệp đứng chấp chưởng môn thì có lúc quân số lên tớI ba chục ngàn rảI khắp 19 tỉnh, thành phía Bắc. Năm 1996, Hưng Hiệp bị tai nạn giao thông qua đờI, vị trí chấp chưởng môn giao lạI cho HLV Nguyễn Khắc Thành, một HLV tốt bụng, trầm tính, mọI ngườI quen xem Khắc Thành biểu diễn nộI công nhảy lên đống thủy tinh, nằm lên mảnh kính cho xe ô tô chạy qua người… Con trai mất, bác Quang trông càng thêm nhỏ đi, chỉ có ngọn lửa trong mắt bác vẫn bập bùng khi ngồI bàn chuyện võ.
kyo2702
14-02-2008, 12:04 PM
khiếp lão ây post gì mà ghê thế,dài quá ko muốn đọc
muulinh
15-02-2008, 10:45 AM
Đó mới chỉ là 1 phần kiến thức thôi . Hê hê
Ai rảnh thì đọc
Ko đọc thì thôi, ko có sao hết trơn
Nói vậy chứ chắc cũng phải edit lại cho nó gọn, nhìn kinh quá
753159456852
15-02-2008, 10:53 AM
hê hê, ta thấy lão Hoắc Nguyên Giáp đúng là Trương Tam Phong thứ 2 của Trung Hoa, mà lão này có họ hàng gì với Võ Nguyên Giáp nhà mình không nhỉ?
muulinh
15-02-2008, 10:59 AM
Họ thì ko có nhưng chắc cùng hàng
Có điều Hoắc đại gia thua xa Võ đại gia, người được vinh danh là 1 trong 10 tướng tài ba nhất
Ông Hoắc có giỏi thì đánh được trăm người, chứ bác Giáp nhà ta mà hô một tiếng thì .... Điện Biên Phủ cũng thành bình địa
tamvatam
15-02-2008, 06:59 PM
Hay! Topic về võ Việt hay quá! Kể ra cũng có vài bộ tâng bốc võ Việt và tinh thần Việt đấy chứ. Của Ba hoa đại tiên "Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ". Cơ bản truyện cũng dựa vào lịch sử, viết hơi quá tâng bốc nhưng cũng có rất nhiều chuyện là có thực hoặc dân gian truyền miệng... ^_^ Đọc cũng thú vị phết! Nhất là trong tình cảnh hiện nay khi VN có quá ít truyện đề cao tinh thần dân tộc như Tàu.
IIThienTaII
15-02-2008, 07:01 PM
Bác nào đã đọc bộ Trường Sơn kiếm khách chưa,đọc thấy hay phết,em nhớ ko nhầm thì hình như có 3 tập thì phải.
docconhan171
15-02-2008, 07:01 PM
Thôi quên rồi bảo upload Đại Việt Sử Ký cho một bác đang nghiên cứu LS VN để viết mà quên mất
IIThienTaII
15-02-2008, 07:02 PM
hê hê, ta thấy lão Hoắc Nguyên Giáp đúng là Trương Tam Phong thứ 2 của Trung Hoa, mà lão này có họ hàng gì với Võ Nguyên Giáp nhà mình không nhỉ?
Nhắc đến Hoắc Nguyên Giáp em lại nhớ đến Chân Chân trong Tinh Võ Môn,ko biết tay này có phải là thật ko vậy,thấy làm film rất nhiều.:034:
753159456852
15-02-2008, 07:03 PM
Bác nào đã đọc bộ Trường Sơn kiếm khách chưa,đọc thấy hay phết,em nhớ ko nhầm thì hình như có 3 tập thì phải.
à ờ, bác up lên em đọc thử xem nào, em chưa đọc
IIThienTaII
15-02-2008, 07:04 PM
à ờ, bác up lên em đọc thử xem nào, em chưa đọc
Đọc cách đây rất lâu rồi và bản đấy rách như xơ mướp(do nơi mình mấy ku đọc truyện ý thức rất kém),tìm đâu ra.:4:
kyo2702
15-02-2008, 07:05 PM
đệ ít khi đọc bộ ngắn lắm,trừ khi hết hàng
thinhoaibao
15-02-2008, 10:54 PM
Người tạo ra Vịnh Xuân quyền (tên là gì nhỉ) và Hồng Hy Quang ( nghĩ ra Hồng quyền). Hông biết đúng không.
Sai rồi, là bồ của Hồng Hy Quan mới đúng. Còn HHQ sáng tạo ra Hồng Gia Quyền.
----- Bài viết này được thinhoaibao thêm vào sau 2 phút và 51 giây -----
Người sáng tạo là Nghiêm Vĩnh Xuân, con gái Nghiêm Nhị, học trò của Ngũ Mai sư Thái
themansgn
15-02-2008, 11:38 PM
Thiếu Lâm Nam phái sau khi chùa cháy chia ra 5 nhà :
Mạc gia - chỉ truyền trong gia tộc
Hồng gia
Vinh Xuân
Tinh Võ
và 1 chi nữa ta không nhớ
trừ Tinh Võ phái ra , 4 phái còn lại là lấy theo tên người sáng lập. mỗi tôn sư đều là 1 tăng nhân của chùa thiếu lâm sau khi chùa bị hủy tự lập môn hộ.
muulinh
16-02-2008, 01:44 PM
Bác nào đã đọc bộ Trường Sơn kiếm khách chưa,đọc thấy hay phết,em nhớ ko nhầm thì hình như có 3 tập thì phải.
Ừ bộ đó khá hay,
Tui hồi trước có đọc tập 1, mãi sau lâu lắm mới tìm được tập 2, 3
Truyện cũ quá, rách toe loe
luongbang88
17-02-2008, 02:11 PM
Chắc sau nay tới lượt mình làm huyền thoại:xitmau:
muulinh
17-02-2008, 07:27 PM
Còn rất nhìu anh tài đất Việt
Nhưng sao ko thấy ai post nhỉ?
Mình thì bận quá
quanbao
17-02-2008, 07:38 PM
Vậy Trung Hoa ai được coi là võ sư đệ nhất từ xưa đến nay, có phải Trương Quân Bảo tớ không? còn ở Việt Nam thì là ai nhỉ
nghi_khac
18-02-2008, 02:17 PM
Võ thuật nói thật tế thì ngày xưa cũng chỉ là mô phỗng thôi..làm gì mà như mô tả như trong truyện đc...
Chắc giỏi nhất là Tường Giới Thạch hay Mao Trạch Đông thôi :055:
Còn ở VN thì có Trạng Tí đó....cái gì cũng biết cả..kinh dị....ăn khoai mì mà thông minh kinh :)
753159456852
18-02-2008, 02:18 PM
Võ thuật nói thật tế thì ngày xưa cũng chỉ là mô phỗng thôi..làm gì mà như mô tả như trong truyện đc...
Chắc giỏi nhất là Tường Giới Thạch hay Mao Trạch Đông thôi :055:
Mao Đế với Giới Hoàng đúng thật là.........
nghi_khac
18-02-2008, 02:22 PM
Thời thế tạo anh hùng thôi số mụi...như trong TTV ..số mụi cũng thế...nhân tài 1xxx năm spam :dead:
nickyhi
22-02-2008, 10:54 AM
Trùm spam vẫn là số mụi thui
Ta Nhất Đại Tôn Sư cũng đành xếp sau
Nhưng future thì... he he
hungpdc
22-02-2008, 10:57 AM
Trùm spam vẫn là số mụi thui
Ta Nhất Đại Tôn Sư cũng đành xếp sau
Nhưng future thì... he he
Trùm sì pam là Lão Kiến đấy, bài post của Số Mụi chưa bằng lão ấy mà :021::021::021::021:
Phương Su tiên sinh
22-02-2008, 10:59 AM
Trùm sì pam là Lão Kiến đấy, bài post của Số Mụi chưa bằng lão ấy mà :021::021::021::021:
Số mụi ít online hơn lão Kiến nên ta vẫn đánh giá số mụi đứng 1 ...
Còn tên nick kô có tên trong bảng xếp hạng của ta :010::010::010:
hungpdc
22-02-2008, 11:01 AM
Số mụi ít online hơn lão Kiến nên ta vẫn đánh giá số mụi đứng 1 ...
Còn tên nick kô có tên trong bảng xếp hạng của ta :010::010::010:
Uh, dạo này Số Mụi có việc gì hay sao đó? đã ít sì pam mà còn cứ nóng giận với ta hoài, làm ta tán tỉnh không được :020::020::020::020:
Phương Su tiên sinh
22-02-2008, 11:01 AM
Uh, dạo này Số Mụi có việc gì hay sao đó? đã ít sì pam mà còn cứ nóng giận với ta hoài, làm ta tán tỉnh không được :020::020::020::020:
Mụi ấy đã có tên Thăng rồi nên ngươi chỉ là người đến sau :062::062::062:
hungpdc
22-02-2008, 11:04 AM
Mụi ấy đã có tên Thăng rồi nên ngươi chỉ là người đến sau :062::062::062:
híc híc, đã có ý trung nhân rùi sao? :06(1)::06(1)::06(1):
MÀ Lão nói làm mai Số Mụi cho ta mà :die::die::die:
Phương Su tiên sinh
22-02-2008, 11:06 AM
híc híc, đã có ý trung nhân rùi sao? :06(1)::06(1)::06(1):
MÀ Lão nói làm mai Số Mụi cho ta mà :die::die::die:
Làm mai nhưng Số mụi chơi trò bắt các 3 chân nên sao ta biết được :4::4:
xeonhuyen
03-03-2008, 09:33 PM
Topic hay thế này mà im lìm rùi!
Chắc phải thêm vào các giai thoại võ thuật nữa thì mới hấp dẫn
có ta nè:059::059::059::059::059::059::059:
longkhau
04-03-2008, 05:02 PM
Chỉ nói các kỳ tài về võ học của Việt Nam ( Ko tính các tướng có tài cầm quân ) nhé đc ghi lại trong sử ta :
Tại hạ xin nêu theo time từ xưa đến nay :
- Lý Ông Trọng : Quê tại Đông Ngạc ( Chèm - HN ) : SỰ tích : Ông cao hơn 2 met , Mẹ bị cá sấu sông Hồng ăn thịt . Ông đã tay ko bơi xuống sông bóp cổ chết con cá sấu đó , sau đó nướng thịt ăn hết cả con cá này ( Đúng là lối trả thù ngày xưa ) . Danh tiếng của ông bay sang cả nhà Tần . Tương truyền nhũng pho tượng dũng tướng đứng trước lăng vua Tần Thủy Hoàng đều có tên Ông Trọng - Đó là tên ông .
- Triệu Thị Trinh ( Bà Triệu ) : Tay ko hàng phục đc Voi rừng , tương truyền bà múa kiếm hắt nước ko lọt vào - Câu nói " Lệnh ông ko bằng Cồng bà " là nói về bà .
- Phùng Hưng ( Bố cái đại vương ) : Sức khỏe bạt sơn , ông đã 1 mình tay bo giết hắc hổ thành tinh hại dân . Sự tích này đc ghi rõ tại đền thờ ông ( Đường Lâm ). Em trai của ông Phùng Hải cũng vác đá 1000 cân ta ( = 63 kg ) đi hàng trăm dăm ( khoảng 200 km ).
- Lê Phụng Hiểu : Người đc vua Lý Thánh Tông nói ' Lên rừng bắt hổ , xuống biển hạ Giao Long ' Có tài sử đao , nhiều chiến công đánh giặc , khi ông về hưu , vua cho phép đứng trên đỉnh Thác sơn ném đao đến đâu thì đc cấp đất đến đó ông đã phóng thanh đao đi gần 2 dặm ( hơn 1 Km ) . Tích ' Thác đao điền ' là nói về tài phóng đao của ông .
- Phạm Ngũ Lão : Chắc chắn có cương khí hộ thân vì khi ông ngồi đề khí giáo đâm ko hề đau , vì vậy Trần Quốc Tuấn tuyển ông vào Ngự lâm quân ( cấm vệ ) , quân cấm vệ ( toàn tay võ giỏi ) ko phục , đề nghi thi đấu . Ông ok và tay đấm chân đá 1 mình hạ 100 người , ai cũng phục . Sau trở thành danh tướng trong cuộc kháng Nguyên -Mông lần 2 -3 . Để lại bài
thơ Lập Chí lừng danh " Hoành sáo non sông trải mấy thu - Ba quân tỳ hổ nuốt sao Ngưu - công danh nếu còn để vương hận - Luống thẹn tai nghe truyện Vũ hầu ".
- Trần Quốc Toản : Luyện võ công giống Ưng trảo công , đến mức hỏa hầu năm 16 tuổi - vận khí làm nát quả cam sành trên tay mà ko cần dùng lực . 600 tráng sĩ bộ hạ và ngọn cờ 6 chữ vàng của ông trên chiến trường ko bao h lùi bước . Đc Vua Trần Nhân Tông khóc mà truy tặng tước Hoài văn Hầu khi ông hy sinh .
- Nguyễn Khoái : Là 1 kiếm khách thật sự , ông chỉ huy đội sát thủ cảm tử của triều Trần , chính nhóm này đã giết Toa Đô bắt Ô mã Nhi , ám sát Trần Kiện ( Việt gian ) . Hưng Đạo Vuơng đã nói ' Người đấu ngang tay Toa Đô , ngoài Phạm Ngũ Lão chỉ có Nguyễn Khoái ' Những chiến công của ông đã đc triều đình nhà TRần thưởng cho cả 1 phủ ( Phủ Khoái - Tại
Hưng Yên bây h ).
Tại hạ có việc , xin đc tiếp tục cùng Topic này ở bài sau ....
longkhau
05-03-2008, 02:13 AM
Xin phép đc tiếp tục nói về những kỳ tài võ học tại Việt Nam .
- Yết Kiêu : 1 trong 2 tùy tướng lừng danh của Trần Hưng Đạo , công phu dưới nước của ông có thể coi đệ nhất thời đó . Đức Ông có nói " Chim hồng , chim hộc bay cao đc là nhờ 6 trụ xương cánh vũng chắc , nếu không cũng chỉ là chim thường thôi " là ám chỉ công lao của các ông . Yết Kiêu đc coi là ông tổ của đặc công thủy - người nhái của QDNDVN . Ông cũng thuộc nhóm sát thủ cảm tử của Nguyễn Khoái , chuyên phụ trách đánh thủy , nhóm của ông đã lập chiến công trong trận Vân Đồn , trận Bạch Đằng . Võ công của ông nổi tiếng đến mức lan truyền đến kinh đô nhà Nguyên . Người Nguyên đồn rằng Yết Kiêu - Đại Việt có thể ngủ ở đáy sông mấy ngày . Ông đã giao dấu và bắt sống Phạm Nhan - 1 đạo sĩ cao thủ đệ nhất của đoàn quân xâm lc , tay này luyện thần quyền , đao kiếm ko hại đc . Sau phải đích thân Hưng đạo vương chém mới chịu chết ( Đồn rằng PN nhìn thấy Trần Hưng Đạo thì nói rằng gặp Vũ khúc tinh quân và nhắm mắt chịu chết ) .
- Dã Tượng : Người tùy tướng thứ 2 của Trần Hưng Đạo , rất giỏi khinh công , ông đã chạy từ châu Hoan ( Nghệ An ) ra Tây Kết ( Bắc Ninh ) khoảng 500km trong 1 ngày để tryền mệnh lệnh chiến đấu, đến nơi sắc mặt ko đổi . NGày xưa đoạn đường đó hiểm trở hơn bây h , có những đoạn ngựa ko đi đc , để thấy công phu ghê gớm của ông . Ông đc chân truyền nghệ thuật hàng phục voi rừng của 1 võ sư người Ai lao , Dã tượng là biệt danh do TRần Hưng Đạo tặng do có công phu này . Có nhiều chiến công đc thờ chung cùng YK trong đền thờ của TRần Hưng Đạo tại Kiếp Bạc .
