namminh
19-12-2007, 09:34 PM
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn: Anh hùng dân tộc, vị thánh trong lòng dân
--- Thế Văn ---
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là Anh hùng dân tộc, nhà chiến lược chính trị, thiên tài quân sự, nhà văn hóa tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh và tài năng dân tộc Việt Nam những thế kỷ phục hưng mạnh mẽ và rực rỡ của văn minh Đại Việt độc lập sau cả nghìn năm nô lệ. Người Việt Nam đã tôn ông là Đức Thánh Trần, hằng năm tổ chức ngày giỗ vào 20-8 âm lịch để tưởng nhớ công đức của Người.
Hưng Đạo Đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, Anh hùng dân tộc, nhà chiến lược chính trị, thiên tài quân sự, nhà văn hóa tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh và tài năng dân tộc Việt Nam những thế kỷ phục hưng mạnh mẽ và rực rỡ văn minh Đại Việt độc lập sau cả nghìn năm nô lệ. Truyền thống quật khởi và nhân nghĩa Việt Nam mấy nghìn năm và văn minh độc lập Đại Việt mấy thế kỷ chung đúc nên Người.
Khi Người tại thế, ba đời vua Trần, trăm vạn binh tướng, mười triệu dân Đại Việt ký thác vận mệnh vào Người với ý chí thép và tài thao lược đã trỏ cờ, vung gươm xung trận quét sạch tổng cộng một triệu quân xâm lược.
Khi Người tạ thế, nhân dân tôn Người làm Thánh. Hơn thế, đời đời thờ phụng Người là Cửu thiên Vũ đế, ngự trên ngôi thánh cao nhất, con mắt thiêng của Người thấu dõi suốt ba cõi trên trời, nhân gian và dưới đất.
Trần Quốc Tuấn hóa Thánh trong tâm thức dân ta, bởi nhân cách của Người, tài năng của Người, công nghiệp của Người kỳ vĩ, khác thường, dường như siêu phàm mà người thường không với tới.
Nhân cách Hưng Đạo vương là ở "trái tim hừng hực lòng yêu xứ sở", yêu giống nòi, yêu văn hiến Đại Việt. Khí phách đạp lên muôn vàn gươm đao ngoại tặc để làm nên thắng trận, vận mệnh quốc gia và trăm họ cao hơn hết thảy, hơn cả ngai vàng. Trái tim người làm đuốc lửa dẫn đầu ba quân và trăm họ phá giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, đốt thuyền giặc trên sông Bạch Đằng, nhưng cũng giàu lòng vị tha, nhân ái như suối mát với dòng tộc, với muôn dân.
Trái tim ấy không có chỗ cho hiềm thù nội tộc mà phương hại vận mệnh quốc gia. Lắng nghe lời trăng trối báo thù của cha - An Sinh vương Trần Liễu, người có hiềm khích với vua Thái Tông, cho đúng đạo làm con, nhưng Người không nuôi hiềm khích, không muốn đoạt ngôi dù dễ như trở bàn tay bởi biết loạn triều thì lòng dân ly tán, thì nước nguy vong. Trái tim ấy đùng đùng nổi giận, sáng lòe gươm tuốt, nếu không có người can ngăn thì đầu con trai Quốc Tảng rụng xuống khi người con này cất lời khuyên cha nên đoạt lấy ngôi cao. Trái lại, con tim động lòng đến rơi lệ trước nghĩa cả mà các tỳ tướng Yết Kiêu, Dã Tượng thốt ra lời: "Chúng con không muốn làm như thế (cướp ngôi vua) để tiếng xấu muôn đời". Chính vua Trần Thánh Tông, vào thời khắc khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288) bất chợt thốt lên: "Trung nghĩa (như Quốc Tuấn) thì không ai sánh kịp".
Và trái tim cao cả ấy cháy rực trước nạn ngoại xâm. Giặc xâm lược kéo đến cướp nước, trước vua Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn nói lời quật khởi của núi sông, của trăm họ, với khí phách mà các bô lão đến hội Diên Hồng hô lớn, còn binh lính thì thích chữ vào cánh tay cầm giáo: "Nếu bệ hạ muốn hàng, hãy chém đầu thần đi đã". Nghe câu ấy, vua đã hả hê xuất ý tức thì, làm bài văn bia ở đền thờ sống Trần Quốc Tuấn, gọi ông là Thượng phụ.
Trái tim ấy, khi đập những nhịp cuối cùng (vào ngày 20-8 Âm lịch năm 1300), còn chan chứa niềm yêu dân, gửi lại muôn đời lời trăng trối: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, ấy là thượng sách để giữ nước". Trái tim Trần Quốc Tuấn vằng vặc như mặt trời, lớn rộng như biển cả, trọn vẹn đau đáu niềm yêu nước thương dân, cao cả và thánh thiện. Tài ba Trần Quốc Tuấn gồm cả văn lẫn võ.
Văn của Người ở tầm "đại học vấn, đại uyên bác" như sử gia triều Nguyễn ngợi ca. Văn Người bất hủ với Hịch tướng sĩ: "Ta ngày thường quên ăn, đêm thường quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìạ..", tâm, óc và lời cuồn cuộn như lửa cháy, làm sáng bừng lên nghĩa khí Đại Việt, cuốn thiêu đi cạn hẹp lòng người, truyền khí phách từ Người tới ba quân tướng sĩ, trào lên muôn nghìn ngọn giáo xung trận trong trống thúc hồi hồi.
Võ ở tầm nhà chiến lược, quân sự phương Đông, hơn thế, nhà lập thuyết quân sự và bày binh Đại Việt. Lý thuyết và nghệ thuật dùng binh thuở ấy được người hội nhập và sáng tạo bộ chủ gia binh pháp, gọi là Binh thư yếu lược, từ đó soạn ra Bát quái cửu cung đồ, gọi là Vạn kiếp tông bí truyền thư, làm nền tảng cấu trúc quân đội thời Trần và luyện quân, tập tướng. Con mắt nhà chiến lược sáng tỏ cả tạo thế, dùng lực và trận pháp trước mỗi cuộc kháng chiến với tương quan lực lượng chẳng giống nhau. Kháng chiến lần thứ nhất (1258) Người ung dung "lấy quân nhàn thắng giặc mệt", giáp trận ngay, tiến công mãnh liệt, khi giặc còn ở ngoài cửa ngõ Thăng Long một trận lớn Đông Bộ Đầu (Phú Xuyên, Hà Tây) đã kết thúc chiến tranh. Ba cuộc kháng chiến, tổn thất nặng nề, kinh thành bị phá phách, lăng miếu ở Long Hưng (Thái Bình) bị tiêu hủy, đến tượng ngựa đá cũng chịu nạn gươm đao, nhưng đất nước sạch bóng thù, ý chí xâm lăng của quân thù sụp đổ, "giang sơn vững âu vàng".
Nhà chiến lược thiên tài cũng là vị chủ soái áo bào nhuốm khói cùng tướng sĩ. Người có mặt ở cả những trận đánh ác liệt nhất, rời trận địa cuối cùng ở những lần rút lui chiến thuật. Có lần, sau tất cả các vua, vương tộc và binh sĩ, Người chỉ kịp xuống thuyền Yết Kiêu, Dã Tượng đợi sẵn bờ sông Hồng thì quân giặc đã tràn đến la hét vang động mặt đê. Một bộ óc chiến lược thiên tài tính toán như thần, ít thời có được, mang cờ tiết và binh phù nguyên soái, trong một tư cách công dân - chiến sĩ như muôn quân.
Các vua Trần, ba quân và trăm họ, thảy đều tôn vinh Người có công đầu không chỉ trong võ công hiển hách ba lần cả phá giặc ngoại xâm, như vị cứu tinh. Vua phong ông tới tột bậc: Đại vương, Thượng quốc công. Các đời sau, tướng lĩnh xuất quân, đều đến thắp hương ở một trong hàng trăm đền miếu thờ Người khắp nước, đặng đủ dũng lược và tài trí để mà thắng trận. Bởi hùng khí dân tộc, uy linh sông núi là bất tử, đã hun đúc nên con người Trần Quốc Tuấn, còn vận nước thời Trần thì đặt lên vai Người gánh nặng giúp vua trùng hưng như nhà chính trị, đặt vào tay người cây gươm chủ soái, cho nên thời ấy và mọi thời có Người thác rồi mà luôn linh hiển cùng sông núi và chúng dân, "hiển thánh" cùng các đời phá giặc, cái uy linh của "thanh kiếm dài tựa ngoài trời cao khi xưa, đêm thường kêu rít như gió trong vỏ hộp".
Võ công lẫy lừng, phẩm tước tột bậc, nhưng nước yên, Người vẫn không ngước lên ngôi báu, mà trở về với thái ấp cũ vùng Kiếp Bạc. Người sống cho hậu thế, bằng những lời răn dạy đạo làm người. Bầy tôi phải tận trung. Anh em phải tận hòa. Vợ chồng phải tận kính. Bè bạn phải tận tín. Làm điều thiện. Bỏ điều ác. Bỏ uống rượu. Cấm tham ô. Chăm lo các nghề sĩ, nông, công, thương. Thế thì trăm điều lành đến, vạn phúc sẽ về...
Từ giã cuộc đời, Người muốn hóa thân vào sông núi. Người không dặn xây lăng tẩm, lập đền đài, khắc bia vĩnh cửu. 72 năm, ba lần trận mạc, sống trọn vẹn với nước với dân, Hưng Đạo đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn mất ngày 20-8 Âm lịch năm 1300, tại Thái ấp Vạn Kiếp của Người. Dân ta coi ngày đó là Giỗ cha (tháng 3, lễ Thánh Mẫu của Tín ngưỡng từ thời Hùng Vương mở nước, là Giỗ mẹ). Mãi mãi trong lòng dân ta. Người là vị Anh hùng dân tộc tiêu biểu cho khí phách, trí tuệ và tâm hồn con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, xứ sở Việt Nam - Đức Thánh Trần.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 1 phút và 31 giây -----
Công chúa Thụ La - bà chúa dệt
Dưới triều Lý Huệ Tông (đầu thế kỷ XIII) kinh thành Thăng Long đã sầm uất đô hội. Các phố phường mở ra, nghề nghiệp thủ công cũng phát triển nhanh, nức tiếng trong cả nước. Nhiều người ở các châu quận xa đều về Thăng Long, học nghề hoặc mở phố xá buôn bán.Ông Nguyễn Diệu là một trong những người ấy.
Ông vốn là người Ái Châu (Thanh Hoá) lấy vợ họ Mai. Hai vợ chồng đưa nhau ra Thăng Long mở một xưởng dệt vải. Trên quê hương mới này, ông bà sinh được một cô gái đặt tên là Nguyễn Thị La. Đặt tên con như thế, ông Diệu nghĩ đến tên cổ của kinh đô Thăng Long là thành Đại La, phần khác là còn có lụa là rất hợp với nghề nghiệp của ông. Nàng La lớn lên, có tài có sắc, lại cũng được theo bút nghiên đọc được sách vở thông hiểu chữ nghĩa. Điều đặc biệt hơn cả, là noi theo nghề của cha mẹ, nàng La rất khéo tay. Vải nàng dệt vừa bền vừa đẹp. Nàng lại biết sắp xếp những thao tác rất gọn gàng hợp lý, thành ra mau công được việc, ai cũng phải phục tài.
Trong số những người đến làm công, học việc với ông Diệu, có một chàng thanh niên tên là Trần Thưởng vốn quê ở Hải Dương. Cha mẹ mất sớm, anh Thưởng có được học hành nhưng không thể đeo đuổi sách đèn, phải ra làm thợ. Anh cũng là một tay thợ lành nghề. Anh thường thi tài với nàng La. Làm việc gần nhau, quen hơi bén tiếng, hai người yêu nhau và ông bà Diệu cũng vui lòng nhận Trần Thưởng làm con rể.
Có cơ sở vững vàng, chu đáo rồi, Trần Thưởng nghe lời khuyên của vợ, quay ra ôn tập sách vở để đi thi. Anh thi đỗ được bổ làm quan, coi sóc về việc hộ. Anh xin nhà vua cho lập một phường thủ công ở ven hồ Tây, lúc ấy gọi là hồ Dâm Đàn. Nàng La làm nhà ở kế đó, và nhận việc dạy nghề dệt cho dân chúng. Cách truyền nghề của nàng cũng rất công hiệu, người học việc rất hoan nghênh. Tiếng đồn lan rộng, nhà vua nhiều lần mời nàng vào cung, dạy cho công chúa và các cung nữ. Các tiểu như nhà quan cũng đua nhau mời nàng.
Trong lúc đó thì Trần Thưởng được thăng chức vào làm Đốc Lĩnh. Một lần cùng quân sĩ đi thuyền trên sông gặp bão thuyền đắm, ông bị sóng cuốn đi mất tích. Nàng La nghe tin, đau buồn mà chết theo chồng. Vua rất thương xót cho dựng miếu thờ và truy tặng là Thụ La công chúa. Dân chúng bao đời nay vẫn gọi bà là chúa dệt.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 3 phút và 26 giây -----
Trần Nhân Tông - Đạo và Đời
--- Quỳnh Cư ---
Nhà Trần đã tạc một dấu son vào tiến trình lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Một triều đại mà các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà đã hội tụ thật đầy đủ. Biết bao con người kiệt xuất đã hiện diện: ba vị vua đầu triều Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, các vị tướng tài như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão... Tất cả họ đã làm nên chiến công hiển hách 3 lần đánh thắng quân Nguyên, tạo cho con dân Đại Việt cuộc sống hoan ca hạnh phúc. Không chỉ có võ công khiến giặc ngoại xâm phải chùn bước, triều Trần còn là một triều đại mà tư tưởng triết học Phật giáo đã phát triển rực rỡ, thể hiện đầy đủ trí tuệ và bản lĩnh của người Đại Việt.
Trần Nhân Tông (1258-1308) là vị vua tiêu biểu cho tất cả những gì tốt đẹp như thế. Ông là con thứ 2 của Trần Thánh Tông, lên ngôi vua vào năm Kỷ Mão (1279). Nói đến Trần Nhân Tông, trước tiên là nói đến một vị vua võ tướng, được sử sách ngợi ca là anh hùng cứu nước. Trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược (1285 và 1288), ông đều thân ra trận, ngồi trên lưng ngựa dẫn dắt con dân trải qua những thử thách gian lao. Khi viết ra những dòng thơ bất hủ :
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
(Xã tắc hai lần mệt ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Chắc rằng "hào khí Đông A" đang sôi trào trong huyết quản vị vua tài hoa, phóng khoáng.
Làm một bậc đế vương, công lao như thế tưởng cũng là quá đủ. Nhân Tông đã làm đúng, thậm chí làm hơn những giáo điều Nho học. Ngoài thì đánh giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi; trong thì vỗ về trăm họ, khiến nước thái bình. Nhưng Nhân Tông không dừng lại ở đó. Khi xã tắc đã qua hồi gian khó, Nhân Tông lại tìm đến với Thiền học, hệ tư tưởng đã là niềm đam mê của ông ngay từ thời trai trẻ.
