PDA

View Full Version : Bản biên dịch A Princess of Mars


binhchi
03-07-2008, 03:36 PM
Tạm thời post ở đây chờ Mod cho đúng chổ.
Chương 1: On the Arizona Hills

I am a very old man; how old I do not know. Possibly I am a hundred, possibly more; but I cannot tell because I have never aged as other men, nor do I remember any childhood.
Tôi là một ông già; bao nhiêu tuổi tôi thật sự không biết rõ. Có thể một trăm, cũng có thể hơn; nhưng tôi thật sự không biết bởi tuổi tác tôi không thể so sánh với người thường, và tôi cũng chẳng nhớ đã từng có một thời thơ ấu nào.
-Tôi là một người già; bao nhiêu tuổi tôi không biết rõ. Có thể một trăm, cũng có thể hơn; nhưng tôi không thể nói được vì tôi không không hề già đi như những người khác, và tôi cũng chẳng nhớ đã từng có một thời thơ ấu nào.
Note: I have never aged as other men là ko bao giờ già đi như ngững người đàn ông khác.

So far as I can recollect I have always been a man, a man of about thirty. I appear today as I did forty years and more ago, and yet I feel that I cannot go on living forever;
Hiện nay tôi chỉ nhớ tôi đã là một người đàn ông, một người đàn ông độ khoảng ba mươi. Hiện ngoại hình tôi vẩn như bốn mươi năm hoặc hơn về trước, nhưng tôi cảm thấy tôi không thể sống mãi mãi;
-Hiện nay tôi chỉ nhớ tôi đã là một người đàn ông, một người đàn ông độ khoảng ba mươi. Hôm nay ngoại hình tôi vẩn như bốn mươi năm hoặc hơn về trước, nhưng tôi cảm thấy tôi không thể tiếp tục sống mãi mãi;
Note: Tác giả dùng chử Today để nhấn mạnh ý so sánh
go on ..to do something là tiếp tục...

that some day I shall die the real death from which there is no resurrection. I do not know why I should fear death, I who have died twice and am still alive; but yet I have the same horror of it as you who have never died, and it is because of this terror of death, I believe, that I am so convinced of my mortality.
và một ngày nào đó tôi sẽ chết thật sự và không thể hồi sinh. Tôi không hiểu tại sao tôi lại sợ cái chết, tôi, người đã chết hai lần và vẫn sống; nhưng tuy thế tôi vẫn cùng sự rùng rợn của cái chết như những người chưa từng chết, và bởi vì sự khủng bố đó, tôi nghĩ, và vì thế tin tưởng vào sự chết của bản thân.
-một ngày nào đó tôi sẽ chết thật và không hồi sinh. Tôi không hiểu tại sao tôi lại sợ cái chết, tôi, người đã chết hai lần và vẫn sống; nhưng tuy thế tôi vẫn có sự rùng rợn về cái chết như những người chưa từng chết, vì niềm kinh sợ về cái chết đó, tôi tin là, tôi chắc chắc về cái chết của mình.

And because of this conviction I have determined to write down the story of the interesting periods of my life and of my death.
Và bởi vì sự tin tưởng này tôi quyết định viết lại câu chuyện về những thời kỳ phong quang và cái chết của tôi.
-Vì sự hiểu biết này tôi quyết định viết lại câu chuyện về những đoạn đời đáng chú ý và cái chết của tôi.
note: the interesting periods of my life là đoạn đời thú vị...

I cannot explain the phenomena; I can only set down here in the words of an ordinary soldier of fortune a chronicle of the strange events that befell me during the ten years that my dead body lay undiscovered in an Arizona cave.
Tôi không thể giải thích về hiện tượng; tôi chỉ có thể ghi lại đây những chữ từ bình dân một người lính may mắn về một chuỗi những sự kiện lạ lùng đã xảy ra trong suốt mười năm mà xác chết của tôi đặt bí mật tại một hang động ở Arizona.
-Tôi không thể giải thích hiện tượng kỳ dị; tôi chỉ có thể ghi lại đây những chữ từ bình dân một người lính may mắn về một chuỗi những sự kiện lạ lùng đã xảy ra trước mắt trong suốt mười năm, mà xác chết của tôi nằm bí mật tại một hang động ở Arizona.
Note: phenomena là nhưng hiện tượng ký lạ, ký quái. ví dụ telekineses is a phenomena.
befell là happen right infront of someone. mạnh hơn happen

I have never told this story, nor shall mortal man see this manuscript until after I have passed over for eternity.
Tôi chưa bao giờ nói cho ai nghe về câu chuyện này, hoặc một người bất tử nhìn thấy văn bản này sau khi tôi đã đến thế giới vĩnh hằng.
- Tôi chưa bao giờ nói cho ai nghe về câu chuyện này, không một người nào thấy văn bản này cho đến lúc sau khi tôi đã đến thế giới vĩnh hằng.
Note: Mortal man- là người bình thường, vì John là im-mortal man, cho nên gọi người khác là mortal man.
until- cho đến khi, until after 'cho đến lúc sau khi'.

I know that the average human mind will not believe what it cannot grasp,
Tôi biết một người bình thường sẽ không tin vào nhưng thứ họ không nắm chắc
-Tôi biết một người bình thường sẽ không tin vào nhưng thứ họ không hiểu được.
note: grasp - là nắm được, hiểu được, nhưng trong context của human mind thì nên dịch là hiểu.

and so I do not purpose being pilloried by the public, the pulpit, and the press, and held up as a colossal liar when I am but telling the simple truths which some day science will substantiate.
và vì thế tôi cung không dự định sẽ bị truy bắt bởi công chúng, giảng đường, hoặc báo chí, và bị đưa lên như một kẻ nói dối trắng trợn khi tôi nói ra những sự thật đơn giản mà khoa học ngày nào đó sẽ chứng minh đc
- vì thế tôi không dự định sẽ bị đối xử như người điên bởi công chúng, giảng đường, hoặc báo chí, và bị đưa lên như một kẻ nói dối trắng trợn khi tôi nói ra những sự thật đơn giản mà khoa học ngày nào đó sẽ chứng minh được.
Note: pilloried - khoá tay, khoá mỏ như người điên nguy hiểm.