- NGuyễn Hữu Cầu : Được toàn bộ giới võ lâm VN thời Vua Lê - chúa Trịnh coi là đệ nhất cao thủ , có biệt danh là ' Hạng Võ nước Nam ' giỏi cả đánh bộ , lẫn dánh dưới nước . Ông thường dùng 1 đôi siêu đao , rất thượng võ , khi giao đấu thường chỉ đánh rơi binh khí của tướng địch và tha chết , đồn rằng ông đã thường biểu diễn công phu tay ko hạ trâu rừng tại hội choi trâu tại Đồ Sơn xưa. Thủy công cũng khét tiếng là 'Con rái cá Đồ Sơn ' ông đã bơi đứng gần 40 km từ của biển Nam Triệu đến tận soái thuyền của Phạm Đình Trọng để thư cảnh cáo trên giường và lại bơi ra ko ai biết .
- NGuyễn Huệ ( Quang Trung ) : Sau khi NGuyễn Hữu Cầu mất đi , phía Nam Hải Vân nổi lên 1 cao thủ trẻ tuổi có tên là Hồ Thơm hay cậu Ba Thơm- Người này đã nhanh chóng đc giới võ lâm vùng phía Nam coi là đệ nhất cao thủ kèm theo đó phái võ Tây Sơn nổi danh như cồn và đc coi đệ nhất phái của Việt Nam thời đó . Phần lớn các cao thủ thời đó như Nguyễn Quang Diệu , Bùi Thị Xuân , Nguyễn Văn Tuyết ... hay các cao thủ THiên Địa hội của TQ trốn sự tầm nã của nhà Thanh như Lý Tài , nhóm Đông Sơn... Cùng các cao thủ của Cao Miên , Xiêm la đều thất thủ trước ông . Về binh khí đường roi của ông là vô địch thủ , gọi là roi thật ra nó chính là 1 thanh trường côn nhưng công phu khi sử dụng được mềm dẻo như 1 ngọn roi nên thành tên . Tương truyền ngọn roi của cậu Ba Thơm ngoài đâm , chọc , quyét , bổ còn có thể mổ , cuốn , hút , ma lực kinh người nên còn gọi là thần roi . Công phu quyền cước của cậu Ba Thơm cũng có sở trường riêng do cùng với em là Tư Lữ nghiên cứu các thế đánh của gà chọi mà sáng tạo ra gọi là Kê quyền với các thế cước cực hiểm ( Võ công này hình như đã thất truyền ) . Cuộc đời huyền thoại của ông như ly kỳ như trong tiểu thuyết của Kim Dung , Chính ông đã nhất thống và là võ lâm minh chủ sau đó khởi nghĩa dùng cả võ lâm hậu thuẫn để dành chính quyền . Cả cuộc đời chinh chiến đánh Đông dẹp Tây , vào Nam ra Bắc bách chiến bách thắng ( Rất đặc biệt là ông Ko thua bất cứ 1 trận nào - Hầu như các danh tướng trên Thế giới dều ko làm đc ) Ông chính là Nguyễn Huệ - Một thiên tài quân sự của dân tộc Việt Nam .
Hantinhanh
05-03-2008, 10:57 PM
Xin phép đc tiếp tục nói về những kỳ tài võ học tại Việt Nam .
- Yết Kiêu : 1 trong 2 tùy tướng lừng danh của Trần Hưng Đạo , công phu dưới nước của ông có thể coi đệ nhất thời đó . Đức Ông có nói " Chim hồng , chim hộc bay cao đc là nhờ 6 trụ xương cánh vũng chắc , nếu không cũng chỉ là chim thường thôi " là ám chỉ công lao của các ông . Yết Kiêu đc coi là ông tổ của đặc công thủy - người nhái của QDNDVN . Ông cũng thuộc nhóm sát thủ cảm tử của Nguyễn Khoái , chuyên phụ trách đánh thủy , nhóm của ông đã lập chiến công trong trận Vân Đồn , trận Bạch Đằng . Võ công của ông nổi tiếng đến mức lan truyền đến kinh đô nhà Nguyên . Người Nguyên đồn rằng Yết Kiêu - Đại Việt có thể ngủ ở đáy sông mấy ngày . Ông đã giao dấu và bắt sống Phạm Nhan - 1 đạo sĩ cao thủ đệ nhất của đoàn quân xâm lc , tay này luyện thần quyền , đao kiếm ko hại đc . Sau phải đích thân Hưng đạo vương chém mới chịu chết ( Đồn rằng PN nhìn thấy Trần Hưng Đạo thì nói rằng gặp Vũ khúc tinh quân và nhắm mắt chịu chết ) .
- Dã Tượng : Người tùy tướng thứ 2 của Trần Hưng Đạo , rất giỏi khinh công , ông đã chạy từ châu Hoan ( Nghệ An ) ra Tây Kết ( Bắc Ninh ) khoảng 500km trong 1 ngày để tryền mệnh lệnh chiến đấu, đến nơi sắc mặt ko đổi . NGày xưa đoạn đường đó hiểm trở hơn bây h , có những đoạn ngựa ko đi đc , để thấy công phu ghê gớm của ông . Ông đc chân truyền nghệ thuật hàng phục voi rừng của 1 võ sư người Ai lao , Dã tượng là biệt danh do TRần Hưng Đạo tặng do có công phu này . Có nhiều chiến công đc thờ chung cùng YK trong đền thờ của TRần Hưng Đạo tại Kiếp Bạc .
- NGuyễn Hữu Cầu : Được toàn bộ giới võ lâm VN thời Vua Lê - chúa Trịnh coi là đệ nhất cao thủ , có biệt danh là ' Hạng Võ nước Nam ' giỏi cả đánh bộ , lẫn dánh dưới nước . Ông thường dùng 1 đôi siêu đao , rất thượng võ , khi giao đấu thường chỉ đánh rơi binh khí của tướng địch và tha chết , đồn rằng ông đã thường biểu diễn công phu tay ko hạ trâu rừng tại hội choi trâu tại Đồ Sơn xưa. Thủy công cũng khét tiếng là 'Con rái cá Đồ Sơn ' ông đã bơi đứng gần 40 km từ của biển Nam Triệu đến tận soái thuyền của Phạm Đình Trọng để thư cảnh cáo trên giường và lại bơi ra ko ai biết .
- NGuyễn Huệ ( Quang Trung ) : Sau khi NGuyễn Hữu Cầu mất đi , phía Nam Hải Vân nổi lên 1 cao thủ trẻ tuổi có tên là Hồ Thơm hay cậu Ba Thơm- Người này đã nhanh chóng đc giới võ lâm vùng phía Nam coi là đệ nhất cao thủ kèm theo đó phái võ Tây Sơn nổi danh như cồn và đc coi đệ nhất phái của Việt Nam thời đó . Phần lớn các cao thủ thời đó như Nguyễn Quang Diệu , Bùi Thị Xuân , Nguyễn Văn Tuyết ... hay các cao thủ THiên Địa hội của TQ trốn sự tầm nã của nhà Thanh như Lý Tài , nhóm Đông Sơn... Cùng các cao thủ của Cao Miên , Xiêm la đều thất thủ trước ông . Về binh khí đường roi của ông là vô địch thủ , gọi là roi thật ra nó chính là 1 thanh trường côn nhưng công phu khi sử dụng được mềm dẻo như 1 ngọn roi nên thành tên . Tương truyền ngọn roi của cậu Ba Thơm ngoài đâm , chọc , quyét , bổ còn có thể mổ , cuốn , hút , ma lực kinh người nên còn gọi là thần roi . Công phu quyền cước của cậu Ba Thơm cũng có sở trường riêng do cùng với em là Tư Lữ nghiên cứu các thế đánh của gà chọi mà sáng tạo ra gọi là Kê quyền với các thế cước cực hiểm ( Võ công này hình như đã thất truyền ) . Cuộc đời huyền thoại của ông như ly kỳ như trong tiểu thuyết của Kim Dung , Chính ông đã nhất thống và là võ lâm minh chủ sau đó khởi nghĩa dùng cả võ lâm hậu thuẫn để dành chính quyền . Cả cuộc đời chinh chiến đánh Đông dẹp Tây , vào Nam ra Bắc bách chiến bách thắng ( Rất đặc biệt là ông Ko thua bất cứ 1 trận nào - Hầu như các danh tướng trên Thế giới dều ko làm đc ) Ông chính là Nguyễn Huệ - Một thiên tài quân sự của dân tộc Việt Nam .
Hay tuyệt tiếp nữa đi đại ca:5::5::5::5:
Cocain
06-03-2008, 12:09 AM
sao lý thường kiệt lại bi thiến nhỉ?chỉ hộ cái lý do coi???:grin:
sao không kể Cụ Hồ vào,nhân tài võ thuật của VN mà,ai cũng biết cụ bị tù xong tý xí lắc léo nhg nhờ co võ sáng nào cũng tự tập nên khỏi và khỏe ra đó(em là nể cụ nhất,bận thế mà vẫn có thời gian để tập võ:4:)
----- Bài viết này được Cocain thêm vào sau 4 phút và 21 giây -----
Chắc sau nay tới lượt mình làm huyền thoại:xitmau:
ông mà làm được huyền thoại chắc tui chết quá:062:
chieuphong
06-03-2008, 01:36 AM
Thêm vào Thích Kế Quang của Minh Triều cùng Du Đại Du đánh tan giặc Nuỵ Khấu chuyên cướp bóc vùng ven biển Trung Hoa . Ông cũng là chủ biên nhiều bộ sách khảo cứu và phân tích võ học nổi tiếng đến giờ còn có giá trị . :tungtung:
jumanji
06-03-2008, 04:12 AM
sao lý thường kiệt lại bi thiến nhỉ?chỉ hộ cái lý do coi???:grin:
sao không kể Cụ Hồ vào,nhân tài võ thuật của VN mà,ai cũng biết cụ bị tù xong tý xí lắc léo nhg nhờ co võ sáng nào cũng tự tập nên khỏi và khỏe ra đó(em là nể cụ nhất,bận thế mà vẫn có thời gian để tập võ:4:)
Hic, em đề nghị bác học lại lịch sử cho rành chút :015:.
Thứ nhất: Thái úy Lý Thường Kiệt cùng Tả quân Lê Văn Duyệt là 2 vị hoạn quan nổi tiếng trong lịch sử, đều là các trọng thần, có công lớn đối với triều đại của bọn họ. Lý Thường Kiệt đánh tan quân Tống xâm lược, còn Lê Văn Duyệt là trọng thần triều Nguyễn.
Thứ 2: Bác Hồ không phải là nhân tài võ thuật :018:. Đúng là ở trong tù thì điều kiện rất kham khổ nhưng không phải Bác "tý xí lắc léo" :029:. Võ mà Bác tập là Dương thức Thái cực quyền, do Cố Lưu Hinh, 1 nhà nghiên cứu Thái cực quyền sang dạy cho Bác.
----- Bài viết này được jumanji thêm vào sau 2 phút và 30 giây -----
Xin phép đc tiếp tục nói về những kỳ tài võ học tại Việt Nam .
- Yết Kiêu : 1 trong 2 tùy tướng lừng danh của Trần Hưng Đạo , công phu dưới nước của ông có thể coi đệ nhất thời đó . Đức Ông có nói " Chim hồng , chim hộc bay cao đc là nhờ 6 trụ xương cánh vũng chắc , nếu không cũng chỉ là chim thường thôi " là ám chỉ công lao của các ông . Yết Kiêu đc coi là ông tổ của đặc công thủy - người nhái của QDNDVN . Ông cũng thuộc nhóm sát thủ cảm tử của Nguyễn Khoái , chuyên phụ trách đánh thủy , nhóm của ông đã lập chiến công trong trận Vân Đồn , trận Bạch Đằng . Võ công của ông nổi tiếng đến mức lan truyền đến kinh đô nhà Nguyên . Người Nguyên đồn rằng Yết Kiêu - Đại Việt có thể ngủ ở đáy sông mấy ngày . Ông đã giao dấu và bắt sống Phạm Nhan - 1 đạo sĩ cao thủ đệ nhất của đoàn quân xâm lc , tay này luyện thần quyền , đao kiếm ko hại đc . Sau phải đích thân Hưng đạo vương chém mới chịu chết ( Đồn rằng PN nhìn thấy Trần Hưng Đạo thì nói rằng gặp Vũ khúc tinh quân và nhắm mắt chịu chết ) .
- Dã Tượng : Người tùy tướng thứ 2 của Trần Hưng Đạo , rất giỏi khinh công , ông đã chạy từ châu Hoan ( Nghệ An ) ra Tây Kết ( Bắc Ninh ) khoảng 500km trong 1 ngày để tryền mệnh lệnh chiến đấu, đến nơi sắc mặt ko đổi . NGày xưa đoạn đường đó hiểm trở hơn bây h , có những đoạn ngựa ko đi đc , để thấy công phu ghê gớm của ông . Ông đc chân truyền nghệ thuật hàng phục voi rừng của 1 võ sư người Ai lao , Dã tượng là biệt danh do TRần Hưng Đạo tặng do có công phu này . Có nhiều chiến công đc thờ chung cùng YK trong đền thờ của TRần Hưng Đạo tại Kiếp Bạc .
- NGuyễn Hữu Cầu : Được toàn bộ giới võ lâm VN thời Vua Lê - chúa Trịnh coi là đệ nhất cao thủ , có biệt danh là ' Hạng Võ nước Nam ' giỏi cả đánh bộ , lẫn dánh dưới nước . Ông thường dùng 1 đôi siêu đao , rất thượng võ , khi giao đấu thường chỉ đánh rơi binh khí của tướng địch và tha chết , đồn rằng ông đã thường biểu diễn công phu tay ko hạ trâu rừng tại hội choi trâu tại Đồ Sơn xưa. Thủy công cũng khét tiếng là 'Con rái cá Đồ Sơn ' ông đã bơi đứng gần 40 km từ của biển Nam Triệu đến tận soái thuyền của Phạm Đình Trọng để thư cảnh cáo trên giường và lại bơi ra ko ai biết .
- NGuyễn Huệ ( Quang Trung ) : Sau khi NGuyễn Hữu Cầu mất đi , phía Nam Hải Vân nổi lên 1 cao thủ trẻ tuổi có tên là Hồ Thơm hay cậu Ba Thơm- Người này đã nhanh chóng đc giới võ lâm vùng phía Nam coi là đệ nhất cao thủ kèm theo đó phái võ Tây Sơn nổi danh như cồn và đc coi đệ nhất phái của Việt Nam thời đó . Phần lớn các cao thủ thời đó như Nguyễn Quang Diệu , Bùi Thị Xuân , Nguyễn Văn Tuyết ... hay các cao thủ THiên Địa hội của TQ trốn sự tầm nã của nhà Thanh như Lý Tài , nhóm Đông Sơn... Cùng các cao thủ của Cao Miên , Xiêm la đều thất thủ trước ông . Về binh khí đường roi của ông là vô địch thủ , gọi là roi thật ra nó chính là 1 thanh trường côn nhưng công phu khi sử dụng được mềm dẻo như 1 ngọn roi nên thành tên . Tương truyền ngọn roi của cậu Ba Thơm ngoài đâm , chọc , quyét , bổ còn có thể mổ , cuốn , hút , ma lực kinh người nên còn gọi là thần roi . Công phu quyền cước của cậu Ba Thơm cũng có sở trường riêng do cùng với em là Tư Lữ nghiên cứu các thế đánh của gà chọi mà sáng tạo ra gọi là Kê quyền với các thế cước cực hiểm ( Võ công này hình như đã thất truyền ) . Cuộc đời huyền thoại của ông như ly kỳ như trong tiểu thuyết của Kim Dung , Chính ông đã nhất thống và là võ lâm minh chủ sau đó khởi nghĩa dùng cả võ lâm hậu thuẫn để dành chính quyền . Cả cuộc đời chinh chiến đánh Đông dẹp Tây , vào Nam ra Bắc bách chiến bách thắng ( Rất đặc biệt là ông Ko thua bất cứ 1 trận nào - Hầu như các danh tướng trên Thế giới dều ko làm đc ) Ông chính là Nguyễn Huệ - Một thiên tài quân sự của dân tộc Việt Nam .