Nói đến vấn đề này, cũng cần trở về với Trần Thái Tông, ông nội của Nhân Tông. Năm 1225, dưới sự sắp xếp của Trần Thủ Độ, Thái Tông Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và được nữ vương nhường ngôi. Nhà Trần thay nhà Lý từ đó. 11 năm sau, do Chiêu Hoàng không có con, Thủ Độ lại ép Thái Tông lấy Thuận Thiên là vợ Trần Liễu (anh ruột Trần Cảnh), đã có mang 3 tháng. Tất cả những việc làm ấy, tuy đã có lợi cho xã tắc trước vó ngựa xâm lược nhà Nguyên, nhưng không thể không khiến cho Thái Tông phải suy ngẫm về nhân sinh, về cuộc sống. Với tầm tư tưởng đã phải qua nhiều phen vò xé, Thái Tông đã viết nên "Khoá hư lục" với những triết lý sâu sắc về cuộc đời, giữa hai chữ danh và lợi. Chắc rằng, Thái Tông đã dạy dỗ, luận bàn với các cháu nội mình rất nhiều về thế thái nhân tình và về Phật học.
Với những ảnh hưởng như thế, Thiền môn Phật học trở thành sự sùng bái của Nhân Tông không có gì là lạ. Sử sách kể rằng, năm 1279, là thái tử đương triều theo cha (Thánh Tông) về thăm Yên Tử, Nhân Tông đã xin ở lại để tu hành. Thánh Tông nổi giận mắng rằng: "Chí làm trai tựa chim hồng, chim hộc, sơn hà xã tắc đè nặng hai vai, đâu để học thái tử Tất Đạt Ma lên non xanh cắt tóc". Và khi trở về kinh, vua cha lập tức cử lễ truyền ngôi cho ông. Nhận trọng trách, Nhân Tông tạm gác chí riêng, "chấp nhận" trị vì trăm họ. Như thế, ngay từ đây, tư tưởng "sắc sắc không không" của đạo Phật đã thấm nhuần trong ông. Giống như ông nội của mình, Nhân Tông có thể "trút bỏ ngôi báu như trút đôi dép rách vậy". Nhưng không phải là ông coi thường ngôi báu, xem nhẹ trách nhiệm của người đứng đầu quốc gia dân tộc. Năm 1301, với tư cách là Thái thượng hoàng, nghe tin Anh Tông lơ là triều chính, ông đã truyền "vua con" đến ban quở, thậm chí định truất ngôi. Nhờ triều thần can gián, ông đã tha tội nhưng răn rằng: "Đạo làm vua, hãy biết xem đất nước là của công chứ không phải của riêng mình. Hãy biết xem thiên hạ là nhà của chính mình". Có nghĩa là, cái mà Nhân Tông coi thường chính là danh lợi. Ngôi báu cũng chỉ là thứ danh vọng hão huyền. Với ông, cái thật, cái cụ thể có thể nắm bắt là làm sao để cho trăm họ một cuộc sống thái bình thịnh trị. Cái chung đã hoà nhịp với cái riêng, lợi ích của cả dân tộc đã vượt lên lợi ích của cá nhân, cho dù cá nhân ấy thân làm bậc quân vương đứng đầu xã tắc.
Năm 1298, Nhân Tông nhường ngôi cho con rồi tìm về Yên Tử đi tu, thực hiện chí nguyện thời trai trẻ. Ông trở thành thủy tổ của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử đã để lại dấu ấn rực rỡ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm, Nhân Tông sáng tác nhiều kệ, thơ thiền, ngữ lục mà mặt nào cũng có những chiêm nghiệm sâu sắc. Ví như khi Bảo Sái hỏi ông: "Như thế nào là Phật?", ông nói: "Như cám dưới cối"...
Thực tế cho thấy rằng, ngay từ thời Lý, đã có nhiều đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ Trung Hoa và ấn Độ. Nhưng chỉ đến khi Nhân Tông sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm, nước ta mới có một giáo phái thuần Việt, thống nhất, tránh được mọi sự phân biệt gây trở ngại giữa đạo và đời. Một cách thật triết học, Nhân Tông đã chắt lọc những tinh hoa của các đạo pháp ngoại lai, bổ sung vào đó cái chất giản dị mà sâu sắc của người Việt, hoàn toàn phục vụ cho lợi ích của chúng sinh, cũng chính là quốc gia - dân tộc. Cho đến cuối đời, dân gian vẫn cho rằng Nhân Tông đã hiển phật. Tuy chỉ là huyền thoại nhưng cũng phần nào thấy được sự ngưỡng vọng của phật tử cả nước, của trăm họ đối với ông, vị thiền sư - giáo chủ hoá Phật.
Tìm hiểu về Nhân Tông, ta thấy rằng giữa đạo và đời đã có sự thống nhất đến mức tối đa. Anh hùng cứu nước, thi sĩ, triết gia, thiền sư, giáo dục, tất cả những phẩm chất tốt đẹp ấy đã kết hợp hài hoà trong con người ông. Có thể nói, Trần Nhân Tông là một vị vua cổ kim ít thấy. Cùng với Trần Thái Tông, đó là những gương mặt văn hoá đẹp lạ thường trong lịch sử Việt Nam.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 6 phút và 26 giây -----
Thủ khoa Huân ba lần chống Pháp
Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, triều đình Nhà Nguyễn hèn nhát dâng đất cho giặc, Nguyễn Hữu Huân (1816 - 1875) đã chiêu mộ quân chiến đấu chống quân thù. Ba lần bị giặc bắt, hai lần được thả, ông vẫn không bị địch lung lạc, chiến đấu tới hơi thở cuối cùng.
Nguyễn Hữu Huân người xã Tĩnh Giang, phủ Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay là Tiền Giang) thời trẻ ông học giỏi nổi tiếng, thi đậu giải nguyên (Đậu đầu kỳ thi cử nhân) nên thường gọi là thủ khoa Huân.
Khi giặc Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ, Nguyễn Hữu Huân đã bỏ nghề dạy học đứng ra chiêu mộ nghĩa quân chiến đấu chống giặc. Giặc Pháp bắt được ông rồi lại thả ra để mua chuộc lung lạc ông. Nhưng trước việc giặc Pháp trắng trợn chiếm đóng các tỉnh miền đông Nam Kỳ và triều đình nhà Nguyễn cắt đất dâng quân xâm lược, ông lại tiếp tục mộ quân chiến đấu chống quân thù.
Năm 1863, ông đã tập hợp nghĩa quân chống Pháp ngay sau lưng giặc tại vùng Mỹ Tho. Nghĩa quân hoạt động rất mạnh, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề. Nhưng sau vòng vây của giặc ngày càng khép chặt, tháng 6-1863, Nguyễn Hữu Huân phải bỏ Mỹ Tho sang Châu Đốc là vùng còn tự do. Lúc này triều đình nhà Nguyễn ngày càng lộ rõ bộ mặt hèn nhát, đã không ủng hộ người yêu nước trong cơn nguy khốn mà còn muối mặt bắt giam ông vì "tội" không tuân lệnh bãi binh đã được ban bố sau hàng ước 1862. Hèn mạt hơn nữa là triều đình đã theo yêu cầu của giặc Pháp giao ông cho chúng đem về Sài Gòn giam giữ. Năm 1864, giặc Pháp đày ông ra đảo ở giữa Ấn Độ Dương.
Giữa năm 1867, giặc Pháp nổ súng chiếm nốt ba tỉnh miền tây Nam Kỳ và lo củng cố bộ máy thống trị để khai thác vơ vét bóc lột nhân dân ta. Để thực hiện âm mưu trên được dễ dàng, chúng đã thi hành một số biện pháp mua chuộc hòng xoa dịu tinh thần đấu tranh của nhân dân ta. Năm 1868, Nguyễn Hữu Huân đã được chúng thả từ hải đảo về đất liền. Nhưng giặc Pháp và tay sai lại hoàn toàn bị thất bại trong âm mưu mua chuộc ông lần này nữa. Ngay khi mới được thả ra, thấy trong số bạn bè cũ có người đã cam tâm ra làm việc với Pháp, ông đã có những câu thơ thống thiết vừa chê trách họ vừa bày tỏ tấm lòng yêu dân yêu nước của mình.
Năm 1875, Nguyễn Hữu Huân lại chiêu mộ binh sĩ kéo cờ khởi nghĩa. Tổng số nghĩa quân lên tới trên dưới 3.000 người, hoạt động rất mạnh ở vùng từ Tân An qua Mỹ Tho. Nghĩa quân đặt tổng hành dinh tại làng Long Trì, ra sức vận động lính ngụy rồi tiến đánh Mỹ Tho. Nhân dân các địa phương nhiệt liệt hưởng ứng và giúp đỡ nghĩa quân. Nhưng lúc này thực dân Pháp đã đặt được bộ máy thống trị tương đối vững và có thể dồn lực lượng vào việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Triều đình thì cấu kết với giặc. Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân vì thế cũng không tránh khỏi thất bại. Nguyễn Hữu Huân lại bị Pháp bắt (1875). Biết ông là người có nhiều uy tín trong nhân dân, giặc Pháp và tay sai một lần nữa cố tìm mọi cách mua chuộc người anh hùng. Nhưng trước sau ông vẫn tỏ ra kiên quyết một lòng không chịu khuất phục.
Cuối cùng, giặc Pháp phải kết án xử tử ông. Trước giờ thi hành bản án, chúng đóng gông ông lại, rồi bắt ông ngồi trên mui thuyền chở từ nhà ngục Mỹ Tho đến pháp trường. Dọc đường, chúng cho đánh trống phách ầm ĩ để tập hợp dân chúng ra xem để uy hiếp tinh thần mọi người. Thủ khoa Huân vẫn ung dung ngồi trên mui thuyền làm thơ, lấy ngay cái gông giặc đang tròng lên cổ mình để tỏ bày ý chí và tâm trạng của mình với nhân dân:
Hai bên thiên hạ thấy hay không?
Một gánh cương thường há phải gông!
Oằn oại đôi vai quân tử trúc (*)
Nghênh ngang một cổ trượng phu lòng.
Thác về đất bắc danh còn rạng,
Sống ở thành nam tiếng bỏ không...
Trước thái độ hiên ngang bất khuất của ông, đồng bào hai bên bờ sông chẳng những đã không mất tinh thần, mà còn biểu lộ một lòng cảm phục vô hạn đối với người anh hùng hy sinh cho sự nghiệp cứu nước. Tới địa điểm xử tử, không chịu để giặc chém đầu, Nguyễn Hữu Huân đã cắn lưỡi tự tử.
--------------------------
(*) Theo quan niệm xưa, trúc tre chỉ người cao quý (quân tử, trượng phu)
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 8 phút và 11 giây -----
Sự nghiệp và nhân cách Nguyễn Bá Lân
--- Đinh Xuân Lâm ---
Nguyễn Bá Lân sinh năm Canh Thìn (1700) tại xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong (cũ), trấn Sơn Tây xưa (nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Thân sinh ông là Nguyễn Công Hoàn nổi tiếng một thời về văn chương, được xếp hàng thứ ba trong "tứ hổ" ở kinh thành Thăng Long xưa (nhất Quỳnh, nhị Nhan, tam Hoàn, tứ Tuấn). Ông Hoàn học giỏi, nhưng lại lận đận về đường khoa cử, không đỗ đạt gì, chỉ chuyên nghề dạy học, các chức tước của ông như Đại lý tự thừa, Hiển cung đại phu, Đông Các đại học sĩ, Kim tử vinh lộc đại phu, Hàn lâm viện Thừa chỉ... đều do có con là Nguyễn Bá Lân thăng chức lớn nên cha được phong tặng theo tục lệ ngày trước.
Nguyễn Bá Lân học với cha từ năm 15 tuổi, được cha rèn cặp rất nghiêm khắc. Cách dạy con của ông đồ Hoàn khá đặc biệt, không chuộng nhồi nhét bắt học nhiều như các thầy đồ khác, mà có sự chọn lọc trên cơ sở cuộc đời dạy học của bản thân mình. Từ khi còn ít tuổi, Nguyễn Bá Lân vốn rất ham đọc sách và ham tìm hiểu thế giới bên ngoài. Chuyện kể lại rằng thường ngày trên án của ông lúc nào bên trái cũng đặt bản đồ, bên phải đặt sách vở, để khi đọc sách nếu cần thì tra cứu.
Có một điều rất độc đáo trong cách dạy học của cha Nguyễn Bá Lân, đó là tìm cách phát huy tính năng động sáng tạo, bồi dưỡng óc thông minh nhanh nhạy của người học trò - mà cũng chính là con mình, trên một tinh thần thi đua bình đẳng với con, nếu mình bị thua thì cũng đòi hỏi được xử trí công bằng, không chút phân biệt. Được cha trực tiếp dạy dỗ một cách chu đáo, lại vốn có tư chất thông minh, Nguyễn Bá Lân tiến bộ rất nhanh. Năm 18 tuổi, tức là chỉ ba năm sau khi học với cha, ông đã đỗ đầu kỳ thi Hương, để hai năm sau lại đỗ kỳ thi Hội, rồi kỳ thi Đình, đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm Tân Hợi (1731) vào lúc ông 31 tuổi, cái tuổi "tam thập nhi lập" đã chín chắn để hành động.
Nguyễn Bá Lân bước vào đường làm quan cũng khá đặc biệt. Đỗ Tiến sĩ, chỉ một thời gian sau ông đã được cử làm Giám khảo kỳ thi Hội. Để rồi sau đó, do có nhiều công lao chiến tích, lại là người cẩn thận, siêng năng, thanh liêm, ngay thẳng, không xu nịnh, ông nhanh chóng được thăng nhiều chức, cả văn lẫn võ. Từ chức Phiên tào ở phủ chúa Trịnh Giang, đến đầu đời Cảnh Hưng (1740 - 1786) đã làm Tả chấp pháp ở Bộ Hình; năm 1744 bổ làm lưu thủ trấn Hưng Hóa, sau làm đốc trấn Cao Bằng, tại cả hai nhiệm sở trên ông đều có công lớn trong việc giữ gìn trật tự trị an trên vùng biên giới. Năm 1756, ông được triệu về kinh đô Thăng Long nhận chức Thiêm đô ngự sử, vào phủ Chúa giữ chức Bồi tụng (chức thứ hai sau Tham tụng), tước Lễ Trạch hầu, kiêm giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng). Năm 1765, ông về hưu mới được ít lâu đã được chúa Trịnh Doanh mời ra giúp việc từ tụng, xét xử án từ. Đến năm 1770, ông dâng khải xin về hưu vì tuổi già, chúa Trịnh Sâm không chuẩn y mà vẫn giữ ông lại Kinh đô để hỏi ý kiến khi cần thiết. Sau đó, ông được khôi phục làm Thượng thư bộ Lễ, rồi Thượng thư bộ Hộ, hàm Thiếu bảo, được liệt vào bậc Ngũ lão hầu. Chúa Trịnh Tông vẫn còn triệu ông vào hỏi việc lúc ông đã 84 tuổi. Hai năm sau ông mất, thọ 86 tuổi, linh cữu được rước về an táng ở quê nhà. Khi ông mất được tặng chức Thái tể, tước Quận công.
