PDA

View Full Version : Tác Giả Của Từ Điển Thiều Chửu và Nỗi Oan Hơn Nủa Thế Kỷ


hoanghungcz
01-04-2009, 03:46 AM
Chúng ta những người ham mê truyện kiếm hiệp và đặc biệt là các bạn dịch truyện từ tiếng Hán hẳn không ai là không biết đến từ điển Thiều Chửu. Thế nhưng để biết được tác giả của bộ từ điển này là ai và cuộc đời đầy oan khuất của ông mà gần đây mới được chính thức nhà nước ta minh oan cho ông, thì gần đây tôi mới được biết. Sau đây tôi xin được đăng lại tiểu sử của ông và bài báo minh oan cho ông, như một nén nhang thắp nên cho ông, mong ông dưới suối vàng thanh thản và tin rằng những người dùng Hán Việt sẽ mải mãi biết ơn ông. *


Bồ Tát đời thường và dòng chảy tư tưởng Phật học
18/03/2009 07:16 (GMT + 7)
(TuanVietNam) - Ở nước ta nửa đầu thế kỷ XX từng có một vị "Đại Bồ Tát bằng xương bằng thịt hiện thực giữa cõi đời". Ông chủ trương hoạt động tín ngưỡng là ở trong tâm mỗi người chứ không nhất thiết phải vào chùa tu hành.

Một vài quan điểm của ông thật sự cấp tiến, như chủ trương trả lại chùa cho dân làm trường học, thư viện, nhà dưỡng lão; tăng sĩ phải lao động tự nuôi mình…


Vị Bồ Tát ấy là cư sĩ Nguyễn Hữu Kha (1902-1954), quê xóm Cam Đường, làng Trung Tự, phường Đông Tác, nay là địa bàn tổ dân phố 81, phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội.

Giới Phật Tử biết ông dưới bút danh Thiều Chửu – "cái chổi lau" dùng để quét sạch bụi bặm trong lòng mình và mọi thứ rác rưởi trên đời.

Theo nhà Phật học Edward Conze, Bồ Tát là vị Phật có ba đặc điểm: 1) Khao khát đạt được sự giác ngộ hoàn toàn như Phật Tổ; 2) Giàu lòng từ bi và trí tuệ; 3) Có mối quan hệ gắn bó với những người thường và các suy nghĩ, cảm xúc như họ [1].

Và ở nước ta nửa đầu thế kỷ XX, vị "Đại Bồ Tát bằng xương bằng thịt hiện thực giữa cõi đời" Nguyễn Hữu Kha, như lời học giả Lê Mạnh Thát [2], hội tụ đủ ba đặc điểm trên.

Trong sạch và hiểu biết

Cư sĩ Kha thuộc đời thứ XIV dòng họ Nguyễn Đông Tác, một dòng họ có mặt tại thành Thăng Long từ cuối thế kỷ XV. Tổ ba đời ông là Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (1795-1868), nhà văn hóa nổi tiếng, là bạn của Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông Phan.

Cha ông là Cử nhân Nguyễn Hữu Cầu (1879-1946), đồng sáng lập viên phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT), từng bị đày ra Côn Đảo nhiều năm vì tội chống Pháp, một "đại sĩ phu" (Une Grande Figure de Lettré), như cách gọi của học giả Nguyễn Văn Tố [3]. Anh ruột ông là giáo sư - nhà sư phạm mẫu mực Nguyễn Hữu Tảo (1900-1966).

Nhưng Nguyễn Hữu Kha không kế tục truyền thống văn nhân của cha mà chọn con đường làm một cư sĩ khổ hạnh suốt đời chỉ lo cứu giúp người cùng khổ.

Cậu bé Hữu Kha bẩm sinh đa sầu đa cảm lại lớn lên dưới ảnh hưởng sâu sắc của bà nội giàu lòng nhân ái và người cha say sưa hoạt động yêu nước chống Pháp.