Hình như bác còn thiếu Trần Nguyên Hãn, 1 võ tướng vô địch dưới trướng Lê Lợi :tungtung:.
nghi_khac
06-03-2008, 10:25 AM
Mấy bác đang nói về ChiNa...tự nhiên nhảy ầm ầm vào Nước Nam..muốn biết 1 chút..đọc truyện Trạng Tí ý...với lại các bác đừng sôi nổi quá...mấy cái liên quan đến nhạy cảm...em kg dám bàn :79:
namgiang
07-03-2008, 10:35 PM
Các bạn vào trang tvvn.org->thư phòng->thư viện đọc sách->kiếm hiệp viêt nam đọc truyện của Cư Sì Trần Đại Sỹ để tìm hiểu thêm lịch sừ , võ công , văn hóa , y học Việt Nam .
Chúc bạn vui vẻ
Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ?
Như đẳng hành khan thủ bại hư !
Đừng sợ hãi !
longkhau
08-03-2008, 01:33 AM
Hic, em đề nghị bác học lại lịch sử cho rành chút :015:.
Thứ nhất: Thái úy Lý Thường Kiệt cùng Tả quân Lê Văn Duyệt là 2 vị hoạn quan nổi tiếng trong lịch sử, đều là các trọng thần, có công lớn đối với triều đại của bọn họ. Lý Thường Kiệt đánh tan quân Tống xâm lược, còn Lê Văn Duyệt là trọng thần triều Nguyễn.
Thứ 2: Bác Hồ không phải là nhân tài võ thuật :018:. Đúng là ở trong tù thì điều kiện rất kham khổ nhưng không phải Bác "tý xí lắc léo" :029:. Võ mà Bác tập là Dương thức Thái cực quyền, do Cố Lưu Hinh, 1 nhà nghiên cứu Thái cực quyền sang dạy cho Bác.
----- Bài viết này được jumanji thêm vào sau 2 phút và 30 giây -----
Hình như bác còn thiếu Trần Nguyên Hãn, 1 võ tướng vô địch dưới trướng Lê Lợi :tungtung:.
Cảm ơn bạn đã nhắc nhở :045: Đúng vậy , sau triều Trần , nhà Hồ đã không giữ đc dất nước , và dân tộc ta đã rơi vào 1 thảm họa diệt chủng về văn hóa và lịch sử chưa từng có . Trong bối cảnh đó cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã thành công do đã quy tụ đc toàn bộ anh khí của dân tộc . Tất nhiên ko thể thiếu những anh hùng có biệt tài về võ công . Trần NGuyên Hãn đc Lê Lợi phong là Tả tướng quốc ( bây h là bộ trưởng quốc phòng ) và những chiến công của chiến thắng Tốt Động - Chúc Động , Đông Quan , Xương Giang , Chi Lăng ko thể thiếu tài cầm quân của ông . Trong Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi đã mô tả " Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật - Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay - Voi uống nước , nước sông phải cạn - Gưom mài dá , đá núi phải mòn " cực hay và hào hùng . Nhưng về võ công cá nhân của ông, tại hạ chưa đc biết nên ko dám bàn ( Chỉ biết 1 đoạn cố sự về cuối đời và cái chết bi hùng của ông ) nên rất mong muốn đc các bạn chỉ giáo thêm .
Nhưng trong cuộc khởi nghĩa LS , có 1 kỳ tài về võ học xin đc nêu lên:
- Nguyễn Xí : Người chỉ huy của đội quân ' Thiết Đột ' lừng danh . 1 nguyên nhân thành công lớn của Trương Phụ , thống soái quân Minh khi xâm chiếm Đại Việt là có 1 đội Hắc Thiết Kỵ khét tiêng , đội thiết kỵ này bách chiến bách thắng tung hoành khắp Trung nguyên và thảo nguyên Mông Cổ ko địch thủ . Chính họ đã chiến thắng đoàn quân khinh kỵ của Vương Bảo Bảo ( bạn nào đọc Kim Dung chắc nhớ me sừ này - va chính là anh của Triệu Minh ) .
NGuyễn Xí đã chứng kiến oai lực của đoàn quân này khi ông 16 tuổi khi toàn gia bị tàn sát . ông đã khổ công luyện đc 1 môn võ công để khắc chế sức mạnh của đạo quân này , Môn võ công này bề ngoài giống như môn " Địa đường quyền " của TQ. NHưng đg lối thi triển , luyện công , phuơng pháp xuất thủ khác hẳn . Ông đã thành công khi chứng minh trên thực tế và đc giao huấn luyện và chỉ huy đội quân ' Thiết đột ' Năm đó ông mơi 24 tuổi. Các chiến sĩ của đạo quân " Thiết đột " này khi ra trận toàn thân không trang phục , mà chỉ cuốn bằng giây thừng , bịt mặt nạ , dùng thân pháp lăn dưới chân ngựa dùng dao găm và tay ko để tiêu diệt kỵ sĩ trên lưng ngựa - Rất dũng cảm và sáng tạo - Đạo Hắc thiết kỵ ko chịu đc nhiệt khi gặp đội quân này của Nguyễn Xí - Vì vậy Nguyễn Trãi đặt tên cho đội cảm tử này là ' Những người đột vào sắt - Thiết đột '. Khi nghe tin có sự xuất hiện và chiến công của đạo quân ' Thiết đột ' này Trương Phụ đã thở dài và cáo ốm, khi Minh Thành Tổ đinh cử y sang tiép viện cho Vương Thông ( sau đó LIễu Thăng đi thay và bây h y vẫn nằm tai Quỷ môn quan - Chi Lăng ) :037::037::037:
chieuphong
08-03-2008, 01:42 AM
Các bác đang bàn về cao thủ võ học mà lại lôi Cụ Hồ vào thì bó tay :barf: Cụ nhà ta đúng là chỉ tập Thái Cực để dưỡng sinh thôi và cũng khuyến khích con em luyện tập thể thao chứ thành hàng cao thủ thì chưa :050:
:bye::bye::bye::bye:
delafere119
08-03-2008, 02:34 PM
Đừng nói đên người nước khác, hãy tự đặt 1 bước chân để trở thành kỳ tài bằng chính khả năng của mình.
Cách thức??? Đơn giản lắm
Hiện giờ mình muốn lập 1 nhóm tập dịch =VietPhrase chinese translation
Mời các bạn vào đây http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=5868
và đây http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=5894 để đăng ký dịch thử nha.
quáng cáo một tý về cách dịch này.
Đây là chương 14 quyển 5 TM
tiểu bảo chủ tự tòng thân thượng cấm chế bị giải khai hậu, bỉ [trước kia] [càng thêm] hoạt bát liễu, tại thần phong học viện giản trực như ngư đắc thủy. Tại tha [mười sáu] niên đích sanh mệnh [năm tháng] lí, tha [cảm giác] hiện tại đích thì quang [nhất] [vui sướng
dịch ra
Sau khi thân thể Tiểu bảo chủ được giải khai cấm chế, so với trước kia lại càng thêm hoạt bát, tại Thần Phong Học Viện giống như cá gặp nước. Trong 16 năm sống trên đời, nàng cảm thấy thời gian hiện tại là khoái lạc nhất.
trước kia] tha sanh hoạt tại sở quốc hoàng thành [trong vòng], do vu [địa vị] [tôn quý], [bạn cùng lứa tuổi] kiến đáo tha vô [bất tất] cung tất kính, trừ liễu tha đích [tỷ tỷ] sở nguyệt ngoại [cơ hồ] [tìm không thấy] [một] cảm hòa tha ngoạn nháo đích nhân. [cho dù] thị na ta quý tộc [đệ tử] kiến đáo tha dã thành hoàng thành khủng, [đương nhiên] [chủ yếu] nhất bộ phân [nguyên nhân] thị tiểu bảo chủ [quá mức] [điêu ngoa], lệnh [tất cả mọi người] đầu thống [không thôi
dịch ra:
Trước kia nàng vốn sống ở bên trong hoàng cung Sở quốc, do có địa vị tôn quý,bạn bè cùng lứa tuổi diện kiến cô đều không thể không cung kính, gần như không có ai ngoài chị nàng là Sở Nguyệt dám cùng nàng chơi đùa. Thậm chí nếu là những đứa trẻ thuộc dòng dõi quý tộc nhìn thấy cô cũng hết sức lo sợ, đương nhiên nguyên nhân chính là do Tiểu bảo chủ quá điêu ngoa, xảo trá, khiến cho mọi người phải nhức đầu.
hoặc với PLPS (mình chưa dịch)
Long [vừa nhìn] trứ tinh linh nữ vương [hắc hắc] trực tiếu, tự [trào phúng] hựu tự tại thiêu đậu. Đột nhiên, tha phác đích [một tiếng] [phun ra] [hoàn toàn,một hơi] tiên huyết, huyết ti lưu thảng tại [vẫn như cũ] [mang theo] tiếu ý đích [khóe miệng], hữu [một loại] [nói không nên lời] đích tà ác dữ quỷ dị.
"Long nhất." Lãnh [sâu kín] [kêu sợ hãi] [một tiếng] cấp [bước lên phía trước] phù trụ long nhất, u lãnh đích mục quang trực [bắn về phía] tinh linh nữ vương hòa thất đại trường lão, [trên trán] đích hắc liên [ấn ký] [như nước] văn bàn ba động trứ. Tha tuyệt đối [không thể] [chịu được] [có người] [thương tổn] tha tối [âu yếm] đích nhân, giá giản trực bỉ [giết] tha hoàn yếu nan thụ.
lộ thiến á kiến long [nhổ] huyết, lệ châu nhân [càng] cổn cổn lạc hạ, tha [quay đầu lại] [nhìn nhìn] tinh linh nữ vương, hận hận nhất đóa cước triêu long nhất bào khứ
kết hợp với HV
Long nhất vọng trứ tinh linh nữ vương 嘿嘿 trực tiếu, tự trào phúng hựu tự tại thiêu đậu. Đột nhiên, tha phác đích nhất thanh phún xuất nhất khẩu tiên huyết, huyết ti lưu thảng tại y nhiên đái trứ tiếu ý đích chủy giác, hữu nhất chủng thuyết bất xuất đích tà ác dữ quỷ dị.
"Long nhất." Lãnh u u kinh khiếu nhất thanh cấp mang thượng tiền phù trụ long nhất, u lãnh đích mục quang trực xạ hướng tinh linh nữ vương hòa thất đại trường lão, ngạch đầu thượng đích hắc liên ấn kí như thủy văn bàn ba động trứ. Tha tuyệt đối bất năng nhẫn thụ hữu nhân thương hại tha tối tâm ái đích nhân, giá giản trực bỉ sát liễu tha hoàn yếu nan thụ.
lộ thiến á kiến long nhất thổ huyết, lệ châu nhân canh thị cổn cổn lạc hạ, tha hồi đầu khán liễu khán tinh linh nữ vương, hận hận nhất đóa cước triêu long nhất bào khứ
sau dịch tốt rồi thì solo một mình 1 bộ chẳng phải là tuyệt sao???????
longkhau
08-03-2008, 04:24 PM
Topic nói về các kì tài võ học TQ , mà bàn về võ học VN thì cũng hơi khiên cưỡng - Nhưng tai hạ cho rằng nền võ học của VN và TQ có mối quan hệ mật thiết và bàn về kì tài VH của VN cũng ko lạc xa chủ đề lắm .
Xin phép đc tiếp tục câu chuyện :
- Lê Văn Khôi : Trong cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành (PBV ) - Đây là cuộc nổi dậy của nông dân lớn nhất , dưới triều Minh Mệnh , họ đã chiếm phần lớn Bắc Bộ và làm rung chuyển cả giang hồ . Đã có câu sấm " Trên trời có ông sao Tua , ở dưới hạ giới có Vua Ba Vành " cuộc nổi dậy đã quy tụ đc rất nhiều cao thủ đất Việt thời đó tham gia . Bản thân PBV cũng là 1 đại cao thủ . Truyền rằng ông có biêt tài về khinh công , thường vuốt chòm lông ở bàn chân ( Chắc lúc đó là đề khí thôi ) là nhảy 1 phát cả sào ruộng (khoảng 30m ) . Nhưng môn võ công trấn giang hồ của ông là phóng lao , và ngọn lao của ông của ông chính là nguyên chiếc băp cày có cả lưỡi ( chiếc cày chìa vôi của Bắc Bộ ) nặng khoảng 15 kg , ông phóng ngọn lao này xa hàng trăm mét , chính xác tuyệt đối , kể rằng ông cho trẻ mục đồng đứng xắp thẳng hàng trong ruộng và từ xa phóng chiếc bắp cày cắm đúng ngay trước mũi bàn chân , nước trong ruộng lúa văng đầy mặt bọn trẻ , ai ko run sợ ông mới cho theo quân nổi dậy . Võ công như vậy mà ra chiến trường thi kinh khiếp thế nào ? Trong trận hạ đại đồn Trà Lý , ngọn lao của ông bay từ kc hơn trăm mét , bay lên mặt lũy xuyên qua bụng 1 viên tướng nhà Nguyễn đang đốc chiến trên mặt thành , dư lực hất tay này bay lên cao , kêu rú cùa quạng , rồi rơi phịch xuống gan ruột văng tung tóe . Cảnh tượng kinh khủng khiếp - hoảng hốt làm các chiến binh giữ cửa thành vứt binh khi mà chạy sạch . Chủ tướng võ công cao như vậy thị bộ hạ ko thể kém đc . NHưng bên cạnh ông còn có 1 nhân tài võ học đó là
Nguyễn Văn Khôi , đc coi là cao thủ tuổi trẻ xuất sắc nhất của đoàn quân nổi dậy . Anh là ai ?
Trích ngang tư liệu chiến đấu :
- Tên : Nguyễn Văn Khôi sau đổi tên là Lê Văn Khôi ( LVK ) .
- Biệt hiệu : Không có .
- Quê quán : Tuyên hóa ( Tuyên Quang )- Nam Viẹt
- Hình dáng và các điẻm nhận dạng: Cao lớn , tóc thường để xõa vai, toàn thân xăm 1 con thanh long . Mặt chữ điền , mắt to , sáng như điện , lông mày đậm dài đến chân tóc , tay dài quá gối .
- Xuất sứ võ công : Có khả năng thiên bẩm về võ công , Người trong gia đình bị hổ hại , từ bé sống 1 minh , để trả thù đã để công theo rõi sinh hoạt , tập quán của loài hổ trong 3 năm, phỏng theo loại hổ mà sáng tạo cho mình 1 đường lối võ công riêng . Năm 12 tuổi đc 1 vị sư bịt mặt truyền dậy võ công , võ công của người này phẳng phất của phái Y hạ cốc - Xung thằng đảo - Phù Tang
Được công nhận ngay là cao thủ đệ nhất trong đoàn quân của PBV ngay khi vừa gia nhập . Được giao trong trách giao dịch với các bang hội trong giới võ lâm của TQ , Phù Tang , Xiêm la , Cao miên . Đã thi đấu thủ tài và bất bại với các cao thủ của các tổ chức này . GIành đc sự nể trọng của họ . Vì vậy mà khi PBV bị thua trận bị băt , LVK từ nơi xa trở về ko kịp cứu PBV , đã tự nguyện bị bắt và chịu chết cùng chủ tướng khi sa cơ . Đã có nhiều bang hội và cao thủ gặp Tả quân Lê Văn Duyệt ( LVD ) xin Tả quân quan tâm đến người này . LVD ko tin , nhưng hôm ra pháp trường dự sử phạt đoàn quân khởi loạn PBV ( Các hình phạt ngày xưa dành cho nhũng kẻ dám tạo phản , dành ngôi báu vô cùng man rợ ) trước các cảnh kinh sợ như vậy , LVD thấy trong đám phản quân bị bắt có 1 người khôi ngô , đứng như mãnh hổ sa cơ , nét mặt thản nhiên ko hề sợ hãi , bon quân lính áp giải ko dám đứng gần , Duyệt sai hỏi ai , tả hữu tâu là NVK , cho gọi Khôi lại , Khôi lại ko chịu quỳ trc Duyệt , Duyệt hỏi : Tài gì . Trả lời : Tài sao ở đây . Hỏi : làm đc gì . Trả lời : Lên rừng bắt hổ nghịch, xuông biển đùa giao long . Duyệt cho thử , Khôi tay ko đi vao lồng nhốt hổ đói , con hổ nhìn thấy Khôi , lông dựng đứng , đuôi quặp lại , chảy cả rớt dãi ( chắc nhìn thấy con hổ to hơn ) phục xuống . Khôi vuốt đầu hổ và quay ra . Duyệt bảo : Sao ko gọi là tài . Khôi cười nhạt : Xuống Đông , Đông tạnh . Lên Đoài , Đoài tan mới là tài . Duyệt thích quá cởi ngay cái áo mặc cho Khôi ( motip nay hình như hơi cũ ) đưa về trướng , nói chuyện cả đêm . Sáng hôm sau nhận Khôi làm con nuôi và đổi tên là Lê Văn KHôi . Minh Mạng nghe kể chuyện thở dài than " Ta vừa giết đc 1 con mãnh hổ - Nhưng lại để sổng con giao long " . Khôi sau theo Duyệt lập nhiều chiến công danh tiếng lẫy lừng vùng sông MeKong , người Cao Miên và Xiêm la nghe tên Khôi sợ mất mật .
sollos
13-03-2008, 04:42 PM
Công phu quyền cước của cậu Ba Thơm cũng có sở trường riêng do cùng với em là Tư Lữ nghiên cứu các thế đánh của gà chọi mà sáng tạo ra gọi là Kê quyền với các thế cước cực hiểm ( Võ công này hình như đã thất truyền ) .