Nguyễn Bá Lân trọn đời mang hết tài năng và đức hạnh của mình ra giúp dân, giúp nước trên mọi cương vị, văn võ song toàn, văn hóa - giáo dục uyên bác. Cho nên không lấy gì làm lạ khi thấy những danh nhân đương thời đều nói về ông với những lời trân trọng nhất. Phan Huy Chú nhận xét: "Khi bàn việc, ông giữ lòng trung thực, không che chở bênh vực ai, chúa khen là ngay thẳng dám nói". Sử sách của Quốc sử quán triều Nguyễn về sau cũng viết: "Nguyễn Bá Lân... làm quan thanh liêm, cẩn thận, ra trấn Cao Bằng vỗ về nhân dân, dẹp yên giặc cướp, tỏ rõ công lao, vào triều tham dự chính sự thì giữ đúng pháp luật, không hề a duạ.." (Đại Nam nhất thống chí). "Bá Lân là người có văn học, chất phác, thẳng thắn, mạnh dạn dám nói" (Cương mục).
Đóng góp của ông về mặt văn học cũng đáng kể. Riêng với bài phú Nôm Ngã Ba Hạc, bằng những hình ảnh mạnh mẽ, có phần tinh nghịch. Về phú còn có nhiều bài chữ Hán, như Giai cảnh hứng tình, Dịch đình dương xa, Trương Hàn tư thuần lư... Nguyễn Bá Lân còn có một số bài thơ vịnh sử, được tuyển vào cuốn Vịnh sử thi quyển, Quốc âm thi và Mao thi ngâm vịnh thực lục
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 9 phút và 55 giây -----
Phong trào nông dân Yên Thế (1887 - 1913)
Yên Thế đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược
Trong cao trào vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ 19, cùng với các cuộc khởi nghĩa do văn thân, sĩ phu lãnh đạo còn có các cuộc khởi nghĩa tự phát của nông dân. Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của nông dân Yên Thế, tỉnh Bắc Giang do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo.
Hoàng Hoa Thám (thường gọi là Đề Thám) xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo tỉnh Hưng Yên, lên Sơn Tây làm ăn kiếm sống, sau dời tới Yên Thế. Lớn lên, ông tham gia toán nghĩa quân của Lương Văn Nắm (Đề Nắm). Khi Đề Nắm chết (1892), nghĩa quân rất mến phục và tin tưởng ông. Ông được giao toàn quyền chỉ huy. Các thủ lĩnh nông dân xuất sắc như Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh... trưởng thành nhanh chóng, lập được nhiều thành tích trong chiến đấu.
Yên Thế được chọn làm địa bàn hoạt động chính của nghĩa quân, vì địa thế trung du đồi núi thông nhiều ngả với miền thượng du hiểm trở sau lưng và vùng đồng bằng rộng lớn trước mặt rất thuận tiện cho cách đánh du kích của nghĩa quân. Nơi đây từ trước vốn là nơi hoạt động của nhiều toán nông dân khởi nghĩa chống lại phong kiến triều Nguyễn. Khi giặc Pháp xâm phạm tới, Yên Thế đã nhanh chóng chuyển thành một căn cứ chống Pháp lợi hại, không chỉ tập hợp nông dân tại chỗ mà còn thu hút đông đảo nông dân nghèo từ nhiều địa phương tới.
Giai đoạn thứ nhất của cuộc khởi nghĩa (1887 - 1895)
Ngay từ đầu, nghĩa quân đã làm thực dân Pháp vô cùng lo ngại. Giữa năm 1889, chúng đã tung nhiều toán quân đi sâu vào căn cứ tìm diệt nghĩa quân. Nhiều trận đụng độ ác liệt xảy ra, địch bị thiệt hại nặng tại Cao Thượng, Hố Chuối. Đầu năm 1892, giặc Pháp lại huy động lính liều lĩnh tấn công Yên Thế. Nghĩa quân kịp thời chủ động rút vào rừng sâu, rồi phân tán trong nhân dân. Giặc Pháp đắp đường bộ, chuyển vận quân lính, đẩy mạnh càn quét trong vùng. Tên việt gian Lê Hoan dùng nhiều thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, ám hại, nhưng trước sau đều thất bại. Tức tối điên cuồng, giặc Pháp lại dùng vũ lực.
Nghĩa quân lợi dụng địa hình, xây công sự, đào hầm hố, chống trả quyết liệt, địch thua đau ở Hố Chuối (5-1894). Nghĩa quân đánh chặn, phối hợp với công nhân đang làm đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, bắt một số tên Pháp, lấy tiền chuộc mua vũ khí. Tháng 9-1894, tên tư bản địa chủ Set-nay bị bắt cóc. Giới tư bản đất đai xôn xao lo ngại. Thực dân Pháp buộc phải giảng hòa với điều kiện bỏ ra một số tiền lớn chuộc Sét-nay và rút quân để Đề Thám cai quản bốn tổng Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ, Hữu Thượng.
Thời kỳ đình chiến chỉ có một năm (từ tháng 10-1894 đến 11-1895) nhưng nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tranh thủ xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Quân Pháp mặc dù đã rút khỏi Yên Thế vẫn bố trí cả một hệ thống đồn bốt bao quanh, kết hợp với bọn tay sai để ngăn chặn nghĩa quân phía ngoài. Đồng thời, chúng thường cho người mang quà vào tặng hòng dụ dỗ, mua chuộc, nhưng không sao lay chuyển được tinh thần kiên cường bất khuất của lãnh tụ nghĩa quân.
Giai đoạn thứ hai của cuộc khởi nghĩa (1895 - 1909)
Tình hình đối địch ngấm ngầm đó không thể kéo dài. Cuối năm 1895, giặc Pháp gây chiến trở lại. Lúc này phong trào các nơi hầu hết đều bị dập tắt, giặc Pháp quyết tiêu diệt nghĩa quân Yên Thế. Một lực lượng rất lớn, gồm cả thủy lục quân, được huy động vào cuộc hành quân lần này. Tháng 11-1895, cuộc tấn công lớn bắt đầu, tên đại tá Gallièni cầm đầu. Trước sức mạnh ồ ạt của kẻ thù có hỏa lực mạnh, nghĩa quân phân tán vào rừng, di chuyển trên bốn tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Thái Nguyên.
Nghĩa quân đã đánh phục kích, tiêu hao địch, cướp vũ khí, nhưng cũng bị hy sinh, tổn thất nhiều. Một số chỉ huy sa vào lưới giặc, có người ra hàng. Mặc dù vậy, dân chúng trong vùng vẫn nhiệt tình che chở giúp đỡ, nghĩa quân đã đứng vững trước các đợt càn quét khủng bố ác liệt.
Cuối năm 1897, sau hai năm hành quân liên miên và bị thiệt hại nặng nề, giặc Pháp lại phải thương lượng. Cuộc ngừng bắn lần thứ hai bắt đầu từ tháng 12 năm đó.
Cũng như lần ngừng bắn trước, đây chỉ là hòa hoãn tạm thời. Sau khi đình chiến, Đề Thám chiêu mộ nhân dân các nơi về làm ruộng ở đồn điền Phồn Xương. Nghĩa quân trở lại làm dân cày, nhưng vẫn nuôi dưỡng ý chí chiến đấu, đề cao cảnh giác, mỗi khi đi làm vẫn mang theo súng đạn đề phòng. Đề Thám còn thu nạp một số nghĩa quân các nơi sau khi thất bại tìm đường lên Yên Thế. Căn cứ của Đề Thám cũng là nơi lui tới của nhiều người yêu nước tiêu biểu cho xu hướng mới như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... Trong khi đó, thực dân Pháp vẫn ráo riết chuẩn bị việc tấn công tiêu diệt nghĩa quân. Xung quanh Yên Thế, nhiều đồn binh được dựng lên, nhiều đường giao thông được gấp rút mở để bảo đảm dễ dàng việc hành quân và vận chuyển vũ khí, lương thực khi có chiến sự. Đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn đến năm 1902 cũng hoàn thành, quyền lợi của giới tư bản trên con đường này cần được bảo vệ. Tình hình hòa hoãn tạm thời đã đến lúc không thể kéo dài.
Giai đoạn thứ ba của cuộc khởi nghĩa (1909 - 1913)
Đầu năm 1909, quân Pháp lại tấn công lớn vào Yên Thế do tên đại tá Bataille chỉ huy. Nhiều cánh quân địch vừa Pháp, vừa ngụy chia thành nhiều mũi cùng lúc đánh thọc sâu vào khu căn cứ nhằm bao vây, chia cắt nghĩa quân ra thành từng toán nhỏ. Do nắm được kế hoạch của định, Đề Thám kịp thời chủ động cho nghĩa quân chuyển sang Phúc Yên, Vĩnh Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên. Nhưng trước sức dồn ép và truy kích của kẻ thù, lực lượng nghĩa quân suy mòn dần. Cuối năm 1909, nhiều người tâm phúc bên Đề Thám như Cả Trọng (con trai) đã hy sinh trong chiến đấu, còn lại đều lần lượt sa lưới giặc như bà Ba Cẩn (vợ ba Đề Thám). Giặc Pháp tìm mọi cách bắt sống lãnh tụ Hoàng Hoa Thám. Nhưng nhờ đề cao cảnh giác, nhất là nhờ được nhân dân địa phương hết lòng bảo vệ, mãi tới ngày 10-2-1913, bọn tay sai Pháp mới đột nhập vào căn cứ và giết chết ông tại khu rừng gần chợ Gồ (Yên Thế).
Trong các phong trào chống Pháp của nhân dân ta buổi đầu thực dân Pháp xâm lược và thống trị, cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài nhất và cũng làm cho địch lo ngại và tổn thất nhiều nhất. Nghĩa quân là những người nông dân cầm súng, họ có mối thù mất nước kết hợp chặt chẽ với mối thù mất ruộng. Với một tinh thần chiến đấu dũng cảm và bền bỉ, được nhân dân hết lòng hết sức ủng hộ, lại có một chỉ huy quân sự xuất sắc cầm đầu, họ đã kéo dài cuộc chiến đấu gần 30 năm, bất chấp muôn vàn thủ đoạn ác độc của kẻ thù.
Mặc dù thất bại, khởi nghĩa Yên Thế đã viết nên những trang sử vẻ vang, chứng minh khả năng hùng hậu của giai cấp nông dân trong lịch sử chống đế quốc xâm lược.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 11 phút và 35 giây -----
Hoa Lư - Kinh đô của hai triều đại Đinh và Tiền Lê
--- Nguyễn Minh Tường ---
Cồ Việt quốc, đương Tống Khai Bảo
Hoa Lư đô thị Hán Tràng An
(Nước Đại Cồ Việt sánh ngang niên hịêu Khai Bảo của nhà Tống
Kinh đô Hoa Lư như kinh đô Tràng An của nhà Hán).
Đó là đôi câu đối do Vũ Phạm Khải (1807 - 1872) trước tác được treo ở hai cột giữa gian Bái đường đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng tại Kinh đô Hoa Lư xưa. Lòng tự hào của danh sĩ họ Vũ đặt trên đây không phải chỉ căn cứ ở những công trình kiến trúc, từ thành quách đến các cung điện, tức cái bên ngoài, mà chủ yếu là dựa trên vị thế, tầm cỡ, chiều kích của kinh đô Hoa Lư, tức cái bên trong đối với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Đương nhiên cái vẻ bên ngoài ấy của kinh đô Hoa Lư xưa được sử sách ghi chép bằng vài nét chấm phá, chúng ta cũng cần biết đến. Sách Đại Việt sơ lược (thế kỷ 14) chép về việc Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi và định đô như sau: "Đến năm thứ nhất niên hiệu Khai Bảo (968) đời vua Triệu là Tống Thái Tổ, vương xưng Hoàng đế ở đông Hoa Lư. Rồi dựng cung điện, chế trầu nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã tắc và tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế" (Đại Việt sử liệu). Sử gia Lê Văn Hưu khi bàn về Đinh Tiên Hoàng có viết: "Tiên Hoàng với tài năng sáng suốt hơn người, dũng lược bậc nhất thiên hạ, đảm đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ khắp nơi, một lần cử sư, mười hai sứ quân đều thán phục hết. Thế rồi mở nước, dựng đô, đổi niên hiệu, xưng Hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đủ". ức Trai tiên sinh trong cuốn Dư địa chí cũng ghi: "Đinh (tức Đinh Tiên Hoàng) gọi nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư... Hoa Lư xưa là Đại Hùng, bây giờ là phủ Trường Yên".
Kinh đô Hoa Lư nằm gọn trong địa phận xã Trường Yên ngày nay, được bao quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung, cảnh quan hùng vĩ. Hiện nay dấu vết của mười tuyến tường thành của kinh đô Hoa Lư vẫn là khá rõ ràng. Phía bắc thành nằm bên bờ sông Hoàng Long, cho nên về mặt giao thông đường thủy rất thuận tiện. Hoa Lư vừa là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa vừa là một quân thành vững chắc. Sách Đại Việt nhất thống chí từng cho biết.
"Đô cũ nhà Đinh, nhà Lê ở xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ... Có Nội thành và Ngoại thành".
Đến đời Tiền Lê, sau cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (981) trong khung cảnh đất nước yên bình vua Lê Đại Hành cho xây dựng thêm nhiều cung điện lộng lẫy, góp phần làm cho kinh đô Hoa Lư ngày càng hoàn chỉnh, trong đó có những cung điện xây cột dát vàng, dát bạc, mái lợp bằng ngói bạc. Sứ thần Ngô Sĩ Liên trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: "Năm Giáp Thân thứ 5 (984): dựng nhiều cung điện, làm điện Bách Bảo Thiên tức ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng, bạc, làm nơi coi chầu; bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, rồi lại dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân dựng điện Long Lộc lợp bằng ngói bạc".
Núi Đại Vân nằm ở ngay phía sau khu đền vua Đinh và đền vua Lê hiện nay, còn gọi là núi Long Triền (Đại Nam nhất thống chí). Nhân dân địa phương quen gọi núi này là Phi Vân, trên đó còn vết tích của điện Bách Bảo Thiên tuế. Điều đó chứng tỏ kinh đô Hoa Lư có quy mô khá bề thế, đẹp đẽ, uy nghi, trang hoàng khá lộng lẫy và được hòa nhập với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ nơi đây.