Possibly the suggestions which I gained upon Mars, and the knowledge which I can set down in this chronicle, will aid in an earlier understanding of the mysteries of our sister planet; mysteries to you, but no longer mysteries to me.
Cỏ lẽ những gợi ý từ Mars, và những kiến thức mà tôi sẽ giải bày trong câu chuyện này, sẽ mở đường cho sự hiểu biết về những bí mật của tinh cầu anh em của chúng tôi, những thứ mà đã từ lâu không còn là bí mật đối với tôi.
- Cỏ lẽ những gợi ý từ Mars, và những kiến thức mà tôi sẽ giải bày trong câu chuyện này, sẽ mở đường cho sự hiểu biết về những bí mật của tinh cầu anh em của chúng ta, bí ẩn đối với người khác, nhưng từ lâu không còn là bí mật đối với tôi.
Note: dịch không sai, chỉ làm cho chính xác.

My name is John Carter; I am better known as Captain Jack Carter of Virginia. At the close of the Civil War I found myself possessed of several hundred thousand dollars (Confederate) and a captain's commission in the cavalry arm of an army which no longer existed;
Tôi tên là John Carter, hay được biết rộng rãi là đại uý Jack Carter từ Virginia. Khi Nội Chiến gần kết thúc tôi đã sở hữu vài ngàn đô la (Chính phủ Liên bang) và với sứ mệnh của một đại uý trước một đội quân đã không còn tồn tại;
-Tôi tên là John Carter, hay được biết rộng rãi là đại uý Jack Carter từ Virginia. Khi Nội Chiến gần kết thúc tôi đã sở hữu vài trăm ngàn đô la (Chính phủ Liên bang) và phần chia của một đại uý kỵ binh của một quân đội đã không còn tồn tại;
Note: cavalry arm - kỵ binh, lính cởi ngựa.
commission là chia phần, không phải mission, ví dụ real estate agent will have a commission by law is about 2-3% of the selling price of the property.

the servant of a state which had vanished with the hopes of the South. Masterless, penniless, and with my only means of livelihood, fighting, gone, I determined to work my way to the southwest and attempt to retrieve my fallen fortunes in a search for gold.
chiến binh của một bang đã biến mất với niềm hi vọng của miền Nam. Không lãnh đạo, không tiền bạc, và với một mục đích của cuộc sống, chiến đấu, đã mất, tôi quyết định tìm đường về tây nam với mong muốn phục hồi tài sản đã mất trong công cuộc tìm vàng.
- chiến binh của một bang đã tan biến với niềm hi vọng của miền Nam. Không lãnh đạo, không tiền bạc, và với một mục đích của cuộc sống, chiến đấu, đã mất, tôi quyết định tìm đường về tây nam với mong muốn phục hồi sự may mắn rơi rớt trong việc tìm vàng.
Note: vanished là tan biến. mạnh hơn disappear, biến mất.
fallen fortunes là sự may mắn rụng xuống kiều như lá rụng. là xui xẻo.

I spent nearly a year prospecting in company with another Confederate officer, Captain James K. Powell of Richmond. We were extremely fortunate, for late in the winter of 1865, after many hardships and privations, we located the most remarkable gold-bearing quartz vein that our wildest dreams had ever pictured.
Powell, who was a mining engineer by education, stated that we had uncovered over a million dollars worth of ore in a trifle over three months.
Tôi bỏ ra gần 1 năm tìm kiếm trong một công ty với một quân binh khác của chính phủ liên bang, đại uý James K. Powell từ Richmond. Bọn tôi rất may mắn, vì đến cuối mùa đông năm 1865, sau nhiều gian khồ và thiếu thốn, bọn tôi đã tìm được một mạch thạch anh lẫn vàng nhiều đến mức không tường. Powell, vốn là một kỹ sư mỏ, nói rằng bọn tôi đạ tìm ra một quặng trị giá hơn 1 trịêu đô la trong vòng ba tháng.
Note: prospecting : là nghiên cứu, tìm kiếm, dịch tìm kiếm - search- hình như ko mạnh đủ.

As our equipment was crude in the extreme we decided that one of us must return to civilization, purchase the necessary machinery and return with a sufficient force of men properly to work the mine.
Vì thiết bị cũ kỹ, bọn tôi quyết định một trong hai chúng tôi phải quay lại thành phố, mua thiết bị cần thiết và quay lại với lực lượng nhân công đầy đủ cho việc khai khoáng.

As Powell was familiar with the country, as well as with the mechanical requirements of mining we determined that it would be best for him to make the trip. It was agreed that I was to hold down our claim against the remote possibility of its being jumped by some wandering prospector.
Vì sự thông thạo về đường xá và thiết bị cần thiết của Powell, chúng tôi quyết đinh hắn người thích hợp nhất cho chuyến đi này. Bọn tôi cũng tán thành rằng tôi sẽ ở lại bảo vệ tài sản của mình khỏi khả năng nó sẽ bị cướp bởi 1 số kẻ lang thang.
-Vì sự thông thạo về đường xá và thiết bị cần thiết của Powell, chúng tôi quyết đinh hắn người thích hợp nhất cho chuyến đi này. Bọn tôi cũng thoả thuận rằng tôi sẽ ở lại bảo vệ khu vực của mình khỏi khả năng nó sẽ bị chụp lấy bởi những kẻ tìm vàng lang thang.
Note: Claim: giống như luật cũa dân tìm vàng , tìm ra, chưa phải là tài sản, mà chĩ chia khu đất, rồi mới đăng ký. nếu ko có ai giử, có người khác đi qua, sẻ đóng cọc rồi claim là của mình. agree: đồng ý, thoả thuận -, Tán thành chắc cũng được, nhưng trong tiếng Hoa có nghỉa mạnh hơn là agree.