Bạn ơi, hoàng đế Quang Trung là em út trong ba anh em mà. Nguyễn Lữ là anh thứ hai chứ nhỉ?
Tất cả các tài liệu chính thức và cả không chính thức đều khẳng định là Nguyễn Huệ là người nhỏ nhất trong ba anh em. Chỉ có lời truyền miệng của dân Quy Nhơn thì cho là Nguyễn Huệ xếp trên thôi.
Về thứ tự của Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ trong các anh em, các nguồn tài liệu ghi không thống nhất:
* Các sách Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam chính biên liệt truyện, Tây Sơn thuỷ mạt khảo đều thống nhất ngôi thứ trong ba anh em Tây Sơn đã khẳng định rằng: "Con trưởng là Nhạc, kế là Lữ, kế nữa là Huệ".
* Dân phủ Quy Nhơn xưa truyền lại rằng: Nguyễn Nhạc thuở đi buôn trầu nên gọi anh Hai Trầu; Nguyễn Huệ còn có tên là Thơm nên gọi là chú Ba Thơm; Nguyễn Lữ gọi là thầy Tư Lữ.
* Theo thư từ của các giáo sĩ phương Tây hoạt động ở Đại Việt khi đó như Labartette, Eyet và Varen thì Nguyễn Huệ là em của Nguyễn Lữ. Nguyễn Lữ được gọi là Đức Ông Bảy còn Nguyễn Huệ là Đức Ông Tám.
* Lê Trọng Hàm trong sách Minh đô sử lại cho rằng Hồ Phi Phúc sinh "Nhạc, Lữ đến hai cô con gái rồi đến Huệ".
DatNe
13-03-2008, 04:48 PM
Tổ sư Ma Đạt của chùa thiếu lâm
Trương Tam Phong sư tổ và người sáng lập ra Võ Đang
Hai người này không biết có thật hay không nhỉ?
tuxedohn
13-03-2008, 04:52 PM
gjhgjghjhgjghh
';';';';';';';';
truonggiang1980
13-03-2008, 06:44 PM
Các bạn vào trang tvvn.org->thư phòng->thư viện đọc sách->kiếm hiệp viêt nam đọc truyện của Cư Sì Trần Đại Sỹ để tìm hiểu thêm lịch sừ , võ công , văn hóa , y học Việt Nam .
Trần cư sĩ chuyên môn thổi phồng "tinh thần Việt" lên tận mây xanh. Truyện nào cũng phóng đại và thần thánh hóa "Việt nhân" như thể tiên nhân vậy. Còn Mông Cổ, Trung Quốc... chỉ như đám học trò của Việt.
Cái này nhiều người gọi là thẩm du tinh thần đó.
Cũng là bắt chước anh Tàu thôi. Do bị thua Nhật trong thời Mãn Thanh lẫn thời Dân Quốc, họ thù người Nhật, ghét người Nhật đến độ trong phim ảnh lúc nào cũng mô tả người Nhật như bọn du côn, không biết 1 tí lý lẽ nào, chuyên giết người hại người, tựa lũ quỷ khát máu, lại chuyên rình rình ăn cắp võ công của TL, của TQ... Rốt cuộc Nhật luôn bị TQ đánh cho đại bại.
Người TQ đã từng thẩm du tinh thần như thế đó.
chieuphong
13-03-2008, 07:48 PM
À thêm tướng Lưu Vĩnh Phúc , cũng từng trao đổi võ thuật với Hoàng Phi Hồng , đêm quân đánh đâu thắng đó ( thắng quân Pháp ít nhất 2 lần ) :hoho:
llkkcc
15-03-2008, 03:39 AM
ta thấy mấy nhân vật này có thể có nè
Quách Tường chưởng môn phái nga mi
Vương Trùng Dương chưởng mpn phái toàn chân
Hạng Vũ lão này thời đó kiếm người đánh với lão chỉ có quẻo mà thôi
Kinh kha thủy tổ của môn đánh kiếm(k biết đúng k)
nlkien
15-03-2008, 01:36 PM
:uong2: như trên chỉ là 1 số thôi huynh, không đủ đâu
Tiểu Ngư Nhi
15-03-2008, 01:39 PM
Lý Tiểu Long nữa :tungtung:
Deatheye
15-03-2008, 01:42 PM
Phương Thế Ngọc nữa:uong2::uong2:
Tiểu Ngư Nhi
15-03-2008, 01:47 PM
Trương Tam Phong nữa :tungtung:
hokata
15-03-2008, 01:53 PM
Con lạy các bố xú khí môn... Để yên cho con tìm bài có giá trị đọc cái nào.:029:
Tiểu Ngư Nhi
15-03-2008, 01:55 PM
Con lạy các bố xú khí môn... Để yên cho con tìm bài có giá trị đọc cái nào.:029:
Vớ vẩn, đang nêu những kỳ tai võ học mà :2one::2one::2one: có cần ta nêu thêm nữa không? :tt1::tt1::tt1::tt1:
muulinh
23-03-2008, 01:33 PM
Võ thuật là kỹ thuật hay phương thức dùng sức mạnh (nội lực, ngoại lực) để chiến thắng đối phương. Với tư cách là một nghệ thuật vận động sản sinh ra trong đấu tranh giữa con người với thiên nhiên (các loài thú dữ), con người với kẻ thù bên ngoài (địch thủ), và con người với kẻ thù bên trong chính bản thân anh ta (bệnh tật), võ thuật hướng đến mục tiêu đem lại cho con người sự chiến thắng trong các cuộc chiến, rèn luyện sức khỏe, và phục vụ một số nhu cầu cần thiết tùy thuộc vào từng bộ môn.
Trải theo thời gian, võ thuật hiện đại không còn nhấn mạnh vai trò chiến đấu và chiến thắng bằng mọi giá như trước, mà đã chú trọng hơn nhiều đến các mục tiêu khác như để rèn luyện sức khỏe, thực thi quyền tự vệ chính đáng khi hữu dụng. Một số môn phái được đưa ra thi đấu như những môn thể thao biểu diễn hoặc đối kháng với những điều luật khắt khe nghiêm cấm sử dụng các đòn đánh hiểm, độc.
Tuy có thể đồng nhất "Võ" và "Võ thuật", nhưng thực ra hai khái niệm ít nhiều vẫn có ranh giới. "Võ", nói chung, chỉ lối đánh nhau bằng tay không hay binh khí, và đôi khi, nhằm chỉ một bộ môn đối lập với "văn"; còn "võ thuật" lại thiên về nghệ thuật vận động hơn. Theo đó võ thuật đề cao phương pháp, cách thức, sự khéo léo, kỹ thuật, nghĩa là sự phát huy toàn diện sức mạnh của con người để chiến thắng mọi địch thủ mà không chỉ là những đối thủ trực diện trên sàn đấu. Bên cạnh các thuật ngữ trên còn có thuật ngữ "Võ nghệ", vừa có nội hàm rất gần với thuật ngữ võ thuật, vừa mang ý nghĩa nghề nghiệp, khẳng định võ cũng là một nghề trong xã hội, nghề võ. Cũng không thể không nhắc đến một khái niệm thường được các võ đường và các võ sư đề cao, thuật ngữ "Võ đạo", nhấn mạnh tính nhân văn, văn hóa trong võ thuật, khẳng định tột đỉnh của võ là văn, đằng sau võ học là cội nguồn triết học, hạt nhân đạo đức và chiều sâu tôn giáo, đồng thời đưa sự khốc liệt có tính bản chất của võ, một công cụ để tàn sát, xuống hàng thứ yếu.
Các môn công phu
Hệ thống công phu võ thuật hợp thành "tứ đại công phu", gồm Nội công, Ngoại công, Nhuyễn công và Ngạnh công, trong đó Nhuyễn Ngạnh công phu tuy có khi được xếp vào hệ thống Ngoại công, nhưng vẫn thường thấy sự khu biệt của nó do những điểm đặc thù:
Nội công
Là những phương thức luyện tập bằng cách sự tập trung tối đa tâm ý khí lực theo những phương thức đặc biệt nhằm phát huy các năng lực bí ẩn của con người, khi luyện thành thì có thể dùng tĩnh chế động. Nội công bao gồm các phương thức luyện tập:
Luyện tập tĩnh: Là phương pháp luyện tập bằng cách các hành giả ngồi yên lặng trong không khí tĩnh mịch và thả lỏng thể xác cũng như tâm hồn để luyện tập, như Nội công thiếu lâm tự
Luyện tập động: Là phương pháp các hành giả chuyển động theo các bài tập nhằm tập trung tinh thần để luyện ý, như Bát đoạn cẩm Thiếu lâm.
Ngoại công
Là các công phu luyện ngoại lực, có thể bao gồm trong nó cả Nhuyễn công và Ngạnh công, với các phương thức luyện tập các chiêu thức tấn công linh hoạt, mạnh mẽ và từng phần cơ thể để phòng thủ hữu hiệu. Khi luyện đại thành thì sức lực di hành khắp chân thân không bị ngăn trở, do đó muốn vận dụng đến sức thì sức có ngay, thân thể cương cường, da thịt gân xương đều cứng chắc, đến đao kiếm cũng khó bề gây thương tích. Ngoại công bao gồm các phương thức tu luyện:
Luyện tập hình: Là luyện tập các kỹ năng có hình dáng cụ thể, như Bát quái Quyền.
Luyện tập ý: Là luyện sao cho đúng ý của các bài luyện, ví dụ như Triệt quyền đạo, Thái cực Quyền.
Luyện tập pháp thể: Là luyện thể lực và thể hình, như Đấu vật, Su mô.
Nhuyễn công
Là các công phu chuyên luyện lực âm, nhu lực, âm công, khi luyện đại thành thì bề ngoài cơ thể không có biểu hiện gì của người biết võ (như tay chân không sần sùi, cơ thể không cường tráng), nhưng lực đánh ra rất nguy hiểm (nên nhiều khi được gọi là độc thủ). Tương truyền, một số công phu như Nhất chỉ thiền công (luyện phóng một ngón tay), Quan âm chưởng (luyện cạnh tay), Tỉnh quyền công (luyện quyền bằng cách đấm tay xuống giếng) có thể đả thương người từ xa, Nhu cốt công luyện khớp xương toàn thân mềm dẻo v..v..v
Tương truyền ở Nhật Bản từ xa xưa lưu truyền một môn võ thuật có tên là Bí thuật Nhu công. Người luyện tập nhìn bề ngoài có vẻ rất yếu đuối nhưng khi ra tay thì vô cùng tàn độc, nhất là những đòn đánh Cầm nã thủ lấy mạng người dễ dàng vô cùng. Các chiêu thức tung ra gần như chỉ để có một mục đích là lấy mạng đối phương mà thôi.
Vào đệ nhị thế chiến, môn võ thuật này nghe nói được phổ biến cho các chiến sĩ trong những lực lượng cảm tử và sát thủ, nhưng sau này bị cấm và mất đi tông tích bởi vì quá độc ác mà cho tới nay chưa ai rõ lý do thất truyền, chỉ biết rằng một kẻ luyện tập môn võ này dù có thân thể bệnh hoạn yếu ớt, một khi đã dốc lòng luyện tập đều có thể trở thành cỗ máy giết người.
Ngạnh công
Là các công phu chuyên luyện sức mạnh dương cương, dương lực, dương công, như Thiết sa chưởng (chưởng tay sắt), Thiết tảo trửu (chân quét), Thiết tất cái (đầu gối).Trong đó phải kể tới các môn công phu của Thiếu Lâm rất đặc sắc như : Thập tam thái bảo (thân thể cứng),Thiết bố sam (thân cứng như sắt),Đồng tử công (cũng luyện thân thể)... Khi luyện đại thành thì tay chân người tập chai sần, cứng như sắt, cơ thể tráng kiện, cơ bắp cuồn cuộn. Sức mạnh đòn đánh có được khi đòn tiếp xúc với cơ thể đối phương với uy lực khủng khiếp.
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 3 phút và 51 giây -----
Võ thuật và các bộ môn hỗ trợ
Hô hấp
Trong võ thuật, hô hấp được chia làm hai loại chính là Nội hô hấp và ngoại hô hấp.
Các phương pháp hô hấp này có trong võ thuật là do Bồ Đề Đạt Ma và các môn đồ Thiếu Lâm, các môn đồ các phái võ Trung Hoa hấp thu từ các phương pháp luyện thở của Yoga và Phép đạo dẫn (luyện thở, luyện hô hấp) của các trường phái Đạo gia để vận dụng chúng huy động nguồn sức mạnh của thân xác và tâm trí đạt hiệu quả cao khi luyện võ công
Nội hô hấp
Đây là hoạt động của chân khí, là sự tiếp thu dưỡng khí, các chất bổ đưa đến từng tế bào và biến chuyển các dạng năng lượng. Hoạt động này bắt đầu từ lúc cơ thể con người chỉ là thai nhi. Nội hô hấp theo thời gian sẽ dần thoái hóa nhường chỗ cho ngoại hô hấp tiến triển.
Ngoại hô hấp
Thể hiện cho hoạt động hô hấp bằng mũi, bắt đầu xuất hiện khi chúng ta ra khỏi bụng mẹ. Ngoại hô hấp dần dần phát triển mạnh mẽ để nuôi dưỡng và cung cấp dưỡng khí cho cơ thể.
Khí
Khí động học
Dựa trên các quy luật tự nhiên để chuyển động, nguyên tắc chủ yếu là thuận theo quy luật tự nhiên, mọi thứ đều khép kín tuần hoàn lưu chuyển như dòng nước.
Sử dụng và thể hiện nỗ lực lưu thông khí của cơ thể (như những tiếng hét) để tạo sức mạnh nén khí và giải tỏa khí.
Khí vũ trụ
Con người sống trong vũ trụ sinh hoạt và chuyển động đều có tương quan đến vũ trụ, nếu thuận theo vũ trụ và khí từ vũ trụ thì sẽ lớn mạnh, còn ngược lại sẽ bị hủy hoại. Võ thuật lợi dụng đặc tính này để tạo ra các hình thức luyện tập nhằm nâng cao thể trạng như nội công, khí công, hấp pháp v.v.
Triết học phương Đông với võ thuật
Võ thuật là một bộ môn văn hóa đặc trưng gắn liền với triết học. Các võ sư đã đúc kết bằng câu nói nổi tiếng: "đằng sau võ học là triết học". Các bộ môn võ học phương Đông đều dựa trên nền tảng các nguyên lý triết học:
Âm dương
Âm dương là hai mặt quan hệ đối lập nhưng hỗ trợ nhau, võ thuật lấy bản thân người tấn công và người phòng thủ làm hai mặt này. Để đạt đến mục đích công phá cao nhất thì phải đẩy một mặt đặc tính lên cao nhằm lấn át mặt còn lại.