Hoa Lư chỉ giữ vai trò kinh đô của quốc gia Đại Cồ Việt trong khoảng thời gian chừng 42 năm: triều Đinh (968 - 980), triều Tiền Lê (980 - 1009). Nhưng Hoa Lư giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong tiến trình lịch sử - văn hóa Việt Nam. Trước hết, chính tại kinh đô này, vị vua sáng nghiệp triều Lý và Lý Thái Tổ đã "phóng tầm mắt" về vùng châu thổ sông Nhị Hà, rồi đã phát hiện ra vị thế ở trung tâm bốn phương" của thành phố "Rồng Bay" (Thăng Long) sau này. Cũng tại nơi đây, hình thành và bước đầu phát triển một nền Văn hóa Hoa Lư (có thể tạm gọi là thời kỳ Tiền văn hóa Thăng Long rực rỡ) - một nền văn hóa ví như vài cánh én báo hiệu một mùa xuân đầy hoa thơm, trái ngọt sắp tới. Và cũng tại chính nơi đây, Lý Thái Tổ đã nung nấu để viết lên tờ Chiếu văn vô tiền khoáng hậu "Thiên đô chiếu" (Chiếu dời đô), mà ngày nay bất kỳ ai đọc nó cũng phải tâm phục tầm nhìn xa trong việc "tính kế lâu dài cho con cháu" của ông.
Nếu như hai vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành "nhìn thấy" cái điểm khả thi về mặt quân sự của vị trí Hoa Lư "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ" (Tiến có thể đánh, lui có thể giữ) thì vua Lý Thái Tổ lại "phát hiện" ra cái "điểm yếu cơ bản" của nó là chật hẹp và ẩm thấp. Vậy thì chính Hoa Lư cũng đã cấp cho vua Lý Thái Tổ một bài học của việc định đô.
Có thể nói, dường như là nghịch lý: Có kinh đô Hoa Lư rồi mới có kinh đô Thăng Long. Dưới một cái nhìn minh triết tìm nơi "Kinh đô cho muôn đời" trong tâm não của vua Lý Thái Tổ thì Hoa Lư là mặt "âm" và Thăng Long là mặt "dương" của vấn đề.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 12 phút và 49 giây -----
Chuyện về Trưng nữ vương
--- Ngân Hà ---
Mùa xuân năm ấy, khi mùa săn bắt đầu ở Mê Linh, quan Lạc tướng Chu Diên đã cho con trai là Thi Sách dẫn một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân với họ Trưng. ý Lạc tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và Chu Diên mà liên kết được với nhau thì chẳng phải tốt lành chuyện nhân duyên đôi trẻ Thi Sách - Trưng Trắc mà sức mạnh của người Việt sẽ được nhân lên. Sức mạnh ấy có thể xoay chuyển được tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán khôi phục lại được nước cũ của người Việt.
Chàng trai tuấn tú Thi Sách tới Mê Linh đã được nữ chủ tướng Trưng Trắc, chạc tuổi mình, đón tiếp ân cần, lịch thiệp. Đôi trẻ quyến luyến nhau ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Thi Sách đến Mê Linh được một ngày thì hội săn được mở.
Đến trưa toán thân binh của Thi Sách cùng trai tráng Mê Linh đã lặc lè khiêng về một con cọp lớn chưa từng thấy. Trên thân cọp, hai mũi lao cắm ngập sâu vào giữa ức. Nhìn cái lao có dấu riêng của con trai lạc tướng Chu Diên, ai lấy đều mừng thầm nữ chủ Trưng Trắc đã kết thân được với chàng trai dũng mãnh. Có lẽ không một ai ngoài Trưng Trắc biết rằng, trước khi bị hai mũi lao phóng tới, chúa sơn lâm đã bị một mũi tên của Trưng Trắc xuyên trúng mắt buộc cọp lớn phải khựng lại giữa đà lao dữ dội. Vì thầm yêu Thi Sách, còn muốn cùng Thi Sách săn con thú lớn hơn, nguy hiểm hơn gấp bội nên Trưng Trắc đã nhanh chóng nhảy tới bên thú dữ kín đáo nhổ mũi tên lợi hại của mình. Tình yêu của Thi Sách và Trưng Trắc như ý nguyện của Lạc tướng Chu Diên đã được chính đôi trẻ thu xếp ổn thoả. ít lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người, Trưng Trắc đã cùng Thi Sách kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của người Việt. Vợ chồng tuy đã thành thân nhưng người nào vẫn ở đất cũ của người ấy.
Thái thú Tô Định giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh và con trai của Lạc tướng Chu Diên. Tô Định biết rõ rằng đằng sau cuộc hôn nhân là sự liên kết thế lực hai miền đất lớn của người Việt. Sự liên kết ấy đang nhân gấp bội sức mạnh chống lại nền đô hộ của nhà Hán.
Điều lo ngại của Tô Định quả là không sai. Ngay sau ngày cưới. Chu Diên khẩn trương rèn đúc vũ khí, dồn góp thóc lúa trữ lại một nơi thành chỗ dựa vững chắc cho Mê Linh trong cuộc khởi nghĩa sắp tới. Từ Mê Linh những con thuyền đưa Trưng Trắc đến Chu Diên gặp chồng, đưa Thi Sách từ Chu Diên về Mê Linh gặp vợ ngày càng nhiều. Những con thuyền như thế còn đi xa hơn, đến tận Cửu Chân, Nhật Nam và các huyện ngoài biển đông của cõi Giao chỉ, các huyện xa trên quận họp nhau bàn định việc nghĩa. Mọi nơi đều hướng về Mê Linh chờ chị em Trưng Trắc hành động để sẵn sàng hưởng ứng.
Linh cảm thấy trước một cuộc biến xảy ra mà cội nguồn của nó từ đất Mê Linh, Tô Định hốt hoảng tìm cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem đại binh đột ngột kéo về Chu Diên bắt giết Thi Sách xem như đòn trấn áp phủ đầu của hắn.
Tin dữ từ Chu Diên đem tới, khiến Trưng Trắc đau đớn lặng người. Rồi ngay sau đó, với dáng quả quyết, Trưng Trắc nổi trống đồng họp binh, quyết trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Nghe tiếng trống đồng ầm ầm nổi lên, dân Mê Linh cung nỏ, đao búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về làng. Trên bành voi cao nữ chủ tướng Mê Linh mặc áo giáp phục rực rỡ, bên ngoài bộ xống trùng áo ngắn là tấm hộ khiên bằng đồng thau vàng rực, chạm khắc cầu kỳ và chiếc đai lưng khoá đồng có đính một chuỗi nhạc nhỏ kêu lanh canh theo nhịp lắc của voi.
Trước lúc tiến quân, trong đám cử suý có người xin chủ tướng cho cử tang Thi Sách và mặc tang phục. Trưng Trắc trả lời:
- Việc chiến trận phải quyền biến. Nếu tự làm tiều tuỵ thì nhuệ khí ắt tàn theo. Ta mặc giáp phục đẹp đẽ để dân trông thấy thì phấn khích mà giặc trông thấy thì kinh hoàng.
Quả vậy, dân Mê Linh trông thấy nữ chủ tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào ào bám chân voi, theo chủ tướng mà xốc tới. Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đô uý trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh luỹ giặc, tiến xuống Luy Lâu. Trong đoàn quân kéo đi phá quân trị của nhà Hán ngày càng có thêm nhiều người từ các nơi đổ về. Thành Luy lâu cũng không đương nổi cuộc công phá của một biển người ào ào theo hiệu trống của chị em Trưng Trắc. Trong đám loạn quân, nữ chủ tướng Mê Linh thúc voi xông xáo tìm Tô Định. Nhưng hắn đã cao chạy xa bay về Nam Hải chịu tội với vua Hán.
Tin thắng trận dồn dập bay đi. Nỗi vui mừng quá lớn khiến cho người dân Việt nhiều đêm liền không ngủ. Hàng chục đời nay nước cũ của vua Hùng mới được khôi phục, nợ nước thù nhà của chủ tướng Mê Linh đã được trả.
Hội mừng thắng trận được mở, trai gái dập dìu nhảy theo điệu trống dồn dập tưởng không bao giờ dứt.
Lấy lại nước, hai chị em họ Trưng được cả nước tôn lên làm vua, trị vì nước Việt. Trưng nữ vương trở về đất bản bộ, xây thành Mê Linh. Các tướng lĩnh được phong chức tước, sau đó người nào trở về đất ấy, dốc sức xây dựng quê hương.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 17 phút và 35 giây -----
Phong trào Đông du và Đông kinh nghĩa thục
Phong trào Đông du (1905 - 1909)
Bước vào những năm cuối thế kỷ 19, phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân ta sau một thời kỳ dài bùng nổ quyết liệt đã bị kẻ thù dập tắt trong máu lửa. Bộ máy kìm kẹp, thống trị của chúng nhờ đó càng được củng cố. Trong hoàn cảnh mới, những người yêu nước nhận thấy phải có con đường cứu nước mới. Họ mạnh dạn đón nhận những luồng tư tưởng dân chủ tư sản từ ngoài dồn dập tràn vào nước ta từ những năm đầu thế kỷ 20. Họ muốn dựa vào nước Nhật, một nước theo con đường tư bản châu Âu, giàu mạnh lên, đánh thắng đế quốc Nga (1905). Người Nhật lại "cùng màu da vàng".
Để thực hiện ý định trên, các nhà yêu nước đã lập ra Hội Duy tân do Phan Bội Châu đứng đầu. Mục đích của Hội là khôi phục nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập (1904). Đầu năm 1905, thực hiện nhiệm vụ Hội giao, Phan Bội Châu lên đường sang Nhật nhờ giúp khí giới, lương tiền. Nhưng người Nhật chỉ hứa giúp đỡ việc đưa thanh nhiên sang học để đào tạo cán bộ cho cuộc bạo động vũ trang về sau. Hội Duy tân hăng hái bắt tay ngay vào việc tuyên truyền cổ động thanh niên bí mật sang Nhật học, mở đầu cho phong trào Đông du (nước Nhật Bản ở phía Đông nước ta nên cuộc xuất dương sang Nhật gọi là Đông du).
Phong trào Đông du lúc đầu tiến hành thuận lợi, số học sinh có lúc lên tới 200 người. Nhưng đến tháng 9-1908, thực dân Pháp ra tay khủng bố. Chúng câu kết với chính quyền Nhật, giải tán tổ chức du học sinh của ta trên đất Nhật, trục xuất những người yêu nước Việt Nam khỏi đất Nhật. Đầu năm sau (3-1909), Phan Bội Châu cũng phải rời khỏi Nhật Bản. Sau đó, phong trào Đông du tan dã. Hội Duy tân ngừng hoạt động.
Đông Kinh nghĩa thục (1907)
Cùng thời với phong trào Đông du có xu hướng bạo động vũ trang mang tính chất toàn quốc, ở Bắc Kỳ còn có một cuộc vận động cải cách văn hóa xã hội theo lối tư sản.
Tháng 3-1907, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và một số nhà nho tiến bộ khác đã mở tại Hà Nội một trường học tư lấy tên là Đông Kinh nghĩa thục (Đông Kinh là tên Hà Nội cũ. Nghĩa thục là trường làm việc nghĩa). Tuy là một trường tư nhưng không thu tiền học.
Chương trình học gồm những bài phổ thông về địa lý, lịch sử, cách trí (khoa học thường thức), vệ sinh. Tuy vẫn phỏng theo chương trình nhà trường thực dân nhưng được soạn theo mục đích tuyên truyền đổi mới. Trường còn tổ chức những buổi nói chuyện, bình văn, ra sách báo. Các hoạt động này đều có nội dung yêu nước, kêu gọi đoàn kết, bài trừ lối học cũ, khuyên học quốc ngữ, dùng hàng sản xuất trong nước, mở mang các nghề công thương, sống theo lối mới...
ảnh hướng của Đông Kinh nghĩa thục không ngừng mở rộng. Cơ sở của trường lan dần về các địa phương. Số học sinh ngày càng đông, lên tới 1.000 người. Các hoạt động ngoại khóa của trường cũng thu hút được đông đảo đồng bào hồi đó:
"Buổi diễn thuyết người đông như hội,
Kỳ bình văn khách tới như mưa"
(Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục)
Trước ảnh hưởng ngày một lớn của Đông Kinh nghĩa thục, thực dân Pháp thấy đó "là một cái lò phiến loạn ở Bắc Kỳ" (Hồ sơ Phủ thống sứ Bắc Kỳ - Phòng lưu trữ Thư viện quốc gia) nên thẳng tay đàn áp. Tháng 11-1907, trường bị đóng cửa, sách báo của trường bị cấm, một số người hoạt động tích cực bị bắt. Tính ra Đông Kinh nghĩa thục chỉ mới hoạt động được 9 tháng nhưng đã góp phần thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân ta đầu thế kỷ 19.
Cuộc vận đông Duy Tân và phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (1907 - 1908)
Cuộc vận đông Duy tân
Cùng lúc với phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở Bắc Kỳ, một cuộc vận động Duy tân (bỏ cũ theo mới) sôi nổi diễn ra ở khắp Trung Kỳ. Cầm đầu phong trào là các nhà nho tiến bộ như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Văn Huân...
Các hình thức hoạt động rất phong phú. Trường học được mở khá nhiều, xuống đến tận các làng xã. Chương trình học có toán, cách trí, vệ sinh, sử ký, địa lý... với nội dung mới. Trường còn dạy hát, luyện tập thể thao, hàng tuần có tổ chức diễn thuyết về các đề tài sinh hoạt xã hội, tình hình thế giới. Nhà trường cũng là nơi tuyên truyền mở mang công nghiệp và thương nghiệp đẩy mạnh sản xuất, bài trừ bọn quan lại xấu, đả phá phong tục lạc hậu mê tín, thực hiện đời sống mới... Nhiều hội buôn hàng nội hóa, nhiều công ty làm nghề thủ công được thành lập ở các nơi. Người ta còn đua nhau cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn... Tất cả các hoạt động trên đều đề cao tinh thần đoàn kết yêu nước, căm ghét bọn thực dân, tay sai.
Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ
Phong trào Duy tân ngày càng lan rộng. Chính lúc này nhân dân Trung Kỳ đang điêu đứng vì nạn thuế khóa nặng nề, nạn bắt phu của thực dân Pháp. Cuộc vận động Duy tân khi đi sâu vào quần chúng đã bùng lên thành ngọn lửa căm thù trong lòng mọi người. Vì vậy, từ đầu năm 1908, một phong trào chống đi phu, đòi giảm thuế đã nổi dậy ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Giữa tháng 3-1908, nhân dân huyện Đại Lộc (Quảng Nam - Đà Nẵng) kéo nhau lên tỉnh lị đòi giảm thuế, phản đối việc bắt phu. Cuộc đấu tranh kéo dài suốt tháng, số người kéo đến càng đông, có lúc đến một vạn người tham gia. Tại các huyện khác trong tỉnh cũng xảy ra những cuộc đấu tranh ngày càng kịch liệt hơn. Phong trào nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh miền Trung tuy thực dân Pháp và tay sai đã ra sức đề phòng. Khí thế đấu tranh của quần chúng ngày càng dâng cao.
Tình hình đó làm cho bọn thống trị vô cùng lo sợ. Chúng ra sức huy động nhiều binh lính thẳng tay khủng bố đàn áp, đóng cửa các trường học, giải tán các hiệu buôn, bắt bớ, tù đày nhiều người, xử chém một số người cầm đầu. Vì chưa có cơ sở vững chắc trong quần chúng, nhất là vì thiếu một bộ phận lãnh đạo sáng suốt, nên phong trào tan rã dần vào cuối tháng 5-1908.
