PDA

View Full Version : Việt Nam tạp sử sưu lục


namminh
19-12-2007, 09:34 PM
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn: Anh hùng dân tộc, vị thánh trong lòng dân


--- Thế Văn ---



Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là Anh hùng dân tộc, nhà chiến lược chính trị, thiên tài quân sự, nhà văn hóa tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh và tài năng dân tộc Việt Nam những thế kỷ phục hưng mạnh mẽ và rực rỡ của văn minh Đại Việt độc lập sau cả nghìn năm nô lệ. Người Việt Nam đã tôn ông là Đức Thánh Trần, hằng năm tổ chức ngày giỗ vào 20-8 âm lịch để tưởng nhớ công đức của Người.

Hưng Đạo Đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, Anh hùng dân tộc, nhà chiến lược chính trị, thiên tài quân sự, nhà văn hóa tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh và tài năng dân tộc Việt Nam những thế kỷ phục hưng mạnh mẽ và rực rỡ văn minh Đại Việt độc lập sau cả nghìn năm nô lệ. Truyền thống quật khởi và nhân nghĩa Việt Nam mấy nghìn năm và văn minh độc lập Đại Việt mấy thế kỷ chung đúc nên Người.

Khi Người tại thế, ba đời vua Trần, trăm vạn binh tướng, mười triệu dân Đại Việt ký thác vận mệnh vào Người với ý chí thép và tài thao lược đã trỏ cờ, vung gươm xung trận quét sạch tổng cộng một triệu quân xâm lược.

Khi Người tạ thế, nhân dân tôn Người làm Thánh. Hơn thế, đời đời thờ phụng Người là Cửu thiên Vũ đế, ngự trên ngôi thánh cao nhất, con mắt thiêng của Người thấu dõi suốt ba cõi trên trời, nhân gian và dưới đất.

Trần Quốc Tuấn hóa Thánh trong tâm thức dân ta, bởi nhân cách của Người, tài năng của Người, công nghiệp của Người kỳ vĩ, khác thường, dường như siêu phàm mà người thường không với tới.

Nhân cách Hưng Đạo vương là ở "trái tim hừng hực lòng yêu xứ sở", yêu giống nòi, yêu văn hiến Đại Việt. Khí phách đạp lên muôn vàn gươm đao ngoại tặc để làm nên thắng trận, vận mệnh quốc gia và trăm họ cao hơn hết thảy, hơn cả ngai vàng. Trái tim người làm đuốc lửa dẫn đầu ba quân và trăm họ phá giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, đốt thuyền giặc trên sông Bạch Đằng, nhưng cũng giàu lòng vị tha, nhân ái như suối mát với dòng tộc, với muôn dân.

Trái tim ấy không có chỗ cho hiềm thù nội tộc mà phương hại vận mệnh quốc gia. Lắng nghe lời trăng trối báo thù của cha - An Sinh vương Trần Liễu, người có hiềm khích với vua Thái Tông, cho đúng đạo làm con, nhưng Người không nuôi hiềm khích, không muốn đoạt ngôi dù dễ như trở bàn tay bởi biết loạn triều thì lòng dân ly tán, thì nước nguy vong. Trái tim ấy đùng đùng nổi giận, sáng lòe gươm tuốt, nếu không có người can ngăn thì đầu con trai Quốc Tảng rụng xuống khi người con này cất lời khuyên cha nên đoạt lấy ngôi cao. Trái lại, con tim động lòng đến rơi lệ trước nghĩa cả mà các tỳ tướng Yết Kiêu, Dã Tượng thốt ra lời: "Chúng con không muốn làm như thế (cướp ngôi vua) để tiếng xấu muôn đời". Chính vua Trần Thánh Tông, vào thời khắc khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288) bất chợt thốt lên: "Trung nghĩa (như Quốc Tuấn) thì không ai sánh kịp".

Và trái tim cao cả ấy cháy rực trước nạn ngoại xâm. Giặc xâm lược kéo đến cướp nước, trước vua Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn nói lời quật khởi của núi sông, của trăm họ, với khí phách mà các bô lão đến hội Diên Hồng hô lớn, còn binh lính thì thích chữ vào cánh tay cầm giáo: "Nếu bệ hạ muốn hàng, hãy chém đầu thần đi đã". Nghe câu ấy, vua đã hả hê xuất ý tức thì, làm bài văn bia ở đền thờ sống Trần Quốc Tuấn, gọi ông là Thượng phụ.

Trái tim ấy, khi đập những nhịp cuối cùng (vào ngày 20-8 Âm lịch năm 1300), còn chan chứa niềm yêu dân, gửi lại muôn đời lời trăng trối: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, ấy là thượng sách để giữ nước". Trái tim Trần Quốc Tuấn vằng vặc như mặt trời, lớn rộng như biển cả, trọn vẹn đau đáu niềm yêu nước thương dân, cao cả và thánh thiện. Tài ba Trần Quốc Tuấn gồm cả văn lẫn võ.

Văn của Người ở tầm "đại học vấn, đại uyên bác" như sử gia triều Nguyễn ngợi ca. Văn Người bất hủ với Hịch tướng sĩ: "Ta ngày thường quên ăn, đêm thường quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìạ..", tâm, óc và lời cuồn cuộn như lửa cháy, làm sáng bừng lên nghĩa khí Đại Việt, cuốn thiêu đi cạn hẹp lòng người, truyền khí phách từ Người tới ba quân tướng sĩ, trào lên muôn nghìn ngọn giáo xung trận trong trống thúc hồi hồi.

Võ ở tầm nhà chiến lược, quân sự phương Đông, hơn thế, nhà lập thuyết quân sự và bày binh Đại Việt. Lý thuyết và nghệ thuật dùng binh thuở ấy được người hội nhập và sáng tạo bộ chủ gia binh pháp, gọi là Binh thư yếu lược, từ đó soạn ra Bát quái cửu cung đồ, gọi là Vạn kiếp tông bí truyền thư, làm nền tảng cấu trúc quân đội thời Trần và luyện quân, tập tướng. Con mắt nhà chiến lược sáng tỏ cả tạo thế, dùng lực và trận pháp trước mỗi cuộc kháng chiến với tương quan lực lượng chẳng giống nhau. Kháng chiến lần thứ nhất (1258) Người ung dung "lấy quân nhàn thắng giặc mệt", giáp trận ngay, tiến công mãnh liệt, khi giặc còn ở ngoài cửa ngõ Thăng Long một trận lớn Đông Bộ Đầu (Phú Xuyên, Hà Tây) đã kết thúc chiến tranh. Ba cuộc kháng chiến, tổn thất nặng nề, kinh thành bị phá phách, lăng miếu ở Long Hưng (Thái Bình) bị tiêu hủy, đến tượng ngựa đá cũng chịu nạn gươm đao, nhưng đất nước sạch bóng thù, ý chí xâm lăng của quân thù sụp đổ, "giang sơn vững âu vàng".

Nhà chiến lược thiên tài cũng là vị chủ soái áo bào nhuốm khói cùng tướng sĩ. Người có mặt ở cả những trận đánh ác liệt nhất, rời trận địa cuối cùng ở những lần rút lui chiến thuật. Có lần, sau tất cả các vua, vương tộc và binh sĩ, Người chỉ kịp xuống thuyền Yết Kiêu, Dã Tượng đợi sẵn bờ sông Hồng thì quân giặc đã tràn đến la hét vang động mặt đê. Một bộ óc chiến lược thiên tài tính toán như thần, ít thời có được, mang cờ tiết và binh phù nguyên soái, trong một tư cách công dân - chiến sĩ như muôn quân.

Các vua Trần, ba quân và trăm họ, thảy đều tôn vinh Người có công đầu không chỉ trong võ công hiển hách ba lần cả phá giặc ngoại xâm, như vị cứu tinh. Vua phong ông tới tột bậc: Đại vương, Thượng quốc công. Các đời sau, tướng lĩnh xuất quân, đều đến thắp hương ở một trong hàng trăm đền miếu thờ Người khắp nước, đặng đủ dũng lược và tài trí để mà thắng trận. Bởi hùng khí dân tộc, uy linh sông núi là bất tử, đã hun đúc nên con người Trần Quốc Tuấn, còn vận nước thời Trần thì đặt lên vai Người gánh nặng giúp vua trùng hưng như nhà chính trị, đặt vào tay người cây gươm chủ soái, cho nên thời ấy và mọi thời có Người thác rồi mà luôn linh hiển cùng sông núi và chúng dân, "hiển thánh" cùng các đời phá giặc, cái uy linh của "thanh kiếm dài tựa ngoài trời cao khi xưa, đêm thường kêu rít như gió trong vỏ hộp".

Võ công lẫy lừng, phẩm tước tột bậc, nhưng nước yên, Người vẫn không ngước lên ngôi báu, mà trở về với thái ấp cũ vùng Kiếp Bạc. Người sống cho hậu thế, bằng những lời răn dạy đạo làm người. Bầy tôi phải tận trung. Anh em phải tận hòa. Vợ chồng phải tận kính. Bè bạn phải tận tín. Làm điều thiện. Bỏ điều ác. Bỏ uống rượu. Cấm tham ô. Chăm lo các nghề sĩ, nông, công, thương. Thế thì trăm điều lành đến, vạn phúc sẽ về...

Từ giã cuộc đời, Người muốn hóa thân vào sông núi. Người không dặn xây lăng tẩm, lập đền đài, khắc bia vĩnh cửu. 72 năm, ba lần trận mạc, sống trọn vẹn với nước với dân, Hưng Đạo đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn mất ngày 20-8 Âm lịch năm 1300, tại Thái ấp Vạn Kiếp của Người. Dân ta coi ngày đó là Giỗ cha (tháng 3, lễ Thánh Mẫu của Tín ngưỡng từ thời Hùng Vương mở nước, là Giỗ mẹ). Mãi mãi trong lòng dân ta. Người là vị Anh hùng dân tộc tiêu biểu cho khí phách, trí tuệ và tâm hồn con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, xứ sở Việt Nam - Đức Thánh Trần.


----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 1 phút và 31 giây -----


Công chúa Thụ La - bà chúa dệt


Dưới triều Lý Huệ Tông (đầu thế kỷ XIII) kinh thành Thăng Long đã sầm uất đô hội. Các phố phường mở ra, nghề nghiệp thủ công cũng phát triển nhanh, nức tiếng trong cả nước. Nhiều người ở các châu quận xa đều về Thăng Long, học nghề hoặc mở phố xá buôn bán.Ông Nguyễn Diệu là một trong những người ấy.

Ông vốn là người Ái Châu (Thanh Hoá) lấy vợ họ Mai. Hai vợ chồng đưa nhau ra Thăng Long mở một xưởng dệt vải. Trên quê hương mới này, ông bà sinh được một cô gái đặt tên là Nguyễn Thị La. Đặt tên con như thế, ông Diệu nghĩ đến tên cổ của kinh đô Thăng Long là thành Đại La, phần khác là còn có lụa là rất hợp với nghề nghiệp của ông. Nàng La lớn lên, có tài có sắc, lại cũng được theo bút nghiên đọc được sách vở thông hiểu chữ nghĩa. Điều đặc biệt hơn cả, là noi theo nghề của cha mẹ, nàng La rất khéo tay. Vải nàng dệt vừa bền vừa đẹp. Nàng lại biết sắp xếp những thao tác rất gọn gàng hợp lý, thành ra mau công được việc, ai cũng phải phục tài.

Trong số những người đến làm công, học việc với ông Diệu, có một chàng thanh niên tên là Trần Thưởng vốn quê ở Hải Dương. Cha mẹ mất sớm, anh Thưởng có được học hành nhưng không thể đeo đuổi sách đèn, phải ra làm thợ. Anh cũng là một tay thợ lành nghề. Anh thường thi tài với nàng La. Làm việc gần nhau, quen hơi bén tiếng, hai người yêu nhau và ông bà Diệu cũng vui lòng nhận Trần Thưởng làm con rể.

Có cơ sở vững vàng, chu đáo rồi, Trần Thưởng nghe lời khuyên của vợ, quay ra ôn tập sách vở để đi thi. Anh thi đỗ được bổ làm quan, coi sóc về việc hộ. Anh xin nhà vua cho lập một phường thủ công ở ven hồ Tây, lúc ấy gọi là hồ Dâm Đàn. Nàng La làm nhà ở kế đó, và nhận việc dạy nghề dệt cho dân chúng. Cách truyền nghề của nàng cũng rất công hiệu, người học việc rất hoan nghênh. Tiếng đồn lan rộng, nhà vua nhiều lần mời nàng vào cung, dạy cho công chúa và các cung nữ. Các tiểu như nhà quan cũng đua nhau mời nàng.

Trong lúc đó thì Trần Thưởng được thăng chức vào làm Đốc Lĩnh. Một lần cùng quân sĩ đi thuyền trên sông gặp bão thuyền đắm, ông bị sóng cuốn đi mất tích. Nàng La nghe tin, đau buồn mà chết theo chồng. Vua rất thương xót cho dựng miếu thờ và truy tặng là Thụ La công chúa. Dân chúng bao đời nay vẫn gọi bà là chúa dệt.


----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 3 phút và 26 giây -----


Trần Nhân Tông - Đạo và Đời

--- Quỳnh Cư ---



Nhà Trần đã tạc một dấu son vào tiến trình lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Một triều đại mà các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà đã hội tụ thật đầy đủ. Biết bao con người kiệt xuất đã hiện diện: ba vị vua đầu triều Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, các vị tướng tài như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão... Tất cả họ đã làm nên chiến công hiển hách 3 lần đánh thắng quân Nguyên, tạo cho con dân Đại Việt cuộc sống hoan ca hạnh phúc. Không chỉ có võ công khiến giặc ngoại xâm phải chùn bước, triều Trần còn là một triều đại mà tư tưởng triết học Phật giáo đã phát triển rực rỡ, thể hiện đầy đủ trí tuệ và bản lĩnh của người Đại Việt.

Trần Nhân Tông (1258-1308) là vị vua tiêu biểu cho tất cả những gì tốt đẹp như thế. Ông là con thứ 2 của Trần Thánh Tông, lên ngôi vua vào năm Kỷ Mão (1279). Nói đến Trần Nhân Tông, trước tiên là nói đến một vị vua võ tướng, được sử sách ngợi ca là anh hùng cứu nước. Trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược (1285 và 1288), ông đều thân ra trận, ngồi trên lưng ngựa dẫn dắt con dân trải qua những thử thách gian lao. Khi viết ra những dòng thơ bất hủ :

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu

(Xã tắc hai lần mệt ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng)

Chắc rằng "hào khí Đông A" đang sôi trào trong huyết quản vị vua tài hoa, phóng khoáng.

Làm một bậc đế vương, công lao như thế tưởng cũng là quá đủ. Nhân Tông đã làm đúng, thậm chí làm hơn những giáo điều Nho học. Ngoài thì đánh giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi; trong thì vỗ về trăm họ, khiến nước thái bình. Nhưng Nhân Tông không dừng lại ở đó. Khi xã tắc đã qua hồi gian khó, Nhân Tông lại tìm đến với Thiền học, hệ tư tưởng đã là niềm đam mê của ông ngay từ thời trai trẻ.

Nói đến vấn đề này, cũng cần trở về với Trần Thái Tông, ông nội của Nhân Tông. Năm 1225, dưới sự sắp xếp của Trần Thủ Độ, Thái Tông Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và được nữ vương nhường ngôi. Nhà Trần thay nhà Lý từ đó. 11 năm sau, do Chiêu Hoàng không có con, Thủ Độ lại ép Thái Tông lấy Thuận Thiên là vợ Trần Liễu (anh ruột Trần Cảnh), đã có mang 3 tháng. Tất cả những việc làm ấy, tuy đã có lợi cho xã tắc trước vó ngựa xâm lược nhà Nguyên, nhưng không thể không khiến cho Thái Tông phải suy ngẫm về nhân sinh, về cuộc sống. Với tầm tư tưởng đã phải qua nhiều phen vò xé, Thái Tông đã viết nên "Khoá hư lục" với những triết lý sâu sắc về cuộc đời, giữa hai chữ danh và lợi. Chắc rằng, Thái Tông đã dạy dỗ, luận bàn với các cháu nội mình rất nhiều về thế thái nhân tình và về Phật học.

