PDA

View Full Version : Tiếu Ngạo Giang Hồ


dendende
02-01-2008, 09:18 PM
Tóm tắt nội dung (Nguồn Wikipedia)

Khác với nhiều tiểu thuyết được gắn với các giai đoạn lịch sử của Trung Hoa (ví dụ như Anh hùng xạ điêu vào thời Nam Tống, Thiên long bát bộ vào thời Bắc Tống, Ỷ thiên đồ long ký vào thời Nguyên - Minh...), tác phẩm Tiếu ngạo giang hồ không chỉ rõ thời đại lịch sử của câu chuyện. Tuy nhiên, ta có thể suy đoán diễn biến câu chuyện xảy ra dưới triều đại nhà Minh, sau thời đại của Trương Tam Phong, sau khi các phái Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân đã ra đời và nổi danh trên giang hồ.

[sửa] Tịch tà kiếm phổ của họ Lâm
Moi tranh chấp trong Tiếu ngạo giang hồ đều bắt nguồn từ những huyền thoại về Tịch Tà kiếm pháp của họ Lâm (Lâm Viễn Đồ). Trong quá khứ, Lâm Viễn Đồ ban đầu là một nhà sư, sau đó vô tình nhận được một phần bí kíp Quỳ hoa bảo điển, đã hoàn tục, rời chùa Thiếu Lâm, lập gia đình, lập ra Phước Oai tiêu cục. Ông trở thành một cao thủ kiếm thuật, sử dụng 72 đường kiếm gọi là Tịch Tà kiếm pháp đánh bại nhiều cao thủ (trong đó có đệ nhất kiếm thuật Trương Thanh Tử thuộc phái Thanh Thành) và bí kíp Tịch tà kiếm pháp đã khiến nhiều nhân vật giang hồ thèm muốn. Tuy nhiên, Lâm Viễn Đồ hiểu tác hại của Tịch tà kiếm pháp nên đã không cho con cháu mình luyện tập. Đến đời cháu của Lâm Viễn Đồ là Lâm Chấn Nam làm chủ Phước Oai tiêu cục, phái Thanh Thành mà lúc đó đứng đầu là Dư Thương Hải đã tàn sát cả Phước Oai tiêu cục (lấy cớ báo thù cho tiền nhân phái Thanh Thành và cho con trai y), bắt cóc hai vợ chồng Lâm Chấn Nam nhằm chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ. Con trai của Lâm Chấn Nam là Lâm Bình Chi đã lưu lạc giang hồ để báo thù và vô tình gia nhập phái Hoa Sơn, một môn phái trong liên minh Ngũ Nhạc kiếm phái (thực ra là dưới vở kịch được dàn dựng của Nhạc Bất Quần, chưởng môn phái Hoa Sơn).

[sửa] Khúc Tiếu ngạo giang hồ được cất lên
Tiếu ngạo giang hồ là tên bản nhạc cầm tiêu hợp tấu do hai người là Lưu Chính Phong phái Hành Sơn (cao thủ thổi tiêu) và Khúc Dương của Nhật Nguyệt thần giáo (cao thủ chơi thất huyền cầm) cùng nhau sáng tác. Hai người kết bạn tri kỷ, Lưu Chính Phong định ở ẩn để cùng Khúc Dương tiêu dao nhưng đã bị phái Tung Sơn ngăn trở, giết chết cả gia đình và đánh cả hai trọng thương. Trước khi chết, cả hai đã cùng nhau chơi lần cuối bản nhạc này, sau đó khẩn cầu Lệnh Hồ Xung lưu truyền hậu thế bản nhạc này, rồi cùng nhau chết ở núi Hành Sơn. Cũng đồng thời, ở núi Hành Sơn, vợ chồng Lâm Chấn Nam trước khi chết đã nhờ Lệnh Hồ Xung căn dặn Lâm Bình Chi không luyện tập bí kíp Tịch tà kiếm pháp mà tổ tiên đã truyền lại.

[sửa] Độc cô cửu kiếm
Lệnh Hồ Xung là nhân vật chính của tiểu thuyết. Khi xuống thành Hành Dương, đã cứu Nghi Lâm, ni cô phái Hằng Sơn khỏi tay Điền Bá Quang, được truyền lại khúc Tiếu ngạo giang hồ, trở về núi Hoa Sơn đã bị sư phụ mình là Nhạc Bất Quần phạt trên núi xám hối. Ở đó, Lệnh Hồ Xung đã có duyên được thái sư thúc của mình là Phong Thanh Dương truyền thụ Độc cô cửu kiếm, bí kíp kiếm thuật tối thượng, từ đây, Lệnh Hồ Xung trở thành cao thủ đệ nhất kiếm thuật, đánh bại mọi cao thủ bằng kiếm thuật. Lệnh Hồ Xung vô tình bị Đào cốc lục tiên gây trọng thương mất hết nội lực, kiệt sức gần chết, phải lưu lạc giang hồ.

[sửa] Tranh đoạt Tịch tà kiếm phổ
Lệnh Hồ Xung bị đồng môn hiểu lầm là chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ, tư thông với Nhật Nguyệt thần giáo (bị giới chính giáo gọi là Ma giáo) và bị đuổi khỏi phái Hoa Sơn. Trên đường lang thang giang hồ, chàng đã trở nên nổi tiếng nhờ dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại nhiều cao thủ, kết bạn với nhiều kỳ nhân dị sĩ trên giang hồ và đặc biệt là yêu Nhậm Doanh Doanh, con gái của giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo Nhậm Ngã Hành, vô tình bị rơi vào những âm mưu tranh đoạt Tịch tà kiếm phổ của các môn phái.

[sửa] Vang khúc Tiếu ngạo giang hồ

Cuối cùng, Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh đã trở thành những truyền nhân thực sự của khúc Tiếu Ngạo giang hồ, Lệnh Hồ Xung sử dụng đàn cầm, Doanh Doanh thổi tiêu, cùng nhau hợp tấu. Cả hai đã vượt qua nhiều sóng gió giang hồ, phá những âm mưu đen tối của nhiều nhân vật, đem lại hòa bình cho giang hồ. Đoạn kết, cả hai cùng nhau ngao du sông núi, cùng nhau tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ.

[sửa] Các nhân vật chính

[sửa] Ngũ nhạc kiếm phái (五嶽劍派)

Ngũ nhạc kiếm phái là một liên minh giữa 5 môn phái võ lớn nằm ở năm quả núi (mà người Trung Quốc gọi là Ngũ Nhạc gồm có Đông nhạc Thái Sơn, Tây Nhạc Hoa Sơn, Nam Nhạc Hành Sơn, Bắc Nhạc Hằng Sơn và Trung Nhạc Tung Sơn mà tại thời điểm đó, chưởng môn phái Tung Sơn là Tả Lãnh Thiền (左冷禪 - Zuo Lengchan) được tôn là minh chủ của Ngũ Nhạc kiếm phái. Đặc điểm chung của Ngũ Nhạc kiếm phái là các môn phái đều lấy kiếm thuật làm môn võ học trung tâm. Ở gần cuối tiểu thuyết, Tả Lãnh Thiền thực hiện âm mưu thống nhất Ngũ Nhạc kiếm phái thành một phái duy nhất gọi là Ngũ Nhạc phái, nhưng lại bị Nhạc Bất Quần âm thầm đoạt chức vị chưởng môn.

[sửa] Phái Hoa Sơn (華山派)

Phái Hoa Sơn có bản doanh nằm trên dãy Hoa Sơn của tỉnh Thiểm Tây nổi danh với Hoa Sơn kiếm pháp và Tử hà thần công. Phái Hoa Sơn có 2 trường phái tranh chấp nhau là phe kiếm tông lấy chiêu số kiếm thuật làm trung tâm (mà điển hình là Phong Bất Bình, Thành Bất Ưu, Bảo Bất Khí...), phe khí tông lấy việc rèn luyện nội công làm điểm mạnh. Hai phe phái này từng gây mâu thuẫn cực điểm trong quá khứ và gây một cuộc chém giết đẫm máu khiến cho các nhân tài phái Hoa Sơn bị tiêu diệt. Tại thời điểm hiện tại của câu chuyện, Hoa Sơn còn những nhân vật chính:

Lệnh Hồ Xung (令狐沖 - Linghu Chong): Là nhân vật chính của tiểu thuyết. Lệnh Hồ Xung vốn là đứa trẻ lang thang không gia đình, được vợ chồng chưởng môn Nhạc Bất Quần - Ninh Trung Tắc đem về nuôi nấng từ nhỏ và trở thành đại đệ tử của chưởng môn Nhạc Bất Quần. Lệnh Hồ Xung bản tính chính trực, ngay thẳng, thông minh tuyệt đỉnh, nhưng lại ham mê uống rượu, có lối sống lãng tử, thích tự do. Lệnh Hồ Xung xả thân cứu tiểu ni cô Nghi Lâm phái Hằng Sơn khỏi bàn tay của Điền Bá Quang, rồi vô tình phạm môn quy và cũng nhờ đó gặp kỳ duyên được thái sư thúc Phong Thanh Dương truyền cho kiếm thuật kì diệu Độc cô cửu kiếm và trở thành một tay kiếm thủ hầu như không có địch thủ. Chàng lang thang giang hồ, kết bạn với đủ các thành phần từ tà đến chính, truyền bá khúc Tiếu ngạo giang hồ, được các hào sĩ giang hồ kính trọng. Lệnh Hồ Xung bị chính sư phụ của mình là Nhạc Bất Quần đổ oan là ăn cắp Tịch tà kiếm phổ, bị nhiều người hiểu lầm và bị trọng thương nặng gần chết. Trên đường lang thang giang hồ, chàng kết bạn với Nhậm Doanh Doanh và sau đó yêu nàng, cùng nàng cầm tiêu hợp tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ, hóa giải những hiểu lầm, chém giết trong giới giang hồ đầy sóng gió, phá tan những âm mưu đen tối của giang hồ. Lệnh Hồ Xung ban đầu yêu nàng Nhạc Linh San, nhưng sau khi nàng hờ hững với chàng, chàng đã thất tình không muốn sống, phiêu bạt giang hồ, vô tình kết duyên cùng Thánh cô Ma giáo Nhậm Doanh Doanh, và trở thành truyền nhân đắc ý của 2 bí kíp tối thượng: bí kíp kiếm thuật Độc cô cửu kiếm và khúc nhạc kỳ diệu Tiếu ngạo giang hồ. Trên quãng đường phiêu bạt giang hồ, Lệnh Hồ Xung đã sử dụng Độc cô cửu kiếm đánh bại hầu hết các cao thủ kiếm thuật, vô tình luyện thành môn Hấp tinh đại pháp, đồng thời cũng có duyên được truyền thụ bí kíp nội công thượng thừa của phái Thiếu Lâm là Dịch cân kinh.

Phong Thanh Dương (風清揚 - Feng Tsingyang): Là thái sư thúc của Lệnh Hồ Xung, hay sư thúc của chưởng môn phái Hoa Sơn Nhạc Bất Quần. Phong Thanh Dương được liệt vào hàng ngũ đại diện cho phái kiếm tông của phái Hoa Sơn, tính tình tự do, phóng khoáng, ghét các lề luật, quy củ giang hồ. Phong Thanh Dương là truyền nhân tiêu biểu của Độc cô cửu kiếm, đã đưa kiếm thuật thoát ra khỏi những hạn chế của kiếm tông (lấy chiêu số kiếm thuật làm căn bản), đồng thời là bạn vong niên của Lệnh Hồ Xung. Phong Thanh Dương may mắn thoát khỏi kiếp nạn chém giết của phái Hoa Sơn, một mình giết 10 trưởng lão Nhật Nguyệt thần giáo nhờ kiếm thuật thần kỳ Độc cô cửu kiếm, ẩn cư ở hậu động trên đỉnh Ngọc nữ phong trên dãy Hoa Sơn. Duyên kỳ ngộ giữa Phong Thanh Dương và Lệnh Hồ Xung khiến ông đem toàn bộ bí quyết Độc cô cửu kiếm truyền cho Lệnh Hồ Xung, sau đó lặng lẽ ngấm ngầm giúp đỡ chàng rồi lại mất tích, như con thần long phiêu hốt, thấy đầu mà không thấy đuôi. Trong quá khứ, Phong Thanh Dương cũng là một chàng trai sôi nổi, tự do như Lệnh Hồ Xung, từng làm nhiều việc nghĩa hiệp, được những tiền bối võ lâm kính trọng (Phong Thanh Dương từng giúp đỡ phái Thiếu Lâm...).

Nhạc Bất Quần (岳不羣 - Yue Buqun): Là chưởng môn nhân phái Hoa Sơn, sư phụ của Lệnh Hồ Xung. Nhạc Bất Quần là đại diện tiêu biểu của phái Khí tông trong Hoa Sơn với môn Tử Hà thần công. Nhạc Bất Quần có ngoại hiệu là Quân tử kiếm, nhưng kỳ thực là một kẻ ngụy quân tử, miệng nói điều nhân nghĩa lễ trí tín nhưng kỳ thực thì ngấm ngầm tiến hành những âm mưu thủ đoạn để chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ: dựng màn kịch để lừa Lâm Bình Chi vào phái Hoa Sơn, dùng con gái làm mồi nhử để độc chiếm Tịch tà kiếm phổ, đổ vạ lên đại đệ tử Lệnh Hồ Xung, ngấm ngầm hạ độc thủ giết hai vị sư thái phái Hằng Sơn, hại chết vợ, ham muốn quyền lực, thủ đoạn tàn nhẫn... Nhạc Bất Quần dù đoạt được Tịch tà kiếm phổ, nhưng phải dẫn đao tự cung (tự hoạn mình) để luyện, đánh bại Tả Lãnh Thiền để đoạt chức chưởng môn Ngũ Nhạc phái, nhưng cuối cùng vẫn phải bại trận dưới Độc cô cửu kiếm của Lệnh Hồ Xung, bị buộc uống Tam thi não thần đan, bị chết dưới tay các ni cô phái Hằng Sơn. Nhạc Bất Quần là đại diện tiêu biểu của những kẻ tiểu nhân, ngụy quân tử, tham vọng quyền lực chính trị.

Ninh Trung Tắc (寧中則 - Ning Zhongze): còn được gọi là Ninh nữ hiệp, Nhạc phu nhân, là vợ của Nhạc Bất Quần, sư mẫu của Lệnh Hồ Xung. Bà là người ngay thẳng, trọng tín nghĩa, cứng rắn (ngay cả Nhậm Ngã Hành của Nhật Nguyệt thần giáo cũng rất kính trọng bà). Bà thương yêu Lệnh Hồ Xung như con đẻ và rất hiểu chàng. Khi nhận ra bộ mặt thật của Nhạc Bất Quần, bà đau lòng tự sát.