Ngũ hành
Ngũ hành là quy luật hậu thiên tương ứng với bản chất con người, để nâng cao hiệu quả phải biết nâng cao mặt yếu và trấn áp sự thái quá. Dựa trên ngũ hành các quy luật võ thuật tạo ra sự bổ khuyết cho nhau cũng như sự quấy rối bản chất nhau.
Bát quái
Bát quái như một sự phát triển cao hơn của âm dương, nó thể hiện chu kỳ hoàn chỉnh xoay vần của tạo hóa. Tuân theo bát quái để chuyển động cũng là tạo ra một chu trình sinh hóa của tự nhiên, lúc đó mọi vấn đề còn lại sẽ phụ thuộc vào kẻ điều khiển chứ không bị ảnh hưởng nhiều bởi xung quanh.
Cửu cung
Là một biến thiên của bát quái khi thêm trung cung, tạo ra chỉnh thể tương ứng với quy luật vận hành của con người. Đây là một kiến tạo nhằm đáp ứng cho nhu cầu vận động của một số lượng người nhiều, hầu như ngày nay không còn được ứng dụng mấy (ví dụ như biểu diễn tập thể hàng ngàn người)
Đông y với võ thuật
Luyện tập sơ khai võ thuật thì không cần chú trọng đến bản chất, các phương pháp chữa trị khi biến chứng xẩy ra hoặc phản ứng của cơ thể với quá trình luyện tập. Khi luyện tập những thứ dễ bị lệch lạc hay khó thì các phương pháp thăm dò, theo dõi biến chuyển là một trong những trọng tâm của quá trình luyện tập.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/58/FM21-150combativesfig4-1vitaltargets.png/180px-FM21-150combativesfig4-1vitaltargets.png
Kinh, mạch, lạc
Kinh là 12 đường trực hành liên hệ trực tiếp đến tạng phủ. Sự vận hành khí của võ thuật tuân thủ chặt chẽ theo sự chuyển động của các đường kinh.
Mạch là 8 đường hay còn gọi là bát mạch như tám đại dương để khí từ các kinh đổ vào. Đây là những nơi được chú ý đến nhiều nhất trong võ thuật, hầu hết các hành giả luyện tập đều cố khai thông chúng.
Lạc gồm 15 đường chạy lẫn trong các kinh âm và dương nối các đường kinh với nhau. Những lạc nhỏ là tôn lạc, phù lạc chạy khắp thân thể. Là phần phải thông qua để đạt đến vòng Đại Chu Thiên hoàn chỉnh.
Một số huyệt đạo chínhHuyệt đạo
Huyệt đạo là những điểm có khí tụ lại lớn, thường là những điểm giao nhau của nhiều đường kinh mạch.
Dựa trên các khái niệm khí huyết lưu chuyển trên võ thuật cho ra đời hai vòng lớn là Tiểu chu thiên và Đại chu thiên.
Huyệt đạo là những điểm nhạy cảm trên thân thể, theo đó người dụng võ có thể tấn công vào các huyệt đạo để gia tăng tính sát thương của đòn thế. Khi bị tấn công vào huyệt đạo, người chịu đòn có thể có những phản ứng rất đặc biệt: đau đớn dữ dội, chấn thương nặng, bất tỉnh, chết. Huyệt đạo trong võ thuật cũng gắn trực tiếp với các phương pháp cứu chữa người bị chấn thương, bệnh tật. Theo các võ sư, cơ thể có 108 huyệt đánh và 108 huyệt chữa trị, lại có 12 huyệt có thể đánh hẹn giờ chết. Các võ sư thường truyền dạy không chỉ phương thức tấn công huyệt đạo mà cả các phương pháp chữa trị bằng huyệt đạo như bấm huyệt, xoa bóp, châm cứu. Tuy nhiên, biết được vị trí huyệt đạo đã khó, biết được cần tác động bằng phương thức nào và độ sâu của đòn đánh đến đâu để đạt được hiệu quả tính cao nhất còn khó hơn. Bởi vậy, điểm huyệt và giải huyệt chưa bao giờ được truyền dạy một cách phổ thông, quảng bá cho tất cả các môn đồ của võ phái, do đó theo thời gian những tinh hoa này không tránh khỏi mai một và thất truyền
bach thu pham
23-03-2008, 01:39 PM
Bổ sung thêm một số nhân vật :
- Thích Kế Quan( ai coi Thương Hải thì biết nhân vật này): soạn sách "kỷ Hiệu tân Thư" là chọn lọc tinh hoa các nhà , tổng kết võ thuật TQ từ cổ đại đến nhà Minh.
- Du Đại Du : tổng hợp nghiên cứu cách sử dụng của các loại vũ khí soạn thành " kiếm kinh", được coi là kinh điển quan trọng trong võ thuật TQ.
-Trình Tông Hiến : viết " canh dư thặng ký" tổng kết tinh hoa các nhà ( được xem là đoạn kết của " kỷ hiệu tân thư" )
-Trần Vương Đình : sáng lập Thái Cực Quyền kiểu họ Trần.
-Đổng Hải Xuyên : Đại sư Bát Quái Chưởng.
- Dương Phúc Khôi : người sáng lập Thái Cuạc Quyền kiểu họ Vương.
-Võ Vũ Tương : Người sáng lập Thái Cực Quyền kiểu họ Võ.
Toàn là người không wen, thank pác nhiều :grin:
----- Bài viết này được bach thu pham thêm vào sau 1 phút và 26 giây -----
Đông Phương Bất Bại :)):)):))
Kỳ tài biến thái của võ học trung hoa :2one::tungtung:
----- Bài viết này được bach thu pham thêm vào sau 4 phút và 49 giây -----
trời sao không ai kể kỳ tài việt nam kể trung quốc làm gi
em bắt đầu bằng
Trần Hưng Đạo- nể ông này luôn chỉ sau Quang Trung Nguyễn Huệ
Nhưng đó không phải kỳ tài võ học mà là kỳ tài cầm quân
Lý Thường Kiệt (ông này bị thiến rồi đó nghe, sự thật 100%)
Sao mà bị thiến vậy pác :021:, ông anh hùng cái thế lắm mà :dead:
muulinh
23-03-2008, 01:44 PM
Võ thuật và các bộ môn nghệ thuật
Điện ảnhĐiện ảnh Trung Hoa có đặc điểm thường hay gắn với quá trình lịch sử của họ. Đặc biệt, phim ảnh của Hồng Kông vào những năm đầu của thập kỷ 1960 thường tập trung khai thác tối đa các sự kiện lịch sử như sự kiện 14 vị nữ anh hùng con dâu và cháu dâu của Dương Nghiệp, một vị đại tướng nổi danh thời Bắc Tống giúp Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn bình định các tộc hung nô phía bắc Trung Hoa, đã xuất chinh thay cho gia đình chồng giúp triều đình chinh phục các cuộc xâm lăng của người Hồ phía bắc biên cương, bộ phim này rất nổi tiếng với tựa đề Thập Tứ Nữ Anh Hào.
Sau này Trung Hoa Đại Lục có làm lại bộ phim dài tập này kể lại toàn bộ câu chuyện dưới tựa phim khác là Dương Gia Tướng đã được công chiếu trên màn hình đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Hoặc như các bộ phim sau này thường tập trung vào các nhân vật lịch sử, đôi khi chỉ là hư cấu, như các nhân vật trong Thủy Hử truyện của Thi Nại Am kể về cuộc khởi nghĩa nông dân thời Bắc Tống của các vị anh hùng Lương Sơn Bạc như Võ Tòng, Tống Giang, Lâm Xung, ... với những sự tích hào hiệp cứu khổ dân lành.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/e/e2/Fong_sai_yuk.jpg/150px-Fong_sai_yuk.jpg
Lý Liên Kiệt trong vai Phương Thế Ngọc (phần 2)Các hãng phim Hồng Kông rất nổi tiếng từ những năm của thập kỷ 1960 cho đến nay chuyên làm các loại phim chuyển thể tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa cổ đại có thể kể ra như hãng Golden Harvest (hãng Gia Hòa) đã từng làm cuốn phim Đường Sơn Đại Huynh (Big Boss) là cuốn phim quyền cước đầu tiên của Lý Tiểu Long (Bruce Lee), hãng phim truyền hình TVB, ATV, ..., trong đó nổi tiếng nhất và có nhiều phim hay nhất phải kể đến là hãng TVB kể trên, hãng Shaw Brothers (hãng Thiệu Thị) có những phim rất đặc sắc mà sau này ít có hãng nào vượt qua được.
Điện ảnh Đài Loan cũng tập trung khai thác mảng đề tài lịch sử khá nhiều với những bộ phim về các nhân vật lịch sử như Quan Công Đại Đao kể về Quan Vũ một nhân vật thời Tam Quốc với nghĩa khí can trường anh hùng trung liệt, Bao Công một vị quan thanh liêm thời Bắc Tống với 43 kỳ án là phim dài tập với nhân vật như Trương Long, Triệu Hổ, Công Tôn Thắng quân sư, Triển Chiêu (Triển Hộ Vệ) do diễn viên xuất sắc Hà Gia Kính thủ diễn mà cho đến nay chưa có ai qua được anh trong vai này. ...
Nguồn gốc của các chủ đề phim anh hùng lịch sử Trung Hoa có thể nói là có nguồn gốc từ Kinh kịch chuyển thể sang. Kinh kịch là một loại ca kịch cổ Trung Hoa mà trong đó thường hay có những màn biểu diễn võ thuật các phái võ truyền thống Trung Hoa cổ truyền.
Đa phần các diễn viên điện ảnh của Trung Hoa sau này đều đã từng trải qua các chương trình huấn luyện về Kinh kịch, thậm chí những võ sĩ hay huấn luyện viên, võ sư thật sự khi tham gia đóng phim cũng bị buộc phải trải qua một vài khóa huấn luyện về Kinh kịch như diễn viên vận động viên Wushu Lý Liên Kiệt, Chân Tử Đan, Triệu Văn Trác, Ngô Kinh, ...
Võ thuật và các bộ môn nghệ thuật sân khấu, điện ảnh Trung Hoa gắn bó với nhau từ rất lâu, nhưng hầu như chỉ bắt đầu phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của Lý Tiểu Long trong loạt phim quyền cước do anh thủ vai diễn viên chính như Thanh Phong Hiệp, Đường Sơn Đại Huynh, Tinh Võ Môn, Long Tranh Hổ Đấu, Mãnh Long Quá Giang, Tử Vong Du Hí. Sau anh, rất nhiều diễn viên, võ sĩ đã tham gia diễn xuất như Khương Đại Vệ, Địch Long, La Liệt, Vương Vũ, Trần Tinh, Trần Quang Thái, Phó Thanh, ... là những diễn viên nổi tiếng của Hồng Kông vào những năm đầu thập kỷ 1970, sau này còn có thêm Thành Long (Jackie Chan), Hồng Kim Bảo, Quan Chi Lâm, Hà Gia Kính, Lý Liên Kiệt (Jet Li), Triệu Văn Trác, Chân Tử Đan (còn gọi là Chung Tử Đơn), Phàn Thiếu Hoàng, Ngô Kinh, Châu Nhuận Phát, với loạt phim về Hồng Hy Quan và Phương Thế Ngọc, Nam Thiếu Lâm, Hoàng Phi Hồng, Hoắc Nguyên Giáp, Nghiêm Vịnh Xuân và Vịnh Xuân Quyền, Hồng Gia Quyền, v.v.
Dòng "phim chưởng" nhiều tập một thời phát triển mạnh mẽ từ những năm cuối của thập kỷ 1960 ở Hồng Kông và các nước trong khu vực Đông Nam Á hiện đã dần nhường chỗ cho sự xuất hiện của những phim một tập được phương Tây đánh giá cao như phim Anh hùng (Heroes), Ngọa Hổ Tàng Long, Thập diện mai phục, Kungfu, v.v.
Vũ đạo (Trung Quốc)
Vũ đạo là một loại hình nghệ thuật múa cổ truyền của Trung Hoa, loại hình nghệ thuật này phổ biến mạnh từ các bộ tộc người Hán ở phương bắc Trung Quốc từ khu vực nội Mông cho đến các vùng Hoa Bắc, Sơn Đông và Hà Bắc (Trung Quốc).
Vũ đạo có một vai trò ảnh hưởng nhất định đến các bộ môn võ thuật thuộc miền Bắc Trung Hoa làm cho văn hóa nghệ thuật của đất nước này trở nên đa sắc thái và giàu tính nhân văn.
Kinh Kịch
Kinh kịch là một loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu cổ truyền của Trung Hoa thường có các màn biểu diễn võ thuật cổ truyền Trung Hoa.
Các thể loại phim quyền cước còn được gọi là phim Kungfu của Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan không phải là loại phim hành động của Mỹ mà thật ra có nguồn gốc từ Kinh kịch do các diễn viên và đạo diễn sân khấu chuyển sang.
Tuồng, Chèo
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 15 phút và 21 giây -----
Danh nhân võ thuật Việt Nam
Hồ Văn Lành
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hồ Văn Lành, còn có tên khác là Từ Thiện (sinh 1914 - mất 27 tháng 11 năm 2005 tại thành phố Hồ Chí Minh) là một võ sư nổi tiếng của võ phái Tân Khánh Bà Trà, nguyên sáng lập viên của Tổng hội Võ học miền Nam Việt Nam, nguyên cố vấn Hội Võ thuật Cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh và cố vấn Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/0/0e/Ho_Van_Lanh.JPG
Tiểu sử
Hồ Văn Lành sinh tại ấp Khánh Thạnh, xã Tân Khánh (sau đổi thành Tân Phước Khánh), quận Châu Thành, tỉnh Thủ Dầu Một, cái nôi của võ phái Tân Khánh Bà Trà. Năm 1927, Hồ Văn Lành bắt đầu học võ Tân Khánh Bà Trà từ Võ Văn Phiên (thường gọi là thầy Bảy Phiên, vốn là đệ tử đời thứ hai của danh sư Võ Văn Ất). Sau một thời gian luyện tập, Hồ Văn Lành được thầy cho thượng đài 7 lần và toàn thắng. Với sự đồng ý của thầy Bảy Phiên và niềm tin của giới thanh niên đối với thành quả thượng đài 7 lần bất bại của ông, Hồ Văn Lành bắt đầu mở trường dạy học trò từ những năm chưa đầy 30 tuổi. Trong giai đoạn này, học trò theo học Hồ Văn Lành rất đông đảo.
Ít lâu sau, có một người Hoa tên là Huỳnh Bá Phước đã đến vùng đất Tân Khánh vừa hành nghề Đông Y vừa truyền dạy võ thuật Thiếu Lâm Bạch Hạc và Thiếu Lâm Vịnh Xuân. Hồ Văn Lành ngưỡng mộ tài nghệ của vị võ sư người Hoa này nên đã xin nhập môn để học thêm về võ thuật Trung Quốc và khoa trật đả với Huỳnh võ sư. Kiến thức môn võ Thiếu Lâm của Huỳnh võ sư đã giúp Hồ Văn Lành hoàn thiện giáo trình và giáo án giảng dạy môn võ Tân Khánh Bà Trà.
Những năm 1950, Hồ Văn Lành được mời xuống Sài Gòn dạy võ ngay tại khu vực Cầu Muối, mảnh đất từng nổi tiếng với nhiều tay anh chị giang hồ
Những đóng góp cho nền võ học cổ truyền Việt Nam
Trong những năm đầu đến Sài Gòn, Hồ Văn Lành đã gia nhập Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam với biệt danh võ sư Từ Thiện và bắt đầu truyền dạy võ thuật Tân Khánh Bà Trà cho giới hâm mộ võ thuật Sài Gòn. Tại đây, ông đã đào tạo nhiều học trò ưu tú: ba võ sĩ Từ Thanh Nghĩa, Từ Y Văn, Từ Trung Tìn từng đại diện màu cờ sắc áo Việt Nam thi đấu với nhà vô địch của các nước Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia, Hồng Kông; bảy võ sĩ Từ Thanh Nghĩa, Hồ Ngọc Thọ, Từ Thanh Tòng, Từ Duy Tuấn, Hồ Thanh Phượng, Từ Hoàng Minh, và Từ Hoàng Út từng đoạt 8 huy chương (2 vàng, 4 bạc, 2 đồng) trong các giải vô địch võ Việt Nam những năm 1969-1974; khoảng 500 nam nữ võ sĩ thượng đài thi đấu (nam võ sĩ lấy biệt hiệu có họ Từ đứng đầu như: Từ Thanh Nghĩa, Từ Thanh Tòng, Từ Duy Tuấn, Từ Y Văn, Từ Trung Tín v.v.; còn nữ võ sĩ lấy biệt hiệu có họ Hồ đứng đầu như: Hồ Hoa Lan, Hồ Ngọc Điệp, Hồ Ngọc Thọ, Hồ Phi Phượng, Hồ Thanh Sương, Hồ Phi Phụng, Hồ Hoa Huệ v.v...).