Với những ảnh hưởng như thế, Thiền môn Phật học trở thành sự sùng bái của Nhân Tông không có gì là lạ. Sử sách kể rằng, năm 1279, là thái tử đương triều theo cha (Thánh Tông) về thăm Yên Tử, Nhân Tông đã xin ở lại để tu hành. Thánh Tông nổi giận mắng rằng: "Chí làm trai tựa chim hồng, chim hộc, sơn hà xã tắc đè nặng hai vai, đâu để học thái tử Tất Đạt Ma lên non xanh cắt tóc". Và khi trở về kinh, vua cha lập tức cử lễ truyền ngôi cho ông. Nhận trọng trách, Nhân Tông tạm gác chí riêng, "chấp nhận" trị vì trăm họ. Như thế, ngay từ đây, tư tưởng "sắc sắc không không" của đạo Phật đã thấm nhuần trong ông. Giống như ông nội của mình, Nhân Tông có thể "trút bỏ ngôi báu như trút đôi dép rách vậy". Nhưng không phải là ông coi thường ngôi báu, xem nhẹ trách nhiệm của người đứng đầu quốc gia dân tộc. Năm 1301, với tư cách là Thái thượng hoàng, nghe tin Anh Tông lơ là triều chính, ông đã truyền "vua con" đến ban quở, thậm chí định truất ngôi. Nhờ triều thần can gián, ông đã tha tội nhưng răn rằng: "Đạo làm vua, hãy biết xem đất nước là của công chứ không phải của riêng mình. Hãy biết xem thiên hạ là nhà của chính mình". Có nghĩa là, cái mà Nhân Tông coi thường chính là danh lợi. Ngôi báu cũng chỉ là thứ danh vọng hão huyền. Với ông, cái thật, cái cụ thể có thể nắm bắt là làm sao để cho trăm họ một cuộc sống thái bình thịnh trị. Cái chung đã hoà nhịp với cái riêng, lợi ích của cả dân tộc đã vượt lên lợi ích của cá nhân, cho dù cá nhân ấy thân làm bậc quân vương đứng đầu xã tắc.

Năm 1298, Nhân Tông nhường ngôi cho con rồi tìm về Yên Tử đi tu, thực hiện chí nguyện thời trai trẻ. Ông trở thành thủy tổ của phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử đã để lại dấu ấn rực rỡ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm, Nhân Tông sáng tác nhiều kệ, thơ thiền, ngữ lục mà mặt nào cũng có những chiêm nghiệm sâu sắc. Ví như khi Bảo Sái hỏi ông: "Như thế nào là Phật?", ông nói: "Như cám dưới cối"...

Thực tế cho thấy rằng, ngay từ thời Lý, đã có nhiều đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ Trung Hoa và ấn Độ. Nhưng chỉ đến khi Nhân Tông sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm, nước ta mới có một giáo phái thuần Việt, thống nhất, tránh được mọi sự phân biệt gây trở ngại giữa đạo và đời. Một cách thật triết học, Nhân Tông đã chắt lọc những tinh hoa của các đạo pháp ngoại lai, bổ sung vào đó cái chất giản dị mà sâu sắc của người Việt, hoàn toàn phục vụ cho lợi ích của chúng sinh, cũng chính là quốc gia - dân tộc. Cho đến cuối đời, dân gian vẫn cho rằng Nhân Tông đã hiển phật. Tuy chỉ là huyền thoại nhưng cũng phần nào thấy được sự ngưỡng vọng của phật tử cả nước, của trăm họ đối với ông, vị thiền sư - giáo chủ hoá Phật.

Tìm hiểu về Nhân Tông, ta thấy rằng giữa đạo và đời đã có sự thống nhất đến mức tối đa. Anh hùng cứu nước, thi sĩ, triết gia, thiền sư, giáo dục, tất cả những phẩm chất tốt đẹp ấy đã kết hợp hài hoà trong con người ông. Có thể nói, Trần Nhân Tông là một vị vua cổ kim ít thấy. Cùng với Trần Thái Tông, đó là những gương mặt văn hoá đẹp lạ thường trong lịch sử Việt Nam.


----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 6 phút và 26 giây -----


Thủ khoa Huân ba lần chống Pháp



Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, triều đình Nhà Nguyễn hèn nhát dâng đất cho giặc, Nguyễn Hữu Huân (1816 - 1875) đã chiêu mộ quân chiến đấu chống quân thù. Ba lần bị giặc bắt, hai lần được thả, ông vẫn không bị địch lung lạc, chiến đấu tới hơi thở cuối cùng.

Nguyễn Hữu Huân người xã Tĩnh Giang, phủ Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay là Tiền Giang) thời trẻ ông học giỏi nổi tiếng, thi đậu giải nguyên (Đậu đầu kỳ thi cử nhân) nên thường gọi là thủ khoa Huân.

Khi giặc Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ, Nguyễn Hữu Huân đã bỏ nghề dạy học đứng ra chiêu mộ nghĩa quân chiến đấu chống giặc. Giặc Pháp bắt được ông rồi lại thả ra để mua chuộc lung lạc ông. Nhưng trước việc giặc Pháp trắng trợn chiếm đóng các tỉnh miền đông Nam Kỳ và triều đình nhà Nguyễn cắt đất dâng quân xâm lược, ông lại tiếp tục mộ quân chiến đấu chống quân thù.

Năm 1863, ông đã tập hợp nghĩa quân chống Pháp ngay sau lưng giặc tại vùng Mỹ Tho. Nghĩa quân hoạt động rất mạnh, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề. Nhưng sau vòng vây của giặc ngày càng khép chặt, tháng 6-1863, Nguyễn Hữu Huân phải bỏ Mỹ Tho sang Châu Đốc là vùng còn tự do. Lúc này triều đình nhà Nguyễn ngày càng lộ rõ bộ mặt hèn nhát, đã không ủng hộ người yêu nước trong cơn nguy khốn mà còn muối mặt bắt giam ông vì "tội" không tuân lệnh bãi binh đã được ban bố sau hàng ước 1862. Hèn mạt hơn nữa là triều đình đã theo yêu cầu của giặc Pháp giao ông cho chúng đem về Sài Gòn giam giữ. Năm 1864, giặc Pháp đày ông ra đảo ở giữa Ấn Độ Dương.

Giữa năm 1867, giặc Pháp nổ súng chiếm nốt ba tỉnh miền tây Nam Kỳ và lo củng cố bộ máy thống trị để khai thác vơ vét bóc lột nhân dân ta. Để thực hiện âm mưu trên được dễ dàng, chúng đã thi hành một số biện pháp mua chuộc hòng xoa dịu tinh thần đấu tranh của nhân dân ta. Năm 1868, Nguyễn Hữu Huân đã được chúng thả từ hải đảo về đất liền. Nhưng giặc Pháp và tay sai lại hoàn toàn bị thất bại trong âm mưu mua chuộc ông lần này nữa. Ngay khi mới được thả ra, thấy trong số bạn bè cũ có người đã cam tâm ra làm việc với Pháp, ông đã có những câu thơ thống thiết vừa chê trách họ vừa bày tỏ tấm lòng yêu dân yêu nước của mình.

Năm 1875, Nguyễn Hữu Huân lại chiêu mộ binh sĩ kéo cờ khởi nghĩa. Tổng số nghĩa quân lên tới trên dưới 3.000 người, hoạt động rất mạnh ở vùng từ Tân An qua Mỹ Tho. Nghĩa quân đặt tổng hành dinh tại làng Long Trì, ra sức vận động lính ngụy rồi tiến đánh Mỹ Tho. Nhân dân các địa phương nhiệt liệt hưởng ứng và giúp đỡ nghĩa quân. Nhưng lúc này thực dân Pháp đã đặt được bộ máy thống trị tương đối vững và có thể dồn lực lượng vào việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Triều đình thì cấu kết với giặc. Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân vì thế cũng không tránh khỏi thất bại. Nguyễn Hữu Huân lại bị Pháp bắt (1875). Biết ông là người có nhiều uy tín trong nhân dân, giặc Pháp và tay sai một lần nữa cố tìm mọi cách mua chuộc người anh hùng. Nhưng trước sau ông vẫn tỏ ra kiên quyết một lòng không chịu khuất phục.

Cuối cùng, giặc Pháp phải kết án xử tử ông. Trước giờ thi hành bản án, chúng đóng gông ông lại, rồi bắt ông ngồi trên mui thuyền chở từ nhà ngục Mỹ Tho đến pháp trường. Dọc đường, chúng cho đánh trống phách ầm ĩ để tập hợp dân chúng ra xem để uy hiếp tinh thần mọi người. Thủ khoa Huân vẫn ung dung ngồi trên mui thuyền làm thơ, lấy ngay cái gông giặc đang tròng lên cổ mình để tỏ bày ý chí và tâm trạng của mình với nhân dân:

Hai bên thiên hạ thấy hay không?
Một gánh cương thường há phải gông!
Oằn oại đôi vai quân tử trúc (*)
Nghênh ngang một cổ trượng phu lòng.
Thác về đất bắc danh còn rạng,
Sống ở thành nam tiếng bỏ không...

Trước thái độ hiên ngang bất khuất của ông, đồng bào hai bên bờ sông chẳng những đã không mất tinh thần, mà còn biểu lộ một lòng cảm phục vô hạn đối với người anh hùng hy sinh cho sự nghiệp cứu nước. Tới địa điểm xử tử, không chịu để giặc chém đầu, Nguyễn Hữu Huân đã cắn lưỡi tự tử.


--------------------------

(*) Theo quan niệm xưa, trúc tre chỉ người cao quý (quân tử, trượng phu)


----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 8 phút và 11 giây -----


Sự nghiệp và nhân cách Nguyễn Bá Lân


--- Đinh Xuân Lâm ---



Nguyễn Bá Lân sinh năm Canh Thìn (1700) tại xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong (cũ), trấn Sơn Tây xưa (nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Thân sinh ông là Nguyễn Công Hoàn nổi tiếng một thời về văn chương, được xếp hàng thứ ba trong "tứ hổ" ở kinh thành Thăng Long xưa (nhất Quỳnh, nhị Nhan, tam Hoàn, tứ Tuấn). Ông Hoàn học giỏi, nhưng lại lận đận về đường khoa cử, không đỗ đạt gì, chỉ chuyên nghề dạy học, các chức tước của ông như Đại lý tự thừa, Hiển cung đại phu, Đông Các đại học sĩ, Kim tử vinh lộc đại phu, Hàn lâm viện Thừa chỉ... đều do có con là Nguyễn Bá Lân thăng chức lớn nên cha được phong tặng theo tục lệ ngày trước.

Nguyễn Bá Lân học với cha từ năm 15 tuổi, được cha rèn cặp rất nghiêm khắc. Cách dạy con của ông đồ Hoàn khá đặc biệt, không chuộng nhồi nhét bắt học nhiều như các thầy đồ khác, mà có sự chọn lọc trên cơ sở cuộc đời dạy học của bản thân mình. Từ khi còn ít tuổi, Nguyễn Bá Lân vốn rất ham đọc sách và ham tìm hiểu thế giới bên ngoài. Chuyện kể lại rằng thường ngày trên án của ông lúc nào bên trái cũng đặt bản đồ, bên phải đặt sách vở, để khi đọc sách nếu cần thì tra cứu.

Có một điều rất độc đáo trong cách dạy học của cha Nguyễn Bá Lân, đó là tìm cách phát huy tính năng động sáng tạo, bồi dưỡng óc thông minh nhanh nhạy của người học trò - mà cũng chính là con mình, trên một tinh thần thi đua bình đẳng với con, nếu mình bị thua thì cũng đòi hỏi được xử trí công bằng, không chút phân biệt. Được cha trực tiếp dạy dỗ một cách chu đáo, lại vốn có tư chất thông minh, Nguyễn Bá Lân tiến bộ rất nhanh. Năm 18 tuổi, tức là chỉ ba năm sau khi học với cha, ông đã đỗ đầu kỳ thi Hương, để hai năm sau lại đỗ kỳ thi Hội, rồi kỳ thi Đình, đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm Tân Hợi (1731) vào lúc ông 31 tuổi, cái tuổi "tam thập nhi lập" đã chín chắn để hành động.

Nguyễn Bá Lân bước vào đường làm quan cũng khá đặc biệt. Đỗ Tiến sĩ, chỉ một thời gian sau ông đã được cử làm Giám khảo kỳ thi Hội. Để rồi sau đó, do có nhiều công lao chiến tích, lại là người cẩn thận, siêng năng, thanh liêm, ngay thẳng, không xu nịnh, ông nhanh chóng được thăng nhiều chức, cả văn lẫn võ. Từ chức Phiên tào ở phủ chúa Trịnh Giang, đến đầu đời Cảnh Hưng (1740 - 1786) đã làm Tả chấp pháp ở Bộ Hình; năm 1744 bổ làm lưu thủ trấn Hưng Hóa, sau làm đốc trấn Cao Bằng, tại cả hai nhiệm sở trên ông đều có công lớn trong việc giữ gìn trật tự trị an trên vùng biên giới. Năm 1756, ông được triệu về kinh đô Thăng Long nhận chức Thiêm đô ngự sử, vào phủ Chúa giữ chức Bồi tụng (chức thứ hai sau Tham tụng), tước Lễ Trạch hầu, kiêm giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng). Năm 1765, ông về hưu mới được ít lâu đã được chúa Trịnh Doanh mời ra giúp việc từ tụng, xét xử án từ. Đến năm 1770, ông dâng khải xin về hưu vì tuổi già, chúa Trịnh Sâm không chuẩn y mà vẫn giữ ông lại Kinh đô để hỏi ý kiến khi cần thiết. Sau đó, ông được khôi phục làm Thượng thư bộ Lễ, rồi Thượng thư bộ Hộ, hàm Thiếu bảo, được liệt vào bậc Ngũ lão hầu. Chúa Trịnh Tông vẫn còn triệu ông vào hỏi việc lúc ông đã 84 tuổi. Hai năm sau ông mất, thọ 86 tuổi, linh cữu được rước về an táng ở quê nhà. Khi ông mất được tặng chức Thái tể, tước Quận công.

Nguyễn Bá Lân trọn đời mang hết tài năng và đức hạnh của mình ra giúp dân, giúp nước trên mọi cương vị, văn võ song toàn, văn hóa - giáo dục uyên bác. Cho nên không lấy gì làm lạ khi thấy những danh nhân đương thời đều nói về ông với những lời trân trọng nhất. Phan Huy Chú nhận xét: "Khi bàn việc, ông giữ lòng trung thực, không che chở bênh vực ai, chúa khen là ngay thẳng dám nói". Sử sách của Quốc sử quán triều Nguyễn về sau cũng viết: "Nguyễn Bá Lân... làm quan thanh liêm, cẩn thận, ra trấn Cao Bằng vỗ về nhân dân, dẹp yên giặc cướp, tỏ rõ công lao, vào triều tham dự chính sự thì giữ đúng pháp luật, không hề a duạ.." (Đại Nam nhất thống chí). "Bá Lân là người có văn học, chất phác, thẳng thắn, mạnh dạn dám nói" (Cương mục).

Đóng góp của ông về mặt văn học cũng đáng kể. Riêng với bài phú Nôm Ngã Ba Hạc, bằng những hình ảnh mạnh mẽ, có phần tinh nghịch. Về phú còn có nhiều bài chữ Hán, như Giai cảnh hứng tình, Dịch đình dương xa, Trương Hàn tư thuần lư... Nguyễn Bá Lân còn có một số bài thơ vịnh sử, được tuyển vào cuốn Vịnh sử thi quyển, Quốc âm thi và Mao thi ngâm vịnh thực lục


----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 9 phút và 55 giây -----


Phong trào nông dân Yên Thế (1887 - 1913)



Yên Thế đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược

Trong cao trào vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ 19, cùng với các cuộc khởi nghĩa do văn thân, sĩ phu lãnh đạo còn có các cuộc khởi nghĩa tự phát của nông dân. Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của nông dân Yên Thế, tỉnh Bắc Giang do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo.