--- Thế Văn ---
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là Anh hùng dân tộc, nhà chiến lược chính trị, thiên tài quân sự, nhà văn hóa tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh và tài năng dân tộc Việt Nam những thế kỷ phục hưng mạnh mẽ và rực rỡ của văn minh Đại Việt độc lập sau cả nghìn năm nô lệ. Người Việt Nam đã tôn ông là Đức Thánh Trần, hằng năm tổ chức ngày giỗ vào 20-8 âm lịch để tưởng nhớ công đức của Người.
Hưng Đạo Đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, Anh hùng dân tộc, nhà chiến lược chính trị, thiên tài quân sự, nhà văn hóa tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh và tài năng dân tộc Việt Nam những thế kỷ phục hưng mạnh mẽ và rực rỡ văn minh Đại Việt độc lập sau cả nghìn năm nô lệ. Truyền thống quật khởi và nhân nghĩa Việt Nam mấy nghìn năm và văn minh độc lập Đại Việt mấy thế kỷ chung đúc nên Người.
Khi Người tại thế, ba đời vua Trần, trăm vạn binh tướng, mười triệu dân Đại Việt ký thác vận mệnh vào Người với ý chí thép và tài thao lược đã trỏ cờ, vung gươm xung trận quét sạch tổng cộng một triệu quân xâm lược.
Khi Người tạ thế, nhân dân tôn Người làm Thánh. Hơn thế, đời đời thờ phụng Người là Cửu thiên Vũ đế, ngự trên ngôi thánh cao nhất, con mắt thiêng của Người thấu dõi suốt ba cõi trên trời, nhân gian và dưới đất.
Trần Quốc Tuấn hóa Thánh trong tâm thức dân ta, bởi nhân cách của Người, tài năng của Người, công nghiệp của Người kỳ vĩ, khác thường, dường như siêu phàm mà người thường không với tới.
Nhân cách Hưng Đạo vương là ở "trái tim hừng hực lòng yêu xứ sở", yêu giống nòi, yêu văn hiến Đại Việt. Khí phách đạp lên muôn vàn gươm đao ngoại tặc để làm nên thắng trận, vận mệnh quốc gia và trăm họ cao hơn hết thảy, hơn cả ngai vàng. Trái tim người làm đuốc lửa dẫn đầu ba quân và trăm họ phá giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, đốt thuyền giặc trên sông Bạch Đằng, nhưng cũng giàu lòng vị tha, nhân ái như suối mát với dòng tộc, với muôn dân.
Trái tim ấy không có chỗ cho hiềm thù nội tộc mà phương hại vận mệnh quốc gia. Lắng nghe lời trăng trối báo thù của cha - An Sinh vương Trần Liễu, người có hiềm khích với vua Thái Tông, cho đúng đạo làm con, nhưng Người không nuôi hiềm khích, không muốn đoạt ngôi dù dễ như trở bàn tay bởi biết loạn triều thì lòng dân ly tán, thì nước nguy vong. Trái tim ấy đùng đùng nổi giận, sáng lòe gươm tuốt, nếu không có người can ngăn thì đầu con trai Quốc Tảng rụng xuống khi người con này cất lời khuyên cha nên đoạt lấy ngôi cao. Trái lại, con tim động lòng đến rơi lệ trước nghĩa cả mà các tỳ tướng Yết Kiêu, Dã Tượng thốt ra lời: "Chúng con không muốn làm như thế (cướp ngôi vua) để tiếng xấu muôn đời". Chính vua Trần Thánh Tông, vào thời khắc khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288) bất chợt thốt lên: "Trung nghĩa (như Quốc Tuấn) thì không ai sánh kịp".
Và trái tim cao cả ấy cháy rực trước nạn ngoại xâm. Giặc xâm lược kéo đến cướp nước, trước vua Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn nói lời quật khởi của núi sông, của trăm họ, với khí phách mà các bô lão đến hội Diên Hồng hô lớn, còn binh lính thì thích chữ vào cánh tay cầm giáo: "Nếu bệ hạ muốn hàng, hãy chém đầu thần đi đã". Nghe câu ấy, vua đã hả hê xuất ý tức thì, làm bài văn bia ở đền thờ sống Trần Quốc Tuấn, gọi ông là Thượng phụ.
Trái tim ấy, khi đập những nhịp cuối cùng (vào ngày 20-8 Âm lịch năm 1300), còn chan chứa niềm yêu dân, gửi lại muôn đời lời trăng trối: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, ấy là thượng sách để giữ nước". Trái tim Trần Quốc Tuấn vằng vặc như mặt trời, lớn rộng như biển cả, trọn vẹn đau đáu niềm yêu nước thương dân, cao cả và thánh thiện. Tài ba Trần Quốc Tuấn gồm cả văn lẫn võ.
Văn của Người ở tầm "đại học vấn, đại uyên bác" như sử gia triều Nguyễn ngợi ca. Văn Người bất hủ với Hịch tướng sĩ: "Ta ngày thường quên ăn, đêm thường quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìạ..", tâm, óc và lời cuồn cuộn như lửa cháy, làm sáng bừng lên nghĩa khí Đại Việt, cuốn thiêu đi cạn hẹp lòng người, truyền khí phách từ Người tới ba quân tướng sĩ, trào lên muôn nghìn ngọn giáo xung trận trong trống thúc hồi hồi.
Võ ở tầm nhà chiến lược, quân sự phương Đông, hơn thế, nhà lập thuyết quân sự và bày binh Đại Việt. Lý thuyết và nghệ thuật dùng binh thuở ấy được người hội nhập và sáng tạo bộ chủ gia binh pháp, gọi là Binh thư yếu lược, từ đó soạn ra Bát quái cửu cung đồ, gọi là Vạn kiếp tông bí truyền thư, làm nền tảng cấu trúc quân đội thời Trần và luyện quân, tập tướng. Con mắt nhà chiến lược sáng tỏ cả tạo thế, dùng lực và trận pháp trước mỗi cuộc kháng chiến với tương quan lực lượng chẳng giống nhau. Kháng chiến lần thứ nhất (1258) Người ung dung "lấy quân nhàn thắng giặc mệt", giáp trận ngay, tiến công mãnh liệt, khi giặc còn ở ngoài cửa ngõ Thăng Long một trận lớn Đông Bộ Đầu (Phú Xuyên, Hà Tây) đã kết thúc chiến tranh. Ba cuộc kháng chiến, tổn thất nặng nề, kinh thành bị phá phách, lăng miếu ở Long Hưng (Thái Bình) bị tiêu hủy, đến tượng ngựa đá cũng chịu nạn gươm đao, nhưng đất nước sạch bóng thù, ý chí xâm lăng của quân thù sụp đổ, "giang sơn vững âu vàng".
Nhà chiến lược thiên tài cũng là vị chủ soái áo bào nhuốm khói cùng tướng sĩ. Người có mặt ở cả những trận đánh ác liệt nhất, rời trận địa cuối cùng ở những lần rút lui chiến thuật. Có lần, sau tất cả các vua, vương tộc và binh sĩ, Người chỉ kịp xuống thuyền Yết Kiêu, Dã Tượng đợi sẵn bờ sông Hồng thì quân giặc đã tràn đến la hét vang động mặt đê. Một bộ óc chiến lược thiên tài tính toán như thần, ít thời có được, mang cờ tiết và binh phù nguyên soái, trong một tư cách công dân - chiến sĩ như muôn quân.
Các vua Trần, ba quân và trăm họ, thảy đều tôn vinh Người có công đầu không chỉ trong võ công hiển hách ba lần cả phá giặc ngoại xâm, như vị cứu tinh. Vua phong ông tới tột bậc: Đại vương, Thượng quốc công. Các đời sau, tướng lĩnh xuất quân, đều đến thắp hương ở một trong hàng trăm đền miếu thờ Người khắp nước, đặng đủ dũng lược và tài trí để mà thắng trận. Bởi hùng khí dân tộc, uy linh sông núi là bất tử, đã hun đúc nên con người Trần Quốc Tuấn, còn vận nước thời Trần thì đặt lên vai Người gánh nặng giúp vua trùng hưng như nhà chính trị, đặt vào tay người cây gươm chủ soái, cho nên thời ấy và mọi thời có Người thác rồi mà luôn linh hiển cùng sông núi và chúng dân, "hiển thánh" cùng các đời phá giặc, cái uy linh của "thanh kiếm dài tựa ngoài trời cao khi xưa, đêm thường kêu rít như gió trong vỏ hộp".
Võ công lẫy lừng, phẩm tước tột bậc, nhưng nước yên, Người vẫn không ngước lên ngôi báu, mà trở về với thái ấp cũ vùng Kiếp Bạc. Người sống cho hậu thế, bằng những lời răn dạy đạo làm người. Bầy tôi phải tận trung. Anh em phải tận hòa. Vợ chồng phải tận kính. Bè bạn phải tận tín. Làm điều thiện. Bỏ điều ác. Bỏ uống rượu. Cấm tham ô. Chăm lo các nghề sĩ, nông, công, thương. Thế thì trăm điều lành đến, vạn phúc sẽ về...
Từ giã cuộc đời, Người muốn hóa thân vào sông núi. Người không dặn xây lăng tẩm, lập đền đài, khắc bia vĩnh cửu. 72 năm, ba lần trận mạc, sống trọn vẹn với nước với dân, Hưng Đạo đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn mất ngày 20-8 Âm lịch năm 1300, tại Thái ấp Vạn Kiếp của Người. Dân ta coi ngày đó là Giỗ cha (tháng 3, lễ Thánh Mẫu của Tín ngưỡng từ thời Hùng Vương mở nước, là Giỗ mẹ). Mãi mãi trong lòng dân ta. Người là vị Anh hùng dân tộc tiêu biểu cho khí phách, trí tuệ và tâm hồn con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, xứ sở Việt Nam - Đức Thánh Trần.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 1 phút và 31 giây -----
Công chúa Thụ La - bà chúa dệt
Dưới triều Lý Huệ Tông (đầu thế kỷ XIII) kinh thành Thăng Long đã sầm uất đô hội. Các phố phường mở ra, nghề nghiệp thủ công cũng phát triển nhanh, nức tiếng trong cả nước. Nhiều người ở các châu quận xa đều về Thăng Long, học nghề hoặc mở phố xá buôn bán.Ông Nguyễn Diệu là một trong những người ấy.
Ông vốn là người Ái Châu (Thanh Hoá) lấy vợ họ Mai. Hai vợ chồng đưa nhau ra Thăng Long mở một xưởng dệt vải. Trên quê hương mới này, ông bà sinh được một cô gái đặt tên là Nguyễn Thị La. Đặt tên con như thế, ông Diệu nghĩ đến tên cổ của kinh đô Thăng Long là thành Đại La, phần khác là còn có lụa là rất hợp với nghề nghiệp của ông. Nàng La lớn lên, có tài có sắc, lại cũng được theo bút nghiên đọc được sách vở thông hiểu chữ nghĩa. Điều đặc biệt hơn cả, là noi theo nghề của cha mẹ, nàng La rất khéo tay. Vải nàng dệt vừa bền vừa đẹp. Nàng lại biết sắp xếp những thao tác rất gọn gàng hợp lý, thành ra mau công được việc, ai cũng phải phục tài.
Trong số những người đến làm công, học việc với ông Diệu, có một chàng thanh niên tên là Trần Thưởng vốn quê ở Hải Dương. Cha mẹ mất sớm, anh Thưởng có được học hành nhưng không thể đeo đuổi sách đèn, phải ra làm thợ. Anh cũng là một tay thợ lành nghề. Anh thường thi tài với nàng La. Làm việc gần nhau, quen hơi bén tiếng, hai người yêu nhau và ông bà Diệu cũng vui lòng nhận Trần Thưởng làm con rể.
Có cơ sở vững vàng, chu đáo rồi, Trần Thưởng nghe lời khuyên của vợ, quay ra ôn tập sách vở để đi thi. Anh thi đỗ được bổ làm quan, coi sóc về việc hộ. Anh xin nhà vua cho lập một phường thủ công ở ven hồ Tây, lúc ấy gọi là hồ Dâm Đàn. Nàng La làm nhà ở kế đó, và nhận việc dạy nghề dệt cho dân chúng. Cách truyền nghề của nàng cũng rất công hiệu, người học việc rất hoan nghênh. Tiếng đồn lan rộng, nhà vua nhiều lần mời nàng vào cung, dạy cho công chúa và các cung nữ. Các tiểu như nhà quan cũng đua nhau mời nàng.
Trong lúc đó thì Trần Thưởng được thăng chức vào làm Đốc Lĩnh. Một lần cùng quân sĩ đi thuyền trên sông gặp bão thuyền đắm, ông bị sóng cuốn đi mất tích. Nàng La nghe tin, đau buồn mà chết theo chồng. Vua rất thương xót cho dựng miếu thờ và truy tặng là Thụ La công chúa. Dân chúng bao đời nay vẫn gọi bà là chúa dệt.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 3 phút và 26 giây -----
Trần Nhân Tông - Đạo và Đời
--- Quỳnh Cư ---
Nhà Trần đã tạc một dấu son vào tiến trình lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Một triều đại mà các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà đã hội tụ thật đầy đủ. Biết bao con người kiệt xuất đã hiện diện: ba vị vua đầu triều Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, các vị tướng tài như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão... Tất cả họ đã làm nên chiến công hiển hách 3 lần đánh thắng quân Nguyên, tạo cho con dân Đại Việt cuộc sống hoan ca hạnh phúc. Không chỉ có võ công khiến giặc ngoại xâm phải chùn bước, triều Trần còn là một triều đại mà tư tưởng triết học Phật giáo đã phát triển rực rỡ, thể hiện đầy đủ trí tuệ và bản lĩnh của người Đại Việt.
Trần Nhân Tông (1258-1308) là vị vua tiêu biểu cho tất cả những gì tốt đẹp như thế. Ông là con thứ 2 của Trần Thánh Tông, lên ngôi vua vào năm Kỷ Mão (1279). Nói đến Trần Nhân Tông, trước tiên là nói đến một vị vua võ tướng, được sử sách ngợi ca là anh hùng cứu nước. Trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược (1285 và 1288), ông đều thân ra trận, ngồi trên lưng ngựa dẫn dắt con dân trải qua những thử thách gian lao. Khi viết ra những dòng thơ bất hủ :
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
(Xã tắc hai lần mệt ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Chắc rằng "hào khí Đông A" đang sôi trào trong huyết quản vị vua tài hoa, phóng khoáng.
Làm một bậc đế vương, công lao như thế tưởng cũng là quá đủ. Nhân Tông đã làm đúng, thậm chí làm hơn những giáo điều Nho học. Ngoài thì đánh giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi; trong thì vỗ về trăm họ, khiến nước thái bình. Nhưng Nhân Tông không dừng lại ở đó. Khi xã tắc đã qua hồi gian khó, Nhân Tông lại tìm đến với Thiền học, hệ tư tưởng đã là niềm đam mê của ông ngay từ thời trai trẻ.