Năm 1969, Hồ Văn Lành đã cùng với các võ sư có tâm huyết như: Lê Văn Kiển (Nam Tông), Mai Văn Phát (Trung Sơn) v.v. sáng lập ra Tổng hội Võ sư Nghiên cứu và Phổ biến Võ học Việt Nam (gọi tắt là Tổng hội Võ học Việt Nam). Hồ Văn Lành đã đưa vào chương trình huấn luyện thống nhất của Tổng hội Võ học Việt Nam hai bài: Đồng nhi quyền và Tấn nhứt côn.
Năm 1970, Hồ Văn Lành được Tổng nha Thanh niên trực thuộc Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên của Việt Nam Cộng hòa ban tặng bằng khen về thành tích "đào tạo nhiều võ sĩ ưu tú cho làng võ thuật Việt Nam", cùng với ba võ sư khác là: Xuân Bình, Trần Xil và Lý Huỳnh. Từ đó, bốn võ sư đã được mọi người liệu vào hàng "Tứ tú" (bốn ngôi sao sáng), nối tiếp theo "Tam nhật" (Hàn Bái, Ba Cát[1], Bảy Mùa) và "Tam nguyệt" (Trương Thanh Đăng, Quách Văn Kế, Vũ Bá Oai) trên con đường khôi phục truyền thống võ thuật Việt Nam.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Hồ Văn Lành phối hợp với các võ sư: Đặng Văn Anh (Kim Kê), Nguyễn Hữu Tiết[2] (Hắc Âu) và Quách Văn Phước[3] (Lam Sơn) khai giảng lớp Võ dân tộc tại Câu lạc bộ Thể Dục Thể Thao quận 1 thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 4 năm 1979. Chính trong thời gian này, Hồ Văn Lành đã giới thiệu bài Tứ linh đao (vốn do con trai ông là Hồ Tường sáng tạo) vào chương trình huấn luyện thống nhất tại lớp Võ dân tộc.
Ngày 2 tháng 9 năm 2003, Hồ Văn Lành được nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng "Huy Chương Vì Sự Nghiệp Thể Dục Thể Thao".
----- Bài viết này được muulinh thêm vào sau 17 phút và 1 giây -----
Bùi Công Hóa
Bùi Công Hóa (1894-1958) là một võ sư Việt Nam, người sáng lập môn võ Thiếu Lâm Tây Sơn Nhạn.
Bùi Công Hóa (còn gọi Bùi Văn Hóa, Chín Hóa) quê gốc Bình Định. Khoảng năm 1920, ông sang Trung Quốc học võ Thiếu Lâm với võ sư Tây Sơn Nhạn. Mười năm sau, ông về nước, dạy võ tại Bình Định. Khoảng năm 1947-1948, ông vào Sài Gòn sinh sống và lập ra môn phái Thiếu Lâm Tây Sơn Nhạn. Các môn đồ của ông có thể kể như: Ba Vè, Ba Liễn (Lưu Văn Liễn), Ba Lai, Ba Tốc, Mười Mách (Nguyễn Văn Mách), Đặng Văn Anh (Kim Kê)... Bài quyền trấn môn của môn phái Tây Sơn Nhạn là: Mai Hoa Quyền (có 41 thế), Mai Hoa Thung và Thất Tinh Bắc Đẩu. Võ sư Bùi Công Hóa mất ngày 5/1/1958 tại quận 8, Sài Gòn, hưởng thọ 65 tuổi.
Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B9i_C%C3%B4ng_H%C3%B3a”
jumanji
24-03-2008, 03:26 PM
Trời, bây giờ mình mới biết tin võ sư Từ Thiện - Hồ Tường qua đời. Ông là 1 trong những cây đại thụ của nền võ học Việt Nam. Ông mất rồi nhưng những đóng góp của ông cho nền võ học cổ truyền Việt Nam sẽ sống mãi ...
Mấy hôm nữa rảnh mình sẽ post các bài báo nói về các võ sư nổi tiếng của Việt Nam. Tuy các bố nhà báo có hơi thêm tý mắm muối, cơ mà đây là những tài liệu rất hay :D.
Haizz, trước mình thích nhất là nội gia quyền Trung Hoa: Bát quái, thái cực, hình ý, nhưng sau vụ Trường Sa - Hoàng Sa tự nhiên thấy mất hết "cảm tình".
Thôi, việc nào đi việc nấy vậy.
muulinh
24-03-2008, 10:29 PM
Tui cũng sẽ góp bài thêm vào hôm sau
Rất mong đóng góp cho box này để có nhiều bài viết giá trị
jumanji
11-04-2008, 05:41 PM
Phù, cóp nhặt tý tài liệu để chia sẻ với anh em. Nguồn: TTVNOL
Thuần Chính Thập Nhị Thủ
Tác giả : Thủy Tiên Công Chúa (1254 - 1329)
Xuất xứ : Vạn Pháp Quy Nguyên và Đông-A Di Sự (phần Vũ-kinh)
Dịch, biên tập chú giải : Trần Đại-Sỹ
Với sự trợ giúp của Võ-sư Trần Huy-Quyền, Lê Như-Bá
Copyright by Trần Đại-Sỹ – Trần Huy-Quyền – Lê Như-Bá
Các soạn giả giữ bản quyền.
Tout droits réservés.
All rights reserved.
1. NGUỒN GỐC
Năm 1280, quân Mông Cổ chuẩn bị sang xâm lăng Việt Nam. Vua ra lệnh cho các vương hầu, tướng sĩ, võ phái đều được mộ binh, tổ chức huấn luyện. Trong hoàng cung, bà Linh Từ (Vương phi của Trung-vũ đại vương, lĩnh Thái sư Trần Thủ Độ) họp tất cả các phi tần, công chúa, cung nga, quận chúa lại và ban huấn từ :
"Giặc sắp đến, các người phải luyện tập võ nghệ để có thể xuất trận chống xâm lăng. Nếu võ không tinh thì ít ra cũng tự bảo vệ được bản thân, không làm bận đến tướng sĩ để bảo vệ"
Bà chỉ định : Khâm Từ hoàng hậu, Thiên Thụy công chúa (vương phi Hưng Võ Vương, con Hưng Đạo Vương) và Thủy Tiên Công-chúa dạy các cung phi, cung nga. Còn công chúa, quận chúa thì đích thân bà dạy.
Khi dạy võ, Thủy Tiên Công-chúa thấy dạy cương quyền cho phái nữ để chuẩn bị chống với binh sĩ Mông Cổ là loại người to lớn, dũng mãnh, thì khó mà bảo toàn thân thể. Vì vậy bà mới tìm ra tất cả thế nhu, chống lại đủ hình thức tấn công của đối thủ. Sau khi thắng Mông Cổ, bà chép lại thành bộ "Thuần Chính Thập Nhị Thủ" là những phương pháp hiền hậu để tỏ ra mình là người trinh tĩnh, tiết hạnh.
Năm Xương Phù thứ 11 (1387) Thái-sư Trần Nguyên Đán chép vào bộ Đông A Di Sự, chú thích, vẽ đồ hình đầy đủ, và cho khắc bản in. Nay còn lưu truyền.
2. TIỂU SỬ TÁC GIẢ
Thủy Tiên Công Chúa là dưỡng nữ Hưng Đạo Vương. Không rõ bà xuất thân từ đâu, cha mẹ là ai. Chỉ biết bà được Hưng Đạo Vương yêu thương nhận làm con nuôi. Bà sinh niên hiệu Nguyên Phong thứ tư (1254) đời vua Trần Thái Tông. Lên sáu tuổi bắt đầu học võ với Hưng Đạo Vương. Sau này bà học với Khâm Từ hoàng hậu (vợ vua Nhân Tông, và là con đẻ Hưng Đạo Vương). Nhưng sự thực tất cả võ công và nội công của bà do Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng và Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản dạy. Hưng Đạo Vương gả bà cho danh tướng Phạm Ngũ Lão. Dã sử tương truyền trình độ võ học của bà được liệt vào hàng thứ 15 đời Trần, trong khi Phạm Ngũ Lão đứng hạng thứ 17, tức võ nghệ thua bà hai bậc. Bà có công huấn luyện võ thuật cho toàn thể cung phi, cung nga đời Trần. Chính vì vậy, khi mà quân Mông Cổ chiếm Thăng Long, các cung phi, cung nga tự bảo vệ, di tản an toàn, không cần hộ tống.
Tuy nhiên, bà không hoàn toàn đi theo hoàng cung. Bà theo sát phu quân là danh tướng Phạm Ngũ Lão đánh trận Chương Dương, Nội Bàng, sau này cũng chính bà theo phu quân chinh phạt Ai Lao (Lào) và Chiêm Thành.
Sách Đông A Di Sự, Thủy Tiên Công Chúa liệt truyện chép :
"Công chúa mặt đẹp như ngọc, dáng người thanh nhã, tiếng nói khoan thai, lòng đầy nhân ái, nhưng khi xung trận thì dũng mãnh phi thường".
Bộ Mông Thát Cáo Lục chép :
"Vợ tướng họ Phạm là con gái của Hưng Đạo Vương, không biết tên là gì, tước phong Thủy Tiên Công Chúa. Thủy Tiên dáng người thanh thoát, mặt đẹp ; nói thông thạo tiếng Mông Cổ âm Hoa Lâm, tiếng Hán âm Lâm An. Khi lâm trận đối đáp với tướng Mông Cổ bằng ngôn từ nhẹ nhàng, nhưng khi giao tranh thì dũng mãnh phi thường. Nhiều tướng Mông Cổ không đề phòng, bị Thủy Tiên giết. Tướng Nguyễn Linh Nhan bị Thủy Tiên bắt sống".
Lưu ý độc giả, trong tất cả các sách của Trung-quốc viết về cuộc chiến Mông-Việt, họ gọi thẳng tên các vua Trần. Như vua Trần Thái Tông họ gọi là Trần Cảnh, trong khi họ gọi Trần Quốc Tuấn bằng tước Hưng Đạo Vương, để tỏ lòng kính trọng.
Công-chúa hoăng vào niên hiệu Khai Thái năm thứ sáu đời Trần Minh Tông (1329), thọ 75 tuổi. Huyền sử Việt Nam kể rằng sau khi mất bà hiển thánh. Cho nên ngày nay tại tất cả các đền thờ Hưng Đạo Vương trên toàn Việt Nam đều có tượng thờ bà. Tại đền thờ nói đến Tứ vị vương tử, nhị vị vương cô, bà là một trong nhị vương cô. Chính bà đã dùng một chiêu trong Thuần Chính Thập Nhị Thủ bắt một danh tướng Mông Cổ là Nguyễn Linh Nhan, cho nên ngày nay mỗi khi về đồng bà, người ta còn diễn lại tích này.
Về võ học, bà có để lại các phát minh sau :
Thuần Chính Thập Nhị Thủ
Thủy Tiên Liên Hoa quyền,
Thủy Tiên Trường Xuân Công,
Thủy Tiên Trị Liệu Thủ (phương pháp dùng chỉ lực chữa bệnh)(Thất truyền)
3. PHÂN TÍCH CÁC THỦ
Thủ nghĩa đen là tay. Mỗi thủ có một tên, 12 thủ có 12 tên nguyên thủy do công chúa đặt ra. Nhưng khi chép vào bộ Đông A Di Sự, Thái-sư Trần Nguyên Đán lại đổi tên đi để cho hợp với các hoạt động cơ thể.
Đệ nhất: Việt nữ chính thủ, gồm 12 chiêu phá các thế nắm tay,
Đệ nhị: Việt nữ phản thủ, gồm 12 chiêu chống lại bóp cổ,
Đệ tam: Việt nữ tịch tà, gồm 12 chiêu khóa tay chân,
Đệ tứ: Việt nữ bảo tiết, gồm 12 chiêu nằm tự vệ,
Đệ ngũ: Việt nữ phản chế, gồm 12 chiêu tự vệ khi bị nắm áo,
Đệ lục: Thiên cẩu nhập nội, gồm 12 chiêu tự vệ khi bị nắm tóc,
Đệ thất: Việt nữ phục hổ, gồm 12 chiêu tự vệ khi bị tấn công bằng thủ pháp,
Đệ bát: Anh thư bảo quốc, gồm 12 chiêu thức tuyệt diệu của nhu quyền,
Đệ cửu: Việt nữ thuần chính, gồm 12 chiêu tự vệ khi bị ôm,
Đệ thập: Ô nha phạm cảnh, gồm 12 chiêu tự vệ chống cước,
Đệ thập nhất: Việt điểu nam phi, gồm 12 chiêu tự vệ chống dao,
Đệ thập nhị: Nam thiên anh kiệt, gồm 12 chiêu tự vệ khi bị trói,
Ngoại trừ thủ thứ 11 và 12, các thủ đều nằm trong tư thế chống lại các loại quyền cước. Khi luyện tập Thuần Chính Thập Nhị Thủ phải nhớ các nguyên tắc sau :
– MỘT LÀ, đọc, nhớ kỹ danh hiệu các chiêu thức. Mỗi chiêu thức có một tên, tên đó nhắc nhở cho biết nội dung động tác.
– HAI LÀ, thuộc các nguyên lý võ học.
– BA LÀ, luyện tập theo thứ tự từ chiêu thứ 1 đến chiêu thứ 12.
– BỐN LÀ, trước khi luyện, phải luyện Nội-công, Khí-công chỉ định. Sau khi thuần-nhuyễn Nội-công, Khí-công mới luyện các chiêu.
– NĂM LÀ, phải luyện theo thứ tự, từ thủ thứ nhất, đến thủ thứ nhì...
Vì là loại nhu quyền, nên tuyệt đối tránh dùng cương giải quyết, không được xử dụng những đòn, thế của cương quyền. Luôn luôn nhớ rằng : người xử dụng nhỏ bé, không biết võ, chống lại người to lớn khỏe mạnh.
Mỗi chiêu thức bao giờ cũng có ba phần, đó là một nguyên lý căn bản của Võ Việt đời Trần, để phân biệt với các võ khác. Đó là : Công, Nghinh, Thủ.
Nhiều võ phái khác, mỗi chiêu thức của họ chỉ CÔNG không, hoặc NGHINH không, hoặc THỦ không. Nhưng môn võ này là võ Trấn Bắc Bình Nam nghĩa là bảo vệ quốc gia, cho nên :
– Trong thế CÔNG bao giờ cũng kín đáo, không để hở cho địch tấn công vào, như thế là trong thế công có thế thủ.
– Trong thế THỦ bao giờ cũng dự trù một thức phản công, như thế là trong thế thủ có thế công.
– Trong một chiêu, mà chúng ta xuất phát, không bao giờ tấn công trước. Đợi đối thủ xuất chiêu rồi nhân đó phản công. Thế là trong thế công bao hàm chống đỡ, đó là NGHINH.
4. NỘI CÔNG, KHÍ CÔNG SỬ DỤNG
Cũng như hầu hết các pho võ thuật tối cổ của tộc Việt: Mỗi pho đều đính kèm phần Nội-công, Khí-công áp dụng. Trong Thuần Chính Thập Nhị Thủ, Công-chúa Thủy Tiên có đính kèm:
– Mỗi Thủ đều có phần Nội-công bắt buộc người luyện phải tập, để có thể sử dụng những chiêu thức sao cho linh hoạt, dẻo dai, thăng bằng và có lực.
– Một phần Khí-công bắt buộc phải luyện mới có thể phát lực. Hơn nữa sau mỗi buổi tập, sao cho cơ thể không mệt mỏi, cùng quy tụ chân khí.