On March 3, 1866, Powell and I packed his provisions on two of our burros, and bidding me good-bye he mounted his horse, and started down the mountainside toward the valley, across which led the first stage of his journey.
Vào ngày 3 tháng 3 năm 1866, Powell và tôi đóng gói những thứ cần thiết lên hai con lừa, sau đó Powell leo lên ngựa sau khi chào tạm biệt tôi, và bắt đầu men đường núi xuống phía thung lũng, nơi đánh dấu bước đầu tiên của chuyến hành trình.

The morning of Powell's departure was, like nearly all Arizona mornings, clear and beautiful; I could see him and his little pack animals picking their way down the mountainside toward the valley, and all during the morning I would catch occasional glimpses of them as they topped a hog back or came out upon a level plateau. My last sight of Powell was about three in the afternoon as he entered the shadows of the range on the opposite side of the valley.
Buổi sáng Powell rời đi là một buổi sáng như mọi buổi saáng khác ở Arizona, sáng sùa và đẹp; tôi có thể nhìn thấy hắn và mấy con vật thồ đầy đồ men đường núi xuống dưới thung lũng, và cả một buổi sáng tôi có thể bắt được hình dáng của họ khi họ chụp lên một ngọn đồi hoặc đi ra khỏi bóng cao nguyên. Lần cuối tôi nhìn thấy bóng hắn là khoảng ba giờ trưa khi hắn tiến vào cái bóng của rặng núi phía bên kia của thung lũng.
- Buổi sáng Powell rời đi là một buổi sáng như mọi buổi saáng khác ở Arizona, sáng sùa và đẹp; tôi có thể nhìn thấy hắn và mấy con vật thồ đầy đồ men đường núi xuống dưới thung lũng, và cả một buổi sáng tôi có thể bắt được hình dáng của họ khi họ ở đĩnh một ngọn đồi hoặc đi ra khỏi bình nguyên. Lần cuối tôi nhìn thấy bóng hắn là khoảng ba giờ trưa khi hắn tiến vào cái bóng của rặng núi phía bên kia của thung lũng.
Note: topped : ở trên đỉnh. ko phải chụp lên.

Some half hour later I happened to glance casually across the valley and was much surprised to note three little dots in about the same place I had last seen my friend and his two pack animals. I am not given to needless worrying, but the more I tried to convince myself that all was well with Powell, and that the dots I had seen on his trail were antelope or wild horses, the less I was able to assure myself.
Khoảng nửa tiếng sau tôi bất chợt liếc ngang qua thung lũng bất chợt ngạc nhiên khi thấy ba chấm đen tại điểm mà tôi nhìn thấy Powell và hai con lừa. Tôi không phải lo lắng hão huyền, nhưng tôi càng thuyết phục bản thân rằng mọi thứ đều tốt với Powell, và mấy chấm đen kia tôi nhìn thấy là linh dương hay ngựa hoang, tôi lại càng không bảo đảm niềm tin của mình.
- Khoảng nửa tiếng sau tôi tình cờ liếc ngang qua thung lũng, ngạc nhiên khi thấy ba điển nhỏ tại chổ mà tôi vừa nhìn thấy Powell và hai con lừa. Tôi không phải lo lắng hão huyền, nhưng càng tự thuyết phục rằng mọi thứ đều tốt với Powell, và mấy chấm đen vừa thấy theo sau hắn chỉ là linh dương hay ngựa hoang, tôi lại càng thấy không yên lòng.

Since we had entered the territory we had not seen a hostile Indian, and we had, therefore, become careless in the extreme, and were wont
to ridicule the stories we had heard of the great numbers of these vicious marauders that were supposed to haunt the trails, taking their toll in lives and torture of every white party which fell into their merciless clutches.
Từ khi bọn tôi tiến vào lãnh địa này bọn tôi không hề nhìn thấy một người da đỏ thù địch nào, và bọn tôi đã trở nên mất cảnh giác, và đã có thói quen để chế nhạo những câu chuyện bọn tôi đã nghe của những số lượng những kẻ cướp xấu xa này, lấy thuế bằng mạng sống và tra tấn bất kỳ một người gia trắng nào rơi vào tay chúng.
- Từ khi bọn tôi tiến vào lãnh địa này bọn tôi không hề nhìn thấy một người da đỏ thù địch nào, và bọn tôi đã trở nên mất cảnh giác, và đã có thói quen để chế nhạo những câu chuyện bọn tôi đã nghe của những số lượng những kẻ cướp xấu xa này, lấy thuế bằng mạng sống và tra tấn bất kỳ một người gia trắng nào rơi vào bàn tay tàn nhẩn của chúng.