Nhạc Linh San (岳靈珊 - Yue Lingshan): Là con gái của Nhạc Bất Quần và Ninh nữ hiệp Ninh Trung Tắc. Ban đầu nàng yêu Lệnh Hồ Xung (do hai người sống cùng nhau từ bé nên rất thân nhau, từng cùng Lệnh Hồ Xung sáng tạo ra Xung Linh kiếm pháp). Nhưng từ khi Lâm Bình Chi gia nhập phái Hoa Sơn, nàng đã yêu Lâm Bình Chi và hờ hững với Lệnh Hồ Xung. Nàng bị cha là Nhạc Bất Quần đem làm vật tế thần để lừa lấy Tịch tà kiếm pháp nhà họ Lâm, lấy một ông chồng đã dẫn đao tự cung, không được hưởng hạnh phúc của những người con gái mới cưới (chưa từng biết ái ân chăn gối do Lâm Bình Chi cũng tự thiến để luyện Tịch tà kiếm phổ). Cuối cùng nàng bị Lâm Bình Chi sát hại, nhưng đến lúc chết vẫn yêu Lâm Bình Chi, vẫn căn dặn Lệnh Hồ Xung bảo vệ chàng.

Lâm Bình Chi (林平之 - Lin Pingzhi): Nhân vật đáng thương nhất trong Tiếu ngạo giang hồ. Chàng nỡ tay giết chết con trai Dư Thương Hải để bảo vệ Nhạc Linh San và chịu cảnh nhà tan cửa nát: toàn bộ tiêu cục bị tàn sát, bố mẹ bị Dư Thương Hải bắt hành hạ cho đến chết. Chàng rơi vào vở kịch mở sẵn của Nhạc Bất Quần phải nhập phái Hoa Sơn, quyết tâm báo thù. Lâm Bình Chi đã đoạt được bí kíp Tịch tà kiếm phổ (khi Nhạc Bất Quần vứt xuống vực) và dẫn đao tự cung để luyện (hi sinh hạnh phúc hôn nhân), và nhận ra bộ mặt thật của Nhạc Bất Quần. Cuối cùng Lâm Bình Chi giết được Dư Thương Hải, Mộc Cao Phong trả thù cho cha mẹ, nhưng bị mù mắt, buộc phải giết Nhạc Linh San để theo Tả Lãnh Thiền (cũng bị mù mắt do Nhạc Bất Quần đâm), kết cục bị Lệnh Hồ Xung bắt giam dưới đại lao Tây Hồ.

Lao Đức Nặc (勞德諾 - Lao Denuo): Là đệ tử thứ hai của Nhạc Bất Quần, thực chất là gián điệp của Tả Lãnh Thiền cài vào Hoa Sơn để theo dõi. Lao Đức Nặc đã ăn trộm Tử Hà bí lục, giết chết Lục Đại Hữu... cuối cùng bị Nhậm Doanh Doanh bắt xích với 2 con khỉ.

Lục Hầu Nhi (六猴儿 - Liu Hou'er) tên thật là Lục Đại Hữu (陸大有 - Lu Dayou): Là đệ tử thứ sáu của Nhạc Bất Quần, rất kính trọng Lệnh Hồ Xung và luôn chăm sóc cho chàng. Lục Đại Hữu từng đem bí kíp Tử Hà thần công cho Lệnh Hồ Xung luyện và sau đó bị Lao Đức Nặc sát hại.

Phong Bất Bình (封不平 - Feng Buping): Một đại biểu của phái kiếm tông Hoa Sơn, cùng vai vế với Nhạc Bất Quần. Y từng nhờ Tả Lãnh Thiền can thiệp để giành lại ngôi vị chưởng môn. Phong Bất Bình nổi tiếng với Cuồng phong khoái kiếm, nhưng đều bị Lệnh Hồ Xung dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại (cùng với các sư đệ khác của y là Thành Bất Ưu, Bảo Bất Khí...).

[sửa] Phái Hành Sơn (衡山派)

Là kiếm phái có bản doanh ở thành Hành Dương dưới chân dãy núi Hành Sơn của tỉnh Hồ Nam. Phái Hành Sơn nổi tiếng với các cao thủ kiếm thuật đều mê âm nhạc, những chiêu thức đều gắn liền với âm nhạc. Có hai nhân vật của phái Hành Sơn góp phần tạo nên những sóng gió của Tiếu ngạo giang hồ:

Mạc Đại tiên sinh (莫大 - Mo Da): Là chưởng môn nhân phái Hành Sơn, rất ít khi ra mặt. Ông có dáng người gày gò, ăn mặc rách rưới, lang thang như một người ăn xin. Mạc Đại tiên sinh mê âm nhạc, sử dụng cây hồ cầm, chuyên chơi bản Tiêu Tương dạ vũ (Đêm mưa trên bến Tiêu Tương) nên còn được gọi là Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh. Mạc Đại tiên sinh nổi tiếng với kiếm thuật thần kỳ, sử dụng cây liễu kiếm, được ca ngợi là cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm thanh (trong đàn giấu kiếm, kiếm phát âm nhạc). Mạc Đại tiên sinh bất đồng chính kiến về âm nhạc với sư đệ của mình là Lưu Chính Phong (bị người đời hiểu nhầm là ganh tị với sư đệ) và rất ít khi xuất hiện. Ông chỉ xuất hiện vài lần nhưng để lại những dấu ấn rất đặc sắc: ở đầu tiểu thuyết xuất hiện như một người ăn mày, dùng một đường kiếm cắt đứt bảy chén trà; xuất hiện trên núi Hành Sơn giết chết Đại tung dương thủ Phí Bân, cứu Lệnh Hồ Xung, Nghi lâm, Khúc Dương, Lưu Chính Phong, Khúc Yên Phi; sau đó lại biến mất, rồi lại xuất hiện trên bến sông Trường Giang bày tỏ cảm kích với Lệnh Hồ Xung, ra mặt ủng hộ mối tình của chàng với Nhậm Doanh Doanh, giục chàng đi cứu nàng, còn mình ngấm ngầm bảo vệ phái Hằng Sơn... Cuối cùng, ông bị sát hại trong hậu động trên núi Hoa Sơn bởi âm mưu của Nhạc Bất Quần và Tả Lãnh Thiền.

Lưu Chính Phong (劉正風 - Liu Zhengfeng): Là sư đệ của Mạc Đại tiên sinh, cao thủ kiếm thuật và thổi tiêu của phái Hành Sơn. Lưu Chính Phong kết bạn tri kỷ với Khúc Dương qua tiếng đàn, cùng nhau tri giao sáng tác ra khúc Tiếu ngạo giang hồ, định rút lui ở ẩn khỏi giang hồ để cùng Khúc Dương ngao du chơi nhạc. Không ngờ Tả Lãnh Thiền âm mưu cản trở, giết chết cả nhà ông, hạ nhục danh dự. Ông và Khúc Dương cùng chết trên núi Hành Dương, trước khi chết còn kịp cùng nhau tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ và sau đó nhờ Lệnh Hồ Xung truyền lại khúc nhạc này. Có thể nói, Lưu Chính Phong dù xuất hiện rất ngắn, nhưng là người đóng vai trò quan trọng trong bi kịch Tiếu ngạo giang hồ.

[sửa] Phái Hằng Sơn (恆山派)

Phái Hằng Sơn nằm trên dãy núi cao Hằng Sơn ở Hà Bắc, là kiếm phái được sáng lập bởi những nhà nữ tu hành (hay các ni cô), đời đời đệ tử đều là nữ giới (bao gồm cả các nữ tu và đệ tử tục gia).

Định Nhàn sư thái (定閑/定閒 - Ding Xian): Chưởng môn nhân phái Hằng Sơn. Trong ba người đứng đầu phái Hằng Sơn thì Định Nhàn đứng hàng thứ hai (sau Định Tĩnh). Bà là người hiền hòa, võ nghệ cao cường. Chính bà là người nhận ra con người thật tốt đẹp của Lệnh Hồ Xung và nhận ra âm mưu của Tả Lãnh Thiền. Bà cùng với Định Dật bị Nhạc Bất Quần sử dụng kim châm bắn chết tại Thiếu Lâm tự. Trước khi chết, bà đã nhường ngôi vị chưởng môn phái Hằng Sơn cho Lệnh Hồ Xung.

Định Dật sư thái (定逸 - Ding Yi): Là người đứng thứ ba ở phái Hằng Sơn. Định Dật tính tình nóng nảy, ngay thẳng nhưng cũng rất nhân hậu. Bà là sư phụ của Nghi Lâm, ngay từ đầu đã lên án phản đối phái Tung Sơn ép buộc Lưu Chính Phong, không tán thành phái này tàn sát gia đình Lưu Chính Phong. Khi cùng với Định Nhàn sư thái lên Thiếu Lâm tự khẩn cầu phái Thiếu Lâm thả Nhậm Doanh Doanh, bà cùng với Định Nhàn đã bị Nhạc Bất Quần sát hại.

Định Tĩnh sư thái (定靜 - Ding Jing): Là chị cả trong ba người đứng đầu phái Hằng Sơn, chỉ xuất hiện một lần ở Tây Hà lĩnh, khi dẫn đệ tử phái Hằng Sơn đến Phúc Kiến. Bà đã phản đối âm mưu của phái Tung Sơn, không theo lời phái Tung Sơn dụ dỗ nhằm hợp nhất (dù phái Tung Sơn từng dụ dỗ sẽ đưa bà lên làm chưởng môn). Định Tĩnh tính tình hiền hòa, đã từng khẩn cầu sư phụ mình đưa sư muội của mình là Định Nhàn làm chưởng môn phái Hằng Sơn. Định Tĩnh bị tay chân của Tả Lãnh Thiền sát hại.

Nghi Lâm (儀琳 - Yi Lin): Là một trong những nhân vật nữ khả ái nhất trong các tác phẩm của Kim Dung. Nghi Lâm là một nhân vật khá đặc biệt. Cô là một ni cô, bố là hòa thượng, mẹ cũng là một ni cô. Cô xuất gia từ nhỏ trong phái Hằng Sơn (là đệ tử của Định Dật), xinh đẹp và có một tâm hồn trong sáng, một trái tim nhân hậu. Khi đến thành Hành Dương, cô đã thầm yêu Lệnh Hồ Xung khi anh chàng này xả thân cứu cô khỏi bàn tay của Điền Bá Quang. Cô yêu Lệnh Hồ Xung bằng một mối tình câm lặng, và luôn khẩn cầu Bồ Tát phù hộ cho chàng. Đồng thời, Nghi Lâm cũng là người rất hiểu Lệnh Hồ Xung, hiểu mối tình si của anh chàng với Nhạc Linh San và thường xuất hiện mỗi khi có những biến cố đặc biệt của Lệnh Hồ Xung. Kết thúc câu chuyện, Lệnh Hồ Xung và đồng môn phái Hằng Sơn tôn cô làm chưởng môn nhưng cô đã nhất quyết không chịu, lặng lẽ tu hành, ngày ngày tụng kinh mong Bồ Tát phù hộ cho vợ chồng Lệnh Hồ Xung.

Ngoài ra phái Hằng Sơn còn nhiều nhân vật nữ khác như Nghi Thanh, Nghi Hòa, Tần Quyên, Vu Tẩu..., đều là nữ giới, có người là tu hành, có người là đệ tử tục gia.
[sửa] Phái Tung Sơn (嵩山派)
Phái Tung Sơn nằm ở trên đỉnh Thái Thất thuộc dãy Tung Sơn ở tỉnh Hà Nam (cùng với phái Thiếu Lâm trên đỉnh Thiếu Thất, đứng đầu là chưởng môn Tả Lãnh Thiền. Tả Lãnh Thiền đã thu nhận nhiều nhân vật từ cả các giới hắc bạch nhằm xây dựng lực lượng hùng hậu nên lúc đó phái Tung Sơn có nhiều cao thủ nhất.

Tả Lãnh Thiền (左冷禪 - Zuo Lengchan): Là chưởng môn phái Tung Sơn. Tả Lãnh Thiền là người có chí lớn, âm mưu thâu tóm Ngũ Nhạc kiếm phái thành một phái duy nhất, rồi sau đó đánh chiếm các môn phái khác... Để thực hiện mong muốn, Tả Lãnh Thiền đã âm thầm thực hiện nhiều mưu kế, từ việc cài cắm gián điệp vào Hoa Sơn (cho đệ tử của mình là Lao Đức Nặc làm môn hạ của Nhạc Bất Quần), giả làm người của Nhật Nguyệt thần giáo ám hại phái Hằng Sơn để nhân lúc nguy nan ép phái này theo mình, tấn công phái Hoa Sơn, gây nội loạn trong phái Thái Sơn, tàn sát gia đình Lưu Chính Phong... Tã Lãnh Thiền đã dùng thủ đoạn đoạt lấy Tịch tà kiếm phổ, nhưng bị Nhạc Bất Quần tương kế tựu kế đưa cho bộ giả nên luyện sai, rốt cuộc bị Nhạc Bất Quần dùng kim châm đâm mù mắt, âm mưu bị phá sản. Cuối cùng, Tả Lãnh Thiền lại dùng kế nhốt quần hùng trong hậu động Hoa Sơn để nhân đêm tối ám hại, nhưng rốt cục vẫn bị Lệnh Hồ Xung sử dụng Độc cô cửu kiếm giết chết.

Các nhân vật khác: Đại Tung Dương Thủ Phí Bân, Lục Bách...
[sửa] Phái Thái Sơn (泰山派)
Phái Thái Sơn nằm ở núi Thái Sơn, trung tâm của Đại giáo, cũng là kiếm phái của những người theo đạo Giáo, phái này tự hủy diệt do sự sắp xếp của Tả Lãnh Thiền gây nên nội bộ tự giết lẫn nhau ngay trong đại hội võ lâm ở Phong Thiền đài.

Thiên Môn đạo nhân (Tian Men): Là chưởng môn phái Thái Sơn, xuất hiện không nhiều. Tại đại hội võ lâm ở Tung Sơn, Thiên môn đạo nhân đã bị sát hại (do chính âm mưu của Tả Lãnh Thiền), và dẫn đến việc phái Thái Sơn tan rã.

Các nhân vật khác: Ngọc Cơ Tử, Ngọc Khánh Tử...

[sửa] Nhật Nguyệt Thần giáo (日月神教)

Là một giáo phái lớn nhất thời điểm đó (có nhiều người cho rằng đây chính là Minh giáo, do chữ Nhật và chữ Nguyệt ghép thành chữ Minh trong chữ Hán, và giáo phái này cũng dùng những chức danh như Minh giáo, ví dụ như Quang Minh tả hữu sứ...). Bản dịch của Hàn Giang Nhạn gọi giáo phái này là Triêu Dương Thần Giáo. Giáo phái này đóng quân ở Hắc Mộc nhai, bị các môn phái khác coi là tà phái (gọi là Ma giáo). Nhưng đây cũng là phái tập hợp nhiều nhân tài, nhiều kỳ nhân dị sĩ. Bất kỳ ai khi theo giáo phái đều bị giáo chủ cho uống một viên thuốc gọi là Tam thi não thần đan để buộc phải phục tùng giáo chủ. Viên thuốc này chứa một con trùng, nếu ai bất phục sẽ bị con trùng chui ra, cắn vào óc khiến người đó chịu một cái chết khủng khiếp.