Nói đến vấn đề này, cũng cần trở về với Trần Thái Tông, ông nội của Nhân Tông. Năm 1225, dưới sự sắp xếp của Trần Thủ Độ, Thái Tông Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và được nữ vương nhường ngôi. Nhà Trần thay nhà Lý từ đó. 11 năm sau, do Chiêu Hoàng không có con, Thủ Độ lại ép Thái Tông lấy Thuận Thiên là vợ Trần Liễu (anh ruột Trần Cảnh), đã có mang 3 tháng. Tất cả những việc làm ấy, tuy đã có lợi cho xã tắc trước vó ngựa xâm lược nhà Nguyên, nhưng không thể không khiến cho Thái Tông phải suy ngẫm về nhân sinh, về cuộc sống. Với tầm tư tưởng đã phải qua nhiều phen vò xé, Thái Tông đã viết nên "Khoá hư lục" với những triết lý sâu sắc về cuộc đời, giữa hai chữ danh và lợi. Chắc rằng, Thái Tông đã dạy dỗ, luận bàn với các cháu nội mình rất nhiều về thế thái nhân tình và về Phật học.
Với những ảnh hưởng như thế, Thiền môn Phật học trở thành sự sùng bái của Nhân Tông không có gì là lạ. Sử sách kể rằng, năm 1279, là thái tử đương triều theo cha (Thánh Tông) về thăm Yên Tử, Nhân Tông đã xin ở lại để tu hành. Thánh Tông nổi giận mắng rằng: "Chí làm trai tựa chim hồng, chim hộc, sơn hà xã tắc đè nặng hai vai, đâu để học thái tử Tất Đạt Ma lên non xanh cắt tóc". Và khi trở về kinh, vua cha lập tức cử lễ truyền ngôi cho ông. Nhận trọng trách, Nhân Tông tạm gác chí riêng, "chấp nhận" trị vì trăm họ. Như thế, ngay từ đây, tư tưởng "sắc sắc không không" của đạo Phật đã thấm nhuần trong ông. Giống như ông nội của mình, Nhân Tông có thể "trút bỏ ngôi báu như trút đôi dép rách vậy". Nhưng không phải là ông coi thường ngôi báu, xem nhẹ trách nhiệm của người đứng đầu quốc gia dân tộc. Năm 1301, với tư cách là Thái thượng hoàng, nghe tin Anh Tông lơ là triều chính, ông đã truyền "vua con" đến ban quở, thậm chí định truất ngôi. Nhờ triều thần can gián, ông đã tha tội nhưng răn rằng: "Đạo làm vua, hãy biết xem đất nước là của công chứ không phải của riêng mình. Hãy biết xem thiên hạ là nhà của chính mình". Có nghĩa là, cái mà Nhân Tông coi thường chính là danh lợi. Ngôi báu cũng chỉ là thứ danh vọng hão huyền. Với ông, cái thật, cái cụ thể có thể nắm bắt là làm sao để cho trăm họ một cuộc sống thái bình thịnh trị. Cái chung đã hoà nhịp với cái riêng, lợi ích của cả dân tộc đã vượt lên lợi ích của cá nhân, cho dù cá nhân ấy thân làm bậc quân vương đứng đầu xã tắc.
Năm 1298, Nhân Tông nhường ngôi cho con rồi tìm về Yên Tử đi tu, thực hiện chí nguyện thời trai trẻ. Ông trở thành thủy tổ của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử đã để lại dấu ấn rực rỡ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm, Nhân Tông sáng tác nhiều kệ, thơ thiền, ngữ lục mà mặt nào cũng có những chiêm nghiệm sâu sắc. Ví như khi Bảo Sái hỏi ông: "Như thế nào là Phật?", ông nói: "Như cám dưới cối"...
Thực tế cho thấy rằng, ngay từ thời Lý, đã có nhiều đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ Trung Hoa và ấn Độ. Nhưng chỉ đến khi Nhân Tông sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm, nước ta mới có một giáo phái thuần Việt, thống nhất, tránh được mọi sự phân biệt gây trở ngại giữa đạo và đời. Một cách thật triết học, Nhân Tông đã chắt lọc những tinh hoa của các đạo pháp ngoại lai, bổ sung vào đó cái chất giản dị mà sâu sắc của người Việt, hoàn toàn phục vụ cho lợi ích của chúng sinh, cũng chính là quốc gia - dân tộc. Cho đến cuối đời, dân gian vẫn cho rằng Nhân Tông đã hiển phật. Tuy chỉ là huyền thoại nhưng cũng phần nào thấy được sự ngưỡng vọng của phật tử cả nước, của trăm họ đối với ông, vị thiền sư - giáo chủ hoá Phật.
Tìm hiểu về Nhân Tông, ta thấy rằng giữa đạo và đời đã có sự thống nhất đến mức tối đa. Anh hùng cứu nước, thi sĩ, triết gia, thiền sư, giáo dục, tất cả những phẩm chất tốt đẹp ấy đã kết hợp hài hoà trong con người ông. Có thể nói, Trần Nhân Tông là một vị vua cổ kim ít thấy. Cùng với Trần Thái Tông, đó là những gương mặt văn hoá đẹp lạ thường trong lịch sử Việt Nam.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 6 phút và 26 giây -----
Thủ khoa Huân ba lần chống Pháp
Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, triều đình Nhà Nguyễn hèn nhát dâng đất cho giặc, Nguyễn Hữu Huân (1816 - 1875) đã chiêu mộ quân chiến đấu chống quân thù. Ba lần bị giặc bắt, hai lần được thả, ông vẫn không bị địch lung lạc, chiến đấu tới hơi thở cuối cùng.
Nguyễn Hữu Huân người xã Tĩnh Giang, phủ Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay là Tiền Giang) thời trẻ ông học giỏi nổi tiếng, thi đậu giải nguyên (Đậu đầu kỳ thi cử nhân) nên thường gọi là thủ khoa Huân.
Khi giặc Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ, Nguyễn Hữu Huân đã bỏ nghề dạy học đứng ra chiêu mộ nghĩa quân chiến đấu chống giặc. Giặc Pháp bắt được ông rồi lại thả ra để mua chuộc lung lạc ông. Nhưng trước việc giặc Pháp trắng trợn chiếm đóng các tỉnh miền đông Nam Kỳ và triều đình nhà Nguyễn cắt đất dâng quân xâm lược, ông lại tiếp tục mộ quân chiến đấu chống quân thù.
Năm 1863, ông đã tập hợp nghĩa quân chống Pháp ngay sau lưng giặc tại vùng Mỹ Tho. Nghĩa quân hoạt động rất mạnh, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề. Nhưng sau vòng vây của giặc ngày càng khép chặt, tháng 6-1863, Nguyễn Hữu Huân phải bỏ Mỹ Tho sang Châu Đốc là vùng còn tự do. Lúc này triều đình nhà Nguyễn ngày càng lộ rõ bộ mặt hèn nhát, đã không ủng hộ người yêu nước trong cơn nguy khốn mà còn muối mặt bắt giam ông vì "tội" không tuân lệnh bãi binh đã được ban bố sau hàng ước 1862. Hèn mạt hơn nữa là triều đình đã theo yêu cầu của giặc Pháp giao ông cho chúng đem về Sài Gòn giam giữ. Năm 1864, giặc Pháp đày ông ra đảo ở giữa Ấn Độ Dương.
Giữa năm 1867, giặc Pháp nổ súng chiếm nốt ba tỉnh miền tây Nam Kỳ và lo củng cố bộ máy thống trị để khai thác vơ vét bóc lột nhân dân ta. Để thực hiện âm mưu trên được dễ dàng, chúng đã thi hành một số biện pháp mua chuộc hòng xoa dịu tinh thần đấu tranh của nhân dân ta. Năm 1868, Nguyễn Hữu Huân đã được chúng thả từ hải đảo về đất liền. Nhưng giặc Pháp và tay sai lại hoàn toàn bị thất bại trong âm mưu mua chuộc ông lần này nữa. Ngay khi mới được thả ra, thấy trong số bạn bè cũ có người đã cam tâm ra làm việc với Pháp, ông đã có những câu thơ thống thiết vừa chê trách họ vừa bày tỏ tấm lòng yêu dân yêu nước của mình.
Năm 1875, Nguyễn Hữu Huân lại chiêu mộ binh sĩ kéo cờ khởi nghĩa. Tổng số nghĩa quân lên tới trên dưới 3.000 người, hoạt động rất mạnh ở vùng từ Tân An qua Mỹ Tho. Nghĩa quân đặt tổng hành dinh tại làng Long Trì, ra sức vận động lính ngụy rồi tiến đánh Mỹ Tho. Nhân dân các địa phương nhiệt liệt hưởng ứng và giúp đỡ nghĩa quân. Nhưng lúc này thực dân Pháp đã đặt được bộ máy thống trị tương đối vững và có thể dồn lực lượng vào việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Triều đình thì cấu kết với giặc. Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân vì thế cũng không tránh khỏi thất bại. Nguyễn Hữu Huân lại bị Pháp bắt (1875). Biết ông là người có nhiều uy tín trong nhân dân, giặc Pháp và tay sai một lần nữa cố tìm mọi cách mua chuộc người anh hùng. Nhưng trước sau ông vẫn tỏ ra kiên quyết một lòng không chịu khuất phục.
Cuối cùng, giặc Pháp phải kết án xử tử ông. Trước giờ thi hành bản án, chúng đóng gông ông lại, rồi bắt ông ngồi trên mui thuyền chở từ nhà ngục Mỹ Tho đến pháp trường. Dọc đường, chúng cho đánh trống phách ầm ĩ để tập hợp dân chúng ra xem để uy hiếp tinh thần mọi người. Thủ khoa Huân vẫn ung dung ngồi trên mui thuyền làm thơ, lấy ngay cái gông giặc đang tròng lên cổ mình để tỏ bày ý chí và tâm trạng của mình với nhân dân:
Hai bên thiên hạ thấy hay không?
Một gánh cương thường há phải gông!
Oằn oại đôi vai quân tử trúc (*)
Nghênh ngang một cổ trượng phu lòng.
Thác về đất bắc danh còn rạng,
Sống ở thành nam tiếng bỏ không...
Trước thái độ hiên ngang bất khuất của ông, đồng bào hai bên bờ sông chẳng những đã không mất tinh thần, mà còn biểu lộ một lòng cảm phục vô hạn đối với người anh hùng hy sinh cho sự nghiệp cứu nước. Tới địa điểm xử tử, không chịu để giặc chém đầu, Nguyễn Hữu Huân đã cắn lưỡi tự tử.
--------------------------
(*) Theo quan niệm xưa, trúc tre chỉ người cao quý (quân tử, trượng phu)
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 8 phút và 11 giây -----
Sự nghiệp và nhân cách Nguyễn Bá Lân
--- Đinh Xuân Lâm ---
Nguyễn Bá Lân sinh năm Canh Thìn (1700) tại xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong (cũ), trấn Sơn Tây xưa (nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Thân sinh ông là Nguyễn Công Hoàn nổi tiếng một thời về văn chương, được xếp hàng thứ ba trong "tứ hổ" ở kinh thành Thăng Long xưa (nhất Quỳnh, nhị Nhan, tam Hoàn, tứ Tuấn). Ông Hoàn học giỏi, nhưng lại lận đận về đường khoa cử, không đỗ đạt gì, chỉ chuyên nghề dạy học, các chức tước của ông như Đại lý tự thừa, Hiển cung đại phu, Đông Các đại học sĩ, Kim tử vinh lộc đại phu, Hàn lâm viện Thừa chỉ... đều do có con là Nguyễn Bá Lân thăng chức lớn nên cha được phong tặng theo tục lệ ngày trước.
Nguyễn Bá Lân học với cha từ năm 15 tuổi, được cha rèn cặp rất nghiêm khắc. Cách dạy con của ông đồ Hoàn khá đặc biệt, không chuộng nhồi nhét bắt học nhiều như các thầy đồ khác, mà có sự chọn lọc trên cơ sở cuộc đời dạy học của bản thân mình. Từ khi còn ít tuổi, Nguyễn Bá Lân vốn rất ham đọc sách và ham tìm hiểu thế giới bên ngoài. Chuyện kể lại rằng thường ngày trên án của ông lúc nào bên trái cũng đặt bản đồ, bên phải đặt sách vở, để khi đọc sách nếu cần thì tra cứu.
Có một điều rất độc đáo trong cách dạy học của cha Nguyễn Bá Lân, đó là tìm cách phát huy tính năng động sáng tạo, bồi dưỡng óc thông minh nhanh nhạy của người học trò - mà cũng chính là con mình, trên một tinh thần thi đua bình đẳng với con, nếu mình bị thua thì cũng đòi hỏi được xử trí công bằng, không chút phân biệt. Được cha trực tiếp dạy dỗ một cách chu đáo, lại vốn có tư chất thông minh, Nguyễn Bá Lân tiến bộ rất nhanh. Năm 18 tuổi, tức là chỉ ba năm sau khi học với cha, ông đã đỗ đầu kỳ thi Hương, để hai năm sau lại đỗ kỳ thi Hội, rồi kỳ thi Đình, đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm Tân Hợi (1731) vào lúc ông 31 tuổi, cái tuổi "tam thập nhi lập" đã chín chắn để hành động.
Nguyễn Bá Lân bước vào đường làm quan cũng khá đặc biệt. Đỗ Tiến sĩ, chỉ một thời gian sau ông đã được cử làm Giám khảo kỳ thi Hội. Để rồi sau đó, do có nhiều công lao chiến tích, lại là người cẩn thận, siêng năng, thanh liêm, ngay thẳng, không xu nịnh, ông nhanh chóng được thăng nhiều chức, cả văn lẫn võ. Từ chức Phiên tào ở phủ chúa Trịnh Giang, đến đầu đời Cảnh Hưng (1740 - 1786) đã làm Tả chấp pháp ở Bộ Hình; năm 1744 bổ làm lưu thủ trấn Hưng Hóa, sau làm đốc trấn Cao Bằng, tại cả hai nhiệm sở trên ông đều có công lớn trong việc giữ gìn trật tự trị an trên vùng biên giới. Năm 1756, ông được triệu về kinh đô Thăng Long nhận chức Thiêm đô ngự sử, vào phủ Chúa giữ chức Bồi tụng (chức thứ hai sau Tham tụng), tước Lễ Trạch hầu, kiêm giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng). Năm 1765, ông về hưu mới được ít lâu đã được chúa Trịnh Doanh mời ra giúp việc từ tụng, xét xử án từ. Đến năm 1770, ông dâng khải xin về hưu vì tuổi già, chúa Trịnh Sâm không chuẩn y mà vẫn giữ ông lại Kinh đô để hỏi ý kiến khi cần thiết. Sau đó, ông được khôi phục làm Thượng thư bộ Lễ, rồi Thượng thư bộ Hộ, hàm Thiếu bảo, được liệt vào bậc Ngũ lão hầu. Chúa Trịnh Tông vẫn còn triệu ông vào hỏi việc lúc ông đã 84 tuổi. Hai năm sau ông mất, thọ 86 tuổi, linh cữu được rước về an táng ở quê nhà. Khi ông mất được tặng chức Thái tể, tước Quận công.
