View Full Version : [Truyện dài] Tân Thủy Hử - Thí sinh số 05 - (Đã hoàn thành)
Kim Bút
17-06-2009, 10:50 AM
TÂN THỦY HỬ
Hồi Khai Lộ
“Anh hùng – Trượng Nghĩa” là một đề tài muôn thưở trong thế giới võ hiệp, là nguồn tài nguyên vô tận của các tác gia đang ngày đêm khai thác nguồn cảm hứng vô tận của mình giữa bể kiếm-rừng đao.
Tất cả những thứ đó đều nằm trong Thủy Hử, một tác phẩm có đủ các yếu tố: “Trí-Dũng-Nhân-Nghĩa-Lễ-Tín” của Thi Nại Am.
Một tác phẩm ca tụng các bậc hảo hán nghĩa hiệp,khí khái ngất trời không sợ cường quyền.
Tại Lương Sơn Bạc gồm có 108 vị anh hùng tương ứng với 108 vì sao Thiên Cang và Địa Sát cùng nhau tụ nghĩa dưới ngọn cờ “Thế Thiên Hành Đạo” :
Ngày xưa ở nơi Lương Sơn ấy
Hội tụ anh hùng kết tâm giao,
Ngâm thơ đối ẩm vui chung rượu
Giáo gươm đọ sức luận anh tài
Thế nhưng một kết cuộc đầy bi ai, để lại cho đọc giả bao nhiêu phần tiếc nuối:
Ngày nay cũng nơi Lương Sơn ấy
Mà sao lãnh lẽo vắng anh hùng,
Hàng Dương rũ bóng nhìn bi thảm
Cổng đá điêu tàn chữ phai trôi.
Là một đọc giả yêu mến Thuỷ Hử, tại sao bạn không cùng tôi dựng lên một ngọn cờ khác, hãy để những bến nước,hàng cây của vùng Thủy Bạc-Lương Sơn reo hò thêm lần nữa…
Hồi Thứ 1
Trị bất nghĩa muôn dân căm oán
Cãi mệnh trời vua Tống thác oan
Lương Sơn-Thủy Bạc giờ đây chỉ còn là một hồi ức, nhưng hình ảnh của các bậc hảo hán “Thay Trời Hành Đạo-Trung Nghĩa Lưỡng Toàn” luôn sống mãi trong lòng nhân dân. Người đời sau lưu rằng:
Tụ nghĩa anh hào nơi Thủy Bạc
Kiêu Hùng tử trận lúc xông pha,
Thiên cổ vi thần giai mếu thực
Vạn niên thanh sử bá anh hùng.
Dịch là:
Anh hùng kết nghĩa tại Lương Sơn
Kiêu hãnh hy sinh nơi chiến trường,
Muôn thưở là thần linh hưởng tế
Ngàn năm sử sách rạng anh hùng.
Lại kể về Huy Tông Hoàng Đế, sau khi bang ngự tửu để thí tử cho Tống Giang thì ngày càng rơi vào sa đọa, vui chơi khoái lạc bỏ mặc cho đám gian thần mặc sức thao túng triều cương. Tất nhiên Cao Thái Uý-Cao Cầu là kẻ đi đầu trong việc vơ vét và trục lợi trên xương máu của dân lành. Hết tăng thuế cao má lại bắt dân làm phu ở các công trình đồ sộ tráng lệ để phục vụ cho cái sa đọa của vua tôi triều đình. Bản chất thói nát của tầng lớp quan lại cho đến người có quyền lực tối cao là hoàng đế Huy Tông đã khiến cho thần-dân phẫn nộ. Tiếng khóc than đã dần dần vơi đi nó thay thế bằng những lời căm hờn; nó lại nung nấu ý chí phản kháng lại triều đình của nhân dân.
Trong 1 buổi đăng triều, Cao Cầu thượng tấu lên Hoàng Đế:
-Bẩm bệ hạ, bọn Tống Giang lúc sống thì làm khuynh đảo sơn hà, tới khi chết thì lại nhiễu loạn nhân tâm, gần đây còn giả thần lộng quỷ xúi dụ nhân chúng lập đền thờ phụng chúng nữa.
Dương Tiễn bước tên tiếp lời:
-Hạ thần cũng được biết là hiện nay ở Sở Châu đã dựng lên kim miếu trang hoàng, bên trên còn đề tấm bảng Thiên Tinh Chi Miếu.
Huy Tông nghe đến đây thì cả giận:
-Rõ ràng là bọn chúng không xem hoàng đế ta đây ra gì cả, dám xưng danh trên đầu của thiên tử Đại Tống. Cao Thái Uý ta giao cho khanh xử lý thích đáng vụ việc này.
-Thần tuân mạng; Cao Cầu kính đáp.
Ngay sáng hôm sau, Cao Cầu phát công văn về Sở Châu chủ ý là phải phá đi ngôi mếu thờ phụng Tống Giang cùng các đầu lĩnh của Lương Sơn. Dân chúng thành Sở Châu hay tin kéo nhau ầm ầm đến phản đối, bao vây lấy miếu thề chết bảo tồn nơi linh thiêng này. Khi quan phủ địa phương đến nơi thì dân chúng đã hội tụ đông đảo, không còn một chỗ chen chân vào miếu. Quan tri phủ toan mở công hàm ra đọc để dễ bề chấp hành công vụ nhưng tiếng la hét; tiếng phản đối nổi lên rầm trời. Trước thái độ quá khích và kiên quyết của dân chúng xem ra lực lượng lính tráng trong thành trong tình hình này khó lòng dàn xếp thỏa. Đốc Lâm-tri phủ Sở Châu vốn là một kẻ nhát gan sợ việc nên không dám thẳng mặt làm căng, xem tình hình không ổn bèn rút về trình báo lên trên.
Đêm hôm ấy, thành Đông Kinh Phủ Khai Phong xuất hiện một dị tượng, ngay canh ba giông tố bỗng dưng nổi lên dữ dội, gió rít từng hồi nghe lạnh cả xương tuỷ. Ngay trong hoàng cung, một cơn gió mạnh làm cánh cửa chính của Điện Kim Loan bị đánh bật ra. Từ đâu cơn gió thổi đến 1 pho tượng đặt vào giữa Điện Kim Loan. Lạ thay, sau khi bức tượng nằm yên giữa điện thì giông tố lại vơt đi và tắt hẳn. Ngay lập tức tên thị vệ trong trông thấy bức tượng và chạy đến tẩm cung để thông báo cho Huy Tông Hoàng Đế. Đó là một pho tượng được đúc từ đá trắng, to khoảng sáu người ôm, nặng khoảng 400 cân. Hình thù rất kì quái; đầu là một đầu rồng uy nghi nhưng thân mình là thân một con ếch. Lúc đó Huy Tông cùng các bá quan văn võ đang có mặt tại Tam Bảo điện xúm lại quan sát pho tượng đá. Bỗng dưng từ khoé mắt pho tượng ếch vô tri lại chảy ra máu tươi, tuôn xuống hai hàng như suối chảy. Các quan lại cùng nhà vua không khỏi kinh ngạc trước hiện tượng dị thường đang diễn ra trước mắt. Lúc này, quan tam phẩm Lỗ Đại Học Sĩ Lỗ Tín mới bước ra tâu:
-Tâu Bệ hạ theo kiến thức thô thiển của hạ thần mà nhận xét thì đây là điềm bất lành, giông tố phong ba tự nhiên nổi lên rồi lại phốc chốc tan đi dường như muốn báo có người đang làm ngược ý trời. Trong phong ba lại mang đến một pho tượng vào đến tận điện Kim Loan là ông trời có ý cảnh báo chúng ta phải dừng lại nếu không sẽ gánh lấy tai hoạ. Tượng đá vô tri lại chảy ra máu tươi rõ ràng ý muốn nói là hành động đó đã khiến thiên nộ dân oán. Hạ thần khẩn xin thánh ý thu hồi, ngưng ngay việc tháo dỡ miếu của Tống Công Minh.
Nghe đến đây, Huy Tông nữa tin nữa ngờ bèn quay sang nhìn Cao Cầu. Lúc này Cao Cầu chỉ biết cúi đầu không dám nói gì thêm. Huy Tông lại hỏi:
-Vậy tại sao bức tượng lại mang hình thù quái lạ thế kia, nó mang ngụ ý gì? Ngươi hãy giải thích cho trẫm.
Lỗ Tín quỳ sụp xuống trịnh trọng nói:
-Nếu thánh thượng không trách tội thì hạ thần xin nói thẳng. Ếch là con vật thấp hèn nó dùng để ví von với những con người tầm thường kém hiểu biết mà luôn tự cho mình là uyên thâm. Rồng là một linh vật, từ xưa tới nay nó chỉ tượng trưng cho vua chúa quý tộc. Đầu rồng mà ghép với mình ếch là muốn nói hoàng thượng là…hôn quân-một ông vua bù nhìn chỉ được dáng bề ngoài nhờ chiếc long bào, chứ thật ra chỉ là một con ếch bị người ta xếp đặc. Cuối mong thánh thượng tự cảnh tỉnh mình để chấn hưng triều cương. Và huỷ bỏ lệnh phá miếu thờ để ổn định lòng dân, nếu không…nếu không sẽ mang hoạ khó lường.
Huy Tông nghe xong thì giận tím cả mặt, lúc này Cao Cầu mới có dịp chen vào dậu đổ biềm leo, hắn tháo quát:
-Lỗ Tín ngươi thật cả gan, dám mượn thần mượn quỷ để buông lời bất kính với hoàng thượng. Khởi bẩm hoàng thượng, Lỗ đại học sĩ không giữ phận tôi trung, thiết nghĩ trước đây Lỗ đại nhân là nhận được lợi ích gì từ bọn Tống Giang nay mới dám lớn tiếng cầu xin cho Hắn. Lại còn giả thần lộng quỷ để thoái mạ quân vương. Mong hoàng thượng nghiêm trị để cảnh cáo toàn thể quan viên.
Huy Tông sau khi nghe Cao Cầu nói, lại nghênh ngang lấy lại tự tin, rồi nhìn sang Lỗ Tín nghiêm mặt:
-Bản thân ngươi là bậc bề tôi mà dám lên mặt thoái mạt trẫm, như vậy là đã phạm tội khinh quân. Người đâu hãy đem tên loạn thần này giam vào thiên lao, giờ Ngọ ngày mai trảm thủ thị chúng. Nay việc này đã xong, cấm không ai được bàn lập lại. Trẫm phải về tẩm cung nghỉ ngơi, còn việc gì sáng mai tảo triều rồi tâu.
Văn võ bá quan cúi lại xong ai lại về phủ nấy. Buổi tảo triều sáng hôm sau, Huy Tông vẫn kiên quyết giữ ý định phá dỡ miếu Tống Công Minh, bỏ mặc điềm báo mà Lỗ Tín đã nói tối qua:
-Trẫm đã quyết định, miếu thờ bọn Tống Giang phải lập tức phá bỏ. Trẫm đây là Thiên Tử, ý trẫm ban ra tức là thuận theo ý trời. Nếu có loạn dân nào muốn kháng cự thì thẳng tay giết sạch. Cao thái uý, khanh truyền lệnh Trẫm xuống cho quan tri phủ Sở Châu thi hành.
Cao Cầu hân hoan bái tạ:
-Hạ thần cẩn tuân thánh ý của hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế.
Đêm hôm ấy, Huy Tông hoàng đế không bệnh mà qua đời. Sáng hôm sau, cáo thị loan tin Hoàng Đế băng hà được ban ra cùng với lệnh toàn quốc chịu tang 3 ngày, nghiêm cấm rượu thịt và tổ chức cưới hỏi hay hội đình.
Văn võ bá quan trên dưới bề ngoài thì thương tiếc sự ra đi của Huy Tông, một mặt lại bàn tán xầm xì về lời sấm tiên tri của Lỗ Tín, họ đã bắt đầu tin những điều ông ta nói là sự thật. Cao Cầu mặt tái lạnh đi, tay run lẩy bẩy cầm công văn chưa kịp phát đến Sở Châu, bước ra giải bày cho qua chuyện:
-Đây là công văn lệnh cho Sở Châu phá dỡ miếu Tống Công Minh, đúng ra Cao Cầu tôi phải thi hành ngay để yên lòng của tiên hoàng nơi chín suối. Nhưng vì nỗi đau mất Chúa, nên tạm thời tôi chưa thể làm chuỵên này trong thời kì thọ tang cho tiên đế.
Tang sự của Huy Tông Hoàng Đế đế được tổ chức thật long trọng. Có thể nói Huy Tông là ông vua ăn chơi, sa đọa nhất từ khi nhà Tống khai quốc đến nay. Ông trị vì được 25 năm. Hưởng thọ 53 tuổi.
Triều đình nhà Tống lại thêm một cơn nguy ngập trước sự ra đi đột ngột của Huy Tông, cục diện triều chính sẽ hỗn loạn ra sao ? xem hồi sau sẽ rõ…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
17-06-2009, 10:52 AM
Hồi Thứ 2
Lập Khâm Tông Cao Cầu đắc chí
Chốn phong trần hảo hán lâm nguy.
Sau sự ra đi đột ngột của tên đạo quân Hoàng Đế, làm cho trên dưới triều đình nhà Tống như rắn mất đầu. Quyền tước to thì thừa cơ thâu tóm quyền thế về mình, quan chức thấp thì sẵn tay trục lợi vơ vét tiền tài bất chính. Còn Cao Cầu thì ngược lại, vốn là một kẻ tham quyền cố vị nên có lẽ nào hắn lại trơ mắt nhìn quyền hành của mình đang bị phân chia bởi đám loạn thần. Hắn thương lượng với Dương Tiễn phải mau chóng tìm một vua mới lên để tiếp tục thao túng quyền hành của mình. Huy Tông hoàng đế không có thái tử kế vị nên Cao Cầu muốn tìm một vị công tử trong hoàng tộc để kế ngôi. Nhưng tiêu chí lựa chọn của hắn phải là một người non nớt, trẻ tuổi để hắn có cơ hội thao túng triều chính. Và nhân tuyển thích hợp nhất là đứa con trai thứ của của võ an hầu Triệu Tín, là Triệu Hoàn.
Triệu Hoàn năm nay mới 19 tuổi. Từ nhỏ đã quen thói cung phụng cưng chiều nên Triệu Hoàn đã rất sành ăn chơi, rượu chè tửu điếm cờ bạc không có nơi nào mà hắn lạ lẫm. Vì lý do đó đã khiến cho Cao Cầu mừng thầm khi xác lập Triệu Hoàn làm thái tử kế ngôi. Một tháng sau, đại lễ đăng cơ được tiến hành long trọng. Triệu Hoàn lên ngôi lấy hiệu là Khâm Tông, vào năm Tĩnh Khang thứ nhất đời nhà Tống.
Sau lễ đăng cơ, Khâm Tông được đám Cao Cầu, Dương Tiễn đưa đẩy vào con đưòng ăn chơi trụy lạc, còn việc triều chính thì giao hẳn lại cho vị trung thần Cao Cầu. Một lần nữa, triều đình nhà Tống lại rơi vào tay gian thần đương đạo, tiếng oán tiếng hờn đâu đó trong chốn nhân gian một lần nữa lại cất lên:
Nghịch tử côn đồ phường cú vọ
Gian thần loạn đảng cánh diều hâu
Cầm quyền hại nước dìm thiên hạ
Xã tắc tròng trành ấy bởi đâu….
Ở một huyện thành cách phủ Khai Phong không xa là huyện Tam Tiên, có 1 tên con nhà quan chuyên ỷ thế hiếp người có thể gọi là cường đồ ác bá trong huyện. Đó là con trai độc nhất của quan thái thú Mã Thông, là Mã Lan Tài. Tên này tử nhỏ quen thói ăn chơi lêu lỏng, lớn lên lại cậy chức quan cao của cha lại càng ra vẻ hống hách, thường cưỡng ép thiếu nữ nhà lành, đánh người gây sự khắp nơi. Dân trong vùng ai nghe thấy tên cũng sợ, hễ Lan Tài mà bước đến đầu phố thì cuối phố đã nao náo dọn hàng mà chạy, những ai dọn không kịp thì hôm đó xem như xui, hàng gánh bị phá hỏng hết, không khéo lại còn bị đánh cho một trận.
Hôm nọ, có 2 anh em từ nơi xa đến huyện Tam Tiên hành nghề mãi võ ở đường phố. Người anh là Di Thiên Huấn có thân hình cao to lực lưỡng, trán rộng mầy thanh vẻ mặt phương phi, cương trực làm toát lên cái hào khí của một nam tử hán. Còn cô em gái là Di Thiên Thư, da trắng má hồng, mắt sáng long lanh, tuy kiều diễm nhưng không kém phần lạnh lùng và mạnh mẽ, tuy mạnh mẽ nhưng không làm mất đi sự diệu dàng của cô.
Cả hai dừng chân ở một góc chợ, nơi đông đúc nhất trong huyện Tam Tiên, họ bày hàng hoá ra. Nói là hàng hoá chứ thật ra chỉ là chừng chục món vũ khí. Họ thay nhau thi triễn các ngón nghề gia phụ truyền cho. Tiếng chiêng vang dội khắp một gốc thành Huyện Tam Tiên cuốn hút mọi người đến xem náo nhiệt. Lúc thì Di Thiên Huấn thi triễn bộ Thiếu Lâm Thập Bát Côn với cây Phá Thiên côn, khi thì Di Thiên Thư biễu diễn điệu nghệ với cặp Phi Phong Đao.
Người qua kẻ lại đứng xem mỗi lúc một đông, tiếng hoan hô tán thưởng hoà cùng tiếng chiêng vang dội làm tưng bừng náo nhiệt cả khu chợ trong huyện. Thư lật cái chiêng ngửa lên rồi đi tới từng người để xin tiền ủng hộ. Tiếng tiền xu va chạm với cái chiêng đồng rộ lên giòn giã đến vui tai. Bỗng đằng xa có một đám người đang tiến lại gần đám đông xem mãi võ, một số người đứng xem tự động nép vào hai bên để tránh lối cho đám người đó, còn một số đông kia thì đã hớt hải chạy đi như mèo bị cắt tai. Đám người đó gồm 5-6 tên gia nhân mặt thỏ mỏ dơi, đi giữa là 1 tên mặc bộ áo quần màu xanh lục, đầu đính kim mão, chân mang giày vải lụa trắng tinh, trên tay thì ngất ngưởng cái lồng chim còn phía sau là cây quạt giấy được vắt xuề xòa vào cổ áo. Đám gia nhân xô đẩy quát nạt đám đông mở lối cho tên công tử kia. Hắn mở giọng lớn lối:
-Hai ngưoi từ nơi nào tới đây mà bày biện giữa phố xá thế kia?
-Dạ, tiểu nữ là Thiên Thư cùng ca ca đến từ Bách Lạc thôn đến đây để mãi võ kiếm chút tiền lộ phí, không biết có chổ nào làm phật ý quan gia xin hãy rộng lòng bỏ qua.
Giọng nói mềm mỏng phát ra từ gương mặt kiều diễm của cô thiếu nữ 18 tuổi đã đánh bật cái hung hăn của đám gia nhân cùng tên công tử kia. Hắn vụt tỉnh lại sau một thoáng đờ người:
-à. . à. Không có gì. Ta vốn quen thuộc với mọi người trong huyện này, thấy hai người lạ mặt nên tới đây hỏi thăm vậy thôi. Đây, ta thưởng cho cô.
Nói rồi hắn ra hiệu, một tên gia nhân đặt nén bạc 500 lượng vào cái chiêng trên tay của Thư. Thấy số tiền quá lớn Thiên Thư ngạc nhiên:
-Thưa…số tiền này lớn quá. . . ?
Không đợi chủ nhân mở lời, tên gia nhân nhanh nhẩu đáp ngay:
-ấy, chừng này thì có là bao nhiêu, công tử nhà tôi là con trai độc nhất của Mã lão gia trong huyện này, tên là Mã Lan Tài. Công tử của chúng tôi rất là rộng rải với mọi người, nhất là. . . với mấy cô nương xinh đẹp như cô.
Thư kéo tay Huấn qua để nói cảm ơn với Mã Lan Tài.
-Thì ra là Mã Công Tử, huynh muội tiểu nữ từ xa đến đây nay được công tử ra tay hào phóng xin hết lòng biết ơn. Còn đây là đại ca của tiểu nữ.
Thư vừa nói vừa chỉ tay qua Thiên Huấn, Huấn vốn không ưa mấy tên công tử quan quyền nên chỉ cố gật đầu chào không nói gì, còn Mã Lan Tài thấy vẻ mặt Thiên Huấn ưa không nổi nên chỉ liếc ngang “hứ” 1 tiếng rồi quay lại nói với Di Thiên Thư:
-Cô nương khỏi cần phải cám ơn ta, ta nghe nói cô nương có tai múa kiếm rất hay, nay ta có một yêu cầu là tối nay cô hãy đến Thanh Phong lâu để múa kiếm cho ta xem. Không biết ý cô nương thế nào?
-Như vậy đâu có được, tiểu muội của tôi tuy không phải cành vàng-lá ngọc nhưng cũng là khuê nữ thanh môn. Đâu có thể nào tuỳ tiện ra vào mấy nơi trăng hoa đó được…
Huấn vừa dứt lời thì tên gia nhân đã nhảy vào táp ngang:
-ê !sao ngươi không biết điều vậy thế hả, có biết số tiền đó ngươi phải mãi võ ngài chợ bao lâu mới kiếm về được không, nay chỉ kêu muội muội của nhà ngươi múa kiếm một lần là quá lợi rồi. Huống hồ gì công tử nhà ta chịu để mắt đến thứ võ công ba mớ của các người là may lắm rồi.
Nghe đến đây thì hai nấm tay của Di Thiên Huấn đã cứng lại như hai quả chùi, với bản tính cương liệt của Huấn thì chắc chắn tên vừa nói đó phải ăn một trận đòn. Hiểu được tánh nóng của ca ca, Thư ghì mạnh tay của Huấn lại và khẽ gật đầu ưng thuận với tên công tử họ Mã.
-À, không được. Nếu lỡ nàng thất hứa thì ta biết đi đâu mà tìm nàng. Ta phải tạm giữ một món gì đó để làm tin, sau khi thưởng thức múa kiếm xong ta sẽ trả lại.
Mã Lan Tài nói xong liền ra hiệu cho hai tên gia nhân chạy đến lấy đi cập Phi Phong Đao. Lúc này, thì Huấn đã không còn nhịn nổi liển giơ tay giật mạnh lại cặp đao làm hai tên gia nhân ngã nhào. Huấn toan rút đao tiễn mỗi đứa một nhát. Thư sợ có phiền phức to nên nhảy tới nêm tay của anh mình và phân bua cùng tên họ Mã
-Trưởng huynh có phần nóng nãy xin công tử dung thứ cho. Đây là cặp đao do tiên phụ để lại cho huynh muội tiểu nữ, tuy không quý báo gì nhưng nó là vật bất ly thân nên mong Mã công tử thông cảm khó theo ý ngài. Còn chuyện tối nay thì tiểu nữ đã hứa thì nhất định tới.
-Được, quân tử không trách nhất kẻ tiểu nhân. Ta tin tưởng nàng đấy. Tối nay ta sẽ chờ nàng ở đó, nhưng chỉ một mình nàng thôi nhé, ta không muốn nhìn mặt tên khó ưa kia.
Nói xong hắn buông lơi một nụ cười điểu giả rồi quay lưng đi, để lại anh em nhà họ Di đứng lặng giữa chợ người. Huấn vừa ngóng theo hướng của Mã Lan Tài vừa cằn nhằn:
-Muội thật sự chịu đi gặp tên đó sao ?
-Muội thật sự hết cách, hắn rất có thế lực ở trong huyện này. Huynh cứ yên tâm, với bản lĩnh võ công của muội thì ngại gì tên công tử bột đó. Nếu vẫn không an tâm thì đêm nay huynh chờ muội trước cửa tửu lầu, máu kiếm xong muội sẽ ra ngay.
Nhẻn một nụ cười tươi rồi Thư quay sang thu dọn mọi thứ.
Đêm đến đúng như lời hẹn hai anh em nhà họ Di tìm đến Thanh Phong lâu, Huấn đứng ngoài cửa chờ để một mình Thư bước vào quán rượu. Khi bước vào cửa là đã ngửi thấy một mùi gì đó làm Thư khó chịu, cái cay nồng của hơi rượu cùng hương phấn son nồng nặc tạo nên bầu không khí ngột ngạt. Tiếng vỗ tay của mấy gã đàn ông đang tán thưởng những cô đào hát, tiếng lốp cốp của những chén rượu đụng vào nhau, tất cả hoà lẫn vào nhau tạo thành một bản nhạc rẻ tiền. Có một người đàn bà đứng tuổi lê bước đến cạnh Thư hỏi gấp:
-Tiểu cô nương, đi đâu mà tay gương tay giáo thế kia ? Cô tìm ai ?
-Tôi tìm Mã công tử, Mã Lan Tài; Thư lãnh đạm trả lời.
Biết đã đúng người, bà ta dắt Thư đi thẳng lên tầng trên. Ở trên này thì có vẻ tĩnh lặng hơn, cao sang hơn và thoáng mát hơn bội phần so với tầng dưới. Thư được dắt vào một gian phòng rộng, trong đó Thư thấy tên họ Mã đã rượu thịt chờ sẵn từ bao giờ, bên cạnh vẫn không thiếu hai cô kỷ nữ hầu rượu. Thấy Thư Mã Lan Tài thâu lại hai cánh tay của mình từ eo của hai cô gái kia, xong ra hiệu cho họ đi ra ngoài và trở lại bộ mặt quân tử “hoá” :
-Nàng đến rồi sao. lại đây. lại đây uống một chén với ta nào.
-Tiểu nữ chỉ theo lời hứa mà tới đây mua kiếm góp vui. Múa xong tiểu nữ xin ra về, vả lại tiểu nữ cũng không giỏi uống rượu.
-Chỉ là một chén rượu thôi mà nàng cũng ngại sao, múa kiếm thì lát nữa mua vẫn được mà. Ngồi xuống đây xem như ta thưởng cho nàng.
Mã Lan Tài đứng bật dậy kéo Thư ngồi xuống, biết khó lòng chối từ nên Thư đành một chung. Huấn lúc này bên ngoài đợi lòng như lửa đốt, sự náo nhiệt của bên trong bao nhiêu thì bên ngoài Huấn càng bất an bấy nhiêu.
Nói trở lại Thư sau khi uống rượu toan đứng dậy múa kiếm thì cảm thấy hơi chóng mặt, mồi hôi trên trán và sau gáy tuôn ra, tay đã bắt đầu mất dần sức còn chân thì nhũng đi. Thư ngồi phụt xuống lại ghế nhìn tên súc sinh họ Mã mà nói:
-Ngươi…đã bỏ gì trong …rượu?
-Ơ …ta có bỏ gì đâu, chắc là do rượu quá mạnh thêm phần nàng uống không quen nên mau say đó mà. Để ta dìu nàng qua giường nghĩ cho khoẻ trước đã.
Nói xong hắn bước qua nắm tay và ôm ngang lưng của Thiên Thư.
-Tránh xa …ta ra…. đồ đê tiện!
Vừa nói Thư vừa vùng dậy xô mạnh Mã Lan Tài ra làm hắn té lăn nhưng chính nàng cũng loạng choạng ngã ra phía sau vì thuốc mê trong chung rượu đã dần phát tán trong cơ thể nàng.
Hắn đứng dậy, phô ra bộ mặt trơ trẽn của tên quỷ râu xanh. Lúc này cái lịch lãm nàng nàng, ta ta; cái “yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu” đã không còn tồn tại trong gian phòng này nữa, mà chỉ còn lại một thiếu nữ đang vẫy vùng trước tên đê hèn dâm tiện:
-Hé hé, mỹ nhân của ta ơi, cứ chửi đi rồi lát nữa đi nàng sẽ cám ơn ta không kịp, đến đến với ta nàng………… ha ……. . ha…. . ha!
Hắn nhào tới ôm trọn lấy Thư, lúc này nàng đã không còn đủ sức để kêu la huống hồ gì nói đến vùng vẫy. Thư bất lực chìm dần trong cơn mê của thuốc. Nàng tự nhủ mình phải kiên cường, nhưng mắt nàng đã không còn đủ sức để mở, nó mờ đi, mờ đi rồi dần dần liệm hẳn. Hắn bế Thư lên giường, hôn lên mặt, lên cổ, lên môi nàng. Hắn hấp tấp, hăng say và hoang dại như một con thú. Hắn bắt đầu thực hiện hành vi hạ tiện nhất, hắn từ từ rút dây áo nàng ra. Thư trong cơn nữa tỉnh nữa mê bỗng nghe một giọng nói quen thuộc thét lên:
-Đồ súc sinh, mày phải đền tội!!!
Tiếp sau đó là tiếng kêu đứt quãng của tên Mã Lan Tài, Thư cảm giác có một thứ nước gì đó bắn vào mặt mình, mùi vị như là máu. Thư cố mở mắt ra thì thấy Thiên Huấn đứng bên cạnh giường tay cầm đao dính đầy máu, còn cái đầu của Mã Lan Tài bị huấn chém gần như lìm khỏi cổ, chỉ còn dính tí xíu da. Một lưỡi đao đã kết thúc đời một tên ngịch tử hại nước hại dân:
Giàu sang có tiếng khắp sơn hà
Phóng đãng chơi bời đúng đại gia
Một thoáng ham vui đành thiệt mạng
Phong lưu chi mấy cũng ra ma.
-----
Chùi máu trên mặt cho Thư xong, Huấn một tay dìu tiểu muội một tay cầm đao chạy đi, xuống tới trước cửa gặp phải mụ tú bà tiện tay Huấn phang liền một nhát lìa cổ mụ đàn bà cay độc. Huấn nhanh chóng dìu em chạy ra khỏi cửa bỏ mặc sự hoản loạn của đám đông khi trông thấy có án mạng. Huấn vừa chạy đi một lúc thì quan binh đã kéo đến lùng sục khắp nơi….
Liệu hai anh em nhà họ Di có trốn khỏi sự truy đuổi của quan binh ?Cuộc sống của họ sẽ như thế nào trong khi bị tầm nã ?Muốn biết thế nào mời xem hồi sau sẽ rõ….
Hồi Thứ 3
Bến Mục Đầu, Thiên Huấn thọ thương
Dâng khoái mã, Doãn Văn mắc nạn
Ánh chiều tà rải một sắc nắng nhòa nhạt đầy thê lương trùm lên vạn vật. Bóng cây cổ thụ đổ dài trên mặt đất, phảng phất một nỗi buồn cô tịch không nói nổi thành lời của bến sông Mục Đầu. Bỗng nhiên xuất hiện tiếng bước chân nặng nề của ai đó làm phá hỏng không gian yên lặng của bến sông. Đó là hai anh em Thiên Thư và Thiên Huấn,họ đang lẩn trốn trước sự truy đuổi ráo riết của quan binh. Huấn dắt Thư chạy dọc theo bờ sông, đến gần bến sông đã có quân lính mai phục sẵn. Chúng bố trí một đội cung tiễn đợi sẵn bên sườn núi men bờ sông, đợi họ vừa đến thì xả tiễn như mưa. Thiên Huấn bình tĩnh với cây côn trên tay lúc quay, lúc tạt dắt em thoát khỏi trận vũ tiễn. Họ thấy bên bờ sông có một chiếc xuồng nhỏ, Thư liền nói:
-Quân lính mai phục mỗi lúc một đông, với sức hai người chúng ta thì e rằng khó lòng địch nổi. Hay chúng ta dùng chiếc xuồng này để sang sông.
Huấn khen phải rồi cả hai liền nhảy xuống chặc dây neo thả trôi theo dòng thoát khỏi vòng vây của quan binh.
Thấy tội phạm sắp trốn thoát, Bạch Sĩ Nhân-đô uý của huyện Tam Tiên liền rút mũi tên nhắm thẳng vào Huấn rồi bắn. Mũi tên cắm phập vào ngực làm Huấn điếng hồn thét lên rồi quỵ phục xuống chiếc xuồng nhỏ làm nó chao đảo. Di Thiên Thư hốt hoảng chồm đến đỡ anh:
-Đại ca, anh có chịu nổi không. Những tên quan quyền thật là nham hiểm
-Anh không sao cũng may là mũi tên không có tẩm thuốc độc. Em cứ để mặc anh, nhanh chóng rời khỏi đây.
Thư để Huấn nằm xuống rồi tiếp tục chèo xuồng. Họ lênh đênh trên mặt biển qua một đêm dài. Đến trời sáng lúc này trông Huấn đã khá xanh xao và yếu dần. Thư trông thấy đằng xa có một ngọn núi biết là sắp tới đất liền nên cố gắng ra sức chèo và quay sang Thiên Huấn:
-Đại ca anh sao rồi? Hãy cố lên chúng ta sắp tới đất liền. Chúng ta sắp thoát rồi anh hãy cố lên.
Hồi sau họ đã cập bến, ven bờ có một vài ngư dân đang chuẩn bị ra khơi, Thư cả mừng khôn xiết:
-Cứu…Làm ơn đến giúp chúng tôi.
Đám ngư dân,quăng chài quăng thúng chạy đến chỗ chiếc xuồng nhỏ mới dạt vào bờ.
Trông thấy có người bị thương họ liền mau đến giúp đỡ, một ngư phu thân hình vạm vỡ,hàm én mắt to hỏi Thư:
-Hai người từ đây đến đây sao vị đại ca kia lại bị thương nặng như vậy ?
-Chúng tôi bị quan binh vây bắt nên ca ca của tôi mới bị trọng thương
-Thì ra là vậy, hãy mau cứu vị đại ca này nếu không sẽ không kịp.
Đám ngư đỡ Thiên Huấn lên chiếc xe đẩy rồi kéo về làng. Khám xong vết thương lão đại phu nói với Thư:
-Vết thương không trúng ngay phần quan trọng, nhưng vì mất máu quá nhiều nên sức cần phải tịnh dưỡng và bồi bổ nhiều, rất may là vị huynh đệ này có căn bản võ công và một thể trạng tốt nên quá trình hồi phục không phải là lâu lắm. Đây là vài thang thuốc, cứ cho hắn uống hết trong vài ngày là ổn.
-Dạ,xin đa tạ đại phu, đây là chút tiền coi bệnh mong đại phu nhận cho.
Thư vừa nói vừa trút trong túi vải ra 2 lượng bạc đưa cho lão. Lão đại phu gạt đi rồi mỉm cười lắc đầu:
-Ta là đại phu trong thôn, dân chúng trong Thạch Giai thôn này sống đùm bọc nhau, mọi người đều chia sẽ hoặc trao đổi thức ăn nên gần như là không dùng đến tiền bạc, vì vậy cô nương hãy cất đi, ta không nhận, không nhận.
Nói xong lão đại phu cáo từ rồi bước ra,còn lại Thư với vị ngư phu lúc nãy, lúc này hắn mới hỏi:
-Bây giờ thương tích của vị đại hán này xem như tạm ổn, cô có thể cho ta biết đầu đuôi câu chuyện không ?
-Tiểu nữ cùng đại ca là người Bách Lạc thôn, sau khi cha mất cùng đại ca rời khỏi nơi thôn dã để tìm dựng sự nghiệp. Khi ghé qua huyện Tam Tiên mãi võ định kiếm ít lộ phí thì gặp phải tên công tử con nhà quan có ý định làm ô nhục tiểu nữ nên ca ca đã hạ sát hắn rồi dẫn tiểu nữ bỏ trốn. Đến bờ sông thì bị quan quân truy kích, đại ca không may bị trúng tên, chèo xuồng đến đây thì gặp được các vị.
Người đó nghe xong liền vỗ tay cười to :
-ha…ha…ha ! Tốt lắm, bình sinh ta ghét nhất bọn quan quyền cậy thế hiếp người, nếu là ta thì ta cũng sẽ xử như vị tiểu ca này. Ha ha ha làm đúng lắm, đúng lắm.
-Vậy chẳng hay tiểu nữ phải xưng hô thế nào với đại thúc ?
-ha… ha… ha! Đại thúc cái gì chứ, cứ gọi ta là Tiểu Thất, ta không thích câu nệ việc xưng hô. Thôi căn nhà tranh này dù sao cũng bỏ trống, cô nương cứ việc ở lại đây chăm sóc cho huynh trưởng tới khi lành hẳn rồi hãy tính sau. Ta đi có việc.
Thư gật đầu cảm tạ rồi quay lại chăm sóc cho Thiên Huấn.
---
Tiếng gió vi vu từng hồi lúc rì rào lúc lao xao làm hàng dương liễu dọc sườn núi Bất Dạ sơn như reo lên trong nắng sớm. Phi Vân thong thả từng bước theo chủ nhân lên đường tràng đầy nhựa sống.
Đó là con Phi Vân Thần Mã ngày phi ngàn dặm trong truyền thuyết với bờm lông dài rũ như sư tử, tiếng hí vang trời như tiếng gầm của thần long, bốn vó to khỏe mà thanh thoát. Hễ khi Phi Vân cất vó là làm rung chuyển cả sơn nguyên dạ thảo. Thần mã Phi Vân tương truyền vốn là thần long trên trời vì phạm tội nặng mà bị đày, làm chín kiếp ngựa dưới nhân thế. Người xưa cũng kể rằng kiếp trước của nó chính là con Hô Lôi Báo của danh tướng khai quốc công thần Đường triều Tần Thúc Bảo. Mỗi lần xuất quân, chỉ cần bứt nhẹ sợi lông bờm, một tiếng hí vang lên là làm bao lớp danh mã phải run rẩy cúi rạp đầu. Lưu truyền đến ngày nay, người có duyên được sở hữu nó là bang chủ mã bang ở Thương Châu, Doãn Trí.
Doãn Trí là người trượng nghĩa hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, ông luôn sẵn sàng ra tay tương trợ bất cứ ai sức yếu thế cô nên nhân sĩ trong võ lâm rất mực ngưỡng mộ và kính trọng. Ông có đứa con trai độc nhất là Doãn Văn, ông sai con đem Phi Vân thần mã đến Sở Châu dâng tặng cho Lăng nha tư.
Phi Vân vẫn chậm rãi bước theo sau vị chủ nhân trẻ tuổi-Doãn Văn. Chàng thiếu hiệp 20 tuổi này môi đỏ như son, da trắng tóc đen, mắt long lanh oai vệ, mặt khôi ngô tuấn tú, ngực nở nang, vai rộng, thân cao. Doãn Văn tuy không giỏi gươm đao nhưng có tài bắn cung siêu phàm, Doãn Văn được cha truyền dạy và tặng cho một bộ thần tiễn mà trên giang hồ gọi là Thương Tâm Tiểu Tiễn. Thương Tâm Tiểu Tiễn gồm một bộ tiễn được Doãn Văn đeo ở bên chân trái và 3 sợi dây cung được thiết kế tinh vi trong lớp áo phía trước ngực, mỗi khi lâm trận chỉ cần một tay kéo sợi dây cung giương lên và tay kia tra mũi tên vào là có thể bắn ra phong phạm của một thần binh bậc nhất trong thiên hạ. Doãn Văn có thể vừa cưỡi ngựa vừa bắn xuyên qua 3 chiếc lá trên cành cây ở khoảng cách hơn 30 trượng, nên bạn bè đặt biệt danh là Tiểu Hậu Nghệ.
Doãn Văn theo lời cha mang ngựa báu đến tặng cho Lăng Bá Thông-một bộ lại làm chức nha tư ở huyện Sở Châu. Ngày xưa trên đường đi ngang qua huyện Sở Châu, Doãn Trí gặp phải một đám nhân sĩ bại hoại giang hồ phục kích, nhờ có Lăng nha tư trên đường trở về từ Đông Kinh kịp thời ra tay tương cứu. Hai người kết giao bằng hữu, Doãn Trí được Lăng Bá Thông mời về nhà chiêu đãi tưng bừng, sẵn thấy vợ của Lăng Bá Thông đang mang thai nên ông mạo muội đề thân, bảo là ở nhà còn đứa con trai mới một tuổi nếu sau này đứa bé trong bụng là gái thì cho chúng nó thành phu thê, nếu là trai thì chúng sẽ kết nghĩa đệ huynh như ông với Lăng nha tư. Trong lúc rượu chè vui vẻ nên Lăng Bá Thông luôn miệng nhận lời.
Chuyện đã qua gần 20 năm nhưng vốn tính tình cương trực và trọng lời nói nên Doãn Trí luôn xem đó là một lời hẹn ước nghiêm túc. Nay sai con đem tặng báu mã nhân tiện gửi một bức thư chủ ý mở lời về việc thực hiện mối hôn ước ngày xưa. Doãn Văn tuy vẫn chưa biết mặt mũi người con gái kia nhưng không dám trái ý cha nên vui vẻ lên đường không do dự. Doãn Văn đi hồi lâu dừng lại nghỉ ngơi sẵn tiện chiêm ngưỡng phong cảnh nơi đây. Từ trên đỉnh Bất Dạ sơn nhìn xuống thung lũng với những mái mà tranh ẩn ẩn hiện hiện, lúc tỏ lúc mờ như một bức tranh sơn thuỷ.
Đi từ sáng đến chiều tối cuối cùng Doãn Văn cũng thấy được toà thành Sở Châu lù lù hiện ra trong cái khung cảnh mờ mờ, nhá nhem. Vì trời đã sắp tối không vào được thành nên Doãn Văn đành ghé vào một quán trọ gần cổng thành nghỉ ngơi, quyết định sáng mai mới đi tìm Lang nha tư. Bước vào cổng quán trọ tên tiểu nhị lẹ làng chạy đến toan dắt hộ ngựa nhưng Doan Văn giơ tay cản:
-Đây là con ngựa chứng, chỉ thuần phục mỗi mình ta. Ngươi chớ đụng vào kẻo bị nó làm bị thương.
-Dạ, vậy khách quan cần chi để tôi vào chuẩn bị ?
-Ngươi mang cho ta hai cân nữ nhi hồng thượng hạng và một vài món ngon của quán.
-Dạ có ngay; Nói xong tên hầu bàn vội chạy đi lấy rượu và thức ăn.
Quang cảnh của quán trọ tuy không trang hoàng nhưng cũng không đến nỗi tồi tàn, mọi thứ có vẻ bình thường duy chỉ có tên trưởng quầy là có phần quái lạ. Hắn cứ cúi đầu ghi chép 1 lúc lại ngó nhìn láo lia, sau lại khẽ liết mắt nhìn thoáng qua phía của Doãn Văn. Một lúc sau tên tiểu nhị mang rượu và đồ nhắm ra:
-Mọi thứ khách quan cần điều đã mang ra, xin hỏi đêm nay khách quan có định nghỉ chân ở tệ quán hay không, để tiểu nhân còn đi chuẩn bị phòng ?
Khẽ nhìn qua Phi Vân, rồi Doãn Văn lắc đầu nói:
-Ta trọ ở đây qua đêm, nhưng ta không thuê phòng. Ta thích ngủ cạnh con ngựa của ta.
-Nhưng…nhưng mà như vậy chúng tôi vẫn tính một nữa giá tiền phòng, xin khách quan thông cảm.
-Tuỳ nhà ngươi!
-dạ, khách quan cho tiểu nhân xin luôn tiền rượu thịt tất cả là 6 lượng 5 quan tiền.
-Đây là 10 lượng, còn lại ta thưởng cho ngươi uống rượu. Và đi lấy một ít cỏ tươi cho con ngựa của ta.
Tên tiểu nhị cảm ơn ríu rít rồi lui ra, Doãn Văn ngồi lại một mình uống rượu ngắm sao cho đến tận đêm khuya. Sáng sớm khi trời vừa hừng đông, cổng thành vừa mở Doãn Văn đã dắt ngựa rời khỏi quán.
Cảnh vật sáng sớm trong thành Sở Châu thật yên tĩnh, từng mái nhà cổ kính xa xa đến những hàng dương trước mặt đều lặng yên mang lại một vẻ ưu sầu ảm đạm. Đi đến cuối con đường Doãn Văn trông thấy một miếu thờ trang hoàng, lộng lẫy, trái ngược hẳn với cảnh vật của cả con đường, ngôi miếu tuy trang nghiêm nhưng không hề lạnh lẽo. Từng gốc cây ngọn cỏ có vẻ đang cố giấu cái đặt trưng riêng của mình chỉ đứng khép nép lặng yên để tôn lên cái uy nghi của ngôi miếu. Trên nóc ngôi miếu là hai con rồng với hạt châu, nhưng không phải là Song Long Tranh Châu như bình thường mà kiểu dáng rất lạ; hai con rồng đưa lưng về phía hạt châu rồi quay đầu nhìn lại, gọi là Hồi Long Tranh Châu, ý nghĩa muốn ví von các bậc anh hùng có làm gì đi đâu thì luôn hồi tưởng về cố quốc. Trước thềm là 4 cây cột trụ to tròn, dát bạc gộng vàng, ngay hai bên cánh cửa hữu thì có Thanh Long, tả thì có Bạch Hổ cùng một tư thế như đang vươn cao để nâng tấm bảng vàng khắc 4 chữ bạc, đó là Thiên Tinh Chi Miếu.
Doãn Văn nhận ra đây là miếu thờ Tống Giang cùng các đầu lĩnh anh hùng Lương Sơn Bạc, liền buộc chặc Phi Vân vào một góc trước miếu rồi chỉnh trang y phục bước vào viếng. Ngay giữa chánh điện là linh vị của 72 Địa Sát và 36 Thiên Cang tinh, được xếp cao thấp theo vai bậc thứ tự trong Lương Sơn Trại. Bên trên bàn thờ các linh vị có treo một lá cờ với 8 chữ Thế Thiên Hành Đạo – Trung Nghĩa Lưỡng Toàn. Doãn Văn kính cẩn bái lại những vị anh hùng mà từ bấy lâu nay mình ngưỡng mộ, vừa bồi hồi vừa xúc động với niềm thương cảm các bậc anh hùng khí khái hào tình, trong lúc mơ hồ Doãn Văn như nghe văng vẳng bài thơ năm xưa của Tống Công Minh:
Thân tại Giang Đông tâm tại Ngô
Phiêu bồng giang hải vạn khư vô
Tha thời nhược chí vân lăng khí
Cảm tiếu Hoàng Sào bất trượng phu.
Bừng tỉnh lại,Doãn Văn chợt nhớ còn có chuyện phải làm nên bái lạy xong rồi bước đi. Lúc này đường phố đã bắt đầu có người qua lại buôn bán, Doãn Văn tìm đến một quán mì để ăn đỡ đói luôn tiện hỏi thăm nhà của Lăng nha tư.
Trong quán cũng mới có vài ba người ngồi uống trà, Doãn Văn chọn một bàn gần cửa sổ ngồi xuống, Tên hầu bàn liền đến hỏi:
-Chào khách quan,chẳng hay ngài cần dùng gì ?
-Cho ta phần điểm tâm và hai vò rượu.
-Điểm tâm thì có,còn rượu thì tối qua bổn quán vừa bán hết, người bán rượu chưa kịp đem lại. Xin khách quan thông cảm.
-Đành chịu thôi,người cứ đi lo việc của mình.
Một lúc sau thức ăn được dọn ra,ngay lúc đó trước cửa quán xuất hiện đám người chở đến một xe chứa toàn tĩnh và khạp to. Nhìn là biết ngay là xe chở rượu nên Doãn Văn thích thú nhưng cố làm ra vẻ ko nao, chờ họ mang vào quán mới kêu không muộn. Tên trưởng quầy thấy có rượu về liền đi mời Doãn Văn :
-Khách quan thật có duyên, vừa muốn uống thì rượu vừa chở tới. Đây là loại rượu chở từ Giang Đông tới, Lỗ gia tửu là một thương hiệu nổi tiếng nhất tại Giang Đông…
Doãn Văn vội cắt lời :
-Thôi được rồi, ngươi cứ việc lấy ra đây, Ta uống rượu còn nhiều hơn ngươi ăn cơm, uống vào ngon hay dở là ta nhận ra ngay không cần người giới thiệu.
Tên trưởng quầy kêu người ra chuyển rượu vào kho và mời những người buôn rượu vào quán để trả tiền.Bước vào quán là đám người buôn rượu gồm 7-8 tên đàn ông ăn bận có hơi khác lạ với dân bản xứ trên đầu thì quấn khăn lông thú, áo thì xẻ xéo từ vai trái xuống tới lưng quần khoe ra một phần ngực và cánh tay bên phải. Ngoài ra còn có một người con gái độ 17-18 tuổi có đôi mắt tròn với ánh nhìn sắc sảo, làn da trắng mịn màng như hoa bưởi,đầu kết khăn the màu hồng đính nhiều hạt chuổi trông rất đặc sắc, trên người khoác lên bộ áo màu xanh ngọc bích, chân đi đôi giầy loại vải nhung trắng, bên chân trái có vắt một cây trủy thủ, bên trái đai lưng thì vắt một cây sáo bằng bạc sáng óng ánh được chạm trổ tinh vi, bên phải là chiếc hồ lô nhỏ màu hổ phách. Cả người cô gái toát lên một cá tính mạnh mẽ,với cung cách đi đứng ăn nói thì biết là đây con nhà hào môn.
Cô bước vào quán nhìn hết một lượt rồi mới đi thẳng đến một bàn trống ngang mặt bàn Doãn Văn đang ngồi. Thấy vậy Doãn Văn gật đầu chào:
-Xin chào
-Chào
Cô gái cũng miễn cưỡng gật đầu nói một tiếng rồi quay đi chổ khác. Doãn Văn sau khi ăn uống liền hỏi thăm tiểu nhị:
-Ngươi có biết nhà của Lăng nha tư-Lăng Bá Thông ở đâu hay không ?
-Khách quan ra khỏi quán rẽ trái đi hết con đường rồi rẽ phải ở cuối con đường đó là Lăng phủ.
-Được,đây là 10 lượng còn lại ngươi giữ uống rượu.
-Cám ơn khách quan, đi thông thả nha.
Doãn Văn đi theo lời của tên tiểu nhị quả nhiên không mấy chốc đã đến Lăng phủ. Trước cổng là một cặp sư tử đá được điêu khắc công phu, bước tới gõ cửa đợi một đoạn thì có người ra mở, đó là một ông già tóc bạc:
-Ngươi là ai ? đến Lăng gia có việc gì ?
-Tại hạ là Doãn Văn – con trai của bang chủ mã bang ở Thương Châu. Mong được gặp Lăng lão gia nhờ chuyển lời giúp cho.
-Được, ngươi chờ ở đây ta sẽ vào chuyển lời.
Nói rồi lão quay vào đóng kín cửa để lại Doãn Văn đứng chờ cũng với Phi Vân thần mã. Một hồi sau,ông lão lúc nãy đi trở ra :
-Xin mời công tử đi theo ta.
-Đa tạ mời lão bá dẫn đường.
Bước ngang qua cái sân rộng lão hán kia kêu một tên gia nhân khác dắt ngựa cho Doãn Văn, sau đó hai người đi dọc theo hành lang đến một sảnh đường rộng, khi bước vào mọi thứ bên trong thật cao sang, tuy không tráng lệ nguy nga như tẩm cung hoàng đế nhưng không tầm thường chút nào, đối với một nha tư như vậy là quá đủ. Lão quay sang nói :
-Ta là quản gia ở Lăng phủ, cứ gọi ta là lão Cốt. Công tử ngồi đợi ta đi pha trà, Lão gia của ta sẽ ra ngay.
Nói xong lão quản gia bỏ vào trong, một lát sau có người từ trong hậu sảnh bước ra, đó là một người đàn ông chưa già đầu đội nón vải có đính viên đá cẩm thạnh màu xanh thẩm, khoác trên người bộ áo lụa gấm Tô Châu thượng hạng, tay đeo chiếc nhẫn ngọc trị giá liên thành, ông cất lời:
-Hiền điệp, cháu đã lớn như vậy rồi sao, suýt nữa ta nhận không ra. Đúng là hổ phụ sanh hổ tử, tướng mạo khí phách thật hiên ngang giống như cha của cháu.
-Tiểu điệp xin ra mắt Lăng bá phụ, cháu vâng lệnh cha đến đây trước là thăm sức khoẻ của bác sau là chá cháu sai chuyển lá thư này.
Doãn Văn đứng dậy chấp tay chào Lăng Bá Thông, vừa nói xong Doãn Văn móc trong túi áo ra một lá thư cung kính dâng cho Lăng Bá Thông. Nhận thư trong lòng vẻ bối rối nhưng Lăng Bá Thông cố nén giữ bình tĩnh đọc thư :
“Lăng huynh, hôm nay Doãn mỗ sai con mang theo Phi Vân thần mã đến dâng tặng cho Lăng huynh, trước là muốn thăm hỏi sức khoẻ cố nhân sau thì nhân dịp này cho đôi trẻ gặp mặt nhau để sớm ngày thực hiện mối hôn ước năm xưa…”
Đọc đến đây thì sắc mặt của Lăng Bá Thông đã thay đổi bởi vì con gái của hắn là Lăng Tiểu Tuyết sớm đã có đính ước với con trai của Thẩm duyên ngoại giàu có khắp vùng. Hắn sau một hồi trầm lặng suy nghĩ liền nói:
-Hiền điệp cứ thong thả ngồi chơi, để ta ra hậu đường chuẩn bị chút việc rồi quay lại ngay.
Hắn vội vã chãy vào thư phòng và cho gọi lão Cốt đến bàn chuyện,như chờ sẵn bên ngoài vừa gọi là lão đã có mặt ngay:
-Lão gia cho gọi tôi có việc gì căn dặn ?
-Ngươi còn nhớ tên buôn ngựa Doãn Trí mà 20 năm trước ta đã từng ra tay cứu khỏi khi bị đám người giang hồ vây đánh không ?
Sau một hồi nhíu mày suy nghĩ chợt đôi mắt lão Cốt sáng lên:
-Tôi nhớ rồi, sau đó người này còn kết bái hảo hữu cùng lão gia nữa đúng không ? Nhưng mà sao lão gia lại có vẻ lúng túng vậy.
-Ngươi quả là biết một mà không biết hai, lúc đó không những kết bái mà ta và hắn còn hứa hôn cho 2 đứa nhỏ nữa. Kẹt cái là lúc đó ta tưởng hắn cũng như ta, xem đó là lời nói chơi, nay ta lỡ nhận sính lễ của Thẩm duyên ngoại rồi làm sao bây giờ.
-Nay người ta đã tìm đến nhà, còn mang cả ngựa quý đến dâng tặng thì không dễ chối bỏ được đâu.
-Ngươi nhắc ta mới nhớ, Phi Vân thần mã là một thần câu có một không hai trên đời này, nếu tự ý huỷ ước thì sẽ mất thần mã và hơn nữa là mất lòng người trong giang hồ bởi vì giờ đây Doãn Trí rất có thế lực.
Sau một lúc suy nghĩ, lão quản gia hé cười nham hiểm rồi ghé vào tai của chủ mà nói:
-Tôi có cách này lão gia vừa không sợ đắc tội với giang hồ lại vừa chiếm hữu ngựa Phi Vân, thế này….
Tối hôm đó Lăng Bá Thông thiết đãi tiệc tùng linh đình cốt là tẩy trần cho Doãn Văn, tất cả cao lương mỹ đều bày ra trước mắt , những thứ này nếu đem so với vùng đất cằn cỗi như Thương Châu quá là phung phí sa hoa. Được ăn no uống rượu ngon nên đêm đó Doãn Văn say khướt chẳng còn biết trời trăng phải hai tên gia nhân kè về phòng.
Sáng hôm sau thức dậy tinh thần uể oải, đầu óc quay cuồng. Chợt Doãn Văn phát hiện ra tay mình đang cầm một con dao dính đầy máu, nằm bên cạnh là xác chết của một cô gái không rõ lai lịch. Nghi ngờ là có người muốn vu oan nên Doãn Văn vội vã bước xuống giường chùi sạch máu trên tay toan mở cửa chạy thì vừa lúc đó như không hẹn mà đến cả đám người trong đó có Lăng Bá Thông mở cửa đi vào, hắn không nhìn Doãn Văn mà ngó thẳng vào chiếc giường, nơi mà người con gái xấu số kia đang nằm bất động:
-Hiền điệp, cháu đã làm gì rồi ?
Miệng dường như nói không thành lời,Doãn Văn lắp bắp :
-không ,…không liên quan đến cháu. Đêm qua cháu say rượu không hay biết gì hết.
Lăng Bá Thông bước tới nhìn kỹ cô gái, quả nhiên cô gái đó là a hoàn trong phủ:
-tại sao cháu giết chết Tiểu Cúc ? Cháu thật làm cho ta quá thất vọng, “Người đâu, mau giải hắn lên quan để trị tội”.
Bất chấp không cần nghe lời Doãn Văn giải thích, hắn ra lệnh cho gia nhân bắt trói và giải Doãn Văn đến công đường huyện Sở Châu. Đến cổng nha môn trong lúc gia nhân đánh trống thì Lăng Bá Thông ra hiệu cho lão Cốt đi vòng cửa sau. Đoạn có tên nha sai bước ra hô:
-Truyền người kích cổ minh oan vào công đường.
Bước vào công đường đó là một gian nhà rộng, nền lát đá bằng phẳng, hai hàng nha sai đứng hai bên, phía trước là cái bậc thềm cao để một cái bàn dài, phía sau là bức hoành phi chạm trỗ cái mặt trời chen rọi sau những vầng mây. Tên quan tri phủ bệ vệ bước ra từ hậu đường là Đốc Lâm, dáng người hắn to béo thấp lè tè đầu đội mũ ô sa, mặc bộ quan phục màu xanh lục thùng thình càng làm bộ dáng của hắn thêm dị hợm. Hắn quát to :
-Người quỳ dưới công đường là ai, có oan tình gì tại sao lại đến đây giục trống ?
Lăng Bá Thông chấp tay nói:
-Bẩm đại nhân, bi chức muốn tố giác người này là Doãn Văn đã giết hại con a hoàn trong phủ của bi chức là Tiểu Cúc.
Doãn Văn hấp tấp chen vào
-Tôi bị oan đó, tôi không biết gì cả.
Đốc Lâm vỗ bàn la lớn :
-Điêu dân to gan, đây là chốn công đường, bổn quan chưa hỏi ai cho nhà người hỗn láo chen vào. Lần sau ta sẽ phạt ngươi 50 quân côn rồi sau đó mới xử tiếp.
Xong hắn lại quay sang hỏi Lăng Bá Thông:
-Lăng nha tư, ngươi có bằng chứng gì mà nói Doãn Văn đã giết chết a hoàn trong phủ của ngươi.
-Bẩm đại nhân, trong phòng chỉ có 2 người họ, Tiểu Cúc thì nằm bất động còn Doãn Văn thì trên tay cầm dao dính đầy máu, thử hỏi hắn không giết người thì ai vào đây.
Doãn Văn như chết điếng trước lời lẽ của Lăng Bá Thông, lúc này mới tỉnh giấc nhìn rõ bộ mặt gian trá của Lăng Bá Thông, không nén được cơn nóng giận Doãn Văn đứng bật dậy tung một đá làm Lăng Bá Thông ngã nhào trên công đường. Đốc Lâm được dịp ra oai:
-Hỗn láo, ngươi dám ra tay hành hùng người của quan phủ tại công đường, quả là không xem bổn lão gia trong mắt. “Người đâu, đánh lôi hắn ra ngoài đánh 50 quân côn sau đó xử tiếp”.
Đốc Lâm vừa dứt lời thì 2 tên nha sai liền kéo Doãn Văn ra ngoài đánh. Ở trong này, Lăng Bá Thông và Đốc Lâm đắc chí nhìn nhau cười mỉm. Đánh xong 50 gậy, Doãn Văn đi vào nhìn Lăng Bá Thiên và Đốc Lâm với cặp mắt căm hờn rực lửa:
-Tên cẩu quan kia ngươi cùng với tên gian tặc hùa nhau hại ta, sau này có thoát được ta sẽ lột da bè đảng bọn bây.
Đốc Lâm lại quát to:
-Đồ khốn nạn, ngươi dám nhục mạ mệnh quan của triều đình có tin ta cho thêm 50 quân côn nữa không?
Lăng Bá Thiên vội cướp lời :
-Hãy mau khai nhận để được yên thân, tránh bị dày vò xác thịt.
Đốc Lâm ra hiệu cho sư gia mang bản cung từ đến cho Doãn Văn ký tên, Doãn Văn quyết không chịu ký Đốc Lâm ra lệnh:
-Nó không ký thì cầm lấy ngón tay nó in vào bản cung.
tức thời bốn,năm tên nha sai xông tới cầm tay Doãn Văn nhúng vào nghiêng mực để lăn tay. Không giằng lại được sức của mấy người nên cuối cùng ngón tay của Doãn Văn cũng chạm vào mặt giấy. Sư gia trình lên hắn khoái trá cười to:
-Ha ha ha… Cuối cùng ngươi cũng chịu nhận tội.
Hắn đập bàn ra vẻ nghiêm nghị rồi nói lớn:
-Hạ đường nghe phán, Doãn Văn vì say mê nhan sắc của a hoàn của Lăng gia là Tiểu Cúc nên có ý định cưỡng đoạt nhưng vì cô ta không đồng ý, sợ sự việc bại lộ nên đã giết người bịt miệng. Theo luật lệ Đại Tống giết người thì đền mạng, nay bổn quan phán ngươi tội tử. Giờ Thìn ngày mai trảm thủ thị chúng.
Nói rồi hắn vỗ bàn cho bãi đường, bỏ mặc Doãn Văn căm phẫn muôn phần, buôn lời chửi bới.Đúng là :
Bằng hữu ham danh nên tráo trở
Tiểu nhân thích lợi mới bày mưu,
Anh hùng mắc bẫy căm tràn họng
Hảo hán bị lừa hận sôi gan.
Chẳng lẽ một hảo hán lại chịu khuất phục bởi một tên tiểu nhân, chẵng lẽ cuộc đời Doãn Văn lại kết thúc dễ dàng bởi trác đao của tên đồ tể một cách không minh không bạch ? Muốn biết số phận ngục tù của chàng hiệp khách Doãn Văn ra sao, mời quý vị xem hồi sau sẽ rõ…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
24-06-2009, 12:20 PM
Hồi Thứ 4
Bách Tửu Hành nửa đêm cướp ngục
Giữa chợ người thầy bói bái chân quân
Bóng trăng mờ ảo hững hờ soi mình xuống mặt hồ tĩnh lặng, nghe văng vẳng đâu đó là tiếng ếch nhái kêu sầu não thê lương. Khác không gian, không cùng hoàn cảnh và có thêm bức tường cao ngăn cách nhưng dường như niềm ưu uất của khung cảnh bên ngoài lại có sự tương thông với nổi thống khổ bên trong của khu nhà giam, nơi mà đang giam giữ người phạm nhân trẻ tuổi-Doãn Văn.
Gió thổi nhè nhẹ phà vào cánh cửa nhà giam làm cho nó đánh cành cạch vào then cửa. Lúc này ở bên ngoài, hai tên cai ngục đang uống rượu cười nói sang sảng, còn Doãn Văn lại bình thản ngắm trăng qua song sắt, ngẫm nghĩ:
-Giá mà bọn họ có thể chia cho ta một vò rượu thì hay quá, uống rượu ngắm trăng thì có gì hơn được thú vui này.
Bèn rút một mũi tên dưới chân ra, khắc lên tường bốn câu thơ ai oán:
Thanh bào ngạo chí tôn
Nghinh phong diệc tiếp vũ
Nhân gian công nghĩa tuyệt
Vô ngưõng vấn thanh thiên
Đề thơ xong Doãn Văn phá cười to làm giật mình hai tên cai ngục, chúng chạy vào:
-Cười cái gì thế ? Cười cho đã đi dù gì ngày mai đầu nhà ngươi cũng rơi xuống đất, đúng là điên thật.
Một tên còn lại nói:
-Cứ mặc hắn ta điên đi, “Hôm nay có rượu hôm nay say; Ngày mai hắn chết chuyện ngày mai” ha …ha.. ha!