Hoàng Hoa Thám (thường gọi là Đề Thám) xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo tỉnh Hưng Yên, lên Sơn Tây làm ăn kiếm sống, sau dời tới Yên Thế. Lớn lên, ông tham gia toán nghĩa quân của Lương Văn Nắm (Đề Nắm). Khi Đề Nắm chết (1892), nghĩa quân rất mến phục và tin tưởng ông. Ông được giao toàn quyền chỉ huy. Các thủ lĩnh nông dân xuất sắc như Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh... trưởng thành nhanh chóng, lập được nhiều thành tích trong chiến đấu.

Yên Thế được chọn làm địa bàn hoạt động chính của nghĩa quân, vì địa thế trung du đồi núi thông nhiều ngả với miền thượng du hiểm trở sau lưng và vùng đồng bằng rộng lớn trước mặt rất thuận tiện cho cách đánh du kích của nghĩa quân. Nơi đây từ trước vốn là nơi hoạt động của nhiều toán nông dân khởi nghĩa chống lại phong kiến triều Nguyễn. Khi giặc Pháp xâm phạm tới, Yên Thế đã nhanh chóng chuyển thành một căn cứ chống Pháp lợi hại, không chỉ tập hợp nông dân tại chỗ mà còn thu hút đông đảo nông dân nghèo từ nhiều địa phương tới.

Giai đoạn thứ nhất của cuộc khởi nghĩa (1887 - 1895)

Ngay từ đầu, nghĩa quân đã làm thực dân Pháp vô cùng lo ngại. Giữa năm 1889, chúng đã tung nhiều toán quân đi sâu vào căn cứ tìm diệt nghĩa quân. Nhiều trận đụng độ ác liệt xảy ra, địch bị thiệt hại nặng tại Cao Thượng, Hố Chuối. Đầu năm 1892, giặc Pháp lại huy động lính liều lĩnh tấn công Yên Thế. Nghĩa quân kịp thời chủ động rút vào rừng sâu, rồi phân tán trong nhân dân. Giặc Pháp đắp đường bộ, chuyển vận quân lính, đẩy mạnh càn quét trong vùng. Tên việt gian Lê Hoan dùng nhiều thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, ám hại, nhưng trước sau đều thất bại. Tức tối điên cuồng, giặc Pháp lại dùng vũ lực.

Nghĩa quân lợi dụng địa hình, xây công sự, đào hầm hố, chống trả quyết liệt, địch thua đau ở Hố Chuối (5-1894). Nghĩa quân đánh chặn, phối hợp với công nhân đang làm đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, bắt một số tên Pháp, lấy tiền chuộc mua vũ khí. Tháng 9-1894, tên tư bản địa chủ Set-nay bị bắt cóc. Giới tư bản đất đai xôn xao lo ngại. Thực dân Pháp buộc phải giảng hòa với điều kiện bỏ ra một số tiền lớn chuộc Sét-nay và rút quân để Đề Thám cai quản bốn tổng Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ, Hữu Thượng.

Thời kỳ đình chiến chỉ có một năm (từ tháng 10-1894 đến 11-1895) nhưng nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tranh thủ xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Quân Pháp mặc dù đã rút khỏi Yên Thế vẫn bố trí cả một hệ thống đồn bốt bao quanh, kết hợp với bọn tay sai để ngăn chặn nghĩa quân phía ngoài. Đồng thời, chúng thường cho người mang quà vào tặng hòng dụ dỗ, mua chuộc, nhưng không sao lay chuyển được tinh thần kiên cường bất khuất của lãnh tụ nghĩa quân.

Giai đoạn thứ hai của cuộc khởi nghĩa (1895 - 1909)

Tình hình đối địch ngấm ngầm đó không thể kéo dài. Cuối năm 1895, giặc Pháp gây chiến trở lại. Lúc này phong trào các nơi hầu hết đều bị dập tắt, giặc Pháp quyết tiêu diệt nghĩa quân Yên Thế. Một lực lượng rất lớn, gồm cả thủy lục quân, được huy động vào cuộc hành quân lần này. Tháng 11-1895, cuộc tấn công lớn bắt đầu, tên đại tá Gallièni cầm đầu. Trước sức mạnh ồ ạt của kẻ thù có hỏa lực mạnh, nghĩa quân phân tán vào rừng, di chuyển trên bốn tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Thái Nguyên.

Nghĩa quân đã đánh phục kích, tiêu hao địch, cướp vũ khí, nhưng cũng bị hy sinh, tổn thất nhiều. Một số chỉ huy sa vào lưới giặc, có người ra hàng. Mặc dù vậy, dân chúng trong vùng vẫn nhiệt tình che chở giúp đỡ, nghĩa quân đã đứng vững trước các đợt càn quét khủng bố ác liệt.

Cuối năm 1897, sau hai năm hành quân liên miên và bị thiệt hại nặng nề, giặc Pháp lại phải thương lượng. Cuộc ngừng bắn lần thứ hai bắt đầu từ tháng 12 năm đó.

Cũng như lần ngừng bắn trước, đây chỉ là hòa hoãn tạm thời. Sau khi đình chiến, Đề Thám chiêu mộ nhân dân các nơi về làm ruộng ở đồn điền Phồn Xương. Nghĩa quân trở lại làm dân cày, nhưng vẫn nuôi dưỡng ý chí chiến đấu, đề cao cảnh giác, mỗi khi đi làm vẫn mang theo súng đạn đề phòng. Đề Thám còn thu nạp một số nghĩa quân các nơi sau khi thất bại tìm đường lên Yên Thế. Căn cứ của Đề Thám cũng là nơi lui tới của nhiều người yêu nước tiêu biểu cho xu hướng mới như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... Trong khi đó, thực dân Pháp vẫn ráo riết chuẩn bị việc tấn công tiêu diệt nghĩa quân. Xung quanh Yên Thế, nhiều đồn binh được dựng lên, nhiều đường giao thông được gấp rút mở để bảo đảm dễ dàng việc hành quân và vận chuyển vũ khí, lương thực khi có chiến sự. Đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn đến năm 1902 cũng hoàn thành, quyền lợi của giới tư bản trên con đường này cần được bảo vệ. Tình hình hòa hoãn tạm thời đã đến lúc không thể kéo dài.

Giai đoạn thứ ba của cuộc khởi nghĩa (1909 - 1913)

Đầu năm 1909, quân Pháp lại tấn công lớn vào Yên Thế do tên đại tá Bataille chỉ huy. Nhiều cánh quân địch vừa Pháp, vừa ngụy chia thành nhiều mũi cùng lúc đánh thọc sâu vào khu căn cứ nhằm bao vây, chia cắt nghĩa quân ra thành từng toán nhỏ. Do nắm được kế hoạch của định, Đề Thám kịp thời chủ động cho nghĩa quân chuyển sang Phúc Yên, Vĩnh Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên. Nhưng trước sức dồn ép và truy kích của kẻ thù, lực lượng nghĩa quân suy mòn dần. Cuối năm 1909, nhiều người tâm phúc bên Đề Thám như Cả Trọng (con trai) đã hy sinh trong chiến đấu, còn lại đều lần lượt sa lưới giặc như bà Ba Cẩn (vợ ba Đề Thám). Giặc Pháp tìm mọi cách bắt sống lãnh tụ Hoàng Hoa Thám. Nhưng nhờ đề cao cảnh giác, nhất là nhờ được nhân dân địa phương hết lòng bảo vệ, mãi tới ngày 10-2-1913, bọn tay sai Pháp mới đột nhập vào căn cứ và giết chết ông tại khu rừng gần chợ Gồ (Yên Thế).

Trong các phong trào chống Pháp của nhân dân ta buổi đầu thực dân Pháp xâm lược và thống trị, cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài nhất và cũng làm cho địch lo ngại và tổn thất nhiều nhất. Nghĩa quân là những người nông dân cầm súng, họ có mối thù mất nước kết hợp chặt chẽ với mối thù mất ruộng. Với một tinh thần chiến đấu dũng cảm và bền bỉ, được nhân dân hết lòng hết sức ủng hộ, lại có một chỉ huy quân sự xuất sắc cầm đầu, họ đã kéo dài cuộc chiến đấu gần 30 năm, bất chấp muôn vàn thủ đoạn ác độc của kẻ thù.

Mặc dù thất bại, khởi nghĩa Yên Thế đã viết nên những trang sử vẻ vang, chứng minh khả năng hùng hậu của giai cấp nông dân trong lịch sử chống đế quốc xâm lược.


----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 11 phút và 35 giây -----


Hoa Lư - Kinh đô của hai triều đại Đinh và Tiền Lê


--- Nguyễn Minh Tường ---



Cồ Việt quốc, đương Tống Khai Bảo
Hoa Lư đô thị Hán Tràng An

(Nước Đại Cồ Việt sánh ngang niên hịêu Khai Bảo của nhà Tống
Kinh đô Hoa Lư như kinh đô Tràng An của nhà Hán).

Đó là đôi câu đối do Vũ Phạm Khải (1807 - 1872) trước tác được treo ở hai cột giữa gian Bái đường đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng tại Kinh đô Hoa Lư xưa. Lòng tự hào của danh sĩ họ Vũ đặt trên đây không phải chỉ căn cứ ở những công trình kiến trúc, từ thành quách đến các cung điện, tức cái bên ngoài, mà chủ yếu là dựa trên vị thế, tầm cỡ, chiều kích của kinh đô Hoa Lư, tức cái bên trong đối với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Đương nhiên cái vẻ bên ngoài ấy của kinh đô Hoa Lư xưa được sử sách ghi chép bằng vài nét chấm phá, chúng ta cũng cần biết đến. Sách Đại Việt sơ lược (thế kỷ 14) chép về việc Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi và định đô như sau: "Đến năm thứ nhất niên hiệu Khai Bảo (968) đời vua Triệu là Tống Thái Tổ, vương xưng Hoàng đế ở đông Hoa Lư. Rồi dựng cung điện, chế trầu nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã tắc và tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế" (Đại Việt sử liệu). Sử gia Lê Văn Hưu khi bàn về Đinh Tiên Hoàng có viết: "Tiên Hoàng với tài năng sáng suốt hơn người, dũng lược bậc nhất thiên hạ, đảm đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ khắp nơi, một lần cử sư, mười hai sứ quân đều thán phục hết. Thế rồi mở nước, dựng đô, đổi niên hiệu, xưng Hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đủ". ức Trai tiên sinh trong cuốn Dư địa chí cũng ghi: "Đinh (tức Đinh Tiên Hoàng) gọi nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư... Hoa Lư xưa là Đại Hùng, bây giờ là phủ Trường Yên".

Kinh đô Hoa Lư nằm gọn trong địa phận xã Trường Yên ngày nay, được bao quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung, cảnh quan hùng vĩ. Hiện nay dấu vết của mười tuyến tường thành của kinh đô Hoa Lư vẫn là khá rõ ràng. Phía bắc thành nằm bên bờ sông Hoàng Long, cho nên về mặt giao thông đường thủy rất thuận tiện. Hoa Lư vừa là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa vừa là một quân thành vững chắc. Sách Đại Việt nhất thống chí từng cho biết.

"Đô cũ nhà Đinh, nhà Lê ở xã Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ... Có Nội thành và Ngoại thành".

Đến đời Tiền Lê, sau cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (981) trong khung cảnh đất nước yên bình vua Lê Đại Hành cho xây dựng thêm nhiều cung điện lộng lẫy, góp phần làm cho kinh đô Hoa Lư ngày càng hoàn chỉnh, trong đó có những cung điện xây cột dát vàng, dát bạc, mái lợp bằng ngói bạc. Sứ thần Ngô Sĩ Liên trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: "Năm Giáp Thân thứ 5 (984): dựng nhiều cung điện, làm điện Bách Bảo Thiên tức ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng, bạc, làm nơi coi chầu; bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, rồi lại dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân dựng điện Long Lộc lợp bằng ngói bạc".

Núi Đại Vân nằm ở ngay phía sau khu đền vua Đinh và đền vua Lê hiện nay, còn gọi là núi Long Triền (Đại Nam nhất thống chí). Nhân dân địa phương quen gọi núi này là Phi Vân, trên đó còn vết tích của điện Bách Bảo Thiên tuế. Điều đó chứng tỏ kinh đô Hoa Lư có quy mô khá bề thế, đẹp đẽ, uy nghi, trang hoàng khá lộng lẫy và được hòa nhập với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ nơi đây.

Hoa Lư chỉ giữ vai trò kinh đô của quốc gia Đại Cồ Việt trong khoảng thời gian chừng 42 năm: triều Đinh (968 - 980), triều Tiền Lê (980 - 1009). Nhưng Hoa Lư giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong tiến trình lịch sử - văn hóa Việt Nam. Trước hết, chính tại kinh đô này, vị vua sáng nghiệp triều Lý và Lý Thái Tổ đã "phóng tầm mắt" về vùng châu thổ sông Nhị Hà, rồi đã phát hiện ra vị thế ở trung tâm bốn phương" của thành phố "Rồng Bay" (Thăng Long) sau này. Cũng tại nơi đây, hình thành và bước đầu phát triển một nền Văn hóa Hoa Lư (có thể tạm gọi là thời kỳ Tiền văn hóa Thăng Long rực rỡ) - một nền văn hóa ví như vài cánh én báo hiệu một mùa xuân đầy hoa thơm, trái ngọt sắp tới. Và cũng tại chính nơi đây, Lý Thái Tổ đã nung nấu để viết lên tờ Chiếu văn vô tiền khoáng hậu "Thiên đô chiếu" (Chiếu dời đô), mà ngày nay bất kỳ ai đọc nó cũng phải tâm phục tầm nhìn xa trong việc "tính kế lâu dài cho con cháu" của ông.

Nếu như hai vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành "nhìn thấy" cái điểm khả thi về mặt quân sự của vị trí Hoa Lư "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ" (Tiến có thể đánh, lui có thể giữ) thì vua Lý Thái Tổ lại "phát hiện" ra cái "điểm yếu cơ bản" của nó là chật hẹp và ẩm thấp. Vậy thì chính Hoa Lư cũng đã cấp cho vua Lý Thái Tổ một bài học của việc định đô.

Có thể nói, dường như là nghịch lý: Có kinh đô Hoa Lư rồi mới có kinh đô Thăng Long. Dưới một cái nhìn minh triết tìm nơi "Kinh đô cho muôn đời" trong tâm não của vua Lý Thái Tổ thì Hoa Lư là mặt "âm" và Thăng Long là mặt "dương" của vấn đề.


----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 12 phút và 49 giây -----


Chuyện về Trưng nữ vương


--- Ngân Hà ---



Mùa xuân năm ấy, khi mùa săn bắt đầu ở Mê Linh, quan Lạc tướng Chu Diên đã cho con trai là Thi Sách dẫn một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân với họ Trưng. ý Lạc tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và Chu Diên mà liên kết được với nhau thì chẳng phải tốt lành chuyện nhân duyên đôi trẻ Thi Sách - Trưng Trắc mà sức mạnh của người Việt sẽ được nhân lên. Sức mạnh ấy có thể xoay chuyển được tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán khôi phục lại được nước cũ của người Việt.

Chàng trai tuấn tú Thi Sách tới Mê Linh đã được nữ chủ tướng Trưng Trắc, chạc tuổi mình, đón tiếp ân cần, lịch thiệp. Đôi trẻ quyến luyến nhau ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Thi Sách đến Mê Linh được một ngày thì hội săn được mở.

Đến trưa toán thân binh của Thi Sách cùng trai tráng Mê Linh đã lặc lè khiêng về một con cọp lớn chưa từng thấy. Trên thân cọp, hai mũi lao cắm ngập sâu vào giữa ức. Nhìn cái lao có dấu riêng của con trai lạc tướng Chu Diên, ai lấy đều mừng thầm nữ chủ Trưng Trắc đã kết thân được với chàng trai dũng mãnh. Có lẽ không một ai ngoài Trưng Trắc biết rằng, trước khi bị hai mũi lao phóng tới, chúa sơn lâm đã bị một mũi tên của Trưng Trắc xuyên trúng mắt buộc cọp lớn phải khựng lại giữa đà lao dữ dội. Vì thầm yêu Thi Sách, còn muốn cùng Thi Sách săn con thú lớn hơn, nguy hiểm hơn gấp bội nên Trưng Trắc đã nhanh chóng nhảy tới bên thú dữ kín đáo nhổ mũi tên lợi hại của mình. Tình yêu của Thi Sách và Trưng Trắc như ý nguyện của Lạc tướng Chu Diên đã được chính đôi trẻ thu xếp ổn thoả. ít lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người, Trưng Trắc đã cùng Thi Sách kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của người Việt. Vợ chồng tuy đã thành thân nhưng người nào vẫn ở đất cũ của người ấy.

