namminh
19-12-2007, 09:50 PM
Thành cổ qua thăng trầm của lịch sử
--- Tiên Thêm Sắc ---
Thành cổ, như chúng ta quen gọi ngày nay, thực chất là Hoàng thành, nơi làm việc vua quan các triều đại phong kiến Việt Nam. Hoàng thành cùng với thành Thăng Long được xây dựng từ thế kỷ (TK) XI trên phần còn lại của thành Đại La. Sau khi nhà Trần lên cầm quyền, Hoàng thành được sửa sang và xây dựng lại. Cuối TK XIII, giặc Nguyên mấy lần sang xâm lược ta, lần nào chúng cũng đốt phá Hoàng thành. Năm 1288, nhà Trần đánh bại quân Nguyên, giành lại được Thăng Long, khi trở về vua Trần phải ngủ ở hành lang nơi dành cho lính thị vệ ở bởi Hoàng thành đã bị phá trụi. Nhà Trần lại bắt tay vào xây dựng lại. Cuối TK XIV (từ 1371-1378) Chiêm Thành 4 lần đưa quân sang đánh và đốt phá Thăng Long. Khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền, không những không xây dựng mà lại mà còn cho phá dỡ nốt phần còn sót lại để lấy gạch, gỗ, ngói... đưa về Thanh Hoá xây cung. Khi giặc Minh xâm chiếm nước ta, chúng phá nốt ngoài thành. Lê Lợi đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi, giành lại giang sơn, đã cho xây dựng lại Hoàng thành và các đời vua Lê sau này cũng cho sửa chữa xây dựng thêm. Theo bản đồ Hồng Đức vẽ năm 1490, thành của thời kỳ này bao gồm Hoàng thành Thăng Long thời Lý-Trần và khu vực tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn sau này. Chính giữa Hoàng thành là điện Kính Thiên được xây năm 1428 là nơi vua hội họp với các đại thần để bàn việc lớn. Bên phải là điện Chí Thiện, phía sau bên trái là điện Vạn Thọ cũng xây năm 1428. Trước Kính Thiên là điện Thị Triều nơi các quan vào chầu vua, phía ngoài Thị Triều là cửa Đoan Môn. Hai bên Đoan Môn là 2 cửa Đông Tràng An và Tây Tràng An, ăn ra 2 phía đông và tây của Hoàng Thành. Phía đông của Hoàng thành là khu đông cung có các cung điện của Thái tử, ở giữa có hồ. Trước khu Đông cung là khu Thái Miếu nơi thờ tổ tiên của nhà vua. Ngoài một số cung chính Hoàng thành còn có hàng trăm cung điện khác, vì đời vua nào cũng xây thêm công trình mới. Khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê từ 1516-1527, cung điện kho tàng nhiều lần bị đốt phá. Sau khi đuổi nhà Mạc ra khỏi Thăng Long vào năm 1593, chúa Trịnh đã cho tu sửa lại Hoàng thành để đón vua Lê ra. Từ 1599 đến cuối TK XIV, những cung điện mới được xây dựng đều ở phía phủ chúa còn trong Hoàng thành không xây cất thêm gì. Từ cuối TK XIV đến cuối TK XVIII so với TKXV-XVI thì Hoàng thành mới do Mạc Mận Hợp tu sửa, bị thu hẹp hơn một chút.
Cuối TK XVII một nhà buôn người Anh tên là Samuel Baron còn trông thấy vết tích của cung điện và đã ghi lại: "Khi đứng trước 3 lớp thành và cung điện cổ người ta phải lấy làm ngạc nhiên, những di tích còn lại tỏ ra vững vàng, có cửa lớn và đẹp, lát bằng thứ "gạch cẩm thạch". Cung điện cổ có chu vi khoảng 6-7 dặm rất đẹp và lộng lẫy. Cuối TK XIX, Hocquard, một y sĩ trong quân đội Pháp đã mô tả thành Thăng Long đẹp và lớn, giáo sĩ người ý Marini mô tả thành Thăng Long TK XVII đẹp và chắc chắn. Sang TK XVIII, Hoàng thành sụt lở, khi quân Tây Sơn đóng ở đây thì Hoàng thành đã sụt lở gần hết chỉ còn lại 2 cửa Đại Hưng và Đông Hoa. Nhà Tây Sơn đã cho sửa chữa lại Hoàng thành. Khi nhà Nguyễn lên nắm quyền Hoàng thành được xây lại trong 2 năm 1804-1805, nhà Nguyễn dời kinh đô Huế và Hà Nội chỉ còn là một tỉnh.
Năm 1885, Pháp chiếm Hà Nội. Năm 1988, Hà Nội thành nhượng địa của Pháp và TP Hà Nội ra đời, người Pháp xếp Hà Nội là TP cấp I. Người Pháp phá thành Hà Nội và Hoàng thành cũng chịu số phận như vậy để xây dựng sở chỉ huy pháo binh và trại lính thành chỉ còn lại 1 cổng phía bắc, phía nam giữ lại cột cờ. Điện Kính Thiên chỉ còn lại đôi rồng đá.
Thành cổ hiện nay chỉ là một phần nhỏ của Hoàng thành xưa. Do hoàn cảnh chiến tranh thành cổ do quân đội quản lý. Theo mong muốn của người dân thủ đô cuối năm 1997, Chính phủ quyết định Bộ Quốc phòng bàn giao cho UBND thành phố 7000m2 đất trong thành trong đó có 3 di tích: Bắc Môn, Hậu Lâu và Đoan Môn. Tháng 12-1998 UBND thành phố đã phê duyệt dự án tu bổ, tôn tạo các công trình trên nhưng phải đến tháng 9-1999 mới được triển khai. Cả 3 di tích trên đều hư hỏng nặng và xuống cấp. Các lớp gạch ở Đoan Môn đã bị mục ruỗng không còn khả năng liên tục, chịu lực. Các đường nét và họa tiết trang trí bị gãy vỡ có nguy cơ sụp đổ. Phần Hậu Lâu bị đục thêm nhiều cửa phụ, nhiều công trình xây, phá vào kiến trúc cũ. Toàn bộ phần lầu trên của Bắc Môn đã không còn, thay vào đó là toà nhà với nền gạch đá hoa của Pháp. Sau thời gian khẩn trương tu bổ ngày 26-9-2000 hai di tích Bắc Môn và Hậu lâu được hoàn thiện. Việc tôn tạo đã được thực hiện theo quan điểm: trả lại hình hài kiến trúc cũ của di tích.
Thế là sau hơn 100 năm thành cổ mới được hồi sinh. Dẫu có muộn màng nhưng vẫn còn hơn không. Theo kế hoạch đến năm 2003 Bộ quốc phòng sẽ bàn giao 6,3 ha tiến tới chuyển giao toàn bộ thành cổ cho Hà Nội. Bộ VH-TT cũng đã có kế hoạch khôi phục diện mạo toàn bộ thành cổ. Hy vọng một ngày không xa nữa, người Hà Nội và người dân trong cả nước, khách du lịch nước ngoài có thể đến tham quan một công trình kiến trúc lịch sử sau thăng trầm của ngàn năm lịch sử.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 16 phút và 52 giây -----
Đi tìm địa chỉ người xưa
--- Phạm Đăng Kiểm ---
Quê bà Phạm Thị, mẹ đẻ ra vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) ở đâu? Đó là vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi. Qua tấm bia đá ở chùa Tiêu, tác giả cho rằng quê bà ở thôn Dương Lôi, huyện Từ Sơn (Bắc Ninh).
Năm 1977, tôi với mấy người bạn già, cùng một nhà nho: Cụ Tảo, hiệu Cao Sơn, đi vãn cảnh Tiêu Sơn. Nơi đó có chùa Lục Tổ (hay còn gọi: ứng Đại, Thiên Tâm, Tràng Liêụ..), nay gọi nôm là chùa Tiêu. Chùa Tiêu là một trong những trung tâm Phật giáo của nước ta từ xưa, thuộc hương Dịch Bảng, lộ Bắc Giang, nay là xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Chúng tôi nhìn thấy tấm bia đá "Lý Gia Linh Thạch" (Đá thiêng về nhà Lý). Bia có kích thước 40 x 60 x 18 cm, được đặt trong nhà bia nhỏ, trang nghiêm, dựng cạnh chùa Tiêu.
Sau khi xoa phấn lên những hàng chữ nhỏ li ti, dán mắt vào bia, cụ Cao Sơn dịch cho chúng tôi nghe rành rọt: "Chùa Thiên Tâm, trụ trì tăng viện là sư Vạn Hạnh, người Cổ Pháp. Đặc biệt ở phía Đông, tả ngạn, bà Kim Phạm Mẫu, người Hoa Lâm, khi đèn nhang lên chùa thường thấy vị thần đứng cạnh cột chùa... Từ đấy bà ngẫm sự việc hiện nơi mặt đá, thường ngồi trên núi buổi đầu rất linh thiêng. Việc ngẫu nhiên thành người có thai sinh ra người con họ Lý".
Tôi cứ suy ngẫm mãi về quê bà Phạm Thị, "giấy đá, Hán tự" đã rành rành ra rồi mà không sao hiểu cho chính xác. Mày mò mãi, thì ra, các cụ ngày xưa thật thông minh: Chỉ vẻn vẹn có 14 chữ đầy bí ẩn: "Đặc biệt ở phía Đông, tả ngạn, bà Kim Phạm Mẫu, người Hoa Lâm" đã ghi quê bà Phạm Thị chính xác tuyệt vời! Dòng địa chỉ này cốt nhắn gửi cho con cháu hàng nghìn, hàng vạn năm sau. Cho dù "nhật nguyệt chuyển vần" thì "Phía Đông" vẫn là "phía đông" - một cách định vị quá an toàn. Lại nói, nhân dân vùng Tiêu, Tân Hồng, rộng ra là toàn vùng Tiên Sơn, một phần các huyện Yên Phong, Gia Lâm, Đông Anh... khi gọi bắc phần là phần đất phía bắc sông Đuống; nam phần, là phần đất phía nam sông Đuống.
Đứng trên núi Tiêu, ta thấy dòng sông Đuống hùng vĩ bốn mùa ồn ào nước chảy. Vậy "tả ngạn" trên bia "Lý Gia Linh Thạch" chính là "tả ngạn" sông Đuống.
Bây giờ, lấy chùa Thiên Tâm làm tâm điểm, phóng mắt về phía đông ta sẽ thấy quanh trục "tia dài phía đông" ấy, hàng lô những làng mạc, chùa chiền: Càn Nguyên, Minh Châu, Bút Tháp, Chùa Dâu. Nhưng chùa Bút Tháp, Chùa Dâu lại nằm bên hữu ngạn sông Đuống, nên không tính đến nữa. Vậy ta còn lại một "tia ngắn phía đông" từ tả ngạn sông Đuống hắt về Thiên Tâm tự. Quê bà Phạm Thị sẽ nằm trên "tia ngắn phía đông" ấy. Muốn tìm được quê bà Phạm Thị chính xác hơn nữa, bia "Lý Gia Linh Thạch" lại còn ba chữ "Hoa Lâm nhân". Đó là cái "thước đo đất" các cụ để lại cho chúng ta, để "đo" đến quê bà Phạm Thị. "Hoa Lâm" chính là tên một vùng đất cách chùa Thiên Tâm ba km về phía đông.