-Hay! ha ha ha! Chúng ta đi uống tiếp.
Nói rồi hai tên ngục tốt lại dắt nhau đi ra, vừa đi vừa ngâm hai câu thơ lúc nãy. Bỗng có một luồng gió lạnh thổi vào làm cả hai khẽ rung mình, chạy ra trông thì thấy cánh cửa nhà giam bị gió đánh bật ra. Một tên tiến lại cánh cửa toan đóng lại, vừa đi vừa cằn nhằn :
-Lúc nãy ta tưởng ngươi đã đóng chặt cửa rồi chứ, làm nghề chúng ta không thể lơ là như vậy được.
-Quả thật lúc nãy ta đã đóng chặt rồi, có phải ngươi đi ra ngoài tiểu tiện mà quên đóng hay không ?
Tên cai ngục vừa bước tới lấy tay định kéo hai cánh cửa lại thì một tia sáng loé lên rồi vụt tắt, tên cai ngục đờ người đi, hai tay dần buông khỏi cánh cửa, loạng choạng lui ra sau vài bước rồi ngã ra nằm sững sờ dưới mặt đất. Tên còn lại bước tới định hỏi thì thấy phía trước trán của tên kia có một vệt máu dài hơn một tấc, mắt mở to không động tác phản ứng. Hắn đã chết. Tên còn lại ngước nhìn ra cửa thì thấy một hắc y nhân đã đứng ở đó tự lúc nào không biết, hoảng hốt hắn toan bật dậy chạy đi, hắc y nhân liền búng một viên sỏi vào chân làm hắn ngã nhào, hắc y nhân bước tới hỏi :
-Nói,Thanh Thành Song Sát đang bị giam ở đâu.
-Họ bị…bị giam ở dãy phòng cuối,bên trái.
Hắc y nhân lật lại bàn tay đập mạnh vào cổ của tên cai ngục làm hắn ngất xỉu. Lấy xong chìa khóa tên hắc y nhân chạy đến thẳng khu phòng nơi có hai phạm nhân đang bị giam trong đó. Hắc y nhân mở cửa ra và kéo khăn che mặt xuống:
-Là cha ta sai đến cứu hai người đây. Ta là con gái của Lỗ tửu vương.
-Thanh Thành Song Sát xin tạ ơn tương cứu của Lỗ tiểu thư!
Cả hai người đồng thanh đáp. Đó là một cặp phu phụ khoảng ngoài bốn mươi tuổi, ăn mặc khác thường, người nam mặc bộ đồ đen trước ngực thêu hình con ó màu bạc đeo mặt nạ che nửa phần trên khuôn mặc, người nữ thì mặt bộ đồ màu trắng đeo mặt nạ đồng che nửa phần dưới khuôn mặt. Hắc y nhân giục:
-Đây cũng là nhiệm vụ của ta, các ngươi hãy mau rời khỏi đây trước khi quan binh kéo đến.
-Xin cáo từ!
Hai người chấp tay bái tạ rồi bỏ đi, Thanh Thành Song Sát vốn là sư huynh muội đồng môn ở phái Thanh Thành, là một trong Ngũ Nhạc Kiếm Phái. Họ vì đã luyện võ công tà đạo và lén lút yêu nhau nên bị trục xuất khỏi sư môn. Từ đó họ phiêu bạt khắp Trung Nguyên rồi dần dần trở thành sát thủ, bởi vì thủ đoạn giết người rất cay độc tàn nhẫn nên giang hồ đặc danh họ là Thanh Thành Song Sát.
Sau khi họ đi khỏi, hắc y nhân mới cẩn thận quan sát xung quanh rồi mới rảo bước chạy ra dọc theo dãy phòng giam, chợt một chi tiết vô tình nào đó thoáng qua làm cho hắn đứng lại và nhìn vào một giam phòng giam khác. Đó là căn phòng đang giam giữ Doãn Văn, hắn ngạc nhiên nhìn người phạm nhân trong kia đang ngồi đưa lưng về phía mình bình thản ngắm trăng, lại nhìn bài thơ trên tường mà Doãn Văn vừa mới khắc. Đoạn hắn lại lên tiếng:
-Nãy giờ ngươi có nghe và nhìn thấy điều gì không ?
-Nghe thì sao ? không nghe thì sao ?
Doãn Văn lãnh đạm đáp nhưng vẫn không quay mặt lại. Hắn lại hỏi tiếp :
-Bài thơ trên tường kia của ngươi viết đó hả ? Nó rất hay nhưng ngươi bị oan uất gì mà giọng thơ bi phẫn thế kia ?
-Nổi oan của ta chỉ là chuyện nhỏ, nổi oan của hàng vạn bá tánh đang sống dưới sự thống trị tàn nhược này mới là đáng nói
-Hay lắm! xem ra ngươi cũng là một tên đại hán có khí tiết. Được! xem như chúng ta có duyên, luôn tiện ta giải cứu cho ngươi.
-Đa tạ bằng hữu! Nếu ta muốn trốn thì bọn nha sai kia từ đầu đã không có cơ hội bắt ta vào đây rồi.
-Vậy sao ngươi còn ở lại để chịu cảnh tội tù ?
Doãn Văn khẽ quay mặt lại thì thốt lên vẻ ngạc nhiên :
-Là cô ?
Tên hắc y nhân vội vã kéo khăn che mặt lại nhưng đã quá muộn,hắn đã bị Doãn Văn trông thấy mặt. Thì ra hắc y nhân đêm nay cướp ngục lại là người con gái buôn rượu mà Doãn Văn đã đụng mặt trong quán sáng nay. Doãn Văn cười:
-Ha ha ha, thì ra buôn rượu chỉ là che mắt người thôi. Quả thật nhìn không ra cô nương có võ công cao cường như vậy.
Biết Doãn Văn đã thấy mặt mình nên cô gái lại kéo khăn che xuống và cười nhạt :
-Phải, là ta. Tại sao ngươi lại bị bắt giam nơi đây ?
-Ta bị tên nghịch tặc Lăng Bá Thông vu oan tội giết người.
Vừa nói Doãn Văn vừa cười nhạt. Hắc y ngắt lời:
-Vậy bây giờ ngươi đã chịu đi theo ta được chưa ?
-Ta đã nói ta không trốn, ta phải ở lại để xem công nghĩa ở trên đời này còn đựơc bao nhiêu.
Nghe đến đây thì hắc y cười to:
-Ha ha ha, ngươi quả thật là quá ngây thơ, trên đời này nếu thật có còn công đạo thì ít ra nó cũng không tồn tại nơi quan trường tanh hôi này với bầy sói lang khát máu kia đâu.
Chuyển sắc mặt nghiêm lại và tỏ ra già dặn hơn, nữ hắc y nói tiếp:
-Nếu bây giờ ngươi chờ đợi đến ngày thọ hình mà vẫn chưa có vị quan thanh liêm nào đến cứu ngươi thì ngươi đến Diêm Vương để tìm công đạo sao ?
-Ta có chết cũng giữ một lòng son sắt thanh bạch. Nếu ta bỏ trốn là đồng nghĩa với việc ta nhận tội.
-Nếu ngươi chết đi thì danh dự ngươi mãi mãi bị ô nhục, không có ngày mong được minh oan. Hãy nghe ta, rừng còn xanh thì sợ gì không có củi đốt. Ngươi phải bảo toàn tính mạng trước, sau này có sẽ tìm cơ hội minh oan sau.
Doãn Văn như vừa ngộ ra điều gì đó trong câu nói của cô gái kia, chàng đứng dậy hân hoan nói:
-Thật là lời nói của cô nương làm ta sáng mắt, ta có ở đây chờ chết thì cũng không ai thấu cái oan uất của mình, chi bằng ta tự đi tìm bằng chứng để minh oan đó là cái thiết thực nhất.
-Coi như ngươi chưa đến nổi là tên đại ngốc.
Nói xong cô gái mở khóa cửa ra rồi hai người cùng nhau rời khỏi nhà giam, khi ra đến cửa thấy hai tên cai ngục một chết một ngất xỉu, Doãn Văn trách:
-Ai mà không có cha mẹ vợ con, người ta đi nha dịch đã khổ lắm rồi chỉ mong kiếm đủ hai bữa để nuôi vợ con, vậy sao ngươi lại nỡ giết họ ?
Cô gái mặc dạ y lạnh lùng đáp:
-Ta có lời thề là kiếm ta mỗi khi xuất bao thì phải lấy máu kẻ thù và phàm ai thấy nó thì đều phải chết.
Doãn Văn cau mày nhìn thẳng cô gái rồi bỏ đi không nói gì. Cô gái hắc y cũng đi theo im lặng. Đoạn Doãn Văn thấy một miếu oan bên đường đổ nát liền vào trú thân. Doãn Văn nhìn lại lại nói:
-Ta thân mang tội phải ở miếu oan, còn cô nương không việc gì phải ở đây chịu khổ cùng tại hạ. Mời cô nương dời bước, ơn tương cứu sau này có dịp sẽ đền đáp.
-Ta cho ngươi biết Lỗ Thể Ngân ta đi lại trên giang hồ không có nơi nào cản được ta, càng không có người nào có thể ra lệnh hay bắt bớ ta đi hay ở.
Doãn Văn nghe xong liền ngạc nhiên hỏi:
-Lỗ Thể Ngân ? Có phải là con gái độc nhất của Lỗ tửu vương mà giang hồ thường gọi là Bách Tửu Hành ?
-Ha ha ha, xem ra ngươi cũng có chút hiểu biết. Ta chính là Bách Tửu Hành mà bạn bè trong giang hồ thường gọi.
-Sáng nay khi gặp nhìn kiểu dáng y phục, cộng thêm cây tiêu bạc và chiếc hồ lô ngọc thì tại hạ đã đoán ra được phần nào, tối nay lại được chứng kiến bản lĩnh cao cường thì Lỗ cô nương không xưng danh ta cũng đoán ra được cô là ai.
-Thôi đừng mãi lo nói chuyện ta, ngươi tên là gì ? người ở đâu ?
-Tại hạ Doãn Văn, người tỉnh Thương Châu
Tới lượt Bách Tửu Hành mở to mắt ngạc nhiên :
-Thương Châu! Doãn gia? Vậy ngươi có quan hệ gì với bang chủ của mã Bang Doãn Trí ?
-Doãn Trí chính là gia phụ của tại hạ.
-Tiểu nữ nghe nói Doãn Trí tiền bối võ công siêu phàm, còn có người con trai có tài bắn tiễn xuất thần có biệt danh là tiểu Hậu Nghệ. Hôm nay tiểu nữ có cơ may gặp gỡ tận mặt, quả là hổ phụ vô khuyển tử.
Doãn Văn hữu lễ chấp tay nói :
-Cô nương đã chê cười rồi, nếu so với gia phụ thì tại hạ đây nói ra thật xấu hổ. Tại hạ chỉ mỗi tài bắn cung chứ về võ nghệ thì không dám nhắc trước mặt người khác. Còn cái hư danh tiểu Hậu Nghệ là do bạn bè yêu mến đặt cho thôi.
Bách Tửu Hành xua tay nói:
-Thôi không phải nói chuyện khách khí nữa, huynh đến Sở Châu làm gì mà đến nổi bị bắt giam ?
-Gia phụ có người bằng hữu đã lâu không liên lạc ở Sở Châu này, hắn làm chức nha tư ở huyện nha tên là Lăng Bá Thông. Tại hạ vâng lệnh cha mang theo ngựa Phi Vân đến dâng tặng và nhắc việc hôn ước với con gái hắn ta. Nào ngờ hắn ta xảo trá mưu mô vì không muốn gã con lại sợ không chiếm được ngựa quý nên bày mưu vu oan ta giết người rồi chiếm đoạt Phi Vân thần mã.
Lỗ Thể Ngân lộ vẻ tức tối,nói:
-Xã tắc Đại Tống bây giờ không còn công đạo nữa, quan ép dân phản. Quan là kẻ đứng ra bảo vệ cho bá tánh mà giờ đây thì ngược lại các hảo hán lục lâm lại là những người đứng lên giải cứu nạn dân trong cảnh tàn trị, bạc nhược của triều đình.
Doãn Văn cũng bùi ngùi, xót xa nói:
-Nhắc đến lục lâm hảo hán ta lại thương tiếc cho 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc ngày nào. Họ là những hảo hán thay trời hành đạo, hào khí bằng trời. Tiếc thay…
Lỗ Thể Ngân ngắt lời:
-Vậy huynh có định quay lại Lăng gia để báo thù và đòi lại ngựa báu Phi Vân không ?
-Lỗ cô nương không nhắc thì tại hạ cũng có ý định đó. Ta đi thôi…
-Đi đâu ?
-Máu nhuộm Lăng gia!
-Tốt, có thù phải trả mới đáng bậc trượng phu. Ta đi theo huynh xem náo nhiệt.
Xong rồi,cả hai bèn đi thẳng đến Lăng phủ. Đến cửa Bách Tửu hành Lỗ Thể Ngân nhún nhẹ người đã phi thân lên vách tường Lăng phủ. Doãn Văn cũng nhún nhẹ bay lên vách. Hai người nhảy xuống đi vào hoa viên của Lăng phủ, gặp phải hai tên gia đinh chúng liền hô to:
-Có trộm … có trộm
Bách Tửu Hành sử dụng Thập Bát Thiên Bộ pháp lướt tới hai tên gia đinh, xoay mình một cái, Doãn Văn chỉ kịp nhìn thấy một ánh sáng loé lên thì máu ở cổ họng của hai tên xấu số đã tuôn ra như suối chảy. Doãn Văn há hốc mồm, tán dương:
-Một thanh đoản kiếm cất giấu trong người không ai kịp thấy, ra chiêu nhanh lẹ và chính xác lại thêm phần tàn độc. Ha ha ha, quả là không hổ danh Bách Tửu Hành
-Huynh lại cưòi chê rồi.
Ngay tức thì một đám gia đinh gươm giáo trong tay bổ ra vây lấy hai người họ. Lỗ Thể Ngân lui lại nhẻn miệng cười:
-Lẫn này phải tới lượt Thương Tâm Tiểu Tiễn của huynh trổ tài rồi.
-Cứ để ta.
Doãn Văn vừa dứt lời thì tám tên gia đinh vung đao tới chém, Doãn Văn thoái bộ tung người ra phía sau, cả người Doãn Văn lướt lên trên không trung, hai ngón tay bên phải máng vào hai sợi dây cung trong ngực áo kéo căng ra về phía trái, tay trái rút ra hai mũi tiễn từ chân trái tra vào hai sợi dây cung, dồn nội lực toàn thân về tay trái rồi giương dây cung, đợt đám gia nhân vào tới tầm ngắm thì xuất tiễn. Hai mũi tiễn xuyên thấu ngực của đám gia nhân rồi cắm dính vào hai bên cột nhà. Tám tên gia đinh lần lượt đổ gục xuống trong khi chân của Doãn Văn còn chưa chạm đất. Kinh ngạc trước uy lực của thần tiễn, Lỗ Thể Ngân trầm trồ:
-Quả là Thương Tâm Tiểu Tiễn lợi hại như giang hồ thường đồn là Lệ Bất Hư Phát. Hôm nay ta được dịp tận mắt xem đúng là bách thính vô nhất kiến.
-Mau đi tìm tên họ Lăng, kẻo nó bỏ trốn thì hỏng việc.
Doãn Văn và Lỗ Thể Ngân đi vòng ra sau hậu viện thấy một gian nhà lớn cho đó là dãy phòng ngủ của Lăng gia nên cả hai xông vào, thì ra đó là phòng ngủ của lão Cốt quản gia. Trông thấy cảnh cửa bị Doãn Văn đá bật ra, lão hoảng hốt bò lại xin tha:
-Doãn công tử xin tha cho tôi, tiểu nhân chỉ là thân bất vô kỷ, tôi tớ phải làm theo ý chủ nhân là chuyện kinh thiên địa nghĩa, xin công tử tha tội.
-Lăng Bá Thông đang ở đâu ?
-Dạ, phòng của Lão gia ở sau toà nhà này, đi thẳng qua hoa viên sẽ gặp. Xin tha cho tiểu nhân.
-Được nếu như ngươi dám gạt ta, ta sẽ cho ngưòi biết tay.
Doãn Văn nói rồi liền quay đi, thình lình lão Cốt rút một con dao nhỏ từ ống giày ra chồm lên toan đâm lén Doãn Văn. Bỗng..
…một ánh sáng kiếm lại loá lên
Con dao nhỏ vẫn nằm gọn trong bàn tay nhưng bàn tay đã đứt lìa khỏi cánh tay của lão Cốt. Lão Cốt ngã lăn ra giãy giụa bên cạnh bàn tay còn đang co giựt của mình. Doãn Văn quay qua Lỗ Thể Ngân nói:
-Ta lại nợ Lỗ cô nương thêm một mạng
-Không chỉ bấy nhiêu thôi đâu!
Lỗ Thể Ngân tươi cười nói. Xong,Doãn Văn trừng mắt ngó lão Cốt buôn lời căm phẫn:
-Ta đã rộng lòng tha mạng ngươi lại còn muốn giết ta, ngươi quả thật không bằng cầm thú, có sống chỉ làm nhiều người khác bị hại.
Nói xong Doãn Văn đá con dao dưới đất làm nó bay cắm thẳng vào thái dương của lão Cốt. Thấy Lão Cốt đã chết, Lỗ Thể Ngân kéo Doãn Văn đi ra, tìm phòng của Lăng Bá Thông theo lời của lão Cốt chỉ dẫn.
Đến sau hoa viên quả là có gian nhà rộng nằm riêng biệt lạ một điểm là lại có treo ba cái lồng đèn giấy màu khác nhau ở trước cửa. Trên cái lồng đèn màu xanh lục bên phải có chữ “Đinh Hương”, cái màu vàng ở giữa là “Xảo Vân” còn lại cái màu đỏ bên trái là “Thuý Cúc”. Đó là căn phòng nghỉ ngơi chính của Lăng Bá Thông. Sở dĩ gọi là nơi nghỉ ngơi chính là tại vì tên họ Lăng này có đến bảy người vợ ở bảy gian phòng riêng biệt nhau nên ông ta có thể đến ngủ với bất kì phòng nào. Hoặc trước cửa phòng của mỗi bà phu nhân đều có một cái lồng đèn có viết tên và màu sắc đặc trưng, nếu muốn vị phu nhân nào hầu hạ hắn đêm đó thì hắn sai tên quản gia đến trước khuê phòng thắp lên cái lồng đèn của bà ấy, tự động vị phu nhân đó sẽ mau chuẩn bị xiêm y, tắm rửa sạch sẽ cùng với nha hoàn cầm theo cái lồng đèn đến nơi nghỉ ngơi riêng của hắn. Đêm nay hắn đặc biệt cảm thấy sảng khoái vì đã chiếm được Phi Vân thần mã và nhổ được cái phiền não trong lòng nên cho thắp một lúc ba cái lồng đèn.
Doãn Văn đạp cửa xông vào, làm kinh hãi cả ba bà vợ của Lăng Bá Thông, chúng cuống cuồng khoác vội lại áo quần lấy chăn trùm kín trốn trên giường. Lăng Bá Thông cũng không giấu được vẻ kinh sợ, sau một lúc hốt hoảng hắn kịp định thần lại liền đứng dậy lấy thanh đao treo ở đầu giường, hét to:
-Thằng hung thủ kia quan phủ không giết được mày thì ta đây coi như vì dân trừ hại.
Nói rồi hắn tuốt vỏ đao rồi xông tới chém, Doãn Văn lùi lại đá chiếc ghế dưới chân lên đỡ, hắn chém gẫy ngang chiếc ghế. Hắn toan xông tới chém tiếp, tức thì Doãn Văn nhảy lên bàn bắn một phát tiễn trúng ngay bàn tay trái đang cầm đao của hắn, làm thanh đao rớt xuống lập tức Lỗ Thể Ngân lướt tới chụp ngay thanh đao và kề vào cổ hắn. Biết là hết sức chống cự,tay lại bị thương nên hắn mếu máo quỳ xuống van xin:
-Hiền điệt xin hãy tha thứ cho ta.À, không Doãn đại hiệp hãy tha cho ta, ta chỉ nhất thời tham lam không kiềm chế được nên ta đã gây hại đến đại hiệp.
Doãn Văn trợn mắt nhìn hắn,nói:
-Đồ hèn! Chỉ vì không kiềm chế được mà chút nữa ta đã chết trong tay ngươi, nay với một câu nhất thời tham lam mà muốn ta tha cho ngươi hả?
-Tại lão Cốt! do hắn bày ra mưu kế này! Ngươi cứ đi mà tìm hắn, xin hãy tha cho ta.
-Hắn đã chết. Trước khi chết hắn còn nói là tất cả đều do ngươi sai khiến hắn.
Lỗ Thể Ngân lúc này mới lên tiếng:
-Nếu ngươi chịu khai nhận hết mọi tội trạng, những gì ngươi đã hãm hại Doãn huynh thì ta sẽ tha cho ngươi. Nói suông không bằng chứng, ngươi phải viết hết ra giấy rồi lăng tay vào để sau này đừng hòng chối tội.
-Được! được để tiểu nhân viết, để tiểu nhân viết.
Hắn gân cổ kêu đầy khí thế:
-Người đâu! Mang bút mực.
Doãn Văn bước đến đạp hắn một cái làm hắn ngã lăn ra:
-Chết đến nơi rồi mà ngươi vẫn còn tưởng mình là Lăng lão gia sao,gia đinh và người hầu đã bị ta giết chết hết, ngươi tự đi lấy mau. Đừng có ngu ngốc mà giở trò nên nhớ Thương Tâm Tiểu Tiễn của ta chưa từng tha cho kẻ tiểu nhân nào cả.
-Dạ tiểu nhân không dám, tiểu nhân đi lấy ngay ạ!
Hắn bê ra một án bút nghiên cùng giấy trắng viết lấy viết để, kể ra hết mọi thủ đoạn đã hãm hại vu oan Doãn Văn như thế nào. Viết xong hắn không quên lăn tay và đưa cho Doãn Văn xem. Doãn Văn nói:
-Hay lắm! nét chữ rất đẹp. Thuật chuyện cũng rất rõ ràng.
Hắn ngắt lời:
-Dạ,tiểu nhân không dám nửa lời điêu ngoa.
Doãn Văn quay sang Lỗ Thể Ngân nói:
-Phiền Lỗ cô nương điểm huyệt đạo của hắn, chúng ta sẽ có màn vui để xem.
Lăng Bá Thông sợ hãi van xin:
-Lúc nãy cô nương đã hứa tha cho ta rồi mà ?
Lỗ Thể Ngân đáp :
-Đúng, ta có hứa tha cho ngươi, nhưng ta không có nói là Doãn Huynh sẽ tha cho ngươi!
Chờ khi Lỗ Thể Ngân điểm huyệt làm Lăng Bá Thông đứng yên, Doãn Văn quay qua phía ba người phu nhân của Lăng Bá Thông rồi nói:
-Ba người các ngươi hãy ra đây.
Bọn họ sợ hãi khép nép từ từ bò xuống giường, quỳ xuống sau lưng Lăng Bá Thông.Doãn Văn chụp lấy thanh đao từ tay của Lỗ Thể Ngân quăng xuống đất trước mặt họ, và nói:
-Trong bốn người các ngươi phải chỉ có một người được sống sót để làm hậu sự cho Lăng gia. Hãy tự ra tay đi.
Tên họ Doãn vừa dứt lời thì đám điêu phụ chồm tới giành giựt nhau lấy thanh đao, cuối cùng để một cô tên là Xảo Vân giành được. Ả hai tay cầm đao tiến tới liên tiếp đâm chết hai người tỷ muội của mình, sau đó lại quay sang chém một nhát vào vị tướng công của mình làm Lăng Bá Thông trợn mắt chết tươi.
Danh tiếng nha tư nức một trời
Nhi tử bạn hiền ghé qua chơi
Lấy dạ tiểu nhân mà đãi khách
Hảo hán hàm oan hận khó vơi
Xem xong phần náo nhiệt Doãn Văn và Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân cùng nhau rời khỏi gian phòng, đi đến chuồng ngựa để lấy lại Phi Vân thần mã.
Cả hai người trở lại miếu hoang, Bách Tửu Hành nói:
-Chúng ta đã gây án nơi này, ít nhiều gì tên tri phủ Đốc Lâm cũng lần ra thủ phạm. Sở Châu thành này không thể ở lâu được.
Doãn Văn khen phải:
-Đúng vậy! trời vừa sáng chúng ta sẽ xuất thành.
Trời vừa mờ sáng, cả 2 vội vã xuất thành. Doãn Văn lại dắt Phi Vân phiêu bạt thêm lần nữa. Bước thong dong trên sườn núi Bất Dạ Sơn lộng gió, Doãn Văn hỏi Lỗ Thể Ngân:
-Vậy bây giờ chúng ta đi đâu.
-Qua khỏi Bất Dạ Sơn này thì đến Hiệp Ẩn Trấn, rẽ trái thì về Thương Châu nếu đi thẳng thì sẽ đến Thành Biện Kinh. Doãn huynh thử đến Biện Kinh một chuyến với ta xem sao, dù gì huynh cũng chưa có dự định gì.
-Được! Vậy chúng ta quyết định đến Biện Kinh, từ đấy đến Biện Kinh còn rất xa. Đến Hiệp Ẩn Trấn ta sẽ mua ngựa mà đi.
Lỗ Thể Ngân cũng nhất trí rồi hai người cùng nhau vui vẻ lên đường.
Chẳng mấy chốc họ đến đến Hiệp Ẩn Trấn, không khí yên bình nơi này khác hẳn cái cảnh vật lặng lẽ ngấm ngầm của Sở Châu. Bá tánh trong trấn sinh hoạt thân thiện và hiếu khách. Họ gặp một tiều phu đang tay rựa, tay dao chuẩn bị vào rừng đốn củi. Lỗ Thể Ngân hỏi:
-Lão bá cho hỏi ở trấn này có nơi nào bán ngựa không.
-Có, đi hết con đường này đến đầu ngõ quẹo trái đi đến nửa đường nhìn bên phải là trại ngựa của Tôn lão hán.
-Đa tạ lão bá
-Không có gì, thôi ta phải lên đường mặt trời đã lên cao rồi.
Lão tiều phu nói xong bèn bỏ đi, cả hai theo lời chỉ dẫn của lão hán kia mà đi tìm trại ngựa của Tôn lão hán. Đang đi thì nghe có một lão tướng số ngồi ở một cái bàn bên đường ngâm hai câu :
Đạo nguy trước mắt hung hung lộ
Thế cuộc xoay chiều chuyển chuyển cơ
Nghe giọng điệu không phải bọn giang hồ lừa bịp nên Doãn Văn nán lại nhìn, thấy cậu thanh niên tài mạo phi phàm nên lão thầy bói cất lời :
-Ta nhìn thiếu hiệp thật là có duyên thôi thì hãy vào đây bói một quẻ xem sao.
Doãn Văn nhận lời đi vào. Lão tướng số nói:
-Thiếu hiệp cứ viết một chữ trước sau đó hãy hỏi tuỳ ý.
Doãn Văn khai bút viết lên giấy một chữ “Nhất”, bỗng nhiên có một cơn gió thổi qua làm tờ giấy bay xuống mặt đất. Lão tướng số nhìn tờ giấy đoạn chạy đến gần xem kỹ, rồi oà khóc lên. Doãn Văn lấy làm lạ bèn chạy đến hỏi :
-Sao lão lại khóc như thế, có đều gì không ổn chăng ?
-Ý trời, đúng là ý trời.
-Lão nói gì làm ta càng lúc càng hồ đồ, lão nói rõ hơn xem.
Lão thầy bói gật đầu rồi nói:
-Ngài vừa mới viết một chữ “Nhất” mà cơn gió lại thổi bay xuống đất.
-Vậy thì sao ?
-Chữ “Nhất” (一)mà viết trên mặt đất (土) thì là chữ vương(王) và chữ vương(王)lại viết cùng giấy trắng (白) thì nó là chữ Hoàng(皇). Vậy thì ý trời chẳng phải đã nói ngài là minh chủ thiên hạ sau này hay sao?
Nói xong lão quỳ phục xuống bái lạy:
-Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.
Doãn Văn kinh ngạc liền đỡ lão dậy can gián:
-Những lời lão mới nói ra nếu người ngoài nghe được thì cả ba chúng ta đều phải tội chặt đầu đó có biết không ?
-Ta chỉ là tri vô bất ngôn,ngôn vô bất tận mà thôi, ngài sau này sẽ là bậc minh chúa, cửu ngũ chí tôn đó.
-Cho là chuyện phải của sau này đi, nhưng tại sao lão lại khóc.
Lão thầy bói thở dài nói:
-Ta cả đời bói quẻ cho người ta, cũng đã tự bói cho mình một quẻ. Quẻ bói nói là tôi khi nào gặp được ông vua thì là lúc tôi về trời quy tây.
Doãn Văn nghe vậy liền nói:
-Nếu lão nói ta là thiên tử thì ta có quyền quyết định vận số của bất kì người nào phải không ?
-Tất nhiên,ngài là thiên tử, ý ngài là đại điện cho ý trời.
-Được,vậy bây giờ ta tặng cho lão bốn chữ.
Nói xong Doãn Văn liền viết lên giấy bốn chữ “Vĩnh Bất Quy Tây”, rồi nói tiếp :
-có bốn chữ này thì từ nay ông sẽ vĩnh bất quy tây rồi.
-Tạ ơn hoàng thượng.
Nói xong Doãn Văn tươi cười bỏ đi cùng với Bách Tửu Hành chỉ xem trò đoán bói chữ chỉ là một trò vui giang hồ.
Chỉ một câu “Vĩnh Bất Quy Tây” là có thể thay đổi vận mạng một con người ? Liệu có thật Doãn Văn sẽ là chân mạng thiên tử trong tương lại hay không trong khi chàng ta còn đang mang án giết người và bị truy nã ? Muốn biết tỏ tường thì mời quý vị xem những hồi sau của Tân Thuỷ Hử…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
10-07-2009, 10:20 AM
Hồi Thứ 5
Hoạt Diêm La liều mình ngăn giặc
Cướp pháp trường hảo hán kết đồng minh
Nói lại chuyện anh em nhà họ Di bị quan binh truy kích phải chạy đến Thạch Giai thôn. Sau vài ngày điều trị thương thế, Di Thiên Huấn dần dần hồi phục, có thể xuống giường đi lại. Di Thiên Thư vừa bước vào, Hắn liền hỏi:
-Đây là đâu vậy muội muội ?
-Đây là một thôn chài ở ven biển, nghe họ nói là thôn Thạch Giai. Huynh mới bình phục không nên đi lại nhiều kẻo động vết thương lại chảy máu.
-Nam tử hán đại trượng phu thì một mũi tên làm gì được huynh.
-Huynh chỉ khéo nói suông, hôm nay có Tiểu Thất đại thúc đến thăm huynh.
Di Thiên Thư vừa nói vừa nép người sang chỉ tay về qua người đại thúc mà cô vừa nói. Lão ta cằn nhằn
-Lại đại thúc nữa rồi, chào tiểu huynh đệ, thương thế của ngươi cũng hồi phục nhanh lắm. Ta họ Nguyễn tên là Tiểu Thất. Cứ gọi ta là Thất đại ca.
Nói xong lão cười to, còn Di Thiên Huấn thì có phần ngơ ngác, hắn lẩm bẩm:
-Nguyễn Tiểu Thất ? Thạch Giai thôn ? ta nghe thật là quen lắm.
Đoạn mắt hắn sáng lên như đã nhớ ra chuyện gì, hấp tấp nói:
-Đại thúc có phải là Hoạt Diêm La Nguyễn Tiểu Thất , là một trong Nguyễn thị Tam Hùng mà ngày xưa đã tụ nghĩa trên Lương Sơn Bạc ?
-Ha…ha..ha… không ngờ tới ngày hôm nay còn có người nhớ đến ngoại hiệu của ta. Hoạt Diêm La…(ha ha ha) Hoạt Diêm La. Phải, ta chính là Nguyễn Tiểu Thất trên Lương Sơn Bạc năm xưa đây.
Tiếng cười còn chưa tắt hẳn nhưng nỗi buồn trên gương mặt lão đã hiện lên khi nhắc đến Lương Sơn Bạc. Thiên Huấn bước tới hai tay nắm lấy tay của Nguyễn Tiểu Thất :
-Tiểu bối là Di Thiên Huấn, từ lâu đã rất ngưỡng mộ các bậc hảo hán thay trời hành đạo ở Lương Sơn Bạc.
Lão Thất quơ tay, lắc đầu :
-Lương Sơn bọn ta trong mắt bọn quan phủ chỉ là giặc cướp. Làm gì có chuyện ngưỡng mộ chứ (ha… Ha… ha)
-Tiểu bối không ngại nói ra suy nghĩ của mình, nếu thật sự đem so hảo hán Lương Sơn với bè lũ triều đình thối nát hiện nay thì triều đình mới chính là giặc cướp, còn Lương Sơn Bạc là đại diện cho chính nghĩa, đứng về phía nhân dân. Nói thật, nếu Di Thiên Huấn tại hạ đây sinh ra sớm hơn vài năm thì anh hùng Lương Sơn Bạc nhất định không phải chỉ có 108 người.
-Ha.. ha.. ha . Hảo tiểu tử , hảo tiểu tử ! Nguyễn Tiểu Thất ta quả là không cứu lầm người. Nếu năm xưa Tống Giang đại ca ta không quy thuận triều đình có lẽ bây giờ ngươi vẫn còn có thể lên Lương Sơn Bạc để tụ nghĩa rồi.
Lão vỗ vai Thiên Huấn một cái làm hắn đau nhăn mặt :
-Hôm nay thật là sảng khoái tối nay chúng ta phải cùng nhau uống rượu.
-Nãy giờ chỉ chờ có lão Thất ca nói câu này (ha… ha… ha)
Đêm hôm ấy, trong căn chòi lá đơn sơ một ánh đèn le lói đủ để thấy hai dĩa thức ăn dân dã thanh đạm bên cạnh là mấy tĩnh rượu lớn thơm nồng. Cả hai uống rượu hăng say, đoạn Di Thiên Huấn hỏi Nguyễn Tiểu Thất:
-Lão Thất ca này ! Tại hạ hỏi thật có gì mong lão huynh đừng trách!
-Cứ nói đi ! có gì mà phải ấp úng như đàn bà vậy.
-Thiên Huấn cả đời chỉ xem trọng chữ nghĩa, không màng quốc pháp thị phi nên vẫn không hiểu tại sao Tống thủ lĩnh năm xưa lại chọn con đường quy hàng triều đình. Vậy lúc đó huynh đệ Lương Sơn có trách Tống Giang đại ca không ?
-Tưởng Di huynh đệ hỏi chuyện gì chứ chuyện này thì có gì mà ái ngại. Nói thật là lúc đó ba huynh đệ ta cùng với các huynh Lưu Đường, Võ Tòng, Lỗ Trí Thâm, Lý Quỳ và một số huynh đệ khác đã phản đối kịch liệt. Lúc đó bọn ta còn nghĩ là Tống Công Minh đại ca đã vì công danh, lợi ích riêng mà đẩy cơ nghiệp Lương Sơn vào thế cuộc suy tàn.
Nguyễn Tiểu Thất uống cạn chén rượu,rồi thở dài nói tiếp :
-Lại chứng kiến hai vị huynh trưởng ta cùng thảm tử ở Ô Long Lĩnh, thêm vào đó huynh đệ Lương Sơn tử thương vô số ta lúc đó trong lòng rất hận Tống Giang, lại trách Tiều Cái đại ca sao nỡ bỏ đi sớm để lại huynh đệ bọn ta đi theo tên ham danh lợi bỏ mặc tình huynh đệ. Nhưng sau này khi nghe tin Tống Giang đại ca bị gian thần hãm hại, ông ta biết rượu độc mà vẫn uống thì thử hỏi con người như vậy đâu phải là một kẻ vì lợi ích riêng của bản thân mình mà để huynh đệ vào sinh ra tử. Tống đại ca cũng vì tên tuổi của Lương Sơn, nghĩ cho tương lai dài lâu của tất cả huynh đệ. Nên ta cũng không giận huynh ấy, nếu có trách chỉ là trách huynh ấy quá ngu trung.
-Tiểu đệ đã hiểu, thôi chuyện cũ không vui ta hãy quên đi. Cán chén nào!
-Phải cạn chén, quên đi quá khứ bỏ hết tương lai (ha ha ha)
Vừa uống rượu vừa kể nhau nghe những sử tích anh hùng, tỏ bày nỗi niềm trong thế sự loạn lạc bất công, cả hai tâm đầu hợp ý ngồi uống rượu thâu đêm, quả là :
Nhà tranh đổ nát tàng đại chí
Nghĩa sĩ khề khà luận thị phi
Hảo hán cùng đường gặp hảo hán
Anh hùng tao ngộ có mấy khi.
Vài hôm sau, Di Thiên Huấn thương tích bình phục hẳn, cùng tiểu muội đi dạo trên Khoái Lăng Sơn. Khoái Lăng Sơn là ngọn núi phía sau Thạch Giai thôn, đỉnh cao muôn trượng, mây trắng vờn quanh mờ mờ ảo ảo tạo một khung cảnh thần tiên. Di Thiên Thư phát hiện đằng trước có khoai lang, cả hai huynh muội thi nhau đào khoai toan đem về thôn đãi mọi người. Cả hai đang hì hùc đào khoai thì nghe từ xa có tiếng vọng lại:
-Quân ăn cướp, chúng bay thật cả gan dám lên núi này trộm khoai của ta à.
Cả hai quay lại nhìn thì thấy một gã đàn ông từ xa chạy đến. Khi chạy đến gần thì nhìn ra là một đại hán thân hình vạm vỡ, dáng bộ hiên ngang, hàm én mày ngài, phương phi trung liệt. Trên đầu buộc miếng vải lông thú, mặc quần áo bên đen bên trắng. Tay cầm một thanh gậy xông tới động võ. Hắn giáng gậy xuống, Thiên Huấn đẩy tiểu muội ra còn mình nhảy lộn qua một bên tránh, gậy đánh xuống trúng đống khoai lang mà họ mới đào làm củ nào củ nấy nát như tương. Gã kia điên tiết quất gậy ngang, Di Thiên Huấn dang tay nương theo lực rồi lướt vào chụp gậy, nói to:
-Xin tráng sĩ dừng tay, chỉ là hiểu lầm thôi.
-Không hiểu làm gì cả, ngươi ăn trộm khoai, ta phải cho ngươi ăn đòn.
Nói xong,hắn hất gậy mạnh lên làm Thiên Huấn bật ra loạng choạng, toan nhào tới vỗ gậy vào đầu kẻ địch. Lúc này Di Thiên Thư liền ra mặt :
-Nếu là đại trượng phu sao lại hiếp người tay không tấc sắt
Thiên Huấn vội vàng tiếp lời:
-Phải, có giỏi thì đánh tay đôi với ta một trận xem sao
-Được, để tránh người ta nói ăn hiếp kẻ thế cô. Ta đánh tay đôi với ngươi
Nói rồi hắn cắm gậy xuống đất, bỏ một chân ra phía sau hạ tấn, đôi long trảo thủ ngay yến tâm phô ra bộ pháp của Long Hình Quyền dũng mãnh vô song, Di Thiên Huấn cũng khụy bộ dang tay rộng ra thành tư thế Bạch Hạc Lưỡng Sí uy thế ngất trời. Hắn chuyển tấn bỏ bộ rộng hơn lao tới Di Thiên Huấn, đôi long trảo của hắn lần lượt tung ra như thể Lưỡng Long Xuất Động nhắm vào yết hầu của đối phương, Thiên Huấn thoái bộ song thủ khép lại ở thế Như Phong Tạo Bế để niêm lại long trảo, đồng thời cánh hạc của Di Thiên Huấn nắm lại tạo thành quyền đấm thẳng vào yến tâm của đối phương, gã kia lật tay lên, ngũ chỉ duỗi thẳng lại, hoá trảo thành chưởng, đánh vào ngay bên bả vai xuất quyền của Di Thiên Huấn cốt để giảm lực và lệch mục tiêu của quyền, quả là chưởng pháp của Gã kia làm cánh tay phải của Thiên Huấn mất lực, thừa thế thượng phong gã kia xoay nhanh cổ tay một vòng từ chưởng đổi thành câu, vuốt dọc theo cánh tay của Di Thiên Huấn, đến cổ tay thì câu lật lại chuyển thành trảo bóp chặt cổ tay đối phương , bất ngờ thoái bộ ra sau đồng thời kéo mạnh cánh tay làm cho toàn thân Di Thiên Huấn mất đà lao về phía trước.
Di Thiên Huấn nhanh trí mượn thế đánh thế lao theo đà vòng tay tung quyền vào hai bên thái dương của gã nọ bằng thức Song Phong Quán Nhĩ, hắn bình tĩnh ngã người ra sau né đòn dễ dàng, bất ngờ Hắn nâng cước đá lên trong tư thế nữa đứng nữa nằm nhầm làm đối thủ không kịp đỡ, Di Thiên Huấn vội thâu quyền lại để tiếp cước của hắn đồng thời tung cao hai chân ra phía sau lộn ngược vòng ra sau lưng của đối phương gọn gàng xoay người đá vào cổ của hắn với thức Phi Thân Thích Cước.
Vì bị bất ngờ phản đòn nên gã kia không tránh kịp, trúng một cước vào cổ hắn té nhào xuống, vội đứng dậy thủ hai quả đấm như chùy lao vào Di Thiên Huấn, bỗng nghe tiếng kêu của một người khác:
-Dừng lại, đều là huynh đệ cả, dừng tay lại.
Họ quay lại nhìn thì thấy đó Nguyễn Tiểu Thất đang chạy đến. Lão thở hổn hển nói:
-Mau dừng tay chắc là có hiểu lầm gì đây
Gã kia bực tức nói :
-Ai mà huynh đệ với bọn ăn trộm này, chả có hiểu lầm gì cả.
Thiên Huấn cũng cau mày:
-Ngươi nói ai là ăn trộm hả, có phải muốn đánh nhau nữa không ?
Thấy cả hai đều đang nóng giận, Hoạt Diêm La Nguyễn Tiểu Thất quay sang hỏi Di Thiên Thư:
-Di cô nương ! mọi chuyện là như thế nào ?
-Nguyên là huynh muội tiểu nữ dạo chơi trên núi, thấy có khoai lang tưởng là vô chủ nên định bụng đào một ít mang về thôn. Nhưng đột nhiên người này xông ra tấn công huynh muội tiểu nữ.
-Ha.. ha ha thì ra chuyện chỉ có vậy, chỉ là hiểu lầm thôi, nhưng tất cả khoai lang trên núi này đều là do hắn trồng, các ngươi chạy lên đây tự ý đào thì cũng khó trách hắn lắm (ha…ha ha). Đều là huynh đệ cả, bỏ qua đi. Hắn là con của người huynh đệ ta, tên là Âu Dương Nam Lạc, vì từ nhỏ có vóc dáng to cao lại sức khoẻ phi thường nên dân trong làng đặt biệt danh cho hắn là Mãnh Như Long.
Âu Dương Nam Lạc lại hỏi:
-Vậy còn hai người này là ai vậy Thất Thúc ?
-Đây là hai huynh muội họ Di, vì bị quan phủ truy bắt nên chạy đến thôn Thạch Giai lánh nạn. Đều là hảo hán với nhau, có chuyện coi như nể mặt ta mà bỏ qua.
-Thất Thúc đã nói hiểu lầm thì tất nhiên là hiểu lầm thôi, cứ bỏ qua, cứ bỏ qua.
Âu Dương Nam Lạc lại quay sang huynh muội họ Di ,chấp tay bảo rằng:
-Tại hạ là Âu Dương Nam Lạc, vừa rồi có phần nóng nảy mong Di huynh đệ cùng Di cô nương bỏ qua cho.
Di Thiên Huấn cũng chấp tay cuối đầu nói:
-Tại hạ là Di Thiên Huấn, còn tiểu muội là Di Thiên Thư, chuyện vừa rồi cũng do lỗi của huynh muội tại hạ. Mà không ngờ ở nơi thôn dã như vậy lại gặp một hảo hán có võ công cao cường như vậy. Quyền pháp của huynh động như phong, tịnh như sơn, uy như điện, thế như hùm, quả nhiên là cao thủ không hổ danh là Mãnh Như Long.
-Huynh đài đã quá lời rồi, quyền pháp của ta làm sao so với huynh được. Chiêu thức của huynh phát ra trong tịnh mà có động, trong động lại có tịnh, biến hoá khôn lường, ta đây thật khâm phục.
Nguyễn Tiểu Thất nói :
-Quả là không đánh không quen biết, sao phải cứ đứng ở ngoài mà khen qua khen lại. Hãy đến nhà ta, ta bắt cá lớn để các người cùng nhau uống rượu cùng bàn luận võ nghệ.
Cả bọn khen phải rồi kéo nhau về Thạch Giai thôn, ba người Hoạt Diêm La Nguyễn Tiểu Thất , Di Thiên Huấn và Mãnh Như Long Âu Dương Nam Lạc cùng nhau uống rượu say sưa. Đoạn Di Thiên Huấn hỏi Mãnh Như Long:
-Sư phụ huynh là vị cao nhân nào mà huynh có một bản lĩnh võ công cao như vậy ?
-Ân sư tại hạ là Thất Thúc đây. Từ nhỏ ta đã theo Thúc ấy luyện tập võ công
Nguyễn Tiểu Thất lại cười to:
-Ha ha ha tên tiểu tử này, gặp ai cũng bảo ta là ân sư của ngươi mà thuỷ chung người chưa hề dâng cho ta một ly trà và một tiếng “sư phụ”.
Âu Dương Nam Lạc tỏ bày:
-Trong bao nhiêu năm nay, tiểu điệt luôn tôn kính Thất Thúc như cha, nếu nói đến việc thi lễ sư đồ thì có lẽ đã không thân bằng tình cảm giữa Thúc và tiểu điệt.
-Ha ha ha, thằng khờ này, ta chỉ nói đùa mà lại tưởng thật (ha ha ha).
Cả ba cùng phá lên một trận cười giòn giã, bỗng nghe tiếng huyên náo ở đầu thôn. Âu Dương Nam Lạc đi ra xem một lát chạy vào vẻ mặt không kém phần hoảng hốt, nói:
-Không biết dò tin tức từ đâu mà bọn quan binh đã kéo đến đây ,chúng đang lục soát các hộ đầu thôn, chắc không mấy chốc sẽ đi đến đây ngay. Bây giờ phải làm sao Thất Thúc ?
-Việc gì phải hoảng hốt như vậy, để ta từ từ suy nghĩa đã.
Lúc đó Thiên Huấn đứng dậy nói:
-Các vị đã có ơn cứu mạng huynh muội tại hạ, Di Thiên Huấn tôi không thể tiếp tục ở lại để liên lụy mọi người trong thôn. Tại hạ sẽ cùng tiểu muội ra chết sống với bọn chúng
-Bĩnh tĩnh nào, nếu muốn ra liều mạng thì không phải chỉ có hai huynh muội nhà ngươi đâu, ta sẽ làm tròn bổn phận gia chủ.
Nam Lạc cạn nốt chén rượu, nói to :
-Được, vậy thì hôm nay chúng ta thi nhau xem ai giết được nhiều quân lính, người nào thua thì phải đãi uống rượu
Nói xong cả bọn đi lấy vũ khí, Nguyễn Tiểu Thất chạy vào nhà lấy ra hai thanh yểm nguyệt đao, liền quăng một thanh cho Âu Dương Nam Lạc, cười to:
-Hôm nay Thúc - Điệt ta thi nhau chặt đầu giặc (ha ha ha)
Di Thiên Thư đã tuốt cặp Phi Phong Đao của mình ra khỏi vỏ, còn Thiên Huấn đã cầm trên tay cây Phá Thiên Côn của mình nóng lòng sát địch. Cả bọn sẵn sàng liền chạy đến toán quan quân đang lục xét đầu thôn. Đám quân lính trông thấy có mấy người tay mang đao kiếm không cần biết có phải là tội phạm hay không cũng bủa vây đến quyết giết sạch.
Hoạt Diêm La Nguyễn Tiểu Thất vốn không ưa đám cẩu quan, nên gặp một tên chém một tên còn phải chém lìa đầu. Thanh yểm nguyệt đao trên tay lão hết xoay ngang lại đâm dọc, hết chém phía trước lại xả phía sau. Chẳng mấy chốc thanh đao đã thấm đỏ máu của đám quan binh. Mãnh Như Long Âu Dương Nam Lạc lại còn thần dũng hơn, thanh đao chỉ quơ ngang một nhát đã lấy đầu của mấy tên. Bên này Di Thiên Thư cũng xuất thần nhập quỷ với cặp Phi Phong Đao, lượn tới lượn lui lấy đầu giặc như hái hoa trong vườn. Di Thiên Huấn với cây Phá Thiên Côn càng đánh càng hăng, đánh cho bọn quan binh bể đầu chảy máu, tên nào bị trúng một côn nếu không chết cùng tàn phề về sau.
Cả bọn của Di Thiên Huấn đánh lúc đầu thì rất hăng máu, càng lúc càng đuối sức. Lúc đó lại có thêm một toán quân lính trang bị cung tiễn chỉnh tề đông đúc kéo đến. Thấy là khó lòng chỏi thẳng nên Nguyễn Tiểu Thất nói to :
-Mãnh Như Long, cháu hãy dẫn huynh muội họ Di chạy lên Khoái Lăng Sơn trước, ta sẽ ở lại cản chân bọn chúng. Đi Mau!
-Không được, muốn đi thì tất cả cùng đi, sao ta có thể bỏ lại một mình thúc.
Di Thiên Huấn cũng nói vọng sang:
-Phải, chúng ta đã định sẵn là chết chung hôm nay, giết mười người cũng chết một lần, giết một trăm người cũng chết chỉ có một lần. Tại sao ta không ở lại giết cho đã tay.
Lão Thất quát to:
-Đồ thằng ngu, ai mà chịu chết chung với ngươi chớ, cho dù ngươi không sợ chết thì cũng phải nghĩ cho tiểu muội mình chứ. Đi mau! Nam Lạc dẫn chúng nó chạy mau, nếu không ta sẽ không nhìn mặt ngươi nữa.
Thấy lão Thất kiên quyết nên Nam Lạc , Thiên Thư và Thiên Huấn đành vừa đánh vừa lùi về phía hậu sơn. Nam Lạc ngoái đầu lại kêu to :
-Chúng tôi đã an toàn rồi, Thất Thúc cũng rút lui đi.
Lão Thất quay lại nói :
-Ta biết tự lo, ngươi hãy chạy về núi mau đừng ở lại làm ta phân tâm.
Nam Lạc quay lưng chạy đi được vài bước thì nghe một tiếng ra lệnh:
“Xạ Tiễn”
Lập tức tên bắn như mưa về phía Nguyễn Tiểu Thất, bất ngờ một mũi tên bắn trúng vai lão, Nam Lạc thét to:
-Thất Thúc hay coi chừng.
Vì một phần đuối sức lại thêm bị trúng tên nên Nguyễn Tiểu Thất bước loạng choạng về phía sau, không ngờ lại bị ba tên lính cầm thương từ phía sau đâm tới xuyên thấu ra phía trước. Lão quay lại trừng mắt nhìn bọn chúng, máu từ trong miệng Lão phún ra bắn lên mặt , lên quần áo, lên cây thương trên tay bọn chúng. Lão cười to rồi nói:
-Ha.. ha ha.. Chết đi!
Nói rồi lão vung đao ra sau chém một lúc ba cái đầu bay xa hơn mười trượng, Nguyễn Tiểu Thất loạng choạng tiến tới toan vung đao chém thì hàng chục mũi tên lao đến cắm vào ngực lão cùng một lúc. Lão chống thanh đao xuống đất để đứng vững,từ từ tựa ra sau dựa lưng tựa vào ba cây thương. Hoạt Diêm La Nguyễn Tiểu Thất đã trút hơi thở cuối cùng trong một tư thế bất tử. Than ôi :
Quanh năm chài cá sống tiêu diêu
Bằng hữu nương thân sá mạng liều
Anh hùng dẫu chết không hạ gối
Hảo hán đoạn hồn dạ cũng kiêu
Quá xót xa, quá bất ngờ, quá nhanh khiến cho bản thân không làm gì kịp, Âu Dương Nam Lạc thét một tiếng:
-“Chết”
Tiếng thét tựa thần sấm của Mãnh Như Long âu Dương Nam Lạc như xé rách một mảnh trời chiều loang lổ, khiếp kinh hồn vía cả đám quan binh, làm cho hai tên lính đứng gần đó bị vỡ mật mà chết ngay tại chỗ. Trong cơn đau đớn tột cùng, Nam Lạc vung đao toan lao tới moi gan bọn quan quân nhưng đã bị Thiên Huấn và Thiên Thư cản lại kéo lên núi. Nam Lạc điên tiết :
-Buông ta ra, có buông không, ta phải ở lại với Thất Thúc, ta phải trả thù, còn cản ta thì thanh đao này sẽ giết hai người trước.
Nam Lạc vừa nói vừa giơ thanh đao trừng mắt nhìn Di Thiên Huấn, Thiên Huấn túm lấy cổ áo của Mãnh Như Long mà quát rằng:
-Bây giờ huynh có quay lại giết được mấy tên nữa thì sao, như vậy là trả thù à ? Liệu huynh có địch nổi bọn nó không, huynh đã nói là kính Thất Thúc như nghĩa phụ thì phải làm theo di ngôn của ông ấy, còn nếu huynh một mực cam tội bất hiếu thì cứ đi nộp mạng, ta quyết không cản. Hãy nghe ta, quân tử trả thù mười năm không muộn, rừng hãy còn xanh thì sợ gì không củi đốt. Ta phải về núi bàn bạc lại để có một kế hoạch trả thù thoả đáng.
Âu Dương Nam Lạc đành nghe theo rồi cả ba chạy theo lối mòn về núi. Đám quân lính toan đuổi theo thì bị tên thống lĩnh ngăn lại:
-Hiện giờ trời đã sập tối, nếu miễn cưỡng đuổi theo e là trúng kế, thôi thì chúng ta hãy đóng trại phong tỏa ở khu vực này, huống hồ gì núi này chỉ có một lối lên xuống. Đợi mai ta sẽ tính kế hoạch tấn công lên, tóm gọn bọn chúng…
---
Mãi mới nhắc đến việc của Tiểu Hậu Nghệ Doãn Văn cùng Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân sau khi tặng lão thầy bói bốn chữ “Vĩnh Bất Quy Tây”, họ tìm đến Tôn lão hán để mua ngựa tiếp đó họ đến một tửu lầu. Bách Tửu Hành nói :
-Sẵn chúng ta cũng lên đường không gắp, hay là nghĩ trọ ở đây một đêm rồi sáng mai ta hãy vào Biện Kinh.
Doãn Văn đáp:
-Cứ quyết định như vậy đi, ta cũng không có ý kiến.
Đêm đó Lỗ Thể Ngân cùng Doãn Văn uống rượu ngắm trăng. chợt nhớ ra Doãn Văn hỏi:
-À !Tại sao Lỗ cô nương lại đến Sở Châu cướp ngục, lại còn cứu Thanh Thành Song Sát ?
-Thật ra cha ta ngoài mặt là một tửu vương của mười ba tỉnh, một thương gia cất rượu nhưng thật sự bên trong ông ta là thủ lĩnh của Thiết Diện Hội.
-Có phải là bang hội đeo mặt nạ sắt mấy năm nay luôn hành hiệp trượng nghĩa, cướp phú tế bần, chuyên trừng trị những kẻ gian tham nhất là những tên quan quyền thường bóc lột dân chúng.
-Phải, Thanh Thành Song Sát là người dưới tay đắc lực của cha ta trong tổ chức, chỉ có họ mới biết thân phận thật sự của ông ấy. Trong một lần làm nhiệm vụ, họ bị mắc phải gian kế và bị bắt. chuyện còn lại thì Doãn huynh đã biết.
-Thì ra là vậy, nhưng theo ta được biết thì Thanh Thành Song Sát không phải là loại người có thể đáng tin cậy, có cơ hội hãy bảo cha cô cẩn thận.
-Đa tạ huynh đã nhắc nhở, thôi ta cạn chén.
Lỗ Thể Ngân lại :
-Nay huynh đã mang trọng án trên người,khó mà minh oan. Huynh đã suy tính gì chưa ?
-Trước khi Lăng Bá Thông chết ta đã bắt hắn viết hết những tội trạng của hắn ra, những việc hắn đã hãm hại ta thế nào. Mai ta sẽ gửi tờ giấy này về Thương Châu để cha ta tỏ tường sự việc. Còn tạm thời ta chưa biết tính sao, nhân tiện cũng hành tẩu giang hồ một chuyến.
Sáng hôm sau, Doãn Văn cùng Lỗ Thể Ngân chuẩn bị khởi hành đến Biện Kinh. Doãn Văn bước đến nói trưởng quầy rồi móc ra một phong thư:
-Ta nhờ ngươi chuyển giúp ta lá thư này đến bang chủ của Mã Bang ở Thương Châu. Đây là 20 lượng bạc tiền thù lao. Hãy nhớ Doãn Bang Chủ của Mã Bang. Ta đi đây.
Nói rồi Doãn Văn cùng Lỗ Thể Ngân lên ngựa phi nước đại đến Biện Kinh. Doãn Văn cưõi Phi Vân Thần Mã chạy như lướt trên mây, con ngựa của Lỗ Thể Ngân mua ở chỗ của Tôn lão hán cũng là dạng bảo mã hiếm có nhưng vẫn không tài nào theo kịp Phi Vân, trên đường đi Doãn Văn phải ghì cương đứng lại chờ Lỗ Thể Ngân hết mấy bận, đúng thật là bảo mã thần câu.
Cuối cùng họ đã đến đỉnh của Thục Cương Sơn, qua khỏi ngọn núi này thì đã đến Biện Kinh. Từ trên đỉnh Thục Cương Sơn nhìn xuống Biện Thành như một viên sỏi đủ màu sắc nằm giữa cái hộp núi đồi bao la. Họ thả ngựa thong dong xuống núi, bất ngờ dọc đường có một tên thiếu hiệp vai đeo trường kiếm nhảy từ trên cây xuống chặn đường. Doãn Văn xuống ngựa bước tới :
-Chẳng hay vị bằng hữu đây có gì chỉ giáo.
Hắn trợn mắt ngó Doãn Văn, rồi đáp:
-Ta không có gì để chỉ giáo nhà ngươi, nếu muốn sống thì các người có thể đi, trừ con ngựa của ngươi đang cưỡi.
-Tại sao ?
-Tại vì ta chỉ cần ngựa, không cần đầu người.
Doãn Văn nhẻn cười thích thú nói:
-Ý của ta là tại sao ta phải đưa ngựa của ta cho ngươi ?
-Nếu lát nữa ta rút kiếm ra thì ngươi sẽ hối hận vì đã hỏi câu này.
-Ta cũng muốn xem thanh kiếm của ngươi làm bằng gì ?
Nghe xong lời của Doãn Văn thì đôi mắt lờ mờ của tên kiếm khách bỗng nhiên mở sáng lên đằng đằng sát khí. Hắn rút thanh trường kiếm ra nhanh như cắt xông tới toan đâm xuyên cổ của Doãn Văn, Doãn Văn liền búng mạnh chân lộn bay qua khỏi đầu hắn, hắn chuyển mũi kiếm đâm ra phía sau, tiếp tục nhắm thẳng vào Doãn Văn mà chém, hắn liên tục tấn công, Doãn Văn không ngừng tránh né. Đã qua chín thức kiếm, hắn càng đánh càng lộ vẻ nôn nóng. Đến chiêu thứ mười, hắn lao tới đâm mũi kiếm vào phía ngực Doãn Văn, Doãn Văn phi thân bật một chân vào thân cây bên cạnh rồi xoay người lại rút một mũi tiễn từ dưới chân ra, nhưng quay ngược mũi tiễn lại mà bắn, Doãn Văn nhắm thẳng vào cánh tay đang cầm kiếm của gã kia rồi xuất tiễn, tay hắn bị trúng tiễn tuy không phải là ngay mũi nhọn nhưng cũng làm tay hắn phải buông thanh kiếm. Hắn ngơ ngác nhìn mũi tiễn rồi hỏi :
-Ngươi là ai ?
-Ta tên Doãn Văn.
-Ngươi là Tiểu Hậu Nghệ Doãn Văn ở Thương Châu ?
-Không sai.
Hắn đối sắc mặt chấp tay cung kính :
-Đa tạ đại hiệp đạ tha mạng, tại hạ có mắt mà không biết thái sơn, vừa rồi nếu đại hiệp không nương tay thì có lẽ giờ này tại hạ đã nằm chết bởi Thương Tâm Tiểu Tiễn mà trên giang hồ thường đồn là Lệ Bất Hư Phát.Lúc nãy có gì mạo phạm xin đại hiệp tha cho.
-Ta không trách ngươi. Ngươi tên là gì ? Nhà ở đâu ?
-Tại hạ tên là Tần Lượng, nhà ở Tần gia Biện kinh thành. Nếu không có gì tại hạ xin cáo lui.
Ngẫm nghĩ một thoáng, chợt Doãn Văn gọi :
-Khoan đã! Ngươi họ Tần thì Tần Vinh là gì của ngươi.
Tần Lượng quay lại vẻ mặt hớn hở :
-Đại hiệp có quen với chủ của tại hả sao ? Tần Vinh là chủ nhân của tại hạ.
-Thì ra là người của Tần Gia, ta không có quen với chủ của ngươi nhưng với biệt hiệu Phong Vũ Bôn Lang của ông ấy thì có ai mà chưa nghe. Mà tại sao người phải chặn đường cướp ngựa ta ?
-Chuyện kể ra rất dài, ngài hãy đi theo tại hạ vừa đi vừa kể, nếu chậm là không kịp, chủ nhân tôi sắp bị chém đầu rồi.
-Thật ra là chuyện gì sao đến nổi bị chém đầu, ông ta hiện là quan cao trong triều mà.
-Chính vì chủ nhân tôi giữ chức Binh Mã Tổng Quản ở Biện Kinh, chức to quyền trọng nên mới bị tai họa, không chịu cùng kết bè lũ với phe đảng trong triều nên bị hoạ sát thân.
-Ngươi kể trực tiếp một chút được không, dài dòng quá.
-Nguyên là phía Nam thành Biện Kinh có một thôn trấn mất mùa bị nạn đói là Chu Tiên Trấn, Cao Thái Úy Cao Cầu bèn sai Lý Thán là đô thống ở khai phong phủ ,mang hai vạn kim ngân đến Biện kinh giao cho chủ nhân tôi là Tần Tổng Binh để trực tiếp đi cứu tế nạn dân ở Chu tiên trấn. Lý thán từ chối tiệc tùng, lập tức trở về Phủ Khai Phong ngay sau khi bàn giao số quan ngân cho chủ nhân tôi. Nào ngờ khi chủ nhân tôi mang toàn bộ số quan ngân đến Thống Chế Phủ để kiểm kê trước khi mang đi cứu tế thì mở gương ra toàn là đá. Thời cơ đến, quan Thống Chế ở Biện Kinh liền bắt giam chủ nhân tôi và trình cáo lên Cao Cầu. Sau đó Cao Cầu lại sai Đồng Thụy là con trai của Đồng Quán đến theo lệnh xử trảm Tần Tổng Binh do làm mất quan ngân mà không cần điều tra hay là nghe chủ nhân tôi giải bày. Tôi biết tên Đồng Thụy có thú vui sưu tầm ngựa quý nên định cướp con Phi Vân Thần Mã của đại hiệp để đi đổi tính mạng của chủ nhân.
-Thì ra mọi chuyện là như vậy, ngươi nghĩ dâng thần mã rồi chủ nhân ngươi sẽ được thả sao ? Thôi hãy mau nhập thành để kịp cứu chủ nhân ngươi.