Powell, I knew, was well armed and, further, an experienced Indian fighter; but I too had lived and fought for years among the Sioux in the North, and I knew that his chances were small against a party of cunning trailing Apaches. Finally I could endure the suspense no longer, and, arming myself with my two Colt revolvers and a carbine, I strapped two belts of cartridges about me and catching my saddle horse, started down the trail taken by Powell in the morning.
Powell, tôi biết, trang bị đầy đủ vũ trang và, xa hơn nữa một chến binh giàu kinh nghiệm về người da đỏ; nhưng tôi cũng đã sống và đấu tranh trong nhiều năm trong cộng đồng người Sioux trong phía Bắc, và Tôi biết rằng cơ hội của Powell là rất nhỏ khi chống lại một đoàn côn đồ. Cuối cùng tôi đã không thể kéo dài sự lưỡng lự lâu hơn, và, vũ trang mình với hai khầu súng lục và một súng các bin, tôi buộc hai đai da đạn và cưỡi ngựa về phía con đường Powell đã đi vào ban sáng.
-Powell, tôi biết, trang bị đầy đủ vũ trang và, còn là một chiến binh giàu kinh nghiệm về người da đỏ; nhưng tôi cũng đã sống và chiến đấu trong nhiều năm trong cộng đồng người Sioux trong phía Bắc, Tôi biết rằng cơ hội của Powell rất nhỏ khi chống lại một đoàn côn đồ Apaches. Cuối cùng tôi đã không thể kéo dài sự lưỡng lự lâu hơn, và, vũ trang mình với hai khầu súng lục và một súng các bin, tôi buộc hai đai da đạn và cưỡi ngựa về phía con đường Powell đã đi vào ban sáng.

As soon as I reached comparatively level ground I urged my mount into a canter and continued this, where the going permitted, until, close upon dusk, I discovered the point where other tracks joined those of Powell. They were the tracks of unshod ponies, three of them, and the ponies had been galloping.
Chẳng bao lâu khi tôi đến chỗ đất bằng phẳng tôi bắng đầu thúc ngựa chạy nước kiệu, và tiếp tục chạy cho đến gần hoàng hôn tôi tìm ra nhiều dấu vết khác hoà với dấu của Powell. Bọn chúng là của ngựa bị bịt móng, ba con, và 3 con ngựa con đang phi nước kiệu.
- vừa đến chỗ đất bằng phẳng tôi bắng đầu thúc ngựa chạy nước kiệu, và tiếp tục chạy, khi con đường cho phép, cho đến gần hoàng hôn, tôi tìm ra nhiều dấu vết khác hoà với dấu của Powell. Dấu vết của ngựa nhỏ không bịt móng, ba con, và 3 con ngựa đang phi nước kiệu.
Note:
-As soon as: dùng như as soon as possible. hay ASAP, hay as soon as you come pls call me. đến thì phone ta liền nhe. ko phải 'chẵng bao lâu'.
-ponies: ngựa nhỏ, ko phải ngưa con.
- unshod: không đóng móng.

I followed rapidly until, darkness shutting down, I was forced to await the rising of the moon, and given an opportunity to speculate on the question of the wisdom of my chase. Possibly I had conjured up impossible dangers, like some nervous old housewife, and when I should catch up with Powell would get a good laugh for my pains.
Tôi nhanh chóng đuổi theo, cho đến khi trời tối, làm tôi bắt buộc phải đợi đến lúc trăng lên, và cho tôi cơ hội đặt ra dấu hỏi về mục dích của chuyến đuổi bắt này. Có lẽ tôi đã tạo nên những nguy hiểm không thật, như đàn bà, và khi tôi đuổi kịp Powell sẽ cười trên sự đau khổ của tôi.
-Tôi nhanh chóng đuổi theo, cho đến khi trời tối, làm tôi bắt buộc phải đợi đến lúc trăng lên, và cho tôi cơ hội đặt ra câu hỏi về sự khôn ngoan của chuyến đuổi bắt này. Có lẽ tôi đã tạo nên những nguy hiểm không thật, như mấy bà nội trợ lo lắng, khi tôi đuổi kịp Powell sẽ cười dử dội trên sự đau khổ của tôi.

However, I am not prone to sensitiveness, and the following of a sense of duty, wherever it may lead, has always been a kind of fetich with me throughout my life; which may account for the honors bestowed upon me by three republics and the decorations and friendships of an old and powerful emperor and several lesser kings, in whose service my sword has been red many a time.
Tuy nhiên, tôi cũng không nghiên hẳn về phía trực giác, và theo sát bổn phận của mình, bất cứ đâu nó dẫn tôi đến, luôn luôn là một loại mệnh lệnh suốt cả đời; và được hồi đáp bằng những danh dự mà tôi được tặng từ ba quốc gia và tình bạn và huy chương của một vị quốc vương hùng mạnh và một số vương tử khác. Trong cả cuộc đời binh nghiệp kiếm của tôi đã từng nhuộm trong huyết dịch không bíêt bao nhiêu lần.
-Dầu, tôi không nghiên hẳn về phía cảm giác, sự tuân theo cảm giác cũa bổn phận, bất cứ nới nào nó có thễ dẩn tới, luôn luôn là một loại mệnh lệnh suốt cả đời; và được hồi đáp bằng những danh dự mà tôi được tặng từ ba quốc gia và tình bạn và huy chương của một vị quốc vương hùng mạnh và một số vương tử khác. Trong cả cuộc đời binh nghiệp kiếm của tôi đã từng nhuộm đỏ không bíêt bao nhiêu lần.
Note: sensitiveness- cảm giác, ko phải trực giác
the following: sự đi theo. ý john nói là hắn cứ đi theo cảm giác về bổn phận.