Đến đây, 14 chữ trên bia "Lý Gia Linh Thạch": "Đặc biệt ở phía đông, tả ngạn, bà Kim Phạm Mẫu, người Hoa Lâm", ta có thể hiểu như sau: Mẹ vua Lý Công Uẩn là bà Phạm Thị. Quê bà ở phía đông chùa Thiên Tâm, tả ngạn sông Đuống, thuộc vùng đất Hoa Lâm (cách chùa Thiên Tâm ba km từ phía đông).
Quay về Cha Lư tự (Minh Châu, Gia Châu), thuộc thôn Dương Lôi, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh, theo đúng chỉ dẫn của bia "Lý Gia Linh Thạch". Chùa Cha Lư cách chùa Thiên Tâm khoảng 3 km. Thật may mắn, chùa Cha Lư thờ Phật và thờ bà Thánh mẫu Phạm Thị. Trên tấm bia chùa Cha Lư, dựng năm 1624, ghi lại "Chùa được sửa chữa lần thứ hai làm nơi thờ Phật và bà Phạm Thị...". Trên "Cha Lư tự chung", chuông chùa Cha Lư, đúc năm 1825 viết: "Dương Lôi là đất thang mộc của Thánh mẫu Lý triều. Đất đẹp Dương Lôi. Sản sinh nghiệp Lý. Chùa gọi Cha Lư. Một tòa điện pháp...". Vùng đất "Hoa Lâm", bia "Lý Gia Linh Thạch" có nói cách chùa Cha Lư khoảng 200 m, về phía đông, thuộc địa phận thôn Dương Lôi.
Điều đặc biệt nhất là tại Dương Lôi còn có đền thờ bà Phạm Thị. Dân làng vẫn quen gọi là đền Đức Thánh Mẫu, được xây dựng đã hàng nghìn năm. Tương truyền sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, ông có về quê thăm dân làng và xây ngôi đền này để tưởng nhớ đến công lao sinh thành, dưỡng dục của mẹ mình.
Đền Thánh mẫu ở đông, đông nam làng Dương Lôi, cách khu dân cư xóm Đường sau khoảng 400 m, cách đường cái quan (đường từ chùa Tiêu đi chùa Phật Tích) khoảng 200 m. Trên đường cái quan, mấy năm trước, còn hai tấm bia đá ghi chữ "hạ mã" chôn ở hai đầu đường (đối diện với hai đầu đền Thánh mẫu). Đền Thánh mẫu xây theo lối "nội vương", "ngoại quốc", ngoảnh mặt về hướng chùa Tiêu, trước đền có cổng tam quan rêu phong cổ kính. Toàn bộ diện tích mặt bằng của đền khoảng bốn mẫu Bắc Bộ. Đồng ở khu vực đền Thánh mẫu nay có tên là "Vệ Đền". Đền Thánh mẫu đã bị thực dân Pháp đốt, phá hủy vào năm 1952, đến năm 1960 chỉ còn lại nền gạch và trụ cổng đứng chơ vơ giữa đồng. Hiện nay chỉ còn lại bia đá "Nhất thiên thạch trụ", dựng vào năm sửa đền, tháng 8-1705 và một bức đại tự ghi bốn chữ "Cổ Pháp triệu cơ" (Đất Cổ Pháp có nguồn gốc tại đây). Trên bia "Nhất thiên thạch trụ" ghi: "Nơi đây có cổ tích Lý triều thiên thánh, chính là Dương Lôi đất báu tối thiêng, dân có cầu tất ứng nghiệm ngay, dân có xin ắt cảm thông liền. Thánh gia ân xã tắc thái bình, thần ban phúc người vật yên vui".
Những chứng tích hùng hồn ở Dương Lôi, nói lên đây chính là quê bà Phạm Thị.
Tại Dương Lôi, dòng họ Phạm ngày nay khá đông đúc, đến lập nghiệp ở đây đã hàng nghìn năm, các gia đình trong họ Phạm, sinh sống trên đất xóm Cầu So, xóm hình thành đầu tiên ở làng Dương Lôi.
Nhân dân Dương Lôi vô cùng tự hào, làng mình "diên uẩn, hương vua", có Người Mẹ vĩ đại, bà Phạm Thị, đã sản sinh cho đất nước một thiên tài trị quốc, một bậc minh vương. Tên tuổi trở thành niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam.
Năm 1998, dân làng Dương Lôi đã bỏ công, sức, tiền, của xây lên một đền Thánh mẫu mới, cạnh ngôi đền cũ, để tưởng nhớ đến bà Phạm Thị, người phụ nữ làng Dương Lôi đã đi vào nghìn năm.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 30 phút và 49 giây -----
Đồng tiền qua các thời đại
--- Vũ Hữu Sự ---
Dài ngắn .... tròn vuông
Ca dao ta có câu:
Chị kia có quan tiền dài
Có bị gạo nặng coi ai ra gì?
Đã có "quan tiền dài" thì liệu có "quan tiền ngắn" hay không? Xin thưa: Có đấy! ở Việt Nam ta, đồng tiền của tất cả các triều đại phong kiến thời trước (trừ thời Hồ Quý Ly là dùng tiền giấy) đều là tiền kim khí, được đúc bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng kẽm hoặc đồng pha kẽm, pha thiếc. Phổ biến nhất trong dân gian là tiền đồng. Tiền hình tròn, có lỗ vuông ở giữa (khổng phương). Người xưa quan niệm trời tròn, đất vuông (trời xanh như tán lọng tròn; đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông), nên đồng tiền đúc ngoài tròn trong vuông là tượng hình trời đất. Trời thuộc dương, đất thuộc âm. Do đó hình dáng đồng tiền cũng hàm ý một biểu tượng âm dương. Nó phản ánh một triết lý có truyền thống lâu đời của người Việt: Triết lý vuông tròn. Nói "vuông tròn" là nói đến sự hoàn thiện, sự trọn vẹn. Ta có thể gặp trong ca dao, trong tục ngữ và cả trong thơ Việt Nam rất nhiều câu có hai từ vuông tròn đã bị rút nghĩa thực để thay vào đó là một nghĩa khác):
Lạy trời cho đặng vuông tròn
Trăm năm cho trọn lòng son với chàng!
Hay là:
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà haỵ
Đồng tiền ngoài tròn trong vuông đó, về diện tích, bao giờ cũng có tỷ lệ bẩy phần tròn, ba phần vuông. Thế nên mới có câu:
Ba vuông sánh với bẩy tròn
Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu
Từ thời Lê, ở ta có hai loại tiền, đều gọi là "quan" cả, nhưng giá trị khác nhau. Tiền quý và tiền gián. Về giá trị, một quan tiền quý (còn goị là cổ tiền) bằng 10 tiền, mỗi tiền là 60 đồng. Như vậy một quan tiền quý bằng 600 đồng.
Một quan là sáu trăm đồng;
Chắt chiu ngày tháng cho chồng đi thi
(Ca dao)
Tiền gián (còn gọi là sử tiền) chỉ có 6 tiền, mỗi tiền cũng 60 đồng. Một quan tiền gián chỉ có 360 đồng. Vì tiền là tiền đúc, cho nên người ta phải lấy dây xâu tiền thành chuỗi (sử ghi rằng quyền thần Trương Phúc Loan thời chúa Nguyễn Phúc Dương nhiều tiền đến nỗi các dây xâu tiền mục ra, hàng năm y bắt dân phải nộp tới... 50 gánh dây mây chỉ để xâu tiền). Quan tiền quý (600 đồng) xâu thành chuỗi chắc chắn phải dài hơn quan tiềngián (360 đồng). Thế nên nói "quan tiền dài" là nói "quan tiền quý". "Quan tiền ngắn" tức là "quan tiền gián".
Xung quanh chuyện"quan ngắn, quan dài" có một giai thoại rất hay. Một hôm, "bà chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương hỏi vay Chiêu Hổ (một danh sĩ đương thời, bạn thân của bà) năm quan tiền. Chiêu Hổ nhận lời, nhưng rồi chỉ đưa đến 3 quan tiền dài. Hồ Xuân Hương cho là Chiêu Hổ kẹt sỉ, nói dối, bèn làm một bài thơ gửi đến, gọi mỉa Chiêu Hổ là "cuội" (nói dối như cuội):
Sao nói rằng năm, lại có ba
Trách người quân tử ở sai ngoa
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt
Nhớ hái cho xin nắm lá đa
Nhận được thơ, Chiêu Hổ giận lắm. Vì Hồ Xuân Hương hỏi vay năm quan nhưng không nói rõ là năm quan nào. Nên ông đem đến 3 quan dài (3x600=1.800đồng) thì cũng bằng năm quan ngắn (5x360=1.800đồng) chứ sao. ông bèn làm một bài thơ "trả đũa" lại:
Rằng gián thì năm, quý có ba
Trách người thục nữ tính không ra
Ừ! Rồi thong thả lên chơi nguyệt
Cho cả cành đa lẫn... củ đa"
Ca dao có bài "đi chợ tính tiền" rất hay nói về sự tháo vát, đảm đang của người phụ nữ ngày xưa trong công việc nội trợ, việc "tay hòm chìa khoá" của gia đình:
Một quan tiền quý mang đi
Em mua những gì, em tính chàng nghe:
Thoạt tiên mua ba tiền gà (180 đồng)
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu (93 đồng)
Trở lại mua sáu đồng cau (6 đồng)
Tiền rưỡi miếng thịt; giá, rau mười đồng (100 đồng)
Có gì mà tính chẳng thông
Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi (96 đồng)
Ba mươi đồng rượu chàng ơi (30 đồng)
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng (50 đồng)
Hai chén nước mắm rõ ràng
Hai bẩy mười bốn kẻo chàng hồ nghi (14 đồng)
Hăm mốt đồng bột nấu chè (21 đồng)
Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan
Đồng tiền "Khổng Phương" của ta được khai sinh từ thời Tiền Lý (544). Hai đồng tiền được đúc cuối cùng là đồng Khải định (Khải định Thông Bửu) và Bảo đại (Bảo đại Thông Bửu). Nhưng hai đồng tiền đó không tính thành "quan" nữa, mà được quy theo giá trị của đồng bạc đông Dương. Một đồng Khải định bằng 1/2 xu (tức bằng 1/200 đồng bạc đông Dương thuộc Pháp, gọi là 1 chinh). Đồng Bảo đại cũng có giá trị như thế. Vì Khải định là cha Bảo đại, nên dân gian gọi đồng Khải định là "chinh to", đồng Bảo đại là "chinh con". Đồng "chinh con" nhanh chóng mất giá. Ba "chinh con" mới đổi được một "chinh to". Hồi đó đã có câu:
Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền
Cùng với sự thoái vị của Bảo đại năm 1945, đồng tiền phong kiến đã trở thành sở hữu của lịch sử, sau một thiên niên kỷ rưỡi hiện diện (544-1945) mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử tiền tệ Việt Nam: đồng tiền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 32 phút và 19 giây -----
Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan
--- Đoàn Minh Tuấn ---
Ỷ Lan - có thuyết cho rằng tên thật của bà là Lê Thị Yến Loan - là một cô gái hái dâu, chăn tằm ở ngoại thành Thăng Long thời Lý. Ỷ Lan ra đời ở làng Thổ Lỗi (làng Sủi sau đổi là Siêu Loại, nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm - Hà Nội) - năm nào không rõ, sử sách chỉ ghi lờ mờ: bà mất ở kinh thành Thăng Long vào năm 1117 - trên dưới 70 tuổi - thời Lý Nhân Tông. Sách Mộng khê bút đàm của Thẩm Hoạt có chép "Nhật Tôn (tức Lý Thánh Tông) mất, Càn Đức (Lý Nhân Tông) lên, dùng quan là Lý Thượng Cát (Lý Thường Kiệt) và mẹ là thái phi Lê Thị Yến Loan cùng coi việc nước".