Những đêm cùng anh ruột đun nước pha trà điếu đóm cho các cuộc họp kín của nhóm sĩ phu ĐKNT tại nhà mình, rồi lại được đọc nhiều "Tân thư" và tài liệu cách mạng cha mang về đã sớm hun đúc trong cậu bé ý chí yêu nước, thương nòi.

Ông kể về tuổi thơ của mình: "Nhà nghèo quá, chị em tôi 7-8 tuổi đã phải chăn bò cắt cỏ, gánh nước, thổi cơm nấu cám, 10 tuổi tát nước, 12 tuổi cày bừa. Năm tôi 13 tuổi, bố bị giặc Pháp bắt, được hai tháng thì mẹ sinh con thứ 8. Đẻ được ba ngày mẹ đã phải đi làm đồng.

Tôi suốt ngày đứng rình ở cổng nhà pha (Hỏa Lò) Hà Nội, hễ thấy bố bị giải sang Tòa án thì chạy theo, bị lũ mật thám đánh rất đau.

Đọc truyện ông Gia Phú Nhĩ (Garibaldi) thấy ông nói với bạn làm mối vợ cho mình rằng "Ý Đại Lợi là vợ, Ý Đại Lợi là con", từ đó tôi nảy ra ý muốn học ông ở điểm đó... Sau đấy tôi không hề nghĩ tới cái đời riêng của tôi nữa. Người ta cho là tôi tin đạo Phật mà không lập gia đình, họ chưa biết nỗi uẩn khúc của tôi từ thủa còn thơ dại" [5]

16 tuổi, Hữu Kha một mình xuống Đồ Sơn bán thuốc Nam và bánh kẹo kiếm sống. Vì tin người nên mất hết vốn, ông phải làm phu kéo thuyền, đẩy xe, thậm chí đi ăn xin. Hai năm trời cực nhục ấy khiến ông ngày càng tin yêu triết lý cứu khổ cứu người của đạo Phật.

Cuối năm 1920, cụ Cử Cầu được ra tù, Hữu Kha về giúp cha mở hiệu thuốc Lợi Nhân Đường ở Ngã Tư Sở. Hiệu đông khách nhưng chủ yếu giúp đỡ người nghèo, "vì thế 3 năm trời hai bố con chỉ đủ ăn chẳng thừa đồng nào” [6]

Bù lại, ông học được nghề thuốc Nam và trở thành vị lương y suốt đời chữa bệnh không công. Ông lấy hiệu Tịnh Liễu (Tịnh: trong sạch, Liễu: hiểu biết), bắt đầu tự học đạo Phật và ngoại ngữ.

Suốt đời học, lao động chân tay và trí óc, miệng nói tay làm

19 tuổi, Tịnh Liễu đi nhiều chùa tham thiền vấn đạo, gặp các vị chân tu nổi tiếng như Hòa thượng (HT) Thích Thanh Hanh ở Lạng Giang, Hòa thượng Thích Thanh Thuyền ở Nam Định, cư sĩ Lê Đình Thám ở Huế… Qua chuyến khảo sát này, ông nhận ra xu hướng suy tàn của Phật Giáo:

"Khi đi sâu vào nhà chùa, tôi thấy sự tổ chức ở chùa không đúng một chút nào với lời Phật dạy; trái lại hoàn toàn dập theo khuôn khổ phong kiến chia giai cấp rất khắc nghiệt, hưởng thụ xa xỉ, bỏ mất hẳn cái tinh thần trọng lao động, không theo quy chế "một ngày không làm một ngày nhịn ăn’ của Tổ Bách Trượng.

Lại còn dùng thuật mê tín vẽ ra đàn tràng cúng bái, đục khoét nhân dân để sống một đời nhàn rỗi. Vì thế tôi nhất định không theo chế độ đó; cho tới ngày nay tôi cũng chỉ là một tín đồ tín ngưỡng triết lý mà thôi. Hơn nữa, nếu có dịp, tôi sẽ đánh đổ cái chế độ mục nát ấy. Sau đó tôi theo đuổi việc chấn hưng Phật Giáo" [7]

Qua đây, ta hiểu vì sao Nguyễn Hữu Kha không vào chùa làm sư, mà chỉ làm cư sĩ tu tại gia, vừa lao động kiếm sống vừa hoằng dương Phật pháp.