Nguyễn Bá Lân trọn đời mang hết tài năng và đức hạnh của mình ra giúp dân, giúp nước trên mọi cương vị, văn võ song toàn, văn hóa - giáo dục uyên bác. Cho nên không lấy gì làm lạ khi thấy những danh nhân đương thời đều nói về ông với những lời trân trọng nhất. Phan Huy Chú nhận xét: "Khi bàn việc, ông giữ lòng trung thực, không che chở bênh vực ai, chúa khen là ngay thẳng dám nói". Sử sách của Quốc sử quán triều Nguyễn về sau cũng viết: "Nguyễn Bá Lân... làm quan thanh liêm, cẩn thận, ra trấn Cao Bằng vỗ về nhân dân, dẹp yên giặc cướp, tỏ rõ công lao, vào triều tham dự chính sự thì giữ đúng pháp luật, không hề a duạ.." (Đại Nam nhất thống chí). "Bá Lân là người có văn học, chất phác, thẳng thắn, mạnh dạn dám nói" (Cương mục).
Đóng góp của ông về mặt văn học cũng đáng kể. Riêng với bài phú Nôm Ngã Ba Hạc, bằng những hình ảnh mạnh mẽ, có phần tinh nghịch. Về phú còn có nhiều bài chữ Hán, như Giai cảnh hứng tình, Dịch đình dương xa, Trương Hàn tư thuần lư... Nguyễn Bá Lân còn có một số bài thơ vịnh sử, được tuyển vào cuốn Vịnh sử thi quyển, Quốc âm thi và Mao thi ngâm vịnh thực lục
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 9 phút và 55 giây -----
Phong trào nông dân Yên Thế (1887 - 1913)
Yên Thế đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược
Trong cao trào vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ 19, cùng với các cuộc khởi nghĩa do văn thân, sĩ phu lãnh đạo còn có các cuộc khởi nghĩa tự phát của nông dân. Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của nông dân Yên Thế, tỉnh Bắc Giang do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo.
Hoàng Hoa Thám (thường gọi là Đề Thám) xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo tỉnh Hưng Yên, lên Sơn Tây làm ăn kiếm sống, sau dời tới Yên Thế. Lớn lên, ông tham gia toán nghĩa quân của Lương Văn Nắm (Đề Nắm). Khi Đề Nắm chết (1892), nghĩa quân rất mến phục và tin tưởng ông. Ông được giao toàn quyền chỉ huy. Các thủ lĩnh nông dân xuất sắc như Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh... trưởng thành nhanh chóng, lập được nhiều thành tích trong chiến đấu.
Yên Thế được chọn làm địa bàn hoạt động chính của nghĩa quân, vì địa thế trung du đồi núi thông nhiều ngả với miền thượng du hiểm trở sau lưng và vùng đồng bằng rộng lớn trước mặt rất thuận tiện cho cách đánh du kích của nghĩa quân. Nơi đây từ trước vốn là nơi hoạt động của nhiều toán nông dân khởi nghĩa chống lại phong kiến triều Nguyễn. Khi giặc Pháp xâm phạm tới, Yên Thế đã nhanh chóng chuyển thành một căn cứ chống Pháp lợi hại, không chỉ tập hợp nông dân tại chỗ mà còn thu hút đông đảo nông dân nghèo từ nhiều địa phương tới.
Giai đoạn thứ nhất của cuộc khởi nghĩa (1887 - 1895)
Ngay từ đầu, nghĩa quân đã làm thực dân Pháp vô cùng lo ngại. Giữa năm 1889, chúng đã tung nhiều toán quân đi sâu vào căn cứ tìm diệt nghĩa quân. Nhiều trận đụng độ ác liệt xảy ra, địch bị thiệt hại nặng tại Cao Thượng, Hố Chuối. Đầu năm 1892, giặc Pháp lại huy động lính liều lĩnh tấn công Yên Thế. Nghĩa quân kịp thời chủ động rút vào rừng sâu, rồi phân tán trong nhân dân. Giặc Pháp đắp đường bộ, chuyển vận quân lính, đẩy mạnh càn quét trong vùng. Tên việt gian Lê Hoan dùng nhiều thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, ám hại, nhưng trước sau đều thất bại. Tức tối điên cuồng, giặc Pháp lại dùng vũ lực.
Nghĩa quân lợi dụng địa hình, xây công sự, đào hầm hố, chống trả quyết liệt, địch thua đau ở Hố Chuối (5-1894). Nghĩa quân đánh chặn, phối hợp với công nhân đang làm đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, bắt một số tên Pháp, lấy tiền chuộc mua vũ khí. Tháng 9-1894, tên tư bản địa chủ Set-nay bị bắt cóc. Giới tư bản đất đai xôn xao lo ngại. Thực dân Pháp buộc phải giảng hòa với điều kiện bỏ ra một số tiền lớn chuộc Sét-nay và rút quân để Đề Thám cai quản bốn tổng Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ, Hữu Thượng.
Thời kỳ đình chiến chỉ có một năm (từ tháng 10-1894 đến 11-1895) nhưng nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tranh thủ xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Quân Pháp mặc dù đã rút khỏi Yên Thế vẫn bố trí cả một hệ thống đồn bốt bao quanh, kết hợp với bọn tay sai để ngăn chặn nghĩa quân phía ngoài. Đồng thời, chúng thường cho người mang quà vào tặng hòng dụ dỗ, mua chuộc, nhưng không sao lay chuyển được tinh thần kiên cường bất khuất của lãnh tụ nghĩa quân.
Giai đoạn thứ hai của cuộc khởi nghĩa (1895 - 1909)
Tình hình đối địch ngấm ngầm đó không thể kéo dài. Cuối năm 1895, giặc Pháp gây chiến trở lại. Lúc này phong trào các nơi hầu hết đều bị dập tắt, giặc Pháp quyết tiêu diệt nghĩa quân Yên Thế. Một lực lượng rất lớn, gồm cả thủy lục quân, được huy động vào cuộc hành quân lần này. Tháng 11-1895, cuộc tấn công lớn bắt đầu, tên đại tá Gallièni cầm đầu. Trước sức mạnh ồ ạt của kẻ thù có hỏa lực mạnh, nghĩa quân phân tán vào rừng, di chuyển trên bốn tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Thái Nguyên.
Nghĩa quân đã đánh phục kích, tiêu hao địch, cướp vũ khí, nhưng cũng bị hy sinh, tổn thất nhiều. Một số chỉ huy sa vào lưới giặc, có người ra hàng. Mặc dù vậy, dân chúng trong vùng vẫn nhiệt tình che chở giúp đỡ, nghĩa quân đã đứng vững trước các đợt càn quét khủng bố ác liệt.
Cuối năm 1897, sau hai năm hành quân liên miên và bị thiệt hại nặng nề, giặc Pháp lại phải thương lượng. Cuộc ngừng bắn lần thứ hai bắt đầu từ tháng 12 năm đó.
Cũng như lần ngừng bắn trước, đây chỉ là hòa hoãn tạm thời. Sau khi đình chiến, Đề Thám chiêu mộ nhân dân các nơi về làm ruộng ở đồn điền Phồn Xương. Nghĩa quân trở lại làm dân cày, nhưng vẫn nuôi dưỡng ý chí chiến đấu, đề cao cảnh giác, mỗi khi đi làm vẫn mang theo súng đạn đề phòng. Đề Thám còn thu nạp một số nghĩa quân các nơi sau khi thất bại tìm đường lên Yên Thế. Căn cứ của Đề Thám cũng là nơi lui tới của nhiều người yêu nước tiêu biểu cho xu hướng mới như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... Trong khi đó, thực dân Pháp vẫn ráo riết chuẩn bị việc tấn công tiêu diệt nghĩa quân. Xung quanh Yên Thế, nhiều đồn binh được dựng lên, nhiều đường giao thông được gấp rút mở để bảo đảm dễ dàng việc hành quân và vận chuyển vũ khí, lương thực khi có chiến sự. Đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn đến năm 1902 cũng hoàn thành, quyền lợi của giới tư bản trên con đường này cần được bảo vệ. Tình hình hòa hoãn tạm thời đã đến lúc không thể kéo dài.
Giai đoạn thứ ba của cuộc khởi nghĩa (1909 - 1913)
Đầu năm 1909, quân Pháp lại tấn công lớn vào Yên Thế do tên đại tá Bataille chỉ huy. Nhiều cánh quân địch vừa Pháp, vừa ngụy chia thành nhiều mũi cùng lúc đánh thọc sâu vào khu căn cứ nhằm bao vây, chia cắt nghĩa quân ra thành từng toán nhỏ. Do nắm được kế hoạch của định, Đề Thám kịp thời chủ động cho nghĩa quân chuyển sang Phúc Yên, Vĩnh Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên. Nhưng trước sức dồn ép và truy kích của kẻ thù, lực lượng nghĩa quân suy mòn dần. Cuối năm 1909, nhiều người tâm phúc bên Đề Thám như Cả Trọng (con trai) đã hy sinh trong chiến đấu, còn lại đều lần lượt sa lưới giặc như bà Ba Cẩn (vợ ba Đề Thám). Giặc Pháp tìm mọi cách bắt sống lãnh tụ Hoàng Hoa Thám. Nhưng nhờ đề cao cảnh giác, nhất là nhờ được nhân dân địa phương hết lòng bảo vệ, mãi tới ngày 10-2-1913, bọn tay sai Pháp mới đột nhập vào căn cứ và giết chết ông tại khu rừng gần chợ Gồ (Yên Thế).
Trong các phong trào chống Pháp của nhân dân ta buổi đầu thực dân Pháp xâm lược và thống trị, cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài nhất và cũng làm cho địch lo ngại và tổn thất nhiều nhất. Nghĩa quân là những người nông dân cầm súng, họ có mối thù mất nước kết hợp chặt chẽ với mối thù mất ruộng. Với một tinh thần chiến đấu dũng cảm và bền bỉ, được nhân dân hết lòng hết sức ủng hộ, lại có một chỉ huy quân sự xuất sắc cầm đầu, họ đã kéo dài cuộc chiến đấu gần 30 năm, bất chấp muôn vàn thủ đoạn ác độc của kẻ thù.
Mặc dù thất bại, khởi nghĩa Yên Thế đã viết nên những trang sử vẻ vang, chứng minh khả năng hùng hậu của giai cấp nông dân trong lịch sử chống đế quốc xâm lược.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 11 phút và 35 giây -----
Hoa Lư - Kinh đô của hai triều đại Đinh và Tiền Lê
--- Nguyễn Minh Tường ---
Cồ Việt quốc, đương Tống Khai Bảo
Hoa Lư đô thị Hán Tràng An
(Nước Đại Cồ Việt sánh ngang niên hịêu Khai Bảo của nhà Tống
Kinh đô Hoa Lư như kinh đô Tràng An của nhà Hán).
Đó là đôi câu đối do Vũ Phạm Khải (1807 - 1872) trước tác được treo ở hai cột giữa gian Bái đường đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng tại Kinh đô Hoa Lư xưa. Lòng tự hào của danh sĩ họ Vũ đặt trên đây không phải chỉ căn cứ ở những công trình kiến trúc, từ thành quách đến các cung điện, tức cái bên ngoài, mà chủ yếu là dựa trên vị thế, tầm cỡ, chiều kích của kinh đô Hoa Lư, tức cái bên trong đối với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Đương nhiên cái vẻ bên ngoài ấy của kinh đô Hoa Lư xưa được sử sách ghi chép bằng vài nét chấm phá, chúng ta cũng cần biết đến. Sách Đại Việt sơ lược (thế kỷ 14) chép về việc Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi và định đô như sau: "Đến năm thứ nhất niên hiệu Khai Bảo (968) đời vua Triệu là Tống Thái Tổ, vương xưng Hoàng đế ở đông Hoa Lư. Rồi dựng cung điện, chế trầu nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã tắc và tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế" (Đại Việt sử liệu). Sử gia Lê Văn Hưu khi bàn về Đinh Tiên Hoàng có viết: "Tiên Hoàng với tài năng sáng suốt hơn người, dũng lược bậc nhất thiên hạ, đảm đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ khắp nơi, một lần cử sư, mười hai sứ quân đều thán phục hết. Thế rồi mở nước, dựng đô, đổi niên hiệu, xưng Hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đủ". ức Trai tiên sinh trong cuốn Dư địa chí cũng ghi: "Đinh (tức Đinh Tiên Hoàng) gọi nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư... Hoa Lư xưa là Đại Hùng, bây giờ là phủ Trường Yên".
Kinh đô Hoa Lư nằm gọn trong địa phận xã Trường Yên ngày nay, được bao quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung, cảnh quan hùng vĩ. Hiện nay dấu vết của mười tuyến tường thành của kinh đô Hoa Lư vẫn là khá rõ ràng. Phía bắc thành nằm bên bờ sông Hoàng Long, cho nên về mặt giao thông đường thủy rất thuận tiện. Hoa Lư vừa là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa vừa là một quân thành vững chắc. Sách Đại Việt nhất thống chí từng cho biết.
"Đô cũ nhà Đinh, nhà Lê ở xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ... Có Nội thành và Ngoại thành".
Đến đời Tiền Lê, sau cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (981) trong khung cảnh đất nước yên bình vua Lê Đại Hành cho xây dựng thêm nhiều cung điện lộng lẫy, góp phần làm cho kinh đô Hoa Lư ngày càng hoàn chỉnh, trong đó có những cung điện xây cột dát vàng, dát bạc, mái lợp bằng ngói bạc. Sứ thần Ngô Sĩ Liên trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: "Năm Giáp Thân thứ 5 (984): dựng nhiều cung điện, làm điện Bách Bảo Thiên tức ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng, bạc, làm nơi coi chầu; bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, rồi lại dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân dựng điện Long Lộc lợp bằng ngói bạc".
Núi Đại Vân nằm ở ngay phía sau khu đền vua Đinh và đền vua Lê hiện nay, còn gọi là núi Long Triền (Đại Nam nhất thống chí). Nhân dân địa phương quen gọi núi này là Phi Vân, trên đó còn vết tích của điện Bách Bảo Thiên tuế. Điều đó chứng tỏ kinh đô Hoa Lư có quy mô khá bề thế, đẹp đẽ, uy nghi, trang hoàng khá lộng lẫy và được hòa nhập với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ nơi đây.