Câu chuyện Yến Loan vào cung vua Lý, đó là một giai thoại người người đều nghe, đều biết.
Thuở ấy vào năm Quý Mão (1063) Lý Thánh Tông đã đến bốn mươi tuổi. Vua chưa có con trai để truyền ngôi báu, đêm ngày triều thần lo ngại. Vua bèn thân hành đi cầu tự khắp các chùa chiền, miếu mạo nhưng không hiệu nghiệm, Lý Thánh Tông lo lắng cho triều đình nhà Lý và xã tắc Đại Việt. Một sớm mùa xuân, vua về viếng thăm chùa Dâu (tổng Dương quang phủ Thuận Thành) dân làng mở hội nghênh giá. Thánh Tông hoàng đế cùng hòa vào dân chúng trong hội làng đông vui. Trai gái, già trẻ các làng đều ra rước vua. Đoàn xa giá của vua đi đến đâu, các làng lân cận nô nức, đổ xô về phía ấy. Duy chỉ cô thôn nữ xinh đẹp của làng Sủi vẫn điềm nhiên hái dâu, xem việc ngự giá của vua không có quan hệ gì đến mình. Cô gái vẫn miệt mài bên bãi dâu, mặc cho đoàn ngự diễu qua. Lý Thánh Tông lấy làm lạ, bèn cho đòi người con gái có vẻ "kiêu căng" đang đứng bên nương dâu kề gốc lan ấy đến trước kiệu rồng để hỏi. Cô gái ung dung nhẹ nhàng tới quỳ tâu: Thiếp là con nhà nghèo hèn, phải làm lụng đầu tắt mặt tối, phụng dưỡng cha mẹ có đâu dám mong đi xem rước và nhìn mặt rồng".
Vua thấy cô gái ăn mặc quê mùa, nhưng cử chỉ đoan trang dịu dàng, lời lời phong nhã, đối đáp phân minh, lễ nghĩa khác hẳn những người con gái mà vua đã từng gặp. Vua yêu vì sắc, trọng vì nết, nên cho cô gái theo long giá về kinh đô. Cô gái làng quê được đón về cung vua ấy là Yến Cô Nương xinh đẹp, nết na của làng Siêu-Loại (Sủi). Nhưng Lý Thánh Tông là ông vua chăm việc nước, luôn luôn thân chinh dẹp giặc. Vua ít nhàn rỗi để ngự tới cung Ỷ Lan. Đương lúc cung Ỷ Lan vắng tiếng đàn, tiếng sáo, thì bỗng một hôm sau khi Thánh Tông đi trảy hội chùa Thổ Lỗi, cung Ỷ Lan lại nhộn nhịp hơn xưa. Yến Cô Nương nhờ "thông minh vốn sẵn tư trời" được học tập, trau dồi đã trở thành một cung phi "nổi danh tài sắc một thời" kinh sử làu thông, văn chương uyên bác. Lý Thánh Tông đem lòng yêu mến, phong làm Ỷ Lan phu nhân, lấy tên cung Ỷ Lan và cũng có ý kỷ niệm cô gái đứng tựa bên gốc lan, khi tuân lệnh đến bệ kiến buổi đầu ở làng Sủi (Siêu Loại).
Sau đó (1066), Ỷ Lan sinh hạ được một hoàng tử lấy tên là Kiền Đức. Kiền Đức trán cao, tay dài quá gối, thông minh, tuấn tú, vua càng yêu dấu hơn, Yến Loan được tôn là Ỷ Lan nguyên phi - đứng đầu các cung phi, sau thái hậu; con trai được lập làm thái tử.
Năm Kỷ Dậu (1069), Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh giặc ngoại xâm. Trong khi vua cùng Lý Thường Kiệt ở ngoài biên cương, Ỷ Lan nguyên phi đảm đang, chăm lo quốc sự, trị nước điều khiển có kỷ cương khiến thần dân thán phục, cõi nước được yên vui. Lý Thánh Tông từ ngoài biên ải đánh trận lâu ngày không thắng, chán nản rút quân quay về. Về chưa đến nơi, nghe dân chúng Châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hải Hưng) ca ngợi nguyên phi Ỷ Lan ở nhà trị nước rất giỏi, lòng dân cảm hóa, được suy tôn là bà Quan Âm, vua Thánh Tông tự trách mình: "Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là đàn ông há thua sao! Vua lại tiếp tục trở ra đánh giặc, lần này thắng trận. Năm đó, mùa hạ vua đem quân về ca khúc khải hoàn, đại xá cho thiên hạ, giảm thuế khóa, phát tiền lụa, thóc cho dân nghèo. Ỷ Lan rất nhân từ dạy con ngoan, đào tạo con trở thành một nhà vua anh minh sau này; lại lo cho dân giàu nước mạnh, yêu thương nhân dân được mọi người kính phục.
Năm Nhâm Tý (1072) tháng giêng mùa xuân, Lý Thánh Tông mất ở điện Hội Tiên. Hoàng thái tử Kiền Đức lên ngôi vua, tức vua Lý Nhân Tông. Khi ấy vua mới lên bảy, tôn mẹ là Ỷ Lan nguyên phi lên làm Linh Nhân hoàng thái hậu. Ỷ Lan vừa giúp coi triều chính, vừa làm nhiệm vụ bà mẹ dạy dỗ con. Trong khi vua còn thơ ấu, Ỷ Lan điều khiển cả quốc gia, cùng tể tướng Lý Thường Kiệt chủ trương đánh quân Tống xâm lược. Hai lần quân Tống đến (1075, 1077) vua Lý Nhân Tông chưa quá 10 tuổi, Ỷ Lan đã cùng Thái sư Lý Đạo Thành lo việc binh lương chuyển ra tiền tuyến. Trong lúc Tổ quốc lâm nguy Ỷ Lan đã cùng Lý Thường Kiệt giữ vững giang sơn, xã tắc; công ấy đời sau còn nhắc mãi.
Ỷ Lan xuất thân là một thôn nữ, nên hiểu thấu những khổ đau của người phụ nữ nông dân vì nghèo khổ phải đem thân gán nợ cho nhà giàu, bà cho xuất của trong kho chuộc về, và xây dựng chồng con hạnh phúc cho họ. Về việc này Ngô Sĩ Liên đã có lời bàn: "Con gái nghèo đến nỗi phải đợ mình làm mướn, con trai nghèo đến nỗi không vợ đó là cùng dân của thiên hạ. Thái hậu (tức Ỷ Lan) đổi mệnh cho họ cũng là việc nhân chính vậy!". Ỷ Lan không những sửa sang việc quốc chính, tăng cường quân đội, bố phòng, chăm lo việc mở mang dân trí, việc thi cử học hành và còn ban hành nhiều điều ích quốc lợi dân. Ỷ Lan còn khuyên vua làm điều thiện, trị điều ác. Bà hiểu những gian nan của nông dân khi việc nông trang cày bừa không có trâu cày. Ỷ Lan bảo vua phạt tội nặng những kẻ trộm trâu và giết trâu bừa bãi; có lần bà đã nói với vua: "Gần đây người kinh thành và làng ấp đã có kẻ trốn đi chuyên nghề trộm trâu. Nông dân cùng quẫn. Mấy nhà phải cày chung một trâu. Trước đây, ta đã từng mách việc ấy, và nhà nước đã ra lệnh cấm. Nhưng nay việc giết trâu lại có nhiều hơn trước". Nhân Tông bèn ra lệnh phạt rất nặng những người trộm và giết trâu, phạt cả vợ con và hàng xóm vì tội không tố giác.
Sống trong lầu son, gác tía mà lúc nào Ỷ Lan cũng không quên đến người nghèo, Ỷ Lan vẫn chăm sóc đến đời sống cùng cực của nông dân lao động. Cũng như Lý Thánh Tông, Ỷ Lan thường phát chẩn thóc lúa cho kẻ nghèo. Bà sùng đạo Phật, ưa làm việc từ thiện lập nhiều đình chùa.
Bà thường lui tới các đình chùa, trao đổi với các tăng ni thuyết giáo đạo Phật. Năm 1096, bà bày cỗ chay ở chùa Khai Quốc (tức sau là chùa Trấn Quốc ở Thăng Long) thết các sư. Tiệc xong, bà ngồi kê cứu đạo Phật với các vị sư già học rộng. Bà hỏi về nguồn gốc đạo Phật ở các nước và ở ta. Bà có óc phán đoán đòi hỏi các sư "nói có sách mách có chứng". Chính nhờ câu chuyện giữa bà và các vị sư thời Lý (sách "Thiên uyển tập anh ngữ lục" đời Trần còn ghi lại tường tận chuyện này), mà đến nay ta còn biết gốc tích sự truyền bá đạo Phật vào nước ta. Có lần bà đến chùa Phổ Minh (Từ Liêm) tranh luận với sư Thông Biến về những điều của Phật giáo. Bà cũng có làm những bài kinh, có câu kệ còn truyền lại đến ngày nay:
Sắc là không, không tức sắc
Không là sắc, sắc tức không
Sắc? Không? thôi mặc cả,
Mới thấu được chân tông (*)
Là một nữ nông dân nghèo, được hưởng phú quý vinh hoa, bà vẫn cho là điều "sắc sắc, không không", đó là phù vân... Bà là một người phụ nữ vương giả, ngọc ngà vàng son không làm vẩn đục tâm hồn bà, cũng là một phụ nữ hiếm có trong lịch sử nghìn năm trước.
Ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu, Hội tường đại khánh năm thứ 8 (1117) đời Lý Nhân Tông, bà mất, được hỏa táng, dâng thụy là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng thái hậu, mai táng ở Thọ Lăng phủ Thiên Đức. Hiện nay còn miếu thờ bà ở hai xã Cẩm Đới và Cẩm Cầu huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
-------------------------
(*) Bản chữ Hán trong Thiền uyển tập anh - Hoa Bằng dịch
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 33 phút và 53 giây -----
Nhà nho xứ Quảng
--- Ngô Văn Minh ---
Khi viết về địa chí tỉnh Quảng Nam, Quốc Sử quán triều Nguyễn nhận xét: "Học trò chăm học hành, quân tử giữ phận mà hổ thẹn việc bôn cạnh", và "núi sông thanh tú cho nên nhiều người có tư chất thông minh dễ học. Sĩ phu có khí tiết cứng cỏi, bạo nói" (Đại Nam nhất thống trí)
Trong bài "Phú tỉnh Quảng Nam", Tiến sĩ Đốc học Trần Đình Phong cũng khen ngợi xứ Quảng là vùng đất hiếu học và có nhiều người học giỏi:
Trải xem non cao thủy thanh, thấy rõ hàng châu danh thắng
Mới biết địa linh nhân kiệt nảy sinh anh tuấn khác thường
Nam cung ứng tuyển nhạn tháp đề danh
Hoặc
Dòng dõi một nhà, khoa trước khoa sau đều đỗ
Khoa trường đã thịnh, hoạn lộ càng hanh.