Do không mất thì giờ vào các nghi thức tôn giáo ở chùa nên cư sĩ có điều kiện học kiến thức nhiều mặt, nghiên cứu triết lý đạo Phật một cách khách quan, từ nhiều góc độ.

Năm 26 tuổi Nguyễn Hữu Kha lấy bút danh Lạc Khổ (vui trong cảnh khổ), bắt đầu dịch kinh Phật ra Quốc ngữ, vì ông thấy người ta toàn tụng kinh chữ Hán nên chẳng hiểu gì. Dịch kinh đúng là khổ thật, cực kỳ khó nhọc, phải giỏi cả Hán học, Phật học, nhưng ông quyết làm với suy nghĩ:

"Vì kém tinh thần tự lập cho nên ta cứ vùi đầu với kinh chữ Hán, ít người dám dịch kinh sang tiếng ta. Kinh chữ Phạn dịch ra chữ Hán được, thì dịch ra chữ ta cũng được chứ sao! Chữ Quốc ngữ của ta rất dễ phổ biến, dịch âm lại đúng hơn chữ Hán" [8]

Tuyển tập gồm 16 cuốn kinh cơ bản do Thiều Chửu dịch được nhà xuất bản Tôn Giáo in lại năm 2002 là một ghi nhận cố gắng ấy.

Năm 1932 ông tự in tác phẩm của mình là bản dịch “Kinh Vô Thường”; năm 1934 dùng bút danh Thiều Chửu in “Khóa Hư Kinh dịch nghĩa” – bản dịch ra Quốc ngữ tác phẩm “Khóa Hư Lục” nổi tiếng của Trần Thái Tông.

Học giả Nguyễn Lang (tức thiền sư Thích Nhất Hạnh) nhận xét: "Thiều Chửu là một cây bút rất vững chãi và sâu sắc; căn bản Hán văn của ông rất vững; văn Khóa Hư là văn biền ngẫu rất khó dịch nhưng bản dịch của ông rất đặc sắc, đọc êm tai, nghĩa lý khá rõ ràng" [9]

Thiều Chửu chưa ngày nào được đi học, chỉ được bà nội dạy chữ Hán và Quốc ngữ. Sau đó nhờ công phu tự học mà ông sớm tinh thông Tứ Thư Ngũ Kinh, đến tuổi "tam thập nhi lập" đã thạo dùng tiếng Pháp, tiếng Anh, và đặc biệt am hiểu Hán học, Phật học.

Suốt đời học, lao động chân tay và trí óc, miệng nói tay làm, nên việc gì ông cũng giỏi, từ cày cấy đến viết lách. Ông dùng thuốc Nam chữa khỏi bệnh cho nhiều người, và viết loạt bài "Bà Lang Nhà" rất thú vị đăng nhiều kỳ trên báo Đuốc Tuệ.

Ông có một học trò là Ni sư Thích Đàm Ánh, 85 tuổi, hiện trụ trì chùa Phụng Thánh [10]. Ni sư Đàm Ánh có câu cửa miệng: "Chẳng ai giỏi bằng thầy tôi" và hay kể: ông đỡ đẻ mát tay đến mức nhiều gia đình đến nhờ trước hàng tháng.

Nhân vật Thiều Chửu ấy đã đi xa hơn nửa thế kỷ nhưng tên tuổi, tư tưởng, sự nghiệp cùng di sản vô giá ngót một trăm tác phẩm của ông vẫn sống mãi với dân tộc...

Nguyễn Hải Hoành


Còn sau đây là bài viết minh oan cho ông được đăng trên:
http://tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/6417/index.aspx
Thiều Chửu - nhân vật Phật giáo xuất chúng"
19/03/2009 07:29 (GMT + 7)
(TuanVietNam) - "Ngày nay nhìn lại, thật đáng kinh ngạc về tư tưởng sâu sắc và mạnh mẽ của ông về nhân dân. Đó là một tư tưởng xã hội có tầm cao rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm... Tính thời sự vẫn còn nguyên" - nhà văn Nguyên Ngọc viết về Thiều Chửu.