-Có đại hiệp ra tay thì chủ nhân tôi đã có hy vọng.
Thoáng chốc họ đã đến Thành Biện Kinh, nghe ở cuối đường có chuyện gì tàn bán xôn xao, Tần Lượng hỏi một người đàn bà đi ngang qua:
-Đại Thẩm cho hỏi trong thành xảy ra chuyện gì vậy ?
-Ấy dà ! cậu từ xa đến nên không biết à ! Tần đại nhân của chúng tối sắp bị chém đầu rồi, xa tù áp giải đến pháo trường vừa đẩy đi ngang qua đây, thử hỏi một vị quan thanh liêm như vậy lại bị đem đi chém đầu thật là trên đời này không còn thiên lý.
Doãn Văn cả giận :
-Thật là không còn thiên lý, dân - thần phẫn nộ. Pháp trường ở đâu ?
-Ở hướng này đi thẳng, rồi rẽ trái.
Cả ba người chạy như tên bay thẳng đến pháp trường. Doãn Văn toan nhảy đến cứu người thì Lỗ Thể Ngân cản lại:
-Huynh đừng quá rung động, pháp trường là nơi lính tráng canh giữ cẩn thận nhất, ta nên bàn bạc kỹ lưỡng trước khi ra tay.
Tần Lượng khen phải:
-Vị cô nương này nói phải, chúng ta phải có một kế hoạch chu toàn trước khi hành sự.
-Thế này, tiểu nữ cùng Doãn huynh một bên cứu người, một bên cản quan binh. Vừa đánh vừa lui, theo quan sát trong bốn cửa Đông, Tây, Nam, Bắc của Biện Kinh thì cửa thành phía Nam là dễ tẩu thoát nhất, còn Tần Lượng huynh hãy mau chuẩn bị thêm hai chiến mã rồi lập tức tiếp ứng ngay cửa thành Nam.
Cả hai tán thành kế hoạch của Lỗ Thể Ngân, Tần Lượng vội vã chạy đi chuẩn bị ngựa, còn Doãn Văn cùng Lỗ Thể Ngân ở pháp trường chờ thời cơ. Khi quan giám trảm vừa quăng tấm thủ lệnh tuyên trảm xuống đất thì Lỗ Thể Ngân cũng đồng thời lấy trong túi ra một nắm bạc quăng lên giữa đám đông, trước đó Doãn Văn đã kịp thời nói ra kế hoạch cướp tù với một vài người đứng gần đó, Doãn Văn biết chắc là họ sẽ hưởng ứng vì không bá tánh nào trong thành lại không kính phục Tần Vinh. Họ cố tình bày ra cảnh náo động giành giật tiền rơi để thu hút sự chú ý của quân lính. Lỗ Thể Ngân quăng tiền hết nắm này đến nắm khác, có một vài tên lính không chịu thiệt thòi liền bỏ khí giới xuống để nhặt tiền. Quan giám trảm Đồng Thụy thấy có biến liền thúc giục tên đao thủ chém mau. Tên đồ tể vừa giơ đao lên thì một mũi tiễn Thương Tâm đã cắm ngay ngực của nó, sự việc diễn ra quá lặng lẽ trong hoàn cảnh nháo nhác nên không tên lính nào hay biết ngoại trừ Đồng Thụy, Doãn Văn cùng Bách Tửu Hành nhảy thót lên trảm thủ đài đứng cạnh Tần Vinh, Đồng Thụy kêu to :
-Bây đâu, có người đến cướp pháp trường bắt lấy chúng! Giết! Giết sạch cho ta.
Và đó cũng là câu nói cuối cùng trong đời của hắn, sau khi nói hắn cảm thấy dưới cổ mình thở hơi ngột ngạt, nhìn xuống thì thấy một mũi Thương Tâm Tiểu Tiễn đã cắm ngay yết hầu của mình. Tiếng thở ngột ngạt đứt quãng của hắn nhanh dần rồi tắt liệm hẳn.
Đám quân lính bây giờ mới tá hỏa nhận ra là một âm mưu cướp pháp trường, tên nào tên nấy vội vã nhét tiền vào túi áo rồi cầm khí giới xông lên tấn công hòng giết chết cả ba người. Lỗ Thể Ngân thả bộ lướt tới, một ánh đao lại loé lên, lập tức sáu tên quân lính ngã xuống kèm theo tiếng thở ngột ngạt đứt quãng tương tự lúc nãy, nhưng lần này đồng thanh hơn. Một nhát đao của Bách Tửu Hành cùng lúc cắt đứt thanh quản của bọn nó, nhưng không làm chúng chảy một giọt máu nào. Nhìn sáu cái cổ khép vào hở ra theo từng nhịp thở đứt quãng Tần Vinh không tin vào mắt mình, lại càng không tin đó là thủ pháp của một cô nương trẻ đẹp. Lỗ Thể Ngân cắt đứt dây trói của Tần Vinh rồi dắt hắn chạy ra phía cửa Nam. Còn lại một mình Doãn Văn, một đám lính xông tới khoảng hai mươi tên Doãn Văn rút ra ba mũi tiễn cuối cùng tra vào dây cung rồi hết to :
-Lên đi, kẻ nào muốn thử cảm giác mũi tên của ta cắm vào cổ thì hãy xông lên. Ta với các người không có thù oán sâu đậm, nay quan giám trảm đã chết thì ta cũng không muốn sát hại thêm một ai, các người đừng ép ta. Bọn quân lính kinh hãi lùi lại nhường đường cho Doãn Văn tẩu thoát.
Chạy đến cửa Nam Doãn Văn gặp lại Bách Tửu Hành cùng với Tần Vinh vừa lúc đó Tần Lượng phi ngựa tới cùng với ba con ngựa khác kéo theo trong đó có Phi Vân Thần Mã của Doãn Văn. Cả bốn người cùng leo lên ngựa tẩu thoát .Quân lính đuổi theo tri hô báo cho quan trấn ải đóng cửa thành lại nhưng quá trễ cả bốn người đã an toàn chạy thoát khỏi thành Biện Kinh.
Sống giữa thói đời lắm nhiễu nhương
Thanh bào khí cốt chịu phong sương
Tiểu nhân đối kỵ mưu hại mạng
Hảo hán nghe danh cướp pháp trường.
Một lão bá đứng trông theo làn bụi mịt mù của vó ngựa mà thốt lên rằng :
-Chẳng lẽ ông trời thương xót con dân Đại Tống, lại để cho ngọn cờ của Hảo Hán Lương Sơn tung bay thêm lần nữa ?
Liệu bọn người của Doãn Văn có thoát khỏi vòng vây hay không ? Ngọn cờ Lương Sơn mà lão bá kia nói lại có liên quan gì đến chuyện cướp pháp trường ? Để giải đáp những thắc mắc này mời quý vị hãy theo dõi những hồi sau của Tân Thủy Hử...
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
25-07-2009, 02:21 PM
Hồi Thứ 6
Cứu Tần Vinh, Doãn Văn xông biển lửa
Tỏ can trường Nam Lạc đốt chòi khoai
Sau khi đám người Doãn Văn chạy ra khỏi cổng thành, cửa thành đột nhiên đóng chặt lại. Trên thành xuất hiện một đội cung thủ dường như đã có chuẩn bị trước, chúng xả tên như mưa vào họ, những mũi tên bay vun vút như xé gió. Ngồi trên lưng những con chiến mã đám người Doãn Văn dễ dàng thoát ra khỏi trận vũ tiễn.
Đoạn họ chạy đến bìa Hư Trúc Lâm, bên đường mòn một toán quan quân giáo gươm tua tủa xông ra bao vây lại. Không chần chừ đám người Doãn Văn thúc ngựa xông lên chém giết thẳng tay, lúc này Phong Vũ Bôn Lang Tần Vinh mới có dịp phô trương tài nghệ, Tần Vinh xoay người tránh mũi thương của tên lính, nương theo đà tước lấy cây thương và tung một cước vào mang tai của hắn. Có thương trong tay Tần Vinh nhảy xuống ngựa xông vào giữa đám đông múa thương sát địch. Mũi thương quay đến đâu, máu bọn quan binh tuôn ra tới đấy. Với thương pháp siêu quần của Tần Vinh, chẳng mấy chốc bìa rừng Hư Trúc phơi thây hàng chục tên.
Bỗng có tiếng kêu hò từ phía sau, lại có thêm một toán lính đang tiến lại. Tần Vinh xoay người quay thương bất ngờ gặt mạnh cán thương còn mũi thương do lực xoay quá mạnh nên bị quán tính làm gãy ra khỏi cán bay thẳng về phía trước xuyên thủng bụng sáu bảy tên. Chúng kinh ngạc không dám chạy nữa mà từ từ tiến lại. Lỗ Thể Ngân nói:
-Xem tình hình thì có vẻ bọn chúng đã có chuẩn bị, ta không nên thẳng mặt đối đầu.
Cả bọn khen phải rồi cùng nhau giục ngựa chạy vào rừng, tới sâu trong rừng ngựa của Tần Lượng sẩy chân té xuống hố chông suýt mất mạng may nhờ Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân nắm lại được nên chỉ bị thương ở chân, chỉ tội con ngựa bị rớt xuống hầm chông chết không kịp hí.
Lúc đó từ tám hướng tên lửa bắn ra đỏ một mảnh trời, những mũi tên tẩm dầu cắm vào đâu thì cháy đến đó, chỉ thoáng chốc mà Hư Trúc Lâm trở thành địa ngục thập diện hỏa thiêu. Tần Vinh xuống ngựa múa thương đỡ những mũi tên yểm trợ cho cả bọn thoái lui. Vì tên bắn ra mỗi lúc một nhiều nên tạo thành vòng lửa bao vây Tần Vinh, khói đen ngút trời làm hắn không tài nào thoát được. Tần Lượng quay lại hoảng hốt :
-Doãn đại ca hãy mặc tôi mà quay lại cứu chủ nhân, người đang gặp nguy hiểm.
Bách Tửu Hành nói:
-Lửa đã quá cao, xông vào e là cả huynh cũng bị thương, hãy cẩn thận.
Doãn Văn nhoẻn miệng cười rồi rút một mũi tiễn ra bắn vào thân cây bên cạnh nơi Tần
Vinh đang bị vây khốn, nhún nhẹ người nhảy thót lên thân cây đạp nhẹ chạm vào mũi tên làm điểm tựa rồi nhảy xuống chỗ Tần Vinh, thân thủ phi phàm của Doãn Văn khiến cho Bách Tửu Hành với Tần Lượng không khỏi trầm trồ thán phục.
Cứu được Tần Vinh ra khỏi biển lửa, cả bọn đưa nhau lên ngựa phi thẳng tìm lối ra của Hư Trúc Lâm. Thấy bọn người Doãn Văn vừa thoát hiểm, bọn quan quân nhất tề đuổi theo. Vì ngựa của triều đình không được huấn luyện tốt nên không dám chạy qua lửa, chúng hí vang rồi giật lùi lại làm bọn quan binh té nhào xuống đám lửa, một số chết cháy một số bị thương, số còn lại tiếp tục truy đuổi nhưng không còn quá hai người ngựa.
Thoát khỏi rừng Hư Trúc, Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân nói :
-Tuy không còn bóng dáng quan binh đuổi theo, nhưng qua từng đợt mai phục ta cảm thấy Cao cẩu tặc đã có chuẩn bị từ trước nên không dễ gì bỏ qua. Chắc bọn chúng đang ráo riết thực hiện đợt mai phục khác.
Phong Vũ Bôn Lang Tần Vinh tiếp lời:
-Theo ý của Tần mỗ thì chúng ta nên đổi hướng đi để bọn chúng không liệu đường nào để mai phục, ta sẽ chạy ngược về hướng Tây đến Tung Sơn để trú thân ở Thiếu Lâm Tự, đó là nơi Thái Sơn Bắc Đẩu của võ lâm nên bọn quan binh cũng phải nể phần nào, nơi thích hợp để chúng ta tạm thời lánh nạn.
Cả bọn nhất trí giục cương phi nước đại về phía Tung Sơn. Vó ngựa dấy bụi tung mùi mịt nhưng lòng quả cảm của những hảo hán thời loạn mãi không lưu mờ. Quả là:
Ngựa cất vó lao thân phi mãi
Gươm sáng loà quyết thoả chí trai
Sa trường đối mặt không ngần ngại
Trận mạc liều mình chẳng mảy may
Cuối cùng họ đã đến chân núi Tung Sơn, họ thúc ngựa phi thẳng lên núi, đoạn giữa đường bỗng nhảy ra bốn võ tăng chặn lại. Một tăng nhân chấp tay nói :
-Phật địa trang nghiêm, các vị thí chủ không thể cưỡi ngựa lên núi, xin hãy quay về bằng không bần tăng đành thất lễ.
Doãn Văn xuống ngựa thưa :
-Tại hạ cùng các huynh đệ đang bị quan quân truy đuổi, mong đại sư hãy rộng lòng tương cứu.
-Như vậy càng không được, phật môn là nơi thanh tịnh, không thể chen vào các ân oán của hồng trần, mong các vị thí chủ thông cảm, về cho.
Vị tăng nhân vừa dứt lời thì bỗng một giọng nói vang dội từ xa vọng lại:
-Cứu một mạng người còn hơn xây bảy tháp chùa, Huệ Sanh sao con lại cố chấp tuân theo tự quy một cách cứng ngắc như vậy.
Tiếng nói chưa hết âm vang thì thấy từ xa xuất hiện một đại sư mình khoác tăng y đang đạp lên những nhành cây mà lướt đến. Chỉ chớp mắt vị đại sư đó đã ở trước mặt của đám người Doãn Văn. Đó là một vì tăng nhân già, râu mày bạc phơ. Tên võ tăng cúi đầu:
-A di đà phật ! đệ tử xin nghe lời sư phụ dạy.
Doãn Văn bước đến kính cẩn thưa:
-Tại hạ là Doãn Văn xin kính chào đại sư. Nguyên là tại hạ cùng các bằng hữu đang bị quan binh truy đuổi nên mới buộc lòng lên quý tự để nương thân, mong đại sư mở lượng thông cảm.
Vị cao tăng buông một nụ cười nhẹ rồi đáp:
-Thì ra thí chủ đây là Tiểu Hậu Nghệ Doãn Văn, bần tăng là trụ trì của Thiếu Lâm, pháp hiệu là Không Trí, lão nạp đã nghe danh thí chủ từ lâu hôm nay mới có cơ duyên hạnh ngộ, tướng mạo phi phàm quả là anh hùng xuất thiếu niên.
Xong vị đại sư quay sang nói với mấy võ tăng:
-Trong thời loạn lạc hiện nay kẻ bị tù chưa chắc là người gian ác mà người chấp pháp chưa hẳn là kẻ thiện lương. Việc gì các con cũng phải nhìn nhận từ cái tâm mà ra, nguồn gốc của phật cũng xuất phát từ tâm. Nên mới nói phật là để cứu chúng sanh từ bể khổ, các con không được vì sự yên bình của tự mà phủi tay với chúng sanh khổ nạn, ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục ?
Cả bốn người nhất loạt thưa:
-Đệ tử sẽ sám hối lại cách hành thiện của mình.
Vị đại sư lại quay sang đám người Doãn Văn nói:
-Cửa phật chỉ đóng khi trên thế gian này đâu đâu cũng có phật, mời các vị thí chủ thượng sơn.
-Đa tạ đại sư
-A di đà phật !
Cả ba người Doãn Văn, Lỗ Thể Ngân cùng Tần Vinh cùng nhau xuống ngựa tiếp bước theo sau các vị tăng nhân, chỉ riêng Tần Lượng bị thương ở chân nên phải ngồi trên ngựa. Đến cửa chùa Không Trí đại sư quay lại nói :
-Phật môn là nơi thanh tịnh, vị nữ thí chủ này đi vào e là không tiện. Bổn tự có một biệt viện ở hậu sơn các vị thí chủ có thể đến đó tạm thời lánh nạn.
Đoạn bọn họ được một tăng nhân khác dẫn đi dọc theo lối hậu sơn đến biệt viện.
Họ vừa đi khỏi một lúc sau đã có toán quan binh người ngựa hùng hổ xông lên núi Thiếu Lâm, Không Trí đại sư huy động một số võ tăng trong chùa ra ngăn lại. Viên tướng chủ sự là Hàn Tuyên ngất ngưỡng trên ngựa nói to:
-Ta phụng lệnh triều đi truy bắt phản tặc, theo tin tức hồi báo ta biết được chúng đã chạy lên Thiếu Lâm. Ta chỉ muốn lên đây truy lùng phản tặc, các người biết điều thì hãy tránh ra, đừng để chạm đến binh đao.
Một võ tăng đáp lời :
-Phật môn là nơi thanh tịnh, cấm địa bất khả xâm phạm không phải chó mèo nào cũng chạy lên được huống gì là tội phạm tự ý chạy vào. Xin các ông hãy về đi.
-Thật là hỗn láo, như vậy tức là không nể mặt.
Hắn vừa nói dứt lời toan ra hiệu khai chiến thì đã thấy các tăng nhân thi triễn Thập Bát La Hán Trận. Không Trí đại sư xuất hiện từ lúc nào không hay, lão bước ra nói :
-Thiếu Lâm Tự là Thái Sơn Bắc Đẩu, cả đương kim hoàng thượng cũng phải xuống ngựa khi vào chùa, sao tướng quân lại dám động binh đao ở chốn đây. Vả lại La Hán Côn của Thiếu Lâm mấy trăm năm nay chưa từng có ai phá nổi hà tất tướng quân phải mạo hiểm để hao binh tổn tướng.
Liệu thấy đánh không chắc ăn nên Hàn Tuyên giở giọng :
-Đại sư nói cũng có lý, ta không phải là kẻ lỗ mãng nên tránh được binh đao thì cứ tránh.
-A di đà phật ! được thí chủ thấu hiểu đại nghĩa đó là phước của triều đình đại Tống.
Xong Hàn Tuyên rút binh khỏi Thiếu Lâm Sơn. Sau đó Không Trí đại sư đến biệt viện để thăm hỏi bọn Doãn Văn. Không Trí nói:
-Bọn quan quân nay đã đi, nhưng vết thương của vị thí chủ này nếu không chữa trị sẽ trở nguy, có thể là tàn phế. Trong chùa không thể sát sanh nên khó mà tìm đồ bổ bồi dưỡng cho thương thế của thí chủ. Ở chân núi có Đào Nguyên Thôn, ta có một sư đệ sống ở đó, hắn tuy là hòa thượng nhưng lại thích uống rượu ăn thịt nên pháp danh của hắn là Không Giới. Ta sẽ sai một đệ tử cùng đi, để vị thí chú này dưỡng thương ở đó.
Nói xong,cả bọn từ biệt Không Trí đại sư xuống núi tìm Không Giới để liệu thương cho Tần Lượng.
Lại nói về huynh muội họ Di cùng Âu Dương Nam Lạc, sau khi họ thoát khỏi vòng vây chạy lên Khoái Lăng Sơn nhưng cùng mang trong lòng nỗi đau tột cùng trước sự hy sinh của Hoạt Diêm La Nguyễn Tiểu Thất. Từ trên đỉnh Khoái Lăng họ trông xuống Thạch Giai Thôn chìm trong biển lửa trong lòng căm tức bội phần.
Đêm hôm ấy cả ba cùng ngồi ngoài trời tế rượu tiếc thương Nguyễn Tiểu Thất. Di Thiên Thư nói :
-Trời đã tuyệt lộ huynh muội chúng ta, nếu muốn sống thì phải mở một con đường khác, đó là ta phải phản lại triều đình.
Âu Dương Nam Lạc tiếp lời :
-Không sai, phải lật đổ triều đình thối nát, giết sạch đám gian thần làm bại hoại triều cương.
Di Thiên Huấn suy ngẫm một lúc rồi nói:
-Bản chất của một cuộc khởi nghĩa không phải kể là ai đúng ai sai, ai thối nát, ai tốt đẹp, mà phải tùy thuộc vào các yếu tố thiên thời-địa lợi-nhân hòa. Nhưng cả ba thứ đó chúng ta đều chưa có, mà trong tay chúng ta hiện giờ chỉ là một bầu nhiệt huyết với lòng căm thù, mà một cuộc khởi nghĩa mang tính tự phát do thù hận hay lợi ích thì từ xưa đến nay có mấy ai thành công đâu mà còn phải nhận lấy hậu quả đầu rơi máu chảy, hy sinh vô ích.
Nam Lạc hỏi dồn:
-Vậy chúng ta phải làm gì ?
-Trước tiên chúng ta phải tìm cách thoát khỏi đây.
-Rồi sau đó ?
-Ta phải chờ thời cơ, phải chờ một cuộc khởi nghĩa vì dân vì nước.
-Nó ở đâu ? khi nào mới xuất hiện ?
-Rồi cũng tới lúc nó sẽ đến. Loạn thế ắt xuất anh hùng, có thời thế thích hợp thì tự động sẽ có anh hùng chứ anh hùng không thể nào tạo nên thời thế. Ta phải kiên nhẫn chờ đợi.
Âu Dương Nam Lạc khen phải :
-Huynh không những võ công cao cường mà còn biết nhìn xa trông rộng, tiểu đệ thật bái phục. Bây giờ, hãy vì mối thù của Thất Thúc, vì anh hùng loạn thế của chúng ta…cạn chén !
-Cạn !
Cả ba người bàn chuyện thế cuộc đến gần sáng. Lúc tỉnh dậy Di Thiên Huấn lay nhẹ đánh thức tiểu muội, cốt là không muốn làm thức luôn Âu Dương Nam Lạc. Thiên Huấn bảo :
-Huynh muội ta thu xếp đi trước khi Âu Dương huynh tỉnh giấc.
-Tại sao chúng ta không cùng đi ?
-Chuyện phiền phức này là của chúng ta mang lại, chẳng có căn nguyên gì liên can đến huynh ấy. Đáng lẽ họ đang sống rất an lành,vì cứu chúng ta mà đã mang tai hoạ vào người. Huống hồ gì chưa chắc huynh muội ta toàn mạng mà thoát khỏi đây.
Nói rồi huynh muội dắt nhau rời khỏi, đoạn nghe giọng Âu Dương Nam Lạc quát :
-Các ngươi đã quá xem thường Âu Dương ta rồi, chẳng lẽ các người nghĩ ta đây chỉ say rượu mà nói bừa.
Thấy Âu Dương Nam Lạc phẫn tức Di Thiên Huấn phân bua:
-Chúng ta bèo nước gặp nhau mà huynh muội tại hạ đã nợ các vị quá nhiều rồi, nên…
-Đã là hảo hán trong trời đất thì việc gì phải câu nệ như đàn bà, các người không nợ gì của ta cả, riêng ta cũng có mối thù của Thất thúc chưa trả. Ta đã quyết định phiêu bạc giang hồ cùng huynh muội hai người.
-Huynh chấp nhận bỏ hết mọi thứ để cùng đi với chúng tôi sao.
Mãnh Như Long Âu Dương Nam Lạc nghe xong phá lên cười to, rồi tiến đến chòi khoai mà chỉ:
-Ý huynh là ta sẽ luyến tiếc những thứ này ư ?
Dứt lời Mãnh Như Long châm ngòi lửa đốt cháy chòi khoai, nhìn cái chòi từ từ tàn lụi trong lửa hồng mà lòng Di Thiên Huấn không khỏi cảm động dâng trào. Thiên Huấn bước tới tay rung rung nắm lấy tay của Nam Lạc, giàn giụa nước mắt, nói:
-Khí khái ngất trời của huynh trưởng làm Thiên Huấn tôi phải tự thấy hổ thẹn. Đã vậy thì từ nay huynh đệ chúng ta chảy chung dòng máu, có phước cùng hưởng có hoạ cùng chịu.
Nam Lạc cũng bóp chặt tay Di Thiên Huấn ngậm ngùi:
-Hảo huynh đệ, có được người huynh đệ sinh tử như huynh Nam Lạc tôi vạn tử bất từ.
Di Thiên Thư lên tiếng :
-Thôi, hai huynh đừng mãi lo hẹn thề sinh tử, chúng ta còn có mối thù sâu nặng của Thất thúc, đâu dễ chết như vậy được.
Nghe xong cả bọn phá cười to, toan dắt nhau xuống núi thì Nam Lạc nói :
-Đợi ta một lúc, ta vào lấy binh khí.
Một lát sau Âu Dương Nam Lạc từ trong nhà chạy ra, mang theo một chiếc hộp gỗ dài. Hắn đập mạnh chiếc hộp gãy đôi, thì ra trong đó cất giấu một thanh xà mâu. Nam Lạc cầm lên múa tít thanh xà mâu, trông uy thế thật dũng mãnh. Di Thiên Huấn trầm trồ :
-Quả là một thần binh. Có phải đây là thanh Bát Trượng Xà Mâu mà Trương Phi thời Tam Quốc đã dùng qua.
-Đúng là không có gì qua mắt được huynh, đây chính là thanh xà mâu mà năm xưa Trương Phi đã dùng trong những trận chiến.
Đoạn ba người kéo nhau men theo lối mòn xuống núi, đi được một lúc họ trông thấy loáng thoáng màu áo của quan quân từ phía dưới chân núi đang đi lên, độ chừng hai trăm tên. Cả bọn lập tức trở về nhà của Nam Lạc bàn bạc kế sách để thoát vòng vây.
Lên tới đỉnh núi Khoái Lăng, sau một hồi suy nghĩ cả bọn vẫn chưa nghĩ ra cách gì, chợt Thiên Huấn thấy bên cạnh căn nhà Nam Lạc có hai chiếc xe gỗ và những khạp to, bèn nảy ra một ý:
-Âu Dương huynh trong nhà có còn rượu không ?
Di Thiên Thư cau mày:
-Giờ này mà huynh vẫn còn có tâm trí uống rượu sao ?
Âu Dương Nam Lạc đáp :
-Trong kho nhà ta vẫn còn mấy vò lớn ta mua để dành, Nhưng mà để làm gì ?
-Được rồi hay lắm, ta sẽ chơi một trò vui với bọn chúng. Phiền huynh hãy khiêng những vò rượu đó ra đây.
Một lúc Nam Lạc bê ra mấy vò rượu ra, Thiên Huấn cho đổ hết mấy vò rượu vào một cái khạp bằng gốm, sau đó lấy vải thô đậy lại miệng khạp cột chặt rồi để lên chiếc xe bằng gỗ, nịch dây chặt lại để tránh ngã. Xong Di Thiên Huấn lại chỉ qua đống rơm gần đó mà bảo với tiểu muội:
-Muội hãy lấy vài bó rơm để làm ba hình nhân cho huynh.
Thiên Thư thắc mắc :
-Lúc thì rượu, lúc thì rơm thật ra huynh muốn làm gì ?
-Đừng hỏi nhiều huynh sẽ giải thích sau, không còn thời gian nữa. Hãy đi làm mau.
Thiên Thư vội chạy sang đống rơm mà kết hình nhân mặc dù trong bụng vẫn chưa hiểu ý của đại ca. Di Thiên Huấn lại quay sang nhờ Nam Lạc đi tìm hai sợi dây thừng. Sau đó một mình chạy vào nhà như tìm kiếm thứ gì đó.
Không lâu sau Di Thiên Huấn bê ra hai thùng giấm và mỡ heo, vài bộ quần áo, một cây nến. Hắn kéo thêm một chiếc xe gỗ khác và đặt lên một chiếc khạp bằng gỗ, Thiên Huấn trộn hai thùng mỡ và giấm lại với nhau, sau đó tưới lên khắp trên thân xe và khạp gỗ.
Cùng lúc đó Di Thiên Thư cũng mang qua cái hình nhân vừa với làm, hắn bảo Di Thiên Thư mặc quần áo vào cho ba hình nhân bằng rơm rồi đặt vào trong khạp gỗ. Tiếp đó Nam Lạc mang đến hai sợi dây thừng, hắn đem một sợi đi nhúng nước cho thật ướt. Sau đó cùng đẩy hai chiếc xe đến đoạn dốc đi thẳng xuống chân núi, Di Thiên Huấn lấy sợi dây thừng buộc chặt một đầu vào chiếc xe chở khạp rượu, hắn lại dùng sợi dây ướt buộc một đầu vào chiếc xe chở khạp gỗ có ba hình nhân, cả hai đầu dây đều buộc vào gốc cây tùng.
Đoạn hắn đốt ngọn nến đặt vào gốc cây tùng vừa tầm đủ để đốt cháy hai sợi dây. Bố trí xong hắn dẫn Di Thiên Thư cùng Âu Dương Nam Lạc chạy ra phía sườn núi để chờ động tịnh. Một lúc sau dây thừng của chiếc xe khạp rượu bị đốt cháy, làm nó từ từ chạy xuống theo con dốc, bọn quan binh từ xa thấy chiếc xe gỗ ,nghĩ là bọn tội phạm đang ngồi trên xe, liền cho cung thủ giăng hàng ngang chuẩn bị hoả công, chiếc xe lao đến gần thì bọn chúng nhất loạt bắn hoả tên vào, khạp rượu bị va chạm mạnh vỡ tung xối xả, liền bốc cháy phừng phừng đốt chết gần một nửa đạo quân của chúng. Nghe có động tĩnh từ bên lối chính đạo nên tất cả quân lực đều đổ dồn về một nơi bỏ vị trí canh gác ban đầu. Lúc này là thời cơ để bọn huynh muội họ Di cùng Âu Dương Nam Lạc tẩu thoát theo đường sườn núi.
Chúng chưa kịp hoàn hồn thì sợi dây buộc chiếc xe chở khạp gỗ cũng đã đứt ra, nó từ từ lao xuống con dốc, thêm phần sức gió làm nó lao càng nhanh hơn, bọn chúng trông thấy chiếc xe liền kinh hồn hoảng vía, vội nấp vào hai bên lề đường, chiếc xe đến gần thấy loáng thoáng có ba dáng người ngồi trong khạp, tên chỉ huy ra lệnh bắn hoả tiễn vào chiếc xe, nhưng nó không tài nào bốc cháy, chiếc xe dần dần thoát khỏi tầm công kích của bọn quan binh. Quyết không để kẻ thù tẩu thoát, chúng nhất tề đuổi theo. Chiếc xe chạy đến khúc quanh va vào tảng đá làm cái khạp văng xuống vỡ tan, thấy toàn là hình nhân bằng rơm biết là trúng kế, tên chỉ huy giận sôi gan ra lệnh ráo riết lên núi truy kích tội nhân. Chúng ồ ạt tiến quân lên núi, giữa chừng nhìn xuống thì thấy bọn Di Thiên Huấn đã xuống trốn thoát theo sườn núi. Tên quan chỉ huy phẫn tiết hộc máu ngay tại chỗ. Liền bắn tín hiệu báo động để nha huyện phát động cuộc truy kích khác…
---
Với tài trí mưu lược của Di Thiên Huấn đã làm cho đám quan binh phách lạc hồn siêu. Liệu lần sau họ có thoát khỏi cuộc vây bắt của bọn quan binh hay không ? Mời quý vị đoán xem hồi sau của Tân Thuỷ Hử…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
13-08-2009, 01:38 PM
Hồi Thứ 7
Chùa Lục Hoà Võ Tòng tao ngộ
Vượt tam ải Bách Tửu chôn cha
Bọn huynh muội họ Di cùng Âu Dương Nam Lạc nhờ cơ trí đã thoát được cuộc truy quét của quan quân. Bọn họ chạy theo đường rừng hồi lâu tìm được lối mòn. Chạy thêm một đoạn họ trông thấy quan binh đang đi đến cả ba liền trầm mình xuống đầm nước, họ lặn qua bờ bên kia rồi an toàn tẩu thoát.
Họ chạy đến Hàng Châu. Tuy đã thoát khỏi lưới vây bổ của triều đình nhưng cáo thị đã dán truy nã khắp nơi, Di Thiên Huấn nói:
-Đây là một huyện thành xa xôi mà đã có cáo thị thì chắc lệnh truy nã chúng ta đã loan đi khắp ngũ hồ tứ hải. Chỉ có một nơi duy nhất mà chúng ta có thể nương náu.
Di Thiên Thư hỏi ngay :
-Đó là nơi đâu vậy huynh ?
-Lục Hoà Tự.
Âu Dương Nam Lạc hỏi:
-Lục Hoà Tự mà anh hùng đả hổ Võ Tòng đang tu ở đó phải không ?
-Đúng vậy, hiện giờ đó là nơi duy nhất để chúng ta nương nhờ.
Cả bọn nhất trí rồi dắt nhau lên Chùa Lục Hoà, đến nơi thì đã quá trưa, phong cảnh trang nghiêm hùng vĩ của ngôi chùa làm họ tự nhiên cảm thấy lòng mình được nhẹ nhàng thanh thản.
Gặp một chú tiểu đang quét sân, chú tiểu liền bỏ chổi xuống chạy đến cúi chào:
-Xin hỏi các vị thí chủ nâng gót đến bổn tự có điều gì chỉ giáo ?
Di Thiên Huấn cúi đầu chào :
-Chúng tôi có chuyện muốn thưa cùng Võ Tòng đại sư.
-Đó là tên tục của trụ trì chúng tôi, nay trụ trì có pháp danh là Cầu Thực Đạt Ma được triều đình gia phong Thanh Trung Tổ Sư. Các vị thí chủ xin mời.
Nói rồi chú tiểu dẫn cả ba người đi vào chùa. Đến chính điện có một vị thiền sư đang tọa tĩnh và cũng chính là Võ Tòng trong hảo hán Lương Sơn, chú tiểu khẽ thưa :
-Thưa trụ trì, có vài thí chủ muốn thưa chuyện cùng trụ trì.
Vị thiền sư cất giọng:
-Ta đã biết, con hãy mời họ vào.
Bọn Di Thiên Huấn bước vào bái phỏng vị thiền sư. Lão quay lại cúi chào. Âu Dương Nam Lạc nói :
-Bọn chúng tôi bị triều đình vây bắt nên buộc lòng dấn thân chốn này nhiễu phiền quý tự, mong trụ trì thu nhận.
-Vụ việc của các thí chủ ta có nghe phong phanh. Tuy ta đã thanh y nơi cõi phật nhưng bình sinh vẫn rất trọng các hảo hán không sợ cường quyền, can đảm tương chiếu. Thôi thì cứ tạm lánh thân nơi này nếu không chê cơm rau đạm bạc.
-Đa tạ trụ trì. Quả không hổ danh hảo hán một thời. Hào khí của người vẫn còn thấy rõ sau lớp tăng y.
-Các người cũng biết ta là ai sao ?
Di Thiên Huấn không đợi Nam Lạc nói tiếp, liền ngâm to một bài thơ:
Ba chén không qua Cảnh Dương Cương
Hảo hán mười tám chén lên đường
Thiết thủ tung chiêu hùm vong mạng
Nức tiếng anh hùng khắp muôn phương
Võ Tòng nghe xong thì đã rõ đều là anh hùng với nhau cả liền phá cười to:
-Bao nhiêu năm nay ta dấn thân nơi thiền tự lạt lẽo qua ngày, hôm nay có dịp tương phùng cùng các vị ngẫm cũng là có cơ duyên. Nào, chúng ta ra hậu viên để cùng đàm đạo.
Hàng Châu đã đẹp mê hồn mà phong cảnh thanh tao kỳ vĩ ở hậu viên Lục Hoà Tự lại càng khiến người ta khi đã đến thì không muốn dời bước đi khỏi. Dọc theo bờ tường có những hàng trúc ngạo nghễ đong đưa trong gió. Bên ngoài hậu viên được bao bọc bởi dãy Hắc Kỳ Sơn quanh năm ẩn ẩn hiện hiện dưới làn sương mù. Giữa hậu viên có một hồ nuôi rùa gọi là Ô Quy hồ. Dưới đáy có một tảng Dạ Bích Bảo Thạch ngang bảy trượng, dài mười lăm trượng, nặng hơn một ngàn ba trăm cân. Tảng bảo thạch gần như bao phủ toàn bộ đáy hồ. Mỗi khi mặt trời đứng bóng chiếu rọi xuống đáy hồ, tảng bảo thạch lại phản chiếu lung linh lên mặt hồ sắc màu huyền ảo tưởng như là Lục Hòa Tự đang được phật quang phổ chiếu.
Bọn huynh muội họ Di ngồi bên đình cạnh hồ mà không ngừng khen ngợi, Di Thiên Thư nói:
-Nơi đây non xanh nước biếc như là bồng lai tiên cảnh, Võ Tòng đại sư chọn việc thiền tịnh nơi đây quả là không phải vô căn.
Di Thiên Huấn đỡ lời:
-Muội chớ nên xàm ngôn mà mang tội, Đại sư đây chán chê cõi trần mới một lòng quy phật chứ có phải vì cảnh thú mê người như muội nghĩ đâu.
Võ Tòng cười xong lại thở dài :
-Ta ngày xưa cũng ngang dọc một thời. Cho tới khi đánh Phương Lạc bị đứt một cánh tay, Võ Tòng ta đây tự thấy thế tục bon chen đã không còn là nơi dung thân của mình nữa. May nhờ cửa Phật bao la mà cho ta một chỗ nương nhờ cho hết kiếp. Các người dự tính sau này ra sao ?
Âu Dương Nam Lạc nói :
-Hiện nay triều đình nhà Tống hủ bại thối nát, thiên tử sa đọa gian đảng lộng quyền, bỏ mặc bá tánh đói khổ than oán khắp nơi. Chúng tôi lại chẳng còn đường quay về thôi thì quyết định tìm thời cơ mà lật đổ triều đình thỉnh cứu muôn dân.
Di Thiên Huấn đồng tình :
-Lời của Âu Dương huynh cũng là lời tận đáy lòng của tiểu đệ. Chỉ có nổi dậy chống lại triều đình mới có thể thoát khỏi ách thống trị hủ bại đương thời.
Võ Tòng nói :
-Cũng hiếm thấy các vị có chí lớn, nhưng chỉ với sức của ba người e là..
-Với sức huynh muội chúng tôi cùng Âu Dương huynh thì khác nào châu chấu đá xe, nên định ở lại quý tự chờ một vị minh chủ tài đức mà phò, để cùng mưu nghiệp lớn.
-Các ngươi biết nghĩ vậy là tốt, phải suy tính cho chu toàn nếu không khéo hoạ hổ không thành mà còn ô danh thiên cổ. Thôi cứ nương náu nơi này mà chờ thời.
Nghe Võ Tòng nói xong, Di Thiên Huấn liền bước ra cúi đầu chắp tay thưa:
-Tiểu bối đã mộ danh Võ Tòng đại sư từ lâu, nay hữu duyên tao ngộ mới thoả lòng mong ước. Tiểu bối được biết đại sư thân hoài tuyệt kỹ võ nghệ siêu phàm, nhất là bộ Ngũ Lang Bát Quái Côn oai trấn giang hồ, trùng hợp tiểu bối cũng dùng côn nên một lòng muốn bái sư để được lĩnh hội võ công của đại sư.
Võ Tòng gật đầu cười:
-Ta xưa nay không phải là người câu nệ tiểu tiết lễ nghi, nhưng ta là người xuất gia chỉ nhận đồ đệ là tăng chúng, thôi thì ta nhận ngươi làm đệ tử tục gia chỉ truyền võ nghệ không bắt ngươi phải xuất gia cạo đầu.
Di Thiên Huấn quỳ xuống dâng trà làm lễ bái sư, mọi người ai nấy đều vui vẻ.
Sáng hôm sau Võ Tòng bắt đầu truyền dạy côn pháp cho Di Thiên Huấn, Võ Tòng nói :
-Ta đọc khẩu quyết và đánh thử một lần, lĩnh hội được bao nhiêu thì tuỳ vào khả năng của ngươi.
Nói rồi Võ Tòng cắp côn nhảy ra giữa sân vừa thi triển côn pháp vừa giảng khẩu huyết:
“Chấp thủ dâng bổng, lưỡng xà khai môn
Long du điền hải, điểu thủy đăng thiên
Đơn toạ phục hổ, thủ phủ yến tâm
Bát quái đồng thần, lưỡng kê linh thủ
Vạn phụng như hoa, bát phương loạn xạ
Điểu trá yên phi, thạch nhân xuất thế
Tứ Tướng hồi môn, lão tôn loạn đả
Triều bàn bát quái, độc giác chiến xa
Bạch xà lâm trận, đơn phụng triều dương
Kim thương trá thủ, phi xa yên thạch
Hoành sơn mạng nhện, thần ngư vũ thủy
Trung hải nhất trụ, lão hổ vồ mồi
Song thủ đả bồi, phi bàn long cước”
Đi hết thức Võ Tòng phóng gậy tới, Thiên Huấn nhảy lên chụp lấy tập theo côn pháp mà Võ Tòng vừa thi triển. Cứ như vậy ngày qua ngày Di Thiên Huấn miệt mài cùng sư phụ khổ luyện côn pháp, Di Thiên Thư cùng Nam Lạc cũng ở lại chùa một thời gian dài...
---
Đang nói lại chuyện của bọn người Doãn Văn sau khi tìm đến chỗ của Không Giới sư phụ để liệu thương cho Tần Lượng. Sau hai tuần trăng điều thương ở Đào Nguyên Thôn, thương thế của Tần Lượng đã dần khỏi. Đó cũng là lúc bọn họ sắp phải rời nơi thôn dã yên bình, lại phải đương đầu với thế cuộc loạn lạc.
Ánh trăng vằng vặc của đêm nay làm Doãn Văn thấy khó ngủ. Bỗng nhiên tiếng sáo lúc khoan lúc nhặt, khi bổng khi trầm, du dương sầu não vang lên trong đêm vắng, đầy huyền bí và cuốn hút. Doãn Văn lần theo tiếng sáo đi đến bờ hồ cạnh Đào Nguyên Thôn, thì ra người đang thổi sáo là Lỗ Thể Ngân. Hắn vô tình giẫm phải một cành cây khẽ tạo ra tiếng động, Lỗ Thể Ngân ngừng thổi, quay lại hỏi:
-Là Doãn đại ca đấy à ? Tiếng sáo của muội làm huynh thức giấc chăng ?
-Phải! Là ta, ta phải xin lỗi mới đúng vì đã làm muội cụt hứng. Biết muội bấy lâu mà chưa từng nghe tiếng sáo của muội. Hôm nay có diễm phúc nghe quả là thánh thót mê hồn.
-Chỉ là chút tài mọn, Doãn huynh đã chê cười rồi. Chẳng qua là không ngủ được lại thêm phần nhớ gia phụ nên ra đây dạo một khúc giải buồn mà thôi.
-Ta đây cũng không ngủ được, có lẽ...
Bỗng Tần Vinh cũng vừa đi tới:
-Ta ngủ không được định ra ngoài này dạo một lúc, không ngờ gặp hai vị nơi đây.
Doãn Văn nói:
-Nếu đã trùng hợp như thế thì đêm nay chúng ta phải uống rượu ngắm trăng mới thỏa.
-Nếu Doãn huynh đệ đã có nhã hứng như vậy, thì cung kính chi bằng tuân mệnh. Để ta về rủ thêm Tần Lượng
Nói rồi cả ba cùng quay về bày biện chè chén, đoạn Doãn Văn nói :
-Thương thế của Tần Lượng huynh đệ nay đã hồi phục, chúng ta cũng nên suy tính cho bước đi kế tiếp.
Bách Tửu Hành nói:
-Bốn người chúng ta kẻ cướp nhà lao, người sát toàn gia, lại cướp pháp trường… tội nào cũng là tội tử cả. Chúng ta đã không còn đường quay lại. Thôi thì ta quyết định nổi dậy phản lại Tống triều.
Tần Vinh nói:
-Tần mỗ cũng có ý như là Lỗ cô nương vậy. Ta tự hỏi luôn tận trung chức vụ, không lơ là hỏng việc nhưng triều đình lại phụ ta. Bè lũ gian đảng lại ép ta đến con đường tạo phản, thì ta còn gì để tận trung nữa.
Doãn Văn nhấp một hớp rượu rồi nói:
-Triều cương lũng bại, gian thần đương đạo đã không còn thể cứu vãn. Chúng ta phải khởi nghĩa, nhưng chúng ta cần hai yếu tố quan trọng…
Tần Vinh hỏi ngay :
-Đó là yếu tố gì ?
-Đó là thanh thế và tài lực.
Bách Tửu Hành ngẫm một lúc rồi đáp:
-Thanh thế thì dựa vào tiếng tăm của Tần tướng quân là đã có một sức ảnh hưởng to lớn rồi. Còn chuyện tài lực thì hãy để cho muội lo, tuy không dám nói gia tài trăm vạn nhưng tài sản gia phụ bao năm tích góp lại thêm số kim ngân cướp được trong thời gian qua cũng đủ để ta nuôi binh dưỡng mã trong một thời gian.
-Phải rồi ! Tần mỗ tuy chỉ là tên võ phu nhưng bấy lâu nay luôn coi trọng việc đối nhân xử thế nên nếu tôi đứng ta kêu gọi thì chắc sẽ không ít người hưởng ứng.
Doãn Văn nói:
-Nếu cả hai thứ đều được như muội nói thì con đường khởi nghĩa của chúng ta xem như có hy vọng.
-Vậy Doãn đại ca đã dự tính lấy nơi nào làm cứ địa của chúng ta chưa ?
-Tám trăm dặm Thuỷ Bạc Lương Sơn là nơi nhân kiệt địa linh, thích hợp cho chúng ta vùng vẫy.
Tần Vinh thắc mắc:
-Vì sao Doãn huynh lại chọn Lương Sơn Bạc làm cứ địa.
-Nơi đó chúng ta có ba điều lợi. Thứ nhất anh hùng Lương Sơn Bạc là hình ảnh tôn thờ trong lòng lão bá tánh, ta dựng cờ lấy danh nghĩa Lương Sơn Bạc thì cũng như chiếu theo nguyện vọng của muôn dân, xem như ta đã chiếm được một nửa thiên hạ.
-Còn thứ hai ?
-Thứ hai là Lương Sơn địa thế hiểm trở, xung quanh có đầm hồ bao bọc, dễ thủ khó công. Nếu quân triều đình tấn công trong lúc thế lực còn yếu thì chúng ta không phải lo sợ nhiều.
-Vậy thứ ba là gì ?
-Thứ ba là Lương Sơn cách Đông Kinh không xa lắm, nhìn chung quân lực hiện nay của triều đình cho thấy ta chỉ cần chiếm vài thành trì quan trọng xung quanh rồi cô lập Biện Kinh thì xem như đã bình định được thế cuộc.
Tần Vinh đứng dậy chắp tay nói :
-Doãn huynh quả là có dũng có mưu, tài trí hơn người, chỉ lời lẽ này của huynh thật có thể sánh với bá vạn hùng sư, Tần mỗ thật lấy làm khâm phục. Xin nguyện đem thân này theo gót Doãn huynh mà mưu nghiệp lớn.
Lỗ Thể Ngân đứng dậy cung kính :
-Lỗ Thể Ngân này cũng tận sức giúp Doãn huynh hoàn thành bá nghiệp.
Doãn Văn cũng đứng lên chấp tay bái:
-Doãn Văn tôi không tài không đức nay lại được các vị tin tưởng thì dù có thịt nát xương tan cũng quyết diệt trừ bạo chính thỉnh cứu vạn dân trong bể khổ.
Tần Lượng cũng đứng dậy thưa:
-Tôi không biết đại sự gì, thiên hạ gì. Tôi chỉ có một cái mạng, một trường kiếm. Thề đi theo chủ nhân cùng nhị vị để vào sinh ra tử.
Cả bốn người cảm động cầm lấy tay nhau lừng chừng lệ ứa, lại nâng chén mời nhau hết tĩnh này đến tĩnh khác tới gần sáng mới thôi.
Vài hôm sau, bọn họ chia tay mạnh ai nấy lên đường theo kế hoạch đã định.Lỗ Thể Ngân cùng Doãn Văn đi về Tửu gia trang ở Sơn Đông thăm hỏi phụ thân của cô là Lỗ Tam - Lỗ Tửu Vương sẵn bàn việc chiêu binh mãi mã. Còn chủ tớ Tần Vinh đi đến Lư Sơn tìm sư phụ là Bạch Mi Lão Nhân để xin phương sách khởi binh.
Sau mấy ngày đường ròng rã, Tần Vinh thuận lợi đi đến Lư Sơn để bái ân sư mà không gặp phải bất kì toán quan binh nào truy đuổi. Lư Sơn là một dãy thiên sơn hùng vĩ với gần một trăm ngọn núi lớn nhỏ, bên cạnh là sông Khúc Giang êm ả uốn quanh. Có người họa Lư Sơn rằng :
Lư sơn yên tỏa Khúc Giang triều
Vị đáo bình sinh hận bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô biệt vị
Lư sơn yên tỏa Khúc Giang triều
Sau gần mười năm biền biệt, hai sư đồ gặp lại nhau xúc động vui mừng khôn tả. Tuy vậy Tần Vinh vẫn thi lễ tỏ lòng hiếu kính với sư phụ như ngày nào mới xuất sư. Từ ngoài cửa thiền viện Tần Vinh đã ba quỳ chín lạy để đến nơi toạ thiền của Bạch Mi Lão Nhân. Tần Lượng thấy vậy cũng hấp tấp quỳ quỳ lạy lạy theo chủ. Thấy đồ đệ vẫn hiếu kính mình, Bạch Mi Lão Nhân cũng rất lấy làm an ủi :
-Là Vinh nhi đấy à ? Con xuống núi gần mười năm rồi mà chưa lần nào về đây thăm ta, hôm nay đến đây có việc gì.
Tần Vinh ứa nước mắt mà thưa :
-Thưa sư phụ, đệ tử bất hiếu. Sau khi hạ sơn vì công vụ bận rộn, lại bị danh vọng làm ngu muội nên…
-Thôi nào! Chuyện của con ta đã biết hết, ta chỉ đùa với con thôi. Nào hãy đứng lên.
Bạch Mi Lão Nhân hai tay nhẹ nhàng đỡ lấy đồ đệ buông một nụ cười tươi mà bấy lâu nay lão cất giấu. Thấy bên cạnh có người lạ, Bạch Mi chỉ Tần Lượng mà hỏi :
-Vị tiểu huynh đệ này là…?
-Đây là người thân tín cũng là huynh đệ xuất sinh nhập tử của đồ đệ.
Tần Lượng chấp tay cúi lạy:
-Tiểu bối Tần Lượng bái kiến Bạch Mi tiền bối.
Bạch Mi Lão Nhân gật đầu một cái rồi cùng Tần Vinh ra hậu viện trò chuyện đến khi trăng lên.
Từ khi Tần Vinh đăng sơn, ngày ngày hai thầy trò cùng đàm đạo với nhau thao thao bất tuyệt. Tính đến nay cũng hơn một tuần trăng. Một hôm Bạch Mi Lão Nhân kêu Tần Vinh lại nói:
-Bây giờ chắc là lúc thích hợp, con hãy đi theo ta.
Nói xong Lão quay lưng đi Tần Vinh cũng tiếp bước theo sau. Lão Nhân dắt Tần Vinh đi ra khỏi thiền viện, đi thẳng lên núi. Đoạn đến Tàng Liên động Tần Vinh dừng lại ở ngay cửa không dám bước đi tiếp bèn quay sang nhìn sư phụ. Sở dĩ Tần Vinh không dám đi vào là vì Tàng Liên động là nơi cấm địa mà ngoài Bạch Mi Lão Nhân ra không một ai được phép bước vào. Bạch Mi Lão Nhân nói:
-Con cứ đi vào với ta, không sao cả. Trước đây ta cấm các con không được phép bước vào đây là vì chưa đến thời cơ thích hợp.
-Sư phụ nhắc con mới nhớ, sao con đã về bấy lâu mà mãi vẫn không thấy Điền Khang sư đệ ?
-Đây cũng là chuyện ta sắp nói với con, hãy theo ta vào trong.
Nghe xong Tần Vinh cũng vững dạ bước vào. Càng vào sâu, trong động càng lạnh và tối. Họ đi một lúc đã đến tận cùng của hang động, Bạch Mi Lão Nhân xoay nhẹ hòn đá sát bên vách động, lập tức bức tường đá lởm chởm chuyển động quay xuôi lại. Thì ra ở tận cùng của hang động có một mật thất. Tần Vinh theo sư phụ bước vào gian mật thất.
Bên trong là một căn phòng rộng lớn tối tăm, nguồn sáng duy nhất trong căn phòng là khe nứt nhỏ thông với bên ngoài. Bạch Mi Lão Nhân mồi lên hai ngọn đuốc ở hai bên vách làm căn phòng sáng bừng lên. Trên vách là những bức tranh điêu khắc phong cảnh sơn thuỷ của Lư Sơn cực kỳ tinh xảo. Nét vẽ của những bức tranh là do một loại binh khí có mũi nhọn như là thương khắc lên. Mỗi một nét đều đủ lực, không cạn không sâu. Hẳn người hoạ ra nó phải là hàng cao thủ thượng thừa. Hai bên tả hữu là hai cái quan tài bằng đá hổ phách. Bạch Mi Lão Nhân chỉ vào cái quan tài bên phải mà nói :
-Người nằm trong này là sư phụ ta – Thôi Dược Như, tức là sư tổ của con. Còn nằm bên trái là sư thúc của ta là Bách Hiểu Thiên. Cả hai người đều tự sáng tác cho mình một bộ võ công riêng. Sư phụ của ta là cao thủ dùng thương, người đã tự rèn một cho mình một cây Xuyên Vân Hồi Phong Thương. Sư tổ của con đã tự sáng lập ra một loại võ công gọi là Xuyên Vân Thương Pháp. Còn sư thúc của ta tức là sư thúc tổ của con lại là một cao thủ dùng trường đao, vũ khí ông dùng là thanh Vô Ảnh Lạc Nhật Đao đồng thời cũng tự sáng lập ra một loại đao pháp gọi là Vô Ảnh Đao. Sư tổ và sư thúc tổ của con vì say mê võ học mà ẩn cư nơi sơn dã này mong tham thấu được hết tinh hoa của võ học. Cả hai đều là người say mê võ học và họ là những cao thủ tiếng tăm. Trên giang hồ có câu là “Trước Thương Xuyên Vân vô tuyệt học, dưới Đao Vô Ảnh bất cơ sinh”.
-Vậy thương pháp mà sư phụ truyền thụ cho con có phải là Xuyên Vân Thương Pháp do sư tổ đã sáng lập không ?
-Thương pháp của con chỉ là một phần trong đó, nhưng chỉ bấy nhiêu con đã đủ xưng danh trên giang hồ, giang hồ đã mấy ai đánh bại được con đâu. Nếu tham thấu hết võ công trong thương phổ thì có thể nói là thiên tuyệt địa diệt, nhưng ta đã bỏ tâm huyết mấy mươi năm vẫn không thể lĩnh hội hết toàn bộ chiêu thức của thương pháp này. Nên ta mới truyền thương pháp cho con, dạy đao pháp cho Khang nhi, mong là hai con dùng tài trí của mình để lĩnh hội sự uyên thâm của tổ sư, nhưng…
Bạch Mi Lão Nhân lại thở dài, chỉ tay lên vách đá trước quan tài của Bách Hiểu Thiên sư thúc, nơi đó có một cái hộc khoét sâu trong vách. Lão nói:
-Cách đây hai năm Khang sư đệ của con lén ta chạy vào hang động và đã phát hiện ra mật thất này, nó còn phát hiện ra nơi đó có cất giấu thanh Vô Ảnh Lạc Nhật Đao cùng đao phổ của sư thúc Bách Hiểu Thiên. Sau đó nó đã lấy đi cả hai món rồi âm thầm hạ sơn.
-Vậy còn cây Xuyên Vân Hồi Phong Thương của sư tổ ?
Bạch Mi tung một chưởng về phía bức tường làm phần bộng ngay cái hộc cất Xuyên Vân Hồi Phong Thương bị phá ra. Cây thương vẫn nằm yên trong đó cùng cuốn thương phổ.
Xuyên Vân Hồi Phong Thương có một luồng chánh khí bao quanh. Chế tạo bằng Huyền băng thiết ở Đông Hải, toàn thân toát lên ánh sáng băng lam. Cán thương dài một trượng, mũi thương dài bảy tấc. Cán thương màu bạc có khắc những làn vân ngũ sắc làm cả cây thương như xuyên qua đám mây, đầu kia của cán là một mũi nhọn hình chóp. Mũi thương màu huyết kim, màu thương và màu máu của địch hoà thành một thể. Phần trước mũi thương sắc nhọn vô cùng có thể xuyên y phá giáp, phần sau mũi thương phân làm 3 nhánh như ngọn lửa bùng cháy, trên mỗi nhánh có khảm một viên lam tinh thạch, trong đêm tối có thể phát ra ánh sáng làm chói mắt đối phương. Những sợi tua chỉ ở ngù thương được làm bằng tơ thiên tầm ở Tây Vực mềm mại bền chắc, đặc biệt là không thấm máu.
Tần Vinh đứng ngay người chiêm ngưỡng thanh thần binh, đoạn Tần Vinh lại hỏi:
-Thưa sư phụ, Điền sư đệ nếu đã tìm ra đao chẳng lẽ lại không tìm tiếp thương ?
-Ta rất hiểu tính của Điền Khang, nó không phải tìm không ra mà là không muốn tìm.
Tần Vinh thắc mắc :
-Không muốn tìm ? Đệ tử ngu muội xin sư phụ giải thông.
-Nó muốn để lại thương và bí phổ cho con,để sau này có dịp cùng con so tài hơn kém.
-Sao sư đệ phải làm như vậy ?
Bạch Mi vuốt vuốt chòm râu rồi lại thở dài :
-Con không nhớ là từ nhỏ mỗi khi sư phụ giải thích về tinh tuý của đao và thương, thì sư đệ con một mực giữ ý niệm đao nhất định thắng thương trong khi lời sư tổ con trước lúc lâm chung là thương sẽ khắc chế đao. Sự đệ con tính tình hiếu thắng lại hay đố kỵ nên từ lần con đánh bại nó trước khi hạ sơn thì ý định phân tranh của nó càng mãnh liệt, tâm ma của nó ngày càng trỗi dậy, thật là…
Bạch Mi lại lắc đầu thở dài, Tần Vinh vỗ về :
-Sư phụ đừng quá đau buồn, con sẽ sớm ngày tìm sư đệ về để nhận tội trước mặt sư phụ.
-Điều này rất khó, vì bản chất của Điền Khang khi bị kiềm cặp ở nơi sơn dã này thì chưa bộc lộ ra, nhưng khi đã bước ra thế giới bên ngoài thì như chim sổ lồng, khó mà bắt lại được.
Nói rồi Lão bước đến hay tay lấy cây thương ra rồi bảo Tần Vinh quỳ xuống:
-Vinh nhi ! Bây giờ ta trao cho con cây Xuyên Vân Hồi Phong Thương tổ truyền cùng với thương phổ. Mong con sớm ngày luyện thành để làm rạng danh sư tổ và mau truy tìm sự đệ Điền Khang về chịu thọ hình.
Tần Vinh giơ hay tay ngang đầu nhận thương từ tay sư phụ rồi kính cẩn lạy. Bạch Mi đỡ đồ đệ đứng dậy rồi chỉ lên bức họa hai người đàn ông ngay bên trên hai cái hộc, bảo rằng :
-Con hãy cố gắng lĩnh hội sự tinh tuý của thương pháp qua bức tranh này.
Hai người trong bức tranh nhìn sơ Tần Vinh cũng đoán ra họ là sư tổ Thôi Dược Như và sư thúc tổ Bách Hiểu Thiên của mình. Người đàn ông bên trái bức tranh tay cầm thanh đao chống ngược xuống, một chân khụy xuống đất, dường như là người thua cuộc. Còn người bên phải bức tranh thì đứng vui vẻ ung dung trên tay còn có đậu một con chim sẻ, nhưng cây thương dưới chân người phần mũi thương đã gãy lìa với phần cán thương. Theo lý tranh võ thì vũ khí ai gãy trước bị tính là thua cuộc. Nhưng bức tranh này quả là có chút khó hiểu. Ai là người chiến thắng, thật khó đoán?
Tần Vinh sau một hồi chiêm ngưỡng bức hoạ liền không ngừng thắc mắc :
-Thưa sư phụ tại sao sư tổ và sư thúc tổ trong tranh đều giống người thua cuộc ? Sư thúc tổ đã đánh gãy thương của sư tổ nhưng cũng bị thương, vậy thì cũng có thể tính là sư thúc tổ thắng. Vậy tại sao sư tổ lại nói thương nhất định khắc đao ? Hay là sư tổ lúc đó giả thua nhường sư thúc tổ ? Đệ tử ngu muội xin sư phụ chỉ điểm.
Bạch Mi Lão Nhân cười to:
-Nếu ta có thể trả lời được thì bấy nhiêu năm nay ta đâu có phải đau đầu, sư tổ con trước khi lâm chung chỉ bảo là huyền cơ ở trong bức tranh và khẳng định thương khắc chế được đao chứ không nói ra tuyệt thức đó. Đây là dịp để cho con tự mình lĩnh ngộ Xuyên Vân Thương Pháp. Con hãy ở lại đây tập luyện khi nào thành công hãy về thiền quán gặp ta.
Nói rồi Bạch Mi Lão Nhân quay lưng bước đi, bỏ lại Tần Vinh một mình tham thấu về bức tranh. Từ hôm đó Tần Vinh ở lại trên núi luyện võ, ngày thì luyện chiêu thức ở rừng cây tối đến lại học tâm pháp ở trong động. Ăn thì mỗi ngày đều có Tần Lượng mang cơm đến, tắm thì có sẵn dòng suối thượng nguồn gần hang động. Không lo không nghĩ Tần Vinh ở lại trên núi chuyên tâm luyện thương pháp.
Lúc này lại nói về Doãn Văn cùng Lỗ Thể Ngân đang trên đường về Sơn Đông. Một hôm đến Ô Diên Trấn, thấy đám đông nhộn nhịp đang xúm xít trước bảng thông cáo. Doãn Văn kéo Lỗ Thể Ngân đến xem, đó là bảng thông cáo tuyên trảm Lỗ Tam-Lỗ Tửu Vương ở Sơn Đông về tội chủ mưu lập hội cướp của giết người, ba ngày sau sẽ giải về Vạn Thành để xử tử. Bách Tửu Hành kinh hãi không tin vào mắt mình. Cả hai gấp rút phi ngựa ngày đêm về Vạn Thành cứu Lỗ Tửu Vương.
Từ Ô Diên Trấn về đến Vạn Thành bằng sức ngựa phải mất ít nhất là ba ngày đường, phải qua tất thảy ba quan ải lớn nhỏ là Huyền Vũ Quan, Dạ Yên Quan và Bạch Hổ Quan. Cả ba ải đều có lính canh ngày đêm lại thêm họ đang bị tầm nã khắp nơi nên việc vượt ải càng khó hơn lên trời.
Chạy ròng rã một ngày một đêm họ đã đến Huyền Vũ Quan, nơi đó là một không gian khoáng đãng, thảo nguyên kéo tận chân mây. Huyền Vũ Quan xung quanh có rào sắt tường cao, sừng sững chắn ngang đồi. Doãn Văn chậm rãi buông dây cương rút một mũi tiễn bắn hạ tên lính canh trên tháp đề phòng chúng phát hiện từ xa. Khi họ chạy đến gần thì hai tên lính thấy có biến, liền chạy vào toan đóng cửa quan lại. Nhưng đã quá muộn Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân thúc ngựa lao tới tiễn mỗi đứa một đao chết tươi, họ vượt qua Huyền Vũ Quan dễ dàng. Quân lính trong doanh lúc này mới tá hoả chạy ra thì chỉ kịp nhìn theo vó ngựa đang khuất dần trong làn bụi mù.