Nhậm Ngã Hành (任我行 - Ren Woxing): Ban đầu là giáo chủ Nhật nguyệt thần giáo, sau bị thuộc hạ của mình là Đông Phương Bất bại ám hại và đoạt mất chức. Nhậm Ngã Hành bị giam dưới hắc lao đáy Tây Hồ, được canh giữ bởi Giang Nam tứ hữu. Nhậm Ngã Hành võ nghệ cao cường Hấp tinh đại pháp, chuyên đi hút công lực của người khác, kiếm thuật siêu đẳng (chỉ bị đánh bại bởi Phong Thanh Dương), tính tình kiêu ngạo, ngông cuồng. Nhờ mưu kế của Hướng Vấn Thiên, và sự trợ giúp vô ý của Lệnh Hồ Xung, Nhậm Ngã Hành đã tẩu thoát khỏi đại lao, quay lại chiếm đoạt lại ngôi giáo chủ. Sau khi giết chết đối thủ Đông Phương Bất Bại, Nhậm Ngã Hành lên ngôi giáo chủ, âm mưu thống nhất giang hồ, nhưng không ngờ bị chết đột ngột do sự xung đột từ chính những luồng chân khí mà ông ta hút từ các đối thủ. Cái chết của Nhậm Ngã Hành chính là nút mở, hóa giải những ân oán giang hồ và tạo nên hòa bình cho giang hồ ở cuối câu chuyện. Khi còn sống, Nhậm Ngã Hành luôn tự cao tự đại, cái tên của y có nghĩa là Ta thích là ta làm.

Ba người mà ông khâm phục là:

1. Phương Chấn đại sư, chưởng môn phái Thiếu Lâm
2. Đông Phương Bất Bại, người đã ám hại và chiếm đoạt ngôi giáo chủ của y
3. Phong Thanh Dương phái Hoa Sơn với Độc cô cửu kiếm thần kỳ đánh bại y
4. Xung Hư đạo trưởng phái Võ Đang chỉ được Nhậm Ngã Hành phục một nửa, do ông dù võ công cao cường, nhưng lại không có truyền nhân để truyền lại các tuyệt kỹ phái Võ Đang. Khi Xung Hư nhận thua Lệnh Hồ Xung, Nhậm Ngã Hành đã tăng phần khâm phục.
Người đứng đầu trong những người mà Nhậm Ngã Hành không phục là Tả Lãnh Thiền.

Đông Phương Bất Bại (東方不敗 - Dongfang Bubai): Ban đầu là phó giáo chủ dưới quyền Nhậm Ngã Hành. Sau đó, Đông Phương Bất Bại đã đoạt chức giáo chủ, âm thầm luyện bí kíp Quỳ Hoa bảo điển, và buộc phải tự thiến mình để luyện công. Y trở thành một con người ái nam ái nữ, yêu chàng trai Dương Liên Đình, bỏ mặc việc của giáo phái. Đông Phương Bất Bại có võ công cao cường nhất (Lệnh Hồ Xung sử dụng Độc cô cửu kiếm cũng không đánh bại được), và chỉ chịu thất bại nhờ mưu kế của Nhậm Doanh Doanh. Đông Phương Bất Bại bị Nhậm Ngã Hành giết chết, trước khi chết vẫn cầu khẩn Nhậm Ngã Hành chăm sóc cho Dương Liên Đình nhưng không được chấp nhận.

Nhậm Doanh Doanh (任盈盈 - Ren Ying Ying), là con gái của Nhậm Ngã Hành, sau này là người yêu của Lệnh Hồ Xung. Nàng giỏi âm nhạc nên đã vô tình được truyền thụ khúc Tiếu ngạo giang hồ, cũng vô tình nhờ đó mà nhận ra con người đích thực của Lệnh Hồ Xung và đã ngay lập tức yêu chàng trai này. Do nàng có ơn với nhiều giáo chúng Nhật Nguyệt thần giáo nên hầu hết đều tôn kính nàng, gọi nàng là Thánh cô và hết thảy đều sẵn sàng xả thân để trả ơn nàng. Nhậm Doanh Doanh đã cõng Lệnh Hồ Xung bị bệnh sắp chết lên núi Thiếu Thất, chấp nhận hi sinh để phái Thiếu Lâm dùng Dịch cân kinh cứu chàng, còn mình thì tùy ý phái Thiếu Lâm xử trí (trước đó nàng đã sát hại ba người phái Thiếu Lâm). Sau đó, phái Thiếu Lâm đã giam giữ nàng, rồi lại thả nàng khi có sự thỉnh cầu của Định Nhàn sư thái và Định Dật sư thái. Khi Nhậm Ngã Hành chết, nàng lên thay chức giáo chủ, đã hóa giải mọi ân oán của Nhật Nguyệt thần giáo và các môn phái khác, tạo hòa bình cho giang hồ, sau đó cùng Lệnh Hồ Xung kết duyên, chu du thiên hạ cùng nhau tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ.

Khúc Dương (曲洋 - Qu Yang): Là một trưởng lão trong Nhật Nguyệt thần giáo, một cao thủ đánh thất huyền cầm, kết bạn tri giao với Lưu Chính Phong qua âm nhạc, và cùng Lưu Chính Phong sáng tác khúc Tiếu ngạo giang hồ. Khúc Dương từng cứu Lệnh Hồ Xung. Khúc Dương cùng với Lưu Chính Phong bị phái Tung Sơn sát hại, trước khi chết đã cùng tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ.

Hướng Vấn Thiên (向問天 - Xiang Wentian): Biệt danh là Thiên vương lão tử, là một trong hai sứ giả (Tả sứ) của Quang Minh đỉnh, rất mực trung thành với Nhậm Ngã Hành, đồng thời tính tình hào sảng, thẳng thắn, trọng tình nghĩa. Hướng Vấn Thiên kết nghĩa anh em với Lệnh Hồ Xung và cùng Lệnh Hồ Xung cứu Nhậm Ngã Hành khỏi đại lao, sau đó giúp Nhậm Ngã Hành tiêu diệt Đông Phương Bất Bại, dành ngôi giáo chủ. Hướng Vấn Thiên sau khi Nhậm Ngã Hành chết đã hết lòng giúp đỡ, đưa Nhậm Doanh Doanh lên làm giáo chủ, sau đó cùng nàng hóa giải ân oán với các môn phái. Sau khi Nhậm Doanh Doanh cùng Lệnh Hồ Xung ngao du thiên hạ, Hướng Vấn Thiên đã làm giáo chủ, giữ hòa bình với các môn phái khác.

Bình Nhất Chỉ (平一指 - Ping Yizhi): Là một thần y trong tiểu thuyết. Ông có biệt danh Sát nhân danh y, do cứu một người thì phải giết một người khác thế mạng. Bất kỳ ai được ông cứu đều phải lập lời thề, sau khi ông được ông cứu phải đi giết một người mà ông chỉ định. Được Nhậm Doanh Doanh yêu cầu, Bình Nhất Chỉ đã hết sức cứu mạng Lệnh Hồ Xung nhưng không thành, cũng qua đó rất khâm phục hào khí của Lệnh Hồ Xung. Cuối cùng, do thấy mình không cứu được chàng, ông đã tự vẫn (Bình Nhất Chỉ cho rằng không cứu được người phải tự giết mình). Bình Nhất Chỉ còn có một đặc điểm rất thú vị là rất sợ vợ.

Lam Phượng Hoàng (藍鳳凰 - Lan Feng Huang): Là một cô gái dân tộc Miêu ở tỉnh Quý Châu, đứng đầu Ngũ độc giáo, chuyên đi đánh độc. Cô rất khâm phục lòng dũng cảm và hào khí của Lệnh Hồ Xung, đã từng dùng đỉa truyền máu cho chàng khi anh chàng này bị kiệt sức vì cạn máu (Lệnh Hồ Xung dùng máu của mình cứu con gái của Lão Đầu Tử), và kết nghĩa huynh muội với Lệnh Hồ Xung.

Giang Nam tứ hữu: Là bốn nhân vật ở Mai trang bên Tây Hồ, có nhiệm vụ canh giữ Nhậm Ngã Hành. Bốn người này đều là những cao thủ võ nghệ cao cường, đồng thời đều rất tài hoa:

1. Hoàng Chung Công mê âm nhạc
2. Đan Thanh tiên sinh mê uống rượu và vẽ tranh
3. Ngốc Bút Ông mê thư pháp
4. Hắc Bạch Tử mê chơi cờ vây.

Hướng Vấn Thiên đã lợi dụng nhược điểm của bốn người quá say mê tài hoa, khéo léo dùng kiếm pháp của Lệnh Hồ Xung đánh bại họ, và lừa kế giải thoát cho Nhậm Ngã Hành. Cuối cùng, sau khi sự việc bại lộ, Hoàng Chung Công tự vẫn, Hắc Bạch Tử thì bị hút hết công lực thành phế nhân, hai người còn lại chấp nhận uống Tam thi não thần đan, đi theo làm thuộc hạ cho Nhậm Ngã Hành.

Các nhân vật khác: Hoàng Hà Lão Tổ, Dạ miêu tử Kế Vô Thi, Bạch phát đồng từ Nhậm Vô Cương...

[sửa] Phái Thiếu Lâm (少林派)

Cũng giống như nhiều tiểu thuyết khác của Kim Dung, phái Thiếu Lâm trong Tiếu ngạo giang hồ vẫn luôn là phái lớn nhất với nhiều cao thủ và luôn được coi là Thái Sơn Bắc Đẩu của võ lâm. Phái Thiếu Lâm ở giai đoạn này được lãnh đạo bởi các nhà sư với tên được gắn với chữ Phương, mà đứng đầu là hai cao thủ:

Phương Chấn đại sư (方證 - Fang Zheng): là chưởng môn phái Thiếu Lâm, trụ trì Thiếu Lâm tự. Phương Chấn là một hòa thượng nhân từ, luyện Dịch cân kinh, Thiên thủ Như Lai chưởng đến độ xuất thần nhập hóa. Ông nhanh chóng nhận ra con người thật của chàng trai Lệnh Hồ Xung, và bộ mặt thật đầy gian trá của Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần... Khi Lệnh Hồ Xung được Doanh Doanh cõng lên chùa Thiếu Lâm trong tình trạng suy kiệt sắp chết, và biết Nhạc Bất Quần đã đuổi chàng ra khỏi sư môn, ông đã nhận lời truyền thụ Dịch cân kinh cho chàng với điều kiện chàng chịu gia nhập phái Thiếu Lâm, nhưng Lệnh Hồ Xung không đồng ý. Khi Lệnh Hồ Xung lên chức vụ chưởng môn phái Hằng Sơn, ông đã cùng Xung Hư đạo trưởng phái Võ Đang hết lòng ủng hộ, mong chàng, đề nghị Lệnh Hồ Xung đoạt chức chưởng môn phái Ngũ Nhạc phái, để tránh cho chức này rơi vào tay những kẻ như Nhạc Bất Quần, Tả Lãnh Thiền. Khi Nhậm Ngã Hành công khai đòi tiêu diệt Hằng Sơn, ông đã không ngần ngại đem Dịch cân kinh truyền thụ cho chàng, tôn chàng làm minh chủ để chống lại cuộc chiến này.

Phương Sinh đại sư (方生 - Fang Sheng): Là sư đệ của Phương Chấn, từng bị Lệnh Hồ Xung dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại, vì thế nhận ra chàng là truyền nhân đích thực của Phong Thanh Dương (ông từng được Phong Thanh Dương cứu giúp và rất kính trọng Phong Thanh Dương) vì thế hết lòng kính trọng Lệnh Hồ Xung, mong chàng gia nhập phái này. Phương Sinh tính tình cũng nhân hậu và rất ủng hộ Lệnh Hồ Xung.

[sửa] Phái Võ Đang (武當派)

Dù được ra đời sau phái Thiếu Lâm rất nhiều, nhưng phái Võ Đang sau khi Trương Tam Phong sư tổ sáng lập vẫn được sánh ngang với Thiếu Lâm. Tại thời điểm trong Tiếu ngạo giang hồ, Võ Đang từng xung đột với Nhật Nguyệt thần giáo, bị các trưởng lão của NNTG cướp mất cây thần kiếm truyền đời từ Trương Tam Phong dùng để luyện Thái cực kiếm. Lãnh đạo Võ Đang lúc đó là Xung Hư đạo trưởng.

Xung Hư đạo trưởng (冲虚道長 - Chonghu): là một đạo sĩ đắc đạo, luyện Thái cực quyền, Thái cực kiếm đến độ xuất thần nhập hóa. Ông đã lặng lẽ theo dõi hành vi của chàng trai Lệnh Hồ Xung, và biết chàng thực sự là một đại trượng phu. Khi Lệnh Hồ Xung dẫn quần hùng lên Thiếu Lâm tự cứu Nhậm Doanh Doanh, ông đã đóng giả một nông phu bình thường đấu kiếm với chàng. Lệnh Hồ Xung đã suýt bị bại trận dưới tay Xung Hư, buộc phải liều mạng để đánh vào chỗ sơ hở của Thái cực kiếm và dành chiến thắng. Xung Hư rất khâm phục Lệnh Hồ Xung và rất ủng hộ chàng. Trong cuộc đấu ở Thiếu Lâm tự, Xung Hư đã nhận thua Lệnh Hồ Xung và khiến Nhậm Ngã Hành từ khâm phục một nửa con người tăng thành 3/4. Xung Hư đạo trưởng kết bạn thân với Phương Chứng và được coi là một trong những cao thủ số một lúc đó.

[sửa] Phái Thanh Thành (青城派)

Là một môn phái trên núi Thanh Thành ở Tứ Xuyên, theo giáo lý đạo Lão, đứng đầu lúc đó là Dư Thương Hải. Phái Thanh Thành nổi danh với môn Tồi Tâm chưởng.

Dư Thương Hải (余滄海 - Yu Canghai): Còn được gọi là Dư quán chủ (Dư Thương Hải tu đạo trên đạo quán Tùng Phong, núi Thanh Thành), có nhiều vợ, tì thiếp và có một con trai. Dư Thương Hải đã âm thầm tìm cách chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ, sai con trai đến Phúc Châu và vô tình bị Lâm Bình Chi giết. Y đã mượn cớ đó tàn sát toàn bộ Phước Oai tiêu cục, bắt vợ chồng Lâm Chấn Nam tra khảo để tìm ra Tịch tà kiếm pháp. Dư Thương Hải bản tính nhỏ nhen, thâm hiểm và đồi bại nên dù được coi là chính phái nhưng vẫn bị nhiều người khinh thường. Dư Thương Hải cuối cùng bị Lâm Bình Chi đánh bại một cách nhục nhã bằng chính Tịch Tà kiếm pháp, bị giết chết trong nỗi sợ hãi cùng với Mộc Cao Phong.

Thanh Thành Tứ tú (青城四秀): Là bốn đại đệ tử của Dư Thương Hải, là Hầu Nhân Anh, Hầu Nhân Hùng, Vu Nhân Hào, La Nhân Kiệt, gọi tên thành Anh Hùng Hào Kiệt Thanh Thành tứ tú, đã từng dẫn đầu nhóm người tàn sát Phước Oai tiêu cục. Lệnh Hồ Xung thường châm biếm bọn họ là Cẩu Hùng Dã Trư Thanh Thành Tứ thú. La Nhân Kiệt bị Lệnh Hồ Xung giết chết ở thành Hành Dương, còn ba người còn lại đều bị Lâm Bình Chi dùng Tịch tà kiếm pháp giết chết.