– Muốn luyện Nội-công, Khí-công của Thuần Chính Thập Nhị Thủ phải hội đủ các điều kiện sau:
· Một là, phải hiểu thấu đáo một trong các kinh Kim-cương, Lăng-già hay Bát-nhã, sau buổi tập dùng quy liễm chân khí. Theo quan niệm các võ học danh gia thời Đông-a (Trần) thì khi luyện võ trong tâm đều nảy sinh ra ác nghiệp: muốn giết, muốn đánh đối thủ. Cái ác tâm đó dần dần tích tụ sẽ sinh ra những phản ứng tai hại trong cơ thể. Sau này được gọi là nhập ma chướng. Cho nên khi luyện Thuần-chính Thập Nhị Thủ phải dùng tinh hoa của ba kinh Kim-cương, Lăng-già và Bát-nhã hóa giải.
· Hai là, phải biết dẫn khí.
· Ba là, phải biết điều khí thông qua 12 chính kinh, Kỳ kinh bát mạch, vòng Tiểu Chu-thiên, vòng Đại Chu-thiên.
Phần này chúng tôi không dịch, không chú giải, vì quá dài. Nếu² biên tập hết, chẳng hóa ra phải soạn một pho Võ-học toàn thư ư? Chúng tôi không có thời gian để làm công việc này. Vì cuộc đời tôi đã dành để viết về năm thời đại oanh liệt của tộc Việt trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Xin độc giả niệm thứ. Tôi hứa sau khi hoàn thành:
– Thời đại Lĩnh Nam
Thuật vua Trưng cùng 162 tướng khởi binh lập nền tự chủ.
– Thời đại Tiêu Sơn
Thuật cuộc đánh Tống, bình Chiêm của triều Lý.
– Thời đại Đông A
Thuật cuộc bình Mông, đời Trần.
– Thời đại Lam Sơn
Thuật cuộc khởi nghĩa của vua Lê.
– Thời đại Tây Sơn
Thuật cuộc khởi nghĩa của Tây-sơn và đánh giặc Thanh.
Bấy giờ tôi sẽ biên tập, dịch bộ Vạn Pháp Quy Nguyên.
5. HUẤN THỊ TỔNG QUÁT
Đây chỉ là một võ học bậc trung, không phải là loại tuyệt học, tức võ học tối cao. Tuy nhiên trong cũng có 40% là những có khả năng giết người trong chớp mắt. Nhất là những chiêu điểm huyệt. Các võ sư, huấn luyện viên, giáo sư không nên dạy cho võ sinh cấp nhỏ học. Vì muốn điểm huyệt phải :
– Hiểu rõ 12 kinh mạch, Nhâm, Đốc. Hơn nữa phải học nội công biết phát lực đã.
– Điểm huyệt không trúng, thì rất nguy hiểm cho bản thân.
– Điểm mạnh quá làm đối thủ chết hoặc thành phế tật, thiếu nhân đạo. Dầu đối với kẻ thù.
– Điểm trúng rồi làm sao giải huyệt ?
Sàigòn, ngày 6 tháng 8 năm 1970
Trần Đại Sỹ
----- Bài viết này được jumanji thêm vào sau 7 phút và 31 giây -----
Cố Lưu Hinh tự thuật chuyện dạy Bác Hồ tập Thái Cực Quyền
Nguồn : http://www.hn-ams.org/forum/archive/index.php/t-29526.html
Giới thiệu về tác giả:
Cố Lưu Hinh (1908-1990), người Thượng Hải (TQ), là một trong những chuyên gia về Thái Cực Quyền nổi tiếng trong và ngoài Trung Quốc. Ông đến với võ thuật từ năm 11 tuổi, trong suốt hơn 60 ngoài việc chuyên tâm luyện quyền, ông còn thăm viếng nhiều bậc đại sư, danh sư quyền thuật khắp Trung Quốc, khiêm tốn học hỏi, chuyên tâm nghiên cứu Thái Cực Quyền.Trong suốt cuộc đời, ông dốc tâm nghiên cứu, tìm tòi, tận dụng những thế mạnh của từng môn võ thuật, chú trọng đến thực chiến, đồngthời có những so sánh khám phá hết sức có giá trị.Cố Lưu Hinh từng giữ chức Phó sở nghiên cứu kiêm trưởng khoa thể dục Thượng Hải, chủ tịch Hiệp hội võ thuật Thượng Hải, Ủy viên hội biên tập “Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc”, sau này có các tác phẩm như “ Thái Cực Quyền giản hóa”, “Làm thế nào để luyện Thái Cực Quyền”, “Thái Cực Quyền thuật”, “Nghiên cứu Thái Cực Quyền”, “Trần thức Thái Cực Quyền”, “Pháo chùy-Trần thức TCQ lộ thứ hai”…Ông cũng từng nhiều lần ra nước ngoài dạy quyền. Bài viết này chúng tôi xin đăng tự thuật của ông về chuyến sang Việt Nam truyền dạy Thái Cực Quyền cho Hồ chủ tịch.
Từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1957 tôi vinh dự được sang Việt Nam dạy Hồ chủ tịch tập Thái Cực Quyền. Lý do của chuyến đi này được bắt đầu từ chuyến thăm Việt Nam của thủ tướng Chu Ân Lai và phó thủ tướng Hạ Long vào tháng 10 năm 1956, khi đó Hạ Long có giới thiệu với Hồ chủ tịch về tác dụng dưỡng sinh, trị bệnh của Thái Cực Quyền rất có giá trị đối với người cao tuổi. Hồ chủ tịch nghe xong rất hứng thú, hy vọng phía Trung Quốc có thể cử chuyên gia sang hướng dẫn. Được sự nhất trí của Ủy ban thể dục thể thao quốc gia, nhiệm vụ này cuối cùng được cắt cử cho tôi.
Đầu tháng 1/1957 tôi đến Bắc Kinh, cùng ngày đến UBTDTT, tại khoa võ thuật tôi gặp được Mao Bá Khiết, ông nói: “ Kể từ khi thành lập nhà nước đến nay, đây là lần đầu tiên cắt cử huấn luyện viên võ thuật ra nước ngoài dạy quyền, mà lại là huấn luyện cho Hồ chủ tịch,người bạn láng giềng hữu hảo của dân tộc Trung Hoa, thật là đáng mừng”. Buổi chiều hôm đó, Đường Hào- người bạn của tôi- cũng đến khoa võ thuật, ông đang bận viết cuốn “Thái Cực Quyền nguyên lưu”, vội vàng đưa cho tôi xem, đồng thời trao đổi vài lời với tôi trước lúc sang Việt Nam dạy quyền. Ban đầu UBTDTT định là dạy Thái Cực Quyền giản hóa trong thời gian một tháng. Trước đó ở Thượng Hải tôi đã chuẩn bị giáo trình Dương thức Thái cực Quyền. Về phương pháp huấn luyện, tôi cũng đã bàn bạc, trao đổi thêm với một số bạn bè, nghĩ rằng Hồ chủ tịch tuổi cao cho nên lượng vận động không nên quá nhiều. Lúc này tôi cũng gấp rút chuẩn bị kế hoạch dạy Thái Cực Quyền giản hóa, đồng thời cùng với chủ biên Thái Cực Quyền giản hóa Lý Thiên Ký nghiên cứu thêm, tôi cũng tranh thủ hướng dẫn Dương thức thái cực đao cho Lý.Tôi ở Bắc Kinh khoảng hơn 10 ngày, một mặt chuẩn bị tốt công tác huấn luyện, mặt khác đến Bộ ngoại giao, nguyên Phó ty Á Châu là Tạ Song Thu có tâm sự cùng tôi về chuyến đi lần này, ông nói: “Chuyến đi Việt Nam lần này có liên quan đến hai Nhà nước, hai Đảng, cho nên cần phải nghiêm túc, cẩn thận, chú ý đến phương diện lễ nghi, sau khi đến Hà Nội, cần liên lạc và gặp gỡ các đồng chí trong Đại sứ quán”.
Khi đó tôi còn một việc nữa, đó là tiếp tục học Trần thức Thái Cực Quyền và thôi thủ dưới sự chỉ dẫn của đại sư Trần Phát Khoa. Trước đó tôi cũng đã liên hệ, mời thầy Trần Phát Khoa và Đường Hào đến chơi. Biết tôi sắp ra nước ngoài dạy quyền, Trần sư phụ rất mừng, ông bảo tôi đi một bài quyền Trần thức, quan sát tôi thực hiện hết sức kỹ càng, nhận xét tôi có tiến bộ và nói: “ anh đi quyền mất sức quá, mệt, hô hấp lại không thuận”. Bởi vì tôi luyện Dương thức, hô hấp tự nhiên, trong khi Trần thức thì mỗi một động tác đều phải kết hợp với hô hấp, hít thở không thiếu một nhịp. Do thời gian cấp thiết nên mỗi ngày một lần tôi đều đến nhà Trần sư phụ luyện thêm Trần thức, thậm chí có ngày đến hai ba lần. Tôi biết chuyến đi lần này tuy không dạy Trần thức nhưng xét dưới góc độ lý luận, học thuật, giảng nghĩa…thì đó là việc cần phải nắm bắt, cho nên tôi luyện khá là vất vả, năm đó tôi đã 49 tuổi. Trần sư phụ rất ít lời, nhưng rất kiên quyết. Ông khá quý tôi nên khi thôi thủ thường rất nhẹ nhàng, bởi vậy mà tôi chưa phải nếm trải những đòn đau.
Trong thời gian chuẩn bị tại Bắc Kinh, phó chủ nhiệm UBTDTT Hoàng Trung thường đến bàn luận võ thuật. Tôi có nói với ông Hoàng rằng : “ Thái Cực Quyền có nội dung chiến đấu, Hồ chủ tịch tuổi đã cao, hơn nữa lại là lãnh đạo Nhà nước, tôi dạy có lẽ nhẹ cũng không được mà nặng thì cũng không xong. Bởi vị tập nhẹ quá thì không có hiệu quả, mà nặng quá thì e bị cho rằng là không tôn trọng mọi người”.Ông Hoàng nói : “ anh không cần phải dạy mấy thứ chiến đấu, kỹ kích đó mà chú ý đến phương diện y lý trị bệnh là được”.
Ngày 12 tháng 1 năm 1957 tối đi chuyến tàu hỏa liên vận quốc tế đến thủ đô Hà Nội. Hồ chủ tịch cử chủ nhiệm Ban ngoại vụ ra ga đón tôi. Chủ nhiệm văn phòng Đại sứ quán Trung Quốc Trương Anh đưa tôi về nghỉ tại nhà khách của Đại sứ quán. Thời điểm đó Hồ chủ tịch đang chủ trì Đại hội toàn quốc, nhưng ngày hôm sau ông vẫn bớt thời gian để gặp tôi. Đại sứ La Quý Ba nói : “ Dạy Thái Cực Quyền cũng là quan hệ ngoại giao”. Vì vậy ông cùng tôi đến gặp Hồ chủ tịch. Nơi ở của Hồ chủ tịch là căn nhà hai tầng gồm ba phòng mở, phòng khách có đặt một bộ ghế mây, quần áo của Người mặc cũng rất giản dị, đó là một bộ kaki màu vàng nhạt. Hồ chủ tịch nói chuyện với tôi bằng tiếng Quảng Đông rất lưu loát. Ông nói phó thủ tướng Hạ Long rất ham mê võ thuật, mỗi lần nói chuyện về võ thuật là cứ liền một mạch hai ba tiếng đồng hồ không nghỉ. Hồ chủ tịch cũng nói là vào năm 1930 ông cũng đã từng tập võ thuật tại Thượng Hải, cho nên sức khỏe cũng hồi phục rất nhiều, khi đó từng nhìn thấy một cụ già râu dài dạy Thái Cực Quyền tại khu Hồng Khẩu (Thượng Hải). Tôi đem ba cuốn Thái Cực Quyền giản hóa do UBTDTT ấn hành và toàn bộ hình ảnh Dương Trừng Phủ đi quyền tặng cho Hồ chủ tịch. Hồ chủ tịch nói với Đại sứ La rằng : “ Tuổi của ông như vậy cũng nên tập Thái Cực Quyền, người trung cao niên cũng cần có sự vận động thích hợp”. Sau đó Hồ chủ tịch có nói Người đang bận Đại hội, lại cận kề với Tết âm lịch nên tạm thời chưa triển khai vội, đồng thời quyết định ngày 5/2 bắt đầu tập......
----- Bài viết này được jumanji thêm vào sau 10 phút và 59 giây -----
Sơ sơ thế đã nhỉ, mai em post tiếp :D.
Lý Thường Kiệt (ông này bị thiến rồi đó nghe, sự thật 100%)
vì sao thế ??? bi jo` ta mới bít chuyện này đấy :027::027::027::027:
jumanji
12-04-2008, 01:47 PM
Tiếp nào:
Võ sư đại lực sĩ Hà Châu là một người có sức mạnh phi thường, một trong số ít những cao thủ hàng đầu về ngạnh công và là chưởng môn của môn phái Thiếu Lâm Hồng gia chính tông tại miền Nam Việt Nam.
Võ sư Hà Châu sinh ngày 19 tháng 8 năm 1924 tại Ba Xuyên (nay là Sóc Trăng). Được phụ thân là Hà Chung khai tâm võ thuật từ lúc lên 5 tuổi, đến khi lên 9 tuổi ông lại được cha gửi sang Hồng Kông theo học Thiếu Lâm Hồng gia phái cùng chưởng môn đương thời là Trình Luân. Đây là võ phái tương truyền xuất phát từ thiền sư Chí Thiện, một trong 5 cao đồ của Thiếu Lâm Tự đã trốn thoát khi chùa bị các võ tướng nhà Thanh hỏa thiêu. Thiền sư Chí Thiện đã truyền tuyệt đỉnh võ công Thiếu Lâm phái của mình cho đồ đệ Hồng Hy Quan, một đệ tử của Hồng thuyền hội quán. Hồng Hy Quan đã không làm hổ danh sư phụ khi phát triển sở học thành một trong những hệ phái Thiếu Lâm danh gia lừng danh [1] với những bài quyền như Ngũ hình quyền, Thập hình quyền, Hổ hạc song hình quyền, Dạ hổ xuất lâm quyền, Xà miêu hạc quyền và một trong những báu vật trấn môn là bài Thiếu Lâm Phá sơn Hồng gia quyền.
Trong suốt 15 năm ròng rã khổ luyện dưới sự chỉ dạy tận tình của danh sư tại Hồng Kông, võ sư Hà Châu đã học hầu hết thập bát ban võ nghệ, đạt trình độ cao về nội công và ngoại công nên có thể dùng tay chẻ đá, xé gỗ, hoặc cho xe lớn cán qua thân thể một cách tự nhiên, đồng thời tinh thông các bài quyền và binh khí của Thiếu Lâm Hồng gia. Trong số những công phu ông luyện thành giai đoạn này có Thiên cân trụy (hay Thiên cân tạ), một trong Thiếu Lâm thất thập nhị huyền công. Ông kể, khi tập môn Thiên cân trụy, sư phụ bắt ông nằm ngửa và lấy tấm ván 8 phân ngang 6 tấc dài 12 mét quấn ngang nhiều dây xích đè lên người. Qua hơn chục năm luyện tập công phu này, sức chịu của ông đã lên tới trên 15 tấn.
Sau khi trở về miền Nam Việt Nam, ông cùng võ sư Minh Cảnh, người từng vô địch quyền Anh ở Đông Nam Á trong thập niên 1950, lập đoàn lưu diễn từ miền Nam tới miền Trung. Võ sư Cảnh đấm bốc, Hà Châu biểu diễn công phu và giao đấu với những con bò khỏe nhất.