About nine o'clock the moon was sufficiently bright for me to proceed on my way and I had no difficulty in following the trail at a fast walk, and in some places at a brisk trot until, about midnight, I reached the water hole where Powell had expected to camp. I came upon the spot unexpectedly, finding it entirely deserted, with no signs of having been recently occupied as a camp.
Vào khoảng chín giờ đêm mặt trăng toả sáng mãnh liệt và là nguồn sáng dẫn lối tôi, giúp tôi chạy theo lộ trình một cách dễ dàng và nhanh chóng, cho đến khoảng nửa đêm tôi đã đến được vũng nước mà Powell có thể cắm trại. Tôi đến vũng nước không báo trước, tìm ra một điểm vắng lặng, không có một dấu hiệu nào của khu trại nào.
-Vào khoảng chín giờ đêm mặt trăng toả sáng đủ cho tôi tiến tới, tôi không khó khăn gì bước nhanh theo dấu, vài chổ còn có thể chạy, cho đến khoảng nửa đêm tôi đã đến được vũng nước Powell có thể cắm trại. Tôi đến vũng nước, bất ngờ thấy hoàn toàn vắng lặng, không có một dấu hiệu nào của khu trại nào.
Note: unexpectedly; bất ngờ, vì john hy vọng ko có gì xảy ra.

I was interested to note that the tracks of the pursuing horsemen, for such I was now convinced they must be, continued after Powell with only a brief stop at the hole for water; and always at the same rate of speed as his.
Tôi bắt đầu cảm thấy thú vị khi thấy mấy dấu chân ngựa này, bởi bọn chúng tiếp tục đi cùng tốc độ với nhau sau khi Powell dừng chân tại vũng nước.
-Tôi bắt đầu cảm thấy thú vị khi thấy mấy dấu của những người cởi ngựa đuổi theo, vì bây giờ tôi đã chăc là có người đuổi theo, họ tiếp tục rược theo cùng tốc độ với Powell sau khi thoáng dừng chân tại vũng nước.

I was positive now that the trailers were Apaches and that they wished to capture Powell alive for the fiendish pleasure of the torture, so I urged my horse onward at a most dangerous pace, hoping against hope that I would catch up with the red rascals before they attacked him.
Tôi hiện chắn chắn là bọn người chó săn này là Apaches và bọn chúng muốn bắt sống Powell cho niềm vui tàn độc của việc tra tấn, nên tôi liền nhanh chóng truy đuổi với tốc độ khủng khiếp nhất, hy vọng tôi sẽ đuổi kịp bọn mọi da đỏ đó trước khi chúng tấn công Powell.
-Tôi hiện chắn chắn là bọn người đuổi theo là Apaches và bọn chúng muốn bắt sống Powell cho niềm vui tàn độc của việc tra tấn, vì vậy tôi thúc ngựa tiến lên với tốc độ nguy hiểm nhất, chỉ hy vọng tôi sẽ đuổi kịp bọn mọi mọi đỏ đó trước khi chúng tấn công Powell.
Note: hoping against hope: văn cổ -chỉ hy vọng

Further speculation was suddenly cut short by the faint report of two shots far ahead of me. I knew that Powell would need me now if ever, and I instantly urged my horse to his topmost speed up the narrow and difficult mountain trail.
Sự suy đoán của tôi bất ngờ bị cắt mất bởi hai tiếng súng phía xa xa vọng lại. Tôi biết Powell cần tôi lúc này hơn bao giờ, nên tôi lập tức thúc ngựa phi nước đại đến con đường núi hẹp và khó đi.

I had forged ahead for perhaps a mile or more without hearing further sounds, when the trail suddenly debouched onto a small, open plateau near the summit of the pass. I had passed through a narrow, overhanging gorge just before entering suddenly upon this table land, and the sight which met my eyes filled me with consternation and dismay.
Tôi đi được thêm khoảng một dặm hoặc hơn mà không nghe thêm tiếng động nào, khi con đường bất ngờ mở ra một cao nguyên nhỏ gần chỗ mấy con đường gặp nhau. Tôi đã đi qua một hẻm núi hẹp trước khi bất ngờ tiến vào một mặt bàn phẳng, và khung cảnh tôi gặp là một khung cảnh kinh hoàng và khiếp đảm.

The little stretch of level land was white with Indian tepees, and there were probably half a thousand red warriors clustered around some object near the center of the camp. Their attention was so wholly riveted to this point of interest that they did not notice me, and I easily could have turned back into the dark recesses of the gorge and made my escape with perfect safety. The fact, however, that this thought did not occur to me until the following day removes any possible right to a claim to heroism to which the narration of this episode might possibly otherwise entitle me.
Cả một mạch đường bị bao phủ bởi lều vải màu trắng của người da đỏ, và có lẽ tại đây đang có khoảng năm trăm chiến binh tập hợp tại vài một vật nằm gần tại trung tâm của trại. Bọn họ đang chú tâm cao độ đến nổi bọn họ hầu như không biết sự có mặt của tôi, và tôi có thể đã dể dàng quay lại con đường tối tăm của hẻm núi và trốn thoát an toàn. Sự thật thì, chuyện này không xảy ra cho tôi cho đến ngày hôm sau xoá bỏ mọi xác nhận của sự anh hùng mà người dẫn chuyện của câu chuyện này có thể trao cho tôi.

I do not believe that I am made of the stuff which constitutes heroes, because, in all of the hundreds of instances that my voluntary acts have placed me face to face with death, I cannot recall a single one where any alternative step to that I took occurred to me until many hours later. My mind is evidently so constituted that I am subconsciously forced into the path of duty without recourse to tiresome mental processes. However that may be, I have never regretted that cowardice is not optional with me.
Tôi không tin tôi được cấu thành bởi những thứ có thể làm tôi trờ thành anh hùng, bởi vì, trong hàng trăm lần tôi tự động đặt mình trong tình cảnh đối mặt với tử thần, tôi không thể nhớ ra bất cứ một lần nào tôi chủ động hành động cho đến nhiều giờ sau đó. Đầu óc tôi được tạo thành cứng nhắc đến mức tiềm thức tôi bắt buộc tôi chọn con đường nghĩa vụ không thắc măc. Dù sao đi nữa, tôi chưa bao giờ hối tiếc là hèn nhác không bao giờ là chọn lựa của tôi.