[sửa] Các nhân vật khác

Đào Cốc Lục Tiên (桃谷六仙 - Taogu Liu Xian): Là sáu anh em họ Đào, là những nhân vật luôn gây ra sự hoạt kê và rắc rối do sự thích tranh luận. Sáu anh em gồm Đào Cán Tiên, Đào Căn Tiên, Đào Chi Tiên, Đào Diệp Tiên, Đào Hoa Tiên, Đào Thực Tiên (Rễ, Gốc, Thân, Lá, Hoa, Quả). Để cứu Lệnh Hồ Xung bị thương, sáu người đã cãi nhau, làm lung tung, truyền sáu luồng chân khí vào người, gây xung đột làm Lệnh Hồ Xung mất hết sức lực, bị thương suýt chết, và do đó sáu người bị Bình Nhất Chỉ buộc phải phục vụ Lệnh Hồ Xung. Đào Cốc Lục tiên có một đòn sát thủ, chuyên nắm tay chân đối phương, và sáu người dùng sức xé tan nát đối phương. Thực chất, Đào Cốc lục tiên tâm địa lương thiện, trong sáng, chỉ thích tranh luận và luôn tạo ra những tiếng cười hoạt kê. Ở cuối chuyện, Phong Thanh Dương đã bắt cả sáu người, buộc họ truyền tin tới phái Thiếu Lâm, Võ Đang tin Nhậm Ngã Hành sắp tiêu diệt Hằng Sơn.

Vạn lý Độc hành Điền Bá Quang (萬里獨行 田伯光): tên là Điền Bá Quang (田伯光 - Tian Boguang), vì khinh công cực giỏi nên được gọi là Vạn lý Độc hành (vì ít người theo kịp). Điền Bá Quang ban đầu là một tên dâm tặc, chuyên đi hãm hiếp phụ nữ, giết người cướp của, không việc gì không làm, y lại cực giỏi sử dụng khoái đao, vì thế có tên gọi đầy đủ là Thái hoa dâm tặc Giang dương đại đạo Khoái đao. Bi kịch của Tiếu ngạo giang hồ một phần do Điền Bá Quang góp phần tạo ra khi y có ý định hãm hiếp ni cô Nghi Lâm nhưng bị Lệnh Hồ Xung xả thân cứu. Y đánh bại Lệnh Hồ Xung, nhưng cũng qua đó cả hai nhận ra nhau là những người rất có hào khí, Điền Bá Quang rất khâm phục Lệnh Hồ Xung và sau đó tìm cách kết bạn với Lệnh Hồ Xung. Điền Bá Quang bị Bất Giới hòa thượng bắt lên núi tìm Lệnh Hồ Xung mang về cho Nghi Lâm, qua đó tạo ra việc Phong Thanh Dương dạy Độc cô cửu kiếm cho Lệnh Hồ Xung, đồng thời bộc lộ là con người sống rất tín nghĩa. Sau đó Điền Bá Quang đã từ bỏ tính xấu hoàn lương, bị Bất Giới ép đi tu (do y đánh cuộc với Lệnh Hồ Xung thua, bị buộc phải nhận Nghi Lâm làm sư phụ). Bất Giới đặt cho Điền Bá Quang pháp danh là Bất Khả Bất Giới (不可不戒), trở thành một hòa thượng theo phái Hằng Sơn.

Bất Giới hòa thượng: Là cha của ni cô Nghi Lâm, ban đầu là một đồ tể (người thịt lợn), yêu một ni cô, thế là xuất gia làm hòa thượng để cưới ni cô làm vợ. Mối tình giữa hai vợ chồng Bất Giới là mối tình đặc biệt nhất và cũng nhân bản nhất trong các tác phẩm Kim Dung. Khi ông cầu hôn, ni cô đã từ chối vì nàng là người xuất gia, nếu lấy chồng Bồ Tát sẽ trừng phạt. Ông liền xuất gia làm hòa thượng để lấy nàng (vì ông cho rằng nếu ông làm hòa thượng, Bồ Tát sẽ phạt cả ông, ông không nỡ để Bồ Tát trừng phạt một mình vợ). Hai người sinh ra Nghi Lâm, do ông trêu đùa với Ninh Trung Tắc, vợ ông đã nổi cơn ghen, bỏ đi biệt tăm, giả dạng làm người câm điếc quét chùa trên núi cao Hằng Sơn. Bất Giới gửi con ở Hằng Sơn, lang thang khắp nơi tìm vợ mà không thành. Bất Giới võ công cao cường và cũng rất yêu thương con gái. Cuối cùng, bà vợ đã xuất hiện, cả hai được đoàn tụ nhờ sự mách bảo của Lệnh Hồ Xung.

Lâm Chấn Nam (林震南 - Lin Zhennam): Là cha của Lâm Bình Chi, tổng tiêu đầu Phước Oai tiêu cục, là con của Lâm Viễn Đồ. Vợ chồng Lâm Chấn Nam không được luyện Tịch tà kiếm pháp, bị Dư Thương Hải bắt giữ sau khi giết hại toàn bộ Phước Oai tiêu cục và bị hành hạ cho đến chết. Lúc gần chết, cả hai được Lệnh Hồ Xung cứu giúp, và di ngôn cho con không được luyện Tịch tà kiếm pháp.

Mộc Cao Phong (木高峰 - Mu Gaofeng): Là một người gù, biệt danh là Tái Bắc Minh đà, tâm địa bất lương, có ý chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ nên đã ép Lâm Bình Chi làm đồ đệ của mình, đồng thời hành hạ ép vợ chồng Lâm Chấn Nam giao Tịch tà kiếm phổ. Ở đoạn cuối, Mộc Cao Phong bị Lâm Bình Chi dùng Tịch tà kiếm pháp giết chết, chiếc bướu trên lưng hắn có chất độc khi bị chém đứt vỡ ra làm mù mắt Lâm Bình Chi.
[sửa] Độc cô cầu bại và triết lý Độc cô cửu kiếm
Độc cô cửu kiếm là một trong những triết lý đặc sắc của Tiếu ngạo giang hồ, là những nguyên lý tổng quát nhất về kiếm thuật, gồm chín nguyên lý:

Tổng quát thức: Là các quy luật chung, các quy tắc biến hóa trong kiếm thuật: di chuyển, quan sát, tấn công... Các biến hóa trong tổng quát thức dựa trên các quy luật biến hóa của bát quái trong Kinh Dịch.

Phá kiếm thức: Là các quy tắc phá kiếm thuật.
Phá đao thức: Các quy tắc tấn công đối thủ dùng đao.
Phá thương thức: Quy tắc tấn công các đối thủ sử dụng thương, giáo, kích, gậy...
Phá tiên thức: Hóa giải cương tiên, thiết giản, điểm huyệt...
Phá sách thức: Phá trường sách, nhuyễn tiên, tam thiết côn, trùy...
Phá chưởng thức: Hóa giải quyền, cước, chỉ, chưởng (võ công sử dụng trực tiếp tay, chân, công lực...)
Phá tiễn thức: Dùng để phá các tên, ám khí.. chẳng những dùng kiếm gạt ám khí mà có thể phản công trở lại.
Phá khí thức: Dùng để hóa giải các đối thủ có nội công thượng thặng.

Độc cô cửu kiếm được sáng tạo bởi Độc cô cầu bại (một nhân vật đặc biệt trong các tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, chỉ tồn tại qua những lời nói, lời kể của các nhân vật). Tên gọi Độc cô cầu bại là do nhân vật này luyện võ công (mà cụ thể ở đây là kiếm thuật) đến mức độ thượng thừa, suốt đời cô độc, chỉ mong được thất bại một lần mà không được. Nguyên lý chung của Độc cô cửu kiếm là con người là tĩnh, chiêu số là động, bất kỳ chiêu số nào hình thành, thì dù cao thâm đến đâu cũng có sơ hở, muốn đánh bại chỉ cần tấn công vào chỗ sơ hở đó. Người sử dụng kiếm không có chiêu số sẽ không có sơ hở, phải biết sử dụng kiếm biến hóa, linh hoạt như nước chảy mây bay, tiện thế nào dùng như thế, không bị ép vào khuôn phép. Độc cô cửu kiếm không có phòng thủ, mà dùng chính tấn công làm phòng thủ, lấy sự nhanh nhẹn và linh hoạt để chiến thắng. Triết lý của Độc cô cửu kiếm chính là sự linh hoạt, không ép mình vào những quy tắc cứng nhắc, dựa trên các triết lý của triết học Lão giáo, dạy con người sống linh hoạt theo các quy luật của thiên nhiên.

dendende
02-01-2008, 09:27 PM
Bàn về Tiếu Ngạo Giang Hồ(Trích "Tiếu ngạo giang hồ hân thưởng"-Ôn Thụy An)

Tại sao trong số mười bốn bộ sách của Kim Dung, tôi lại chọn bình tác phẩm này ? Có năm nguyên nhân sau :

- Điều thứ nhất, Tiếu ngạo giang hồ là tác phẩm sau này của Kim Dung, so với những tác phẩm lúc mới viết thì hay hơn về mọi phương diện.

- Thứ hai, trong Tiếu ngạo giang hồ nhân vật thì nhiều nhưng không tạp. Không như Liên Thành quyết, Tuyết Sơn Phi Hồ, Tiếu ngạo giang hồ bố cục nhân vật vừa phải, mỗi nhân vật đều nổi bật, hô ứng gắn bó với nhau, đem lại ấn tượng sâu sắc cho độc giả, ngoài ra, tình tiết câu chuyện, kỹ xảo thủ pháp, đều có những ưu điểm đã đề cập.

- Thứ ba, Tiếu ngạo giang hồ mang tất cả những đặc sắc của truyện Kim Dung : Kim Dung là bậc thầy trong việc xử lý những trận chiến dù lớn hay nhỏ, cách xử lý của ông khiến người đọc phải trông chờ, nín thở theo dõi. Cái gọi là đánh lớn trong Tiếu ngạo giang hồ có thể kể đến cảnh Lệnh Hồ Xung dẫn đầu quần hùng kéo nhau lên Thiếu Thất cứu Nhậm Doanh Doanh. Trận đánh nhỏ có thể nói như cuộc đấu giữa Lệnh Hồ Xung với Điền Bá Quang ở những tập đầu, "quần chiến"như đoạn Ma Giáo lên Hằng Sơn phô trương thanh thế trong lễ nhiệm chức chưởng môn của Lệnh Hồ Xung, hay Lâm Bình Chi "độc chiến" phái Thanh Thành. Nói tóm lại, điều đó thể hiện những hiểu biết của tác giả về văn hóa Trung Quốc và cách vận dụng những kiến thức ấy. Điều này làm cho Tiếu ngạo giang hồ trở nên tuyệt vời.

- Thứ tư, tôi rất thích tính cách của Lệnh Hồ Xung, một con người hào sảng, dễ kết giao bạn bè. Dương Quá trong Thần Điêu hiệp lữ tính tình phóng khoáng nhưng sống quá cô độc, người ta cảm giác cuộc đời của nhân vật này là một chuỗi ngày lạnh lẽo, làm bạn với một người như thế, vui cho anh ta thì ít mà buồn cùng anh ta thì nhiều, chẳng thể nào giúp được. Quách Tĩnh là một đại hiệp vì dân vì nước, đầy chính khí, nhưng lại quá ngay thẳng, làm bạn với những người thế này sẽ thấy mình quá thấp kém. Hồ Phỉ là bậc anh hùng hiếm có trên đời nhưng quá xa chúng ta, chỉ có trong sách vở. Trương Vô Kỵ thì thiếu tính quyết đoán, Viên Thừa Chí, Trần Gia Lạc là một chí sĩ, lại thiếu cá tính rõ ràng.

Vi Tiểu Bảo thì ai cũng thích nhưng tôi thì "kính nhi viễn chi", có người bảo kết bạn với anh ta là chuyện may mắn, bởi anh ta không bán đứng bạn bè, không đạo đức giả, nhưng tôi cảm thấy con người này không có nguyên tắc, tuy có nghĩa khí nhưng quá giảo hoạt, quá cơ tâm, thêm nữa anh ta quá may mắn. Về thực tế mà nói, anh ta là nhân vật "người" nhất, rất nhiều người thích anh ta, nhưng tôi thì khác.

So sánh với những nhân vật khác của Kim Dung tôi thấy thích Lệnh Hồ Xung hơn. Anh ta rất trung thành, sống có tình nghĩa, nhưng không đến nỗi quá đáng. Nhớ ơn thầy không phải vì lễ giáo mà phát ra từ cái tâm của anh ta. Tuy si mê tiểu sư muội nhưng vẫn biết đến những tình cảm của các cô gái khác dành cho mình, vẫn đối xử tử tế với họ. Con người Lệnh Hồ Xung khoáng đạt, hào sảng, làm việc nghĩa không cần để lại tên tuổi. Kết bạn không phân biệt sang hèn , bất luận Lam Phượng Hoàng, Huỳnh Bá Lưu, Đào Cốc Lục Tiên, Điền Bá Quang, Tổ Thiên Thu, Lão Đầu Tử,...đều là bạn của anh ta. Xả thân vì người khác dám giúp người đang bị truy sát dù thân mang trọng thương nên quen được Hướng Vấn Thiên.

Tuy đôi khi anh ta cũng yếu mềm trong những quyết định về tình yêu nhưng đó cũng là điểm đáng yêu của anh ta. Ít ra đối với danh lợi anh ta cũng có thể nâng lên được và sẵn sàng bỏ được.

- Thứ năm, tôi rất thích bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ này, nhớ những lần đầu tiên đọc đều là bản giả, sau mới được xem bản thật (do chính tác giả tặng). Nhiều tác phẩm tôi (Ôn Thụy An) viết ra cũng bị ảnh hưởng của tác phẩm này rất nhỉều.

Nguồn: Sưu tầm.

----- Bài viết này được dendende thêm vào sau 8 phút và 45 giây -----

Lệnh Hồ Xung - Chân dung gã tửu đồ lãng tử

Dường như có một qui luật trong sáng tạo của các thiên tài là : các tác phẩm thường đi từ bi đến lạc hoặc đi từ lạc đến bi. Nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare, sau các hài kịch Much ado about nothing, The merchant of Vernice v.v... lại sáng tạo tiếp các bi kịch như King Lear, Othello, Macbeth v.v.... Còn Kim Dung thì ngược lại, sau các tác phẩm làm tan nát lòng người như Thiên long bát bộ, thì Tiếu ngạo giang hồ là tác phẩm tương đối ít bi thương. Khung trời máu lửa của võ lâm dường như đã bắt đầu tửơi sáng hơn khi mà các thành kiến chính tà và thị phi ân oán cũng như tham vọng thống nhất giang hồ đều tiêu dung, hoá giải trong khúc cầm tiêu hợp tấu Tiếu ngạo giang hồ của Nhậm Doanh Doanh và gã tửu đồ lã ng tử Lệnh Hồ Xung.

Trước khi Lệnh Hồ Xung xuất hiện trong tác phẩm Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung đã chuẩn bị một bối cảnh khá chu đáo, dù chỉ toàn bằng lời kể. Chính sự có mặt trong vắng mặt càng làm tăng thêm vẽ hấp dẫn cho nhân vật cực kì đáng yêu này. Thoạt tiên ngưòi ta chỉ biết đến gã như tên “ bợm nhậu” khi lừa một ông lão ăn mày để uống hết vò rượu ngon bằng nội công thâm hậu của mình. Kế đó, gã lại hiện ra như là kẻ mất nết ưa gây hấn khi giao du với tên dâm tặc Điền Bá Quang và giết đệ tử phái Thanh Thành. Bao nhiêu ác cảm, ngộ nhận đều trút lên đầu gã. Chỉ từ lúc cô tiểu ni xinh đẹp Nghi Lâm xuất hiện thì mọi chuyện mới thay đổi, và qua lời kể của cô, chân dung tên tửu đồ bẻm mép, giảo hoạt đómới bắt đầu hiện rõ nét như là một người trượng nghĩa, thông minh và cực kì liều lĩnh.