Sau nửa ngày rong đuổi trên lưng ngựa họ đến được Dạ Yên Quan, đây là quan ải kiên cố nhưng cũng là nơi canh gác lỏng lẻo nhất trong tam quan, bên cạnh là Yên Giang cuồn cuộn gào thét ngày đêm, trước và sau đều có hào sâu chông nhọn. Quân lính thấy có người chạy đến liền dàn binh đứng trước cửa quan chặn hỏi, Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân tung người khỏi ngựa lao về phía trước rút đao xoay một vòng chém gục bảy tám tên, bốn tên còn lại quay đầu chạy vào toan đóng cửa quan nhưng bị Tiểu Hậu Nghệ Doãn Văn rút hai mũi tiễn bắn xuyên thấu cả bốn tên, hai mũi tiễn xuyên qua người cắm dính vào hai bên tả môn và hữu môn mà vẫn còn đọng vài giọt máu. Doãn Văn chặt dây hạ cửa thành xuống rồi cùng Lỗ Thể Ngân thúc ngựa phi thẳng qua bờ bên kia. Lính trên thành thấy vậy liền xả tiễn quyết giết cho bằng được hai người họ, không quá khó khăn, họ vừa giục cương vừa tránh đỡ cơn vũ tiễn, ngựa của Lỗ Thể Ngân bị một mũi tên cắm vào chân sau, hí một tiếng vang trời rồi phi thẳng.
Chạy một đoạn khá xa Dạ Yên Quan, con ngựa của Lỗ Thể Ngân vì bị trúng độc tiễn nên phát độc mà chết. Cả hai ngồi trên Phi Vân nhắm thẳng hướng Đông mà chạy, đến chạng vạng tối họ gặp một lữ quán ven đường, Lỗ Thể Ngân nói :
-Chúng ta đã đi hai ngày liền, người ngựa đều mỏi, hay là ghé vào đây nghỉ chân một lúc rồi đi tiếp.
Doãn Văn khen phải rồi cả hai xuống ngựa vào quán, tên chủ quán vừa là tiểu nhị chạy đến ân cần :
-Nhị vị khách quan cần dùng gì để tiểu nhân đi chuẩn bị ?
Doãn Văn móc trong túi ra hai mươi lượng, nói:
-Lấy cho ta một ấm trà và vài món ngon nhưng phải nhanh bọn ta có việc đi gấp
-Dạ, khách quan chờ chút sẽ có ngay
-À khoan, nhớ lấy thêm một ít cỏ và nước cho con ngựa của ta.
-Dạ được, tiểu nhân đi làm ngay.
Ăn xong cả hai vội vã lên đường trong đêm tối. Đêm nay trăng sáng vằng vặc rọi đường tiếp bước cho Phi Vân. Hình ảnh hai bóng người trên lưng thần câu lướt nhẹ trong ánh đêm mờ ảo thật làm đắm say lòng người.
Rạng sáng hôm sau họ vượt qua một khu rừng lá đỏ, chạy đến bìa rừng họ đã loáng thoáng trông thấy Bạch Hổ Quan, quan này tuy không kiên cố như Dạ Yên quan nhưng lại được canh phòng cẩn mật vì đây là nơi trọng yếu của tam quan. Bạch Hổ toạ giữa hai ngọn núi thiêng, hữu là Bàn Long Lĩnh đỉnh cao muôn trượng, trên đỉnh gió thổi lạnh thấu xương tuỷ, quanh năm sương phủ tuyết bay, bên tả là Cửu Tước Sơn ngạo nghễ vươn mình đón gió như một đàn điêu thuỷ chuẩn bị cất mình thăng thiên. Người ta thường nói Bắc thì có Tung Sơn- Hành Sơn, Nam thì có Bàn Long - Cửu Tước chính là hai ngọn thiên sơn này. Có thơ là:
Bàn Long độc lĩnh gió tuyết bay
Cửu Tước linh sơn điểu một bầy
Bạch Hổ môn quan hùng một cứ
Huyết mạch san hà trấn nơi đây
Thấy trời còn chưa sáng, Doãn Văn bàn :
-Chúng ta đã đi hai ngày hai đêm, nếu cố gắng đi tiếp chỉ e là tới đó không còn đủ sức cứu người mà còn rước họa vào thân. Vả lại bây giờ chưa cho qua ải, chi bằng ta nghỉ tạm nơi này đợi sáng mai qua ải cũng không muộn.
Lỗ Thể Ngân cũng mệt mỏi rã rời đành thuận ý nghỉ lại chờ trời sáng.
Cánh cổng Bạch Hổ Quan vừa hé mở cũng ngay lúc ánh bình minh vừa rọi xuống. Ánh ban mai trải nhẹ lên khắp bề mặt Bạch Hổ Quan làm nó sáng rực rỡ như hòn ngọc nằm kẹp giữa khe đá. Ánh sáng lấp lánh của muôn ngàn tia nắng xuyên qua những chiếc lá đỏ, phản chiếu lung linh trên những giọt sương đọng lại buổi ban mai làm Lổ Thể Ngân cùng Doãn Văn bừng tỉnh. Họ lại cùng Phi Vân thần mã cất vó lên đường quyết vượt Bạch Hổ Quan.
Đến cổng có một viên tướng tay cầm trường đao chặn hỏi :
-Các ngươi là ai ? vội vã lên đường để làm gì ?
Lúc này viên tướng nọ nhận ra là hai tên tội phạm đang bị triều đình truy nã liền vung đao lao đến chém, Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân vung đao đỡ, nhảy khỏi ngựa lao đến chém, viên tướng vội vàng lách người né, bị thanh khoái đao của Lỗ Thể Ngân chém văng chiếc mũ sắt, hắn cả sợ quay lưng bỏ chạy vào quan, Lỗ Thể Ngân đuổi theo xả một đao đứt lìa viên tướng trấn ải. Thấy chủ tướng rơi đầu đám binh lính bạt vía như mèo bị cắt tai không dám nhúc nhích để mặc cho bọn Doãn Văn qua ải.
Họ ráo riết thúc ngựa đi thẳng về phía Đông, chẳng mấy chốc Vạn Thành đã hiện ra trước mắt, lúc này trời đã quá trưa, bóng cây dương liễu đầu thành đã gom về một điểm. Nhân lúc không ai canh gác, họ xông thẳng vào cổng thành chạy đến thị phố, gặp một lão hán bán bánh bao Lỗ Thể Ngân hỏi:
-Vị đại thúc này cho hỏi hôm nay trong thành có vụ xử trảm nào không.
-À lúc nãy có một đoàn quan binh áp giải ông Lỗ tửu vương gì đó ở Sơn Đông đi đến Ngọ Môn để chém đầu. Nếu không phải hôm nay tôi buôn bán ế ẩm thì tôi cũng đi xem.
-Ngọ Môn đi hướng nào ? Nói mau ?
-Ây dà làm gì mà dữ vậy không biết, đi hết con đường này rẽ trái về tây môn là đến pháp trường.
Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân ghì mạnh cương, Phi Vân hý vang một tiếng rồi lao thẳng. Từ xa họ thấy một đám đông chén chúc trước Ngọ Môn, Bách Tửu Hành nóng lòng thúc ngựa lao đến. Đoạn nghe một tiếng:
“Trảm”
..Ánh đao sáng loáng lóe lên rồi vụt tắt, đâu đó trong đám đông thốt lên những tiếng kêu kinh hãi. Như đứt từng đoạn ruột Lỗ Thể Ngân lao xuống ngựa chen vào đám đông, trước mắt cô là một cảnh tượng bi thảm đoạn trường. Thấy phụ thân đầu lìa khỏi cổ nằm sóng soài dưới chân tên đao thủ Lỗ Thể Ngân không dám tin vào mắt mình. Nước mắt giàn giụa, nàng toan xông lên giết chết đám quan binh nhưng đã bị Doãn Văn kéo lại, Doãn Văn một tay bịt miệng một tay lôi Lỗ Thể Ngân ra khỏi đám đông, huyết lệ tuôn xuống ướt đẫm tay Doãn Văn. Lỗ Thể Ngân trong cơn đau khổ tột cùng kháng cự quyết liệt, nhất mực đòi xông tới báo thù. Bất đẵc dĩ hắn đành đánh Lỗ Thể Ngân ngất đi, đặt lên ngựa rồi chạy ra khỏi Vạn Thành, ghé vào một miếu hoang cách thành Tây mười dặm.
Vài canh giờ sau Lỗ Thể Ngân tỉnh lại đau xót muôn phần, giọng nàng ngất lên từng tiếng:
-Cha…nữ nhi bất hiếu… đã không về kịp để cứu cha. Bao nhiêu năm dưỡng dục chưa trả ngày nào, giờ đây lại phải chính mắt nhìn cha bị chém mà không làm gì được. Con gái tự thấy mình không xứng đáng làm người nữa.
-Nếu muội chỉ biết ngồi đây mà than khổ thì quả thật không xứng đáng làm người càng không xứng làm con gái của Lỗ tửu vương.
Lỗ Thể Ngân hỏi trong nức nở :
-Muội còn có thể làm được gì nữa ?
-Ta dò hỏi đã biết được cách thành Tây khoảng mười dặm có một bãi tha ma để quăng xác tử tù sau khi thọ hình. Chút nữa sẽ có người chuyển thi hài của Lỗ bá bá đi ngang, ta đoạt lấy rồi an táng người cho đàng hoàng thì đó mới là việc duy nhất để giữ tròn phận hiếu.
Lỗ Thể Ngân lau nước mắt nhưng lòng vẫn còn không nguôi:
-Đa tạ huynh, muội muốn làm tròn bổn phận của đứa con bất hiếu. Mong huynh chuẩn bị giúp muội mọi thứ.
-Được, vậy muội ở lại đây chờ nha sai chở thi thể ngang rồi đoạt lấy, ta sẽ đi mua áo quan. Xong việc gặp nhau ở miếu này.
Nói xong cả hai cùng bước ra khỏi cửa, Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân đi dọc theo lối mòn tìm vị trí ẩn nấp, Tiểu Hậu Nghệ Doãn Văn đi vào thành chuẩn bị áo quan.
Đoạn từ phía xa xa Lỗ Thể Ngân nghe tiếng bánh xe gỗ đang nghiến trên đường đất. Nàng nhìn thấy có hai tên nha sai đang đẩy chiếc xe gỗ bên trên trùm một chiếc chiếu loang lổ máu. Đoán chắc là hai tên nay đang mang thi hài của phụ thân mình nên Lỗ Thể Ngân nhảy ra lạnh lùng không nói gì, cặp mắt rực lửa thù nhìn hai tên nha sai. Chúng nhìn nhau sau đó một tên khúm núm:
-Cô có hứng thú với cái xác này à, cứ việc lấy bọn ta không ngăn cản dù gì người cũng đã chết.
Nói xong hai tên nha sai lui bước bỏ đi, bỗng Lỗ Thể Ngân hằn giọng :
-Xác ta cũng lấy, mà mạng hai ngươi ta cũng muốn.
Vừa dứt lời Lỗ Thể Ngân dùng Thập Bát Thiên Bộ Pháp lướt tới xả mỗi tên một nhát chết tươi. Thu đao về, Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân quay lại quỳ trước xác cha mà khóc lớn, tiếng khóc vang dội cả một bìa rừng. Đoạn Lỗ Thể Ngân đẩy chiếc xe về lại ngôi miếu hoang, đặt thi hài cha mình xuống bàn rồi lấy vài nén nhang cháy dở trong miếu đốt lên để bái lạy. Cô nhặt một thanh que bằng tre rồi rút cây trủy thủ ra mà gọt đẽo thành một cái kim khâu. Lỗ Thể Ngân dùng cái kim đó để khâu lại đầu của cha cho dính vào cổ. Mỗi một mũi kim đâm vào da thịt cha là một lần nước mắt của nàng trào ra. Sau đó cô xé một mảnh vải ở thắt lưng ra quấn chặt để cố định lại vết khâu.
Lúc đó Doãn Văn cũng vừa về tới trước miếu, đi theo sau là hai gã đàn ông cùng đẩy một chiếc xe chở cỗ quan tài. Doãn Văn ra hiệu cho hai người kia khiêng cổ quan tài vào miếu, cả bốn người cẩn thận đặt thi thể của Lỗ Tam vào áo quan. Lỗ Thể Ngân cùng Doãn Văn đi trước hai tên phu vác đi sau đẩy chiếc quan tài.
Cảnh vật xung quanh dường như chết lặng, chốc chốc lại có một ngọn gió khẽ rít lên làm hàng dương men sườn núi xao xác dường như sụt sùi thương cảm. Đến chỗ đồi cao bằng phẳng, Doãn Văn bảo hai gã kia chôn cất Lỗ Tam tại đó. Đào xong huyệt mộ họ từ từ đặt quan tài xuống, thấy mọi chuyện đã xong Doãn Văn lấy một trăm lượng đưa cho bọn chúng :
-Ở đây đã hết chuyện của hai ngươi, những việc còn lại để ta lo. Đây là tiền áo quan và tiền công của hai ngươi. Hãy đi đi.
-Đa tạ đại gia, chúng tôi về đây.
Doãn Văn cung kính cúi đầu bái trước quan tài của Lỗ Tam, đoạn quay lại nói với Bách Tửu Hành :
-Ta không quen lưu lại những nơi vân sầu mây thảm như vầy, bây giờ ta đi trước, hai canh giờ sau mình sẽ hội ngộ ở Thập Lý Đình cách năm dặm về phía tây.
Lỗ Thể Ngân chỉ khẽ gật đầu, chờ Doãn Văn đi khỏi, cô lê gối đến bên cạnh huyệt mộ, dùng đôi tay mềm nhỏ hốt từng nắm đất lấp lại ngôi mộ. Lỗ Thể Ngân lệ tuôn xuống như mưa chan hoà vào đất cát, mười đầu ngón tay cô gần như bị bong ra. Máu và đất cát quyện thành một màu nâu thẫm.
Đắp xong nấm mộ Lỗ Thể Ngân lấy một khúc gỗ bổ đôi cắm sâu xuống làm mộ bia, lấy dao cắt đầu ngón tay, lấy máu viết lên khúc gỗ dòng chữ “Vong phụ chi mộ Lỗ Tam”. Lỗ Thể Ngân lấy chiếc hồ lô giơ lên rưới rượu xuống trước mộ bia, nàng lại cúi rạp đầu xuống khóc nghe mà bi thảm não lòng.
Tiếng khóc than của Bách Tửu Hành dường như thấu tận trời xanh, những đám mây trắng hổ thẹn lờ đi, tiếng sấm vang vang hoà nhịp cùng muôn ngàn lời than trách tự đáy lòng của Lỗ Thể Ngân. Trời cao như cũng thương tiếc một đấng hùng sư mà khoác lên mình cái áo choàng đen, không cầm được nỗi đâu mà tuôn lệ. Than ôi :
Nhất bậc anh hùng, đấng tửu gia
Phút chốc sa cơ, kiếm trượt đà
Phong vũ vân thiên miên sầu thảm
Lệ nhỏ vì ai đẫm sơn hà?
Khóc đã nguôi ngoai, lệ sầu cũng cạn, nhưng nỗi hờn căm trong Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân mãnh liệt hơn bao giờ hết. Cô gạt nước mắt đứng phắt dậy rảo bước đi về hướng tây hội ngộ cùng Doãn Văn.
Đến Thập Lý Đình Lỗ Thể Ngân đã thấy Doãn Văn ngồi uống rượu ở đó từ lúc nào, chờ Lỗ Thể Ngân tới gần Doãn Văn hỏi:
-Hậu sự của Lỗ bá bá đã chu toàn rồi chứ ?
-Đã xong. Đưa cho muội một tĩnh.
Doãn Văn dùng chân hất bổng một tĩnh rượu về phía Lỗ Thể Ngân. Lỗ Thể Ngân chụp lấy mở nắp ra uống liền ba ngụm, đoạn trừng mắt như hai hòn lửa mà nói:
-Triều đình bạc nhược trước thì các ngươi giết thúc thúc của ta là Lỗ Tín, sau lại bêu đầu cha ta ở ngọ môn. Ta thề phải giết trọn ổ bè lũ những tên họ Triệu.
Doãn Văn vờ kinh hãi rồi tự nhủ:
-Cũng may là ta họ Doãn.
Doãn Văn lại hỏi :
-Bây giờ muội dự tính xử sao ?
-Cha muội trước giờ hành sự rất cẩn mật, nếu lỡ bị phát giác thì bọn quan binh cũng nhất định không phải là đối thủ của người.
-Phải chăng là có kẻ đằng sau âm thầm mưu hại ?
Vừa nghe cặp mắt của Lỗ Thể Ngân trừng ngược lên nhìn sang Doãn Văn :
-Điều huynh vừa nói cũng là vấn đề muội đang muốn đặt ra. Ta đi thôi…
-Đi đâu ?
-Về Tửu Gia Trang điều tra việc này, luôn tiện lấy lại số của cải vốn thuộc về Lỗ gia.
Cả hai dốc cạn tĩnh rượu trên tay xong quăng ra phía sau làm chúng va vào nhau vỡ nát. Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân cùng Tiểu Hậu Nghệ Doãn Văn thúc Phi Vân nhắm hướng Tửu Gia Trang mà phi nước đại.
Những gì sẽ xảy đến với bọn họ trên đường đi tìm sự thật ? Liệu Bách Tửu Hành có rửa được thù cha và lấy lại được số của cải hay không ? Muốn biết thế nào mời quý vị đón xem hồi sau của Tân Thủy Hử…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
26-08-2009, 07:30 AM
Hồi Thứ 8
Diệt phản đồ tài nữ báo thù cha
Dựng Lương Sơn nam nhi đền nợ nước
Ánh trăng mờ hững hờ soi hàng dương liễu cạnh bờ tường của Tửu Gia Trang. Xa xa Lỗ Thể Ngân nhìn thấy có một vài tên lính canh trước phủ. Cửa lớn đã bị niêm phong, chốc chốc lại có một toán lính đi tuần quanh. Có một tên lính đang tiến lại gần nơi họ ẩn nấp, Doãn Văn thấy vậy bèn rút một mũi tiễn toan hạ sát nó. Lỗ Thể Ngân vội vàng chụp tay cản lại và kéo Doãn Văn đi nơi khác rồi nói:
-Huynh chớ vội động thủ mà làm hỏng việc lớn. Bọn chúng còn canh gác ở đây thì chắc là của cải ở trong nhà chúng còn chưa tìm ra. Chúng ta sẽ quay lại lấy nó sau vả lại gia tài trăm vạn của của cha muội không phải con số nhỏ. Nếu chỉ với hai người chúng ta thì có lẽ lấy không xuể.
-Vậy bây giờ chúng ta phải làm gì ?
-Đi theo muội đến Tàng Ngân Lầu.
Nói rồi Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân dẫn đường đi thẳng đến Tàng Ngân Lầu. Vừa đi Doãn Văn vừa hỏi :
-Tại sao ta phải đến Tàng Ngân Lầu ? Nơi đó là tửu quán của gia tộc muội sao ?
-Gần như vậy nhưng không hẳn là vậy.
-Càng nghe ta càng hồ đồ, muội nói rõ hơn được không ?
Lỗ Thể Ngân liếc nhìn xung quanh một cái rồi nói :
-Tàng Ngân Lầu là một tửu quán do Lăng Tiến Từ - một tửu gia nổi tiếng ở Sơn Đông mở ra. Bất kì một ai từ trẻ nhỏ đến người già ở Sơn Đông này đều biết Lăng Gia và Lỗ Gia muội có hiềm khích sâu nặng vì tranh giành địa vị tửu vương. Nhưng đó chỉ là kế che mắt của cha muội. Thật ra Lăng Tiến Từ là người thân tín của cha muội từ nhiều năm trước. Vì để tránh khỏi sự dòm ngó của triều đình nên cha muội đã cử hắn ra mở một tửu lầu khác để cạnh tranh với Lỗ gia tửu. Ngoài mặt thì Lăng gia tửu và Lỗ gia tửu đối đầu nhưng bên trong là cùng một trận tuyến. Cha muội dùng tầng hầm bí mật của Tàng Ngân Lầu để làm tổng đàn của Thiết Diện Hội.
Lúc này ngoài phố vắng vẻ yên tĩnh đến nổi một chiếc lá rơi chạm đất ta cũng có thể cảm giác được. Đi một lúc họ đã đến trứơc cửa của Tàng Ngân Lầu. Tửu lầu đã đóng cửa như bao cửa tiệm khác. Lỗ Thể Ngân bước lên thềm gõ cửa theo ám hiệu:
“Cốc cốc - cốc cốc cốc - cốc - cốc”
Từ bên trong có tiếng vọng ra:
-Xin khách quan sáng mai hãy ghé lại, giờ này tệ quán đã đóng cửa.
Lỗ Thể Ngân bèn đọc hai câu:
Bả tửu thiên niên vong vô niệm
Trừu bôi bất ý thụ hữu sinh
Bên trong nói tiếp :
- “Tửu Yêm Thiên Hạ”
Lỗ Thể Ngân liền đáp rằng :
- “Túy Lạm Càn Khôn”
Người kia nghe xong liền mở của ra. Hắn là nhị trưởng quầy của Tàng Ngân Lầu, tên là Đình Trung. Thấy Lỗ Thể Ngân, hắn chấp tay chào :
-Là tiểu thư đây rồi, xin mời vào trong rồi hãy nói sau.
Đình Trung thấy người lạ tỏ ý e ngại, Lỗ Thể Ngân nói :
-Huynh ấy là Doãn Văn, là bằng hữu vào sinh ra tử của ta.
Nghe vậy Đình Trung cũng gật đầu mời Doãn Văn vào rồi đóng cửa lại. Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân không đợi Đình Trung nói, liền hỏi ngay :
-Thật ra đã xảy ra chuyện gì ? Tại sao cha ta lại bị bắt ? Còn Lăng đại trưởng quầy đâu ?
Đình Trung nhìn xung quanh rồi dẫn cả hai người vào một gian phòng nọ. Hắn cẩn thận đóng cửa và quan sát mọi thứ xung quanh, rồi mới quay sang nói:
-Sự việc Lỗ lão gia bị bắt và căn bệnh điên của Lăng trưởng quầy làm tôi và các huynh đệ trong bang rất là nghi ngờ. Từ ngày Lỗ lão gia bị bắt đi thì Lăng Tiến Từ cũng đột nhiên mà phát bệnh điên.
Lỗ Thể Ngân hỏi ngay:
-Bệnh điên ? Hiện giờ Lăng Tiến Từ đang ở đâu ?
-Ông ta bị cặp phu phụ Điền Trí Tôn và Mộ Dung Tuyết nhốt ở ngục thất. Mỗi ngày họ đích thân đem cơm xuống mà không cho bất kì ai bước vào nhà lao nửa bước. Họ nói Lăng trưởng quầy vì thương nhớ Lỗ lão gia mà sinh bệnh điên và sẽ tấn công bất kì người nào đến gần nên phải hạn chế gặp mặt trước khi lành bệnh để tránh nguy hiểm.
-Các người có đích mắt nhìn thấy Lăng Tiến Từ bị điên không ?
-Chúng tôi không có cách nào tiếp cận được với Lăng trưởng quầy. Thanh Thành Song Sát võ công cao cường lại có địa vị cao trong bang nên đánh chúng tôi đánh cũng không lại mà lấy quyền thế thì càng tệ hơn. Chúng tôi đành họ nói sao thì nghe vậy, từ ngày có chuyện họ đứng ra giải quyết những việc trong bang.
Lỗ Thể Ngân nắm chặt đôi bàn tay mà nghiến răng :
-Thanh Thành Song Sát quả nhiên là có dã tâm riêng. Nếu quả thật là bọn chúng hãm hại cha ta thì ta quyết sẽ moi gan từng đứa để mà tế hồn gia phụ. Tất cả mọi mấu chốt đều nằm ở Lăng trưởng quầy, bây giờ ta đến ngục thất tìm lão để hỏi rõ mọi ngọn ngành.
-Khoan đã! Hiện giờ ngục thất được bọn chúng thay nhau canh giữ nghiêm ngặc. Nếu tiểu thư đến đó ngay thì chắc gì chúng sẽ để Lăng Tiến Từ nói ra hết sự thật.
-Vậy phải chờ đến khi nào ?
-Giờ tý đêm nay bọn chúng sẽ triệu tập tất cả các huynh đệ trong bang tại Nghị Sảnh Đường để bàn về việc lập ra tân bang chủ. Lúc đó Thanh Thành Song Sát đều có mặt để bàn bạc nên đó là thời cơ tốt nhất để tiểu thư đi gặp Lăng trưởng quầy.
-Cha ta mới qua đời, mồ còn chưa mọc cỏ xanh mà phu phụ chúng dám bàn đến việc thay thế chức vị. Được rồi ta sẽ ở đây chờ đến lúc thuận tiện sẽ lẻn vào ngục thất.
Đình Trung nói :
-Tiểu thư và Doãn huynh đệ tạm thời lánh mặt nơi này chờ thời cơ mà hành động, tiểu nhân phải có mặt ở Nghị Sảnh Đường ngay lúc triệu tập để bọn chúng khỏi nghi ngờ.
Nói xong Đình Trung hé cánh cửa, cẩn thận nhìn xung quanh thấy không có ai rồi mới bước ra, hắn không quên đóng lại cánh cửa rồi nhanh chân bước đi.
Đúng giờ tý Lỗ Thể Ngân một mình lẻn xuống nhà lao tìm Lăng Tiến Từ. Quả đúng như lời của Đình Trung, lúc này chỉ có hai tên lâu la đứng gác ở ngục thất. Lỗ Thể Ngân từ trên mái nhà phi thân xuống đánh ngất cả hai rồi tiến vào. Bên trong ngục thất Lỗ Thể Ngân tìm được Lăng Tiến Từ đang bị giam cầm còn bị tra tấn dã man đến nổi thương tích đầy người. Lỗ Thể Ngân chặt đứt dây khoá bước vào, Lăng Tiến Từ thấy Lỗ Thể Ngân thì vui mừng khôn tả, nước mắt giàn giụa làm ướt đẫm những vết thương trên mặt, nói trong nghẹn ngào :
-Là tiểu thư, đúng là tiểu thư rồi. May nhờ ơn trên mà tiểu thư được bình an vô sự. Tiểu thư trên đường về đây có nghe ngóng được tin tức của Lão gia không ?
Lỗ Thể Ngân cũng nấc lên từng tiếng:
-Vào giờ ngọ hôm nay… gia phụ đã bị…
Lăng Tiến Từ hỏi gấp :
-Bị sao?... lão gia đã bị sao ?
Lỗ Thể Ngân oà lên:
-Đã bị mang ra pháp trường xử trảm rồi.
Câu nói của Lỗ Thể Ngân làm Lăng Tiến Từ như chết lặng, Lỗ Thể Ngân hỏi :
-Võ công của cha ta tuy không phải là đệ nhất võ lâm nhưng cũng không thể nào bị khuất phục dễ dàng bởi đám ưng khuyển triều đình.
-Tất nhiên là Lão gia sẽ không bị bắt nếu không có bàn tay thâm độc của Thanh Thành Song Sát âm thầm ám hại.
-Chuyện đó là như thế nào ?
-Từ ngày Lão gia hay tin Lỗ Tiểu Thư bị triều đình truy nã đâm ra ngày đêm lo lắng không yên. Cho đến một hôm, Điền Trí Tôn hớt hải chạy về báo với Lão gia là Lỗ tiểu thư đang bị quan binh vây đánh ở bìa rừng ngoại thành. Lão gia nghe vậy lòng như lửa đốt tức tốc chạy đến đó để giải nguy cho tiểu thư. Khi đến gần bìa rừng lão gia thấy có đám quan binh đang vây lấy một vị cô nương ăn mặc giống y như tiểu thư. Lão gia liền xông vào giữa vòng vây mong là giải thoát cho ái nữ, không ngờ khi đến gần vị cô nương đó rút con dao nhỏ bên người ra quay lại đâm Lão gia một nhát vào lưng. Ả chính là Mộ Dung Tuyết. Vết thương sau lưng không làm nguy hại đến tính mạng lão gia. Nhưng vì trên con dao có tẩm mê dược nên lão gia bị bọn quan binh dễ dàng bắt giữ.
Lỗ Thể Ngân nghiến răng căm hờn, cả người rung bần bật :
-Ta thề phải moi gan cặp phu phụ Thanh Thành Song Sát.
-Không chỉ vậy, bọn chúng thừa lúc tôi không đề phòng đã cho tôi uống Nhuyễn Cốt Tán. Sau đó bắt giam tôi ở nơi này ngày ngày tra tấn dã man, hòng từ miệng tôi moi ra nơi cất giấu Tửu Kinh Thập Tam Huyết của Lỗ Gia.
-Thật tội cho ông. Chúng ta mau rời khỏi đây, phải kịp ngăn chặn trước khi âm mưu của bọn chúng thành công. Hiện chúng đang triệu tập hết tất cả huynh đệ trong bang để chọn ra tân bang chủ.
Nói rồi Lỗ Thể Ngân dìu Lăng Tiến Từ ra khỏi nhà lao, đi thẳng đến Nghị Sự Đường.
Cùng lúc đó tại tầng hầm của Tàng Ngân Lầu, Nghị Sự Đường sáng rực trong ánh đuốc hừng hực. Trong đó có khoảng 50 gã đại hán đeo mặt nạ sắt, mỗi chiếc mặt nạ đều có đặc trưng riêng, bên trên thềm là một cặp nam nữ mặc bộ đồ hai màu đen trắng. Đó là cặp phu phụ Điền Trí Tôn và Mộ Dung Tuyết. Trong cái không khí tĩnh lặng, cái giọng khô cứng của Điền Trí Tôn cất lên :
-Hỡi các vị huynh đệ, bang chủ của chúng ta chẳng may bị triều đình hãm hại. Phu phụ Điền mỗ bất tài vô phương giải cứu bang chủ, nay đứng trước chư huynh đệ tự cảm thấy hổ thẹn muôn phần. Mặc dù đau xót vô cùng nhưng tại hạ phải lấy đại cuộc làm trọng. Thiết nghĩ nước không thể một ngày không vua, bang không thể một ngày không chủ. Nay ta triệu tập tất cả huynh đệ để cùng lập ra bang chủ mới.
Ở phía dưới vẫn một bầu không khí ảm đạm chùng xuống. Chờ hồi lâu không ai nói gì, chợt ở cuối hàng xuất hiện một kẻ khoác áo choàng đen, đeo mặt nạ vàng đã ngã sang màu bạc, chiếc mặt nạ bán thú bán nhân chỉ để lộ ra một cặp mắt lạnh người đầy sát khí. Hắn nói :
-Chức vị bang chủ nhất định phải giao cho một người tài - đức vẹn toàn. Theo mắt thịt của tại hạ thì chỉ duy nhất người này mới có đủ tư cách để mà đảm nhận, đó là…
Hắn vừa nói vừa đưa tay về phía phu phụ Điền Trí Tôn và Mộ Dung Tuyết. Mặc dù không biết kẻ đó là ai nhưng qua lời nói và cử chỉ thì Điền Trí Tôn thầm nghĩ là hắn muốn đề cử mình nên vững dạ nói rằng:
-Vị huynh đệ này nếu thấy có nhân tuyển thích hợp hãy mạnh dạn nói ra để chúng ta cùng cân nhắc. Nếu quả đúng là người tài đức thì Điền mỗ sẽ hết lòng ủng hộ ngồi lên chức bang chủ.
-Xin đa tạ Điền đại hiệp đã tin tưởng tại hạ, nhân tuyển mà tại hạ muốn đề cử là…
-Xin huynh đệ cứ nói…
-Đó là con gái độc nhất của Lỗ bang chủ - Lỗ Thể Ngân.
Nghe đến đây thì hai bên mép và hàm dưới của Điền Trí Tôn rung lên bần bật vì tức giận. Mộ Dung Tuyết quá sức hiểu tính tướng công của mình, liền đưa tay khều nhẹ tỏ ý nhắc nhở. Điền Trí Tôn cũng cố nén mà nói:
-Lỗ tiểu thư thì cũng là một nhân tuyển thích hợp. Nhưng từ khi bị triều đình truy nã Lỗ tiểu thư đã lâu không có tung tích gì, chỉ sợ là lành ít dữ nhiều…
- “Tất nhiên là ngươi mong ta có chuyện”…
Một câu nói mang âm điệu hằn học của Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân phát ra từ trong vọng ra. Lỗ Thể Ngân dìu Lăng Tiến Từ bước ra. Cặp phu phụ Điền Trí Tôn và Mộ Dung Tuyết không khỏi hoảng hốt liền đổi sắc diện khi nhìn thấy Lỗ Thể Ngân đi cùng Lăng Tiến Từ. Lỗ Thể Ngân nhìn chúng bằng cặp mắt căm hờn rực lửa:
-Hôm nay ta quyết phải moi gan đôi thất phu điêu phụ này để tế hồn cha ta.
Không đợi bọn chúng nói thêm, Lăng Tiến Từ quát to:
-Quân phản phúc, cặp phu phụ hai ngươi đúng là không biết liêm sĩ, vong ơn bội nghĩa, bày mưu sát hại bang chủ , cả cầm thú cũng không bằng.
Điền Trí Tôn cả giận, hai mắt trợn ngược nhìn Lăng Tiến Từ hét lớn :
-Lăng Tiến Từ ! Các ngươi đừng có ngậm máu phun người.
Lăng Tiến Từ quay xuống nói với đám người kia:
-Các huynh đệ! Thanh Thành Song Sát vì tham lam danh vọng tiền tài đã cấu kết với quân triều đình ám hại Lỗ bang chủ. Sau đó còn bắt ta giam vào ngục thất tra tấn dã man, chúng ép ta nói ra nơi cấu giấu Tửu Kinh Thập Tam Huyết là vật trấn gia chi bảo của Lỗ Gia.
Điền Trí Tôn trong lúc đang đuối lý thì nương tử hắn là Mộ Dung Tuyết nói to:
-Nhiều lời với chúng làm gì ? Đằng nào thì cũng đã lộ.
Vừa dứt lời Mộ Dung Tuyết nhanh như một tia chớp, rút cặp đoản kiếm xông đến đâm Lăng Tiến Từ. Trong một cái chớp mắt, gã đeo mặt nạ bán diện thú đã hất tung chiếc áo choàng lên trần nhà che khuất ngọn đuốc làm tối đi một gốc nơi Lỗ Thể Ngân đang đứng.
Chiếc áo choàng từ từ rớt xuống đất, nơi khuất bóng cũng dần dần có lại ánh sáng. Tiếp đó là những tia máu nhỏ bắn ra lấm chấm trên bậc thềm. Cặp đoản kiếm của Mộ Dung Tuyết đang nằm xuyên thấu qua bụng của Lăng Tiến Từ, hướng của hai mũi kiếm chếch vào nhau tạo thành mũi nhọn. Đôi mắt sắc lẻm của Mộ Dung Tuyết thích thú liếc nhìn vào gương mặt đầy thương sẹo đang tái dần của Lăng Tiến Từ. Bất chợt đôi mắt ấy trợn to lên, ả cảm thấy dưới cổ hơi ngứa và tê lạnh. Tiếng thở ngột ngạt đứt quãng của Mộ Dung Tuyết lớn dần, thì ra một mũi tiễn quen thuộc đang cắm vào ngang cổ của Mộ thị. Cặp mắt sắc lẻm đang nở rộng của Ả từ từ liếc qua nhìn gã đeo mặt nạ bán diện thú theo từng nhịp thở.
Lúc này gã kia mới từ từ tháo chiếc mặt nạ của mình xuống và đáp lễ lại bằng một nụ cười nửa miệng. Không ai khác ! Có thể cắm một mũi tiễn vào cổ người ta mà không gây đau đớn chỉ có thể là Tiểu Hậu Nghệ Doãn Văn.
Lỗ Thể Ngân từ nãy giờ chỉ đứng lặng người vì các sự việc diễn ra quá nhanh. Vừa kịp định thần thì Lỗ Thể Ngân liền vung đao lên. Lưỡi đao của nàng sáng loé lên trong ánh đuốc hừng hực lửa thù. Đi kèm theo ánh sáng của lưỡi đao hận thù là một âm thanh đền tội của nửa chiếc mặt nạ đồng rơi “leng keng” xuống đất. Gương mặt dài nhọn trắng bệch của Mộ Dung Tuyết được tô điểm bằng một lằn máu đỏ tươi kéo dài từ đỉnh trán. Lần này đôi mắt sắc lẻm của Ả không còn cơ hội để liếc qua liếc lại. Có lẽ một nửa mảnh mặt nạ còn lại trên mặt của Mộ Dung Tuyết chỉ kịp thời giấu đi nụ cười gian ác chứ không làm tròn nhiệm vụ duy nhất của nó là che lại bộ mặt đang đi dần vào cõi chết của ả. Mộ Dung Tuyết buông tay ra khỏi hai thanh đoản kiếm và từ từ ngã về phía sau. Điền Trí Tôn nhìn thê tử ngã xuống bằng cặp mắt vô hồn, hắn bước đến đỡ lấy người của Mộ Dung Tuyết. Một nhát đao, một mũi tiễn đã kết thúc cuộc đời một kẻ thâm độc, lòng lang dạ sói :
Nhất đao nhất tiễn sát gian đồ
Hận thói tham tàn hiếp thế cô
Gian nhân đền tội dưới mồ sâu
Hảo hán nguôi hờn nơi huyệt mộ
Tiểu Hậu Nghệ Doãn Văn rút thêm một mũi tiễn nhắm vào yết hầu của Điền Trí Tôn mà bắn. Hắn vội xoay người lấy thân của Mộ Dung Tuyết ra đỡ mũi tiễn. Điền Trí Tôn thấy khó lòng địch nổi liền móc trong túi ra hai trái hoả dược nén mạnh xuống đất. Hoả dược nổ lên khói đen mùi mịt khiến cho Diền Trí Tôn tẩu thoát dễ dàng. Lỗ Thể Ngân toan đuổi theo nhưng Lăng Tiến Từ nắm lại, Lăng Tiến Từ thều thào nói :
-Tửu Kinh…Tửu Kinh… bức tranh…ở mật…thất
Nói chưa dứt câu Lăng Tiến Từ đã trút hơi thở cuối cùng. Lỗ Thể Ngân chột dạ nhỏ lệ tiễn đưa một con người trung nghĩa. Doãn Văn bước tới lấy tay từ từ rút hai thanh đoản kiếm ra khỏi người của Lăng Tiến Từ. Một lúc, Lỗ Thể Ngân gạt nước mắt, đứng dậy quay sang hỏi :
-Đình Trung ! Hiện nay tổng số huynh đệ trong bang hội là bao nhiêu ?
-Hồi tiểu thư ! Nếu chỉ tính riêng trong thành thì khoảng ba trăm người. Nếu tính thêm ở các huyện thành và khắp các tỉnh khác thì có khoảng hơn sáu ngàn người.
Bách Tử Hành Lỗ Thể Ngân tỏ vẻ vừa ý rồi đứng trước thềm nói to:
-Hỡi các vị huynh đệ, tiểu nữ từ trước đến nay ít xen vào những chuyện trong bang, nay gia phụ chẳng may thảm tử, phản đồ lại mới diệt xong. Lỗ Thể Ngân tôi dù biết tài hèn đức mọn nhưng vẫn phải cố duy trì tâm huyết của cha, chỉ mong mọi người đồng tâm hiệp lực cùng tôi mưu đồ đại nghiệp để không phụ lòng vong phụ nơi chín suối.
Đám người bên dưới sau khi nghe hết lời Lỗ Thể Ngân cũng nhất loạt đồng thanh hô :
- “Chúng tôi thề chết tận trung với bang chủ, nêu cao nghĩa khí bổn bang”
Lỗ Thể Ngân nói tiếp:
-Nay đã đến nước này thì Tửu Gia Trang e là khó giữ được, sớm muộn gì bọn chúng cũng tìm đến đây. Ta quyết định dời cứ địa lên Lương Sơn Bạc, chúng ta sẽ công khai chọi thẳng với triều đình chứ không cần lén lút giấu mặt như trước nữa. Chúng ta sẽ khởi nghĩa để lật đổ triều đình bạc nhược để vạn dân khỏi sống trong cảnh lầm than.
Đám người bên dưới nghe xong ai nầy cũng đều phấn khởi trong lòng, và tỏ ra rất khâm phục khí khái của một thân nhi nữ như Lỗ Thể Ngân
Lỗ Thể Ngân chỉ qua phía Doãn Văn mà nói tiếp:
-Đây là Doãn đại hiệp mà trên giang hồ gọi là Tiểu Hậu Nghệ Doãn Văn. Thương Tâm Tiểu Tiễn mà giang hồ đồn là Lệ Bất Hư Phát của huynh ấy thì tin chắc mọi người ai cũng đã được chứng kiến. Sau này mọi người phải nghe lời chỉ dẫn của Doãn huynh và tôn trọng hắn như đối với ta…Đình Trung!
-Có thuộc hạ!
-Bây giờ ta dẫn theo một trăm huynh đệ quay về Tửu Gia Trang lấy lại số của cải. Ngươi một mặt cho người an táng Lăng trưởng quầy cho chu đáo, một mặt dẫn số huynh đệ còn lại mang những thứ cần thiết bí mật rời khỏi thành. Sau đó ngươi cho người phá bỏ gian mật thất này để tránh quan binh nắm được dấu vết của chúng ta. Chúng ta sẽ hội ngộ ở Lai Điểu Trấn rồi cùng nhau tiến lên Lương Sơn.
Trong chốc lát, Đình Trung đã triệu tập đủ hơn ba trăm gã đại hán trước tổng đà của Thiết Diện Hội. Đình Trung y lời Lỗ Thể Ngân, cùng hai trăm huynh đệ thu dọn mọi thứ sau đó phá huỷ mật thất rồi chờ thời cơ xuất thành. Mặt khác nàng cùng Doãn Văn dẫn theo một trăm tên còn lại tiến về Tửu Gia Trang.
Đến Tửu Gia Trang, Lỗ Thể Ngân ra hiệu cho đám thuộc hạ xông lên tiến thẳng vào Tửu Gia Trang. Đám người đeo mặt nạ đồng ồ ạt xông ra giao chiến với lũ quan binh triều đình. Tiếng gươm đao chen nhau nghe đến đinh tai nhức óc. Lỗ Thể Ngân cùng Doãn Văn lẻn từ của sau để vào.
Cảnh vật thanh tao của hậu viên đang ngủ say dưới ánh trăng tàn vào buổi hừng đông. Khung cảnh tĩnh lặng đến mức có thể nghe rõ tiếng từng giọt nước từ chiếc hồ lô đá nhiễu xuống mặt hồ giữa hậu viên. Lỗ Thể Ngân cùng Doãn Văn chạy dọc theo hành lang thẳng đến thư phòng. Dãy hành lang chỉ vỏn vẹn chừng vài mươi trượng mà Lỗ Thể Ngân cảm tưởng như là còn đường vạn dặm. Giờ đây về lại nơi xưa mà hình bóng phụ thân như vẫn còn đâu đấy. Mỗi một bước chân là một ký ức lại hiện ra trong đầu nàng. Hàng trăm hàng vạn ký ức tuổi thơ hiện ra chen chúc trong đầu Lỗ Thể Ngân. Nàng nhớ lại những tháng ngày lớn lên trong vòng tay cha mà lệ tràn khoé mắt.
Chạy một đoạn họ đến thư phòng, Lỗ Thể Ngân đi thẳng đến cái bàn đang để pho tượng Quan Âm đối diện với cửa vào. Nàng cẩn thận một tay giữ bức tượng một tay xoay toà sen dưới chân tượng Quan Âm. Lập tức kệ sách bên cạnh di chuyển sang một bên làm lộ ra một mật đạo. Sỡ dĩ chỉ xoay toà sen là vì nếu xoay cả bức tượng thì có lẽ cả hai sẽ chết không kịp trối bởi hàng trăm cơ quan đã lập sẵn trong thư phòng. Phi tiêu có thể từ bất kỳ một bình hoa hay quyển sách nào đó bay ra để lấy mạng kẻ đột nhập.
Tận cùng của mật đạo là một tầng hầm rộng lớn, Lỗ Thể Ngân thắp lên vài ngọn đuốc làm sáng rực tầng hầm. Trước mắt họ là vô số vàng bạc châu báu chất đầy các gương.
Doãn Văn nói:
- Quả nhiên là gia tài trăm vạn. Với số châu báu này thì đủ cho chúng ta chiêu binh mãi mã.
-Đây toàn là tiền tài bất nghĩa của bọn cẩu quan mà cha muội đã cướp về. Huynh hãy cùng muội tìm cho ra Tửu Kinh. Trước khi chết Lăng Tiến Từ có nhắc đến bức tranh ở mật thất, chắc chắn Tửu Kinh cất giấu ở một trong các bức tranh ở đây.
-Khổ nổi là ở đây treo quá nhiều tranh, phải tìm đến khi nào chứ ?
-Đành phải vậy thôi.
Nói rồi Doãn Văn cùng Lỗ Thể Ngân chia nhau tìm. Họ tháo từng bức tranh xuống rồi lấy tay gõ vào vách hy vọng tìm ra nơi cất giấu Tửu Kinh. Tửu Kinh Thập Tam Huyết là tinh hoa về phương thức cất rượu của mười ba gia tộc cất rượu ở Sơn Đông. Trong đó Lỗ Tam là người có tài - đức vượt trội nên được mười hai vị kia tôn làm Tửu Vương và giao cho cất giữ Tửu Kinh Thập Tam Huyết.
Lỗ Thể Ngân gọi :
-Doãn huynh! Huynh lại đây xem.
Lỗ Thể Ngân đang đứng trước một bức họa mà chỉ. Trong bức hoạ có một ông lão râu tóc bạc phơ, mình bận quần áo da thú thời cổ xưa, tay cầm chiếc hồ lô màu hổ phách giơ lên. Bên trên là một mặt trời vừa lên lúc ban mai.
Doãn Văn bước đến hỏi :
-Người trong bức họa đó là ai ?
-Người này là Chu Công sống vào thời nhà Hạ xa xưa. Ông là người đầu tiên tìm ra cách làm men rượu và được coi là tổ sư của nghề cất rượu. Huynh xem cái hồ lô màu hổ phách trên tay tổ sư có giống với cái của muội không.
Lỗ Thể Ngân vừa nói vừa giơ cái hồ lô ngọc của mình lên. Doãn Văn ngắm cái hồ lô rồi hỏi:
-Đúng là giống nhau như đúc, có lẽ là cùng một cái. Vậy từ đâu muội có cái hồ lô này ?
-Từ nhỏ muội thích uống rượu nên cha cho muội cái hồ lô này để mang rượu theo bên người, cha nói là hồ lô làm bằng đá hổ phách có giữ mùi rượu được lâu, không bị bay hơi.
-Vậy thì lạ thật.
-Sao lại lạ ?
-Muội thử nghĩ xem Chu Công là người sống vào thời nhà Hạ. Đó là một triều đại cổ xưa, vũ khí thô sơ giáp trụ còn chưa có. Vậy tại sao Chu Công lão lại có trong tay cái hồ lô ngọc ? Chắc chắn là người vẽ đã thêm thắt để đưa những ẩn ý vào bên trong bức hoạ.
-Phải chăng bức họa này còn mang một ý nghĩa khác ? Mà chính chiếc hồ lô là điểm mấu chốt để tìm ra nơi cất giấu Tửu Kinh.
Nói rồi Lỗ Thể Ngân kiểm tra kỹ lưỡng bức tường phía sau bức họa Chu Công nhưng không tìm ra được gì. Doãn Văn nảy ra một ý :
-Hay là ta lấy bức họa đặt gần lửa hơ nóng để xem Tửu Kinh có hiện ra hay không?
Lỗ Thể Ngân khen phải rồi cả hai cùng đem bức họa đi hơ lửa nhưng chẳng thu hoạch được gì. Cả hai lại cau mày đăm chiêu suy nghĩ.
Đang lúc đó bỗng nghe tiếng bước chân của vài người đi vào thư phòng. Lỗ Thể Ngân cùng Doãn Văn chạy lên xem thì ra là đám huynh đệ trong bang. Một tên nói:
-Bẩm bang chủ! Bọn quan binh đều đã bị giết, chúng ta thương vong khoảng hai mươi người huynh đệ.
Lỗ Thể Ngân đáp:
-Các ngươi cử ra một vài người đi lo hậu sự cho những huynh đệ đã chết. Số còn lại chuẩn bị xe rồi xuống tầng mật thất chuyển hết vàng bạc châu báu lên.
Bọn thủ hạ y lệnh lui ra, ai làm việc nấy. Mặt trời lúc này cũng vừa lên khỏi ngọn cây. Doãn Văn cùng Lỗ Thể Ngân quay trở xuống tầng mật thất. Những tia nắng rực rỡ trong buổi ban mai cũng bắt đầu len lõi qua khe hở rọi thẳng xuống tầng hầm.
Có một tia nắng to chiếu vào nơi treo bức họa Chu Công lúc nãy. Doãn Văn treo bức hoạ trở lại chỗ cũ thì thấy tia nắng to sáng kia đang chiếu thẳng vào chiếc hồ lô trong tranh. Thấy có chút sinh nghi, Doãn Văn liền nói:
-Muội đưa cho ta chiếc hồ lô và hãy đi tắt hết những ngọn đuốc đang cháy. Muội làm sao cho căn hầm trở nên càng tối càng tốt.
Những ngọn đuốc đã tắt hết, giờ trong căn hầm chỉ còn lại ánh mặt trời le lói. Doãn Văn bước tới đặt chiếc hồ lô ngọc vào đúng vị trí trên bức tranh. Chiếc hồ lô được tia nắng chiếu vào quả nhiên phát quang dạ lên vách theo hướng mũi của chiếc hồ lô trong tranh. Kì lạ thay, phần vách được chiếc hồ lô chiếu sáng lại có một viên đá đổi sang màu khác. Lỗ Thể Ngân cả mừng đập viên đá đó ra quả nhiên trong đó có cất giấu quyển Tửu Kinh Thập Tam Huyết.
Lỗ Thể Ngân mừng ra nước mắt quỳ xuống, ngẩng mặt lên trời khấn:
-Thưa cha! Nhờ cha phù hộ mà nữ nhi đã tìm ra được Tửu Kinh của gia tộc. Cha ở dưới chín suối cũng có thể yên lòng nhắm mắt. Nay nữ nhi bất hiếu tự ý dắt đám huynh đệ lên Lương Sơn để cùng mưu đại sự.
Tìm được Tửu Kinh, Lỗ Thể Ngân quay sang đốc thúc bọn kia mau chóng chuyển hết số châu báu lên xe. Một lúc sau mọi thứ đã được đưa lên xe, chuẩn bị khỏi hành xuất thành. Doãn Văn nói:
-Cả loài thú còn biết ngụy trang để qua mắt kẻ thù, chúng ta lẽ nào lại công khai chở số tài sản này vào ban ngày ban mặt trước đám quan binh.
Lỗ Thể Ngân hỏi:
-Vậy huynh có kế sách gì để chúng ta an toàn vận chuyển số kim ngân này đến Lai Điểu Trấn.
-Chúng ta sẽ chia làm bốn nhóm nhỏ để lần lượt ra thành. Một nhóm cải trang thành đám nông dân đẩy rau cải ra ngoài thành; Một nhóm giả làm một tang gia đẩy hai chiếc quan tài ra ngoại thành chôn cất; Một nhóm khác cải trang làm cái bang, mỗi tên đeo một túi nhỏ. Tuy túi nhỏ lấy không được nhiều nhưng bù vào nhiều người. Nhóm còn lại sẽ cải trang thành một đám tiêu sư đang áp tải kim ngân. Còn ta và Lỗ tiểu thư sẽ âm thầm đi sau nếu có bất trắc sẽ kịp thời tương cứu. Các ngươi hãy đi chuẩn bị, nhóm nào xong trước thì lên đường ngay.
Sau khi phân chia thành từng nhóm, đám thủ hạ của Lỗ Thể Ngân tản ra chuẩn bị mọi thứ rồi lần lượt rời khỏi thành. Khi nhóm cuối cùng xuất thành cũng đã xế chiều, Doãn Văn cùng Lỗ Thể Ngân mới lặng lẽ rời khỏi. Không biết là vì bọn họ cải trang quá giỏi hay là đám quan binh quá vô dụng mà cả bốn nhóm đều trót lọt.
Đi đến khuya đêm đó nhóm người của Doãn Văn và Lỗ Thể Ngân hội ngộ với đám người của đình Trung tại một quán trọ cách Lai Điểu Trấn không xa. Bọn họ nghỉ lại một đêm ở quán trọ.
Sáng sớm hôm sau, Doãn Văn dẫn đầu đoàn người thẳng tiến đến Lương Sơn. Lai Điểu Trấn chỉ cách Lương Sơn chừng bốn trăm dặm nên chỉ trong nửa ngày đường họ đã đến nơi.
Đứng trước một vùng trời nước mênh mông của Thủy Bạc mà lòng Doãn Văn như Trường Giang cuồn cuộn sóng. Doãn Văn ra lệnh hạ trại ở bên bờ và cho một toán đi chuẩn bị thuyền bè để qua sông. Hai ngày sau, mười chiếc thuyền chở Doãn Văn cùng đám thủ hạ nối đuôi nhau vượt sông tiến đến chân núi Lương Sơn.
Từng dốc đá hàng cây trên Lương Sơn dường như vẫn còn phảng phất đâu đó bóng hình của các vị hảo hán năm xưa. Đi một đoạn Doãn Văn bắt gặp một nấm mộ bên đường. Nhìn hàng chữ trên mộ bia khiến Doãn Văn bùi ngùi thương cảm, trên đó đề là:
“Huynh trưởng Tiều Cái - Tống Giang lập mộ”. Doãn Văn bước một chân về phía trước, quỳ xuống bái lạy. Doãn Văn tưới một chung rượu trước mộ Tiều Cái rồi lại đi tiếp.
Bước qua khỏi cái cổng gỗ xiêu vẹo, đi sâu vào sơn trại trước mắt họ là một gian nhà lớn. Tấm bảng gỗ đỏ thắm ngày nào giờ đây đã bạc màu, nét chữ phai trôi. Doãn Văn phải nhặt lên nhìn thật kỹ mới nhận ra chữ Tụ Nghĩa Đường nhợt nhạt trên nó. Lỗ Thể Ngân quay lại bảo đám thuộc hạ quét dọn cho sạch sẽ.
Doãn Văn đẩy cửa bước vào trong Tụ Nghĩa Đường, Lỗ Thể Ngân cũng bước theo sau. Tiếng cót két của cánh cửa bám đầy rêu phong mạng nhện nghe mà xao xuyến tâm can người hảo hán. Hai bên sảnh đường là hai dãy ghế có phân ngôi thứ hẳn hoi của các vị đầu lĩnh. Doãn Văn đến bên cạnh hai chiếc ghế ở giữa sảnh của Tống Giang và Lư Tuấn Nghĩa. Lấy tay gỡ từng lớp mạng nhện trên ghế mà Doãn Văn không cầm được niềm thương cảm, thốt lên rằng :
-Ôi ! Cảnh cũ còn đây nhưng cái bậc tiền nhân đã không còn nữa. Mọi thứ ở nơi đây thật khác so với trong tưởng tượng của ta. Nó mộc mạc và đơn sơ quá.
Nói tới đây Doãn Văn lại nước mắt giàn giụa tiếc thương các vị hảo hán Lương Sơn ngày trước. Lỗ Thể Ngân đứng cạnh cũng sụt sùi đồng cảm. Được một lúc Doãn Văn cho triệu tập tất cả mọi người ở ngoài sân, lập bàn hương án khấn vái một hồi rồi nói:
-Các huynh đệ ! Vào mười năm về trước tại vùng Thuỷ Bạc - Lương Sơn này, một trăm lẻ tám vị nhân kiệt đã chọc trời khấy nước, làm cho triều đình Nhà Tống kinh sợ bất an. Nay huynh đệ chúng ta cùng lâm vào cảnh tuyệt lộ đã vậy thì chúng ta còn sợ gì mà không nổi lên chống lại triều đình. Ta phải dựng lại ngọn cờ “Thế Thiên Hành Đạo”…
Doãn Văn dứt lời thì bên dưới hô theo, khí thế ngút trời :
“Thế thiên hành đạo … Thế thiên hành đạo”
Một lần nữa, ngọn cờ Thế Thiên Hành Đạo của Thuỷ Trại Lương Sơn lại kiêu hãnh tung bay trong gió.
Từ ngày dựng cờ ở Lương Sơn, Doãn Văn công khai đối địch với triều đình. Quân của Doãn Văn đã mấy phen tràn xuống các huyện thành lân cận đánh phá, mở kho lương phân phát cho dân; chặn đường cướp quan ngân, một phần phát lại cho dân nghèo, một phần dùng để chiêu binh mãi mã. Tiếng tăm của Lương Sơn ngày càng vang dậy, hảo hán khắp nơi kéo đến đầu quân. Đúng là:
Loạn thời lạc thế xuất hùng anh
Dấy nghĩa Lương Sơn quyết công thành
Hảo hán chung vai tương hợp lực
Huyết lệ muôn đời thấm sử xanh
---
Mùa xuân năm Tĩnh Khang thứ nhất, người Kim đã công khai tấn công vào bờ cõi Đại Tống sau bấy nhiêu năm ôm ấp dã tâm xâm chiếm Trung Nguyên. Sau hơn ba tháng trời giao chiến, quân Tống liên tiếp bại trận, tướng trấn ải của quân Tống là Liễu Hiên khiếp sợ trước thế quân như nước đổ của Kim nhân mà vội rút về Yên Kinh. Quân Kim lần lượt chiếm được các thành Tần Bình, U Châu và Tấn Dương. Cuối cùng tiến đến vây hãm Yên Kinh trong nhiều ngày.
Dân chúng trong các thành bị quân Kim chiếm đóng thống khổ than trời. Hễ rợ Kim đi đến đâu là tàn phá giết chóc đến đó. Đám nạn dân chạy tán loạn, kẻ bị giết, người bị ngựa giặc giẫm lên. Những nơi nào không hàng phục thì chúng tàn sát thẳng tay, người lớn bị phanh thây moi ruột, trẻ con bị vứt vào vạc dầu sôi, bị xiên trên đầu mũi giáo. Hành động của rợ Kim khiến nhân - thần đều căm giận. Lão bá tánh phải sống trong cảnh nhà tan cửa nát, tang tóc khắp nơi.Họ chỉ biết chờ trời cao thương xót, chứ không trông mong gì ở triều đình bạc nhược đương thời.
Lại kể đến triều đình hủ bại, trước tình cảnh hưng vong của nước nhà mà Tống Khâm Tông vẫn mặc sức vui chơi hưởng lạc, bỏ ngoài tai những lời can gián của một vài vị lão thần. Không chỉ vui chơi sa đọa, Tống Khâm Tông còn có thú vui rất tàn ác dã man. Hắn cho xây một cái hồ sâu , dài rộng đều một trượng, đổ đầy nước vào. Khâm Tông cho bắt những tên tù nhân ra, phát cho mỗi người một con dao cùn rồi xô xuống đó. Bắt chúng phải tàn sát lẫn nhau đến khi còn lại một người cuối cùng mới thả dây kéo lên. Người sống sót cuối cùng được ban cho rượu thịt rồi phóng thích. Mỗi lần chỉ cho xô xuống mười người và đều được đánh số trên áo để Khâm Tông cùng bọn quan lại cá cược với nhau.
Một hôm, Khâm Tông cũng ra lệnh cho tiến hành thú giải khuây man rợ như mọi ngày. Khi đám tù binh lần lượt bị xô xuống cái hồ tử thần kia thì bất ngờ có một tên tù nắm lấy đai lưng của viên cai ngục mà lôi xuống cùng. Do thường ngày viên cai này có thói quen đánh đập hành hạ phạm nhân nên họ mong sao được uống máu của hắn. Thấy viên cai ngục rơi xuống hồ, đám tù nhân như hổ khát máu vội vây lấy chém đâm thỏa thích. Ở trên bờ Khâm Tông cùng đám quan lại xem thấy có chút mới mẻ nên reo hò thúc giục ầm ĩ. Vì trên tay đám tù nhân toàn là dao cùn nên viên cai ngục bị đâm chém rất nhiều nhát mới chết hẳn. Máu nhuộm đỏ cả nước hồ. Khi viên cai ngục chết đã thì “phe liên minh” tan rã, mỗi người trở lại nhiệm vụ chung đó là giết hết những ai còn sống.
Sau một lúc tương tàn đẫm máu cuối cùng cũng còn một kẻ may mắn sống sót. Kẻ tội nhân mình đầy thương tích đang dốc hết sức lực còn lại để trèo lên sợi dây hy vọng tìm ra sự sống mỏng manh. Hai tên quan lại hý hửng chúc nhau vì thắng cược, trong lúc vui mừng bất giác những lời đó bị Khâm Tông nghe được. Tên bạo quân tức giận đứng dậy, lệnh:
-Mang cung tên đến đây cho ta!
Khâm Tông giương cung nhắm vào kẻ tội đồ đáng thương mà bắn. Mũi tên tàn độc xé gió lao tới cắm thẳng vào lồng ngực của tên tù nhân. Khâm Tông khoái chí nhìn tên tội nhân miệng trào máu tươi mà hai tay vẫn nắm chặt sợi dây – hy vọng sống cuối cùng của hắn nhưng cuối cùng vẫn bị tước đi. Bạo quân cười, nói to :
-Bây giờ thì không ai còn sống, vậy thì trẫm mới là người thắng cuộc.
Hai tên quan kia sau một lúc mơ hồ thì kịp thời hiểu chuyện, liền bước ra quỳ lạy :
-Hoàng thượng quả là tài nghệ siêu quần, chúng thần có tu tích mười kiếp cũng không thể sánh bằng. Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.
Nghe vậy đám quan lại và cung nữ thái giám ở quanh đó đều quỳ xuống đồng thanh:
“Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế”
Khâm Tông từ khi lên ngôi mỗi ngày đều được nuôi bằng những câu nịnh bợ xuôi tai nên khi nghe hắn rất lấy làm thích thú:
-Các khanh hãy bình thân ! Người đâu ban rượu.
Sau câu tạ ơn đồng thanh của đám hoạn quan nịnh nọt là giọng hốt hoảng của một tên lính chạy vào thưa:
-Khải bẩm hoàng thượng ! Ngoài chiến trường có quân tình bẩm báo.
-Mau nói.
-Bẩm hoàng thượng ! Thần - Trấn Ải Yên Kinh Tướng - Liễu Hiên cúi đầu dâng biểu tâu lên …
Tống Khâm Tông quơ tay ngắt ngang:
-Thôi ! Dài dòng quá, nhà ngươi cứ nói nội dung chính cho ta nghe.
-Dạ ! Liễu tướng quân trong thư báo là đại quân sau nhiều lần chiến bại khiến thất thủ ba thành Tần Bình, U Châu và Tấn Dương. Hiện nay Liễu tướng quân đang bị vây nhiều ngày ở Yên Kinh, mong hoàng thượng cho viện binh đến cứu.
-Tên Liễu Hiên bất tài đã làm mất mấy thành trì của trẫm vào tay giặc Kim mà nay còn dám mở miệng xin xỏ ta tăng viện binh.
Ngay lúc đó lại có người vào báo :
-Bẩm hoàng thượng ! Có Lương đại nhân xin vào cầu kiến.
Khâm Tông cau mày, lẩm bẩm:
-Lại là tên Lương Bội lắm lời, hắn đến không biết lại dông dài chuyện gì nữa đây ? Nhưng ta phải kiêng nể hắn đôi phần, dù gì hắn cũng là Tam Triều Nguyên Lão.
Xong lại nói:
-Cho hắn vào!
Một ông lão hình dáng thấp nhỏ, da nhăn tóc bạc, khoảng ngoài tám mươi, bước chân chậm rãi, thân mang cẩm bào đai ngọc đường vệ bước vào quỳ, tâu:
-Thần - Phủ Doãn Khai Phong – Lương Bội xin khấu kiến hoàng thượng, hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Miễn lễ ! Lương khanh gia hãy đứng lên mà nói !
-Tạ ơn hoàng thượng .
-Lương khanh gia có việc gì cần tâu thì dâng sớ cho người đem vào cung là được rồi. Khanh tuổi đã cao sau này đừng đi lại nhiều nữa. Khanh có việc gì muốn thưa ?