Quả vậy, nói về khoa cử, Quảng Nam cũng có thể tự hào là một trong những đất học ở Nam Châu, nơi có số lượng người thi đỗ nhiều nhất so với các tỉnh phía nam đèo Hải Vân.
Ngay từ thời các chúa Nguyễn, Quảng Nam đã có những người đỗ thi hương như Lê Cảnh, Phạm Hữu Kính, Trần Phúc Thành, nhưng tiếc rằng không có tài liệu để thống kê đầy đủ. Sang triều Nguyễn, cứ theo danh sách 5.232 vị cử nhân, trong đó trường Thừa Thiên có 911 người đăng khoa trong 32 khoa thi từ 1807 đến 1918, Quảng Nam có tất cả 252 người đỗ liên tiếp cả 32 khoa. Trong số 32 khoa này, riêng khoa thi Canh Tý (1900), ở Quảng Nam đã có đến 14 người đăng khoa mà những người đỗ kế tiếp nhau từ thứ nhất đến thứ tư là Huỳnh Thúc Kháng (Hương nguyên), Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh, Lê Bá Trinh. Tổng cộng, sĩ tử Quảng Nam có 6 lần đỗ thủ khoa và 11 lần đỗ á nguyên thi hương.
Không chỉ có nhiều người đỗ ở hàng trung khoa (cử nhân) và rất nhiều người đỗ ở hàng tiểu khoa (tú tài), Quảng Nam còn có 39 vị đỗ đại khoa gồm 14 tiến sĩ và 25 phó bảng trong đó có một Đình nguyên Hoàng giáp là Phạm Như Xương, 2 trường hợp song nguyên là Phạm Phú Thứ và Huỳnh Thúc Kháng vừa đỗ hương nguyên vừa đỗ hội nguyên.
Nếu tính theo số dân đinh của Quảng Nam lúc bấy giờ là 51.458 người (theo Đại Nam nhất thống chí) thì tỷ lệ số người đỗ cử nhân là 0,49% và tỷ lệ người đỗ phó bảng, tiến sĩ xấp xỉ 0,08%.
Trong số những người đỗ đạt không chỉ có những trường hợp xuất thân từ gia đình khá giả mà còn có nhiều trường hợp nhà nông chân lấm tay bùn như Huỳnh Thúc Kháng "nhà nghèo không đủ tiền mua sách để đọc" (Huỳnh Thúc Kháng tự truyện) hay như Phạm Như Xương nhờ vợ "quanh năm buôn bán ở mom sông" giống với cảnh của nhà thơ Tú Xương đất Bắc Hà, còn Ngô Truân mồ côi cha từ nhỏ, phải sống ngụ cư quê ngoại, nhờ mẹ buôn tần bán tảo nuôi cho ăn học...
Thành tích thi cử không tập trung hết ở một số nơi đô hội mà phân bố khá rộng ở các địa phương, đến tận những làng miền núi hẻo lánh như Thạch Bình, Hội An (Hội An nay thuộc huyện Tiên Phước, không phải phố Hội An), Trung Phước (Tây huyện Quế Sơn). Tổng cộng có tới 123 làng có người đỗ từ cử nhân trở lên. Một số làng có nhiều người đăng khoa như làng Bảo An có đến 14 người, Mã Châu 10 người, Xuân Đài 9 người và các làng Phiếm ái, Mỹ Xuyên, Chiên Đàn 6 người. Các làng có từ hai người trở lên đăng khoa thì rất nhiều. Lại có trên 20 gia đình được liệt vào hàng thế khoa (nhiều người đỗ). Tiêu biểu có gia đình họ Hoàng làng Xuân Đài cha con, anh em, bác cháu, chú cháu đều thi đỗ (Hoàng Kim Giám, Hoàng Diệu, Hoàng Kim Huyễn, Hoàng Chấn, Hoàng Đống, Hoàng Dương). Gia đình họ Nguyễn làng Hà Lam cha con chú cháu cùng thi đỗ (Nguyễn Thuật, Nguyễn Chức, Nguyễn Tạo, Nguyễn Duật). Gia đình họ Phạm làng Mã Châu cha con, anh em cùng thi đỗ (Phạm Thanh Nhã, Phạm Thanh Thạc, Phạm Thanh Nghiêm, Phạm Cung Lượng). Hay trường hợp họ Nguyễn làng Chiên Đàn có cha Nguyễn Văn Dục đỗ phó bảng, con Nguyễn Văn Thích đỗ tiến sĩ. Gia đình họ Nguyễn Tường ở Cẩm Phô có anh Nguyễn Tường Vĩnh đỗ phó bảng, em Nguyễn Tường Phổ đỗ tiến sĩ, v.v.
Tiến sĩ khai khoa của tỉnh là Lê Thiện Trị người làng Long Phước, đỗ khoa Mậu Tuất 1838. Người đỗ cao nhất là Đình nguyên hoàng giáp Phạm Như Xương, người làng Ngân Câu đỗ năm ất Hợi 1875. Hai vị tiến sĩ cuối cùng là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đỗ khoa Giáp Thìn 1904. Tinh thần hiếu học không chỉ thể hiện ở những người trẻ tuổi như trường hợp Ông ích Khiêm thi đỗ cử nhân năm 15 tuổi được vua Tự Đức khen là "Thiếu niên đăng cao khoa" mà còn ở sự gương mẫu, chí kiên trì của những người sắp bước sang tuổi lão nhiêu như trường hợp Trà Quý Trưng đến năm 56 tuổi vẫn còn đi thi, đỗ cử nhân.
Người đương thời đã dành những danh hiệu đẹp để tặng cho sức học của các sĩ tử tỉnh nhà: "Ngũ Phụng tề phi" tặng cho 5 người Quảng Nam cùng đỗ khoa thi Mậu Tuất (1898) vinh quy trở về được tỉnh nhà đón rước với lá cờ thêu 5 con chim phụng cùng bay. Đó là 3 tiến sĩ: Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn và 2 phó bảng: Ngô Chuân, Dương Hiển Tiến.
Danh hiệu "Quảng Nam tứ kiệt" được tặng cho bốn người cùng đỗ phó bảng khoa Tân Sửu (1901) là Nguyễn Đình Hiến, Võ Vĩ, Nguyễn Mậu Hoán, Phan Châu Trinh.
"Quảng Nam tứ hổ" - trường hợp này nhiều tài liệu cho rằng 4 người đỗ thủ khoa trong 4 khoa thi hương liên tiếp là Phạm Liệu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Võ Hoành, nhưng khi tra cứu lại trong Quốc triều hương khoa lục, tôi nhận thấy không chính xác vì chỉ có Phạm Liệu đỗ thủ khoa năm Giáp Ngọ (1894), khoa tiếp theo Đinh Dậu (1897) thủ khoa là Lê Văn Diễn người Quảng Bình. Hai khoa kế tiếp theo sau đó thủ khoa là Huỳnh Thúc Kháng (1900) và Võ Hoành (1903). Còn Nguyễn Đình Hiến chỉ đỗ á nguyên cùng khoa với Huỳnh Thúc Kháng. Như vậy chỉ có thể nói 4 người đỗ cao trong các khoa thi từ 1894 - 1903, hoặc có thể đây là trường hợp chỉ 4 người Quảng Nam đỗ kế tiếp nhau từ hương nguyên đến hàng thứ tư trong cùng khoa thi Hương năm Canh Tý (1900) mà tôi đã nói đến ở trên là Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh, Lê Bá Trinh.
Danh hiệu "Ngũ tử đăng khoa" tặng cho 5 anh em Nguyễn Khắc Thân, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn Thành ý, Nguyễn Tu Kỷ, Nguyễn Tĩnh Cung người làng Túy La, trú làng Bất Nhị, trong đó 3 người đỗ tú tài là Nguyễn Khắc Thân, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn Tu Kỷ, 2 người đỗ cử nhân là Nguyễn Thành ý và Nguyễn Tĩnh Cung.
Trong việc quan, nhà nho xứ Quảng được Quốc sử quán triều Nguyễn đánh giá thanh liêm, chính trực, "giỏi việc quan" hay có "đại tài về chính trị". Trong sự nghiệp văn chương, nhiều người để lại những trước tác có giá trị. Chỉ riêng bộ Giá viên toàn tập của Phạm Phú Thứ đã có đến 26 quyển gồm đủ thể loại thơ, tấu, tự, khải... có đến 5 bài tựa, 8 bài phê bình và một bài bạt của những danh sĩ bấy giờ về bộ sách. Ông được Quốc sử quán triều Nguyễn đánh giá "về văn học tài biện thực là đứng đầu ở Nam châu" (Đại Nam liệt truyện). Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng lại có đóng góp lớn cho dòng văn học yêu nước và Cách mạng đầu thế kỷ 20.
Nói về khí tiết, các sử thần triều Nguyễn cũng phải công nhận sĩ phu xứ Quảng "cứng cỏi, bạo nói". Chúng ta đã từng nghe chuyện Ông ích Khiêm cãi nhau với Tôn Thất Thuyết, hay nhân một bữa tiệc dám chửi thẳng vào mặt những viên quan vô lại: "Chúng bay chỉ biết ăn mà không biết đến nước". Phạm Phú Thứ tuy biết mình là "kẻ hạ thần ngồi thấp nói cao", nhưng vẫn khẳng khái dâng thư can vua Tự Đức. Sự kiện này gây chấn động đương thời đến mức Quốc sử quán triều Nguyễn cho là "lời lẽ trong thư không còn kiêng sợ" (Đại Nam liệt truyện). Đến Phan Châu Trinh, ông tuyên chiến thẳng với chế độ quân chủ chuyên chế. Trong thư gửi Khải Định ông kể 7 tội đáng chém của Khải Định và gọi đấy là một hôn quân!
Khi chủ quyền dân tộc bị đe dọa, các nhà nho xứ Quảng mỗi người một cương vị đều tỏ rõ ý thức trách nhiệm và tấm lòng son của mình bằng nhiều cách. Hoặc đánh bằng gươm, bằng giáo nơi chiến trường như Đỗ Thúc Tĩnh ở lại Nam Kỳ mộ quân chống Pháp. Hoàng Diệu thà tử tiết với thành không chịu hàng quân xâm lược; Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu hiệu triệu nhân dân trong tỉnh "kẻ trí hiến mưu, người dũng hiến sức, giàu có bỏ của ra giúp quân nhu... để chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu hồi bờ cõi". Hoặc đánh bằng bút, bằng lưỡi như Phạm Phú Thứ đề xuất canh tân, thực hành những công việc làm cho quốc thái dân an. Và cao hơn như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng cáo từ quan tước đứng ra phát động cả một phong trào duy tân mạnh mẽ, sôi nổi ngõ hầu nhân đấy làm nên những việc hưng lợi trừ hại để dân giàu nước mạnh mà tiến tới đoạt lại lợi quyền dân tộc từ tay Pháp. Hoặc vì tranh đấu cho quyền lợi của dân chúng như Dương Đình Thưởng, Dương Đình Thạc, Lê Cơ, Ông Ích Đường, Ông Ích Mắng.
Điểm lại đôi nét về các nhà nho xứ Quảng để hiểu thêm về gương hiếu học, học giỏi nhằm giúp ích cho đời, hiểu về tinh thần yêu nước, cương trực, khí khái, thanh liêm, đức độ của kẻ sĩ một vùng đất thuộc miền trung đất nước vốn được xem là một địa phương trung dũng kiên cường.