Đến khi gương mặt nhợt nhạt của gã, với đôi môi mỏng dính và đôi mày hình lưỡi kiếm hiện trên giường của một kỉ viện thành Hành sơn thì độc giả đã hình thành thêm được tính cách của gã : ngang tàng, đởm lược, ứng biến cực kì mau lẹ. Có gì lí thú hơn khi chưởng môn phái Thanh Thành là Dư Thương Hải bị gã, dù toàn thân bất lực do bị trọng thương, dùng mẹo khiêu khích, lừa không cho mở tấm mền giấu Khúc Phi Yến và Nghi Lâm đang run sợ bên cạnh gã. Một dạng biến tửớng thông minh của mưu kế kiểu “ Không thành” mà Khổng Minh dùng lừa Tử Mã ý, làm người đọc vô cùng khoan khoái !

Có lẽ tất cả các chi tiết trên chỉ là sự chuẩn bị của Kim Dung về tính cánh của Lệnh Hồ Xung để lí giải việc lí dó vì sao gã có cơ duyên được Phong Thanh Dương truyền cho môn kiếm pháp vô địch thiên hạ : Độc Cô cưu kiếm, môn học không chỉ đòi hỏi trí thông minh mà còn cần phải có một tâm hồn khoáng đạt, không câu nệ, cố chấp, và ứng biến linh hoạt. Người đọc làm sao quên được đoạn gã bị phạt trên đỉnh núi Hoa sơn và buộc phải đấu kiếm nhiều phen với Điền Bá Quang để khỏi bị họ Điền “mời” xuống núi. Cùng uống với họ Điền hai vò rượu quí hiếm duy nhất thế gian là để tạ tình tri kỉ, dù họ Điền là tên dâm tặc, đó là cái tình. Uống xong, tuốt kiếm đánh nhau, không chấp nhận xuống núi vì tuân theo sư mệnh, đó là cái lí. Khi gã dùng một mẹo vặt khá tồi bại, không xứng đáng với đệ tử danh môn chính phái, để gạt được Điền Bá Quang nhằm tranh thủ thêm thời gian học môn Độc Cô cưu kiếm, gã biện bạch với Phong Thanh Dương là : đối với bọn đê hèn vô liêm sỉ thì phải dùng thủ đoạn đê hèn vô liêm sỉ, người đọc hồi hộp biết ngần nào khi nghe vị tôn sư võ học kia nghiêm nghị hỏi lại : “Thế đối phó với bậc chính nhân quân tử thì sao ?”. Câu hỏi như một loại công án thách thức sự ứng biến chân thành. Gã đã thành thực lẫn bạo gan trả lời đúng với tính cách của mình, không một lớp sơn phù phiếm hoa hoè giả tạo của môn qui : “Cho dù bọn họ có là bậc chính nhân quân tử đi nữa, mà nếu như họ muốn giết đệ tử, thì đệ tử quyết không cam tâm để bị giết, cùng lắm đến lúc chẳng đặng đừng đó, thì thủ đoạn hèn hạ vô liêm sỉ cũng phải dùng tạm chớ biết làm sao !” ( Tựu toán tha chân thị chính nhân quân tử, thảng nhược tưởng yếu sát ngã, ngã dã bất năng cam tâm tựu lục, đáo liễu bất đắc dĩ đích thời hậu, ti bỉ vô sỉ đích thủ đoạn, dã chỉ hảo dụng thượng giá ma nhất điểm bán điểm liễu ). Người đọc lo ngại thay cho gã, sợ câu nói liều lĩnh làm phật ý vị Thái sư thúc tổ của môn phái. Ngờ đâu ta còn khoan khoái hơn khi nghe Phong Thanh Dương tươi cười rạng rỡ, nói : “ Hay lắm, hay lắm ! Câu nói của nhà ngươi đúng là khác với bọn ngụy quân tử giả mạo bịp đời. Bậc đại trượng phu hành sự thích việc gì ra việc nấy, linh hoạt như nước chảy mây bay, tuỳ ý thích mà làm. còn tất cả những thứ qui củ võ lâm, giáo điều môn phái gì gì đó đều chỉ là cái rắm chó thúi đáng vất đi mà thôi ! “ (Hảo, hảo! Nễ thuyết giá thoại, tiện bất thị giả mạo vi thiện đích ngụy quân tử. Đại trượng phu hành sự, ái chẩm dạng tiện chẩm dạng, hành vân lưu thủy, nhậm ý sở chí, thậm chẩm võ lâm qui củ, môn phái giáo điêu, toàn đô thị phóng tha ma đích cẩu xú tí !).

Trong toàn bộ tác phẩm Kim Dung, tôi cho rằng không có đoạn nào làm người đọc cảm thấy thống khoái hơn đoạn đối thoại trên đây, khi nghe câu nói vô cùng khoái ý chân tình của một bậc cao nhân tiền bối của võ lâm, một vị đại tôn sư võ học, mà lại là của phe được xem là chính giáo ! ấy vậy mà người đọc vẫn kính mộ PhongThanh Dương như một con thần long phiêu hốt, ngẫu nhiên ghé về trần gian trao một tặng vật cho người hữu duyên rồi biến mất. Để rồi về sau, hình ảnh ông chỉ xuất hiện như một huyền thoại, qua hồi tưởng của hai vị đại tôn sư võ học khác là giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo[1] Nhậm Ngã Hành và phương trượng chùa Thiêú lâm Phương Chứng đại sư. Kim Thánh Thán khi phê bình Tây sương kí của Vương Thực Phủ, nhân đọc đoạn biện bạch của nhân vật nữ tì tên Hồng, ông quá thích thú bèn liên tửởng đến ba mươi ba điều thống khoái trên đời [2]; tôi cho rằng đoạn đối thoại lí thú này, giữa Phong Thanh Dương và Lệnh Hồ Xung, đáng được đưa thêm vào thành điều thống khoái thứ ba mươi bốn của họ Kim !

Đoạn đối thoại rất trung thực, phản ánh được những đặc điểm rất con người, không hoa hoè, cường điệu. Điểm quyến rũ của tác phẩm Kim Dung vẫn thường nằm ở các chi tiết rất nhỏ đó. Sẽ chán biết ngần nào khi mà các nhân vật ai ai cũng sống, cũng ăn nói, cũng hành động theo một khuôn khổ ước lệ như nhau, nhất là lúc “ lỡ “ được tiếng là thuộc danh môn chính phái ! Luôn phải cố tạo một cái gì đó khác người thường, khác với đám phàm phu tục tử, phải sống theo cái khuôn vàng thước ngọc của ngàn xưa, mà không bao giờ dám sống thực là mình !. Đó là điểm mà Trang tử chế nhạo là “ Chỉ thích cái thích của ngưòi mà không tự thích cái thích của mình“ [3]. Cái thực tại người vẫn luôn luôn tồn tại trong những điều bình dị và hết sức đời thường. Ta cũng hiểu lí do vì sao trong truyện Kiều, nhân vật đáng cảm thông nhất và gần gũi với con người nhất vẫn là Thúc Sinh. Không như Kim Trọng và Từ Hải, chỉ là những nhân vật mang tính ước lệ, quá lí tưởng đến mức hầu như không thực. Nhân vật Lệnh Hồ Xung hấp dẫn người đọc trước hết ở chổ sống rất thực và rất con người.

Suốt cuộc đời hành sự của Lệnh Hồ Xung, từ lúc lừa Điền Bá Quang để cứu Nghi Lâm, bị hàm oan là giết sư đệ, lấy cắp kiếm phổ, tình cờ gặp Doanh Doanh, qua hình ảnh Bà Bà, ngoài ngõ trúc thành Lạc dương, được quần hào hắc đạo nghinh đón trên sông, bỡn cợt với giáo chủ Ngũ độc giáo Lam Phựơng Hoàng, uống rượu tại Ngũ bá cương, cho đến khi sống chung với Doanh Doanh bên suối vắng, rồi rời chùa Thiếu lâm, giúp Hướng Vấn Thiên đánh quần hùng hai phe hắc bạch, vô tình cứu Nhậm Ngã Hành, học Hấp tinh đại pháp, ám trợ phái Hằng sơn lột mặt nạ bọn Tung sơn, kéo quần hùng đại náo Thiếu lâm tự, từ chối gia nhập Nhật nguyệt thần giáo v.v... những việc làm của gã dù đúng hay sai đi nữa thì Lệnh Hồ Xung vẫn hiện chân dung là gã lã ng tư đa tình sống bạt mạng, sống say mê, sống rất chân thành và chân tình với cái Tâm hoàn toàn trong sáng. Các bậc chân nhân xưa nay đều quí trọng chữ thành [4] ! Chính vì lẽ đó mà sau này, dù mang tiếng bao tai tiếng hư đốn, bị trục xuất khỏi phái Hoa sơn thì Lệnh Hồ Xung vẫn lọt vào mắt xanh của hai bậc Thái sơn Bắc đẩu trong võ lâm là Phương Chứng đại sư và Xung Hư đạo trưởng. Và càng oái ăm hơn khi Định Nhàn sư thái trước lúc lâm chung lại chọn mặt gởi vàng, uỷ thác cho gã làm chưởng môn phái Hằng sơn toàn là các ni cô !.

Chính nhờ bản tính hồn nhiên khoáng đạt, giỏi ứng biến mà môn Độc cô cửu kiếm trong tay Lệnh Hồ Xung còn đạt đến những thành tựu cao hơn cả vị Thái sư thúc tổ Phong Thanh Dương. Ngay cả Nhậm Ngã Hành khi ngồi trong đại lao dưới đáy Tây hồ, cũng không tin nỗi điều đó khi nghe thuật lại việc một đại cao thủ là Nhị trang chúa Hắc Bạch tử bị gã đánh cho liểng xiểng, đến chiêu thứ bốn mươi cũng không phản kích nỗi !. Cái bản tính hồn nhiên khoáng đạt đó, một biểu hiện khác của trạng thái vô tâm, là yếu quyết để lĩnh hội kiếm ý trong Độc cô cửu kiếm, có thể có được không nếu gã không phải là một tưu đồ, đệ tử của Lưu Linh ? Vị sư mẫu gã cũng nhận định về gã : bừa bãi thành tánh, hời hợt rượu chè (hồ náo nhậm tánh, khinh phù háo tưu). Nhưng cũng chính vị sư mẫu đó lại cực kì thương yêu gã như con ruột vì bà hiểu tấm lòng của gã rất chân thành, cái tâm của gã rất trong sáng.

Không phải ngẫu nhiên mà trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung để cho nhân vật Nhạc Bất Quần - với ngoại hiệu Quân tử kiếm - làm sư phụ Lệnh Hồ Xung. Kim Dung cố tình muốn làm nổi bật nét tương phản của chữ ngụy và chữ thành giữa hai thầy trò. Một bên che đậy tà tâm thâm độc dưới lớp vỏ cực kì khuôn thước qui củ, một bên cứ hồn nhiên theo ý thích mà hành sự, xét thấy không thẹn với lòng là được. Cuối cùng, khi cái mặt nạ giả dối của vị sư phụ mà gã hằng tôn kính đã rơi xuống để hiện nguyên hình là tên ngụy quân tử vô cùng gian xảo, thì hai thầy trò bị đẩy vào thế phải giao đấu với nhau bằng hai môn kiếm pháp tối cao. Rốt cuộc Độc cô cửu kiếm vẫn chiến thắng Tịch tà kiếm pháp, cũng như chữ Ngụy vẫn luôn luôn phải bị đánh bại bởi chữ Thành !.

Trong Tiếu ngạo giang hồ, nói đến Lệnh Hồ Xung mà không nói đến nhóm Đào cốc lục tiên sẽ là điều thiếu sót lớn. Nhưng đó sẽ là nội dung của một bài viết khác. Đặt sáu nhân vật hồn nhiên ngây ngô bên cạnh Lệnh Hồ Xung, Kim Dung càng làm tăng thêm vẽ khoái hoạt, bỡn đời của gã. Một tay tưu đồ thuộc nòi lãng tử đa tình như Lệnh Hồ Xung thì có thiết tha gì với cái chức Giáo chủ Nhật Nguyệt thần giáo hay cái tham vọng thống trị giang hồ ? Có lẽ các thứ đó đối với gã cũng không lí thú bằng uống một vò rượu ngon, rồi cùng người yêu rong chơi bốn biển và thả hồn theo khúc Tiếu ngạo giang hồ trong tiếng hợp tấu của cầm tiêu !

____________

Chú giải của người viết :
[1] Theo nguyên bản Tiếu ngạo giang hồ mà tôi được đọc qua (gồm 4 tập 28-31 trong bộ Kim Dung toàn tập) thì Ma giáo còn gọi là Nhật Nguyệt thần giáo, không hiểu sao ông Hàn Giang Nhạn, một dịch giả Kim Dung cực kì tài hoa, lại dịch là Triêu Dương thần giáo

[2] Tây Sương Kí, bản dich Nhựơng Tống, chương Khảo hoa, nxb Tân việt, tr. 312-318

[3] Nam hoa kinh, Ngoại thiên. chương Biền mẫu

[4] Thành giả, vật chi chung thuỷ, bất thành vô vật (Thành thực là gốc ngọn của mọi sự. Không chân thành thì không thể có gì thành tựu được cả (Trung dung, chương XXV).

Tác giả:Huỳnh Ngọc Chiến

----- Bài viết này được dendende thêm vào sau 13 phút và 1 giây -----

Nhậm Ngã Hành - Cái tôi và bản lĩnh

Ngạn ngữ phương Tây nói: “Cái tôi là cái đáng ghét” (Le moi est haïssant). Bản tính con người xưa nay đều luôn nghĩ đến mình trước hết, cho nên cái tôi tạo ra một lớp vỏ bọc kín tâm hồn và chận đứng mọi nẻo cảm thông giữa người với người.

Tôn giáo hay triết học phương Đông đều dạy con người tiêu trừ bãn ngã, vì xem đó là điều chướng ngại ngăn cản con người trên con đường tu học. Đức Phật thực hiện Từ Bi, Chúa Jésus rao giảng Bác Ái, đức Khổng Tử giảng dạy đức Nhân, cũng đều nhằm mục đích dẫn dắt con người đến chỗ thương yêu khắp cả chúng sinh như chính mình, hay xem tất cả mọi người đều đồng một thể. Người nông dân Việt Nam nói đơn giản và ngắn gọn hơn: “Thương người như thể thương thân”. Không có phân biệt ta và người. Những ai “sính” loại triết học hàn lâm thì bảo đó là “để Tiểu Ngã hòa tan trong Đại Ngã” theo kiểu Ấn Độ, hoặc “vạn vật dữ ngã vi nhất “ theo kiểu Trung Hoa, hoặc “không còn phân biệt chủ thể với khách thể” theo kiểu triết học hiện đại v.v… Những trò chơi ngôn ngữ rối rắm vô bổ và rỗng tuếch đó đã làm hao tổn bút mực lẫn trí não của rất nhiều học giả Đông Tây rồi, và của cả những người sính triết học. Chúng ta hãy học tập cách người nông dân chân chất là xếp chúng qua một bên để mặc cho các học giả bàn luận, rồi cứ ung dung dắt trâu đi theo con đường ruộng giữa cánh đồng bao la với bàn chân đất, chỉ để nghe tiếng nói sâu thẳm từ chính trái tim mình.