>> Bồ Tát đời thường và dòng chảy tư tưởng Phật học

Học và thực hành Phật Giáo Nhân Gian

Thiều Chửu góp công lớn trong sáng lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ (1934), nhưng khi Hội mời vào Ban Trị sự thì ông lại do dự vì thấy Ban này có mấy vị quan cai trị. Sau cùng ông nhận lời với ý nghĩ có thể lợi dụng Hội này để thực hành cái chí đánh đổ chế độ thối nát của nhà chùa thời đó. [11]


Nói là làm. Ông kiến nghị lập nhà in. Hội đồng ý và giao ông quản lý nhà in Đuốc Tuệ. Tiếp đó ông được giao phụ trách tài chính của Ban Hưng công chùa Quán Sứ (1938-1942).

Thiều Chửu viết rất nhiều, tuyên truyền Phật Giáo Nhân gian, phê phán tệ mê tín dị đoan trong Phật sự.

Ông cũng sáng tác thơ ca. Nhà thơ Đinh Công Vĩ hết lời ca ngợi trong bài “Cư sĩ Thiều Chửu với cả một trời thơ”. [12]
Năm 1943, ông soạn cuốn “Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính”, chủ yếu dùng triết lý Phật Học để giải thích. Coi tập thơ Nôm khuyết danh đó là kinh Phật, Thiều Chửu là người đầu tiên nói nước ta có kinh Phật.

“Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX” xuất bản năm 1952 – tác phẩm cuối cùng, viết bằng máu và nước mắt, như lời học giả Vũ Tuấn Sán [15], thể hiện quan điểm của một Phật Tử chân chính, tiên tiến, yêu nước, kiên quyết vạch mặt một số tăng sĩ vùng địch chiếm mưu mô thần bí hóa đạo Phật, qua đó làm nhụt tinh thần kháng chiến của dân tộc.

Ông kêu gọi Tăng sĩ đoàn kết trong một tổ chức Phật Giáo thống nhất; Lao động tự nuôi thân bằng các nghề làm ruộng, công nghệ, giáo dục, y tế; Học và thực hành Phật Giáo Nhân Gian; Góp tài lực cải thiện đời sống nhân dân.

Ngót 30 năm cầm bút, Thiều Chửu để lại 93 tác phẩm viết và dịch [13]. Đáng chú ý là tác phẩm “Phép nuôi con” (1926) và “Tự điển Hán Việt” xuất bản năm 1942.

Học giả Lê Mạnh Thát nói: "Những người Việt học Hán văn không thể không cúi đầu tri ân công trình văn hóa bất hủ này". [14] Mới đây một nhóm người Việt ở Pháp biên soạn lại thành “Tự điển Hán Việt Thiều Chửu điện tử” và phổ biến miễn phí trên http://www.viethoc.org.

Nguyện làm Phật sự

Thiều Chửu từng khước từ làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ Cách mạng lâm thời để nguyện một đời làm Phật sự. [17]

Hồi làm hiệu thuốc ở Ngã Tư Sở, ông dành ba buổi tối mỗi tuần đến chùa Sở (tức chùa Phúc Khánh) dạy các nhà sư học chữ Hán. Thời gian ở hiệu sách Hòa Ký và nhà in Đuốc Tuệ, tối nào ông cũng dạy chữ Hán, Quốc ngữ, cách trí, sử ký, địa dư cho đồng nghiệp.

Ông cùng học giả Nguyễn Văn Tố và mấy người nữa đồng sáng lập Hội Truyền bá Quốc Ngữ và hăng hái làm mọi việc Hội phân công. Hồi tản cư kháng chiến, tới đâu ông cũng mở trường dạy chữ cho trẻ em và người lớn.

Thiều Chửu còn giảng dạy triết lý Phật học cho nhiều người. Một số học trò ông sau trở thành những vị chân tu uy tín cao như Hòa thượng Thích Tâm Tịch, sau là Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, Giáo sư Trần Việt Quang sau là đại tá quân đội và Ni sư Đàm Ánh - một nhà từ thiện có tiếng.