-Muôn tâu hoàng thượng ! Hiện nay bắc thì rợ Kim xâm chiếm, nam lại có giặc cỏ Lương Sơn, quốc gia đang lâm vào tình cảnh nguy nan. Cúi mong thánh trời soi tỏ nỗi khổ của muôn dân, tự cảnh tỉnh mà chấn hưng triều cương.
-Nói đi nói lại cũng câu này, vậy bây giờ khanh muốn trẫm làm gì ?
-Mong hoàng thượng hạ lệnh cho quân tiến về phía bắc để tiếp viện Liễu Hiên tướng quân đang bị vây khốn ở Yên Kinh. Sau khi bình định được rợ Kim thì mới xua quân về phía nam hỏi tội nghịch tặc Doãn Văn.
Khâm Tông đang cau mày cân nhắc thì Đồng Quán bước ra tâu:
-Bẩm hoàng thượng ! Yên Kinh cách Biện Kinh – Khai Phong hơn một ngàn dặm. Còn phải qua hơn mười mấy thành trì. Nếu mang hết quân trong thành đi cứu viện chỉ sợ chưa đến Yên Kinh để dẹp giặc Kim thì quân Lương Sơn đã kéo đến, lúc đó biết lấy gì mà chống đỡ với bọn chúng.
Lương Bội cả giận, liền mắng Đồng Quán:
-Tên tham quan vô liêm sỉ kia ! Xã tắc Đại Tống bị nguy khốn đến như vầy cũng là do bè lũ các ngươi hù nhau làm bậy, buông lời xàm tấu đến thiên tử, dèm pha hãm hại trung lương. Lão phu hôm nay đến đây đã biết trước là liều mạng già với các ngươi.
Nói rồi Lương Bội quay sang cái bàn gần đó chụp lấy bình rượu chọi vào Đồng Quán, bình rượu bay va vào cột nhà vỡ ra rượu văng ướt hết áo mão của Đồng Quán. Thấy vậy Khâm Tông cả giận quát :
-Lương Bội ! Ngươi ỷ mình là lão thần, càng ngày càng không xem trẫm ra gì cả. Dám cả gan trước mặt trẫm có hành vi vô lễ. Ngươi có biết tội không ?
Lương Bội quỳ sụp xuống khóc sướt mướt :
-Bẩm hoàng thượng ! Nhi thần không dám mang tội bất kính nhưng nếu đứng nhìn giang sơn Đại Tống lâm nguy mà không bất lực ngồi nhìn thì thật là hổ thẹn với tiên hoàng nơi chín suối. Yên Kinh là nơi yết hầu của vùng đông bắc, địa thế cao ráo hiểm trở, xung quanh có núi đồi bao bọc, dễ thủ khó công. Chính vì như thế mà Kim nhân vây lấy Yên Kinh nhiều ngày mà vẫn không dám công thành. Nhưng nếu để Yên Kinh bị vây lâu ngày, lương thảo trong thành cạn kiệt thì Kim nhân không tốn một binh một tốt vẫn hạ được Yên Kinh. Lão thần thay mặt hàng vạn bá tánh sinh linh cúi mong hoàng thượng xua quân cứu lấy Yên Kinh.
Kham Tông sau một lúc đắn đo rồi nói :
-Được rồi ! Ngày mai trẫm sẽ cử một đạo quân khác đến giải vây Yên Kinh. Ngươi đã hài lòng chưa ?
-Hạ thần không dám.
-Đã hết chuyện ! Lương khanh gia có thể về phủ để nghỉ ngơi.
-Tạ ơn hoàng thượng. Nhi thần cáo lui.
Lương Bội quay lưng đi thì Khâm Tông cùng đám quan viên trở lại cuộc chè chén say sưa. Đáng buồn cho Đại Tống, đáng tiếc cho lòng trung của Lương Bội :
Chợt nghĩ mà thương kẻ bạc đầu
Mưu toan mọi sự bởi vì đâu ?
Mệnh trời vô ý trao long nghiệt
Thoáng chốc cơ đồ đắm biển sâu
----
Nói lại chuyện bên này, đến nay đã ba tháng kể từ khi Tần Vinh lên Lư Sơn và được sư phụ ban cho Xuyên Vân Hồi Phong Thương cùng với thương phổ thì ngày đêm luyện tập thương pháp mong sớm ngày lĩnh hội hết tinh túy võ học của tổ sư. Tần Vinh vừa luyện thành Hồi Phong Thương Pháp nhưng vẫn chưa nghĩ ra thâm ý của bức tranh. Tần Vinh rời khỏi hang động trở về thiền quán tìm sư phụ. Tần Lượng thấy chủ nhân trở về liền vui mừng ra đón. Tần Vinh hỏi:
-Sư phụ đâu ? Sao chỉ có mình ngươi ?
-Trước khi chủ nhân xuống núi vài ngày, Bạch Mi tiền bối đã rời khỏi đây để mà vân du tứ hải.
-Sao sư phụ đi mà ngươi không báo cho ta biết trước một tiếng. Trước khi đi sư phụ có căn dặn gì không.
-Bạch Mi tiền bối có dặn nhắn lại với chủ nhân là phải dùng võ chứng đạo, cố gắng phát huy tinh thần võ học để làm rạng danh tổ sư.
-Sư phụ có nói là khi nào trở về không ?
-Cái đó thì tiểu nhân không biết ! À, phải rồi…
-Sao ?
-Tiền bối còn nói hiện nay ở Lương Sơn đã có một toán hào kiệt nổi dậy chống phá triều đình, cầm đầu là một hảo hán tên là Doãn Văn. Đó là Doãn đại ca.
-Doãn huynh đệ quả là một trang tuấn kiệt lỗi lạc đương thời. Chúng ta cũng đi thôi.
-Đi đâu thưa chủ nhân ?
-Lương Sơn - Thuỷ Trại
Thu xếp xong Tần Vinh cùng Tần Lượng rời khỏi Lư Sơn. Trên đường đến Lương Sơn họ đi ngang Thượng Nhiêu Thôn, bắt gặp một toán thảo khấu đang xông vào thôn cướp bóc. Cả hai nổi khí xung thiên xông vào loạn đả. Cầm đầu đám thảo khấu là một gã đại hán đầu quấn khăn vải thô, mình mặc áo da cừu, mặt đen râu xám, thân cao chín thước, tay cầm Đại Phong Đao, ước đặng vài mươi cân, hầm hầm giục ngựa hươi đao chạy lại. Tần Vinh đẩy Tần Lượng sang một bên rồi vung thương ứng chiến. Hai bên giáp chiến nhưng chỉ mới vài hiệp gã kia đã ngã ngựa dưới thương của Tần Vinh. Tần Vinh bước tới kề ngạnh thương vào cổ nói to:
-Bảo đám lâu la của ngươi dừng tay, nếu không ta giết…
Gã mặt đen hậm hực hô :
-Các người dừng tay lại.
Đám người kia thấy vị đầu lĩnh bị bắt liền ngừng tay, buông khí giới xuống. Tần Vinh điểm mặt gã đó hỏi:
-Ngươi tên là gì ? Dáng vẻ ngươi xem ra cũng là một đại hán tại sao lại làm trò cướp bóc ức hiếp dân lành ?
-Ta tên Điền Bảo. Muốn giết cứ giết đừng hỏi nhiều.
Tần Vinh nghe tên Điền Bảo liền thu thương lại và hỏi:
-Ngươi Điền Bảo mà giang hồ thường gọi là Hắc Diện Lang ?
Điền Bảo chỉ lườm ngang mà không thèm trả lời. Tần Vinh chống thương bước tới hai tay đỡ lấy Điền Bảo. Gã mặt đen ngạc nhiên trố mắt nhìn Tần Vinh, rồi hỏi lại :
-Vậy ngươi là ai ? Tại sao lại biết ta ?
-Ta là Tần Vinh trước đây làm Tổng Binh ở Biện Kinh. Còn đây là người thân cận của ta.
Điền Bảo trợn mắt, há to mồm kinh ngạc rồi thốt:
-Thì ra là Phong Vũ Bôn Lang Tần Vinh - Tổng Quản Binh Mã ở Đông Kinh. Vừa rồi được thấy thương pháp siêu quần của Tần Tổng Binh đáng lẽ tiểu đệ phải nhận ra từ sớm, tiểu đệ quả là có mắt mà không biết Thái Sơn. Xin hãy nhận của tiểu đệ một lạy để tạ tội.
Nói rồi Điền Bảo quỳ phục xuống lạy, Tần Vinh vội đỡ dậy mà nói :
-Điền huynh đệ, Điền huynh đệ ! Xin đừng làm vậy. Đều là huynh đệ với nhau, xin đừng thi đại lễ như vậy.
Điền Bảo đứng dậy nói:
-Tiểu đệ được biết Tần đại ca bị bè lũ Cao Cầu hãm hại, suýt phải mất mạng, may nhờ có vài vị hảo hán ra tay tương cứu mà thoát nạn.
-Vậy còn Điền huynh đệ ? Sao lại đến nơi này làm cướp ? Không phải đang làm cai ngục ở nhà lao Dương Châu hay sao ?
-Đệ vì tự ý thả một hảo hán trong ngục mà thân mang tội, bị đày đến U Châu.
-Lòng nghĩa hiệp của Điền huynh đệ Tần mỗ thật lấy làm khâm phục.
Điền Bảo nói tiếp :
-Trên đường lưu đày đệ được một toán thảo khấu ở Nhị Long Sơn cứu về trại, không nhờ trại chủ chủ chính là vị hảo hán mà đệ thả ra trước đây. Hắn giữ đệ ở lại và phong làm nhị trại chủ. Không may cách đây một tháng huynh ấy đã vong mạng trong lần chạm trán với quan binh nên đệ lên thay chức trại chủ.
-Điền huynh đệ hành thiện thì gặp phước, đó là cái cốt của nhân tâm.
-Nay huynh trưởng đã đến đây thì xin mời lên sơn trại của tiểu đệ, chúng ta sẽ uống rượu ca hát ba ngày ba đêm.
-Thật khó lòng mà tùng mệnh ! Tần mỗ còn phải lên đường hội ngộ với bằng hữu ở Lương Sơn để cùng mưu việc lớn.
-Có phải Lương Sơn Trại mà gần đây thường hay công khai đánh phá triều đình không ?
-Không sai ! Hiện nay triều đình hủ bại, thiên tử ăn chơi sa đọa để mặc cho đám gian thần lộng quyền. Rợ Kim lại đang giày xéo giang sơn Đại Tống ta, bá tánh cơ khổ lầm than.
Mặt Tần Vinh rạng lên một vầng hào khí lẫm liệt, Tần Vinh vỗ vai Điền Bảo nói :
-Điền đệ Là một nam nhi giữa trời đất, chẳng lẽ lại khoanh tay trước quốc nạn. Điền Bảo hiền đệ có từng nghĩ là cùng ta lên Lương Sơn để mưu đại sự không ?
Điền Bảo hai tay bóp chặt tay Tần Vinh, đôi môi rung lên xúc động nói:
-Nhờ có lời lẽ của đại huynh mà ngu đệ đây như thấy được ánh sáng. Đệ nguyện từ nay đem thân này phò giúp đại huynh để hoàn thành chí nguyện thỉnh cứu vạn dân.
-Có được hiền đệ thấu hiểu đại nghĩa thật là phúc của Tần Vinh. Nào hiền đệ hãy về điểm lại số huynh đệ rồi ta cùng nhau lên tụ nghĩa ở Lương Sơn.
Điền Bảo cùng Tần Vinh trở về sơn trại điểm quân, cả thảy được hai ngàn tên. Điền Bảo cho người châm lửa đốt bỏ sơn trại rồi hoan hỷ cùng Tần Vinh đến hội nghĩa ở Lương Sơn. Thật là hay :
Hảo hán quên đời thích rong ca
Khí khái vô tư chốn hải hà
Chợt hiểu đạo trời như tỉnh mộng
Lửa hồng đốt trại, hát ngân nga
Kể đến bọn huynh muội họ Di và Âu Dương Nam Lạc sau nhiều ngày ở lại Lục Hòa Tự. Di Thiên Huấn cũng đã lĩnh gần hết nào côn pháp của Võ Tòng. Mới đây lại nghe tin vùng Thủy Bạc – Lương Sơn có một một đạo quân chính nghĩa nổi lên nên bọn họ từ giã Võ Tòng rồi cả bọn kéo nhau xuống núi. Đi thẳng về hướng Lương Sơn. Hàng Châu cách Lương Sơn không xa lắm, nên chỉ vài ngày đường là họ đã đến nơi.
Nói lại bên này, Lương Sơn chỉ sau vài tháng khởi dậy mà hào kiệt trai tráng khắp nơi kéo đến đầu quân, đến bây giờ quân số đã lên đến gần ba vạn. Một hôm Doãn Văn đang bàn sách lược cùng Lỗ Thể Ngân thì có quân vào báo:
-Bẩm trại chủ ! Có ba vị từ xa đến muốn xin gặp trại chủ.
-Họ gồm những ai ? Hiện giờ đang ở đâu ?
-Đó là hai nam một nữ, tướng mạo phi phàm. Họ đang chờ ở trước cổng trại.
-Mau mời vào.
Doãn Văn gấp lại tấm bản đồ da thú, xong ngồi chờ tiếp khách. Ba người bước vào chính là huynh muội họ Di và Âu Dương Nam Lạc. Doãn Văn hỏi
-Ba vị tìm Doãn mỗ có việc gì ? Xin cứ nói.
Di Thiên Huấn chấp tay thưa:
-Tại hạ là Di Thiên Huấn, tiểu muội là Di Thiên Thư cùng với bằng hữu là Âu Dương Nam Lạc đến đây để xin cùng góp sức phò trợ Doãn trại chủ hoàn thành đại nghiệp.
Doãn Văn đứng dậy vỗ tay nói:
-Hiếm khi thấy những vị anh hùng trung can nghĩa đảm. Được ! Vậy từ nay chúng ta một lòng cùng mưu giành thiên hạ. Người đâu mang rượu !
Quân mang rượu ra Doãn Văn tự tay đến rót rượu cho từng người. Mới cạn được hai chén thì lại có lính chạy vào báo:
-Báo trại chủ ! Từ phía Đông Nam có một đạo quân đang tiến về phía chúng ta. Chỉ cách còn khoảng mười dặm.
Doãn Văn tức giận đập nát chén rượu quát to:
-Chỉ còn mười dặm ? Tại sao lại báo tin trễ đến như vậy?
-Thuộc hạ biết tội ! Xin trại chủ xử phạt.
-Mau truyền lệnh xuống, tất cả chuẩn bị chiến đấu.
-Dạ!
-Lỗ Thể Ngân, muội điểm năm ngàn binh mã theo ta xuống núi nghinh địch
-Dạ.
Bọn Di Thiên Huấn mắt cũng sáng rực lên, cầm khí giới chạy theo Doãn Văn tương chiến. Trong chốc lát quân Doãn Văn đã kịp bày trận chờ đón quân địch. Từ xa xuất hiện một đạo binh mã khoảng hai ngàn người, đi đầu là một mãnh tướng mình mặc giáp trắng, ngồi trên bạch mã, tay cầm thương bạc oai phong lẫm liệt.
Doãn Văn nhìn loàng thoáng từ xa thấy mãnh tướng này rất quen. Tướng kia từ xa vẫy gọi :
-Doãn huynh ! Doãn huynh ! Không nhận ra ta sao ?
Khi hai quân đã giáp thật gần thì Doãn Văn mới nhận ra đó là Tần Vinh. Cả hai bỏ ngựa chạy đến ôm chầm lấy nhau, mừng mừng tủi tủi. Sau đó cả bọn kéo nhau về sơn trại để mà hàn huyên. Đêm hôm đó Thuỷ Trại Lương Sơn ngập chìm trong vị tửu.
Vài ngày sau, Doãn Văn cho lập một bàn hương án và mời lại hết bảy người: Lỗ Thể Ngân; Di Thiên Huấn; Di Thiên Thư; Âu Dương Nam Lạc; Tần Vinh; Tần Lượng; Điền Bảo.
Doãn Văn nói:
-Thưa các vị huynh đệ ! Chúng ta từ khắp nơi hội tụ về Lương Sơn này. Mỗi người một hoàn cảnh đẩy đưa mà đến với đại chí thỉnh cứu vạn dân trong thiên hạ. Tám người chúng ta kể từ hôm nay cắt máu lập thệ.
Dứt lời Doãn Văn rút ra một con dao, cắt tay nhỏ máu vào chén rượu trên bàn. Rồi con dao lần lượt được chuyền đi tới tay từng người. Doãn Văn nâng chén rượu ngang mặt uống rồi giơ một tay lên thề :
Ai phản bội thiên đao vạn trảm
Ai thất tín thân xác không còn
Ai quên nghĩa ngũ mã phanh thây
Ai bội ước xuyên tâm vạn tiễn
Cả bảy người kia đồng thanh đọc theo và lần lượt uống cạn chén rượu. Chén rượu tanh nồng mùi máu nhưng lại đậm đà tình huynh đệ, hào khí ngất trời. Rồi đây những hảo hán Lương Sơn của chúng ta sẽ chọc trời khuấy nước như thế nào ? Mời quý vị đón xem hồi sau của Tân Thủy Hử…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
13-09-2009, 08:17 AM
Hồi Thứ 9
Chiếm Yên Kinh rợ Kim trương uy thế
Treo huyết kỳ nghĩa sĩ tiến Khai Phong
Tháng sáu năm Tĩnh Khang thứ nhất, tướng trấn ải của quân Tống là Liễu Hiên vì sau nhiều ngày bị quân Kim vây hãm ở Yên Kinh mà quân tiếp viện chưa đến kịp nên đã mở cửa thành quyết một trận tử chiến.
Cửa thành Yên Kinh vừa mở thì quân Kim đã cho dàn quân chờ sẵn. Liễu Hiên ngồi trên bạch mã,đầu đội thiết khôi, mình mặc xích bào, tay cầm hai cây đoản thương dẫn toàn bộ binh mã ra thành khai chiến. Tiếng trống rền vang, giục giã thôi thúc, tràn đầy không khí sát phạt. Tiếng vó ngựa, tiếng chân người rung chuyển mặt đất. Quân Kim từ hai phía lao vào vây lấy quân Tống ở thế gọng kìm. Dẫn đầu đạo quân đi giữa là một mãnh tướng mặt đen mắt to, chân mày xếch ngược, tóc thắt hai bím, râu hùm hàm én, mình mặc huỳnh giáp, đầu đội mão sư tử, tay cầm một cây thiết chùy, ước chừng tám mươi cân, cưỡi con Hắc Long Câu bờm bạc lông đen, trước cờ đề ba chữ “ Bố Gia Kỳ ”.
Bố Xích Ha là một mãnh tướng người Kim, trời sinh thần lực nhưng vô cùng tàn bạo. Mỗi lần Bố Xích Ha thắng trận đều chính tay moi tim tướng địch đem về nhắm rượu. Trong trận chiến ở U Châu, Liễu Hiên đã dùng tên tẩm độc bắn chết cháu ruột của Bố Xích Ha là Bố Nhĩ Đan. Trông thấy quân kỳ của Bố Xích Ha thì Liễn Hiểu mất hết nhuệ khí, tim đập mạnh liên hồi. Bố Xích Ha điểm mặt Liễu Hiên quát rằng:
-Liễu Hiên ! Hôm nay ta phải moi tim ngươi để tế hồn thiêng của tiểu điệt ta.
Nói rồi Bố Xích Ha tế ngựa lao vào giữa Tống quân. Liễu Hiên thất kinh hồn vía ra lệnh cho toàn quân tiến về trước để cản lại tướng Kim. Bố Xích Ha anh dũng thiện chiến xông vào trận địch, cây thiết chùy trong tay Bố Xích Ha hết quơ trái rồi lại đập phải. Cây chùy đập vào đầu thì nát sọ, trúng vào ngực thì vỡ tim, chẳng mấy chốc xác quân Tống nằm la liệt. Bố Xích Ha lao tới quay chùy ra sau vòng qua khỏi đầu rồi bổ mạnh về phía Liễu Hiên, Liễu Hiên liền bắt chéo hai cây thương giơ lên đỡ. Thiết chùy giáng xuống cặp đoản thương tạo ra một tiếng “beeng” đinh tai nhức óc. Con ngựa của Liễu Hiên không chịu nổi lực nặng của đòn đánh liền hý vang rồi đuối sức khụy hai chân trước xuống. Liễu Hiên bị mất thăng bằng cũng ngã nhào ra phía trước, hắn hoảng hồn choàng dậy chạy về phía cửa thành, hô to:
-Mau ! Mau cản hắn lại ! Bảo vệ ta ! Bảo vệ ta mau !
Bố Xích Ha giục ngựa đuổi theo, con Hắc Long Câu chỉ trong ba sải chân đã đuổi kịp Liễu Hiên. Bố Xích Ha hét lớn một tiếng rồi giáng quả chùy thẳng xuống chiếc thiết khôi mà Liễu Hiên đang đội. Cú đập như trời giáng làm cho xương cổ của Liễu Hiên nát vụng, đầu hắn lún sát vào thân. Đám tàn quân thấy chủ tướng chết liền bỏ khí giới chạy tán loạn. Bố Xích Ha chiếm được Yên Kinh không tốn một binh một tốt.
Bố Xích Ha xua quân vào thành, giết chết tri phủ Yên Kinh. Quân Kim sau nhiều ngày vây hãm thành bị đói khát thiếu thốn lương thảo mà Yên Kinh cũng bị vây trong nhiều ngày nên chẳng còn bao nhiêu lương thực. Rợ Kim một phần vì đói, một phần vì bản chất tàn bạo hoang dã nên chúng điên tiết giết người đốt phá khắp nơi. Yên Kinh chìm trong mưa máu gió tanh. Đúng là :
Giang sơn Đại Tống vốn suy tàn
Thêm vó rợ Kim ắt phải tan
Yên Kinh máu đẫm loan khắp chốn
Cung đình rượu ấm thỏa vua quan
Đến khi thật sự hết lương thảo chúng tự ý giết ngựa và tàn sát lẫn nhau để giành thức ăn. Bố Xích Ha vì trấn áp loạn quân đã ra lệnh chém hơn một ngàn tên để răn đe toàn bộ. Sau đó hắn điểm lại binh mã thấy đã mất gần mười ngàn. Bố Xích Ha cả kinh, sợ trúng phải “kế không thành” của quân Tống nên tức tốc dẫn quân đến các châu huyện lân cận chiếm đóng trong khi chờ Kim Chúa cho viện binh sang.
Ngay sau đó Doãn Văn ở Lương Sơn đã hay tin Yên Kinh thất thủ liền cho gọi các đầu lĩnh đến để bàn bạc. Doãn Văn nói :
-Các vị huynh đệ ! Theo thám tử hồi báo thì Yên Kinh đã bị rợ Kim chiếm đóng. Thế giặc hiện đang rất mạnh, mà Yên Kinh chỉ cách Biện Kinh hơn ngàn dặm, nếu chúng ta còn chưa xuất binh lỡ để rợ Kim chiếm được Khai Phong thì đại sự coi như hỏng.
Âu Dương Nam Lạc liền nói:
-Vậy còn chờ gì nữa ! Chúng ta mau đem quân xuống núi diệt Tống trừ Kim.
Lỗ Thể Ngân nói:
-Mang quân xuống núi là chuyện dễ. Nhưng tìm một chỗ tốt để làm bàn đạp vững chắc mới là chuyện khó. Nếu quân ta xuống núi mà chưa chiếm được thành nào chẳng may có biến ở sơn trại thì lúc đó sẽ ở thế tiến thoái lưỡng nan.
Doãn Văn khen phải rồi hỏi tiếp :
-Vậy mọi người có cao kiến gì ?
Điền Bảo liền nói :
-Quanh đây chỉ có Đăng Châu là gần Lương Sơn Bạc nhất.Vậy ta hãy đến Đăng Châu chiếm đóng làm căn cứ.
Tần Vinh lại nói:
-Điền huynh đệ tính như vậy là chưa đủ. Đăng Châu tuy gần nhưng địa thế chật hẹp, gần đây lại bị ôn dịch hoành hành không thích hợp làm nơi phất cờ khởi nghĩa. Theo thiển ý của tại hạ thì Đức Châu tuy xa phải vượt qua vài thành nhỏ nhưng là nơi nhân kiệt địa linh. Đức Châu đất đai trù phú, mấy năm nay lại được mùa. Đó mới chính là nơi tốt để khởi binh.
Doãn Văn gật đầu nói :
-Điều mà Tần huynh vừa nói ra cũng trùng với ý của tại hạ. Như vậy ta quyết định chiếm Đức Châu làm cứ địa.
Doãn Văn đứng dậy dõng dạc nói:
-Di Thiên Huấn, Di Thiên Thư, Âu Dương Nam Lạc nghe lệnh !
-Có !
-Ba người hãy dẫn hai vạn binh mã đánh mở đường tiến thẳng đến Đức Châu và đóng quân cách thành Đức Châu ba mươi dặm, chưa có lệnh của ta không được công thành.
-Tuân lệnh trại chủ.
Doãn Văn ngẫm nghĩ một hồi rồi nói tiếp:
-Các ngươi phải tuân thủ ba điều: Thứ nhất trên đường đi không được cướp bóc, quấy nhiễu dân chúng; Thứ hai là không lạm sát vô can, không giết bất kì viên tướng hay tri phủ nào ở các thành đi qua, chỉ là mượn đường đến Đức Châu; Thứ ba là khi đến gần Đức Châu thì phải lấy vải quấn bịt lại phần sắc nhọn của toàn bộ vũ khí trong quân. Từ binh sĩ đến tướng trong trại, ai phạm một trong ba điều: “Chém”!
-Tuân Lệnh.
Nói rồi huynh muội họ Di và Âu Dương Nam Lạc lui ra điểm quân rồi xuất phát. Trở lại trong này Doãn Văn nói tiếp:
-Tần Vinh, Tần Lượng, Điền Bảo ! Ba người ở lại giữ trại đến khi chiếm được Đức Châu hãy mang quân tới hội. Lỗ Thể Ngân ! Sáng mai ngươi cùng ta điểm năm vạn binh mã làm hậu lộ cho quân tiên phong tiến thẳng Đức Châu.
Cả bọn bước ra đồng thanh :
-Dạ ! trại chủ.
Bên này bọn Di Thiên Huấn chỉ trong ba ngày đã chiếm được sáu thành trì lớn nhỏ và tiếp tục tiến về phía Đức Châu. Khi chỉ cách Đức Châu ba mươi dặm Di Thiên Huấn ra lệnh hạ trại và lấy vải bao lại toàn bộ vũ khí. Nửa ngày sau đội quân của Doãn Văn cũng đã tới nơi. Đêm hôm đó trong trướng chỉ có Doãn Văn cùng Lỗ Thể Ngân đang bàn binh thư thì Lỗ Thể Ngân hỏi :
-Muội vẫn không hiểu tại sao huynh lại bắt binh sĩ của Di Thiên Huấn dùng vải bịt lại tất cả vũ khí.
Doãn Văn nói:
-Tri phủ Đức Châu - Trần Đính là một người hiểu biết đại nghĩa, nhân từ mẫu mực, yêu dân như con. Sở dĩ Đức Châu có cảnh sung túc, dân cư an nhàn như ngày hôm nay là nhờ vị có vị quan như Trần Đính cai quản. Trần Đính rất được lòng dân, có được Trần Đính thì coi như đã thu được lòng dân khắp Sơn Đông. Đối với một người như vậy ta phải dùng đức phục nhân chứ không nên dùng sức mạnh.
-Muội hiểu rồi.
Trời vừa sáng, Doãn Văn đầu đội đồng khôi, mình mặc kim giáp, tay cầm trường đao, oai dũng tọa trên Phi Vân thần mã dẫn quân đến sát chân thành Đức Châu, không công thành chỉ nổi trống trận. Tiếng trống vang trời đánh thức vạn vật đang ngủ say trong thành. Đứng trên thành là một vị quan râu dài, đầu đội một chiếc mũ dạ, mình mặc áo bào lụa màu xanh da trời, lưng thắt đai vàng khảm ngọc thạch. Người đó là Trần Đính. Tiếng trống vừa dứt, Trần Đính bước lại gần bờ tường, nói :
-Tướng kia sao không an phận làm thảo khấu ở Lương Sơn mà chạy xuống đây chiếm đất công thành gây ra cảnh máu chảy thành sông, sinh linh đồ thán.
Doãn Văn xuống ngựa chấp tay thưa :
-Chúng tôi không phải là thảo khấu Lương Sơn. Quân đây là nghĩa quân bảo quốc trong thời loạn thế. Thế cuộc đương kim đang thời loạn lạc, giang sơn Đại Tống sắp rơi vào tay rợ Kim mà hôn quân vô đạo ngày đêm hưởng lạc, bỏ mặc an nguy xã tắc. Được biết tri phủ Đức Châu là Trần đại nhân thấu hiểu đại nghĩa thương dân như con, vậy dám xin người vì cái phúc của muôn dân mà mở cửa thành nghị hoà ước.
-Ngươi thật ăn nói hàm hồ. Ta đây phụng thánh ân cai quản Đức Châu, nay ngươi đem quân đến đây có ý cướp thành mà còn dám giở giọng nhân nghĩa, kêu ta mở thành đầu hàng. Đức Châu tuy binh yếu ngựa già nhưng trong thành dân chúng một lòng sợ gì đám giặc cỏ như các ngươi.
Nói rồi Trần Đính cho bắn tên xuống hòng đuổi đi quân Lương Sơn. Doãn Văn không làm gì, chỉ cho tiếp tục gióng trống. Trần Đính bị trêu tức liền mở cửa thành cho quân ra nghênh chiến. Binh lính hai bên giáp vào nhau hỗn chiến. Quân Lương Sơn tuy vũ khí đã bị vải bao lại, không thể sát địch nhưng với kỹ năng chiến đấu được rèn luyện tốt vả lại binh lính ở Đức Châu đa số là già yếu nên quân Lương Sơn chỉ thương vong vài mươi người, còn binh lính ở Đức Châu hiển nhiên không chảy một giọt máu. Thấy khác thường Trần Đính truyền lệnh rút quân vào thành, Trần Đính lại hỏi :
-Tại sao ngươi lại cho bịt hết các lưỡi gươm mũi giáo ? Làm vậy khác nào ngươi dồn binh sĩ của mình vào chỗ chết ? Hay là người quá xem thường ta ?
Doãn Văn thành khẩn trả lời :
-Tại hạ có trăm gan cũng không dám có ý khinh khi đại nhân. Binh của Lương Sơn là dân của Đại Tống, lính của Đức Châu cũng là con dân của Đại Tống. Tại hạ đâu có lòng dạ nào mà để bọn họ tàn sát lẫn nhau trong khi xã tắc còn đang có giặc ngoại xâm. Vì để tránh máu đổ nhiều càng thêm nhiều nên tại hạ đành nảy ngu ý dùng vải bịt lại vũ khí của quân mình để tránh làm hại thêm sinh linh.
-Ngươi…
-Hiện nay triều đình hủ bại, vua quan say mê tửu sắc, trụy lạc xa hoa, bỏ mặc thiên hạ lầm than. Những vị quan liêm chính như Trần đại nhân đâu còn mấy ai. Sao ngài không cùng tôi phất cờ trước lật đổ hôn quân sau bình định Kim tặc thỉnh cứu vạn dân trong cơn thống khổ.
Trần Đính im lặng không nói gì, Doãn Văn lại nói tiếp:
-Binh Lương Sơn đã có vài mươi người hy sinh vô ích nhưng Đức Châu là nơi tại hạ nhất định vào, cho dù phải đầu rơi máu chảy. Cúi mong Trần đại nhân hãy vì đại nghĩa, vì những binh sĩ đã tử trận, vì lê dân bá tánh mà mở cửa thành.
Trần Đính đang trong tình thế khó xử :
-Ta…
Doãn Văn hạ gối quỳ xuống :
-Coi như…ta… xin ngươi !
Thấy chủ tướng quỳ, toàn bộ tướng sĩ quân Lương Sơn đều xuống ngựa quỳ theo. Một vài binh sĩ đứng trên thành vì cảm động mà bật khóc. Trần Đính thất thần nhìn cả đạo quân Lương Sơn quỳ dưới thành mà tự nhiên thấy đau nhói tận tâm can, rồi đôi mắt ông cũng lưng tròng lệ ứa vì kẻ địch. Trần Đính muốn hô to nhưng cổ ông chỉ có thể ngất lên từng tiếng trong nghẹn ngào :
-Mau…mau đi mở cửa… thành !
Cửa thành Đức Châu vừa mở, không giáp bào, không chiến mã, Trần Đính chạy bộ ra, hai tay đỡ Doãn Văn dậy mà nói:
-Xin tướng quân đừng làm vậy ! Xin tướng quân đừng làm vậy ! Với lòng nhân đức của tướng quân thì cho dù sau này Trần Đính có ngàn năm mang tội bất trung cũng không hối tiếc. Xin mời …
Trần Đính đích thân dắt ngựa cho Doãn Văn tiến quân vào thành. Dân chúng ở trong thành nghe được Doãn Văn là một người nhân nghĩa đạo đức nên dàn sẵn hai bên đường đón chào rộn rã. Trai tráng ở các châu huyện lân cận biết Đức Châu có một vị minh chủ tài cao đức rộng nên kéo nhau đến đầu quân đông đúc. Chỉ trong vài ngày mà tống số binh sĩ đang lên đến bảy vạn người. Không lâu sau Tần Vinh, Tần Lượng, Điền Bảo cũng đã dẫn quân đến tụ họp.
Một hôm Doãn Văn đang nghị sự trong phủ cùng các tướng thì có người chạy vào báo:
-Bẩm minh công ! Thám tử hồi báo cách đây hai mươi dặm có một đám người đang rầm rộ tiến về phía chúng ta.
-Đám người gì ? Khoảng bao nhiêu tên ?
-Bọn chúng nhìn sơ qua thì giống một đám dân áo thô, khoảng ba ngàn tên.
-Có thể chỉ là một toán dân chạy nạn, có việc gì phải báo lên ?
-Thưa minh công ! Lạ một điều là bọn chúng tuy chỉ mang gậy gộc giáo mác thô sơ nhưng đi đứng có hàng ngũ thẳng lối. Khi đứng thì không động, đi thì không loạn. Vậy không phải là một đội binh đang hành quân hay sao ?
Doãn Văn nghe vậy liền cùng các tướng lên trên thành quan sát. Một hồi lâu sau quả nhiên xuất hiện một đám người tay cầm gậy gộc tiến về phía thành Đức Châu. Tên thám tử hồi báo lúc nãy nói không sai nhưng chỉ sót một điều. Dẫn đầu đám người kia là một thiếu hiệp diện mạo phi phàm, đầu buộc khăn vải vàng, mặc áo trường bào màu lam, chân mang giày vải. Chờ họ đến gần Lỗ Thể Ngân vọng xuống hỏi :
-Người ở bên dưới là ai ? Muốn vào thành để làm gì ?
Vị thiếu hiệp dõng dạc nói :
-Tại hạ là Vương Trung Phu. Tại hạ lãnh đạo nông dân ở Hàm Đan khởi nghĩa chống Kim nhưng bị triều đình cho là nổi dậy phản loạn nên xua quân đàn áp. Đang trong lúc thế cô không chốn dung thân thì nghe Đức Châu có Doãn tướng quân là bậc hiền tài quật cờ khởi nghĩa nên dắt nghĩa quân đến cùng kết đồng minh.
Doãn Văn trong lòng phấn khởi, hỏi :
-Xin hỏi có phải là Vương Trung Phu người ở Hàm Dương.
-Chính là tại hạ.
Doãn Văn nghe xong mừng rỡ khôn xiết truyền lệnh mở cửa thành. Doãn Văn cùng các tướng ra thành nghênh đón. Doãn Văn cầm tay Vương Trung Phu dắt vào thành.Vừa đi Doãn Văn vừa nói :
-Đã nghe Vương huynh đệ từ nhỏ tinh thông cả văn lẫn võ, là một bậc anh tài nhất phương. Doãn mỗ đã muốn gặp mặt từ lâu, mãi đến hôm nay mới có dịp tương ngộ.
-Doãn tướng quân đã quá khen ! Xét về tài nghệ thì Vương mỗ không dám so bì với Doãn tướng quân.
Doãn Văn cùng các tướng trở về sảnh phủ để nghị sự. Doãn Văn nói :
-Rợ Kim sau khi chiếm được Yên Kinh thì án binh một thời gian dài. Nhân cơ hội này chúng ta phải mau chóng xuất binh để giành lấy Biện Kinh trước Kim nhân.
Vương Trung Phu đứng dậy chấp tay nói:
-Bẩm minh công ! Chúng ta toàn là những võ tướng xông pha ngoài sa trường nhưng chiến trận thì không phải chỉ cầm quân xông trận là đủ. Phải tìm một người tinh thông trận pháp, mưu trí cao siêu làm quân sư để mưu tính cho đại cuộc lâu dài.
-Vậy Vương huynh đệ có cao kiến gì ?
-Tại Lai Hà Trấn cách đây tám mươi dặm về phía nam có một người tên là Yên Tử. Ông ta là một bậc kỳ tài, mưu trí hơn người, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, bác lãm kinh thư. Yên Tử thích sống tiêu dao nhàn hạ không màng lợi danh thế sự nên trong vùng đặt biệt hiệu cho ông là Mị Vân Long ý nói ông như rồng ngủ quên trong mây. Nếu mời được Yên Tử làm quân sư thì khỏi lo đại sự không thành.
Doãn Văn nghe theo sáng hôm sau liền cùng Tần Vinh và Lỗ Thể Ngân phi ngựa đến Lai Hà Trấn thỉnh mời Yên Tử. Theo lời chỉ dẫn của một tên tiểu nhị ngoài thị phố, họ đã tìm đến trước cửa trang viện của Yên Tử.
Trước của trang viện có treo một tấm bảng đề bốn chữ “Dĩ kỳ kết hữu”, có nghĩa là lấy cờ kết bạn. Yên Tử là một người say mê tượng kỳ, kỳ thuật của ông ta cao thâm đến thiên biến vạn hóa, Yên Tử thường đọ cờ một lúc với vài chục người nên ông được các kỳ hữu tôn là Kỳ Vương.
Đám người Doãn Văn được một tiểu đồng tên là Tốt nhi dắt vào trong trang viện. Khung cảnh bên trong thật thanh tao thoát tục, có một lối nhỏ quanh co dẫn đến một cây cầu, bên cạnh lối nhỏ là một hàng cây xanh mát, dưới những tán cây um tùm vươn cành xoè lá là những bậc đá rêu xanh. Bên kia cầu là một ngôi lầu rộng kiến trúc trang nhã với những trụ gỗ tròn cao chắc như thân cổ thụ.
Bên trong là một sảnh rộng đặt khoảng hai mươi bàn cờ xếp thành vòng tròn. Bên ngoài vòng có vài mươi người ngồi thủ cờ đen, bên trong vòng thì có một người thủ cờ đỏ. Người đó đi hết bàn này đến bàn khác để tiếp cờ mấy người ở ngoài vòng. Tiểu Đồng chỉ tay vào người đó, nói:
-Kia chính là gia gia nhà con. Cảm phiền, các vị đợi ở đây một lát, khi gia gia tiếp cờ các kỳ hữu xong sẽ cho mời các vị.
Doãn Văn thấy cũng đoán ra được đó là Yên Tử nhưng Yên Tử trước mắt hoàn toàn ngược lại so với trong tưởng tượng. Yên Tử trong tưởng tượng của Doãn Văn là một ông lão da nhăn đầu bạc, đạo bào hài vân. Nhưng Yên Tử ở trước mắt lại là gã đàn ông trung niên da dẻ hồng hào, gương mặt phương phi, mày kiếm, mắt thanh, tóc đen bóng với một hàng ria mép mỏng. Trên đầu buộc lụa trắng buông hai vạt, mình khoác y phục nho sinh màu bích lục. Cả người Yên Tử toát lên một vẻ cốt cách phi phàm, mà khí tương đường bệ, ra vẻ tiêu phong đạo cốt, cô ngạo bất quần.
Chờ một hồi sau thì những người ngồi tiếp cờ lần lượt đứng dậy cáo chào sau khi bị Yên Tử triệt cờ chiếu bí. Lúc này Yên Tử mới đon đả bước ra cúi chào đám người Doãn Văn, Yên Tử nói:
-Yên Tử chỉ mải mê đánh cờ để các vị phải đợi lâu, thật là có lỗi. Các vị xin mời ra huê viên nói chuyện !
Huê viên được kiến tạo rất công phu, men theo lối nhỏ là những tảng đá rêu phong lúc ẩn lúc hiện dưới hàng cây đậm bóng. Trong huê viên có đủ các kỳ hoa dị thảo, hương thơm ngào ngạt. Những chiếc phong linh dưới mái hiên vọng vang khắp nơi hoà mình trong làn gió. Từng tảng đá, chậu cây đến những chiếc phong linh đều được chủ nhân vận dụng nguyên lý ngũ hành phong thủy để mà bày trí, khiến những người đi vào có cảm giác thanh thản, thoát tục như đang dạo ở Bồng Lai tiên cảnh. Trong cái đình ở giữa huê viên, Doãn Văn và Yên Tử ngồi đối diện nhau. Tiểu đồng Tốt nhi đứng hầu sau lưng Yên Tử, đứng sau Doãn Văn là Tần Vinh và Lỗ Thể Ngân.
Doãn Văn chấp tay nói:
-Tại hạ là…
Doãn Văn chưa kịp nói thì Yên Tử đã phẩy tay, cười nhẹ mà nói:
-Ta mới nhìn đã biết các người là ai, không cần phải giới thiệu. Nhìn đại hán này mặt ngọc môi hồng, diện mạo khôi ngô chẳng khác một nho sinh, trong dáng trang nhã lại có vẻ kiêu hùng. Bên chân đeo bộ tiễn chỉ thấy tiễn mà không thấy cung thì còn ai khác ngoài Tiểu Hậu Nghệ Doãn Văn.
Doãn Văn chưa kịp nói gì thì Yên Tử lại nhìn về phía Lỗ Thể Ngân mà nói:
-Còn vị cô nương này mày liễu má đào, mắt trong xanh, tóc huyền, vóc ngọc. Tả thì có tiêu bạc vắt đai, hữu lại có hồ lô hổ phách và bên trong người chắc chắn còn có một thanh khoái đao mà không một ai có cơ hội nhìn thấy. Ta đoán có sai không Bách Tửu Hành nữ hiệp ?
Lại nhìn sang Tần Vinh mà nói:
-Còn vị này mình mặc giáp bạc tay cầm Xuyên Vân Hồi Phong Thương tướng mạo phi phàm thì nhất định là Phong Vũ Bôn Lang Tần Vinh rồi. Đã gần mười năm ta không đánh cờ với lệnh sư, ông ta vẫn khỏe chứ ?
Tần Vinh cơ hồ chấp tay nói :
-Ân sư vẫn khỏe. Đa tạ tiên sinh thăm hỏi.
Doãn Văn đứng dậy thán phục :
-Đúng là không có gì qua mắt được tiên sinh, ngài quả là thế ngoại cao nhân.
Nói xong Doãn Văn bước ra một bên bỏ một chân về phía trước rồi qùy xuống, thấy vậy Tần Vinh và Lỗ Thể Ngân cũng quỳ theo. Doãn Văn thưa:
-Tồng triều đã tuyệt số, hôn quân vô đạo, rợ Kim đang giày xéo giang sơn, bá tánh lầm than thống khổ vô vàn. Doãn Văn tài hèn đức mọn nhưng vì thương xót vạn dân nên cùng huynh đệ dừng lên ngọn cờ phạt Tống - chống Kim. Nghe danh tiên sinh tài cao học rộng, mưu có thể so với Tôn – Ngô, trí có thể sánh với Gia Cát. Hôm nay tại hạ mạo muội đến thăm cốt là để thỉnh mời tiên sinh ra làm quân sư thống lãnh hùng binh, ra mưu hiến sách, tiêu diệt hôn quân để cứu bá tánh khỏi cảnh lầm than. Dám mong tiên sinh chấp nhận.
Yên Tử lắc đầu nói:
-Các hạ đã quá khen rồi. Trên đời những kẻ trí thức thật là quá nhiều. Lão phu tuổi đã cao, e rằng có lòng không có sức. Xin ngươi hãy kiếm người khác.
Lỗ Thể Ngân liền nói:
-Trên thiên hạ này những người có học thức uyên thâm, tài trí siêu phàm thì Yên Tử tiên sinh là người cao nhất. Nếu như Yên Tử tiên sinh cũng tự khiêm tốn có lòng không sức thì thiên hạ đâu còn ai nữa.
Yên Tử nhìn Lỗ Thể Ngân, rồi mỉm cười :
-Thật là khéo ăn nói. Cô nương không chỉ có đao pháp xuất thần mà còn có tài công tâm nữa.
Tần Vinh cũng chấp tay nói :
-Bây giờ thiên hạ chúng sanh đang chịu khốn khổ. Yên Tử tiền bối ! Người đâu có thể nhìn mà không thấy.
Yên Tử lại thở dài nói:
-Lão phu đã không hỏi chuyện đời, một lòng chỉ muốn tiêu dao thế ngoại. Các vị không cần phải phí lời.
Doãn Van nói:
-Hổ chết còn để da người chết sao không lưu danh ? Tiên sinh thật cam lòng đem tài học của mình chôn vùi ở sơn lâm mà không đi thỉnh cứu vạn dân trong lầm than sao?
Yên Tử bước tới đỡ Doãn Văn dậy, cười nhẹ rồi nói:
-Ta hãy đánh một ván cờ trước đã. Sau khi chơi cờ tâm tư tại hạ mới được cởi mở để bàn việc khác.
Nghe gia gia nói, Tốt nhi liền chạy vào trong bê ra một bàn cờ đặt lên trên bàn. Doãn Văn đành phải chiều theo, bước sang bên phiá kia rồi nói:
-Vậy cung kính chi bằng tuân mệnh. Yên tiên sinh, mời !
-Mời !
Hai người ngồi vào bàn so kỳ thuật. Ván cờ kéo dài gần hai canh giờ mới ngã ngũ. Lúc đó Yên Tử mới bước ra cung kính quỳ trước Doãn Văn, nói:
-Yên Tử suốt nửa đời sống an cư nhàn hạ, lấy cờ kết bạn, chẳng màng danh lợi mãi đến hôm nay mới gặp được minh chúa như là được thức dậy sau một giấc ngàn năm. Nay tướng quân vì dân khởi nghĩa, thiên hạ ai chẳng nức lòng. Yên Tử này dẫu tuổi già trí cạn, được tướng quân đoái tưởng, quyết tâm mưu tính nghiệp vương, để đền ơn tri ngộ.
Doãn Văn vừa lấy làm lạ vừa vui mừng, hai tay đỡ Yên Tử dậy mà nói :
-May nhờ được tiên sinh trợ giúp đó là cái phúc của muôn dân. Bổn tướng xin thay mặt hàng vạn bá tánh mà cúi đầu lạy tạ.
-Minh công ! Xin minh công đừng làm vậy, Yên Tử sẽ bị giảm thọ mất.
-Vậy bây giờ tiên sinh hãy theo ta về Đức Châu để bàn mưu lập chí.
-Bây giờ tệ xá còn có nhiều việc chờ Yên Tử thu xếp. Minh công hãy về trước, ba ngày sau Yên Tử sẽ đến Đức Châu diện kiến.
-Vậy ta sẽ chờ tin của tiên sinh. Cáo từ !
-Cáo từ !
Khi Doãn Văn vừa đi khỏi thì tiểu đồng liền hỏi Yên Tử :
-Gia gia ! Ván cờ lúc nãy rõ ràng là gia gia thắng. Vậy tại sao gia gia còn phải cúi đầu chịu đi theo người đó ?
Yên Tử gõ nhẹ lên đầu tiểu đồng, cười, nói :
-Gia gia đọ cờ không phải để phân thắng thua với hắn. Gia gia chỉ muốn xem rõ con người, khí độ và nhân cách của hắn như thế nào.
Tiểu đồng rót một chung trà định dâng cho Yên Tử rồi buột miệng hỏi tiếp :
-Vậy gia gia đã xem được gì ?
-Ta đã thấy được bốn cái đức Lễ - Tín – Nhân – Nghĩa của hắn qua ván cờ.
-Chỉ một ván cờ bình thường mà gia gia nhìn ra được nhiều như vậy sao ? Tốt nhi không tin đâu.
Yên Tử lại gõ nhẹ xuống đầu tiểu đồng, nói:
-Tất cả là tại tên tiểu quỷ nhà ngươi.
-Sao lại tại Tốt nhi ?
-Con còn nhớ lúc đầu hắn ngồi ở bên nào không ?
-Dạ, hắn ngồi bên kia quay lưng về phía hậu sơn.
-Vậy mà lúc ngươi mang bàn cờ ra lại đặt quân đỏ ở bên phía hắn, làm hắn phải vòng qua ngồi bên chỗ ta để chọn quân đen, đó là “Lễ“. Sự vô ý của ngươi xem ra cũng có ích.
Tốt nhi gãi đầu láu lỉnh đáp :
-Thì ra là vậy. Còn mấy cái đức kia thì sao hả gia gia ? Gia gia mau nói đi.
-Con thấy tình thế của ván cờ như thế nào ?
-Gia gia hoàn toàn chiếm thượng phong chỉ sau vài nước đầu. Người họ Doãn vẻ mặt rất căng thẳng, uống cả chung trà đang nghi ngút khói mà không hay biết.
-Thông thường khi ăn một quân người ta hay dùng ngón giữa và ngón cái kẹp hai bên trong khi ngón trỏ đè trên mặt quân cờ, cầm lên và giơ cao tay đập mạnh lên quân bị ăn, trượt hai ngón cái và giữa xuống kẹp ngang quân đó kéo lùi về phía lòng bàn tay, rồi đặt quân của mình vào vị trí bỏ trống. Động tác đó tạo ra một âm thanh chột dạ và lạnh lùng loại bỏ quân cờ vừa sa cơ ra khỏi thế cuộc. Còn Doãn Văn mặc dù rất căn thẳng trước thế cờ bất lợi, nhưng khi ăn một quân Tốt vừa qua sông của ta thì lại rất nhẹ nhàng và làm như áy náy không nỡ giết vậy.
-Chỉ là một quân tốt sao người đó lại coi trọng đến như vậy.
Yên tử vuốt vuốt hàng ria mép rồi nói tiếp :
-Trong các quân của tượng kỳ, nếu các quân như Tướng, Xa, Pháo, Mã là bậc vương tôn quý tộc thì quân Tốt chỉ là một hạng dân đen thân phận thấp hèn. Tướng trong suốt cuộc cờ chỉ ung dung ngồi chễm chệ ở trong cung còn Tốt phải chinh chiến khắp nơi đầy gian nan khổ ải, phải từng bước từng bước vượt sông để xông pha vào trận địch. Quân Tốt xứng đáng được coi là một hào kiệt trong tượng kỳ bởi khi xông trận thì Tốt chỉ có tiến mà không bao giờ thoái. Hơn thế nữa Tốt sẵn sàng chết bất cứ khi nào để dành thế công, hễ thấy lợi cờ để thí Tốt thì quân Tốt sẵn sàng chết. Quân Tốt cũng sẵn sàng hy sinh khi mà chủ tướng lâm nguy. Nên đứng trước một binh chủng kiêu hùng có thân phận hẩm hiu như quân Tốt thì phải biết tôn trọng, cũng như câu anh hùng trọng anh hùng. Đó là đạo lý “Không đập đầu tốt” cũng là cái Nhân – Nghĩa mà Doãn Văn thể hiện qua lối chơi cờ.
Yên Tử lại nói tiếp :
-Chữ Tín trong Doãn Văn thể hiện khi cuộc cờ sắp tàn. Lúc đó quân Xa của hắn đang bọc hậu Tướng của ta, còn cặp Mã thì song song áp đảo ở trước mặt. Nếu Doãn Văn chỉ dùng quân Xa đi thêm một nước thì ta sẽ bị dồn vào thế “Xa chiếu hậu, Mã công tiền”. Nhưng hắn không làm vậy, hắn rút Xa về thủ Tốt để cặp Pháo trùng của ta có cơ hội chiếu bí. Điều đó thể hiện đức tính lỗi lạc của người chơi cờ “Xa không chiếu hậu”
Tiểu đồng lại gãi đầu :
-Nhưng theo Tốt nhi biết thì Xa có thể chiếu hậu, đâu có phạm luật ?
-Tất nhiên là không phạm luật nhưng sẽ mất cái thuần túy của tượng kỳ vì quân Xa trên bàn cờ là tượng trưng cho người quân tử. Quân Xa đi đứng ngay thẳng, ngang dọc tung hoành. Một người quân tử thì không bao giờ đánh lén người khác như một kẻ tiểu nhân và càng không dí người khác vào tuyệt lộ. Nhớ năm xưa khi Tào Tháo bại trận ở Xích Bích liền bỏ ngựa chạy bộ vì biết tính Quan Vũ là người quân tử không bao giờ chém người dưới ngựa. Quan Vũ thà làm trái quân lệnh trạng mà tha cho Tào Tháo chứ không muốn phá vỡ lập trường của mình. Doãn Văn lúc nãy cũng vậy, cho nên việc đó đã thể hiện chữ “Tín” của hắn.
Tiểu đồng chăm chú lắng nghe Yên Tử thuyết giảng kỳ đạo mà uống cạn chung trà trên tay lúc nào không hay. Yên Tử thấy vậy cũng mỉm cười gõ vào đầu Tốt nhi một cái. Nó xoe tròn đôi mắt một hồi rồi hỏi :
-“Không đập đầu Tốt” là đạo lý của người chơi cờ. Vậy sao lúc nào gia gia cũng gõ đầu của Tốt nhi ?
Yên Tử nghe xong liền bật cười xoa đầu thằng nhỏ rồi ôm nó vào lòng mà ứa lệ :
-Tốt nhi ngoan lắm ! Từ nay gia gia sẽ không đánh đầu Tốt nhi nữa.
-Gia gia ! Sao gia gia lại khóc.
-Tốt nhi ! Con hãy thu dọn đồ đạc rời khỏi chỗ này, từ nay gia gia không thể chăm sóc cho cháu.
-Tốt nhi không đi đâu hết ! Đời này kiếp này chỉ đi theo gia gia. Nghe gia gia kể chuyện và thuyết giảng tượng kỳ.
Đôi mắt Yên Tử nhắm lại, hai hàng lệ lưng trào, đau nhói tâm can. Yên Tử nói:
-Từ nay miệng của gia gia sẽ không kể chuyện, không giảng đạo kỳ nữa. Từ nay hễ gia gia mở miệng là sẽ có sát lộc. Là cứu người thoát chết hay giết người tại chỗ đều tuỳ thuộc vào ý niệm của gia gia.
-Gia gia…
-Tốt nhi phải nhớ ! Từ nay đừng kêu là gia gia nữa, muốn kêu thì chỉ có thể kêu ở trong lòng. Nếu không, để người ta biết được cháu có liên hệ với gia gia thì có lẽ sẽ bị họa sát thân. Từ nay sẽ phong vân sắc biến, gia gia sẽ không thể sống những ngày thảnh thơi nữa.
Yên Tử giơ đôi bàn tay rung rung, từ từ đưa mắt nhìn khắp huê viên rồi nói :
-Trang viện này gia gia sẽ đốt nó đi. Cháu phải đi càng xa càng tốt, nhớ đừng trở về có biết không ?
-Gia gia…gia gia đừng có bỏ Tốt nhi mà…
Yên Tử gạt nước mắt rồi quay lưng bỏ vào trong.
Lại kể về Bố Xích Ha sau khi có được quân tiếp viện liền đích thân thống lãnh hai mươi vạn binh mã ồ ạt tiến thẳng về phía Biện Kinh. Quân Kim như thế nước vỡ đê, trong vòng một tháng đã chiếm thêm mười một thành trì lớn nhỏ. Bố Xích Ha đã chiếm đóng toàn bộ vùng Đông - Bắc và chỉ còn sáu thành năm ải nữa là đến được Biện Kinh.
Trong khi đó, quân Tống càng đánh càng tệ. Binh lính thì một số cởi giáp bỏ chạy, một số rút về các châu huyện nương nhờ, triều đình tổn thất nặng nề. Khâm Tông được tin thì hoảng hốt triệu tập các quan viên vào triều để giải nguy. Khâm Tông nói :
-Quân Kim đã tiến gần đến kinh thành, các khanh có kế sách gì để đối phó ?
Cao Cầu liền bước ra tâu :
-Khởi bẩm hoàng thượng ! Kim Châu là nơi duy nhất Kim nhân phải đi qua để tiến về Biện Kinh. Hiện nay trong triều chỉ có Từ tướng quân - Từ Cảnh Đường là anh dũng thiện chiến. Ta một mặt hãy sai hắn đem mười vạn binh mã đến đó trấn giữ. Một mặt cho bắt giam gia quyến của Từ Cảch Đường để hắn không dám có ý niệm hàng Kim và tự nhiên sẽ tử thủ cho dù chỉ còn một quân một tốt.
-Được lắm ! Cao khanh gia quả là mưu cao kế hiểm.
Đồng Quán nghe vậy cũng bứơc ra tâu :
-Bẩm hoàng thượng ! Lâu nay đám giặc cỏ Lương Sơn chiếm cứ Sơn Đông, tích thảo dồn lương bây giờ thì đã binh cường mã tráng. Chắc sẽ tiến quân về Biện Kinh vào một ngày không xa.
Khâm Tông nghe xong long nhan rầu rĩ, cất giọng trách hờn :
-Chẳng lẽ trời muốn diệt Đại Tống của ta hay sao ?
Đồng Quán lại tâu :
-Xin hoàng thượng yên tâm ! Đám nghịch tặc Doãn Văn nếu đánh Biện Kinh thì chắc chắn sẽ đi ngang qua thành Dục An. Ta chỉ cần sai một mãnh tướng đến đó dàn sẵn thiên la địa võng thì sợ gì không giết sạch bọn chúng. Hạ thần cách đây không lâu có thâu dụng một võ tướng tài nghệ siêu phàm tên là Điền Khang. Người này tuổi trẻ nhưng có tham vọng cao, ta phong cho hắn chức vị tướng soái để trấn giữ Dục An thành thì sợ gì hắn không sá mạng mà lập công.
-Vậy thì cứ theo ý của khanh mà làm.
Khâm Tông lại thở dài :
-Nếu Đại Tống qua được kiếp nạn này trẫm quyết sẽ xa rời tửu sắc,chăm lo quốc sự
Rồi Khâm Tông buồn bã đứng dậy, lặng lẽ bước vào trong rèm. Tiếng “Bãi Triều” lê thê của một viên thái giám già nghe mà thiểu não ê chề.
Nhắc lại chuyện Yên Tử nhận lời phò trợ Doãn Văn, sau ba ngày thu xếp quả nhiên Yên Tử đã có mặt ở Đức Châu đúng như lời hẹn ước. Đêm đó Doãn Văn cùng các tướng bàn bạc lần sau cùng để xuất binh phạt Tống.
Ba ngày sau tại thành Đức Châu, ngọn huyết kỳ “Phạt Tống Chống Kim” tung bay phần phật trên Đài Phong Tướng, ngọn cờ “Thế Thiên Hành Đạo” bên cạnh cũng kiêu hùng đón gió.
Doãn Văn đầu đội thiết khôi cắm lông phượng, mình mặc áo bào đỏ, ngoài nịt giáp vẩy bạc có khảm vàng oai vệ bước lên đài. Dõng dạc nói :
-Hỡi các tướng sĩ ! Tống triều hủ bại suy tàn, hôn quân đắm chìm tửu sắc, cẩu quan thừa dịp trục lợi. Mới đây lại có giặc giã hoành hành khắp nơi. Doãn Văn vì tình cảnh nguy khốn của xã tắc nên quyết định phất cờ khởi nghĩa mong mang lại đời sống ấm no cho hàng vạn bá tánh trước lửa bỏng dầu sôi. Hôm nay Doãn Văn này nước cạn dấy giao long, mai này khi giao long vào biển nhất định sẽ gió thổi mây bay.Chúng ta trên dưới một lòng, thề “Giết hôn quân – Bình thiên hạ”
Doãn Văn vừa dứt lời thì hàng vạn binh sĩ nhất tề hô theo:
“Giết hôn quân – Bình thiên hạ…Giết hôn quân – Bình thiên hạ…”
Tiếng trống trận gầm lên nứt cả một góc trời. Một lúc Doãn Văn ra hiệu ngưng reo hò, ngay lập tức giữa bá vạn hùng sư mà không khí lặng yên như tờ. Một đạo quân ở giữa tự động rẽ ra hai bên, chừa ra một lối rộng thẳng lên đài.
Từ phía xa, Yên Tử quân sư tay phải nâng Kim Ấn, tay trái cầm Ngân Kiếm. Trên đầu chít lụa trắng đính kim tử, mình mặc bạch bào thất tinh, trước ngực hình thêu rồng chầu chín khúc, lưng đeo đai ngọc lung linh khảm bạc, chân đi hài lụa uy phong bước tới Đài Phong Tướng. Yên Tử giơ Ngân Kiếm lên nói:
-Yên Tử lâu nay là một nho sinh sống nhàn nhã qua ngày, nay lại nhờ ơn tri ngộ của minh công mà có dịp đem thân báo quốc. Yên Tử thề nguyện trong kiếp này sẽ trút hết sức mình khang phò minh công hoàn thành đại nghiệp Phạt Tống Chống Kim.
Xong Yên Tử lại giơ cao kim ấn lên hô to :
-Lỗ Thể Ngân bước tới thính phong ! Bổn tướng phong cho người làm Phạt Tống Đại Nguyên Soái. Cùng với phó tướng Âu Dương Nam Lạc thống lãnh ba vạn binh mã công phá Nhiêu Dương Thành rồi tiến đến hạ Bộc Dương, sau đó chờ hội quân cùng các lộ.
-Lỗ Thể Ngân tuân lệnh.
-Tần Vinh bước tới thính phong ! Bổn tướng phong cho người làm Phạt Tống Tả Tướng Quân. Cùng với hai phó tướng Tần Lượng, Điền Bảo thống lãnh ba vạn binh mã tấn công Huyền Vũ Thành và Dục An Thành sau đó tiến đến Bộc Dương để hội quân cùng các lộ.
-Tần Vinh tuân lệnh.
-Vương Trung Phu bước tới thính phong ! Bổn tướng phong cho ngươi làm Phạt Tống Hữu Tướng Quân. Cùng với hai phó tướng là huynh muội họ Di thống lãnh ba vạn binh mã trước đánh Kiều Đông và sau hạ Hàm Đan, rồi tiến đến Bộc Dương để hội quân cùng các lộ.
-Vương Trung Phu tuân lệnh.
Yên Tử quay sang Doãn Văn nói:
-Minh công hãy cùng bổn tướng thống lãnh hai vạn binh mã đi sau làm hậu lộ cho ba vị tướng quân. Sau đó ta sẽ hội quân ở Bộc Dương rồi nhất tề tiến vào chiếm Biện Kinh, giết hôn quân bình thiên hạ.
-Tuân Lệnh.
Yên Tử vừa ngưng lời thì tiếng trống trận rền vang lại nổi lên. Những cuộc chiến sắp tới giữa nghĩa quân Lương Sơn và quân triều đình liệu có phải là máu chảy thành sông ? Mời quý vị xem hồi sau sẽ rõ…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
20-10-2009, 06:38 PM
Hồi thứ 10
Dụng hỏa công Tần Vinh thâu Huyền Vũ
Mượn nước trời Bách Tửu phá Nhiêu Dương
Mùa thu Tĩnh Khang thứ nhất, quân Lương Sơn dưới sự chỉ huy của Yên Tử chia làm ba đạo tiến về phía Biện Kinh.