Thái thú Tô Định giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh và con trai của Lạc tướng Chu Diên. Tô Định biết rõ rằng đằng sau cuộc hôn nhân là sự liên kết thế lực hai miền đất lớn của người Việt. Sự liên kết ấy đang nhân gấp bội sức mạnh chống lại nền đô hộ của nhà Hán.

Điều lo ngại của Tô Định quả là không sai. Ngay sau ngày cưới. Chu Diên khẩn trương rèn đúc vũ khí, dồn góp thóc lúa trữ lại một nơi thành chỗ dựa vững chắc cho Mê Linh trong cuộc khởi nghĩa sắp tới. Từ Mê Linh những con thuyền đưa Trưng Trắc đến Chu Diên gặp chồng, đưa Thi Sách từ Chu Diên về Mê Linh gặp vợ ngày càng nhiều. Những con thuyền như thế còn đi xa hơn, đến tận Cửu Chân, Nhật Nam và các huyện ngoài biển đông của cõi Giao chỉ, các huyện xa trên quận họp nhau bàn định việc nghĩa. Mọi nơi đều hướng về Mê Linh chờ chị em Trưng Trắc hành động để sẵn sàng hưởng ứng.

Linh cảm thấy trước một cuộc biến xảy ra mà cội nguồn của nó từ đất Mê Linh, Tô Định hốt hoảng tìm cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem đại binh đột ngột kéo về Chu Diên bắt giết Thi Sách xem như đòn trấn áp phủ đầu của hắn.

Tin dữ từ Chu Diên đem tới, khiến Trưng Trắc đau đớn lặng người. Rồi ngay sau đó, với dáng quả quyết, Trưng Trắc nổi trống đồng họp binh, quyết trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Nghe tiếng trống đồng ầm ầm nổi lên, dân Mê Linh cung nỏ, đao búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về làng. Trên bành voi cao nữ chủ tướng Mê Linh mặc áo giáp phục rực rỡ, bên ngoài bộ xống trùng áo ngắn là tấm hộ khiên bằng đồng thau vàng rực, chạm khắc cầu kỳ và chiếc đai lưng khoá đồng có đính một chuỗi nhạc nhỏ kêu lanh canh theo nhịp lắc của voi.

Trước lúc tiến quân, trong đám cử suý có người xin chủ tướng cho cử tang Thi Sách và mặc tang phục. Trưng Trắc trả lời:

- Việc chiến trận phải quyền biến. Nếu tự làm tiều tuỵ thì nhuệ khí ắt tàn theo. Ta mặc giáp phục đẹp đẽ để dân trông thấy thì phấn khích mà giặc trông thấy thì kinh hoàng.

Quả vậy, dân Mê Linh trông thấy nữ chủ tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào ào bám chân voi, theo chủ tướng mà xốc tới. Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đô uý trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh luỹ giặc, tiến xuống Luy Lâu. Trong đoàn quân kéo đi phá quân trị của nhà Hán ngày càng có thêm nhiều người từ các nơi đổ về. Thành Luy lâu cũng không đương nổi cuộc công phá của một biển người ào ào theo hiệu trống của chị em Trưng Trắc. Trong đám loạn quân, nữ chủ tướng Mê Linh thúc voi xông xáo tìm Tô Định. Nhưng hắn đã cao chạy xa bay về Nam Hải chịu tội với vua Hán.

Tin thắng trận dồn dập bay đi. Nỗi vui mừng quá lớn khiến cho người dân Việt nhiều đêm liền không ngủ. Hàng chục đời nay nước cũ của vua Hùng mới được khôi phục, nợ nước thù nhà của chủ tướng Mê Linh đã được trả.

Hội mừng thắng trận được mở, trai gái dập dìu nhảy theo điệu trống dồn dập tưởng không bao giờ dứt.

Lấy lại nước, hai chị em họ Trưng được cả nước tôn lên làm vua, trị vì nước Việt. Trưng nữ vương trở về đất bản bộ, xây thành Mê Linh. Các tướng lĩnh được phong chức tước, sau đó người nào trở về đất ấy, dốc sức xây dựng quê hương.


----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 17 phút và 35 giây -----


Phong trào Đông du và Đông kinh nghĩa thục


Phong trào Đông du (1905 - 1909)

Bước vào những năm cuối thế kỷ 19, phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân ta sau một thời kỳ dài bùng nổ quyết liệt đã bị kẻ thù dập tắt trong máu lửa. Bộ máy kìm kẹp, thống trị của chúng nhờ đó càng được củng cố. Trong hoàn cảnh mới, những người yêu nước nhận thấy phải có con đường cứu nước mới. Họ mạnh dạn đón nhận những luồng tư tưởng dân chủ tư sản từ ngoài dồn dập tràn vào nước ta từ những năm đầu thế kỷ 20. Họ muốn dựa vào nước Nhật, một nước theo con đường tư bản châu Âu, giàu mạnh lên, đánh thắng đế quốc Nga (1905). Người Nhật lại "cùng màu da vàng".

Để thực hiện ý định trên, các nhà yêu nước đã lập ra Hội Duy tân do Phan Bội Châu đứng đầu. Mục đích của Hội là khôi phục nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập (1904). Đầu năm 1905, thực hiện nhiệm vụ Hội giao, Phan Bội Châu lên đường sang Nhật nhờ giúp khí giới, lương tiền. Nhưng người Nhật chỉ hứa giúp đỡ việc đưa thanh nhiên sang học để đào tạo cán bộ cho cuộc bạo động vũ trang về sau. Hội Duy tân hăng hái bắt tay ngay vào việc tuyên truyền cổ động thanh niên bí mật sang Nhật học, mở đầu cho phong trào Đông du (nước Nhật Bản ở phía Đông nước ta nên cuộc xuất dương sang Nhật gọi là Đông du).

Phong trào Đông du lúc đầu tiến hành thuận lợi, số học sinh có lúc lên tới 200 người. Nhưng đến tháng 9-1908, thực dân Pháp ra tay khủng bố. Chúng câu kết với chính quyền Nhật, giải tán tổ chức du học sinh của ta trên đất Nhật, trục xuất những người yêu nước Việt Nam khỏi đất Nhật. Đầu năm sau (3-1909), Phan Bội Châu cũng phải rời khỏi Nhật Bản. Sau đó, phong trào Đông du tan dã. Hội Duy tân ngừng hoạt động.

Đông Kinh nghĩa thục (1907)

Cùng thời với phong trào Đông du có xu hướng bạo động vũ trang mang tính chất toàn quốc, ở Bắc Kỳ còn có một cuộc vận động cải cách văn hóa xã hội theo lối tư sản.

Tháng 3-1907, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và một số nhà nho tiến bộ khác đã mở tại Hà Nội một trường học tư lấy tên là Đông Kinh nghĩa thục (Đông Kinh là tên Hà Nội cũ. Nghĩa thục là trường làm việc nghĩa). Tuy là một trường tư nhưng không thu tiền học.

Chương trình học gồm những bài phổ thông về địa lý, lịch sử, cách trí (khoa học thường thức), vệ sinh. Tuy vẫn phỏng theo chương trình nhà trường thực dân nhưng được soạn theo mục đích tuyên truyền đổi mới. Trường còn tổ chức những buổi nói chuyện, bình văn, ra sách báo. Các hoạt động này đều có nội dung yêu nước, kêu gọi đoàn kết, bài trừ lối học cũ, khuyên học quốc ngữ, dùng hàng sản xuất trong nước, mở mang các nghề công thương, sống theo lối mới...

ảnh hướng của Đông Kinh nghĩa thục không ngừng mở rộng. Cơ sở của trường lan dần về các địa phương. Số học sinh ngày càng đông, lên tới 1.000 người. Các hoạt động ngoại khóa của trường cũng thu hút được đông đảo đồng bào hồi đó:

"Buổi diễn thuyết người đông như hội,
Kỳ bình văn khách tới như mưa"

(Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục)

Trước ảnh hưởng ngày một lớn của Đông Kinh nghĩa thục, thực dân Pháp thấy đó "là một cái lò phiến loạn ở Bắc Kỳ" (Hồ sơ Phủ thống sứ Bắc Kỳ - Phòng lưu trữ Thư viện quốc gia) nên thẳng tay đàn áp. Tháng 11-1907, trường bị đóng cửa, sách báo của trường bị cấm, một số người hoạt động tích cực bị bắt. Tính ra Đông Kinh nghĩa thục chỉ mới hoạt động được 9 tháng nhưng đã góp phần thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân ta đầu thế kỷ 19.

Cuộc vận đông Duy Tân và phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (1907 - 1908)

Cuộc vận đông Duy tân

Cùng lúc với phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở Bắc Kỳ, một cuộc vận động Duy tân (bỏ cũ theo mới) sôi nổi diễn ra ở khắp Trung Kỳ. Cầm đầu phong trào là các nhà nho tiến bộ như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Văn Huân...

Các hình thức hoạt động rất phong phú. Trường học được mở khá nhiều, xuống đến tận các làng xã. Chương trình học có toán, cách trí, vệ sinh, sử ký, địa lý... với nội dung mới. Trường còn dạy hát, luyện tập thể thao, hàng tuần có tổ chức diễn thuyết về các đề tài sinh hoạt xã hội, tình hình thế giới. Nhà trường cũng là nơi tuyên truyền mở mang công nghiệp và thương nghiệp đẩy mạnh sản xuất, bài trừ bọn quan lại xấu, đả phá phong tục lạc hậu mê tín, thực hiện đời sống mới... Nhiều hội buôn hàng nội hóa, nhiều công ty làm nghề thủ công được thành lập ở các nơi. Người ta còn đua nhau cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn... Tất cả các hoạt động trên đều đề cao tinh thần đoàn kết yêu nước, căm ghét bọn thực dân, tay sai.

Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ

Phong trào Duy tân ngày càng lan rộng. Chính lúc này nhân dân Trung Kỳ đang điêu đứng vì nạn thuế khóa nặng nề, nạn bắt phu của thực dân Pháp. Cuộc vận động Duy tân khi đi sâu vào quần chúng đã bùng lên thành ngọn lửa căm thù trong lòng mọi người. Vì vậy, từ đầu năm 1908, một phong trào chống đi phu, đòi giảm thuế đã nổi dậy ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Giữa tháng 3-1908, nhân dân huyện Đại Lộc (Quảng Nam - Đà Nẵng) kéo nhau lên tỉnh lị đòi giảm thuế, phản đối việc bắt phu. Cuộc đấu tranh kéo dài suốt tháng, số người kéo đến càng đông, có lúc đến một vạn người tham gia. Tại các huyện khác trong tỉnh cũng xảy ra những cuộc đấu tranh ngày càng kịch liệt hơn. Phong trào nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh miền Trung tuy thực dân Pháp và tay sai đã ra sức đề phòng. Khí thế đấu tranh của quần chúng ngày càng dâng cao.

Tình hình đó làm cho bọn thống trị vô cùng lo sợ. Chúng ra sức huy động nhiều binh lính thẳng tay khủng bố đàn áp, đóng cửa các trường học, giải tán các hiệu buôn, bắt bớ, tù đày nhiều người, xử chém một số người cầm đầu. Vì chưa có cơ sở vững chắc trong quần chúng, nhất là vì thiếu một bộ phận lãnh đạo sáng suốt, nên phong trào tan rã dần vào cuối tháng 5-1908.

namminh
19-12-2007, 09:53 PM
Lý Thái Tông với chính sách tự cường



--- Viên Ngọc Lưu ---



Ngay sau khi lên ngôi vua, Lý Thái Tông (1000 - 1054) đã chú trọng tới việc sử dụng người hiền tài, khuyến nông, ban hành luật nhằm ổn định xã hội... Trong buổi đầu xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, các chính sách của vua Lý Thái Tông có tác dụng quan trọng bảo đảm sự vững mạnh của nước Đại Việt.

Lý Thái Tông húy là Phật Mã, còn có tên khác là Đức Chính, là con trưởng của Lý Thái Tổ. Ông sinh ngày 26-6 Canh Tý, niên hiệu ứng Thiên (tức 29-7-1000), ở phủ Trường Yên.

Là một người có tư chất thông minh, được vua cha dạy dỗ và chuẩn bị chu đáo cho việc kế nghiệp (năm 12 tuổi được lập làm Đông cung Thái tử, phong làm Khai Thiên vương, lập cung Long Đức ở ngoài thành cho ở để am hiểu, sâu sát dân tình). Bởi thế, khi Lý Thái Tổ băng hà (1028), sau khi dẹp được nạn ba vương (Đông Chính, Dực Thánh và Vũ Đức, là các con của Lý Thái Tổ), lên nắm nghiệp trị nước, Lý Thái Tông đã đặt ra và thực hiện nhiều quyết sách, đặt nền móng cho sự nghiệp nhà Lý ngày càng bền vững.

Dưới thời Lý Thái Tông, (1028 - 1054), giặc giã còn nhiều, vua thường phải thân chinh đi trận mạc. Trong khoảng mười năm đầu từ khi lên ngôi, năm nào ông cũng phải cầm quân đi đánh dẹp. Mặc dù vậy, trong nghiệp trị nước, suốt 27 năm cầm quyền, Lý Thái Tông, một ông vua "tính khí nhân từ hiền trí thông minh, thông hiểu đại lược về văn, võ, bắn cung, cưỡi ngựa, viết chữ, tính toán... nghề gì cũng thạo" (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí); đã để lại nhiều bài học quý giá.

Trước hết, Lý Thái Tông là vị vua đầu tiên nêu một tấm gương lớn cho dân chúng về lễ giáo và ý thức lao động, về nghĩa vụ của công dân, về sự nhất quán giữa lời nói và việc làm. Sách Cương Mục chép: "... Năm Mậu Dần, niên hiệu Thông Thụy thứ 5 (1038), mùa xuân, tháng 2, vua ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền. Vua thân tế Thần Nông, tế xong tự cầm cày để làm lễ tự cày. Các quan tả hữu có người can rằng: Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế, vua nói: "Trẫm mà không chính mình cày ruộng thì lấy đâu có gạo làm tế phẩm để thờ cúng Tông miếu và lấy gì để nêu gương cho thiên hạ?".

Lý Thái Tông cũng là vị vua đầu tiên đề ra và gương mẫu thực hành chính sách tiết kiệm, nêu cao ý thức tự cường, tự tôn dân tộc bằng chủ trương phát huy nội lực, khuyến khích sản xuát hàng thủ công trong nước. Chính ông là người khởi xướng, ra lệnh dạy cho các cung nữ nghề dệt gấm vóc. Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) chép rằng từ năm Canh Thìn (1040), khi các cung nữ đã thạo việc dệt gấm vóc, vua xuống chiếu phát hết số gấm vóc của nước Tống dự trữ trong kho cho các quan lại, tỏ rõ là người không tham của lạ, không muốn phụ thuộc ngoại bang, nêu gương kiệm ước và hậu đãi kẻ dưới. Việc làm này của Lý Thái Tông đã đặt nền móng cho ý thức tự cường, tự tôn dân tộc của các vua nhà Lý sau này, mà chính con trai ông, Lý Thánh Tông là người khẳng định đặt quốc hiệu nước nhà là Đại Việt ngay sau khi kế vị vua cha.

Vượt lên trên tất cả các triều đại trước, ông là vị vua đầu tiên đặt nền móng để xây dựng trật tự xã hội của một quốc gia phong kiến độc lập, có chủ quyền trong lịch sử nước nhà. Lúc bấy giờ, dân trí rất thấp, luật lệ còn lỏng lẻo, việc kiện tụng thì bề bộn, "các quan lại giữ pháp luật hay làm những việc quá khắc nghiệt, nên nhiều người bị oan uổng quá đáng" (ĐVSKTT).

