maiphung
01-11-2008, 08:26 PM
Khi tiếng Việt là ngoại ngữ
Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, vào thời điểm cuối năm học trước, cả nước có 19.217 HS tiểu học bỏ học, tập trung chủ yếu ở khu vực khó khăn: vùng núi phía Bắc, miền Trung, Tây nguyên. Một trong những nguyên nhân quan trọng là HS không nói được tiếng phổ thông, hạn chế giao tiếp dẫn đến hạn chế nhận thức, không tiếp thu được bài giảng và bỏ học.
Tại Gia Lai, Bộ GD-ĐT đã thí điểm áp dụng mô hình lớp học cho HS giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc) là chủ yếu. Lớp học cũng được trang trí mang bản sắc dân tộc của các em, cô giáo có nhiệm vụ sưu tầm đồ dùng dạy học gần gũi với cuộc sống của HS, những bài hát, bài thơ dạy cho HS cũng được lấy từ kho tàng dân gian mang đặc trưng của các dân tộc do các nghệ nhân tìm kiếm giúp...
Đây là cách để HS hứng thú, gắn bó với lớp học, bạn bè, cô giáo trước khi khai phá lĩnh vực mới mẻ là tiếng Việt và các môn học chung. Giải pháp dạy “song ngữ” được tiếp nối từ mô hình này. Theo đó, HS lớp 1, 2, 3 sẽ được dạy học với ngôn ngữ của dân tộc mình. Ngôn ngữ mẹ đẻ là phương tiện để HS tiếp cận với kiến thức, kỹ năng của các môn học. HS sẽ được học tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của các em.
Tuy nhiên, mô hình này gặp khó khăn khi có những vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người ở xen kẽ, một lớp học có đến 4-5 HS dân tộc khác nhau. Hơn nữa, muốn duy trì lớp, giáo viên phải biết rất rõ về tập quán và ngôn ngữ của các dân tộc ít người. Do đặc điểm một số môn học, tiếng dân tộc không đủ để chuyển tải kiến thức, nhất là các môn khoa học tự nhiên.
Theo bà Hoàng Thị Hương, Vụ Giáo dục mầm non (Bộ GD-ĐT), nếu không có giáo viên thạo cả tiếng Việt và tiếng dân tộc thì phải áp dụng hình thức có trợ giảng. Nhưng với mô hình trợ giảng phải có kinh phí trả lương, phải tìm được trợ giảng là người dân tộc có trình độ, thậm chí ít nhiều có nghiệp vụ sư phạm. Vai trò của trợ giảng giống như phiên dịch!
Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, vào thời điểm cuối năm học trước, cả nước có 19.217 HS tiểu học bỏ học, tập trung chủ yếu ở khu vực khó khăn: vùng núi phía Bắc, miền Trung, Tây nguyên. Một trong những nguyên nhân quan trọng là HS không nói được tiếng phổ thông, hạn chế giao tiếp dẫn đến hạn chế nhận thức, không tiếp thu được bài giảng và bỏ học.
Tại Gia Lai, Bộ GD-ĐT đã thí điểm áp dụng mô hình lớp học cho HS giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc) là chủ yếu. Lớp học cũng được trang trí mang bản sắc dân tộc của các em, cô giáo có nhiệm vụ sưu tầm đồ dùng dạy học gần gũi với cuộc sống của HS, những bài hát, bài thơ dạy cho HS cũng được lấy từ kho tàng dân gian mang đặc trưng của các dân tộc do các nghệ nhân tìm kiếm giúp...
Đây là cách để HS hứng thú, gắn bó với lớp học, bạn bè, cô giáo trước khi khai phá lĩnh vực mới mẻ là tiếng Việt và các môn học chung. Giải pháp dạy “song ngữ” được tiếp nối từ mô hình này. Theo đó, HS lớp 1, 2, 3 sẽ được dạy học với ngôn ngữ của dân tộc mình. Ngôn ngữ mẹ đẻ là phương tiện để HS tiếp cận với kiến thức, kỹ năng của các môn học. HS sẽ được học tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ của các em.
Tuy nhiên, mô hình này gặp khó khăn khi có những vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người ở xen kẽ, một lớp học có đến 4-5 HS dân tộc khác nhau. Hơn nữa, muốn duy trì lớp, giáo viên phải biết rất rõ về tập quán và ngôn ngữ của các dân tộc ít người. Do đặc điểm một số môn học, tiếng dân tộc không đủ để chuyển tải kiến thức, nhất là các môn khoa học tự nhiên.
Theo bà Hoàng Thị Hương, Vụ Giáo dục mầm non (Bộ GD-ĐT), nếu không có giáo viên thạo cả tiếng Việt và tiếng dân tộc thì phải áp dụng hình thức có trợ giảng. Nhưng với mô hình trợ giảng phải có kinh phí trả lương, phải tìm được trợ giảng là người dân tộc có trình độ, thậm chí ít nhiều có nghiệp vụ sư phạm. Vai trò của trợ giảng giống như phiên dịch!