Tần Vinh thống lãnh ba vạn binh mã, từ Đức Châu tiến thẳng đến Huyền Vũ. Sau vài ngày đội quân của Tần Vinh đã đến nơi và đóng quân cách Huyền Vũ Thành hai mươi dặm. Tần Vinh cho mời hai phó tướng là Tần Lượng và Điền Bảo đến tìm phương sách phá thành. Tần Vinh nói:
-Chúng ta đã đến đây vài ngày mà bên địch vẫn chưa có động tĩnh gì, nếu tiếp tục án binh như vậy cũng không phải là cách.
Điền Bảo chấp tay nói:
-Bẩm tướng quân! Mạt tướng tình nguyện đem quân đi phá Huyền Vũ Thành.
-Vậy thì nhờ Điền phó tướng.
Tần Vinh giơ ấn tướng nói to :
-Điền phó tướng nghe lệnh. Ta lệnh cho ngươi mang một vạn binh mã công phá Huyền Vũ Thành.
-Tuân lệnh!
Điền Bảo điểm quân xong tức tốc tiến về phía Huyền Vũ thành. Nửa canh giờ sau có quân chạy vào trướng xin bẩm báo :
-Bẩm tướng quân! Điền phó tướng đang lúc công thành thì có một đạo quân khác xông ra từ phía sau chặn đánh. Số binh sĩ đi theo đã chết quá nửa, chỉ còn khoảng năm ngàn người. Điền phó tướng ở trong thế tiến thoái lưỡng nan đã rẽ binh chạy vào rừng Bạch Dương. Mong tướng quân cho quân tiếp viện.
Tần Vinh nghe xong ngồi sụm xuống trướng thất kinh. Lúc đó Tần Lượng liền nói:
-Mạt tướng xin lãnh binh đi giải cứu Điền phó tướng.
-Tần phó tướng nghe lệnh! Ngươi hãy dẫn một vạn binh mã đến rừng Bạch Dương tiếp ứng cho Điền phó tướng.
-Tuân lệnh!
Tần Lượng nịt giáp thắt đai,lên ngựa rồi dẫn quân tiến đến rừng Bạch Dương. Lại nói đến Điền Bảo sau khi dẫn quân chạy vào Bạch Dương Lâm liên tiếp bị quân Tống mai phục trong rừng. Đám tàn quân chạy theo sau phần bị tên bắn, phần bị sập bẫy mà chết chỉ còn hơn ngàn người. Điền Bảo chạy thục mạng vẫn còn nghe tiếng truy quân vang vọng bên tai.
Đến bìa rừng Điền Bảo đã hết đường chạy, trước mặt là con sông Bạch Thủy cuồn cuộn sóng gào, sau lưng là hàng vạn truy binh ráo riết đuổi theo. Điền Bảo ngửa mặt lên trời than rằng :
-Điền Bảo ta nửa đời hào kiệt dẫu chết cũng chẳng tiếc thân. Chỉ tiếc là ơn tri ngộ của ân tướng chưa kịp báo đền mà đã vội vùi thây trong da ngựa. Sự thể đã đến thế này chỉ còn liều chết cho khỏi nhục nhã.
Đám binh sĩ nghe vậy cũng bừng bừng hào khí mà đồng thanh nói:
“Chúng tôi xin sát cánh cùng tướng quân, quyết thề một trận tử chiến”
Điền Bảo ghì cương quay lại cùng đám binh sĩ hò hét vang trời. Tướng Tống là Lý Thang đang ráo riết đuổi theo thì thấy quân Điền Bảo nhuệ khí hừng hực quay lại phản công. Lý Thang nắm chặt chuôi đao rồi quát lớn một tiếng “Giết!”
Hai quân giáp lại hỗn chiến, tiếng binh khí va vào nhau vang vọng cả khu rừng. Quân của Điền Bảo tuy liều thân quyết chiến nhưng quân Tống quá đông, lại thêm chiến đấu mệt mỏi nên tử thương trầm trọng. Ngay lúc nguy khốn Điền Bảo thấy phía trước cát bụi cuốn tung, rồi một đội binh mã khoảng năm ngàn người kéo đến tấn công từ phía sau quân Tống. Dẫn đầu đạo quân là một dũng tướng đầu đội kim khôi, mình mặc bộ chiến bào màu lục, tay cầm trường kiếm, cưỡi Hồng Câu Mã. Điền Bảo nhận ra đó là Tần Lượng lấy làm vững dạ, liền hô to :
-Các huynh đệ! Tần tướng quân đã cho viện binh tới cứu. Ta nương theo đà này giết sạch quân Tống để trả thù cho các huynh đệ đã tử trận.
Nói xong Điền Bảo cùng binh sĩ nhất loạt xông lên chém giết hả hê. Ở phía bên này quân của Tần Lượng cũng lao vào tham chiến. Quân Tống bị vây kẹp từ hai phía, lại trong địa hình chật hẹp không thể chạy khỏi nên tử thương vô số. Tần Lượng tế ngựa xông đến vung kiếm chém Lý Thang. Lý Thang thất kinh quay ngựa chạy bị Điền Bảo chặn lại. Lý Thang một lúc chiến với hai người, càng đánh càng đuối sức, một lúc sau bất cẩn bị Tần Lượng chém té ngựa. Điền Bảo nhảy xuống ngựa định chém chết thì bị Tần Lượng ngăn lại. Lượng nói:
-Điền Bảo ngừng tay. Hãy bắt sống hắn mang về cho tướng quân định đoạt.
Điền Bảo vội thu đao lại nhưng vẫn bực tức trong lòng. Lý Thang trừng mắt nhìn Tần Lượng mà quát :
-Lý Thang ta tung hoành chiến mã nửa đời người, sát địch vô số. Hôm nay bị lâm cảnh này chỉ có thể trách nơi trời. Nghe đây! Ta thà chết chứ không chịu khuất phục bọn giặc phỉ các ngươi.
Nói rồi Lý Thang vung đao cắt cổ tự vẫn. Tần Lượng cũng tỏ ra tiếc nuối bèn cho người cắt đầu của Lý Thang rồi thu quân về trại. Về tới trại Điền Bảo quỳ trước trướng của Tần Vinh. Điền Bảo không dám vào quỳ ở ngoài, nói to:
-Mạt tướng bất tài Huyền Vũ Thành vẫn chưa phá xong mà đã làm quân ta thương vong trầm trọng. Điền Bảo còn mạng trở về nhưng không còn mặt mũi nào gặp các huynh đệ đã tử chiến ở sa trường.
Tần Vinh bước ra hai tay đỡ Điền Bảo đứng dậy, an ủi:
-Về được là tốt rồi, về được là tốt rồi đệ à. Chiến sự bất lợi là việc bình thường, hà tất hiền đệ lại tự trách như vậy. Vả lại gấp rút ra binh mà không dò xét trước tình hình cũng là lỗi của ta.
Tần Lượng nói thêm :
-Chúng ta tuy chưa phá được Huyền Vũ Thành nhưng đã chặt được đầu của một tướng bên quân Tống, làm cho chúng hao binh tổn tướng. Điền huynh đệ cũng không cần phải quá tự trách.
Đêm đó Tần Vinh cùng với hai phó tướng hội bàn tìm cách phá thành, Tần Vinh hỏi :
-Hiện tại quân ta còn bao nhiêu.
Tần Lượng đáp :
-Mạt tướng vừa cho người kiểm lại, quân số chỉ còn hơn hai vạn.
Tần Vinh trãi tấm bản đồ bằng da thú lên bàn rồi chỉ vào nói :
-Nơi này chính là Huyền Vũ Thành, địa thế cao ráo, dễ thủ khó công. Nếu đánh trực tiếp e là sẽ tiếp tục chuốc lấy thất bại như hôm nay.
-Địa thế của Huyền Vũ Thành nếu chọi thẳng mà đánh chỉ khiến đôi bên tử thương vô số, cho dù chiếm được Huyền Vũ cũng không còn binh mã để đánh vào thành Dục An.
Điền Bảo chấp tay nói:
-Tướng quân! Nếu ta đánh không được tại sao không dùng hỏa công?
-Dùng hỏa công?
Tần Lượng nói:
-Phải rồi. Trong binh pháp cho viết đối với những thành trì có địa thế cao thì không thể tấn công trực diện mà phải dùng hỏa pháo để công phá trước. Sau đó mới xua quân vào đánh trong khi địch vẫn chưa kịp hoàn hồn.
Tần Vinh ngẫm một hồi cũng đồng ý dùng hỏa công để phá thành. Tần Vinh nói:
-Vậy cứ nhất trí là dùng hỏa công. Nhưng phải cần bao lâu để có thể chuẩn bị tác chiến?
Tần Lượng đáp :
-Mạt tướng nghĩ chúng ta cần ba mươi khẩu hỏa pháo để công thành. Nếu vận chuyển nhanh nhất thì trong mười ngày là có thể khai chiến.
-Được! Vậy việc này bổn tướng giao cho ngươi phụ trách.
-Tuân lệnh.
Xong Tần Vinh cho tả hữu cùng hai phó tướng lui ra. Trong mấy ngày tới, Tần Vinh cho binh sĩ nghỉ ngơi ăn uống đầy đủ chờ ngày xuất chiến…
Mãi mới nhắc đến đạo quân của Lỗ Thể Ngân. Sau lần tấn công Nhiêu Dương Thành thất bại, Lỗ Thể Ngân đã gần mười ngày vẫn án binh bất động ở ngoại thành.
Âu Dương Nam Lạc vốn đã ấm ức trong lòng về việc Yên Tử xếp hắn dưới quyền một nữ nhân, nay thấy Lỗ Thể Ngân trễ nải quân cơ nên có cớ hạch sách. Hắn đến trướng soái gặp Lỗ Thể Ngân, Nam Lạc bước vào liền nói:
-Sao nguyên soái đóng binh ngoài thành nhiều ngày mà vẫn chưa ra lệnh khai chiến. Chẳng lẽ bị thất bại một lần là mất hết sĩ khí sao? Nếu sợ thì hãy để mạt tướng một mình lãnh binh đi giết giặc phá thành còn hơn ngồi ở đây chờ địch đến cắt đầu.
Lỗ Thể Ngân đập bàn quát :
-Phó soái! Ngươi…
Nam Lạc không thèm nói thêm liền bỏ đi ra. Lỗ Thể Ngân thừa biết Âu Dương Nam Lạc không phục chức vị chủ soái của mình và càng biết hắn đang toan tính gì.
Đêm đó đến canh hai, quả như Lỗ Thể Ngân dự liệu, Âu Dương Nam Lạc lén dẫn theo hai ngàn binh mã đi theo tiểu lộ Dực Trì bất ngờ tấn công vào tây môn của Nhiêu Dương Thành. Trên thành không có động tĩnh gì, đột nhiên cửa thành mở toang, rồi một đội binh mã từ trong thành ào ra. Dẫn đầu là một tướng trẻ tay cầm Thiên Phương Họa Kích, tế ngựa xông đến giao chiến với Âu Dương Nam Lạc. Tướng trẻ kia phóng kích đâm tới, Nam Lạc giơ mâu đỡ lấy rồi phản đòn. Đánh chừng mười hiệp tướng kia có vẻ đuối sức liền rẽ cương quay ngựa chạy vào thành. Mãnh Như Long Âu Dương Nam Lạc đắc chí cười to rồi ra lệnh cho binh sĩ đuổi theo tấn công vào thành.
Âu Dương Nam Lạc cùng đám binh sĩ đuổi theo vào bên trong thì viên tướng trẻ kia đã mất dấu. Trước mắt hắn hiện giờ không còn nhà cửa thành trì mà chỉ toàn những làn khói dày đặt. Nam Lạc những tưởng mình lọt vào giữa một trận cuồng phong, xoáy tròn chung quanh mà thần nhãn chẳng còn định được phương hướng lẫn cảnh vật. Bất chợt một khúc tấu cầm du dương trầm ấm vang lên, nhưng mỗi lúc âm sắc của nó càng trở nên khó nghe. Thứ âm thanh rát buốt đó dội lên từ bốn phía đập vào thính nhĩ Âu Dương Nam Lạc. Một số binh sĩ vì không chịu nổi ma công của tiếng đàn đã bỏ vũ khí, bịt tai, nằm lăn ra giãy giụa trên đất.
Lúc này Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân vừa dẫn một đạo quân chạy đến. Nhìn qua cửa thành từ xa thấy Âu Dương Nam Lạc dong ngựa khắp bốn hướng tìm đường thì Lỗ Thể Ngân đã đoán ra được phần nào. Lỗ Thể Ngân liền thúc ngựa đến hô to:
-Âu Dương phó soái! Ta đang ở phía trái của ngươi, hãy chạy thẳng về hướng này để thoát thân.
Âu Dương Nam Lạc liền rẽ cương sang trái mà chạy thẳng. Ở trên thành, đám lính thấy vậy liền xạ tiễn xuống hòng không để một ai tẩu thoát. Mãnh Như Long Âu Dương Nam Lạc vung mâu múa loạn hòng tránh đỡ trận vũ tiễn. Hắn tuy có thể toàn mạng xuất thành nhưng bị trúng tiễn ở vai, còn đám binh sĩ thì không một ai sống sót.
Về đến trại, Nam Lạc quỳ trước trướng soái mà khai tội. Hắn nói :
-Âu Dương Nam Lạc thân làm phó soái mà bất chấp quân kỷ, không có quân lệnh mà lại tự ý dẫn quân tác chiến làm cho các tướng sĩ tử thương vô ích. Đó là tội chém, xin nguyên soái hãy trị tội.
Lỗ Thể Ngân tức giận nhìn sang chỗ khác, xong một lúc lại thở dài nói :
-Phó soái hãy đứng dậy. Tam quân chưa động mà đã chém tham tướng thì lòng quân ắt sẽ loạn. Tội của ngươi đợi sau này ta sẽ xử. Bây giờ hãy kể lại những gì đã xảy ra trong thành.
Âu Dương Nam Lạc đứng dậy, một tay vịn lại bên vai bị thương, rồi nói :
-Lúc mạt tướng đuổi theo tên tướng kia vào trong thành thì hắn đột nhiên mất tích.
Tới đây Lỗ Thể Ngân ngắt ngang:
-Tướng đó có đặc trưng gì không? Cầm binh khí gì?
-Đó là một viên tướng trẻ, khoảng 17-18 tuổi. Hắn dùng trường kích.
-Ta chưa từng nghe Nhiêu Dương có tướng trẻ như vậy. Sau đó thì sao?
-Sau đó mạt tướng trông thấy bốn bề khói trắng bao quanh. Ngay lúc đó có âm cầm réo rắt vang lên như một thứ ma công gây đau nhức thính nhĩ mạt tướng cùng các binh sĩ.
-Quả đúng như lần trước ta gặp phải. Bên trong thành chắn chắc có người biết dùng thuật kỳ môn để lập thành trận pháp.
-Nghĩa là lần trước nguyên soái vào thành cũng bị rơi vào trận pháp đó?
-Phải! Ta đã từng lĩnh giáo sự lợi hại của nó, sở dĩ ta án binh bất động là đang tìm cách phá trận.
-Mạt tướng ngu muội đã trách lầm nguyên soái.
-Cái đó không thể trách ngươi được. Ta lập tức sẽ cho người mang thư thỉnh giáo quân sư về chuyện này, muốn phá trận ta phải nhờ vào sự giúp đỡ của ông ấy. Trong khi đợi lệnh ta, ngươi hãy về lo chữa trị vết thương trước.
Âu Dương Nam Lạc lui ra trong lòng vô ngần cảm kích Lỗ Thể Ngân. Hắn tự thấy mình cả tài năng lẫn khí độ đều không bằng Lỗ nguyên soái nên từ đó hết mực kính trọng. Lỗ Thể Ngân ngay đêm hôm đó viết thư cho Yên Tử, thuật lại hết mọi chuyện, rồi cho lính phi khoái mã tức tốc mang đi.
Yên Tử đang cùng Doãn Văn đóng quân dưới chân núi Phù Tiêu thì nhận được thư của Lỗ Thể Ngân. Yên Tử lập tức đến gặp Doãn Văn :
-Bẩm minh công! Quân của Lỗ nguyên soái đến Nhiêu Dương gặp phải cường địch biết thuật kỳ môn, trong thành có bày trận pháp ngũ hành nên khó lòng địch nổi. Yên Tử xin được đến đó trước để hiến kế phá trận.
-Được! Vậy thì làm phiền quân sư. Quân sư hãy dẫn theo năm trăm tinh binh để hộ tống trên đường đi.
-Yên Tử muốn âm thầm một mình đến đó để tránh địch phát hiện thì hỏng đại sự.
-Vậy đành theo ý của quân sư. Trên đường đi nhớ cẩn thận. Hãy cưỡi Phi Vân của ta để sớm ngày đến kịp Nhiêu Dương.
-Đa tạ minh công đã bận tâm! Yên Tử xin cáo biệt.
Yên Tử trở về thay y phục thường dân rồi cùng Phi Vân thần mã nhắm thẳng Nhiêu Dương mà phi nước đại.
Lại kể về đạo quân của Tần Vinh, sau nửa tuần trăng dưỡng quân cuối cùng thời cơ tác chiến cũng đã đến. Ba mươi khẩu hỏa pháo đã được Tần Lượng đích thân chuyển tới. Ngay lập tức Tần Vinh truyền lệnh xuống tam quân chuẩn bị khai chiến.
Trước cửa Huyền Vũ Thành, hai vạn quân của Tần Vinh dàn thành hàng ngang, gươm giáo sáng loáng cờ xí rợp trời . Tần Lượng mình mặc giáp bào,lưng mang trường kiếm, tay vẫy soái kỳ, thúc Hồng Câu tiến tới rồi ngước mặt lên thành nói rằng :
-Người ở trong thành nghe đây! Với binh lực của các ngươi khó lòng mà giữ nổi thành, cho dù có cầm cự nổi thì lương thực cũng cạn kiệt. Quân ta công phá Thành Huyền Vũ chỉ còn là vấn đề thời gian thôi. Tại sao còn không ngoan ngoãn mở của thành đầu hàng để tránh sinh linh đồ thán? Các ngươi hãy yên tâm, bọn ta là cánh quân chính nghĩa sẽ không làm hại bất cứ ai chịu quy hàng.
Tướng đứng trên thành là Lý Lãng nghe xong lời của Tần Lượng liền quát lại :
-Bọn giặc cỏ các ngươi không chịu an phận chốn sơn lâm mà dám chạy đến đây lớn lối lộng ngôn à? Ta thề phải tranh tài thư hùng với bọn bay để quyết một trận sinh tử, đem máu các ngươi để tế hồn thiêng cho đệ đệ của ta… “Bắn tên”!
Lý Lãng vừa dứt lời thì một trận vũ tiễn bắn xuống, Tần Lượng ghì cương lùi lại vài bước rồi. Tần Vinh thở dài một hơi, rồi nói :
-Chuẩn bị hỏa pháo!
Tần Vinh giơ tay ra hiệu, lập tức hai đạo quân cầm khiên và cờ lui về sau để lộ ra một dàn hỏa pháo đang nhắm thẳng về Huyền Vũ Thành. Tần Vinh phất lệnh kỳ :
-“Khai pháo”
Một loạt tiếng nổ long trời vang lên tưởng chừng núi lở trời nghiêng, khói trắng toả khắp một vùng trời. Thành lũy Huyền Vũ bị hỏa pháo bắn đến đâu thì đổ nát đến đó. Binh sĩ trên thành một số bị sức nổ của hỏa pháo làm văng xuống thành, một số bị chết cháy trên thành. Thấy thành chưa vỡ hẳn, Tần Vinh lại quay sang hai bên tả - hữu phất lệnh kỳ :
-Khai pháo!…Bắn nữa… Bắn nữa!
Sau hàng loạt tiếng nổ rền vang, Huyền Vũ Thành đã bị công phá đến nổi tường sập cổng xiêu. Lúc này Tần Vinh lại phất lệnh kỳ, hét to :
-Tấn công Huyền Vũ Thành!
Binh sĩ nhất tề xông lên, tiếng reo hò như Trường Giang dậy sóng. Quân Lương Sơn dễ dàng phá được cổng thành rồi tiến lên tường thành. Tần Vinh thấy hắc kỳ của Lý Lãng ở trên thành bị tháo xuống và ngọn bạch kỳ mang một chữ “Tần” được cắm lên, liền truyền lệnh toàn quân tiến vào thành.
Lý Lãng trước khi thành thất thủ đã dẫn một đạo quân chạy ra từ cửa thành Nam. Hắn vừa ra khỏi thành chừng hai dặm đã bị đạo quân của Điền Bảo mai phục sẵn ở đó chặn lại. Hắn thấy nguy liền rẽ cương chạy hướng khác. Điền Bảo liền đuổi theo hét to :
-Lý Lãng! Chạy đi đâu! Mau giơ tay quy hàng để được toàn mạng.
Lý Lãng nghe vậy trong lòng căm tức, liền hươi đao quay lại giao chiến cùng Điền Bảo. Đao pháp cả đều lợi hại nên đại chiến hơn sáu mươi hiệp mới phân thắng bại.
Một lúc sau Điền Bảo dẫn một đạo quân trở về cùng với chiếc thủ cấp của Lý Lãng trên tay. Tần Vinh một mặt cho binh sĩ thu dọn chiến trường, một mặt cho người đi vỗ an bá tánh trong thành.
Nói lại bên này Lỗ Thể Ngân đang nóng lòng chờ đợi tin tức của quân sư để thỉnh thị phương sách phá thành. Đêm đó, Lỗ Thể Ngân đang ngồi trong trướng đọc binh thư thì có một tiểu tướng vào báo :
-Bẩm nguyên soái!
-Có chuyện gì?
-Ngoài kia có một ông lão đến xin gặp nguyên soái, mạt tướng đuổi mãi vẫn không chịu đi nên đành vào đây hỏi ý nguyên soái.
-Cho ông ta vào.
-Dạ
Nói xong viên tướng nọ quay đi. Một lúc sau có người vén rèm bước vào. Qua ánh đèn mờ, đó là một ông lão râu rậm tua tủa, đầu đội mũ vải mềm, mình khoác trường bào. Ông lão bước đến gần cúi chào, Lỗ Thể Ngân hỏi:
-Lão là ai? Tìm ta có việc gì?
Ông lão không trả lời chỉ mỉm cười, rồi đưa tay gỡ bộ râu giả xuống. Thì ra người đó là Yên Tử. Lỗ Thể Ngân thấy Yên Tử thì cả mừng, đứng dậy chấp tay, nói :
-Thì ra là quân sư. Người cải trang như thế chút nữa là ta không nhận ra.
-Yên tử không muốn để lộ hành tung nên đành phải cải trang như thế.
-Mạt tướng đóng quân ở đây chờ mong tin tức của quân sư, nay được người đích thân đến đây quả như là hạn hán gặp mưa to. Xin hỏi quân sư đã có đối sách gì?
-Trước khi tới đây ta đã cho người đến Nhiêu Dương thám thính. Được biết tướng giữ thành là Bàng Trực. Kẻ này hữu dũng vô mưu, không đáng lo ngại. Sở dĩ Nhiêu Dương không thể công vào là do Bàng Trực đã nhờ cao nhân bày một trận pháp ngũ hành để trấn giữ.
Lỗ Thể Ngân hỏi ngay :
-Trận pháp đó là gì? Sao lợi hại đến như vậy?
-Đó là trận Tứ Linh tán, lấy bốn linh vật trong ngũ hành để bày trận. Đó là Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ và Chu Tước. Trên mỗi toà thành Bàng Trực cho xây một miếu thờ. Miếu Thanh Long nằm trấn ở Đông Môn, bên trong là tượng Thanh Long mình dài uốn khúc, cước bộ đằng vân. Ngôi mếu làm bằng gỗ và được sơn một màu xanh lục, đại diện cho hành Mộc. Bạch Hổ Đường được xây bằng đá trắng trấn ở Tây Môn. Tượng Bạch Hổ nanh dài mắt sáng, chân giẫm mây hồng, đại diện cho hành Kim. Nam Môn thì có Chu Tước điện, tượng Chu Tước mỏ vàng vuốt bạc, đôi cánh bốc lửa. Bên ngoài điện ngói đỏ cột son, đại diện cho hành Hoả. Còn lại Bắc Môn là do Huyền Vũ mếu trấn giữ, hình tượng Huyền Vũ được kết hợp bởi Linh Quy và Thần Xà. Linh Quy thì da xanh mắt đỏ, trên mai cõng theo Thần Xà. Thần Xà thì da bạc vẩy kim, cuộn mình quấn lấy Linh Quy. Bên ngoài mếu được xây bằng một loại thiết thạch, nhìn vào toàn mếu bị một màu đen bao phủ, đại diện cho hành Thủy. Ở ngay trung cung của Nhiêu Dương là Bát Quái Đường, toàn thể kiến trúc đều được trang biện bởi một màu vàng. Bát Quái Đường chính là tâm trận của trận Tứ Linh, đại diện cho hành Thổ.
-Vậy có cách nào phá giải trận pháp này?
Yên Tử ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi :
-Cho ta biết bát tự của Lỗ nguyên soái.
-Ta sinh vào giờ Mậu Tuất, ngày Tân Dậu, tháng Canh Thân, năm Quý Mùi.
Yên Tử bấm tay một lúc rồi hoan hỉ nói:
-Thật là hay! Thật là hay! Đúng là ý trời.
-Có chuyện gì mà quân sư vui mừng như vậy?
-Căn cứ vào bát tự cho thấy Lỗ nguyên soái là người thuộc mạng Mộc.
-Vậy thì sao xin quân sư chỉ dạy?
Yên Tử bước tới chỉ vào tấm bản đồ mà nói :
-Thành Nhiêu Dương địa thế trũng sâu, xung quanh lại có núi đồi bao bọc tạo nên địa hình lòng chảo. Lỗ nguyên soái thuộc mạng Mộc thì nên biết dùng sức nước để làm thế công vì Thủy sinh Mộc. Dưới chân thành Nhiêu Dương có con sông Bạch Lô chảy quanh từ Đông Nam sang Tây Bắc. Thượng lưu của Bạch Lô giang nằm trên núi Lưu Tinh. Chỉ cần ta chặn lại ở thượng lưu ở trên núi, khiến cho mực nước của sông Bạch Lô dâng cao, tạo thành hồng thuỷ tràn xuống Nam môn thành Nhiêu Dương. Nam môn có Chu Tước điện trấn giữ, thuộc hành Hỏa, nay ta dùng Thủy để khắc Hỏa thì sợ gì Nam môn không thất thủ. Nhưng chỉ dùng Thủy khắc Hỏa thôi thì vẫn chưa thể triệt để phá được trận Tứ Linh. Vì muốn phá trận thì ta phải phá vào tâm trận ở ngay trung cung của Nhiêu Dương là Bát Quái Đường. Bát Quái Đường lại thuộc hành Thổ, vì Thổ sẽ khắc Thủy nên thủy công của chúng ta sẽ không thể phá được tâm trận. Lúc Nam môn đã thất thủ Lỗ nguyên soái hãy tiến vào chánh điện của Bát Quái Đường. Giữa chánh điện có một vòng bát quái lớn. Nguyên soái hãy dùng một thanh kiếm bằng gỗ cắm xuống ngay giao điểm của hai cực âm dương thì trận Tứ Linh sẽ bị phá giải ngay lập tức vì theo nguyên lý ngũ hành Mộc sẽ khắc Thổ.
-Hay! Đúng là diệu kế! Tài trí của quân sư quả là siêu phàm.
-Tuy vậy cần phải lựa đúng thời điểm thích hợp để phá trận mới hoàn toàn nắm chắc phần thắng.
-Mạt tướng xin nghe…
Yên Tử bấm đốt tay một lúc rồi nói:
-Mấy hôm nay ta quan sát tinh tượng được biết trong bảy ngày tới sẽ có một trận mưa to kéo dài mấy ngày. Trước đó phải cho ngăn lại dòng chảy, chờ mưa đến ba ngày ba đêm, ngay giờ Tý đêm đó mới cho tháo nước để công thành vì ngay giờ Thủy thịnh. Sau khi thành vỡ đến giờ Sửu thì chưa thể đánh ngay vào tâm trận được bởi vì giờ Sửu hành Thổ vượng. Nguyên soái phải chờ đến giờ Mão lúc đó Mộc vượng Thổ tử thì mới phá được trung cung dễ dàng.
Hiến xong kế sách, Yên Tử lập tức phi ngựa trở về trại quân của Doãn Văn. Hôm sau, Lỗ Thể Ngân cho gọi Âu Dương Nam Lạc đến :
-Âu Dương phó soái! Vết thương của ngươi thế nào.
-Bẩm nguyên soái! Vết thương của mạt tướng sau mấy ngày điều dưỡng nay đã lành hẳn. Xin nguyên soái chớ bận tâm
-Tốt! Vị tướng trẻ kia đã cắm lên mình ngươi một mũi tên. Ngươi có muốn hắn bị loạn tên giết chết hay không?
-Mạt tướng ước gì chính tay có thể làm chuyện đó. Nhưng thành Nhiêu Dương còn chưa phá…
-Âu Dương phó soái nghe lệnh!
-Có mạt tướng.
-Bổn soái lệnh cho ngươi thống lãnh ba ngàn xạ thủ mai phục tại Thạch Môn cốc. Khi có quân Tống chạy đến thì nhất loạt xạ tiễn.
-Tuân lệnh
Tháng mười năm Tĩnh Khang thứ nhất, Lỗ Thể Ngân đưa quân đóng trên núi Lưu Tinh. Và truyền lệnh đem bốn vạn bao cát chồng chất ở thượng lưu sông Bạch Lô, xây thành một đập nước cao sáu trượng, thêm vào mấy ngày mưa to gió lớn, khiến cho nước sông dâng lên ồ ạt. Trong đêm mưa bão, Lỗ Thể Ngân truyền lệnh xô ngã bao cát khiến cho nước sông vạn mẫu tràn ra như thác đổ, tạo thành thế nước lụt vỡ đê xông thẳng vào thành Nhiêu Dương. Cơn hồng thuỷ xô ngã tất cả tường thành ở Nam môn. Trong khoảnh khắc nhà cửa trong thành đều sụp đổ, binh sĩ tử thương vô số. Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân không tốn một binh một tốt phá được Nhiêu Dương.
Hai cha con Bàng Trực và Bàng Dĩnh dẫn một đạo quân tẩu thoát từ Tây môn. Đến Thạch Môn cốc thì gặp đội xạ thủ của Âu Dương Nam Lạc đã mai phục sẵn . Cả Bàng Trực và Bàng Dĩnh đều chết trong loạn tiễn.
Chờ đến giờ Mão nước cũng vừa kịp rút hết, Lỗ Thể Ngân xua quân xuống núi, rồi cùng hai tùy tùng vào thành trước để phá trận. Con ngựa tinh nghịch của Lỗ Thể Ngân cố giẫm mạnh xuống những vũng nước còn đọng lại trên mặt đường. Đến trước Bát Quái Đường, Lỗ Thể Ngân xuống ngựa, đeo kiếm gỗ sau lưng, chạy thẳng vào chánh điện. Không khí trong điện u ám và ngột ngạt, Lỗ Thể Ngân bước tới ba bộ rút kiếm cắm xuống giữa vòng bát quái. Ngay lập tức sương mù ở ba cửa còn lại liền tan biến và trời cũng vừa sáng. Lỗ Thể Ngân cho quân vào thành. Sau đó lại tức tốc điểm binh, tăng cường lương thảo rùi tiến thẳng về phía Bộc Dương.
Sau hơn một tháng hành quân, Lỗ Thể Ngân đã chiếm được thêm hai mươi thành trì lớn nhỏ. Quân Lương Sơn càng đánh càng hăng, chẳng bao lâu đã đến được Bộc Dương. Lỗ Thể Ngân cho hạ trại cách Bộc Dương ba mươi dặm, chuẩn bị công thành.
Sáng hôm sau, tiếng trống trận rền vang thúc lên như núi lở và ngọn soái kỳ màu xanh lục thêu một chữ “Lỗ” phất phới kiêu hùng trước thành Bộc Dương. Bên cạnh là Lỗ Thể Ngân đầu đội kim khôi hình cánh phượng, mình mặc chiến bào màu lục, ngoài khoác kim giáp khảm hoa văn. Lỗ Thể Ngân tay cầm Truy Phong Yểm Nguyệt Đao, chễm chệ trên con Hắc Long Câu uy nghi lẫm liệt.
Âu Dương Nam Lạc trỏ tay lên thành nói:
-Tướng trên thành nghe đây! Mau mở cửa thành đầu hàng để tránh cảnh máu chảy thành sông, các tướng sĩ phải phơi thây nơi chiến trường hồn du tiên cảnh.
Tướng trên thành nói vọng xuống :
-Thật là lớn lối. Nói cho người biết, Thành Bộc Dương chỉ có tướng mất đầu chứ không có tướng cúi đầu. Dù hôm nay ta phải da ngựa bọc thây cũng quyết tử chiến đến cùng.
-Vậy thì phải xuống đây tranh tài thư hùng mới phân hơn kém.
Cửa thành hé mở, hai đạo quân trong thành ồ ạt xông ra dàn thành hàng ngang. Một lão tướng râu vàng tóc nâu, đầu đội thiết khôi, mình mặc giáp trụ, tay cầm song kích câu liêm, cưỡi ngựa lông vàng từ trong thành xông ra. Đó chính là tướng trấn giữ Bộc Dương - Bá Thiệu. Bá Thiệu hất hàm về phía Nam Lạc hỏi :
-Trước giờ ta không giết kẻ vô danh. Tên tiểu tử kia mau khai tên rồi chịu chết.
Âu Dương Nam Lạc tức giận vừa múa xà mâu lao tới, vừa nói :
-Ta chính là gia gia của ngươi. Xem này…
Nói rồi Nam Lạc phóng xà mâu đâm tới, Bá Thiệu liền giơ kích đỡ lấy. Hai tướng đánh với nhau hơn mươi hiệp vẫn chưa phân thắng bại, bỗng lưỡi câu liêm ở mũi kích Bá Thiệu đổi hướng móc vào yết hầu ngựa của Nam Lạc đang cưỡi. Con ngựa ngã quỵ xuống đất chết tức tưởi, Nam Lạc bị hất lăn xuống đất. Nhân lúc đối thủ chưa kịp đứng lên, Bà Thiệu liền tế ngựa đến đâm kích vào cổ của Nam Lạc. Bỗng nghe một tiếng “keng” của binh khí va vào nhau, ngọn kích của Bá Thiệu bị một thanh đại đao niêm lại. Người tương trợ kịp thời đó không ai khác chính là Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân. Bá Thiệu vểnh ngược bộ râu, trừng mắt quát :
-Lên một lúc càng tốt, ta sẽ cho các ngươi chầu trời một thể.
Dứt lời Bá Thiệu liền thâu kích bên hữu lại rồi bất ngờ xuất kích bên tả, Lỗ Thể Ngân giơ đao lên đỡ, lực đánh của hắn làm ngựa của Lỗ Thể Ngân phải thoái bộ mấy lần. Lỗ Thể Ngân vung đao chém lại thì bị song câu của Bá Thiệu kẹp chặt. Trong tình thế vô cùng nguy cấp, Lỗ Thể Ngân buông đao nhảy bật lên khỏi ngựa. Và giẫm ba bộ trên không lướt đến bên Bá Thiệu, một ánh đao sáng ngời lóe lên. Cặp kích của Bá Thiệu rời khỏi tay, rơi cắm xuống mặt đất, hắn gục đỗ trên lưng ngựa. Binh sĩ trông thấy cảnh đó liền bỏ vũ khí, quỳ xuống xin tha. Lỗ Thể Ngân cho quân hạ trại trước cổng thành, còn mình dẫn một tiểu đội tiến vào thành vỗ an bá tánh.
Vài ngày sau, lính trên thành trông thấy từ phía xa có một đạo quân đang tiến về phía Bộc Dương. Lỗ Thể Ngân được tin liền ra xem thì thấy thấp thoáng ngọn soái kỳ thêu một chữ “Doãn”. Biết đó là đạo quân hậu lộ của Doãn Văn nên Lỗ Thể Ngân liền cùng các tướng ra thành nghinh tiếp. Doãn Văn cùng chư tướng nhập thành, bá tánh đứng hai bên đường hoan nghênh liên miên cả dặm. Đúng là :
Thế sự mơ hồ lắm đục trong
Thống khổ bao năm, thấy được rồng
Càn khôn biến sắc như bừng tỉnh
Sơn hà trở dậy trước hưng vong
Doãn Văn chưa từng nghĩ mình sẽ được lão bá tánh trông chờ như vậy, chợt nhớ lại lời nói của lão thầy bói năm xưa mà lòng cảm khái vô ngần. Sự đời có ai biết trước được mai sau. Doãn Văn có đúng là chân mệnh thiên tử? Quý vị hãy tự tìm câu trả lời ở hồi tiếp theo của Tân Thủy Hử…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
30-10-2009, 09:02 PM
Hồi Thứ 11
Máu Triệu Tiên vấy đầy hồng môn yến
Huynh đệ phùng, quyết chiến Tử Hà Sơn
Nói lại bên này Vương Trung Phu cùng huynh muội họ Di thống lãnh ba vạn binh mã tiến đánh thành Kiều Đông. Hơn một tháng ròng rã hành quân, họ đã tiến vào địa giới của Kiều Đông. Vương Trung Phu ra lệnh hạ trại cách thành hai mươi dặm. Quân Lương Sơn chỉ mới hạ trại nửa ngày, viên Thứ Sử thành Kiều Đông là Triệu Tiên đã cho treo cờ trắng ở trên thành để tỏ ý xin hàng. Sáng hôm sau, Triệu Tiên sai thân tín là Tào Nghi mang hàng thư đến tận quân trại Lương Sơn. Vương Trung Phu nhận được liền cho gọi huynh muội họ Di, khi họ đến Doãn Văn mới ra hiệu cho Tào Nghi mở ra đọc:
“Thứ Sử Kiều Đông - Triệu Tiên cúi đầu dâng biểu!
Đại Tống bất hạnh, hôn quân sa đọa, gian đảng lộng quyền khiến xã tắc lầm than. Mới đây được biết nghĩa quân Lương Sơn là đội quân nhân nghĩa, trên ứng thiên mạng dưới thuận lòng dân. Nay Thứ Sử Kiều Đông - Triệu Tiên cũng nương theo thời thế dâng biểu quy hàng, mong được sớm kết đồng minh, diệt hôn quân bình thiên hạ.”
Tào Nghi đọc xong biểu, lại chấp tay nói :
-Bẩm tướng quân! Triệu đại nhân biết các vị đường xa mệt mỏi nên tối nay ở trong phủ đã mở yến tiệc khoản đãi. Xin mời ba vị tướng quân đến dự trước coi như tẩy trần sau là để kết tình giao hảo.
Vương Trung Phu nói:
-Bổn tướng chấp nhận thư nạp hàng, nhắn lại với Triệu đại nhân là cho ta thay mặt lão bá trong thành nói lời cảm kích. Còn dự yến thì khi nào thu xếp xong ta mới quyết định được.
-Vậy tiểu nhân xin cáo lui.
Tào Nghi vừa đi khỏi, Di Thiên Huấn bước ra chấp tay, thưa:
-Bẩm tướng quân! Hàng thư chỉ nói chung chung, không nói rõ ngày giờ xuất thành quy hàng, rất có thể chỉ là trá hàng. Lại còn mời đi dự tiệc, đó rõ ràng là Hồng Môn yến. Xin tướng quân hãy cẩn thận.
-Điều mà phó soái vừa nói cũng là những gì ta đang suy nghĩ.
-Vậy ngày mai hãy để mạt tướng dẫn binh công thành thì không còn lo ngại.
-Không được! Tuy còn nhiều khả nghi nhưng hắn đã treo cờ trắng thì ta không nên công thành để làm tổn danh thơm nhân nghĩa của minh công. Có trá hàng hay không thì ta vẫn nạp hàng trước đã. Tiệc Hồng Môn hay là tiệc tẩy trần thì ta cũng sẽ dự.
Di Thiên Thư bước ra hỏi :
-Vậy tướng quân đã có kế sách đối phó rồi chăng?
-Chẳng có kế sách gì cả, sống chết có trời định, mọi chuyện cứ tùy cơ ứng biến.
Đêm hôm đó, Vương Trung Phu cùng huynh muội Di được Triệu Tiên cho người mang kiệu đến tận quân trại đón rước. Vương Trung Phu cùng hai phó tướng bào giáp chỉnh tề rồi khởi kiệu vào thành. Một lúc sau, kiệu phu dừng lại ở trước một phủ lớn trang hoàng. Một tên gia nhân bước ra ân cần tiếp đón. Tuy chỉ là phủ đệ của quan tam phẩm nhưng nó rất nguy nga hoa lệ. Họ được tên gia nhân dẫn đến một sảnh đường rộng lớn, ở giữa có tám cánh bình phong phân cách, trần thiết hòa mục cao nhã. Triệu Tiên từ trong hậu đường bước ra. Đó là một người tuổi độ tứ tuần, đầu đội mũ viên ngoại, mình mặc ảo vải xanh, ngoài khoác trường bào lụa nhiễu. Triệu Tiên bước đến chấp tay nói :
-Triệu mỗ xin kính chào tam vị tướng quân. Triệu Tiên, thân mời khách dự yến mà không kịp nghinh tiếp từ ngoài quả thật là thất lễ, xin tam vị lượng thứ.
Vương Trung Phu thủ lễ :
-Hạnh ngộ! Triệu đại nhân quá khách sáo rồi. Vương mỗ thân mang trọng trách bình định thiên hạ, chưa biết phải công thành thế nào, may nhờ Triệu đại nhân thấu hiểu đại nghĩa tình nguyện đầu hàng, tránh cảnh lửa binh. Đó là cái phúc của muôn dân, Vương mỗ chưa biết nói lời gì để tỏ lòng cảm kích.
-Triệu Tiên chỉ nương theo thời thế mà hành sự, tướng quân không cần cảm kích. Nào! Xin mời tam vị tướng quân cùng ra hậu đường để dự yến.
Trong hậu đường, trên bàn đã bày sẵn cao lương mỹ tửu để thiết đãi bọn người của Vương Trung Phu. Bọn họ cùng Triệu Tiên ngồi vào tiệc uống rượu. Rượu được nửa chừng thì Di Thiên Huấn ôm bụng kêu đau bèn xin lui ra để tìm nhà xí.
Thật ra chỉ là mượn cớ, Thiên Huấn vừa ra khỏi phòng đi được vài bước thì đã nhảy phóc lên mái nhà. Thiên Huấn dò xét xung quanh nhưng thấy mọi thứ không có gì bất ổn, định trở xuống thì bỗng nghe phía hậu viên có tiếng bước chân vọng lại. Từ xa xuất hiện một toán hắc y nhân tay cầm giới đao, tiến về phía sảnh đường. Di Thiên Huấn liền quay trở lại yến tiệc và làm như không có chuyện gì. Di Thiên Huấn đưa mắt nhìn Vương Trung Phu rồi lấy cái ly lật lại, úp xuống mặt bàn. Vương Trung Phu cũng nhìn lại rồi khẽ gật đầu. Triệu Tiên thấy vậy liền nói :
-Di tướng quân đã quá chén rồi chăng? Sao lại để ly úp xuống như vậy?
-Phải phải! Ta thật đã quá chén!
Nói rồi Di Thiên Huấn đứng dậy cầm ly lên nhưng cố tình làm rơi xuống đất.
“Xoảng”
Chiếc ly ngọc vỡ nát dưới chân Di Thiên Huấn, lập tức mười mấy tên hắc y nhân tống cửa xông vào. Di Thiên Huấn ngồi phục xuống ghế, lờ đờ nói:
-Ta quả thật đã say rồi! Mấy tên gia nhân lúc nãy rõ ràng mặt đồ xanh mới đây lại thấy chúng mặc toàn đồ đen. Ta say rồi, ta say rồi.
Đuôi mắt của Triệu Tiên rung rung nhíu lại, hắn chống mạnh hai tay lên bàn, từ từ đứng dậy và gằn giọng nói :
-Phải! Ngươi đã say rồi. Hãy để bọn gia nhân dìu ngươi về nghỉ.
Nói rồi Triệu Tiên nhìn đám hắc y nhân rồi khẽ hất hàm ra hiệu. Ngay lập tức đám hắc y lao tới chém, Di Thiên Huấn đang ngồi trên ghế bỗng ngã ngược ra phía sau đồng thời thẳng chân đạp té vài tên. Di Thiên Thư cũng xoay người bay lên khỏi ghế tung cước một lúc vào mặt bốn tên hắc y làm chúng lộn nhào. Vương Trung Phu vẫn ngồi tại bàn tiếp tục uống rượu. Vương Trung Phu kê ly nhấp môi rồi quay sang Triệu Tiên hỏi :
-Phó tướng của ta chẳng qua hơi quá chén chỉ là làm vỡ một chiếc ly sao Triệu đại nhân lại nổi lôi đình thế kia.
Triệu Tiên trợn mắt trỏ tay về phía Vương Trung Phu mà quát lớn :
-Mau giết chết tên phản tặc này cho ta.
Bọn hắc y bò dậy vung đao tới chém Vương Trung Phu. Di Thiên Huấn liền đứng dậy cầm hai chiếc ghế múa tít tấn công đám hắc y. Bọn chúng bị Di Thiên Huấn đánh bằng ghế đến nỗi tối tăm mặt mày, chém chém đâm đâm loạn xạ nhìn đao pháp cũng chẳng ra, mà kiếm pháp cũng chẳng phải. Di Thiên Huấn nhào tới tước giới đao của một tên hắc y rồi trong nháy mắt hạ sát hàng loạt bọn chúng. Thấy còn lại hai tên định chạy ra khỏi cửa tẩu thoát, Di Thiên Thư liền chụp thanh đao rồi phóng về phía hai tên hắc y. Thanh đao xé gió lao tới đâm ghim dính cả hai cột nhà. Triệu Tiên há hốc mồm kinh hãi toàn quay lưng chạy đi, Vương Trung Phu phang ngay bình rượu trên tay vào đầu Triệu Tiên khiến hắn vỡ đầu ngã nhào. Vết thương trên đầu trúng phải rượu làm Triệu Tiên đau rát kêu la thảm thiết. Di Thiên Huấn kéo cổ áo hắn lôi đến trước mặt Vương Trung Phu. Vương Trung Phu nói:
-Ngay từ đầu ta đã biết là ngươi chỉ trá hàng, nhưng vẫn đến đây cư xử thủ lễ mong ngươi kịp thời rút tay. Ai ngờ ngươi bụng dạ thâm hiểm, muốn giết ta trong phủ.
Triệu Tiên lúc này mới kinh sợ, quỳ xuống lạy lạy van van, máu trên đầu hắn vương vãi trong sảnh đường. Triệu Tiên lấp bấp nói:
-Xin tướng quân tha mạng, vì… vì… tình thế, tiểu nhân chỉ vì tình thế thôi, xin tướng quân tha mạng.
Di Thiên Huấn liền nói:
-Tướng quân! Hạng người này sống trên đời càng nhiều thì làm ác càng nhiều. Hãy để mạt tướng một đao lấy đầu chó của nó.
Nói rồi Di Thiên Huấn vung đao chém Triệu Tiên đứt thành hai đoạn. Vừa lúc ấy một đám binh sĩ cầm giáo mác xông vào. Thiên Huấn xách đầu của Triệu Tiên giơ lên quát:
-Đại nhân của các ngươi đã bị ta giết, còn không mau buông khí giới đầu hàng.
Đám lính hốt hoảng nhìn nhau rồi buông khí giới đầu hàng. Tào Nghi từ ngoài bước vào hai tay cầm kim ấn giơ cao ngang đầu, quỳ xuống nói :
-Đây là ấn tín của Thứ Sử Kiều Đông thành xin dâng lên tướng quân.
Vương Trung Phu nhận ấn tín rồi lệnh cho lính mở rộng cửa thành. Một mặt sai Di Thiên Huấn trở về trại thống lĩnh đại quân nhập thành.
Tại Kim Châu, Tướng của quân Tống là Từ Cảnh Đường sau gần hai tháng tử thủ với quân Kim lương thảo đã cạn kiệt. Từ Cảnh Đường biết là mạng sống của già trẻ trên dưới trong nhà mình đều tuỳ thuộc vào số phận của Kim Châu nên ông phải tử thủ đến cùng. Cuối cùng,Từ Cảnh Đường đành cho khoái mã ngày đêm về Biện Kinh dâng thư xin tăng viện lương thảo. Chưa biết ý thiên tử thế nào, một hôm có thám tử vội vã chạy về báo:
-Tướng quân! tướng quân! Chuyện lớn rồi.
-Chuyện gì? Có phải triều đình không chịu cấp viện lương thảo hay không?
-Cao Cầu, cái tên gian tặc này đã tố ngôn với hoàng thượng. Nói là tướng quân nhát gan sợ việc, lừa trên dối dưới, ăn xén quân lương. Bây giờ hoàng thượng nổi trận lôi đình, không những là hạ chỉ hỏi tội tướng quân, mà còn đem toàn bộ người của Từ gia…
Từ Cảnh Đường điên tiết đứng bật dậy, lao tới tóm lấy tên lính, hỏi to :
-Thì sao…! Thì sao…! Nói mau…
-Đem hết thảy một trăm tám mươi hai người của Từ gia… xử…chém…phơi…thây…
Từ Cảnh Đường nghe xong mắt trừng ngược, nộ khí xông lên đè nén ở ngực đến nỗi phải thổ huyết ngất đi.
Vài canh giờ sau, tiếng trống trận của quân Kim vang lên gầm trời, khiến cho Từ Cảnh Đường đang tịnh dưỡng trong phòng cũng phải bật dậy. Từ Cảnh Đường bào giáp chỉnh tề leo lên ngựa phi thẳng đến cổng thành. Từ Cảnh Đường cho lính mở cửa thành và một mình bước ra, trước mắt Từ Cảnh Đường là hai mươi vạn binh Kim giáo mác sáng ngời. Từ Cảnh Đường ngửa mặt lên trời thét to:
-Từ Cảnh Đường ta hôm nay bị lâm vào cảnh này thật đúng là thiên địa bất nhân. Tên hôn quân nghe lời xàm thần mà đã xử trảm toàn gia của ta. Cho dù sau này ta trở thành cô hồn dã quỷ cũng sẽ theo diệt hết họ Triệu các ngươi.
Dứt lời, Từ Cảnh Đường rút gươm tự vẫn trước cửa thành Kim Châu. Bố Xích Ha ra lệnh cho toàn quân tiến vào, lính Kim giẫm đạp lên thi thể của Từ Cảnh Đường chen nhau vào thành. Hai phó tướng của Từ Cảnh Đường cùng hàng trăm binh sĩ vì không muốn chịu nỗi nhục thua trận nên đã từ trên thành nhảy xuống quyên sinh theo chủ tướng. Than ôi :
Buồn thay mệnh số trách ở trời
Căm hờn sóng thét tận muôn khơi
Kim Châu thành cổ vùi thây mới
Oán khí oan hồn khắp nơi nơi
Bố Xích Ha phá được Kim Châu liền tức tốc xua quân tiến đến vây hãm Biện Kinh. Bá tánh trong thành vô cùng phẫn uất kéo đến vây lấy hoàng cung, đòi Khâm Tông phải giết thái sư Đồng Quán và thái úy Cao Cầu trước khi thành thất thủ, vì chính hai tên này đã làm cho quốc gia bị suy nhược, bại trận, bị xâm lược. Khâm Tông đành phải theo ý dân mà ban chết cho hai vị sủng thần. Đồng Quán nghe vậy liền chạy vào triều xin tha nhưng bị xiết cổ chết trên đường từ phủ đến hoàng cung. Xác hắn bị dân chúng mổ bụng lấy vải tẩm dầu nhét vào rồi đốt đến khi thân thể thành tro. Kiểu hành hình như vậy từ xưa đến nay chỉ có hai người, trước đó là Hán tặc Đổng Trác bị bá tánh thành Trường An đốt xác suốt năm ngày liền. Thật là đáng :
Tống triều thái sử đấng quan gia
Tay nằm quyền cao đảo sơn hà
Lúc chết làm ma không toàn xác
Lửa hồng nuôi hận quyết không tha.
Cao Cầu lúc hay tin dữ đã tìm một tên gia nhân có thân hình giống mình rồi cởi triều bào cho hắn mặc. Lúc quan quân tìm đến phủ bắt Cao Cầu thì thấy một người mặc quan phục treo cổ tự tử ở ngay đại sảnh, đám lính tưởng là Cao Cầu đã chết nên quay về phúc lệnh. Cao Cầu sau lần thoát chết đã bới tóc, cạo râu, mặc quần áo đàn bà, sau đó gom một ít tiền bạc trà trộn vào đám loạn dân trốn đến Hàm Đan.
Ngày 9 tháng 1 năm 1127 – Đại Tống Tĩnh Khang năm thứ hai, Bố Xích Ha thống lãnh hai mươi vạn binh Kim đã phá được Biện Kinh. Sau đó tiến vào Khai Phong Phủ giết sạch ngự lâm quân, bắt sống Khâm Tông cùng các thái tử, cung phi, hoàng tộc và quan lại triều đình cả thảy ba ngàn người. Rợ Kim còn cướp vàng bạc, mỹ nữ trong thành đem về Bắc. Bọn quan lại và hoàng tộc bị bắt làm tù binh một phần vì tủi nhục, một phần vì không chịu được khí hậu giá lạnh của miền Bắc nên họ lần lượt qua đời.
Hơn ba mươi viên quan may mắn chạy thoát, họ mang theo ngọc tỷ của hoàng triều chạy đến Hà Bắc. Tại Hà Bắc, họ đưa một hậu duệ còn lại của Tống thất là Khương Vương Triệu Cấu lên ngôi, hy vọng chờ thời cơ đánh đuổi Kim nhân.
Nói lại phía rợ Kim, sau khi chúng đánh chiếm, cướp bóc, tàn phá thành Biện Kinh thì lại hay tin ở Hà Bắc các quan đại thần của nhà Tống đã lập tân vương. Bố Xích Ha liền dắt toàn bộ binh mã tiến đánh Hà Bắc.
Tân vương Triệu Cấu vừa lên ngôi vương hiệu còn chưa có, ngai vàng ngồi chưa nóng mà lòng thì như lửa đốt, hoang mang lo sợ khi nghe tin quân Kim đuổi đánh tới nơi. Đang lúc rối trí thì có một quan đại thần ở Hà Bắc là Kiêu Quân Thụy đến thưa :
-Bẩm hoàng thượng! Rợ Kim quân số đến hàng vạn, thế giặc lại đang mạnh. Nếu đánh vào đây thì tám ngàn binh thủ thành của Hà Bắc làm sao địch nổi. Phía trước lại có ba lộ đại quân của Lương Sơn đang đánh tới, thử hỏi ta làm sao chống cự.
-Vậy theo ý của khanh thì phải làm sao?
-Thần có tám chữ xin dâng lên hoàng thượng.
-Là tám chữ nào, khanh hãy mau nói ra?
-Đông hoà Doãn Văn, Bắc cự Xích Ha.
-Như vậy là ý gì?
-Theo ngu ý của nhi thần thì hoàng thượng nên cho người có tài miệng lưỡi viết một chiếu thư cầu hòa, rồi cho người mang đến trại quân Lương Sơn để cầu hòa với Doãn thủ lĩnh. Doãn Văn là một người thấu hiểu đại nghĩa nếu ta dùng lời tốt để lung lạc thì hy vọng hắn sẽ ra quân cần vương.
-Nếu hắn không chịu thì sao?
-Nhi thần cũng không dám chắc. Nhưng đó là cách hay nhất hiện nay và cũng là hy vọng duy nhất để vượt qua quốc nạn.
-Được! Được! Vậy trẫm sẽ cho người viết chiếu thư ngay.
---
Lại kể về đạo quân của Tần Vinh, sau khi hạ được Huyền Vũ đã ngày đêm lên đường. Chỉ hơn nửa tháng, Tần Vinh đã chiếm thêm bốn châu, mười ba huyện và thuận lợi tiến đến Dục An.
Ngọn bạch kỳ mang một chữ “Tần” kiêu hùng tung bay trước thành. Tần Vinh đầu đội ngân khôi hình cánh chuồn, mình mặc ngân giáp bạch bào, lưng thắt đai hổ phù, ngồi trên bạch mã, tay cầm ngân thương oai phong lẫm liệt. Quân Lương Sơn gươm giáo sáng lòa, cờ xí rợp trời, giục trống liên hồi để thị uy. Cửa thành mở ra, quân Tống cũng phất cờ xuất trận, dàn thành hàng ngang chờ lệnh xuất chiến. Từ trong thành có một viên tướng dáng điệu uy dũng, đầu đội thiết khôi, mình mặc huỳnh giáp cẩm bào, tay cầm Vô Ảnh Lạc Nhật Đao, phóng trên Thiên Lý Thần Câu ra trước tam quân. Tần Vinh trông dáng người đó có phần quen thuộc nên vỗ ngựa tới gần xem. Quả nhiên người đó không ai xa lạ, chính là sư đệ Điền Khang.
Tần Vinh thấy sư đệ liền mừng rỡ hô to:
-Điền sư đệ! Là Tần Vinh sư huynh đây. Đệ có nghe ta nói không?
Điền Khang cất tiếng trả lời :
-Tên nghịch tặc kia! Ta là tướng của triều đình làm gì có thứ sư huynh phản nghịch như ngươi. Khôn hồn hãy mau buông tay đầu hàng may ra ta niệm tình đồng môn mà tha cho tội chết.
Tần Vinh nghe xong thì như vừa tỉnh giấc, trong lòng có chút xót xa nhưng vẫn nói:
-Ta còn định dùng tình huynh đệ xưa kia để thuyết phục nhà ngươi thấu hiểu đại nghĩa, bỏ tối theo sáng. Nhưng nay nếu ngươi đã không vương vấn đến tình xưa thì ta cũng chẳng cần nặng lòng mà mang nghĩa cũ.
Điền Khang hét to :
-Ta chờ chính là câu nói này của ngươi. Hãy xem đây!
Nói rồi Điền Khang tế ngựa xông lên giao chiến, Tần Vinh cũng vỗ ngựa tiếp chiêu. Điền Khang vung đao Lạc Nhật chém tới, Tần Vinh giơ thương Hồi Phong tiếp đòn, lửa tóe ra, ngựa lùi bật lại. Tần Vinh liền phóng ngựa tới quay thương tạt ngang đầu Điền Khang, Điền Khang kịp thời tránh được rồi phản đòn như chớp. Hai tướng giao chiến hơn ba mươi hiệp mà vẫn không mảy may đuối sức, cả hai vừa đánh vừa đuổi nhau càng chạy càng xa.
Tần Lượng thấy vậy liền ra hiệu cho toàn quân xuất kích, phó tướng của Điền Khang cũng phất cờ tiến quân. Hai bên binh sĩ lao vào nhau tử chiến. Tiếng bước chân rầm rộ, tiếng hò hét như sấm vang cùng với tiếng trống gầm trời hòa thành một nhịp tạo nên bầu không khí sát phạt bao trùm xung quanh vài dặm.
Tần Vinh cùng Điền Khang mải mê giao đấu trên lưng ngựa mà không hay biết mình đã đi khá xa mặt trận. Nhưng ở tình thế này hễ ai có một chút sơ hở hay ngoảnh đầu lại thì sẽ bị đối phương hạ sát ngay. Họ rượt đuổi nhau đến sườn núi Tử Hà. Vì địa thế sườn dốc ngựa đứng không vững nên cả hai quyết định xuống ngựa để chiến tiếp.
Tần Vinh phóng xuống ngựa, tay cầm thương cắm mạnh cán xuống đất, nói:
-Điền Khang sư đệ! Hãy đầu hàng theo ta về thỉnh tội cùng sư phụ.
Điền Khang thu đao cặp vào vai rồi nói :
-Tần Vinh! Ngươi đừng có ngông cuồng! Hôm nay ta phải đánh bại ngươi để rửa mối nhục năm xưa.
-Chuyện thắng bại đã lâu tại sao ngươi lại chấp nhất đến bây giờ?
Điền Khang trợn mắt quát to:
-Bởi vì ta không phục. Sư phụ luôn bảo là không có vị lòng nhưng lúc nào cũng đề cao ngươi, hạ thấp ta. Dạy thương pháp cho ngươi, dạy đao pháp cho ta mà cuối cùng lại nói thương nhất định thắng đao.
-Đó là di ngôn của sư tổ để lại, chứ không phải sư phụ có ý xem thường ngươi.
-Ta không cần biết nhiều, ta chỉ cần biết là phải đánh bại ngươi. Nghe nói giang hồ có câu “Trước thương Xuyên Vân vô tuyệt học, dưới đao Vô Ảnh bất cơ sinh”. Hôm nay ta phải sẽ dùng Vô Ảnh Lạc Nhật Đao này để thọ giáo uy lực của Xuyên Vân Hồi Phong Thương. Ta còn phải chính tay đánh bại ngươi để chứng minh cho mấy lão già kia thấy là đao nhất định thắng thương.
-Nếu như ý ngươi đã quyết thì ta cũng đành phải theo.
Dứt lời Xuyên Vân Thương của Tần Vinh đã phóng tới, Điền Khang vội giơ đao hất lên. Tiếng binh khí va vào nhau đinh tai nhức óc. Cả hai ác chiến đến năm mươi hiệp mà vẫn bất phân thắng bại. Một lúc sau, khi Điền Khang dùng thức thứ sáu của đao pháp thì đột nhiên biến thức không đâm thẳng mà xoay cổ tay quơ đao ngang, chém vào tay trái của Tần Vinh.
Tần Vinh bị trúng đao liền lui lại vài bước, chống cán thương xuống. Vì chỉ còn một tay nên Tần Vinh không thể cầm thương chiến đấu. Điền Khang thấy vậy ngửa mặt cười đắc chí, rồi nói :
-Tần Vinh! Ngươi chỉ còn lại một tay, không thể cầm thương vậy xem ngươi lấy gì để đấu với ta. Ta đã nói đao nhất định thắng thương, bây giờ chỉ cần ta đi thêm một thức nữa thì để xem ngươi làm sao chống đỡ.
Nói rồi Điền Khang lượn đao quanh người rồi bất thần vung đao lao tới. Tần Vinh hai chân chôn chặt xuống đất bên cạnh vũng máu nhỏ ra từ cánh tay bị thương. Mắt Tần Vinh đăm đăm dõi theo từng nhịp của đối phương đang lao tới kết liễu mình. Tay phải của Tần Vinh nắm chặt ở ngù thương vừa xoáy vừa nhấn cây thương sâu xuống đất, để khi chết cũng có thể đứng vững.
Bỗng nhiên ở ngù thương có khe nứt, thì ra ở phần đó của Xuyên Vân thương có một cơ quan. Tần Vinh lắc một cái đã khiến cho phần ngù thương và mũi thương lìa ra khỏi cán thương.
Trong khoảnh khắc, Tần Vinh nhớ lại bức họa của sư tổ trên vách hang động cũng vẽ hình cây thương gãy. Trong khi Điền Khang vẫn đang lao tới thì một tuyết thức vừa kịp thời lóe lên trong đầu Tần Vinh. Tần Vinh tay cầm mũi thương, mắt hướng tới trước, tâm ở trong thương. Tần Vinh dồn hết sức toàn thân lên mũi thương, rồi thương cùng người hoà mình theo gió lao về phía Điền Khang.
Điền Khang vung đao chém xuống. Tần Vinh và mũi thương xé gió lao tới như một mũi tên bay xuyên qua ngực của Điền Khang. Điền Khang bị trúng đòn chí mạng, hắn chống đao quỵ xuống, mắt trợn to nhìn về phía trước, miệng há hốc máu tươi trào ra. Điền Khang cố gằn lên từng tiếng :
-Tại…sao?