Với mong muốn tạo ra một khuôn mẫu, trật tự trong xã hội để mọi người dân biết tránh điều ác, làm việc thiện; năm Nhâm Ngọ (1942), nhà vua cho ban hành bộ Hình thư, bộ luật đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, với nguyên tắc: "... Phải tham bác, châm chước cho thích hợp với thời thế, đặt ra từng môn, từng loại, phân ra từng điều, từng khoản. Về tác dụng, ý nghĩa của bộ Hình thư, sử cũ cho biết: "Khi sách làm xong, nhà vua xuống chiếu cho ban hành, ai cũng khen là tiện lợi" (Cương Mục). Theo Lê Quý Đôn, bộ Hình thư này gồm ba quyển, nhưng rất tiếc, đã bị thất truyền.

Cũng với mục đích nhằm tạo lập một quy chế xã hội, dù là còn sơ giản, và cũng nhằm răn đe những quan lại của triều đình từ trung ương đến địa phương; sau một năm nắm quyền trị nước, năm 1029, Lý Thái Tông đã cho xây dựng hai bên tả, hữu thềm rồng (Long Trì) hai lầu để chuông đối nhau, "để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên" (ĐVSKTT). Đến năm Nhâm Thìn (1052) lại sai "đúc quả chuông lớn để ở sân rồng điện Thiên An, cho dân hễ ai có điều gì oan ức không thông đạt được lên trên thì đánh chuông để thấu đến nhà vua" (Cương Mục).

Các sứ thần phong kiến từ Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên đến Phan Huy Chú, v.v. đánh giá ông khá cao, là con người "nhân triết thông tuệ, có đại lược văn võ, lục nghệ thông, nghề gì cũng tinh tường" (Ngô Sĩ Liên), nhưng cũng chỉ chú trọng ở những hoạt động trong việc trị loạn của ông.

ở thời đại Lý Thái Tông, thời mở đầu nghiệp xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ, những quyết sách của ông nhằm chấn hưng đất nước, xây dựng ý thức tự cường dân tộc chưa nhiều, chỉ mới ở những nét chấm phá, nhưng rõ ràng đã để lại cho hậu thế những bài học quý báu về ý thức dân tộc, về phương châm tận dụng và phát huy nội lực, lấy tiềm năng nội lực làm căn bản để xây dựng một quốc gia độc lập, có chủ quyền.

Bài học ấy, cho đến nay, vẫn còn nguyên giá trị.

Lý Thái Tông băng hà ngày 1-10 năm Giáp Ngọ (1054), hưởng thọ 55 tuổi.

----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 2 phút và 58 giây -----

Vua Duy Tân: Lòng yêu nước của một vị vua trẻ



--- Nguyễn Đắc Xuân ---



Vua Duy Tân (1900-1945) lên ngôi từ năm tám tuổi song đã sớm tỏ ra không chịu làm một ông vua bù nhìn. Năm 1916, vua Duy Tân cùng Thái Phiên và Trần Cao Vân tổ chức khởi nghĩa, việc không thành, ông bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion. Trong dân gian vẫn truyền tụng những mẩu chuyện về lòng ưu tư mất nước và quyết tâm chống giặc của vị vua trẻ.

Năm 1916, vua Duy Tân cùng các nhà yêu nước Thái Phiên và Trần Cao Vân tổ chức khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Việc tuy không thành, vua bị đày sang đảo Réunion. Thái Phiên và Trần Cao Vân bị tử hình, nhưng tinh thần yêu nước của nhà vua và hai ông Thái, Trần vẫn sống mãi. Trong dân gian vẫn truyền tụng nhiều mẩu chuyện nói lên nỗi ưu tư mất nước của ông vua trẻ và quyết tâm chống giặc ngoại xâm của ông.

Năm 1907 vua Thành Thái vì yêu nước mà bị giặc Pháp truất phế đày vào Vũng Tàu. Hoàng tử Vĩnh San lúc ấy mới tám tuổi, giặc Pháp đưa lên làm vua, lấy niên hiệu là Duy Tân, để chúng nhân danh ông đè đầu cưỡi cổ bóc lột người Việt Nam. Chúng tưởng rằng nhà vua nhỏ tuổi, giặc nói gì ông cũng nghe. Nhưng không ngờ mới một ngày ngồi trên ngai vàng, bộ mặt của cậu bé tám tuổi đã hoàn toàn thay đổi. Cậu bé Việt Nam tám tuổi này tỏ ra không muốn làm một ông vua bù nhìn. Chẳng bao lâu sau, giặc phải làm một nhà ở Cửa Tùng xa Kinh đô Huế hàng trăm cây số để cho Duy Tân ra đó chơi đùa, sao nhãng bớt chuyện làm vua.

Ở Cửa Tùng, giữa cảnh trời cao bể rộng, vua Duy Tân không thể quên được lý do vì sao vua cha bị đày. Ông lại càng không quên trách nhiệm làm vua của ông đối với nỗi khổ cực lầm than của dân, của nước. Một hôm ông ngồi vốc cát biển lên chơi, hai tay bẩn. Một ông quan thị vệ bưng nước đến cho ông rửa tay. Vừa thò tay vào nước rửa lõm bõm, ông vừa nhìn ông quan thị vệ hỏi rằng:

- Tay nhớp lấy nước mà rửa. Nước nhớp lấy chi mà rửa?

Ông quan sợ quá, nhìn ông hai môi mấp máy mà không nói được nên lời. Nhà vua thông cảm cho người quản gia tội nghiệp, ông tự trả lời:

- Máu!

Một lần khác, một ông quan đại thần ra thăm vua, thấy nhà vua có vẻ buồn bực, ông liền bày cần câu đưa vua đi ghe ra biển câu.

Ra đến biển, vua mới buông câu thì lưỡi câu đã bị mắc. Nhà vua vừa lần gỡ câu vừa hỏi dò ý ông quan đại thần được nhà vua rất tin cậy, bằng một câu đối:

Ngồi trên nước không ngăn được nước
Buông câu ra đã lỡ phải lần!

Biết ý nhà vua muốn hoạt động cứu nước, ông quan đại thần sợ nguy hiểm cho vua bèn đối lại, khuyên vua không nên có ý nghĩ táo bạo ấy.

Sống ở đời mà ngán cho đời
Nhắm mắt lại đến đâu hay đó!

Biết được tinh thần cầu an của ông quan đại thần, từ đó vua Duy Tân không bao giờ thổ lộ tâm tình với ông này một lần nào nữa. Nhưng ý muốn cứu nước của nhà vua lại được nhân dân địa phương biết đến rất nhanh. Lúc ấy có ông Khóa Bảo - một người hoạt động cách mạng ở Quảng Trị - đã tìm mọi cách để được đến gặp nhà vua... Gặp nhau vua tôi rất vui mừng. Ông Khóa đã kể hết những chuyện tai nghe mắt thấy về tội ác của giặc Pháp bóc lột dân ta và nỗi lầm than khổ ải của dân mình. Nhà vua nghe chuyện và đã khóc.

Nhờ ông Khóa Bảo mà đảng bí mật của Thái Phiên và Trần Cao Vân biết được vua Duy Tân đang muốn hoạt động cứu nước. Hai ông đã rất công phu, giả người đi câu hẹn gặp nhà vua và bàn với nhà vua kế hoạch cứu nước. Vua Duy Tân chấp nhận mọi ý kiến của hai nhà cách mạng và hối thúc hãy hành động nhanh lên để giành được cơ hội tốt.

Vua Duy Tân cũng như hai nhà cách mạng Thái, Trần, tinh thần yêu nước, căm thù giặc có thừa, nhưng thiếu một đường lối cứu nước tiên tiến, thiếu một phương pháp tổ chức thích hợp nên cuộc khởi nghĩa hồi tháng 5 năm 1916 đã thất bại, những người cầm đầu bị dìm trong biển máu.

Lúc giặc vây bắt nhà vua tại một căn nhà gần núi Thiên Thai, nhà vua vẫn bình tĩnh, sẵn sàng nhận mọi sự đối xử tàn bạo của kẻ thù. Bọn giặc thấy một vật gì cồm cộm bên hông giắt trong áo nhà vua, chúng loay hoay muốn soát. Nhà vua hiểu ý, chỉ cái vật ấy và nói với tên khâm sứ và tên chánh mật thám Xô-nhi rằng:

- Mấy ông tưởng cái ni là súng lục hả? Không phải mò. Tui mà có súng thì tui bắn mấy ông chết hết rồi. Đây là cục lương khô thôi!

Bọn giặc bị hạ nhục, nhưng chúng cũng được yên tâm. Tên khâm sứ đưa vua Duy Tân về giam trong đồn Mang Cá của chúng. Trên đường đi, chúng hỏi nhà vua:

- Nhà vua có ân hận gì về cuộc phiêu lưu vừa rồi không?

Vua Duy Tân đáp một cách thản nhiên:

- Có chớ!

Tên khâm sứ mừng rỡ hỏi tiếp:

- Ân hận như thế nào?

Vua Duy Tân đáp không một chút ngại ngùng:

- Vì ta chưa đánh được người Pháp mà đã bị bắt!

Không khuất phục được ý chí của vua Duy Tân, chúng bắt đem nhà vua về giam. Giặc Pháp làm áp lực, bắt triều đình và gia đình vào nhà giam thuyết phục nhà vua hãy bỏ ý chí cứu nước để chúng sẽ đưa nhà vua trở lại ngai vàng. Vua Duy Tân nói rõ ý muốn của mình:

- Ta sẵn sàng trở lại ngai vàng, nhưng muốn ta trở lại, nước Pháp phải thi hành những điều khoản tự chủ của Việt Nam trong hòa ước 1884, nước Pháp bảo trợ cho nước Việt Nam chứ không phải bảo hộ nước Việt Nam. Pháp phải coi ta là một ông vua trưởng thành, trên ta không có hội đồng Phụ chánh, Pháp không được nhân danh ta làm những điều thuộc quyền của ta!

Điều kiện của vua Duy Tân đưa ra quá cao đối với bọn thực dân, vì thế chúng đã quyết định đày ông đến một nơi xa xứ là đảo Réunion tận bên trời châu Phi. Đến lúc ông sắp lên đường, bọn giặc lại cho người đến ban một "ơn huệ" cuối cùng. Tên tay sai Pháp thưa:

- Thưa Ngài, chúng tôi biết trong nội khố, ngài còn một số tiền lớn, ngài lại có một tủ sách tiếng Pháp rất nhiều. Ngài có cần lấy một ít tiền cầm tay và một số sách để đọc dọc đường không?

Vua Duy Tân đáp:

- Ta làm gì có tiền. Tiền trong nội khố là tiền của dân. Ta là người tù của Pháp, Pháp không nuôi được một người tù sao mà cần phải cầm tiền theo. Còn nếu người Pháp biết điều, muốn để cho tù nhân đọc sách thì người hãy về lấy cho ta bộ sách Cách mạng Pháp 1783 của Míc-sờ-lê và phải lấy cho đủ bộ!

Tên tay sai đi gặp vua Duy Tân về trình bày lại với Pháp, bọn Pháp ngao ngán thở ra:

- Không thể nào khuất phục được con người này.

Sau đó nhà vua vào nam xuống tàu đi đày cùng một chuyến với vua cha sang đảo Réunion.

Ba mươi năm sau, vua Duy Tân đã chết một cách bất ngờ khi ông nhận được đầy đủ tin tức nước nhà đã được hoàn toàn độc lập sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công.

----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 4 phút và 24 giây -----

Đội nghĩa quân Đốc Ngữ trên sông Đà


Trong những năm từ 1886 đến 1892, người Mường dưới sự lãnh đạo của Đốc Ngữ đã nổi dậy chống xâm lược Pháp trên suốt dải ven sông Đà. Nghĩa quân sông Đà di chuyển nhanh, tấn công thần tốc, đã thắng những trận vang dội ở chợ Bờ và Yên Lãng (Hòa Bình).

Tiếp nối và phát huy cao hơn nữa truyền thống đoàn kết, yêu nước chống xâm lăng của các dân tộc miền núi, đồng bào Mường đã sôi nổi vùng dậy tìm mọi cách chặn bước tiến của thực dân Pháp ngay từ buổi đầu khi chúng tìm cách tiến sâu lên vùng rừng núi, suốt trong những năm từ 1886 đến 1892, dưới sự chỉ huy của Đốc Ngữ, đồng bào Mường yêu nước, yêu bản mường đã hoạt động mạnh mẽ trên khắp vùng lưu vực sông Đà, giáng cho địch nhiều đòn sấm sét khiến chúng bạt vía, kinh hồn.

Tháng 4-1884, quân Pháp chiếm thành Hưng Hóa. Ngay lúc đó, Đốc Ngữ (chính tên là Nguyễn Đức Ngữ) đã tập hợp một số nghĩa quân nổi dậy, hoạt động mạnh mẽ suốt một dải ven sông Đà thuộc các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Sơn Tây, Phú Thọ. Từ đó nghĩa quân thường tấn công vào các đồn lẻ hay chặn đánh các đoàn xe vận tải của giặc trên lưu vực sông Đà.

Đến đầu năm 1891, đội nghĩ quân sông Đà đã có thanh thế lớn và có đủ lực lượng để đánh những trận lớn. Chiến công oanh liệt nhất là trận tập kích vào Chợ Bờ, tỉnh lỵ cũ của Hòa Bình, nơi giặc Pháp phòng giữ khá vững chắc.

Đêm 29 rạng 30-1-1891. Trong bóng đêm dày đặc, Đốc Ngữ dẫn 500 nghĩa quân kéo tới vây kín vị trí địch, nổ súng, tuốt gươm, cắp giáo xông vào đồn địch. Bị đánh bất ngờ, thực dân Pháp không sao đối phó kịp. Tên công sứ và hai tên Pháp khác giúp việc y bị đền tội. Viên chỉ huy Pháp và tên chủ sở Bưu điện hốt hoảng nhảy xuống thuyền bị dòng thác cuốn đi. Sau khi thu toàn bộ vũ khí trong đồn, nghĩa quân bí mật rút lui.

Cuộc đánh úp Chợ Bờ của nghĩa quân làm cho thực dân Pháp và tay sai vô cùng hoảng sợ. Chúng liên tiếp huy động nhiều đội quân với súng ống đầy đủ ngày đêm sục sạo, càn quét khắp vùng rừng núi. Nhưng chúng đã tốn công vô ích! Được núi rừng che chở và nhất là được đồng bào trong vùng yêu mến, làm vườn không nhà trống khiến giặc không có chỗ ăn chỗ ở, nghĩa quân sông Đà vừa tránh khỏi mọi sự truy lùng của địch, vừa lợi dụng chỗ sơ hở của chúng để phục kích tiêu hao chúng. Chính trong thời gian này nghĩa quân lại đánh một trận lớn thứ hai rất gan dạ và tài tình. Lần này nghĩa quân tấn công đồn Yên Lãng vùng Chợ Bờ.

Giữa ban ngày, người ta thấy một toán lái buôn và dân cày gánh kĩu kịt trứng gà và chuối tiêu vào biếu chủ đồn Yên Lãng. Lính canh để họ vào. Viên chủ đồn cười híp mắt trước món đồ biếu béo bở. Đột nhiên toán lái buôn và dân cày này - chính là nghĩa quân sông Đà cải trang - rút súng nổ vào đầu bọn giặc, tiêu diệt gần hết lính Pháp trong đồn, thu toàn bộ vũ khí và lương thực.

Ảnh hưởng của nghĩa quân ngày càng lan rộng. Một đội quân lớn của giặc ra sức tìm tòi dấu vết nghĩa quân. Nhưng cũng như lần trước, chúng đã tốn công vô ích. Nghĩa quân di chuyển nhanh chóng trên một địa bàn rộng đã tránh thoát mọi cuộc truy kích, càn quét của địch. Không những thế, cuối tháng 4-1892, lợi dụng chỗ sơ hở của địch, Đốc Ngữ còn cho quân vượt qua sông Mã quanh năm nước chảy cuồn cuộn như ngựa phi, tiến sâu vào đất Thanh Hóa, phối hợp chiến đấu với nghĩa quân của Tống Duy Tân và Cao Điền. Tại đây hai đội nghĩa quân đã giáng cho giặc Pháp một đòn nặng tại Niên Kỷ. Sau đó, tranh thủ lúc quân giặc còn bàng hoàng về trận thất bại mới, Đốc Ngữ lại quay trở về vùng tả ngạn sông Mã, rồi lại vượt qua sông Đà, lập căn cứ mới.