Ông từng dự đoán, khi khoa học phát triển cao, "các tôn giáo có lập trường thần bí tất sẽ bị đào thải. Thế giới ngày nay không ai không tin khoa học... Lập trường của Phật Giáo trăm phần trăm đúng với cái đích của nhân loại tiến hóa tột bực sẽ tới, lẽ tự nhiên Phật Giáo sẽ không bị đào thải, trái lại càng rực rỡ quang vinh." [19]

Ông nói, vì các Phật Tử ngày nay làm sai hẳn nguyên tắc của Phật nên đạo Phật "nhất định sẽ bị đào thải nếu ta không mau trở lại cái bản lai diện mục của Phật Giáo". Như vậy ông là một trong số rất ít người cùng thời hiểu được đạo Phật có bản chất khoa học.

"Phải tận hiếu với nhân dân"

Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: Thiều Chửu theo đạo Phật với động cơ vì dân. Ông viết bằng chữ hoa câu “Phải tận hiếu với nhân dân. Nhân dân là cha mẹ bao kiếp, là chư Phật vị lai” ngay trang đầu sách “Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX”; ông coi nhân dân là lực lượng duy nhất có thể cải tạo thứ Phật Giáo đã bị tha hóa, và họ chỉ có thể làm được việc đó khi Tăng sĩ trả chùa cho dân...

"Ngày nay nhìn lại, thật đáng kinh ngạc về tư tưởng sâu sắc và mạnh mẽ đến dường ấy của ông về nhân dân. Đó là một tư tưởng xã hội có tầm cao rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm... Tính thời sự của nó hầu như vẫn còn nguyên" [22].

Học giả Vũ Khiêu đánh giá Thiều Chửu là một con người chân chính, một nhà trí thức lớn của dân tộc, và kính tặng đôi câu đối "Nửa kiếp trầm luân, bác cổ thông kim, lòng bốn bể; Trăm năm phù thế, cứu dân báo quốc, phép muôn đời".

Học giả Vũ Tuấn Sán nhìn nhận Thiều Chửu "là một hiện tượng khá đặc biệt trong giới trí thức ở thế kỷ XX, một người sống cuộc đời thanh cao, hoàn toàn vì lý tưởng".

Còn Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn ở Viện Nghiên cứu Tôn giáo Việt Nam thì viết rằng: "Thiều Chửu là nhân vật Phật giáo xuất chúng thế kỷ XX".

Đại đức Thích Đồng Bổn cũng ngợi ca ông là "bậc Nho sĩ, Đại sĩ, Chí sĩ, rạng danh Tiết sĩ". Sách “Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX" tập I viết: Thiều Chửu là "một Phật Tử xứng đáng tiêu biểu cho hàng cư sĩ trong đạo Phật có công lớn trong lịch sử chấn hưng Phật Giáo miền Bắc" [23].

"Thiên cổ kỳ oan"

Tiếc thay, do sai lầm của đội cải cách ruộng đất nơi ông và đoàn Tế Sinh tạm trú là ấp Đồng Tâm, xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, ông bị quy là địa chủ và bị đội "xỉa xói mắng nhiếc luôn ba bốn giờ, vu cho đủ các tội ác, dùng những lời nói rất khinh bỉ hà khắc, chỉ khác với đấu tố là chưa phải quỳ thôi." [24]

Một tháng sau, rạng sáng ngày 15 tháng 7 năm 1954 tức 16 tháng 6 Giáp Ngọ (một ngày sau giỗ cụ Cử Cầu và 12 ngày trước ký kết Hiệp định Geneva), Thiểu Chửu bí mật tự giải thoát đời mình trên dòng sông Cầu chỗ đập Thác Huống.

Cái chết “Thiên cổ kỳ oan”, vì nước vì dân, không oán hận, không cầu minh oan, chỉ có Bồ Tát mới làm được ấy" (lời học giả Lê Mạnh Thát) [25] đã gây ra nỗi chấn động và tiếc thương vô hạn trong dân chúng địa phương và giới Phật Tử cả nước.