--- Tiên Thêm Sắc ---
Thành cổ, như chúng ta quen gọi ngày nay, thực chất là Hoàng thành, nơi làm việc vua quan các triều đại phong kiến Việt Nam. Hoàng thành cùng với thành Thăng Long được xây dựng từ thế kỷ (TK) XI trên phần còn lại của thành Đại La. Sau khi nhà Trần lên cầm quyền, Hoàng thành được sửa sang và xây dựng lại. Cuối TK XIII, giặc Nguyên mấy lần sang xâm lược ta, lần nào chúng cũng đốt phá Hoàng thành. Năm 1288, nhà Trần đánh bại quân Nguyên, giành lại được Thăng Long, khi trở về vua Trần phải ngủ ở hành lang nơi dành cho lính thị vệ ở bởi Hoàng thành đã bị phá trụi. Nhà Trần lại bắt tay vào xây dựng lại. Cuối TK XIV (từ 1371-1378) Chiêm Thành 4 lần đưa quân sang đánh và đốt phá Thăng Long. Khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền, không những không xây dựng mà lại mà còn cho phá dỡ nốt phần còn sót lại để lấy gạch, gỗ, ngói... đưa về Thanh Hoá xây cung. Khi giặc Minh xâm chiếm nước ta, chúng phá nốt ngoài thành. Lê Lợi đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi, giành lại giang sơn, đã cho xây dựng lại Hoàng thành và các đời vua Lê sau này cũng cho sửa chữa xây dựng thêm. Theo bản đồ Hồng Đức vẽ năm 1490, thành của thời kỳ này bao gồm Hoàng thành Thăng Long thời Lý-Trần và khu vực tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn sau này. Chính giữa Hoàng thành là điện Kính Thiên được xây năm 1428 là nơi vua hội họp với các đại thần để bàn việc lớn. Bên phải là điện Chí Thiện, phía sau bên trái là điện Vạn Thọ cũng xây năm 1428. Trước Kính Thiên là điện Thị Triều nơi các quan vào chầu vua, phía ngoài Thị Triều là cửa Đoan Môn. Hai bên Đoan Môn là 2 cửa Đông Tràng An và Tây Tràng An, ăn ra 2 phía đông và tây của Hoàng Thành. Phía đông của Hoàng thành là khu đông cung có các cung điện của Thái tử, ở giữa có hồ. Trước khu Đông cung là khu Thái Miếu nơi thờ tổ tiên của nhà vua. Ngoài một số cung chính Hoàng thành còn có hàng trăm cung điện khác, vì đời vua nào cũng xây thêm công trình mới. Khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê từ 1516-1527, cung điện kho tàng nhiều lần bị đốt phá. Sau khi đuổi nhà Mạc ra khỏi Thăng Long vào năm 1593, chúa Trịnh đã cho tu sửa lại Hoàng thành để đón vua Lê ra. Từ 1599 đến cuối TK XIV, những cung điện mới được xây dựng đều ở phía phủ chúa còn trong Hoàng thành không xây cất thêm gì. Từ cuối TK XIV đến cuối TK XVIII so với TKXV-XVI thì Hoàng thành mới do Mạc Mận Hợp tu sửa, bị thu hẹp hơn một chút.
Cuối TK XVII một nhà buôn người Anh tên là Samuel Baron còn trông thấy vết tích của cung điện và đã ghi lại: "Khi đứng trước 3 lớp thành và cung điện cổ người ta phải lấy làm ngạc nhiên, những di tích còn lại tỏ ra vững vàng, có cửa lớn và đẹp, lát bằng thứ "gạch cẩm thạch". Cung điện cổ có chu vi khoảng 6-7 dặm rất đẹp và lộng lẫy. Cuối TK XIX, Hocquard, một y sĩ trong quân đội Pháp đã mô tả thành Thăng Long đẹp và lớn, giáo sĩ người ý Marini mô tả thành Thăng Long TK XVII đẹp và chắc chắn. Sang TK XVIII, Hoàng thành sụt lở, khi quân Tây Sơn đóng ở đây thì Hoàng thành đã sụt lở gần hết chỉ còn lại 2 cửa Đại Hưng và Đông Hoa. Nhà Tây Sơn đã cho sửa chữa lại Hoàng thành. Khi nhà Nguyễn lên nắm quyền Hoàng thành được xây lại trong 2 năm 1804-1805, nhà Nguyễn dời kinh đô Huế và Hà Nội chỉ còn là một tỉnh.
Năm 1885, Pháp chiếm Hà Nội. Năm 1988, Hà Nội thành nhượng địa của Pháp và TP Hà Nội ra đời, người Pháp xếp Hà Nội là TP cấp I. Người Pháp phá thành Hà Nội và Hoàng thành cũng chịu số phận như vậy để xây dựng sở chỉ huy pháo binh và trại lính thành chỉ còn lại 1 cổng phía bắc, phía nam giữ lại cột cờ. Điện Kính Thiên chỉ còn lại đôi rồng đá.
Thành cổ hiện nay chỉ là một phần nhỏ của Hoàng thành xưa. Do hoàn cảnh chiến tranh thành cổ do quân đội quản lý. Theo mong muốn của người dân thủ đô cuối năm 1997, Chính phủ quyết định Bộ Quốc phòng bàn giao cho UBND thành phố 7000m2 đất trong thành trong đó có 3 di tích: Bắc Môn, Hậu Lâu và Đoan Môn. Tháng 12-1998 UBND thành phố đã phê duyệt dự án tu bổ, tôn tạo các công trình trên nhưng phải đến tháng 9-1999 mới được triển khai. Cả 3 di tích trên đều hư hỏng nặng và xuống cấp. Các lớp gạch ở Đoan Môn đã bị mục ruỗng không còn khả năng liên tục, chịu lực. Các đường nét và họa tiết trang trí bị gãy vỡ có nguy cơ sụp đổ. Phần Hậu Lâu bị đục thêm nhiều cửa phụ, nhiều công trình xây, phá vào kiến trúc cũ. Toàn bộ phần lầu trên của Bắc Môn đã không còn, thay vào đó là toà nhà với nền gạch đá hoa của Pháp. Sau thời gian khẩn trương tu bổ ngày 26-9-2000 hai di tích Bắc Môn và Hậu lâu được hoàn thiện. Việc tôn tạo đã được thực hiện theo quan điểm: trả lại hình hài kiến trúc cũ của di tích.
Thế là sau hơn 100 năm thành cổ mới được hồi sinh. Dẫu có muộn màng nhưng vẫn còn hơn không. Theo kế hoạch đến năm 2003 Bộ quốc phòng sẽ bàn giao 6,3 ha tiến tới chuyển giao toàn bộ thành cổ cho Hà Nội. Bộ VH-TT cũng đã có kế hoạch khôi phục diện mạo toàn bộ thành cổ. Hy vọng một ngày không xa nữa, người Hà Nội và người dân trong cả nước, khách du lịch nước ngoài có thể đến tham quan một công trình kiến trúc lịch sử sau thăng trầm của ngàn năm lịch sử.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 16 phút và 52 giây -----
Đi tìm địa chỉ người xưa
--- Phạm Đăng Kiểm ---
Quê bà Phạm Thị, mẹ đẻ ra vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) ở đâu? Đó là vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi. Qua tấm bia đá ở chùa Tiêu, tác giả cho rằng quê bà ở thôn Dương Lôi, huyện Từ Sơn (Bắc Ninh).
Năm 1977, tôi với mấy người bạn già, cùng một nhà nho: Cụ Tảo, hiệu Cao Sơn, đi vãn cảnh Tiêu Sơn. Nơi đó có chùa Lục Tổ (hay còn gọi: ứng Đại, Thiên Tâm, Tràng Liêụ..), nay gọi nôm là chùa Tiêu. Chùa Tiêu là một trong những trung tâm Phật giáo của nước ta từ xưa, thuộc hương Dịch Bảng, lộ Bắc Giang, nay là xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Chúng tôi nhìn thấy tấm bia đá "Lý Gia Linh Thạch" (Đá thiêng về nhà Lý). Bia có kích thước 40 x 60 x 18 cm, được đặt trong nhà bia nhỏ, trang nghiêm, dựng cạnh chùa Tiêu.
Sau khi xoa phấn lên những hàng chữ nhỏ li ti, dán mắt vào bia, cụ Cao Sơn dịch cho chúng tôi nghe rành rọt: "Chùa Thiên Tâm, trụ trì tăng viện là sư Vạn Hạnh, người Cổ Pháp. Đặc biệt ở phía Đông, tả ngạn, bà Kim Phạm Mẫu, người Hoa Lâm, khi đèn nhang lên chùa thường thấy vị thần đứng cạnh cột chùa... Từ đấy bà ngẫm sự việc hiện nơi mặt đá, thường ngồi trên núi buổi đầu rất linh thiêng. Việc ngẫu nhiên thành người có thai sinh ra người con họ Lý".
Tôi cứ suy ngẫm mãi về quê bà Phạm Thị, "giấy đá, Hán tự" đã rành rành ra rồi mà không sao hiểu cho chính xác. Mày mò mãi, thì ra, các cụ ngày xưa thật thông minh: Chỉ vẻn vẹn có 14 chữ đầy bí ẩn: "Đặc biệt ở phía Đông, tả ngạn, bà Kim Phạm Mẫu, người Hoa Lâm" đã ghi quê bà Phạm Thị chính xác tuyệt vời! Dòng địa chỉ này cốt nhắn gửi cho con cháu hàng nghìn, hàng vạn năm sau. Cho dù "nhật nguyệt chuyển vần" thì "Phía Đông" vẫn là "phía đông" - một cách định vị quá an toàn. Lại nói, nhân dân vùng Tiêu, Tân Hồng, rộng ra là toàn vùng Tiên Sơn, một phần các huyện Yên Phong, Gia Lâm, Đông Anh... khi gọi bắc phần là phần đất phía bắc sông Đuống; nam phần, là phần đất phía nam sông Đuống.
Đứng trên núi Tiêu, ta thấy dòng sông Đuống hùng vĩ bốn mùa ồn ào nước chảy. Vậy "tả ngạn" trên bia "Lý Gia Linh Thạch" chính là "tả ngạn" sông Đuống.
Bây giờ, lấy chùa Thiên Tâm làm tâm điểm, phóng mắt về phía đông ta sẽ thấy quanh trục "tia dài phía đông" ấy, hàng lô những làng mạc, chùa chiền: Càn Nguyên, Minh Châu, Bút Tháp, Chùa Dâu. Nhưng chùa Bút Tháp, Chùa Dâu lại nằm bên hữu ngạn sông Đuống, nên không tính đến nữa. Vậy ta còn lại một "tia ngắn phía đông" từ tả ngạn sông Đuống hắt về Thiên Tâm tự. Quê bà Phạm Thị sẽ nằm trên "tia ngắn phía đông" ấy. Muốn tìm được quê bà Phạm Thị chính xác hơn nữa, bia "Lý Gia Linh Thạch" lại còn ba chữ "Hoa Lâm nhân". Đó là cái "thước đo đất" các cụ để lại cho chúng ta, để "đo" đến quê bà Phạm Thị. "Hoa Lâm" chính là tên một vùng đất cách chùa Thiên Tâm ba km về phía đông.