In this instance I was, of course, positive that Powell was the center of attraction, but whether I thought or acted first I do not know, but within an instant from the moment the scene broke upon my view I had whipped out my revolvers and was charging down upon the entire army of warriors, shooting rapidly, and whooping at the top of my lungs. Singlehanded, I could not have pursued better tactics, for the red men, convinced by sudden surprise that not less than a regiment of regulars was upon them, turned and fled in every direction for their bows, arrows, and rifles.
Tại thời điểm này tôi, đương nhiên, rất chắc chắn là Powell là trung tâm của sự chú ý, nhưng tôi nghĩ hoặc hành động trước tôi cũng không biết, nhưng trong đầu tôi tại giây phút đó xuất hiện cảnh tưởng tôi móc súng ra và chạy nhanh xuống đám kẻ thù nọ, bắn tán loạn, và la lối om sòm. Chỉ có một cây súng, tôi không có một sách lược nào tốt hơn, bởi bọn da đỏ, tin tưởng rằng tấn công bất ngờ không khác gì một trung đoàn bình thường đang ập tới, quay lại và chạy tán loạn với cung, tên, và súng của bọn chúng.
-Tại thời điểm này tôi, đương nhiên, rất chắc chắn là Powell là trung tâm của sự chú ý, nhưng tôi nghĩ hoặc hành động trước tôi cũng không biết, nhưng giây phút đó tôi thấy cảnh tưởng xảy ra tôi móc súng ra và chạy nhanh xuống đám kẻ thù nọ, bắn tán loạn, và la lối om sòm. Chỉ có một cây súng, tôi không có một sách lược nào tốt hơn, bởi bọn da đỏ, vì sự ngạc nhiên bất ngờ tin rằng không ít hơn một trung đoàn đang ập tới, quay lại và chạy tán loạn tìm cung, tên, và súng của bọn chúng.

The view which their hurried routing disclosed filled me with apprehension and with rage. Under the clear rays of the Arizona moon lay Powell, his body fairly
bristling with the hostile arrows of the braves. That he was already dead I could not but be convinced, and yet I would have saved his body from mutilation at the hands of the Apaches as quickly as I would have saved the man himself from death.
Quang cảnh nhanh chóng làm tôi cảm thấy sợ hãi và giận giữ. Dưới bầu trời Arizona ánh trăng chiếu ra Powell dưới đất, cơ thể hắn như một con nhím cắm đầy cung tên. Hắn đã chết hay chưa tôi không biết, nhưng tôi phải đưa xác chết của hắn khỏi sự tổn thương của bọn Apaches này càng sớm thì tôi có thể cứu hắn khỏi tử thần.
-Quang cảnh họ vội vàng chạy trốn, mở ra con đường làm tôi tràn đầy sợ hãi và giận điên cuồng. Powell nằm dưới những tia sáng rỏ ràng cũa vầng trăng Arizona, cơ thể hắn cắm đầy cung tên của chiến binh. Tôi tin là hắn đã chết, nhưng tôi phải đưa xác chết của hắn khỏi sự tổn hương của bọn Apaches thật nhanh như thể tôi có thể cứu hắn khỏi tử thần.
Note: Rage mạnh hơn anger.
I could not but be convinced, chỉ có thể tin. không phải 'tôi không biết'.

Riding close to him I reached down from the saddle, and grasping his cartridge belt drew him up across the withers of my mount. A backward glance convinced me that to return by the way I had come would be more hazardous than to continue across the plateau, so, putting spurs to my poor beast, I made a dash for the opening to the pass which I could distinguish on the far side of the table land.
Chạy đến gần hắn tôi cuối xúông từ lưng ngựa, chụp lấy sợi dây lưng rồi kéo hắn lên lưng ngựa. Một cái liếc mắt về phía sau cho tôi thấy quay lại con đường cũ sẽ khó khăn hơn là tiếp tục tiến lên phía trước, nên, tôi thúc ngựa chạy mở một đường máu về phía xa của bình nguyên nọ.

The Indians had by this time discovered that I was alone and I was pursued with imprecations, arrows, and rifle balls. The fact that it is difficult to aim anything but imprecations accurately by moonlight, that they were upset by the sudden and unexpected manner of my advent, and that I was a rather rapidly moving target saved me from the various deadly projectiles of the enemy and permitted me to reach the shadows of the surrounding peaks before an orderly pursuit could be organized.
Bọn Da đỏ hiện đã phát hiện ra tôi có một mình và liền đó tôi bị tấn công bởi mấy tiếng chửi rủa, tên và đạn. Sự thật là dưới ánh trăng mọi thứ khác đều rất khó trúng đích ngoại trừ mấy câu nguyền rủa, và bọn chúng đã bị lừa bởi sự bất ngờ của tôi, nên tôi đã nhanh chóng chạy khỏi mấy vật nguy hiểm đang bay trên không và để tôi chạy đến bóng tối của hẻm núi bên kia trước khi một đội binh được sắp xếp.