Ít lâu sau, đội cải cách hạ thành phần ông xuống trung nông. Nhưng ở cái thời kỳ ngạt thở “Nhất Đội nhì Trời”, vụ tự vẫn kinh hoàng đó đã bị lợi dụng để phủ bóng đen lên quá khứ sáng ngời của ông, vì thế không ai dám nhắc đến ông nữa.

Giữa thập niên 60, bài vị và ảnh ông tại chùa Quán Sứ bị bỏ đi không một lời giải thích. Tới đầu thế kỷ XXI vẫn còn có người ngại minh oan cho Thiều Chửu!

Ni sư Đàm Ánh kể Thiều Chửu có dặn đừng vớt xác ông, nhưng các hậu duệ và học trò không ai nỡ làm thế. Sau hòa bình lập lại, họ trân trọng rước hài cốt ông về Hà Nội mai táng. Hiện nay mộ ông đặt tại nghĩa trang Thanh Tước, số mộ 170-C3.

Tháng 6-2002, các hậu duệ ông cùng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và tạp chí Tia Sáng (Bộ Khoa học Công nghệ) đã tổ chức “Sinh hoạt lịch sử tưởng niệm 100 năm sinh nhà văn hóa Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.

Trước khi về với tổ tiên, Thiều Chửu thức trắng đêm viết thư tuyệt mệnh gửi Hồ Chủ Tịch, thư dặn dò các học trò mình phấn đấu theo Kháng chiến chống Pháp đến cùng, và viết lời kết bản Tự Bạch (cũng gửi Hồ Chủ Tịch) như sau:

"Cái án “mạc tu hữu” (tức vu cáo, ông viết chữ Nho) mà ông Nhạc Phi phải chịu đời phong kiến còn có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn biết van vỉ làm sao được nữa".

Nguyễn Hải Hoành


Nguồn: http://tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/6416/index.aspx



* Các tác phẩm nghiên cứu và dịch thuật chính của ông về Phật giáo :
1. Phật học cương yếu.
2. Khóa Hư Kinh diễn giải.
3. Sự Tích Phật Tổ diễn ca
4. Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính.
5. Con đường học Phật thế kỷ XX này.
6. Nhòm qua cửa Phật.
7. Cải tà quy chính.
8. Thế nào là Phật và Phật pháp.
9. Lục Tổ Ðàn Kinh.
10. Khóa tụng hằng ngày.
11. Bốn mươi tám phép niệm Phật.
12. Vì sao tôi tin Phật Giáo (dịch của B. Brongthon).
13. Kinh Lễ Sáu Phương (dịch).
14. Kinh Di Giáo (dịch).
15. Kinh Di Ðà (dịch).
16. Kinh Tứ Thập Nhị Chương (dịch).
...
và đặc biệt là bộ từ điển Thiều Chửu mà rất nhiều người dùng Hán-Việt sử dụng trong đó có TTV chúng ta.
Bác Mod nào giúp tôi sửa lại thành Thiều Chửu với. Xin cám ơn.
@ Cám ơn bác meliim.

meliim
01-04-2009, 06:21 AM
Tuy nhiên, tên THIỀU CHỬU sao lại bị đổi thành THIỀN CHỬU, đã đánh mất phần nào sự nghiêm túc!

Đáng tiếc!

mkn
03-04-2009, 12:08 AM
Tuy nhiên, tên THIỀU CHỬU sao lại bị đổi thành THIỀN CHỬU, đã đánh mất phần nào sự nghiêm túc!

Đáng tiếc!

xin lỗi, mình vừa thấy nên đã sửa lại ngay rồi. có gì chậm trễ, mọi người bỏ qua cho...:012:

duytan2590
04-04-2009, 11:01 PM
Có một vài chỗ đọc xong thấy hơi khó hiểu.

Do sai lầm của đội cải cách ruộng đất mà ông bị nghi oan, rồi bịn họ chửi mắng, lăng nhục, vậy, những người đã từng được ông giúp đỡ, hàng xóm láng giềng của ông, sao lại ko có người nào đứng ra giải thích giúp cho ông?