Đến đây, 14 chữ trên bia "Lý Gia Linh Thạch": "Đặc biệt ở phía đông, tả ngạn, bà Kim Phạm Mẫu, người Hoa Lâm", ta có thể hiểu như sau: Mẹ vua Lý Công Uẩn là bà Phạm Thị. Quê bà ở phía đông chùa Thiên Tâm, tả ngạn sông Đuống, thuộc vùng đất Hoa Lâm (cách chùa Thiên Tâm ba km từ phía đông).
Quay về Cha Lư tự (Minh Châu, Gia Châu), thuộc thôn Dương Lôi, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh, theo đúng chỉ dẫn của bia "Lý Gia Linh Thạch". Chùa Cha Lư cách chùa Thiên Tâm khoảng 3 km. Thật may mắn, chùa Cha Lư thờ Phật và thờ bà Thánh mẫu Phạm Thị. Trên tấm bia chùa Cha Lư, dựng năm 1624, ghi lại "Chùa được sửa chữa lần thứ hai làm nơi thờ Phật và bà Phạm Thị...". Trên "Cha Lư tự chung", chuông chùa Cha Lư, đúc năm 1825 viết: "Dương Lôi là đất thang mộc của Thánh mẫu Lý triều. Đất đẹp Dương Lôi. Sản sinh nghiệp Lý. Chùa gọi Cha Lư. Một tòa điện pháp...". Vùng đất "Hoa Lâm", bia "Lý Gia Linh Thạch" có nói cách chùa Cha Lư khoảng 200 m, về phía đông, thuộc địa phận thôn Dương Lôi.
Điều đặc biệt nhất là tại Dương Lôi còn có đền thờ bà Phạm Thị. Dân làng vẫn quen gọi là đền Đức Thánh Mẫu, được xây dựng đã hàng nghìn năm. Tương truyền sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, ông có về quê thăm dân làng và xây ngôi đền này để tưởng nhớ đến công lao sinh thành, dưỡng dục của mẹ mình.
Đền Thánh mẫu ở đông, đông nam làng Dương Lôi, cách khu dân cư xóm Đường sau khoảng 400 m, cách đường cái quan (đường từ chùa Tiêu đi chùa Phật Tích) khoảng 200 m. Trên đường cái quan, mấy năm trước, còn hai tấm bia đá ghi chữ "hạ mã" chôn ở hai đầu đường (đối diện với hai đầu đền Thánh mẫu). Đền Thánh mẫu xây theo lối "nội vương", "ngoại quốc", ngoảnh mặt về hướng chùa Tiêu, trước đền có cổng tam quan rêu phong cổ kính. Toàn bộ diện tích mặt bằng của đền khoảng bốn mẫu Bắc Bộ. Đồng ở khu vực đền Thánh mẫu nay có tên là "Vệ Đền". Đền Thánh mẫu đã bị thực dân Pháp đốt, phá hủy vào năm 1952, đến năm 1960 chỉ còn lại nền gạch và trụ cổng đứng chơ vơ giữa đồng. Hiện nay chỉ còn lại bia đá "Nhất thiên thạch trụ", dựng vào năm sửa đền, tháng 8-1705 và một bức đại tự ghi bốn chữ "Cổ Pháp triệu cơ" (Đất Cổ Pháp có nguồn gốc tại đây). Trên bia "Nhất thiên thạch trụ" ghi: "Nơi đây có cổ tích Lý triều thiên thánh, chính là Dương Lôi đất báu tối thiêng, dân có cầu tất ứng nghiệm ngay, dân có xin ắt cảm thông liền. Thánh gia ân xã tắc thái bình, thần ban phúc người vật yên vui".
Những chứng tích hùng hồn ở Dương Lôi, nói lên đây chính là quê bà Phạm Thị.
Tại Dương Lôi, dòng họ Phạm ngày nay khá đông đúc, đến lập nghiệp ở đây đã hàng nghìn năm, các gia đình trong họ Phạm, sinh sống trên đất xóm Cầu So, xóm hình thành đầu tiên ở làng Dương Lôi.
Nhân dân Dương Lôi vô cùng tự hào, làng mình "diên uẩn, hương vua", có Người Mẹ vĩ đại, bà Phạm Thị, đã sản sinh cho đất nước một thiên tài trị quốc, một bậc minh vương. Tên tuổi trở thành niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam.
Năm 1998, dân làng Dương Lôi đã bỏ công, sức, tiền, của xây lên một đền Thánh mẫu mới, cạnh ngôi đền cũ, để tưởng nhớ đến bà Phạm Thị, người phụ nữ làng Dương Lôi đã đi vào nghìn năm.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 30 phút và 49 giây -----
Đồng tiền qua các thời đại
--- Vũ Hữu Sự ---
Dài ngắn .... tròn vuông
Ca dao ta có câu:
Chị kia có quan tiền dài
Có bị gạo nặng coi ai ra gì?
Đã có "quan tiền dài" thì liệu có "quan tiền ngắn" hay không? Xin thưa: Có đấy! ở Việt Nam ta, đồng tiền của tất cả các triều đại phong kiến thời trước (trừ thời Hồ Quý Ly là dùng tiền giấy) đều là tiền kim khí, được đúc bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng kẽm hoặc đồng pha kẽm, pha thiếc. Phổ biến nhất trong dân gian là tiền đồng. Tiền hình tròn, có lỗ vuông ở giữa (khổng phương). Người xưa quan niệm trời tròn, đất vuông (trời xanh như tán lọng tròn; đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông), nên đồng tiền đúc ngoài tròn trong vuông là tượng hình trời đất. Trời thuộc dương, đất thuộc âm. Do đó hình dáng đồng tiền cũng hàm ý một biểu tượng âm dương. Nó phản ánh một triết lý có truyền thống lâu đời của người Việt: Triết lý vuông tròn. Nói "vuông tròn" là nói đến sự hoàn thiện, sự trọn vẹn. Ta có thể gặp trong ca dao, trong tục ngữ và cả trong thơ Việt Nam rất nhiều câu có hai từ vuông tròn đã bị rút nghĩa thực để thay vào đó là một nghĩa khác):
Lạy trời cho đặng vuông tròn
Trăm năm cho trọn lòng son với chàng!
Hay là:
Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà haỵ
Đồng tiền ngoài tròn trong vuông đó, về diện tích, bao giờ cũng có tỷ lệ bẩy phần tròn, ba phần vuông. Thế nên mới có câu:
Ba vuông sánh với bẩy tròn
Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu
Từ thời Lê, ở ta có hai loại tiền, đều gọi là "quan" cả, nhưng giá trị khác nhau. Tiền quý và tiền gián. Về giá trị, một quan tiền quý (còn goị là cổ tiền) bằng 10 tiền, mỗi tiền là 60 đồng. Như vậy một quan tiền quý bằng 600 đồng.
Một quan là sáu trăm đồng;
Chắt chiu ngày tháng cho chồng đi thi
(Ca dao)
Tiền gián (còn gọi là sử tiền) chỉ có 6 tiền, mỗi tiền cũng 60 đồng. Một quan tiền gián chỉ có 360 đồng. Vì tiền là tiền đúc, cho nên người ta phải lấy dây xâu tiền thành chuỗi (sử ghi rằng quyền thần Trương Phúc Loan thời chúa Nguyễn Phúc Dương nhiều tiền đến nỗi các dây xâu tiền mục ra, hàng năm y bắt dân phải nộp tới... 50 gánh dây mây chỉ để xâu tiền). Quan tiền quý (600 đồng) xâu thành chuỗi chắc chắn phải dài hơn quan tiềngián (360 đồng). Thế nên nói "quan tiền dài" là nói "quan tiền quý". "Quan tiền ngắn" tức là "quan tiền gián".
Xung quanh chuyện"quan ngắn, quan dài" có một giai thoại rất hay. Một hôm, "bà chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương hỏi vay Chiêu Hổ (một danh sĩ đương thời, bạn thân của bà) năm quan tiền. Chiêu Hổ nhận lời, nhưng rồi chỉ đưa đến 3 quan tiền dài. Hồ Xuân Hương cho là Chiêu Hổ kẹt sỉ, nói dối, bèn làm một bài thơ gửi đến, gọi mỉa Chiêu Hổ là "cuội" (nói dối như cuội):
Sao nói rằng năm, lại có ba
Trách người quân tử ở sai ngoa
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt
Nhớ hái cho xin nắm lá đa
Nhận được thơ, Chiêu Hổ giận lắm. Vì Hồ Xuân Hương hỏi vay năm quan nhưng không nói rõ là năm quan nào. Nên ông đem đến 3 quan dài (3x600=1.800đồng) thì cũng bằng năm quan ngắn (5x360=1.800đồng) chứ sao. ông bèn làm một bài thơ "trả đũa" lại:
Rằng gián thì năm, quý có ba
Trách người thục nữ tính không ra
Ừ! Rồi thong thả lên chơi nguyệt
Cho cả cành đa lẫn... củ đa"
Ca dao có bài "đi chợ tính tiền" rất hay nói về sự tháo vát, đảm đang của người phụ nữ ngày xưa trong công việc nội trợ, việc "tay hòm chìa khoá" của gia đình:
Một quan tiền quý mang đi
Em mua những gì, em tính chàng nghe:
Thoạt tiên mua ba tiền gà (180 đồng)
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu (93 đồng)
Trở lại mua sáu đồng cau (6 đồng)
Tiền rưỡi miếng thịt; giá, rau mười đồng (100 đồng)
Có gì mà tính chẳng thông
Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi (96 đồng)
Ba mươi đồng rượu chàng ơi (30 đồng)
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng (50 đồng)
Hai chén nước mắm rõ ràng
Hai bẩy mười bốn kẻo chàng hồ nghi (14 đồng)
Hăm mốt đồng bột nấu chè (21 đồng)
Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan
Đồng tiền "Khổng Phương" của ta được khai sinh từ thời Tiền Lý (544). Hai đồng tiền được đúc cuối cùng là đồng Khải định (Khải định Thông Bửu) và Bảo đại (Bảo đại Thông Bửu). Nhưng hai đồng tiền đó không tính thành "quan" nữa, mà được quy theo giá trị của đồng bạc đông Dương. Một đồng Khải định bằng 1/2 xu (tức bằng 1/200 đồng bạc đông Dương thuộc Pháp, gọi là 1 chinh). Đồng Bảo đại cũng có giá trị như thế. Vì Khải định là cha Bảo đại, nên dân gian gọi đồng Khải định là "chinh to", đồng Bảo đại là "chinh con". Đồng "chinh con" nhanh chóng mất giá. Ba "chinh con" mới đổi được một "chinh to". Hồi đó đã có câu:
Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền
Cùng với sự thoái vị của Bảo đại năm 1945, đồng tiền phong kiến đã trở thành sở hữu của lịch sử, sau một thiên niên kỷ rưỡi hiện diện (544-1945) mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử tiền tệ Việt Nam: đồng tiền của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 32 phút và 19 giây -----
Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan
--- Đoàn Minh Tuấn ---
Ỷ Lan - có thuyết cho rằng tên thật của bà là Lê Thị Yến Loan - là một cô gái hái dâu, chăn tằm ở ngoại thành Thăng Long thời Lý. Ỷ Lan ra đời ở làng Thổ Lỗi (làng Sủi sau đổi là Siêu Loại, nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm - Hà Nội) - năm nào không rõ, sử sách chỉ ghi lờ mờ: bà mất ở kinh thành Thăng Long vào năm 1117 - trên dưới 70 tuổi - thời Lý Nhân Tông. Sách Mộng khê bút đàm của Thẩm Hoạt có chép "Nhật Tôn (tức Lý Thánh Tông) mất, Càn Đức (Lý Nhân Tông) lên, dùng quan là Lý Thượng Cát (Lý Thường Kiệt) và mẹ là thái phi Lê Thị Yến Loan cùng coi việc nước".