My horse was traveling practically unguided as I knew that I had probably less knowledge of the exact location of the trail to the pass than he, and thus it happened that he entered a defile which led to the summit of the range and not to the pass which I had hoped would carry me to the valley and to safety. It is probable, however, that to this fact I owe my life and the remarkable experiences and adventures which befell me during the following ten years.
Con ngựa di chuyển không có phương hứơng, bởi tôi biết tôi có ít hiểu biết hơn về nơi chính xác hơn nó (con ngựa), và vì thế nó đã tiến vào một hẻm núi mà dẫn tới đỉnh cao của dãy núi, mà không đi con đường mà tôi hy vọng sẽ mang bọn tôi tới thung lũng và đến chỗ an toàn. Nó có thể, tuy nhiên, mà tới thực tế này tôi nợ cuộc sống này và những kinh nghiệm đáng quý và những cuộc phiêu lưu sẽ xảy ra với tôi trong mười năm tới đây.

My first knowledge that I was on the wrong trail came when I heard the yells of the pursuing savages suddenly grow fainter and fainter far off to my left.
Tôi đầu tiên phát hiện mình đang sai đường khi tôi nghe tiếng la hét của bọn mọi rợ yếu dần ở phía trái của tôi.

I knew then that they had passed to the left of the jagged rock formation at the edge of the plateau, to the right of which my horse had borne me and the body of Powell.
Tôi biết bọn chúng đã tiến về phía bên trái của mỏm đá lỏm chỏm tại rìa cao nguyên, về phía bên phải của con đường mà con ngựa đã đưa tôi và xác chết của Powell.

I drew rein on a little level promontory overlooking the trail below and to my left, and saw the party of pursuing savages disappearing around the point of a neighboring peak.
Tôi kìm dây cương trên một mỏm đá nhìn về phía con đường bên dưới và vế phía bên trái, tôi nhìn thấy đám man rợ kia biến mất sau một điểm đằng xa.

I knew the Indians would soon discover that they were on the wrong trail and that the search for me would be renewed in the right direction as soon as they located my tracks.
Tôi biết bọn người da đỏ sẽ sớm biết rằng bọn chúng đã đuổi lầm đường và bọn chúng sẽ đi đúng đường sau khi tìm ra dấu chân ngựa của bọn tôi.

I had gone but a short distance further when what seemed to be an excellent trail opened up around the face of a high cliff. The trail was level and quite broad and led upward and in the general direction I wished to go. The cliff arose for several hundred feet on my right, and on my left was an equal and nearly perpendicular drop to the bottom of a rocky ravine.
Tôi đã đi được một đoạn ngắn trong cái gọi là một đường tuyệt vời mở ra một vách đứng cao. Con đường rất bằng phẳng và khá rộng và dẫn lên trên con đường mà tôi muốn đi lúc nãy. Vách đứng cao khoảng vài trăm feet ở bên phải tôi, và bên trái là một vách đá thẳng đứng kéo dài xuống tận một khe đá.

I had followed this trail for perhaps a hundred yards when a sharp turn to the right brought me to the mouth of a large cave. The opening was about four feet in height and three to four feet wide, and at this opening the trail ended.
Tôi đã men theo con đường này khoảng vài trăm yards thì đột nhiên một con hẻm về bên phải đã mang tôi đến miệng của một cái hang lớn. Cửa hang cao khoảng 4 feet và 3 đến 4 feet rộng, và ngay tại cửa hang thì con đường cũng đột ngột kết thúc.

It was now morning, and, with the customary lack of dawn which is a startling characteristic of Arizona, it had become daylight almost without warning.
Hiện đã là buổi sáng, và Arizona hầu như không có bình minh mang ánh sáng ban ngày đến đột ngột không hề cảnh báo.
-Hiện đã là buổi sáng, và Arizona hầu như không có bình minh, ánh sáng ban ngày đến đột ngột không hề cảnh báo.

Dismounting, I laid Powell upon the ground, but the most painstaking examination failed to reveal the faintest spark of life. I forced water from my canteen between his dead lips, bathed his face and rubbed his hands, working over him continuously for the better part of an hour in the face of the fact that I knew him to be dead.
Tôi bước xuống ngựa, đặt Powell xuống đất, nhưng sự thử thách đau đớn đã kết thúc để lộ ra sự yếu đuối nhất của cuộc sống. Tôi đổ nước từ canteen của tôi vào miệng hắn, chà xát tôiy hắn, liên tục làm vật với một số bộ phận khác trong vòng 1 giờ tuy biết rằng hắn đã chết.
-xuống ngựa, đặt Powell xuống đất, nhưng sự kiểm tra đau đớn nhất đã thất bại để cho thấy một tia sống yếu ớt nhất. Tôi đổ nước từ canteen của tôi vào miệng hắn, rửa mặt và chà xát tay hắn, liên tục làm viêc với một số bộ phận khác trong vòng 1 giờ tuy biết rằng hắn đã chết.

I was very fond of Powell; he was thoroughly a man in every respect; a polished southern gentleman; a staunch and true friend; and it was with a feeling of the deepest grief that I finally gave up my crude endeavors at resuscitation.
Tôi rất mến Powell; hắn là một người đáng kính trên một phương diện; một người đàn ông miền nam điển hình; một người bạn thật sự; và tôi thật sự cảm thấy đau buồn mà tôi cuối cùng từ bỏ nổ lực hồi sinh…
-Tôi rất mến Powell; hắn là một người đáng kính trên mọi phương diện; một người đàn ông miền nam điển hình; một người bạn chân thành thật sự; và tôi thật sự cảm thấy đau buồn sâu sắc nhất vì tôi cuối cùng từ bỏ nổ lực hồi sinh…