Mà sao lại có thể nhầm một người nông dân tu tại gia với một địa chủ nhỉ?

Mà nếu đã là đội sai, thì tại sao vụ tự vẫn của ông lại bị dùng để "phủ bóng đen" lên danh tiếng cả đời ông?

Bác nào biết có thể giải thích rõ ràng hơn các nghi vấn trên ko?

Phiheo
05-04-2009, 01:17 AM
Có một vài chỗ đọc xong thấy hơi khó hiểu.

Do sai lầm của đội cải cách ruộng đất mà ông bị nghi oan, rồi bịn họ chửi mắng, lăng nhục, vậy, những người đã từng được ông giúp đỡ, hàng xóm láng giềng của ông, sao lại ko có người nào đứng ra giải thích giúp cho ông?

Mà sao lại có thể nhầm một người nông dân tu tại gia với một địa chủ nhỉ?

Mà nếu đã là đội sai, thì tại sao vụ tự vẫn của ông lại bị dùng để "phủ bóng đen" lên danh tiếng cả đời ông?

Bác nào biết có thể giải thích rõ ràng hơn các nghi vấn trên ko?

Em cũng thấy vậy, chẳng hiểu gì cả.
Có mỗi bị vu là chủ nhỏ mà gọi là thiên cổ kỳ oan sao?
Mà chỉ có vậy cũng phải tự tử sao?

hoanghungcz
05-04-2009, 04:39 AM
Em cũng thấy vậy, chẳng hiểu gì cả.
Có mỗi bị vu là chủ nhỏ mà gọi là thiên cổ kỳ oan sao?
Mà chỉ có vậy cũng phải tự tử sao?

Trong diễn đàn này để có thể giải thích hết cho các bạn hiểu hết sự tàn khốc của giai đoạn cải cách ruộng đất thì là điều không thể. Mong các bạn tìm hiểu thêm trên mạng, trên sách báo hoặc qua những người đã trải qua thời kỳ cải cách ruộng đất để có thể hiểu thêm. Tôi chỉ có thể nói rằng đó là một giai đoạn tàn khốc nhất của thế kỷ 20, mà ngay chính Bác Hồ đã phải đứng ra xin lỗi trước quốc hội và khóc trong bài xin lỗi đó.
Riêng ông Thiều Chửu thì là một người có phẩm hạnh như bài báo trên đã nói, mà bị đem ra đấu tố, bị hạ nhục như một con vật thì việc ông tự tử là điều có thể hiểu. Hơn nữa cái uất ức của ông Thiều Chửu là sau khi cầu cứu tất cả các cấp mà vẫn không ai dám đứng ra minh oan cho ông và ông lấy chính cái chết để giải thoát cho mình, minh oan cho mình.
Tôi cũng là một người cùng thế hệ với các bạn, cho nên khi tìm hiểu và nghe các lời kể về giai đoạn cải cách ruộng đất cũng cảm thấy rùng mình. Rất nhiều người trải qua giai đoạn đó nói rằng: Đó chỉ là lời kể và cảm nhân mà thôi, còn thực tế thì thảm khốc hơn rất nhiều, đặc biệt là những người bị tố oan như ông Thiều Chửu.

songcau
14-04-2009, 11:15 PM
Mà chỉ có vậy cũng phải tự tử sao?

Với người có đạo đức, phẩm hạnh, sống vì mọi người mà bị vu oan, chà đạp nhân phẩm, lôi ra đấu tố mà còn ít nữa hả bạn. Có lẽ thời đó hai chữ "danh dự" có ý nghĩa hơn nhiều so với bây giờ....Một lời nói to hơn miếng ăn nhiều lắm. Bạn hãy tìm hiểu kỹ hơn về thời kỳ đó của dân tộc mình, bớt một chút thời gian đọc truyện tàu đi, thay vào đó đọc thêm về lịch sử, hiểu thêm về lịch sử dân tộc cũng là điều hay đó.

mkn
16-04-2009, 03:11 PM
nhắc nhở mọi người: bàn gì thì bàn, mkn ko thích đem chuyện chính trị vào đây. mong mọi người cẩn thận lời nói của mình.

duytan2590
16-04-2009, 11:11 PM
@hoanghungcz: Trong bài viết ko có đề cập từ điển Thiều Chửu được viết khi nào, mất bao lâu..., mình nghĩ nếu bạn có tài liệu bổ sung vào cho nó hoàn chỉnh thì tốt quá.