Giặc Pháp xảo quyệt dùng thủ đoạn chia rẽ nghĩa quân, chia rẽ dân tộc, chia rẽ miền xuôi, miền núi. Chúng mua chuộc, lung lạc một số người nhẹ dạ, khủng bố, hăm dọa nhân dân địa phương. Tháng 8-1892, chủ tướng Đốc Ngữ bị sát hại. Đội nghĩa quân sông Đà tan rã. Nhưng sau đó đồng bào Mường vẫn không ngừng chiến đấu chống thực dân Pháp, góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của toàn thể dân tộc Việt Nam.

----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 5 phút và 55 giây -----

Triệu Thị Trinh


Triệu Thị Trinh, em gái Triệu Quốc Đạt, là con một gia đình có thế lực ở huyện Quân An, quận Cửu Chân (nay là huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá). Từ nhỏ bà sớm tỏ ra có chí khí hơn người. Người ta kể lại rằng: khi cha bà hỏi về chí hướng mai sau, tuy còn ít tuổi, bà đã rắn rỏi thưa: "Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc, Trưng Nhị!".

Cả hai anh em đều được cha hết lòng dạy dỗ binh thư, võ nghệ. Bà học chăm chỉ, thông minh, hứa hẹn có thể trở thành một vị tướng tài mai sau, khiến anh bà phải mến phục. Bà lại có sức khoẻ khác thường, một mình vật nổi hàng chục người.

Bà cùng anh đi khắp vùng vừa để mở rộng giao du, kết bạn với người hiền tài, nghĩa sĩ, vừa ngắm xét địa hình, để mưu việc lớn sau này. Nhiều người có ý khuyên bà nên an phận, bà khẳng khái trả lời:

"Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta!".

Và bà tiếp tục khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa, lấy núi Nưa làm căn cứ địa: mộ quân, sắm sửa vũ khí, tích trữ lương thực, luyện tập quân sĩ.

Dân chúng trong vùng còn kể lại là khi đó có con voi trắng một ngà rất dữ tợn hay về phá hoại mùa màng, mọi người đều sợ. Để trừ hại cho dân, bà cùng chúng bạn đi vây bắt voi. Bà dũng cảm nhảy lên cưỡi đầu voi và cuối cùng đã khuất phục được con vật hung dữ. Chú voi trắng này sau đó đã trở thành người bạn chiến đấu trung thành của bà.

Tiếng tăm cô gái 19 tuổi trị voi rừng vang dội khắp nơi, càng thu hút thêm nhiều người đi theo bà.

Khi binh lực đã lớn mạnh, năm 248, bà Triệu đem quân tiến đánh các quận huyện của bọn quan lại nhà Ngô. Bà chỉ huy nghĩa quân vô cùng gan dạ. Ra trận, bà thường mặc áo giáp đồng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, nên đời sau, thường gọi tên bà là Nhuỵ Kiều tướng quân. Nghĩa quân thắng nhiều trận, giết chết viên thứ sử Châu Giao. Dân chúng khắp hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân đều nổi dậy hưởng ứng.

Nhà Ngô lo sợ phải phái viên danh tướng Lục Dận sang làm thứ sử Giao Châu, đem thêm 8000 quân sang đàn áp. Bà cầm quân đánh giặc vô cùng oanh liệt, gây cho giặc nhiều tổn thất, khiến chúng phải run sợ bảo nhau

Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà Vương nan

Nghĩa là:

Cầm giáo chống lại hổ còn dễ,
Chứ đối địch với bà Triệu thì thật khó

Lục Dận biết nếu chỉ dùng lực lượng quân sự không thôi thì khó lòng thắng nổi bà. Một mặt, y tìm cách dụ bà ra hàng; mặt khác dùng vàng bạc, của cải lung lạc một số thủ lĩnh địa phương dao động.

Bà Triệu kiên quyết chối bỏ lời dụ dỗ của giặc và tiếp tục chiến đấu. Nhưng thế giặc rất mạnh, quân khởi nghĩa suy yếu dần và tan vỡ. Cuối cùng bị bao vây riết, bà phải rút về núi Tùng Sơn, và không chịu rơi vào tay giặc, bà đã rút gươm tự vẫn.

Ngày nay ở thôn Phú Điền ( Hậu Lộc) cạnh đường số 1 vẫn còn có ngôi đền bà Triệu và trên núi Tùng Sơn trước đền còn lăng mộ của bà và một số tướng tá cũng tự vẫn theo bà.

----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 11 phút và 43 giây -----

Quân pháp của Lam Sơn


Đầu mùa xuân năm Ất Tị (1425), sau chiến thắng Bồ Ải, Lam Sơn lần lượt giải phóng hết các huyện của Nghệ An. Khi tiến đến đất Thanh Chương, Lam Sơn được nhân dân vùng này nô nức đem rượu thịt ra đón mừng. Họ nói:

-Không ngờ ngày nay chúng ta lại được trông thấy uy nghi nước nhà!

Lê Lợi rất lấy làm cảm kích, nhưng cũng chính lúc đó, Lê Lợi đã lập tức ban bố những quy định rất nghiêm ngặt. Sách Đại Việt thông sử có chép rằng:

"Vua hạ lệnh rằng:

Nhân dân ta lâu nay đã khốn khổ vì chính trị bạo ngược của quân Minh! Vậy, quân sĩ đến châu huyện nào cũng không được xâm phạm của dân một mảy may. Nếu không phải là trâu bò thóc gạo của nguỵ quan, thì dù có đói lắm cũng không được lấy".

Lúc ấy, quân sĩ có người ba ngày chưa được một bữa ăn mà không ai dám phạm lệnh trên! Về phần nhân dân, thì ai cũng đem trâu bò thóc gạo của người Minh đã tích trữ ra để tiếp tế cho quân ta".

Suốt cuộc trường chinh, quân pháp của Lam Sơn bao giờ cũng được giữ rất nghiêm. Sách Đại Việt thông sử còn chép rằng: việc Lam Sơn xử tử Lý Vân và Bùi Vĩnh vào năm 1427 (năm cuối của phong trào Lam Sơn) như sau:

"Viên thiên hộ là Lý Vân và kẻ tòng phạm là Bùi Vĩnh vì chở trộm muối vào thành Chí Linh, Vua sai giết cả, và đều tịch thu gia sản.

Gia lệnh kiểm điểm khí giới của binh sĩ, kẻ nào thiếu, sẽ trị theo quân luật".

Lam Sơn chiến thắng mấy trận lớn liền, vậy mà vẫn không bị say bởi hơi men của chiến thắng, lại còn tỉnh táo lo nghĩ đến nỗi khổ chất chứa nhiều năm của dân, đội quân ấy mà được lòng dân cũng là phải.

Thà chết đói chứ không tơ hào của dân, cái đức của đội quân nhân nghĩa ấy thật đã toả sáng đến muôn đời. Không có cái đức sáng ấy, dù võ nghệ có cao cường bao nhiêu, dù vũ khí của họ có lợi hại đến bao nhiêu, thì tất cả họ cũng chỉ là một đội quân ô hợp, thất bại là lẽ tất nhiên.

Lý Vân và Bùi Vĩnh ngông nghênh và thủ lợi, họ đã tự giết chết cái đức của họ, lưỡi gươm của phép nước chỉ giết nốt các xác xấu xa của họ mà thôi.

----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 18 phút và 47 giây -----

Lưỡng quốc trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo


Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo là một nhà khoa bảng có tài, ông người làng Bịu, xã Liên Bão huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh. Tục còn gọi là trạng Bịu.

Ông đỗ trạng Nguyên và bắt đầu làm quan trong triều khi vừa 33 tuổi. Làm việc ở toà Đông Các. Ông là người có công trong việc tham gia vào sự nghiệp giáo giục có nhiều tiến bộ của triều đình Lê Trung Hưng.

Bằng uy tín của mình, cùng với tính thẳng thắn trung thực, Nguyễn Đăng Đạo đã dám phê phán những việc còn chưa nghiêm, chưa đúng phép nước của hàng ngũ các chúa Trịnh, khi chúa càng ngày càng tỏ ra lấn lướt các vua Lê. Ông vạch ra cái sai của chúa Trịnh Căn, lúc mới lên ngôi đã định ra lệ cứ vào ngày sóc vọng, các quan mặc áo mũ đại trào sau khi chầu vua phải sang hầu chúa. Các quan đều phải theo, duy chỉ có Nguyễn Đăng Đạo bao giờ vào chầu vua xong cũng quay vào nhà cởi bỏ triều phục, mặc thường phục rồi mới vào phủ chúa. Trịnh Căn không bằng lòng hạch tội ông, Đăng Đạo khẳng khái thưa: "Mũ áo triều đình ban cho là để chầu thiên tử, nay nhà chúa cũng đòi trăm quan làm như thế với mình, e thiên hạ dị nghị là trái với đạo vua tôi.

Trịnh Căn khen Đăng Đạo là Trung quân, thưởng bạc cho ông và bãi bỏ việc đó. Dù làm quan đại thần khi nghe tin quê hương bị úng lụt mất mùa, ông viết thư về khuyên vợ đem hết tài sản ra trợ giúp dân chúng. Nhờ vậy dân làng Bịu đã qua được bước khó khăn. Nhớ ơn ông dân làng đã có lời truyền tụng: "Công đức của tướng công trải muôn đời ghi nhớ khôn cùng...".

Ngoài công việc nội trị, phải kể đến sự đóng góp quan trọng trên trận tuyến bang giao của trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo. Năm 1697, nhận chức chánh sứ, Nguyễn Đăng Đạo dẫn đầu đoàn sứ bộ nước ta đi sứ nhà Thanh với mục đích đòi lại những vùng đất thuộc Tuyên Quang, Hưng Hoá bị quan thổ ti nhà Thanh lấn chiếm trái phép (chuyến đi sứ của trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo kéo dài từ tháng Giêng năm Đinh Sửu 1697 đến tháng 4 năm mậu Dần 1698. Những ngày Nguyễn Đăng Đạo cùng đoàn sứ bộ lưu lại Yên Kinh. Vua quan triều đình nhà Thanh đưa ra nhiều thử thách để thử tài ông. Vua Thanh đưa ra vế đối "Xuân tiêu phong nguyệt". Nguyễn Đăng Đạo đã đối lại một cách tài tình khiến vua Thanh phải khen là "chung đúc cải tạo hoá trong một con người".

Văn tài của Nguyễn Đăng Đạo đã làm kinh ngạc cả triều đình nhà Thanh cùng sứ thần các nước. Vua Thanh phong cho ông là trạng nguyên của Bắc triều, ban mũ áo, võng lọng cho ông vinh quy về nước. Đoàn sứ bộ mỗi khi ghé qua các tỉnh Trung Quốc đều được đón rước long trọng.

Từ xưa sứ thần nước ta trong bất kỳ tình huống nào, trước sự áp chế, thử thách của nước lớn phương Bắc cũng phải rất mực thông minh, mưu trí, ứng đối mau lẹ, giữ vững khí tiết sứ thần của một nước Đại Việt có truyền thống văn hiến, có độc lập chủ quyền, có cương vực riêng... Nguyễn Đăng Đạo đã đạt được phong độ của một vị sứ thần mẫu mực. Kết hợp cương nhu, bằng học vấn uyên thâm trí thức thông tuệ, ông đã dành được một bước thắng lợi khả quan cho cuộc thương lượng về biên giới kéo dài và căng thẳng đến vài chục năm giữa ta và triều đình nhà Thanh, giữ vững được hoà hiếu giữa hai nước.

Trong cuộc nội trị, Nguyễn Đăng Đạo là người cầm quyền chính có năng lực, đức độ, còn trong trường ngoại giao không những ông bảo vệ được quốc thể mà còn làm cho quốc thể thêm long trọng nhờ tài năng siêu việt của mình. Nguyễn Đăng Đạo xứng đáng là tấm gương ngoại giao đại tài của đất nước thời Lê Trung Hưng.

Năm 1719 ông mất, được phong Lại bộ Thượng thư tước Thọ Quận công. Sau khi ông mất vua Lê Dụ Tông tặng ông 4 chữ đại tự "Lưỡng quốc trạng nguyên" và sắc phong cho ông làm thành hoàng làng Liên Bão.

Vua Lê còn có câu đối ở nhà thờ về ông như sau:

Lưỡng quốc trạng nguyên thiên hạ hữu
Trạng nguyên, tể tướng thế gian vô

(Đậu tiến sĩ, làm đến thượng thư thì trong thiên hạ thấy có nhiều, nhưng đậu trạng nguyên, làm đến tể tướng thì hiếm có).

----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 21 phút và 9 giây -----

Phạm Thận Duật: Người góp phần phát động phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19



--- Đinh Xuân Lâm ---



Phạm Thận Duật (1825 - 1885) là nhà sử học, nhà văn hóa lớn và một chí sĩ yêu nước tham gia lãnh đạo phong trào Cần Vương cùng Tôn Thất Thuyết. Tác giả cho rằng có cơ sở để khẳng định Phạm Thận Duật là tác giả (hay đồng tác giả) của "Chiếu cần vương" kêu gọi sĩ phu cả nước đứng dậy kháng Pháp.

Từ một nho sinh nghèo đất Yên Mô (Ninh Bình), sớm mồ côi cha, mẹ phải tần tảo nuôi con, rồi đi học thi đỗ và ra làm quan, cuộc đời Phạm Thận Duật giống như nhiều người khác cùng thời, duy có điều đáng trân trọng là ông sớm bộc lộ phẩm chất của một sĩ phu chân chính.

Ngay từ những ngày đầu ra làm quan, và sau đó suốt trên hoạn lộ dài hơn 30 năm đầy khó khăn gian khổ, kinh qua bao chức vụ từ nhỏ tới lớn, ở địa phương cũng như ở triều đình, Phạm Thận Duật đã tỏ ra là một người có nhiều tài và trong bất cứ công tác nào được giao đều tỏ ra là một người năng động, luôn luôn mang hết sức mình phục vụ, một lòng vì dân vì nước.

Đầu năm 1883, Phạm Thận Duật được triều đình Huế cử cầm đầu phái bộ ngoại giao sang cầu viện nhà Thanh (Trung Hoa) trong việc chống thực dân Pháp lúc đó đã kéo quân ra đánh chiếm nhiều nơi ngoài bắc, thành Hà Nội đã bị chúng chiếm vào sáng 25-4-1882. Chuyến đi sứ không có kết quả vì chính triều Thanh lúc đó cũng đang khốn đốn trước sự tiến công dồn dập của tư bản phương Tây; đã vậy chúng lại còn muốn lợi dụng thời cơ "đục nước béo cò" để điều đình với Pháp kiếm lợi trên xương máu của nhân dân ta. Việc triều đình Mãn Thanh sau đó đã ký Quy ước Thiên Tân với Pháp (11-5-1884) với nhiều điều khoản có lợi cho Pháp trên chiến trường Việt Nam, như rút toàn bộ số quân Thanh trước đó đã sang ta phối hợp với quân triều đình đánh Pháp; cam kết giữ nguyên biên giới phía nam liền kề với Việt Nam, điều đó có nghĩa là để cho quân Pháp được mặc sức hoành hành trên đất Việt Nam. Đó là bằng chứng hiển nhiên của sự tráo trở, phản bội của triều đình nhà Thanh.

Trong tình hình bất lợi đó, Phạm Thận Duật quyết định cho phái bộ ngoại giao xuống tàu về nước, đến đầu năm 1884, toàn bộ phái đoàn đã có mặt tại kinh thành Huế. Tình hình Việt Nam nói chung, tình hình triều đình Huế nói riêng lúc này vô cùng bi đát. Sau cái chết của vua Tự Đức (17-7-1883) là việc quân Pháp đổ bộ chiếm cửa biển Thuận An (20-8-1883) dùng áp lực quân sự buộc triều đình Huế ngày 25-8-1883 ký Hiệp ước Quý Mùi, còn được gọi là Hiệp ước Harmand theo tên viên đại diện Pháp, với nhiều điều khoản nặng nề có hại cho sự tồn vong của dân tộc. Liền sau đó là nạn trong bốn tháng có ba ông vua thay nhau lên ngôi, để cuối cùng một thiếu niên là Ưng Lịch được phái chủ chiến trong triều đình Huế do Tôn Thất Thuyết - Phụ chính đại thần kiêm Thượng thư bộ Binh đứng đầu, đặt lên ngôi vua (tức vua Hàm Nghi).