Hoa Lư chỉ giữ vai trò kinh đô của quốc gia Đại Cồ Việt trong khoảng thời gian chừng 42 năm: triều Đinh (968 - 980), triều Tiền Lê (980 - 1009). Nhưng Hoa Lư giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong tiến trình lịch sử - văn hóa Việt Nam. Trước hết, chính tại kinh đô này, vị vua sáng nghiệp triều Lý và Lý Thái Tổ đã "phóng tầm mắt" về vùng châu thổ sông Nhị Hà, rồi đã phát hiện ra vị thế ở trung tâm bốn phương" của thành phố "Rồng Bay" (Thăng Long) sau này. Cũng tại nơi đây, hình thành và bước đầu phát triển một nền Văn hóa Hoa Lư (có thể tạm gọi là thời kỳ Tiền văn hóa Thăng Long rực rỡ) - một nền văn hóa ví như vài cánh én báo hiệu một mùa xuân đầy hoa thơm, trái ngọt sắp tới. Và cũng tại chính nơi đây, Lý Thái Tổ đã nung nấu để viết lên tờ Chiếu văn vô tiền khoáng hậu "Thiên đô chiếu" (Chiếu dời đô), mà ngày nay bất kỳ ai đọc nó cũng phải tâm phục tầm nhìn xa trong việc "tính kế lâu dài cho con cháu" của ông.
Nếu như hai vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành "nhìn thấy" cái điểm khả thi về mặt quân sự của vị trí Hoa Lư "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ" (Tiến có thể đánh, lui có thể giữ) thì vua Lý Thái Tổ lại "phát hiện" ra cái "điểm yếu cơ bản" của nó là chật hẹp và ẩm thấp. Vậy thì chính Hoa Lư cũng đã cấp cho vua Lý Thái Tổ một bài học của việc định đô.
Có thể nói, dường như là nghịch lý: Có kinh đô Hoa Lư rồi mới có kinh đô Thăng Long. Dưới một cái nhìn minh triết tìm nơi "Kinh đô cho muôn đời" trong tâm não của vua Lý Thái Tổ thì Hoa Lư là mặt "âm" và Thăng Long là mặt "dương" của vấn đề.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 12 phút và 49 giây -----
Chuyện về Trưng nữ vương
--- Ngân Hà ---
Mùa xuân năm ấy, khi mùa săn bắt đầu ở Mê Linh, quan Lạc tướng Chu Diên đã cho con trai là Thi Sách dẫn một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân với họ Trưng. ý Lạc tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và Chu Diên mà liên kết được với nhau thì chẳng phải tốt lành chuyện nhân duyên đôi trẻ Thi Sách - Trưng Trắc mà sức mạnh của người Việt sẽ được nhân lên. Sức mạnh ấy có thể xoay chuyển được tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán khôi phục lại được nước cũ của người Việt.
Chàng trai tuấn tú Thi Sách tới Mê Linh đã được nữ chủ tướng Trưng Trắc, chạc tuổi mình, đón tiếp ân cần, lịch thiệp. Đôi trẻ quyến luyến nhau ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Thi Sách đến Mê Linh được một ngày thì hội săn được mở.
Đến trưa toán thân binh của Thi Sách cùng trai tráng Mê Linh đã lặc lè khiêng về một con cọp lớn chưa từng thấy. Trên thân cọp, hai mũi lao cắm ngập sâu vào giữa ức. Nhìn cái lao có dấu riêng của con trai lạc tướng Chu Diên, ai lấy đều mừng thầm nữ chủ Trưng Trắc đã kết thân được với chàng trai dũng mãnh. Có lẽ không một ai ngoài Trưng Trắc biết rằng, trước khi bị hai mũi lao phóng tới, chúa sơn lâm đã bị một mũi tên của Trưng Trắc xuyên trúng mắt buộc cọp lớn phải khựng lại giữa đà lao dữ dội. Vì thầm yêu Thi Sách, còn muốn cùng Thi Sách săn con thú lớn hơn, nguy hiểm hơn gấp bội nên Trưng Trắc đã nhanh chóng nhảy tới bên thú dữ kín đáo nhổ mũi tên lợi hại của mình. Tình yêu của Thi Sách và Trưng Trắc như ý nguyện của Lạc tướng Chu Diên đã được chính đôi trẻ thu xếp ổn thoả. ít lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người, Trưng Trắc đã cùng Thi Sách kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của người Việt. Vợ chồng tuy đã thành thân nhưng người nào vẫn ở đất cũ của người ấy.
Thái thú Tô Định giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh và con trai của Lạc tướng Chu Diên. Tô Định biết rõ rằng đằng sau cuộc hôn nhân là sự liên kết thế lực hai miền đất lớn của người Việt. Sự liên kết ấy đang nhân gấp bội sức mạnh chống lại nền đô hộ của nhà Hán.
Điều lo ngại của Tô Định quả là không sai. Ngay sau ngày cưới. Chu Diên khẩn trương rèn đúc vũ khí, dồn góp thóc lúa trữ lại một nơi thành chỗ dựa vững chắc cho Mê Linh trong cuộc khởi nghĩa sắp tới. Từ Mê Linh những con thuyền đưa Trưng Trắc đến Chu Diên gặp chồng, đưa Thi Sách từ Chu Diên về Mê Linh gặp vợ ngày càng nhiều. Những con thuyền như thế còn đi xa hơn, đến tận Cửu Chân, Nhật Nam và các huyện ngoài biển đông của cõi Giao chỉ, các huyện xa trên quận họp nhau bàn định việc nghĩa. Mọi nơi đều hướng về Mê Linh chờ chị em Trưng Trắc hành động để sẵn sàng hưởng ứng.
Linh cảm thấy trước một cuộc biến xảy ra mà cội nguồn của nó từ đất Mê Linh, Tô Định hốt hoảng tìm cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem đại binh đột ngột kéo về Chu Diên bắt giết Thi Sách xem như đòn trấn áp phủ đầu của hắn.
Tin dữ từ Chu Diên đem tới, khiến Trưng Trắc đau đớn lặng người. Rồi ngay sau đó, với dáng quả quyết, Trưng Trắc nổi trống đồng họp binh, quyết trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Nghe tiếng trống đồng ầm ầm nổi lên, dân Mê Linh cung nỏ, đao búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về làng. Trên bành voi cao nữ chủ tướng Mê Linh mặc áo giáp phục rực rỡ, bên ngoài bộ xống trùng áo ngắn là tấm hộ khiên bằng đồng thau vàng rực, chạm khắc cầu kỳ và chiếc đai lưng khoá đồng có đính một chuỗi nhạc nhỏ kêu lanh canh theo nhịp lắc của voi.
Trước lúc tiến quân, trong đám cử suý có người xin chủ tướng cho cử tang Thi Sách và mặc tang phục. Trưng Trắc trả lời:
- Việc chiến trận phải quyền biến. Nếu tự làm tiều tuỵ thì nhuệ khí ắt tàn theo. Ta mặc giáp phục đẹp đẽ để dân trông thấy thì phấn khích mà giặc trông thấy thì kinh hoàng.
Quả vậy, dân Mê Linh trông thấy nữ chủ tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào ào bám chân voi, theo chủ tướng mà xốc tới. Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đô uý trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh luỹ giặc, tiến xuống Luy Lâu. Trong đoàn quân kéo đi phá quân trị của nhà Hán ngày càng có thêm nhiều người từ các nơi đổ về. Thành Luy lâu cũng không đương nổi cuộc công phá của một biển người ào ào theo hiệu trống của chị em Trưng Trắc. Trong đám loạn quân, nữ chủ tướng Mê Linh thúc voi xông xáo tìm Tô Định. Nhưng hắn đã cao chạy xa bay về Nam Hải chịu tội với vua Hán.
Tin thắng trận dồn dập bay đi. Nỗi vui mừng quá lớn khiến cho người dân Việt nhiều đêm liền không ngủ. Hàng chục đời nay nước cũ của vua Hùng mới được khôi phục, nợ nước thù nhà của chủ tướng Mê Linh đã được trả.
Hội mừng thắng trận được mở, trai gái dập dìu nhảy theo điệu trống dồn dập tưởng không bao giờ dứt.
Lấy lại nước, hai chị em họ Trưng được cả nước tôn lên làm vua, trị vì nước Việt. Trưng nữ vương trở về đất bản bộ, xây thành Mê Linh. Các tướng lĩnh được phong chức tước, sau đó người nào trở về đất ấy, dốc sức xây dựng quê hương.
----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 17 phút và 35 giây -----
Phong trào Đông du và Đông kinh nghĩa thục
Phong trào Đông du (1905 - 1909)
Bước vào những năm cuối thế kỷ 19, phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân ta sau một thời kỳ dài bùng nổ quyết liệt đã bị kẻ thù dập tắt trong máu lửa. Bộ máy kìm kẹp, thống trị của chúng nhờ đó càng được củng cố. Trong hoàn cảnh mới, những người yêu nước nhận thấy phải có con đường cứu nước mới. Họ mạnh dạn đón nhận những luồng tư tưởng dân chủ tư sản từ ngoài dồn dập tràn vào nước ta từ những năm đầu thế kỷ 20. Họ muốn dựa vào nước Nhật, một nước theo con đường tư bản châu Âu, giàu mạnh lên, đánh thắng đế quốc Nga (1905). Người Nhật lại "cùng màu da vàng".
Để thực hiện ý định trên, các nhà yêu nước đã lập ra Hội Duy tân do Phan Bội Châu đứng đầu. Mục đích của Hội là khôi phục nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập (1904). Đầu năm 1905, thực hiện nhiệm vụ Hội giao, Phan Bội Châu lên đường sang Nhật nhờ giúp khí giới, lương tiền. Nhưng người Nhật chỉ hứa giúp đỡ việc đưa thanh nhiên sang học để đào tạo cán bộ cho cuộc bạo động vũ trang về sau. Hội Duy tân hăng hái bắt tay ngay vào việc tuyên truyền cổ động thanh niên bí mật sang Nhật học, mở đầu cho phong trào Đông du (nước Nhật Bản ở phía Đông nước ta nên cuộc xuất dương sang Nhật gọi là Đông du).
Phong trào Đông du lúc đầu tiến hành thuận lợi, số học sinh có lúc lên tới 200 người. Nhưng đến tháng 9-1908, thực dân Pháp ra tay khủng bố. Chúng câu kết với chính quyền Nhật, giải tán tổ chức du học sinh của ta trên đất Nhật, trục xuất những người yêu nước Việt Nam khỏi đất Nhật. Đầu năm sau (3-1909), Phan Bội Châu cũng phải rời khỏi Nhật Bản. Sau đó, phong trào Đông du tan dã. Hội Duy tân ngừng hoạt động.
Đông Kinh nghĩa thục (1907)
Cùng thời với phong trào Đông du có xu hướng bạo động vũ trang mang tính chất toàn quốc, ở Bắc Kỳ còn có một cuộc vận động cải cách văn hóa xã hội theo lối tư sản.
Tháng 3-1907, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và một số nhà nho tiến bộ khác đã mở tại Hà Nội một trường học tư lấy tên là Đông Kinh nghĩa thục (Đông Kinh là tên Hà Nội cũ. Nghĩa thục là trường làm việc nghĩa). Tuy là một trường tư nhưng không thu tiền học.
Chương trình học gồm những bài phổ thông về địa lý, lịch sử, cách trí (khoa học thường thức), vệ sinh. Tuy vẫn phỏng theo chương trình nhà trường thực dân nhưng được soạn theo mục đích tuyên truyền đổi mới. Trường còn tổ chức những buổi nói chuyện, bình văn, ra sách báo. Các hoạt động này đều có nội dung yêu nước, kêu gọi đoàn kết, bài trừ lối học cũ, khuyên học quốc ngữ, dùng hàng sản xuất trong nước, mở mang các nghề công thương, sống theo lối mới...
ảnh hướng của Đông Kinh nghĩa thục không ngừng mở rộng. Cơ sở của trường lan dần về các địa phương. Số học sinh ngày càng đông, lên tới 1.000 người. Các hoạt động ngoại khóa của trường cũng thu hút được đông đảo đồng bào hồi đó:
"Buổi diễn thuyết người đông như hội,
Kỳ bình văn khách tới như mưa"
(Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục)
Trước ảnh hưởng ngày một lớn của Đông Kinh nghĩa thục, thực dân Pháp thấy đó "là một cái lò phiến loạn ở Bắc Kỳ" (Hồ sơ Phủ thống sứ Bắc Kỳ - Phòng lưu trữ Thư viện quốc gia) nên thẳng tay đàn áp. Tháng 11-1907, trường bị đóng cửa, sách báo của trường bị cấm, một số người hoạt động tích cực bị bắt. Tính ra Đông Kinh nghĩa thục chỉ mới hoạt động được 9 tháng nhưng đã góp phần thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân ta đầu thế kỷ 19.
Cuộc vận đông Duy Tân và phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (1907 - 1908)
Cuộc vận đông Duy tân
Cùng lúc với phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở Bắc Kỳ, một cuộc vận động Duy tân (bỏ cũ theo mới) sôi nổi diễn ra ở khắp Trung Kỳ. Cầm đầu phong trào là các nhà nho tiến bộ như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Văn Huân...
Các hình thức hoạt động rất phong phú. Trường học được mở khá nhiều, xuống đến tận các làng xã. Chương trình học có toán, cách trí, vệ sinh, sử ký, địa lý... với nội dung mới. Trường còn dạy hát, luyện tập thể thao, hàng tuần có tổ chức diễn thuyết về các đề tài sinh hoạt xã hội, tình hình thế giới. Nhà trường cũng là nơi tuyên truyền mở mang công nghiệp và thương nghiệp đẩy mạnh sản xuất, bài trừ bọn quan lại xấu, đả phá phong tục lạc hậu mê tín, thực hiện đời sống mới... Nhiều hội buôn hàng nội hóa, nhiều công ty làm nghề thủ công được thành lập ở các nơi. Người ta còn đua nhau cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn... Tất cả các hoạt động trên đều đề cao tinh thần đoàn kết yêu nước, căm ghét bọn thực dân, tay sai.
Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ
Phong trào Duy tân ngày càng lan rộng. Chính lúc này nhân dân Trung Kỳ đang điêu đứng vì nạn thuế khóa nặng nề, nạn bắt phu của thực dân Pháp. Cuộc vận động Duy tân khi đi sâu vào quần chúng đã bùng lên thành ngọn lửa căm thù trong lòng mọi người. Vì vậy, từ đầu năm 1908, một phong trào chống đi phu, đòi giảm thuế đã nổi dậy ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Giữa tháng 3-1908, nhân dân huyện Đại Lộc (Quảng Nam - Đà Nẵng) kéo nhau lên tỉnh lị đòi giảm thuế, phản đối việc bắt phu. Cuộc đấu tranh kéo dài suốt tháng, số người kéo đến càng đông, có lúc đến một vạn người tham gia. Tại các huyện khác trong tỉnh cũng xảy ra những cuộc đấu tranh ngày càng kịch liệt hơn. Phong trào nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh miền Trung tuy thực dân Pháp và tay sai đã ra sức đề phòng. Khí thế đấu tranh của quần chúng ngày càng dâng cao.
Tình hình đó làm cho bọn thống trị vô cùng lo sợ. Chúng ra sức huy động nhiều binh lính thẳng tay khủng bố đàn áp, đóng cửa các trường học, giải tán các hiệu buôn, bắt bớ, tù đày nhiều người, xử chém một số người cầm đầu. Vì chưa có cơ sở vững chắc trong quần chúng, nhất là vì thiếu một bộ phận lãnh đạo sáng suốt, nên phong trào tan rã dần vào cuối tháng 5-1908.