Tần Vinh quay lại bỏ thương xuống, nói :
-Cuối cùng ta cũng đã hiểu được bức họa của sư tổ ở trong động. Thì ra năm xưa thương của sư tổ không phải bị sư thúc tổ đánh gãy mà do tự người tháo mũi ra khỏi cán thương. Khi mũi thương đã rời cán thì lúc đó ta sẽ tiến tới cảnh giới cao nhất của Xuyên Vân Đao Thương Pháp. Cái cảnh giới vạn vật thành một, có nghĩa là người cùng với thương hợp nhất, như ẩn như hiện, như thật như giả. Trong ngươi có ta, trong ta có ngươi bởi vì vạn vật vốn là một. Chỉ cần trong ý niệm ta đều có vạn vật thì trong vạn vật đều có ta. Đó mới là cái cảnh giới cao nhất của võ học và làm cho người ta khâm phục.
-Sư…huynh! Cuối…cùng ta…cũng…thua…một cách…tâm…phục…khẩu phục.
-Sư đệ!...
Dứt lời Điền Khang vung đao ngang cổ tự vẫn, Tần Vinh nhỏ lệ đau xót muôn phần. Thật tiếc cho một Điền Khang tài thao võ lược mà lại quá đặt nặng cái danh lợi, thắng thua.
Tần Vinh đặt thi hài của Điền Khang lên Thiên Lý Thần Câu, buộc dây vào ngựa của mình rồi giục chạy về thành Dục An. Trước cổng thành, hai bên binh tướng vần còn đang chiến đấu kịch liệt. Tần Vinh chạy đến hét to :
-Chủ tướng của các người đã chết còn sao không mau bỏ giáo quy hàng.
Bọn binh tướng của Tống quân trông thấy xác của Điền Khang liền hoảng hốt bỏ khí giới, quỳ xuống xin tha. Tần Vinh ra lệnh mở cửa nhập thành, vỗ an bá tánh, cho người an táng Điền Khang tử tế.
Mãi mới nhắc đến đạo quân của Vương Trung Phu. Sau khi giết Triệu Tiên, họ dễ dàng chiếm lấy Kiều Đông mà không tốn một binh một tốt. Vương Trung Phu cùng huynh muội họ Di lại thống lĩnh ba vạn binh mã tiến về Hàm Đan. Lần này họ không hạ trại dưỡng quân mà tiến thẳng đến dàn quân trước cửa thành. Thấy trên thành không có một ai lại yên tịnh như tờ, Vương Trung Phu liền cho binh sĩ thổi tù lên. Tiếng tù kéo dài vang lên đến lần thứ ba thì thấy trên thành thấp thoáng một vài người thò đầu ra rồi lại vội nấp vào.
Một lúc sau, cửa thành mở toang. Từ trong thành ùa ra không phải là một đội thiết giáp hùng binh mà chỉ là một đám dân đen áo vải. Họ hớn hở tiến đến trước sự ngạc nhiên của huynh muội họ Di.
Di Thiên Thư quay sang Vương Trung Phu hỏi :
-Thưa tướng quân! Sao bá tánh trong thành dường như đang hăm hở chạy về phía quân ta mà không chút sợ sệt?
Vương Trung Phu cười to rồi nói:
-Hàm Đan là nơi ta kết binh khởi nghĩa. Trong ba vạn quân này đã có gần ba ngàn người là dân bản xứ. Bá tánh trong thành đều là cha mẹ, vợ con của họ thì làm sao lại có chuyện sợ hãi.
-Thì ra là vậy. Vậy tức là họ mở cửa thành để đầu hàng, chúng ta không cần đánh.
-Đúng vậy! Tránh được binh đao là cái phúc của muôn dân.
Sau đó Vương Trung Phu ra lệnh cho toàn quân tiến đến gần. Trong đám đông có một lão hán đầu đội nón vải bước ra, hỏi to :
-Vương tướng quân! Lâu nay người vẫn khỏe chứ?
Vương Trung Phu cất tiếng :
-Trương lão bá! Ta đã trở về.
-Hay tin tướng quân đã tìm được minh chúa và đang trên đường đến đây. Chúng tôi đã đợi ngài rất lâu rồi. Ngài hãy xem kìa…
Vương Trung Phu nhìn theo tay của Trương lão bá đang chỉ về phía cổng thành. Từ bên trong, một vị quan bị trói được một viên tướng dẫn ra. Vương Trung Phu hỏi:
-Đó chẳng phải là Tưởng Minh hay sao? Sao lại trói hắn ta?
-Tưởng Minh, cái tên tham quan này chúng tôi đã hận hắn từ lâu rồi. Hay tin tướng quân sắp đánh đến nơi nên chúng tôi dùng lý lẽ định khuyên hắn đầu hàng. Hắn nhất quyết không nghe mà còn đàn áp bắt giữ dân chúng. May nhờ Đặng Thích - Đặng tổng binh lãnh đạo dân trong thành nổi lên, bắt trói Tưởng Minh chờ tướng quân đến xét xử.
Vương Trung Phu xuống ngựa bước tới gần Tưởng Minh. Hắn không dám nhìn quay đi chỗ khác. Vương Trung Phu nói:
-Tưởng đại nhân! Đã lâu chúng ta không gặp, ông vẫn mạnh giỏi chứ. Nhờ lúc xưa ông cáo mật với triều đình rằng chúng tôi mưu phản, buộc lòng tôi phải trốn đến Đức Châu. Nên hôm nay tôi mới có dịp thống lãnh đại quân quay về Hàm Đan này.
-Xin tướng quân đừng nói vậy. Việc ngày xưa tiểu nhân cũng vì làm theo chức trách, mong Vương tướng quân tha chết
Vương Trung Phu nói:
-Thả cho hắn đi. Từ nay ngươi không được bước vào Hàm Đan nửa bước.
Tưởng Minh được thả liền quay đầu bỏ chạy. Một lúc sau, khi Vương Trung Phu chuẩn bị nhập thành lại có lính đến báo :
-Bẩm tướng quân! Lính gác ở Tây môn báo là Cao Cầu đã lên xe ngựa bỏ chạy về hướng Trương Gia Khẩu.
Vương Trung Phu lẩm bẩm :
-Cao Cầu, cái tên gian tặc này còn muốn trốn.
Xong lại quay sang nói:
-Di Thiên Huấn nghe lệnh! Hãy dẫn một trăm kỵ binh theo hướng Trương Gia Khẩu đuổi bắt Cao Cầu. Nhớ là phải bắt sống hắn.
-Tuân lệnh!
Dứt lời Di Thiên Huấn lập tức một trăm mươi kỵ binh thẳng tiến Trương Gia Khẩu. Khi chạy đến sườn núi Bạch Nha, Thiên Huấn đã thấy thấp thoáng một cỗ xe ngựa trong làn bụi mịt mù. Thiên Huấn thúc ngựa như bay đuổi theo, chạy đến gần Thiên Huấn kêu to :
-Người trên xe mau dừng lại! Mau dừng lại!
Di Thiên Huấn càng kêu thì chiếc xe càng thục mạng lao đi. Chạy thêm một đoạn Di Thiên Huấn đã đuổi kịp và chạy song song cùng với chiếc xe. Di Thiên Huấn nhìn tên đánh xe quát lớn :
-Ta bảo nhà ngươi ngừng lại có nghe không?
Tên xa phu vẫn cắm đầu quất ngựa liền tay. Di Thiên Huấn cả giận bèn thúc ngựa tiến lên phía trước rồi tung người sang giáng một côn xuống đầu con ngựa đang kéo xe. Con ngựa lãnh một cú như trời giáng vỡ sọ ngã nhào chết không kịp hí. Cỗ xe cũng mất đà lật ngang lộn mấy vòng rồi va vào vách núi vỡ vỡ vụn.
Di Thiên Huấn chạy tới xem thì thấy tên xa phu đã vẹo cổ ra sau chết từ lúc nào không biết. Hắn lại sợ chẳng may Cao Cầu chết luôn thì há phải đã phạm quân lệnh, nên cuống cuồng dỡ đống gỗ nát ra để tìm Cao Cầu. Cao Cầu đi đè dưới mấy lớp ván tuy còn sống nhưng hắn bị đống cây gỗ đâm xước làm thương tích đầy mình. Trông thấy Di Thiên Huấn, hắn liền sợ hãi van xin :
-Hảo hán tha mạng! Xin hảo hán hãy tha mạng!
-Lão tặc kia! Ngươi cũng có ngày phải van xin người khác sao?
Cao Cầu vơ lấy cái tay nải chứa đầy vàng bạc trao cho Thiên Huấn rồi nói :
-Ở đây có chút vàng bạc tiểu nhân xin biếu anh hùng để đền ơn không giết. Xin hảo hán hãy tha cho.
-Yên tâm! Ta sẽ không giết nhà người. Ta phải bắt sống ngươi để dễ bề phúc lệnh với Vương tướng quân.
-Xin hảo hán tha cho! Xin hảo hán tha cho!
Lúc đó đám kỵ binh cũng vừa tới nơi, Di Thiên Huấn ra lệnh bắt trói Cao Cầu rồi giải về Hàm Đan.
Ở bên này, bá tánh ở Hàm Đan mở cửa thành nô nức nghênh đón Vương Trung Phu cùng các tướng sĩ. Những binh sĩ theo khởi nghĩa ở Hàm Đan được đoàn tụ với gia đình vui mừng khôn tả. Lão bá tánh tranh nhau đem bò dê, rượu thịt đến khoản đãi tam quân.
Vậy là cả ba đạo quân của Lỗ Thể Ngân, Tần Vinh và Vương Trung Phu đều đã đến được ba nơi, hoàn thành quân lệnh. Thế nhưng Kim nhân đã kịp chiếm Biện Kinh trước nghĩa quân Lương sơn, liệu trận chiến giữa quân Lương Sơn và Kim binh có phải sẽ đất lở trời long hay không? Và Doãn Văn có chịu cúi đầu xưng thần với tân vương Triệu Cấu hay không? Mời quý vị đoán xem hồi sau của Tân Thủy Hử…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
30-10-2009, 09:04 PM
Hồi Thứ 12
Đại Phong Lâm, Tần Lượng bỏ mình
Thành Tú Châu, Cao Cầu thảm tử
Lại kể về Doãn Văn và Lỗ Thể Ngân, trong lúc họ hội quân ở Bộc Dương thì hay tin quân Kim đã chiếm được Biện Kinh. Một hôm, Doãn Văn đang trong phủ bàn việc quân cùng các tướng thì có lính vào báo :
-Bẩm minh công! Có một người tới từ Hà Bắc tự xưng là sứ giả của Khương Vương Triệu Cấu xin vào cầu kiến.
Doãn Văn quay sang Yên Tử nói:
-Triệu Cấu vừa mới lên ngôi, không biết cho sứ giả đến có việc gì ?
Yên Tử tay phe phảy quạt, miệng cười nói:
-Chuyện tốt đã tới sao minh công còn chần chừ. Cho sứ giả vào là biết ngay.
-Được ! Hãy mau truyền sứ giả vào.
Một lúc sau sứ giả tay cầm chiếu thư bước vào, cúi đầu thưa:
-Tiểu nhân - Trí Nguyên xin bái kiến Doãn tướng quân. Đáng lẽ Trí Nguyên phải quỳ thưa để tỏ lòng tôn kính nhưng ngặt vì thân mang thánh chỉ của thiên tử nên không dám khinh khi, xin tướng quân lượng thứ.
-Ta không câu nệ việc đó. Có gì cứ mau nói.
Trí Nguyên ấp úng:
-Dạ…bẩm tướng quân! Đây là… đây cũng là thánh chỉ đấy ạ.
Doãn Văn quát lớn:
-Thì ta kêu nhà ngươi hãy mau đọc.
Trí Nguyên “dạ” một tiếng rồi mở chiếu thư ra đọc to :
“Thuận thiên thừa vận hoàng đế chiếu rằng
Xét thấy nghĩa quân Lương Sơn do Doãn Văn cầm đầu tuy dấy binh làm loạn nhưng chưa đến nỗi bạo tàn gây ra cảnh chết chóc lầm than. Nay xã tắc đứng trước hưng vong cũng là lúc các khanh nên lấy công chuộc tội. Quân Lương Sơn khi nghe chiếu này hãy tiến quân đánh đuổi Kim nhân bình định thiên hạ như vậy mới vẹn toàn trung – nghĩa. Trẫm hiện đang bị rợ Kim truy đuổi, mong các khanh sớm ngày xuất binh cần vương để trọn đạo quân - thần.
Doãn Văn tiếp chỉ!”
Doãn Văn vừa nghe xong thì đôi mắt trợn trừng nhìn Trí Nguyên, đứng dậy chỉ vào mặt hắn, quát:
-Người đâu! Mau đem tên thất phu này ra ngoài chém đầu cho ta.
-Xin tướng quân tha mạng! Xin tướng quân tha mạng.
Yên Tử liền bước ra ngăn:
-Xin minh công bớt giận kẻo làm hư việc lớn. Lưỡng quân giao chiến bất trảm sứ lai. Huống chi đây là người do thiên tử mang chiếu thư tới để cầu hòa.
-Quân sư hãy xem lời lẽ mà tên hoàng đế kia viết đi, dám bảo ta phải cuối đầu xưng thần với hắn.
-Xin minh công hãy khoan chém Trí Nguyên mà nghe Yên Tử nói vài lời.
-Được! Ta tạm thời tha chết cho hắn.
-Người đâu! Hãy mau dẫn Trí đại nhân ra hậu đường nghỉ ngơi
Trí Nguyên vái lạy :
-Tạ ơn bất sát của Doãn tướng quân. Tạ ơn tương cứu của quân sư.
Lúc Trí Nguyên đi khỏi thì Doãn Văn cau mày nhìn Yên Tử:
-Quân sư chẳng lẽ lại muốn ta phải cúi đầu xưng thần với tên họ Triệu
Yên Tử quân sư phe phẩy quạt trước ngực rồi nói:
-Không những vậy, Yên Tử còn muốn minh công xuất binh giải vây cho hoàng thượng.
-Thật không thể được. Ta cùng các huynh đệ dừng cờ khởi nghĩa trăm ngàn gian khổ cũng chỉ vì muốn diệt họ Triệu. Nay Triệu thị đã thất thế, đại công sắp thành thì lại bỏ ngang cúi đầu quy phục triều đình, chẳng phải ta đã phụ lòng các huynh đệ cùng hàng vạn tướng sĩ hay sao? Ta biết làm sao ăn nói với họ?
-Xin tha cho Yên Tử nói thẳng, minh công chỉ biết một mà không biết hai.
-Như thế nào là biết một mà không biết hai?
Yên Tử chỉ tay về hướng Bắc rồi nói:
-Thế cuộc hiện nay loạn lạc, Kim nhân tàn bạo xâm chiếm lãnh thổ nước nhà. Lòng căm thù của lão bá tánh đã hướng về phía giặc Kim nên việc lật đổ Triệu thị không còn là tâm tư và nguyện vọng duy nhất của họ. Nhớ lại chuyện xưa, trước thì có Hán Cao Tổ Lưu Bang đã phát tang cho nghĩa đế mà được lòng các chư hầu khắp thiên hạ. Sau lại có Tào Tháo nhờ khởi binh tiếp cứu thiên tử trên đường thiên đô về Lạc Dương nên đã vinh hiển, danh chính ngôn thuận trở thành Hán tướng tay nắm quyền cao. Nay thiên tử đang lâm nguy sao minh công không học theo người xưa mà xuất binh cần vương. Đó mới là sách lược thuận thiên ứng dân, không sợ bị ai dị nghị.
-Nghe lời của quân sư quả thật có lý. Nhưng mà…Nếu thế thì chẳng lẽ mọi công lao trước đây đều đổ xuống biển hay sao?
-Cũng không hẳn như vậy. Minh công xin hãy yên tâm, Yên Tử đã có kế sách.
Yên Tử ghé vào tai Doãn Văn:
-Thế này…như thế…như thế…
Nghe xong Doãn Văn nghe xong đập tay xuống bàn khoái chí cười to:
-Được! Được lắm! Cứ làm như kế của quân sư.
Hôm sau, Doãn Văn cho gọi Trí Nguyên lại rồi hỏi:
-Vậy khi nào hoàng thượng mới cần ta xuất binh giải cứu.
-Bẩm tướng quân! Hiện binh Kim đang ráo riết tiến về Hà Bắc, nên việc ra quân càng sớm càng tốt.
-Được! Vậy trong nay mai ta sẽ xuất binh ngay.
Doãn Văn chỉ về phía Âu Dương Nam Lạc:
-Âu Dương phó soái! Hãy lập tức dẫn hai vạn binh mã đến Hà Bắc để hộ tống hoàng thượng trên đường về Bộc Dương. Hãy mang theo soái kỳ của ta để báo hiệu.
Âu Dương Nam Lạc chấp tay:
-Dạ! Tuân lệnh lệnh minh công.
Dứt lời Âu Dương Nam Lạc lui ra điểm quân, tức tốc tiến về Hà Bắc.
Ở bên này Triệu Cấu nghe tin Bố Xích Ha đã tiến quân vào địa giới của Hà Bắc thì vô cùng kinh hãi, trên dưới quần thần đều đứng ngồi không yên. Triệu Cấu cho gọi toàn bộ các quan viên vào nghị sự:
-Tình thế hiện nay rất ngay kịch, theo ý các khanh chúng ta phải làm sao mới thoát nạn này?
Một vị quan bước ra thưa:
-Theo ngu ý của nhi thần thì ta không nên ngồi chờ tin tức từ phía Doãn Văn. Tướng nhà Kim là Bố Xích Ha đã chiếm được vài thành trì của Hà Bắc và đang ráo riết đánh đến đây, ta nên nhanh chóng rời khỏi Hà Bắc.
-Ta cũng đang có ý như khanh vậy. Thôi thì quyết định rời khỏi Hà Bắc đến thẳng Bộc Dương để mượn tay Doãn Văn tiêu diệt binh Kim vậy.
-Hoàng thượng anh minh!
Hôm sau, Triệu Cấu cùng hoàng tộc và toàn thể quan viên rời khỏi Hà Bắc lên đường đến Bộc Dương. Đi được ba ngày, quân Tống đã đến sườn núi Khỏa Lang. Lúc đó lại có thám tử cho khoái mã về báo. Tướng hộ tống là Lý Cương hỏi:
-Có chuyện gì?
-Bẫm tướng quân! Phía đông chân núi Khỏa Lang Sơn thấy có rất nhiều binh mã khoảng hơn hai vạn đang tiến về phía chúng ta.
-Có biết là binh mã của ai không?
-Bẫm tướng quân! Vì ở quá xa nên thuộc hạ không nhìn rõ quân kỳ.
-Tiếp tục thám thính, khi có quân tình lập tức hồi báo.
-Dạ!
Lý Cương quay ngựa chạy về sau báo lại Triệu Cấu:
-Bẩm hoàng thượng! Thám tử hồi báo từ chân núi có một đội quân đang tiến về phía ta. Hiện chưa rõ là binh mã của ai, theo ý mạt tướng nên dừng lại chờ xem tin tức.
-Được! Dù sao binh sĩ cũng đã mệt mỏi. Hãy truyền lệnh hạ trại.
Nửa canh giờ sau lại có thám tử chạy về, Lý Cương không đợi, liền hỏi ngay:
-Quân tình ra sao? Đã biết được đó là lộ binh mã nào chưa?
-Bẩm tướng quân! Đội quân đang đi tới chính là quân Lương Sơn.
-Có thật không? Sao ngươi lại quả quyết như vậy?
-Thuộc hạ trông thấy trên lá cờ có thêu một chữ “Doãn”. Đó là soái kỳ của thủ lĩnh Lương Sơn.
Nghe xong Lý Cương liền hân hoan quay ngựa về báo với vua:
-Bẩm hoàng thượng! Đội quân đang tiến lên núi là binh mã của Doãn Văn.
Triệu Cấu nghe xong mừng rỡ nói:
-Tốt lắm! Như vậy là Doãn Văn đã tiếp nhận thư cầu hoà của ta. Mau, cho binh sĩ khởi hành để sớm hội ngộ cùng quân Lương Sơn
-Dạ.
Một lúc sau, hai lộ quân đã gặp nhau. Âu Dương Nam Lạc thúc ngựa tới gần chấp tay nói:
-Tại hạ Âu Dương Nam Lạc - tướng của quân Lương Sơn, được lệnh đến Hà Bắc để đón hoàng thượng về Bộc Dương.
Lý Cương thi lễ:
-Tại hạ Lý Cương, vì mang trọng trách bảo vệ hoàng thượng nên không kịp đón từ xa, mong Âu Dương tướng quân lượng thứ.
-Thì ra là Lý tướng quân tiếng tâm lẫy lừng, nghe danh đã lâu mãi đến hôm nay mới có dịp gặp mặt.
-Âu Dương tướng quân tuổi trẻ tài cao, nếu đem so với tại hạ thì cũng như câu Trường Giang sóng sau xô sóng trước. Xin hãy theo tôi diện kiến hoàng thượng, mời!
-Mời!
Nam Lạc theo Lý Cương đến bái Triệu Cấu. Vừa lúc bái phỏng xong thì lại có thám tử báo tin Bố Xích Ha sau khi chiếm được Hà Bắc thì dẫn mười lăm vạn binh mã tức tốc đuổi theo phía sau. Lý Cương cùng Âu Dương Nam Lạc lập tức dẫn quân rút về Bộc Dương để đảm bảo an toàn cho Triệu Cấu.
Vài ngày sau, lá cờ vàng của thiên tử đã phất phới trước thành Bộc Dương. Doãn Văn cùng Lỗ Thể Ngân và Yên Tử dẫn một tiểu đội ra thành nghênh đoán. Doãn Văn thong dong trên ngựa tiến lại gần long xa của Triệu Cấu, chấp tay nói:
-Lương Sơn – Doãn Văn xin bái kiến hoàng thượng.
Một viên quan tùy tùng bước ra mắng:
-Doãn Văn ngươi thật ngông cuồng, thấy hoàng thượng sao không chịu quỳ?
Doãn Văn chỉ nhép miệng cười, lúc đó Triệu Cấu mới giơ tay ngăn viên quan lại, nói:
-Nơi đây không phải hoàng cung, không cần câu nệ tiểu tiết. Doãn tướng quân đã vất vả.
Vừa lúc đó có một đàn nhạn trên bầu trời bay ngang cất tiếng kêu lanh lảnh. Doãn Văn liền rút một mũi tiễn lắp vào dây cung, Lý Cương nghĩ Doãn Văn muốn giết vua nên nhảy ra đứng cản. Doãn Văn chuyển hướng giơ lên trời bắn chết con nhạn đầu đàn làm cả đàn nhạn tan rã, dứt tiếng kêu. Con nhạn bị mũi tiễn bắn xuyên yết hầu rơi xuống ngay trước long xa của Triệu Cấu, làm long nhan hốt hoảng ngã bật ra sau. Một vài binh sĩ phía sau lưng Doãn Văn chứng kiến cảnh đó cũng bật cười khúc khích. Doãn Văn nói:
-Đàn nhạn này dám vô lễ trước mặt hoàng thượng nên hạ thần ra tay trừng thị.
Triệu Cấu mới lồm cồm ngồi dậy đáp:
-Thần tiễn! Quả nhiên là thần tiễn! Tiễn pháp của Doãn tướng quân quả đúng như câu “Lệ bất hư pháp” mà giang hồ thường tụng.
-Ta đạ hoàng thượng quá khen, cẩn nghênh thánh giá nhập thành.
Họ nhập thành được hai ngày thì lại hay tin Bố Xích Ha đang tiến quân về phía Bộc Dương. Doãn Văn cho gọi Yên Tử cùng chư tướng đến bàn đối sách mà chẳng cần có sự có mặt của tân vương Triệu Cấu. Yên Tử nói:
-Bẩm minh công, hiện nay quân lực của ta quá ít gom lại chỉ khoảng năm vạn còn quân Kim có đến mười lăm vạn, vả lại thế giặc đang mạnh thì làm sao Bộc Dương thành này chống cự nổi. Theo kế sách của Yên Tử thì ta nên rời khỏi Bộc Dương trước, sau đó đi đến Tú Châu.
Doãn Văn cau mày hỏi:
-Vậy là càng đánh càng lui, như vậy khác nào ta dâng toàn bộ miền bắc của Đại Tống cho rợ Kim sao ?
-Hiện nay thế cuộc đã như vậy, phải biết nhường nhịn nhất thời để tính cho chuyện lâu dài. Chỉ cần quân ta an toàn đến Tú Châu càng sớm càng tốt, khi đó Yên Tử sẽ có cách phá địch.
-Nếu như quân sư đã có kế sách thì ta yên tâm, cứ làm theo ý của quân sư vậy. Bây giờ ta sẽ phát lệnh cho hai lộ quân của Tần Vinh và Vương Trung Phu cùng rút lui và hội ngộ ở Tú Châu
-Minh công suy nghĩ thật cặn kẽ.
Sáng hôm sau, Yên Tử cho chia quân làm ba đạo tiến về phía Tú Châu. Lý Cương và Nam Lạc đi tiên phong. Doãn Văn, Yên Tử và Lỗ Thể Ngân dẫn quân trung lộ. Triệu Cấu cùng quan viên tùy tùng dẫn đạo quân hậu lộ.
Trước đó Doãn Văn đã cho hai khoái mã chia nhau chạy về hai hướng Dục An và Hàm Đan để truyền lệnh rút binh về Tú Châu. Tên lính mang quân lệnh tới Hàm Đan thì an toàn đến nơi, còn người được sai mang thư đến Dục An thì nữa đường đã bị trúng tên của quân Kim té xuống núi chết.
Tần Vinh trên đường hành quân không nhận được lệnh rút binh nên đã tiếp tục tiến quân về Bộc Dương. Dọc đường họ gặp phải nhiều lộ quân của Kim nhân, càng đi càng tiến sâu vào trận địch. Đạo quân Tần Vinh đi đến một đường núi nhỏ hẹp, hai bên vách đá che khuất mặt trời, cho dù một tiếng động nhỏ cũng làm tiếng vọng lại từ vách đá vang mãi.
Tần Vinh cho quân dừng lại, quay sang nhị vị phó tướng, nói:
-Nơi đây đường hẹp gồ ghề, vách đá cheo leo. Nếu quân Kim cho phục binh ở đây thì thật quân ta sẽ rơi vào thế nguy khốn.
Tần Lượng nói:
-Tướng quân nói rất phải. Chúng phải mau chóng rời khỏi đây.
Hắc Diện Lang Điền Bảo lên tiếng:
-Ở tấm bia đằng kia có chữ, để mạt tướng đến đó xem.
Điền Bảo thúc ngựa tới xem, một lúc rồi quay lại nói:
-Bẩm tướng quân! Ở bia đá khắc là “Hồ Lô Cốc”
-Hồ Lô Cốc?
Tần Lượng liền nói:
-Đến Hồ Lô Cốc là đã đến được địa giới của Bộc Dương, không lâu nữa ta sẽ kịp hội quân với minh công. Tướng quân hãy mau cho tiến quân, nơi này không thể ở lâu.
-Được! Truyền lệnh ta toàn quân nhanh chóng vượt cốc nhưng phải cẩn thận quan sát động tĩnh xung quanh.
Tiếng nói của Tần Vinh làm kinh động đàn dơi đang ngủ say trên vách đá, chúng kinh hãi tản ra rồi lại bám vào vách núi. Sau tiếng kêu thất thanh của đàn dơi là một tràng hò reo như sấm của hàng vạn người bất chợt xuất hiện bên trên miệng cốc. Khắp nơi trên miệng cốc xuất hiện ngọn cờ “Bố Gia Kỳ”, binh Kim reo hò như sấm dội làm cho vài con ngựa bước lùi hí vang vì hoảng sợ. Quân của Tần Vinh chưa khỏi kinh hãi thì từ trên miệng cốc Bố Xích Ha lệnh lính đổ dầu xuống rồi dùng hoả công nhầm thiêu sống cả đạo quân của Tần Vinh.
Địa thế chật hẹp, lại bị hỏa công từ phía trên nên đạo quân của Tần Vinh tử thương quá nửa. Hết phóng hỏa quân Kim lại quăng đá, bắn tên loạn xạ khiến Tần Vinh toàn quân thảm tử. Tần Vinh cùng hai phó tướng dẫn theo bốn trăm kỵ binh cuối cùng chạy khỏi Hồ Lô Cốc. Họ rẽ cương chạy vào rừng Đại Phong. Đại Phong Lâm là một khu rừng già, cây cối xác xơ bởi quanh năm phải đón chịu những trận gió mạnh thổi từ khe núi của cốc Hồ Lô.
Tần Vinh dẫn đám tàn binh tháo chạy tìm cơ sinh thì lại gặp phục binh của quân Kim trong rừng. Quân của Tần Vinh phần vì chiến đấu mệt mỏi, phần vì sập bẫy trong rừng nên bốn trăm tên kỵ binh giờ còn sống sót không quá mười người. Tần Vinh, Tần Lượng và Điền Bảo giục ngựa chạy đến bìa rừng thì ngựa của Tần Vinh bị vấp phải bẫy ngã nhào. Tần Vinh vừa đứng dậy chưa kịp định thần thì có một bàn chông cắm đầy dao nhọn từ trên cao rơi xuống đỉnh đầu. Tần Lượng thấy nguy liền tung người khỏi ngựa, vừa lao đến vừa la to:
-Tướng quân coi chừng!
Tần Vinh vừa nghe tiếng kêu chưa kịp quay lại thì bị một lực đẩy từ phía sau đẩy tới làm toàn thân bị hất ngã ra trước vài trượng. Sau cú ngã Tần Vinh nghe một tiếng “phụt” kèm theo là tiếng la đứt quãng của Tần Lượng. Tần Vinh quay lại thì thấy một cảnh tượng bi thảm đoạn trường, toàn thân Tần Lượng bị một bàn chông cắm đầy dao nhọn đè lên, máu loang ra đỏ cả giáp bào. Tần Vinh thất thần chạy đến dỡ bàn chông ra khỏi người Tần Lượng. Tần Lượng cầm chặt tay Tần Vinh, thều thào nói:
-Chủ…nhân…! Tần Lượng… vô dụng…không…thể đi…theo…hầu hạ chủ…nhân…nữa. Chủ nhân bảo…bảo…!
Chưa kịp hết lời thì Tần Lượng đã trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của Tần Vinh.
- “Tần Lượng...!” .Tiếng thét bi thương của Tần Vinh như xé nát tâm can của vạn vật xung quanh. Thương thay một Tần Lượng nghĩa đảm trung can:
Trường kiếm ngang lưng sống tiêu diêu
Phong ba bão tố chốn thiên triều
Vì tình mấy lượt xông mạo hiểm
Bởi nghĩa bao phen cũng dám liều
Vừa lúc đó lại nghe tiếng tiếng reo hò của Kim binh từ phía sau. Điền Bảo nhảy xuống ngựa chạy đến chỗ Tần Vinh, nói:
-Quân Kim đã đuổi đến nơi xin tướng quân hãy mau lên ngựa.
Tần Vinh đứng dậy nhưng ánh mắt vẫn đọng lại trên thi thể của Tần Lượng. Mặc cho Điền Bảo lôi kéo nhưng Tần Vinh vẫn chôn chân tại chỗ, mắt vẫn nhìn vào thi thể của Tần Lượng dường như thần trí dần ngưng tụ.
Điền Bảo nói tiếp:
-Đại trượng phu có lúc xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, nhưng phải có lúc coi cái chết nặng tựa Thái Sơn. Tần Lượng đã hy sinh tính mạng của mình để đại ca được sống. Tần Lượng đã chết, hai vạn binh sĩ dưới trướng cũng đã hy sinh. Kể từ lúc này sinh mạng đại ca không còn thuộc về mình nữa mà là thuộc về những người đã vì đại ca mà chết. Nếu bây giờ đại ca hy sinh vô ích thì làm sao huynh ăn nói với Tần Lượng, làm sao nhìn mặt với các tướng sĩ đã tử trận hôm nay. Đại ca phải giữ lại thân mình hữu dụng, lấy đại cuộc làm trọng.
Điền Bảo từ từ hạ hai gối quỳ xuống, tay giơ đao ngang đầu, giàn giụa hai hàng nước mắt, nói:
-Đại ca! Nếu đại ca thà bỏ mạng oan uổng nơi đây thì hãy dùng thanh đao này giết tiểu đệ trước. Tiểu đệ nguyện đi trước một bước để chờ đại ca ở cầu Đại Hà.
Tiếng van nức nở của Điền Bảo khiến người nghe phải nao lòng. Ánh mắt vô hồn của Tần Vinh liếc sang Điền Bảo rồi đôi môi khẽ rung lên, đau xót. Trong khoảnh khắc, Tần Vinh thoát ra khỏi bi thương cực độ, tiến tới cảnh giới lãnh tuyệt đó là bất bi, bất ái, vô vong, vô niệm. Tần Vinh đem bi phẫn hoá thành sức mạnh để ứng phó với tình cảnh nguy nan trước mắt. Tần Vinh cùng Điền Bảo lập tức lên ngựa phóng thẳng ra khỏi khu rừng cắt bỏ sự truy đuổi của Kim binh.
Họ chạy đến núi Cửu Lý chưa biết rẽ hướng nào thì hai bên sườn núi lại xuất hiện quân kỳ của Kim binh. Quân Kim từ hai bên ồ ạt kéo ra bao vây Tần Vinh và Điền Bảo.
Một viên tướng người Kim đầu đội mão sắt, thân mang giáp đồng thúc ngựa đến chỉ vào mặt Tần Vinh nói:
-Tần Vinh! bổn tưởng đợi nhà ngươi lâu lắm rồi. Hãy mau xuống ngựa chịu trói để được toàn mạng.
Tần Vinh ngửa mặt lên trời thốt rằng:
-Chẳng lẽ Tần Vinh này phải bỏ mạng nơi đây sao? Nếu trời đã diệt ta thì ta cũng đành chịu.
Tần Vinh vừa dứt lời thì trông thấy từ xa có một đạo quân đang lao tới. Đạo quân khoảng vài trăm người gươm giáo sáng loáng nhưng không có cờ hiệu, không rõ là quân của ai. Dẫn đầu là một tráng sĩ lực lưỡng, đầu quấn khăn lông chồn, mình mặc áo da beo, tay cầm trường kích chạy đến hô to:
-Tần tướng quân đừng sợ, đã có tôi đến giúp một tay.
Nói rồi người nọ bổ kích xông vào tả xung hữu đột. Binh sĩ dưới tay ai nấy đều tinh nhuệ nên chẳng mấy chốc đã giải được vòng vây cứu thoát Tần Vinh và Điền Bảo.
Sau khi thoát hiểm, Tần Vinh và Điền Bảo được đưa đến Tín Dương. Trước cửa thành đã có một đoàn người đứng chờ sẵn. Đứng đầu là một gã đại hán khoảng ba mươi tuổi, dáng vóc thấp gầy, đầu đội chiếc mũ mềm, mình mặc áo bào lụa màu xanh da trời, ngoài khoác trường bào, lưng thắt đai dương trừu. Tần Vinh vừa xuống ngựa thì có gã kia bước tới chấp tay. Hắn nói:
-Tiểu điệt xin bái kiến biểu thúc.
Tần Vinh ngạc nhiên hỏi:
-Xin thứ lỗi cho tại hạ. Vị huynh đệ này phải chăng đã nhìn lầm người. Ta với các hạ chưa một lần gặp mặt thì sao lại gọi ta là biểu thúc.
-Tiểu điệt là Tần Cối, gia phụ là Tần Kiên – là huynh đệ đồng tôn với biểu thúc.
Tần Vinh nghe vậy liền lấy làm vui mừng, hoan hỉ nói:
-Thì ra là hài nhi của biểu huynh ta. Tuy gia phụ ngươi lớn hơn ta rất nhiều và ta với ngươi cũng không hơn kém nhau bao nhiêu nhưng tính ra vai vế thì đúng là ngươi phải kêu ta một tiếng “biểu thúc”. Biểu huynh hiện đang ở đâu hãy mau dẫn ta đi diện kiến.
Tần Cối rưng rưng khẽ nhìn lên trời mà nói:
-Tiên phụ vì tuổi già sức yếu nên mùa thu năm trước đã quy tiên rồi.
Tần Vinh thở dài, nói:
-Bao năm xa cách nay đã âm dương cách biệt, thật là khiến người ta quá đau lòng.
-Tiên phụ không bị đau bệnh mà qua đời, âu cũng là số trời nên biểu thúc cũng đừng quá bi thương.
Xong Tần Vinh lại hỏi:
-Chút nữa ta đã quên hỏi, tại sao hiền điệt biết ta gặp nguy mà kịp thời cho quân đến cứu?
-Chuyện là thế này, tiểu điệt là tri phủ ở Tín Dương. Cách đây vài ngày thuộc hạ của tiểu điệt phát hiện thi thể một binh sĩ ở sườn núi. Qua kiểm tra thì biết hắn bị trúng tên của Kim nhân rồi té xuống núi mà chết. Ngoài ra, còn phát hiện trong người hắn một lá thư do Doãn Văn gửi cho biểu thúc. Nội dung thư báo là rợ Kim đã vây đánh Bộc Dương, lệnh cho biểu thúc lui binh về Tú Châu. Tiên phụ khi sống vẫn thường nhắc đến tên của biểu thúc nên xem thư thì tiểu điệt biết ngay là thúc thúc. Tiểu điệt nghĩ nếu biểu thúc không nhận được thư thì vẫn tiếp tục tiến về Bộc Dương và sẽ rơi vào tay giặc. Nên lập tức tiểu điệt huy động binh lính toàn thành đi tiếp cứu.
Điền Bảo nghe xong liền nói:
-Thật đúng là ý trời. Tần đại nhân! Ơn tương cứu hôm nay Điền mỗ xin ghi nhớ.
-Điền tướng quân đã quá lời rồi. Xin mời nhị vị nhập thành để nghỉ ngơi dưỡng sức.
Nói rồi cả ba cùng nhau đi vào thành. Hôm sau Tần Vinh và Điền Bảo đến gặp Tần Cối để từ biệt. Tần Vinh nói:
-Ta thân là tướng vong trận may nhờ hiền điệt tương cứu nên mới toàn mạng đến hôm nay. Thiết nghĩ dù là lành hay dữ thì cũng phải trở về thỉnh tội với minh công. Nay đến đây để cáo từ hiền điệt.
-Biểu thúc chớ vội đi. Từ lâu tiểu điệt đã nghe uy danh của Doãn minh công, nay đúng lúc biểu thúc lại là ái tướng dưới trướng của Doãn minh công thì đây là cơ hội ngàn vàn để cho tiểu điệt kiến công lập nghiệp. Dám xin biểu thúc dẫn tiểu điệt theo cùng để diện kiến Doãn minh công.
Nghe vậy Tần Vinh lấy làm vui mừng:
-Vậy thì hay quá. Nếu hiền điệt có chí như vậy thì từ nay thúc điệt ta cùng nhau một lòng phò trợ minh công, cứu nguy xã tắc.
Nói xong cả ba người dẫn theo binh lính của Tín Dương đi về hướng Tú Châu đệ hội ngộ cùng Doãn Văn. Sau gần mười ngày đường, nhóm người Tần Vinh, Điền Bảo và Tần Cối đã đến trước cửa thành Tú Châu. Binh lính trên thành trông thấy liền đi bẩm báo.
Cửa thành Tú Châu mở toan, Doãn Văn cùng các tướng ra thành nghênh đón. Từ xa họ đã trông thấy Tần Vinh và Điền Bảo tay ôm nón sắt quỳ dưới ngựa. Doãn Văn chạy đến đỡ lấy cả hai người. Tần Vinh mãi quỳ, cúi mặt khóc:
-Mạt tướng bất tài đã phụ lòng của minh công. Hai vạn binh sĩ đi theo đều đã thảm tử, mạt tướng mang thân ô nhục này đến hôm nay là muốn trở về được minh công thí chết để đền tội.
Doãn Văn nghe xong cũng chỉ biết thở dài, lúc này Điền Bảo nói:
-Tần tướng quân sở dĩ bị mai phục là do không nhận được lệnh lui binh của minh công, càng đi càng tiến sâu vào mai phục của địch nên mới dẫn đến toàn quân tan rã. Xin minh công hãy xem xét mà giảm nhẹ.
Doãn Văn hai tay đỡ lấy Tần Vinh, nói:
-Tần tướng quân đã cực khổ rồi. Hãy đứng dậy… hãy đứng dậy đi. Thắng bại là chuyện thường của binh gia, ta làm sao nỡ trách tướng quân. Mà sao không thấy Tần Lượng?
Lúc này tiếng khóc của Tần Vinh lại ngất lên từng hồi, không nói thành câu:
-Tần Lượng vì…cứu mạt tướng…mà…đã bỏ mạng ở Đại Phong Lâm rồi…minh công.
Doãn Văn đau lòng, ngửa mặt lên trời :
-Tần Lượng!
Sau một hồi bi phẫn, bình tĩnh lại Doãn Văn chỉ sang Tần Cối hỏi:
-Còn vị này là ai?
Điền Bảo liền tiếp lời:
-Vị huynh đệ này là Tần Cối. Là người đã cho quân đi giải vây cho mạt tướng và Tần tướng quân. Tần Cối cũng chính là cháu họ của Tần tướng quân.
Tần Cối chấp tay nói:
-Tiểu nhân Tần Cối! Tham kiến Doãn minh công.
-Thì ra là cháu của Tần tướng quân. Ngươi đã có công tiếp cứu ái tướng của ta, muốn ta ban thưởng gì cứ nói?
-Tiểu nhân nữa đời chỉ biết bày văn múa chữ, bao nhiêu năm nay cặm cụi làm chức Giáo Thụ ở Hoài An, sống lạt lẽo qua ngày. Nay có cơ duyên gặp được Doãn minh công như là cá gặp được nước nên dám mong minh công dung chứa để kẻ hèn dùng thân khuyển mã để đền ơn tri ngộ.
-Được! Được lắm. Vậy thì từ nay hãy ở lại trong quân ngũ để lo việc giấy mực.
-Tạ ơn Doãn minh công đã tin dùng, Tần Cối nguyện trong đời này theo gót minh công để mưu nghiệp lớn.
Nói xong cả bọn lại kéo vào thành diện kiến Triệu Cấu. Vài ngày sau, hai vạn binh mã của Vương Trung Phu cờ xí rợp trời, giáo gươm sáng loáng trước cửa thành Tú Châu. Doãn Văn dẫn chư tướng ra thành đón tiếp.
Trong buổi tiệc tẩy trần, Vương Trung Phu đứng dậy nói:
-Bẩm minh công! Trong lần đánh chiếm thành Hàm Đan, Di phó tướng đã bắt được cẩu tặc Cao Cầu trên đường trốn chạy.
Doãn Văn đứng dậy cười to:
-Hay lắm! Hãy mau dẫn hắn vào.
Cao Cầu bước vào vội vã quỳ thưa:
-Tiểu nhân tham kiến Doãn minh công.
Doãn Văn nói:
-Cao thái úy! Thái uý vẫn khỏe chứ? Ông không ngờ mình cũng có ngày hôm nay sao? Ông đức cao trọng vọng mà quỳ như thế ta không dám nhận đâu.
-Doãn minh công phất cờ khởi nghĩa Lương Sơn, thống lãnh bách vạn hùng binh đánh đâu thắng đó. Có thể nói là bậc anh hùng trăm năm hiếm thấy nên tiểu nhân quỳ thưa là nên lắm, nên lắm ạ.
Doãn Văn khoái chí cười to rồi nói:
-Thái úy đã quá khen. Bây giờ Tống đã mất đại thế chẳng hay Cao thái úy có dự định gì?
Cao Cầu ngẩng mặt hoản hỉ đáp:
-Xưa nay chim khôn chọn cành mà đậu, thần trung chọn chúa tốt mà thờ. Tiểu nhân tuy tuổi đã cao nhưng vẫn muốn góp chút sức mọn của mình cùng minh công xây nghiệp lớn.
Doãn Văn nghe xong liền bật cười to, nhìn thấy trên người Cao Cầu có nhiều vết thương. Doãn Văn lại nói:
-Trong lúc loạn lạc thuộc hạ của ta có hơi lỡ tay làm thái úy thương tích đầy người, thái úy đã chịu nhiều khổ sở.
Lúc này cả bọn Lỗ Thể Ngân, Tần Vinh, Điền Bảo và huynh muội họ Di đều lấy làm lạ trước thái độ của Doãn Văn. Còn Cao Cầu lại lắc đầu xua tay:
-Chỉ là một chút thương tích, không sao, không sao đâu ạ! Đa tạ minh công đã quan tâm.
Doãn Văn nhết mép khẽ buông một nụ cười, rồi hô to:
-Hãy mau, truyền quân y đến cho ta.
Lúc này cả đám tướng dưới trướng đầu đứng dậy hướng về Doãn Văn đồng thanh:
- “Minh công?”
Doãn Văn giơ tay ngăn:
-Ta đã quyết, không được cãi lời
Cao Cầu thấy vậy lấy làm mừng thầm. Vừa lúc đó có người bước vào chấp tay thưa:
-Bi chức Lý Tam tham kiến minh công. Chẳng hay người cho gọi có việc gì căn dặn.
Doãn Văn khẽ nhìn sang Cao Cầu, rồi bước xuống hỏi Lý Tam:
-Ngươi hãy cho ta biết, nếu một người bị dao cắt thì phải bao nhiêu lần mới chết?
Cao Cầu chưa kịp hiểu chuyện thì lại nghe Lý Tam thưa:
-Nếu dùng con dao ngắn cắt vào da thịt mà không trúng chỗ quan trọng thì có thể cắt được ba trăm hai mươi sáu dao.
-Được rồi, ngươi hãy lui ra.
-Bị chức cáo lui!
Cao Cầu hốt hoảng quay sang hỏi Doãn Văn:
-Doãn…Doãn minh công! Có chuyện gì vậy?
Doãn Văn quay sang trừng mắt nhìn Cao Cầu mà quát:
-Chuyện gì à? Lúc ngươi dùng kế hại Lâm Xung, dùng rượu độc hại Tống Giang, buông lời xàm tấu với tên cẩu hoàng đế khiến hảo hán Lương Sơn lần lượt thảm tử thì chuyện gì đã xảy ra với họ? Ngày hôm nay ngươi lọt vào tay ta mà còn dám thốt lời xua nịnh hòng ta đi theo vết xe đổ của tên tặc đế Huy Tông.
-Oan quá Doãn minh công, minh công tha mạng, minh công tha mạng!
Doãn Văn quay sang Điền Bảo,nói:
-Điền tướng quân! Ta muốn ngươi cắt ba trăm hai mươi sáu dao trên người của tên cẩu tặc này. Một dao cũng không thể thiếu, nếu trước ba trăm hai mươi sáu dao mà hắn chết thì ngươi sẽ bị xử bằng quân pháp.
Điền Bảo hai mắt trợn trừng khoái chí:
-Mạt tướng tuân lệnh.
-À còn nữa. Dao đầu tiên ngươi hãy cắt bỏ mí mắt của hắn, để cho tên cẩu tặc này không thể nào nhắm mắt được. Ta muốn Cao thái úy quyền cao chức trọng phải chính mắt nhìn bản thân của mình làm sao bị cắt ba trăm hai mươi sáu dao. Sau đó mang xác của hắn treo ngoài thành ba ngày để thỏa lòng căm hận của muôn dân.
-Dạ!
Cao Cầu phẫn tiết, hét to:
-Doãn tặc! Cái tên tặc khấu này! Ngươi thật là độc ác. Ta có làm quỷ cũng không tha cho ngươi.
-Mau! Dẫn đi!
Cao Cầu đã đi khuất bóng mà tiếng chửi mắng vẫn còn nghe văng vảng. Đêm hôm đó, bên trong tiệc yến tưng bừng tiếng cười nói còn bên ngoài tiếng Cao Cầu ngất thảm thiết theo từng nhát dao. Thật đáng kiếp một tên gian hùng lang sói:
Nửa đời phú quý mãi cầu vinh
Ám hại trung lương nỗi bất bình
Vu oan hảo hán vùi lao ngục
Tội đồ thiên cổ chốn nhân sinh
Hôm sau, Doãn Văn các tướng bàn kế giết Bố Xích Ha để trả thù cho Tần Lượng. Chưa biết kế hoạch sẽ sao? Mời quí vị xem hồi sau của Tân Thủy Hử…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
01-11-2009, 08:23 PM
Hồi thứ 13
Kế giảm binh, Yên Tử giết Xích Ha
Diệt hôn quân, Doãn Văn xây nghiệp đế
Đang nói đến chuyện Doãn Văn cùng các tướng cùng bàn kế chống Kim. Một lúc sau Yên Tử bước vào trên tay mang theo tấm địa đồ bằng da thú. Yên Tử chấp tay thưa:
-Yên Tử đã đến trễ, xin minh công đừng trách.
Doãn Văn nói:
-Quân sư xưa nay làm việc rất có chừng mức, hôm nay đến trễ ắt là có lý do chính đáng. Ta làm sao nỡ trách phạt.
-Minh công nói không sai. Không chỉ là lý do xác đáng mà còn là kế sách vẹn toàn.
-Kế sách vẹn toàn? Doãn Văn xin được nghe cao kiến của quân sư.
-Yên Tử hôm nay đến muộn do phải nghiên cứu sách lược đẩy lùi Kim binh. Theo thám tử hồi báo thì mười lăm vạn binh mã của Bố Xích Ha đang ở Thượng Dĩ.
Yên Tử cho lính hầu treo tấm địa đồ lên rồi nói tiếp:
-Căn cứ vào tốc độ hành quân thì nội trong tám ngày Kim binh sẽ đến Tú Châu. Nay ta đã có đối sách để phá Kim, tất cả các tướng phải làm theo hiệu lệnh không được lơ là chức trách.
Cả bọn Lỗ Thể Ngân, Vương Trung Phu, Nam Lạc, Tần Vinh, Điền Bảo và huynh muội họ Di đều đứng dậy đồng thanh:
-“Xin đợi lệnh của quân sư”
Yên Tử cất cao giọng nói:
-Huynh muội họ Di nhận lệnh!
Di Thiên Huấn và Di Thiên Thư bước ra chấp tay:
-Có!
-Nhị vị tướng quân hãy mang theo mười ngàn binh mã, năm ngàn kỵ binh, hai trăm chiến xa và một đàn ngựa già yếu không thể chiến đấu, nội trong ba ngày phải đến được Đại Kỳ Sơn. Khi đến đó lập tức hạ trại, cho nhóm năm trăm bếp lửa. Đồng thời cho binh sĩ trà trộn vào quân Kim, phao tin là quân ta trên đường hộ tống thiên tử bị trúng mai phục chỉ còn hơn một vạn người, lương thảo cạn kiệt, binh sĩ đào ngũ quá nửa.
Yên Tử lấy ra một tay nải nhỏ và ba cái cẩm nang đưa cho Di Thiên Huấn, rồi nói:
-Trên ba cái cẩm nang này đều có đánh số. Sau khi hạ trại qua đêm ở Đại Kỳ Sơn thì sáng hôm sau phải nhổ trại quay về. Khi đến Dã Tiên Cương thì mở cẩm nang thứ nhất ra. Ngày hôm sau khi đi đến vùng thảo nguyên phía tây Vạn Hóa Thành thì cho binh sĩ an dinh hạ trại và mở cẩm nang thứ hai. Cuối cùng khi về đến Tân Khương thì chọn tiểu lộ Ô Long mà đi, lúc đó hãy mở tay nải và cẩm nang thứ ba ra. Nhớ rõ lời ta, chưa tới đúng lúc thì không được mở ra kẻo làm hỏng thiên cơ. Sau khi làm đúng theo lời chỉ dẫn trong cẩm nang thì đi thẳng về Tú Châu phúc lệnh.
Cả hai đồng thanh:
-Tuân lệnh quân sư, mạt tướng đi chuẩn bị.
Yên Tử lại chỉ vào địa đồ rồi nói:
-Từ Tân Khương đến Tú Châu có đến hai con đường là tiểu lộ Ô Long và đại lộ Sa Trì. Đi đại lộ thì phải vượt qua vùng đầm lầy mới đến được Tú Châu nhưng Bố Xích Ha có trong tay đến mười lăm vạn binh mã nên vượt qua đầm lầy không có gì nguy hiểm. Nếu hắn đi đại lộ Sa Trì thì sẽ dễ dàng đến được Tú Châu và quân ta khó lòng mà chống đỡ. Còn tiểu lộ Ô Long thì chướng ngại chỉ là vượt qua sông Phiêu Dương và rừng Bách Liễu nhưng đó cũng là nơi chôn thây của tướng Kim. Cho nên bằng mọi giá phải dụ cho được quân Kim đi vào Ô Long tiểu lộ. Tướng nào xung phong lãnh nhiệm vụ này?
Âu Dương Nam Lạc bước ra chấp tay nói:
-Mạt tướng tình nguyện lãnh binh nhử địch. Xin đợi lệnh quân sư.
-Tốt! Âu Dương tướng quân đi là thích hợp nhất! Tướng quân hãy thống lãnh một vạn binh mã đi đến tiểu lộ Ô Long tìm nơi cao ráo mà đốt lửa gây khói để dụ địch tới.
-Bố Xích Ha thấy có khói bốc lên làm sao dám đi vào.
Doãn Văn lúc này mới lên tiếng:
-Âu Dương tướng quân chưa biết đó thôi. Có câu là binh bất yếm trá, người dùng binh phải có kế mưu gian xảo, hư hư thực thực để che mắt đối phương có như vậy mới giành được chiến thắng.
Yên Tử nói tiếp:
-Công thành vi hạ, công tâm vi thượng. Hành quân đánh giặc ngoài thiên thời địa lợi nhân hoà còn phải biết tri kỉ tri bỉ. Đó là phải rành về cá tính của thống soái đối phương, lấy được tiên cơ mới có thể chế phục người trước, bách chiến bách thắng. Bố Xích Ha tuy là một mãnh tướng nhưng chỉ là kẻ hữu dũng vô mưu. Nếu thấy khói bốc lên ở Ô Long thì sẽ nghĩ ta dùng kế nghi binh và cho là đại lộ Sa Trì sẽ có quân ta mai phục nên chắc chắn sẽ đi vào Ô Long tiểu lộ.
Âu Dương Nam Lạc nói:
-Quân sư quả là thần cơ diệu toán. Nam Lạc chỉ là kẻ võ phu không sao sánh kịp.
-Còn nữa, khi quân địch đi vào chớ nên đánh vội, hãy đợi khi có lửa ở phía nam nổi lên thì mới xông ra đánh từ phía sau cướp lấy lương thảo.
-Tuân lệnh! Mạt tướng cáo lui.
Khi Âu Dương Nam Lạc vừa quay đi khỏi thì Yên Tử nhìn sang Tần Vinh, nói:
-Tần tướng quân hãy thống lĩnh một vạn binh mã mai phục ngay ngõ ra của Ô Long tiểu lộ. Khi đạo quân tiên phong của địch vừa mới đi qua thì không nên đánh vội, đợi khi gặp đạo quân trung lộ thì hãy xông ra giao chiến. Nên nhớ khi chiến thì chỉ được thua không được thắng, giả thua chạy về phía sông Phiêu Dương. Nếu binh Kim có đuổi theo thì cho ta sẽ cho binh sĩ nổi lửa trên sườn núi phía nam để Âu Dương tướng quân xông ra chặn đứt đường lui của quân địch. Khi thấy nổi lửa, tướng quân hãy cho binh lính tản ra lẫn trốn để chờ thời cơ chi viện.
-Tần Vinh tuân lệnh.
Yên Tử lại chỉ Điền Bảo, nói:
-Điền tướng quân! Tướng quân hãy mang một vạn binh mã và ba ngàn dân phu đến thượng nguồn sông Nhiêu Dương, lấy bao cát đấp thành một cái đập chặn lại dòng chảy. Khi trông thấy cờ trắng trên đỉnh núi phía nam phất lên thì cho binh sĩ tháo đập nước ra. Lo gì quân Kim không vào bụng cá, sau đó tướng quân dẫn quân chạy dọc bờ sông đuổi giết số tàn quân của Kim binh. Chặng hết đường chạy chỉ để duy nhất một lối đi vào rừng Bách Liễu, dụ Bố Xích Ha chạy vào đó thì xem như hoàn thành quân lệnh.
-Tuân lệnh quân sư.
Yên Tử lại gọi Lỗ Thể Ngân và nói:
-Lỗ nguyên soái hãy dẫn ba ngàn tinh binh đến mai phục ở rừng Bách Liễu, tất cả tướng sĩ phải cởi bỏ áo giáp, chỉ mặc áo vải đen. Trường thương trường kích phải để lại trại chỉ được mang theo đoản đao đoản kiếm. Tướng không được cưỡi ngựa chỉ đi bộ. Đợi khi tàn quân của Bố Xích Ha chạy đến thì xông ra giết.
-Lỗ Thể Ngân tuân lệnh.
Yên Tử quay sang chỉ tay vào tấm địa đồ, nói với Doãn Văn:
-Rừng Bách Liễu sẽ là nơi chôn thây của Bố Xích Ha.
-Quân sư quả là mưu sâu kế hiểm. Nhân tài như quân sư đúng là tuyệt cổ siêu kim, trăm năm mới gặp. Có được quân sư giúp đỡ ta lo gì không hoàn thành đại nghiệp.
-Minh công quá khen. Nhưng có câu là mưu sự tại nhân thành sự tại thiên, mọi sự chỉ mới là trong dự liệu của Yên Tử. Còn phải xem trời có giúp chúng ta hay không?
-Ý của quân sư là?
-Theo Yên Tử quan sát thiên tượng mấy đêm nay đoán là rừng Bách Liễu sẽ có sương mù dày đặt trong vài ngày tới. Lúc đó thì việc giết Bố Xích Ha dễ như trở bàn tay, đó là kế sách không chiến mà thắng.
Yên Tử chỉ cho một mình Vương Trung Phu ở lại Tú Châu để giữ thành.
Lại kể về Điền Trí Tôn, sau lần thoát chết ở Tàng Ngân Lầu thì sống một cuộc sống trốn chạy, lang thang khắp nơi như con chó nhà tan. Điền Trí Tôn tuy đang lẫn trốn nhưng vẫn quan sát mọi nhất cử nhất động của Doãn Văn và Lỗ Thể Ngân, chờ cơ hội báo thù cho vong thê Mộ Dung Tuyết. Điền Trí Tôn biết được Doãn Văn và Lỗ Thể Ngân bây giờ đã có trong tay hàng vạn binh mã, không còn một đao một tiễn đơn độc như ngày trước nên thấy dùng sức khó lòng mà thắng nổi. Điền Trí Tôn cũng biết họ đang bị Kim nhân ráo riết truy kích nên quyết định hàng Kim để mượn sức báo thù.
Cùng lúc đó, Bố Xích Ha đang thống lĩnh mười lăm vạn binh mã tiến về phía Tú Châu. Bố Xích Ha cho quân hạ trại nghỉ ngơi ở Thượng Dĩ, đang lúc bàn việc cùng các tướng thì có lính vào tâu:
-Bẩm tướng quân, ngoài kia có người Tống xin cầu kiến.
Bố Xích Ha nghe xong trợn mắt, vểnh ngược hàm râu. Nói:
-Người Tống mà đến trại Kim thì chắc không có gì tốt lành. Cho hắn vào thử xem.
Một lúc sau, người Tống kia bước vào chính là Điền Trí Tôn. Hắn quỳ xuống thưa:
-Tiểu nhân, Điền Trí Tôn xin tham kiến Bố tướng quân.
Bố Xích Ha hất hàm hỏi:
-Ngươi là ai? Đến trại ta có việc gì?
-Tiểu nhân được biết Bố tướng quân anh minh thần võ, thao lược kỳ tài nên muốn theo dưới trướng để làm thân khuyển mã.
Bố Xích Ha đứng dậy nhếch mép cười, nói:
-Người Tống đã hết kế rồi hay sao mà dùng ngươi để trà trộn vào quân ta làm nội gián.
-Oan quá tướng quân! Thú thật là tiểu nhân có thù oán với Doãn Văn, thủ lĩnh quân Lương Sơn. Nên hôm nay mới nương nhờ Đại Kim để có dịp rửa thù.
Nghe xong, Bố Xích Ha cả giận quát:
-Mới nhìn, ta đã thấy ngươi mặt thỏ mỏ dơi, là tướng tiểu nhân tráo trở. Nay ngươi vì thù cá nhân mà sẵn lòng mãi quốc. Cho dù hôm nay ngươi có một lòng quy thuận thì chắc gì sau này ngươi sẽ không vì lợi ích mà phản lại Đại Kim ta. Trong quân đội ta toàn là những dũng sĩ hiên ngang yêu nước, không thể có thứ tiểu nhân như ngươi.
Điền Trí Tôn hốt hoảng, phân trần:
-Tướng quân! Tiểu nhân một lòng…
-Câm ngay!
Hắn chưa kịp dứt câu thì Bố Xích Ha đã quát:
-Người đâu, lôi ra ngoài chém.
-Xin tướng quân tha mạng, tiểu nhân đã biết tội rồi, xin tướng quân tha mạng.
Lập tức Điền Trí Tôn bị hai tên lính Kim kéo ra ngoài, tiếng van xin vẫn còn văng vẳng vang lên sau một lúc rồi ngưng hẳn. Chém xong Điền Trí Tôn, sáng hôm sau Bố Xích Ha tiếp tục tiến về Tú Châu.
Kể lại bên này huynh muội họ Di, sau khi thỉnh mệnh quân sư đi được ba ngày thì đến Đại Kỳ Sơn. Di Thiên Huấn cho binh sĩ an dinh hạ trại, lại ra lệnh cho hỏa đầu quân nhóm năm trăm bếp lửa. Mặt khác Di Thiên Huấn bí mật cho một nhóm binh sĩ lén trà trộn vào trại Kim để tung tin mù, hòng đánh lừa Bố Xích Ha.
Làm đúng theo lời dặn, sáng hôm sau Di Thiên Huấn nhổ trại quay về. Ngày hôm sau thì họ về đến Dã Tiên Cương. Di Thiên Huấn cẩn thận mở cẩm nang thứ nhất của Yên Tử ra xem, trong đó ghi:
“Đến đỉnh Dã Tiên hãy phá hủy một trăm chiến xa thả xuống sườn núi. Sau khi xuống đến chân núi thì cho binh sĩ hạ trại, chỉ được nhóm ba trăm bếp lửa, làm thịt mười con ngựa già yếu để khoản đãi tướng sĩ”
Lúc này, Bố Xích Ha đang đóng quân cách Đại Kỳ Sơn tám trăm dặm. Đang ở trong trướng thì có phó tướng vào thưa:
-Bẩm tướng quân! Mạt tướng nhận được tin quân Tống trên đường về Tú Châu đã bị mai phục, thương vong vô số. Binh sĩ đào ngũ quá nửa, lương thảo không còn, hiện chúng đang dẫn đám tàn binh hộ tống tên cẩu hoàng đế về Tú Châu.
-Được, truyền lệnh ta tức tốc đuổi theo, không được chậm trễ.
Bố Xích Ha lập tức chia quân thành ba đạo tiến về Tú Châu. Quân Kim đi được một ngày một đêm thì đến Đại Kỳ Sơn. Khi đi ngang qua qua nơi huynh muội họ Di từng hạ trại, Bố Xích Ha thấy vậy liền ra lệnh:
-Hãy đếm xem có bao nhiêu bếp lửa.
Một lúc sau, hai tên lính chạy về báo:
-Bẩm tướng quân, đếm chỉ có trên dưới năm trăm bếp lửa.
Bố Xích Ha ngẫm:
-Năm trăm bếp thì quân số không đến hai vạn, tin tức truyền về quả không sai.
Ngẫm một lúc, Bố Xích Ha lại cho quân đi tiếp. Đi được một đêm thì họ đến Dã Tiên Cương. Bố Xích Ha nhìn thấy có nhiều chiến xa bị bỏ lại bên đường và sườn núi, bèn quay sang phó tướng nói:
-Quân Tống đúng là chỉ còn tàn binh, cả chiến xa cũng không người điều khiển. Truyền lệnh ta gấp rút đuổi theo, ai làm chậm trễ…chém.