Chính trong thời gian đó, quân Pháp sau khi thắng thế tại kinh thành Huế đã quay ra bắc đánh chiếm nhiều nơi. Đất nước lúc này đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, nguy cơ mất nước ngày một ngày hai có thể xảy ra. Vừa về tới Huế, sau khi báo cáo tình hình chuyến đi sứ với triều đình, Phạm Thận Duật đã được đích thân Tôn Thất Thuyết - người có quyền uy lớn nhất trong triều đình Huế bấy giờ, thông báo rõ mọi tình hình, từ sự phân hóa kịch liệt trong nội bộ triều đình, đến mối tương quan lực lượng giữa hai phái chủ hòa và chủ chiến, tất nhiên là cả âm mưu trước mắt và lâu dài của thực dân Pháp. Vốn là một sĩ phu yêu nước chân chính gắn bó với vận mệnh Tổ quốc, với số phận nhân dân, Phạm Thận Duật ngay từ giờ phút đầu đã không một chút băn khoăn do dự và dứt khoát đứng về phía kháng chiến. Nhưng thời cơ hành động chưa tới, còn phải náu mình chờ thời, nuôi dưỡng sức lực. Ông đã lãnh nhiệm vụ Thượng thư bộ Hộ cùng với Tôn Thất Thuyết giữ chức Thượng thư bộ Binh và Nguyễn Văn Tường, giữ chức Thượng thư bộ Lại là ba bộ quan trọng nhất của triều đình để cùng lo việc nước, ra sức củng cố triều đình về các mặt quân sự, hành chính, thuế má đợi khi thời cơ tới là nổi dậy đánh Pháp khôi phục chủ quyền dân tộc. Chính trong thời gian này ông thay mặt triều đình Huế ký Điều ước Giáp Thân (6-6-1884), còn được gọi là Điều ước Patenôtre theo tên viên đại diện Pháp. Nhưng cũng chính trong thời gian này ông đã cho xây dựng những đồn phòng thủ dọc đường biên giới phía tây (đồn Sơn Phòng), đặc biệt là sơn phòng Tân Sở (tỉnh Quảng Trị), chuẩn bị khi cần triều đình Huế có thể rút ra xây dựng thành căn cứ địa, lập "Thủ đô kháng chiến". Sau khi các đồn Sơn Phòng được xây dựng xong, lại bí mật cho chuyển vận các vũ khí đạn dược ra, bố trí các trại lính, kho tiền, kho lúa... chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến đấu mà phái kháng chiến biết nhất định sẽ xảy ra.

Cũng cần thấy rõ là ngay trong khi cầm đầu phái đoàn triều đình cùng phái đoàn Pháp thương lượng đi đến ký Điều ước Giáp Thân (1884), mặc dù bị đặt vào thế yếu, trưởng đoàn ngoại giao Phạm Thận Duật đã kiên quyết đấu tranh, giành giật được một số điều khoản có lợi cho phong trào Cần Vương về sau. Như đòi lại các tỉnh Bình Thuận và Thanh - Nghệ - Tĩnh cho triều đình Huế, bốn tỉnh này đã hưởng ứng kịp thời và mạnh mẽ ngay sau khi phong trào Cần Vương bùng nổ (7-1885). Cũng như các điều khoản về điều kiện đóng quân của Pháp trên đất Việt Nam nói chung và tại kinh thành Huế nói riêng được quy định rất chặt chẽ, có lợi cho Pháp, nhưng tuyệt nhiên không đề cập số phận của quân đội triều đình, ở kinh thành cũng như ở các tỉnh, điều đó rất có lợi cho phái kháng chiến khi chiến sự xảy ra. Đó là chưa nói tới việc quân Pháp không được phép vào đóng trong thành Huế để theo dõi, giám sát mọi hoạt động của quân đội triều đình.

Rất tiếc, những hoạt động chuẩn bị chống thực dân Pháp cũng như ý định lâu dài của phái kháng chiến trong triều đình Huế đã bị thực dân Pháp biết được. Càng ngày thực dân Pháp càng thấy rõ Tôn Thất Thuyết là trở ngại lớn nhất cho việc hoàn thành âm mưu độc chiếm Việt Nam của chúng nên bằng bất cứ giá nào chúng phải tìm cách gạt bỏ ông ra khỏi triều đình. Mối quan hệ giữa phái chủ chiến trong triều đình Huế với bè lũ thực dân Pháp và tay sai đã trở nên căng thẳng cực độ. Nắm rõ âm mưu của chúng là bắt cóc, và nếu cần thiết thì thủ tiêu Tôn Thất Thuyết, phái kháng chiến đã kịp thời và chủ động nổ súng tiến công các căn cứ Pháp ở Huế (đêm 4-7-1885). Nhưng do việc chuẩn bị chưa chu đáo, so sánh lực lượng lại nghiêng về phía kẻ thù cho nên cuộc tiến công của quân đội triều đình nhanh chóng thất bại. Ngay sau đó, Tôn Thất Thuyết đã cùng với Phạm Thận Duật đưa vua Hàm Nghi chạy ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị), rồi lấy danh nghĩa nhà vua đã ban bố Chiếu Cần Vương (13-7-1885) kêu gọi sĩ phu và nhân dân cả nước một lòng đứng lên đánh giặc Pháp cứu nước, khôi phục độc lập dân tộc đã bị kẻ thù tước đoạt.

Nhân nói tới "Chiếu Cần Vương", có ý kiến khẳng định chính Phạm Thận Duật là tác giả, ít ra cũng là "đồng tác giả" với các đại thần chủ chiến trong Viện Cơ Mật của triều đình. ý kiến trên rất có cơ sở: trong số các quan lại của đoàn vua Hàm Nghi chạy ra bắc lúc đó thì về mặt văn tài Phạm Thận Duật là người đứng đầu, ông đã từng dạy các hoàng tử, đi chấm thi Hội, duyệt sách lịch sử của triều đình. Với tư cách là một "Cơ mật đại thần", tất nhiên ông có được dự bàn vào việc quyết định những việc lớn của Nhà nước lúc bấy giờ. Hơn nữa những tư tưởng, chủ trương cùng đường lối hành động được ghi trong tờ Chiếu đều hoàn toàn phù hợp tinh thần yêu nước chống xâm lược của ông từng được chứng minh hùng hồn và rực rỡ qua cuộc đời và hành trang của ông trước đó.

----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 22 phút và 38 giây -----

Nguyễn Gia Châu: Đức khiêm của một vị tướng


Quận công Nguyễn Gia Châu quê ở Thuận Thành, Bắc Ninh chính là ông nội danh nhân Nguyễn Gia Thiều. Từ thuở nhỏ Nguyễn Gia Châu đã tinh thông võ nghệ, biệt tài bắn cung, hiểu kinh sử lễ nghĩa. Năm Lê Chính Hoà thứ 22 (1701), Nguyễn Gia Châu mới 23 tuổi xin đấu võ với một viên Chánh đề lĩnh, người tự phụ là giỏi võ nhất triều. Mọi người đều lo lắng cho tráng sĩ trẻ, nhưng Nguyễn Gia Châu đã dành thắng lợi vẻ vang, được phong chức Đô chỉ huy thiêm sự. Về sau ông được phong chức Chánh đề lĩnh kiêm trấn thủ Thái Nguyên, trấn thủ ở các trấn Hải Phòng, An Bang, Kinh Bắc, Sơn Nam, Nghệ An...

Nguyễn Gia Châu đã hai lần giữ chức trấn thủ Nghệ An hơn 40 năm. Thời Trịnh- Nguyễn phân tranh, Nghệ An là mặt trận tiền tiêu, nơi suy yếu của đàng ngoài. Một mặt ông tổ chức yên dân khai hoang lập ấp, mặt khác ông cử người tâm phúc vào phía Nam giảng hoà. Vì vậy suốt những năm ông giữ chức trấn thủ Nghệ An, hai bên đã không xảy ra giao chiến.

Do những thành tích đó, ông được triều đình thăng chức Hữu đô đốc và ban áo bào xanh có 24 hình rồng 5 móng, 18 chiếc tàn xanh, đồ nghi trượng, lễ bộ như bậc vương giả.

Người đời tôn ông là "Chúa Lưu đồn". Năm 1744 có bão to, 5 thuyền buôn nước ngoài bị đắm ở vùng biển Nghệ An, ông cho thuyền ra cứu được người bị nạn, lại cấp tiền, cấp thuyền và tặng sản vật địa phương cho họ về nước. Năm năm sau họ lại đến đem theo nhiều hàng hoá để tạ ơn. ông nói: "Làm việc nghĩa chớ kể công". Mặc dù họ khẩn khoản xin tặng, ông chỉ nhận một đôi ngà, một viên kim cương để dâng lên triều đình.

Năm 1752, Nguyễn Gia Thiều xin nghỉ hưu, các quan đồng triều tặng đôi câu đối:

Nhất đại tông thần thiên hạ hữu
Tam triều thống suất thế gian vô

Năm sau ông được phục chức. Dù đã 76 tuổi, ông vẫn bắn cung cho vua Lê xem. Chỉ một phát trúng ngay hồng tâm.

Khi Nguyễn Gia Châu mất, vua Lê Hiển Tông ban sắc phong Phúc thần cho dân làng thờ với tước hiệu ý túc đại vương, đánh giá ông là phên dậu ở phía Nam, là điển hình nơi triều chính, là bậc quân tử khiêm cung, vẹn toàn không tì vết.

----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 23 phút và 54 giây -----

Hai chiến thắng oanh liệt của Nguyễn Trung Trực


Hưởng ứng Chiếu cần vương, Nguyễn Trung Trực (1837-1868) đã chiêu mộ nông dân đứng dậy chống thực dân Pháp. Ông lập hai chiến công vang dội đốt cháy tàu Hy Vọng của Pháp và tiêu diệt đồn Kiên Giang. Năm 1868, ông bị bắt và trước khi bị hành hình, ông để lại câu nói bất hủ: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người nước Nam đánh Tâỵ"

Nguyễn Trung Trực (còn có tên là Nguyễn Văn Lịch, thường quen gọi là Quản Lịch) vốn nhà nghèo, ngoài nghề làm ruộng còn làm nghề chài lưới. Khi thực dân Pháp kéo vào xâm lược, Nguyễn Trung Trực cũng như nhiều người yêu nước khác, đã đứng ra chiêu mộ nghĩa binh để phối hợp với quân đội chính quy của triều đình chống giặc. Ngày 10-12-1861, đội nghĩa binh do ông cầm đầu đã giáng cho quân Pháp một đòn khủng khiếp làm cho chúng bạt vía kinh hồn. Đó là trận đánh úp tàu Hy Vọng (L'Espérance) trên sông Nhật Tảo.

Nguyên quân Pháp tại thôn Nhật Tảo thuộc Tân An không dám đóng ở trên bờ vì sợ bị nghĩa quân tập kích, chúng phải đặt trụ sở ở trên chiếc tàu chiến mang tên Hy Vọng đậu chơ vơ giữa dòng sông rộng, còn ở trên bờ thì chỉ để ngụy binh đóng làm bình phong yểm hộ khi cần thiết. Nắm vững tình hình đó, Nguyễn Trung Trực một mặt cho bố trí 30 nghĩa quân mai phục trên bờ để giam chân bọn ngụy binh, mặt khác cho một toán nghĩa quân kéo tới gần thôn Nhật Tảo khiêu chiến, nhử quân Pháp đóng ở trên tàu vào bờ. Mắc mưu "lừa hổ ra khỏi núi" của Nguyễn Trung Trực, tên chỉ huy tàu vội phái một toán quân dời tàu lên bờ đuổi đánh nghĩa quân. Thừa cơ hội lực lượng địch trên tàu giảm bớt, Nguyễn Trung Trực dẫn đầu một đoàn năm chiếc thuyền buôn có mui che kín - trong thuyền chở 50 nghĩa quân chứ không phải là hàng hóa - thong thả chèo lại gần chiếc tàu Hy Vọng để xin giấy thông hành như các thuyền buôn khác qua lại vẫn thường làm. Quân Pháp trên tàu hoàn toàn mất cảnh giác, để cho đoàn thuyền lại gần. Khi năm chiếc thuyền vừa cập sát mạn tàu thì Nguyễn Trung Trực cùng các chiến sĩ nhất tề vung giáo nhảy sang tàu địch. Nghĩa quân dùng búa đập phá nền tàu, nhưng không chuyển. Họ bèn phóng lửa đốt cháy trụi cả tàu, tiêu diệt toàn bộ quân Pháp còn lại trên tàu.

Thực dân Pháp phải công nhận rằng chiến thắng oanh liệt ở Nhật Tảo này là một biến cố đau đớn đối với chúng và làm cho tinh thần người Việt phấn khởi.

Sau chiến thắng Nhật Tảo, Nguyễn Trung Trực đã được triều đình thăng chức hai lần, đồng thời cũng được lệnh dời quân ra Phú Yên. Nhưng nhận rõ âm mưu phá hoại kháng chiến của triều đình trong việc này, ông đã cương quyết chống lại lệnh của triều đình như Trương Định đã làm.

Ở lại tiếp tục cùng nhân dân chống Pháp, bảy năm sau chiến thắng Nhật Tảo, Nguyễn Trung Trực lại ghi thêm một chiến công mới vang dội trong lịch sử chống giặc Pháp xâm lược của dân tộc ta. Đó là trận tấn công tiêu diệt đồn Kiên Giang (nay là thị xã Rạch Giá).

Bấy giờ thực dân Pháp đã được triều đình nhà Nguyễn cắt nhượng nốt ba tỉnh miền tây Nam Kỳ. Nhưng miền An Giang, Hà Tiên hẻo lánh cùng với đảo Phú Quốc đã được Nguyễn Trung Trực và nghĩa quân của ông gồm cả Việt lẫn Khmer, xây dựng thành căn cứ chống Pháp. Hòn Chông ở sát ven biển được chọn làm trung tâm của căn cứ. Từ đây nghĩa quân có thể mở rộng địa bàn hoạt động, kiểm soát cả miền biển phía tây, đồng thời có thể rút ra Phú Quốc khi cần thiết.

Trước lực lượng nghĩa quân ngày càng mạng, quân Pháp hết sức lo lắng. Chúng tập trung lực lượng ở đồn Kiên Giang, biến đồn này thành một căn cứ kiên cố ở miền tây để có thể phá vỡ các cơ sở của nghĩa quân ở trên đất liền, đồng thời có thể dùng Kiên Giang làm bàn đạp tấn công Hòn Chông từ mặt biển.

Đoán biết âm mưu của giặc, Nguyễn Trung Trực một mặt tích cực vận động ngụy quân trong đồn ngả về phía nghĩa quân, mặt khác gấp rút chuẩn bị lực lượng để chủ động tấn công.

Ngày 15-6-1868, từ Hòn Chông, Nguyễn Trung Trực đem hơn trăm nghĩa quân vượt biển, bí mật đổ bộ lên vùng Trà Niên (ven biển gần đồn Kiên Giang). Vừa đặt chân lên đất liền, ngay đêm đó, ông lại đem quân mau lệ kéo thẳng về Rạch Giá bao vây đồn Kiên Giang. Địch ở trong đồn Kiên Giang không hề hay biết về hoạt động của nghĩa quân. Bốn giờ sáng ngày 16-6-1868, thừa lúc địch đang ngủ say, quân canh gác sơ hở, nghĩa quân đã trèo tường lọt vào đồn một cách hết sức mau lẹ. Bị đánh hoàn toàn bất ngờ, địch không kịp trở tay đối phó. Những tên chỉ huy đều bị tiêu diệt. Như rắn mất đầu, quân Pháp hết sức hoảng sợ, hỗn loạn, không tên nào có đủ thời giờ và can đảm để lên đạn lần thứ hai. Ngụy quân trong đồn đã được vận động từ trước cũng hăng hái tham gia chiến đấu cùng với nghĩa quân. Cuộc chiến đấu kết thúc nhanh chóng, toàn bộ quân Pháp trong đồn bị tiêu diệt và hơn một ngày sau, địch ở các đồn khác mới biết tin này.