Phiheo
17-04-2009, 08:43 PM
Với người có đạo đức, phẩm hạnh, sống vì mọi người mà bị vu oan, chà đạp nhân phẩm, lôi ra đấu tố mà còn ít nữa hả bạn. Có lẽ thời đó hai chữ "danh dự" có ý nghĩa hơn nhiều so với bây giờ....Một lời nói to hơn miếng ăn nhiều lắm. Bạn hãy tìm hiểu kỹ hơn về thời kỳ đó của dân tộc mình, bớt một chút thời gian đọc truyện tàu đi, thay vào đó đọc thêm về lịch sử, hiểu thêm về lịch sử dân tộc cũng là điều hay đó.

Nếu vậy thì ta nghĩ ông này tu hành chưa đến chốn.:4::4:

hoanghungcz
19-04-2009, 04:46 PM
@hoanghungcz: Trong bài viết ko có đề cập từ điển Thiều Chửu được viết khi nào, mất bao lâu..., mình nghĩ nếu bạn có tài liệu bổ sung vào cho nó hoàn chỉnh thì tốt quá.

Trong tất cả các bài viết về Thiều Chửu thì không nói rõ là ông bắt đầu làm quyển từ điển trên từ khi nào, mà chỉ nói là quyển từ điển trên được in ra năm 1942. Thế nhưng theo tôi thì Thiều Chửu bắt đầu làm quyển từ điển từ khi giác ngộ đạo Phật và dịch các kinh Phật từ tiếng Hán ra tiếng Việt khi 26 tuổi ( 1928 ) cho đến khi quyển từ điển trên được hoàn thiện và in ra năm 1942 là tất cả 14 năm.
Ngoài tiếng Hán ông còn tinh thông cả tiếng Anh, tiếng Pháp và một điều đặc biệt là tất cả các ngoại ngữ trên, cũng như tất cả các kiến thức của ông là do tự tìm hiểu chứ không qua bất cứ một trường lớp nào.

* Theo bài viết " Bồ Tát đời thường và dòng chảy tư tưởng Phật học " của tác giả Nguyễn Hải Hoành (Theo Tuanvietnam.net) có đoạn:
" Năm 26 tuổi Nguyễn Hữu Kha lấy bút danh Lạc Khổ (vui trong cảnh khổ), bắt đầu dịch kinh Phật ra Quốc ngữ, vì ông thấy người ta toàn tụng kinh chữ Hán nên chẳng hiểu gì. Dịch kinh đúng là khổ thật, cực kỳ khó nhọc, phải giỏi cả Hán học, Phật học, nhưng ông quyết làm với suy nghĩ:
"Vì kém tinh thần tự lập cho nên ta cứ vùi đầu với kinh chữ Hán, ít người dám dịch kinh sang tiếng ta. Kinh chữ Phạn dịch ra chữ Hán được, thì dịch ra chữ ta cũng được chứ sao! Chữ Quốc ngữ của ta rất dễ phổ biến, dịch âm lại đúng hơn chữ Hán" [8]"

monsoon
19-04-2009, 04:56 PM
Nếu vậy thì ta nghĩ ông này tu hành chưa đến chốn.:4::4:

Có những chuyện bạn nên tìm hiểu kỹ càng hơn rồi hẵng nhận xét. Đừng buông những lời vu vơ mà bình phẩm về một nhà văn hoá lớn.

Một cuộc đời dù đã qua nhưng ánh sáng vẫn tỏa đến những thế hệ hôm nay. Cảm ơn bạn hoanghungcz đã sưu tầm những tư liệu này.