Xã hội có văn hóa thường buộc con người phải tìm cách giấu đi cái tôi. Người nào nói nhiều đến cái tôi có nghĩa là người kém văn hóa. Phải nói đến “người ta” và “chúng ta” hoặc chí ít cũng phải là “chúng tôi”. Rõ khổ! Vì dù ít dù nhiều ai cũng muốn phô diễn cái tôi. Do đó, cái tôi lại luôn tìm cách xuất hiện lấp ló đằng sau những nghi thức xã giao, thông qua những câu nhún nhường khiêm tốn, thường có tính giả vờ! Chỉ có những thiên tài thực sự mới đủ bản lĩnh để không ngần ngại bộc lộ cái tôi bằng tất cả sự kiêu hãnh hồn nhiên.

Theo kinh điển Phật giáo ghi lại thì khi vừa mới sinh ra đời, đức Phật đã bước đi bảy bước trên tòa sen và cất tiếng như sư tử hống:”Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn”. (Trên trời dưới đất, chỉ có Ta là tôn quý). Đó có lẽ là ngày đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, cái Tôi được khẳng định một cách minh triết và hùng hồn nhất. Một tôn giáo xiển dương quan điểm “sắc tức thị không, không tức thị sắc” và dùng một loạt mười tám loại “Không” từ “Nội không” cho đến “Vô pháp hữu pháp không”trong kinh Bát Nhã để đẩy toàn bộ cái thế giới hữu sắc này đến chỗ tận cùng của chân không, thì chính tôn giáo ấy lại khởi đầu bằng cách khẳng định một cách tuyệt đối cái tôi! Bỏ qua một bên những ý nghĩa siêu huyền mang tính tượng trưng và ẩn dụ (dĩ nhiên) trong lời tuyên bố đó, ta chợt bắt gặp lại, ở một bình diện thấp hơn, câu ngạn ngữ phương Tây bảo "Les extrémités se touchent" (cái cực đoan thường gặp nhau) Cái cùng cực của phủ nhận lại chính là cái cái cùng cực của khẳng nhận. Cũng như chỗ sơn cùng thủy tận của khoa học phương Tây lại tiếp giáp với cõi bờ huyền học phương Đông, cho nên vũ trụ của Einstein lại hòa nhập trong lời thơ Tagore!

Lý Bạch là nhà thơ vô cùng kiêu ngạo. Trong một đêm khuya yên tĩnh, nhìn tinh tú lấp lánh chiếu sáng trên không, ông ngẫu hứng muốn làm thơ, nhưng lại không dám viết thành câu vì sợ các vì tinh tú nghe được sẽ rùng mình rơi cả xuống dòng sông lạnh:

Dạ tĩnh bất kham đề tuyệt cú

Đãn kinh tinh đẩu lạc giang hàn (Đêm khuya không dám đề thơ chỉ e sao rụng lạnh bờ sông đêm)

Có một bài thơ tứ tuyệt của Lý Bạch, người ta thường cho rằng đó là bài thơ tả cảnh nhưng thật ra đó là bài thơ kiêu ngạo thượng thừa:

Chúng điểu cao phi tận cô vân độc khứ nhàn
tương khan lưỡng bất yếm duy hữu Kính Đình san
(Chim chóc đã bay về tổ hết; đám mây lẻ loi đang lờ lững trôi; nhìn nhau mà không chán; chỉ có ta và núi Kính Đính).

Chỉ có núi Kính Đình là có thể nhìn ta giữa trời đất bao la để cảm nhận được sự hùng vĩ của nhau mà không chán! Đó là ngạo khí của kẻ “khí thôn chư tử vô toàn mục” (ngạo nghễ chưa xem ai vừa mắt) ( Thơ Tô Đông Pha nói về Lý Bạch)

Beethoven từng phẫn nộ quát mắng bọn quý tộc: “Các ông cần hiểu rằng quý tộc các ông đời nào cũng có, nhưng Beethoven này phải cả trăm đời mới có được một người ”! Đó đều là niềm xác tín đầy kiêu ngạo về cái Tôi của những người hiểu rõ thiên tài của mình.

Trong tất cả các tác phẩm của Kim Dung, có lẽ chỉ có ba nhân vật văn võ toàn tài, vừa có võ công tuyệt đỉnh lại vừa có trí huệ sắc bén, và là ba nhân vật kiêu ngạo bậc nhất. Đó là Hoàng Dược Sư, Tạ Tốn và Nhậm Ngã Hành. Nếu Hoàng Dược Sư hấp dẫn người đọc bởi cái tài hoa cô độc, nếu Tạ Tốn khiến người đọc kính nể vì kiến văn uyên bác, thì Nhậm Ngã Hành làm người đọc khoan khoái vì chất lỗ mãng giang hồ. Và ông là bậc đại tôn sư võ học duy nhất không ngần ngại phô diễn cái tôi với tất cả cái xấu lẫn cái tốt của nó, đúng với cái tên Nhậm Ngã Hành (để mặc ý ta làm). Cái tài hoa của Hoàng Dược Sư dù sao vẫn còn mang chút màu mè của hạng quý tộc, sự uyên bác của Tạ Tốn vẫn có một chút từ chương của giới hàn lâm, chỉ có Nhậm Ngã Hành là hoàn toàn chất phác, giống như chưởng pháp của ông khi giao đấu với Thiên Thủ Như Lai chưởng của Phương Chứng đại sư. Người sao chưởng vậy, không ly kỳ biến ảo, nhưng trong thô phác lại hàm chứa tinh hoa.

Chỉ những người có bản lĩnh thực sự và có sở đắc chân chính như Nhậm Ngã Hành mới dám vất bỏ mọi lớp vỏ văn hóa hoa hòe che phủ bản thân, để hiện ra một cách trần trụi với mọi cái xấu, cái tốt không thèm che dấu, như Một Con Người thực sự. Khi thì ăn nói cùng cực sắc bén đúng với phong độ của một đại tôn sư võ học, khi thì hành xử rất mực thô lỗ, thậm chí hạ cấp, như bọn hảo hán giang hồ.

Đánh mãi với Phương Chứng, liệu thế không xong thì vờ tấn công Dư Thương Hải để dùng mưu đánh ngã Phương Chứng. Không thích Tả Lãnh Thiền nhưng lại thành thật công nhận:”Nễ võ công liễu đắc, tâm kế dã thâm, ngận hợp lão phu đích đảm trụ” (ngươi võ công có chỗ hơn người, lại có mưu kế sâu, điều đó rất hợp với tâm ý lão phu”). Ông chỉ chê Tã Lãnh Thiền một điểm là đã có dã tâm thôn tính Ngũ Nhạc kiếm phái thì cứ ngang nhiên mà làm, không cần phải dùng đến những thủ đoạn lén lút, những âm mưu quỷ kế đê hèn không xứng đáng với bậc anh hùng hảo hán. Nhậm Ngã Hành cũng không hề che dấu tham vọng bá chủ võ lâm của mình.

Hiếm có vị tôn sư võ học nào lại ngang nhiên tự nhận: “Lão phu võ công ký cao, tâm tư hựu thị cơ mẫn vô tỷ, chỉ đạo phổ thiên hạ dĩ vô kháng thủ” (lão phu võ công đã cao, tâm tư lại bén nhạy nhất đời, cứ cho rằng khắp thiên hạ không có đối thủ). Và do đó ông phải vô cùng bội phục kẻ đã soán đoạt ngôi vị giáo chủ của mình là Đông Phương Bất Bại.

Đối với Xung Hư đạo trưởng thì ông ca ngợi nhân cách và Thái cực kiếm pháp của vị chưởng môn hết lời, nhưng lại khẳng định ngay: ”Nễ đích Thái cực kiếm pháp tuy cao, vị tất thắng đắc quá lão phu” (Thái cực kiếm pháp của đạo trưởng tuy cao, nhưng chưa chắc đã thắng nỗi lão phu)!

Môn Hấp tinh đại pháp mà Nhậm Ngã Hành khổ luyện cũng có ý nghĩa riêng của nó:gom hết những tinh hoa trong thiên hạ để về phục vụ cho chính cái tôi. Đó cũng là môn võ công biểu hiện quan điểm cực đoan của “Duy ngã độc tôn”. Cái tôi của Nhậm Ngã Hành khi được khoáng trương đến cực độ thì tại điểm “bách xích can đầu”
sẽ “hoặc dược tại uyên” (nhảy vào hố thẳm), như con rồng của quẻ Kiền trong kinh Dịch, để vỡ tan ra từng mãnh. Bước nhảy đó sẽ là điều kiện tối hậu để Nhậm Ngã Hành với Hấp tinh đại pháp bắt gặp kịp Phương Chứng đại sư với Dịch cân kinh. Cái tâm đại bi vô lượng của một bậc đại tôn sư võ học sẽ hóa giải cái tôi cực kỳ bá đạo của một đại tôn sư võ học khác, cũng như cái Duy Ngã Độc Tôn sẽ cùng cõi Chân Không Diệu Hữu viên dung nhất thể. Cái Tôi được khẳng định đến cùng cực, khi gặp cơ duyên, sẽ dễ dàng tan biến vào cái đối cực của nó là cõi Man Mác Huyền Minh. Giá như Nietzsche sống lại, ắt hẵn sẽ trỏ vào Nhậm Ngã Hành mà nói “Ecco Homo” (đây là một con người)!

Nhưng muốn biểu hiện cái tôi như Nhậm Ngã Hành thì ta phải có bản lĩnh chân thực. Không có bản lĩnh chân thực thì cái tôi đó cũng chỉ là cái hình ảnh thảm hại của năm anh chàng võ nghệ mèo quào học đòi lên Hoa sơn luận kiếm! Như Tây Thi nhăn mặt thì cả làng đều say đắm, Đông Thi bắt chước nhăn mặt thì cả làng đều bỏ chạy. Muốn học cách viết Sử Ký như Tư Mã Thiên thì phải học cách du sơn ngoạn thủy như Tư Mã Thiên, muốn kiêu ngạo và phô diễn cái tôi như Nhậm Ngã Hành thì tự xét mình đã có được cái bản lĩnh như Nhậm Ngã Hành không? Có dám ngang nhiên phơi bày mọi cái xấu lẫn cái tốt, vì hiểu rằng cái xấu hay tốt đó đều “bất khả tư nghì” đối với cao thủ cỡ Dư Thương Hải không? Và có thực dám “nhậm ngã hành” (cứ làm theo ý ta) không? Có dám tự thấy ”Lão phu võ công ký cao, tâm tư hựu thị cơ mẫn vô tỷ, chỉ đạo phổ thiên hạ dĩ vô kháng thủ” chưa?

Phải học nói rất nhiều trước khi muốn im lặng, phải đọc sách rất nhiều để hiểu rằng kiến thức chỉ là trò ”điêu trùng tiểu kỹ ” vô cùng vụn vặt, phải “Bao đêm thao thức thật thà” rồi mới ngộ ra rằng “Sưu tầm chân lý té ra tầm ruồng” (Thơ Bùi Giáng). Phải đẩy cái Tôi đến chỗ tận cùng rồi mới có cơ duyên để để trừ bỏ nó. Và đằng sau cái tôi đó phải là bản lĩnh chân thực. Vì đó chính là điều kiện để con người rủ bỏ tất cả và “hoặc dược tại uyên”!

Tác giả:Huỳnh Ngọc Chiến

----- Bài viết này được dendende thêm vào sau 22 phút và 6 giây -----

Mạc Đại Tiên Sinh - Cánh độc hạc u hoài

Cục diện đương trường đang hồi căng thẳng tột độ, khi đại cao thủ của phái Tung Sơn là Đại tung dương thủ Phí Bân chuẩn bị mở sát giới, thì bất ngờ tiếng hồ cầm vang lên, và một bóng người gầy gò xuất hiện dưới tàng cây. Tiếng hồ cầm đột nhiên dứt bặt, lưỡi kiếm mảnh đã tung ra như con bạch xà lấp loáng dưới ánh trăng thượng huyền. Và Phí Bân ngã gục dưới các kiếm chiêu thần tốc. Kiếm quang vụt tắt, tiếng hồ cầm ai óan lại trổi lên, ảo não và mơ hồ theo từng bước chân xa dần của Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh. Một thảm họa được vãn hồi. Tấn kịch xảy ra chớp nhoáng và lặng lẽ trong đêm vắng. Vị kiếm khách bất ngờ đến rồi bất ngờ đi. Âm thầm và cô đơn. Như chính tâm sự u hoài của vị chưởng môn kì lạ ấy.

Trong suốt tác phẩm Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung chỉ phác họa một vài nét chấm phá đan thanh về Mạc Đại tiên sinh nhưng đã để lại ấn tượng lạ thường về vị chưởng môn phái Hành Sơn, làm người đọc bồi hồi khôn xiết. Ngày sư đệ ông là Lưu Chính Phong rửa tay gác kiếm, một sự kiện lớn làm xôn xao cả giang hồ, người ta chờ mong ông về nhưng ông vẫn biệt tích. Trong cảnh náo nhiệt của thành Hành sơn ngày đó, nhiều người đang háo hức muốn hội kiến ông, thì có ai ngờ nỗi ông lão gầy ốm quê mùa, ôm cây hồ cầm ngồi hát trong quán trà, thản nhiên nhận những đồng xu bố thí như một ông lão ăn mày, lại là vị chưởng môn mà người ta đang ngóng đợi! Người ta chỉ kịp nhận ra ông lúc ông đã đi khuất, sau khi tung một đường gươm tinh ảo chém đứt bảy miệng chén trà, để cảnh báo các khách giang hồ ba hoa hiếu sự. Như một kẽ "đại ẩn" giữa đời, con người cô độc kia lại lặng lẽ ra đi, nhưng đã để lại sau mình dư hưởng của tám chữ làm kinh động võ lâm "Cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm thanh" (Trong đàn có dấu kiếm, kiếm phát ra như tiếng đàn ). Khi tấn thảm kịch xảy ra trong Lưu phủ, toàn gia Lưu Chính Phong bị giết sạch, khiến bao tay hảo thủ giang hồ phải chấn động tâm thần, vẫn không thấy ông xuất đầu lộ diện. Rồi bất ngờ, ông lại hiện ra như hồn ma giữa đêm khuya, giết chết Phí Bân để cứu sống năm mạng người: Lệnh Hồ Xung, Khúc Phi Yến, Nghi Lâm, và cả hai đại cao thủ chính tà Lưu Chính Phong và Khúc Dương trưởng lão. Rồi ông lại tuyệt tích giang hồ. Cứ phiêu nhiên mà đến rồi phiêu nhiên mà đi. Như một cánh hạc cô đơn, Mạc


Đại tiên sinh mãi ruỗi rong giữa cõi phong trần với cây hồ cầm vàng ố và một tâm sự ngậm ngùi khó hiểu. Là chưởng môn một môn phái lớn mà cứ làm một người phiêu đãng lênh đênh. Không gia đình, không thân hữu. Sống giữa cõi đời, mà tâm sự cứ như mây bay, hạc lánh. Người ta cho rằng ông và sư đệ là Lưu Chính Phong không hợp tính tình nhau, dù cả hai đều là những nghệ sĩ thượng thừa. Điều đó dẫu có đáng tiếc chăng nữa, thì cũng là chuyện thường tình. Ở trên đời có biết bao nhiêu tâm hồn hoằng đại vẫn ngộ nhận nhau suốt cả bình sinh?