Leaving Powell's body where it lay on the ledge I crept into the cave to reconnoiter. I found a large chamber, possibly a hundred feet in diameter and thirty or forty feet in height; a smooth and well-worn floor, and many other evidences that the cave had, at some remote period, been inhabited. The back of the cave was so lost in dense shadow that I could not distinguish whether there were openings into other apartments or not.
Bỏ lại thân thể Powell tại mép động, tôi bò vào trong trinh sát cái động. Tôi tìm thấy một gian phòng rộng, có thể đường kính khoảng trăm feet, và ba mươi đến bôn mươi feet cao; một nền nhà phẳng và trang trí tốt, và vì một số dẫn chứng khác cho thấy cai hang này đã trong một khoảng thời gian có người ở. Mặt sau của hang quá tối nên tôi không biết nó có cửa khác hoặc dẫn đến hang khác hay không.
-Bỏ lại thân thể Powell tại bờ động, tôi bò vào trong quan sát cái động. Tôi tìm thấy một gian phòng rộng, có thể đường kính tới trăm feet, ba mươi đến bốn mươi feet cao; một nền nhà phẳng và trơn láng, nhiều bằng chứng khác cho thấy cai hang này đã trong một khoảng thời gian có người ở. Mặt sau của hang quá tối nên tôi không biết nó có cửa khác hoặc dẫn đến hang khác hay không.
Note: well-worn - mòn, ko phải 'trang trí tốt'

As I was continuing my examination I commenced to feel a pleasant drowsiness creeping over me which I attributed to the fatigue of my long and strenuous ride, and the reaction from the excitement of the fight and the pursuit. I felt comparatively safe in my present location as I knew that one man could defend the trail to the cave against an army.
Trong lúc tôi tiếp tục trinh thám thì tôi bỗng cảm thấy một sự mệt mỏi và buồn ngủ lơ mơ xuất hiện mà tôi đỗ lỗi cho cuộc rượt đưổi dài này, và phản ứng của sự kích thích của cuộc đấu tranh và cuộc đưồi bắt. Tôi cảm thấy khá an toàn trong vị trí này như tôi biết có một người nào đó sẽ ngăn cản đám kẻ thù kia tiến vào trong động.
- Trong lúc tôi tiếp tục xem xét thì tôi bỗng cảm thấy một sự buồn ngủ thoải mái len tới mà tôi đỗ lỗi cho sự mệt nhọc do cuộc rượt đưổi dài và căng thẳng này, và phản ứng của sự kích thích của cuộc đấu tranh và cuộc đưồi bắt. Tôi cảm thấy khá an toàn trong vị trí này vì tôi biết một người sẽ có thể ngăn cản cả quân đội kẻ thù tiến vào trong động.

I soon became so drowsy that I could scarcely resist the strong desire to throw myself on the floor of the cave for a few moments' rest, but I knew that this would never do, as it would mean certain death at the hands of my red friends, who might be upon me at any moment. With an effort I started toward the opening of the cave only to reel drunkenly against a side wall, and from there slip prone upon the floor.
Tôi nhanh chóng cảm thấy quá buồn ngủ đến mức tôi cảm thấy được sự hấp dẫn của việc quăng mình xuống nên của hang động nghĩ ngơi trong vài giây, nhưng tôi biết tôi không thể làm vậy, bởi nếu vậy tôi sẽ bị giết bởi bọn mọi da đỏ có thể xúât hiện tại đây bất cứ lúc nào. Với nổ lực tôi bắt đầu tiến về pighá của động như một kẻ say rượu men theo mấy bức tường bên cạnh, và từ đó trườn trên sàn nhà.
-Tôi nhanh chóng cảm thấy quá buồn ngủ đến mức tôi gần như không kềm được nổi ươc ao quăng mình xuống nên của hang động nghĩ ngơi trong vài giây, nhưng tôi biết tôi không thể làm vậy, bởi có nghĩa là cái chết chắc chắn trong tay các bạn da đõ cũa tôi có thể chồm lên trên tôi bất cứ lúc nào. Với nổ lực tôi bắt đầu tiến về phiá của động, nhưng chỉ loạn choạn vào vách như một kẻ say rượu, và từ đó trượt sấp xuống nền.

minhluan
03-07-2008, 10:55 PM
bản dịch thô vậy là tạm ổn, đến tay người biên tập thiết nghĩ nên biến tấu hóa 1 chút cho có vần có điệu thêm :uong2:

bac cai cong
04-07-2008, 01:38 AM
Cái này post trong box ẩn đi lão, sao lại post tại đây chứ.

Dark_Blood
04-07-2008, 11:15 AM
thiết nghĩ vụ văn hoa thêm cho bản dịch nên để dành phần cho biên dịch và biên tập :uong2:

Phi Nguyệt
25-07-2008, 09:01 AM
Mụi nghĩ nên dịch "tôi" là "ta", thế nó mới giống văn phong kiếm hiệp ^^.

VD như câu đầu tiên:
"Tôi là một ông già" - đổi thành - "Ta là một ông già". Cảm giác nghe thuận hơn ^^. Đây là ý kiến của mụi thui :P

Melly
25-07-2008, 09:05 AM
Mụi nghĩ nên dịch "tôi" là "ta", thế nó mới giống văn phong kiếm hiệp ^^.

VD như câu đầu tiên:
"Tôi là một ông già" - đổi thành - "Ta là một ông già". Cảm giác nghe thuận hơn ^^. Đây là ý kiến của mụi thui :P

:021:đây đâu phải là kiếm hiệp:039:
Nhưng chuyển thành ta có vẻ hay hơn:uong2:

deviouslove
01-08-2008, 11:13 PM
:4:ai bít làm cách nào liên lạc với binhchi ko? Hỏi tiến độ dịch TTB đến đâu rùi:4:

NakedSnake
01-08-2008, 11:24 PM
chết cha ông binhchi thông cảm tí dạo này bị gí dịch TTB ghê quá chưa kịp dịch prince of mars