Câu chuyện Yến Loan vào cung vua Lý, đó là một giai thoại người người đều nghe, đều biết.
Thuở ấy vào năm Quý Mão (1063) Lý Thánh Tông đã đến bốn mươi tuổi. Vua chưa có con trai để truyền ngôi báu, đêm ngày triều thần lo ngại. Vua bèn thân hành đi cầu tự khắp các chùa chiền, miếu mạo nhưng không hiệu nghiệm, Lý Thánh Tông lo lắng cho triều đình nhà Lý và xã tắc Đại Việt. Một sớm mùa xuân, vua về viếng thăm chùa Dâu (tổng Dương quang phủ Thuận Thành) dân làng mở hội nghênh giá. Thánh Tông hoàng đế cùng hòa vào dân chúng trong hội làng đông vui. Trai gái, già trẻ các làng đều ra rước vua. Đoàn xa giá của vua đi đến đâu, các làng lân cận nô nức, đổ xô về phía ấy. Duy chỉ cô thôn nữ xinh đẹp của làng Sủi vẫn điềm nhiên hái dâu, xem việc ngự giá của vua không có quan hệ gì đến mình. Cô gái vẫn miệt mài bên bãi dâu, mặc cho đoàn ngự diễu qua. Lý Thánh Tông lấy làm lạ, bèn cho đòi người con gái có vẻ "kiêu căng" đang đứng bên nương dâu kề gốc lan ấy đến trước kiệu rồng để hỏi. Cô gái ung dung nhẹ nhàng tới quỳ tâu: Thiếp là con nhà nghèo hèn, phải làm lụng đầu tắt mặt tối, phụng dưỡng cha mẹ có đâu dám mong đi xem rước và nhìn mặt rồng".
Vua thấy cô gái ăn mặc quê mùa, nhưng cử chỉ đoan trang dịu dàng, lời lời phong nhã, đối đáp phân minh, lễ nghĩa khác hẳn những người con gái mà vua đã từng gặp. Vua yêu vì sắc, trọng vì nết, nên cho cô gái theo long giá về kinh đô. Cô gái làng quê được đón về cung vua ấy là Yến Cô Nương xinh đẹp, nết na của làng Siêu-Loại (Sủi). Nhưng Lý Thánh Tông là ông vua chăm việc nước, luôn luôn thân chinh dẹp giặc. Vua ít nhàn rỗi để ngự tới cung Ỷ Lan. Đương lúc cung Ỷ Lan vắng tiếng đàn, tiếng sáo, thì bỗng một hôm sau khi Thánh Tông đi trảy hội chùa Thổ Lỗi, cung Ỷ Lan lại nhộn nhịp hơn xưa. Yến Cô Nương nhờ "thông minh vốn sẵn tư trời" được học tập, trau dồi đã trở thành một cung phi "nổi danh tài sắc một thời" kinh sử làu thông, văn chương uyên bác. Lý Thánh Tông đem lòng yêu mến, phong làm Ỷ Lan phu nhân, lấy tên cung Ỷ Lan và cũng có ý kỷ niệm cô gái đứng tựa bên gốc lan, khi tuân lệnh đến bệ kiến buổi đầu ở làng Sủi (Siêu Loại).
Sau đó (1066), Ỷ Lan sinh hạ được một hoàng tử lấy tên là Kiền Đức. Kiền Đức trán cao, tay dài quá gối, thông minh, tuấn tú, vua càng yêu dấu hơn, Yến Loan được tôn là Ỷ Lan nguyên phi - đứng đầu các cung phi, sau thái hậu; con trai được lập làm thái tử.
Năm Kỷ Dậu (1069), Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh giặc ngoại xâm. Trong khi vua cùng Lý Thường Kiệt ở ngoài biên cương, Ỷ Lan nguyên phi đảm đang, chăm lo quốc sự, trị nước điều khiển có kỷ cương khiến thần dân thán phục, cõi nước được yên vui. Lý Thánh Tông từ ngoài biên ải đánh trận lâu ngày không thắng, chán nản rút quân quay về. Về chưa đến nơi, nghe dân chúng Châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hải Hưng) ca ngợi nguyên phi Ỷ Lan ở nhà trị nước rất giỏi, lòng dân cảm hóa, được suy tôn là bà Quan Âm, vua Thánh Tông tự trách mình: "Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là đàn ông há thua sao! Vua lại tiếp tục trở ra đánh giặc, lần này thắng trận. Năm đó, mùa hạ vua đem quân về ca khúc khải hoàn, đại xá cho thiên hạ, giảm thuế khóa, phát tiền lụa, thóc cho dân nghèo. Ỷ Lan rất nhân từ dạy con ngoan, đào tạo con trở thành một nhà vua anh minh sau này; lại lo cho dân giàu nước mạnh, yêu thương nhân dân được mọi người kính phục.
Năm Nhâm Tý (1072) tháng giêng mùa xuân, Lý Thánh Tông mất ở điện Hội Tiên. Hoàng thái tử Kiền Đức lên ngôi vua, tức vua Lý Nhân Tông. Khi ấy vua mới lên bảy, tôn mẹ là Ỷ Lan nguyên phi lên làm Linh Nhân hoàng thái hậu. Ỷ Lan vừa giúp coi triều chính, vừa làm nhiệm vụ bà mẹ dạy dỗ con. Trong khi vua còn thơ ấu, Ỷ Lan điều khiển cả quốc gia, cùng tể tướng Lý Thường Kiệt chủ trương đánh quân Tống xâm lược. Hai lần quân Tống đến (1075, 1077) vua Lý Nhân Tông chưa quá 10 tuổi, Ỷ Lan đã cùng Thái sư Lý Đạo Thành lo việc binh lương chuyển ra tiền tuyến. Trong lúc Tổ quốc lâm nguy Ỷ Lan đã cùng Lý Thường Kiệt giữ vững giang sơn, xã tắc; công ấy đời sau còn nhắc mãi.
Ỷ Lan xuất thân là một thôn nữ, nên hiểu thấu những khổ đau của người phụ nữ nông dân vì nghèo khổ phải đem thân gán nợ cho nhà giàu, bà cho xuất của trong kho chuộc về, và xây dựng chồng con hạnh phúc cho họ. Về việc này Ngô Sĩ Liên đã có lời bàn: "Con gái nghèo đến nỗi phải đợ mình làm mướn, con trai nghèo đến nỗi không vợ đó là cùng dân của thiên hạ. Thái hậu (tức Ỷ Lan) đổi mệnh cho họ cũng là việc nhân chính vậy!". Ỷ Lan không những sửa sang việc quốc chính, tăng cường quân đội, bố phòng, chăm lo việc mở mang dân trí, việc thi cử học hành và còn ban hành nhiều điều ích quốc lợi dân. Ỷ Lan còn khuyên vua làm điều thiện, trị điều ác. Bà hiểu những gian nan của nông dân khi việc nông trang cày bừa không có trâu cày. Ỷ Lan bảo vua phạt tội nặng những kẻ trộm trâu và giết trâu bừa bãi; có lần bà đã nói với vua: "Gần đây người kinh thành và làng ấp đã có kẻ trốn đi chuyên nghề trộm trâu. Nông dân cùng quẫn. Mấy nhà phải cày chung một trâu. Trước đây, ta đã từng mách việc ấy, và nhà nước đã ra lệnh cấm. Nhưng nay việc giết trâu lại có nhiều hơn trước". Nhân Tông bèn ra lệnh phạt rất nặng những người trộm và giết trâu, phạt cả vợ con và hàng xóm vì tội không tố giác.
Sống trong lầu son, gác tía mà lúc nào Ỷ Lan cũng không quên đến người nghèo, Ỷ Lan vẫn chăm sóc đến đời sống cùng cực của nông dân lao động. Cũng như Lý Thánh Tông, Ỷ Lan thường phát chẩn thóc lúa cho kẻ nghèo. Bà sùng đạo Phật, ưa làm việc từ thiện lập nhiều đình chùa.
Bà thường lui tới các đình chùa, trao đổi với các tăng ni thuyết giáo đạo Phật. Năm 1096, bà bày cỗ chay ở chùa Khai Quốc (tức sau là chùa Trấn Quốc ở Thăng Long) thết các sư. Tiệc xong, bà ngồi kê cứu đạo Phật với các vị sư già học rộng. Bà hỏi về nguồn gốc đạo Phật ở các nước và ở ta. Bà có óc phán đoán đòi hỏi các sư "nói có sách mách có chứng". Chính nhờ câu chuyện giữa bà và các vị sư thời Lý (sách "Thiên uyển tập anh ngữ lục" đời Trần còn ghi lại tường tận chuyện này), mà đến nay ta còn biết gốc tích sự truyền bá đạo Phật vào nước ta. Có lần bà đến chùa Phổ Minh (Từ Liêm) tranh luận với sư Thông Biến về những điều của Phật giáo. Bà cũng có làm những bài kinh, có câu kệ còn truyền lại đến ngày nay:
Sắc là không, không tức sắc
Không là sắc, sắc tức không
Sắc? Không? thôi mặc cả,
Mới thấu được chân tông (*)
Là một nữ nông dân nghèo, được hưởng phú quý vinh hoa, bà vẫn cho là điều "sắc sắc, không không", đó là phù vân... Bà là một người phụ nữ vương giả, ngọc ngà vàng son không làm vẩn đục tâm hồn bà, cũng là một phụ nữ hiếm có trong lịch sử nghìn năm trước.
Ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu, Hội tường đại khánh năm thứ 8 (1117) đời Lý Nhân Tông, bà mất, được hỏa táng, dâng thụy là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng thái hậu, mai táng ở Thọ Lăng phủ Thiên Đức. Hiện nay còn miếu thờ bà ở hai xã Cẩm Đới và Cẩm Cầu huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
-------------------------
(*) Bản chữ Hán trong Thiền uyển tập anh - Hoa Bằng dịch
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 33 phút và 53 giây -----
Nhà nho xứ Quảng
--- Ngô Văn Minh ---
Khi viết về địa chí tỉnh Quảng Nam, Quốc Sử quán triều Nguyễn nhận xét: "Học trò chăm học hành, quân tử giữ phận mà hổ thẹn việc bôn cạnh", và "núi sông thanh tú cho nên nhiều người có tư chất thông minh dễ học. Sĩ phu có khí tiết cứng cỏi, bạo nói" (Đại Nam nhất thống trí)
Trong bài "Phú tỉnh Quảng Nam", Tiến sĩ Đốc học Trần Đình Phong cũng khen ngợi xứ Quảng là vùng đất hiếu học và có nhiều người học giỏi:
Trải xem non cao thủy thanh, thấy rõ hàng châu danh thắng
Mới biết địa linh nhân kiệt nảy sinh anh tuấn khác thường
Nam cung ứng tuyển nhạn tháp đề danh
Hoặc
Dòng dõi một nhà, khoa trước khoa sau đều đỗ
Khoa trường đã thịnh, hoạn lộ càng hanh.