Để ghi nhớ lần chiến thắng oanh liệt trên đây của Nguyễn Trung Trực, một nhà thơ đương thời là Huỳnh Mẫn Đạt đã làm tặng ông bài thơ, trong đó có câu:

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa,
Kiếm bạt Kiên Giang khốc quỷ thần.

Dịch là:

Sông Nhật Tảo lửa hồng rực cháy, tiếng vang trời đất,
Đồn Kiên Giang lưỡi kiếm tuốt ra, quỷ thần sợ khóc.

----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 31 phút và 34 giây -----

Tướng quân Đinh Điền và ngôi chùa cổ



--- Tạ Hữu Yên ---



Cùng quê làng đại Hữu, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và cùng ngày sinh với đinh Bộ Lĩnh - năm Giáp Thân 924, đinh điền là vị tướng có tài, được xem như cánh tay đắc lực của ông Vua Cờ Lau thuở nhỏ.

Trong cuộc dẹp "Loạn 12 sứ quân", ông và tướng quân Nguyễn Bặc đã bao lần vào sinh ra tử, đóng góp chiến công xứng đáng để xóa bỏ sự cát cứ, loạn lạc, thống nhất nước nhà về một mối. Năm 968, Vạn Thắng Vương đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, hiệu là đại Thắng Minh Hoàng đế, danh tướng đinh điền được vua đinh cử giữ chức "Nhập nội Kiểm giáo đại Tư đồ, Bình Chương trọng sự, Nội tổng vạn cơ, Ngoại nhương tứ cảnh". Thời ấy, tất cả các công vụ trong triều gọi là Nội giáp, còn mọi công vụ ngoài triều gọi là Ngoại giáp. Tướng đinh điền được giao trọng trách lớn: coi giữ cả vạn cơ phía trong và gánh vác cả việc biên viễn - phía ngoài.

Khi Lê Hoàn lên cầm quyền, Nguyễn Bặc và ông chống lại, vì như ông nói: "Ta và Tiên đế - chỉ đinh Tiên Hoàng... cùng họ, nỡ nào để cơ đồ nhà đinh sang tay người khác". Trong một trận đánh, Lê Hoàn dùng kế hỏa công, ông đã ngã xuống nơi trận tiền.

Ngày nay, tại làng Lều, tức thôn Yên Liêu Hạ, huyện Yên Mô - nơi ông bà dựng lều cỏ đầu tiên, vẫn còn những "dấu tích lịch sử": Làng Gạo - nơi ông cho chứa kho gạo; làng Lợn - nay gọi là làng Luận - nơi chăn nuôi nhiều lợn; cánh đồng Văn Giáo - nơi cất giấu vũ khí thời ấy, giáo mác, gậy gộc, cung nỏ...

Đền thờ đinh điền nằm ở xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô, bên cạnh chùa Tháp thờ Phật và miếu thờ thủy thần.

Đền được xây theo kiểu chữ "Nhị", mặt hướng về phía Tây Nam. Tòa tiền đường ba gian, cột, kèo, xà ngang, xà dọc toàn gỗ lim. Bốn hàng cột lim đặt trên đá tảng, nâng vòm mái lợp bằng ngói vẩy đã phủ xanh màu rêu thời gian. Những trục đấu được chạm khắc hổ phù, đường nét khá tinh vi.

Tòa chính cung gồm ba gian, dài gần 8 mét. Phía ngoài, bốn hàng cột lim, phía trong, thêm bốn hàng cột lim nữa. Nhìn những trụ đấu, xà kèo, con ngang, tất cả đều chạm khắc hình "lá lật". Trên thượng hương có hàng chữ "Trùng tu năm Thành thái thứ 15-1889". Gian giữa chính cung, đặt tượng đinh điền. đây là pho tượng đồng, ngồi, cao 1,10m, chu vi 1,05m, được sơn thếp vàng. Một mũ triều phục được đặt trong ngai gỗ, tay ngai khắc rồng chầu. Pho tượng được gắn vào bệ đá, vô cùng vững chắc. Gian bên phải, thờ vợ ông - bà Thượng Trân Trưởng công chúa. Gian bên trái, thờ Kiều Mộc thiền sư, thầy dạy ông về kinh Phật.

Đặc biệt, phía sau chùa có ngôi tháp cao 8 mét, xây bằng gạch cổ, khổ to, màu gan gà, được trang trí hoa văn công phu. Chính vì ngọn tháp này - nơi đặt xá lỵ của đinh điền - quần thể di tích này mới mang tên Chùa Tháp. Chùa đứng giữa đồng, trên một khu đất cao, rộng 2 mẫu 2 sào, cách đường 59 - con đường trải giữa huyện Yên Mô - chừng 800 mét.

Trong ánh nến đỏ lung linh, pho tượng đồng Đinh Điền sáng rực lên...

----- Bài viết này được namminh thêm vào sau 32 phút và 45 giây -----

Cầu lời nói thẳng lo việc nước


--- Bùi Xuân Đính ---



Sử cũ còn ghi, nhiều bậc "minh quân" có tinh thần cầu thị, biết lắng nghe ý kiến của quần thần, đã khuyến khích các quan và thần dân trong cả nước được nói những lời thẳng thắn về những điều hay dở của chính sự, những mặt được và chưa được trong cách trị vì đất nước. Tinh thần cầu thị đó thông qua việc ban hành "Chiếu cầu lời nói thẳng", góp phần tìm ra những giải pháp khắc phục, sửa chữa thiếu sót để "nước nhà được hưởng phúc lớn".

Lần đầu tiên "Chiếu cầu lời nói thẳng" được ban bố vào tháng tư năm Bính Thìn, niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng đời vua Lý Nhân Tông (1076). Rất tiếc sử cũ không cho biết nội dung của chiếu này.

Thời Lê Sơ, vào ngày 26 tháng hai năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên (1429), vua Lê Thái Tổ lệnh cho các ngôn quan (quan có trách nhiệm can gián vua và đàn hặc các quan) rằng: "Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc, thuế má nặng nề, ngược hại lương dân, thưởng công phạt tội không theo đúng phép xưa; hay các quan không giữ phép, nhận hối lộ, nhiễu hại lương dân, thiên tư phi pháp thì phải lập tức dâng sớ đàn hặc ngay". Nội dung của lệnh này (có giá trị pháp lý như tờ chiếu) hàm chứa việc vua cho phép trăm họ được thẳng thắn nói ra những điều bất ổn trong cách cai quản đất nước của mình, những tệ nạn do quan lại gây ra.

Thời vua Lê Thái Tông, ngày 27 tháng 5 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Thiệu Bình (1438), vì thấy có nhiều tai dị (hạn hán, sâu bệnh, sét đánh vào vườn cây trước cửa Thái miếu ở Lam Kinh), vua xuống chiếu cho trăm quan. Trong tờ chiếu, Lê Thái Tông đã "tự vấn mình" rằng, phải chăng những tai dị xảy ra liên tiếp trong mấy năm có nguyên nhân ở việc vua không lo sửa đức để mọi việc bê trễ; do quan tể phụ bất tài xếp đặt chính sự không điều hòa; do nạn hối lộ công khai nên hình ngục có nhiều oan trái; do làm nhiều công trình thổ mộc để sức dân mệt mỏi; do thuế má nặng nề nên trăm dân bị túng thiếu. Từ chỗ "tự trách mình", vua đại xá cho thiên hạ rồi ra lệnh: "Tất cả các đại thần văn võ nên chỉ ra những lỗi lầm kể trên, cứ thẳng thắn nói hết, đừng kiêng nể gì, để có thể xoay chuyển được lòng trời, chấm dứt được tai biến, để nước nhà mãi mãi hưởng phúc lớn vô cùng". Với tờ chiếu này, vị vua trẻ tuổi nhà Lê đã thể hiện tinh thần cầu thị rất cao trước trăm quan và thần dân. Ông tự thấy mình có lỗi trong công việc sửa đức, trong chính lệnh để lòng người, lòng dân không yên, từ đó động đến "lòng trời" nên xảy ra nhiều tai dị liên tiếp. Vì thế, vua cho phép và mong mỏi quan, dân vạch ra những lỗi lầm và chỉ ra những giải pháp khắc phục để "nước nhà mãi mãi được hưởng phúc lớn".

Thời Lê Nhân Tông, ngày 2 tháng 2 năm Quý Hợi (1443), cũng do có nhiều tai ương xảy ra, vua xuống chiếu có nội dung "tự trách mình" như tờ chiếu của vua cha nêu ở trên. Lê Nhân Tông cho rằng, những tai dị xảy ra là do vua mới lên ngôi, chưa biết giảm nhẹ thuế khóa, lao dịch; do việc cai ngục không công bằng, nạn hối lộ công khai, án xử còn nhiều oan khuất, do bọn gièm pha âm mưu xảo quyệt để công thần bị nhiều oan ức; do kẻ tiểu nhân được tiến dùng, còn người quân tử thì lui đường ở ẩn; do bọn phi tần lộng hành; do phụ quốc đại thần điều hòa trái lẽ; do chức thú lệnh chưa chọn được người giỏi... Từ đó, vua "lệnh cho khắp quan lại, quân, dân đều phải hết lòng bày tỏ những điều có thể xoay chuyển được lòng trời, dẹp hết tai biến, hãy nói thẳng ra, chớ nên ẩn giấu, để trẫm sửa những điều thiếu sót".

Như vậy, cũng như vua cha, Lê Nhân Tông có thái độ cầu thị nghiêm túc.

Thời vua Lê Thánh Tông, vào tháng 4 năm Nhâm Ngọ (1462), nhân có tai biến về mưa đá và giông tố, nhà vua cũng xuống chiếu cầu lời nói thẳng, song sử cũ không cho biết về nội dung cụ thể của tờ chiếu này.

Thời Lê-Trịnh, vào tháng 5 năm Canh Tý (1720), vì hạn hán, chúa Trịnh Cương trưng cầu lời nói thẳng "cho phép văn võ bách quan được dâng thư niêm phong điều trần về chính sự, cứ nói rõ ràng hết lời về việc được việc hỏng, việc hay việc dở, không được giấu giếm kiêng kỵ.

Dưới triều Tây Sơn, vào tháng 5 năm ất Mão (1795), vua Cảnh Thịnh cũng xuống chiếu cầu lời nói thẳng. Tờ chiếu do Ngô Thì Nhậm thảo cho vua, vạch rõ nguyên nhân của tình trạng khẩn cấp là "trong thì triều đình, ngoài thì châu quận, xa thì biên ải, kỷ cương chưa được thiết lập, chấn chỉnh, nhiều chỗ sai lầm; việc quan lại cai trị; việc binh cơ dân chính còn nhiều thiếu sót, lấp chỗ này thì hở chỗ kia... Tệ trễ biếng do lòng tự mãn sinh ra, tích tụ chất chứa đã lâu, không sao kể xiết". Từ đó vua mong mỏi thần dân nêu ý kiến tìm cách khắc phục tình trạng xã hội rối ren. Vua "sẵn lòng nghe theo lời nói phải để thi hành ra chính sự, mong đổi được lệ tục, làm được việc hay".

Sang triều Nguyễn, vua Gia Long, Minh Mệnh cũng đã nhiều lần ban chiếu cầu lời nói thẳng, nhưng các đối tượng được phép nói, bị hạn chế hơn.

Việc xuống chiếu cầu lời nói thẳng của các triều đại thể hiện phần nào tinh thần cầu thị lắng nghe ý kiến của quan lại và thần dân, đó cũng là tinh thần trách nhiệm cao trước sứ mệnh trị nước an dân của một số vị hoàng đế Đại Việt.

virus13
05-03-2008, 11:26 AM
I. Thế Tổ Cao Hoàng Đ ế (1778-1820)
Năm Mậu Tuất (năm thứ 39 hiệu Cảnh Hưng nhà Lê : năm thứ 43 hiệu Càn Long nhà Thanh bên
Tàu : 1778), Ngài mới 17 tuổi, đóng ở Sài gòn, các quan tôn Ngài làm Nguyên Soái, quyền coi việc nước.
Năm Canh Tí (năm thứ 41 hiệu Cảnh Hưng nhà Lê : năm thứ 45 hiệu Càn Long nhà Thanh :
1780), Ngài 19 tuổi, lên ngôi Vương.
Năm Nhâm Tuất (năm thứ 7 hiệu Gia Khánh nhà Thanh : 1802) Ngài 41 tuổi mới lên ngôi Hoàng
Đế, kỷ nguyên Gia Long, ở ngôi 18 năm, thọ 58 tuổi.
II. Thánh Tổ Nhơn Hoàng Đ ế (1820-1841)
Năm Canh Thìn (năm thứ 25 hiệu Gia Khánh nhà Thanh : 1820), Ngài 30 tuổi, nối ngôi, kỷ
nguyên Minh Mạng, ở ngôi 21 năm, thọ 50 tuổi.
III. Hiến Tổ Chư ơng Hoàng Đ ế (1841-1848)
Năm Tân Sửu (năm thứ 21 hiệu Đạo Quang nhà Thanh : 1841), Ngài 35 tuổi, nối ngôi, kỷ
nguyên Thiệu Trị, ở ngôi 7 năm, thọ 41 tuổi.
IV. Dực Tôn Anh Hoàng Đ ế (1848-1884)
Năm Mậu Thân (năm thứ 28 hiệu Đạo Quang nhà Thanh : 1848), Ngài 18 tuổi, nối ngôi, kỷ
nguyên Tự Đức, ở ngôi 36 năm, thọ 55 tuổi.
Cung Tôn Huệ Hoàng Đ ế (1884)
(Phụ chép)
Khi Ngài 32 tuổi, Đình thần phụng di chiếu lập lên, cư tang mới được 3 ngày, bị bỏ, đến triều
Thành Thái mới truy tôn.
Phế Đ ế (1884)
(Phụ chép)
4 Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu - Miếu Hiệu Liệt Thánh
Nguyên phong Lãng Quốc Công ; khi Ngài 37 tuổi thời Tự Quân là Đức Cung Huệ bị bỏ, Đình
thần rước Ngài nối ngôi, nghị định năm sau sẽ đặt niên hiệu Hiệp Hòa, nhưng nối ngôi mới được 4 tháng
10 ngày, bị thí, việc ấy cũng đương trong năm Tự Đức thứ 36.
V. Giản Tôn Nghị Hoàng Đ ế (1884-1885)
Năm Giáp Thân (năm thứ 10 hiệu Quang Tự nhà Thanh : 1884) , Ngài 15 tuổi, nối ngôi, kỷ
nguyên Kiến Phúc, ở ngôi 1 năm, thọ 16 tuổi.
Xuấ t Đ ế (1885)
(Phụ chép)
Năm Ất Dậu (năm thứ 11 hiệu Quang Tự nhà Thanh : 1885), Ngài 14 tuổi, nối ngôi, kỷ nguyên
Hàm Nghi, ở ngôi 11 tháng (từ tháng 6 năm Giáp Thân đến tháng 5 năm Ất Dậu), rồi cũng bá thiên1.
VI. Cảnh Tôn Thuần Hoàng Đ ế (1886-1888)
Năm Bính Tuất (năm thứ 12 hiệu Quang Tự nhà Thanh : 1886), Ngài 22 tuổi, nối ngôi, kỷ
nguyên Đồng Khánh, ở ngôi 3 năm, thọ 25 tuổi.
Lời Phụ Chú: Sách này biên chép khởi từ năm Nhâm Tuất là năm thứ 1 hiệu Gia Long, đức Thế
Tổ lên ngôi Hoàng Đế, cho đến năm Mậu Tý là năm Đồng Khánh thứ 3, cộng 87 năm.
Nếu kể từ năm Mậu Tuất, đức Thế Tổ nhiếp chính2 cho đến năm Mậu Tý, cộng được 111 năm.
Thống kê từ năm Mậu Ngọ, đức Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế3 vào trấn Thuận Hóa cho đến năm
Đồng Khánh thứ 3, cộng được 331 năm.