Đạo quân Bố Xích Ha xuống đến chân núi Dã Tiên thì thấy nơi đó cọc trại liêu xiêu, bếp củi hoang tàn. Đoán là quân Tống từng hạ trại nơi đây, Bố Xích Ha lại cho người đi đếm số bếp lửa. Một lúc sau, người kia về báo:
- Bẩm tướng quân! Lần này chỉ còn ba trăm bếp lửa, một vài chỗ còn thấy có máu và da ngựa. Nghĩ chắc là bọn chúng thiếu lương thảo nên giết ngựa ăn thịt.
Nghe vậy Bố Xích Ha liền ngửa mặt cười to:
-Binh sĩ đào vong, lương thảo cạn kiệt. Lần này vua Tống khó mà thoát khỏi tay ta. Mau truyền lệnh ta, lập tức tiến quân đuổi theo.
Ở bên này, Di Thiên Huấn sau khi làm theo lời trong cẩm nang thì tiếp tục rút quân về Tú Châu. Họ đi được hai ngày thì đến một thảo nguyên rộng lớn, Di Thiên Huấn quay sang nói với tả hữu:
-Các ngươi xem kia có phải là Vạn Hóa Thành không?
-Bẩm tướng quân! Đó chính là Vạn Hóa Thành.
-Được! Vậy hãy truyền lệnh cho binh sĩ hạ trại ở ngay nơi này.
-Nhưng nơi này là thảo nguyên, bốn bề trống trải. Đóng quân nơi này là một điều tối kỵ của binh gia.
-Đó là chủ ý của quân sư. Hãy đi làm ngay, không được kháng lệnh.
-Dạ.
Khi liều trại dựng xong, Di Thiên Huấn một mình ở trong trướng mới mở tiếp cẩm nang thứ hai. Trong đó ghi:
“Phá hết số chiến xa còn lại để làm củi nấu cơm, chỉ được nhóm hai trăm bếp lửa, làm thịt hết đàn ngựa già yếu. Phải bỏ lại toàn bộ cờ hiệu, chỉ mang theo cờ soái để nhận biết. Trước khi lên đường phải lấy vải quấn lại vó của tất cả những con ngựa, để không lưu lại dấu vết”
Di Thiên Huấn cho binh sĩ làm y theo lời dặn trong cẩm nang. Mọi việc xong xuôi, huynh muội họ Di lại tiếp lúc nhổ trại tiến về Tú Châu.
Hai ngày sau, Bố Xích Ha đã đuổi đến vùng thảo nguyên ở phía tây Vạn Hóa Thành. Nhìn thấy cờ hiệu của Tống quân bỏ lại Bố Xích Ha liền cho người đi kiểm tra. Một lúc sau người nọ về báo:
-Bẩm tướng quân! Hiện giờ Tống binh chỉ còn nhóm hơn hai trăm bếp lửa, vì ở giữa thảo nguyên nên chúng buộc lòng phải phá chiến xa để làm củi đốt. Có lẽ chúng đã giết thịt hết những con ngựa trong quân, tiểu nhân xem khắp nơi thấy không còn một vết chân ngựa nào cả.
Bố Xích Ha nghĩ bụng:
-Đây là nơi đồng trống, bốn bề đều có thể công. Đóng quân ở đây là điều tối kỵ của binh gia, Tống quân hẳn phải nguy cấp lắm mới không nhìn ra được điều này.
Càng nghĩ Bố Xích Ha càng căm tức vì hắn đã hành quân thần tốc mà vẫn không đuổi kịp quân địch. Bố Xích Ha nhìn đám binh sĩ quát lớn:
-Quân Tống chỉ ở ngay phía trước. Truyền lệnh ta kể từ bây giờ dốc toàn lực truy kích bất kể ngày đêm. Nếu ai chểnh mảng, chém!
Nói sang bên này, huynh muội họ Di sau khi nhổ trại ở Vạn Hóa Thành, đi được một đêm thì về đến Tân Khương. Di Thiên Huấn theo lời của Yên Tử, cho quân đi vào tiểu lộ Ô Long. Đợi lúc vắng người, Di Thiên Huấn lấy tay nải ra xem, trong đó chỉ có lá cờ của Triệu Cấu. Không cần suy nghĩ, Di Thiên Huấn mở tiếp cẩm nang cuối cùng ra. Cẩm nang ghi là:
“Ở tiểu lộ Ô Long, bỏ lại lá cờ của vua để lừa quân địch”.
Di Thiên Huấn bèn quăng lá cờ xuống đất, cho ngựa giẫm lên mấy lần sau đó mới thúc ngựa bám theo đoàn quân. Huynh muội họ Di sau khi hoàn thành quân lệnh thì theo tiểu lộ Ô Long đi về Tú Châu.
Bố Xích Ha sau một ngày hành quân thần tốc thì đuổi đến Tân Khương. Đứng trước hai con đường Sa Trì và Ô Long, phó tướng quay sang hỏi:
-Bẩm tướng quân! Trước mặt có hai con đường, ta nên đi đường nào?
-Ở đây là đâu?
-Nơi đây là địa giới của Tân Khương. Hai con đường kia, đường lớn là Sa Trì, còn đường nhỏ là Ô Long.
Bố Xích Ha hỏi tiếp:
-Đi đường nào sẽ đến Tú Châu nhanh nhất?
-Nếu đi đường lớn thì chỉ vượt qua một vũng đầm lầy, nhưng phải đi thêm chín trăm dặm mới tới Tú Châu.
-Còn đường nhỏ?
-Nếu đi đường nhỏ tuy là gần hơn nhưng hơi khó hành quân do địa thế chật hẹp, còn phải băng rừng vượt sông thì mới đến được Tú Châu.
Bố Xích Ha cho binh sĩ leo lên cao để quan sát. Một lúc, bọn binh sĩ léo xuống báo:
-Bẩm tướng quân! Phía trước Ô Long tiểu lộ có mấy cụm khói bay lên, còn đường lớn thì không có động tịnh gì.
Bố Xích Ha ngẫm một lúc, rồi nói:
-Hãy đi hướng Ô Long lộ.
Phó tướng nghe vậy liền ngăn:
-Bẩm tướng quân! Chỗ có khói chắc chắn có phục binh. Sao chúng ta không đi đường khác?
Bố Xích Ha nhếch mép cười:
-Ngươi chưa từng nghe người Trung Nguyên có một câu là “binh bất yếm trá” hay sao? Quân sư của Tống binh là Yên Tử. Kẻ này đa mưu túc trí nên cho người đốt khói ở Ô Long lộ, làm quân ta không dám đi con đường này vì sợ bị phục binh. Ta đoán là hắn đã cho bày sẵn thiên la địa võng ở vùng đầm lầy. Chúng chỉ chờ khi quân ta đi vào đại lộ Sa Trì thì xông ra chặn đánh, lúc đó cho dù ta có trăm vạn hùng binh cũng không đủ để phơi thây. Nhưng mà đáng tiếc, đáng tiếc là ta đã sớm nhìn ra quỷ kế của hắn.
-Tướng quân quả là hùng tài vĩ lược, mạt tướng có theo chân suốt kiếp cũng không thể sánh bằng.
-Mau truyền lệnh ta, theo hướng Ô Long thẳng tiến về Tú Châu.
Quân Kim đi vào tiểu lộ một lúc thì binh sĩ nhặt được lá cờ của thiên tử dâng lên Bố Xích Ha. Hắn khoái trá giơ lá cờ lên phất phơ, rồi cười to:
-Quân Tống bị chúng ta đuổi đến nổi phải quăng bỏ cả lá cờ của nhà vua. Các huynh đệ! cơm trắng và rượu ngon ở thành Tú Châu đang đợi chúng ta đến hưởng, hãy theo ta giết giặc phá thành.
Bố Xích Ha vừa dứt lời thì tiếng hò reo của binh sĩ vang lên như dậy sóng. Kim binh lấy lại khí thế, chia làm ba đạo tiến quân vào Ô Long lộ.
Kể lại bên này, Doãn Văn và Yên Tử đang ngồi trong sảnh đấu tượng kỳ thì có lính vào thưa. Yên Tử giơ tay ngăn lại và tiếp tục chăm chú vào ván cờ:
-Mã của minh công đã ra cương, Xa của Yên Tử cũng phải xuất đầu.
Yên Tử đẩy quân Xa lên một bước, rồi mới quay sang tên lính nói:
-Có phải là có quân tình bẩm báo không?
-Bẩm quân sư! Âu Dương tướng quân cho người về báo là hai đạo quân tiên phong và trung lộ của quân Kim đi qua Ô Long lộ.
-Tốt! Tiếp tục thám thính.
-Dạ! Tiểu nhân cáo lui.
Lúc này, đạo quân trung lộ của Bố Xích Ha vừa ra khỏi Ô Long lộ thì gặp phải đội quân do Tần Lượng chỉ huy. Trận chiến diễn ra khốc liệt, lính Kim tuy đông nhưng đa số đều mệt mỏi do hành quân ròng ra mấy ngày nên tử thương vô số. Hai chủ soái Tần Vinh và Bố Xích Ha cũng đấu nhau hơn ba mươi hiệp. Bố Xích Ha uy dũng vô song nếu Tần Vinh không có lệnh giả thua thì không biết bao giờ mới phân hơn kém. Đánh thêm vài hiệp Tần Vinh liền rẽ ngựa bỏ chạy, rút quân về phía hạ lưu sông Phiêu Dương. Bố Xích Ha đang hăng tiết liền ra lệnh toàn quân truy kích.
Nói trở lại ván cờ của Yên Tử và Doãn Văn, Yên Tử kéo nhẹ quân Pháo rồi nói:
-Mã đang ở thế công, Yên Tử phải xuất Pháo để đưa Xa thoát khỏi tay của minh công.
Vừa lúc đó lại có lính chạy vào báo:
-Bẩm quân sư! Tần tướng quân y theo dự liệu, giả thua chạy về phía sông Phiêu Dương. Tướng Kim mắc kế lập tức đuổi theo, binh lính trên núi đã đốt lửa làm hiệu.
-Được! Ngươi hãy lui ra.
Tần Vinh trong lúc bị Bố Xích Ha truy đuổi ráo riết thì thấy phía nam có lửa nổi lên liền cho binh sĩ tản ra núp vào rừng cây. Âu Dương Nam Lạc thấy vậy liền cho toàn quân xông kích. Bố Xích Ha đang lúc truy đuổi Tần Vinh thì nghe có biến ở đạo quân hậu lộ. Lúc này một vạn binh mã của Âu Dương Nam Lạc ồ ạt xông ra từ khắp các ngõ ngách ở Ô Long lộ. Quân Tống xông ra chém giết hả hê trong khi Kim binh chưa kịp trở tay. Đạo quân hậu lộ của Bố Xích Ha hoàn toàn tan rã. Sau khi cướp hết lương thảo của quân Kim, thừa thế Âu Dương Nam Lạc cho quân nhất loạt truy kích đạo quân trung lộ của Bố Xích Ha từ phía sau. Bố Xích Ha lúc này mới nhận ra là đã mắc kế, đành mang hai lộ quân còn lại vượt sông tiến thẳng về phía Tú Châu.
Ở bên này, Yên Tử và Doãn Văn vẫn còn đang đấu cờ. Thế cuộc đang dần dà ngã ngũ, cặp song mã sở trường của Doãn Văn đang từng bước quá giang để áp đảo. Yên Tử chống quân Tượng lên, phe phẩy quạt lông rồi nói:
-Tượng thì không thể qua sông, nhưng có thể đứng chờ Mã sang bờ bên này để mà truy sát.
Doãn Văn còn đang suy nghĩ chưa biết phải thế nào thì lại có binh sĩ vào tâu:
-Bẩm quân sư! Hai lộ binh mã của Bố Xích Ha đã đến bờ sông Phiêu Dương. Điền tướng quân cũng đã dựng thủy chiến sẵn sàng, chỉ chờ cờ trắng ra hiệu là có thể quân Kim sẽ bỏ mạng dưới đáy sông.
-Tốt lắm! Hãy chuẩn bị một đội cung tên lửa để chờ lệnh ta.
-Dạ! Tiểu nhân đi ngay.
Doãn Văn nói:
-Bày trận như vậy còn phải dùng đến hỏa công nữa hay sao?
-Tuy trận thế rất tinh xảo nhưng Bố Xích Ha không phải kẻ thất phu, hắn có cái tài nhất nhân địch vạn nhân. Lỗ nguyên soái mai phục ở rừng Bách Liễu chưa chắc đã thu phục được hắn nên Yên Tử mới tính cho bước kế tiếp đó thôi.
-Nhưng có bao nhiêu tướng chúng ta đã sử dụng hết. Huynh muội họ Di vẫn chưa về kịp, còn các tướng theo hộ tống thiên tử thì ta không tin tưởng lắm.
-Muốn giết Bố Xích Ha không phải chỉ dùng gươm giáo tầm thường đọ sức là được. Trong quân ta còn có một thứ vũ khí rất lợi hại mà đã lâu không dùng.
-Là vũ khí gì?
Yên Tử đứng dậy bước đi vài bước, tay phe phẩy quạt lông ,nói:
-Thương Tâm Tiểu Tiễn. Từng nghe lời đồn mà chưa có dịp tận mắt chứng kiến suýt nữa đã quên trong quân ta còn có Thương Tâm Tiểu Tiễn của Tiểu Hậu Nghệ, mà giang hồ đồn là Lệ Bất Hư Phát.
Nói đến đây thì cả hai phá cười to, Doãn Văn nói:
-Ta đã lâu không có dịp trổ tài. Vậy khi nào cần thì quân sư cứ tuỳ ý sai khiến.
Yên Tử cầm quạt chỉ xuống bàn cờ nói:
-Vẫn chưa phải lúc! Bây giờ minh công hãy đánh cho hết cuộc cờ này đã.
Kể lại bên này, khi Bố Xích Ha dẫn quân đến bờ sông Phiêu Dương thì thấy lòng sông cạn ráo, liền quay lại cười to với các tướng:
-Nước sông cạn đến nỗi ngựa có thể đi qua, như vậy không phải trời đã giúp ta hay sao? Các tướng sĩ, hãy mau theo ta vượt sông.
Lập tức toàn bộ lính Kim cởi bỏ áo giáp, đoản đao vắt ngang lưng, chỉ mặc áo vải, đi chân trần. Từng nhóm, từng nhóm lũ lượt lội qua sông. Quân Tống trú trên núi thấy vậy liền phất cờ trắng ra hiệu.
Ở phía thượng lưu sông Phiêu Dương là nơi Điền Bảo đang trú quân. Sông Phiêu Dương tuy không phải là con sông lớn nhưng thượng nguồn có con sông Tiền Đường đi qua, quanh năm chảy xiết. Nay Yên Tử cho người lấy bao cát lấp lại tạo thành một đập nước cao mười trượng, lòng sông bị chặn trong mấy ngày khiến nước sông dâng lên ồ ạt. Đền Bảo trông thấy cờ hiệu trên núi liền cho binh sĩ xô ngã bao cát khiến cho nước sông vạn mẫu tuôn về phía hạ lưu như thác đổ. Bố Xích Ha đang cùng đám binh tướng bì bõm dưới lòng sông thì nghe tiếng nước gào thét vang trời, dòng nước hung tợn lao đến như một con giao long đang lúc giận dữ. Trong khoảnh khắc cơn hồng thủy nuốt chửng hàng vạn quân Kim khiến Bố Xích Ha toàn quân tan rã.
Bố Xích Ha may nhờ có một đạo quân đã lên bờ trước cứu sống. Quân Kim chưa kịp định thần thì thấy Điền Bảo tay cầm đạo phong đao dẫn đầu một đạo kỵ binh đang phi ngựa lao tới, bụi cuốn tung mù mịt. Quân Kim thất kinh hồn vía bỏ chạy tán loạn, Điền Bảo đuổi theo giết quá nửa. Trước đó Điền Bảo đã kịp phong tỏa hết các lối, chỉ chừa lại duy nhất con đường mòn tiến vào rừng Bách Liễu.
Bố Xích Ha dẫn vài trăm quân còn lại chạy vào rừng Bách Liễu. Rừng Bách Liễu là một rừng tre bạt ngàn giống như tên gọi của nó. Quả nhiên không ngoài dự liệu của Yên Tử, rừng Bách Liễu về chiều tự nhiên có sương mù dày đặt. Càng vào sâu trong rừng, tầm nhìn của quân Kim càng bị giảm, Bố Xích Ha cùng đám tàn binh phải nắm lấy nhau mà đi để không bị lạc.
Lại kể tới Yên Tử và Doãn Văn, vừa lúc tàn cuộc thì có quân vào định báo. Yên Tử giơ quạt ngăn lại. nói:
-Chuyện ngươi muốn thưa bổn tướng đã biết. Ngươi hãy lui ra, bảo đội cung thủ chuẩn bị hỏa công chờ lệnh ta.
-Dạ, tiểu nhân đi ngay!
Yên Tử quay sang Doãn Văn nói:
-Minh công! Tốt đã vào cung, tướng còn sao còn chưa động thủ.
-Ý quân sư là?
-Bố Xích Ha đã lọt vào rừng Bách Liễu, phiền minh công cùng Yên Tử đến đó một chuyến.
-Được. Mọi việc xin tùy quân sư sai khiến.
Nói rồi cả hai dẫn một đội cung thủ rời thành đi về phía rừng Bách Liễu. Trong lúc này, Bố Xích Ha đi sâu vào rừng thì gặp phải đạo quân mai phục của Lỗ Thể Ngân. Quân Tống sĩ khí đang hăng nên vừa thấy quân địch là thẳng tay chém giết. Lính Kim đều mệt mỏi đuối sức lại thêm sương mù khắp nơi nên vô phương chống đỡ. Bố Xích Ha bị Lỗ Thể Ngân truy sát may nhờ có phó tướng liều chết cản chân mới an toàn chạy thoát. Quân Kim đại bại, chỉ còn lại chủ soái và vài tiểu tốt dắt nhau chạy về phía bìa rừng.
Chạy một đoạn, đám người Bố Xích Ha trông thấy giữa đường có một người rơm. Bố Xích Ha đến gần xem thì thấy trên đó có dòng chữ:
“Kim tặc Bố Xích Ha ắt chuốc lấy bại vong”
Bố Xích Ha nổi cơn thịnh nộ, cho lính châm lửa đốt ngay. Lúc đó, Yên Tử cùng Doãn Văn đang ẩn nấp trong làn sương mù thì thấy phía trước có ánh lửa phát ra. Yên Tử nói:
-Bố Xích Ha đã đến. Tất cả chuẩn bị.
Doãn Văn ngờ vực:
-Sao quân sư lại khẳng định là Bố Xích Ha?
-Trước đó Yên Tử đã cho đặt sẵn một người rơm ở đó. Trên đó có viết vài chữ chọc tức Bố Xích Ha. Một khi hắn đọc được thì tất nhiên sẽ nổi giận mà châm lửa đốt ngay. Khi có lửa, sương mù nơi đó sẽ tự tan và vô tình chúng ta có cơ hội tấn công mà không cần phải tiếp cận hắn.
Dứt lời Yên Tử phất quạt, ra lệnh:
-Hỏa công chuẩn bị! Bắn vào nơi đang phát ra ánh lửa.
Ngay lập tức từng đợt tên lửa vun vút lao đến chỗ Bố Xích Ha. Trong tíc tắc một khoảnh rừng biến thành biển lửa. Những tên lính Kim cuối đều chung số phận vùi thây trong biển lửa. Lửa cháy to khiến sương mù tan đi nhanh chóng, lúc này Doãn Văn và Yên Tử có thể nhìn thấy rõ mọi thứ trước mắt. Bố Xích Ha dùng khinh công cố nhảy ra khỏi vòng vây. Nhưng hắn chưa kịp tiếp đất thì đã bị một mũi tiễn cắm ngay vào cổ. Cả người Bố Xích Ha đổ quỵ xuống, cơ thể hắn co rút dữ dội rồi dần lụi tàn trong ngọn lửa.
Yên Tử nhìn thấy cảnh đó mà đau lòng nhỏ lệ, Doãn Văn thấy vầy liền hỏi:
-Diệt được đại địch là chuyện đáng vui mừng, sao quân sư còn sầu não?
-Đành rằng việc làm của Yên Tử là vì giang sơn xã tắc nhưng cũng gây ra sát lộc quá nhiều, chắc sau này sẽ đoản mệnh.
Nói rồi Yên Tử lên ngựa quay trở về dinh. Doãn Văn trở về mở tiệc khoản đãi tam quân vì đã giết được Bố Xích Ha, chặn đứng sự truy đuổi của Kim binh.
Sau đóTriệu Cấu cho truyền và ban thưởng tất cả các tướng sĩ đã có công trong trận chiến giết Bố Xích Ha. Trong lúc diện kiến, Yên Tử tâu rằng:
-Khởi bẩm hoàng thượng! Tú Châu tuy là vùng đất màu mỡ, cảnh phú mê người nhưng đó không phải là thích hợp để lập vương nghiệp. Hiện nay, Biện Kinh – long mạch của Đại Tống đã bị rợ Kim chiếm đóng nên không thể quay về. Chi bằng ta hãy thiên đồ về miền Nam. Lâm An – Hàng Châu tuy không có long mạnh yểm hộ nhưng cũng là vùng đất nhân kiệt địa linh, thích hợp cho việc dừng chân đóng đô chờ ngày Bắc tiến.
Triệu Cấu không suy nghĩ mà đáp ngay:
-Vậy mọi chuyện cứ làm theo ý của quân sư.
Một tháng sau, toàn bộ quan quân nhà Tống chia làm ba lộ, do Doãn Văn chỉ huy hộ tống Triệu Cấu thiên đô về Lâm An. Tống quân đi được mười ngày thì đến vùng Mã Yên Sơn. Nơi đó đang chịu cảnh hạn hán kéo dài, đất đai cằn cỗi. Quân Tống vì thiếu nước uống nên binh sĩ không còn sức hành quân. Doãn Văn đành ra lệnh cho binh sĩ an dinh hạ trại và cử người tìm nguồn nước. Doãn Văn đang cùng Yên Tử ở trong trướng nghị sự thì có lính vào thưa:
-Bẩm minh công! Binh sĩ vì không có nước uống nên đã mất hết ý chí. Có người không chịu được khát đã ngất xỉu. Tình thế cấp bách xin minh công sớm định đoạt.
Doãn Văn cau mày nói:
-Nước uống tuy còn không nhiều nhưng đâu đến nỗi hết cạn, sao không đem chia cho binh sĩ?
-Quả thật là sáng nay còn rất nhiều nhưng bây giờ thì một giọt cũng không còn.
-Tại sao lại như vậy?
Tên lính ngập ngừng:
-Tại…
Doãn Văn quát to:
-Có chuyện gì hãy mau nói ra.
-Bẩm minh công! Sở dĩ không còn nước uống là do nhị vị quý phi của hoàng thượng đã dùng nước để tắm.
Nghe tới đây thì Doãn Văn nổi trận lôi đình, rút thanh kiếm trên vách chém cái bàn gãy đôi. Doãn Văn quát:
-Tại sao lại có chuyện như vậy? Ta quyết đi hỏi hắn cho ra lẽ.
Yên Tử liền xua tay bảo với tên lính:
-Ở đây đã hết chuyện của nhà ngươi. Hãy lui ra.
Yên Tử nắm tay Doãn Văn lại và nói:
-Minh công hãy bình tĩnh, chứ nên xung động mà làm lỡ việc lớn.
-Quân sư bảo ta làm sao để bình tĩnh? Binh của ta, tướng của ta, lương thực cũng của ta. Triệu Cấu giống như một con chó chạy đến nương nhờ, được ta cúi đầu xưng thần mà vẫn không biết điều. Vẫn dung dưỡng cái thói ăn chơi, bất kiến như những tên họ Triệu đời trước.
Yên Tử nói:
-Minh công còn nhớ lời của Yên Tử đã nói lúc bàn chuyện xuất quân cần vương không?
-Tất nhiên là ta nhớ. Quân sư nói phải đợi thời cơ thích hợp, tìm cớ giết chết Triệu Cấu để tự mình xưng vương thì mới danh chính ngôn thuận.
-Bây giờ thời cơ đã đến, nhưng phải suy tính cẩn thận, minh công chứ nên nóng vội mà hư ngay đại sự.
-Vậy theo ý quân sư phải làm thế nào mới gọi là danh chính ngôn thuận?
Yên Tử nói:
-Minh công thấy con người Điền Bảo thế nào?
-Điền huynh đệ tính tình ngay thẳng, chính nghĩa hào tình, can đảm tương chiếu. Nói chung là một hảo hán đội trời đạp đất, chỉ có đôi lúc nóng nảy mà làm việc theo cảm tính. Mà tại sao quân sư lại hỏi sang Điền Bảo, hắn có liên quan gì đến việc ta đang bàn tính?
Yên Tử không đáp lời Doãn Văn mà quay sang tả hữu nói:
-Hãy đi mời Điền tướng quân đến đây.
Một lúc sau thì Điền Bảo đi vào. Sau đó Yên Tử cho tả hữu lui ra, chỉ còn lại ba người ở trong trướng bàn chuyện cơ mật.
Hôm sau, Doãn Văn lấy danh nghĩa họp quần thần cho mời Triệu Cấu cùng tất cả quan viên đến dự. Đang lúc bàn chuyện thì có lính chạy vào báo:
-Bẩm hoàng thượng! Ngoài kia có nhiều binh sĩ vì không chịu được cơn khát đã ngất xỉu, toàn bộ quân ta đã mất hết sĩ khí.
Triệu Cấu hỏi:
-Binh sĩ khát nước thì mang nước cho bọn chúng, có gì to tát đâu mà phải báo.
-Nhưng hiện nay trong quân ta không còn nước uống, những người sai đi tìm nguồn nước vẫn chưa có tin tức.
Triệu Cấu lại hỏi:
-Sao lại chờ tới lúc nguy kịch rồi mới vào báo, tình hình như vậy biết lấy đâu ra số nước cung cấp cho đủ.
-Bẩm hoàng thượng! Sở dĩ không còn nước uống là do nhị vị quý phi hôm qua đã tắm hết rồi.
-À! Thì ra là tại hai ái phi của trẫm. Doãn khanh gia, khanh hãy mau giúp trẫm phân ưu việc này.
Nghe xong Doãn Văn vẫn chưa kịp nói gì thì Điền Bảo bước ra hét lớn:
-Tên hôn quân kia! Ngươi dung túng cho ái thiếp, tiêu phí quân lương khiến toàn quân rơi vào thế nguy kịch. Đã thế khi biết chuyện còn không dám phân xử công minh lại bắt đại ca ta phân ưu này nọ.
Doãn Văn chỉ mặt Điền Bảo nói:
-Điền Bảo! Không được vô lễ, có biết khi quân là tội chém hay không?
Điền Bảo không thèm đáp, chỉ vào mặt Triệu Cấu hét to:
-Hôn quân! Để ngươi sống thì trước sau gì cũng đi theo vết xe đổ của bọn hôn quân đời trước.
Dứt lời Điền Bảo tước kiếm của một vị tướng đứng gần rồi xông tới Triệu Cấu. Điền Bảo vung kiếm chém một nhát làm Triệu Cấu đầu thân hai đoạn. Sự việc diễn ra quá bất ngờ, khiến đám quan quân chỉ có thể nhìn mà không thể cản.
Doãn Văn cả giận chỉ mặt Điền Bảo, quát:
-Ngươi! Ngươi dám giết vua? Người đâu! Hãy bắt lấy Điền Bảo.
Ngay lập tức, hai tên lính chạy vào tóm lấy hai bên. Điền Bảo buông kiếm quỳ xuống, nói với Doãn Văn:
-Minh công! Mạt tướng chỉ muốn nói một điều cho dù hôm nay Điền Bảo có bị xử chết thì cũng không có gì oán trách. Triệu Cấu không xứng đáng làm vua, minh công mới chính là chân mạng thiên tử. Mong minh công hãy xuôi theo đại thế mà làm chủ thiên hạ, có được như vậy dẫu chết Điền Bảo cũng ngậm cười.
Doãn Văn nghiêm mặt nói:
-Đại trượng phu có việc nên làm, có việc không nên làm. Ta trước kia đã hưởng hoàng ân ra quân cần vương, một lòng trung thành với hoàng thượng. Ta quyết không làm những chuyện soán ngôi đoạt vị.
Lỗ Thể Ngân bước ra nói:
-Minh công còn nhớ lời của lão thầy bói năm xưa ở Hiệp Ẩn Trấn không? Mệnh trời từ đầu đã định là vậy, cuối mong minh công hãy thuận theo ý trời.
Yên Tử nói:
-Triệu thị đã mất đại thế đó là thiên thời, quân Lương Sơn đánh ít thắng nhiều chỉ trong hai năm đã chiếm được chín châu mười ba quận đó là địa lợi, minh công hành xử nhân nghĩa đạo đức nên đi đến đâu muôn dân đều quy phục đó là nhân hòa. Nay Điền tướng quân cũng thuận theo ý trời mà giết hậu duệ của Tống thất nên không những không có tội mà còn là khai quốc công thần. Từ đó cho thấy cả trời cũng muốn minh công lên làm chủ thiên hạ.Trên ứng thiên mạng, dưới thuận lòng dân thì còn ai dám nói là “danh bất chính, ngôn bất thuận”? Dám xin minh công hãy vì bá tánh lê dân mà thuận theo ý trời.
Nói xong Yên Tử quỳ phục xuống lạy. Bọn Vương Trung Phu, Lỗ Thể Ngân, Âu Dương Nam Lạc, Tần Vinh, Tần Cối và huynh muội họ Di cũng quỳ xuống đồng thanh hô:
-Xin minh công thuận theo ý trời!
Lúc đó bọn quan viên không còn ai dám nhỏ to, cũng quỳ xuống đồng thanh:
-Xin minh công thuận theo ý trời!
Doãn Văn buông một nụ cười lộ ra chiều vừa ý, chậm rãi nói:
-Doãn Văn vô đức vô năng, từ một tiểu tử vô danh nhờ các huynh đệ giúp sức mà việc khởi binh thuận lợi. Nay các vị đã quyết ý tôn làm vua thì Doãn mỗ cũng xin thuận theo ý trời.
Tất cả quan viên, binh sĩ trong doanh đều quỳ xuống đồng thanh hô:
-Hoàng thượng vạn tuế vạn tuế, vạn vạn tuế.
-Các khanh hãy bình thân.
Đôi mắt Doãn Văn chợt liếc xuống ở cuối hàng. Nơi mà có một người từ đầu đến giờ chỉ đứng yên, không nói cũng không quỳ. Đó là một vị tướng trẻ đầu đội thiết khôi, mình mặc huỳnh giáp, tướng mạo phi phàm. Doãn Văn chưa kịp hỏi đến thì người này bước ra quát:
-Doãn Văn! Lúc đầu ta còn tưởng ngươi là một anh hùng, không ngờ hôm nay mới thấy được bộ mặt giả nhân giả nghĩa của ngươi. Hôm nay ta phải thế thiên hành đạo.
Nói rồi vị tướng trẻ rút kiếm xông tới trong bao nhiêu con mắt ngỡ ngàng của chư tướng. Tại sao một tiểu tướng lại có khí tiết như vậy? Người đó là ai? Muốn biết câu trả lời xin mời quý vị xem tiếp hồi sau của Tân Thủy Hử…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
Kim Bút
01-11-2009, 08:25 PM
Hồi kết
Dùng đại nghĩa, thu phục Nhạc Phi
Định giang sơn, Bắc Kim-Nam Tống
Viên tiểu tướng vung kiếm lao đến toan chém Doãn Văn, kiếm chưa kịp đến thì đã nghe một tiếng “keng” đinh tai nhức óc. Kiếm của hắn bị chặn lại bởi ngọn thương của Tần Vinh. Thấy vậy Lỗ Thể Ngân cũng xông vào vung khoái đao sát phạt. Một mình hắn đương chiến với hai mãnh tướng cùng lúc nên chỉ trong vài chiêu là đã bị đánh rớt kiếm. Hắn toan chống cự thì Trương Sở - Một võ tướng ở Hà Bắc lên tiếng quát:
-Nhạc Phi! Không được vô lễ.
Tần Vinh cùng Âu Dương Nam Lạc xông tới tóm lấy viên tướng nọ. Doãn Văn hỏi:
-Người này là ai?
Trương Sở nói:
-Bẩm hoàng thượng!…
Doãn Văn vội giơ tay ngắt lời:
-Hãy cứ gọi ta là minh công, vẫn chưa đăng cơ thì làm sao mà xưng hoàng đế.
Trương Sở cúi đầu:
-Bẩm minh công! Hắn tên là Nhạc Phi, người ở Tương Châu, là phó tướng của Trương Sở.
Nói xong Trương Sở bước ra quỳ xuống tâu:
-Mạt tướng quản giáo không nghiêm, để thủ hạ lộng hành phạm đến hổ oai của minh công, xin minh công giáng tội.
-Trương tướng quân hãy đứng dậy đi. Ta đâu có ý trách phạt ngươi.
Doãn Văn lại quay sang Nhạc Phi hỏi:
-Quan viên lớn nhỏ đều quy thuận ta, tại sao một tiểu tướng như ngươi lại không hiểu đại nghĩa?
Nhạc Phi hất mặt nói:
-Đại nghĩa là để nam nhi gánh vác trên vai chứ không phải dựa vào quan tước mà phân. Ta tuy là vô danh tiểu tốt nhưng cũng biết thế nào là khí tiết, liêm sỉ. Ta quyết không cúi đầu trước tên giặc phỉ thừa cơ đoạt ngôi như ngươi.
Tần Cối bước ra thưa:
-Nhạc Phi xuất lời ngông cuồng mạo phạm đến thiên oai, xin minh công hãy chém.
Bọn Nam Lạc, Điền Bảo đồng thanh:
-Đáng chém! Xin minh công ra lệnh.
Doãn Văn liếc sang đôi mắt đang trừng trừng nhìn mình của Nhạc Phi, ngẫm một lúc rồi nói:
-Hãy thả cho hắn đi.
-Minh công?
Các tướng lên tiếng ra vẻ bất mãn thì Doãn Văn khoác tay nói:
-Ý ta đã quyết, hãy thả hắn ra.
Nhạc Phi nói:
-Doãn Văn! Hôm nay ngươi không giết ta, thì đừng tưởng sau này ta không báo hận. Ta sẽ quay lại tìm ngươi.
Nói xong, Nhạc Phi hất vai vùng khỏi tay Tần Vinh, nhặt kiếm lên và chạy ra khỏi trướng. Tất cả quan viên, tướng sĩ đều không khỏi thắc mắc vì sao Doãn Văn lại tha cho kẻ muốn giết mình. Chỉ có một người từ đầu chí cuối chỉ mỉm cười ra chiều vừa ý đó là Yên Tử.
Yên Tử nhìn theo bóng dáng dần khuất của Nhạc Phi, rồi nói:
-Một cái cây khi đứng trước núi cao mà không cúi đầu, ở dưới gió to mà không nương ngã. Nhạc Phi này cũng như thế, không bao giờ phục lụy trước uy quyền. Người này quả là một hảo hán.
Doãn Văn gật đầu cười:
-Dường như chỉ có quân sư là hiểu ý ta. Chuyện này hãy gác sang một bên, ta phải tìm nguồn nước để giải quyết nguy nan trước mắt rồi mới tiếp tục Nam hạ.
Doãn Văn nói xong, toàn thể quan viên tướng sĩ cúi chào quay ra.
Ba ngày sau, Doãn Văn binh mã chỉnh tề tiến về phía Lâm An. Đi được nửa ngày thì họ đặt chân đến rừng Vô Ưu. Đại quân đang lúc đi sâu vào rừng thì đột nhiên xuất hiện một bóng người từ trên cây lao xuống, hướng mũi kiếm đâm thẳng vào Doãn Văn.
Doãn Văn liền né người sang một bên và té nhào xuống ngựa. Ngay lập tức bọn Điền Bảo, Tần Vinh, Nam Lạc chạy đến đỡ dậy. Người tập kích chính là Nhạc Phi. Di Thiên Huấn thấy vậy liền vung côn đến giao chiến. Di Thiên Huấn tuy võ nghệ cao cường nhưng Nhạc Phi cũng là hào kiệt nhất phương, nên hai người hỗn chiến đến hơn sáu mươi hiệp thì Di Thiên Huấn mới có cơ hội thắng Nhạc Phi trong nửa chiêu. Thiên Huấn nương theo đà lướt tới định giáng một côn xuống đầu Nhạc Phi thì nghe Doãn Văn cản:
-Hãy dừng tay! Di tướng quân hãy ngừng tay lại.
-Nhưng kẻ này đã hai lần muốn sát hại minh công?
-Lòng quả cảm của Di tướng quân ta rất hiểu và cảm kích nhưng mọi chuyện hãy để ta giải quyết.
-Dạ, minh công!
Doãn Văn bước tới nhìn Nhạc Phi, nói:
-Nhạc tướng quân! Chúng ta lại gặp nhau. Ngươi vẫn còn ý định giết ta à?
Nhạc Phi quay lại, căm phẫn nói:
-Ta đã lọt vào tay nhà ngươi. Muốn giết cứ giết đừng nói nhiều.
Doãn Văn không nói gì, quay lưng bước đi vào bước rồi dừng lại nói:
-Hãy thả hắn ra.
Lỗ Thể Ngân nói:
-Bẩm minh công! Lần trước ta đã thả hắn một lần nên chút nữa minh công đã mất mạng. Sao bây giờ minh công lại tiếp tục thả hổ về rừng?
-Ta đã quyết, hãy thả hắn ra rồi tiếp tục lên đường.
Nhạc Phi nói:
-Ngày nào ta còn sống thì ta nhất định còn tìm ngươi.
Di Thiên Huấn đành phải theo lệnh mà thả Nhạc Phi. Khi Nhạc Phi đã khuất bóng, Yên Tử quay sang Doãn Văn nói:
-Chắc chắn hắn sẽ còn quay lại tìm minh công, không lâu nữa minh công lại có thêm một hổ tướng dưới tay.
-Ta cũng mong được như lời của quân sư.
Doãn Văn lại tiếp tục lên đường Nam hạ. Đi được hai ngày, khi tới Hồ Ngân Khê thì Phi Vân Thần Mã lại không chịu qua cầu, cứ chùng chân một chỗ. Doãn Văn tưởng con ngựa sợ nên cho lính dắt đi đường khác, còn mình thì bước xuống đi bộ.
Doãn Văn bước đến giữa cầu thì từ dưới nước có một người nhảy lên tập kích. Nhanh như chớp Bách Tửu Hành Lỗ Thể Ngân xông tới giao chiến với kẻ lạ mặt. Người đó chính là Nhạc Phi, hắn vẫn nuôi ý định hành thích Doãn Văn để rửa thù cho Triệu Cấu.
Lỗ Thể Ngân giao chiến một lúc thì có Tần Vinh và Di Thiên Huấn lao vào yểm trợ.
Di Thiên Huấn quát:
-Tên bại tướng kia, còn dám quay trở lại để chuốc thêm nhục nhã à?
Nói rồi Di Thiên Huấn lao vào tham chiến. Một mình Nhạc Phi khó lòng địch nổi ba người nên chỉ trong vài chiêu đã bị bắt sống. Bọn Tần Vinh kéo Nhạc Phi tới trước mặt Doãn Văn, Tần Vinh quát:
-Quỳ xuống!
Nhạc Phi vẫn đứng quay người một bên, ngẩng cao đầu, trừng mắt nói:
-Nhạc Phi ta cho dù có rơi đầu cũng quyết không cúi đầu trước đám phản loạn các ngươi.
Doãn Văn phất tay ra hiệu ngăn Tần Vinh lại và nói:
-Sĩ khả sát, bất khả nhục. Nhạc tướng quân dù sao cũng là một hảo hán không nên làm khó hắn ta.
Nhạc Phi nghe vậy liền nói:
-Ta hành thích thất bại chỉ có thể trách mình tài nghệ chưa cao. Muốn chém muốn giết tùy ý các ngươi, đừng giở thêm nhiều trò.
Do Nhạc Phi cởi trần nên Doãn Văn trông thấy sau lưng hắn dường như có chữ. Doãn Văn đi lại gần xem thì thấy trên lưng có xăm bốn chữ “Tinh Trung Báo Quốc”. Ngẫm một lúc Doãn Văn nói:
-Ta đây, trước là khởi binh ở Lương Sơn vì muốn thỉnh cứu vạn dân khỏi ách thống trị tàn nhược của triều đình. Sau lại thuận lòng trời mà xuất binh cứu chúa. Thử hỏi ta trên ứng thiên mạng, dưới thuận lòng dân thì có chỗ nào giống loạn thần tặc tử?
Nhạc Phi liền nói:
-Nếu ngươi thật sự trung can nghĩa đảm thì sao lại có hành vi giết chúa đoạt ngôi?
-Triệu thị khí số đã tận. Hậu duệ Triệu Cấu lên kế ngôi nhưng vẫn lao theo vết xe đổ của của các tiên quân. Liệu một người phong lưu trăng gió, đắm chìm tửu sắc trong lúc xã tắc hưng vong thì có phải là một minh quân?
Nhạc Phi dường như đuối lý chỉ lặng im, Doãn Văn lại nói tiếp:
-Có lẽ tướng quân vẫn chưa thật sự thấu hiểu.
Doãn Văn vừa nói vừa cởi chiếc cẩm bào khoác lên người Nhạc Phi. Hắn ngạc nhiên hơi nép người về sau và sắc mặt có phần nào ái ngại.
Khoác xong áo cho Nhạc Phi, Doãn Văn quay lưng bước đi, rồi nói:
-Hãy thả hắn, cho hắn đi.
Tần Cối nghe vậy liền ngăn:
-Minh công sao lại thả một người đã năm lần bảy lượt muốn lấy mạng mình. Chẳng lẽ người chưa từng nghe câu “Dưỡng hổ di họa” hay sao?
Doãn Văn lắc đầu đáp:
-Nhạc tướng quân là một vị anh hùng, xem thường sống chết. Nếu giết một người như vậy thì ta mới thật sự là kẻ mang tội ở giữa trời đất. Chỉ tiếc hắn quá cố chấp nên đành phải thả đi.
Doãn Văn dứt lời thì nghe tiếng nói từ phía Nhạc Phi cất lên:
“Minh công”…
Doãn Văn quay lại thì thấy Nhạc Phi chân quỳ phục xuống, hai tay chấp lại ngang đầu, đôi mắt rưng rưng, nói:
-Nhạc Phi chỉ là một võ phu mà được minh công hậu đãi như vậy không biết nói gì để tỏ lòng cảm kích. Trước đó lại năm lần bảy lượt ra tay hành thích rõ ràng là lấy oán báo ân, Nhạc Phi dẫu chết trăm lần cũng không sao đền hết tội.
Doãn Văn vội bước tới đỡ Nhạc Phi dậy và nói:
-Nhạc tướng quân xin hãy đứng dậy. Doãn Văn được biết Nhạc tướng quân là người khí tiết cương liệt, là một anh hùng đương kim. Biết là không thể thâu dụng nhưng cũng không nỡ giết nên phải đành thả. Đó là cái mềm yếu của nữ nhi, nói ra chỉ thêm xấu hổ. Nhạc tướng quân không nên nhắc tới làm gì.
Yên Tử bước tới nói:
-Minh công nhân nghĩa đạo đức, muôn dân kính ngưỡng. Nhớ năm xưa vây đánh Đức Châu, tức lúc minh công cho lấy vải bao lại vũ khí để tránh sát thương thì danh thơm nhân nghĩa của minh công đã truyền đi ngàn dặm. Chỉ bấy nhiêu tài đức khí độ đã cho thấy ngoài minh công ra không còn ai xứng đáng làm chủ thiên hạ.
Yên Tử quay sang Nhạc Phi nói:
-Nhạc tướng quân! Tại sao tướng quân còn chưa thấu hiểu đại nghĩa? Bỏ tối theo sáng, một lòng quy phục để giúp sức minh công dựng cơ nghiệp thiên thu.
-Quân sư nói rất phải.
Nói xong Nhạc Phi bước một chân quỳ xuống, nói với Doãn Văn:
-Nhạc Phi nguyện trong đời này theo phò trợ minh công, tận trung báo quốc đến chết không thôi.
Doãn Văn mừng rỡ đỡ Nhạc Phi lên và nói:
-Doãn Văn có được tướng quân giúp đỡ thì như hổ thêm cánh. Thiên hạ từ nay sợ gì không định được.
Yên Tử cùng đám Di Thiên Huấn, Nam Lạc đều đồng thanh:
-Chúc mừng minh công đã có thêm một hổ tướng.
Nhạc Phi đứng dậy bái chào:
-Các vị tướng quân! Trước đây Nhạc Phi đã nhiều lần thất lễ, xin các vị rộng lượng bỏ qua cho.
Tần Vinh nói:
-Nhạc tướng quân đã quá lời rồi. Tại hạ Tần Vinh.
-Đã được lĩnh giáo thương pháp của Tần tướng quân.
Nam Lạc chống mâu xuống đất, chấp tay nói:
-Tại hạ Mãnh Như Long Âu Dương Nam Lạc.
-Đã khiêm nhường!
Điền Bảo bước lại nói to:
-Người ta nói không đánh thì không quen biết! Tiểu đệ là Hắc Diện Lang Điền Bảo. Nhạc đại ca sau này mong chỉ giáo cho.
-Chỉ giáo thì không dám, tuổi ta không hơn huynh bao nhiêu xin cứ gọi là Nhạc Phi.
Lỗ Thể Ngân nói:
-Tại hạ Lỗ Thể Ngân. Đã thất lễ.
-Nghe danh Bách Tửu Hành đã từ lâu, quả là danh bất hư truyền. Cữu ngưỡng!
Nói được một lúc Nhạc Phi cùng cả bọn lên ngựa, tiến về phía Lâm An. Đi được nửa ngày, họ dừng chân hạ trại ở Đoạn Phong Nhai. Đêm đó, Vương Trung Phu mời Âu Dương Nam Lạc, Di Thiên Huấn, Nhạc Phi vào trướng cùng uống rượu. Đang lúc lưng chừng hơi rượu thì Vương Trung Phu nói:
-Ta trước kia cũng vì thương xót lê dân bá tánh phải chịu cảnh tan thương nên đã phất cờ khởi nghĩa. Nay thế cuộc coi như tạm ổn, minh công cũng đã rút binh về Nam. Tâm nguyện ta coi như đã giải tỏa phần nào.
Di Thiên Huấn vội ngắt lời:
-Có chuyện gì mà tối nay trưởng huynh trông có thật nhiều tâm sự. Ý huynh muốn ra đi ngay lúc này hay sao?
-Phải! Cũng phải đến lúc thoái ẩn để tự giữ mình.
Nhạc Phi nói:
-Tự giữ mình nghĩa là sao?
-Đó là cái đạo ở đời, chỉ có thể hiểu ở trong lòng, nhưng không thể nói ra. Ta chỉ muốn khuyên một câu “hãy vì nghĩa mà xả thân, nhưng đừng vì danh mà ở lại”.
Nói xong lại uống, cả bọn chè chén đến tận đêm khuya. Lúc đó ai cũng ngà ngà men rượu nên họ cứ ngỡ là Vương Trung Phu say rượu nói bừa.
Sáng hôm sau, khi Doãn Văn đang chuẩn bị lên đường thì Vương Trung Phu cưỡi ngựa chạy đến. Vương Trung Phu xuống ngựa, chấp tay nói:
-Minh công! Hôm nay mạt tướng đến đây mục đích là nói lời từ biệt với người.
Doãn Văn không khỏi bất ngờ:
-Ta có nghe lầm không, sao Trung Phu lại có ý như vậy. Có phải là đã xảy ra chuyện gì không hài lòng, nói ra để ta phân xử cho.
-Minh công là một đấng minh chủ tài đức vẹn toàn. Thiết nghĩ được theo gót phò trợ minh công thì Vương Trung Phu không uổng đã sống kiếp này. Nên việc mạt tướng ra đi không phải do buồn phiền chi hết.
Doãn Văn leo xuống ngựa, chậm rãi đến cầm tay Vương Trung Phu, nói:
-Vậy sao huynh đệ còn quyết ý ra đi?
-Trung Phu tôi xưa nay ưa thích việc thanh nhàn, vừa rồi dấy binh khởi nghĩa chỉ là cảm thấy bất nhẫn trước nỗi đau của muôn vạn sinh linh. Nay xã tắc đã có minh công, bên cạnh lại có các vị văn tài kiện tướng giúp sức thì sợ gì bá nghiệp không thành, giang sơn không vững.
-Như vậy…
-Trung Phu đã quyết ý, xin minh công bằng lòng để cho mạt tướng trở về sơn lâm quy ẩn, sống một cuộc đời nhàn tản như mây bay trên trời, như cánh nhạn phiêu lãng tận muôn khơi. Nếu được như vậy thì không còn gì vui sướng hơn.
Doãn Văn thở dài một cái rồi nói:
-Nếu đã quyết ý thì Doãn Văn không đành ép. “Người đâu! Mang rượu”
Nâng chén trên tay, Doãn Văn nói:
-Huynh đệ! Chia tay hôm nay không biết bao giờ mới được gặp. Doãn Văn xin lấy chén rượu này nói lời tiễn biệt. Cạn!
-Minh công…Cạn!
-Người huynh đệ! Bảo trọng!
-Minh công bảo trọng.
Vương Trung Phu cạn chén xong rồi lên ngựa cất bước về hướng Nam. Doãn Văn lại tiếp tục cùng chư tướng khởi quân Nam hạ.
Khi đến Hồ Châu, Mãnh Như Long Âu Dương Nam Lạc cũng cảm thấy nguội lòng bèn hẹn Di Thiên Huấn ra bìa rừng gần trại. Nam Lạc nói:
-Từ xưa đến nay kẻ trượng phu thường phải biết ẩn mình sau khi công thành danh toại. Mấy hôm nay ta suy nghĩ mà cảm thấy rất ngưỡng mộ Vương đại ca. Tại sao huynh đệ chúng ta không học theo để sống những tháng ngày tiêu dao.
Di Thiên Huấn cau mày:
-Sao Âu Dương huynh lại có suy nghĩ như vậy?
Âu Dương Nam Lạc cười nhạt, nói:
-Tiểu đệ nghĩ kẻ giành danh vì danh bỏ mạng, người cướp lợi bởi lợi liều mình. Mang ơn vua như bọc rắn mà đi, ăn lộc chúa như ôm hùm mà ngủ. Kể ra thì họ đều thua chúng ta cả. Non xanh nước biếc, thong thả thảnh thơi, lạt lẽo qua ngày tuy không vinh mà khỏi nhục.
-Dẫu biết rằng công danh như phù vân trước mắt nhưng Doãn đại ca có ân sâu như trời bể với huynh đệ ta. Vả lại một nữa giang sơn còn đang nằm trong tay rợ Kim, đâu có lẽ nào vì sự an nhàn của bản thân mà bỏ lại minh công trong lúc này. Xin thứ lỗi tiểu đệ khó lòng tuân theo.
-Tùy huynh thôi, mỗi người một chí, ta không dám ép. Thôi thì đường lớn thênh thang ngươi cứ bước, tiểu lộ gập ghềnh ta độc hành.
-Âu Dương huynh…
Âu Dương Nam Lạc bấu mạnh lấy vai Di Thiên Huấn rồi nói:
-Khờ quá! Tuy chúng ta tuy không cùng chí hướng nhưng sau này gặp lại vẫn là huynh đệ tốt.
-Đúng vậy! Cái hình ảnh năm xưa Âu Dương đại ca đốt chòi khoai để tỏ can trường vẫn còn in rất rõ trong lòng đệ.
-Đừng nhắc lại chuyện xưa mà khiến ta hổ thẹn, thật ra cái chòi đó từ lâu đã không còn khoai.
Âu Dương Nam Lạc cười to rồi nói tiếp:
-Còn chuyện này nữa, việc ta thoái ẩn chỉ có Di huynh hay biết. Chờ khi ta đi xa rồi hãy báo lại với minh công, lúc đó có cho khoái mã đuổi theo cũng không kịp.
-Được! Huynh cứ an tâm lên đường.
-Bảo trọng nhé huynh đệ. Hãy làm một hảo hán!
Di Thiên Huấn bóp chặt hai tay Nam Lạc:
-Huynh đệ! Bảo trọng!
Nói xong Âu Dương Nam Lạc quất ngựa phi thẳng bỏ lại Di Thiên Huấn vẫn dõi mắt trông theo đến khi khuất bóng.
Kể đến Vương Trung Phu sau ngày từ giã đã thoái ẩn sơn lâm suốt ngày sống thanh nhàn, di thân dưỡng thể, tu tiên học đạo. Không lâu sau gặp hai vị tiên nhân và được truyền thụ khẩu quyết luyện đan Toàn Chân Ý. Sau đó Vương Trung Phu đến Chung Nam Sơn lập ra Toàn Chân Giáo, thu nhận đệ tử từ khắp ngũ hồ tứ hải. Từ đó Vương Trung Phu chuyên tâm tu luyện, nghiên cứu Đạo giáo. Ông cảm thấy việc ngộ đạo như là được chết đi sống lại nên đổi tên thành Vương Trùng Dương.
Lại nói về Mãnh Như Long Âu Dương Nam Lạc, sau ngày bái biệt ở Hồ Châu thì vân du khắp nơi, phiêu bạt giang hồ. Một hôm đi đến Thành Đô, Nam Lạc đang dạo chơi ngoài thị phố thì có một chiếc khăn lụa nương theo làn gió rơi xuống vai. Âu Dương Nam Lạc cầm chiếc khăn nhìn theo hướng gió thì thấy trên Nghinh Xuân Lầu có một cô gái đang nhìn mình. Đoán cô gái kia là chủ của chiếc khăn, Nam Lạc tìm đến tận nơi trao trả. Cô gái đó tên Mạc Tố - một ca nữ nổi tiếng tại Nghinh Xuân Lầu, là hoa khôi trong số hoa khôi tại Thành Đô Phủ. Mạc Tố tuy là gái phong trần nhưng cốt cách thanh kỳ, bán nghệ không bán thân. Hai người vừa gặp đã phải lòng nhau. Tuy Âu Dương Nam Lạc đã nhiều lần lên tiếng đòi chuộc thân cho Mạc Tố nhưng Dung Đại Má – tú bà của lầu Nghinh Xuân nhất quyết không cho. Cuối cùng họ phải bỏ trốn đến vùng Tây Vực xa xôi để sống một cuộc sống uyên ương. Không lâu sau Mạc Tố hạ sinh một đứa bé trai. Vì cuộc tình của họ được khởi đầu từ một cơn gió nên đặt tên cho đứa bé chỉ một chữ Phong. Từ đó gia đình ba người sống nương tựa lẫn nhau. Còn con người, khí độ và tài hoa của cậu bé Âu Dương Phong ra sao thì phải kể ở một giai thoại khác.
Bây giờ lại kể về Doãn Văn, sau khi thiên đô về Lâm An thì lên ngôi hoàng đế, lấy vương hiệu là Cao Tông, lập ra triều Nam Tống. Tống Cao Tông cho xây lầu đền cung điện tại Lâm An Phủ, tổ chức lại bộ máy quan lại triều đình, chém hơn sáu mươi tham quan, thăng cấp toàn bộ các quan viên lớn nhỏ. Sau đó phong hầu ban tước cho các công thần.
Không lâu sau, một hôm Yên Tử diện kiến Cao Tông, dâng lên một bản tấu chương và nói:
-Bẩm hoàng thượng! Đây là tâm huyết hai năm qua của nhi thần. Trong đó có phương lực trị quốc. Hoàng thượng mới đăng cơ thì chủ yếu phải bớt lao dịch, giảm thuế má để cho dân chúng được nghỉ ngơi. Quốc sách trong mười năm và hai mươi năm trong tương lai nhi thần đã viết lên đây, hoàng thượng có thể coi duyệt tùy ý.
Tống Cao Tông lộ vẻ bàng hoàng:
-Nay trẫm là thiên tử, Yên khanh gia cũng đã là thừa tướng. Vậy việc trí lý thiên hạ đã có Yên khanh gia lo liệu, trẫm đâu có cần lo lắng nữa?
-Thiên hạ khó tránh cảnh chia tay, đã tới lúc Yên Tử phải xin cáo từ.
-Sao? Khanh cũng muốn đi? Thiên hạ còn chưa định, trẫm còn nhiều việc phải thọ giáo nơi thừa tướng.
-Vì đại cuộc đã định, đơn giản là hoàng thượng không còn cần Yên Tử nữa.
-Khanh đã theo ta vất vả bao năm, nay chưa được cộng hưởng vinh hoa thì đã vội cáo biệt.
-Hoàng thượng! Yên Tử đã quyết ý rồi, mong hoàng thượng ân chuẩn.
Cao Tông ra vẻ mệt mỏi:
-Hôm nay trẫm cảm thấy long thể bất an, chuyện này mai mốt mới tính. “Người đâu, tiễn thừa tướng về phủ”.
-Hoàng thượng! Hoàng thượng.
Cao Tông nhanh chân bước về tẩm cung, bỏ lại một mình Yên Tử. Yên Tử vẫn không bỏ cuộc, liên tiếp ba lần cầu kiến thánh thượng trong một ngày nhưng đều bị từ chối. Ông quyết định quỳ trước thư phòng chờ cho tới khi vua triệu kiến. Đêm hôm đó, cả người quỳ bên ngoài lẫn người bên trong đều không thấy dễ chịu. Cuối cùng, Doãn Văn đành phải tiếp kiến Yên Tử. Yên Tử bước vào quỳ lạy, Doãn Văn vội đỡ dậy rồi thở dài, nói:
-Nhớ năm xưa thì có Tiêu Hà nguyệt hạ truy Hàn Tín, ngày nay lại có Yên Tử ba lần cáo Doãn Văn. Xưa có câu chỉ có thể giữ người muốn ở lại, không bao giờ buộc nổi chân người muốn ra đi. Nay nếu thừa tướng đã quyết ý thì ta cũng vô phương ép buộc.
-Tạ ơn hoàng thượng cho toại.
Yên Tử chấp tay nói tiếp:
-Bẩm hoàng thượng! Yên Tử còn có vài lời muốn nói.
-Yên khanh gia cứ nói thẳng.
-Hãy đối xử tốt với bá tánh, đối xử tốt với công thần. Còn Tần Cối. Con người này cổ cao miệng nhọ là tướng phản phúc gian thần, không nên quá tin dùng.
-Tần Cối chẳng qua chỉ là một gã nho sĩ, hắn làm sao trở thành nguy hiểm được. Ái khanh đã quá lo xa.
-Những lời muốn nói thần đã nói hết, xin hoàng thượng bảo trọng long thể. Nhi thần cáo biệt.
-Yên khanh cũng nhớ bảo trọng. Khi nào muốn quay về thì hoàng cung luôn rộng cửa chờ đón khanh.
Cúi lạy xong Yên Tử lui ra. Sáng hôm sau, khi nghe tin Yên Tử từ quan thoái ẩn, bọn Tần Vinh, Điền Bảo, Nhạc Phi và huynh muội họ Di đến đưa tiễn. Yên Tử nói:
-Yên Tử hôm nay cáo biệt không biết bao giờ mới được dịp gặp lại các vị. Chỉ có vài lời muốn các vị để trong lòng.
Nhạc Phi nói:
-Xin thừa tướng cứ dạy bảo.
-Cho dù bất cứ việc gì xảy ra đi nữa miễn sao những việc các vị đã làm đều không thẹn với trời cao, không thẹn với giang sơn xã tắc là được. Công đạo ở tại lòng người, còn đúng sai thì phải coi thời thế, thời thế đổi thay lòng người cũng thay đổi. Đó là lời thật mà Yên Tử muốn các vị khắc ghi. Cũng đã muộn, Yên Tử cáo từ. Các vị bảo trọng.
Cả bọn đồng thanh:
-Thừa tướng bảo trọng.
Sau ngày Yên Tử thoái ẩn điền viên, Tống Cao Tông không nghe lời khuyên trước kia mà vẫn tin dùng Tần Cối. Một hôm Tần Cối tìm đến Cao Tông buông lời dèm pha rằng:
-Bẩm hoàng thượng! Gần đây trong triều có nghe nhiều lời to nhỏ không hay. Họ nói là các vị tướng quân khai quốc khi uống say thường hay kể lại khoe khoang chiến tích của mình. Đôi khi còn buông lời so sánh có phần tài giỏi hơn hoàng thượng.
Tống Cao Tông nổi giận quát:
-To gan! Ngươi dựa vào cái gì mà muốn chia rẽ các huynh đệ sinh tử của ta?
Tần Cối vội vã quỳ xuống thưa:
-Hoàng thượng bớt giận! Nhi thần cho dù có chín cái đầu cũng không dám mở lời xàm ngôn trước mặt hoàng thượng. Hoàng thượng anh minh thần võ, tài trí vô song mà lại bị đám người kia đem so sánh ngang hàng thì quả thật là thần không sao nhịn được. Cúi mong hoàng thượng thánh minh.
-Hãy đứng dậy! Vậy theo ý ngươi trẫm phải làm sao?
-Từ xưa đến nay các vị thái tổ khai quốc thường không để cho các khai quốc công thần chung sống gần nhau. Vì sợ họ tự nghĩ mình công lao hiển hách, nếu có gì không vừa lòng thì dễ dàng làm phản.
-Ý của khanh là?
-Bẩm hoàng thượng! Theo ngu kiến của nhi thần thì phong cho ba vị Tần tướng quân, Điền tướng quân và Di tướng quân trấn thủ ở ba nơi khác nhau. Nếu họ nghe theo thì chứng tỏ vẫn một lòng trung thành với hoàng thượng, còn bằng không thì họ đã có vị lòng.
Trong buổi tảo triều sáng hôm sau, Tống Cao Tông cho một thái giám tuyên chỉ:
“Hiện nay các vùng quan ngoại thường xuyên có xung đột, trẫm sợ việc này kéo dài lâu ngày sẽ sinh biến. Nay phong cho ba vị tướng quân Tần Vinh, Điền Bảo, Di Thiên Huấn làm Tổng Binh Đại Tướng Quân, lập tức đến trấn giữa ở ba nơi Lô Châu, Quan Độ và Định An”
Cả ba người bước ra đồng thanh:
-Tạ ơn hoàng thượng.
Lỗ Thể Ngân bước ra tâu:
-Bẩm hoàng thượng! Năm xưa vì thế cuộc loạn lạc nên nhi thần gác bỏ chuyện gia nghiệp. Nay thế cuộc đã định nhi thần muốn trở về Giang Tô để gầy dựng lại nghề cất rượu của gia phụ, phát dương Tửu Kinh Thập Tam Huyết.
Tống Cao Tông rầu rĩ:
-Ngay cả Lỗ ái khanh cũng muốn bỏ trẫm hay sao?
-Tuy nhi thần rời khỏi kinh thành nhưng vẫn có thể làm quan. Dám xin hoàng thượng phong cho chức Đốc Tửu Quan ở Giang Tô. Khi đó hằng năm nhi thần vẫn có thể dâng ngự tửu để hoàng thượng hưởng dụng.
-Nếu Lỗ khanh gia đã quyết ý thì trẫm cũng không miễn cưỡng! Chuẩn tấu.
“Bãi triều”
Tiếng hô kéo dài não ruột của tên thái giám già. Cánh cửa của chính điện từ từ khép lại, ánh sáng cũng dần mờ đi, Doãn Văn vẫn ngồi lại chiếc ngai vàng tối tăm mà tự hỏi:
-Nhớ khi xưa tụ nghĩa ở Lương Sơn náo nhiệt biết bao nhiêu, giờ đây chỉ còn một mình ta lẻ loi. Chẳng lẽ Doãn Văn ta đã sai?…
Góp ý cho tác giả ở
http://tangthuvien.com/forum/showthread.php?t=29977
vBulletin® v3.8.5, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.