Giữa bao nhiêu sóng gió giang hồ, bỗng nhiên Mạc Đại tiên sinh lại xuất hiện, vẫn dưới lớp một ông lão quê mùa ngồi độc ẩm trong một quán rượu vô danh trên bờ sông Hoàng Hà, để nhắn nhủ Lệnh Hồ Xung nên làm minh chủ và dẫn quần hùng hắc đạo lên Thiếu Lâm tự cứu Nhậm Doanh Doanh. Trong khi một bậc cao nhân thế ngoại là Xung Hư đạo trưởng tìm cách ngăn cản không cho Lệnh Hồ Xung làm việc đó, thì thái độ và hành động của Mạc Đại tiên sinh tỏ ra ông có cái tâm nhân bản hơn rất nhiều. Mặc dù Xung Hư đã biết rõ chuyện Doanh Doanh, vì tình yêu nên phải xả thân, hi sinh cứu Lệnh Hồ Xung, để chấp nhận cái giá phải trả là chung thân chịu giam cầm trong thạch thất, nhưng dưới mắt vị chưởng môn phái Võ Đang kia, Nhậm Doanh Doanh cũng vẫn chỉ là một "nữ ma đầu". Ông còn khuyên Lệnh Hồ Xung nên quên Nhậm Doanh Doanh đi, để tìm một nơi "danh môn chính phái", cho xứng đáng với tài năng và phẩm hạnh. Làm như "danh môn chính phái" là cái gì đó ghê gớm lắm trên cõi đời này! Vị đệ nhất kiếm thủ đương thời đó, kiếm pháp đã cực cao ắt phải có được cái tâm cực tĩnh và đạo hạnh cực thâm, thế sao ông vẫn còn nặng định kiến về chính tà đến vậy! Sự hi sinh của Doanh Doanh vì tình yêu đâu phải là điều dễ tìm thấy trên cõi đời này? Từ thân phận một "Thánh Cô" cực kì cao ngạo, thanh uy trùm cả võ lâm với hàng trăm ngàn người cầu cạnh, thế mà cô lại chấp nhận hi sinh vì Lệnh Hồ Xung. Điều đáng cảm động nhất là sự hi sinh đó lại diễn ra ngay tại thời điểm mà gã tửu đồ lãng tử kia đã thân bại danh liệt, như một thây ma vất vưỡng giữa cõi giang hồ.

"Sĩ vị tri kỉ giả tử", kẻ sĩ chịu đem cái chết để đáp đền tấm lòng tri kỉ, là chuyện rất nhân bản ở đời thường. Kinh Kha vì Thái tử Đan mà vượt sông Dịch sang Tần. Dự Nhượng vì cảm tấm lòng đãi ngộ "quốc sĩ " mà chịu hủy họai thân thể để báo thù cho Trí Bá. Khổng Minh nguyện "óc gan lầy đất" để đáp đền ơn tri ngộ của Lưu Tiên chúa. Bá Nha ngậm ngùi đập vỡ cây đàn trên nấm mộ Tử Kì. Giữa kẻ sĩ và tri kỉ còn vậy, huống hồ đây lại là một tri kỉ hồng nhan? Antony đã vì Cléopâtre mà chấp nhận hi sinh cả cơ đồ, để về chết dưới một nụ môi hôn. Từ Hải đã vì Thúy Kiều mà hân hoan làm "người tử sinh", để sự nghiệp năm năm hùng cứ bị vùi chôn nơi thiển thổ. Cho nên Kim Dung có để Lệnh Hồ Xung khước từ tất cả, sẵn sàng chấp nhận cả cái chết, để quyết tâm cứu cho được Doanh Doanh, thì đó cũng chỉ là một cách tiếp theo cung bậc đa tình của bao thiên tài kim cổ. Chốn suối vàng, Shakespeare ắt hẵn sẽ cùng Nguyễn Du nắm tay nhau mà nhắc chuyện Kim Dung! Người xưa cho rằng chỉ có bậc thánh nhân mới quên được tình, và chỉ có người ngu mới không biết đến tình. Thánh nhân thì vong tình, ngu phu thì vô tình. Bọn chúng ta, với trái tim huyết nhục, ắt hẵn không thể đạt nỗi đến cảnh giới vong tình, nhưng cũng không thể là những kẻ ngu xuẫn vô tình. Nên suốt đời cứ cưu mang mãi một chữ tình để đắm chìm giữa cõi trăm năm. Câu nói của Trương Trào, một thi sĩ Trung Quốc, cách đây ba thế kỉ mà nghe ra vẫn còn vô cùng thắm thiết "Một chữ tình để duy trì thế giới, một chữ tài để tô điểm càn khôn". Ôi! cái tình là cái lụy, nhưng thử hỏi không có cái lụy ấy thì cõi đời sẽ buồn tẻ và đơn điệu biết bao nhiêu? Vị đạo trưởng khả kính được tôn xưng là Thái Sơn Bắc Đẩu của võ lâm đó, có lẽ do chỉ sống mãi với cõi đạo thanh tĩnh vô vi, nên không cảm thông được sự nhiệm màu của chữ "Tình". Hai chữ "vong tình" và "vô tình" sao mà gần nhau đến thế!

Khác hẳn Xung Hư đạo trưởng, Mạc Đại tiên sinh lại nhìn Doanh Doanh bằng đôi mắt đầy tính nhân văn của một kẻ hữu tình. Trong khi tất cả các nhân vật thuộc phe "chính giáo" xem chuyện giam cầm Doanh Doanh là một việc bình thường, thậm chí là đúng đạo lý và thích đáng với các việc làm của cô, thì chỉ có mỗi một Mạc Đại tiên sinh quan tâm và thôi thúc Lệnh Hồ Xung lên đường giải cứu Doanh Doanh. Khi Lệnh Hồ Xung thỉnh cầu ông đảm nhận trọng trách, thay thế gã bảo vệ cho các ni cô phái Hằng sơn, để gã an tâm lên đường, thì Mạc Đại tiên sinh chỉ đáp ứng bằng sự yên lặng và những tiếng hồ cầm ai oán. Từ trạng thái hân hoan khi cùng Lệnh Hồ Xung đối ẩm, xem gã tiểu điệt kia như một người bạn vong niên, bỗng nhiên ông lại rơi vào trạng thái cô đơn cố hữu. Dường như trong đời, vị kiếm khách cô độc đó chỉ một lần hân hoan khi thấy Lệnh Hồ Xung, sau khi nghe ông kể rõ câu chuyện về Nhậm Doanh Doanh, đã nôn nóng lên đường đến Thiếu Lâm tự. Điều đó khiến người đọc cảm động xiết bao. Dưới đôi mắt lạnh lùng cô độc của Mạc Đại tiên sinh, chân dung cô "nữ ma đầu" Nhậm Doanh Doanh đã hiện ra như một nữ thánh chịu khổ nạn đóng đinh trên cây thập giá của Tình yêu! Làm người, phải có cái tâm lớn mới cảm hết được cái tình sâu. Trong tất cả các bậc tôn trưởng phe chính giáo, có lẽ chỉ Mạc Đại tiên sinh mới có được cái tâm lớn để thấu hiểu được cái tình sâu của Nhậm Doanh Doanh.

Kim Dung đã sáng tạo nên một nhân vật kì lạ, cô độc khắc khổ là Mạc Đại tiên sinh. Và Kim Dung cũng không cho độc giả hiểu vì lý do nào mà ông mang tâm sự bi thương ấy. Thế nhưng chỉ qua một đọan ngắn hội kiến cùng Lệnh Hồ Xung trên quán rượu ven sông, tấm lòng quan hoài của ông đối với một "nữ ma đầu" phe đối địch, lai không có liên hệ gì đến ông, đã khiến chúng ta cảm mến ông bao xiết! Dưới lớp vỏ cô độc khắc khổ đó lại là trái tim nặng trĩu tình người của một kiếm khách tài hoa. Có lẽ trong đời, ông đã có một tâm sự u sầu tột bậc. Vì tình yêu? Vì thân phận? Vì những mộng hoài dang dở buổi thanh xuân? Ta không rõ nhưng vẫn có thể cảm thông. Vì ở trong đời, có biết bao nhiêu kẻ mang tâm sự u oán hận sầu mà không biết tỏ cùng ai, và cũng không thể tỏ cùng ai. Khách giang hồ như Mạc Đại tiên sinh thì làm gì có một Thượng Đế để cầu nguyện, nên suốt đời phải gởi tâm sự vào chén rượu và cung bậc hồ cầm ảo não thê lương. Cho dẫu khi, do gian mưu của Nhạc Bất Quần, ông cùng quần hào ngã gục giữa đám loạn kiếm trong thạch động sau núi Hoa Sơn, thì có lẽ tâm sự u hoài của Mạc Đại tiên sinh vẫn sẽ còn mãi mãi bay theo cánh hạc cô đơn giữa cõi giang hồ, cùng tiếng hồ cầm trong cung đàn Tiêu Tương dạ vũ.

Các tác giả có đỉnh cao của trí tuệ và chiều sâu của tâm hồn, thường dành ra những "khoảng không vắng lặng" lửng lơ trong tác phẩm mình, không lý giải, mà cứ để độc giả tự suy tư. Đó là Nguyễn Du với bi tâm của Từ Hải, là Kim Dung với tâm sự của Mạc Đại tiên sinh. Chính các "khoảng không vắng lặng" đó lại nói cho chúng ta rất nhiều về tâm tình của nhân gian và ý nghĩa đời!

Tác giả:Huỳnh Ngọc Chiến

----- Bài viết này được dendende thêm vào sau 23 phút và 7 giây -----

Giang Nam Tứ Hữu - Thảm kịch của tài hoa

Người xưa bảo “danh cương lợi tỏa”, danh như dây thừng, lợi như xiềng xích luôn trói buộc con người, khó ai thoát ra ngoài vòng thao túng của nó. Nhất là chữ Lợi, luôn biến cuộc đời thành một bãi chiến trường cạnh tranh khốc liệt. Nhiều kẻ trí thức thuở hàn vi luôn sống một cách rất cao nhã, vậy mà khi rơi vào thế giới của đồng tiền vẫn dễ dàng biến thành một con buôn thượng đẳng. Nhưng kẻ nào có bản lĩnh để không lụy vì lợi thì lại lụy vì danh. Dù con người cho rằng danh cao hơn lợi, Trang Tử vẫn mỉa mai:”Bá Di chết vì danh dưới núi Thú Dương, Ðạo Chích chết vì lợi trên gò Ðông Lăng. Hai người ấy cách chết chẳng giống, nhưng chỗ tàn sinh hại tính thì như nhau cả (Bá Di tử danh ư Thú Duơng chi hạ. Ðạo Chích tử lợi ư Ðông Lăng chi thượng. Nhị nhân giả sở tử bất đồng, kỳ ư tàn sinh thương tính quân dã” (Nam Hoa Kinh, Biền Mẫu). Như vậy thì Lợi và Danh đều là hai cái làm lụy người nên tránh.

Những kẻ tài hoa chân chính có chân tài thực học, không lụy vì lợi vì danh thì vẫn phải vướng vào một hệ lụy khác: Ðó là lụy vì cái Ðẹp. Ðem thân chết theo lợi thì bị xem là tiểu nhân, đem thân chết theo danh thì được gọi là quân tử, vậy đem thân để chết vì cái Ðẹp, như Lý Bạch ôm trăng, thì gọi là gì? Là tài tử chăng? Trương Trào bảo: “Một chữ tình để duy trì thế giới, một chữ tài để tô điểm càn khôn”. Không có tình thì làm thế giới đổ vỡ, không có tài thì khiến càn khôn tẻ nhạt. Sinh ra đời, ai cũng mong muốn có tài, tài năng hoặc tài hoa. Có tài năng mà không tài hoa thì thô lỗ, có tài hoa mà không có tài năng thì khó thành công, chỉ có thể đem cái tài hoa tô điểm cho đời, cho trọn cuộc chơi trong cõi bình sinh.

Nhà thơ Tô Ðông Pha từng nói: “Nhân giai dưỡng tử cầu thông minh, ngã vị thông minh ngộ nhất sinh”1 (người ta sinh con, ai cũng mong muốn con mình thông minh, còn ta vì thông minh mà lầm lỡ cả một đời người). Trong lịch sử văn học Trung Quốc, nhà thơ thông minh và tài hoa nhất là Tô Ðông Pha cũng chính là nhà thơ chịu nhiều khổ lụy nhất. Nguyễn Du bảo “Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Phải chăng vì kẻ được phú bẩm tài hoa thường hay trào lộng vạn tượng, và đó là điều làm phật lòng Tạo hóa? Như vậy thông minh và tài hoa cũng là thứ làm lụy người, cần phải tránh. Nhưng có thể tránh được không, khi Trời đã vận tài hoa vào người như một nghiệp chướng?

Quy luật bù trừ trong Thiên nhiên rất công bình. Ðạo vận động như nước, lấy chỗ dư bù vào chỗ thiếu. Cho nên, được Trời phú bẩm cho chút tài hoa, ta cũng chớ vội mừng, vì lắm khi đó chính là hiểm họa. Khi cho ta cái gì thì Thiên nhiên sẽ lấy lại của ta một phần tương ứng, lắm lúc phần bị mất đi nhiều hơn cả phần được ban cho.

Trong tất cả các tác phẩm của Kim Dung, thảm kịch của bốn nhân vật tại Cô sơn mai trang có lẽ là thảm kịch não nùng nhất về hệ lụy của hai chữ tài hoa. Ngày Hướng Vấn Thiên và Lệnh Hồ Xung đến tìm Giang Nam tứ hữu ở Cô sơn mai trang cũng đúng là lúc Ðịnh Mệnh gõ cửa đời họ. Bốn vị chủ nhân của Mai trang được Trời phú bẩm cho tài hoa, không ham thi thố, chỉ quy ẩn lánh đời để canh giữ một tội đồ nguy hiểm, thế mà Ðịnh Mệnh cũng không chịu buông tha. Âu đó cũng là hệ lụy của bọn tài tử suốt vòm trời kim cổ.