Quả vậy, nói về khoa cử, Quảng Nam cũng có thể tự hào là một trong những đất học ở Nam Châu, nơi có số lượng người thi đỗ nhiều nhất so với các tỉnh phía nam đèo Hải Vân.
Ngay từ thời các chúa Nguyễn, Quảng Nam đã có những người đỗ thi hương như Lê Cảnh, Phạm Hữu Kính, Trần Phúc Thành, nhưng tiếc rằng không có tài liệu để thống kê đầy đủ. Sang triều Nguyễn, cứ theo danh sách 5.232 vị cử nhân, trong đó trường Thừa Thiên có 911 người đăng khoa trong 32 khoa thi từ 1807 đến 1918, Quảng Nam có tất cả 252 người đỗ liên tiếp cả 32 khoa. Trong số 32 khoa này, riêng khoa thi Canh Tý (1900), ở Quảng Nam đã có đến 14 người đăng khoa mà những người đỗ kế tiếp nhau từ thứ nhất đến thứ tư là Huỳnh Thúc Kháng (Hương nguyên), Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh, Lê Bá Trinh. Tổng cộng, sĩ tử Quảng Nam có 6 lần đỗ thủ khoa và 11 lần đỗ á nguyên thi hương.
Không chỉ có nhiều người đỗ ở hàng trung khoa (cử nhân) và rất nhiều người đỗ ở hàng tiểu khoa (tú tài), Quảng Nam còn có 39 vị đỗ đại khoa gồm 14 tiến sĩ và 25 phó bảng trong đó có một Đình nguyên Hoàng giáp là Phạm Như Xương, 2 trường hợp song nguyên là Phạm Phú Thứ và Huỳnh Thúc Kháng vừa đỗ hương nguyên vừa đỗ hội nguyên.
Nếu tính theo số dân đinh của Quảng Nam lúc bấy giờ là 51.458 người (theo Đại Nam nhất thống chí) thì tỷ lệ số người đỗ cử nhân là 0,49% và tỷ lệ người đỗ phó bảng, tiến sĩ xấp xỉ 0,08%.
Trong số những người đỗ đạt không chỉ có những trường hợp xuất thân từ gia đình khá giả mà còn có nhiều trường hợp nhà nông chân lấm tay bùn như Huỳnh Thúc Kháng "nhà nghèo không đủ tiền mua sách để đọc" (Huỳnh Thúc Kháng tự truyện) hay như Phạm Như Xương nhờ vợ "quanh năm buôn bán ở mom sông" giống với cảnh của nhà thơ Tú Xương đất Bắc Hà, còn Ngô Truân mồ côi cha từ nhỏ, phải sống ngụ cư quê ngoại, nhờ mẹ buôn tần bán tảo nuôi cho ăn học...
Thành tích thi cử không tập trung hết ở một số nơi đô hội mà phân bố khá rộng ở các địa phương, đến tận những làng miền núi hẻo lánh như Thạch Bình, Hội An (Hội An nay thuộc huyện Tiên Phước, không phải phố Hội An), Trung Phước (Tây huyện Quế Sơn). Tổng cộng có tới 123 làng có người đỗ từ cử nhân trở lên. Một số làng có nhiều người đăng khoa như làng Bảo An có đến 14 người, Mã Châu 10 người, Xuân Đài 9 người và các làng Phiếm ái, Mỹ Xuyên, Chiên Đàn 6 người. Các làng có từ hai người trở lên đăng khoa thì rất nhiều. Lại có trên 20 gia đình được liệt vào hàng thế khoa (nhiều người đỗ). Tiêu biểu có gia đình họ Hoàng làng Xuân Đài cha con, anh em, bác cháu, chú cháu đều thi đỗ (Hoàng Kim Giám, Hoàng Diệu, Hoàng Kim Huyễn, Hoàng Chấn, Hoàng Đống, Hoàng Dương). Gia đình họ Nguyễn làng Hà Lam cha con chú cháu cùng thi đỗ (Nguyễn Thuật, Nguyễn Chức, Nguyễn Tạo, Nguyễn Duật). Gia đình họ Phạm làng Mã Châu cha con, anh em cùng thi đỗ (Phạm Thanh Nhã, Phạm Thanh Thạc, Phạm Thanh Nghiêm, Phạm Cung Lượng). Hay trường hợp họ Nguyễn làng Chiên Đàn có cha Nguyễn Văn Dục đỗ phó bảng, con Nguyễn Văn Thích đỗ tiến sĩ. Gia đình họ Nguyễn Tường ở Cẩm Phô có anh Nguyễn Tường Vĩnh đỗ phó bảng, em Nguyễn Tường Phổ đỗ tiến sĩ, v.v.
Tiến sĩ khai khoa của tỉnh là Lê Thiện Trị người làng Long Phước, đỗ khoa Mậu Tuất 1838. Người đỗ cao nhất là Đình nguyên hoàng giáp Phạm Như Xương, người làng Ngân Câu đỗ năm ất Hợi 1875. Hai vị tiến sĩ cuối cùng là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đỗ khoa Giáp Thìn 1904. Tinh thần hiếu học không chỉ thể hiện ở những người trẻ tuổi như trường hợp Ông ích Khiêm thi đỗ cử nhân năm 15 tuổi được vua Tự Đức khen là "Thiếu niên đăng cao khoa" mà còn ở sự gương mẫu, chí kiên trì của những người sắp bước sang tuổi lão nhiêu như trường hợp Trà Quý Trưng đến năm 56 tuổi vẫn còn đi thi, đỗ cử nhân.
Người đương thời đã dành những danh hiệu đẹp để tặng cho sức học của các sĩ tử tỉnh nhà: "Ngũ Phụng tề phi" tặng cho 5 người Quảng Nam cùng đỗ khoa thi Mậu Tuất (1898) vinh quy trở về được tỉnh nhà đón rước với lá cờ thêu 5 con chim phụng cùng bay. Đó là 3 tiến sĩ: Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn và 2 phó bảng: Ngô Chuân, Dương Hiển Tiến.
Danh hiệu "Quảng Nam tứ kiệt" được tặng cho bốn người cùng đỗ phó bảng khoa Tân Sửu (1901) là Nguyễn Đình Hiến, Võ Vĩ, Nguyễn Mậu Hoán, Phan Châu Trinh.
"Quảng Nam tứ hổ" - trường hợp này nhiều tài liệu cho rằng 4 người đỗ thủ khoa trong 4 khoa thi hương liên tiếp là Phạm Liệu, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Võ Hoành, nhưng khi tra cứu lại trong Quốc triều hương khoa lục, tôi nhận thấy không chính xác vì chỉ có Phạm Liệu đỗ thủ khoa năm Giáp Ngọ (1894), khoa tiếp theo Đinh Dậu (1897) thủ khoa là Lê Văn Diễn người Quảng Bình. Hai khoa kế tiếp theo sau đó thủ khoa là Huỳnh Thúc Kháng (1900) và Võ Hoành (1903). Còn Nguyễn Đình Hiến chỉ đỗ á nguyên cùng khoa với Huỳnh Thúc Kháng. Như vậy chỉ có thể nói 4 người đỗ cao trong các khoa thi từ 1894 - 1903, hoặc có thể đây là trường hợp chỉ 4 người Quảng Nam đỗ kế tiếp nhau từ hương nguyên đến hàng thứ tư trong cùng khoa thi Hương năm Canh Tý (1900) mà tôi đã nói đến ở trên là Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Châu Trinh, Lê Bá Trinh.
Danh hiệu "Ngũ tử đăng khoa" tặng cho 5 anh em Nguyễn Khắc Thân, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn Thành ý, Nguyễn Tu Kỷ, Nguyễn Tĩnh Cung người làng Túy La, trú làng Bất Nhị, trong đó 3 người đỗ tú tài là Nguyễn Khắc Thân, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn Tu Kỷ, 2 người đỗ cử nhân là Nguyễn Thành ý và Nguyễn Tĩnh Cung.
Trong việc quan, nhà nho xứ Quảng được Quốc sử quán triều Nguyễn đánh giá thanh liêm, chính trực, "giỏi việc quan" hay có "đại tài về chính trị". Trong sự nghiệp văn chương, nhiều người để lại những trước tác có giá trị. Chỉ riêng bộ Giá viên toàn tập của Phạm Phú Thứ đã có đến 26 quyển gồm đủ thể loại thơ, tấu, tự, khải... có đến 5 bài tựa, 8 bài phê bình và một bài bạt của những danh sĩ bấy giờ về bộ sách. Ông được Quốc sử quán triều Nguyễn đánh giá "về văn học tài biện thực là đứng đầu ở Nam châu" (Đại Nam liệt truyện). Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng lại có đóng góp lớn cho dòng văn học yêu nước và Cách mạng đầu thế kỷ 20.
Nói về khí tiết, các sử thần triều Nguyễn cũng phải công nhận sĩ phu xứ Quảng "cứng cỏi, bạo nói". Chúng ta đã từng nghe chuyện Ông ích Khiêm cãi nhau với Tôn Thất Thuyết, hay nhân một bữa tiệc dám chửi thẳng vào mặt những viên quan vô lại: "Chúng bay chỉ biết ăn mà không biết đến nước". Phạm Phú Thứ tuy biết mình là "kẻ hạ thần ngồi thấp nói cao", nhưng vẫn khẳng khái dâng thư can vua Tự Đức. Sự kiện này gây chấn động đương thời đến mức Quốc sử quán triều Nguyễn cho là "lời lẽ trong thư không còn kiêng sợ" (Đại Nam liệt truyện). Đến Phan Châu Trinh, ông tuyên chiến thẳng với chế độ quân chủ chuyên chế. Trong thư gửi Khải Định ông kể 7 tội đáng chém của Khải Định và gọi đấy là một hôn quân!
Khi chủ quyền dân tộc bị đe dọa, các nhà nho xứ Quảng mỗi người một cương vị đều tỏ rõ ý thức trách nhiệm và tấm lòng son của mình bằng nhiều cách. Hoặc đánh bằng gươm, bằng giáo nơi chiến trường như Đỗ Thúc Tĩnh ở lại Nam Kỳ mộ quân chống Pháp. Hoàng Diệu thà tử tiết với thành không chịu hàng quân xâm lược; Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu hiệu triệu nhân dân trong tỉnh "kẻ trí hiến mưu, người dũng hiến sức, giàu có bỏ của ra giúp quân nhu... để chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu hồi bờ cõi". Hoặc đánh bằng bút, bằng lưỡi như Phạm Phú Thứ đề xuất canh tân, thực hành những công việc làm cho quốc thái dân an. Và cao hơn như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng cáo từ quan tước đứng ra phát động cả một phong trào duy tân mạnh mẽ, sôi nổi ngõ hầu nhân đấy làm nên những việc hưng lợi trừ hại để dân giàu nước mạnh mà tiến tới đoạt lại lợi quyền dân tộc từ tay Pháp. Hoặc vì tranh đấu cho quyền lợi của dân chúng như Dương Đình Thưởng, Dương Đình Thạc, Lê Cơ, Ông Ích Đường, Ông Ích Mắng.
Điểm lại đôi nét về các nhà nho xứ Quảng để hiểu thêm về gương hiếu học, học giỏi nhằm giúp ích cho đời, hiểu về tinh thần yêu nước, cương trực, khí khái, thanh liêm, đức độ của kẻ sĩ một vùng đất thuộc miền trung đất nước vốn được xem là một địa phương trung dũng kiên cường.