Trong nhiều năm sau đó, võ sư Hà Châu mai danh ẩn tích, lui về Mỹ Tho sống bằng nghề tiện cho Xí nghiệp dệt Hồng Gấm. Đến năm 1974, bạn thân của võ sư là hiệu trưởng trường trung học Tân Dân ở Mỹ Tho đã đưa ông vào làm giám học. Đầu năm 1975 người bạn này cũng đề bạt ông làm hiệu trưởng trường Dân Trí tại Cái Bè. Trong nghề phay tiện, năm 1976 ông được cấp bằng sáng chế "máy phay biên dạng thoi" đạt kỹ thuật bậc 7/7 khi là công nhân xưởng cơ khí dệt Bến Nghé, Bình Thạnh. Cũng ở đây, trong hàng chục năm ròng rã ông nghiên cứu sáng tạo một dụng cụ tập công phu Thiên cân trụy bằng phương tiện đơn giản dựa trên nguyên lý đòn bẩy rất hiệu quả. Từ ngày ông chế tạo thành công máy tập này, có vài đệ tử của ông luyện Thiên cân trụy đã có thể chịu được tới 5-6 tấn, ông rất lạc quan tin rồi trong số học trò của mình sẽ có người chịu được một lực nâng vượt ông sau này.
Năm 1985, sau 30 ngày biểu diễn ở Thủ Thừa Long An theo lời mời của phòng văn hóa thông tin huyện, võ sư Hà Châu bị buộc phải rời khỏi huyện vì những công phu của ông khiến người ta kinh ngạc, cho rằng không thể có ở người bình thường và theo lời ông kể lại, mọi người đã cho rằng "thầy bùa Hà Châu mang tà giáo vào huyện". Năm 1987, sau 45 ngày huấn luyện cho xã đội An Phú ở Thủ Đức, ông cũng bị buộc phải ra đi theo lệnh khẩn của ông chủ tịch cùng một lý do như ở Long An nói trên. Năm 1988 võ sư quay lại An Khánh biểu diễn và gặp lại các học trò cũ. Đất lành chim đậu, ông đã ở An Khánh cho đến bây giờ. Trong những năm này ông còn tham gia Hội võ cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh, một hội võ có bàn tay gây dựng của ông từ những ngày đầu mới thành lập năm 1975.
Trước năm 1957 võ sư đã từng nhiều lần biểu diễn công phu thượng thừa tại Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông. Những năm 1990, ông "mang chuông đi đánh nước người", lưu diễn ở châu Âu với chuyến du hành đến Liên Xô năm 1990 và Ý năm 1991. Trong lần biểu diễn tại Liên Xô, ban tổ chức lo tất cả cưa, ván, búa, đá, gạch thẻ, dừa khô để ông biểu diễn các công phu đặc dị, trong đó có công phu đưa xe lu nặng cán qua người. Nhưng đến giờ chót xe không đưa vào được vì cửa nhà hát quá nhỏ. Tại Ý, võ sư đã có hơn một tháng rưỡi biểu diễn và giảng dạy võ thuật tại thủ đô, và cả miền Bắc, miền Trung nước Ý. Chuyến đi Ý ông được nhận rất nhiều tiền thù lao, nhưng khi về nước tay trắng vẫn hoàn tay trắng, vì những người chịu trách nhiệm giữ hộ tiền cho ông đã "quên gửi lại". Về nước, ông suýt bị chủ nhà cắt hợp đồng cho thuê, nhưng may có học trò của ông là võ sư Đồng Văn Hùng bên Bỉ biết tin đã quay về Việt Nam giúp thầy mua căn nhà mới.
Sau 45 năm gắn liền cùng nghiệp võ với hàng trăm lần phô diễn tuyệt đỉnh công phu khiến khán giả phải đứng tim vì hồi hộp, năm 1997 lão võ sư đã làm lễ "rửa tay gác kiếm", quay về đời thường sinh sống bằng nghề rèn binh khí. Ở tuổi 81 ông vẫn luyện tập và lao động cật lực từ sáng tới chiều. Ông cũng chứng tỏ năng lực "văn võ song toàn" của bản thân khi thử sức trên nhiều lĩnh vực như điêu khắc, hội họa, thơ Đường, viết thư pháp với bút lực mạnh mẽ thuộc hàng hiếm có với phong cách thư họa ông từng luyện khi học võ ở Hồng Kông hồi trẻ. Đôi khi ông lại "tái xuất giang hồ", như sự có mặt đầy ấn tượng của ông trong 10 phút của chương trình "Cửu Long hội ngộ", một chương trình biểu diễn võ công và múa rồng quy tụ các võ sư nổi tiếng Việt Nam và nước ngoài diễn ra tại Nhà thi đấu Quân khu 7 Thành phố Hồ Chí Minh tối 17 tháng 9 năm 2006.
Võ sư Hà Châu đã truyền dạy sở học của mình cho rất ít đệ tử, trong đó có cả đệ tử người nước ngoài là Philippe Gaudin, một cao đồ người Pháp, người sau này thành lập website về võ sư Hà Châu và môn phái Thiếu Lâm Hồng gia nhằm tôn vinh ông. Còn ở miền Bắc tại Hà Nội, dưới sự truyền dạy của cố võ sư Tô Tử Quang hay còn gọi là cụ Sú Tàu, đã khiến những đặc thù của Thiếu Lâm Hồng gia như đòn thế ngắn, nhanh, cương mãnh, chặt chẽ, liên tục kết hợp với bộ tấn di chuyển thấp, vững trãi được nhiều người biết đến và theo học. Tuy nhiên, võ sư Hà Châu không mở võ đường vì cho rằng học võ phải chọn đúng người có đức. Ông cũng hiểu rằng, một mai khi ông nằm xuống, mọi công phu tuyệt kỹ của ông sẽ bị chôn vùi, vì các con ông lo mưu sinh không ai nối nghiệp cha và các võ sinh của ông hầu hết đều không có đủ thời gian, điều kiện để khổ luyện. Ông cho rằng mình ít nhiều đắc tội với tiền nhân hậu thế của võ phái vì điều đó và khát khao mong mỏi trước câu hỏi không lời đáp, rằng có ai sau ông sẽ làm được những điều ông đã từng làm?!
Kỳ tích công phu:
Người dân Việt Nam ở Cà Mau, Gia Định, Cần Thơ và Gò Vấp đều đã từng nghe danh hay chứng kiến tận mắt năng lực thượng thừa của võ sư Hà Châu, một con người với vóc dáng mảnh khảnh rất Á Đông không hề cao to lừng lững như một đô vật. Rất nhiều lần ông khiến mọi người kinh hãi và thán phục khi để cho những chiếc xe đò chở 40 đến 50 người lăn bánh ngang qua người ông.
Năm 1957, một kỷ niệm buồn với võ sư, trong một hội chợ khi người dân chen chân nhau xem ông thi triển công phu Song mã phanh thây, hai tay ghì chặt dây xích giữ hai chiếc xe tải chạy về hai hướng ngược nhau khiến bánh xe quay tít tại chỗ mà xe không thể nhúc nhích, chiếc cầu Thị Nghè Sài Gòn đã bị sập khiến một số người bị thương và bị chết.
Năm 1958, tại bờ hồ Xuân Hương, Đà Lạt, ông nằm cho 10 chiếc xe khách mỗi xe chở 50 khách lần lượt cán qua người, trong một chương trình nhằm giúp ban tổ chức thu tiền cứu trợ các nạn nhân bị chết do sập cầu Thị Nghè năm 1957.
Năm 1961, tại Trà Vinh võ sư đã biểu diễn công phu cho một xe lu để cán đá làm đường nặng hơn 12 tấn chạy lên người ông khiến mọi người như đứng tim, nín thở vì tưởng có thể ông sẽ bị nghiến nát dưới bánh xe to lớn và cứng như sắt này. Đây cũng là một trong những lần biểu diễn kéo dài 3 phút nguy hiểm nhất của võ sư, mà theo ông thú nhận, ông chỉ còn có thể chịu đựng được khoảng 30 giây nữa trước khi có thể bị xe nghiến "bẹp như tờ giấy". Bởi vì người lái xe ấy, một người Việt gốc Miên, do mất bình tĩnh đã khiến xe bị tắt máy khi đang lăn trên người ông. Dư luận đồn rằng có thể có âm mưu ám sát ông, tuy nhiên, theo lời ông nhận định, đây chẳng qua do anh lái xe đã quá sợ hãi, vì trước khi diễn anh lái xe còn cột càng gạt đất lên và bỏ bớt củi (xe chạy bằng củi) cho xe bớt nặng. Danh hiệu "võ sư đại lực sĩ" gắn với tên tuổi của võ sư Hà Châu có lẽ xuất phát từ lần biểu diễn này.
Vào năm 1962, tại Cà Mau, võ sư Hà Châu đã dùng tay không xiết cổ một con bò mộng hung dữ. Lần biểu diễn tại Cà Mau này, bò mộng phải đi thuê nhưng chủ bò đề ra yêu cầu không được làm bò chết, chỉ giữ cho nó chổng vó lên trời. Tuy nhiên, trong nhiều lần biểu diễn màn bẻ cổ bò tại Cà Mau, Đà Nẵng sau này, đã có lần ông bẻ gãy cổ làm bò bị chết và phải đền cho người chủ.
Sau năm 1975 dân chúng Sài Gòn không còn gặp lại con người có sức lực phi thường huyền thoại này nữa, và ai cũng tưởng vị võ sư đã qua đời (nhưng như đã nói trên, đây là giai đoạn ông về Mỹ Tho sống bằng nghề rèn tiện). Bất ngờ vào năm 1988, nghĩa là mãi 13 năm sau, võ sư Hà Châu lại xuất hiện và lần này con người siêu đẳng ấy lại khiến cho đồng bào thán phục khi ông dùng tay không để đóng những cây đinh dài vào gỗ rồi lại dùng 2 ngón tay kẹp đinh nhổ ra như người ta dùng kìm nhổ đinh vậy. Với công phu Bạt đinh công này, ông đã khẳng định nội công thượng thừa của mình vang dội cả trong Nam lẫn ngoài Bắc.
Tại sân vận động Hàng Đẫy Hà Nội trong thập niên 1990, võ sư Hà Châu đã từng biểu diễn những công phu tuyệt đỉnh, như bay người lên dùng một ngón tay (Nhất dương chỉ) chọc thủng quả dừa khô được tung lên trên không, hay dùng cạnh tay chặt sợi dây buộc vào hai dóng mía dựng hai bên, sợi dây đứt nhưng các dóng mía không hề bị đổ.
Trong một pha biểu diễn về khả năng lạ lùng của thuật khinh công, võ sư Hà Châu đã nằm trên 12 cái siêu bằng đất đồng thời còn cho đặt lên người 150 kg đá tảng. Sau đó một người dùng búa tạ đập cực mạnh lên các đá tảng ấy cho vỡ nát mà các siêu đất ở dưới thân mình ông không bị sứt mẻ gì.
Ngoài ra, võ sư Hà Châu còn nhiều lần dùng cần cổ của mình uốn một thanh sắt dày làm nhiều vòng quanh cổ mà ông không hề hấn gì, hoặc dùng hộp sọ cứng như thép húc vào những bức tường cứng chắc xây dựng toàn bằng xi măng, đá tảng khiến bức tường bị thủng toác một lỗ rất sâu. Sau này, khi đã cận kề tuổi 70, có lúc ông định diễn tiết mục mang tên "Quả bom tấn" tại Câu lạc bộ Phan Đình Phùng: ông nằm dưới đất, phía trên dùng ròng rọc kéo tảng đá nguyên khối nặng 300 kg lên hết độ cao của mái nhà rồi chặt dây thả xuống ngay ngực ông đang vận khí đề công khiến tảng đá vỡ tan. Nhưng trước đó mấy ngày báo chí rùm beng chuyện "đại lực sĩ Hà Châu bị bỏ bom", xét thấy quá nguy hiểm, những người có trách nhiệm đã không đồng ý cho ông biểu diễn tiết mục này.
Gần đây nhất, khán giả Thành phố Hồ Chí Minh lại tận mắt chứng kiến phong độ xứng danh kỳ nhân thiên hạ của võ sư Hà Châu ở tuổi 85 (ngày 17 tháng 9 năm 2006) khi ông biểu diễn công phu Thiết đầu công, dùng đầu phá tan ba viên gạch và chặt gãy chân ghế trong chương trình "Cửu long hội ngộ" do nhạc sĩ Hoài An cũng là người hâm mộ võ thuật đứng ra tổ chức với sự tài trợ của công ty VN game online tại sân vận động thể dục thể thao quân khu 7 của quân đội tại thành phố Hồ Chí Minh.
Những câu nói đáng chú ý:
Tôi không thích thượng đài với những võ đài tự do không có các quy chế thể thao như hồi những năm trước, thập niên 70. Tôi thích biểu diễn hơn: Thực tế võ sư ít thượng đài nhưng những lần dụng võ của ông trước những lời thách đấu đều khiến khán giả không bao giờ quên: Năm 1958 tại Đà Lạt, sau khi khi biểu diễn công phu cho hàng chục chiếc xe lăn qua người, ông nhận lời thách đấu và đã dùng Thiết sa chưởng đánh gãy chân một võ sĩ người Campuchia có biệt danh "Thiết cước", vốn nổi tiếng với cú đá thần tốc và cứng như sắt có thể hạ gục được trâu bò. Hoặc năm 1960 võ sư so găng với Tăng Bình ở Chợ Lớn. Khi Tăng Bình khoe đã học được nhiều đòn cước độc và đòi tỷ thí với võ sư, ông đã dùng chính đòn thế của Bình để trị Bình trước đông đảo quan khách do Bình mời đến tham dự và sau khi hô hấp nhân tạo cho Bình xong, ông lặng lẽ ra về.
Người Ý gọi tôi là "ummo" (người ngoài hành tinh), nhưng tôi nói tôi chỉ là người Việt Nam: Nhận định sau chuyến ông lưu diễn tại Ý năm 1991.
Võ nghiệp không nuôi nổi tôi, nhưng tôi nhớ quá và trở lại. Vả lại, tôi là chưởng môn nhân của Hồng gia, không truyền lại võ học mà môn phái sở đắc, tôi đắc tội với sư phụ, với tổ sư Hồng Hy Quan: Võ sư nói về lần tái xuất giang hồ năm 1985, sau nhiều năm ông giã từ nghiệp võ để theo nghề phay, tiện kiếm sống tại Mỹ Tho.
Tôi không mở võ đường vì võ sinh chân chính trước hết là một người đức độ, sau mới là võ công: Trả lời phỏng vấn về việc "sao ông không mở võ đường để truyền lại tuyệt học" của phóng viên Ngọc Hoàng trên báo Sổ tay Võ thuật số 57.
Các em học võ bây giờ phần lớn chỉ là lên đấu để đoạt huy chương. Nhiều em học xong, bước ra ngõ là quên mất tình thầy trò. Học võ nhưng nhiều em lại tỏ ra khá ngông nghênh, ngang tàng bởi thiếu một chữ "NHẪN": Trả lời phỏng vấn khi xuất phát từ chuyện "thật giả khó phân" của một số người mãi võ, một số phóng viên đã hỏi quan niệm của ông về chữ "Đạo", đạo đức và tư cách của người học võ ngày nay.
Đánh giá của thế giới:
Trong chuyến lưu diễn và giảng dạy võ thuật tại Ý năm 1991, được thưởng thức những công phu đặc dị do ông thi triển, người Ý đã kinh ngạc thán phục gọi ông là "ummo", tức "người ngoài hành tinh".
Trong cuốn sách Những người có khả năng siêu phàm do Nhà xuất bản Kindersley ấn hành năm 1991 tại London và tái bản năm 1992 tại California, võ sư Hà Châu được xếp vào một trong ba kỳ nhân thế giới với những tuyệt kỹ công phu nói trên. Hai người còn lại là một thuật sĩ Yoga (người Ấn Độ) chôn sống dưới cát cả tháng trời vẫn khỏe và võ sư Hohen Soken ở quần đảo Okinawa Nhật Bản biểu diễn quyền thuật trên tấm ván mỏng thả trên mặt nước.
Hoathieugia
18-05-2008, 02:45 PM
Ông mất rồi nhưng những đóng góp của ông cho nền võ học cổ truyền Việt Nam sẽ sống mãi ... :uong2:
Ta chỉ thấy môn phái thịnh hành nhất là vovinam thôi ( nổi tiếng nhất)
. full stop
vBulletin® v3.8.5, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.