Nếu tiếng tiêu của Khúc Dương trưởng lão và tiếng đàn của Lưu Chính Phong hòa quyện trong khúc Tiếu ngạo giang hồ trước lúc lâm chung chỉ là đoạn mở đầu cho bản Giao hưởng Ðịnh Mệnh cực kỳ bi tráng, thì đoạn kết thúc của bản giao hưởng đó đã diễn ra tại cổng Cô sơn mai trang bằng cảnh thân bại danh liệt của bốn nhân vật tài hoa của Cầm-Kỳ-Thư-Họa. Tiếng đàn của Hoàng Chung Công, nước cờ của Hắc Bạch Tử, ngọn bút của Ngốc Bút Ông, chén rượu của Ðan Thanh, bốn món chơi tao nhã của khách phong lưu, đã khiến cho bốn vị chủ của nó phải thân bại danh liệt, cũng chỉ vì mãi mê đi tìm cái Ðẹp giữa đời. Nếu Dostoievski cho rằng cái thế giới đảo điên này sẽ được cứu rỗi bởi cái Ðẹp, thì cái Ðẹp cũng chính là mầm mống của tai ương! Vẻ đẹp tuyệt vời của Helène, một vẻ đẹp có thể cứu chuộc được cả ba ngàn thế giới, đã là nguyên nhân cho cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài mười năm dưới chân thành Troie, và đã là nguồn cảm hứng cho nhà thơ thiên tài của Hy Lạp là Homère viết nên trường ca Iliade bất hủ. Nhan sắc Dương Quý Phi làm điên đảo cả triều đình Ðường Minh Hoàng để rồi kết thúc một cách bi thương bằng dãi lụa tại Mã Ngôi, để Bạch Cư Dị viết nên Trường Hận Ca, để Lý Thương Ẩn viết nên bài thơ Mã Ngôi được ca tụng đến ngàn thu.

Kẻ đi tìm cái Ðẹp giữa đời, dẫu đó là kẻ đem tài hoa vào đời để biến trần gian thành một cuộc chơi, thì đó vẫn là kẻ đang tự đóng đinh mình lên cây thập gía đời. Chữ tài hoa sẽ vận vào người tài tử nhiều hệ lụy lạ lùng, đúng như Nguyễn Du đã từng đau đớn thốt lên “Phong vận kỳ oan ngã tự cư” (Những mối oan khiên kỳ lạ do nết phong nhã gây ra, ta tự mang cả vào mình - Độc Tiểu thanh ký). Tiếng đàn Hoàng Chung Công mênh mông thâm diệu, nhưng chưa kịp tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ thì tai họa đã ập tới cổng Mai trang. Chén rượu Thổ phồn của nhân vật hào sảng Ðan Thanh vừa mới kịp làm say lòng tri kỷ thì đã chìm mất giữa men đời cay đắng gấp vạn lần. Ngọn bút của Ngốc Bút Ông nằm lăn lóc trước cổng Mai trang như lời cảnh báo cho những ai học đòi thư pháp. Và nước cờ xứng danh quốc thủ của Hắc Bạch Tử vẫn còn đi sau rất xa với nước cờ đời.

“Đàn năm cung réo rắt tính tình đây; cờ đôi nước rập tình xe ngựa đó, thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ, rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà”(Nguyễn Công Trứ). Thú chơi tao nhã của khách phong lưu đẹp biết bao. Đem gieo rắc tài hoa để tô điểm cõi càn khôn bằng tiếng đàn nét bút, mãi mê giữa đời để đi tìm cái Đẹp, mà đâu ngờ lòng si mê cái Đẹp lại đem thảm họa đến kề bên. Trong bốn nhân vật ở Mai trang, Kim Dung đã tỏ ra rất sâu sắc khi để cho cọn người phản bội lại cả nhóm để cầu xin Nhậm Ngã Hành truyền thụ Hấp Tinh đại pháp lại là một nhân vật chơi cờ: nhị trang chúa Hắc Bạch Tử. Trong các môn cầm kỳ thi tửu, thì kẻ chơi cờ luôn là kẻ phải đấu trí, nên có tâm cơ ứng biến và nhiều mưu mẹo hơn cả, khác với cái tâm hồn nhiên của những nhân vật đắm chìm trong đàn, trong sách vở và trong rượu.

Kẻ tham lợi thì cuồng điên vì lợi lộc, kẻ hám danh thì chìm đắm bởi chức danh, bọn tài tử chân thực trong cõi giang hồ khinh thường cả danh lẫn lợi thì lại si mê quên đời vì chính cái Ðẹp của Nghệ Thuật. Gặp kiếm sĩ thì tặng gươm, gặp tửu đồ thì mời rượu, đó là lẽ đương nhiên. Cho nên bức tranh Khê trung hành lữ đồ của Phạm Khoan phải dành cho Tứ trang chủ Ðan Thanh, chân tích Suất ý thiếp của Trương Húc phải dành cho Tam trang chủ Ngốc Bút Ông, ván cờ Ẩu huyết phổ phải dành cho Nhị trang chủ Hắc Bạch Tử, khúc nhạc Quảng Lăng tán của Kê Khang phải dành cho Ðại trang chủ Hoàng Chung Công. Hướng Vấn Thiên quả là người tâm cơ siêu tuyệt khi đem bốn báu vật đó ra để bài trí cuộc vượt ngục đầy ngoạn mục của

Nhậm Ngã Hành. Tiếng thở dài nhận tội của Hoàng Chung Công trước bốn vị truởng lão Ma giáo nghe thật xót xa: “Hỡi ơi, mê say vật đẹp đến nỗi đánh mất cả tâm chí, đều do lỗi của bọn thuộc hạ đắm chìm nơi Cầm Kỳ Thư Họa, để cho người ta nhìn vào điểm yếu” (Ai, ngoạn vật táng chí, đô nhân thuộc hạ nịch vu cầm kỳ thư họa, cấp nhân khuy đáo liễu giá lão đại nhược điểm). Bốn báu vật Cầm Kỳ Thư Họa đó, đã khiến cho bọn tài tử bao thế hệ phải ngày đêm mơ ước, lại chính là mầm họa sát thân.

Với khách tài hoa thì cõi đời là một trò chơi lớn, một Grand Jeu theo Héraclite, nhưng đâu phải ai cũng có đủ công lực để đi trọn cuộc chơi. Thích Ca hoàn tất “cuộc chơi” trong cõi Niết Bàn, Lý Bạch tiếp tục “cuộc chơi” bằng cách cuỡi cá kình lên trời Hãn mạn, Khổng Minh bỏ dỡ “cuộc chơi” trên Ngũ trượng nguyên, Nietzsche chấm dứt “cuộc chơi” trong nhà thương điên, Bùi Giáng xóa nhòa mọi “cuộc chơi” trong cảnh giới ngao du thù thắng. Khúc Dương và Lưu Chính Phong gởi gắm “cuộc chơi” trong khúc Tiếu ngạo giang hồ. Giang Nam Tứ hữu trả giá “cuộc chơi” bằng cảnh thân bại danh liệt và cái chết oan uổng của Hoàng Chung Công.

Ðức Jésus Christ cảnh báo “Kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm”, Simome Weil nói tiếp một câu chua chát “Quiconque prend l’épée périra par l’épée. Et quiconque ne prend l’épée pas ou la lâche périra sur le croix” (Kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm, và kẻ nào không dùng gươm hoặc buông gươm sẽ chết trên trên cây thập giá) (La Pensateur et La Grâce (Union Générale D’Éditions, Paris, 1948, p.92)) ! Kẻ không tài hoa sẽ chết một đời tầm thường đơn điệu, nhưng kẻ tài hoa sẽ chết một cách đau thương, nghĩa đen hoặc nghĩa bóng, có phải thế chăng?

Tác giả:Huỳnh Ngọc Chiến

ekxanh
16-09-2008, 10:58 AM
hay quá

đối với tôi TNGH là truyện hay nhất của Kim tiền bối (thứ 2 là Lộc Đỉnh Ký), bộ này tôi đọc từ khi mới học lớp 4, in trong Sài Gòn giấy xỉn xỉn. Tôi còn nhớ mang máng 1 đoạn lời nói đầu của dịch giả Hàn Giang Nhạn chê Thủy Hử viết sai về địa lý Trung Hoa :)) , sau này các bản đang trên internet ko thấy có lời nói đầu của HGN.

đọc TNGH quả thực làm người ta có cảm giác sung sướng khi thoát khỏi sự gò bó, ràng buộc thông thường, nói hơi quá nhưng đúng là cảm giác phiêu diêu tự tại. các bộ truyện khác của KD ko thể bằng được

đáng tiếc nhất là hiện nay tất cả các phiên bản trên internet đều bị thiếu sót, đứt đoạn, chưa kể còn lỗi chính tả. có lẽ vì tôi đã được đọc nguyên bản từ nhỏ, ấn tượng mạnh trong tâm trí làm tôi khó chấp nhận việc mất đoạn trong truyện.

H_Dragon
02-01-2009, 06:04 PM
Nhậm Doanh Doanh

Ngôi vị đệ tứ đại mỹ nhân tôi xin dành cho Nhậm Doanh Doanh, cô gái 17 tuổi đẹp như ngọc, con gái của giáo chủ Triêu Dương thần giáo Nhậm Ngã Hành, một thứ tà ma ngoại đạo trong Tiếu ngạo giang hồ.

Có lẽ Kim Dung đã đem hết tâm lực của mình ra để xây dựng nhân vật Nhậm Doanh Doanh: một nhân vật nữ tươi đẹp trong sáng, giỏi âm nhạc, võ công cao cường, mưu trí sâu sắc, cai trị bọn bàng môn tả đạo bằng trái tim thép nhưng rất mẫn cảm với tình yêu và sống với tình yêu bằng trái tim dịu dàng vô kể.

Cô gặp Lệnh Hồ Xung trong khi chàng trai lãng mạn này mất hết công lực, bị sư phụ và các đồng môn đạp xuống hố sâu của của sự nghi ngờ khinh bỉ. Trong ngõ Lục Trúc thành Lạc Dương, cô tiếp Lệnh Hồ Xung qua tấm rèm không cho chàng thấy mặt; nhận tặng vật của chàng trai là bộ nhạc phổ Tiếu ngạo giang hồ và lắng nghe chàng trai kể lại nỗi đau tình khi bị Nhạc Linh San phụ bạc đi theo "gã mặt trắng" Lâm Bình Chi. Vì không thấy mặt cô nên Lệnh Hồ Xung cứ gọi cô là "bà bà".

Doanh Doanh có một nhận định khá lạ lùng về tình yêu: hễ ai không chung tình với quá khứ thì sẽ không chung tình với hiện tại và tương lai. Cho nên, cô gái 17 tuổi này đã rời bỏ ngõ Lục Trúc, ra đi để bảo vệ Lệnh Hồ Xung, đàn khúc Thanh tâm phổ thiện trú để xoa dịu những vết thương về thể xác và tâm hồn của chàng trai mà cô mới gặp đã cảm thấy yêu mến. Giữa vùng hoang sơn dã lĩnh, cô bắt ếch nướng cho Lệnh Hồ Xung ăn. Cho đến khi Lệnh Hồ Xung kiệt sức, cô đành cõng chàng lên chùa Thiếu Lâm nhờ Phương Chứng đại sư chữa trị và tự đem thân mình cho phái Thiếu Lâm cầm tù để đổi lấy sinh mạng của Lệnh Hồ Xung. Khi lành bệnh, hiểu ra được lòng thương yêu và đức hy sinh vô hạn của Doanh Doanh, Lệnh Hồ Xung đã thống lĩnh hết bọn hào sĩ bàng môn tả đạo, trống rong cờ mở, lên chùa Thiếu Lâm đòi thả Doanh Doanh ra. Chính hành động vô pháp vô thiên ấy của Lệnh Hồ Xung khiến Doanh Doanh cảm thấy được an ủi rất nhiều và thấy được sự hy sinh của mình là không uổng phí. Họ yêu nhau nhưng trong lòng Nhậm Doanh Doanh biết chàng trai chưa phai mờ hình ảnh của Nhạc Linh San. Cô không hề ghen tức, ngược lại đối xử với Nhạc Linh San như người bạn tốt. Chính cô đã cứu Nhạc Linh San, chính cô đã động viên Lệnh Hồ Xung nghe tâm trạng sư muội trước khi chết. Trong con người Doanh Doanh nhỏ bé có trái tim nhân hậu vĩ đại của một phụ nữ công bằng.

Nhậm Doanh Doanh thật thông minh, bén nhạy. Nghe Lệnh Hồ Xung kể chuyện, cô biết ngay là chàng không phải là thủ phạm giết bạn đồng môn của mình, biết ngay là chàng bị sư phụ lừa dối. Chính cô đã khám phá ra chiêu số võ công của Nhạc Bất Quần giống như chiêu số võ công của gã lại cái Đông Phương Bất Bại; từ đó phán đoán ra Tịch Tà kiếm phổ còn có nghĩa là Quỳ hoa bảo điển, và biết Nhạc Bất Quần đã "Dẫn đao tự cung" (tự thiến bộ phận sinh dục). Cũng chính cô chứ không ai khác đã nhắc bảo cho Lệnh Hồ Xung biết rằng Nhạc Bật Quần là một gã nguỵ quân tử. Và cũng chỉ có cô mới kiềm chế nổi Nhạc Bất Quần, bảo vệ mạng sống cho mình và tình lang: bóp mũi Nhạc Bất Quần cho lão uống Tam thi não thần đan, một loại độc dược mà ngoài cô ra, không ai ở trên đời có thuốc giải được.

Kết thúc Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung để cho Doanh Doanh nhường ngôi giáo chủ lại cho Hướng Vấn Thiên, làm đám cưới với Lệnh Hồ Xung và hai vợ chồng song tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ. Họ đã hoàn thành tâm nguyện mà Lưu Chính Phong và Khúc Dương ngày xưa chưa làm được: hắc đạo và bạch đạo vẫn có thể sống với nhau trong một không khí hoà bình hạnh phúc thật sự, xoá đi biên giới của hận thù và nghi kị. Tiếu ngạo giang hồ chính là khát vọng của tác giả Kim Dung đối với đất nước và đồng bào Trung Hoa của ông. Và Doanh Doanh chính là biểu tượng của cái đẹp Trung Hoa, một cái đẹp đi vào phạm trù tinh thần chứ không còn ở phạm trù vật chất nữa.

Doanh Doanh hoàn mỹ quá khiến tôi đâm ra nghi ngờ, không hiểu khi xây dựng nhân vật này, Kim Dung có đặt cái mà tôi gọi là “chủ nghĩa Đại Hán” của ông vào chăng? Tôi định chọn Nhậm Doanh Doanh ở ngôi vị số một, trên cả Triệu Mẫn, nhưng vì sự nghi ngờ đó đã khiến tôi xếp cô vào vị trí số bốn. Đã bảo tôi là một người đầy cảm tính, không thể có sự khách quan, trung thực và khoa học của các vị giám khảo chấm thi hoa hậu nghiêm khắc và đầy kinh nghiệm ngày nay cơ mà. Cho nên tôi cứ liều mạng đưa cô gái Mông Cổ lên ngôi vị số một và đặt cô Doanh Doanh Hán tộc xuống vị trí số bốn. Mà số bốn thì cũng cực kì quan trọng rồi.

Tác giả: Vũ Đức Sao Biển(Sưu tầm qua bài viết "Thử bình bầu Thập Đại Mỹ Nhân")

ltdhvktqs
05-01-2009, 03:50 PM
troài oai, VĐSB ông nầy cuồng chưởng, điên chưởng mà nhiều khi lại còn "văn" sai cả tên tuyệt học trong truyện KD nữa chứ. Đọc bình luận về cái "thiên thù tuyệt hộ chỉ" (Thiên thù vạn độc thủ) của Thù Nhi( đồ đệ tía sam long zương - Ỷ Thiên) mà buồn. cái gì mà chỉ đánh vào là tuyệt hộ haha, nản vãi.